filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
biển caribe.txt | Biển Caribe (Phiên âm: Ca-ri-bê) là một vùng biển nhiệt đới ở Tây Bán cầu thuộc Đại Tây Dương. Đây là một vùng biển bao bọc bởi một chuỗi hải đảo cùng hai lục địa, Bắc và Nam Mỹ. Bờ biển phía nam giáp Nam Mỹ, phía tây và tây-nam giáp México và Trung Mỹ. phía bắc và đông là chuỗi đảo Antilles, gồm Đại Antilles và Tiểu Antilles. Toàn khu vực quanh biển Caribe còn gọi là Vùng Caribe.
Biển Caribe là một trong những vùng biển lớn trên thế giới với diện tích 2.754.000 km².. Điểm sâu nhất là vực Cayman giữa Cuba và Jamaica ở 7.686 m dưới mặt biển. Biển Caribe có nhiều vũng nhỏ cùng vịnh lớn như Vũng Gonâve, Vũng Venezuela, Vũng Darien, Vịnh Mosquitos và Vịnh Honduras.
== Lịch sử ==
Địa danh "Caribe" xuất xứ từ tên gọi của bộ tộc thổ dân châu Mỹ Carib sinh sống ở vùng này khi người Âu châu tới thám hiểm vào thế kỷ 15. Trong chuyến hải hành đầu tiên năm 1492 để khám phá ra châu Mỹ, Cristoforo Colombo dưới bóng cờ của triều đình Tây Ban Nha đã đặt chân đến đảo Hispaniola trong nhóm Đại Antilles của vùng Caribe. Cũng vì đó địa danh "biển Antilles" một thời cũng được dùng.
Vào thế kỷ 16 các quốc gia Âu châu tranh nhau chiếm cứ khu vực này và khai thác thuộc địa. Các thương thuyền thường xuyên ghé đây mua bán, tạo nên cơ hội cho nạn hải tặc nhóm họp để đánh cướp.
Ngày nay 22 lãnh thổ hải đảo và 12 quốc gia đất liền chung nhau biển Caribe. Từ hậu bán thế kỷ 20 trở đi, với địa thế và khí hậu nắng ấm, Vùng Caribe đã biến thành địa điểm ưa chuộng của nhiều du khách. Các chuyến tàu du hành (cruise ship) thường ghé đây nên kinh tế khu vực cũng đã phát triển với ngành du lịch làm trọng tâm.
== Địa học ==
Biển Caribe đúng ra là một vùng biển đại dương nằm trên mảng địa tầng Caribe. Vùng biển được chia thành năm lòng chảo. Hai ngõ thông chính với Đại Tây Dương là eo biển Anegada và eo biển Windward (nghĩa là "ngược gió"). Eo biển Anegada nằm giữa nhóm đảo Virgin và Tiểu Antilles còn eo biển Windward ngăn cách Cuba và Haiti. Vịnh Mexico thông với biển Caribe bằng Eo biển Yucatan. Nói chung thì biển Caribe tương đối nông, riêng vực Cayman với độ sâu đo được 7.686 m là điểm sâu nhất.
Rãnh biển Hispaniola và Rãnh biển Puerto Rico là hai rãnh biển lớn gần vùng biển Caribe. Địa trạng này là nguyên do gây nên động đất và sóng thần trong khu vực. Khoa học ước đoán khu vực này đã từng chứng kiến hàng chục địa chấn trên 7,5 độ Richter trong thời kỳ 500 năm qua. Gần đây nhất là trận động đất ngày 12 Tháng Giêng, 2010 với cường độ 7,0 Richter đã gây thiệt hại nặng nề ở Haiti. Khoảng 230.000 người thiệt mạng và 1.000.000 người lâm cảnh không nhà. Trung tâm địa chấn chỉ cách thủ đô Haiti, Port-au-Prince 10 cây số về hướng tây nam. Khu vực này vào năm 1946 một trận động đất lớn hơn ở mức 8 độ Richter còn gây ra cơn sóng thần tàn phá đảo Hispaniola khiến 20.000 người mất nhà cửa..
== Hải dương học ==
Tính trung bình, độ mặn của biển là 35-36 phần ngàn và nhiệt độ bề mặt là 28 độ C, trong khi dưới sâu nhiệt độ có thể xuống đến 4 độ C. Hiện tại, Caribe mang một lượng nước đáng kể từ Đại Tây Dương qua phía đông quần đảo tiểu Antilles và phía bắc đến Vịnh Mexico qua Yucata. Tính trung bình, từ 15 đến 20% nước mặt đi vào vùng biển Caribe là nước ngọt của các con sông Orinoco và Amazon, hướng về phía tây bắc của vùng Caribe hiện tại. Hơn nữa, nước chảy ra từ Orinoco trong các tháng mùa mưa có nồng độ chất diệp lục cao ở vùng biển phía đông.
Ở khu vực giữa phía bắc của Venezuela, Colombia và Nicaragua một dòng chảy thường xuyên hầu như quanh năm. Dòng chảy này sinh ra bởi mưa lớn trong khu vực, nó cũng có thể làm giảm nhiệt độ và độ mặn và mật độ của nước, cung cấp một số chất dinh dưỡng để nước như nitơ, phốt pho và những chất khác cho các thực vật.
== Môi sinh ==
Vùng Caribe có 29% tổng lượng rạn san hô trên thế giới với diện tích 50.000 km², phần lớn tập trung ở vùng ven đảo và duyên hải Trung Mỹ. Tương lai rạn san hô Caribe bị đe dọa bởi nhiệt độ nước biển ấm hơn bình thường. Rạn là môi trường nuôi dưỡng nhiều loại sinh vật nhưng hệ sinh thái này mong manh, dễ bị dao động. Khi nhiệt độ nước biển ấm hơn 29 °C dài lâu thì vi thực vật zooxanthellae không sống được. Các loài san hô lệ thuộc vào chúng làm nguồn dinh dưỡng từ đó cũng mất sắc màu, yếu đi và chết dần. Hậu quả là hệ sinh thái rạn bị hủy hoại. Có đến 42% các nhóm san hô vùng Caribe đã bạc trắng hoàn toàn và 95% đã bị bạc màu ít nhiều. Môi trường cấu tạo bởi rạn là tối yếu cho các sinh hoạt du lịch như câu cá, bơi lặn với giá trị kinh tế khoảng $3,1-$4,6 tỷ Mỹ kim cho các quốc gia trong vùng. Nếu rạn san hô tiếp tục bị hủy hoại theo đà hiện thấy thì kinh tế vùng Caribe cũng sẽ bị thiệt hại không nhỏ.
Để đối phó với nguy cơ này 15 quốc gia trong vùng đã thông qua Protocol of the Convention for the Protection and Development of the Marine Environment of the Wider Caribbean Region để bảo vệ các sinh vật hải dương kể từ năm 1986. Các tổ chức thiện nguyện dân sự như Caribbean Conservation Corporation cũng góp phần bảo vệ và nghiên cứu các sinh vật biển và giáo dục người dân về nỗ lực bảo tồn.
== Thời tiết ==
Hải lưu dòng Vịnh và Humboldt là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thời tiết vùng Caribe. Với địa thế thuộc miền nhiệt đới nhiệt độ nước biển vùng biển Caribe ở khoảng 10-17 °C tuỳ theo mùa.
Khi một khí điểm áp thấp hình thành ở duyên hải Tây Phi rồi vượt Đại Tây Dương thì khí điểm đó có khả năng tăng cường độ để hoá thành bão, lấy sức từ nhiệt lượng nước biển của biển Caribe. Mùa bão kéo dài từ Tháng Sáu đến Tháng Chạp nhưng hai Tháng Tám và Chín là thời điểm chính hay có bão. Trung bình thì có chín cơn bão nhiệt đới, trong số đó năm cơn bão đạt cường độ bão lớn.
Mỗi năm nguy cơ bão là mối lo của vùng Caribe vì khả năng tàn phá của bão. Không những con người phải hứng chịu mà cả thiên nhiên như trường hợp các rạn san hô cũng thường bị thiệt hại.
== Kinh tế ==
Về mặt kinh tế, ngành du lịch là một kỹ nghệ quy mô trong vùng Caribe. Theo tính toán của Tổ chức Du lịch Caribe (Caribbean Tourism Organization) thì hằng năm có 12 triệu du khách đến chơi, trong số đó (thời kỳ 1991–1992) có khoảng 8 triệu du khách qua ngả tàu du hành (cruise ship).
Ngoài ra biển Caribe là nguồn sản xuất dầu thô đáng kể với 170 triệu tấn mỗi năm. Ngư nghiệp cũng đóng góp nửa triệu tấn cá hằng năm. Ngược lại sinh hoạt con người là nguồn ô nhiễm chính trong vùng. Theo ước đoán năm 1993 của Tổ chức Y tế Liên Mỹ Châu (Pan American Health Organization) thì 90% lượng nước cống thải ra biển trong khu vực Caribe không được xử chế đúng mức.
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Snyderman, Marty (1996) Guide to Marine Life: Caribbean-Bahamas-Florida; page 13-14, 19. Aqua Quest Publications, Inc. ISBN 1-881652-06-8
Glover K., Linda (2004) Defying Ocean's End: An Agenda For Action; page 9. Island Press. ISBN 1-55963-755-2
Peters, Philip Dickenson (2003) Caribbean WOW 2.0; page 100. Islandguru Media. ISBN 1-929970-04-8
Reefs at Risk in the Caribbean: Economic Valuation Methodology, World Resources Institute 2007.
== Liên kết ngoài ==
Caribbean Diving |
làng lịch sử shirakawa-go và gokayama.txt | Làng lịch sử Shirakawa-go và Gokayama là một di sản được UNESCO công nhận ở Nhật Bản. Shirakawa-gō (白川郷, "bạch xuyên hương", nghĩa là "làng của con sông trắng") và Gokayama (五箇山, "ngũ cá sơn", nghĩa là "năm quả núi") là các làng tọa lạc tại bắc vùng Tokai ở miền trung Nhật Bản. Gokayama ở tỉnh Toyama và Shirakawa-go ở tỉnh Gifu.
Các ngôi làng này nổi tiếng vì có các ngôi nhà có kiến trúc gọi là gasshō-zukuri(合掌造り) ("hợp chưởng tạo"), các mái nhà được xây bằng mái tranh giống như các bàn tay tham gia cầu nguyện. Những ngôi nhà ở Shirakawa-go có mái dốc để mưa và tuyến rơi thẳng xuống. Núi và rừng chiếm 96% diện tích đất hai làng này, chỉ có 4% đất để trồng trọt.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Shirakawa, Gifu (làng)
Du lịch Nhật Bản
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
UNESCO entry on Shirakawa-go and Gokayama |
hassi.txt | Hassi là nguyên tố tổng hợp với ký hiệu Hs và số nguyên tử 108, và là nguyên tố nặng nhất của nhóm 8 (VIII). Nguyên tố này được quan sát đầu tiên năm 1984. Trong số các đồng vị thì 269Hs có thời gian tồn tại lâu nhất với chu kỳ bán rã khoảng ~10 giây. Cũng có dấu hiệu cho thấy rằng đồng vị 277bHs với chu kỳ bán rã ~16,5 năm, làm cho nó trở thành một trong các hạt nhân siêu năng có thời gian tồn tại lâu nhất. Có hơn 100 nguyên tử hassi cho đến nay trong các phản ứng hợp hạch nóng và lạnh khác nhau, ở cả hai loại hạt nhân bố và sản phẩm phân rã.
Các thí nghiệm cho đến nay đã xác nhận rằng hassi là một thành viên đặc trưng trong nhóm 8 thể hiện trạng thái ôxy hóa +8, tương tự như osmi.
== Lịch sử ==
=== Phát hiện ===
Hassi được tổng hợp đầu tiên năm 1984 bởi nhóm nghiên cứu người Đức dẫn đầu là Peter Armbruster và Gottfried Münzenberg ở Viện nghiên cứu ion nặng (Gesellschaft für Schwerionenforschung) tại Darmstadt. Nhóm này đã bắn phát hạt nhân chì bằng hạt nhân 58Fe tạo ra 3 nguyên tử 265Hs theo phản ứng:
20882Pb + 5826Fe → 265108Hs + n
IUPAC/IUPAP Transfermium Working Group (TWG) đã công nhận nhóm làm việc tại GSI là những người đã phát hiện ra nguyên tố này năm 1992.
=== Đặt tên ===
Về mặt lịch sử, nguyên tố 108 được biết đến là eka-osmium. Trong thời gian tranh cãi về các tên gọi của các nguyên tố, IUPAC tạm thời đặt tên nguyên tố này là unniloctium (ký hiệu Uno), theo tên gọi hệ thống.
Tên gọi hassi được nhóm phát hiện đề xuất năm 1992, theo tên tiếng Latin tiểu bang Hesse của Đức nơi đặt viện nghiên cứu này (L. hassia German Hessen).
Năm 1994, hội đồng IUPAC đã đề nghị đặt tên nguyên tố 108 là hahnium (Hn), mặc cho quy ước có từ lâu để cho người phát hiện có quyền đề xuất tên gọi. Sau những phản đối từ những người phát hiện, tên gọi hassium (Hs) được thông qua năm 1997.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com: Hassium |
danh sách công ty điện tử nhật bản.txt | A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
== A ==
Accuphase
Advantest
Aiwa
Akai
Alaxala Networks
Alinco
Alpine Electronics
Alps Electric
Anritsu
AOR
Audio-Technica
== B ==
Brother Industries
Buffalo Technology
Busicom
== C ==
Casio
Canon
Capcom
Chinon Industries
Citizen Watch Co.
Clarion (car audio)
== D ==
Denon
== E ==
Epson
== F ==
FANUC
Fisher Electronics
Foster/Fostex
Fuji Electric
Fuji Xerox
Fujitsu
Funai
== G ==
GRE (công ty)
== H ==
H8 Family
Hamamatsu Photonics
Hitachi Data Systems
Hitachi Maxell
Hitachi, Ltd.
== I ==
Icom
Iiyama (company)
Ikegami
== J ==
JVC
== K ==
Kenwood Electronics
Keyence
Kokubu Technology Center
Konica
Konica Minolta
Kumamoto Technology Center
Kyocera
== L ==
Luxman
== M ==
Mamiya
Mẩrantz
Maruhon
Matsushita Electric Industrial Co.
Melco
Minebea
Minebea Co.
Minolta
Mitsubishi Electric
Mitsumi
Murata Manufacturing
== N ==
NEC
Nakamichi
Nichia Corporation
Nichicon
Nihon Dempa Kogyo Co., Ltd.
Nikon
Nippon Chemi-Con
Nitto Denko
== O ==
OMRON
Oki Data Americas, Inc.
Oki Electric Industry
Olympus Corporation
Onkyo
Optonica
Orion Electric
== P ==
Panasonic
Pioneer
Plextor
== R ==
Renesas Electrics
Ricoh
Rohm
== S ==
S-LCD
START Lab Inc.
Sansui
Sanyo
Seiko Epson
Seiko Instruments
Seikosha
Sharp
Shinano Kenshi
Sumitomo Electric
Sony
Stax
Sysmex Corporation
== T ==
TDK
TEAC
TOA Corp.
Taiyo Yuden
Toshiba
== U ==
== V ==
victor
== W ==
Wacom
== X ==
== Y ==
Yaesu (brand)
Yamaha
Yaskawa Electric Corporation
Yokogawa Electric
Yuasa
Yupiteru
== Z ==
== Tham khảo == |
phòng khám.txt |
== Tham khảo ==
Phòng khám hay phòng mạch hoặc phòng khám ngoại trú, phòng khám chăm sóc cấp cứu là một cơ sở chăm sóc sức khỏe chủ yếu là dành cho việc chăm sóc bệnh nhân ngoại trú hay nói cách khác, một phòng khám nói chung là một kiểu bệnh viện cung cấp chẩn đoán hoặc điều trị một cộng đồng chung mà bệnh nhân thường không ở lại qua đêm. Phòng khám có thể được tư nhân điều hành và được quản lý công khai, hình thành do tài trợ, và thường bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chủ yếu của cộng đồng địa phương, trái ngược với các bệnh viện lớn nơi thực hiện các phương pháp điều trị chuyên ngành và cho bệnh nhân nội trú cho ở lại qua đêm.
== Đặc điểm ==
Phòng khám thường kết hợp với thực hành y tế nói chung và thường là phòng khám đa khoa, phòng khám được điều hành bởi một hoặc một số bác sĩ đa khoa hoặc người quản lý hành nghề Vật Lý Trị Liệu. Một số phòng khám hoạt động bởi người sử dụng lao động, tổ chức chính phủ hoặc các bệnh viện và một số dịch vụ lâm sàng bên ngoài của các công ty tư nhân, chuyên cung cấp dịch vụ y tế.
Chức năng của phòng khám sẽ khác đối với nước này hay nước khác. Ví dụ, một thực tế chung của địa phương được điều hành bởi một bác sĩ duy nhất cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, và thường sẽ được hoạt động như là một doanh nghiệp vì lợi nhuận của chủ sở hữu trong khi một phòng khám chuyên gia chính phủ có thể cung cấp trợ cấp chăm sóc y tế chuyên sâu.
Một số trạm y tế (trạm xá) có chức năng như là một nơi cho những người bị chấn thương hoặc bệnh tật đến và được nhìn thấy bằng cách phân loại y tá hoặc nhân viên y tế khác. Trong những phòng khám này, thương tích hay bệnh tật không nghiêm trọng đủ để đảm bảo phải chuyển đến một phòng cấp cứu, nhưng có thể được chuyển đến nếu có yêu cầu. Điều trị tại các phòng khám này thường ít tốn kém hơn
== Loại hình ==
Có rất nhiều loại phòng khám khác nhau như phòng khám cung cấp dịch vụ ngoại trú. Phòng khám này có thể là công cộng (chính phủ tài trợ) hoặc của tư nhân. Ở Hoa Kỳ có những phòng khám miễn phí cung cấp chăm sóc y tế miễn phí hoặc chi phí thấp cho những người không có bảo hiểm. Một phòng khám phá thai là một cơ sở y tế cung cấp dịch vụ y tế liên quan đến phá thai và phụ nữ. Một phòng khám phẫu thuật ngoại trú cung cấp cho bệnh nhân ngoại trú hoặc các dịch vụ phẫu thuật cùng một ngày, thường là các thủ tục phẫu thuật ít phức tạp hơn so với những người nhập viện yêu cầu.
== Xem thêm ==
Bệnh viện
Trạm xá
Trung tâm y tế |
hiệp hội quần vợt nữ.txt | Hiệp hội quần vợt nữ (Women's Tennis Association, viết tắt là WTA), được thành lập vào năm 1973 bởi Billie Jean King, là cơ quan tổ chức chính của quần vợt nữ chuyên nghiệp. Tổ chức tương tự của các vận động viên nam là ATP. Trụ sở chính của WTA ở St. Petersburg, Florida, trụ sở tại châu Âu ở London, trụ sở tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương ở Bắc Kinh.
== Lịch sử ==
WTA được thành lập trong một cuộc họp của Billie Jean King, một tuần trước khi Wimbledon Championships 1973 được tổ chức. Cuộc họp này được tổ chức tại khách sạn Gloucester tại London. Trong năm 1975, WTA ký một hợp đồng phát sóng trên kênh truyền hình CBS và tiếp tục nâng cao tiềm lực tài chính của mình. Năm 1976, Colgate nhận tài trợ cho các giải đấu từ tháng 4 đến tháng 11. Năm 1979, Avon thay thế Virginia Slims trở thành nhà tài trợ cho các giải đấu trong mùa đông và cung cấp các giải thưởng lớn, $ 100,000 cho Avon Championships. Colgate Series đổi tên thành Toyota series trong năm 1981, gồm các giải đấu trên toàn thế giới, trong khi các giải đấu do Avon tài trợ chỉ diễn ra ở Mỹ. Hai giải đấu sáp nhập với nhau trong năm 1983 khi Virginia Slims lấy lại quyền tài trợ hoàn toàn cho WTA Tour. Mỗi giải đấu dưới sự quản lý của WTA hiện nay đã trở thành một phần của Virginia Slims World Championships Series.
== Các giải đấu ==
Cơ cấu các giải đấu hiện nay được ra vào năm 2009. Các giải Premier Tournaments thay thế cho Tier I và Tier II trước đây, các giải International Tournaments thay thế Tier III và IV.
Giải Grand Slam (4)
Giải vô địch kết thúc năm (WTA Tour Championships)
Giải đấu Premier:
Premier Mandatory: Bốn giải đấu kết hợp với những tay vợt nam, với phần thưởng $ 5.400.000 cho cả nam và nữ (tăng từ 4,5 triệu USD năm 2013). Giải đấu được tổ chức tại Indian Wells, Miami, Madrid, và Bắc Kinh.
Premier Five: Năm phần thưởng $ 2.000.000 được tổ chức ở Doha, Rome, Montreal/Toronto, Cincinnati, và Vũ Hán.
Premier: Mười hai phần thưởng từ US $ 710,000 đến 2 triệu USD.
Các giải đấu quốc tế: Có 31 giải đấu, với số tiền thưởng là 250.000 USD. Riêng tại Shenzhen Open, Monterrey Open, Korea Open là 500.000 USD, và Garanti Koza Tournament of Champions là 750.000 USD.
WTA 125k Series (từ năm 2012): Có sáu giải đấu (ba ở Trung Quốc, một ở Đài Bắc Trung Quốc, một ở Pháp và một ở Israel), với số tiền thưởng cho mỗi giải đấu là $ 125.000.
Điểm xếp hạng cũng có tại các giải đấu được tổ chức bởi Liên đoàn quần vợt Quốc tế mỗi năm với các giải thưởng khác nhau, từ 10.000 USD đến 100.000 USD, và tại Thế vận hội Olympic.
== Bảng xếp hạng ==
WTA xếp hạng các tay vợt dựa trên điểm tích lũy của họ trong 52 tuần gần nhất.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The official WTA Tour web site
WTA tour schedule
The official WTA Tour Twitter page
The official WTA Tour Facebook page
The official WTA Tour YouTube page
TennisTV: Official live WTA tennis streaming site |
quốc lộ 2.txt | Quốc lộ 2 dài 312 km, chạy qua địa bàn năm tỉnh và thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang và Hà Giang. Chiều dài toàn tuyến là 315 km. Đoạn từ sân bay Nội Bài (Hà Nội) đến thành phố Vĩnh Yên còn được gọi là Quốc lộ 2A. Đoạn từ Vĩnh Yên đến thành phố Tuyên Quang và một ngả rẽ lên thị trấn Tam Đảo còn được gọi là Quốc lộ 2B. Đoạn từ thành phố Tuyên Quang đến cửa khẩu Thanh Thủy còn được gọi là Quốc lộ 2C.
Điểm đầu tại ngã ba Phù Lỗ (giao với km18 quốc lộ 3) huyện Sóc Sơn, Hà Nội).
Điểm cuối tại cửa khẩu Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
== Tình trạng kỹ thuật ==
Đoạn từ km0 (ngã ba Phù Lỗ) đến thành phố Việt Trì dài 56 km.
Đoạn từ km57 (thành phố Việt Trì) đến thành phố Tuyên Quang km 136 dai 79 km.
Đoạn từ km136 (thành phố Tuyên Quang) đến km313 (cửa khẩu Thanh Thủy, tỉnh Hà Giang) dài 177 km.
Toàn tuyến có 89 cầu đường bộ, cầu lớn nhất là cầu Đoan Hùng ở km111+300, cầu có chiều dài 450 m và rộng 12 m.
== Đoạn tham gia Hiệp định đường bộ GMS và ASEAN ==
Đoạn từ Km0 (Phù Lỗ) đến Km109 (Đoan Hùng) thuộc tuyến AH14 (Hải Phòng - Cửa khẩu Lào Cai/Hà Khẩu - Côn Minh) trong các Hiệp định đường bộ GMS và ASEAN.
== Tham khảo == |
1972.txt | Theo lịch Gregory, năm 1972 (số La Mã: MCMLXXII) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ bảy.
Bản mẫu:Tháng trong năm 1972
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Nello Celio trở thành tổng thống Thụy Sĩ
1 tháng 1: Kurt Waldheim trở thành tổng thư ký của Liên Hiệp Quốc
18 tháng 1: Bahrain trở thành thành viên trong UNESCO
27 tháng 1: Qatar trở thành thành viên trong UNESCO
30 tháng 1: Pakistan ly khai Khối Thịnh vượng chung Anh
=== Tháng 2 ===
10 tháng 2: Oman trở thành thành viên trong UNESCO
14 tháng 2: Trung Quốc và Mexico thiết lập quan hệ ngoại giao
19 tháng 2: Trung Quốc và Argentina thiết lập quan hệ ngoại giao
21 tháng 2: Tống thống Hoa Kỳ Nixon chính thức thăm Trung Quốc
26 tháng 2: Vỡ đập Buffalo-Creek tại Tây Virginia, Hoa Kỳ, 125 nạn nhân tử vong
=== Tháng 4 ===
10 tháng 4: Động đất 7,1 độ trong Iran, 5.054 người chết
16 tháng 4: Apollo 16 khởi hành
=== Tháng 5 ===
5 tháng 5: Palermo, Ý. Một chiếc Douglas DC-8 của Alitalia va vào núi. Tất cả 115 người trên máy bay chết
22 tháng 5: Ceylon có hiến pháp mới và trở thành nước cộng hòa dưới tên Sri Lanka
26 tháng 5: Hiệp ước SALT I được Richard Nixon và Leonid Ilyich Brezhnev ký kết
=== Tháng 6 ===
1 tháng 6: Iraq quốc hữu hóa toàn bộ nền công nghiệp dầu
5 tháng 6: Trung Quốc và Hy Lạp thiết lập quan hệ ngoại giao
9 tháng 6: Vỡ đập nước Canyon-Lake tại Rapid City, Nam Dakota.
18 tháng 6: London: Rơi một chiếc Hawker Siddeley Trident của BEA, tất cả 121 người trên máy bay chết
=== Tháng 10 ===
13 tháng 10: Mokva: Rơi một chiếc Iljuschin Il-62 của Aeroflot, tất cả 176 người chết
27 tháng 10: Bangladesh trở thành thành viên trong UNESCO
=== Tháng 12 ===
7 tháng 12: Apollo 17 khởi hành
14 tháng 12: Eugene Andrew Cernan rời Mặt Trăng
23 tháng 12: Động đất 6,2 độ tại Nicaragua, khoảng 5.000 người chết
31 tháng 12: Bồ Đào Nha ly khai UNESCO
=== ===
== Sinh ==
1 tháng 1: Lilian Thuram, cầu thủ bóng đá Pháp
3 tháng 1: Alisha Klass, nữ diễn viên phim khiêu dâm Hoa Kỳ
5 tháng 1: Sasha, ca sĩ nhạc pop Đức
5 tháng 1: Sakis Rouvas, nam ca sĩ Hy Lạp
5 tháng 1: Nikki Nova, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mỹ
11 tháng 1: Amanda Peet, nữ diễn viên Mỹ
13 tháng 1: Stefan Beinlich, cầu thủ bóng đá Đức
13 tháng 1: Nicole Eggert, nữ diễn viên Mỹ
15 tháng 1: Shelia Burrell, nữ vận động viên điền kinh Mỹ
17 tháng 1: Benno Fürmann, diễn viên Đức
18 tháng 1: Conny Mayer, nữ chính trị gia Đức
18 tháng 1: Kjersti Plätzer, nữ vận động viên điền kinh Na Uy
21 tháng 1: Javier Yubero, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha (mất 2005)
24 tháng 1: Muriel Baumeister, nữ diễn viên Áo
24 tháng 1: Beth Hart, nữ ca sĩ Mỹ
25 tháng 1: Silke Rottenberg, nữ cầu thủ bóng đá Đức
25 tháng 1: Pauli Jaks, vận động viên khúc côn cầu trên băng Thụy Sĩ
27 tháng 1: Tobias Steinhauser, tay đua xe đạp Đức
27 tháng 1: Mark Owen, nam ca sĩ Anh
29 tháng 1: Bobbie Phillips, nữ diễn viên Mỹ
1 tháng 2: Christian Ziege, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 2: Dana International, nữ ca sĩ nhạc pop Israel
3 tháng 2: Georg Koch, cầu thủ bóng đá Đức
12 tháng 2: Sophie Zelmani, nữ nhạc sĩ Thụy Điển
13 tháng 2: Ronald Maul, cầu thủ bóng đá Đức
15 tháng 2: Phan Thị Bích Hằng, nhà ngoại cảm nổi tiếng ở Việt Nam
15 tháng 2: Jaromír Jágr, vận động viên khúc côn cầu trên băng
16 tháng 2: Wiebke Lorenz, nữ nhà báo, nhà văn Đức
16 tháng 2: Grit Breuer, nữ vận động viên điền kinh Đức
17 tháng 2: Johnny Jensen, vận động viên bóng ném Na Uy
20 tháng 2: Laith Al-Deen, nhạc sĩ Đức
22 tháng 2: Claudia Pechstein, nữ vận động viên chạy đua trên băng Đức
22 tháng 2: Michael Chang, vận động viên quần vợt Mỹ
24 tháng 2: Manon Rheaume, nữ vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada
25 tháng 2: Anneke Kim Sarnau, nữ diễn viên Đức
2 tháng 3: Tim Bergmann, diễn viên Đức
5 tháng 3: Luca Turilli, nhạc sĩ
6 tháng 3: Shaquille O'Neal, cầu thủ bóng rổ Mỹ
9 tháng 3: Jean Louisa Kelly, nữ diễn viên Mỹ
12 tháng 3: Christian Möllmann, diễn viên Đức, nam ca sĩ
17 tháng 3: Melissa Auf der Maur, ca sĩ, người mẫu
17 tháng 3: Mia Hamm, nữ cầu thủ bóng đá Mỹ
19 tháng 3: Julie Lunde Hansen, nữ vận động viên chạy ski Na Uy
21 tháng 3: Derartu Tulu, nữ vận động viên điền kinh Ai Cập
29 tháng 3: Manuel Rui Costa, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
3 tháng 4: Jennie Garth, nữ diễn viên Mỹ
4 tháng 4: Xenia Seeberg, nữ diễn viên Đức
6 tháng 4: Ralf Bucher, cầu thủ bóng đá
10 tháng 4: Sami Yli-Sirniö, nhạc sĩ Phần Lan.
13 tháng 4: John van Buskirk, cầu thủ bóng đá, huấn luyện viên Mỹ
15 tháng 4: Giuseppe Reina, cầu thủ bóng đá Đức
16 tháng 4: Conchita Martínez, nữ vận động viên quần vợt Tây Ban Nha
17 tháng 4: Jennifer Garner, nữ diễn viên Mỹ
18 tháng 4: Lars Christiansen, vận động viên bóng ném Đan Mạch
19 tháng 4: Rivaldo, cầu thủ bóng đá Brasil
19 tháng 4: Sonja Nef, nữ vận động viên chạy ski Thụy Sĩ
20 tháng 4: Carmen Electra, nữ diễn viên, nữ ca sĩ
29 tháng 4: Marko Rehmer, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 5: Steffen Ziesche, vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức
2 tháng 5: Alec Empire, nhạc sĩ Đức
2 tháng 5: Dwayne Douglas Johnson, diễn viên Mỹ, wrestler
5 tháng 5: Devin Townsend, ca sĩ Canada
5 tháng 5: Žigmund Pálffy, vận động viên khúc côn cầu trên băng Slovakia
6 tháng 5: Peter Friedrich, chính trị gia Đức
6 tháng 5: Naoko Takahashi, nữ vận động viên điền kinh Nhật Bản, huy chương Thế Vận Hội
7 tháng 5: Ivan Sergei, diễn viên Mỹ
8 tháng 5: Darren Hayes, ca sĩ nhạc pop Úc
9 tháng 5: Tommy Krappweis, tác giả Đức và đạo diễn phim
10 tháng 5: Katja Seizinger, nữ vận động viên chạy ski Đức
10 tháng 5: Christian Wörns, cầu thủ bóng đá Đức
16 tháng 5: Martin Brodeur, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada
18 tháng 5: Nordin ben Salah, võ sĩ quyền Anh Hà Lan (mất 2004)
21 tháng 5: Christoph Hartmann, chính trị gia Đức
24 tháng 5: Laure Sainclair, nữ diễn viên phim khiêu dâm Pháp
26 tháng 5: René Hemmerling, nhà văn Đức
27 tháng 5: Ivete Sangalo, nữ ca sĩ Brasil
28 tháng 5: Boris Palmer, chính trị gia Đức
28 tháng 5: Chiara Mastroianni, nữ diễn viên Pháp
28 tháng 5: Michael Boogerd, tay đua xe đạp Hà Lan
31 tháng 5: Sébastien Barberis, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
4 tháng 6: Nikka Costa, nữ ca sĩ Mỹ
7 tháng 6: Karl Urban, diễn viên New Zealand
8 tháng 6: Jaroslav Rudiš, nhà văn Séc, nhà báo
12 tháng 6: Inger Miller, nữ vận động viên điền kinh Mỹ
15 tháng 6: Jean-Francois Labbé, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada
19 tháng 6: Ilja Markow, vận động viên điền kinh Nga, huy chương Thế Vận Hội
22 tháng 6: Dariusz Baranowski, tay đua xe đạp Ba Lan
23 tháng 6: Zinedine Zidane, cầu thủ bóng đá Pháp
23 tháng 6: Selma Blair, nữ diễn viên Mỹ
24 tháng 6: Robbie McEwen, tay đua xe đạp Úc
28 tháng 6: Maria Viktorovna Butyrskaya, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Nga
28 tháng 6: Ngô Bảo Châu, nhà toán học Việt Nam
1 tháng 7: Steffi Nerius, nữ vận động viên điền kinh Đức
1 tháng 7: Claire Forlani, nữ diễn viên Anh
2 tháng 7: Darren O'Shaughnessy, nhà văn Ireland
4 tháng 7: Karin Thürig, nữ vận động viên đua xe đạp Thụy Sĩ
8 tháng 7: Geri Halliwell, nữ ca sĩ nhạc pop Anh
17 tháng 7: Mandy Smith, người mẫu, nữ ca sĩ
17 tháng 7: Jaap Stam, cầu thủ bóng đá Hà Lan
19 tháng 7: Ebbe Sand, cầu thủ bóng đá Đan Mạch
21 tháng 7: Paul Brandt, ca sĩ nhạc country Canada
23 tháng 7: Giovane Elber, cầu thủ bóng đá Brasil
26 tháng 7: Tanja Szewczenko, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức
28 tháng 7: Walter Bénéteau, tay đua xe đạp Pháp
29 tháng 7: Wil Wheaton, diễn viên Mỹ, nhà văn
2 tháng 8: Justyna Steczkowska, nữ nhạc sĩ nhạc pop Ba Lan
2 tháng 8: Corinne Rey-Bellet, nữ vận động viên chạy ski Thụy Sĩ
3 tháng 8: Erika Marozsán, nữ diễn viên Hungary
6 tháng 8: Christoph Simon, nhà văn Thụy Sĩ
8 tháng 8: Axel Merckx, tay đua xe đạp Bỉ
9 tháng 8: Marcos Serrano, tay đua xe đạp Tây Ban Nha
10 tháng 8: Angie Harmon, nữ diễn viên Mỹ
12 tháng 8: Rebecca Gayheart, nữ diễn viên Mỹ
15 tháng 8: Mikey Graham, nam ca sĩ Ireland
15 tháng 8: Ben Affleck, diễn viên Mỹ
24 tháng 8: Fritz Strobl, vận động viên chạy ski Áo
27 tháng 8: Denise Lewis, nữ vận động viên điền kinh Anh
27 tháng 8: Roland Garber, tay đua xe đạp Áo
30 tháng 8: Pavel Nedvěd, cầu thủ bóng đá
30 tháng 8: Cameron Diaz, nữ diễn viên Mỹ và người mẫu
31 tháng 8: Kostas Konstantinidis, cầu thủ bóng đá Hy Lạp
31 tháng 8: Chris Tucker, diễn viên Mỹ
1 tháng 9: Peter Adolphsen, nhà văn Đan Mạch
3 tháng 9: Tim Lobinger, vận động viên điền kinh Đức
8 tháng 9: Markus Babbel, cầu thủ bóng đá Đức
9 tháng 9: Miriam Oremans, nữ vận động viên quần vợt Hà Lan
14 tháng 9: Peter Németh, cầu thủ bóng đá Slovakia
15 tháng 9: Timothy Mack, vận động viên điền kinh Mỹ
15 tháng 9: Mandakranta Sen, nhà văn nữ Ấn Độ
16 tháng 9: Vebjørn Rodal, vận động viên điền kinh Na Uy, huy chương Thế Vận Hội
18 tháng 9: Mirijam Günter, nhà văn, nhà xuất bản
21 tháng 9: Liam Gallagher, nam ca sĩ Anh của ban nhạc rock Oasis
23 tháng 9: Sarah Bettens, nữ nhạc sĩ Bỉ
28 tháng 9: Werner Schlager, vận động viên bóng bàn Áo
28 tháng 9: Gwyneth Paltrow, nữ diễn viên Mỹ
30 tháng 9: Ari Behn, nhà văn Na Uy
3 tháng 10: Kevin Richardson, nam ca sĩ của Backstreet Boys
7 tháng 10: Loek van Wely, kì thủ Hà Lan
11 tháng 10: Claudia Black, nữ diễn viên Úc
16 tháng 10: Benjamin Mikfeld, chính trị gia Đức
16 tháng 10: Tomasz Hajto, cầu thủ bóng đá Ba Lan
17 tháng 10: Eminem, Ca sĩ rap Mỹ và nhà sản xuất
18 tháng 10: Helge Braun, chính trị gia Đức và nghị sĩ quốc hội liên bang
18 tháng 10: Wojciech Kuczok, nhà văn Ba Lan
19 tháng 10: Stephan Hanke, cầu thủ bóng đá Đức
24 tháng 10: Matt Hemingway, vận động viên điền kinh Mỹ
27 tháng 10: Sebastian Ratjen, chính trị gia Đức
27 tháng 10: Santiago Botero, tay đua xe đạp Colombia
27 tháng 10: Maria Mutola, nữ vận động viên điền kinh
30 tháng 10: Daniela Knor, nữ tác giả Đức
1 tháng 11: Toni Collette, nữ diễn viên Úc
4 tháng 11: Luís Figo, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
6 tháng 11: Thandie Newton, nữ diễn viên Anh
6 tháng 11: Rebecca Romijn, nữ diễn viên Mỹ
7 tháng 11: Christopher Daniel Barnes, diễn viên Mỹ
7 tháng 11: Jason London, diễn viên Mỹ, nhà sản xuất phim
12 tháng 11: Vasileios Tsiartas, cầu thủ bóng đá Hy Lạp
14 tháng 11: Edyta Górniak, nữ ca sĩ Ba Lan
14 tháng 11: Dariusz Żuraw, cầu thủ bóng đá Ba Lan
15 tháng 11: Jonny Lee Miller, diễn viên Anh
15 tháng 11: Ngô Bảo Châu, Giáo sư Toán có hai quốc tịch Việt Nam và Pháp
17 tháng 11: Kimya Dawson, nữ ca sĩ Mỹ
26 tháng 11: Arjun Rampal, diễn viên Ấn Độ
30 tháng 11: Kriemhild Jahn, nữ ca sĩ Đức
1 tháng 12: Norbert Wójtowicz, nhà sử học Ba Lan và nhà thần học
2 tháng 12: Sergejs Žoltoks, vận động viên khúc côn cầu trên băng (mất 2004)
4 tháng 12: Sebastian Karpiniuk, chính trị gia Ba Lan
4 tháng 12: Marc Bator, nhà báo Đức
9 tháng 12: Leonor Varela, nữ diễn viên Chile
9 tháng 12: Tré Cool, nhạc sĩ nhạc rock Mỹ
9 tháng 12: Reiko Aylesworth, nữ diễn viên Mỹ
10 tháng 12: Brian Molko, nhạc sĩ
11 tháng 12: Andrij Hussin, cầu thủ bóng đá Ukraina
12 tháng 12: Wilson Kipketer, vận động viên điền kinh Đan Mạch
13 tháng 12: Peter Luttenberger, tay đua xe đạp Áo
17 tháng 12: Anton Ehmann, cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp Áo
19 tháng 12: Alyssa Milano, nữ diễn viên Mỹ, nhà sản xuất và nữ ca sĩ
20 tháng 12: Anja Rücker, nữ vận động viên điền kinh Đức
22 tháng 12: Stephanie Ann Jones, nữ cầu thủ bóng đá Đức
22 tháng 12: Vanessa Paradis, nữ diễn viên Pháp và nữ ca sĩ
22 tháng 12: Alexandre Moos, tay đua xe đạp Thụy Sĩ
23 tháng 12: Lukas Hilbert, nhà soạn nhạc Đức, nhà sản xuất nhạc, nam ca sĩ
25 tháng 12: Qu Yunxia, nữ vận động viên điền kinh Trung Hoa
26 tháng 12: Jared Leto, diễn viên Mỹ
28 tháng 12: Patrick Rafter, vận động viên quần vợt Úc
29 tháng 12: Jude Law, diễn viên Anh
29 tháng 12: Eva Haßmann, nữ diễn viên Đức
30 tháng 12: Stefan Liebich, chính trị gia Đức
31 tháng 12: Mathias Hain, cầu thủ bóng đá Đức
== Mất ==
1 tháng 1: Eberhard Wolfgang Möller, nhà văn Đức, nhà soạn kịch (sinh 1906)
3 tháng 1: Elisabeth Schiemann, nhà nữ thực vật học Đức (sinh 1881)
6 tháng 1: Chen Yi, tướng, chính trị gia Trung Hoa (sinh 1901)
14 tháng 1: Frederik IX, vua của Đan Mạch (sinh 1899)
14 tháng 1: Horst Assmy, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1933)
16 tháng 1: David Seville, nam ca sĩ Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1919)
17 tháng 1: Karl Gaul, chính trị gia Đức (sinh 1889)
24 tháng 1: Dino Buzzati, nhà văn Ý (sinh 1906)
27 tháng 1: Richard Courant, nhà toán học Đức (sinh 1888)
30 tháng 1: Karel Boleslav Jirák, nhà soạn nhạc Séc (sinh 1891)
31 tháng 1: Hans Breitensträter, võ sĩ quyền anh hạng nặng (sinh 1897)
7 tháng 2: Walter Lang, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1896)
7 tháng 2: Walter von Sanden-Guja, nhà văn Đức, nhà nghiên cứu tự nhiên, thi sĩ (sinh 1888)
8 tháng 2: Markos Vamvakaris, nam ca sĩ Hy Lạp, nhà soạn nhạc (sinh 1905)
15 tháng 2: Edgar Snow, nhà báo Mỹ (sinh 1905)
16 tháng 2: Jakob Fischbacher, chính trị gia Đức (sinh 1886)
20 tháng 2: Maria Goeppert-Mayer, nhà nữ vật lý học (sinh 1906)
25 tháng 2: Gottfried Fuchs, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1889)
28 tháng 2: Victor Barna, vận động viên bóng bàn Hungary (sinh 1911)
2 tháng 3: Clifford Coffin, nhiếp ảnh gia Mỹ (sinh 1913)
5 tháng 3: Helmut Körnig, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1905)
7 tháng 3: Otto Griebel, họa sĩ Đức (sinh 1895)
11 tháng 3: Ferdinand Friedensburg, chính trị gia Đức (sinh 1886)
11 tháng 3: Martin Blank, chính trị gia Đức (sinh 1897)
20 tháng 3: Gerhard Heid, huấn luyện viên bóng đá Đức
27 tháng 3: M. C. Escher, nghệ nhân Hà Lan, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1898)
2 tháng 4: Franz Halder, tướng Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai (sinh 1884)
3 tháng 4: Ferde Grofé, nhà soạn nhạc Mỹ, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1892)
4 tháng 4: Stefan Wolpe, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1902)
6 tháng 4: Heinrich Lübke, chính trị gia Đức (sinh 1894)
11 tháng 4: Solomon Aaron Berson, nhà y học Mỹ (sinh 1918)
13 tháng 4: Jóhannes Sveinsson Kjarval, họa sĩ (sinh 1885)
15 tháng 4: Frank Knight, nhà kinh tế học Mỹ (sinh 1885)
16 tháng 4: Kawabata Yasunari, nhà văn Nhật Bản (sinh 1899)
18 tháng 4: Willi Lausen, chính trị gia Đức (sinh 1901)
25 tháng 4: George Sanders, diễn viên Anh, Giải Oscar (sinh 1906)
27 tháng 4: Kwame Nkrumah, chính trị gia, 1960–1966 tổng thống Ghana (sinh 1909)
27 tháng 4: Jóhannes úr Kötlum, nhà văn (sinh 1899)
29 tháng 4: Manfred Gurlitt, tác giả Đức, nhà soạn nhạc (sinh 1890)
2 tháng 5: J. Edgar Hoover, giám đốc FBI (sinh 1895)
2 tháng 5: Hugo Hartung, nhà văn Đức (sinh 1902)
4 tháng 5: Edward Calvin Kendall, nhà hóa sinh Mỹ (sinh 1886)
5 tháng 5: Fulbert Youlou, tổng thống Cộng hòa Congo (sinh 1917)
9 tháng 5: Michael Laßleben, nhà xuất bản Đức (sinh 1899)
13 tháng 5: Dan Blocker, diễn viên Mỹ (sinh 1928)
14 tháng 5: Theodor Blank, chính trị gia Đức (sinh 1905)
18 tháng 5: Sidney Franklin, đạo diễn phim Mỹ, nhà sản xuất phim (sinh 1893)
22 tháng 5: Margaret Rutherford, nữ diễn viên Anh (sinh 1892)
22 tháng 5: Cecil Day-Lewis, nhà văn, thi sĩ (sinh 1904)
25 tháng 5: Asta Nielsen, nữ diễn viên Đan Mạch (sinh 1881)
27 tháng 5: José Garibi y Rivera, tổng giám mục Guadalajara, Hồng y (sinh 1889)
29 tháng 5: Margaret Ruthven Lang, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1867)
2 tháng 6: Ulvi Cemal Erkin, nhà soạn nhạc Thổ Nhĩ Kỳ (sinh 1906)
11 tháng 6: Joakim Bonnier, tay đua Công thức 1 (sinh 1930)
12 tháng 6: Ludwig von Bertalanffy, nhà sinh vật học Áo, nhà nghiên cứu tự nhiên (sinh 1901)
13 tháng 6: Georg von Békésy, nhà vật lý học, nhà sinh lý học (sinh 1899)
17 tháng 6: Helge Rosvaenge, người hát giọng nam cao Đan Mạch (sinh 1897)
22 tháng 6: Paul Czinner, tác giả, đạo diễn phim, (sinh 1890)
23 tháng 6: Werner Klingler, diễn viên Đức, đạo diễn phim, tác giả kịch bản (sinh 1903)
28 tháng 6: Prasanta Chandra Mahalanobis, nhà vật lý học Ấn Độ (sinh 1893)
29 tháng 6: Boby Lapointe, nam ca sĩ Pháp (sinh 1922)
3 tháng 7: Fred McDowell, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1904)
3 tháng 7: Gustav Hillard, nhà văn Đức, nhà phê bình (sinh 1881)
9 tháng 7: Franz Pfender, chính trị gia Đức (sinh 1899)
20 tháng 7: Friedrich Flick, doanh nhân Đức (sinh 1883)
20 tháng 7: Geeta Dutt, nữ ca sĩ Ấn Độ (sinh 1930)
21 tháng 7: Ralph Craig, vận động viên điền kinh Mỹ (sinh 1889)
23 tháng 7: Max Aub, nhà văn Tây Ban Nha (sinh 1903)
25 tháng 7: Thomas Andresen, chính trị gia Đức (sinh 1897)
26 tháng 7: Joop Boutmy, cầu thủ bóng đá Hà Lan (sinh 1894)
31 tháng 7: Paul-Henri Spaak, chính trị gia Bỉ, chính khách (sinh 1899)
31 tháng 7: Ernst Fischer, nhà văn Áo (sinh 1899)
2 tháng 8: Rudolph Ganz, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ, nghệ sĩ dương cầm, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1877)
2 tháng 8: Ralph Maria Siegel, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1911)
2 tháng 8: Paul Goodman, triết gia xã hội Mỹ, nhà thơ (sinh 1911)
9 tháng 8: Ernst von Salomon, nhà văn Đức (sinh 1902)
11 tháng 8: Albrecht Aschoff, chính trị gia Đức (sinh 1899)
11 tháng 8: Max Theiler, nhà sinh vật học Mỹ (sinh 1899)
14 tháng 8: Paolo Giobbe, Hồng y Giáo chủ (sinh 1880)
16 tháng 8: John Barnes Chance, nhà soạn nhạc Mỹ (sinh 1932)
16 tháng 8: Pierre Brasseur, diễn viên Pháp (sinh 1905)
19 tháng 8: Leopold Reitz, nhà văn Đức (sinh 1889)
24 tháng 8: Georg Draheim, giáo sư kinh tế học (sinh 1903)
25 tháng 8: Juan Carlos Paz, nhà soạn nhạc Argentina (sinh 1901)
26 tháng 8: Oskar Wacker, chính trị gia Đức (sinh 1898)
29 tháng 8: Lale Andersen, nữ ca sĩ Đức, nữ diễn viên (sinh 1905)
29 tháng 8: Herta Ilk, nữ chính trị gia Đức (sinh 1902)
30 tháng 8: Joseph Maria Lutz, nhà văn Đức (sinh 1893)
2 tháng 9: Alejandra Pizarnik, nữ thi sĩ Argentina (sinh 1936)
2 tháng 9: John Hutchinson, nhà thực vật học Anh (sinh 1884)
15 tháng 9: Ásgeir Ásgeirsson, tổng thống thứ nhì của Iceland(sinh 1894)
19 tháng 9: Robert Casadesus, nghệ sĩ dương cầm Pháp (sinh 1899)
21 tháng 9: Henry de Montherlant, nhà văn Pháp (sinh 1895)
22 tháng 9: Benedicto Kiwanuka, chính trị gia (sinh 1922)
23 tháng 9: Gerard Boedijn, nhà soạn nhạc Hà Lan, thầy giáo (sinh 1893)
27 tháng 9: Rory Storm, nhạc sĩ nhạc rock Anh, nam ca sĩ (sinh 1938)
27 tháng 9: Shiyali Ramamrita Ranganathan, nhà toán học Ấn Độ (sinh 1892)
28 tháng 9: Erich Przywara, nhà thần học (sinh 1889)
30 tháng 9: Edgar G. Ulmer, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1904)
1 tháng 10: Kurt Hiller, nhà văn Đức, nhà xuất bản (sinh 1885)
10 tháng 10: Kenneth Essex Edgeworth, nhà thiên văn học Ireland (sinh 1880)
16 tháng 10: Hale Boggs, chính trị gia Mỹ (sinh 1914)
16 tháng 10: Leo G. Carroll, diễn viên Anh (sinh 1892)
17 tháng 10: Günter Neumann, nhà soạn nhạc Đức, tác giả (sinh 1913)
20 tháng 10: Harlow Shapley, nhà thiên văn học Mỹ (sinh 1885)
28 tháng 10: Mitchell Leisen, đạo diễn phim Mỹ, diễn viên, nhà sản xuất (sinh 1898)
5 tháng 11: Lubor Bárta, nhà soạn nhạc Séc (sinh 1928)
6 tháng 11: Heinz Spundflasche, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1919)
11 tháng 11: Paul Schmitthenner, kiến trúc sư Đức (sinh 1884)
13 tháng 11: Arnold Jackson, vận động viên điền kinh Anh, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1891)
16 tháng 11: Andrei Philippowitsch Pashchenko, nhà soạn nhạc Nga (sinh 1885)
18 tháng 11: Stanislaus Kobierski, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1910)
20 tháng 11: Ennio Flaiano, nhà văn Ý (sinh 1910)
24 tháng 11: Mani Matter, nhạc sĩ Thụy Sĩ (sinh 1936)
25 tháng 11: Hans Scharoun, kiến trúc sư Đức (sinh 1893)
25 tháng 11: Henri Marie Coandă, nhà vật lý học (sinh 1886)
28 tháng 11: Havergal Brian, nhà soạn nhạc Anh (sinh 1876)
30 tháng 11: Hans Erich Apostel, nhà soạn nhạc (sinh 1901)
1 tháng 12: Antonio Segni, chính trị gia Ý (sinh 1891)
2 tháng 12: Donn Eisele, nhà du hành vũ trụ Mỹ (sinh 1930)
2 tháng 12: Diệp Vấn, võ sư Vịnh Xuân Quyền nổi tiếng (sinh 1893)
4 tháng 12: Mikalai Aladau, nhà soạn nhạc Belarus (sinh 1890)
4 tháng 12: Arnold Fischer, chính trị gia Đức (sinh 1898)
6 tháng 12: Paul Weyland, nhà hóa học Đức (sinh 1888)
8 tháng 12: William Dieterle, đạo diễn phim Đức, diễn viên (sinh 1893)
15 tháng 12: Wolfgang Jacobi, nhà soạn nhạc Đức gốc Do Thái (sinh 1894)
24 tháng 12: Ernst Kreuder, nhà văn Đức (sinh 1903)
26 tháng 12: Harry S. Truman, chính trị gia Mỹ, tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ (sinh 1884)
27 tháng 12: Lester B. Pearson, Thủ tướng Canada (sinh 1897)
29 tháng 12: Joseph Cornell, nhà điêu khắc Mỹ, họa sĩ (sinh 1903)
29 tháng 12: Curth Georg Becker, họa sĩ Đức (sinh 1904)
30 tháng 12: Arsenio Rodríguez, nhạc sĩ Cuba, nhà soạn nhạc (sinh 1911)
== Giải Nobel ==
Hóa học - Christian B. Anfinsen, Stanford Moore, William H. Stein
Văn học - Heinrich Böll
Hòa bình - không trao giải
Vật lý - John Bardeen, Leon Neil Cooper, John Robert Schrieffer
Y học - Gerald M. Edelman, Rodney R. Porter
Kinh tế - John Hicks, Kenneth Arrow
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1972, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
thái bình (thành phố).txt | Thành phố Thái Bình là tỉnh lỵ tỉnh Thái Bình miền Bắc Việt Nam. Thành phố còn là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, quốc phòng... của tỉnh và cũng là một trong 8 thành phố của vùng duyên hải Bắc Bộ. Nằm cách thủ đô Hà Nội 110 km, đồng thời là đầu mối giao thông của tỉnh; thuận lợi giao lưu với các tỉnh, thành phố vùng như Hải Phòng, Nam Định đồng bằng sông Hồng qua quốc lộ 10. Ngày 30/6/2004 là ngày thành lập Thành phố Thái Bình . Bí thư Thành ủy Thái bình hiện nay: Ông Đỗ Đình An. Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 2418/QĐ-TTg công nhận Thành phố Thái Bình là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Thái Bình.
== Địa lý ==
Vị trí: Nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh. Địa giới thành phố Thái Bình: Đông Nam và Nam giáp huyện Kiến Xương; Tây và Tây Nam giáp huyện Vũ Thư; Bắc giáp huyện Đông Hưng. Thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía Tây Bắc, cách TP Hải Phòng 60 km về phía Đông Bắc, thành phố Nam Định 19 km về phía Tây.
Thủy văn: Các sông chảy qua: Sông Trà Lý đi qua giữa thành phố, ngoài ra còn có sông Kiến Giang chảy ở phía Nam, và sông Vĩnh Trà.
Địa hình, khí hậu: Thành phố Thái Bình là vùng đất bằng phẳng, có cao độ 2,6m, có sông Trà Lý chảy qua với chiều dài 6,7 km, có hệ thống sông đào đã được nâng cấp, kè bờ. Chất đất ở đây có nguồn gốc phát sinh từ các cồn và bãi cát biển nhưng được bồi đắp phù sa nên rất thích hợp cho việc gieo trồng lúa nước và cây rau màu. Nơi đây cũng rất ổn định về địa chất, phù hợp với việc phát triển các ngành công nghiệp hay xây dựng những công trình cao tầng. Nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, tiểu vùng khí hậu duyên hải. Thành phố có 2 mùa rõ rệt trong năm: mùa nóng ẩm mưa nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, còn lại là mùa khô hanh ít mưa. Nhiệt độ trung bình ở đây là 23 độ C, lượng mưa trung bình từ 1.500-1.900mm, độ ẩm không khí dao động 70-90%, số giờ nắng khoảng 1.600-1.800 giờ mỗi năm.
== Diện tích và dân số ==
Diện tích: 6.771 ha (2013).
Dân số: 268.167 người (tính đến tháng 12 năm 2012).
Trong đó: thường trú là 190.169 người; Tỷ lệ tăng dân số là 1,72%.
Dự báo quy mô dấn số thành phố Thái Bình đến năm 2020 khoảng 315.000 người. và đến năm 2030 khoảng 502.000 người.
== Hành chính ==
Có 19 đơn vị hành chính, bao gồm 10 phường: Bồ Xuyên, Đề Thám, Hoàng Diệu, Kỳ Bá, Lê Hồng Phong, Phú Khánh, Quang Trung, Tiền Phong, Trần Hưng Đạo, Trần Lãm và 9 xã: Đông Hoà, Đông Mỹ, Đông Thọ, Phú Xuân, Tân Bình, Vũ Chính, Vũ Đông, Vũ Lạc, Vũ Phúc.
Danh sách các đơn vị hành chính
== Lịch sử ==
Bố Hải Khẩu: Tên đất cổ từ thời Ngô, nay thuộc phường Kỳ Bá, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Vào thế kỉ 10, là cửa biển, do sứ quân Trần Lãm chiếm giữ làm căn cứ. Đinh Bộ Lĩnh liên kết với Trần Lãm để mở rộng thế lực trong cuộc đấu tranh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước. Năm 1030, vua Lý Thái Tông cày tịch điền ở Bố Hải Khẩu. Sau Bố Hải Khẩu được bồi lấp dần thành xã Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên, trấn Sơn Nam Hạ (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay). Đến năm 1890 khi thành lập tỉnh Thái Bình tách ra từ Nam Định, nơi đây được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh, lấy tên là Thái Bình cho đến bây giờ.
Năm 1894, toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan ra quyết định quy hoạch thành lập thị xã Thái Bình.
Ngày 4 tháng 2 năm 1895, Kinh lược sứ Bắc Kỳ ra quyết định sáp nhập các làng Kỳ Bá, Bồ Xuyên vào phủ lỵ Kiến Xương để lập thị xã Thái Bình.
Gọi là thị xã song thực ra chỉ có 2 con đường trục của làng Bồ Xuyên và Kỳ Bá. Một con đường từ phủ đường qua cầu Kiến Xương (cách nhà Bảo tàng 200m) đi huyện Trực Định. Đường trục làng Bồ Xuyên và Kỳ Bá đều có đoạn dài xấp xỉ 1 km nhưng ngoằn nghèo.
Ngày 20 tháng 1 năm 1906, phủ Thống sứ ra Nghị định hoạch định chu vi thị xã.
Ngày 26 tháng 10 năm 1932, ra nghị định về kế hoạch điều chỉnh 3 con đường cho thẳng hàng:
Phố phía Bắc gọi là Đệ Nhất, tên Tây là Duynpíckê, vì qua cửa đền Mẫu nên còn gọi là phố Đền Mẫu (nay là phố Lê Lợi).
Phố phía Nam gọi là Đệ Nhị, tên Tây là Armand Rousseau, vì có nhà Vọng Cung (nơi quan lại Nam triều tế lễ vào các ngày sóc vọng) nên còn gọi phố Vọng Cung.
Phố phía Đông cắt từ đền Trần Lãm cũ (sau là dinh Công sứ - nay thuộc khu vực Tỉnh ủy). Chỉ từ đấy ra đến bờ mương, đài độ 300m gọi là phố Đệ Tam, vì cạnh sông bán nhiều tre nứa còn gọi là phố Giá Nứa.
Phố Đệ Nhất và Đệ Tam dài 1,2 km khi gặp nhau ở An Tập, tụ điểm vài tiệm cô đầu. Cạnh bờ sông có toà Công sứ và dinh Tổng đốc xây kiểu Tây, 2 tầng; 1 trường tiểu học; 1 nhà thương (bệnh viện) nhỏ; 1 nhà dây thép (bưu điện)...Dân toàn thành phố có trên 3.000 người, song ở phố chỉ độ 1.600 khẩu, 80% dân vẫn ở trong làng. Người Tây lúc đông có gần 50 khẩu, người Hoa có 25 hộ. Người Tây thì ăn lương, người Hoa bốc thuốc, buôn bán vặt và mở tiệm ăn. Diện mạo thị xã như một thị trấn nhỏ ngày nay, nhưng tiều tuỵ không có nhiều nhà cao cửa rộng.
Năm 1954, thành lập các tiểu khu: Đề Thám, Lê Hồng Phong, Quang Trung.
Ngày 19 tháng 4 năm 1963, sáp nhập 3 thôn: Kỳ Bá, An Tập, Đồng Lôi thuộc xã Vũ Lãm (sau đổi là xã Trần Lãm) của huyện Vũ Tiên và thôn Bồ Xuyên thuộc xã Tiền Phong của huyện Thư Trì ((nay huyện Vũ Tiên được hợp nhất với huyện Thư Trì thành huyện Vũ Thư)) vào thị xã Thái Bình.
Sau năm 1975, thị xã Thái Bình có 5 phường: Bồ Xuyên, Đề Thám, Kỳ Bá, Lê Hồng Phong, Quang Trung.
Ngày 8 tháng 4 năm 1982, chuyển 2 xã: Tiền Phong, Trần Lãm thuộc huyện Vũ Thư về thị xã Thái Bình quản lý.
Ngày 20 tháng 3 năm 1986, chuyển 2 xã: Đông Hòa, Hoàng Diệu thuộc huyện Đông Hưng và 3 xã: Phú Xuân, Vũ Phúc, Vũ Chính của huyện Vũ Thư về thị xã Thái Bình quản lý.
Ngày 21 tháng 6 năm 1989, thành lập phường Phú Khánh trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích và dân số của 2 xã Phú Xuân và Vũ Phúc.
Ngày 12 tháng 4 năm 2002, chuyển 2 xã: Tiền Phong, Trần Lãm thành 2 phường có tên tương ứng.
Ngày 18 tháng 4 năm 2003, thị xã Thái Bình được công nhận là đô thị loại 3.
Ngày 29 tháng 4 năm 2004, thị xã Thái Bình nâng cấp lên thành phố Thái Bình.
Ngày 13 tháng 12 năm 2007, thành phố Thái Bình được mở rộng trên cơ sở sáp nhập 2 xã: Đông Thọ và Đông Mỹ thuộc huyện Đông Hưng, 2 xã: Vũ Lạc và Vũ Đông thuộc huyện Kiến Xương và xã Tân Bình thuộc huyện Vũ Thư; chuyển xã Hoàng Diệu thành phường Hoàng Diệu và thành lập phường Trần Hưng Đạo từ một phần diện tích tự nhiên và dân số của các phường Quang Trung, Tiền Phong, Bồ Xuyên và xã Phú Xuân.
Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định công nhận thành phố Thái Bình là đô thị loại 2 trực thuộc tỉnh Thái Bình
== Kinh tế ==
Tổng kết năm 2014
Tổng giá trị sản xuất ước đạt 19.868,3 tỷ đồng, tăng 10,02% so với năm 2013. Trong đó:
Công nghiệp - xây dựng 13.865,4 tỷ đồng, tăng gần 10% so với năm 2013;
Thương mại - dịch vụ 5.276,1 tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm 2013;
Nông nghiệp đạt 726,8 tỷ đồng,
Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng chiếm 69,56%; thương mại, dịch vụ chiếm 26,83%; nông nghiệp chiếm 3,61%;
Tổng thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 1.841,5 tỷ đồng, đạt 140,8% dự toán, tăng 19,6% so với năm 2013;
Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 821,5 tỷ đồng, đạt 163,7% dự toán;
Tổng số lao động toàn thành phố trên 100 nghìn người. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt trên 70%.
Khu - Cụm Công nghiệp:
KCN Nguyễn Đức Cảnh; diện tích 102 ha (xã Phú Xuân - phường Trần Hưng Đạo - phường Tiền Phong)
KCN Phúc Khánh; diện tích 300 ha (xã Phú Xuân - phường Phúc Khánh)
KCN Tiền Phong; diện tích 56 ha (phường Tiền Phong)
KCN Sông Trà; diện tích 250 ha (xã Tân Bình)
KCN Gia Lễ; diện tích 85 ha (xã Đông Thọ - xã Đông Mỹ, thành phố Thái Bình & xã Đông Dương - xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng)
KCN Hoàng Diệu*; diện tích 50 ha (phường Hoàng Diệu)
CCN Phong Phú; diện tích 78 ha (phường Tiền Phong)
CCN Trần Lãm; diện tích 9,33 ha (phường Trần Lãm)
Các KCN và CCN trên đã thu hút hàng trăm dự án với số vốn đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng, và tạo việc làm cho trên 50.000 lao động.
Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 đạt 18,9%/năm; cơ cấu kinh tế đến năm 2015 nâng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 64,6%, thương mại - dịch vụ chiếm 33,1%, giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống còn 2,3%. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 93,6 triệu đồng.
== Phát triển Không gian Đô thị ==
Giai đoạn 2013 - 2015, tập trung đầu tư xây dựng đối với nhóm chỉ tiêu chưa đạt chuẩn đô thị loại II, nhằm khắc phục và hoàn thiện cơ bản về hạ tầng đô thị, đồng thời tiếp tục hoàn thiện đối với nhóm chỉ tiêu đạt điểm trên mức tối thiểu, nhưng chưa đạt tối đa; tập trung triển khai xây dựng một số công trình trọng điểm, có sức lan tỏa lớn để tạo sự đột phá, tạo sự chuyển biến về chất lượng đô thị theo các tiêu chí, trong đó có đề án thành lập thêm 2 phường là Phú Xuân và Tân Bình.
Giai đoạn 2016 - 2020, Thành phố tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội, đảm bảo tất cả các chỉ tiêu đều đạt và vượt mức tối đa theo các tiêu chuẩn quy định của đô thị loại II, phấn đấu đưa TP. Thái Bình phát triển cả về chất và lượng của một đô thị loại II kiểu mẫu và phấn đấu xây dựng Thành phố Thái Bình trở thành Đô thị loại I trước năm 2020.
Hướng phát triển không gian
Hướng phát triển không gian chủ đạo: Đông Bắc, Tây Bắc, Đông, Đông Nam. Trong đó ưu tiên phát triển hướng Đông Bắc, Tây Bắc.
Đẩy mạnh phát triển các khu đô thị mới ra vùng ngoại thị nhằm tạo quỹ đất cho thành phố. Khai thác triệt để quỹ đất cho phát triển kinh tế xã hội như: các vùng đất giáp các sông lớn và hệ thống mặt nước khác, vùng giáp ranh...
Định hướng phát triển không gian đô thị
Mô hình phát triển đô thị đa cực như sau:
Cực trung tâm: Phát triển khu vực nội thị hiện nay, trên địa bàn các phường Đề Thám, Quang Trung, Lê Hồng Phong, Trần Hưng Đạo.
Cực Đông Bắc: Phát triển tại khu vực thuộc phường Hoàng Diệu, khai thác năng lực của tuyến QL10 có hướng đối ngoại đi thành phố Hải Phòng và vùng Duyên hải Bắc Bộ.
Cực Đông: Phát triển tại khu vực thuộc xã Vũ Lạc, khai thác năng lực của tuyến giao thông vành đai phía Nam.
Cực Nam: Phát triển tại khu vực thuộc xã Vũ Chính, khai thác năng lực của tuyến ĐT 454 (TL223 cũ) đây là khu vực nằm trên hướng đối ngoại với tỉnh Nam Định.
Cực Tây Bắc: Phát triển tại khu vực xã Phú Xuân, khai thác năng lực của tuyến ĐT 454, cực phát triển này nằm trên hướng đối ngoại với thành phố Hưng Yên.
Định hướng phát triển: Phát triển Thành phố theo hướng đô thị hoá từng phần. Giai đoạn ngắn hạn đến 2020, tập trung phát triển cực phía Đông Bắc và phía Tây Bắc Thành phố, đến năm 2030 hoàn chỉnh quy mô phát triển, trong đó các khu vực xây dựng mới đạt các chỉ tiêu kỹ thuật của đô thị loại II.
Dự kiến sẽ xây thêm cầu qua Sông Trà Lý, nối TT hành chính thương mại khu vực Đông Mỹ - Hoàng Diệu, với TTDV du lịch dân cư Vũ Đông, Vũ Lạc, xây dựng đường vành đai phía nam đi qua Vũ Phúc, Vũ Chính, phường Trần Lãm, xã Vũ Lạc, Vũ Đông sang Đông Mỹ, để nối với tuyến tránh Quốc lộ 10; khu vực Nội thành tiếp tục được đầu tư, xây dựng nâng cấp hạ tầng KT, phát triển công nghiệp dịch vụ theo hướng văn minh hiện đại; Khu vực dân cư nông thôn tập trung xây dựng mô hình nông thôn mới, trước mắt làm thí điểm xã Vũ Phúc, bố trí hợp lý hạ tầng xã hội, như khu vui chơi giải trí, thể thao, cây xanh...đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân
Trong thời gian sắp tới, TP tiếp tục xây dựng thêm một số KĐT mới: Hoàng Diệu, Vũ Lac - Vũ Đông Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, TP đã tập trung đầu tư xây dựng và cải tạo nâng cấp các công trình nhà ở, cơ sở dịch vụ, văn phòng, cải thiện rõ rệt bộ mặt kiến trúc, cảnh quan đô thị. TP có tỷ lệ nhà ở kiên cố, khá kiên cố và bán kiên cố trong khu vực nội thành đạt tới 100% và bình quân diện tích nhà ở trên đầu người của TP đạt ở mức khá 18,75m2 sàn/người. TP đã và đang triển khai một số dự án xây dựng khu đô thị mới, khu tái định cư tạo bộ mặt mới cho đô thị và nâng cao chất lượng sống của người dân. Hiện có 3 khu đô thị mới đã và đang triển khai xây dựng như Trần Hưng Đạo, Kỳ Bá, Trần Lãm và 2 khu đô thị đang đầu tư xây dựng hạ tầng là Hoàng Diệu, Đại Cường với tổng diện tích khoảng 285ha.
== Văn hóa-xã hội-thể thao ==
Thái Bình có Nhà hát Chèo Thái Bình, có Nhà hát cải lương, Đoàn ca múc nhạc, Nhà bảo tàng, Trung tâm thông tin triển lãm, Thư viện khoa học tỉnh.
Bảo tàng Thái Bình là một trong những Bảo tàng lớn nhất của cả nước. Nơi đây lưu giữ nhiều cổ vật quý hàng ngàn năm tuổi khai quật được ở mảnh đất Thái Bình như: Trống đồng, Gạch nung cổ, các loại đồ kim loại cổ, sứ cổ. Ngoài ra còn trưng bày các kỷ vật thời nay như xe tăng của Bùi Quang Thận, máy bay của Phạm Tuân.
Thư viện khoa học tổng hợp Thái Bình được thành lập năm 1955, đến nay còn lưu giữ hơn 155 nghìn bản sách và tư liệu.
Thành phố đang xây dựng khu liên hiệp thể thao tại xã Đông Hoà và phường Hoàng Diệu gồm nhiều hạng mục như sân vận động với 25.000 chỗ ngồi, nhà thi đấu đa năng, bể bơi trong nhà, ngoài trời, khu tập luyện dành cho vận động viên,...
Thể dục thể thao Thái bình đang được chú trọng phát triển. Đặc biệt có đội tuyển bóng chuyền nữ PiOl Vital Thái Bình là CLB chuyên nghiệp thuộc hạng vào các câu lạc bộ mạnh nhất quốc gia. Đội tuyển đã nhiều năm vô địch bóng chuyền chuyên nghiệp vào các năm: 2007, 2008, 2010. Đạt giải nhì vào các năm 2009. Và đạt giải nhất trong trận thi đấu giải Cúp các câu lạc bộ Hùng Vương trước đội Bộ tư lệnh thông tin năm 2010.
Các môn thể thao khác thì không được quan tâm nên thành tích chưa được tốt.
Để phục vụ nhu cầu giải trí của người dân, TP có các công trình văn hóa như Trung tâm văn hóa, thể thao thanh thiếu niên tỉnh, Trung tâm TDTT TP, Nhà Văn hóa trung tâm tỉnh, Nhà văn hóa Lao động tỉnh, Nhà văn hóa thiếu nhi tỉnh, Thư viện tỉnh, Bảo tàng tỉnh… Có các công trình thể dục thể thao quy mô lớn đáp ứng được nhu cầu tổ chức các sự kiện thi đấu thể dục thể thao toàn TP, tỉnh cũng như quốc tế.
== Giáo dục, y tế ==
Giáo dục
Hệ thống cơ sở giáo dục toàn diện với các trường Đại học, Cao đẳng, THPT và nhiều trường tiểu học & THCS
có 6 trường Đại học và Cao đẳng:
Trường Đại học Y Dược Thái Bình.
Trường Đại học Thái Bình
Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình.
Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình.
Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình.
Trường Cao đẳng nghề số 19 Bộ Quốc phòng.
có 5 trường THPT
Trường Trung học phổ thông chuyên Thái Bình.
Trường THPT Nguyễn Đức Cảnh.
Trường THPT Lê Quý Đôn.
Trường THPT Nguyễn Thái Bình.
Trường THPT Nguyễn Công Trứ.
Y tế
Các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Thái Bình hiện bao gồm:
Tuyến khu vực, ngành: Bệnh viện Đại học Y Thái Bình 200 giường.
Tuyến tỉnh: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh; Bệnh viện Phụ sản; Bệnh viện Nhi; Bệnh viện Tâm thần; Bệnh viện Mắt; Viện da liễu; Bệnh viện Lao & phổi; Bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng; Bệnh viện Y học cổ truyền Thái Bình. Với tổng số giường bệnh là gần 1.600 giường.
Tuyến Thành phố: Bệnh viện đa khoa thành phố; Trung tâm y tế thành phố, với 100 giường bệnh.
Tuyến phường, xã: bao gồm 19 trạm y tế trong các phường, xã với gần 100 giường.
Tuyến ngoài công lập như: Bệnh viện Đa khoa Lâm Hoa 50 giường; Bệnh viện Đa khoa Hoàng An quy mô 45 giường.
Dự án Khu Trung tâm Y tế Thái Bình rộng 42ha có các dự án như: Bệnh viện Ða khoa tỉnh 1.000 giường bệnh, Bệnh viện Nhi, Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Tâm thần, Trung tâm vận chuyển cấp cứu 115, Trung tâm giám định Y khoa, Bệnh viện đa khoa tư nhân Lâm Hoa (cơ sở II), Bệnh viện phụ sản tư nhân, Bệnh viện đa khoa cộng đồng và Trung tâm xét nghiệm - chẩn đoán chất lượng cao, Phòng khám tư vấn chăm sóc sức khỏe và Vận chuyển cấp cứu... đang được triển khai nhưng công tác xây dựng khá là chậm so với tiến độ đề ra.
== Giao thông ==
TP Thái Bình có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi cả về đường thủy và đường bộ:
Đường bộ:
QL10 mở rộng với mặt cắt 45m (Ngoài đô thị được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường đồng bằng cấp II).
QL39 mở rộng với mặt cắt là 32m (Ngoài đô thị được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường đồng bằng cấp II).
QL39B đoạn từ cầu Thái Bình đi huyện Kiến Xương mở rộng với mặt cắt là 45m (Ngoài đô thị được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường đồng bằng cấp II).
TL454 (phố Lý Bôn) mở rộng với mặt cắt là 36m (Ngoài đô thị được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đường đồng bằng cấp III).
Vành đai I: Hình thành trên cơ sở kết nối khép kín một số tuyến đường chính gồm: Trần Thái Tông – Long Hưng – Quang Trung – Hai Bà Trưng.
Vành đai II: Hình thành do kết nối tuyến đường vành đai phía Bắc (tuyến tránh Quốc lộ 10) với tuyến đường vành đai phía Nam (đang thi công). Đường xây dựng mới & đạt tiêu chuẩn đường cấp I đồng bằng với tốc độ thiết kế là 80km/h
Vành đai III: định hướng có cự ly từ 3 – 5 km so với vành đai I, đi qua địa phận của các huyện lân cận. Tuyến này nhằm gia tăng năng lực của hệ thống giao thông Thành phố, các khu vực phụ cận, đồng thời gia tăng năng lực của các tuyến giao thông cấp vùng đi như cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh, đường sắt, đường QL10, QL39, ĐT 39B, ĐT 454.
Đường thủy:
Nâng cấp, cải tạo các tuyến đường sông qua Thành phố đảm bảo cho các phương tiện đi lại phục vụ du lịch, giải trí, sản xuất và chuyên chở vật liệu. Trong đó sông Trà Lý đạt tiêu chuẩn đường thuỷ nội địa cấp II.
Giao thông nội thị
Một số đường nội thành chính: Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Thái Tông, Lý Bôn, Lê Quý Đôn...
Cầu:
Giữ nguyên 03 cầu hiện có qua sông Trà Lý: cầu Bo (cầu Độc Lập), cầu Thái Bình, cầu Hoà Bình.
Tiếp tục xây dựng cầu trên đường vành đai II (đường vành đai phía Nam Thành phố).
Dự kiến xây dựng mới 1 cầu mới nối cực phát triển phía Bắc và phía Đông, gia tăng hướng đối ngoại với vùng phía Đông. Ngoài Thành phố, trên tuyến vành đai III, đề nghị nghiên cứu thêm 2 cầu mới cho định hướng phát triển dài hạn.
Các cầu khác: được cải tạo, xây mới phù hợp với yêu cầu chung của mạng giao thông Thành phố.
Bến xe:
Giữ nguyên vị trí, diện tích, cải tạo bến xe Thành phố hiện nay tại đường Trần Thái Tông, dự kiến bến xe này chỉ phục vụ cho các dịch vụ giao thông trong thành phố Thái Bình như bến xe buýt, bãi đỗ xe công cộng.
Dự kiến xây dựng mới 4 tổ hợp bến xe đối ngoại, kết hợp với các dịch vụ vận tải khác tại các cửa ngõ Tây, Bắc, Đông, Nam của thành phố, diện tích trung bình 5-7ha:
Bến xe phía Bắc thuộc xã Đông Mỹ, nằm tại nút giao giữa QL39 với QL10; hướng đi thị trấn Đông Hưng, An Bài, Diêm Điền, thành phố Hải Phòng.
Bến xe phía Nam khu vực xã Vũ Chính nằm tại nút giao giữa QL39B (phố Hoàng Văn Thái) với đường vành đai phía Nam dự kiến; hướng đi thị trấn Thanh Nê, Tiền Hải, Khu du lịch Đồng Châu, Cồn Vành, thành phố Nam Định.
Bến xe phía Đông khu vực xã Vũ Đông nằm tại nút giao giữa nhánh đường QL10 kéo dài từ khu vực nhà thờ Sa Cát qua sông Trà Lý về phía xã Vũ Đông với đường vành đai phía Nam dự kiến; hướng đi thị trấn Tiền Hải, Khu du lịch Đồng Châu, Cồn Vành, cao tốc ven biển dự kiến, đi thành phố Hải Phòng.
Bến xe phía Tây khu vực xã Phú Xuân nằm tại nút giao giữa phố Lý Bôn với đường vành đai phía Bắc (đường tránh QL10) hướng đi thị trấn Hưng Hà, Quỳnh Phụ, thành phố Hưng Yên, Hải Dương.
Tuyến xe buýt nội tỉnh qua TP. Thái Bình
1, Tuyến 01 Hoàng Hà: TP. Thái Bình - KCN Tiền Hải.
Lộ trình: Cầu Phúc Khánh - Đường Trần Thái Tông - Đường Lý Bôn (Vườn Hoa, Bến xe khách Thái Bình, Bệnh viện Đa khoa Thái Bình) - Đường Lê Lợi - Đường Lý Thường Kiệt - Quốc lộ 39 B (Thị trấn huyện Kiến Xương, Thị trấn huyện Tiền Hải) - Khu vực ngã tư xã Đông Minh huyện Tiền Hải.
2, Tuyến 02 Hoàng Hà: TP. Thái Bình - TT. Diêm Điền.
Lộ trình: Trường CĐSP Thái Bình - Đường Quang Trung - Đường Lý Bôn (Vườn Hoa, Bến xe khách Thái Bình) - Quốc lộ 10 - Quốc lộ 39 (huyện Đông Hưng) - Cống Thóc thị trấn Diêm Điền - Hồng Quỳnh huyện Thái Thụy.
3, Tuyến 03 Hoàng Hà: TP. Thái Bình - Cầu Triều Dương
Lộ trình: Trường CĐSP Thái Bình - Đường Quang Trung - Ngô Thị Nhậm - Đường Lý Bôn (Vườn Hoa, Bến xe khách Thái Bình) - Quốc lộ 10 (huyện Đông Hưng) - Quốc lộ 39 (huyện Hưng Hà) - Cầu Triều Dương
4, Tuyến 04 Hoàng Hà: TP. Thái Bình - Phố Bến Hiệp
Lộ trình: Trường CĐSP Thái Bình - Đường Quang Trung - Ngô Thị Nhậm - Đường Lý Bôn (Vườn Hoa, Bến xe khách Thái Bình) - Quốc lộ 10 (huyện Đông Hưng) - Ngã ba Đọ - Thị trấn Quỳnh Côi - Bến Hiệp huyện Quỳnh Phụ
5, Tuyến 05 Hoàng Hà: TP. Thái Bình - Bến xe Chợ Lục
Lộ trình: Trường CĐSP Thái Bình - Đường Quang Trung - Đường Lý Bôn (Vườn Hoa, Bến xe khách Thái Bình) - Quốc lộ 10 - Quốc lộ 39 (huyện Đông Hưng) - Thái Giang - Thái Hà - Thái Phúc - Chợ Lục, Thái Ninh huyện Thái Thụy
6, Bus Hưng Thành: Vũ Vân (Phà Sa Cao) - Thành phố TB - Phà Tịnh Xuyên
== Ẩm thực - đặc sản ==
1. Ổi Bo (phường Hoàng Diệu)
2. Bún cá, Canh cá, Bún ốc (đường Trần Hưng Đạo)
3: Bánh chưng Cầu Báng (cầu Báng - xã Tân Bình)
== Địa điểm tham quan - du lịch ==
Trung tâm thành phố:
- Nhà Văn hoá tỉnh
- Các siêu thị mua sắm: HC, Điện Máy Xanh, Hapro, May 10, Victory Plaza, Vincom, Thế giới di động, Trần Anh, FPT Shop. Viettel...
- Quảng trường 14/10
- Công viên 30-6
- Công viên Kỳ Bá
- Công viên Lê Quý Đôn
- Nhà thờ Thái Bình
- Bảo tàng tỉnh Thái Bình.
Bờ Sông Trà: Nơi hằng đêm có các hoạt động ca nhạc, vui chơi ngoài trời.
Cầu Bo, Cầu Thái Bình, Cầu Hoà Bình.
Các quán bar, cafe, phòng trà: News Style, Morning Cafe, Bar Kim Long, Life Coffee, Fire Fly, Times Square, Bùi Gia cafe...
Các tuyến phố: Tuyến kinh doanh đêm Trần Hưng Đạo, Minh Khai, Lý Bôn, Hai Bà Trưng, Quang Trung, Lê Lợi, Phan Bá Vành, Lê Quý Đôn, Hoàng Công Chất...
Khách sạn: Khách sạn Dầu Khí Thái Binh 4*, Dream 3*, Thai Binh White Palace 3*, Kim Cương, Hồng Kông, Sông Trà, Thanh Bình, Việt Đức...
== Thành phố kết nghĩa ==
1. Thành phố Niigata - Nhật Bản.
2. Quận Marzahn-Hellersdorf - Berlin - Đức
== Hình Ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình
Thái Bình (thành phố) tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
sân bay quốc tế phú bài.txt | Sân bay quốc tế Phú Bài là sân bay phục vụ thành phố Huế tỉnh Thừa Thiên Huế, Việt Nam. Mã của sân bay Phú Bài trong hệ thống du lịch IATA là HUI. Năm 2011, sân bay này đã phục vụ 5800 lượt chuyến bay hạ và cất cánh với tổng số 780.000 lượt khách. Năm 2015, sân bay này phục vụ 1,3 triệu lượt khách
== Lịch sử ==
Sân bay quốc tế Phú Bài được xây dựng từ thời còn thực dân Pháp, người Pháp xây dựng sân bay này nhằm phục vụ kinh thành Huế. Nó được sửa chữa nâng cấp nhiều lần như kéo dài đường băng để tiếp nhận các máy bay lớn; hệ thống đường lăn, sân đỗ, hệ thống thoát nước, hệ thống đèn dẫn đường.
== Vị trí địa lý ==
Nằm ở phía nam thành phố Huế cách trung tâm thành phố 15 km, (thuộc phường Phú Bài, thị xã Hương Thuỷ - tỉnh Thừa Thiên - Huế), Việt Nam. Tọa độ: 16°24′06″N, 107°42′10″E.
Sân bay quốc tế Phú Bài hiện có đường băng dài 2700 m, rộng 45 m, có đèn chiếu sáng phục vụ các chuyên bay đêm.
== Năng lực phục vụ ==
Sân bay này có thể tiếp nhận các máy bay tầm trung như Airbus A320, Boeing 747. Năm 2006, có 2.327 lượt chuyến bay cất, hạ cánh tại sân bay Phú Bài, với 428.000 lượt hành khách.
Năm 2007, số lượng khách đạt hơn 500.000. Sân bay này xếp thứ 5 tại Việt Nam về số lượng khách. Năm 2008, Sân bay quốc tế Cam Ranh đã phục vụ 683.000 lượt khách, vượt Sân bay Phú Bài để thành sân bay lớn thứ 4 Việt Nam tính theo số lượng khách thông qua. Năm 2014, sân bay này phục vụ 1.159.000 lượt khách, so với mức 2.062.000 lượt khách của sân bay Cam Ranh
== Các điểm đến và các hãng hàng không hoạt động ==
== Tin tức ==
Ngày 30/10/2005, sân bay này đón chuyến bay quốc tế đầu tiên kể từ 1975. Đây là chuyến bay thuê bao của hãng hàng không Áo (Austrian Airlines) bằng máy bay B737 chở khách đi và đến cố đô Luang Prabang (Lào).
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/8/2007, sân bay Phú Bài trở thành sân bay quốc tế thứ 4 tại Việt Nam (chính thức công bố vào ngày 01/9/2007), cùng với sân bay Cam Ranh - Nha Trang sẽ là sân bay quốc tế thứ 5 tại Việt nam.
Ngày 20/08/2008, tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế, lãnh đạo thành phố Huế và thành phố Shizuoka (Nhật Bản), vừa bàn kế hoạch hợp tác mở đường bay nối hai thành phố. Dự tính đường bay sẽ mở trong thời gian tới.
Năm 2013, sân bay này sẽ được đóng cửa từ tháng 20 tháng 3 đến tháng 20 tháng 9 để sửa chữa đường băng.
Ngày 20/9/2013, sân bay quốc tế Phú Bài chính thức hoạt động trở lại.
== Quy hoạch ==
Theo quy hoạch, đến năm 2020, Cảng hàng không đạt chỉ tiêu cấp 4E, tại giờ cao điểm có thể tiếp nhận 20 máy bay và 5 triệu hành khách/năm. Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định 1029, phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Phú Bài giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Cảng hàng không Phú Bài, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế sẽ trở thành cảng hàng không quốc tế có khả năng tiếp nhận các loại máy bay A320/A321, Boeing 767, Boeing 777-200LR và tương đương. Theo quy hoạch, đến năm 2020, Cảng hàng không đạt chỉ tiêu cấp 4E, tại giờ cao điểm có thể tiếp nhận 20 máy bay và 5 triệu hành khách/năm. Đến năm 2030 sẽ nâng cấp thành sân bay quân sự cấp 2, tiếp nhận 26 máy bay vào giờ cao điểm và 9 triệu hành khách/năm... Xây dựng nhà ga hành khách 2, cao trình đạt công suất 2 nghìn hành khách/giờ cao điểm, khu nhà ga hàng hóa đạt công suất 100 nghìn tấn/năm. Dự kiến đến năm 2030 mở rộng nhà ga hành khách đạt công suất 4 nghìn hành khách/giờ cao điểm và tiếp nhận 200 nghìn tấn hàng hóa/năm... Tổng diện tích đất quy hoạch Cảng hàng không Phú Bài là trên 500 héc ta, vốn đầu tư hơn 12 nghìn 500 tỷ đồng được huy động từ nhiều nguồn khác nhau.trích dẫn
== Thống kê ==
== Các điểm đến trong vài năm tới ==
==== Nội địa ====
Sân bay quốc tế Cam Ranh, Nha Trang
Sân bay Cần Thơ, Cần Thơ
Sân bay Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
Sân bay Pleiku, Gia Lai
==== Quốc tế ====
Sân bay quốc tế Angkor, (Siêm Riệp)
Sân bay quốc tế Luang Prabang,(Lào)
Sân bay quốc tế Macau, (Trung Quốc)
Sân bay Shizuoka (Nhật Bản).
== Tham khảo == |
valin.txt | Valin (viết tắt là Val hoặc V) là một α-amino axit với công thức hóa học HO2CCH(NH2)CH(CH3)2. L-Valin là một trong 20 axit amin sinh protein. Các codon của nó là GUU, GUC, GUA, và GUG. Nó là một axit amin thiết yếu không phân cực. Nguồn thức ăn chứa valin gồm pho mát, cá, thịt gia cầm, đậu phộng, đậu lăng... Giống như leucin và isoleucin, valin là một axit amin mạch nhánh. Nó được đặt theo tên của cây nữ lang (Valerian). Trong bệnh hồng cầu hình liềm, valin thay thế cho axit amin ưa nước là axit glutamic trong phân tử hemoglobin. Do valin có tính kị nước, hemoglobin trở nên bất thường và dễ kết dính với nhau
== Sinh tổng hợp ==
Valin là một axit amin thiết yếu, do đó phải được lấy từ thức ăn, chủ yếu là protein. Trong các loài thực vật, nó được tổng hợp từ axit pyruvic qua nhiều giai đoạn. Một phần đầu của quá trình chuyển hóa cũng tạo ra leucin. Chất trung gian α-cetoisovalerat tham gia phản ứng khử amin với glutamat. Các enzym tham gia quá trình sinh tổng hợp này gồm:
Acetolactat synthase (còn được gọi là acetohydroxy acid synthase)
Acetohydroxy acid isomeroreductase
Dihydroxyacid dehydratase
Valin aminotransferase
== Điều chế ==
Hỗn hợp racemic của valin có thể được điều chế bằng phản ứng brom hóa axit isovaleric, tiếp theo đó bằng phản ứng amin hóa dẫn xuất α-bromo mới thu được
HO2CCH2CH(CH3)2 + Br2 → HO2CCHBrCH(CH3)2 + HBr
HO2CCHBrCH(CH3)2 + 2 NH3 → HO2CCH(NH2)CH(CH3)2 + NH4Br
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sinh tổng hợp Isoleucin và Valin
Nguồn thức ăn chứa Valine |
dĩnh đông.txt | Dĩnh Đông (chữ Hán giản thể: 颍东区, âm Hán Việt: Dĩnh Đông khu) là một quậnthuộc địa cấp thị Phụ Dương, tỉnh An Huy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quận này có diện tích 685 km2, dân số 590.000 người, mã bưu chính 236058. Quận lỵ đóng tại đường Bắc Kinh Đông. Về mặt hành chính, quận Dĩnh Đông được chia thành 3 nhai đạo biện sự xứ, 5 trấn, 4 hương.
Nhai đạo: Hà Đông, Tân Hoa, Hướng Dương.
Trấn: Tráp Hoa, Khẩu Tư, Viên Trại, Lão Miếu, Tảo Trang.
Hương: Ô Giang, Chính Ngọ, Dương Lâu, Nhiễm Miếu.
== Tham khảo == |
casey neistat.txt | Casey Owen Neistat ( /ˈkeɪsi ˈnaɪstæt/; sinh ngày 25 tháng 3 năm 1981) là một nhân vật YouTube, nhà làm phim, vlogger người Mỹ, và là đồng sáng lập công ty truyền thông xã hội Beme. Neistat cùng anh trai, Van, là hai người khởi xướng series The Neistat Brothers trên HBO.
== Khởi đầu ==
Neistat sinh tại Gales Ferry, Connecticut, vào ngày 25 tháng 3 năm 1981. Anh bot học tại Trường Trung học Ledyard khi học lớp 10 lúc 15 tuổi và sau đó không trở lại trường hay tốt nghiệp nữa. Sau đó anh bỏ nhà đi và có một cô bạn gái lúc cô đang mang thai đứa con đầu lòng của anh, Owen. Từ lúc 17 tới 20 tuổi, anh sống trong một khu nhà di động cùng với người bạn là Robin Harris, và cậu con trai còn sơ sinh của anh. Trong thời gian này, Neistat đã quyết định chuyển tới Thành phố New York. Trước khi chuyển tới New York, Neistat từng đi rửa bát thuê cho một nhà hàng và sắp xếp đơn gọi món tại Mystic, Connecticut. Công việc đầu tiên của anh tại New York là một người đưa thư bằng xe đạp
== Sự nghiệp làm phim ==
=== Làm việc với Tom Sachs ===
Vào giữa năm 2001, Neistat và anh trai Van bắt đầu làm việc với họa sĩ Tom Sachs, cùng làm một loạt các bộ phim về các tác phẩm điêu khắc của họa sĩ này. Đây là tác phẩm được thực hiện sớm nhất của hai anh em khi còn hợp tác.
=== iPod's Dirty Secret ===
Neistat lần đầu thu hút sự chú ý toàn cầu vào năm 2003 với một bộ phim ba phút có tựa đề iPod's Dirty Secret (tiếng Việt: Bí mật dơ bẩn của iPod), nhằm chỉ trích việc Apple thiếu một chương trình thay thế pin cho chiếc máy nghe nhạc iPod. Bộ phim thu hút sự chú ý của truyền thông tại Hoa Kỳ và tạo sự chú ý tới chính sách của Apple về thay thế pin cho iPod. Đoạn video clip bắt đầu với một cuộc gọi tới số điện thoại hỗ trợ khách hàng của Apple 800, và một cuộc trò chuyện giữa Casey Neistat và một nhân viên hỗ trợ có tên là Ryan. Casey giải thích rằng sau 18 tháng sử dụng, pin của chiếc iPod của anh đã chết. Ryan nói rằng với chi phí lao động và vận chuyển để thay thế pin, Casey tốt nhất là nên mua một chiếc iPod mới. Với bài hát rap "Express Yourself" của NWA, hai anh em bắt đầu một chiến dịch "thông báo dịch vụ công cộng" để thông báo cho những người tiêu dùng về những chiếc pin này. Sử dụng một chiếc biển in có dòng chữ "iPod's Unreplaceable Battery Lasts Only 18 Months" (tạm dịch: "Chiếc pin không thể thay thế của iPod chỉ kéo dài đúng 18 tháng"), họ phun sơn những lời cảnh báo lên các tờ rơi quảng cáo iPod trên đường phố Manhattan.
Bộ phim được đăng lên Internet vào ngày 20 tháng 9 năm 2003. Nó nhanh chóng thu hút sự chú ý của truyền thông và tranh cãi này đã được truyền thông trên toàn cầu nhắc tới, trong đó các nguồn như The Washington Post, Tạp chí Rolling Stone, Fox News, CBS News, và BBC News. Bộ phim được khen ngợi là "sự phản bội tuyệt với" bởi Washington Post.
Apple cuối cùng đã chính thức công bố một chính sách thay thế pin vào ngày 14 tháng 11 năm 2003 và cũng công bố một chương trình bảo hành iPod mở rộng vào ngày 21 tháng 11. The Washington Post đã đưa tin không chính xác rằng cả hai chương trình được công bố "vài ngày sau khi" bộ phim được phát hành. Fox News thì nói ngày thay đổi chính sách là "hai tuần" sau khi clip được phát hành và Neil Cavuto đã gọi nó là một "câu truyện của David và Goliath" trên chương trình Your World của Fox News. Người phát ngôn của Apple là Natalie Sequeira đã phủ nhận bất cứ mối liên hệ nào giữa bộ phim và chính sách mới, nói rằng quá trình sửa đổi chính sách đã được bắt đầu vài tháng trước khi bộ phim phát hành.
=== Science Experiments ===
Vào năm 2004, Neistat cùng anh trai sản xuất một series phim có tựa đề Science Experiments (tiếng Việt: Những thí nghiệm khoa học). Series 15 phút giới thiệu một vài bộ phim tài liệu ngắn về các thí nghiệm khoa học. Series được giới thiệu trong triển lãm São Paulo Biennial lần thứ 26 tại São Paulo, Brazil. Tác phẩm đã trở nên nổi tiếng, và giới thiệu trong chương trình 59th Minute của Creative Time, trong đó một đoạn trích một phút từ bộ phim của Neistat sẽ được phát mỗi 59 phút trên màn hình Panasonic Times Square Astrovision.
=== The Neistat Brothers ===
Vào tháng 7 năm 2008, HBO mua lại một series truyền hình tám tập, The Neistat Brothers, chỉ với giá dưới 2 triệu đôla Mỹ. Series này được sản xuất bởi Casey Neistat, Van Neistat, Mason Daugherty và Tom Scott. Nhà sản xuất phim tự do Christine Vachon trở thành nhà sản xuất cố vấn. Được viết và đạo diễn bởi Casey và Van, chương trình là một tự truyện và được kể theo hình thức góc nhìn thứ nhất. Mỗi tập phim bao gồm những câu chuyện ngắn về cuộc đời của hai anh em. Chương trình được khởi chiếu ngày 4 tháng 6 năm 2010 trên HBO vào lúc nửa đêm.
Hank Stuever của Washington Post nói 'Anh em nhà Neistat đã cho thấy sự nhiệt tình trong cuộc sống mà bạn không thể làm gì ngoài việc yêu thích nó'. Chương trình cũng không tránh khỏi những lời chỉ trích mang tính gièm pha. Trang blog The Zeitgeisty Report gọi chương trình là 'một mớ hỗn độn làm màu, đầy tính hipster và khoe khoang' và tiếp tục cho rằng nó là "chương trình gây khó chịu nhất trong lịch sử của HBO."
== YouTube ==
Vào ngày 17 tháng 2 năm 2010, Neistat tải lên một video về việc khi nào được và không được sử dụng dây phanh khẩn cấp trên các toa tàu trong Tàu điện ngầm Thành phố New York. Neistat chỉ trích MTA đã không làm rõ cho hành khách khi nào thì nên kéo dây phanh khẩn cấp. Theo đoạn video, một người chỉ nên dùng phanh khẩn cấp khi chuyển động của đoàn tàu có thể sắp gây nguy hiểm tới tính mạng hoặc gây thương tích.
Vào ngày 23 tháng 2 năm 2010, Neistat phát hành một bộ phim sáu phút trên Vimeo về trang web Chatroulette. Nó giải thích Chatroulette là gì, nó hoạt động như thế nào, và tại sao mọi người lại dùng nó. Nhiều cuộc thí nghiệm đã được thực hiện trong video with the findings presented in stop frame animations. Một thí nghiệm đã chỉ ra rằng mọi người trên Chatroulette có xu hướng nói chuyện nhiều hơn với phụ nữ. Trong khi 95% người "bỏ qua" Neistat, người bạn nữ của anh là Genevieve chỉ bị bỏ qua bởi 5% số người.
Vào ngày 7 tháng 6 năm 2011, Neistat chỉ trích cách xử phạt của Sở cảnh sát Thành phố New York với những người lái xe đạp tại Thành phố New York vì đi xe bên ngoài làn đường dành cho xe đạp. Trong một video có tựa đề "Bike Lanes", Neistat đã gặp phải một sĩ quan cảnh sát và phải nhận vé phạt 50 đôla vì không đi xe đúng làn đường. Neistat sau đó tiếp tục lái chiếc xe đạp của anh bên trong làn đường và cố tình đâm vào những vật cản trên đường, ủng hộ ý kiến rằng làn đường không phải lúc nào cũng an toàn nhất và đôi khi còn vô dụng. Phản hồi với video này, Tạp chí New York gọi Neistat là một "Cảnh vệ Làn xe đạp" và bộ phim được nhắc tới bởi hầu hết các hãng truyền thông lớn. Hơn nữa, Time đã xếp "Bike Lanes" ở vị trí thứ 8 trong danh sách Top 10 video sáng tạo năm 2011 của họ.
Vào năm 2014, Neistat được lọt vào danh sách Top 100 kênh của New Media Rockstars, xếp tại vị trí #82. Neistat cũng đã bắt đầu sử dụng Snapchat để ghi lại những khoảnh khắc thường ngày của mình và thêm vào "story" của anh. Những câu chuyện này thường không có chủ đề chính khi mà chúng giới thiệu những phần khác nhau trong đời sống của anh hay giới thiệu bất cứ việc gì anh làm trong ngày hôm đó, bao gồm cả những cảnh quay hậu trường cho các video trên YouTube của anh.
=== Vlog hàng ngày ===
Neistat bắt đầu đăng tải những vlog hàng ngày trên YouTube vào ngày 24 tháng 3 năm 2015. Trong đoạn vlog "The Vice President, Outer Space and the Baby," ngày 15 tháng 5 năm 2015 của mình, Neistat nói rằng anh thấy những vlog của anh giống như một diễn đàn hơn là một nhật ký hàng ngày. Vào ngày 19 tháng 1 năm 2016, Neistat đăng tải vlog thứ 300 của anh. Vì phải vlog mỗi ngày, Neistat nói anh đã chọn tạm dừng làm những nội dung có độ dài lớn. Neistat thường xuyên được thấy sử dụng và bàn luận về chiếc ván trượt hiệu Boosted trong các vlog hàng ngày của anh, và đôi lúc cũng xuất hiện trong các video YouTube khác của anh.
Vào ngày 23 tháng 1 năm 2016, trong trận bão tuyết Hoa Kỳ tháng 1 năm 2016, gây nên lệnh cấm đi lại tại Thành phố New York, Neistat, cùng em trai Dean, Oscar Boyson, và Jesse Wellens đã quay một đoạn video giữa đường phố vắng tại Thành phố New York. Đoạn video dài 2 phút 41 giây, có tựa đề là "Snowboarding with the NYPD" (tiếng Việt: Trượt ván trên tuyết cùng NYPD), quay cảnh Neistat được kéo bằng một sợi dây thừng, trượt tuyết trên các con phố và qua cả Quảng trường Thời đại, và sau đó một viên cảnh sát đã bắt gặp và bỏ qua cho anh. Đoạn video đã được lan truyền nhanh, và thu hút được 6,5 triệu lượt xem trên YouTube trong vòng 24 giờ.
Vào ngày 8 tháng 9 năm 2016, Neistat thắng giải tại hạng mục "Ngôi sao truyền thông mới" tại Giải Người đàn ông của năm được tổ chức bởi GQ.
Vào ngày 19 tháng 9 năm 2016, Neistat đăng tải một vlog có tựa đề "The $21,000 first class airplane seat" (tiếng Việt: Chuyến bay hạng nhất 21.000$), trong đó anh trải nghiệm dịch vụ hạng nhất của hãng hàng không Emirates', giới thiệu một vài tiện nghi như màn hình cảm ứng, ngăn đựng đồ uống cá nhân, và cho phép hành khách tắm trên máy bay. Đoạn video nhanh chóng thu hút sự chú ý của truyền thông và hiện tại là video được xem nhiều nhất trên kênh của Neistat, tính tới ngày 10 tháng 11 năm 2016, với hơn 25,1 triệu lượt xem.
Tính tới ngày 10 tháng 11 năm 2016, Neistat đã đăng tải được 710 vlog và nhiều bộ phim khác trên kênh YouTube của mình từ khi tạo lập ngày 15 tháng 2 năm 2010. Chủ đề của các bộ phim rất đa dạng, và hầu hết đều có sự xuất hiện của Neistat. Vào ngày 22 tháng 8 năm 2015, Neistat đạt 1 triệu lượt đăng ký, sau đó tăng lên 4 triệu vào tháng 8 năm 2016, 5 triệu vào tháng 10, và 5,6 triệu vào tháng 11 năm 2016.
Vào ngày 19 tháng 11 năm 2016, Neistat thông báo rằng anh sẽ ngừng đăng tải các vlog vĩnh viễn để tập trung nhiều hơn vào các bộ phim ngắn mà anh dự định sẽ tải lên YouTube thường xuyên để thay thế các vlog hàng ngày.
== Beme ==
Trong một đoạn vlog ngày 8 tháng 7 năm 2015 vlog, Neistat thông báo anh đang cùng làm việc với Matt Hackett để xây dựng một ứng dụng chia sẻ video có tên là Beme. Được thiết kế để thay thế những nội dung đã qua nhiều chỉnh sửa được tìm thấy trên mạng xã hội, ứng dụng cho phép người dùng tạo ra các video bốn giây không qua chính sửa, và ngay lập tức tải lên và chia sẻ các video với những người đăng ký của người dùng mà không có khả năng đánh giá video. Người dùng phản hồi tới nội dung được chia sẻ bằng cách gửi các "reactions", là những bức ảnh của chính họ cho người tải lên video.
Phiên bản đầu tiên của Beme được phát hành ngày 17 tháng 7 năm 2015. Một thời gian ngắn sau khi phát hành, BuzzFeed mô tả thiết kế tối giản của Beme là "tưởng như đơn giản và kì lạ một cách có chủ ý." Chỉ trong tám ngày sau khi phát hành, người dùng của Beme đã chia sẻ 1,1 triệu video và đã gửi 2,4 triệu "reaction".
Vào ngày 28 tháng 11 năm 2016, CNN công bố họ sẽ mua lại Beme, với giá được báo cáo là $25.000.000, và vào ngày 29 tháng 11 năm 2016, Matt Hackett, đồng sáng lập Beme, thông báo qua một email tới người dùng Beme rằng ứng dụng sẽ ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 1 năm 2017.
== Quảng cáo ==
Ngoài sự nghiệp với truyền hình và điện ảnh, Neistat cũng đạo diễn các phim quảng cáo trên truyền hình, và đã làm việc với các khách hàng như Samsung, Nike, Google, Finn Jewelry, J.Crew, và Mercedes-Benz.
=== Make It Count ===
"Make It Count" (tạm dịch: Sống hết mình) là một video được viết, đạo diễn và có sự xuất hiện của Casey Neistat dành cho Nike. Đoạn video bắt đầu với dòng chữ "Nike đã hỏi tôi làm một bộ phim về ý nghĩa của việc sống hết mình. Thay vì làm bộ phim của họ tôi dành toàn bộ ngân sách để du lịch vòng quanh thế giới với người bạn Max của tôi. Chúng tôi cứ tiếp tục đi cho tới khi hết sạch tiền. Chuyến đi mất 10 ngày."
Đoạn video sau đó bắt đầu một cách nghiêm túc với Neistat và bạn của anh Max Joseph đang trên đường tới sân bay. Các đoạn cắt nhanh từ chuyến đi của họ lồng ghép với những trích dẫn cá nhân cuối cùng tạo nên màn kết của bộ phim với cảnh Neistat quay trở lại Thành phố New York, nơi câu chuyện bắt đầu. Vào ngày 8 tháng 4 năm 2012, Nike đăng tải đoạn video trên trang YouTube chính thức của họ với tựa đề "Make It Count". Ngày hôm sau Neistat cũng đăng tải đoạn video lên kênh YouTube chính thức của anh. Đoạn video của Neistat đã được lan truyền nhanh, với nửa triệu lượt xem trong ba ngày đầu đăng tải.
Zoe Fox của Mashable bình luận rằng đó là "Câu chuyện thương hiệu tuyệt vời nhất từng được kể". Một số hãng truyền thông gọi quá trình sản xuất bộ phim của Neistat là 'sự hành động theo ý mình' như CNNGo, Fast Company và Conde Nast Traveler.
== Phát biểu trước công chúng ==
Neistat đã tham gia diễn thuyết về các chủ đề liên quan tới làm phim và kinh nghiệm sống của mình.
Vào ngày 15 tháng 10 năm 2010, Neistat phát biểu tại Hội nghị Mùa thu Hiệp hội Giáo dục Nghệ thuật Nam Carolina. Anh là 'khách mời nghệ sĩ truyền thông đặc biệt' của sự kiện.
Vào ngày 2 tháng 2 năm 2011, Neistat tham gia diễn thuyết trong Nhà hát Celeste Bartos ở Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại tại Thành phố New York. Buổi diễn thuyết được miêu tả là: "Casey Neistat sẽ chỉ và cho bạn thấy cách anh tự học mọi thứ từ thiết kế tới làm phim kể từ khi anh bỏ học trung học. Những công cụ của anh rất đơn giản; một chiếc máy ảnh, một cây bút lông, giấy, cây kéo và bất cứ thứ gì xung quanh anh, mà anh đã sử dụng vào những câu chuyện về những chủ đề như dây phanh khẩn cấp của tàu điện ngầm hay những thiết lập về riêng tư trên Facebook." Giá tiền cho một vé đi sự kiện là $40 và đã được bán hết sạch. Neistat kết thúc buổi diễn thuyết bằng cách mời những người tham gia hỏi đáp lên sân khấu để chọn một phần quà trong một chiếc hộp carton lớn có ghi chữ Party Favors, các phần quà bao gồm một chiếc iPad, đồng hồ Rolex giả và nhiều thùng bia.
Neistat phát biểu tại TEDx Parker School ở Chicago vào ngày 24 tháng 3 năm 2012. Chủ đề chính của sự kiện là 'The Eye Opening Experience'.
== Đời sống cá nhân ==
Neistat có một cậu con trai, Owen, lúc anh 17 tuổi, với người bạn gái lúc đó là Robin Williams. Lần kết hôn đầu tiên của Neistat là với Candice Pool; cả hai trước đó đã bỏ trốn tại Houston, Texas, vào năm 2005. Cuộc hôn nhân kéo dài khoảng một tháng và kết thúc với một thỏa thuận bãi bỏ. Vào ngày 18 tháng 2 năm 2013, Neistat lại đính hôn với Candice Pool, và cô cung xuất hiện trong nhiều bộ phim của anh. Vào ngày 29 tháng 12 năm 2013, Candice và Casey kết hôn tại Cape Town, Nam Phi. Cả hai có một cô con gái, đặt tên là Francine.
Louise Neistat (tên khai sinh là Louise Celice Grossman), bà nội của Casey Neistat, là một vũ công tap dance và là một vũ công Rockette của Radio City Music Hall trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào năm 2004, Casey đạo diễn một video mà trong đó bà của anh làm "chiếc bánh mì nường Pháp ngon nhất thế giới" và đưa nó cho con trai Owen của anh.
Vào ngày 31 tháng 10 năm 2011, Casey Neistat đăng tải một bộ phim ngắn bốn phút trên YouTube về bà của mình. Video mở đầu với cảnh Casey hỏi bà mình xem bà nghĩ còn bao nhiêu năm nữa bà còn được tổ chức chương trình nhảy tap dance thường xuyên, rồi xen lẫn nhiều đoạn băng quay lại những thành tựu của bà với những cảnh từ chương trình biểu diễn tap dance gần đây nhất của bà; số tiền bà dành giụm được từ tap dance được quyên góp cho các tổ chức từ thiện để nghiên cứu bệnh ung thư. Đoạn video được tài khoản chính thức của YouTube trên Twitter chia sẻ và đã xuất hiện trên nhiều trang web tin tức và video lan truyền nhanh như Huffington Post. 22 ngày sau khi video được đăng tải, Louise qua đời do tuổi già, hưởng thọ 92 tuổi; Neistat đã viết cáo phó cho bà và đọc bài điếu văn.
Tính tới tháng 4 năm 2013, Casey Neistat đã sở hữu 7 chiếc xe hơi. Trong đó chiếc thứ ba là một chiếc xe tải màu xanh đã phát nổ trên lề đường Xa lộ Liên tiểu bang 95 và chiếc thứ năm là một chiếc BMW 530i Touring năm 1994.
== Danh sách phim ==
=== Phim ===
=== Truyền hình ===
== Giải thưởng và đề cử ==
== Xem thêm ==
Boosted, hãng sản xuất chiếc ván trượt thường xuất hiện trong các video của Neistat.
Shonduras, một nhân vật YouTube thường xuyên cộng tác với Neistat.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Casey Neistat tại Internet Movie Database
Casey Neistat trên Twitter
Casey Neistat trên Instagram
. |
gia đình.txt | Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội.
== Khái niệm Gia đình ==
Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người.
Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,... khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
== Phân loại ==
Có nhiều cơ sở để phân loại gia đình thành các loại khác nhau.
Xét về quy mô, gia đình có thể phân loại thành:
Gia đình hai thế hệ (hay gia đình hạt nhân): là gia đình bao gồm cha mẹ và con.
Gia đình ba thế hệ (hay gia đình truyền thống): là gia đình bao gồm ông bà, cha mẹ và con còn được gọi là tam đại đồng đường.
Gia đình bốn thế hệ trở lên: là gia đình nhiều hơn ba thế hệ. Gia đình bốn thế hệ còn gọi là tứ đại đồng đường.
Dưới khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể phân chia gia đình thành hai loại:
Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia đình mở rộng) thường được coi là gia đình truyền thống liên quan tới dạng gia đình trong quá khứ. Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ. Dạng cổ điển của gia đình lớn là gia đình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ. Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những người lẻ loi. Các thành viên trong gia đình được xếp đặt trật tự theo ý muốn của người lãnh đạo gia đình mà thường là người đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình. Ngày nay, gia đình lớn thường gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của họ nữa. Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của người lớn tuổi nhất.
Gia đình nhỏ (gia đình hai thế hệ hoặc gia đình hạt nhân) là nhóm người thể hiện mối quan hệ của chồng và vợ với các con, hay cũng là mối quan hệ của một người vợ hoặc một người chồng với các con. Do vậy, cũng có thể có gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ không đầy đủ. Gia đình nhỏ đầy đủ là loại gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng, vợ, các con); ngược lại, gia đình nhỏ không đầy đủ là loại gia đình trong nó không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại quan hệ của chỉ người vợ với người chồng hoặc chỉ của người cha hoặc người mẹ với các con. Gia đình nhỏ là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình. Nó là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại và công nghiệp phát triển.
== Kế hoạch hóa gia đình ==
Ở các nước đang phát triển, vì tỉ lệ sinh cao làm dân số tăng cao, chính phủ thực hiện các chính sách để người dân giảm số con trong gia đình. Ở Trung Quốc, chính sách một con làm giảm đáng kể tốc độ tăng dân số của nước này. Ở Việt Nam, chính quyền khuyến khích mỗi gia đình chỉ nên có một đến hai con. Trong khi đó, ở nhiều nước phát triển như nhiều nước châu Âu và Hàn Quốc, Nhật Bản, chính phủ có biện pháp khuyến khích gia đình có thêm con nhằm tránh giảm dân số. Mặc dù đã có những chính sách nhất định về Kế hoạch hóa sinh con, nhưng nhiều hộ gia đình vẫn có tâm lý khác nhau:
- Một mặt do gia đình có điều kiện, sinh cho vui cửa vui nhà
- Mặt khác do sinh con 1 bề & muốn có người nối dõi
== Chức năng cơ bản ==
Tái tạo ra một thế hệ mới bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục đào tạo:
Chức năng sinh sản - tái sản xuất ra con người về mặt sinh và hoặc về mặt xã hội;
Chức năng giáo dục của gia đình.
Nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình:
Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình;
Chức năng thoả mãn những nhu cầu tâm - sinh lý tình cảm.
Hai chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình như:
Chức năng kinh tế;
Chức năng giao tiếp tinh thần;
Chức năng tổ chức thời gian rỗi;
Chức năng thu nhận các phương tiện;
Chức năng giáo dục bảo trợ;
Chức năng đại diện;
Chức năng tình dục;
Chức năng nghỉ ngơi, giải trí;
V.v...
== Gia đình Việt Nam ==
Theo phong tục tập quán người Việt, các thành viên trong gia đình thường về tụ hội đông đủ vào dịp Tết Nguyên Đán hằng năm. Ngoài ra các dịp đám cưới, đám tang, đám giỗ cũng là dịp để các thành viên trong gia đình tập hợp lại.Gia đình Việt Nam có đặc điểm là nhiều thế hệ sống chung trong cùng một mái nhà. Mỗi gia đình thường có ba thế hệ sống chung với nhau: ông bà - cha mẹ - con cái. Đối với gia đình Việt Nam thì người trụ cột là người chồng (hoặc người cha).
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký ban hành Quyết định 72/2001/QĐ-TTg chọn ngày 28 tháng 6 hàng năm là ngày gia đình Việt Nam.
=== Thuật ngữ quan hệ trong gia đình ===
Ngoài hai từ chính thống cha và mẹ, các vùng khác nhau có những từ khác nhau như bố, ba, thầy để chỉ cha và má, u, mạ để chỉ mẹ.
Một số từ để chỉ mối quan hệ nếu có trong gia đình như: ông nội là cha của cha, bà nội là mẹ của cha, ông ngoại là cha của mẹ, bà ngoại là mẹ của mẹ.
Miền Nam:
Bác (trai) là anh của cha, Bác gái là vợ của bác.
Chú là em trai của cha, Thím là vợ của chú.
Cô là chị hoặc em gái của cha, Dượng là chồng của cô.
Cậu là anh hoặc em trai của mẹ, Mợ là vợ của cậu.
Dì là chị hoặc em gái của mẹ. Dượng là chồng của dì.
Thông thường để gọi một người trong gia đình người ta dùng từ chỉ mối quan hệ kết hợp với thứ của người đó (nếu có quan hệ huyết thống) hoặc thứ của chồng hoặc vợ người đó (nếu không có quan hệ huyết thống) chẳng hạn như chú tư, vợ của chú tư được gọi là thím tư. Con trong gia đình được gọi từ thứ hai (con đầu) trở đi, không có con cả.
Miền Bắc:
Bác (trai) là anh của cha, Bác gái là vợ của bác.
Chú là em trai của cha, Thím là vợ của chú.
Cô là em gái của cha, Chú là chồng của cô.
Bác là anh hoặc chị của mẹ, vợ hoặc chồng của bác cũng được gọi là Bác (một số nơi địa phương Bác sẽ được gọi là Bá).
Cậu là em trai của mẹ, Mợ là vợ của cậu.
Dì là em gái của mẹ. Chú là chồng của dì.
Thông thường để gọi một người trong gia đình người ta dùng từ chỉ mối quan hệ kết hợp với tên của người đó. Con trong gia đình được gọi theo thứ tự cả, hai, ba, tư.
Anh em bà con (họ hàng): con của chú bác gọi là anh chị em chú bác (anh chị em con chú con bác), con của dì gọi là anh chị em bạn dì (anh chị em con dì), con của cô cậu gọi là anh chị em cô cậu (anh chị em con cô con cậu).
Dâu rể: gọi theo vợ hoặc chồng là người có quan hệ huyết thống với mình kết hợp với từ dâu hoặc rể ví dụ như con dâu, con rể, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu. Hai người chồng của hai chị em gái miền Nam gọi là anh em cột chèo, miền Bắc gọi là anh em đồng hao hoặc đứng nắng. Hai người vợ của hai anh em trai gọi là chị em bạn dâu.
== Xem thêm ==
Hôn nhân
Xã hội học gia đình
== Tham khảo ==
American Kinship, David M. Schneider
A Natural History of Families, Scott Forbes, Princeton University Press, 2005, ISBN 0-691-09482-9
Foucault, Michel (1978). The History of Sexuality: Volume I: An Introduction. New York Vintage Books. ISBN 978-0-679-72469-8
More Than Kin and Less Than Kind, Douglas W. Mock, Belknap Press, 2004, ISBN 0-674-01285-2
Denis Chevallier, « Famille et parenté: une bibliographie », Terrain, Numéro 4 – Famille et parenté (mars 1985), mis en ligne le 17 juillet 2005. Consulté le 15 juin 2007, terrain.revues.org (tiếng Pháp)
Jack Goody (1983) The Development of the Family and Marriage in Europe (Cambridge University Press); translated into Spanish, French, Italian, Portuguese.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Gia đình tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Middle Child Syndrome, Hailey Collins
Family Research Laboratory, unh.edu
Family evolution and contemporary social transformations, seres.fcs.ucr.ac.cr (Estación de Economía Política)
Family Facts: Social Science Research on Family, Society & Religion (a Heritage Foundation site). familyfacts.org
Families Australia – independent peak not-for-profit organisation. familiesaustralia.org.au
Unitedfamilies.org, International organisation
UN.org, Families and Development
Family, marriage and "de facto" unions, Vatican.va |
liti.txt | Liti (tiếng Latinh: Lithium) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Li và số hiệu nguyên tử bằng 3, nguyên tử khối bằng 7. Liti là một kim loại mềm có màu trắng bạc thuộc nhóm kim loại kiềm. Trong điều kiện tiêu chuẩn, Liti là kim loại nhẹ nhất và là nguyên tố rắn có mật độ thấp nhất. Giống như tất cả các kim loại kiềm, Liti là chất phản ứng mạnh và dễ cháy nên nó được bảo quản đặc biệt trong dầu khoáng. Liti có ánh kim loại nhưng khi tiếp xúc với không khí ẩm nó bị ăn mòn bề mặt và bị chuyển màu nhanh chóng thành xám bạc mờ, sau đó là xỉn đen. Do có khả năng phản ứng mạnh, Liti không bao giờ có mặt ở dạng nguyên tố trong tự nhiên, do vậy nó chỉ có ở dạng hợp chất ở dạng liên kết ion. Liti có mặt nhiều trong các khoáng sản pegmatit, nhưng do tính dễ hòa tan ở dạng ion, nó cũng có mặt trong nước biển, và thường được tách ra từ muối và đất sét. Ở quy mô thương mại, liti được tách ra bằng phương pháp điện phân từ hỗn hợp của liti clorua và kali clorua.
Hạt nhân của liti tương đối kém ổn định, vì hai đồng vị bền của liti tự nhiên có năng lượng liên kết thấp nhất trên mỗi hạt nhân của tất cả các hạn nhân bền. Do tính tương đối kém ổn định hạt nhân nên liti ít phổ biến trong hệ mặt trời so với 25 trong số 32 nguyên tố hóa học đứng đầu mặc dù hạt nhân của nó có khối lượng rất nhẹ. Cũng lý do tương tự, liti có mối liên lệ quan trọng với vật lý hạt nhân. Sự chuyển hóa hạt nhân của nguyên tử liti thành heli năm 1932 là phản ứng hạt nhân được thực hiện thành công đầu tiên, và liti-6 deuteride có vai trò là nhiên liệu phân hạch trong các vũ khí nhiệt hạch.
Liti và các hợp chất của nó có nhiều ứng dụng công nghiệp như thủy tinh cách nhiệt và gốm sứ, dầu nhờn liti, phụ gia trong sản xuất sắt, thép và nhôm, pin liti và pin ion liti. Các ứng dụng này tiêu thụ gấp 3/4 sản lượng liti. Bằng chứng thực nghiệm có sẵn là đủ để chấp nhận liti là cần thiết; một RDA tạm thời cho một người trưởng thành nặng 70 kg trong 1,000 μg/ngày đã được đề nghị.
Liti dạng vết cũng có mặt trong các sinh vật. Nguyên tố này không thể hiện chức năng sinh học rõ ràng, vì các động và thực vật sống tốt mà không cần nó. Các chức năng không quan trọng cũng không loại trừ. Ion liti Li+ ảnh hưởng đến nhiều muối liti đã được chứng minh là hữu ích trong việc ổn định tinh thần trong một số loại thuốc điều trị rối loạn lưỡng cực, do những ảnh hưởng thần kinh của ion đến cơ thể con người.
== Tính chất ==
=== Vật lý ===
Giống như các kim loại kiềm khác, liti có một electron hóa trị nên nó dễ dàng cho đi electron này để tạo thành cation. Do đó, đây là một chất bán dẫn nhiệt và điện tốt đồng thời cũng là một chất phản ứng mạnh. Liti có khả năng phản ứng thấp hơn so với các kim loại kiềm khác do electron hóa trị gần với hạt nhân (hai electron còn lại trong orbitan s của liti có mức năng lượng thấp hơn, và do đó nó không tham gia tạo các liên kết hóa học).
Kim loại liti đủ mềm để có thể cắt bằng dao. Vết cắt tươi có màu trắng bạc và đổi thành xám nhanh do sự oxy hóa tạo thành liti ôxít. Liti là một trong số các kim loại có điểm nóng chảy thấp nhất (180 °C), nhưng nó lại là kim loại có điểm sôi và nóng chảy cao nhất so với các kim loại kiềm.
Liti có tỉ trọng rất thấp đạt 0,534 g/cm3, tương tương với gỗ thông. Nó có mật độ thấp nhất so với các nguyên tố ở dạng rắn trong điều kiện nhiệt độ phòng, nguyên tố rắn xếp sau nó (kali có tỉ trọng 0,862 g/cm3) có mật độ lớn hơn nó 60%. Thêm vào đó, ngoài heli và hydro, nó có mật độ nhỏ hơn bất kỳ nguyên tố ở dạng lỏng nào, nó chỉ bằng 2/3 so với nitơ lỏng (0,808 g/cm3). Liti có thể nổi trên các hydrocacbon nhẹ và là một trong 3 kim loại có thể nổi trên nước, hai kim loại còn lại là natri và kali.
Hệ số giãn nở nhiệt của Liti lớn gấp đôi so với nhôm và gần 4 lần của sắt. Liti là một chất siêu dẫn ở dưới 400 μK trong điều kiện áp suất tiêu chuẩn và ở nhiệt độ cao hơn (trên 9 K) ở áp suất rất cao (>20 GPa). Ở nhiệt độ dưới 70 K, liti, giống như natri, trải qua sự chuyển pha không khuếch tán. Ở 4,2 K liti có cấu trúc tinh thể trực thoi; ở nhiệt độ cao hơn nó chuyển sang cấu trúc lập phương tâm diện và sau đó là lập phương tâm khối. Ở nhiệt độ heli lỏng (4 K) cấu trúc thoi là dạng thường gặp nhất. Nhiều dạng thù hình của liti đã được quan sát ở áp suất cao.
Liti có nhiệt dung riêng đạt 3,58 kJ/kgK, là giá trị cao nhất trong tất cả các chất rắn. Do vậy, kim loại liti thường được dùng làm chất làm mát trong các ứng dụng truyền tải nhiệt.
=== Hóa học và hợp chất ===
Liti dễ phản ứng với nước nhưng tạo năng lượng ít hơn so với các kim loại kiềm khác. Phản ứng tạo ra khí hydro và liti hydroxit trong dung dịch. Do phản ứng với nước nên liti thường được lưu trữ trong bằng cách ngâm trong hydrocacbon, thường là dầu. Mặc dù các kim loại kiềm nặng hơn có thể được trữ trong các chất nặng hơn, như dầu khoáng, liti thì không đủ nặng để chìm trong các chất lỏng như thế. Trong không khí ẩm, liti nhanh chóng bị xỉn do tạo thành một lớp liti hydroxit (LiOH và LiOH·H2O) màu đen phủ bên ngoài, liti nitrua (Li3N) và liti cacbonat (Li2CO3, đây đều là các sản của phản ứng thứ cấp giữa LiOH và CO2).
Khi đốt bằng ngọn lửa, các hợp chất của liti tạo ra một màu đỏ thẫm, nhưng khi cháy mạnh nó cho ra màu bạc sáng. Liti bắt lửa và bốc cháy trong ôxy khi tiếp xúc với nước hoặc hơi nước. Liti là một chất dễ cháy, và nó có thể nổ khi tiếp xúc với không khí và đặc biệt là với nước, mặc dù nó ít xảy ra so với các kim loại kiềm khác. Phản ứng liti-nước ở nhiệt độ thường thì nhanh nhưng không mãnh liệt, vì hydro được tạo ra sẽ không tự cháy. Giống như tất cả kim loại kiềm, các đám cháy liti rất khó dập tắt, nó cần các bột chữa cháy phải khô (loại nhóm D). Liti là kim loại duy nhất phản ứng với nitơ ở nhiệt độ thường.
Liti có quan hệ chéo với magiê, một nguyên tố có cùng bán kính ion và nguyên tử. Sự tương đồng giữa hai kim loại như tạo thành các hơp chất nitrua khi phản ứng với N2, sự hình thành liti ôxít (Li2O) và perôxít (Li2O2) khi cháy trong O2, các muối có tính tan tương tự, và khả năng kém bền nhiệt của các hợp chất cacbonat và nitrua của chúng. Kim loại liti phản ứng với khí hydro ở nhiệt độ cao tạo ra liti hydrua (LiH).
Các hợp chất hai cấu tử khác như halua (LiF, LiCl, LiBr, LiI) và sulfua (Li2S), superoxit (LiO2), cacbua (Li2C2). Các hợp chất vô cơ khác cũng tồn tại khi liti kết hợp với các anion để tạo thành nhiều muối khác nhau như Liti borat, Liti amua, Liti cacbonat, Liti nitrat, hay bohydrua (LiBH4). Liti nhôm hydrua (LiAlH4) được sử dụng phổ biến làm chất khử trong phản ứng tổng hợp hữu cơ.
Nhiều chất vô cơ của liti được biết ở dạng liên kết cộng hóa trị giữa các nguyên tử cacbon và liti tạo ra carbanion. Đây là những chất bazơ và ái lực hạt nhân cacbon mạnh. Trong nhiều hợp chất liti hữu cơ này, các ion liti có khuynh hướng tập hợp thành các ô mạng có tính tự đối xứng cao, đây là trường hợp khá phổ biến đối với các kim loại kiềm. LiHe, là một chất van der Waals tương tác yếu, đã được phát hiện ở nhiệt độ rất thấp.
Liti cũng được phát hiện thể hiện từ tính ở dạng khí trong các điều kiện nhất định.
=== Đồng vị ===
Liti trong tự nhiên là hỗn hợp của 2 đồng vị ổn định 6Li và 7Li với 7Li là phổ biến nhất (92,5% trong tự nhiên). Cả hai đồng vị tự nhiên đều có năng lượng liên kết hạt nhân thấp trên mỗi hạt nhân so với các nguyên tố nhẹ hơn và nặng hơn nằm kề nó trong bảng tuần hoàn là heli và berylli, tức các nguyên tố nhẹ ổn định, liti có thể sinh năng lượng qua phản ứng phân hạch hạt nhân. Hai hạt nhân có năng lượng liên kết thấp hơn trên mỗi hạt nhân so với các hạt nhân ổn định khác là deuterium và heli-3. Do đó, mặc dù khối lượng nguyên tử nhẹ, liti ít phổ biến trong hệ mặt trời so với 25 trong 30 nguyên tố hóa học đầu tiên. Nó có 7 đồng vị phóng xạ đã biết với ổn định nhất là 8Li có chu kỳ bán rã 838 ms và 9Li có chu kỳ bán rã 178,3 ms. Các đồng vị còn lại có chu kỳ bán rã dưới 8,6 ms. Đồng vị có chu kỳ bán rã ngắn nhất là 4Li, bị phân rã theo bức xạ proton và có chu kỳ bán rã 7,6x10−23 s.
Liti-7 là một trong những nguyên tố nguyên thủy (sản xuất trong các phản ứng tổng hợp hạt nhân của Vụ nổ lớn Big Bang). Một lượng nhỏ của 2 đồng vị 6Li và 7Li được tạo ra trong các sao, nhưng chúng được cho là bị đốt nhanh hơn tốc độ chúng được tạo ra. Một lượng khác liti bao gồm các đồng vị 6Li and 7Li có thể được tạo ra từ gió mặt trời, các tia vũ trụ va vào các nguyên tử nặng hơn, và từ thời kỳ đầu của hệ mặt trời 7Be và 10Be phân rã phóng xạ. Trong khi liti được tạo ra trong các sao qua sự tổng hợp hạt nhân sao, sau đó nó bị đốt cháy. 7Li cũng có thể được tạo ra trong các sao cacbon.
Tỉ lệ các đồng vị liti ổn định đáng kể trong nhiều quá trình tự nhiên, bao gồm sự thành tạo các khoáng vật (sự kết tủa hóa học), trao đổi chất, và trao đổi ion. Các đồng vị của liti phân chia trong một loạt các quá trình tự nhiên, bao gồm cả việc hình thành khoáng chất (kết tủa hóa học), thủy phân, trao đổi ion (Liti thay thế cho for magiê và sắt trong các cấu trúc bát giác của đất sét, trong đó Li-6 là có ưu thế hơn Li-7), trong các quá trình siêu lọc cũng như sự biến đổi đá. Đồng vị 11Li được biết là có tính chất quang hạt nhân. Quá trình chia tách hạt nhân bằng laser có thể được sử dụng để tác các hạt nhân liti.
Sản xuất vũ khí hạt nhân và các ứng dụng vật lý hạt nhân khác chiếm tỷ lệ sử dụng liti nhân tạo chính, với đồng vị nhẹ 6Li được lưu giữ trong công nghiệp và quân sự có sự thau đổi nhỏ nhưng có thể đo đạc được những thay đổi của tỉ lệ 6Li so với 7Li thậm chí trong các nguồn tự nhiên như sông suối. Điều này dẫn đến một điều không chắc chắn bất bình thường trong việc chuẩn hóa khối lượng hạt nhân liti, vì đại lượng này phụ thuộc vào tỉ lệ có mặt trong tự nhiên của các đồng vị liti bền, cũng do chúng là các nguồn khoáng sản liti thương mại.
== Sự phổ biến ==
=== Vũ trụ ===
Theo lý thuyết vũ trụ hiện đại, liti (bao gồm cả 2 đồng vị bền liti-6 và liti-7) nằm trong 3 nguyên tố được tổng hợp trong vụ nổ Big Bang. Mặc dù số lượng liti được tạo ra trong sự tổng hợp hạt nhân Big Bang bị phụ thuộc vào số lượng các photon trong baryon, các giá trị liti phổ biến được chấp nhận có thể tính toán được, và có một "sự khác biệt liti vũ trụ học" trong Vũ trụ: các sao già có vẻ có ít liti hơn mọi người vẫn nghĩ, và một số sao trẻ hơn có nhiều hơn nhiều. Sự thiếu vắng liti trong các sao già hơn dường như được gây ra bởi sự trộn lẫn liti vào bên trong sao đó, tại đó nó bị phân hủy. Hơn thế nữa, liti được tạo ra trong các sao trẻ hơn. Mặc dù nó chuyển hóa thành 2 nguyên tử heli do sự va chạm với một proton ở nhiệt độ trên 2,4 triệu độ C (hầu hết các sao dễ dàng có được nhiệt độ này bên trong lòng của nó), liti có nhiều hơn lượng dự đoán trong các sao được hình thành sau, còn về nguyên nhân thì chưa được hiểu rõ.
Mặc dù nó là một trong 3 nguyên tố (cùng với heli và hydro) được tổng hợp từ Big Bang, liti cùng với berylli và boron có số lượng thấp hơn đáng kể so với các nguyên tố lân cận. Đây là kết quả của nhiệt độ thấp cần thiểt để phân hủy liti, và sự thiếu vắng một quá trình phổ biến để tạo ra nó.
Liti cũng được tìm thấy trong sao lùn nâu và có giá trị dị thường trong các sao cam. Do liti có mặt trong các sao lùn nâu có khối lượng nhỏ hơn, lạnh hơn, nhưng nó bị phân hủy ở các sao lùn đỏ nóng hơn, sự có mặt của nó trong phổ của các sao có thể được sử dụng làm thí nghiệm liti để phân biệt các nhóm sao này, cũng như các sao nhỏ hơn Mặt trời. Một số ngôi sao màu cam cũng có thể chứa một nồng độ liti cao. Các sao màu cam này được tìm thấy có hàm lượng liti cao hơn so với hàm lượng bình thường (chẳng hạn như Centaurus X-4) quay quanh các vật thể lớn (có thể là các sao neutron hoặc các lỗ đen) toàn bộ lực hấp dẫn rõ ràng đã kéo liti nặng hơn lên bề mặt của các sao hydro-heli, làm cho liti được quan sát có nhiều hơn.
=== Trên Trái đất ===
Mặc dù liti phân bố rộng rãi trên Trái Đất, nó không xuất hiện tự nhiên ở dạng nguyên tố do tính phản ứng cao của nó. Tổng lượng liti trong nước biển là rất lớn, ước tính khoảng 230 tỉ tấn, tức nồng độ ổn định khoảng 0,14 đến 0,25 ppm, hay 25 micromol; hàm lượng cao hơn đạt đến 7ppm được tìm thấy trong các mạch nhiệt dịch.
Hàm lượng liti trong vỏ Trái đất ước tính dao động trong khoảng 20 đến 70 ppm. Liti là một thành phần phủ trong các đá magma với hàm lượng cao nhất trong các đá granit. Các đá pegmatit cũng có hàm lượng liti lớn nhất ở dạng khoáng vật, với spodumene và petalite là các nguồn khai thác liti thương mại phổ biến. Khoáng vật liti đáng kể khác là lepidolit. Một nguồn liti mới là sét hectorit, các hoạt động khai thác chủ yếu thông qua công ty Western Lithium Corporation ở Hoa Kỳ. Với hàm lượng 20 mg liti/kg trong vỏ trái đất, liti là nguyên tố phổ biến thứ 25.
Theo cẩm nang Liti và Canxi tự nhiên, "Liti là một nguyên tố tương đối hiếm, mặc dù nó được tìm thấy trong nhiều khối đá và một vài vùng nước mặn, nhưng luôn ở nồng độ rất thấp. Có một số lượng khá lớn của cả khoáng liti và mỏ muối nhưng chỉ một ít trong số chúng thực sự hoặc có tiềm năng giá trị thương phẩm.
Trong những nơi có trữ lượng liti lớn nhất là Salar de Uyuni ở Bolivia, với trữ lượng 5,4 triệu tấn. USGS ước tính năm 2010, Chile có trữ lượng lớn nhất (7,5 triệu tấn) và sản lựong hàng năm cao nhất (8.800 tấn). Các nhà cung cấp chính khác như Úc, Argentina và Trung Quốc. Tính đến năm 2015, một Khảo sát địa chất tại cộng hòa Séc coi toàn bộ Dãy núi Quặng tại Cộng hòa Séc là khu vực liti. Năm mỏ đã được đăng ký, một mỏ gần Cínovec được coi là mỏ kinh tế tiềm năng với 160 000 tấn liti.
Tháng 06 năm 2010, New York Times đưa ra thông báo rằng các nhà địa chất Hoa Kỳ đã tiến hành khảo sát vùng khô hạn của các hồ muối ở miền tây Afghanistan và tin rằng có trữ lượng liti lớn nhất ở đây."Các quan chức Lầu Năm Góc cho rằng các phân tích ban đầu của họ tại một địa điểm ở tỉnh Ghazni cho thấy tiềm năng tạo mỏ liti lớn cỡ mỏ ở Bolivia, mà mỏ này hiện có trữ lượng liti lớn nhất đã được biết đến." Các ước tính này "chỉ dựa trên dữ liệu cũ, được thu thập chủ yếu từ thời Liên Xô trong khi họ chiếm đóng Afghanistan giai đoạn 1979–1989" và "Stephen Peters, trưởng dự án khoáng sản Afghanistan của USGS, cho rằng ông ta không ông biết về mối liên quan của USGS đến bất kỳ cuộc thăm dò khoáng sản mới nào tại Afghanistan trong 2 năm qua. 'Chúng tôi cũng không chắc có bất kỳ phát hiện nào mới về liti."
=== Sinh học ===
Liti được tìm thấy ở dạng vết trong nhiều nhóm thực vật, thực vật phù du, và động vật không xương sống với hàm lượng 69 đến 5.760 ppb. Trong các động vật không xương sống thì hàm lượng hơi thấp hơn, và hầu như tất cả tế bào và chất dịch của động vật có xương sống có mặt liti với mức dao động trong khoảng 21 đến 763 ppb. Các sinh vật ở biển có khuynh hướng tích tụ sinh học liti nhiều hơn các sinh vật trên cạn. Hiện con người không rõ liệu liti có vai trò sinh lý học như thế nào trong các sinh vật trên, nhưng các nghiên cứu về dinh dưỡng ở các động vật có vú chỉ ra rằng liti có vai trò quan trọng đối với sức khỏe của chúng, điều này cho thấy rằng liti có thể được xếp vào nhóm nguyên tố vết thiết yếu với RDA of 1 mg/ngày. Các nghiên cứu quan sát ở Nhật Bản thông báo năm 2011 cho rằng liti tự nhiên có trong nước uống có thể giúp kéo dài tuổi thọ của con người.
== Lịch sử ==
Petalit (LiAlSi4O10) được một nhà hóa học người Brazil José Bonifácio de Andrada e Silva phát hiện năm 1800 trong một mỏ trên đảo Utö Thụy Điển. Tuy nhiên, mãi cho đến năm Johan August Arfwedson, ông làm việc trong một phòng thí nghiệm hóa của Jöns Jakob Berzelius, phát hiện sự có mặt của một nguyên tố mới trong khi phân tích quặng petalit. Nguyên tố này tạo thành các hợp chất tương tự như các hợp chất của natri và kali, mặc dù hợp chất cacbonat và hydroxit của nó ít tan trong nước và có tính bazo hơn. Berzelius đặt tên vật liệu kiềm này là "lithion/lithina", từ tiếng Hy Lạp λιθoς (nghĩa là đá), để chỉ trạng thái được phát hiện của nó là một khoáng chất rắn, trái với kali được phát hiện trong tro của thực vật, và natri được biết là một phần từ nồng độ của nó cao trong máu động vật. Ông đặt tên kim loại trong vật liệu này là "lithium".
Arfwedson sau đó chỉ ra rằng nguyên tố cùng tên này có mặt trong các khoáng vật như spodumene và lepidolit. Năm 1818, Christian Gmelin là người đầu tiên quan sát các muối liti tạo ngọn lửa đỏ rực khi cháy. Tuy nhiên, cả Arfwedson và Gmelin đã cố thử và thất bại về việc cô lập nguyên tố tinh khiết từ các muối của nó. Nó không được tách ra mãi cho đến năm 1821, khi William Thomas Brande đã tách được liti kim loại bằng phương pháp điện phân liti hydroxit, một quá trình mà trước kia nhà hóa học Humphry Davy đã tách các kim loại kiềm natri và kali. Brande cũng đã mô tả các muôi liti tinh khiết, ở dạng clorua, và ước tính rằng lithia (liti ôxít) chứa khoảng 55% kim loại, ước tính khối lượng nguyên tử liti khoảng 9,8 g/mol (giá trị ngày nayy là ~6,94 g/mol). Năm 1855, Một lượng lớn hơn liti được tạo ra bằng phương pháp điện phân liti clorua do Robert Bunsen và Augustus Matthiessen thực hiện. Việc phát hiện ra quy trình này đã dẫn đến việc sản xuất liti thương mại kể từ năm 1923 do một công ty của Đức là Metallgesellschaft AG. Công ty này đã dùng phương pháp điện phân hỗn hợp liti clorua và kali clorua.
Việc sản xuất và sử dụng liti đã trãi qua nhiều thay đổi mạnh mẽ về lịch sử. Ứng dụng quan trọng đầu tiên của liti là chất bôi trơn liti nhiệt độ cao cho các động cơ máy bay hay các ứng dụng tương tự trong thế chiến thứ 2 và một thời gian ngắn sau đó. Ứng dụng này được ủng hộ mạnh mẽ do xá phòng gốc liti có điểm nóng chảy cao hơn các xà phòng nhóm kiềm khác, và ít bị ăn mòn hơn so với các xà phòng gốc canxi. Thị trường nhỏ về các loại xà phòng liti và dầu mỡ bôi trơn dựa vào liti được hỗ trợ từ nhiều mỏ nhỏ chủ yếu ở Hoa Kỳ.
Nhu cầu liti tăng mạnh trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh do cung cấp cho việc sản xuất vũ khí hạt nhân. Cả liti-6 và liti-7 đều tạo ra tritium khi chiếu các hạt nơtron, và do đó nó rất hữu ích trong việc sản xuất tritium, cũng như ở dạng nhiên liệu nhiệt hạch rắn được dùng trong các bom hydro ở dạng litium deuterua. Hoa Kỳ trở thành nhà sản xuất liti chínhtrong giai đoạn cuối thập niên 1950 và giữa thập niên 1980. Vào Cuối cùng các do dự trữ liti chứa gần 42.000 tấn liti hydroxit. Liti trong kho bị làm nghèo liti-6 khoảng 75%, lượng này không đủ để ảnh hưởng đến khối lượng nguyên tử cần thiết về liti trong các chất hóa học chuẩn, và thậm chí trọng lượng nguyên tử liti trong một số ion "nguồn tự nhiên" đã bị "nhiễm" bởi các muối liti từ các nhà máy tách đồng vị, các nguồn này cũng được tìm thấy trong nước dưới đất.
Liti đã được sử dụng để làm giảm nhiệt độ nóng chảy của thủy tinh và làm tăng nhiệt độ nóng chảy của nhôm ôxít khi dùng công nghệ Hall-Héroult. Hai ứng dụng này được sử dụng chính trên thị trường mãi cho đến giữa thập niên 1990. Vào cuối cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, nhu cầu liti tăng và giá bán của Department of Energy stockpiles trên thị trường giảm mạnh. Nhưng vào giữa thập niên 1990, nhiều công ty bắt đầu tách liti từ nước biển một phương pháp được cho là rẻ hơn biệc khai thách hầm lò hoặc thậm chí là khai thác lộ thiên. Hầu hết các mỏ bị đóng cửa hoặc chuyển trọng tâm của họ các loại vật liệu khác trong khi đó chỉ có nguồn quặng khai thác từ các mạch pegmatit là có thể mang lại giá cạnh tranh.
Sự phát triển của pin liti làm gia tăng nhu cầu liti và trở thành đối tương sử dụng chính trong năm 2007. Với dự dao động nhu cầu liti làm pin trong thập nhiên 2000, các công ty mới đã mở rộng việc khai thác liti từ nguồn nước biển để đáp ứng nhu cầu gia tăng này.
== Sản xuất ==
Từ cuối Đại chiến thế giới lần thứ hai, sản xuất liti đã tăng lên đáng kể. Kim loại này được tách ra từ khoáng sản liên quan đến các đá mácma như Lepidolit, spodumen, petalit và amblygonit. Các muối liti được tách ra từ các suối nước khoáng, các hồ nước mặn và các mỏ trầm tích nguồn gốc biển. Kim loại được sản xuất bằng phương pháp điện phân hỗn hợp gồm 55% liti clorua và 45% kali clorua ở khoảng 450 °C. Năm 1998, kim loại này có giá khoảng 95 USD/kg.
Việc tách liti (* là đồng vị của liti, ví dụ * bằng 7 hay 6) bằng điện phân được thực hiện như sau:
catốt:
Li
+
*
+
e
−
→
Li*
{\displaystyle {\mbox{Li}}^{+}{\mbox{*}}+{\mbox{e}}^{-}\to {\mbox{Li*}}}
anốt:
Cl
−
*
→
1
2
Cl
2
(
khi
)
+
e
−
{\displaystyle {\mbox{Cl}}^{-}{\mbox{*}}\to {\frac {1}{2}}{\mbox{Cl}}_{2}({\mbox{khi}})+e^{-}}
=== Dự trữ ===
Trữ lượng liti chắc chắn năm 2008 theo ước tính của USGS khoảng 13 triệu tấn, nhưng cực kỳ khó để ước tính trữ lượng tài nguyên liti trên toàn cầu.
Mỏ Liti được tìm thấy ở Nam Mỹ trong suốt dãy núi Andes. Chile là nhà sản xuất hàng đầu, tiếp theo là Argentina. Cả 2 nước thu hồi Liti từ các hồ nước mặn. Ở Hoa Kỳ Liti được thu hồi các hồ nước mặn ở Nevada. Tuy nhiên, phân nửa trữ lượng trên thế giới phân bố ở Bolivia, một quốc gia nằm ở sườn phía đông trung tâm dãy Andes. Năm 2009, Bolivia đã thương lượng với Nhật Bản, Pháp, và Hàm Quốc để bắt đầu khai thác. Theo USGS, sa mạc Uyuni của Bolivia có trữ lượng 5,4 triệu tấn liti. Một mỏ mới được phát hiện ở đới nâng Rock Springs ở Wyoming ước tính đạt 228.000 tấn. Những mỏ cùng thành tạo này được ngoại suy trữ lượng khoảng 18 triệu tấn.
Sau dự tụt giảm giá quy mô công nghiệp của sản phẩm liti cacbonat sau cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, nhiều nhà cung cấp chính như Sociedad Química y Minera (SQM) họ đã giảm giá bán 20% trong việc khai thác các nguồn tài nguyên liti trong thời gian tới và cũng để giữ vững thị trường của họ, giá năm 2012 tăng lên do nhu cầu liti tăng. Bài báo Business Week năm 2012 đã nêu ra sự độc quyền về liti như sau: "SQM, được điều hành bởi tỉ phú Julio Ponce, đứng vị trí thứ hai, sau Rockwood được chống lưng bởi Henry Kravis thuộc KKR & Co., và FMC có trụ sở ở Philadelphia". Lượng tiêu thụ toàn cầu có thể tăng lên 300.000 tấn vào năm 2020 từ khoảng 150.000 tấn năm 2012, vì nhu cầu sản xuất pin liti đã và đang tăng với tỉ lệ 25% mỗi năm, tăng nhanh hơn 4-5% trong overall gain in lithium
Một nguồn liti tiềm năng khác là từ các giếng địa nhiệt. Các dòng địa nhiệt cò thể mang các chất này lên trên bề mặt; việc thu hồi liti có thể được chứng minh trong lĩnh vực này. Một khi liti được tách ra bằng các kỹ thuật lọc đơn giản, chi phí xử lý và môi trường về cơ bản là đã bao gồm trong việc vận hành các giếng địa nhiệt này; do đó các tác động của hoạt động này là tích cực.
Có nhiều quan điểm khác nhau về sản xuất tiềm năng tăng trưởng sản xuất liti. Một nghiên cứu năm 2008 đã kết luận rằng "việc sản xuất liticacbonat thực tế đạt được sẽ đủ chỉ cho một phần nhỏ nhu cầu thị trường PHEV và EV toàn cầu trong tương lai", và "nhu cầu từ phân khúc thị trường điện tử cầm tay sẽ tiêu thụ hầu hết trữ sản phẩm gia tăng trong kế hoạch trong thập niên tới", và "việc sản xuất hàng loạt liti cacbonat không có vẻ thân thiện môi trường, nó sẽ gây ra thiệt hại không thể khắc phục các hệ sinh thái sinh thái cần được bảo vệ và các động cơ đẩy LiIon là không phù hợp với các khái niệm về "Green Car".
Tuy nhiên, theo một nghiên cứu được tiến hành năm 2011 tại Phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley, Hoa Kỳ và Đại học California Berkeley, trữ lượng ước tính hiện tại về liti không thể là một yếu tố hạn chế cho việc sản xuất pin quy mô lớn cho các xe chạy điện, theo nghiên cứu chỉ ra rằng 1 tỉ pin Li 40 kWh có thể được sản xuất với trữ lượng hiện tại. Một nghiên cứu khác được thực hiện năm 2011 bởi các nhà nghiên cứu từ đại học Michigan và Ford Motor cho thấy rằng có đủ tài nguyên liti để cung cấp cho nhu cầu toàn cầu cho đến năm 2100, bao gồm lượng liti cần cho các ứng dụng tiềm năng rộng rãi của các xe lai điện, plug-in hybrid electric và pin xe điện. Nghiên cứu đã ước tính trữ lượng liti toàn cầu đạt khoảng 39 triệu tấn, và nhu cầu cho liti trong chu kỳ 90 năm phân tích đạt 12-20 triệu tấn theo kịch bản phát triển kinh tế và tỷ lệ tái chế.
Vào ngày 9 tháng 6 năm 2014, ấn phẩm Financialist đươợc xuất bản bởi Credit Suisse chỉ ra rằng nhu cầu liti đang tăng trưởng với tốc độ 12% mỗi năm; theo Credit Suisse, tốc độ này vượt quá giá trị tính toán 25%. Bài báo so sánh tình trạng liti 2014 với dầu, theo đó "giá dầu tăng cao đã thúc đẩu đầu tư vào các công nghệ sản xuất cát dầu và dầu trong vùng nước sâu tốn kém"; tức là giá liti sẽ tiếp tục tăng cho đến khi các phương pháp sản xuất đắt tiền hơn có thể làm tăng tổng sản lượng đầu ra được sự chú ý của các nhà đầu tư.
=== Giá cả ===
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, những nhà cung cấp lớn như Sociedad Química y Minera (SQM) giảm giá Liti cacbonat đến 20%. Lượng tiêu tụ toàn cầu có thể tăng đến 300,000 tấn một năm vào năm 2020 so với 150,000 tấn năm 2012, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng pin liti tăng trưởng khoảng 25% một năm, nhanh hơn mức tăng trưởng chung từ 4-5% trong sản xuất liti.
=== Chiết xuất và nước biển ===
Tính đến năm 2015 hầu hết liti trên thế giới được sản xuất tại Nam Mỹ, nơi các mỏ chứa liti được chiết xuất từ bể ngầm và tập trung bằng bốc hơi năng lượng mặt trời. Kĩ thuật khai thác tiêu chuẩn là làm bay hơi nước từ mỏ, mỗi lô hàng mất từ 18 đến 24 tháng. Liti hiện tại vẫn nằm trong nước biển, nhưng những cách thức khai thác thương mại khả thi vẫn chưa được phát triển.
== Ứng dụng ==
Vì nhiệt dung riêng lớn của nó (lớn nhất trong số các chất rắn), liti được sử dụng trong các ứng dụng truyền nhiệt. Nó cũng là vật liệu quan trọng trong chế tạo anốt của pin vì khả năng điện hóa học cao của nó. Các ứng dụng khác còn có:
=== Sứ và thủy tinh ===
Liti ôxít được sử dụng rộng rãi làm chất tẩy trong việc xử lý silica, giảm điểm nóng chảy và độ nhớt của vật liệu và làm men sứ trong việc cải thiện các tính chất vật lý bao gồm các hệ số giãn nở nhiệt thấp. Trên toàn cầu đây là ứng dụng đơn lớn nhất đối với hợp chất liti. Liti cacbonat (Li2CO3) thường được sử dụng trong ứng dụng này vì nó chuyển đổi oxit khi nung nóng.
=== Điện và điện tử ===
Vào các năm cuối của thế kỷ 20, do sở hữu thế điện cao của nó, liti trở thành một thành phần quan trọng trong các chất điện phân và một trong các thành phần quan trọng trong pin. Do có khối lượng nguyên tử thấp, liti có tỉ lệ khối lượng tích điện và năng lượng cao. Loại pin ion liti có thể tạo ra khoảng 3 vôn mỗi ô, so với 2,1 vôn đối với pin axit chì hay 1,5 vôn đối với pin kẽm-cacbon. Các pin ion liti, có thể sạc được và có mật độ năng lượng cao, không thể nhầm lẫn với pin liti không thể sạc được. Các loại pin sạc khác sử dụng liti như pin polymer ion liti, pin liti sắt phốtphat, và pin dây nano.
=== Chất bôi trơn ===
Ứng dụng phổ biến thứ ba của liti là làm các chất bôi trơn. Liti hydroxit là một chất bazo mạnh và khi nung với mỡ, nó tạo ra một loại xà phòng liti có tên là stearate. Xà phòng liti có khả năng thicken oils, và nó được sử dụng để sản xuất các chất bôi trơn nhiệt độ cao nhiều mục đích.
=== Luyện kim ===
Liti (cũng như liti cacbonat) được dùng làm phụ gia trong hoạt động đúc liên tục trong xỉ làm tăng tính linh động, chiếm khoảng 5% lượng liti toàn cầu (2011). Các hợp chất liti cũng được sử dụng làm phụ gia trong cát đúc cho hoạt động đúc sắt nhằm giảm veining.
Liti (ở dạng liti florua) được sử dụng làm phụ gia trong nấu chảy nhôm (công nghệ Hall–Héroult), làm giảm nhiệt độ nóng chảy và làm tăng điện trở suất, nguồn này chiếm 3% sản lượng toàn cầu năm 2011. Các hợp kim của liti với nhôm, cadmi, đồng và mangan được sử dụng trong các bộ phần của máy bay (xem thêm hợp kim liti-nhôm). Liti còn có hiệu quả trong việc hỗ trợ sự hoàn hảo của mối hàn silicon nano trong những thành phần điện tử cho pin điện và các thiết bị khác.
=== Các ứng dụng công nghiệp và hóa học khác ===
Các hợp chất liti được sử dụng làm chất tạo màu và chất ôxy hóa trong pháo hoa và pháo sáng.
Liti perôxit (Li2O2) trong môi trường ẩm không chỉ phản ứng với cacbon dioxit tạo thành liti cacbonat mà còn giải phóng ôxy. Phản ứng diễn ra theo phương trình:
2 Li2O2 + 2 CO2 → 2 Li2CO3 + O2.
Một số hợp chất aforementioned hay liti perclorat, được sử dụng làm nến ôxy để cung cấp ôxy cho các tàu ngầm. Loại này có thể chứa một lượng nhỏ boron, magie, nhôm, silicon, titan, mangan, và sắt.
==== Quang học ====
Liti fluoride có một trong những chỉ số khúc xạ thấp nhất và phạm vi truyền dẫn xa nhất trong tia UV sâu của hầu hết các vật liệu thông thường. Tính chia bột liti fluoride đã được sử dụng cho Liều lượng phát quang (TLD): khi một mẫu như vậy tiếp xúc với bức xạ, nó tích lũy phần thiếu tinh thể khi nóng lên, phát ra một ánh sáng xanh có cường độ lớn tỉ lệ với độ hấp thụ, cho phép cách này định lượng. Đôi khi liti fluoride còn được sử dụng trong các ống tiêu cự của kính viễn vọng. Ứng dụng liti được sử dụng trong hơn 60% điện thoại di động.
==== Hữu cơ và polyme hóa học ====
Hợp chất Organolithium được sử dụng rộng rãi trong sản xuất polyme hóa học. Trong ngành công nghiệp polyme mà người tiêu dùng chi phối những hợp chất này, hợp chất liti ankyl là chất xúc tác trong trùng hợp anionic của nhóm chức Anken. Hợp chất Organolithium được chuẩn bị từ liti kim loại và alkyl halogenua.
==== Ứng dụng quân sự ====
Liti kim loại và hỗn hợp Hiđrua của nó như Li[AlH4] được sử dụng làm chất phụ năng lượng cao để đẩy tên lửa. Li[AlH4] cũng có thể tự chế thành nhiên liệu rắn. Một quả ngư lôi MK-50 chứa hệ thống năng lượng đẩy hóa học (SCEPS) sử dụng một chiếc xe tăng nhỏ chứa khí SF6 rải xuống một khối liti rắn. Phản ứng sau đó sinh nhiệt, tạo ra hơi nước để đẩy ngư lôi trong một chu kì Rankine khép kín. Hiđrua liti chứa liti-6 được sử dụng trong vũ khí nhiệt hạch để bọc thành lõi của bom hạt nhân.
=== Hạt nhân ===
Liti-6 có giá trị làm nguồn nguyên liệu để sản xuất Triti và chất hấp thụ nơtron trong phản ứng tổng hợp hạt nhân. Liti tự nhiên chứa khoảng 7.5% liti-6, từ đó một lượng lớn liti-6 được sản xuất bằng phép tách đồng vị để sử dụng trong vũ khí hạt nhân. Liti-7 cũng được quan tâm để sử dụng trong chất lỏng của lò phản ứng hạt nhân. Tritium hòa lẫn với hyđro nặng trong phản ứng tổng hợp hạt nhân chỉ mang tính tương đối để sinh ra sản phẩm. Mặc dù các chi tiết được giữ bí mật, hyđro liti-6 nặng dường như vẫn có một vai trò làm vật liệu nhiệt hạch trong các vũ khí hạt nhân hiện đại.
Florid liti có tính hóa học ổn định khác thường và hỗn hợp LiF-BeF2 đạt độ nóng chảy thấp. Ngoài ra, 7Li, Be và F là một trong số ít các nuclid với những mặt cắt ngang nhiệt nơtron thấp vừa đủ để không đầu độc các phản ứng phân hạt nhân bên trong một lò phản ứng phân hạt nhân. Liti cũng được sử dụng làm nguyên liệu cho hạt alpha hoặc hạt nhân heli. Khi 7Li bởi các proton tăng tốc hình thành từ 8Be, nó trải qua quá trình phân hạch để tạo nên hai hạt alpha. Chiến công này do Cockroft và Walton phát hiện năm 1932, được gọi là "tách nguyên tử vào thời điểm đó, đồng thời là phản ứng hạt nhân đầu tiên hoàn toàn do con người thực hiện. Các lò phản ứng sử dụng pin liti để chống lại những tác động ăn mòn từ Axit boric, chất được đưa vào nước để hấp thụ nơtron dư thừa.
=== Y học ===
Các muối liti như cacbonat liti (Li2CO3), citrat liti và orotat liti là các chất ổn định thần kinh được sử dụng để điều trị các rối loạn lưỡng cực, vì không giống như phần lớn các loại thuốc ổn định thần kinh khác, chúng trung hòa cả hai sự cuồng và trầm cảm. Liti có thể được sử dụng để tăng thêm hiệu quả của các thuốc chống trầm cảm khác. Lượng có ích của liti trong việc này thấp hơn so với mức có độc tính chỉ một chút, vì thế các nồng độ của liti trong máu phải được kiểm soát kỹ trong quá trình điều trị. Các muối liti có thể củng giúp ít trong việc chẩn đoán liên quan như rối loạn schizoaffective và trầm cảm có chu kỳ. Phần tác dụng của muối này là ion liti Li+. Chúng có thể làm tăng nguy cơ phát triển dị tật Ebstein ở trẻ sinh ra từ các phụ nữ uống liti trong ba tháng đầu của thai kỳ. Liti cũng được nghiên cứu với khả năng trị bệnh đau đầu từng chùm.
== Cảnh báo ==
Giống như các kim loại kiềm khác, liti trong dạng đơn chất là một chất dễ cháy và nổ khi để trần ngoài không khí và đặc biệt là trong nước. Liti kim loại là một chất ăn mòn và yêu cầu có trang thiết bị bảo hộ lao động đặc biệt để chống tiếp xúc trực tiếp với da. Liti có thể lưu giữ trong các hợp chất không có phản ứng như napta hay hiđrôcacbon. Các hợp chất liti không đóng vai trò sinh học tự nhiên gì và được coi là chất độc nhẹ. Khi sử dụng như thuốc, nồng độ Li+ trong máu phải được kiểm soát chặt chẽ.
=== Quy định ===
Một số điều luật hạn chế việc bán pin liti, nguồn có sẵn nhất của liti dành cho người tiêu dùng bình thường. Liti có thể được sử dụng để làm giảm Pseudoephedrine và Ephedrine đến ma túy đá trong phương pháp giảm Birch, trong đó sử dụng những giải pháp của kim loại kiềm hòa tan trong muối amoniac khan. Những thiếu hụt nội bộ từ khiếm khuyết trong sản xuất hoặc thiệt hại về vật lý có thể dẫn đến sự phát nổ tự phát.
== Tham khảo ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Lithium (Li) (chemical element) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Liti tại Từ điển bách khoa Việt Nam
USGS: Lithium Statistics and Information
WebElements.com – Lithium
EnvironmentalChemistry.com – Lithium
It's Elemental – Lithium
Los Alamos National Laboratory – Lithium |
vòng xoáy đam mê.txt | Vòng xoáy đam mê là một bộ phim truyền hình Đài Loan. Nó được phát sóng từ ngày 22 tháng 7 năm 2003 đến ngày 24 tháng 2 năm 2004 trên SET Đài Loan và SET Drama mỗi tối trong tuần 20:00-21:30.
== Tham khảo == |
paladi.txt | Paladi (tiếng La tinh: Palladium) là một kim loại hiếm màu trắng bạc và bóng, được William Hyde Wollaston phát hiện năm 1803, ông cũng là người đặt tên cho nó là palladium theo tên gọi của Pallas, một tiểu hành tinh được đặt tên theo tên gọi tượng trưng của nữ thần Athena, có được sau khi vị nữ thần này giết chết thần khổng lồ Pallas. Ký hiệu cho paladi là Pd và số nguyên tử của nó là 46. Paladi cùng với platin, rhodi, rutheni, iridi và osmi tạo thành một nhóm các nguyên tố gọi chung là các kim loại nhóm platin (PGM). Các PGM chia sẻ các tính chất hóa học tương tự, nhưng paladi là kim loại có điểm nóng chảy thấp nhất và nhẹ nhất trong số các kim loại quý này. Đặc biệt, ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển, paladi có thể hấp thụ hiđrô tới 900 lần thể tích của nó, điều này làm cho paladi là chất lưu trữ hiệu quả và an toàn cho hiđrô và các đồng vị của hiđrô. Paladi cũng chống xỉn màu tốt, dẫn điện ổn định và khả năng chống ăn mòn hóa học cao cùng chịu nhiệt tốt.
== Lịch sử ==
Paladi được William Hyde Wollaston phát hiện năm 1803. Nguyên tố này được Wollaston đặt tên năm 1804 theo tên gọi của tiểu hành tinh Pallas, được phát hiện hai năm trước đó.
Wollaston tìm thấy paladi trong quặng platin thô từ Nam Mỹ bằng cách hòa tan quặng trong nước cường toan, trung hòa dung dịch bằng hiđrôxít natri và kết tủa platin dưới dạng cloroplatinat amoni bằng clorua amoni. Ông bổ sung xyanua thủy ngân để tạo ra hợp chất xyanua paladi, rồi nung nóng nó để tách riêng kim loại paladi ra.
== Đặc trưng ==
Paladi là kim loại màu trắng bạc và mềm, trông tương tự như platin. Nó có tỷ trọng riêng nhỏ nhất và điểm nóng chảy thấp nhất trong số các kim loại nhóm platin. Nó mềm và dễ uốn khi tôi và tăng sức bền cũng như độ cứng lên rất nhiều khi gia công nguội. Paladi hòa tan chậm trong axít sulfuric, axít nitric và axít clohiđric. Kim loại này không phản ứng với ôxy ở nhiệt độ bình thường và vì thế nó không bị xỉn màu khi ở trong không khí. Paladi nung nóng tới 800 °C sẽ sinh ra một lớp ôxít paladi (II) (PdO). Nó bị xỉn màu nhẹ trong không khí ẩm có chứa lưu huỳnh.
Kim loại này có khả năng bất thường trong việc hút bám hiđrô tới trên 900 lần thể tích của nó khi ở nhiệt độ phòng. Người ta cho rằng có thể nó tạo ra hiđrua paladi (PdH2) nhưng vẫn chưa rõ ràng là nó có phải là hợp chất hóa học thật sự hay không.
Khi paladi hấp thụ một lượng lớn hiđrô, kích thước của nó sẽ giãn nở một chút. Ái lực của paladi với hiđrô làm cho nó đóng vai trò then chốt trong thực nghiệm Fleischmann-Pons năm 1989, còn gọi là nhiệt hạch lạnh.
Các trạng thái ôxi hóa phổ biến của paladi là 0, +1, +2 và +4. Mặc dù ban đầu thì trạng thái +3 đã được coi là một trong các trạng thái ôxi hóa nền tảng của paladi, nhưng không có chứng cứ nào cho thấy paladi tồn tại ở trạng thái ôxi hóa +3; điều này được kiểm tra qua nhiễu xạ tia X cho một loạt các hợp chất, chỉ ra cho thấy thực chất chúng chỉ là chất nhị trùng của paladi (II) và paladi (IV) mà thôi. Gần đây, các hợp chất với trạng thái ôxi hóa +6 đã được tổng hợp.
== Phổ biến ==
Các trầm tích quặng của paladi và các PGM khác khá hiếm và trầm tích rộng lớn nhất là trong dải norit ở phức hệ đá lửa Bushveld tại Transvaal thuộc Nam Phi, phức hệ Stillwater ở Montana, Hoa Kỳ, Sudbury ở Ontario, Canada và phức hệ Norilsk ở Nga. Ngoài việc khai thác mỏ, tái chế cũng là nguồn cung cấp paladi, chủ yếu từ các bộ chuyển đổi xúc tác đã bỏ đi. Hàng loạt các ứng dụng và nguồn cung cấp hạn chế của paladi tạo ra cho nó như một lĩnh vực đầu tư đáng quan tâm.
Paladi có thể tìm thấy như là kim loại tự do tạo hợp kim với vàng và các kim loại khác của nhóm platin trong các trầm tích thuộc dãy núi Ural, Australia, Ethiopia, Nam và Bắc Mỹ. Nó được sản xuất ở quy mô thương mại từ trầm tích niken-đồng tìm thấy ở Nam Phi, Ontario và Siberi; một lượng lớn quặng được chế biến làm cho việc chiết tách paladi đem lại lợi nhuận cho dù nó chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong các quặng này. Nhà sản xuất paladi lớn nhất thế giới là GMK Norilski Nikel (ГМК Норильский Никель), sản xuất nó từ trầm tích niken ở Norilsk–Talnakh. Mạch quặng Merensky của phức hệ đá lửa Bushveld ở Nam Phi chứa một lượng paladi đáng kể cùng các nguyên tố nhóm platin khác. Phức hệ đá lửa Stillwater ở Montana cũng chứa paladi ở hàm lượng có thể khai thác.
Paladi cũng được sản sinh ra từ các lò phản ứng phân hạch hạt nhân và có thể chiết tách ra từ nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng, xem thêm bài Tổng hợp kim loại quý, mặc dù sản lượng thu được là không đáng kể.
Paladi được tìm thấy trong các khoáng vật hiếm như cooperit và polarit.
=== Đồng vị ===
Paladi nguồn gốc tự nhiên là hỗn hợp của 6 đồng vị. Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Pd107 với chu kỳ bán rã 6,5 triệu năm, Pd103 với chu kỳ bán rã 17 ngày và Pd100 với chu kỳ bán rã 3,63 ngày. Mười tám đồng vị phóng xạ khác cũng được nêu đặc trưng với nguyên tử lượng trong khoảng từ 92,936 (Pd93) tới 119,924 (Pd120). Phần lớn trong số này cí chu kỳ bán rã nhỏ hơn nửa giờ, ngoại trừ Pd101 (8,47 giờ), Pd109 (13,7 giờ) và Pd112 (21 giờ).
Phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nhẹ hơn Pd106 là bắt điện tử tạo ra rhodi còn phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị nặng hơn Pd106 là phân rã beta tạo ra bạc.
Ag107 do phóng xạ sinh ra là sản phẩm phân rã của Pd107 và lần đầu tiên được phát hiện trong vẫn thạch tại Santa Clara, California năm 1978. Các nhà phát hiện cho rằng the sự hợp nhất và phân chia của các hành tinh nhỏ có lõi sắt có thể xảy ra khoảng 10 triệu năm sau sự kiện tổng hợp hạt nhân. Các mối tương quan giữa Pd107 và Ag được ghi nhận trong các thiên thạch, rõ ràng đã nóng chảy kể từ khi phát triển dần lên của hệ Mặt Trời, phải phản ánh sự hiện diện của các nuclit tồn tại ngắn trong hệ Mặt Trời thời kỳ đầu.
== Sản xuất và nhu cầu ==
Năm 2005, Nga là nhà sản xuất paladi hàng đầu thế giới, chiếm trên 50% thị phần, tiếp theo là Nam Phi, Hoa Kỳ và Canada, theo báo cáo của Cục địa chất Anh.
Cho tới năm 2000, việc cung cấp paladi của Nga ra thị trường thế giới luôn bị trì hoãn và hủy bỏ do hạn mức xuất khẩu luôn không được cấp đúng lúc vì các lý do chính trị. Điều này làm cho giá cả của paladi trên thị trường cao tới 1.100 USD mỗi oz vào tháng 1 năm 2001. Trong khoảng thời gian này, Ford Motor Company, do e ngại việc sản xuất ô tô có thể bị phá vỡ do thiếu hụt paladi, nên đã tiến hành dự trữ một lượng lớn kim loại này bằng việc mua ở mức giá gần như cao nhất. Do giá cả sau đó giảm xuống nên Ford đã thua thiệt khoảng 1 tỷ USD.
Nhu cầu thế giới về paladi tăng từ 100 tấn năm 1990 tới gần 300 tấn vào năm 2000. Sản lượng paladi do khai thác quặng là khoảng 222 tấn vào năm 2006, theo dữ liệu của USGS. Phần lớn paladi được dùng trong các bộ chuyển đổi xúc tác của công nghiệp sản xuất ô tô.
== Ứng dụng ==
Các tính chất độc đáo của paladi và các PGM khác giải thích cho sử dụng rộng rãi của chúng. Khoảng một phần tư hàng hóa sản xuất ngày nay hoặc là chứa PGM hoặc là có PGM đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất ra chúng. Trên một nửa nguồn cung cấp paladi và platin được dùng cho các bộ chuyển đổi xúc tác, trong đó chúng chuyển hóa tới 90% các khí độc hại từ khói ô tô (các hydrocacbon, mônôxít cacbon và các ôxít nitơ) thành các chất ít độc hại hơn (nitơ, điôxít cacbon và hơi nước). Chất lượng kim loại quý của paladi và bề ngoài của nó tạo ra một sự tiêu thụ đáng kể trong ngành kim hoàn. Paladi được tìm thấy trong nhiều đồ điện tử như máy tính, điện thoại di động, tụ điện gốm nhiều lớp, mạ hợp thành, tiếp điểm điện áp thấp, và ti vi SED/OLED/LCD. Paladi cũng được sử dụng trong nha khoa, y học, tinh chế hiđrô, các ứng dụng hóa học, xử lý nước ngầm và đóng vai trò quan trọng trong công nghệ sử dụng cho các tế bào nhiên liệu, trong đó kết hợp hiđrô và ôxy để phát điện, nhiệt và nước.
Paladi được sử dụng trong nha khoa, chế tạo đồng hồ, các que thử đường trong máu, trong bu gi tàu bay và để sản xuất các dụng cụ phẫu thuật và các tiếp điểm điện.
Clorua paladi đã từng có thời được chỉ định như là vị thuốc điều trị bệnh lao với liều lượng 0,065g mỗi ngày (khoảng 1 miligam trên mỗi kilôgam trọng lượng cơ thể). Việc điều trị này có nhiều tác động phụ tiêu cực vì thế sau này nó đã bị thay thế bằng các loại thuốc khác có hiệu quả hơn.
=== Ngành điện tử ===
Ứng dụng lớn nhất của paladi trong ngành điện tử là sản xuất tụ gốm nhiều lớp. Paladi (và các hợp kim paladi-bạc) được sử dụng như là các điện cực trong các tụ điện gốm nhiều lớp. Paladi (đôi khi tạo hợp kim với niken) được sử dụng trong các lớp mạ kết nối trong các đồ điện tử tiêu dùng.
Nó cũng được dùng trong việc mạ các thành phần của đồ điện tử và trong các vật liệu hàn. Riêng bộ phận điện tử tiêu thụ khoảng 1,07 triệu troy oz paladi (khoảng 33 tấn) vào năm 2006, theo như báo cáo của Johnson Matthey.
=== Công nghệ ===
Hiđrô dễ dàng khuếch tán qua paladi bị đốt nóng; vì thế, nó cung cập một cách thức để tinh chế khí này. Các lò phản ứng có màng với màng lọc bằng paladi vì thế được sử dụng để sản xuất hiđrô.
Nó cũng là một phần của điện cực paladi-hiđrô trong các nghiên cứu điện hóa học. Clorua paladi (II) có thể hấp thụ một lượng lớn khí mônôxít cacbon, và được dùng trong các thiết bị dò mônôxít cacbon.
=== Xúc tác ===
Khi được phân chia thành các hạt rất mịn, chẳng hạn như trong paladi trên cacbon, paladi tạo thành một chất xúc tác tốt và được dùng để tăng tốc cho các phản ứng hiđrô hóa và khử hiđrô, cũng như trong cracking dầu mỏ. Một lượng lớn các phản ứng hình thành liên kết cacbon-cacbon trong hóa hữu cơ (như phản ứng Heck và phản ứng Suzuki) được tiến hành thuận lợi bằng xúc tác của các hợp chất chứa paladi. Ứng dụng lớn nhất của paladi hiện nay là trong các bộ chuyển đổi xúc tác.
Paladi cũng là kim loại đa năng trong xúc tác đồng nhất. Nó được sử dụng kết hợp với nhiều dạng phối thể cho các phản ứng chuyển hóa hóa học có tính chọn lọc cao.
=== Lưu trữ hiđrô ===
Hiđrua paladi là paladi kim loại có chứa một lượng đáng kể hiđrô trong lưới tinh thể của nó. Ở nhiệt độ phòng và áp suất khí quyển, paladi có thể hấp thụ lượng hiđrô tới 935 lần thể tích của chính nó theo một phản ứng thuận nghịch. Tính chất này được nghiên cứu tỉ mỉ do việc lưu trữ hiđrô là đáng quan tâm và để hiểu rõ hơn điều gì xảy ra ở cấp độ phân tử nhằm có thể dò ra manh mối để tạo ra các hiđrua kim loại cải tiến. Tuy nhiên, việc lưu giữ hiđrô trên cơ sở paladi là quá đắt tiền, do giá thành cao của kim loại này.
=== Kim hoàn ===
Paladi đôi khi được sử dụng trong ngành kim hoàn như là một kim loại quý, để thay thế cho platin hay vàng trắng. Điều này là do tính chất có màu trắng tự nhiên của nó nên không cần thiết phải mạ rhodi. Nó hơi trắng hơn, nhẹ hơn nhiều và cứng hơn khoảng 12%. Tương tự như vàng, paladi có thể rèn thành các lá mỏng với độ dày cỡ 100 nm (1/250.000 inch). Tương tự như platin, nó sẽ phát triển một lớp gỉ mờ theo thời gian. Tuy nhiên, không giống như platin, paladi bị đổi màu ở các nhiệt độ cao trong quá trình hàn, nó trở nên cứng hơn khi bị nung nóng và làm nguội lặp đi lặp lại và sẽ phản ứng với các axít mạnh.
Nó cũng có thể được dùng để thay thế cho niken trong sản xuất vàng trắng. Paladi là một trong số ba kim loại hay được sử dụng nhất để tạo hợp kim với vàng trong sản xuất vàng trắng. (Niken và bạc cũng có thể được dùng) Hợp kim paladi-vàng đắt tiền hơn so với hợp kim niken-vàng nhưng nó ít gây dị ứng hơn và giữ màu trắng cũng tốt hơn.
Tại Hoa Kỳ, khi platin được công bố là nguồn chiến lược của nhà nước trong thời gian diễn ra Đại chiến thế giới lần thứ hai, nhiều vật dụng kim hoàn được làm bằng paladi. Gần đây, như vào tháng 9 năm 2001, paladi là đắt tiền hơn platin và ít sử dụng trong kim hoàn cũng như do các rào cản kỹ thuật trong đúc khuôn. Tuy nhiên, các vấn đề đúc đã được giải quyết và việc sử dụng nó trong ngành kim hoàn đã tăng lên do giá của platin lại tăng và giá của paladi lại giảm.
Cho tới năm 2004, sử dụng cơ bản của paladi trong ngành kim hoàn là trong vai trò của hợp kim để sản xuất đồ trang sức bằng vàng trắng, nhưng kể từ đầu năm 2004 khi giá của vàng và platin tăng nhanh chóng thì các nhà sản xuất đồ trang sức tại Trung Quốc đã bắt đầu chế tạo một lượng đáng kể đồ trang sức paladi. Johnson Matthey ước tính rằng, trong năm 2004 với sự giới thiệu đồ trang sức bằng paladi tại Trung Quốc thì nhu cầu về paladi cho sản xuất đồ trang sức là 920.000 oz, hay khoảng 14% tổng nhu cầu về paladi cho năm 2004, và tăng gần 700.000 oz so với năm 2003. Sự phát triển này còn tiếp tục trong năm 2005, với nhu cầu về paladi cho trang sức toàn thế giới được ước tính là khoảng 1,4 triệu oz, hay gần 21% sự cung cấp paladi ròng và nhu cầu lớn nhất vẫn tập trung tại Trung Quốc.
=== Nhiếp ảnh ===
Với công nghệ in ấn in platin, các nhà nhiếp ảnh có thể tạo ra các bản in đen trắng mang tính nghệ thuật cao bằng cách sử dụng các muối platin hay paladi. Thông thường được dùng cùng với platin, paladi là một thay thế cho bạc.
=== Nghệ thuật ===
Các lá paladi là một trong vài sự thay thế cho các lá bạc được dùng trong các bản thảo viết tay trang kim (sơn son thiếp vàng). Việc sử dụng các lá bạc gây ra một số vấn đề do khuynh hướng bị xỉn màu của nó. Các lá nhôm là sự thay thế không đắt tiền, tuy nhiên nhôm khó gia công hơn nhiều so với vàng hay bạc và tạo ra các kết quả ít tối ưu hơn khi sử dụng các kỹ thuật tạo lá kim loại truyền thống và vì thế các lá paladi được coi là sự thay thế tốt nhất mặc dù giá thành khá cao của nó. Các lá platin cũng có thể dùng để tạo ra các hiệu ứng tương tự như các lá paladi, nhưng nó khó kiếm hơn.
== Xem thêm ==
Tiền paladi
Kim loại quý
Hợp chất paladi
Platin
Bảng tuần hoàn
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Giá hiện tại và lịch sử cho paladi
Biểu đồ dự báo giá paladi
Paladi sinh học |
kinh tế albania.txt | Kinh tế Albania là nền kinh tế nghèo theo các tiêu chuẩn của Tây Âu và gặp nhiều khó khăn trong quá trình chuyển đổi từ mô hình cộng sản trong quá khứ sang mô hình kinh tế thị trường mở cửa.
== Lịch sử ==
Sự sụp đổ của Chủ nghĩa cộng sản ở Albania đến muộn hơn và có thêm nhiều hỗn loạn hơn ở những quốc gia Đông Âu khác và được đánh dấu bởi một phong trào quần chúng tỵ nạn tới Ý và Hy Lạp trong năm 1991 và 1992. Lúc bắt đầu nỗ lực cải cách một cách nghiêm túc vào đầu năm 1992 sau khi GDP thực tế giảm hơn 50% từ đỉnh điểm vào năm 1989. Albania hiện đang có nạn tội phạm có tổ chức cao và tỷ lệ tham nhũng, cao nhất tại châu Âu. Cải cách đang diễn ra để mà sửa chữa chúng.
Chính phủ được bầu dân chủ mà giả định rằng cơ quan trong tháng 4 năm 1992 tung ra một chương trình cải cách kinh tế đầy tham vọng để ngăn chặn suy thoái kinh tế và đưa đất nước trên con đường hướng tới một nền kinh tế thị trường. Yếu tố chính bao gồm giá và tự do hoá hệ thống trao đổi, củng cố tài chính, hạn chế tiền tệ và một chính sách cho thu nhập của công ty. Chúng được bổ sung bởi một gói toàn diện của cải cách cơ cấu bao gồm cả tư nhân hoá, doanh nghiệp, và cải cách khu vực tài chính, và tạo ra các khuôn khổ pháp lý cho một nền kinh tế thị trường và hoạt động của khu vực tư nhân. Hầu hết các lĩnh vực nông nghiệp, nơi họp nghị viện bang, và ngành công nghiệp nhỏ đã được tư nhân hóa. Xu hướng này tiếp tục với tư nhân hoá giao thông, dịch vụ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm 1995, chính phủ bắt đầu tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước lớn. Sau khi đạt một mức thấp vào đầu những năm 1990, nền kinh tế từ từ mở rộng lần nữa, đạt được mức năm 1989 của nó vào cuối thập kỷ này.
== Chú thích == |
nhà kim.txt | Nhà Kim hay triều Kim (tiếng Trung: 金朝; bính âm: Jīn Cháo; Hán-Việt: Kim triều, chữ Nữ Chân: /amba-an antʃu-un/ 1115-1234) là một triều đại do người Nữ Chân gây dựng trong lịch sử Trung Quốc. Người Nữ Chân nguyên là phiên thuộc của triều Liêu, thủ lĩnh Hoàn Nhan A Cốt Đả sau khi thống nhất các bộ lạc Nữ Chân, vào năm 1115 dựng nước đặt đô tại Hội Ninh phủ (nay thuộc A Thành, Hắc Long Giang), quốc hiệu là Đại Kim. Sau khi triều Kim lập quốc, cùng Bắc Tống định "Liên minh trên biển" nhằm giáp công Liêu, đến năm 1125 thì Kim diệt Liêu. Bắc Tống tiến đánh Liêu hai lần song đều thua, Kim thấy vậy liền xé bỏ hẹn ước với Bắc Tống, hai lần nam hạ Trung Nguyên, đến năm 1127 thì tiêu diệt Bắc Tống. Khi dời đô đến Trung Đô (nay thuộc Bắc Kinh), lãnh thổ Kim bao trùm Hoa Bắc, cùng khu vực Hoa Trung ở phía bắc Tần Lĩnh-Hoài Hà, khiến cho Tây Hạ cùng các bộ lạc Mạc Bắc như Tháp Tháp Nhi, Khắc Liệt phải thần phục, Nam Tống phải nhận là nước cháu ( Tống gọi Kim là nước chú ), xưng bá tại Đông Á.
Đến thời kỳ Kim Thế Tông và Kim Chương Tông, chính trị và văn hóa của Kim đạt đến đỉnh cao, song vào trung hậu kỳ Kim Chương Tông thì dần xuống dốc. Sức chiến đấu của quân Kim không ngừng suy giảm, thậm chí khi người thống trị tiến hành trao bổng lộc ở mức cao cho binh lính cũng không cản lại nổi. Quan hệ giữa người Nữ Chân và người Hán mãi không thể tìm được con đường thích hợp. Thời kỳ Hoàng đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế và Kim Tuyên Tông, Kim bị Đại Mông Cổ Quốc mới nổi lên ở phía bắc xâm lược, trong khi nội bộ cũng có tranh đấu, vùng Sơn Đông-Hà Bắc có dân biến không dứt, cuối cùng buộc phải nam thiên Biện Kinh (nay là Khai Phong, Hà Nam). Sau đó, nhằm khôi phục thế lực, Kim lại giao chiến với Tây Hạ và Nam Tống, các bên đều tiêu hao thực lực. Năm 1234, do bị Mông Cổ và Nam Tống bắc nam hợp đánh, Kim diệt vong.
Năm 1115, khi Hoàn Nhan A Cốt Đả xưng đế có nói với quần thần: "Liêu lấy sắt tinh luyện làm hiệu, nhằm thể hiện sự vững mạnh. Sắt tinh luyện tuy cứng song cuối cùng cũng bị "biến hoại", chỉ có 'kim' là "bất biến bất hoại", vì vậy lấy quốc hiệu là Đại Kim để thể hiện mong muốn mãi mãi chẳng đổi chẳng hỏng.
Kim là 'triều đại chinh phục' do người Nữ Chân dựng nên, mang nặng tính chất chế độ bộ lạc. Vào sơ kỳ, Kim theo chế độ bột cực liệt, tức quý tộc hiệp nghị. Sau đó, triều đình Kim tiếp thu chế độ của Liêu và Tống, dần dần chuyển từ chính trị nhị nguyên sang chế độ Hán pháp đơn nhất, do vậy cơ chế chính trị của Kim được tinh giản mà lại lớn mạnh. Về mặt quân sự, Kim thi hành chế độ Mãnh an Mưu khắc, tức quân dân hợp nhất, có thiết kỵ binh và hỏa khí tinh nhuệ, trước sau đánh bại nhiều cường quốc. Về mặt kinh tế, phần lớn kế thừa Bắc Tống, nghề gốm sứ và nghề rèn sắt hưng thịnh, 'các trường" giữa Kim-Hạ kiểm soát mạch máu kinh tế Tây Hạ. Quý tộc Nữ Chân chiếm lĩnh bừa bãi đất ruộng ở Hoa Bắc, nô dịch người Hán khiến hai bên xung đột quyết liệt. Khi quốc thế triều Kim suy thoái, người Hán nối tiếp nhau tiến hành nổi dậy vũ trang.
Triều Kim trên phương diện văn hóa cũng dần theo hướng Hán hóa, từ trung kỳ về sau, hiện tượng quý tộc Nữ Chân đổi sang họ Hán, mặc Hán phục càng ngày càng phổ biến, triều đình mặc dù cấm song vẫn không cản nổi. Kim Thế Tông tích cực đề xướng học tập tiếng Nữ Chân, chữ Nữ Chân, song không thể vãn hồi xu thế người Nữ Chân bị Hán hóa. Tạp kịch và hí khúc thời Kim khá phát triển, thịnh hành hình thức dùng tạp kịch làm trò. Sự phát triển của viện bản thời Kim đặt cơ sở cho tạp kịch Nguyên khúc về sau này. Y học và số học thời Kim có sự phát triển nhanh chóng, Kim Nguyên tứ đại gia có ảnh hưởng quan trọng tới tiến trình phát triển của Trung y, việc nỗ lực phát triển "Thiên Nguyên thuật" và soạn viết "Trùng tu Đại Minh lịch" có ảnh hưởng quan trọng đối với số học thời Nguyên.
== Lịch sử ==
=== Hưng khởi và diệt Liêu ===
Triều Kim do người Nữ Chân kiến lập, dân tộc này sinh sống dựa vào đánh cá và săn bắn. Thời Đường, người Nữ Chân được gọi là Mạt Hạt, đến thời Ngũ Đại thì bao gồm các bộ lạc như Hoàn Nhan bộ, thần thuộc Bột Hải Quốc. Triều Liêu sau khi đánh diệt Bột Hải Quốc, thu biên người Nữ Chân ở phương nam, gọi là Thục Nữ Chân, người Nữ Chân ở phương bắc là Sinh Nữ Chân. Đến vãn kỳ của triều Liêu, triều chính hỗn loạn, Liêu Thiên Tộ Đế hồ đồ bất tài, triều đình Liêu không ngừng đòi cống phẩm, chà đạp bách tính Nữ Chân.
Một số bộ lạc Nữ Chân ở đông bắc bộ Cao Ly từng là thần thuộc của vương triều này, đồng thời cũng triều cống, được gọi là Đông Nữ Chân hoặc Đông Bắc Nữ Chân. Sau khi Hoàn Nhan bộ nổi lên, liên minh các bộ lạc Nữ Chân với nòng cốt là Hoàn Nhan bộ muốn thống nhất bộ lạc Nữ Chân tại Hạt Lãn Điện (nay là khu vực đông bắc của Bắc Triều Tiên), Cao Ly bất an nên quyết định khai khẩn vùng đất này, hai bên phát sinh xung đột. Tháng hai năm 1104, các tướng Cao Ly như Lâm Can suất quân xâm nhập Hạt Lãn Điện, bị quân Nữ Chân đánh cho thảm bại. Cao Ly chiến bại tổn binh, song vì Doãn Quán du thuyết nên quân Nữ Chân tạm ngưng chiến. Sau khi quân Nữ Chân rút đi, Doãn Quán thỉnh cầu với Cao Ly Túc Tông huấn luyện binh sĩ nhằm tạo ra một đội quân tinh nhuệ. Năm 1107, Doãn Quán suất lĩnh "Biệt vũ ban" gồm 17 nghìn lính tiến đánh người Nữ Chân, giành được thắng lợi, cho xây dựng 9 tòa thành ở khu vực Hàm Hưng ngày nay. Năm 1108, Cao Ly có tranh đấu nội bộ, quân chủ mới là Cao Ly Duệ Tông lệnh cho Doãn Quán triệt binh. Từ năm 1108 đến 1109, Ô Nhã Thúc chỉ huy quân Nữ Chân thu phục Hạt Lãn Điện, Cao Ly thỉnh hòa, xin rút quân khỏi 9 thành và các khu vực chiếm được của người Nữ Chân.
Năm 1112, khi Thiên Tộ Đế đến Xuân châu tụ hội cùng với tù trưởng các tộc Nữ Chân đã cư xử bất kính với Hoàn Nhan A Cốt Đả và các tù trưởng khác, khiến cho Hoàn Nhan A Cốt Đả có ý phản kháng triều đình Liêu, sau đó xuất binh thống nhất các tộc Nữ Chân. Năm 1114, Hoàn Nhan A Cốt Đả tuyên chiến với triều đình Liêu, sau đó đánh bại quân Liêu trong các trận chiến Ninh Giang và Xuất Hà Điếm. Tháng giêng năm 1115, tại Hoàng Đế trại (nay thuộc A Thành, Cáp Nhĩ Tân, Hắc Long Giang), Hoàn Nhan A Cốt Đả xưng đế kiến quốc, tức Kim Thái Tổ, định quốc hiệu là "Đại Kim". Đến lúc này, Liêu Thiên Tộ Đế mới xem trọng sự việc, đồng thời hạ lệnh thân chinh, song quân Liêu bị quân Kim đánh bại, còn nội bộ triều Liêu lại xảy ra việc Da Luật Chương Nô và Cao Vĩnh Xương làm phản.
Kim Thái Tổ lấy Ngũ Kinh của Liêu làm mục tiêu, phân binh làm hai lộ triển khai chiến tranh Kim diệt Liêu. Liêu Thiên Tộ Đế từng sắc phong cho Kim Thái Tổ là Đông Hoài quốc hoàng đế nhằm an phủ, song văn bản trong sắc phong không gọi Hoàn Nhan A Cốt Đả là huynh trưởng, quốc hiệu không phải là Đại Kim, do vậy ông không tiếp thụ sắc phong mà tiếp tục tiến đánh Liêu.
Tháng năm của năm 1116, quân Đông lộ chiếm lĩnh Đông Kinh Liêu Dương phủ (nay thuộc Liêu Dương, Liêu Ninh), đến năm 1120 quân Tây lộ đánh chiếm Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ (nay thuộc Ba Lâm Tả, Nội Mông), triều Liêu để mất một nửa đất đai. Trong lúc đang diễn ra chiến sự, Bắc Tống liên tục phái các sứ giả Mã Chính, Triệu Lương Tự đến, cùng Kim định Hải thượng chi minh, liên hiệp tiến công Liêu. Năm 1122, quân Đông lộ đánh hạ Trung Kinh Đại Định phủ (nay thuộc Ninh Thành, Nội Mông), Thiên Tộ Đế chạy đến sa mạc Gobi. Đồng thời, quân Tây lộ cũng đánh hạ Tây Kinh Đại Đồng phủ (nay thuộc Đại Đồng, Sơn Tây), Da Luật Đại Thạch lập Da Luật Thuần ở Nam Kinh Tích Tân phủ (nay thuộc Bắc Kinh), tức chính quyền Bắc Liêu. Bắc Tống phái Đồng Quán cùng những người khác nhiều lần đem quân bắc phạt Liêu, song đều bị quân Liêu đánh tan. Bắc Tống cuối cùng phải thỉnh quân Kim đánh hạ Nam Kinh của Liêu, Bắc Liêu mất, đến lúc này Ngũ Kinh của Liêu đều bị Kim đánh hạ. Tống và Kim trải qua hiệp thương, kết quả là quân Kim sẽ trao cho Tống một bộ phận thành thị của Yên Vân thập lục châu, đồng thời thu được tuế tệ, song cuối cùng Bắc Tống chỉ thu được các tòa thành không sau khi chúng bị quân Kim cướp phá. Năm 1123, Kim Thái Tổ qua đời, đệ là Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi kế vị, tức Kim Thái Tông. Tháng giêng năm 1124, nhằm liên hiệp với Tây Hạ để diệt Liêu, Kim Thái Tông cắt đất Liêu cũ ở phía bắc Hạ Trại và phía nam Âm Sơn cho Tây Hạ, Tây Hạ chuyển sang xưng thần với Kim. Năm 1125, Liêu Thiên Tộ Đế bị bắt, triều Liêu mất, song Da Luật Đại Thạch suất quân tiến về phía tây, thành lập Tây Liêu ở Tây Vực.
=== Chinh Tống và hòa đàm ===
Sau khi diệt Liêu, triều Kim liền có ý nam hạ diệt triều Tống. Kim Thái Tông mượn "biến Bình châu", vào năm 1125 phát động chiến tranh Kim diệt Tống. Kim Thái Tông phái Bột cực liệt Hoàn Nhan Tà Dã làm Đô nguyên soái, Hoàn Nhan Tông Vọng, Hoàn Nhan Tông Hàn phân binh hai lộ Hà Bắc và Sơn Tây, cuối cùng hội quân ở thủ đô Khai Phong của Bắc Tống. Trước tình huống tướng Tống Lý Cương tử thủ Khai Phong, hai bên Kim và Tống ký kết "Tuyên Hòa hòa nghị" Năm 1126, lấy lý do triều đình Tống hủy ước, Kim Thái Tông lại phái Hoàn Nhan Tông Vọng và Hoàn Nhan Tông Hàn phân làm hai lộ công phá Khai Phong, đến năm sau bắt được Tống Khâm Tông, Tống Huy Tông cùng hoàng thất Tống và đưa họ về phía bắc, sử gọi là Tĩnh Khang chi họa, Bắc Tống diệt vong. Tuy nhiên, Khang vương Triệu Cấu của Bắc Tống tránh được nạn, đồng thời xưng đế ở Nam Kinh Quy Đức phủ (nay thuộc Thương Khâu, Hà Nam), kiến quốc Nam Tống, tức Tống Cao Tông. Để phục vụ cho mục đích thống trị vùng đất rộng lớn mới chiếm lĩnh được từ tay người Hán, triều Kim trước sau lập ra các chính quyền bù nhìn là Trương Sở và Lưu Tề, đồng thời nhiều lần phái Hoàn Nhan Tông Bật và các tướng Kim khác đem quân nam chinh Tống Cao Tông (lúc này dời đến Giang Nam). Nhờ nỗ lực của các tướng Nhạc Phi, Hàn Thế Trung, Trương Tuấn, Nam Tống mới được giữ vững. Cuối cùng, triều Kim chỉ còn cách buộc Nam Tống xưng nước cháu với mình, đồng thời bắt các nước Tây Hạ và Cao Ly phải thần phục, xưng bá Đông Á.
Năm 1135, Kim Thái Tông qua đời, tôn tử của Kim Thái Tổ là Hoàn Nhan Đản tức vị, tức Kim Hy Tông. Đương thời, có một số công thần phụ tá triều đình Kim được gọi là "Diên Khánh công thần", bọn họ kiểm soát triều chính, chủ yếu phân thành phái chủ chiến và phái chủ hòa. Kim Hy Tông phế trừ Lưu Tề vào năm 1137, sau đó nghe theo kiến nghị của Hoàn Nhan Thát Lãn thuộc phái chủ hòa, tiến hành nghị hòa với phái chủ hòa của Nam Tống gồm Tống Cao Tông và Tần Cối. Việc phải cắt nhượng Hà Nam và Thiểm Tây khiến cho Hoàn Nhan Tông Bật thuộc phái chủ chiến bất mãn, đến năm 1140 thì Hoàn Nhan Tông Bật suất quân đoạt lấy đất Hà Nam, Thiểm Tây. Năm sau, Hoàn Nhan Tông Bật lại nam chinh, song bị Nhạc Phi và Lưu Kỹ đánh bại, Nhạc Phi sau trận Yển Thành tiến hành bắc phạt, tiến sát Biện Kinh. Cuối cùng, Hoàn Nhan Tông Bật và phái chủ hòa của Nam Tống hợp đàm, ký kết Thiệu Hưng hòa nghị, đến lúc này biên giới Kim-Tống hoàn toàn xác định theo Tần Lĩnh-Hoài Hà. Kim Hy Tông từ nhỏ đã được dạy dỗ trong môi trường văn hóa Hán, sau khi đăng cơ cùng với Hoàn Nhan Tông Bật thúc đẩy cải cách theo Hán chế, đồng thời trọng dụng người Hán. Năm sau, Kim Hy Tông phái ba người thuộc "Diễn Khánh công thần" là Hoàn Nhan Tông Bàn, Hoàn Nhan Tông Cán, Hoàn Nhan Tông Hàn cùng tổng quản cơ cấu chính phủ. Quan chế Kim đến lúc này về cơ bản đã Hán hóa, kiến lập tam tỉnh chế với thượng thư tỉnh là trung tâm. Kim Hy Tông do bị "Diễn Khánh công thần" và Hoàng hậu khống chế, bản thân sầu não quá độ, đến hậu kỳ thì không còn lo việc triều chính, lạm sát người vô tội, cuối cùng bị anh họ là Hữu thừa tướng Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng sát hại vào năm 1150, Hoàn Nhan Lượng xưng làm hoàng đế.
Nhằm công phạt Nam Tống, thống nhất Trung Hoa, Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng thi hành nhiều biện pháp: thiên đô đến Yên Kinh (nay thuộc Bắc Kinh), gọi là Trung Đô, đồng thời cũng có ý nam thiên đến Biện Kinh; phân chia lại về hành chính với việc thành lập 4 lộ nhằm tạo thuận lợi cho quản lý; đưa quân đội khi trước do Kim Thái Tông cùng Hoàn Nhan Tông Cán và Hoàn Nhan Tông Hàn quản lý đang trú trát tại Thượng Kinh Hội Ninh phủ chuyển sang chịu sự quản chế của triều đình, tạo nền tảng cho chế độ trung ương tập quyền của triều Kim. Tuy nhiên, Hoàn Nhan Lượng nghi kỵ sâu sắc các thành viên trong tông thất, hậu duệ của Kim Thái Tông hầu như đều bị Hoàn Nhan Lượng sát hại; đồng thời ông hao phí của cải rất lớn, không xem xét đến sự phản đối của một bộ phận đại thần, kiên quyết Nam chinh. Tháng 5 năm 1161, triều đình Kim khiến sứ sang Tống yêu cầu hoạch định lại biên giới, có ý muốn tạo cớ gây hấn, Nam Tống bắt đầu phòng bị chiến tranh. Năm sau, Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng suất đại quân từ Biện Kinh phân binh làm 4 lộ tiến hành nam chinh. Quân Đông diện phân thành hải lộ và lục lộ, quân lục lộ do Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng tự thân suất lĩnh, từ Túc châu (nay là Túc Châu, An Huy) vượt qua Hoài Hà đánh thẳng đến Hòa châu (nay là huyện Hòa, An Huy), thủy quân hải lộ đánh thẳng vào thủ đô Lâm An (nay là Hàng Châu, Chiết Giang) của Nam Tống. Quân Tây lộ phân biệt từ Quan Trung tiến công khu vực Tứ Xuyên và từ Hà Nam tiến công khu vực Hồ Bắc. Quân Đông lộ sau khi vượt Hoài Hà đánh chiếm Hòa châu thì chuẩn bị tiếp tục vượt Trường Giang. Tuy nhiên, thủy quân hải lộ của Kim bị thủy quân của tướng Tống Lý Bảo tiêu diệt tại Giao Tây (nay thuộc Giao Châu, Sơn Đông). Đồng thời, người Khiết Đan ở tây bắc làm phản, em họ là Cát vương Hoàn Nhan Tụ tự lập làm hoàng đế ở Đông Kinh Liêu Dương phủ, đồng thời chuyển đến Yên Kinh, tức Kim Thế Tông. Trước tình hình này, Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng vẫn cố vượt Trường Giang, song đội quân tiến trước bị tướng Tống Ngu Doãn Văn đánh bại trong Trận Thái Thạch, thuyền hạm cũng bị quân Tống tiêu hủy. Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng có ý đồ dời quân đến Dương Châu để vượt Trường Giang, song bị bộ hạ phản đối mạnh mẽ, cuối cùng họ phát động binh biến sát hại Hoàn Nhan Lượng. Quân Tống thừa cơ thu phục khu vực phía nam Hoài Hà, tức Hoài Nam, từ sau đó Kim không còn phát động chiến tranh nhằm diệt Tống nữa.
=== Thế-Chương thịnh thế ===
Năm 1161, Kim Thế Tông sau khi cử binh thì chiêu cáo tội lỗi của Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng, suất quân thống nhất Hoa Bắc, đồng thời đình chỉ phát động chiến tranh nhằm diệt Tống. Tuy nhiên, chiến tranh giữa Kim và Tống vẫn chưa kết thúc, vào năm 1162 lấy lý do Nam Tống không nguyện xưng thần, Kim Thế Tông phái chủ tướng Bộc Tán Trung Nghĩa tiến trú Biện Kinh, Hột Thạch Liệt Chí Ninh trấn thủ tiền tuyến, chuẩn bị đoạt lại khu vực Hoài Nam. Lúc này, Tống Hiếu Tông Triệu Thận có ý đồ muốn thu phục Trung Nguyên nên phái chủ tướng Trương Tuấn suất lĩnh quân đội bắc phạt, sử gọi là Long Hưng bắc phạt. Quân Tống dần dần chiếm lĩnh các nơi ở Hoài Bắc, song bị Hột Thạch Liệt Chí Ninh đánh tan trong trận Phù Li, chiến dịch bắc phạt của Tống kết thúc. Sau đó, phái chủ hòa trong triều đình Nam Tống nổi lên, đến năm 1164 khi quân Kim lại tiến hành nam chinh thì Tống cầu hòa, hai bên ký kết hiệp ước, đối đãi bình đẳng, triều Kim thu được của cải mỗi năm từ Tống. Về mặt nội chính, bản thân Kim Thế Tông rất giản dị, lựa chọn phương thức quản lý triều chính trung dung yên ổn, đề xướng Nho học; tra vấn quan lại, nghiêm cấm tham ô; có thái độ thực tế với kinh tế, đồng thời miễn trừ các khoản thuế bất hợp lý, khi xảy ra thiên tai thì lập tức cho cứu tế. Đương thời, nhân dân các tộc liên tiếp khởi nghĩa, Kim Thế Tông vì để duy trì thống trị nên lợi dụng các chế độ khoa cử, học hiệu, tranh thủ sự ủng hộ của quý tộc người Hán, tăng cường quyền lực của mãnh an-mưu khắc, mở rộng diện tích đất đai do người Nữ Chân chiếm hữu. Những việc này đều khiến cho kinh tế-văn hóa của triều Kim khôi phục và phát triển ở trình độ nhất định, sử gọi là Đại Định chi trị. Ngoài việc chống lại Nam Tống bắt phạt, Kim Thế Tông còn xuất binh uy chấn Tây Hạ, Cao Ly, khiến hai nước này thần phục, triều Kim được Kim Sử gọi là 'tiểu Nghiêu Thuấn'. Năm 1189, Kim Thế Tông qua đời, do Thái tử Hoàn Nhan Doãn Cung mất sớm, do vậy nhi tử của Doãn Cung là Hoàn Nhan Cảnh tức vị, tức Kim Chương Tông.
Tiền kỳ thời Kim Chương Tông, chính trị Kim bị Hán hóa rất sâu, kinh tế rất phát triển, sử gọi là Minh Xương chi trị. Không chỉ khích lệ văn hóa trong nước, bản thân Kim Chương Tông cũng được mô tả là người hay chữ. Tuy nhiên, Kim Chương Tông quá xem trọng việc phát triển văn hóa, sủng ái Lý Sư Nhi (sau phong là Nguyên phi) và ngoại thích Lý thị, nhiệm dụng người có xuất thân 'kinh đồng' là Tư Trì Quốc quản lý triều chính. Hai thế lực này hiệp trợ lẫn nhau, mưu cầu tư lợi khi can chính, khiến cho cục thế chính trị vào hậu kỳ thời Kim Chương Tông dần trượt dốc, cộng thêm Hoàng Hà gây lũ lụt và thay đổi dòng chảy khiến quốc thế triều Kim dần suy thoái. Lúc này, quân sự triều Kim dần bị bỏ bê, các bộ Mông Cổ ở phương bắc nổi lên. Kim Chương Tông từng phái binh đến Mông Cổ, đồng thời kích động các bộ lạc Mông Cổ tàn sát lẫn nhau, song hiệu quả thu được không lớn, cuối cùng Thành Cát Tư Hãn thống nhất Mông Cổ. Quyền thần Nam Tống là Hàn Thác Trụ thấy quốc thế triều Kim suy thoái, mệnh Ngô Hi quản lý đất Thục, chuẩn bị bắc phạt, tuy nhiên triều đình Kim cũng phái Bộc Tán Quỹ trấn giữ Biện Kinh đề kháng quân Tống. Năm 1206, Hàn Thác Trụ phát động Khai Hy bắc phạt, triều Kim từng để mất khu vực Hoài Bắc, song lại nhận được sự đầu hàng của Ngô Hy ở Thục. Đến tháng tám, Bộc Tán Quỹ suất quân chia làm 9 lộ nam hạ, đến cuối năm thì áp sát Trường Giang, đồng thời vây đánh Tương Dương. Năm sau, Ngô Hy bị sát hại, Tứ Xuyên lại về tay Nam Tống, đến lúc này hai bên có ý hòa nghị. Cuối cùng, Hàn Thác Trụ bị giết theo như yêu cầu của Kim, hai bên nghị hòa vào năm 1208, sử gọi là Gia Định hòa nghị. Năm 1208, Kim Chương Tông qua đời, do cả sáu nhi tử của ông đều chết yểu, Lý nguyên phi lập hoàng thúc của ông là Vệ Thiệu vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế làm người kế vị.
=== Trung suy và nam thiên ===
Hoàn Nhan Vĩnh Tế sau khi kế vị lập tức thanh trừ thế lực ngoại thích, song bản thân ông lại dùng nhầm người, càng khiến cho quốc thế triều Kim suy thoái hỗn loạn, đương thời không đủ sức phản kháng quân Mông Cổ xâm nhập. Nắm 1206, Thành Cát Tư Hãn thống nhất Đại Mạc, lập nên Đại Mông Cổ Quốc. Đương thời, người Mông Cổ giữ thái độ thù địch nghiêm trọng với triều Kim, có ý thoát khỏi sự khống chế của triều Kim, Thành Cát Tư Hãn cũng biết rằng Hoàn Nhan Vĩnh Tế thuộc hàng bất tài, nhận định hiện là thời cơ tốt để đánh diệt triều Kim. Thành Cát Tư Hãn trước tiên công đánh Tây Hạ nhằm phá vỡ đồng minh Kim-Hạ. Đương thời, Tây Hạ cầu viện Kim, Hoàng đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế ngồi xem không ứng cứu, cuối cùng Tây Hạ thần phục Mông Cổ, chuyển sang phụ Mông phạt Kim. Sau khi loại bỏ được nỗi lo từ Tây Hạ, Thành Cát Tư Hãn vào năm 1210 đoạn giao với triều Kim. Năm sau, Thành Cát Tư Hãn phát động chiến tranh Mông-Kim, 40 vạn quân Kim do Thừa tướng Hoàn Nhan Thừa Dụ và Tướng Hoàn Nhan Cửu Cân suất lĩnh bị quân Mông Cổ đại phá trong chiến dịch Dã Hồ Lĩnh, Hoàng đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế đem chức Thừa tướng giao lại cho Đồ Đan Dật giỏi mưu lược. Quân Mông Cổ sau đó đánh vào Hoa Bắc, cướp đoạt tứ xứ, cuối cùng bao vây Trung Đô của Kim, song do thành trì Trung Đô vững chắc nên quân Mông Cổ rút lui. Năm 1212, Thành Cát Tư Hãn lại một lần nữa xuống phía nam đánh Kim, từng bao vây Tây Kinh Đại Đồng phủ của Kim. Cùng năm, một người Khiết Đan là Da Luật Lưu Ca ở vùng đông bắc tiến hành phản Kim phụ Mông, quân triều đình Kim bị đánh bại tại Địch Cát Não (nay ở phụ cận Xương Đồ, Liêu Ninh). Năm 1213, Tướng Hồ Sa Hổ sát hại Hoàng đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế, Hồ Sa Hổ lập thứ huynh của Kim Chương Tông là Hoàn Nhan Tuần kế vị, tức Kim Tuyên Tông.
Hồ Sa Hổ nắm giữ đại quyền của triều Kim, song do uy hiếp tướng trấn thủ Trung Đô là Truật Hổ Cao Kỳ nên cuối cùng bị người này sát hại. Mùa thu năm 1213, Thành Cát Tư Hãn phân binh làm 3 lộ đánh Kim, phái Hoàng tử Truật Xích kinh lược Sơn Tây, Hoàng đệ Hợp Tát Nhi đến Hà Bắc, bản thân Thành Cát Tư Hãn cùng ấu tử Đà Lôi đến Sơn Đông, triều đình Kim chỉ còn 11 thành như Trung Đô, Chân Định, Đại Danh là chưa bị mất. Năm sau, Kim Tuyên Tông cầu hòa, dâng vàng và Kỳ Quốc công chúa cho Thành Cát Tư Hãn, đạt được Mông-Kim hòa nghị. Sau khi quân Mông Cổ rút lui, Kim Tuyên Tống bất chấp sự phản đối của Đồ Đan Dật và những người khác, cùng Truật Hổ Cao Kỳ dời đô đến Biện Kinh, phái Thái tử Hoàn Nhan Thủ Trung trấn thủ Trung Đô, khiến quân dân Hà Bắc bất an. Năm 1215, quân Mông Cổ lấy lý do Kim dời đô đến phía nam để suất quân đánh chiếm Trung Đô, đến lúc này Kim để mất khu vực Hà Bắc. Tháng mười cùng năm, tướng Kim phụ trách đánh Da Luật Lưu Ca là Bồ Tiên Vạn Nô tự lập làm hoàng đế ở Liêu Đông, dựng nên Đông Chân Quốc. Đến lúc này, vùng đất mà người Nữ Chân hưng khởi bị phân chia giữa Bồ Tiên Vạn Nô và Da Luật Lưu Ca, còn Sơn Đông và Hà Bắc đều có quân Áo Đỏ nổi dậy, triều đình Kim chỉ còn khống chế được Hà Nam, Hoài Bắc và Quan Trung. Hoàng Hà từ khi Kim nam thiên thì đổi dòng sang hướng đông nam, phạm vi ngập lụt rất rộng.
Sau khi Kim Tuyên Tông nam thiên, quốc thế của Kim càng thêm yếu, Mông Cổ thay thế Kim xưng bá tại Đông Á. Vì Thành Cát Tư Hãn đem quân tây chinh Đế quốc Khwarezm Ba Tư nên ông ta phong Mộc Hoa Lê làm "Thái sư quốc vương" thống lĩnh đất Hán. tiếp tục uy hiếp triều Kim, Kim ở vào trạng thái hấp hối. Mặc dù Kim Tuyên Tông muốn chấn hưng lại triều Kim, song không có tài năng mưu kế kiệt xuất, lại có thiên tính nghi kỵ, về mặt chính trị không có sự khởi sắc. Năm 1219, Thái Nguyên thất thủ, triều đình Kim lập "Hà Bắc cửu công", phong cho 9 người như Vương Phúc, Di Lạt Chúng Gia Nô, Vũ Tiên tước công, ban hiệu "Tuyên lực trung thần", mục đích là để khiến họ giữ vững quốc thổ, song không có kết quả. Kim Tuyên Tông nhiệm dụng Truật Hổ Cao Kỳ, người này có bản tính hà khắc, liên tục nam chinh Nam Tống, tây chinh Tây Hạ để khuếch trương lãnh thổ, đồng thời tiếp tục chiến đấu kháng Mông Cổ. Đến lúc này, tình hình của triều Kim là nội chính không tốt, quân lực đã sút kém, trải qua nhiều lần chiến tranh khiến Kim lâm vào khốn cảnh. Năm 1219, Truật Hổ Cao Kỳ bị Kim Tuyên Tông giết. Năm 1224, Kim Tuyên Tông qua đời, thứ tử Hoàn Nhan Thủ Tự kế vị, tức Kim Ai Tông.
=== Vong quốc tại Thái châu ===
Sau khi Kim Ai Tông tức vị, ông khuyến khích sản xuất nông nghiệp, hòa hảo với Nam Tống và Tây Hạ. Kim Ai Tông cũng lập ra "Trung hiếu quân" trực thuộc trung ương, nhiệm dụng Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng và các danh tướng kháng Mông khác, vào năm 1228 đánh tan quân Mông Cổ trong trận chiến Đại Xương Nguyên tại huyện Ninh thuộc Cam Túc ngày nay. Sau đó, quân Kim thu phục được không ít đất đai, khiến triều Kim khởi tử hồi sinh. Tây Hạ do quốc lực suy lạc nên cuối cùng bị Mông Cổ tiêu diệt vào năm 1227. Thành Cát Tư Hãn qua đời trong chiến dịch tiêu diệt Tây Hạ, Oa Khoát Đài kế nhiệm vào năm 1229. Sau đó, quân Mông Cổ lại đối phó với Kim, Oa Khoát Đài Hãn phát động ba lộ phạt Kim vào năm 1230, Đại Hãn suất đại quân vượt Hoàng Hà đánh thẳng đến Biện Kinh, Oát Trần Na Nham suất quân Đông lộ đến Tế Nam, Đà Lôi suất quân Tây lộ từ Hán Trung mượn đường Tống theo Hán Thủy tiến đánh Biện Kinh. Năm 1232, Đà Lôi đến gần Biện Kinh, Kim Ai Tông phái Hoàn Nhan Hợp Đạt, Di Lạt Phổ A suất đại quân đánh chặn ở Đặng Châu. Đến lúc này, Oa Khoát Đài Hãn suất đại quân vượt Hoàng Hà, đồng thời phái Tốc Bất Đài đánh Biện Kinh. Quân bắc viện Biện Kinh của Hoàn Nhan Hợp Đạt giao chiến với quân của Đà Lôi ở Tam Phong Sơn (nay ở đông nam Vũ Châu, Hà Nam), kết quả là đội quân tinh nhuệ này của Kim bị đánh bại hoàn toàn, các danh tướng Trương Huệ, Hoàn Nhan Hợp Đạt, Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng và Di Lạt Phổ A tử vong. Quân Mông Cổ vây đánh Biện Kinh, Kim Ai Tông phải cầu hòa. Tuy nhiên, sau đó triều đình Kim lại giết sứ giả của Mông Cổ, Mông Cổ lại vây đánh Biện Kinh. Kim Ai Tông kiên trì đến cuối năm thì bỏ thành, chạy về nam đến Quy Đức (nay thuộc Thương Khâu, Hà Nam), tướng trấn thủ Biện Kinh là Thôi Lập đầu hàng Mông Cổ. Bị tướng Mông Cổ là Sử Thiên Trạch truy đuổi, Kim Ai Tông chạy đến Thái châu (nay thuộc Nhữ Nam, Hà Nam), quân Mông Cổ hẹn ước với tướng Nam Tống là Mạnh Củng, Giang Hải liên hiệp vây đánh. Tháng giêng năm 1234, Thái châu cực kỳ nguy cấp, Kim Ai Tông không muốn là quân chủ mất nước, do vậy ông đem hoàng vị trao cho Thống soái Hoàn Nhan Thừa Lân vào ngày 9 tháng 2 DL, sử gọi là Kim Mạt Đế. Đến khi thành Thái châu bị chiếm, Kim Ai Tông tự sát, Kim Mạt Đế tử vong trong loạn quân, triều Kim mất.
== Cương vực và hành chính ==
Từ khi Kim Thái Tổ lập quốc, Kim liên tiếp phát động chiến tranh xâm lược Liêu, Bắc Tống, Tây Hạ, Cao Ly. Sang thời Kim Thái Tông, triều Kim trước sau đánh diệt Liêu và Bắc Tống, cương vực lúc này đông đến vùng đất cư trú của các tộc Cát Lý Mê, Ngột Đích Cải ở hạ du sông Tùng Hoa, giáp biển Nhật Bản; bắc đến Hỏa Lỗ Hỏa Mưu Khắc (nay thuộc khu vực dãy núi Stanovoy của Nga, cách Bồ Dữ lộ (nay thuộc huyện Khắc Đông, Hắc Long Giang) hơn 3.000 lý về phía bắc; tây bắc đến khu vực Hà Sáo, sát với các bộ lạc Đại Mạc như Tháp Tháp Nhi bộ, Uông Cổ bộ; phía tây men theo giới hào phụ cận Tần châu, sát với Tây Hạ. Ở phía nam, lấy Tần Lĩnh-Hoài Hà làm ranh giới với Nam Tống, ở đoạn viễn tây lấy Đại tán quan làm ranh giới. Cương vực triều Kim có thể phân thành 3 bộ phận, khu vực thứ nhất là vùng Đông Bắc và Mạc Nam nguyên nằm dưới quyền thống trị của triều Liêu, đây là vùng đất hưng khởi của triều Kim, bao gồm vùng đất cư trú của các bộ lạc Nữ Chân, cũng như người Khiết Đan, Hề, Bột Hải và các tộc Cát Lý Mê, Ngột Lý Cải. Vào đầu những năm kiến quốc, triều Kim đối với khu vực này đều dùng cựu chế của Sinh Nữ Chân, như sau khi Kim Thái Tổ chiếm lĩnh được các châu huyện ở Đông Kinh của Liêu vào năm 1116, "chiếu trừ Liêu pháp, giảm bớt thuế, đặt Mãnh an-mưu khắc như chế độ bản triều", nghĩa là các tộc người Nữ Chân, Hán, Bột Hải, Khiết Đan hoặc Hề đều phải theo chế độ Mãnh an-mưu khắc. Khu vực thứ hai từ Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ kéo dài xuống phía nam, đến Yên Vân thập lục châu ở Hà Bắc-Sơn Tây, cư dân ở đây chủ yếu là người Hán, song chịu sự thống trị của người Khiết Đan trong một thời gian dài, dưới thời Kim vẫn duy trì chế độ Hán quan. Sử sách ghi là "Thái Tổ nhập Yên, bắt đầu dùng chế độ Nam-Bắc diện quan của Liêu", tức đồng thời thi hành cựu chế của người Nữ Chân và Hán chế. Khu vực thứ ba là khu vực nguyên thuộc sự thống trị của Tống ở phía bắc Tần Lĩnh-Hoài Hà, cư dân chủ yếu là người Hán, do mới chịu sự thống trị của ngoại tộc nên phần lớn không muốn chịu sự quản chế của Kim. Triều đình Kim từng lần lượt đặt ra chính quyền bù nhìn Trương Sở và Lưu Tề để thống trị khu vực thứ ba này, cuối cùng triều đình Kim tiến hành quản lý trực tiếp theo chế độ Hán.
Triều Kim lựa chọn phân chia hành chính ba cấp là lộ, châu, huyện, tổng cộng có Ngũ Kinh thập cửu lộ:
Thượng Kinh lộ, trị sở tại Hội Ninh phủ (nay thuộc A Thành, Hắc Long Giang)
Đông Kinh lộ, trị sở tại Liêu Dương phủ (nay thuộc Liêu Dương, Liêu Ninh)
Bắc Kinh lộ, trị sở tại Lâm Hoàng phủ (nay thuộc kỳ Ba Lâm Tả, Nội Mông)
Tây Kinh lộ, trị sở tại Đại Đồng phủ (nay thuộc Đại Đồng, Sơn Tây)
Trung Đô lộ, trị sở tại Đại Hưng phủ (nay thuộc Bắc Kinh)
Nam Kinh lộ, trị sở tại Khai Phong phủ (nay thuộc Khai Phong, Hà Nam)
Hà Bắc Đông lộ, trị sở tại Hà Gian phủ (nay thuộc Hà Gian, Hà Bắc)
Hà Bắc Tây lộ, trị sở tại Chân Định phủ (nay thuộc Chính Định, Hà Bắc)
Sơn Đông Đông lộ, trị sở tại Ích Đô phủ (nay thuộc Thanh Châu, Sơn Đông)
Sơn Đông Tây lộ, trị sở tại Đông Bình phủ (nay thuộc Đông Bình, Sơn Đông)
Đại Danh Phủ lộ, trị sở tại Đại Danh phủ (nay thuộc Đại Danh, Hà Bắc)
Hà Đông Bắc lộ, trị sở tại Thái Nguyên phủ (nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây)
Hà Đông Nam lộ, trị sở tại Bình Dương phủ (nay thuộc Lâm Phần, Sơn Tây)
Kinh Triệu Phủ lộ, trị sở tại Kinh Triệu phủ (nay thuộc Tây An, Thiểm Tây)
Phượng Tường lộ, trị sở tại Phượng Tường phủ (nay thuộc Phượng Tường, Thiểm Tây)
Phu Diên lộ, trị sở tại Diên An phủ (nay thuộc Diên An, Thiểm Tây)
Khánh Nguyên lộ, trị sở tại Khánh Dương phủ (nay thuộc Khánh Dương, Cam Túc)
Lâm Thao lộ, trị sở tại Lâm Thao phủ (nay thuộc Lâm Thao, Cam Túc)
Hàm Bình lộ, trị sở tại Hàm Bình phủ (nay thuộc Khai Nguyên, Liêu Ninh)
Ở cấp lộ có đô tổng quản phủ, cùng với tam ty đô chuyển vận ty, án sát, diêm sứ; Ngũ Kinh phủ có chức lưu thủ. Châu thời Kim phân thành ba loại: tiết độ châu đặt chức tiết độ sứ, phòng ngự châu đặt chức phòng ngự sứ, thứ sử châu đặt chức thứ sử. Ở cấp huyện, huyện lệnh là người cai quản, phân thành bảy đẳng cấp. Ngoài ra, Kim còn có các chức quan bộ lac, Mãnh an gồm 1.000 phu, [[Mưu khắc gồm 100 phu, hợp xưng là [[Mãnh an Mưu khắc; "củ tường ổn" (乣詳穩) là chức quan phụ trách việc bảo vệ biên giới, "di lý cận" (移里菫) là chức dành cho thủ lĩnh thôn trại bộ lạc.
Triều Kim thi hành Ngũ Kinh chế, tổng cộng có Trung Đô Đại Hưng phủ, Thượng Kinh Hội Ninh phủ, Nam Kinh Khai Phong phủ, Bắc Kinh Đại Định phủ, Đông Kinh Liêu Dương phủ, Tây Kinh Đại Đồng phủ; ba bồi đô sau nguyên là Trung Kinh Đại Định phủ, Đông Kinh Liêu Dương phủ, Tây Kinh Đại Đồng phủ của triều Liêu. Kinh đô của triều Kim nguyên nằm ở Thượng Kinh, tháng 4 năm 1151 thì Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng ban bố chiếu thư mở rộng Yên Kinh làm Trung Đô, đến năm 1153 thì thiên đô tới Trung Đô, Trung Đô là thủ đô trong thời gian lâu nhất của Kim. Năm 1214, Kim Tuyên Tông trước áp lực của người Mông Cổ đã tuyên bố nam thiên Biện Kinh. Năm 1232, sau khi quân Mông Cổ bao vây Biện Kinh, Kim Ai Tông chạy đến Quy Đức (nay thuộc Thương Khâu, Hà Nam), rồi Thái châu (nay thuộc Nhữ Nam, Hà Nam).
== Thể chế chính trị ==
Triều Kim vào sơ kỳ áp dụng đầy đủ quan chế Nam-Bắc diện từ thời Liêu, thi hành chế độ lưỡng nguyên: Nữ Chân cựu chế, Hán chế tại lãnh địa của người Hán. Sau khi thi hành "Thiên Quyến tân chế" từ thời Kim Hy Tông, Nữ Chân chế dần bị loại bỏ, dần dần chọn dùng chế độ triều Tống. Thể chế chính trị được nhất nguyên hóa là một nguyên nhân quan trọng khiến triều Kim lớn mạnh.
Lúc mới lập quốc, Kim Thái Tổ phế trừ chế độ "quốc tướng" từ thời liên minh bộ lạc, chọn dùng chế độ Bột cực liệt, tức là phân thành nhóm, trưởng quan đều gọi là "Bột cực liệt". Trong đó, "Đô Bột cực liệt" là hoàng đế, "Am ban Bột cực liệt" là hoàng trữ, tức người được chỉ định kế thừa hoàng vị; "Quốc luận Bột cực liệt" là quốc tướng; "A mãi Bột cực liệt" trợ thủ cho quốc tướng; "Hạo Bột cực liệt" là trợ thủ thứ hai; hình thành chế độ Bột cực liệt mà theo đó Hoàng đế cùng với một số ít đại thần cùng thảo luận quốc sự. Sau lại có thêm "Hốt lỗ Bột cực liệt", tức trợ thủ thứ ba, đến năm 1132 thì Kim Thái Tông phân "Hốt lỗ Bột cự liệt" thành tả bột cực liệt và hữu bột cực liệt, hình thành nhóm bàn quốc sự gồm Hoàng đế, Hoàng trữ, Quốc tướng ngũ nhân.
Cùng với việc ngày càng mở rộng về phía nam, triều đình Kim chuyển sang sử dụng "tam tỉnh chế". Từ năm 1123 đến năm 1138, Kim Thái Tông chiếm lĩnh Yên Vân thập lục châu và đánh diệt Bắc Tống, thi hành chế độ Hán quan, cùng với cựu chế của người Nữ Chân hình thành chế độ lưỡng nguyên. Về "Nam diện quan" vào đầu thời Kim, từng thiết lập Hán địa Xu mật viện tại Quảng Ninh thuộc Doanh châu (nay thuộc Xương Lê, Hà Bắc), cuối cùng dời đến Yên Kinh. "Bắc diện quan" chủ yếu là thi hành chế độ Bột cực liệt trong nội bộ triều đình. Sau khi Kim Hy Tông kế vị, ông phế trừ chế độ Bột cực liệt nhằm củng cố hoàng quyền, toàn diện sử dụng quan chế triều Tống, triều Liêu. Ông cho lập nên 'tam tỉnh chế' với trung tâm là 'thượng thư tỉnh', dùng tam sư (thái sư, thái phó, thái bảo) và tam công (thái úy, tư đồ, tư không) cùng quản lý công việc của tam tỉnh; địa phương phân thành lộ, phủ, châu, huyện. Năm 1138, đổi Yên Kinh Thượng thư tỉnh thành Hành đài Thượng thư tỉnh, trở thành cơ cấu nhánh của Thượng thư tỉnh Trung ương, kết thúc chế độ song nguyên, lịch sử gọi cuộc cải cách này là Thiên Quyến tân chế. Thời Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng, triều đình Kim phế trừ Trung thư tỉnh, Môn hạ tỉnh, tổ chức hành chính được tinh giản và biên chế vào Thượng thư tỉnh.
Sau thời Kim Thế Tông, chế độ chính trị của triều Kim đại thể tương đồng với chế độ chính trị của triều Tống. Trong Thượng thư tỉnh, Thượng thư lệnh chỉ là chức vụ mang tính danh nghĩa, trên thực tế do Tả-hữu thừa tướng và Bình chương chính sự nắm quyền, Tả-hữu thừa và Tham tri chính sự là phó tướng, bên dưới họ có Tả-hữu lưỡng ty lang trung, phân quản Lục bộ. Về cơ cấu quân sự, Đô nguyên soái phủ đổi thành Xu mật viện. Ngoài ra, triều Kim còn đặt ra tam ty Diêm thiết bộ, Độ chi bộ, Hộ bộ để quản lý tài vật, Ngự sử đài duy trì trật tự công cộng, Gián viện, Thẩm quan viện, Quốc sử viện, Tuyên huy viện, Hoành văn viện, Tập hiền viện, Đại lý tự, Lục giám, Ty nông ty, Đại tông chính đều dựa theo chế độ của triều Tống.
== Ngoại giao ==
Tộc Nữ Chân nguyên thần phục triều Liêu, song cuối cùng tiến hành nổi dậy, xâm nhập Liêu. Triều Liêu có ý muốn hòa đàm với Bắc Tống, song Bắc Tống lại định Hải thượng chi minh với Kim để cùng đánh Liêu, Liêu cuối cùng bị Kim diệt. Sau khi diệt Liêu, Kim lại tiến hành nam chinh tiêu diệt Bắc Tống, sau sự kiện Tĩnh Khang thì Kim và Tống kết thù cực sâu, hai bên nhiều lần phát sinh chiến tranh. Để cai quản vùng đất rộng lớn mới chiếm được của người Hán, triều Kim trước sau lập nên chính quyền bù nhìn Trương Sở và Lưu Tề, song cơ sở không ổn định và không có hiệu quả trong việc đánh diệt Nam Tống, cuối cùng quyết định phế trừ. Trải qua cuộc chiến tiêu diệt Bắc Tống, Ngột Truật nam chinh Trường Giang, trận Thải Thạch giữa Hoàng đế Hoàn Nhan Lượng với Nam Tống, Kim vẫn không thể tiêu diệt triệt để triều Tống. Trong khi đó, trải qua Nhạc Phi bắc phạt, Long Hưng bắc phạt, Khai Hy bắc phạt, Nam Tống cũng không thể đánh bại được triều Kim đang ngày càng ổn định Trung Nguyên. Do vậy, triều Kim chuyển sang dùng phương thức lấy chiến tranh để ép Tống hòa đàm, đạt được thêm nhiều lợi ích, hai bên trước sau ký kết Tuyên Hòa hòa nghị, Thiệu Hưng hòa nghị, Gia Định hòa nghị. Cục thế cân bằng này bị phá vỡ khi Đại Mông Cổ Quốc nổi lên, Nam Tống nhận thấy triều Kim suy thoái nên không còn nguyện xưng nước chú - nước cháu và cống nộp hàng năm nữa, hai bên lại một lần nữa trở nên thù địch.
Khu vực Mạc Bắc (bắc sa mạc Gobi) nguyên là vùng đất phụ thuộc của triều Kim, ở khu vực này chủ yếu là các bộ lạc Nãi Man, Khắc Liệt, Miệt Nhi Khất, Thái Xích Ô, Tháp Tháp Nhi, Mông Cổ, Trát Đạt Lan, cùng các bộ lạc khác. Nhằm ổn định khu vực Mạc Bắc, triều Kim chọn cách liên hiệp các bộ lạc để áp chế bộ lạc nào có ý muốn nổi lên, đồng thời cũng nhiều lần phái binh đến Mạc Bắc để tiến hành "giảm đinh", cướp đoạt, khiến một bộ phận bộ lạc ở Mạc Bắc có cái nhìn thù địch với triều Kim. Với việc triều Kim suy lạc, Thành Cát Tư Hãn thuộc Mông Cổ bộ thống nhất Mạc Bắc vào năm 1204, hai năm sau kiến quốc. Thành Cát Tư Hãn không tiếp tục thần phục triều Kim, sau khi hàng phục đồng minh của triều Kim là Tây Hạ thì bắt đầu xâm nhập Kim, trở thành một tai họa lớn của Kim.
Tây Hạ vốn là nước hữu hảo với Liêu, sau khi Kim diệt Liêu vì Kim Thái Tông đồng ý cắt đất tặng nên Tây Hạ chuyển hướng ủng hộ Kim. Sau khi triều Kim ổn định Trung Nguyên, cắt đứt quan hệ giữa Tây Hạ và Nam Tống, mậu dịch giữa Tây Hạ và Trung Nguyên hoàn toàn nằm trong tay Kim, quan hệ hai bên ở trạng thái chỉ hòa thuận ở bên ngoài, còn bên trọng thì chia cách. Người Mông Cổ sau khi nổi lên đã nhiều lần tiến đánh Tây Hạ, song Hoàng đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế lại lấy việc các nước lân cận bị đánh làm điều vui thích, không ứng cứu Tây Hạ, khiến Tây Hạ thần phục Mông Cổ và chuyển sang đánh Kim. Phải đến sau khi Tây Hạ Hiến Tông kế vị vào năm 1223, Tây Hạ mới chuyển sang liên Kim kháng Mông, song hai nước sau đó không còn chống đỡ nổi quân Mông Cổ.
Người Mông Cổ sau khi buộc Kim phải thiên đô về phía nam, có ý muốn liên kết với Nam Tống để tiêu diệt Kim, đồng thời có ý muốn mượn đường Nam Tống để vào sau lưng Kim. Để bù đắp cho việc để mất Hà Bắc, Kim Tuyên Tông nhiều lần phát động chiến tranh với Nam Tống, Tây Hạ, mặc dù cuối cùng hòa giải với nhau song nguyên khí của ba nước bị hao tổn đi nhiều. Cuối cùng, Tây Hạ bị Mông Cổ tiêu diệt vào năm 1227, triều Kim không thể thoát khỏi số mệnh mất nước. Năm 1230, Oa Khoát Đài Hãn phát động ba lộ phát Kim, phái Đà Lôi mượn đường Tống vòng đánh kinh đô Khai Phong của Kim. Sau khi Kim Ai Tông chạy đến Thái châu, Mông Cổ yêu cầu Nam Tống suất quân giáp công, triều đình Nam Tống quyết định phái binh vận lương trợ chiến, Kim diệt vong.
Trước khi triều Kim được lập, một bộ phận tộc Nữ Chân triều cống cho Cao Ly, được gọi là Đông Bắc Nữ Chân. Sau khi Kim Thái Tổ thống nhất các bộ Nữ Chân đã cho quân đội xâm nhập Cao Ly. Sau khi diệt Liêu và Bắc Tống, Kim phá hoại quan hệ giữa Cao Ly và Bắc Tống, cô lập Cao Ly.
Năm 1168, Kim Thế Tông sai sứ giả vượt qua lãnh thổ Nam Tống đến Đại Việt và đó cũng là lần duy nhất nhà Kim có quan hệ ngoại giao với Đại Việt. Cùng với sứ nhà Kim, sứ Nam Tống cũng đến Đại Việt lúc đó. Vua Lý Anh Tông sai các quan đón tiếp sứ giả cả triều nước chu đáo nhưng không cho đoàn sứ giả hai nước gặp nhau
== Chế độ quân sự ==
Quân đội Kim đại thể có thể phân thành quân bản tộc, quân tộc khác, 'châu quận binh' và 'thuộc quốc quân'; trong đó hai loại đầu là chủ lực, còn hai loại sau là cánh phụ. Đầu tiên, chủ nô lệ, chủ phong kiến đều phải tòng quân. Sau khi chiếm được đất đai của người Hán, chủ yếu thi hành 'trưng binh chế', trưng dụng người Hán và các dân tộc thiểu số khác làm binh, gọi là "Thiêm quân", đến hậu kỳ thì thi hành "mộ binh chế". Sau khi triều Kim thống trị Trung Nguyên, cũng phỏng theo Hán chế mà, tiến hành phát bổng lộc, giúp đỡ cho quân đội. Đối với quân quan già giải ngũ, từng đặt lệ "cấp thưởng". Đối với quân Tống đầu hàng, triều Kim thường giữ lại hệ thống tổ chức ban đầu, vẫn dùng hàng tướng người Hán thống lĩnh. Quân Kim lấy kị binh làm chủ, bộ binh là thứ. Kị Binh Kim có nhiều ngựa, mặc trọng giáp. Sau khi binh các bộ tộc tăng lên nhiều, số lượng bộ binh cũng tăng mạnh. Quy mô thủy quân Kim cũng tương đối lớn, song sức chiến đấu lại khá yếu. Ngoài binh khí lạnh, quân Kim còn sử dụng hỏa khí như hỏa pháo, thiết hỏa pháo, phi hỏa thương trong lúc tác chiến. Khi Mông Cổ tràn xuống phía nam, quân Kim dùng hỏa khí để kháng cự. Năm 1232, tướng Kim Xích Trản Hợp Hỉ trú thủ Biện Kinh, "có hỏa pháo tên là Chấn thiên lôi, thuốc nổ được nhét vào trong quả sắt để dùng làm hỏa điểm, pháo nổ lửa cháy, nghe như tiếng sấm, ngoài 300 dặm vẫn còn nghe được, mọi thứ trong vòng nửa mẫu bị đốt cháy".
Kim ban đầu đặt "Đô thống" để làm cơ quan quân sự, sau đổi thành "Nguyên soái phủ", "Xu mật viện", hiệp trợ hoàng đế quản lý toàn quân. Thời chiến, hoàng đế chỉ định thân vương lãnh binh xuất chinh, gọi là Đô nguyên soái, Tả-hữu phó nguyên soái, là các chức vụ lâm thời. Cơ cấu quân sự biên phòng có Chiêu thảo ty, Thống quân ty... Quân đội triều Kim sử dụng chế độ Mãnh an Mưu khắc (Meng'an-Mouke), một chế độ kết hợp xã hội và quân sự. Từ trước khi lập quốc, nam giới thành niên tộc Nữ Chân đều là chiến sĩ, thời bình tham gia vào hoạt động sản xuất, thời chiến thì tham gia chiến đấu, binh khí và lương thực của bản thân phải tự túc. Khoảng một nghìn hộ được phân thành một 'mãnh an', khoảng một trăm hộ được phân thành một 'mưu khắc', một 'mãnh an' tương đương với một nghìn phu, một 'mưu khắc' tương đương với một trăm phu. 'Vạn hộ phủ' quản lý các 'mãnh an', 'mãnh an' quản lý 'mưu khắc', bên dưới 'mưu khắc' còn có các tổ chức Ngũ Thập (五十), Thập (十), Ngũ (伍). Bố trí binh sĩ phần nhiều là một chính, một phó, thời chiến thì phó quân có thể thay thế vị trí của chính quân nếu trống. Binh sĩ Kim theo chế độ thế tập, có thể để con em thay thế, song không thể cho nô bộc gánh vác thay.
Khi Hoàn Nhan A Cốt Đả khởi binh phản Liêu, lấy 300 khẩu là một 'mưu khắc', 10 'mưu khắc' là một 'mãnh an'. Với binh lực ít ỏi ban đầu, quân Kim 12 năm sau đã tiêu diệt hoàn toàn Liêu và Bắc Tống. Về sau, "Mãnh an-mưu khắc" vừa là chế độ quân sự, vừa là chế độ hành chính. Triều Kim không ngừng dời về phía nam, chế độ "Mãnh an-mưu khắc" dần thích ứng với chế độ nô lệ và bị suy yếu. Hiện tượng người Nữ Chân ngày càng nhược hóa là khá phổ biến. Thời Kim Thế Tông, A Lỗ Hãn nhậm chức Thiểm Tây lộ Thống quân sứ, "quân tịch Thiểm Tây còn thiếu, theo lệ cũ dùng con em bổ sung, nhưng tư chất phần nhiều không dùng được, A Lỗ Hãn phải tuyển bù trong đám quân dưới trướng A Lý Hỉ" Năm 1168, triều đình Kim tuyển thị vệ, thân quân trong các "Mãnh an-mưu khắc", song "phần lớn không có tài cung tên". Cuối cùng, sau khi kị binh Mông Cổ nổi lên, quân Kim thảm bại trong các chiến dịch quy mô lớn, phải dời đến Biện Kinh, tuy nhiên "Trung hiếu quân" do Kim Ai Tông thành lập vẫn có sự uy hiếp nhất định đối với người Mông Cổ.
== Nhân khẩu ==
Sau Nghị hòa Thiệu Hưng năm 1141, tình trạng nhân khẩu giảm thiểu ở phương bắc từ sau sự biến Tĩnh Khang bắt đầu được khắc phục ở mức độ nhất định, đến năm 1207 thời Kim Chương Tông thì đạt 53.532.151 người, cũng là mức tối đa của Đại Kim. Đương thời, tổng nhân khẩu của Kim, Nam Tống, Tây Hạ ước tính là khoảng 136 triệu người. Trong lần thống kê nhân khẩu chuẩn xác thứ tư của triều Kim, mỗi hộ bình quân có trên 6 khẩu, quy mô hộ dưới triều Kim đông đảo, có quan hệ nhất định với việc các quý tộc và mãnh an-mưu khắc sử dụng một lượng lớn nô bộc.
Kim Thái Tổ và Kim Thái Tông khi thống trị Trung Nguyên đã đưa hơn 1 triệu người Nữ Chân đến vùng đất hạ du Hoàng Hà vỗn đã có nhân khẩu đông đúc, dùng biện pháp hy sinh lợi ích của người Hán phục vụ cho người Nữ Chân, mục đích là để đáp ứng cho sinh hoạt và quân sự của họ. Cùng lúc với việc đưa những di dân mới người Nữ Chân đến chiếm lĩnh đất đai Trung Nguyên, người Khiết Đan và người Hán bị đưa đến nội địa của triều Kim (tức vùng Mãn Châu ngày nay). Trong cuộc chiến tranh chống Liêu, quân Kim từng bắt được một lượng lớn người Khiết Đan và người Hán làm nô lệ. Sau đó, Kim Thái Tổ từng hạ chiếu cấm chỉ giam giữ bách tính chịu đầu hàng, cấm chỉ nhà quyền thế mua dân nghèo làm nô lệ, lại quy định những người từng bán thân làm nô lệ có thể dùng công lao động để chuộc thân, song trên thực tế khả năng nô lệ có thể tự chuộc thân là rất thấp. Cư dân người Hán bị buộc phải thiên di không thể không trở thành nô lệ với số lượng lớn. Triều đình Kim đối với nhân dân khu vực chịu đầu hàng tuân phục thì áp dụng biện pháp cưỡng bách thiên di đến nội địa. Như cư dân các châu huyện Sơn Tây bị buộc phải thiên di với số lượng lớn đến Hồn Hà lộ thuộc Thượng Kinh của Kim. Cư dân địa khu Thượng Kinh lại được dời đến Ninh Giang châu. Nhân dân Bình châu nổi dậy phản kháng, sau khi bị trấn áp thì phải cùng với cư dân Nhuận châu, Tháp châu, Lai châu, Thiên châu dời đến đông đô Thẩm Dương. Những cư dân này không thể vượt qua khó khăn để tồn tại, buộc phải bán thân làm bô lệ, khiến người Hán hận thù sâu sắc.
Nam giới Nữ Chân để kiểu tóc "lưu lô hậu phát" (cạo tóc phần trán), buộc tóc thành một đuôi sam, bị người phương nam gọi là "sách lỗ" (giặc buộc tóc). Trong "Bắc phong dương sa lục" và du ký của Nam Tống, cũng có nói về việc người Kim để đuôi sam, vào năm Thiên Hội thứ 7 (1129) thời Kim Thái Tông còn cưỡng chế mặc Hồ phục để đuôi sam.
== Kinh tế ==
Có sự khác biệt lớn trong phát triển kinh tế giữa khu vực của triều Kim. Khi mới kiến lập triều Kim, tộc Nữ Chân vẫn còn ở chế độ hỗn hợp đánh cá săn bắn và trồng trọt, sau đó họ khống chế được vùng đất của người Hán, những nơi đã phát triển kinh tế nông nghiệp ở trình độ rất cao. Hơn một nửa thế kỷ từ thời Kim Hy Tông đến thời Kim Chương Tông, kinh tế xã hội phương bắc Trung Hoa có được sự khôi phục và phát triển ở trình độ nhất định. Kinh tế xã hội của khu vực Đông Bắc triều Kim có sự phát triển khá lớn so với thời Liêu, chẳng hạn nghề rèn sắt có tiến bộ rõ rệt. Trong thời Kim Thế Tông và Kim Chương Tông, các hộ mãnh an-mưu khắc vốn sử dụng nô lệ sản xuất dần chuyển hóa thành địa chủ. Việc chuyển hóa này chủ yếu có nhận ruộng, đánh thuế, phân biệt bình dân và nô lệ, quý tộc Nữ Chân dựa vào đó mà mở rộng phạm vi đất đai chiếm hữu.
=== Nông nghiệp và súc mục nghiệp ===
Triều Kim lấy việc phát triển nông nghiệp làm cơ sở để khoách trương quân sự, nhằm biến vùng đất Đông Bắc của tổ tiên thành kho lương thực, các công cụ sản xuất và kỹ thuật trồng trọt ở Trung Nguyên dần được truyền bá đến Đông Bắc. Do các công cụ làm bằng sắt được sử dụng rộng rãi nên sản xuất nông nghiệp tiến triển, số giống cây trồng cũng ngày càng tăng thêm. Vào thời Kim sơ, không trồng cốc mạch mà chỉ trồng kê xuân. Về sau, số giống cây trồng ngày càng tăng, có lúa mì, kê, kê Âu, cỏ gạo, đay, đậu tương; các loại rau có hành, tỏi, hẹ, hướng dương, cải và dưa. Triều đình Kim cũng khuyến khích khẩn hoang, như quy định khai khẩn đất hoang hoặc đất bãi ven Hoàng Hà có thể được giảm miễn tô thuế, do vậy diện tích đất ruộng khai hoang tăng lên.
Chế độ đất đai của triều Kim cấp rất nhiều ưu đãi cho người Nữ Chân, còn người Hán, người Khiết Đan và người Bột Hải không được hưởng. Chế độ đất đai của người Nữ Chân được gọi là chế độ "ngưu cụ thuế địa", kế thừa tập tục của chế độ thị tộc. Số đất đai chiếm ít hay nhiều phụ thuộc và số bò cày, nhân khẩu; quý tộc Nữ Chân sở hữu nhiều nhân khẩu và bò cày tự nhiên có thể chiếm được một vùng đất rộng lớn. Đến những năm Đại Định (1161-1189) thời Kim Thế Tông, tình hình tỷ lệ giữa bò, người và đất không phù hợp trở nên rất phổ biến.
Thời kỳ Kim Hy Tông, triều Kim bắt đầu thực hành chế độ "kế khẩu thụ điền". Lúc mới đầu sau khi thống trị khu vực Hoa Bắc rộng lớn, triều Kim có kế hoạch đưa một lượng lớn mãnh an mưu khắc phân tán ra các nơi để trấn áp người Hán, được gọi là đồn điền quân. Triều Kim đối với các đồn điền quân hộ này đều chiếu theo hộ khẩu mà cấp cho ruộng công, gọi là "kế khẩu thụ điền". Khi ruộng công không đủ để phân phối thì tiến hành cướp ruộng dân. Sau khi được phân đất, đại đa số đồn điền quân hộ nhượng tô cho người Hán canh tác, hoặc cưỡng bách người Hán trồng cấy mà không trả công. Do tình trạng bóc lột nghiêm trọng, không ai muốn trồng cấy, đất đai dần hoang phế. Đến thời Kim Thế Tông, triều đình lại phái quan lại đến các nơi để "câu xoát lương điền", chiếm đất đai làm ruộng công.
Người Nữ Chân vốn là cư dân ở vùng Đông Bắc Trung Quốc ngày nay, súc mục nghiệp, hay nghề chăn nuôi gia súc, của người Nữ Chân rất phát triển. Thời kỳ Kim Đế Hoàn Nhan Lượng, người Kim vốn có tới 9 quần mục sở. Đến khi Nam chinh, người Kim trưng dụng được hơn 56 vạn chiến mã, song vì chiến sự nên tổn thất hơn một nửa. Đến những năm đầu Kim Thế Tông, người Kim chỉ còn 4 quần mục sở. Kim Thế Tông bắt đầu phục hồi súc mục nghiệp, đương thời tại các nơi Phủ châu, Lâm Hoàng phủ, Thái châu thiết lập 7 quần mục sở. Từ năm 1168, triều đình hạ lệnh bảo hộ ngựa, bò, cấm chỉ giết thịt, cấm chỉ thương nhân và thuyền xe sử dụng ngựa. Triều đình cũng quy định đối với quần mục quan hay quần mục nhân, dựa theo tình hình sinh trưởng tổn hai của vật nuôi mà thưởng phạt. Triều đình thường phái xuất quan viên đến kiểm tra chính xác số vật nuôi, khi phát hiện thiếu thì xử phạt quan lại, còn người chăn thả phải bồi thường. Đối với các hộ dân tự chăn nuôi, phải đăng ký số ngạch, dựa theo tình trạng giàu nghèo mà tạo bạ tịch, khi có chiến sự thì dựa theo bạ tịch để trưng dụng hoặc miễn trưng dụng song thường xuất hiện hiện tượng không công bằng giữa hộ giàu và nghèo. Đối với dê và ngựa do các bộ tộc nuôi dưỡng, triều đình Kim quy định chế độ, cấm chỉ quan phủ tùy ý cưỡng đoạt.
=== Thủ công nghiệp ===
Sản xuất thủ công nghiệp dưới triều Kim như gốm sứ, khai mỏ và luyện kim, đúc, làm giấy, in ấn, trải qua chiến loạn và phục hồi, đều có sự phát triển. Người Nữ Chân trước khi kiến quốc thì thịnh hành nghề rèn sắt. Sau khi kiến lập triều Kim, nghề luyện sắt tại phương bắc tiếp tục phát triển, các nơi sản xuất đồ sắt có tiếng là Vân Nội châu, Chân Định phủ, Lỗ Sơn ở Nhữ châu, Bảo Phong, Nam Dương thuộc Đặng châu, tại Vân Nội châu sản xuất quy mô lớn một loại đồ sắt gọi là "thanh tấn thiết" (thép già xanh). Ngoài ra, tại khu vực Đông Bắc, người ta bắt đầu khai thác than đá. Các công cụ làm từ đồ sắt được sử dụng rộng rãi. Trên phạm vi rộng lớn thuộc Đông Bắc, đều phát hiện được các đồ làm bằng sắt có niên đại từ thời Kim, trong đó có một lượng lớn nông cụ làm bằng sắt, với nhiều chủng loại, kết cấu phức tạp, hình dạng tương tự hoặc tương hợp như ở khu vực Trung Nguyên, thể hiện rõ ràng rằng phương thức sản xuất nông nghiệp Đông Bắc đã có cải biến to lớn. Từ năm 1961 đến 1962, tại Ngũ Đạo Lĩnh thuộc huyện A Thành của tỉnh Hắc Long Giang, đã phát hiện được hơn 10 hố khai khoáng sắt vào trung kỳ chiều Kim, hơn 50 di chỉ luyện sắt. Hố khai thác sắt sâu nhất là hơn 40 mét, với các khu tác nghiệp như khai thác khoáng hay tuyển khoáng. Căn cứ trên quy mô khai thác, ước tính trong các hố khoáng sản này có thể khai thác ra được 4 trăm nghìn-5 trăm nghìn tấn quặng sắt.
Nghề gốm sứ do có cơ sở từ thời Liêu và Bắc Tống nên cũng khá phát triển. Thời Kim Hy Tông, các khu vực gốm sứ vốn nổi tiếng ở phương bắc như Diệu Châu diêu ở Thiểm Tây, Quân diêu ở Hà Nam, Định châu diêu và Từ châu ở Hà Bắc không ngừng khôi phục sản xuất, Lâm Nhữ và các nơi sản xuất gốm sứ khác nổi lên, công nghệ mỗi nơi đều có điểm đặc sắc. Nghề đúc tiền, vàng và làm đồ ngọc cũng tương đối phát triển, những năm gần đây đã phát hiện được nhiều văn vật quý báu. Hoạt động thương nghiệp dần sôi động, trong các di chỉ và mộ táng thời Kim ở khu vực Đông Bắc đã phát hiện được lượng lớn tiền đồng triều Tống, có thể thấy sự mật thiết trong mậu dịch giữa triều Kim và phương nam. Giấy trúc Tắc Sơn và giấy đay Bình Dương ở Sơn Tây vang danh một thời. Dùng bản khắc in thành sách trở nên phổ biến, kỹ thuật bản khắc của triều Kim cho ra các sản phẩm đẹp tương đương với Nam Tống, trung tâm bản khắc in ấn của triều Kim là ở Bình Dương.
=== Thương nghiệp ===
Do sản xuất kinh tế của Kim được khôi phục và phát triển, thương nghiệp ngày càng phồn thịnh. Những năm đầu Kim kiến quốc, thương nghiệp các khu vực phát triển rất không đồng đều. Đương thời, vùng đất tổ tiên của người Nữ Chân là khu vực Đông Bắc còn "không có chợ làm nơi mua bán, không dùng tiền mà chỉ dùng vật phẩm trong mậu dịch", nhưng Trung Đô của Kim và Khai Phong phủ đều là những thành thị thương nghiệp hưng thịnh. Triều Kim cho lập nên không ít "các trường" để tiến hành mậu dịch với Tây Hạ và Nam Tống. Tuy nhiên, do Kim và Tống khi chiến khi hòa nên mậu dịch các trường chịu ảnh hưởng nhất định. Kim chủ yếu xuất sang Nam Tống các thương phẩm như da, nhân sâm, lụa; còn Nam Tống xuất sang Kim các thương phẩm như trà, dược phẩm, tơ. Hội Ninh phủ, Trung Đô, Khai Phong phủ, Tế Nam phủ đều là các trung tâm thương nghiệp khá lớn vào đương thời.
Sau khi Trung Đô (nay thuộc Bắc Kinh) trở thành quốc đô của triều Kim, giao thông thủy bộ phát triển, nhân khẩu gia tăng nhanh chóng, trở thành một trọng trấn thương nghiệp có hoạt động mậu dịch phát triển, trong đó "Thành Bắc tam thị" là trung tâm thương nghiệp. Thời kỳ Kim Thế Tông, chùa Tướng Quốc ở Khai Phong phủ khai tự vào ngày 3, ngày 8 mỗi tháng, lái buôn tập trung tại đó để tiến hành mậu dịch, bên trong "phù ốc" dưới cửa lầu Tuyên Đức, người mua bán rất đông.
=== Tiền tệ ===
Theo chế độ tiền tệ của Kim, ba loại tiền là tiền đồng, tiền giấy, tiền bạc cùng lưu hành. Vào đầu triều Kim, vẫn sử dụng tiền tệ Liêu, Tống; tình trạng này kéo dài đến sau lần nghị hòa thứ hai giữa Kim-Tống, khi mà chiến tranh tạm kết thúc. Năm 1158, Kim Đế Hoàn Nhan Lượng lần đầu tiên cho đúc và lưu hành Chính Long thông bảo Tiểu Bình tiền. Năm 1204, Kim Chương Tông cho đúc Thái Hòa thông bảo Chân Thư tiền. Năm 1213, Kim Đế Hoàn Nhan Vĩnh Tế cho đúc Chí Ninh nguyên bảo tiền. Kim Tuyên Tông sau khi nam thiên cũng cho đúc và lưu thông tiền tệ. Sau khi tiêu diệt Bắc Tống, triều Kim từng phù trợ Lưu Tề lập quốc, tiền tệ thể chế này đúc ra có vẻ thanh tú đẹp đẽ, tinh chỉnh giống như tiền Bắc Tống.
== Văn hóa ==
Văn hóa triều Kim phát triển đạt đến mặt bằng rất cao, "từ Đại Định (1161-1189) về sau, văn bút hùng kiện, trực kế Bắc Tống chư hiền". Tại một vài phương diện mặc dù không bì được với Tống, song báo trước sự phát triển của văn hóa hậu thế. Triều Kim thi hành chính sách Hán hóa, từ "tá tài dị đại" đến "quốc triều văn phái" dần hình thành khí phái, phong mạo độc đáo khác với triều Tống, tuy nhiên tinh thần sùng võ dũng mãnh của người Nữ Chân cũng dần biến mất khi tình hình triều Kim ổn định, cuối cùng dẫn đến mất nước. Thời Nguyên, có người nói "Kim vì Nho mà mất", cách nói này không hẳn là nhất định chính xác song người Kim hoàn toàn Hán hóa là sự thực không cần phải tranh cãi. Lưu Kỳ nói: "sau khi nam độ, những người Nữ Chân thế tập mãnh an, mưu khắc thường thường hiếu văn học, thích ngao du với sĩ đại phu". Từ thời Kim Hy Tông về sau, các bậc đế vương triều Kim về sau đều có kiến thức về văn hóa Hán tương đối cao. Thời Nguyên, có người nói: "đế vương biết về âm nhạc có 5 người: Đường Huyền Tông, Hậu Đường Trang Tông, Nam Đường Hậu Chủ, Tống Huy Tông, Kim Chương Tông". Trung kỳ triều Kim về sau, hiện tượng người Nữ Chân đổi sang họ Hán, mặc Hán phục ngày càng phổ biến, triều đình luôn cấm song không cản nổi. Kim Thế Tông một lòng phản đối người Nữ Chân hoàn toàn Hán hóa, tích cực thúc đẩy việc học tập chữ viết và ngôn ngữ Nữ Chân, song không làm đảo ngược được tốc độ Hán hóa của người Nữ Chân. Tiếp thu văn hóa Hán nhanh nhất, có trình độ Hán hóa sâu nhất trước tiên là xã hội quý tộc thượng tầng Nữ Chân. Văn hóa nghệ thuật của Kim sau khi kế thừa Liêu và Bắc Tống thì sau không ngừng phát triển, vượt quá Liêu và sau phát triển song song với Nam Tống, cấu thành hai nhánh lớn trong sự phát triển văn hóa Trung Quốc đương thời. Trong lịch sử văn hóa nghệ thuật Trung Quốc, triều Kim có vai trò "cao hơn Liêu và thấp hơn Nguyên".
=== Tư tưởng ===
Triều Kim dùng Nho gia làm tư tưởng cơ bản để thống trị nhân dân, còn Đạo giáo, Phật giáo và Pháp gia cũng được lưu truyền và ứng dụng rộng khắp. Các nhà tư tưởng của triều Kim thảo luận bình phẩm lý học và kinh nghĩa học Lưỡng Tống, khiến lý học lại một lần nữa nổi lên ở phương bắc, phát triển tư tưởng Trung Hoa. Trên phương diện tư tưởng thọc thuật, Triệu Bỉnh Văn được gọi là "Nho chi chính lý chi chủ", ông phê bình ngành truyện chú từ thời Hán đến đương thời, hoàn toàn khẳng định lý học Bắc Tống do Chu Liêm Khê, Nhị Trình (Trình Hạo, Trình Di) kiến lập. Đồng thời dung hợp tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và lý học thành một thể, dùng để bảo vệ tính chính thống của Kim. Vương Nhược Hư phê bình ngành truyện chú, khẳng định lý học Bắc Tống. Tuy nhiên, ông cũng phê bình lý học Bắc Tống, đồng thời từng giành công phu chú thích lý học Lưỡng Tống, cộng thêm bình luận và khen chê; song chưa thành học thuyết. Tác phẩm của Lý Thuần Phủ có "Trung dung tập giải", "Minh đạo tập giải", tư tưởng trước tiên là từ Nho giáo chuyển hướng Đạo giáo, cuối cùng chuyển hướng Phật giáo. Ông nói rằng "học chí ư Phật tắc vô sở học" (học đến Phật thì không còn gì để học nữa), xem các nhà nho Y Xuyên của Tống "giai thiết ngô Phật thư" (đều trộm sách Phật của ta). Để đạt đến tam giáo Nho-Đạo-Phật hợp nhất với Phật giáo là chủ, mạnh dạn khai chiến với lý học Lưỡng Tống.
Về mặt tư tưởng chính trị, Triệu Bỉnh Văn nhận định vương thất và liệt quốc, Hoa và Di, Trung Quốc và quan hệ với bốn phía đều là khả biến, nhận định có lòng thiên hạ của chung thì đều gọi là "Hán", cho rằng giữa xã tắc và dân thì dân quý còn xã tắc thì xem nhẹ, phản đối đề pháp "họa bắt đầu từ phi hậu, thành ở hoạn thủ, mất vì phiên trấn" vào cuối những năm Khai Nguyên thời Đường, nhận định căn nguyên họa hoạn là tại "Minh Hoàng". Vương Nhược Hư cho rằng thống nhất Trung Quốc cần bàn đến "khúc trực chi lý" (cái lý đúng sai), phê phán Âu Dương Tu là nịnh nọt triều đình, cho rằng đất nước tồn vong là do số trời, khen ngợi Tư Mã Quang trong cách nhìn đối với việc chính thống trong lịch sử.
Giống như triều Tống, triều Kim tôn sùng Nho học và Khổng Tử. Ngay từ khi quân Kim tiến quân đến Khúc Phụ, khi binh Kim có ý đồ hủy hoại mộ Khổng Tử thì liền bị Hoàn Nhan Tông Hàn ngăn chặn. Từ thời Kim Hy Tông, triều đình Kim bắt đầu tôn Khổng, lập Khổng miếu tại Thượng Kinh, lại phong hậu duệ của Khổng Tử là Diễn Thánh công. Mặc dù Kim Đế Hoàn Nhan Lượng xem nhẹ Nho học, đến thời Kim Thế Tông và Kim Chương Tông thì Kim lại hết mình tôn Khổng sùng Nho, xây sửa Khổng miếu và miếu học, đồng thời tông sùng "Thượng thư", "Mạnh Tử".
=== Văn học và văn tự ===
Vào thời kỳ đầu triều Kim, văn học còn giản đơn mộc mạc, văn học gia phần lớn là bọn người Liêu và người Tống như Hàn Phưởng. Thái Khuê (?~1174) được gọi là cha đẻ của văn học chính truyền triều Kim, ngoài ra còn có Đảng Hoài Anh, cũng như Triệu Phong, Vương Đình Quân, Vương Tịch, Lưu Tòng Ích. Thời kỳ Kim Chương Tông, văn học gia hữu danh có thể kể đến như Triệu Bỉnh Văn, Dương Vân Dực, Lý Thuần Phủ, Nguyên Hiếu Vấn, người Nữ Chân hữu danh có Kim Đế Hoàn Nhan Lượng và Kim Chương Tông. Khi Kim Đế Hoàn Nhan Lượng nam hạ xâm Tống, tại Dương châu làm thơ, có câu: "đề binh bách vạn Tây Hồ trắc, lập mã ngô sơn đệ nhất phong". Hoàn Nhan Lượng lập chí diệt Tống thống nhất Trung Quốc, lời thơ thể hiện sự quyết tâm, bút lực hùng kiện, phong cách khoan khoát. Kim Chương Tông cực kỳ yêu thích thơ từ, sáng tác rất nhiều, song ý cảnh chỉ là cảnh sinh hoạt trong cung, giống như "cung thể thi". Được Kim Chương Tông đề xướng, quan viên quý tộc Nữ Chân cũng có nhiều người học sáng tác thơ Hán. Thi ca do Dự vương Hoàn Nhan Doãn Thành sáng tác được biên thành "Nhạc thiện lão nhân tập". Bên dưới, mãnh an, mưu khắc cũng nỗ lực học thơ, như mãnh an Thuật Hổ Huyền, mưu khắc Ô Lâm Đáp Sảng đều cùng sĩ đại phu người Hán giao du, cần mẫn học thơ. Văn nhân hữu danh triều Kim là Vương Nhược Hư và Nguyên Hiếu Vấn. Tác phẩm của Vương Nhược Hư có "Hô Nam dị lão tập", là bậc anh tài về thơ văn và khảo chứng kinh sử, sơ bộ kiến lập văn pháp học và tu từ học, luận sử của ông công kích Tống Kỳ, luận thi văn của ông lại tôn Tô Thức và hạ thấp Hoàng Đình Kiên, là một bình luận gia có quyền uy trong triều đình Kim, sau này "Kim thạch văn lệ" của Phan Thăng Tiêu chịu ảnh hưởng từ ông. Nguyên Hiếu Vấn là văn học gia có nhiều thành tựu vào thời Kim, tác phẩm của ông có "Di Sơn văn tập", còn "Luận thi tuyệt cú" của ông có 30 bài, xem trọng về đánh giá tác gia, mở đầu cho một môn phái luận thơ quan trọng sau này. "Trung châu tập" của Nguyên Hiếu Vấn thì dùng thơ để lưu sử, ông đưa các khu vực, thi nhân các tộc vào làm nhân vật trong Trung châu tập, phản ánh cụ thể tư tưởng thống nhất các tộc người.
Tạp kịch và hí khúc dưới triều Kim đạt được sự phát triển tương đối, thịnh hành hình thức dùng tạp kịch để diễn trò. Sự phát triển của "Viện bản" thời Kim là cơ sở cho tạp kịch "Nguyên khúc" sau này. "Tây sương ký chư cung điều" của Đổng Giải Nguyên vào thời kỳ Kim Chương Tông là một kiệt tác hí kịch cổ điển của Trung Quốc. Ông tiến hành cải biến dựa trên "Oanh oanh truyện" của Nguyên Chẩn thời Đường, song về phương diện tư tưởng nghệ thuật có sự đột phá khỏi rào cản tư tưởng truyền thống, được gọi là "ông tổ cổ kim truyền kỳ", "tổ của Bắc khúc".
Nữ Chân văn và Hán văn là văn tự công thông hành của triều Kim, trong đó Nữ Chân văn căn cứ theo Khiết Đan tự để viết ngôn ngữ Nữ Chân, bản thân Khiết Đan tự lại cải chế từ Hán tự. Người Nữ Chân nguyên sử dụng Khiết Đan tự, sau khi lập quốc triều Kim, Hoàn Nhan Hy Doãn phụng lệnh Kim Thái Tổ tham khảo Hán văn và Khiết Đan văn mà sáng tạo ra Nữ Chân văn, đến tháng 8 năm 1191 thì ban hành. Năm 1165, Đồ Đan Tử Ôn tham khảo Khiết Đan tự tham khảo bản dịch Khiết Đan tự mà dịch xong các sách như "Trinh Quán chính yếu", "Bạch thị sách lâm". Thời Kim Thế Tông, triều đình thiết lập 'dịch kinh sở', phiên dịch kinh sử Hán văn thành Nữ Chân văn, sau đó cũng dần dịch thêm nhiều bản thư tịch Hán văn. Kim Thế Tông nói với bọn tể tướng: "Sở dĩ Trẫm ra mệnh lệnh phiên dịch Ngũ Kinh là muốn người Nữ Chân biết nhân nghĩa đạo đức sở tại". Tuy nhiên, đương thời khi dịch thuật giữa Nữ Chân tự và Hán tự thì trước tiên phải dịch sang Khiết Đan tự, sau lại tiếp tục chuyển dịch. Thời kỳ Kim Chương Tông, thành lập Hoằng văn viện dịch kinh thư Nho học, mệnh học quan giảng giải. Năm 1191, triều đình bãi phế Khiết Đan tự, quy định từ đó về sau phải trực dịch giữa Hán tự và Nữ Chân tự. Tuy nhiên, cùng với sự thông dụng của Hán ngữ, quý tộc Nữ Chân phần nhiều biết đọc Hán tự. Thư tịch Hán tự được lưu hành rộng khắp trong cộng đồng người Nữ Chân.
=== Tôn giáo ===
Chính sách tôn giáo của triều Kim phần lớn đều chủ trương thuận tòng và nhẫn nại, chủ yếu liên quan tới người Hán và giai cấp thống trị dị tộc. Không kể Phật giáo hay Đạo giáo, đều chủ trương lấy giáo nghĩa của mình làm chủ trong Phật-Đạo-Nho hợp nhất, như trong phát triển lý luận của Phật giáo có Vạn Tùng Hành Tú và Lý Thuần Phủ với trình độ rất cao. Người sáng lập nên Toàn Chân giáo là Vương Triết, phàm khi lập hội đều dùng danh tam giáo, "Toàn Chân giáo tổ bi" của Hoàn Nhan Thục có ghi: "có thể thấy sự hư không minh diệu, tịch tĩnh viên dung, không chỉ chứa nhất giáo". Vương Triết xuất phát từ chủ trương tam giáo hợp nhất, khuyên mọi người tụng "Đạo đức thanh tĩnh kinh", "Bàn nhược tâm kinh", "Hiếu kinh" cùng các kinh điển Đạo, Phật, Nho khác.
Thời kỳ chưa lập quốc, Phật giáo đã lưu truyền trong tộc người Nữ Chân, sau khi họ diệt Liêu và Bắc Tống, lại chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Nguyên, niềm tin đối với Phật giáo càng phát triển. Các phái Phật giáo như Hoa Nghiêm, Thiền, Tịnh, Mật đều có sự phát triển tương đối. Trong đó, Thiền tông đặc biệt thịnh hành, việc này có thể nói là hoàn toàn chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Bắc Tống, đối với các mặt xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa và tập tục của Kim đều có ảnh hưởng trọng yếu. Sau khi tộc Nữ Chân chiếm lĩnh Trung Nguyên, Đạo Tuân kế thừa Tịnh Như hoằng pháp tại Linh Nham tự, tác phẩm có các thư tịch "Kỳ chúng quảng ngữ", "Du phương khám biện", "Tụng cổ xướng tán". Ở Biện Lương có Phật Nhật đại hoằng pháp hóa, đệ tử truyền pháp là Viên Tính trong những năm Đại Định (1161-1189) ứng thỉnh chủ trì Đàm Chá Sơn tự ở Yên Kinh, hết lòng phục hưng Thiền học. Vạn Tùng Hành Tú là một thiền sư đặc biệt có danh tiếng vào thời Kim, tại Tòng Dung am ông từng bình xướng thiên đồng với "Tụng cổ bách tắc", soạn "Tòng Dung lục", là danh tác Thiền học. Ông đồng thời cũng có tư tưởng dung quán tam giáo, khuyến trọng thần đương thời là Da Luật Sở Tài lấy Phật trị tâm, rất được Da Luật Sở Tài xưng tụng, nói ông "có huyết mạch Tào Động, có tinh xảo của Vân Môn, dự cơ phong của Lâm Tế".
Đạo giáo đến thời Kim xuất hiện Tam đại tân hưng giáo phái là Toàn Chân giáo, Đại Đạo giáo, Thái Nhất giáo. Vương Triết sáng lập ra Toàn Chân giáo vào năm 1167, về sau bảy vị đệ tử của ông luân lưu tiếp nhiệm. Toàn Chân giáo kế thừa tư tưởng Đạo giáo truyền thống, còn đưa thêm tư tưởng phủ lục, đan dược, chỉnh lý nội dung, thiết lập căn cơ cho Đạo giáo ngày nay. Lưu Đức Nhân sáng lập ra Đại Đạo giáo vào năm 1142, giáo phái này chủ trương "thủ khí dưỡng thần", đề xướng tự nuôi dưỡng sức lực, ít nghĩ đến dục, không nói về tu luyện thăng thiên, trường sinh bất lão, đồng thời đưa tư tưởng Nho gia vào hệ thống tư tưởng của mình. Ngoài ra, Đại Đạo giáo còn có chế độ xuất gia. Tiêu Bão Trân là thủy tổ của Thái Nhất giáo, sáng lập ra giáo phái vào năm 1138. Giáo phái này lấy đạo pháp phù lục làm chủ, cũng theo pháp nội luyện mềm yếu. Thái Nhất giáo mô phỏng nguyên tắc bí truyền của Thiên Sư đạo, những người quản lý giáo phái khi tựu nhiệm đều phải đổi sang họ "Tiêu". Thái Nhất giáo lập giáo tông chỉ thị "độ quần sinh ư khổ ách", tôn trọng nhân luân.
Tín ngưỡng của người Nữ Chân là Tát Mãn giáo, là một tôn giáo nguyên thủy bao gồm các tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, vật tổ, vạn vật hữu linh, sùng bái tổ tiên, vu thuật. Tát Mãn là trung gian khai thông giữa người và thần, khi tế tự trong lễ nghi, sự kiện trọng đại và ngày tết đều có vu sư tham gia hoặc do tư nghi của họ tiến hành. Nội dung dung hoạt động của Tát Mãn giáo có thể liệt kê như làm tai họa biến mất và khỏi bệnh, người cầu sinh trai gái, chửi rủa người khác gặp phải tai họa.
=== Nghệ thuật ===
Nghệ thuật thời Kim trong quá trình phát triển đạt được thành tựu rất cao trên các phương diện. Kim Chương Tông cho lập Thư họa viện, thu tập danh họa từ dân gian và Tống cất giữ, Vương Đình Quân và Bí thư lang Trương Nhữ Phương giám định 500 quyển thư họa mà triều Kim cất giữ, đồng thời phân biệt định ra thứ hạng. Năm 1127, binh Kim công phá kinh thành Biện Lương của Bắc Tống, đã thu được các bức họa do triều đình Tống cất giữ, bắt họa công đưa về bắc. Cung đình thời Kim xem trọng việc cất giữ các thư họa, lấy số tranh thu được từ Bắc Tống và trong nội phủ làm cơ sở, lại tiến hành trưng tập từ dân gian để làm giàu thêm. Hội họa triều Kim nằm dưới sự ảnh hưởng của văn hóa Hán, so với triều Liêu thì thịnh vượng hơn, đặc biệt là thời kỳ từ Kim Thế Tông đến Kim Chương Tông, hoạt động hội họa ngày càng sôi nổi. Kim Chương Tông giỏi thơ văn thư pháp, lại yêu thích hội họa, ông cho thiết lập Thư họa cục thuộc Bí thư giám, đưa số tranh cất giữ giám định hơn nữa, cũng học tập Tống Huy Tông thư thể đề tên đóng dấu lên danh tác. Triều Kim còn cho lập Đồ họa thự thuộc Thiếu phủ giám, "quản lý đồ họa lũ kim tượng". Đương thời, các bức tranh có tiếng phải kể đến "Phu tuấn đồ" của Ngu Trọng Văn, "Khô mộc" của Vương Đình Quân, "Thần quy đồ" của Trương Khuê, "Chiêu lăng lục tuấn đồ" của Triệu Lâm, đẹp nhất là "Văn cơ quy hán đồ" của Trương Vũ. Kim Đế Hoàn Nhan Lượng có tài vẽ trúc, Hoàn Nhan Doãn Cung vẽ hươu nai nhân vật, Vương Đình Quân giỏi vẽ sơn thủy mặc trúc, Vương Bang Cơ giỏi vẽ nhân vật, Từ Vinh Chi giỏi vẽ điểu hoa, Đỗ Kỹ vẽ an mã (ngựa đặt yên). Tác phẩm hội họa sơn thủy trúc thạch của Vũ Nguyên Trực, Lý Sơn và Vương Đình Quân so với tác phẩm cùng thời của Nam Tống thì hình như biểu lộ ra nhiều hơn phẩm vị "văn nhân".
Thư pháp gia thời Kim học từ thư pháp Bắc Tống, Kim Chương Tông học sấu kim thể của Tống Huy Tông, đạt được thành tựu to lớn. Vương Cạnh giỏi thảo thư và lệ thư, nhất là đại tự, bảng đề trên cung điện lưỡng đô đều là chữ của ông. Đảng Hoài Anh giỏi triện văn và trứu văn, được học giả tôn kính. Triệu Phong giỏi chính, hành, thảo thư, cũng thạo về tiểu triện, chính thư thể đồng thời nhan, tô, thư họa thể hiện vẻ hùng tú, có thể so sánh với Thạch Mạn Khanh của Bắc Tống. Ngô Kích có được bút ý của nhạc phụ Mễ Phất, trong số những người học Mễ Phất đương thời thì Vương Đình Quân đạt được trình độ sâu sắc nhất, đám người Quỳ Tử Sơn vào thời Nguyên sơ không đạt tới trình độ thư pháp của ông. Nhâm Tuân có tài nghệ về nhiều phương diện, thư pháp của ông là đệ nhất đương thời, "Trung châu tập" viết ông "họa cao ư thư, thư cao ư thi, thi cao ư văn".
Những năm đầu triều Kim, nhạc khí của người Nữ Chân chỉ có hai loại trống, sáo; ca vịnh chỉ có một khúc "chá cô". Sau khi tiến vào đất Tống, quân Kim thu được nhạc công, nhạc khí, nhạc thư của giáo phường triều Tống, âm nhạc của người Hán được dung nhập vào trong âm nhạc của người Nữ Chân. Khi Kim Thế Tông thiết yến chiêu đãi sứ giả Nam Tống và Tây Hạ, nhạc nhân học theo triều Tống, song phục trang bất đồng. Vũ đạo triều Kim khởi nguyên từ thời tổ tiên là người Mạt Hạt, sau khi lập quốc, về cơ bản triều Kim trực tiếp hấp thụ vũ đạo từ Bắc Tống, đồng thời cũng phát triển văn hóa nhạc vũ của người Nữ Chân. Về phương diện hí khúc, chư cung điều lưu hành từ thời Bắc Tống, đến triều Kim thì trở thành loại hình thuyết xướng chủ yếu. Trong số tác phẩm chư cung điều đương thời, chỉ có "Tây sương ký chư cung điều" và "Lưu Tri Viễn" của Đổng Giải Nguyên là còn lưu truyền đến ngày nay, trong đó việc "Tây sương ký chư cung điều" xuất hiện có ý nghĩa trong việc hình thành sơ bộ Nguyên khúc về sau.
== Khoa học kỹ thuật ==
Từ sau Tĩnh Khang chi biến đến thời kỳ Mông Cổ, do chiến tranh và bạo chính xảy ra thường xuyên, lại thêm thiên tai cũng hay xảy ra, đời sống của nhân dân do đó mà nghèo khổ, bệnh tật lan truyền, khiến cho y học hết sức sôi động, được gọi là "tân học triệu hưng". Vào thời Kim, xuất hiện "Hỏa nhiệt thuyết" của Lưu Hoàn Tố, "Công tà thuyết" của Trương Tòng Chính, "Tì vị thuyết" của Lý Đông Viên. Do sự phong phú của thực tiễn, không ít y gia thâm nhập nghiên cứu kinh điển y học cổ đại, kết hợp với các kinh nghiệm lâm sàng của bản thân, tự hình thành nên một lý thuyết, từ việc giải thích lý luận của tiên nhân, dần hình thành các lưu phái khác nhau. Lưu Hoàn Tố khai sáng Hà Gian học phái, Trương Nguyên Tố khai sáng ra Dịch Thủy học phái, đệ tử của Trương Nguyên Tố là Lý Đông Nguyên cũng tự lập ra Tì vị học thuyết. Ba người này cùng với Chu Chấn Hanh thời Nguyên được gọi chung là "Kim Nguyên tứ đại gia", có ảnh hưởng đối với sự phát triển của lý luận y học Trung Quốc.
Người Kim hấp thu kỹ thuật nông nghiệp của Bắc Tống, khiến cho sản lượng nông nghiệp ở khu vực Thượng Kinh vùng Đông Bắc gia tăng. Hiện nay các nhà khảo cổ khai quật được rất nhiều các nông cụ bằng sắt như lưỡi cày, hồ lô gieo hạt tại Đông Bắc Trung Quốc. Đương thời, nông thư có tiếng ở các khu vực của Kim và Tây Hạ có "Vũ bản tân thư", "Sĩ nông tất dụng", song đến nay đã thất truyền. Đương thời, kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm và làm vườn cũng rất phát triển, như lợi dụng "ngưu phẫn phúc bằng" (giàn che bằng phân bò) để đem dưa hấu đến trồng ở khu vực Đông Bắc khá lạnh giá.
Tiến bộ quan trọng nhất về số học đương thời là phát triển Thiên Nguyên thuật, Thiên Nguyên thuật tức là phương pháp lập phương trình bậc cao Trung Quốc cổ đại, trong đó "Thiên nguyên" tương đương với số chưa biết trong số học hiện đại. Năm 1248, vào thời kỳ Kim-Nguyên, số học gia Lý Dã trong các tác phẩm "Trắc viên hải kính", "Ích cổ diễn đoạn" đã giới thiệu có hệ thống việc dùng Thiên nguyên thuật để lập phương trình bậc hai. Triều đình Kim học tập Bắc Tống mà thành lập ra ty thiên giám để quan trắc thiên văn, số học đương thời cũng rất phát triển khiến cho sĩ nhân triều Kim mong muốn được soạn viết sách lịch. Triều đình Kim vào năm 1137 ban bố "Đại Minh lịch" do Dương Cấp biên viết (không phải Đại Minh lịch của Tổ Xung Chi). "Trùng tu Đại Minh lịch" do Triệu Tri Vi nghiên cứu biên thành vào năm 1180, độ chính xác của lịch này vượt quá "Kỉ nguyên lịch" của Tống. Cùng thời gian, Da Luật Lý cũng biên ra "Ất Mùi lịch", song độ chính xác không được như "Trùng tu đại minh lịch".
Ngoài ra, về mặt kiến trúc triều Kim cũng có sự phát triển lớn với việc xây dựng cầu Lư Câu, Trung Đô, hay Hoa Nghiêm tự ở Đại Đồng.
== Quân chủ ==
== Chú thích ==
== Văn hiến tham khảo ==
=== Thư tịch ===
《中國文明史·宋遼金時期》, 地球出版社編輯部, 地球出版社, ISBN 957-714-048-3
《中國通史·宋遼金元史》, 王明蓀, 九州出版社, ISBN, 978-751-080-061-0
《遼史金史西夏史》, 劉鳳翥、李錫厚、白濱, 香港中華书店, ISBN 962-231-934-3
《遼金西夏史》, 李錫厚、白濱, 上海人民出版社, ISBN 7-208-04392-2
Herbert Franke(傅海波)& Denis C. Twitchett(崔瑞德)編:《劍橋中國遼西夏金元史》(北京:中國社會科學出版社, 1998).
《征服王朝的時代》, 竺沙雅章, 稻香出版社, ISBN 4-311-30446-3
外山軍治著, 李東源譯:《金朝史研究》(牡丹江:黑龍江朝鮮民族出版社, 1988).
陳學霖:《金宋史論叢》(香港:中文大學出版社, 2003). |
bollywood.txt | Bollywood là tên gọi không chính thức được đặt cho ngành công nghiệp sản xuất phim tiếng Hindi có trụ sở tại Bombay, Ấn Độ. Cụm từ này đôi khi bị dùng sai lệch, để chỉ toàn bộ ngành công nghiệp phim tại Ấn Độ.
Tên Bollywood là sự kết hợp giữa Bombay, tên gọi cũ của thành phố Mumbai và Hollywood, kinh đô điện ảnh của Mỹ. Mặc cho một số người theo chủ nghĩa thuần túy thì cho rằng cách gọi trên hạ thấp giá trị của ngành công nghiệp này khi tên nó được đặt ăn theo, cái tên Bollywood vẫn cứ tồn tại và đã được đưa vào từ điển tiếng Anh Oxford.
== Lịch sử hình thành và phát triển ==
Bollywood và các trung tâm sản xuất phim khác (Tamil ở Chennai, Telegu ở Hyderabad, Bengal ở Kolkata và Malayalam ở Kerala) cùng nhau tạo nên một ngành công nghiệp phim phát triển mạnh tại Ấn Độ. Đây được coi là ngành công nghiệp sản xuất phim lớn nhất thế giới tính theo số lượng phim sản xuất hàng năm cũng như số vé bán ra tại các rạp chiếu phim. Bollywood đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa không chỉ ở Ấn Độ, tiểu lục địa Ấn mà còn lan rộng sang Trung Đông, một phần của châu Phi, một phần khu vực Đông Nam Á và cộng đồng người Nam Á trên toàn thế giới. Bollywood có lượng khán giả đông nhất tại các nước như Anh, Canada, Úc, Mỹ nơi có một lượng lớn người nhập cư gốc Ấn.
== Diễn viên ==
Các diễn viên hàng đầu hiện nay, theo chữ cái:
Nam: Aamir Khan, Abhishek Bachchan, Amitabh Bachchan, Ajay Devgan, Akshay Kumar, Emraan Hashmi, Farhan Akhtar, Hrithik Roshan, Imran Khan, Irrfan Khan, Ranbir Kapoor, Saif Ali Khan, Salman Khan, Sanjay Dutt, Shahrukh Khan,....
Nữ: Aishwarya Rai, Amrita Rao, Anushka Sharma, Asin (Asin Thottumkal), Ayesha Takia, Tabu, Bipasha Basu, Deepika Padukone, Freida Pinto, Genelia D'Souza, Jacqueline Fernandez, Juhi Chawla, Kajol, Kareena Kapoor, Katrina Kaif, Lara Dutta, Madhuri Dixit, Mahie Gill, Manisha Koirala, Mallika Sherawat, Prachi Desai, Preity Zinta, Priyanka Chopra, Raima Sen, Rani Mukerji, Riya Sen, Shriya Saran, Sonakshi Sinha, Sonam Kapoor, Sridevi,...
Các nam diễn viên của các trung tâm phim miền nam nổi tiếng như Mahesh Babu, Ram Charan Teja, Vijay,... các nữ diễn viên Amala Paul, Anushka Shetty, Hansika Motwani, Ileana D'Cruz, Kajal Aggarwal, Parvathy Omanakuttan, Samantha Ruth Prabhu, Shruti Haasan, Tamannaah,... cũng có một số phim cộng tác với Bollywood.
== Phim tiêu biểu ==
Bollywood chuyên sản xuất phim tiếng Hindi, cũng như một số trung tâm khác, sản xuất một số ít phim Ấn tiếng Anh.
Nhiều cuộc bình chọn khác nhau, một số phim của Bollywood tiêu biểu: 1. Sholay (1975), 2. Guide (1965), 3. Mother India (1957), 4. Mughal-e-Azam (1960), 5. Dilwale Dulhaniyaa Le Jaayenge DDLJ (1995), 6. Deewar (1975), 7. Lagaan (2001), 8. Hum Aapke Hain Kaun (1994), 9. Border (1997), 10. Taare Zameen Par (2007),... Không kể các phim đạo diễn hải ngoại.
Tuy nhiên phim đoạt nhiều giải quốc tế nhất là chùm phim The Apu Trilogy của Satyajit Ray thuộc dòng phim tiếng Bengal.
== Xem thêm ==
Cập nhật doanh thu phim Bollywood thị trường nội địa
== Tham khảo == |
gia tộc habsburg.txt | Họ Habsburg là tên của một hoàng tộc ở châu Âu, được xem là một trong những hoàng tộc có thế lực nhất trong lịch sử châu Âu vào thời kì cận đại. Dòng dõi Habsburg đã cai trị Áo, Bohemia và Hungary trong nhiều thế kỷ. Trong giai đoạn 1438-1806, gần như toàn bộ các hoàng đế La Mã Thần thánh dân tộc Đức đều thuộc về dòng họ Habsburg. Rất nhiều thành viên của gia tộc này đã lần lượt cai trị Bohemia, Anh, Đức, Hungary, Croatia, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và cả các quốc gia nhỏ độc lập tại Hà Lan và Ý.
Dòng họ Habsburg lấy tên từ Lâu đài Habsburg, một pháo đài xây dựng vào những năm 1020 bởi Bá tước Radbot vùng Klettgau, nay thuộc lãnh thổ Thụy Sĩ. Cháu của ông, Otto II, là người đầu tiên sử dụng tên "Bá tước Habsbourg" trong chức vị chính thức của mình.
Năm 1276, người cháu ở thế hệ thứ 17 của Bá tước Rabot,Rudolph nhà Habsburg, trở thành Hoàng đế Đức năm 1273. Triều đại nhà Habsburg chính thức bắt đầu năm 1276 khi Rudolph bắt đầu cai trị Áo, nơi gia tộc Habsburg còn nắm quyền lực đến tận năm 1918.
== Thư mục ==
Henry Bogdan: Histoire des Habsbourg: des origines à nos jours. Perrin, Paris 2005, ISBN 2-262-02376-X.
Michael Erbe: Die Habsburger (1493–1918). Eine Dynastie im Reich und in Europa. Kohlhammer, Stuttgart [u. a.] 2000 (Urban-Taschenbücher, Bd. 454: Geschichte/Kulturgeschichte), ISBN 978-3-17-011866-9 („setzt Karl Friedrich Kriegers Die Habsburger im Mittelalter fort").
Dorothy Gies McGuigan: Familie Habsburg 1273 bis 1918. Glanz und Elend eines Herrscherhauses. 10. Auflage, Berlin 2003, ISBN 3-548-33173-4 („kurzweilige Familienhistorie").
Heinz-Dieter Heimann: Die Habsburger – Dynastie und Kaiserreiche. 3. Auflage, Beck, München 2006 (Beck Wissen), ISBN 978-3-406-44754-9.
Lothar Höbelt: Die Habsburger. Aufstieg und Glanz einer europäischen Dynastie. Theiss, Stuttgart 2009, ISBN 978-3-8062-2196-1.
Karl-Friedrich Krieger: Die Habsburger im Mittelalter. Von Rudolf I. bis Friedrich III. 2. Auflage, Kohlhammer, Stuttgart 2004, ISBN 978-3-17-018228-8.
René Kollo: „Ein Kaiserschmarrn". Deutschland und die Habsburger, Lau-Verlag, 2010, ISBN 978-3-941400-31-3.
Bruno Meier: Ein Königshaus aus der Schweiz. Die Habsburger, der Aargau und die Eidgenossenschaft im Mittelalter. Baden/Schweiz 2008, ISBN 978-3-03919-069-0.
Dietmar Pieper, Johannes Saltzwedel: Die Welt der Habsburger: Glanz und Tragik eines europäischen Herrscherhauses. Spiegel-Buchverlag/DVA, Hamburg 2010, ISBN 978-3-421-04476-1.
Karl Vocelka, Lyenne Heller: Die Lebenswelt der Habsburger. Kultur- und Mentalitätsgeschichte einer Familie. Graz/Wien/Köln 1997.
Karl Vocelka, Lyenne Heller: Die private Welt der Habsburger. Leben und Alltag einer Familie. Graz/Wien/Köln 1998.
Walter Pohl, Karl Vocelka: Die Habsburger. Eine Europäische Familiengeschichte. Hrsg. von Brigitte Vacha. Graz/Wien/Köln 1992, ISBN 3-222-12107-9.
Adam Wandruszka: Das Haus Habsburg. Die Geschichte einer europäischen Dynastie. 7. Auflage, Herder, Wien [u. a.] 1989 (zuerst 1956), ISBN 3-210-24569-X („immer noch Standardwerk").
Biographische Nachschlagewerke
Brigitte Hamann (Hrsg.): Die Habsburger. Ein biographisches Lexikon. Wien/München 1996 (3. Auflage).
Richard Reifenscheid: Die Habsburger in Lebensbildern. Von Rudolf I. bis Karl I. Wien 1990 (4. Auflage).
== Xem thêm ==
Die Welt der Habsburger Virtuelle Ausstellung über die Geschichte der Habsburger von 1278–1918
Auf den Spuren der Habsburger Informationen zum 2008 Habsburger Gedenkjahr
private Seite Stammbaum der Habsburger (bis Maria Theresia)
The Hapsburg Monarchy (Wickham Steed, 1913) eLibrary Austria Project (englisch, E-Book)
== Chú thích == |
sơn mài.txt | Sơn mài được coi là một trong các chất liệu hội họa ở Việt Nam. Đây là sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn (nghề sơn ta) thủ công truyền thống của Việt Nam thành kỹ thuật sơn mài. Tuy nhiên, từ dùng để gọi sơn mài (tiếng Anh: lacquer) thường được hiểu sang các đồ dùng sơn mỹ nghệ của Nhật, Trung Quốc. Kỹ thuật mài là điểm khác biệt lớn giữa đồ thủ công sơn mỹ nghệ và tranh sơn mài Việt Nam.
Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai, v.v. vẽ trên nền vóc màu đen. Đầu thập niên 1930, những họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ thuật Đông Dương đã tìm tòi phát hiện thêm các vật liệu màu khác như vỏ trứng, ốc, cật tre, v.v. và đặc biệt đưa kỹ thuật mài vào tạo nên kỹ thuật sơn mài độc đáo để sáng tác những bức tranh sơn mài thực sự. Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài cũng xuất hiện từ đó. Tranh có thể được vẽ rồi mài nhiều lần tới khi đạt hiệu quả mà họa sĩ mong muốn. Sau cùng là đánh bóng tranh.
Người ta thường lưu ý rằng sơn mài có những điểm "ngược đời": muốn lớp sơn vừa vẽ khô, tranh phải ủ trong tủ ủ kín gió và có độ ẩm cao. Muốn nhìn thấy tranh lại phải mài mòn đi mới thấy hình.
Hầu hết họa sĩ đồng ý rằng: kỹ thuật vẽ sơn mài khó và có tính ngẫu nhiên nên nhiều khi các họa sĩ dày dặn kinh nghiệm cũng bất ngờ trước một hiệu quả đạt được sau khi mài tranh.
== Các nguyên liệu sử dụng trang trí ==
Một sản phẩm sơn mài sử dụng khá nhiều nguyên liệu: đó là sơn, màu và các nguyên liệu khác. Có thể kể ra đây một vài nguyên liệu phổ biến như:
Sơn: khai thác từ cây sơn, ngoài ra còn dùng dầu trẩu, dầu trám, nhựa thông và nhựa dó...
Màu: sơn mài cổ truyền dùng 2 màu cơ bản là cánh gián đen và đỏ, loại màu chế từ khoáng chất vô cơ (ví dụ: son) nên không bị phân huỷ trước ánh sáng và thời gian.
Các sản phẩm từ bạc như bạc thếp, bạc dán, bạc xay, bạc dầm...
Các sản phẩm từ vàng như vàng thếp...
Các vật liệu khác: vỏ trứng, vỏ trai, vỏ ốc, bột điệp...
Ngày nay, người ta đã chế tạo thành công các loại sơn công nghiệp có thể thay thế các loại sơn mài cổ truyền do có nhiều ưu điểm, nhất là dễ dàng trong sản xuất tranh và màu sắc thì vô cùng phong phú.
== Các công đoạn chính của công nghệ sơn mài ==
Có thể nói công nghệ sơn mài chỉ có nguyên lý chung nhưng khác biệt trong kinh nghiệm, kỹ thuật của từng cá nhân, từng gia đình cũng như nó được biến đổi kỹ thuật làm tranh khác với làm tượng, lại khác với trang trí đồ vật, sơn phủ hoàng kim... Có thể chia làm một số công đoạn chính sau: bó hom vóc, trang trí, mài và đánh bóng.
=== Bó hom vóc ===
Việc hom bó cốt gỗ (đồ vật cần sơn) ngày xưa thường được người làm sử dụng giấy bả, loại giấy chế từ gỗ dó nên rất dai, có độ bền vững hơn vải. Cách bó hom vóc được tiến hành như sau: dùng đất phù sa (ngày nay người thợ có thể dùng bột đá) trộn sơn ta giã nhuyễn cùng giấy bản rồi hom, chít các vết rạn nứt của tấm gỗ. Mỗi lớp sơn lại lót một lớp giấy (hoặc vải màn) sau đó còn phải đục mộng mang cá để cài và gắn sơn cho các nẹp gỗ ngang ở sau tấm vóc (ván gỗ) để chống vết rạn xé dọc tấm vải. Sau đó để gỗ khô kiệt mới hom sơn kín cả mặt trước, mặt sau. Công đoạn này nhằm bảo vệ tấm vóc không thể thấm nước, không bị mối mọt, không phụ thuộc môi trường làm gỗ co ngót. Xử lý tấm vóc càng kỹ, càng kéo dài tuổi thọ cho đồ vật cần sơn, mỗi tác phẩm sơn mài có tuổi thọ 400-500 năm.
=== Trang trí ===
Khi có được tấm vóc nói trên (hoặc các mô hình chạm khác bình hoa, các bộ đồ khác), người chế các món đồ phải làm các công đoạn gắn, dán các chất liệu tạo màu cho tác phẩm trước tiên như: vỏ trứng, mảnh xà cừ, vàng, bạc...sau đó phủ sơn rồi lại mài phẳng, tiếp đến dùng màu.
Với kỹ thuật sơn phủ tượng và đồ nội thất như: hương án, hoành phi, câu đối... người thợ phải làm trong phòng kín và quây màn xung quanh để tránh gió thổi các nguyên liệu: quỳ vàng, quỳ bạc, tránh bụi bám vào nước sơn còn ướt.
=== Mài và đánh bóng ===
Vì dầu bóng đã pha màu để vẽ nên độ bóng chìm trong cốt màu tạo thành độ sâu thẳm của tranh, do đó sau mỗi lần vẽ phải mài. Người xưa sử dụng lá chuối khô làm giấy nháp. Đến nay, nguyên tắc đánh bóng tranh lần cuối chưa có gì thay thế phương pháp thủ công vì loại tranh này không được phép phủ dầu bóng. Đó chính là điểm độc đáo của tranh sơn mài. Sự thành công của một bức tranh sơn mài phụ thuộc rất lớn vào công đoạn sau cùng. Có một số thứ để mài và đánh bóng như: than củi xoan nghiền nhỏ, tóc rối, đá gan gà v.v..
== Làng nghề sơn mài ==
Việc làm sơn mài luôn phụ thuộc thời tiết - nó rất thích hợp mùa xuân và những ngày mưa đầu hạ. Điều đó làm ta thấy sự phân bố làm nghề sơn mài không những chia theo khu vực sản phẩm mà còn có yếu tố liên kết phục vụ lẫn nhau.
Làng nghề sơn mài Đình Bảng (Tiên Sơn - Bắc Ninh) thường lấy quỳ vàng, quỳ bạc của làng Kiêu Kị (Gia Lâm), lấy giấy dó của làng Đông Cao, lấy vải màn của làng Đình Cả, lấy vóc hoặc sản phẩm chạm khắc của làng Phù Khê, lấy nguồn sơn thô của Phú Thọ, Yên Bái và lấy nguồn dầu trẩu, dầu trám của Lạng Sơn, Cao Bằng...
Hà Nội ngày nay vẫn là đầu mối tập trung nguyên liệu và các bậc chế tác nghệ thuật sơn mài nổi tiếng. Đa phần họ có gốc thành viên của các làng nghề truyền thống nhập cư Hà Nội và tạo nên 36 phố phường ngày trước.
== Sơn mài thời hiện đại ==
Hiện nay, tranh sơn mài sử dụng nguyên liệu là sơn Nhật được dùng khá phổ biến. Do sơn ta có hạn chế là dễ gây tác động phụ cho người sử dụng (bị "sơn ăn"), ngoài ra, khi dùng sơn ta, tranh lại phụ thuộc vào thời tiết khá nhiều. Khi thời tiết có độ ẩm cao thì sơn càng nhanh khô, nếu thời tiết khô ráo (độ ẩm thấp) thì sơn rất lâu khô. Do vậy, sơn ta ít khi được dùng tại các nước có khí hậu khô ráo. Trong khi đó, sơn Nhật lại nhanh khô và làm cho việc ai đó muốn vẽ tranh ở nước ôn đới cũng có thể thực hiện được. Nhưng khi sử dụng sơn Nhật, để tranh được bóng, bây giờ người ta thường dùng một lớp sơn trong (sơn cánh gián) phủ ra bên ngoài tranh, còn nếu tranh sơn mài dùng sơn ta, chỉ cần lấy nắm tóc rối xoa lên tranh, hoặc dùng bàn tay có độ ẩm (có ít mồ hôi) xoa lên tranh, tranh sẽ rất bóng. Tuy nhiên, tranh sơn màu dùng sơn ta vẫn được ưa chuộng hơn vì sự công phu trong quá trình làm tranh và khi nhìn, nó tạo độ sâu cho bức tranh hơn.
Sơn mài ngày nay không chỉ còn ứng dụng sản xuất tranh sơn mài, hoành phi hay câu đối... nó còn được phát triển để sản xuất các mặt hàng nội thất cao cấp như bàn ghế, giường tủ... Gốm sơn mài hiện là mặt hàng được ưa chuộng tại nhiều nước.
== Các họa sĩ nổi tiếng với tranh sơn mài ==
Trước thập niên 1930, người ta chỉ dùng sơn ta trong trang trí đồ thờ cúng, làm hàng mỹ nghệ. Vào thời gian này, một số họa sĩ Việt Nam đầu tiên đang học như Trần Đình Thọ, Nguyễn Gia Trí, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn và nghệ nhân Đinh Văn Thành đã mạnh dạn thử nghiệm đưa kỹ thuật sơn ta vào làm tranh nghệ thuật.
== Những bức tranh sơn mài nổi tiếng ==
Dọc mùng (1939) của Nguyễn Gia Trí (tác phẩm tiêu biểu cho tranh sơn mài đầu thế kỷ 20)
Nam Bắc một nhà (1961) của Nguyễn Văn Tỵ (tác phẩm tiêu biểu cho tranh sơn mài sau Cách mạng)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sơn then và vóc cổ truyền-Báo Khoa học công nghệ
Vẫn còn hoạ sĩ làm tranh sơn mài
Triển lãm tranh của họa sĩ Việt Nam tại Mỹ
Làng nghề mỹ nghệ: Làng tranh sơn mài
Tranh sơn mài Đình Bảng - Hồn ở đâu bây giờ? |
francis crick.txt | Francis Harry Compton Crick OM FRS (8 tháng 6 năm 1916 - 28 tháng 7 năm 2004) là một nhà sinh vật học, vật lý học phân tử người Anh, ông cũng là một nhà bác học nghiên cứu về hệ thần kinh. Francis Crick được biết đến nhiều nhất với công trình đồng phát hiện ra cấu trúc phân tử ADN năm 1953. Ông cùng James D. Watson và Maurice Wilkins đã đồng nhận giải Nobel về sinh lý và y khoa.
Dựa trên một nghiên cứu nhiễu xạ tia X của Rosalind Franklin, Crick và Watson đã chỉ ra rằng phân tử DNA có hình dạng như một cầu thang xoắn ốc. Bốn nhân tố hoá học khác nhau tạo nên các "bậc thang" trong chuỗi xoắn kép và lặp lại với một trình tự đa dạng, tạo nên mã di truyền. Mã di truyền có trong gen – đơn vị mã hoá cho các protein. Protein chính là chất đảm nhiệm hầu hết các chức năng của một hệ thống sống.
Crick là một nhà sinh vật học phân tử có đóng một vị trí quan trọng trong nghiên cứu về giải mã di truyền.
== Chú thích == |
fatsa.txt | Fatsa là một huyện thuộc tỉnh Ordu, Thổ Nhĩ Kỳ. Huyện có diện tích 300 km² và dân số thời điểm năm 2007 là 96135 người, mật độ 320 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
“Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. |
an dương vương.txt | An Dương Vương (chữ Hán: 安陽王), tên thật là Thục Phán (chữ Hán: 蜀泮), là một vị vua đã lập nên đất nước Âu Lạc và cũng là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này. Âu Lạc là nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang đầu tiên của các vua Hùng.
Niên đại trị vì của An Dương Vương được các tài liệu ghi khác nhau. Sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho rằng thời gian ông làm vua kéo dài 50 năm, từ 257 TCN đến 208 TCN.
Các sử gia hiện đại căn cứ vào Sử ký Tư Mã Thiên là tài liệu gần thời đại nước Âu Lạc nhất, cho rằng An Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại từ khoảng 208 TCN đến 179 TCN, tức là gần 30 năm.
== Nguồn gốc ==
=== Người Âu Việt ===
Cùng tồn tại ở vùng Bắc Bộ Việt Nam và phía Tây tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) vào thời kỳ Hồng Bàng, có các bộ tộc Âu Việt sống xen kẽ với người Lạc Việt. Hai bộ lạc này từ lâu đã có quan hệ gần gũi với nhau. Nhà nước Văn Lang do Hùng Vương đứng đầu cai trị Lạc Việt. Thục Phán, người Âu Việt, là vua người Âu Việt đã đánh bại Hùng Vương vua nước Văn Lang đổi quốc hiệu thành Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô tại Phong Khê (nay là vùng Cổ Loa, huyện Đông Anh - Hà Nội). Ca dao:
Ai về qua huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa thành Thục vương...
=== Con cháu nước Thục ở Trung Hoa ===
Có giả thuyết cho rằng gia đình Thục Phán là hậu duệ của các vua Khai Minh nước Thục thời Chiến Quốc, chạy về phía Nam để tránh bạo loạn vào cuối thời Chiến Quốc và khi nhà Tần nổi lên. Thục Phán đã đến vùng lãnh thổ của người Âu Việt (nay là phía Tây và Nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và đông bắc Việt Nam) gây dựng lực lượng quân sự tại đây.
Sách "Ngược dòng lịch sử" của GS Trần Quốc Vượng cho rằng sau khi nước Thục bị Tần diệt, con nhỏ vua Thục là Thục Chế được lập lên ngôi, lưu vong về phía đông nam. Tuy nhiên qua thế hệ Thục Chế vẫn phải lẩn trốn trước sự truy nã của Tần và không có cơ hội khôi phục nước Thục cũ. Cuối cùng tới con Thục Chế là Thục Phán thì hình thành quốc gia nằm ở phía bắc nước Văn Lang của họ Hồng Bàng.
Tuy nhiên, giả thuyết này bị nhiều nhà nghiên cứu nghi ngờ. Khoảng cách từ Tứ Xuyên tới miền Bắc Việt Nam là khoảng 3.000 km*, và khoảng thời gian từ khi nước Thục bị Tần diệt (316 TCN) đến khi An Dương Vương lên ngôi ở Việt Nam (257 TCN) là gần 60 năm. Trong thời gian ngắn như vậy, khó có chuyện dòng dõi vua Thục có thể di cư xa tới 3.000 km, vượt qua nhiều đồi núi hiểm trở để tới lập quốc ở miền Bắc Việt Nam.
=== Nghi vấn ===
Mỗi giả thuyết nêu trên đều có những chỗ đáng ngờ và chỗ đáng ngờ chung là: Cho tới đầu công nguyên thời Hai Bà Trưng, người Bách Việt vẫn chưa có họ. Do đó họ Thục của An Dương Vương là một vấn đề nghi vấn, không rõ đây có phải tên họ do đời sau gán cho An Dương Vương hay không. Bộ sử lâu đời nhất và gần thời An Dương Vương nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới An Dương Vương hay họ Thục.
Tựu chung, cả hai thuyết đều chưa được chứng minh bằng các di tích khảo cổ hoặc văn tự ghi chép lại. Song có thể khẳng định: An Dương Vương là lãnh đạo người Âu Việt đóng ở phía bắc nước Văn Lang. Sau một thời gian, ông đã lãnh đạo người Âu Việt tiêu diệt nước Văn Lang, thống nhất cả 2 nhóm Âu Việt và Lạc Việt dưới 1 quốc gia, đây chính là tổ tiên của người Kinh ở Việt Nam ngày nay.
== Lịch sử và truyền thuyết ==
=== Lập quốc ===
Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên gọi là Mỵ Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ cầu hôn. Vua Hùng muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mỵ Nương, Thục Vương căm giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đời cháu Thục Vương là Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước Văn Lang. Nhưng Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Hùng Vương nói: Ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo sang đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất. Giáp Thìn, năm thứ 1 [257 TCN], vua đã thôn tính được nước Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc Bộ máy nhà nước của nước Âu Lạc không có nhiều thay đổi so với bộ máy nhà nước thời Văn Lang. Đứng đầu trong bộ máy hành chính ở trung ương vẫn là Vua và Lạc Hầu Lạc Tướng. Đứng đầu các bộ vẫn là Lạc Tướng. Đứng đầu các chiềng, chạ vẫn là Bồ chính. Tuy nhiên, ở thời An Dương Vương quyền hành của nhà nước cao hơn và chặt chẽ hơn. Vua có quyền thế hơn trong việc cai trị đất nước.
=== Chống quân Tần ===
Cùng thời kỳ này, bên Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sáp nhập 6 nước sau nhiều năm hỗn chiến thời Chiến Quốc. Ông tiếp tục tham vọng xâm chiếm Bách Việt, vùng đất đai của các bộ tộc Việt ở phía nam Trung Quốc và bắc Việt Nam ngày nay. Đạo quân xâm lược nhà Tần do Đồ Thư chỉ huy đã đánh chiếm nhiều vùng đất của Bách Việt, nhập vào lãnh thổ Trung Hoa. Khi vào lãnh thổ phía Đông Bắc nước Âu Lạc, quân Tần gặp phải cuộc kháng chiến trường kì của người Việt do Thục Phán chỉ huy.
Theo cuốn Lịch sử Việt Nam (Viện sử học, 1991): Năm 218 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng huy động 50 vạn quân chia làm 5 đạo đi chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Việt, đạo quân thứ nhất phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng, Trung Quốc ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, Đồ Thư thống lĩnh đã vào được đất Tây Âu, giết tù trưởng, chiếm đất rồi tiến vào Lạc Việt. Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn làm lãnh tụ chung chỉ huy cuộc kháng chiến này. Khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt, Thục Phán lãnh đạo nhân dân chống giặc. Quân Tần đi đến đâu, nhân dân Việt làm vườn không nhà trống đến đó. Quân Tần dần lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã kiệt sức, vì thiếu lương, thì quân dân Việt, do Thục Phán chỉ huy, mới bắt đầu xuất trận. Đồ Thư đã phải bỏ mạng trong trận này. Mất chủ tướng, quân Tần hoang mang mở đường tháo chạy về nước. Sau gần 10 năm kháng chiến, nhân dân Âu Việt – Lạc Việt giành được độc lập. Thục Phán củng cố và xây dựng lại đất nước.
Còn theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2 thì: đạo thứ nhất của quân Tần đã đi bằng thuyền nhỏ theo sông Tả Giang, từ Ninh Minh lên Thủy Khẩu, Tà Lùng đến Cao Bình. Thục Phán sai tướng Lý Bính phục quân ở đoạn Hát Gia, khi quân Tần tiến đến chỗ này, bị quân Thục thả gỗ, ném đá, phóng lao, bắn tên xuống thuyền làm cho giặc bị thương, bị chết vô số kể. Lại nghe tin vua Tần Thủy Hoàng đã chết, tướng Đồ Thư hoảng hốt, bèn cho rút quân. Ở khu vực Hát Gia hiện nay, người dân đã tình cờ phát hiện ra mũi tên đồng có một ngạnh đã han rỉ ở bãi cát Soóc Luông hay một số kim khí ở Soóc Lẩc. Tuy nhiên, để tìm thấy hiện vật minh chứng về các sự kiện lịch sử liên quan đến Thục Phán ở Cao Bằng phải tiến hành các bước nghiệp vụ khảo sát thực địa sâu hơn.
=== Xây thành Cổ Loa ===
Sau chiến thắng trước quân Tần, An Dương Vương quyết định giao cho tướng Cao Lỗ xây thành Cổ Loa nhằm củng cố thêm khả năng phòng thủ quân sự. Tục truyền rằng thành xây nhiều lần nhưng đều đổ. Sau có thần Kim Quy hiện lên, bò quanh bò lại nhiều vòng dưới chân thành. Thục An Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân Rùa vàng. Từ đó, thành xây không đổ nữa. An Dương Vương cũng phát triển thuỷ binh và cho chế tạo nhiều vũ khí lợi hại, tạo lợi thế quân sự vững chắc cho Cổ Loa.
Di tích của thành Cổ Loa vẫn còn lưu lại cho đến nay, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía đông bắc. Đền thờ An Dương Vương nằm ở trung tâm di tích này. Các nghiên cứu khảo cổ học tại đây vẫn tiếp tục làm sáng tỏ các thời kỳ lịch sử mà thành đã trải qua.
=== Mắc kế thông gia và sụp đổ ===
xxxxnhỏ|trái|200px|Tượng Thục Phán bằng đồng bên trong Đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa Ít lâu sau, Triệu Đà từ quận Nam Hải (Quảng Đông bây giờ) sang đánh Âu Lạc. Nhờ vào chuẩn bị quân sự tốt, An Dương Vương đã chống cự được hiệu quả. Triệu Đà buộc phải dùng kế nội gián bằng cuộc kết hôn giữa con trai mình, Trọng Thủy, và con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Sau khi nắm được bí mật quân sự của An Dương Vương thông qua con trai, Triệu Đà đã thành công trong việc chinh phục Âu Lạc, buộc An Dương Vương bỏ chạy và tự tử, kết thúc thời kỳ An Dương Vương.
Về năm mất của triều đại An Dương Vương, các tài liệu ghi chép khác nhau. Đa phần sách sử Việt Nam (Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Việt sử Tiêu án) đều chép là An Dương Vương mất nước năm 208 TCN. Sách giáo khoa của Việt Nam căn cứ vào Sử Ký của Tư Mã Thiên ghi nước Âu Lạc mất năm 179 TCN. Sở dĩ như vậy vì Sử Ký chép là Triệu Đà diệt nước Âu Lạc "Sau khi Lã Hậu chết", mà Lã Hậu chết năm 180 TCN, do đó nước Âu Lạc mất khoảng năm 179 TCN. Truyền thuyết An Dương Vương, Nỏ Thần, và con trai Triệu Đà là Trọng Thuỷ ở rể nước Việt có nhiều chỗ không hợp với Sử Ký của Tư Mã Thiên, mặc dầu Sử Ký là nguồn tư liệu sớm nhất mà các nhà viết sử Việt Nam có được để tham khảo.
Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục chép dẫn theo sách Thái bình hoàn vũ ký, phần Nam Việt chí của Nhạc Sử nhà Tống: An Dương Vương cai trị Giao Châu, Úy Đà đem quân sang đánh. An Dương Vương có Cao Thông (Cao Lỗ) giúp đỡ, chế ra cái nỏ, bắn một phát giết chết quân [Nam] Việt hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn. Triệu Đà biết rõ duyên cớ, liền lui về đóng ở Vũ Ninh, rồi cho con là Trọng Thủy sang làm tin, xin hòa hảo với nhau. Về sau, An Dương Vương đối xử với Cao Thông không được hậu, Cao Thông bỏ đi. An Dương Vương có người con gái là Mỵ Châu, thấy Trọng Thủy đẹp trai, liền phải lòng. Về sau, Trọng Thủy dụ dỗ Mỵ Châu đòi xem nỏ thần, Mỵ Châu đem cho xem. Trọng Thủy nhân đấy bẻ hỏng cái lẫy nỏ, rồi lập tức sai người ruổi về báo tin cho Triệu Đà. Triệu Đà lại đem quân sang đánh úp. Khi quân Triệu kéo đến, An Dương Vương đem nỏ ra bắn như trước, nhưng nỏ hỏng rồi! Quân Thục chạy tan tác. Triệu Đà phá được Thục. Ngày nay, mẫu truyện lịch sử này đã được liệt vào một trong những dạng chiến tranh gián điệp rất sớm của lịch sử Việt Nam.
== Thẻ ngọc "An Dương hành bảo" ==
Thẻ ngọc "An Dương hành bảo" được tìm thấy ở thành phố Quảng Châu thuộc lãnh thổ nước Nam Việt thời cổ. Thẻ ngọc có hình dạng gần chữ nhật, bốn góc thẻ khắc bốn chữ "安陽行寶" (An Dương hành bảo), khổ chữ to hơn khổ chữ phía trong mặt thẻ gồm 124 chữ lối cổ trựu. Bản khắc toàn văn sáu mươi (Giáp Tý), (60 chữ can chi). Xung quanh trang trí khắc đường vằn sóng lượn. Do bị chôn lâu ngày dưới đất nên màu vàng hơi hung hung đỏ. Mặt trái thẻ trang trí đường cong hình móc câu. Nét chạm trên thẻ ngọc An Dương thô. Nhà nghiên cứu "Sở giản" Dư Duy Cương ở thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc cho rằng: "Ngọc bảo An Dương này là của An Dương cổ đại Việt Nam. An Dương hành bảo có lỗ đeo, đây là loại ngọc phiến người xưa đeo làm vật báu hộ thân, trừ tà để được an lành". Thẻ ngọc này đào được ở phía Đông Nam cách thành phố Quảng Châu 18km ở trên hạ lưu sông Việt Giang do một nông dân khi cuốc đất đào được ở sườn núi năm 1932. Những thẻ ngọc đào được ở Quảng Châu khoảng 200 thẻ, trong đó có thẻ ngọc khắc chữ An Dương. Khi Nam Việt đánh bại Âu Lạc, các báu vật của Âu Lạc là chiến lợi phẩm nên mới đào được ở Quảng Châu.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Viện Sử học (1988), Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Đại Việt sử ký toàn thư, quyển I
^ Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bách Bộc xuất bản. Giấy phép xuất bản số 3650/BTT/PHNT ngày 2/8/1971. Bản điện tử do talawas thực hiện
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
An Dương Vương tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Khảo cổ tại Cổ Loa
Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động
Câu chuyện lịch sử và truyền thuyết thời An Dương Vương
Trọng Thủy - Mỵ Châu và bài học cảnh giác xâm lược |
michael jackson.txt | Michael Joseph Jackson (29 tháng 8 năm 1958 – 25 tháng 6 năm 2009) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm, vũ công và diễn viên người Mỹ. Ông được mệnh danh là "Vua nhạc pop" hay "Ông hoàng nhạc pop" (tiếng Anh: "King of pop"). Với những đóng góp không ngừng nghỉ của ông đối với ngành công nghiệp âm nhạc, khiêu vũ, thời trang cùng những biến động xung quanh cuộc sống cá nhân, Jackson đã trở thành một trong những cái tên phổ biến nhất nền văn hóa nghệ thuật toàn cầu trong hơn bốn thập kỷ qua.
Là người con thứ 8 trong gia đình nhà Jackson, ông bắt đầu sự nghiệp âm nhạc chuyên nghiệp từ năm lên 11 với vị trí thành viên út trong nhóm nhạc The Jackson 5 và khởi nghiệp đơn ca năm 1971. Trong những năm đầu của thập niên 80, Jackson được xem là nghệ sĩ giải trí thành công nhất. Các video ca nhạc của ông như "Beat It", "Billie Jean" và "Thriller" đã phá vỡ rào cản chủng tộc và nâng tầm giá trị của video ca nhạc như một hình thức nghệ thuật và công cụ quảng cáo. Sự phổ biến của những video này sau đó đã giúp kênh truyền hình âm nhạc non trẻ lúc bấy giờ là MTV trở nên nổi tiếng. Những video sau này như "Black or White" hay "Scream" tiếp tục khẳng định vị trí của ông trên MTV trong thập niên 1990, cũng như xây dựng danh tiếng như một nghệ sĩ lưu diễn đơn ca. Với những màn biểu diễn trên sân khấu hay trong video ca nhạc, Jackson giúp phổ biến nhiều màn vũ đạo phức tạp như robot hay moonwalk. Thêm vào đó, giọng ca và phong cách hát đặc biệt của ông cũng ảnh hưởng lớn tới nhiều thế hệ nghệ sĩ nhạc hip-hop, pop và R&B đương đại sau này.
Thriller phát hành năm 1982 là album bán chạy nhất mọi thời đại. Những album khác của Jackson, như: Off the Wall (1979), Bad (1987), Dangerous (1991) và HIStory (1995) cũng nằm trong số những đĩa nhạc bán chạy nhất thế giới. Là một trong số ít nghệ sĩ hai lần được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, Jackson còn đạt nhiều thành tựu nổi bật khác như hàng loạt kỷ lục Guinness, 13 giải Grammy, 13 đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ–nhiều hơn bất cứ nam ca sĩ đơn ca nào trong kỷ nguyên Hot 100 và trên 400 triệu album được tiêu thụ trên toàn thế giới. Jackson đã giành hàng trăm giải thưởng, khiến ông trở thành nghệ sĩ thu âm được trao thưởng nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng. Jackson là nghệ sĩ đầu tiên có một loạt các ca khúc nằm trong top 10 Billboard Hot 100 trong 5 thập kỷ khác nhau khi "Love Never Felt So Good" đạt vị trí thứ 9 vào ngày 21 tháng 5 năm 2014. Jackson thường xuyên tham gia các sự kiện tôn vinh chủ nghĩa nhân đạo của mình; vào năm 2000, sách kỷ lục Guinness công nhận ông đã ủng hộ hơn 39 tổ chức từ thiện, nhiều hơn bất cứ nghệ sĩ giải trí nào khác.
Tuy nhiên, những vấn đề xung quanh đời tư, trong đó có sự thay đổi ngoại hình và lối cư xử, đã trở thành tâm điểm của dư luận và làm tổn hại tới hình ảnh của Jackson. Giữa thập niên 90, ông bị buộc tội xâm hại tình dục trẻ em, nhưng sau đó được tuyên trắng án vì không đủ chứng cứ. Năm 2005, một lần nữa Jackson phải hầu tòa vì lời cáo buộc tội danh tương tự; sau nhiều lần trì hoãn và xét xử rắc rối, Jackson được tuyên bố trắng án với tất cả các tội danh. Trong khi chuẩn bị cho hàng loạt buổi hòa nhạc trở lại mang tên This Is It, Jackson qua đời do nhiễm độc cấp tính propofol và benzodiazepine vào ngày 25 tháng 6 năm 2009, sau khi tim ngừng đập. Tòa Thượng thẩm Los Angles (Mỹ) liệt cái chết của Jackson như một vụ giết người và bác sĩ riêng của ông bị kết tội ngộ sát. Cái chết của Jackson gây nên sự tiếc nuối trên toàn cầu và lễ tưởng niệm của ông được truyền hình trực tiếp công khai trên toàn thế giới. Forbes xếp Jackson là nhân vật nổi tiếng quá cố giàu có nhất, danh hiệu mà ông đã giữ vững suốt 6 năm liền, với thu nhập 115 triệu đô-la Mỹ.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
=== 1958–75: Tuổi thơ và The Jackson 5 ===
Michael Joseph Jackson sinh ngày 29 tháng 8 năm 1958. Ông là con thứ 8 trong số 10 người con trong một gia đình thuộc tầng lớp lao động người Mỹ gốc Phi, sinh sống trong một căn nhà 3 phòng tại đường Jackson, thuộc thành phố công nghiệp Gary, Indiana, một phần của vùng đô thị Chicago. Mẹ của ông, Katherine Esther Scruse là một tín đồ nhiệt thành của giáo phái Nhân chứng Giê-hô-va. Bà từng mong muốn trở thành một ca sĩ nhạc đồng quê và dân ca, chơi clarinet và dương cầm, nhưng phải làm bán thời gian tại hãng Sears để hỗ trợ gia đình. Cha của ông, Joseph Walter "Joe" Jackson làm thuê cho Tổng công ty Thép Hoa Kỳ. Joe từng là một võ sĩ và thường biểu diễn với một ban nhạc R&B có tên là "The Falcons" để trang trải thu nhập cho gia đình. Michael lớn lên cùng 3 chị em gái (Rebbie, La Toya và Janet) và 5 anh em trai (Jackie, Tito, Jermaine, Marlon và Randy). Người anh thứ sáu, Brandon, là anh em sinh đôi với Marlon, đã mất khi vừa kịp chào đời.
Michael có một mối quan hệ khó khăn với cha của mình, Joe. Vào năm 2003, Joe thừa nhận thường xuyên đánh Jackson khi còn nhỏ. Joe còn lăng mạ con trai mình, thường bảo Jackson là đứa trẻ có "mũi to". Jackson khẳng định mình bị chính người cha ruột hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần, trải qua những buổi tập luyện mệt mỏi không ngớt, những trận đòn roi và chửi rủa, mặc dù ông cũng ghi nhận việc kỷ luật nghiêm ngặt của cha mình đóng một vai trò lớn trong sự thành công của mình. Chia sẻ một cách cởi mở về tuổi thơ của mình trong một buổi phỏng vấn cùng Oprah Winfrey vào tháng 2 năm 1993, Jackson thừa nhận thời thơ ấu của mình rất cô độc và bị cô lập. Sự bất mãn về ngoại hình, những lần gặp ác mộng và chứng mất ngủ kinh niên của Jackson, xu hướng vâng lời một cách thái quá, nhất là với cha của ông, cùng tính cách trẻ con trong suốt thời gian trưởng thành, là những điều bộc phát từ ảnh hưởng của sự ngược đãi ông phải chịu đựng thời thơ ấu. Trong một cuộc phỏng vấn với Martin Bashir trong chương trình Living with Michael Jackson vào năm 2003, Jackson thừa nhận mình bị cha làm tổn thương khi còn nhỏ, gợi nhớ lại khi Joseph ngồi trên một chiếc ghế, trên tay là cái thắt lưng da trong khi các con đang luyện tập, ông nói "nếu bạn không làm đúng những gì bố tôi muốn, ông ta sẽ xé xác bạn." Cha mẹ của Jackson không đồng tình với những lời cáo buộc trên, khi Katherine khẳng định tuy hiện nay được xem là một hành động lạm dụng, nhưng trước đây đòn roi là một cách thông thường để kỷ luật con trẻ. Jackie, Tito, Jermaine và Marlon cũng cho rằng cha mình không hề lạm dụng mà chỉ là hiểu lầm.
Vào năm 1964, Michael và Marlon gia nhập The Jackson Brothers—một ban nhạc do cha họ thành lập, bao gồm các anh em trai Jackie, Tito và Jermaine—trong vai trò nhạc sĩ hỗ trợ chơi conga và tambourine. Vào năm 1965, Jackson bắt đầu hát chính cùng anh trai Jermaine, với tên nhóm được đổi sang The Jackson 5. Năm kế đến, nhóm thắng giải tại một cuộc thi tìm kiếm tài năng lớn, khi Jackson trình diễn điệu nhảy theo bài hát ăn khách năm 1965 của Robert Parker, "Barefootin'". Từ năm 1966 đến 1968, ban nhạc chu du khắp vùng Trung Tây, thường biểu diễn mở màn cho những nghệ sĩ như Sam & Dave, the O'Jays, Gladys Knight và Etta James tại nhiều câu lạc bộ và nơi tụ tập của người da màu mà người ta thường gọi bằng cái tên "chitlin' circuit". Nhóm cũng xuất hiện tại các hộp đêm và quầy rượu, nơi thường dành cho các tiết mục thoát y; hội trường địa phương và tại trường trung học. Vào tháng 8 năm 1967, trong lúc lưu diễn tại bờ Đông Hoa Kỳ, nhóm giành được một chương trình biểu diễn hàng tuần ở Apollo Theater, Harlem.
The Jackson 5 thu âm nhiều bài hát, trong đó có "Big Boy" (1968), đĩa đơn đầu tiên của họ, cùng Steeltown Records, một hãng thu âm tại Gary, Indiana; trước khi ký kết cùng hãng đĩa Motown vào năm 1969. The Jackson 5 rời khỏi Gary vào năm 1969 và dọn đến khu vực Los Angeles, nơi họ tiếp tục thu âm cho Motown. Rolling Stone sau này mô tả Michael thời non trẻ là một "thần đồng" với "khả năng âm nhạc trời phú," viết rằng ông "nhanh chóng trở thành người thu hút và giọng ca chính." Nhóm mở ra một kỷ lục xếp hạng mới, khi phát hành 4 đĩa đơn đầu tay "I Want You Back" (1969), "ABC" (1970), "The Love You Save" (1970) và "I'll Be There" (1970)—đều đạt vị trí quán quân trên Billboard Hot 100. Vào tháng 5 năm 1971, gia đình Jackson dời đến một ngôi nhà lớn hơn tại Encino, California, nơi Michael trưởng thành từ ca sĩ nhí sang một thần tượng tuổi thiếu niên. Khi Jackson chuyển sang sự nghiệp đơn ca vào thập niên 1970, ông tiếp tục gắn liền với Jackson 5 và Motown. Giữa năm 1972 và năm 1975, Michael phát hành 4 album phòng thu cùng Motown: Got to Be There (1972), Ben (1972), Music & Me (1973) và Forever, Michael (1975). "Got to Be There" và "Ben", các bài hát chủ đề trích từ hai album đơn ca đầu tay của Michael, là những đĩa đơn thành công, cùng phần trình bày lại bài hát "Rockin' Robin" của Bobby Day.
The Jackson 5 sau này được mô tả là "một ví dụ điển hình cho những nghệ sĩ da màu bứt phá thành công." Doanh số của nhóm bắt đầu sụt giảm vào năm 1973, khi mối quan hệ giữa ban nhạc và Motown trở nên xấu đi và hãng đĩa từ chối nhiều yêu cầu sáng tạo của họ. Dù vậy, The Jackson 5 tiếp tục giành thêm nhiều đĩa đơn đạt top 40 nữa, bao gồm đĩa đơn đạt top 5 "Dancing Machine" (1974), trước khi chấm dứt với Motown vào năm 1975.
=== 1975–81: Chuyển sang hãng Epic và Off the Wall ===
Vào tháng 6 năm 1975, The Jackson 5 ký hợp đồng với Epic Records, một hãng đĩa thuộc biên chế của CBS Records và đổi tên thành The Jacksons. Em trai Randy chính thức gia nhập ban nhạc vào khoảng thời gian này, trong khi Jermaine chọn ở lại với hãng Motown và theo đuổi sự nghiệp đơn ca. The Jacksons tiếp tục lưu diễn quốc tế và phát hành thêm 6 album nữa từ năm 1976 đến năm 1984. Michael, nhạc sĩ chính của nhóm trong thời gian này, đã viết nên nhiều nên bài hát thành công như "Shake Your Body (Down to the Ground)" (1979), "This Place Hotel" (1980) và "Can You Feel It" (1980). Jackson bắt đầu nghiệp diễn xuất vào năm 1978, khi ông đóng vai bù nhìn rơm Scarecrow trong The Wiz, một bộ phim của đạo diễn Sidney Lumet cùng với Diana Ross, Nipsey Russell và Ted Ross. Phim là một thất bại lớn về doanh thu. Trên phim trường, Jackson gặp gỡ Quincy Jones, người biên tập phần âm nhạc cho bộ phim và Jones đồng ý sản xuất album đơn ca tiếp theo của Jackson, Off the Wall. Năm 1979, Jackson bị gãy mũi khi đang thực hiện một vũ đạo phức tạp. Tuy nhiên, cuộc phẫu thuật không thành công như dự kiến; ông phàn nàn vì khó thở và có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của mình. Ông đã liên lạc với Bác sĩ Steven Hoefflin, người thực hiện cuộc sửa mũi thứ hai và những lần tiếp theo sau này của Jackson.
Off the Wall (1979), một thành quả hợp tác giữa Jackson và Jones, đã giúp định hình một Jackson từ âm nhạc bubblegum pop thuở nhỏ sang âm nhạc chững chạc, trưởng thành, phù hợp với thị hiếu của nhiều thành phần lứa tuổi hơn. Ngoài Jackson, các nhạc sĩ khác xuất hiện trong album bao gồm Rod Temperton, Stevie Wonder và Paul McCartney. Album đạt thành công trên toàn thế giới và lập kỷ lục trở thành album đầu tiên ra mắt 4 đĩa đơn nằm trong top 10 tại Hoa Kỳ, trong đó có đĩa đơn quán quân "Don't Stop 'Til You Get Enough" và "Rock With You". Album này vươn tới vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng album Billboard 200 và hiện đã tiêu thụ hơn 20 triệu bản trên thế giới.
Vào năm 1980, Jackson thắng 3 giải thưởng Âm nhạc Mỹ: "Album Soul/R&B được yêu thích nhất" cho Off the Wall, "Nam nghệ sĩ Soul/R&B được yêu thích nhất" và "Bài hát Soul/R&B được yêu thích nhất" cho "Don't Stop 'Til You Get Enough". Ông cũng giành giải Billboard Year-End cho "Nghệ sĩ da màu xuất sắc nhất" và "Album da màu xuất sắc nhất"; giải Grammy đầu tiên trong sự nghiệp cho "Trình diễn giọng R&B nam xuất sắc nhất" cùng "Don't Stop 'Til You Get Enough" vào năm 1979. Dù đạt thành công, Jackson lại cảm thấy Off the Wall có thể mang sức ảnh hưởng rộng rãi hơn nữa và xác định sản phẩm tiếp theo phải thành công ngoài sức tưởng tượng. Vào năm 1980, ông vẫn đảm bảo mức tiền bản quyền cao nhất trong ngành công nghiệp âm nhạc lúc bấy giờ: 37% tiền lợi nhuận album.
=== 1982–83: Thriller và Motown 25: Yesterday, Today, Forever ===
Vào năm 1982, Jackson thu âm ca khúc "Someone in the Dark" cho album nhạc truyện của bộ phim E.T the Extra-Terrestrial. Bài hát do Quincy Jones sản xuất này giành một giải Grammy cho "Album xuất sắc nhất dành cho trẻ em" vào năm 1983. Cuối năm đó, Jackson phát hành album Thriller, giúp ông giành thêm 7 giải Grammy, 8 giải thưởng Âm nhạc Mỹ và Jackson là người trẻ nhất đoạt Giải Merit. Thriller vẫn đang là album bán chạy nhất trong lịch sử âm nhạc, với số lượng bán ra ước tính 65 triệu bản; chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, đây là album đầu tiên giành được 32 chứng nhận Bạch kim, tương đương 32 triệu bản tiêu thụ. Album góp mặt trong top 10 Billboard 200 suốt 80 tuần liên tiếp, trong khi dẫn đầu 37 tuần. Đây cũng là album đầu tiên có 7 đĩa đơn lọt vào top 10 Billboard Hot 100, bao gồm "Billie Jean", "Beat It" và "Wanna Be Startin' Somethin'". Vào năm 1983, Jackson phát hành "Thriller", một video âm nhạc dài 14 phút do John Landis đạo diễn. "Thriller" được xem là cột mốc "quyết định nên video âm nhạc và phá vỡ rào cản chủng tộc" trên Music Television Channel (MTV), một kênh truyền hình giải trí non trẻ vào thời điểm trên. Vào tháng 12 năm 2009, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ chọn video âm nhạc này trong số 25 bộ phim xuất hiện tại Viện lưu trữ phim quốc gia, như là "những tác phẩm mang tầm quan trọng lâu dài đến văn hóa Mỹ" và sẽ "được bảo quản cho mọi thời đại." Tính đến năm 2009, đây là video duy nhất được đăng ký bổ nhiệm.
Luật sư của Jackson, John Branca nhận thấy ông đang sở hữu mức thuế suất trong ngành công nghiệp âm nhạc vào thời điểm đó: khoảng 2 đô-la cho mỗi album bán ra. Ông cũng thu về lợi nhuận kỷ lục từ doanh số đĩa nhạc. Cuốn video phim tài liệu The Making of Michael Jackson's Thriller bán hơn 350.000 bản chỉ trong vài tháng và giành giải Grammy cho "Video âm nhạc dài xuất sắc nhất". Nhiều sản phẩm nhượng quyền khác như búp bê hình Michael Jackson, xuất hiện trên cửa hiệu vào tháng 5 năm 1984. Nhà tiểu sử J. Randy Taraborrelli viết rằng "Thriller không còn được bán như một món hàng giải trí—một quyển tạp chí, con búp bê, vé xem phim—mà giống như một vật dụng chủ yếu trong gia đình hơn." Tạp chí Time mô tả ảnh hưởng của Jackson vào thời điểm trên như một "ngôi sao của những đĩa hát, sóng truyền thanh và những video nhạc rock; người cứu sống ngành thương mại âm nhạc, một nhạc sĩ đã khởi động nhịp đập cho thập kỷ, một vũ công trên phố xá với vũ điệu lạ mắt nhất của đôi chân, một ca sĩ đã phá bỏ mọi rào cản về thị hiếu, phong cách và cả màu da." The New York Times viết rằng "Trong làng nhạc Pop thế giới, có Michael Jackson và những người khác".
Vào ngày 25 tháng 3 năm 1983, Jackson đoàn tụ với anh em của mình trong chương trình kỷ niệm 25 năm của Motown mang tên Motown 25: Yesterday, Today, Forever. Được ghi hình tại Pasadena Civic Auditorium, chương trình phát sóng ngày 16 tháng 5 năm 1983 trên đài NBC, thu hút khoảng 47 triệu người xem. Jackson ban đầu từ chối biểu diễn vì cho rằng lúc đó mình xuất hiện quá nhiều trên truyền hình; dù vậy, theo yêu cầu của Berry Gordy, Jackson nhượng bộ và đồng ý trình diễn đơn ca. Trong sự kiện, Jackson biểu diễn bài hát "Billie Jean" trong chiếc áo khoác sequin đen và chiếc găng tay đính đá, nơi ông lần đầu trình diễn điệu moonwalk nổi tiếng. Điệu nhảy do cựu vũ công Soul Train và thành viên nhóm Shalamar Jeffrey Daniel dạy cho ông 3 năm trước đó. Theo Mikal Gilmore từ Rolling Stone, "Có những lúc bạn biết mình đang nghe hay thấy một điều gì đó diệu kỳ...điều phi thường ấy đã diễn ra vào đêm đó." Phần trình diễn của Jackson nhận nhiều so sánh với sự xuất hiện của Elvis Presley và the Beatles trên The Ed Sullivan Show. Chương trình thậm chí còn giúp Jackson giành được đề cử giải Emmy đầu tiên. Berry Gordy chia sẻ "từ nhịp đầu tiên của Billie Jean, tôi đã bị mê hoặc và khi anh ấy trình diễn màn vũ đạo thương hiệu của mình, tôi đã bị sốc, đó là ma thuật, Michael Jackson đã đi vào quỹ đạo và không bao giờ sa sút."
=== 1984–85: Pepsi, "We Are the World" và sự nghiệp kinh doanh ===
Vào tháng 11 năm 1983, Jackson cùng những người anh em của mình đã ký một hợp đồng quảng cáo với hãng PepsiCo với mức thù lao 5 triệu đô-la Mỹ, phá vỡ kỷ lục trong ngành công nghiệp quảng cáo. Chiến dịch đầu tiên của Pepsi diễn ra tại Hoa Kỳ những năm 1983-1984, với khẩu hiệu "Thế hệ mới" ("New Generation"); bao gồm quảng cáo, tài trợ lưu diễn, các sự kiện quan hệ công chúng và trong cửa hàng trưng bày. Ngày 27 tháng 1 năm 1984, Michael và các thành viên khác của the Jacksons đang ghi hình cho một quảng cáo Pepsi Cola do Phil Dusenberry và Alan Pottasch giám sát. Trước nhiều người hâm mộ trong một đêm nhạc giả định, một tàn pháo hoa vô tình rơi trúng đầu Jackson, khiến da đầu ông bị bỏng 2 độ. Jackson phải trải qua điều trị để làm mờ vết sẹo trên da đầu và có cuộc sửa mũi thứ 3 sau đó không lâu. Pepsi giải quyết vấn đề ngoài vòng pháp luật và Jackson đã trao tặng số tiền đền bù 1.5 triệu đô-la Mỹ đến Trung tâm Y tế Brotman ở Culver City, California. Trung tâm trị bỏng Michael Jackson được đặt ra để vinh danh những đóng góp cao quý của ông. Jackson ký thêm một thỏa thuận với Pepsi vào cuối những năm 1980 với trị giá 10 triệu đô-la Mỹ. Chiến dịch này tiếp cận thị trường toàn cầu với hơn 20 quốc gia và quảng bá cho album Bad của ông cũng như chuyến lưu diễn thế giới cùng tên (1987-88). Mặc dù Jackson đã hợp tác quảng cáo với nhiều công ty khác, chẳng hạn như LA Gear, Suzuki và Sony, nhưng chưa có chiến dịch nào vượt mặt Pepsi, dẫn đến sự hợp tác với nhiều ngôi sao ca nhạc khác như Britney Spears và Beyoncé Knowles để quảng bá sản phẩm.
Công việc thiện nguyện của Jackson được công nhận vào ngày 14 tháng 5 năm 1984, khi ông xuất hiện tại Nhà Trắng để nhận giải thưởng từ Tổng thống Ronald Reagan cho những đóng góp từ thiện, giúp đỡ người nghiện rượu và lạm dụng ma túy cũng như chiến dịch tuyên truyền "Không lái xe trong lúc say rượu" của cục Quản lý an toàn giao thông. Jackson cũng ủy quyền sử dụng bài hát "Beat It" cho chiến dịch này. Khác với những album sau này, Thriller không có chuyến lưu diễn chính thức để quảng bá, nhưng Victory Tour vào năm 1984 lại phô diễn nhiều bài hát đơn ca của Jackson đến hơn 2 triệu người Mỹ. Đây cũng là chuyến lưu diễn cuối cùng mà ông thực hiện với những anh em của mình. Sau khi gặp nhiều tranh cãi về giá vé, Jackson tổ chức một buổi họp báo và thông báo quyên góp phần lợi nhuận từ Victory Tour cho từ thiện, khoảng từ 3-5 triệu đô-la Mỹ.
Jackson đồng sáng tác cùng Lionel Richie trong đĩa đơn từ thiện "We Are the World" (1985). Bài hát được thu âm vào ngày 28 tháng 1 năm 1985 và phát hành trên toàn cầu vào tháng 3 năm 1985 nhằm giúp đỡ người nghèo tại Hoa Kỳ và châu Phi. Bài hát thu về 63 triệu đô-la Mỹ để cứu trợ nạn đói và trở thành một trong những đĩa đơn bán chạy nhất thế giới, với 20 triệu bản tiêu thụ. "We Are the World" giành 4 giải Grammy vào năm 1985, bao gồm giải "Bài hát của năm". Dù đạo diễn giải thưởng Âm nhạc Mỹ gỡ bài hát khỏi lễ trao giải vì cảm thấy không phù hợp, chương trình diễn ra vào năm 1986 sử dụng bài hát này để tôn vinh trong dịp kỷ niệm 1 năm. Nhà sáng lập của dự án giành thêm 2 giải AMA: một cho sáng tạo nên bài hát và cho ý tưởng USA for Africa. Jackson, Quincy Jones và nhà quảng bá Ken Kragan nhận giải thưởng đặc biệt cho vai trò sáng tác nên bài hát.
Jackson bắt đầu quan tâm đến ngành xuất bản âm nhạc sau khi hợp tác với Paul McCartney vào đầu thập niên 1980. Ông biết được McCartney thu về xấp xỉ 40 triệu đô-la Mỹ mỗi năm từ bài hát của người khác. Đến năm 1983, Jackson đầu tư vào quyền xuất bản những bài hát của tác giả khác, nhưng chỉ nhận mua lại một ít trong số hàng chục lời mời. Các danh mục âm nhạc mà ông đảm nhận bao gồm Sly Stone với "Everyday People" (1968), Len Barry với "1-2-3" (1965) và Dion DiMucci cùng "The Wanderer" (1961) và "Runaround Sue" (1961); dù vậy, lần bỏ tiền đáng kể nhất của Jackson diễn ra vào năm 1985, khi ông mua lại cổ phần trong ATV Music Publishing sau nhiều tháng thương lượng. ATV sở hữu bản quyền phát hành gần 4000 bài hát, bao gồm phần lớn các bản thu âm của the Beatles do Lennon-McCartney sáng tác, thuộc danh mục của Northern Songs.
Vào năm 1984, nhà đầu tư người Úc Robert Holmes à Court, cũng là người sở hữu ATV Music Publishing, thông báo rao bán danh mục của hãng này. Vào năm 1981, McCartney lên tiếng chào mua với 20 triệu bảng Anh (40 triệu đô-la Mỹ). Theo McCartney, ông đã liên lạc với Yoko Ono để cùng mua lại, với mỗi người giá 10 triệu bảng Anh, nhưng cả hai không đạt đến ý kiến thống nhất. Vì không muốn là chủ sở hữu duy nhất những bài hát của the Beatles, McCartney đã từ bỏ ý định của mình. Jackson lần đầu thông báo về cuộc thương lượng này bởi luật sư của ông, John Branca vào tháng 9 năm 1984. Luật sư của McCartney còn đảm bảo với Branca rằng McCartney không có hứng thú trong chuyện đấu thầu. McCartney phát biểu rằng "Vụ này quá đắt đỏ" trong khi các công ty và nhà đầu tư khác lại rất muốn mua lại. Jackson đưa ra số tiền 46 triệu đô-la Mỹ vào ngày 20 tháng 12 năm 1984. Vào tháng 5 năm 1985, người của Jackson chấm dứt đàm phán sau khi phải chi trả hơn 1 triệu đô-la Mỹ trong suốt 4 tháng miệt mài thương lượng. Vào tháng 6 năm 1985, Jackson và Branca biết được Công ty Giải trí của Charles Koppelman và Marty Bandier đã có một thỏa thuận thăm dò cùng Holmes à Court để mua lại ATV Music với số tiền 50 triệu đô-la Mỹ; dù vậy, vào đầu tháng 8, người của Holmes à Court đã liên lạc với Jackson để bàn bạc lại. Vụ việc được thông qua vào ngày 10 tháng 8 năm 1985, khi Jackson nâng giá lên 47.5 triệu đô-la Mỹ.
=== 1986–90: Bad, Moonwalk và Neverland ===
Làn da của Jackson thuộc loại nâu trung bình trong suốt thời thơ ấu, nhưng bắt đầu đến giữa những năm 1980 thì chúng ngày càng trở nên nhạt màu. Sự thay đổi gây ra nhiều hoài nghi đối với công chúng, trong đó có tin đồn ông đang tẩy da. Theo tiểu sử của J. Randy Taraborrelli, vào năm 1984, Jackson được chẩn đoán mắc bệnh bạch biến và luput, khiến màu da ông trắng dần và trở nên nhạy cảm với ánh sáng Mặt trời. Quá trình điều trị càng làm da ông nhạt hơn và việc sử dụng phấn trang điểm để che đi những vùng da xấu trên mặt cũng làm Jackson trông rất trắng. Jackson khẳng định chỉ phẫu thuật nâng mũi 2 lần và không còn chỉnh sửa nào trên mặt mình. Ông giảm cân mạnh vào đầu thập niên 1980 do thay đổi chế độ ăn và mong muốn có "thân hình của vũ công". Nhiều nhân chứng nói rằng Jackson thường xuyên hoa mắt chóng mặt và biếng ăn. Giai đoạn giảm cân sau này trở thành một vấn đề diễn ra định kỳ trong cuộc đời ông.
Jackson trở thành đề tài cho nhiều báo cáo nhạy cảm trong thời gian này. Vào năm 1986, báo lá cải đưa tin Jackson ngủ trong những phòng bội áp khí ôxy để ngăn chặn quá trình lão hóa; với hình ảnh ông nằm trong chiếc hộp trong suốt. Dù không phải sự thật, thông tin này được giới truyền thông khai thác rộng rãi, khiến Jackson phải tự mình phủ nhận câu chuyện này. Sau khi Jackson nhận nuôi một con tinh tinh tên là Bubbles từ phòng thí nghiệm, nhiều báo cáo cho rằng ông càng ngày sống tách biệt với thực tại. Có thông tin viết rằng Jackson được mời mua lại xương cốt của Joseph Merrick ("The Elephant Man") và cho dù không đúng sự thật, Jackson cũng chưa từng phủ nhận câu chuyện này. Tuy ban đầu nhìn nhận những điều này là cơ hội để nổi tiếng, Jackson lại dừng đưa ra những cử chỉ mập mờ đến công chúng. Do vậy, giới truyền thông bắt đầu tự thêu dệt những câu chuyện cho riêng mình. Những thông tin này đánh vào tâm thức của công chúng, gây nên cảm hứng cho một biệt danh mà Jackson khinh rẻ, "Wacko Jacko".
Jackson hợp tác với George Lucas và Francis Ford Coppola trong dự án phim 3D dài 17 phút mang tên Captain EO, ra mắt vào tháng 9 năm 1986 tại Disneyland và EPCOT ở Florida; và vào tháng 3 năm 1987 tại Tokyo Disneyland. Bộ phim có kinh phí 30 triệu đô-la Mỹ này đã thu hút sự chú ý của công chúng ở cả ba công viên. Sự thu hút vẫn tiếp diễn trong thập niên 90 khi Euro Disneyland mở cửa vào năm 1992. Tất cả bốn công viên đều tiếp tục trình chiếu nó trong những năm về sau, lần cuối cùng được nhìn thấy là tại Pháp vào năm 1998. Captain EO sau đó trở lại Disneyland vào năm 2010 sau cái chết của Jackson. Vào năm 1987, Jackson tách khỏi đạo Nhân Chứng Giê-hô-va khi họ không chấp nhận video Thriller.
Với sự chờ đợi lớn từ ngành công nghiệp, Jackson phát hành album đầu tiên sau 5 năm, Bad vào năm 1987. Album bán được hơn 30-45 triệu đĩa trên toàn thế giới; giành 2 giải Grammy, trong đó có giải "Video dạng ngắn xuất sắc nhất" cho "Leave Me Alone" vào năm 1989. Cùng năm đó, Jackson giành "Giải thưởng thành tựu" tại giải thưởng Âm nhạc Mỹ cho nhiều kỷ lục cùng Bad: là album đầu tiên có 5 ca khúc leo lên vị trí quán quân Hoa Kỳ là "I Just Can't Stop Loving You", "Bad", "The Way You Make Me Feel", "Man in the Mirror" và "Dirty Diana"; là album đầu tiên dẫn đầu tại 25 quốc gia và là album bán chạy nhất thế giới trong năm 1987-88. Jackson mở đầu chuyến lưu diễn đơn ca đầu tiên, Bad World Tour vào ngày 12 tháng 9 năm 1987 và kết thúc ngày 14 tháng 1 năm 1989. Chỉ riêng tại Nhật Bản, chương trình có 14 buổi diễn cháy vé và thu hút 570.000 khán giả, gấp gần 3 lần kỷ lục trước với 200.000 người trong một chuyến lưu diễn. Jackson phá vỡ kỷ lục Guinness khi có 504.000 người đến dự 7 đêm diễn cháy vé tại sân vận động Wembley. Chuyến lưu diễn kéo dài 16 tháng gồm 123 buổi công diễn, thu hút 4,4 triệu người hâm mộ.
Năm 1988, Jackson hoàn thành và phát hành cuốn tự truyện đầu tiên của ông, Moonwalk sau 4 năm và bán được hơn 200.000 bản. Trong cuốn sách, ông viết về thời thơ ấu của mình, ban nhạc The Jackson 5 cũng như những vấn đề liên quan đến diện mạo của bản thân. Moonwalk dẫn đầu danh sách bán chạy nhất của The New York Times. Ông sau đó cho ra mắt một bộ phim mang tên Moonwalker, bao gồm những màn trình diễn trực tiếp và thước phim ngắn, có sự xuất hiện của Jackson và Joe Pesci. Bộ phim ban đầu được dự định chiếu rạp, nhưng do các vấn đề tài chính, bộ phim phát hành dưới dạng video tại nhà. Phim dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Top Music Video Cassette trong 22 tuần lễ, trước khi bị hạ bệ bởi Michael Jackson: The Legend Continues. Tháng 3 năm 1988, Jackson mua một khu đất gần Santa Ynez, California để xây dựng khu điền trang Neverland với giá 17 triệu đô. Ông cho xây dựng khu vui chơi trong khu vực rộng 2.700 mẫu Anh (11 km2), bao gồm bánh xe đu quay, đu ngựa gỗ, rạp chiếu phim và sở thú; với đội ngũ 40 bảo vệ trên mặt đất. Vào năm 2003, nơi này trị giá xấp xỉ 100 triệu đô-la Mỹ.
Vào năm 1989, thu nhập hàng năm của Jackson từ doanh số album, sản phẩm nhượng quyền và các đêm diễn ước tính đạt 125 triệu đô-la Mỹ. Không lâu sau, ông trở thành người miền Đông đầu tiên xuất hiện trong một quảng cáo truyền hình tại Liên Xô. Với những thành công nối tiếp, Jackson được gọi ví von là "Vua nhạc pop". Cái tên này do Elizabeth Taylor đặt ra khi bà giới thiệu ông giải "Soul Train Heritage Award" vào năm 1989, công bố rằng: "Anh ấy là một ông vua thực sự của nhạc pop, rock và soul." Vào năm 1990, tổng thống George H. W. Bush trực tiếp trao giải "Nghệ sĩ của thập niên" cho Jackson. Kể từ năm 1985 đến 1990, ông đã quyên góp 455.000 đô-la Mỹ đến United Negro College Fund và lợi nhuận từ đĩa đơn "Man in the Mirror" cho từ thiện, Màn trình bày trực tiếp "You Were There" của Jackson tại sinh nhật lần thứ 60 của Sammy Davis Jr. đã giúp ông giành đề cử giải Emmy lần thứ 2.
=== 1990–93: Dangerous, Heal The World Foundation và Super Bowl XXVII ===
Tháng 3 năm 1991, Jackson gia hạn hợp đồng cùng Sony với số tiền kỷ lục 65 triệu đô-la Mỹ, vượt qua hợp đồng của Neil Diamond với Columbia Records. Vào năm 1991, Jackson phát hành album thứ 8, Dangerous mà ông đồng sản xuất cùng Teddy Riley. Dangerous đạt 7 lần chứng nhận đĩa Bạch kim tại Hoa Kỳ và chạm mốc 30 triệu bản trên toàn cầu vào năm 2008. Đĩa đơn đầu tiên, "Black or White" đoạt ngôi quán quân Billboard Hot 100 trong 7 tuần và dẫn đầu nhiều bảng xếp hạng quốc gia khác. Đĩa đơn thứ hai, "Remember the Time" có 8 tuần lọt vào top 5 và vươn đến vị trí thứ 3 tại Mỹ. Dangerous là album bán chạy nhất năm 1992 trên toàn cầu và "Black or White" giành giải "Đĩa đơn bán chạy nhất của năm" tại Giải thưởng Âm nhạc Billboard. Tại đây, ông cũng thắng giải "Nghệ sĩ bán chạy nhất thập niên 1980.". Vào năm 1993, Jackson trình bày bài hát tại Soul Train Music Awards trên một chiếc ghế, khi ông gặp chấn thương lúc tập dượt. Tại châu Âu và Anh Quốc, "Heal the World" là đĩa đơn thành công nhất, với 450.000 bản tiêu thụ và giữ nguyên vị trí Á quân tại Vương quốc Liên hiệp Anh trong 5 tuần vào năm 1992.
Jackson thành lập nên Quỹ Heal the World vào năm 1992. Tổ chức từ thiện này mang những trẻ em nghèo đến trang trại của Jackson để vui chơi và giải trí; gửi hàng triệu đô-la Mỹ trên khắp toàn cầu để giúp đỡ các trẻ em bị đe dọa bởi chiến tranh, đói nghèo và bệnh tật. Cũng trong năm này, Jackson xuất bản cuốn sách thứ hai, Dancing the Dream. Tuyển tập thơ này cho thấy khía cạnh gần gũi hơn ở Jackson và là một thành công thương mại. Chuyến lưu diễn Dangerous World Tour mở đầu vào ngày 27 tháng 6 năm 1992 và kết thúc vào ngày 11 tháng 11 năm 1993, thu về 100 triệu đô-la Mỹ từ 70 đêm nhạc và 3.5 triệu khán giả. Ông bán bản quyền phát sóng buổi trình diễn ở Bucharest, Rumani cho hãng HBO với giá 20 triệu đô-la Mỹ, phá kỷ lục về bản quyền phát sóng chương trình.
Sau cái chết của Ryan White, Jackson giúp công chúng nâng cao tầm nhận thức đến căn bệnh HIV/AIDS; ông công khai yêu cầu chính quyền Clinton tại Gala nhậm chức của Bill Clinton chu cấp thêm tiền cho những tổ chức từ thiện và nghiên cứu HIV/AIDS. Trong chuyến đi đến châu Phi, Jackson tới thăm nhiều quốc gia như Gabon và Ai Cập. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là tại Gabon, nơi có sự đón tiếp của hơn 100.000 người, với biểu ngữ: "Chào mừng anh đã về nhà, Michael." Tại Bờ Biển Ngà, Jackson được một tộc trưởng gọi là "Vua Sani". Sau đó, ông cảm ơn những người đứng đầu bộ lạc bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp.
Vào tháng 1 năm 1993, Jackson trình diễn trong tiết mục giữa giờ tại Super Bowl XXVII, diễn ra ở Pasadena, California. Do sự suy giảm tỉ suất người xem trong giờ nghỉ giải lao những năm trước, NFL quyết định tìm kiếm một tên tuổi lớn để thu hút khán giả và Jackson đã được lựa chọn bởi danh tiếng và tầm ảnh hưởng của mình. Đây là kỳ Super Bowl đầu tiên mà tỉ suất khán giả xem vào giờ nghỉ cao hơn cả trận đấu chính. Ông đã hát bốn ca khúc: "Jam", "Billie Jean", "Black or White" và "Heal the World". Album Dangerous của Jackson sau đó đã tăng 90 hạng trên bảng xếp hạng album, đạt đến top 10 sau hơn 1 năm ra mắt. Vào tháng 2 năm 1993, Jackson đã được trao "Giải Huyền thoại sống" tại lễ trao giải Grammy lần thứ 35 ở Los Angeles. Cũng trong năm này, ông đã chiến thắng 3 giải thưởng âm nhạc Mỹ ở hạng mục "Album Pop/Rock được yêu thích nhất", "Đĩa đơn Soul/R&B được yêu thích nhất" và là người đầu tiên thắng "Giải thưởng Nghệ sĩ Quốc tế". Giải thưởng này sau đó được chính thức mang tên ông.
=== 1993–94: Vụ kiện lạm dụng tình dục và cuộc hôn nhân đầu tiên ===
Vào mùa thu năm 1993, Jackson bị buộc tội lạm dụng tình dục trẻ em bởi một cậu bé 13 tuổi tên là Jordan Chandler và cha của cậu, Evan Chandler. Gia đình của Chandler yêu cầu Jackson bồi thường, nhưng ông đã từ chối. Jordan Chandler sau đó kể với cảnh sát rằng mình bị Jackson xâm hại tình dục. Chandler từng phát biểu "Nếu tôi thắng vụ này, tôi sẽ là người thành công nhất. Không đời nào tôi thua cả. Tôi sẽ lấy tất cả những gì tôi muốn và sự nghiệp của Michael sẽ tan tành mây khói." Vào tháng 1 năm 1994, sau khi điều tra cáo buộc tống tiền của Chandler, luật sư phó Quận Los Angeles, Michael J. Montagna khẳng định vụ việc không được xem xét do thiếu sự hợp tác từ Jackson và nhiều lý do khác.
Vào tháng 8 năm 1993, cảnh sát lục soát tư gia của Jackson và, theo ghi nhận của tư liệu tòa án, tìm thấy sách và ảnh những bé trai trong tình trạng không mặc quần áo ở phòng ngủ của ông. Vì những quyển sách này được sở hữu một cách hợp pháp, bồi thẩm đoàn quyết định không truy tố Jackson. Vào tháng 12 năm 1993, cảnh sát khám nghiệm cơ thể Jackson dựa theo những đặc điểm mô tả của Jordan Chandler. Dù có nhiều khác biệt giữa báo cáo nội bộ ban đầu của công tố viên và các nhà điều tra, luật sư Quận vẫn tin rằng bản khai tuyên thệ sẽ cho kết quả mô tả chính xác. Một cuộc vận động bào chữa cho Jackson diễn ra vào năm 2004, khẳng định rằng ông chưa từng bị bồi thẩm đoàn truy tố hình sự và không có hành vi sai trái.
Cuộc điều tra không đi đến kết quả và không có lời buộc tội nào. Jackson mô tả vụ việc thông qua một buổi tuyên bố đầy xúc động, khẳng định mình hoàn toàn vô tội. Vào tháng 1 năm 1994, Jackson dàn xếp với gia đình nhà Chandler bên ngoài phiên tòa với số tiền 22 triệu đô-la Mỹ. Bồi thẩm đoàn Quận Santa Barbara và bồi thẩm đoàn Quận Los Angeles giải thể ngày 2 tháng 5 năm 1994, mà không khởi tố Jackson; nhà Chandler ngừng hợp tác điều tra vào ngày 6 tháng 7 năm 1994. Tài liệu về cuộc dàn xếp ngoài tòa thừa nhận Jackson không có hành vi sai trái và không có trách nhiệm pháp lý; gia đình Chandler và luật sư Larry Feldman ký kết mà không có tranh luận nào. Theo một cuộc điều tra của FBI về tài liệu thu thập trong gần 20 năm, không có một bằng chứng nào ghi nhận Jackson xâm hại tình dục hay cử chỉ khiếm nhã đến trẻ dưới vị thành niên. Theo các báo cáo của DCFS, họ không tìm thấy chứng cớ đáng tin cậy về lạm dụng tình dục hoặc hành vi sai trái ở Jackson.
Vào tháng 5 năm 1994, Jackson kết hôn với Lisa Marie Presley, con gái của Elvis và Priscilla Presley. Hai người gặp nhau lần đầu năm 1975, khi Presley mới 7 tuổi, trong lễ đính hôn của một thành viên gia đình Jackson tại MGM Grand và sau này đoàn tụ qua một người bạn. Theo một người bạn của Presley, "tình bạn của cả hai bắt đầu vào tháng 11 năm 1992 tại L.A." Họ liên lạc với nhau hằng ngày bằng điện thoại. Khi những lời cáo buộc xâm hại tình dục trẻ em trở nên công khai, Jackson nhận được nhiều lời động viên tinh thần từ Presley; cô quan tâm đến tình hình sức khỏe sút kém và nghiện thuốc phiện của Jackson. Presley giải thích "Tôi tin rằng anh ấy không làm gì sai và bị vu cáo. Và tôi bắt đầu yêu anh ấy. Tôi muốn giúp đỡ anh. Tôi cảm thấy mình có thể làm được việc đó." Sau đó, cô thuyết phục Jackson giải quyết vụ bê bối xâm hại tình dục trẻ em ngoài tòa án và đi cai nghiện.
Jackson cầu hôn với Presley qua điện thoại vào mùa thu năm 1993, nói rằng "Nếu anh muốn cưới em, em sẽ đồng ý chứ?" Hai người kết hôn tại Cộng hòa Dominica trong vòng bí mật và liên tiếp phủ nhận đã cưới nhau trong gần hai tháng sau đó. Vào thời điểm đó, báo lá cải cho rằng đám cưới là một mánh khóe chống đỡ cho hình ảnh công chúng của Jackson. Cuộc hôn nhân kéo dài chưa đầy hai năm và kết thúc trong thân tình. Vào năm 2010, khi phỏng vấn cùng Oprah, Presley thừa nhận họ quay lại cùng nhau thêm 4 năm sau cuộc ly hôn, cho đến khi cô quyết định dừng lại.
=== 1995–2000: HIStory, cuộc hôn nhân thứ hai và làm cha ===
Năm 1995, Jackson sáp nhập cổ phần của mình trong ATV Music với bộ phận xuất bản âm nhạc của Sony để tạo nên Sony/ATV Music Publishing. Jackson giữ được nửa quyền sở hữu của công ty, nhận trước 95 triệu đô-la Mỹ cũng như sở hữu tác quyền nhiều bài hát hơn. Sau đó, ông phát hành album-kép HIStory: Past, Present and Future, Book I. Đĩa đầu tiên, HIStory Begins là một album tuyển tập gồm 15 bài hát và sau đó được tái phát hành dưới tựa đề Greatest Hits: HIStory, Volume I vào năm 2001. Đĩa thứ hai, HIStory Continues chứa 13 bài hát mới và 2 phiên bản trình bày lại. Album đạt vị trí số một trên các bảng xếp hạng và được chứng nhận 7 đĩa Bạch kim ở Mỹ. Đây là album đa đĩa bán chạy nhất mọi thời đại, với hơn 20 triệu bản (tổng cộng là 40 triệu đĩa) được bán ra trên toàn thế giới. HIStory cũng giành thêm một đề cử giải Grammy cho "Album của năm".
"Scream/Childhood" là đĩa đơn đầu tiên được phát hành trong album; đây là một bản song ca với em gái Janet Jackson, mang nội dung phản biện lại những cáo buộc mà các phương tiện truyền thông tạo ra xung quanh vụ kiện lạm dụng trẻ em của ông năm 1993. Video âm nhạc của bài hát này vẫn đang giữ kỷ lục về chi phí đầu tư, với hơn 7 triệu đô-la Mỹ; trong khi bài hát mở màn ở vị trí thứ 5 tại Hoa Kỳ và nhận được một đề cử giải Grammy ở hạng mục "Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất". Đĩa đơn tiếp theo, "You Are Not Alone" nắm giữ Kỷ lục Guinness Thế giới khi là bài hát đầu tiên trong lịch sử âm nhạc đứng hạng nhất ngay trong tuần đầu tiên trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Bài hát cũng mang về một đề cử giải Grammy khác cho "Trình diễn giọng pop xuất sắc nhất".
Vào cuối năm 1995, Jackson được đưa tới bệnh viện sau khi đột ngột ngất xỉu trong một buổi diễn tập cho buổi biểu diễn trên truyền hình; nguyên nhân do hoảng hốt và căng thẳng. Đĩa đơn thứ 3, "Earth Song" đạt vị trí quán quân tại UK Singles Chart trong 6 tuần vào mùa Giáng sinh năm 1995; đây là đĩa đơn thành công nhất của Jackson tại đảo quốc sương mù, với hơn 1 triệu bản tiêu thụ. Đĩa đơn "They Don't Care About Us" sau khi phát hành gây nhiều tranh cãi về phần lời ca khúc có tính chất bài Do Thái. Jackson sau đó chỉnh sửa lời ca và phát hành làm một phiên bản khác. Năm 1996, Jackson giành giải Grammy "Video dạng ngắn xuất sắc nhất" cho "Scream" và một giải thưởng Âm nhạc Mỹ cho "Nam nghệ sĩ Pop/Rock xuất sắc nhất".
Chuyến lưu diễn HIStory World Tour bắt đầu từ ngày 7 tháng 9 năm 1996 đến 15 tháng 10 năm 1997, thu về tổng cộng 165 triệu đô-la Mỹ. Jackson trình diễn 82 đêm nhạc tại 58 thành phố, đi qua 5 châu lục và 35 quốc gia, phục vụ hơn 4.5 triệu người hâm mộ; đây là chuyến lưu diễn thành công nhất trong sự nghiệp của Jackson về lượng khán giả. Vào tháng 11 năm 1996, trong chuyến lưu diễn HIStory World Tour, Jackson kết hôn với y tá da liễu Deborah Jeanne Rowe tại một buổi lễ không sắp đặt trước tại Sydney, Úc. Hai người gặp gỡ từ giữa những năm 80 khi Jackson bắt đầu bị chẩn đoán mắc chứng bạch biến. Rowe giành nhiều thời gian chăm sóc, động viên Jackson và xây dựng tình bạn giữa họ trước khi bắt đầu yêu nhau. Vào thời gian làm lễ cưới, Rowe đã mang thai đứa con đầu lòng của Jackson được 6 tháng. Cả hai ban đầu không có kế hoạch kết hôn, nhưng mẹ của Jackson đã can thiệp và thuyết phục họ cưới nhau. Michael Joseph Jackson Jr (được biết đến với tên "Prince") chào đời ngày 13 tháng 2 năm 1997; Rowe hạ sinh thêm bé gái Paris-Michael Katherine Jackson vào ngày 3 tháng 4 năm 1998. Cả hai ly hôn năm 1999 trong bầu không khí tương đối hòa đồng và Rowe trao hết quyền nuôi con cho Jackson.
Năm 1997, Jackson phát hành Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix, một tập hợp bản phối lại các đĩa đơn từ HISory và 5 bài hát mới. Với 6 triệu đĩa bán ra, đây là album phối lại bán chạy nhất mọi thời đại. Album và bài hát chủ đề cùng đạt vị trí cao nhất tại Anh. Tại Mỹ, album đạt chứng nhận Bạch kim, tuy chỉ vươn đến vị trí thứ 24. Forbes ước tính thu nhập của Jackson ở mức 35 triệu đô-la Mỹ trong năm 1996 và 20 triệu đô-la Mỹ vào năm 1997. Trong suốt tháng 6 năm 1999, Jackson đã tham gia vào một số hoạt động từ thiện. Ông gia nhập vào buổi hòa nhạc của Luciano Pavarotti ở Modena, Ý. Chương trình hỗ trợ tổ chức phi lợi nhuận War Child và trích ra một triệu đô la cho cộng đồng người tị nạn Kosovo, Nam Tư, cũng như bổ sung kinh phí cho các trẻ em ở Guatemala. Cuối tháng đó, Jackson tổ chức những buổi hòa nhạc từ thiện "Michael Jackson & Friends" ở Đức và Hàn Quốc. Các nghệ sĩ tham gia bao gồm Slash, The Scorpions, Boyz II Men, Luther Vandross, Mariah Carey, A. R. Rahman, Prabhu Deva Sundaram, Shobana, Andrea Bocelli và Luciano Pavarotti. Toàn bộ doanh thu đều được quyên góp cho Quỹ Nelson Mandela cho trẻ em, các Hội Chữ thập đỏ và UNESCO.
=== 2000–03: Tranh cãi hãng thu và Invincible ===
Vào năm 2000 và 2001, Jackson làm việc tại phòng thu cùng nhiều nhạc sĩ như Teddy Riley và Rodney Jerkins. Vào tháng 10 năm 2001, ông phát hành Invincible; album dài đầu tiên của Jackson trong 6 năm và là album phòng thu cuối cùng phát hành khi ông còn sống. Trong thời gian, Jackson có nhiều tranh chấp cùng hãng thu âm Sony Music Entertainment. Jackson kỳ vọng có thể thu hồi lại giấy phép sở hữu album, giúp ông quảng bá album của mình vào đầu thập niên 2000. Dù vậy, điều khoản trong hợp đồng lại hoãn ngày thu hồi sang nhiều năm tới. Jackson biết được luật sư đại diện cho ông trong bản hợp đồng cũng đại diện cho Sony. Jackson cũng lo lắng hãng có thể rao bán danh mục âm nhạc của ông với giá rẻ trong tương lai và mong muốn sớm kết thúc hợp đồng.
Vào tháng 9 năm 2001, Jackson tổ chức hai đêm nhạc kỷ niệm 30 năm ca hát tại Madison Square Garden. Jackson lần đầu xuất hiện cùng anh em của mình từ năm 1984. Buổi hòa nhạc còn có sự góp mặt của các ca sĩ tên tuổi khác như Mýa, Usher, Whitney Houston, NSYNC, Destiny's Child, Monica, Luther Vandross và Slash. Đêm diễn thứ hai diễn ra vào đêm trước sự kiện 11 tháng 9. Chương trình được phát trên truyền hình dưới tựa đề Michael Jackson: 30th Anniversary Celebration. Sau đó, Jackson giúp đỡ tổ chức đêm nhạc từ thiện United We Stand: What More Can I Give tại RFK Stadium, Washington, D.C. Buổi hòa nhạc diễn ra vào ngày 21 tháng 10 năm 2001, với màn trình diễn hạ màn "What More Can I Give" của Jackson.
Invincible là một thành công thương mại, leo lên vị trí cao nhất tại 13 quốc gia, đồng thời bán được xấp xỉ 13 triệu đĩa trên toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, album 2 lần đạt chứng nhận Bạch kim. Dù vậy, doanh số của Invincible lại thấp hơn những album trước của Jackson, do thiếu quảng bá và tranh chấp cùng hãng đĩa. Album cũng ra mắt trong khoảng thời điểm xấu trong ngành công nghiệp âm nhạc. Album tiêu tốn 30 triệu đô-la Mỹ để thu âm, không bao gồm chi phí quảng cáo. Invincible phát hành 3 đĩa đơn là "You Rock My World", "Cry" và "Butterflies". Vào tháng 7 năm 2002, Jackson công khai chỉ trích chủ hãng thu âm Sony Music lúc bấy giờ, Tommy Mottola là một "con quỷ dữ", một "kẻ phân biệt chủng tộc" không ủng hộ những nghệ sĩ Mỹ Phi. Jackson còn cho biết ông chủ hãng đĩa đã gọi bạn đồng nghiệp Irv Gotti là "một thằng mọi béo" ("fat nigger"). Sony từ chối gia hạn hợp đồng cùng Jackson, khẳng định chiến dịch quảng bá trị giá 25 triệu đô-la Mỹ đã thất bại vì Jackson không muốn lưu diễn tại Hoa Kỳ.
Cùng năm, đứa con thứ ba của Jackson, Prince Michael Jackson Jr II (biệt danh "Blanket") ra đời. Jackson chưa bao giờ tiết lộ danh tính của mẹ đứa trẻ, chỉ khẳng định đây là kết quả của quá trình thụ tinh trong ống nghiệm từ người phụ nữ và tinh trùng của ông. Ngày 20 tháng 11 năm đó, Jackson đem con trai mình ra trước ban công nơi Khách sạn Adlon, Berlin; ông bế con mình bằng tay phải và giơ con mình ra ngoài lan can ban công trong một khoảnh khắc ngắn để khoe với những người hâm mộ bên dưới. Hành động liều lĩnh đã bị dư luận chỉ trích. Jackson sau đó đã xin lỗi về vụ việc, gọi đó là "một sai lầm tồi tệ". Sony phát hành Number Ones, một đĩa hát tập hợp các ca khúc thành công của Jackson dưới định dạng CD và DVD. Tại Hoa Kỳ, album đạt 3 lần chứng nhận Bạch kim bởi RIAA; 6 lần chứng nhận Bạch kim tại Vương quốc Liên hiệp Anh với doanh số 1.2 triệu bản.
=== 2003–09: Vụ kiện lạm dụng tình dục thứ hai và những năm cuối đời ===
Đầu tháng 5 năm 2002, Jackson cho phép một đoàn làm phim tài liệu, do biên tập viên truyền hình người Anh Quốc Martin Bashir dẫn đầu, theo chân ông khắp mọi nơi, trong đó có thời gian xảy ra "sự cố bế em bé" của Jackson tại Berlin. Chương trình phát sóng trên kênh truyền hình Granada vào tháng 3 năm 2003, với tựa đề Living With Michael Jackson. Trong một cảnh gây tranh cãi, Jackson được nhìn thấy khi nắm tay và bình luận về việc chia sẻ giường ngủ với một cậu bé. Khi tập phim lên sóng, văn phòng của luật sư quận Santa Barbara bắt đầu điều tra. Theo một cuộc khảo sát của LAPD và DCFS vào tháng 2 năm 2003, các cáo buộc lạm dụng tình dục đến Jackson là "vô căn cứ".
Sau khi cậu bé, tên thật là Gavin Arvizo, cùng mẹ tố cáo Jackson có những hành vi không đúng mực, ông bị sở cảnh sát quận Santa Barbara, California bắt giữ vào tháng 11 năm 2003, khi đang quay video âm nhạc cho bài hát "One More Chance" tại Las Vegas. Ông bị buộc tội ở 7 điểm về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em và 2 điểm về quản lý tình trạng say xỉn cùng mối quan hệ với cậu bé Arvizo trong chương trình. Jackson bác bỏ những cáo buộc này, khẳng định tiệc ngủ lại nhà không mang tính chất gợi dục. Phiên tòa diễn ra vào ngày 31 tháng 1 năm 2005 tại Santa Maria, California và kéo dài 5 tháng, cho đến hết tháng 5. Trong suốt thời gian hầu tòa, Jackson trở nên phụ thuộc vào thuốc giảm đau gây nghiện như morphine hay demetrol, phải trải qua những trận ốm vì căng thẳng và sút cân, càng làm biến đổi dung nhan của ông. Vào ngày 13 tháng 6 năm 2005, Jackson được công nhận trắng án ở tất cả điểm luận tội. Sau đó ông chuyển tới định cư ở đảo quốc Bahrain ở vịnh Persian, như là khách của Sheikh Abdullah.
Vào tháng 3 năm 2006, căn nhà chính tại khu điền trang Neverland bị đóng cửa do biện pháp cắt giảm chi phí. Nhiều báo cáo về việc Jackson gặp khó khăn tài chính xuất hiện trong thời gian này. Jackson chưa thanh toán khoản nợ 270 triệu đô-la Mỹ trước cổ phần xuất bản âm nhạc của mình, dù những cổ phần này được báo cáo mang về 75 triệu đô-la Mỹ cho ông mỗi năm. Bank of America nhượng lại khoản nợ này cho Fortress Investments. Hãng Sony đề xuất một thỏa thuận tái cơ cấu, giúp họ có thể mua lại một nửa cổ phần của Jackson trong công ty xuất bản thuộc sở hữu chung (để lại cho Jackson 25% cổ phần). Jackson chấp nhận một thỏa thuận tái cấp vốn do Sony hỗ trợ vào tháng 4 năm 2006, dù chi tiết không được công bố. Vào tháng 9 năm 2006, Jackson và vợ cũ Debbie Rowe xác nhận họ đang thảo lại quyền nuôi con. Nội dung chưa từng được công bố, khi Jackson tiếp tục làm người giám hộ của hai đứa trẻ.
Đầu năm 2006, có thông báo rằng Jackson đã ký một hợp đồng với hãng thu âm tại Bahrain mang tên Two Seas Records. Tuy vậy, chủ tịch của hãng, Guy Holmes khẳng định bản hợp đồng này chưa từng được hoàn thành. Trong năm 2006, Sony tập hợp 20 đĩa đơn từ thập niên 1980 và 1990 vào loạt đĩa Michael Jackson: Visionary. Nhờ album này, nhiều đĩa đơn quay trở lại các bảng xếp hạng. Vào tháng 10 năm 2006, phóng viên của Fox News, Roger Friedman phát biểu rằng Jackson đang thu âm một album tại Westmeath, Ireland. Vào tháng 11 năm 2006, Jackson mời đoàn làm phim Access Hollywood đến xưởng thu âm tại Westmeath, trong khi MSNBC công bố ông đang thực hiện album mới cùng will.i.am từ nhóm the Black Eyed Peas. Ông trở lại Hoa Kỳ sau mùa Giáng sinh năm 2006 để dự đám tang của James Brown tại Augusta, Georgia. Tại buổi lễ, ông khẳng định "James Brown là nguồn cảm hứng vĩ đại nhất của tôi."
Mùa xuân năm 2007, Jackson và Sony hợp tác mua lại một hãng xuất bản khác: Famous Music LLC, do Viacom sở hữu. Hợp đồng này giúp ông sở hữu bản quyền nhiều bài hát như của Eminem, Shakira và Beck. Jackson thu âm cùng will.i.am trong thời gian tại New York và tại Las Vegas với Akon và RedOne. Vào tháng 9 năm 2007, Jackson vẫn được thông báo đang hợp tác cùng will.i.am, nhưng album này sau cùng không bao giờ hoàn thiện. Vào năm 2008, Jackson và Sony phát hành Thriller 25 nhằm kỷ niệm 25 năm ngày ra đời album Thriller. Album này có sự xuất hiện của bài hát chưa từng được phát hành "For All Time" cũng như nhiều bản phối khí lại, nơi Jackson hợp tác với nhiều nghệ sĩ trẻ tuổi. Thriller 25 phát hành 2 đĩa đơn đạt thành công khiêm tốn: "The Girl Is Mine 2008" (cùng will.i.am) và "Wanna Be Startin' Somethin' 2008" (cùng Akon). Trong dịp sinh nhật thứ 50 của Jackson, Sony BMG phát hành một loạt album tuyển tập mang tên King of Pop. Album này có nhiều danh sách ca khúc khác nhau phụ thuộc vào việc bầu của người hâm mộ tại mỗi quốc gia. King of Pop đạt đến top 10 tại hầu hết các quốc gia xếp hạng và có doanh số tốt tại nhiều quốc gia như Hoa Kỳ.
Vào cuối năm 2008, Fortress Investments đe dọa sẽ đóng cửa điền trang Neverland, nơi Jackson sử dụng như tài sản thế chấp cho số nợ 10 triệu đô-la Mỹ. Dù vậy Fortress chọn bán đi số nợ của Jackson cho Colony Capital LLC. Vào tháng 11, Jackson đổi tên của điền trang thành Sycamore Valley Ranch Company LLC, đánh dấu sự liên doanh giữa Jackson và Colony Capital LLC. Hợp đồng này xóa đi khoản nợ của Jackson và mang về thêm 35 triệu đô-la Mỹ. Vào thời điểm Jackson qua đời, ông vẫn giữ cổ phần tại Neverland/Sycamore Valley, nhưng không được tiết lộ nội dung. Vào tháng 9 năm 2008, Jackson đàm phán với Julien's Auction House để trưng bày và đấu giá bộ sưu tập kỷ vật lớn, với xấp xỉ 1.390 món vật. Cuộc đấu giá được lên kế hoạch diễn ra giữa ngày 22 và 25 tháng 4. Triển lãm kỷ vật mở cửa vào ngày 14 tháng 4, nhưng buổi đấu giá bị hủy theo yêu cầu của Jackson.
Vào tháng 3 năm 2009, Jackson chủ trì một buổi họp báo tại O2 Arena, Luân Đôn và thông báo một loạt buổi hòa nhạc trở lại mang tên This Is It. Đây là loạt chương trình lớn đầu tiên của Jackson từ khi HIStory World Tour kết thúc vào năm 1997. Jackson gợi ý có thể từ giã sự nghiệp sau chương trình này. Kế hoạch ban đầu là 10 đêm nhạc tại Luân Đôn, Paris, Thành phố New York và Mumbai. Randy Phillips, chủ tịch của AEG Live khẳng định chỉ riêng 10 buổi diễn đầu cũng đã mang về cho Jackson khoản thu nhập gần 50 triệu bảng Anh. Chương trình tại Luân Đôn tăng lên 50 đêm nhạc sau khi phá vỡ kỷ lục bán vé: hơn 1 triệu vé bán ra trong chưa đầy 2 tiếng. Jackson luyện tập tại Staples Center, Los Angeles trong tuần trước buổi diễn dưới chỉ đạo của biên đạo Kenny Ortega. Chuỗi hòa nhạc được dự kiến diễn ra vào ngày 13 tháng 7 năm 2009 và hoàn thiện vào ngày 6 tháng 3 năm 2010, song chưa bao giờ hoàn thiện. Trước thời gian này, có thông tin ông mở một dòng thời trang mới cùng Christian Audigier.
== Qua đời ==
Jackson đến tập dượt tại Staples Center vào khoảng 6:30 chiều thứ 4, ngày 24 tháng 6 năm 2009. Ông than phiền một cách bông đùa về căn bệnh viêm thanh quản và diễn tập lúc 9 giờ tối, khi "trông vẫn rất tuyệt và đầy năng lượng." Buổi tập diễn ra quá nửa đêm. Sáng hôm sau, Jackson không ra khỏi phòng. Bác sĩ riêng của Jackson, Conrad Murray phát biểu ông nhìn thấy Jackson trên giường trong tình trạng không thở nhưng mạch vẫn còn đập yếu và tiến hành hồi sức tim nhưng không có hiệu quả. Sở cứu hỏa Los Angeles nhận được một cuộc gọi 9-1-1 lúc 12:22 chiều (theo giờ PDT, 19:22 UTC). Xe cứu thương tới nơi muộn mất 3 phút 22 giây và đưa Jackson đi cấp cứu tại trung tâm y tế Ronald Reagan UCLA. Ông được báo cáo ngừng thở và việc hô hấp nhân tạo vẫn tiếp tục diễn ra sau hơn 1 tiếng đến UCLA vào lúc 1:13 chiều (20:13 UTC). Ông chính thức qua đời vào lúc 2:26 chiều giờ địa phương (21:25 UTC), chưa đầy 3 tuần trước khi đêm diễn This Is It đầu tiên bắt đầu tại Luân Đôn, với toàn bộ buổi hòa nhạc đều cháy vé.
Vào đêm sinh nhật thứ 51 của Jackson, Điều tra viên quận Los Angeles kết luận cái chết của Jackson là do ngộ sát. Một số bản báo cáo cho biết trước khi Jackson ngừng thở không lâu, ông đã nhận những mũi tiêm chứa chất propofol và hai liều benzodiazepines chống căng thẳng—lorazepam và midazolam—tại nhà. Sau một thời gian điều tra và đặt tình nghi, vào ngày 8 tháng 2 năm 2010, Murray bị buộc tội ngộ sát bởi công tố viên Los Angeles. Murray không nhận tội và được bảo lãnh sau khi nộp phạt 75.000 đô-la Mỹ. Một phiên tòa xét xử diễn ra vào ngày 27 tháng 9 năm 2011 sau nhiều lần trì hoãn. Vào ngày 7 tháng 11 năm 2011, Murray bị kết án ngộ sát và tạm giam không được bảo lãnh để chờ tuyên án. Vào ngày 29 tháng 11 năm 2011, Murray nhận bản án tối đa 4 năm tù. Vào ngày 28 tháng 10 năm 2013, ông được thả khi nhà tù California quá tải và có hành vi tốt.
=== Phản ứng và tang lễ ===
Tin tức về cái chết của Jackson lần đầu được công bố trên trang TMZ.com và Los Angeles Times, gây nên tình trạng gián đoạn ở cả hai trang mạng này. Google tin rằng do có hàng triệu người truy cập thông tin về "Michael Jackson" nên công cụ tìm kiếm bị tấn công DDoS và phải khóa các tìm kiếm liên quan trong vòng 30 phút. Hệ thống Twitter và Wikipedia cũng báo cáo một cuộc đánh sập vào lúc 3:15 chiều theo giờ PDT (22:15 UTC). Quỹ Wikimedia công bố có gần 1 triệu lượt xem tiểu sử của Jackson trong chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, là lượng đọc giả nhiều nhất trong thời lượng 1 tiếng của bất kỳ một bài viết nào trong lịch sử Wikipedia. AOL Instant Messenger gặp tình trạng quá tải trong vòng 40 phút. AOL gọi đây là "thời khắc trọng đại trong lịch sử Internet", cho rằng "Chúng ta chưa từng thấy điều gì như thế trong phạm vi qua đời."
Khoảng 15% bài đăng trên Twitter (5.000 tweet mỗi phút) có nhắc đến Jackson sau khi thông tin được lan truyền, so với con số 5% đề cập đến bầu cử tổng thống Iran hay đại dịch cúm 2009 vào thời điểm cùng năm. Trên toàn cục, lưu lượng web tăng từ 11% hay ít nhất 20% hơn ngưỡng thông thường. Theo phân tích của Global Language Monitor, sau khi qua đời 72 giờ, Jackson đạt hạng 9 trong in ấn toàn cầu và phương tiện truyền thông điện tử; đối với internet, blog hay mạng xã hội, Jackson nhảy đến vị trí thứ 2, chỉ đứng sau lần bầu cử của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Kênh MTV và BET liên tục phát các video âm nhạc của Jackson. Trong một cuộc thống kê của Pew Research Center, cứ 2 trên 3 người Mỹ tin rằng cái chết của Jackson phủ sóng quá mức, trong khi 3% còn lại cảm thấy vẫn chưa đủ. Tại Anh Quốc, BBC nhận hơn 700 lời phàn nàn từ người xem, khi cho rằng tin tức của Jackson đang chi phối mục bản tin quá nhiều.
Những người hâm mộ Jackson tập trung tưởng niệm đến ông; đường phố xung quanh bệnh viện nơi ông qua đời đều bị chặn và nhiều người Mỹ dừng công việc để theo dõi bản tin về ông trên truyền hình. Một đám đông nhỏ, có sự xuất hiện của thị trưởng Thành phố, tụ tập bên ngoài ngôi nhà thời thơ ấu của Jackson tại Gary, nơi rủ ngọn cờ của toà thị chính để tưởng nhớ đến ông. Người hâm mộ tại Hollywood tập trung xung quanh ngôi sao của một Michael Jackson khác tại Đại lộ danh vọng Hollywood—do ngôi sao của ông bị che khuất nhằm phục vụ cho lễ công chiếu phim Brüno.
Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama gửi một lá thư chia buồn đến gia đình Jackson và Hạ viện Hoa Kỳ cũng giành một phút tưởng niệm đến ông. Obama sau đó khẳng định Jackson "sẽ được ghi nhớ trong lịch sử như là một trong những nhà giải trí vĩ đại nhất của chúng ta." Cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela đưa ra một thông điệp thông qua quỹ của mình, phát biểu về mất mát mang ảnh hưởng toàn cầu của Jackson. Trưởng ban Truyền thông đối nội Nhật Bản Tsutomu Sato phát biểu "Tôi cảm thấy đau lòng khi mình từng xem ông ấy kể từ khi là thành viên của Jackson Five." Thủ tướng Vương quốc Anh Gordon Brown chia sẻ ngắn về cái chết của Jackson: "Đây là một tin rất buồn cho hàng triệu người hâm mộ Jackson tại Anh và trên thế giới," trong khi nhà lãnh đạo Đảng Bảo thủ David Cameron phát biểu "Dù gặp nhiều tranh cãi, ông vẫn là nhà giải trí huyền thoại." Người bạn lâu năm của Jackson, Elizabeth Taylor phát biểu mình không thể tưởng tượng khi sống thiếu ông ấy.
Buổi lễ tưởng nhớ Michael Jackson được tổ chức tại Staples Center, Los Angeles vào ngày 7 tháng 7 năm 2009, theo sau buổi lễ cầu nguyện của riêng gia đình Jackson tại Forest Lawn Memorial Park's Hall of Liberty. Vì nhu cầu tăng cao, chủ sự kiện phân phối vé đến dự cho công chúng theo kiểu xổ số; có 1.6 triệu người hâm mộ đăng ký chỉ trong thời gian 2 ngày và tổng cộng 8.750 cái tên ngẫu nhiên được chọn nhận 2 vé. Chiếc quan tài mạ vàng được đặt ngay dưới sân khấu trong suốt buổi lễ nhưng vẫn không có thông tin nào về nơi an nghỉ cuối cùng của ông. Chương trình tưởng niệm là một trong những sự kiện thu hút lượng người xem lớn nhất lịch sử truyền dữ liệu, với ước tính 31.1 triệu người theo dõi tại Hoa Kỳ, so với xấp xỉ 35.1 triệu lượt xem lễ chôn cất cựu tổng thống Ronald Reagan (2004) và khoảng 33.1 triệu người theo dõi lễ tang công nương Diana (1997). Mariah Carey, Stevie Wonder, Lionel Richie, John Mayer, Jennifer Hudson, Usher, Jermaine Jackson và Shaheen Jafargholi trình bày tại sự kiện này. Berry Gordy và Smokey Robinson đọc lời điếu văn, trong khi Queen Latifah đọc một bài thơ của Maya Angelou, "We had him". Al Sharpton nhận được tràng vỗ tay khi ông bảo với các con của Jackson, "Chẳng có gì kỳ lạ ở bố các cháu. Điều bất thường duy nhất là những gì bố các cháu phải trải qua. Nhưng ông ấy đã kiên cường đối mặt với chúng."
=== Sau khi qua đời ===
Bài hát phát hành đầu tiên sau khi qua đời của Jackson mang tên "This Is It", do ông đồng sáng tác cùng Paul Anka vào những năm 1980. Bài hát không được xuất hiện trong đêm nhạc cùng tên và bản thu âm dựa trên một đoạn thu thử cũ. Các anh em còn lại của nhà Jackson đã vào phòng thu lần đầu kể từ năm 1989 để thu giọng bè cho bài hát này. Vào ngày 28 tháng 10 năm 2009, một bộ phim tài liệu về khâu tập dượt cho đêm diễn mang tên Michael Jackson's This Is It được ra mắt. Dù chỉ phát hành trong 2 tuần giới hạn, đây lại là bộ phim tài liệu hay đêm diễn đạt doanh thu cao nhất mọi thời đại, với 260 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu. Tài sản của Jackson thu về 90% lợi nhuận. Bộ phim ra mắt cùng một album tổng hợp cùng tên. Hai phiên bản mới của bài hát xuất hiện trong album này, cùng một đĩa bổ sung với bài thơ mang tựa đề "Planet Earth". Tại Giải thưởng âm nhạc Mỹ 2009, Jackson thằng 4 giải, trong đó có 2 giải cho Number Ones.
Sau khi qua đời, Jackson trở thành nghệ sĩ có tổng doanh số tiêu thụ album lớn nhất năm 2009, với hơn 8.2 triệu album được bán ra tại Hoa Kỳ và 35 triệu album trên toàn cầu trong khoảng thời gian 12 tháng kể từ sau cái chết của ông. Jackson cũng trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử cán mốc 1 triệu lượt tải nhạc số trong một tuần, với doanh số kỷ lục 2,6 triệu lượt cho tất cả các bài hát của ông. Bên cạnh đó, 3 trên tổng số các album phòng thu mà Jackson phát hành lúc còn sống đã bán chạy hơn bất kỳ album mới phát hành nào trong tuần đó, một tiền lệ chưa từng xảy ra trước đó. Theo danh sách tổng kết 20 album bán chạy nhất năm tại Hoa Kỳ, Jackson trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử có 4 album góp mặt trong danh sách. Với sự đột biến về doanh số tiêu thụ, Sony tuyên bố rằng họ sẽ tiếp tục phát triển thêm nhiều dự án với âm nhạc của Jackson, trong đó Sony Music giữ quyền phân phối cho đến năm 2015. Ngày 16 tháng 3 năm 2010, Sony Music Entertainment, trong một động thái mũi nhọn của công ty con Columbia/Epic Label Group, đã ký một hợp đồng mới với tổ chức di sản của Jackson về việc mở rộng quyền phân phối các sản phẩm âm nhạc của ông cho đến ít nhất là năm 2017, cũng như được phép phát hành mười album và tuyển tập mới với những tác phẩm chưa từng phát hành chính thức trước đó.
Ngày 4 tháng 11 năm 2010, Sony công bố việc phát hành Michael, album di sản đầu tiên của Jackson vào ngày 14 tháng 12, cùng với một đĩa đơn quảng bá trên radio "Breaking News", phát hành ngày 8 tháng 11.. Thỏa thuận này được coi là một tiền lệ chưa từng có trong ngành công nghiệp âm nhạc vì đây là bản hợp đồng âm nhạc đắt giá nhất liên quan đến một nghệ sĩ hát đơn trong lịch sử; theo những báo cáo liên quan, Sony Music đã phải trả 250 triệu đô cho tổ chức di sản của Jackson cũng như chia sẻ tiền bản quyền cho tất cả các thành phẩm được phát hành. Nhà phát triển video game Ubisoft công bố sẽ phát hành một trò chơi hát và nhảy liên quan đến Michael Jackson cho người dùng Xbox 360 và PlayStation 3 trong dịp lễ năm 2010, mang tên Michael Jackson: The Experience.
Vào ngày 3 tháng 11 năm 2010, tập đoàn biểu diễn nghệ thuật sân khấu Cirque du Soleil tuyên bố rằng họ sẽ khởi động Michael Jackson: The Immortal World Tour vào tháng 10 năm 2011 tại Montreal, bên cạnh một chương trình cố định tại Las Vegas. Những buổi biểu diễn trị giá 57 triệu đô và kéo dài 90 phút mỗi buổi này sẽ kết hợp với những nhạc phẩm mang tính biểu tượng của Jackson và qua bàn tay dàn dựng bởi những nghệ sĩ kinh nghiệm của Cirque. Chuyến lưu diễn được viết kịch bản và đạo diễn bởi Jamie King Ngày 3 tháng 10 năm 2011, album tổng hợp 40 bản phối được sử dụng trong chuyến lưu diễn Immortal đã được công bố, với phần sản xuất lại do Kevin Antunes thực hiện. Một chương trình thứ hai, lớn hơn của Cirque có tên Michael Jackson: One được diễn định kì tại khu nghỉ dưỡng Mandalay Bay ở Las Vegas được công bố vào ngày 21 tháng 2 năm 2013. Nó bắt đầu hoạt động vào ngày 23 tháng 5 trong một nhà hát mới được cải tạo đã gặt hái thành công về mặt chuyên môn lẫn thương mại.
Ngày 31 tháng 3 năm 2014, Epic Records thông báo rằng album di sản tiếp theo của Jackson, Xscape, bao gồm 8 bài hát hoàn toàn mới được chọn lọc từ các bản ghi âm nháp mà ông thực hiện lúc còn sống, sẽ được phát hành vào ngày 13 tháng 5. Để quảng bá cho album, một màn trình diễn bài hát "Slave to the Rhythm", một trong những bài hát nằm trong Xscape với hiệu ứng hình ảnh 3 chiều hologram, đã được thực hiện tại Giải thưởng âm nhạc Billboard năm 2014. Thu nhập của Jackson đã tăng theo cấp số nhân kể từ sau cái chết đột ngột của ông, so với những năm cuối đời. Theo Forbes, ông luôn dẫn đầu danh sách những nghệ sĩ nổi tiếng qua đời có thu nhập nhiều nhất mỗi năm kể từ khi ông qua đời (tính riêng năm 2015 là 115 triệu đô-la Mỹ).
== Phong cách nghệ thuật ==
=== Ảnh hưởng ===
Jackson lấy cảm hứng từ tác phẩm của nhiều nhạc sĩ như Little Richard, James Brown, Jackie Wilson, Diana Ross, Fred Astaire, Sammy Davis Jr., Gene Kelly, David Ruffin, the Isley Brothers, the Bee Gees và vũ công trong vở nhạc kịch West Side Story, những người ông tri ân trong video âm nhạc "Beat It" và "Bad". Theo David Winters, người từng gặp gỡ và kết bạn cùng Jackson trong khi biên đạo cho chương trình Diana! của Diana Ross vào năm 1971, Jackson xem West Side Story gần như mỗi tuần và là bộ phim ưa thích của ông. Trong khi Little Richard có những ảnh hưởng sâu sắc đến Jackson, James Brown mới là nguồn cảm hứng vĩ đại nhất của ông. Trong một lần nhắc đến Brown, Jackson khẳng định: "Từ khi còn là một đứa trẻ chưa đến 6 tuổi, mẹ tôi luôn gọi tôi dậy, bất kể thời gian hay vào lúc tôi đang ngủ, để xem ông ấy trình diễn trên truyền hình. Tôi đều ghi nhớ mỗi khi thấy ông ấy di chuyển. Tôi chưa từng thấy một người có lối trình diễn như James Brown và ngay thời khắc đó tôi biết mình phải làm những gì trong quãng đời còn lại bởi vì James Brown."
Michael Jackson thời non trẻ mang kỹ thuật giọng hát ảnh hưởng lớn bởi Diana Ross. Không chỉ mang một hình tượng mẫu mực, Ross còn giám sát Jackson tập dượt như một người trình diễn hoàn thiện. Ông sau này thổ lộ: "Tôi biết bà ấy rất rõ. Bà ấy dạy cho tôi rất nhiều. Tôi từng ngồi xem bà ấy trình diễn. Bà là nghệ thuật trong chuyển động. Tôi học cách bà ấy di chuyển, cách bà ấy cất giọng." Jackson có lần bảo Ross: "Tôi muốn trở thành một người như bà, Diana ạ." Bà ấy trả lời: "Cậu hãy cứ là chính mình." Trong phong cách lâu dài của Jackson, ông sử dụng thán từ oooh như là sự thành kính đến Ross. Từ lúc bé, Jackson thường hát nhấn mạnh bằng những đoạn oooh cảm thán bất chợt. Diana Ross thường sử dụng hiệu ứng này trong nhiều bài hát thu âm cùng the Supremes.
=== Chủ đề và thể loại ===
Không như nhiều nghệ sĩ khác, Jackson không sáng tác trên giấy. Thay vào đó, ông thu âm bằng một máy thu thanh và hát lại bằng trí nhớ của mình. Trong hầu hết các bài hát của ông, như "Billie Jean", "Who Is It" và "Tabloid Junkie", Jackson thường beatbox hay bắt chước tiếng nhạc cụ bằng giọng hát thay vì chơi nhạc cụ thật, cùng những âm thanh khác. Steve Huey của Allmusic khẳng định rằng trong suốt sự nghiệp đơn ca, tài năng của Jackson đã tạo điều kiện cho ông có cơ hội thử sức với hàng loạt chủ đề và thể loại âm nhạc khác nhau. Trong cương vị một nhạc sĩ, ông từng khám phá nhiều thể loại âm nhạc, bao gồm pop, soul, rhythm and blues, funk, rock, disco, post-disco, dance-pop và new jack swing.
Cũng theo Huey, Thriller là sự trau chuốt hơn những điểm mạnh của Off the Wall; những bản dance và rock trở nên kích động hơn, trong khi những giai điệu pop và ballad dường như nhẹ nhàng và truyền cảm hơn. Ca khúc nổi bật gồm các bản ballad "The Lady in My Life", "Human Nature" và "The Girl Is Mine"; mảng nhạc funk gồm "Billie Jean" và "Wanna Be Startin' Somethin'"; disco thì có "Baby Be Mine" and "P.Y.T. (Pretty Young Thing)". Với Thriller, Christopher Conelly của Rolling Stone bình luận rằng Jackson đã mở rộng sự kết hợp với đề tài hoang tưởng và hình ảnh bí ẩn. Stephen Thomas Erlewine của Allmusic nhấn mạnh đây là điều hiển nhiên ở những bài hát như "Billie Jean" hay "Wanna Be Startin' Somethin'". Với "Billie Jean", Jackson hát về một người hâm mộ cuồng nhiệt đã coi ông là bố của những đứa con cô ta Còn với "Wanna Be Startin' Somethin'", ông thúc giục người nghe chống lại những chuyện tầm phào của giới truyền thông. Ca khúc rock "Beat It" mang ý nghĩa chống lại bạo lực trong những băng nhóm, tri ân đến West Side Story và Huey coi đây là bài hát rock thành công đầu tiên của Jackson. Huey nhận thấy trong ca khúc cùng tên album, "Thriller" Jackson bắt đầu cho thấy sự hứng thú về hiện tượng siêu nhiên, một chủ đề mà ông lặp lại trong những năm tiếp theo. Năm 1985, Jackson đồng sáng tác ca khúc từ thiện "We Are The World"; nội dung nhân đạo sau này trở thành chủ đề lớn trong hình ảnh công chúng và sự nghiệp của ông.
Ở Bad, khái niệm của Jackson về tình yêu có tính chất vụ lợi có thể thấy ở bài "Dirty Diana". Đĩa đơn đầu tiên "I Just Can't Stop Loving You" là một bản ballad tình yêu truyền thống, trong khi "Man In The Mirror" lại nói về sự thú nhận và quyết tâm. "Smooth Criminal" thì gợi lên những cuộc xô xát đẫm máu, hiếp dâm và thậm chí là giết người. Stephen Erlewine cho rằng Dangerous bộc lộ Jackson như một cá nhân hoàn toàn ngược đời. Ông bình luận rằng album đa dạng hơn Bad, khi vừa hấp dẫn khán giả thể loại urban lại vừa thu hút giới trung lưu với những bài hát như "Heal the World". Nửa đầu của album hướng về dòng new jack swing bao gồm các bài như "Jam" và "Remember The Time". Đây là album đầu tiên của Jackson lấy những mặt yếu kém của xã hội làm chủ đề chính; "Why You Wanna Trip on Me" là một ví dụ phản ảnh nạn đói, AIDS, nghiện hút và vô gia cư trên thế giới. Dangerous còn đề cập về vấn đề giới tính như trong "In The Closet". Bài hát chủ đề tiếp tục nhắc đến tình yêu vụ lợi và dục vọng ép buộc. Nửa sau của album bao gồm những ca khúc mang tính hướng nội nhiều hơn, như những bài hát mang ảnh hưởng Phúc âm "Will You Be There", "Heal the World" và "Keep the Faith"; đề cập đến nhiều vấn đề cá nhân và nỗi lo lắng. Ông viết ca khúc "Gone Too Soon" để tưởng nhớ người bạn Ryan White và cảnh ngộ khốn khó của nạn nhân bệnh AIDS.
HIStory thì tạo ra một không khí đầy mơ tưởng. Nội dung của album tập trung vào sự gian khổ và kiên trì đấu tranh của Jackson trong quá trình sản xuất. Bài hát new jack swing-funk-rock "Scream" và "Tabloid Junkie", cùng với bản ballad R&B "You Are Not Alone" là lời đáp trả những bất công và nỗi cô đơn mà ông cảm nhận, đồng thời là sự phẫn nộ trước những soi mói thái quá của giới truyền thông. Trong bản ballad "Stranger in Moscow", Jackson than thở về "sự mê muội đắm say", trong khi "Earth Song", "Childhood", "Little Susie" và "Smile" mang giai điệu pop opera. Với "D.S.", Jackson chỉ trích Tom Sneddon như một kẻ chống lại xã hội, kẻ coi người da trắng là thượng đẳng, ưu việt. Invincible cho thấy Jackson đã phải làm việc vất vả với nhà sản xuất Rodney. Đó là bản thu âm tập hợp nhạc urban soul như các bài "Cry", "The Lost Children", những bản ballad như "Speechless", "Break of Dawn" và "Butterflies", pha trộn thêm hip-hop, pop, rap trong "2000 Watts", "Heartbreaker" và "Invincible".
=== Giọng hát ===
Jackson bắt đầu hát khi còn là một đứa trẻ, trải qua năm tháng thì giọng và cách hát của ông đã có những thay đổi đáng chú ý. Trong những năm 1971 đến 1975, ông giảm từ giọng nam cao ("boy soprano") sang kiểu giọng mái ("high tenor"). Quãng giọng khi đã trưởng thành của Jackson trải dài từ F2-E♭6. Jackson lần đầu sử dụng chất giọng nấc ("vocal hiccup") vào năm 1973, bắt đầu từ bài hát "It's Too Late to Change the Time" của album G.I.T.: Get It Together của the Jackson 5. Mãi đến khi thu âm Off the Wall, ông mới sử dụng lại kỹ thuật này—khá giống như việc nuốt không khí hoặc thở hổn hển. Có thể nghe thấy hiệu ứng này trọn vẹn trong video quảng bá "Shake Your Body (Down to the Ground)". Với sự ra đời của Off the Wall cuối thập niên 1970, năng lực của Jackson như một ca sĩ thực thụ bắt đầu được công nhận. Thời gian đó, Rolling Stone so sánh giọng ông như "nói lắp nín thở, vẩn vơ" theo kiểu Stevie Wonder. Họ cũng phân tích rằng "giọng hát vừa mềm mại vừa cứng cáp của Jackson thật tuyệt vời. Nó lướt một cách nhẹ nhàng cùng chất giọng falsetto đáng ngạc nhiên một cách táo bạo". Năm 1982 chứng kiến sự phát hành của Thriller, Rolling Stone cho rằng ông đang hát với một "giọng hát hoàn toàn trưởng thành" mà "đượm chút buồn".
Jackson thường xuyên cố tình phát âm sai cụm từ "come on", thỉnh thoảng đánh vần thành "c'mon", "cha'mone" hay "shamone", nhằm biểu lộ sự nhấn mạnh của ông. Vào đầu thập niên 1990, ông phát hành Dangerous mang nhiều tính nội tâm. Thời báo New York nhận thấy trong nhiều bài hát, ông "nín thở, giọng run run khi nhắc đến những mối lo toan hay chuyển sang thì thầm những lời tuyệt vọng, rít lên giận dữ qua những tiếng nghiến răng" và có một "giọng điệu đầy đau khổ". Còn khi hát về tình anh em hay lòng tự trọng, giọng ca của ông dường như trở nên "mềm mại" hơn. Khi nhận xét về Invincible, tạp chí Rolling Stone cho rằng Jackson ở tuổi 43 vẫn còn biểu diễn "những ca khúc mang giai điệu giọng thanh thoát và sự hòa giọng ngân vang". Nelson George kết luận giọng hát của Jackson rằng "Sự thanh nhã, phản kháng, giận dữ, trẻ con, chất giọng mái, sự mềm mại—tất cả trở thành những yếu tố làm nên tên tuổi một giọng ca lớn". Nhà phê bình văn hóa Joseph Vogel nhìn nhận "phong cách khác biệt [của Jackson] nằm ở khả năng truyền đạt cảm xúc mà không cần sử dụng ngôn ngữ: những biểu cảm ngấu nghiến, càu nhàu, thở hổn hển, khóc, cảm thán trứ danh; ông còn vặn vẹo từ ngữ cho đến khi chúng gần như không thể nhận thấy được nữa." Neil McCormick cho rằng phong cách ca hát không chính thống của Jackson "dộc đáo và hoàn toàn khác biệt, từ chất giọng falsetto thanh khiết đến âm giữa nhẹ nhàng và ngọt ngào; sự đè nén liền mạch giữa một loạt nốt nhanh [...] Khác biệt so với dòng nhạc soul truyền thống Mỹ, ông không thường trình bày những bản thuần ballad, nhưng khi ông thể hiện chúng (từ 'Ben' đến 'She's Out of My Life') hiệu ứng này trợ nên mạnh mẽ một cách giản đơn và chân thực."
=== Video âm nhạc và vũ đạo ===
Jackson được vinh danh là "Ông hoàng của Video âm nhạc". Steve Huey từ AllMusic nhận thấy cách mà Jackson chuyển hóa video âm nhạc sang hình thức nghệ thuật và là một công cụ quảng bá thông qua cốt truyện phức tạp, vũ đạo, hiệu ứng đặc biệt và sự góp mặt của người nổi tiếng, đồng thời phá bỏ rào cản về chủng tộc. Trước Thriller, Jackson gặp nhiều khó khăn để gây được chú ý từ MTV do ông là người Mỹ gốc Phi. Trước những áp lực từ CBS Records, MTV trình chiếu "Billie Jean" và sau đó là "Beat It", tiến đến sự hợp tác lâu dài cùng Jackson, đồng thời giúp nhiều nghệ sĩ da màu được biết đến. 5 nhân viên từ MTV chối bỏ bất kỳ khẳng định phân biệt chủng tộc hay sức ép nào trên kênh này; MTV vẫn chơi nhạc rock từ bất kể chủng tộc nào. Sự phổ biến của Jackson trên MTV giúp cho kênh truyền hình này nhận được nhiều chú ý; trọng tâm của kênh sau đó chuyển sang pop và R&B. Màn trình diễn của ông trong Motown 25: Yesterday, Today, Forever đã thay đổi quy mô dàn dựng trực tiếp; "Màn trình diễn 'Billie Jean' nhép môi ấy của Jackson, bản thân nó không đặc biệt, nhưng điều phi thường nằm ở chỗ nó thay đổi tầm ảnh hưởng của một màn trình diễn thông thường; trình diễn trực tiếp hay nhép môi đều giống nhau trước mắt khán giả", tạo ra một thời kỳ nơi nghệ sĩ tái tạo hình tượng trong video âm nhạc lên sân khấu. Những thước phim ngắn như Thriller vẫn còn giữ nguyên tính độc đáo, trong khi vũ đạo trong "Beat It" thường xuyên được mô phỏng rộng rãi. Vũ đạo trong Thriller trở thành một phần quan trọng trong văn hóa đại chúng, Thriller khởi đầu một kỷ nguyên mới của video ca nhạc và được Kỷ lục thế giới Guinness vinh danh là video âm nhạc thành công nhất mọi thời đại.
Trong video "Bad" dài 18 phút do Martin Scorsese đạo diễn, Jackson bắt đầu sử dụng hình tượng gợi cảm và khả năng biên đạo chưa từng thấy trong các sản phẩm trước đây. Ông thỉnh thoảng túm lấy hoặc chạm vào ngực, thân mình và hạ bộ. Khi ông miêu tả đó là "biên đạo múa", "Bad" nhận được những khen chê lẫn lộn từ cả người hâm mộ lẫn phê bình. Tạp chí Time coi nó là điều "đáng hổ thẹn". Với "Smooth Criminal", Jackson sáng tạo cú "ngả người chống lại trọng lực"—khi người biểu diễn nghiêng một góc 45 độ từ tâm trọng lực, được thực hiện bằng một đôi giày đặc biệt giúp giữ chân của vũ công trên sân khấu. Động tác này được ông đăng ký bằng sáng chế ở Mỹ số 5,225,452. Mặc dù video ca nhạc "Leave Me Alone" (1989) không được phát hành chính thức tại Mỹ, vào năm 1989, video này giành 3 đề cử giải Billboard hạng mục video ca nhạc; cùng năm đó, video cũng giành giải thưởng Sư Tử Vàng cho chất lượng hiệu ứng đặc biệt. Năm 1990, "Leave Me Alone" giành giải Grammy cho hạng mục "Video âm nhạc dạng ngắn xuất sắc nhất".
Ông giành giải thưởng tiên phong của MTV vào năm 1988 và giải MTV Nghệ sĩ video của thập niên 1990 nhằm tôn vinh thành tựu nghệ thuật trong video ca nhạc của ông trong suốt thập niên 1980; vào năm 1991, giải thưởng được đổi sang tên ông để vinh danh ông. Video âm nhạc gây tranh cãi "Black or White" khởi chiếu cùng lúc vào ngày 14 tháng 11 năm 1991 tại 27 quốc gia với lượng người xem lên tới 500 triệu người, một kỷ lục vào thời điểm đó. Video có nhiều cảnh mang tính gợi dục và bạo lực. Những cảnh quay gây khó chịu ở nửa cuối video dài 14 phút được điều chỉnh lại nhằm tránh khỏi lệnh cấm chiếu và Jackson đã lên tiếng xin lỗi công chúng. Cùng với Jackson, những diễn viên khác như Macaulay Culkin, Peggy Lipton và George Wendt cũng xuất hiện trong video. Video "Remember the Time" được đầu tư kỹ lưỡng và trở thành một trong những video dài nhất của ông, với thời lượng hơn 9 phút. Lấy bối cảnh là Ai Cập cổ đại, nhà sản xuất phải sử dụng nhiều hiệu ứng thị giác, với sự tham gia của diễn viên Eddie Murphy, người mẫu Iman và vận động viên bóng rổ Magic Johnson trong nhiều vũ đạo phức tạp. "In the Closet" là một trong những video gợi cảm nhất của Jackson; siêu mẫu Naomi Campbell xuất hiện trong video và thực hiện những điệu múa tình tứ với Jackson. Video bị cấm chiếu tại Nam Phi.
Video ca nhạc "Scream", do Mark Romanek đạo diễn và thiết kế sản xuất bởi Tom Foden, là một trong những video được hoan nghênh từ giới phê bình. Năm 1995, video mang về 11 đề cử giải Video âm nhạc của MTV—nhiều hơn bất kỳ video nào khác—và giành được giải "Video nhảy xuất sắc nhất", "Bố trí đẹp nhất" và "Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất". Bài hát và video "Scream" được cho là một nỗ lực phản kháng mạnh mẽ của hai anh em Jackson đối với lời buộc tội xâm hại tình dục trẻ em năm 1993. Một năm sau, video giành một giải Grammy hạng mục "Video âm nhạc dạng ngắn xuất sắc nhất" và sau đó được sách kỷ lục Guinness ghi nhận là video ca nhạc có chi phí đầu tư lớn nhất mọi thời đại với 7 triệu đô-la Mỹ. "Earth Song" có một video âm nhạc công phu và được đón nhận tốt, mang về một đề cử giải Grammy vào năm 1997. Video mang chủ đề vì môi trường, có những cảnh quay về ngược đãi thú vật, phá rừng, ô nhiễm và chiến tranh. Phát hành năm 1997 và khởi chiếu một năm trước đó tại Liên hoan phim Cannes, Ghosts là một bộ phim ngắn do Jackson và Stephen King sáng tác, đạo diễn bởi Stan Winston. Video Ghosts dài hơn 38 phút và hiện đang giữ kỷ lục là video ca nhạc dài nhất thế giới theo Sách kỷ lục Guinness.
== Di sản ==
Giới truyền thông đã tôn vinh Jackson là "Vua nhạc Pop" bởi vì, trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã tạo nên cuộc cách tân về nghệ thuật của video âm nhạc và mở đường cho nền nhạc pop hiện đại. Nhà báo Tom Utley tờ The Daily Telegraph đã mô tả những đóng góp của Jackson vào năm 2003 là "cực kỳ quan trọng" và là một "thiên tài". Trong phần lớn sự nghiệp, ông có sức ảnh hưởng ở cấp độ "không thể sánh kịp" đến thế hệ trẻ trên toàn cầu thông qua những đóng góp về âm nhạc và thiện nguyện của mình. Âm nhạc và video của Jackson, như Thriller, đã thúc đẩy sự đa dạng về chủng tộc trên kênh MTV, đưa kênh truyền hình còn non trẻ này đến với cộng đồng và chuyển hướng tập trung của kênh từ rock sang nhạc pop và R&B, từ đó định hình nên hệ thống một cách vững chắc. Tác phẩm của Jackson còn tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều nghệ sĩ ở các thể loại âm nhạc khác nhau. BET mô tả Jackson "đơn giản là nhà giải trí vĩ đại nhất mọi thời đại" và là người "mở một cuộc cách mạng video âm nhạc và đưa nhiều điệu nhảy như moonwalk đến thế giới."
Steve Huey của AllMusic mô tả Jackson là "một gã hùng mạnh không thể bị cản phá, người thành thục tất cả những kỹ năng để chiếm phá các bảng xếp hạng: một giọng hát dễ dàng nhận biết, những động tác lôi cuốn, tính linh hoạt trong âm nhạc một cách đáng kinh ngạc và vô vàn sức mạnh của một ngôi sao". Vào giữa thập niên 1980, nhà phê bình âm nhạc của tạp chí Time, Jay Cocks nhận thấy "Jackson là điều đáng kể nhất từ the Beatles. Ông là hiện tượng nóng bỏng nhất kể từ Elvis Presley. Ông cũng có thể là ca sĩ da màu phổ biến nhất". Vào năm 1990, Vanity Fair gọi Jackson là nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong lịch sử trình diễn. Vào năm 2007, Jackson phát biểu "Âm nhạc chính là lối thoát, là món quà mà tôi gửi đến tất cả người điệu mộ trên thế giới. Thông qua âm nhạc của bản thân, tôi biết mình sẽ trường tồn mãi mãi."
Không lâu sau khi Jackson mất, vào ngày 25 tháng 6 năm 2009, MTV quay lại định dạng trình chiếu video âm nhạc để kỷ niệm đến ông. Kênh trình chiếu video âm nhạc của ông hàng giờ liền, cùng nhiều bản tin trực tiếp đặc biệt về phản ứng của các ngôi sao và đội ngũ MTV. Trong buổi lễ tang vào ngày 7 tháng 7 năm 2009, nhà sáng lập hãng Motown Berry Gordy gọi Jackson là "nhà giải trí vĩ đại nhất mọi thời đại". Vào ngày 29 tháng 12 năm 2009, Viện phim Mỹ công nhận cái chết của Jackson là một "khoảnh khắc mang ý nghĩa trọng đại" khi "gây nỗi đau buồn trên khắp thế giới và những lời ca tụng chưa từng thấy trên toàn cầu". Vào năm 2015, hai thủ thư trường đại học tìm thấy những ảnh hưởng mở rộng của Jackson trong học thuật và được đề cập trong tài liệu học thuật, có liên quan đến một loạt các vấn đề. Cả hai tìm hiểu về các tác phẩm khác nhau của nhiều học giả và tập hợp thành một tài liệu chú thích. Tập tài liệu bao gồm những báo cáo nghiên cứu về Jackson trong âm nhạc, văn hóa đại chúng, hóa học và nhiều chủ đề khác.
== Vinh danh và giải thưởng ==
Trong suốt sự nghiệp của mình, Jackson đã nhận được nhiều giải thưởng và huân chương, trong đó có Giải thưởng Âm nhạc Thế giới cho "Nghệ sĩ pop nam bán đĩa chạy nhất thiên niên kỷ", Giải thưởng Âm nhạc Mỹ cho "Nghệ sĩ của thế kỷ" và giải Bambi cho "Nghệ sĩ Pop của Thiên niên kỷ". Tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Thế giới ở Luân Đôn vào ngày 15 tháng 11 năm 2006, Jackson nhận giải thưởng Kim cương cho hơn 100 triệu đĩa nhạc lưu hành trên toàn cầu.
Ông đã hai lần được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll, lần thứ nhất vào năm 1997 cùng với các anh trai trong ban nhạc The Jackson 5 và lần thứ hai vào năm 2001 dưới vai trò của một nghệ sĩ hát đơn. Jackson được bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng Nhóm hát vào năm 1999 (như là thành viên nhóm Jackson 5) và tại Đại sảnh Danh vọng Nhạc sĩ vào năm 2002. Năm 2010, Jackson được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng Khiêu Vũ như là người đầu tiên (và duy nhất) của nhạc pop và rock 'n' roll được vinh danh. Vào năm 2014, Jackson là một trong những thành viên bổ nhiệm năm thứ hai của Đại sảnh Danh vọng nhạc R&B; cha của Jackson, Joe Jackson đã nhận thay ông.
Thành tích nổi bật khác của Jackson còn là hàng loạt kỷ lục Guinness (ghi thêm 6 kỷ lục chỉ tính riêng năm 2006), 13 giải Grammy (bao gồm Giải Grammy Huyền thoại và Giải Grammy Thành tựu trọn đời), 26 giải thưởng Âm nhạc Mỹ (bao gồm giải "Nghệ sĩ của Thế kỷ" và "Nghệ sĩ của thập niên 1980"),—nhiều hơn bất kể nghệ sĩ nào, 13 đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ trong sự nghiệp đơn ca—nhiều hơn bất kỳ nam nghệ sĩ nào trong thời kỳ Hot 100—và hơn 400 triệu đĩa nhạc tiêu thụ trên toàn cầu, giúp ông trở thành một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất trong lịch sử âm nhạc. Jackson còn nhận được Bằng Doctor of Humane Letters từ United Negro College Fund và Huân chương Doctorate of Humane Letters từ Đại học Fisk.
== Danh sách đĩa nhạc ==
Got to Be There (1972)
Ben (1972)
Music & Me (1973)
Forever, Michael (1975)
Off the Wall (1979)
Thriller (1982)
Bad (1987)
Dangerous (1991)
HIStory: Past, Present and Future, Book I (1995)
Invincible (2001)
== Sự nghiệp điện ảnh ==
The Wiz (1978)
Captain EO (1986)
Moonwalker (1988)
Michael Jackson's Ghosts (1997)
Men in Black II (2002)
Miss Cast Away and the Island Girls (2004)
Michael Jackson's This Is It (2009)
Bad 25 (2012)
Michael Jackson: The Last Photo Shoot (2014)
== Lưu diễn ==
Bad (1987–89)
Dangerous World Tour (1992–93)
HIStory World Tour (1996–97)
MJ & Friends (1999)
This Is It (2009–10; bị hủy)
== Xem thêm ==
Danh sách nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất
Danh sách nghệ sĩ được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll
Danh sách đĩa đơn bán chạy nhất thế giới
Kỷ lục của bảng xếp hạng Billboard Hot 100
Kỷ lục của bảng xếp hạng Billboard 200
Kỷ lục của UK Singles Chart
== Tham khảo ==
Ghi chú
^
Chú thích
Thư mục
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Michael Jackson tại Internet Movie Database
Michael Jackson trên trang Open Directory Project
Michael Jackson tại MTV
Michael Jackson trên Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll
Michael Jackson tại Find a Grave |
phana (huyện).txt | Phana (tiếng Thái: พนา) là một huyện (‘‘amphoe’’) của tỉnh Amnat Charoen, đông bắc Thái Lan.
== Lịch sử ==
Ban đầu là Mueang Phana Nikhon (พนานิคม) thuộc Mueang Ubon Ratchathani. Mường này đã được chuyển thành huyện năm 1914. Huyện lỵ năm ở Ban Khulu, nay ở Trakan Phuet Phon. Ngày 1 tháng 12 năm 1951, phía tâyy của huyện được tách làm tiểu huyện (King Amphoe) Phana. Đơn vị này đã được nâng thành huyện ngày 22 tháng 7 năm 1959. Năm 1993 đây là một trong những huyện tạo nên tỉnh mới Amnat Charoen.
== Địa lý ==
Các huyện giáp ranh là (từ phía tây theo chiều kim đồng hồ) Lue Amnat, Mueang Amnat Charoen và Pathum Ratchawongsa của tỉnh Amnat Charoen, và Trakan Phuet Phon, Lao Suea Kok và Muang Sam Sip của tỉnh Ubon Ratchathani.
== Hành chính ==
Huyện này được chia thành 4 phó huyện (tambon), các đơn vị này lại được chia thành 56 làng (muban). Có hai thị trấn (thesaban tambon) - Phra Lao nằm trên một phần của tambon Phra Lao, và Phana nằm trên một phần của tambon Phra Lao và một số khu vực của tambon Phana. Ngoài ra có 3 tổ chức hành chính tambon (TAO).
== Tham khảo == |
hiệp hội bóng đá trung hoa đài bắc.txt | Hiệp hội bóng đá Đài Loan (phồn thể: 中華民國足球協會; Hán-Việt: Trung Hoa Dân Quốc túc cầu hiệp hội) hay Hiệp hội bóng đá Trung Hoa Đài Bắc (tiếng Anh: Chinese Taipei Football Association) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Đài Loan. CTFA quản lý các đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như giải bóng đá vô địch quốc gia Trung Hoa Đài Bắc, cúp bóng đá Trung Hoa Đài Bắc,.... CTFA là thành viên của cả Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) và Liên đoàn bóng đá Đông Á (EAFF).
Chủ tịch của Hiệp hội bóng đá Đài Loan hiện nay là ông Lâm Chấn Nghĩa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Hiệp hội bóng đá Đài Loan
Hiệp hội bóng đá Trung Hoa Đài Bắc trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA)
Hiệp hội bóng đá Đài Loan trên trang chủ của AFC
Bản mẫu:Bóng đá Đài Loan |
âu lạc.txt | Âu Lạc (chữ Hán: 甌雒/甌駱) là nhà nước được thành lập bởi Thục Phán năm 214 TCN, nhà nước này đã thống nhất 2 bộ tộc Âu Việt- Lạc Việt lại với nhau và đã thành công trước cuộc xâm lược của nhà Tần, nhưng sau cùng thất bại trước Nam Việt của Triệu Đà.
Nhà nước này kế tục nhà nước mang tính truyền thuyết Văn Lang của các vua Hùng. Kinh đô của Âu Lạc đặt tại Cổ Loa, ngày nay thuộc huyện Cổ Loa -Đông Anh - Hà Nội.
== Hình thành ==
Theo hai bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư (viết ở thế kỷ 15) và Đại Việt sử lược (viết ở thế kỷ 13), thì nhà nước Âu Lạc được Thục Phán (thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt) thành lập vào năm 258 TCN sau khi đánh bại vị vua Hùng cuối cùng của nước Văn Lang, ông lên ngôi và lấy niên hiệu là An Dương Vương.
Tuy nhiên theo bộ sử ký của Tư Mã Thiên (quan nhà Hán) viết vào thế kỷ 1 TCN viết rằng, năm 218 TCN - hoàng đế nhà Tần - Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư mang 50 vạn quân xâm lược các bộ tộc Việt ở phương Nam. Người Việt cử người tuấn kiệt lên làm lãnh đạo chống lại và giành thắng lợi trước quân Tần - tướng Đồ Thư bị diệt, như vậy căn cứ vào bộ sử ký của Tư Mã Thiên thì thời gian hình thành Âu Lạc muộn hơn vào khoảng sau năm 218 TCN.
== Cương vực ==
Sau khi đánh bại vua Hùng thứ 18 của Văn Lang, Thục Phán sát nhập lãnh thổ của Văn Lang và lãnh thổ của bộ tộc mình (Âu Việt) và hình thành nên một nhà nước mới là Âu Lạc (kết hợp giữa người Âu Việt và người Lạc Việt)
Lãnh thổ Âu Lạc gồm lãnh cũ của bộ tộc Âu Việt ở phía bắc, mà ngày nay là một phần phía nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và lãnh thổ của Văn Lang ở miền bắc Việt Nam. Âu Lạc có ranh giới phía bắc là sông Tả Giang (Quảng Tây) đến phía nam là dãy núi Hoành Sơn ở Hà Tĩnh hiện nay.
== Tầng lớp xã hội ==
Dựa trên các cơ sở của nhà nước Văn Lang, An Dương Vương cũng để nguyên cơ cấu các bộ tộc như dưới thời các vua Hùng, Quan lại giúp việc cho An Dương Vương cũng là các lạc hầu, lạc tướng. Dấu tích của thời Âu Lạc để lại đến ngày nay là hệ thống thành Cổ Loa và hàng vạn mũi tên đồng được khai quát ở gần thành cổ.
== Kháng chiến chống quân Tần xâm lược ==
Theo Sử ký Tư Mã Thiên của sử gia người Hán - Tư Mã Thiên viết vào thế kỷ 1 TCN, năm 218 TCN hoàng đế nhà Tần - Tần Thủy Hoàng sai hiệu uý Đồ Thư mang 50 vạn quân xâm lược các bộ tộc Việt ở phía Nam. Người Việt dùng chiến tranh du kích chống lại dẫn tới cuộc chiến kéo dài tới 10 năm, Đồ Thư bị diệt, người Âu Lạc bảo vệ được lãnh thổ.
[[Tập|nhỏ|phải||Tượng Thục Phán bằng đồng bên trong đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.]]
Cuộc kháng chiến chống xâm lược Tần là cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước đầu tiên trong chính sử Việt Nam.
== Kết thúc ==
Theo hai bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư (viết ở thế kỷ 15) và Đại Việt sử lược (viết ở thế kỷ 13), thì nhà nước Âu Lạc kết thúc vào năm 208 TCN sau khi An Dương Vương bị Triệu Đà (một viên quan nhà Tần ở Quảng Đông - Trung Quốc) đánh bại và sáp nhập.
Tuy nhiên theo bộ Sử ký của Tư Mã Thiên (quan nhà Hán) (thế kỷ 1 TCN) lại viết rằng Tây Âu Lạc (tức phía Tây nước Âu Lạc) bị Triệu Đà đánh bại ngay sau khi thái hậu nhà Hán là Lữ Hậu chết, Lữ Hậu chết năm 180 TCN, vì thế một số sách báo ngày nay cũng viết Âu Lạc sụp đổ năm 179 TCN.
== Xem thêm ==
== Một số tài liệu tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư - Ngô Sĩ Liên
Đại Việt sử lược - khuyết danh, Trần Quốc Vượng dịch
== Liên kết ngoài bổ sung ==
Âu Lạc tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
cao khảo.txt | Kỳ thi Tuyển sinh Đại học Toàn Quốc, hay đôi khi được dịch thành Kỳ thi Đại học Toàn quốc hay Kỳ thi Tuyển sinh Toàn Quốc, thường gọi là Cao Khảo (tiếng Anh: gaokao, chữ Hán: 高考, phiên âm: gāo kǎo) là kỳ thi học thuật được tổ chức hằng năm tại Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, bắt đầu thống nhất hằng năm vào ngày 06 tháng 07.
Kỳ thi thường tổ chức cho các đối tượng là học sinh đang học năm cuối khối trung học phổ thông, mặc dù giới hạn tuổi đã được bãi bỏ từ năm 2001. Hiện nay, tất cả những thí sinh đã được xét tốt nghiệp trung học và có học lực tương xứng đều có thể tham gia kỳ thi này. Dựa trên kế hoạch và chỉ tiêu tuyển sinh cùng với các yếu tố khác như học lực, đạo đức, thể chất và năng khiếu, kỳ thi này là điều kiện xét tuyển cho hầu hết tất cả các chương trình cử nhân tại các trường đại học ở Trung Quốc; do vậy, kỳ thi được đảm bảo độ tin cậy, độ khó và độ phân hoá.
Mỗi tỉnh ở Trung Quốc là một đơn vị tổ chức riêng. Mặc dù danh xưng là một kỳ thi toàn quốc, nhưng từ năm 2001, một số tỉnh đã hoàn toàn tự chủ hoặc một phần tự chủ trong khâu ra đề như Bắc Kinh, Thiên Tân, Trùng Khánh, Sơn Đông, Giang Tô, Hồ Nam, Phúc Kiến, Tứ Xuyên, Giang Tây, An Huy, Chiết Giang, Sơn Tây, Liêu Ninh, Hồ Bắc, Quảng Đông, Hải Nam, và một số nơi khác, cùng với Thượng Hải vốn được thử nghiệm tự chủ từ năm 1985. Vào năm 2015, Liêu Ninh và Giang Tây quay lại sử dụng toàn bộ bộ đề của Bộ Giáo dục và vào năm 2016, Hồ Bắc, Quảng Đồng, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Phúc Kiến, và An Huy cũng quay lại sử dụng bộ đề của Bộ Giáo dục, chỉ còn Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Giang Tô và Chiết Giang tự ra đề.
Cao Khảo là kỳ thi đóng, có nội dung được ứng định bởi Bộ Giáo dục và đối với những tỉnh, thành tự ra đề, nội dung phải tương thích với giáo trình chung của quốc gia. Kỳ thi kéo dài khoảng chín giờ đồng hồ trong hai đến ba ngày, tuỳ vào từng tỉnh. Ngữ văn Trung Quốc, Toán học, và Ngoại ngữ (thường là tiếng Anh) là những môn bắt buộc cho mọi thí sinh tại hầu hết các tỉnh. Ngoài ra, thí sinh còn phải chọn một trong hai phân hướng: Xã hội, hay Văn Khoa (文科倾向) và Khoa học, hay Lý Khoa, (理科倾向). Thí sinh nào chọn Văn khoa sẽ thi ba môn Lịch sử, Địa lý, và Tư tưởng Chính trị, hoặc bài thi tổng hợp (文综) còn những thí sinh nào chọn Lý khoa sẽ thi ba môn Vật lý, Hoá học, và Sinh học, hoặc bài thi tổng hợp (理综).
Điểm thi Cao Khảo thường là tổng điểm đã được tính hệ số. Điểm tối đa của kỳ thi này thay đổi theo từng năm và thay đổi theo từng tỉnh.
Vào năm 2006, hơn 9.5 triệu người đăng ký xét tuyển vào các trường đại học tại Trung Quốc. Trong số này, 8.8 triệu người, tức khoảng 93% tham dự kỳ thi này, còn 27,600 người (0.28%) được tuyển thẳng. Số còn lại khoảng 700,000 người tham dự các kỳ thi chuẩn hoá khác, như các kỳ thi dành cho thí sinh thuộc khối giáo dục thường xuyên.
Vào năm 2014, Bộ Giáo dục chính thức đưa vào thực hiện những cải cách cho kỳ thi này, bao gồm loại bỏ nhiều mục điểm ưu tiên và khuyến khích, gia tăng chỉ tiêu tuyển sinh cho những thí sinh vùng miền Tây và miền Trung Trung Quốc, và loại bỏ sự phân biệt giữa Văn Khoa và Lý Khoa. Điểm Cao Khảo trong đợt cải cách này gồm tổng ba môn Ngữ văn Trung Quốc, Toán học, và Ngoại ngữ được tổ chức vào năm ba trung học, cùng với điểm ba môn tự chọn bất kỳ trong các môn Lịch sử, Địa lý, Tư tưởng Chính trị, Vật lý, Hoá học, Sinh học, và Kỹ thuật dưới dạng thức đánh giá năng lực (学业水平考试). Các môn thi dưới dạng thức đánh giá năng lực sẽ được chuyển trên thang 21 cấp. Thí sinh có hai cơ hội để làm bài môn Ngoại ngữ và các môn tự chọn với điểm cao hơn được sử dụng. Cải cách này được đưa vào thực hiện từ năm 2017 với Thượng Hải và Chiết Giang tiên phong thử nghiệm.
== Lịch sử ==
Trước 1949, các trường đại học ở Trung Hoa Dân quốc tổ chức kỳ thi tuyển sinh riêng cho mình và tại các thời điểm khác nhau. Do vậy, thí sinh có thể tự chủ động tham dự kỳ thi của các trường khác nhau tuỳ theo nguyện vọng của mình.
Vào năm 1952, hệ thống khảo thí thống nhất của Trung Quốc chính thức hình thành và Cao Khảo được tổ chức lần đầu. Với Kế hoạch Năm năm đầu tiên (1953),
== Tham khảo == |
băng sơn.txt | Băng Sơn (18 tháng 12 năm 1932-3 tháng 9 năm 2010), tên thật là Trần Quang Bốn, là nhà văn hiện đại Việt Nam chuyên viết về Hà Nội. Ông là Hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội nhà văn Hà Nội, Hội văn hóa dân gian Hà Nội,...
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
Băng Sơn quê ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam nhưng sinh ra tại thị trấn Cẩm Giàng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; quê mẹ ở làng Sét, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông sống, học tập và làm việc ở Hà Nội từ năm 1947, sự nghiệp văn chương của ông khởi nghiệp ở đất Hà Thành từ năm 1949 lúc 17 tuổi (bài thơ đầu tiên đăng trên báo) và đã có rất nhiều bài viết được đăng báo từ thuở đang còn ngồi trên ghế nhà trường.
Vào những năm 70 của thế kỷ 20, Băng Sơn bắt đầu chuyển hướng sang lĩnh vực viết văn, theo ông: "Thơ không nói hết được bao điều cần nói, nên cần phải viết văn xuôi". Sau khi tự thể nghiệm qua nhiều thể loại, ông tập trung vào thể loại tùy bút. Ông tự đánh giá: "Tùy bút gần gũi với thơ; và thơ biểu đạt xúc cảm về đời sống là chính, và viết một bài tùy bút xong, không mất quá nhiều công phu như tiểu thuyết hay truyện ngắn".
Năm 1997, Nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản tùy bút "Đường vào Hà Nội", dày 350 trang, bao gồm 40 tùy bút.
Ông là một Nhà văn chuyên viết về Hà Nội và là tác giả của nhiều tập tùy bút, bài văn được nhiều người yêu thích, hàng loạt các tác phẩm viết về Hà Nội của ông đã tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc: Thú ăn chơi người Hà Nội (4 tập), Dòng sông Hà Nội, Nghìn năm còn lại, Nước Việt hồn tôi, Đường vào Hà Nội, Phập phồng Hà Nội, Hà Nội 36 phố phường, v.v...
Ông qua đời tại nhà riêng ở Hà Nội ngày 3 tháng 9 năm 2010 (vào 8 giờ 15 phút), hưởng thọ 78 tuổi. Ông ra đi, để lại nhiều dự định viết về Hà Nội dang dở mà ông đã ấp ủ trong trái tim...
== Cống hiến ==
Tổng số các tác phẩm của Băng Sơn bao gồm tùy bút và đoản văn là khoảng 3.000 tác phẩm, trong đó có tới 95% đã được đăng tải hoặc in tuyển tập, nhất là các tùy bút viết về Hà Nội...
== Băng Sơn với Hà Nội ==
Mong muốn của Băng Sơn:
== Tác phẩm nổi tiếng ==
Thú ăn chơi người Hà Nội (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin - 1993)
Nghìn năm còn lại (Nhà xuất bản Hà Nội - 1996)
Nước Việt hồn tôi (Nhà xuất bản Phụ Nữ - 1995)
Đường vào Hà Nội (Nhà xuất bản Thanh Niên - 1997)
Hà Nội 36 phố phường
Vườn xanh
Con chim gọi quả
Dòng sông Hà Nội
Hà Nội rong ruổi quẩn quanh (Nhà xuất bản Kim Đồng - 2013)
== Phong tặng ==
Nhiều giải thưởng ông đã được trao tặng: Giải Hội Nhà văn Việt Nam về thiếu nhi, giải báo Nhi Đồng, giải viết về "Hà Nội nghìn năm" của báo Hànộimới (2 lần), giải thưởng Văn học của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội (2 lần), giải thưởng về Bút ký của Hội Nhà báo Việt Nam, Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa của Bộ Văn hóa Thông tin (Việt Nam).
Năm 2009 ông được chọn là một trong ba đề cử của giải thưởng "Giải thưởng lớn - Vì tình yêu Hà Nội" trong giải thưởng "Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội".
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Diệp Hiền – Ánh Tuyết (thực hiện); Đầu xuân gặp gỡ nhà văn Băng Sơn; Băng Sơn và Tình yêu Hà Nội (hanoi.vnn.vn), truy cập ngày 4/9/2010.
Anh Thư thực hiện; Nhà văn Băng Sơn: 'Xấu hổ cho người Hà Nội'; VnExpress, ngày 4/1/2009, truy cập ngày 4/9/2010. |
phật giáo hòa hảo.txt | Phật giáo Hòa Hảo, hay còn gọi là đạo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là tỉnh có số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước chiếm 44% dân số toàn tỉnh và chiếm 65% tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong cả nước. tiếp đến là Cần Thơ (227.117 tín đồ) và Đồng Tháp (196.143 tín đồ). Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo này.
== Lịch sử ==
=== Ra đời ===
Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.
Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là "Thầy Tư Hoà Hảo", tự nhận mình là bậc "sinh như tri", biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để "Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc". Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học trong lúc đi chữa bệnh, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.
Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ mối đạo, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Huỳnh Giáo chủ.
Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.
=== Thời kỳ 1941 - 1944 ===
Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của mình một cách nhanh chóng. Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo nên đã câu thúc Huỳnh Phú Sổ ở Châu Đốc, Bạc Liêu, Cần Thơ. Năm 1942, Nhật vận động được giáo chủ Hòa Hảo về Sài Gòn. Tại đây ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo cũng tham gia các tổ chức của Nhật. Năm 1944, Hòa Hảo thành lập lực lượng vũ trang dưới tên gọi Đội Bảo An.
=== Thời kỳ 1945 - 1955 ===
Tây Nam Bộ là nơi phát tích của giáo phái Hòa Hảo. Đa số tín đồ là những người dân hiền hòa, yêu nước. Nhằm thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, Ủy ban nhân dân Nam Bộ mới thành lập sau Cách mạng tháng Tám đã mời người sáng lập giáo phái Hòa Hảo là ông giáo chủ Huỳnh Phú Sổ giữ chức ủy viên đặc biệt của Ủy ban. Tuy nhiên, theo Việt Minh, một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về quyền hành đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hỏa đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ cai quản, quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn cướp chính quyền. Lực lượng vũ trang cách mạng được huy động đến kịp thời giải tán. Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ.
Ngày 9/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với lý do "đi rước Đức Thầy", thực chất là dự định cướp chính quyền. Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.
Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8, đã ký với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:
Hai bên cam kết không chống lại nhau.
Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu.
Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp.
Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực. Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái bỏ không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.
Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng chống Việt Minh đội lốt Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát dã man thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của kháng chiến.
Những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc tắm máu ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không theo Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo. Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động cướp phá ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.
Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa đều cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ.
Sau khi Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích, Pháp lợi dụng những người chống chính quyền của Việt Minh trong đạo Hòa Hảo, hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc cho họ. Pháp mua chuộc những người đứng đầu Hòa Hảo có tư tưởng chống Việt Minh, lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang Hòa Hảo khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ, gây ra nhiều tội ác với dân chúng. Được Pháp trợ giúp, những người chống Việt Minh lập ra 4 nhóm nhằm mục đích để chống lại Việt Minh. Các nhóm này gồm:
Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long).
Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc).
Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên).
Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).
Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo lừa dối tín đồ nói: "Súng Việt Minh bắn không nổ!", xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An - Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính.
Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới - Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.
Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Những người chống Việt Minh đã lợi dụng danh nghĩa đạo Hòa Hảo, tổ chức nhiều lực lượng vũ trang hợp tác với Pháp, áp bức khủng bố dân chúng, gây ra nhiều tội ác.
Dù vậy, đa số tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 - 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, "trung lập hóa", không đàn áp dân chúng và tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.
Chính phủ Đệ nhất Cộng hòa sau khi thành lập năm 1955 thì mở những cuộc hành quân như "Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng" rồi "Chiến dịch Nguyễn Huệ" để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.
=== Thời kỳ 1956-1975 ===
Năm 1964 sau khi Nền Đệ nhất Cộng hòa bị lật đổ đạo Hòa Hảo có sự củng cố lại về tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáo, văn hóa, xã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã). Đảng Dân xã cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu.
Năm 1972 Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên. Tính đến thời điểm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này sau đó đều bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.
=== Thời kỳ 1976-1998 ===
=== Thời kỳ 1999-hiện nay ===
Đến nay, Hòa Hảo vẫn phát triển chú yếu trong vùng tứ giác Long Xuyên. Số lượng tín đồ khoảng 2 triệu người.
Hiện nay, Ban trị sự và chính quyền huyện Phú Tân có ý định xây dựng tượng đài Huỳnh Phú Sổ tại một địa điểm ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân.
==== 2015 ====
Mỗi lần có các ngày lễ lớn của Phật giáo Hòa hảo thì đồng đạo thuộc các chi phái nằm ngoài Phật giáo Hòa hảo chính thức của nhà nước đều bị ngăn chặn không cho tới làm lễ tại chùa Quang Minh Tự ,.
== Giáo lý Hòa Hảo ==
Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 2 phần: Sấm Giảng giáo lý và Thi Văn giáo lý.
Phần thứ nhất: Sấm Giảng Giáo Lý: Phần này gồm 6 quyển giảng:
1. Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.
2. Quyển thứ nhì: Kệ dân của người Khùng. Viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.
3. Quyển thứ ba: Sám Giảng. Viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.
4. Quyển thứ tư: Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.
5. Quyển thứ năm: Khuyến thiện Quyển này dài 776 câu, đoạn đầu và đọn cuối viết theo thể thơ lục bát, đoạn giữa theo lối thơ thất ngôn trường thiên.
6. Quyển thứ sáu: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Quyên này viết theo lối văn xuôi (tản văn), trình bày toàn bộ tông chỉ, giới luật của Đạo.
Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý Phần này bao gồm hơn 200 bài thi thơ do Đúc Huỳnh Giáo chủ viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).
Có thể nhận thấy giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần "Học Phật" và phần "Tu nhân":
Phần "Học Phật": chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền.
Phần "Tu nhân": theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân có nghĩa là tu "tứ ân hiếu nghĩa"- đó là 4 điều Đoàn Minh Huyên, đã chỉ ra, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).
Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên tu viễn hỹ (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời).
== Nghi lễ và tổ chức ==
=== Thờ phượng ===
Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo chủ trương thờ phượng đơn giản, không cầu kỳ phức tạp, trở về với nội tâm hơn là hình tướng bên ngoài, đúng với tinh thần vô vi mà Đức Phật Thích Ca đã đề xướng.
Người tín đồ PGHH thờ cúng ba ngôi hương án tại nhà, bao gồm:
- Thứ nhất là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn.
- Thứ hai là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượng trưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết. Chúng ta hãy xem qua lời dạy của Đức Huỳnh Giáo chủ:" Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào các sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thể người trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật".
-Thứ ba là Ngôi Thông Thiên: đặt ngoài trời.
"Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng". (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).
Như trên thì, ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly nước sạch, ngoài ra không cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thì ngoài ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn nhưng nên cúng chay.
=== Hành lễ ===
Ngài dạy:" Chỉ thờ lạy Đức Phật, Tổ-tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh-hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi.".
Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo hành lễ mỗi ngày hai thời vào buổi sáng và buổi chiều theo nghi thức đã được chỉ dạy trong quyển thứ sáu.
== Các ngày lễ tết ==
Các ngày Lễ kỷ niệm trong Đạo đều tổ chức vào ngày âm lịch. Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:
Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán
Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Ngươn
Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ bị ám sát
Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản
Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo
Ngày Rằm tháng 7: Lễ trung Ngươn
Ngày 12 tháng 8: Vía Phật thầy Tây An
Ngày Rằm tháng 10: Lễ hạ Ngươn
Ngày Rằm tháng 11: Lễ Phật A-di-đà
Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ.
Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo
== Ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Savani, A. M. Visage et images du Sud Viet-Nam. Saigon: Imprimerie française d'Outre-mer, 1955.
== Xem thêm ==
Phật giáo
Chùa Tây An
Đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam
== Liên kết ngoài ==
Trang web của Ban Trị Sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo
Tư liệu Phật giáo Hoà Hảo Trên web Văn nghệ sông Cửu Long.
Trang Phật giáo Hòa Hảo hải ngoại |
theo van doesburg.txt | Theo van Doesburg (30 tháng 8 năm 1883 – 7 tháng 3 năm 1931) là một người Hà Lan hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nghệ thuật như hội họa, văn học, thơ ca và kiến trúc. Ông là người sáng lập và thủ lĩnh của phong trào nghệ thuật De Stijl (Phong cách). Các tác phẩm của Theo có ảnh hưởng mạnh xuống trường phái Bauhaus cũng như trào lưu kiến trúc quốc tế sau này.
== Tiểu sử ==
== Tham khảo ==
Baljeu, Joost: Theo van Doesburg (London: Studio Vista, 1974)
Overy, Paul. De Stijl (London: Studio Vista, 1969)
White, Michael: De Stijl and Dutch modernism (Manchester [etc]: Manchester University Press, 2003)
== Liên kết ngoài ==
Scans of the De Stijl issue with Van Doesburg's Letterklankbeelden |
thụy điển.txt | Thụy Điển (tiếng Thụy Điển: Sverige), tên chính thức là Vương quốc Thụy Điển (tiếng Thuỵ Điển: Konungariket Sverige), là một vương quốc ở Bắc Âu giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat.
Với diện tích 449 964 km², Thụy Điển là nước lớn thứ ba trong Liên minh châu Âu, với dân số 9.4 triệu người. Thụy Điển có mật độ dân số thấp với 21 người/ km² nhưng lại tập trung cao ở nửa phía Nam của đất nước. Khoảng 85% dân số sống ở thành thị và theo dự đoán con số này sẽ tăng dần vì quá trình đô thị hóa đang diễn ra. Thủ đô của Thụy Điển là Stockholm, đây cũng là thành phố lớn nhất nước. Thành phố lớn thứ hai là Göteborg với dân số khoảng 500.000 người và 900.000 người trên tổng vùng. Thành phố lớn thứ ba là Malmö với dân số khoảng 260.000 người và 650.000 người ở tổng vùng.
Đất nước Thụy Điển độc lập và thống nhất nổi lên vào thời Trung Cổ. Vào thế kỷ 17 Thụy Điển mở rộng lãnh thổ và tạo nên Đế quốc Thụy Điển. Hầu hết lãnh thổ ngoài bán đảo Scandinavia bị mất vào thế kỷ 18 và 19. Nửa phía Đông của Thụy Điển (Phần Lan ngày nay), rơi vào tay Đế quốc Nga năm 1809. Cuộc chiến tranh cuối cùng Thụy Điển tham gia trực tiếp vào năm 1814, khi Thuỵ Điển sử dụng quân sự ép Na Uy nhập vào Liên minh Thuỵ Điển và Na Uy, một liên minh tồn tại đến tận năm 1905. Kể từ đó, Thuỵ Điển là một nước hòa bình, áp dụng chính sách đối ngoại không liên kết vào thời bình và chính sách trung lập thời chiến.
Ngày nay, Thuỵ Điển là một nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị và một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao. Thụy Điển đứng đầu về chỉ số dân chủ trên thế giới theo tạp chí The Economist và đứng thứ bảy trong Liên hiệp quốc về chỉ số phát triển con người. Thụy Điển là thành viên của Liên minh châu Âu vào năm 1995 và là thành viên của OECD.
== Nguồn gốc quốc hiệu ==
Tên gọi của Thuỵ Điển trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của Thuỵ Điển trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung Thuỵ Điển được gọi là “瑞典”. “瑞典” có âm Hán Việt là “Thuỵ Điển”.
== Quốc kỳ và Quốc huy ==
=== Quốc kỳ ===
Quốc kỳ Thuỵ Điển hình chữ nhật, nền cờ màu lam, chữ thập màu vàng chia mặt cờ thành 4 hình chữ nhật màu lam. Diện tích của 2 hình chữ nhật trên và dưới bên trái bằng nhau, 2 hình chữ nhật trên và dưới bên phải cũng có diện tích bằng nhau. Hai màu lam và vàng bắt nguồn từ màu của Hoàng gia Thuỵ Điển. Lá cờ chữ thập màu vàng từng là quân kỳ của hải quân Hoàng gia Thuỵ Điển. Ngày 22/06/1906 chính thức quy định lá quốc kỳ này.
=== Quốc huy ===
Lai lịch quốc huy Thuỵ Điển có thể truy nguyên về những năm 1408-1470. Phía trên tấm áo choàng là chiếc vương miện, mặt tấm lá chắn trong tấm áo choàng có màu lam. Một chữ thập màu vàng chia mặt tấm lá chắn thành 4 phần: phần trên bên trái và phần dưới bên phải mỗi phần có 3 phần chiếc vương miện màu vàng, phần trên bên phải và phần dưới bên trái có con sư tử vàng đội vương miện vàng thè lưỡi đỏ. Trung tâm lá chắn lớn có một lá chắn tương đối nhỏ, mặt tấm lá chắn chia 2 phần phải và trái: mặt bên trái do các sọc chéo 3 màu lam, trắng bạc, đỏ và một chiếc bình vàng tạo thành, mặt bên phải có vẽ một tháp chuông kiểu lô cốt và một con chim ưng vàng. Hình trên tấm lá chắn nhỏ là phù hiệu của Hoàng gia Thuỵ Điển khoảng năm 1200. Phía trên tấm lá chắn là một chiếc vương miện, 2 bên là 2 con sư tử vàng đầu đội vương miện ngoảnh về phía sau đỡ lấy. Sư tử đứng trên đế tấm lá chắn, đuôi cong hướng lên trên, thè lưỡi đỏ. Xung quanh tấm lá chắn là huân chương trang trí. Năm 1908 chính thức chế định quốc huy dạng tấm áo choàng này.
== Lịch sử ==
Vào cuối thời kỳ băng hà (khoảng 12.000 TCN) những người đầu tiên đã bắt đầu di dân đến các vùng ven biển bằng đường bộ ở giữa Đức và Scania (miền Nam của Thuỵ Điển ngày nay). Các di chỉ khảo cổ lâu đời nhất có niên đại vào khoảng 13.000 năm trước đây được tìm thấy ở vùng Scania. Khi con đường bộ này biến mất vào khoảng 5.000 năm TCN miền trung và vùng ven biển của Thụy Điển đã có dân cư. Cũng theo các di chỉ khảo cổ, trong thời gian từ Công Nguyên cho đến năm 400 đã có một nền thương mại phát đạt với Đế quốc La Mã. Vùng Scandinavia được nhắc đến lần đầu tiên trong các văn kiện của La Mã từ năm 79 như trong Naturalis Historiae của Gaius Plinius Secundus hay trong De Origine et situ Germanorum của Gaius Cornelius Tacitus.
Đầu thế kỷ 11 vương quốc này là một liên minh lỏng lẻo của các vùng tự trị với các hội đồng, luật lệ và tòa án riêng biệt, chỉ được liên kết với nhau qua cá nhân của vị vua có quyền lực tương đối ít. Vương quốc thật ra được thành lập trong thời kỳ Trung Cổ, giữa năm 1000 và 1300, đồng thời với việc theo Công giáo. Sau năm 1000 danh hiệu vua bắt đầu thành hình ở Götaland (miền nam Thuỵ Điển) và ở Svealand (miền trung Thuỵ Điển). Ban đầu chức vị này thường hay bị tranh cãi, không bền vững và thường chỉ có tầm quan trọng trong vùng. Dưới thời của Birger Jarl, người có quan hệ mật thiết với anh rể của ông là vua Erik Eriksson, bắt đầu có những cải cách xã hội và chính trị rộng lớn, mang lại một quyền lực tập trung và một xã hội được tổ chức theo gương của các quốc gia phong kiến châu Âu.
Năm 1388 nữ hoàng Đan Mạch Margarethe I được một phái quý tộc chống đối công nhận là người trị vì Thuỵ Điển. Năm 1397 cháu của Margarethe là Erik của Pommern lên ngôi vua trị vì 3 vương quốc Đan Mạch, Na Uy và Thuỵ Điển, thành lập Liên minh Kalmar.
Năm 1611, sau khi vua cha qua đời, Gustav II Adolf lên ngôi lúc 17 tuổi, bắt đầu thời kỳ Thuỵ Điển vươn lên trở thành cường quốc. Ông tham chiến trong nhiều cuộc chiến tranh thời đó. Vào năm 1700, ba nước láng giềng là Đan Mạch, Ba Lan và Nga mở đầu cuộc Đại chiến Bắc Âu (1700-1721) chống lại Thuỵ Điển. Vua Karl XII của Thụy Điển lần lượt đánh tan tác quân Đan Mạch, quân Nga và cả quân Ba Lan. Nhưng vào năm 1709, một vị vua lớn trong lịch sử Nga là Pyotr Đại Đế đánh tan tác quân Thuỵ Điển trong trận Poltava (1709). Vua Karl XII chết vào năm 1718, và rồi Thuỵ Điển không còn là cường quốc nữa, mất đất về tay Đế quốc Nga và Vương quốc Phổ. Tuy thế, chính phủ Thuỵ Điển vẫn mong muốn lập lại vai trò liệt cường của đất nước. Họ đẩy đất nước vào cuộc chiến tranh với quân Nga trong thập niên 1740, kết quả là quân Thuỵ Điển lại bại trận. Từ đó, Nga hoàng càng can thiệp vào nội bộ Thụy Điển Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), Thuỵ Điển tham chiến trong liên quân Áo - Pháp - Nga, để đánh nước Phổ với mong muốn giành lại tỉnh Pomerania. Nhưng một vị vua lớn trong lịch sử Phổ là Friedrich II Đại Đế đã đấu tranh anh dũng, sau cùng liên quân dần dần tan rã và quân Thuỵ Điển cũng phải rút lui.
Trong cuộc cuộc chiến chống Nga (1788 - 1790) của vua Gustav III, Quân đội Thuỵ Điển gặt không ít rắc rối và cũng chẳng nhận được một vùng đất nào.. Không những vậy, cuộc chiến tranh chống Napoléon của vua Gustav IV Adolf còn gây cho Thuỵ Điển nhiều thiệt hại hơn. Do Nga hoàng Aleksandr I lúc đó liên minh với Napoléon (1807), quân Nga đánh đuổi quân Thuỵ Điển ra khỏi xứ Phần Lan, và điều này khiến một nhóm quý tộc Thuỵ Điển nổi điên lật đổ vua Gustav IV Adolf vào năm 1809. Vào năm 1813, Thụy Điển tham chiến trong liên quân chống Pháp - một liên minh có cả Nga và Phổ; sau khi Hoàng đế Napoléon đại bại trong trận Leipzig, vua Karl XIV Johan còn lâm chiến với Đan Mạch. Trong Hiệp ước Kiel năm 1814 Đan Mạch bắt buộc phải nhượng Na Uy để đổi lại phần đất Vorpommern của Thuỵ Điển. Khi Na Uy tuyên bố độc lập sau đó, trong một cuộc chiến ngắn ngủi và gần như không đổ máu vua Karl XIV Johan đã thành công trong việc ép buộc thành lập liên minh Thuỵ Điển – Na Uy mà trong đó Na Uy vẫn là một vương quốc riêng biệt. Sau cuộc chiến tranh cuối cùng này Karl XIV Johan đã áp dụng một chính sách hòa bình nhất quán, là cơ sở cho nền trung lập của Thuỵ Điển. Thời gian 200 năm hòa bình của Thuỵ Điển tính từ thời điểm này cho đến nay là độc nhất trên toàn thế giới ngày nay.
Dân số Thuỵ Điển tăng rõ rệt trong thế kỷ 19, từ năm 1750 đến 1850 dân số đã tăng gấp đôi. Nhiều người ở vùng nông thôn, là nơi cư ngụ của đa phần người dân, không có việc làm, đi đến nghèo nàn và nghiện rượu. Vì thế trong thời gian từ 1850 đến 1910 đã có một cuộc di dân lớn mà chủ yếu là đến Mỹ. Mặc dầu vậy khi cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu tiến triển tại Thuỵ Điển, người dân từng bước gia nhập vào thành phố và tổ chức các công đoàn xã hội chủ nghĩa. Một cuộc cách mạng của những người theo chủ nghĩa xã hội đang đe dọa xảy ra được tránh khỏi vào năm 1917, sau đó là việc tái thành lập chế độ nghị viện và quốc gia này trở thành dân chủ.
Trong thế kỷ 20, Thuỵ Điển trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dầu là sự trung lập của quốc gia này trong Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn còn bị tranh cãi. Thuỵ Điển tiếp tục trung lập trong cuộc Chiến tranh lạnh và cho đến ngày nay vẫn không là thành viên của một liên minh quân sự nào. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và không bị tàn phá Thuỵ Điển đã có thể phát triển ngành công nghiệp cung cấp cho công cuộc tái xây dựng châu Âu và vì thế trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất trên thế giới vào thập niên 1960. Khi các nền kinh tế khác bắt đầu vững mạnh Thuỵ Điển tuy đã bị vượt qua vào thập niên 1970 nhưng vẫn thuộc về các quốc gia đứng đầu về mặt hạnh phúc của người dân.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Thuỵ Điển gia nhập Liên Hợp Quốc, tháng 11 năm 1959 gia nhập Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (EFTA). Dưới triều vua Gustavus V (1907-1950), kinh tế phát triển thịnh vượng chưa từng có. Thuỵ Điển duy trì tính trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ I. Một lần nữa, Thuỵ Điển vẫn giữ vai trò trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ II. Đảng Dân chủ xã hội liên tục cầm quyền dưới thời Thủ tướng Per Albin Hasson (1932-1946), Thủ tướng Tage Erlander (1946- 1969). Kinh tế vẫn phát triển và mô hình Thuỵ Điển tiếp tục được củng cố. Tuy nhiên, dưới thời Thủ tướng Olof Palme (1969- 1979), Chính phủ phải đương đầu vớị cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Năm 1976, phe bảo thủ lên cầm quyền. Năm 1982, O. Palme trở lại giữ chức Thủ tướng. Palme bị Ám sát năm 1986, Ingvar Carlsson trở thành người kế nhiệm. Năm 1991, lãnh đạo phe bảo thủ, Carl Bildt, trở thành Thủ tướng. Năm 1994, Đảng Dân chủ Xã hội trở lại cầm quyền. Năm 1995, Thuỵ Điển gia nhập Liên hiệp châu Âu, nhưng từ chối thông qua việc sử dụng đồng euro năm 1999.
== Chính trị ==
Thuỵ Điển là một nước có nền quân chủ lập hiến. Nguyên thủ quốc gia từ năm 1973 là vua Carl XVI Gustav. Quốc hội (Riksdag) chỉ có một viện bao gồm 349 nghị sĩ và được bầu 4 năm một lần. Hiện thời trong Quốc hội có 8 đảng được quyền tham gia quốc hội chia làm 2 liên minh chính trị:
Và Đảng Dân chủ Thụy Điển (Sverigedemokraterna) (Sd) chiếm 20 ghế hoạt động độc lập. Đảng này có quan điểm chính trị chống lại người nhập cư và có liên quan đến tổ chức phân biệt chủng tộc (Bevara Sverige Svenskt) do đó 7 đảng ở trên không muốn liên minh cùng.
Quốc hội bổ nhiệm Thủ tướng, người bổ nhiệm các bộ trưởng cho chính phủ của ông. Hiện nay chính phủ Thuỵ Điển là chính phủ thiểu số của Đảng Dân chủ Xã hội với sự ủng hộ của Đảng Xanh và Đảng Cánh tả.
Vương quốc này được chia thành 21 tỉnh (län). Các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở cấp tỉnh được thống đốc (hoặc thủ hiến) (landshövding) và chính quyền cấp tỉnh (länsstyrelse) thi hành.
Việc tự quản lý ở cấp làng xã được phân chia thành 2 cấp: các nhiệm vụ của làng xã như hệ thống trường học, phục vụ xã hội, chăm sóc người già và trẻ em và hạ tầng cơ sở của làng xã thuộc về nhiệm vụ của 289 làng (kommun), các khu vực vượt quá khả năng của từng làng xã một như hệ thống y tế, giao thông trong vùng, kế hoạch hóa giao thông,... thuộc về quyền hạn của các hội đồng tỉnh (landsting). Làng xã và các hội đồng tỉnh dùng thuế thu nhập, các khoản thu khác và trợ cấp quốc gia để chi phí cho các hoạt động này.
Tại Thuỵ Điển có nguyên tắc công khai, tức là giới báo chí và tất cả các cá nhân đều có thể xem các văn kiện của công sở nhà nước, ngoại trừ một số ít trường hợp đặc biệt. Không một người nào phải nêu lý do tại sao muốn xem một văn kiện nhất định và cũng không phải trình chứng minh thư.
Một điều đặc biệt khác là hệ thống các thanh tra viên (ombudsman). Những người này bảo vệ quyền lợi của cá nhân trong khi họ tiếp xúc với chính quyền và theo dõi việc thi hành các luật lệ quan trọng. Người công dân khi cho rằng bị đối xử không công bằng có thể tìm đến thanh tra viên, những người sẽ điều tra trường hợp này và có thể mang vụ việc ra trước tòa án với tư cách là nguyên cáo đặc biệt. Đồng thời họ cũng có nhiệm vụ cộng tác với các cơ quan nhà nước để nắm bắt tình hình trong phạm vi của họ, thi hành các công tác giải thích và đưa ra những đề nghị thay đổi luật lệ. Bên cạnh những thanh tra viên về luật pháp còn có thanh tra viên của người tiêu dùng, thanh tra viên về trẻ em, thanh tra viên về quyền bình đẳng và các thanh tra viên về phân biệt đối xử chủng tộc và phân biệt đối xử vì các khuynh hướng tình dục.
Trong một thời gian dài Thụy Điển đã được xem như là một nước dân chủ xã hội điển hình và nhiều người theo cánh tả ở châu Âu đã xem Thuỵ Điển như là một thí dụ điển hình cho một "con đường thứ ba", kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường.
Vào ngày 14 tháng 9 năm 2003, việc đưa đồng euro vào sử dụng làm tiền tệ quốc gia được biểu quyết tại Thuỵ Điển. Những người hoài nghi euro đã thắng thế (tỷ lệ đi bầu: 81,2%, kết quả bầu cử: 56,1% chống, 41,8% thuận, 2,1% phiếu trắng và 0,1% phiếu không hợp lệ). Theo tuyên bố của chính phủ Thuỵ Điển sẽ không có trưng cầu dân ý nào khác trước năm 2013.
Thuỵ Điển lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 11 tháng 1 năm 1969.
== Địa lý ==
Thuỵ Điển có biên giới với biển Kattegatt, các quốc gia Na Uy và Phần Lan và Biển Đông (Thụy Điển). Hai đảo lớn của Biển Đông thuộc về Thuỵ Điển là Gotland (khoảng 3.000 km²) và Öland (khoảng 1.300 km²). Ngoài ra còn có khoảng 221.800 đảo. Chiều dài nhất từ Bắc đến Nam là 1.572 km, từ Đông sang Tây là 499 km.
Trong khi phần lớn đất nước là bằng phẳng hay có đồi thì dọc theo biên giới với Na Uy là dãy núi Scandinavia (Skanderna) cao đến trên 2.000 m với đỉnh cao nhất là Kebnekaise (2.111 m). Có rất nhiều vườn quốc gia rải rác trên toàn nước.
=== Phân chia hành chính ===
Theo truyền thống Thuỵ Điển được chia ra thành ba vùng (landsdelar) là Götaland, Svealand và Norrland. Vùng lịch sử thứ tư của Thụy Điển cho đến năm 1809 là Österland, nước Phần Lan ngày nay. Cho đến cuộc cải cách hành chính do Axel Oxenstierna tiến hành năm 1634 các vùng này được chia là 25 khu vực (landskap)
21 đơn vị hành chính chính thức (län) không hoàn toàn trùng hợp với các khu vực trên là:
Thành phố lớn nhất là thủ đô Stockholm. Các thành phố quan trọng khác là Göteborg, Malmö, Uppsala, Linköping, Västerås, Örebro và Norrköping.
Nói chung Thuỵ Điển có thể được chia ra làm vùng phía Nam đông dân cư và phát triển nhiều hơn là vùng miền Bắc rất ít dân cư. Miền Bắc bắt đầu từ phía bắc của các thành phố Borlänge, Falun và Gävle, khoảng trên đường nối Söderhamn-Mora. Vào khoảng năm 1900 miền Bắc Thuỵ Điển bắt đầu được khai thác. Trong thời gian từ năm 1907 đến 1937 đường sắt Thụy Điển được xây dựng giữa Kristinehamn và Gällivare nhằm để đẩy mạnh công cuộc khai thác này.
=== Địa hình ===
Miền Nam và Trung Thuỵ Điển (Götaland và Svealand), hai vùng mà chỉ bao gồm 2/5 Thuỵ Điển, được chia từ Nam đến Bắc ra thành 3 vùng đất lớn. Miền Bắc Thuỵ Điển, bao gồm 3/5 còn lại của Thuỵ Điển được chia từ Đông sang Tây ra thành 3 vùng có phong cảnh khác nhau.
Phần cực Nam, tỉnh Skåne, là phần đất nối tiếp của vùng đồng bằng miền Bắc nước Đức và Đan Mạch. Điểm thấp nhất của Thuỵ Điển với 2,4 m dưới mặt biển cũng ở Schonen. Trải dài từ phía bắc của vùng này là cao nguyên Nam Thuỵ Điển, miền đất nhiều đồi với rất nhiều hồ có hình dáng dài được hình thành qua xói mòn của thời kỳ băng hà. Vùng đất lớn thứ ba là vùng trũng Trung Thuỵ Điển, là một vùng bằng phẳng nhưng lại bị chia cắt nhiều với các đồng bằng lớn, đồi núi, vịnh hẹp và nhiều hồ (trong đó có 4 hồ lớn nhất Thuỵ Điển là Vänern, Vättern, Mälaren và Hjälmaren).
Phía tây của Bắc Thuỵ Điển là dãy núi Bắc Âu, là biên giới với Na Uy, có chiều cao từ 1.000 m đến 2.000 m trên mực nước biển. Trên dãy núi Bắc Âu là ngọn núi cao nhất Thuỵ Điển, ngọn núi Kebnekaise (2.111 m). Nối liền về phía Đông là vùng đất lớn nhất của Thuỵ Điển. Dọc theo dãy núi là các vùng cao nguyên rộng lớn ở độ cao 600 m đến 700 m trên mực nước biển và chuyển tiếp sang thành một vùng đất có nhiều đồi với địa thế mấp mô thấp dần đi về phía Đông. Các mỏ lớn (sắt, đồng, kẽm, chì) của Thuỵ Điển cũng nằm trong vùng đất này. Các sông lớn của Thuỵ Điển đều bắt nguồn từ dãy núi Bắc Âu và chảy gần như song song với nhau qua các đồng bằng về hướng Biển Đông. Dọc theo bờ Biển Đông là vùng đất bằng phẳng bị chia cắt giữa Härnösand và Örnsköldsvik bởi một nhánh núi (Höga kusten). Các sông dài nhất của Thuỵ Điển là Klarälven, Torneälv, Dalälven, Umeälv và Ångermanälven.
=== Khí hậu ===
So với vị trí địa lý, khí hậu của Thuỵ Điển tương đối ôn hòa vì trước tiên là do gần Đại Tây Dương với dòng hải lưu Gơn strim ấm áp. Phần lớn nước Thuỵ Điển có khí hậu ẩm, mưa nhiều và nhiệt độ tương đối ít thay đổi giữa mùa đông và mùa hè. Tại miền nam Thuỵ Điển, được cái cây lá rộng chi phối, rừng lá kim phát triển ở phía bắc, với thông và vân sam thống trị cảnh quan. Vì Thụy Điển nằm giữa 55° vĩ độ và 69° vĩ độ và một phần ở trong vòng cực Bắc nên sự cách biệt giữa ánh sáng ban ngày dài trong mùa hè và ban đêm dài trong mùa đông rất lớn. Ở phần phía bắc, với sự xuất hiện của nhiều núi và biểu hiện của khí hậu cận cực, mùa đông lạnh hơn và tuyết rơi nhiều hơn so với miền nam. Vào một phần của mùa hè mặt trời sẽ xuất hiện tới nữa đêm hoặc không lặn và vào mùa đông, mặt trời chỉ xuất hiện trong vài giờ hoặc không xuất hiện. Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng 1.000 mm, với lượng mưa tương đối lớn ở phía tây cao nguyên Småland và bờ biển phía tây. Tháng giêng, nhiệt độ trung bình ban ngày vào khoảng 0 độ C ở phía nam, nhiệt độ âm ở miền trung và - 16 độ C ở phía bắc. Vào tháng bảy, nhiệt động trong bình vào khoảng 17 - 18 độ C ở Götaland och Svealand, và chỉ hơn 10 độ C ở phía cực bắc của Thuỵ Điển. Nhiệt độ thấp nhất được ghi nhận ở Thụy Điển là và ngày 2 tháng 2 năm 1966 ở Vuoggatjålme, Lappland với - 52,6 độ C. Nhiệt độ cao nhất được ghi nhận là 38 độ C ở Ultuna, Uppland (ngày 9 tháng 7 năm 1933) và Målilla, Småland (ngày 29 tháng 6 năm 1947).
=== Hệ thực vật và động vật ===
Miền Bắc Thụy Điển có nhiều rừng cây lá kim rộng lớn, càng về phía Nam thì càng có nhiều rừng tạp. Tại miền Nam Thụy Điển các rừng cây lá rộng đã phải nhường chỗ cho canh nông hay được thay thế bằng cây lá kim vì chúng có độ tăng trưởng nhanh hơn. Hai đảo Gotland và Öland có một hệ thực vật đa dạng gây nhiều ấn tượng, đặc biệt là có rất nhiều loài hoa lan.
Heo rừng và Hươu đỏ (Cervus elaphus) có nhiều. Heo rừng đã bị tiêu diệt trong tự nhiên vào cuối thế kỷ 19 nhưng sau khi thoát ra khỏi được các khu vực cấm săn bắn đã lại phát triển đến một dân số có thể tự sống được. Các dã thú như gấu, sói và linh miêu đã phát triển trở lại trong những năm gần đây nhờ vào các quy định bảo vệ môi trường nghiêm ngặt.
Năm 1910 Thụy Điển là quốc gia đầu tiên của châu Âu thành lập các vùng bảo vệ thiên nhiên và cho đến ngày hôm nay vẫn luôn luôn bảo vệ thiên nhiên của đất nước. Người Thụy Điển có ý thức bảo vệ môi trường rất cao.
== Kinh tế ==
Trong nửa sau của thế kỷ 19, mặc dầu đã có xây dựng đường sắt, Thụy Điển vẫn còn là một quốc gia nông nghiệp rõ rệt với 90% dân số sống nhờ vào nông nghiệp. Mãi cho đến thập niên cuối cùng của thế kỷ 19 mới có công nghiệp hóa rộng lớn, làm cơ sở cho một xã hội công nghiệp hiện đại cho đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai Thụy Điển trở thành một trong những quốc gia công nghiệp dẫn đầu của thế giới. Việc phát triển công nghiệp đạt đến đỉnh cao vào giữa thập niên 1960, từ thập niên 1970 số người lao động trong công nghiệp giảm xuống trong khi khu vực dịch vụ tăng trưởng thêm. Trong năm 2002 nông nghiệp chỉ chiếm hơn 2% của tổng sản phẩm quốc nội, tỷ lệ của khu vực công nghiệp là 28% trong khi 70% của tổng sản phẩm quốc nội là do khu vực dịch vụ tạo nên. Tính đến năm 2016, GDP của Thụy Điển đạt 517.440 USD, đứng thứ 23 thế giới và đứng thứ 10 châu Âu.
=== Nông nghiệp và lâm nghiệp ===
Nền nông nghiệp Thụy Điển mang dấu ấn của những điều kiện về địa chất và của khí hậu. Khoảng 10% diện tích quốc gia được sử dụng trong nông nghiệp. 90% diện tích trồng trọt là ở miền Nam và miền Trung của Thụy Điển. Một phần lớn các công ty trong nông nghiệp là sở hữu gia đình. Được trồng nhiều nhất là ngũ cốc, khoai tây và các loại cây cho dầu. Thế nhưng hơn phân nửa thu nhập trong nông nghiệp (58%) là từ chăn nuôi mà nhiều nhất là sản xuất sữa. Trợ giá nông nghiệp của Liên minh châu Âu chiếm 24% thu nhập. 3/4 các công ty nông nghiệp đều có rừng và kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp. Do Thụy Điển là một trong những nước giàu rừng nhất thế giới (25% diện tích quốc gia là rừng) nên lâm nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
=== Khai thác mỏ và công nghiệp ===
Thụy Điển giàu về khoáng sản và đã bắt đầu khai thác từ thời kỳ Trung Cổ. Sau cuộc khủng hoảng sắt và thép của thập niên 1970, quặng sắt chỉ còn được khai thác ở Norrland (thành phố Kiruna) và được xuất khẩu. Đồng, chì và kẽm đều vượt quá nhu cầu trong nước gấp nhiều lần và cũng được xuất khẩu trong khi bạc chỉ đáp ứng được 60% và vàng 80% nhu cầu trong nước. Cũng còn có nhiều dự trữ quặng nhưng việc khai thác trong thời gian này không có hiệu quả kinh tế.
Điểm đặc biệt của nền công nghiệp Thụy Điển là thành phần của các công ty lớn tương đối cao. Sau một cuộc khủng hoảng vào đầu những năm 1990 (sản xuất giảm 10% trong vòng 2 năm) công nghiệp bắt đầu phục hồi. Các ngành công nghiệp lớn nhất là chế tạo xe cơ giới (chiếm 13% giá trị sản xuất năm 1996) với các công ty như Volvo, Scania, Saab và Saab AB (máy bay và kỹ thuật du hành vũ trụ), công nghiệp gỗ và giấy (cũng chiếm 13% giá trị sản xuất) với 4 công ty lớn, chế tạo máy (12%) với các công ty như Electrolux, SKF, Tetra-Pak, Alfa-Laval và công nghiệp điện-điện tử (19%) với các công ty chiếm ưu thế là Ericsson và ABB.
=== Dịch vụ ===
Khu vực dịch vụ đóng góp 70% của tổng sản phẩm quốc nội mà trước tiên là do khu vực nhà nước đã tăng trưởng rất mạnh trong các thập niên gần đây. Mặc dù vậy khu vực dịch vụ tư nhân vẫn chiếm hơn 2/3 sản lượng.
=== Ngoại thương ===
Kinh tế Thụy Điển phụ thuộc mạnh vào ngoại thương. Các nước xuất khẩu chính là USA (11,9% xuất khẩu trong quý đầu của năm 2004), Đức (10,2%), Na Uy (8,3%) và Anh (7,8%). Các sản phẩm nhập khẩu quan trọng nhất là các sản phẩm điện và điện tử (16,8% của nhập khẩu trong quý đầu của năm 2004), máy móc (11,4%) xe cơ giới và thành phần của xe cơ giới (11,3%).
Tỷ lệ đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Thụy Điển tương đối cao. Nguyên nhân là do một số ít tập đoàn kinh doanh quốc tế chiếm thế áp đảo trong nền kinh tế của Thụy Điển. Vào khoảng 50 tập đoàn chiếm 2/3 xuất khẩu của Thụy Điển.
=== Du lịch ===
Du lịch tham gia đóng góp vào khoảng 3% (4 tỉ USD năm 2000) trong tổng sản phẩm quốc nội. 4/5 khách du lịch là người trong nước và chỉ có 1/5 là đến từ nước ngoài. Trong số khách du lịch từ nước ngoài năm 1998, 23% đến từ Đức, 19% từ Đan Mạch, 10% từ Na Uy, 9% từ Anh và 9% từ Hà Lan.
== Dân cư ==
Thụy Điển có vào khoảng 9 triệu dân. Tỷ lệ sinh 1,7 con cho một người phụ nữ (2002) là một trong những tỷ lệ thấp nhất trong lịch sử của Thụy Điển mặc dầu là vẫn còn trên mức trung bình của châu Âu.
12% dân cư là người di dân, trong đó người Phần Lan là nhóm đông nhất với 100.000 người. Vì cuộc khủng hoảng đang xảy ra ở Iraq nên cũng có rất nhiều người Iraq đến Thụy Điển. Ngoài ra còn có người Na Uy, Đan Mạch, Croatia, Serbia, Bosna, Đức và Ba Lan. Người Ba Lan làm việc với tư cách là khách lao động có rất nhiều trong khu vực y tế.
=== Ngôn ngữ ===
Ngôn ngữ phổ thông gần khắp mọi nơi là tiếng Thụy Điển. Tiếng Na Uy cũng được hiểu gần như khắp mọi nơi vì rất tương tự như tiếng Thụy Điển. Một số vùng nói tiếng Phần Lan và tiếng Sami.
Tại Thụy Điển, tiếng Phần Lan, tiếng Meänkieli, tiếng Jiddisch, tiếng Romani và tiếng Sami có địa vị là các ngôn ngữ thiểu số được công nhận. Gần 80% người Thụy Điển nói tiếng Anh như là ngoại ngữ vì một phần tiếng Anh là ngoại ngữ đầu tiên trong trường học và phần khác là vì tiếng Anh có rất nhiều trong chương trình truyền hình. Đa số học sinh chọn tiếng Đức là ngoại ngữ thứ nhì, nhưng gần đây tiếng Tây Ban Nha đang được ưa chuộng và đã vượt qua tiếng Đức tại một số trường. Thật ra tiếng Đức là ngoại ngữ đầu tiên tại Thụy Điển cho đến năm 1950 cũng như trong phần còn lại của Bắc Âu.
=== Tôn giáo ===
Giáo hội Thụy Điển, một giáo hội Lutheran, đã là giáo hội quốc gia từ 1527 cho đến 1999. Tỉ lệ thành viên của Giáo hội trên tổng dân số suy giảm dần qua các năm: từ 95,2% năm 1972 xuống còn 67,5% năm 2012. Số người của nhóm lớn thứ nhì, những người theo Hồi giáo, rất khó được đoán chính xác. Tổng số những thành viên là vào khoảng 250.000 người. Công giáo Rôma có vào khoảng 150.000 người và Chính thống giáo Đông phương khoảng 100.000 người. Bên cạnh đó tại Thụy Điển có khoảng 23.000 người của Nhân chứng Jehova, 20.000 người là tín đồ Phật giáo và vào khoảng 10.000 người theo Do Thái giáo.
=== Cuộc sống xã hội ===
"Mô hình Thụy Điển", một khái niệm của thập niên 1970, ám chỉ hệ thống phúc lợi xã hội, một hệ thống phúc lợi và chăm lo xã hội rộng khắp, là kết quả của sự phát triển hằng trăm năm. Trong thời gian từ năm 1890 đến 1930 một phần cơ sở cho một hệ thống phúc lợi xã hội đã thành hình, nhưng mãi đến những năm của thập niên 1930, đặc biệt là từ khi Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Thụy Điển thành lập chính phủ năm 1932, việc xây dựng một quốc gia phúc lợi xã hội mới trở thành một dự án chính trị và được đẩy mạnh. Hệ thống phúc lợi xã hội Thụy Điển cuối cùng đã bao gồm tất cả mọi người từ trẻ em (thông qua hệ thống chăm sóc trẻ em của làng xã) cho đến những người về hưu (thông qua hệ thống chăm sóc người già của làng xã).
Mãi đến thập niên vừa qua mới có những thay đổi lớn. Một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng đầu thập niên 1990 đã dẫn đến việc cắt giảm các phúc lợi xã hội và sự phát triển nhân khẩu như đã dự đoán đã buộc phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống hưu trí, hệ thống mà từ nay được gắn liền vào phát triển kinh tế. Thế nhưng các cuộc bầu cử vừa qua đã cho thấy là chính những phần cốt lõi của hệ thống phúc lợi xã hội rất được người công dân yêu mến.
== Văn hoá ==
=== Văn học ===
Vào đầu Phong trào Cải cách nền tảng cho một tiếng Thụy Điển thống nhất bắt đầu hình thành. Văn học mang tính chất tôn giáo chiếm lĩnh ưu thế trong suốt thời kỳ này.
Vào năm 1732 số đầu tiên của tờ tuần báo đầu tiên, Then swänska Argus, được phát hành. Olof Dalin, người phát hành tờ tuần báo này, chủ yếu hướng về giới bạn đọc là người thường dân. Trong những người cùng thời với Dalin nổi bật nhất là bà Hedvig Charlotta Nordenflycht. Thơ của bà một phần mang tính chất cá nhân và trữ tình, một phần khác mang dấu ấn của cuộc đấu tranh vì các quyền trí thức của phụ nữ.
Erik Gustaf Geijer cũng như người sau ông là Esaias Tegnér là những người đại diện cho trường phái lãng mạn quốc gia trong Thời kỳ Lãng mạn. Với bài thơ Vikingen Geijer đã đưa hình tượng của người Viking đi vào văn học. Cũng trong thời kỳ này các tiểu thuyết đầu tiên bắt đầu được phát hành, đáng kể nhất là Carl Jonas Love Almqvist với quyển tiểu thuyết Drottningens juvelsmycke (Châu báu của hoàng hậu).
August Strindberg và Selma Lagerlöf là hai nhà văn nổi bật nhất trong thời gian từ cuối thế kỷ 19 cho đến Chiến tranh thế giới thứ nhất. Với hai tác phẩm Fadren (Cha) năm 1887 và Fröken Julie (Người con gái tên Julie) Strindberg đã đạt đến giới bạn đọc quốc tế. Người đoạt giải Nobel Selma Lagerhöf bắt đầu được giới công khai biết đến qua quyển tiểu thuyết Gösta Berlings saga.
Nền văn học sau năm 1914 hướng về các đề tài xã hội nhiều hơn thời gian trước đó. Sigfrid Siwertz, Elin Wägner và Hjalmar Bergman miêu tả đất nước Thụy Điển đương thời trong thời gian chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp.
Thời kỳ Hiện đại trong văn học Thụy Điển bắt đầu trong những thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Giữa những năm 1960 bắt đầu có một cuộc đổi hướng trong văn học Thụy Điển. Nhận thức mới về chính trị thế giới đòi hỏi một nền văn học phê bình xã hội. Per Olov Enquist viết quyển tiểu thuyết mang tính chất tài liệu về việc trục xuất những người Balt từ Thụy Điển về Liên bang Xô viết. Các nhà văn khác như Pär Westberg và Sara Lidman viết về tình trạng của thế giới bên ngoài. Trong những năm của thập kỷ 1970 văn học Thụy Điển trở về đề tài sử thi. Trong nhiều tác phẩm cùng chủ đề, từng vùng đất của Thụy Điển đã được miêu tả lại trong lúc chuyển đổi giữa cũ và mới. Lars Norén với bi kịch gia đình Modet att döda (Can đảm để giết người) năm 1980 đã trở thành nhà viết bi kịch nổi tiếng nhất của những thập niên kế tiếp.
=== Phim ===
Vào khoảng năm 1910 Thụy Điển bắt đầu sản xuất phim thường xuyên. Chẳng bao lâu phim Thụy Điển đạt chất lượng đến một mức độ làm cho cả thế giới biết đến. Thế nhưng khi phim có âm thanh ra đời và kèm theo đó là việc tự gniới hạn trong thị trường nhỏ nói tiếng Thụy Điển, phim Thụy Điển giảm sút xuống mức độ thấp về nghệ thuật. Mãi đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai phim Thụy Điển mới trải qua một cuộc đổi mới về chất lượng nghệ thuật. Trước tiên là trong thể loại phim tài liệu, thí dụ như phim Con người trong thành phố của Arne Sucksdorf đã đoạt được giải thưởng Oscar. Thể loại phim thiếu niên và nhi đồng cũng đạt được sự quan tâm của thế giới.
=== Âm nhạc ===
Thụy Điển nổi tiếng về thể loại nhạc Pop với các ban nhạc được cả thế giới biết đến như ABBA, Roxette, Ace of Base và Army of Lovers. Thuộc về các ban nhạc nổi tiếng hiện nay là Looptroop và The Hives. Bên cạnh đó, Thụy Điển cũng là một đất nước có nền nhạc Metal phát triển cực kì mạnh mẽ với những cái tên đã quá quen thuộc với các rockfan trên toàn thế giới như Arch Enemy, In Flames,Dark Funeral, Dark Tranquillity hay Pain Of Salvation.
=== Kiến trúc ===
=== Các lễ hội và phong tục tập quán đặc trưng ===
Ngày 6 tháng 1 là ngày lễ Trettondedag jul (lễ Ba Vua còn gọi là lễ Hiển Linh), đây là ngày lễ quốc gia tại Thụy Điển chủ yếu theo đạo Tin Lành.
Vào ngày 13 tháng 1, Tjugondedag jul (còn gọi là Tjugondag jul hay Knut), mùa Giáng Sinh chấm dứt. Thỉnh thoảng có lễ hội cuối cùng, nến và các vật trang hoàng được tháo gỡ xuống và cây Nô en được mang ra ngoài.
Valborgsmässoafton được chào mừng vào ngày 30 tháng 4. Người dân quay quanh các lửa trại lớn, có phát biểu chào mừng mùa Xuân và hát các bài ca về mùa Xuân. Đặc biệt ở tại Lund và Uppsala thì Valborg vào đêm trước ngày 1 tháng 5 là một lễ hội sinh viên quan trọng. Đúng 15 giờ tất cả mọi người đều đội mũ sinh viên lên là hát những bài ca sinh viên. Vào đêm đó thường người ta uống nhiều rượu.
Ngày 6 tháng 6, Svenska flaggans dag, là ngày lễ quốc khánh của Thụy Điển. Đầu tiên là "Flaggentag" (Ngày Quốc kỳ), ra đời vào năm 1916, ngày 6 tháng 6 là lễ quốc khánh từ năm 1983 và từ năm 2005 cũng là ngày lễ chính thức.
Lễ hội giữa hè (Midsommarfest) được mừng vào đêm rạng sáng ngày thứ Bảy đầu tiên sau ngày 21 tháng 6. Lễ hội này được ăn mừng lớn chỉ có thể so sánh được với lễ Giáng Sinh. Thụy Điển đẹp nhất vào đêm "midsommarafton" cuối tháng 6, khi ánh sáng mặt trời có thể nhìn thấy 24 tiếng liên tục ở miền Bắc và ở miền Nam chỉ có vài tiếng là hoàng hôn và rạng sáng. Ngày lễ này có truyền thống rất lâu đời và có nguồn gốc từ các lễ hội chào mừng mùa Hè từ thời kỳ Tiền Lịch sử. Trên khắp mọi nơi ở Thụy Điển người dân ca hát và nhảy múa chung quanh cây nêu tháng 5 được trang hoàng bằng cành cây và bông hoa, có lẽ là biểu tượng quốc gia Thụy Điển nổi tiếng nhất.
Vào tháng 8 bắt đầu có tôm cua tươi đầu mùa ở chợ. Lễ hội chào mừng được gọi là Kräftskiva và được tổ chức không có thời điểm nhất định. Người dân ăn tôm cua luộc cho đến khi no và uống kèm theo đó là rượu mạnh.
Tại miền Bắc Thụy Điển còn có Surströmmingsfest vào cuối mùa Hè. Việc ăn cá trích được ủ trước cùng với khoai tây hay với tunnbröd (một loại bánh mì khô) trong dịp lễ này đòi hỏi phải có khẩu vị "cứng cáp".
Lễ Lucia (Luciafest) bắt đầu vào sáng ngày 13 tháng 12 và tại Thụy Điển là ngày của Nữ hoàng ánh sáng. Người con gái đầu trong gia đình xuất hiện với một váy trắng và mang trên đầu một vòng hoa được làm từ cành cây của một loài cây việt quất (Vaccinium vitis-idaea) và nến, đánh thức gia đình và mang thức ăn sáng đến tận giường. Trường học và nơi làm việc trên toàn nước được các đoàn diễu hành đến thăm viếng vào sáng sớm. Các cô gái trẻ mang váy trắng dài đến gót chân cùng với nến trên đầu và tay, đi cùng là các nam thiếu niên mang quần áo trắng và đội nón chóp dài được trang điểm bằng nhiều ngôi sao.
=== Thể thao ===
Thể thao là một phong trào quần chúng tại Thụy Điển với khoảng độ một nửa dân số tham gia tích cực. Hai môn thể thao chính là bóng đá và khúc côn cầu trên băng. Zlatan Ibrahimovic, Henrik Larsson và Fredrik Ljungberg thuộc về những ngôi sao bóng đá của Thụy Điển và trong số những người nổi tiếng trong bộ môn khúc côn cầu trên băng phải kể đến Markus Näslund, Peter Forsberg, Mats Sundin, Daniel Alfredsson, Niklas Lidström, Börje Salming và Pelle Lindbergh.
Số người chơi các môn thể thao cưỡi ngựa nhiều chỉ sau bóng đá, phần lớn là phụ nữ. Tiếp theo sau đó là golf, điền kinh và các môn thể thao đồng đội như bóng ném, khúc côn cầu trong nhà (tiếng Anh: Floorball), bóng rổ và ngoài ra là bandy tại các vùng phía Bắc.
Các vận động viên quần vợt thành công bao gồm Björn Borg, Mats Wilander,Stefan Edberg và Robin Soderling.
Rất nhiều người Thụy Điển đã lập thành tích quốc tế trong điền kinh, thí dụ như Patrik Sjöberg - kỷ lục nhảy cao nam châu Âu, hay Kajsa Bergqvist - kỷ lục nhảy cao nữ, và người đoạt huy chương vàng Thế vận hội Stefan Holm. Hai vận động viên Thụy Điển khác đoạt huy chương vàng tại Thế vận hội mùa Hè 2004 là Carolina Klüft trong bộ môn điền kinh nữ bảy môn và Christian Olsson trong bộ môn nhảy ba bước.
Các vận động viên nổi tiếng khác của Thụy Điển bao gồm Ingemar Johansson (đấm bốc hạng nặng), Annika Sörenstam (đánh golf), Jan-Ove Waldner (nguyên vô địch bóng bàn 5 lần) và Tony Rickardsson (đua mô tô).
Trong trường học, trên bãi cỏ hay trong công viên brännboll, một bộ môn thể thao tương tự như bóng chày, thường hay được chơi để giải trí. Trong các thế hệ lớn tuổi các bộ môn thể thao giải trí khác là kubb và boules.
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực Thụy Điển là thực phẩm truyền thống của người Thụy Điển. Do Thụy Điển trải dài từ bắc tới nam, nó nhiều khác biệt giữa ẩm thực phía bắc và phía nam.
Trong lịch sử, ở phía Bắc, người ta từng ăn các loại thịt như tuần lọc, hoặc các loại thịt thú săn khác, nó có nguồn gốc từ văn hóa Sami, trong khi các loại rau tươi có vai trò quan trọng hơn ở phía Nam.
== Những ngày lễ ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Truyền thanh và truyền hình tại Thụy Điển
Danh sách các trường Đại học tại Thụy Điển
Quan hệ quốc tế của Thụy Điển
Quân đội Thụy Điển
Danh sách các cuộc chiến tranh của Thụy Điển
Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển
Giao thông tại Thụy Điển
Danh sách các công ty Thụy Điển
Danh sách báo chí Thụy Điển
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của chính phủ Thụy Điển
Trang web chính thức của Quốc hội Thụy Điển -
Học tập và nghiên cứu tại Thụy Điển
Du lịch Thụy Điển
Sweden Info - Kingdom of Sweden (ENG)
Sách tài liệu của CIA về Thụy Điển
Thông tin về Thụy Điển của Bộ Ngoại giao Mỹ |
hypertext transfer protocol.txt | HTTP (Tiếng Anh: HyperText Transfer Protocol - Giao thức truyền tải siêu văn bản) là một trong năm giao thức chuẩn về mạng Internet, được dùng để liên hệ thông tin giữa Máy cung cấp dịch vụ (Web server) và Máy sử dụng dịch vụ (Web client) là giao thức Client/Server dùng cho World Wide Web-WWW, HTTP là một giao thức ứng dụng của bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho Internet).
Ví dụ như muốn xem trang mạng của Wikipedia Tiếng Việt, nhập vào ô địa chỉ dòng lệnh sau: http://vi.wikipedia.org.
== Lịch sử ==
HTTP cùng với HTML là phát kiến của Tim Berners-Lee ở CERN vào năm 1989 đứng sau là các tổ chức lớn (IETF) và World Wide Web Consortium (W3C), và đỉnh cao là việc công bố ra hàng loạt các bản RFC(Request for Comments).
Phiên bản đầu tiên của HTTP là HTTP V0.9 (1991). Năm 1995 David Ragger lãnh đạo nhóm HTTP Working Group (viết tắc HTTP WG) muốn mở rộng giao thức này đa dạng hơn như:thẻ meta-rich decription, và bảo mật hơn bằng cách thêm các phương thức khác và các trường header.Đọc thêm tại các bản RFC 1945
HTTP được viết bởi ngôn ngữ HTML, từ lúc công bố đến nay đã trải qua nhiều phiên bản 1.x (1.0, 1.1, 1.2,1.3) đến ngày nay là phiên bản 2.x.
HTTP/2 được công bố trong bản RFC 7540 vào tháng 7 năm 2015.
== HTTP Session ==
== HTTP Authentication ==
== HTTP Request methods ==
HTTP Request Method chỉ phương thức để được thực hiện trên nguồn được nhận diện bởi Request-URI đã cung cấp
GET
GET được sử dụng để lấy lại thông tin từ Server đã cung cấp bởi sử dụng một URI đã cung cấp. Các yêu cầu sử dụng GET nên chỉ nhận dữ liệu và nên không có ảnh hưởng gì tới dữ liệu.
HEAD
Tương tự như GET, nhưng nó truyền tải dòng trạng thái và khu vực Header.
POST
Một yêu cầu POST được sử dụng để gửi dữ liệu tới Server, ví dụ, thông tin khách hàng, file tải lên, …, bởi sử dụng các mẫu HTML.
PUT
Thay đổi tất cả các đại diện hiện tại của nguồn mục tiêu với nội dung được tải lên.
DELETE
Gỡ bỏ tất cả các đại diện hiện tại của nguồn mục tiêu bởi URI.
CONNECT
Thiết lập một tunnel tới Server được xác định bởi URI đã cung cấp.
OPTIONS
Miêu tả các chức năng giao tiếp cho nguồn mục tiêu.
TRACE
Trình bày một vòng lặp kiểm tra thông báo song song với path tới nguồn mục tiêu.
== HTTP Response ==
Khi nhận và phiên dịch một HTTP Request, Server sẽ gửi tín hiệu phản hồi là một HTTP Response bao gồm các thành phần sau:
Một dòng trạng thái (Status-Line)
Không hoặc nhiều hơn các trường Header (General|Response|Entity) được theo sau CRLF
Một dòng trống chỉ dòng kết thúc của các trường Header
Một phần thân thông báo tùy ý
=== Server response ===
Một ví dụ về một HTTP Response:
Dòng Status-Line: Một dòng Status Line bao gồm phiên bản giao thức (HTTP-Version) sau đó là mã hóa trạng thái số (Status-Code) và cụm từ thuần văn bản được liên kết của nó. Các thành phần được phân biệt bởi dấu cách.
=== HTTP Status Code ===
Mã trạng thái HTTP được server phản hồi lại mỗi khi nhận được http resquest
Yếu tố Status-Code là một số nguyên 3 ký tự, trong đó ký tự đầu tiên của mã hóa trạng thái định nghĩa hạng (loại) phản hồi và hai ký tự cuối không có bất cứ vai trò phân loại nào. Có 5 giá trị của ký tự đầu tiên như sau:
==== 1xx: Thông tin ====
Nó nghĩa là yêu cầu đã được nhận và tiến trình đang tiếp tục.
===== 100 (Continue) =====
Máy chủ trả về mã này để chỉ ra rằng nó đã nhận được một phần đầu tiên của một yêu cầu và được chờ đợi cho phần còn lại.
===== 101 (Switching protocols) =====
Bên yêu cầu đã yêu cầu các máy chủ để chuyển đổi và máy chủ được thừa nhận rằng nó sẽ làm như vậy
==== 2xx: Thành công ====
Nó nghĩa là hoạt động đã được nhận, được hiểu, và được chấp nhận một cách thành công.
===== 200 (Successful) =====
Các máy chủ xử lý yêu cầu thành công
===== 201 (Created) =====
Yêu cầu đã thành công và các máy chủ tạo ra một nguồn tài nguyên mới.
===== 202 (Accepted) =====
Máy chủ đã chấp nhận yêu cầu, nhưng vẫn chưa xử lý nó
===== 203 (Non-authoritative information) =====
Máy chủ xử lý yêu cầu thành công, nhưng đang quay trở lại các thông tin mà có thể là từ một nguồn khác.
===== 204 (No content) =====
Các máy chủ xử lý yêu cầu thành công, nhưng không trả lại bất kỳ nội dung nào
===== 205 (Reset content) =====
Các máy chủ proccessed yêu cầu thành công, nhưng không trả lại bất kỳ nội dung. Không giống như một phản ứng 204, phản ứng này đòi hỏi người yêu cầu thiết lập lại xem tài liệu
===== 206 (Partial content) =====
Các máy chủ xử lý thành công một phần của một yêu cầu
==== 3xx: Sự điều hướng lại ====
Nó nghĩa là hoạt động phải được thực hiện để hoàn thành yêu cầu.
===== 301 (Moved permanently) =====
Các trang web yêu cầu đã bị di chuyển vĩnh viễn tới URL mới
==== 302 (Moved temporarily) ====
Trang được yêu cầu đã di chuyển tạm thời tới một URL mới
==== 304 (Not modified) ====
Các trang yêu cầu đã không được sửa đổi kể từ khi yêu cầu cuối cùng. Khi máy chủ trả về phản hồi này, nó không trả lại các nội dung của trang.
==== 4xx: Lỗi Client ====
Nó nghĩa là yêu cầu chứa cú pháp không chính xác hoặc không được thực hiện
===== 400 (Bad request) =====
Các máy chủ không hiểu được yêu cầu.
==== 401 (Not authorized) ====
Đề nghị yêu cầu xác thực. Máy chủ có thể trả về phản hồi này yêu cầu xác thực đăng nhập tài khoản và mật khẩu (thông thường máy chủ trả về phản hồi này nếu client gửi request một trang đăng nhập)
===== 403 (Forbidden) =====
Máy chủ từ chối yêu cầu.(thông thường nếu đăng nhập không thành công máy chủ sẽ trả về mã lỗi này)
===== 404 (Not found) =====
Máy chủ không thể tìm thấy trang yêu cầu. Ví dụ, máy chủ thường trả về mã này nếu có 1 yêu cầu tới một trang không tồn tại trên máy chủ.
===== 405 (Method not allowed) =====
Phương thức được xác định trong yêu cầu là không được cho phép.
===== 406 (Not acceptable) =====
Server chỉ có thể tạo một phản hồi mà không được chấp nhận bởi Client.
===== 407 (Proxy authentication required) =====
Yêu cầu client phải xác thực sử dụng một proxy. Khi máy chủ trả về phản hồi này, nó cũng chỉ ra proxy mà người yêu cầu phải sử dụng.
==== 408 (Request timeout) ====
Request tốn thời gian dài hơn thời gian Server phản hồi
===== 409 (Conflict) =====
Các máy chủ gặp phải một cuộc xung đột thực hiện yêu cầu. Các máy chủ phải bao gồm thông tin về các cuộc xung đột trong các phản ứng. Máy chủ có thể trả về mã này để đáp ứng với yêu cầu PUT xung đột với yêu cầu trước đó, cùng với một danh sách các sự khác biệt giữa các yêu cầu.
===== 410 (Gone) =====
Các máy chủ trả về phản hồi này khi các nguồn tài nguyên yêu cầu đã bị loại bỏ vĩnh viễn. Nó tương tự như một 404 (Không tìm thấy) mã, nhưng đôi khi được sử dụng ở vị trí của một 404 cho nguồn lực được sử dụng để tồn tại nhưng không còn làm. Nếu tài nguyên đã di chuyển vĩnh viễn, bạn nên sử dụng một 301 để xác định vị trí mới của tài nguyên.
===== 411 (Length required) =====
Content-Length không được xác định rõ. Server sẽ không chấp nhận yêu cầu mà không có nó
===== 412 (Precondition failed) =====
Các máy chủ không đáp ứng một trong các điều kiện tiên quyết mà người yêu cầu đưa vào yêu cầu.
===== 413 (Request entity too large) =====
Máy chủ không thể xử lý yêu cầu bởi vì nó là quá lớn đối với các máy chủ để xử lý.
===== 414 (Requested URI is too long) =====
URI yêu cầu (thường là một URL) là quá dài đối với máy chủ để xử lý.
===== 416 (Requested range not satisfiable) =====
Máy chủ trả về mã trạng thái này nếu yêu cầu cho một phạm vi không có sẵn cho trang.
===== 417 (Expectation failed) =====
Máy chủ không thể đáp ứng yêu cầu của các trường yêu cầu, tiêu đề mong đợi.
==== 5xx: Lỗi Server ====
Nó nghĩa là Server thất bại với việc thực hiện một yêu cầu nhìn như có vẻ khả thi.
===== 500 (Internal server error) =====
Các máy chủ gặp lỗi và không thể thực hiện yêu cầu.
===== 501 (Not implemented) =====
Các máy chủ không có các chức năng để thực hiện yêu cầu. Ví dụ, máy chủ có thể trả về mã này khi nó không nhận ra phương thức yêu cầu.
===== 502 (Bad gateway) =====
Các máy chủ đã hoạt động như một gateway hoặc proxy và nhận được một phản ứng không hợp lệ từ máy chủ ngược.
===== 503 (Service unavailable) =====
Máy chủ hiện không có sẵn (vì nó bị quá tải hoặc xuống để bảo trì). Nói chung, đây là một trạng thái tạm thời.
===== 504 (Gateway timeout) =====
Các máy chủ đã hoạt động như một gateway hoặc proxy và đã không nhận được yêu cầu kịp thời từ máy chủ ngược.
===== 505 (HTTP version not supported) =====
Các máy chủ không hỗ trợ phiên bản giao thức HTTP được sử dụng trong yêu cầu.
Sau đây là danh sách tất cả các mã trạng thái HTTP được liệt kê theo tài liệu giao thức HTTP của trang w3c
=== HTTP Response Header Fields ===
Các trường Header phản hồi cho phép Server truyền thông tin thêm về phản hồi mà không thể được đặt trong dòng Status-Line. Những trường Header này cung cấp thông tin về Server và về truy cập từ xa tới nguồn được xác định bởi Request-URI:
== HTTP CACHING ==
== Encrypted connections ==
Có 2 cách phổ biến mã hóa kết nối HTTP là HTTP secure (viết tắt HTTPS = HTTP + SSL) hoặc kết hợp HTTP và Transport Layer Securerity (TLS)
== Liên quan ==
FTP
HTTPS
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
HTTP Protocol w3c.org. Liên kết: https://www.w3.org/Protocols/
Hypertext Transfer Protocol wikipedia https://en.wikipedia.org/wiki/Hypertext_Transfer_Protocol
Bản RFC 2616 https://tools.ietf.org/html/rfc2616 |
kim lũ, sóc sơn.txt | Kim Lũ là một xã thuộc huyện Sóc Sơn, phía bắc của thành phố Hà Nội.
== Lịch sử ==
Xã Kim Lũ vốn hình thành từ một làng cổ thời Bắc thuộc (nhà Đông Hán), gọi nôm là Cờ Lủ hay Lủ, tên chữ Hán gọi là Kim Lũ, tên này tồn tại cho đến nay. Tương truyền, dân làng Cờ Lủ nổi tiếng với nghề thợ ngoã. Khoảng thế kỷ 2, nghề thợ ngoã đã xuất hiện và phát triển ở làng Cờ Lủ. Làng là nơi cung cấp các hiệp thợ cho các triều đại phong kiến xây dựng kinh đô.
== Hiện nay ==
Xã gồm có 04 thôn (làng): Xuân Dương, Kim Thượng (Lủ Thượng), Kim Trung (Lủ Trung), Kim Hạ (Lủ Hạ). Dân số thôn Xuân Dương là đông nhất. Ủy ban nhân nhân xã đặt tại thôn Kim Thượng
== Tham khảo ==
Nghề thợ ngoã làng Cờ Lủ
Nghề thợ ngoã xã Kim Lũ:
Đến xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội, người ta nghĩ ngay đến nghề thợ nề mà người xưa gọi là nghề thợ ngoã của làng Lủ, nay đã phát triển thành ba làng: Lủ Thượng, Lủ Trung và Lủ Hạ.
Tên làng Lủ còn gọi là Cờ Lủ có từ ngàn xưa, đến khi nhà Đông Hán (25 năm sau Công Nguyên) thống kê hộ khẩu đặt tên mới là Kim Lũ, tên này tồn tại cho đến nay.
Truyền thuyết kể rằng: Từ thế kỷ khoảng thứ II khi con người biết đốt gạch, nung vôi thì nghề thợ ngoã đã xuất hiện và phát triển ở Cờ Lủ. Các triều đại vua chúa phong kiến đều cho rằng: nghề thợ ngoã của người Cờ Lủ, cải đắp Long - Ly - Quy - Phượng - Thông - Trúc - Cúc - Mai cho đến miếu, cung đình là nghề độc tôn ở đây, không có nơi nào thay thế được. Ngay từ đời Đông Hán đã về tuyển ở Cờ Lủ một đội thợ ngóâng Tàu xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Tức là Nam Kinh). ở ta, đời vua Đinh Tiên Hoàng đã cho người về Lủ tuyển thợ đi xây dựng kinh đô Hoa Lư. Các triều vua Lý - Trần - Lê đều với đến các tay thợ của Kim Lũ về kinh thành Thăng Long để xây đắp cung điện, tạo dáng cho các nơi ở của các thế lực đứng đầu thiên hạ. Đến triều đại nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn thì thợ ngoã Cờ Lủ lại theo triều đình vào Huế để xây dựng kinh đô. Thời đó giao lưu khó khăn, gây ra nhiều sự xa cách lý tán gia đình giữa Huế và Kim Lũ mà đến nay còn chưa tìm được.
Tóm lại, các đời vua chúa phong kiến của Tàu cũng như ta đều cần đến những bàn tay tài hoa xây dựng của người Cờ Lủ; họ có đội thợ thường trực ở Hoàng Cung để làm công việc của mình là xây dựng, sửa chữa, cải đắp lâu dài cung điện, nhưng nơi xa cần đông người thì đứng đầu đảm trách kỹ thuật là người Cờ Lủ.
Lịch sử còn ghi lại, đời nhà Minh, Minh Thành tổ, năm 1418 dời đô từ Nam Kinh đến Bắc kinh, thứ sử Châu Giao là Hoàng Phúc bắt rất đông người Việt sang Bắc Kinh xây dựng kinh đô mới. Đội thợ ngõa của người Cờ Lủ cũng có mặt trong đoàn người đó cùng với tổng công đoàn người đó cùng với tổng công trình sư Nguyễn An sang Bắc Kinh và để lại một công trình to lớn, một di sản văn hóa kiến trúc cực kỳ vĩ đại cho nhân loại là Thiên An Môn và Đàn Nam Giao. Năm 1999, chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố: bảo tồn di sản kiến trúc văn hóa quý báu này tức là bảo tồn một công trình kiến trúc văn hóa cổ và bảo vệ mối tình hữu nghị Trung - Việt có từ lâu đời của hai dân tộc.
Những thợ ngoã có công lao lớn phục vụ đều được các đời vua ghi nhận, cấp bổng lộc, ban thưởng, phong phẩm hàm chức tước trực tiếp. Tuy qua thời gian lâu mai một đi nhiều, chiến tranh liên miên tàn phá làm cho các kỷ vật, di sản quý báu cổ mất mát, thất lạc nhiều.
Cụ Bùi Đình Khai sống thời vua Lê Hiển Tông, ngày 26 tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 44 đã được vua ban một đạo sắc phong ghi công cụ đã có công xây dựng và bảo vệ kinh thành Thăng Long.
Hàng năm, cứ đến mồng 10 tháng giêng âm lịch là Kim Lũ lại làm lễ tế tổ để nhớ ngày vua phong chức tước và ban thưởng cho cụ tổ của làng nghề. Đền thờ cụ tổ làng nghề trên có 3 chữ "Khải Tất Tiên" trong đền thờ có đôi câu đối do Đệ nhất Quận Công Lê Triều Nguyễn Duy Hiền cung tiến. Tạm dịch như sau: "Nghề thợ ngoã không phải cho riêng mình, nó cao quý trên trăm nghề khác, công lao rất lớn, tồn tại ngàn năm".
Người Kim Lũ tự hào về ông cha mình, phát huy truyền thống từ ngàn xưa góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, vững bền.
Còn đương đại thì do nghề này rất vất vả nên các bạn trẻ không còn theo nghiệp của cha ông nữa mà làm các ngành nghề khác theo cơ chế thị trường do vậy mà nghề thợ ngoã cũng theo đó mai một dần. |
worcestershire.txt | Worcestershire là một hạt thành thị của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Worcestershire được thành lập trong thời cổ, nằm ở khu vực West Midlands của Anh. Đối với mục đích của Eurostat nó là một NUTS khu vực 3 (mã UKG12) và là một trong ba hạt bao gồm khu vực 2 NUTS "Herefordshire, Worcestershire và Warwickshire". Năm 1974, nó được sáp nhập với các hạt lân cận của Herefordshire để hình thành các hạt Hereford và Worcester, nhưng lại được chia ra vào năm 1998, thành lập lại Worcestershire một lần nữa như một thực thể độc lập. Sau cải cách năm 1998, đỉnh đồi Malvern hình thức biên giới Đông-Tây giữa hai nước, với ngoại lệ của giáo xứ Tây Malvern, Worcestershire.
Quận giáp giới với Herefordshire, Shropshire, ppStaffordshire]], West Midlands, Warwickshire, và Gloucestershire. Về phía tây, quận giáp đồi Malvern, và thị trấn spa của Malvern. Phần phía nam của quận hạt được bao bọc bởi Gloucestershire và cạnh phía bắc của các Cotswolds, và phía đông là Warwickshire. Có hai con sông lớn chảy qua các quận, Severn và Avon.
Thành phố nhà thờ chính tòa của hạt là Worcester là khu định cư và hành chính lớn nhất và là thủ phủ hạt, trong đó bao gồm các khu định cư chính của Bromsgrove, Stourport-on-Severn, Droitwich, Evesham, Kidderminster, Malvern, và thị trấn lớn nhất, Redditch, và một số lượng nhỏ hơn thị trấn như Pershore, Tenbury Wells, và Upton khi Severn. Phần phía bắc của quận bao gồm sự khởi đầu của sự mở rộng đô thị lớn tích tụ công nghiệp West Midlands, trong khi phần còn lại và phía nam của quận phần lớn là khu vực nông thôn.
== Tham khảo == |
tổng giám đốc điều hành.txt | Tổng giám đốc điều hành (tiếng Anh: Chief Executive Officer - CEO hay tổng giám đốc) là chức vụ điều hành cao nhất của một tổ chức, phụ trách tổng điều hành một tập đoàn, công ty, tổ chức hay một cơ quan. CEO phải báo cáo trước hội đồng quản trị của tổ chức đó. Thuật ngữ tương đương của CEO có thể là giám đốc quản lý (MD) và giám đốc điều hành (CE).
== Thuật ngữ tên gọi ==
CEO là một từ tiếng Anh viết tắt (của Chief Executive Officer) bắt nguồn từ Hoa Kỳ, dần dần phổ biến tại các nước khác, tương đương với từ tiếng Anh Managing Director tại Anh , tiếng Đức gọi là Geschäftsführer (hãng nhỏ, trung) hay Vorstandsvorsitzender hoặc Generaldirektor (hãng lớn). Ở Pháp, CEO được gọi là "PDG" (Président-Directeur Général).
Trong văn hóa kinh doanh, ở một số công ty thì tổng giám đốc điều hành (CEO) cũng thường là chủ tịch hội đồng quản trị. Cá biệt, một người thường đảm nhiệm chức chủ tịch hoặc tổng giám đốc khi một người khác nắm quyền chủ tịch hoặc có thể trở thành giám đốc điều hành (Chief operations officer - COO). Vị trí chủ tịch và tổng giám đốc có thể được tách biệt nhưng vẫn có những sự dính líu đến nhau trong sự quản lý công ty.
Ở một số nước trong Liên minh châu Âu, có hai ban lãnh đạo riêng biệt, một ban lãnh đạo phụ trách công việc kinh doanh hằng ngày và một ban giám sát phụ trách việc định hướng cho công ty (được bầu ra từ các cổ đông). Trong trường hợp này, tổng giám đốc chủ trì ban lãnh đạo còn chủ tịch hội đồng quản trị chủ trì ban giám sát và hai lực lượng này sẽ được tổ chức bởi những con người khác nhau. Điều này đảm bảo sự độc lập giữa việc điều hành của ban lãnh đạo với sự cai quản của ban giám sát và phân ra một ranh giới rõ ràng về quyền lực. Mục đích là để ngăn ngừa xung đột về lợi ích và tránh việc tập trung quá nhiều quyền lực vào một cá nhân. Luôn có một sự song hành về quyền lực trong cấu trúc cai trị của công ty, điều mà hướng tới một sự biệt lập giữa khối định ra chính sách và khối điều hành công ty.
Một số trường hợp hiếm thấy, tổng giám đốc được chủ tịch hội đồng quản trị chỉ định nhưng điều này là không phù hợp về mặt pháp lý.
Tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nhiều tổ chức từ thiện và tổ chức chính phủ do các CEO đứng đầu. Tại đây, chủ tịch hội đồng quản trị của các công ty cổ phần thường lớn tuổi hơn tổng giám đốc. Đa số các công ty cổ phần hiện nay đều chia ra thành chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc.
Phụ thuộc vào ngành mà công ty tham gia, cơ cấu tổ chức của công ty, những chức vụ chuyên môn khác nhau có thể được đặt ra dưới sự chỉ đạo của tổng giám đốc như: giám đốc điều hành (COO), giám đốc kinh doanh (Chief business development officer), giám đốc công nghệ thông tin (Chief information officer), giám đốc marketing (Chief marketing officer), giám đốc tài chính (Chief financial officer)...
Nhìn chung, tổng giám đốc được dùng để chỉ người điều hành cao nhất trong một doanh nghiệp. Cho đến giờ, người ta chưa có bất kỳ một thước đo nào dành cho CEO. Nói chung là CEO không phải như "Cử nhân". CEO có thể là một người có học vấn thấp hoặc cao. Tuy nhiên đã là một CEO thì phải am hiểu nhiều vấn đề vì CEO hàng ngày đều phải "va vấp" và giải quyết nhiều thứ chứ không chỉ có kinh doanh.
== Trách nhiệm, kỹ năng ==
Theo Viện Kế toán - Quản trị Doanh nghiệp, CEO phải có kiến thức đa lĩnh vực. Ngoài kỹ năng kinh doanh, CEO còn am hiểu các vấn đề liên quan đến Luật, Nhân sự, Thuế, Hành vi tổ chức, Phong cách, Tài chính, Kế toán,... Viện này đưa ra những môn học được đánh giá "sát sườn" (theo kết luận của Viện Kế toán - Quản trị Doanh nghiệp) gồm: Chiến lược kinh doanh, Hành vi Tổ chức, Phong cách lãnh đạo, Luật Kinh tế và định chế quốc tế, Tài chính dành cho CEO, Kế toán dành cho CEO, Quản trị Marketing và Xây dựng thương hiệu, Thuế dành cho CEO, Kinh doanh trong môi trường quốc tế, Hệ thống quản lý ISO, Kinh tế học dành cho CEO.
Còn theo trường đào tạo những người dẫn đầu B.S.L, CEO phải có thêm kiến thức và kỹ năng về thị trường, về khách hàng, biết cách đánh giá và nhạy cảm về mức độ cạnh tranh để xác định đúng đắn tư tưởng và nội dung cho chiến lược. Triển khai các tư tưởng nội dung chiến lược thành các chương trình hành động và chính sách cho tổ chức. Bên cạnh đó các kiến thức về quản trị sự thay đổi và đổi mới là không thể thiếu trong giai đoạn hậu WTO của thị trường Việt Nam.
Theo sơ đồ kiểm soát hệ thống quản lý 3 lớp, đối với tổ chức nhỏ, công ty thường được tổ chức thành những phòng ban thực hiện công việc cốt lõi theo lớp thứ nhất của tổ chức như: bán hàng, marketing, sản xuất, dịch vụ. Khi công ty có quy mô lớn hơn, nhiều vấn đề phát sinh, đòi hỏi yêu cầu quản lý chuyên nghiệp hơn, các lãnh đạo cần phát triển thêm lớp thứ 2 bao gồm các phòng ban hỗ trợ như: tài chính, chất lượng, an ninh, tuân thủ, dự án,..nhằm tăng cường khả năng và năng lực cạnh tranh của tổ chức, đảm bảo đầy đủ các mục tiêu về tài chính, chất lượng, an toàn,.. của tổ chức. Những tập đoàn hoặc các công ty đại chúng được xây dựng thêm lớp thứ 3 thể hiện vai trò của kiểm toán nội bộ trong việc đánh giá độc lập khách quan, đề xuất cải tiến và đảm bảo tính tuân thủ của hệ thống quản lý.
== Một số nhiệm vụ ==
Định hướng phát triển
Hoạch định tài nguyên doanh nghiệp
Phát triển nhân lực
Quản lý bán hàng
Quản lý chất lượng
Quản lý chi phí (Quản lý chi tiêu)
Quản lý chuỗi cung cấp
Quản lý công nghệ
Quản lý dịch vụ
Quản lý dự án
Quản lý giá trị thu được
Quản lý hồ sơ
Quản lý mâu thuẫn
Quản lý môi trường
Quản lý mua sắm
Quản lý năng lực
Quản lý nhân sự
Quản lý phân phối
Quản lý quan hệ khách hàng
Quản lý rủi ro (Quản lý khủng hoảng)
Quản lý sản phẩm
Quản lý sản xuất
Quản lý tài năng (Quản lý nhân tài)
Quản lý tài nguyên
Quản lý thay đổi
Quản lý thương hiệu
Quản lý thương mại (Quản lý tiếp thị)
Quản lý tri thức
Quản lý truyền thông
Quản lý tuân thủ
Quản lý vấn đề
Quản lý văn phòng
Quản lý vận hành (Quản lý hoạt động)
Quản lý vòng đời sản phẩm
Tổ chức công việc
Tổ chức hỗ trợ
Thiết kế giải pháp
Thiết kế quy trình (Quản lý quy trình)
Xây dựng chiến lược
Xây dựng chính sách
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
U.S. Bureau of Labor Statistics - Top Executives: Description and Outlook
2008–2010 Study: CEOs Who Fired Most Workers Earned Highest Pay – video report by Democracy Now!
Global CEO Directory - Searchable list of Chief Executive Officers |
sốt xuất huyết.txt | Sốt xuất huyết hay chính xác hơn là sốt xuất huyết do virus là một nhóm các bệnh do một số họ virus sau: Arenavirus, Filoviridae, Bunyaviridae và Flavivirus. Một số loài virus có thể gây bệnh nhẹ như sốt Nephropathia Scandinavia, trong khi đó một số loài khác có thể gây bệnh tương đối nặng, thậm chí có thể gây tử vong, chẳng hạn như sốt Lassa, virus Marburg, Bệnh virus Ebola, sốt xuất huyết Bolivia, Hantavirus (sốt xuất huyết Triều Tiên), sốt xuất huyết Crimea-Congo, và sốt xuất huyết Dengue. Đây là bệnh sốt cao có xuất huyết, có thể quy vào các chứng ôn dịch, thời độc, thử táo dịch hoặc thấp nhiệt. Sốt xuất huyết được truyền qua muỗi, đặc biệt là muỗi vằn.
Ở Việt Nam, tỷ lệ người trên 15 tuổi mắc sốt xuất huyết tại các tỉnh phía Nam đã tăng từ 14% năm 1991 lên đến 30% năm 2004, và đang có xu hướng tăng lên trong mùa dịch năm 2005. Theo các bác sĩ chuyên ngành, đây là điều rất đáng lo ngại vì người lớn bị sốt xuất huyết dễ tử vong hơn trẻ em.
== Triệu chứng ==
Đau đầu, đau mình, viêm kết mạc (đau mắt đỏ), sau đó xuất hiện xuất huyết từ nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong.
Sốt: sốt cao đột ngột, nhiệt độ 39-40oC, sốt kéo dài 2-7 ngày, sốt kèm các triệu chứng: mệt mỏi, chán ăn, đau bụng ở thượng vị hoặc hạ sườn phải, đôi khi nôn, gan to: ở trẻ em hay gặp hơn người lớn, đôi khi da xung huyết hoặc có phát ban.
Hiện tượng xuất huyết: thường xuất hiện vào ngày thứ hai của bệnh: Các biểu hiện xuất huyết tự nhiên hoặc xuất huyết khi tiêm chích sẽ thấy bầm tím quanh nơi tiêm. Xuất huyết ngoài da: biểu hiện như các chấm xuất huyết, vết bầm tím, rõ nhất là xuất huyết ở mặt trước 2 cẳng chân, mặt trong 2 cẳng tay, gan bàn tay, lòng bàn chân. Xuất huyết ở niêm mạc: chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới màng tiếp hợp, đi tiểu ra máu, kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh nguyệt sớm hơn kỳ hạn. Xuất huyết tiêu hóa: nôn ra máu, đi đại tiện ra máu. Khi có xuất huyết tiêu hóa nhiều
Hội chứng thần kinh: đau người. đau cơ, đau khớp, nhức đầu, đau quanh hố mắt; trẻ em nhỏ sốt cao, đôi khi co giật, hốt hoảng; không có biểu hiện màng não
Sốc là dấu hiệu nặng, thường xuất hiện từ ngày thứ 3-6 của bệnh, đặc biệt lúc người bệnh đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết. Dấu hiệu của sốc gồm: Trẻ mệt li bì hoặc vật vã, Chân tay lạnh,tiểu ít, có thể kèm theo ói hoặc đi cầu ra máu.Thời gian diễn ra sốc thường ngắn từ 12 đến 24 h nên đi viện.
== Phân loại virus gây sốt xuất huyết ==
Cách phân loại này là của Tổ chức Y tế Thế giới
== Dự phòng ==
Diệt ấu trùng muỗi (lăng quăng), không tạo điều kiện để muỗi đẻ trứng bằng biện pháp như thả cá vàng hay các loại cá ăn lăng quăng vào trong lu, giếng, chum, vại. Đổ hết nước trong các vật chứa đựng nước không cần thiết; tránh để đồ đạc lộn xộn hoặc để nhiều đồ vào chỗ tối tạo khe hở cho muỗi sinh sản; đặt bát nước muối ở các khe trong nhà; sử dụng nhang muỗi, thuốc xịt.
== Điều trị ==
Hiện nay vaccin phòng bệnh Dengue và sốt xuất huyết có hội chứng thận đang trong giai đoạn nghiên cứu.
Chẩn đoán dựa trên lâm sàng và xét nghiệm. Điều trị thường là làm giảm các triệu chứng (giảm đau và hạ sốt). Đa số các ca thường nhẹ và khỏi bệnh trong vòng vài ngày. Trường hợp nặng cần nhập viện và chăm sóc tích cực các biến chứng huyết áp thấp và chảy máu.
Hiện chưa có thuốc đặc trị, bệnh nhân cần được điều trị theo triệu chứng, việc tiêu diệt vectơ truyền bệnh có vai trò quan trọng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra những bản hướng dẫn điều trị và dự phòng bệnh Dengue và sốt vàng, và tại một số nước có bản hướng dẫn của quốc gia như Argentina, Bolivia, Congo,...
== Phân loại sốt có nguy cơ sốt xuất huyết và hướng xử lý (trích từ ICMI) ==
== Lan truyền ==
=== Việt Nam ===
So với cùng kỳ năm ngoái, 2016 số ca mắc sốt xuất huyết tăng gấp 3 lần, trong đó tình hình tại 4 tỉnh Tây Nguyên đang diễn biến đặc biệt nghiêm trọng. Bộ Y tế cho biết, tính đến thời điểm hiện tại (6.8), cả nước có gần 50.000 ca mắc sốt xuất huyết tại 48 tỉnh thành, 17 trường hợp đã tử vong. Cùng kỳ năm ngoái, cả nước chỉ có 17.000 ca mắc sốt xuất huyết. Tại 4 tỉnh Tây Nguyên gồm: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, tình hình dịch đang diễn biến hết sức nghiêm trọng, số người mắc không ngừng tăng, hiện đã chiếm gần 75% số ca mắc cả nước. Theo PGS.TS Trần Đắc Phu, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, nguyên nhân sốt xuất huyết gia tặng mạnh tại Tây Nguyên do khu vực này không phải vùng lưu hành sốt xuất huyết phổ biến trong những năm qua nên miễn dịch cộng đồng thấp, khi có dịch dễ bùng phát nhanh.
== Chú thích ==
3. Phòng chống sốt xuất huyết - Bài viết từ dantri.com.vn 4. Ngày Asean phòng chống bệnh sốt xuất huyết - Bài viết từ afamily.vn |
quần đảo trường sa.txt | Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; giản thể: 南沙群岛; phồn thể: 南沙群島; bính âm: Nánshā Qúndǎo; tiếng Mã Lai và tiếng Indonesia: Kepulauan Spratly; tiếng Tagalog: Kapuluan ng Kalayaan) là một tập hợp thực thể địa lý được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và có tiềm năng dầu mỏ và khí đốt thuộc biển Đông. Tuy nhiên, quần đảo này đang trong tình trạng tranh chấp ở các mức độ khác nhau giữa sáu bên là Brunei, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Malaysia, Philippines, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Việt Nam. Ở cấp độ quốc tế, phạm vi của khái niệm Spratly Islands vẫn chưa được xác định rõ và đang trong vòng tranh cãi. Ở cấp độ quốc gia cũng có các cách hiểu khác nhau. Tuy Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam trên danh nghĩa đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo, nhưng khái niệm quần đảo Nam Sa trong nhận thức của Đài Loan và Trung Quốc là bao hàm toàn bộ các thực thể địa lý nằm bên trong phần phía nam của đường chín đoạn. Đối với Philippines, phạm vi tuyên bố chủ quyền của nước này bao trùm hầu hết quần đảo và được gọi là Nhóm đảo Kalayaan. Về phần Malaysia, nước này đòi hỏi một số thực thể ở phía nam của quần đảo. Cuối cùng, chưa rõ Brunei đòi hỏi cụ thể thực thể địa lý nào vì chỉ thấy nước này đưa ra yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà trong vùng đó có vài thực thể thuộc biển Đông.
Tất cả những nước tham gia tranh chấp này, trừ Brunei, đều có quân đội đồn trú tại nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đá ngầm khác nhau. Đầu thập niên 1970, Phillipnes chiếm 7 đảo và rạn đá phía đông quần đảo. Tháng 3 năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc đụng độ quân sự tại ba rạn đá là Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Tháng 2 năm 1995 và tháng 11 năm 1998, giữa Trung Quốc và Philippines đã hai lần bùng phát căng thẳng chính trị do hành động giành và củng cố quyền kiểm soát đá Vành Khăn của phía Trung Quốc. Dù rằng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đã ra đời nhằm xác định các vấn đề về ranh giới trên biển nhưng bản thân Công ước không có điều khoản nào quy định cách giải quyết các tranh chấp về chủ quyền đối với đảo.
== Địa lý tự nhiên ==
Quần đảo Trường Sa là một tập hợp gồm nhiều đảo san hô, cồn cát, rạn đá (ám tiêu) san hô nói chung (trong đó có rất nhiều rạn san hô vòng, tức rạn vòng hay còn gọi là rạn đá san hô vòng, "đảo" san hô vòng) và bãi ngầm rải rác từ 6°12' đến 12°00' vĩ Bắc và từ 111°30' đến 117°20' kinh Đông, trên một diện tích gần 160.000 km² (nguồn khác: 410.000 km²) ở giữa biển Đông. Quần đảo này có độ dài từ tây sang đông là 800 km, từ bắc xuống nam là 600 km với độ dài đường bờ biển đạt 926 km. Mỗi tài liệu lại có một con số thống kế riêng về số lượng thể địa lý của quần đảo này: hơn 100 đảo và rạn đá ngầm (CIA), 137 "đảo-đá-bãi" (Nguyễn Hồng Thao), khoảng 160 đảo nhỏ-cồn cát-rạn đá ngầm-bãi cát ngầm/bãi cạn-bãi ngầm đã đặt tên (Trung Quốc).
Tổng diện tích đất nổi của quần đảo rất nhỏ, không quá 5 km² (nguồn khác: 11 km²) do số lượng đảo thực sự rất ít mà chủ yếu là các rạn san hô thường và rạn san hô vòng chìm ngập dưới nước khi thủy triều lên. Các hòn đảo san hô ở Trường Sa tương đối bằng phẳng và thấp, ngay cả khi so sánh với một quần đảo san hô khác gần đó là quần đảo Hoàng Sa. Theo CIA, điểm cao nhất của Trường Sa nằm trên đảo Song Tử Tây với cao độ 4 m so với mực nước biển.
=== Địa hình và địa chất ===
Quần đảo Trường Sa là một vỉ lục địa bị nhận chìm vào đầu đại Kainozoi do tách giãn lục địa Đông Nam Á, xoay chuyển và trượt dần về phía tây nam. Thềm lục địa Trường Sa là một dải địa hình tương đối hẹp, kéo dài tự nhiên của các đảo từ độ sâu 0–200 m quanh đảo, sâu từ 60 đến 80 m. Thành phần cấu tạo dải này thường là các mảnh vụn san hô, chủ yếu là hạt thô. Trong khi đó, sườn lục địa Trường Sa là một dải bao quanh thềm lục địa, kéo dài từ mép thềm lục địa đến độ sâu 2.500 m, có nơi lên tới hơn 3.000 m. Thành phần cấu tạo chủ yếu là từ đá gốc. Các bãi ngầm có bề mặt sườn là các bề mặt đổ dốc từ độ sâu 170 đến 1.500 m. Sườn của các rạn đá ngầm như đá Tây, Vành Khăn, Phan Vinh có sườn dốc gần như thẳng đứng.
Cả quần đảo bị chia cắt bởi các hệ thống đứt gãy có phương đông bắc - tây nam và tây bắc - đông nam, gồm ba nhóm chính là nhóm đứt gãy đông bắc - tây nam (nổi bật nhất), nhóm đứt gãy tây bắc - đông nam và nhóm đứt gãy hướng kinh tuyến - á vĩ tuyến (lệch so với vĩ tuyến). Ba nhóm này chia quần đảo Trường Sa thành ba cụm đảo có quy mô khác nhau:
Cụm thứ nhất: tập hợp các thực thể ở phía bắc Trường Sa với mật độ phân bố dày và đồng đều, như cặp đảo Song Tử, bãi Đinh Ba, đảo Thị Tứ, Loại Ta, đá Cá Nhám, đảo Ba Bình, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và đá Lớn.
Cụm thứ hai: tập hợp các thực thể ở phía đông và đông nam Trường Sa với mật độ phân bố thưa và đều, như đảo Bình Nguyên, Vĩnh Viễn, đá Vành Khăn, bãi Cỏ Mây, bãi Suối Ngà, đá Suối Ngọc, đá Núi Le, Tốc Tan, Phan Vinh, đá Tiên Nữ và đá Công Đo.
Cụm thứ ba: tập hợp các thực thể ở phía nam và tây nam, phân bố rời rạc và rất không đồng đều về mặt kích thước, như đá Lát, đảo Trường Sa, đá Tây, đá Đông, đá Châu Viên, đá Chữ Thập, đảo An Bang, đá Thuyền Chài, đá Kỳ Vân, bãi Kiêu Ngựa và bãi Thám Hiểm.
Lịch sử hình thành các đảo thuộc quần đảo Trường Sa bắt đầu từ cuối thế Pleistocen, đầu thế Holocen, và đa số chúng là phần nhô cao của các rạn vòng. Theo Nguyễn (1985), các rạn vòng nơi đây được đặc trưng bởi dạng kéo dài theo hướng đông bắc-tây nam, trong khi các đảo và mỏm đá ngầm thường nằm trên góc tây bắc, trái ngược với quy luật phân bố đảo trên các rạn vòng khác trên thế giới. Nguyên nhân của các hiện tượng vừa đề cập có thể là vì hướng gió đông bắc - tây nam và hoạt động kiến tạo trong kỉ Đệ tứ. Tại các rạn vòng này, cấu tạo của đảo nổi và hành lang san hô xung quanh đảo có ít sự khác biệt. Hành lang này thường có diện tích gấp từ 4 đến 35 lần so với diện tích đảo.
Các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu một số đảo như Nam Yết, Song Tử Tây, Trường Sa và phân chia địa hình tại đây thành ba mực địa hình theo độ cao, gồm 0,5-1,5 m; 2,0-3,5 m và 4,5–6 m, trong đó mực địa hình 4,5–6 m chỉ có ở phía tây đảo Song Tử Tây (cao nhất quần đảo). Trên một số đảo có một số túi nước ngọt ngầm ở tầng nông, hình thành khi nước mưa ngấm xuống. Tuy nhiên, trữ lượng và chất lượng loại nước này thay đổi theo không gian - thời gian và bị lẫn tạp chất ở tầng đất mặt cũng như lẫn nước biển; tính kiềm yếu là đặc trưng của nguồn nước này. Ngoài ra, diện tích các đảo cũng thay đổi tuỳ theo mùa; vào mùa đông diện tích giảm và tăng vào mùa hè. Sự sống còn của đảo lệ thuộc vào sự phát triển của san hô; nếu san hô chết sẽ khiến đảo dễ bị sóng và gió bão bào trụi.
=== Khí hậu ===
Quần đảo Trường Sa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa. Gió mùa đông nam thổi qua Trường Sa từ tháng 3 đến tháng 4 trong khi gió mùa tây nam thổi từ tháng 5 đến tháng 11. Theo số liệu của McManus, Shao & Lin (2010), nhiệt độ không khí trung bình trong năm của quần đảo vào khoảng 27 °C. Tại trạm khí tượng trên đảo Trường Sa, nhiệt độ trung bình đo được là 27,7 °C. Về mùa hè (tháng 5 đến tháng 10), nhiệt độ trung bình đạt 28,2 °C; giá trị cực đại đo được là 29,3 °C vào tháng 9. Về mùa đông (tháng 10 đến tháng 4), nhiệt độ trung bình là 28,8 °C, trong đó giá trị cực tiểu đo được là 26,4 °C vào tháng 2. Nhiệt độ trung bình tháng 4 (tháng chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè) là 28,8 °C, còn nhiệt độ trung bình tháng 10 (tháng chuyển tiếp từ mùa hè sang mùa đông) là 27,8 °C, gần xấp xỉ với nhiệt độ trung bình năm. Nhìn chung biên độ dao động của nhiệt độ không khí vùng đảo Trường Sa không quá 4 °C.
Nhiệt độ nước biển bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố thời tiết. Do nằm trong vùng nhiệt đới nên tầm nhiệt độ cao là đặc trưng cho nước biển Trường Sa. Vào mùa đông, nhiệt độ trung bình là 26-28 °C và đạt cực tiểu 25-26 °C vào tháng 12 và tháng 1. Vào mùa hè, nhiệt độ trung bình tầng mặt là 29-31 °C và đạt cực đại là 31-32 °C vào tháng 5.
Mùa khô tại quần đảo kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4 còn mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau. Lượng mưa dao động từ 1.800 đến 2.200 mm. Trong giai đoạn 1954-1998, có tổng cộng 498 cơn bão ở biển Đông, trong đó có 89 trận đi qua hoặc phát sinh từ quần đảo Trường Sa. Một đặc điểm quan trọng là bão có xu hướng muộn dần từ bắc xuống nam. Cụ thể, bão chủ yếu xuất hiện ở phía bắc và trung tâm quần đảo trong tháng 10, trong khi bão đi qua phía nam rất ít và nếu có thì chủ yếu là trong tháng 11. Trong cơn bão, tốc độ gió cực đại ghi nhận trong giai đoạn 1977-1985 có thể lên đến 34 m/s so với mức trung bình mọi thời điểm là 5,9 m/s.
=== Phân cụm ===
Do sở hữu rất nhiều thực thể địa lý nên quần đảo Trường Sa được các nhà hàng hải quốc tế cũng như một số quốc gia phân chia thành nhiều cụm riêng biệt dựa trên sự gần gũi hoặc tương đồng về mặt địa lý hay đơn thuần chỉ là phân chia tương đối.
==== Việt Nam phân chia ====
Việt Nam chia quần đảo Trường Sa thành tám cụm là cụm Song Tử, cụm Thị Tứ, cụm Loại Ta, cụm Nam Yết, cụm Sinh Tồn, cụm Trường Sa, cụm Thám Hiểm (cụm An Bang) và cụm Bình Nguyên.
Cụm Song Tử
Cụm Song Tử là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ở phần tây bắc của quần đảo Trường Sa. Gọi là Song Tử vì hai đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây như một cặp đảo song sinh, vừa nằm gần nhau vừa có kích thước gần như tương đương. Cặp đảo này hợp cùng các rạn đá san hô như đá Nam, đá Bắc ở khu vực lân cận để tạo nên một vòng cung san hô lớn mà tài liệu hàng hải quốc tế gọi là (cụm) rạn Nguy Hiểm Phía Bắc (tiếng Anh: North Danger Reef(s); tiếng Trung: 双子群礁; Hán-Việt: Song Tử quần tiêu). Tuy nhiên, Việt Nam còn gộp hai rạn vòng ngầm dưới nước ở phía đông của rạn Nguy Hiểm Phía Bắc vào cụm Song Tử, cụ thể là bãi Đinh Ba và bãi Núi Cầu.
Cụm Thị Tứ
Cụm Thị Tứ là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ở phía nam của cụm Song Tử và phía bắc của cụm Loại Ta. Cụm này chỉ có một đảo san hô là Thị Tứ (đứng thứ hai về diện tích trong quần đảo), còn lại đều là các rạn đá như đá Hoài Ân, đá Vĩnh Hảo, đá Xu Bi... Đá Xu Bi là trường hợp cá biệt do tách biệt hẳn về phía tây nam so với tất cả các thực thể còn lại. Trừ đá Xu Bi thì đảo Thị Tứ và các rạn đá lân cận cùng nhau tạo thành cụm rạn Thị Tứ (tiếng Anh: Thitu Reefs; tiếng Trung: 中业群礁; Hán-Việt: Trung Nghiệp quần tiêu) theo tài liệu hàng hải quốc tế.
Cụm Loại Ta
Cụm Loại Ta là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ở phía nam của cụm Thị Tứ và phía bắc của cụm Nam Yết. Cụm này có hai đảo lớn là Loại Ta và Bến Lạc. Đảo Loại Ta là trung tâm của bãi san hô Loại Ta (tiếng Anh: Loaita Bank; tiếng Trung: 道明群礁; Hán-Việt: Đạo Minh quần tiêu) theo cách gọi của tài liệu hàng hải quốc tế; về hai phía đông-tây của đảo là các cồn cát và rạn san hô như bãi An Nhơn, bãi An Nhơn Bắc, bãi Loại Ta,...Về phía đông bắc của bãi san hô Loại Ta là một rạn đá ngầm lớn có tên là bãi Đường; tại đầu mút phía bắc của bãi này là một rạn đá ngầm với tên gọi đá An Lão. Trong khi đó, đảo Bến Lạc (đứng thứ ba về diện tích trong quần đảo) và đá Cá Nhám lại nằm tách biệt hẳn về phía đông của các thực thể trên.
Cụm Nam Yết
Cụm Nam Yết là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ở phía nam cụm Loại Ta và phía bắc của cụm Sinh Tồn, gồm hàng loạt thực thể nổi bật như đảo Ba Bình (lớn nhất quần đảo), đảo Nam Yết, đảo Sơn Ca, đá Én Đất, đá Ga Ven,... Đa số các thực thể địa lý thuộc cụm này hợp thành một bãi san hô dạng vòng có tên gọi bãi san hô Tizard (tiếng Anh: Tizard Bank; tiếng Trung: 郑和群礁; Hán-Việt: Trịnh Hoà quần tiêu) theo tài liệu hàng hải quốc tế. Ngoài ra, về phía tây của bãi san hô Tizard còn có một số thực thể nằm riêng biệt như đá Lớn, đá Chữ Thập,...
Cụm Sinh Tồn
Cụm Sinh Tồn là một tập hợp các thực thể địa lý nằm ở phía nam cụm Nam Yết. Khái niệm "cụm Sinh Tồn" hầu như đồng nhất với khái niệm bãi san hô Liên Minh hay cụm rạn Liên Minh (tiếng Anh: Union Bank/Reefs; tiếng Trung: 九章群礁; Hán-Việt: Cửu Chương quần tiêu) của tài liệu hàng hải quốc tế. Cụm này chỉ có một đảo san hô là đảo Sinh Tồn, một cồn cát là đảo Sinh Tồn Đông, còn lại là rất nhiều rạn đá như đá Cô Lin, đá Gạc Ma, đá Len Đao,...Trong số này, đá Ba Đầu là rạn đá lớn nhất.
Cụm Trường Sa
Cụm Trường Sa là một tập hợp các thực thể địa lý nằm dàn trải theo chiều ngang từ tây sang đông ở phía nam của các cụm Nam Yết, Sinh Tồn và phía bắc của cụm Thám Hiểm, chủ yếu giữa hai vĩ tuyến 8° Bắc và 9° Bắc. Cụm này chỉ có một đảo san hô là đảo Trường Sa (biệt danh: Trường Sa Lớn), còn lại đều là rạn thường nói chung và rạn vòng nói riêng như đá Tây, đá Tiên Nữ, đảo Phan Vinh, đảo Trường Sa Đông...Bốn thực thể theo thứ tự từ tây sang đông gồm đá Tây, đảo Trường Sa Đông, đá Đông và đá Châu Viên cấu thành khái niệm cụm rạn Luân Đôn (tiếng Anh: London Reefs; tiếng Trung: 尹庆群礁; Hán-Việt: Doãn Khánh quần tiêu) theo tài liệu hàng hải quốc tế.
Cụm Thám Hiểm
Cụm Thám Hiểm hay cụm An Bang là một tập hợp các thực thể địa lý ở phía nam của quần đảo Trường Sa. Cụm này không có đảo san hô nào ngoài một cồn cát nổi bật là An Bang (quen gọi là đảo An Bang). Nhìn chung phần lớn thực thể của cụm này tạo thành một vòng cung lớn với phần lõm hướng về phía đông nam, trải dài từ đá Sác Lốt, qua đá Công Đo đến bãi Trăng Khuyết gần sát với Philippines. Một máng biển ngăn cách vòng cung này với thềm lục địa của đảo Borneo.
Cụm Bình Nguyên
Cụm Bình Nguyên là một tập hợp các thực thể địa lý hợp thành từ phần phía đông của quần đảo Trường Sa, trong khu vực gần với đảo Palawan. Tuy cụm này có nhiều thực thể địa lý nhất so với các cụm còn lại nhưng số này lại phân tán rải rác trên một vùng biển rộng lớn. Vĩnh Viễn và Bình Nguyên là hai đảo duy nhất của cụm, trong đó đảo Bình Nguyên đang chịu tác động của hiện tượng xói mòn. Số thực thể còn lại đều là những dạng rạn đá (ví dụ rạn vòng) và các bãi cát ngầm/bãi cạn cùng bãi ngầm.
==== Trung Quốc phân chia ====
Ngày 25 tháng 4 năm 1983, Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đã công khai danh sách 287 địa danh thuộc biển Đông, trong đó có tổng cộng 193 địa danh liên quan đến quần đảo Nam Sa. Về mặt tên gọi, địa danh do Trung Quốc đặt thể hiện một phần tính chất của thực thể như đảo, cồn cát (sa châu), rạn đá ngầm (ám tiêu), bãi cát ngầm/bãi cạn (ám sa), bãi ngầm (ám than) và cả các luồng lạch (môn, thuỷ đạo) cho tàu thuyền. Nghiên cứu đăng tải trên mạng Hải Nam sử chí thể hiện rằng Trung Quốc phân biệt cả các loại hình rạn đá khác nhau như rạn mặt bàn (đài tiêu) hay rạn vòng (hoàn tiêu) để làm cơ sở phân loại chi tiết hơn.
Cách hiểu của Trung Quốc về quần đảo Nam Sa khác so với cách hiểu hiện thời của bản đồ hành chính Việt Nam về quần đảo Trường Sa ở chỗ nước này còn gộp rất nhiều thực thể địa lý trong khu vực gần Malaysia và Brunei (hầu như đều là bãi cát ngầm/bãi cạn và bãi ngầm) vào tổng thể Nam Sa. Dưới đây là danh sách nhóm và phân nhóm của khái niệm Nam Sa theo mạng Hải Nam sử chí (Trung Quốc):
== Hệ động thực vật ==
Do sở hữu hàng trăm rạn san hô rải rác khắp một vùng biển rộng lớn nên quần đảo Trường Sa là nơi có đa dạng sinh học cao. Ước tính có đến mười nghìn loài sinh vật sinh sống tại vùng biển Trường Sa. Theo Nguyễn & Đặng (2009), có ba trăm hai mươi chín loài san hộ thuộc sáu mươi chín chi và mười lăm họ cùng nhau tạo lập nên các rạn san hô Trường Sa. Tuy nhiên, phân bố loài san hô rất không đồng đều và chỉ tập trung vào một số họ như họ San hô lỗ đỉnh (66 loài), họ San hô não (46 loài), họ San hô khối (17 loài), họ San hô nấm (14 loài),... Các hệ sinh thái rạn san hô nơi đây không chỉ là nơi cư ngụ lý tưởng cho các sinh vật biển mà còn là nơi nuôi dưỡng nguồn lợi thủy sản dồi dào cho toàn vùng biển Đông.
Về động vật, nghiên cứu của McManus, Shao & Lin (2010) cho biết rằng tại khu vực xung quanh đảo Ba Bình cho biết có ba trăm chín mươi chín loài cá rạn san hô đến từ bốn mươi chín họ; một trăm chín mươi loài san hô từ sáu mươi chín chi thuộc hai mươi lăm họ; chín mươi chín loài động vật thân mềm; chín mươi mốt loài động vật không xương sống thuộc bảy mươi hai chi; hai mươi bảy loài động vật giáp xác; mười bốn loài giun nhiều tơ và bốn loài động vật da gai. Người ta cũng ghi nhận năm mươi chín loài chim khác nhau tại đảo này, trong đó chủ yếu là chim điên nâu, chim điên chân đỏ, hải âu mặt trắng, nhàn mào và nhàn trắng. Hai loài bò sát là đồi mồi và đồi mồi dứa cũng thường lên đảo Ba Bình để đẻ trứng. Tại khu vực phía đông quần đảo, có ba trăm mười bốn loài cá rạn san hô, trong đó có một trăm năm mươi sáu loài có giá trị thương mại (McManus & Meñez, 1997, dẫn lại số liệu của Castañeda, 1988). Một nghiên cứu của Malaysia tại đá Hoa Lau đã chỉ ra rằng có hai trăm lẻ năm loài cá thuộc sáu mươi mốt họ, trong đó nhiều nhất là họ Bàng chài, họ Cá thia, họ Cá đuôi gai và họ Cá bướm. Nghiên cứu về các loài cá rạn san hô sống tại biển Trường Sa của Nguyễn (1994) cho thấy có ba trăm hai mươi sáu loài cá rạn san hô thuộc một trăm mười bảy chi, đến từ bốn mươi bốn họ và mười ba bộ. Trong đó, các họ có sự đa dạng về loài nhất là họ Cá thia (53 loài, 12 chi), họ Bàng chài (32 loài, 14 chi), họ Cá mó (27 loài, 3 chi), họ Cá bướm (24 loài, 6 chi), họ Cá hồng (18 loài, 7 chi), họ Cá mú (18 loài, 6 chi) và họ Cá đuôi gai (16 loài, 4 chi). Ngoài cá rạn san hô, nhiều loài cá nổi biển khơi xa bờ cũng hiện diện tại Trường Sa, đến từ một số họ như họ Cá khế, họ Cá thu ngừ, họ Cá nhám (Carchahinidae) và họ Cá thu rắn.
Về thực vật, McManus, Shao & Lin (2010) thống kê được một trăm lẻ chín loài thực vật có mạch ở khu vực đảo Ba Bình. Nurridan (2004) đã nghiên cứu phá nước (vụng biển) của đá Hoa Lau và xác định được hai loài cỏ biển và mười chín loài tảo biển, trong đó lớp tảo lục có mười hai loài, lớp tảo nâu có hai loài và lớp tảo đỏ có năm loài. Tại một số đảo do Việt Nam kiểm soát, người ta ghi nhận một số loài thực vật hợp với thổ nhưỡng khô cằn và nhiễm mặn như bàng vuông, bão táp, muống biển, phi lao, phong ba,... Nhìn chung, thảm thực vật trên các đảo có tuổi rất trẻ vì đảo mới hình thành trong thời kì địa chất gần đây. Các đảo ở phía nam như An Bang, Trường Sa có thảm thực vật kém phát triển hơn các đảo ở phía bắc như Sơn Ca, Ba Bình, Song Tử Tây.
Môi trường của quần đảo Trường Sa bị xâm hại nghiêm trọng do ngư dân từ Việt Nam, Philippines và miền nam Trung Quốc khai thác thuỷ sản bằng các phương pháp tận diệt như vét cá, đánh cá bằng thuốc nổ và bằng chất độc natri xyanua. Binh lính các quốc gia đóng quân tại đây khai thác rùa biển và trứng của chúng, đồng thời còn đe doạ các sinh vật nhạy cảm sống ở nơi nước nông khi họ xây dựng công sự và đường băng.
Nhiều năm qua đã có một số nỗ lực nhằm bảo vệ môi trường sinh thái ở quần đảo. Ngày 8 tháng 6 năm 1982, Bộ Tài nguyên Philippines lập hai khu bảo tồn rùa biển ở đảo Loại Ta và đá An Nhơn; từ tháng 8 năm 2008, có thêm khu bảo vệ rùa biển đẻ trứng trên đảo Thị Tứ; trên đảo Vĩnh Viễn có khu bảo tồn chim. Ngày 3 tháng 3 năm 2007, Đài Loan lập khu bảo vệ rùa biển đẻ trứng, lấy đảo Ba Bình là trung tâm rồi mở rộng ra 12 hải lý xung quanh. Việt Nam thì có kế hoạch lập khu bảo tồn biển xung quanh đảo Nam Yết với diện tích 35.000 ha từ năm 2010.
== Lịch sử ==
Từ thế kỷ 16 đến 18, người châu Âu từ các quốc gia như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh Quốc và Pháp vẫn chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa quần đảo Trường Sa với quần đảo Hoàng Sa. Trên bản đồ thường ghi I de Pracell như bản đồ Bartholomen Velho (1560), bản đồ Fernao Vaz Dourado (1590), bản đồ Van Langren (1595)... Cho đến năm 1787-1788, đoàn khảo sát Kergariou Locmaria mới xác định rõ vị trí của quần đảo Paracel (chính xác là quần đảo Hoàng Sa hiện nay) và từ đó người phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc với một quần đảo khác ở phía nam, tức quần đảo Trường Sa.
=== Tên gọi ===
Sang thế kỷ 18 và thế kỷ 19 thì các nhà hàng hải châu Âu thỉnh thoảng đi ngang qua vùng Trường Sa. Đến năm 1791 thì Henry Spratly người Anh du hành qua quần đảo và đặt tên cho đá Vành Khăn là Mischief. Năm 1843 Richard Spratly đặt tên cho một số thực thể địa lý thuộc Trường Sa, trong đó có Spratly's Sandy Island cho đảo Trường Sa. Kể từ đó Spratly dần trở thành tên tiếng Anh của cả quần đảo.
Đối với người Việt thì thời nhà Lê các hải đảo ngoài khơi phía đông được gọi chung là Đại Trường Sa đảo. Đến thời nhà Nguyễn triều vua Minh Mạng thì tên Vạn Lý Trường Sa (萬里長沙) xuất hiện trong bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ của Phan Huy Chú. Bản đồ này đặt nhóm Vạn Lý Trường Sa ở phía nam nhóm Hoàng Sa (黄沙). Về mặt địa lý thì cả hai nhóm đều được khoanh lại thành một quần đảo lớn nằm dọc bờ biển miền trung nước Đại Nam.
Tên gọi theo phía Trung Quốc: "Hỗn nhất cương lý lịch đại quốc đô chi đồ" (混一疆理歷代國都之圖) thời nhà Minh có đánh dấu vị trí của Thạch Đường, và vị trí này hiện được phía Trung Quốc cho là tương ứng với Nam Sa (Trường Sa) hiện tại. Bản đồ "The Selden Map of China" được lưu trữ tại thư viện Đại học Oxford (Anh), được cho là "Thiên hạ hải đạo toàn đồ" hay "Đông - Tây dương hàng hải đồ" và được làm ra vào khoảng năm Thiên Khải thứ 4 (1624), có ghi địa danh Vạn Lý Thạch Đường (萬里石塘), (phía đông của đảo mang tên Ngoại La (外羅), tức đảo Lý Sơn), ở kề cận phía nam tây nam của Vạn Lý Trường Sa (萬里長沙). Năm 1935, Trung Hoa Dân Quốc đã xuất bản "Biểu đối chiếu tên gọi Hoa-Anh các đảo thuộc Nam Hải Trung Quốc", trong đó nước này gọi Trường Sa là Đoàn Sa (團沙) còn địa danh Nam Sa thời đó là để chỉ thứ mà ngày nay được gọi laTrung Sa. Ngày 1 tháng 12 năm 1947, nước này công bố tên Trung Quốc cho hàng loạt thực thể thuộc biển Đông và đặt chúng dưới sự quản lý của mình. Trong tấm bản đồ mới, Trung Hoa Dân Quốc lần đầu tiên vẽ đường mười một đoạn đứt khúc (tiền thân của đường chín đoạn) thay cho đường vẽ bằng nét liền trước đây, đồng thời họ đổi tên Nam Sa thành Trung Sa và đổi tên Đoàn Sa thành Nam Sa.
== Tranh chấp chủ quyền ==
Từ những thập niên đầu của thế kỉ 20, thời kì yên bình của quần đảo Trường Sa đã chấm dứt. Hàng loạt quốc gia từ châu Á đến châu Âu như Việt Nam, Pháp, các nhà nước Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei và trong một số giai đoạn lịch sử là Anh và Nhật Bản đều tham gia vào cuộc tranh chấp, dù là ở các mức độ khác nhau.
=== Việt Nam ===
==== Luận cứ ====
Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa dựa trên các luận cứ về hành động chiếm hữu thực tế, quản lý liên tục và hoà bình dưới các Triều đại phong kiến đối với địa danh Hoàng Sa (nghĩa bao hàm Trường Sa) và sau này là sự nối tiếp của thực dân Pháp cùng các nhà nước hiện đại trên lãnh thổ Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam còn trưng ra các sử liệu về sự công nhận của các giáo sĩ, nhà hàng hải từ các quốc gia châu Âu, các quốc gia trên thế giới về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.
Thứ nhất, các sử liệu cổ của Việt Nam ghi chép rằng các địa danh như Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn Lý Trường Sa thuộc lãnh thổ của Việt Nam, ít nhất là từ thế kỉ 17. Ví dụ:
Sách Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn xác định Bãi Cát Vàng thuộc về địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Đội Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải ở phía nam, tức quần đảo Trường Sa ngày nay. Lê Quý Đôn miêu tả Bãi Cát Vàng là nơi người ta có thể khai thác các sản phẩm biển và những đồ vật sót lại từ các vụ đắm tàu. Ông viết:
Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu [đảo Hải Nam của Trung Quốc] gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Càn Long thứ mười tám [năm 1753] có mười tên quân nhân xã An Vĩnh tổng Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam, một ngày tháng bảy đến Vạn Lý Trường Sa [萬里長沙] tìm kiếm các thứ, có tám tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để hai tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, dạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán...
Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838) thể hiện địa danh Vạn Lý Trường Sa và địa danh Hoàng Sa là bộ phận của lãnh thổ nước Đại Nam, dù rằng bản đồ vẫn vẽ cả hai vào chung một quần thể đảo.
Thứ hai, Việt Nam cho rằng sau Hòa ước Giáp Thân (1884) do nhà Nguyễn ký kết với Pháp thì nước Pháp đã đại diện cho Việt Nam về mặt ngoại giao và đã thi hành chủ quyền trên cả hai quần đảo là Trường Sa và Hoàng Sa thay cho Việt Nam.
Thứ ba, Việt Nam xem việc năm mươi phái đoàn nước khác tham dự Hội nghị San Francisco về hiệp ước hoà bình với Nhật Bản diễn ra ngày 7 tháng 7 năm 1951 (Trung Hoa Dân Quốc và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không dự) không bác bỏ hay bảo lưu ý kiến đối với lời phát biểu của Trần Văn Hữu-chủ tịch phái đoàn chính phủ Quốc gia Việt Nam-là một sự công nhận mang tính quốc tế về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa:
Thứ tư, sau khi quân đội Pháp rút đi, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở phía nam vĩ tuyến 17 đã tiếp tục tuyên bố chủ quyền và thực hiện công tác quản lý cả về hành chính lẫn thực tế đối với quần đảo Trường Sa liên tục cho đến khi chấm dứt sự tồn tại vào tháng 4 năm 1975. Sau đó, nước Việt Nam thống nhất tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo này.
==== Diễn biến ====
Tháng 7 năm 1927, tàu de Lanessan của Pháp tiến hành một cuộc khảo sát khoa học trên quần đảo Trường Sa. Tháng 4 năm 1930, Pháp gửi tàu thông báo la Malicieuse đến quần đảo và treo quốc kỳ Pháp trên một gò đất cao thuộc île de la Tempête; tuy nhiên, dù nhìn thấy ngư dân Trung Quốc trên đảo này nhưng Pháp không tìm cách trục xuất họ. Ngày 23 tháng 9, Pháp thông báo cho các cường quốc khác rằng Pháp đã chiếm quần đảo Trường Sa.
Ngày 14 tháng 3 năm 1933, Pháp cho đội tàu gồm Malicieuse, tàu pháo Arlete và hai tàu thuỷ văn Astrobale và de Lanessan từ Sài Gòn đến đảo Trường Sa và hàng loạt địa điểm khác như đá Chữ Thập, cụm rạn Luân Đôn, bãi san hô Tizard, bãi san hô Loại Ta, cụm rạn Thị Tứ và rạn Nguy Hiểm Phía Bắc. Tại từng địa điểm đi qua, người Pháp đã tổ chức nghi lễ chiếm hữu các đảo chính thuộc nơi đó. Ngày 26 tháng 7, Bộ Ngoại giao Pháp ra bản thông tri về hành động trên, kèm theo danh sách liệt kê tên các đảo đã chiếm hữu cùng tọa độ, bao gồm:
Hải đảo Spratly (chiếm ngày 13 tháng 4 năm 1930),
Tiểu đảo Caye-d'Amboine (7 tháng 4 năm 1933),
Tiểu đảo Itu-Aba (10 tháng 4 năm 1933),
Nhóm Hai Đảo (Groupe de Deux-îles, 10 tháng 4 năm 1933),
Tiểu đảo Loaito (11 tháng 4 năm 1933),
Hải đảo Thi-Tu (12 tháng 4 năm 1933) và các tiểu đảo phụ thuộc từng đảo này.
Từ ngày 24 tháng 7 đến ngày 25 tháng 9, Pháp lần lượt thông báo cho các quốc gia có thể có lợi ích tại Trường Sa biết về hành động của Pháp. Theo bạch thư của Việt Nam Cộng hòa thì ngoại trừ Nhật Bản, tất cả các nước được thông báo đều không có lời phản đối Pháp; Trung Hoa Dân Quốc, Hà Lan (đang kiểm soát Indonesia) và Hoa Kỳ cũng đều giữ im lặng. Ngày 21 tháng 12 năm 1933, thống đốc Nam Kỳ Jean-Félix Krautheimer ký Nghị định số 4702-CP sáp nhập số đảo trên và "các đảo phụ thuộc" vào địa phận tỉnh Bà Rịa thuộc Liên bang Đông Dương. Sáu năm sau, Thứ trưởng Ngoại giao Anh Quốc là Butter tuyên bố rằng Pháp đã thực thi đầy đủ chủ quyền trên quần đảo.
Thời Chiến tranh thế giới thứ hai, Đế quốc Nhật Bản chiếm một số đảo và sử dụng đảo Ba Bình làm căn cứ tàu ngầm cho các chiến dịch ở Đông Nam Á. Sau cuộc chiến, Pháp và Trung Hoa Dân Quốc tái khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Trung Hoa Dân Quốc gửi hai tàu tới quần đảo và cho quân đổ bộ dựng bia trên đảo Ba Bình. Phản ứng lại hành động này, Pháp vài lần gửi tàu đến Trường Sa vào cuối năm 1946. Năm 1947, Pháp yêu cầu Trung Hoa Dân Quốc rút quân khỏi các đảo ngoài biển Đông nhưng cũng không làm gì để hiện thực hoá mong muốn của mình. Khi hệ thống thuộc địa của Pháp bắt đầu tan rã, nước này cũng chấm dứt tuần tra quần đảo Trường Sa vào năm 1948. Năm 1951, Nhật Bản ký vào Hiệp ước San Francisco và từ bỏ mọi quyền đối với quần đảo Trường Sa. Cũng tại Hội nghị San Franciso này, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam. Không một đại biểu nào trong hội nghị bình luận gì về lời tuyên bố này.
Sau khi người Pháp rời khỏi Việt Nam theo quy định của Hiệp định Genève 1954, quyền kiểm soát các đảo thuộc về quân đội Quốc gia Việt Nam và kế tiếp là quân đội Việt Nam Cộng hòa. Sau sự kiện Tomás Cloma, ngày 1 tháng 6 năm 1956, Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa và Hoàng Sa. Ngày 2 tháng 6, Pháp cũng nhắc lại cho Philippines biết về quyền của Pháp từ năm 1933. Ngày 22 tháng 8 năm 1956, tàu HQ-04 Tuỵ Động của Hải quân Việt Nam Cộng hòa viếng thăm một số đảo thuộc Trường Sa, thượng cờ và dựng bia ghi chủ quyền. Ngày 22 tháng 10 cùng năm, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 143-NV về việc đổi tên các tỉnh thành miền Nam Việt Nam; văn bản ghi "Hoàng Sa (Spratley)" (sic) thuộc tỉnh Phước Tuy.
Trong thời kì 1961-1963, Việt Nam Cộng hoà tiếp tục viếng thăm và dựng bia nhiều đảo. Năm 1961, tàu HQ-02 Vạn Kiếp và HQ-06 Vân Đồn thăm Song Tử Tây - Thị Tứ - Loại Ta - An Bang; năm 1962, tàu Tuỵ Động và HQ-05 Tây Kết thăm Trường Sa - Nam Ai (tức Nam Yết); năm 1963, ba tàu gồm HQ-404 Hương Giang, HQ-01 Chi Lăng và HQ-09 Kì Hoà đã dựng bia trên Trường Sa (19 tháng 5), An Bang (20 tháng 5), Thị Tứ - Loại Ta (22 tháng 5) và Song Tử Đông - Song Tử Tây (24 tháng 5). Tuy nhiên, Hải quân Việt Nam Cộng hòa không duy trì sự hiện diện liên tục ở quần đảo Trường Sa do vướng phải cuộc chiến tranh Việt Nam.
Ngày 13 tháng 7 năm 1971, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà Trần Văn Lắm đã nêu yêu sách của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa khi ông đang ở Manila. Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa ban hành nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 sáp nhập một số đảo chính và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Đầu năm 1974, một thời gian ngắn sau thất bại trong trận chiến tại nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra quyết định tăng cường lực lượng tại Trường Sa và chỉ thị quân đội tiến hành chiến dịch Trần Hưng Đạo 48 nhằm chiếm một số đảo. Liên tiếp trong các tháng 2 và tháng 3 cùng năm, Việt Nam Cộng hoà tái khẳng định lại chủ quyền của mình đối với hai quần đảo bằng nhiều con đường như thông qua đại sứ ở Manila, qua hội nghị của Liên Hiệp Quốc về luật biển ở Caracas và hội nghị của Hội đồng Kinh tài Viễn Đông ở Colombia. Từ ngày 14 đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, các lực lượng hải quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã hoàn toàn thay thế lực lượng Việt Nam Cộng hòa trên năm đảo là Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa.
Vào cuối thập niên 1970, trong các ngày 30 tháng 12 năm 1978 và 7 tháng 8 năm 1979, Việt Nam phản đối Trung Quốc và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Ngày 28 tháng 9 năm 1978, Việt Nam phản đối Philippines sáp nhập các đảo thuộc Trường Sa vào lãnh thổ của mình.
Sang thập niên 1980, Việt Nam tiếp tục nhiều lần lên tiếng để phản ứng lại hành động của một số quốc gia khác tại Trường Sa. Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Việt Nam phản bác văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980 của Trung Quốc về Nam Sa và Tây Sa. Trong năm 1982, Việt Nam sáp nhập huyện Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh. Năm 1983, Việt Nam phản đối việc Malaysia chiếm đá Hoa Lau. Năm 1989, Việt Nam chia tách tỉnh Phú Khánh và quy thuộc Trường Sa vào tỉnh Khánh Hòa.
Năm 2007, Chính phủ Việt Nam ký nghị định thành lập ba đơn vị hành chính trực thuộc huyện Trường Sa. Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc hội Việt Nam khóa XIII (kì họp thứ 3) đã bỏ phiếu thông qua Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương và 55 điều. Điều 1 của luật tái khẳng định tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
==== Chỉ trích ====
Nhiều học giả quốc tế phản bác các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đưa ra. Cụ thể, khi nhận định về các bằng chứng này, Valencia & ctg (1999) cho rằng chúng cũng "giống như Trung Quốc - thưa thớt, mang tính giai thoại và không thuyết phục". Lu (1995) cho rằng thư tịch cổ Việt Nam "không trưng ra bằng chứng rõ ràng nói lên hiểu biết của Việt Nam về quần đảo Trường Sa xét về tuyên bố chủ quyền riêng rẽ". Cũng theo Lu (1995), trong số vài ghi chép đề cập đến quần đảo Trường Sa thì "hầu hết chúng luôn luôn" xác định Trường Sa là một phần của quần đảo Hoàng Sa; tấm bản đồ năm 1838 [tức Đại Nam nhất thống toàn đồ của nhà Nguyễn, trong đó thể hiện "Hoàng Sa" và "Vạn Lý Trường Sa" thuộc Việt Nam] vẽ "các đảo nằm rất sát nhau đồng thời cũng gần bờ biển" Việt Nam, "thực tế là cùng một nhóm đảo". Cordner (1994) còn nhận xét tấm bản đồ 1838 thể hiện quần đảo Trường Sa nằm trong cương vực Việt Nam này là "không chính xác". Dzurek (1996) dẫn lại nhận xét của Heinzig (1976) rằng, lý luận lịch sử đến hết thế kỷ 19 của Việt Nam "chỉ đề cập độc nhất đến quần đảo Hoàng Sa [Paracels]". Cũng theo Dzurek (1996), quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa đến 400 km, vì thế "sẽ là bất bình thường nếu xem cả hai là một thực thể duy nhất hoặc dùng một tên gọi duy nhất cho cả hai".
Học giả quốc tế và học giả Việt Nam cũng có những nhận định khác nhau về giá trị của luận điểm cho rằng Pháp chiếm hữu một số đảo lớn và các đảo phụ thuộc thuộc quần đảo Trường Sa và sáp nhập chúng vào tỉnh Bà Rịa thuộc Nam Kỳ vào năm 1933 là thực thi chủ quyền cho Việt Nam. Về phía Việt Nam, Nguyễn (2002) dẫn chứng: "Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại giao Pháp đã viết rất rõ: "Việc chiếm hữu quần đảo Spratley do Pháp tiến hành năm 1931-1932 là nhân danh Hoàng Đế "An Nam"." Về phía nước ngoài, Chemillier-Gendreau (2000) đánh giá rằng thái độ của Pháp đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là khác nhau, vì Pháp khẳng định các quyền đối với Trường Sa thông qua tư cách người đầu tiên chiếm đóng các đảo, dựa vào nguyên tắc đất vô chủ (terra nullius) chứ không phải là người kế thừa của An Nam. Valero (1993) dẫn chứng, vào giữa tháng 10 năm 1950, trong khi Pháp chính thức nhượng lại tuyên bố chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cho Quốc gia Việt Nam [do Bảo Đại đứng đầu] thì nước này không ra một văn bản chính thức nào thể hiện quyết định từ bỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Năm 1956, trong khi Việt Nam Cộng hoà tự phản đối Tomás Cloma (xem thêm) tuyên bố quyền sở hữu đối với phần lớn quần đảo Trường Sa thì André-Jacques Boizet (đại biện Pháp tại Manila) báo cho Philippines biết rằng Pháp có chủ quyền đối với các đảo Trường Sa căn cứ trên hành động chiếm đảo trong thời kỳ 1932-1933. Đại biện bổ sung thêm: "trong khi Pháp nhượng lại [từ bỏ chủ quyền] quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam thì Pháp không nhượng quần đảo Trường Sa".</ref> Theo Kivimaki (2002) thì đến năm 1957, Pháp "không chính thức từ bỏ tuyên bố chủ quyền nhưng cũng không cố bảo vệ nó nữa"; cách hành xử này được cho là tương tự Anh Quốc thập niên 1930 (xem phần Các tuyên bố khác). Chemillier-Gendreau (2000) nhận định nếu các luận cứ dựa trên lịch sử thời phong kiến của Việt Nam đủ làm sáng tỏ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa thì sự kiện Pháp chiếm hữu quần đảo mới không làm phức tạp thêm vấn đề.
Một hướng phản bác khác đối với luận điểm Việt Nam thừa hưởng chủ quyền Trường Sa từ tuyên bố chủ quyền của Pháp lần đầu vào năm 1933, Joyner (1998) cho rằng Pháp không hề nỗ lực hoàn thiện danh nghĩa giữ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng việc cho lính chiếm đóng quần đảo cả khi quân đội Nhật Bản rời đi (sau Chiến tranh thế giới thứ hai) lẫn khi Nhật Bản từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa trong năm 1951. Ông kết luận: "hậu quả [của điều đó] là Pháp không có danh nghĩa sở hữu hợp pháp đối với quần đảo Trường Sa để mà Việt Nam thừa hưởng."
Furtado (1999) dẫn ra các lập luận được cho là của Trung Quốc, có nội dung bác bỏ lập luận Việt Nam thừa hưởng Trường Sa từ Pháp. Tác giả viết, Trung Quốc lý luận rằng "không có dấu hiệu cho thấy Việt Nam tiếp nhận danh nghĩa đối với quần đảo Trường Sa khi nước này độc lập", đồng thời vì "Pháp chưa bao giờ tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa" nên Trung Quốc không nhận thấy "bất cứ nguyên do có thể hiểu được nào giải thích cho việc Việt Nam nên được hưởng danh nghĩa [chủ quyền] đối với toàn bộ quần đảo".
=== Các nhà nước Trung Quốc ===
==== Luận cứ ====
Năm 1958, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) tuyên bố chủ quyền của mình đối với các đảo thuộc biển Đông dựa vào cơ sở lịch sử. Họ cho rằng quần đảo Trường Sa đã từng là một phần của Trung Quốc trong gần 2.000 năm và đưa ra các đoạn trích trong các thư tịch cổ cũng như các bản đồ từ thời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Thanh và gần nhất là thời Trung Hoa Dân Quốc mà theo Trung Quốc là có nhắc tới quần đảo Trường Sa. Hiện vật khảo cổ như những mảnh đồ gốm Trung Quốc và tiền cổ được tìm thấy ở đó cũng được Trung Quốc sử dụng nhằm chứng minh cho tuyên bố của mình.
Năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng đã gửi Tổng lý Quốc vụ viện Trung Quốc một công hàm để ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về hải phận của nước này. Báo Nhân dân của Việt Nam cũng đăng công hàm này vào ngày 22 tháng 9 cùng năm. Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, sự công nhận này "đương nhiên có giá trị với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc" vì báo Nhân dân trước đó đã đăng bài chi tiết về bản tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, trong đó nói rằng "kích thước lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Đông".
Ngoài ra, Trung Quốc còn khẳng định rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhiều quốc gia khác đã nhiều lần công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa trong quá khứ. Theo Trung Quốc thì:
Ngày 16 tháng 5 năm 1956, trong buổi tiếp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Ung Văn Khiêm đã nói rằng: "Căn cứ vào những tư liệu của Việt Nam và xét về mặt lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là thuộc về lãnh thổ Trung Quốc." Vụ trưởng Vụ châu Á Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lộc giới thiệu những tư liệu của phía Việt Nam. Lê Lộc nói: "Xét từ lịch sử, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ đời Nhà Tống." Cuốn sách "Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995 xác nhận "Việc nói Tây Sa là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tuyên bố năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ hay câu nói của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây sa là có thật."
Ngày 9 tháng 5 năm 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố về việc Chính phủ Mỹ lập "khu tác chiến" của quân Mỹ tại Việt Nam, trong đó có nói "Việc Tổng thống Mỹ Giôn-xơn xác định toàn cõi Việt Nam và vùng ngoài bờ biển Việt Nam rộng khoảng 100 hải lý cùng một bộ phận lãnh hải thuộc quần đảo Tây Sa của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoà là khu tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ", đây là sự đe dọa trực tiếp "đối với an ninh của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước láng giềng." Cuốn sách "Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995 xác nhận "Việc nói Tây Sa là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tuyên bố năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ hay câu nói của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây sa là có thật."
Trong Tập bản đồ thế giới do Cục Đo đạc và Bản đồ Phủ Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa in vào tháng 5 năm 1972, tại trang 19, hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa được đề tên là "Tây Sa" và "Nam Sa" chứ không phải là "Hoàng Sa" và "Trường Sa."
Bài "Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" trong sách giáo khoa Địa lý - Lớp Chín Phổ thông - Toàn tập do Nhà xuất bản Giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xuất bản năm 1974 có câu: "Vòng cung đảo từ các đảo Nam sa, Tây sa đến các đảo Hải nam, Đài loan, quần đảo Hoành bồ, Châu sơn... làm thành một bức «trường thành» bảo vệ lục địa Trung Quốc."
Nhiều quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Liên Xô, Nhật Bản, Anh, Pháp, Tây Đức, Đông Đức cũng từng phát hành các bản đồ, át-lát địa lý trong đó thể hiện Trường Sa hoặc các quần đảo trên biển Đông là lãnh thổ Trung Quốc.
==== Diễn biến ====
Ngày 29 tháng 9 năm 1932, để đáp lại một văn bản đề cập đến quần đảo Hoàng Sa do Pháp gửi tới toà công sứ Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc gửi một văn bản không rõ ràng cho Pháp đề cập đến chủ quyền của họ đối với một quần đảo khác ở cách quần đảo Hoàng Sa 150 dặm dựa trên cơ sở là Công ước Pháp-Thanh 1887. Sau sự kiện Pháp chiếm hữu Trường Sa vào năm 1933, các bản đồ của Trung Hoa Dân Quốc đã thay đổi cách vẽ qua việc mở rộng đường giới hạn (vẽ bằng nét liền) tại biển Đông xuống khu vực giữa vĩ tuyến 7° Bắc và vĩ tuyến 9° Bắc nhằm nói lên rằng quần đảo Trường Sa là thuộc về Trung Quốc.
Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc cho hai tàu chiến là Thái Bình và Trung Nghiệp đến quần đảo Trường Sa. Sau thất bại trong cuộc nội chiến Trung Quốc, Quốc dân Đảng đã rút quân khỏi đảo Ba Bình vào năm 1950. Tuy nhiên, sự kiện Tomás Cloma đã kích động Đài Loan quay lại giành quyền kiểm soát đảo Ba Bình vào năm 1956.
Tại đại lục Trung Quốc, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời vào ngày 1 tháng 10 năm 1949. Chỉ hai năm sau, vào ngày 15 tháng 8 năm 1951, Chu Ân Lai công khai khẳng định lại chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa và Hoàng Sa sau khi ông đọc được bản sơ thảo hiệp ước hoà bình với Nhật Bản. Tiếp sau đó, ngày 24 tháng 8 năm 1951, Tân Hoa xã của Trung Quốc đã lên tiếng tranh cãi về quyền của Pháp cũng như tham vọng của Philippines đối với Trường Sa và mạnh mẽ khẳng định quyền của Trung Quốc. Ngày 31 tháng 5 năm 1956, Trung Quốc phản ứng lại sự kiện Cloma và khẳng định sẽ không tha thứ cho bất cứ sự xâm phạm nào đối với quyền của nước này đối với Trường Sa.
Thập niên 1970, Trung Quốc nhiều lần lên tiếng phản hồi về hành động của các quốc gia khác: ngày 16 tháng 7 năm 1971, Trung Quốc phản đối việc Philippines có hành vi chiếm đóng một số đảo ở Trường Sa; ngày 14 tháng 1 năm 1974, Trung Quốc phản đối Việt Nam Cộng hoà sáp nhập các đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy.
Năm 1987, Trung Quốc cho tàu khảo sát hàng loạt địa điểm ở quần đảo Trường Sa và đi đến quyết định sẽ chọn đá Chữ Thập làm nơi đóng quân. Trong thời gian trước và sau cuộc xung đột vũ trang với Việt Nam tại Trường Sa vào năm 1988, hải quân Trung Quốc đã liên tục chiếm thêm nhiều rạn đá khác nhằm mở rộng tầm kiểm soát tại quần đảo.
Một điểm quan trọng trong chuỗi các diễn biến tại Trường Sa là sự phối hợp và tương trợ lẫn nhau của Đài Loan và Trung Quốc trong hoạt động tuyên bố chủ quyền và mở rộng tầm kiểm soát tại quần đảo. Tháng 3 năm 1988, quân đồn trú của Đài Loan trên đảo Ba Bình đã tham gia tiếp tế lương thực và nước uống cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Đương thời, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đài Loan là Trịnh Vi Nguyên (鄭為元) từng công khai tuyên bố rằng "Nếu chiến tranh nổ ra, quân đội Quốc gia sẽ giúp quân đội Cộng sản kháng chiến". Đến năm 1995, khi Trung Quốc giành quyền kiểm soát đá Vành Khăn với Philippines vào tháng 2 thì Đài Loan cũng giành quyền kiểm soát bãi Bàn Than vào tháng 3. Ngoài ra, lực lượng Trung Quốc đóng tại Trường Sa còn nhận được nước ngọt từ quân đồn trú trên đảo Ba Bình.
==== Chỉ trích ====
Tháng 7 năm 2012, báo chí Việt Nam đồng loạt đưa tin về tấm "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" do nhà Thanh lập và nhà xuất bản Thượng Hải ấn hành năm 1904, trong đó điểm cực nam của Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam và không có Nam Sa hay Tây Sa (Hoàng Sa) mà Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền. Mai Ngọc Hồng, người tặng bản đồ này cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, nói rằng tấm bản đồ này được lập trong vòng một trăm chín mươi sáu năm, từ thời vua Khang Hi đến năm 1904 mới xuất bản; Nguyễn Hữu Tâm từ Viện Sử học Việt Nam bổ sung thêm là tỉ lệ xích của bản đồ chính xác. Báo chí Việt Nam lập luận rằng đây là bằng chứng cho thấy việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lịch sử tại Trường Sa (và Hoàng Sa) là không có căn cứ.
Về công hàm của Phạm Văn Đồng, báo chí Việt Nam đã lên tiếng phản bác lại, việc lý lẽ Trung Quốc đã diễn giải công hàm một cách "xuyên tạc" bởi vì nội dung công hàm không đề cập đến Hoàng Sa - Trường Sa và không hề tuyên bố từ bỏ chủ quyền với hai quần đảo này mà chỉ công nhận "hải phận" 12 hải lý của Trung Quốc. Nhà nghiên cứu về châu Á là Balazs Szalontai thì cho rằng công hàm không có sức nặng ràng buộc pháp lý.
=== Philippines ===
==== Luận cứ ====
Philippines dựa trên các luận điểm là terra nullius (đất vô chủ) và sự gần gũi về khoảng cách địa lý để tuyên bố chủ quyền đối với Nhóm đảo Kalayaan, tương đương với phần lớn quần đảo Trường Sa.
Thứ nhất, công dân Philippines Tomás Cloma đã đến nhiều đảo không người thuộc Trường Sa vào năm 1947 và tuyên bố sở hữu chúng vào năm 1956. Tuy Philippines chưa bao giờ chính thức ủng hộ tuyên bố về quyền sở hữu đảo của Cloma nhưng nước này lại dùng sự kiện Cloma làm căn cứ để tuyên bố chủ quyền. Cụ thể, Philippines cho rằng không có nỗ lực giành chủ quyền nào với các đảo cho tới thập niên 1930 khi quân đội Pháp và sau đó là quân đội đế quốc Nhật Bản chiếm đảo; khi Nhật Bản ký vào Hiệp ước San Francisco thì đã có một sự từ bỏ quyền đối với các đảo Trường Sa mà không có bất kỳ một bên yêu cầu chủ quyền nào. Vì thế, Philippines cho rằng các đảo Trường Sa đã trở thành đất vô chủ và có thể được sáp nhập vào lãnh thổ của họ.
Thứ hai, trong một văn bản gửi tới Đài Loan năm 1971, Philippines khẳng định rằng quần đảo Trường Sa nằm trong lãnh thổ quần đảo mà nước này tuyên bố chủ quyền. Trong Sắc lệnh Tổng thống 1596 ký năm 1978, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos cho rằng phần lớn các thực thể Kalayaan đều nằm trên rìa lục địa của quần đảo Philippines. Năm 1982, tài liệu của Bộ Quốc phòng Philippines cho rằng Nhóm đảo Kalayaan là riêng biệt khỏi các nhóm đảo khác ở biển Đông và không phải là một phần của quần đảo Trường Sa:
Nhóm đảo Kalayaan là khác biệt và không phải là một phần của quần đảo Trường Sa hay quần đảo Hoàng Sa. Có sự công nhận chung về thông lệ hải dương học khi người ta gọi một dãy các đảo bằng tên của hòn đảo lớn nhất trong nhóm hay thông qua việc sử dụng một cái tên chung. Ghi chú rằng đảo Trường Sa chỉ có diện tích 13 hecta so với diện tích 22 hecta của đảo Pagasa [đảo Thị Tứ] Chỉ cần xét riêng về mặt diện tích các đảo thì Nhóm đảo Kalayaan đã không phải là một phần của quần đảo Trường Sa. Xét về mặt khoảng cách, đảo Trường Sa cách đảo Pagasa 210 hải lý. Điều này nhấn mạnh lý lẽ rằng chúng không phải là các phần của cùng một dãy đảo.
==== Diễn biến ====
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Nhật Bản dùng quần đảo Trường Sa làm bàn đạp để tấn công Philippines. Năm 1947, Philippines kêu gọi giao cho nước này quần đảo Trường Sa nhưng Philippines lại không nhắc gì đến vấn đề này trong Hội nghị San Francisco năm 1951.
Năm 1947, luật sư và doanh nhân người Philippines là Tomás Cloma đã tìm thấy nhiều đảo không người và chưa bị chiếm đóng trong biển Đông. Ngày 15 tháng 5 năm 1956, ông tuyên bố lập ra một nhà nước mới với tên gọi là Freedomland (Vùng đất tự do), trải rộng trên phần phía đông của biển Đông. Ngày 6 tháng 7 năm 1956, Cloma tuyên bố với toàn thế giới về việc thành lập chính phủ riêng cho Lãnh thổ Tự do Freedomland với thủ phủ đặt tại đảo Bình Nguyên. Hành động này dù không được chính phủ Philippines xác nhận nhưng vẫn bị các nước khác coi là một hành động gây hấn của Philippines. Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam Cộng hòa đều tuyên bố phản đối. Ngoài ra, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) còn gửi lực lượng hải quân tái chiếm đảo Ba Bình.
Trong buổi họp báo ngày 10 tháng 7 năm 1971, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos cáo buộc lính Đài Loan trên đảo Ba Bình đã bắn vào một tàu của Philippines khi tàu này định cập vào đảo Ba Bình, nhưng Đài Loan chối bỏ. Philippines còn gửi văn bản phản đối tới Đài Bắc với nội dung khẳng định một số ý chính như sau: (1) do hành động chiếm hữu của Cloma nên Philippines có danh nghĩa pháp lý đối với nhóm đảo; (2) hành động chiếm đóng của người Trung Quốc là phi pháp vì nhóm đảo này trên thực tế (de facto) nằm dưới sự uỷ trị của các lực lượng Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai; (3) quần đảo Trường Sa nằm trong lãnh thổ quần đảo mà Philippines tuyên bố chủ quyền. Tháng 4 năm 1972, Kalayaan chính thức sáp nhập với tỉnh Palawan và được quản lý như một población (tương đương một barangay) với Tomás Cloma là chủ tịch hội đồng khu vực. Năm 1978, Ferdinand Marcos ký Sắc lệnh số 1596 định rõ giới hạn của khái niệm Nhóm đảo Kalayaan.
Ngày 13 tháng 4 năm 2009, Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo ký thông qua Luật Đường cơ sở Quần đảo (Đạo luật Cộng hoà số 9522) để tái khẳng định Nhóm đảo Kalayaan là thuộc lãnh thổ của nước này. Lúc đầu, Philippines từng có ý định đưa Nhóm đảo Kalayaan vào đường cơ sở của mình. Tuy vậy, sau một số tranh luận, nước này từ bỏ ý định trên và quyết định chỉ xem Nhóm đảo Kalayaan là các đảo thuộc Philippines, tuân theo điều 121 về "Chế độ các đảo" của Công ước.
==== Chỉ trích ====
Luận điểm thứ nhất về đất vô chủ, cho rằng chưa có ai tuyên bố chủ quyền hoặc từ bỏ chủ quyền đối với các đảo Trường Sa và Tomás Cloma đã "khám phá" ra chúng vào năm 1947 là không thuyết phục bởi lẽ tuyên bố của Cloma đã vấp phải sự phản đối của Việt Nam Cộng hoà và [các] nhà nước Trung Quốc. Hơn nữa, Cloma chỉ là một cá nhân và không đại diện cho chính phủ Philippines. Năm 1951, Toà án Công lý Quốc tế khi xét xử vụ tranh chấp giữa Anh và Na Uy về đặc quyền đánh cá đã tạo ra tiền lệ là "hoạt động độc lập của các cá thể tư nhân có ít giá trị trừ khi có thể chỉ ra rằng họ hành động khi đang theo đuổi...một số...quyền hành nhận được từ chính phủ của họ hoặc theo một cách nào đó mà chính phủ của họ khẳng định quyền tài phán thông qua họ." Khi Cloma thực hiện hành động của mình ở quần đảo Trường Sa thì chính phủ Philippines không hề tỏ ý đồng tình hay không đồng tình với ông.
Luận điểm thứ hai về địa lý của Philippines cũng có điểm yếu bởi vì quần đảo Philippines bị máng biển Palawan ngăn cách khỏi quần đảo Trường Sa, không thoả điều 76 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (xem thêm) về sự "kéo dài tự nhiên" nên nước này không thể đòi hỏi đặc quyền vượt quá phạm vi 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Ngoài ra, Dzurek (1996) cho rằng có vẻ Philippines đã không còn duy trì quan điểm cho rằng Nhóm đảo Kalayaan là riêng biệt với quần đảo Trường Sa nữa.
=== Malaysia ===
==== Luận cứ ====
Malaysia dựa trên hai luận điểm là thềm lục địa và khai phá sớm nhất để tuyên bố chủ quyền/đòi hỏi đặc quyền đối với một khu vực biển Đông ở phía nam Trường Sa, trong đó có mười hai thực thể địa lý nổi bật là đảo An Bang, đá Công Đo, đá Én Ca, đá Hoa Lau, đá Kỳ Vân, đá Sác Lốt, đá Suối Cát, đá Thuyền Chài, bãi Kiêu Ngựa, bãi Thám Hiểm (thuộc Trường Sa) cùng rạn vòng Louisa và cụm bãi cạn Luconia (Bắc và Nam) (không thuộc Trường Sa).
==== Diễn biến ====
Tuyên bố về thềm lục địa của Malaysia khởi nguồn từ Hội nghị Genève năm 1958. Trong các năm 1966 và 1969, Malaysia đã thông qua Đạo luật về Thềm lục địa.
Ngày 3 tháng 2 năm 1971, đại sứ quán Malaysia tại Sài Gòn gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà để hỏi rằng nước này có sở hữu hay yêu sách các "đảo" nằm trong khoảng giữa vĩ tuyến 9° Bắc và kinh tuyến 112° Đông "thuộc" lãnh thổ nước Cộng hoà Morac-Songhrati-Meads không. Ngày 20 tháng 4, Sài Gòn đáp lại rằng quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng hoà.
Năm 1979, Malaysia xuất bản một tấm bản đồ mang tựa đề "Bản đồ Thể hiện Lãnh hải và Các ranh giới Thềm lục địa" để xác định thềm lục địa và tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các "đảo" nổi lên từ thềm lục địa đó. Tháng 4 năm 1980, Malaysia tuyên bố yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế nhưng chưa phân định ranh giới cụ thể. Tháng 5 năm 1983 (hay tháng 6), Malaysia đánh dấu việc chiếm đóng thực thể địa lý đầu tiên thuộc Trường Sa khi cho quân đội đổ bộ lên đá Hoa Lau. Tháng 11 năm 1986, nước này cho hai mươi lính chiếm đá Kiêu Ngựa (rạn đá nổi bật của bãi Kiêu Ngựa) và cho một trung đội chiếm đá Kỳ Vân (theo nguồn khác thì Malaysia chiếm đá Kỳ Vân vào năm 1987). Năm 1987 (hay 1986), Malaysia chiếm đá Suối Cát.<
Tháng 3 năm 1998, Philippines phát hiện hoạt động xây dựng của phía Malaysia trên hai thực thể địa lý, song Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Malaysia Abdullah bin Ahmad Badawi trấn an rằng, Chính phủ Malaysia không hề cấp phép cho hoạt động này. Tuy nhiên vào tháng 6 năm 1999, Malaysia chiếm hẳn bãi Thám Hiểm và đá Én Ca.
Ngày 5 tháng 3 năm 2009, Thủ tướng Malaysia khi này là Abdullah bin Ahmad Badawi có chuyến thăm đá Hoa Lau và tỏ ra ấn tượng với cơ sở hạ tầng dành cho du lịch tại đây. Đồng thời ông cũng khẳng định tuyên bố chủ quyền với đá này và vùng biển lân cận.
==== Chỉ trích ====
Nhận định về luận điểm "thềm lục địa" của Malaysia, một số học giả cho rằng nước này đã "lầm lạc" (Dzurek 1996) trong cách suy diễn hay "khó có thể thanh minh" (Valencia & ctg 1999) nếu đối chiếu với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển. Cụ thể, Điều 76 của Công ước quy định thềm lục địa chỉ bao gồm "đáy biển và lòng đất dưới đáy biển" chứ không phải các phần đất hay đá nổi phía trên thềm lục địa đó:
Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn.
Một điểm nữa là tương tự như trường hợp Philippines, luận điểm về thềm lục địa của Malaysia cũng có thêm điểm yếu là máng biển Borneo-Palawan đã phá vỡ sự "kéo dài tự nhiên" của thềm lục địa của nước này. Nói cách khác, đa số các thực thể địa lý mà Malaysia đòi hỏi vẫn không thuộc thềm lục địa của nước này dù họ có diễn giải luận điểm về thềm lục địa như thế nào đi nữa.
Luận điểm thứ hai của Malaysia về "khai phá sớm nhất" cũng không thuyết phục vì nếu so với các nước khác thì Malaysia tham gia vào tranh chấp muộn hơn; khi tuyên bố chủ quyền đối với một phần của Trường Sa thì quốc gia này cũng vấp phải sự phản ứng từ các nước đó.
=== Brunei ===
==== Luận cứ ====
Brunei dựa trên hai luận điểm là các điều 76-77 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (về thềm lục địa) và sắc lệnh do Anh ban hành năm 1954 thể hiện biên giới biển của Brunei để đòi hỏi đặc quyền trên một vùng thuộc biển Đông, và trong vùng này có hai hoặc ba thực thể địa lý nổi bật toạ lạc: rạn vòng Louisa, bãi Vũng Mây và có nguồn còn kể thêm bãi Chim Biển. Về tính chất, rạn vòng Louisa là một rạn san hô vòng đa phần chìm dưới nước; tại đây Malaysia đã dựng một ngọn đèn hiệu và đang tuyên bố chủ quyền. Bãi Vũng Mây là một bãi ngầm dưới biển do Việt Nam kiểm soát thông qua các nhà giàn gọi là DK1 xây tại đá Ba Kè ở phần phía bắc của bãi Vũng Mây.
Không rõ Brunei có tuyên bố chủ quyền đối với rạn vòng Louisa hay chỉ đòi quyền tài phán với vùng biển xung quanh đó vì các nghiên cứu của quốc tế có cách viết khác nhau về vấn đề này; trong khi có nguồn cho rằng Brunei không đòi rạn vòng Louisa thì nguồn khác chỉ ra Brunei đã phản đối Malaysia khi Malaysia tuyên bố chủ quyền đối với rạn vòng này. Mặt khác, bãi ngầm (như bãi Vũng Mây) dù có được xem là thuộc quần đảo Trường Sa hay không thì theo Công ước, bãi này không phải đối tượng để các quốc gia có thể tuyên bố chủ quyền mà các nước đó chỉ có quyền chủ quyền (tức chỉ là một số bộ phận cấu thành chủ quyền) đối với bãi ngầm trên cơ sở chứng minh được bãi ngầm đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa của mình một cách khoa học. Do vậy, nếu Brunei không đòi rạn vòng Louisa thì thực ra Brunei không tranh chấp một đảo hay đá nào "thuộc" quần đảo Trường Sa mà đơn thuần chỉ là cột nước trên thềm lục địa và thềm lục địa bên dưới vùng biển Trường Sa.Khi đó, Brunei và các quốc gia khác sẽ tự đàm phán với nhau hoặc thông qua cơ quan tài phán quốc tế.
==== Diễn biến và chỉ trích ====
Năm 1979, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đại diện cho vùng đất do mình bảo hộ là Brunei để lên tiếng phản đối tấm bản đồ do Malaysia xuất bản. Ngày 1 tháng 1 năm 1983, chính quyền sở tại ban hành Đạo luật Các giới hạn vùng Nghề cá. Năm 1988, Brunei xuất bản bản đồ mở rộng thềm lục địa 350 hải lý từ đường cơ sở và vươn đến bãi Vũng Mây.
Điểm yếu của Brunei khi tuyên bố về thềm lục địa cũng tương tự với Philippines ở chỗ, máng biển Đông Palawan làm gián đoạn sự "kéo dài tự nhiên" của thềm lục địa cách bờ biển Brunei 60-100 dặm.
=== Các tuyên bố khác ===
==== Anh ====
Năm 1877, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland từng sáp nhập hai thực thể là đảo Trường Sa và đảo An Bang vào lãnh thổ đế quốc Anh. Năm 1889, Anh cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Trung Borneo (trụ sở tại Luân Đôn) thuê và khai thác phân chim tại hai nơi này.
Năm 1933, trước hành động chiếm hữu các đảo Trường Sa của Pháp, Anh đã nhắc cho Pháp biết rằng đảo Trường Sa và đảo An Bang vẫn là lãnh thổ của Anh trừ khi Hoàng gia Anh dứt khoát từ bỏ những phần đất này. Tuy vậy vào ngày 12 tháng 7 năm 1933, Văn phòng Đối ngoại và Khối thịnh vượng chung Anh nêu ý kiến rằng Anh chỉ có vị thế pháp lý yếu ớt nếu đưa vụ này ra Toà án Thường trực Công lý Quốc tế do nước Anh không tiến hành chiếm giữ hiệu quả đối với hai thực thể trên. Rốt cuộc, dù trên thực tế Anh không hề từ bỏ tuyên bố chủ quyền nhưng nước này đã chọn cách im lặng thay vì tuyên bố phản đối Pháp.
Trong một văn bản đề ngày 14 tháng 10 năm 1947 của Văn phòng Đối ngoại và Khối thịnh vượng chung Anh (sau này trở thành tài liệu chính thức cho phái đoàn Anh đến dự Hội nghị San Francisco năm 1951), Anh tiếp tục duy trì tuyên bố chủ quyền nhưng chỉ thị phái đoàn Anh không phản đối lời tuyên bố chủ quyền của Pháp và "để cho Pháp giữ thế chủ động".
Năm 1950, dưới sự thúc đẩy của Úc, chính phủ Anh tiến hành nghiên cứu tầm quan trọng chiến lược của quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nhằm quyết định xem có nên tiến hành biện pháp gì để ngăn các quần đảo này rơi vào tay "một nhà nước cộng sản nào đó" hay không. Sau đó, Anh kết luận rằng vì các đảo này hầu như không có giá trị kinh tế hay chiến lược gì nên Khối thịnh vượng chung có thể an tâm giữ nguyên thế bị động như hiện thời.
==== Nhật Bản và Hà Lan ====
Năm 1917 (hay 1918), một nhóm thám hiểm người Nhật đến quần đảo Trường Sa và gặp một số ngư dân Trung Quốc đang sống ở đảo Song Tử Tây. Trong các thập niên 1920 và 1930 kế tiếp, Nhật Bản tự tiến hành hoạt động khai thác phân chim tại một số đảo, ví dụ An Bang, Loại Ta, Song Tử Tây. Khi Pháp chính thức chiếm Trường Sa vào năm 1933, Nhật Bản lên tiếng phản đối Pháp với lý lẽ là Nhật đã tổ chức khai thác phân chim trên một số đảo ở đây. Cuối thập niên 1930, đế quốc Nhật Bản chiếm giữ đảo Ba Bình để làm căn cứ tàu ngầm nhằm mục đích ngăn chặn tàu thuyền qua lại khu vực Trường Sa. Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản gửi thông báo cho đại sứ Pháp, tuyên bố rằng Nhật Bản là nước đầu tiên thám hiểm Trường Sa vào năm 1917 và họ đang kiểm soát quần đảo. Thời đó, Nhật gọi các đảo này là Shinnan shotō (新南諸島 (Tân Nam chư đảo), nghĩa là "các đảo mới phía nam") và đặt chúng dưới sự cai trị của chính quyền thuộc địa tại đảo Đài Loan. Tuy nhiên, lời tuyên bố của Nhật Bản chỉ là trên giấy vì đến năm 1941 thì Nhật mới dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Trường Sa. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản ký Hiệp ước San Francisco và đã từ bỏ mọi quyền đối với quần đảo Trường Sa:
Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và đối với quần đảo Hoàng Sa.
Một sự kiện đơn lẻ khác diễn ra vào năm 1956 sau khi Tomás Cloma tuyên bố quyền sở hữu đối với phần lớn quần đảo Trường Sa. Hà Lan (khi này còn nắm quyền kiểm soát Tây Irian) đã gửi một thông báo cho Bộ Ngoại giao Philippines với nội dung rằng nước này sẽ sớm đòi hỏi quyền sở hữu các đảo này với sự ủng hộ của Anh.
== Một số tranh chấp và xung đột ==
Tranh chấp trong vùng quần đảo Trường Sa và các vùng gần đó không chỉ là tranh chấp chủ quyền đối với các đảo/đá mà còn là tranh chấp tài nguyên thiên nhiên như dầu khí và hải sản. Đã có nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa các nước về những tàu đánh cá nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác và báo chí cũng thường đưa tin về những vụ bắt giữ ngư dân. Nhiều nước tuyên bố chủ quyền cũng chưa cấp phép khai thác tài nguyên tại vùng biển thuộc quần đảo vì lo ngại hậu quả là một cuộc xung đột ngay lập tức. Các công ty nước ngoài cũng không đưa ra bất kỳ một cam kết nào về việc khai thác vùng này cho đến khi tranh chấp về lãnh thổ được giải quyết hay các nước tham gia đạt được thoả thuận chung.
=== Việt Nam Cộng hòa và Phillipines ===
Từ 1956 - 1975, quần đảo Trường Sa thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa sau khi tiếp thu từ Pháp quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa. Năm 1963, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đưa tàu ra dựng bia ở một số đảo, nhưng sau đó rút đi và không đồn trú lâu dài.
Năm 1970 Philippines đã tổ chức chiếm giữ đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta và 4 đảo nữa. Theo như Đại tá về hưu hải quân Philippines Domingo Tucay Jr kể lại thì các đảo, bãi khi đó hoàn toàn hoang vắng, Philippines chiếm đóng dễ dàng. Chỉ khi tới đảo Song Tử Tây, họ mới thấy quân Việt Nam Cộng hòa đóng ở đây. Quân Phillipines báo về sở chỉ huy, được chỉ thị cứ để mặc quân Việt Nam Cộng hòa. Lính Việt Nam Cộng hòa ở đảo Song Tử Tây cũng để yên để cho quân Philippines hành động. Sau chiến dịch, Philippines chiếm được 6 đảo nổi và bãi đã mà không cần phải nổ súng, trong đó Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì, Bến Lạc (Đảo Dừa) là đảo lớn thứ ba, Song Tử Đông là đảo lớn thứ năm ở quần đảo Trường Sa. Philippines giữ các đảo và bãi này từ đó đến nay.
Sau vụ chiếm đóng, chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng không hề lên tiếng phản đối hoặc có động thái quân sự gì để đáp trả vụ chiếm đóng đó. Theo như lời Tucay kể lại, nhiều tháng sau khi Philippines chiếm đóng 7 đảo ở quần đảo Trường Sa, các nước khác mới biết vụ việc này.
=== Việt Nam Cộng hòa và Đài Loan ===
Năm 1956, Đài Loan điều tàu đến đảo Ba Bình khi đó thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã không có hành động gì để phản đối. Nhân dịp lễ Song Thập 10/10 của Trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan), Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cho quân rút khỏi đảo Ba Bình là đảo lớn nhất tại quần đảo, Đài Loan giành quyền kiểm soát đảo mà không cần phải nổ súng.
Thời điểm quân đội Đài Loan thực sự tái chiếm đảo Ba Bình chưa rõ ràng, bởi có rất nhiều thông tin khác nhau về thời điểm Đài Loan điều tàu đến đảo Ba Bình vào năm 1956 (ngày 20 tháng 5, tháng 7, tháng 9 hoặc tháng 10) và có nguồn tài liệu cho rằng từ năm 1971 thì Đài Loan mới thực sự đồn trú lâu dài trên đảo.
Ngày nay, đảo Ba Bình được Đài Loan biến thành một "pháo đài" với nhiều công sự phòng thủ kiên cố và có một đường băng cho phép máy bay vận tải C-130 Hercules lên xuống.
=== Việt Nam và Trung Quốc ===
Tháng 3 năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc đụng độ vũ trang trên biển về quyền kiểm soát đá Gạc Ma, đá Cô Lin và đá Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa. Trong sự kiện này, ba tàu frigate của Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc là 502 Nam Sung, 556 Tương Đàm và 531 Ưng Đàm đã đánh đắm ba tàu vận tải của Hải quân Nhân dân Việt Nam là HQ-505, HQ-604 và HQ-605, đồng thời gây ra cái chết cho sáu mươi tư binh sĩ Việt Nam.
Tháng 5 năm 1992, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) và Crestone Energy (một công ty Mỹ có trụ sở ở Denver, tiểu bang Colorado) đã ký một hợp đồng hợp tác để cùng thăm dò một khu vực rộng 7.347 hải lý vuông (gần 25.200 km²) mà họ gọi là Vạn An Bắc-21 (nằm giữa bãi ngầm Tư Chính và bãi ngầm Phúc Tần; cách bờ biển Việt Nam 160 hải lí), nơi Trung Quốc xem là một phần của quần đảo Nam Sa trong khi Việt Nam xem là một phần của vùng đặc quyền kinh tế - thềm lục địa và không liên quan đến quần đảo Trường Sa. Tháng 9 năm 1992, Việt Nam cáo buộc Trung Quốc đã bắt giữ hai mươi tàu chở hàng từ Việt Nam đến Hồng Kông từ tháng 6 năm 1992 nhưng không thả hết số tàu này. Tháng 4 và tháng 5 năm 1994, Việt Nam phản đối công ty Crestone thăm dò địa chấn ở bãi Tư Chính, tái khẳng định bãi này hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế - thềm lục địa của Việt Nam và không có tranh chấp gì ở đây.
Ngày 10 tháng 4 năm 2007, trước câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Trung Quốc trước việc chính phủ Việt Nam phân lô dầu khí, gọi thầu, hợp tác với hãng BP của Anh để xây dựng đường ống dẫn khí thiên nhiên (ở khu vực mà Trung Quốc quan niệm thuộc Nam Sa và Việt Nam quan niệm thuộc vùng đặc quyền kinh tế - thềm lục địa) đồng thời tổ chức bầu cử Quốc hội Việt Nam [khóa XII] tại quần đảo Trường Sa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương trả lời rằng "Việt Nam đưa ra hàng loạt hành động mới xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc ở Nam Sa, đi ngược lại với đồng thuận mà lãnh đạo hai bên Trung-Việt đã đạt được về vấn đề trên biển", và "Trung Quốc đã biểu thị mối lo ngại sâu sắc và giao thiệp nghiêm khắc với Việt Nam" ngay trong thời gian Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang thăm chính thức nước này. Ngày 9 tháng 7 năm 2007, tàu hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, làm chìm một thuyền đánh cá của Việt Nam, khiến ít nhất một ngư dân thiệt mạng và một số người khác bị thương. Sau đó, thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng đã đến Bắc Kinh từ ngày 21 đến 23 tháng 7 để bàn về các vấn đề biên giới, đặc biệt là trên biển.
Ngày 31 tháng 5 năm 2011, chỉ vài ngày sau sự kiện tàu Bình Minh 02 khi tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp tàu địa chấn của Việt Nam, ba tàu Trung Quốc đã bắn đuổi các tàu cá Việt Nam tại một địa điểm nằm cách đá Đông 15 hải lý (27,8 km) về phía đông nam.
Ngày 20 tháng 4 năm 2012, Cục Cảnh sát biển Đài Loan cho biết ngày 22 tháng 3 năm 2012, tàu tuần tra của Việt Nam đã xâm nhập vào vùng biển hạn chế quanh đảo Ba Bình, và đã rời đi sau khi tàu cao tốc M8 của Cục Cảnh sát biển Đài Loan tới chặn. Đến ngày 26 cùng tháng, tiếp tục có hai tàu tuần tra của Việt Nam xâm nhập vào vùng biển gần đảo Ba Bình, các tàu này đã rời đi sau khi phát hiện mình bị Cảnh sát biển Đài Loan theo dõi bằng radar. Cục Cảnh sát biển Đài Loan cho biết đã không bên nào nổ súng trong cả hai sự cố Trước đó, một số phương tiện truyền thông đưa tin phía Việt Nam đã dùng súng máy bắn khiêu khích trước và bị phía Đài Loan bắn trả. Ngày 21 tháng 5 năm 2012, ủy viên lập pháp thuộc Quốc Dân Đảng Lâm Úc Phương cho biết tàu Việt Nam thường xâm nhập vào vùng biển hạn chế 6.000 m ở quanh đảo Ba Bình, năm 2011 có 106 chiếc tàu xâm nhập, từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2012 có 41 tàu xâm nhập. Cục trưởng Cục an ninh quốc gia Đài Loan Lâm Úc Phương phát biểu rằng Việt Nam đã mong muốn kiểm soát bãi Bàn Than (hiện do Đài Loan kiểm soát) từ lâu và cho rằng việc bãi này rơi vào tay Việt Nam sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian nếu như chính phủ Đài Loan không có hành động tích cực như xây dựng cơ sở cố định trên bãi.
Ngày 6/11/2014, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm phản đối Trung Quốc tiến hành các hoạt động cải tạo phi pháp trên Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Ngày 9/4/2015, bà Hoa Xuân Doanh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cho biết hoạt động cải tạo đất và xây dựng tại quần đảo Trường Sa trên Biển Đông là để "xây dựng nơi trú ẩn, hỗ trợ điều hướng, tìm kiếm và cứu hộ, dịch vụ dự báo khí tượng hàng hải, dịch vụ nghề cá cùng thủ tục hành chính cần thiết cho Trung Quốc, các nước láng giềng cũng như chính các tàu đang hoạt động trên Biển Đông". Việc này "là cần thiết do rủi ro từ những cơn bão gây ra với nhiều tuyến hàng hải xa đất liền" và còn "đáp ứng nhu cầu phòng thủ quân sự" của Trung Quốc.
Ngày 16/4/2015, trả lời câu hỏi về phản ứng của Việt Nam về phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh ngày 9/4/2015 về việc mở rộng các bãi đá ngầm ở Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình cho biết Việt Nam đã nhiều lần giao thiệp với phía Trung Quốc, kể cả ở cấp cao về vấn đề này. Theo ông này, "Một lần nữa, chúng tôi tuyên bố Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hành động xây dựng, mở rộng của nước ngoài ở các đảo, đá thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự cho phép của Chính phủ Việt Nam là hoàn toàn phi pháp và vô giá trị". Việt Nam kiên quyết phản đối các hành động nêu trên và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông.
Ngày 28/4/2015, Chủ tịch Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 26 ra tuyên bố chia sẻ lo ngại sâu sắc của các lãnh đạo ASEAN về việc tôn tạo, bồi đắp đang diễn ra ở Biển Đông, làm xói mòn lòng tin, sự tin cậy và phương hại đến hòa bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông; khẳng định lại tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, nhấn mạnh các bên cần bảo đảm việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả toàn vẹn Tuyên bố về Ứng xử của các bên (DOC) ở Biển Đông: nhằm xây dựng, duy trì và tăng cường lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau; thực hiện kiềm chế trong các hành động; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực; các bên liên quan giải quyết những khác biệt và tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, Chủ tịch Ủy ban Quân lực Thượng viện Mỹ, lo ngại Trung Quốc sẽ quân sự hóa các đảo nhân tạo xây dựng phi pháp và tuyên bố một vùng nhận diện phòng không (ADIZ) ở Biển Đông để khẳng định yêu sách chủ quyền.
Thông cáo chung hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) 48 ra ngày 06/08/2015 tuyên bố "Chúng tôi ghi nhận lo ngại sâu sắc của một số Bộ trưởng đối với việc tôn tạo, bồi đắp ở Biển Đông, làm xói mòn lòng tin và sự tin cậy, gia tăng căng thẳng và có thể gây phương hại tới hoà bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông.". Thông cáo khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hoà bình, an ninh, ổn định, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, nhấn mạnh sự cần thiết đối với tất cả các bên trong việc bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả toàn bộ các điều khoản của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC): xây dựng, duy trì và tăng cường lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau; thực hiện kiềm chế đối với các hành động làm phức tạp và gia tăng các tranh chấp; không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực; các bên liên quan giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, phù hợp với các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) 1982. Thông cáo chung cũng nêu rõ các bên trông đợi việc thực hiện hiệu quả các biện pháp đã được nhất trí nhằm tăng cường lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau cũng như tạo một môi trường thuận lợi cho việc duy trì hoà bình, an ninh và ổn định ở khu vực.
=== Phillipnes và Trung Quốc ===
Tháng 2 năm 1995, xung đột diễn ra giữa Trung Quốc và Philippines khi Philippines tìm thấy một số kết cấu trên đá Vành Khăn, khiến chính phủ nước này phải đưa ra một kháng cáo chính thức đối với hành động chiếm đóng của Trung Quốc. Ngày 25 tháng 3 năm 1995, Hải quân Philippines bắt giữ bốn tàu Trung Quốc gần đá Suối Ngọc. Cũng trong ngày 25 tháng 3, Việt Nam nói rằng lính Đài Loan trên đảo Ba Bình bắn vào tàu chở hàng của Việt Nam đang trên đường từ đá Lớn đến đảo Sơn Ca. Thời gian sau đó, nhiều cuộc gặp gỡ đã diễn ra giữa các bên tham gia tranh chấp và cả Indonesia nhưng thu được rất ít kết quả. Đến năm 1998, Trung Quốc tuyên bố rằng "các chòi ngư dân" ở đá Vành Khăn bị hư hại do bão và điều bảy tàu đến vùng này để sửa chữa. Lần này Philippines tiếp tục có các hành động đáp trả như cho hải quân bắn chìm một số tàu cá của Trung Quốc mà nước này cho rằng đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của họ.
Tháng 6 năm 2012, Trung Quốc cũng đã chiếm thành công bãi cạn Scarborough, chỉ cách Vịnh Subic của Phillipne khoảng 200 km về phía Tây.
=== Phillipnes và Malaysia ===
Tháng 6 năm 1999, Philippines phản đối Malaysia chiếm bãi Thám Hiểm và đá Én Ca, hai thực thể mà Philippines gọi là Pawikan và Gabriela Silang. Đến tháng 10, nước này còn cho máy bay do thám bãi Thám Hiểm khiến Malaysia cũng chỉ thị máy bay bay theo. Tuy nhiên, không có đụng độ quân sự diễn ra. Ngày 28 cùng tháng, Philippines cáo buộc quân đội Việt Nam trên đá Tiên Nữ đã bắn vào máy bay của Philippines khi máy bay này bay thấp để nhìn rõ toà nhà ba tầng của Việt Nam vào ngày 13 tháng 10.
=== Xoa dịu căng thẳng ===
Những năm sau căng thẳng tại đá Vành Khăn, Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thoả thuận đàm phán để đưa ra một bộ quy tắc ứng xử nhằm giảm căng thẳng tại các đảo tranh chấp. Ngày 5 tháng 3 năm 2002, một văn kiện chính trị đã ra đời để thể hiện mong ước giải quyết vấn đề chủ quyền "mà không sử dụng thêm nữa vũ lực". Ngày 4 tháng 11 năm 2002, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) được ký kết nhưng lại không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý. Năm 2005, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo là vào ngày 14 tháng 3, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) cùng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Công ty Dầu Quốc gia Philippines đã ký thoả thuận thăm dò địa chấn chung nhằm thi hành DOC 2002.
Trong chuyến thăm Mỹ ngày 25/9/2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố với Tổng thống Mỹ Obama "Những hoạt động xây dựng mà Trung Quốc đang triển khai ở Nam Sa không nhằm vào hay làm ảnh hưởng bất kỳ quốc gia nào và Trung Quốc không có ý định theo đuổi hoạt động quân sự hóa.".
== Tổ chức hành chính tại Trường Sa ==
=== Việt Nam ===
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lị tại Nam Việt, trong đó gọi Trường Sa là "Hoàng Sa" và quy thuộc tỉnh Phước Tuy. Đến ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa đưa quần đảo Trường Sa vào phạm vi hành chính của xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
Ngày 9 tháng 12 năm 1982, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành lập huyện Trường Sa trên cơ sở toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa mà trước đây họ quy thuộc huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, ngày 28 tháng 12 năm 1982, chính quyền Việt Nam đã chuyển huyện Trường Sa từ tỉnh Đồng Nai sang tỉnh Phú Khánh. Từ ngày 1 tháng 7 năm 1989, tỉnh Phú Khánh được tách ra thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa; huyện Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 11 tháng 4 năm 2007, Chính phủ Việt Nam thành lập thị trấn Trường Sa và hai xã Song Tử Tây và Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa. Các thị trấn và xã này được thành lập trên cơ sở các hòn đảo cùng tên và các đảo, đá, bãi phụ cận.
=== Trung Quốc ===
Từ năm 1959, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) đặt quần đảo Nam Sa (bao hàm quần đảo Trường Sa) cùng với quần đảo Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa) và quần đảo Trung Sa (gồm bãi Macclesfield và một số thực thể địa lý thuộc biển Đông) thành một cấp gọi là Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa (tiếng Trung: 西南中沙群岛办事处; Hán-Việt: Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ) dưới quyền quản lý của khu hành chính Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông. Tháng 3 năm 1969, Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa đổi tên thành Ủy ban Cách mạng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa tỉnh Quảng Đông (tiếng Trung: 广东省西、南、中沙群岛革命委员会; Hán-Việt: Quảng Đông tỉnh Tây, Nam, Trung Sa quần đảo Cách mạng Ủy viên hội), đến tháng 10 năm 1981 lại đổi về tên Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa tỉnh Quảng Đông (tương đương cấp huyện). Đến năm 1988, khi Hải Nam tách khỏi Quảng Đông để trở thành một tỉnh riêng biệt, Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam.
Tháng 11 năm 2007, có tin Trung Quốc đã thành lập đô thị cấp huyện Tam Sa để quản lý ba quần đảo trên biển Đông. Theo Trung Quốc, thực tế vì gặp phản ứng ở Việt Nam nên việc thành lập này bị dừng lại, tuy nhiên đô thị cấp huyện Tam Sa vẫn tồn tại trên danh nghĩa. Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc vụ viện Trung Quốc chính thức phê chuẩn thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa để thay thế Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa. Cơ quan chính quyền thành phố Tam Sa đóng trên đảo Phú Lâm, Hoàng Sa.
=== Đài Loan ===
Ngày 16 tháng 2 năm 1990, Hành chính viện Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) chấp thuận cho thành phố Cao Hùng thành lập một ủy ban quản lý để tiếp quản đảo Ba Bình của quần đảo Trường Sa, quy thuộc khu Kỳ Tân của thành phố. Ngày 28 tháng 1 năm 2000, Cục Tuần phòng Bờ biển (tức Tuần duyên) được thành lập và là cơ quan tiếp quản đảo Ba Bình, thực thi pháp luật chống buôn lậu, nhập cư trái phép và kiểm tra thương thuyền (ngư thuyền).
=== Philippines ===
Năm 1978, Philippines thành lập đô thị tự trị Kalayaan thuộc tỉnh Palawan trên cơ sở Nhóm đảo Kalayaan. Hiện thời đơn vị hành chính này chỉ có một barangay là Pag-asa (tức đảo Thị Tứ), nằm cách đảo Palawan 285 hải lý về phía tây.
== Dân cư ==
Ngoài các nhân viên quân sự đồn trú, trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa còn có các cư dân. Theo kết quả của cuộc tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, huyện Trường Sa có 195 cư dân (128 nam và 67 nữ), trong đó 82 cư dân sống ở thành thị (thị trấn Trường Sa) Theo điều tra dân số và nhà ở của Philippines vào năm 2010, đô thị tự trị Kalayaan có 222 cư dân, tất cả đều sinh sống trên đảo Thị Tứ (Pag-asa).
== Phát triển kinh tế ==
Quần đảo Trường Sa vốn không có đất trồng trọt và không có dân bản địa sinh sống. Nghiên cứu của một số học giả như Dzurek (1985), Bennett (1992), Cordner (1994) và Tư vấn Pháp lý cho Bộ Ngoại giao Philippines đều chỉ ra rằng các đảo thuộc Trường Sa thiếu khả năng duy trì đời sống kinh tế riêng đầy đủ bởi vì chúng quá nhỏ, khô cằn và có rất ít tài nguyên trên đảo.
Tuy trên các đảo chỉ có một vài tài nguyên (chẳng hạn phân chim) nhưng nguồn lợi thiên nhiên của vùng biển quần đảo Trường Sa thì lại rất có giá trị, ví dụ hải sản và tiềm năng dầu mỏ - khí đốt. Vào năm 1980, dân chúng trong vùng đánh bắt được 2,5 triệu tấn hải sản từ khu vực quần đảo Trường Sa. Từ tháng 5 năm 2005, Việt Nam đã cho xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá tại bãi đá Tây; diện tích đến 2013 đã đạt 3.000 mét vuông, sở hữu trang bị hiện đại, hỗ trợ nhiều mặt cho ngư dân nước này. Về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác, hiện địa chất vùng biển quần đảo vẫn chưa được khảo sát nhiều nên chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy. Tuy nhiên, Bộ Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Trung Quốc ước tính vùng quần đảo Trường Sa có trữ lượng dầu và khí thiên nhiên rất lớn, lên đến 17,7 tỉ tấn so với con số 13 tỉ tấn của Kuwait, và họ xếp nó vào danh sách một trong bốn vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Tháng 6 năm 1976, Philippines khoan được dầu mỏ tại khu phức hợp Nido ở ngoài khơi đảo Palawan.
Vùng biển Trường Sa cũng là một trong những vùng có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới. Trong thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua quần đảo Trường Sa, và "hiện tại" hơn một nửa số tàu chở dầu siêu trọng của thế giới chạy qua vùng biển này hàng năm. Quần đảo Trường Sa hiện chưa có cảng lớn mà chỉ có một số cảng cá và đường băng nhỏ trên các đảo có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính. Tuy nhiên, tàu thuyền lưu thông qua vùng này có thể gặp nhiều khó khăn do phải đối mặt với nguy hiểm từ gió bão, sóng lớn và nguy cơ bị mắc cạn hay va phải các rạn đá ngầm.
Nằm tại khu vực khí hậu nhiệt đới và có hệ sinh thái đa dạng, quần đảo Trường Sa có tiềm năng để thu hút khách du lịch. Tháng 6 năm 2011, Tổng cục Du lịch của Việt Nam mở hội thảo và công bố đề án phát triển du lịch hướng về biển đảo, trong đó đề cập đến dự định mở tuyến du lịch ra Trường Sa. Tháng 4 năm 2012, Philippines tuyên bố kế hoạch phát triển đảo Thị Tứ bằng cách sửa chữa lại đường băng trên đảo và biến nơi đây thành một khu du lịch. Tháng 9 năm 2012, Tân Hoa xã của Trung Quốc đưa tin về kế hoạch phát triển du lịch du thuyền giai đoạn 2012-2022 của thành phố Tam Á (tỉnh Hải Nam) đến quần đảo Trường Sa. Tuy vậy, các nước trên đều đi sau Malaysia bởi vào đầu thập niên 1990, nước này không những đã hoàn thành việc xây đảo nhân tạo tại đá Hoa Lau (gần cực nam của quần đảo Trường Sa) mà còn mở cửa một khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi dành cho du khách, đặc biệt là những người yêu thích lặn biển.
== Cơ sở hạ tầng ==
=== Mở rộng đảo ===
Theo báo cáo Chiến lược An ninh Hàng hải châu Á-Thái Bình Dương của Lầu Năm Góc, đầu tháng 12/2013, Trung Quốc bắt đầu xây đảo nhân tạo trên các đá và bãi đá ngầm do họ kiểm soát tại Trường Sa. Từ tháng 12/2013 cho tới tháng 6/2015, Trung Quốc đã mở rộng 1.170 ha đảo nhân tạo. Tại các nơi Trung Quốc xây cất đảo, nước này đào các kênh sâu cùng các điểm đậu để tàu cỡ lớn có thể cập bến. So với các nước xung quanh cũng cải tạo đảo, chỉ trong 20 tháng Trung Quốc cơi nới gấp 17 lần diện tích các nước khác gộp lại trong 40 năm và chiếm tới 95% tổng diện tích đảo nhân tạo trong Biển Đông. Cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc đang xây dựng có thể giúp tăng hiện diện quyền lực của nước này ở Biển Đông. Các đảo nhân tạo sẽ giúp Trung Quốc tăng khả năng chiến đấu ở quần đảo Trường Sa. Nước này cũng có thể sử dụng chúng để săn tàu ngầm trong và ngoài vùng biển này nhằm bảo vệ các tàu ngầm của họ.
Ngày 16/9/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter nói Hoa Kỳ sẽ hoạt động trên bất cứ khu vực nào mà luật pháp quốc tế cho phép. Việc biến một bãi đá ngầm thành sân bay không đồng nghĩa với quyền chủ quyền hoặc quyền hạn chế các phương tiện hàng không và hàng hải.
=== Giao thông vận tải ===
Tại quần đảo Trường Sa có bốn đường băng được xây dựng từ trước và 3 đường băng do Trung Quốc mới xây dựng trên 3 hòn đảo nhân tạo.
Đảo Thị Tứ: năm 1975, Philippines xây dựng một đường băng trên đảo Thị Tứ. Đường băng dài 1.260 m nhưng có vài chỗ đã bị xói mòn, xuống cấp nên chỉ có khả năng tiếp nhận máy bay C-130 Hercules vào những lúc điều kiện thời tiết tốt; vào các ngày mưa, đường băng này chỉ đón được các máy bay cỡ nhỏ hơn. Philippines đã có kế hoạch sửa chữa lại đường băng này.
Đảo Ba Bình: năm 2006, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) giao cho Bộ Quốc phòng nhiệm vụ xây dựng đường băng trên đảo Ba Bình. Tháng 1 năm 2008, xuất hiện nguồn tin thông báo rằng Đài Loan đã hoàn tất công việc xây dựng. Đường băng có bề mặt lát xi măng với chiều dài khoảng 1.200 m (lúc đầu ước tính là 1.150 m), chiều rộng 30 m cùng với lề vật liệu và khu vực cấm xây dựng rộng 21 m ở hai bên đường băng, đáp ứng nhu cầu đón máy bay C-130 Hercules.
Đá Hoa Lau: trong quá khứ đá Hoa Lau thực chất chỉ có một phần nổi rất nhỏ. Sau khi chiếm đá này vào đầu thập niên 1980, quân đội Malaysia đã kiến tạo một hòn đảo nhân tạo và cho xây dựng một đường băng dài 1.067 m trên đó.
Đảo Trường Sa: trên đảo này có một đường băng do Việt Nam xây dựng. Theo một nguồn tin, đường băng này đã được làm mới với tiêu chuẩn sân bay cấp ba, cho phép các loại máy bay cánh bằng chở khách hạ/cất cánh.
Đá Chữ Thập: Từ năm 2014, Trung Quốc bắt đầu cải tạo mở rộng Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) thành đảo nhân tạo lớn nhất quần đảo Trường Sa có diện tích 2,74 km2 (tính đến tháng 7/2015) với tổng kinh phí hơn 73 tỉ nhân dân tệ (11,5 tỉ USD). Trung Quốc xây dựng trên Đá Chữ Thập 9 cầu tàu, 2 bãi đáp trực thăng, 10 ăng ten liên lạc qua vệ tinh và một trạm radar, một đường băng dài 3.000m đủ lớn cho máy bay ném bom chiến lược tại Trường Sa cho phép quân đội Trung Quốc bao quát không phận rộng lớn từ Tây Thái Bình Dương gồm cả Guam (nơi có các căn cứ Mỹ) đến Ấn Độ Dương. Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ (PACOM), Đô đốc Harry Harris, cho biết hiện các vỉa đá ngầm mà Trung Quốc chiếm giữ và xây dựng trái phép ở Biển Đông nhìn giống hệt các căn cứ cho máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, tàu và hoạt động do thám..
Đá Xu Bi: năm 2015 Trung Quốc bắt đầu xây một đường băng dài 3300m trên đá Xu Bi.
Đá Vành Khăn: năm 2015 Trung Quốc bắt đầu xây một đường băng dài 3000m trên đá Vành Khăn.
=== Viễn thông ===
Năm 2005, công ty Smart Communications của Philippines đã cử người ra đảo Thị Tứ để xây một tháp thu phát sóng di động GSM thông qua thiết bị đầu cuối có độ mở rất nhỏ (VSAT). Từ năm 2007, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) của Việt Nam đã cho khảo sát và lắp đặt các trạm thu phát sóng thông tin di động tại một số nơi thuộc Trường Sa. Sau khi được lắp đặt, phạm vi phủ sóng của các trạm là cách các đảo/đá 20 km và còn cho phép binh sĩ đồn trú truy cập Internet không dây công nghệ EDGE 2,75G. Từ tháng 5 năm 2010, Công ty Tập đoàn Thông tin Di động Trung Quốc (China Mobile) và hải quân Trung Quốc đã bắt đầu phủ sóng thông tin di động trên các rạn đá ngầm do nước này kiểm soát, bao phủ tổng diện tích là 280 km². Tại điểm đóng quân chính là đá Chữ Thập còn có một trạm dự phòng. Đầu tháng 2 năm 2013, Thông tấn xã Trung ương của Đài Loan thông báo công ty Trung Hoa Điện Tín (Chunghwa Telecom) đã hoàn tất lắp đặt hệ thống viễn thông tại đảo Ba Bình. Hoạt động thông qua vệ tinh ST-2, hệ thống này không những đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc cho nhân viên của Cục Tuần phòng Bờ biển Đài Loan trên đảo mà còn phủ sóng vùng biển lân cận, hỗ trợ tích cực cho các tàu tuần tra và tàu đánh cá.
== Danh sách thực thể bị chiếm đóng ==
Hiện Việt Nam kiểm soát được 21 thực thể địa lý (7 đảo san hô và cồn cùng 14 ám tiêu san hô), Philippines 10 (7 đảo san hô và cồn cùng 3 ám tiêu san hô), Trung Quốc 7 ám tiêu san hô, Malaysia 7 ám tiêu san hô, Đài Loan 1 đảo san hô và 1 ám tiêu san hô.
== Xem thêm ==
Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở biển Đông
Hải chiến Trường Sa 1988
Quần đảo Hoàng Sa
Hải chiến Hoàng Sa 1974
Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Biến cố đảo Song Tử Tây
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Li, Jinming; Li, Dexia (2003). The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note [Đường đứt đoạn trên bản đồ của Trung Quốc về biển Đông: một ghi chú]PDF (150 KB) (tiếng Anh)
Phạm, Hoàng Quân (2011). Những ghi chép liên quan đến biển Đông Việt Nam trong phương chí Trung HoaPDF (1,25 MB)
Danh sách một số thực thể địa lý và diện tích tương ứng (số liệu của Trung Quốc, trang 2-3)PDF (34,55 KB) (tiếng Anh)
Nam Sa online (tiếng Trung)
西南中沙群岛志 (Tây, Nam, Trung Sa quần đảo chí), Mạng Hải Nam Sử chí (tiếng Trung) |
itunes festival | |
người rơ măm.txt | Người Rơ Măm là một tộc người ở Việt Nam. Tộc này cư trú chính tại làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum.
== Ngôn ngữ ==
Tiếng Rơ Măm thuộc ngữ chi Ba Na của ngữ tộc Môn-Khmer.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Dân số Rơ Măm tại Việt Nam theo điều tra dân số 1999 là 352 người, năm 2009 là 436.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Rơ Măm ở Việt Nam có dân số 436 người, có mặt tại 7 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Rơ Măm cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum (419 người, chiếm 96,1% tổng số người Rơ Măm tại Việt Nam), các tỉnh khác có rất ít như thành phố Hồ Chí Minh (9 người), Đồng Nai (3 người)...
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Rơ Măm sinh sống bằng nghề làm rẫy, lúa nếp là lương thực chủ yếu. Khi gieo trồng, đàn ông cầm hai gậy nhọn chọc lỗ, đàn bà theo sau bỏ hạt giống và lấp đất, săn bắt và hái lượm vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Trong số các nghề phụ gia đình, nghề dệt vải phát triển nhất nhưng ngày nay đã suy giảm vì người Rơ Măm đã quen dùng các loại vải công nghiệp bán trên thị trường.
== Tổ chức cộng đồng ==
Đơn vị cư trú của người Rơ Măm là đê (làng), đứng đầu là một ông già trưởng làng do dân tín nhiệm. Làng Le của người Rơ Măm nay chỉ còn khoảng 10 ngôi nhà ở, có cả nhà rông. Mỗi nhà có từ 10 đến 20 người gồm các thế hệ, có quan hệ thân thuộc với nhau. Các cặp vợ chồng dù vẫn sống chung dưới một mái nhà, nhưng đã độc lập với nhau về kinh tế.
== Hôn nhân gia đình ==
Việc cưới xin của gia đình Rơ Măm gồm 2 bước chính: ăn hỏi và lễ cưới. Sau lễ cưới vài ba ngày, vợ chồng có thể bỏ nhau, nhưng khi đã sống với nhau lâu hơn thì họ không bỏ nhau.
== Tục lệ ma chay ==
Khi có người chết, sau 1-2 ngày đưa đi mai táng. Nghĩa địa nằm về phía Tây của làng, các ngôi mộ được sắp xếp có trật tự, khi chôn, tránh để người dưới mộ "nhìn" về phía làng. Người Rơ Măm không bao giờ làm nghĩa địa phía Đông, vì sợ cái chết sẽ "đi" qua làng như hướng đi của mặt trời.
== Nhà cửa ==
Nhà ở đều có hành lang chính giữa, chạy suốt chiều dài sàn, ở trung tâm nhà có một gian rộng là nơi tiếp khách và diễn ra các sinh hoạt văn hóa nói chung của các gia đình.
== Trang phục ==
Có phong cách riêng trong tạo dáng và trang trí trang phục, đặc biệt là trang phục nữ. Người Rơ Măm có tục "cà răng, căng tai". Đến tuổi trưởng thành, trai gái đều cưa cụt 4 hay 6 răng cửa hàm trên. Hiện nay lớp trẻ đã bỏ tục này. Phụ nữ thích đeo khuyên, hoa tai, vòng tay và đeo những chuỗi cườm ở cổ.
=== Trang phục nam ===
Nam cắt tóc ngắn ở trần, đóng khố. Vạt trước khố dài tới gối, vạt sau dài tới ống chân. Khố thường dùng màu trắng nguyên của vải mộc. Lưng được xăm hoa văn kín, nhất là những người cao tuổi. Trai gái đến tuổi thành niên phải cưa răng ở hàm trên (4 hoặc 6 chiếc).
=== Trang phục nữ ===
Phụ nữ thường để tóc dài búi sau gáy. Áo là loại cộc tay vai thẳng (không khoét cổ như Brâu), thân thẳng, hình dáng gần vuông giống áo Brâu. Aáo màu sáng (màu nguyên của sợi bông) các đường viền cổ và cửa tay cộc màu đỏ. Gấu áo có dải băng trang trí (cao 1/4 thân áo) bằng màu đỏ, hoa văn hình học. Váy là loại váy hở màu trắng nguyên sợi bông. Bốn mép váy và giữa thân váy có các đường viền hoa văn màu đỏ với mô típ hoa văn hình học và sọc ngang. Họ thường đeo hoa tai vòng to, nặng xệ xuống. Người khá giả đeo hoa tai bằng ngà voi, người nghèo đeo hoa tai bằng gỗ. Vòng tay là loại bằng đồng nhiều xoắn. Lý do được chọn của trang phục Rơ Măm chính là màu sắc và phong cách trang trí áo, váy phụ nữ.
== Ẩm thực ==
Dân tộc Rơ Măm có món cá gỏi kiến vàng. Người Rơ Mâm dùng kiến vàng và trứng để nấu canh, trộn gỏi, xào với thịt thú rừng,…nhưng giữ được hương vị thơm ngon nguyên chất nhất chính là cá gỏi kiến vàng. Kiến vàng có rất nhiều quanh khu vực cư trú của người Rơ Mâm. Khi lấy tổ kiến vàng xuống, người ta đặt một chậu nước phía dưới, lấy gọng dao gõ nhẹ cho kiến rơi xuống chậu, rồi nhẹ nhàng tách đôi, lấy trứng kiến ra để riêng. Trứng kiến vàng màu trắng đục, to bằng hạt gạo, có mùi thơm nhẹ.
Cách làm cá gỏi kiến vàng khá đơn giản: Cá suối bắt loại vừa phải, bằng ba ngón tay, đem về làm sạch, băm nhuyễn, vắt cho cạn nước để đỡ mùi tanh. Kiến vàng và trứng giã sơ qua, để ngoài nắng một lúc cho se lại. Lấy muối hột, ớt xanh, tiêu rừng trộn chung cá với kiến vào, thêm chút thính gạo (bột gạo rang cháy xém), dậy lên mùi thơm. Khi ăn lấy lá sung cuốn lại vừa miếng và thưởng thức, vị ngọt của cá suối hòa vào vị béo của trứng kiến, vị cay xé của tiêu ớt tạo nên món ăn ngon.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
== Liên kết ngoài == |
mercia.txt | Mercia ( /ˈmɜrsiə/, /ˈmɜrʃə/) là một trong các vương quốc của thất quốc Anglo-Saxon. Vương quốc này tập trung vào các thung lũng của sông Trent và các nhánh của nó trong khu vực hiện nay được gọi là Trung du Anh. Tên được Latin hóa tiếng Anh cổ là Mierce hoặc Myrce, có nghĩa là "dân biên giới". Các nước láng giền của Mercia gồm có Northumbria, Powys và các vương quốc ở miền nam xứ Wales, Wessex, Sussex, Essex và East Anglia. Tên gọi Mercia vẫn còn trong sử dụng ngày nay bởi một loạt các tổ chức, bao gồm cả các đơn vị quân đội, các cơ quan công cộng, thương mại và tự nguyện, và là một tên cho nữ.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Ian W. Walker. Mercia and the Making of England (2000) ISBN 0-7509-2131-5 (also published as Mercia and the Origins of England (2000) ISBN 0-7509-2131-5)
Sarah Zaluckyj & Marge Feryok. Mercia: The Anglo-Saxon Kingdom of Central England (2001) ISBN 1-873827-62-8
Michelle Brown & Carol Farr (eds). Mercia: An Anglo-Saxon Kingdom in Europe (2005) ISBN 0-8264-7765-8
Margaret Gelling. 'The Early History of Western Mercia'. (p. 184–201; In: The Origins of the Anglo-Saxon Kingdoms. S. Bassett. 1989) (Western Mercia and the upper Trent being the probable cradle of early Mercia).
Simon Schama. A History of Britain: At the Edge of the World? – 3000 BC–AD 1603 Vol 1 BBC Books 2003
Elmes, Simon (2005). Talking for Britain: A Journey Through the Nation’s Dialects. Penguin. ISBN 0-14-051562-3.
Baxter, Stephen (2007). The earls of Mercia: lordship and power in late Anglo-Saxon England. Oxford University Press. ISBN 0-19-923098-6.
McWhirter, Norris (1976). The Guinness Book of Answers. Enfield: Guinness Superlatives Ltd. ISBN 0-900424-35-4.
Bateman, John (1971). The Great Landowners of Great Britain and Ireland. Leicester University Press. SBN 391 00157 4.
Cottle, Basil; Sherborne J.W. (1951). The Life of a University. University of Bristol.
Dow, George (1973). Railway Heraldry.
== Liên kết ngoài ==
Mercian History: History Project
Recensions of manuscripts of the "Hidage"
The Staffordshire Hoard |
chủ nghĩa yêu nước.txt | Chủ nghĩa yêu nước biểu hiện quan điểm tích cực về quê hương của một cá nhân hay tập thể, trong đó quê hương có thể là một vùng, một thành phố nhưng thường gắn với khái niệm quốc gia. Nó gồm những quan điểm như: tự hào về thành tựu hay văn hóa của quê hương, mong muốn bảo vệ những đặc điểm đó, đồng hóa mọi thành viên của quốc gia. Hiện nay chủ nghĩa yêu nước rất gần với chủ nghĩa dân tộc, vì thế chúng hay được dùng như những từ đồng nghĩa. Nếu xét cặn kẽ thì chủ nghĩa dân tộc liên quan tới các học thuyết và phong trào chính trị hơn, trong khi chủ nghĩa yêu nước liên quan tới quan niệm nhiều hơn.Chủ nghĩa yêu nước giúp con người cảm thấy yêu mến, tự hào, có trách nhiệm hơn với quốc gia dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước gắn kết con người trong cùng một đất nước lại với nhau, tạo thành một làn sóng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. .
== Tham khảo == |
samoa.txt | Samoa, tên chính thức Nhà nước Độc lập Samoa, là một quốc gia nằm ở phía Tây Quần đảo Samoa, thuộc Nam Thái Bình Dương. Cũng giống như những người láng giềng Fiji, Tonga, cư dân sinh sống nơi đây có nguồn gốc là người Polynesia di cư sang đây 3500 năm trước.
Trải qua nhiều thời kỳ, quần đảo này có các tên gọi khác nhau (do bị chia cắt):
Samoa: 1900 - 1919
Tây Samoa: 1914 - 1997
Ngày 15 tháng 12 năm 1976, đảo quốc Samoa chính thức được Liên Hiệp Quốc công nhận chủ quyền.
== Lịch sử ==
Theo các nhà khoa học, quần đảo Samoa, cũng như các đảo Fiji và Tonga, có dân cư đến sinh sống từ thế kỷ 5 TCN trong quá trình di cư của các đại diện của văn hóa khảo cổ Lapita từ quần đảo Bismarck, nằm ở Tây Melanesia. Quần đảo Samoa là một trong các trung tâm hình thành văn hóa Polynesia. Từ Samoa đã diễn ra quá trình khai thác các đảo và đảo san hô vòng của khu vực Trung Thái Bình Dương. Người Polynesia, có thể từ Tonga đến, là những cư dân đầu tiên ở quần đảo Samoa khoảng năm 1000 TCN.
Quần đảo Samoa do nhà thám hiểm Hà Lan Roggeveen phát hiện năm 1722, trở thành thuộc địa của Đức năm 1880. Đến cuối thế kỉ 19, những xung đột về quyền lợi giữa Hoa Kỳ, Anh và Đức dẫn đến Hiệp ước 1899, qua đó thừa nhận quyền lợi của Hoa Kỳ gồm các đảo cách 171 kinh độ Tây về phía Tây (Đông Samoa) và quyền lợi của Đức ở các đảo còn lại (Tây Samoa). Sau Chiến tranh thế giới thứ I, Tây Samoa đặt dưới sự ủy trị của New Zealand năm 1920.
Tây Samoa trở thành quốc gia độc lập sau cuộc trưng cầu ý dân được tổ chức tại Liên Hiệp Quốc năm 1962, thành viên của Khối Liên hiệp Anh năm 1970. Nhà vua Malietoa Tanumafili II phản đối quy chế lãnh thổ của Hoa Kỳ và yêu cầu thống nhất vùng Đông Samoa vào lãnh thổ quốc gia. Tây Samoa gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1976 và đổi tên thành Samoa năm 1997. Năm 2002, Thủ tướng New Zealand xin lỗi người dân Samoa vì những đối xử bất công dưới thời New Zealand cai trị.
== Chính trị ==
Trước kia Samoa theo chế độ quân chủ. Hiến pháp Samoa năm 1962 quy định khi nào nhà vua hiện tại là Malietoa Tanumafili II qua đời chế độ quân chủ sẽ được bãi bỏ. Và ngày nay Samoa là quốc gia theo chính thể cộng hòa nghị viện.
Đứng đầu nhà nước là Tổng thống. Đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Tổng thống do Quốc hội bầu, nhiệm kì 5 năm; Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm với sự phê chuần của Quốc hội Cơ quan lập pháp là Quốc hội gồm 49 thành viên, trong đó 47 thành viên do người Samoa bầu. 2 thành viên là do người không thuộc sắc tộc Samoa bầu, nhiệm kì 5 năm. Cơ quan tư pháp hiện tại của Samoa là Tòa án Tối cao Samoa và Tòa Thượng thẩm Samoa.
Các đảng phái chính của Samoa gồm có: Đảng Bảo vệ quyền lợi nhân dân (HRPP) hiện là đảng cầm quyền, Đảng Phát triển dân tộc Samoa (SNDP), Đảng Bảo thủ tiến bộ Samoa, Đảng Toàn dân Samoa (SAPPO) và các đảng đảng nhỏ khác.
== Hành chính ==
Samoa được chia thành 11 quận là: Aana, Aiga-i-le-Tai, Atua, Fa'asaleleaga, Gagaemauga, Gagaifomauga, Palauli, Satupaitea, Tuamasaga, Vaa-o-Fonoti, Vaisigano.
== Địa lý ==
Sanmoa nằm ở phía Tây quần đảo Polynesia, cách New Zealand 2.740 km về phía Đông Bắc và cách Fiji 720 km cũng về phía Đông Bắc. Gồm 9 đảo lớn nhỏ, trong đó Upolu và Savai'i (Savaii) là 2 đảo chính. Địa hình gồm dải đồng bằng hẹp bao quanh vùng núi lửa và các vùng núi sâu trong nội địa có rừng bao phủ. Các đảo này được xếp vào những đảo đẹp nhất ở Nam Thái Bình Dương nhờ những núi lửa, những hang động, những thác nước và những bãi biển trồng dừa sum sê.
== Kinh tế ==
Tây Samoa là nước đang phát triển, nông nghiệp là ngành chủ yếu (chiếm 50% GDP). Kinh tế phụ thuộc nhiều vào viện trợ nước ngoài, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp, cùi dừa, cô ca, chuối, cao su... Các bạn hàng chủ yếu là New Zealand, Úc, Đức, Mỹ. Hiện tại Samoa có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất trong các nước đảo nhỏ ở khu vực Nam Thái Bình Dương; thu nhập bình quân đầu người hơn 5.000 USD/năm.
Nông nghiệp sử dụng khoảng 2/3 lực lượng lao động và chiếm 43,5% diện tích đất trồng. Nông sản chủ yếu gồm chuối, khoai sọ, dừa, cam, quýt, lạc và ca cao. Ngoài các ngành chăn nuôi (bò, lợn), đánh bắt cá biển, khai thác gỗ, ngành du lịch cũng mang lại nguồn thu nhập đáng kể, hơn 70.000 du khách đến Samoa năm 1996. Công nghiệp chiếm 24,3% GDP và 3,6% lao động. Thương mại - tài chính - dịch vụ chiếm 58,5% GDP và 31,5% lao động.
== Tôn giáo ==
Có sự tương đồng giữa niềm tin Thượng đế tạo dựng của Thiên Chúa giáo và truyền thuyết người Samoa và lời tiên tri của Nafanua, vị nữ thần chiến tranh thời danh Samoa rằng: "một tôn giáo mới sẽ nảy sinh tại các đảo", nên người Samoa hoàn toàn dễ dàng chấp nhận sứ điệp của Kitô giáo.
Qua các xung đột với người da trắng, người dân bản xứ nghiệm ra rằng Thiên Chúa của người da trắng có sức mạnh và đại lượng hơn các vị thần linh người Samoa. Do vậy việc gia nhập Kitô giáo của người Samoa không gặp khó khăn khi truyền giáo cho họ.
Tin Mừng Kitô giáo được rao giảng và chấp nhận cách phổ quát đến với toàn dân Samoa trên các đảo. Hiện nay Thiên Chúa giáo là một phần không thể thiếu trong cuộc chính của người Samoa.
Cùng với đức tin, người Samoa cũng coi trọng nền giáo dục Tây Âu cho con cháu họ. Các trường học được dân chúng địa phương hứng khởi ghi tên cho con cái theo học.
Ảnh hưởng của phương Tây cũng làm thay đổi phần nào tục lệ của người Samoa. Nhà truyền giáo Tin Lành, mục sư John Williams, hơn 100 năm trước khi đến đây truyền giáo sau một thời gian có viết bài tường thuật rằng: "Ở đây, các tù trưởng bộ lạc có 6, 7 hay 10 vợ là thường, nhưng dần dần, các tù trưởng thế giá chỉ giữ lại 3 vợ mà thôi".
Trẻ em người Samoa được dậy rằng: "Con đường để có được quyền lực là con đường phục vụ". Do vậy việc cha mẹ người Samoa ra sức ép con cái làm việc trong gia đình, làm việc cho làng xóm và dấn thân cho nhà thờ. Đôi khi các em phải làm việc không ngưng nghỉ, nên giới trẻ không còn giờ nghỉ ngơi.
Thống kê gần đây cho thấy số tín hữu Kitô giáo phân chia theo các giáo hội khác nhau như Mormon 25,8%; Đại giáo đoàn 24,6%; Công giáo Rôma 21,3%; Phong trào Giám Lý 12,2%.
== Dân cư ==
Dân số Samoa hiện nay khoảng 214,265 người; chủ yếu là người Samoa (92,6%); người lai châu Âu và các sắc tộc Polinesia khác 7%; người châu Âu 0,4%. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Samoa và tiếng Anh.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Schnee, Dr. Heinrich [former Deputy Governor of German Samoa and last Governor of German East Africa]. 1926. German Colonization, Past and Future—The Truth about the German Colonies. London: George Allen & Unwin
Eustis, Nelson. [1979] 1980. Aggie Grey of Samoa. Adelaide, South Australia: Hobby Investments. ISBN 0-9595609-0-4
== Liên kết ngoài ==
Official Samoan government Website
Open Directory Project - Samoa directory category
Map: district subdivision
Samoa, A Hundred Years Ago And Long Before by George Turner, an eText available from Project Gutenberg
Myths and Legends of Samoa
Samoa News
Samoan Cuisine/Recipes
Samoan Pe'a (tattoo)
Samoan Cultural Articles
Language (Từ điển song ngữ Anh - Samoa) |
chế lan viên.txt | Chế Lan Viên (1920-1989) là một nhà thơ, nhà văn hiện đại nổi tiếng ở Việt Nam.
== Cuộc đời văn nghiệp ==
Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn, Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.
Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là "Bàn thành tứ hữu" của Bình Định.
Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội. Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942, ông cho ra đời tập văn Vàng sao, tập thơ triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí.
Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh. Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, trong chiến dịch Tà Cơn-đường 9 (Quảng Trị), Chế Lan Viên gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương[1].
Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo Văn học. Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở phòng văn nghệ, Ban tuyên huấn trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo Văn học (sau là báo Văn nghệ). Từ năm 1963 ông là ủy viên thường vụ Hội nhà văn Việt Nam, ủy viên ban thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V và VI, ủy viên Ban văn hóa - giáo dục của quốc hội.
Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, thọ 69 tuổi.
Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).
Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh, cũng là một nhà văn nổi tiếng.
== Phong cách của Chế Lan Viên ==
Con đường thơ của Chế Lan Viên "trải qua nhiều biến động, nhiều bước ngoặt với những trăn trở, tìm tòi không ngừng của nhà thơ"[2], thậm chí có một thời gian dài im lặng (1945-1958).
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ Chế Lan Viên là một thế giới đúng nghĩa "trường thơ loạn": "kinh dị, thần bí, bế tắc của thời Điêu tàn [3] với xương, máu, sọ người, với những cảnh đổ nát, với tháp Chàm". Những tháp Chàm "điêu tàn" là một nguồn cảm hứng lớn đáng chú ý của Chế Lan Viên. Qua những phế tích đổ nát và không kém phần kinh dị trong thơ Chế Lan Viên, ta thấy ẩn hiện hình bóng của một vương quốc hùng mạnh thời vàng son, cùng với nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ.
Sau Cách mạng tháng Tám, thơ ông đã "đến với cuộc sống nhân dân và đất nước, thấm nhuần ánh sáng của cách mạng"[4], và có những thay đổi rõ rệt. Trong thời kì 1960-1975, thơ Chế Lan Viên vươn tới khuynh hướng sử thi hào hùng, chất chính luận, đậm tính thời sự. Sau năm 1975, "thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái "tôi" trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống"[5].
Phong cách thơ Chế Lan Viên rất rõ nét và độc đáo. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ được biểu hiện trong khuynh hướng suy tưởng - triết lý. "chất suy tưởng triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa"[6] Khai thác triệt để các tương quan đối lập. Và nổi bật nhất là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú, độc đáo nhiều ý nghĩa biểu tượng.
== Các bút danh ==
Ngoài bút danh Chế Lan Viên (được hiểu là tác giả tự nhận mình là bông hoa lan trong khu vườn nhà họ Chế- dòng họ vua chúa của dân tộc Chàm ở nước Chiêm Thành xưa) nổi tiếng, trong bài giới thiệu tập tiểu luận Những bước đường tư tưởng của tôi của Xuân Diệu, đăng trên báo Văn học tháng 9 năm 1958, ông ký bút danh Thạch Hãn (tên một con sông tỉnh Quảng Trị quê ông). Nhiều bài báo in trên báo Thống Nhất, xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này.
Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo Văn học, phụ trách chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm 1961, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập Vào nghề và Nói chuyện văn thơ của tác giả Chàng Văn.
Trong mục Nụ cười xuân trên báo Văn học, Chế Lan Viên có hai bài viết ngắn là Ngô bói Kiều và Lý luận Đờ Gôn ký tên Oah (tức Hoan).
== Tác phẩm chính ==
=== Thơ ===
Điêu tàn (1937)
Gửi các anh (1954)
Ánh sáng và phù sa (1960)
Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967)
Những bài thơ đánh giặc (1972)
Đối thoại mới (1973)
Ngày vĩ đại (1976)
Hoa trước lăng Người (1976)
Dải đất vùng trời (1976)
Hái theo mùa (1977)
Hoa trên đá (1984)
Tuyển tập thơ Chế Lan Viên (tập I, 1985; tập II, 1990)
Ta gửi cho mình (1986)
Di cảo thơ I, II, III (1992, 1993, 1995)
Tuyển tập thơ chọn lọc
=== Văn ===
Vàng sao (1942)
Thăm Trung Quốc (bút ký, 1963)
Những ngày nổi giận (bút ký, 1966)
Bác về quê ta (tạp văn, 1972)
Giờ của đô thành (bút ký, 1977)
Nàng tiên trên mặt đất (1985)
=== Tiểu luận phê bình ===
Kinh nghiệm tổ chức sáng tác (1952)
Nói chuyện thơ văn (1960)
Vào nghề (1962)
Phê bình văn học (1962)
Suy nghĩ và bình luận (1971)
Bay theo đường bay dân tộc đang bay (1976)
Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)
Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981)
Ngoại vi thơ (1987)
Nàng và tôi (1992)
== Chú thích ==
^ Có tài liệu ghi ông sinh ngày 14 tháng 1 năm 1920.
^ Thực ra trong thời gian 1945-1950 Đảng Cộng sản Việt Nam không hoạt động công khai mà tuyên bố tự giải tán, chỉ có một bộ phận "công khai" mang tên Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin.
^ Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Long, Trần Hữu Tá, Văn học 12, nhà xuất bản Giáo dục, 2007, trang 119
^ Sđd, trang 119
^ Sđd, trang 119
^ Sđd, trang 119
== Nhận xét ==
"'Chế Lan Viên là nhà thơ luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Ông luôn biết kế thừa, phát huy những tinh hoa của nền văn chương và nhân loại để mang lại cho tác phẩm của mình một vẻ đẹp riêng. Ông có sự nhận thức sâu sắc về chức năng của văn chương và sứ mệnh thiêng liêng của người nghệ sĩ đối với cuộc sống."
"Thành tựu nghệ thuật Chế Lan Viên đã đạt được trong quá trình sáng tạo chính là những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung."
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bài giảng về Chế Lan Viên ở Đại học Cần Thơ |
nagoya.txt | Nagoya (名古屋市, Nagoya-shi, Danh Cổ Ốc Thị) là thành phố lớn thứ tư (vùng đô thị lớn thứ ba) và là thành phố phồn vinh thứ ba ở Nhật Bản. Nằm ở miền duyên hải Thái Bình Dương, thuộc vùng Chubu trung tâm đảo Honshu, đây là trung tâm hành chính của tỉnh Aichi và là một trong 15 đô thị quốc gia của Nhật Bản.
== Tên gọi ==
Tên của thành phố đã được lịch sử viết như 那古野 hoặc 名护屋 (đọc như Nagoya). Một từ nguyên thể cho tên của thành phố là tính từ nagoyaka (, なごやか), Có nghĩa là "hòa bình".
Tên Chukyo (中京, Trung Kinh) cũng được sử dụng (Chu (giữa) + kyō (kinh đô)), vì nó là thành phố chính của vùng Chubu trung tâm. Những điều khác nhau được đặt tên sau khi Chukyo, ví dụ như khu vực Chukyo công nghiệp, Chukyo Metropolitan Area, Chukyo truyền hình phát thanh truyền hình, Đại học Chukyo và Trường đua ngựa Chukyo
== Lịch sử ==
=== Thời kì đầu ===
Oda Nobunaga và bảo trợ của Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu là lãnh chúa đầy sức mạnh ở khu vực Nagoya người dần dần thành công trong việc thống nhất Nhật Bản.
Năm 1610, Tokugawa Ieyasu dời đô của tỉnh Owari từ Kiyosu khoảng bảy cây số đến một vị trí chiến lược tại Nagoya ngày nay.
=== Thời Tokugawa ===
Lâu đài Nagoya, một lâu đài lớn mới, được xây dựng một phần từ nguyên liệu lấy từ Kiyosu Lâu đài Trong quá trình xây dựng, toàn bộ thị trấn của khoảng 60.000 người, trong đó có đền, miếu, di chuyển từ Kiyosu đến mới, thị xã có kế hoạch xung quanh Nagoya Lâu đài. [4] vào khoảng thời gian không xa, đền Atsuta cổ đại được thiết kế như một trạm cách gọi Miya (đền) trên Tōkaidō quan trọng, một con đường liên kết hai thủ đô của Kyoto và Edo (nay là Tokyo). Một thị trấn do đó phát triển xung quanh đền thờ để hỗ trợ du khách. Sự kết hợp của những lâu đài và đền thờ hai thị trấn hình thành những gì chúng ta gọi Nagoya.
=== Thời kì công nghiệp hóa ===
Thông qua những năm tiếp theo Nagoya đã trở thành một trung tâm công nghiệp của khu vực xung quanh. Lĩnh vực kinh tế của nó bao gồm các đồ gốm nổi tiếng của thành phố Tokoname, Tajimi và Seto, cũng như Okazaki, một trong những nơi duy nhất mà thuốc súng đã được sản xuất theo Mạc phủ. Các ngành công nghiệp khác trong khu vực bao gồm bông và búp bê cơ khí phức tạp được gọi là karakuri ningyo.
Một phần của những nỗ lực hiện đại hóa của Minh Trị Duy Tân đã nhìn thấy một cơ cấu lại các tỉnh của Nhật Bản vào tỉnh và chính phủ thay đổi từ chế độ gia đình với các quan chức chính phủ. Nagoya đã được công bố một thành phố trên 01 Tháng 10 năm 1889, và được một thành phố ngày 01 tháng 9 năm 1956 bởi sắc lệnh của chính phủ.
=== Thế chiến II và kỷ nguyên hiện đại ===
Nagoya là mục tiêu của các cuộc tấn công không quân Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu từ ngày 18 tháng 4 năm 1942, với một cuộc tấn công trên một máy bay Mitsubishi Công trình, kho dầu Matsuhigecho, Lâu đài doanh trại quân đội Nagoya, và cuộc chiến tranh ngành công nghiệp nhà máy Nagoya. Vụ đánh bom của Nagoya trong chiến tranh Thế giới II tiếp tục qua mùa xuân năm 1945, và bao gồm nhiều vụ đấnh bom xăng quy mô lớn. Lâu đài Nagoya, mà đã được sử dụng như một chỉ huy quân sự, bị trúng và phá hủy phần lớn vào ngày 14 tháng 5 năm 1945. Việc tái thiết tòa nhà chính được hoàn thành vào năm 1959.
Trong năm 1959, thành phố bị ngập lụt và thiệt hại nặng sau Cơn bão Ise-wan.
== Cảnh quan ==
Một trong những cảnh quan nổi tiếng ở Nagoya là Thành Nagoya (名古屋城 Nagoya-jō) và Đền Atsuta (熱田神宮 Atsuta Jingū).
=== Thành Nagoya ===
Thành Nagoya được xây dựng vào năm 1612. Toà thành được phục hồi vào năm 1959, do đã bị phá huỷ phần lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và nhiều tiện nghi hiện đại được bổ sung trong lúc phục hồi, ví dụ như thang máy. Thành Nagoya rất nổi tiếng với hai con cá kình bằng vàng (金の鯱 Kin no Shachihoko) trên mái nhà. Chúng thường được dùng làm biểu tượng cho Nagoya.
=== Đền Atsuta ===
Đền Atsuta là điện thờ nghiêm trang, tôn kính thứ nhì ở Nhật. Nó lưu giữ thanh kiếm Kusanagi (草薙神剣 Kusanagi no mitsurugi), một trong 3 biểu trưng cho hoàng gia Nhật. Điện thờ tổ chức gần 70 lễ hội mỗi năm, và có rất nhiều người đến thăm viếng đền. Trong điện thờ cũng có hơn 4.400 bảo vật quốc giạ tượng trưng cho 2.000 năm lịch sử của ngôi điện thờ này.
Những điểm tham quan hiện đại có thể kể đến Tháp truyền hình Nagoya và toà tháp trung tâm của Công ty Đường sắt Nhật Bản ở nhà ga Nagoya.
== Dân số ==
Năm 2010, dân số thành phố là 2.258.804 người, mật độ dân số 6.920 người/km² (tổng diện tích 326,45 km²). Diện tích tổng thành quy mô đến tận tỉnh Mie và Gifu, với tổng dân số 9 triệu người, chỉ thua Osaka và Tokyo.
== Giao thông ==
Nagoya có cảng hàng không quốc tế trung tâm Chubu (NGO) ở thành phố Tokoname và sân bay Nagoya nằm ở Komaki và Kasugai. Vào ngày 17 tháng 2 năm 2005, tất cả những chuyến bay thương mại đến sân bay Nagoya (trừ các chuyến bay của hãng J-Air) đã chuyển về sân bay trung tâm Chubu.
Nhà ga Nagoya là nhà ga xe lửa trên mặt đất lớn nhất thế giới.
Hãng Đường sắt Nagoya và Đường sắt Điện lực Kinki Nhật Bản luôn cung cấp các chuyến tàu tới các điểm vùng Tokai và vùng Kansai. Thành phố này cũng có ga tàu điện ngầm Nagoya.
== Kinh tế ==
Ngành công nghiệp chính của Nagoya là công nghiệp ôtô. Rất nhiều công ty sản xuất ôtô của Nhật đều đặt ở Nagoya, giống như ở Mỹ các nhà sản xuất ôtô đều đặt ở Detroit. Tổng hành dinh công ty Toyota đặt ở thành phố lân cận. Tổng công ty bánh kẹo Nhật Bản Marukawa cũng đặt ở Nagoya, rồi công ty đồ gốm Noritake.
Tỷ trọng các hoạt động kinh tế trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2005 như sau:
Dịch vụ 26%
Bán buôn và bán lẻ 20,2%
Chế tạo 12,3%
Hàng hải và Viễn thông 10,4%
Bất động sản 9,8%
Xây dựng 5,8%
Tài chính và bảo hiểm 5,4%
Khác 3,7%
World Expo 2005, hay Aichi Expo được tổ chức trên những khu đồi phía đông Nagoya, thuộc thành phố lân cận Nagakute và Seto. Sự kiện này diễn ra từ 25 tháng 3 đến 25 tháng 9 năm 2005.
== Tham khảo == |
bệnh truyền nhiễm.txt | Bệnh truyền nhiễm là loại bệnh nhiễm trùng có khả năng lây truyền từ người này sang người khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua môi trường trung gian (như thức ăn, đường hô hấp, dùng chung đồ dùng, máu, da, niêm mạc...) và có khả năng phát triển thành dịch.
Nhiễm khuẩn không nhất thiết là có bệnh, tuy thế những người lành mang mầm bệnh vẫn có nguy cơ lấy truyền cho người khác khi gặp điều kiện thuận lợi.
Cũng là bệnh nhiễm trùng nhưng không có khả năng phát triển thành dịch thì không gọi là bệnh truyền nhiễm.
== Đặc điểm chung các bệnh truyền nhiễm ==
Bao giờ cũng do một mầm bệnh gây nên (tính đặc hiệu) Có thể lan truyền bệnh thành dịch Tiến triển có chu kỳ
Chu kỳ đầy đủ của một bệnh truyền nhiễm gồm các thời kỳ sau:
Nung bệnh (ủ bênh): là thời gian từ khi vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể đến khi xuất hiện những triệu chứng lâm sàng đầu tiên.
Khởi phát: là thời kỳ bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng của bệnh, đặc biệt là triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân.
Toàn phát: là thời kỳ bệnh nhân biểu hiện đầy đủ các triệu chứng lâm sàng của một bệnh. Thăm khám và xét nghiệm có thể giúp chẩn đoán và tiên lượng. Các biến chứng cũng hay xuất hiện làm cho bệnh nặng thêm và có nguy cơ tử vong.
Lui bệnh: Là thời kỳ các triệu chứng của bệnh thuyên giảm một cách đột ngột hoặc từ từ. Biến chứng thường thấy trong giai đoạn này là bội nhiễm do quá trình săn sóc điều dưỡng kém hoặc do một bệnh tiềm ẩn bộc phát trên cơ thể người bệnh.
Hồi phục (lại sức): thời kỳ này thường kéo dài chậm chạp. Những bệnh nhân suy nhược, suy dinh dưỡng rất dễ nhiễm một bệnh nhiễm trùng khác như bệnh Lao, Viêm phế quản... Trong lâm sàng thăm khám bệnh rất khó để phân biệt rõ được thời kỳ lui bệnh và hồi phục vì không có dấu hiệu rõ ràng.
== Danh sách các bệnh truyền nhiễm ==
Bệnh cúm, Sốt xuất huyết, Lỵ trực khuẩn, Lỵ amip, Tả, Thương hàn, Viêm gan virus, Viêm màng não mủ, Viêm não Nhật Bản B, Sởi, Quai bị, Thuỷ đậu, Ho gà, Bệnh dại, Sốt rét, Bạch hầu.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
European Center for Disease Prevention and Control
U.S. Centers for Disease Control and Prevention,
Infectious Disease Society of America (IDSA)
Infectious Disease Index of the Public Health Agency of Canada (PHAC)
Vaccine Research Center Information concerning vaccine research clinical trials for Emerging and re-Emerging Infectious Diseases.
Infection Information Resource
Knowledge source for Health Care Professionals involved in Wound management www.woundsite.info
Table: Global deaths from communicable diseases, 2010 - Canadian Broadcasting Corp. |
vàng anh lá lớn.txt | Vàng anh tên khác là là má, mép mé, vàng anh lá lớn (danh pháp hai phần: Saraca dives), là loài cây thuộc chi Vàng anh (Saraca), được Pierre mô tả lần đầu tiên năm 1899..
Vàng anh lá lớn lá cây gỗ nhỏ đến nhỡ, chiều cao cây từ 5-20m, đường kính thân cây tới 25 cm. Dáng tán cây hình tròn, vỏ cây màu nâu xám. Cành non hơi tía sau chuyển màu xanh và già hóa nâu xẫm. Lá kép lông chim từ 5-6 cặp lá chét, lá khi non thường rủ xuống, màu tía. Lá chét hình trứng đến thuôn dài, đầu lá nhọn hoặc có mũi nhọn, đuôi lá tù lệch cuống, lá chét có hệ gân lông chim từ 8-11 cặp gân phụ. Hoa màu vàng, lưỡng tính hoặc đơn tính cùng gốc, cánh đài tiêu biến. Mùa hoa từ tháng 4 - 5, mùa quả từ tháng 7-10.
Cây phân bổ trong rừng thưa đến rậm, ven sông suối dọc thung lũng, độ cao 200- 1000m. Trải rộng miền Nam Trung Hoa (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam) xuống đến Lào và Việt Nam.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Saraca dives tại Wikimedia Commons |
chrysoberyl.txt | Chrysoberyl là một loại khoáng vật nhôm berili có công thức hóa học BeAl2O4. Tên gọi của khoáng vật này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp χρυσός chrysos và βήρυλλος beryllos, nghĩa là "spar trắng-vàng". Mặc dù có tên gọi tương tự, chrysoberyl và beryl là các loại đá quý hoàn toàn khác nhau. Chrysoberyl là loại đá quý tự nhiên có độ cứng xếp hàng thứ 3 vào khoảng 8,5 theo thang độ cứng Mohs, giữa corundum (9) và topaz (8).
Chrysoberyl nguyên thủy có màu lục-vàng và trong suốt đến đục. Khi khoáng vật có màu lục nhạt đến vàng và trong suốt thì nó được dùng làm đá quý. Ba biến thể chính của chrysoberyl là: chrysoberyl lục đến vàng nguyên thủy, mắt mèo hay cymophane, và alexandrit. Chrysoberyl vàng lục được gọi là "chrysolit" dưới thời kỳ Victoria và Edwardia, điều này gây nhầm lẫn do tên gọi này đã được dùng để chỉ olivin ("peridot" là một loại đá quý); tên gọi này đã không còn được sử dụng trong danh pháp ngọc học.
== Alexandrit ==
Alexandrit xuất xứ từ dãy Ural, Nga có màu lục dưới ánh sáng ban ngày và đỏ dưới ánh sáng đèn dây tóc vào ban đêm. Các biến thể khác của alexandrit có thể có màu vàng hoặc hồn dưới ánh sáng ban ngày và đỏ columbine hoặc màu mâm xôi dưới ánh đèn dây tóc ban đêm.
== Cymophan ==
Chrysoberyl chatoyancy đục được gọi là cymophane hay mắt mèo. Từ cymophan có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp nghĩa là 'sóng' và 'dạng', có hiệu ứng mắt mèo. Dạng biến thể này thường chứa các hốc hoặc bao thể dạng que của rutil xuất hiện theo hướng song song với trục c tạo ra hiệu ứng chatoyant thấy được dưới tia sáng đơn sắc chiếu qua tinh thể. Hiệu ứng này cũng được nhìn thấy rõ trong các quý đã gia công ở dạng cabochon vuông góc với trục c. Màu vàng chrysoberyl là do tạp chất Fe3+.
Đá mắt mèo thật sự trở nên nổi tiếng vào cuối thế kỷ 19 khi Duke of Connaught đã đưa ra chiếc nhẫn có khảm đá mắt mèo; điều này cũng đủ để làm cho loại đá này trở nên phổ biến và gia tăng giá trị của nó. Cho đến thời điểm đó, mắt mèo đã chủ yếu có mặt trong bộ sưu tập đá quý và khoáng vật. Nhu cầu tăng cao làm mở rộng các cuộc tìm kiếm nó ở Sri Lanka.
== Tham khảo == |
sản xuất.txt | Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?
Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành ba khu vực:
Khu vực một của nền kinh tế: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản
Khu vực hai của nền kinh tế: Khai thác mỏ, Công nghiệp chế tạo (công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng), Xây dựng
Khu vực ba của nền kinh tế, hay Khu vực dịch vụ. (Xem chi tiết Ngành kinh tế)
Kinh tế học có những cách tiếp cận khác nhau khi bàn về sản xuất.
== Cách tiếp cận của kinh tế chính trị Marx - Lenin ==
Kinh tế chính trị Marx - Lenin bàn về sản xuất từ góc độ của kinh tế chính trị và thể chế.
=== Các yếu tố cơ bản ===
Có ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất là sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động
Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động. Sức lao động mới chỉ là khả năng của lao động còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong thực hiện.
Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình. Đối tượng lao động có hai loại. Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng sản, đất, đá, thủy sản... Các đối tượng lao động loại này liên quan đến các ngành công nghiệp khai thác. Loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt, bông... Loại này là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chế biến.
Tư liệu lao động: là một vật hay các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Tư liệu lao động lại gồm bộ phận trực tiếp tác động vào đối tượng lao động theo mục đích của con người, tức là công cụ lao động, như các máy móc để sản xuất), và bộ phận trực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản xuất như nhà xưởng, kho, sân bay, đường sá, phương tiện giao thông. Trong tư liệu lao động, công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
=== Hai mặt của nền sản xuất ===
Hai mặt của nền sản xuất gồm: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Lực lượng sản xuất gồm người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó con người giữ vai trò quyết định.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất. Quan hệ sản xuất gồm có:
(i) Quan hệ về sở hữu các tư liệu sản xuất, còn gọi tắt là quan hệ sở hữu (ii) Quan hệ về tổ chức, quản lý sản xuất còn gọi là quan hệ quản lý (iii) Quan hệ về phân phối sản phẩm, còn gọi tắt là quan hệ phân phối.
=== Phương thức sản xuất ===
== Cách tiếp cận của kinh tế học tân cổ điển ==
Kinh tế học tân cổ điển, hay kinh tế học vi mô, bàn về sản xuất với cách tiếp cận của chủ nghĩa cận biên (marginalism). Sản xuất là việc tạo ra hàng hóa và dịch vụ có thể trao đổi được trên thị trường để đem lại cho người sản xuất càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Cách tiếp cận này bàn luận nhiều hơn về các chủ đề như: chi phí sản xuất, tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí sản xuất, năng suất lao động cận biên, tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên, v.v...
== Khái niệm sản xuất trong tài khoản quốc gia ==
Liên hiệp quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền.
== Ghi chú ==
== Xem thêm ==
Kinh tế
Hàng hóa |
tin lành.txt | Danh xưng Tin Lành thường được dùng để chỉ một cộng đồng các giáo hội khởi phát từ cuộc cải cách tôn giáo bắt đầu vào thế kỷ 16 bởi Martin Luther. Là tu sĩ Dòng Augustine, mục tiêu ban đầu của Luther là kêu gọi cải cách từ bên trong Giáo hội Công giáo Rôma, về sau ông tách rời khỏi Giáo hội Công giáo và thành lập Giáo hội Luther. Trong khi đó tại Âu châu, nhiều người có quan điểm tương tự như của Luther cũng bắt đầu tách khỏi Công giáo và thành lập các giáo phái khác nhau. Họ được gọi dưới tên chung là Kháng Cách, hay Tân giáo (để phân biệt với cựu giáo là Công giáo). Kháng Cách được xem là một trong ba nhánh chính của Cơ Đốc giáo, cùng với Công giáo Rôma và Chính Thống giáo Đông phương.
Cộng đồng Kháng Cách bao gồm các giáo hội thuộc Cơ Đốc giáo chấp nhận nền thần học của cuộc Cải cách Tin Lành. Nền thần học này từ chối công nhận thẩm quyền của Giáo hoàng, với niềm xác tín rằng chỉ có Kinh Thánh (không phải Truyền thống thánh hoặc quyền giải thích Kinh Thánh dành cho các chức sắc cao cấp của giáo hội) là nguồn chân lý duy nhất, và tin rằng chỉ bởi ân điển của Thiên Chúa mà con người được cứu rỗi. Những luận điểm chính của thần học Kháng Cách được tóm tắt trong Năm Tín lý Duy nhất.
Thuật từ Protestantismus (Kháng Cách), có gốc từ tiếng Latin protestatio nghĩa là tuyên bố hoặc phản đối, được dùng để chỉ thư kháng nghị của các thân vương (trong đó có tuyển đế hầu) và đại diện các thành phố tự do thuộc Thánh chế La Mã chống lại nghị quyết của Hội nghị Speyer lần thứ hai, nghị quyết này tái khẳng định lập trường của Hội nghị Worms chống lại cuộc Cải cách Tin Lành. Lúc ấy, người ta gọi những người ủng hộ thư kháng nghị và lập trường cải cách là người phản kháng hay kháng nghị. Từ đó, thuật từ Kháng Cách, bao hàm nhiều ý nghĩa khác nhau, được dùng để chỉ Cơ Đốc giáo phương Tây không công nhận thẩm quyền của Giáo hoàng. Trước thời điểm xảy ra kháng nghị vào tháng 4 năm 1529, người ta dùng thuật từ evangelisch (gốc từ tiếng Hy Lạp, mang nghĩa là Phúc Âm hay Tin Lành) để gọi những người theo cuộc cải cách.
Trong ý nghĩa rộng lớn hơn, tên gọi Kháng Cách dùng để chỉ các giáo hội khác nhau, tách khỏi Công giáo do chịu ảnh hưởng của Martin Luther và John Calvin, người khởi xướng và lãnh đạo một cuộc cải cách tôn giáo khác tại Geneve, Thuỵ Sĩ. Bên cạnh đó cũng xuất hiện một số phong trào cải cách khác, thường được gọi là Cải cách triệt để. Trong khi đó nhiều nhóm tôn giáo tách khỏi Công giáo cũng được gán cho nhãn hiệu Kháng Cách dù chính họ cũng phủ nhận mọi liên hệ với Luther, Calvin hay với Công giáo.
== Lịch sử ==
Phong trào cải cách bùng nổ đột ngột tại nhiều nơi ở Âu Châu, nhưng tìm thấy sức mạnh của mình tại Đức, nơi cuộc cải cách đã gây ra sự phân hoá sâu sắc giữa các vương hầu đang cai trị các phần lãnh thổ nước này. Tuy nhiên, nguyên nhân của sự bùng nổ nầy có thể giải thích bởi các biến động xảy ra trong suốt hai thế kỷ trước đó tại Tây Âu.
Mầm mống của sự bất ổn âm ỉ bên trong giáo hội và đế quốc được đẩy lên đỉnh điểm khi xảy ra việc dời ngai Giáo hoàng về Avignon, Pháp (1308-1378) và sự tranh chấp giáo quyền giữa hai triều Giáo hoàng tồn tại song song (1378-1416), gây ra chiến tranh giữa các vương hầu, các cuộc nổi dậy của nông dân và mối quan tâm về những thối nát trong lòng hệ thống các tu viện. Nó cũng giới thiệu chủ nghĩa quốc gia như là một nhân tố mới vào thế giới trung cổ. Phong trào phục hưng nhân văn khuyến khích giới khoa bảng quan tâm đến quyền tự do dành cho học thuật. Những cuộc tranh luận sôi nổi được tiến hành tại các viện đại học bàn đến các vấn đề như bản chất của giáo hội, nguồn gốc và giới hạn của thẩm quyền dành cho Giáo hoàng, các công đồng và các vương hầu. Một trong những luận thuyết cấp tiến và gay gắt nhất đến từ John Wycliffe của Đại học Oxford, và sau đó là từ Jan Hus của Đại học Praha. Trong nội bộ Giáo hội Giáo hội Công giáo Rôma, cuộc tranh luận này bị khép lại bởi Công đồng Constance (1414-1418), xử tử Jan Hus và thiêu xác John Wycliffe như là kẻ dị giáo. Dù Công đồng Constance nỗ lực khẳng định và củng cố các khái niệm thời trung cổ về giáo hội và đế quốc, lại không thể giải quyết toàn diện các căng thẳng về ý thức quốc gia cũng như những phản kháng về thần học.
Martin Luther, tu sĩ dòng Augustine và giáo sư tại Đại học Wittenberg, chỉ muốn kêu gọi mở ra các cuộc tranh luận về phép ân xá (indulgence). Truyền thuyết cho rằng Luther đã treo 95 luận đề của mình trên cửa nhà thờ lâu đài Wittenberg, nơi dành để treo các thông báo của viện đại học. Tuy nhiên, những phản đối của ông đã thổi bùng lên sự bất mãn âm ỉ từ lâu trong sự đè nén.
Xảy ra cùng lúc với những biến động lại Đức là một phong trào khởi phát tại Thuỵ Sĩ dưới sự lãnh đạo của Huldreich Zwingli. Vẫn tồn tại một số bất đồng giữa hai phong trào này dù họ chia sẻ với nhau một mục tiêu chung và đồng ý với nhau về hầu hết các vấn đề liên quan.
Sau khi Giáo hoàng quyết định trục xuất Luther và lên án cuộc cải cách, các tác phẩm của John Calvin tạo nên nhiều ảnh hưởng trong việc thiết lập một sự đồng thuận tương đối giữa các nhóm cải cách khác nhau tại Thuỵ Sĩ, Scotland, Hung Gia Lợi, Đức và những nơi khác. Việc Anh giáo tách rời khỏi La Mã dưới thời trị vì của Henry VIII, khởi đầu từ năm 1529 và hoàn tất vào năm 1536, đem Vương quốc Anh đồng hành với cuộc cải cách. Dù vậy, những thay đổi tại Anh được tiến hành dè dặt hơn các nơi khác ở Âu châu và người Anh chọn con đường trung dung giữa cựu giáo và tân giáo. (Ngày nay, về thần học, nhiều người Anh vẫn xem mình là Công giáo cải cách hơn là Kháng cách). Như thế phương Tây đã vĩnh viễn bị chia cắt thành hai phần: Giáo hội Công giáo Rôma và Kháng Cách.
Về học thuật, phong trào Kháng Cách – chịu ảnh hưởng thời kỳ phục hưng và được hậu thuẫn bởi những viện đại học ở Tây Âu – thu hút giới trí thức, chính trị gia, giới chuyên môn, thương gia và thợ thủ công. Kỹ thuật in ấn đang phát triển giúp quảng bá tư tưởng Kháng Cách, cũng như trợ giúp hữu hiệu cho việc ấn hành những bản dịch Kinh Thánh sang các ngôn ngữ địa phương. Các khái niệm về sự tự do của lương tâm và quyền tự do cá nhân, nảy sinh từ thời kỳ sơ khai của phong trào Kháng Cách, được định hình và phát triển qua một thời gian dài liên tục đối kháng với thẩm quyền của Giám mục thành Rôma và hệ thống tăng lữ của Giáo hội Công giáo. Dần dà, phong trào Kháng Cách vượt qua những giới hạn truyền thống, tập chú vào các vấn đề như lương tâm cá nhân, gieo mầm cho sự phát triển của tiến trình dân chủ hóa, và cho phong trào Khai sáng (Enlightenment), xảy ra trong các thế kỷ sau.
== Thần học căn bản ==
Có năm chữ La tinh có thể miêu tả niềm xác tín thần học của người Kháng cách, dù không phải tất cả trong số họ đều tin như vậy:
Solus Christus (Duy Chúa Cơ Đốc): Chỉ có Chúa Cơ Đốc là đấng hoà giải giữa Thiên Chúa và con người (I Ti:2.5). Ngoài một mình Chúa Giê-xu ra, không có một ai khác có thể làm trung gian hòa giải hoặc cầu thay cho con người, kể cả Mẹ Maria, các sứ đồ và thánh đồ đã tử vì đạo.
Sola Scriptura (Duy Thánh Kinh): Tín hữu Kháng Cách tin rằng truyền thống tông đồ chỉ có thể xuất phát từ các tông đồ là những người được chọn bởi chính Chúa Giê-xu Cơ Đốc, và như thế các truyền thống này chỉ có thể tìm thấy trong Kinh Thánh được viết bởi các tông đồ (I Côr 11.2; Ga: 1.8; II Tês: 2.15), vì vậy Thánh kinh là thẩm quyền duy nhất cho lời giáo huấn của các tông đồ. Tín đồ Kháng Cách tin rằng chỉ có Kinh Thánh là chân truyền từ các tông đồ, hợp pháp và là chuẩn mực cho đức tin. Tín hữu Kháng Cách bác bỏ đức tin Công giáo cho rằng Giám mục thành La Mã (Giáo hoàng) là Tông đồ của Chúa Giê-xu và giáo huấn của Giáo hoàng có thẩm quyền tông đồ.
Sola Fide (Duy đức tin): Trái với giáo lý Công giáo về công đức (Giacơ:2.24: ICôr: 13.2), về sự ăn năn và phép ân xá, sự cầu nguyện và lễ cầu siêu cho người chết, công đức của các thánh và của người tử đạo và về ngục luyện tội, tín đồ Kháng Cách tin rằng mọi tín hữu đều là thầy tế lễ, được hoà giải với Thiên Chúa chỉ bởi đức tin vào Chúa Giê-xu mà thôi (Rô:3.28; Eph:2.8-9).
Sola Gratia (Duy ân điển): Đối nghịch với giáo lý Công giáo cho rằng cả đức tin và công đức là cần thiết cho sự xưng công bình (Eph:2.8-9; Gal:5.6), các nhà cải cách tin rằng sự cứu rỗi hoàn toàn là sự ban cho từ Thiên Chúa, vận hành bởi Chúa Thánh Linh, do sự cứu chuộc của Chúa Giê-xu, chứ không bởi công đức của tín hữu (Xem Năm Tín lý Duy nhất).
Soli Deo Gloria (Duy Chúa được tôn cao): đối nghịch với niềm tin cho rằng con người sống để khẳng định cái tôi và thể hiện chính mình cho người khác xem thấy, các nhà cải chánh cho biết Kinh Thánh khẳng định rằng mục đích sống duy nhất mà Thiên Chúa ban cho con người, đó là để sống vì Thiên Chúa và tôn cao Thiên Chúa (Côlôse 1:16; Êsai 43:6-7, 21; 2Côrinhtô 5:15).
== Những phong trào ảnh hưởng đến Kháng Cách ==
Người ta có thể xác định được khuynh hướng thần học của một tín hữu Kháng Cách nếu biết được người ấy chịu ảnh hưởng của phong trào nào tính từ cuộc cải cách tại Đức và Phong trào Thanh giáo (Puritan) tại Anh cho đến nay.
=== Phong trào Giám lý ===
Phong trào Giám Lý (Methodist) bắt đầu vào thế kỷ 18, từ cuộc cải cách Thanh giáo tại Anh, chịu ảnh hưởng của Phong trào Sùng tín (Pietist) tại Đức, sau đó trở về Anh trong mô hình mới thông qua John Wesley và giáo hội Giám Lý cũng như các nhóm tôn giáo nhỏ khác như Quaker. Tích cực trong sống đạo, dấn thân trong công tác xã hội, sâu nhiệm trong kinh nghiệm thuộc linh là những đặc điểm của phong trào Giám Lý. Từ đây hình thành nên Phong trào Thánh khiết (holiness movement), tập chú vào trải nghiệm thánh hóa trong đời sống của tín hữu.
=== Phong trào Tin Lành ===
Phong trào Tin Lành (Evangelicalism) khởi phát từ cuối thế kỷ 18, khi các cuộc phục hưng tôn giáo bùng phát trong các giáo phái khác nhau hình thành nên phong trào này. Tín đồ Tin Lành tập chú vào kinh nghiệm qui đạo, sự sùng tín của mỗi cá nhân, nghiên cứu Kinh Thánh và vấn đề đạo đức của xã hội, bao gồm tính tiết độ, các giá trị gia đình và sự bình đẳng. Họ bác bỏ chủ nghĩa hình thức trong thờ phụng, giáo nghi và thần học.
=== Phong trào Ngũ Tuần ===
Phong trào Ngũ Tuần (Pentecostalism) khởi phát từ Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20, bắt nguồn từ phong trào Thánh khiết. Phong trào này chú trọng vào việc tìm kiếm các ân tứ (gift) của Chúa Thánh Linh được chép trong Tân Ước. Khẳng định việc nói tiếng lạ là chứng cớ của "báp têm bởi Thánh Linh" đã trở nên đặc điểm của phong trào này. Họ cũng tập chú vào việc chữa bệnh bởi đức tin và thực hành các phép lạ. Dưới ảnh hưởng của phong trào này, nảy sinh hàng trăm giáo phái tại Hoa Kỳ. Cũng phát sinh từ đây Phong trào Ân tứ (charismatic movement).
=== Phong trào Tự do ===
Phong trào Tự do (Liberalism) nhằm giải thích Thánh Kinh theo cách mới sao cho thích hợp với nhân sinh quan đương thời, phong trào tạo nhiều ảnh hưởng trong các giáo hội truyền thống của cộng đồng Kháng cách, đặc biệt vào cuối thế kỷ 19 với Phong trào Tân phái (Modernist) và Phê bình Kinh Thánh.
=== Phong trào Nền tảng ===
Phong trào Nền tảng (Fundamentalism) nhấn mạnh đến những điểm nền tảng của thần học Kháng Cách nhằm bác bỏ các quan điểm của phong trào Tự do, đặc biệt là phương pháp phê bình Kinh Thánh. Phong trào này bộc phát vào thế kỷ 20 chủ yếu tại Hoa Kỳ và Canada trong vòng các giáo phái thuộc phong trào Tin Lành. Họ đặc biệt nhấn mạnh vào thẩm quyền và tính trọn vẹn của Kinh Thánh.
=== Phong trào Tin Lành Hiện đại ===
Phong trào Tin Lành Hiện đại (Neo-evangelicalism) bắt nguồn từ phong trào Nền tảng nhưng cố gắng làm giảm nhẹ các quan điểm cực đoan, cùng lúc bổ sung các khuynh hướng mới như hội nhập vào xã hội, dấn thân vào các công tác xã hội, phối hợp ở quy mô lớn công tác truyền bá Phúc âm, nâng cao học thuật biện giáo (apologetics).
== Các giáo phái Kháng Cách ==
Tín hữu Kháng Cách thường thích gọi các giáo hội của họ là giáo phái (denomination), ngụ ý rằng các giáo hội, trong cách nhìn của họ, chỉ là một phần trong toàn thể Hội thánh chung.
Trái với những gì người ta thường nghĩ về các nhà cải cách, khái niệm về hội thánh phổ quát, hoặc hội thánh chung (công giáo) không hề bị bác bỏ trong cộng đồng Kháng Cách. Ngược lại, sự hiệp nhất vô hình của hội thánh chung được các nhà cải cách xem là giáo lý quan trọng trong nền thần học Kháng Cách. Những nhà cải cách như Martin Luther, John Calvin, và Ulrich Zwingly tin rằng họ đang nỗ lực cải cách hội thánh chung đang đắm chìm trong dị giáo và thối nát, bác bỏ các cáo buộc cho rằng họ đang tách khỏi hội thánh chung, và bày tỏ niềm xác tín rằng họ đang cố đem hội thánh trở lại với các giáo huấn và các giá trị của hội thánh tiên khởi. Do đó, khái niệm về sự hiệp nhất của hội thánh chung vẫn được xem là yếu tố nền tảng trong các giáo hội thuộc cộng đồng Kháng Cách.
Một trong những kết quả trực tiếp của cuộc Cải cách Tin Lành là sự hình thành các giáo hội cấp quốc gia. Song, trong quan điểm của các nhà cải cách, các giáo hội này cũng chỉ là một phần trong hội thánh chung. Như vậy, các giáo hội cải cách thuộc về hội thánh chung, lập nền trên Năm Tín lý Duy nhất, và bác bỏ thẩm quyền của Giáo hoàng.
Ít có sự khác biệt về thần học giữa các giáo phái, và các giáo phái được thành lập thường dựa trên các đặc thù về địa dư và bộ máy tổ chức, với sự tập chú đặc biệt vào sự hiệp nhất trong hội thánh vô hình – quy tụ những người được cứu bởi huyết của Chúa Giê-xu, vượt lên trên ranh giới của các tổ chức giáo hội "hữu hình" trên trần thế.
Phần lớn tín hữu Kháng Cách gia nhập vào một trong các cộng đồng Kháng Cách sau:
Calvinist/ Cải cách/ Trưởng Lão
Giáo hội Luther
Baptist
Giám Lý
Anh giáo
Ngũ Tuần
Nhiều phong trào đại kết ra đời trong nỗ lực liên kết và tái tổ chức các giáo hội Kháng Cách, nhưng chỉ có được những kết quả hạn chế. Hầu hết các giáo phái Kháng Cách đều đồng thuận với nhau về các giáo lý quan trọng cùng các giá trị căn cốt trong đức tin Cơ Đốc, và tôn trọng sự khác biệt trong quan điểm liên quan đến các vấn đề không quan trọng trong thần học, giáo nghi và tổ chức. Khó có được con số chính xác, nhưng ước tính hiện có khoảng "33 000 giáo phái hiện diện trên 238 quốc gia".
Có khoảng 593 triệu tín hữu Kháng Cách trên toàn thế giới, bao gồm 170 triệu tại Bắc Mỹ, 140 triệu tại Phi Châu, 120 triệu tại Âu Châu, 70 triệu tại châu Mỹ La tinh, 60 triệu tại Á Châu và 10 triệu tại Úc Châu. Như vậy cộng đồng Kháng Cách chiếm khoảng 27% tổng số gần 2 tỉ tín hữu Cơ Đốc giáo.
== Truyền giáo ==
Suốt gần 100 năm sau cuộc Cải cách Tin Lành, do bị vướng bận vào cuộc đấu tranh sinh tồn với Giáo hội Công giáo Rôma, cộng đồng Kháng Cách không mấy quan tâm đến công cuộc truyền giáo.
Song, trong các thế kỷ tiếp theo, ngày càng có nhiều nhà truyền giáo Kháng Cách được gởi đến nhiều xứ sở trên khắp thế giới để công bố thông điệp Cơ Đốc cho các dân tộc. Tại Bắc Mỹ, trong số các nhà truyền giáo tiếp xúc với người Mỹ bản địa có Jonathan Edwards, nhà thuyết giáo nổi tiếng của cuộc Đại Thức tỉnh, từ năm 1750, ông dành phần còn lại trong đời để chuyên tâm truyền giáo cho người dân bộ lạc Housatonic, và giúp họ chống lại sự bóc lột của người da trắng.
=== Giáo hội Moravian ===
Giáo hội Moravian đặc biệt quan tâm đến công cuộc truyền giáo. Khi giáo hội chỉ quy tụ 300 tín hữu tại Herrnhut, họ đã cử người đi truyền giáo. Trong vòng 30 năm, giáo hội đã gởi hàng trăm giáo sĩ đến nhiều nơi trên thế giới như vùng Ca-ri-bê, Bắc Mỹ và Nam Mỹ, Bắc Cực, Phi châu, và vùng Viễn Đông.
Họ là giáo hội Kháng Cách đầu tiên thi hành mục vụ cho người nô lệ, cũng là những nhà truyền giáo Kháng Cách đầu tiên tìm đến những vùng đất mới để quảng bá thông điệp phúc âm. Từ năm 1732, đã có một cơ sở truyền giáo Moravian được thiết lập trên đảo St Thomas thuộc vùng Ca-ri-bê.
=== William Carey ===
Tại Anh khoảng năm 1780, một người thợ đóng giày trẻ tuổi tên William Carey bắt đầu đọc một quyển sách của Jonathan Edwards viết về một mục sư đã quá cố, David Brainerd, người đã tận tụy giúp đỡ người da đỏ ở Bắc Mỹ bằng cách mở trường học và rao giảng phúc âm; Carey cũng bị thu hút bởi những chuyến du hành của James Cook khám phá quần đảo Polynesia. Từ đó, ông chú tâm đến trách nhiệm truyền giáo cho các dân tộc trên thế giới. Carey tự học tiếng Hi Lạp, Hebrew, Ý, Hà Lan, Pháp, và tìm đọc nhiều sách.
Năm 1792, Carey viết tiểu luận nổi tiếng Tra vấn về Bổn phận của Cơ Đốc nhân sử dụng mọi phương tiện để đem người khác đến với Đức tin Cơ Đốc. Không phải là một cuốn sách thần học khô khan, Carey sử dụng những dữ liệu địa lý và dân tộc học tốt nhất thời ấy để vẽ bản đồ và trình bày số lượng các dân tộc cần nghe Phúc âm, giúp khởi phát phong trào truyền giáo bùng nổ mạnh mẽ cho đến nay. Sau 34 năm hoạt động truyền giáo, năm 1834, Carey từ trần tại Serampore, Ấn Độ.
=== Thomas Coke ===
Thomas Coke, Giám mục đầu tiên của Giáo hội Giám Lý Mỹ, được gọi là "Cha đẻ công cuộc truyền giáo Giám Lý". Sau một thời gian ở Mỹ để cùng Giám mục Francis Asbury gây dựng hội thánh còn non trẻ, Coke rời tân thế giới để hiến mình cho công cuộc truyền giáo ở Tây Ấn. Khi ở Mỹ, ông đã hoạt động tích cực để tìm kiếm sự hỗ trợ cho các cơ sở truyền giáo, đồng thời tuyển dụng thêm nhân lực.
Dù qua đời năm 1803 khi đang trên tàu đến Sri Lanka để mở cơ sở truyền giáo mới, di sản của ông để lại cho các tín hữu Giám Lý – lòng nhiệt huyết cho công cuộc truyền giáo - vẫn còn đến ngày nay.
=== Hudson Taylor và Hội Truyền giáo Nội địa Trung Hoa ===
Làn sóng truyền giáo kế tiếp, khởi phát từ đầu thập niên 1850, chủ trương tiến sâu vào nội địa, với Hudson Taylor và Hội Truyền giáo Nội địa Trung Hoa. Năm 1883, Henry Grattan Guinness thành lập Đại học Cliff để đào tạo và cung ứng giáo sĩ cho hội truyền giáo.
Taylor chủ trương hội nhập với người dân địa phương, ông mặc trang phục Trung Hoa và nói tiếng Hoa ngay cả khi ở nhà. Các tác phẩm, những bài diễn thuyết, và đời sống của Taylor là nhân tố giúp hình thành nhiều tổ chức truyền giáo, trong đó có Phong trào Sinh viên Tình nguyện (SVM). Từ năm 1850 đến 1950, phong trào này đã gởi đi gần 10 000 nhà truyền giáo, nhiều người trong số họ đã thiệt mạng do không hợp với thổ nhưỡng địa phương.
=== Hội nghị Truyền giáo Edinburgh 1910 ===
Năm 1910, Hội nghị Truyền giáo Edinburgh được tổ chức ở Scotland dưới quyền chủ tọa của John Mott (khôi nguyên giải Nobel Hòa bình năm 1946), nhà lãnh đạo tích cực của SVM và là một tín hữu Giám Lý. Hội nghị xem xét tình trạng truyền bá phúc âm, phiên dịch Kinh Thánh, vận động sự hỗ trợ của hội thánh, và huấn luyện giới lãnh đạo địa phương. Hội nghị không chỉ thiết lập cơ chế hợp tác liên giáo hội cho công cuộc truyền giáo mà còn lập nền cho phong trào đại kết tôn giáo.
=== Hội Phiên dịch Kinh Thánh Wiclyffe ===
Năm 1935 chứng kiến sự ra đời của làn sóng truyền giáo khởi phát bởi hai nhà truyền giáo Cameron Townsend và Donald McGavran. Nhận thấy rằng dù đã tiếp cận nhiều khu vực địa lý khác nhau, vẫn còn nhiều nhóm dân tộc bị cô lập bởi lý do ngôn ngữ hoặc giai cấp, Cameron thành lập Hội Phiên dịch Kinh Thánh Wycliffe chuyên tâm phiên dịch Kinh Thánh ra các ngôn ngữ địa phương, còn McGavran tập chú vào nỗ lực xóa bỏ các rào cản văn hóa và giai cấp tại những xứ sở như Ấn Độ, đất nước này có 4 600 ngôn ngữ, dân chúng bị chia cắt bởi sự khác biệt trong ngôn ngữ, văn hóa, và giai cấp.
Một khía cạnh quan trọng trong chiến lược truyền giáo là chính người địa phương thiết kế phương pháp tiếp cận với đồng bào của họ. Tại châu Á, chiến lược này được khởi xướng bởi những nhân vật như Tiến sĩ G. D. James của Singapore, Mục sư Theodore Williams của Ấn Độ, và Tiến sĩ David Cho của Hàn Quốc.
Đi đôi với nỗ lực truyền tải thông điệp Cơ Đốc, các tổ chức truyền giáo thường cung ứng cho người dân địa phương các loại dịch vụ y tế và phúc lợi. Hàng ngàn trường học, trại mồ côi, và bệnh viện được thành lập bởi các cơ sở truyền giáo.
== Tin Lành tại Việt Nam ==
Đức tin Kháng Cách được truyền bá tại Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 do nỗ lực của các nhà truyền giáo thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (Christian and Missionary Aliance; C&MA). Năm 1911 thường được kể là năm đánh dấu Kháng Cách đến Việt Nam. Hội thánh Tin Lành Việt Nam (The Evangelical Church of Vietnam) cho đến nay vẫn là giáo hội Kháng Cách lâu đời nhất và có số tín hữu đông nhất tại Việt Nam. Có lẽ vì lý do này thuật từ Tin Lành (Evangelical) thường được dùng như một từ đồng nghĩa với Kháng Cách (Protestant), mà tại Việt Nam, danh xưng Tin Lành thường được dùng để thay thế cho Kháng Cách. Tin Lành hay Phúc Âm có nghĩa là tin tức tốt lành theo cách gọi của các nhà truyền giáo đầu tiên của Kháng Cách tại Việt Nam.
Theo những ước tính khác nhau, có khoảng từ 1 triệu đến hơn 1,4 triệu tín hữu thuộc cộng đồng Kháng Cách tại Việt Nam, phần lớn tập trung ở miền Nam. Tin Lành được xem là một trong những tôn giáo phát triển nhanh nhất trên đất nước này.
== Xem thêm ==
Cải cách Tin Lành
Martin Luther
John Calvin
Huldrych Zwingli
Anh giáo
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
=== Ủng hộ ===
"Kinh Thánh Tin Lành Mỗi Ngày" Kinh Thánh Tin Lành Mỗi Ngày
"Godislove.vn - Tin Lanh La Gi ?" Tin Lanh in Vietnam - Đạo Tin Lành là gì ?
"Is Sola Scriptura a Protestant Concoction?" by Greg Bahnsen
"Why Protestants Still Protest" by Peter J. Leithart from First Things
=== Phê phán ===
Catholic websites on sola scriptura
"Protestantism" from the 1917 Catholic Encyclopedia
"Why Only Catholicism Can Make Protestantism Work" by Mark Brumley
=== Ảnh hưởng ===
Vnchristian.com - Thư viện Tin lành tiếng Việt lớn nhất thế giới
"Evangelism Explosion - Chứng Đạo Sâu Rộng" Ảnh Hưởng Với Người Việt Nam
The Future of American Protestantism from Catalyst (United Methodist perspective)
Protestantism - Christianity in View
Hội Thanh niên Tin Lành Việt Nam tại Mỹ
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam tại Úc Châu
Phát Thanh Tin Lành Hy Vọng từ Úc Châu
Tin Lành cho người Việt
Người Tin Lành - VietChristian
Tin lành Việt Nam |
zsa zsa gabor.txt | Zsa Zsa Gabor ( /ˈʒɑːʒɑː ˈɡɑːbɔr,_ɡəˈbɔr/ ZHAH-zhah GAH-bor; tên khai sinh Sári Gábor; 6 tháng 2 năm 1917 – 18 tháng 12 năm 2016) là một nữ diễn viên người Mỹ gốc Hungary. Chị em của bà là nữ diễn viên Eva Gabor và Magda Gabor.
Gabor bắt đầu sự nghiệp sân khấu của mình ở Vienna và đăng quang ngôi vị Miss Hungary năm 1936. Bà di cư đến Hoa Kỳ vào năm 1941 và trở thành một nữ diễn viên được nhiều người theo đuổi với "sự tinh tế và phong cách châu Âu", với một tính cách "toát ra sự quyến rũ và duyên dáng". Vai diễn điện ảnh đầu tiên của bà là một vai phụ trong Lovely to Look At. Sau đó bà tham gia đóng phim We're Not Married! và đóng một vai trong vài vai nữ chính của bà trong bộ phim Moulin Rouge (1952), do John Huston đạo diễn. Huston sau đó đã miêu tả bà là một nữ diễn viên "đáng tin cậy".
Bên ngoài sự nghiệp diễn xuất, Gabor đã được biết đến với lối sống xa hoa Hollywood, cá tính quyến rũ, và nhiều cuộc hôn nhân của mình. Bà đã có chín người chồng, trong đó có ông trùm khách sạn Conrad Hilton và diễn viên George Sanders. Bà đã có lần nói, "Đàn ông luôn thích tôi và tôi luôn luôn thích những người đàn ông nhưng tôi thích một người đàn ông chất đàn ông, một người đàn ông biết làm thế nào để nói chuyện và đối xử với một người phụ nữ - không chỉ là một người đàn ông có cơ bắp."
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Zsa Zsa Gabor tại Internet Movie Database
Zsa Zsa Gabor trên trang TCM Movie Database
LIFE With Zsa Zsa Gabor: Rare Photos, 1951; slideshow by Life Magazine
Zsa Zsa Gabor's appearance on This Is Your Life
Obituary: Zsa Zsa Gabor From BBC News |
nhóm nguyên tố 11.txt | Nhóm nguyên tố 11 là nhóm gồm 4 nguyên tố đồng (Cu), bạc (Ag), vàng (Au) và roentgeni (Rg) trong bảng tuần hoàn, nhóm này còn có tên gọi khác là nhóm đồng. Các kim loại trong nhóm này có tính không gỉ, độ dẫn điện của chúng cao nên thường là chất đúc tiền kim loại, làm đồ trang sức hay dây dẫn điện,...
== Tham khảo == |
cờ asean.txt | Lá cờ ASEAN tượng trưng cho sự hòa bình, bền vững, đoàn kết và năng động của ASEAN. Bốn màu của lá cờ là: xanh, đỏ, trắng và vàng. Màu xanh tượng trưng cho hòa bình và sự ổn định. Màu đỏ thể hiện động lực và can đảm. Màu trắng nói lên sự thuần khiết còn màu vàng tượng trưng cho sự thịnh vượng.
Cờ ASEAN được lấy biểu tượng là thân cây lúa do các nước ở Đông Nam Á chủ yếu là các nước nông nghiệp. 10 thân cây lúa thể hiện ước mơ của các nhà sáng lập ASEAN cho một ASEAN với sự tham dự của 10 nước Đông Nam Á, cùng nhau gắn kết tạo dựng tình bạn và sự đoàn kết. Vòng tròn tượng trưng cho sự thống nhất.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh) ASEAN - Official description of the flag
(tiếng Anh) ASEAN Charter
(tiếng Anh) Flag of the World - Description at FotW along with history |
quốc kỳ ghana.txt | Quốc kỳ Ghana hiện nay được chính thức thông qua sử dụng vào năm 1957 và sau đó được chọn lại làm quốc kỳ vào năm 1966. Quốc kỳ Ghana gồm ba dải màu đều nhau nằm ngang theo thứ tự từ trên xuống là đỏ, vàng và xanh lá cây. Ở giữa dải màu vàng có một ngôi sao năm cánh màu đen.
Tổng thống đầu tiên của Ghana kể từ khi nước này giành được độc lập, ông Kwame Nkrumah là người đầu tiên giới thiệu và phổ biến việc sử dụng những màu sắc đỏ, vàng, xanh lá cây và đen cho quốc kỳ các nước châu Phi. Những màu sắc này bắt nguồn từ những màu trên cờ của Ethiopia thế kỉ 19, đất nước châu Phi duy nhất chống lại thành công sự đô hộ của thực dân phương Tây. Nhiều lá cờ của các nước châu Phi khác cũng sử dụng những màu này để thể hiện tinh thần độc lập dân tộc và chống chủ nghĩa thực dân.
Quốc kỳ Ghana hiện này được bà Theodosia Okoh thiết kế và chính thức được sử dụng vào năm 1957, lúc Ghana vừa giành được độc lập từ Liên Hiệp Anh. Tuy nhiên trong khoảng thời gian 1964-1966, là cờ này đã được thay thế bằng một lá cờ tương tự nhưng với dải màu vàng chuyển thành màu trắng để rồi đến năm 1966 lại được khôi phục và sử dụng cho đến tận ngày nay.
Về ý nghĩa, ngôi sao màu đen trên lá cờ tượng trưng cho ngôi sao chỉ phương của người châu Phi trên con đường giành độc lập tự do. Màu đỏ trên lá cờ tượng trưng cho máu của những người đã ngã xuống vì nền độc lập, màu vàng tượng trưng cho sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và màu xanh tượng trưng cho sự giàu có, phì nhiêu của đất nước.
== Xem thêm ==
Danh sách quốc kỳ
== Tham khảo == |
đồng.txt | Đồng là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Cu và số nguyên tử bằng 29. Đồng là kim loại dẻo có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao. Đồng nguyên chất mềm và dễ uốn; bề mặt đồng tươi có màu cam đỏ. Nó được sử dụng làm chất dẫn nhiệt và điện, vật liệu xây dựng, và thành phần của các hợp kim của nhiều kim loại khác nhau.
Đồng là một trong số ít các kim loại xuất hiện trong tự nhiên ở dạng kim loại có thể sử dụng trực tiếp thay vì khai thác từ quặng. Do đó nó có được con người sử dụng từ rất sớm khoảng 8000 TCN. Nó là kim loại đầu tiên được nung chảy từ quặng của nó vào khoảng 5000 TCN, kim loại đầu tiên được đúc thành khối vào khoảng 4000 TCN và kim loại đầu tiên được tạo thành hợp kim với các loại khác, là thiếc để tạo ra đồng đỏ vào khoảng 3500 TCN.
Kim loại và các hợp kim của nó đã được sử dụng cách đây hàng ngàn năm. Trong thời kỳ La Mã, đồng chủ yếu được khai thác ở Síp, vì thế tên gọi ban đầu của kim loại này là сyprium (kim loại Síp), sau đó được gọi tắt là сuprum. Các hợp chất của nó thường tồn tại ở dạng muối đồng(II), chúng thường có màu xanh lam hoặc xanh lục của các loại khoáng như ngọc lam và trong lịch sử đã được sử dụng rộng rãi làm chất nhuộm. Các công trình kiến trúc được xây dựng có đồng bị ăn mòn tạo ra màu xanh lục verdigris (hoặc patina).
Các ion đồng(II) tan trong nước với nồng độ thấp có thể dùng làm chất diệt khuẩn, diệt nấm và làm chất bảo quản gỗ. Với số lượng đủ lớn, các ion này là chất độc đối với các sinh vật bậc cao hơn, với nồng độ thấp hơn, nó là một vi chất dinh dưỡng đối với hầu hết các thực vật và động vật bậc cao hơn. Nơi tập trung đồng chủ yếu trong cơ thể động vật là gan, cơ và xương. Cơ thể người trưởng thành chứa khoảng 1,4 đến 2,1 mg đồng trên mỗi kg cân nặng.
== Tính chất ==
=== Vật lý ===
Đồng, bạc và vàng đều nằm trong nhóm 11 của bảng tuần hoàn nên chúng có nhiều thuộc tính giống nhau: chúng có 1 electron trong phân lớp s1 nằm trước nhóm d10 và được đặc trưng bởi tính dẻo và dẫn điện cao. Các orbital được lấp đầy các electron trong các nguyên tố này không đóng góp nhiều vào các tương tác nội nguyên tử, chủ yếu ảnh hưởng bởi các electron phân lớp s thông qua các liên kết kim loại. Trái ngược với các kim loại mà phân lớp d không được lấp đầu bởi các electron, các liên kết kim loại trong đồng thiếu các đặc điểm của liên kết cộng hóa trị và chúng tương đối yếu. Điều này giải thích tại sao các tinh thể đồng riêng biệt có độ dẻo cao và độ cứng thấp. Ở quy mô lớn, việc thêm vào các khuyết tật trong ô mạng tinh thể như ranh giới hạt, sẽ làm cản trở dòng vật liệu dưới áp lực nén từ đó làm tăng độ cứng của nó. Ví dụ, đồng thường được đưa ra thị trường ở dạng polycrystalline hạt mịn, dạng này có độ cứng lớn hơn dạng monocrystalline.
Độ cứng thấp của đồng giúp giải thích một phần tính dẫn điện cao của nó(59.6×106 S/m) và cũng như tính dẫn nhiệt cao, các tính chất này được xếp hạng thứ 2 trong số những kim loại nguyên chất có tính chất tương tự ở nhiệt độ phòng. (trong số các kim loại nguyên chất ở nhiệt độ phòng chỉ có bạc có độ dẫn điện cao hơn). Đặc điểm này là do điện trở suất đối với sự vận chuyển electron trong các kim loại ở nhiệt độ phòng chủ yếu bắt nguồn từ sự tán xạ của electron đối với dao động nhiệt của mạng tinh thể, mà điện trở xuất này tương đối yếu đối với cho một kim loại mềm. Mật độ dòng thấm tối đa của đồng trong không khí ngoài trời vào khoảng 3,1×106 A/m2, vượt trên giá trị này nó bắt đầu nóng quá mức. Cùng với những kim loại khác, nếu đồng được đặt cạnh kim loại khác, ăn mòn galvanic sẽ diễn ra.
Cùng với lưu huỳnh và vàng (cả hai đều có màu vàng), đồng là một trong 3 nguyên tố có màu tự nhiên khác với màu xám hoặc bạc. Đồng tinh khiết có màu đỏ cam và tạp ra màu lam ngọc khi tiếp xúc với không khí. Màu đặc trưng này của đồng tạo ra từ sự chuyển tiếp electron giữa phân lớp 3d và phân lớp 4s – năng lượng chênh lệch do sự chuyển đổi trạng thái electrong giữa hai phân lớp này tương ứng với ánh sáng cam. Cơ chế xảy ra tương tự đối với màu vàng của vàng và lưu huỳnh.
=== Hóa học ===
Đồng tạo nhiều hợp chất khác nhau với các trạng thái ôxy hóa +1 và +2, mà thường được gọi theo thứ tự là cuprous và cupric.Nó không phản ứng với nước, nhưng phản ứng chậm với ôxy trong không khí tạo thành một lớp ôxit đồng màu nâu đen. Ngược lại với sự ôxy hóa của sắt trong không khí ẩm, lớp ôxit này sau đó sẽ ngăn cản sự ăn mòn. Một lớp màu lục của verdigris (đồng cacbonat) thường có thể bắt gặp trên các công trình cổ có sử dụng đồng như Tượng Nữ thần tự do, tượng bằng đồng lớn nhất trên thế giới được xây dựng dùng repoussé and chasing. Hydrogen sulfua và sulfua phản ứng với đồng tạo ra các hợp chất đồng sulfua khác nhau trên bề mặt. Trong trường hợp phản ứng với sulfua, ăn mòn đồng diễn ra khi đồng tiếp xúc với không khí có chứa các hợp chất sulfua. Các dung dịch amoni chứa ôxy có thể tạo ra một phức chất hòa tan trong nước với đồng, khi phản ứng với ôxy và axit clohydric để tạo thành đồng clorua và hydro peroxide bị axit hóa để tạo thành các muối đồng(II). Đồng(II) clorua và đồng phản ứng với nhau tạo thành đồng (I) clorua.
=== Đồng vị ===
Đồng có 29 đồng vị.63Cu and 65Cu là đồng vị bền, với 63Cu chiếm khoảng 69% đồng có mặt trong tự nhiên; cả hai đều có spin 3/2. Các đồng vị còn lại có tính phóng xạ, trong đó đồng bị phóng xạ bền nhất là 67Cu với chu kỳ bán rã 61,83 giờ. Bảy đồng vị kích thích đặc trưng nhất là 68mCu tồn tại lâu nhất với chu kỳ bán rã 3,8 phút. Các đồng vị với số khối lớn hơn 64 phân rã β-, ngược lại các đồng vị có số khối dưới 64 thì phân rã β+. 64Cu, có chu kỳ bán rã 12,7 giờ, phân rã theo cả hai cơ chế trên.
62Cu và 64Cu có những ứng dụng đáng chú ý.64Cu chất được sử dụng trong chụp hình tia-X, và dạng tạo phức với chelate có thể được dùng trong điều trị ung thư.62Cu được dùng trong 62Cu-PTSM là một phương pháp vết phóng xạ trong chụp cắt lớp bằng positron.
=== Phân bố ===
Đồng có thể tìm thấy như là đồng tự nhiên hoặc trong dạng khoáng chất. Đồng tự nhiên là một dạng polycrystal, với các tinh thể riêng lẻ lớn nhất đã được ghi nhận có kích thước 4,4×3,2×3,2 cm. Khối đồng nguyên tố lớn nhất có cân nặng 420 tấn, được tìm thấy năm 1857 trên bán đảo Keweenaw ở Michigan, Hoa Kỳ. Có nhiều dạng khoáng chứa đồng như cacbonat azurit (2CuCO3Cu(OH)2) và malachit (CuCO3Cu(OH)2) là các nguồn để sản xuất đồng, cũng như là các sulfua như chalcopyrit (CuFeS2), bornit (Cu5FeS4), covellit (CuS), chalcocit (Cu2S) và các ôxít như cuprit (Cu2O).
Phần lớn đồng trích xuất được trong các mỏ lộ thiên trong các khoáng sản có ít hơn 1% đồng. Các ví dụ bao gồm: mỏ Chuquicamata ở Chilê và mỏ El Chino ở New Mexico. Việt Nam có mỏ đồng Sinh Quyền ở Lào Cai.
Đồng có mặt trong vỏ Trái Đất với hàm lượng 50 ppm, và có thể được tổng hợp trong các ngôi sao có khối lượng lớn.
== Sản xuất ==
Hầu hết đồng được khai thác hoặc chiết tách ở dạng đồng sulfua từ các mỏ đồng porphyr khai thác lộ thiên chứa từ 0,4 đến 1,0% đồng. Ví dụ một số mỏ như: mỏ Chuquicamata ở Chile; Bingham Canyon Mine ở Utah, Hoa Kỳ; và El Chino Mine ở New Mexico, Hoa Kỳ. Theo Cục Khảo sát địa chất Anh, năm 2005, Chile là nước dẫn đầu về khai thác đồng chiếm ít nhất 1/3 sản lượng đồng thế giới, theo sau là Hoa Kỳ, Indonesia và Peru. Đồng cũng được thu hồi qua quá trình In-situ leach. Nhiều nơi ở tiểu bang Arizona được xem là những ứng viên cho phương pháp này. Lượng đồng đang đượng sử dụng đang tăng và số lượng có sẵn là hầu như không đủ để cho phép tất cả các nước để đạt đến mức độ sử dụng của thế giới phát triển.
=== Trữ lượng ===
Đồng đã được sử dụng ít nhất là cách nay 10.000 năm, nhưng có hơn 95% tất cả đồng đã từng được khai thác và nấu chảy đã được tách chỉ bắt đầu từ thập niên 1900. Với nhiều nguồn tài nguyên tự nhiên, tổng lượng đồng trên Trái Đất là rất lớn (khoảng 1014 tấn nằm trong vòng vài km của vỏ Trái Đất, hoặc tương đương 5 triệu năm khai thác với tốc độ khai thác hiện tại. Tuy nhiên, chỉ có một tỷ lệ nhỏ trữ lượng này là có giá trị kinh tế trong điều kiện chi phí và công nghệ hiện tại. Nhiều ước tính trữ lượng đồng hiện tại cho thấy việc khai thác có thể diễn ra từ 25 đến 60 năm tùy thuộc vào những giả định cốt lõi như tốc độ phát triển. Tái chế là một nguồn chính của đồng trong thế giới hiện đại. Do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, sản lượng và cung ứng đồng trong tương lai là một chủ đề còn nhiều tranh cãi, bao gồm cả khái niệm về đỉnh đồng, tương tự như đỉnh dầu.
Giá đồng trong lịch sử là không ổn định, và nó tăng gấp 5 lần từ giá thấp duy trì 60 năm từ US$1,32/kg trong tháng 6 năm 1999 đến US$8,27/kg trong tháng 5 năm 2006. Nó rớt từ US$5,29/kg trong tháng 2 năm 2007, sau đó tăng lên US$7,71/kg tháng 4 năm 2007. Tháng 2 năm 2009, nhu cầu toàn cầu giảm và giá cả hàng hóa giảm mạnh từ mức cao của năm trước là US$1,51/lb.
=== Phương pháp ===
Hàm lượng đồng trong quặng trung bình chỉ 0,6%, và hầu hết quặng thương mại là các loại đồng sulfua, đặc biệt là chalcopyrit (CuFeS2) và ít hơn là chalcocit (Cu2S). Các khoáng này được tách ra từ các quặng được nghiền để nâng hàm lượng lên 10–15% đồng bằng froth flotation hay bioleaching. Nung vật liệu này với silica trong flash smelting để loại sắt ở dạng xỉ. Quá trình này khai thác dễ dàng chuyển sắt sulfua thành dạng ôxit của nó, sau đó các ôxit này phản ứng với silica để tạo ra xỉ silicat nổi lên trên khối nóng chảy. Sản phẩm tạo ra copper matte chứa Cu2S sau đó được roasted để chuyển tất cả các sulfua thành ôxit:
2 Cu2S + 3 O2 → 2 Cu2O + 2 SO2
Ôxit đồng được chuyển thành đồng blister theo phản ứng nung:
2 Cu2O → 4 Cu + O2
Quá trình Sudbury matte chỉ biến đổi 1/2 sulfua thành ôxit và sau đó sử dụng ôxit này để loại phần sulfua còn lại thành ôxit. Sản phẩm này sau đó đem điện phân. This step exploits the relatively easy reduction of copper oxides to copper metal. Khí thiên nhiên được thổ qua blister để loại hầu hết ôxy còn lại và áp dụng tinh chế điện (electrorefining) để tạo ra đồng tinh khiết:
Cu2+ + 2 e– → Cu
=== Tái chế ===
Đồng, giống như nhôm, có thể tái chế 100% mà không bị giảm chất lượng cho dù ở dạng thô hoặc nằm trong các sản phẩm khác. Về khối lượng, đồng là kim loại được tái chế phổ biến xếp hàng thứ 3 sau sắt và nhôm. Ước tính có khoảng 80% đồng đã từng được khai thác hiện tại vẫn còn sử dụng. Theo Metal Stocks in Society report của International Resource Panel, phân bổ bình quân đầu người về đồng hiện đang sử dụng trong xã hội là 35–55 kg. Phần nhiều trong số này là ở các nước phát triển nhiều (140–300 kg/người) hơn là các nước ít phát triển (30–40 kg/người).
Quá trình tái chế đồng tuân theo những bước gần như tương tự với chiết tách đồng nhưng đòi hỏi ít công đoạn hơn. Đồng phế liệu có độ tinh khiết cao được nung trong lò cao và sau đó được khử và đúc thành billet và ingot; các phế liệu có độ tinh khiết thấp hơn được tinh chế bằng mạ điện trong một bể axit sulfuric.
== Lịch sử ==
=== Thời đại đồ đồng đá ===
Đồng xuất hiện trong tự nhiên ở dạng đồng kim loại và đã được ghi chép trong các tư liệu của một số nền văn minh cổ đại, và nó có lịch sử sử dụng ít nhất là 9.000 năm TCN ở Trung Đông. Hoa tai bằng đồng đã được tìm thấy ở miền bắc Iraq có niên đại 8.700 năm TCN. Có bằng chứng cho thấy rằng vàng và sắt thiên thạch (không phải sắt nung chảy) là các kim loại duy nhất vào thời đó mà con người đã sử dụng trước khi xuất hiện đồng. Lịch sử nấu đồng được cho là theo các công đoạn sau: 1) làm cứng nguộ đồng tự sinh, 2) Ủ luyện, 3) nung chảy, và 4) đúc mẫu chảy. Ở miền đông nam Anatolia, cả 4 kỹ thuật này đều xuất hiện trong khoảng đầu của thời đại đồ đá mới khoảng 7500 TCN.
Chỉ khi nông nghiệp được phát minh động lập ở nhiều nơi trên thế giới, đồng nung chảy cũng được phát minh ở nhiều nơi khác nhau. Có lẽ đồng được phát hiện ở Trung Quốc trước 2800 TCN, ở Trung Mỹ vào khoảng năm 600, và Đông Phi vào khoảng thế kỷ 9 hay 10. Đúc mẫu chảy được phát minh năm 4500–4000 TCN ở Đông Nam Á và việc định tuổi cacbon đã được tiến hành ở một mỏ tại Alderley Edge, Cheshire, Vương Quốc Anh cho tuổi 2280 - 1890 TCN. Người băng Ötzi, người đàn ông được định tuổi vào khoảng 3300–3200 TCN, được phát hiện có bọc sáp với đồng ở phần đầu đồng có đô tinh khiết 99,7%; làm lượng asen cao trong tóc nên người ta cho rằng ông có liên quan đến việc nấu chảy đồng. Các thí nghiệm với đồng hỗ trợ với việc phát hiện ra các kim loại khác; đặc biệt, đồng nấu chảy làm phát hiện ra nấu chảy sắt. Việc sản xuất đồng trong xã hội Old Copper Complex ở Michigan và Wisconsin được xác định tuổi khoảng 6000 đến 3000 TCN.
=== Thời đại đồ đồng ===
Việc sử dụng đồng đỏ đã phát triển trong thời đại của các nền văn minh được đặt tên là thời đại đồ đồng hay thời đại đồng đỏ. Thời kỳ quá độ trong các khu vực nhất định giữa thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ sắt được đặt tên là thời kỳ đồ đồng, với một số công cụ bằng đồng có độ tinh khiết cao được sử dụng song song với các công cụ bằng đá. Đồ đồng của nền văn minh Vinča có tuổi 4500 TCN. Người ta còn tìm thấy các đồ vật bằng đồng nguyên chất và đồng đỏ ở các thành phố Sumeria có niên đại 3.000 năm TCN, và các đồ vật cổ đại của người Ai Cập bằng đồng và hợp kim của đồng với thiếc cũng có niên đại tương tự
Thời đại đồ đồng đã bắt đầu ở Đông Nam châu Âu vào khoảng 3700–3300 TCN, ổ Tây Bắc châu Âu khoảng 2500 TCN. Nó kết thúc khi bắt đầu thời đại đồ sắt khoảng 2000–1000 TCN ở vùng Cận Đông, và 600 TCN ở Bắc Âu. Sự chuyển tiếp giữa thời đại đồ đá mới và đồ đồng trước đây từng được gọi là thời kỳ đồ đồng đá, khi các công cụ bằng đồng được dùng cùng lúc với công cụ đồ đá. Thuật ngữ này dần bị giảm đi ở vài nơi trên thế giới, thời đại đồng đá và thời đại đá mới đều kết thúc cùng lúc. Đồng thau, một hợp kim của đồng với kẽm, được biết đến từ thời kỳ Hy Lạp nhưng chỉ được sử dụng rộng rãi bởi người La Mã.
=== Tên gọi ===
Giống các tiếng Đông phương khác, nguồn gốc từ đồng từ Tiếng Trung Quốc 铜 (bình âm: tóng). Tiếng Thái xài ทองแดง nghĩa là 'vàng đỏ' vì đồng có nhiều đặc điểm giống vàng như rất dẻo và không dễ sét.
Trong thời của nền văn minh Hy Lạp, kim loại này được biết với tên gọi chalkos. Trong thời kỳ La Mã, nó được biết với tên aes Cyprium (aes là thuật ngữ Latinh chung để chỉ các hợp kim của đồng như đồng đỏ và các kim loại khác, và bởi vì nó được khai thác nhiều ở Síp). Từ những yếu tố lịch sử này, tên gọi của nó được đơn giản hóa thành Cuprum là tên gọi Latinh của đồng.
Trong thần thoại Hy Lạp - La Mã cũng như trong thuật giả kim, đồng có liên quan đến nữ thần Aphrodite (Vệ Nữ) vì vẻ đẹp rực rỡ của nó, việc sử dụng thời cổ đại của nó trong sản xuất gương, và sự liên hệ của nó với Síp, là quê hương của nữ thần. Trong thuật giả kim, ký hiệu của đồng cũng là ký hiệu cho Sao Kim.
== Ứng dụng ==
Đồng là vật liệu dễ dát mỏng, dễ uốn, có khả năng dẫn điện và dẫn nhiệt tốt, vì vậy nó được sử dụng một cách rộng rãi trong sản xuất các sản phẩm:
Dây điện.
Que hàn đồng.
Tay nắm và các đồ vật khác trong xây dựng nhà cửa.
Đúc tượng: Ví dụ tượng Nữ thần Tự Do, chứa 81,3 tấn (179.200 pao) đồng hợp kim.
Cuộn từ của nam châm điện.
Động cơ, đặc biệt là các động cơ điện.
Động cơ hơi nước của Watt.
Rơ le điện, dây dẫn điện giữa các bảng mạch và các chuyển mạch điện.
Ống chân không, ống tia âm cực và magnetron trong các lò vi ba.
Bộ dẫn sóng cho các bức xạ vi ba.
Việc sử dụng đồng trong các mạch IC đã trở nên phổ biến hơn để thay thế cho nhôm vì độ dẫn điện cao của nó.
Là một thành phần trong tiền kim loại.
Trong đồ nhà bếp, chẳng hạn như chảo rán.
Phần lớn các đồ dùng bằng niken trắng dùng ở bàn ăn (dao, nĩa, thìa) có chứa một lượng đồng nhất định.
Trong chế tạo đồ đựng thức ăn bằng bạc (hàm lượng bạc từ 92,5% trở lên), có chứa một số phần trăm đồng.
Là thành phần của gốm kim loại và thủy tinh màu.
Các loại nhạc khí, đặc biệt là các loại nhạc khí từ đồng thau.
Làm bề mặt tĩnh sinh học trong các bệnh viện hay các bộ phận của tàu thủy để chống hà.
Các hợp chất, chẳng hạn như dung dịch Fehling, có ứng dụng trong phân tích hóa học.
Đồng (II) Sulfat được sử dụng như là thuốc bảo vệ thực vật và chất làm sạch nước.
== Vai trò sinh học ==
Đồng là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động, thực vật bậc cao. Đồng được tìm thấy trong một số loại enzym, bao gồm nhân đồng của cytochrom c oxidas, enzym chứa Cu-Zn superoxid dismutas, và nó là kim loại trung tâm của chất chuyên chở ôxy hemocyanin. Máu của cua móng ngựa (cua vua) Limulus polyphemus sử dụng đồng thay vì sắt để chuyên chở ôxy.
Theo tiêu chuẩn RDA của Mỹ về đồng đối với người lớn khỏe mạnh là 0,9 mg/ngày.
Đồng được vận chuyển chủ yếu trong máu bởi protein trong huyết tương gọi là ceruloplasmin. Đồng được hấp thụ trong ruột non và được vận chuyển tới gan bằng liên kết với albumin.
Một bệnh gọi là bệnh Wilson sinh ra bởi các cơ thể mà đồng bị giữ lại, mà không tiết ra bởi gan vào trong mật. Căn bệnh này, nếu không được điều trị, có thể dẫn tới các tổn thương não và gan.
Người ta cho rằng kẽm và đồng là cạnh tranh về phương diện hấp thụ trong bộ máy tiêu hóa vì thế việc ăn uống dư thừa một chất này sẽ làm thiếu hụt chất kia.
Các nghiên cứu cũng cho thấy một số người mắc bệnh về thần kinh như bệnh schizophrenia có nồng độ đồng cao hơn trong cơ thể. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ mối liên quan của đồng với bệnh này như thế nào (là do cơ thể cố gắng tích lũy đồng để chống lại bệnh hay nồng độ cao của đồng là do căn bệnh này gây ra).
== Hợp kim ==
Có rất nhiều chủng loại hợp kim của đồng - Các gương đồng là hợp kim của 4 phần đồng với một phần thiếc, đồng thau còn gọi là Latông hay đồng vàng là hợp kim của đồng với kẽm, và đồng đỏ hay còn gọi là Burông là hợp kim của đồng với thiếc, và có thể dùng để chỉ bất kỳ hợp kim nào của đồng như đồng điếu nhôm. Đồng là một trong những hợp phần quan trọng nhất của bạc và vàng carat và que hàn carat dùng trong công nghiệp đá quý, điều chỉnh màu, độ cứng và điểm nóng chảy của các hợp kim được tạo ra. Các loại que hàn không chì bao gồm kẽm tạo hợp kim với một lượng nhỏ đồng và các kim loại khác.
Hợp kim của đồng với nickel được gọi là đồng niken, được sử dụng làm đồng tiền mệnh giá thấp ở dạng áo bên ngoài. Đồng 5-cent Mỹ (hiện được gọi là nickel) chứa 75% đồng và 25% nickel ở dạng đồng nhất. Hợp kim gồm 90% đồng và 10% nickel, có độ chống ăn mòn đáng chú ý, được dùng trong nhiều ứng dụng có tiếp xúc với nước biển, tuy nhiên nó dễ bị ăn mòn do các hợp chất sulfua tồn tại trong các cảng và cửa sông bị ô nhiễm. Các hợp kim của đồng với nhôm (khoảng 7%) có màu vàng nhạt và được dùng trong trang trí. Shakudō là một hợp kim đồng được dùng làm trang trí ở Nhật chứa một tỉ lệ thấp vàng, khoảng 4–10%, nó có thể bị gỉ tạo ra màu xanh đậm hoặc màu đen.
== Hợp chất ==
Các trạng thái ôxi hóa chung của đồng bao gồm trạng thái đồng (I) ít ổn định Cu+1; và trạng thái ổn định hơn đồng(II), Cu+2, chúng tạo thành các muối có màu lam hoặc lục-lam. Dưới các điều kiện không bình thường, trạng thái Cu+3 có thể được tạo ra.
=== Các hợp chất hai cấu tử ===
Khi kết hợp với các nguyên tố khác, các hợp chất đơn giản nhất của đồng là loại hai cấu tử, tức bao gồm chỉ hai nguyên tố như các ôxit, sunfua, và halua. Dạng ôxit tồn tại ở loại đồng I và đồng II, tương tự loại sulfua gồm đồng(I) sulfua và đồng(II) sulfua.
Các muốn đồng I với clo (gồm đồng(I) clorua, đồng(I) bromua, và đồng(I) iodua) cũng tồn tại, trong đồng (II) gồm đồng(II) fluorua, đồng(II) clorua, và đồng(II) bromua. Đã có những nổ lực để điều chế đồng(II) iodua nhưng chỉ tạo ra đồng(I) iodua và iod.
2 Cu2+ + 4 I− → 2 CuI + I2
=== Tạo phức ===
Đồng có khả năng tạo ra phức chất. Trong dung dịch lỏng, đồng(II) tồn tại ở dạng [Cu(H2O)6]2+. Phức này thể hiện tốc độ trao đổi với nước nhanh nhất (tốc độ các chất liên kết và tách liên kết với nước) trong bất kỳ phức nước-kim loại chuyển tiếp. Khi thêm dung dịch natri hydroxit vào sẽ tạo kết tủa chất rắn đồng(II) hydroxit có màu lam nhạt. Phương trình đơn giản là:
Cu2+ + 2 OH− → Cu(OH)2
Dung dịch amoniac cũng tạo kết tủa tương tự. Khi thêm lượng amoniac dư, kết tủa này tan tạo thành tetraamminecopper(II):
Cu(H2O)4(OH)2 + 4 NH3 → [Cu(H2O)2(NH3)4]2+ + 2 H2O + 2 OH−
Nhiều oxyanion khác tạo thành các phức như đồng(II) acetat, đồng(II) nitrat, và đồng(II) cacbonat. Đồng(II) sulfat tạo các tinh thể pentahydrate màu lam, là hợp chất đồng phổ biến trong phòng thí nghiệm. Nó được dùng để diệt nấm được gọi là Hợp chất Bordeaux.
Polyol là hợp chất chứa nhiều hơn một nhóm chức alcohol, nhìn chung phản ứng với các muốn đồng(II). Ví dụ, các muối đồng được dùng để thử chất khử đường. Đặc biệt sử dụng thuốc thử Benedict và dung dịch Fehling có mặt đường được đánh dấu bằng màu của nó thay đổi từ xanh lam Cu(II) sang đỏ của đồng(I) ôxit. Thuốc thử Schweizer và các phức liên quan với ethylenediamine và các amine tan trong cellulose. Các Amino axit tạo thành các phức chelat rất bền với đồng(II). Các thử nghiệm hóa-ướt đối với các ion đồng tồn tại, nó liên quan đến kali ferrocyanua, tạo kết tủa với các muối đồng(II).
=== Hóa đồng hữu cơ ===
Các hợp chất chứa liên kết cacbon-đồng được gọi là các hợp chất đồng-hữu cơ. Chúng phản ứng mạnh với ôxy tạo ra đồng(I) ôxit và có nhiều ứng dụng trong hóa học. Chúng được tổng hợp bằng cách cho phản ứng giữa các hợp chất đồng(I) với thuốc thử Grignard, terminal alkyne hay thuốc thử organolithi; đặc biệt, phản ứng cuối cùng được mô tả tạo ra thuốc thử Gilman. Các chất này trãi qua các phản ứng thay thế với alkyl halua tạo thành các sản phẩm kết hợp; do đó, chúng có vai trò quan trọng trong lĩnh vực tổng hợp hữu cơ. Đồng(I) acetylua nhạy sốc cao trong các phản ứng như Cadiot-Chodkiewicz coupling và Sonogashira coupling. Conjugate addition vào enone và carbocupration của các alkyne cũng có thể đạt được các hợp chất đồng hữu cơ. Đồng(I) tạo ra một loạt các phức yếu với anken và cacbon monoxit, đặc biệt có mặ của các phức amine.
=== Đồng(III) và đồng(IV) ===
Đồng(III) thường được tìm thấy ở dạng xác ôxit, ví dụ như kali cuprat, KCuO2 là chất rắn màu xanh-đen. Các hợp chất đồng(III) được nghiên cứu rộng rãi nhất là các chất siêu dẫn cuprate. Đồng yttri bari ôxit (YBa2Cu3O7) có cả Cu(II) và Cu(III) nằm ở trung tâm. Giống như dạng ôxit, florua là anion bazo cao và được dùng làm chất ổn định các ion kim loại ở các trạng thái ôxi hóa cao. Cả đồng (III) và thậm chí đồng(IV) florua là tồn tại theo thứ tự ở dạng K3CuF6 và Cs2CuF6.
Một số protein đồng tạo các phức oxo đặc trưng cho đồng(III). Với các tetrapeptide, một phức đồng(III) có màu tía được ổn định hóa bởi các chất amide khử proton.
Các phức đồng(III) cũng được tìm thấy ở dạng trung gian trong các phản ứng của hợp chất đồng-hữu cơ.
== Phòng ngừa ==
Mọi hợp chất của đồng là những chất độc. Đồng kim loại ở dạng bột là một chất dễ cháy. 30g sulfat đồng có khả năng gây chết người. Đồng trong nước với nồng độ lớn hơn 1 mg/lít có thể tạo vết bẩn trên quần áo hay các đồ vật được giật giũ trong nước đó. Nồng độ an toàn của đồng trong nước uống đối với con người dao động theo từng nguồn, nhưng có xu hướng nằm trong khoảng 1,5 – 2 mg/lít. Mức cao nhất có thể chịu được về đồng theo DRI trong chế độ ăn uống đối với người lớn theo mọi nguồn đều là 10 mg/ngày.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Copper
EnvironmentalChemistry.com – Copper
Copper Toxicity Syndrome
The Copper Page |
ẩm thực nhật bản.txt | Ẩm thực Nhật Bản là nền ẩm thực xuất xứ từ nước Nhật. Ẩm thực Nhật Bản không lạm dụng quá nhiều gia vị mà chú trọng làm nổi bật hương vị tươi ngon, tinh khiết tự nhiên của món ăn. Hương vị món ăn Nhật thường thanh tao, nhẹ nhàng và phù hợp với thiên nhiên từng mùa. Do vị trí địa lý bốn bề bao quanh đều là biển, hải sản và rong biển chiếm phần lớn trong khẩu phần ăn của người Nhật. Lương thực chính của người Nhật là gạo; người Nhật cuộn gạo trong những tấm rong biển xanh đen, tạo thành món sushi, được xem là quốc thực của Nhật Bản. Ngoài ra, các món ăn chế biến từ đậu nành cũng có tầm quan trọng đặc biệt trong ẩm thực Nhật. Về thức uống, người Nhật nổi tiếng với mạt trà, loại bột trà xanh nguyên chất do các thiền sư chế biến; đây là loại trà chính cho nghi lễ trà đạo, nghi lễ này tuân theo 4 nguyên tắc chính "hòa, kính, thanh, tịnh". Rượu gạo sakamai có nồng độ cao tên là sake, xuất phát từ các nghi lễ của Thần đạo cũng rất phổ biến. Ngoài ra, các món ăn Nhật cũng thể hiện tư duy thẩm mĩ tinh tế và sự khéo léo của người nấu khi được bày biện với chỉ vài miếng ở một góc chén dĩa, để thực khách còn có thể thấy nét đẹp của vật dụng đựng món ăn.
== Cách sắp đặt bàn ăn của người Nhật Bản ==
Người Nhật Bản theo truyền thống (hiện nay nhiều người vẫn theo cách thức này) ngồi xếp bằng tròn trên các miếng đệm quanh bàn ăn thấp. Một số nhà hàng truyền thống còn cung cấp ghế sàn với chỗ dựa lưng.
Các bữa ăn được dùng bằng đũa bằng gỗ hoặc inox (gọi là hashi), và một cái thìa (gọi là Supūn). Không như những nền văn hóa ăn bằng đũa khác, người Nhật cũng như người Triều Tiên đã dùng thìa từ ít nhất là vào thế kỷ thứ 5 (thời Edo). Người Nhật nói chung không bới cơm hoặc canh sang chén bát riêng mà được đặt sẵn ở trên bàn cho từng người và ăn bằng đũa. Người Nhật ít khi sử dụng thìa trong bữa ăn, kể cả súp đôi khi cũng dùng đũa.
Cách sắp đặt một bữa ăn cơ bản, bao gồm:
Cơm cho mỗi người trong bát sâu bằng gốm hoặc thép không gỉ, luôn có nắp đậy ở phía bên trái người ăn.
Canh nóng cho mỗi người trong một cái bát nông hơn, đặt phía bên phải chén cơm. Hoặc dùng chung trong bát canh to đặt giữa bàn.
Đũa đặt ngang, ở phía gần người ăn.
== Nghi thức ăn uống truyền thống ==
Mặc dù không có trật tự định trước khi ăn nhiều món trong một bữa ăn truyền thống, nhiều người Nhật Bản bắt đầu ăn một ít canh trước khi ăn những món khác theo bất cứ trật tự nào họ thích.
Người Nhật nói chung không bới cơm hoặc canh sang chén bát riêng mà được đặt sẵn ở trên bàn cho từng người và ăn bằng đũa. Khi ăn một số thức ăn có nước như ramen hay udon có thể đưa cả bát lên miệng để húp nước dùng. Thìa thường được sử dụng khi ăn một số món ăn nấu theo kiểu phương Tây, như món hầm có sữa kurimu shichu, cơm với cà ri hay cơm trứng omelette. Một số loại bánh ngọt truyền thống như wagashi thường được ăn cùng với nước trà, khi ăn dùng một chiếc xiên nhỏ làm bằng tre hoặc gỗ để lấy bánh.
Những hành vi bất lịch sự trong bữa ăn: dùng đũa đang ăn gắp đồ ăn cho người khác, cầm đũa hay thìa trước khi người cao tuổi nhất bắt đầu ăn, vừa mở miệng vừa nhai, nói chuyện khi đồ ăn vẫn còn trong miệng, cắm đũa hay thìa thẳng đứng trong bát, chọc thức ăn bằng đũa, bốc thức ăn (cũng có ngoại lệ), phát ra tiếng khi nhai hoặc gõ lách cách bằng thìa hay đũa, khuấy những món ăn phụ để tìm thứ bạn muốn ăn, tự ý gắp bỏ vài thành phần ra khỏi đồ ăn chung, hỉ mũi, ho và hắt xì hơi bất cẩn (bạn phải quay sang chỗ không người và đặt tay lên miệng), không che miệng khi xỉa răng. Khi húp canh húp bằng từng chút một, không được húp soàm soạp gây khó chịu cho người khác.
Không cần phải ăn hết các món dùng chung, nhưng theo phong tục phải ăn hết phần cơm của mình. Các bát đựng thức ăn ăn kèm thường hay ăn hết trong bữa ăn và sẽ được dọn thêm nếu chúng đã được dùng hết. Việc yêu cầu dọn thêm món ăn phụ cũng có thể chấp nhận được.
== Triết lý ẩm thực ==
Các món ăn Nhật Bản đều tuân theo quy tắc tam ngũ: ngũ vị, ngũ sắc, ngũ pháp. Ngũ vị bao gồm: ngọt, chua, cay, đắng, mặn. Ngũ sắc có: trắng, vàng, đỏ, xanh, đen. Ngũ pháp là: sống, ninh, nướng, chiên và hấp. So với những nước khác, cách nấu nướng của người Nhật hầu như không sử dụng đến gia vị. Thay vào đó, người ta tập trung vào các hương vị tinh khiết của các thành phần món ăn: cá, rong biển, rau, gạo và đậu nành.
== Lịch sử phát triển ==
=== Tiền Heian ===
Thế kỷ 6, một số loại rau củ mới như củ cải trắng, cà rốt du nhập từ Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên vào Nhật Bản.
Sau khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản thì việc ăn thịt đã bị hạn chế và bị cấm vào thế kỷ thứ 8. Cũng trong giai đoạn này người Nhật học được cách làm đậu hũ, nước tương và nghệ thuật rán bằng dầu của người Trung Quốc (loại nước tương ngọt của Nhật ngày nay ra đời vào thế kỷ 15).
=== Thời trung cổ, trung thế và cận thế- ===
Thời kỳ Heian (794-1185) là thời kỳ khởi đầu cho một nền ẩm thực Nhật Bản mang bản sắc riêng. Sự phát triển của tầng lớp thượng lưu Kyoto trở thành tiền đề quan trọng cho sự phát triển của nghệ thuật ẩm thực. Mọi người ăn 2 bữa một ngày cũng với nhiều bữa ăn nhẹ khác trong ngày. Đến thế kỷ 10, các loại nguyên liệu đã trở nên phong phú hơn, người ta đưa vào món ăn nhiều loại rau củ như củ cải tròn, lá mù tạt, dưa chuột và cà tím.
Từ năm 1185 khi Mạc Phủ được thiết lập ở Kamakura, tầng lớp võ sĩ đạo và thiền sư dần có vị thế hơn trước, do đó các món chay (shojin ryori) được hình thành, dẫn đến sự ra đời của các món khai vị trước buổi trà đạo (cha kaiseki) vào thế kỷ 16. Món ăn chay Nhật Bản chú trọng vào 5 màu sắc cơ bản: xanh, đỏ, vàng, trắng và đen tím, và 6 vị: đắng, chua, ngọt, nóng, cay và vị thơm ngon. Dưới ảnh hưởng của cách nấu này, tính đơn giản trong các món ăn Nhật cũng hình thành.
Thế kỷ thứ 9, trà được vào Nhật nhưng dần bị lu mờ cho đến khi hưng thịnh trở lại vào thế kỷ 12cùng với sự phát triển của Thiền tông.
=== Thời cận đại ===
Mặc dù đóng cửa với bên ngoài, nhưng suốt thời kỳ Edo (1603-1857), ẩm thực Nhật vẫn phát triển đa dạng. Cơm cuộn nigiri-zushi đã ra đời vào thời gian này.
Thời kỳ Meiji (Minh Trị, 1868-1912) đánh dấu thời kỳ mở cửa trở lại với thế giới bên ngoài. Sự giao thương của Nhật Bản với phương Tây trong thời Minh Trị đã ảnh hưởng quan trọng đến nền ẩm thực Nhật Bản. Người Bồ Đào Nha đã mang đến Nhật các nguyên liệu từ Tân Thế giới: ngô, khoai tây, khoai lang... hay từ các nước châu Á khác: bí đao (kabocha). Một số tên món ăn Nhật Bản ngày nay có nguồn gốc từ tiếng Bồ Đào Nha như từ "pan" nghĩa là "bánh mì" xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha: "pão", từ "tempura" xuất xứ từ tiếng Bồ Đào Nha: "templo"-đền thờ. Các nguyên liệu nước ngoài được du nhập ồ ạt vào Nhật Bản như bơ, cà ri, cà phê, bắp cải, măng tây...
=== Thời hiện đại ===
Ngành công nghiệp thực phẩm của Nhật Bản có những bước phát triển rực rỡ. Mì ăn liền (ramen) đã được Momofuku Ando (cũng là người sáng lập công ty thực phẩm Nissin) phát minh ra năm 1958. Tiến sĩ Kikunae Ikeda đã phát hiện ra vị cơ bản thứ năm umami (ngoài bốn vị: ngọt chua, mặn, đắng) sau khi phân tích thành phần của tảo biển khô năm 1908, từ đó sáng lập nên công ty bột ngọt Ajinomoto. Kỹ thuật nướng thức ăn teppanyaki cũng mới được phát triển; đây là cách nướng trên một chiếc bàn đúc bằng gang thép hình chữ nhật dày 6–8 cm đã được làm nóng đến trên 100 độ; thức ăn được làm nóng rất lâu trên bếp mà không bị cháy và thành phần nước vẫn còn trong thức ăn khiến cho thức ăn giữ được hương vị tự nhiên.
== Ý nghĩa văn hóa ==
Nhiều món ăn Nhật tượng trưng cho các lời chúc tốt lành gửi đến mọi người trong dịp năm mới: rượu sake để trừ tà khí và kéo dài tuổi thọ, món đậu phụ chúc mạnh khỏe, món trứng cá tuyết nướng chúc gia đình đông vui, món sushi cá tráp biển chúc sung túc thịnh vượng, món tempura chúc trường thọ. Tôm biểu trưng cho sự trường thọ, lưng tôm càng cong càng trường thọ.
== Dinh dưỡng ==
Chế độ ăn uống của Nhật Bản được gọi là ichi ju san sai: "một súp, ba món", ăn với cơm (do các võ sĩ thời kỳ Muromachi đặt ra). Nhiều thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm Nhật Bản rất tốt cho sức khỏe. Bữa ăn không thể thiếu đậu nành và các thực phẩm chế biến từ đậu nành như miso (tương đặc), tofu (đậu hũ tươi), natto giúp ngăn chặn tình trạng tắc nghẽn mạch máu; hạt vừng đen giúp kích thích hoạt động của não, mơ chua umeboshi để lọc máu, rong biển kombu giúp giảm lượng cholesterol, chè tươi giúp chống lão hóa tế bào.
== Tính thiên nhiên trong ẩm thực Nhật Bản ==
=== Món ăn tươi sống ===
Món cá sống (sashimi- 刺身 hay さしみ) lưu giữ trọn vẹn sự tươi ngon của hương vị thiên nhiên. Đó là những lát cá có chiều rộng khoảng 2.5 cm, chiều dài 4 cm và dày chừng 0.5 cm ăn cùng mù tạt, gừng, củ cải trắng, tảo biển cuộn tròn trong lá tía tô chấm trong nước tương ngọt Nhật Bản và tương ớt.
=== Món ăn theo mùa ===
Vào mùa xuân, để báo hiệu cho mùa đông lạnh giá đã kết thúc, người Nhật ăn món cá shirouo và đón mùa anh đào nở bằng bánh sakura mochi và gạo anh đào. Mùa hè, người Nhật ăn nhiều món ăn mát lành như món lươn (unagi), cà tím nướng (yaki-nasu), đậu edamame, các loại mì lạnh như: mì sợi mỏng (somen), mỳ tôm lạnh (hiyashi chuka), các món đậu hũ như: đậu phụ lạnh Nhật Bản (hiya-yakko) và khổ qua xào đậu hũ (goya champuru) của vùng Okinawa. Tháng 5 là mùa cá ngừ, còn tháng 6 là mùa cá ayu. Mùa thu, người Nhật ăn khoai lang nướng (yaki imo), món lăn bột chiên tempura và loại bánh nama-gashi hình quả hồng chín hoặc hình bạch quả. Tháng 9 là tháng của mặt trăng nên những món hầm màu trắng được ưa chuộng như bào ngư, dưa chuột và măng. Để xua tan cái lạnh của mùa đông, người Nhật ăn lẩu (nabemono), canh oden và món chè đậu đỏ ăn khi còn nóng (shiruko). Ngoài ra, người Nhật còn ăn bánh higashi có hình tuyết. Vào mùa đông, người Nhật cũng chuộng ăn các loại quýt, tượng trưng cho mặt trời và dùng để làm quà năm mới.
==== Món ăn ngày lễ ====
Bữa ăn ngày Tết Nguyên Đán của Nhật được gọi là osechi, với món không thể thiếu là bánh dày ozoni.
==== Sushi ====
Mùa xuân (dấu hiệu: hoa anh đào nở): người Nhật thường ăn 5 món sushi hải sản: Hama-guri (làm từ trai biển vỏ cứng), sayori (làm từ cá biển), tori-gai (làm từ sò trứng Nhật Bản), miru-gai (làm từ tôm, cua, trai, sò, vẹm) và kisu (làm từ cá biển đen Nhật Bản).
Mùa hè (dấu hiệu: lá phong xanh tươi): người Nhật làm 4 món sushi hải sản: awabi (làm từ bào ngư), uzuki (làm từ cá vược biển), anago (làm từ cá chình biển Nhật Bản) và aji (làm từ cá ngừ Nhật Bản).
Mùa thu (dấu hiệu: lá phong đỏ): người Nhật ăn 3 món sushi là: Kampachi (loài cá thường thay đổi khi chúng lớn lên, từ hiramasa - khi chúng còn nhỏ vào mùa hè đến kampachi -mùa thu và sau cùng là buri - mùa đông), Kohada (làm từ cá trích, cá mòi có chấm) và saba (làm từ cá thu).
Mùa đông (dấu hiệu: tuyết): người Nhật ăn các món sushi hải sản: ika (làm từ cá mực), aka-gai (làm từ trai biển lớn), hirame (làm từ cá bơn) và tako (làm từ bạch tuộc).
Ngoài ra, còn có các món sushi ăn quanh năm như: uni (làm từ nhím biển), maguro (làm từ cá ngừ), kuruma ebi (làm từ tôm hùm), tamago (làm từ trứng), và kampyo-maki (bí cuộn tròn).
==== Bánh ngọt Wagashi ====
Tháng 1: ăn loại bánh Hanabira Mochi vào dịp năm mới. Đây là bánh nếp có nhân bột miso và rễ cây ngưu bàng (gobo) nấu trong nước syrup.
Tháng 2: làm bánh Kobai có hình dạng quả mơ Nhật - ume (tháng 2 là mùa hoa ume nở). Đây là bánh được làm bằng bột đậu và bột lúa mạch hấp, có màu đỏ hồng.
Tháng 3: tháng của bánh Hishi Mochi ăn vào dịp lễ hội búp bê Hina Matsuri, gồm có 3 lớp bánh hình thoi với 3 màu khác nhau xếp chồng lên nhau.
Tháng 4: Bánh Hanami Dango dùng cho lễ hội hoa anh đào. Bánh này phổ biến từ những năm 1800. Có 2 loại: loại có màu sậm hơn được bọc bằng bột đậu, loại có màu sáng hơn được nướng với nước tương.
Tháng 5: Bánh Kashiwa Mochi ăn vào Tết Đoan Ngọ (Tango no Sekku). Đây là bánh bột nếp nhân đậu, gói trong lá sồi.
Tháng 6: Bánh Ajisai gồm thạch đậu đỏ yokan bọc nhân đậu trắng, có hình ajisai (hoa tú cầu).
Tháng 7: Bánh in Rakugan và kẹo aruheito.
Tháng 8: Thạch đậu mềm Mizu yokan.
Tháng 9: Bánh O-hagi là bánh nếp bọc bột đậu đỏ, được dâng cúng vào thời điểm thu phân, có hình dạng của cỏ ba lá (hagi - đây cũng là tên bánh).
Tháng 10: Bánh Kuri no yaki-gashi làm từ bột hạt dẻ bọc nhân hạt dẻ phía trong rồi đem nướng.
Tháng 11: Bánh Momiji là loại bánh hình lá phong.
Tháng 12: Bánh bao Yuzu manju làm từ hỗn hợp bột lúa mì, bột khoai lang yamato và vỏ trái thanh yên yuzu bọc mứt đậu, có hình dạng của trái thanh yên.
== Bữa ăn cơ bản ==
Một bữa ăn Nhật Bản cơ bản gồm có:
Cơm
Natto trộn với hành lá cắt nhỏ và trứng sống.
Rau bina, củ cải hoặc dưa góp.
Rong biển sấy ăn không hoặc cuộn thành sushi.
Canh miso.
Nếu có việc phải đi xa nhà, người Nhật thường làm cơm hộp (bento). Một hộp cơm gồm có đầy đủ thức ăn đến từ rừng và biển: 4 phần cơm (hoặc onigiri), 3 phần thịt cá, 2 phần rau và một phần tráng miệng.
== Kỹ thuật nấu nướng ==
Thứ tự nêm gia vị của người Nhật là (thứ tự các nguyên âm đúng theo thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Nhật, chỉ có phụ âm là khác): さ・し・す・せ・そ(sa/shi/su/se/so).
さ(砂糖, 酒)satou, sake: đường, rượu
し(塩) shio: muối
す(酢) su: giấm
せ(醤油)shouyu: nước tương
そ(みそ)miso: đậu tương miso
Thứ tự được xếp dựa vào phản ứng hóa học của các loại gia vị.
== Bày trí món ăn ==
Theo nguyên tắc tương phản từ màu sắc đến hình dạng. Ví dụ: món ăn hình tròn thì vật đựng phải hình vuông hay tam giác.
Theo mùa: ví dụ mùa hè thì thường dùng vật đựng bằng trúc hoặc thủy tinh.
== Nguyên liệu ==
Nước dùng dashi làm từ cá bào Nhật Bản và tảo bẹ kombu.
Tảo nori dùng để làm thành miếng cuộn sushi
Nước tương Nhật Bản shoyu
Tương miso
Tương nguyên hạt natto
Rượu mirin và sake
Gạo shari: loại gạo dành riêng để làm sushi
Giấm gạo Nhật Bản komezu
Nước chanh pha ponzu
Wasabi: mù tạt cay làm từ cải ngựa Nhật Bản.
Đường đen Nhật Bản kurozato (có màu nâu đậm hơn đường nâu, hạt thô và dẻo hơn đường nâu). Đây là thành phần nguyên liệu chính để tạo ra mật ong đen Nhật Bản kuromitsu và cũng là thành thành phần nguyên liệu chính để làm bánh ngọt Nhật Bản.
Thạch mềm konnyaku
== Phép lịch sự bên bàn ăn ==
Xin phép trước khi ăn: dùng thành ngữ: "Itadakimasu".
Cảm ơn sau khi ăn xong: dùng thành ngữ: "Gochiso sama deshita".
Khi rót rượu sake thì phải rót cho người khác, chỉ có khi dốc cạn chai thì mới được rót cho chính mình. Thường phụ nữ sẽ rót rượu cho đàn ông, nhưng phải tự rót cho chính mình.
== Kiến trúc phòng ăn ==
Bộ bàn ghế trong phòng ăn phải nhỏ gọn, gồm bàn thấp và các miếng đệm đặt trên sàn nhà có thể thu dọn khi không dùng đến. Chúng thích hợp cho cả mùa đông lẫn mùa hè. Thường không dùng nhiều màu sắc và thường dùng các màu nhạt, mang màu sắc tự nhiên như màu vàng của gỗ và tre.
== Dụng cụ nấu và ăn ==
Makisu: tấm cuộn sushi
Hangiri: tô gỗ tròn làm từ gỗ một loại cây bách.
Shamoji: muỗng phẳng bằng gỗ
Makiyakinabe: chảo hình chữ nhật để chiên trứng theo kiểu Nhật (vừa chiên vừa cuộn trứng thành hình chữ nhật).
== Các món ăn đặc sản ==
Cá nóc: vì có chứa độc tố nên cần kỹ thuật chế biến tinh vi và giấy chứng nhận đặc biệt từ Chính phủ.
Thịt hươu Hokkaido
Thịt bò Kobe
== Danh sách món ăn ==
=== Aemono- món gỏi hay salad ===
Hijiki aemono
Hijiki - Loại rong biển này thường được bán ở dạng khô, các sợi nhỏ màu đen, mang đến hương vị đậm đà cho món ăn. Thường được dùng trộn salad, làm cơm nắm, bento, xào thịt, nấu soup… Rong biển Hijiki giàu thành phần Canxi, sắt, chất xơ. Đặc biệt, rong biển Hijiki có chứa Fucoidan giúp chống oxi hóa, phòng chống ung thư, tăng cường hệ miễn dịch. Giảm cholesterol, tốt cho sức khỏe tim mạch & tiêu hóa.Ngâm rong biển Hijiki với nước lạnh, cho rong biển mềm ra. Cho 2 cốc nước vào nồi, thêm 1 ít muối, cho rong biển Hijiki nấu từ 4~5 phút. Sau đó đổ rong biển ra rổ cho ráo nước, để nguội.Đậu hũ non rửa sạch, để ráo nước (hoặc có thể luộc qua để vệ sinh an toàn) Cho miếng đậu hũ non vào rổ, nghiền thành bột mịn, cho vào tô lớn. Thêm mè xay vào đậu hũ. trộn đều. Rau xà lách rửa sạch, tách lá, xé thành miếng nhỏ. Ớt chuông đỏ bào mỏng. Cho xà lách, ớt chuông, rong biển Hijiki vào tô đựng đậu hũ ở bước 2, trộn đều. Chia salad vừa trộn ra các đĩa nhỏ.Làm nước sốt tưới lên salad. Cho dấm, muối ớt xanh chanh, đường, tiêu xay vào tô, khuấy đều. Vừa khuấy vừa cho dầu olive vào hỗn hợp nước sốt. Sau đó tưới hỗn hợp nước sốt vừa pha lên đĩa salad và thưởng thức!
=== Sunomono- món nhúng giấm ===
Sunomono là món ăn làm từ dưa chuột là nguyên liệu chính trộn với dấm chua Nhật Bản (Su) ngoài ra còn có một số nguyên liệu khác như rau quả và các loại hải sản như cá, tôm, mực,... Nó mang lại một hương vị mới mẻ cho ẩm thực của xứ sở hoa anh đào, một món khai vị với hương vị chua ngọt lạ miệng kích thích sự thèm ăn của bạn. Có hai cách khác nhau để trộn giấm cho món ăn này: nibai-zu và sanbai-zu. Nibaizu là cách trộn đơn giản với một lượng bằng nhau giữa nước tương và giấm trộn kèm với hải sản đặc biệt là thanh cua. Sanbai-zu được thực hiện với số lượng bằng nhau của giấm, nước tương và mirin. Lượng gia vị được điều chỉnh dựa trên các thành phần và sở thích cá nhân, nước sốt dashi cũng có thể được thêm vào để tăng thêm mùi vị hoặc cũng có thể thêm vào một số gia vị khác. Sunomono là món ăn dễ thực hiện được sử dụng để làm món khai vị có thể ăn kèm với bất kì món ăn chính nào, nó thường có vị chua và hương thơm ngọt ngào nhưng với một số người ghét chua thì có vẻ như món ăn này không phù hợp với họ. Dưa chuột Nhật nhỏ hơn so với dưa chuột của Mỹ, ít hạt và vỏ mỏng. Bạn có thể cho thêm Wakame(rong biển) vào món salad trộn này.
=== Agemono- món chiên ngập dầu ===
Tempura: món hải sản lăn bột chiên
Korokke: món bọc khoai tây nghiền, lăn bột chiên xù
Kushikatsu: Kushiage (串揚げ) hay còn được gọi là Kushikatsu (串カツ) là một món ăn của Nhật Bản sử dụng thịt dày được xiên vào que, tẩm bột chiên xù rồi rán gập dầu.Kushiage có thể được thực hiện với thịt gà, thịt lợn, hải sản, và các loại rau theo mùa. Đây là miếng thịt những xâu vào kushi tre; nhúng vào trứng, bột mì, và panko chiên trong dầu thực vật, chúng có thể được phụ ăn không hoặc kèm theo nước sốt tonkatsu. Kushiage được mô tả như những người anh em họ nhưng ít được biết đến của tempura (món chiên xù) của người Nhật và được bày bán nhiều ở Osaka.
=== Itamemono- món xào ===
Kinpira gobo: củ ngưu bàng xào
=== Mushimono- món hấp ===
Chawanmushi: trứng hấp trong chén trà
=== Nabemono- món lẩu ===
Sukiyaki
Shabu-shabu
Oden
=== Nimono- món hầm ===
Kakuni: thịt heo kho
Nikujaga: khoai tây hầm thịt
=== Suimono hay shirumono- món canh, súp ===
Súp miso
Canh bánh gạo zoni
=== Yakimono- món nướng ===
Teppanyaki: món nướng trên tấm thép
Okonomiyaki: bánh xèo Nhật Bản
Teriyaki: thịt (chủ yếu ở Nhật dùngTeriyaki cá) được tẩm ướp loại nước tương ngọt và đặc tên là tare.
Taiyaki: bánh cá nướng
Yakitori: gà nướng
Dorayaki: bánh nướng
Unagi: lươn nướng
Takoyaki: bạch tuộc lăn bột viên nướng
Yakiniku: một món ăn thường bao gồm thịt bò được tẩm ướp và nướng ướp, mặc dù thịt gà cũng có thể được sử dụng tuy nhiên không phổ biến bằng thịt bò.Có 2 loại yakiniku:
- Thịt bò Kobe được dùng phổ biến. Người ta dùng sốt teriyaki làm từ xì dầu và rượu shochu. Yakiniku được chế biến từ thịt lưng của bò được xắt lát mỏng hoặc từ các loại thịt bò xắt lát khác. Thịt được ướp với một hỗn hợp của nước tương, đường, dầu mè, tỏi và các gia vị khác như hành lá, hoặc nấm, đặc biệt là nấm nút trắng hoặc nấm hương. Đôi khi, miến được thêm vào món ăn, nói chung là cách thức chế biến thay đổi theo từng khu vực. Trước khi nấu ăn, thịt được ướp để tăng cường hương vị và độ mềm.là món nướng nhưng nhiều khi món thịt này cũng được chế biến bằng cách chiên trong chảo. Theo cách thức chế biến truyền thống,yakiniku có chứa tỏi, hành tây và ớt chuông thái lát mỏng được chế biến cùng thời điểm đó với cà chua, hành tây và có thể cả phô mai.
- thịt sườn bò hoặc lợn hoặc gà tẩm xì dầu (shoyu) rồi nướng. Khi dùng sườn bò, nó còn được gọi là "gurirupōkuchoppu" (グリルポークチョップ) hoặc "Guriruchikinchoppu" (グリルチキンチョップ). uy nhiên, vì sườn bò hay được dùng hơn cả.
=== Tsukemono- dưa muối Nhật Bản ===
Asazuke: dưa muối nhanh
Gari: dưa gừng muối giấm đường
Beni shoga: dưa gừng muối rượu mơ Nhật umezu
Umeboshi: mơ Nhật muối
Takuan: dưa củ cải trắng
=== Tsukidashi- món ăn nhanh ===
Đồ ăn nhanh của Nhật được bày bán phổ biến tại các cửa hàng và siêu thị, tạp hoá trên toàn nước Nhật, giá cả phải chăng. Đặc biệt hơn hết là bánh gạo nướng với các vị mặn ngọt khác nhau.
== Ảnh hưởng bên ngoài Nhật Bản ==
=== Hàn Quốc ===
=== Thái Lan ===
=== Indonesia ===
=== Phillipines ===
=== Australia ===
=== Liên hợp Anh ===
=== Hoa Kỳ ===
=== México ===
=== Brazil ===
=== Việt Nam ===
== Xem thêm ==
Ẩm thực Hàn Quốc
Ẩm thực Thái Lan
== Tham khảo == |
luxembourg.txt | Luxembourg (phiên âm: Lúc-xăm-bua), tên đầy đủ là Đại công quốc Luxembourg (tiếng Luxembourg: Groussherzogtum Lëtzebuerg; tiếng Pháp: Grand-Duché de Luxembourg; tiếng Đức: Großherzogtum Luxemburg), là một quốc gia nhỏ nằm trong lục địa ở Tây Âu, giáp với Bỉ, Pháp, và Đức.
Luxembourg là một nước theo dân chủ đại nghị và quân chủ lập hiến, được cai trị bởi một đại công tước và là đại công quốc duy nhất còn tồn tại trên thế giới. Đất nước có một nền kinh tế phát triển cao, với GDP bình quân đầu người cao nhất trên thế giới (107.206 USD/người/năm). Luxembourg là thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu, NATO, Liên hợp quốc, Benelux và Liên minh Tây Âu, phản ánh xu thế chính trị của việc hội nhập kinh tế, chính trị và quân sự. Thành phố Luxembourg, thủ đô và là thành phố lớn nhất, là nơi đóng của một vài cơ quan và đại diện của Liên minh châu Âu.
Luxembourg nằm giữa biên giới văn hóa của châu Âu gốc Rôman và châu Âu gốc German, vay mượn phong tục tập quán từ những truyền thống rất khác nhau. Luxembourg là một nước với ba thứ tiếng; tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Luxembourg là những ngôn ngữ chính thức. Mặc dù là một nước thế tục, phần đông người dân Luxembourg theo đạo Công giáo Rôma.
== Lịch sử ==
Luxembourg là một phần lãnh thổ trong đế quốc Charlemagne. Lịch sử được ghi lại của Luxembourg bắt đầu với việc chiếm được Lucilinburhuc (ngày nay là lâu đài Luxembourg) bởi Siegfried, Bá tước xứ Ardennes vào năm 963. Tên hiện nay của Luxembourg có nguồn gốc từ tên trước đây Lucilinburhuc. Xung quanh đồn này, một thị trấn dần dần phát triển, và trở thành trung tâm của một nước nhỏ nhưng quan trọng về mặt chiến lược. Vào năm 1437, Hoàng gia Luxembourg khủng hoảng về vấn đề thừa kế, bắt đầu bởi việc thiếu một người con trai nối ngôi, dẫn đến việc vùng đất này bị bán cho Philip Người tốt của xứ Burgundy. Vào các thế kỉ theo sau đó, đồn Luxembourg được mở rộng liên tục và gia cố thêm bởi những chủ nhân kế tiếp nhau, nhà Bourbon, nhà Habsburg, nhà Hohenzollern và người Pháp, cùng với một số khác. Sau khi Napoléon thất bại vào năm 1815, Luxembourg bị tranh giành bởi Phổ và Hà Lan. Hội nghị Wien đã thành lập Luxembourg như là một Đại công quốc liên hiệp với Hà Lan. Luxembourg cũng là thành viên của Liên bang Đức, với một đồn Liên bang đóng bởi lính Phổ.
Cách mạng Bỉ năm 1830–1839 đã làm lãnh thổ của Luxembourg bị giảm đi hơn một nửa, vì đa phần nói tiếng Pháp thuộc phía tây được chuyển nhượng cho Bỉ. Nền độc lập của Luxembourg được khẳng định một lần nữa vào năm 1839 bởi Hiệp ước London thứ nhất. Cũng cùng năm đó, Luxembourg gia nhập Zollverein. Nền độc lập và sự trung lập của Luxembourg lại được khẳng định vào năm 1867 bởi Hiệp ước London thứ hai, sau cuộc khủng hoảng Luxembourg làm chiến tranh gần như nổ ra giữa Phổ và Pháp. Sau sự mâu thuẫn được kể trên, đồn của liên bang đã bị tháo dỡ.
Vua Hà Lan vẫn là Người lãnh đạo nhà nước như là Đại công tước xứ Luxembourg, duy trì mối liên hệ dân tộc giữa hai nước cho đến năm 1890. Vào lúc William III, ngôi Công tước được truyền cho con gái ông là Wilhelmina, trong khi Luxembourg (vào thời điểm đó chỉ giới hạn cho người nối ngôi là nam bởi Hiệp định Gia đình Nassau) được truyền cho Adolph xứ Nassau-Weilburg.
Luxembourg bị xâm lược và chiếm đóng bởi quân Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng được phép giữ độc lập và cơ chế chính trị. Nó lại bị xâm lược và chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1940, và chính thức bị sát nhập vào Đế chế thứ ba vào năm 1942.
Trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai, Luxembourg đã bãi bỏ chính sách trung lập, khi nước này tham dự phe Đồng Minh đánh lại quân Đức. Chính phủ lưu vong của nước này đã trú tại London, thiết lập một nhóm quân tình nguyện nhỏ tham dự trận đánh Normandy. Nó trở thành một thành viên sáng lập Liên hợp quốc vào năm 1946, và khối NATO vào năm 1949. Vào năm 1957, Luxembourg trở thành một trong sáu nước thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu (sau này là Liên minh châu Âu) và vào năm 1999, tham dự khu vực sử đụng tiền euro.
Năm 1964, Nữ Đại công tước Charlotte thoái vị và nhường ngôi cho con trai là Thái tử Jean. Năm 2000, con trai Đại công tước Jean là Henri lên kế vị. Vai trò lãnh đạo đời sống chính trị vẫn thuộc về đảng Xã hội Thiên chúa giáo, Jacques Santer giữ chức Thủ tướng từ năm 1984 đến 1995, rồi đến Claude Juncler trở thành người kế nhiệm từ năm 1995. Quốc hội Luxembourg phê chuẩn hiệp ước Maastricht chuẩn bị cho việc hội nhập kinh tế vào Liên hiệp châu Âu vào tháng 7 năm 1992. Tháng 10 năm 2000, Thái tử Henri tuyên thệ nhậm chức Đại công tước thay thế cha là Đại công tước Jean. Năm 2002, Luxembourg chính thức sử dụng đồng euro.
Vào năm 2005, một trưng cầu dân ý về hiến pháp chung châu Âu đã được tổ chức ở Luxembourg.
== Kinh tế ==
Kinh tế Luxembourg là nền kinh tế phát triển, lĩnh vực chủ yếu là ngân hàng và thép. Luxembourg có GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới, với 104,906 USD/đầu người (2016), GDP đạt 60.984 USD (đứng thứ 75 thế giới và đứng thứ 25 châu Âu).
Trong những năm qua, Luxembourg luôn là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong EU. Thu nhập GDP đầu người thuộc loại cao nhất thế giới. Các lĩnh vực thế mạnh là thương mại, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, hoá chất cao su, nhựa, sản xuất thép, thực phẩm. Khu vực dịch vụ nói chung và dịch vụ tài chính ngân hàng nói riêng là động lực chính thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng (Tài chính – ngân hàng hiện đóng góp 28% GDP của Luxembourg). Cơ cấu GDP: nông nghiệp 1%, công nghiệp 14% và dịch vụ 85% (2007). Các bạn hàng chủ yếu của Luxembourg là Bỉ, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Mỹ. Điều đáng chú ý là cán cân thương mại (hàng hoá) của Luxembourg thường xuyên thâm hụt, tuy nhiên cán cân thanh toán lại thặng dư, nhờ thu hút được nhiều luồng tài chính từ bên ngoài. Luxembourg hiện tham gia khu vực đồng euro.
Ngành công nghiệp luyện kim và gang thép tập trung ở vùng Tây Nam, công nghiệp thực phẩm gồm: sữa, thịt chế biến, rượu. Khu vực kinh tế thứ ba sử dụng 90% lực lượng lao động.
== Địa lý ==
Luxembourg nằm ở Tây Âu giáp với Pháp, Đức, Bỉ. Vùng Osling ở phía Bắc thuộc cao nguyên Ardenne, địa hình lồi lõm, phần lớn là các khu rừng và đồng cỏ, điều kiện thiên nhiên ít ưu đãi hơn. Vùng Gutland ở phía Nam, đất màu mỡ, thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp (ngũ cốc, cây ăn quả, hoa, nho và thuốc lá).
== Chính trị ==
Luxembourg là một nước quân chủ lập hiến đa đảng, đại diện là Đại Công Tước (không có vua) được kế tục theo cha truyền con nối. Theo đó Thủ tướng Luxembourg là người đứng đầu chính phủ. Quyền hành pháp được quy định theo hiến pháp năm 1868 (đã sửa đổi) được thực hiện bởi chính phủ, bởi Đại Công Tước và các Hội đồng Chính phủ (nội các), trong đó bao gồm một thủ tướng và nhiều bộ trưởng khác. Đại Công Tước có quyền giải tán quốc hội và bầu cử lại mới. Các thủ tướng và phó thủ tướng được bổ nhiệm bởi Đại Công Tước sau cuộc bầu cử công khai đến các Viện đại biểu; họ chịu trách nhiệm đối với Viện đại biểu. Quyền lập pháp được trao cho cả chính phủ và quốc hội. Cơ quan tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp.
Cuối năm 2013, Xavier Bettel chiến thắng trong việc tranh cử thủ tướng đã khép lại 18 năm cầm quyền của ông Jean-Claude Juncker - lãnh tụ đảng Cơ đốc Xã hội bảo thủ, đảng nắm quyền gần như liên tục kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Để có thể giánh được thắng lợi, nhà lãnh đạo trẻ theo xu hướng tự do đã phải liên kết với hai đảng thế tục khác: Đảng Dân chủ và Đảng Xanh.
Chính phủ hiện nay là một liên minh của ba đảng DP (Đảng Dân chủ), LSAP (Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa) và DG (Đảng Xanh). Các đảng phái chính trị chính:
Đảng Dân chủ, đảng cánh hữu theo đường lối tự do.
Đảng Xanh, chủ trương bảo vệ môi trường.
Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Luxembourg, theo đường lối dân chủ xã hội.
Đảng Cơ đốc Xã hội, đảng cánh hữu bảo thủ.
=== Chính sách đối ngoại ===
Mục tiêu chính sách đối ngoại của Luxembourg là "Phát huy vai trò trong EU, tham gia vào việc xây dựng một thế giới hoà bình, bảo vệ các giá trị cơ bản, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Là nước nhỏ có nền kinh tế mở nên lợi ích của Luxembourg gắn liền với lợi ích của EU. Do vậy, Luxembourg luôn ủng hộ tiến trình xây dựng Liên minh châu Âu, ủng hộ việc mở rộng EU sang Trung Âu và Đông Âu.
=== Về chính sách hợp tác phát triển ===
Tuy là nước nhỏ nhưng Luxembourg rất quan tâm đến hợp tác phát triển. Năm 1998, tổng giá trị ODA của Luxembourg đạt 4,1 tỷ franc Lux (117,5 triệu USD), tương đương 0,61% GNP và 2,25% ngân sách quốc gia; năm 1999 khoảng 4,5 tỷ franc Lux (129 triệu USD). Theo báo cáo ngày 23/4/2008 của Bộ trưởng Hợp tác Phát triển của Luxembourg trước Quốc hội về chính sách viện trợ phát triển của Luxembourg, từ năm 2000, Luxembourg là một trong 5 nước công nghiệp phát triển dành 0,7% thu nhập quốc dân cho viện trợ phát triển, năm 2007 con số này lên đến 0,9% và năm 2008 sẽ đạt 0.91%. Mục tiêu của chính sách hợp tác phát triển của Luxembourg là phục vụ công cuộc xoá đói giảm nghèo, đảm bảo cho sự phát triển bền vững tại các nước đang phát triển, trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm. Ưu tiên từ nay đến năm 2015 là phục vụ cho việc thực hiện cho mục tiêu của Thiên niên kỷ, nhất là những mục tiêu mang tính chất xã hội như y tế, giáo dục, đào tạo… Cho tới nay, viện trợ phát triển của Luxembourg chỉ ưu tiên dành cho 10 nước trong đó có 6 nước thuộc tiểu vùng sa mạc Sahara (Burkina Faso, Cabo Verde, Mali, Namibia, Niger và Sénégal), 2 nước châu Mỹ Latinh (Nicaragua và El Salvador), 2 nước châu Á (Lào và Việt Nam).
Luxembourg cũng tiến hành chiến dịch thông tin đến người dân để họ hiểu và ủng hộ những nỗ lực của Chính phủ trong lĩnh vực hợp tác phát triển. Trong một cuộc thăm dò dư luận tiến hành đầu năm 2003, đại đa số người dân Luxembourg đều ủng hộ chính sách của Chính phủ.
== Dân tộc ==
Người dân Luxembourg được gọi là Luxembourgers, dân nhập cư tăng lên trong thế kỷ 20 do sự xuất hiện của những người nhập cư từ Bỉ, Pháp, Ý, Đức, và Bồ Đào Nha, với phần lớn đến từ sau này. Trong cuộc điều tra dân số năm 2001, đã có 58.657 người nhập cư có quốc tịch Bồ Đào Nha.
Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh Nam Tư, Luxembourg đã tiếp nhận nhiều người nhập cư từ các nước Bosnia và Herzegovina, Montenegro và Serbia. Hàng năm, hơn 10.000 người nhập cư mới đến Luxembourg, chủ yếu là từ các quốc gia EU, và Đông Âu. Như năm 2000, đã có 162.000 người nhập cư tại Luxembourg, chiếm 37% tổng dân số. Có khoảng 5.000 người nhập cư bất hợp pháp, bao gồm người tị nạn.
Thành phần dân tộc hiện nay gồm: người Luxembourg (tức người Celt), người Bồ Đào Nha, người Italia, người Montenegro, Albania, Kosovo.
== Giáo dục ==
Nền giáo dục cơ bản toàn diện và đặc biệt chú trọng vấn đề ngôn ngữ đã giúp người dân Luxembourg trở nên tự tin và dễ dàng hòa nhập nền kinh tế quốc tế. Người dân ở đây có thể sử dụng ba thứ tiếng ngoài tiếng mẹ đẻ, gồm tiếng Đức, tiếng Pháp, và tiếng Anh. Và một điều không giống bất cứ nơi đâu trên thế giới là đất nước này chủ trương chỉ mở một trường đại học. Dĩ nhiên, Luxembourg cũng có trung tâm đào tạo nâng cao, các trường cao đẳng, dạy nghề về du lịch và khách sạn.
Chương trình tiểu học 6 năm, trung học 7 năm. Học sinh tốt nghiệp có thể theo học chương trình cao hơn, tham gia vào các môn học như nhân văn, luật, kinh tế, y học... Nhiều sinh viên ra nước ngoài tu nghiệp. Luxembourg có rất nhiều trường kĩ thuật và hướng nghiệp.
== Ngôn ngữ ==
Tiếng Luxembourg, tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp là những ngôn ngữ chính thức.
== Tôn giáo ==
Luxembourg là một quốc gia thế tục, nhưng nhà nước công nhận một số các tôn giáo chính thức. Điều này cho phép nhà nước có quyền trong việc quản lý tôn giáo và bổ nhiệm hàng giáo sĩ, thay vào đó nhà nước sẽ trả chi phí vận hành tôn giáo và tiền lương của các giáo sĩ. Hiện nay, các tôn giáo được công nhận đó là Công giáo Rôma, Do Thái giáo, Chính Thống giáo Hy Lạp, Anh giáo, Chính Thống giáo Nga, Giáo hội Luther, Tin Lành phái Mennonitism và Hồi giáo.
Một ước tính của The World Factbook năm 2000 cho thấy là 87% dân số Luxembourgers là người Công giáo, trong đó có gia đình hoàng gia, còn lại 13% là người Hồi giáo, Tin Lành, Chính thống giáo, người Do Thái, và những người không tôn giáo. Theo một nghiên cứu Trung tâm nghiên cứu Pew năm 2010, 70,4% dân số là Kitô giáo, Hồi giáo là 2,3%, 26,8% tôn giáo khác và 0,5% không tôn giáo.
== Tham khảo == |
danh sách cầu thủ bóng đá việt nam sinh ra ở nước ngoài.txt | Cầu thủ Việt Nam sinh ra ở nước ngoài bao gồm những cầu thủ ngoại quốc, được sinh ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam và sau đó được nhận quốc tịch Việt Nam (Cầu thủ nhập tịch) hoặc những cầu thủ có gốc là người Việt Nam nhưng sinh ra và lớn lên ở nước ngoài (Cầu thủ Việt kiều).
== Cầu thủ nhập tịch ==
== Cầu thủ Việt kiều ==
== Xem thêm ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
Giải bóng đá vô địch quốc gia
Liên đoàn bóng đá Việt Nam
== Chú thích == |
kali xyanua.txt | Kali xyanua, xyanua kali là tên gọi của một loại hợp chất hóa học không màu của kali có công thức KCN. Nó có mùi giống như mùi quả hạnh nhân, có hình thức bề ngoài giống như đường và hòa tan nhiều trong nước. Là một trong số rất ít chất có khả năng tạo ra các phức chất của vàng (Au) hòa tan được trong nước, vì thế nó được sử dụng trong ngành kim hoàn để mạ hay đánh bóng bằng phương pháp hóa học. Đôi khi nó cũng được sử dụng trong ngành khai thác các mỏ vàng để tách vàng ra khỏi quặng vàng (mặc dù xyanua natri được sử dụng phổ biến hơn). Cho đến những năm thập niên 1970 nó còn được sử dụng trong thuốc diệt chuột.
== Các tính chất lý hóa ==
=== Tính chất vật lý ===
Tinh thể màu trắng, thường ở dạng bột.
Nhiệt độ nóng chảy: 634 °C
Khối lượng riêng: 1,52 g/cm3
Độ hòa tan (trong nước ở 25 °C): 71,6 g/100 g.
Phân tử khối: 65,12 đơn vị cacbon (đvC).
Không tan khi nhiệt độ môi trường <=0°
=== Tính chất hóa học ===
Có tính hoạt động hóa học cao.
Dễ dàng phản ứng với các axit để tạo thành axit xyanic là chất độc dễ bay hơi.
Từng được sử dụng trong công nghiệp tinh chế vàng.
== Các hiệu ứng sinh lý học và độc tính ==
=== Độc tính ===
Là một chất kịch độc, gây chết người với liều lượng thấp. Chỉ cần ăn nhầm từ 200 đến 250 mg chất này thì một người khỏe mạnh có thể mất ý thức trong vòng 30 giây đến 2 phút. Sau khoảng 1 tiếng thì rơi vào trạng thái hôn mê và có thể tử vong sau khoảng 3 giờ nếu không có các biện pháp điều trị kịp thời. Theo phân loại trong hướng dẫn số 67/548/EEC của liên minh châu Âu thì nó là chất cực độc (T+). Giới hạn phơi nhiễm tối đa (PEL) của OSHA là 5 mg/m3. Còn theo quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10 tháng 10 năm 2002 của Bộ Y tế Việt Nam thì giới hạn này là 3 mg/m3 trong môi trường sản xuất.
=== Cơ chế ngộ độc ===
Giống như các hợp chất xyanua khác, xyanua kali gây độc bằng cách ngăn chặn sự trao đổi chất của tế bào. Xyanua kali có khả năng tạo liên kết hóa học với các heme trong máu (như hemoglobin), làm cho các tế bào không lấy được ôxy và bị hủy hoại.
Các chất giải độc xyanua kali:
Khi bị ngộ độc xyanua kali, cần sơ cứu nạn nhân bằng cách cho thở bằng khí ôxy. Trong các phân xưởng có sử dụng xyanua kali, thường có sẵn bộ cấp cứu trong trường hợp nhiễm độc, bao gồm các chất amyl nitrat, nitrít natri, xanh methylen và natri thiosulphate.
Đường glucozơ có khả năng làm chậm lại đáng kể quá trình gây độc của xyanua kali, đồng thời bảo vệ các tế bào bằng cách tạo liên kết hóa học với xyanua kali. Tuy nhiên Glucozơ không có khả năng giải độc.
=== Các chỉ số an toàn ===
== Chi tiết thú vị ==
Xyanua kali thường được sử dụng để tự tử. Ngoài ra, xyanua kali thường xuyên xuất hiện trong văn học và truyện tranh, chẳng hạn Thám tử lừng danh Conan.
Trong thực tế nhiều hợp chất Kali được sử dụng trong các hóa chất tẩy rửa gia dụng. Tiêu chuẩn châu Âu thường kỹ càng hơn về các hợp chất Kali so với các nước khác. Tuy nhiên ở Việt Nam loại độc chất này không phải ai cũng biết và thường được làm chất tẩy rửa chính trong các chất tẩy rửa đang lan tràn trên thị trường Việt Nam.
Điều chế xyanua
N2 + CH4 → HCN + NH3 → NH4CN + KOH → KCN + NH3 + H2O
== Xem thêm ==
Xyanua
== Ghi chú == |
salford city f.c..txt | Salford City là đội bóng chuyên nghiệp ở khu Kersal thuộc Salford, Đại Manchester, Anh, đang thi đấu cho giải National League North. Salford City F.C cũng được coi là đội bóng riêng của các huyền thoại Manchester United F.C.. Đây cũng là đội bóng vệ tinh của Manchester United.
== Cầu thủ ==
Số liệu thống kê chính xác tới 19 tháng 7 năm 2016
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Tham khảo == |
hải lưu gulf stream.txt | Hải lưu Gulf Stream (hay "dòng Vịnh") hoặc phiên âm hải lưu Gơn strim, là một hải lưu mạnh, ấm và chảy nhanh ở Đại Tây Dương xuất phát từ vịnh Mexico, chảy qua eo biển Florida tới bờ biển phía đông nước Mỹ và Newfoundland. Hải lưu Gulf Stream có ảnh hưởng đặc biệt tới khí hậu của bờ biển phía đông Florida, đặc biệt cao là vùng đông nam Florida, nó giúp cho thời tiết ở đây ấm hơn trong mùa đông và ít nóng hơn so với những phần còn lại của miền đông nam nước Mỹ trong mùa hè. Nó trải dài tới tận châu Âu, và được gọi là dòng chảy bắc Đại Tây Dương, làm cho các quốc gia Tây Âu ấm hơn một cách đáng kể so với khi nếu nó chảy theo hướng khác.
Một con sông ngầm dưới đáy biển, gọi là hải lưu bắc xích đạo, chảy từ bờ biển phía tây bắc châu Phi về hướng tây. Khi dòng chảy này gặp bờ biển đông bắc Nam Mỹ, dòng chảy tách ra thành hai nhánh. Một nhánh đi vào vịnh Caribe, còn nhánh kia chảy về hướng bắc và hướng đông của Tây Ấn. Cả hai nhánh này liên kết lại để chảy qua eo biển Florida.
Do đó, kết quả là hải lưu Gulf Stream trở thành một trong những hải lưu mạnh nhất đã được biết, nó vận chuyển một nguồn năng lượng khổng lồ cỡ 1,4 pêtaoát (1,4 x 1015 W). Lưu lượng nước của nó đạt tới 30 triệu mét khối trên giây. Sau khi nó vượt qua mũi Hatteras, lưu lượng tăng lên tới 80 triệu mét khối trên giây. Lưu lượng nước vận chuyển của hải lưu Gulf Stream này vượt xa lưu lượng của tất cả các con sông đổ ra Đại Tây Dương cộng lại (tổng lưu lượng của chúng chỉ có tối đa 0,6 triệu mét khối trên giây).
Khi nó chuyển động về phía bắc, một lượng nhất định nước ấm của hải lưu Gulf Stream bị bay hơi. Điều này làm tăng độ mặn của nước trong hải lưu này, và ở bắc Đại Tây Dương nước bị lạnh đi và nặng hơn cùng với độ mặn cao hơn sẽ chìm xuống. Nó sau đó trở thành một phần của vùng nước sâu bắc Đại Tây Dương, là một dòng nước chảy về phía nam.
Hiệu ứng của hải lưu Gulf Stream là đủ mạnh để làm cho một số phần đất thuộc miền tây nước Anh và Ireland (Ailen) có nhiệt độ trung bình cao hơn vài độ so với phần lớn các vùng khác của các quốc gia này. Trên thực tế, tại Cornwall, và chủ yếu là quần đảo Scilly, hiệu ứng của nó lớn đến mức những loài thực vật chủ yếu sinh trưởng ở những vùng khí hậu ấm áp như dừa cũng có thể sống được trong điều kiện khắc nghiệt của mùa đông ở các vĩ độ cao. Vườn bách thảo Logan ở Scotland cũng hưởng lợi từ hải lưu Gulf Stream, các cây đại hoàng Nam Mỹ (Gunnera manicata) ở đây cao tới trên 3 mét.
Với hiện tượng gần đây của sự ấm toàn cầu, một số nhà khoa học đã bày tỏ sự lo ngại về cơ chế chìm xuống đã nói trên đây. Đặc biệt, nước ngọt tạo ra do sự tan chảy của các núi băng ở Bắc Băng Dương có thể làm loãng nước của hải lưu Gulf Stream và làm cho nó nhẹ đi nên không chìm xuống. Kết quả là một sự thay đổi lớn trong khí hậu của châu Âu, với những hậu quả chưa thể tính trước. Một số dấu vết hóa thạch là dấu hiệu chứng tỏ sự kiện tương tự đã diễn ra trong quá khứ nhiều lần, nhưng chứng cứ hóa thạch vẫn là dấu hỏi.
== Chứng cứ chậm lại của Gulf Stream ==
Gần đây thuyết này nhận được sự hỗ trợ của các phân tích dữ liệu vệ tinh của Mỹ, nó dường như chỉ ra xu hướng chậm lại của vòng xoáy tròn bắc Đại Tây Dương (tức phần nước xoáy phía bắc của hải lưu Gulf Stream).
Tháng 5 năm 2005, Peter Wadhams, giáo sư bộ môn vật lý hải dương học của trường đại học Cambridge có thông báo với the Times về kết quả điều tra trong các hoạt động ngầm dưới biển dưới các lớp băng Bắc Băng Dương, các nhà khoa học đã đo đạc các ống khói khổng lồ chứa nước lạnh và nặng, trong đó nước lạnh và nặng thông thường chìm xuống phía đáy biển và được thay thế bởi nước ấm, tạo ra một trong các cơ chế của dòng chảy bắc Đại Tây Dương. Ông và nhóm của mình đã phát hiện ra rằng các khe này dường như đang biến mất. Thông thường ở đây phải có từ 7 đến 12 cột khổng lồ, nhưng Wadhams chỉ tìm thấy 2 cột khổng lồ và cả hai đều rất yếu.
== Tham khảo ==
NASA: Slowing of North Atlantic Gyre
Corona Magazine Issue 124: Science (German, Transported amount of power)
Peter Wadhams interview in the Times - disappearance of sinking chimneys of cold, dense water
== Đọc thêm ==
Hycom Consortium |
tổng thống pháp.txt | Tổng thống Cộng hòa Pháp (tiếng Pháp: Président de la République française), thường được gọi là Tổng thống Pháp, là vị nguyên thủ quốc gia được dân bầu của đất nước này. Với chức vụ này, tổng thống Pháp cũng kiêm tước vị Đồng thái tử của Công quốc Andorra và Tổng Chỉ huy Binh đoàn Danh dự (Légion d'honneur).
Sách tiếng Việt vào đầu thế kỷ 20 gọi chức vị này là Giám quốc Pháp.
Bốn trong năm nền cộng hòa của Pháp đã có tổng thống làm nguyên thủ, vì thế chức này là chức tổng thống tồn tại lâu đời nhất châu Âu và thứ 2 thế giới (sau tổng thống Mỹ). Qua hiến pháp của mỗi nền cộng hòa, các quyền lực, địa vị, và trách nhiệm của tổng thống đã trải qua nhiều thay đổi.
Tổng thống đương nhiệm là Emmanuel Macron (nhậm chức ngày 14 tháng 5 năm 2017).
== Quyền lực ==
Khác với chức tổng thống ở các nước châu Âu khác, Tổng thống Pháp có nhiều quyền lực thật sự, nhất là trong vấn đề ngoại giao. Tuy Thủ tướng và Quốc hội điều hành việc lập pháp, Tổng thống có nhiều ảnh hưởng quan trọng, chính thức và theo thông lệ. Tổng thống là chức vụ cao nhất đất nước, cao hơn tất cả các chức vụ khác.
Có thể quyền quan trọng nhất của Tổng thống là chọn Thủ tướng. Tuy thế, vì chỉ có Quốc hội mới có quyền bãi nhiệm chính phủ của một Thủ tướng, Tổng thống bị buộc phải chọn một Thủ tướng được đa số Quốc hội tán thành.
Khi phần đông Quốc hội không tán thành chính sách của Tổng thống, việc này dẫn đến việc "sống chung chính trị" (cohabitation). Trong trường hợp này, quyền của Tổng thống bị giới hạn, vì quyền thực sự dựa vào sự ủng hộ của Thủ tướng và Quốc hội chứ không phải vào quyền có từ hiến pháp. Tuy nhiên, theo thông lệ thì Tổng thống điều khiển chính sách ngoại giao, nhưng cũng phải hợp tác với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Khi phần đông Quốc hội có cùng quan điểm với Tổng thống, Tổng thống đóng được một vai trò tích cực hơn, và do đó điều khiển chính sách chính phủ. Lúc này, Thủ tướng chỉ là một cái "ngòi", và sẽ bị thay đổi khi chính phủ không được dân tán thành.
Theo Hiến pháp Pháp, sau đây là các quyền lực của Tổng thống:
Công bố các đạo luật
Tổng thống có thể triệu tập một phiên họp Hội đồng Lập hiến trước khi ký thông qua 1 đạo luật
Bổ nhiệm một số chức vụ quan trọng trong chính phủ (với sự phê chuẩn của nội các)
Bổ nhiệm 3 trong số 9 thành viên của Hội đồng Lập hiến, trong đó có Chủ tịch của Hội đồng
Tiếp đón các đại sứ nước ngoài.
Làm nhẹ tội (không ân xá) các tội phạm. Việc này quan trọng khi Pháp còn có án tử hình: tội phạm có thể xin Tổng thống giảm án xuống tù chung thân thay vì tử hình.
== Bầu cử ==
Sau khi Đệ ngũ Cộng hoà thành lập năm 1958, người dân Pháp không trực tiếp bầu lên Tổng thống mà thông qua các đại cử tri. Ngày 28 tháng 10 năm 1962, một cuộc trưng cầu dân ý về hình thức bỏ phiếu trực tiếp được tổ chức, và với 61,7% ý kiến ủng hộ, kể từ năm 1965, việc bầu cử tổng thống Pháp chính thức được tổ chức theo hình thức phổ thông đầu phiếu.
Các ứng cử viên tổng thống cần đảm bảo điều kiện sức khoẻ cũng như không được dưới 23 tuổi và quan trọng nhất là phải có được sự ủng hộ của một nhóm các chính khách (thành viên của Thượng nghị viện, Hạ nghị viện, thị trưởng, tỉnh trưởng, các thành viên trong Hội đồng Cố vấn của vùng). Trước đây, mỗi ứng cử viên được yêu cầu có sự ủng hộ của 100 chính khách, nhưng từ sau một điều luật được thông qua ngày 28 tháng 6 năm 1976, số chữ ký ủng hộ mà mỗi ứng viên Tổng thống cần có tăng lên 500. Luật cũng nói rằng những người ủng hộ này phải đến từ ít nhất 30 tỉnh (Chính quốc và Hải ngoại) và mỗi tỉnh có không quá 10% số người ủng hộ. Sau khi thu thập đủ số chữ ký ủng hộ, Hội đồng Lập hiến nhà nước sẽ là cơ quan kiểm tra tính hợp pháp cho hồ sơ của mỗi ứng viên. Cuộc bầu cử sẽ diễn ra trong vòng từ 20 tới 35 ngày trước khi Tổng thống đương chức mãn nhiệm hoặc từ 20 tới 35 ngày sau khi Tổng thống đương chức qua đời hay từ chức.
Trước đây, mỗi nhiệm kì Tổng thống Pháp kéo dài 7 năm. Nhưng kể từ sau một đạo luật thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1973, qua đó cho phép các ứng viên tổng thống ứng cử không giới hạn số nhiệm kì, ý tưởng rút ngắn nhiệm kì tổng thống mới hình thành. Tổng thống Pháp khi đó là Georges Pompidou đã đề xuất việc rút ngắn mỗi nhiệm kì tổng thống từ 7 năm xuống còn 5 năm nhưng gặp phải nhiều ý kiến phản đối. Mãi tới tháng 6 năm 2000, Hạ viện rồi sau đó là Thượng viện Pháp mới thông qua đề xuất rút ngắn nhiệm kì. Một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức ngày 24 tháng 9 cùng năm cũng cho thấy 73% dân chúng Pháp đồng thuận với ý kiến này. Hiến pháp mới của nước Pháp năm 2008 cũng quy định không một ứng viên nào được phép ứng cử quá 2 nhiệm kì liên tiếp, đồng nghĩa với không Tổng thống Pháp nào trong tương lai có nhiệm kì quá 10 năm liên tục.
Tổng thống Pháp được bầu cử theo nhiều vòng. Nếu không ứng cử viên nào thắng được đa số phiếu (trên 50%) thì hai ứng cử viên với nhiều phiếu nhất sẽ tranh đấu nhau trong vòng thứ thứ hai.
Trong lịch sử Đệ ngũ Cộng hoà, có hai tổng thống là François Mitterrand và Jacques Chirac được bầu làm Tổng thống hai nhiệm kỳ (Charles de Gaulle cũng được bầu làm tổng thống 2 nhiệm kỳ, song từ chức khi đương nhiệm vào năm 1969).
Tổng thống Nicolas Sarkozy được bầu lần đầu năm 2007 và nhiệm kỳ của ông đã kết thúc năm 2012. Tổng thống François Hollande được bầu lần đầu năm 2012 và nhiệm kỳ của ông đã kết thúc năm 2017.
== Chức vụ bỏ trống ==
Trong trường hợp chức vụ Tổng thống bị bỏ trống (đột ngột qua đời, từ chức hay bị đình chỉ chức vụ tạm thời theo yêu cầu của Hội đồng Lập hiến) thì Chủ tịch Thượng viện có quyền chỉ định một Tổng thống tạm quyền. Việc tạm quyền Tổng thống không được phép kéo dài quá 35 ngày và Tổng thống tạm quyền có đầy đủ quyền hành trừ những điều khoản đặc biệt quy định trong điều 16 Hiến pháp. Theo đó Tổng thống tạm quyền không được phép sửa đổi Hiến pháp, tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý cũng như giải tán Hạ viện. Trong lịch sử của Đệ ngũ Cộng hoà, từng có 2 lần việc tạm quyền Tổng thống diễn ra. Lần đầu là vào năm 1969, Alain Poher tạm quyền sau khi Charles de Gaulle từ chức tổng thống và lần thứ 2 là vào năm 1974, sau khi tổng thống Georges Pompidou qua đời và người tạm quyền là Valéry Giscard d'Estaing, sau này cũng được bầu làm Tổng thống nước Cộng hoà Pháp.
== Danh sách Tổng thống Cộng hòa Pháp ==
Đệ nhị Cộng hòa Pháp
Louis-Napoléon Bonaparte, 1848 - 1852 (tự phong làm hoàng đế năm 1852, cai trị đến năm 1870)
Louis Jules Trochu (quyền), 1870 - 1871
Đệ tam Cộng hòa Pháp
Adolphe Thiers, 1871 - 1873
Patrice Mac-Mahon, duc de Magenta, 1873 - 1879
Jules Grévy, 1879 - 1887
Marie François Sadi Carnot, 1887 - 1894
Jean Casimir-Périer, 1894 - 1895
Félix Faure, 1895 - 1899
Émile Loubet, 1899 - 1906
Armand Fallières, 1906 - 1913
Raymond Poincaré, 1913 - 1920
Paul Deschanel, 18 tháng 2 1920 - 21 tháng 9 - 1920
Alexandre Millerand, 1920 - 1924
Gaston Doumergue, 1924 - 1931
Paul Doumer, 1931 - 1932
Albert Lebrun, 1932 - 1940
Thể chế Vichy
Henri Philippe Pétain, 1940-1944 ("Quốc trưởng", không dùng từ tổng thống)
Thể chế Tự Do Pháp
Charles de Gaulle, 1940-1944 ("Lãnh tụ Tự do Pháp", không dùng từ tổng thống)
Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp ("Chủ tịch Chính phủ lâm thời", không dùng từ tổng thống)
Charles de Gaulle, 1944-1946
Félix Gouin (Đảng Xã hội), 1946
Georges Bidault (Phong trào Cộng hòa Nhân dân), 1946
Léon Blum (Đảng Xã hội), 1946 - 1947
Đệ tứ Cộng hòa Pháp
Vincent Auriol (Đảng Xã hội), 1947-1954
René Coty (Đảng Tự do), 1954-1959
Đệ ngũ Cộng hòa Pháp
Charles de Gaulle (Liên hiệp Dân chủ Cộng hòa), 1959 - 1969
Georges Pompidou (Liên hiệp Dân chủ Cộng hòa), 1969 - 1974
Valéry Giscard d'Estaing (Liên hiệp Cộng hòa Pháp), 1974 - 1981
François Mitterrand (Đảng Xã hội), 1981 - 1995
Jacques Chirac (Liên hiệp vì nền Cộng hòa), 1995 - 2007
Nicolas Sarkozy (Liên minh Phong trào Nhân dân), 2007 - 2012.
François Hollande (Đảng Xã hội) 2012 - 2017
Emmanuel Macron (Tiến bước!), 2017 - nay
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Tổng thống Pháp (tiếng Pháp)
Nơi sinh của Tổng thống Pháp |
hội chợ điện tử tiêu dùng.txt | Hội chợ Điện tử Tiêu dùng (tiếng Anh: Consumer Electronics Show, viết tắt: CES), trước kia được gọi chính thức là Hội chợ Điện tử Tiêu dùng Quốc tế (tiếng Anh: 'International CES') là một hội chợ thương mại thường niên được tổ chức bởi Tổ chức Công nghệ Tiêu dùng. Tổ chức vào tháng 1 tại Las Vegas Convention Center ở Las Vegas, Nevada, Hoa Kỳ, sự kiện này thường là dịp để giới thiệu các sản phẩm và công nghệ mới trong ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng.
== Lịch sử ==
== Nổi bật ==
=== 1967 ===
=== 1993 ===
=== 2004 ===
=== 2005 ===
=== 2006 ===
=== 2007 ===
=== 2008 ===
=== 2009 ===
=== 2010 ===
=== 2011 ===
=== 2012 ===
=== 2013 ===
=== 2014 ===
=== 2015 ===
=== 2016 ===
=== 2017 ===
CES 2017 sẽ được tổ chức từ ngày 5–8 tháng 1 năm 2017 tại Las Vegas.
== "Booth babes" controversy ==
== Climate change and bigger picture controversy ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
1930.txt | 1991
== Sự kiện ==
=== Tháng 2 ===
1 tháng 2: Hồng quân Trung Quốc thất thủ tại căn cứ địa Tả Giang
3 tháng 2: Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập.
=== Tháng 7 ===
13 tháng 7: Giải vô địch bóng đá thế giới 1930 là giải vô địch bóng đá thế giới lần đầu tiên.
27 tháng 7: Hồng quân Trung Quốc giải phóng Trường Sa, Hồ Nam
== Sinh ==
30 tháng 7: Giáo sư Cao Xuân Hạo
30 tháng 8: Tỷ phú Warren Bufett
== Mất ==
== Giải Nobel ==
Vật lý - Sir Chandrasekhara Venkata Raman
Hóa học - Hans Fischer
Y học - Karl Landsteiner
Văn học - Sinclair Lewis
Hòa bình - Tổng giám mục Lars Olof Nathan Söderblom
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
bắc nias (huyện).txt | Bắc Nias (huyện) là một huyện (kabupaten) thuộc tỉnh Bắc Sumatra, Indonesia. Huyện lỵ đóng ở. Huyện có diện tích 1202,78 km2, sân số theo điều tra năm 2000 là 127.703 người (2007).
== Các đơn vị hành chính ==
Huyện gồm có phó huyện hành chính (kecamatan) sau:
== Tham khảo ==
Afulu
Alasa
Alasa Talumuzoi
Lahewa
Lahewa Timur
Lotu
Namohalu Esiwa
Sawo
Sitolu Ori
Tugala Oyo
Tuhemberua |
type-moon.txt | Type-Moon (タイプムーン, Taipu Mūn) là một hãng visual novel Nhật Bản thành lập vào năm 2000 bởi tiểu thuyết gia Nasu Kinoko và họa sĩ Takeuchi Takashi. Công ty cũng được biết đến dưới tên Notes Co., Ltd. (有限会社ノーツ, Yūgen-kaisha Nōtsu) cho việc xuất bản và các hoạt động doanh nghiệp. Sau khi phát triển nên visual novel nổi tiếng Tsukihime như một circle dojin soft, Type-Moon chính thức trở thành một công ty phát triển game và tạo nên visual novel kinh điển Fate/stay night. Cả hai tác phẩm trên đều được chuyển thể thành nhiều anime và manga, đem lại cho hãng một lượng lớn người hâm mộ trên toàn cầu.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Nhật)
Website chính thức lúc trước của Type-Moon (tiếng Nhật)
Nhật ký trực tuyến của hai nhà sáng lập Type-Moon là Takeuchi Takashi và Nasu Kinoko (tiếng Nhật)
Type-Moon tại Visual Novel Database
Lịch sử TYPE-MOON |
chùa quán sứ.txt | Chùa Quán Sứ (舘使寺) là một ngôi chùa ở số 73 phố Quán Sứ, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Trước đây, địa phận này thuộc thôn An Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương.
== Lịch sử ==
Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ 15. Nguyên xưa ở phường Cổ Vũ chưa có chùa, chỉ có mấy gian nhà tranh ở phía Nam, dân làng dùng làm chỗ tế thần cầu yên gọi là xóm An Tập. Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vào thời vua Lê Thế Tông, các nước Chiêm Thành, Ai Lao thường cử sứ giả sang triều cống Việt Nam. Nhà vua cho dựng một tòa nhà gọi là Quán Sứ để tiếp đón các sứ thần đến Thăng Long. Vì sứ thần các nước này đều sùng đạo Phật nên lại dựng thêm một ngôi chùa cũng nằm trong khuôn viên Quán Sứ để họ có điều kiện hành lễ. Thời gian đã xóa đi dấu khu nhà Quán Sứ nhưng ngôi chùa thì vẫn tồn tại.
Theo bài văn của Tiến sĩ Lê Duy Trung khắc trên tấm bia dựng năm 1855, vào đầu đời Gia Long (1802-1819) chùa gần đồn Hậu Quân. Đến năm 1822, chùa được sửa sang để làm chỗ lễ bái cho quân nhân ở đồn này. Khi quân ở đồn này rút đi, chùa được trả lại cho dân làng. Nhà sư Thanh Phương trụ trì ở chùa lúc đó mới làm thêm các hành lang, tô tượng, đúc chuông. Tiền đường của chùa thờ Phật, còn hậu đường thờ vị quốc sư Minh Không thời Nhà Lý.
Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở trung ương. Năm 1942 chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm duyệt.
== Kiến trúc ==
Tam quan của chùa có ba tầng mái, nằm giữa là lầu chuông. Qua tam quan là một sân rộng lát gạch, bước lên 11 bậc thềm là tới chánh điện cao, hình vuông, xung quanh có hành lang. Điện Phật được bài trí trang nghiêm, các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Phía trong cùng, thờ ba vị Tam thế Phật trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa thờ Phật Thích ca, hai bên là A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc thấp nhất, ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đứng giữa tượng Quan Âm và Địa Tạng. Gian bên phải chánh điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông và tượng Châu Sương, Quan Bình.
Phía Đại Hùng Bảo Điện là nhà thờ Tổ, nơi thời Lịch Đại Tổ Sư của Phật giáo Việt Nam. Đây là ngôi chùa hiếm có trên đất bắc Việt Nam, tuy xây từ lâu đời nhưng luôn gìn giữ chính pháp và đặc biệt " không thờ mẫu tam tứ phủ " trong chùa vì đây là một dạng tín ngưỡng bản địa không thuộc Phật giáo.
Hai bên và đằng sau sân là các dãy nhà dùng làm thư viện, giảng đường, nhà khách và tăng phòng.
Chùa Quán Sứ có lẽ là một trong rất ít ngôi chùa ở Việt Nam mà tên chùa cũng như nhiều câu đối đều được viết bằng chữ quốc ngữ. Phải chăng vì ngôi chùa được xây dựng lại vào giữa thế kỷ 20 và vì chùa đã trở thành trụ sở trung tâm của Tổng hội Phật giáo Bắc Việt, nay là của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngôi Quốc tự chung của các thiện nam tín nữ trên đất Việt. Phân viện Nghiên cứu Phật học thuộc Giáo hội và văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ở Việt Nam) cũng đặt ở đây.
Nửa thế kỷ nay, chùa Quán Sứ đã chứng kiến nhiều hoạt động quan trọng của Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự thống nhất tổ chức Phật giáo trong nước và sự hòa nhập của Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới. Chính nơi đây vào ngày 13 tháng 5 năm 1951 (mồng 8 tháng 4 năm Tân Mão) lần đầu tiên lá cờ Phật giáo thế giới do Thượng tọa Tố Liên mang về từ Colombo đã xuất hiện trên bầu trời Hà Nội.
== Danh Tăng Tổ Đình ==
== Xem thêm ==
Danh sách chùa Hà Nội
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
phân số.txt | Phân số là sự biểu diễn số hữu tỉ dưới dạng tỉ lệ của hai số nguyên, trong đó số ở trên được gọi là tử số, còn số ở dưới được gọi là mẫu số. Điều kiện bắt buộc là mẫu số phải khác 0.
Với tử số là a và mẫu số là b, b khác 0, a,b là số nguyên. Phân số còn được hiểu là một dạng số được dùng để biểu thị tỉ lệ của một đại lượng này so sánh với một đại lượng khác. Ví dụ như:
Một nửa cái bánh có thể biểu thị bằng phân số:
1
2
=
0
,
5
{\displaystyle {\frac {1}{2}}=0,5}
Một phần ba cái bánh có thể biểu thị bằng phân số:
1
3
=
0
,
33333...
{\displaystyle {\frac {1}{3}}=0,33333...}
Một phần tư bánh có thể biểu thị bằng phân số:
1
4
=
0
,
25
{\displaystyle {\frac {1}{4}}=0,25}
Trọn một cái bánh có thể biểu thị bằng phân số:
4
4
=
1
{\displaystyle {\frac {4}{4}}=1}
== Phân số và phép chia số tự nhiên ==
Một phép chia có thể viết ra được là phân số: có tử số là số bị chia, mẫu số là số chia. Ví dụ:
a
:
b
=
a
b
{\displaystyle a:b={\frac {a}{b}}}
== Tính chất ==
1
a
=
a
−
1
{\displaystyle {\frac {1}{a}}=a^{-1}}
a
a
=
1
{\displaystyle {\frac {a}{a}}=1}
a
1
=
a
{\displaystyle {\frac {a}{1}}=a}
== Phân số tối giản ==
Phân số tối giản là phân số mà có tử số và mẫu số không thể cùng chia hết cho số nào ngoại trừ số 1 (hoặc -1 nếu lấy các số âm). Nói cách khác phân số a/b là tối giản nếu a và b là nguyên tố cùng nhau, nghĩa là a và b có ước số chung lớn nhất là 1.
Một phân số chưa tối giản có thể chuyển về dạng tối giản bằng cách chia tử số và mẫu số của phân số cho ước số chung lớn nhất của chúng. Có thể dùng thuật toán Euclid hoặc tách số thành các thừa số nguyên tố để tìm ước số chung lớn nhất trên.
== So sánh hai phân số ==
=== Khác tử và mẫu ===
Nếu có hai phân số
a
b
{\displaystyle {\frac {a}{b}}}
và
c
d
{\displaystyle {\frac {c}{d}}}
a
b
=
c
d
{\displaystyle {\frac {a}{b}}={\frac {c}{d}}}
khi
a
×
d
=
b
×
c
{\displaystyle a\times d=b\times c}
=== Cùng mẫu ===
Nếu có hai phân số
a
b
{\displaystyle {\frac {a}{b}}}
và
c
b
{\displaystyle {\frac {c}{b}}}
a
b
<
c
b
{\displaystyle {\frac {a}{b}}<{\frac {c}{b}}}
khi a<c.
Nếu tử số nhỏ hơn thì giá trị nhỏ hơn.
=== Cùng tử ===
Nếu có hai phân số
a
b
{\displaystyle {\frac {a}{b}}}
và
a
c
{\displaystyle {\frac {a}{c}}}
a
c
<
a
b
{\displaystyle {\frac {a}{c}}<{\frac {a}{b}}}
khi b<c.
Nếu mẫu số lớn hơn thì giá trị nhỏ hơn
=== Tổng hợp toàn bộ ===
== Phép toán hai phân số ==
=== Phép cộng ===
Muốn cộng hai phân số có cùng mẫu, ta chỉ việc cộng tử số với nhau và để nguyên mẫu số.
Muốn cộng hai phân số khác mẫu số, ta quy đồng mẫu số rồi cộng bình thường. Ví dụ:
a
b
+
c
d
=
a
d
+
b
c
b
d
{\displaystyle {\frac {a}{b}}+{\frac {c}{d}}={\frac {ad+bc}{bd}}}
=== Phép trừ ===
Muốn trừ hai phân số có cùng mẫu, ta chỉ việc trừ tử số với nhau và để nguyên mẫu số.
Muốn trừ hai phân số khác mẫu số, ta quy đồng mẫu số rồi trừ bình thường. Ví dụ:
a
b
−
c
d
=
a
d
−
b
c
b
d
{\displaystyle {\frac {a}{b}}-{\frac {c}{d}}={\frac {ad-bc}{bd}}}
=== Phép nhân ===
Chỉ nhớ kiến thức: Muốn nhân hai phân số, ta chỉ cần nhân tử số với tử số, mẫu số với mẫu số. Ví dụ:
a
b
×
c
d
=
a
c
b
d
{\displaystyle {\frac {a}{b}}\times {\frac {c}{d}}={\frac {ac}{bd}}}
=== Phép chia ===
- Muốn chia hai phân số, ta lấy phân số thứ nhất nhân với phân số thứ hai đảo ngược. Ví dụ:
a
b
:
c
d
=
a
b
×
d
c
=
a
d
b
c
{\displaystyle {\frac {a}{b}}:{\frac {c}{d}}={\frac {a}{b}}\times {\frac {d}{c}}={\frac {ad}{bc}}}
=== Tổng hợp ===
== Phân số âm ==
−
a
b
=
a
−
b
{\displaystyle {\frac {-a}{b}}={\frac {a}{-b}}}
−
a
−
b
=
a
b
{\displaystyle {\frac {-a}{-b}}={\frac {a}{b}}}
== Biểu diễn thập phân ==
Phân số thập phân là một phân số có mẫu số là 10n.
3
10
{\displaystyle {\frac {3}{10}}}
5
100
{\displaystyle {\frac {5}{100}}}
45
1
000...000
⏟
n
{\displaystyle {\frac {45}{1\underbrace {000...000} _{n}}}}
== Hỗn số ==
Nếu tử lớn hơn mẫu, ta có thể viết bằng hỗn số:
8
5
=
1
3
5
{\displaystyle {\frac {8}{5}}=1{\frac {3}{5}}}
Cách đổi ra phân số:
a
b
c
=
a
c
+
b
c
{\displaystyle a{\frac {b}{c}}={\frac {ac+b}{c}}}
== Xem thêm ==
Số tự nhiên
Số chẳn
Số lẻ
Số nguyên
Phân số
Số vô tỷ
Số hữu tỷ
Số phức
Số nguyên Gauss
Số nguyên Eisenstein
Số vô tỷ Quadratic
Căn của đơn vị
Gaussian period
Số Pisot-Vijayaraghavan
Số Salem
Hỗn số
Số học
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
“Fraction, arithmetical”. The Online Encyclopaedia of Mathematics.
Weisstein, Eric W., "Fraction" từ MathWorld.
“Fraction”. Encyclopedia Britannica.
“Fraction (mathematics)”. Citizendium.
“Fraction”. PlanetMath. |
danh sách vua uvea.txt | Vua xứ Uvea còn được gọi là Lavelua.
Đây là danh sách những người cai trị chính thể Uvea, còn được gọi là đảo Wallis thuộc Lãnh thổ Quần đảo Wallis và Futuna.
== Triều Takumasiva thứ nhất ==
1600 - 1660
Takumasiva
Pou
Tuakalau
Eiki
Tuiuvea
Lilo-kaivale
== Triều Takumasiva thứ hai ==
Manuka (1767-1810)
Tufele I (1810-1818)
== Triều Takumasiva thứ ba ==
Muliakaaka (1820-1825)
Uhila "moafa" (1825-1825)
Toifale (nữ) (1825-1825)
Mulitoto (1825-1826)
Soane-Patita Vaimua Lavelua (1826-1829)(đời thứ 1)
Takala (1829-1830)
Soane-Patita Vaimua Lavelua (1830-1858)(đời thứ 2)
Falakika Seilala (nữ) (1858-1869)
Amelia Tokagahahau Aliki (nữ) (1869-1895)
Vito Lavelua II (1895-1904)
Isaake (nổi loạn) (11 tháng 3 năm 1895 - 12 tháng 3 năm 1895)
Lusiano Aisake (1904-1906)
Sosefo Mautāmakia I "Tokila" (đời thứ 1) (1906 - 1 tháng 4 năm 1910)
Soane-Patita Lavuia (1910-1916)
Sosefo Mautāmakia II (1916-1918)
Vitolio Kulihaapai (1918-1924)
Tomasi Kulimoetoke I (1924-1928)
Mikaele Tufele II (đời thứ 1) (1928-1931)
Sosefo Mautāmakia I "Tokila" (đời thứ 2) (1931-1933)
Petelo Kahofuna (13 tháng 3 năm 1933 - 25 tháng 5 năm 1933)
Mikaele Tufele II (đời thứ 2) (25 tháng 5 năm 1933 - 30 tháng 11 năm 1933)
Hội đồng Bộ trưởng (30 tháng 11 năm 1933 - 16 tháng 3 năm 1941)
Leone Mahikitoga (16 tháng 3 năm 1941 - 29 tháng 3 năm 1947)
Pelenato Fuluhea "Pulufegu" (1947-1950)
Kapeliele Tufele III "Setu" (1950-1953)
Hội đồng Bộ trưởng (17 tháng 11 năm 1953 - 18 tháng 12 năm 1953)
Soane Toke (18 tháng 12 năm 1953 - 19 tháng 12 năm 1953)
Aloisia Brial (née Tautuu) (nữ) (22 tháng 12 năm 1953 - 12 tháng 9 năm 1958)
Hội đồng Bộ trưởng (12 tháng 9 năm 1958 - 12 tháng 3 năm 1959)
Tomasi Kulimoetoke II (12 tháng 3 năm 1959 - 7 tháng 5 năm 2007)
Hội đồng Bộ trưởng (8 tháng 5 năm 2007 - 25 tháng 7 năm 2008)
Kapiliele Faupala (25 tháng 7 năm 2008 - nay)
== Tham khảo ==
'Uvea mo Futuna: http://www.uvea-mo-futuna.com/article.php3?id_article=87 |
tốc ký.txt | Tốc ký hay ghi nhanh, ghi tắt là việc thực hành ghi chép thông tin một cách nhanh chóng nhất thông qua việc ghi vắn tắt các ký tự với những phương pháp tăng tốc độ viết. Tốc ký sẽ giúp tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn từ những bài giảng hay phát biểu quá dài dòng.
== Phương pháp ==
Dùng các ký hiệu để ghi nhanh hơn. Ngoài ra, để có chữ viết đẹp và đúng tốc độ, thì cách cầm bút và khoảng cách cầm bút là những yếu tố có tính quyết định. Thực hiện cách cầm bút bằng 3 ngón tay gồm ngón giữa, ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa nằm ở vị trí thấp nhất để đỡ bút, ngón cái và ngón trỏ điều khiển bút. Các ngón tay cầm bút phải tự nhiên, không lên gân hoặc cầm bút quá chặt, không để ngón cái đè lên ngón trỏ; góc tạo bởi thân bút và mặt vở nhỏ hơn hoặc bằng 45o là tốt nhất. Khi viết, chỉ điều khiển bút bằng các ngón cầm bút.
Chú ý đến khoảng cách cầm bút từ ngón tay cầm bút đến đầu bút, đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến tốc độ viết chữ. Cầm bút thấp thì viết chậm và không trơn nét. Vì biên độ hoạt động của ngòi bút nhỏ dẫn đến khả năng điều khiển bút của các ngón tay sẽ không linh hoạt. Cầm bút thấp và tì bút mạnh khi viết thì không thể viết chữ trơn và nhanh được. Tư thế ngồi viết sai quy cách ảnh hưởng trực tiếp đến chữ viết và tốc độ viết chữ. Phải đảm bảo tư thế ngồi viết ngay ngắn. Lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25– 30 cm.Tay phải cầm bút, tay trái tì nhẹ. Hai chân để song song thoải mái, đặc biệt chú ý khoảng cách hợp lý giữa mắt và vở không cúi thấp, để mắt quá gần), không nghiêng hoặc vẹo lưng.
== Tham khảo ==
Van Matre, Nicholas H.; Carter, John (1975). The Effects of Note-Taking and Review on Retention of Information. Presented by Lecture. Paper presented at the Annual Meeting of the American Educational Research Association (Washington, D.C., March 30-ngày 4 tháng 4 năm 1975).
Carter, John F.; Van Matre, Nicholas H. (1975). Note Taking Versus Note Having. Journal of Educational Psychology, 67, 6, 900-4, Dec 75 |
hoàng chân y.txt | Hoàng Chân Y (Hangul: 황진이; Hanja: 黃眞伊, Romaji: Hwang Jin-yi; 1506 - 1544) là một nữ thi sĩ sống dưới thời vua Triều Tiên Trung Tông, đồng thời cũng là một trong những kỹ nữ (gisaeng) nổi tiếng nhất của triều đại Triều Tiên.
Biệt danh của bà là Chân Nương (真娘), kỹ danh là Minh Nguyệt (明月). Bà nổi tiếng với vẻ đẹp đặc biệt, duyên dáng, trí tuệ phi thường, cá tính độc lập và quyết đoán. Bà được xếp vào một trong Tùng Đô Tam Tuyệt.
== Ảnh hưởng về văn hóa nghệ thuật ==
Ở cả hai miền Triều Tiên hiện nay, Hoàng Chân Y đã trở thành một nhân vật gần như huyền thoại, truyền cảm hứng cho nhiều tiểu thuyết, nhạc kịch, phim điện ảnh và phim truyền hình.
Tiểu thuyết viết về cuộc sống của bà bao gồm một cuốn tiểu thuyết năm 2002 của nhà văn Bắc Triều Tiên Hong Sok-jung và cuốn sách bán chạy nhất năm 2004 của nhà văn Hàn Quốc Jeon Gyeong-rin. Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Bắc Triều Tiên Hong Sok-jung đã trở thành cuốn tiểu thuyết của Bắc Triều Tiên giành chiến thắng một giải thưởng ở miền Nam.
Cuối năm 2006, KBS đã phát hành một bộ phim truyền hình Hwang Jin-i với diễn xuất của Ha Ji-won trong vai nhân vật chính. Một phim điện ảnh với sự tham gia của Song Hye Kyo cũng được phát hành vào ngày 06 tháng 6 năm 2007.
== Tác phẩm ==
Cho đến nay, người ta chỉ còn lưu giữ được một số lượng khá ít các bài sijo (thời điệu) và geomungo (huyền cầm, 현금/거문고) của Hwang Jin-yi, nhưng cũng đủ thấy được sự kết hợp tài tình giữa kỹ năng vận dụng từ ngữ và tính nhạc. Chủ đề chính trong sijo của Hwang Jin-yi là vẻ đẹp và cảnh sắc vùng Gaeseong, ví dụ như Manwoldae (Mãn Nguyệt Đài) và thác Pakyon, hoặc thổ lộ tâm trạng của bà khi tuyệt vọng vì tình, hoặc xướng họa những tác phẩm thi ca Trung Quốc.
Dưới đây là Tương tư mộng, một bài thơ rất nổi tiếng của bà, cũng từng được dẫn trong bộ phim truyền hình Hwang Jin-yi.
상사몽
상사상견지빙몽
농방환시환방농
원사요요타야몽
일시동작로중봉
Tương tư mộng
Tương tư tương kiến chỉ bằng mộng
Nùng phỏng hoan thời hoan phỏng nùng
Nguyện sử dao dao tha dạ mộng
Nhất thời đồng tác lộ trong phùng
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hwang Jin-yi (tiếng Hàn)
Hwang Jin-yi
Hwang Jin-yi:Navercast
Hwang Jin-yi
Duo sijo qui Hwang tribuntur, a Larry Gross Anglice translati (tiếng Anh) |
subaru.txt | Subaru (スバル, Subaru) (スバル) ( /ˈsuːbəruː/ hoặc /sᵿbˈɑːruː/; phát âm tiếng Nhật: [sɯ.ba.ɾɯ]) là bộ phận sản xuất ô tô của tập đoàn vận tải Fuji Heavy Industries (FHI), hãng sản xuất ô tô lớn thứ hai mươi hai trên toàn thế giới tính theo sản lượng vào năm 2012.
Xe ô tô Subaru được biết đến với việc sử dụng thiết kế động cơ nằm ngang trong hầu hết các xe có động cơ dung tích lớn hơn 1500 cc. Hầu hết các mẫu xe Subaru đã sử dụng hệ dẫn động bốn bánh đối xứng (SAWD) kể từ năm 1972. Thiết kế động cơ nằm ngang và hệ dẫn động bốn bánh đối xứng đã trở thành chuẩn cho các xe ô tô nhỏ và vừa trong thị trường quốc tế vào năm 1996, và bây giờ nó là tiêu chuẩn ở hầu hết xe Subaru ở thị trường Bắc Mỹ. Trường hợp ngoại lệ duy nhất, BRZ, được giới thiệu vào năm 2012. BRZ sử dụng động cơ nằm ngang, nhưng thay vào đó, sử dụng hệ dẫn động hai bánh sau. Subaru cũng cung cấp các phiên bản tăng áp động cơ của các xe hơi chở người, như Impreza WRX và Legacy 2.5GT. Các phiên bản Outback và Forester của dòng 2.5XT cũng bao gồm một động cơ tăng áp.
Ở các thị trường phương Tây, thương hiệu Subaru có truyền thống là nổi tiếng trong nhóm nhỏ người mua trung thành. Marketing của hãng hướng tới một số đối tượng đặc thù, tập trung vào những người mong muốn có được xe có bộ truyền động đặc thù của hãng này, đặc biệt là những người đam mê hoạt động ngoài trời và những người chơi xe thể thao với giá cả phải chăng.
Subaru là tên tiếng Nhật của sao Tua Rua trong cụm sao M45, hoặc "Bảy chị em" (một trong số đó là vô hình theo dân gian - do đó chỉ có sáu ngôi sao trong logo của Subaru). Truyền thuyết này đã tạo cảm hứng cho logo và ám chỉ các công ty đã sáp nhập để tạo thành tập đoàn FHI.
== Lịch sử ==
=== Fuji Heavy Industries (FHI) và những dòng xe đầu tiên của Subaru ===
Fuji Heavy Industries bắt đầu với tên Phòng thí nghiệm nghiên cứu máy bay năm 1915, do Chikuhei Nakajima lãnh đạo. Năm 1932, công ty được tổ chức lại với tên mới Công ty TNHH Hàng không Nakajima và mau chóng trở thành một nhà sản xuất máy bay chính của Nhật Bản trong Thế chiến II. Vào giai đoạn cuối của Thế chiến II, Hàng không Nakajima đã được tổ chức lại một lần nữa, lần này với tên mới là Fuji Sangyo Co, Ltd. Trong năm 1946, công ty tạo ra các xe tay ga Fuji Rabbit với các bộ phận phụ tùng máy bay còn sót lại của cuộc chiến tranh. Năm 1950, Fuji Sangyo được chia thành 12 tập đoàn nhỏ hơn theo Đạo luật Thỏa thuận tín dụng doanh nghiệp năm 1950 của Chính phủ Nhật Bản - đạo luật chống zaibatsu. Giữa năm 1953 và 1955, bốn trong số những tập đoàn và tổng công ty mới được thành lập đã quyết định sáp nhập để tạo thành Fuji Heavy Industries. Các công ty này là: nhà sản xuất xe tay ga Fuji Kogyo; công ty xe đường dài Fuji Jidosha; công ty sản xuất động cơ Omiya Fuji Kogyo; công ty xây dựng khung gầm Utsunomiya Sharyo và công ty thương mại Tokyo Fuji Dangyo.
Kenji Kita, CEO của Fuji Heavy Industries vào thời điểm đó, muốn công ty mới này tham gia sản xuất xe ô tô và nhanh chóng bắt đầu kế hoạch xây dựng một chiếc xe với mã phát triển là P-1. Ông Kita vận động toàn công ty đặt tên cho P1, nhưng không có tên đề xuất nào tỏ ra đủ hấp dẫn. Cuối cùng ông đã đặt tên công ty bằng chữ tiếng Nhật mà ông đã "cực kỳ yêu thích với cả trái tim mình": Subaru, đó là tên của cụm sao Tua Rua trong tiếng Nhật. Chiếc xe Subaru đầu tiên được đặt tên là Subaru 1500. Chỉ có hai mươi chiếc Subaru 1500 được sản xuất do hàng loạt vấn đề về nguồn hàng. Sau đó công ty thiết kế và sản xuất hàng chục dòng xe bao gồm: 1500 (1954), xe siêu nhỏ làm mát bằng không khí 360 (1958), Sambar (1961), và 1000 (với sự có mặt đầu tiên của động cơ nằm ngang Subaru năm 1965).
=== Các đối tác sau đó ===
Nissan mua 20,4% cổ phần trong Fuji Heavy Industries, công ty mẹ của Subaru, trong năm 1968 trong giai đoạn sáp nhập theo lệnh của chính phủ đối với ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh dưới sự quản lý của Thủ tướng Eisaku Sato. Nissan sử dụng khả năng và chuyên môn sản xuất xe buýt của FHI để sản xuất dòng xe buýt Nissan Diesel. Ngược lại thì nhiều xe Subaru cho đến ngày nay sử dụng các bộ phận từ keiretsu do Nissan sản xuất. Hộp số tự động của Subaru, được gọi là 4EAT, cũng được sử dụng trong Nissan Pathfinder thế hệ đầu tiên. Trong giai đoạn hợp doanh với Nissan, Subaru giới thiệu các dòng xe R-2 (1969), Rex và Leone (1971), BRAT (1978), Alcyone (1985), Legacy (1989), Impreza (1993) (và kiểu phụ của nó WRX), và Forester (1997).
Khi Nissan bị Renault mua lại, cổ phần của công ty trong FHI đã được bán cho General Motors vào năm 1999. Troy Clarke, người của General Motors từng là đại diện cho Fuji Heavy Industries trong Hội đồng quản trị công ty. Trong thời gian đó, Subaru giới thiệu các dòng xe Baja (2003) và Tribeca (2005). Subaru Forester được bán với tên Forester Chevrolet ở Ấn Độ để đổi lấy việc dòng xe Opel Zafira được bán với tên Traviq Subaru tại Nhật Bản. Ngoài ra, khái niệm Chevrolet Borrego đã được đưa ra trong năm 2002, đây là một chiếc crossover coupe xe tải / xe bán tải được bắt nguồn từ nền tảng Legacy Turbo tại thị trường Nhật. Trong thời gian ngắn dưới quyền General Motors, một dòng xe đạt "huy hiệu thiết kế" Impreza đã được bán ra tại Hoa Kỳ với tên Saab 9-2X. Một dòng xe SUV (Subaru Tribeca / Saab 9-6X) cũng đã được lên kế hoạch nhưng phiên bản Saab đã không được thực hiện, và kiểu dáng của nó đã được tái sử dụng trong dòng xe làm mới Tribeca năm 2008.
=== Nỗ lực marketing ===
Một số trong những khẩu hiệu quảng cáo Subaru đã được sử dụng trong quá khứ bao gồm "Không tốn kém, và bền chắc như vậy" (Mỹ những năm 1970 - đầu năm 1980), "Xe truyền động 4 bánh ưa thích" (ở Anh), "Plus on y pense, plus on a le gout de la conduire" (Literally: "Càng nghĩ, càng muốn lái") tại Quebec, " Chúng tôi xây dựng danh tiếng của chúng tôi bằng cách xây dựng một chiếc xe tốt hơn "," Lái thật đã"," Vẻ đẹp của việc truyền động 4 bánh "," Được dẫn dắt bởi những gì bên trong"," Hãy suy nghĩ, cảm nhận và lái","Tình yêu. Đó là những gì làm cho một chiếc Subaru là Subaru "(Mỹ những năm đầu thập kỷ 2010) và hiện tại là" Niềm tin vào chuyển động"ở Bắc Mỹ, "Truyền động ất cả 4 bánh "tại Úc, và "Kỹ thuật không tầm thường, ổn định không tầm thường, bám đường không phải vừa, cảm giác không tầm thường" ở Anh và "Công nghệ mang lại cho bạn niềm tin in vào chuyển động" ở Đông Nam Á.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Fuji Heavy Industries
Subaru Tecnica International
Subaru tại DMOZ
Subaru at the Internet Movie Cars Database |
giải quần vợt wimbledon 2013 - đơn nam.txt | Giải quần vợt Wimbledon 2013 nội dung đơn nam. Andy Murray đã trở thành người quốc gia Anh đầu tiên vô địch.
== Hạt giống ==
== Kết quả ==
=== Chú giải ===
=== Chung kết ===
=== Top half ===
==== Nhóm 1 ====
==== Nhóm 2 ====
==== Nhóm 3 ====
==== Nhóm 4 ====
=== Bottom half ===
==== Nhóm 5 ====
==== Nhóm 6 ====
==== Nhóm 7 ====
==== Nhóm 8 ====
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
symantec.txt | Tập đoàn Symantec /sɪˈmænˌtɛk/ (tiếng Anh: Symantec Corporation, thường gọi là Symantec) là một công ty phần mềm Hoa Kỳ có trụ sở tại Mountain View, California, Hoa Kỳ. Công ty sản xuất phần mềm bảo mật, lưu trữ, sao lưu và sẵn sàng - và cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp để hỗ trợ cho phần mềm của họ. Netcraft đánh giá Symantec (bao gồm cả các công ty con) là nhà cung cấp chứng thực số được sử dụng nhiều nhất. Symantec là một công ty Fortune 500 và là thành viên của chỉ số thị trường chứng khoán S&P 500. Công ty cũng có trung tâm phát triển ở Pune, Chennai và Bengaluru (Ấn Độ).
Vào ngày 9 tháng 10 năm 2014, Symantec tuyên bố nó sẽ tách thành hai công ty kinh doanh độc lập vào cuối năm 2015. Một công ty sẽ tập trung vào bảo mật, công ty còn lại về quản lý thông tin. Vào ngày 29 tháng 1 năm 2016, doanh nghiệp quản lý thông tin đã được tách ra với tên gọi Veritas Technologies và được bán cho công ty đầu tư The Carlyle Group.
Tên gọi Symantec được ghép lại từ các từ syntax (cấu trúc), semantics (ngữ nghĩa), và technology (công nghệ).
== Lịch sử ==
=== Từ 1982 đến 1989 ===
Được thành lập vào năm 1982 bởi Gary Hendrix với tài trợ từ National Science Foundation, ban đầu Symantec taaoj trung vào các dự án liên quan đến trí tuệ nhân tạo, bao gồm một chương trình cơ sở dữ liệu.
=== Từ 1990 đến 1999 ===
Tháng 5 năm 1990, Symantec thông báo kế hoạch hợp nhất và mua lại Peter Norton Computing, nhà phát triển các tiện ích cho DOS.
=== Từ 2000 đến nay ===
Từ năm 1999 đến tháng 4 năm 2009, Symantec được dẫn dắt bởi Giám đốc điều hành John W. Thompson, vốn là một cựu phó chủ tịch của IBM.
=== Tách ra ===
Vào ngày 9 tháng 10 năm 2014, Symantec tuyên bố rằng công ty sẽ tách thành hai công ty kinh doanh độc lập vào cuối năm 2015.
== Dòng sản phẩm Norton ==
Đến năm 2015, dòng sản phẩm Norton của Symantec bao gồm Norton Security, Norton Small Business, Norton Family, Norton Mobile Security, Norton Online Backup, Norton360, Norton Utilities và Norton Computer Tune Up.
Vào năm 2012, PCTools iAntiVirus được đổi tên để thành sản phẩm Norton dưới tên gọi iAntivirus, và được phát hành trên Mac App Store. Cũng trong năm 2012, the Norton Partner Portal được khôi phục lại để hỗ trợ bán hàng cho người tiêu dùng cho toàn bộ các công nghệ EMEA.
== Sáp nhập và mua bán ==
=== Veritas ===
Ngày 16 tháng 12 năm 2004, Veritas và Symantec công bố kế hoạch sáp nhập. Với Veritas trị giá 13,5 tỷ đô la, đây là việc sáp nhập công ty ngành công nghiệp phần mềm lớn nhất tính đến nay. Các cổ đông của Symantec đã bỏ phiếu thông qua việc sáp nhập vào ngày 24 tháng 6 năm 2005; Thỏa thuận đã kết thúc thành công vào ngày 2 tháng 7 năm 2005. Kết quả của việc sáp nhập này, Symantec bao gồm các sản phẩm lưu trữ và khả dụng liên quan trong danh mục đầu tư của mình, cụ thể là Veritas File System (VxFS), Veritas Volume Manager (VxVM), Veritas Volume Replicator (VVR), Veritas Cluster Server (VCS), NetBackup (NBU), Backup Exec (BE) và Enterprise Vault (EV) (hệ thống lưu trữ thư điển tử).
== Quan ngại về bảo mật và tranh cãi ==
== Xem thêm ==
So sánh các phần mềm diệt virus
So sánh các virus máy tính
Huawei Symantec, một liên doanh giữa Huawei và Symantec
Danh sách các thương vụ mua bán và sáp nhập của Symantec
Chặng web ở Vương quốc Anh - Công nghệ
Công nghệ phân tích hành vi của Symantec SONAR và AntiBot
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
đồng nai.txt | Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Đây là tỉnh có dân số đông thứ nhì miền nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh) có diện tích lớn thứ nhì ở miền đông (sau Tỉnh Bình Phước) và thứ ba ở miền nam (sau Tỉnh Bình Phước và Tỉnh Kiên Giang)
Tỉnh lỵ của Đồng Nai hiện nay là thành phố Biên Hòa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km, cách Hà Nội 1.684 km theo đường Quốc lộ 1A. Tỉnh được xem là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Đồng thời, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai.
== Vị trí địa lý ==
Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích tự nhiên là 5.907,2 km². Đồng Nai có tọa độ từ 10o30’03 đến 11o34’57’’B và từ 106o45’30 đến 107o35’00"Đ. Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương. Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, là cửa ngõ phía đông Thành phố Hồ Chí Minh và là một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ.
== Điều kiện tự nhiên. ==
Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8o, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15o. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đá bazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới. Trong tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49,1%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 30,4%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 13%, diện tích đất khu dân cư chiếm 2,1%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 5,4%.
Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,5oC, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%.
Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, kim loại màu, đá quý, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn, nước khoáng và nước nóng,…
== Lịch sử ==
Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ. Nước Đại Việt lúc bấy giờ chỉ từ ải Nam Quan đến vùng Bắc Đèo Ngang (Quảng Bình ngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa láng giềng lúc bấy giờ.
Để mở rộng cõi bờ về phía Nam, nước Đại Việt lúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Nam tiến của mình.
Nước Việt Nam lúc bấy giờ xảy ra giao tranh giữa vua Lê - Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn, lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp.
Người Việt di cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.
Năm 1679, nhà Minh ở Trung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa Nguyễn ở Thuận Hóa. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn Phúc Tần đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay). Họ biến Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.
Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.
Năm 1802, dinh Trấn Biên được vua Gia Long đổi thành trấn Biên Hòa, nhưng vẫn thuộc phủ Gia Định. Năm 1808, trấn Biên Hòa thuộc thành Gia Định, đặt Phước Long thành phủ, đặt ra các tổng Phước Chính, Phước An, Bình An, Long Thành làm huyện. Năm 1836, trấn Biên Hòa được vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Biên Hoà. Năm 1837, lập thêm hai phủ Phước Tuy và các huyện Nghĩa An, Long Khánh, Phước Bình.
Vào năm 1840, đặt thêm bốn phủ là Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi và Tân Thuận. Năm 1851, Vua Tự Đức nhập hai huyện Phước Bình và Long Khánh vào các phủ Phước Long và Phước Tuy. Năm 1882, sau khi Hòa ước Nhâm Tuất được ký, lúc này triều đình nhà Nguyễn cắt đất giao 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hoà cho Pháp. Sau đó, Pháp chia Biên Hòa thành ba tỉnh là Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Đến thời Việt Nam Cộng hòa, đất Đồng Nai được chia làm 3 tỉnh là Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy.
Đầu năm 1975, hợp nhất 3 tỉnh này thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa.
Năm 1976, Thị xã Biên Hòa được nâng cấp thành thành phố Biên Hòa - đô thị loại 3, trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ban đầu, tỉnh Đồng Nai có tỉnh lị là thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và 9 huyện: Châu Thành, Duyên Hải, Long Đất, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.
Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sáp nhập xã Hố Nai 1 và xã Hố Nai 2 của huyện Thống Nhất vào thành phố Biên Hòa.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Duyên Hải (nay là huyện Cần Giờ) về thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo nghị quyết của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI.
Ngày 30 tháng 5 năm 1979, tách thị xã Vũng Tàu để thành lập đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo.
Ngày 23 tháng 12 năm 1985, chuyển huyện Vĩnh Cửu thành thị xã Vĩnh An.
Ngày 10 tháng 4 năm 1991, chia huyện Xuân Lộc thành 2 huyện: Xuân Lộc và Long Khánh; chia huyện Tân Phú thành 2 huyện: Tân Phú và Định Quán.
Đến năm 1991, tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Biên Hòa (tỉnh lị), thị xã Vĩnh An và 9 huyện: Châu Thành, Định Quán, Long Đất, Long Khánh, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Đồng Nai để tái lập tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu:
Tỉnh Đồng Nai gồm thành phố Biên Hòa, thị xã Vĩnh An và 6 huyện: Định Quán, Long Khánh, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gồm thành phố Vũng Tàu và 4 huyện: Châu Thành, Côn Đảo, Long Đất, Xuyên Mộc.
Năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại 2, trực thuộc tỉnh Đồng Nai.
Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chia huyện Long Thành thành 2 huyện: Long Thành và Nhơn Trạch. Cùng năm, điều chỉnh địa giới một số xã thuộc huyện Định Quán.
Ngày 29 tháng 8 năm 1994, giải thể thị xã Vĩnh An để thành lập lại huyện Vĩnh Cửu.
Ngày 21 tháng 8 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2003/NĐ - CP, thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc thị xã Long Khánh, thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom.
Ngày 5 tháng 2 năm 2010, điều chỉnh địa giới thành phố Biên Hòa và huyện Long Thành.
Năm 2014, thị xã Long Khánh và huyện Xuân Lộc được công nhận là 2 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Nông thôn mới đầu tiên của cả nước
Ngày 30 tháng 12 năm 2015, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại 1 và thị xã Long Khánh là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Đồng Nai.
== Hành chính ==
Tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 1 thị xã và 9 huyện, chia làm 136 xã, 29 phường và 6 thị trấn.
== Kinh tế ==
Năm 2011, mặc dù kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn thách thức, tuy nhiên tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tăng vẫn 13,32% so với năm 2010, trong đó, dịch vụ tăng 14,9%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9% công nghiệp - xây dựng tăng 14,2%.
Quy mô GDP năm 2011 toàn tỉnh đạt 96.820 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người đạt 36,6 triệu đồng, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh hầu hết đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 7,5%, dịch vụ chiếm 35,2%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 9,8 tỷ USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ, thu ngân sách trên địa bàn đạt 22.641,2 tỷ đồng. đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 900 triệu USD, vốn đầu tư trong nước đạt 15.000 tỷ đồng...Cũng trong năm 2011, toàn tỉnh có 5.200 lượt hộ nghèo được vay vốn với số tiền 67 tỷ đồng. Số hộ nghèo năm 2011 giảm 7.800 hộ, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%.
Trong 9 tháng đầu năm 2012, theo đánh giá, hầu hết các lĩnh vực đều tăng chậm hơn so với cùng kỳ các năm trước do ảnh hưởng từ những khó khăn chung của nền kinh tế trong và ngoài nước, ngoại trừ lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng mạnh. Sản xuất công nghiệp trong 9 tháng tăng hơn 7% với 12 ngành công nghiệp tăng và 4 ngành giảm. Tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 11,87% so với cùng kỳ năm 2012, đạt trên 70% kế hoạch, trong đó lĩnh vực dịch vụ tăng cao nhất với 14,51% so với cùng kỳ. Ngoài ra, tổng mức bán lẻ tăng 20% so với 9 tháng đầu năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng tăng 6.14% so với cuối năm 2011. Xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2012 đạt trên 7,9 tỷ USD, nhập khẩu đạt hơn 7,5 tỷ USD..
== Dân cư ==
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đồng Nai đạt gần 2.665.100 người, mật độ dân số đạt 451 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 897.600 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.767.500 người. Dân số nam đạt 1.311.200 người, trong khi đó nữ đạt 1.353.900 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 12,0‰
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đồng Nai có 13 Tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Công giáo có 797.702 người, Phật giáo có 339.623 người, Đạo Cao Đài có 13.978 người, các tôn giáo khác như Tin Lành có 11.577 người, Hồi giáo 2.868 người, Phật giáo hòa hảo có 1.514 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 118 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 36 người, Minh Sư Đạo có 39 người, Bahá'í có 63 người, Bà-la-môn có 15 người, Minh Lý Đạo có 12 người, còn lại là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có 2 người.
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đồng Nai có đủ 54 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó người Kinh có 2.311.315 người, người Hoa có 95.162 người, người Nùng có 19.076 người, người Tày có 15.906 người, người Khmer có 7.059 người, còn lại là những dân tộc khác như Mường, Dao, Chăm, Thái... Ít nhất là người Si La và Ơ Đu chỉ có 1 người...
== Giao thông ==
Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Đồng Nai .
Tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua dài 87,5 km với 8 ga: Biên Hoà, Hố Nai, Trảng Bom, Dầu Giây, Long Khánh, Bảo Chánh, Gia Ray và Trảng Táo. Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối liền các tỉnh phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh. Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cửa ngõ đường hàng không vào Việt Nam cho khu vực Đông Nam Á và thế giới. Về giao thông đường thủy thì trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 3 khu cảng gồm có Khu cảng trên sông Đồng Nai, Khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu, và Khu cảng trên sông Thị Vải. Trong đó Khu cảng trên sông Đồng Nai gồm có các cảng là Cảng Đồng Nai, cảng SCTGAS-VN và cảng VTGAS (sử dụng bốc xếp hàng lỏng quy mô cho tàu 1000 DWT), Cảng tổng hợp Phú Hữu II, Cảng tại khu vực Tam Phước, Tam An. Các cảng tại Khu cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu gồm có cảng gỗ mảnh Phú Đông, cảng xăng dầu Phước Khánh, cảng nhà máy đóng tàu 76, cảng tổng hợp Phú Hữu 1, cảng cụm Công nghiệp Vật liệu xây dựng Nhơn Trạch, cảng nhà máy dầu nhờn Trâm Anh, cảng VIKOWOCHIMEX, cảng Sun Steel – China Himent, và các cảng chuyên dùng khác. Các cảng Khu cảng trên sông Thị Vải gồm có cảng Phước An, cảng Phước Thái, cảng Gò Dầu A, cảng Gò Dầu B, cảng Super Photphat Long Thành, cảng nhà máy Unique Gas.
== Y tế & Giáo dục ==
=== Giáo dục ===
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai có 529 trường học, trong đó có Trung học phổ thông có 48 trường, Trung học cơ sở có 167 trường, Tiểu học có 297 trường, trung học có 16 trường, có 1 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 263 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.
Một số trường Đại học, Cao đẳng, trường THPT chuyên trên địa bàn tỉnh
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh (TP. Biên Hòa)
Trường Phổ thông thực hành Sư phạm - Đại học Đồng Nai (TP. Biên Hòa)
Trường Đại học Đồng Nai (TP. Biên Hòa)
Trường Đại học Lạc Hồng (TP. Biên Hòa)
Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam - Cơ sở 2 (H. Trảng Bom)
Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai (TP. Biên Hòa)
Trường Đại học Công nghệ Miền Đông (H. Thống Nhất)
Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai (TP. Biên Hòa)
Trường Cao đẳng Công nghệ và Quản trị Sonadezi (TP. Biên Hòa)
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai (TP. Biên Hòa)
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Đồng Nai (TP. Biên Hòa)
Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai (TP. Biên Hòa)
Trường Trung cấp nghề Hòa Bình (H. Trảng Bom)
Trường Cao đẳng nghề số 8/Bộ Quốc phòng (Tp. Biên Hoà)
Đồng Nai là một trong những tỉnh có vị trí gần Thành phố Hồ Chí Minh nên có nhiều thuận lợi trong các lĩnh vực công nghệ khoa học, trong đó, mạng lưới y tế cũng rất phát triển. Cho đến nay, Đồng Nai đã thành lập được 11 bệnh viện tuyến huyện trên 11 huyện, thị xã và thành phố Biên Hòa. Ngoài ra, Đồng Nai còn có các bệnh viện lớn như:
Bệnh viện Đa khoa khu vực Thống Nhất (Bệnh viện Thánh Tâm)
Bệnh viện Tâm thần Trung ương II (còn gọi là bệnh viện Biên Hòa)
Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, một bệnh viện đang được đầu tư lớn nhất khu vực
bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai
bệnh viện Phổi tỉnh
bệnh viện Y học cổ truyền
bệnh viện 7B
bệnh viện Da liễu tỉnh
bệnh viện Đại học Y Dược Shing Mark
Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai
và một số các cơ sở bệnh viện tư nhân, phòng khám đa khoa tư nhân khác trên địa bàn tỉnh:
Bệnh viện Phụ sản Âu Cơ
bệnh viện Răng-Hàm-Mặt Việt Anh Đức
Bệnh viện đa khoa Tâm Hồng Phước về phẫu thuật
Bệnh viện Quốc tế Đồng Nai
bên cạnh đó còn có Hệ thống phòng khám và chăm sóc sức khỏe Quốc tế Sỹ Mỹ đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận khám chữa bệnh mà các bệnh viện, phòng khám khác không đáp ứng được nhu cầu.
== Văn hóa & Du lịch ==
Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Văn miếu Trấn Biên (Biên Hòa), đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, khu du lịch sinh thái Thác Mai - hồ nước nóng, Đảo Ó, chiến khu Đ, mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, khu du lịch thác Giang Điền, khu du lịch Long Châu Viên (Xuân Tân, Long Khánh), khu du lịch Vườn Xoài, khu di tích cấp quốc gia núi Chứa Chan (núi Gia Lào), Hồ Núi Le (Xuân Lộc).
Đồng Nai và Bình Dương là hai tỉnh miền Đông Nam Bộ có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ . Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung. Phương pháp nghệ thuật tạo hoa văn cho sản phẩm của gốm sứ Đồng Nai là kết hợp giữa khắc nét chìm và trổ thủng sản phẩm gốm rồi quét men nhưng không có sự phân biết nước men và màu ve.
Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều nghề nghiệp tiểu thủ công nghiệp truyền thống như đan lát, mây tre lá nhờ nguồn tài nguyên là các rừng lá buông của địa phương.
Gia công đồ mỹ nghệ, làm các sản phẩm từ gỗ công nghệ, chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói, đúc đồng, đúc gang... là những ngành nghề truyền thống nổi tiếng của Đồng Nai. Nắm bắt được thế mạnh này, Đồng Nai ra sức bảo vệ nghề truyền thống và thành lập các cụm công nghiệp nghề truyền thống, mở các lớp đào tạo nghề truyền thống là giải pháp then chốt và mới mẻ nhưng có tính cách lâu dài và là bước đi đúng đắn bảo vệ ngành nghề truyền thống trước sức ép phát triển của quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế và đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại
Phân chia hành chính mới.
Trong tương lai Thành phố Biên Hòa và một số huyện sẽ được phân chia lại địa giới hành chính cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội:
1) Thành phố Biên Hòa được chia làm 3 thành phố: Thành phố Biên Hòa, Thành phố Đông Phố, Thành phố Hố Nai. Trong đó
a) Thành phố Biên Hòa mới gồm các phường: Bửu Long (chia thành 2 phường Bửu Long và Trấn Biên), Tân Phong (chia thành 2 phường Tân Phong và Bàu Hang), Trung Dũng, Quang Vinh, Quyết Thắng, Hòa Bình, Thanh Bình, Thống Nhất, Tân Mai, Tân Tiến. Như Vậy Thành phố Biên Hòa mới có 12 Phường, Diện tích 33 Km2, dân số 230.000 người. Thành phố là trung tâm văn hóa, Chính trị, Kinh Tế, Y tế, Giáo dục của tỉnh Đồng Nai
b) Thành phố Đông Phố gồm các Phường: Tân Hạnh, Hoá An, Bửu Hoà, Tân Vạn, Long Bình Tân, Tân Long, Hiệp Hòa, An Bình, Tam Hòa, Tam Hiệp, Bình Đa. Đông Phố bao gồm 11 Phường, diện tích 54 Km2, dân số 290.000 Người, Là trung tâm công nghiệp và là đầu mới giao thông của tỉnh Đồng Nai.
c) Thành phố Hố Nai gồm các Phường: Tân Hiệp, Long Bình (Tách ra thành Long Bình và Long Tân), Trảng Dài (Tách ra thành Trảng Dài và Hố Cạn), Hố Nai, Tân Biên, Tân Hòa. Như vậy Thành phố Hố Nai gồm 8 phường, diện tích 67 Km2, dân số 340.000 Người, Là trung tâm công nghiệp và y tế của tỉnh Đồng Nai
2) Huyện Long Thành, Nhơn Trạch và 1 phần Huyện Trảng Bom,, Biên Hòa được chia tách thành:
a) Huyện Rừng Sác gồm Thị Trấn Phước Thái, Thị Trấn Long Thọ và các xã Long Phước, Bàu cạn, Tân Hiệp, Phước Bình, Phước An. Huyện có diện tích 343 Km2, dân số 110.000 Người.
b) Thị Xã Long Thành. Gồm các Phường Cầu Xéo, Phước Hải (tách từ TT Long Thành), Phường Phước Thiền, Bến cam (Tách Từ xã Phước Thiền), Phường Hiệp Phước, Phước Lai (Tách từ TT Hiệp Phước), Phường An phước (1 phần của xã An phước, Long Đức) và các xã Cẩm Đường, Suối Trầu, Lộc An, Long An, Long Đức (1 phần xã Long Đức và 1 Phần xã An Phước), Tam An (Tam an và 1 Phần xã An Phước). Thị Xã có Diện tích 231 Km2, dân số 170.000 Người.
c) Thành phố Nhơn Trạch. Gồm Các Phường: Phú Hữu, Phú Đông, Vĩnh Thanh, Phú Hội, Đại Phước, Phú Thạnh, và Các Xã Long Tân, Phước Khánh. Thành phố có diện tích 203 Km2, dân số 120.000 Người.
d) Thị Xã Tam Phước. Gồm các Phường An Hòa, Phước Tân, Tân Cang (Tách ra từ xã Phước Tân), An Bình, Long Đức, Long Khánh (tách ra từ xã Tam Phước và 1 Phần xã An Phước), và các xã Long Hưng, An Đức (Phần còn lại An Phước và Long Đức), An viễn, Bình An. Thị Xã Có diện tích 198Km2, dân số 160.000 Người.
3) Huyện Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Định Quán, Tân Phú được Chia tách thành:
a) Huyện Vĩnh Cửu gồm Thị Trấn Bình Hòa, Thị Trấn Trị An và Thị Trấn Vĩnh An, các xã: Tân Bình, Bình Lợi, Thạnh Phú, Thiện Tân, Tân An, Vĩnh Tân, Thanh Bình (tách ra từ Huyện Trảng Bom), Huyện có diện tích 196 Km2, dân số 110.000 Người.
b) Thành phố Trảng Bom, gồm các Phường Thái Hòa, Ngũ Phúc (Tách từ xã Hố Nai 3), Bùi Chu, Tây Lạc (Tách ra từ xã Bắc sơn), Bình Minh, Quảng Tiến, Trảng Bom, Bàu Xéo (1 phần xã sông trầu và xã Đồi 61), Giang điền. Và các xã: Sông Trầu, Đồi 61, Cây Gáo. Thành phố có 9 phường, 3 xã,. Diện tích 195 Km2, dân số 210.000 Người.
c) Huyện Dầu Giây. gồm Thị Trấn Đông Hòa và Thị Trấn Dầu Giây (1 phần xã Bàu Hàm 2, 1 Phần xã Xuân Thạnh) và các xã Tây Hòa, Trung Hòa, Hưng Thịnh, Hưng Lộc, Lộ 25, Bầu Hàm 1, Bàu Hàm 2, Sông Thao, Xuân Thạnh. Huyện có diện tích 200 Km2, dân số 130.000 Người.
D) Huyện Kiêm Tân, Gồm Thị Trấn Kiệm Tân (1 Phần Gia Tân 2, 3 và Gia Kiệm) và các xã Quang Trung, Gia Kiệm, Gia Tân 1, Gian Tân2, Gia Tân 3, Xuân Thiện, Phú Cường, Phú Túc, Túc Trưng, Suối Nho. Huyện có diện tích 326 Km2, dân số 170.00 Người.
e) Huyện Cát Tiên gồm các xã Thanh Sơn, Đăk Lua, Phú Lý, Hiếu Liêm, Mã Đà
f) Huyện Định Quán, Tân Phú: cần diện tích và dân số còn lại sau khi điều chỉnh.
== Tỉnh, thành phố kết nghĩa ==
Tỉnh Nam Hà, Việt Nam
Tỉnh Champasak, Lào
Tỉnh Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thông tin Xã hội Kinh tế
Phát triển công nghiệp Đồng Nai |
phiến đá rosetta.txt | Phiến đá Rosetta (tiếng Anh: Rosetta Stone) là một tấm bia Ai Cập cổ đại làm bằng đá granodiorite có khắc một sắc lệnh ban hành ở Memphis năm 196 TCN nhân danh nhà vua Ptolemy V. Sắc lệnh này được viết bằng ba loại chữ: trên cùng là chữ tượng hình Ai Cập Cổ đại, ở giữa là ký tự Demotic và dưới cùng là tiếng Hy Lạp cổ đại. Bởi vì phiến đá trình bày cùng một văn bản với cả ba hệ chữ viết (với một vài khác biệt nhỏ giữa chúng), nó đã cung cấp chiếc chìa khóa vô giá giúp cho khoa học hiện đại hiểu được chữ tượng hình Ai Cập.
Mặc dù người ta tin rằng ban đầu nó được trưng bày trong một ngôi đền, có thể gần Sais, phiến đá gần như chắc chắn đã bị di chuyển dưới giai đoạn đầu đạo Cơ đốc và thời kỳ Trung Cổ và cuối cùng được dùng làm vật liệu xây dựng cho pháo đài Julien gần thành phố Rashid (Rosetta) ở châu thổ sông Nin. Nó đã được phát hiện lại vào năm 1799 bởi một người lính, Pierre-François Bouchard, thuộc quân đoàn viễn chinh Pháp tại Ai Cập. Đây là tấm bia Ai Cập Cổ đại tam ngữ đầu tiên được tìm thấy trong thời kì hiện đại, phiến đá Rosetta đã khuấy động lên sự quan tâm của công chúng về khả năng giải mã ngôn ngữ cổ đại này.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Egyptian Hieroglyphs tại DMOZ
The Rosetta Stone in The British Museum
The translated text in English – The British Museum
Champollion's alphabet – The British Museum
How the Rosetta Stone works – Howstuffworks.com
The 1999 conservation and restoration of The Rosetta Stone at The British Museum |
samsung galaxy tab 10.1.txt | Samsung Galaxy Tab 10.1 là một máy tính bảng chạy trên hệ điều hành Android được sản xuất bởi Samsung. Nó được giới thiệu lần đầu ra công chúng vào ngày 13 tháng 2 năm 2011 tại sự kiện Samsung Unpacked được tổ chức tại Barcelona.
Samsung Galaxy Tab 10.1 là thệ hệ tiếp theo của dòng sản phẩm Samsung Galaxy Tab. Được kế thừa từ Samsung Galaxy S II, là sản phẩm cạnh trang trực tiếp với iPad 2 của Apple.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
chùa hương.txt | Chùa Hương là cách nói trong dân gian, trên thực tế chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa - tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần, các ngôi đình, thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy. Trung tâm của cụm đền chùa tại vùng này chính là chùa Hương nằm trong động Hương Tích hay còn gọi là chùa Trong.
== Lịch sử ==
Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỷ 17, sau đó bị hủy hoại trong kháng chiến chống pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại năm 1988 do Thượng Toạ Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hoà thượng Thích thanh Chân.
Chùa Hương Tích ở Hà Nội thật ra chỉ là một "phiên bản" đầy ý nghĩa của chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh.
Theo cuốn Hương Sơn thiên trù thiền phả, một vị hòa thượng được lệnh của chúa Trịnh (sau khi đi tuần thú) xác định địa điểm và cho xây dựng chùa Hương Tích ở Hà Nội từ đời Lê Huy Tông dưới niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1704). Trong khi theo sách Hương Sơn báu quyển, Chùa Hương ở Hà Tĩnh là một động cao và khuất, thường có mây mù bao phủ.
Vậy vì sao lại có thêm một chùa Hương "phiên bản" ở phía Bắc? Câu trả lời là vào thời Lê - Trịnh, các vua Lê - chúa Trịnh phần lớn có quê ở xứ Thanh (xem Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái) nên các phi tần, mỹ nữ đa số được chọn tuyển ở miền Hoan Châu. Hằng năm các cung phi, cung nữ Thanh - Nghệ - Tĩnh thường trẩy hội chùa Hương trên núi Hồng Lĩnh vào ngày 18-2 âm lịch bằng đường thủy qua cửa Hội Thống (gần Cửa Lò bây giờ). Mỗi lần những "người đẹp" đi xa như vậy khiến chúa Trịnh rất phân vân (tuy đã bố trí lính vệ phục dịch dọc đường), do đó chúa Trịnh mới gọi một vị hòa thượng xác định địa điểm ở miền rừng núi Hà Sơn Bình để xây chùa Hương Tích thứ hai mà thờ vọng để các "người đẹp" đi trẩy hội gần hơn (theo dẫn giải của ông Bùi Văn Nguyên, nguyên tổng thư ký Hội Văn nghệ dân gian VN). Như vậy nhờ "sáng kiến" của chúa Trịnh mà Việt Nam có hai chùa Hương Tích.
== Các đời trụ trì ==
Tổ Trần Đạo Viên Quang Chân Nhân, Thượng Lâm Viện - Tăng Lục Ty Hoà thượng, Viên Gíac Tôn giả,
Nguyệt Đường Chân Lý Tổ Sư, Tăng Lục ty Hoà thựơng tự Như trí Gíac Tuệ tổ sư viên tịch 14/4 năm kỷ mùi 1499
Thiền Trưởng Trần huyền Đạo Thắng Chân Nhân
Thiền tăng Đạo Nhẫn Chân Nhân
Cụ Hải Dao, Phạm Đức Thắng, dòng dõi của Trần Đạo Viên Quang Chân nhân, nhận lãnh trụ trì năm 1776
Tổ Hải Viên (1764 - 1810), ngài xuất gia năm 1775, trụ trì Hương Tích từ năm 1789 - 1810
Tổ Thông Dụng Hiệu An Trụ, thích cường trực bồ tát.
Maha sa môn Ngộ Tâm, tam giáo thiền sư, Trực chiến bồ tát.
Maha sa môn Đồng Bạch tháp, Thông Lâm bồ tát.
Maha sa môn tỳ kheo, Hương Quang tháp, Tâm Trúc - hiệu Minh Thích Hoàng thiền sư
Maha sa môn Tiên Quỳnh tháp, pháp danh Thanh hữu, Thích Minh thiền sư
Tiên kỳ tháp, maha sa môn, Minh Nhẫn Nhục thiền sư, Thích thanh Quyết
Tiêu Quỳnh tháp, maha sa môn, Trí thích thiền sư
Tổ Thích Thanh Tích thiền sư (1881- 1964), trụ trì giai đoạn: 1932 - 1956
Hoà thượng Thích thanh Chân (1905 - 1989), uỷ viên Hội đồng chứng minh, phó chủ tịch hội đồng trị sự TW GHPGVN, trụ trì giai đoạn: 1956 - 1985
Hoà Thượng Thích Viên Thành (1950 - 2002), tự Nguyệt Trí, Chân tịnh bảo tháp, uỷ viên HĐTS, trưởng ban trị sự PG Phú Thọ, Phó ban trị sự PG Hà tây, Phó ban từ thiện TW GHPGVN, Phó ban giáo dục tăng ni TW GHPGVN, trụ trì giai đoạn 1985 - 2002.
Thựơng toạ Thích Minh Hiền, (1961) Phó ban văn hoá TW GHPGVN, Trụ trì giai đoạn 2002 - nay
== Kiến trúc ==
Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù (tọa độ: 20°37′5″B 105°44′49″Đ). Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.
Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên (tọa độ: 20°36′47″B 105°44′4″Đ). Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1739-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.
== Hội chùa Hương ==
Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Vào dịp lễ hàng triệu phật tử cùng du khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật - nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành.
Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng hai âm lịch. Ngày này, vốn là ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) của địa phương. Đến nay nghi lễ "mở cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới - mở cửa chùa. Lễ hội chùa Hưng trong phần lễ thực hiện rất đơn giản. Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình, miếu đều khói hương nghi ngút.
Ở trong chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ. Từ ngày mở hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt. Về phần lễ có nghiêng về "thiền". Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Đền Cửa Vòng là "chân long linh từ” thờ bà chúa Thượng Ngàn, là người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái tên là "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.
Như vậy, phần lễ là toàn thể hệ thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn giáo ở Việt Nam; có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Trong lễ hội có rước lễ và rước văn. Người làng dinh kiệu tới nhà ông soạn văn tế, rước bản văn ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc, điều khiển các bô lão của làng làm lễ tế rước các vị thần làng.
Lễ hội chùa Hương là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn … Vào những ngày tổ chức lễ hội, chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật.
== Chùa Hương và văn học ==
Chùa Hương là nguồn gợi hứng cho nhiều tác phẩm thi ca Việt Nam, trong số đó nổi tiếng nhất có lẽ là bài hát nói "Hương Sơn phong cảnh ca" của Chu Mạnh Trinh, làm từ thế kỷ 19, xưa nay rất được ca ngợi:
Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non, nước nước, mây mây
"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
...
Nhác trông lên ai khéo họa hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?...
và bài "Chùa hương" của Nguyễn Nhược Pháp, làm vào thế kỷ 20. Bài này đã được ít nhất 2 nhạc sĩ phổ nhạc là Trần Văn Khê và Trung Đức:
Hôm qua đi chùa hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
...
Trong bài này ngoài những câu thơ nhí nhảnh như trên, còn có nhiều câu tả cảnh Hương sơn rất sinh động: Réo rắt suối đưa quanh/Ven bờ ngọn núi xanh/Nhịp cầu xa nho nhỏ/Cảnh đẹp gần như tranh/Sau núi oản -gà-xôi/Bao nhiêu là khỉ ngồi/Đến núi con voi phục/Thấy đủ cả đầu đuôi/Chùa lấp sau rừng cây/(Thuyền ta đi một ngày)/Lên cửa chùa em thấy/Hơn một trăm ăn mày...
Tản Đà rất mến cảnh chùa Hương, ông làm nhiều câu thơ rất đặc sắc về cảnh và tình ở đây:
Chùa Hương trời điểm lại trời tô
Một bức tranh tình trải mấy Thu
Xuân lại xuân đi không dấu vết
Ai về ai nhớ vẫn thơm tho.
Nước tuôn ngòi biếc trong trong vắt
Đá hỏm hang đen tối tối mò.
Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối
Phàm trần chưa biết, nhắn nhe cho.
Ông còn có 1 bài thơ nổi tiếng về món đặc sản ở chùa Hương:
Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.
Về văn xuôi, có bút ký Trẩy hội Chùa Hương của Phạm Quỳnh...
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tương truyền là tác giả bài thơ vịnh động Hương Tích như sau:
Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
Người quen cõi Phật quen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
Con thuyền vô trạo cúi lom khom
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
Rõ khéo Trời già đến dở dom.
== Chú thích ==
== Hình ảnh ==
== Liên kết ngoài == |
ivan ljubičić.txt | Ivan Ljubičić (phát âm tiếng Croatia: [ǐv̞an ʎûbitʃitɕ], sinh ngày 19 tháng 3 năm 1979) là cựu vận động viên quần vợt người Croatia. Vị trí cao nhất sự nghiệp của anh là số 3 thế giới vào tháng 5 năm 2006. Sở trường của Ljubičić là các sân thi đấu trong nhà như mặt sân thảm và sân cứng. Dù chủ yếu thi đấu cuối sân, anh cũng được biết tới với khả năng lên lưới tốt (Ljubičić là một tay vợt volley cừ khôi, đặc biệt khi thi đấu ở nội dung đôi). Với cú trái một tay, anh cũng thường xuyên cắt bóng và bỏ nhỏ để bắt đối phương di chuyển. Ljubičić sử dụng cây vợt Head Youtek Extreme Pro Racquet sau khi dùng cây Babolat Pure Drive gần như suốt sự nghiệp của mình. Ljubičić từng là thành viên của Hội đồng vận động viên của ATP, và là một trong số ít tay vợt tham gia ban quản trị của ATP.
Ljubičić và Mario Ančić là một trong số ít bộ đôi giành chiến thắng trước Bob và Mike Bryan trong lịch sử Davis Cup, bên cạnh cặp Arnaud Clément – Michaël Llodra (Pháp), Marcelo Melo – Bruno Soares (Brazil) và Nenad Zimonjić – Ilija Bozoljac (Serbia). Ljubičić là đội trưởng đội tuyển Croatia giành chức vô địch Davis Cup 2005 sau khi đánh bại đội tuyển Slovakia ở trận chung kết.
Tháng 4 năm 2012, sau hàng loạt chấn thương, Ljubičić giải nghệ ở tuổi 33. Anh sau đó làm huấn luyện viên cho tay vợt trẻ người Canada Milos Raonic. Từ tháng 12 năm 2015, anh là huấn luyện viên cho tay vợt Thụy Sĩ Roger Federer.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ivan Ljubičić trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Ivan Ljubičić trên ITF
Ivan Ljubičić tại Davis Cup
Ljubičić World Ranking History |
canxi.txt | Canxi (từ tiếng Latinh: Calcis) là nguyên tố hoá học ký hiệu Ca, số thứ tự 20 trong bảng tuần hoàn. Nó là một kim loại kiềm thổ có nguyên tử khối là 40.
Canxi là nguyên tố thiết yếu cho sinh vật sống, đặc biệt trong sinh lý học tế bào và tồn tại dưới 3 dạng trong máu: 50% dưới dạng ion Ca++, gần 50% kết hợp với protein huyết tương, chủ yếu là albumin và chỉ còn rất ít dưới dạng phức hợp với phosphat, citrat, carbonat. Ở đây có sự di chuyển ion Ca2+ vào và ra khỏi tế bào chất có vai trò mang tính hiệu cho nhiều quá trình tế bào. Là một khoáng chất chính trong việc tạo xương, răng và vỏ sò, canxi là kim loại phổ biến nhất về khối lượng có trong nhiều loài động vật.
== Đặc tính ==
Về hóa học, canxi là một kim loại mềm và phản ứng mạnh (mặc dù cứng hơn chì, nó có thể bị cắt bằng dao một cách khó khăn). Nó là nguyên tố kim loại có màu bạc phải được tách ra bằng phương pháp điện phân từ muối nóng chảy như canxi clorua. Khi được tạo ra, nó nhanh chóng hình thành một lớp áo ôxít và nitrit màu trắng xám do tiếp xúc với không khí. Ở dạng khối, kim loại khó đốt cháy, thậm chí còn khó hơn các miếng magie; nhưng khi cắt ra, kim loại cháy trong không khí cho ngọn lửa cam-đỏ có độ chói cao. Kim loại canxi phản ứng với nước tạo khí hydro với tốc độ nhanh đến mức có thể nhận biết được, nhưng không đủ nhanh ở nhiệt độ phòng để tạo ra nhiều nhiệt, do vậy nên nó rất hữu ích trong việc dùng sản xuất hydro. Tuy nhiên, khi ở dạng bột nó phản ứng với nước cực kỳ nhanh do diện tích bề mặt tiếp xúc tăng do ở dạng bột. Một phần phản ứng với nước bị chậm lại do nó tạo ra sản phẩm không hòa tan là canxi hydroxit có tính bảo vệ.
Canxi có tỉ trọng 1,55 g/cm3, là kim loại kiềm thổ nhẹ nhất; magie (1,74) và bery(1,84) đặc hơn mặc dù chúng có số khối nhỏ hơn. Kể từ stronti trở đi, các kim loại kiềm thổ có tỷ trọng tăng theo số khối. Canxi có hai đồng hình.
Canxi có điện trở suất lớn hơn đồng và nhôm, tính trên cùng khối lượng, do nó có khối lượng riêng thấp hơn, nó cũng là chất dẫn điện tốt hơn hai loại trên. Tuy nhiên, trong thực tế nó ít khi được sử dụng bởi rất dễ phản ứng với không khí.
Các muối của canxi không màu cho dù canxi ở dạng nào đi nữa, và ion canxi hòa tan (Ca2+) cũng không màu. Cùng với các muối của magie và các muối của kim loại kiềm thổ khác, các muối canxi thường tan khá trong nước ngoại trừ canxi hydroxit, canxi sulfat, canxi carbonat và canxi phốt phát. Khi ở trong dung dịch, ion canxi cho nhiều vị giác ấn tượng như mặn, chua, trơn.
== Lịch sử ==
Vôi ở dạng vật liệu xây dựng đã được sử dụng từ thời tiền sử cách nay khoảng 7000 đến 14000 TCN. Lò vôi được định tuổi đầu tiên có niên đại 2500 TCN và được tìm thấy ở Khafajah mesopotamia. Calcium (từ tiếng Latin calx, thuộc về calcis, nghĩa là "vôi") đã được biết từ rất sớm vào thế kỷ 1 khi người La Mã cổ đại điều chế vôi ở dạng canxi ôxit. Văn liệu năm 975 ghi nhận rằng canxi sulfat là chất hữu ích trong việc hình thành xương. Nó không được tách biệt mãi cho đến năm 1808 ở Anh khi Sir Humphry Davy điện phân một hỗn hợp gồm vôi và thủy ngân ôxit..
== Ứng dụng ==
Canxi là một thành phần quan trọng của khẩu phần dinh dưỡng. Sự thiếu hụt rất nhỏ của nó đã ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của xương và răng. Thừa can xi có thể dẫn đến sỏi thận(vì khi nồng độ cao dễ bị kết tinh gây ngưng trệ quá trình bài tiết). Vitamin D là cần thiết để hấp thụ canxi. Các sản phẩm sữa chứa một lượng lớn canxi.
Để hiểu thêm về vai trò của canxi trong thế giới sự sống, xem thêm bài Canxi trong sinh học.
Các ứng dụng khác còn có:
Chất khử trong việc điều chế các kim loại khác như urani, zirconi hay thori.
Chất chống ôxi hóa, chống sulfua hóa hay chống cacbua hóa cho các loại hợp kim chứa hay không chứa sắt.
Một chất tạo thành trong các hợp kim của nhôm, beryli, đồng, chì hay magiê.
Nó được sử dụng trong sản xuất xi măng hay vữa xây sử dụng rộng rãi trong xây dựng.
== Hợp chất ==
Vôi sống (CaO) được sử dụng trong nhiều quy trình làm sạch hóa học và được sản xuất bằng cách nung nóng đá vôi. Khi thêm nước vào vôi sống thì nó tạo ra vôi tôi Ca(OH)2. Khi Ca(OH)2 được trộn với cát nó tạo ra vữa sử dụng trong xây dựng, vữa này cứng lại khi để lâu trong không khí do điôxít cacbon có phản ứng chậm với vôi tôi tạo ra cacbonat canxi. Trộn với các chất khác, chẳng hạn đất sét và thạch cao khi bị nung nóng ở nhiệt độ cao, CaO tạo ra một thành phần quan trọng của xi măng Portland là cờ lanh ke (clinker).
Khi nước thấm qua đá vôi hoặc các loại đá cacbonat,nó hòa tan một phần của đá (do sự hiện diện của khí CO2) và sinh ra các loại hình nhũ đá cũng như hình thành nên nước cứng. Các hợp chất quan trọng của canxi là nitrat, sulfua, clorua, cacbua, xyanua và hypôclorit canxi.
== Đồng vị ==
Canxi có 6 đồng vị ổn định, hai trong chúng có nguồn gốc tự nhiên: đồng vị Ca40 và đồng vị phóng xạ Ca41 với chu kỳ bán rã = 103.000 năm. 97% của nguyên tố này là ở dạng Ca40. Ca40 là một trong các sản phẩm sinh ra bởi sự phân rã của K40, cùng với Ar40. Trong khi tỷ lệ K/Ar được sử dụng rộng rãi trong địa chất học thì sự phổ biến của Ca40 trong tự nhiên đã cản trở việc sử dụng chỉ số K/Ca này trong địa chất. Không giống như các đồng vị có nguồn gốc vũ trụ được tạo ra trong khí quyển, Ca41 được sản xuất do việc hấp thụ nơtron của Ca40. Phần lớn của việc tạo ra đồng vị này là ở những mét cao nhất hay ở những lớp đất đá mà ở đó các bức xạ nơtron vũ trụ là đủ mạnh. Ca41 đã thu được sự chú ý của các nhà khoa học trong nghiên cứu các chòm sao vì Ca41 phân rã thành K41, một chỉ số quan trọng của các bất thường trong hệ Mặt Trời.
== Canxi trong sinh học ==
Canxi là nguyên tố thiết yếu cho sự sống. Mức canxi trong động vật có vú được kiểm soát chặt. regulated, Trong cơ thể thì 98% canxi nằm ở xương và răng; 2% còn lại là ion canxi nằm trong máu để thực hiện các chức năng thần kinh cơ, đông máu. Trong máu, Ca ở dưới 3 dạng: 50% dưới dạng ion Ca++, gần 50% kết hợp với protein huyết tương, chủ yếu là albumin và chỉ còn rất ít dưới dạng phức hợp với phosphat, citrat, carbonat.
Nếu tuyến cận giáp bị kích thích do thiếu canxi, tuyến cận giáp phải liên tục tiết ra quá nhiều hooc môn, chức năng tuyến cận giáp làm việc quá mức nên không còn kiểm soát được nồng độ canxi trong máu nữa, do vậy nồng độ canxi trong máu tăng cao, dẫn đến loạn nhịp tim. Khi nhịp tim loạn thì tuyến giáp lại phải tiết ra hooc môn để giảm nồng độ canxi trong máu, chuyển lượng canxi thừa đó ra ngoài tới các tổ chức khác để duy trì ổn định nồng độ canxi trong máu. Quá trình đó gọi là “canxi di chuyển”.
== Phương trình ==
CaO + H2O → Ca(OH)2
CaO + 2CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
CaCO3 (to) → CaO + CO2↑
Ca + 2HCl → CaCl2 + H2↑
CaO + 3C → CaC2 + CO (xảy ra ở nhiệt độ 3000 °C)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Calcium
EnvironmentalChemistry.com – Calcium |
phát xít ý.txt | Phát xít Ý (tiếng Ý: fascismo) là thời kỳ nước Ý nằm dưới quyền thống trị của đảng Phát xít do Benito Mussolini lãnh đạo, từ năm 1922 đến 1943. Từ "fascism" (chủ nghĩa phát xít) trong tiếng Anh xuất phát từ "fascio" trong tiếng Ý nghĩa là "đồng minh" (league). Chủ nghĩa phát xít Ý được xem là hình mẫu cho các hình thức chủ nghĩa phát xít khác. Phát xít Ý cùng Đức Quốc xã và Đế quốc Nhật Bản hợp thành khối Trục trong Đệ Nhị Thế Chiến.
== Bối cảnh hình thành ==
Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Vương quốc Ý nhảy vào tham chiến, về phe Đồng Minh. Vào tháng 11 năm 1918, với những chiến thắng quyết định trong trận sông Piave lần thứ hai và trận Vittorio Veneto, nước Ý đánh bại Đế quốc Áo-Hung, giành được nhiều đất như Trentino, Nam Tyrol, Trieste và Istria, cộng thêm Fiume và vài vùng khu bờ biển Dalmatia (Zara). Tuy thế, nhân dân Ý lúc bấy giờ sống rất lầm than vì mất đến 60 vạn dân số trong cuộc Đại chiến, lạm phát, thất nghiệp lan tràn và chính phủ Ý mất tín nhiệm.
Nhân cơ hội này, đảng Phát xít Ý dần dần lên nắm quyền trong nước, nhà vua Ý là Vittorio Emanuele III vì sợ nội chiến và cách mạng nên phải nhượng bộ.
== Quá trình lịch sử ==
Trong những năm 1922 - 1923, chính phủ phát xít do Benito Mussolini cầm đầu tỏ vẻ tôn trọng và phát huy dân chủ. Nhưng sau cuộc bầu cử dối trá năm 1924, Mussolini và phe đảng thắng thế tối cao trong quốc hội và từ ngày 3 tháng 1 1925 thẳng tay tiêu diệt mọi quyền tự do dân chủ.
Sau đó ông thành lập chính phủ độc tài, giành hết quyền quản lý của quốc gia về đảng chính trị duy nhất của ông, đảng Phát Xít Quốc gia. Những đảng khác đều bị cấm hoạt động, các công đoàn độc lập đều bị bác bỏ. Hệ thống đàn áp cảnh sát trị này được một số dân Ý xem là cách duy nhất để tránh sự xâm nhập của cộng sản vào nước Ý. Tuy không tàn bạo bằng hệ thống của Hitler, cảnh sát mật vụ của Mussolini khủng bố, hãm hại và thủ tiêu cả chục ngàn người chống đối.
Mussolini kế đến phát huy chủ nghĩa phát xít tại châu Âu. Những lãnh tụ độc tài như Salazar ở Bồ Đào Nha, Franco ở Tây Ban Nha và Hitler ở Đức học hỏi ít nhiều từ chính sách phát xít Ý. Một số chính trị gia tại Anh Quốc và Hoa Kỳ cũng khâm phục thay đổi ở Ý trong những năm đầu. Tuy thế, người Ý hải ngoại không mấy ủng hộ chính sách độc tài này.
Năm 1929, Mussolini thực hiện hiệp ước Bể Thánh, và chính quyền độc lập Vatican ra đời ngay trong lòng thủ đô Roma của Ý.
Năm 1935 Ý chiếm Ethiopia. Anh và Pháp lên tiếng phản đối và lánh xa Ý. Mussolini lúc bấy giờ bắt đầu tỏ ý theo Đức Quốc xã và ký hiệp ước liên minh với Hitler vào năm 1936 và sau đó ký kết liên minh khối Trục năm 1938. Ý ủng hộ Franco trong nội chiến Tây Ban Nha, chấp nhận Đức hoành hành Trung Âu và đồng ý khi Hitler bắt Áo sáp nhập vào Đức. Tuy nhiên tháng 10 năm 1938, Mussolini hòa giải thành công những va chạm chính trị giữa Anh, Pháp và Đức - với con mồi là Tiệp Khắc.
Tháng 4 1939, Phát xít Ý chiếm Albania nhưng tháng 9 năm đó Mussolini không cho quân Ý theo Hitler tấn công Ba Lan, viện cớ chưa chuẩn bị hàng ngũ quân đội. Khi thấy Đức thắng ở Pháp, Ý mới chính thức tham chiến vào tháng 6 năm 1940. Tuy nhiên, vì quân đội Ý không mạnh và tướng tá cũng không giỏi nên sau khi theo ngả Albania để tấn công Hy Lạp thì đã bị đẩy lui. Cũng trong năm 1940, Ý tấn công và chiếm Somalia (thuộc Anh Quốc) nhưng sau đó cũng bị quân Đồng Minh đánh bại. Tại mặt trận Bắc Phi, quân đội Ý cũng bị tấn công gần tan rã trước khi may mắn được tướng Rommel của Đức cứu thoát.
== Kết thúc ==
Sau khi đại bại tại nhiều mặt trận, Ý bị quân đồng minh tấn công vào tháng 5 1943. Tháng 7 1943, vua Ý Vittorio Emanuele III lật đổ chính phủ của Mussolini và ra lệnh truy nã nhà độc tài Ý. Tháng 9 1943, Ý đầu hàng đồng minh nhưng lập tức Hitler cho quân Đức tiến vào chiếm lại. Trong hai năm sau đó, xứ Ý trở thành một chiến địa đẫm máu giữa một bên gồm quân phát xít Ý và Đức Quốc xã, bên kia là quân kháng chiến Ý và đồng minh. Đến ngày 25 tháng 4 1945 nước Ý mới thật sự được giải phóng và xây dựng lại hòa bình. Phương tiện liên quan tới Fascism tại Wikimedia Commons
== Tham khảo == |
chu kỳ (bảng tuần hoàn).txt | Các nguyên tố trong bảng tuần hoàn được xếp theo các nhóm và chu kỳ tuần hoàn, trong đấy chu kỳ là các hàng ngang và gồm các nguyên tố có cùng số lớp trong lớp vỏ electron. Trong mỗi chu kỳ từ trái sang phải: số nguyên tử tăng, bán kính nguyên tử giảm, độ âm điện tăng. Ngoại trừ chu kỳ 1 chỉ gồm 2 nguyên tố, các chu kỳ còn lại chứa nguyên tố của các nhóm chính, từ chu kỳ 4 trở đi còn có nguyên tố trong 10 nhóm phụ. Chu kỳ 6 còn có 14 nguyên tố trong nhóm Lantan, chu kỳ 7 nhóm Actini.
== Tham khảo == |
mắm tôm.txt | Mắm tôm, là loại mắm được làm chủ yếu từ tôm hoặc moi và muối ăn, qua quá trình lên men tạo mùi vị và màu sắc đặc trưng.
Mắm tôm thường có 3 dạng: đặc, sệt và lỏng. Ba dạng này chỉ khác nhau ở tỉ lệ muối và quá trình phơi nắng.
Người làm mắm còn có thể thái cây bọ mắm rồi trộn với tôm cùng muối để chống giòi bọ.
== Mùi vị đặc trưng của mắm tôm ==
Quá trình lên men mắm tôm bắt buộc phải sử dụng chính một loại enzyme có trong ruột của loài giáp xác này để lên men, các vi khuẩn phân huỷ khác phải bị kiềm chế bằng nồng độ muối khá cao trong mắm tôm. Nhờ đó hương vị chính của mắm tôm là hương vị của enzyme này tạo ra. Khi nào mùi vị của mắm tôm giống như mùi vị của ruột con tôm trong đầu con tôm tươi sống là có thể dùng được.
== Mắm tôm trong ẩm thực Việt Nam ==
Trong tín ngưỡng của người Việt Nam mắm tôm là thức ăn có tác dụng xua đuổi tà ma. Người ta cho rằng ma quỷ rất sợ loại mắm này, người ăn mắm tôm sẽ không bị ma quỷ làm hại. Để mắm tôm ở trong nhà sẽ tránh hồn ma hiện về. Không chỉ người dân đồng bằng thích ăn mắm tôm mà rất nhiều người dân tộc miền núi cũng rất quý loại mắm này. Có một số người dân tộc miền núi còn có tục lệ là nhà dù nghèo đến mấy khi giỗ cha cũng phải có mắm tôm để cúng.
Mắm tôm có mặt trong nhiều món ăn dân dã miền quê, nhất là những món miền Bắc như cà pháo dầm mắm tôm, nộm rau muống.
Mắm tôm thường được đánh với nước cốt chanh hay rượu trắng cho đến khi sủi bọt để dậy mùi và làm loãng, có thể thêm một chút xíu đường cho vị đỡ gắt.
Khi dùng làm nước chấm lòng lợn, thịt lợn luộc, thịt chó thì có thể ăn kèm theo các loại rau thơm, khế chua, chuối chát, hay riềng tươi, tùy theo loại thịt. Mắm tôm khi được dùng để ăn với bún kèm đậu phụ rán hay chả cá Hà Nội có thể pha thêm một chút mỡ rán nóng.
Trong các món nấu, mắm tôm là thức không thể thiếu khi pha chế món rựa mận và giò heo giả cầy.
Các món nước như bún riêu và bún thang đều lấy vị mặn mòi của mắm tôm để quyện lấy các hương vị kia.
== Phương pháp chung để làm mắm tôm miền Bắc ==
=== Chuẩn bị nguyên liệu ===
Nguyên liệu có thể là tôm, tép, moi nhưng chủ yếu vẫn là con moi vì con moi đánh bắt được nhiều hơn, độ đạm của moi cũng khá cao.
=== Cách làm ===
Nguyên liệu tươi sống đem xay ra hoặc chà nát, đối với tôm to thì phải siết bỏ vỏ.
Trộn muối vừa đủ sao cho enzyme trong ruột tôm hoạt động được mà vi khuẩn phân huỷ khác không hoạt động được
Cho vào dụng cụ chứa, phơi nắng, khuấy đảo, để bay bớt hơi nước phát sinh trong quá trình lên men.
Sau 6 tháng đến 1 năm khi mắm tôm có màu và hương vị như đã nói ở trên là mắm đã "ngấu" là có thể dùng được.
== Mắm tôm chà Gò Công ==
Tại vùng Gò Công, Tiền Giang, Tây Nam Bộ Việt Nam có loại mắm tôm chà đặc sản, từng là món quý dâng lên vua chúa nửa đầu thế kỷ 19. Nguyên liệu làm mắm là con tôm đất có nhiều gạch son. Tôm được làm sạch rồi ướp gia vị, cho vào cối quết nhuyễn. Người ta cẩn thận cho tôm giã nhuyễn vào rổ và chà mạnh để vỏ tôm tách khỏi thịt. Sau đó, phơi nắng tôm vài ngày tùy kỹ thuật gia truyền từng nhà. Sau đó chà qua rây (lưới lỗ li ti) để ép lấy phần thịt tôm, cho gia vị vào, đem phơi nắng tiếp độ mười ngày nửa tháng tùy con nắng có tốt không, lại để tiếp trong mát chừng nửa tháng nữa thì ăn được. Như vậy, từ "chà" ở đây là chà xát. Trung bình cứ chế biến 3 kg tôm bạc đất tươi sẽ cho 1 kg mắm thành phẩm. Loại mắm tôm chà ngon nhất có nước cốt màu đỏ tươi, là màu đỏ của gạch con tôm hòa với thịt con tôm đã "chín". Cách dùng phổ biến là mắm tôm chà về ăn với thịt ba rọi luộc cuốn với rau sống và bún tươi. Tuy nhiên loại đặc sản này hiện còn rất ít gia đình sản xuất theo quy trình truyền thống ở Gò Công.
== Vệ sinh thực phẩm ==
Mùi vị của mắm tôm khá mạnh, không phải người sành sỏi rất khó có thể phân biệt được mắm tôm còn tốt hay đã hỏng. Mặt khác nhiều người vẫn còn quan điểm sai lầm cho rằng mắm tôm càng nặng mùi càng ngon. Ngay cả khi mua về nếu không biết bảo quản mắm tôm cũng khiến mắm tôm rất dễ bị hỏng. Khi pha chế mắm tôm thì phải dùng luôn, không được pha chế rồi để dành lại cho lần sau.
Mắm tôm từng bị cấm tại Hà Nội do bị Bộ Y tế Việt Nam xem là một trong những nguyên nhân của dịch tiêu chảy cấp. Sau một thời gian, Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn đã khẳng định nguyên nhân là thực phẩm và nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề chứ không phải mắm tôm.
== Xem thêm ==
Màu mắm tôm
Mắm chua
Mắm ruốc
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Quán ăn vắng khách vì thiếu mắm tôm
Công bố dịch tiêu chảy, cấm mắm tôm, mắm tép
Cấm mắm tôm, tép do dịch bệnh diễn biến phức tạp |
thiên tai.txt | Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên (ví dụ lũ lụt, (bão) phun trào núi lửa, động đất, hay lở đất) có thể ảnh hưởng tới môi trường, và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hay con người. Thiệt hại do thảm hoạ tự nhiên phụ thuộc vào khả năng chống đỡ và phục hồi của con người với thảm hoạ. Sự hiểu biết này được tập trung trong công thức: "thảm hoạ xảy ra khi rủi ro xuất hiện cùng sự dễ bị tổn thương." Một rủi ro thiên nhiên vì thế không thể dẫn tới thảm hoạ tự nhiên tại các khu vực không dễ bị tổn thương, ví dụ những trận động đất lớn tại các khu vực không có người ở. Thuật ngữ tự nhiên do vậy đã bị tranh cãi bởi các sự kiện đơn giản không phải là rủi ro hay thảm hoạ nếu không liên quan tới con người.
== Tai biến tự nhiên ==
Một rủi ro tự nhiên là một mối đe doạ về một sự kiện sẽ có tác động xấu với con người hay môi trường. Nhiều rủi ro tự nhiên có liên quan với nhau, ví dụ động đất có thể gây ra sóng thần, hạn hán có thể trực tiếp dẫn tới nạn đói và bệnh dịch. Một ví dụ cụ thể về việc phân chia giữa rủi ro và thảm hoạ là trận động đất San Francisco năm 1906 là một thảm hoạ, trong khi động đất là rủi ro. Rủi ro vì thế liên quan tới một sự diễn ra trong tương lai và thảm hoạ là các sự kiện quá khứ hai đang diễn ra.
== Các thảm hoạ thiên nhiên ==
=== Các thảm hoạ do đất di chuyển ===
==== Tuyết lở ====
Các vụ tuyết lở đáng chú ý gồm:
Vụ lở tuyết Wellington 1910
Vụ lở tuyết Blons năm 1954
Trận động đất Ancash năm 1970
Vụ lở tuyết Galtür năm 1999
Vụ lở đá băng Kolka-Karmadon năm 2002
==== Động đất ====
Một trận động đất là một sự dịch chuyển bất thần của vỏ Trái Đất. Những dao động có thể khác biệt về tầm mức. Nguồn phát sinh chấn động dưới mặt đất được gọi là "chấn tiêu" (focus). Điểm ở ngay trên tiêu điểm trên bề mặt Trái Đất được gọi là "tâm chấn". Các trận động đất tự chúng hiếm khi gây thiệt mạng cho con người hay động vật hoang dã. Thường các tác động thứ cấp do chúng gây ra, như nhà cửa sụp đổ, hoả hoạn, sóng thần và núi lửa, mới là thảm hoạ cho con người. Bởi nhiều sự kiện ở trên có thể được phòng tránh bằng cách xây dựng nhà cửa tốt hơn, các hệ thống an toàn, cảnh báo sớm và kế hoạch sơ tán, thuật ngữ thảm hoạ phi tự nhiên không được xác định.
Một số trận động đất đáng chú ý nhất gần đây gồm:
Trận động đất Ấn Độ Dương năm 2004, trận động đất lớn thứ hai được ghi nhận trong lịch sử, với cường độ 9.3. Những cơn sóng thần lớn do trận động đất này gây ra làm ít nhất 229,000 người chết.
Trận động đất Kashmir năm 2005 7.6-7.7, khiến 79,000 người chết ở Pakistan.
Trận động đất Java tháng 7 năm 2006 7.7, cũng gây ra các cơn sóng thần.
Trận động đất Tứ Xuyên năm 2008 diễn ra ngày 12 tháng 5 với cường độ 7.9 độ ở Tứ Xuyên, Trung Quốc. Con số người chết là hơn 61,150 ở thời điểm ngày 27 tháng 5 năm 2008.
==== Lahars ====
Lahar là một dòng bùn hay lở đất núi lửa. Thảm hoạ Tangiwai năm 1953 do lahar gây ra, trong thảm kịch Armero năm 1985 thị trấn Armero đã bị chôn vùi và ước tính 23,000 người chết.
==== Lở đất và các dòng bùn ====
Điều này xảy ra khá đều ở nhiều vùng thuộc California sau các giai đoạn mưa lớn.
==== Phun trào núi lửa ====
Một vụ phun trào có thể chính nó đã là một thảm hoạ bởi sức nổ của núi lửa hay do đá rơi xuống nhưng có nhiều hiệu ứng có thể diễn ra sau một vụ phun trào và thường có nguy cơ với đời sống con người.
Dung nham có thể được tạo ra trong vụ phun trào của một vụ núi lửa, nó là một vật liệu gồm đá siêu nóng. Có nhiều hình thức dung nham khác nhau có thể là dễ vỡ vụn hay dính như keo. Khi chảy khỏi núi lửa nó phá huỷ bất kỳ công trình, cây cối nào mà nó gặp.
Tro núi lửa – nói chung có nghĩa là tro nguội – có thể hình thành một đám mây, và rơi dày xuống các khu vực lân cận. Khi trộn với nước nó hình thành một vật liệu kiểu bê tông. Số lượng tro tích tụ có thể làm sụp mái nhà và thậm chí ở số lượng nhỏ nó cũng có thể gây hại cho sức khoẻ nếu con người hít phải. Bởi tro có chứa thuỷ tinh nó mài mòn các thiết bị chuyển động như động cơ.
Siêu núi lửa: Theo lý thuyết thảm hoạ Toba 70 tới 75 nghìn năm trước một sự kiện siêu núi lửa đã diễn ra tại Hồ Tuba làm giảm dân số xuống còn 10,000 hay thậm chí 1,000 cặp có thể sinh sản tạo ra một nút cổ chai trong quá trình tiến hoá của loài người. Nó cũng giết hại ba phần tư mọi dạng thực vật ở bắc bán cầu. Mối nguy hiểm chính từ một siêu núi lửa là đám mây tro rộng lớn do nó tạo ra có thể gây hiệu ứng thảm hoạ với khí hậu và nhiệt độ Trái Đất trong nhiều năm.
Các dòng chảy nham tầng gồm một đám mây tro núi lửa nóng được tạo ra trong không khí bên trên núi lửa, dưới trọng lượng của nó nó sẽ nhanh chóng rơi xuống và tràn đi nhanh chóng đốt cháy bất kỳ thứ gì trên đường. Mọi người tin rằng Pompeii đã bị phá huỷ bởi một dòng chảy nham tầng.
=== Các thảm hoạ do nước ===
==== Lũ lụt ====
Một số trận lụt lớn gồm:
Các trận lũ lụt do sông Hoàng Hà tại Trung Quốc xảy ra rất thường xuyên. Trận lụt lớn năm 1931 khiến từ 800.000 tới 4.000.000 người chết.
Trận lụt đồng bằng sông Hồng năm 1971 đã khiến khoảng 100 nghìn người thiệt mạng, ảnh hưởng khoảng 2,7 triệu người.
Trận lụt lớn năm 1993 là một trong những trận lụt gây hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.
Trận lụt sông Dương Tử năm 1998, cũng ở Trung Quốc, khiến 14 triệu người mất nhà cửa.
Trận lụt Mozambique năm 2000 gây lụt hầu như toàn bộ đất nước trong ba tuần, khiến hàng nghìn người chết và đất nước bị tàn phá.
Những cơn bão nhiệt đới có thể gây ra những trận lụt và storm surge lớn, như đã xảy ra với:
Bão Bhola, tấn công Đông Pakistan (hiện là Bangladesh) năm 1970,
Bão Nina, tấn công Trung Quốc năm 1975,
Bão nhiệt đới Allison, tấn công Houston, Texas năm 2001 và
Bão Katrina, khiến hầu hết New Orleans ngập chìm trong nước năm 2005. Đa phần tình trạng lụt lội do tình trạng hư hỏng đê gây ra.
==== Phun trào Limnic ====
Một vụ phun trào limnic xảy ra khi CO2 bất thần phun trào từ các hồ nước sâu, gây ra nguy cơ chết ngạt cho các động vật hoang dã, gia súc và con người. Những vụ phun trào như vậy có thể gây ra sóng thần tại các hồ khi khí CO2 thoát ra đẩy chỗ của nước. Các nhà khoa học tin rằng các vụ lở đất, hoạt động núi lửa hay các vụ nổ có thể gây ra các vụ phun trào đó. Tới ngày nay, chỉ hai vụ phun trào limnic đã được quan sát và ghi lại:
Năm 1984, tại Cameroon, một vụ phun trào limnic tại Hồ Monoun khiến 37 người sống cạnh đó thiệt mạng.
Ở gần Hồ Nyos năm 1986 một vụ phun trào lớn hơn nhiều, tình trạng ngạt hơi đã giết hại từ 1,700 tới 1,800 người.
==== Sóng thần ====
Sóng thần có thể do các trận động đất ngầm dưới đáy biển gây ra như cơn sóng thần tại Ao Nang, Thái Lan do Trận động đất Ấn Độ Dương năm 2004, hay bởi những vụ lở đất như cơn sóng thần tại Vịnh Lituya, Alaska.
Ao Nang, Thái Lan (2004). Trận động đất Ấn Độ Dương năm 2004 tạo ra Sóng thần ngày tặng quà và thảm hoạ tại địa điểm này.
Vịnh Lituya, Alaska (1953). Một cơn sóng thần lớn xảy ra ở đây, lớn nhất từng được ghi nhận.
Sóng thần được liệt vào tiêu chí thảm hoạ do đất di chuyển bởi nó phát sinh với một trận động đất.
=== Các thảm hoạ do thời tiết ===
==== Bão tuyết ====
Các trận bão tuyết lớn ở Hoa Kỳ gồm:
Bão tuyết lớn năm 1888
Bão tuyết Schoolhouse diễn ra sớm hơn cùng năm đó
Bão tuyết ngày đình chiến năm 1940
Trận bão thế kỷ năm 1993
==== Bão ====
Bão, bão nhiệt đới là hai cái tên khác nhau cho cùng một hiện thượng một hệ thống bão xoáy hình thành trên đại dương. Cơn bão trên Đại Tây Dương gây thiệt hại nhân mạng lớn nhất là bão Bhola năm 1970 đã tàn phá Martinique St. Eustatius và Barbados. Một cơn bão lớn khác là Bão Katrina tàn phá Gulf Coast của Hoa Kỳ năm 2005.
==== Hạn hán ====
Những trận hạn hán nổi tiếng trong lịch sử:
1900 Ấn Độ làm thiệt mạng từ 250.000 tới 3,25 triệu người.
1921-22 Liên Xô với 5 triệu người chết vì đói khát bởi hạn hán.
1928-30 tây bắc Trung Quốc khiến 3 triệu người chết đói.
1936 và 1941 Tứ Xuyên, Trung Quốc khiến 5 triệu và 2,5 triệu người chết.
Tới năm 2006 các bang New South Wales và Queensland của Australia đã bị hạn hán từ năm tới mười năm. Lần đầu tiên hạn hán đã ảnh hưởng tới cư dân đô thị.
Năm 2006 tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc trải qua trận hạn hán tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại với 8 triệu người và 7 triệu gia súc thiếu nước.
==== Mưa đá ====
Mưa đá rà những giọt mưa đã kết hợp với nhau tạo thành đá. Một cơn mưa đá đặc biệt nguy hại đã rơi xuống München, Đức ngày 31 tháng 8 năm 1986, làm đổ hàng nghìn cây cối và gây thiệt hại hàng triệu dollar.
==== Gió nóng ====
Trận gió nóng tồi tệ nhất trong lịch sử gần đây là Trận gió nóng châu Âu năm 2003.
Gió nóng tại Victoria Australia đã gây ra những trận cháy rừng năm 2009, Melbourne có 3 ngày liên tiếp nhiệt độ trên 43 °C.
==== Vòi rồng ====
Các kiểu vòi rồng
Supercell Tornadoes
Một trong số những vòi rồng mạnh nhất phát triển từ những cơn bão sấm kiểu supercell. Một cơn bão sấm kiểu supercell là một cơn bão tồn tại lâu có bên trong cấu trúc của nó một luồng khí quay liên tục di chuyển lên trên. Những cơn bão này thường có khuynh hướng tạo thành vòi rồng, một số có hình chữ V lớn. Bão sấm kiểu supercell có một lớp mây quay ở độ cao thấp được gọi là "mây tường." Nó trông giống một lớp của một chiếc bánh nhiều lớp treo bên dưới một đám mây lớn hơn. Một bên của mây tường thường không có mưa, trong khi bên kia mưa dày. Luồng khí xoay di chuyển lên trên của supercell trên radar trông như một "mesocyclone."
Các vòi rồng đi kèm theo bão sấm supercell thường vẫn tiếp xúc với mặt đất trong một khoảng thời gian dài—một giờ hoặc hơn—so với các vòi rồng khác, và thường rất mạnh, với tốc độ gió vượt quá 200 dặm/giờ.
Landspout
Nói chung yếu hơn vòi rồng supercell, một landspout không đi liền với một đám mây tường hay mesocyclone. Nó có thể được quan sát thấy bên dưới mây tích mưa hay các đám mây tích và là bộ phận tương tự dưới đất của một máng xối nước. Nó thường hình thành dọc theo cạnh của một luồng khí lạnh do mưa đang di chuyển xuống bắt nguồn từ một cơn bão sấm, được gọi là "gust front."
Gustnado
Yếu và thường không tồn tại lâu, một gustnado hình thành dọc theo bờ đang mưa của một cơn bão sấm, xuất hiện như một đám mây bụi hay cuộn bụi tạm thời. Có thể không có liên quan trực tiếp tới hay sự chuyển động trong đám mây trên cao. Chúng thường trông giống như dust devil.
Waterspout
Một waterspout là một vòi rồng trên mặt nước. Một số hình thành từ các cơn bão sấm supercell, nhưng đa số hình thành từ các cơn bão sấm yếu hay các đám mây tích nhanh. Waterspout nói chung không dày và không gây thiệt hại lớn. Hiến khi rộng quá 50 yard, nó hình thành trên mặt nước đại dương nhiệt đới ấm, dù phần ống của nó được hình thành từ các hạt nước mưa tích tụ từ hơi nước - không phải là nước mặn của đại dương. Waterspout thường tan ngay khi chạm tới đất liền.
Dưới đây là các lưu thông kiểu vòi rồng
Dust devil
Những ngày nóng, khô, quang mây trên sa mạc hay trên vùng đất khô có thể dẫn tới sự hình thành dust devil. Nói chung nó hình thành dưới ánh mặt trời nóng vào cuối buổi sáng hay đầu buổi chiều, những cơn gió lốc chủ yếu vô hại này hình thành bởi các phần tử nhẹ của sa mạc tạo ra một đám bụi xoáy với tốc độ hiếm khi vượt quá 70 dặm/giờ. Chúng khác với vòi rồng ở điều chúng không đi liền với một cơn bão sấm (hay bất kỳ đám mây nào), và thường yếu hơn những vòi rồng yếu nhất.
Thông thường vòng đời của một dust devil thường chỉ chưa tới vài phút, dù chúng có thể tồn tại lâu hơn. Dù thường là vô hại, đã có những ghi nhận việc chúng gây ra các thiệt hại nhỏ. Chúng có thể thổi bay xe cộ khỏi đường và có thể làm đau mắt bạn nếu thổi bụi rơi vào mắt.
Firewhirls
Thỉnh thoảng hơi nóng dày đặc do các trận cháy rừng hay núi lửa phun trào lớn có thể tạo ra cái được gọi là firewhirl, một cột khói và/hay lửa xoay tròn kiểu vòi rồng. Nó xảy ra khi lửa thổi bay một số phần tử xoáy yếu lúc đầu vào trong gió. Gió cộng với các phần từ này được ước tính có tốc độ lên tới hơn 100 dặm/giờ. Chúng thỉnh thoảng được gọi là vòi rồng lửa, fire devils, hay firenadoes.
=== Hoả hoạn ===
Các đám cháy rừng là các đám lửa không kiểm soát tại các khu vực hoang dã. Các nguyên nhân thông thường của nó là do sét và hạn hán nhưng những đám cháy rừng cũng có thể bùng phát do sự bất cẩn của con người hay do cố ý. Chúng có thể là một mối đe doạ với con người tại các khu vực thôn dã và cả động vật hoang dã.
Một trường hợp cháy rừng đáng chú ý là trận cháy rừng Victoria năm 2009 tại Australia.
=== Sức khoẻ và bệnh dịch ===
==== Bệnh dịch ====
Một bệnh dịch là một sự bùng phát của một loại bệnh có thể khống chế, lan rộng với tốc độ cao trong dân số loài người. Một đại dịch là một bệnh dịch lan tràn toàn cầu. Trong suốt lịch sử đã có nhiều bệnh dịch, như Tử thần Đen. Trong vài trăm năm qua, những đợt bệnh dịch lớn gồm:
Dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, làm thiệt mạng ước tính 50 triệu người trên thế giới
Đại dịch cúm châu Á 1957-58, làm thiệt mạng ước tính 1 triệu người
Đại dịch cúm Hồng Kông 1968-69
Đại dịch SARS 2002-2003
Đại dịch AIDS, bắt đầu năm 1959
Đại dịch Cúm H1N1 (cúm lợn) 2009-?
Các loại bệnh khác lan truyền chậm hơn, nhưng vận bị WHO coi là các nguy cơ sức khoẻ toàn cầu gồm:
XDR TB, một dòng bệnh lao có khả năng kháng thuốc rất mạnh
Sốt rét, giết hại ước tính 1.5 triệu người mỗi năm
Sốt xuất huyết Ebola, đã làm thiệt mạng hàng trăm người ở châu Phi trong nhiều lần bùng phát
==== Nạn đói ====
Ở thời hiện đại, nạn đói ảnh hưởng mạnh nhất tới châu Phi hạ Sahara, dù số lượng nạn nhân trong các nạn đói thời hiện đại nhỏ hơn nhiều so với số người đã thiệt mạng trong các nạn đói ở châu Á vào thế kỷ 20.
=== Vũ trụ ===
==== Loé bùng tia gamma ====
Lóe tia gamma ('GRB) là những vết lóe tia gama liên quan đến các vụ nhổ năng lượng cực cao quan sát được ở khoảng các ngân hà. Chúng là các sự kiện điện từ sáng nhất đã được biết trong vũ trụ. Các vế lóe có thể tồn tại từ 10 mili giây đến vài phút. Vết lóe ban đầu thường đi theo sau là các "afterglow" tồn tại lâu hơn với bước sóng dài hơn (tia X, tia cực tím, quang phổ nhìn thấy, hồng ngoại, microwave và radio).
Tất cả các nhà thiên văn học đã ghi nhận các vụ nổ cho đến nay đã đến từ thiên hà xa xôi và đã được vô hại đối với Trái đất, nhưng nếu xảy ra trong thiên hà của chúng ta và đã nhằm thẳng vào chúng ta, những tác động có thể tàn phá tất cả. Hiện tại, các vệ tinh phát hiện trung bình khoảng một vụ lóe tia gamma mỗi ngày. GRB gần đây nhất là GRB 031203.
==== Các sự kiện va chạm ====
Một trong những sự kiện va chạm lớn nhất thời hiện đại là sự kiện Tunguska tháng 6 năm 1908.
==== Loé bùng mặt trời ====
Loé bùng mặt trời là một hiện tượng theo đó Mặt trời bất ngờ phát ra một lượng bức xạ mặt trời cực lớn so với bình thường. Một số đợt loé bùng mặt trời đã biết gồm:
Một sự kiện X20 ngày 16 tháng 8 năm 1989.
Một vụ loé bùng tương tự ngày 2 tháng 4 năm 2001.
Vụ loé bùng mạnh nhất từng được ghi nhận, ngày 4 tháng 11 năm 2003, ước tính trong khoảng X40 và X45.
Vụ loé bùng lớn nhất trong 500 năm qua được cho là đã xảy ra vào tháng 9 năm 1859.
==== Sao siêu mới và hypernovae ====
== Tương lai các thảm hoạ thiên nhiên ==
Tổ chức từ thiện có trụ sở tại Anh Quốc Oxfam đã công khai tuyên bố rằng số lượng người bị ảnh hưởng bởi các thảm hoạ có liên quan tới khí hậu sẽ tăng khoảng 50%, đạt tới 375 triệu người vào năm 2015.
== Bảo hiểm ==
Các thiên tai đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp bảo hiểm, chi trả bồi thường cho một số thiệt hại phát sinh do bão, cháy và các thảm hoạ khác. Các công ty tái bảo hiểm lớn tham gia đặc biệt sâu vào lĩnh vực này.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
“When Nature Attacks”. Newsweek.
“Global Risk Identification Program (GRIP)”. GRIP.
“World Bank's Hazard Risk Management”. World Bank.
“Global Facility for Disaster Reduction and Recovery (GFDRR)”. GFDRR.
“Disaster News Network”. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2006. US news site focused on disaster-related news.
“EM-DAT International Disaster Database”. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2006. Includes country profiles, disaster profiles and a disaster list.
“Natural Hazard Information from the Coastal Ocean Institute”. Woods Hole Oceanographic Institution. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2006. Các bài về sóng thần, xoáy thuận nhiệt đới và các loại bão khác.
“ProjectArcix: Global Disaster Information Portal”. Overviews, consequences, government and citizen responses, and case studies of multiple natural disasters
“Global Disaster Alert and Coordination System”. European Commission và United Nations website initiative.
“What the Development Programme of the United Nations (UN) does to reduce the human risks linked to Natural Disasters”. United Nations Development Programme (UNDP).
“Pioneering Disaster Risk Index (DRI) Tool”. United Nations Development Programme (UNDP). Provides key information on all countries in the world.
“World's Worst Natural Disasters”. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009. có bao gồm danh sách các thảm hoạ gây thiệt hại nhân mạng nhiều nhất trong lịch sử. |
joseph smith.txt | Joseph Smith, Jr. (23 tháng 12 năm 1805 – 27 tháng 6 năm 1844) là một nhà lãnh đạo tôn giáo người Mỹ, người sáng lập phong trào Thánh hữu ngày sau mà nhánh chính của nó là Mặc Môn. Ở tuổi hai mươi bốn, ông xuất bản Sách Mặc Môn, và trước khi chết mười bốn năm sau, ông đã thu hút hàng nghìn người theo đạo, thành lập nhiều thành phố và nơi thờ phụng, sáng lập một tôn giáo và văn hóa tôn giáo tồn tại đến ngày nay.
== Đọc thêm ==
== Tham khảo == |
nhóm máu.txt | Máu con người được chia làm nhiều nhóm - dựa theo một số chất cacbohydrat và protein đặc thù trên hồng cầu. Có khoảng 46 nhóm khác nhau, nhưng những nhóm chính là O, A, B, AB và yếu tố Rhesus (Rh). Vì những lý do chưa được khám phá, máu của mỗi nhóm có thể có kháng thể chống lại những nhóm kia. Do đó, khi truyền máu khác nhóm vào, kháng thể của người nhận có thể phá hủy máu gây tác hại cho cơ thể. Có tổng cộng 30 nhóm. Đặc biệt o có thể nhận thêm nhóm máu hiếm 2 là OA. Nghiên cứu có 1-7 người thuộc nhóm này hệ nhóm máu người được tổ chức quốc tế về truyền máu (ISBT) ghi nhận.
== Các hệ nhóm máu ==
Một nhóm máu hoàn chỉnh có thể bao gồm một bộ 30 chất trên bề mặt của các RBC (red blood cell - hồng cầu), và một nhóm máu của cá thể là một trong những sự kết hợp của một số kháng nguyên nhóm máu. Trong số 30 nhóm máu, có hơn 600 chất kháng nguyên nhóm máu khác nhau đã được phát hiện, nhưng đa số trong chúng rất hiếm hoặc chủ yếu được tìm thấy trong các nhóm bộ tộc nhât định.
== Phân loại theo hệ thống ABO ==
Con người có 4 nhóm máu: O, A, B, AB. Nhưng trước đây ta mới biết về hai ý nghĩa của nó là:
1. Để truyền máu khi cần. Cụ thể là: Nhóm máu O có thể truyền cho cả 4 nhóm nhưng lại chỉ nhận được nhóm của mình là O. Ngược lại AB có thể nhận được cả 4 nhóm nhưng chỉ truyền được cho nhóm của mình là AB. Còn 2 nhóm A, B thì vừa phải, nghĩa là nhận 2 và cho cũng 2, cụ thể là nhóm A nhận được A và O nhưng cũng cho được A và AB. Nhóm B nhận được B và O, cũng cho được B và AB.
2. Để phục vụ cho ngành pháp y trong vấn đề xác định, loại trừ tội phạm..., hiện khoa học đã tiến xa hơn bằng cách xác định bằng DNA (Deoxyribo Nucleic Acid). Nhưng gần đây các nhà khoa học Mỹ, qua những công trình nghiên cứu tỉ mỉ và rộng rãi đã cho biết thêm 2 ý nghĩa mới:
Biết được nhóm máu của mình để điều chỉnh cách sống sao cho tốt nhất.
Để phòng và chữa nhiều nhóm bệnh một cách hiệu quả nhất. Một công trình nghiên cứu trên 20.635 người gồm 15.255 nữ và 5.380 nam đủ mọi lứa tuổi đã cho tỷ lệ nhóm máu sau:
Nhóm máu
O: 44.42%
A: 34.83%
B: 13.61%
AB: 7.14%
Biết thêm 2 tiểu nhóm:
Nhờ những tiến bộ về khoa học, người ta mới phát hiện thêm trong mỗi nhóm máu có 2 tiểu nhóm được gọi là: Xuất tiết (Secretor) và Không xuất tiết (Non-secretor), ví dụ trong loại xuất tiết thì chỉ cần xét nghiệm nước bọt cũng có thể xác định được nhóm máu, vì các kháng nguyên của nhóm máu đó tiết qua các dịch của cơ thể như nước bọt, chất nhầy và cả tinh dịch. Còn loại không xuất tiết đòi hỏi phải tiến hành xét nghiệm máu trực tiếp. Nói chung các loại xuất tiết có khả năng giúp cơ thể chống bệnh cao hơn và thích nghi dễ hơn với hoàn cảnh so với loại không xuất tiết. Trong 2 tiểu nhóm này, mặc dù cùng thuộc một nhóm máu nhưng cũng có vài khác biệt trong việc lựa chọn thức ăn.
== Phân loại theo hệ thống Rh ==
Rh viết tắt của chữ Rhesus, nghĩa là phân loại máu theo yếu tố Rhesus. Căn cứ vào sự khác biệt khi nghiên cứu về sự vận chuyển oxy của hồng cầu, thì, các hồng cầu có thể mang ở mặt ngoài một protein gọi là Rhesus hay ký hiệu là Rh. Trên lâm sàng, đây là hệ thống nhóm máu quan trọng nhất sau ABO. Hiện nay trong hệ thống nhóm máu này đã xác định được 50 loại kháng nguyên. Trong đó 5 kháng nguyên C, c, D, E và e là quan trọng nhất, đặc biệt là kháng nguyên D với tính sinh miễn dịch cao và tính kháng nguyên mạnh. Trạng thái Rh âm tính hay dương tính ở đây chính là trạng thái âm tính hay dương tính với kháng nguyên D. Nếu có kháng nguyên D thì là nhóm Rh+ (dương tính), nếu không có là Rh- (âm tính). Các nhóm máu A, B, O, AB mà Rh- thì được gọi là âm tính A-, B-, O-, AB-. Rhesus là một đặc điểm di truyền của mỗi cá nhân và tồn tại suốt cuộc đời. Trong đó, nhóm máu Rh- rất hiếm gặp, ở Việt Nam, Nhóm máu Rh- chỉ chiếm 0,04%, còn Nhóm Rh+ chiếm đến 99,96%. Đặc điểm của nhóm máu Rh này là chúng chỉ có thể nhận và cho người cùng nhóm máu, đặc biệt phụ nữ có nhóm máu Rh- thì con rất dễ tử vong.
Người có nhóm máu Rh+ chỉ có thể cho người cũng có nhóm máu Rh+ và nhận người có nhóm máu Rh+ hoặc Rh- liên quan cha mẹ
Người có nhóm máu Rh- có thể cho người có nhóm máu Rh+ hoặc Rh- nhưng chỉ nhận được người có nhóm máu Rh- mà thôi
Trường hợp người có nhóm máu Rh- được truyền máu Rh+, trong lần đầu tiên sẽ không có bất kỳ phản ứng tức thì nào xảy ra.Tuy nhiên sau thời gian 2-4 tuần cơ thể của người mang nhóm máu Rh- sẽ sản sinh ra lượng kháng thể (kháng D) đủ lớn để làm ngưng kết hồng cầu Rh+ được truyền vào cơ thể.Sau 2-4 tháng nồng độ kháng thể sẽ đạt mức tối đa, khi đó nếu tiếp tục truyền máu Rh+ lần thứ 2 sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng do tai biến truyền máu.
Khả năng tương thích:
Y: Có thể cho - nhận.
N: Không thể cho - nhận.
Table note
1. Assumes absence of atypical antibodies that would cause an incompatibility between donor and recipient blood, as is usual for blood selected by cross matching.
Người phụ nữ có Rh- vẫn có khả năng sinh con bình thường. Tuy nhiên nếu người chồng có Rh+ thì đứa bé sinh ra có thể là Rh+ (hoặc Rh-) và từ đứa bé thứ hai trở đi nếu bé là Rh+ thì khi sinh ra sẽ gặp nguy hiểm vì lúc đứa bé sinh ra máu của mẹ và của con sẽ tiếp xúc nhau và người mẹ có Rh- sẽ tạo ra kháng thể chống lại yếu tố Rh+ của đứa bé sinh ra sau này và sẽ hủy hoại các hồng cầu của bé và gây ra thiếu máu trầm trọng, vàng da nặng cho bé, có thể, nguy hiểm đến tính mạng. Hiện đã có biện pháp phòng ngừa đơn giản. Ngay sau khi sinh con lần đầu, mẹ được tiêm huyết thanh kháng Rhesus (hay kháng D). Ở những trường hợp nặng, bào thai cần được theo dõi và chăm sóc đặc biệt, phương pháp điều trị chủ yếu là truyền thay máu khi trẻ còn trong bụng mẹ qua tĩnh mạch rốn hoặc ngay sau khi sinh ra.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
giấy phép công cộng gnu.txt | Giấy phép Công cộng GNU (tiếng Anh: GNU General Public License, viết tắt GNU GPL hay chỉ GPL) là giấy phép phần mềm tự do phổ biến nhất, mới đầu do Richard Stallman viết cho dự án GNU. Phiên bản hiện hành của giấy phép này là phiên bản 3 năm 2007, phiên bản được sử dụng nhiều nhất hiện nay là phiên bản 2 năm 1991. Giấy phép Công cộng GNU Hạn chế (LGPL) là giấy phép sửa đổi của GPL, được sử dụng cho một số thư viện phần mềm.
== Ý tưởng của giấy phép ==
Giấy phép GPL phiên bản 2 gồm 12 điều khoản, phiên bản 3 gồm 17 điều khoản. Ý tưởng của nó là:
1. Phần mềm GPL phải là phần mềm tự do.
Tức là người sử dụng có 4 quyền sau với phần mềm GPL:
Tự do chạy chương trình, cho bất cứ mục đích nào.
Tự do tìm hiểu cách hoạt động của chương trình, và tự do sửa đổi nó. (Quyền truy cập mã nguồn là điều kiện tiên quyết cho quyền tự do này.)
Tự do tái phân phối bản sao.
Tự do cải tiến chương trình, và phát hành những gì cải tiến ra công cộng. (Quyền truy cập mã nguồn là điều kiện tiên quyết cho quyền tự do này.)
So sánh với thoả thuận giấy phép người dùng cuối của phần mềm thương mại thường không cho người dùng cuối quyền nào trừ quyền sử dụng phần mềm và luôn hạn chế kỹ thuật phân tích ngược (reverse engineering).
2. Phần mềm phái sinh từ phần mềm GPL cũng phải là phần mềm GPL
Các giấy phép như BSD, MIT, Apache... thường không có quy định gì về phần mềm phái sinh nên xảy ra việc phần mềm phái sinh bị biến thành phần mềm độc quyền - người sử dụng bị hạn chế quyền với phần mềm phái sinh. Để đảm bảo các quyền sửa đổi, sao chép, phân phối lại với phần mềm phái sinh vẫn được trao cho người sử dụng thì Richard Stallman đã làm ra giấy phép GPL trong đó yêu cầu phần mềm phái sinh cũng phải là phần mềm GPL. Giấy phép GPL được bảo hộ bởi luật bản quyền. Giấy phép này được Stallman gọi là copyleft chơi chữ với copyright để thể hiện tinh thần đối ngược với tinh thần của copyright.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Giấy phép Tài liệu Tự do GNU (GFDL)
Giấy phép Công cộng Mozilla (MPL)
== Liên kết ngoài ==
Giấy phép Công cộng GNU v2.0 (3 ngôn ngữ)
Giấy phép Công cộng GNU v1.0 – phiên bản này không còn được khuyến khích (tiếng Anh)
Hỏi đáp về GPL (8 ngôn ngữ)
Bản sơ thảo của Giấy phép Công cộng GNU v3 – Quỹ Phần mềm Tự do (tiếng Anh) |
vườn nhật.txt | Vườn Nhật (tiếng Nhật: 日本庭園 nihon teien hoặc 和風庭園 Wafu teien) là kiểu vườn cảnh truyền thống của Nhật Bản. Vườn Nhật mang đặc trưng nổi bật đó là tập hợp ngăn nắp của các vật thể thiên nhiên thu nhỏ qua bàn tay của con người (như một tảng đá được làm trông dáng như một quả núi, hay đất đắp thành những quả đồi, hay những cây được uốn làm cho giống như cây cổ thụ...) xung quanh một hồ nước nhân tạo có những hòn đảo giả. Nhiều vườn Nhật có cách bài trí với những hàm ý sâu xa của Thiền tông.
== Lịch sử ==
Vườn Nhật Bản xuất phát từ những kiến thức mà người Nhật học được từ Trung Quốc trong thời kỳ Asuka cùng với những kiến thức và thế giới quan Phật giáo. Trong thời kỳ Edo, hoàng gia, các quý tộc, shogun, daimyo, các chùa chiền và đền thờ của đạo Shinto đều chơi vườn cảnh.
Phong cách của vườn Nhật được giới thiệu một cách chính thức ra thế giới có thể là từ cuối thế kỷ 19 với tác phẩm Landscape Gardening in Japan của Josiah Conder năm 1893. Ngày nay, không chỉ ở Nhật Bản mà ở nhiều nơi khác trên thế giới cũng có vườn Nhật.
== Đặc điểm ==
Vườn Nhật mang đậm ảnh hưởng của Thiền. Ở trong vườn, cây, cỏ, lá, hoa, đá, nước và cá đều được coi trọng, thiếu một thứ có lẽ sẽ không còn là vườn Nhật.
Ở vườn Nhật cũng có những yếu tố mang đậm nét đặc trưng, đó là trà thất, thạch đăng lung, thủy bồn, cá cảnh... Đặc biệt ở vườn Nhật yếu tố thời gian luôn là vấn đề tiên quyết, thời gian ở đây như được ngưng đọng và rêu phong phủ kín những lối về.
Vườn đá (枯山水 Karesansui), kiểu vườn Nhật Bản mà người ta dùng đá, sỏi, cát sắp xếp lại tạo thành những hình gợi nên cảm giác sông, hồ, biển cả với núi đá, hòn đảo nhô lên, thường được người phương Tây thường gọi kiểu vườn này là vườn Thiền.
Loại sân vườn Karesansui đã xuất hiện từ thời Muromachi (1392-1568). Loại sân vườn này không sử dụng đến ao hay suối nước. Nó là biểu tượng của phong cảnh thiên nhiên như đồi, núi, biển, sông, hồ qua việc sử dụng và bố trí đá, sỏi, cát trắng, rong rêu và các loại cây được gọt tỉa.
Trong thiết kế sân vườn Karesansui, việc sắp đặt đá là quan trọng. Do vậy, phải đặt đá đúng chỗ để cho được góc nhìn đẹp nhất. Nếu một viên đá có phần đỉnh trông xấu, bạn đừng đặt nó ngay giữa vườn, hãy đặt nó vào một bên sân vườn.Nên chú ý sắp đặt đá theo chiều ngang hơn là chiều đứng. Nếu các viên đá được sắp đặt càng ra xa, hãy bố trí cho chúng chạy nối tiếp nhau. Nếu các viên đá dựa vào nhau, bạn nên sắp đặt cho chúng hỗ trợ nhau.
== Những vườn Nhật nổi tiếng ==
Có ba vườn Nhật nổi tiếng nhất Nhật Bản, đó là Vườn Kenroku ở thành phố Kanazawa (Ishikawa), Vườn Koraku ở thành phố Okayama và Vườn Kairaku ở thành phố Mito. Ở Nhật Bản, ba vườn này nổi tiếng vì độ lớn của chúng.
Đối với người nước ngoài, những vườn Nhật nổi tiếng là những vườn ở các ngôi chùa và cung điện cổ của Nhật như vườn chùa Jisho, cung điện Nijo, chùa Rokuon, chùa Ryoan,...
== Vườn Nhật trên thế giới ==
=== Nhật Bản ===
Chùa Kinkakuji, chùa Gác vàng
Chùa Ginkakuji
Chùa Saihō-ji
Chùa Byōdō-in
Chùa Nanzen-ji
Chùa Kenroku-en
=== Anh ===
Vườn Nhật Bản trong Công viên Tatton tại Cheshire
Vườn Nhật Bản trong Công viên Sir Thomas và Lady Dixon tại Belfast
Vườn Nhật Bản trong Lâu đài Lauriston tại Edinburgh
=== Bỉ ===
Vườn Nhật Bản tại Hasselt
=== Canada ===
Vườn Tưởng niệm Nitobe (Nitobe Memorial Garden) trong phạm vi của Đại học British Columbia tại Vancouver
Vườn Nhật Bản trong Vườn Bách thảo Montréal (Jardin botanique de Montréal) tại Montréal
=== Hoa Kỳ ===
Vườn trà Nhật Bản ở Công viên Cổng Vàng tại San Francisco, California
Vườn Nhật Bản trong Vườn Bách thảo Brooklyn tại Brooklyn, New York
Vườn Nhật Bản trong Vườn Bách thảo Chicago tại Glencoe, Illinois
Vườn Nhật Bản trong Vườn Bách thảo Fort Worth tại Fort Worth, Texas
Vườn Nhật Bản của Thư viện Huntington tại San Marino, California
Vườn Nhật Bản tại Portland tại Portland, Oregon
Vườn Nhật Bản Roji của Viện Bảo tàng Morikami tại Delray Beach, Florida
Vườn Nhật Bản tại Seattle và Vườn Kubota tại Seattle, Washington
Vườn Nhật Bản trong Vườn Bách thảo Missouri tại St. Louis, Missouri
Vườn Yuko tại Elkhorn tại Georgetown, Kentucky
=== Pháp ===
Vườn Nhật Bản trong khu vườn của Albert Kahn tại Boulogne-Billancourt
=== Úc ===
Vườn Nhật Bản tại Cowra, tiểu bang New South Wales, Úc
== Xem thêm ==
Vườn trà Nhật Bản
Vườn đá
== Tham khảo == |
kim cương nhân tạo.txt | Kim cương nhân tạo hay kim cương tổng hợp là loại đá được sản xuất với ánh quang, tính chất vật lý giống như một viên kim cương tinh khiết và do con người và máy móc hiện đại làm ra, năm 1797 phát hiện kim cương là cacbon tinh khiết.
== Đặc điểm ==
Kim cương nhân tạo có tính chất vật lý và hóa học giống như kim cương thiên nhiên. Kim cương nhân tạo có thành phần là C, trọng lượng riêng là 3,52, chiết suất 2,417 thậm chí có những loại kim cương nhân tạo có thể chịu được áp suất gấp 1,3 triệu lần áp suất không khí theo một chiều nhất định, trong khi vẫn an toàn dưới áp suất gấp 600.000 lần từ các chiều khác nhau,kim cương này còn rắn hơn cả kim cương trong tự nhiên. Và cũng không giống như kim cương tự nhiên, kim cương mới không ở dạng tinh thể, mà thuộc về vật chất vô định hình.
Sự hình thành của kim cương tự nhiên đòi hỏi rất cụ thể điều kiện tiếp xúc với các vật liệu carbon chịu áp lực cao, dao động khoảng từ 4.41 đến 5.88 triệu tấn (4,5 và 6 GPa), nhưng ở một phạm vi nhiệt độ tương đối thấp giữa khoảng 900 và 1.300 °C (1.650 và 2.370 °F).
Nhưng điều khác biệt là kim cương nhân tạo do con người tạo ra trong phòng thí nghiệm trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Kim cương nhân tạo thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp kỹ thuật quang học, các chip điện tử cao cấp. Kim cương nhân tạo được tổng hợp theo 2 phương pháp chính là phương pháp cao áp cao nhiệt HPHT (High pressure High temperature) sử dụng nhiệt độ và áp suất cực kỳ cao nhằm tái tạo môi trường giống như môi trường tái tạo kim cương trong lòng đất và phương pháp bốc hơi lắng tụ hóa học CVD (Chemical Vapor Deposition) sử dụng sự bốc hơi hóa học của hợp chất khí Carbon dưới tác động của tia nhiệt plasma tạo sự phân chia phân tử khí cho đến khi chỉ còn lại nguyên tử C lắng tụ và phát triển trên mầm kim cương có sẵn.
Với góc cắt đẹp, sắc sảo và giá thành tương đối hợp lý, đó là những ưu điểm của kim cương nhân tạo. Kim cương nhân tạo và vẻ đẹp của nó đã thu hút sự yêu thích và mong muốn sở hữu của nhiều người, nhất là phái nữ. Hiện tại, thị trường đưa ra nhiều kiểu dáng đa dạng với đủ ánh lấp lánh: hồng, tím, xanh lơ, xanh lá cây, đỏ, đỏ nhạt, cam..., chủ yếu có nguồn gốc từ Hồng Kông, Hà Lan, Bỉ... Những chuyên gia kiểm định hay nhà kinh doanh kim cương lâu năm nếu bằng mắt thường cũng khó có thể phân biệt với kim cương thiên nhiên.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng giá thành của kim cương nhân tạo rất cao, do việc tạo ra môi trường giống như tự nhiên để cho ra đời kim cương nhân tạo vô cùng tốn kém và đắt hơn cả kim cương thiên nhiên nên thị trường trang sức thế giới rất hiếm khi dùng kim cương nhân tạo. Những kim cương nhân tạo được quảng cáo rầm rộ trên thị trường, thực chất hầu hết chỉ là đá tổng hợp, thường là Đá Zirconia (Đá CZ) hay Moissanit.
== Sản xuất và tiêu thụ ==
=== Trên thế giới ===
Năm 1953, người ta đã sản xuất ra kim cương nhân tạo có giá thành bằng 50% kim cương thiên nhiên và hiện nay giá thành khoảng 30%. Loại kim cương này tuy có độ cứng hoàn hảo nhưng màu và độ sạch kém, không đạt chuẩn ngọc quý trong trang sức. Năm 1970, Mỹ sản xuất thành công kim cương quý tổng hợp có đầy đủ tính chất hóa học như kim cương thiên nhiên. Tuy nhiên, giá thành của loại này cao hơn kim cương tự nhiên gấp nhiều lần nên hiếm khi xuất hiện trên thị trường.
Nhu cầu kim cương nhân tạo ở những thị trường mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ đang tăng nhanh nhất thế giới, với tốc độ 10-15% mỗi năm. Trung Quốc được kỳ vọng sẽ duy trì vị trí nhà sản xuất kim cương tổng hợp công nghiệp hàng đầu thế giới, với sản lượng hàng năm đạt hơn 4 tỷ carat. Mỹ rất có thể sẽ vẫn là nhà sản xuất và xuất khẩu kim cương chủ chốt trong thập kỷ tới.
Chỉ khoảng 20% sản lượng kim cương trên thế giới được dùng làm trang sức. 80% kim cương kém phẩm chất hơn được sử dụng trong công nghiệp và các ứng dụng nghiên cứu. Theo Báo cáo thị trường kim cương công nghiệp do hãng nghiên cứu thị trường Merchant Research and Consulting (Anh) thực hiện, kim cương tổng hợp chiếm tới 88% lượng kim cương được sử dụng trong công nghiệp. Kim cương nhân tạo có thể được sản xuất trên quy mô lớn và tính chất của sản phẩm tổng hợp này mang lại nhiều ứng dụng.
=== Tại thị trường Việt Nam ===
Ở Việt Nam, thời gian gần đây, nhiều loại trang sức gắn đá tổng hợp được quảng cáo rầm rộ với tên gọi kim cương nhân tạo, tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, thị trường hiện chưa có mua bán kim cương nhân tạo thực sự, mà kim cương nhân tạo được quảng cáo sai lầm trên thị trường hiện nay thực chất chỉ là viên đá nhân tạo hay đá tổng hợp, thường là Đá Zirconia (Đá CZ) hay Moissanit được bàn tay con người xử lý để vươn đến độ lấp lánh, độ trong, cứng và đẹp mắt gần như kim cương thật hay kim cương nhân tạo. Tuy nhiên, giới kinh doanh cho rằng đá tổng hợp kém rất xa về độ bền, độ chiếu và cạnh giác mài không sắc nét và bị định giá quá cao, vượt nhiều lần giá trị thực, bởi độ lấp lánh của những viên đá tổng hợp sẽ nhanh chóng phai mờ và trầy xước. Giá của đá Zirconia thấp hơn viên kim cương cùng loại khoảng 1000 - 2000 lần và giá của Mossanit thấp hơn kim cương tự nhiên 15 - 20 lần, thường được quảng cáo sai lầm là kim cương nhân tạo để "thổi giá" cao lên.
== Tham khảo ==
A. S. Barnard (2000). The diamond formula: diamond synthesis-a gemological perspective. Butterworth-Heinemann. ISBN 0750642440.
Michael O'Donoghue (2006). Gems: their sources, descriptions and identification. Butterworth-Heinemann. ISBN 0-75-065856-8.
K. E. Spear and J. P. Dismukes (1994). Synthetic diamond. Wiley-IEEE. ISBN 0471535893.
Christoph Wild "CVD Diamond Properties and useful Formula" CVD Diamond Booklet (2008) PDF
J. Davis (2003). “The New Diamond Age”. Wired Magazine (11.09). Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2009.
“Putting the Squeeze on Materials”. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.
== Chú thích == |
oahu.txt | Oahu (phát âm /oʊˈɑːhuː/ trong tiếng Anh) hay Oʻahu (oˈʔɐhu) trong tiếng Hawaii), là đảo lớn thứ ba trong quần đảo Hawaii và là đảo đông dân nhất ở tiểu bang Hawaii. Thủ phủ Honolulu của tiểu bang nằm ở bờ biển phía đông nam của đảo. Tổng diện tích 1545,4 km 2, là đảo lớn thứ 20 tại Hoa Kỳ. Hòn đảo là kết quả từ sự phun trào của hai núi lửa riêng biệt là Waiʻanae vàKoʻolau. Chiều dài lớn nhất là 44 dặm (71 km) và chiều rộng lớn nhất là 30 dặm (48 km). Chiều dài bờ biển là 227 dặm (365 km). Điểm cao nhất là Núi Ka'ala cao 4.003 foot (1.220 m) trên mực nước biển.
Hòn đảo này có khoảng 907.210 người (khoảng 75% dân số thường trú của tiểu bang, khoảng 75% những người sống ở đảo là ở Honolulu).
Ngày nay, Oahu đã trở thành một thiên đường du lịch và mua sắm với hơn năm triệu du khách mỗi năm (chủ yếu là từ lục địa Hoa Kỳ và Nhật Bản) với những kỳ nghỉ trên quần đảo Hawaii và những trải nghiệm về đa dạng văn hóa trên đảo.
== Xem thêm ==
Trân Châu Cảng
== Chú thích ==
Macdonald, Gordon A., Agatin T. Abbott, and Frank L. Peterson. 1983. Volcanoes in the Sea. University of Hawaiʻi Press, Honolulu. 517 pp.
Pukui, M.K., S.H. Elbert, and E.T. Mookini. 1976. Place names of Hawaiʻi. University of Hawaiʻi Press. 289 pp.
== Liên kết ngoài ==
Oahu, Hawaii travel guide |
dân trí (báo).txt | Dân trí là một tờ báo điện tử trực thuộc Trung ương Hội khuyến học Việt Nam, có lượng truy cập khá lớn. Kết quả thống kê mới nhất của công ty khảo sát thị trường uy tín có quy mô toàn cầu Kantar Media thì báo Dân trí đứng thứ 2 tại Việt Nam, chỉ sau Google và VnExpress là website Việt Nam được dùng thường xuyên nhất trong nước. Còn theo thống kê của Opera thì bản mobile của báo Dân trí cũng chỉ đứng sau Google về lượng truy cập từ thiết bị di động.
Theo thống kê của Google, đến nay, mỗi tháng có bình quân Dân trí có 900 triệu pageviews; mỗi ngày có bình quân trên 10 triệu lượt người truy cập vào báo Dân trí tiếng Việt và tiếng Anh, trong đó 20% người truy cập từ nước ngoài (con số mới đây của Google cho biết 173 nước trên thế giới có người truy cập đọc Dân trí và DTINews). Cũng theo thống kê của Google, địa chỉ của tờ báo này xếp thứ 9 trong Top 10 từ khóa có tốc độ "tăng trưởng tìm kiếm nhanh nhất toàn cầu". Đây cũng là từ khóa mang tên Việt Nam duy nhất trong bảng xếp hạng. Các tin tức của Dân Trí được cập nhật hàng giờ. Dân Trí có diễn đàn trực tuyến về các vấn đề kinh tế, chính trị, thể thao, văn hoá... Đặc biệt, Dân trí còn có một Quỹ Nhân ái hoạt động với mục đích làm cầu nối cho những tấm lòng hảo tâm tới những hoàn cảnh khó khăn. Quỹ Nhân ái và mục Tấm lòng Nhân ái của báo Dân trí có hoạt động từ thiện nổi bật nhất trong làng báo Việt Nam.
Báo điện tử Dân trí online vào tháng 4/2005, từng kế thừa phần giao diện và bố cục nội dung của trang tin tổng hợp Tintucvietnam.com. Năm 2009, báo điện tử Dân trí lần đầu tiên thay đổi giao diện.
Người có vai trò lớn nhất trong việc gây dựng và phát triển báo điện tử Dân trí là ông Phạm Huy Hoàn, hiện đang là Tổng Biên tập. Ông Hoàn đã từng nhiều năm làm Tổng Biên tập một trong những tờ báo giấy lớn nhất Việt Nam là tờ Lao động.
== Giải thưởng ==
Trong 7 năm, Dân trí đã nhận được 9 giải thưởng báo chí lớn và nhiều giải thưởng khác:
* Năm 2012: Vượt qua hơn 1000 tác phẩm, bốn loạt bài của báo Dân trí đã lọt vào vòng chung khảo giải báo chí quốc gia lần VI, trong đó loạt bài "Nỗi gian truân khi làm sổ đỏ" của tác giả Vũ Văn Tiến đoạt giải B và "Câu chuyện từ vị "sứ thần" 10 tháng tuổi" giành giải C.
* Năm 2010, 4 tác giả của Dân trí được trao Giải báo chí Quốc gia. Đó là Cấn Mạnh Cường - Phương Thảo đoạt Giải B (không có giải A) loạt bài về xây dựng khách sạn tại Công viên Thống nhất. Tác giả Hồng Hạnh với tác phẩm 23 khoản thu đầu năm học và tác giả Tuấn Hợp với loạt bài về Embé đánh giày chờ chết trên hè phố đoạt giải Khuyến khích.
* Năm 2009: Năm 2009, tác giả Phạm Phúc Hưng với loạt bài về đại hồng thủy Hà Nội đoạt Giải Khuyến khích và Bùi Hoàng Tám được lọt vào vòng Chung khảo Báo chí quốc gia với loạt bài về Giáo dục. Cùng năm 2009, tác phẩm Thủ tục để làm người còn sống - Quả bom thời hậu chiến còn được trao Giải A đề tài Lực lượng vũ trang và Chiến tranh cách mạng 5 năm (2004 - 2009)
* Năm 2008: tác phẩm "Thủ tục để làm người còn sống - Quả bom thời hậu chiến" của tác giả Bùi Hoàng Tám lọt vào vòng Chung khảo Giải thưởng Báo chí Quốc gia.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Báo Dân trí
Báo Dân trí (tiếng Anh) - DTINews
Giải báo chí quốc gia lần thứ VI: Dân trí đoạt 2 giải thưởng lớn, 22 tháng 6 năm 2012 |
đảo.txt | Đảo hay hòn đảo là phần đất được bao quanh hoàn toàn bởi nước nhưng không phải là lục địa; tuy vậy, không có kích thước chuẩn nào để phân biệt giữa đảo và lục địa.
Điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đưa ra định nghĩa "đảo" cụ thể hơn, theo đó đảo "là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước."
Có thể phân loại đảo tự nhiên thành hai nhóm chính là đảo lục địa và đảo đại dương. Ngoài ra, còn có đảo nhân tạo.
== Đảo lục địa ==
Đảo lục địa là một phần đất đai nằm trên thềm lục địa của một lục địa nào đó, ví dụ:
Nằm trên thềm lục địa châu Âu có đảo Anh, đảo Ireland, đảo Sicilia
Nằm trên thềm lục địa châu Mỹ có đảo Greenland
Nằm trên thềm lục địa châu Á có đảo Sumatra, đảo Kalimantan
Có một loại đảo lục địa đặc biệt được hình thành khi lục địa bị đứt gãy được gọi là đảo tiểu lục địa. Những đảo tiểu lục địa nổi tiếng là New Zealand (đảo Bắc và đảo Nam), đảo Madagascar.
Ngoài ra, còn có thể kể đến loại đảo được hình thành do vật chất lắng đọng khi thuỷ lưu chảy chậm. Ở biển, các hải lưu làm lắng đọng cát lên thềm lục địa, tạo nên các đảo chắn. Tương tự, ở lưu vực các con sông lớn hoặc châu thổ sông, có thể bắt gặp một số đảo nhỏ nổi giữa dòng. Một số đảo này chỉ tồn tại tạm thời và có thể biến mất khi lưu lượng hoặc tốc độ chảy của dòng nước thay đổi, trong khi một số khác thì vẫn tồn tại lâu dài tại đó.
== Đảo đại đương ==
Đảo đại dương là loại đảo không nằm trên thềm lục địa. Đa phần số đảo này được hình thành từ hoạt động của núi lửa; một số đảo lại được tạo nên từ các kiến tạo khi mảng địa chất dịch chuyển và nâng đáy đại dương lên khỏi mặt nước, ví dụ đảo Macquarie gần Nam Cực, trong khi một số khác lại được san hô tạo nên.
=== Đảo núi lửa ===
Đảo núi lửa là những hòn đảo được hình thành do sự hoạt động của núi lửa, phun trào ra dung nham. Khối lượng lớn dung nham được phun lên, sau đó nguội dần, tạo thành những hòn đảo.
Các đảo đại dương có nguồn gốc núi lửa khá đa dạng về cách thức hình thành.
Loại thứ nhất được tìm thấy trên vòng cung đảo núi lửa. Những đảo này nổi lên từ các núi lửa khi mảng địa chất bị hút chìm (subduction) xuống dưới một mảng địa tầng khác. Ví dụ: quần đảo Mariana, quần đảo Aleut và phần lớn Tonga thuộc Thái Bình Dương.
Loại thứ hai hình thành khi đứt gãy đại dương vươn khỏi mặt biển. Ví dụ: Iceland và Jan Mayen ở Đại Tây Dương.
Loại thứ ba hình thành ngay trên các điểm nóng núi lửa. Một mảng địa chất dịch chuyển lên phía trên của điểm nóng núi lửa, sau đó nứt gãy ra, khiến dung nham phun lên và tạo thành mỗi chuỗi các hòn đảo. Sau một khoảng thời gian lâu dài với các tác động của chuyển động đẳng tĩnh và xói mòn, cuối cùng các đảo này chìm xuống và trở thành các núi biển. Sự dịch chuyển của mảng địa chất trên điểm nóng núi lửa tạo nên chuỗi đảo nằm dọc theo hướng di chuyển của mảng địa chất, ví dụ quần đảo Hawaii và quần đảo Australes thuộc Thái Bình Dương, Surtsey thuộc Đại Tây Dương.
=== Đảo san hô ===
Đảo san hô là loại đảo nhiệt đới được hình thành từ khung san hô và các sinh vật có liên quan với san hô đó. Loại đảo này thường gặp ở những khu vực biển nông hoặc xung quanh đảo núi lửa.
Rạn san hô vòng hay rạn vòng, ám tiêu san hô vòng (atoll) là một loại hình thể gồm một vòng san hô rào lấy một vụng biển (phá nước) ở giữa. Theo Charles Darwin, loại cấu tạo này thành hình khi một đảo núi lửa bị xói mòn và chìm xuống nước, để lại vành san hô có dạng vòng đã phát triển xung quanh đảo núi lửa từ trước đó. Có nhiều rạn vòng chìm ngập dưới mặt biển khi thuỷ triều lên; tại những chỗ cao trên vành san hô, có thể nổi lên những đảo thấp và phẳng. Một số tài liệu dùng thuật ngữ "đảo san hô vòng" thay cho rạn vòng, nhưng cách gọi này không bao quát bản chất vì đảo san hô (nếu có) chỉ là một phần của toàn thể rạn san hô đang đề cập.
Trong biển Đông có hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa. Nơi đây tuy có rất nhiều rạn đá san hô nói chung (trong đó các rạn vòng) nhưng chỉ có một vài đảo san hô và đảo cát nhỏ. Việc sử dụng khái niệm "đảo" một cách tuỳ tiện sẽ dẫn đến nhầm lẫn về bản chất địa lý.
== Mười đảo lớn nhất thế giới ==
== Đảo Việt Nam ==
Bạch Long Vĩ
Quần đảo Cát Bà
Cồn Cỏ
Quần đảo Hoàng Sa
Lý Sơn
Phú Quý
Quần đảo Trường Sa
Côn Đảo
Phú Quốc
Cù Lao Xanh
== Chú thích == |
hội nghị cấp cao đông á lần thứ hai.txt | Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) là một diễn đàn gồm các quốc gia ở châu Á được các lãnh đạo của 16 quốc gia Đông Á và khu vực lân cận tổ chức mà Khối ASEAN là trung tâm. Các cuộc họp sẽ được tổ chức sau các cuộc họp thường niên của lãnh đạo của khối ASEAN.
Hội nghị EAS lần hai đã được tổ chức vào ngày 13 tháng 12 năm 2006 tại Cebu. Philippines. Sau khi xây dựng lòng tin của EAS lần thứ nhất năm 2006 để giúp đỡ nhằm xác định vai trò tương lai của EAS và mối quan hệ của nó với ASEAN+3 và sự tham gia của Nga vào EAS. Tuy nhiên, khi đối mặt với cơn bão Utor thì hội nghị thượng đỉnh đã bị hoãn lại cho đến tháng 01 năm 2007. Hội nghị đã được tái dự kiến tổ chức vào 15 tháng 01 năm 2007, khoảng một tháng sau ngày theo lịch trình ban đầu.
== Tham dự EAS 2 ==
16 quốc gia tham gia là:
== Các vấn đề về tại EAS lần thứ hai ==
Các cuộc họp của các ngoại trưởng EAS tại Kuala Lumpur ngày 26 tháng 07 năm 2006 xác định năng lượng, tài chính, giáo dục, dịch cúm gia cầm và giảm nhẹ thiên tai quốc gia là vấn đề ưu tiên cho EAS năm 2006. Philippines, nước chủ nhà của năm 2006 (nay là 2007) EAS, cũng cho biết sự thất bại của Vòng đàm phán Doha sẽ được đưa vào chương trình nghị sự.
=== Hiệp định thương mại tự do Đông Á/đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) ===
Trong tháng 04 năm 2006, Nhật Bản công bố một đề nghị cho một Hiệp định đối tác kinh tế Đông Á (còn gọi là các đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) hoặc sáng kiến Nikai trong tài liệu tham khảo để Toshihiro Nikai trong tài liệu tham khảo để các Bộ trưởng kinh tế Nhật Bản sau đó) bao gồm các thành viên hiện tại của EAS. Nhật Bản đã quảng bá các khái niệm, mô tả về một cái gọi là "OECD Đông Á". Ban đầu này đã được liên kết với một thời gian biểu cho các cuộc thảo luận bắt đầu vào năm 2008 và kết thúc vào năm 2010, trong đó đã gặp một số hoài nghi.
Vào tháng 08 năm 2006 này đã được đề nghị một cách tinh chế Nhật Bản do sự bảo vệ của Bộ trưởng Thương mại Nhật Bản Toshihiro Nikai bao gồm:
Một quỹ khoảng từ 80 triệu USD đến 100 triệu USD để bắt đầu một quan hệ đối tác kinh tế toàn diện (CEP) với Đông Á, theo mô hình của OECD; và
Một tổ chức được đặt tên là Viện Nghiên cứu Kinh tế Đông Á đối với ASEAN và Đông Á (ERIA) trong một quốc gia ASEAN để nghiên cứu những lợi ích của một Hiệp định thương mại tự do đề xuất giữa 16 thành viên của EAS; và
Hiệp định thương mại tự do Đông Á (EAFTA) giữa các thành viên của EAS.
Phản ứng lẫn lộn sau các cuộc thảo luận của Bộ trưởng Ngoại giao EAS tại Kuala Lumpur ngày 26 tháng 07 năm 2006, để thiết lập chương trình nghị sự cho EAS thứ hai, nó xuất hiện rằng đề xuất như sau đó đã đứng đã không có đủ sự ủng hộ để được bao gồm như là một chương trình nghị sự cho EAS lần thứ hai. Mặc dù Philippines, đó là chủ nhà của EAS lần thứ hai, cho biết thương mại sẽ được vào chương trình nghị sự nhưng về những khó khăn sau đó có mặt cùng với vòng đàm phán Doha.
Tuy nhiên, ngay sau cuộc họp của EAS thì Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản đề xuất mong muốn tiếp tục thảo luận về các ý tưởng về một Hiệp định Thương mại Tự do giữa các thành viên của EAS.
Ấn Độ công khai hỗ trợ một khu vực của châu Á với Hiệp định thương mại tự do. New Zealand đã bày tỏ sự ủng hộ. Cũng như có thêm Malaysia. Úc mô tả đề xuất là "thú vị". Indonesia đã nghiêng về bảo vệ hỗ trợ cho các đề xuất liên kết nó với các đề nghị Cộng đồng Đông Á và các giá trị châu Á. ASEAN đã hỗ trợ cho các đề nghị của Nhật Bản và nghiên cứu các đề xuất trong EAFTA.
Ong Keng Yong, Tổng thư ký ASEAN đã gợi ý rằng "nó có thể được thực hiện", đề cập đến một EAFTA, và ước tính sẽ phải mất 10 năm. ASEAN dường như có một cái nhìn bi quan về tính khả thi của ý tưởng vào năm 2006.
Nhật Bản vẫn cho biết rất vui mừng với những phản ứng tích cực với đề xuất này.
Tuy nhiên, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước ASEAN cũng được cho là đã gián tiếp bày tỏ hoài nghi về ý tưởng. Những khó khăn với FTA của ASEAN - Ấn Độ không lãng phí nhiều cho một FTA quy mô lớn hơn. Nhật Bản cũng đã phải tự bảo vệ mình khỏi các cáo buộc rằng đề xuất này đã được đưa ra như một cơ chế để chống Trung Quốc
Vị trí của Trung Quốc được dự kiến của một số nhà bình luận mặc dù không phải tất cả đồng ý. Trung Quốc dường như thích các nhóm hẹp của ASEAN+3 về Hiệp định thương mại tự do trong tương lai. New Zealand đã bày tỏ tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ ủng hộ đề xuất này, đặc biệt là nếu các nghiên cứu cho thấy một lợi ích cho Đông Á từ một EAFTA
Hoa Kỳ đã đề xuất một FTA trong các thành viên của APEC có thể để đáp ứng với những gợi ý của một FTA giữa các thành viên của EAS. Nhật Bản đã đề nghị rằng EAFTA có thể được sử dụng như là một khối xây dựng cho lớn hơn FTA của APEC. Mỹ tích cực sắp ra chống lại một động thái như vậy có liên quan về một đường xuống giữa Thái Bình Dương, trong khi các nền kinh tế châu Á đang lo ngại về khả năng của Mỹ để cung cấp một FTA trên diện rộng.
Trong tháng 09 năm 2006 Toshihiro Nikai đã được thay thế vị trí Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (Nhật Bản) của Akira Amari. Người kế nhiệm của Nikai đã theo đuổi các sáng kiến Nikai - Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA).
=== Tăng trưởng ở Ấn Độ và Trung Quốc quan hệ và sự tan băng của Nhật Bản ===
Trong tháng 11 năm 2006 Ấn Độ và Trung Quốc công bố kế hoạch tăng gấp đôi thương mại song phương vào năm 2010. Các mối quan hệ đang phát triển giữa hai quốc gia đông dân nhất thế giới đã được xem như là một nguồn tiềm năng của sự ổn định và hợp tác trong khu vực. Hai nước tuyên bố chung vào 21 Tháng 11 2006 thống nhất tại đoạn 43 để "hợp tác chặt chẽ" trong khuôn khổ của EAS.
Hơn nữa những thay đổi lãnh đạo tại Nhật Bản với Shinzo Abe cuộc bầu cử của Thủ tướng Chính phủ của Nhật Bản trong tháng 09 năm 2006 đã mang về một số tan băng trong mối quan hệ của Nhật Bản với cả Trung Quốc và Hàn Quốc.
Những thay đổi này cho thấy tiềm năng cho động lực khác nhau trong EAS thứ hai để những căng thẳng trong EAS lần thứ nhất.
=== Kho dự trữ nhiên liệu ===
Đó là đề xuất rằng một thỏa thuận để tiêu chuẩn hóa các quy tắc cho nhiên liệu sinh học và các thỏa thuận về nhiên liệu dự trữ sẽ tạo thành một phần của 2006 EAS.
== Kết quả của EAS lần thứ hai ==
Các kết quả được tóm tắt trong Tuyên bố của Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ hai.
=== Năng lượng ===
Các thành viên của EAS ký Tuyên bố Cebu về an ninh năng lượng Đông Á, một tuyên bố về an ninh năng lượng và nhiên liệu sinh học có chứa tuyên bố cho các thành viên để chuẩn bị, không ràng buộc, mục tiêu.
=== Thương mại và các đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) ===
Như đối với thương mại và hội nhập khu vực sau đây đã được ghi nhận trong báo cáo của nước chủ tịch:
12. Chúng tôi hoan nghênh những nỗ lực của ASEAN hướng tới hội nhập sâu hơn và xây dựng cộng đồng, và tái khẳng định quyết tâm của chúng tôi làm việc chặt chẽ với nhau trong việc thu hẹp khoảng cách phát triển trong khu vực của chúng tôi. Chúng tôi nhắc lại sự ủng hộ đối vai trò của ASEAN là động lực cho hội nhập kinh tế trong khu vực này. Để làm sâu sắc hơn hội nhập, chúng tôi nhất trí khởi động một nghiên cứu theo dõi hai trên một đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) trong số những người tham gia EAS. Chúng tôi đã giao cho Ban Thư ký ASEAN để chuẩn bị một khung thời gian cho nghiên cứu và mời tất cả các nước của chúng tôi cử người tham gia tương ứng của họ trong đó.
Chúng tôi hoan nghênh đề xuất của Nhật Bản cho một Viện Nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA).
Theo một số báo chí báo cáo các cuộc tranh luận về việc liệu sẽ có một nhóm thương mại dựa trên ASEAN+3 hoặc EAS.
Hoa Kỳ sau đó đã tuyên bố họ phản đối bất kỳ nhóm thương mại trong khu vực không liên quan đến họ. Sự ưa thích của Hoa Kỳ dường như là một nhóm kinh doanh dựa trên APEC.
Thực tế xuất hiện tuy nhiên đó phong trào hướng tới một mối quan hệ như vậy là một đường tắt. Lee Kuan Yew đã so sánh mối quan hệ giữa Đông Nam Á và Ấn Độ với Cộng đồng Châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ, và đã gợi ý rằng một khu vực tự do thương mại liên quan đến Đông Nam Á và Ấn Độ là 30 đến 50 năm nữa.
=== ERIA ===
Các thành viên của EAS đã đồng ý nghiên cứu của Nhật Bản đề xuất Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA). Như đã nói ở EAS lần thứ hai hoan nghênh Viện nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA). ERIA như một viện được dự kiến như là một mạng lưới các nhà nghiên cứu chiến lược thúc đẩy nghiên cứu cần thiết.
Sau đó nó đã được thông báo rằng ERIA sẽ được thành lập vào tháng 11 năm 2007.
== Tham khảo == |
tiếng māori.txt | Tiếng Māori hay Maori ( /ˈmaʊəri/; phát âm tiếng Māori: [ˈmaːɔɾi] ()) là một ngôn ngữ Đông Polynesia được nói bởi người Māori, tộc người bản địa của New Zealand. Từ năm 1987, nó đã trở thành một trong các ngôn ngữ chính thức của New Zealand. Ngôn ngữ này liên quan chặt chẽ với tiếng Māori quần đảo Cook, Tuamotu, và Tahiti.
Theo một khảo sát năm 2001 về tình trạng của tiếng Māori, số lượng người trưởng thành nói thông thạo tiếng Māori vào khoảng 9% dân số Māori, tức 30.000 người. Điều tra dân số năm 2006 cho thấy rằng 4% dân số New Zealand, tương đương 23,7% dân số Māori có thể đối thoại về những việc hằng ngày bằng tiếng Māori.
== Tên ==
Tên ngôn ngữ là một từ nội danh (endonym), đánh vần chính xác là "Māori". Tại New Zealand, tiếng Māori thường được gọi là Te Reo [tɛ ˈɾɛ.ɔ] "ngôn ngữ", rút ngắn từ te reo Māori.
Các viết "Maori" (thiếu macron) được xem là chuẩn trong tiếng Anh ngoài New Zealand cả về tổng thể và về mặt ngôn ngữ. Các viết "Māori" (với macron) đã trở nên phổ biến hơn trong tiếng Anh New Zealand những năm gần đây, đặc biệt trong các chủ đề liên quan đến văn hóa Māori, dù cách viết kia vẫn dễ bắt gặp trong truyền thông đại chúng hay hoạt động chính phủ.
Các phát âm tiếng Anh từ "Māori" khác biệt theo từ điển, trong đó /ˈmaʊri/ hiện thường được dùng nhất, /mɑːˈɒri/, /ˈmɔri/, và /ˈmɑːri/ cũng hiện diện. Các phát âm /meɪˈoʊri/ xuất hiện trong lời nói hằng ngày nhất là ở Hoa Kỳ, nhưng bị xem là sai.
== Tình trạng ==
New Zealand có ba ngôn ngữ chính thức – tiếng Anh, Māori và ngôn ngữ ký hiệu New Zealand. Tiếng Māori đạt được tình trạng này nhờ Đạo luật Tiếng Māori 1987. Đa phần cơ quan chính phủ có tên song ngữ, và những nơi như trụ sở chính phủ địa hay thư viện công cộng có biển hiệu song ngữ. Bưu chính New Zealand công nhận những địa điểm tên Māori trên địa chỉ bưu phẩm. Nhiều khi New Zealand được gọi bằng tên Māori "Aotearoa", nghĩa là 'đám mây trắng dài', dù tên này ban đầu chỉ dàng cho đảo Bắc.
== Phân loại ==
Những nhà ngôn ngữ học phân loại tiếng Māori như một ngôn ngữ Polynesia; chính xác hơn là một ngôn ngữ Đông Polynesia thuộc phân nhóm Tahiti (ngoài tiếng Māori còn có tiếng Māori quần đảo Cook, sử dụng tại miền nam quần đảo Cook, và tiếng Tahiti, sử dụng tại Tahiti và quần đảo Société). Một số ngôn ngữ Đông Polynesia khác là tiếng Hawaii, tiếng Marquesan (hai ngôn ngữ của phân nhóm Marquesan), và tiếng Rapa Nui của đảo Phục Sinh. Dù tất cả ngôn ngữ kể trên đều khác biệt nhau, chúng vẫn đủ giống nhau để Tupaia, một người Tahiti đi cùng Thuyền trưởng James Cook từ 1769–1770, giao tiếp hiệu quả với người Māori. Người Māori hiện đại ghi nhận rằng họ thấy những ngôn ngữ tại quần đảo Cook dễ hiểu và dễ dàng trong giao tiếp nhất.
== Phân bố địa lý ==
Gần như tất cả người nói là người Māori định cư tại New Zealand. Ước tính lượng người nói không nhất quán: điều tra 1996 ghi nhận 160.000 người, trong khi một ước tính khác của Ủy ban Tiếng Māori chỉ ghi nhận 10.000 người trưởng thành nói thành thạo (1995). Theo điều tra 2006, 131.613 người Māori (23.7%) "có thể [ít nhất] đối thoại về những việc hằng ngày bằng te reo Māori". Lượng người này tương đương 4,2% dân số New Zealand.
Năng lực ngôn ngữ của người tự nhận biết nói Māori biến thiên từ tối thiểu đến hoàn thiện. Các thống kê không xác định được năng lực ngôn ngữ của người nói. Chỉ một lượng nhỏ người nói dùng tiếng Māori như ngôn ngữ chính tại nhà. Phần còn lại chỉ dùng vài từ hay câu (song ngữ thụ động).
Đây vẫn là ngôn ngữ giao tiếp ở một số điểm dân cư đông người Māori tại Northland, Urewera và East Cape.
Tỉ lệ người nói Māori trong cộng đồng Māori ngoại quốc thấp hơn nhiều tại New Zealand. Tài liệu thống kê của Úc cho thấy tiếng Māori là ngôn ngữ tại gia của 5.504 người (2001), hay 7,5% cộng đồng người Māori tại Úc. Tuy nhiên, con số này đã tăng lên đến 32,5% nếu so với năm 1996.
== Phép chính tả ==
Bảng chữ cái Māori hiện đại có 20 ký tự, hai trong số đó là phụ âm kép: A Ā E Ē H I Ī K M N O Ō P R T U Ū W NG và WH. Những nổ lực tìm cách viết tiếng Māori bằng bảng chữ cái Latinh đã bắt đầu từ khi thuyền trưởng James Cook và những người khai phá đến New Zealand. Việc ký âm phụ âm đã gây ra không ít khó khăn. Anne Salmond đã ghi nhận những cách viết cũ, gồm aghee thay vì aki (1773, từ Bờ Đông Đảo Bắc, p. 98), Toogee và E tanga roak thay vì Tuki và Tangaroa (1793, Northland, p216), Kokramea, Kakramea thay vì Kakaramea (1801, Hauraki, p261), toges cho toki(s), Wannugu cho Uenuku và gumera cho kumara (1801, Hauraki, p261, p266, p269), Weygate cho Waikato (1801, Hauraki, p277), Bunga Bunga cho pungapunga, tubua cho tupua và gure cho kurī (1801, Hauraki, p279), cũng như Tabooha cho Te Puhi (1823, Northern Northland, p385).
Từ 1814, các nhà truyền giáo có đã cố xác định rõ ngữ âm của ngôn ngữ này. Thomas Kendall phát hành một quyển sách năm 1815, tựa A korao no New Zealand, mà trong chính tả hiện đại phải là He Kōrero nō Aotearoa. Giáo sư Samuel Lee, đã cùng tộc trưởng Hongi Hika và Waikato (một họ hàng của Hongi) lập phép chính tả xác định dựa trên phương ngữ miền Bắc năm 1820. Phép chính tả của Lee hiện tiếp tục được dùng, với chỉ hai thay đổi lớn: thêm wh để phân biệt âm vị xát đôi môi vô thanh với âm vị môi-vòm mềm /w/; và việc sử dụng dấu macron đối với mọi nguyên âm dài. Dấu macron được chấp nhận để thể hiện nguyên âm dài (hāngi), nhưng nguyên âm đôi cũng được dùng (haangi).
=== Nguyên âm dài ===
Những ví dụ dưới cho thấy sự thay đổi độ dài nguyên âm có thể làm biến đổi nghĩa của từ trong tiếng Māori:
ata 'buổi sáng', āta 'một cách cẩn thận'
mana 'uy tín', māna 'cho anh/cô ta'
manu 'chim', mānu 'thả trôi'
tatari 'đợi cho', tātari 'lọc hay phân tích'
wahine 'người phụ nữ', wāhine 'những người phụ nữ'
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
Māori Language Act 1987
korero.maori.nz Māori language educational resources
Ethnologue report for Maori
Māori Language Commission (sets definitive standards).
English and Māori Word Translator, originally developed at the University of Otago.
Ngata Māori–English English–Māori Dictionary from Learning Media; gives several options and shows use in phrases.
Collection of historic Māori newspapers
Maori Phonology
maorilanguage.net Learn the basics of Māori Language with video tutorials
Microsoft New Zealand Māori Keyboard
Maori Language Week (NZHistory) - includes a history of the Māori language, the Treaty of Waitangi Māori Language claim and 100 words every New Zealander should know
Huia Publishers, catalogue includes Tirohia Kimihia the world's first Māori monolingual dictionary for learners
IMDb website; Māori language films
Publications about Māori language from Te Puni Kōkiri, the Ministry of Māori Development |
lte.txt | LTE (viết tắt của cụm từ Long Term Evolution, có nghĩa là Tiến hóa dài hạn), công nghệ này được coi như công nghệ di động thế hệ thứ 4 (4G, nhưng thực chất LTE cung cấp tốc độ thấp hơn nhiều so với một mạng 4G thực sự). 4G LTE là một chuẩn cho truyền thông không dây tốc độ dữ liệu cao dành cho điện thoại di động và các thiết bị đầu cuối dữ liệu. Nó dựa trên các công nghệ mạng GSM/EDGE và UMTS/HSPA, LTE nhờ sử dụng các kỹ thuật điều chế mới và một loạt các giải pháp công nghệ khác như lập lịch phụ thuộc kênh và thích nghi tốc độ dữ liệu, kỹ thuật đa anten để tăng dung lượng và tốc độ dữ liệu. Các tiêu chuẩn của LTE được tổ chức 3GPP (Dự án đối tác thế hệ thứ 3) ban hành và được quy định trong một loạt các chỉ tiêu kỹ thuật của Phiên bản 8 (Release 8), với những cải tiến nhỏ được mô tả trong Phiên bản 9.
Dịch vụ LTE thương mại đầu tiên trên thế giới được hãng TeliaSonera giới thiệu ở Oslo và Stockholm vào ngày 14/12/2009. LTE là hướng nâng cấp tự nhiên cho các sóng mang với các mạng GSM/UMTS, nhưng ngay cả các nhà mạng dựa trên công nghệ CDMA như Verizon Wireless (hãng này đã khai trương mạng LTE quy mô lớn đầu tiên ở Bắc Mỹ vào năm 2010), và au by KDDI ở Nhật cũng tuyên bố họ sẽ chuyển lên công nghệ LTE. Do đó LTE được dự kiến sẽ trở thanh tiêu chuẩn điện thoại di động toàn cầu thực sự đầu tiên, mặc dù việc sử dụng các băng tần khác nhau tại các quốc gia khác nhau sẽ yêu cầu điện thoại di động LTE phải làm việc được ở các băng tần khác nhau tại tất cả các quốc gia sử dụng công nghệ LTE.
Dù đóng mác là dịch vụ không dây 4G, nhưng chỉ tiêu kỹ thuật của LTE quy định trong loạt tài liệu Phiên bản 8 và 9 của 3GPP, không đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của liên minh 3GPP đã áp dụng cho thế hệ tiêu chuẩn mới, và được quy định bởi tổ chức ITU-R trong các đặc tả kỹ thuật IMT-Advanced.
== Tổng quan ==
LTE là một chuẩn cho công nghệ truyền thông dữ liệu không dây và là một sự tiến hóa của các chuẩn GSM/UMTS. Mục tiêu của LTE là tăng dung lượng và tốc độ dữ liệu của các mạng dữ liệu không dây bằng cách sử dụng các kỹ thuật điều chế và DSP (xử lý tín hiệu số) mới được phát triển vào đầu thế kỷ 21 này. Một mục tiêu cao hơn là thiết kế lại và đơn giản hóa kiến trúc mạng thành một hệ thống dựa trên nền IP với độ trễ truyền dẫn tổng giảm đáng kể so với kiến trúc mạng 3G. Giao diện không dây LTE không tương thích với các mạng 2G và 3G, do đó nó phải hoạt động trên một phổ vô tuyến riêng biệt.
LTE được hãng NTT DoCoMo của Nhật đề xuất đầu tiên vào năm 2004, các nghiên cứu về tiêu chuẩn mới chính thức bắt đầu vào năm 2005. Tháng 5 năm 2007, liên minh Sáng kiến thử nghiệm LTE/SAE (LSTI) được thành lập, liên minh này là sự hợp tác toàn cầu giữa các hãng cung cấp thiết bị và hãng cung cấp dịch vụ viễn thông với mục tiêu kiểm nghiệm và thúc đẩy tiêu chuẩn mới để đảm bảo triển khai công nghệ này trên toàn cầu càng hợp càng tốt. Tiêu chuẩn LTE được hoàn
thành vào tháng 12 năm 2008 và dịch vụ LTE đầu tiên được hãng TeliaSonera khai trương ở Oslo và Stockholm vào ngày 14 tháng 12 năm 2009, đó là kết nối dữ liệu với một modem USB. Năm 2011, các dịch vụ LTE được khai trương ở thị trường Bắc Mỹ, với việc hãng MetroPCS giới thiệu mẫu điện thoại thông minh hỗ trợ LTE đầu tiên là Samsung Galaxy Indulge vào ngày 10 tháng 2 năm 2011 và tiếp sau đó là hãng Verizon giới thiệu mẫu điện thoại thông minh hỗ trợ LTE thứ hai là HTC ThunderBolt vào ngày 17 tháng 3 cùng năm. Ban đầu, các nhà mạng CDMA có kế hoạch nâng cấp các tiêu chuẩn cạnh tranh là UMB và WiMAX, nhưng tất cả các nhà mạng CDMA lớn (như Verizon, Sprint và MetroPCS ở Mỹ, Bell và Telus ở Canada, au by KDDI ở Nhật Bản, SK Telecom ở Hàn Quốc và China Telecom/China Unicom ở Trung Quốc) đã thông báo họ dự định sẽ chuyển lên chuẩn LTE. Sự tiến hóa của LTE là LTE Advanced, đã được chuẩn hóa vào tháng 3 năm 2011. Dịch vụ dự kiến sẽ được cung cấp bắt đầu vào năm 2013.
Đặc tả kỹ thuật LTE chỉ ra tốc độ tải xuống đỉnh đạt 300 Mbit/s, tốc độ tải lên đỉnh đạt 75 Mbit/s và QoS quy định cho phép trễ truyền dẫn tổng thể nhỏ hơn 5 ms trong mạng truy nhập vô tuyến. LTE có khả năng quản lý các thiết bị di động chuyển động nhanh và hỗ trợ các luồng dữ liệu quảng bá và đa điểm. LTE hỗ trợ băng thông linh hoạt, từ 1,25 MHz tới 20 MHz và hỗ trợ cả song công phân chia theo tần số (FDD) và song công phân chia theo thời gian (TDD). Kiến trúc mạng dựa trên IP, được gọi là Lõi gói tiến hóa (EPC) và được thiết kế để thay thay thế Mạng lõi GPRS, hỗ trợ chuyển giao liên tục cho cả thoại và dữ liệu tới trạm eNodeB với công nghệ mạng cũ hơn như GSM, UMTS và CDMA2000. Các kiến trúc đơn giản và chi phí vận hành thấp hơn (ví dụ, mỗi tế bào E-UTRAN sẽ hỗ trợ dung lượng thoại và dữ liệu gấp 4 lần so với HSPA).
== Đặc điểm ==
Phần lớn tiêu chuẩn LTE hướng đến việc nâng cấp 3G UMTS để cuối cùng có thể thực sự trở thành công nghệ truyền thông di động 4G. Một lượng lớn công việc là nhằm mục đích đơn giản hóa kiến trúc hệ thống, vì nó chuyển từ mạng UMTE sử dụng kết hợp chuyển mạch kênh + chuyển mạch gói sang hệ thống kiến trúc phẳng toàn IP. E-UTRA là giao diện vô tuyến của LTE. Nó có các tính năng chính sau:
Tốc độ tải xuống đỉnh lên tới 299.6 Mbit/s và tốc độ tải lên đạt 75.4 Mbit/s phụ thuộc vào kiểu thiết bị người dùng (với 4x4 anten sử dụng độ rộng băng thông là 20 MHz). 5 kiểu thiết bị đầu cuối khác nhau đã được xác định từ một kiểu tập trung vào giọng nói tới kiểu thiết bị đầu cuối cao cấp hỗ trợ các tốc độ dữ liệu đỉnh. Tất cả các thiết bị đầu cuối đều có thể xử lý băng thông rộng 20 MHz.
Trễ truyền dẫn dữ liệu tổng thể thấp (thời gian trễ đi-về dưới 5 ms cho các gói IP nhỏ trong điều kiện tối ưu), trễ tổng thể cho chuyển giao thời gian thiết lập kết nối nhỏ hơn so với các công nghệ truy nhập vô tuyến kiểu cũ.
Cải thiện hỗ trợ cho tính di động, thiết bị đầu cuối di chuyển với vận tốc lên tới 350 km/h hoặc 500 km/h vẫn có thể được hỗ trợ phụ thuộc vào băng tần.
OFDMA được dùng cho đường xuống, SC-FDMA dùng cho đường lên để tiết kiệm công suất.
Hỗ trợ cả hai hệ thống dùng FDD và TDD cũng như FDD bán song công với cùng công nghệ truy nhập vô tuyến.
Hỗ trợ cho tất cả các băng tần hiện đang được các hệ thống IMT sử dụng của ITU-R.
Tăng tính linh hoạt phổ tần: độ rộng phổ tần 1,4 MHz, 3 MHz, 5 MHz, 10 MHz, 15 MHz và 20 MHz được chuẩn hóa (W-CDMA yêu cầu độ rộng băng thông là 5 MHz, dẫn tới một số vấn đề với việc đưa vào sử dụng công nghệ mới tại các quốc gia mà băng thông 5 MHz thương được ấn định cho nhiều mạng, và thường xuyên được sử dụng bởi các mạng như 2G GSM và cdmaOne).
Hỗ trợ kích thước tế bào từ bán kính hàng chục m (femto và picocell) lên tới các macrocell bán kính 100 km. Trong dải tần thấp hơn dùng cho các khu vực nông thôn, kích thước tế bào tối ưu là 5 km, hiệu quả hoạt động hợp lý vẫn đạt được ở 30 km, và khi lên tới 100 km thì hiệu suất hoạt động của tế bào vẫn có thể chấp nhận được. Trong khu vực thành phố và đô thị, băng tần cao hơn (như 2,6 GHz ở châu Âu) được dùng để hỗ trợ băng thông di động tốc độ cao. Trong trường hợp này, kích thước tê bào có thể chỉ còn 1 km hoặc thậm chí ít hơn.
Hỗ trợ ít nhất 200 đầu cuối dữ liệu hoạt động trong mỗi tế bào có băng thông 5 MHz.
Đơn giản hóa kiến trúc: phía mạng E-UTRAN chỉ gồm các eNode B
Hỗ trợ hoạt động với các chuẩn cũ (ví dụ như GSM/EDGE, UMTS và CDMA2000). Người dùng có thể bắt đầu một cuộ gọi hoặc truyền dữ liệu trong một khu vực sử dụng chuẩn LTE, nếu tại một địa điểm không có mạng LTE thì người dùng vẫn có thể tiếp tục hoạt động nhờ các mạng GSM/GPRS hoặc UMTS dùng WCDMA hay thậm chí là mạng của 3GPP2 như cdmaOne hoặc CDMA2000).
Giao diện vô tuyến chuyển mạch gói.
Hỗ trợ cho MBSFN (Mạng quảng bá đơn tần). Tính năng này có thể cung cấp các dịch vụ như Mobile TV dùng cơ sở hạ tầng LTE, và là một đối thủ cạnh tranh cho truyền hình dựa trên DVB-H.
== Các cuộc gọi thoại ==
Tiêu chuẩn LTE chỉ hỗ trợ chuyển mạch gói với mạng toàn IP của nó. Các cuộc gọi thoại trong GSM, UMTS và CDMA2000 là chuyển mạch kênh, do đó với việc thông qua LTE, các nhà khai thác mạng sẽ phải tái bố trí lại mạng chuyển mạch kênh của họ. Có 3 cách tiếp cận khác nhau hiện nay để tái bố trí lại mạng chuyển mạch kênh cho các nhà mạng:
VoLTE (Voice Over LTE – Thoại trên nền LTE): Hướng này dựa trên mạng Phân hệ đa phương tiện IP (IMS).
CSFB (Circuit Switched Fallback – Dự phòng chuyển mạch kênh): Trong hướng này, LTE chỉ cung cấp dịch vụ dữ liệu, và khi có cuộc gọi thoại, Lte sẽ trở lại miền CS (chuyển mạch kênh). Khi sử dụng giải pháp này, các nhà mạng chỉ cần nâng cấp các MSC (trung tâm chuyển mạch di động) thay vì phải triển khai IMS, do đó có thể cung cấp các dịch vụ một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, nhược điểm là trễ thiết lập cuộc gọi dài hơn.
SVLTE (Simultaneous Thoại và LTE đồng thời): Trong hướng này, điện thoại làm việc đồng thời trong chế độ LTE và CS, với chế độ LTE cung cấp các dịch vụ dữ liệu và chế độ CS cung cấp dịch vụ thoại. Đây là một giải pháp hoàn toàn dựa vào máy di động, nó không có yêu cầu đặc biệt về mạng và không yêu cầu phải triển khai IMS. Nhược điểm của giải pháp này là điện thoại có thể đắt hơn do tiêu thụ công suất nhiều hơn.
Một cách tiếp cận bổ sung khác không được khởi xướng bởi các nhà khai thác, đó là sử dụng các dịch vụ nội dung trên đỉnh (Over-the-top content - OTT), nó dùng các ứng dụng như Skype và Google Talk để cung cấp dịch vụ thoại LTE. Tuy nhiên, hiện tại và trong tương lai gần, các dịch vụ gọi thoại vẫn sẽ là nguồn lợi nhuận chính cho các nhà khai thác di động. Vì vậy, chuyển dịch vụ thoại LTE hoàn toàn sang cho OTT dự kiến sẽ không nhận được sự hỗ trợ quá nhiều trong ngành công nghiệp viễn thông.
Hầu hết các hãng ủng hộ chính của LTE lại quan tâm và thúc đẩy VoLTE ngay từ lúc bắt đầu. Tuy nhiên, việc thiếu hỗ trợ phần mềm trong các thiết bị LTE đầu tiên cũng như các thiết bị mạng lõi dẫn đến một số hãng ủng hộ VoLGA (Voice over LTE Generic Access – Thoại trên nền LTE thông quan mạng truy nhập chung) như một giải pháp tạm thời. Ý tưởng là sử dụng một số nguyên lý như GAN (Generic Access Network – Mạng truy nhập chung, còn gọi là UMA hay Unlicensed Mobile Access – Truy nhập di động không được cấp phép), trong đó xác định các giao thức thông qua một chiếc điện thoại di động có thể thực hiện các cuộc gọi thoại qua kết nối Internet của khách hàng, thường là qua mạng LAN không dây. Tuy nhiên VoLGA chưa bao giờ nhận được hỗ trợ nhiều, vì VoLTE (IMS) hứa hẹn các dịch vụ linh hoạt hơn nhiều, mặc dù chi phí để nâng cấp toàn bộ cơ sở hạ tầng cho thoại có thể lớn hơn. VoLTE cũng sẽ yêu cầu Cuộc gọi thoại vô tuyến đơn liên tục (SRVCC) để có thể thực hiện trơn tru một sự chuyển giao tới một mạng 3G trong trường hợp chất lượng tín hiệu LTE yếu.
Trong khi ngành công nghiệp có vẻ như thực hiện tiêu chuẩn hóa VoLTE cho tương lai, nhưng nhu cầu cho các cuộc gọi thoại ngày nay dẫn tới các nhà khai thác mạng LTE phải đưa vào CSFB như một biện pháp tạm thời. Khi diễn ra một cuộc gọi thoại, điện thoại hỗ trợ LTE sẽ dùng các mạng 2G và 3G cũ hơn trong thời gian diễn ra cuộc gọi.
=== Full-HD Voice ===
Fraunhofer IIS đã đề xuất và trình diễn Full-HD Voice, nhờ bộ codec AAC-ELD (Advanced Audio Coding – Enhanced Low Delay) dùng cho máy di động hỗ trợ LTE. Trước đây các bộ codec thoại của điện thoại di động chỉ hỗ trợ đến tần số 3,5 kHz và các dịch vụ âm thanh băng rộng HD Voice lên tới 7 kHz, Full-HD Voice hỗ trợ toàn bộ băng thông từ 20 Hz tới 20 kHz. Đối với các cuộc gọi Full-HD Voice đầu cuối tới đầu cuối, yêu cầu cả điện thoại của người gọi và người nhận cũng như mạng phải hỗ trợ tính năng này.
== Băng tần số ==
Tiêu chuẩn LTE có thể được dùng với nhiều băng tần khác nhau. Ở Bắc Mỹ, dải tần 700/ 800 và 1700/ 1900 MHz được quy hoạch cho LTE; 800, 1800, 2600 MHz ở châu Âu; 1800 và 2600 MHz ở châu Á; và 1800 MHz ở Australia. Do đó, điện thoại từ nước này không thể làm việc ở nước khác. Người dùng sẽ cần một chiếc điện thoại có khả năng làm việc ở mọi băng tần để chuyển vùng quốc tế.
Ngoài ra, chính phủ Brazil và CPqD đang thử nghiệm một phiên bản cụ thể của LTE ở băng tần 450 MHz cho thị trường nông thôn.
== Băng sáng chế ==
Theo "cơ sở dữ liệu IPR" (IPR nghĩa là quyền sở hữu trí tuệ) của Viện tiêu chuẩn viễn thông châu Âu (ETSI), tính đến tháng 3 năm 2012 khoảng 50 công ty đã tuyên bố nắm giữ bằng sáng chế chủ yếu bao gồm tiêu chuẩn LTE. ETSI không điều tra về tính đúng đắn của các tuyên bố trền, tuy nhiên "bất kỳ phân tích nào các bằng sáng chế LTE chủ yếu nên đưa vào tờ khai hơn là các tuyên bố của LTE."
== Xem thêm ==
So sánh các tiêu chuẩn dữ liệu không dây
E-UTRA – mạng truy nhập vô tuyến của LTE
Flat IP – kiến trúc IP phẳng trong các mạng di động
LTE Advanced – tiêu chuẩn kế thừa LTE
Tiến hóa kiến trúc hệ thống – các mạng lõi được xây dựng lại trong LTE
TD-LTE (LTE TDD) – một tiêu chuẩn LTE thay thế do Trung Quốc phát triển
UMB – một đối thủ đề xuất đối với LTE, không bao giờ được thương mại hóa
WiMAX – một đối thủ của LTE
HSPA+ – một đối thủ của LTE
Chuỗi Zadoff–Chu
Mạng thế hệ tiếp theo
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Erik Dahlman, Stefan Parkvall, Johan Sköld "4G – LTE/LTE-Advanced for Mobile Broadband", Academic Press, 2011, ISBN 978-0-12-385489-6
Stefania Sesia, Issam Toufik, and Matthew Baker, "LTE – The UMTS Long Term Evolution – From Theory to Practice", Second Edition including Release 10 for LTE-Advanced, John Wiley & Sons, 2011, ISBN 978-0-470-66025-6
Chris Johnson, "LTE in BULLETS", CreateSpace, 2010, ISBN 978-1-4528-3464-1
Erik Dahlman, Stefan Parkvall, Johan Sköld, Per Beming, "3G Evolution – HSPA and LTE for Mobile Broadband", 2nd edition, Academic Press, 2008, ISBN 978-0-12-374538-5
Borko Furht, Syed A. Ahson, "Long Term Evolution: 3GPP LTE Radio And Cellular Technology", Crc Press, 2009, ISBN 978-1-4200-7210-5
F. Khan, "LTE for 4G Mobile Broadband – Air Interface Technologies and Performance", Cambridge University Press, 2009
Mustafa Ergen, "Mobile Broadband – Including WiMAX and LTE", Springer, NY, 2009
H. Ekström, A. Furuskär, J. Karlsson, M. Meyer, S. Parkvall, J. Torsner, and M. Wahlqvist, "Technical Solutions for the 3G Long-Term Evolution," IEEE Commun. Mag., vol. 44, no. 3, March 2006, pp. 38–45
E. Dahlman, H. Ekström, A. Furuskär, Y. Jading, J. Karlsson, M. Lundevall, and S. Parkvall, "The 3G Long-Term Evolution – Radio Interface Concepts and Performance Evaluation," IEEE Vehicular Technology Conference (VTC) 2006 Spring, Melbourne, Australia, May 2006
K. Fazel and S. Kaiser, Multi-Carrier and Spread Spectrum Systems: From OFDM and MC-CDMA to LTE and WiMAX, 2nd Edition, John Wiley & Sons, 2008, ISBN 978-0-470-99821-2
Agilent Technologies, "LTE and the Evolution to 4G Wireless: Design and Measurement Challenges", John Wiley & Sons, 2009 ISBN 978-0-470-68261-6
Sajal Kumar Das, John Wiley & Sons (April 2010): "Mobile Handset Design", ISBN 978-0-470-82467-2.
Beaver, Paul, "What is TD-LTE?", RF&Microwave Designline, September 2011.
== Liên kết ngoài ==
LTE homepage from the 3GPP website
LTE A-Z Description 3GPP LTE Encyclopedia
=== Thông tin kỹ thuật và các bài báo kỹ thuật ===
Bản mẫu:Wireless video |
zte.txt | ZTE Corporation (Trung Văn: 中兴通讯股份有限公司, công ty cổ phần hữu hạn Trung hưng Thông tấn) là một công ty sản xuất thiết bị viễn thông đa quốc gia của Trung Quốc có trụ sở ở Thâm Quyến, Quảng Đông, Trung Quốc.
ZTE hoạt động trong ba lĩnh vực kinh doanh chính- Mạng truyền dẫn(54%)-Thiết bị đầu cuối(29%)-Viễn thông(17%). Sản phẩm cốt lõi của ZTE thiết bị không dây, tổng đài, thiết bị truy nhập, cáp quang, các thiết bị dữ liệu - viễn thông; điện thoại di động; phần mềm viễn thông. Họ cũng cung cấp các sản phẩm cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng, như video theo yêu cầu và streaming media. ZTE chủ yếu bán các sản phẩm dưới tên riêng của mình nhưng họ cũng là một OEM.
ZTE là một trong 5 nhà sản xuất điện thoại lớn nhất tại Trung Quốc, và trong tốp 10 toàn cầu.
== Lịch sử ==
ZTE, khi mới thành lập có tên Zhongxing Semiconductor Co., Ltd ở Thâm Quyến, Trung Quốc, năm 1985, được thành lập bởi một nhóm các nhà đầu tư kết hợp với Bộ Không gian vũ trụ của Trung Quốc. Tháng 3/1993, Zhongxing Semiconductor đổi tên thành Zhongxing New Telecommunications Equipment Co., Ltd với số vốn 3 triệu nhân dân tệ, và tạo ra một mô hình kinh doanh mới như là một thực thể kinh tế "nhà nước sở hữu, tư nhân điều hành". Mặc dù có quan hê với nhà nước, công ty đã phát triển thành ZTE Corporation và phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) trên sàn chứng khoán Thâm Quyến năm 1997 và sau đó ở Hồng Kông tháng 12/2004.
Trong khi lợi nhuận ban đầu của công ty đến từ bán hàng trong nước, họ tuyên bố sẽ sử dụng tiền có được từ IPO tại Hong Kong năm 2004 để mở rộng hoạt động R&D, bán hàng đến các nước đang phát triển, sản xuất ở nước ngoài. Tiến vào thị trường viễn thông thế giới năm, nó lấy 40% đơn đặt hàng toàn cầu mới cho các mạng CDMA đứng đầu thế giới thị trường thiết bị theo số lượng lô hàng. Cùng năm ZTE tìm được một khách hàng lớn ở Canada Telus và gia nhập Wi-Fi Alliance. Nhiều khách hàng ở các quốc gia phát triển nhanh chóng đi theo sự dẫn đầu của Telus, trong năm 2007 ZTE đã bán sản phẩm cho Vodafone của Anh, Telefonica của Tây Ban Nha, Telstra của Úc, cũng như thu hút được số lượng lớn nhất của hợp đồng CDMA trên toàn cầu. Năm 2008 ZTE đã có được khách hàng ở toàn cầu khi họ bán hàng đến 140 quốc gia.
Năm 2009, công ty trở thành các nhà cung cấp lớn thứ ba trên thế giới về thiết bị viễn thông GSM, và khoảng 20% của tất cả các thiết bị GSM được bán trên khắp thế giới vào năm đó mang thương hiệu ZTE. Đến năm 2011 công ty sở hữu khoảng 7% số bằng sáng chế quan trọng của công nghệ LTE cùng năm, hãng tung ra mẫu điện thoại hộ trợ cả hai ccoong nghệ định vị GPS và GLONASS, MTS 945. ZTE tuyên bố dành 10% doanh thu hàng năm cho nghiên cứu và phát triển mỗi năm, và họ có thể ra mắt số bằng sáng chế và giấy phép tiện ích với một tốc độ chóng mặt. ZTE đã nộp 48.000 bằng sáng chế trên toàn cầu, và với hơn 13.000 bằng sáng chế được cấp. Hơn 90% là các sáng chế có liên quan đến nhau. Trong hai năm liên tiếp (2011 và 2012), ZTE là công ty được cấp nhiều bằng sáng chế nhất toàn cầu, Và là công ty đầu tiên của Trung Quốc thực hiện được điều này.
== Công ty con ==
ZTE có một số công ty con trên thế giới.
=== PT. ZTE Indonesia ===
PT ZTE Indonesia là đại diện của ZTE với nhiều khách hàng cùng PT Telkom Indonesia tbk, PT Telekomunikasi Seluler tbk, PT Indosat tbk, PT Smartfren tbk, PT XL Axiata, và cũng cung cấp nhiều hỗ trợ dưới thương hiệu ZTE.
=== ZTE (Australia) Pty Ltd ===
ZTE gia nhập thị trường Australia năm 2005, và đến năm 2009 ZTE (Australia) Pty Ltd hoạt động như nhà cung cấp độc quyền thiết bị cầm tay, card mạng của ZTE, và cũng cung cấp và là nhà cung cấp OEM cho khách hàng, chẳng hạn như Telstra và Optus tại Úc.
=== ZTE Deutschland GmbH ===
ZTE Deutschland GmbH thành lập năm 2005vowis trụ sở ở Düsseldorf; đến năm 2008, đã có 50 lao động, 60% trong số đó được tuyển dụng tại địa phương.
=== ZTE USA Inc ===
Chi nhánh Bắc Mỹ của ZTE, có trụ sở ở Richardson, Texas, ZTE USA Inc cung cấp các thiết bị cầm tay không dây và giải pháp mạng ở US. ZTE USA là đối tác của NBA's Houston Rockets trong mùa giải 2013-2014
=== ZTE (HK) Ltd ===
ZTE (Hong Kong) Ltd. (China) phục vụ trong các lĩnh vực như hợp đồng sản xuất toàn cầu..
=== ZTE do Brasil Ltda. ===
ZTE do Brasil Ltda.thành lập năm 2002 với trụ sở ởSão Paulo và văn phòng ở Rio de Janeiro và Brasília; cung cấp các thiết bị di động và các giải pháp mạng cho thị trường Brazil.
=== ZTE Pakistan Pvt Ltd ===
ZTE đã được giới thiệu tại thị trường Pakistan năm 1999 có trụ sở ở Islamabad và các văn phòng đại diện ởLahore và Karachi. Cung cấp Thiết bị viễn thông, Giải pháp mạng và các dịch vụ quản lý để khai thác viễn thông tại Pakistan ví dụ PTCL, Telenor, Mobilink, Zong, SCO
=== Zonergy ===
Zonergy là một công ty năng lượng tái tạo có liên quan đến các dự án phát điện thông qua các công viên năng lượng mặt trời ở Trung Quốc và Pakistan và trồng dầu cọ ở Indonesia để sản xuất nhiên liệu sinh học. ZTE là một cổ đông lớn và có công trong việc thành lập công ty trong năm 2007 nhưng chỉ giữ một số ít cổ phiếu trong thực thể.
== Sản phẩm ==
ZTE hoạt động trong ba lĩnh vực kinh doanh chính- Mạng truyền dẫn(54%)-Thiết bị đầu cuối(29%)-Viễn thông(17%). Sản phẩm có thể được tạm sắp xếp thành ba loại: thiết bị được sử dụng bởi các nhà khai thác mạng (liên kết và các nút mạng, vv), thiết bị sử dụng để truy cập mạng (thiết bị đầu cuối), và dịch vụ, trong đó bao gồm phần mềm. Vào tháng 10 năm 2010, ZTE hợp nhất môđun mã hóa và nhận giấy chứng nhận an ninh U.S./Canada FIPS 140-2, khiến ZTE các nhà cung cấp đầu tiên từ Trung Quốc chứng thực thành công module theo NIST FIPS 140-2 tiêu chuẩn theo chương trình CMVP.
=== Thiết bị điện tử tiêu dùng ===
Điện thoại di động
Tính đến năm 2012, ZTE là nhà cung cấp điện thoại di động lớn thứ 4. Hãng cũng có tên trong danh sách top 5 nhà cung cấp smartphone đầu bảng của IDC. Strategy Analytics tính toán ZTE làmoottj trong 4 nhà cung cấp điện thoại thông minh lớn nhất(5% thị phần) trong quý 2/2013. Họ cũng sản xuất máy tính bảng.
Mobile Hotspots
Mobile hotspots hỗ trợ 4G MF60 và MF80 đã được công bố vào tháng 8 năm 2011.
Windows Phone
Tại Mobile World Congress 2014 ở Tây Ban Nha, Microsoft thông báo rằng ZTE là đối tác phần cứng mới nhất của nền tảng Windows Phone.
=== Thiết bị điều hành mạng, Nút mạng và Network Elements ===
ZTE cũng là nhà cung cấp của Core Routing và các thiết bị Core Network, còn được biết đến như là Network Elements nhu:
GGSN (GSM / UMTS), PGW (LTE EPC), PDSN (CDMA)
ZTE ZXR10-Series Core Switches và Core Routers
MPLS routers
Trạm cơ sở, một vài trong đấy phát triển với kiến trúc OBSAI - Open Base Station Architecture Initiative, including China-specific Time-Division Long-Term Evolution aka TD-LTE radio protocol support and CDMA-based EV-DO equipment
Bộ chuyển mạch điện thoại
legacy WAP và MMSC
Các thiết bị WiMax, dựa trên nền tảng ZTE SDR, một phần của giải pháp Uni-RAN, Uni-Core core network equipment, và các dịch vụ hỗ trợ cho sự ra mắt của mạng WiMAX 4G network trên tần số 3.5 GHz.
Các sản phẩm SDN / NFV thông qua Open Daylight Project
== Khách hàng ==
Một số lượng lớn khách hàng của ZTE là bên ngoài Trung Quốc. Trong những năm 2000, đa số là các nhà điều hành mạng viễn thông ở các nước đang phát triển, nhưng các sản phẩm của ZTE cũng có mặt tại các nước phát triển. Vodafone của Anh, Telus của Canada, Telstra của Úc, cũng như France Telecom đều đã mua thiết bị của ZTE.
Nhiều công ty Trung Quốc cũng là khách hàng của ZTE, bao gồm China Netcom, China Mobile, China Satcom, China Telecom, và China Unicom.
Ở Mỹ, ZTE USA sản xuất điện thoại di động và các thiết bị băng thông rộng cho nhiều hãng không dây bao gồm AT&T, Boost Mobile, Cricket Wireless, MetroPCS, Sprint, T-Mobile, TracFone, Verizon, và Virgin Mobile. Nó cũng bán thiết bị mạng cho các hãng này.
== Tranh cãi ==
=== Hối lộ cho các hợp đồng ===
Na Uy
Hãng viễn thông Na Uy Telenor, một trong những nhà khai thác di động lớn nhất thế giới, đã cấm ZTE "tham gia đấu thầu và cơ hội kinh doanh mới vì bị cáo buộc vi phạm quy tắc ứng xử trong một thủ tục mua sắm” trong khoảng thời gian năm tháng và kết thúc vào tháng 3 năm 2009.
Philippines
Đàm phán hợp đồng để xây dựng một mạng lưới băng thông rộng cho chính phủ Philippines có thể đã bao gồm các hoạt động không đúng.. Dự án sau đó đã bị hủy bỏ.
=== Kinh doanh hệ thống giám sát ===
Tháng 12/2010, ZTE đã bán các hệ thống nghe trộm điện thoại và truyền thông Internet cho Telecommunication Company of Iran một công ty do chính phủ kiểm soát. Hệ thống này có thể giúp Iran giám sát và theo dõi chính trị gia chống.
=== Bảo mật thiết bị cầm tay ===
Ít nhất một điện thoại di động ZTE (được bán ra với ZTE Score tại Mỹ bởi Cricket và MetroPCS) có thể bị truy cập từ xa bởi bất cứ ai với một mật khẩu dễ dàng thu được.
Năm 2012, các chính trị gia Mỹ tăng cường mối lo ngại an ninh đến từ các thiết bị của ZTE và của một hãng sản xuất các thiết bị không dây khác của Trung Quốc, Huawei.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
ZTE Corporation Global website |
nhóm ngôn ngữ sorb.txt | Nhóm ngôn ngữ Sorb được phân loại thuộc nhánh Slav của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu. Các ngôn ngữ này là những ngôn ngữ bản địa của người Sorb, một nhóm thiểu số dân Slav ở miền đông nước Đức. Trong lịch sử, ngôn ngữ này cũng đã được biết đến với tên gọi Wendish hoặc Lusatian. Mã chung ISO 639-2 của nhóm ngôn ngữ này là wen.
Có hai ngôn ngữ viết: Thượng Sorb (Hornjoserbsce), được sử dụng khoảng 40.000 người ở Sachsen, và Hạ Sorb (Eesti) được sử dụng bởi khoảng 10.000 người dân ở Brandenburg. Các khu vực mà hai ngôn ngữ được nói là được biết đến như Lusatia (Łužica tại Thượng Sorb, Łužyca ở Hạ Sorb, hoặc Lausitz tại Đức).
Cả hai ngôn ngữ có từ kép cho danh từ, đại từ, tính từ và động từ; rất ít sinh ngừ thuộc nhóm các Ấn-Âu giữ lại tính năng này như là một khía cạnh productive của ngữ pháp (xem ngữ pháp tiếng Slovenia hay ngữ pháp tiếng Litva).
Tại Đức, các ngôn ngữ Thượng và Hạ Sorb được chính thức công nhận và được bảo vệ như là các ngôn ngữ thiểu số. Tại khu vực Sorb, cả hai ngôn ngữ đều chính thức như tiếng Đức.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Euromosaic information page
Kurs serskeje rěce / Bluń, introductory texts of the lessons included in the Sorbian language textbook Curs practic de limba sorabă in a dialect of central Lusatia |
triết học phân tích.txt | Triết học phân tích là một trào lưu triết học. Những người đi theo trào lưu này luôn có ý định quy triết học về sự phân tích ngôn ngữ , logic nhằm tìm ra câu trả lời cho những gì được gọi là vấn đề triết học theo định nghĩa truyền thống.
== Lịch sử ==
Triết học phân tích thực sự xuất hiện chủ yếu ở Anh và Mỹ trong thế kỷ XX. Về bản chất, triết học phân tích lúc này là sự tiếp nối và sự biến thể của chủ nghĩa chứng thực mới. Về trường phái thì có thể phân chia như sau:
Triết học phân tích logic: Đây là tập hợp các nhà triết học sử dụng sự logic của toán học hiện đại, chủ nghĩa kinh nghiệm logic và chủ nghĩa thực dụng logic. Đại biểu xuất sắc cho trường phái này là Rudolf Carnap và Nelson Goodman.
Triết học ngôn ngữ học.
Tuy nhiên, có những nhà triết học dù bản chất là theo đuổi triết học phân tích nhưng lại chẳng thuộc trường phái nào, tiêu biểu là Wilfrid Sellars.
== Chú thích == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.