filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
tổng cục công nghiệp quốc phòng (việt nam).txt | Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng là cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, có chức năng tổ chức, quản lý các cơ sở CNQP nòng cốt, bao gồm các viện nghiên cứu thiết kế, công nghệ vũ khí, các nhà máy, các liên hiệp xí nghiệp chế tạo vũ khí, trang bị và các phương tiện kỹ thuật quân sự, đảm bảo cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
== Lịch sử hình thành ==
Ngày 15 tháng 9 năm 1945, ngày Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới do Ông Nguyễn Ngọc Xuân làm trưởng phòng, trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nhiệm vụ thu thập, mua sắm và tổ chức cơ sở sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội. Tổ chức gồm các bộ phận: Sưu tầm, mua sắm, phân phối vũ khí; lập các bản vẽ kỹ thuật vũ khí; văn phòng.
Thực hiện sắc lệnh số 34/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phòng Quân giới tổ chức thành Cục Chế tạo Quân giới, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam. Phụ trách chung ông Vũ Anh. Đồng thời ở các khu chuẩn bị thành lập các ty, khoa hoặc phòng quân giới để trực tiếp chỉ đạo các xưởng sửa chữa sản xuất vũ khí cho các đơn vị trong khu.
Ngày 4 tháng 2 năm 1947, Chế tạo Quân giới cục đổi tên thành Cục Quân giới do kỹ sư vũ khí nổi tiếng, sau này là Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa làm Cục trưởng. Cơ quan cục kiện toàn thành 3 nha và một phòng.
Nha Nghiên cứu kỹ thuật (có một xưởng sản xuất mẫu) do ông Trần Đại Nghĩa cục trương kiêm giám đốc, ông Hoàng Đình Phu phó giám đốc. Nhiệm vụ: nghiên cứu, thiết kế, chế thử các loại vũ khí mới theo yêu cầu chiến đấu. Nghiên cứu nâng cao chất lượng, hiệu quả các vũ khí sản xuất, nghiên cứu các vật liệu thay thế.
Nha Giám đốc binh công xưởng do ông Nguyễn Duy Thái làm giám đốc. Nhiệm vụ: Chỉ đạo kế hoạch và kỹ thuật sản xuất của các binh công xưởng, các ty quân giới
Nha Mậu dịch do ông Nguyễn Ngọc Xuân phó cục trưởng kiêm giám đốc, ông Nguyễn Quang phó giám đốc. Nhiệm vụ tìm nguồn vật tư và tổ chức thu mua máy móc, nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất quân giới.
Phòng Văn thư do ông Vũ Văn Đôn phụ trách. Nhiệm vụ quản lý hành chính, kế toán tài vụ và vận tải.
Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Cục Quân giới trực thuộc Tổng cục Cung cấp, Bộ Tổng Tư lệnh quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam.
Ngày 4 tháng 11 năm 1958, Bộ trưởng Quốc phòng ra Nghị định số 262/NĐA sáp nhập hai Cục Quân giới và Cục Quân khí, tổ chức thành Cục Quân giới trực thuộc Tổng cục Hậu cần. Ông Nguyễn Văn Nam làm Cục trưởng.
Ngày 29 tháng 1 năm 1966, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 128/QĐQP tách Cục Quân giới thành 2 cục Quân khí và Quân giới.
Ngày 10 tháng 9 năm 1974, Thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (số 39/QUTW ngày 5 tháng 4), Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định (số 221/CP) thành lập Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng. Ngành Quân giới được tổ chức thành các cục: Cục Quản lý kỹ thuật - sản xuất, Cục Quản lý xí nghiệp và các nhà máy, xí nghiệp chế tạo vũ khí - khí tài - đạn dược trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng.
Ngày 5 tháng 4 năm 1976, Tổng cục Xây dựng Kinh tế được thành lập theo Nghị định 59/CP của Chính phủ. Cuối năm 1979 được thu hẹp dần và đến cuối những năm 1980 thì được giải thể.
Ngày 7 tháng 11 năm 1985 Tổng cục Kinh tế được thành lập theo Nghị định số 260/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Ngày 3 tháng 3 năm 1989, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng được thành lập với tên gọi Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế trên cơ sở Tổng cục Kinh tế và một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam - cơ quan quản lý các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng.
Từ tháng 7 năm 2000, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam được tổ chức lại và mang tên gọi hiện nay khi Bộ Quốc phòng tách hai chức năng quản lý công nghiệp quốc phòng - giao cho Tổng cục và chức năng quản lý Quân đội làm kinh tế (quản lý các doanh nghiệp quân đội)- giao cho Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng.
Theo pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng đã được Ủy ban Thường vụ QH khóa XII thông qua ngày 26-1 thì Cơ sở công nghiệp quốc phòng bao gồm:
Cơ sở nghiên cứu, sản xuất, sửa chữa lớn, cải tiến, hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, vật tư kỹ thuật được Nhà nước đầu tư phục vụ quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng (cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt) do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý
Cơ sở sản xuất công nghiệp được Nhà nước đầu tư xây dựng năng lực sản xuất phục vụ quốc phòng theo quy định của pháp luật động viên công nghiệp (cơ sở công nghiệp động viên) do Bộ Công thương quản lý.
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đại tướng Phùng Quang Thanh ngày 18/12/2007, tại phiên họp thứ 3, Ủy ban Thường vụ Quốc hội "...Sau năm 2012 công nghiệp quốc phòng cần hội nhập với công nghiệp quốc gia và do Chính phủ quản lý, Bộ Quốc phòng chỉ quản lý các cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt..."
== Lãnh đạo hiện nay ==
== Tổ chức Đảng ==
=== Tổ chức chung ===
Từ năm 2006 thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Tổ chức Đảng bộ trong Tổng cục CNQP theo phân cấp như sau:
Đảng bộ Tổng cục CNQP là cao nhất.
Đảng bộ Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Kỹ thuật, Cục Quản lý Công nghệ, các Viện nghiên cứu, Tổng Công ty (tương đương cấp Sư đoàn)
Đảng bộ các đơn vị cơ sở trực thuộc các Cục, Tổng công ty (tương đương cấp Lữ đoàn và Trung đoàn)
Chi bộ các cơ quan đơn vị trực thuộc các đơn vị cơ sở (tương đương cấp Đại đội)
=== Thành phần ===
Về thành phần của Đảng ủy Tổng cục CNQP thường bao gồm như sau:
Bí thư: Chính ủy Tổng cục CNQP
Phó Bí thư: Chủ nhiệm Tổng cục CNQP
Ban Thường vụ
Ủy viên Thường vụ: Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng
Ủy viên Thường vụ: Phó Chủ nhiệm
Ủy viên Thường vụ: Phó Chủ nhiệm
Ban Chấp hành Đảng bộ
Đảng ủy viên: Phó Chủ nhiệm
Đảng ủy viên: Phó Chủ nhiệm
Đảng ủy viên: Phó Chính ủy
Đảng ủy viên: Cục trưởng Cục Chính trị
Đảng ủy viên: Phó Tham mưu trưởng
Đảng ủy viên: Phó Tham mưu trưởng
Đảng ủy viên: Cục trưởng Cục Quản lý Công nghệ
Đảng ủy viên: Viện trưởng Viện Công nghệ
Đảng ủy viên: Cục trưởng Cục Hậu cần hoặc Cục trưởng Cục Kỹ thuật
Đảng ủy viên: Viện trưởng Viện Vũ khí
Đảng ủy viên: Tổng Giám đốc Tổng Công ty Ba Son
Đảng ủy viên: Tổng Giám đốc Tổng Công ty Sông Thu
== Tổ chức chính quyền ==
=== Cơ quan trực thuộc ===
Văn phòng Tổng cục
Thanh tra Tổng cục
Phòng Tài chính
Phòng Vật tư
Phòng Quản lý Dự án đầu tư
Phòng Khoa học quân sự
Phòng Thông tin KHQS
Phòng Điều tra hình sự
Phòng Kinh tế
Bộ Tham mưu
Cục Chính trị
Cục Hậu cần
Cục Kỹ thuật
Cục Quản lý Công nghệ
Tạp chí Công nghiệp quốc phòng và kinh tế
=== Đơn vị trực thuộc Tổng cục ===
Viện Thiết kế tàu quân sự
Viện Vũ khí
Viện Thuốc phóng - Thuốc nổ
Viện Công nghệ
Trường Cao đẳng Công nghiệp Quốc phòng
Tổng công ty Ba Son thành lập ngày 04/8/1925
Tổng công ty Sông Thu
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC)
Tổng Công ty Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Quốc phòng (GAET)
Trung tâm T504
Công ty Đóng tàu Hồng Hà (Nhà máy Z173)
Công ty Đóng tàu 189 (Nhà máy Z189)
Công ty Cơ khí chính xác 11 (Nhà máy Z111)
Công ty Cơ khí Hóa chất 13 (Nhà máy Z113)
Công ty Cơ khí Hóa chất 14 (Nhà máy Z114)
Công ty Cơ điện Hóa chất 15 (Nhà máy Z115)
Công ty TNHH một thành viên cơ khí 17 (Nhà máy Z117)
Công ty Hóa chất 21 (Nhà máy Z121)
Nhà máy Cơ-Quang-Điện Z123
Công ty Cơ khí Chính xác 25 (Nhà máy Z125)
Công ty Cơ khí Chính xác 27 (Nhà máy Z127)
Công ty Cơ khí Chính xác 29 (Nhà máy Z129)
Công ty Cơ điện và Vật liệu nổ 31 (Nhà máy Z131)
Công ty Dụng cụ điện 43 (Nhà máy Z143)
Công ty Cao su 75 (Nhà máy Z175)
Công ty 76 (Nhà máy Z176)
Công ty Điện tử Sao Mai (Nhà máy Z181)
Công ty Cơ khí chính xác 83 (Nhà máy Z183)
Công ty Hóa chất 95 (Nhà máy Z195)
Công ty Quang điện-Điện tử 99 (Nhà máy Z199)
Công ty CP đầu tư và xây lắp Tây Hồ
Công ty cổ phần Vật tư tổng hợp và Phân bón hóa sinh
Công ty CP Xi măng X18
=== Đơn vị trực thuộc Cục ===
Kho K602
Kho K612
Kho K752
Nhà máy X51, Tổng Công ty Ba Son
Xí nghiệp In, Cục Chính trị
== Thành tích ==
Huân chương Hồ Chí Minh (2010)
== Chủ nhiệm Tổng cục qua các thời kỳ ==
== Chính ủy qua các thời kỳ ==
2005-2008, Nguyễn Đình Hậu, Trung tướng (2006)
2008-10/2014, Lê Thanh Bình, Thiếu tướng (2008), Trung tướng (2011) nguyên Phó Chính ủy Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng
11/2014-nay, Khuất Việt Dũng, Trung tướng (2014) nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (-2014)
== Tham mưu trưởng qua các thời kỳ ==
-3.2015, Trần Gia Thịnh, Thiếu tướng (2011)
4.2015-nay, Hồ Quang Tuấn, Đại tá, nguyên Giám đốc Nhà máy Z111
== Phó Chủ nhiệm qua các thời kỳ ==
1976-1979, 1986-1987, 1989-1992, Phan Khắc Hy, Thiếu tướng (1980)
1976-1979, Đào Hữu Liêu, Thiếu tướng (1984)
1985-1993, Phạm Như Vưu, Thiếu tướng (1983)
Nguyễn Ngọc Chương, Thiếu tướng, PSG,TS
1988-1995, Lê Văn Chiểu, Thiếu tướng (1984)
2000-2007, Lâm Văn Thàn, Thiếu tướng (2004)
2008-2014, Khuất Việt Dũng, Trung tướng (2014), Chính ủy Tổng cục CNQP
2013-nay, Nguyễn Đức Hải, Thiếu tướng (2013), nguyên Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Ba Son
2009-nay, Đoàn Hùng Minh, PGS.TS, Thiếu tướng (2011)
2014-nay, Ngô Văn Giao, PGS.TS, Thiếu tướng, nguyên Viện trưởng Viện Thuốc phóng-Thuốc nổ
== Phó Chính ủy qua các thời kỳ ==
2007-2008, Lê Thanh Bình, Thiếu tướng, Trung tướng (2011), sau là Chính ủy Tổng cục CNQP
2012-6.2015, Lê Khương Mẽ, Thiếu tướng (2012), nguyên Phó Cục trưởng Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị
6.2015-nay, Nguyễn Viết Xuân, Thiếu tướng (2013), nguyên Phó Cục trưởng Cục Chính trị, Quân chủng PK-KQ
== Các sĩ quan cấp cao ==
2008-nay, Đào Xuân Nghiệp, Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Quản lý Công nghệ, TCCNQP
Lâm Trọng Đông, Thiếu tướng(2015), Cục trưởng Cục Chính trị, TCCNQP
== Liên kết ngoài ==
CÔNG BỐ HAI PHÁP LỆNH LIÊN QUAN ĐẾN AN NINH – QUỐC PHÒNG
Đề nghị chuyển công nghiệp quốc phòng cho Nhà nước
Xây dựng công nghiệp quốc phòng trong giai đoạn phát triển mới
Công nghiệp quốc phòng phải hòa đồng vào công nghiệp quốc gia
Các tổ chức, cá nhân được tham gia sản xuất hàng quốc phòng
Tham khảo thông tin về doanh nghiệp quân đội
== Chú thích == |
11 tháng 7.txt | Ngày 11 tháng 7 là ngày thứ 192 (193 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 173 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1405 – Trịnh Hòa lần đầu suất lĩnh thuyền đội xuất phát đi sứ các quốc gia ven bờ Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, sử xưng "Trịnh Hòa hạ Tây Dương".
1914 – Chiến hạm USS Nevada (BB-36) của Hoa Kỳ được hạ thủy, đây là một cú nhảy vọt trong kỹ thuật chiến hạm hạng nặng.
1921 – Cách mạng Ngoại Mông: Ngoại Mông Cổ một lần nữa tuyên bố độc lập khỏi Trung Quốc, thành lập chính phủ quân chủ lập hiến.
1960 – Tiểu thuyết Giết con chim nhại của Harper Lee được phát hành, đây cũng là tiểu thuyết đầu taycủa bà.
1977 – Martin Luther King được truy tặng Huân chương Tự do Tổng thống.
1982 – Ý giành danh hiệu vô địch lần thứ ba tại World Cup 1982.
1995 – Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia.
1995 – Hơn 8.000 nam giới và trẻ em Bosnia (đa số là người Bosniak) bị giết chết trong vụ thảm sát Srebrenica dưới tay quân lính Serbia theo lệnh của Ratko Mladić tại Potočari gần tỉnh Srebrenica thuộc Bosna và Hercegovina vào gần cuối chiến tranh Bosnia.
2010 – Đội tuyển Tây Ban Nha đánh bại đội tuyển Hà Lan trong trận chung kết, lần đầu tiên giành chức vô địch bóng đá thế giới.
== Sinh ==
Alfred Buchi (kỹ sư người Thuỵ Sĩ) phát minh Công nghệ tăng áp turbin
1990 - David Henrie diễn viên nam người Mỹ.
1990 - Caroline Wozniacki, vận động viên tennis người Đan Mạch.
== Mất ==
1949 - Giám mục Công giáo tiên khởi người Việt Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (sinh 1868)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày dân số thế giới
Ngày truyền thống Ngành Thú y Việt Nam
Ngày Kính Thánh Biển Đức (Bênêđictô)
== Tham khảo == |
đại hội thể thao thế giới.txt | Đại hội Thể thao Thế giới, tổ chức lần đầu tiên vào năm 1981, là đại hội thể thao dành cho các môn không được thi đấu trong Thế vận hội. Đại hội Thể thao Thế giới được tổ chức bởi Hiệp hội Quốc tế Đại hội Thể thao Thế giới (IWGA), dưới sự bảo trợ của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC).
== Các kỳ ==
1 Cộng hòa Trung Quốc, thường được gọi là Đài Loan, lý do về mối quan hệ hai bên eo biển với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, được công nhận bởi tên Trung Hoa Đài Bắc do IWGA và phần lớn của các tổ chức quốc tế.
== Môn thể thao/Phân môn ==
Đây là các môn thể thao/các phân môn chính thức của chương trình Đại hội Thể thao Thế giới.
=== Nghệ thuật & khiêu vũ thể thao ===
=== Thể thao bóng ===
=== Võ thuật ===
=== Thể thao chính xác ===
=== Thể thao sức mạnh ===
Powerlifting
Kéo co (nam ngoài nhà, nữ trong nhà)
=== Thể thao xu hướng ===
=== Thể thao thỉnh mời ===
== Bảng tổng sắp huy chương ==
Xếp hạng theo tổng số huy chương:
== Xem thêm ==
Thế vận hội
Đại hội thể thao Khối Thịnh vượng chung
Đại hội Thể thao Sinh viên thế giới
Đại hội Thể thao Toàn châu Phi
Đại hội Thể thao châu Á
Đại hội Thể thao châu Âu
Đại hội Thể thao Thái Bình Dương
Đại hội Thể thao Liên châu Mỹ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web IWGA chính thức
Tất cả các kết quả Đại hội Thể thao Thế giới tại Hickoksports.com
Đại hội Thể thao Thế giới Wrocław 2017
Đại hội Thể thao Thế giới Cali 2013
Đại hội Thể thao Thế giới Cao Hùng 2009
Đại hội Thể thao Thế giới Duisburg 2005
Các kết quả của TWG2009
Bảng tổng sắp huy chương Đại hội Thể thao Thế giới
Bản mẫu:World Games
Bản mẫu:World Games Sports Bản mẫu:International multi-sport events |
giải quần vợt úc mở rộng 2015.txt | Giải quần vợt Úc Mở rộng 2015 là giải Grand Slam đầu tiên của năm 2015 diễn ra tại tổ hợp sân thi đấu ngoài trời Melbourne Park tại Melbourne, Úc. Sự kiện diễn ra từ ngày 19 tháng 1 tới 1 tháng 2, bao gồm các hạng mục đơn nam và đơn nữ, đôi nam và đôi nữ, và đôi nam nữ. Ngoài giải đấu chính thức, ITF cũng tổ chức song song giải Grand Slam cho các hạng mục thiếu niên, thanh niên và người khuyết tật.
Stanislas Wawrinka là đương kim vô địch đơn nam song thất bại sau 5 set trước Novak Djokovic ở vòng bán kết. Đương kim vô địch đơn nữ Lý Na không tham gia thi đấu khi đã tuyên bố giải nghệ trước đó vào tháng 9 năm 2014.
Novak Djokovic lập kỷ lục khi trở thành vận động viên nam đầu tiên từ Kỷ nguyên Mở có được 5 chức vô địch tại Úc mở rộng sau khi giành chiến thắng trước Andy Murray ở trận chung kết. Serena Williams cũng lập kỷ lục khi là vận động viên nữ đầu tiên có 6 danh hiệu tại đây khi đánh bại Maria Sharapova ở trận chung kết. Simone Bolelli và Fabio Fognini giành danh hiệu đôi nam trước Pierre-Hugues Herbert và Nicolas Mahut. Bethanie Mattek-Sands và Lucie Šafářová giành chức vô địch đôi nữ trước Chiêm Vịnh Nghiêm và Trịnh Khiết. Martina Hingis và Leander Paes giành chiến thắng ở nội dung đôi nam nữ – danh hiệu thứ hai của Hingis và thứ ba của Paes – trước đôi đương kim vô địch Kristina Mladenovic và Daniel Nestor.
== Giải đấu ==
Giải quần vợt Úc mở rộng 2015 là giải đấu lần thứ 103, được tổ chức tại Melbourne Park ở Melbourne, Victoria, Australia.
Giải đấu được điều hành bởi Liên đoàn quần vợt quốc tế (ITF) và đã trở thành một phần của ATP World Tour 2015 và WTA Tour 2015 theo giải Grand Slam. Giải đấu bao gồm hạng mục đơn nam nữ và đôi nam nữ. Ngoài ra giải đấu còn có các hạng mục đơn, đôi cho cả thanh, thiếu niên dưới 18 tuổi, và cũng tổ chức hạng mục đơn, đôi cho nam, nữ khuyết tật, vốn là 1 phần của giải cho người khuyết tật trong giải Grand Slam.
== Truyền thông ==
Giải đấu được phát sóng tại hơn 200 quốc gia trên thế giới. Ở Úc, tất cả các trận đấu được phát sóng trực tiếp trên mạng lưới Seven Network, ngay trên kênh chính của mạng là Seven Sport. Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, giải đấu được chiếu trên các mạng lưới như CCTV, iQiyi, SMG (Trung Quốc), Fiji One (Fiji), Sony SIX (Ấn Độ), WOWOW, NHK (Nhật Bản), Sky TV (New Zealand) và Fox Sports Asia, ở châu Âu: Eurosport, NOS (Hà Lan), SRG SSR (Thụy Sĩ) và BBC (Vương quốc Anh), ở Trung Đông: beIN Sports, ở châu Phi: SuperSport, Mỹ: ESPN.
Năm 2015 này, các giải đấu từ vòng loại trở đi, lễ khai mạc và bế mạc, đều có trên trang web chính thức của giải đấu: AusOpen.com.
== Phân phối điểm và tiền thưởng ==
=== Phân phối điểm ===
Dưới đây là thống kê điểm xếp hạng cho mỗi hạng mục.
==== Dành cho các vận động viên chuyên nghiệp ====
=== Tiền thưởng ===
Giải quần vợt Úc mở rộng đã tăng lên đến 40 triệu đô la Úc, với tiền thưởng kỉ lục cho nam, nữ vô địch hạng mục đơn là 3,1 triệu đô la Úc. Ngoài số tiền thưởng cho nhà vô địch, 28.796.000 đô la Úc dành cho tay vợt thua trong vòng loại chính, 1.344.000 đô la Úc cho tay vợt thua ở vòng loại phụ. Ngoài ra, 5.165.200 đô la Úc cho hạng mục đôi, 480.000 đô la Úc cho hạng mục hỗn hợp đôi nam nữ và 605,330 đô la Úc cho các tay vợt cạnh tranh trong các hạng mục khác. Còn 3.609.470 đô la Úc sử dụng để trang trải các chi phí khác, bao gồm cả dịch vụ cho các tay vợt và cúp. Bảng dưới đây tính theo đơn vị đô la Úc.
1 Tiền thưởng cho vòng loại chính là vòng 128.2 (mỗi đội)
== Đấu đơn ==
=== Tóm tắt ===
Đơn nam
Đơn nữ
=== Đơn nam ===
==== Hạt giống ====
==== ====
===== Chung kết =====
===== Nửa trên =====
====== Bảng 1 ======
====== Bảng 2 ======
====== Bảng 3 ======
====== Bảng 4 ======
===== Nửa dưới =====
====== Bảng 5 ======
====== Bảng 6 ======
====== Bảng 7 ======
====== Bảng 8 ======
===== Quốc tịch của các vận động viên tham dự =====
===== Ghi chú =====
Tommy Robredo, hạt giống thứ 15, nghỉ khi thi đấu với tay vợt người Pháp Edouard Roger-Vasselin vì chấn thương ở chân
Peter Gojowczyk nghỉ khi thi đấu với tay vợt người Tây Ban Nha Guillermo Garcia-Lopez vì chấn thương ở mắt cá chân
Martin Kližan, hạt giống thứ 32, nghỉ khi thi đấu với tay vợt người Bồ Đào Nha Joao Sousa
Adrian Mannarino nghỉ khi thi đấu với tay vợt người Tây Ban Nha Feliciano Lopez do kiệt sức
=== Đơn nữ ===
==== Hạt giống ====
===== Chung kết =====
===== Nửa trên =====
====== Bảng 1 ======
====== Bảng 2 ======
====== Bảng 3 ======
====== Bảng 4 ======
==== Nửa dưới ====
====== Bảng 5 ======
====== Bảng 6 ======
====== Bảng 7 ======
====== Bảng 8 ======
#gọi: TeamBracket-Tennis
== Tóm tắt các sự kiện ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
lâu đài himeji.txt | Lâu đài Himeji (tiếng Nhật: 姫路城, ひめじじょう, Himejijō) là một tòa thành cổ của Nhật Bản ở thành phố Himeji, tỉnh Hyōgo.
Đây là một trong những kiến trúc cổ nhất còn sót lại ở Nhật Bản, là kiến trúc tiêu biểu cho các thành quách thời cận đại của Nhật Bản. Himeji đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới (văn hóa) vào năm 1993 và di tích lịch sử đặc biệt của Nhật Bản. Nhiều bộ phận khác nhau của thành Himeji đã được công nhận là quốc bảo hoặc di sản văn hóa quan trọng của quốc gia. Thành Himeji cùng với thành Matsumoto và thành Kumamoto hợp thành cái gọi là "Ba tòa thành quý của quốc gia (tiếng Nhật: 三大国宝城, Tam đại quốc bảo thành)". Trong ba thành, thì Himeji nổi tiếng nhất.
Thành Himeji được xây dựng vào năm 1346 bởi Akamatsu Sadanori, một samurai.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Du lịch Nhật Bản
== Tham khảo == |
europi.txt | Europi (tên La tinh: Europium) là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Eu và số nguyên tử bằng 63. Tên gọi của nó có nguồn gốc từ tên gọi của châu Âu trong một số ngôn ngữ phương Tây (Europe, Europa v.v).
== Đặc trưng ==
Europi là hoạt động nhất trong số các nguyên tố đất hiếm; nó bị ôxi hóa nhanh chóng trong không khí, và tương tự như canxi trong phản ứng của nó với nước; các mẫu vật europi trong dạng rắn, ngay cả khi được che phủ bằng một lớp dầu khoáng bảo vệ cũng hiếm khi có bề mặt sáng bóng. Europi tự bắt cháy trong không khí ở khoảng từ 150 tới 180 °C. Nó có độ cứng chỉ khoảng như chì và rất dễ uốn.
== Ứng dụng ==
Có nhiều ứng dụng thương mại của europi kim loại. Nó từng được sử dụng làm chất kích thích cho một số loại thủy tinh để làm laser, cũng như để chiếu chụp cho hội chứng Down và một số bệnh di truyền khác. Do khả năng kỳ diệu của nó trong hấp thụ nơtron, nó cũng được nghiên cứu để sử dụng trong các lò phản ứng hạt nhân. Ôxít europi (Eu2O3) được sử dụng rộng rãi như là chất lân quang màu đỏ trong ống tia âm cực và đèn huỳnh quang, cũng như trong vai trò của chất hoạt hóa cho các chất lân quang trên cơ sở yttri. Trong khi europi hóa trị 3 là chất lân quang màu đỏ thì europi hóa trị 2 là chất lân quang màu xanh lam. Hai lớp chất lân quang europi, kết hợp với các chất lân quang vàng/lục của terbi tạo ra ánh sáng "trắng", nhiệt độ màu của nó có thể dao động bằng cách biến đổi tỷ lệ của các thành phần cụ thể của từng chất lân quang riêng rẽ. Đây là hệ thống lân quang thường bắt gặp trong các bóng đè huỳnh quang xoắn ốc. Kết hợp cùng ba lớp chất lân quang này thành một tạo ra các hệ thống ba màu trong các màn hình tivi và máy tính. Nó cũng được sử dụng như là tác nhân sản xuất thủy tinh huỳnh quang. Sự phát huỳnh quang của europi được sử dụng để theo dõi các tương tác sinh học phân tử trong các chiếu chụp nhằm phát minh dược phẩm. Nó cũng được dùng trong chất lân quang chống làm tiền giả trong các tờ tiền euro.
Europi cũng thường được đưa vào trong các nghiên cứu nguyên tố dấu vết trong địa hóa học và thạch học để hiểu các quá trình hình thành nên đá lửa (các loại đá do macma hay dung nham nguội đi hình thành nên). Bản chất của sự hình thành dị thường europi được sử dụng để hỗ trợ tái tạo các mối quan hệ trong phạm vi một hệ đá lửa.
== Lịch sử ==
Europi lần đầu tiên được Paul Émile Lecoq de Boisbaudran phát hiện năm 1890, khi ông thu được một phần có tính bazơ từ các cô đặc samari-gadolini có các vạch quang phổ không khứp với cả samari lẫn gadolini. Tuy nhiên, phát hiện ra europi nói chung thường được coi là công lao của nhà hóa học người Pháp là Eugène-Anatole Demarçay, người đã nghi ngờ các mẫu của nguyên tố mới phát hiện gần thời gian đó là samari có chứa nguyên tố chưa biết năm 1896 và cũng là người đã cô lập được europi vào năm 1901.
Khi chất lân quang đỏ orthovanadat yttri kích thích bằng europi được phát hiện trong đầu thập niên 1960, và được hiểu như là sẽ làm một cuộc cách mạng trong công nghiệp sản xuất tivi màu thì đã diễn ra một cuộc tranh cướp điên rồ vì nguồn cung europi hạn chế từ các nhà máy xử lý monazit do thông thường hàm lượng europi trong monazit chỉ khoảng 0,05%. Tuy nhiên, Molycorp, với mỏ bastnasit của mình tại Mountain Pass (California), mà trong đó hàm lượng europi là "giàu" hơn, tới 0,1%, đã cung cấp đủ lượng europi để duy trì ngành công nghiệp này. Trước khi có europi, lân quang đỏ của tivi màu là rất yếu và các màu từ các chất lân quang khác buộc phải chặn lại để duy trì sự cân bằng màu. Với lân quang europi đỏ tươi, đã không cần thiết phải ngăn chặn các màu khác và hình ảnh tivi màu tươi hơn là kết quả của nó. Europi vẫn tiếp tục được sử dụng trong công nghiệp sản xuất tivi kể từ đó, và tất nhiên, cũng trong sản xuất màn hình máy tính. Bastnasit ở California hiện nay bị cạnh tranh từ mỏ tại Bayan Obo (Nội Mông, Trung Quốc), với hàm lượng europi thậm chí còn "giàu hơn", tới 0,2%.
F. H. Spedding (1902-1984), trong kỷ niệm về phát triển công nghệ trao đổi ion của ông, một công nghệ đã tạo ra một cuộc cách mạng trong công nghiệp đất hiếm vào giữa thập niên 1950, từng kể lại câu chuyện về việc trong thập niên 1930, khi ông đang giảng về các loại đất hiếm thì một người đàn ông cao tuổi tới gần ông và đề nghị tặng ông vài pao ôxít europi. Điều này là một lượng chưa từng nghe thấy bao giờ vào thời gian đó và Spedding đã không để tâm tới lời đề nghị đó. Tuy nhiên, một gói quà đã được gửi tới theo đường bưu điện và chứa vài pao ôxít europi thật sự. Người đàn ông đứng tuổi đó hóa ra là giáo sư, tiến sĩ Herbert Newby McCoy (1870-1945), người đã phát triển phương pháp tinh chế europi bằng phản ứng ôxi hóa-khử với kẽm.
== Phổ biến ==
Europi không được tìm thấy ở dạng tự do trong thiên nhiên; tuy nhiên có nhiều khoáng vật chứa europi, với các nguồn quan trọng nhất là bastnasit và monazit. Europi cũng được nhận dạng là có trong quang phổ Mặt Trời và một số ngôi sao. Sự suy kiệt hay sự giàu thêm của europi khi so sánh với các nguyên tố đất hiếm khác có trong các khoáng vật được biết đến như là dị thường europi.
Europi hóa trị 2 ở lượng nhỏ đóng vai trò như là chất hoạt hóa sự phát huỳnh quang màu lam tươi của một số mẫu khoáng vật fluorit (diflorua canxi). Các mẫu đáng chú ý nhất của điều này có nguồn gốc xung quanh Weardale và các phần cận kề ở miền bắc Anh và trên thực tế từ tên gọi của loại fluorit này mà người ta có thuật ngữ để chỉ hiện tượng huỳnh quang trong tiếng Anh (George Gabriel Stokes là người nghĩ ra từ fluorescence (huỳnh quang) vào năm 1852 khi miêu tả tính chất của khoáng vật fluorit), mặc dù mãi sau này người ta mới phát hiện ra europi mới là nguyên nhân gây ra hiện tượng đó trong khoáng vật fluorit ở vùng này.
== Hợp chất ==
Trong trạng thái ô xi hóa thịnh hành hơn của mình (+3), europi giống như một kim loại đất hiếm điển hình, tạo ra một loạt các muối nói chung có màu hồng nhạt. Ion Eu3+ là thuận từ do sự hiện diện của các electron không bắt cặp. Europi là nguyên tố dễ được sản xuất nhất và có trạng thái ôxi hóa +2 ổn định nhất trong số các nguyên tố đất hiếm. Các dung dịch Eu3+ có thể bị khử bởi kẽm kim loại và axít clohiđríc thành Eu2+ trong dung dịch; ion này là ổn định trong axít clohiđríc loãng nếu ôxy hay không khí không có mặt. Một loạt các muối của Eu2+ có màu từ trắng tới vàng nhạt hay xanh lục đã được biết đến, chẳng hạn như sulfat, clorua, hydroxit và cacbonat europi (II). Các halua có thể được điều chế bằng cách khử bằng hiđrô đối với các halua hóa trị 3 khan.
Chính trạng thái hóa trị +2 dễ bị tác động của europi làm cho nó trở thành một trong số các nguyên tố nhóm Lantan dễ được tách ra và dễ tinh chế nhất, ngay cả khi nó hiện diện với hàm lượng nhỏ.
Các tính chất hóa học của europi (II) rất giống với các tính chất hóa học của bari, do chúng có bán kính ion gần như nhau. Europi hóa trị +2 là tác nhân khử nhẹ, vì thế trong điều kiện ngoài khí quyển thì các dạng hóa trị +3 là thịnh hành hơn nhưng trong tự nhiên, các hợp chất europi (II) có xu hướng thịnh hành hơn, ngược lại so với phần lớn các nguyên tố nhóm Lantan khác (chủ yếu có các hợp chất với trạng thái ôxi hóa +3) vì trong điều kiện yếm khí, và cụ thể là trong các điều kiện địa nhiệt, thì các dạng hóa trị 2 là đủ ổn định, vì thế nó có xu hướng hợp nhất vào trong các khoáng vật của canxi và các kim loại kiềm thổ khác. Đây chính là nguyên nhân của "dị thường europi âm", làm suy kiệt europi do nó bị hợp nhất vào các khoáng vật thường là chứa các nguyên tố nhẹ trong nhóm Lantan như monazit, có liên quan tới độ phổ biến của chondrit. Bastnasit có xu hướng thể hiện dị thường europi âm ít hơn so với monazit và vì vậy nó mới là nguồn chính cung cấp europi ngày nay.
Một vài hợp chất của europi bao gồm:
Các florua: EuF2, EuF3
Các clorua: EuCl2, EuCl3
Các bromua: EuBr2, EuBr3
Các iodua: EuI2, EuI3
Các ôxít: EuO, Eu2O3 và Eu3O4
Các sulfua: EuS
Các selenua: EuSe
Các telurua: EuTe
Các nitrua: EuN
Xem thêm Hợp chất europi.
== Đồng vị ==
Europi phổ biến trong tự nhiên là hỗn hợp của 2 đồng vị là Eu151 và Eu153, với Eu153 là phổ biến nhất (52,2% độ phổ biến trong tự nhiên). Trong khi Eu153 là ổn định thì Eu151 gần đây được phát hiện là không ổn định với phân rã alpha có chu kỳ bán rã khoảng
5
−
3
+
11
×
10
18
{\displaystyle 5_{-3}^{+11}\times 10^{18}}
năm, phù hợp tương đối hợp lý với các dự đoán lý thuyết. Bên cạnh đồng vị phóng xạ tự nhiên Eu151 còn có 35 đồng vị phóng xạ nhân tạo khác đã được miêu tả, với các đồng vị ổn định nhất là Eu150 có chu kỳ bán rã 36,9 năm, Eu152 có chu kỳ bán rã 13,516 năm và Eu154 có chu kỳ bán rã 8,593 năm. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã dưới 4,7612 năm và phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã dưới 12,2 giây. Nguyên tố này cũng có 8 trạng thái giả ổn định, với ổn định nhất là Eu150m (t½ 12,8 giờ), Eu152m1 (t½ 9,3116 giờ) và Eu152m2 (t½ 96 phút).
Phương thức phân rã chủ yếu trước đồng vị phổ biến nhất, Eu153, là bắt điện tử còn phương thức phân rã chủ yếu sau nó là phân rã beta trừ. Sản phẩm phân rã chủ yếu trước Eu153 là các đồng vị của samari (Sm) còn sản phẩm phân rã chủ yếu sau nó là các đồng vị của gadolini (Gd).
== Sản phẩm phân hạch hạt nhân ==
Europi được sinh ra bằng phân hạch hạt nhân, nhưng hiệu suất sản phẩm phân hạch của các đồng vị europi là thấp gần với đỉnh của khoảng khối lượng cho các sản phẩm phân hạch.
Giống như các nguyên tố khác trong nhóm Lantan, nhiều đồng vị, đặc biệt là các đồng vị với số khối lượng lẻ và các đồng vị nghèo nơtron như Eu152, có tiết diện bắt nơtron cao, thường cao đủ để trở thành các chất độc hạt nhân.
Eu151 là sản phẩm phân rã beta của Sm151, nhưng do nó có chu kỳ bán rã dài và thời gian trung bình ngắn để hấp thụ nơtron, nên phần lớn Sm151 thay vì thế sẽ kết thúc như là Sm152.
Eu152 (chu kỳ bán rã 13,516 năm) và Eu154 (chu kỳ bán rã 8,593 năm) không thể là các sản phẩm của phân rã beta do Sm152 và Sm154 là không phóng xạ, nhưng Eu154 là nuclide "khiên" tuổi thọ cao duy nhất, ngoài Cs134, có hiệu suất phân hạch trên 2,5 ppm các phân hạch. Một lượng lớn hơn của Eu154 sẽ được sinh ra bởi hoạt hóa nơtron của một tỷ lệ đáng kể Eu153 không phóng xạ; tuy nhiên, phần lớn của nó sẽ chuyển hóa tiếp thành Eu155.
Eu155 (chu kỳ bán rã 4,7612 năm) có hiệu suất phân hạch 330 ppm đối với U235 và các nơtron nhiệt. Phần lớn sẽ được biến đổi thành Gd156 không phóng xạ và không hấp thụ vào cuối của chu trình cháy kiệt của nhiên liệu.
Tổng thể, europi bị lu mờ bởi Cs137 và Sr90 như là các nguồn nguy hiểm về bức xạ và bởi samari cùng một số nguyên tố khác như là chất độc nơtron.
== Phòng ngừa ==
Độc tính của các hợp chất europi vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhưng hiện tại không có các chỉ thị rõ ràng rằng europi có độc tính cao khi so sánh với các kim loại nặng khác. Bụi kim loại có nguy hiểm cháy và nổ cao. Europi không đóng một vai trò sinh học nào đã biết.
== Cô lập europi ==
Europi kim loại có sẵn ở quy mô thương mại, vì thế không cần thiết phải điều chế nó trong phòng thí nghiệm, một phần là do nó rất khó để tinh chế thành kim loại nguyên chất. Điều này chủ yếu là do cách thức mà nó được tìm thấy trong tự nhiên, trong đó các nguyên tố nhóm Lantan được tìm thấy trong một loạt các khoáng vật. Quan trọng nhất trong số các khoáng vật chứa các nguyên tố nhóm Lantan là xenotim, monazit và bastnasit. Hai khoáng vật đầu là các khoáng vật orthophotphat LnPO4 (với Ln ở đây là ký hiệu chỉ hỗn hợp tất cả các nguyên tố nhóm Lantan, ngoại trừ promethi là nguyên tố cực hiếm do nó chỉ có các đồng vị phóng xạ) và khoáng vật thứ ba là dạng khoáng vật florua cacbonat LnCO3F. Các nguyên tố nhóm Lantan với số nguyên tử chẵn nói chung là phổ biến hơn. Theo trật tự độ phổ biến giảm dần thì các nguyên tố nhóm Lantan trong các khoáng vật sẽ là xeri, lantan, neodymi, praseodymi. Monazit cũng chứa thori và yttri, điều này làm cho việc xử lý khó khăn hơ do thori và các sản phẩm phân ly của nó có tính phóng xạ.
Đối với nhiều mục đích cụ thể, không cần thiết phải tách riêng các kim loại này, nhưng nếu việc chia tách thành các kim loại riêng rẽ là cần thiết thì quy trình là cực kỳ phức tạp. Ban đầu, các kim loại được chiết tách như là các muối từ quặng bằng chiết tách với axít sulfuric (H2SO4), axít clohiđríc (HCl) và hydroxit natri (NaOH). Các kỹ thuật tinh chế hiện đại cho hỗn hợp các muối nhóm Lantan này là khéo léo và bao gồm các kỹ thuật phức chất hóa chọn lọc, chiết dung môi và phép ghi sắc trao đổi ion.
Europi tinh khiết thu được nhờ điện phân hỗn hợp EuCl3 và NaCl (hay CaCl2) nóng chảy trong các buồng dùng graphit làm anôt còn chúng làm catôt. Phụ phẩm thu được là khí clo. Nó cũng có thể điều chế bằng cách khử ôxít của nó bởi lantan kim loại sau đó chưng cất.
== Tham khảo và ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Europium
WebElements.com – Europium
It's Elemental – Europium |
sông lena.txt | Sông Lena (tiếng Nga: Лена) là một con sông ở miền đông Siberi. Nó là con sông dài thứ 10 trên thế giới, đứng thứ 7 khi tính theo diện tích lưu vực và là con sông dài nhất thế giới hoàn toàn chảy trong vùng băng giá vĩnh cửu. Nói chung, nó chảy trong lãnh thổ Cộng hòa Sakha (Yakutia), một phần các chi lưu của nó chảy trên lãnh thổ các tỉnh Irkutsk và Chita và Cộng hòa Buryatia. Tổng chiều dài của sông Lena là khoảng 4.400 km (2.800 dặm). Lưu vực sông Lena ước đạt 2.500.000 km². Vàng sa khoáng được tìm thấy trong cát của các sông Vitim và Olyokma, còn ngà voi ma mút đã được tìm thấy ở khu vực đồng bằng châu thổ.
== Đặc điểm ==
Bắt nguồn từ một đầm lầy ở độ cao khoảng 1.640 m tại khu vực dãy núi Baikal, miền nam cao nguyên Trung Siberi, khoảng 20 km về phía tây hồ Baikal, sông Lena chảy theo hướng đông bắc, tiếp nhận nước của sông Kirenga và sông Vitim. Phần thượng nguồn sông Lena (tới cửa sông Vitim), nghĩa là khoảng 1/3 chiều dài của nó, nằm trong khu vực miền núi ven hồ Baikal.
Phần trung lưu của nó là đoạn nằm giữa hai cửa sông Vitim và Aldan, dài 1.415 km. Tiếp nhận nước từ sông Vitim, Lena chuyển thành một con sông lớn nhiều nước. Độ sâu đạt tới 10–12 m, lòng sông được mở rộng ra và trong đó xuất hiện nhiều hòn đảo. Các thung lũng triền sông mở rộng tới 20–30 km nhưng không cân đối. Bờ tả ngạn thoai thoải hơn còn bờ hữu ngạn là rìa phía bắc của sơn nguyên Patomskoye thì dốc và cao hơn. Ở cả hai bờ là những cánh rừng cây lá kim dày dặc, chỉ đôi khi bị thay thế bằng đồng cỏ. Từ sông Olyokma tới sông Aldan thì sông Lena không có thêm một chi lưu quan trọng nào. Trên khoảng cách 500 km, sông Lena chảy trong thung lũng sâu và hẹp, bị cắt trong núi đá vôi. Phía dưới làng Pokrovsk diễn ra sự mở rộng đột ngột của thung lũng sông Lena. Dòng chảy chậm lại đáng kể, không ở đâu vượt quá 1,3 m/s, với phần lớn chỉ đạt 0,5-0,7 m/s. Chỉ có các bãi bồi có chiều rộng 5–7 km, đôi chỗ tới 15 km, còn toàn bộ thung lũng có chiều rộng trên 20 km. Từ Yakutsk nó chảy trong khu vực đồng bằng, sau khi tiếp nhận thêm nước từ sông Olyokma và chảy về phía bắc cho đến khi nhận thêm nước từ chi lưu hữu ngạn là sông Aldan.
Phía dưới Yakutsk, sông Lena tiếp nhận nước từ hai chi lưu chính là sông Aldan và sông Viljyi. Đến đây thì nó đã là luồng chảy khổng lồ nhiều nước; thậm chí ở những chỗ chỉ có một lòng sông thì chiều rộng đã lên tới 10 km, độ sâu trên 16–20 m, còn những chỗ có nhiều đảo thì chiều rộng lên tới 20–30 km. Hai bờ sông lạnh giá và gần như không có người ở. Các điểm dân cư cực kỳ thưa thớt.
Ở hạ lưu, lưu vực sông Lena rất hẹp: từ phía đông là các nhánh núi của dãy Verkhoyansk - đường chia nước của sông Lena và sông Yana, còn từ phía tây là vùng đất cao nhỏ bé của cao nguyên Trung Siberi, phân chia lưu vực sông Lena với sông Olenek. Phía dưới làng Bulun, lòng sông bị ép lại bởi các dãy núi Kharaulakh từ phía đông và Chekanov từ phía tây.
Dãy núi Verkhoyansk uốn nó theo hướng tây bắc; và sau khi tiếp nhận thêm nước từ chi lưu tả ngạn quan trọng nhất là sông Viljui thì nó chảy gần như là theo hướng bắc tới biển Laptev, một bộ phận của Bắc Băng Dương, đổ vào phía tây nam của quần đảo NovoSiberi.
Khoảng 150 km từ cửa sông thì bắt đầu vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn của sông Lena. Ở phần bắt đầu của nó là đảo Stolbovoi – phần còn lại của các đảo đã bị nước rửa trôi của dãy Kharaulakh. Châu thổ sông Lena – một trong những đồng bằng châu thổ lớn nhất trên thế giới – với kích thước còn lớn hơn cả vùng đồng bằng châu thổ sông Nin, với diện tích khoảng 30.000 km². Tại đây có vô số các đảo lớn nhỏ, sông nhánh và hồ, ở cao độ thấp và bị ngập úng về mùa lũ, không ngừng thay đổi hình dạng. Chỉ có ba nhánh sông chính đổ ra tới biển mà không bị cắt ngang là: xa nhất về phía tây là sông Olenek, giữa: sông Trofimov và xa nhất về phía đông là sông Bykov. Tất cả các nhánh sông này đều thuận lợi cho giao thông thủy, nhưng có ý nghĩa nhất là Bykov dài 130 km, mà theo đó tàu thuyền có thể đi tới vịnh Tiksi, trên bờ của nó là cảng biển của Yakutia – cảng Tiksi.
Hai bờ sông Lena có dân cư rất thưa thớt. Từ điểm dân cư này tới điểm dân cư khác là khoảng cách hàng trăm kilômét rừng taiga, và chỉ gần Yakutsk thì người ta mới thâys có sự sống của loài người: các điểm dân cư đông đúc hơn, trên sông là các loại tàu thuyền gắn máy, sà lan cũng như các tàu khách lớn. Con sông này là tuyến vận chuyển đường thủy chính của Yakutia, điểm bắt đầu vận tải thủy trên sông Lena có thể coi là bến tàu Kachuga, nhưng cho tới tận bến tàu Osetrov thì chỉ có các tàu thuyền nhỏ, còn chỉ sau bến tàu này thì mới có thể coi là đường thủy thật sự ra đại dương.
Các nguồn nước nuôi dưỡng chính của sông Lena và các chi lưu của nó là tuyết tan và nước mưa. Do băng giá vĩnh cửu nên nguồn nước ngầm là rất hạn chế. Chế độ thủy văn chung của sông Lena là lũ băng mùa xuân, một vài trận lũ lớn về mùa hè và mực nước thấp về mùa thu-đông. Hiện tượng băng trôi mùa xuân thường kèm với ùn tắc băng. Sông Lena bị đóng băng theo trình tự từ hạ lưu tới thượng nguồn.
Một số lớn các nhà nghiên cứu cho rằng tên gọi sông Lena có nguồn gốc từ tên gọi trong tiếng Evenk Elyu-Ene, nghĩa là "sông lớn".
== Linh tinh ==
Người ta cho rằng Vladimir Ilyich Ulyanov lấy bí danh của mình (Lenin) từ tên sông Lena. Một giả thuyết cho rằng điều này xảy ra sau các sự kiện dẫn tới thảm sát mỏ vàng Lena đối với những người lao động, được quân đội Đế quốc Nga tiến hành vào tháng 4 năm 1912, mặc dù bí danh này có trước khi diễn ra vụ việc đó. Một giả thuyết khác cho rằng việc chọn bí danh này là do hiềm khích cá nhân giữa ông với G. V. Plekhanov, người tự gọi mình là Volgin theo tên gọi của sông Volga. Sông Lena là mạnh hơn và chảy theo hướng ngược lại với sông Volga. Điều này dường như là sự lựa chọn của Ulyanov, tuy nhiên, khi ông sử dụng tên gọi Lenin thì vẫn chưa có mâu thuẫn với Plekhanov.
== Tham khảo ==
Trang của NASA Earth Observatory về ngập lụt tại lưu vực sông Lena
Thông tin và bản đồ lưu vực sông Lena
Student Partners Project – nghiên cứukhoa học của sinh viên dọc theo sông Lena |
đồ họa độ phân giải màn hình.txt | Đồ họa độ phân giải màn hình hiển thị là chiều rộng và chiều cao kích thước của một hình ảnh hiển thị trên thiết bị điện tử, chẳng hạn như một màn hình máy tính theo điểm ảnh. Một số kết hợp của chiều rộng và chiều cao được tiêu chuẩn hóa và thường được cho một tên và một chữ viết tắt có thể mô tả kích thước của nó. Một màn hình hiển thị độ phân giải cao hơn so sánh với một màn hình hiển thị của các phương tiện có kích thước tương tự thì sẽ hiển thị nội dung xuất hiện sắc nét hơn.
== Tổng quan bởi độ phân giải dọc và tỉ lệ ==
== Tỉ lệ khía cạnh ==
Sự thay đổi dần dần của các tỉ lệ ưa thích các sản phẩm ngành công nghiệp màn hình thị trường đại chúng, từ 4: 3, sau đó đến 16:10, và sau đó để 16: 9, và bây giờ 21: 9 đã thực hiện rất nhiều các độ phân giải màn liệt kê trong bài viết này khó để có được sản phẩm trong thị trường đại chúng. 4: 3 tỉ lệ thường phản ánh các sản phẩm cũ, đặc biệt là thời đại của ống tia cathode (CRT). Tỷ lệ 16:10 có sử dụng lớn nhất của nó trong giai đoạn 1995-2010, và tỉ lệ 16: 9 có xu hướng phản ánh hiện tại (sau 2010) màn hình máy tính của thị trường đại chúng, laptop, vui chơi giải trí và các sản phẩm màn hình. Trong nhiều trường hợp, các nghị quyết được liệt kê trong các phần dưới đây có thể có một thị trường nhỏ, chỉ có thể được nhìn thấy trong các sản phẩm chuyên ngành thị trường công nghiệp hoặc máy tính, hoặc có thể không có sẵn để bán.
4: 3 tỉ lệ đã được phổ biến trong ống tia cathode truyền hình cũ (CRT) màn hình, mà không phải là dễ dàng thích nghi với một tỷ lệ khía cạnh rộng lớn hơn. Khi công nghệ thay thế chất lượng tốt (ví dụ, màn hình tinh thể lỏng (LCD) và màn hình plasma) trở nên sẵn có hơn và ít tốn kém hơn, vào khoảng năm 2000, màn hình máy tính phổ biến và các sản phẩm giải trí di chuyển đến một tỷ lệ khía cạnh rộng hơn, đầu tiên đến 16:10 tỷ lệ. Tỷ lệ 16:10 cho phép một số thỏa hiệp giữa việc hiển thị cũ 4: 3 khía cạnh tỷ lệ phát sóng chương trình truyền hình, mà còn cho phép xem tốt hơn của phim màn ảnh rộng. Tuy nhiên, vào khoảng năm 2005, màn hình công nghiệp giải trí (ví dụ, bộ TV) dần dần chuyển từ 16:10 đến 16: Tỷ lệ khung 9, hoàn thiện hơn nữa của việc xem phim màn ảnh rộng. Đến khoảng năm 2007, hầu như tất cả các thị trường đại chúng giải trí màn hình là 16: 9. Trong năm 2011, 1920x1080 (Full HD, độ phân giải gốc của đĩa Blu-ray) là độ phân giải màn hình được ưa chuộng trong thị trường giải trí trên thị trường nhiều nhất. Các tiêu chuẩn tiếp theo, 3840x2160 (Ultra HD 4K alias) nổi lên trong năm 2013, nhưng những bộ phim và đài truyền hình không hỗ trợ độ phân giải nào. Cũng trong năm 2013, với màn hình 2560x1080 (tỉ lệ 64:27 hoặc 2.37: 1, tuy nhiên thường được gọi là "21: 9" để so sánh với 16: 9) xuất hiện, trong đó gần sát với các chung máy chụp ảnh phim tỉ lệ tiêu chuẩn của 2.35- 2.40: 1. Trong năm 2014, "21: 9" màn hình với các điểm ảnh kích thước 3440x1440 (tỷ lệ khía cạnh thực tế 43:18 hoặc 2.39: 1) trở thành có sẵn.
Các ngành công nghiệp màn hình máy tính duy trì tỷ lệ 16:10 dài hơn ngành công nghiệp giải trí, nhưng trong giai đoạn 2005-2010, các máy tính ngày càng được thị trường như là các sản phẩm sử dụng kép, với mục đích sử dụng trong các ứng dụng máy tính truyền thống, mà còn là phương tiện để xem nội dung giải trí. Trong khoảng thời gian này, với ngoại lệ đáng chú ý của Apple, gần như tất cả các nhà sản xuất máy tính để bàn, máy tính xách tay, màn hình và dần dần chuyển sang thúc đẩy chỉ 16: 9 tỉ lệ màn hình. Đến năm 2011, tỷ lệ 16:10 hầu như biến mất khỏi thị trường màn hình máy tính xách tay Windows (mặc dù máy tính xách tay Macintosh vẫn chủ yếu là 16:10, trong đó có các 2880x1800 Retina MacBook Pro). Một vật là các nghị quyết cao nhất hiện có chuyển xuống trong khung thời gian (ví dụ, việc di chuyển từ màn hình máy tính xách tay để 1920x1200 1920x1080 màn hình).
== Chuỗi đồ họa màn hình ==
=== QQVGA (160x120) ===
Quarter-QVGA (QQVGA hoặc qqVGA) biểu thị độ phân giải 160x120 hoặc 120x160 điểm ảnh, thường được sử dụng trong màn hình của thiết bị cầm tay. Thuật ngữ Quarter-QVGA nghĩa là một độ phân giải của một phần tư số lượng điểm ảnh trong một QVGA hiển thị (một nửa số dọc và một nửa số lượng điểm ảnh theo chiều ngang) mà bản thân nó có một phần tư số lượng điểm ảnh trong một đồ họa hiển thị.
Các chữ viết tắt qqVGA có thể được phân biệt với quarter từ quad, giống như qVGA.
=== HQVGA (240x160) ===
Half-QVGA biểu thị một màn hình hiển thị độ phân giải 240x160 hoặc 160x240 điểm ảnh, như đã thấy trên Game Boy Advance. Độ phân giải này là một nửa của QVGA, mà là chính nó một phần tư của VGA, đó là độ phân giải 640x480 pixel.
=== QVGA (320x240) ===
Quarter Video Graphics Array (còn được gọi là Quarter VGA, QVGA, hoặc qVGA) là một thuật ngữ phổ biến cho một màn hình máy tính với độ phân giải hiển thị là 320x240. Màn hình QVGA được sử dụng thường xuyên nhất trong điện thoại di động, trợ lý kỹ thuật số cá nhân (PDA), và một số trò chơi cầm tay.
Cái tên có từ quarter có độ phân giải tối đa là 640x480 đó là của công nghệ hiển thị IBM VGA đã trở thành tiêu chuẩn vào những năm 1980. QVGA không phải là một chế độ tiêu chuẩn được cung cấp bởi các BIOS VGA, mặc dù VGA và tương thích chipset hỗ trợ QVGA kích thước Chế độ X. Thuật ngữ này dùng để chỉ độ phân giải của màn hình QVGA và do đó các thuật ngữ viết tắt hoặc Quarter VGA là thích hợp hơn để sử dụng.
QĐộ phân giải QVGA cũng được sử dụng trong video kỹ thuật số thiết bị ghi âm như một chế độ có độ phân giải thấp đòi hỏi dung lượng lưu trữ dữ liệu ít hơn so với độ phân giải cao hơn, thông thường trong vẫn máy ảnh kỹ thuật số với khả năng quay video, và một số điện thoại di động. Mỗi hình ảnh là một hình ảnh 320x240 pixel. QVGA video thường được ghi nhận tại 15 hoặc 30 khung hình mỗi giây. Chế độ QVGA mô tả kích thước của một hình ảnh theo pixel, thường được gọi là độ phân giải; nhiều định dạng file video hỗ trợ độ phân giải này.
Trong khi QVGA là thấp hơn độ phân giải VGA hơn, ở độ phân giải cao hơn các "Q" tiêu chuẩn thường có nghĩa là quad(ruple) hoặc cao hơn bốn lần độ phân giải màn hình (e.g., QXGA là độ phân giải gấp 4 lần cao hơn so với XGA). Để phân biệt quarter đến quad, chữ thường "q" đôi khi được sử dụng cho "quarter" và chữ hoa "Q" của "quad", tương tự như với SI như m/M và p/P, nhưng điều này không phải là một cách sử dụng phù hợp.
Một số ví dụ về các thiết bị sử dụng độ phân giải màn hình hiển thị QVGA bao gồm, Samsung i5500, LG Optimus L3-E400, Galaxy Fit, Y và Pocket, HTC Wildfire, Sony Ericsson Xperia X10 Mini và mini pro và Nintendo 3DS phía dưới màn hình.
=== WQVGA (400x240) ===
Wide QVGA hoặc WQVGA là bất kỳ độ phân giải màn hình hiển thị có chiều cao tương tự trong các điểm ảnh của màn hình QVGA, nhưng rộng hơn. Định nghĩa này là phù hợp với các phiên bản khác 'rộng' của màn hình máy tính.
Kể từ QVGA là 320 pixels rộng và 240 pixels cao (tỉ lệ 4: 3), độ phân giải của màn hình WQVGA có thể là 360x240 (3: 2 tỉ lệ), 384x240 (tỷ lệ 16:10), 400x240 (5: 3 - như Nintendo 3DS hay màn hình độ phân giải tối đa trong YouTube ở 240p), 428x240 hoặc 432x240 (~ 16: 9). Như với WVGA, tỷ lệ chính xác của n: 9 là không thực tế vì các bộ điều khiển VGA đường nội bộ đối phó với các điểm ảnh. Ví dụ, khi sử dụng các hoạt động tổ hợp đồ họa trên các pixel, bộ điều khiển VGA sẽ sử dụng 1 bit cho mỗi pixel. Kể từ khi bit không thể được truy cập cá nhân nhưng do khối 16 hoặc một sức mạnh còn cao hơn 2, điều này hạn chế độ phân giải ngang với một granularity 16-pixel, tức là, độ phân giải ngang phải chia hết cho 16. Trong trường hợp 16: 9, với 240 điểm ảnh cao, độ phân giải ngang nên 240/9 × 16 = 426. 6, các nhiều gần gũi nhất của 16 là 432.
WQVGA cũng đã được sử dụng để mô tả màn hình mà không phải là 240 điểm ảnh cao, ví dụ XVI HD1080 màn hình là 480 pixels và 270 hoặc 272 điểm ảnh cao. Điều này có thể là do QVGA có độ cao màn hình gần nhất.
Độ phân giải WQVGA thường được sử dụng trong màn hình cảm ứng điện thoại di động, chẳng hạn như 400x240, 432x240, 480x240 và. Ví dụ, Sony Ericsson Aino và Samsung Instinct cả hai đều có độ phân giải màn hình WQVGA - 240x432. Các thiết bị khác như Apple iPod Nano cũng sử dụng một màn hình WQVGA, 240x376 pixels.
=== HVGA (480x320) ===
HVGA (Half-size VGA) màn hình có 480x320 pixel (tỉ lệ 3: 2 khía cạnh), 480x360 pixel (tỷ lệ 4: 3 khía cạnh), 480x272 (~ 16: 9 khía cạnh) hoặc 640x240 pixels (8: Tỷ lệ 3 khía cạnh). Các cựu được sử dụng bởi một loạt các PDA thiết bị, bắt đầu với Sony Clie PEG-NR70 vào năm 2002, và PDA độc bởi Palm. Sau này đã được sử dụng bởi một loạt các máy tính cầm tay thiết bị. Độ phân giải VGA là 640x480.
Ví dụ về các thiết bị sử dụng HVGA bao gồm Apple iPhone 2G-3GS; BlackBerry Bold 9000; HTC Dream, Hero, Wildfire S; LG GW620 Eve, MyTouch 3G slide; Nokia 6260 slide; Palm Pre; Samsung M900 Moment; Sony Ericsson Xperia X8, Mini, Mini Pro, Activity và Live.
Texas Instruments sản xuất DLP chiếu pico mà hỗ trợ độ phân giải HVGA
HVGA là độ phân giải chỉ được hỗ trợ trong phiên bản đầu tiên của Google Android, lập để phát hành 1.5. độ phân giải cao hơn và thấp hơn khác là bây giờ đã có bắt đầu từ ngày phát hành 1.6, như phổ biến WVGA độ phân giải trên Droid Motorola hoặc QVGA độ phân giải trên HTC Tattoo.
Đồ họa vi tính ba chiều phổ biến trên truyền hình trong suốt những năm 1980 đã được chủ yếu là render ở độ phân giải này, khiến các vật thể có cạnh sắc nhọn trên đỉnh và dưới cùng khi cạnh không chống aliased.
=== VGA (640x480) ===
Video Graphics Array (VGA)đề cập cụ thể đến các phần cứng hiển thị đầu tiên được giới thiệu với IBM PS / 2 dòng máy tính vào năm 1987,, nhưng thông qua việc áp dụng rộng rãi của nó cũng đã đến với nghĩa là một analog tiêu chuẩn màn hình máy tính, 15-pin D-subminiature nối VGA hoặc 640x480 độ phân giải bản thân. Trong khi nghị quyết này đã được thay thế trong các máy tính cá nhân của thị trường trong những năm 1990, nó đã trở thành một giải pháp phổ biến trên các thiết bị di động trong những năm 2000. VGA vẫn là chế độ xử lý sự cố dự phòng phổ quát trong trường hợp rắc rối với trình điều khiển thiết bị đồ họa trong hệ điều hành.
=== WVGA (768x480) ===
Wide VGA hoặc WVGA, đôi khi chỉ WGA, một từ viết tắt cho VGA mở rộnglà bất kỳ độ phân giải màn hình hiển thị với cùng chiều cao 480 pixel như VGA nhưng rộng hơn, chẳng hạn như 720x480 (3: 2 khía cạnh), 800x480 (tỉ lệ 5: 3), 848x480, 852x480, 853x480 hoặc 854x480 (~ 16: 9). Nó là một giải pháp phổ biến trong máy chiếu LCD và các thiết bị di động và sau đó cầm tay internet cho phép (như MID và netbook) vì nó có khả năng render các trang web được thiết kế cho một cửa sổ rộng 800 đầy đủ trang rộng. Ví dụ về các thiết bị Internet cầm tay, không có khả năng điện thoại, với độ phân giải này bao gồm: Spice nhance sao mi-435, ASUS Eee PC 700 series, Dell XCD35, Nokia 770, N800 và N810.
Điện thoại di động với độ phân giải màn hình WVGA cũng phổ biến. Một danh sách các điện thoại di động với màn hình WVGA có sẵn.
=== FWVGA (854x480) ===
FWVGA là một từ viết tắt của Full Wide Video Graphics Array trong đó đề cập đến một độ phân giải màn hình 854x480 pixel của. 854x480 là khoảng 16: 9 tỉ lệ khía cạnh của anamorphically "un-vắt" widescreen video NTSC DVD và được coi là "an toàn" độ phân giải mà không cắt bất cứ hình ảnh. Nó được gọi là Full WVGA để phân biệt nó từ khác, độ phân giải WVGA hẹp mà đòi hỏi phải cắt 16: 9 aspect ratio video độ nét cao (tức là nó là đầy đủ chiều rộng, mặc dù có đáng kể giảm kích thước).
Chiều rộng 854 pixel được làm tròn lên từ 853. 3. 480 × 16 / 9 = 7680 / 9 = 853 1 / 3. Từ một điểm ảnh phải là một số nguyên, làm tròn lên đến 854 đảm bảo bao gồm của toàn bộ hình ảnh. Do các thiết bị vật lý thường được sản xuất với độ phân giải pixel đó là bội số của 16, độ phân giải ngang 854 có thể được thực hiện bởi hệ điều hành chỉ đơn giản là giả vờ 10 cột edgemost, từ chiều rộng vật lý đầy đủ của 864, không tồn tại.
Trong năm 2010, điện thoại di động với độ phân giải FWVGA bắt đầu trở nên phổ biến hơn. Một danh sách các điện thoại di động với màn hình FWVGA có sẵn. Ngoài ra, các gamepad Wii U mà đi kèm với Nintendo Wii U chơi game console bao gồm một màn hình hiển thị 6,2 inch FWVGA.
=== SVGA (800x600) ===
Super Video Graphics Array, viết tắt là Super VGA hoặc SVGA, còn được gọi là Ultra Video Graphics Array, viết tắt là Ultra VGA hoặc UVGA, là một khái niệm rộng bao gồm một loạt các tiêu chuẩn màn hình máy tính
Ban đầu, nó là một phần mở rộng cho VGA tiêu chuẩn đầu tiên phát hành bởi IBM vào năm 1987. Không giống như VGA - một tiêu chuẩn hoàn toàn IBM định nghĩa - Super VGA được xác định bởi Hiệp hội tiêu chuẩn điện tử video (VESA), một tập đoàn mở thiết lập để thúc đẩy khả năng tương tác và xác định các tiêu chuẩn. Khi được sử dụng như một thông số độ phân giải, trái ngược với VGA hoặc XGA ví dụ, hạn SVGA thường dùng để chỉ độ phân giải 800x600 pixel.
Các độ phân giải 832x624 tăng cao hơn là cao nhất là 4: 3 độ phân giải không lớn hơn 2 19 pixels, với chiều ngang của nó là bội số của 32 pixels. Điều này cho phép nó để phù hợp trong một bộ đệm khung 512 KB (512 × 2 10 byte), và bội số chung của 32 pixels ràng buộc liên quan đến liên kết. Vì những lý do độ phân giải này đã có sẵn trên Macintosh LC III và các hệ thống khác.
=== DVGA (960x640) ===
DVGA (Double-size VGA) màn hình có 960x640 pixel (tỉ lệ 3: 2 khía cạnh). Cả hai kích thước là gấp đôi của HVGA, do đó số điểm ảnh được tăng gấp bốn lần.
Ví dụ về các thiết bị sử dụng DVGA bao gồm các Meizu MX điện thoại di động và Apple iPhone 4 / 4S, khi màn hình được gọi là "Retina Display".
=== WSVGA (1024x576/600) ===
Các phiên bản rộng của SVGA được biết đến như WSVGA (Wide Super VGA), đặc trưng trên các máy tính siêu di động, netbook, và máy tính bảng. Độ phân giải là 1024x576 hoặc (tỉ lệ 16: 9) hoặc 1024x600 (từ 15: 9 và 16: 9) với kích thước màn hình khác nhau, thông thường 7-10 inches.
== Chuỗi đồ họa tăng cường, mở rộng ==
=== XGA (1024x768) ===
XGA, các chuỗi đồ họa mở rộng, là một tiêu chuẩn IBM giới thiệu vào năm 1990. Sau đó nó đã trở thành tên gọi phổ biến nhất của độ phân giải màn hình hiển thị 1024x768 pixel, nhưng định nghĩa chính thức là khái niệm rộng hơn. Đó không phải là một sự thay thế mới và cải tiến cho Super VGA, mà là trở thành một tập hợp con đặc biệt của loạt khả năng được đề cập trong "Super VGA"
Phiên bản ban đầu của XGA (và người tiền nhiệm của nó, là IBM 8514) mở rộng khi IBM cũ VGA bằng cách thêm hỗ trợ cho bốn chế độ màn hình mới (ba, cho 8514), trong đó có một nghị quyết mới:
6640x480 pixels trong toàn 16 bit-per-pixel (65.536 màu) RGB hi-màu (chỉ XGA, với 1 MB bộ nhớ video tùy chọn) và 8 bpp (256 màu) bảng chế độ -indexed.
1024x768 pixel với 16 hay 256 màu (4 hoặc 8 bpp) bảng, sử dụng một tần số thấp xen kẽ tốc độ làm tươi (một lần nữa, các chế độ 8 bpp cao hơn yêu cầu 1 MB VRAM).
Giống như 8514, XGA cung cấp cố định chức năng tăng tốc phần cứng để giảm tải xử lý các nhiệm vụ vẽ 2D. Cả hai adapter cho phép giảm tải của đường vẽ, bitmap-copy (bitblt), và màu sắc lấp các hoạt động từ các máy chủ CPU. Tăng tốc XGA là nhanh hơn so với của 8514, và toàn diện hơn, hỗ trợ nhiều hơn nguyên thủy vẽ, VGA-res chế độ hi-màu sắc, linh hoạt "bàn chải" và "mặt nạ" chế độ, bộ nhớ hệ thống giải quyết các chức năng, và một sprite phần cứng đơn giản duy nhất thường được sử dụng để cung cấp một CPU thấp con trỏ chuột tải. Nó cũng có khả năng chức năng hoàn toàn độc lập, vì nó kết hợp hỗ trợ cho tất cả các chức năng hiện có và chế độ VGA - 8514 của bản thân là một đơn giản thêm vào bộ chuyển đổi mà yêu cầu một VGA riêng biệt để có mặt. Cần lưu ý rằng, khi họ đã được thiết kế để sử dụng với phạm vi riêng của IBM của màn hình cố định tần số, bộ chuyển đổi không được cung cấp hỗ trợ cho 800x600 SVGA chế độ.
XGA-2 thêm một 24-bit DAC, nhưng điều này chỉ được sử dụng để mở rộng bảng màu tổng thể có sẵn trong chế độ 256 màu, ví dụ như cho phép thực ra 256-tông màu xám thay vì 64 mức xám trước đây; vẫn không có trực tiếp TrueColor chế độ mặc dù các bộ chuyển đổi có tính năng mặc định trên máy bay đủ VRAM (1 MB) để hỗ trợ nó. Các cải tiến khác bao gồm cung cấp độ phân giải 800x600 mất tích trước đó (sử dụng một SVGA hoặc màn hình MultiSync) trong lên đến 65.536 màu, tốc độ làm tươi màn hình nhanh hơn trong tất cả các chế độ (bao gồm cả phi-interlace, sản lượng flicker-free cho 1024x768), và cải thiện hiệu suất và tăng tốc tính linh hoạt.
IBM cấp phép công nghệ XGA và kiến trúc nhất định để các nhà phát triển phần cứng của bên thứ ba, và các chế độ đặc trưng của nó (mặc dù không nhất thiết phải là chức năng gia tốc, cũng như giao diện dữ liệu bus MCA) đã được bắt chước bởi nhiều người khác. Các máy gia tốc thường không bị các giới hạn trên cùng một độ phân giải có sẵn và tốc độ làm tươi, và đặc trưng chế độ tiêu chuẩn hiện giờ khác như 800x600 (và 1280x1024) ở độ sâu màu khác nhau (lên đến 24 bpp TrueColor) và xen kẽ, không xen kẽ và flicker- tỷ lệ làm mới miễn phí ngay cả trước khi phát hành của XGA-2.
Tất cả các chế độ XGA tiêu chuẩn có 4: 3 tỉ lệ với các pixel vuông, mặc dù điều này là không đúng với chế độ tiêu chuẩn nhất định và VGA của bên thứ ba mở rộng (640x400, 1280x1024).
XGA không nên nhầm lẫn với EVGA (Extended Video Graphics Array), một đương thời VESA tiêu chuẩn mà còn có độ phân giải 1024x768 pixels. Nó cũng không nên nhầm lẫn với các mở rộng Graphics adapter, thiết bị ngoại vi cho máy tính IBM 3270 mà cũng có thể được gọi là XGA.
=== WXGA (1366x768 và tương tự) ===
Wide Extended Graphics Array (Wide XGA hoặc WXGA) là một tập hợp các phi tiêu chuẩn độ phân giải màn hình bắt nguồn từ XGA chuẩn hiển thị bằng cách mở rộng nó vào một màn hình rộng tỉ lệ. WXGA thường được sử dụng cho low-end TV LCD và màn hình máy tính LCD để trình bày màn hình rộng. Độ phân giải chính xác được cung cấp bởi một thiết bị mô tả là "WXGA" có thể hơi biến do sự phổ biến của một số tiêu chuẩn có liên quan chặt chẽ tối ưu hóa cho sử dụng khác nhau và có nguồn gốc từ các căn cứ khác nhau.
==== 1366x768 (Còn được gọi là WXGA) ====
Khi đề cập đến TV và màn hình khác dành cho giải trí của người tiêu dùng sử dụng, WXGA thường được hiểu để đề cập đến một độ phân giải 1366x768, với một tỉ lệ rất gần 16: 9. Cơ sở cho độ phân giải này nếu không lẻ dường như là tương tự như của các "rộng" tiêu chuẩn - các dòng quét (refresh) tỷ lệ thành lập cũng chuẩn "XGA" (1024x768 pixels, 4: 3 khía cạnh) mở rộng để cung cấp cho các điểm ảnh vuông trên ngày càng phổ biến 16: 9 hiển thị màn ảnh rộng mà không cần phải thực truyền tín hiệu chính thay đổi khác hơn là một đồng hồ điểm ảnh nhanh hơn, hoặc sản xuất thay đổi khác hơn là mở rộng chiều rộng bảng điều khiển bằng 1/3. Như 768 không phân chia chính xác thành 9, tỷ lệ khía cạnh không phải là khá 16: 9 - điều này sẽ đòi hỏi một độ rộng ngang của 1.365,33 điểm ảnh. Tuy nhiên, chỉ ở mức 0,05%, sai kết quả là không đáng kể.
Năm 2006, giải 1366x768 là độ phân giải phổ biến nhất đối với TV màn hình tinh thể lỏng (so với XGA cho Plasma TV màn hình phẳng; vào năm 2013, ngay cả điều này đã xuống hạng chỉ được sử dụng trong màn hình nhỏ hơn hoặc rẻ hơn (ví dụ như "phòng ngủ" LCD TV, hoặc với chi phí thấp, lớn định dạng plasma), máy tính xách tay và máy tính bảng di động rẻ hơn, và tầm trung chiếu phim gia đình, nếu không đã bị vượt qua bởi "full HD" độ phân giải cao như 1920x1080.
==== 1360x768 ====
Một biến thể phổ biến trên độ phân giải này là 1360x768, mà ban một số lợi ích kỹ thuật, đáng kể nhất là việc giảm yêu cầu bộ nhớ từ chỉ hơn để chỉ dưới 1 MB cho mỗi kênh 8-bit (1366x768 cần 1024,5 KB cho mỗi kênh; 1360x768 nhu cầu 1020 KB, 1 MB bằng 1024 KB), mà đơn giản hóa kiến trúc và có thể làm giảm đáng kể số lượng - và tốc độ - VRAM yêu cầu với chỉ một sự thay đổi rất nhỏ trong độ phân giải có sẵn, như chip nhớ thường chỉ có dung lượng megabyte cố định. Ví dụ, tại 32-bit màu, một bộ đệm khung 1360x768 sẽ yêu cầu chỉ có 4 MB, trong khi một 1366x768 ta có thể cần 5, 6 hoặc thậm chí 8 MB phụ thuộc vào kiến trúc hiển thị mạch chính xác và năng lực con chip có sẵn. Việc giảm 6 điểm ảnh cũng có nghĩa là chiều rộng của mỗi dòng là chia hết cho 8 pixels, đơn giản hóa rất nhiều thói quen sử dụng trong cả hai máy tính và phát sóng / sân khấu xử lý video, hoạt động trên các khối 8-pixel. Trong lịch sử, nhiều card video cũng đã quy định độ rộng màn hình chia hết cho 8 cho màu của họ thấp hơn, chế độ hai chiều để tăng tốc truy cập bộ nhớ và đơn giản hóa các tính toán vị trí điểm ảnh (ví dụ: lấy 4-bit điểm ảnh từ bộ nhớ 32-bit là nhanh hơn nhiều khi thực hiện 8 pixels thời gian, và tính toán chính xác nơi một điểm ảnh đặc biệt là trong một khối bộ nhớ là dễ dàng hơn nhiều khi dòng không kết thúc partway qua một từ bộ nhớ), và quy ước này vẫn tiếp tục tồn tại phần cứng cấp thấp thậm chí vào những ngày đầu của màn ảnh rộng, HDTV LCD; do đó, hầu hết các màn 1366 chiều rộng cũng lặng lẽ hỗ trợ hiển thị các tài liệu năm 1360 chiều rộng, với một đường viền mỏng cột không sử dụng điểm ảnh ở mỗi bên. Chế độ hẹp ở đây là khóa học hơn nữa lấy ra từ 16: 9 lý tưởng, nhưng lỗi vẫn còn ít hơn 0,5% (về mặt kỹ thuật, chế độ là một trong hai 15.94: 9.00 hay 16.00: 9,04) và cần được cảm nhận thấy.
==== 1280x800 ====
Khi đề cập đến màn hình máy tính xách tay hoặc màn hình máy chiếu độc lập và thiết kế chủ yếu để sử dụng với máy tính, WXGA cũng được sử dụng để mô tả độ phân giải 1280x800 pixel, với một tỉ lệ16:10. Điều này đã được một lần đặc biệt phổ biến cho màn hình máy tính xách tay, thường là với một màn hình kích thước đường chéo của giữa 12 và 15 inch, vì nó cung cấp một sự thỏa hiệp hữu ích giữa 4: 3 XGA và 16: 9 WXGA, với cải thiện độ phân giải ở cả hai chiều so với tiêu chuẩn cũ (đặc biệt hữu ích trong chế độ chân dung, hoặc để trưng bày hai trang tiêu chuẩn của văn bản side-by-side), xuất hiện rõ rệt là "rộng" và khả năng hiển thị video HD 720p "bản địa" với chỉ viền letterbox rất mỏng (có thể sử dụng để điều khiển phát lại trên màn hình) và không bị kéo giãn. Ngoài ra, như 1360x768, nó đòi hỏi có 1.000 KB (chỉ dưới 1 MB) bộ nhớ cho mỗi kênh 8-bit; do đó, một màn hình màu 32-bit đôi đệm điển hình có thể phù hợp trong 8 MB, hạn chế nhu cầu hàng ngày về sự phức tạp (và chi phí, sử dụng năng lượng) của chipset đồ họa tích hợp và sử dụng chia sẻ của họ về bộ nhớ hệ thống thường thưa thớt (thường được ấn định cho video hệ thống trong các khối tương đối lớn), ít nhất là khi chỉ có màn hình hiển thị nội bộ đã được sử dụng (màn hình bên ngoài thường được hỗ trợ trong "máy tính để bàn mở rộng" chế độ để ít nhất là độ phân giải 1600x1200). 16:10 (hoặc 8: 5) là chính nó khá "cổ điển" tỉ lệ máy tính, harking lại tất cả các cách để chế độ ban đầu 320x200 (và các dẫn xuất của họ) như ở các Commodore 64, IBM CGA thẻ và những người khác. Tuy nhiên, tính đến giữa năm 2013, tiêu chuẩn này ngày càng trở nên hiếm hoi, lấn lướt hơn và do đó tiêu chuẩn hóa kinh tế-to-sản xuất 1366x768 bảng, như tính năng trước đây có lợi của nó trở nên ít quan trọng với những cải tiến phần cứng, mất dần phần mềm ngược tổng quát hơn khả năng tương thích, và những thay đổi trong giao diện bố trí. Tính đến tháng 8 năm 2013, các thị trường sẵn có của tấm gỗ với độ phân giải 1280x800 chúng đã từng được chuyển xuống chiếu dữ liệu hoặc sản phẩm thích hợp chẳng hạn như máy tính bảng chuyển đổi và đọc sách điện tử dựa trên LCD.
==== Khác ====
Ngoài ra, hai độ phân giải khác đôi khi được gắn nhãn là WXGA:
Đầu tiên, các HDTV có tính tiêu chuẩn 1280x720 (nếu không thường được mô tả như " 720p "), trong đó cung cấp một chính xác 16: 9 với điểm ảnh vuông; tự nhiên, nó sẽ hiển thị các tài liệu video chuẩn 720p HD mà không kéo dài hoặc letterboxing và 1080i / 1080p với một đơn giản 2: 3 downscale. Nghị quyết này đã tìm thấy một số sử dụng trong máy tính bảng và hiện đại,-pixel mật độ cao điện thoại di động, cũng như các định dạng nhỏ "netbook" hay "siêu nhẹ" (không phải "Ultrabook") máy tính xách tay. Tuy nhiên, việc sử dụng nó là không phổ biến trong lớn hơn, các thiết bị chủ đạo vì nó có độ phân giải dọc không đủ cho việc sử dụng thích hợp các hệ điều hành hiện đại như Windows 7 có thiết kế giao diện người dùng giả định tối thiểu là 768 dòng. Đối với một số ứng dụng như xử lý văn bản, thậm chí nó có thể được coi là một hạ xuống nhẹ (giảm số lượng các dòng cùng một lúc có thể nhìn thấy các văn bản mà không cấp bất kỳ lợi ích đáng kể khi thậm chí 640 pixel là đủ độ phân giải ngang để rõ ràng làm cho chiều rộng trang đầy đủ, đặc biệt là với việc bổ sung các subpixel anti-aliasing).
Các biến thể thứ hai, 1280x768, có thể được xem như là một giải pháp thỏa hiệp mà giải quyết vấn đề này, cũng như một ngôi nhà nằm giữa cũ hơn 1024x768 và 1280x1024 độ phân giải, và là bước đệm để 1366x768 (là một phần tư rộng hơn so với năm 1024, không một chiều thứ ba) và 1280x800, mà không bao giờ khá bắt vào trong cùng một cách như một trong những người kế được cho là bắt nguồn từ nó. Vuông-pixel tỉ lệ của nó là 15: 9, trái ngược với HDTV của 16: 9 và 1280x800 của 16:10. Nó cũng là độ phân giải thấp nhất có thể được tìm thấy trong một "Ultrabook" máy tính xách tay tiêu chuẩn, vì nó đáp ứng độ phân giải ngang và dọc điểm ảnh tối thiểu cần thiết để chính thức đủ điều kiện cho việc chỉ định.
Phổ biến rộng rãi gần đây của 1280x800 và 1366x768 màn hình LCD độ phân giải điểm ảnh cho màn hình máy tính xách tay có thể được coi là một hệ điều hành tiến hóa -driven từ trước đây phổ biến 1024x768 kích thước màn hình, trong đó có bản thân kể từ nhìn thấy phản hồi thiết kế giao diện người dùng để đáp ứng với những gì có thể được coi là nhược điểm của định dạng màn ảnh rộng khi sử dụng với các chương trình được thiết kế cho màn hình "truyền thống". Trong Microsoft Windows hệ điều hành cụ thể, lớn hơn thanh tác vụ của Windows Vista và 7 chiếm thêm 16 pixel dòng bằng cách mặc định, có thể thỏa hiệp với khả năng sử dụng của các chương trình đó đã yêu cầu một 1024x768 đầy đủ (thay vì, ví dụ 800x600), trừ khi nó được thiết lập đặc biệt để sử dụng các biểu tượng nhỏ; một "kỳ quặc" 784-dòng độ phân giải sẽ bù đắp cho điều này, nhưng 1280x800 có một khía cạnh đơn giản hơn và cũng cho tiền thưởng nhẹ 16 nhiều đường có thể sử dụng. Ngoài ra, các Sidebar của Windows trong Windows Vista và 7 có thể sử dụng thêm 256 hay 336 điểm ảnh theo chiều ngang để hiển thị thông tin "widget" mà không làm giảm độ rộng màn hình của các chương trình khác, và Windows 8 được thiết kế đặc biệt xung quanh một "hai cửa sổ" khái niệm nơi đầy đủ 16: 9 hoặc 16:10 màn hình là không cần thiết. Thông thường, điều này bao gồm một 4: 3 khu vực chính của chương trình (thường là 1024x768, 1000x800 hoặc 1440x1080) cộng thêm một sidebar hẹp chạy một chương trình thứ hai, hiển thị một hộp công cụ cho các chương trình chính hoặc một bảng shortcut OS pop-out chiếm phần còn lại.
Một số màn hình có độ phân giải 1440x900 cũng đã được tìm thấy nhãn như WXGA; Tuy nhiên, các nhãn đúng thực sự là WSXGA hoặc WXGA +.
=== XGA+ (1152x864) ===
XGA+ là viết tắt của Extended Graphics Array Plus và là một tiêu chuẩn màn hình máy tính, thường được hiểu để chỉ độ phân giải 1152x864 với tỉ lệ khung hình 4: 3. Cho đến khi sự ra đời của màn hình rộng LCD, XGA + thường được sử dụng trên 17-inch màn hình CRT màn hình. Đây là mức cao nhất 4: 3 độ phân giải không lớn hơn 220 pixels (~ 1,05 megapixel), với chiều ngang của nó là bội số của 32 pixels. Điều này cho phép nó để phù hợp chặt chẽ thành một bộ nhớ video hoặc đệm khung của 1 MB (1 × 220 bytes), giả sử việc sử dụng một byte cho mỗi pixel. Bội số chung của 32 pixels chế là liên quan đến sự liên kết.
Trong lịch sử, độ phân giải cũng liên quan đến các tiêu chuẩn trước đó của 1152x900 pixel, được thông qua bởi Sun Microsystems cho Sun-2 máy trạm vào đầu những năm 1980. Một thập kỷ sau đó, Apple Computer chọn độ phân giải của màn hình 1152x870 cho hình CRT 21-inch của họ, dành cho người sử dụng như hiển thị hai trang trên Macintosh II máy tính. Nghị quyết này thậm chí còn gần hơn đến giới hạn của một 1 MB bộ đệm khung, nhưng tỉ lệ của họ là khác nhau từ phổ biến 4: 3.
XGA + là bước tiếp theo sau khi XGA (1024x768), mặc dù nó không được chấp thuận bởi bất kỳ tổ chức tiêu chuẩn. Các bước tiếp theo với một tỉ lệ 4: 3 là 1280x960 (" SXGA- ") hoặc SXGA + (1400x1050).
=== WXGA+ (1440x900) ===
WXGA+ và WSXGA là những thuật ngữ không chuẩn đề cập đến độ phân giải màn hình máy tính. Thông thường họ chỉ đến một độ phân giải 1440x900, nhưng đôi khi các nhà sản xuất sử dụng thuật ngữ khác để chỉ độ phân giải này. Các Panels Chuẩn Nhóm công tác liên quan đến độ phân giải 1440x900 như WXGA (II).
WSXGA và WXGA + có thể được xem là phiên bản nâng cao của WXGA với nhiều điểm ảnh, hoặc các biến thể như màn hình rộng SXGA. Các tỷ lệ khía cạnh của từng là 16:10 (widescreen).
WXGA + độ phân giải (1440x900) là phổ biến trong 19 "màn hình máy tính để bàn màn hình rộng (một số lượng rất nhỏ của màn hình như vậy sử dụng WSXGA +), và cũng là tùy chọn, mặc dù ít phổ biến hơn, trong máy tính xách tay màn hình LCD, trong các kích cỡ khác nhau, từ 12.1 "đến 17". Đó là cũng được sử dụng trong vòng 13 inch MacBook Air. [ 22 ] Với 13,3 trong màn hình này là 128 ppi.
Người kia là 1440x960, mà là 15:10 (widescreen).
=== SXGA (1280x1024) ===
SXGA là một từ viết tắt cho Super Extended Graphics Array đề cập đến một tiêu chuẩn màn hình độ phân giải 1280x1024 pixel. Điều này có độ phân giải màn hình là "bước tiếp theo" trên XGA độ phân giải mà IBM phát triển vào năm 1990.
Độ phân giải 1280x1024 không phải là tiêu chuẩn 4: 3 tỷ lệ khía cạnh, nhưng 5: 4 (1.25: 1 thay vì 1.333: 1). Một tiêu chuẩn 4: 3 màn hình sử dụng độ phân giải này sẽ có hình chữ nhật thay vì vuông pixel, có nghĩa rằng trừ khi các phần mềm này sẽ đền bù cho các hình ảnh sẽ bị méo mó, gây ra những vòng tròn xuất hiện hình elip.
Có một độ phân giải ít phổ biến hơn 1280x960 giữ gìn chung 4: 3 tỉ lệ. Nó đôi khi không chính thức gọi là SXGA- để tránh nhầm lẫn với các SXGA "tiêu chuẩn". Ở những nơi khác này 4: độ phân giải 3 cũng được gọi là UVGA (siêu VGA): Kể từ khi cả hai bên đều tăng gấp đôi từ VGA hạn Quad VGA sẽ là một hệ thống, nhưng nó là hầu như không bao giờ được sử dụng, bởi vì nó initialism QVGA hội gắn liền với một ý nghĩa khác quý VGA (320x240).
SXGA là độ phân giải phổ biến nhất nguồn gốc của 17 "và 19" LCD màn hình. Một màn hình LCD với độ phân giải SXGA thường sẽ có một thể chất 5: 4 tỉ lệ, bảo quản, 1: 1 tỉ lệ điểm ảnh.
Sony sản xuất một 17 " CRT màn hình với 5:.. Tỷ lệ 4 khía cạnh được thiết kế cho độ phân giải này Nó đã được bán dưới tên thương hiệu của Apple.
Bất kỳ CRT có thể chạy 1280x1024 cũng có thể chạy 1280x960, trong đó có các tiêu chuẩn tỷ lệ 4: 3. Một màn hình phẳng TFT màn hình, bao gồm một thiết kế cho 1280x1024, sẽ hiển thị kéo dài biến dạng khi thiết lập để hiển thị độ phân giải khác với tiếng mẹ đẻ của mình, như các hình ảnh cần phải được nội suy để phù hợp với màn hình hiển thị lưới cố định. Một số màn hình TFT không cho phép một người sử dụng để vô hiệu hóa này, và sẽ ngăn chặn các phần trên và dưới của màn hình đang được sử dụng buộc một " letterbox "định dạng khi thiết lập để một tỷ lệ 4:3
Độ phân giải 1280x1024 trở nên phổ biến bởi vì tại 24-bit màu nó vừa khớp với 4 MB của RAM video. Vào thời điểm đó, bộ nhớ là cực kỳ tốn kém. Sử dụng 1280x1024 ở 24-bit độ sâu màu được phép sử dụng 3,75 MB RAM video, phù hợp độc đáo với VRAM con chip kích cỡ mà đã có sẵn tại thời điểm (4 MB).
(1280x1024) px × 8 bit/px ÷ 8 bit/byte ÷ 220 byte/MB = 1.25 MB
(1280x1024) px × 24 bit/px ÷ 8 bit/byte ÷ 220 byte/MB = 3.75 MB
=== SXGA+ (1400x1050) ===
SXGA+ là viết tắt của Super Extended Graphics Array Plus và là một tiêu chuẩn màn hình máy tính. Một màn hình SXGA + thường được sử dụng trên 14-inch hay 15-inch máy tính xách tay màn hình LCD màn hình với một độ phân giải 1400x1050 pixel của. Một màn hình SXGA + được sử dụng trên một số máy tính xách tay màn hình 12-inch như ThinkPad X60 và X61 (cả hai chỉ là máy tính bảng) cũng như Toshiba Portégé M200 và M400, nhưng những người có ít phổ biến hơn. Tại 14,1 inch, Dell cung cấp SXGA + trên nhiều Dell Latitude "C" máy tính xách tay hàng loạt, như C640 và C810, và Lenovo trên ThinkPad T61 và T61p. Sony cũng sử dụng SXGA + trong loạt Z1 của họ, nhưng không còn sản xuất chúng như màn ảnh rộng đã trở nên chiếm ưu thế hơn.
Có một phiên bản màn ảnh rộng của SXGA + gọi WSXGA + với độ phân giải 1680x1050. Đây là độ phân giải phổ biến bản địa của 19-22-inch màn hình LCD rộng khía cạnh, và cũng có sẵn trên nhiều máy tính xách tay.
Đây là bước tiếp theo sau khi phổ biến ở độ phân giải SXGA, mặc dù nó không được chấp nhận bởi tổ chức nào. Độ phân giải phổ biến nhất ngay lập tức trên được gọi là UXGA (đôi khi còn được gọi là UGA), trong đó có độ phân giải 1600x1200 pixel.
Trong màn hình LCD máy tính để bàn, SXGA + được sử dụng trên một số cấp thấp màn hình 20-inch, trong khi hầu hết các màn hình LCD 20-inch sử dụng UXGA (tỷ lệ màn hình tiêu chuẩn), hoặc WSXGA + (màn hình rộng tỷ lệ).
=== WSXGA+ (1680x1050) ===
WSXGA+ là viết tắt của Widescreen Super Extended Graphics Array Plus và là một tiêu chuẩn màn hình máy tính. Một WSXGA + màn hình thường được sử dụng trên màn hình rộng 20 ", 21" và 22 "màn hình LCD từ nhiều nhà sản xuất (và một số lượng rất nhỏ của 19" phổ biến màn hình widescreen), cũng như màn hình rộng 15.4 "và 17" máy tính xách tay màn hình LCD màn hình như Thinkpad T61 và Apple 15 " MacBook Pro. Các độ phân giải là 1680x1050 pixel (1.764.000 điểm ảnh) và có một 16:10 tỉ lệ.
WSXGA + là phiên bản màn ảnh rộng của SXGA +, nhưng nó không được chấp nhận bởi tổ chức nào. Độ phân giải cao nhất tiếp theo (đối với màn hình rộng) sau khi nó là WUXGA, đó là độ phân giải 1920x1200 pixel.
=== UXGA (1600x1200) ===
UXGA hoặc UGA là một từ viết tắt cho Ultra Extended Graphics Array đề cập đến một tiêu chuẩn màn hình độ phân giải 1600x1200 pixel của (tổng cộng 1.920.000 điểm ảnh), đó chính là bốn lần mặc định độ phân giải của SVGA (800x600) (tổng cộng 480.000 điểm ảnh). Dell Inc. đề cập đến cùng độ phân giải của 1.920.000 điểm ảnh như UGA. Nó thường được coi là bước tiếp theo trên SXGA (1280x960 hoặc 1280x1024), nhưng một số nghị quyết (như 1366x1024 không rõ tên và SXGA + 1400x1050 ở) phù hợp giữa hai người.
UXGA đã được độ phân giải gốc của nhiều màn hình toàn màn hình 15 "hoặc nhiều hơn, bao gồm cả màn hình LCD máy tính xách tay như những người thân trong ThinkPad A21p, A30p, A31p, T42p, T43p và T60p, Dell Inspiron 8000/8100/8200; Panasonic Toughbook CF-51; và các gốc Alienware Area 51m Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, UXGA không được sử dụng trong máy tính xách tay ở tất cả mà là ở màn hình UXGA desktop đã được thực hiện trong các kích cỡ 20 "và 21,3" Khoảng 14 "màn hình LCD máy tính xách tay với UXGA có.. còn tồn tại, nhưng rất hiếm.
Có hai khác nhau widescreen người anh em họ của UXGA, một gọi là UWXGA với 1600x768 (750) và một gọi WUXGA với độ phân giải 1920x1200.
=== WUXGA (1920x1200) ===
WUXGA là viết tắt của Màn ảnh rộng Ultra Extended Graphics Array và là một độ phân giải màn hình của 1920x1200 pixels (2.304.000 điểm ảnh) với một màn hình 16:10 tỉ lệ. Đây là một phiên bản rộng của UXGA, và có thể được sử dụng để xem truyền hình độ nét cao (HDTV) nội dung, trong đó sử dụng một tỷ lệ 16: 9 khía cạnh và độ phân giải 1920x1080.
Tỷ lệ 16:10 (như trái ngược với 16: 9 được sử dụng trong TV màn ảnh rộng) đã được lựa chọn bởi vì tỉ lệ này là thích hợp để hiển thị hai trang đầy đủ của văn bản bên cạnh.
Độ phân giải WUXGA là 2,304 megapixel. An 8-bit RGB WUXGA hình ảnh không nén có kích thước ~ 6,6 MB (6750 × 210 bytes).Tính đến năm 2014, độ phân giải này là có sẵn trong một vài cao cấp LCD TV và màn hình máy tính (ví dụ như Dell Ultrasharp U2413, Lenovo L220x, Samsung T220P, ViewSonic SD-Z225), mặc dù trong quá khứ nó đã được sử dụng trong một đa dạng hơn các màn hình, trong đó có 17 "máy tính xách tay. sử dụng WUXGA xảy ra trước sự ra đời của màn hình LCD độ phân giải đó. Hầu hết QXGA màn hình hỗ trợ độ phân giải 1920x1200 và màn hình rộng màn hình CRT như Sony GDM-FW900 và Hewlett Packard A7217A làm là tốt.
Độ phân giải tiếp theo thấp hơn (cho màn hình rộng) trước khi nó là WSXGA +, đó là 1680x1050 pixel (1.764.000 điểm ảnh, hoặc 30.61% ít hơn so với WUXGA); màn hình rộng độ phân giải cao hơn tiếp theo là một độ phân giải 2304x1440 giấu tên (được hỗ trợ bởi các bên trên GDM-FW900 & A7217A) và sau đó phổ biến hơn WQXGA, trong đó có giải 2560x1600 pixel (4.096.000 điểm ảnh, hay 77,78% so với WUXGA).
Có hai định dạng rộng hơn gọi là UWXGA 1600x768 (25:12) và UW-UXGA 2560x1080 pixels có, một 2.37: 1 hoặc 21⅓: 9 hoặc 64:27 tỉ lệ, đôi khi nhầm nhãn 21: 9.
== Chuỗi đồ họa nét ==
Các QXGA, hoặc Quad Extended Graphics Array, chuẩn hiển thị là một tiêu chuẩn độ phân giải trong công nghệ hiển thị. Một số ví dụ của LCD màn hình có số lượng điểm ảnh ở mức độ này là Dell 3008WFP, các Apple Cinema Display, Apple iMac (27 "2009-nay), các iPad (thế hệ thứ 3), và MacBook Pro (thế hệ thứ 3). Nhiều tiêu chuẩn 21 "/ 22" màn hình CRT và một số cao cấp nhất 19 "CRT cũng hỗ trợ độ phân giải này.
=== QWXGA (2048x1152) ===
Không nên nhầm lẫn với WQXGA.
QWXGA (Quad Wide Extended Graphics Array) là một độ phân giải màn hình của 2048x1152 pixel với 16: 9 aspect ratio. Một vài màn hình LCD QWXGA đã có sẵn trong năm 2009 với 23- và 27-inch màn hình, chẳng hạn như Acer B233HU (23-inch) và B273HU (27-inch), các Dell SP2309W, và Samsung 2343BWX. Tính đến năm 2011, hầu hết các màn hình 2048x1152 đã bị ngưng, và như năm 2013 không có nhà sản xuất chính sản xuất màn hình với độ phân giải này.
=== QXGA (2048x1536) ===
QXGA (Quad Extended Graphics Array) là một độ phân giải màn hình 2048x1536 pixel với 4: 3 tỉ lệ. Tên đến từ nó có bốn lần như nhiều điểm ảnh như một XGA màn hình. Ví dụ về các màn hình LCD với độ phân giải này là IBM T210 và Eizo G33 và R31 màn hình, nhưng ở độ phân giải màn hình CRT này là phổ biến hơn nhiều; một số ví dụ bao gồm Sony F520, ViewSonic G225fB, NEC FP2141SB hay Mitsubishi DP2070SB, Iiyama Vision Master Pro 514, và Dell và HP P1230. Của các màn hình, không có vẫn được sản xuất. Một kích thước hiển thị liên quan là WQXGA, đó là một màn hình rộng bản. CRT cung cấp một cách để đạt được QXGA rẻ. Mô hình giống như Pro 2045U Mitsubishi Diamond và IBM ThinkVision C220P bán lẻ với giá khoảng 200 USD, và những người thực hiện cao hơn như ViewSonic PerfectFlat P220fB vẫn dưới 500 USD. Tại một thời gian, nhiều off-thuê P1230s có thể được tìm thấy trên eBay với giá dưới 150 USD. Các màn hình LCD với độ phân giải QXGA WQXGA hoặc thường có giá 4-5 lần cho cùng độ phân giải. IDTech sản xuất 15 "QXGA IPS panel. NEC bán máy tính xách tay với màn hình QXGA trong 2002-05 cho thị trường Nhật Bản. Các iPad (bắt đầu từ thế hệ thứ 3) cũng có một màn hình QXGA
=== WQXGA (2560x1600) ===
Không nên nhầm lẫn với QWXGA.
WQXGA (Wide Quad Extended Graphics Array) là một độ phân giải màn hình của 2560x1600 pixels với một 16:10 tỉ lệ. Tên đến từ nó là một phiên bản rộng của QXGA và có bốn lần như nhiều điểm ảnh như một WXGA (1280x800) hiển thị.
Để có được một tốc độ làm tươi dọc cao hơn 40 Hz, độ phân giải này đòi hỏi nhiều băng thông hơn một đơn hỗ trợ link DVI và đòi hỏi dual-link cáp và các thiết bị có khả năng. Để tránh vấn đề cáp màn hình đôi khi được vận chuyển với một cáp liên kết kép thích hợp đã được cắm vào. Nhiều card video hỗ trợ độ phân giải này. Một tính năng mà hiện tại đang độc đáo với 30 "màn hình WQXGA là khả năng hoạt động như trung tâm và màn hình hiển thị chính của một mảng ba màn hình tỷ lệ khung hình bổ sung, với hai UXGA (1600x1200) 20 "màn hình quay theo chiều dọc ở hai bên. Các nghị quyết đều bình đẳng, và kích thước của 1600 cạnh độ phân giải (nếu nhà sản xuất là trung thực) là trong vòng một phần mười của một inch (16 "so với 15,899 99 "), trình bày một" cửa sổ xem ảnh "mà không có chiều bên cùng cực, bảng điều khiển trung tâm nhỏ, không đối xứng, độ phân giải khác nhau, hoặc sự khác biệt chiều của sự kết hợp ba màn hình khác. Kết quả là 4960x1600 hình ảnh composite có 3.1: tỷ lệ 1 khía cạnh. Điều này cũng có nghĩa là một UXGA 20 "màn hình theo chiều dọc cũng có thể được bao bọc bởi hai 30" màn hình WQXGA cho một hình ảnh composite 6320x1600 với 11,85: 3 (79:20, 3.95: 1) tỉ lệ. Một số màn hình y tế WQXGA (như Barco Coronis 4MP) cũng có thể được cấu hình như hai 1200x1600 hoặc 1280x1600 màn hình liền mạch ảo bằng cách sử dụng cả hai cổng DVI cùng lúc.
Một màn hình WQXGA tiêu dùng đầu là 30 "Apple Cinema Display, công bố của Apple vào tháng 6 năm 2004. Tại thời điểm đó, Dual-link DVI là không phổ biến trên phần cứng của người tiêu dùng, do đó, Apple hợp tác với Nvidia để phát triển một card đồ họa đặc biệt có hai kép cổng kết nối DVI, cho phép sử dụng đồng thời hai 30 "Apple Cinema Displays. Bản chất của card đồ họa này, là một add-in card AGP, có nghĩa là màn hình chỉ có thể được sử dụng trong một máy tính để bàn, như Power Mac G5, mà có thể có các add-in thẻ cài đặt, và không thể được sử dụng ngay lập tức với các máy tính xách tay mà thiếu khả năng mở rộng này.
Trong năm 2010, WQXGA xuất hiện lần đầu trong một số ít các máy chiếu rạp hát tại gia nhắm vào các thị trường liên tục ứng dụng Screen Height. Cả hai chiếu kỹ thuật số Inc và các mô hình projectiondesign phát hành dựa trên một chip với độ phân giải WQXGA gốc Texas Instrument DLP, làm giảm sự cần thiết cho một ống kính anamorphic để đạt được 1: 2.35 hình ảnh chiếu. Nhiều nhà sản xuất có 27 "-30" mô hình có khả năng WQXGA, mặc dù ở một mức giá cao hơn nhiều so với màn hình độ phân giải thấp hơn của cùng một kích cỡ. Một số màn hình WQXGA chính có sẵn với màn hình 30-inch, chẳng hạn như Dell UltraSharp 3007WFP-HC, Dell UltraSharp 3008WFP, U3011 và 3014, các Hewlett-Packard LP3065, các Cổng XHD3000, LG W3000H, và Samsung 305T. Các nhà sản xuất chuyên nghiệp như Eizo, Planar Systems, Barco (LC-3001), và có thể những người khác cung cấp các mô hình tương tự.
Phát hành vào tháng 11 năm 2012, của Google Nexus 10 là người tiêu dùng đầu tiên tablet có tính năng độ phân giải WQXGA. Trước khi phát hành, độ phân giải cao nhất hiện có trên máy tính bảng là QXGA (2048x1536), có sẵn trên Apple iPad 3 và các thiết bị thế hệ thứ 4. Samsung Galaxy Lưu ý 10.1 (2014 Edition), S Tab 8.4, 10.5 và TabPRO 8.4, 10.1 và 12.2 cũng được trang bị máy tính bảng có màn hình độ phân giải WQXGA.
Năm 2012 Apple phát hành 13 inch MacBook Pro với Retina Display đó có màn hình WQXGA.
=== QSXGA (2560x2048) ===
QSXGA (Quad Super Extended Graphics Array) là một độ phân giải màn hình của 2560x2048 pixel với 5: 4 tỉ lệ. Màn hình màu xám với một độ phân giải 2560x2048, chủ yếu dùng trong y tế, có sẵn từ Planar Systems (Dome E5), Eizo (Radiforce G51), Barco (Nio 5, MP), WIDE (IF2105MP), IDTech (IAQS80F), và có thể những người khác.
Màn y tế gần đây như Barco Coronis Fusion 10MP hoặc NDS Dome S10 có độ phân giải 4096x2560 của bảng gốc. Chúng được điều khiển bởi hai hoặc DVI dual-link DisplayPort kết quả đầu ra. Họ có thể được coi là hai màn hình QSXGA ảo liền mạch như họ có được điều khiển đồng thời bằng cả DVI dual link hoặc DisplayPort từ một liên kết DVI kép hoặc DisplayPort có thể không phải một tay màn hình 10 megapixel. Một nghị quyết tương tự của 2560x1920 (4: 3) đã được hỗ trợ bởi một số lượng nhỏ các màn hình CRT thông qua VGA như Viewsonic P225f khi kết hợp với card đồ họa phải.
=== WQSXGA (3200x2048) ===
WQSXGA (Wide Quad Super Extended Graphics Array) mô tả tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải lên đến 3200x2048 pixels, giả sử một 1,56: 1 (25:16) tỉ lệ. Các Coronis Fusion 6MP DL của Barco hỗ trợ 3280x2048 (approx. 16:10).
=== QUXGA (3200x2400) ===
QUXGA (Quad Ultra Extended Graphics Array) mô tả tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải lên đến 3200x2400 pixels, giả định một tỷ lệ 4: 3.
=== WQUXGA (3840x2400) ===
WQUXGA (Wide Quad Ultra Extended Graphics Array) mô tả một tiêu chuẩn hỗ trợ hiển thị độ phân giải 3840x2400 pixel, trong đó cung cấp một tỷ lệ 16:10. Nghị quyết này là chính xác bốn lần 1920x1200 (pixel).
WQUXGA là độ phân giải tối đa được hỗ trợ bởi DisplayPort 1.2, mặc dù thực sự hiển thị độ phân giải như trên một thiết bị với DisplayPort 1.2 là phụ thuộc vào các hệ thống đồ họa trong nhiều thiết bị cùng một cách với kết nối VGA không nhất thiết phải tối đa hóa độ phân giải cao nhất của tiêu chuẩn mà có thể. Hầu hết các card màn hình với một kết nối DVI có khả năng hỗ trợ độ phân giải 3840x2400. Tuy nhiên, tốc độ làm tươi tối đa sẽ bị giới hạn bởi số lượng link DVI được kết nối với màn hình. 1, 2, 4 hoặc đầu nối DVI được sử dụng để lái xe màn hình bằng cách sử dụng các cấu hình gạch khác nhau. Chỉ IBM T221-DG5 và IDTech MD22292B5 hỗ trợ việc sử dụng các cổng DVI dual-link thông qua một hộp chuyển đổi bên ngoài. Nhiều hệ thống sử dụng các màn hình sử dụng ít nhất 2 cổng DVI để gửi video đến màn hình. Những kết nối DVI có thể được từ card đồ họa tương tự, card đồ họa khác nhau, hoặc thậm chí máy tính khác nhau. Chuyển động qua ranh giới ngói (các Bên) có thể hiển thị rách nếu các liên kết DVI chưa đồng bộ. Bảng hiển thị có thể được cập nhật với tốc độ từ 0 Hz và 41 Hz (48 Hz cho IBM T221-DG5, -DGP, và IDTech MD22292B5). Tốc độ làm tươi của tín hiệu video có thể được cao hơn 41 Hz (hoặc 48 Hz) nhưng màn hình sẽ không cập nhật hiển thị nhanh hơn ngay cả khi card đồ họa (s) làm như vậy.
Trong tháng 6 năm 2001, WQUXGA đã được giới thiệu trong IBM T220 LCD màn hình bằng cách sử dụng một màn hình LCD được xây dựng bởi IDTech. Màn hình LCD có hỗ trợ độ phân giải WQUXGA bao gồm: IBM T220, IBM T221, Iiyama AQU5611DTBK, ViewSonic VP2290, ADTX MD22292B, và IDTech MD22292 (mô hình B0, B1, B2, B5, C0, C2). IDTech là nhà sản xuất thiết bị gốc mà bán các loại màn hình để ADTX, IBM, Iiyama, và ViewSonic. Tuy nhiên, không ai trong số các màn hình WQUXGA (IBM, ViewSonic, Iiyama, ADTX) là trong sản xuất nữa: họ có giá đó là tốt thậm chí trên cả các màn hình cao hơn cuối được sử dụng bởi các chuyên gia đồ họa, và tỷ lệ làm mới thấp hơn, 41 Hz và 48 Hz, làm cho họ kém hấp dẫn đối với nhiều ứng dụng.
== Chuỗi đồ họa siêu nét ==
Các HXGA chuẩn hiển thị và các dẫn xuất của nó là một tiêu chuẩn trong công nghệ hiển thị. Tính đến năm 2012, không có màn hình hiển thị ở mức độ này nhưng một số máy ảnh kỹ thuật số có thể ghi lại những hình ảnh đó.
=== HXGA (4096x3072) ===
HXGA viết tắt cho H ex [adecatuple] E x có xu hướng G raphics A rray là một tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải 4096x3072 pixel (hoặc 3200 pixel) với tỷ lệ 4: 3. Tên đến từ nó có mười sáu (hexadecatuple) lần số điểm ảnh như một XGA màn hình.
=== WHXGA (5120x3200) ===
WHXGA viết tắt cho W ide H ex [adecatuple] E x có xu hướng G raphics A rray là một tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải 5120x3200 điểm ảnh xấp xỉ với tỷ lệ 16:10. Tên đến từ nó là một phiên bản rộng của HXGA, trong đó có mười sáu (hexadecatuple) lần số điểm ảnh như một XGA màn hình.
=== HSXGA (5120x4096) ===
HSXGA, viết tắt cho H ex [adecatuple] S uper E x có xu hướng G raphics A rray, là một tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải 5120x4096 điểm ảnh với khoảng cách 5: tỉ lệ 4. Tên đến từ nó có mười sáu (hexadecatuple) lần số điểm ảnh như một SXGA hiển thị.
=== WHSXGA (6400x4096) ===
WHSXGA, viết tắt cho W ide H ex [adecatuple] S uper E x có xu hướng G raphics A rray, là một tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải lên đến 6400x4096 pixels, giả sử một 1,56: 1 (25:16) tỉ lệ. Tên đến từ nó có mười sáu (hexadecatuple) lần số điểm ảnh như một WSXGA hiển thị.
=== HUXGA (6400x4800) ===
HUXGA, viết tắt cho H ex [adecatuple] U LtrA E x có xu hướng G raphics A rray, là một tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải 6400x4800 điểm ảnh xấp xỉ với tỷ lệ 4: 3. Tên đến từ nó có mười sáu (hexadecatuple) lần số điểm ảnh như một UXGA hiển thị.
=== WHUXGA (7680x4800) ===
WHUXGA viết tắt cho W ide H ex [adecatuple] U LtrA E x có xu hướng G raphics A rray, là một tiêu chuẩn hiển thị có thể hỗ trợ độ phân giải lên đến 7680x4800 pixels, giả sử một 16:10 (8: 5) tỉ lệ. Tên đến từ nó có mười sáu (hexadecatuple) lần số điểm ảnh như một WUXGA màn hình.
== Độ nét cao ==
=== nHD (640x360) ===
nHD là một độ phân giải màn hình 640x360 pixel của, đó chính là một trong n inth của Full HD (1080p) khung và một phần tư của một HD (720p) khung. Pixel tăng gấp đôi (theo chiều dọc và chiều ngang) khung hình nHD sẽ tạo thành một khung hình 720p và điểm ảnh tăng gấp ba khung hình nHD sẽ tạo thành một khung hình 1080p.
Một nhược điểm của giải pháp này là độ phân giải dọc không phải là một thậm chí là nhiều 16, đó là một phổ biến macroblock kích thước cho bộ giải mã video. Khung hình video được mã hóa với macroblocks 16x16 điểm ảnh sẽ được đệm thêm để 640x368 và việc tăng điểm ảnh sẽ được cắt đi lúc phát lại. Codec H.264 có đệm và cắt này có khả năng tích hợp như là tiêu chuẩn. Điều này cũng đúng cho qHD và 1080p, nhưng số lượng tương đối của đệm được nhiều hơn cho độ phân giải thấp hơn như nHD.
Để tránh lưu trữ tám dòng pixels độn, một số người thích để mã hóa video 624x352, mà chỉ có một dòng lưu trữ đệm. Khi các luồng video như là một trong hai mã hóa từ các khung hình HD hoặc phát lại trên màn hình HD trong chế độ toàn màn hình (hoặc 720p hoặc 1080p) mà họ đang thu nhỏ lại bởi các yếu tố quy mô không nguyên. Khung hình nHD thực về các mặt khác có yếu tố quy mô số nguyên, ví dụ như Nokia 808 PureView với nHD màn hình.
=== qHD (960x540) ===
qHD là một độ phân giải màn hình 960x540 điểm ảnh bằng 1/4 của Full HD (1080p) khung, trong một tỉ lệ khía cạnh 16: 9
Tương tự như DVGA, độ phân giải này trở nên phổ biến cho điện thoại thông minh cao cấp màn hình vào đầu năm 2011. Điện thoại di động bao gồm các Jolla, Sony Xperia C, Sony Xperia P, HTC Amaze 4G, HTC Sensation, HTC Evo 3D, HTC One S, HTC Desire 600, Motorola Droid RAZR, Motorola Droid Bionic 4G LTE, Q-Mobile Noir A9, Motorola Atrix 4G, Moto E, LG Optimus L9, LG Optimus F5, Microsoft Lumia 535, Fly F53s và Samsung Galaxy S4 Mini có màn hình với độ phân giải qHD, cũng như các PlayStation Vita hệ thống chơi game cầm tay.
=== HD (1280x720) ===
Các HD độ phân giải 1280x720 điểm ảnh bắt nguồn từ truyền hình độ nét cao (HDTV), nơi nó ban đầu được sử dụng 60 khung hình mỗi giây. Với 16 của nó: 9 khía cạnh đó là chính xác 2 lần chiều rộng và 1 1/2 lần chiều cao của 4:3 VGA, trong đó cổ phiếu tỉ lệ của nó và 480 dòng đếm với NTSC. Do đó HD có đúng 3 lần so với những điểm ảnh như VGA.
Độ phân giải này đôi khi được gọi là 720p, mặc dù các p (viết tắt của progressive scan và là quan trọng đối với các định dạng truyền tải) là không thích hợp để ghi nhãn phân giải màn hình kỹ thuật số.
Vài màn hình đã được xây dựng để thực sự sử dụng độ phân giải này nguyên bản, hầu hết sử dụng 16: 9 tấm với 768 dòng thay vì (WXGA), kết quả là số lẻ của các điểm ảnh trên mỗi dòng, tức là năm 1365 1/3 được làm tròn đến năm 1360, 1364, 1366 hay thậm chí 1376, các nhiều tiếp theo là 16.
=== FHD (1920x1080) ===
Các FHD hoặc Full HD độ phân giải 1920x1080 pixel ở tỉ lệ 16: 9 khía cạnh đã được phát triển như là một truyền HDTV và định dạng lưu trữ. Sử dụng xen kẽ, các yêu cầu băng thông là rất tương tự như 720p - đếm điểm ảnh của họ là khoảng một tỷ lệ 2: 1, 9: 4 chính xác. FHD là 3 lần chiều rộng và 2 1 / 4 lần chiều cao của 4: 3 VGA.
Do nguồn gốc của nó, độ phân giải này đôi khi được gọi là 1080i trong đó i là viết tắt của "chằng chịt". Kể từ đó cũng là tín hiệu liên tục với tốc độ khung hình tương tự (nhưng một nửa tỷ lệ trường hiệu quả) những tín hiệu được nhiều hơn thường được gọi là độ phân giải 1080p.
=== QHD (2560x1440) ===
QHD (Quad HD), cũng đôi khi quảng cáo là WQHD do hình dạng màn ảnh rộng của nó hoặc 1440p, là một độ phân giải màn hình 2560x1440 pixel của một trong tỉ lệ 16: 9. Nó gấp bốn lần số pixel là 720p HDTV.
Độ phân giải này đã được xem xét bởi các ATSC vào cuối năm 1980 để trở thành định dạng HDTV chuẩn, vì nó là chính xác 4 lần chiều rộng và 3 lần chiều cao của VGA, trong đó có cùng số dòng như tín hiệu NTSC tại SDTV 4: 3 tỉ lệ. Khăn về kỹ thuật thực dụng khiến họ chọn 16 doanh nghiệp nổi tiếng: 9 định dạng với hai lần (HD) và ba lần chiều rộng (FHD) VGA thay thế.
Vào mùa thu năm 2006, Chi Mei Optoelectronics (CMO) công bố 47 "panel LCD 1440 sẽ được phát hành trong quý 2 năm 2007; tbảng được lên kế hoạch để cuối cùng ra mắt tại Chi cục Kiểm lâm Quốc tế 2008 trong một hình thức autostereoscopic hiển thị 3D.
Năm 2009, máy tính Apple bắt đầu cung cấp iMac với 27 "màn hình độ phân giải 2560x1440.
Tính đến cuối năm 2013, màn hình QHD đang trở nên phổ biến hơn. Một danh sách các màn hình với màn hình QHD có sẵn.
Vào mùa thu năm 2012 Samsung công bố máy tính xách tay Series 9 WQHD với một 13 "màn hình 2560x1440.
Trong tháng 8 năm 2013 LG công bố một 5,5 "điện thoại thông minh màn hình QHD, được sử dụng trong LG G3. Trong tháng 10 năm 2013 Vivo công bố một chiếc smartphone với màn hình 2560x1440.
Trong tháng 7 năm 2014 Lenovo công bố một 6 "QHD màn hình 2560x1440 cho điện thoại thông minh Vibe Z2 Pro của nó (K920).
Vào tháng 9 năm 2014, Samsung đã công bố một "Super AMOLED QHD smartphone màn hình 5,7 đặt tên là Galaxy Note 4.
Ngày 15 Tháng 10 năm 2014, Google và Motorola công bố Nexus 6 điện thoại thông minh với màn hình 5,96 "QHD.
=== WQXGA+ (3200x1800) ===
WQXGA+ (Wide Quad Extended Graphics Array Plus), cũng được gọi là QHD và QHD+ là một độ phân giải 3200x1800 ở tỉ lệ 16: 9. Nó có bốn lần số điểm ảnh là 1600x900 HD + độ phân giải.
Các sản phẩm đầu tiên công bố để sử dụng độ phân giải này là 2013 HP Envy 14 TouchSmart Ultrabook và Samsung Ativ Q 13,3 in
=== UHD 4K (3840x2160) ===
UHD (Ultra HD) là một độ phân giải màn hình 3840x2160 pixel gấp (bốn lần số pixel như FHD) trong cùng tỉ lệ 16: 9 Độ phân giải này là một phần của chuẩn UHDTV và được ủng hộ bởi Khoa học NHK Science & Technology Research Laboratories.
Đầu năm 2008, Samsung đã tiết lộ một khái niệm của LCD TV 82-inch có khả năng thiết lập phân giải này and LG has demonstrated an 84-inch display. Trong tháng 11 năm 2010, CMI đưa ra một 27,84 "158 PPI 4K panel IPS cho mục đích y tế. Optik View có hai phiên bản 56 "4K màn hình. DC801 có hai đầu vào Link DVI kép; DC802 có bốn phiên bản khác nhau: bốn DVI đơn liên kết, bốn HDMI, bốn DisplayPort và / hoặc bốn đầu vào 3G-SDI. Tất cả các phiên bản có thể cung cấp độ phân giải 3840x2160. Eyevis sản xuất một 56 "LCD tên EYELCD 56 QHD HD trong khi Toshiba làm cho P56QHD và trong tháng 10 năm 2011 phát hành 55x3 REGZA, ó là tuyên bố được các 4K đầu tiên glasses- TV 3D miễn phí, Mitsubishi Electric các 56P-QF60LCU, và Sony SRM-L560, tất cả có thể cung cấp độ phân giải 3840x2160. Landmark cũng đã sản xuất một màn hình 4K 56 in, M5600. Cả hai HDMI 1.4 và DisplayPort 1.2 hỗ trợ 4K, lên đến 30 Hz sử dụng một dây cáp duy nhất. DisplayPort 1.2 cũng có thể đạt được 60 Hz ở độ phân giải này với một dây cáp duy nhất, tuy nhiên màn hình đầu đạt được điều này với một cách tiếp cận lát gạch nơi dồn kênh card đồ họa hai tín hiệu qua Multi-Suối Giao thông vận tải (MST). Hai tín hiệu (gạch) được xếp lại thành một hình ảnh duy nhất trên màn hình màn Mới hơn như Asus PB287Q không dựa trên ốp lát hoặc MST để đạt được 60 Hz. HDMI 1.4 không có lựa chọn như vậy nhưng HDMI 2.0 cũng có thể đạt được 60 Hz HDMI 1.4 has no such option but HDMI 2.0 can also achieve 60 Hz.
=== Digital Cinema Initiatives 4K (4096x2160) ===
Tiêu chuẩn được thiết lập bởi Digital Cinema sáng kiến liên danh gồm 4.096 pixel × 2160 dòng (8.8 megapixels, tỉ lệ ~ 17: 9) để chiếu phim 4K. Đây là độ phân giải gốc cho DCI-compliant 4K máy chiếu kỹ thuật số và màn hình.
=== UHD+ (5120x2880) ===
UHD+ là một độ phân giải màn hình của 5120x2880 với tỉ lệ 16: 9. Số đếm dòng 2880 cũng là nhiều nhất chung của 480 và 576, số scanline của NTSC và PAL, tương ứng. Một giải pháp như vậy có thể mở rộng nội dung SD để phù hợp bởi số tự nhiên, 6 cho NTSC và PAL cho 5. Màn hình hiển thị với độ phân giải đầu tiên này là Dell UltraSharp 27, công bố vào ngày 05 tháng 9 năm 2014 Vào ngày 16 tháng 10 năm 2014, Apple đã công bố các iMac với màn 5k. Thunderbolt 3 & DisplayPort 1.3 đi kèm với hỗ trợ cho độ phân giải này.
=== FUHD (7680x4320) ===
FUHD (Full Ultra HD) là một độ phân giải màn hình 7680x4320 pixel của (bốn lần số điểm ảnh của Ultra HD, hay mười sáu lần so với những điểm ảnh của Full HD) cùng tỉ lệ 16: 9 Độ phân giải này là một phần của các tiêu chuẩn UHDTV và được ủng hộ bởi NHK Science & Technology Research Laboratories và BBC. Embedded DisplayPort 1.4a, bởi VESA bố vào tháng 2 năm 2015, hỗ trợ độ phân giải này.
=== QUHD (15360x8640) ===
QUHD (Quad Ultra HD) là một độ phân giải màn hình của 15360x8640 pixels (bốn lần số điểm ảnh của FUHD (8K, xem ở trên), hoặc mười sáu lần so với UHD) trong cùng tỉ lệ khung hình 16: 9
== Xem thêm ==
Tiêu chuẩn màn hình hiển thị
Độ phân giải màn hình
Danh sách các độ phân giải phổ biến
Danh sách điện thoại di động thông minh có màn hình hiển thị độ nét cao
== Chú thích == |
kỵ binh lạc đà.txt | Kỵ binh lạc đà hay còn gọi là kỵ đà là tên chung của những lực lượng vũ trang sử dụng lạc đà là phương tiện đi lại. Đôi khi các chiến binh kiểu này cũng chiến đấu trên lưng lạc đà với giáo mác, cung tên hay súng trường.
Kỵ binh lạc đà là một thành phần phổ biến trong các cuộc chiến tranh sa mạc suốt chiều dài lịch sử, bởi vì lạc đà có trí thông minh và khả năng thích ứng cao. Chúng cung cấp cho con người một nhân tố cơ động có khả năng tốt khi hoạt động cũng như tồn tại trong môi trường khô cằn thiếu nước hơn là so với ngựa hay kỵ binh thông thường. Mùi của lạc đà, theo như kinh nghiệm từ xưa, gây hoảng sợ và làm mất phương hướng của ngựa, khiến cho lạc đà là một vũ khí chống ngựa hiệu quả. Vì mục đích này, hoàng đế La Mã Claudius đã đem theo một đội quân kỵ binh lạc đà như một phần của đội quân xâm lược Britannia.
== Lịch sử ban đầu ==
Ghi chép đầu tiên về sử dụng lạc đà trong quân đội thì vua Ả Rập Gindibu, người đã trưng dụng 1000 con lạc đà trong trận Qarqua năm 853 TCN, mặc dù không rõ rằng nó được dùng như thế nào trong trận đánh. Khoảng 300 năm sau, lạc đà được sử dụng trong trận trong trận Thymbra năm 547 TCN giữa Cyrus Đại Đế của Ba Tư và Croesus của Lydia. Theo lời Xenophon, kỵ binh của Cyrus đông hơn gấp 6 lần. Hành động theo sự cung cấp thông tin của một vị tướng rằng ngựa của Lydia tránh xa lạc đà, Cyrus đã thiết lập nên quân đoàn lạc đà đầu tiên trong lịch sử. Mặc dù về kỹ thuật được dùng như kỵ binh, chúng chủ yếu để gây kinh hoàng cho kỵ binh ngựa của Lydia và làm cho trận đánh có lợi cho Cyrus.
== Những cuộc xâm lược Hồi giáo và thời thuộc địa ==
Con lạc đà đã được sử dụng theo cách này bởi nhiều nền văn minh, đặc biệt là ở các nước Ả Rập và Bắc Phi. Lạc đà và đôi khi cả người cưỡi được bọc thép như cataphract đương đại. Người Ả Rập sử dụng lạc đà để gây ảnh hưởng lớn đối với kỵ binh thù địch châu Âu trong cuộc chinh phục Hồi giáo. Napoléon từng sử dụng lạc đà cho chiến dịch của mình tại Ai Cập và Syria.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những đội quân lạc đà được sử dụng trong công việc kiểm soát và tuần tra trong quân đội thuộc địa của Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Italia. Hậu duệ của những đơn vị này vẫn tạo thành một phần của quân đội Ấn Độ, Maroc và Ai Cập ngày nay. Quân đoàn Lạc đà Ai Cập trong từng đóng một vai trò quan trọng trong trận Omdurman năm 1898. Quân đội Ottoman từng duy trì cả đại đội lạc đà như một phần của quân đoàn Yemen và Hejaz cả trước và trong Thế chiến I.
Lạc đà ngày này còn được sử dụng trong đội tuần tra sa mạc Jordan.
== Xem thêm ==
Dromedarii
== Tham khảo == |
cúp liên đoàn các châu lục.txt | Cúp Liên đoàn các châu lục (tiếng Anh: FIFA Confederations Cup) là giải bóng đá giữa các đội tuyển bóng đá quốc gia vô địch các châu lục như: UEFA, AFC, CONMEBOL, CONCACAF, CAF và OFC do FIFA tổ chức 4 năm một lần. Ban đầu, giải mang tên Cúp Nhà vua Fahd. Từ lần tổ chức thứ ba, giải được FIFA công nhận là một giải chính thức và mang tên như hiện nay. Hiện nay, đội đương kim vô địch giải này là Brasil sau khi vượt qua Tây Ban Nha với tỷ số 3-0 và Brasil cũng là đội vô địch giải nhiều nhất với 4 lần vô địch.
== Lịch sử hình thành ==
Được khởi xướng vào năm 1992, Cúp Liên đoàn các châu lục sớm trở thành giải đấu chính thức của FIFA với sự tham dự của 8 đội tuyển gồm: 6 đội tuyển vô địch các khu vực CAF (LĐBĐ châu Phi), CONMEBOL (Nam Mỹ), UEFA (châu Âu), AFC (châu Á), OFC (châu Đại Dương) và CONCACAF (Bắc Trung Mỹ và Caribe), đội vô địch World Cup gần nhất và đội tuyển chủ nhà.
Năm 1992, Ả Rập Saudi lần đầu tiên tổ chức một giải đấu mang tên Cúp Nhà vua Fahd với sự góp mặt của đội tuyển chủ nhà và một vài đội tuyển vô địch châu lục. Sau thành công vào năm 1992 và 1995 của giải đấu do Ả Rập Saudi đăng cai, đến năm 1997, FIFA quyết định chính thức hóa giải đấu này, lấy tên Cúp Liên đoàn các châu lục và tổ chức hai năm một lần.
Với cơ chế nếu đội tuyển vô địch World Cup đồng thời là nhà vô địch châu lục (hoặc là nước đăng cai), FIFA cho phép đội Á quân sẽ được tham dự nhằm đảm bảo giải đấu luôn có sự góp mặt của 8 đội tuyển. Tuy nhiên, với nhiều lý do khác nhau (đặc biệt do lịch thi đấu dày đặc tại châu Âu) nên có 3 lần, các đội tuyển từ chối tham dự giải đấu.
Năm 1997, Đức, nhà vô địch Euro 1996, đã từ chối tham gia và FIFA buộc phải cử Cộng hòa Séc với tư cách Á quân thay thế. Năm 1999, Đội tuyển vô địch World Cup Pháp cũng từ chối và nhường suất dự Cúp Liên đoàn các châu lục cho Á quân là Brasil. Đến năm 2003, Đức từ chối tham dự với tư cách Á quân World Cup 2002 nên FIFA bất đắc dĩ phải để đội xếp thứ ba Thổ Nhĩ Kỳ tham dự.
Trước bất cập này, nhằm biến Cúp Liên đoàn các châu lục có chất lượng và hút khán giả hơn, kể từ năm 2005, FIFA quyết định giải đấu diễn ra 4 năm/lần và đội chủ nhà sẽ là quốc gia đăng cai World Cup một năm sau đó. Ngoài ra, một nửa số sân vận động dự kiến tổ chức VCK World Cup sẽ được sử dụng nhằm kiểm tra tiến độ của nước đăng cai.
== Kết quả ==
=== Cúp Nhà Vua Fahd ===
=== Cúp Liên đoàn các châu lục ===
=== Các đội lọt vào tốp bốn ===
*: Chủ nhà
=== Kết quả của các nước chủ nhà ===
=== Kết quả của đương kim vô địch ===
== Giải thưởng ==
=== Cầu thủ xuất sắc nhất giải ===
=== Vua phá lưới ===
== Các đội tham dự giải ==
VB: Vòng bảng.Q: Đã vượt qua vòng loại của giải đấu sắp tới.?: Đội có thể vượt qua vòng loại giải đấu cấp châu lục.
== Xếp hạng theo số trận thắng ==
Tính đến ngày 30/06/2013
== Các huấn luyện viên vô địch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
google.txt | Google là một công ty Internet có trụ sở tại Hoa Kỳ, được thành lập vào năm 1998. Sản phẩm chính của công ty này là công cụ tìm kiếm Google, được nhiều người đánh giá là công cụ tìm kiếm hữu ích và mạnh mẽ nhất trên Internet. Trụ sở của Google tên là "Googleplex" tại Mountain View, California. Giám đốc công ty là Larry Page, một trong hai người sáng lập ra công ty. Tên "Google" là một lỗi chính tả của từ googol, bằng 10100. Google chọn tên này để thể hiện sứ mệnh của công ty để sắp xếp số lượng thông tin khổng lồ trên mạng. Googleplex, tên của trụ sở Google, có nghĩa là 10googol.
Đầu năm 2012, Google đứng đầu trong danh sách 100 công ty có môi trường làm việc tốt nhất ở Mỹ do tạp chí Fortune bình chọn với tỷ lệ tăng trưởng việc làm trong năm 2011 là 33%.
Tháng 8 2015, Google thông báo kế hoạch tái cơ cấu tập đoàn dưới một công ty mẹ mới có tên là Alphabet Inc.. Đầu năm 2016,Google là công ty đầu tiên vượt mặt Apple để trở thành công ty có giá trị thị trường lớn nhất thế giới với 570 tỷ USD vốn hóa và Apple xếp thứ 2 với 535 tỷ USD.
Tính đến tháng 9 năm 2016, Google là trang web được nhiều người truy cập nhất trên thế giới, đứng vị trí thứ 2 và thứ 3 là YouTube và mạng xã hội Facebook.
== Lịch sử ==
=== Ban đầu ===
Đầu tiên (1996), Google là một công trình nghiên cứu của Larry Page và Sergey Brin, hai nghiên cứu sinh tại trường Đại học Stanford. Họ có giả thuyết cho rằng một công cụ tìm kiếm dựa vào phân tích các liên hệ giữa các website sẽ đem lại kết quả tốt hơn cách đang được hiện hành lúc bấy giờ (1996). Đầu tiên nó được gọi là BackRub (Gãi lưng) tại vì hệ thống này dùng các liên kết đến để ước tính tầm quan trọng của trang.
Page và Brin tin rằng những trang có nhiều liên kết đến nhất từ các trang thích hợp khác sẽ là những trang thích hợp nhất. Họ đã quyết định thử nghiệm giả thuyết trong nghiên cứu của họ, tạo nền móng cho công cụ Google hiện đại bây giờ. Tên miền www.google.com được đăng ký ngày 15 tháng 9 năm 1997. Họ chính thức thành lập công ty Google, Inc. ngày 7 tháng 9 năm 1998 tại một ga ra của nhà Esther Wojcicki (cũng là nhân viên thứ 16 của Google, Phó Chủ tịch cấp cao, phụ trách bộ phận quảng cáo) tại Menlo Park, California. Trong tháng 2 năm 1999, trụ sở dọn đến Palo Alto, là thành phố có nhiều trụ sở công ty công nghệ khác. Sau khi đổi chỗ hai lần nữa vì công ty quá lớn, trụ sở nay được đặt tại Mountain View, California tại địa chỉ 1600 Amphitheater Parkway vào năm 2003.
Công cụ tìm kiếm Google được nhiều người ủng hộ và sử dụng vì nó có một cách trình bày gọn và đơn giản cũng như đem lại kết quả thích hợp và nâng cao. Trong năm 2000, Google đã bắt đầu bán quảng cáo bằng từ khóa để đem lại kết quả thích hợp hơn cho người dùng. Những quảng cáo này chỉ dùng văn chứ không dùng hình để giữ chất đơn giản của trang và tránh sự lộn xộn và đồng thời để trang được hiển thị nhanh hơn.
Google nhận được bằng sáng chế cho kỹ thuật sắp xếp trang web PageRank ngày 4 tháng 9 năm 2001. Bằng đưa quyền cho Đại học Stanford và liệt kê Larry Page là người sáng chế.
Trong tháng 2 năm 2003 Google mua được Pyra Labs, công ty chủ của Blogger, một trong những website xuất bản weblog lớn nhất.
Đầu năm 2004, khi Google ở tột đỉnh, Google đã xử lý trên 80% số lượng tìm kiếm trên Internet qua website của họ và các website của khách hàng như Yahoo!, AOL, và CNN. Sau khi Yahoo! bỏ Google để dùng kỹ thuật họ tự sáng chế vào tháng 2 năm 2004, số này đã bị tuột xuống.
Phương châm của Google là "Không làm ác" (Don't be evil). Biểu trưng của họ có khi được sửa đổi một cách dí dỏm vào dịp những ngày đặc biệt như ngày lễ hay sinh nhật của một nhân vật quan trọng. Giao diện của Google gồm trên 100 ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt và một số ngôn ngữ dí dỏm như tiếng Klingon và tiếng Leet. Vào ngày Cá tháng tư (tiếng Pháp: poisson d'avril, tiếng Anh: April Fool's Day) Google thường tung ra nhiều tin hài hước về công ty.
=== Phát hành cổ phiếu lần đầu ===
Vào tháng 1 năm 2004, Google tuyên bố đã thuê công ty Morgan Stanley và Goldman Sachs Group để tổ chức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Google chọn cách bán cổ phiếu bằng đấu giá, một điều hiếm có. Từ khi ra thị trường, giá Google đã lên đến gần $200 mỗi cổ phiếu từ $85 lúc đầu. Giá thị trường của Google đến nay là trên 527 tỷ đô la.Google còn nắm giữ kỷ lục tăng giá trị thị trường 65 tỷ trong 1 ngày.
== Sự phát triển ==
Khi thị trường ban đầu của công ty là trên thị trường web, Google đã bắt đầu thử nghiệm ở một số thị trường khác, ví dụ như Phát thanh hoặc Xuất bản. Ngày 17 tháng 1 năm 2006, Google công bố rằng công ty đã mua lại công ty quảng cáo phát thanh dMarc, công ty đã sử dụng một hệ thống tự động, cho phép các công ty quảng cáo trên radio. Điều này sẽ giúp Google kết hợp 2 kênh quảng cáo truyền thông là Internet và Radio, với khả năng của Google, nhắm thẳng vào tâm lý khách hàng. Google cũng bắt đầu thử nghiệm bán quảng cáo trên các kênh quảng cáo offline của công ty, như trên báo và tạp chí, với các quảng cáo được lựa chon trên Chicago-Sun Times. Họ đã lấp được một chỗ trống không bán được trên tờ báo mà trước đấy thường được dùng vào việc quảng cáo nhà.
Google được đưa vào danh sách 500 S&P index ngày 30 tháng 3 năm 2006, chiếm vị trí của Burlington Resources, một nhà sản xuất dầu chính ở Houston.Đến năm 2016 Google có 6 sản phẩm đạt trên 1 tỷ người sử dụng là Search,Chrome,Youtube,Play Store,Maps,Gmail,hệ điều hành Android.
== Các thương vụ mua bán và sự cộng tác ==
=== Các thương vụ mua bán ===
Từ năm 2001, Google đã mua được nhiều công ty nhỏ mới thành lập, thường là công ty có nhiều sản phẩm và đội ngũ nhân viên tốt. Một trong những công ty mà Google mua lại sớm nhất là Pyra Labs. Họ chính là những người sáng tạo ra Blogger, một nền tảng của việc xuất bản weblog, giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1999. Pyra Labs ban đầu được lập ra bởi Evan Williams, khi anh này rời Google vào năm 2004. Đầu năm 2006, Google mua lại Upstartle, một công ty chịu trách nhiệm xử lý từ ngữ trên mạng, Writely. Công nghệ của sản phẩm này rốt cuộc đã được Google sử dụng để tạo ra Google Docs & Spreadsheets.
Tháng 2 năm 2006, công ty phần mềm Adaptive Path bán Measure Map, một ứng dụng thống kê weblog cho Google.
Cuối năm 2006, Google mua lại trang web chia sẻ video trực tuyến YouTube với giá 1,65 tỷ USD bằng cổ phần. Không lâu sau, 31 tháng 10 năm 2006, Google công bố họ đã mua lại Jotspot, một nhà phát triển của công nghệ wiki cho các website cộng đồng.
Ngày 13 tháng 4 năm 2007, Google đạt được thỏa thuận mua lại DoubleClick. Google đã đồng ý mua lại công ty này với giá 3,2 tỷ USD.
Ngày 15 tháng 8 năm 2011, Google tuyên bố sẽ mua Motorola Mobility với giá 12,5 tỷ USD.
=== Sự cộng tác ===
Năm 2005, Google gia nhập hiệp hội với các công ty và tổ chức chính phủ khác để phát triển phần mềm và dịch vụ. Google công bố mối cộng tác với NASA Ames Reseach Center, xây dựng đến 1 triệu phòng chuyên trách và làm việc trong đề án nghiên cứu bao gồm Quản lý dữ liệu trên diện rộng, công nghệ nano, sắp xếp công việc sử dụng máy tính… Google cũng tham gia cộng tác với Sun Microsystem để chia sẻ và phân loại các công nghệ của nhau. Công ty cũng tham gia cộng tác với American Online của Time Warner để cải tiến dịch vụ video trực tuyến.
Năm 2007, Google và New Corp.’s Fox Interactive Media tham gia vào bản hợp đồng trị giá 900 triệu USD để phục vụ tìm kiếm vào quảng cáo trên trang mạng xã hội nổi tiếng, Myspace.
Ngày 22 tháng 3 năm 2010, Google rời khỏi thị trường khổng lồ Trung Quốc (tuy nhiên, các dịch vụ bản đồ trực tuyến và âm nhạc vẫn tiếp tục hoạt động). Google đóng cửa website google.cn, và thay vào đó chuyển tới trang google.com.hk để tránh bị kiểm duyệt nội dung. Nguyên nhân chính được cho là vì bất đồng quan điểm với chính quyền Trung Quốc. Ngày 30 tháng 3 năm 2010, mọi cách tìm kiếm bằng google (không chỉ google.cn mà còn các ngôn ngữ khác như google.co.jp. Google.com.au,..), bao gồm cả Google Mobile, đều bị chặn ở Trung Quốc. Hai dịch vụ như Google Mail và Google Maps không bị ảnh hưởng. Lệnh cấm được dỡ bỏ vào ngày hôm sau. http://www.google.com/prc/report.html
== Sản phẩm ==
Google hiện nay đã phát triển nhiều dịch vụ và công cụ cho cộng đồng chung cũng như trong lĩnh vực kinh doanh, bao gồm các ứng dụng Web, mạng lưới Quảng cáo và giải pháp kinh doanh.
=== Quảng cáo ===
Phần lớn thu nhập của Google đến từ các chương trình Quảng cáo trực tuyến. Google AdWords cho phép các đối tượng có nhu cầu Quảng cáo đăng Quảng cáo của mình trên kết quả tìm kiếm của Google và trên Google Content Network qua phương thức cost-per-click (trả tiền qua số lần click vào Quảng cáo) hoặc cost-per-view (trả tiền qua số lần xem Quảng cáo). Chủ các trang web Google AdSense cũng có thể hiển thị quảng cáo trên trang của họ và kiếm tiền mỗi lần banner quảng cáo được Click.
=== Ứng dụng ===
Google nổi tiếng bởi dịch vụ Tìm kiếm của nó, nhân tố chính dẫn đến thành công của Google. Vào tháng 12 năm 2006, Google là công cụ tìm kiếm được sử dụng nhiều nhất trên mạng chiếm 50,8% thị phần, vượt xa so với Yahoo (23,6 %) và Window Live Search (8,4%). Google liên kết với hàng tỷ trang web, vì thế người sử dụng có thể tìm kiếm thông tin mà họ muốn thông qua các từ khóa và các toán tử. Google cũng tận dụng công nghệ tìm kiếm của mình vào nhiều dịch vụ tìm kiếm khác, bao gồm Image Search (tìm kiếm ảnh), Google News, trang web so sánh giá cả Froogle, cộng đồng tương tác Google Groups, Google Maps và còn nhiều nữa.
Năm 2004, Google ra mắt dịch vụ email trên nền web, gọi là Gmail. Gmail hỗ trợ công nghệ lọc thư rác và khả năng sử dụng Công nghệ tìm kiếm của Google để tìm kiếm thư. Dịch vụ này tạo ra thu nhập bằng cách hiển thị quảng cáo từ dịch vụ AdWords mà phù hợp với nội dung của email hiển thị trên màn hình
Đầu năm 2006, Google ra mắt dịch vụ Google Video, dịch vụ không chỉ cho phép người dùng tìm kiếm và xem miễn phí các video có sẵn mà còn cho người sử dụng hay các nhà phát hành khả năng phát hành nội dung mà họ muốn, kể cả các chương trình truyền hình trên CBS, NBA và các video ca nhạc. Nhưng đến tháng 8 năm 2007, Google đã đóng cửa trang web này trước sự cạnh tranh của đối thủ Youtube cũng thuộc sở hữu của công ty
Google cũng đã phát triển một số ứng dụng nhỏ gọn, bao gồm cả Google Earth, một chương trình tương tác sử dụng ảnh vệ tinh. Ngoài ra công ty còn phát triển nhiều gói phần mềm văn phòng trên ứng dụng web tên là Google Docs nhằm cạnh tranh thị phần với Microsoft Office.
Nhiều ứng dụng khác nữa có tại Google Labs, một bộ sưu tập những phần mềm chưa hoàn chỉnh. Chúng đang được thử nghiệm để có thể đưa ra sử dụng trong cộng đồng.
Google đã đẩy mạnh quảng bá sản phẩm của họ bằng nhiều cách khác nhau. Ở London, Google Space được cài đặt tại sân bay Healthrow, ra mắt nhiều sản phẩm mới, bao gồm Gmail, Google Earth và Picasa. Ngoài ra, một trang web tương tự cũng được ra mắt cho sinh viên Mỹ dưới cái tên College Life, Powered by Google.
Vào ngày 2 tháng 9 năm 2008, Google đã thông báo sự xuất hiện của Google Chrome, một trình duyệt mã nguồn mở. Trình duyệt này được giới phân tích đánh giá sẽ là đối thủ cạnh tranh thị phần của Internet Explorer và Firefox.Cũng vào khoảng thời gian này Google Translate đã bổ sung thêm tiếng Việt trong dịch vụ dịch tự động của mình và tích hợp ngay trong công cụ tìm kiếm, giúp người sử dụng nhanh chóng hiểu được cơ bản nội dung trang web trình bày bằng tiếng nước ngoài.
Ngày 5 tháng 1 năm 2010, Google cho ra mắt điện thoại Nexus One, sản phẩm cộng tác với hãng điện thoại HTC. Nexus One chạy trên nền hệ điều hành Android 2.1 (cũng do hãng phát triển), được cho là đối thủ cạnh tranh ngang hàng với iPhone của Apple.
=== Sản phẩm phục vụ kinh doanh ===
Năm 2007, Google giới thiệu Google Apps Premium Edition, một phần mềm phù hợp cho việc kinh doanh, cung cấp dịch vụ email, tin nhắn, lịch…như một chương trình bảng tính. Sản phẩm này chủ yếu nhắm tới người sử dụng là doanh nhân, dùng để cạnh tranh trực tiếp với bộ phần mềm Microsoft Office, với giá chỉ 50USD một năm cho một người sử dụng, so với giá 500USD cho một người sử dụng của Microsoft Office. Google có một số lượng lớn người sử dụng Google App với 38.000 người ở Đại học Lakehead tại Thunder Bay, Ontario, Canada.
Cũng vào năm 2007, Google đã mua lại công ty Postini và sẽ tiếp tục phát triển công nghệ mà họ mua được từ công ty này và đặt tên là Google Security Services.
== Các dịch vụ chính ==
Blogger: Dịch vụ blog miễn phí của Google
Froogle: Tìm hàng hóa để mua (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Products)
Gmail: Dịch vụ thư điện tử
Google Alerts: Nhận tin tức và kết quả tìm kiếm qua thư điện tử
Google Answers: Dịch vụ trả lời có lệ phí (đã ngừng hoạt động) Website
Google Apps: Kho ứng dụng dành cho doanh nghiệp
Google Buzz: Mạng xã hội (đã ngừng hoạt động)
Google Calendar: Ứng dụng lịch trực tuyến
Google Catalogs: Ứng dụng đưa các catalog (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Book Search)
Google Code: Phát triển mã nguồn và lưu trữ các dự án mã nguồn mở
Google Cultural Institute: Viện bảo tàng tranh vẽ lớn
Google Docs: Công cụ soạn thảo văn bản, bảng tính và trình chiếu trực tuyến
Google Directory: Thư mục lấy từ Open Directory Project
Google Groups: Diễn đàn
Google Flights: Đặt chuyến bay Website
Google Images Search: Tìm kiếm hình ảnh
Google Input Tools
Google Labs: Thử nghiệm các ứng dụng và công cụ mới
Google Language Tools: Đã chuyển sang Google Translate
Google Local: Bản đồ địa phương (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Maps)
Google Maps: Bản đồ, chỉ hướng, hình từ vệ tinh toàn thế giới. Dịch vụ này của Google cho phép tạo bản đồ cá nhân và yêu cầu có một tài khoản Google.
Google Mobile: Sử dụng Google trên điện thoại di động
Google News: Tin tức
Google Pages Creator: Upload, lưu trữ file, tạo trang web trực tuyến miễn phí (đã ngừng hoạt động, chuyển sang Google Sites)
Google Print: Phiên bản sách in cũ, hiện đã chuyển sang Google Book Search
Google Reader: Trình đọc tin trực tuyến
Google Scholar: Tìm kiếm kho học liệu
Google SMS: Dịch vụ gởi tin nhắn miễn phí (đã ngừng hoạt động)
Google Sites: Ứng dụng làm trang web miễn phí
Google Shopping: Mua bán với Google
Google Translate: Công cụ dịch thuật trực tuyến hỗ trợ 65 ngôn ngữ khác nhau (tính đến 01/2013)
Google Video: Đăng tải video (đã ngừng cho phép tải video mới, chuyển sang dịch vụ YouTube)
Google Voice: Bạn có thể gọi điện từ tài khoản Gmail của mình từ danh sách Google Trò chuyện của bạn hoặc email của bạn
Google Web Accelerator: Truy cập trang web nhanh hơn
Google Web Albums: Quản lý lưu trữ hình ảnh, xuất bản hình ảnh trên web
Google+: Mạng xã hội
iGoogle: Trang chủ Google cá nhân tùy biến (đã ngừng hoạt động vào ngày 1 tháng 11 năm 2013)
Panoramio: Mạng xã hội chia sẻ ảnh
Webmaster Tools: Công cụ quản lý trang web trên máy chủ tìm kiếm của Google
YouTube: Đăng tải video và ứng dụng xã hội với video
=== Chương trình ===
Google Adwords: Chương trình quảng cáo dành cho các doanh nghiệp muốn quảng cáo trên Google và các trang đối tác
Google Adsense: Dịch vụ dành cho đối tác muốn đưa quảng cáo Google lên trang web của mình
=== Ứng dụng để bàn ===
Google Deskbar
Google Desktop Search
Google Earth: Xem bản đồ 3D của Google
Google Moon: Xem bản đồ 3D của mặt trăng từ Google
Orkut
Picasa
Google GO: Ngôn ngữ lập trình
Google Toolbar: Thanh công cụ trên Internet Explorer
Google Chrome: Trình duyệt web
Google Sidewiki: Ghi chú và nhận xét về các trang web mà người dùng xem
== Doanh thu hàng năm ==
Cuối năm 2004, Google thu được 1,837 tỉ USD, trong đó quý ba thu được 805,9 triệu USD, quý bốn là 1,032 tỉ USD.
Cuối năm 2005, Google khai báo thu nhập 6,137 tỉ USD, trong đó 1,256 tỉ USD là của quý một; 1, 384 tỉ của quý hai; 1,578 tỉ USD là quý ba và 1,919 tỉ USD là doanh thu đạt được trong quý bốn.
Cuối năm 2006, Google kiếm được 10,61 tỉ USD, trong đó quý một là 2,25 tỉ USD, quý hai là 2,46 tỉ, quý ba là 2,69 tỉ, và quý bốn là 3,21 tỉ USD.
Năm 2007 đạt doanh thu 16,59 tỉ USD, trong đó quý một là 3,66 tỉ USD, quý hai là 3,87 tỉ, quý ba là 4,23 tỉ, và quý bốn là 4,83 tỉ USD.
Năm 2008, doanh thu đạt 21,86 tỉ USD, trong đó quý một là 5,19 tỉ, quý hai là 5,37 tỉ, quý 3 là 5,54 tỷ, và quý bốn là 5,70 tỷ.
Năm 2009, Google kiếm được 23,64 tỷ USD. Quý một là 5,51 tỷ, quý hai là 5,52 tỷ, quý ba là 5,94 tỷ, và quý 4 là 6,67 tỷ USD.
Năm 2010, Google thu được 29,32 tỷ USD. Quý một là 6,77 tỷ, quý hai là 6,82 tỷ, quý ba là 7,29 tỷ, và quý bốnlà 8,44 tỷ USD.
Năm 2011, doanh thu đạt 37,1 tỷ USD, trong đó quý một là 8,58 tỷ, quý hai là 9,03 tỷ, quý ba là 9,72 tỷ, và quý bốn là 10,58 tỷ USD.
Năm 2012, Google đạt 51,38 tỷ USD, quý một là 10,65 tỷ, quý hai là 12,21 tỷ, quý ba là 14,10 tỷ, và quý bốn là 14,42 tỷ USD.
Năm 2013, quý 1 là 13,969 tỷ USD, quý 2 là 14,105 tỷ USD, quý 3 là 14,893 tỷ USD, quý 4 là 16,858 tỷ USD.
== Nguồn tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Google tiếng Việt
Google Google - Kỳ 1: Quan tâm tới điều không thể DAVID VISE và MARK MALSEED(Khánh Chi dịch), trên Báo Tuổi Trẻ. 02/12/2006 05:01 GMT+7
Loạt bài về Google trên Việt Nam Net năm 2006: kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3 và kỳ 4.
Mổ xẻ nền văn hóa Google từ... toilet (Kỳ I). Trọng Cầm (Theo Washington Post). VietNamNet Cập nhật lúc 16:10, Thứ Hai, 29/01/2007 (GMT+7)
Hướng dẫn đăng ký website vào Google. |
an nam.txt | An Nam (chữ Hán: 安南) là tên gọi cũ của Việt Nam, thông dụng trong giai đoạn 679 - 1945.
== An Nam thời Bắc thuộc ==
Thời Bắc thuộc (Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ), nhà Đường ở Trung Quốc đã đặt Việt Nam (tương ứng với khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay) là An Nam đô hộ phủ (679-757 và 766-866). Thời kỳ 757-766, Việt Nam mang tên Trấn Nam đô hộ phủ. Năm 866, thăng An Nam đô hộ làm Tĩnh Hải quân tiết độ.
Sau khi giành được độc lập, các triều vua Việt Nam thường phải nhận thụ phong của Trung Quốc, danh hiệu An Nam quốc vương (kể từ năm 1164).
Từ đó người Trung Quốc thường gọi nước Việt Nam là An Nam, bất kể quốc hiệu là gì. Chẳng hạn, Cao Hùng Trưng (đời nhà Minh) đã viết cuốn An Nam chí (nguyên) về đất nước Đại Việt.
Ngay cuốn sách in đầu tiên của một người Việt lưu vong ở Trung Hoa bằng chữ Hán năm 1335 cũng có nhan đề là An Nam chí lược (安南志略), do Lê Tắc (黎崱) viết.
Từ đó xuất hiện các cách gọi "người An Nam", "tiếng An Nam".
== An Nam theo cách gọi của phương Tây ==
Tên gọi An Nam do người Trung Quốc sử dụng dần dần được người châu Âu gọi theo. Chẳng hạn đã xuất hiện:
Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển (tiếng) An Nam - Bồ (Đào Nha) - Latinh) của Alexandre de Rhodes, năm 1651
Dictionarium Anamitico-Latinum (Từ điển An Nam - Latinh) của Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), soạn năm 1773 và được Jean-Louis Taberd biên tập lại và xuất bản năm 1838
Dictionnaire annamite - français (Từ điển An Nam - Pháp) của J. F. M. Génibrel, năm 1898
Nên nhắc lại là trong những tác phẩm do Alexandre de Rhodes viết nước "Annam" gồm có hai vùng "Tunquin" (Đàng Ngoài) và "Cochinchine" (Đàng Trong). "Cochinchine" lúc ấy, chỉ là miền Trung bây giờ: lúc sách La glorieuse mort d'André catechiste de la Cochinchine được in ra ở Paris vào năm 1653, thì cuộc Nam tiến của Đại Việt chỉ mới vào đến Nha Trang.
Trong lịch sử cận đại, "Annam" được sử dụng trong tiếng Pháp để chỉ phần đất Miền Trung Việt Nam (hay Trung Kỳ) do triều đình Huế của nhà Nguyễn cai trị dưới sự bảo hộ của Pháp. Ngày nay, người Việt thường hiểu từ "Annam" theo một nghĩa tiêu cực, mang hàm ý miệt thị dân tộc và vì vậy không thích sử dụng nó.
== Annam thuộc Pháp ==
Thời kỳ Pháp thuộc (1887-1945), Việt Nam bị chia thành ba miền Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam) và Nam Kỳ (Cochinchine) với ba chế độ quản lý khác nhau.
Annam là vùng đất do triều đình nhà Nguyễn cai quản dưới sự bảo hộ của Pháp. Khu vực hành chính có diện tích 150.200 km² nằm ở miền trung Việt Nam với thủ phủ là Huế. Trong phạm vi lãnh thổ của Annam còn có các đô thị lớn khác như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Quảng Trị, Vinh. Về mặt hình thức Annam là một quốc gia nằm trong Liên Hiệp Pháp, có bộ máy chính quyền đứng đầu bởi vua Nguyễn, có quốc kỳ, quốc ca. Tuy nhiên về thực chất toàn bộ bộ máy chính quyền tại đây đều bị một quan chức thuộc địa của Pháp - Khâm sứ Trung kỳ (Résident Supérieur d'Annam) giám sát và chi phối. Năm 1945, với việc vua Bảo Đại thành lập Đế quốc Việt Nam, Annam với tư cách là một vùng lãnh thổ hành chính về mặt pháp lý chấm dứt tồn tại.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dictionaire annamite - français (Từ điển An Nam - Pháp) của J. F. M. Génibrel, 1898
== Xem thêm ==
Quốc hiệu Việt Nam |
tiếng mân tuyền chương.txt | Tiếng Mân Tuyền Chương, còn gọi là "tiếng Phúc Kiến" (Hokkien), là một nhóm các phương ngôn có thể hiểu lẫn nhau của tiếng Trung Quốc Mân Nam, được sử dụng tại Đông Nam Trung Quốc, Đài Loan, Đông Nam Á, và bởi nhiều người Hoa hải ngoại. Xuất phát từ một phương ngữ tại miền Nam tỉnh Phúc Kiến, tiếng Mân Tuyền Chương có liên hệ gần với tiếng Triều Châu, dù giữa chúng khó có thể thông hiểu qua lại, và nó còn khác biệt nhiều hơn với tiếng Hải Nam. Các loại tiếng Mân khác và tiếng Khách Gia là những phương ngữ khác cũng được dùng tại Phúc Kiến, đa số chúng đều không thể thông hiểu qua lại được với tiếng Mân Tuyền Chương.
Trong lịch sử, tiếng Mân Tuyền Chương từng đóng vai trò là lingua franca trong các cộng đồng người Hoa hải ngoại tại Đông Nam Á, và ngày nay nó vẫn là phương ngữ tiếng Hán được nói phổ biến nhất trong khu vực.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
ngọc khuê (nhạc sĩ).txt | Ngọc Khuê (sinh năm 1947), tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Khuê, là nhạc sĩ người Việt Nam.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
Ngọc Khuê bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật của mình khi là diễn viên hát của Đoàn Ca Múa Phong không-Không quân. Sau đó, ông làm trưởng đoàn kiêm chỉ đạo nghệ thuật của Đoàn Nghệ thuật không quân, chủ nhiệm của Nhà văn hóa Quan chủng Không quân. Nhọc Khuê đã dàn dựng, chỉ đạo nghệ thuật cho nhiều chương trình ca múa nhạc đạt hiệu quả cao như Bầu trời, Mặt đất tôi yêu, Bầu trời và trái tim người lính.
== Phong cách nghệ thuật ==
Các ca khúc của Ngọc Khuê có giai điệu mềm mại, khoáng đạt.
== Các sáng tác ==
Các sáng tác của Ngọc Khuê được xuất bản thành các tập:
Tuyển chọn ca khúc Ngọc Khuê
Album Hạt nắng hạt mưa
Hoa và nắng
Các ca khúc tiêu biểu của ông là:
Tiếng hát bên dòng sông Mã
Mùa xuân làng lúa làng hoa
Hạt nắng, hạt mưa
Tìm em nơi phố nhỏ
Khoảng trời riêng em
Ba cô gái tinh nghịch
Áo nâu thương nhớ
Làng lúa làng hoa
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nhạc sĩ của làng lúa, làng hoa Hà Nội
Mùa xuân trong những ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Ngọc Khuê
Nhạc sĩ Ngọc Khuê và những tác phẩm viết về người chiến sĩ |
nhiễm sắc thể x.txt | Nhiễm sắc thể X là một trong hai nhiễm sắc thể quy định giới tính trong nhiều loài động vật, bao gồm cả động vật có vú (nhiêm sắc thể kia là nhiễm sắc thể Y) và được tìm thấy ở cả nam và nữ. Nó là một phần của hệ thống xác định giới tính XY và hệ thống xác định giới tính X0. Nhiễm sắc thể X được đặt tên bởi các nhà nghiên cứu đầu tiên cho tính chất độc đáo của nó, mà kéo theo việc đặt tên của nhiễm sắc thể Y đối tác của nó, chữ cái tiếp theo trong bảng chữ cái, sau khi nó được phát hiện ra sau đó. Nhiễm sắc thể X ở người kéo dài hơn 153 triệu cặp cơ sở (vật liệu xây dựng ADN). Nó đại diện cho khoảng 2000 từ 20.000 - 25.000 gene. Mỗi người thường có một cặp nhiễm sắc thể giới tính trong mỗi tế bào. Nữ giới có hai nhiễm sắc thể X, trong khi nam giới có một nhiễm sắc X và nhiễm sắc thể Y. Cả nam và nữ đều giữ một nhiễm sắc thể X của mẹ, và nữ giới giữ lại nhiễm sắc thể X thứ hai của họ từ cha của họ. Do người cha vẫn giữ nhiễm sắc thể X từ mẹ của mình, một người phụ nữ có một nhiễm sắc thể X từ bà nội của cô (bên cha), và một nhiễm sắc thể X từ mẹ cô.
Các gene xác định trên mỗi nhiễm sắc thể là một khu vực hoạt động của nghiên cứu di truyền. Do thực tế mà các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận khác nhau để dự đoán số lượng gen trên mỗi nhiễm sắc thể, số lượng ước tính của các gen thay đổi khác nhau. Nhiễm sắc thể X có chứa khoảng 2000 gen so với nhiễm sắc thể Y có chứa 78 gen, trong số 20.000 đến 25.000 gen ước tính tổng trong hệ gen của con người. Rối loạn di truyền do đột biến gene trên nhiễm sắc thể X được mô tả như X liên kết. Thiễm sắc thể X mang một vài nghìn gen nhưng rất ít, nếu có, trong số này có liên quan trực tiếp với việc xác định giới tính. Giai đoạn đầu trong quá trình phát triển phôi thai ở phụ nữ, một trong hai nhiễm sắc thể X là ngẫu nhiên và vĩnh viễn bất hoạt trong gần như tất cả các tế bào xôma (tế bào khác với các tế bào trứng và tinh trùng). Hiện tượng này được gọi là bất hoạt-X hoặc Lyonization, và tạo ra một cơ thể Barr. Bất hoạt X-đảm bảo rằng phụ nữ, giống như nam giới, có một bản sao chức năng của nhiễm sắc thể X trong mỗi tế bào cơ thể. Trước đây người ta giả định rằng chỉ có một bản sao được tích cực sử dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây cho thấy rằng cơ thể Barr có thể có hoạt tính sinh học hơn so với trước đây người ta nghĩ.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
việt nam tại thế vận hội.txt | Việt Nam lần đầu tiên tham dự Thế vận hội năm 1952 với tư cách Quốc gia Việt Nam, khi đất nước Việt Nam bị chia cắt chỉ còn lại Việt Nam Cộng hòa tranh tài từ năm 1956 cho đến năm 1972. Sau đó hai miền lại thống nhất dưới tên chung Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tranh tài từ năm 1980 tới nay. Vì lý do kinh tế và chính trị, Việt Nam không tham dự hai kỳ Thế vận hội 1976 & 1984. Đối với Thế vận hội Mùa đông, Việt Nam chưa từng cử đại diện tham gia.
== Bảng huy chương ==
=== Thành tích tại các kỳ Thế vận hội ===
=== Huy chương theo môn ===
== Vận động viên đoạt huy chương ==
== Chú thích == |
tự do hóa thương mại.txt | Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm: nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài.
== Nội dung của tự do hóa thương mại ==
Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ thương mại với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động thương mại quốc tế cả về bề rộng và bề sâu.
== Các biện pháp ==
Điều chỉnh theo chiều hướng nới lỏng dần nhập khẩu với bước đi phù hợp trên cơ sở các thỏa thuận song phương và đa phương với các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong quan hệ thương mại quốc tế.
== Xem thêm ==
Thương mại quốc tế
Bảo hộ mậu dịch
== Tham khảo ==
Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (2008), Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân. |
đảng cộng sản việt nam.txt | Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại Việt Nam hiện nay theo Hiến pháp (bản 2013), đồng thời là chính đảng duy nhất được phép hoạt động trên đất nước Việt Nam, và được đảm bảo bằng điều 4 Hiến pháp năm 1980. Theo Cương lĩnh và Điều lệ chính thức được công bố hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu của liên minh giai cấp công nhân, nông dân và lấy chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Trên thực tế, một số yếu tố của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa dân tộc và cả một vài yếu tố có tính truyền thống của ý thức hệ phong kiến cũng có những ảnh hưởng nhất định. Tại Việt Nam, trong các ngữ cảnh không chính thức, các phương tiện truyền thông, các nhà lãnh đạo thường dùng từ "Đảng" (hoặc "Đảng ta") để nói về Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cơ quan cao nhất của Đảng là Đại hội Đại biểu, nơi sẽ bầu ra Ban Chấp hành Trung ương. Giữa các kỳ đại hội đảng, Trung ương Đảng là cơ quan tối cao quyết định các vấn đề của đảng. Ngay sau Đại hội đảng, Trung ương sẽ bầu ra Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, và chỉ định người làm Tổng Bí thư.
Lãnh đạo hiện tại của Đảng là ông Nguyễn Phú Trọng.
== Vai trò ==
Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng lên Nhà nước và xã hội:
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của quốc gia này, đảng viên là những người nắm giữ nhiều cương vị chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Trong Di chúc của Hồ Chí Minh có viết:
== Cương lĩnh chính trị ==
== Điều lệ Đảng ==
Điều lệ Đảng là văn bản pháp lý cơ bản của Đảng, xác định tôn chỉ, mục đích, hệ tư tưởng, các nguyên tắc về tổ chức, hoạt động, cơ cấu bộ máy của Đảng; quy định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của đảng viên và của tổ chức đảng các cấp.
Mục đích của việc xây dựng Điều lệ Đảng là nhằm thống nhất tư tưởng, tổ chức và hành động trong toàn Đảng, thực hiện mục tiêu của Đảng. Điều lệ Đảng do Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng thông qua và ban hành. Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều phải chấp hành Điều lệ Đảng.
=== Những lần sửa đổi ===
Điều lệ Đảng đã được sửa đổi 12 lần tính tới hiện nay. Điều lệ do Đại hội Đảng toàn quốc thông qua và ban hành nên để phù hợp với bối cảnh mới khi tổ chức Đại hội Đảng các tổ soạn thảo thường đề xuất ý kiến để Đại hội thảo luận sửa đổi, bổ sung một số vần đề trong điều lệ.
Điều lệ đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3/2/1930 với tên gọi Điều lệ vắn tắt. Với văn bản ban đầu chỉ gói gọn trong 9 điều.
Những lần sửa đổi:
Hội nghị thành lập Đảng thông qua Điều lệ vắn tắt ngày 3/2/1930, gồm 9 điều
Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 29/3/1935 thông qua Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương gồm 59 điều 8 chương. Điều lệ sửa đổi bổ sung tôn chỉ hành động của Đảng từ "tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa" thành "làm cách mạng phản đế và điền địa". Bổ sung độ tuổi vào Đảng từ 23 tuổi trở lên; bổ sung quy định tước đảng tịch. Bổ sung sửa đổi tổ chức Đảng các cấp, quy định nhiệm vụ Thanh niên Cộng sản Đoàn với Đảng.
Đại hội lần thứ 2 Đảng Lao động Việt Nam, gồm 71 điều 13 chương. Sửa đổi tôn chỉ và mục đích của Đảng thành "đánh đuổi đế quốc xâm lược, xoá bỏ các di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, phát triển kinh tế, chính trị, vǎn hoá dân chủ nhân dân". Đưa chủ nghĩa Mác-Engels-Lênin-Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam hành động. Sửa đổi độ tuổi vào Đảng là từ 18 tuổi trở lên; Bổ sung nguyên tắc dân chủ tập trung trong Đảng; sửa đổi bổ sung tổ chức của Đảng gồm Đại hội Đảng toàn quốc-Trung ương Đảng, xứ ủy-khu ủy-liên khu ủy, tỉnh ủy-thành ủy, huyện uỷ-quận uỷ-thị uỷ, chi ủy. Quy định về nhiệm vụ của các cơ quan của Đảng. Bỏ quy định đoàn thanh niên cộng sản ra khỏi điều lệ.
Đại hội lần thứ 3 Đảng Lao động Việt Nam, gồm 62 điều 12 chương. Sửa đổi mục đích của Đảng thành "hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam". Sửa đổi chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của Đảng. Bổ sung nhiệm vụ đảng viên "thực hành tiết kiệm, tích cực đấu tranh chống lãng phí, tham ô". Bổ sung quy định chi tiết nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Sửa đổi tổ chức của Đảng, quy định nhiệm kỳ của Ban chấp hành Trung ương là 4 năm. Đưa Đoàn thanh niên vào điều lệ.
== Hệ tư tưởng và đường lối ==
Đảng Cộng sản thành lập năm 1930 sau là một phân bộ của Quốc tế Cộng sản, theo chủ nghĩa Mác - Ăngghen - Lênin.
Theo Điều lệ Đảng năm 1935:
Điều lệ Đảng năm 1951 xác định:
Đến Đại hội Đảng lần thứ 3 (1960) thì điều lệ đảng xóa bỏ chữ "Ǎngghen, Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông", và từ Đại hội Đảng lần thứ 7 (1991) thêm vào chữ "tư tưởng Hồ Chí Minh".
Đảng Lao động Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Chính cương của Đảng năm 1951 xác định:
Tại Đại hội III năm 1960, nghị quyết xác định: {cquote|Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiền phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân. Đảng gồm những người giác ngộ tiên tiến, gương mẫu, dũng cảm và hy sinh nhất trong giai cấp công nhân, trong nông dân lao động, trí thức cách mạng và các tầng lớp nhân dân lao động khác, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng mà phấn đấu. Đảng đại biểu quyền lợi của giai cấp công nhân, đồng thời đại biểu quyền lợi của nhân dân lao động và quyền lợi của dân tộc. Mục đích của Đảng là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.}}
Cương lĩnh của đảng năm 1991 xác định:
Nghị quyết của đảng năm 1991 cũng nêu rõ:
Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 ghi: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới".
Đảng Cộng sản Việt Nam được biết đến với việc đưa ra và phát triển cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế đường lối của Đảng hiện nay gây ra rất nhiều tranh luận từ phía bên ngoài, là "hữu khuynh" hay "theo đúng" tôn chỉ của chủ nghĩa Mác - Lênin. Các chính sách được cho là theo đường lối Kinh tế mới (NEP) của Lênin, nhưng cũng có ý kiến cho là những cải cách vượt xa cả NEP, và được cho là gần gũi với lý luận của Đặng Tiểu Bình và đường lối của Trung Quốc hiện nay. Trong khi đó tư tưởng Hồ Chí Minh được nhiều nhà nghiên cứu hiểu khác nhau và vận dụng khác nhau. Chính sách "Đổi mới" được đưa ra năm 1986 được một số người nhận định là "quay lại cái cũ" (như xóa bỏ cơ chế hợp tác xã kiểu cũ, cho tư nhân kinh doanh, khuyến khích tiêu dùng, khôi phục lại nhiều đền chùa, v.v...).
== Lịch sử ==
=== Hình thành ===
Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu cộng sản Việt Nam họp từ ngày 6 tháng 1 năm 1930 đến ngày 8 tháng 2 năm 1930 tại Hương Cảng, trên cơ sở thống nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương (Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng; thành viên từ một nhóm thứ ba tên là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không kịp có mặt). Hội nghị hợp nhất này diễn ra tại căn nhà của một công nhân ở bán đảo Cửu Long (Kowloon) từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2 năm 1930, đúng vào dịp Tết năm Canh Ngọ. Tham dự Hội nghị có 2 đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu An Nam Cộng sản Đảng (Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm) và 3 đại biểu ở nước ngoài (có Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, đại biểu của Quốc tế Cộng sản). Hội nghị quyết định thành lập một tổ chức cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một số văn kiện quan trọng như: Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi. Ngày 24 tháng 2 năm 1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh tại Đại hội II ghi ngày thành lập Đảng là 6 tháng 1 nhưng Nghị quyết tại Đại hội III năm 1960 đổi là ngày 3 tháng 2 năm 1930.
Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, họp Hội nghị lần thứ nhất tại Hồng Kông từ ngày 14 đến 31 tháng 10 năm 1930, tên của đảng được đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương theo yêu cầu của Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản) và Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên.
=== Hoạt động chống Pháp ===
Vừa ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ Tĩnh, mục đích thành lập chính quyền Xô viết. Phong trào này thất bại và Đảng Cộng sản Đông Dương tổn thất nặng nề vì khủng bố trắng của Pháp. Trước tình hình đó, đầu tháng 4/1931 Xứ ủy Trung Kỳ ra Chỉ thị thanh Đảng có nội dung "Đuổi sạch sành sanh ra ngoài hết thảy những bọn trí phú địa hào. Nếu đồng chí nào muốn làm cách mạng, tự nguyện đứng về phía giai cấp vô sản mà phấn đấu cũng không cho đứng trong Đảng.". Chỉ thị này khiến một số đảng viên thuộc đối tượng thanh Đảng ra đầu thú với chính quyền, hoặc chuẩn bị ra đầu thú. Xứ uỷ Trung Kỳ phải ra lệnh thu hồi chỉ thị.
Một thời gian trong thập niên 1930, tại miền Nam, Đảng Cộng sản và những người Trotskist hợp tác với nhau trên tờ báo La Lutte, mà Hồ Chí Minh sau cho là "một số đồng chí hợp tác vô nguyên tắc".
Năm 1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ I được bí mật tổ chức tại Ma Cao do Hà Huy Tập chủ trì nhằm củng cố lại tổ chức đảng, thông qua các điều lệ, bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá I gồm 13 ủy viên.
Đồng thời, một đại hội của Cộng sản Quốc tế thứ ba tại Moskva đã thông qua chính sách dùng mặt trận dân tộc chống phát xít và chỉ đạo những phong trào cộng sản trên thế giới hợp tác với những lực lượng chống phát xít bất kể đường lối của những lực lượng này có theo chủ nghĩa xã hội hay không để bảo vệ hòa bình chứ chưa đặt nhiệm vụ trước mắt là lật đổ chủ nghĩa tư bản. Việc này đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải xem các chính đảng có cùng lập trường chống phát xít tại Đông Dương là đồng minh. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7 năm 1936 do Lê Hồng Phong chủ trì tổ chức tại Thượng Hải, Đảng đã tạm bỏ khẩu hiệu "đánh đổ đế quốc Pháp" và "tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày" mà lập Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương, chống phát xít, đòi tự do, dân sinh dân chủ. Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ do chính quyền cánh tả Pháp ban hành, đảng hoạt động công khai, đấu tranh nghị trường, tham gia các cuộc bầu cử, sử dụng các quyền chính trị đấu tranh cho lợi ích công nông bình dân. Tháng 3 năm 1938, Hội nghị Trung ương do Hà Huy Tập chủ trì họp ở Hóc Môn, Sài Gòn đã đổi tên Mặt trận là Mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương cho phù hợp tình hình.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương lại đàn áp mạnh tay, Đảng đã chuyển hướng, coi giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu. Tháng 3 năm 1939, Đảng ra bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Đông Dương đối với thời cuộc. Tháng 11 năm 1939 Hội nghị Trung ương đảng họp tại Hóc Môn, Sài Gòn do Nguyễn Văn Cừ chủ trì đã thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế Đông Dương và Hội nghị Trung ương tháng 5 năm 1941 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì họp tại Cao Bằng lập ra Mặt trận Việt Minh. Thông qua mặt trận này, Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành chính quyền tại Việt Nam, được biết đến với tên gọi Cách mạng tháng Tám.
=== Tự giải tán ===
Ngày 11 tháng 11 năm 1945 Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, chuyển vào hoạt động bí mật, chỉ để một bộ phận hoạt động công khai dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Marx ở Đông Dương, mọi hoạt động công khai của đảng từ đây đều thông qua Mặt trận Việt Minh. Trên thực tế, Đảng vẫn hoạt động bí mật và giữ vai trò lãnh đạo chính quyền, chỉ đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc. Khi đó Việt Minh được xem như là một tổ chức chính trị tham gia bầu cử Quốc hội khóa I và chính quyền. Sau đó Việt Minh tham gia Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, cùng với Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam...
Sau này, Đại hội Đảng lần thứ III (tháng 9 năm 1960) quyết định lấy ngày 3 tháng 2 hằng năm là ngày kỉ niệm thành lập Đảng.
=== Đảng lãnh đạo tại miền Bắc ===
Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bị Việt Nam Quốc dân Đảng và một số sử gia phương Tây cáo buộc, sau khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, đã dựng lên Vụ án phố Ôn Như Hầu nhằm triệt hạ các đảng phái đối thủ chính trị của mình trong chính quyền liên hiệp.
Đảng được "lập lại", công khai (tại Việt Nam) với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam vào tháng 2 năm 1951, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ở Tuyên Quang. Đại hội này được diễn ra trong lúc diễn ra Chiến tranh Đông Dương lần thứ I. Đại hội này cũng tách bộ phận của Lào và Campuchia (vốn cùng thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương) thành các đảng riêng.
Sau đại hội II, Đảng Cộng sản thực thi chiến dịch cải cách ruộng đất. Trong cuộc cải cách, 810.000 hécta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ nông dân, chiếm khoảng 72,8% số hộ nông dân ở miền Bắc. Tuy nhiên, cuộc cải cách đã đấu tố oan nhiều người, dẫn đến nhiều cái chết oan (số liệu cụ thể chưa được xác định). Đến tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (họp từ 25/8 đến 24/9/1956) nhận định các nguyên nhân đưa đến sai lầm, và đề nghị thi hành biện pháp kỷ luật đối với Ban lãnh đạo chương trình Cải cách Ruộng đất như sau: Trường Chinh phải từ chức Tổng Bí thư Đảng, hai ông Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương ra khỏi Bộ Chính trị, và Hồ Viết Thắng bị loại ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III được tổ chức tại Hà Nội vào năm 1960 chính thức hóa công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc, tức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó và đồng thời tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tại miền Nam.Tiến hành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
Tại miền Nam, đảng bộ Miền Nam năm 1962 công khai lấy tên Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam, là thành viên và lãnh đạo Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam , tuyên truyền chủ nghĩa Mac - Lenin (thành phần Mặt trận còn có Đảng Dân chủ, và Đảng Xã hội cấp tiến và các tổ chức,... do những người cộng sản chủ trương thành lập).
=== Đảng lãnh đạo duy nhất tại Việt Nam ===
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, được tổ chức vào năm 1976 sau khi chấm dứt Chiến tranh Việt Nam, tên Đảng được đổi lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điều 4 Hiến pháp năm 1980 quy định "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội..."
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế Việt Nam càng trở nên khó khăn. Đại hội khởi xướng chính sách đổi mới, cải tổ bộ máy nhà nước, và chuyển đổi sang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong khi vẫn duy trì vị trí lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X năm 2006 tiếp tục chính sách đổi mới, đồng thời cho phép Đảng viên làm kinh tế tư nhân.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI năm 2011 thí điểm kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng
== Tổ chức ==
=== Đại hội Đại biểu Toàn quốc ===
Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng theo Chủ nghĩa Marx-Lenin với nguyên tắc tập trung dân chủ. Đại hội Đại biểu Toàn quốc là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng, là cơ quan duy nhất có quyền ban hành hoặc sửa đổi Điều lệ Đảng và cương lĩnh chính trị, thông qua báo cáo tổng kết nhiệm kỳ đã qua và thông qua nghị quyết về phương hướng hành động nhiệm kỳ tới, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất việc chấp hành nghị quyết của đại hội.
Đại hội Đảng được tổ chức thường kỳ 5 năm một lần để xác định đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Đại hội bất thường khi cần. Đồng thời Đại hội Đảng bộ Quân đội cũng tổ chức 5 năm 1 lần bầu ra Đảng ủy Quân sự Trung ương, gồm có một số ủy viên do Bộ Chính trị phân công và các ủy viên trong quân đội để lãnh đạo đường lối quân sự của Đảng đề ra.
=== Ban Chấp hành Trung ương ===
Giữa 2 kỳ đại hội, Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất. Nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương gồm:
Tổ chức chỉ đạo thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ đảng, các nghị quyết của đại hội đại biểu toàn quốc; quyết định những chủ trương, chính sách về đối nội, đối ngoại, công tác quần chúng và công tác xây dựng đảng; chuẩn bị đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tiếp theo, đại hội đại biểu toàn quốc bất thường (nếu có).
Bầu Bộ Chính trị; bầu Tổng Bí thư trong số Ủy viên Bộ Chính trị; thành lập Ban Bí thư gồm Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công; bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương; bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong số Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Quyết định số lượng Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc thường lệ 5 năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp Ủy trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường.
Các cơ quan trung ương tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương bao gồm:
Văn phòng Trung ương
Ban Tổ chức Trung ương
Ban Tuyên giáo Trung ương
Ban Dân vận Trung ương
Ban Đối ngoại Trung ương
Ban Nội chính Trung ương
Ban Kinh tế Trung ương
Hội đồng Lý luận Trung ương
Ban Cán sự Đảng Ngoài nước
Các đơn vị trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương bao gồm:
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Báo Nhân dân
Tạp chí Cộng sản
Các Đảng bộ trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương bao gồm
Quân ủy Trung ương
Đảng ủy Công an Trung ương
Đảng bộ các tỉnh, thành phố
Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương: Ban Chấp hành Đảng bộ tại các công ty và tập đoàn nhà nước
Đảng ủy Khối Cơ quan Trung ương: Ban Chấp hành Đảng bộ tại các cơ quan của Đảng Cộng sản, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao và Mặt trận Tổ quốc
==== Bộ Chính trị ====
Bộ Chính trị là cơ quan lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức, cán bộ; quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; báo cáo công việc đã làm trước hội nghị Ban Chấp hành Trung ương hoặc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương.
Các thành viên trong Bộ Chính trị do Ban Chấp hành Trung ương bầu ra. Bộ Chính trị gồm các ủy viên chính thức và có thể có các ủy viên dự khuyết.
Trên thực tế Bộ Chính trị là cơ quan quyền lực nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ quan quyết định và thi hành các chính sách chủ chốt của Đảng.
Các bạn chỉ đạo trung ương trực thuộc Bộ Chính trị bao gồm:
Ban Chỉ đạo Tây Bắc Bộ
Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên
Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp
Ban Chỉ đạo Phòng chống Tham nhũng
==== Ban Bí thư ====
Ban Bí thư là một cơ quan giám sát việc thi hành chính sách hàng ngày của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định một số vấn đề theo sự phân công của Ban Chấp hành Trung ương.
Thành phần Ban Bí thư gồm có Tổng Bí thư, một số Ủy viên Ban Bí thư do Ban Chấp hành Trung ương bầu trong số Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và một số Ủy viên Bộ Chính trị do Bộ Chính trị phân công.
==== Ủy ban Kiểm tra Trung ương ====
Ủy ban Kiểm tra Trung ương chuyên xem xét phẩm chất chính trị và tư cách đạo đức các đảng viên là cán bộ cao cấp, các vụ việc tiêu cực liên quan đến các đảng viên cao cấp.
Điều 32 Điều lệ Đảng quy định nhiệm vụ của Uỷ ban kiểm tra các cấp như sau:
Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.
Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng.
Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.
Uỷ ban kiểm tra có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên báo cáo, cung cấp tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra.
== Lãnh đạo ==
Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản và người tổ chức Hội nghị thống nhất đã chỉ định người đứng đầu Ban Chấp hành trung ương đầu tiên với cương vị Phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam là Trịnh Đình Cửu. Ông giữ chức vụ này cho đến ngày 27 tháng 10 năm 1930, sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ nhất kết thúc.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất diễn ra từ ngày 12 đến 27 tháng 10 năm 1930, Trần Phú được bầu vào vị trí đứng đầu Ban Chấp hành trung ương với danh xưng Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
Sau khi Tổng Bí thư Trần Phú bị bắt và mất trong nhà thương Chợ Quán ngày 6 tháng 9 năm 1931, chức vụ Tổng Bí thư bị khuyết do Trung ương Đảng bị truy bắt dữ dội, gần như tê liệt. Trước tình hình đó, dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, tháng 3 năm 1934, tại Ma Cao, Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Do tình hình Ban Chấp hành Trung ương trong nước gần như bị tê liệt, nên Ban Chỉ huy hải ngoại kiêm Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Chức vụ Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương bấy giờ giữ vai trò như Tổng Bí thư. Mãi đến Tháng 7 năm 1936, Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại Hà Huy Tập về nước và giữ chức Tổng Bí thư, trở lại thành chức vụ lãnh đạo cao nhất.
Cương vị lãnh đạo cao nhất của Tổng Bí thư được duy trì cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951. Tại đại hội này, xác lập chức vụ danh dự là Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, gọi tắt là Chủ tịch Đảng, được xem là cao hơn cương vị Tổng Bí thư. Tuy đây chỉ là chức vụ danh dự, nhưng do uy tín lớn của Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh, nên hầu như đây là chức vụ thực quyền, nhất là sau Hội nghị Trung ương về vấn đề sửa sai cải cách ruộng đất tháng 10 năm 1956, Tổng Bí thư Trường Chinh từ chức, Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh được coi như kiêm giữ luôn chức vụ Tổng Bí thư.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III tháng 9 năm 1960, tuy không bầu ra chức vụ Tổng bí thư, nhưng chức vụ Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam được thành lập, do Lê Duẩn nắm giữ. Chức vụ này mô phỏng theo Liên Xô, nhưng vẫn duy trì chức vụ Chủ tịch Đảng theo kiểu Trung Quốc. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969 thì chức vụ Chủ tịch Đảng cũng bị hủy bỏ.
Chức vụ Bí thư thứ nhất trở thành chức vụ đứng đầu Ban Chấp hành trung ương cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV tháng 12 năm 1976. Tại đại hội này, chức vụ Bí thư thứ nhất được bãi bỏ và chức vụ đứng đầu Ban Chấp hành trung ương trở thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, vẫn do Lê Duẩn nắm giữ. Từ đó, chức vụ này ổn định vai trò và danh xưng cho đến tận ngày nay.
Tổng Bí thư đương nhiệm là Nguyễn Phú Trọng.
== Đảng viên ==
Số lượng Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam tính đến kỳ đại hội XII (năm 2016) là khoảng hơn 4,5 triệu đảng viên.
== Xem thêm ==
Đảng cộng sản
Chủ nghĩa cộng sản
Danh sách tổ chức chính trị Liên bang Đông Dương
Danh sách tổ chức chính trị Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hệ thống đơn đảng
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của ĐCSVN
Báo Nhân dân: cơ quan trung ương của ĐCSVN
Chuyên trang lịch sử ĐCSVN trên VOV
Tạp chí Cộng sản |
dấu câu.txt | Dấu câu là cách sử dụng khoảng trắng, các ký hiệu quy ước và các thiết bị đánh máy nào đó để hỗ trợ việc đọc (đọc lớn hoặc đọc thầm) và hiểu đúng các đoạn văn bản in ấn hoặc viết tay. Một khái niệm khác định nghĩa: "Dấu câu là một thói quen, hành động hay hệ thống của việc chèn các điểm và các ký hiệu nhỏ khác vào các đoạn văn bản, để hỗ trợ sự diễn dịch, phân chia văn bản thành các câu, mệnh đề,... bằng các dấu câu, chẳng hạn như dấu chấm."
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Allen, Robert (ngày 25 tháng 7 năm 2002). Punctuation. Oxford University Press. ISBN 0-19-860439-4.
Amis, Kingsley (ngày 2 tháng 3 năm 1998). The King's English: A Guide to Modern Usage. HarperCollins. ISBN 0-00-638746-2.
Fowler, Henry Watson; Francis George Fowler (tháng 6 năm 2002) [1906]. The King's English. Oxford University Press. ISBN 0-19-860507-2.
Gowers, Ernest (1948). The Complete Plain Words. London: Office of Public Sector Information.
Houston, Keith (2013). Shady Characters: Ampersands, Interrobangs and other Typographical Curiosities. Particular.
Parkes, Malcolm Beckwith (1993). Pause and Effect: An Introduction to the History of Punctuation in the West. University of California Press. ISBN 0-520-07941-8.
Patt, Sebastian (2013). Punctuation as a Means of Medium-Dependent Presentation Structure in English: Exploring the Guide Functions of Punctuation. Tübingen: Narr Francke Attempto Verlag. ISBN 978-3-8233-6753-6.
== Liên kết ngoài ==
Larry Trask: Guide to Punctuation A helpful online resource
History of Punctuation, in French Helpful photographs of early punctuation
Punctuation Marks in English: Clarity in Expression
Unicode reference tables:
U2000 “General punctuation” (PDF).
U3000 “CJK Symbols and Punctuation” (PDF).
UFE30 “CJK Compatibility Forms” (PDF).
UFE50 “Small Form Variants” (PDF).
UFF00 “Halfwidth and Fullwidth Forms” (PDF).
Ethiopic script
Automatic Recovery of Capitalization and Punctuation of Automatic Speech Transcripts
English Punctuation Rules
Punctuation marks with independent clauses, by Jennifer Frost |
713.txt | Năm 713 trong lịch Julius.
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
nhóm nguyên tố 8.txt | Nhóm nguyên tố 8 là nhóm gồm 4 nguyên tố sắt (Fe), rutheni (Ru), osmi (Os) và hassi (Hs) trong bảng tuần hoàn, nhóm này còn có tên gọi khác là nhóm sắt.
== Tham khảo == |
danh sách quốc gia được công nhận hạn chế.txt | Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế đề cập tới các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ được công nhận hạn chế là một quốc gia có chủ quyền (theo định nghĩa của Công ước Montevideo) trên phạm vi toàn thế giới. Các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có mặt trong danh sách này khi chính phủ của nó có quyền lực thực tế trên quốc gia, vùng lãnh thổ đó, hoặc nó được công nhận bởi ít nhất một quốc gia đã được công nhận ở phạm vi quốc tế. Danh sách này đề cập tới trạng thái địa chính trị thế giới ở thời điểm hiện tại, xin xem Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế trong lịch sử để biết tới các trường hợp tương tự trong quá khứ. Các "quốc gia đã được công nhận" hay "quốc gia đầy đủ" ở đây bao gồm 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc và Tòa Thánh (được coi là một lãnh thổ có chủ quyền nhưng không phải là thành viên đầy đủ của Liên Hiệp Quốc).
== Chưa được nước nào công nhậnSửa đổi ==
== Chỉ được các quốc gia không đầy đủ công nhậnSửa đổi ==
== Chỉ được thiểu số quốc gia thành viên LHQ công nhậnSửa đổi ==
== Quan sát viên LHQ và được nhiều thành viên LHQ công nhậnSửa đổi ==
== Là thành viên LHQ nhưng bị một số quốc gia thành viên khác không công nhậnSửa đổi ==
== Xem thêmSửa đổi ==
Tiểu quốc gia
Danh sách quốc gia được công nhận hạn chế trong lịch sử
Danh sách quốc gia không còn tồn tại
== Ghi chúSửa đổi ==
^I Xem Phản ứng quốc tế trước tuyên bố độc lập của Kosovo
^II Xem Vị thế chính trị của Đài Loan
== Tham khảoSửa đổi == |
thành phố trung tâm (nhật bản).txt | Thành phố trung tâm (tiếng Nhật: 中核市, romaji: chūkaku-shi, Hán-Việt: trung hạch thị) là những đơn vị hành chính cấp hạt ở khu vực thành thị có dân số trên 30 vạn người, được Thủ tướng Nhật Bản chỉ định căn cứ Luật Tự chủ Địa phương vào nghị quyết của hội đồng đô đạo phủ huyện mà thành phố này trực thuộc và nghị quyết của hội đồng thành phố.
Các thành phố trung tâm được phân cấp rất nhiều chức năng so với các thị đinh thôn khác, chỉ kém các thành phố cấp quốc gia.
Hiện tại, Nhật Bản có 40 thành phố đã được chỉ định là các thành phố trung tâm. Dưới đây là danh sách các thành phố đó.
== Xem thêm ==
Đô thị cấp quốc gia của Nhật Bản
Thành phố đặc biệt (Nhật Bản)
== Tham khảo == |
dominica.txt | Dominica là một đảo quốc trong vùng Biển Caribê. Không nên nhầm lẫn nước này với Cộng hoà Dominica, một quốc gia khác trong vùng Caribê. Trong tiếng Latin tên của quốc gia này có nghĩa là "Chủ Nhật", đó là ngày hòn đảo được Cristoforo Colombo khám phá.
Tên chính thức là Thịnh vượng chung Dominica. Tên của Dominica thời tiền Colombo là Wai'tu kubuli, có nghĩa "người cô ta cao." Người thổ dân Kalinago trên hòn đảo, thường bị gọi sai thành người 'Carib', có một vùng lãnh thổ giống với vùng lãnh thổ dành riêng cho người da đỏ của Canada. Vì hòn đảo này đã trải qua một giai đoạn chiếm đóng của Pháp và năm giữa hai lãnh thổ hải ngoại của Pháp (Guadeloupe ở phía bắc và Martinique ở phía nam), nên thỉnh thoảng nó được gọi là "Dominica thuộc Pháp". Nó cũng có tên hiệu "Hòn đảo thiên nhiên của vùng Caribê" vì vẻ đẹp tự nhiên chưa bị xâm phạm.
Dominica là một trong những đảo trẻ nhất vùng Tiểu Antilles, và nó vẫn đang được thành tạo bởi hoạt động địa nhiệt của núi lửa. Đây là một hòn đảo có nhiều núi non và những khu rừng mưa, nơi sinh sống của nhiều loài thực vật, động vật và chim quý hiếm. Tại một số vùng ở bờ biển phía tây có những vùng khí hậu khô, nhưng trong sâu trong đất liền lượng mưa khá lớn. Vẹt Sisserou là loài động vật được vẽ trên quốc kỳ Dominica. Nền kinh tế Dominica phụ thuộc nhiều vào cả du lịch và nông nghiệp.
== Lịch sử ==
Dominica lần đầu tiên được người châu Âu, gồm cả Cristoforo Colombo, quan sát thấy năm 1493. Họ đã gặp những người thổ dân thuộc bộ tộc Carib, nhưng nhanh chóng rời hòn đảo này sau khi bị người Carib đánh bại. Truyện kể rằng khi được yêu cầu miêu tả hòn đảo ấy ở "Thế giới Mới," Colombo đã bóp một mảnh giấy da lởm chởm và ném lên trên bàn. Ông giải thích, đó chính là hình dáng của Dominica - được bao phủ bởi toàn những núi và hầu như không có nơi nào bằng phẳng. Năm 1627 Anh Quốc cũng đã tìm cách xâm chiếm Dominica nhưng thất bại. Năm 1635 Pháp tuyên bố chủ quyền với hòn đảo và gửi các nhà truyền giáo tới đó, nhưng họ không thể lấy Dominica từ tay người Caribs. Họ đã rời bỏ hòn đảo này, cùng với đảo Saint Vincent, trong những năm 1660.
Trong vài trăm năm tiếp sau Dominica tiếp tục ở tình trạng cô lập, và thậm chí còn có thêm nhiều người Caribs tới sống ở đây sau khi họ bị những người châu Âu đuổi khỏi những hòn đảo lân cận trong vùng. Pháp đã chính thức chấm dứt chủ quyền với Dominica và nhường lại cho Anh Quốc năm 1763. Sau đó người Anh đã thiết lập ở đây một chính phủ và biến hòn đảo thành thuộc địa năm 1805. Công cuộc giải phóng nô lệ châu Phi diễn ra trên toàn Đế chế Anh năm 1834, và tới năm 1838, Dominica đã trở thành thuộc địa đầu tiên của Anh tại Caribe có cơ quan lập pháp do người da đen kiểm soát. Năm 1896, Anh Quốc tái chiếm quyền kiểm soát chính phủ Dominica và biến nước này thành một thuộc địa hoàng gia. Nửa thế kỷ sau, từ năm 1958 tới năm 1962, Dominica trở thành một tỉnh của nhà nước tồn tại ngắn ngủi Liên bang Tây Ấn. Năm 1978 Dominica cuối cùng trở thành một quốc gia độc lập. Sự giàu mạnh của Dominica đã có bước phát triển năm 1980 khi chính quyền cai trị độc tài và tham nhũng bị thay thế bởi chính quyền Mary Eugenia Charles, nữ thủ tướng đầu tiên vùng Caribe, người đã giữ chức vụ trong 15 năm. Năm 1995 Charles từ chức và được thay thế bởi Edison James.
== Chính trị ==
Dominica là một nước theo chế độ dân chủ nghị viện bên trong Khối thịnh vượng chung. Tổng thống là lãnh đạo nhà nước, còn quyền lực hành pháp nằm trong tay Nội các, do Thủ tướng lãnh đạo. Nghị viện đơn viện gồm 30 thành viên Quốc hội, 20 người là thành viên thông qua bầu cử và chín người là Thượng nghị sĩ, họ có thể được Tổng thống chỉ định hay được những thành viên khác trong Quốc hội bầu ra.
Không giống các cựu thuộc địa khác của Anh trong vùng, Dominica chưa từng là một vương quốc thịnh vượng chung (Commonwealth realm) với nữ hoàng Anh là nguyên thủ quốc gia của họ, bởi vì nước này đã trở thành một nền cộng hoà độc lập. Dominica là một thành viên đầy đủ của Cộng đồng Caribe (CARICOM) và Tổ chức các quốc gia đông Caribe (OECS). Dominica cũng là một thành viên của Tòa án Tội phạm Quốc tếvới một Thỏa thuận Miễn trừ Song phương bảo vệ cho quân đội Hoa Kỳ (như được quy định trong Điều 98).
== Địa lý ==
Dominica là một đảo quốc và là quốc gia không có biên giới trong vùng biển Caribe, phía cực nam Quần đảo Leeward. Kích thước quốc gia này khoảng 754 km² (291 dặm vuông). Thủ đô là Roseau.
Dominica phần lớn bao phủ bởi rừng mưa và là nơi có hồ sôi lớn thứ hai thế giới. Dominica cũng có rất nhiều thác nước, sông, suối. Một số loài thực vật và động vật dù đã tuyệt chủng trên các hòn đảo lân cận vẫn được tìm thấy trong những khu rừng Dominica. Trạng thái núi lửa của hòn đảo và sự thiếu vắng các bãi biển cát khiến Dominica trở thành một địa điểm lặn biển nổi tiếng. Dominica cũng là quốc gia có nhiều vùng bảo vệ, gồm cả Công viên quốc gia Cabrits.
Dominica đang có tranh cãi từ lâu với Venezuela về việc Venezuela tuyên bố chủ quyền vùng biển quanh Isla Aves (Đảo Chim), một hòn đảo nhỏ cách 70 dặm (110 km) phía tây đảo Dominica.
== Kinh tế ==
Kinh tế Dominica phụ thuộc vào cả du lịch và nông nghiệp. Bốn mươi phần trăm lao động Dominica làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, xuất khẩu nông nghiệp chính của Dominica gồm thuốc lá, chuối, rau, cam quýt, cùi dừa, dầu dừa, và dầu tinh chất như dầu nguyệt quế. Các ngành công nghiệp của đất nước, ngoài du lịch, gồm xà phòng, đồ nội thất, bê tông đúc sẵn, và giày dép. Dominica được hưởng lợi thế có một trường y hải ngoại, Đại học Ross, tại thị trấn phía bắc Portsmouth. Khoảng 900 sinh viên đang sống và học tập tại Portsmouth.
Kinh tế Dominica có tỷ lệ nghèo khổ (30%), thất nghiệp (23%) cao, và mức GDP trên đầu người thấp (US$5.400). Kinh tế Dominica đã bị ảnh hưởng mạnh vì các vấn đề trong ngành công nghiệp chuối. Toàn bộ nền kinh tế bị tác động khi thời tiết làm thiệt hại sản lượng thu hoạch chuối, hay khi giá chuối giảm. Liên minh châu Âu dần bãi bỏ ưu đại tiếp cận thị trường của sản phẩm chuối từ nước này khiến nhu cầu giảm sút. Đối mặt với điều đó, chính phủ Dominica đã tư nhân hóa công nghiệp chuối. Tương tự, chính phủ tìm cách đa dạng hóa nền kinh tế và bãi bỏ các biện pháp kiểm soát giá cả trong nỗ lực nhằm cải thiện nền kinh tế phát triển chậm chạp. Chính phủ cũng tìm cách phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái. Vì thiếu một cảng hàng không quốc tế cùng những bãi biển cát, đặc điểm tự nhiên với nhiều rừng mưa nhiệt đới cũng như cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ được bảo vệ tốt chính là những ưu thế phát triển du lịch sinh thái quốc gia. Quả vậy, cần nhớ rằng trong số toàn bộ những hòn đảo vùng Caribe, Dominica là nơi duy nhất Christopher Columbus vẫn có thể nhận ra được.
Tính đến năm 2016, GDP của Dominica đạt 524 USD, đứng thứ 184 thế giới và đứng thứ 11 khu vực Caribe.
== Nhân khẩu ==
Hầu như toàn bộ 70.000 người dân Dominica hiện nay đều là con cháu của những người nô lệ, được các chủ đồn điền thực dân đưa tới đây từ thế kỷ 18. Tuy nhiên, Dominica là một trong số ít hòn đảo vùng Đông Caribe có một số dân là người da đỏ Carib thời tiền Columbo, khoảng 3000 người trong số đó sống ở bờ biển phía đông hòn đảo trên lãnh thổ của riêng họ. Chưa tới 200 người trên hòn đảo này là người da trắng.
Tốc độ tăng trưởng dân số Dominica rất thấp, chủ yếu vì sự di cư tới những nơi phát triển hơn Anh Quốc, Hoa Kỳ, hay Canada. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Dominica và được sử dụng rộng rãi; tuy nhiên, vì có lịch sử đô hộ của Pháp, "Patois", một loại ngôn ngữ creole dựa trên tiếng Pháp, là tiếng mẹ đẻ của 80% dân Dominica và đây là một trong những lý do khiến Dominica gia nhập Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp (Francophonie). Khoảng 80% dân số theo Thiên chúa giáo, dù trong những năm gần đây một số Nhà thờ tin lành đã được thành lập.
== Văn hóa ==
Dominica là nơi sinh sống của nhiều tộc người. Trong lịch sử tồn tại của nhiều bộ tộc thổ dân ở đây, chỉ bộ tộc Carib còn sót lại khi những người định cư châu Âu đầu tiên tới hòn đảo. Những người định cư Pháp và Anh đều tuyên bố chủ quyền với hòn đảo này, và đã nhập khẩu nô lệ từ Châu Phi. Những người Carib bản xứ có một khu dành riêng để tiếp tục sống theo cách truyền thống. Sự hòa trộn các nền văn hóa này là một yếu tố quan trọng của Dominica.
Nhà văn nổi tiếng Jean Rhys sinh ra và lớn lên tại Dominica. Hòn đảo này đã được gián tiếp miêu tả trong cuốn sách nổi tiếng nhất của bà, Wide Sargasso Sea. Người bạn của Rhys, nhà hoạt động chính trị và tác gia Phyllis Shand Allfrey, đã viết cuốn tiểu thuyết, The Orchid House ISBN 0-8135-2332-X, tại Dominica.
Thổ ngữ Dominica bao gồm cả Cocoy và Patois Pháp. "Cocoy", chủ yếu là ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Anh London do người định cư Anh mang sang và kiểu phát âm châu Phi. Cocoy chủ yếu được dùng ở vùng phía đông bắc đảo. Tiếng patois Pháp được dùng nhiều hơn có nguồn gốc từ những người định cư Pháp sống ở các hòn đảo Guadeloupe và Martinique lân cận.
== Xem thêm ==
Viễn thông Dominica
Quan hệ nước ngoài Dominica
Quân đội Dominica
Vận tải Dominica
Âm nhạc Dominica
Danh sách nhân vật Dominica
Hiệp hội hướng đạo sinh Dominica
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tin tức
Latest news from Dominica
Chỉ dẫn
Dominica's history & culture
Videos and Photos of Dominica, above and under the waves
Du lịch
Official tourism website
Dominica World Creole Music Festival
In-depth travel & tourism site
Travel and tourism guide for Dominica
Dominica's Radio Stations
Ảnh
mydominica.org: Extensive photographs of Dominica's towns, villages, landscape and scenery
pembo13.com: Some photographs from around Dominica
Scuba Diving photos |
giải bóng đá vô địch đông nam á.txt | Giải bóng đá vô địch Đông Nam Á (tiếng Anh: AFF Championship, tên gọi khác tiếng Anh: ASEAN Football Championship) là giải bóng đá giữa các đội tuyển bóng đá quốc gia Đông Nam Á do Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF) tổ chức. Giải lần đầu tiên diễn ra tại Singapore năm 1996 với tên gọi Cúp Tiger (Tiger Cup) với 10 đội tuyển và nhà vô địch đầu tiên là Thái Lan. Tên gọi Cúp Tiger được giữ đến hết giải lần thứ 5 (năm 2004). Tại giải lần thứ 6 (năm 2007), giải còn được gọi là Giải vô địch AFF. Giải lần thứ 7 (năm 2008), Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á được gọi là Cúp AFF Suzuki 2008. Tính đến nay, Thái Lan là quốc gia đoạt chức vô địch AFF Cup nhiều lần nhất với 5 lần đăng quang
== Các trận chung kết và tranh hạng ba ==
Từ năm 2004, vòng đấu loại trực tiếp diễn ra trong hai lượt đi và về mà không có luật bàn thắng sân khách sau 90 phút, nhưng có sau hiệp phụ. Tuy nhiên kể từ năm 2010, luật bàn thắng sân khách chính thức có hiệu lực.
Kể từ năm 2007, không có trận tranh hạng 3. Do đó, không có vị trí thứ 3 và vị trí thứ 4 được trao giải thưởng. Vòng bán kết được liệt kê theo thứ tự chữ cái.
== Thành tích tại các quốc gia ==
INE = Không đủ điều kiện (1 thành viên không chính thức của AFF cho đến năm 2013)
DNP = Không tham dự
DNQ = Không vượt qua vòng loại
DNE = Không tham dự (là 1 phần của Indonesia)
GS = Vòng bảng
SF = Bán kết (Kể từ năm 2007 không có trận tranh hạng 3)
=== Bảng huy chương ===
* Bán kết (Kể từ năm 2007 không có trận tranh hạng ba)
== Vua phá lưới ==
=== Ghi nhiều bàn thắng nhất giải ===
Tính đến sau AFF Suzuki Cup 2016, ghi nhiều bàn thắng nhất giải là
In đậm là cầu thủ vẫn còn chơi bóng đá quốc tế.
=== Cầu thủ xuất sắc nhất ===
== Bảng xếp hạng tổng hợp ==
Lưu ý: Theo thống kê quy ước trong bóng đá, các trận đấu được quyết định trong hiệp phụ được tính là thắng và thua, trong khi các trận đấu được quyết định bằng phạt luân lưu được tính là hòa.
Lưu ý: Bảng này đã được cập nhật từ giải đấu đầu tiên đến Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2016
== Xem thêm ==
Bóng đá tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Giải vô địch bóng đá Đông Á
Giải vô địch bóng đá Nam Á
Giải vô địch bóng đá Tây Á
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á trên trang lưu trữ RSSSF |
vương quốc hawaii.txt | Vương quốc Hawaii được thành lập vào năm 1795 với sự chinh phục của các tiểu vương quốc độc lập nhỏ hơn O'ahu, Maui, Moloka'i, và Lāna'i thành một chính phủ. Năm 1810, toàn bộ các hòn đảo cuối cùng cũng được thống nhất khi Kaua'i và Ni'ihau gia nhập vương quốc tự nguyện và không có đổ máu hay chiến tranh. Vương quốc này bị lật đổ trong 17 tháng 1 năm 1893 và Cộng hòa Hawaii được thành lập, cuối cùng trở thành tiểu bang Hawaii.
== Lịch sử ==
Một loạt các trận chiến kéo dài 15 năm, được chỉ huy bởi thủ lĩnh chiến binh người sau này trở thành Kamehameha Đại đế. Vương quốc Hawaii đã được thành lập với sự giúp đỡ của các loại vũ khí phương Tây và các cố vấn, như John Young và Isaac Davis. Mặc dù thành công trong việc tấn công cả O'ahu và Maui, ông đã không thể đảm bảo một chiến thắng trong Kaua'i, nỗ lực của ông bị cản trở bởi một cơn bão và một bệnh dịch làm suy kiệt quân đội của ông. Cuối cùng, Kaua'i thề trung thành với Kamehameha. Sự thống nhất kết thúc xã hội Hawaii cổ, biến nó thành một chế độ quân chủ lập hiến độc lập thủ công trong truyền thống và cách thức của quốc vương châu Âu.
== Các quốc vương Hawaii: ==
Kamehameha I Đại đế: 1782 - 1819
Kamehameha II: 1819 - 1824
Nữ hoàng Ka ʻ ahumanu: 1824 - 1827
Kamehameha III: 1824 - 1854
Kamehameha IV: 1855 - 1863
Kamehameha V: 1863 - 1872
Lunalilo: 1872 - 1874
Kalākaua: 1874 - 1891
Liliʻuokalani: 1891 - 1893
== Các Tổng thống Cộng hòa Hawaii (Toàn quyền Mỹ ở Hawaii và Thống đốc Hawaii - từ 1959 đến nay) ==
Sanford B. Dole: 1894 - 1903, làm Toàn quyền đầu tiên năm 1900.
George R. Carter: 1903 - 1907
Walter F. Frear: 1907 - 1913
Lucius E. Pinkham: 1913 - 1918
Charles J. McCarthy: 1918 - 1921
Wallace R. Farrington: 1921 - 1929
Lawrence M. Judd: 1929 - 1934
Joseph Poindexter: 1934 - 1942
Ingram Stainback: 1942 - 1951
Oren E. Long: 1951 - 1953
Samuel Wilder King: 1953 - 1957
William F. Quinn: 1957 - 1962
John A. Burns: 1962 - 1974
George Ariyoshi: 1974 - 1986
John D. Waihee III: 1986 - 1994
Ben Cayetano: 1994 - 2002
Linda Lingle: 2002 - 2010
Neil Abercrombie: 2010 - 2014
David Ige: 2014 - nay
== Chú thích == |
kitô giáo.txt | Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hay Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán-Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, Abraham là tổ phụ của người Do Thái và người Ả Rập (hai tôn giáo còn lại là Do Thái giáo và Hồi giáo), đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô như được ký thuật trong Kinh thánh Tân Ước. Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng Giêsu là Con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước. Thuộc tôn giáo độc thần, hầu hết Kitô hữu tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong ba thân vị (tiếng Hy Lạp: hypostasis) gọi là Ba Ngôi. Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa, cũng như các xác tín và hệ phái khác nhau. Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính là Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương và Tin Lành (còn gọi là Kháng Cách). Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với 2,4 tỉ tín hữu, chiếm khoảng 33% dân số thế giới (năm 2015).
Từ "Kitô" xuất phát từ chữ Khristos trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch từ chữ Messiah trong tiếng Hebrew. Từ "Kitô hữu" có nghĩa là "người có Chúa Kitô hiện hữu (ở trong)", hay "người thuộc về Chúa Kitô".
Trong tiếng Việt, bên cạnh từ "Kitô" (như Kitô giáo) phiên âm qua tiếng Bồ Đào Nha, và thường được sử dụng bởi tín hữu Công giáo, còn có từ "Cơ Đốc" (như Cơ Đốc giáo) xuất phát từ chữ Nho (基督) và thường được những người theo đạo Tin Lành sử dụng. Trong khi người Công giáo dùng chữ "Kitô" để chỉ Giêsu, người Tin Lành thường dùng chữ "Christ". Ngoài ra, một số người cũng dùng cách gọi Thiên Chúa giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung.
== Lịch sử ==
=== Khởi nguyên ===
Theo Kinh thánh, Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ, muôn loài trong 6 ngày và ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi. Ông Adam và bà Eva là tổ phụ của loài người, không nghe lời Thiên Chúa đã ăn trái của "cây biết điều thiện điều ác" (trái cấm) nên bị Thiên Chúa đuổi khỏi Vườn địa đàng. Hai người này truyền tội lỗi (gọi là tội tổ tông, nguyên tội) cho con cháu là loài người. Bởi loài người mang tội, Thiên Chúa đã giáng sinh cứu rỗi loài người để loài người được hòa giải với Thiên Chúa.
Vậy tâm điểm việc cứu rỗi của Kitô giáo là Chúa Giêsu, do đó trọng tâm của cuộc sống Kitô hữu là niềm xác tín rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa giáng trần, là Đấng Mê-si-a, và là Đức Ki-tô. Danh hiệu "Messiah" có nguồn gốc từ tiếng Hebrew מָשִׁיחַ (māšiáħ), nghĩa là "đấng được xức dầu", chuyển ngữ sang tiếng Hy Lạp là Χριστός (Khristos).
Kitô hữu tin rằng, là Đấng Messiah, Giêsu được Thiên Chúa xức dầu để tể trị và cứu rỗi nhân loại, Giêsu đến để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah trong Cựu Ước. Trọng tâm của đức tin Kitô giáo là qua sự chết và phục sinh của Giêsu, con người tội lỗi được phục hòa với Thiên Chúa, nhờ đó mà nhận lãnh sự cứu rỗi và lời hứa được hưởng sự sống đời đời.
Trong khi những tranh luận thần học về bản thể của Giêsu vẫn đang tiếp diễn, thì phần lớn Kitô hữu tin rằng Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giêsu "là Thiên Chúa và là con người" trong ý nghĩa trọn vẹn của cả hai bản tính. Vì Chúa Giêsu là người nên phải trải qua những đau khổ và bị cám dỗ như con người bình thường, nhưng không hề phạm tội. Vì là Thiên Chúa, Chúa Giêsu đánh bại quyền lực sự chết và sống lại từ kẻ chết. Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, đặt Chúa Giêsu ngồi bên hữu của Chúa Cha và Ngài sẽ trở lại để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah như sự phục sinh, sự phán xét sau cùng và sự thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa.
Kitô giáo được biết đến từ thế kỷ thứ nhất khi các môn đồ của Chúa Giêsu được gọi là Kitô hữu tại thành Antiochia (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), nơi họ đến để lánh nạn và định cư sau những cuộc bức hại đầu tiên tại xứ Judea. Nền thần học của Kitô giáo sơ khai được thành lập và truyền bá bởi sứ đồ Phaolô và các sứ đồ khác.
Theo Tân Ước, Chúa Giêsu tự xưng mình là Đấng Messiah mà dân Do Thái vẫn hằng mong đợi, nhưng đã bị nhóm lãnh đạo Tôn giáo và Dân sự cũng như dân chúng chối từ và bị xem như là chống lại Đền thờ và luật lệ thời đó. Ngài cũng bị buộc tội phạm thượng do dám gọi Thiên Chúa là Cha và bị kết án tử hình bởi chính quyền La Mã vào năm 30. Tuy nhiên Giêsu được Pontius Pilatus, tổng trấn người La Mã, gọi là "Vua của dân Do Thái".
Theo các sách Phúc âm, người La Mã buộc tội Giêsu vì muốn xoa dịu sự bất bình của giới cầm quyền Do Thái, nhưng một số học giả cho rằng đó là cách mà Đế chế La Mã trừng phạt những người chống đối họ. Kitô hữu tin rằng Cựu Ước đã tiên báo cái chết và sự sỉ nhục mà Giêsu phải chịu như đã chép trong Tân Ước. Sách Isaiah ngụ ý rằng Giêsu bị vả, nhổ, đấm vào mặt (Isaiah 50.6, 52.14-15; Matthew. 26.67-68; Mark 14.65), bị đánh bằng roi (Isaiah 53.5; John 19.1; Matthew 27.26) cũng như bị sỉ nhục.
Kitô hữu xem sự phục sinh của Giêsu là nền tảng của đức tin và là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại. Theo Tân Ước, Giêsu là tâm điểm của Kitô giáo, bị đóng đinh trên thập tự giá, chết và chôn trong mộ, đến ngày thứ ba thì sống lại. Theo ký thuật của Tân Ước, sau khi sống lại, Giêsu, trong những lần khác nhau tại những địa điểm khác nhau, đã đến gặp mười một sứ đồ và các môn đồ, trong đó có lần xuất hiện trước sự chứng kiến của "hơn năm trăm người", sau đó thì về trời.
Các sứ đồ của Giêsu là nhân chứng về cuộc đời, lời giảng và sự sống lại của Giêsu. Ngoài ra còn có nhiều môn đồ (đến 70 người) trong đó có Giacôbê, Máccô, Luca, Maria Mađalêna..., những người này theo Giêsu trong các cuộc hành trình và họ chứng kiến khi Giêsu giảng dạy và làm nhiều phép lạ. Sau khi Giêsu bị đóng đinh, các sứ đồ và các môn đệ khác công bố rằng Giêsu đã sống lại từ cõi chết và họ khởi sự rao giảng thông điệp mới. Các sứ đồ và môn đệ này đã viết các sách Phúc âm và các Thư tín.
Trong số 27 sách của Tân Ước, nhiều quyển được viết bởi Phaolô. Ông là tác giả của mười bốn thư tín và một số truyền thuyết cho rằng ông cũng là tác giả của Thư gửi tín hữu Do Thái. Phúc âm Luca và sách Sách Công vụ Tông đồ được viết bởi Luca, người chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phaolô. Phaolô là môn đồ của Gamaliel (Cv 22.3), một nhân vật có thanh thế trong toà công luận (Cv 5.34-40). Phaolô được xem như là nhà truyền giáo quan trọng nhất rao giảng thông điệp Kitô cho thế giới bên ngoài.
=== Hội thánh sơ khai ===
Kitô giáo lan truyền nhanh trong suốt ba thế kỷ tương đối an bình của Đế quốc La Mã:
thông qua Ai Cập đến Libya, Sudan và Ethiopia
thông qua Syria tới vùng Lưỡng Hà, Ba Tư và Ấn Độ
thông qua Hy Lạp và La Mã đến các vùng khác của Âu châu
Vào thời kỳ ban đầu, Hội thánh bao gồm hai cộng đồng: Do Thái và Hy Lạp. Trong khi cộng đồng Do Thái, phần đông là các tín hữu gốc Do Thái, muốn duy trì một số tập tục và nghi thức của Do Thái giáo (Judaism) như phép cắt bì và một số kiêng cữ khác thì cộng đồng Hy Lạp, những người chịu ảnh hưởng từ thế giới nói tiếng Hy Lạp, tin rằng thông điệp của Kitô giáo nên được truyền bá theo các phương pháp thích hợp hơn với thế giới Hellenistic bên ngoài.
Một trong những nhà trước tác quan trọng đầu tiên của Kitô giáo, Tertullianus, đã viết cho một quan tổng đốc Đế chế La Mã về sự phát triển của Kitô giáo tại Carthago rằng mới hôm qua họ chỉ là một nhóm nhỏ, "nay có mặt khắp mọi nơi – các đô thị, hải đảo, trong thành lũy, thị trấn, chợ, ngay cả trong trại lính, tại các bộ tộc, lâu đài, nghị viện; chúng tôi chẳng để lại gì cho quý vị ngoại trừ các nơi thờ phụng các thần linh của quý vị mà thôi." (Bài biện giáo viết tại Carthago, năm 197).
Trong vòng vài thế kỷ đầu tiên, các giáo phụ, là các nhà thần học và triết học khoa bảng, như Justinus, Origenes và Augustinus đã phát triển nền thần học và triết học Kitô giáo.
Suốt thời kỳ này, trong khi đang phát triển mạnh mẽ, Hội thánh cũng phải trải qua các cơn bách hại. Ngay từ những ngày đầu tiên, Kitô giáo là mục tiêu của những sự bách hại, dẫn đến sự tử đạo của Stêphanô và Giacôbê, con của Zêbêđê. Những đợt bách hại ở quy mô lớn hơn, dù không thường xuyên nhưng dữ dội, xảy ra dưới thời trị vì của các hoàng đế La Mã như Nero, Valerianus, Diocletianus và Galerius. Cuộc đời của những người tử đạo, thà chết chứ không chối bỏ đức tin, trở nên biểu trưng cho đức hạnh cao quý nhất. Các bản dịch Kinh Thánh sớm nhất bắt đầu xuất hiện, danh sách quy điển Tân Ước được đồng thuận. Hệ thống phẩm trật được củng cố: các giám mục thành Roma, Alexandria và Antiochia đều được công nhận danh hiệu Trưởng phụ.
Hoàng đế La Mã Galerius, trước khi chết, ban chiếu chỉ Galerius ngưng mọi hoạt động bách hại. Hoàng đế Constantinus I quy đạo năm 312 và một năm sau đó ban hành chiếu chỉ Milano hợp pháp hóa Kitô giáo. Dù vậy, các cuộc bách hại được tái lập dưới triều Julianus Kẻ bội giáo (361-363), người muốn phục hồi cựu giáo trên lãnh thổ đế quốc. Tuy nhiên, vào năm 380 dưới triều hoàng đế Theodosius I, Kitô giáo được công nhận làm quốc giáo với chiếu chỉ Thessalonica. Trước đó, điều tương tự đã xảy ra tại các xứ láng giềng Armenia và Gruzia, cũng như tại Ethiopia. Nhưng tại Đế quốc Ba Tư vốn luôn đối nghịch với Đế quốc La Mã, Kitô hữu phải chịu nhiều áp bức từ Nhà Sassanid muốn củng cố lại địa vị của Hỏa giáo.
Tại Đế quốc Ba Tư, vào năm 410 giám mục thành Seleucia-Ctesiphon miền Assyria đã thay thế Thượng phụ thành Antiochia để giữ thẩm quyền cao nhất trong Giáo hội Phương Đông (Cảnh giáo). Trong thời kỳ ly giáo Nestorian, giáo hội này cắt đứt quan hệ với phương Tây. Trong suốt một thiên niên kỷ đã trở thành giáo hội có nhiều ảnh hưởng tại châu Á với các giáo phận được thành lập tại những nơi xa xôi như Trung Á, Ấn Độ, Java và Trung Hoa.
=== Các giáo hội quốc gia ===
Sự khẳng định thần tính của Giêsu luôn là vấn đề trọng tâm đối với Kitô hữu thời sơ khai. Nhiều nhà trước tác, bao gồm Justinus Tử đạo và Tertullianus chứng thực niềm tin Giêsu là Thiên Chúa, trong khi một số các nhóm Kitô giáo khác từ chối chia sẻ niềm xác tín này. Sự việc lên đến đỉnh điểm khi Arius thuyết phục được khá đông các giám mục và tín hữu tin rằng Giêsu chỉ là một tạo vật, dù là tạo vật đầu tiên và cao trọng nhất. Cuộc tranh luận được giải quyết tại Công đồng Nicaea, được triệu tập bởi hoàng đế Constantinus I, nơi học thuyết của Athanasius, một học giả theo thuyết Ba Ngôi, được công nhận là giáo lý chính thức của Hội thánh (xem tín điều Nicaea, tín điều Athanasius). Dù Constantinus I ra lệnh đốt sách của Arius và trục xuất ông, học thuyết của ông vẫn tiếp tục phát triển trong đế quốc suốt vài thập niên và trong vòng các bộ tộc người Goth trong gần hai thế kỷ sau đó.
Các công đồng vẫn tiếp tục được triệu tập để giải quyết các vấn đề thần học. Trong khi các công đồng bàn luận nhằm hợp nhất Kitô giáo thì các hoàng đế ủng hộ các công đồng nhằm bảo vệ sự ổn định chính trị. Một số thuật ngữ thần học được sử dụng tại các công đồng đã bị hiểu nhầm bởi các giáo hội mà ngôn ngữ chính là tiếng Syriac, tiếng Copt hay tiếng Armenia, làm tăng thêm khác biệt và dẫn đến các cuộc ly giáo giúp hình thành các giáo hội quốc gia mà sau này được gọi chung là Chính thống giáo Cựu Đông phương.
Vào thiên niên kỷ thứ hai, Kitô giáo phát triển đến hầu hết thế giới phương Tây, Trung Đông, các vùng Châu Phi và bắt đầu tiếp cận vùng Viễn Đông. Dù vẫn nảy sinh một số bất đồng về thần học và đều được giải quyết tại các công đồng, Kitô giáo đã duy trì được sự đồng thuận về các giáo lý nền tảng trong suốt thời kỳ này. Tuy nhiên, trong thiên niên kỷ sau, các bất đồng về thần học và sống đạo ngày càng trở nên trầm trọng. Cuộc Đại Ly giáo năm 1054 chia cắt Giáo hội thành hai nửa Tây phương và Đông phương. Trong khi giáo hội Tây phương với tên gọi Công giáo Rôma dần dần củng cố quyền lực tập trung vào Rôma thì giáo hội Đông phương với danh xưng "Chính thống" cam kết bảo tồn các truyền thống và đề kháng với mọi thay đổi. Cho đến nay Chính thống giáo Đông phương vẫn duy trì lập trường không đặt giáo hội dưới quyền cai trị của một giám mục duy nhất. Giáo hội Đông phương công nhận Thượng phụ thành Constantinopolis là "người đứng đầu nhưng bình đẳng" với các giám mục khác đang cai quản các giáo hội tự trị trong gia đình Chính thống giáo.
Tại Âu châu, chịu ảnh hưởng từ Cuộc Cải cách Kháng nghị (Protestant Reformation) vào thế kỷ 16 nhiều giáo hội đã từ chối thần phục Tòa Thánh vì họ cho rằng có sự lạm dụng trong cơ cấu quyền lực được tập trung vào ngai Giáo hoàng cũng như bên trong cấu trúc quyền lực này đã nảy sinh nhiều sai lạc về thần học và sống đạo. Các vấn đề mấu chốt trong cuộc tranh luận đã được tóm tắt trong năm mệnh đề sola nổi tiếng (xem Năm Tín lý Duy nhất):
Sola scriptura: Duy Thánh Kinh - thẩm quyền của giáo hội chỉ dựa trên Kinh Thánh được giải thích cách đúng đắn và chuẩn xác chứ không được tách rời khỏi Kinh Thánh
Sola fide: Duy đức tin – con người được cứu rỗi chỉ bởi tin Đấng Christ (Chúa Kitô) chứ không phải bởi công đức hay là nhờ giáo hội và các thánh lễ
Sola gratia: Duy ân điển – Sự cứu rỗi được ban cho từ Thiên Chúa, bởi ân sủng của Ngài, con người không thể làm gì để được cứu
Solus Christus: Duy Chúa Kitô - Chúa Giêsu là đấng trung bảo duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người chứ không phải là giáo hội hay các chức sắc
Soli Deo gloria: Vinh hiển chỉ dành cho Thiên Chúa - mọi vinh hiển vì sự cứu rỗi nhân loại chỉ dành cho một mình Thiên Chúa chứ không phải giáo hội hay các chức sắc.
Từ cuộc cải cách khởi phát một cuộc tranh chấp dữ dội nhằm thu phục người dân Âu châu. Các cuộc tranh luận giữa người Công giáo và người Kháng Cách dẫn đến những cơn bách hại cũng như các cuộc chiến, kể cả các cuộc nội chiến.
Đức tin Công giáo và Kháng Cách đặt chân đến Bắc Mỹ (và sau đó là Châu Úc) bởi các di dân đến từ Châu Âu.
Không theo mô hình trung ương tập quyền như người Công giáo, cũng không tổ chức bộ máy giáo hội trên quy mô quốc gia, các tín hữu Kháng Cách tập trung trong hàng trăm, và sau này hàng ngàn giáo phái (denomination) độc lập với nhau. Đức tin Công giáo và Kháng Cách cũng đến Nam Mỹ và Châu Phi cùng lúc với người Âu châu đi chiếm thuộc địa, đặc biệt là từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Vào thế kỷ 18 Chính thống giáo du nhập vào vùng Alaska thuộc Bắc Mỹ qua các di dân đến từ Nga, về sau, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, số lượng di dân người Nga còn đông hơn nhiều.
Bắt đầu từ thế kỷ 19, nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng Kitô giáo, đặc biệt tại Tây Âu, ngày càng trở nên thế tục.
=== Kitô giáo ngày nay ===
Kitô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất, với những con số ước tính từ 1,5 tỉ đến 2,1 tỉ người xưng nhận niềm tin Kitô giáo trong thập niên 1990. Theo Pew Research Center, vào năm 2010, Kitô giáo có khoảng 2,2 tỉ tín hữu (chiếm 32% tổng dân số thế giới), theo sau là Hồi giáo với 1,6 tỉ (23%); Ấn Độ giáo có 1 tỉ (15%); Phật giáo có gần 500 triệu (7%); có hơn 400 triệu người (6%) theo các tín ngưỡng dân gian hay bản địa; trong khi những người không tôn giáo có khoảng 1,1 tỉ (16%).
Kitô giáo chia ra nhiều nhánh, bao gồm hơn 1,1 tỉ người Công giáo, khoảng 800 triệu người theo các hệ phái Tin Lành (trong đó có 85 triệu tín hữu Anh giáo), 300 triệu người Chính thống giáo, và những giáo hội "ngoại vi" (Nhân chứng Jehovah, Giáo hội Cơ Đốc Phục lâm An thất nhật, Giáo hội Mormon...) có hơn 40 triệu tín hữu. Các giáo phái này tự nhận mình thuộc Kitô giáo nhưng họ không được công nhận bởi cộng đồng Kitô giáo vì cớ các học thuyết không chính thống của họ.
Tuy Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới và đang duy trì bộ máy truyền giáo khổng lồ, lại không đạt được mức tăng trưởng như các tôn giáo khác cũng như không theo kịp tốc độ gia tăng dân số thế giới. Trong khi dân số toàn cầu tăng 1,25% mỗi năm thì mức tăng trưởng của Kitô giáo chỉ khoảng 1,12%.
Không phải mọi người xưng nhận mình là Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) đều chấp nhận tất cả, hoặc ngay cả hầu hết, các quan điểm thần học của giáo hội của họ. Giống như người Do Thái giáo, Kitô hữu phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Phong trào Khai sáng (Enlightenment) từ cuối thế kỷ 17 tới thế kỷ 18. Có lẽ sự thay đổi quan trọng nhất đối với họ là nguyên tắc phân ly giữa giáo hội và nhà nước, chấm dứt những ưu đãi tôn giáo được nhà nước bảo hộ đã hiện hữu lâu đời tại nhiều nước Âu châu. Ngày nay một người, như là một công dân tự do, có quyền bất đồng với giáo hội của mình về các vấn đề khác nhau và có quyền rời bỏ giáo hội tuỳ thích. Trong thực tế, nhiều người đã bỏ giáo hội và phát triển các hệ thống triết lý tôn giáo khác như Thần giáo tự nhiên (Deism), Nhất vị thần giáo (Unitarianism), hoặc chọn lựa trở nên vô thần (atheist), bất khả tri (agnostic), hay là nhân bản chủ nghĩa (humanist). Một số người ở lại giáo hội đề xuất chủ nghĩa tự do (liberalism) bên trong nền thần học Kháng Cách. Còn trong Giáo hội Công giáo, chủ nghĩa tân thời (modernism) xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 khuyến khích các quan điểm và hình thức trình bày mới không theo truyền thống giáo hội.
Tại Hoa Kỳ và Châu Âu, trào lưu thần học tự do góp phần phát triền tinh thần thế tục trong toàn xã hội. Nhiều Kitô hữu ngưng thực hành các bổn phận tôn giáo, mỗi năm chỉ đến nhà thờ vài lần vào những dịp lễ hội, hoặc hoàn toàn không bước chân vào nhà thờ. Nhiều người trong số họ vẫn nhắc đến lòng sùng đạo của ông bà, nhưng họ lớn lên trong những gia đình, nơi mà các giá trị Kitô giáo không còn được xem trọng. Bên trong họ là một tình cảm pha trộn đối với đức tin Kitô Giáo. Một mặt họ tiếp tục buộc mình vào các giá trị cổ truyền vì lý do bản sắc, mặt khác ảnh hưởng của tinh thần thế tục phương Tây, áp lực từ cuộc sống hằng ngày và từ những người xung quanh bứt giật họ ra khỏi ảnh hưởng còn sót lại của Kitô giáo truyền thống. Hôn nhân giữa Kitô hữu và người không phải Kitô hữu, từng là điều cấm kỵ, nay đã trở nên phổ biến. Tại một số quốc gia có truyền thống Công giáo, nhiều người trở nên theo thuyết bất khả tri.
Vào đầu thế kỷ 20, trào lưu tự do phát triển mạnh tại Âu châu và Bắc Mỹ, đến thập niên 1960, kiểm soát nhiều giáo phái chính lưu (mainline) tại Hoa Kỳ và Canada. Dù vậy, ngày nay trào lưu này đã thoái trào. Vào đầu thế kỷ 21, tuy thế giới thế tục, đặc biệt là các phương tiện truyền thông vẫn xem các nhà thần học tự do như là đại biểu và phát ngôn viên cho Kitô giáo, các nhà thờ theo khuynh hướng tự do đang thu hẹp dần. Một phần là do những nỗ lực của khuynh hướng Phúc âm, phần khác là vì nhiều người trong số họ đang trở lại với các giá trị Kitô giáo truyền thống.
Một vấn nạn của Kitô giáo là họ đánh mất khả năng chuyển giao các giá trị Kitô giáo cho thế hệ kế tiếp. Trong khi các giáo phái chính lưu tại Hoa Kỳ, ngoại trừ Baptist Nam phương (Southern Baptist), đang thoái trào thì các định chế tôn giáo theo khuynh hướng Phúc âm (Evangelical) đang phát triển mạnh, đặc biệt là vào hạ bán thế kỷ 20. Tạp chí Christian Century (Thế kỷ Kitô giáo) có khuynh hướng tự do đang thu hẹp dần để bị thay thế bởi đối thủ đang lớn mạnh có khuynh hướng phúc âm là tạp chí Christianity Today (Kitô giáo Ngày nay). Tại phương Đông Phong trào Khai sáng không tạo lập được nhiều ảnh hưởng. Đối diện với nhiều áp lực từ các xã hội thế tục, giáo hội phải bám trụ vào các xác tín truyền thống để tồn tại, dù vậy, số lượng tín hữu cứ hao mòn dần.
Ngày nay, tại Đông Âu và Nga, đang diễn ra tiến trình hồi sinh. Sau nhiều thập kỷ hưng thịnh của thuyết vô thần, nhiều người bắt đầu quan tâm đến Kitô giáo cũng như các tôn giáo khác. Nhiều nhà thờ và tu viện Chính thống giáo được trùng tu và được lấp đầy bởi các tín hữu và tu sĩ. Các giáo phái Kháng Cách cũng tìm đến để truyền bá Phúc âm và thành lập giáo hội. Giáo hội Công giáo tiết lộ họ đã từng có các giáo phận bí mật và nay đang tiến hành các bước nhằm công khai hỗ trợ các nhà thờ tại đây.
Tại Nam Mỹ và Châu Phi, các giáo phái Phúc âm (Evangelical) và Ngũ tuần (Pentecostal) đang tăng trưởng mạnh và bắt đầu gởi các nhà truyền giáo đến Châu Âu và Bắc Mỹ. Tình trạng tương tự cũng đang xảy ra tại một số nước châu Á.
Hạ bán thế kỷ 20 chứng kiến chủ nghĩa tân thời phát triển thành chủ nghĩa tiêu dùng (consumerism). Xảy ra cùng lúc nhưng theo hướng ngược lại là sự phát triển của hiện tượng Đại Giáo đoàn (Megachurch) - tập chú vào tính linh động của các phương pháp trình bày thông điệp Kitô cho người đương thời. Giáo trình Alpha (Alpha Course) là một điển hình cho trào lưu mới này của Kitô giáo.
Một phong trào có ảnh hưởng lớn và đang phát triển mạnh, đặc biệt ở phương Tây và Hoa Kỳ là phong trào Tin lành hay chủ nghĩa Phúc âm. Họ có mặt và hoạt động tích cực trong hầu hết các giáo phái Kháng Cách, trong một số trường hợp họ là thành phần đa số. Những người Phúc âm thường chủ trương "xuyên giáo phái", họ thích tạo lập các mối quan hệ chính thức hoặc không chính thức với những người Phúc âm trong các giáo phái khác hơn là quan hệ với những người không Phúc âm trong vòng giáo phái của họ. Tín hữu Phúc âm nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có kinh nghiệm quy đạo của mỗi cá nhân và tin Chúa Giêsu là Cứu Chúa và Thiên Chúa. Họ tin vào sự tái lâm của Chúa Kitô, tính chân xác của Thánh Kinh và tin vào phép mầu.
== Giáo lý ==
Kitô hữu xem Kitô giáo là sự kế thừa và hoàn chỉnh của Do Thái giáo. Kitô giáo mang theo mình nhiều điều từ thần học và lễ nghi của Do Thái giáo như thuyết độc thần, niềm tin vào Đấng Messiah cùng với một vài hình thức thờ phụng như cầu nguyện, xướng đọc Kinh Thánh, chức vị tư tế (dù hầu hết người Kháng Cách tin rằng chức vị tư tế được ban cho tất cả tín hữu), và ý tưởng cho rằng sự thờ phụng trên đất là "hình bóng" cho sự thờ phụng trên thiên đàng.
Những xác tín căn cốt của Kitô giáo tập chú vào sự nhập thể làm người, sự đền tội cho nhân loại, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết. Nhiều Kitô hữu tin rằng sự tuyển chọn mà Thiên Chúa dành cho dân Do Thái được ứng nghiệm trọn vẹn qua Chúa Giêsu: người Do Thái nào không chấp nhận Chúa Giêsu không còn là người được chọn vì họ đã khước từ Ngài như là Đấng Messiah và Con Thiên Chúa. Quan điểm này đang được làm giảm nhẹ hay ngay cả loại trừ tại một số giáo hội nơi người Do Thái được thừa nhận là có một địa vị đặc biệt vì cớ giao ước của Thiên Chúa dành cho dân tộc này.
Trọng tâm của Kitô giáo đặt vào yếu tố Thiên Chúa sai Con Một của mình đến thế gian để cứu nhân loại, tạo ra sự khác biệt lớn lao giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác, vì các tôn giáo ấy thường nhấn mạnh đến vai trò của con người tự nỗ lực cho sự cứu độ của bản thân mình.
Nền thần học được xác lập vững chắc từ ban đầu và được chấp nhận rộng rãi giữa ba nhánh chính của Kitô giáo - Công giáo, Chính thống giáo và Kháng Cách - khẳng định những xác tín căn bản của Kitô giáo bao gồm:
Thiên Chúa là Ba Ngôi hằng có đời đời, là thực thể vĩnh cửu duy nhất, hiện hữu trong ba thân vị: Chúa Cha, Chúa Con (Ngôi Lời trở thành xác thịt là Chúa Giêsu Kitô) và Chúa Thánh Linh.
Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người, cả hai bản tính đều trọn vẹn trong Ngài.
Maria (Ma-ri-a hay Ma-ri), mẹ của Chúa Giêsu, người cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa, Đấng vô hạn và vĩnh cửu đã được hình thành trong thân thể của bà bởi quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Linh. Ngài nhận lãnh từ Maria trí tuệ và ý chí con người và mọi điều khác như một đứa trẻ bình thường nhận lãnh từ mẹ mình.
Chúa Giêsu là Đấng Messiah mà người Do Thái vẫn hằng mong đợi, là Đấng kế thừa ngai Vua David. Ngài ngự bên hữu Chúa Cha để trị vì với tất cả quyền bính vĩnh cửu. Ngài là niềm hi vọng, là Đấng biện hộ và là Đấng phán xét toàn thể nhân loại. Hội thánh có thẩm quyền và bổn phận rao giảng Phúc âm trên khắp thế giới.
Chúa Giêsu không bao giờ phạm tội. Qua cái chết và sự sống lại của Ngài, tín hữu được tha thứ tội lỗi và được hoà giải với Thiên Chúa. Tín hữu chịu lễ báp têm (rửa tội) như là biểu tượng cho sự cùng chết và cùng sống lại với Chúa Kitô để nhận lãnh sự sống mới. Qua đức tin, họ nhận lãnh lời hứa sẽ sống lại từ kẻ chết để được sống đời đời. Trong danh của Chúa Kitô, Chúa Thánh Linh ngự vào lòng tín hữu, ban cho họ hi vọng, dẫn họ vào sự hiểu biết chân xác về Thiên Chúa và ý chỉ của Ngài cũng như giúp họ tăng trưởng trong đời sống thánh khiết.
Chúa Giêsu sẽ trở lại để phán xét toàn thể nhân loại, để tiếp rước những người tin Ngài vào cuộc sống vĩnh cửu kề cận Thiên Chúa.
Nhiều Kitô hữu xem Kinh Thánh là "lời của Thiên Chúa". Thuật từ này cũng có thể đề cập đến Chúa Giêsu là "Ngôi Lời của Thiên Chúa". Nhiều tín hữu cũng nhìn nhận Kinh Thánh là quyển sách có thẩm quyền, được soi dẫn bởi Chúa Thánh Linh nhưng được viết bởi con người. Vì các quan điểm khác biệt về sự linh hứng của Kinh Thánh mà nhiều Kitô hữu bất đồng với nhau về mức độ chân xác cũng như về phương cách giải thích Kinh Thánh.
Đức tin Kitô giáo được đúc kết trong các tín điều, quan trọng nhất là Tín điều Các Sứ đồ và Tín điều Nicaea. Các bản tín điều này được hình thành trong vòng vài thế kỷ sau công nguyên nhằm phản bác các học thuyết dị giáo. Dù vẫn còn tranh luận về vài điểm khác nhau của các bản tín điều, chúng được dùng rộng rãi để bày tỏ các xác tín căn bản của nhiều Kitô hữu.
== Văn hóa ==
Văn hóa phương Tây trải qua lịch sử đã hầu như tương đương với văn hóa Kitô giáo. Các ý niệm về "châu Âu" và "Thế giới phương Tây" được liên hệ mật thiết với "Kitô giáo và Thế giới Kitô giáo", nhiều người thậm chí còn coi Kitô giáo là mối liên kết tạo nên một căn tính Âu châu thống nhất. Mặc dù văn hóa phương Tây trong thời kỳ đầu bao gồm một số tôn giáo đa thần dưới các đế quốc Hy Lạp và La Mã nhưng khi chính quyền trung ương La Mã suy yếu, vị thế của Giáo hội Công giáo là định chế kiên vững duy nhất tại châu Âu. Trong tình trạng bất ổn khi đế quốc dần suy tàn, các tu viện xuất hiện kịp thời đã bảo tồn ngôn ngữ viết và một phần truyền thống cổ điển. Cho tới Thời kỳ Khai minh, văn hóa Kitô giáo đã dẫn dắt triết học, văn học, nghệ thuật, âm nhạc và khoa học. Cách riêng, Kitô giáo sau này đã phát triển các chuyên ngành tương ứng của mình.
Kitô giáo có một ảnh hưởng quan trọng lên giáo dục, khoa học và y học khi mà giáo hội đã tạo dựng nên các nền tảng của hệ thống giáo dục phương Tây, cùng với đó Kitô giáo là nhà bảo trợ cho việc hình thành các đại học trong thế giới phương Tây khi mà viện đại học thường được xem là một thể chế có nguồn gốc Kitô giáo thời Trung cổ. Nhiều giáo sĩ xuyên suốt dòng lịch sử đã có các cống hiến quan trọng cho khoa học, đặc biệt là các tu sĩ Dòng Tên có nhiều đóng góp đáng kể vào sự phát triển của khoa học. Ảnh hưởng của Kitô giáo lên nền văn minh có thể kể đến phúc lợi xã hội, thành lập các bệnh viện, kinh tế (như đạo đức lao động Tin Lành), chính trị, kiến trúc, văn học và đời sống gia đình.
Các Kitô hữu Đông phương, nhất là tín hữu Cảnh giáo, đã đóng góp cho nền văn minh Hồi giáo Ả Rập dưới các triều đại Nhà Ummayad và Nhà Abbas với việc dịch tác phẩm của các triết gia Hy Lạp cổ đại sang tiếng Syriac và sau đó là tiếng Ả Rập. Họ cũng là những nhân vật ưu tú trong triết học, khoa học, thần học và y học.
Các Kitô hữu có rất nhiều đóng góp trong phạm vi rộng lớn và đa dạng các lĩnh vực, gồm khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn học và kinh doanh. Theo 100 Years of Nobel Prizes, xem xét các giải Nobel được trao trong giai đoạn từ 1901 tới 2000 cho thấy rằng có 65,4% Khôi nguyên Nobel xác định tôn giáo của mình là Kitô giáo thuộc các hệ phái.
Hậu Kitô giáo là thuật ngữ dùng để chỉ sự suy giảm của Kitô giáo trong thế kỷ 20 và 21, đặc biệt là tại châu Âu, Canada, Úc và ở mức độ ít hơn tại các nước Viễn Nam của châu Mỹ, có liên quan tới thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại. Nó đề cập đến việc Kitô giáo mất vị trí độc tôn trong các giá trị và thế giới quan so với các xã hội Kitô giáo trước đây.
Các Kitô hữu văn hóa là những người thế tục có di sản Kitô giáo, có thể không tin theo các giáo lý nhưng còn duy trì thiện cảm với văn hóa đại chúng, nghệ thuật và âm nhạc Kitô giáo nên vẫn còn mối liên hệ. Thuật ngữ này còn dùng trong việc phân biệt các nhóm chính trị trong khu vực đa tôn giáo.
== Xem thêm ==
Chúa Giêsu
Cuộc đời Chúa Giêsu theo Tân Ước
Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham
Kiến trúc nhà thờ
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
“BBC - Religion & Ethics - Christianity” (bằng tiếng Anh). British Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2008. A number of introductory articles on Christianity.
“CBC Montreal - Religion - Christianity” (bằng tiếng Anh). Canadian Broadcasting Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2008. An overview of Christianity. |
new straits times.txt | Tờ New Straits Times (tạm dịch: Tân thời báo eo biển) là tờ báo tiếng Anh phát hành tại Malaysia. Đây là tờ báo lâu đời nhất Malaysia vẫn đang phát hành (mặc dù không phải tờ đầu tiên), được xuất bản lần đầu với tên The Straits Times vào năm 1845, và được tái xuất bản với tên gọi "New Straits Times" vào năm 1974. Đây cũng là báo khổ rộng duy nhất bằng tiếng Anh tại Malaysia. Tuy vậy, nối tiếp các tờ báo tại Anh Quốc khác như The Times và The Independent, bản khổ nhỏ của tờ báo được giới thiệu vào ngày 01 tháng 09 năm 2004 và kể từ ngày 18 tháng 04 năm 2005 đã hoàn toàn thay thế bản khổ rộng, kết thúc khổ in truyền thống 160 năm của tờ báo. Báo New Straits Times có giá bán lẻ là RM1,50 (~0,37 USD) ở Malaysia bán đảo và RM2,00 (~0.50 USD) ở Đông Malaysia vào thời điểm tháng 07 năm 2016.
Báo New Straits Times được in bởi New Straits Times Press, cũng là nơi phát hành một tờ báo buổi chiều bằng tiếng Anh khác, tờ The Malay Mail, cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2008, cũng như các tờ báo bằng tiếng Mã Lai, trong đó có tờ Berita Harian. Tờ New Straits Times là một phần của tập đoàn Media Prima.
Vào thời điểm 01 tháng 01 năm 2009, tổng biên tập của New Straits Times là Syed Nadzri Syed Harun, Kamrul Idris Zulkifli giữ chức phó tổng biên tập. Các biên tập viên điều hành có, cũng ở thời điểm 01/01/2009, Lee Ah Chai (Tin tức) và Chandra Segaran (Sản phẩm) và Lim Thow Boon.
== History ==
Lúc ban đầu, tờ báo có tên The Straits Times phát hành rộng rãi tại Mã Lai thuộc Anh, và Singapore, trụ sở của tòa báo. Tình hình vẫn tiếp tục trong thời kỳ Singapore trở thành một bộ phận của Malaysia vào năm 1963, nhưng kể từ khi Singapore rời khỏi Liên bang vào năm 1965, nó tách thành một tờ báo riêng và đặt toà soạn tại Malaysia, mang tên The Straits Times Malaysia, trong khi The Straits Times vẫn được tiếp tục phát hành ở Singapore.
Năm 1972, The Straits Times Press (Malaysia) Berhad mà sau này trở thành sở hữu chủ của tờ báo đã lập ra New Straits Times Press (Malaysia) Sdn. Bhd (tạm dịch Công ty Trách nhiệm hữu hạn Báo New Straits Times (Malaysia) trong nỗ lực biến ước muốn của người Malaysia được sở hữu phần lớn thị phần trong công ty phát hành tờ báo tiếng Anh có lượng phát hành lớn nhất này. Thỏa thuận được ký kết vào ngày 17 tháng 09 năm 1972 giữa ban giám đốc của Straits Times Group và Tengku Razaleigh Hamzah về việc chuyển nhượng 80% cổ phần của New Straits Times Press (Malaysia) Sdn. Bhd cho các cổ đông Malaysia. .
Ngày 11 tháng 11 năm 2011, xuất bản phẩm 3D được giới thiệu trên cả trên cả báo giấy và trên báo mạng. Tờ báo cũng đã làm nên lịch sử ngành báo chí khi ngày 21 tháng 02 năm 2012 nó trở thành tờ báo nói đầu tiên, quảng bá sản phẩm sửa Friso của công ty Dutch Lady, kế tiếp là sự áp đảo số trang của AXIATA vào năm 2013 và vào tháng 01/2014 tờ báo đã đăng tải quảng cáo cho nhãn hàng Wonda Coffee "cả năm giác quan" trong năm ngày liên tiếp.
=== Thiết kế mới với logo mới vào năm 2011 ===
Năm 2011, tờ New Straits Times tiến hành đổi mới việc trình bày trang báo mà chủ yếu là ở các phần như thông tin tòa soạn, sắp chữ, nội dung và logo. Số báo đầu tiên với bộ mặt mới ra đời vào ngày 11 tháng 11 năm 2011.
== Hợp nhất các chuyên trang ==
=== Tech&U ===
Tech&U khởi đầu là một tờ báo chuyên về máy tính xuất bản lần đầu vào ngày 01/01/1986, là một chuyên trang về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) của tờ New Straits Times. Chuyên trang này ban đầu phát hành vào thứ năm hàng tuần, và trong những năm 1990, bắt đầu phát hành hai kỳ một tuần vào các thứ hai và thứ năm.
Kể từ ngày 01/08/2005, một quyết định từ tòa báo được đưa ra nhằm tạo sự khác biệt giữa hai kỳ của tờ chuyên trang, trong đó số phát hành vào thứ hai sẽ tập trung cho thị trường doanh nghiệp trong khi số thứ năm tập trung vào thị trường tiêu dùng.
Kể từ ngày 01/01/2008, Tech&U trở thành tuần san, phát hành cùng với New Straits Times vào mỗi thứ hai, chú trọng hơn cho các thiên kiến của người tiêu dùng bên cạnh việc theo dõi sát sao thị trường doanh nghiệp.
Business Computing cũng liên quan tới chuyên trang này,được phát hành hàng tuần vào thứ tư từ năm 1999 tới năm 2004.
Kể từ ngày 01/03/2010, Tech&U được gộp vào chuyên trang Life and Times. Hiện giờ mục công nghệ của tờ New Straits Times được xuất hiện mỗi thứ hai trên tờ Life & Times.
=== Travel Times ===
Năm 1999, phụ trương Travel Times chuyên về du lịch Malaysia được phát hành hàng tuần để cổ vũ chiến dịch Cuti-Cuti của chính phủ Malaysia. Phụ trương này chuyên đăng tải các tin và hình ảnh du lịch hoặc liên quan tới du lịch. Số đầu tiên phát hành ngày 06/10/1999 và trở thành tuần san kể từ số ra ngày 02/10/2000. Những số đầu tiên của tờ Travel Times được phát hành vào thứ tư mỗi tuần, sau đó phụ trương này đổi ngày phát hành qua thứ ba kể từ 23/02/2010 với tên gọi mới là "Travel". Kể từ tháng 03/2010, tờ phụ trương sáp nhập vào tờ Life & Times và trở thành một chuyên mục của tờ này. Kể từ đó, chuyên mục du lịch xuất hiện trên các sạp báo vào thứ năm và được biết tới dưới tên gọi JOM! nghĩa là Hãy Đi Nào! trong tiếng Mã Lai. Tên gọi mới được chọn để kêu gọi du khách bước ra thế giới và chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các kỳ quan.
=== Business Times ===
Tờ báo đã sáp nhập tờ Business Times kể từ ngày 01/06/2002, mở rộng chuyên ban về kinh doanh và lôi kéo giới doanh nhân. Trước năm 1976, đây cũng là tên của một chuyên trang của tờ New Straits Times. Cũng không nên nhầm lẫn với một tờ báo Singapore khác cùng tên.
=== Emedia ===
Công cụ trực tuyến này của tập đoàn The New Straits Times Press cung cấp bản lưu các bài báo, hình ảnh và bản PDF các trang báo được xuất bản bởi The New Straits Times Press (M) Berhad (NSTP). Kể từ năm 2010, tập đoàn này sử dụng công cụ cung từ dịch vụ web của News and Image Bank để cung cấp nội dung lưu trữ của báo.
Các kênh khác:
Thời trang
Ẩm thực
Tiện ích
Properties
Du lịch
=== Life & Times ===
Chuyên trang trước năm 1994 được biết đên với các tên gọi Leisure Times, Times Two và Lifestyle. Kể từ năm 1998 tới năm 2004, số thứ sáu của chuyên trang được đặt tên là Youth Quake sau khi được sáp nhập với tờ báo. Số phát hành ngày thứ bảy có tên gọi Weekend Life & Times, sau đó được đổi thành 6, trong giai đoạn từ năm 2005 tới 2009.
Kể từ ngày 01/03/2010, các chuyên mục của Life & Times có:
Thứ hai: Công nghệ
Thứ ba: Sức khỏe
Thứ tư: Phong cách
Thứ năm: Du lịch
Thứ sáu: Showbiz
Thứ bảy: Đời sống
Chủ nhật: Gia đình
=== Niexter ===
Phụ trương Niexter được xuất bản để nhắm vào độc giả là học sinh phổ thông. Niexter phát hành vào thứ năm mỗi tuần kể từ tháng 01/2009 cho đến tháng 01/2014 thì đình bản. Trước đó, NST cũng đã sử dụng phụ trương giáo dục của Berita Harian và của riêng họ, như Primary Plus (thứ ba) và The Next Step (thứ tư) tương ứng cho các trường tiểu học và trung học, trong khoảng thời gian những năm từ 2001 đến 2004.
== Biếm họa ==
Lat là họa sĩ biếm họa lâu năm của tờ New Straits Times, chuyên vẽ các bức hí họa mang tính thời sự nổi bật cho chuyên mục Scenes of Malaysian Life.
== Kiểm soát chính trị và tranh cãi ==
Do nhiều vấn đề nhạy cảm chính trị, báo chí Malaysia không thể bán ở Singapore, vì thế, tờ New Straits Times cũng không có mặt ở Singapore, và tờ The Straits Times không được bán ở Malaysia. Lệnh cấm này được ấn định trước kỳ tổng tuyển cử ngày 01/05/1969 ở Malaysia.
Năm 2012, Thượng nghị sĩ độc lập Nick Xenophon của Quốc hội Úc, khi đang trong nhiệm vụ tìm hiểu thực tế thì bị bắt tại cuộc biểu tình chống chính phủ ở Kuala Lumpur. Tiếp đó, ngày 02/05/2012, tờ New Straits Times đăng tải một bài viết của Roy See Wei Zhi với dòng tít "Quan sát viên bị giám sát". Bài báo dẫn lời Xenophon trong bài phát biểu năm 2009 của ông theo chiều hướng tấn công đạo Hồi, biến thành cái cớ để những người Hồi giáo Malaysia bày tỏ sự chống đối viên thượng nghị sĩ được biết có liên hệ đến lãnh đạo Malaysia đối lập Anwar Ibrahim này. Thực sự, những lời này của Xenophon tấn công vào Khoa Luận giáo và được trích lục từ văn bản phát biểu tại nghị viện của ông. Xenophon đe dọa sẽ kiện tờ New Straits Times đã làm tổn hại danh dự của ông và tờ báo đã nhanh nhẹn rút bài viết này khỏi website.
Vụ việc đã khơi mào những giận dữ trên truyền thông ở cả hai phía Malaysia và Úc, và củng cố mạnh mẽ vào nhận thức của công chúng rằng tờ New Straits Times và hầu hết truyền thông dòng chính chỉ là cái loa tuyên truyền cho liên minh chính trị cầm quyền Barisan Nasional. Ngày 04/05/2012, Thượng nghị sĩ Xenophon xác nhận rằng ông sẽ kiện New Straits Times mặc dù tờ báo đã đưa ra lời xin lỗi.
== Xem thêm ==
Danh sách báo chí Malaysia
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
New Straits Times trên Facebook
Bản mẫu:Media Prima Bản mẫu:Báo chí Malaysia |
nghệ an.txt | Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam.. Trước đây, Nghệ An cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu (thời bắc thuộc), Nghệ An châu (đời nhà Lý, Trần), xứ Nghệ (năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (nam sông Lam). Năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập thành một tỉnh- Nghệ Tĩnh. Từ năm 1991, lại tách ra thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh.
== Vị trí địa lý ==
Nghệ An thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp biển Đông, phía tây bắc giáp tỉnh Hủa Phăn (Lào), phía tây giáp tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), phía tây nam giáp tỉnh Borikhamxay (Lào).
== Hành chính ==
Nghệ An bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 3 thị xã và 17 huyện:
Nghệ An có 480 đơn vị hành chính cấp xã gồm 431 xã, 32 phường và 17 thị trấn.
== Dân cư ==
Dân số Nghệ An (theo điều tra dân số ngày 01/04/2009) có 2.912.041 người. Trên toàn tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc cùng sinh sống như người Thái, người Mường bên cạnh dân tộc chính là người Kinh. Cùng thời điểm này Nghệ An có 37 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống.
Dân số tỉnh nghệ an năm 2014
== Tên gọi ==
Trước thời Hùng Vương, vùng Nghệ An và Hà Tĩnh là nước Việt Thường, quốc gia độc lập cổ đại với kinh đô là vùng chân núi Hồng Lĩnh. Đến thời Hùng Vương nước Việt Thường bị sát nhập thành bộ thứ 15 của Văn Lang.
Thời Hùng Vương và An Dương Vương, tỉnh Nghệ An bao gồm bộ Hoài Hoan và phần bắc bộ Cửu Đức.
Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân.
Đời nhà Tấn là quận Cửu Đức.
Đời nhà Tùy là Hoan Châu (năm 598); là quận Nhật Nam (605-618)
Năm 628 đổi là Đức Châu, rồi lại đổi thành Châu Hoan, lại Châu Diễn.
Đời nhà Đường là quận Nam Đức.
Thời nhà Ngô, tách ra khỏi quận Cửu Chân đặt làm quận Cửu Đức.
Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê gọi là Hoan Châu.
Năm 1030 (năm Thiên Thành thứ 3 đời Lý Thái Tông), bắt đầu gọi là châu Nghệ An.
Năm Long Khánh 3 (1375) đời Trần Duệ Tông đổi Diễn Châu làm lộ Diễn Châu, đổi Hoan Châu làm các lộ Nhật Nam.
Năm 1397 đời Trần Thuận Tông đổi trấn Nghệ An làm trấn Lâm An và đổi trấn Diễn Châu làm trấn Vọng Giang.
Đời Hồ Hán Thương, năm Khai Đại 1 (1403) đổi trấn Diễn Châu làm phủ Linh Nguyên.
Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An.
Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn.
Năm đầu niên hiệu Gia Long lại đặt làm Nghệ An trấn.
Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam). Sau đó hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập lại, lấy tên là tỉnh An Tĩnh.
Sau năm 1954, tỉnh Nghệ An có tỉnh lị là thị xã Vinh và 12 huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quỳnh Lưu, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành.
Ngày 17 tháng 5 năm 1961, chia huyện Tương Dương thành 2 huyện: Tương Dương và Kỳ Sơn.
Ngày 19 tháng 4 năm 1963, chia huyện Anh Sơn thành 2 huyện: Anh Sơn và Đô Lương; chia huyện Quỳ Châu (cũ) thành 3 huyện: Quỳ Châu, Quỳ Hợp và Quế Phong; thành lập huyện Tân Kỳ từ một phần 2 huyện Nghĩa Đàn và Anh Sơn; chuyển thị xã Vinh thành thành phố Vinh.
Từ năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh "Nghệ Tĩnh".
Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay. Khi tách ra, tỉnh Nghệ An có 18 đơn vị hành chính gồm thành phố Vinh (tỉnh lị) và 17 huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Diễn Châu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Kỳ Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành.
Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chia huyện Nghi Lộc thành huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò.
Ngày 15 tháng 11 năm 2007, chia huyện Nghĩa Đàn thành huyện Nghĩa Đàn và thị xã Thái Hòa.
Ngày 3 tháng 4 năm 2013, chia huyện Quỳnh Lưu thành huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai.
== Lịch sử ==
Trước thời Hùng Vương, vùng Nghệ An và Hà Tĩnh là nước Việt Thường, kinh đô là vùng chân núi Hồng Lĩnh. Đến thời Hùng Vương nước Việt Thường bị sát nhập thành bộ thứ 15 của Văn Lang.
Từ thế kỷ thứ VIII, Mai Hắc Đế đã phất cao cờ nghĩa, xây thành Vạn An ở Sa Nam (Nam Đàn) để chống lại ách thống trị của nhà Đường.
Năm 1285, trước họa xâm lăng của quân xâm lược Nguyên Mông, vua Trần Nhân Tông đã dựa và nguồn nhân lực hùng hậu của vùng đất này.
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, năm 1424, Lê Lợi tiến quân vào xứ Nghệ An lập đại bản doanh ở đây 4 năm. Năm 1535 trong chiến tranh Nam Bắc Triều (Lê- Mạc) Phụng chiếu Thái tông Mạc Đăng Doanh. Mạc Đăng Lượng và em Mạc Đăng Hào tức Mạc Đăng Tuấn sau 1592 đổi tên Hoàng Tuấn Ngạn đưa hơn 1 vạn quân vào trấn thủ đất Hoan châu định đô ở vùng Đô Đặng, tổng Đặng Sơn, huyện Nam Đường. Ngài có công chiêu lập 137 hộ dân, tiền thân các dòng họ Hoàng, Bùi Duy, Hoàng Duy, Nguyễn Đăng, Lê Đăng... ở Tổng Đặng Sơn nay là 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn và để ghi nhớ công đức các triều trước lập Đền Tiên Đô dân làng thờ phụng.
Cuối năm 1788,Nguyễn Huệ trên đường hành quân cấp tốc ra Bắc để đánh đuổi 29 vạn quân Thanh sang xâm chiếm nước ta, ông đã dừng lại ở Nghệ An tuyển thêm 5 vạn quân sĩ và luyện Binh, âm cầu mật đạo Thần Mạc Đăng Lượng Phù hộ đánh thắng quân Thanh ở Đền Tán sơn xã Xuân Hòa Nam đàn sau khi chiến thắng trên đường trở lại Phú Xuân đã phong Mạc Đăng Lượng Thượng Đẳng Phúc Thần.Đầu thế kỷ XX xuất hiện Phan Bội Châu, một con người đầy nhiệt huyết yêu nước, đã bôn ba hải ngoại, với khát vọng tiếp thu cái hay, cái mới, hy vọng cứu nước thắng lợi.
Cùng với Hà Tĩnh, Nghệ An là nơi ghi dấu ấn đầu tiên của truyền thống đấu tranh cách mạng vô sản ở Việt Nam với cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931, mở đầu cho cao trào cách mạng vô sản trong cả nước. Trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, Nghệ An là quê hương của các phong trào "Tiếng hát át tiếng bom", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "Xe chưa qua, nhà không tiếc", "Tất cả cho miền Nam ruột thịt".v.v... để góp phần mình cùng cả nước đi đến toàn thắng mùa xuân năm 1975.
Nghệ An có truyền thống hiếu học, có nhiều dòng họ, nhiều làng học nổi tiếng, là cái nôi sản sinh cho đất nước nhiều danh tướng, lương thần, nhiều nhà khoa học, nhà văn hoá có tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Số người Nghệ An đậu đại khoa thời phong kiến (tiến sĩ trở lên) xếp thứ 4 toàn quốc (sau Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội và trên Thanh Hoá, Hà Tĩnh).
Chỉ riêng làng Quỳnh Đôi, dưới thời phong kiến đã có 13 người đậu đại khoa (Phó bảng trở lên), còn cử nhân dưới triều Nguyễn (1807 - 1918) đã có 47 người. Khoa thi Hương Tân Mão (1891), trường Nghệ lấy đậu 20 cử nhân, thì huyện Nam Đàn đã có 6 người đậu; khoa thi năm Giáp Ngọ (1894), trường Nghệ lấy đậu 20 cử nhân, Nam Đàn có 8 người đậu; khoa thi hội năm Tân Sửu (1901), cả nước có 22 người đậu tiến sĩ và Phó bảng thì Nam Đàn có 3 người là tiến sĩ Nguyễn Đình Điển, Phó bảng Nguyễn Xuân Thưởng và Nguyễn Sinh Sắc.Thời phong kiến Đô Lương có Tiến sĩ Đặng Minh Bích, Tiến sĩ Nguyễn Thái Đễ, Tiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành, Ất Tiến sĩ Nguyễn Đăng Quý và (Nghè Giá) Tiến sĩ Nguyễn văn Giá (xã Hội Sơn, Anh Sơn).
== Điều kiện tự nhiên ==
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt hè, đông. Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô và nóng. Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt.
Diện tích: 16.487 km².
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.670 mm.
Nhiệt độ trung bình: 25,2 °C.
Số giờ nắng trong năm: 1.420 giờ.
Độ ẩm tương đối trung bình: 86-87%.
Vĩ độ: 18°33′ đến 19°25′ vĩ bắc.
Kinh độ: 102°53′ đến 105°46′ kinh đông.
Nghệ An là một tỉnh có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển. Phía Tây là dãy núi Bắc Trường Sơn. Tỉnh có 10 huyện miền núi, trong số đó 5 huyện là miền núi cao. Các huyện miền núi này tạo thành miền Tây Nghệ An. Có 9 huyện trong số trên nằm trong Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Các huyện, thị còn lại là trung du và ven biển, trong đó Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, và Cửa Lò giáp biển.
== Giao thông ==
Có quốc lộ 1A, quốc lộ 7, quốc lộ 15, quốc lộ 48A, quốc lộ 48C, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc - Nam, sông Lam đi qua.
== Kinh tế ==
=== Công nghiệp ===
Hiện nay ngành công nghiệp của Nghệ An tập trung phát triển ở 3 khu vực là Vinh - Cửa Lò gắn với Khu kinh tế Đông Nam, Khu vực Hoàng Mai và khu vực Phủ Quỳ. Phấn đấu phát triển nhiều ngành công nghiệp có thế mạnh như các ngành chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến thuỷ hải sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa, giấy...Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, tỉnh Nghệ An xếp ở vị trí thứ 28/63 tỉnh thành. GDP 2014 đạt gần 8% Thu nhập bình quân đầu người 2014 đạt 29 triệu đồng/ người /năm Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An các khu công nghiệp sau:
Khu kinh tế Đông Nam
Khu công nghiệp đô thị Việt Nam Singapore
Khu công nghiệp Bắc Vinh
Khu công nghiệp Nam Cấm
Khu công nghiệp Nghi Phú
Khu công nghiệp Hưng Đông
Khu công nghiệp Cửa Lò
Khu công nghiệp Hoàng Mai1,2
Khu công nghiệp Đông Hồi
Khu công nghiệp Phủ Quỳ
Khu công nghiệp Tân Thắng
khu công nghiệp Diễn Hồng - Diễn Châu
=== Du lịch ===
Có bãi tắm Cửa Lò là khu nghỉ mát; Khu du lịch biển diễn Thành, huyện Diễn Châu - một bãi biển hoang sơ và lãng mạn; khu di tích Hồ Chí Minh, khu di tích đền Cuông. Năm 2008, Khu du lịch Bãi Lữ được đưa vào khai thác.
[1]Nghệ An là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễ hội Cầu Ngư, Rước hến, Đua thuyền... Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội đền Cuông, lễ hội đền Khai Long, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen, lễ hội đền Quả Sơn. Miền núi có các lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ Mừng nhà mới, lễ Uống rượu cần. Lễ hội Đền Tiên Đô (Tiên Đô Miếu) ở Đặng Sơn vào lễ khai hạ mồng 7 tháng giêng và Lễ kỵ nhật 16/6 của 3 thần bản cảnh- Thành Hoàng nơi Thờ Phó Quốc Vương Mạc Đăng Lượng thượng thượng thượng đẳng thần, Binh nhung Đại tướng Hoàng Trần Ích thượng đẳng thần, Hoàng Bá Kỳ Đoan túc tôn thần.
Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di tích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống - đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho du lịch Nghệ An phát triển.
Về du lịch biển, Nghệ An có 82 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp hấp dẫn khách du lịch quốc tế như bãi biển Cửa Lò, Cửa Hội; Nghi Thiết, Bãi Lữ (Nghi Lộc), Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương, Quỳnh Nghĩa (Quỳnh Lưu), Diễn Thành (Diễn Châu). Đồng thời Nghệ An rất có lợi thế phát triển du lịch văn hóa. Hiện nay Nghệ An có trên 1 ngàn di tích lịch sử văn hóa, trong đó có gần 200 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, đặc biệt là Khu di tích Kim Liên, quê hương của Hồ Chí Minh, hàng năm đón xấp xỉ 2 triệu lượt nhân dân và du khách đến tham quan nghiên cứu.
Khu di tích lịch sử Kim Liên, cách trung tâm thành phố Vinh 12 km về phía Tây Nam, là khu di tích tưởng niệm Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn. Nơi đây gắn với thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích và những kỷ vật của gia đình.
Làng Sen, quê nội của Hồ Chí Minh, tên chữ là Kim Liên (bông sen vàng). Làng có nhiều hồ thả sen suốt hai bên đường làng. Ngôi nhà của Hồ Chí Minh sống thuở nhỏ dựng bằng tre và gỗ, 5 gian, lợp tranh. Trong nhà có những đồ dùng giống như các gia đình nông dân: phản gỗ, chõng tre, cái võng gai, bàn thờ... Nhà được dựng năm 1901 do công sức và tiền của dân làng góp lại làm tặng ông Nguyễn Sinh Sắc, cha của Hồ Chí Minh khi ông Sắc đỗ Phó Bảng đem lại vinh dự cho cả làng.
Cách làng Sen 2 km là làng Chùa (tên chữ là Hoàng Trù) - quê ngoại của Hồ Chí Minh - và cũng là nơi ông cất tiếng khóc chào đời, được mẹ nuôi dạy những năm ấu thơ.
Khu du lịch thành phố Vinh nằm ở vị trí giao thông thuận tiện, có quốc lộ 1a và tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua, có sân bay Vinh nằm cách trung tâm thành phố không xa. Thành phố Vinh còn là đầu mối giao thông quan trọng giữa miền Bắc và miền Nam. Khách đi du lịch theo tuyến quốc lộ 1A ngày càng tăng, lượng du khách đến với Nghệ An theo đó cũng tăng.
Thành phố Vinh từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu của một đô thị xứ Nghệ. Đến với thành phố Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
Cách thành phố Vinh 120 km về phía Tây Nam, Vườn Quốc gia Pù Mát thuộc huyện Con Cuông, nằm trên sườn Đông của dải Trường Sơn, dọc theo biên giới Việt Lào. Nơi đây có một số loài động vật, thực vật quý hiếm cần phải được bảo tồn nghiêm ngặt như: sao la, thỏ vằn, niệc cổ hung và một số loài thực vật như pơ mu, sa mu, sao hải nam... Nơi đây đã được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển thế giới với tên gọi Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An. Đến Diễn châu, du khách rẽ về phía tây theo đường 7 về Đặng Sơn thăm Di tích lịch sử quốc gia Nhà thờ họ Hoàng Trần do gia đình cụ Hoàng Quýnh - Nguyễn thị Đào xây dựng lại năm 1884 - gắn với cơ sở hoạt động thời kỳ 1930-1945 hoặc ra thăm Bãi Dâu Ba Ra.
Hiện nay, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường thế giới cũng như trong nước, đang có các dự án để bảo tồn và phát triển vườn quốc gia Pù Mát, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống tạo thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn.
Khu du lịch Cửa Lò là điểm du lịch biển hấp dẫn với bãi cát trắng mịn chạy dài gần 10 km, thông ra Hòn Ngư, Hòn Mắt, Đảo Lan Châu e ấp ven bờ như một nét chấm phá của bức tranh thuỷ mạc. Tất cả đã tạo ra cho Cửa Lò có một sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách thập phương.
Nghệ An còn là nơi có nhiều món ăn ngon, đặc sản nổi tiếng: cháo lươn Vinh, cơm lam, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, cam xã Đoài... là những sản phẩm du lịch có sức cuốn hút khách du lịch quốc tế và trong nước.
Với nhiều lắm những danh lam thắng cảnh, hệ thống di tích, văn hoá phong phú về số lượng, độc đáo về nội dung, đa dạng về loại hình, Nghệ An đang là miền đất hứa, là địa chỉ du lịch hấp dẫn đối với du khách.
== Văn hóa, xã hội ==
Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê. Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam. Hai tỉnh này có cùng phương ngữ- tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam.
Ngày 27/11, trong kỳ họp lần thứ 9 Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể diễn ra tại Pháp, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc đã chính thức công nhận dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/dan-ca-vi-dam-nghe-tinh-duoc-vinh-danh-3113382.html |
john mcenroe.txt | John Patrick McEnroe, Jr. (sinh 16 tháng 2 năm 1959) là cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp số một thế giới đến từ Hoa Kỳ. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông thắng bảy giải danh hiệu đơn Grand Slam (ba tại Wimbledon và bốn tại US Open), chín giải đánh đôi nam Grand Slam, và một giải đánh đôi hỗn hợp Grand Slam.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
McEnroe, John; with Kaplan, James (2002). You Cannot Be Serious. London: Time Warner Paperbacks. ISBN 0-7515-3454-4.
Shifrin, Joshua (2005). 101 Incredible Moments in Tennis. Virtualbookworm.com Publishing. ISBN 1-5893-9820-3.
Adams, Tim (2005). On Being John McEnroe. New York: Crown. ISBN 1-4000-8147-5.
Evans, Richard I. (1990). McEnroe, Taming the Talent. Lexington, Massachusetts: S. Greene. ISBN 0-8289-0791-9.
Evans, Richard; written in cooperation with John McEnroe (1984). McEnroe: A Rage for Perfection: A Biography. New York: Sidgwick & Jackson. ISBN 0450055868.
Long, Cathy; Scanlong, Bill; Long, Sonny (2004). Bad News for McEnroe: Blood, Sweat, and Backhands with John, Jimmy, Ilie, Ivan, Bjorn, and Vitas. New York: St. Martin's Press. ISBN 0-312-33280-7.
== Video ==
The Wimbledon Collection - Legends of Wimbledon - John McEnroe Standing Room Only, DVD Release Date: 21 tháng 9 năm 2004, Run Time: 52 phút, ASIN: B0002HOD9U
The Wimbledon Collection - The Classic Match - Borg vs. McEnroe 1981 Final Standing Room Only, DVD Release Date: 21 tháng 9 năm 2004, Run Time: 210 phút, ASIN: B0002HODAE
The Wimbledon Collection - The Classic Match - Borg vs. McEnroe 1980 Final Standing Room Only, DVD Release Date: 21 tháng 9 năm 2004, Run Time: 240 phút; ASIN: B0002HOEK8
Charlie Rose with John McEnroe (4 tháng 2 năm 1999) Charlie Rose, DVD Release Date: 18 tháng 9 năm 2006, ASIN: B000IU3342
== Liên kết ngoài ==
John McEnroe trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
John McEnroe trên ITF
John McEnroe tại Davis Cup
International Tennis Hall of Fame
Official Wimbledon website profile
BBC profile
John McEnroe tại Internet Movie Database
John McEnroe's ESPN Bio |
royal crescent.txt | Royal Crescent là một con đường gồm 30 căn nhà được đặt ra trong một hình lưỡi liềm ở thành phố Bath, Anh. Thiết kế bởi kiến trúc sư John Wood con và xây dựng từ năm 1767 và 1774, nó là một trong những ví dụ lớn nhất của kiến trúc Georgia được tìm thấy ở Vương quốc Anh và là một công trình xây xây dựng cấp I.
Những ngôi nhà đã là nơi ở của những người nổi tiếng khác nhau trong hơn 200 năm. Thay đổi đã được thực hiện đối với nội thất, tuy nhiên, mặt tiền vẫn còn nhiều như nó là khi nó được xây dựng.
Royal Crescent hiện nay bao gồm một khách sạn và bảo tàng với một số nhà được chuyển đổi thành căn hộ và văn phòng. Các tòa nhà đã được sử dụng như là một vị trí cho một vài bộ phim và các chương trình truyền hình.
== Tham khảo == |
bihar.txt | Bihar (phát âm tiếng Hindustan: [bɪˈɦaːr]) là một bang ở miền đông Ấn Độ. Đây là bang rộng lớn thứ mười ba Ấn Độ (diện tích 94.163 km2 (36.357 sq mi)) và dân số đông thứ ba. Nó tiếp giáp với Uttar Pradesh về phía tây, Nepal về phía bắc, Tây Bengal về phía đông, và Jharkhand về phía nam. Đồng bằng Bihar tạo nên bởi sông Hằng chạy từ tây sang đông Bihar.
Ngày 15 tháng 11 năm 2000, nam Bihar cũ được tách ra để tạo nên bang Jharkhand. Chỉ 11,3% dân số Bihar sống tại vùng đô thị, tỉ lệ thấp thứ nhì tại Ấn Độ, sau Himachal Pradesh. Thêm vào đó, gần 58% người Bihar dưới 25 tuổi, khiến Bihar trở thành bang có tỉ lệ người trẻ tuổi cao nhất. Các ngôn ngữ chính thức là tiếng Hindi và tiếng Urdu. Những ngôn ngữ khác phổ biến trong bang là tiếng Bhojpur, tiếng Maithil, tiếng Magahi, tiếng Bajjika, và tiếng Angika.
Ở Ấn Độ thời cổ đại và cổ điển, Bihar là một trung tâm chính trị, nghiên cứu, và văn hóa. Từ Magadha, đế quốc đầu tiên của Ấn Độ (đế quốc Maurya), cũng như một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, Phật giáo, xuất hiện. Những đế quốc Magadha, đáng chú ý là Maurya và Gupta, đã thống nhất một phần lớn Nam Á dưới sự thống lĩnh của họ.
Từ cuối thế kỷ 1970, Bihar tụt sau những bang khác về sự phát triển kinh tế và xã hội. Nhiều nhà kinh tế và khoa học xã hội cho rằng điều này là kết quả trực tiếp từ các chính sách của chính phủ trung ương, như chính sách cân bằng vận chuyển hàng hóa, sự thiếu quan tâm của chính phủ, và sự thiếu vắng "tinh thần Bihar". Tuy nhiên, chính phủ bang đã có nhiều cố gắng để đưa bang phát triển. Những cố gắn này gồm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn, đặt nặng hơn về giáo dục, cũng như giảm thiểu tham nhũng và ổn định an ninh.
== Chú thích == |
quần thể di tích cố đô huế.txt | Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế là những di tích lịch sử - văn hoá do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt Nam. Phần lớn các di tích này nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Hiện tại, cố đô Huế đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 62 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng. Quần thể di tích Cố đô Huế có thể phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm công trình ngoài Kinh thành Huế và trong kinh thành Huế.
== Di sản văn hoá thế giới Cố Đô Huế ==
=== Kinh thành Huế ===
Kinh thành Huế được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng.
Các di tích trong kinh thành gồm:
Kỳ Đài
Còn gọi là Cột cờ, nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình. Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời gian xây dựng kinh thành Huế. Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840. Trong lịch sử, kỳ đài thường là nơi đánh dấu các sự kiện quan trọng và sự thay đổi thể chế chính quyền ở Huế.
Trường Quốc Tử Giám
Năm 1803 vua Gia Long xây dựng Đốc Học Đường tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương. Đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay).
Điện Long An
Điện được xây dựng vào năm 1845, thời vua Thiệu Trị với tên gọi là Điện Long An trong cung Bảo Định, phường Tây Lộc (Huế) làm nơi nghỉ của vua sau khi tiến hành lễ Tịch điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân. Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, ngâm vịnh.
Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế
Tại số 3, Lê Trực, Huế. Tòa nhà chính của viện bảo tàng chính là điện Long An xây năm 1845 dưới thời vua Thiệu Trị. Hiện bảo tàng trưng bày hơn 300 hiện vật bằng vàng, sành, sứ, pháp lam Huế, ngự y và ngự dụng, trang phục của hoàng thất nhà Nguyễn. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế giúp người tham quan một cái nhìn tổng thể về cuộc sống cung đình Huế.
Đình Phú Xuân
Đình Phú Xuân được xây dựng nửa đầu thế kỷ XIX ở tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế; nay thuộc phường Tây Lộc, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố 2 km về phía bắc.
Hồ Tịnh Tâm
Hồ Tịnh Tâm là một di tích cảnh quan được kiến tạo dưới triều Nguyễn. Trước đây, hồ nguyên là vết tích của đoạn sông Kim Long chảy qua Huế. Đầu thời Gia Long, triều đình cho cải tạo một số đoạn sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Hai bãi nổi trong hồ này được dùng làm nơi xây dựng kho chứa thuốc súng và diêm tiêu. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính tham gia vào việc cải tạo hồ. Năm 1838, vua Minh Mạng cho di dời hai kho sang phía đông, tái thiết nơi này thành chốn tiêu dao, giải trí và gọi là hồ Tịnh Tâm. Dưới thời vua Thiệu Trị đây được xem là một trong 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh.
Tàng thư lâu
Tàng thư lâu là được xây dựng năm 1825 trên hồ Học Hải trong kinh thành Huế, dùng làm nơi lưu các công văn cũ của cơ quan và lục bộ triều đình nhà Nguyễn. Đây có thể coi là một Tàng Kinh Các của Việt Nam dưới triều Nguyễn lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều đình và biến đổi của đất nước. Chỉ riêng số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến 12.000 tập. Có thể nói Tàng thư lâu rất quan trọng trong việc chứa các tài liệu và địa bạ, giấy tờ quan trọng lúc bấy giờ.
Viện Cơ Mật - Tam Tòa
Là cơ quan tư vấn của nhà vua gồm bốn vị đại thần từ Tam phẩm trở lên, là Đại học sĩ của các điện Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển và Cần Chánh. Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng vùng với toà Giám Sát (của người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà. Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc phường Thuận Thành, ở góc Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.
Đàn Xã Tắc
Cửu vị thần công
Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, khi lên ngôi, vua Gia Long liền cho các nghệ nhân đương thời tập trung tất cả chiến lợi phẩm là binh khí và vật dụng bằng đồng để đúc thành 9 khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. Công việc đúc chính thức từ năm 1803 và hoàn thành vào năm 1804.
=== Hoàng thành Huế ===
Hoàng Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành thường được gọi chung là Đại Nội.
Các di tích trong hoàng thành gồm:
Ngọ Môn
Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế được xây dựng vào năm Minh Mạng 14 (1833). Ngọ Môn có nghĩa đen là Cổng giữa trưa hay Cổng xoay về hướng Ngọ, là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế. Về mặt từ nguyên học, "Ngọ Môn" có nghĩa là chiếc cổng xoay mặt về hướng Ngọ, cũng là hướng Nam, theo Dịch học là hướng dành cho bậc vua Chúa.
Điện Thái Hoà và sân Đại Triều Nghi
Điện Thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế. Điện cùng với sân chầu là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung tâm của đất nước. Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn.
Triệu Tổ Miếu
Triệu Tổ miếu còn gọi là Triệu Miếu, được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804). Miếu này nằm ở phía bắc của Thái Miếu trong hoàng thành Huế, là miếu thờ Nguyễn Kim, thân sinh của chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
Hưng Tổ Miếu
Hưng Tổ Miếu còn gọi là Hưng Miếu là ngôi miếu thờ cha mẹ vua Gia Long (ông Nguyễn Phúc Luân (hay Nguyễn Phúc Côn) và bà Nguyễn Thị Hoàn), vị trí ở tây nam Hoàng thành Huế|hoàng thành (cách Thế Miếu chừng 50 mét về phía Bắc).
Thế Tổ Miếu
Thế Tổ Miếu thường gọi là Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn. Đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới trong triều (kể cả hoàng hậu) không được đến tham dự các cuộc lễ này.
Thái Tổ Miếu
Thái Tổ Miếu còn gọi là Thái Miếu là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc đông nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía tây nam.
Cung Diên Thọ
Cung Diên Thọ tên ban đầu là cung Trường Thọ, các tên khác là Từ Thọ, Gia Thọ, Ninh Thọ; được bắt đầu xây dựng năm 1803 để làm nơi sinh hoạt của Hoàng Thái Hậu của triều Nguyễn.
Cung Trường Sanh
Cung Trường Sanh hay Cung Trường Sinh (còn có tên gọi khác là Cung Trường Ninh), được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ nhất (1821) ở phía Tây Bắc Hoàng thành với vai trò ban đầu là hoa viên, nơi các vua triều Nguyễn mời mẹ mình đến thăm thú ngoạn cảnh. Về sau cung được chuyển thành nơi ăn ở sinh hoạt của một số bà hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu. Trong thời kỳ rực rỡ nhất, kiến trúc cảnh quan của Cung Trường Sanh được vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ bảy của thắng cảnh đất Thần Kinh.
Hiển Lâm Các
Hiển Lâm Các được xây dựng vào năm 1821 và hoàn thành vào năm 1822 thời vua Minh Mạng nằm trong khu vực miếu thờ trong hoàng thành Huế, cao 17m và là công trình kiến trúc cao nhất trong Hoàng Thành. Đây được xem là đài kỷ niệm ghi nhớ công tích của các vua nhà Nguyễn và các quan đại thần có công lớn của triều đại.
Cửu Đỉnh
Cửu Đỉnh của nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng đặt ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu, phía tây nam Hoàng hành Huế. Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. 9 đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.
Điện Phụng Tiên
Điện Phụng Tiên là một ngôi điện nằm ở gần cửa Chương Đức, phía trước Cung Diên Thọ, cửa tây của Hoàng Thành được vua Gia Long và vua Minh Mạng xây dựng dùng để thờ cúng các vua triều Nguyễn. Khác với Thế Miếu, điện này tuy cũng thờ các vị vua và hoàng hậu nhà Nguyễn nhưng nữ giới trong triều được phép đến đây cúng tế. Ngoài ra, nó còn là nơi lưu trữ nhiều bảo vật của nhiều đời vua nhà Nguyễn. Tháng 2 năm 1947, toàn bộ điện bị đốt cháy, hiện nay chỉ còn lại cửa Tam Quan và vòng tường thành còn tương đối nguyên vẹn.
=== Tử cấm thành ===
Tử Cấm Thành nguyên gọi là Cung Thành là vòng tường thành thứ ba của Kinh đô Huế, giới hạn khu vực làm việc, ăn ở và sinh hoạt của vua và hoàng gia.
Các di tích trong Tử cấm thành gồm:
Tả Vu và hữu Vu
Tả Vu và Hữu Vu được xây dựng vào đầu thế kỷ 19, và cải tạo vào năm 1899. Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ; đây là nơi các quan chuẩn bị nghi thức trước khi thiết triều, nơi làm việc của cơ mật viện, nơi tổ chức thi đình và yến tiệc.
Vạc đồng
Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời. Trong số đó, 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời Minh Mạng.
Điện Kiến Trung
Điện Kiến Trung trong Tử Cấm thành (Huế) được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923 cùng thời gian với xây lăng để làm nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung. Sau này, vua Bảo Đại cho tu sửa lại điện, tân trang các tiện nghi Tây phương và cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại đây.
Điện Cần Chánh
Điện Cần Chánh trong Tử Cấm thành (Huế), được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804), sau còn được tu bổ nhiều lần. Điện là nơi vua thiết triều, thường tiếp sứ bộ ngoại giao, tổ chức yến tiệc của hoàng gia và triều đình của triều Nguyễn, hiện nay đã trở thành phế tích do bị phá huỷ từ năm 1947.
Thái Bình Lâu
Thái Bình Lâu được vua Khải Định cho xây dựng vào năm 1919, đến năm 1921 thì hoàn thành, là nơi để nhà vua có thể nghỉ ngơi lúc rảnh rỗi, cũng là chỗ để nhà vua đọc sách, viết văn, làm thơ, thư giãn.
Duyệt Thị Đường
Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (năm 1826) nằm bên trong Tử Cấm Thành, là một nhà hát dành cho vua, hoàng thân quốc thích, các quan đại thần xem biểu diễn các vở tuồng. Đây được xem là nhà hát cổ nhất của ngành sân khấu Việt Nam. Từ năm 2004, Duyệt Thị Đường được Trung tâm bảo tàng di tích cố đô Huế khôi phục và đưa vào hoạt động biểu diên nhã nhạc cung đình Huế phục vụ khách du lịch.
== Các di tích ngoài kinh thành ==
=== Lăng tẩm ===
Lăng Gia Long
Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ Lăng bắt đầu được xây dựng từ năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn tất. Lăng thực ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng quyến. Toàn bộ khu lăng này là một quần sơn với 42 đồi, núi lớn nhỏ, trong đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng và là tên gọi của cả quần sơn này.
Lăng Minh Mạng
Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng do vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 để chôn cất vua cha Minh Mạng. Lăng nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km.
Lăng Thiệu Trị
Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng nằm ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy. Được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để chôn cất vua cha Thiệu Trị. là nơi chôn cất hoàng đế Thiệu Trị. So với lăng tẩm các vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng duy nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được dùng trong kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn.
Lăng Tự Đức
Lăng Tự Đức được chính vua Tự Đức cho xây dựng khi còn tại vị, là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng. Lăng có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.
Lăng Đồng Khánh
Lăng Ðồng Khánh còn gọi là Tư Lăng tọa lạc giữa một vùng quê thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước (nay là thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, thành phố Huế). Nguyên trước đây là Ðiện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ cha mình là Kiên Thái Vương. Khi Ðồng Khánh mắc bệnh và đột ngột qua đời. Vua Thành Thái (1889-1907) kế vị trong bối cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, kinh tế suy kiệt nên không thể xây cất lăng tẩm quy củ cho vua tiền nhiệm, đành lấy điện Truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Ðồng Khánh.
Lăng Dục Đức
Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng tọa lạc tại thôn Tây Nhất, làng An Cựu, xưa thuộc huyện Hương Thủy, nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố chưa đầy 2 km; là nơi an táng của 3 vua nhà Nguyễn: Dục Ðức, Thành Thái và Duy Tân. Dục Đức lên ngôi năm 1883 được 3 ngày thì bị phế trất và mất, sau này con ông là vua Thành Thái (lên ngôi năm 1889) cho xây lăng để thờ cha đặt tên là An Lăng. Năm 1954, khi vua Thành Thái mất, thi hài được đưa về chôn tại địa điểm hiện nay trong khu vực An Lăng và được thờ ở ngôi điện Long Ân. Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về an táng cạnh lăng Thành Thái.
Lăng Khải Định
Lăng Khải Định còn gọi là Ứng Lăng toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế là lăng mộ của vua Khải Định, vị vua thứ 12 của triều Nguyễn. Lăng được xây dựng từ năm 1920 ngay sau khi Khải Định lên ngôi. Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi sự pha trộn kiến trúc Đông Tây Kim Cổ lạ thường, với các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo.
=== Các di tích khác ===
Trấn Bình đài
Trấn Bình đài nằm ở vị trí Đông Bắc kinh thành Huế bên ngoài cửa Trấn Bình được xây dựng năm Gia Long thứ 4 (1805), lúc đầu gọi là đài Thái Bình, đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) đổi thành Trấn Bình đài, dân gian gọi là đồn Mang Cá. Đây là cái pháo đài thứ 25 của Kinh thành Huế, một thành phụ của Kinh thành, cách thành chính chỉ một đoạn hào chung.
Phu Văn Lâu
Phu Văn Lâu nằm trên trục chính của Hoàng thành Huế phía trước Kỳ Đài, được xây dựng vào năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình, hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức. Năm 1829, vua Minh Mạng dùng nơi đây làm địa điểm tổ chức cuộc đấu giữa voi và hổ, năm 1830 ông lại tổ chức cuộc vui chơi yến tiệc suốt 3 ngày để mừng sinh nhật của mình.
Tòa Thương Bạc
Tòa Thương Bạc tọa lạc bên bờ Nam sông Hương, bên ngoài cổng Thượng Tứ được vua Tự Đức cho xây dựng năm 1936, tại vị trí hiện nay, cách vị trí Thương Bạc Viện cũ khoảng 100m để ghi nhớ di tích Thương Bạc Viện. Đây là trụ sở để đón tiếp các sứ thần nước ngoài. Công trình này được xây bằng vật liệu mới như xi măng, sắt thép; mặt nền hình bát giác, mái chia 2 tầng lợp ngói lưu ly, cấu trúc thanh nhã, hài hòa với cảnh vật xung quanh.
Văn miếu
Văn Miếu còn gọi là Văn Thánh Miếu là nơi thờ Khổng Tử và dựng bia tiến sĩ. Miếu được chính thức xây dựng vào năm 1808 dưới triều vua Gia Long và có quy mô uy nghi đồ sộ, nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành Huế.
Võ Miếu
Võ Miếu hay Võ Thánh miếu tại Huế được khởi công xây dựng từ tháng 9 năm Ất Mùi (1835) thời Minh Mạng tại làng An Ninh thuộc huyện Hương Trà, phía bên trái Văn Miếu, trước mặt là sông Hương. Đây là nơi thờ phụng và ghi danh những danh tướng Việt Nam, những tiến sĩ đỗ trong 3 khoa thi võ dưới triều Nguyễn, đây còn là nơi thờ một số danh tướng Trung Quốc.
Đàn Nam Giao
Đàn Nam Giao triều Nguyễn được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế. Đây là nơi các vua Nguyễn tế trời.
Hổ Quyển
Hổ Quyền còn đọc là Hổ Khuyên tọa lạc tại địa phận thôn Trường Đá, xã Thủy Biều, thành phố Huế; được xây dựng năm Minh Mạng thứ 11 (1830), là một chuồng nuôi hổ và là một đấu trường độc đáo. Dưới triều Nguyễn đây là đấu trường của những cuộc tử chiến giữa voi và hổ nhằm tế thần trong ngày hội và phục vụ nhu cầu giải trí tiêu khiển cho vua, quan lại và người dân.
Điện Voi Ré
Điện Voi Ré nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía Tây-Nam, cách Hổ Quyền khoảng 400m, trên địa phận thôn Trường Đá thuộc xã Thủy Biều, thành phố Huế. Tương truyền, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhân dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ cho một con voi của một dũng tướng chết trận, gọi là mộ Voi Ré. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng bên cạnh mộ con voi một ngôi điện thờ với tên gọi là Long Châu Miếu để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Từ truyền thuyết và sự kiện lịch sử như vậy, dân gian quen gọi ngôi miếu này là điện Voi Ré.
Điện Hòn Chén
Điện Hòn Chén tọa lạc trên núi Ngọc Trản, thuộc làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Núi Ngọc Trản xưa có tên là Hương Uyển Sơn, sau mới đổi tên là Ngọc Trản (có nghĩa là chén ngọc), dân gian vẫn quen gọi là Hòn Chén vì nó ngay ngắn tròn trĩnh như hình chén úp. Cũng vì vậy, người ta quen gọi ngôi điện thờ Thánh mẫu tọa lạc giữa lưng chừng núi là điện Hòn Chén. Ðiện Hòn Chén là nơi ngày xưa người Chàm thờ nữ thần PoNagar, sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà dưới xưng Thánh Mẫu Thiên Y A Na.
Chùa Thiên Mụ
Chùa Thiên Mụ là một ngôi chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía tây. Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong. Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất của Huế.
Trấn Hải Thành
Trấn Hải Thành (Thành trấn giữ mặt biển) là một thành lũy dùng để bảo vệ kinh đô triều Nguyễn được xây dựng ở cửa ngỏ Phía Đông kinh thành Huế, cách đó 10 km đường sông và 13 km đường bộ. Cửa biển này người ta gọi là yêu Hải Môn - hay Cửa Eo (Cửa Lấp). Năm 1813, Gia Long cho xây dựng Trấn Hải Đài và đổi tên Cửa Eo thành Cửa Thuận An. Đến năm 1834, vua Minh Mạng cho đổi tên Trấn Hải đài ra Trấn Hải thành.
Nghênh Lương Đình
Nghênh Lương Đình hay Nghênh Lương Tạ là một công trình nằm trên trục dọc từ Kỳ đài ra đến Phu Văn Lâu được xây dựng dưới triều vua Tự Đức thứ 5 (1852), dùng làm nơi nghỉ chân của nhà vua trước khi đi xuống bến sông để lên thuyền rồng hoặc làm nơi hóng mát.
Cung An Định
Cung An Định tọa lạc bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát - Thị xã Huế, nay tại số 97 đường Phan Đình Phùng, Thành phố Huế, là cung điện riêng của vua Khải Định từ khi còn là thái tử đến khi làm vua, sau này được Vĩnh Thuỵ thừa kế và từng sống ở đây sau khi thoái vị.
== Tham khảo ==
Huế - Trong ta một thời
Phan Thuận An (2005). Quần thể di tích Huế. Nhà xuất bản Trẻ.
Trần Đức Anh Sơn (2004). HUẾ Triều Nguyễn một cái nhìn. Nhà xuất bản Thuận Hóa.
== Xem thêm ==
Huế
Cố đô Huế
Nhã nhạc cung đình Huế
Sông Hương
Núi Ngự Bình
== Liên kết ngoài ==
Địa điểm du lịch Huế tại trang web của FestivalHue - mạng quảng bá du lịch dịch vụ Huế.
Giới thiệu di sản văn hoá Huế tại trang web của Trung tâm bảo tồn Cố đô Huế
Quần thể di tích Cố đô Huế hai thế kỷ nhìn lại tại trang web của NetCoDo - Huế.
Cổ vật - hồn cốt văn hóa Huế, Đại biểu Nhân dân, 17/03/2014 |
astatin.txt | Astatin là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn, có ký hiệu At và số nguyên tử là 85. Đây là một nguyên tố phóng xạ có trong tự nhiên do phân rã của Urani-235 và Urani-238. Nó là nguyên tố nặng nhất trong số các halogen.
== Lịch sử ==
Sự tồn tại của "eka-iodine" đã được Mendeleev dự đoán. Astatin (theo tiếng Hy Lạp αστατος astatos, nghĩa là "không ổn định") được tổng hợp đầu tiên năm 1940 bởi Dale R. Corson, Kenneth Ross MacKenzie, và Emilio Segrè tại đại học California, Berkeley bằng cách bắn phá hạt nhân bismuth bởi các hạt anpha.
Khi các nguyên tố trong bảng tuần hoàn chưa được biết hết, một số nhà khoa học cố gắng tìm nguyên tố đứng sau iốt trong bảng tuần hoàn trong nhóm halogen. Chất chưa biết được gọi là Eka-iodine trước khi nó được phát hiện do tên gọi của nguyên tố sẽ do người phát hiện đề xuất. Tuyên bố tìm ra nguyên tố này được đưa ra vào năm 1931 tại Viện Công nghệ Alabama (Alabama Polytechnic Institute - nay là Đại học Auburn) bởi Fred Allison và cộng sự, làm cho nguyên tố này được đặt tên là alabamine (Ab) trong vài năm. Phát hiện này sau đó được cho là phát hiện sai lầm. Các phát hiện sai lầm khác và các tên gọi sau đó là dakin, được đề xuất năm 1937 bởi nhà hóa học Rajendralal De làm việc ở Dhaka, Bangladesh (sau đó là British India); và mang tên helvetium bởi nhà hóa học Thụy Sĩ Walter Minder, khi ông thông báo về việc phát hiện ra nguyên tố thứ 85 năm 1940, và tên gọi của nguyên tố này được đổi thành anglohelvetium năm 1942.
Năm 1943, astatin được chính thức phát hiện ở dạng sản phẩm phân rã của quá trình phóng xạ tự nhiên, bởi hai nhà khoa học Berta Karlik và Traude Bernert.
== Đặc điểm ==
Nguyên tố phóng xạ cao này được xác nhận bởi các khối phổ kế là có tính chất hóa học giống các halogen khác, đặc biệt là iốt, mặc dù astatin được xem là có tính kim loại mạnh hơn iốt. Các nhà nghiên cứu ở Brookhaven National Laboratory đã tiến hành các thí nghiệm để xác định và đo đạc các phản ứng liên quan đến astatin; tuy nhiên, nghiên cứu hóa học của astatin bị giới hạn bởi nó cực kỳ hiếm, và nó có thời gian sống cực ngắn. Đồng vị bền nhất của nó có chu kỳ bán rã khoảng 8,3 giờ. Các sản phẩm cuối cùng của phân rã astatin là các đồng vị của chì. Các halogen có màu tối hơn khi khối lượng phân tử và số nguyên tử tăng. Do đó, theo xu hướng này, astatin có thể được trông đợi là một chất rắn gần như đen, và khi nóng nó thăng hoa thành hơi màu đen, tía (sẫm hơn iốt). Astatin được cho là tạo thành các liên kết ion với các kim loại như natri giống như các halogen khác, nhưng có thể bị thay thế ở dạng muối bởi các halogen nhẹ và hoạt động mạnh hơn. Astatin có thể phản ứng với hydro tạo thành astatan, có khả năng hòa tan trong nước tạo thành axit hydroastatic mạnh đặc biệt. Astatin là nguyên tố hoạt động yếu nhất của nhóm halogen.
== Phân bố ==
Astatin xuất tồn tại tự nhiên trong 3 chuỗi phân rã phóng xạ tự nhiên, có chu kỳ bán rã ngắn chỉ vài phút. Astatin-218 (218At) được tìm thấy trong chuỗi phân rã phóng xạ urani và 215At cũng như 219At có trong chuỗi phân rã phóng xạ của actini.. Astatin là nguyên tố xuất hiện trong tự nhiên hiếm nhất với tổng khối lượng trong vỏ Trái Đất được ước tính nhỏ hơn 28 gram vào bất cứu thời điểm nào. Sách kỷ lục Guinness ghi nhận đây là nguyên tố hiếm nhất trên Trái Đất: "chỉ khoảng 25 g nguyên tố astatin (At) có mặt trong tự nhiên".
=== Sản xuất ===
Astatin được tạo ra bằng cách bắn phá bismuth bởi các hạt anpha mạnh tạo ra các đồng vị có thời gian sống tương đối lâu 209At đến 211At, các đồng vị này có thể được tách ra bằng cách nung nóng trong không khí. Năng lượng các hạt anpha được sử dụng để bắn phá sẽ cho biết loại đồng vị nào sẽ được tạo ra:
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com - Astatine
Doc Brown's Chemistry Clinic - Group 7 The Halogens
Chemistry in its element podcast (MP3) from the Royal Society of Chemistry's Chemistry World: Astatine |
đầu tư.txt | Đầu tư có ý nghĩa khác nhau trong [tài chính] và kinh tế học
Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ. Đầu tư có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn như quản lý kinh doanh và tài chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ.
Trong tài chính, đầu tư là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn đánh giá cao, thường là trong tương lai dài hạn. Điều này có thể được hoặc không được hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích. Hầu hết hoặc tất cả các hình thức đầu tư liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn như đầu tư vào cổ phần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, ngoài những điều khác, rủi ro lạm phát.
Ngược lại bỏ tiền vào một cái gì đó với một niềm hy vọng của lợi ích ngắn hạn, có hoặc không có phân tích kỹ lưỡng, là cờ bạc hay đầu cơ. Thể loại này sẽ bao gồm hầu hết các dạng của phái sinh, kết hợp một yếu tố rủi ro không là ngôi nhà dài hạn đối với tiền, và đặt cược vào con ngựa. Nó cũng sẽ bao gồm mua, ví dụ, một cổ phần công ty với hy vọng một lợi ích ngắn hạn mà không có ý định giữ nó trong thời gian dài. Theo giả thuyết thị trường hiệu quả, tất cả các đầu tư có rủi ro ngang nhau sẽ có sẽ có cùng tỷ lệ thu hồi vốn dự kiến: đó là để nói rằng có một sự đánh đổi giữa rủi ro và hoàn vốn kỳ vọng. Nhưng điều đó không ngăn cản một người đầu tư trong các tài sản rủi ro trong dài hạn với hy vọng được hưởng lợi từ sự đánh đổi này. Việc sử dụng phổ biến thuật ngữ đầu tư để mô tả đầu cơ cũng đã có một ảnh hưởng trong đời sống thực tế nữa: nó làm giảm khả năng của nhà đầu tư phân biệt đầu tư và đầu cơ, giảm nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro liên quan đến đầu cơ, tăng vốn dành cho đầu cơ, và giảm vốn khả dụng để đầu tư.
== Trong kinh tế học hay kinh tế học vĩ mô ==
Trong lý thuyết kinh tế hay kinh tế học vĩ mô, đầu tư là số tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hóa không được tiêu thụ mà sẽ được sử dụng cho sản xuất trong tương lai (chẳng hạn: vốn). Ví dụ như xây dựng đường sắt hay nhà máy. Đầu tư trong vốn con người bao gồm chi phí học bổ sung hoặc đào tạo trong công việc. Đầu tư hàng tồn kho là sự tích tụ của các kho hàng hóa; nó có thể là tích cực hay tiêu cực, và nó có thể có dụng ý hoặc không có dụng ý. Trong đo lường thu nhập và sản lượng quốc gia, "tổng đầu tư" (được biểu diễn bởi biến số I) còn là một thành phần của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), được đưa ra trong công thức GDP = C + I + G + NX, ở đây C là tiêu dùng, G là chi tiêu chính phủ, và NX là xuất khẩu ròng, là sự khác biệt giữa xuất khẩu và nhập khẩu, X − N. Do đó đầu tư là tất cả những gì còn lại của tổng chi phí sau khi tiêu dùng, chi tiêu chính phủ, và xuất khẩu ròng được trừ (tức là I = GDP − C − G − NX).
Đầu tư cố định không dùng để ở (như nhà máy mới) và đầu tư khu dân cư (nhà ở mới) kết hợp với đầu tư tích trữ để làm thành I. "Đầu tư ròng" trừ khấu hao ra khỏi tổng đầu tư. Đầu tư cố định ròng là giá trị của sự gia tăng ròng trong tồn trữ vốn mỗi năm.
Đầu tư cố định, như chi tiêu trong một khoảng thời gian ("mỗi năm"), không phải là vốn. Quy mô thời gian của đầu tư làm cho nó là một luồng. Ngược lại, vốn là một kho— đó là, đầu tư ròng được tích lũy vào một thời điểm (chẳng hạn như ngày 31 tháng 12).
Đầu tư thường được mô hình hóa như một hàm của thu nhập và lãi suất, được đưa ra bởi mối quan hệ I = f(Y, r). Một gia tăng trong thu nhập khuyến khích đầu tư cao hơn, trong khi một lãi suất cao hơn có thể không khuyến khích đầu tư do nó trở nên tốn kém hơn để vay tiền. Ngay cả khi một doanh nghiệp lựa chọn để sử dụng quỹ riêng của mình trong một khoản đầu tư, lãi suất đại diện cho một chi phí cơ hội của đầu tư các quỹ này thay vì việc cho vay ra số tiền đó để có tiền lãi.
== Trong tài chính ==
Trong tài chính, đầu tư là việc mua một tài sản hay mục với hy vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tương lai và được bán với giá cao hơn. Nó thường không bao gồm tiền gửi tại ngân hàng hay tổ chức tương tự. Thuật ngữ đầu tư thường được sử dụng khi đề cập đến một triển vọng dài hạn. Điều này là trái ngược với làm trao đổi hoặc đầu cơ, đó là thực hành ngắn hạn liên quan đến một mức độ rủi ro cao hơn rất nhiều. Tài sản tài chính có nhiều hình thức và có thể từ các trái phiếu chính phủ siêu an toàn hoàn vốn thấp tới các cổ phiếu quốc tế phần thưởng cao nhưng rủi ro cao hơn nhiều. Một chiến lược đầu tư tốt sẽ đa dạng hóa các danh mục đầu tư theo nhu cầu cụ thể. Nhà đầu tư nổi tiếng và thành công nhất của mọi thời đại là Warren Buffett. Trong tháng 3 năm 2013 tạp chí Forbes đã xếp hạng Warren Buffett là số 2 trong danh sách Forbes 400 của họ. Buffett đã tư vấn trong rất nhiều bài báo và các cuộc phỏng vấn rằng một chiến lược đầu tư tốt là dài hạn và lựa chọn các tài sản phải đầu tư đòi hỏi thẩm định. Edward O. Thorp là một nhà quản lý quỹ phòng hộ rất thành công trong các năm 1970 và 1980 mà nói về một cách tiếp cận tương tự. Một điều khác mà cả hai đều có điểm chung là một cách tiếp cận tương tự đối với quản lý tiền đầu tư. Cho dù các yếu tố cơ bản được lựa chọn thành công như thế nào, nếu thiếu một chiến lược quản lý tiền đúng đắn, tiềm năng đầy đủ của tài sản không thể đạt được. Cả hai nhà đầu tư đã được chứng minh là sử dụng các nguyên tắc từ chuẩn mực Kelly đối với việc quản lý tiền. Nhiều máy tính tương tác mà sử dụng chuẩn mực Kelly có thể được tìm thấy trên mạng.
Ngược lại, chi phí đô la (hoặc bảng Anh, vv) trung bình và định thời thị trường là các cụm từ thường được sử dụng trong tiếp thị của các đầu tư tập thể và có thể được cho là liên quan với đầu cơ.
Các đầu tư thường được thực hiện gián tiếp thông qua các tổ chức trung gian, chẳng hạn như các quỹ hưu trí, ngân hàng, môi giới, và công ty bảo hiểm. Các tổ chức này có thể hồ tiền nhận được từ một số lượng lớn các cá nhân vào các quỹ như các tín thác đầu tư, tín thác đơn vị, SICAV, vv để thực hiện đầu tư quy mô lớn. Mỗi nhà đầu tư cá nhân sau đó có yêu cầu gián tiếp hoặc trực tiếp đến tài sản đã mua, chịu các khoản phí áp bởi các trung gian, có thể là lớn và đa dạng. Nó thường không bao gồm tiền gửi tại ngân hàng hay tổ chức tương tự. Đầu tư thường liên quan đến đa dạng hóa tài sản để tránh rủi ro không cần thiết và không hiệu quả.
== Lịch sử ==
Quy chuẩn Hammurabi (khoảng năm 1700 trước Công nguyên) cung cấp một khuôn khổ pháp lý cho đầu tư, thiết lập một phương tiện cho việc cầm cố tài sản thế chấp bằng việc hệ thống hóa quyền con nợ và chủ nợ liên quan đến đất cầm cố. Hình phạt đối với vi phạm nghĩa vụ tài chính là không nghiêm trọng như những tội ác liên quan đến chấn thương hoặc tử vong.
Vào đầu những năm 1900 người mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác được mô tả trong phương tiện truyền thông, các học viện, và thương mại như các nhà đầu cơ. Đến những năm 1950, thuật ngữ đầu tư đã đến để biểu thị kết thúc có tính conversative hơn của phổ chứng khoán, trong khi đầu cơ được áp dụng bởi các nhà môi giới tài chính và các cơ quan quảng cáo của họ cho các chứng khoán có rủi ro cao hơn nhiều thịnh hành vào thời điểm đó. Kể từ nửa cuối của thế kỷ 20, các thuật ngữ đầu cơ và nhà đầu cơ đã đề cập đặc biệt tới các mạo hiểm có rủi ro cao hơn.
== Các loại đầu tư ==
Các loại đầu tư gồm:
=== Đầu tư truyền thống ===
=== Đầu tư thay thế ===
== Xem thêm ==
Tài sản
Rủi ro
Đầu tư thay thế
Đa dạng hóa đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Danh sách các quốc gia theo tổng đầu tư cố định tính bằng tỷ lệ phần trăm của GDP
Danh sách các chủ đề kinh tế học
Mortgage investment corporation
Tỷ suất hoàn vốn
Đầu tư trách nhiệm xã hội
Quỹ đầu tư đặc biệt
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Investing tại DMOZ |
lotte.txt | Lotte Co., Ltd. là một tập đoàn đa quốc gia về thực phẩm và mua sắm có trụ sở tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Lotte do Shin Kyuk-Ho thành lập lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1948 tại Tokyo.
Từ Tokyo, Lotte mở rộng sang Hàn Quốc với việc thành lập của Công ty Bánh kẹo Lotte tại Seoul vào ngày 3 tháng 4 năm 1967 và cuối cùng phát triển trở thành tập đoàn kinh doanh lớn thứ tám của Hàn Quốc.
Lotte Group bao gồm hơn 60 đơn vị kinh doanh 60.000 nhân công tham gia vào ngành công nghiệp khác nhau như sản xuất bánh kẹo, đồ uống, khách sạn, thức ăn nhanh, bán lẻ, dịch vụ tài chính, hóa chất nặng, điện tử, tin học, xây dựng, xuất bản, và giải trí.
Hoạt động chủ yếu của Lotte được gia đình chủ tịch Shin quản lý ở Nhật Bản và Hàn Quốc, với các doanh nghiệp khác trong Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nga, Philippines, Pakistan và Ba Lan (Lotte mua lại công ty bánh kẹo lớn nhất của Ba Lan là Wedel từ Kraft Foods vào tháng 6 năm 2010).
Ngày nay, Lotte là nhà sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại Hàn Quốc, và là lớn nhất thứ ba ở Nhật Bản sau Meiji Seika và Ezaki Glico về doanh số bán hàng nếu chỉ tính về kinh doanh bánh kẹo.
== Điều hành ==
Lotte Holdings Co., Ltd. có trụ sở toàn cầu đặt tại Shinjuku, Tokyo do thành viên gia đình chủ tịch Shin điều khiển.
== Tên ==
Tên gọi Lotte được nhà sáng lập Shin Kyeok Ho đặt ra, lấy cảm hứng từ nữ anh hùng Charlotte trong tiểu thuyết Nỗi đau của chàng Werther (1774) của nhà văn Đức Johann Wolfgang von Goethe. Lotte mong muốn trở thành một doanh nghiệp nhận được sự yêu mến, tín nhiệm của mọi người giống như nhân vật chính trong truyện, nàng Charlotte xinh đẹp, tài giỏi.
== Kinh doanh ==
Sản xuất chế biến thực phẩm: Công ty Bánh kẹo Lotte, Lotte Chilsung, Lotte Samkang, Lotteria, E Wedel
Mua sắm: Lotte Duty Free, Lotte Shopping, Lotte Mart, Lotte Department Store, Lotte-Assi Plaza
Giải trí: Lotte Cinema, Lotte Entertainment (đầu tư và phân phối các bộ phim trong nước và quốc tế)
Tài chính: Bảo hiểm Lotte, Lotte Card, Lotte Capital
Nhà đất: Khu phức hợp căn hộ Lotte Castle High Rise
Công viên giải trí: Lotte Cinema, Lotte World ở Seoul, một trong những công viên giải trí trong nhà lớn nhất thế giới.
Hotels: Lotte Super Tower 123, tòa nhà chọc trời ở Seoul, South Korea, 2014 và Busan Lotte Tower cao chọc trời ở Busan, 2013
Thương mại: Lotte international
Dầu mỏ: Honam, Công ty Hóa chất KP
=== Thể thao ===
Lotte cũng sở hữu hai đội bóng chày
Chiba Lotte Marines ở Nhật Bản (1971–nay)
Lotte Giants ở Busan, Hàn Quốc (1982–nay).
=== Trung tâm Lotte R&D ===
Trung tâm R&D Hàn Quốc: 23,4-ga, Yangpyeong-dong, Yeongdeungpo-gu, Seoul, Hàn Quốc
Trung tâm R&D Nhật Bản: Saitama, Nhật Bản
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tập đoàn Lotte Nhật Bản (Tiếng Nhật / Tiếng Anh)
Tập đoàn Lotte Hàn Quốc (Tiếng Hàn / Tiếng Anh) |
tu viện.txt | Tu viện là những nhà cửa hay công trình xây dựng dành cho các nhà tu hành (tu sĩ, ẩn sĩ, nữ tu...) ở, nghỉ ngơi, sinh hoạt, hành lễ và tu đạo. Tu viện cũng có thể là một phòng hoặc một buồng dành riêng để cầu nguyện (nhà nguyện). Có thể có nhiều tòa nhà trong một tu viện, bao gồm: ký túc xá nhà thờ, bệnh xá, tu viện, thư viện... Thuật ngữ tu viện trong tiếng Anh: monastery bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: μοναστήριον monasterion
Tu viện có thể khác nhau về kích thước, có những tu viện nhỏ chỉ có sức chứa một ẩn sĩ, hoặc có những tu viện lớn có sức chứa cả một cộng đồng tu hành. Nó có thể là một tòa nhà duy nhất dành cho tu sĩ hay nữ tu nhưng cũng có thể là một khu liên hợp rộng lớn. Trong tiếng Anh, thuật ngữ "tu viện" thường được sử dụng để chỉ các tòa nhà của một cộng đồng các nhà sư. Tuy nhiên các tôn giáo khác nhau có thể sử dụng các thuật ngữ này theo những cách cụ thể (ví dụ: Kitô giáo, Phật giáo, Hồi giáo).
Trong hầu hết các tôn giáo, cuộc sống bên trong tu viện được điều chỉnh bởi các quy tắc khắt khe của cộng đồng tôn giáo đó. Có những quy định cấm quan hệ tình dục trong tu viện hoặc đòi hỏi người đi tu phải vẫn độc thân và ít hoặc không có tài sản cá nhân. Nhìn chung cuộc sống trong tu viện tương đối khổ hạnh và thanh đạm, đây cũng là một cách rèn luyện của người tu hành. Cuộc sống bên trong tu viện diễn ra tương đối khép kín với thế giới bên ngoài. Một số tu viện duy trì việc cung cấp lương thực thông qua việc sản xuất tự túc, tự cấp như trông rau, nuôi gia cầm, gia súc. Hiện nay, nhiều tu sĩ Kitô giáo ngày nay đã cập nhật và thích ứng với xã hội hiện đại bằng cách sử dụng các thành tựu của xã hội như máy tính, Intetnet...
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sumela Monastery
Public Domain photographs and texts, and information regarding medieval monasteries.
Monastery Italy
Internetportal für Klöster im deutschsprachigen Raum
Internetportal der Orden in Deutschland
Thüringisches Klosterbuch (Verzeichnis und Glossar)
„Rete Vitae Religiosae Mediaevalis Studia Conectens"
Klöster in Bayern
Bildarchiv des Hauses der Bayerischen Geschichte (siehe Projekt Kirchen und Klöster)
Klöster in Baden-Württemberg
Monastères et Abbayes en Provence
Spiritualité 2000 propose près de 700 sites !
Guide des Monastères et de leurs productions
Abbayes.net proposant 278 sites internet !
Les monastères et abbayes dans les Alpes |
bệnh viện việt đức.txt | 21.028435°B 105.847019°Đ / 21.028435; 105.847019
Bệnh viện Việt Đức là một bệnh viện ngoại khoa, là một trong những trung tâm phẫu thuật lớn nhất Việt Nam, gắn với tên tuổi nhà phẫu thuật nổi tiếng Tôn Thất Tùng. Bệnh viện có trụ sở tại số 40 phố Tràng Thi, Hà Nội, Việt Nam
= =Tổng quan =
Ngày 8 tháng 1 năm 1902, Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer ký sắc lệnh thành lập trường Đại học Y Hà Nội. Năm 1904 bệnh viện thực hành của trường được xây dựng với tên gọi là Nhà thương bản xứ.
Theo thời gian, bệnh viện mang các tên gọi khác nhau qua từng giai đoạn phát triển:
Nhà thương bản xứ (1904-1906)
Nhà thương bảo hộ (1906-1943)
Bệnh viện Yersin (1943-1954)
Bệnh viện Phủ Doãn (1954-1958)
Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - CHDC Đức (1958-1991)
Bệnh viện Việt Đức (1991 đến nay)
Bệnh viện Việt - Đức ngày nay tọa lạc trên khuôn viên cũ của Nhà thương bản xứ hơn 100 năm trước có diện tích mặt bằng khoảng 30.000 mét vuông giữa trung tâm thủ đô Hà Nội với 3 mặt giáp đường Tràng Thi, Phủ Doãn, Quán Sứ.
Bệnh viện Việt Đức là tuyến cao nhất của ngành Ngoại khoa miền Bắc, Việt Nam. Với hơn 150 giáo sư, bác sĩ của bệnh viện và của trường Đại học Y Hà Nội, mỗi năm bệnh viện tiến hành khoảng 28.000 ca phẫu thuật thuộc nhiều chuyên khoa sâu khác nhau.
Bệnh viện có 08 phòng chức năng, 18 khoa lâm sàng, 09 khoa cận lâm sàng và 01 đơn vị trực thuộc cùng với 05 bộ môn của trường đại học Y Hà Nội đặt tại bệnh viện thực hiện các chức năng:
Cấp cứu, khám chữa bệnh
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Chỉ đạo chuyên khoa
Phòng bệnh
Hợp tác quốc tế
Quản lý kinh tế
== Các khoa phòng ==
==== Khối Lâm sàng ====
Gồm 19 khoa: khoa nam học
Gồm 09 khoa và 10 đơn vị:
==== Khối Hậu cần ====
Gồm 8 phòng:
Phòng Kế hoạch tổng hợp
Phòng Tổ chức cán bộ
Phòng Hành chính quản trị
Phòng Vật tư thiết bị y tế
Phòng Tài chính Kế toán
Phòng Điều dưỡng
Phòng Chỉ đạo chuyên khoa
Phòng NCKH & CNTT
== Những thành tựu khoa học chính ==
Phẫu thuật tim mạch: Mổ tim mở (open heart surgery) được tiến hành thường quy, các kỹ thuật khó: thay van tim, kỹ thuật Bentall, bắc cầu mạch vành, mổ nối mạch ở tim đang đập (không dùng máy phổi nhân tạo).
Phẫu thuật Thần kinh: mổ chấn thương sọ não, bệnh ở não - tuỷ sống: mổ u tuyến yên qua xoang bướm, mổ u thần kinh VIII qua mê nhĩ (có sử dụng dao siêu âm).
Phẫu thuật Nội soi và nội soi can thiệp:
Mở thông dạ dày qua nội soi, chụp đường mật tuỵ (ERCP) lấy sỏi giun qua nội soi...
Cắt nội soi u phì đại tuyến tiền liệt (TUR).
Phẫu thuật nội soi ổ bụng được áp dụng từ 1993. Các loại phẫu thuật: cắt túi mật, cắt u tuyến thượng thận, cắt dây thần kinh X, u nang buồng trứng, cắt lách, cắt ruột thừa bằng nội soi (laparoscopy) an toàn, tai biến ít, giảm ngày điều trị, phục hồi sau mổ nhanh.
Phẫu thuật gan mật tuỵ:
Cắt gan các loại do ung thư, bệnh gan mật và chấn thương.
Điều trị phẫu thuật sỏi mật trong và ngoài gan.
Sử dụng nội soi đường mật để chẩn đoán và điều trị (tán sỏi) qua da hay trong mổ.
Sử dụng dao siêu âm trong cắt gan (ít chảy máu, nhanh).
Các phẫu thuật về biến chứng chảy máu do xơ gan - tǎng áp lực tĩnh mạch cửa (phân lưu cửa chủ).
Thực hiện thành công ca ghép gan trên người lớn đầu tiên ở Việt Nam (2007).
Phẫu thuật Chấn thương chỉnh hình: các loại chấn thương, thay khớp háng (một bên hay toàn bộ), nội soi khớp...
Phẫu thuật tiêu hoá với các kỹ thuật khó phức tạp như cắt bỏ và tạo hình thực quản, cắt khối tá tuỵ, cắt toàn bộ dạ dày, cắt đại tràng các loại...
Điều trị tán sỏi thận ngoài cơ thể bằng máy tán sỏi hiện đại, đạt tỷ lệ khỏi cao trong lần tán đầu tiên và an toàn. Phối hợp tán sỏi qua da, qua nội soi (niệu quản) giải quyết các loại sỏi tiết niệu.
Hỗ trợ và đào tạo chuyên môn trong các trường hợp ghép thận ở các trung tâm khác trong cả nước từ nǎm 1992 và nǎm 2000 bắt đầu tiến hành ghép thận ở Bệnh viện.
Là cơ sở cung cấp máu lớn ở Việt Nam, cung cấp cho nhiều bệnh viện ở Hà Nội, mỗi nǎm sử dụng trên 2.300 lít máu. Triển khai thường quy các kỹ thuật tiên tiến: tách các thành phần máu và truyền máu từng phần.
Trong chẩn đoán, có sử dụng các kỹ thuật cao như ứng dụng hoá mô miễn dịch (immuno histochemistry), miễn dịch huỳnh quang (immuno fluorescence), sinh thiết tức thì... trong giải phẫu bệnh - pháp y, siêu âm đen trắng và siêu âm màu (Echo Doppler), chụp mạch điều trị...
Bước đầu sử dụng Laser - quang động học liệu pháp (PDT) trong điều trị bệnh ung thư não, bàng quang, trĩ, rò hậu môn và một số các bệnh khác2
== Giám đốc qua các thời kỳ ==
==== Giám đốc bệnh viện qua các thời kỳ ====
Alexandre: 1902-1904
Le Roy Des Barres: 1904-1936
Sollier: 1936-1940
Pierre Huard: 1940-3/1945
Hồ Đắc Di: 3/1945-9-1945
Hoàng Đình Cầu: 1945
Giáo sư Phạm Biểu Tâm: 1945-1954
Giáo sư - Viện sĩ Tôn Thất Tùng: 1945-1954, 1954-1982
Giáo sư - TTND Nguyễn Dương Quang: 1982-1994
Giáo sư - Tiến sĩ Đỗ Kim Sơn: 1994-2003
P.Giáo sư - Viện sĩ Tôn Thất Bách: 2003-2004
AHLĐ-TTND-PGS-TS. Nguyễn Tiến Quyết: 2004-2015
Giáo sư - Tiến sĩ. Nguyễn Viết Tiến: 2015-
==== Ban giám đốc đương nhiệm 2008 ====
== Tên tuổi ==
==== GS Tôn Thất Tùng ====
Năm 1954, GS Tôn Thất Tùng được bổ nhiệm làm Giám đốc bệnh viện Việt Đức và Chủ nhiệm bộ môn Ngoại Đại học Y Hà Nội. Trong suốt gần 30 năm đảm nhiệm những cương vị này, ông đã đào tạo được nhiều thế hệ bác sĩ Ngoại khoa tài năng và tâm huyết, xây dựng phong cách làm việc khoa học và nghiêm túc, hết lòng vì bệnh nhân.
Ông là một trong số những nhà giáo được phong Giáo sư đầu tiên của Việt Nam. Ông được nhận danh hiệu Anh hùng lao động (1962) và nhiều huân chương cao quý khác. Ông được phong chức danh Viện sĩ bởi nhiều Viện hàn Lâm lớn trên thế giới như: Viện Hàn lâm Y học Liên Xô (cũ), Viện Hàn lâm Phẫu thuật Pari...
Để ghi nhớ công lao to lớn của GS Tôn Thất Tùng, năm 2000, Bộ Y tế đã quyết định thành lập một giải thưởng khoa học mang tên ông để trao tặng cho các nhà phẫu thuật có thành tích xuất sắc nhằm khích lệ các thầy thuốc ngoại khoa đặc biệt là các bác sĩ trẻ cống hiến tài năng và sức lực xây dựng nền y học nước nhà ngày một phát triển. Lễ trao thưởng được tổ chức hàng năm vào ngày sinh của GS Tôn Thất Tùng, 7/5.
Tại bệnh viện Việt Đức, một phòng lưu niệm đã được thành lập để lưu giữ những di sản, tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ông. Phòng lưu niệm được xây dựng bên cạnh Khu nhà Mổ nơi học trò và đồng nghiệp của ông vẫn ngày đêm miệt mài kế tục sự nghiệp mà ông đã dày công vun đắp. Hiện nay phòng lưu niệm này trở thành phòng lưu niệm chung của ông và con trai là PGS Tôn Thất Bách đã đột ngột qua đời vì bệnh tim mạch.
Tại trường Đại học Y Hà Nội, các bức ảnh của ông được phóng to và treo ở những vị trí trang trọng nhất trong Đại sảnh nhà hiệu bộ và phòng đọc Thư viện. Tên của ông cũng được đặt cho con đường chạy trước trường đại học này.
==== Và những tên tuổi lớn ====
Nhiều tên tuổi lớn của y học Việt Nam đã từng gắn bó với bệnh viện Việt Đức trong quá trình giảng dạy, học tập cũng như công tác:
GS Hồ Đắc Di
GS Tôn Thất Tùng
GS Nguyễn Bửu Triều
GS Nguyễn Dương Quang
BS Vũ Đình Tụng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh
GS Nguyễn Đình Hối, nguyên Hiệu trưởng Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
GS Phạm Gia Khánh, nguyên Giám đốc Học viện Quân y
PGS Trương Văn Việt, Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy
GS Nguyễn Trinh Cơ, nguyên Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội
GS Hoàng Đình Cầu, nguyên Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội
GS Nguyễn Thụ, nguyên Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội
GS Đỗ Nguyên Phương, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế
PGS Tôn Thất Bách, nguyên Hiệu Trưởng Đại học Y Hà Nội, nguyên Giám đốc bệnh viện Việt Đức
GS Phạm Biểu Tâm, nguyên Khoa Trưởng trường Y khoa Đại học Sài Gòn
GS Trần Quán Anh, tác giả vở kịch "Tiền tuyến gọi"
== Quan hệ Viện-Trường ==
Bệnh viện Việt Đức và Trường đại học Y Hà Nội luôn có mối quan hệ khăng khít truyền thống. Nhà thương bản xứ (tiền thân của Bệnh viện Việt Đức) được toàn quyền Paul Doumer thành lập để làm bệnh viện thực hành cho trường cao đẳng Y khoa Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội)
Bệnh viện Việt Đức luôn xác định trách nhiệm trực tiếp đào tạo chuyên ngành Ngoại khoa cho sinh viên Đại học Y khoa Hà Nội không chỉ khi còn là bệnh viện thực hành trực thuộc Trường trong quá khứ mà liên tục tiếp nối trong mọi hoàn cảnh lịch sử cho đến hôm nay.
Tên giao dịch quốc tế của bệnh viện là VIET DUC UNIVERSITY HOSPITAL & HÔPITAL UNIVERSITAIRE VIET DUC.
PGS. TS. Nguyễn Tiến Quyết, phó chủ nhiệm Bộ môn Ngoại, Giám đốc bệnh viện nói tại buổi giao ban toàn viện hôm 20/11/2007 là theo ông thì "cần phải coi tiêu chí đánh giá tài năng của một con người qua việc đào tạo thế hệ đi sau là một tiêu chí quan trọng"
Trước đó, trả lời phỏng vấn của VOVnews nhân dịp kỉ niệm 100 năm thành lập bệnh viện, ông khẳng định bệnh viện Việt Đức là trung tâm Viện - Trường của trường đại học Y khoa Hà Nội, "hiện chúng tôi có 150 giáo sư bác sĩ của bệnh viện và trường đại học Y khoa HN làm việc ở đây, vừa khám chữa bệnh vừa tham gia công tác đào tạo"
==== Tham gia công tác ====
Có 5 bộ môn của Trường Đại học Y đóng tại Bệnh viện Việt Đức vừa giảng dạy vừa tham gia công tác chuyên môn của bệnh viện.
Bộ môn Ngoại
Bộ môn Gây mê-Hồi sức
Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh
Bộ môn Y Pháp
Bộ môn phẫu thuật tạo hình
Đào tạo Bác sĩ Nội Trú Là hình thức học sau đại học đặc thù chỉ có trong ngành y được du nhập từ Pháp với mục đích đào tạo ra những bác sĩ có trình độ chuyên sâu. Thời gian học là 3 năm.
Để được chuyển tiếp lên học Bác sĩ nội trú, các Bác sĩ y khoa vừa ra trường phải đạt được những điều kiện sàng lọc trước khi trải qua một kì thi lý thuyết rất khó khăn. Mỗi năm, số lượng bác sĩ đỗ Nội trú bệnh viện khá ít. Có nhiều khoa chỉ lấy 1-2 chỉ tiêu.
Ưu điểm của việc đào tạo bác sĩ nội trú là tạo ra một đội ngũ kế cận có tư chất tốt, có nhiều điều kiện để trở thành các chuyên gia trong lĩnh vực họ được đào tạo. Họ là những người được hi vọng sẵn sàng tiếp thu và chuyển giao nguồn tri thức phong phú và kinh nghiệm quý báu trong ngành. Vì vậy trong quá trình học, các bác sĩ nội trú được yêu cầu phải thường xuyên gắn bó với bệnh viện và bệnh nhân. Họ thường trú tại các khu KTX ngay trong viện.
Mô hình đào tạo bác sĩ nội trú về cơ bản là mô hình đào tạo tinh hoa và thực chất. Các bác sĩ nội trú hầu hết ra trường đều được công tác tại các bệnh viện đầu ngành.
Bệnh viện Việt Đức là nơi đào tạo chủ lực bác sĩ nội trú cho các chuyên ngành Ngoại khoa, Gây mê hồi sức, Chẩn đoán hình ảnh và Phẫu thuật tạo hình của Phía Bắc, là bệ phóng cho nhiều tài năng y học phát triển trở thành những nhà phẫu thuật, những chuyên gia giỏi góp phần đắc lực vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
== Phong tặng ==
Bệnh viện đã được nhà nước Việt Nam phong tặng các huân chương và danh hiệu sau:
Huân chương Kháng chiến: Hạng nhất 1973.
Huân chương Lao động: Hạng nhất 1986.
Huân chương Độc lập: Hạng II 1996, Hạng nhất 2001.
Cờ luân lưu của Chính phủ 2000.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân 2005.
Anh hùng lao động 2006.
== Chú thích ==
Nguồn tham khảo và trích dẫn:
(*) Giới thiệu chung, PGS. TS. Nguyễn Tiến Quyết, website bệnh viện Việt Đức http://www.vietduchospital.edu.vn/GioiThieu.asp?Key='0'
(**) Lịch sử phát triển, website bệnh viện Việt Đức http://www.vietduchospital.edu.vn/LichsuBV.asp?Key='0'
== Liên kết ngoài ==
Trang web Bệnh viện Việt Đức
Trang web Đại học Y Hà Nội |
quái nhân.txt | Quái nhân thường chỉ tới những loài vật hình dạng gần giống người và quái vật với kích thước thường biến dị (to hơn bình thường) và tính tình thường rất hung dữ và có thể ăn thịt người, có sức khoẻ mạnh hơn người bình thường. Có nhiều loại người khổng lồ được nhắc tới trong truyền huyền thoại hay truyền thuyết như troll, orge, người khổng lồ (huyền thoại)...
== Troll ==
Troll, người khổng lồ độc ác là nhân vật trong Thần thoại Bắc Âu được mô tả dưới dạng một loài sinh vật đáng sợ. Ban đầu, thần thoại Bắc Âu mô tả nó như một kẻ Khổng lồ, mặc dù sau đó, các tác phẩm hội họa và ký họa thường mô tả nó với kích thước nhỏ hơn nhưng vẫn xếp vào loại những kẻ khổng lồ hiểm ác. giống như quỷ ăn thịt người gọi là ogre của Anh (cũng thường được xếp loại người khổng lồ hiện giờ) – thường sống ở chỗ xa xôi hẻo lánh, giống người ở vùng hoang dã, sống dưới những ngọn đồi, Hang hoặc Núi. Trong đảo Faroe, Orkney và Shetland đã có những truyện cổ tích, về người khủng lồ gọi là Khủng lồ (trow), được kể trong tiếng Na-Uy vào thời của Người Viking.
Văn học Bắc-Âu, nghệ thuật và âm nhạc từ thời Chủ nghĩa lãng mạn đã miêu tả khác biệt về người khổng lồ – thường thường thuộc chủng tộc thổ dân bản xứ, được trời phú cho kích thước phi thường và đặc biệt là tai và mũi to quá cỡ. Từ đó, đã có nhiều truyện cổ tích thần tiên như Three Billy Goats Gruff, quái nhân troll đã hình thành trong nhận thức hiện đại của công chúng, và là nhân vật tưởng tượng phổ biến trong văn học hiện đại và được ghép vô thành nhân vật trong các trò chơi điện tử.
Trong thời đại Internet, một con Internet troll, hay đơn giản là troll trong tiếng lóng Internet, là người đăng các thông điệp gây tranh cãi tại một cộng đồng trực tuyến chẳng hạn như diễn đàn thảo luận trực tuyến, với mục đích đặt bẫy để những người dùng khác bị xúc động hay kích động và phản ứng lại. Định nghĩa rộng hơn của khái niệm troll là người đăng các thông điệp với mục đích chính là phá rối hoặc phá vỡ một cộng đồng Internet.
=== Lịch sử ===
Từ dùng troll đã được phát triển qua thời gian. Nó có thể có nghĩa gốc là Siêu tự nhiên hoặc phép thuật và tùy theo từng nơi mà từ troll sẽ có nghĩa khác nhau nhưng chung lại điều có nghĩa tâm địa độc ác, rất nguy hiểm và liên quan tới phép thuật, troll có thể có nghĩa như những vật thể nguyền bí, bao gồm người khổng lồ trong huyền thoại Bắc Âu. Từ tối nghĩa gốc về troll có khi được xuất hiện trong các tác phảm văn học của Bắc Âu. Có thể được xếp vô loại sjötrollet (Troll biển) như là từ cùng nghĩa với havsmannen (Người đàn ông biển) – là người canh giữ linh hồn của biển và gần giống như nam nhưng là bản sao của nữ sjörå (xem huldra).
Trong Skáldskaparmál, nhà thơ Bragi Boddason đã gặp người đàn bà viết về bài thơ thuộc Thời Bắc Âu cũ):
Các nhiều địa điểm được đặt tên bằng Troll nhất là trong Scandinavia và các phố của Thụy Điển như Trollhättan và ngọn núi Truyền thuyết Trollkyrka (nhà thờ Troll). Những địa danh nổi tiếng nhất Na Uy mang tên Troll là Trollfjorden, Trollheimen, Trollhetta, Trollstigen, Trolltindan và Trollveggen.
== Ogre ==
Ogre thuộc loại Người khổng lồ, độc ác và đáng sợ có đặc tính người và Quái vật, đặc trưng trong Thần thoại, truyện cổ tích dân gian và khoa học giả tưởng. Ogre thường được miêu tả trong các truyện cổ tích thần tiên như là quái nhân ăn thịt người, và đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm kinh điển của văn học. Trong Nghệ thuật, ogre thường được miêu tả với cái đầu khổng lồ, nhiều tóc và râu ria, tính tham ăn, và cơ thể khoẻ như trâu. Thuật ngữ orge (tương tự như Ông kẹ trong tiếng lóng Việt Nam) thường được sử dụng trong một ý nghĩa ẩn dụ về con người kinh tởm hay bóc lột, đối xử tàn bạo hoặc ăn tươi nuốt sống nạn nhân của họ.
== Người khổng lồ (huyền thoại) ==
Trong Huyền thoại và Truyền thuyết của rất nhiều nền Văn hoá khác nhau. Người khổng lồ thường có dạng giống người nhưng có kích thước khổng lồ và sức khoẻ phi thường. Bên tiếng Anh "Giant" được sử dụng thường xuyên, lấy nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (γίγαντες).
Trong các huyền thoại Ấn-Âu, người khổng lồ giant được miêu tả như các sinh vật nguyên sinh, sơ khai và liên quan đến sự hỗn loạn và thiên nhiên hoang dã. Họ thường xuyên xung đột với Chúa hoặc các vị Thần của Olympian, thần Hindu hoặc thần trong thần thoại Bắc Âu.
Cũng có những câu chuyện khác miêu tả gã khổng lồ trong Cựu Ước, có lẽ nổi tiếng nhất là người khổng lồ Goliath. Có khả năng siêu năng lực và sức khoẻ vật chất tương đối, có cuộc sống thọ hơn loài người, nhưng về kiến thức thì hạn hẹp.
Truyện cổ tích như là "Jack và Beanstalk" đã hình thành nhận thức hiện đại của công chúng về quái nhân khổng lồ như là ngu ngốc và bạo lực, thường xuyên ăn thịt người, đặc biệt là con nít. Tuy nhiên, trong một số miêu tả gần đây, như là trong truyện của tác giả người Anh Roald Dahl, một số người khổng lồ được diễn tả là thông minh và thân thiện.
== Chú thích == |
thánh gióng.txt | Phù Đổng Thiên Vương (chữ Hán: 扶董天王), phổ biến với tên gọi Thánh Gióng (chữ Nôm: 聖𢶢), là một trong bốn vị Tứ bất tử, là 4 vị Thánh bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Ông được xem là tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ.
Triều đại nhà Lý, Thái Tổ Thần Vũ hoàng đế Lý Công Uẩn đã truy tặng ông là Xung Thiên Thần Vương (冲天神王).
== Truyền thuyết ==
Ông sinh ra tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, thời Hùng Vương thứ 6. Thánh Gióng là người "trời" đầu thai làm đứa trẻ tuy lên ba mà không biết nói cười, đi đứng. Nhưng khi có bộ tộc khác (truyền thuyết ghi là giặc Ân) tràn xuống thì cất tiếng gọi mẹ nhờ ra gọi sứ giả của nhà vua, rồi bỗng chốc vươn vai thành một thanh niên cường tráng đi đánh giặc. Sau khi đánh tan giặc Ân, ông bay về trời. Nơi ông hóa chính là núi Sóc thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
... Diệt quốc cừu, điện quốc cơ, trùng tiêu quốc xí Đương ư sóc phong liệt tướng Thành sở vị: giang nam nhất nhân, giang bắc nhất nhân,
dịch nghĩa: ... Diệt giặc nước, xây móng nền, dựng cờ tổ quốc Cùng trang liệt tiếng Sóc Sơn Thành truyền thuyết: phía Nam sông Tướng giỏi, phía Bắc sông Người tài
(tức là phía Nam sông Cầu có tướng giỏi là Thánh Gióng, phía Bắc sông Cầu có người tài là Hùng Linh Công).
Có ý kiến cho rằng Thánh Gióng là một biến thể của Tỳ Sa Môn từ Ấn Độ.
== Sử sách ==
Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ toàn thư, kỷ Hồng Bàng Thị ghi chép lại về Thánh Gióng như sau: Tục truyền đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng thấy 1 vết chân rất to, liền đặt chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và 12 tháng sau sinh được 1 cậu bé khôi ngô. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba mà vẫn không biết, nói cười, cũng chẳng biết đi, đặt đâu nằm đấy. Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời sứ giả vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một áp giáp sắt và một con ngựa, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở chân núi Trâu. Bọn giặc giẫm đạp lên nhau mà chay. Thánh Gióng đuổi theo, tới chân núi Sóc thì dừng. Đứa trẻ cởi áo giáp, phi ngựa lên trời mà đi. Vua sai sửa sang chỗ vườn nhà của đứa trẻ để lập đền thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến Sơ, hương Phù Đổng).
== Truyền thuyết ==
Thánh Gióng thể hiện tinh thần và sức mạnh của người Việt trong đấu tranh chống ngoại xâm, giữ nước.
Đại Nam quốc sử diễn ca (lịch sử Việt Nam dưới dạng văn vần) có đoạn:
Sáu đời Hùng vận vừa suy
Vũ Ninh có giặc mới đi cầu tài.
Làng Phù Đổng có một người
Sinh ra chẳng nói, chẳng cười trơ trơ.
Những ngờ oan trái bao giờ,
Nào hay thần tướng đợi chờ phong vân.
Nghe vua cầu tướng ra quân,
Thoắt ngồi, thoắt nói muôn phần khích ngang.
Lời thưa mẹ, dạ cần vương,
Lấy trung làm hiếu một đường phân minh.
Sứ về tâu trước thiên đình,
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tiến vào.
Trận mây theo ngọn cờ đào,
Ra uy sấm sét, nửa chiều giặc tan.
Áo bào cởi lại Linh San,
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.
Đền thiêng còn dấu cố viên
Sử xưa còn đó lời nguyền còn đây
== Cốt truyện ==
Chuyện kể rằng: vào đời Hùng Vương thứ 6, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân to quá, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một thằng bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Ðứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.
Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ. Bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Ðứa bé nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói: "Mẹ ra mời sứ giả vào đây". Sứ giả vào, đứa bé bảo: "Ông về tâu vua sắm cho ta một con ngựa sắt biết phun lửa, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này".
Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn.
Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử ra chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt biết phun lửa, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, lao vào thiên binh vạn mã toát lên bá khí cường liệt dị thường, giặc chết như rạ. Bỗng roi sắt gãy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). rồi lên đỉnh núi Sóc Sơn cưỡi ngựa bay về trời. Vua nhớ công ơn, phong là Phù Ðổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà.
Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Ðổng, tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội. Người ta kể rằng những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng như thế, còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Người ta còn nói khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là Làng Cháy.
== Lễ hội ==
Hội đền Gióng được tổ chức long trọng tại nhiều nơi trong đó có hai nơi: là hội Gióng ở đền Sóc Sơn tại núi Sóc huyện Sóc Sơn vào 6/1 âm lịch và hội đền Phù Đổng, xã Phù Đổng huyện Gia Lâm vào ngày mồng 9/4 âm lịch đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Phong giao Kinh Bắc xưa có câu: "Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng kéo về xem hội Gióng".
== Tượng đài ==
Được khánh thành ngày 5 tháng 10 năm 2010, trên đỉnh núi Ðá Chồng của khu du lịch tâm linh Ðền Sóc - Chùa Non thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn. Tượng được đặt tại nơi tương truyền rằng sau khi dẹp xong giặc Ân, cậu bé làng Phù Ðổng đã cởi áo giáp, vẫy chào quê hương bay về trời.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Truyện Thánh Gióng (tài liệu này dùng tên Dóng)
Di tích Phù Đổng Thiên Vương |
worldmate.txt | WorldMate là tên một phần mềm phổ biến dùng cho các máy PDA.
WorldMate có nhiều phiên bản, trong đó, có phiên bản dành cho Windows Mobile, Symbian, Blackberry, Palm OS, JM2E hay phiên bản dùng trên máy tính cá nhân. Dịch vụ trực tuyến.
Phần mềm này có thể cho phép người dùng biết thông tin cập nhật về thời tiết, về các chuyến bay, có các công cụ để quy đổi các đơn vị đo lường khác nhau, danh mục đồ dùng để phục vụ cho một chuyến đi, quy đổi tiền theo tỷ giá cập nhật qua Internet.
Các dịch vụ thông thường được cập nhật qua Internet, chỉ có một số dịch vụ đặc biệt là thu tiền.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ
WorldMate Live: Phần mềm miễn phí nhật ký hành trình du lịch |
chi tràm.txt | Chi Tràm (danh pháp khoa học: Melaleuca) là một chi thực vật có hoa trong họ Đào kim nương (Myrtaceae). Theo các ước tính khác nhau chi này chứa 220-236 loài, tất cả đều có mặt tại Úc với phần lớn các loài (khoảng 230) là đặc hữu của Úc, các loài còn lại có ở Malaysia, Indonesia, New Guinea, quần đảo Solomon và Nouvelle-Calédonie.
== Đặc điểm ==
Tùy theo loài mà chúng có thể là cây bụi hay cây thân gỗ, cao tới 2–30 m, thông thường với lớp vỏ cây dễ tróc. Lá của chúng là thường xanh, mọc so le, hình trứng hay mũi mác, dài 1–25 cm và rộng 0,5–7 cm, mép lá nhẵn, màu xanh lục sẫm hay xanh xám. Hoa mọc thành cụm dày dặc dọc theo thân, mỗi hoa với các cánh hoa nhỏ và một chùm nhị mọc dày dặc; màu hoa từ trắng tới hồng, đỏ, vàng nhạt hay ánh lục. Quả là dạng quả nang nhỏ chứa nhiều hạt nhỏ.
Chi Melaleuca có quan hệ họ hàng gần với chi Callistemon, khác biệt chính giữa hai chi là các nhị hoa nói chung rời ở Callistemon nhưng mọc thành chùm ở Melaleuca.
Trong tự nhiên, các loài Melaleuca nói chung được tìm thấy trong các rừng thưa, rừng gỗ hay vùng đất có cây bụi, cụ thể là dọc theo các dòng suối và rìa các đầm lầy.
Một loài tràm khá nổi tiếng là cây tràm trà (Melaleuca alternifolia, tiếng Anh gọi là "Tea tree", một số tài liệu dịch thành cây trà, dễ gây nhầm lẫn với các loài trong chi Camellia), là đáng chú ý vì tinh dầu của nó có tác dụng kháng sinh và kháng khuẩn, trong khi vẫn an toàn trong sử dụng đối với các ứng dụng đắp ngoài da. Nó được sản xuất ở quy mô thương mại, và được tung ra thị trường dưới tên gọi Tea Tree Oil. Cây tràm trà trên thực tế không dùng làm trà uống, nhưng có lẽ được đặt tên như vậy là do màu nâu của nhiều nguồn nước do lá rụng của loài này cũng như của các loài tương tự gây ra, ví dụ nổi tiếng xem hồ Brown (đảo Stradbroke)). Tên gọi "tràm trà" cũng được sử dụng cho chi có quan hệ họ hàng là Leptospermum. Cả Leptospermum và Melaleuca trên thực tế đều là các loại cây dạng sim của họ Myrtaceae.
Tại Australia, các loài Melaleuca đôi khi bị ấu trùng của các loài sâu bướm trong họ Hepialidae (chủ yếu là chi Aenetus như A. ligniveren) phá hại. Chúng đào bới thân cây theo đường nằm ngang rồi sau đó theo chiều dọc xuống phía dưới.
Melaleuca là các cây trồng phổ biến trong vườn ở cả Australia và các khu vực nhiệt đới khác trên khắp thế giới. Tại các đầm lầy ở Hawaii và Florida, Melaleuca quinquenervia (tràm lá rộng) đã được đưa vào nhằm hỗ trợ cải tạo hệ thống thoát nước của các khu vực trũng đầm lầy. Tuy nhiên, kể từ đó nó đã trở thành loài xâm hại nguy hiểm. Quần thể tràm đã gần như tăng lên gấp 4 lần ở miền nam Florida trong một thập kỷ, như được ghi chú trong SRFer Mapserver của IFAS.
== Các loài ==
Có hơn 200 loài tràm được công nhận, phần lớn trong số chúng là loài đặc hữu của Úc. Một số ít loài có mặt ở Malesia và 7 loài đặc hữu của New Caledonia. Dưới đây là danh sách các loài:
== Sử dụng ==
=== Truyền thống ===
Thổ dân Úc sử dụng lá tràm cho nhiều mục đích y học, như nhai lá non để giảm đau đầu hay cho các mục đích chữa trị khác.
Độ mềm và dẻo của tràm làm cho nó trở thành cây cực kỳ hữu ích cho thổ dân Australia. Nó được dùng để lớp lót coolamon (một kiểu đồ đựng của thổ dân Úc) khi dùng như là chiếc nôi cho trẻ em, cũng như để làm băng trong băng bó vết thương, chiếu ngủ hay trong vai trò của vật liệu xây dựng các túp lều. Nó cũng được dùng để bao gói thực phẩm khi nấu nướng (tương tự như các tấm nhôm lá mỏng ngày nay), hay làm áo mưa dùng một lần, cũng như để chèn các lỗ hổng trong xuồng canoe. Trong ngôn ngữ Gadigal, nó được gọi là Bujor.
=== Hiện đại ===
Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng tinh dầu từ cây tràm trà (Melaleuca alternifolia) có tính kháng khuẩn và kháng sinh hiệu quả cao trong điều trị dạng thuốc đắp, mặc dù nó có thể gây ngộ độc khi sử dụng dưới dạng thuốc uống với liều lượng lớn hay khi người bệnh là trẻ em. Trong một vài trường hợp, các sản phẩm thuốc đắp có thể bị hấp thụ theo đường da và gây ra ngộ độc.
Tinh dầu tràm có thể được tìm thấy trong các dung dịch hữu cơ cho các loại dược phẩm mà được tuyên bố là có thể loại bỏ các dạng mụn cóc, như virus u nhú ở người. Tuy nhiên, chưa có chứng cứ khoa học nào chứng minh cho tuyên bố này ("Forces of Nature: Warts No More").
Tinh dầu tràm là thành phần hoạt hóa trong Burn-Aid, một loại thuốc phổ biến để sơ cứu các vết bỏng nhỏ.
Tinh dầu tràm trà cũng được sử dụng trong nhiều loại thuốc chữa bệnh cho cá cảnh (chẳng hạn Melafix và Bettafix) để xử lý nhiễm khuẩn và nhiễm nấm. Bettafix là dung dịch loãng của dầu tràm trà trong khi Melafix là dung dịch đặc hơn. Chúng được sử dụng chủ yếu để gia tăng tái phát triển vây và mô. Các loại thuốc này hay dùng cho cá chọi Xiêm nhưng cũng có thể dùng cho các loài cá khác.
== Xâm hại ==
Một loài tràm là tràm lá rộng (Melaleuca quinquenervia) được du nhập Florida (Hoa Kỳ) vào đầu thế kỷ 20 để giúp mở rộng đất đai bằng cách rút nước các đầm lầy. Cây này cũng được trồng lấy bóng mát trong vườn. Không ngờ, tràm lá rộng mọc lan thành khóm dày đặc, ganh đua với thảm thực vật bản địa và gây thiệt hại môi sinh, nhất là vũng lầy khoảng 391.000 mẫu Anh ở phía nam Florida. Cây này nay bị liệt trong danh sách các loài xâm hại nguy hiểm, nên bị ngăn cấm của DEP.
== Ảnh ==
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Danh sách các loài tràm
== Liên kết ngoài ==
Dự án Melaleuca TAME
Association of Societies for Growing Australian Plants - Trang về chi Melaleuca |
ehime.txt | Ehime (Nhật: 愛媛県 (Ái Viện Huyện), Ehime-ken) là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc vùng Shikoku của Nhật Bản. Trung tâm hành chính là thành phố Matsuyama. Ehime có đặc sản nổi tiếng là quýt.
== Địa lý ==
Ở hướng Bắc, Ehime giáp biển Seto Naikai. Ở phía Đông, giáp các tỉnh Kagawa và Tokushima. Phía Nam, giáp tỉnh Kochi. Địa hình của tình gồm vùng núi cao phía Đông Nam và bờ biển dài ở phía Bắc.
== Lịch sử ==
Xưa kia, trên địa bàn tỉnh Ehime là xứ Iyo.
== Hành chính ==
Ehime bao gồm 20 đơn vị hành chính cấp hạt, trong đó có 11 thành phố và 9 thị trấn, làng.
Làng và thị trấn:
† Dự kiến sẽ sát nhập [12].
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
== Thể thao ==
Các đội thể thao được liệt kê dưới đây có trụ sở tại Ehime.
Bóng đá
Ehime FC
Bóng chày
Ehime Mandarin Pirates
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Ehime (tiếng Nhật) |
trung quốc (khu vực).txt | Trung Quốc (Hoa phồn thể: 中國; Hoa giản thể: 中国; Hán Việt: Trung Quốc; bính âm: Zhōngguó; Wade-Giles: Chung-kuo; ) là tổng hợp của nhiều quốc gia và nền văn hóa đã từng tồn tại và nối tiếp nhau tại Đông Á lục địa, từ cách đây ít nhất 3.500 năm. Trung Quốc ngày nay, có thể được coi như có một hay nhiều nền văn minh khác nhau, nằm trên một hay nhiều quốc gia khác nhau, sử dụng một hay nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Với một trong những giai đoạn văn minh liên tục dài nhất của thế giới và hệ thống chữ viết tiếp tục được dùng cho đến ngày nay, lịch sử Trung Quốc đặc trưng bởi những chia tách và thống nhất lặp đi lặp lại qua các thời kỳ hòa bình xen kẽ chiến tranh, trên một lãnh thổ đầy biến động. Lãnh thổ Trung Quốc bành trướng ra xung quanh từ một vùng đất chính tại Bình nguyên Hoa Bắc và lan ra tận các vùng phía Đông, Đông Bắc, và Trung Á. Trong hàng thế kỷ, Đế quốc Trung Hoa cũng là một trong những nền văn minh với kỹ thuật và khoa học tiên tiến nhất, và có ảnh hưởng văn hóa lớn trong khu vực Đông Á.
Tuy nhiên từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, ảnh hưởng kinh tế, chính trị, quân sự của Trung Quốc giảm sút nhiều do tác động của sức mạnh phương Tây cũng như sức mạnh khu vực của Nhật Bản. Cuối thế kỷ 19 nhiều khu vực tại Trung Quốc đã bị cắt hoặc nhường cho nước ngoài làm tô giới, nhượng địa, thuộc địa và phần lớn nước này bị Nhật xâm chiếm vào Chiến tranh thế giới thứ hai và người Nhật đã tách lãnh thổ Mãn châu ra khỏi Trung Quốc, dựng nên chính phủ Mãn Châu Quốc. Chế độ quân chủ tại Trung Quốc chấm dứt và Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) ra đời năm 1912 dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên; tuy nhiên Trung Quốc trong suốt bốn thập kỷ của THDQ đã hỗn loạn vì kiểu lãnh đạo quân phiệt, Chiến tranh Trung-Nhật lần II và nội chiến giữa Quốc Dân Đảng và Cộng sản Đảng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông sau khi giành chiến thắng đã thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949, đẩy chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ra đảo Đài Loan là hòn đảo vốn thuộc quyền quản lý của họ sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai.
== Tên gọi ==
=== Trung Hoa ===
Xem chi tiết về tên gọi "Trung Quốc" và "Trung Hoa" trong bài Các tên gọi của Trung Quốc.
Trung Quốc, có nghĩa là "quốc gia Trung tâm" hay "vương quốc ở trung tâm". Tên gọi này không chỉ mang ý nghĩa Trung Quốc ở giữa các nước khác mà còn thể hiện Trung Quốc là ở trung tâm "thiên hạ", có văn hóa và sức mạnh nổi trội hơn các dân tộc và quốc gia xung quanh.
Tên gọi Trung Quốc đã không được dùng thống nhất trong suốt lịch sử Trung Quốc, và thể hiện sắc thái văn hóa và chính trị. Vào thời Xuân Thu, nó được dùng để mô tả về mặt chính trị các nước xuất phát từ nhà Tây Chu, nằm trong châu thổ Hoàng Hà, không tính các nước như Sở dọc theo Trường Giang và Tần ở phía tây. Tuy nhiên vào thời nhà Hán, Sở và Tần kết nối vào Trung Quốc và được coi là một bộ phận của "Trung Quốc mới". Và theo dòng lịch sử, tên gọi này dần ổn định và chỉ toàn bộ lãnh thổ dưới sự cai trị của chính quyền đế quốc trung ương.
=== Tên gọi "Trung Quốc" trong các ngôn ngữ Tây phương ===
Tiếng Anh và nhiều thứ tiếng khác dùng tên China (và tiền tố Sino-), mà nhiều người coi là tên xuất phát từ tên "nhà Tần" (Qin) là triều đại đầu tiên đã thống nhất Trung Quốc, mặc dù vẫn còn nhiều chi tiết cần làm rõ thậm chí nguồn gốc của nó còn nhiều tranh cãi. Mặc dù thực tế nhà Tần chỉ tồn tại rất ngắn và thường bị coi là cực kỳ tàn bạo, nhưng nó đã xác lập một kiểu chữ viết thống nhất tại Trung Quốc và gọi người nắm quyền tối cao của Trung Quốc là "Hoàng đế". Kể từ thời nhà Tần trở đi, những thương nhân trên Con đường tơ lụa đã sử dụng tên gọi "China". Ngoài ra còn nhiều thuyết khác về nguồn gốc của từ này.
Trong bất kể trường hợp nào, từ China đã đi vào nhiều ngôn ngữ theo Con đường tơ lụa trước khi nó truyền tới châu Âu và nước Anh. Từ China của phương Tây đã được người Nhật chuyển tự thành Chi Na và dùng từ thế kỷ 19, và trở thành một từ có tính chất tiêu cực trong tiếng Nhật.
Tên gọi China theo nghĩa hẹp chỉ Trung Quốc bản thổ, hoặc Trung Quốc bản thổ cùng với Mãn Châu, Nội Mông, Tây Tạng và Tân Cương, một kết hợp đồng nghĩa với thực thể chính trị Trung Quốc vào thế kỷ 20 và 21; biên giới giữa các khu vực này không nhất thiết phải đúng theo ranh giới các tỉnh Trung Quốc. Trong nhiều văn cảnh khác nhau, "Trung Quốc" thường được dùng để chỉ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay Đại lục Trung Quốc, trong khi "Đài Loan" được dùng cho Trung Hoa Dân Quốc. Bình thường, trong văn cảnh kinh tế hay kinh doanh, "Đại Trung Hoa địa khu" dùng để chỉ Đại lục Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan.
Các nhà Trung Quốc học thường dùng Chinese theo một nghĩa hẹp gần với cách dùng kinh điển của "Trung Quốc", hoặc để chỉ sắc dân "Hán", là sắc dân chiếm đại đa số tại Đại lục Trung Quốc.
Trong một số trường hợp thì tên gọi "Trung Quốc đại lục" rất thích hợp để chỉ Trung Quốc, đặc biệt khi để phân biệt với các khu vực có thể chế chính trị khác biệt như Hồng Kông, Ma Cao và các lãnh thổ do Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) quản lý.
== Lịch sử ==
Bài chính: Lịch sử Trung Quốc, Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949; 1949-nay tại Đài Loan), Lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949-nay).
Trung Quốc là một trong những cái nôi văn minh nhân loại sớm nhất. Văn minh Trung Quốc cũng là một trong số ít các nền văn minh, cùng với Lưỡng Hà cổ (người Sumer), Ấn Độ (Văn minh lưu vực sông Ấn Độ), Maya và Ai Cập Cổ đại, tự tạo ra chữ viết riêng.
Triều đại đầu tiên theo các thư tịch lịch sử Trung Quốc là nhà Hạ; tuy nhiên chưa có bằng chứng khảo cổ học kiểm chứng được sự tồn tại của triều đại này (khi Trung Quốc tăng trưởng kinh tế và cải cách chính trị đồng thời có đủ nhân lực và trí lực để theo đuổi mạnh mẽ hơn nhằm minh chứng về một lịch sử cổ đại, có một số di chỉ đá mới được đưa ra cũng như một vài bằng chứng được gom lại theo thời gian, thể hiện rõ bản sắc, sự thuần nhất và niềm tự hào dân tộc, hay nói cách khác là thể hiện chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đại Hán tộc). Triều đại đầu tiên chắc chắn tồn tại là nhà Thương, định cư dọc theo lưu vực Hoàng Hà, vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 12 TCN. Nhà Thương bị nhà Chu lật đổ (thế kỷ 12 đến thế kỷ 5 TCN), đến lượt nhà Chu lại bị yếu dần do mất quyền cai quản các lãnh thổ nhỏ hơn cho các công hầu bá tước; cuối cùng, vào thời Xuân Thu, nhiều nước chư hầu đã trỗi dậy và liên tiếp giao chiến, và chỉ coi triều đình nhà Chu là trung tâm quyền lực trên danh nghĩa. Cuối cùng Tần Thủy Hoàng đã thâu tóm tất cả các quốc gia và tự xưng là hoàng đế vào năm 221 TCN, lập ra nhà Tần, quốc gia Trung Quốc thống nhất về thể chế chính trị, chữ viết và có một ngôn ngữ chính thống đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc.
Tuy nhiên, triều đại này không tồn tại lâu do nó quá độc đoán và tàn bạo và đã tiến hành "đốt sách chôn nho" trên cả nước (đốt hết sách vở và giết những người theo nho giáo) nhằm ngăn chặn những ý đồ tranh giành quyền lực của hoàng đế từ trứng nước, để giữ độc quyền tư tưởng, và để thống nhất chữ viết cho dễ quản lý. Sau khi nhà Tần sụp đổ vào năm 207 TCN thì đến thời nhà Hán kéo dài đến năm 220 CN. Sau đó lại đến thời kỳ phân tranh khi các lãnh tụ địa phương nổi lên, tự xưng "Thiên tử" và tuyên bố Thiên mệnh đã thay đổi. Vào năm 580, Trung Quốc tái thống nhất dưới thời nhà Tùy. Vào thời nhà Đường và nhà Tống, Trung Quốc đã đi vào thời hoàng kim của nó. Trong một thời gian dài, đặc biệt giữa thế kỷ thứ 7 và 14, Trung Quốc là một trong những nền văn minh tiên tiến nhất trên thế giới về kỹ thuật, văn chương, và nghệ thuật. Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào tay quân xâm lược Mông Cổ năm 1279. Đại hãn Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên. Về sau một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chương đánh đuổi chính quyền người Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh, kéo dài tới năm 1644. Sau đó người Mãn Châu từ phía đông bắc kéo xuống thay thế nhà Minh, lập ra nhà Thanh, kéo dài đến vị hoàng đế cuối cùng là Phổ Nghi thoái vị vào năm 1912.
Đặc điểm của phong kiến Trung Quốc là các triều đại thường lật đổ nhau trong bể máu và giai cấp giành được quyền lãnh đạo thường phải áp dụng các biện pháp đặc biệt để duy trì quyền lực của họ và kiềm chế triều đại bị lật đổ. Chẳng hạn như nhà Thanh của người Mãn Châu sau khi chiếm được Trung Quốc thường áp dụng các chính sách hạn chế việc người Mãn Châu bị hòa lẫn vào biển người Hán vì dân họ ít. Tuy thế, những biện pháp đó đã tỏ ra không hiệu quả và người Mãn Châu cuối cùng vẫn bị văn hóa Trung Quốc đồng hóa.
Vào thế kỷ thứ 18, Trung Quốc đã đạt được những tiến bộ đáng kể về công nghệ so với các dân tộc ở Trung Á mà họ gây chiến hàng thế kỷ, tuy nhiên lại tụt hậu hẳn so với châu Âu. Điều này đã hình thành cục diện của thế kỷ 19 trong đó Trung Quốc đứng ở thế phòng thủ trước chủ nghĩa đế quốc châu Âu trong khi đó lại thể hiện sự bành trướng đế quốc trước Trung Á.
Tuy nhiên nguyên nhân chính của sự sụp đổ của đế quốc Trung Hoa không phải do tác động của châu Âu và Mỹ, như các nhà sử học theo chủ thuyết vị chủng phương Tây vẫn hằng tin tưởng, mà có thể là kết quả của một loạt các biến động nghiêm trọng bên trong, trong số đó phải kể đến cuộc nổi dậy mang tên Thái Bình Thiên Quốc kéo dài từ 1851 đến 1862. Mặc dù cuối cùng lực lượng này cũng bị lực lượng triều đình dập tắt, cuộc nội chiến này là một trong số những cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử loài người - ít nhất hai mươi triệu người bị chết (hơn tổng số người chết trong Chiến tranh thế giới thứ nhất). Trước khi xảy ra nội chiến này cũng có một số cuộc khởi nghĩa của những người theo Hồi giáo, đặc biệt là ở vùng Trung Á. Sau đó, một cuộc khởi nghĩa lớn cũng nổ ra mặc dù tương đối nhỏ so với nội chiến Thái Bình Thiên Quốc đẫm máu. Cuộc khởi nghĩa này được gọi là khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn với mục đích đuổi người phương Tây ra khỏi Trung Quốc. Tuy đồng tình thậm chí có ủng hộ quân khởi nghĩa,Từ Hi Thái hậu lại giúp các lực lượng nước ngoài dập tắt cuộc khởi nghĩa này.
Năm 1912, sau một thời gian dài suy sụp, chế độ phong kiến Trung Quốc cuối cùng sụp đổ hẳn và Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thành lập Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Ba thập kỷ sau đó là giai đoạn không thống nhất — thời kỳ Quân phiệt cát cứ, Chiến tranh Trung-Nhật, và Nội chiến Trung Quốc. Nội chiến Trung Quốc chấm dứt vào năm 1949 và Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm được đại lục Trung Quốc. ĐCSTQ lập ra một nhà nước cộng sản—nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH)— tự xem là nhà nước kế tục của Trung Hoa Dân Quốc. Trong khi đó, chính quyền THDQ do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thì rút ra đảo Đài Loan, nơi mà họ tiếp tục được khối phương Tây và Liên Hiệp Quốc công nhận là chính quyền hợp pháp của toàn Trung Quốc mãi tới thập niên 1970, sau đó hầu hết các nước và Liên Hiệp Quốc chuyển sang công nhận CHNDTH.
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và Bồ Đào Nha đã lần lượt trao trả hai nhượng địa là Hồng Kông và Ma Cao ở bờ biển phía đông nam về cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào 1997 và 1999. "Trung Quốc" trong văn cảnh ngày nay thường chỉ lãnh thổ của CHNDTH, hay "Đại lục Trung Quốc", mà không tính Hồng Kông và Ma Cao.
CHNDTH và THDQ (từ năm 1949 đến nay) không công nhận ngoại giao lẫn nhau, vì hai bên đều tự cho là chính quyền kế tục hợp pháp của THDQ (thời Tôn Trung Sơn) bao gồm cả Đại lục và Đài Loan, CHNDTH liên tục phản đối những người theo phong trào đòi độc lập cho Đài Loan. Những tranh cãi chủ yếu xoay quanh bản chất và giới hạn của khái niệm "Trung Quốc", khả năng tái thống nhất Trung Quốc và vị thế chính trị Đài Loan.
Các chủ đề liên quan: Niên đại lịch sử Trung Quốc, Các triều đại phong kiến Trung Quốc, Lịch sử Hồng Kông, Lịch sử Ma Cao, Lịch sử Đài Loan.
== Lịch sử chính trị ==
Bài chính: Chính trị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chính trị Đài Loan, Vị thế chính trị Đài Loan
Trước khi nhà Tần thống nhất vào năm 221 TCN, "Trung Quốc" chưa hề tồn tại như một thực thể gắn kết. Văn minh Trung Quốc hình thành từ nhiều văn minh các nước khác nhau, các nước này do các vương, công tước, hầu tước, hay bá tước trị vì. Mặc dù vẫn có một ông vua nhà Chu nắm giữ quyền lực trung ương trên danh nghĩa, và chủ nghĩa bá quyền đôi lúc có ảnh hưởng nhất định, trên thực tế mỗi nước là một thực thể chính trị độc lập. Đây cũng là thời điểm mà triết lý Nho giáo cũng như tư tưởng của các triết gia khác có ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng chính trị-triết lý Trung Quốc.
Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, khi đó người đứng đầu Trung Quốc được gọi là hoàng đế và một hệ thống hành chính trung ương tập quyền quan liêu được thiết lập. Sau khi nhà Tần sụp đổ, Trung Quốc lại có khoảng 13 triều đại khác nhau tiếp tục hệ thống các vương quốc, công quốc, hầu quốc, và bá quốc. Lãnh thổ Trung Quốc khi đó mở rộng hoặc thu hẹp theo sức mạnh của mỗi triều đại. Hoàng đế nắm quyền lực tối thượng, toàn năng và là người đứng đầu về chính trị và tôn giáo của Trung Quốc. Hoàng đế cũng thường tham khảo ý kiến các quan văn võ, đặc biệt là quan đại thần. Quyền lực chính trị đôi khi rơi vào tay các quan lại cao cấp, hoạn quan, hay họ hàng hoàng đế.
Quan hệ chính trị với các nước chư hầu xung quanh được củng cố thông qua các hình thức kết hôn với người hoàng tộc nước ngoài, hỗ trợ quân sự, điều ước, và ràng buộc về chính trị (trên danh nghĩa phải chịu thần phục và thụ phong vương nếu không sẽ bị cấm vận hoặc chịu họa chiến tranh).
Lạc Dương, Trường An, Nam Kinh, và Bắc Kinh từng là thủ đô của Trung Quốc trong lịch sử. Tiếng Trung Quốc khi đó là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các văn bản của triều đình, còn vào thời người Mông Cổ và Mãn Châu vào Trung Quốc thì tiếng Mông Cổ và tiếng Mãn Châu cũng được coi là ngôn ngữ chính thức dùng trong văn thư của triều đình.
Vào 1 tháng 1 năm 1912, Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) được thành lập, sự chấm dứt của Đế chế nhà Thanh. Tôn Trung Sơn và [nhóm] lãnh đạo Quốc Dân Đảng được công bố là tổng thống lâm thời của Nhà nước cộng hòa. Tuy nhiên, Viên Thế Khải, cựu đại thần nhà Thanh đào ngũ theo cách mạng, sau đó đã thương thuyết để Tôn Dật Tiên bước sang bên nhường quyền cho họ Viên. Viên Thế Khải lên làm đại tổng thống, sau đó xưng đế; tuy nhiên, ông ta chết sớm trước khi thực sự nắm trọn vẹn quyền lực trên khắp Trung Hoa.
Sau khi họ Viên sụp đổ, Trung Quốc lại phân rã về chính trị với một chính phủ đặt tại Bắc Kinh được quốc tế công nhận nhưng không có thực quyền. Các Thủ lĩnh quân sự địa phương ở các vùng khác nhau thực sự nắm quyền lực trong vùng đất cát cứ của họ.
Vào cuối thập niên 1920, Quốc dân Đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo đã tái thống nhất Trung Quốc và dời đô về Nam Kinh đồng thời thi hành kế hoạch cải tổ chính trị do Tôn Trung Sơn vạch ra nhằm đưa Trung Quốc thành một quốc gia hiện đại, dân chủ. Cả Quốc dân Đảng và Cộng sản Đảng đều chủ trương chế độ đơn đảng và chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa Lenin.
Năm 1945, Hồng quân Liên Xô đã đánh tan quân Nhật, giải phóng vùng Đông Bắc Trung Quốc, xóa bỏ Chính quyền Mãn châu quốc, bàn giao lại Vua Phổ Nghi cho phía Cộng sản Trung Quốc và qua đó xóa bỏ cố gắng cuối cùng của giới quý tộc nhà Mãn Thanh ly khai nhằm giành độc lập dân tộc cho người Mãn.
Năm 1947, hiến pháp THDQ ra đời nhưng do nội chiến giữa hai phe Quốc Dân Đảng và Cộng sản Đảng nên trên thực tế hiến pháp này không được đưa vào thực thi trên đại lục Trung Quốc.
Đầu năm 1950, ĐCSTQ đánh bại QDĐTQ và chính phủ THDQ phải dời ra đảo Đài Loan. Vào cuối thập niên 1970, Đài Loan mới bắt đầu thực hiện đầy đủ kiểu chính trị dân chủ đại diện đa đảng với sự tham gia tương đối tích cực của mọi thành phần xã hội. Tuy nhiên không như xu hướng của các nền dân chủ khác là phân chia chính trị theo hai thái cực bảo thủ-tự do, phân chia hiện tại ở THDQ chủ yếu là thống nhất với Trung Quốc về lâu dài hay là theo đuổi một nền độc lập thực sự.
Trong khi đó tại Đại lục, Mao Trạch Đông, lãnh tụ của ĐCSTQ tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) vào ngày 1 tháng 10 năm 1949 tại Bắc Kinh. Chính quyền này kiểm soát chặt chẽ mọi mặt của đời sống. Tuy nhiên, kể từ sau 1978, những cải tổ đã được đề xướng và mang lại một sự cởi mở đáng kể đối với nhiều khía cạnh của đời sống xã hội, chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, và văn hóa. Đặc biệt là sự thay đổi về chính sách đối ngoại, từ chỗ chủ trương dùng vũ lực giải quyết vấn đề, Trung Quốc đã chuyển sang chính sách đàm phán thương lượng, tạo sự tin cậy vào "sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc" để hướng tới một nước lớn, tuân thủ pháp luật quốc tế và là nhân tố hòa bình ổn định an ninh khu vực.
== Địa lý Trung Quốc ==
=== Đồi núi ===
Hầu như 67% diện tích Trung Quốc là cao nguyên và núi cao; ở phía tây, cao nguyên Thanh Hải - Tây Tạng chiếm hơn 25% diện tích đất nước. Tuy độ cao trung bình của cao nguyên này là 4000m, thế nhưng từ bề mặt có các hồ nằm rải rác đó đây các dãy núi vươn cao tới hơn 6000m. Trong số 12 đỉnh núi cao nhất thế giới, Trung Quốc có đến tám đỉnh. Dọc theo ven rìa phía bắc của cao nguyên Thanh Hải - Tây Tạng là dãy núi Côn Luân. Ven ría phía nam là dãy Himalaya (Hi Mã Lạp Sơn), tạo thành biên giới giữa Trung Quốc và Nepal. Các đỉnh núi cao có tuyết phủ quanh năm. Băng giá và nhiều loại băng tích đã khắc họa nên quang cảnh núi cao kì thú.
=== Các vùng đất thấp và sa mạc ===
Chỉ gần 25% lãnh thổ Trung Quốc nằm ở độ cao dưới 500m. Bình nguyên Hoa Bắc, chủ yếu nằm thấp hơn dưới 100m, là khu vực đất thấp rộng nhất ở Trung Quốc. Đồng bằng này được tạo thành bởi phù sa lắng đọng của Hoàng Hà. Các đồng bằng thấp khác của Trung Quốc chỉ có ở dọc trung lưu, hạ lưu Trường Giang và ở một vùng châu thổ có diện tích nhỏ hơn nhiều là châu thổ Châu Giang.
Khu vực tây - bắc của Trung Quốc là miền đất của các vùng sa mạc, chiếm trên 20% tổng số diện tích đất bằng phẳng của đất nước. Sa mạc cát lớn nhất Trung Quốc là sa mạc Taklamakan. Con đường tơ lụa chạy ven rìa phía bắc sa mạc này. Một số thương gia đã bị lạc trong hành trình vì bão cát và cái đói khát làm cho họ hoang mang.
=== Sông ngòi ===
Trung Quốc có nhiều sông, nhưng cho đến nay Trường Giang và Hoàng Hà vẫn là những con sông quan trọng nhất. Chúng bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng và có dòng chảy nhìn chung đổ về phía đông.
Trường Giang là con sông dài nhất Trung Quốc với chiều dài 6380 km. Đoạn thượng nguồn trên cao nguyên, dốc đổ nên nước sông chảy siết. Sông phải len qua những hẻm núi sâu và hẹp nên có nhiều ghềnh đá. Sau khi chảy qua các dãy núi nằm ở phía đông của Đập Tam Hiệp nổi tiếng, con sông bắt đầu xuôi về miền đồng bằng. Lòng sông tỏa rộng, chảy quanh co, uốn khúc qua miền đồng bằng bằng phẳng. Vùng châu thổ bao la của Trường Giang trải rộng từ Nam Kinh đến biển Hoa Đông.
Hoàng Hà là sông dài thứ hai ở Trung Quốc, đo được 5464 km. Ở vùng thượng lưu, sông chảy qua những hẻm núi sâu trước khi lượn quanh thành một vòng cung khổng lồ ôm lấy cao nguyên Hoàng Thổ. Đoạn sông này cuốn theo lượng đất vàng dưới dạng phù sa trên hành trình ra biển. Với nguồn đất đó, Hoàng Hà là con sông nặng phù sa nhất thế giới; mỗi năm tải tới 1,6 tỷ tấn phù sa. Ở hạ lưu lòng sông bị bồi cao nên có đoạn lòng sông còn cao hơn vùng đồng bằng xung quanh đến 10m. Địa hình tiêu biểu của bình nguyên Hoa Bắc là hệ thống đê điều dài 700 km chạy dọc hai bên bờ Hoàng Hà.
Hoàng Hà đổ ra biển ở Bột Hải, tuy nhiên vì lũ lụt cửa sông không cố định mà đã thay đổi nhiều lần. Lụt lớn từng gây thiệt hại lớn đến sinh mạng và nông nghiệp; khi đã mất mùa thì nạn đói hoành hành. Vì lẽ đó mà Hoàng Hà còn được gọi là "Nỗi buồn của Trung Hoa."
== Lãnh thổ ==
Xem bài chính: Phân cấp hành chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Phân cấp hành chính Trung Hoa Dân Quốc, Lịch sử phân chia hành chính Trung Quốc
=== Đại thể lịch sử ===
Vào thời nhà Chu, lãnh thổ Trung Quốc chỉ là vùng đất quanh Hoàng Hà. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, lãnh thổ đã mở rộng tối đa về xung quanh, nhất là vào thời nhà Đường, Nguyên, và Thanh. Nhà Thanh thì lấy luôn các vùng đất thuộc Viễn Đông Nga và Trung Á ngày nay (phía tây Tân Cương).
Người Trung Quốc thường coi hoàng đế Trung Quốc là bá chủ thiên hạ và các dân tộc "man, di, nhung, địch" xung quanh là chư hầu. Do vậy, một số quốc vương các nước xung quanh cùng với thái thú các địa phương thường phái sứ thần sang triều cống cho các Hoàng đế Trung Quốc để tỏ ý chịu sự ràng buộc của nước lớn, vua tiểu quốc chỉ có được tính chính danh khi được hoàng đế Trung Quốc phong vương. Kể từ cuối thế kỷ 19, những quan hệ kiểu này đã không còn tồn tại nữa do Trung Quốc đã mất đi uy lực bá chủ của mình.
Nhà Thanh sau đó đã sát nhập quê hương của họ (Mãn Châu) nằm ở phía bắc ngoài Vạn lý trường thành là ranh giới với Trung Quốc bản bộ vào Trung Quốc. Năm 1683 sau khi Vương quốc Đông Ninh do Trịnh Thành Công lập nên tuyên bố đầu hàng, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ đã bị sát nhập vào đế chế nhà Thanh. Ban đầu Đài Loan chỉ được coi như một châu, sau đó thành hai châu và sau nữa thành một tỉnh. Sau đó Đài Loan được nhường cho Nhật Bản sau chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất năm 1895. Kết thúc chiến tranh Trung-Nhật lần hai năm 1945, Nhật Bản mất chủ quyền lãnh thổ hòn đảo này theo Hiệp ước San Francisco, và chủ quyền quần đảo này thuộc về Trung Hoa Dân Quốc. Sau này, chủ quyền Đài Loan luôn là vấn đề gây tranh cãi giữa CHNDTH và những người theo phong trào đòi độc lập cho Đài Loan.
Các chủ đề liên quan: Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc & Tây Tạng.
=== Các đơn vị hành chính trong lịch sử ===
Các đơn vị hành chính cấp cao của Trung Quốc thay đổi tùy theo từng chế độ hành chính trong lịch sử. Đơn vị cấp cao gồm có đạo hay lộ và tỉnh. Dưới đó thì có các phủ, châu, sảnh, quận, khu và huyện. Cách phân chia hành chính hiện nay là địa cấp thị hay thành phố trực thuộc tỉnh (cấp địa khu), huyện cấp thị hay thị xã, trấn hay thị trấn và hương, tương đương cấp xã ở Việt Nam.
Trong lịch sử, các triều đại Trung Quốc đều đặt kinh đô tại vùng đất trung tâm lịch sử của Trung Quốc với tên gọi chính xác về mặt chính trị là Trung Quốc bản thổ (vì tên gọi này không tính đến các vùng đất mà nó không quản lý như Mông Cổ hay Đài Loan). Nhiều triều đại còn thể hiện tư tưởng bành trướng khi đánh chiếm các vùng đất xung quanh như như Nội Mông Cổ, Mãn Châu, Tân Cương, và Tây Tạng. Nhà Thanh do người Mãn Châu lập ra cũng như các chính thể sau đó là Trung Hoa Dân Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng củng cố việc sát nhập các lãnh thổ này vào Trung Quốc. Biên giới chia cắt các lãnh thổ này truớc đây tương đối mơ hồ và không gắn với cách phân chia hành chính hiện nay. Trung Quốc bản bộ thường được coi là bao bọc bởi Trường Thành và dọc theo viền cao nguyên Thanh Tạng; Mãn Châu và Nội Mông Cổ nằm ở phía bắc của Vạn Lý Trường Thành, và biên giới giữa hai vùng này có thể là biên giới hiện tại giữa Nội Mông Cổ và các tỉnh đông bắc Trung Quốc, hoặc biên giới lịch sử của Mãn Châu quốc vào Chiến tranh thế giới thứ hai; ranh giới của Tân Cương vẫn là Khu tự trị dân tộc Uyghur (Duy Ngô Nhĩ) Tân Cương ngày nay; còn Tây Tạng lịch sử thì coi như bao phủ gần như toàn bộ cao nguyên Thanh Tạng. Theo truyền thống, Trung Quốc được chia thành hai miền Bắc và Nam, với ranh giới địa lý là sông Hoài và dãy Tần Lĩnh.
== Con người ==
Bài chính: Các dân tộc trong lịch sử Trung Quốc, Các dân tộc Trung Quốc.
Tại Trung Quốc có 56 dân tộc, trong đó đông nhất là người Hán, là dân tộc với sắc thái ngôn ngữ và văn hóa có nhiều khác biệt vì thực ra là kết hợp của nhiều dân tộc khác nhau được coi là cùng chia sẻ một thứ ngôn ngữ và văn hóa. Trong lịch sử Trung Quốc, nhiều dân tộc bị các dân tộc xung quanh đồng hóa hoặc biến mất không để lại dấu tích. Một số dân tộc khác biệt lập lọt vào trong vùng sinh sống của dân tộc Hán đã bị Hán hóa và được coi là người Hán, khiến cho dân tộc này trở nên đông một cách đáng kể; và trong cộng đồng người Hán thực ra có nhiều người được coi là người Hán nhưng có truyền thống văn hóa và đặc điểm ngôn ngữ khác hẳn. Thêm vào đó trong lịch sử cũng có nhiều sắc dân vốn là người ngoại tộc đã làm thay đổi văn hóa và ngôn ngữ của sắc dân Hán như trường hợp người Mãn Châu bắt đàn ông người Hán phải để tóc đuôi sam. Đôi khi người ta dùng thuật ngữ dân tộc Trung Hoa để chỉ người Trung Quốc nói chung.
Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện chính thức công nhận tổng cộng 56 dân tộc, trong đó người Hán chiếm đa số. Với số dân hiện nay là 1,3 tỉ người trên tổng số dân toàn thế giới là 6,4 tỉ, Trung Quốc là nơi có xấp xỉ 20% loài người (homo sapiens) sinh sống.
Vào thời Mao Trạch Đông, tình hình phát triển dân số không được kiểm soát tốt đã khiến cho số dân Trung Quốc bùng nổ nhanh chóng và đạt đến con số 1,3 tỉ người hiện nay. Để giải quyết vấn nạn này, chính phủ CHNDTH đã áp dụng một chính sách kế hoạch hóa gia đình dưới tên gọi chính sách một con.
Người Hán nói các thứ tiếng mà các nhà ngôn ngữ học hiện đại coi là những ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt, tuy nhiên tại Trung Quốc nhiều người coi đấy là các phương ngôn của tiếng Trung Quốc. Tuy có nhiều ngôn ngữ nói khác nhau nhưng kể từ đầu thế kỷ 20, người Trung Quốc bắt đầu dùng chung một chuẩn viết là "Bạch thoại" được dựa chủ yếu trên văn phạm và từ vựng của Phổ thông thoại là ngôn ngữ nói được dùng làm chuẩn. Ngoài ra từ hàng ngàn năm nay giới trí thức Trung Quốc dùng một chuẩn viết chung là Văn ngôn. Ngày nay Văn ngôn không còn là cách viết thông dụng nữa, tuy nhiên trong chương trình học nó vẫn tiếp tục được dạy và như vậy người Trung Quốc bình thường ở một góc độ nào đó có thể đọc hiểu được. Không như Phổ thông thoại, các ngôn ngữ nói khác chỉ được nói mà không có cách viết.
== Văn hóa ==
Xem bài chính: Văn hóa Trung Quốc.
=== Tôn giáo ===
Xem bài chính: Tôn giáo Trung Quốc.
Tại Trung Quốc, tín đồ của các tôn giáo không được xác định rõ ràng. Nhưng trên thực tế từ nhiều nguồn nghiên cứu về văn hóa và tôn giáo Trung Hoa thì đại đa số người dân vẫn còn giữ phong tục thờ cúng tổ tiên do ảnh hưởng của Khổng giáo, cũng như kết hợp với Phật giáo và Đạo giáo trở thành "Tam giáo đồng nguyên" (hoặc "Tôn giáo cổ truyền Trung Hoa" mà Phật giáo Đại Thừa giữ vai trò chính), số còn lại theo những tôn giáo chính sau với tỉ lệ chỉ mang tính ước lượng có thể không chính xác:
Đạo giáo, hay Lão giáo: xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên người ta không nắm rõ số người theo. Theo các tài liệu gần đây nhất thì có khoảng 400 triệu người (30% tổng dân số) theo Đạo giáo.
Phật giáo: khoảng 8% (quy y Tam Bảo), bắt đầu du nhập vào Trung Quốc khoảng từ thế kỷ thứ nhất Công nguyên. Số người theo chủ yếu là Đại thừa, còn Tiểu thừa thì không đáng kể. Ngoài ra, còn có những người theo Phật giáo Tây Tạng, chủ yếu tại Tây Tạng và Nội Mông Cổ. Con số thực của số lượng Phật tử trên danh nghĩa có thể đạt trên 660 triệu đến 1 tỷ người (50% - 80%). Nhờ vậy mà Trung Quốc đương nhiên trở thành quốc gia Phật giáo đông dân nhất.
Cơ Đốc giáo: khoảng 1 đến 4% tùy nguồn, một số nhánh của đạo này được truyền rải rác vào Trung Quốc thành nhiều đợt bắt đầu từ thế kỷ thứ 8. Ngoài ra còn có những người Trung Quốc gốc Nga ở phía bắc và tây bắc Trung Quốc theo Chính Thống giáo với số lượng tương đối nhỏ.
Nho giáo: không rõ số người theo, đây là tôn giáo xuất phát từ Khổng Tử mà các triều đại Trung Quốc cố gắng truyền bá theo chiều hướng có lợi cho chính quyền, tuy nhiên theo nhiều học giả thì bản chất của nó không phải như vậy.
Hồi giáo: 1% đến 2%, có ở Tân Cương và các vùng có người dân tộc thiểu số theo Hồi giáo sinh sống rải rác. Đạo này phát triển mạnh vào thời nhà Nguyên (1271-1368).
Tôn giáo cổ truyền Trung Quốc: tôn giáo đa thần của phần lớn dân Trung Quốc trước năm 1949, là kiểu tín ngưỡng pha trộn giữa một số trường phái Đạo giáo và Phật giáo và các tín ngưỡng khác.
Ngoài ra còn có Pháp Luân Công là một phương pháp tập luyện tinh thần rất phổ biến tại Trung Quốc trong thập niên 90. Theo thống kê của chính phủ có khoảng 70-100 triệu người.
=== Nghệ thuật, học thuật, và văn học ===
Người Trung Quốc cũng chế ra nhiều nhạc cụ, như cổ tranh, sáo, và nhị hồ, và được phổ biến khắp Đông và Đông Nam Á, đặc biệt những vùng trong phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc. Sanh là một thành phần cơ bản trong các loại nhạc cụ có giăm kèm tự do (free-reed instrument) phương Tây.
Chữ Trung Quốc có nhiều biến thể và cách viết trong suốt lịch sử Trung Quốc, và đến giữa thế kỷ 20 được "giản thể hóa" tại đại lục Trung Quốc. Thư pháp là loại hình nghệ thuật chính tại Trung Quốc, được nhiều người xem là trên cả hội họa và âm nhạc. Vì thường gắn với chủ nhân là những quan lại-học giả ưu tú, nên những tác phẩm thư pháp sau đó đã được thương mại hóa, trong đó những tác phẩm của các nghệ sĩ nổi tiếng được đánh giá cao.
Trung Quốc có nhiều phong cảnh đẹp và là nguồn cảm hứng cho rất nhiều tác phẩm lớn của nghệ thuật Trung Quốc. Xem chi tiết trong bài Hội họa Trung Quốc.
Thư pháp và bồn tài đều là những loại hình nghệ thuật có độ tuổi hàng nghìn năm đã được phổ biến sang Nhật Bản và Triều Tiên.
Trong hàng thế kỷ, sự tiến bộ kinh tế và xã hội Trung Quốc có được là nhờ chất lượng cao của khoa cử phong kiến. Điều này dẫn tới chế độ lựa chọn nhân tài, mặc dù trên thực tế chỉ có đàn ông và những người có cuộc sống tương đối mới có thể tham dự các kỳ thi này, cũng như đòi hỏi một sự học hành chuyên cần. Đây là hệ thống khác hẳn so với hệ thống quý tộc theo huyết thống ở phương Tây. Các kỳ thi này đòi hỏi các thí sinh phải viết các bài luận cũng như chứng minh khả năng thông hiểu các sách vở kinh điển của Nho giáo. Những người vượt qua được kỳ thi cao nhất trở thành các quan lại-học giả ưu tú gọi các tiến sĩ. Học vị tiến sĩ có vị trí kinh tế-chính trị rất được coi trọng tại Trung Quốc và các nước xung quanh.
Văn học Trung Quốc đã có một lịch sử phát triển lâu dài do kỹ thuật in ấn có từ thời nhà Tống. Trước đó, các cổ thư và sách về tôn giáo và y học chủ yếu được viết bằng bút lông (trước đó nữa thì viết trên giáp cốt hay trên giấy tre) rồi phát hành. Hàng chục nghìn văn thư cổ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, từ các văn bản bằng giáp cốt văn tới các chỉ dụ nhà Thanh, được phát hiện mỗi ngày.
Các triết gia, tác gia và thi sĩ Trung Quốc phần lớn rất được coi trọng và có vai trò quan trọng trong việc duy trì và phổ biến văn hóa của Trung Quốc. Một số học giả khác, cũng được ghi nhận vì dám xả thân cho quyền lợi quần chúng cho dù có trái với ý của chính quyền.
== Khoa học và kỹ thuật ==
Trong số những thành tựu về khoa học của Trung Quốc phải kể đến la bàn, thuốc súng, kỹ thuật làm giấy và kỹ thuật in ấn. Đây được coi là tứ đại phát minh. Ngoài ra cũng phải kể đến các phát minh như bàn tính, cung tên, bàn đạp ngựa, sơn mài, bánh lái, địa chấn ký, sành sứ, tiền giấy.
Những địa hạt nghiên cứu kỹ thuật khác:
Toán học: các ứng dụng toán học của Trung Quốc thời xưa là kiến trúc và địa lý. Số π đã được nhà toán học Tổ Xung Chi tính chính xác đến số thứ 7 từ thế kỷ thứ 5. Hệ thập phân đã được dùng ở Trung Quốc từ thế kỷ 14 TCN. Tam giác Pascal được nhà toán học Lưu Dương Huy tìm ra từ lâu trước khi Blaise Pascal ra đời.
Sinh học: các nghiên cứu sinh học tương đối phát triển, và các ghi chép lịch sử vẫn còn được tra cứu cho đến ngày nay như dược điển về các cây thuốc.
Y học: Y học Trung Quốc và phẫu thuật đã phát triển cao tại nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử, và nhiều lĩnh vực vẫn còn được xem là nổi bật. Chúng tiếp tục giữ vai trò lớn mạnh trong cộng đồng y học quốc tế, và cũng đã được phương Tây công nhận như các phương pháp trị liệu bổ sung và thay thế trong vài thập niên gần đây. Một thí dụ là khoa châm cứu, mặc dù được coi như một phương pháp y học tại Trung Quốc và các nước xung quanh, nhưng lại từng là đề tài gây tranh luận tại phương Tây. Tuy nhiên, khoa khám nghiệm tử thi đã không được chấp nhận (ở Trung Quốc), vì người ta cho rằng không nên xâm phạm xác chết. Dù thế, nhiều bác sĩ không tin điều này đã tăng cường sự hiểu biết về giải phẫu học.
Thuật giả kim là hóa học theo trường phái Đạo giáo, rất khác với hóa học hiện đại.
Thiên văn Trung Quốc và các chòm sao đã thường được dùng cho bói toán.
Các phát minh quân sự bao gồm cung tên, bàn đạp ngựa, hơi độc, hơi cay (làm từ bột chanh), các bản đồ giải vây dùng cho kế hoạch đánh trận, diều chở người, hỏa tiễn, thuốc súng, thuốc nổ, các dạng sơ khai của súng ngắn, và súng thần công.
== Các chủ đề khác ==
Văn minh Trung Hoa
Nho giáo
Danh sách các chủ đề về Trung Quốc
Danh sách nhà văn Trung Quốc
Tên người Trung Quốc
Tiếng Trung Quốc
Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc, những học thuyết, phong trào và tư tưởng văn hóa, sử địa, và chính trị cho rằng văn hóa, con người và lãnh thổ Trung Quốc là thống nhất và thuần nhất.
Môi trường tại Trung Quốc
Gấu trúc
Chủ nghĩa đế quốc tại châu Á
Lịch sử quân sự Trung Quốc
Hoa kiều
Thuật phong thủy
Cờ tướng
Shanghai woman
Danh sách các trận đánh Trung Quốc
Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc
== Xem thêm ==
Đạo Phật tại Trung Quốc
Đạo Hồi tại Trung Quốc
Thần thoại Trung Quốc
Nghệ thuật Trung Quốc
Nghệ thuật cắt giấy Trung Quốc
Thơ ca Trung Quốc
Hội họa Trung Quốc
Âm nhạc Trung Quốc
Danh sách các tỉnh Trung Quốc
Đơn vị hành chính Trung Quốc
Phong trào dân chủ Trung Quốc
== Đọc thêm ==
Lê Giang, Các triều đại Trung Hoa, Nhà xuất bản Văn học, 2003
Korotayev A., Malkov A., Khaltourina D. Introduction to Social Macrodynamics: Secular Cycles and Millennial Trends. Moscow: URSS, 2006. ISBN 5-484-00559-0 (Chapter 2: Historical Population Dynamics in China).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh:
1911 EB China
China Digital Times
China History Forums!
Institute of Chinese Studies
The Opposite End of China (Xinjiang, China Blog)
Mondophoto.net - 4200 photos of China
China Overview and Introduction - General Information
Tiếng Việt
Bách khoa thư về Trung Quốc - Do Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc xây dựng
Ban Việt ngữ - Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc
Trung Quốc-Bộ Văn hóa thông tin Việt Nam
văn hóa xã hội Trung Quốc |
16 tháng 12.txt | Ngày 16 tháng 12 là ngày thứ 350 (351 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 15 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
755 – Tiết độ sứ An Lộc Sơn khởi binh chống triều đình, song trên danh nghĩa tuyên bố nhận được mật chiếu của Đường Huyền Tông, khởi đầu loạn An Sử, tức ngày Giáp Tý (16) tháng 11 năm Ất Mùi.
1044 – Min Saw đăng cơ với vương hiệu Anawrahta tại Pagan, khởi đầu lịch sử nghiệm chứng được của Myanmar.
1431 – Henry VI của Anh cử hành nghi lễ đăng quang Quốc vương Pháp tại Nhà thờ Đức Bà ở Paris, Pháp.
1497 – Vasco da Gama đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, địa điểm mà Bartolomeu Dias trước đó quyết định trở về Bồ Đào Nha.
1653 – Oliver Cromwell nhậm chức Bảo hộ công chung thân của Thịnh vượng chung Anh, Scotland và Ireland.
1740 – Quốc vương Phổ Friedrich II xâm chiếm Silesia, khởi đầu Chiến tranh Kế vị Áo.
1862 - Lực lượng của Trương Định đồng loạt tập kích các đồn Pháp tại miền Đông Nam Kỳ.
1863 – Nội chiến Hoa Kỳ: Joseph Johnston thay thế Braxton Bragg trong vai trò chỉ huy của Binh đoàn Tennessee.
1864 – Nội chiến Hoa Kỳ: Chiến dịch Franklin-Nashville – Trận Nashville – Đội quân dưới quyền tướng miền Bắc George Henry Thomas đánh bại Binh đoàn Tennessee của John Bell Hood.
1883 – Chiến tranh Pháp-Đại Nam: Quân Pháp chiếm được thành Sơn Tây từ tay Quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc.
1899 – Câu lạc bộ bóng đá A.C. Milan được thành lập bởi hai người Anh, với tên ban đầu là Milan Cricket and Foot-Ball Club.
1907 – Hạm đội Great White của Hoa Kỳ bắt đầu chuyến đi vòng quanh thế giới của mình.
1920 – Động đất với cường độ 8,5 độ Richter làm rung chuyển tỉnh Cam Túc, Trung Quốc, khiến khoảng 200 nghìn người thiệt mạng.
1941 – Thiết giáp hạm Yamato của Hải quân Đế quốc Nhật Bản được chính thức đưa vào hoạt động.
1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Bắt đầu Trận Ardennes giữa quân Đức Quốc xã và liên quân Anh Quốc-Hoa Kỳ.
1946 – Thái Lan gia nhập Liên Hiệp Quốc.
1947 – William Shockley, John Bardeen và Walter Houser Brattain xây dựng nên transistor tiếp điểm thực tiễn đầu tiên.
1950 – Chiến tranh Triều Tiên: Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman tuyên bố tình trạng khẩn cấp sau khi quân đội Trung Quốc tham chiến cùng lực lượng cộng sản Triều Tiên.
1989 – Các cuộc biểu tình bùng phát tại Timişoara, Romania để phản đối nỗ lực của chính quyền nhằm trục xuất mục sư bất đồng quan điểm người Hungary László Tőkés.
1991 – Kazakhstan độc lập từ Liên Xô.
1997 – Tập phim "Dennō Senshi Porigon" của Pokémon khiến 685 trẻ em Nhật Bản bị động kinh khi phát sóng trên truyền hình.
2002 – Tổ chức phi lợi nhuận Creative Commons ban hành Giấy phép Creative Commons, một giấy phép bản quyền công cộng cho phép phân phối tác phẩm của một cá nhân.
2009 – Avatar được phát hành trên phạm vi quốc tế, sau đó trở thành phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại.
== Sinh ==
1742 – Gebhard Leberecht von Blücher, thống chế người Đức (m. 1819)
1775 – Jane Austen, tác giả người Anh (m. 1817)
1834 – Léon Walras, nhà kinh tế học người Pháp, (m. 1910)
1858 – Agnes Baden-Powell, nhà hoạt động tôn giáo người Anh (m. 1945)
1866 – Wassily Kandinsky, họa sĩ người Nga-Pháp, tức 4 tháng 12 theo lịch Julius (m. 1944)
1882 – Zoltán Kodály, nhà soạn nhạc người Hungary (m. 1967)
1901 – Margaret Mead, nhà nhân chủng học người Mỹ (m. 1978)
1902 – Rafael Alberti, nhà thơ người Tây Ban Nha (m. 1999)
1908 – Remedios Varo, họa sĩ người Tây Ban Nha-Mexico (m. 1963)
1911 – Bùi Huy Phồn, nhà thơ, nhà văn, nhà báo người Việt Nam (m. 1990)
1917 – Arthur C. Clarke, tác giả người Anh (m. 2008)
1932 – Rodion Shchedrin, nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc Liên Xô và Nga
1959 – Tuấn Vũ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt
1962 – Maruschka Detmers, diễn viên người Đức
1962 – La Gia Lương, diễn viên người Hồng Kông
1969 – Adam Riess, nhà vật lý học thiên thể người Đức, đoạt giải Nobel Vật lý
1970 – Kanō Yasuhiro, mangaka người Nhật Bản
1985 – Tachibana Keita, ca sĩ người Nhật Bản (W-inds.)
1987 – Mame Biram Diouf, cầu thủ bóng đá người Senegal
1988 – Mats Hummels, cầu thủ bóng đá người Đức
1988 – Anna Popplewell, diễn viên người Anh
== Mất ==
401 – Giáo hoàng Anastasiô I
705 – Võ Tắc Thiên, hoàng hậu và thái hậu của triều Đường, hoàng đế triều Võ Chu, tức ngày 26 tháng 11 năm Ất Tị (s. 625)
1325 – Charles de Valois, vương tử nước Pháp (s. 1270)
1308 – Trần Nhân Tông, hoàng đế của triều Trần, tức 3 tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (s. 1258)
1598 – Yi Sun-sin, đô đốc người Triều Tiên (s. 1545)
1687 – William Petty, nhà khoa học, nhà triết học người Anh (s. 1623)
1774 – François Quesnay, nhà kinh tế học người Pháp (s. 1694)
1897 – Alphonse Daudet, tác gia người Pháp (b. 1840)
1921 – Camille Saint-Saëns, nhà soạn nhạc người Pháp (s. 1835)
1927 – Robert von Massow, tướng lĩnh người Đức (s. 1839)
1950 – Thôi Hữu, nhà thơ, nhà báo người Việt Nam (s. 1914)
1963 – La Vinh Hoàn, tướng lĩnh người Trung Quốc (s. 1902)
1965 – William Somerset Maugham, tác gia và nhà biên kịch người Pháp (s. 1874)
1975 – Khang Sinh, chính khách người Trung Quốc (s. 1898)
1980 – Harland Sanders, doanh nhân người Mỹ, sáng lập KFC (s. 1890)
2009 – Yegor Timurovich Gaidar, nhà kinh tế và chính trị người Nga, Thủ tướng Nga (s. 1956)
2010 – Trần Văn Giàu, nhà hoạt động chính trị, sử gia người Việt Nam (s. 1911)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
northamptonshire.txt | Northamptonshire là một hạt của Anh. Northamptonshire, viết tắt Northants. hoặc N / hants) là một hạt trên đất liền tiếng Anh ở phía Đông Midlands, với dân số 629.676 người tại thời điểm điều tra dân số năm 2001. Nó có ranh giới với các hạt nghi lễ Warwickshire, phía tây, Leicestershire và Rutland ở phía bắc, Cambridgeshire về phía đông, Bedfordshire phía đông nam, Buckinghamshire ở phía nam, Oxfordshire ở phía nam-tây, và Lincolnshire ở phía bắc phía đông - ranh giới quận Anh ngắn nhất 19 mét (21 yd). Thủ phủ hạt là Northampton với các thành phố lớn khác là Kettering, Corby, Wellingborough và Daventry. Hoa biểu tượng của Northamptonshire là hoa ngọc trâm.
== Tham khảo == |
samsung everland.txt | Samsung Everland là công ty Hàn Quốc mà hoạt động của nó là Everland, công viên giải trí lớn nhất Hàn Quốc. Samsung Everland là một công ty trên thực tế được nắm quyền bởi Samsung Group. Năm 2011, công ty có 4785 nhân viên và lợi nhuận 2,3 triệu đô la Mỹ.
== Tham khảo == |
bảo tàng mỹ thuật việt nam.txt | Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những bảo tàng có vị trí quan trọng nhất trong việc lưu giữ kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
== Lịch sử ==
Ngôi nhà này (viện bảo tàng) được người Pháp xây dựng vào những năm 30 của thế kỷ 20 với chức năng là nơi dành cho con gái của các quan chức người Pháp từ khắp Đông Dương về Hà Nội trọ học. Năm 1962, nhà nước Việt Nam giao cho Bộ Văn hóa cải tạo ngôi nhà từ chỗ mang dáng dấp kiến trúc phương Tây được bổ sung những chi tiết trang trí kiến trúc của đình làng Việt Nam để làm nơi trưng bày vĩnh viễn các tác phẩm mỹ thuật của Việt Nam. Năm 1966, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chính thức được khánh thành với diện tích mặt bằng là 4200 m² và diện tích trưng bày là 1200m², năm 1997 - 1999, đã được mở rộng với tổng diện tích là 4737 m² và diện tích trưng bày là 3000m².
== Các loại hiện vật trưng bày ==
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam hiện giữ trên 18.000 hiện vật trong nước tiêu biểu cho nền Mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền sử đến nay.
Mỹ thuật thời Tiền sử - Sơ sử.
Mỹ thuật thời kỳ đồ đá.
Mỹ thuật thời kỳ đồ sắt.
Mỹ thuật từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19.
Mỹ thuật thời Lý - thời Trần
Mỹ thuật thời kỳ Lê Sơ - Mạc - Lê Trung Hưng.
Mỹ thuật thời Tây Sơn - thời Nguyễn.
Mỹ thuật đương đại (tranh tượng thế kỷ 20).
Tranh tượng sáng tác trước Cách mạng (1925-1945).
Tranh tượng sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
Tranh sơn mài và điêu khắc hiện đại.
Tranh lụa và điêu khắc hiện đại.
Tranh giấy và điêu khắc hiện đại.
Tranh sơn dầu và điêu khắc hiện đại
Mỹ thuật ứng dụng.
Mỹ thuật dân gian.
Tranh dân gian.
Tranh thờ miền núi.
Gốm nghệ thuật Việt Nam từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 20.
Gốm thời Lý-Trần (thế kỷ 11 đến thế kỷ 14)
Gốm từ thế kỷ 15 đến 19.
Gốm hiện đại (thế kỷ 20).
Một số họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam có tác phẩm trưng bày ở đây như: Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Phan Chánh, Lương Xuân Nhị...
Nhiều tác phẩm được trưng bài tại Bảo tàng Mỹ thuật hiện nay là bảo sao vì bản gốc đã bị bán đi hay bị thất lạc. Theo Nora Taylor, chuyên gia tranh Việt Nam tại Viện Nghệ thuật Chicago, khoảng một nửa số bức tranh là bản sao. Trong thời chiến tranh Việt Nam, nhiều bản chính đã được đưa đi sơ tán và bản chép được trưng bày, nhưng sau chiến tranh nhiều bản chính không được đưa về chỗ cũ.
== Lưu trữ ==
So với nhiều bảo tàng có tên tuổi trên thế giới, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn ở mức khiêm tốn và trẻ trung. Trên 2200 hiện vật chọn lọc (từ hơn 20.000 hiện vật) được trưng bày thường xuyên, còn lại toàn bộ hiện vật được lưu trữ và bảo quản tại kho lưu trữ bảo quản.học.
Sưu tập Hội họa: 6310 tác phẩm
Sưu tập Điêu khắc: 993 hiện vật
Sưu tập Mỹ thuật truyền thống: 2012 hiện vật
Sưu tập Gốm: 6455 hiện vật
Sưu tập Mỹ thuật nước ngoài: trên 400 hiện vật
== Chức năng của bảo tàng ==
Nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Sưu tầm kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giới thiệu các tài liệu hiện vật về lịch sử mỹ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Tiếp nhận tài liệu, hiện vật, sưu tập di sản văn hóa phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia về lịch sử mỹ thuật của các tổ chức và cá nhân trao tặng hoặc gửi giữ.
Tổ chức các hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí, hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bảo tàng.
== Bảo tàng Mỹ thuật tại Việt Nam ==
Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Cộng đồng Mỹ thuật Việt Nam Cultural Roof |
liên đoàn sinh viên quốc tế.txt | Liên đoàn Sinh viên Quốc tế, viết tắt là IUS (International Union of Students) là một tổ chức phi chính phủ quốc tế tập hợp các tổ chức và cá nhân sinh viên trên toàn thế giới.
IUS thành lập ngày 27 tháng 8 năm 1946 tại Prague, là một tổ chức tập hợp cho 155 tổ chức sinh viên như vậy trên khắp 112 quốc gia và vùng lãnh thổ đại diện cho khoảng 25 triệu sinh viên. Nguyên thủy là một tổ chức chịu ảnh hưởng tư tưởng của cánh tả, cộng sản, xã hội chủ nghĩa và quan điểm của chủ nghĩa Mác và được hỗ trợ bởi nhà nước tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa.
== Mục đích ==
Bảo vệ quyền và lợi ích của học sinh, sinh viên để thúc đẩy cải thiện phúc lợi xã hội và tiêu chuẩn giáo dục của họ và để chuẩn bị cho nhiệm vụ của họ là những công dân dân chủ.
Chiến dịch lớn: "Giáo dục là một Quyền - Không phải là một đặc quyền".
Tổ chức các cuộc họp nói chung và chuyên ngành quốc tế sinh viên, các hội nghị, hội thảo, hoặc trực tiếp hoặc phối hợp với các tổ chức sinh viên khác.
Chương trình học bổng phân phối một số suất học bổng hàng năm cho các tổ chức sinh viên.
Tổ chức / hỗ trợ các hoạt động thể dục thể thao của sinh viên.
IUS được sự hỗ trợ của
ECOSOC (United Nations Economic and Social Council)
UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Ngày Sinh viên Quốc tế: ngày 17 tháng 11.
== Liên kết ngoài ==
IUS Official website
International Union of Students web site
Old (2002) website
ESU - The European Students' Union: The International Student Movement during the Cold War (1946 - 1969) |
nam từ liêm.txt | Nam Từ Liêm là một quận nằm ở phía Tây trung tâm thành phố Hà Nội, được nâng cấp thành quận trên cơ sở chia tách huyện Từ Liêm cũ. Theo quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến 2030, tầm nhìn 2050, quận Nam Từ Liêm là một trong những đô thị lõi, là trung tâm hành chính, dịch vụ, thương mại của Thủ đô Hà Nội.
Nam Từ Liêm là quận có nhiều công trình kiến trúc hiện đại và quan trọng của thủ đô Hà Nội như Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, tòa nhà cao nhất Việt Nam Keangnam Hanoi Landmark Tower, Bảo tàng Hà Nội, Đại lộ Thăng Long, Trung tâm đào tạo thể dục, thể thao, VĐV Cấp cao Hà Nội,...
Địa giới hành chính: Phía bắc giáp quận Bắc Từ Liêm, phía tây giáp huyện Hoài Đức, phía nam giáp quận Hà Đông và phía đông giáp quận Cầu Giấy, quận Thanh Xuân.
== Hành chính ==
Quận Nam Từ Liêm được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Từ Liêm cũ, gồm 5 xã: Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ; toàn bộ 536,34 ha và 34.052 nhân khẩu còn lại của xã Xuân Phương; toàn bộ 137,75 ha và 23.279 nhân khẩu còn lại của thị trấn Cầu Diễn. Quận Nam Từ Liêm có diện tích 3.227,36 ha (32,27 km²), dân số là 232.894 người (2013).
Quận gồm 10 phường: Cầu Diễn, Đại Mỗ, Mễ Trì, Mỹ Đình 1, Mỹ Đình 2, Phú Đô, Tây Mỗ, Phương Canh, Trung Văn, Xuân Phương.
== Địa giới hành chính ==
Đông giáp 2 quận Cầu Giấy và Thanh Xuân,
Tây giáp huyện Hoài Đức,
Nam giáp quận Hà Đông,
Bắc giáp quận Bắc Từ Liêm.
== Đường phố ==
== Địa điểm nổi tiếng ==
== Giao thông ==
Có quốc lộ 32, quốc lộ 6 và đại lộ Thăng Long chạy qua.
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn quận là các tuyến số 2A (Cát Linh - Hà Đông), tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến số 5 (Hồ Tây - An Khánh), tuyến số 6 (Nội Bài - Ngọc Hồi), tuyến số 7 (Mê Linh - Ngọc Hồi), tuyến số 8 (An Khánh - Dương Xá) trong đó tuyến số 3 đoạn Nhổn - Ga Hà Nội (một phần của tuyến Trôi - Nhổn - Yên Sở) hiện đang được thi công; tuyến số 2A hiện đang được gấp rút hoàn thành để chạy thử nghiệm vào đầu tháng 10-2017 và chính thức vận hành vào quý I-2018.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Trang chủ Ủy ban nhân dân quận Nam Từ Liêm
Bản đồ Hà Nội online
Cổng Thông tin điện tử thành phố Hà Nội |
kolkata.txt | 22.5697°B 88.3697°Đ / 22.5697; 88.3697
Kolkata (IPA: ['kolkat̪a] Bengali: কলকাতা, nepali: कोलकाता), trước đây, trong các văn cảnh tiếng Anh, Calcutta, là thủ phủ của bang Tây Bengal, Ấn Độ. Thành phố tọa lạc ở phía Đông Ấn Độ bên bờ sông Hooghly. Thành phố có dân số khoảng 11 triệu người với một dân số vùng đô thị mở rộng lên đến 14 triệu người, khiến nó trở thành vùng kết tụ đô thị lớn thứ 3 và là thành phố lớn thứ 3 ở Ấn Độ.
Kolkata đã là thủ đô của Ấn Độ trong thời kỳ thuộc địa Anh (British Raj) cho đến năm 1911. Đã từng là trung tâm của giáo dục hiện đại, khoa học, văn hóa và chính trị ở Ấn Độ, Kolkata đã chứng kiến sự đình đốn kinh tế trong những năm sau khi Ấn Độ độc lập năm 1947. Tuy nhiên, kể từ năm 2000, một sự trẻ hóa kinh tế đã chặn lại sự giảm sút èo uột, dẫn đến một cuộc bứt phá tăng trưởng của thành phố này. Giống như nhiều thành phố lớn khác, Kolkata tiếp tục gắng sức xử lý các vấn đề của tiến trình đô thị hóa như đói nghèo, nạn ô nhiễm, tình trạng tắc nghẽn giao thông. Là một thành phố sôi nổi với một nền văn hóa chính trị-xã hội riêng, Kolkata nổi danh nhờ lịch sử cách mạng của mình, từ phong trào đấu tranh giành độc lập cho Ấn Độ đến các phong trào cánh tả và công đoàn.
== Tên gọi ==
Các tên gọi Kolkata và Calcutta là có lẽ dựa trên Kalikata, tên của một trong 3 ngôi làng (Kalikata, Sutanuti, Gobindapur) ở khu vực này trước khi người Anh đến đây. "Kalikata", đến lượt nó được tin là một lối dịch Anh hóa của từ Kalikshetra ("Đất của vị nữ thần Kali"). Tuy nhiên, có nhiều giả thuyết khác hiện hữu về nguồn gốc tên gọi này. Khu vực định cư ban đầu ở vùng đất là thành phố hiện này đã được tuyên bố là nằm bên một khal, có nghĩa là một con kênh trong tiếng Bengal. Khal có lẽ đã tạo ra căn nguyên của tên gọi này. Hơn nữa, nơi này được biết đến là nơi sản xuất vôi vỏ sò và tên gọi có thể đã được lấy từ đá vôi (kali) và vỏ sò (kata) nung nóng. Mặt khác, tên gọi có thể đã được lấy từ thuật ngữ tiếng Bengal kilkila ("vùng bằng phẳng"). Trong khi thành phố thường được phát âm "Kolkata" hoặc "Kolikata", trong tiếng Bengal địa phương, tên chính thức bằng tiếng Anh của nó chỉ được đổi từ "Calcutta" sang "Kolkata" trong năm 2001, phản ánh sự thay đổi cách phát âm tiếng Bengal. Nhiều người xem việc đổi tên nay như là một biện pháp xóa bỏ di sản của thời cai trị Anh. Trong tập Tây hành kiến văn kỷ lược (1830), danh thần nhà Nguyễn Lý Văn Phức đã phiên âm địa danh này là Minh-ca (明歌), nhân đó cũng làm bài thơ Để Minh Ca tân thứ an bách (抵明歌津次安舶).
== Lịch sử ==
Sự phát hiện Chandraketugarh, một địa điểm khảo cổ gần đó, đã cung cấp bằng chứng rằng khu vực này đã có con người định cư hơn hai thiên niên kỷ. Lịch sử được ghi chép của thành phố tuy nhiên lại bắt đầu với việc Công ty Đông Ấn Anh đến đây vào năm 1690, khi công ty này đã củng cố việc kinh doanh mậu dịch ở Bengal. Job Charnock, một người quản lý công ty cuối cùng đã định cư ở Sutanuti sau khi đã xâm lược hết vương quốc Hijli, và ông đã về mặt truyền thống được tin là người thành lập thành phố này, tuy nhiên gần đây các chuyên gia đã tán thành quan điểm rằng Job Charnock không phải là người sáng lập thành phố này. Năm 1699, người Anh đã hoàn tất việc xây dựng Pháo đài William, được sử dụng để đóng quân và làm một căn cứ ở khu vực. Kolkata (sau này là Calcutta) đã được công bố là một Thành phố Quận (Presidency City), và sau này đã trở thành thủ phủ của Quận Bengal (Bengal Presidency). Thường xuyên giao tranh với các lực lượng của Pháp, năm 1756 người Anh bắt đầu nâng cấp các công sự của mình. Khi các cuộc phản đối chống lại sự quân sự hóa Nawab of Bengal Siraj-Ud-Daulah đã không được ai chú ý đến, ông ta đã tấn công và chiếm giữ được Pháo đài William dẫn đến sự kiện Hố Đen tai tiếng. Một lực lượng sepoy (lính Ấn Độ trong quân đội Anh) và các đội quân Anh do Robert Clive lãnh đạo đã tái chiếm lại thành phố trong năm sau. Kolkata đã được chỉ định là thủ đô của Ấn Độ thuộc Anh năm 1772. Chính trong thời kỳ này các đầm lầy xung quanh thành phố đã được làm khô và khu chính quyền đã được bố trí dọc theo hai bên bờ sông Hooghly. Richard Wellesley, Toàn quyền trong thời kỳ 1797 – 1805, là người mang đến sự tăng trưởng của thành phố và kiến trúc công cộng của nó, những điều đã dẫn đến thành phố Kolkata miêu tả là "Thành phố của các lâu đài". Thành phố này là một trung tâm buôn bán nha phiến của Công ty Đông Ấn Anh trong thế kỷ 18 và 18; thuốc phiện được sản xuất ở địa phương đã được bán đấu giá tại Kolkata để đưa lên tàu biển chở đến Trung Quốc.
Đến đầu thế kỷ 19, Kolkata đã được chia ra hai khu vực riêng biệt — một khu là người Anh, khu kia và người Ấn Độ, gọi là 'Phố Đen'. Thậm chí lúc đó, sự nghèo khó của các khu phố tồi tài 'Phố Đen' đã bị xem là gây sốc. Thành phố đã trải qua sự tăng trưởng công nghiệp nhanh chóng từ thập niên 1850, đặc biệt là các ngành dệt may và đay; điều này đã dẫn đến một sự đầu tư quy mô lớn của chính phủ Anh vào các dự án hạ tầng cơ sở như đường bộ, đường sắt, điện tín. Sự liên kết giữa nền văn hóa Anh và Ấn Độ đã dẫn đến sự nổi lên của một tầng lớp Babu những người Ấn Độ thành thị mà thành phần của nó thường là các quan chức nhà nước, các tờ báo của giới học thức, là những người thân Anh và thường thuộc đẳng cấp thượng lưu của các cộng đồng người Hindu. Suốt thế kỷ 19, một cuộc đổi mới văn hóa-xã hội, thường được gọi là Phục Hưng Bengal đã dẫn đến một sự nâng cao trình độ mọi mặt của người dân. Năm 1883, Surendranath Banerjea đã tổ chức một hội nghị dân tộc — kiểu hội nghị đầu tiên thuộc loại này trong thế kỷ 19 ở Ấn Độ. Dần dần Kolkata đã trở thành một trung tâm của phong trào độc lập Ấn Độ, đặc biệt là các tổ chức cách mạng. Sự chia cắt Bengal (1905) về các khu vực cộng đồng đã dẫn đến một sự công khai phản đối rộng khắp và sự tẩy chay hàng hóa Anh (phong trào Swadeshi).
Những hoạt động này, cùng với vị trí bất lợi về hành chính của Kolkata ở rìa phía Đông của Ấn Độ đã thúc dục người Anh chuyển thủ đô đến New Delhi năm 1911. Cảng của thành phố đã bị đánh bom hai lần bởi người Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Do các kho lương thực đã được chuyển sang nuôi quân Đồng Minh, hàng triệu người đã chết đói trong Nạn đói Bengal năm 1943. Năm 1946, các yêu cầu thành lập một nhà nước Hồi giáo đã dẫn đến một cuộc bạo động công cộng quy mô lớn của những người Hồi giáo dẫn đến cái chết của hơn 2000 người. Việc chia cắt Ấn Độ cũng tạo ra bạo động căng thẳng và một sự chuyển dịch cơ cấu dân số - một số lượng lớn người theo đạo Hồi đã rời đến Đông Pakistan, còn hàng trăm ngàn người Hindu chuyển vào thành phố.
Trong thập niên 1960 và 1970, tình trạng thiếu điện nghiêm trọng, biểu tình và một phong trào chủ nghĩa Marx-Mao bạo động; Naxalite — đã phá hủy nhiều hạ tầng của thành phố, dẫn đến một sự đình đốn kinh tế. Năm 1971, chiến tranh giữa Ấn Độ và Pakistan đã dẫn đến một làn sóng dân tị nạn đổ vào Kolkata gây nên một sự căng thẳng lên hạ tầng của thành phố. Trong thập niên 1980, Mumbai đã qua mặt Kolkata để trở thành thành phố đông dân nhất Ấn Độ. Kolkata đã là một căn cứ mạnh của chủ nghĩa cộng sản Ấn Độ do Tây Bengal đã được cai trị bởi Mặt trận Cánh tả do CPI(M) chi phối trong 3 thập niên đến nay; chính quyền Cộng sản được bầu chọn dân chủ cầm quyền lâu nhất thế giới. Sự phục hồi kinh tế của thành phố đã lấy được đà sau cải cách kinh tế ở Ấn Độ được chính quyền trung ương mở đầu giữa thập niên 1990. Từ năm 2000, dịch vụ công nghệ thông tin đã hồi sinh nền kinh tế đình đốn của thành phố. Thành phố này cũng trải qua một sự tăng trưởng trong lĩnh vực chế tạo trong thời gian gần đây.
== Địa lý ==
Kolkata tọa nằm ở Đông Ấn Độ tại tọa độ 22°33′B 88°20′Đ trong vùng Đồng bằng châu thổ sông Hằng với độ cao dao động trong khoảng 1,5 đến 9 m. Nó trải dài dọc theo hai bờ sông Hooghly theo hướng Bắc-Nam. Phần lớn thành phố ban đầu là một vùng đất ngập nước rộng lớn, được san lấp qua nhiều thập kỷ để cung cấp nơi ở cho dân số tăng lên. Vườn quốc gia Sundarbans tách thành phố khỏi Vịnh Bengal, một vịnh nằm cách thành phố 154 km về phía Nam. Giống như phần lớn các đồng bằng sông Ấn-Hằng, phù sa là dạng đất đai chiếm ưu thế. Các lớp trầm tích kỷ thứ tư bao gồm đất sét, bùn, nhiều lớp cát và sỏi nằm dưới lòng đất bề mặt thành phố. Các lớp trầm tích này nằm kẹp giữ hai nền đất sét, lớp thấp hơn có độ sâu từ 250 đến 650 m và lớp trên dao động giữa độ dày 10–40 m. Theo Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ, thành phố rơi vào vùng địa chấn-III, trong một thang chia từ I đến V (theo thứ tự về khả năng có thể chịu địa chấn tăng dần theo thang này) còn phân vùng gió và lốc xoáy nhiệt đới thì thành phố thuộc vùng "rủi ro phá hoại rất cao", theo báo cáo của UNDP report.
== Khí hậu ==
Kolkata có khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ hàng năm là 26.8 °C (80 °F); nhiệt độ trung bình hàng tháng dao động trong khoảng từ 19 °C đến 30 °C (67 °F to 86 °F). Mùa Hè nóng và ẩm và nhiệt độ tối đa thường vượt quá 40 °C (104 °F) trong tháng 5 và tháng 6. Mùa Đông có thường kéo dài chỉ trong 2,5 tháng với nhiệt độ thấp xuống 12 °C – 14 °C (54 °F – 57 °F) giữa tháng 12 và tháng giêng. Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được là 43,9 °C (113 °F) và thấp nhất là 5 °C (41 °F). Thông thường vào đầu mùa Hè những cơn gió giật khô kèm theo các đợt sấm sét và các cơn mưa nặng hạt xuống thành phố, làm giảm sự oi bức của các cơn nóng ẩm. Các cơn dông này về tính chất là đối lưu và được dân địa phương gọi là Kal baisakhi (Nor'westers).
Các cơn mưa do nhánh gió mậu dịch Tây-Nam của Vịnh Bengal mang lại rơi xuống thành phố giữa tháng 6 và tháng 9 và cung cấp phần lớn lượng mưa hàng năm 1582 mm của thành phố này. Lượng mưa cao nhất xuất hiện trong thời kỳ gió mùa tháng 8 (306 mm). Thành phố nhận được 2528 giờ nắng mỗi năm với lượng ánh nắng tối đa vào tháng 3. Nạn ô nhiễm là một vấn đề quan tâm chính của Kolkata, và mức chất hạt lơ lửng (SPM) cao so với các thành phố lớn khác của Ấn Độ, leading to regular smog và haze.
== Kết cấu đô thị ==
Thành phố Kolkata, dưới quyền quản lý của Hội đồng thành phố Kolkata (KMC), có một diện tích 185 km². Tuy nhiên, vùng đô thị Kolkata lại trải rộng liên tục và đến năm 2006 thì khu vực hội tụ đô thị (Vùng đô thị Kolkata) trải rộng trên một diện tích hơn 1750 km² và bao gồm 157 khu vực bưu chính. Vùng đô thị này chính thức được nhiều chính quyền địa phương quản lý, bao gồm 38 local municipalities. Khu vực tích tụ đô thị này bao gồm 72 thành phố và 527 thị trấn và làng. Các vùng ngoại ô của quận đô thị Kolkata gồm các phần đất của các quận North 24 Parganas, South 24 Parganas, Howrah, Hooghly và Nadia.
Chiều Đông đến Tây của nội thành thành phố chật hẹp, trải ra từ sông Hooghly ở phía Tây đến gần như đến Eastern Metropolitan Bypass ở phía Đông, một chiều dài khoảng 5–6 km. Phần mở rộng Bắc-Nam gần như được chia ra thành phía Bắc, Trung tâm và phía Nam Kolkata. Bắc Kolkata là phần cổ nhất thành phố với kiến trúc thế kỷ 19 và ngõ hẹp. Bầu không khí quanh khu vực này gợi nhớ đến thành phố Kolkata cổ. Nam Kolkata hầu như phát triển sau khi độc lập và bao gồm các địa điểm tinh hoa. Khu vực Salt lake City (Bidhan Nagar) về phía Đông Bắc của thành phố là một khu được xây dựng có quy hoạch của Kolkata. Rajarhat, cũng gọi là Phố Mới, là một thị trấn được xây dựng có quy hoạch phát triển về phía rìa Đông-Nam của thành phố.
Trung tâm Kolkata là nơi có quận kinh doanh trung tâm xung quanh khu vực B. B. D. Bagh. Tòa nhà government secretariat, General Post Office, High Court, Lalbazar Police HQs và nhiều tòa văn phòng tư nhân và chính quyền nằm ở đây. Maidan là một sân rộng ở trung tâm thành phố nơi nhiều sự kiện thể thao và các cuộc mít ting công cộng được tổ chức. Nhiều công ty đã thiết lập văn phòng của mình xung quanh khu vực phía Nam của Park Street, một khu đã trở thành một Quận Kinh doanh Trung tâm của thành phố.
== Kinh tế ==
Kolkata là trung tâm thương mại, tài chính và kinh doanh chính của khu vực Đông Ấn Độ và các bang Đông Bắc. Thành phố này là nơi có trụ sơởcủa Sở giao dịch chứng khoán Calcutta — sở giao dịch chứng khoán lớn thứ hai của Ấn Độ. Thành phố này cũng là một thành phố hải cảng và thương cảng lớn và là thành phố duy nhất khu vực có một sân bay quốc tế. Từng là một thành phố hàng đầu và là thủ đô Ấn Độ, Kolkata đã trải qua một giai đoạn suy giảm đều về kinh tế những năm sau khi Ấn Độ giành được độc lập do tình hình chính trị lúc đó chưa ổn định và sự gia tăng chủ nghĩa công đoàn được các đảng cánh tả. Giữa thời kỳ thập niên 1960 và 1990, đã diễn ra một sự rút vốn khổng lồ ra khỏi thành phố do nhiều nhà máy lớn bị đóng cửa hoặc giảm quy mô và di dời địa điểm kinh doanh. Sự thiếu hụt vốn cộng thêm với sự thiếu nhu cầu lớn khắp thế giới đối với các ngành truyền thống của thành phíi (ví dụ hàng đay) đã bồi thêm vào tình trạng trì trệ của nền kinh tế thành phố. Sự tự do hóa của nền kinh tế Ấn Độ trong thập niên 1990 cùng với việc bầu cử lên một Thống đốc theo đường lối cải cách Buddhadeb Bhattacharya đã dẫn đến một sự cải thiện sự thịnh vượng của thành phố.
Cho đến gần đây, sản lượng linh hoạt đã luôn luôn là chỉ tiêu ở Kolkata, và khu vực phi chính thức đã gồm có hơn 40% lực lượng lao động. Viên chức chính quyền bang và liên bang chiếm một tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động của thành phố. Thành phố có một tỷ lệ lớn lực lượng lao động không có tay nghề hoặc bán tay nghề, cùng với lực lượng cổ cồn xanh và [[cổ cồn trắng. Sự hồi sinh kinh tế của Kolkata chủ yếu do ngành dịch vụ công nghệ thông tin dẫn dắt với lĩnh vực công nghệ thông tin tăng trưởng 70% mỗi năm, gấp đôi mức tăng trung bình của toàn quốc. Trong những năm gần đây đã có một làn sóng đầu tư vào lĩnh vực nhà đất với nhiều dự án mới đầu tư thành phố. Kolkata là nơi có nhiều đơn vị công nghiệp do các tập đoàn lớn Ấn Độ điều hành với các sản phẩm đa dạng từ hàng điện tử đến đay. Một số công ty nổi tiếng có trụ sở ở Kolkata là: ITC Limited, Bata India, Birla Corporation, Coal India Limited, Damodar Valley Corporation, United Bank of India, UCO Bank và Allahabad Bank Vijaya Bank. Gần đây, nhiều sự kiện như việc áp dụng chính sách "Nhìn về phía Đông" của chính phủ Ấn Độ, việc khai trương đèo Nathu La ở Sikkim làm con đường buôn bán biên giới với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và mối quan tâm rộng lớn đến các quốc gia Đông Nam Á để đi vào thị trường Ấn Độ và đầu tư đã đặt Kolkata vào một vị trí có lợi.
== Quản lý hành chính ==
Hội đồng Thành phố Kolkata (KMC), (trước đây là Hội đồng Thành phố Calcutta), được thành lập năm 1876, chịu trách nhiệm duy trì các công việc dân sự và quản lý hạ tầng cơ sở của Kolkata. Thành phố được chia ra 141 Phường hành chính được xếp thành 15 thị xã (borough). Mỗi phường bầu một ủy viên hội đồng vào KMC. Mỗi thị xã có một ủy ban bao gồm các ủy viên hội đồng được bầu từ các phường của thị xã. Hội đồng thành phố, thông qua các ủy ban thị xã, duy trì các trường học do nhà nước trợ giúp, các bệnh viện và các và các chợ thành phố và tham gia vào việc quy hoạch đô thị và duy trì đường sá. Hội đồng là cơ quan quyền lực tối cao thi hành chức năng của mình thông qua Hội đồng-trong-Thị trưởng, bao gồm một thị trưởng được một phó thị trưởng giúp việc và 10 thành viên được bầu cử khác của KMC được bầu cử. Thị trưởng chịu trách nhiệm đối với việc thực hiện các chức năng chung của KMC và có nhiệm kỳ 5 năm. Hiện nay, Mặt trận Cánh tả do CPI(M) lãnh đạo nắm quyền ở KMC. Thành phố cũng có một vị trí giữ chức vụ không chính trị, đó là chức Cảnh sát trưởng Kolkata. Vị cảnh sát trưởng này làm chủ tịch nhiều hội nghị và trách nhiệm liên quan đến thành phố. Một cơ quan dân sự phục thuộc khác là Vụ Phát triển Đô thị Kolkata (KMDA) đảm trách phát triển và quy hoạch theo luật định Vùng đô thị Kolkata (KMA). KMA bao gồm một vùng xa thành thị ở ngoại ô xung quanh các trung tâm của Kolkata.
Là thủ phủ của bang và là nơi có trụ sở của Chính quyền Tây Bengal, Kolkata là nơi đóng trụ sở Quốc hội bang Tây Bengal, Văn phòng (Secretariat) (Writers' Building) và Tòa án Tối cao Calcutta. Kolkata cũng có các tòa án cấp dưới; the tòa tiểu điều kiện xử các vụ dân sự, và tòa hình sự xử các vụ án hình sự. Sở cảnh sát Kolkata, do một cao ủy cảnh sát đứng đầu, thuộc Bộ Nội vụ Tây Bengal. Thành phố được phân ra về mặt hành chính thành 5 vùng cảnh sát và lại được chia ra thành 48 phòng cảnh sát địa phương. Thành phố bầu ra 3 nghị sĩ ở Lok Sabha (Hạ viện Ấn Độ) và 21 nghị sĩ của Quốc hội bang.
== Các dịch vụ tiện ích và các phương tiện truyền thông ==
KMC cung cấp nước uống cho thành phố, lấy từ nguồn nước sông Hooghly. Nước được lọc và xử lý ở trạm bơm nước nằm ở North 24 Parganas. Hầu như tất cả lượng rác thải hàng ngày 2500 tấn được chở đến các bãi rác ở Dhapa về phóa Đông thành phố. Việc sản xuất nông nghiệp trên bãi rác này được khuyến khích để tái chế rác thải và nước cống. Nhiều nơi của thành phố thiếu các trang thiết bị xử lý nước cống dẫn đến nhiều phương pháo xử lý nước thải không đảm bảo vệ sinh. Điện của khu vực thành phố được cung cấp bởi Công ty Cấp điện Calcutta (CESC) do tư nhân quản lý và ở khu vực ngoại ô thì do Ủy ban Điện bang Tây Bengal. Việc cúp điện thường xuyên là một vấn đề cuối thập niên 1990, tuy nhiên tình hình đã được cải thiện. Thành phố có 20 trạm cứu hỏa thuộc Sở cứu hỏa Tây Bengal) đảm trách trung bình 7500 cuộc gọi điện cứu hỏa và cứu hộ mỗi năm.
Các công ty quốc doanh BSNL và tư nhân như Hutch, Airtel, Reliance Infocomm và Tata Indicom là các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động trong thành phố. Vùng phủ sóng rộng với các dịch vụ theo công nghệ GSM và CDMA. Sự thâm nhập của internet băng thông rộng đã tăng đều với các nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu là BSNL, Tata Indicom, Airtel và Reliance.
Các tờ báo bằng tiếng Bengal như Anandabazar Patrika, Aajkaal, Bartaman, Sangbad Pratidin và Ganashakti là những tờ báo lưu hành rộng rãi. Các tờ báo bằng tiếng Anh và các tiếng địa phương khác như The Telegraph, The Statesman, Asian Age, Hindustan Times và The Times of India được bán với số lượng lớn. Một số tạp chí xuất bản định kỳ là Desh, Sananda, Unish Kuri, Anandalok và Anandamela. Là thị trường thương mại lớn nhất Đông Ấn Độ, Kolkata có một mối quan hệ trọng yếu với các nhật báo tài chính, bao gồm Economic Times & Business Standard. Các báo bằng tiếng bản xứ như các báo bằng tiếng Hindi, Gujarati, Oriya, Urdu, Punjabi và tiếng Hoa cũng được đọc bởi một nhóm thiểu số. Kolkata có 9 đài phát thanh bằng tần số FM: AIR Kolkata (FM Rainbow & FM Gold), Radio Mirchi (98.3 MHz), Red FM (93.5 MHz), Aamar FM (106.2 MHz), Gyan Vani (105.4 MHz), Big FM (92.7 MHz), Power FM (107.8 MHz) và Friends FM (91.9 MHz). Đài truyền hình thuộc Nhà nước Doordarshan cung cấp 2 kênh mặt đất miễn phí, còn 4 MSO cung cấp một số kênh hỗn hợp bằng tiếng Bengal, Hindi, Anh và nhiều kênh khu vực khác thông qua cáp.
== Giao thông ==
Giao thông công cộng do Đường sắt ngoại ô Kolkata và Tàu điện ngầm Kolkata cũng như xe điện và xe buýt đảm trách. Mạng lưới ngoại ô rộng lớn và tỏa đi các vùng ngoại ô xa. Tàu điện ngầm Kolkata, do Đường sắt Ấn Độ vận hành, là hệ thống ngầm cổ nhất ở Ấn Độ. Tuyến đường này chạy song song vớ sông Hooghly và vươn theo chiều dài Bắc-Nam của thành phố và bao một khoảng cách 16,45 km. Xe buýt là phương tiện giao thông được ưa thích và do các đơn vị điều hành của Nhà nước và tư nhân đảm trách. Kolkata là thành phố duy nhất còn lại của Ấn Độ còn mạng lưới xe điện do Công ty Xe điện Calcutta vận hành. Dịch cụ xe điện chạy chậm được hạn chế trong một số khu vực nhất định của thành phố. Những xe buýt có máy điều hòa nhiệt độ sang trọng vừa được du nhập gần đây cũng kết nối những nơi ở thành phố với Sân bay quốc tế Netaji Subhash Chandra Bose cho những người đi hàng ngày.
== Tham khảo == |
bơi nghệ thuật tại thế vận hội mùa hè 2016.txt | Bơi nghệ thuật tại Thế vận hội Mùa hè 2016 ở Rio de Janeiro diễn ra từ ngày 15 tới 20 tháng Tám tại Trung tâm thể thao dưới nước Maria Lenk. Có tổng cộng 104 vận động viên tranh hai bộ huy chương là đôi nữ và đồng đội nữ.
== Vòng loại ==
Đối với nội dung đồng đội, NOC có thứ hạng cao nhất ở năm giải vô địch, với ngoại lệ là chủ nhà Brasil sẽ đại diện cho Liên châu Mỹ, được đảm bảo suất tham dự, trong khi đó các NOC còn lại sẽ tranh ba vị trí cao nhất tại Vòng loại Olympic. Đối với nội dung đơn, NOC đã giành được quyền tham dự ở nội dung đồng đội sẽ có một suất, 11 suất còn lại là các NOC có vị trí cao sẽ được chọn ở Vòng loại Olympic. Tám NOC đã giành được quyền tham dự nội dung đồng đội phải tự lựa chọn hai vận động viên để tạo đôi thi đấu.
== Tham dự ==
=== Quốc gia tham dự ===
=== Vận động viên tham dự ===
== Huy chương ==
=== Bảng xếp hạng huy chương ===
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Bơi nghệ thuật tại Thế vận hội Mùa hè |
samuel taylor coleridge.txt | Samuel Taylor Coleridge (21 tháng 10 năm 1772 – 25 tháng 7 năm 1834) – Nhà thơ, nhà phê bình, nhà triết học Anh, một đại diện tiêu biểu của các nhà thơ vùng Hồ (Lake Poets) – gồm Samuel Taylor Coleridge, Robert Southey và William Wordsworth. Ông cũng là cha của nữ nhà thơ Anh Sara Coleridge và nhà thơ, nhà thư mục Hartley Coleridge.
== Tiểu sử ==
Coleridge sinh ở Ottery St Mary, Devon, Anh, là con út trong một gia đình có 14 người con. Lên 9 tuổi vào học ở trường Christ’s Hospital. Năm 1791 đến năm 1794 học văn học cổ điển ở Jesus College, Cambridge. Say mê với những tư tưởng của Cách mạng Pháp, tự nguyện tuyên truyền và đứng về phía những người cách mạng. Cùng với nhà thơ Robert Southey, Coleridge bị đuổi học vì "vô thần", vì in sách, tạp chí tuyên truyền về chính trị và sáng tác bài thơ "Chiếm Bastille" ủng hộ cách mạng Pháp.
Thất vọng với "Châu Âu già cỗi", Coleridge cùng với Southey quyết định đi sang "Nước Mỹ tự do" để thành lập công xã và định đặt tên là Pantisocracy tại một vùng hoang dã của bang Pennsylvania nhưng rồi không đi được sang Mỹ vì không đủ tiền. Kể từ đó ông đánh mất lòng nhiệt huyết với những tư tưởng cách mạng. Năm 1795 Coleridge cùng với Southey cưới hai chi em Sarah và Edith Fricker nhưng cuộc hôn nhân của Coleridge đã không hạnh phúc.
Sinh thời, những tư tưởng triết học trong tác phẩm của ông không được người đương thời đánh giá cao nhưng hậu thế say mê với những hình tượng lạ lùng, trộn lẫn giữa hiện thực và ý tưởng trong những trường ca nổi tiếng như The Rime of the Ancient Mariner, Christabel và nhiều tác phẩm khác.
Coleridge mất ở Highgate, London ngày 25 tháng 7 năm 1834.
== Tác phẩm ==
The Fall of Robespierre, 1794 (cùng với Robert Southey)
Poems on Various Subjects, 1796
The Watchman, 1797
Lyrical Ballads, 1798 (cùng với William Wordsworth)
Dejection: An Ode, 1802
The Friend, 1809-10
Remorse, 1813
Christabel; Kubla Khan, a Vision; The Pains of Sleep, 1816
Biographia Literaria, 1817
Sibylline Leaves, 1817
Aids to Reflection, 1825
Poetical Works, 1828
On the Constitution of the Church and State, 1829
Table Talk, 1836
The Rime of the Ancient Mariner, 1798
== Trích tác phẩm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Các tác phẩm của Samuel Taylor Coleridge tại Dự án Gutenberg
Poems by Samuel Taylor Coleridge
Works of Coleridge at the University of Toronto
Friends of Coleridge Society
Walk the Coleridge Way in Exmoor National Park and the Quantocks AONB
Goethe's Faustus, Coleridge's purported translation, illustrated. |
mặt trời.txt | Mặt Trời là ngôi sao ở trung tâm Hệ Mặt Trời, chiếm khoảng 99,86% khối lượng của Hệ Mặt Trời. Trái Đất và các thiên thể khác như các hành tinh, tiểu hành tinh, thiên thạch, sao chổi, và bụi quay quanh Mặt Trời. Khoảng cách trung bình giữa Mặt Trời và Trái Đất xấp xỉ 149,6 triệu kilômét (1 Đơn vị thiên văn AU) nên ánh sáng Mặt Trời cần 8 phút 19 giây mới đến được Trái Đất. Trong một năm, khoảng cách này thay đổi từ 147,1 triệu kilômét (0,9833 AU) ở điểm cận nhật (khoảng ngày 3 tháng 1), tới xa nhất là 152,1 triệu kilômét (1,017 AU) ở điểm viễn nhật (khoảng ngày 4 tháng 7). Năng lượng Mặt Trời ở dạng ánh sáng hỗ trợ cho hầu hết sự sống trên Trái Đất thông qua quá trình quang hợp, và điều khiển khí hậu cũng như thời tiết trên Trái Đất. Thành phần của Mặt Trời gồm hydro (khoảng 74% khối lượng, hay 92% thể tích), heli (khoảng 24% khối lượng, 7% thể tích), và một lượng nhỏ các nguyên tố khác, gồm sắt, nickel, oxy, silic, lưu huỳnh, magiê, carbon, neon, canxi, và crom. Mặt Trời có hạng quang phổ G2V. G2 có nghĩa nó có nhiệt độ bề mặt xấp xỉ 5.778 K (5.505 °C) khiến nó có màu trắng, và thường có màu vàng khi nhìn từ bề mặt Trái Đất bởi sự tán xạ khí quyển. Chính sự tán xạ này của ánh sáng ở giới hạn cuối màu xanh của quang phổ khiến bầu trời có màu xanh. Quang phổ Mặt Trời có chứa các vạch ion hoá và kim loại trung tính cũng như các đường hydro rất yếu. V (số 5 La Mã) trong lớp quang phổ thể hiện rằng Mặt Trời, như hầu hết các ngôi sao khác, là một ngôi sao thuộc dãy chính. Điều này có nghĩa nó tạo ra năng lượng bằng tổng hợp hạt nhân của hạt nhân hydro thành heli. Có hơn 100 triệu ngôi sao lớp G2 trong Ngân Hà của chúng ta. Từng bị coi là một ngôi sao nhỏ và khá tầm thường nhưng thực tế theo hiểu biết hiện tại, Mặt Trời sáng hơn 85% các ngôi sao trong Ngân Hà với đa số là các sao lùn đỏ.
Quầng nóng của Mặt Trời liên tục mở rộng trong không gian và tạo ra gió Mặt Trời là các dòng hạt có vận tốc gấp 5 lần âm thanh - mở rộng nhật mãn (Heliopause) tới khoảng cách xấp xỉ 100 AU. Bong bóng trong môi trường liên sao được hình thành bởi gió mặt trời, nhật quyển (heliosphere) là cấu trúc liên tục lớn nhất trong Hệ Mặt Trời.
Mặt Trời hiện đang đi xuyên qua đám mây Liên sao Địa phương (Local Interstellar Cloud) trong vùng Bóng Địa phương (Local Bubble) mật độ thấp của khí khuếch tán nhiệt độ cao, ở vành trong của Nhánh Orion của Ngân Hà, giữa nhánh Perseus và nhánh Sagittarius của ngân hà. Trong 50 hệ sao gần nhất bên trong 17 năm ánh sáng từ Trái Đất, Mặt Trời xếp hạng 4 về khối lượng như một ngôi sao cấp bốn (M = +4,83), dù có một số giá trị cấp hơi khác biệt đã được đưa ra, ví dụ 4,85 và 4,81. Mặt Trời quay quanh trung tâm của Ngân Hà ở khoảng cách xấp xỉ 24.000–26.000 năm ánh sáng từ trung tâm Ngân Hà, nói chung di chuyển theo hướng chùm sao Cygnus và hoàn thành một vòng trong khoảng 225–250 triệu năm (một năm ngân hà). Tốc độ trên quỹ đạo của nó được cho khoảng 250 ± 20, km/s nhưng một ước tính mới đưa ra con số 251 km/s. Bởi Ngân Hà của chúng ta đang di chuyển so với Màn bức xạ vi sóng vũ trụ (CMB) theo hướng chòm sao Hydra với tốc độ 550 km/s, nên tốc độ chuyển động của nó so với CMB là khoảng 370 km/s theo hướng chòm sao Crater hay Leo.
== Đặc điểm ==
Mặt Trời là một ngôi sao thuộc dãy chính màu vàng chiếm khoảng 99% tổng khối lượng Hệ Mặt Trời. Nó là một hình cầu gần hoàn hảo, chỉ hơi dẹt khoảng chín phần triệu, có nghĩa đường kính cực của nó khác biệt so với đường kính xích đạo chỉ 10 km (6 dặm). Bởi Mặt Trời tồn tại ở dạng trạng thái plasma và không rắn chắc do đó tốc độ quay (vận tốc góc) tại xích đạo nhanh hơn ở hai cực. Điều này được gọi là chuyển động không đồng tốc. Chu kỳ của chuyển động thực này xấp xỉ 25,6 ngày ở xích đạo và 33,5 ngày ở cực. Tuy nhiên, vì điểm quan sát thuận lợi luôn thay đổi khi Trái Đất quay quanh Mặt Trời nên chuyển động biểu kiến của ngôi sao này tại xích đạo là khoảng 28 ngày. Hiệu ứng ly tâm của chuyển động chậm này yếu hơn 18 triệu lần so với lực hấp dẫn tại xích đạo Mặt Trời. Hiệu ứng thủy triều của các hành tinh thậm chí còn yếu hơn, và không ảnh hưởng lớn tới hình dạng Mặt Trời.
Mặt Trời là một sao nhóm I, nhóm sao có nhiều nguyên tố nặng. Sự hình thành Mặt Trời có thể đã được bắt đầu từ các sóng chấn động từ một hay nhiều siêu tân tinh bên cạnh. Lý thuyết này được đưa ra do sự phong phú của nguyên tố nặng trong Hệ Mặt Trời, như vàng và uranium, nếu những sao có nhiều nguyên tố này thì gọi là Sao nhóm II (ít nguyên tố nặng). Các nguyên tố này theo khả năng có thể nhất đã được tạo ra bởi các phản ứng hạt nhân thu năng lượng trong một quá trình hình thành sao siêu mới, hay bởi sự biến đổi thông qua hấp thụ neutron bên trong một ngôi sao lớn thế hệ hai.
Cấu trúc của Mặt Trời không có ranh giới cụ thể như những hành tinh đá: ở phần phía ngoài của nó, mật độ các khí giảm gần như theo hàm mũ theo khoảng cách từ tâm. Tuy nhiên, cấu trúc bên trong của nó được xác định rõ ràng, như được miêu tả bên dưới. Bán kính Mặt Trời được đo từ tâm tới cạnh ngoài quang quyển. Đây đơn giản là lớp mà bên trên nó các khí quá lạnh hay quá mỏng để bức xạ một lượng ánh sáng đáng kể, và vì thế là bề mặt dễ quan sát nhất bằng mắt thường.
Phía trong Mặt Trời không thể được quan sát trực tiếp và chính Mặt Trời là vật chắn bức xạ điện từ. Tuy nhiên, tương tự như trong địa chất học sử dụng sóng do các trận động đất tạo ra để xác định cấu trúc bên trong của Trái Đất, ngành nhật chấn học (helioseismology) sử dụng các sóng ngoại âm (infrasound) đi xuyên qua phần trong Mặt Trời để đo và hình dung cấu trúc bên trong của ngôi sao. Mô hình máy tính về Mặt Trời cũng sử dụng một công cụ lý thuyết để xác định các lớp bên trong của nó.
=== Lõi ===
Lõi của Mặt Trời được coi là chiếm khoảng 0,2 tới 0,25 bán kính Mặt Trời. Nó có mật độ lên tới 150g/cm³ (150 lần mật độ nước trên Trái Đất) và có nhiệt độ gần 13.600.000 độ K (so với nhiệt độ bề mặt Mặt Trời khoảng 5.800 K). Những phân tích gần đây của phi vụ SOHO cho thấy tốc độ tự quay của lõi cao hơn vùng bức xạ. Trong hầu hết vòng đời của Mặt Trời, năng lượng được tạo ra bởi phản ứng tổng hợp hạt nhân thông qua một loạt bước được gọi là dãy p–p (proton–proton) (xem hình bên phải) để biến hydro thành heli. Chưa tới 2% heli được tạo ra trong Mặt Trời có từ chu trình CNO (Cacbon-Nitơ-Ôxy). Lõi là vùng duy nhất trong Mặt Trời tạo ra một lượng đáng kể nhiệt thông qua phản ứng tổng hợp: phần còn lại của ngôi sao được đốt nóng bởi năng lượng truyền ra ngoài từ lõi. Tất cả năng lượng được tạo ra từ phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi phải đi qua nhiều lớp để tới quang quyển trước khi đi vào không gian dưới dạng ánh sáng Mặt Trời hay động năng của các hạt.
Tốc độ phản ứng tổng hợp hạt nhân phụ thuộc nhiều vào mật độ và nhiệt độ, vì tốc độ phản ứng tổng hợp hạt nhân diễn ra ở lõi trong trạng thái cân bằng tự điều chỉnh: nếu tốc độ phản ứng hơi lớn hơn sẽ khiến lõi nóng lên nhiều và hơi mở rộng chống lại trọng lượng của các lớp bên ngoài, làm giảm tốc độ phản ứng và điều chỉnh sự nhiễu loạn; và nếu tốc độ hơi nhỏ hơn sẽ khiến lõi lạnh đi và hơi co lại, làm tăng tốc độ phản ứng và một lần nữa lại đưa nó về mức cũ. Các photon (tia gamma) nhiều năng lượng phát ra trong các phản ứng tổng hợp hạt nhân bị hấp thụ trong một plasma mặt trời chỉ vài millimét, và sau đó tái phát xạ theo hướng ngẫu nhiên (và ở mức năng lượng khá thấp)—vì thế cần một thời gian dài các bức xạ mới lên tới bề mặt Mặt Trời. Những ước tính về "thời gian di chuyển của photon" trong khoảng từ 10.000 tới 170.000 năm. Sau chuyến du hành cuối cùng qua lớp đối lưu bên ngoài để tới "bề mặt" trong suốt của quang quyển, các photon thoát ra như ánh sáng khả kiến. Mỗi tia gamma trong lõi Mặt Trời được chuyển thành hàng triệu photon ánh sáng nhìn thấy được trước khi đi vào không gian. Các neutrino cũng được phát sinh từ các phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi, nhưng không giống như photon, chúng hiếm khi tương tác với vật chất, vì thế hầu như toàn bộ chúng thoát khỏi Mặt Trời ngay lập tức. Trong nhiều năm những đo đạc về số lượng neutrino do Mặt Trời tạo ra cho kết quả thấp hơn các dự đoán lý thuyết khoảng 3 lần. Sự không nhất quán này gần đây đã được giải quyết thông qua sự khám phá các hiệu ứng dao động neutrino. Vì trên thực tế Mặt Trời toả ra số lượng neutrino như các lý thuyết dự đoán, nhưng các máy dò tìm neutrino để lọt mất 2/3 trong số chúng bởi vì các neutrino đã thay đổi hương.
=== Vùng bức xạ ===
Trong vùng từ 0,25 tới khoảng 0,7 bán kính Mặt Trời, vật liệu Mặt Trời đủ nóng và đặc đủ để bức xạ nhiệt chuyển được nhiệt độ từ trong lõi ra ngoài. Trong vùng này không có đối lưu nhiệt; tuy các vật liệu lạnh đi khi độ cao tăng lên (từ 7.000.000 °C tới khoảng 2.000.000 °C) làm gradient nhiệt độ này nhỏ hơn giá trị tỷ lệ khoảng đoạn nhiệt (adiabatic lapse rate) và vì thế không thể gây ra sự đối lưu. Nhiệt được truyền bởi sự bức xạ—ion của hydro và heli phát ra các photon, nó chỉ di chuyển một khoảng cách ngắn trước khi bị tái hấp thụ bởi các ion khác. Các photon thực tế bật lên rất nhiều lần xuyên qua vật chất đặc này tới mức một photon riêng lẻ mất khoảng một triệu năm để tới được lớp bề mặt, và vì thế, năng lượng chuyển ra ngoài rất chậm. Mật độ giảm sút hàng trăm lần (từ 20 g/cm³ xuống chỉ 0,2 g/cm³) từ đáy lên đỉnh vùng bức xạ.
Giữa vùng bức xạ và vùng đối lưu là một lớp chuyển tiếp được gọi là tachocline. Đây là vùng nơi có sự thay đổi mạnh giữa chuyển động xoay đồng tốc của vùng bức xạ và chuyển động chênh lệch của vùng đối lưu dẫn tới một sự trượt mạnh—một điều kiện nơi các lớp ngang giáp nhau trượt trên nhau. Các dạng chuyển động giống chất lỏng trong vùng đối lưu bên trên, dần biến mất từ đỉnh của lớp này xuống đáy của nó, phù hợp với các đặc điểm yên tĩnh của vùng bức xạ trên đáy. Hiện tại, có giả thuyết cho rằng một nguồn phát điện từ bên trong lớp này tạo ra từ trường của Mặt Trời.
=== Vùng đối lưu ===
Trong lớp ngoài của Mặt Trời, từ bề mặt nó xuống xấp xỉ 200.000 km (hay 70% bán kính Mặt Trời), plasma Mặt Trời không đủ đặc hay đủ nóng để chuyển năng lượng nhiệt từ bên trong ra ngoài bằng bức xạ. Vì thế, đối lưu nhiệt diễn ra khi các cột nhiệt mang vật liệu nóng ra bề mặt (quyển sáng) của Mặt Trời. Khi vật liệu lạnh đi ở bề mặt, nó đi xuống dưới đáy vùng đối lưu, để nhận thêm nhiệt từ đỉnh vùng bức xạ. Ở bề mặt nhìn thấy được của Mặt Trời, nhiệt độ đã giảm xuống 5.700 K và mật độ chỉ còn 0,2 g/m³ (khoảng 1/10.000 mật độ không khí ở mực nước biển).
Các cột nhiệt trong vùng đối lưu tạo nên một dấu vết trên Mặt Trời, dưới hình thức hột mặt trời (solar granulation) và siêu hột. Sự hỗn loạn đối lưu của bộ phận phía ngoài này của phần bên trong lòng Mặt Trời hình thành một máy phát điện "tỷ lệ nhỏ" xuất hiện tạo ra từ trường bắc và nam cực trên toàn bộ bề mặt Mặt Trời. Các cột nhiệt của Mặt Trời là các pin Bénard và vì thế thường có hình lăng trụ năm cạnh.
=== Quang quyển ===
Bề mặt nhìn thấy được của Mặt Trời hay quang quyển là lớp mà ở bên dưới nó, Mặt Trời trở nên mờ đục với ánh sáng nhìn thấy được. Trên quang quyển ánh sáng khả kiến của Mặt Trời tự do đi vào không gian, và năng lượng của nó thoát hoàn toàn khỏi Mặt Trời. Sự thay đổi trong độ mờ đục xảy ra vì sự giảm số lượng ion H−, mà chúng dễ dàng hấp thụ ánh sáng. Trái lại, ánh sáng khả kiến mà chúng ta nhìn thấy được tạo ra khi các electron phản ứng với các nguyên tử hydro để tạo ra các ion H−. Quang quyển thực tế dày từ hàng chục tới hàng trăm kilômét, mờ hơn chút ít so với không khí trên Trái Đất. Bởi vì phần phía trên của quang quyển lạnh hơn phần phía dưới, hình ảnh Mặt Trời hiện lên sáng hơn ở trung tâm so với ở cạnh hay rìa của đĩa Mặt Trời, trong một hiện tượng được gọi là rìa tối (limb darkening). Ánh sáng Mặt Trời có phổ gần giống với quang phổ vật đen cho thấy một nhiệt độ khoảng 6.000 K (các vùng sâu có nhiệt độ tới 6.400 K trong khi những vùng nông hơn là 4.400 K), rải rác với các vạch hấp thụ nguyên tử từ các lớp loãng trên quang quyển. Quang quyển có mật độ hạt ~1023/m3 (khoảng 1% mật độ hạt của khí quyển Trái Đất ở mực nước biển).
Những nghiên cứu ban đầu về phổ quang học của quang quyển, một số đường hấp thụ được tìm ra không tương ứng với bất kỳ một nguyên tố hoá học nào từng biết trên Trái Đất khi ấy. Năm 1868, Norman Lockyer đưa ra giả thuyết rằng các đường hấp thụ đó là bởi một nguyên tố mới mà ông gọi là "heli", theo tên thần Mặt Trời Hy Lạp Helios. Mãi 25 năm sau, heli mới được phân lập trên Trái Đất.
=== Khí quyển ===
Các phần bên trên quang quyển của Mặt Trời được gọi chung là khí quyển Mặt Trời. Chúng có thể được quan sát bằng kính viễn vọng trên toàn bộ dãy phổ điện từ, từ sóng radio qua ánh sáng nhìn thấy được tới tia gamma, và gồm năm vùng chính: nhiệt độ tối thiểu, sắc quyển, vùng chuyển tiếp, vành nhật hoa, và nhật quyển. Nhật quyển, có thể được coi là khí quyển liên tục phía ngoài của Mặt Trời, mở rộng ra bên ngoài vượt quá cả quỹ đạo Sao Diêm Vương tới nhật mãn (heliopause), nơi nó hình thành một biên giới đường chấn động rõ rệt với không gian liên sao. Sắc quyển, vùng chuyển tiếp và vành nhật hoa nóng hơn nhiều so với bề mặt Mặt Trời. Lý do giải thích việc này vẫn chưa rõ ràng, bằng chứng cho thấy rằng các sóng Alfvén có thể có đủ năng lượng để làm nóng vành nhật hoa.
==== Hàn quyển ====
Lớp lạnh nhất của Mặt Trời là vùng nhiệt độ tối thiểu nằm cách khoảng 500 km bên trên quanq quyển, với nhiệt độ cỡ 4.100 K. Phần này của Mặt Trời đủ lạnh để tồn tại các phân tử như carbon monoxide và nước, có thể được phát hiện bởi quang phổ hấp thụ của chúng.
==== Sắc quyển ====
Bên trên lớp nhiệt độ tối thiểu là một lớp dày khoảng 2.000 km, chủ yếu là quang phổ của các đường hấp thụ và phát xạ. Nó được gọi là sắc quyển bắt nguồn từ từ chroma của Hy Lạp, có nghĩa màu sắc, bởi sắc quyển nhìn thấy được như một ánh sáng có màu ở đầu và cuối của các lần nhật thực toàn phần. Nhiệt độ của sắc quyển tăng dần cùng với độ cao, lên khoảng 20.000 K ở gần đỉnh. Ở phần phía trên của sắc quyển heli bị ion hoá một phần.
==== Vùng chuyển tiếp ====
Bên trên sắc quyển có một vùng chuyển tiếp mỏng (khoảng 200 km) trong đó nhiệt độ tăng nhanh từ khoảng 20.000 K ở thượng tầng sắc quyển lên tới nhiệt độ gần một triệu K tại miện. Nhiệt độ gia tăng dễ dàng bởi sự ion hoá toàn bộ heli trong vùng chuyển tiếp, làm giảm mạnh sự bức xạ làm nguội của plasma. Vùng chuyển tiếp không xảy ra ở một độ cao được xác định chính xác. Thực vậy, nó hình thành một kiểu quầng với các đặc tính kiểu sắc quyển như gai và sợi, và luôn chuyển động hỗn loạn. Vùng chuyển tiếp không dễ được quan sát thấy từ bề mặt Trái Đất, mà thực tế chỉ có thể được quan sát thấy từ vũ trụ bằng các dụng cụ nhạy cảm với thành phần tử ngoại của quang phổ.
==== Vành nhật hoa ====
Vành nhật hoa kéo dài ra lớp khí quyển bên ngoài của Mặt Trời, nó có thể tích lớn hơn cả Mặt Trời. Vành nhật hoa liên tục mở rộng vào vũ trụ hình thành nên gió Mặt Trời, lấp đầy toàn bộ Hệ Mặt Trời. Vành nhật hoa hạ, rất gần bề mặt Mặt Trời, có mật độ phân tử khoảng 1015–1016/m3. Nhiệt độ trung bình của vành nhật hoa và gió Mặt Trời khoảng 1–2 triệu kelvin, tuy nhiên, trong những vùng nóng nhất nó khoảng 8–20 triệu kelvin. Tuy chưa tồn tại 1 lý thuyết đầy đủ để tính nhiệt độ vành nhật hoa, ít nhất một số lượng nhiệt của nó được biết có từ sự tái liên thông từ trường.
==== Nhật quyển ====
Nhật quyển là khoảng trống xung quanh Mặt Trời, được lấp đầy bằng gió plasma Mặt Trời và kéo dài xấp xỉ khoảng 20 lần bán kính Mặt Trời (0,1 AU) ra các mép phía ngoài của Hệ Mặt Trời. Biên giới phía trong của nó được xác định là lớp mà tại đó dòng gió Mặt Trời trở nên superalfvénic — có nghĩa là nơi dòng chảy trở nên nhanh hơn tốc độ của sóng Alfvén. Sự nhiễu loạn và các lực động lực học bên ngoài biên giới này không thể ảnh hưởng tới hình dạng của quầng Mặt Trời bên trong, bởi thông tin chỉ có thể di chuyển với tốc độ của các sóng Alfvén. Gió Mặt Trời đi ra bên ngoài liên tục xuyên qua Nhật quyển, hình thành nên trường điện từ Mặt Trời bên trong hình dạng xoắn ốc, cho tới khi nó va chạm với nhật mãn với khoảng cách hơn 50 AU từ Mặt Trời. Tháng 12 năm 2004, tàu vũ trụ Voyager 1 đã vượt qua một dải chấn được cho là một phần của nhật mãn. Cả hai tàu Voyager đều ghi nhận mức độ hạt năng lượng cao khi chúng tiếp cận biên giới.
=== Từ trường ===
Mặt Trời là một sao có hoạt động của từ trường. Nó có từ trường biến đổi mạnh mẽ hàng năm và đổi hướng sau mỗi 11 năm. Từ trường của Mặt Trời tăng lên gây ra một số hiệu ứng gọi chung là hoạt động của Mặt Trời bao gồm vết đen trên bề mặt của Mặt Trời, vết sáng Mặt Trời, và các bức xạ trong gió Mặt Trời, chúng mang vật chất vào trong hệ Mặt Trời. Các ảnh hưởng của hoạt động bức xạ này lên Trái Đất như cực quang ở các vĩ độ trung bình đến cao, và sự gián đoạn việc truyền sóng radio và điện năng. Hoạt động của Mặt Trời được cho là có vai trò quan rất lớn trong sự hình thành và tiến hóa của hệ Mặt Trời và làm thay đổi cấu trúc tầng điện ly của Trái Đất.
Tất cả vật chất trong Mặt Trời đều ở thể khí và plasma do có nhiệt độ cao. Điều này có thể làm cho vận tốc quay ở vùng xích đạo (khoảng 25 ngày) nhanh hơn ở các vùng có vĩ độ cao hơn (khoảng 35 ngày ở gần các cực). Vận tốc quay khác nhau ở các vĩ độ của Mặt Trời tạo ra các đường sức từ xoắn vào nhau theo thời gian, tạo ra các vòng hoa từ tường phun ra từ bề mặt của Mặt Trời và tạo ra các vết đen Mặt Trời và các tai lửa Mặt Trời (xem sự nối lại từ trường). Sự xoắn vào nhau này làm tăng quá trình phát sinh từ trường của Mặt Trời và gây ra sự đảo từ của Mặt Trời theo chu kỳ 11 năm.
Từ trường của Mặt Trời mở rộng ra ngoài ranh giới của nó. Plasma trong gió Mặt Trời bị từ hóa mang từ trường của Mặt Trời vào không gian tạo ra từ trường giữa các hành tinh. Vì plasma chỉ có thể chuyển động trên các đường sức từ, từ trường giữa các hành tinh được mở rộng xuyên tâm từ Mặt Trời ra ngoài không gian. Do trường từ ở trên và dưới xích đạo khác nhau về cực hướng vào và hướng ra khỏi Mặt Trời, nên tồn tại một lớp dòng điện mỏng trên mặt phẳng xích đạo được gọi là dải dòng điện nhật quyển (heliospheric current sheet). Ở khoảng cách lớn, sự quay của Mặt Trời xoắn từ trường và dải dòng này thành cấu trúc giống xoắn ốc Archimedes gọi là xoắn ốc Parker. Từ trường giữa các hành tinh mạnh hơn từ trường ở hai cực của Mặt Trời. Từ trường ở hai cực của Mặt Trời 50–400 μT (trong Quang quyển) giảm theo hàm mũ bậc ba của khoảng cách và đạt 0,1 nT ở Trái Đất. Tuy nhiên, theo các thăm dò từ tàu không gian cho thấy từ trường giữa các hành tinh ở vị trí của Trái Đất cao hơn khoảng 100 lần so với con số trên, vào khoảng 5 nT.
== Thành phần hóa học ==
Mặt Trời được cấu tạo chủ yếu bởi các nguyên tố hydro và heli, các nguyên tố này chiếm tương ứng 74,9% và 23,8% khối lượng của Mặt Trời trong quang quyển. Các nguyên tố nặng hơn được gọi là kim loại trong thiên văn học, chiếm ít hơn 2% khối lượng Mặt Trời. Trong đó phổ biến nhất là oxy (chiếm gần 1% khối lượng Mặt Trời), cacbon (0,3%), neon (0,2%), và sắt (0,2%).
Thành phần hóa học của Mặt Trời thừa hưởng các nguyên tố từ vật chất giữa các sao khi nó hình thành: hydro và heli trong Mặt Trời được tạo ra từ tổng hợp hạt nhân Big Bang. Các kim loại này được tạo ra bởi tổng hợp hạt nhân sao khi kết thúc quá trình tiến hóa sao và trả các vật liệu của chúng về khoảng không giữa các sao trước khi Mặt Trời hình thành. Thành phần hóa học của quang quyển thường được xem là đại diện cho các thành phần của hệ Mặt Trời nguyên thủy. Tuy nhiên, khi Mặt Trời hình thành, heli và các nguyên tố nặng tích tụ trong quang quyển. Do đó, quang quyển ngày nay chứa ít heli và chỉ có khoảng 84% các nguyên tố nặng so với sao tổ tiên; sao tổ tiên có 71,1% hydro, 27,4% heli, và 1,5% kim loại.
Bên trong Mặt Trời, các phản ứng tổng hợp hạt nhân làm biến đổi thành phần của nó do hidro biến thành heli, vì vậy phần trong cùng nhất của Mặt Trời hiện tại chỉ có khoảng 60% heli, còn hàm lượng kim loại phổ biến thì không đổi. Do phần bên trong Mặt Trời có hoạt động phóng xạ, chứ không phải đối lưu (xem cấu trúc ở trên), nên không có sản phẩm tổng hợp hạt nhân nào từ lõi đi vào quang quyển.
Các nguyên tố nặng phổ biến trong Mặt Trời mô tả bên trên được đo đạc đồng thời bằng quang phổ trong quang quyển và bằng các vật chất trong thiên thạch không bị nung chảy. Các thiên thạch này được cho là có chứa thành phần của ngôi sao tiền Mặt Trời và không bị ảnh hưởng bởi sự tích tụ các nguyên tố nặng. Đó là hai cách đo đạc được nhiều người đồng ý nhất.
=== Các nguyên tố nhóm sắt bị ion hóa ===
Trong thập niên 1970, nhiều nghiên cứu tập trung vào sự phong phú của các nguyên tố nhóm sắt trong Mặt Trời. Mặc dù các nghiên cứu này mang lại nhiều ý nghĩa, nhưng việc xác định sự phong phú của các nguyên tố nhóm sắt (như coban và mangan) vẫn còn là khó khăn vào thời điểm đó do các cấu trúc siêu mịn của chúng.
Một bộ hoàn chỉnh về độ mạnh dao động đầu tiên của các nguyên tố nhóm sắt bị ion hóa riêng lẻ được thực hiện thành công vào thập niên 1960, và được nâng cấp vào năm 1976. Năm 1978, sự phong phú về các nguyên tố thuộc nhóm sắt bị ion hóa đã được nhận dạng.
=== Quan hệ sự phân tầng khối lượng giữa hành tinh và Mặt Trời ===
Nhiều tác giả khác nhau đề cập đến sự tồn tại của mối quan hệ phân tầng khối lượng giữa các thành phần đồng vị của Mặt Trời và khí trơ trên các hành tinh, ví dụ như sự tương quan giữa thành phần đồng vị của hành tinh và Mặt Trời là Ne và Xe. Tuy nhiên, người ta tin rằng toàn bộ Mặt Trời có cùng thành phần như nhau trong khi bầu khí quyển của Mặt Trời vẫn trải rộng và ít nhất là đến năm 1983. Năm 1983, người ta cho rằng có sự phân tầng trên Mặt Trời, chính vì vậy đã tạo ra mối quan hệ phân tầng giữa các thành phần đồng vị của hành tinh và gió Mặt Trời là các khí hiếm.
== Các chu kỳ trên Mặt Trời ==
=== Các vết đen Mặt Trời ===
Khi quan sát Mặt Trời bằng các bộ lọc thích hợp, các đặc điểm dễ nhận ra ngay đó là các vết đen Mặt Trời, chúng là các khu vực bề mặt được xác định rõ ràng bởi vì chúng tối hơn các khu vực xung quanh do nhiệt độ của chúng thấp hơn. Các vết đen này là những vùng có hoạt động từ trường mạnh, ở đây sự đối lưu được điều khiển bởi các trường từ mạnh, nhằm giải phóng năng lượng từ bên trong Mặt Trời lên bề mặt của nó. Trường từ làm nóng phần lõi, tạo thành các vùng hoạt động đây chính là nguồn gây ra vết lóa Mặt Trời (solar flare) và phóng thích vật chất vành nhật hoa (CME). Các vết đen lớn nhất có thể vươn xa hàng chục ngàn km.
Số lượng các vết đen có thể thấy được trên Mặt Trời thì không cố định, nhưng chúng thay đổi theo chù kỳ 11 năm hay còn gọi là chu kỳ Mặt Trời. Trong điều kiện bình thường, chỉ có vài vết đen có thể quan sát được, và hiếm khi quan sát được hết tất cả. Một số xuất hiện ở các vĩ độ lớn hơn. Khi diễn ra chu kỳ Mặt Trời, số lượng các vết đen tăng và chúng di chuyển gần hơn về phía xích đạo của Mặt Trời, hiện tượng này được miêu tả trong quy luật Spörer. Các vết đen luôn tồn tại thành cặp có cực từ đối nhau. Cực từ của vết đen xen kẽ mỗi chu kỳ Mặt Trời, vì thế nó sẽ là cực bắc từ trong một chu kỳ và sẽ là cực nam trong chu kỳ tiếp theo.
Chu kỳ Mặt Trời có ảnh hưởng lớn đến thời tiết không gian, và cũng như khí hậu trên Trái Đất do độ sáng có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động từ trường. Cực tiểu hoạt động của Mặt Trời có xu hướng tương quan với nhiệt độ lạnh hơn, và lâu hơn so với các chu kỳ mặt trời trung bình có xu hướng tương quan đến nhiệt độ nóng hơn. Trong thế kỷ 17, chu kỳ mặt trời dường như đã ngưng hoàn toàn trong vài thập kỷ; có rất ít vết đen được quan sát trong giai đoạn này. Cũng trong giai đoạn này, hay còn gọi là cực tiểu Maunder hay thời kỳ băng hà nhỏ, châu Âu đã trải qua thời kỳ nhiệt độ rất lạnh. Hoạt động cực tiểu vào thời kỳ trước đây được phát hiện thông qua việc phân tích vòng sinh trưởng của cây đã sinh sống vào thời gian nhiệt độ toàn cầu thấp hơn nhiệt độ trung bình.
=== Chu kỳ dài ===
Một giả thuyết gần đây nêu rằng từ trường không ổn định trong lõi của Mặt Trời tạo ra sự dao động với chu kỳ 41.000 hoặc 100.000 năm. Điều này có thể cung cấp các dữ kiện để giải thích về thời kỳ băng hà hơn là chu kỳ Milankovitch.
== Vị trí và chuyển động trong dải Ngân Hà ==
Sự chuyển động của Mặt Trời liên quan đến khối tâm của hệ Mặt Trời trở nên phức tạp do các nhiễu loạn từ các hành tinh. Cứ mỗi vài trăm năm chuyển động này lại thay đổi giữa cùng hướng và ngược hướng với các thiên thể khác. Mặt Trời nằm gần rìa trong của nhánh Orion của Ngân Hà, trong đám mây liên sao Địa phương hoặc vành đai Gould, với khoảng cách giả thuyết 7,5–8,5 kpc (25.000–28.000 năm ánh sáng) tính từ tâm Ngân Hà, nằm bên trong Bong bóng địa phương, một không gian khí nóng loãng, có thể được tạo ra từ phần còn sót lại của siêu tân tinh, Geminga, một nguồn phát xạ tia gamma sáng chói. Khoảng cách giữa nhánh địa phương và nhánh gần đó là nhánh Perseus vào khoảng 6.500 năm ánh sáng.
Điểm apec của đường đi của Mặt Trời là hướng mà mặt trời đi qua không gian của thiên hà. Hướng chung của chuyển động của Mặt Trời thẳng về sao Vega gần chòm sao Hercules, với góc gần 60 độ khối (sky degree) so với hướng của tâm Ngân Hà. Nếu một người nào đó quan sát Mặt Trời từ Alpha Centauri, hệ sao gần nhất, Mặt Trời sẽ xuất hiện trong chòm sao Cassiopeia.
Quỹ đạo của Mặt Trời xung quanh Ngân Hà được cho là dạng elip có một chút nhiễu do các nhánh xoắn ốc và sự phân bố khối lượng không đồng nhất của thiên hà. Thêm vào đó, Mặt Trời dao động lên và xuống so với mặt phẳng thiên hà khoảng 2,7 lần trong một quỹ đạo. Đều này tương tự với một dao động điều hòa đơn giản không có lực kéo nào. Đã từng có trang luận rằng sự chuyển động của Mặt Trời xuyên qua các nhánh xoắn ốc mật độ cao hơn đôi khi bằng với các sự kiện tuyệt chủng lớn trên Trái Đất, có lẽ là do làm tăng các sự kiện va chạm (impact event). Hệ Mặt Trời mất khoảng 225–250 triệu năm để hoàn thiện một vòng quỹ đạo của nó trong Ngân Hà (hay một năm ngân hà), vì vậy, tổng số vòng quay của Mặt Trời quanh Ngân Hà là khoảng 20–25 trong cuộc đời đã qua của nó. Vận tốc quỹ đạo của hệ Mặt Trời so với tâm của Ngân Hà vào khoảng 251 km/s. Với vận tốc này, nó mất khoảng 1.400 năm để hệ Mặt Trời đi được một khoảng cách của 1 năm ánh sáng, hay 8 ngày để đi được 1 AU.
== Các vấn đề về các học thuyết ==
=== Neutrino Mặt Trời ===
Trong một vài năm số lượng neutrino electron Mặt Trời được phát hiện trên Trái Đất từ 1⁄3 đến 1⁄2 so với số lượng dự đoán bằng Mô hình chuẩn của Mặt Trời. Kết quả bất thường này được đặt tên là vấn đề neutrino Mặt Trời. Các giả thuyết đưa ra để giải quyết vấn đề này hoặc là sự giảm nhiệt độ bên trong Mặt Trời làm cho dòng nơtrino thấp hơn, hoặc là khẳng định rằng các nơtrino electron có thể dao động liên quan đến các neutrino tau và neutrino muon, mà hai loại này không thể nhận biết được khi chúng chuyển động giữa Mặt Trời và Trái Đất. Một vài quan sát về nơtrino đã bắt đầu thực hiện trong thập niên 1980 để đo dòng nơtrino Mặt Trời với độ chính xác có thể, bao gồm Đài quan sát Neutrino Sudbury và Kamiokande. Các kết quả cho thấy các nơtrinos có khối lượng tĩnh rất nhỏ và thực tế là có sự dao động. Ngoài ra, vào năm 2001 dự án Đài quan sát Neutrino Sudbury đã có thể nhận dạng 3 loại nơtrino một cách trực tiếp, và thấy rằng tốc độ phát xạ tổng số các nơtrino của Mặt Trời phù hợp với Mô hình chuẩn Mặt Trời, mặc dù nó phụ thuộc vào năng lượng nơtrino làm cho có 1/3 nơtrino được phát hiện trên Trái Đất là loại nơtrino electron. Tỷ lệ này phù hợp với dự đoán theo hiệu ứng Mikheyev-Smirnov-Wolfenstein (hay còn gọi là hiệu ứng vật chất). Hiệu ứng này miêu tả sự dao động của vật chất, và nó được xem là một lời giải cho vấn đề này.
=== Nhiệt độ vành nhật hoa ===
Nhiệt độ bề mặt Mặt Trời (quang quyển) vào khoảng 6.000 K. Bên trên nó là vành nhật hoa, nhiệt độ lên đến 1 - 2 triệu K. Nhiệt độ của vành nhật hoa cao cho thấy rằng nó đã bị nung nóng bởi một cơ chế nào đó khác với sự đối lưu nhiệt trực tiếp từ quang quyển.
Người ta cho rằng năng lượng cần thiết để làm nóng vành nhật hoa được cung cấp bởi sự chuyển động hỗn loạn trong đới đối lưu nằm dưới quang quyển, và có hai cơ chế chính đã được đề xuất để giải thích về nhiệt độ cao của vành nhật hoa.
Thứ nhất là nung nóng bằng sóng, các sóng từ thủy động hoặc trọng lực được tạo ra bởi sự rối trong đới đối lưu. Các sóng này chuyển động hướng lên và bị tán xạ vào vành nhật hoa, tích tụ năng lượng của chúng trong lớp không khí xung quanh ở dạng nhiệt.
Thứ hai là nung nóng bởi từ trường, theo đó năng lượng từ được hình thành một cách liên tục bởi sự chuyển động của quang quyển và được giải phóng thông qua tái liên kết từ trường ở dạng các vết sáng Mặt Trời lớn và vô số các dạng tương tự với kích thước nhỏ hơn.
Hiện tại, chưa có câu trả lời rõ ràng rằng có phải các sóng ảnh hưởng đến cơ chế nung nóng này hay không. Tất cả các sóng trừ sóng Alfvén đã được phát hiện là tán xạ hoặc phản xạ trước khi chúng chạm đến vành nhật hoa. Thêm vào đó, các sóng Alfvén không dễ dàng tán xạ vào vành nhật hoa. Các nghiên cứu hiện tại tập trung theo hướng cơ chế nung nóng bởi các vết sáng mặt trời.
=== Sao trẻ ===
Các mô hình lý thuyết về sự phát triển của Mặt Trời cho rằng cách đây khoảng 3,8 đến 2,5 tỉ năm, vào liên đại Thái Cổ, Mặt Trời chỉ sáng bằng khoảng 75% so với hiện nay. Như một ngôi sao yếu nó không thể duy trì lượng nước ổn định trên bề Mặt Trái Đất, và sự sống đã có thể không phát triển. Tuy nhiên, các chứng cứ địa chất chứng minh rằng Trái Đất đã trải qua ở chế độ nhiệt độ tương đối ổn định trong suốt thời kỳ lịch sử của nó, và rằng Trái Đất trẻ vào thời điểm nào đó trong quá khứ đã ấm hơn hiện nay. Các cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học rằng khí quyển của Trái Đất trẻ chứa nhiều khí nhà kính (như carbon dioxide, metan và amoniac) hơn hiện tại, các khí này giữ nhiệt đủ để làm cân bằng nhiệt độ Trái Đất từ một lượng nhỏ năng lượng mặt trời đi đến Trái Đất.
=== Các dị thường hiện tại ===
Mặt Trời hiện tại đang thể hiện những bất thường theo nhiều cách.
Nó đang trong giai đoạn giữa của thời kỳ ít vết đen mặt trời bất thường, thời kỳ này kéo dài hơn và tỷ lệ các ngày không có vết đen cao hơn bình thường; từ tháng 5 năm 2008, các dự đoán về sự tăng cường hoạt động của vết đen sắp xảy ra đã bị phủ nhận.
Có thể đo đạc được độ mờ; lượng phát xạ giảm 0,02% ở các bước sóng khả kiến và 6% ở các bước sóng EUV so với các mức ở thời kỳ tối thiểu vết đen gần nhất.
Qua hai thập kỷ gần đây, vận tốc gió mặt trời giảm 3%, nhiệt độ giảm 13%, và mật độ giảm 20%.
Cường độ từ trường mặt trời giảm phân nửa so với thời kỳ thấp nhất cách đây 22 năm. Toàn bộ nhật quyển lấp đầy trong hệ Mặt Trời đã bị co lại, làm tăng độ bức xạ vũ trụ lên khí quyển Trái Đất.
== Thám hiểm Mặt Trời ==
=== Những hiểu biết trước đây ===
Hiểu biết cơ bản nhất của nhân loại về Mặt Trời đó là một đĩa sáng trong bầu trời, khi nó xuất hiện thì gọi là ban ngày, còn khi nó biến mất là ban đêm. Trong các nền văn hóa cổ đại và tiền sử, Mặt Trời được xem là thần Mặt Trời hay các hiện tượng siêu nhiên khác. Thờ cúng Mặt Trời là tâm điểm của các nền văn minh như Inca ở Nam Mỹ và Aztec thuộc México ngày nay. Một số tượng đài cổ được xây dựng với ý tưởng kết hợp với các hiện tượng liên quan đến Mặt Trời; ví dụ, các cự thạch đánh dấu một cách chính xác đông chí hoặc hạ chí (các cự thạch nổi tiếng phân bố ở Nabta Playa, Ai Cập, Mnajdra, Malta và ở Stonehenge, Anh). Vào thời kỳ La Mã, ngày sinh của Mặt Trời là ngày nghỉ để kỉ niệm Sol Invictus chỉ sau đông chí mà ngày nay gọi là Christmas. Dựa theo các sao cố định, Mặt Trời xuất hiện từ Trái Đất xoay một lần mất một năm theo mặt phẳng hoàng đạo xuyên qua mười hai chòm sao, và vì thế các nhà thiên văn học Hy Lạp cho rằng nó là một trong 7 hành tinh (Hy Lạp planetes nghĩa là "đi lang thang"), sau đó nó được đặt tên cho 7 ngày trong tuần trong một số ngôn ngữ.
=== Sư hiểu biết cùng với tiến bộ khoa học ===
==== Trước Công nguyên ====
Vào đầu thiên niên kỷ 1 TCN, các nhà thiên văn học Babylon đã quan sát thấy rằng sự chuyển động của Mặt Trời theo đường hoàng đạo là không đồng nhất, mặc dù họ không biết tại sao như thế; với kiến thức ngày nay thì đó là do Trái Đất chuyển động theo quỹ đạo elip quanh Mặt Trời, khi đó Trái Đất sẽ chuyển động nhanh hơn khi nó ở gần Mặt Trời tại điểm cận nhật và chậm hơn khi nó ở xa điểm viễn nhật.
Một trong những người tiên phong nêu ra lời giải thích khoa học về Mặt Trời là nhà triết học Hy Lạp Anaxagoras (500-428 TCN). Ông cho rằng Mặt Trời là quả cầu lửa kim loại khổng lồ, thậm chí lớn hơn Peloponnesus, và không phải là xe ngựa chariot của thần Mặt Trời Helios. Khi giảng về vấn đề dị giáo này, ông đã bị bỏ tù bởi nhà cầm quyền và bị tuyên án tử hình, mặc dù sau đó ông được phóng thích bởi sự can thiệp của Pericles. Sau đó hai thế kỷ, vào thế kỷ 3 TCN nhà toán học, thi sĩ, thiên văn học Hy Lạp Eratosthenes đã ước tính khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời vào khoảng "400 vạn và 80.0000 thước đo tầm xa (stadia)", việc giải nghĩa vẫn chưa rõ ràng, nó ám chỉ hoặc 4.080.000 stadia (755.000 km) hoặc 804.000.000 stadia (148 đến 153 triệu km); con số sau là chính xác với sai số vài phần trăm.
==== Công nguyên ====
Vào thế kỷ 1, nhà toán học, thiên văn học xứ Alexandria Ptolemy đã ước tính khoảng cách này gấp 1.210 lần bán kính Trái Đất. Vào thế kỷ 8, nhà toán học, thiên văn học người Ba Tư Yaqūb ibn Tāriq đã ước tính khoảng cách giữa Trái Đất và Mặt Trời gấp 8.000 lần bán kính Trái Đất, một con số lớn nhất về đơn vị thiên văn cho đến thời điểm đó.
Những đóng góp cho thiên văn học của người Ả rập như Albatenius phát hiện rằng hướng độ lệch tâm của Mặt Trời đang thay đổi, và Ibn Yunus quan sát hơn 10.000 vị trí của Mặt Trời trong nhiều năm bằng thiết bị đo độ cao thiên thể. Sự chuyển động của Sao Kim được Avicenna quan sát đầu tiên vào năm 1032 và ông kết luận rằng Sao Kim nằm gần Trái Đất hơn Mặt Trời, còn quan sát đầu tiên về sự chuyển động của Sao Thủy do Ibn Bajjah thực hiện vào thế kỷ 12. Nhà vật lý Ả rập, Alhazen, đã nghiên cứu các đặc điểm của ánh sáng Mặt Trời bằng các thí nghiệm với camera trong buồng tối obscura, được miêu tả trong quyển Sách quang học (1021), và đã minh họa rằng Mặt Trời là nguồn cung cấp ánh sáng cho Mặt Trăng. Để tạo nên công trình của ông vào thế kỷ 13, Qutb al-Din al-Shirazi và Theodoric của Freiberg đã đưa ra các giải thích chính xác về hiện tượng cầu vồng, còn Kamāl al-Dīn al-Fārisī đã xác nhận thông qua các thí nghiệm bằng camera obscura rằng màu sắc của hiện tượng cầu vồng là sự phân tán của ánh sáng Mặt Trời. Trong thế kỷ 13, nhà thiên văn học đạo Hồi Maghribi đã ước tính đường kính Mặt Trời khoảng 255 lần đường kính Trái Đất, con số này lớn gấp đôi con số hiện tại được chấp nhận.
==== Thuyết nhật tâm ====
Giả thuyết rằng Mặt Trời là trung tâm của quỹ đạo chuyển động của các hành tinh được Aristarchus của Samos (310-230 TCN) đưa ra vào thế kỷ 3 TCN, và sau đó Seleucus của Seleucia cũng theo thuyết này (xem thuyết Nhật tâm). Quan điểm triết học quan trọng này đã được phát triển thành mô hình toán học dự đoán một cách hoàn chỉnh về hệ nhật tâm vào thế kỷ 16 bởi Nicolaus Copernicus. Vào đầu thế kỷ 17, việc phát minh ra kính viễn vọng đã cho phép các quan sát chi tiết hơn về vết đen Mặt Trời do Thomas Harriot, Galileo Galilei và các nhà thiên văn khác thực hiện. Galileo đã thực hiện một số quan sát vết đen Mặt Trời bằng kính viễn vọng và thừa nhận rằng chúng nằm trên bề mặt của Mặt Trời hơn là các vật thể nhỏ chuyển động qua khoảng không giữa Trái Đất và Mặt Trời. Các vết đen Mặt Trời cũng được các nhà thiên văn Trung Quốc quan sát vào thời nhà Hán (206 TCN - 220 CN), họ đã duy trì ghi chép các quan sát này trong vài thế kỷ. Averroes cũng đưa ra một miêu tả về các vết đen Mặt Trời trong thế kỷ 12.
Năm 1672 Giovanni Cassini và Jean Richer xác định được khoảng cách đến Sao Hỏa và đã tính được khoảng cách đến Mặt Trời. Isaac Newton quan sát ánh sáng Mặt Trời bằng lăng kính, và thấy nó được tạo thành từ nhiều màu sắc, trong khi đó vào năm 1800 William Herschel phát hiện ra bức xạ hồng ngoại nằm gần ánh sáng đỏ trong quang phổ của Mặt Trời. Thập niên 1800 phát triển mạnh các kính quang phổ nghiên cứu về Mặt Trời, và Joseph von Fraunhofer đã thực hiện các quan sát đầu tiên về các vạch hấp thụ quang phổ, vạch mạnh nhất vẫn thường được gọi theo tên của ông là vạch Fraunhofer. Khi mở rộng dải quang phổ của sánh sáng từ Mặt Trời thì có một số màu bị mất được phát hiện.
==== Thiên văn học hiện đại ====
Vào những năm đầu tiên của kỷ nguyên khoa học hiện đại, nguồn năng lượng Mặt Trời vẫn là vấn đề còn nhiều bí ẩn. Lord Kelvin đã đề nghị rằng Mặt Trời là một vật thể lỏng đang lạnh đi một cách từ từ vì vậy nó đang phát ra nhiệt dự trữ bên trong lòng nó. Sau đó, Kelvin và Hermann von Helmholtz đưa ra cơ chế Kelvin-Helmholtz để giải thích lượng năng lượng tỏa ra này. Tuy nhiên, kết quả tính tuổi Mặt Trời chỉ có 20 triệu năm, một con số rất nhỏ so với các tính toán mà các dấu hiệu địa chất lúc đó đưa ra là ít nhất 300 triệu năm. Năm 1890 Joseph Lockyer, người đã phát hiện ra heli trong quang phổ của Mặt Trời, đã đưa ra giả thuyết thiên thạch về sự hình thành và tiến hóa của Mặt Trời.
Mãi cho đến năm 1904 thì vấn đề này mới được giải quyết. Ernest Rutherford cho rằng lượng bức xạ Mặt Trời có thể đã được duy trì bởi một nguồn nhiệt bên trong nó, và đó là hoạt động phân rã phóng xạ. Tuy nhiên, Albert Einstein là người đã đưa ra mối quan hệ giữa nguồn năng lượng phát ra từ Mặt Trời với phương trình cân bằng khối lượng-năng lượng E = mc2.
Năm 1920, Sir Arthur Eddington đề xuất rằng áp suất và nhiệt động trong lõi của Mặt Trời có thể phát sinh một phản ứng hợp hạch hạt nhân theo đó các hạt nhân hidro (proton) hợp lại tạo ra hạt nhân heli, quá trình này sinh ra năng lượng đồng thời sẽ làm giảm dần khối lượng. Lượng hdro chiếm ưu thế trong Mặt Trời được Cecilia Payne xác nhận vào năm 1925. Quan điểm lý thuyết về tổng hợp hạt nhân được các nhà vật lý thiên văn Subrahmanyan Chandrasekhar và Hans Bethe phát triển vào thập niên 1930. Hans Bethe đã tính toán chi tiết hai phản ứng sinh năng lượng chính trên Mặt Trời.
Sau cùng, một bài báo có ảnh hưởng lớn của Margaret Burbidge được xuất bản năm 1957 với tựa là "Sự tổng hợp các nguyên tố của các Sao" ("Synthesis of the Elements in Stars"). Bài báo đã minh hoạ một cách thuyết phục rằng hầu hết các nguyên tố trong vũ trụ đã và đang được tổng hợp bằng các phản ứng hạt nhân bên trong các ngôi sao, giống như Mặt Trời.
=== Các nhiệm vụ khám phá không gian ===
Các vệ tinh đầu tiên được thiết kế để giám sát Mặt Trời là Pioneer 5, 6, 7, 8 và 9 của NASA, được phóng lên trong khoảng 1959 - 1968. Các vệ tinh mang máy dò này quay quanh Mặt Trời với khoảng cách tương tự như vệ tinh bay quanh Trái Đất, và thực hiện các đo đạc chi tiết đầu tiên về gió Mặt Trời và trường từ Mặt Trời. Pioneer 9 vận hành trong thời gian tương đối dài và truyền dữ liệu về đến năm 1987.
Trong thập niên 1970, hai phi thuyền Helios và Skylab cùng với kính thiên văn Apollo cung cấp cho các nhà khoa học những dữ liệu mới về gió Mặt Trời và vành nhật hoa. Hai bộ phận thăm dò Helios 1 and 2 kết hợp giữa Hoa Kỳ và Đức cùng nghiên cứu gió Mặt Trời bay trong quỹ đạo của Sao Thủy ở điểm cận nhật. Trạm không gian Skylab được NASA phóng năm 1973 gồm các mô-đun quan sát Mặt Trời gọi là Apollo Telescope Mount, mô-đun này được vận hành bởi các nhà du hành vũ trụ định cư trên đó. Skylab đã thực hiện các quan sát thời gian đầu tiên về các cùng Mặt Trời chuyển động qua và sự phát xạ tia tử ngoại từ vành nhật hoa. Các phát hiện bao gồm các giám sát đầu tiên về sự phát xạ vật chất vành nhật hoa, còn gọi là "coronal transients", và các hố nhật hoa, ngày nay cho thấy rằng nó liên quan đến gió Mặt Trời.
Năm 1980, phi vụ Solar Maximum Mission được phóng bởi NASA. Phi thuyền này được thiết kế để giám sát các tia gamma, tia X và UV từ các vết lóa Mặt Trời trong suốt thời gian hoạt động của Mặt Trời mạnh và độ sáng Mặt Trời. Tuy nhiên, chỉ một vài tháng sau khi phóng, một sự cố về điện làm cho đầu dò chuyển sang chế độ dự phòng, và phải mất 3 tháng hoạt động ở chế độ này. Năm 1984 nhiệm vụ Space Shuttle Challenger STS-41 đã khôi phục vệ tinh và sửa hệ thống điện trước khi đưa nó trở vào quỹ đạo. Solar Maximum Mission đã cung cấp hàng ngàn tấm ảnh về vành nhật hoa trước khi trở về khí quyển Trái Đất tháng 6 năm 1989.
Một trong những chưong trình mang nhiệm vụ quan trọng là phóng "Đài quan sát Mặt Trời và nhật quyển" (SOHO-Solar and Heliospheric Observatory) vào ngày 2 tháng 12 năm 1995 do Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) và Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ (NASA) hợp tác. Soho nằm tại một điểm khá đặc biệt trong không gian, điểm Lagrange L1. Điểm Lagrange là điểm nằm giữa Trái Đất và mặt trời, cách Trái Đất chừng 1,6 triệu km, nơi có điểm trọng lực cân bằng giữa các hành tinh.
Sự giàu có của các nguyên tố trong quang quyển được biết rất rõ từ các nghiên cứu quang phổ thiên văn, nhưng thành phần bên trong Mặt Trời thì được biết ít hơn. Tàu Genesis, được thiết kế để lấy mẫu gió Mặt Trời, cho phép các nhà thiên văn có thể trực tiếp đo đạc thành phần vật chất của Mặt Trời. Nó trở lại Trái Đất năm 2004 và lẽ ra sẽ được phân tích, nhưng nó đã bị hư hại nặng khi hạ cánh do dù không mở khi đi vào bầu khí quyển của Trái Đất.
== Mặt Trời là nguồn năng lượng khổng lồ ==
Ánh sáng nói riêng, hay bức xạ điện từ nói chung, từ bề mặt của Mặt Trời được xem là nguồn năng lượng chính cho Trái Đất. Hằng số năng lượng Mặt Trời được tính bằng công suất của lượng bức xạ trực tiếp chiếu trên một đơn vị diện tích bề mặt Trái Đất; nó bằng khoảng 1370 Watt trên một mét vuông. Ánh sáng Mặt Trời bị hấp thụ một phần trên bầu khí quyển Trái Đất, nên một phần nhỏ hơn tới được bề mặt Trái Đất, gần 1.000 Watt/m² năng lượng Mặt Trời tới Trái Đất trong điều kiện trời quang đãng khi Mặt Trời ở gần thiên đỉnh. Năng lượng này có thể dùng vào các quá trình tự nhiên hay nhân tạo. Quá trình quang hợp trong cây sử dụng ánh sáng mặt trời và chuyển đổi CO2 thành ôxy và hợp chất hữu cơ, trong khi nguồn nhiệt trực tiếp là làm nóng các bình đun nước dùng năng lượng Mặt Trời, hay chuyển thành điện năng bằng các pin năng lượng Mặt Trời. Năng lượng dự trữ trong dầu mỏ và các nguồn nhiên liệu hóa thạch khác được giả định rằng là nguồn năng lượng của Mặt Trời được chuyển đổi từ xa xưa trong quá trình quang hợp và phản ứng hóa sinh của sinh vật cổ.
== Mặt Trời và tác hại đến mắt ==
Mặt Trời rất sáng, và nhìn trực tiếp vào Mặt Trời rất có hại cho mắt, nhưng không nghiêm trọng khi mắt mở bình thường hoặc không mở rộng. Nhìn trực tiếp vào Mặt Trời vào lúc trưa nắng sẽ làm cho các sắc tố quang hình trong con ngươi mất màu tạm thời, có thể tạo ra hiện tượng đom đóm mắt và mù tạm thời. Nhìn thẳng vào Mặt Trời bằng mắt trần sẽ nhận khoảng 4 miliwatt ánh sáng vào con ngươi và làm nóng lên đủ để có thể gây tác hại do mắt không phản ứng kịp trước độ sáng. Nhìn thoáng qua Mặt Trời có thể gây cảm giác khó chịu nhưng không gây hại nhiều.
Nhìn Mặt Trời thông qua các thấu kính như ống nhòm rất có hại nếu không có màn chắn hấp thụ làm mờ tia sáng. Các màng làm mờ có bán tại các cửa hàng cung cấp sản phẩm hàn và máy chụp ảnh. Sử dụng đồ lọc thích hợp rất quan trọng như làm giảm độ sáng và cản các tia hồng ngoại và cực tím có thể làm hại cho mắt ở các cấp độ sáng cao. Nhìn thẳng vào thấu kính để nhìn Mặt Trời có thể nhận khoảng 2 watt năng lượng trực tiếp vào mắt, gấp 500 lần hơn so với nhìn bằng mắt thường. Chỉ thoáng nhìn qua thấu kính mà không có đầu lọc có thể gây ra mù vĩnh viễn.
Trong hiện tượng nhật thực, điều kiện nguy hiểm có thể xảy ra đối với mắt bởi phản ứng của mắt với ánh sáng. Đồng tử được điều khiển bằng tổng ánh sáng của môi trường, không bằng ánh sáng của vật sáng nhất trong môi trường. Trong hiện tượng nhật thực, phần lớn ánh sáng bị cản lại bằng Mặt Trăng, nhưng phần ánh sáng không bị che khuất có lượng ánh sáng bằng một ngày bình thường. Trong ánh sáng mờ, đồng tử có hiện tượng giãn nở từ 2 mm đến 6 mm, tăng điện tích tiếp nhận ánh sáng gấp 10 lần. Các phần tử trên con ngươi nhận trực tiếp từ ánh sáng Mặt Trời vì thế gấp 10 lần bình thường, hay lúc không nhật thực. Nhìn trực tiếp nhật thực bằng mắt thường có thể gây ra sự hủy hoại từng phần trên võng mạc, gây ra hiện tượng mù từng đốm trên mắt. Điều này đặc biệt ảnh hưởng với trẻ em và những người không có kinh nghiệm.
Trong lúc Mặt Trời mọc hay lặn, ánh sáng bị hấp thụ một phần do khoảng đường xa tới tầng khí quyển Trái Đất, ngoài ra ánh sáng còn bị làm mờ do bụi trong không khí, sương mù và độ ẩm trong không khí góp một phần trong sự hấp thu này nên không làm cho mắt khó chịu.
== Vòng đời của Mặt Trời ==
Mặt Trời được hình thành cách đây khoảng 4,57 tỉ năm khi đám mây phân tử hydro tích tụ dần lại. Tuổi của Mặt Trời được xác định theo 2 cách: tuổi của các sao ở dãy chính mà hiện tại Mặt Trời đang thuộc về nhóm này, được xác định thông qua các mô hình máy tính của sự kiện tiến hóa sao và niên đại học phóng xạ hạt nhân vào khoảng 4,57 tỉ năm. Trong khi phương pháp định tuổi bằng đồng vị phóng xạ của các vật liệu cổ nhất từ hệ Mặt Trời vào khoảng 4,567 tỉ năm.
Mặt Trời hiện đã tồn tại nửa vòng đời của nó theo tiến hóa của các sao dãy chính, trong khi các phản ứng tổng hợp hạt nhân trong lõi của nó chuyển hydro thành heli. Mỗi giây có hơn 4 triệu tấn vật chất trong lõi của Mặt Trời được chuyển thành năng lượng, tạo ra neutrino và các dạng bức xạ năng lượng Mặt Trời. Với tốc độ này cho đến nay, Mặt Trời đã chuyển đổi khoảng 100 lần khối lượng vật chất Trái Đất thành năng lượng. Mặt Trời sẽ mất tổng cộng khoảng 10 tỷ năm để kết thúc sự tồn tại của nó trước khi trở thành sao lùn trắng.
Kết quả của sự tăng cường nguyên tử heli một cách từ từ trong lõi của Mặt Trời, độ sáng của ngôi sao này đang từ từ tăng lên. Độ sáng của Mặt Trời sẽ tăng 10% trong 1,1 tỷ năm tới, 40% sau 3,5 tỷ năm.
Mặt Trời không có khối lượng đủ lớn để kết thúc vòng đời bằng một vụ nổ tung như siêu tân tinh. Ngược lại, trong vòng 4-5 tỷ năm tới nó sẽ đi tới trạng thái sao khổng lồ đỏ của mình, diễn ra khi nguồn hiđrô trong lõi cạn kiệt. Sau đó nó bắt đầu phun trào hêli và nhiệt độ phần lõi sẽ tăng lên đến 10 triệu K và sẽ tạo ra carbon để trở thành gần như là sao khổng lồ. Các phản ứng nhiệt hạch sẽ sử dụng heli làm nguyên liệu tổng hợp nên các nguyên tố nặng hơn heli, làm cho lớp ngoài cùng của Mặt Trời sẽ giãn nở, đạt đến vị trí bên ngoài quỹ đạo Trái Đất hiện tại, 1 AU (1,5×1011 m), gấp 250 lần bán kính hiện tại của Mặt Trời. Tuy nhiên, theo thời gian, khi đạt tới gần một sao khổng lồ đỏ, Mặt Trời sẽ mất đi khoảng 30% khối lượng hiện tại do gió Sao, vì thế các quỹ đạo của các hành tinh sẽ dần chuyển động ra xa. Nếu như thế sẽ làm quỹ đạo Trái Đất dịch ra xa hơn về phía bên ngoài, ngăn không cho nó bị nhấn chìm, nhưng các nghiên cứu mới cho thấy rằng Trái Đất sẽ bị Mặt Trời "nuốt chửng" do các tương tác thủy triều.
Thậm chí nếu Trái Đất thoát khỏi ảnh hưởng của Mặt Trời, tất cả nước sẽ bị bốc hơi và hầu hết khí trong khí quyển sẽ thoát vào không gian. Trong trường hợp Mặt Trời còn nằm trong dãy chính, nó sẽ tỏa sáng hơn một cách dần dần (khoảng 10% mỗi một tỉ năm), và nhiệt độ bề mặt của nó sẽ tăng một cách chậm chạp. Mặt Trời từng là một ngôi sao mờ nhạt trong quá khứ của nó, đó cũng là lý do có thể hợp lý để giải thích sự sống trên Trái Đất chỉ tồn tại khoảng 1 tỉ năm trên đất liền. Nhiệt độ Mặt Trời gia tăng đã diễn ra trong khoảng 1 tỉ năm, bề mặt Trái Đất sẽ trở nên rất nóng để nước có thể tồn tại ở dạng lỏng và kết thúc tất cả sự sống Trái Đất.
Sau giai đoạn đỏ khổng lồ, các xung nhiệt khổng lồ sẽ làm cho Mặt Trời phun ra các lớp bên ngoài của nó để tạo ra tinh vân. Mặt Trời sau đó sẽ trở thành sao lùn trắng, nguội dần đi vĩnh viễn. Kịch bản tiến hóa sao này là rất điển hình đối với những sao có khối lượng thấp đến trung bình.
=== Thời gian biểu tiến hóa sao của Mặt Trời và hệ Mặt Trời ===
Lấy mốc điểm khởi đầu hình thành hệ Mặt Trời khi sự nén ép trọng lực của tinh vân mặt trời tăng lên cách đây 5 tỉ năm.
Tiền Mặt Trời: kéo dài từ hàng tỉ năm đến 50 triệu năm trước khi hình thành hệ Mặt Trời. Các đám mây tích tụ lại trong vùng bán kính 20 parsec.
Hình thành Mặt Trời:
0 - 0,1x106 năm: Loạt bức xạ siêu tân tinh lân cận kích hoạt tạo ra các vùng đậm đặc vật chất trong đám mây phân tử
0,1x106 - 50x106 năm: Mặt Trời lúc này có dạng khởi thủy sao T-Tauri
0,1x106 - 10x106 năm: Hình thành các dạng đĩa tiền hành tinh của các hành tinh vòng ngoài, là sự tự tụ tập lại của vật chất phía diềm ngoài tinh vân Mặt Trời. Mặt Trời đặc lại và nóng lên, gió Mặt Trời thổi dạt các luồng khí liên hành tinh.
10x106 - 100x106 triệu năm: Hình thành các hành tinh kiểu đất đá vòng trong. Xuất hiện các va chạm lớn. Nước hình thành trên Trái Đất
Tiến trình chính: Mặt Trời bắt đầu ổn định
200x106 năm: Đá cổ xưa nhất trên Trái Đất (đã quan sát thấy) hình thành.
500 - 600x106 năm: Cộng hưởng hấp dẫn do Sao Mộc và Sao Thổ đã kéo Sao Hải Vương về phía đĩa Kuiper. Một loạt các vụ va chạm giữa các thiên thể đã xảy ra thời kỳ này
800x106 năm: Mầm mống sự sống xuất hiện trên Trái Đất.
4,7 tỉ năm: Là giai đoạn ổn định hiện tại, với sự tăng cường độ sáng và nhiệt độ của Mặt Trời khoảng 10% mỗi tỉ năm.
6 tỉ năm: Biên bề mặt Mặt Trời có thể mở rộng vượt quá quỹ đạo Trái Đất tới quỹ đạo Sao Hỏa.
7 tỉ năm: Thiên hà Andromeda tiến dần về Ngân Hà và xuất hiện khả năng dù nhỏ có thể sẽ hút hệ Mặt Trời trước khi hai thiên hà hòa nhập.
Hậu tiến trình chính, từ năm 10 tỉ - 12 tỉ: Giai đoạn sao khổng lồ đỏ theo tiến trình Hertzsprung-Russell.
10 - 12 tỉ năm: Mặt Trời bắt đầu bước vào quá trình đốt cháy hydro ở lớp ngoài lõi. Kể từ thời điểm này, nó đã không còn thuộc nhóm các ngôi sao thuộc dãy chính nữa. Mặt Trời dần biến thành một sao khổng lồ đỏ theo hệ thống tiến trình Hertzsprung-Russell và tỏa sáng hơn gấp nhiều lần (độ sáng có thể gấp tới 2700 lần hiện tại), lớn hơn nhiều (bán kính tăng lên gấp 250 lần) và nguội đi (còn khoảng 2726,85 K). Với kích thước cực kì lớn, Mặt Trời sẽ nuốt trọn Sao Thủy và có thể cả Sao Kim và Trái Đất.
Tới giai đoạn này, sau khi đã sử dụng hết hydro, Mặt Trời phải đốt tiếp heli để duy trì sự tồn tại. Nó dần dần trở thành một sao khổng lồ mặc dù đã mất đi 30% khối lượng so với thời kì cực thịnh. Tiếp theo đó, Mặt Trời đi đến giai đoạn bùng nổ, phun ra xung quanh một lượng lớn vật chất dưới dạng ion hóa và plasma. Lõi của nó sẽ trở thành một sao lùn trắng
Tàn dư: Giai đoạn sao lùn trắng
Ngoài 12 tỉ năm: Sao lùn trắng cạn kiệt dần năng lượng, nguội đi và trở thành sao lùn đen
Ngoài 100 nghìn tỉ năm: Mặt Trời hạ nhiệt độ xuống chỉ còn vài độ K. Toàn bộ hệ Mặt Trời tham gia vào khối vật chất tối của vũ trụ
== Trong văn hóa ==
Trong một số ngôn ngữ đông Á, Mặt Trời được viết là 日 (tiếng Trung, phiên âm pinyin rì hoặc tiếng Nhật nichi) hay 太阳 (giản thể)/太陽 (phồn thể) (pinyin tài yáng hay tiếng Nhật taiyō). Trong tiếng Việt, phiên âm Hán Việt của chữ này là nhật và thái dương. Mặt Trăng và Mặt Trời còn liên quan đến âm dương, với Mặt Trăng tượng trưng cho âm và Mặt Trời tượng trưng cho dương với ý nghĩa trái ngược nhau. Mặt Trời đại diện cho lực lượng diệt trừ ma quỷ. Các ma cà rồng hầu hết đều bị sợ ánh sáng Mặt Trời.
Cũng giống như các hiện tượng tự nhiên khác, Mặt Trời là đối tượng được đề cập nhiều trong các nền văn hóa trong suốt lịch sử nhân loại và cũng là từ gốc xuất xứ của từ sunday (chủ nhật).
== Xem thêm ==
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
=== Danh mục tài liệu ===
Phillips, Kenneth J. H. (1995), Guide to the Sun, Nhà in Đại học Cambridge, ISBN 9780521397889
Zirker, Jack B. (2002). Journey from the Center of the Sun. Nhà in Đại học Princeton. ISBN 9780691057811.
== Liên kết ngoài ==
=== Tiếng Anh ===
Mặt Trời tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Current SOHO snapshots: The Very Latest SOHO Images
NASA Eclipse Web Site 2013
Eric Weisstein's World of Astronomy - Sun
National Solar Observatory
Ep. 30: The Sun, Spots and All
Looking Into the Sun – slideshow by Life magazine
The Sun - Photos - The Big Picture - Boston.com
Satellite observations of solar luminosity
Sun|Trek, an educational website about the Sun
The Institute for Solar Physics
An animated explanation of the structure of the Sun (University of Glamorgan)
The Future of our sun
Solar Conveyor Belt Speeds Up – NASA – images, link to report on Science
Solar physics
=== Tiếng Việt ===
Mặt Trời tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Mặt Trời cũng quay quanh chính nó KH & ĐS (Theo Le Monde), VnExpress cập nhật 3/4/2003
10 phát hiện vũ trụ quan trọng nhất |
hàn ốc.txt | Hàn Ốc hay Hàn Ác (chữ Hán: 韓偓, 844-923), tự: Trí Nghiêu (致堯), tiểu tự: Đông Lang (冬郎), hiệu: Ngọc Tiều Sơn Nhân (玉樵山人); là quan lại và là nhà thơ Trung Quốc thời Vãn Đường.
== Tiểu sử ==
Hàn Ốc là người Vạn Niên, nay thuộc ngoại ô thị trấn Tây An, tỉnh Thiểm Tây.
Cha ông là Hàn Chiêm, là anh em bạn rể với nhà thơ Lý Thương Ẩn.
Năm 10 tuổi, Hàn Ốc đã nổi tiếng về tài thơ, từng được Lý Thương Ẩn khen ngợi .
Năm 889 đời Đường Chiêu Tông (ở ngôi: 888-904), Hàn Ốc thi đỗ Tiến sĩ, làm quan trải các chức: Gián nghị đại phu, Hàn lâm học sĩ, Binh bộ thị lang. Sau vì không theo phe của quyền thần Chu Toàn Trung (tức Chu Ôn), nên bị giáng chức làm Tư mã Bộc Châu.
Đến đời Đường Ai Đế (ở ngôi: 904-907), có chiếu cho Hàn Ốc phục hồi chức cũ, nhưng ông không dám về triều. Ông mang qia quyến vào đất Mân (Phúc Kiến), nương nhờ Vương Thẩm cho đến khi mất (932), thọ 79 tuổi.
Tác phẩm của Hàn Ốc có Hàn lâm tập và Hương liễm tập.
== Sự nghiệp văn chương ==
Trong Hàn lâm tập, có một số bài phản ánh và cảm thương trước thời thế loạn ly. Xen vào đó, là tư tưởng hàm ân và trung quân của ông đối với nhà Đường.
Song, tập thơ mà ông đã bỏ công nhiều công sức, và được nhiều người chú ý nhất, đó là Hương liễm tập, có nghĩa là "thơ phấn hương". Nội dung của tập thơ này đa phần mô tả chuyện trai gái nhớ nhung, tương tư, thậm chí mô tả chuyện ái ân; hoặc là mô tả sự sầu não, cô đơn, và nhất là sự ức chế tình cảm (cũng như tình dục) của người đàn bà. Các bài như "Ngũ canh" (Năm canh), "Khuê tình" (Tình trong phòng khuê), "Áp hoa lạc" (Ép hoa rụng), "Trù trướng" (Buồn bã), Kế tông (Bới tóc), Ư tự (Mối sầu), "Trú tẩm" (Ngủ ngày), "Ngẫu kiến bối diện, thị tịch kiêm mộng" (Vô tình thấy phía sau mà đêm về mộng tưởng)...đã nói lên điều đó. So với các thi nhân thời bấy giờ, quả là ông đã vượt hẳn khỏi vòng kiềm tỏa của khuôn sáo cũ, mở một lối đi cho riêng mình, với một chủ đề thơ mới lạ và táo bạo .
== Giới thiệu thơ ==
Giới thiệu ba trong số bài thơ tiêu biểu trong Hương Liễm tập của Hàn Ốc.
== Sách tham khảo ==
Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc biên soạn, Lịch sử văn học Trung Quốc (Tập II), Bản dịch do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành năm 1993.
Dịch Quân Tả, Văn học sử Trung Quốc(Quyển I). Nhà xuất bản Trẻ, 1992.
== Chú thích == |
lãnh thổ châu nam cực thuộc úc.txt | Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Úc (Australian Antarctic Territory) là một phần của châu Nam Cực. Vương quốc Anh từng đòi chủ quyền khu vực này và đặt dưới quyền điều hành của Thịnh vượng chung Úc năm 1933. Đây là lãnh thổ lớn nhất ở Nam Cực bị đòi chủ quyền. Từ khi Hiệp ước Nam Cực có hiệu lực năm 1961, Điều 1 nêu rõ "Hiệp ước không công nhận, tranh cãi hay xác lập bất cứ yêu cầu chủ quyền lãnh thổ nào, sẽ không có yêu cầu lãnh thổ nào được xác nhận khi hiệp ước còn hiệu lực", hầu hết các quốc gia trên thế giới không công nhận những đòi hỏi lãnh thổ ở Nam Cực của bất cứ quốc gia nào.
== Phân chia hành chính ==
Lãnh thổ này được chia thành 9 quận, bao gồm:
== Chủ quyền ==
Yêu cầu đòi chủ quyền của Úc đối với Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Úc chỉ được bốn quốc gia công nhận gồm Vương quốc Anh, New Zealand, Pháp và Na Uy. Trong các quốc gia không công nhận đòi hỏi chủ quyền của Úc đáng chú ý có Nhật Bản. Nhật Bản cũng không công nhận đòi hỏi chủ quyền của Úc đối với vùng biển thuộc Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Úc - nơi mà Nhật Bản thực hiện việc đánh bắt cá voi.
== Chú thích ==
== Liên kết ==
Tiếng Anh:
Australian Antarctic Division
PDF-Map of the AAT
Australian Antarctic Gazetteer
Russian stations |
the daily telegraph.txt | The Daily Telegraph là một nhật báo khổ rộng phát hành buổi sáng hàng ngày tại Vương quốc Anh và nhiều quốc gia khác. Tờ báo được Colonel Arthur B. Sleigh thành lập tháng 6 năm 1855 với cái tên Daily Telegraph and Courier, hiện nay thời báo này thuộc sở hữu của David và Frederick Barclay.
Tính đến tháng 1 năm 2009, The Daily Telegraph là tờ báo bán chạy nhất trong các thời báo khổ rộng ở Anh, với lượng phát hành hàng ngày đạt 842,912 bản, cao hơn lượng phát hành của The Times, The Guardian và The Independent. Theo điều tra của MORI, độc giả của tờ báo này có xu hướng ủng hộ Đảng Bảo thủ trong các cuộc bầu cử.
== Chú thích ==
== Liên kết ==
Telegraph.co.uk
The digital edition of The Telegraph
Leaping into the future at the Telegraph's Camelot – from The Guardian
The Guardian: The plight of Hollinger
BBC: Telegraph empire in tycoons' grip – 18 Jan 2004
'Daily Telegraph "will not be the house organ of the Conservatives"' – from BBC News Online
The continuing takeover saga – from BBC News ngày 7 tháng 3 năm 2004 |
mặt trận dân tộc giải phóng miền nam việt nam.txt | Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (tài liệu Mỹ và phương Tây thường gọi là Việt Cộng) là một tổ chức liên minh chính trị, dân tộc chủ nghĩa cánh tả, hoạt động chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.
Đây là tổ chức kế thừa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Mặt trận của cả nước từ Bắc đến Nam) ở miền Nam (được công nhận bởi các tài liệu sau năm 1975) nhằm chống lại Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy trong phong trào Đồng khởi ở miền Nam ra đời. Chủ trương của Mặt trận là: "Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới.".
Tổ chức này được thành lập dưới sự hậu thuẫn và được hỗ trợ tài chính, thiết bị và nhân sự bởi nhiều bộ phận dân cư tại miền Nam Việt Nam cũng như của chính phủ và quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tồn tại như một chính thể và Ủy ban Trung ương hoạt động như là một chính phủ lâm thời, đại diện cho các vùng thuộc quyền kiểm soát, quản lý các vùng do Mặt trận quản lý. Ban đầu, những người hoạt động trong lĩnh vực dân sự và chính trị Việt Minh vẫn được ở lại miền Nam để tham gia Tổng tuyển cử thống nhất đất nước được dự kiến diễn ra trong năm 1957 (Hiệp định Geneve quy định chỉ tập kết quân sự là bắt buộc, lực lượng chính trị ở nguyên tại chỗ để chuẩn bị Tổng tuyển cử). Tuy nhiên, phía chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành đàn áp những người Việt Minh và ủng hộ Việt Minh. Để phản kháng, các lực lượng Việt Minh tổ chức Phong trào Đồng khởi. Sau này, do yêu cầu về việc huy động các thành phần phi cộng sản nhưng yêu nước, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Việc thành lập đã tạo vị thế mới cho lực lượng cách mạng ở miền Nam Việt Nam.
Mặt trận liên tục tổ chức, lãnh đạo các hoạt động nhằm chống lại sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh, đánh đổ chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Để thực hiện mục đích đó, Quân Giải phóng Miền Nam đã được thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1961, do Trung ương cục miền Nam lãnh đạo, sau đó gia nhập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Quân Giải phóng Miền Nam đã thực hiện chiến tranh nhân dân chống lại chính quyền Sài Gòn, với chi viện về vũ khí và người từ miền Bắc.
Trước 1975, Mặt trận tuyên bố là tổ chức hoạt động độc lập, song cũng công nhận tuyên bố chủ quyền trên cả nước của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tại tuyên ngôn độc lập năm 1945), cho đến khi Cộng hòa Miền nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở miền Nam năm 1969. Từ 31 tháng 1 năm 1977, tổ chức này sát nhập hoàn toàn với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ngày nay Nhà nước Việt Nam khẳng định Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các mặt trận trước đó và sau này là các tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện các nhiệm vụ đoàn kết toàn dân dưới lá cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam để đạt mục tiêu chính trị do Đảng đề ra.
== Tên gọi khác ==
Phía Việt Nam Cộng hòa và Hoa Kỳ thường gọi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là Việt Cộng (viết tắt của "Việt Nam Cộng sản") hay VC (phát âm là vi-xi theo tiếng Anh). Ngoài ra Quân đội Hoa Kỳ còn gọi tổ chức này là Victor Charlie ('Victor' và 'Charlie' và hai chữ cái đại diện cho V và C trong Bảng phiên âm chữ cái NATO) hay đơn giản chỉ là Charlie. Sau này thuật ngữ Charlie được mở rộng ra ám chỉ lực lượng Cộng sản nói chung ở cả Bắc và Nam Việt Nam.
== Bối cảnh chính trị - xã hội ==
Theo nhận định của người Mỹ, theo Hiệp định Genève, 190.000 quân của Quân đội viễn chinh Pháp, và 900.000 thường dân cùng quân đội Quốc gia Việt Nam di chuyển từ miền Bắc Việt Nam để vào miền Nam Việt Nam; bộ đội Việt Minh và các cộng sự kháng chiến, con em của quê hương họ... tổng số trên 140.000 người được tập kết ra bắc. Với chính quyền Ngô Đình Diệm, việc một số lượng lớn người vào Nam là một thành công lớn, coi như bằng chứng phản kháng chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bằng chứng thuyết phục được người Mỹ, thứ hai lực lượng này sẽ hỗ trợ cho chính quyền của ông. Sau đó những người di cư nhận được viện trợ của Mỹ còn cao hơn dân địa phương (100 USD, cao hơn thu nhập bình quân hàng năm của người miền Nam).
Hiệp định Genève dẫn đến Việt Nam tạm thời bị phân chia thành hai vùng tập trung quân sự. Miền Bắc đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại miền Nam, với sự hậu thuẫn của người Mỹ, Thủ tướng Ngô Đình Diệm của chính phủ Quốc gia Việt Nam đã thực hiện cuộc trưng cầu dân ý để phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.
Theo nhận định của Mỹ, Ngô Đình Diệm trong một thời gian ngắn đã làm được nhiều hơn mong đợi, lên nắm quyền trong vòng 10 tháng vượt qua các cuộc đảo chính, ổn định tình hình, thành lập một nhà nước có chủ quyền vào năm 1955 được 36 quốc gia công nhận, soạn thảo một hiến pháp mới, và mở rộng kiểm soát Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tới các khu vực được Việt Minh kiểm soát trong suốt Chiến tranh Đông Dương... Theo ước tính của Pháp, vào năm 1954, Việt Minh kiểm soát 60% - 90% nông thôn miền Nam Việt Nam.
Tháng 1-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố tẩy chay bầu cử Hiệp định Genève, với lý do ông đưa ra là không thể có bầu cử tự do tại miền Bắc được cai trị bởi "nhà nước cảnh sát". Ông không loại trừ khả năng thống nhất đất nước trong hòa bình và dân chủ với điều kiện bầu cử không có sự cưỡng ép hay đe dọa cử tri.
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhiều lần đã cố gắng đề nghị Chính phủ Việt Nam Cộng hoà trong tháng 7 năm 1955, tháng 5 và tháng 6 năm 1956, 1958, tháng 7 năm 1959, và tháng 7 năm 1960, đề xuất tham vấn đàm phán "các cuộc bầu cử tự do chung bằng cách bỏ phiếu kín" và tự do hóa quan hệ Bắc-Nam nói chung. Chính phủ Việt Nam Cộng hoà hoặc từ chối, hoặc im lặng.
Chính phủ Mỹ cũng cho rằng so với thời những nguồn tin khác nhau chỉ ra cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy 80% dân chúng sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh thì sự chênh lệch này sẽ được rút ngắn lại do ông Ngô Đình Diệm đã đạt được một số thành công, trong khi Miền Bắc đang gặp nhiều khó khăn do khan hiếm lương thực và mất uy tín sau cải cách ruộng đất được tướng Giáp thừa nhận (dẫn đến một cuộc bạo động của nông dân Công giáo tháng 11 năm 1956).
Tuy nhiên sự thật các cải cách của ông kéo theo các biện pháp áp bức. Ông nắm quyền khi mà ngoài Sài Gòn và các vùng phụ cận, miền Nam Việt Nam được phân chia thành các vùng đất do Việt Minh kiểm soát và lãnh địa các giáo phái "thần quyền" như Cao Đài và Hòa Hảo. Ông chống lại bất đồng chính kiến, và đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối cá nhân với các quan chức hàng đầu. Tài liệu của Mỹ cũng cho biết Ngô Đình Diệm là một người Công giáo bảo thủ. Ngô Đình Diệm lúc đầu đã được chào đón nồng nhiệt trong một số người từng là thành viên Việt Minh. Nhưng chương trình cải cách điền địa của ông thất bại và dừng lại năm 1959.
Trong tháng 6 năm 1956, Ngô Đình Diệm hủy bỏ cuộc bầu cử hội đồng làng, có vẻ như vì lo ngại rằng một số lượng lớn Việt Minh có thể giành chiến thắng, thay vào đó là các quan chức Chính phủ bổ nhiệm, là người miền Bắc, Công giáo hoặc thân cận. Năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiết lộ rằng khoảng 15.000-20.000 người cộng sản đã bị giam giữ trong các "trại tập trung chính trị", trong khi Devillers đưa ra con số 50.000 người.
Tháng ba năm 1958, sau một bài xã luận "ăn da", chính phủ Ngô Đình Diệm đóng cửa các tờ báo lớn nhất ở Sài Gòn. Mùa xuân năm 1960, một nhóm các nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa không cộng sản đến với nhau - ban hành Tuyên ngôn Caravelle, một cuộc biểu tình bất bình chống chế độ Ngô Đình Diệm. Chính sách của Ngô Đình Diệm hầu như đảm bảo rằng những thách thức chính trị với ông ta sẽ bị liệt nằm ngoài luật pháp. Cuối cùng, những cuộc nổi dậy từ các lực lượng ở miền Nam Việt Nam như lực lượng vũ trang cộng sản, các giáo phái tôn giáo, và nông dân vũ trang. Đến năm 1958, khoảng 1/3 tỉnh trưởng là sĩ quan quân đội, đến năm 1960, đã tăng lên đến gần 2/3; 1962, 7/8 của tất cả các tỉnh đã được lãnh đạo bởi các sĩ quan. Ông lập luận các mối đe dọa từ những người cộng sản để biện minh cho sự tập trung của mình về an ninh nội bộ.
Người Mỹ cũng nhận thức được sự yếu kém của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Theo nhận định của người Mỹ, Mỹ cũng thấy được sự vỡ mộng "đặc biệt là ở các tầng lớp có học", sự "bất mãn trong các sĩ quan quân đội", "nỗ lực của chế độ bảo đảm an ninh nội bộ khi cho rằng một chính phủ độc tài là cần thiết để xử lý các vấn đề của đất nước sẽ dẫn đến một áp lực liên tục của các yếu tố đối lập tiềm năng", "trong một khoảng thời gian dài, sự tích tụ bất bình giữa các nhóm khác nhau và các cá nhân có thể dẫn đến sự phát triển của phong trào đối kháng quốc gia"... Mỹ thấy cần ủng hộ việc thành lập một chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam, không phân biệt thành phần.
Hội đồng an ninh quốc gia của Mỹ đưa ra quan điểm "Hỗ trợ miễn phí Việt Nam để phát triển một chính phủ mạnh mẽ, ổn định, và hiến pháp để cho phép Việt Nam Tự Do, để khẳng định một sự tương phản ngày càng hấp dẫn đối với các điều kiện trong vùng Cộng sản hiện nay". Từ năm tài chính 1946 - năm tài chính 1961, Việt Nam đứng thứ ba bảng xếp hạng nước ngoài NATO được Mỹ hỗ trợ, và trên toàn thế giới xếp thứ bảy. 75% viện trợ kinh tế của Mỹ cung cấp trong cùng thời kỳ đã đi vào ngân sách quân sự của Chính phủ Việt Nam, và nhiều dự án ngoài quân sự đã lọt vào chi tiêu phục vụ quân sự. Tuy nhiên can thiệp của Mỹ ngày càng tăng vào chính phủ Việt Nam Cộng hòa dẫn đến việc Tổng thống Ngô Đình Diệm lên tiếng phản đối.
Hoa Kỳ ước tính được khuyết tật do sự phụ thuộc của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa vào viện trợ của Hoa Kỳ để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, vào các làng ở nông thôn. Có những bằng chứng tích lũy đủ để khẳng định nông dân oán giận chống lại Ngô Đình Diệm. Khi Kennedy nhậm chức 1960, 90% dân chúng nông thôn "tàn tạ và ốm yếu".
Theo Hoa Kỳ, Tuyên ngôn của Mặt trận tháng 12 năm 1960 đánh vào sự bất mãn này trong dân chúng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng dùng khẩu hiệu lăng nhục Ngô Đình Diệm (Mỹ-Diệm) do đó giành lại sự thần bí của chủ nghĩa dân tộc trong Chiến tranh Đông Dương, kết hợp tâm lý bài ngoại tự nhiên của nông thôn Việt Nam. Hoa Kỳ bị xem là đáng khiển trách như một lực lượng hiện đại hóa một xã hội hoàn toàn truyền thống, như kẻ cung cấp vũ khí và tiền bạc cho một chính phủ đáng ghét, như là một người nước ngoài phá hoại hy vọng giải quyết vấn đề thống nhất đất nước bằng Hiệp định Genève, 1954 và nhất là như một kẻ xâm lược muốn biến Việt Nam thành thuộc địa như người Pháp. Còn các quan chức địa phương thì "tham nhũng và tàn bạo" trong khi "Ngô Đình Diệm hứa nông dân nhiều, giao ít".
Trong chương trình di dân từ ven biển lên Tây Nguyên, chỉ có 2% người dân miền Nam Việt Nam, đã hấp thụ 50% viện trợ cho nông nghiệp của Hoa Kỳ, và gây bất bình cho các tộc người Tây Nguyên. Tuy nhiên thất vọng và gây bất bình nhất là các "Ấp chiến lược". Ông Ngô Đình Diệm đã sai lầm khi lên án tất cả những người dân tộc chủ nghĩa không ủng hộ Diệm như là công cụ của Bảo Đại hay Pháp.
Chính tất cả những điều này đã kích thích các phong trào đấu tranh hòa bình đòi thống nhất đất nước của dân chúng ở miền Nam. Tuy nhiên, tất cả đều bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa đàn áp, nhất là những người Cộng sản và Việt Minh cũ còn ở lại miền Nam, những người mà Tổng thống Ngô Đình Diệm cho là đối thủ tiềm tàng nguy hiểm nhất. Bị đàn áp, những người cộng sản miền Nam cùng với những đồng minh của mình tập hợp và tổ chức ra có một số tổ chức vũ trang, bán vũ trang để chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa một cách tự phát. Từ giữa 1957, những người cộng sản miền Nam đã áp dụng chiến thuật du kích phù hợp học thuyết quân sự Mao - Giáp.
Việt Nam Cộng hòa lệ thuộc quá nhiều vào Mỹ. Chính sách kinh tế của họ tuy có một số ưu điểm khuyến khích kinh tế phát triển nhưng hố sâu phân hóa xã hội lớn, cùng với việc chia lại ruộng đất, mà phần lớn đã được chính quyền Việt Minh tại miền Nam chia cho các nông dân nghèo, nay lại tập trung lại cho các địa chủ cũ. Trong khi đó, những người cộng sản đã tham gia đấu tranh giành độc lập, uy tín có được từ thời tiền cách mạng, Cách mạng Tháng Tám và Kháng chiến chống Pháp. Điều này đã hướng nhiều người dân tin tưởng vào người cộng sản.
Ngoài ra thì sự phân chia đất nước khiến cho nhiều gia đình phân ly, những người có tinh thần dân tộc cũng bất bình. Do vậy, những người cách mạng ở miền Nam đã ủng hộ cho giải pháp khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi Hội nghị Trung ương 15 của Đảng Lao động tháng 1 năm 1959 tán thành khởi nghĩa ở miền Nam, phong trào cách mạng có biến chuyển. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không muốn can thiệp trực tiếp vào tình hình miền Nam, trong khi vấn đề cấp bách là cần có một lực lượng có chính sách độc lập chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Từ nhu cầu đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.
== Lịch sử ==
=== Thành lập ===
Dự định thành lập Mặt trận được công khai nói đến lần đầu tiên trong Đại hội toàn quốc lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam. Tại đại hội, Tôn Đức Thắng đã nói rằng Mặt trận sẽ được dựa trên các khái niệm của Lenin về liên minh 4 giai cấp, nhưng để phù hợp với sự phức tạp của xã hội miền Nam, Mặt trận cần bao gồm cả các nhóm tôn giáo và dân tộc khác nhau; mục tiêu đấu tranh của Mặt trận phải rộng để kêu gọi được đông đảo quần chúng; Mặt trận cần nhấn mạnh các chủ trương dân tộc và cải cách, đặt ra mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. Cũng như tiền thân Việt Minh của nó, Mặt trận mới này sẽ cần được tổ chức thành nhiều cấp, từ ủy ban trung ương đến các tổ chức ở cấp làng; chủ nghĩa cộng sản sẽ không được nói đến .
Theo Nghị quyết Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam, được đăng tải trên báo Nhân dân khi đó "nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới... Để bảo đảm cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam giành được toàn thắng, đồng bào ta ở miền Nam cần ra sức xây dựng khối công nông binh liên hợp và thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm lấy liên minh công nông làm cơ sở. Mặt trận này phải đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số, các đảng phái yêu nước và các tôn giáo, và tất cả những người có khuynh hướng chống Mỹ - Diệm. Mục tiêu phấn đấu của mặt trận này là hòa bình, độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình thống nhất Tổ quốc. Công tác mặt trận phải nhằm đoàn kết tất cả những lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ lực lượng nào có thể tranh thủ, trung lập những thế lực cần phải trung lập, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân vào phong trào đấu tranh chung chống Mỹ - Diệm nhằm giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc. Nghị quyết của Đảng cũng nêu rõ: "Mục đích của Đảng là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam" (nghĩa là không xuất khẩu cách mạng sang các nước khác, và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là cách mạng dân tộc dân chủ, chứ chưa quyết định về đường lối xây dựng Chủ nghĩa xã hội).
Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương Cục miền Nam. Những người Cộng sản miền Nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận. Trung ương Cục Miền Nam là tổ chức đại diện Đảng Lao động trong Nam, hoạt động bí mật (đến 1969 công khai), thời kỳ chiến tranh không công khai về vai trò chỉ đạo (trong khi Đảng Nhân dân Cách mạng là đảng hoạt động công khai), trực tiếp chỉ đạo hay phối hợp với Trung ương Mặt trận - Chính phủ, với Ban dân vận Trung ương Cục (phụ trách dân vận - mặt trận - chính quyền) là cầu nối. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt đại diện tại căn cứ địa của Mặt trận (và Chính phủ cách mạng sau này), và Mặt trận (Chính phủ cách mạng lâm thời) đặt đại diện tại Hà Nội.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của mình ở tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương. Các phương tiện truyền thông miền Bắc ban đầu không nhắc đến vai trò của Đảng Lao động và chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong thành lập Mặt trận, chỉ hoan nghênh Mặt trận được thành lập, trong khi Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam công khai "Đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ -Diệm, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam" (Lúc này, Việt Nam Dân chủ cộng hòa vẫn gửi điện cho Ủy ban quốc tế tố cáo chính quyền miền Nam Việt Nam vi phạm điều 14(c) Hiệp nghị Giơnevơ).
Từ khi ra đời, Mặt trận được tổ chức để thu hút tất cả các nhà hoạt động chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả những người theo chủ nghĩa cộng sản, với mục tiêu kết nối tất cả những người đối nghịch với "Mỹ Diệm". Trên danh nghĩa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một phong trào giải phóng, liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng nhưng không độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, số thành viên của nó tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người.
Ngày 15-12-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, mặt trận đã làm lễ kết nạp Lực lượng võ trang giải phóng là thành viên chính thức. Tại cuộc mít-tinh này, Ban tổ chức đã giới thiệu đoàn chủ tịch (cũng là bộ phận lâm thời công khai của mặt trận) gồm các vị: Bác sĩ Phùng Văn Cung thay mặt giới trí thức Sài Gòn; Ông Nguyễn Văn Linh thay mặt Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam; Ông Ung Ngọc Ky thay mặt Đảng dân chủ Việt Nam; Ông Nguyễn Văn Hiếu thay mặt Đảng xã hội cấp tiến Việt Nam; Ông Lê Thanh thay mặt Lực lượng quân giải phóng. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận là Nguyễn Hữu Thọ (1961).
=== Đại hội lần I ===
Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16 tháng 2 năm 1962 tại Tân Biên (Tây Ninh) chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybih Aleo, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, và Nguyễn Văn Hiếu là Tổng thư ký Mặt trận. Ủy viên Đoàn Chủ tịch gồm có: Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế, Trần Bửu Kiếm, bà Nguyễn Thị Định, Hòa thượng Thích Thượng Hào, Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, ông Đặng Trần Thi.
Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm" với mục tiêu đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam đấu tranh nhằm đánh Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tiến tới sự thống nhất của Việt Nam. Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài "Giải phóng miền Nam" làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận...
Chương trình của Mặt trận: "Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã chiến đấu không ngừng cho độc lập và tự do của Tổ quốc. Năm 1945, đồng bào cả nước đã đứng lên đánh đổ Nhật - Pháp giành chính quyền và đã anh dũng kháng chiến 9 năm, đánh bại xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, đưa cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc ta đến thắng lợi vẻ vang.Tại hội nghị Giơ ne vơ tháng 7-1954, đế quốc Pháp buộc phải cam kết rút quân khỏi Việt Nam và các nước tham dự hội nghị đều trịnh trọng tuyên bố công nhận chủ quyền, độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam... Vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc, quyết phấn đấu đến cùng cho những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thuận theo trào lưu tiến bộ của thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời.Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở miền Nam Việt Nam không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất tổ quốc...Vì hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc, vì vận mạng của dân tộc, vì đời sống của chúng ta, vì tương lai của ta và con cháu ta. Tất cả hãy đứng lên !Tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy xiết chặt hàng ngũ, tiến lên chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam để đánh đổ ách thống trị tàn ác của đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm để cứu nước, cứu nhà.
Chúng ta nhất định thắng, vì lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là lực lượng vô địch, vì chính nghĩa thuộc về chúng ta, vì chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời ngày nay đang tan rã và đi tới diệt vong. Trên thế giới, phong trào hoà bình dân chủ, độc lập dân tộc đang phát triển rộng rãi, mạnh mẽ và ngày càng thu được nhiều thắng lợi mới. Tình hình đó hết sức thuận lợi cho sự nghiệp cứu nước cứu nhà của chúng ta. Đế quốc Mỹ và tay sai của Mỹ nhất định sẽ thất bại! Sự nghiệp giải phóng dân tộc ở miền Nam Việt Nam nhất định sẽ thành công! Hãy đoàn kết, tin tưởng và phấn đấu anh dũng ! Tiến lên giành lấy thắng lợi huy hoàng cho dân tộc ta, cho Tổ quốc ta."
=== Đại hội lần II ===
Ngày 1-11-1964, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội lần thứ 2. Có 150 đại biểu tham dự. Đoàn Chủ tịch Mặt trận được bầu gồm có: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ - đại diện liên minh các đảng yêu nước, Phó chủ tịch: Abil Aleo - đại diện những người Tin Lành yêu nước, người dân tộc Êđê, chủ tịch Phong trào tự trị các dân tộc Tây Nguyên, Phùng Văn Cung - đại diện liên minh các đảng yêu nước, Võ Chí Công - chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng VN, Huỳnh Tấn Phát - Tổng thư ký Đảng Dân chủ, Thích Thơm Mê Thế Nhêm - đại diện người Khmer yêu nước (mất 1966), Trần Nam Trung - đại diện Quân giải phóng Miền Nam. Các ủy viên: Nguyễn Thị Định, Trần Bạch Đằng, Thích Thiện Hào, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Văn Ngợi, Phan Xuân Thái (Phan Văn Đáng), Nguyễn Hữu Thế, Đặng Trần Thi. Ban Thư ký: Huỳnh Tấn Phát (TTK), Lê Văn Huân, Hồ Thu, Ung Ngọc Kỳ, Hồ Xuân Sơn (phó TTK) . Sau ông Nguyễn Văn Hiếu lại tham gia Đoàn chủ tịch.
Ngày 8-1-1967, Mặt trận họp Đại hội bất thường, công bố Cương lĩnh mới, kế tục và phát triển chương trình hành động 10 điểm. Đại hội đã thông qua một chương trình mới phác thảo cách nhằm thu hút lực lượng người Việt Nam tham gia để đánh đuổi đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, và tạo ra một nền độc lập, hòa bình, dân chủ, trung lập, và thịnh vượng Nam Việt Nam, tiến tới hiệp thương thống nhất đất nước. Cương lĩnh cũng đưa ra các cải cách dân chủ và sự phát triển của nền kinh tế và văn hóa dân tộc.
=== Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời ===
Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã lập ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ cách mạng lâm thời do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch, và Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. Hội đồng làm việc với Chính phủ theo cơ chế hiệp thương, song thực ra có quyền hơn. Chính phủ thực hiện các chức năng hành chính nhà nước bao gồm đại diện và quản lý hành chính lãnh thổ. Chính phủ cách mạng lâm thời đã được các nước theo phe cộng sản và một số nước thuộc Thế giới thứ Ba công nhận. Ngay trong tháng 6 năm 1969, cho đến ngày 5 tháng 11 năm 1975 đã có 23 nước công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Quyền lực của nó không phân biệt được với quyền của Đảng Lao động, theo nhận định phía Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Trần Nam Trung, Trưởng ban Quân sự của Mặt trận cũng công khai là ủy viên Trung ương Đảng Lao động, thành viên Trung ương Cục, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Đồng Văn Cống công khai là thành viên Trung ương Cục Miền Nam của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, trong khi Nguyễn Văn Cúc (Tổng bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng, tham gia thành lập chính phủ) tuy không công khai là ủy viên Trung ương của Đảng Lao động, nhưng công khai là đại diện Đảng Nhân dân Cách mạng trong Trung ương Cục Miền Nam của Đảng Lao động (theo báo cáo tháng 12 năm 1969 về "Ủy ban quân sự Miền Nam", một số thành viên của Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam cũng công khai là thành viên Trung ương Cục).
Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam được chính thức công nhận là một chính quyền tại Nam Việt Nam và là một trong 4 bên tham gia hiệp định. Tuy nhiên, những người lãnh đạo vẫn tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đã giành được quyền kiểm soát Nam Việt Nam vào năm 1975.
=== Hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ===
Dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam, từ ngày 15 đến 21 tháng 11 năm 1975, hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức để tiến tới thống nhất về mặt nhà nước. Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Trường Chinh đứng đầu, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do ông Phạm Hùng đứng đầu. Hội nghị đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất.
Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, đặt tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, xác định Thủ đô, bầu chính phủ, đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đây, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam thống nhất.
Sau khi hợp nhất lãnh thổ và chính quyền, các đơn vị đoàn thể khác cũng tiếp tục hợp nhất. Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam Mặt trận bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1977 đã tuyên bố hợp nhất Mặt trận với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Miền Nam Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
== Tổ chức ==
=== Cơ cấu tổ chức ===
Ở cấp trung ương, Ủy ban Trung ương bầu ra Đoàn chủ tịch, là cấp cao nhất, giúp việc có các Ban chuyên môn của Mặt trận, hay các Hội đồng chuyên môn của Trung ương Mặt trận. Các cấp địa phương cũng có các ban thành lập theo quy định. Trong đó có cả Ban Quân sự, nhưng tương tự như Bộ Quốc phòng sau này nó chỉ làm nhiệm vụ hành chính. Quân giải phóng Miền Nam là lực lượng tham gia Mặt trận công khai là do Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng chỉ đạo, nhưng thực chất đều do các cấp ủy đảng, quân ủy lãnh đạo, theo cơ chế phức tạp, như cơ chế hiện nay với quân đội nhân dân. Bộ Tư lệnh chỉ đạo chuyên môn thuần túy quân sự theo phân công địa bàn của Đảng Lao động. Ước tính của Mỹ, đầu 1969 có 750.000 thành viên, trong đó 300.000 thành viên dân sự.
Các tổ chức Mặt trận tổ chức tại cấp dưới theo vùng: Tây Nam Bộ, Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Sài Gòn - Gia Định (Huỳnh Tấn Phát đứng đầu), Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Tây Ninh. Tổ chức Mặt trận cấp vùng chịu sự lãnh đạo của cấp Trung ương.
Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương được tổ chức ở 4 cấp: cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Từ năm 1960-1967, Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương các cấp thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng ở cấp mình. Đến năm 1968 một số địa phương như Thừa Thiên-Huế, Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Đà Nẵng... thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng thì Ủy ban nhân dân cách mạng làm nhiệm vụ của chính quyền. Sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời ra đời thì chính phủ và Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp làm nhiệm vụ chính quyền.
=== Các tổ chức thành viên ===
Sau khi Mặt trận ra đời, hàng loạt các tổ chức của Mặt trận được thành lập và các tổ chức cách mạng ra đời tham gia Mặt trận:
Hội Liên hiệp Sinh viên Học sinh Giải phóng, chủ tịch Trần Bạch Đằng, phó chủ tịch Lê Văn Thanh, thành lập 24-4-1961
Hội Liên hiệp Thanh niên Học sinh, Chủ tịch Trần Bửu Kiếm, thành lập 9-1-1961
Kỳ ủy Đảng Dân chủ Miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Trần Bửu Kiếm, Tổng thư ký Huỳnh Tấn Phát, phó Tổng thư ký Ung Ngọc Kỳ, thành lập 31-1-1961
Đảng Xã hội Cấp tiến Miền Nam Việt Nam, Tổng thư ký Nguyễn Văn Hiếu, sau là Nguyễn Văn Tiến, phó Tổng thư ký: Nguyễn Ngọc Thương, ủy viên Trung ương Lê Văn Thà, thành lập 1-7-1961
Thông tấn xã Giải phóng
Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (do Bộ tư lệnh Các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ huy)
Hội Phụ nữ Giải phóng, chủ tịch Nguyễn Thị Tú (về sau là Nguyễn Thị Định), thành lập 8-3-1961
Ủy ban Tự trị Dân tộc Tây Nguyên (sau là Phong trào Các Dân tộc Tự Trị Tây Nguyên), chủ tịch Ybih Aleo, thành lập 19-5-1961
Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước - chủ tịch Joseph Marie Hồ Huệ Bá
Hội Lục hòa Phật tử - chủ tịch Thích Thiện Hào
Hội Nông dân Giải phóng, Chủ tịch hội là Nguyễn Hữu Thế, thành lập 20-2-1961
Hội Lao động Giải phóng (sau đổi là Liên hiệp đoàn Giải phóng), chủ tịch Hội là Phạm Xuân Thái, phó chủ tịch: Đặng Trần Thi
Hội Văn nghệ Giải phóng - chủ tịch Huỳnh Minh Siêng (Lưu Hữu Phước)
Ủy ban Đoàn kết Á Phi của miền Nam Việt Nam - chủ tịch Nguyễn Ngọc Thương
Ủy ban Bảo vệ Hòa bình Thế giới của miền Nam Việt Nam - chủ tịch Phùng Văn Cung
Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (bộ phận của Đảng Lao động Việt Nam ở miền Nam Việt Nam, do Bí thư Trung ương Cục miền Nam đứng đầu) - công khai Chủ tịch Võ Chí Công, Tổng bí thư Nguyễn Văn Cúc (Nguyễn Văn Linh), ủy viên Trung ương công khai: Nguyễn Văn Linh và Nguyễn Văn Đông (Hai Văn, Phạm Xuân Thái, tức Phan Văn Đáng).
Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Việt Nam sau đổi tên Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh - chủ tịch Trần Bạch Đằng
Hồng thập tự Giải phóng - chủ tịch Phùng Văn Cung
Hội đồng Quân Dân Y
Hội Nhà giáo yêu nước - chủ tịch Lê Văn Vỵ
Báo Giải phóng
Ủy ban nhân dân miền Nam Việt Nam đoàn kết với nhân dân Mỹ - chủ tịch Hồ Thu
Hội nhà báo dân chủ và hòa bình: chủ tịch Tân Đức
Hội phục hưng thiểu số hiến dâng cho Hòa Hảo: chủ tịch Nguyễn Thị Biên, Huỳnh Văn Trí
Hội Phật giáo yêu nước: chủ tịch Thích Thiện Hảo
Ban Củng cố Hoà bình chung sống đạo Cao Đài (Tòa Thánh Tây Ninh)
Cao Đài chi phái Tiên Thiên: Ngọc Đầu sư Nguyễn Văn Ngợi đứng đầu
Ủy ban hòa bình thế giới Nam Việt Nam: đứng đầu Ung Ngọc Kỳ
Ủy ban đoàn kết với nhân dân Mỹ Latinh: chủ tịch Thích Thiện Hảo, tổng thư ký: Phạm Văn Quang, Lê Văn Huấn
Ủy ban bảo vệ trẻ em và phụ nữ: chủ tịch Bùi Thị Mê
Hội những người kháng chiến cũ ở miền Nam Việt Nam, chủ tịch Phan Văn Đáng, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Trần Bạch Đằng
Nhóm những người đấu tranh cho hòa bình thống nhất độc lập Tổ quốc Việt Nam, bao gồm những binh sĩ trong quân đội Việt Nam Cộng hòa theo cách mạng thành lập 4-1-1961
Năm 1973, Mặt trận bao gồm hơn 30 đảng chính trị và các tổ chức xã hội và tôn giáo tham gia, hoạt động công khai.
=== Vai trò của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam ===
Trong các tổ chức tham gia Mặt trận, đảng bộ miền Nam của Đảng Lao động Việt Nam có tên công khai là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (tuyên bố tách từ Đảng bộ miền Nam của đảng Lao động) có vai trò quan trọng nhất, "linh hồn" Mặt trận. Trong suốt quá trình tồn tại Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam công khai quan hệ thân hữu với Đảng Lao động Việt Nam nhưng sau chiến tranh Đảng Cộng sản Việt Nam xác nhận nó thực chất chỉ là đảng bộ của Đảng Lao động Việt Nam ở miền Nam, do Trung ương Đảng, Khu ủy Trị Thiên (sau khi tách khỏi Khu V, trực thuộc Trung ương), Khu ủy Khu V (sau khi tách khỏi Trung ương Cục miền Nam, trực thuộc Trung ương), Trung ương cục miền Nam và các Khu ủy trực thuộc (địa bàn B2 cực nam Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trở vào, sau khi tách Khu V về Trung ương) lãnh đạo.
Ngày 18/1/1962 trên sóng Radio Hà Nội tuyên bố Đảng Nhân dân cách mạng đã thành lập ngày 1/1/1962, là tổ chức có lập trường chống thực dân, đế quốc và phong kiến. Tuy không đề cập trực tiếp là tổ chức cộng sản, nhưng tuyên bố tuyên truyền chủ nghĩa Marx - Lenin tại miền nam Việt Nam. Trung ương Cục miền Nam và các khu ủy lãnh đạo trực tiếp, điều lệ đảng do Trung ương Đảng Lao động đề ra. Đứng đầu là bí thư Trung ương Cục, và Võ Chí Công đại diện đảng tại Mặt trận. Đảng Dân chủ trên cơ sở một phần Đảng Dân chủ năm 1944, do Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Tấn Phát đứng đầu, và Đảng Xã hội cấp tiến thành lập năm 1961 do Nguyễn Văn Hiếu đứng đầu, đều là đảng viên cộng sản. Theo tài liệu của Mỹ, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam chịu chỉ đạo từ Trung ương Đảng ở Hà Nội, còn Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội cấp tiến, là "đối tác" của Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đảng Nhân dân Cách mạng theo điều lệ là đại diện giai cấp công - nông miền Nam Việt Nam.
== Mối quan hệ với Đảng Lao động Việt Nam ==
Trong suốt chiến tranh Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam không tuyên bố công khai rõ ràng về tính độc lập với Đảng Lao động (chưa bao giờ thừa nhận là đảng của miền bắc dù mặc nhiên thừa nhận Đảng nhân dân cách mạng là một đảng Cộng sản ở miền nam), nhưng là một đảng cộng sản ở miền Nam, là tiên phong lãnh đạo Quân giải phóng Miền Nam thông qua Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang, thành viên chủ chốt của Mặt trận, theo tài liệu Mỹ có được lúc đó quan hệ với đảng Lao động trên tình huynh đệ cộng sản. Tuy nhiên đảng công khai cử đại diện tham gia Trung ương Cục Miền Nam, là bộ phận đặt ở phía nam của Trung ương Đảng Lao động (Hiệp định Geneve không bắt buộc việc tập kết về chính trị). Tuy nhiên, thực chất Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam là sự đại diện công khai tại miền Nam của Đảng Lao động Việt Nam nhằm thực hiện cuộc nổi dậy chống lại chính quyền Sài Gòn. Trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn đọc tại lễ truy điệu Hồ Chí Minh vẫn khẳng định sự ủng hộ của Đảng Lao động đối với phong trào cách mạng miền Nam.
Theo tài liệu của Mỹ, Trung ương Cục Miền Nam là Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam (sau đổi thành Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam VN), nhưng năm 1969 khi thành lập Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Trung ương Cục Miền Nam lại là đại diện của Đảng Lao động Việt Nam (được hiểu như có trụ sở tại Miền Bắc) tại miền Nam Việt Nam, và độc lập với "Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng").
Theo nhận định của Mỹ dựa vào các tin tình báo, giới lãnh đạo cộng sản tại miền Bắc đứng đằng sau sự hình thành Mặt trận và các cuộc nổi dậy ở miền Nam. Họ hỗ trợ Mặt trận đề ra chiến lược quân sự lẫn chính trị cho các nhà lãnh đạo Mặt trận tại miền Nam. Tuy nhiên, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hoà vẫn không nắm rõ sự tác động của Miền Bắc đến mức nào giai đoạn trước và sau năm 1959 do Miền Bắc phủ nhận hoàn toàn sự can thiệp trong giai đoạn đầu, nhưng công khai ủng hộ trong giai đoạn 1959-1961 và hỗ trợ vào giai đoạn sau.
Theo Xã luận báo Nhân dân ngày 3 Tháng Hai 1968 nhân thành lập Đảng vẫn viết "Miền Nam, tiền tuyến, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng", "những chiến công lừng lẫy của đồng bào và chiến sĩ miền Nam sẽ được ghi vào cuốn sử vàng của dân tộc Việt Nam ta và của Đảng ta" và kêu gọi các đảng viên "chúng ta hãy góp phần to lớn nhất của mình vào cuộc chiến đấu chung của toàn quân và toàn dân đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà..." cho thấy Mặt trận lãnh đạo nhưng cũng khẳng định sự ủng hộ của Đảng với cách mạng miền Nam.
=== Về chiến lược ===
Theo nhận định của Mỹ, Mặt trận tuyên truyền tranh thủ thành phần dân chúng bất mãn, và thành lập lực lượng "Phong trào giải phóng nhân dân Việt Nam", một đơn vị quân sự bao gồm các cựu chiến binh Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, tù nhân chính trị chạy thoát, và các cán bộ cộng sản (1957). Một ví dụ sau này là "Hội Phật giáo Việt Nam-Campuchia", một trong các tổ chức tuyên truyền cho khẩu hiệu "Hòa bình và Hòa Hợp dân tộc."
Theo nhận định của Mỹ, trước năm 1959, Miền Bắc bị giằng xé giữa chính sách thân Liên Xô "cùng tồn tại hòa bình", và chính sách thân Trung Quốc cổ vũ cho cho bạo lực cách mạng vô sản cho dù Trung Quốc không thích viện trợ nhiều cho Việt Nam. Tuy nhiên, về chiến lược và hành động trên thực tế, Việt Nam hoàn toàn độc lập với Liên Xô và Trung Quốc. Về kinh tế, Miền Bắc cũng đạt được thành tích về kinh tế từ 1959, nhất là công nghiệp.
Đến năm 1959, sau khi chiến lược đấu tranh chính trị không có tác dụng, các cơ sở cách mạng bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp mạnh mẽ và nguy cơ bị xóa sổ, lực lượng Cộng sản ở các hai miền tiến hành thay đổi chiến lược, chuyển từ chỉ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Nghị quyết 15 năm 1959 và Nghị quyết đại hội Đảng III, Đảng Lao động công khai hỗ trợ cho cuộc chiến ở Miền Nam.
Trong suốt thời gian chiến tranh Miền Bắc luôn khẳng định là chỉ chi viện toàn diện về mọi mặt để hỗ trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bao gồm cả phối hợp chỉ đạo quân sự chứ không can thiệp trực tiếp vào chính sách đối nội - ngoại của Mặt trận. Sau chiến tranh, nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam luôn khẳng định cách mạng miền Nam là một bộ phận của cách mạng cả nước, nhưng trong vài năm đầu tiên các hoạt động vũ trang do các cấp chỉ huy địa phương tự quyết định ngoài các chỉ thị từ trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại miền Bắc.
Philippe Devillers, nhà phân tích người Pháp nhận định: những người kháng chiến buộc phải hành động, cho dù có sự hỗ trợ từ Hà Nội hay không, bởi các đồng đội của họ bị bắt, bị bỏ tù và bị tra tấn. Ông này công bố tài liệu của Nambo Veterans of the Resistance Association, tháng 3/1960, Mặt trận tuyên bố kêu gọi "đấu tranh" để "giải phóng mình từ sự phục tùng Mỹ, loại bỏ tất cả các căn cứ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, trục xuất các cố vấn quân sự Mỹ..." và kết thúc "chế độ thực dân và chế độ độc tài phát xít của nhà Ngô". Ông cũng nhận định "chính phủ Nam Việt Nam cuối cùng đã phá hủy sự tin tưởng của người dân, mà nó đã giành được trong những năm đầu, và thực tế đã đưa họ vào cuộc nổi loạn và tuyệt vọng". Arthur Schlesinger, Jr. cũng có nhận định tương tự.
Ủy ban giám sát thi hành Hiệp định lại không thể kiểm tra hết các cơ sở để khẳng định khả năng hai bên sử dụng vũ lực. Năm 1959 và 1961 Ủy ban này đã công bố rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã trắng trợn vi phạm các quy định kiểm soát vũ khí của Hiệp định Geneva, cho dù lưu ý vấn đề lật đổ ở miền Nam Việt Nam.
Chính phủ Hoa Kỳ, trong sách trắng về Việt Nam năm 1961 và 1965, đã đổ lỗi cho sự nổi dậy trên là "xâm lược" của Hà Nội mặc dù khái niệm xâm lược không thể được áp dụng ở một đất nước không bị chia cắt (Hiệp định Geneve quy định giới tuyến quân sự tạm thời không được coi là biên giới quốc gia), tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam luôn là công cụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đối phương đáp lại các cuộc nổi dậy bắt đầu như là một cuộc nổi loạn chống lại chính phủ áp bức của Ngô Đình Diệm, và chỉ từ cuối năm 1960, khi Hoa Kỳ sẽ cam kết nguồn lực lớn để giúp chính phủ Diệm trong cuộc chiến của mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thúc đẩy cuộc chiến với khẩu hiệu giải phóng miền Nam Việt Nam khỏi sự xâm lược của Mỹ.
=== Về tổ chức ===
Theo nhận định của Mỹ, cơ cấu chỉ huy cộng sản khá phức tạp với một loạt các hội đồng, ủy ban, ban lãnh đạo lồng vào nhau. Tất cả đều được kiểm soát bởi Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Hà Nội. Cấu trúc tổ chức chồng chéo, trùng lặp và dư thừa để tạo tính đàn hồi, và cũng để tăng tính linh hoạt, có thể điều chỉnh để tách rời hay loại trừ giữa các thành viên trong tổ chức.
Tổng thể cấu trúc lực lượng cộng sản tại miền Nam theo phía Mỹ gồm 3 thành phần:
Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam: thay mặt cho Đảng Lao động Việt Nam tại miền Bắc chỉ đạo phong trào chống Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà tại miền Nam. Trung ương Cục miền Nam bao gồm một số hoạt động công khai là một ủy ban điều hành của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, với đội ngũ nhân viên có liên quan để phối hợp các nỗ lực chiến tranh. Hà Nội thực hiện việc chỉ đạo chiến tranh tại miền Nam thông qua liên lạc với cấp lãnh đạo tại Văn phòng Trung ương Cục Miền Nam và các Khu ủy trực thuộc Trung ương. Tất cả các quyết định chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đều bí mật, chỉ công khai trong đội ngũ những người cách mạng, các đảng anh em. Các chính sách liên quan đến xã hội chủ nghĩa chỉ được phổ biến trong đảng viên và quần chúng theo cách mạng, chứ không công khai bên ngoài. Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng bí mật để tạo ra một tổ chức hoàn toàn độc lập chính sách của Miền Bắc.
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là tập hợp của các nhóm chống Diệm và những người thừa kế, có cảm tình cộng sản. Vài nhóm thuộc Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, một số không thuộc, hay có sự liên kết lỏng lẻo hoặc cảm tình. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là vỏ bọc chính trị và tập hợp lực lượng rộng rãi cho sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam thông qua Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam đối với toàn bộ phong trào cách mạng tại miền Nam Việt Nam. Mặt trận thành lập còn để bảo đảm tính pháp lý cho cuộc chiến ở Miền Nam và thu hút những thành phần xã hội không sử dụng học thuyết cộng sản để tuyên truyền. Do quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam nên Mặt trận và chính quyền không có quyền chỉ huy quân sự, chỉ quản lý trên danh nghĩa lực lượng vũ trang. Điểm này rất giống hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Quân giải phóng miền Nam Việt Nam bao gồm lực lượng tình nguyện ngoài Bắc vào và lực lượng được tuyển mộ tại chỗ do Trung ương Cục nhận chỉ đạo từ Tổng quân ủy. Bên cạnh một ban lãnh đạo song song làm "vỏ bọc" còn có các thành viên Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam giữ vị trí chỉ huy quan trọng nhất trong quân đội, và giám sát hoạt động tất cả các nhóm khác đến cấp thôn, bản. Về phía cách mạng, Quân giải phóng được định nghĩa khác. Trong giai đoạn đầu Miền Bắc phủ nhận can thiệp quân sự ở miền Nam, nên các chỉ thị Trung ương đảng mang tính bí mật cao. Sau này khi chiến tranh leo thang, Quân đội ngoài Bắc vào ngày càng nhiều thì Miền Bắc công khai quyền quân sự, trong sự phối hợp với Bộ tư lệnh của quân giải phóng. Để tạo cho Mặt trận một vị thế độc lập tương đối, nên phía cách mạng đôi khi cũng tạo một sự phân biệt nhất định giữa "quân đội nhân dân" và "quân giải phóng" (dù nhiều đơn vị có cả người bắc và nam) nhưng điều này không có ý nghĩa vào giai doạn cuối của chiến tranh. Cụ thể thành lập các quân đoàn, bao gồm cả lực lượng ngoài bắc và tuyển mộ tại chỗ. Đến giai đoạn này sự phân biệt Quân Giải phóng và Quân đội Nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có ý nghĩa nữa. Và sau 30/4/1975 hai lực lượng vũ trang của Miền Bắc và Miền Nam chính thức hợp nhất năm 1976 sau khi thống nhất nhà nước.
Theo Douglas Pike năm 1970, Quân đội nhân dân Việt Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có 500.000 trong đó 125.000 tại miền Nam Việt Nam và Campuchia, 67.000 ở Lào, ngoài ra lực lượng bán quân sự 250.000, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam có 80.000 thành viên, các thành viên khác của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam tổng cộng 300.000, Quân giải phóng Miền Nam 190.000,... trong khi chống Quân đội Việt Nam Cộng hòa tổng cộng 1,4 triệu, Mỹ 434.000 và quân đồng minh.
Đảng Lao động Việt Nam chia chiến trường miền Nam thành 5 khu vực B-5 - Quảng Trị (giáp vĩ tuyến 17), B4- Bình Trị Thiên - Huế, B3 - Tây Nguyên, B1 - Quân khu 5, gồm các tỉnh Quảng - Đà (nay thuộc các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa), B2 - Nam Bộ (từ cực Nam của Nam Trung bộ và Tây Nguyên vào - tương ứng từ Quảng Đức, Tuyên Đức và Ninh Thuận, gồm Khu VI, VII, VIII, IX, X, Sài Gòn - Gia Định), có sự thay đổi ranh giới và phân chia theo thời gian. Về hình thức Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng chỉ huy toàn bộ quân Giải phóng trên toàn miền Nam. Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hà Nội giám sát tất cả nhưng trực tiếp phụ trách các khu Quảng Trị, Trị Thiên, Khu V và Tây Nguyên. Về mặt chính trị, phân vùng có khác, Khu ủy Trị Thiên và Khu ủy Khu V (địa bàn rộng hơn Khu V về quân sự) nhận chỉ thị trực tiếp từ Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chứ không phải từ Trung ương Cục miền Nam. Tại mỗi Khu, Khu ủy thực hiện chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn Khu. Ban Thống nhất thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam điều phối các vấn đề phức tạp.
Theo nhận định của Mỹ, Trung ương Cục miền Nam có vai trò nổi bật trong việc giám sát lực lượng vũ trang tại Nam Bộ (B2). Trên danh nghĩa, Quân Giải phóng là một phần của một phong trào dân tộc giải phóng. Theo nhận định của Mỹ, trong thực tế nó đã được kiểm soát bởi Trung ương Cục Miền Nam, mà lần lượt được kiểm soát bởi Đảng Lao động. Quân đội Nhân dân Việt Nam khi vào các địa bàn này cũng chịu sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam và Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.
Theo định nghĩa thông thường của Mỹ, Quân giải phóng để chỉ Quân đội thuộc phía cách mạng ở địa bàn B2. Nhưng cũng có định nghĩa khác. Sự phân biệt của phía Mỹ có tính chất chiến lược trong quân sự chứ không vì các mục đích thuần túy chính trị. Thực chất tất cả lực lượng vũ trang do Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ đạo, trực tiếp là các Khu ủy và Quân ủy từng quân khu hay Trung ương cục Miền Nam và Quân ủy Miền, Khu. Các tổ chức khác của Mặt trận đều do Trung ương Đảng lãnh đạo và đều tôn vinh Hồ Chí Minh làm lãnh tụ, dù cơ cấu tổ chức và tuyên bố bên ngoài độc lập với hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ cộng hòa .
Trên thực tế cơ cấu tổ chức của phía cách mạng phức tạp và biến chuyển hơn các tin tức từ phía đối phương khai thác được. Tựu trung, để tạo cho lực lượng cách mạng ở miền Nam một vị thế chính trị độc lập với vị thế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nâng cao vị thế của họ trên bình diện quốc tế, có lợi cho cách mạng, nhất là trong thu hút lực lượng, tranh thủ ủng hộ quốc tế, và trên bàn đàm phán, tránh mang tiếng Miền Bắc "xâm lược"... nên cơ cấu tổ chức của lực lượng cách mạng ở miền Nam độc lập với các thiết chế ở miền Bắc, bao gồm cả Đảng, Mặt trận, chính quyền, quân đội,... Sau 30/4/1975 mới công khai đảng Nhân dân Cách mạng là bộ phận của Đảng Lao động, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Riêng Mặt trận và chính quyền đại diện lãnh thổ quản lý, thì sáp nhập sau các hội nghị hiệp thương, bầu cử và địa hội thống nhất.
=== Về lãnh đạo ===
Trong thời gian đầu, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận chính quyền Miền Nam có địa vị tương đương, nhưng không công nhận chính thể Việt Nam Cộng hòa và hai quốc gia khác nhau, nhằm tranh thủ đấu tranh thống nhất đất nước bằng hòa bình. Các cuộc đấu tranh ở Miền Nam giai đoạn này Miền Bắc cơ bản không kiểm soát được hoàn toàn, mà do các đảng bộ miền Nam chỉ đạo, có khi vượt ngoài chỉ đạo của Trung ương. Sau Hội nghị Trung ương 15 và sau này ra đời Mặt trận, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không còn công nhận Việt Nam Cộng hòa để công khai ủng hộ cho phía cách mạng Miền Nam.
Trong thời gian đầu khi lực lượng cộng sản miền Nam còn yếu, Miền Bắc luôn phủ nhận sự can thiệp vào các vấn đề nội bộ của miền Nam, nhưng sau thì Mỹ và Việt Nam Cộng hòa phát hiện đường mòn Hồ Chí Minh và các lực lượng từ Bắc di chuyển vào thì Việt Nam Dân chủ cộng hòa công khai ủng hộ cho lực lượng Quân Giải phóng, các lực lượng từ Bắc vào được xem là một bộ phận của lực lượng cách mạng Miền Nam, chịu sự chỉ đạo chung của Đảng Lao động, "Đảng nhân dân cách mạng", Mặt trận và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuy nhiên ngoài tham gia chỉ đạo về quân sự, với danh nghĩa giúp đỡ để hoàn thành mục tiêu chung, Miền Bắc không thừa nhận chỉ đạo về đường lối chính sách đối ngoại đối nội của phái Mặt trận, tạo uy thế có tính độc lập trong chính sách của phía Mặt trận, nhằm thu hút thêm quần chúng ủng hộ cách mạng, phân hóa kẻ thù, và tạo thêm sự ủng hộ từ các lực lượng chính trị khác trong và ngoài nước, nhất là các nước nằm ngoài phe Xã hội Chủ nghĩa. Về phía đối phương, họ lúc thì khẳng định Mặt trận là do Miền Bắc thành lập để phản đối Miền Bắc xâm lược, nhưng nhiều khi họ luôn khai thác các yếu tố sự độc lập của Mặt trận để chia rẽ nội bộ giữa Mặt trận và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Về hợp nhất Mặt trận, các đoàn thể và chính quyền là mang tính nguyên tắc trên cơ sở pháp lý. Sau 30/4/1975 trên thực tế tồn tại hai chính quyền có lãnh thổ riêng và chính sách riêng, nhưng lúc này Đảng Lao động công khai chỉ đạo cả Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Trong thời gian còn chiến tranh thì các chỉ đạo chính sách với Mặt trận và Chính phủ Cách mạng là mang tính bí mật, đôi khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời có tuyên bố không giống nhau thể hiện sách lược của đảng. Do Chính phủ khi đặt trụ ở tại Tây Ninh hay Campuchia, hay Quảng Trị, hay phần lớn thành viên ở ngoài Bắc do đó các chỉ thị từ Trung ương Đảng là trực tiếp hay thông qua Trung ương Cục Miền Nam. Các lãnh đạo Mặt trận và chính quyền là đảng viên công khai hay bí mật nhiều lần tham gia vào các cuộc họp ra quyết định của Đảng liên quan công tác của họ.
Đối phương thường cho Mặt trận không có thực quyền, mà thực quyền thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không chuẩn xác. Vì các thiết chế nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ ra các văn bản chỉ đạo đối với Miền Bắc, và các văn bản ủng hộ cho Miền Nam chứ không có các văn bản chỉ đạo. Các văn bản chỉ đạo thuộc thiết chế của Đảng, mà Đảng được phía cách mạng định nghĩa không chỉ thuộc Miền Bắc như sau này thừa nhận. Hệ thống của Đảng trụ sở tại Hà Nội nhưng chỉ đạo xuyên suốt từ miền Bắc đến miền Nam, nhiều ủy viên Bộ Chính trị và Trung ương Đảng cũng công tác trong Nam, trong đó một bộ phận tham gia Trung ương Cục Miền Nam. Trong khi đó chính quyền ngoài Bắc gồm nhiều người ngoài Đảng hay các đảng Xã hội và Dân chủ.
Đảng lãnh đạo toàn bộ (sau này được công khai), nhưng đường lối chính sách của Mặt trận có tính độc lập bề ngoài vì Mặt trận gồm nhiều thành phần, nhưng chịu chỉ đạo bí mật từ các cấp lãnh đạo Đảng theo nguyên tắc xác lập trong nội bộ Mặt trận. Các lãnh đạo của Mặt trận nhiều người không công khai là đảng viên cộng sản (trừ các vị công khai là lãnh đạo Đảng Nhân dân Cách mạng), sau này mới công khai, nhằm tạo ra một vị thế đa thành phần tranh thủ ủng hộ quốc tế, và thu hút lực lượng rộng rãi hơn, nhất là các thành phần ở đô thị, tầng lớp trên tư sản dân tộc hay trí thức, hay tín đồ và chức sắc các tôn giáo,... Điểm này rất giống với Mặt trận Việt Minh trước đây, nhiều đảng viên trong Mặt trận hoạt động danh nghĩa trí thức hay của đảng Dân chủ và đảng Xã hội.
Nhìn chung tổ chức của phía cách mạng đều do Đảng lãnh đạo toàn bộ như sau này thừa nhận, và các tin tức bóp méo có tính chất chia rẽ nội bộ đối phương khai thác thời chiến tranh và cả sau này đều không có sơ sở, như không biết Mặt trận là Cộng sản hay hai quân đội riêng độc lập nhau hay mâu thuẫn giữa Mặt trận và Miền Bắc. Mặt khác sự chỉ đạo toàn bộ này chỉ công bố sau chiến tranh, thể hiện rõ sách lược phân hóa kẻ thù, "đánh lạc hướng" và tranh thủ lực lượng của Đảng. Càng về cuối cuộc chiến tranh thì tính chất giống nhau về bề ngoài của phía Mặt trận với miền Bắc càng bộc lộ khi lực lượng của họ mạnh lên, như các khẩu hiệu tuyên truyền về Xã hội Chủ nghĩa, hay các biểu tượng Lenin, Hồ Chí Minh,... cho dù đến 1976-1977 đất nước mới thống nhất chính thức hệ thống chính trị và tuyên bố đi lên Xã hội Chủ nghĩa cả nước chỉ đặt ra từ đại hội IV.
=== Về quân sự ===
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập Quân giải phóng miền Nam, một lực lượng quân sự mà nòng cốt là những người từng tham gia Việt Minh đồng thời bao gồm cả một số người từng là thành viên Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.
Phía đối phương có khi phân chia quân giải phóng (với quân đội nhân dân) để chỉ lực lượng ở B2 là căn cứ vào thẩm quyền chỉ huy, vì từ B2 trở vào là do Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang miền Nam chỉ huy - là chỉ huy Quân giải phóng công khai khi quân giải phóng mới thành lập. Trên thực tế, B2 là địa bàn xa, Trung ương cần một ban chỉ đạo trực tiếp nên thiết lập Trung ương Cục Miền Nam để chỉ đạo. Cơ cấu tổ chức của phía cách mạng địa bàn này cũng khác biệt với các địa bàn do Trung ương trực tiếp chỉ đạo. Như Trung ương có Trung ương Đảng thì B2 có Trung ương Cục, Trung ương có Bộ Tổng tư lệnh, thì B2 có Bộ Tư lệnh Miền, Trung ương có quân ủy Trung ương thì B2 có quân ủy Miền... tức các thiết chế tương tự như ở Trung ương, dưới nữa mới đến các Khu hay quân khu, tương tự như các khu do Trung ương trực tiếp chỉ đạo, nhưng vẫn chịu chỉ đạo thông suốt từ Trung ương Đảng.
Theo nhận định của Mỹ, lực lượng quân chủ lực gồm từ cả ngoài Bắc vào, được trang bị vũ khí hạng nặng, tỷ lệ đảng viên cao, trình độ học vấn tốt nghiệp phổ thông, được huấn luyện chu đáo. Quân địa phương thường chiến đấu gần tỉnh nhà của họ, không là cần đảng viên, không cần phải biết chữ, dù hoạt động chuyên nghiệp. Du kích hầu hết là nông dân nghèo hoạt động bán thời gian ở địa phương, tham gia xây dựng công sự, vận chuyển khí tài, đánh địch... chịu chỉ đạo của quân giải phóng ở mức độ thấp hoặc của Mặt trận. Đôi khi có sự thiếu hụt nhân lực phải bổ sung nhưng ít có hoán chuyển và quân chủ lực luôn bảo đảm tinh nhuệ nhất. Lính miền Bắc khi vào Nam vẫn giữ phù hiệu, dù có cá nhân độn vào lực lượng tiểu đoàn Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Các đơn vị từ miền Bắc di chuyển sâu hơn về phía Nam cần phối hợp nhiều hơn với Quân Giải phóng và các lực lượng tại địa phương. Về công khai tất cả các lực lượng vũ trang tại miền Nam đều do Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ huy. Việc phân chia quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quân Giải phóng miền Nam cũng một phần nhằm mục đích chia rẽ, nhưng chủ yếu để có chiến thuật quân sự thích hợp, vì quân chủ lực từ miền Bắc vào được huấn luyện tốt hơn lực lượng du kích tại chỗ.
Theo nhận định của Mỹ, trong khi Bắc Việt Nam và đồng minh của họ cố gắng ngụy trang tổ chức thực sự chỉ đạo chiến tranh, điều quan trọng cần lưu ý là cả Quân Giải phóng và các chiến binh thường xuyên của quân Bắc Việt Nam đều thuộc một lực lượng. Mỗi bộ phận đều có đặc tính riêng biệt của địa phương, cách tuyển dụng, các nhiệm vụ, nhưng tựu chung họ đều được kiểm soát bởi bộ chỉ huy ở Hà Nội.
Theo tài liệu của đảng cộng sản, khi đó chưa công khai, chỉ thị của Tổng quân ủy Trung ương chỉ rõ "Quân giải phóng Miền Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, do đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo,..."
== Hoạt động ==
Đường lối, chính sách, cương lĩnh, tuyên ngôn đưa ra của Mặt trận trong thời gian chiến tranh luôn có sự thay đổi tùy theo tình hình, miễn có lợi cho phía Cách mạng. Tuy nhiên nhìn chung không thừa nhận chính quyền Sài Gòn là chính quyền hợp pháp, và chính thể Việt Nam Cộng hòa là chính thể độc lập. Quan điểm của Mặt trận là Miền Nam chưa có độc lập, chính thể và chính quyền Việt Nam Cộng hòa chỉ là bù nhìn tay sai cho Mỹ, còn Mỹ là kẻ đi xâm lược, thi hành chính sách thực dân mới.
Mặt trận luôn cho rằng miền Nam chưa có độc lập, nên gọi đó là cuộc chiến tranh giải phóng. Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau này thì Nhà nước lại hay dùng từ Kháng chiến chống Mỹ, để khẳng định Việt Nam đã độc lập từ 1945, và chống các kẻ thù xâm lược một nước đã có chủ quyền, hay dùng từ cách mạng dân tộc dân chủ, hay cách mạng tư sản dân quyền, để chỉ một giai đoạn trong chính sách của Đảng cộng sản. Giai đoạn cách mạng tiếp theo là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là cách dùng từ theo quan điểm hai giai đoạn cách mạng của Lenin rút ra từ thực tiễn đấu tranh giành chính quyền tại Nga.
Đường lối của họ là chống Mỹ, và trong một số hoàn cảnh chấp thuận thương lượng với phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tùy thuộc chính quyền đó do ai lãnh đạo, và hoàn cảnh cụ thể. Mặt trận còn chủ trương chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa mà theo họ là chế độ độc tài, đòi thi hành dân sinh dân chủ, bao gồm cả cải cách ruộng đất, xây dựng Miền Nam là một chính thể tự do dân chủ và đi đến hiệp thương với miền Bắc thống nhất nước nhà. Mặt trận thông qua nhiều tổ chức khác do họ điều khiển, tổ chức biểu tình chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tuyên truyền kêu gọi "Hòa bình và Hòa giải dân tộc" để thu hút quần chúng, cô lập và phân hoá đối phương.
Mặt trận còn chủ trương cho Tây Nguyên tự trị và kết nạp tổ chức Phong trào Các Dân tộc Tự Trị Tây Nguyên. Tuy nhiên sau chiến tranh chủ trương này không được thực hiện, vì đất nước đã thống nhất rồi thì không thể chia sẻ thành các lãnh thổ tự trị nữa.
Các vấn đề liên quan đến Chủ nghĩa Cộng sản hay Chủ nghĩa Xã hội không được nhắc đến trong Cương lĩnh Mặt trận tương tự Việt Minh trước đây. Các khái niệm "chuyên chính vô sản", "quốc hữu hóa", "tập thể hóa", nhà nước của giai cấp công nhân không được phổ biến công khai và rộng rãi. Tuy nhiên đối phương luôn khẳng định Mặt trận là cộng sản, vì trong thành phần Mặt trận, Đảng Nhân dân cách mạng theo chủ nghĩa Marx-Lenin là lực lượng nòng cốt. Ngoài ra do các nguồn tin khác nhau họ biết sự chỉ đạo từ Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc đối với Mặt trận.
== Lãnh thổ ==
Mỹ ước tính vào giữa 1962 miền Nam Việt Nam có khoảng 2.500 làng, chiếm khoảng 85% tổng dân số, Mặt trận Giải phóng kiểm soát hiệu quả 20% số làng, ước tính 9% dân số nông thôn, tổng diện tích những ngôi làng này bao phủ một tỷ lệ lớn hơn nhiều ở vùng nông thôn. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiểm soát có hiệu quả khoảng 47% dân cư nông thôn và 33% số làng, phần lớn nằm ở vùng ven của các thành phố lớn, thị xã và các khu vực dân cư đông đúc hơn dọc theo các đường chính. Trong 47% vùng nông thôn và 44% dân cư nông thôn còn lại, không phải là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng không phải là Mặt trận Giải phóng kiểm soát có hiệu quả, mặc dù Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ảnh hưởng dường như lớn hơn trong hầu hết những ngôi làng này. Theo tài liệu của Mỹ, tới năm 1965, Mặt trận Giải phóng đã kiểm soát lên đến 50% vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam.
Theo tài liệu phía cách mạng, năm 1962 phía cách mạng kiểm soát 76% lãnh thổ và 50% dân số toàn miền Nam. Từ 1964 đến 1965, vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam . Năm 1968 Mặt trận quản lý 10/14 triệu người, trong đó "4 triệu sống trong vùng giải phóng và ít nhất 6 triệu rưỡi người nữa thuộc quyền cai trị bí mật của Mặt trận trong các vùng danh nghĩa là của Mỹ và Sài Gòn kiểm soát".
== Quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ==
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính thể lãnh đạo thực tế miền Bắc Việt Nam từ 1954, nhưng thừa nhận chủ quyền hợp pháp đối với toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Điều này được ghi nhận trong Lời nói đầu và Điều 1 Hiến pháp năm 1959. Đồng thời, Hiệp định Gevene (1954) và Hiệp định Paris (1973) đều quy định giới tuyến quân sự tạm thời tại vỹ tuyến 17 không được coi là biên giới quốc gia, chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không bị giới hạn. Bên cạnh đó, việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 trên phạm vi cả nước đã cho thấy tính chính danh của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không bị giới hạn ở miền bắc.
Trong suốt những năm 1954-1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không hề thừa nhận Việt Nam Cộng hòa là một chính thể hợp pháp ở miền Nam Việt Nam mà luôn coi là thực thể kế thừa các nghĩa vụ của Liên hiệp Pháp tại Việt Nam sau năm 1954, trong đó có nghĩa vụ tổ chức Tổng tuyển cử để thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc tại Việt Nam. Sau khi Hội nghị Paris được tổ chức, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục không công nhận Việt Nam Cộng hòa mà coi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là người đại diện hợp pháp của nhân dân miền Nam. Trong những năm 1954-1959, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liên tục đề nghị Việt Nam Cộng hòa thực hiện trách nhiệm tổ chức Tổng tuyển cử đồng thời đưa ra các bằng chứng về việc Việt Nam Cộng hòa không tuân thủ Hiệp định Genève, đàn áp những người yêu nước và đấu tranh hòa bình ở miền Nam để thống nhất đất nước. Do lập trường như vậy nên đến năm 1959, sau khi thấy khả năng không thể thống nhất trong hòa bình, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam ngầm ủng hộ cho khởi nghĩa ở Miền Nam thì mới công bố Hiến pháp mới tiếp tục khẳng định Việt Nam là một nước không thể chia cắt và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể có địa vị hợp pháp, chủ quyền hợp pháp toàn Việt Nam bằng cách viện dẫn Cách mạng Tháng Tám, bầu cử Quốc hội năm 1946 và Hiến pháp 1946 mà Hiến pháp 1959 là kế thừa.
Nghị quyết Quốc hội khóa I kỳ 11 ngày 31-12-1959 (khi đó vẫn có các đại biểu Miền Nam được bầu năm 1946 đủ tư cách) - khi đó vẫn xem là Quốc hội Việt Nam thống nhất - khẳng định "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiêu biểu cho tính chất thống nhất của nước ta và tiêu biểu cho ý chí tranh đấu của nhân dân cả hai miền Nam - Bắc". Những ghi nhận này khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể duy nhất có quyền lực pháp lý trên toàn lãnh thổ Việt Nam và công khai không thừa nhận Việt Nam Cộng hòa là một nhà nước hợp pháp, miền Nam chưa được giải phóng.
Hiến pháp năm 1959 cũng ghi nhận Đảng Lao động là lãnh đạo cách mạng trong Lời nói đầu, nhưng không quy định là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội trong điều khoản nào như Hiến pháp 1980 và 1992 sau này nhằm để ngỏ khả năng hiệp thương với chính quyền Miền Nam và động viên nhưng người không có lập trường cộng sản nhưng chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đứng về phía cách mạng. Đến 1960 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn công khai đưa ra đề nghị thương lượng lần cuối (khẩu hiệu đấu tranh hòa bình thống nhất vẫn được khẳng định tại Hiến pháp, và cả văn kiện công khai của đại hội III Đảng Lao động).
Phía Việt Nam Cộng hòa trước đó ban hành Hiến pháp riêng 1956 và bầu cử riêng tại miền Nam, cũng thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền này dựa trên Quốc gia Việt Nam trước đây và tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam. Điều này được phía bên kia xem là một cử chỉ thể hiện sự "hiếu chiến" chuẩn bị cho "Bắc tiến".
Sau Đồng khởi, thì một vùng do Đảng Lao động và cách mạng kiểm soát ở Miền Nam hình thành, đồng thời miền Bắc bắt đầu viện trợ cho phong trào kháng chiến tại miền Nam một lượng lớn vũ khí, quân trang, quân dụng và cử nhiều cán bộ, binh sĩ vào Nam chiến đấu. Trong khi Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã đưa ra những chứng cớ mà họ cho là Miền Bắc vi phạm Hiệp định, do đó chủ trương của Đảng Lao động là thành lập một Mặt trận lấy danh nghĩa giải phóng Miền Nam để kiểm soát các vùng đất này, và tách đảng bộ miền Nam lập Đảng Nhân dân Cách mạng. Mặt trận lấy danh nghĩa là Việt Nam đã độc lập năm 1945 và kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng miền Nam chưa có độc lập để đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam - tính độc lập về pháp lý với Miền Bắc không rõ ràng bằng khi lập chính thể Cộng hòa Miền Nam như sau này. Mặt trận thừa nhận miền Bắc đã được giải phóng, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể hợp pháp cả nước. Tuy nhiên tính chất độc lập về pháp lý được đưa ra khi văn kiện Mặt trận khẳng định Mặt trận sẽ hiệp thương với Miền Bắc để thống nhất. Tính độc lập này chỉ là tương đối và khớp với văn kiện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khi khẳng định chủ quyền với toàn lãnh thổ). Chương trình hành động của Mặt trận (điểm IX):
Yêu cầu bức thiết của đồng bào trên toàn quốc là phải hoà bình thống nhất Tổ quốc. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam chủ trương thống nhất nước nhà từng bước bằng phương pháp hoà bình, trên nguyên tắc hai miền cùng nhau thương lượng, cùng nhau bàn bạc mọi hình thức và biện pháp có lợi cho dân tộc, cho Tổ quốc Việt Nam. Trong khi nước nhà chưa thống nhất, chính phủ hai miền cùng nhau thương lượng cam kết không tuyên truyền chia rẽ dân tộc, không tuyên truyền chiến tranh, không dùng binh lực đối với nhau. Thực hiện trao đổi kinh tế văn hoá giữa hai miền. Cho nhân dân hai miền được tự do đi lại buôn bán, thăm viếng, tự do gửi thư từ cho nhau.
Sau khi Mặt trận ra đời thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công khai khẳng định Mặt trận đại diện nhân dân miền Nam, nhưng không sửa lại Hiến pháp. Điều này phù hợp với thực tế một đất nước có nhiều chính phủ (tương tự như nhà nước liên bang, nhà nước liên hiệp, theo đó mỗi vùng lãnh thổ trong một quốc gia có 1 chính phủ riêng). Hồ Chí Minh trong trả lời phỏng vấn của Daily Worker năm 1965 khẳng định Mặt trận có đường lối riêng của họ, phù hợp với hoàn cảnh mỗi miền, nhưng Việt Nam là một. Sau này Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức xem Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một chính thể và nhà nước độc lập với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng chỉ giới hạn ở Miền Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không sửa lại Hiến pháp. Tuy vậy Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đặt quan hệ bình thường như thiết lập đại sứ hay quan hệ ngoại giao với các nước khác mà đặt đại diện như mô hình nhà nước liên bang. Mục tiêu hiệp thương thống nhất hai nhà nước luôn thể hiện trong các tuyên bố hai phía và hai bên đặt đại diện tại Hà Nội và Tây Ninh thể hiện ý chí này.
Bên cạnh đó, Đảng Lao động bề ngoài vẫn thừa nhận Đảng Nhân dân Cách mạng có tính độc lập tuy nhiên sau này thừa nhận Trung ương Cục là đại diện Đảng Lao động tại miền Nam. Lập trường quốc tế nói chung đa số vẫn thừa nhận Việt Nam có hai chính quyền ở hai miền theo mô hình nhà nước liên bang chứ không nói là hai nước theo cách hiểu thông thường, và sau nhiều nước thừa nhận Cộng hòa miền Nam Việt Nam là chính quyền hợp pháp tại Miền Nam. Do lập trường của Mặt trận và Cộng hòa miền Nam Việt Nam là Miền Nam chưa có độc lập nên họ sử dụng cụm từ "giải phóng", và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dùng từ "kháng chiến" để chỉ cuộc kháng chiến hai miền nam - bắc vì một mục tiêu chung là độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ.
Lập trường Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phía Mặt trận thường giống nhau, trừ việc Mặt trận không hề đề cập đến các chính sách cải tạo Xã hội Chủ nghĩa ở miền Nam. Năm 1955 và năm 1960 Miền Bắc cho thành lập các khu tự trị, có ý nghĩa trong chính sách lôi kéo người dân tộc thiểu số miền Nam đứng về phía cách mạng (khi đó chính quyền Việt Nam Cộng hòa phủ nhận sự tự trị mà Pháp trao cho các dân tộc thiểu số). Phía Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời cũng cho thành lập các Ủy ban tự trị dân tộc thuộc địa phận vùng kiểm soát của mình, trong thời gian chiến tranh như miền Bắc có khu tự trị. Tuy nhiên sau 1975 thì do vấn đề Trung Quốc, Khmer Đỏ và các vấn đề an ninh... nên các chính quyền tự trị này ở miền Bắc lẫn miền Nam đều bị giải tán, quyền chỉ đạo được thống nhất ở trung ương.
Ông Lê Văn Hảo, từng là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên – Huế của Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam trong thời tổng tấn công Tết Mậu thân: "... Khi lên trên núi, tôi biết ngay Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam chỉ là một tổ chức hữu danh vô thực của cộng sản thôi, họ là do Hà Nội chỉ đạo. Mà họ cũng có muốn giấu điều đó với tôi đâu." Theo RFA, Giáo sư Triết Nguyễn Văn Trung, là người từng được công luận tại miền nam trước năm 1975 xem là thuộc Thành phần thứ ba, đưa các thông tin đi kèm nhận xét: "Những người Mặt trận giải phóng miền Nam cũng là những người có thiện tâm thiện chí, nhưng sau năm 1975 thì họ thấy họ chỉ là con bài của miền Bắc thôi. Rồi có người họ rút ra, có người vẫn ở lại đó nhưng không làm gì cả. Tôi thấy họ cũng tự trọng. Họ không chống đối, họ biết họ sai lầm, nhưng họ cũng không nói ra, thế thôi, rồi mọi thứ tan biến cả"..Nguồn thông tin này không nhắc đến Mặt trận là một liên minh bao gồm cả những người cộng sản làm nòng cốt, và là một tổ chức liên kết rất rộng gồm nhiều tổ chức được tổ chức ở các cấp khác nhau tham gia. Theo Nguyễn Khắc Viện (1970), Mặt trận là một liên minh chính trị - xã hội, với Đảng Nhân dân cách mạng theo chủ nghĩa Marx-Lenin làm nòng cốt và lãnh đạo, gồm nhiều tổ chức tham gia, và con số thành viên trong các tổ chức được tổ chức từ cấp thôn đến cấp trung ương là hơn 70 vạn người.
Về phía Mặt trận, họ chỉ công khai các chức danh do hiệp thương bầu cử ra (của Mặt trận hay chính quyền các cấp), hay chức vụ của các tổ chức, Đảng (cả đảng Nhân dân cách mạng) trong Mặt trận, cũng như quân giải phóng (Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang,...), nhưng trước khi Hiệp định Paris ký kết không công khai các chức danh hay cán bộ thuộc về phía Đảng Lao động chỉ định (như ủy viên Trung ương hay Bộ Chính trị hay trong Trung ương Cục, và các cấp lãnh đạo đảng ở địa phương, cũng như nhiều chỉ huy quân đội,...) để thể hiện rõ lập trường Miền Bắc chỉ chi viện giúp đỡ miền Nam và phối hợp quân sự, kể cả cử cán bộ chỉ huy Quân giải phóng, lực lượng cách mạng, chứ không chi phối chính sách của phía Mặt trận do sự hiệp thương của các lực lượng tham gia quyết định, mặt khác thể hiện nguyên tắc bí mật trong thời chiến.
== Quan hệ ngoại giao ==
Ngày 25 tháng 2 năm 1962, Mặt trận đặt đại diện thường trực tại Cuba, đến tháng 2 năm 1963 đặt đại diện thường trực tại Algérie, sau đó tại Indonesia, Cộng hòa Dân chủ Đức, Trung Quốc, Liên Xô, Campuchia, România, Mông Cổ, Thụy Điển, Albania, Ba Lan, Tiệp Khắc, Triều Tiên, Đan Mạch, Congo - Brazzaville, Pháp, Phần Lan, Iraq, Mali, Nam Yemen, Somalia, Tanzania,...
Mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc, thể hiện qua điện của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ gửi Chủ tịch BCHTU Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông ngày 26-12-1967, có đoạn "Quân và dân miền Nam Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng, nhận thức sâu sắc rằng "bảy trăm triệu nhân dân Trung Quốc là hậu thuẫn vững mạnh của nhân dân Việt Nam, đất nước Trung Quốc bao la là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam", rằng thắng lợi của chúng tôi không thể tách rời sự ủng hộ và giúp đỡ chí tình, to lớn và có hiệu quả của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa anh em"
== Đánh giá ==
Nhìn chung, các chủ trương thành lập các Mặt trận và sự lãnh đạo của Đảng chỉ được công khai với thế giới sau này, và tùy theo thực tế, có khi đảng không hoàn toàn chi phối được tất cả các chính sách các Mặt trận do có nhiều tổ chức tham gia ngoại trừ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau này. Do đó tính chất của các Mặt trận kể trên không hoàn toàn như lịch sử công khai ở Việt Nam hiện nay nêu và như các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản đánh giá do không có đủ tư liệu.
Nếu so với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thì Việt Minh trước đây cũng là một liên minh gồm nhiều đảng phái, tổ chức và cá nhân bao gồm cả Đảng Cộng sản (nòng cốt). Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương giải tán và Việt Minh trở thành bình phong của người cộng sản trong một hai năm đầu, chủ yếu nhất giai đoạn trước kháng chiến toàn quốc, còn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam luôn là một liên minh trong đó những người cộng sản làm nòng cốt.
Theo đánh giá của William Colby, cựu giám đốc CIA và người từng chỉ huy Chiến dịch Phượng Hoàng, để làm mờ đi lý lịch cộng sản (và thu hút nhiều người tham gia hơn), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được coi là một phong trào của riêng người Nam Việt Nam sẵn sàng đón nhận mọi đảng phái và những nhân vật miền Nam mà tên tuổi được tung ra như là những người lãnh đạo tổ chức thì trên thực tế họ không có mấy quyền hành kiểm soát mặt trận cũng như những người trong mặt trận Việt Minh thời Chiến tranh Đông Dương. Quyền chi phối Mặt trận chủ yếu thuộc về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa .
Theo định nghĩa hiện nay thì các Mặt trận do đảng lãnh đạo hay chủ trương thành lập (ngầm hay công khai) đều là các tổ chức Mặt trận Dân tộc Thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, và trong khối dân vận. Như vậy về thực tế các tổ chức này làm dân vận cho đảng, đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của đảng, cho dù thực tế về mặt quá khứ công khai như Việt Minh được xem như là một "đảng": 1945-1951, hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một liên minh chính trị "độc lập" với Đảng Lao động Việt Nam.
Tác giả cuốn Duc: A Reporter’s Love for the Wounded People of Vietnam, Uwe Siemon-Netto, một ký giả kỳ cựu người Đức và là nhà thần học đạo Tin Lành thì cho rằng: ...phần lớn chứng cứ không thể chối cãi được là đa số người dân Miền Nam không ưa cộng sản. Ngay từ khởi đầu, giới báo chí chúng tôi đã thấy họ chạy trốn Việt Cộng. Họ không vượt bờ Bến Hải sang Bắc Việt, mà cũng không tìm vào vùng gọi "giải phóng" của người cộng sản. Cho tới phút cuối cùng dân tỵ nạn gom nhau vào vùng đất do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, cho dù mảnh đất này thu nhỏ dần. Hai triệu dân ùa vào Đà Nẵng. Đường vào Sài Gòn tắc nghẽn vì bao gia đình di tản khiến con số đó ghì chân bước tiến của quân Bắc Việt Nam. Và khi tàn cuộc, "thuyền nhân" lại vượt biên, không những từ trong Nam mà cả từ bến nước ngoài Bắc, đạt những con số quy mô. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam mà dân chúng phải di tản ồ ạt như thế - bất kể thời kỳ Trung Hoa, Pháp hay Mỹ. Đó là giải phóng ư?
Nhà nước Việt Nam hiện nay đánh giá rất cao vai trò của mặt trận trong việc thu hút mọi người dân ở miền Nam thuộc các thành phần xã hội khác nhau đi theo cách mạng, đặc biệt các tầng lớp trí thức, nhân sĩ, đoàn kết chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa: "Trong cuộc kháng chiến ở miền Nam, Mặt trận có một vai trò lịch sử hết sức to lớn. Về mặt công khai, Mặt trận Giải phóng là người tổ chức và là ngọn cờ động viên lãnh đạo nhân dân miền Nam trong cuộc chống Mỹ, cứu nước; cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức kháng chiến, Mặt trận là hậu thuẫn vững mạnh của chính quyền cách mạng; mặt khác sau khi Chính phủ Cách mạng ra đời, Mặt trận Giải phóng vẫn còn có vai trò quan trọng về mặt đối ngoại"
== Nguồn tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách những vụ tấn công của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam
Đội quân tóc dài
== Liên kết ngoài ==
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Website Mặt trận Tổ quốc Việt Nam |
mật mã chuồng heo.txt | Mật mã chuồng heo là một mật mã thay thế đơn giản, trong đó các ký tự được thay thế bằng dạng hình học của phần "chuồng" chứa ký tự đó.
== Bảo mật ==
Việc sử dụng các ký hiệu hình học không làm tăng thêm độ bảo mật của mật mã, thực tế mật mã chuồng heo là một dạng của mật mã dùng một bảng chữ cái. Vì thuật toán đơn giản, nó thường được giới thiệu trong các sách cho trẻ em cũng như viết thư bí mật.
Mật mã chuồng heo có thể bị phá vỡ bằng phương pháp phân tích tần suất , hoặc đơn giản là đoán mã.
== Lịch sử ==
== Các biến thể ==
== Ví dụ ==
Với khóa trong hình đầu bài viết, thông điệp "X marks the spot" sẽ được mã hóa thành:
== Trong văn hóa đại chúng ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Barker, Wayne G. biên tập (1978). The History of Codes and Ciphers in the United States Prior to World War I. Aegean Park Press. ISBN 0894120263.
Gardner, Martin (1972). Codes, ciphers and secret writing. ISBN 0-486-24763-9 .
Kahn, David (1967). The Codebreakers. The Story of Secret Writing. Macmillan.
Kahn, David (1996). The Codebreakers. The Story of Secret Writing. Scribner. ISBN 0684831309.
Newton, David E. (1998). “Freemason's Cipher”. Encyclopedia of Cryptology. ISBN 0-87436-772-7.
Pratt, Fletcher (1939). Secret and Urgent: The story of codes and ciphers. Aegean Park Press. ISBN 0894122614.
Shulman, David; Weintraub, Joseph (1961). A glossary of cryptography. Crypto Press. tr. 44.
Wrixon, Fred B. (1998). Codes, Ciphers, and other Cryptic & Clandestine Communication. Black Dog & Leventhal Publishers, Inc. ISBN 1579120407.
== Liên kết ngoài ==
The Elian Script is a similar grid-based cipher, used as art.
Online Pigpen cipher tool for enciphering small messages. |
thái nguyên (thành phố).txt | Thái Nguyên là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Thái Nguyên, là một trong những thành phố lớn nhất ở miền Bắc, chỉ sau Hà Nội và Hải Phòng về dân số. Thành phố Thái Nguyên là trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc. Thành phố Thái Nguyên được thành lập vào năm 1962 và là một thành phố công nghiệp. Thành phố Thái Nguyên nằm bên bờ sông Cầu. Diện tích 170,7 km2 và dân số 306.842 người (năm 2015). Thành phố Thái Nguyên từng là thủ phủ của Khu tự trị Việt Bắc trong suốt thời kỳ tồn tại của khu tự trị này (1956 - 1965) Ngoài ra, thành phố Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn.
== Địa Lý ==
=== Vị trí ===
Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên (trước kia thuộc tỉnh Bắc Thái), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi phía Bắc; trung tâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 80 km.Tổng diện tích tự nhiên 18.970,48 ha, phía bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Lương, phía đông giáp thành phố Sông Công, phía tây giáp huyện Đại Từ, phía Nam giáp thị xã Phổ Yên và huyện Phú Bình.
=== Khí hậu ===
Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng đông bắc Việt Nam, thuộc miền khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có mùa đông phi nhiệt đới lạnh giá, ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Khí hậu của thành phố Thái Nguyên chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông và nằm trong vùng ấm của tỉnh, có lượng mưa trung bình khá lớn.
=== Tài nguyên thiên nhiên ===
Thành phố Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú.
Tài nguyên đất: so với diện tích đất tự nhiên thì tổng diện tích đất phù sa không được bồi hàng năm với độ trung tính ít chua là 3.125,35ha, chiếm 17,65% so với tổng diện tích tự nhiên; đất phù sa không được bồi hàng năm, chua, glây yếu có 100,19ha, chiếm 0,75% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bổ chủ yếu ở phường Phú Xá; đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua có 379,84ha, chiếm 2,35% tổng diện tích đất tự nhiên; đất (Pcb1) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nhẹ có 271,3ha, chiếm 1,53%; đất (Pcb2) bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản lượng feralit trên nền cơ giới nặng có 545,6ha, chiếm 3,08%...
Tài nguyên rừng: rừng ở Thái Nguyên chủ yếu là rừng nhân tạo và rừng trồng theo chương trình 327, rừng trồng theo chương trình PAM, vùng chè Tân Cương cùng với các loại cây trồng của nhân dân như cây nhãn, vải, quýt, chanh... Cây lương thực chủ yếu là cây lúa nước, ngô, đậu... thích hợp và phát triển ở những vùng đất bằng trên các loại đất phù sa, đất mới phát triển, đất glây trung tính ít chua.
Tài nguyên khoáng sản: 2 tuyến sông lớn chảy qua (sông Cầu và sông Công), do đó cung cấp cho thành phố một lượng cát, sỏi phục vụ xây dựng khá lớn, đủ đáp ứng nhu cầu xây dựng cho toàn thành phố. Thành phố nằm trong vùng sinh khoáng đông bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương. Mỏ than nội địa Khánh Hoà thuộc xã Phúc Hà có trữ lượng than rất lớn.
Nguồn nước: hai bên bờ sông của khu vực Đồng Bẩm, Túc Duyên có lượng nước ngầm phong phú.
== Lịch sử ==
- Năm 1831, nhà Nguyễn điều chỉnh lại địa giới hành chính, cắt huyện Thiên Phúc (vùng đất huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ngày nay) về tỉnh Bắc Ninh, thủ phủ của trấn Thái Nguyên được chuyển từ xã Bình Kỳ, huyện Thiên Phúc về thành Đồng Mỗ, thuộc huyện Đồng Hỷ (nay là một phần vùng đất thuộc các phường Trưng Vương và Túc Duyên, thành phố Thái Nguyên). Tỉnh thành đất bằng phẳng, rộng rãi, đường thủy, đường bộ giao thông đều thuận tiện. Chu vi tỉnh thành dài 345 trượng (khoảng 1145,4 mét), cao 9 thước (khoảng 2,88 mét), mở 4 cửa, hào rộng 3 trượng (khoảng 9,96 mét), sâu 5 thước (khoảng 1,66 mét). Tường thành đắp bằng đất, đến năm Tự Đức thứ 2 (1849) được xây bằng gạch. Dưới thời Pháp thuộc, từ năm 1884 đến đầu Thế kỷ XX, cùng với việc tăng cường bộ máy đàn áp, mở rộng các cơ sở dịch vụ, thành phố Thái Nguyên được thực dân Pháp mở rộng thành thị xã Thái Nguyên và phát triển dân về phía Tây nam, bao gồm phần đất có diện tích tương ứng với phường Trưng Vương, một phần các phường Túc Duyên, Hoàng Văn Thụ và Phan Đình Phùng ngày nay.
- Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, thị xã Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên.
- Năm 1956, khu Tự trị Việt Bắc được thành lập, thị xã Thái Nguyên vừa là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên, vừa là Thủ phủ của Khu Tự trị Việt Bắc, gồm 3 phường: Hoàng Văn Thụ, Phan Đình Phùng, Trưng Vương. Năm 1958, cắt một phần đất của các xã Đồng Bẩm, Cao Ngạn, Hóa Thượng thuộc huyện Đồng Hỷ để thành lập thị trấn Núi Voi và phường Chiến Thắng. Theo quyết định số 114/CP ngày 19 tháng 10 năm 1962 của Thủ tướng Chính phủ, thị xã Thái Nguyên được nâng cấp thành thành phố Thái Nguyên, thuộc tỉnh Thái Nguyên, với tổng diện tích tự nhiên hơn 100 ki lô mét vuông và với dân số khoảng 60.000 người; cùng thời điểm này, chuyển 4 xã Cam Giá, Túc Duyên, Quang Vinh, Đồng Bẩm, các xóm Chùa, Quan Triều của xã Lương Sơn, các xóm Hòa Bình, Minh Cầu, Thống Nhất, Cầu Tre, Tiến Thành, Cấp Tiến của xã Đồng Quang, các xóm Thành, Phố, Ôn Lương của xã Tích Lương (thuộc huyện Đồng Hỷ); các xóm Nhân Thịnh, Ngọc Tâm của xã Thượng Đình (sáp nhập vào xã Lương Sơn), các xóm Ngân, Na Hoàng, Tiến Bộ, Phú Thái, Lương Thịnh, Tân Trung của xã Lương Sơn, xóm Hanh của xã Đào Xá (thuộc huyện Phú Bình); xóm Tân Long của xã Sơn Cẩm (thuộc huyện Phú Lương) và thị trấn Trại Cau về thành phố Thái Nguyên quản lý.
- Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và tăng cường khả năng quốc phòng, theo quyết định ngày 21 tháng 4 năm 1965 của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn sáp nhập thành tỉnh Bắc Thái, thành phố Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Bắc Thái. Sau năm 1975, thành phố Thái Nguyên có 10 phường: Chiến Thắng, Hoàng Văn Thụ, Hương Sơn, Phan Đình Phùng, Phú Xá, Quan Triều, Tân Long, Tân Thành, Trung Thành, Trưng Vương; 2 thị trấn: Núi Voi và Trại Cau và 7 xã: Cam Giá, Đồng Bẩm, Đồng Quang, Gia Sàng, Lương Sơn, Quang Vinh, Túc Duyên. Ngày 21 tháng 10 năm 1982, chuyển thị trấn Núi Voi thành phường Núi Voi và chuyển thị trấn Trại Cau về huyện Đồng Hỷ quản lý.
- Để phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ, ngày 2 tháng 4 năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Hội đồng Chính phủ) ra quyết định số 102/HĐBT chuyển huyện Đồng Hỷ sang phía đông - bắc sông Cầu; thành phố Thái Nguyên tiếp nhận thêm 7 xã phía tây và tây bắc của huyện Đồng Hỷ: Phúc Hà, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương, Thịnh Đán, Thịnh Đức và Tích Lương, đồng thời cắt xã Đồng Bẩm và 2 phường Chiến Thắng, Núi Voi (thành lập thị trấn Chùa Hang) về huyện Đồng Hỷ quản lý. Ngày 8 tháng 4 năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 109/HĐBT, thành lập phường Tân Thịnh (tách ra từ xã Thịnh Đán), và giải thể 3 xã Đồng Quang, Cam Giá, Gia Sàng để thành lập 3 phường Đồng Quang, Cam Giá, Gia Sàng.
- Theo Quyết định số 25/HĐBT ngày 13 tháng 2 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng, các xã Túc Duyên, Quang Vinh thành 2 phường Quang Vinh, Túc Duyên; phường Tân Thịnh được chia thành 2 phường Tân Thịnh và Tân Lập.
- Thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ, phường Đồng Quang tách thành 2 phường: Đồng Quang và Quang Trung.
- Theo Quyết định ngày 6 tháng 11 năm 1996 của Quốc hội khóa IX, tỉnh Bắc Thái được tách thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, thành phố Thái Nguyên là tỉnh lỵ tỉnh Thái Nguyên, gồm 17 phường: Cam Giá, Đồng Quang, Gia Sàng, Hoàng Văn Thụ, Hương Sơn, Phan Đình Phùng, Phú Xá, Quan Triều, Quang Trung, Quang Vinh, Tân Lập, Tân Long, Tân Thành, Tân Thịnh, Trung Thành, Trưng Vương, Túc Duyên và 8 xã: Lương Sơn, Phúc Hà, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Tân Cương, Thịnh Đán, Thịnh Đức, Tích Lương.
- Theo Quyết định số 14/2004/NĐ-CP, ngày 1 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ, xã Thịnh Đán được tách thành phường Thịnh Đán và xã Quyết Thắng.
- Ngày 31 tháng 7 năm 2008, Chính phủ đã có Nghị định số 84/2008-CP về điều chỉnh địa giới huyện Đồng Hỷ để mở rộng thành phố Thái Nguyên, bàn giao hai xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm về thành phố Thái Nguyên.
- Ngày 13 tháng 1 năm 2011, Chính phủ đã có nghị quyết số 05/NQ-CP về giải thể, điều chỉnh địa giới để thành lập các phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; theo đó, chuyển xã Tích Lương thành phường Tích Lương thuộc thành phố Thái Nguyên.
- Ngày 11 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã có nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; theo đó, chuyển xã Lương Sơn thuộc thành phố Thái Nguyên về thị xã Sông Công quản lý (sau đổi thành phường Lương Sơn).
Như vậy sau 50 năm thành lập thành phố Thái Nguyên, đến nay sau nhiều lần điều chỉnh, chuyển đổi, toàn thành phố Thái Nguyên đã có 27 xã, phường trong đó có 8 xã và 19 phường; Diện tích tự nhiên là 17.069,76 ha; Dân số 306.842 người; trong đó dân số thường trú là 279.710 người (thời điểm ngày 11 tháng 1 năm 2015)
Đối với thành phố 55 năm đã dược Thủ tướng Chính phủ nhiều lần quyết định phê duyệt điều chỉnh và nâng cấp thành phố, đó là các lần quyết định như sau:
- Ngày 30 tháng 10 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 802/TTG phê duyệt quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên, công nhận thành phố Thái Nguyên là trung tâm vùng Việt Bắc.
- Ngày 14 tháng 10 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 135/2002/QĐ-TTG công nhận thành phố Thái Nguyên là đô thị loại II.
- Ngày 2 tháng 11 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 278/2005 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên đến năm 2020.
- Ngày 1 tháng 9 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1615/QĐ-TTG công nhận thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên.
- Ngày 15 tháng 5 năm 2015, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 932/NQ-UBTVQH13 Về việc thành lập thị xã Phổ Yên và 4 phường thuộc thị xã Phổ Yên, điều chỉnh địa giới thành phố Thái Nguyên để thành lập phường Lương Sơn thuộc thị xã Sông Công và thành lập thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố Thái Nguyên còn lại 17.069,76 ha diện tích tự nhiên, 306.842 người với 27 đơn vị hành chính bao gồm 19 phường và 8 xã.
- Ngày 20 tháng 12 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 2486/QĐ-TTg Về việc phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2035. Phạm vi lập quy hoạch có tổng diện tích là 22.313,6 ha, bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên thành phố Thái Nguyên hiện có 17.069,8 ha và mở rộng 5.243,8 ha về các phía: Phía Bắc là xã Sơn Cẩm (huyện Phú Lương); phía Đông là thị trấn Chùa Hang, xã Linh Sơn, xã Huống Thượng (huyện Đồng Hỷ) và xã Đồng Liên (huyện Phú Bình) với định hướng phát triển hai bên bờ sông Cầu, theo mô hình đô thị sinh thái, đa trung tâm gắn với việc hình thành các khu chức năng: Trung tâm lịch sử hiện hữu; trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, thương mại - dịch vụ, tài chính - ngân hàng; các khu cải tạo nâng cấp; khu phát triển mới; khu vực phát triển công nghiệp, logistic phía Bắc; khu vực du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp chất lượng cao; khu dự trữ phát triển và nông nghiệp đô thị.. Với mục tiêu xây dựng thành phố Thái Nguyên thành trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực của Quốc gia; trung tâm kinh tế - dịch vụ- du lịch, trung tâm y tế chăm sóc sức khỏe chất lượng cao gắn với nghiên cứu khoa học của vùng Trung du miền núi Phía Bắc.
== Dân số, lao động và các đơn vị hành chính ==
Thành phố Thái Nguyên có 317.580 dân, bao gồm 27 đơn vị hành chính, trong đó bao gồm 19 phường: Cam Giá, Đồng Quang, Gia Sàng, Hương Sơn, Quán Triều, Quang Trung, Hoàng Văn Thụ, Phan Đình Phùng, Phú Xá, Quang Vinh, Tân Lập, Tân Long, Tân Thành, Tân Thịnh, Thịnh Đán, Tích Lương, Trung Thành, Trưng Vương, Túc Duyên và 8 xã: Cao Ngạn, Đồng Bẩm, Phúc Hà, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Quyết Thắng, Tân Cương, Thịnh Đức. Trong đó dân số ở khu vực nội thành: 265.521 người, khu vực ngoại thành: 52.059 người.
Cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn thành phố chiếm 90,69% dân số.
== Kế hoạch điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thành phố ==
Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, mở rộng đô thị. Trong thời gian tới, thành phố và tỉnh Thái Nguyên sẽ trình Chính phủ và Ủy ban thường vụ Quốc hội Đề án điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Thái Nguyên và các huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Phú Bình. Trong đó sẽ cắt các xã Sơn Cẩm (Phú Lương), Đồng Liên (Phú Bình), Linh Sơn, Huống Thượng và thị trấn Chùa Hang (Đồng Hỷ) về thành phố Thái Nguyên. Thành lập 2 phường Đồng Bẩm (trên cơ sở xã Đồng Bẩm) và Chùa Hang (trên cơ sở thị trấn Chùa Hang). Dự kiến sau khi điều chỉnh địa giới và thành lập các phường, thành phố Thái Nguyên sẽ có 222,93 km2 diện tích tự nhiên, dân số 362.921 người; có 32 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc (gồm: 21 phường: Cam Giá, Chùa Hang, Đồng Bẩm, Đồng Quang, Gia Sàng, Hoàng Văn Thụ, Hương Sơn, Phan Đình Phùng, Phú Xá, Quan Triều, Quang Trung, Quang Vinh, Tân Lập, Tân Long, Tân Thành, Tân Thịnh, Thịnh Đán, Tích Lương, Trung Thành, Trưng Vương, Túc Duyên và 11 xã: Cao Ngạn, Đồng Liên, Huống Thượng, Linh Sơn, Phúc Hà, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Quyết Thắng, Sơn Cẩm, Tân Cương, Thịnh Đức).
== Kinh tế ==
Thành phố Thái Nguyên nằm trong vùng phát triển kinh tế năng động của tỉnh Thái Nguyên (bao gồm TP Sông Công và TX Phổ Yên), là trung tâm công nghiệp lâu đời, có tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú, có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển tập đoàn cây rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả và vật nuôi. Có tiềm năng lớn để phát triển du lịch với Hồ Núi Cốc, di tích lịch sử, cách mạng, có khu Gang Thép Thái Nguyên- cái nôi của ngành thép Việt Nam.
Đặc biệt, Thái Nguyên có nhiều khả năng phát triển nông - lâm nghiệp, có vùng chè nổi tiếng, đứng thứ hai trong cả nước về diện tích trồng chè. Thái Nguyên cũng có nhiều loại khoáng sản như: than, sắt, đá, vôi, cát, sỏi....Trong đó, than được đánh giá là có trữ lượng lớn thứ hai trong cả nước, sau Quảng Ninh.
Trên địa bàn thành phố có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp về khai khoáng, luyện kim, cơ khí, vật liêu xây dựng, hàng tiêu dùng... Khu Gang Thép Thái Nguyên được xây dựng từ những năm 60 là nơi sản xuất thép từ quặng duy nhất tại Việt Nam và hiện đang được tiếp tục đầu tư chiều sâu để phát triển. Có nhiều nhà máy Xi măng công suất lớn đã và đang được tiến hành xây dựng. Thành phố Thái Nguyên có đội ngũ cán bộ, công nhân có kinh nghiệm, năng lực, trình độ cao và đội ngũ sinh viên tốt nghiệp hàng năm từ các trường Đại học, chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố.
Thành phố đã và đang có những chế độ ưu đãi đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào thành phố. Nhằm cải thiện môi trường đầu tư, UBND thành phố đã tích cực cải tiến các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư tại thành phố theo nguyên tắc "1 cửa", giảm thiểu thời gian khi nhà đầu tư làm thủ tục hành chính để tiến hành đầu tư hoặc kinh doanh tại thành phố.
Năm 2016, thành phố Thái Nguyên đạt các chỉ tiêu kinh tế như sau: Tốc độ tăng trưởng của các ngành sản xuất năm 2016 đạt 15,5%. Trong đó: - Giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt 15.130 tỷ đồng, tăng 18,1%. - Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng đạt 38.903 tỷ đồng, tăng 15%. - Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 1.202 tỷ đồng, tăng 5%. - Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương (theo giá so sánh 2010) năm 2016 ước đạt 6.300 tỷ đồng, vượt 1,6% so với kế hoạch. - Thu ngân sách: năm 2016 đạt 1.479 tỷ đồng
== Văn hóa - Xã hội ==
=== Vẻ đẹp tự nhiên ===
Khác với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định hay các thành phố khác thuộc vùng đồng bằng, thành phố Thái Nguyên mang dáng vẻ của một thành phố vùng trung du miền núi phía Bắc, một thành phố bên sông Cầu. Điều đó đã được thể hiện qua các công trình mang tính lịch sử có những đặc trưng riêng như: Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, Ngân hàng Nhà nước Thái Nguyên,.. Cùng với đó là các công trình mới liên tục được mọc lên như: Nhà hát ca múa nhạc dân gian Việt Bắc, Tháp tài chính FCC, Tòa nhà Kim Thái, các khu chung cư cao tầng,.. Tất cả đã tạo nên một thành phố Thái Nguyên với một bộ mặt mới ngày càng hiện đại hơn. Trong tương lai, thành phố Thái Nguyên sẽ tiếp tục chỉnh tranh đô thị khang trang hơn với các dự án và công trình đã và đang triển khai như: Dự án đô thị hai bên bờ sông Cầu kết hợp chỉnh trị lũ sông Cầu, Trung tâm thương mại Vincom, Khu đô thị Picenza 1 và 2, Khu nhà ở HUDS Đồng Bẩm,... Các công trình này được hứa hẹn là sẽ tạo điểm nhấn, tạo thế và lực mới cho sự phát triển năng động của thành phố Thái Nguyên trong tương lai.
=== Hệ thống kết cấu hạ tầng ===
==== Hệ thống điện ====
Nguồn cung cấp điện cho thành phố Thái Nguyên hiện nay là nguồn điện lưới quốc gia với hệ thống đường dây cao thế 110kV và 220kV thông qua đường hạ thế xuống 35kV - 12kV - 6kV/380V/220V; 95% các đường phố chính đó có đèn chiếu sáng ban đêm.
==== Hệ thống nước sinh hoạt ====
Thành phố hiện có hai nhà máy nước là nhà máy nước Thái Nguyên và nhà máy nước Tích Lương với tổng công suất là 40.000m3/ng.đêm. Đảm bảo cung cấp nước sạch phục vụ cho sinh hoạt ở mức 100lit/người/ngày. Đến nay, 93% số hộ khu vực nội thành được cấp nước sinh hoạt.
==== Hệ thống thông tin liên lạc và truyền thông ====
Thành phố có 1 tổng đài điện tử và nhiều tổng đài khu vực. Mạng lưới viễn thông di động đã và đang được đầu tư đồng bộ hoàn chỉnh, trên địa bàn thành phố đã được phủ sóng và khai thác dịch vụ thông tin di động bởi 6 mạng di động: Vinaphone, Mobifone, Viettel, Gmobile, Vietnamobile và Sfone. Báo chí:
Báo Thái Nguyên
Báo Quân khu I
Báo Văn Nghệ Thái Nguyên
Văn phòng đại diện Báo Nông nghiệp Việt Nam
Văn phòng đại diện Báo Nhân dân
Văn phòng đại diện Báo Cựu chiến binh
Văn phòng đại diện Báo Sài Gòn Giải phóng
Văn phòng đại diện Báo Đầu tư
Văn phòng đại diện Báo Lao động
Phân xã Thông tấn xã Việt Nam tại Thái Nguyên
Phát thanh:
Đài truyền thanh truyền hình TP.Thái Nguyên: tần số 99 MHz
Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên: tần số 106.5 MHz
Ngoài ra cũng có thể nghe được một số kênh phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam
Truyền hình:
Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên: kênh thông tin tổng hợp TN1 (thời lượng 24h/ngày), kênh giải trí phim truyện TN2 (thời lượng 18h/ngày. Hiện nay kênh TN1 đã được phát sóng trên dịch vụ truyền hình cáp Việt Nam và gần đây nhất là được phát sóng trên vệ tinh VINASAT nên ở bất cứ đâu trên lãnh thổ Việt Nam hoặc một vài nước trong khu vực bạn cũng có thể xem được kênh TN1
Ngoài ra cũng có thể theo dõi được kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam qua hệ thống ăng-ten thông thường, các kênh VTV2, VTV3 không được Đài PT-TH tỉnh chuyển tiếp nên tín hiệu không được tốt.
Truyền hình trả tiền: Hiện thành phố Thái Nguyên có hệ thống truyền hình cáp Việt Nam (số 1 - đường Quyết Tiến), hệ thống truyền hình MyTV (VNPT), Truyền hình số vệ tinh VTC và VTCHD
== Giáo dục ==
Danh sách các trường đại học và khoa trực thuộc Đại học Thái Nguyên:
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh
Trường Đại học Khoa học
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp
Trường Đại học Y - dược Thái Nguyên
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông
Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên
Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên
Trường Cao đẳng kinh tế kĩ thuật-Đại học Thái Nguyên
Các trung tâm và viện nghiên cứu trực thuộc Đại học Thái Nguyên:
Trung tâm Học liệu
Nhà xuất bản
Trung tâm Hợp tác Quốc tế
Bệnh viện thực hành
Viện Khoa học Sự sống
Trung tâm Giáo dục quốc phòng
Viện Nghiên cứu KT & XHNV Miền núi
Trung tâm Nghiên cứu & CGCN vùng Đông Bắc
Viện Nghiên cứu phát triển CNC về KTCN
Các Viện nghiên cứu khoa học trực thuộc Đại học Thái Nguyên phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy.
Ngoài các trường thuộc Đại học Thái Nguyên, thành phố Thái Nguyên còn có nhiều trường Đại học, Cao đẳng thuộc các bộ, ngành khác như:
Đại học Công nghệ giao thông vận tải - Bộ giao thông vận tải
Đại học Việt Bắc - ĐH tư thục thuộc Bộ giáo dục
Văn phòng Đại diện Đại học FPT tại Thái Nguyên
Cao đẳng Cơ khí luyện kim - Bộ Công thương
Cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên - Bộ Công thương
Cao đẳng thương mại và du lịch - Bộ Công thương
Cao đẳng Kinh tế tài chính - UBND tỉnh Thái Nguyên
Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp - Bộ Công thương
Cao đẳng Y tế - Bộ Y tế
Cao đẳng Sư phạm - Bộ Giáo dục
Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Việt Bắc - Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Cao đẳng Nghề số 1 - Bộ Quốc phòng
Cao đẳng nghề cơ điện luyện kim - Tổng công ty thép Việt Nam
Cao đẳng Nghề công nghiệp Việt Bắc - Tập đoàn than - khoáng sản Việt Nam
Trường Cao đẳng kỹ thuật Việt - Đức- Bộ công thương
Và các trường trung học chuyên nghiệp:
Trung cấp luật - Bộ tư pháp
Trung cấp nghề Thái Nguyên
Trung cấp nghề CIENCO8
Trung cấp nghề Nam Thái Nguyên
Trung cấp nghề Tiến Bộ
Trường chính trị Đảng tỉnh - UBND Tỉnh
Trung tâm giáo dục thường xuyên - UBND Tỉnh
Trường trung cấp an ninh III - Bộ công An
== Các trường trung học phổ thông ==
== Y tế ==
Thành phố là trung tâm y tế của vùng trung du miền núi Bắc Bộ với nhiều bệnh viện lớn có trình độ chuyên môn cao như:
Và nhiều các trung tâm khám chữa bệnh tư nhân, dự án bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng Phúc Thắng đang được đầu tư xây dựng và sẽ hoàn thành vào năm 2015
== Giao thông ==
Hiện chưa có thống kê đầy đủ về số lượng các đường, phố ở thành phố Thái Nguyên. Tổng diện tích đất dành để xây dựng đường giao thông trên địa bàn là 1.305ha, chiếm 22% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố.
Nhìn chung, hạ tầng giao thông đô thị của thành phố đã và đang được đầu tư xây dựng một cách đồng bộ. Tuy nhiên trong những năm gần đây, dân số thành phố Thái Nguyên không ngừng tăng nhanh, thêm vào đó là mỗi năm thành phố phải đón nhận một lượng lớn người nhập cư là sinh viên theo học các trường Đại học cao đẳng trên địa bàn nên đã xảy ra tình trạng tắc đường cục bộ tại một số điểm vào những giờ cao điểm như: Ngã tư Đồng Quang, Đường Hoàng Văn Thụ, Đường Chu Văn An (Do đường quá hẹp, mật độ phương tiện vào giờ cao điểm dày đặc), Đường Lương Ngọc Quyến,...khiến cho bức tranh giao thông thành phố trở nên xấu đi.
=== Đường phố chính ===
=== Các tuyến xe buýt ===
Thành phố hiện có nhiều tuyến xe buýt đi tới tất cả các địa phương trong tỉnh, bao gồm:
Tân Long - Sông Công - Phổ Yên - Phố Nỷ (Sóc Sơn, Hà Nội) - Xem lộ trình [1]
A Gang Thép (TPTN) - Đường Cách mạng tháng Tám - Trung tâm TPTN -Yên Lãng (Đại Từ) - Xem lộ trình [2]
B Gang Thép (TPTN) - Quốc lộ 3 - Đường tránh TPTN - Tân Long (TPTN)- Yên Lãng (Đại Từ) - Xem lộ trình [3]
Chợ Thái (TPTN)- Hồ Núi Cốc - TT Đại Từ - Ký Phú - Xem lộ trình [4]
Đồng Hỷ - TP Thái Nguyên - Phố Nỷ (Sóc Sơn, Hà Nội)- Xem lộ trình [5]
Tân Long (TPTN) - Phú Bình - Cầu Ca - Xem lộ trình [6]
TP Thái Nguyên - Định Hóa - Xem lộ trình [7]
Quyết Thắng (TPTN) - Đình Cả (Võ Nhai) - Xem lộ trình [8]
TX Sông Công - Phố Nỷ (Sóc Sơn, Hà Nội) [Đã ngừng hoạt động]
TT Trại Cau (Đồng Hỷ) - Thịnh Đán (TPTN) - TP Sông Công - KCN Yên Bình (Samsung Phổ Yên) - Xem lộ trình [9]
Thịnh Đán (TP.Thái Nguyên) - Quân Chu (Đại Từ) [Đã ngừng hoạt động]
Sông Công - KCN Điềm Thụy (Phú Bình) [Đã ngừng hoạt động]
=== Hệ thống giao thông liên vùng ===
Thành phố Thái Nguyên là một đầu mút giao thông với 3 đường Quốc lộ đi qua gồm: Quốc lộ 3 (đi Hà Nội về phía Nam, đi Bắc Kạn về phía Bắc), Quốc lộ 37 (đi Tuyên Quang về phía Tây, đi Bắc Giang về phía Đông), Quốc lộ 1B (đi Lạng Sơn). Ngoài ra để giảm mật độ các phương tiện ra vào trung tâm thành phố, thành phố đã đầu tư xây dựng tuyến đương tránh TP.Thái Nguyên, hiện tuyến đường này đã được đưa vào sử dụng. Thành phố Thái Nguyên có 2 hệ thống đường sắt chính: Hà Nội - Quan Triều và Lưu Xá - Kép, ngoài ra còn có tuyến Quan Triều - Núi Hồng chuyên dùng để chở khoáng sản. Hệ thống đường sông nội thủy hiện không còn được sử dụng do các sông thường có mức nước nông nhất là vào mùa đông. Thành phố Thái Nguyên cách thủ đô Hà Nội 80 km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km. Ngoài ra thành phố còn là cửa ngõ đi các tỉnh Đông Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn.
Ngoài ra, thành phố còn có Sân bay Đồng Bẩm, nhưng hiện đang bị bỏ hoang và không được sử dụng
Thành phố hiện có 1 bến xe khách tại khu vực trung tâm. Dự kiến trong tương lai, thành phố sẽ có 3 bến xe khách: Bến xe trung tâm, Bến xe phía Bắc, Bến xe phía Nam. Bến xe Trung tâm cũ sẽ được chuyển đổi thành Bến trung chuyển xe bus.
== Thành phố kết nghĩa ==
Salo - Phần Lan
Gyeongsang Bắc - Hàn Quốc
Dongnae, Busan - Hàn Quốc
Nha Trang, Khánh Hòa - Việt Nam
== Quy hoạch ==
Thành phố đang triển khai xây dựng và mở rộng một số khu đô thị mới như: Khu đô thị mới Thai Nguyen Park City (44,42ha), Khu đô thị mới Thịnh Quang (130ha), Khu đô thị mới Bắc Sơn - Sông Hồng (16,5ha), Khu đô thị mới Detechland Túc Duyên (66,9ha), Tổ hợp đô thị và dịch vụ APEC Gia Sàng (52.711m2), Khu đô thị mới phía Tây thành phố (1500ha), Khu đô thị mới phía Nam thành phố (44,5ha), Khu đô thị mới Nam Sông Cầu (133ha), Khu phố châu Âu bên bờ sông Cầu (136.380m2), Khu đô thị mới Thai Hưng (195ha), Khu đô thị Đồng Bẩm Riverside Villas (66,2ha), Dự án đường đô thị Đán-Núi Cốc và hệ thống 8 khu đô thị mới dọc tuyến đường (dự kiến hoàn thành vào năm 2015)... Ngoài ra còn có các dự án Thành phố công nghệ và giao lưu quốc tế APECI (2200ha), Dự án Thành phố thông minh (1035 ha) nằm trong Tổ hợp đô thị thương mại và dịch vụ Yên Bình với tổng diện tích quy hoạch là 8009 ha được triển khai tại 2 huyện Phú Bình và Phổ Yên sẽ là vùng đô thị quan trọng của thành phố Thái Nguyên trực thuộc trung ương trước năm 2020.
trong tương lai gần, một phần các xã phía Tây của Thành phố Thái Nguyên bao gồm các xã Tân Cương, Phúc Xuân và Phúc Trìu sẽ được tách ra để cùng với một phần huyện Đại Từ, Phổ Yên thành lập thị xã Núi Cốc. Khi thành lập thị xã Núi Cốc sẽ có diện tích 23.844,82ha diện tích tự nhiên và 53.581 nhân khẩu.
== An ninh quốc Phòng ==
Bộ tư lệnh Quân khu 1 đóng tại thành phố Thái Nguyên có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy quân đội chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ vùng Đông Bắc bộ Việt Nam và bảo vệ thủ đô Hà Nội từ phía bắc và đông bắc. Quân khu bao gồm các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang và Bắc Ninhvà là một trong 7 quân khu trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam.
== Danh lam thắng cảnh - Văn hóa - Du lịch ==
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm du lịch của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc. Nơi đây có khu du lịch Hồ Núi Cốc nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, có Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam mới được tổ chức SIDA Thuỵ Điển tài trợ sửa chữa, nâng cấp, là nơi lưu giữ hầu hết các di sản mang đậm bản sắc của các dân tộc Việt Nam, làng nghề chè Tân Cương nổi tiếng, đền thờ Đội Cấn và 91 di tích lịch sử văn hoá khác.
Nhà hát ca múa dân gian Việt Bắc
Nhà hát ca múa dân gian Việt Bắc là nhà hát trung ương đóng trên địa bàn Thái Nguyên trực thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Trụ sở tại Đường Chu Văn An - TP.Thái Nguyên. Nhà hát đang được đầu tư xây dựng địa điểm mới tại Đường Hoàng Văn Thụ - TP.Thái Nguyên
Khu du lịch Hồ Núi Cốc
Cách trung tâm thành phố 16 km về phía Tây, Khu du lịch Hồ Núi Cốc hứa hẹn là điểm đến đầy hấp dẫn với du khách. Đến với Hồ Núi Cốc là đến với truyền thuyết huyền thoại Nàng Công Chàng Cốc, là hòa mình vào phong cảnh non nước nên thơ hữu tình nơi đây. Cùng với đó là hệ thống vui chơi giải trí khá thú vị như: Huyền Thoại Cung, Động Ba Cây Thông, Động Thế giới Âm phủ, Sân khấu nhạc nước, Vườn thú Hồ Núi Cốc, Công viên nước Hồ Núi Cốc...hay bạn cũng có thể đi du thuyền trên hồ, đi thăm các hòn đảo, thăm ngôi nhà cổ 300 năm trên Hồ Núi Cốc. Tất cả sẽ đem lại cho bạn những giây phút nghỉ ngơi thư giãn tuyệt vời nhất tại Hồ Núi Cốc. Trong những năm qua, mạng lưới nhà hàng khách sạn không ngừng được đầu tư xây dựng và phát triển, đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng cao của du khách. Khu du lịch Hồ Núi Cốc được xác định là vùng du lịch trọng điểm quốc gia.
Chùa Phủ Liễn
Tên chữ là Phù Chân tự, được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX trên một quả đồi thoai thoải thuộc làng Phù Liễn, huyện Đồng Hỷ (nay thuộc phường Hoàng Văn Thụ- TPTN). Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Các công trình chính của chùa như điện Tam Bảo, điện thờ Mẫu, nhà tổ và một số nhà tháp là nơi đặt linh vị của các nhà sư trụ trì. Từ xa xưa, chùa Phù Liễn được coi là địa linh, là một trong những điểm hành hương về cầu trời phật của người dân Thái Nguyên.
"Khi Mỏ Bạch, khi Xương Rồng
Khi Phù Liễn tự, khi Đồng Mỗ am"
Vào ngày mùng một, ngày rằm hàng tháng, Phật tử khắp nơi về chùa Phù Liễn thắp hương cúng Phật. Lễ hội của nhà chùa mở vào ngày 12 tháng Giêng hàng năm, trong lễ hội có nhiều trò chơi dân gian như chọi gà, kéo co, múa sư tử và hội thơ xuân Phù Liễn.
Đền Đội Cấn
Đền thờ ông Đội Cấn- Thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp tại Thái Nguyên năm 1917 và các nghĩa sĩ tham gia khởi nghĩa này. Đền cũ được xây dựng trước năm 1945, đã bị bom Pháp phá huỷ năm 1947. Ngôi đền hiện nay xây dựng trên nền cũ, trong khuôn viên khu đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tỉnh Thái Nguyên ở trung tâm thành phố.
Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tọa lạc trên đường Đội Cấn thành phố Thái Nguyên, Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam là bảo tàng trung ương duy nhất đóng trên địa bàn Thái Nguyên trực thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Bảo tàng được xây dựng từ năm 1960 với lối kiến trúc độc đáo vào loại bậc nhất Việt Nam. Với 5 phòng trưng bày trong nhà và 6 khu vực trưng bày ngoài trời với nhiều nền văn hóa của các dân tộc thuộc nhiều vùng miền khác nhau. Đến với Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam là hòa mình với không gian văn hóa các vùng miền, được thỏa sức tìm hiểu văn hóa của 54 dân tộc anh em, qua đó tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc, các vùng miền trên đất nước Việt Nam. Hãy đến với Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam - Số 1 Đường Đội Cấn TP.Thái Nguyên!
Chùa Đồng Mỗ
Bảo tàng quân khu I
Bảo tàng Bảo tàng lực lượng vũ trang Việt Bắc - Quân khu I tọa lạc trên khuôn viên rộng 45 nghìn m² thuộc phường Tân Thịnh, TP Thái Nguyên. Đây là nơi gìn giữ và giới thiệu hơn 9.500 hiện vật các loại phản ánh lịch sử hình thành và phát triển trong các thời kỳ cách mạng của lực lượng vũ trang Việt Bắc - Quân khu I.
Nhà trưng bày của Bảo tàng được xây dựng hai tầng. Tầng một diện tích 700 m² trưng bày giới thiệu vị trí chiến lược, truyền thống yêu nước cách mạng của vùng Việt Bắc và phòng triển lãm chuyên đề. Tầng hai 800m2 trưng bày theo các chủ đề: Việt Bắc căn cứ địa cách mạng, chiến trường chính của cả nước trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp (1946 - 1954); Quân khu I trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975), Quân khu I trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quan hệ quốc tế và trưng bày chuyên đề. Bảo tàng còn có khu trưng bày ngoài trời hiện đang trưng bày 28 hiện vật gốc thể khối lớn như: Máy bay, tên lửa, ra đa, súng pháo là vũ khí, khí tài do con em đồng bào các dân tộc Việt Bắc sử dụng lập nên nhiều chiến công trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc.
== Ẩm thực - Đặc Sản ==
Xưa nay, nói đến trà Việt, người ta nghĩ ngay đến trà Thái Nguyên. Mặc dù diện tích trồng chè chỉ đứng thứ 2 cả nước (sau Lâm Đồng), nhưng Thái Nguyên nằm trong vùng chè lâu đời của Việt Nam, với sản phẩm chè có hương vị đặc trưng mà không nơi nào khác có được. Từ rất lâu, chè Thái Nguyên đã được tôn vinh là "đệ nhất danh trà" của đất nước. Chè Thái Nguyên ngon nhất là chè xanh Tân Cương, búp đều, nhỏ, hình móc câu, có vị cốm thơm. nước pha trà ngon nhất là nước suối đầu nguồn, nước sạch ở giữa lòng sông hoặc nước giếng khơi.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Thành phố Thái Nguyên tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Cổng giao tiếp điện tử Thành phố Thái Nguyên
Hệ thống Sàn Giao Dịch BĐS-Nhà đất Thái Nguyên |
stephen oppenheimer.txt | Stephen Oppenheimer (sinh năm 1947), người Anh, là bác sĩ nhi khoa, nhà di truyền học, và nhà văn. Ông là thành viên của Green Templeton College, Oxford và thành viên danh dự của trường Y học Nhiệt đới Liverpool. Ông thực hiện và xuất bản các nghiên cứu trong lĩnh vực di truyền học và thời tiền sử của con người.
== Hoạt động ==
Oppenheimer được đào tạo về y học tại trường đại học Oxford và London vào năm 1971. Từ năm 1972, ông làm việc như một bác sĩ nhi khoa lâm sàng, làm việc chủ yếu ở Malaysia, Nepal và Papua New Guinea. Ông thực hiện và công bố nghiên cứu lâm sàng trong các lĩnh vực dinh dưỡng, bệnh truyền nhiễm (bao gồm cả bệnh sốt rét), và di truyền, tập trung vào sự tương tác giữa dinh dưỡng, di truyền và nhiễm trùng, đặc biệt là dinh dưỡng sắt, bệnh thiếu máu và bệnh sốt rét. Từ năm 1979 ông chuyển sang nghiên cứu y học và giảng dạy, tại trường Y học Nhiệt đới Liverpool, thuộc đại học Oxford, đồng thời ở trung tâm nghiên cứu tại Kilifi, Kenya, và tại Universiti Sains Malaysia ở Penang, Malaysia.
Ông đã trải qua ba năm thực hiện nghiên cứu thực địa tại Papua New Guinea, nghiên cứu ảnh hưởng của vi lượng sắt trong tính nhạy cảm với nhiễm trùng. Nghiên cứu thực địa của ông, xuất bản vào cuối năm 1980, xác định vai trò của đột biến gen ở các vùng sốt rét như là kết quả của chọn lọc tự nhiên do tác dụng bảo vệ chống lại bệnh sốt rét, và rằng các kiểu gen (genotype) khác nhau cho phép truy tìm sự di cư theo alpha-thalassemia ra Thái Bình Dương. Sau việc đó, ông tập trung vào nghiên cứu việc sử dụng các đột biến gen xác định để làm chỉ dấu cho truy tìm dòng di cư thời tiền sử.
Từ 1990-1994 Oppenheimer là chủ tịch và giám đốc trung tâm dịch vụ lâm sàng tại Khoa Nhi tại Đại học Trung văn Hồng Kông. Ông làm việc như bác sĩ nhi khoa, chuyên viên cao cấp tại Brunei từ năm 1994 đến năm 1996. Ông trở về Anh vào năm 1997, viết cuốn sách Eden in the East (Ðịa đàng phương Ðông): lục địa bị chìm trong khu vực Đông Nam Á, xuất bản năm 1998. Cuốn sách tổng hợp công trình của một loạt các ngành, bao gồm cả hải dương học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhân học xã hội và di truyền con người.
Oppenheimer tiếp tục viết sách báo, và bắt đầu một sự nghiệp thứ hai là một nhà nghiên cứu và nhà văn nổi tiếng trong khoa học về thời tiền sử của con người. Ông xuất bản cuốn sách thứ hai, Out of Eden (Rời khỏi địa đàng): các cuộc định cư ra thế giới, và Sau đó năm 2006 ông viết "Nguồn gốc của người Anh: phóng sự thám tử di truyền", nói về cư dân chiếm lĩnh Vương quốc Anh và Ireland thời hậu băng hà.
Oppenheimer làm cố vấn cho các loạt phim tài liệu truyền hình:
The Real Eve (Discovery Channel),
Out of Eden (Channel 4),
The Incredible Human Journey (Hành trình di cư của nhân loại không thể tin được), bộ phim tài liệu khoa học của truyền hình BBC do Alice Roberts chủ biên, làm năm 2009.
== Tác động đến nghiên cứu thời tiền sử Đông Nam Á ==
Eden in the East (Ðịa đàng phương Ðông) và Out of Eden (Rời khỏi địa đàng) đề cập đến thời tiền sử ở đông và Đông Nam Á, nên giành được sự quan tâm của giới học giả nghiên cứu thời tiền sử ở vùng này, trong đó có Việt Nam. Diễn đạt của Oppenheimer dẫn đến việc hiểu rằng ông coi Đông Nam Á là một cái nôi phát triển của loài người, tập trung trong một số quan điểm bao gồm thứ nhất, Đông Nam Á là cái nôi đầu tiên của nông nghiệp xét trên phạm vi toàn cầu, và chính những sắc dân khu vực này đã truyền kỹ thuật trồng lúa nước cho người Hán. Thứ hai, Đông Nam Á là cội nguồn của nhiều yếu tố trong các nền văn minh phương tây. Và thứ 3, người Đông Nam Á chứ không phải người Trung Hoa đã thiên di tới vùng Đa đảo (Polynesia) Nam Thái Bình Dương.
Các quan điểm này dẫn đến hai luồng ý kiến tranh luận:
Phái phát triển ý tưởng "cái nôi", cho rằng từ vùng này một bộ phận loài người phát triển và lan tỏa đến các vùng khác, kể cả đến Trung Đông và Trung Quốc. Nó hiện ra trong suy diễn về văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam, hay trong một số nghiên cứu dạng "bàn về nguồn gốc người Việt".
Phái cho rằng nghiên cứu của Oppenheimer là những dữ liệu về một thời kỳ phát triển, nhưng chưa đủ định lượng để phản bác những kết quả nghiên cứu sinh học phân tử sau này . Chính Oppenheimer khi làm cố vấn cho bộ phim tài liệu The Incredible Human Journey cũng không đưa suy luận quá xa của mình vào đó.
== Các sách xuất bản ==
The Origins of the British - A Genetic Detective Story. 2006, Constable and Robinson. ISBN 1-84529-158-1.
Out of Eden. 2004, Constable and Robinson ISBN 1-84119-894-3. Tại Mỹ có tiêu đề The Real Eve. Carroll & Graf; (09/09/2004) ISBN 0-7867-1334-8.
Eden in the East. 1999, Phoenix (Orion) ISBN 0-7538-0679-7.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
University of Oxford: Stephen Oppenheimer: Summary of main research interests
"Journey of Mankind"
Review of Oppenheimer's Eden in the East
"Look who was talking", Article by Stephen Oppenheimer, The Guardian, ngày 7 tháng 8 năm 2003
"Fast trains, slow boats, and the ancestry of the Polynesian islanders", link to an article by Stephen Oppenheimer & Martin Richards, Science Progress, ngày 22 tháng 9 năm 2001
Discovery Program Q&A with Stephen Oppenheimer on the "Real Eve"
"Myths of British ancestry", Article by Stephen Oppenheimer, Prospect Magazine, October 2006
New York Times article: "A United Kingdom? Maybe"
== Liên kết ngoài == |
phát xạ proton.txt | Phát xạ proton (còn được gọi là phóng xạ proton, proton emission) là một loại phân rã phóng xạ trong đó một proton được phóng ra từ một hạt nhân .
Phát xạ proton là hiện tượng hiếm gặp. Những quan sát được cho thấy nó có thể xảy ra trong hai trường hợp:
Từ một hạt nhân ở trạng thái kích thích vùng năng lượng cao sau một phân rã beta, và quá trình này được gọi là phát xạ proton beta trễ (beta-delayed proton emission);
Từ trạng thái cơ bản, hoặc một đồng phân ở vùng thấp, của hạt nhân giàu proton, và quá trình này rất tương tự như phân rã alpha.
Đối với proton để thoát khỏi hạt nhân, thì năng lượng tách proton phải có giá trị âm, dẫn đến nó không bị ràng buộc, và có thể theo hiệu ứng đường hầm ra khỏi nhân trong một thời gian hữu hạn.
Phát xạ proton không gặp trong đồng vị tự nhiên. Nó có thể xảy ra thông qua các phản ứng hạt nhân, thường là sử dụng máy gia tốc hạt tuyến tính linac.
== Thuật ngữ ==
Theo cách diễn đạt của tiếng Việt về phân rã alpha (alpha decay) và phân rã beta (alpha decay), thì hiện tượng một proton được phóng ra từ một hạt nhân cần được diễn đạt là phân rã proton. Tuy nhiên trong văn liệu nước ngoài thì hiện tượng này được gọi trong tiếng Anh là Proton emission, tiếng Đức là Protonenemission.
Thuật ngữ tiếng Anh Proton decay hay tiếng Đức Protonenzerfall, dịch nghĩa là phân rã proton, lại được dùng cho phản ứng dự đoán về biến đổi có thể của proton tự do ra một positron
e
+
{\displaystyle {\hbox{e}}^{+}}
và một pion trung hòa
π
0
{\displaystyle {\hbox{π}}^{0}}
p
+
→
e
+
+
π
0
{\displaystyle {\hbox{p}}^{+}\;\rightarrow \;{}{\hbox{e}}^{+}\;+{\hbox{π}}^{0}}
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách đồng vị
Phân rã alpha
Phân rã beta
== Liên kết ngoài ==
Nuclear Structure and Decay Data - IAEA with query on Proton Separation Energy |
thịt cừu.txt | Thịt cừu hay thịt trừu là loại thịt thực phẩm từ cừu. Ở một số quốc gia, thịt cừu không những tốt cho sức khỏe mà được coi là món ăn mang lại sự may mắn và sung túc cho người được thưởng thức. Việc tiêu thụ nhiều thịt cừu góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi cừu.
== Tổng quan ==
Thịt cừu có vẻ ngoài khá giống với thịt vịt và thịt bò nhưng thịt cừu ngon là loại thịt có kết cấu mịn, mềm, có độ đàn hồi cao, có vẻ hơi dẻo. Miếng thịt có vết cắt từ màu hồng nhạt đến màu đỏ, ít mỡ trắng bên trong thịt là tươi ngon, miếng thịt cừu đã chuyển sang thâm tím hoặc mỡ có màu vàng là thịt cừu đã không đạt chất lượng tốt nhất.
Thịt cừu còn là một món ăn lạ chứa rất nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe mà đặc biệt là hệ miễn dịch, hệ thần kinh, trí nhớ… Thịt cừu giúp bổ sung nhiều chất dinh dưỡng và bổ máu, giúp tráng dương, mạnh gân cốt, có lợi cho phổi, giảm tình trạng hen suyễn, viêm phế quản, bệnh phổi hay nhiều chứng bệnh về hô hấp khác thường gặp vào mùa đông. So với dê, hàm lượng các chất dinh dưỡng ở thịt cừu không thua kém. Thịt cừu ngon, giàu chất dinh dưỡng lại ít mỡ, hàm lượng cholesteron thấp cộng thêm tâm lý cừu chỉ ăn cỏ nên sạch vì thế thịt cừu đang được người tiêu dùng nhiều nơi lựa chọn.
Tại Việt Nam, những năm trước đây thịt cừu tiêu dùng trong nước chủ yếu từ nhập khẩu và so với các loại thịt gia súc gia cầm khác, giá thịt cừu ở mức cao hơn. Hiện tại ở Việt Nam cũng đã có một số vùng nuôi được cừu để lấy thịt nên giá cả của thịt cừu không còn đắt giống như những năm về trước. Thậm chí thịt cừu nuôi trong nước còn được ưa chuộng hơn cả thịt cừu nhập khẩu bởi vì giá cả khá mềm, nhiều nạc, xương nhỏ và mùi không gây như thịt cừu nhập khẩu.
== Một số món ==
Đầu cừu thui Svið: Đầu cừu sẽ được chia làm đôi, thui cho cháy xém và sau đó đem luộc. Đây là món ăn truyền thống phổ biến nhất ở Iceland. Svið không phải là một món ăn tồi bởi phần đầu là phần chứa nhiều thịt ngon. Những đầu bếp ở đây sẽ giữ nguyên mọi thứ từ lưỡi cho đến mắt để đáp ứng sở thích khác nhau của thực khách.
Blóðmör là món dồi với nguyên liệu chính là máu cừu, mỡ thận kết hợp với bột mỳ và yến mạch. Người ta thường luộc Blóðmör lên rồi đem rán trên một chiếc chảo. Tuy nhiên với nhiều thực khách, món ăn này khi để lạnh sẽ có hương vị ngon hơn
Haggis là một món ăn của người Scotland được làm từ nội tạng của cừu như phổi, gan, tim. Các cơ quan này được trộn với hành tây băm nhỏ, muối, gia vị, thịt bò và mỡ cừu nguyên chất. Hỗn hợp này tiếp tục được trộn lẫn với nước xương hầm và nhồi vào bên trong dạ dày động vật. Chúng có hình dạng giống như quả bóng thịt lớn và sau đó được ninh nhỏ lửa. Haghi được bọc trong vỏ xúc xích và có sẵn quanh năm.
== Cảnh báo ==
Cần phải chú ý là một số người không thích hợp để ăn thịt cừu như người bị ho, khó tiêu, viêm khớp, eczecma và sốt vì nó có thể làm cho tình trạng bệnh nặng hơn ngoài ra những người bị đau mắt đỏ, đau miệng, nướu, đau cổ họng hay tiêu chảy nên tránh không nên ăn thịt cừu vì có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng khó chịu. Không ăn thịt cừu với uống trà vì dễ sinh ra táo bón, những thực phẩm có tính hàn quá cao như dấm, dưa hấu, những thực phẩm có tính nhiệt quá cao như sầu riêng, bí ngô...
Lưu ý về vấn đề thịt bẩn, ở Trung Quốc có hơn 50 tấn thịt cừu giả chứa chất phụ gia gây ung thư đã bị phát hiện tại một nhà máy ở đông bắc Trung Quốc, làm dấy lên mối lo ngại về chất lượng an toàn thực phẩm. Toàn bộ số sản phẩm trên được tái chế từ thịt vịt ôi, mỡ cừu cùng nhiều chất phụ gia khác. Trong các sản phẩm nhiễm độc là 8,69g trên 1 kg, vượt xa tiêu chuẩn quốc gia về thịt tươi và thịt đông lạnh. Thực tế, chỉ cần 3g sodium nitrite là đủ để khiến một người trưởng thành thiệt mạng.
Tại Việt Nam đã thông báo cảnh báo của Trung Quốc về cơ sở sản xuất thịt cừu giả từ thịt vịt và gia cầm kém chất lượng này, Sự việc thịt cừu giả ở Trung Quốc đã khiến không ít người tiêu dùng Việt Nam lo ngại trước đó ở Ở nước này từng có sự kiện 543 thùng thịt cừu bị phát hiện nhiễm vi khuẩn hiếu khí, cliform vượt giới hạn cho phép nhưng không bị xử lý vì có tiếp tay ngầm.
== Chú thích == |
người yamato.txt | Người Yamato (大和民族, Yamato minzoku, Đại Hoà dân tộc) và Wajin (和人, Wajin, cách viết văn chương "Người Wa") là tên cho nhóm dân tộc bản địa ở Nhật Bản. Thuật ngữ xuất phát từ cuối thế kỷ 19 để phân biệt với cư dân ở nội địa (Nhật Bản) với các nhóm dân tộc nhập cư cư trú các khu vực ngoài Nhật Bản như người Ainu, người Lưu Cầu (Ryukyu), người Nivkh, người Orok, cũng như người Triều Tiên, người Đài Loan, và thổ dân Đài Loan kết hợp thành Đế quốc Nhật Bản trong đầu thế kỷ 20.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
Levin, Mark (ngày 1 tháng 2 năm 2008). “The Wajin’s Whiteness: Law and Race Privilege in Japan”. Hōritsu Jihō (法律時報) 80 (2): 80–91.
Hoàn thành chú thích này
Weiner, Michael biên tập (2009). Japan’s Minorities: The Illusion of Homogeneity (ấn bản 2). Routledge. |
cầu thủ xuất sắc nhất châu phi.txt | Giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất châu Phi của France Football được trao cho cầu thủ bóng đá châu Phi xuất sắc nhất hàng năm bởi tập chí France Football (Pháp) từ năm 1970 đến 1994. Giải bị kết thúc năm 1995 sau khi Quả bóng vàng châu Âu (Ballon d'or) được mở rộng cho cả những cầu thủ không thuộc quốc tịch châu Âu, và George Weah được giải thưởng này năm đó. Nó đã được thay với giải thưởng chính thức, Cầu thủ xuất sắc nhất châu Phi, trao bởi Liên đoàn bóng đá châu Phi từ năm 1992. Samuel Eto'o (Cameroon) và Yaya Touré (Bờ Biển Ngà) là hai cầu thủ đoạt giải nhiều lần nhất, cùng 4 lần.
== Danh sách các cầu thủ đoạt giải ==
== Xếp hạng theo nước ==
* Được biết đến là Zaire từ năm 1971 đến năm 1997† Được biết đến là Cộng hòa Nhân dân Congo từ năm 1970 đến năm 1992
== Xem thêm ==
Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA
Quả bóng vàng châu Âu
== Tham khảo == |
người giẻ triêng.txt | Người Giẻ Triêng là người dân một dân tộc nhỏ, với số dân khoảng 30.000 người, sinh sống chủ yếu tại tỉnh Kon Tum, vùng miền núi tỉnh Quảng Nam (trên 99,2%). Người Giẻ Triêng nói 2 ngôn ngữ là tiếng Giẻ (Jeh) và tiếng Triêng (Tariang) cùng thuộc thuộc nhánh Bahnar của ngữ hệ Nam Á.
== Tên khác ==
Người Giẻ Triêng còn biết qua các tên: Đgiéh, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triêng, Treng, Ta Liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca Tang. Có thể cùng là một dân tộc với người Talieng tại Lào.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Giẻ Triêng ở Việt Nam có dân số 50.962 người, cư trú tại 29 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Giẻ Triêng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (32.644 người, chiếm 62,1% tổng số người Giẻ Triêng tại Việt Nam), Quảng Nam (19.007 người, chiếm 37,3% tổng số người Giẻ Triêng tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Đắk Lắk (78 người) và một số ít ở các tỉnh khác.
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Giẻ Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy. Ngoài ra học còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại rau rừng, hoa quả, nấm... làm thức ăn hàng ngày. Người Giẻ Triêng còn nuôi trâu, bò, lợn, gà nhưng chủ yếu chỉ dùng vào lễ hiến sinh.
== Họ tên ==
Mỗi người Giẻ Triêng (trừ nhóm Bnoong) đều có họ kèm theo tên, nhưng họ của đàn ông khác với họ của đàn bà. Mỗi họ đều có việc kiêng kỵ, một truyện cổ giải thích về tên họ và điều kiêng kỵ đó. Xưa kia, con trai theo họ bố, con gái theo họ mẹ.
== Hôn nhân gia đình ==
Theo tục lệ cũ, con trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà rông, khoảng 13-15 tuổi thì cà răng và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ. Con gái chủ động trong việc hôn nhân của mình và sự lựa chọn của con cái được cha mẹ tôn trọng. Trước khi lập gia đình, con trai phải biết đan lát, biết tấu chiêng cồng, các cô gái phải thạo đan chiếu, dệt vải (ở những vùng có nghề dệt). Cô gái phải chuẩn bị đủ 100 bó củi đẹp để nộp cho nhà trai trong lễ cưới. Sau đám cưới, đôi vợ chồng trẻ phải sống và luân phiên chuyển nhà từ nhà cha mẹ vợ sang nhà cha mẹ chồng, và ngược lại cứ ba đến bốn năm một lần, cho đến khi cha mẹ một bên qua đời mới định cư một chỗ.
== Ma chay ==
Người Giẻ Triêng khi chết được chôn trong quan tài độc mộc, có đẽo tượng đầu trâu, huyệt đào rất nông, đưa đám tang chỉ có vài người nhà và sau một thời gian thì làm lễ bỏ mả để đoạn tang.
== Nhà cửa ==
Người Giẻ Triêng ở nhà sàn dài, nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khum hình mu rùa. Thường thì các nhà trong làng được xếp thành hình tròn xung quanh nhà rông. Khác với nhà rông của một số dân tộc khác, nhà sàn Giẻ Triêng được hành lang chạy dọc chia đôi: một nửa dành cho nam giới, nửa kia dành cho phụ nữ.
Hiện nay, người Giẻ Triêng ở Kon Tum làm nhà sàn ngắn và vài hộ gia đình cùng chung sống với nhau. Những nhà này cũng có những đặc trưng đáng quan tâm: nhà sàn mái hình mai rùa, hai đầu đốc được trang trí bằng hai sừng trâu.
== Trang phục ==
Nam giới để tóc ngắn hoặc đội khăn chàm theo lối chữ nhất trên đầu. Thân ở trần hoặc mặc tấm áo, khoác ngoài chéo qua vai, màu chàm có các sọc trang trí. Họ mang khố khổ hẹp, dài không có tua, thân và các mép khố được viền và trang trí hoa văn ở hai đầu trên nền chàm. Nam cũng đeo vòng cổ, vòng ngoài khố mang chuỗi hạt vòng. Trong các dịp tết lễ, họ mang thêm tấm choàng rộng màu chàm, có các sắc màu trang trí phủ kín thân.
Phụ nữ Giẻ Triêng để tóc dài, quấn sau gáy. Họ không mặc áo mà mang loại váy dài, cao sát nách. Đây là loại váy ống tương đối dài rộng. Đầu váy, giữa thân và gấu váy được trang trí các sọc hoa văn màu đỏ trên nền chàm. Lối mặc có tính chất vừa váy, vừa áo này là một đặc điểm rất khác biệt của phụ nữ Gié Triêng, ít gặp ở các dân tộc khác từ Bắc vào Nam. Đây cũng là một lý do trang phục Giẻ Triêng được chọn vào "Làng văn hóa các dân tộc". Lối mặc váy, đặc biệt là quấn mép ra trước giữa thân, đầu váy còn thừa (váy loại này thường dài - cao gấp rưỡi váy bình thường), lộn ngược ra phía trước hoặc quấn thành nhiều nếp gấp ra xung quanh trông như một chiếc áo ngắn. Phụ nữ còn mang vòng tay vòng cổ.
Trang phục Giẻ Triêng là đặc điểm riêng, cùng với một số dân tộc khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên có giá trị quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử trang phục ở Việt Nam.
== Liên kết ngoài ==
Người Giẻ Triêng
== Ghi chú == |
nhạc dân gian anh.txt | Nhạc dân gian Anh là âm nhạc truyền thống tồn tại từ thờì hậu kỳ trung cổ, đã đóng góp vào một số thể loại quan trọng. Nhạc dân gian Anh có sự khác biệt về vùng miền và điạ phương về nội dung và phong cách. Trong quá trình giao lưu văn hóa nhạc dân gian Anh đã tương tác với nhạc dân gian Scotland, nhạc dân gian Xứ Wales và nhạc dân gian Bắc Ireland.
== Lịch sử ==
Theo nghĩa chặt chẽ, nhạc dân gian Anh đã ra đời từ sự xuất hiện của người Anglo-Saxon ở Anh sau năm 400 sau công nguyên. Vào thế kỷ thứ 16, nhạc cung đình cũng rất được ưa chuộng và cũng đóng góp một phần cho dòng nhạc này, những thay đổi về văn hóa xã hội gây ra những bất đồng về thị hiếu âm nhạc. Có một sự quốc tế hóa âm nhạc về nhạc cụ và hình thức.
Vào giữa thế kỷ 17, âm nhạc của các tầng lóp thấp trở nên xa lạ với các tầng lớp quý tộc và đã hình thành quá trình khám phá cùng với các khía cạnh văn hóa phổ biến khác như lễ hội, khiêu vũ dân gian. Điều này dẫn đến một số bộ sưu tập đầu tiên được in ấn như The English Dancing Master (1651) của John Playford, các bộ sưu tập cá nhân của Samuel Pepys (1633-1703) và Roxburghe Ballads sưu tầm bởi Robert Harley.
Trong thế kỷ 18, đã xuất hện một số ít các bộ sưu tập bắt đầu định nghĩa âm nhạc "dân gian", ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào lãng mạn, bao gồm Wit and Mirth: or, Pills to Purge Melancholy (1719–20) của Thomas D'Urfey và Reliques of Ancient English Poetry (1765) của Bishop Thomas Percy's. Cuối cùng trong số này cũng chứa một số tài liệu vào cuối thế kỷ 18 trở nên ngày càng phổ biến với bộ sưu tập The Bishopric Garland (1784) của John Ritson.
Với cuộc cách mạng chủ đề âm nhạc của các tầng lớp lao động bắt đầu thay đổi từ cuộc sống nông thôn và nông nghiệp sang các bài hát lao động. Các bài hát dân gian được sưu tập trong những năm 1830-1840 bao gồm Christmas Carols Ancient and Modern (1833) của William Sandys, A Collection of National English Airs (1838) của William Chappell và Ancient Poems, Ballads and Songs of the Peasantry of England (1846) của Robert Bell. Từ cuối thế kỷ 19 đã có một loạt các phong trào thu thập, ghi chép, lưu giữ và trình diễn âm nhạc dân gian Anh và khiêu vũ. Tám bộ sưu tập The English and Scottish Popular Ballads (1882–92) của Francis James Child (1825–96) đã gây ảnh hưởng lớn. Các bộ sưu tập các bài hát tiếng Anh cũ như Old English Songs, As Now Sung by the Peasantry of the Weald of Surrey and Sussex (1843) của John Broadwood.
== Thế kỷ 20 ==
== Các hình thức nhạc dân gian ==
== Một số bộ sưu tập ==
Roxburghe Ballads
The English Dancing Master (1651)
Wit and Mirth: or, Pills to Purge Melancholy (1719–20)
Reliques of Ancient English Poetry (1765)
Tommy Thumb's Song Book (1774)
Tommy Thumb's Pretty Song Book (1774)
The Bishopric Garland (1784)
Mother Goose's Melody, or, Sonnets for the Cradle (c.1785)
Christmas Carols Ancient and Modern (1833)
A Collection of National English Airs (1838)
The Nursery Rhymes of England (1842)
Old English Songs, As Now Sung by the Peasantry of the Weald of Surrey and Sussex (1843)
Ancient Poems, Ballads and Songs of the Peasantry of England (1846)
Popular Rhymes and Tales (1849)
The English and Scottish Popular Ballads (1882–92)
Old London Street Cries (1885)
The Cries of To-day (1885)
Songs and Ballads of the West (1889–91)
A Book of Nursery Songs (1895)
The Nursery Rhyme Book (1897)
== Tham khảo == |
kinh tế qatar.txt | Kinh tế Qatar tương đối phát triển, GDP bình quân đầu người vào năm 2017 đạt 131,063 USD. Dầu mỏ là hòn đá tảng của nền kinh tế Qatar, chiếm trên 70% tổng thu ngân sách của chính phủ, hơn 60% tổng sản phẩm quốc nội, và khoảng 85% thu nhập từ xuất khẩu. Với lượng dầu dự trữ 15 tỉ thùng (588.000.000 m³) đảm bảo cho việc xuất khẩu dầu mỏ liên tục trong 23 năm nữa với mức xuất khẩu như hiện nay. Dầu mỏ đã giúp Qatar thành một trong những nước có GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới và cũng là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh nhất. Lượng gas tự nhiên dự trữ của Qatar hơn 7000 km³, chiếm trên 5% tổng lượng gas tự nhiên, đứng thứ 3 trên thế giới. Việc sản xuất và xuất khẩu gas tự nhiên đang trở nên quan trọng hơn. Mục tiêu lâu dài là việc phát triển khai thác dầu ở ngoài khơi và đa dạng hóa nền kinh tế.
== Xu hướng kinh tế vĩ mô ==
Qatar là nước giàu nhất trong thế giới Hồi giáo hiện nay. Dưới đây là biểu đồ xu hướng tăng tổng sản phẩm của Qatar theo giá thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, với đơn vị tính là triệu Rials của Qatar.
Để tính cho sức mua tương đương, 1USD = 5,82 Rials.
== Thống kê ==
GDP: Theo sức mua tương đương - GDP (2006): 52,7 tỉ USD.
Tỉ lệ tăng trưởng thực của GDP: (2006) 24%.
GDP - đầu người: Thu nhập đầu người (2006): 61.540 USD
GDP - theo lĩnh vực:Nông nghiệp: 0.2%Công nghiệp: 81%Dịch vụ: 18.8% (2005)
Tỉ lệ lạm phát: 7.8% (2005.)
Lực lượng lao động: 440.000 (2005)
Tỉ lệ thất nghiệp: 2,7% (2001)
Ngân sách:Thu: 17,31 tỉ USDChi: 11.31 tỉ USD (2005 est.)
Xuất khẩu: 24,9 tỉ USD (2005)
Đối tác xuất khẩu: Nhật Bản 41.9%, Hàn Quốc 15.8%, Singapore 9.1%, Ấn Độ 5.4% (2004)
Nhập khẩu: 6,707 tỉ USD (2005)
== Tham khảo == |
hypena incognata.txt | Hypena incognata là một loài bướm đêm trong họ Erebidae.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Dữ liệu liên quan tới Hypena incognata tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Hypena incognata tại Wikimedia Commons |
ôn giang.txt | Ôn Giang (chữ Hán giản thể:温江区, Hán Việt: Ôn Giang khu) là một quận thuộc thành phố Thành Đô, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Quận này có diện tích 277 km2, dân số 326.700 người. Ôn Giang nằm phía tây của Thành Đô, ở vùng xa trung tâm thuộc bình nguyên Thành Đô, khí hậu ôn hoà. Sông Ôn Giang chảy trong quận nên quận có tên gọi như vậy. 4000 năm trước, vương quốc Ngư ? Cổ Thục (古蜀鱼凫王国) bắt nguồn tại đây, từ xưa đây là một trấn trọng điểm của Tứ Xuyên. Năm 1002, giải lập quận Ôn Giang từ huyện cùng tên.
Về mặt hành chính, quận Ôn Giang có các đơn vị hành chính gồm 4 nhai đạo: Liễu Thành, Công Bình, Dũng Tuyền, Thiên Phủ và 6 trấn: Hoà Thạnh, Vĩnh Thạnh, Kim Mã, Vĩnh Ninh, Vạn Xuân, Thọ An.
== Tham khảo == |
electronvolt.txt | Electronvolt hay electronvôn, ký hiệu eV, là một đơn vị đo lường năng lượng được dùng nhiều trong vật lý hạt nhân và vật lý lượng tử.
1 eV được định nghĩa là năng lượng tương đương với thế năng tĩnh điện mà một hạt tích điện dương với điện tích bằng giá trị tuyệt đối của điện tích electron có được khi nằm trong điện thế 1 V so với một điểm làm mốc điện thế nào đó. Trong SI:
1 eV = 1e.1V = 1,602.10-19 C.V = 1,602.10-19 A.s.V = 1,602.10-19 W.s = 1,602.10-19 J
Các bội số thường dùng là keV, MeV, GeV.
== Liên hệ ==
Liên hệ với tốc độ ánh sáng và khối lượng (từ công thức E = m.c2) là
Năng lượng E = 1 eV tương đương với khối lượng m=1eV/c2 = 1,8.10−36 kg
Liên hệ với hằng số Boltzmann và nhiệt độ:
1eV/kB = 11604,505 K
== Tham khảo == |
18 tháng 8.txt | Ngày 18 tháng 8 là ngày thứ 230 (231 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 135 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1868 – Bằng chứng đầu tiên của nguyên tố Heli được nhà thiên văn học Pierre Janssen thu thập trong một lần diễn ra nhật thực.
1870 – Chiến tranh Pháp-Phổ: Quân đội Phổ và Sachsen giành thắng lợi chiến lược trong Trận Gravelotte, trận chiến lớn và đẫm máu nhất trong toàn cuộc chiến.
1877 – Tại Đài thiên văn Hải quân Hoa Kỳ, nhà thiên văn học Asaph Hall phát hiện vệ tinh Phobos của sao Hỏa.
1920 – Tu chính án XIX Hiến pháp Hoa Kỳ về quyền đầu phiếu của phụ nữ chính thức có hiệu lực.
1965 – Chiến tranh Việt Nam: Chiến dịch Starlite bắt đầu khi Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ phá hủy một căn cứ của quân Giải phóng tại Vạn Tường, Quảng Ngãi, đây là trận chiến lớn trên bộ đầu tiên của Hoa Kỳ trong cuộc chiến.
2008 – Tổng thống Pakistan Pervez Musharraf tuyên bố từ chức nhằm tránh một cuộc luận tội trước Quốc hội.
== Sinh ==
1933 – Just Fontaine, cầu thủ bóng đá Pháp
1941 – Diệp Minh Tuyền, nhà thơ, nhạc sĩ Việt Nam (m. 1997)
1981 – Ưng Hoàng Phúc, ca sĩ người Việt Nam
1988 – G-Dragon, ca sĩ người Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc Big Bang
1993 – Jung Eun-ji, ca sĩ người Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc Apink.
1997 – Renato Sanches, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
1983 - Mika, Ca sĩ người Anh
== Người chết ==
1850 - Honoré de Balzac, Đại văn hào Pháp.
1913 - Anton Wilhelm Karl von L’Estocq, tướng Phổ (s. 1823)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
đồng (tiền việt nam cộng hòa).txt | Đồng đã là tiền tệ của Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam) lưu hành bắt đầu từ năm 1953 đến ngày 2 tháng 5 năm 1978. Một đồng được chia thành 100 xu.
== Lịch sử ==
Năm 1953, chi nhánh Việt Nam của Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào (tiếng Pháp: Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam) đã phát hành các giấy bạc có hai tên gọi trên đó là piastre và đồng. Đồng thời, hai chi nhánh khác có dàn xếp tương tự với riel ở Campuchia và kíp ở Lào. Tiền Đồng lưu hành ở những khu vực của Việt Nam không nằm dưới sự kiểm soát của lực lượng cộng sản, tức trên lãnh thổ miền nam Việt Nam xét vào năm 1954.
Năm 1955, các tờ giấy bạc đồng độc lập thực sự đã được Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành.
=== Hối suất ===
Việc kiểm soát hối suất giữa tiền Việt Nam Cộng hòa và các ngoại tệ thuộc Viện Hối đoái, một cơ quan tự trị thuộc Bộ Tài chánh. Hối suất được quy định vào năm 1953 là 1 đồng = USD 0,2857, tức là USD 1 = 35 đồng. Giá trị tiền sau đó giảm dần trong khi lượng tiền lưu hành tăng từ 6,78 tỷ đồng vào năm 1955 lên thành 27,4 tỷ đồng vào cuối năm 1964. Hối suất chính thức sang thập niên 1960 tăng thành USD 1 = 73,5 đồng trong khi giá thị trường ở khoảng 1 USD = 130-180 đồng. Tỷ lệ chính thức do Viện Hối đoái điều chỉnh, cho phép một số đối tượng chuyển ngân ở giá thấp hay giá cao tùy thuộc vào diện ưu tiên. Ví dụ như công ty nhập cảng sữa bò cho trẻ em thì được giá hời trong khi hãng nhập cảng xe hơi thì phải chịu giá chính thức. Năm 1966 hối suất tăng thành USD 1 = 80 đồng tuy nhiên cho một số đối tượng kinh tế thì áp dụng USD 1 = 118 đồng. Tỷ lệ này giữ nguyên cho dù tình hình kinh tế suy thoái và sang năm 1970 giá chợ đen có khi lên tới USD 1 = 400 đồng.
Tháng Mười năm 1970 chính phủ Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam cho điều chỉnh lại hối suất chính thức, giảm giá trị một đồng thành USD 1 = 277,75 đồng (kèm 38 đồng phụ đảm và thuế) tức 1 đồng = USD 0,036 cho một số chuyển ngân ngoại tệ.
Năm 1972 kinh tế càng khó khăn cùng lúc chiến cuộc khốc liệt trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chính phủ phá giá đồng tiền với mục đích kích thích xuất cảng. Hối suất tăng vụt lên thành USD 1 = 550 đồng. Ngành xuất cảng khởi sắc nhưng giá trị mãi lực và lợi tức của người dân giảm mạnh. Đến năm 1975, năm cuối cùng của chính thể Việt Nam Cộng hòa thì USD 1 = 700 đồng.
== Tiền kim loại ==
Năm 1953, tiền kim loại các mệnh giá 10, 20, 50 xu đã được đưa vào lưu thông. Năm 1960, có thêm tiền kim loại mệnh giá 1 đồng; sau đó là 10 đồng năm 1964, 5 đồng năm 1966 và 20 đồng năm 1968. 50 đồng được đúc năm 1975 nhưng chưa kịp lưu hành thì Việt Nam Cộng hòa sụp đổ; toàn bộ tiền bị hủy bỏ dưới dạng kim loại phế thải, rất hiếm tiền xu này còn tồn tại. Các tiền kim loại đã phát hành có thể tạm chia ra 5 xê ri
== Tiền giấy ==
Thời Đệ nhị Cộng hòa loạt tiền giấy lưu hành mang mệnh giá: 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng và 1000 đồng.
== Hình tiền giấy Việt Nam Cộng hòa ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Smith Harvey et al. Area Handbook for South Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967.
Foreign Areas Studies Division. US Army Area Handbook for Vietnam. Washington, DC: Special Operations Research Office, 1962.
== Xem thêm ==
Lịch sử kinh tế Việt Nam Cộng hòa
== Liên kết == |
science citation index.txt | Danh mục Trích dẫn Khoa học (Science Citation Index, viết tắt: SCI) là một danh mục trích dẫn do Viện Thông tin Khoa học (Institute for Scientific Information, viết tắt: ISI) xuất bản lần đầu tiên và là công trình do nhà khoa học Eugene Garfield sáng tạo ra vào năm 1960. Hiện nay Thomson Reuters là chủ sở hữu của danh mục này. Phiên bản danh mục lớn hơn với tên gọi Danh mục Trích dẫn Khoa học mở rộng (Science Citation Index Expanded, viết tắt: SCIE) bao gồm hơn 6.500 Tạp chí khoa học danh tiếng và quan trọng, xuyên suốt 150 chuyên ngành, từ năm 1900 cho đến nay. Những tạp chí này theo mô tả là những tạp chí hàng đầu thế giới về khoa học và công nghệ vì quá trình chọn lọc chúng vào danh mục rất nghiêm ngặt. Danh mục trích dẫn này có thể truy cập trực tuyến (online) thông qua cơ sở dữ liệu (database) Web Khoa học (Web of Science) (Web of Science là một phần của bộ sưu tập các database Web Kiến thức (Web of Knowledge)). Ngoài ra còn có phiên bản in và phiên bản trên đĩa CD, trong đó số tạp chí ít hơn. Database này cho phép một nghiên cứu viên xác định danh sách những bài báo xuất bản sau có trích dẫn tới một bài báo bất kì đã được xuất bản trước đó, danh sách những bài báo của cùng một tác giả, hoặc danh sách những bài báo thường xuyên được trích dẫn nhất. Thomson Reuters cũng đã thương mại hóa nhiều tập con của database này, với thuật ngữ Các Danh mục Trích dẫn Đặc biệt (Specialty Citation Indexes), như Danh mục Trích dẫn Khoa học Thần kinh (Neuroscience Citation Index) và Danh mục Trích dẫn Hóa học (Chemistry Citation Index).
== Xem thêm ==
Danh mục Trích dẫn Nghệ thuật và Nhân văn (Arts and Humanities Citation Index), gồm 1130 tạp chí, bắt đầu từ năm 1975.
Nhân tố ảnh hưởng (Impact factor, viết tắt: IF)
Danh sách database học thuật và engine tìm kiếm
Danh mục Trích dẫn Khoa học Xã hội (Social Sciences Citation Index), gồm 1700 tạp chí, bắt đầu từ năm 1956.
== Thao khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Giới thiệu về SCI (bằng tiếng Anh)
Danh sách tạp chí chính (bằng tiếng Anh) |
vavá.txt | Vavá, tên thật là Edvaldo Izídio Neto, (sinh 12 tháng 11 năm 1934 tại Recife, Brasil - mất 19 tháng 1 năm 2002) là một cố danh thủ bóng đá người Brasil. Biệt danh của ông là Peito de Aço (Ngực thép). Vavá chơi ở vị trí trung phong (tiền đạo giữa) cho các câu lạc bộ nổi tiếng của Brasil như Vasco da Gama, Palmeiras và đội tuyển Brasil.
Ông từng khoác áo đội tuyển quốc gia 20 lần, ghi được 15 bàn và có mặt trong cả hai đội hình của đội tuyển Brasil giành chức vô địch thế giới năm 1958 và 1962 (lần lượt ghi được 5 và 4 bàn thắng).
Vavá là một trong 4 cầu thủ ghi được bàn thắng ở 2 trận chung kết World Cup (3 cầu thủ kia là Pelé, Breitner và Zidane). Ông cũng là một trong 4 cầu thủ ghi được 3 bàn thắng tại các trận chung kết World Cup (3 cầu thủ kia là Pelé, Hurst và Zidane).
== Danh hiệu ==
Vô địch thế giới (2 lần): 1958 và 1962.
Campeonato Pernambucano (Vô địch bang Pernambucano): 1949 với Recife
Campeonato Carioca (Vô địch bang Rio de Janeiro) (3 lần): 1952, 1956, 1958 với Vasco da Gama
Campeonato Paulista (Vô địch bang São Paulo): 1963 với Palmeiras
Torneio Rio - São Paulo (Vô địch liên bang Rio - São Paulo): 1958 với Vasco da Gama
Cúp Oswaldo Cruz (3 lần): 1955, 1958, 1962
Vô địch giải đấu 4 đội bang Rio: 1953 với Vasco da Gama
Vô địch giải Rivadavia Corrêa Meyer (ở Rio): 1953 với Vasco da Gama
Vô địch giải Santiago de Chile: 1957 với Vasco da Gama
Vô địch giải Paris: 1957 với Vasco da Gama
Cúp Theresa Herrera: 1957 với Vasco da Gama
Vô địch giải Guadalajara: 1963 với Palmeiras
Vua phá lưới World Cup: 1962
== Tham khảo ==
Các huyền thoại World Cup bóng đá (tiếng Anh) |
bóng đá tại đại hội thể thao đông nam á 1993.txt | Môn bóng đá nam tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1993 diễn ra từ ngày 7 đến ngày 19 tháng 6 năm 1993 tại Singapore.
== Địa điểm thi đấu ==
Sân vận động Quốc gia, Singapore.
Sân vận động Jurong, Singapore.
== Các đội ==
Brunei
Indonesia
Lào
Malaysia
Myanmar
Philippines
Singapore
Thái Lan
Việt Nam
== Vòng bảng ==
Chín đội tuyển được chia thành hai bảng đấu vòng tròn 1 lượt. Mỗi bảng chọn 2 đội xếp đầu vào bán kết.
=== Bảng A ===
=== Bảng B ===
== Vòng đấu loại trực tiếp ==
=== Tóm tắt ===
=== Bán kết ===
=== Tranh hạng ba ===
=== Chung kết ===
== Huy chương vàng ==
== Danh sách huy chương ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Kết quả môn bóng đá nam tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1993 trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á
Kết quả môn bóng đá nam tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 1993 trên trang chủ của RSSSF. |
lễ ăn hỏi.txt | Lễ ăn hỏi còn được gọi là lễ đính hôn là một nghi thức trong phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Đây là giai đoạn quan trọng trong quan hệ hôn nhân: cô gái trở thành "vợ sắp cưới" của chàng trai, và chàng trai sau khi mang lễ vật đến nhà gái là đã chính thức xin được nhận làm rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con.
Trong lễ ăn hỏi, nhà trai mang lễ vật tới nhà gái. Nhà gái nhận lễ ăn hỏi tức là chính danh công nhận sự gả con gái cho nhà trai, và kể từ ngày ăn hỏi, đôi trai gái có thể coi là đôi vợ chồng chưa cưới, chỉ còn chờ ngày cưới để công bố với hai họ.
== Thành phần tham gia ==
Nhà trai: Chú rể, bố mẹ, ông bà, gia đình,bạn bè và một số thanh niên chưa vợ bưng mâm quả (hoặc bê tráp). Thường thì người bê tráp là nữ nhưng do mâm quả bây giờ khá nặng nên có thể thay thế bằng nam. Số người bê tráp là số lẻ, 3, 5, 7, 9 hoặc 11.
Nhà gái: Cô dâu, bố mẹ, ông bà, gia đình và một số nữ chưa chồng để đón lễ ăn hỏi, số nữ đón lễ vật tương ứng với số nam bưng mâm.
== Lễ vật ==
Trầu, cau; bánh cốm; mứt sen; rượu; chè; thuốc lá; bánh phu thê (bánh xu xê), bánh đậu xanh, lợn sữa quay, tiền dẫn cưới v.v.
Những gia đình xưa thường dùng bánh cặp nghĩa là gồm hai thứ bánh tượng trưng cho âm dương. Những cặp bánh thường dùng trong lễ ăn hỏi là bánh phu thê và bánh cốm - bánh phu thê tượng trưng cho Dương, bánh cốm tượng trưng cho Âm; hoặc bánh chưng và bánh dày - bánh chưng vuông là Âm, bánh dày tròn là Dương. Thường thường cùng kèm với bánh chưng và bánh dày thường có quả nem. Bánh cốm, bánh xu xê, bánh chưng, bánh dày và quả nem dùng trong lễ ăn hỏi đều được đựng trong hộp giấy màu đỏ hoặc bọc trong giấy đỏ, màu đỏ chỉ sự vui mừng. Cũng có gia đình thay vì các thứ bánh trên, dùng xôi gấc và lợn quay.
Đó là những lễ vật tối thiểu theo tục lệ cổ truyền; tất nhiên, chất lượng và số lượng thêm bớt thì tùy thuộc vào năng lực kinh tế của từng gia đình. Theo phong tục Hà Nội truyền thống thường có lợn sữa quay, còn theo phong tục miền Nam có thể có một chiếc nhẫn, một dây chuyền hay bông hoa tai đính hôn. Tuy nhiên, số lượng lễ vật nhất thiết phải là số chẵn (bội số của 2, tượng trưng cho có đôi có lứa), nhưng lễ vật đó lại được xếp trong số lẻ của tráp (số lẻ tượng trưng cho sự phát triển).
Lễ vật dẫn cưới thể hiện lòng biết ơn của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô gái. Nói theo cách xưa là: nhà trai bỗng dưng được thêm người, còn nhà gái thì ngược lại, "Con gái là con người ta". Mặt khác, lễ vật cũng biểu thị được sự quý mến, tôn trọng của nhà trai đối với cô dâu tương lai.
Trong một chừng mực nào đó, đồ dẫn cưới cũng thể hiện thiện ý của nhà trai: xin đóng góp một phần vật chất để nhà gái giảm bớt chi phí cho hôn sự. Tuy nhiên, điều này ngày nay càng lúc càng trở nên mờ nhạt xét về vai trò, vì dễ dẫn đến cảm giác về sự gả bán con, thách cưới.
== Thủ tục ==
=== Rước lễ vật ===
Tất cả các lễ vật phải được sắp xếp gọn gàng và thẩm mỹ. Và nhất thiết phải được bày vào quả sơn son thếp vàng (hay mâm đồng đánh bóng, phủ vải đỏ). Có như thế mới nhấn mạnh được tính biểu trưng của lễ vật. Xưa, người đội lễ phải khăn áo chỉnh tề, thắt dây lưng đỏ. Nay, các cô gái đội lễ đã có áo dài đỏ thay thế nên không cần phải dùng thắt lưng đỏ nữa. Dù dùng phương tiện đi lại là: ô tô, xích lô, xe máy, hay đi bộ thì đoàn ăn hỏi cũng nên dừng lại cách nhà gái khoảng l00 m, sắp xếp đội hình, rồi mới đội lễ vào nhà gái. Đây thực sự là một hình thái văn hóa dân tộc.
=== Tiếp khách ===
Vì đây là một lễ trọng nên nhà gái phải chuẩn bị chu đáo hơn lễ chạm mặt. Tuy nhiên, do nội dung chủ yếu của lễ này là sự bàn bạc cụ thể, chính thức của hai gia đình về việc chuẩn bị lễ cưới, nên nhà gái không bày tiệc mặn mà chỉ bày tiệc trà. Ngày nay hầu hết các gia đình gái đều chuẩn bị tiệc mặn để thết đãi gia đình trai mong tạo hòa khí gắn bó và hàn huyên. Nghi thức trao nhận lễ vật cũng nên trở thành nghi thức bắt buộc.
=== Cô dâu ===
Phải ngồi trong phòng cho đến khi nào chú rể vào đón hoặc cha mẹ gọi mới được ra. Ra mắt tổ tiên bằng cách thắp hương lên bàn thờ. Sau đó cô dâu sẽ cầm ấm trà đi từng bàn để rót nước mời khách.
=== Nhà gái ===
Nhà gái nhận lễ rồi đặt một phần lên bàn thờ gia tiên. Khi lễ ăn hỏi xong, bánh trái, cau, chè được nhà gái "lại quả" (chuyển lại) cho nhà trai một ít, còn nhà gái dùng để chia cho họ hàng và người thân.
Lưu ý: đối với cau thì phải xé chứ không được dùng dao để cắt. Khi nhà trai nhận lại tráp để bê về thì phải để ngửa, không được úp tráp lại.
=== Biếu trầu ===
Xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái dùng các lễ vật nhà trai đã đưa để chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng,... Ý nghĩa của tục này là sự loan báo: Cô gái đã có nơi có chỗ.
Trong việc chia bánh trái, cau, chè cau phải chia theo số chẵn, nhưng kiêng chia hai quả, nghĩa là mỗi nơi từ bốn quả cau, bốn lá trầu trở lên. Con số chẵn là số dương, số lẻ là số âm dùng trong việc cúng lễ.
Theo lối mới bây giờ, cũng chia bánh trái, thường có kèm theo những tấm thiếp của đôi bên hai họ báo tin đính hôn của đôi trẻ. Nếu ngày nghênh hôn không xa ngày hỏi, trong thiếp sẽ ghi rõ lễ cử hành vào ngày nào. Trong trường hợp này có khi cùng với thiếp "báo hỷ" lại có thiếp mời tiệc cưới.
== Trang phục ==
Trang phục cho cô dâu: một bộ áo dài, vừa có thể mặc trong lễ cưới, vừa có thể mặc ở những dịp lễ hội sau này. Có thể sắm cho cô dâu tương lai những đồ trang sức sau: xuyến, vòng, hoa tai. Chú rể mặc comple, cà vạt.
== Chia lễ ==
Nhà gái thường nhờ các cô gái trong họ hoặc bạn bè chia giúp. Khi nhà trai dẫn lễ ăn hỏi tới nhà gái, nhà gái thường làm cơm thết đãi. Sau lễ ăn hỏi đôi bên kể là giao kết gắn bó với nhau rồi. Tuy vậy ngày xưa các cặp vị hôn phu và hôn thê cũng không được phép gặp nhau, trừ trường hợp đặc biệt lắm đôi bên cha mẹ mới cho phép. Phong tục ngày nay đổi khác, sau lễ ăn hỏi đôi trai gái thường gặp nhau luôn. Từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới, xưa kia có khi hàng bốn năm năm, nhưng ngày nay thời gian đó thường được rút ngắn, có khi chỉ vài ba ngày.
Chính ngày xưa, các cụ vẫn khuyên các chàng trai đã hỏi vợ thì cưới ngay để tránh sự bất trắc của thời gian. Ca dao có câu:
Cưới vợ thì cưới liền tay,
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.
Lễ ăn hỏi xong đôi bên trai gái chờ lễ cưới là xong nhưng theo tục xưa, có nhiều nhà gái đã nhận ăn lễ hỏi của nhà trai cũng không cho cử hành lễ nghênh hôn sớm, có khi vì cô gái còn quá nhỏ tuổi, có khi vì cha mẹ thương con vì không muốn con sớm phải về nhà chồng.
== Thư viện ảnh ==
== Xem thêm ==
Lễ giạm
Lễ vật
Trầu cau
Lễ cưới người Việt
== Tham khảo == |
mỹ hóa.txt | Mỹ hóa là thuật ngữ dùng để chỉ ảnh hưởng của nước Mỹ lên nền văn hóa của quốc gia khác, hoặc thay thế văn hóa bản địa bằng những thứ đến từ văn hóa Mỹ. Nó thường dùng với nghĩa tiêu cực.
Một trong những lý do chính là do một số thương hiệu của Mỹ đã nổi tiếng khắp toàn cầu (v.d., Coca-Cola, McDonald's, Burger King, Pizza Hut) cũng như những văn hoá phẩm của Mỹ được tung ra khắp thế giới.
Mỹ hóa cũng để chỉ quá trình các di dân đến Mỹ và trở thành người Mỹ. Quá trình này thông thường bao gồm việc học tiếng Anh và điều chỉnh theo văn hóa, phong tục, và thời trang kiểu Mỹ.
== Tham khảo == |
cuba.txt | Cuba, tên gọi chính thức là Cộng hòa Cuba (tiếng Tây Ban Nha: Cuba hay República de Cuba, IPA: [re'puβlika ðe 'kuβa]) là Quốc gia bao gồm đảo Cuba (hòn đảo hình con cá sấu vươn dài trên biển Caribe, cũng là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Đại Antilles), cùng với đảo Thanh Niên (Isla de la Juventud) và các đảo nhỏ xung quanh. Cuba nằm ở phía bắc Vùng Caribe ở giao điểm của ba miền biển lớn: Biển Caribe, Vịnh Mexico và Đại Tây Dương. Cuba nằm ở phía nam miền đông Hoa Kỳ và Bahamas, phía tây Quần đảo Turks và Caicos và Haiti và phía đông México. Quần đảo Cayman và Jamaica ở phía nam.
Cuba là quốc gia đông dân nhất vùng Caribe. Nước này có trình độ kinh tế ở mức khá cao (PPP đầu người hạng 58 thế giới vào năm 2013), trong khi các thành tựu về y tế và giáo dục đạt mức tương đương với các nước phát triển trên thế giới, với tuổi thọ bình quân của người dân là 79 tuổi (hạng 32 thế giới năm 2015) và gần như không có người mù chữ.
Dân chúng và văn hóa Cuba kết hợp từ nhiều nguồn dựa trên quá trình nhân chủng, lịch sử và địa lý: bộ tộc người bản xứ Taíno và Ciboney, lịch sử thời kỳ Tây Ban Nha thống trị, chế độ đồn điền nhập cư nô lệ châu Phi, và vị trí địa lý gần Hoa Kỳ. Hòn đảo này có khí hậu nhiệt đới nhưng điều hòa bởi vùng biển bao quanh; tuy nhiên vì nhiệt độ cao của Biển Caribe và địa thế hầu như chắn ngang Vịnh Mexico, Cuba hằng năm thường hứng chịu những trận bão lớn.
== Lịch sử ==
Theo văn tịch thì lịch sử Cuba bắt đầu ngày 28 tháng 10 năm 1492, khi Colombo nhận diện đảo này trong chuyến đi thứ nhất của ông và tuyên bố chủ quyền nhân danh triều đình Tây Ban Nha. (Điều này vẫn còn chưa chắc chắn và là một vấn đề chưa ngã ngũ.) Hòn đảo này trước đó đã được thổ dân châu Mỹ, bộ tộc Taíno và Ciboney xuất xứ từ Nam Mỹ nhiều thế kỷ trước đến lập nghiệp. Người Taíno và người Ciboney (cũng được viết là Siboney các quốc gia Taino mới) đều là những cư dân biết trồng cấy cùng săn bắn-hái lượm; có thuyết cho rằng kỹ thuật đồ đồng đã khá phát triển dựa trên số di vật phát hiện được trong các di chỉ Taino.
Bờ biển Cuba được Sebastián de Ocampo vẽ bản đồ đầy đủ vào năm 1511, và cũng trong năm ấy thôn ấp của nhóm di dân Tây Ban Nha đầu tiên đến lập nghiệp được Diego Velázquez de Cuéllar khai sáng tại Baracoa. Các thị trấn khác như La Habana (thành lập năm 1515) nhanh chóng mọc lên. Người Tây Ban Nha, như họ đã hành động trên khắp châu Mỹ, đàn áp và bắt làm nô lệ gần 100.000 người bản xứ chống việc cải đạo theo Công giáo trên đảo. Trong một thế kỷ vì chính sách lao động cưỡng bức, diệt chủng cộng với những ảnh hưởng từ các dịch bệnh được đem tới từ châu Âu hầu như các yếu tố quốc gia trên hòn đảo đã biến mất, dù một số khía cạnh di sản bản xứ vẫn còn lại một phần qua sự gia tăng đáng kể của số người Mestizo. Với sự phá hủy xã hội bản xứ, những người định cư bắt đầu khai thác những nô lệ châu Phi, họ đã có khả năng chống chịu tốt hơn với các loại bệnh dịch từ thế giới cũ, và nhanh chóng chiếm một phần đáng kể dân số.
=== Thuộc địa ===
Cuba thuộc quyền sở hữu của người Tây Ban Nha trong 388 năm, được cai trị bởi một vị Toàn quyền tại La Habana, với một nền kinh tế dựa trên trồng trọt nông nghiệp và xuất khẩu đường, cà phê và thuốc lá tới Châu Âu và sau này là tới Bắc Mỹ. Nước này bị Anh Quốc chiếm năm 1762, nhưng quay trở lại dưới quyền Tây Ban Nha vào năm sau. Dân số Tây Ban Nha đã tăng mạnh sau khi người định cư Tây Ban Nha rời Haiti khi lãnh thổ này được nhượng lại cho Pháp. Tương tự như tại các vùng khác của Đế chế Tây Ban Nha, một giới chủ đất giàu có với dòng máu Tây Ban Nha nắm quyền kinh tế và xã hội, tiếp đó là giới bình dân tiểu điền chủ người lai, pha trộn (Mestizo), giới lao động và những nô lệ da đen nguồn gốc châu Phi.
Trong thập niên 1820, khi những vùng khác của Đế chế Tây Ban Nha tại Mỹ Latinh nổi loạn và thành lập nên các nhà nước độc lập, Cuba tiếp tục trung thành, dù đã có một số khích động độc lập. Điều này một phần bởi sự thịnh vượng của những người định cư Cuba phụ thuộc vào thương mại xuất khẩu tới châu Âu, một phần bởi lo ngại về một cuộc nổi loạn nô lệ (như đã xảy ra tại Haiti) nếu người Tây Ban Nha rút đi và một phần bởi người Cuba e ngại sự lớn mạnh của Hoa Kỳ hơn là họ ghét chính quyền cai trị thuộc địa Tây Ban Nha.
Một yếu tố khác là quá trình di cư liên tục của người Tây Ban Nha tới Cuba từ mọi tầng lớp xã hội, một khuynh hướng nhân khẩu đã không còn tồn tại tại các vùng thuộc địa khác của Tây Ban Nha từ nhiều thập kỷ trước đó góp phần làm giảm sự phát triển bản sắc quốc gia Cuba.
Sự gần gũi địa lý của Cuba với Hoa Kỳ gây ảnh hưởng rất mạnh trên lịch sử nước này. Trong suốt thế kỷ 19, các chính trị gia phương Nam Hoa Kỳ đã âm mưu sáp nhập hòn đảo này và coi đó là công cụ để tăng cường sức mạnh cho phe ủng hộ chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ, và luôn có một đảng tại Cuba ủng hộ chính sách đó. Năm 1848, một cuộc nổi dậy ủng hộ sáp nhập đã bị đập tan và đã có nhiều nỗ lực khác của các kẻ muốn ủng hộ sáp nhập nhằm xâm lược hòn đảo này từ Florida. Cũng có nhiều đề xuất tại Hoa Kỳ nhằm mua Cuba từ Tây Ban Nha. Trong mùa hè năm 1848, Tổng thống James Knox Polk đã bí mật cho phép đại sứ của mình tại Tây Ban Nha, Romulus Mitchell Saunders, đàm phán mua Cuba và đưa ra giá tới 100 triệu dollar, một khoản tiền lớn đáng ngạc nhiên ở thời điểm đó cho một vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, Tây Ban Nha đã từ chối vì không muốn mất một trong những vùng lãnh thổ cuối cùng của mình tại châu Mỹ.
Sau cuộc Nội chiến Mỹ với thắng lợi của phương Bắc góp phần chấm dứt nỗi lo sáp nhập của phái ủng hộ chế độ nô lệ, làn sóng đòi độc lập tại Cuba xuất hiện trở lại, dẫn tới một cuộc nổi dậy năm 1868 do Carlos Manuel de Céspedes, một luật sư và chủ đất giàu có từ tỉnh Oriente, người đã trả tự do cho các nô lệ của mình, lãnh đạo. Ông tuyên chiến và được phong là Tổng thống Cộng hòa Cuba. Sự kiện này đã dẫn đến một cuộc xung đột kéo dài được gọi là cuộc Chiến tranh Mười Năm giữa các lực lượng ủng hộ độc lập và Quân đội Tây Ban Nha, với đồng minh là những kẻ phản đối độc lập người địa phương. Người Mỹ đồng tình với mong muốn độc lập của Cuba, nhưng Hoa Kỳ không can thiệp quân sự hay thậm chí là công nhận tính hợp pháp của chính phủ Cuba, dù nhiều quốc gia châu Âu và Mỹ Latinh đã làm như vậy. Năm 1878, Hòa bình Zanjon chấm dứt cuộc xung đột, với lời hứa của Tây Ban Nha trao quyền tự trị rộng rãi hơn cho Cuba.
Hòn đảo này đã kiệt quệ sau cuộc xung đột dai dẳng đó và tình cảm độc lập tạm thời lắng dịu. Cũng có mối lo ngại rằng nếu người Tây Ban Nha rút đi hay nếu xung đột kéo dài, chủ nghĩa bành trướng Mỹ sẽ phát triển dẫn tới sự sáp nhập hòn đảo này. Trong giai đoạn 1879-1880, nhà yêu nước Cuba Calixto Garcia đã tìm cách khởi động một cuộc chiến khác, được gọi là "la guerra chiquita" (cuộc chiến nhỏ) trong lịch sử Cuba nhưng không nhận được nhiều sự hỗ trợ. Một phần để vì áp lực của Mỹ, chế độ nô lệ đã bị bãi bỏ năm 1886, cộng đồng thiểu số gốc Phi vẫn bị đàn áp cả về kinh tế và xã hội, dù đã được chính thức trao quyền bình đẳng năm 1893. Trong giai đoạn này, sự nghèo khổ tại các vùng nông thôn ở Tây Ban Nha do Cuộc cách mạng Tây Ban Nha năm 1868 và những hậu quả của nó khiến làn sóng người Tây Ban Nha di cư tới Cuba càng tăng thêm.
Trong thập niên 1890, các phong trào ủng hộ độc lập hồi sinh, được thúc đẩy bởi sự oán giận do các biện pháp hạn chế áp đặt lên thương mại Cuba và tình trạng thù địch với chính sách quản lý ngày càng phân biệt đối xử và không hiệu của Tây Ban Nha. Rất ít lời hứa cải cách kinh tế theo Hiệp ước Zanjon được chính phủ Tây Ban Nha thực hiện. Tháng 4 năm 1895, một cuộc chiến tranh mới nổ ra, do tác gia và là nhà thơ José Martí người đã tổ chức chiến tranh trong giai đoạn mười năm sống tha hương tại Hoa Kỳ lãnh đạo. Ông tuyên bố Cuba trở thành một nước Cộng hòa độc lập — Martí bị giết hại tại Dos Rios ngay sau khi đặt chân tới Cuba cùng lực lượng viễn chinh phía đông. Cái chết đã khiến ông trở thành bất tử và được coi là một anh hùng quốc gia Cuba.
Các lực lượng vũ trang Tây Ban Nha với tổng số 200.000 quân chỉ phải chống lại một lực lượng nổi dậy nhỏ chủ yếu sử dụng các chiến thuật du kích và phá hoại, và quân Tây Ban Nha thường trả đũa bằng các chiến dịch đàn áp. Tướng Valeriano Weyler được chỉ định làm Toàn quyền quân sự của Cuba, và với một biện pháp hà khắc ông dồn người dân thôn quê vào cái ông gọi là reconcentrados, được các nhà quan sát nước ngoài miêu tả như là các "thị trấn pháo đài." Các reconcentrados thường được coi là nguyên mẫu đầu tiên của các trại tập trung trong thế kỷ 20. Những con số ước tính cho thấy khoảng 200.000 tới 400.000 thường dân Cuba đã chết vì đói khát và bệnh tật trong giai đoạn này tại các trại đó. Con số này đã được cả Hội Chữ thập Đỏ và Thượng nghị sĩ Mỹ, và cựu Thư ký An ninh Quốc gia, Redfield Proctor kiểm chứng. Hoa Kỳ và châu Âu phản đối những hành động của Tây Ban Nha trên hòn đảo. Lo ngại sự can thiệp của Mỹ, Tây Ban Nha áp dụng một chính sách mang tính hòa giải hơn, hứa hẹn cho phép tự quản bởi một nghị viện qua bầu cử. Những người nổi dậy từ chối đề xuất đó và chiến tranh giành độc lập tiếp tục diễn ra. Một thời gian ngắn sau đó, ngày 15 thán 2 năm 1898, tàu chiến Mỹ Maine bất ngờ bị nổ tung tại cảng La Habana, làm thiệt mạng 266 người. Các lực lượng muốn can thiệp vào Cuba ở Hoa Kỳ muốn nhân cơ hội này buộc tội Tây Ban Nha làm nổ tàu chiến Mỹ (dù Tây Ban Nha không hề có động cơ để hành động như vậy và không có bằng chứng về sự liên can của Tây Ban Nha). Cùng với làn sóng tình cảm chủ nghĩa quốc gia, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một nghị quyết kêu gọi can thiệp và Tổng thống William McKinley nhanh chóng đáp ứng.
Kết quả là cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, trong đó các lực lượng Mỹ đổ bộ xuống Cuba tháng 6 năm 1898 và nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự yếu ớt của Tây Ban Nha. Tháng 8 một hiệp ước hòa bình được ký kết theo đó Tây Ban Nha đồng ý rút lui khỏi Cuba. Một số người ủng hộ ý kiến Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Cuba, trong khi những người khác muốn sáp nhập lãnh thổ này. Để dàn xếp, chính quyền McKinley đặt Cuba dưới một hiệp ước bảo hộ 20 năm của Hoa Kỳ. Phong trào độc lập tại Cuba phản đối kế hoạch này, nhưng không giống như Philippines, nơi các sự kiện cũng diễn ra tương tự, không hề có cuộc kháng chiến vũ trang nào xảy ra.
=== Độc lập ===
Theodore Roosevelt, người đã chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ và có một số tình cảm với phong trào độc lập, kế tục McKinley trở thành Tổng thống Hoa Kỳ năm 1901 và bãi bỏ đề xuất bảo hộ 20 năm. Thay vào đó, Cộng hòa Cuba chính thức được độc lập ngày 20 tháng 5 năm 1902, và vị lãnh đạo cuộc kháng chiến đòi độc lập Tomás Estrada Palma trở thành tổng thống đầu tiên của đất nước. Tuy nhiên, theo hiến pháp mới của Cuba, Hoa Kỳ giữ quyền can thiệp vào các công việc của Cuba và giám sát tài chính cũng như quan hệ ngoại giao của nước này. Theo Tu chính Platt, Cuba cũng đồng ý cho Hoa Kỳ thuê căn cứ hải quân tại Vịnh Guantánamo. Cuba ngày nay không tổ chức lễ kỷ niệm ngày 20 tháng 5 là ngày độc lập, mà là ngày 10 tháng 10, ngày lần đầu tuyên ngôn độc lập được công bố và ngày Castro cùng đội quân của mình tiến vào La Habana, 1 tháng 1 năm 1959 là ngày "thắng lợi cách mạng".
Cuba độc lập nhanh chóng phải đối mặt với những khó khăn do sự tranh giành bè phái và tình trạng tham nhũng trong giới trí thức lãnh đạo và sự lực của chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội sâu sắc hậu quả của chế độ thực dân Tây Ban Nha. Năm 1906, sau cuộc bầu cử lựa chọn người kế tục Estrada Palma gây nhiều tranh cãi, một cuộc nổi dậy vũ trang bùng phát và Hoa Kỳ đã thực hiện quyền can thiệp của minh. Đất nước này được đặt dưới quyền kiểm soát của Mỹ và một vị Thống đốc, Charles Edward Magoon, nhận trách nhiệm quản lý trong ba năm. Thời kỳ cầm quyền của Magoon tại Cuba bị nhiều nhà sử học nước này coi là không thành công, họ cho rằng tình trạng tham nhũng của chính quyền Magoon còn trầm trọng hơn trước đó. Năm 1908 chính phủ tự quản được tái lập khi José Miguel Gómez được bầu làm tổng thống, nhưng Hoa Kỳ vẫn giữ quyền giám sát các công việc của Cuba. Tuy nhiên, dù những cuộc phản đối bất tuân lệnh chính phủ vẫn diễn ra, chính phủ lập hiến vẫn tồn tại cho tới năm 1925, khi Gerardo Machado y Morales, đã được bầu làm tổng thống, tạm ngưng hiệu lực của hiến pháp. Machado là một người Cuba theo đường lối quốc gia và chế độ của ông được sự ủng hộ rộng rãi của người dân trong nước dù chính phủ vẫn thường sử dụng bạo lực đàn áp sự chỉ trích. Trong thời kỳ cầm quyền của ông, người dân Cuba có quyền kiểm soát rộng rãi hơn với nền kinh tế của họ và các dự án phát triển quốc gia lớn được triển khai. Quyền lực của ông giảm sút sau cuộc Đại Suy thoái, khiến giá các mặt hàng xuất khẩu của Cuba giảm mạnh gây tình trạng nghèo đói khắp nước. Tháng 8 năm 1933, các nhóm trong quân đội Cuba tổ chức một cuộc đảo chính hạ bệ Machado và đưa Carlos Manuel de Céspedes, con trai người sáng lập nhà nước Cuba lên làm Tổng thống. Tuy nhiên, vào tháng 9 một cuộc đảo chính thứ hai do Fulgencio Batista lãnh đạo lật đổ Céspedes dẫn tới sự hình thành chính phủ Ramón Grau San Martín thứ nhất. Chính phủ này chỉ tồn tại 100 ngày nhưng đã đặt những cơ sở cho những thay đổi tự do căn bản của xã hội Cuba và sự khước từ Tu chính Platt.
Năm 1934, Batista và quân đội, phe nắm quyền lực thực sự tại Cuba, thay thế Grau bằng Carlos Mendieta y Montefur. Năm 1940, Batista quyết định tự mình ra tranh cử tổng thống. Lãnh đạo của phái tự do lập hiến Ramón Grau San Martín từ chối ủng hộ ông, và quay sang phía Đảng Cộng sản Cuba, đã phát triển cả về tầm vóc và ảnh hưởng trong thập niên 1930.
Với sự hỗ trợ của các liên đoàn lao động do những người Cộng sản kiểm soát, Batista được bầu làm Tổng thống và chính quyền của ông đã tiến hành các cải cách xã hội rộng lớn cũng như đưa ra một bản hiến pháp mới tiến bộ hơn. Nhiều thành viên của Đảng Cộng sản giữ các chức vụ trong chính quyền này. Chính quyền Batista chính thức đưa Cuba tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách đồng minh của Mỹ, tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản ngày 9 tháng 12 năm 1941, sau đó với Đức quốc xã và phát xít Ý ngày 11 tháng 12 năm 1941; Tuy nhiên, Cuba không tham gia nhiều về mặt quân sự vào các cuộc xung đột trong Thế chiến II. Vào cuối nhiệm kỳ của mình năm 1944, theo hiến pháp Batista lùi bước và Ramón Grau được bầu làm người kế tục ông. Grau tăng chi tiêu chính phủ cho y tế, giáo dục và nhà cửa. Phái tự do của Grau đối lập với những người Cộng sản và Batista phản đối hầu hết các chương trình của Grau.
Năm 1948, Carlos Prío Socarrás lên thay Grau, ông này từng là bộ trưởng lao động trong chính quyền trước và đặc biệt bị những người Cộng sản căm ghét. Prío ít tư tưởng tự do hơn Grau và dưới thời cầm quyền của ông tình trạng tham nhũng đa gia tăng đáng kể. Điều này một phần có nguyên nhân ở sự phục hồi sức mạnh của Hoa Kỳ thời hậu chiến và dòng tiền cờ bạc đổ vào La Habana, vốn đã trở thành một thiên đường cho các hoạt động của mafia. Quả thực Prío đã tiến hành nhiều cải cách lớn như thành lập Ngân hàng Quốc gia và ổn định đồng tiền tệ Cuba. Dòng vốn từ Bắc Mỹ đã trở thành nhiên liệu cho cuộc bùng nổ kinh tế, làm tăng mức sống của nhân dân và tạo ra một tầng lớp trung lưu khá giả tại hầu hết các vùng đô thị, dù hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo trở nên rộng hơn và rõ ràng hơn.
=== Từ Batista tới Castro ===
Cuộc bầu cử năm 1952 là cuộc chạy đua giữa ba người. Roberto Agramonte thuộc đảng Chính thống luôn dẫn đầu trong các cuộc thăm dò ý kiến, tiếp theo là tiến sĩ Aurelio Hevia thuộc đảng Auténtico, và ở một khoảng cách khá xa phía sau là Batista, người đang tìm cách quay lại phủ tổng thống. Cả hai đối thủ hàng đầu, Agramonte và Hevia, đều quyết định chỉ định Đại tá Ramon Barquin người đang đảm trách nhiệm vụ ngoại giao tại Washington DC lãnh đạo các lực lượng vũ trang Cuba sau cuộc bầu cử. Barquin từng là một sĩ quan cao cấp, người chỉ huy đội quân chuyên nghiệp và đã hứa hẹn hành động chống tham nhũng. Batista sợ rằng Barquin sẽ cho ông và những người theo ông ra rìa, và khi hiển nhiên rằng Batista có ít cơ hội chiến thắng, ông đã lên kế hoạch một cuộc đảo chính ngày 10 tháng 3 năm 1952 và nắm quyền lực với sự ủng hộ của một phái quốc gia trong quân đội với tư cách "tổng thống lâm thời" trong vòng hai năm. Justo Carrillo đã nói với Barquin tại Washington DC tháng 3 năm 1952 rằng những người thân cận cho ông biết Batista đã có kế hoạch đảo chính chống lại ông; họ nhanh chóng bắt đầu hợp sức tiêu diệt Batista và tái lập nền dân chủ cũng như chính phủ dân sự trong cái saunày sẽ được gọi là La Conspitacion de los Puros de 1956 (Agrupacion Montecristi). Năm 1954, dưới sức ép từ Hoa Kỳ, ông đồng ý tổ chức bầu cử. Partido Auténtico đưa cựu tổng thống Grau ra làm ứng cử viên của mình, nhưng ông này rút lui trong bối cảnh có tin đồn rằng Batista đang âm mưu thao túng bầu cử từ trước. Batista sau đó được tuyên bố làm tổng thống do dân bầu.
Fidel Castro đã lãnh đạo một cuộc tấn công bất thành vào Pháo đài Moncada, tại Santiago de Cuba, và Pháo đài Carlos Manuel de Cespedes nhỏ hơn, vào buổi tối ngày Thánh Ann, ngày 26 tháng 7 năm 1953.
Nhiều tên mafiosi tại Florida Mỹ đã vào Cuba trong thời kỳ cầm quyền của Batista, đáng chú ý là tên trùm Santo Trafficante, Jr. Những hoạt động của chúng gồm điều hành khách sạn và sòng bạc hợp pháp cũng như các hoạt động bất hợp pháp tại Florida. Những tên trùm gangster Mỹ đã trở thành những kẻ ủng hộ đáng kể cho Batista trên vũ đài chính trị Cuba, chính phủ nước này làm ngơ cho các hoạt động của chúng để đổi lấy các khoản hối lộ và lại quả.
Tháng 4 năm 1956, Batista đã ra lệnh đưa Barquin lên làm Tướng và Chỉ huy quân đội. Nhưng đã là quá muộn. Thậm chí sau khi Barquin được thông báo, ông đã quyết định hành động đảo chính nhằm cứu vãn đạo đức các lực lượng vũ trang và của người dân Cuba. Ngày 4 tháng 4 năm 1956, một cuộc đảo chính do một trăm sĩ quan dưới sự chỉ huy của Đại táCol. Barquin (khi ấy là Phó chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Liên Mỹ tại Washington DC và Đại diện Hải quân, Không quân và Bộ binh Cuba tại Hoa Kỳ) diễn ra nhưng không thành công bởi Rios Morejon. Cuộc đảo chính làm tan rã xương sống các lực lượng vũ trang Cuba. Các sĩ quan bị xét xử với mức phạt cao nhất theo Thiết quân Luật Cuba. Barquin bị kết án biệt giam 8 năm. La Conspiración de los Puros khiến nhiều sĩ quan hàng đầu các lực lượng vũ trang bị bỏ tù và các học viện quốc phòng bị đóng cửa. Barquin là người sáng lập La Escuela Superior de Guerra (Cao đẳng Quân sự Cuba) và từng là hiệu trưởng của La Escuela de Cadetes (Viện Quân sự Cuba - West Point). Không có các sĩ quan của Barquin khả năng chiến đấu chống các lực lượng nổi dậy cách mạng đã bị suy yếu nghiêm trọng.
Năm 1956 một đảng của những người nổi dậy, gồm cả Fidel Castro, đổ bộ từ một con tàu từ México và tìm cách khởi động một phong trào kháng chiến vũ trang tại Sierra Maestra. Tại Mexico, đội quân của ông được tăng cường sức mạnh với sự cộng tác của Ernesto Che Guevara người sau này sẽ trở thành một trong những nhân vật nổi bật nhất của cách mạng Cuba và là một trong những đồng minh thân cận của Castro. Castro đã tới Mexico sau khi bị kết án hai mươi năm tù vì tham gia vào cuộc tấn công năm 1953 vào Pháo đài Moncada tại Santiago de Cuba. Castro đã được Batista ân xá sau yêu cầu của Tổng Giám mục Santiago, Monseñor Enrique Perez Serantes và Thượng nghị sĩ Rafael Diaz-Balart, khi ấy là anh/em rể của Fidel Castro. Sau vụ đổ bộ, Batista tung ra một chiến dịch chống phe đối lập, nhưng chỉ làm tăng sự ủng hộ của dân chúng cho phong trào nổi dậy. Với việc các sĩ quan của Barquin đều bị tống giam tại La Prision Modelo de Isla de Pinos ở Vịnh Mexico, quân đội thiếu sự lãnh đạo và ý chí chống phe nổ dậy.
Trong hai năm 1957 và 1958, sự phản kháng Batista ngày càng tăng, đặc biệt trong các tầng lớp trung lưu và thượng lưu và sinh viên, cũng như trong giới tăng lữ Nhà thờ Cơ đốc giáo và tại nhiều vùng nông thôn. Trước yêu cầu mua vũ khí hiện đại từ Hoa Kỳ nhằm đối phó với phe nổi dậy, chính phủ Hoa Kỳ đã áp đặt một lệnh cấm vận vũ khí với chính phủ Cuba ngày 14 tháng 3 năm 1958. Tới cuối năm 1958, nhiều thành viên nổi dậy đã trốn thoát khỏi Sierra Maestra và tổ chức một cuộc tổng khởi nghĩa, được hàng trăm sinh viên và những người khác bất đồng với chính quyền Batista gia nhập. Khi phe nổi dậy chiếm Santa Clara, phía đông La Habana, Batista cho rằng chiến đấu là vô ích và bỏ chạy khỏi đất nước tới Bồ Đào Nha và sau này là Tây Ban Nha. Batista chỉ định Tướng Eulogio Cantillo làm Chỉ huy Quân đội và trao cho ông chỉ thị không được phóng thích Barquin cùng các sĩ quan của ông ta. Tuy vậy, Barquin, người có sự ủng hộ của Hoa Kỳ, đã được giải thoát khỏi Isla de Pinos ngay từ những giờ đầu tiên và được đưa tới Campamento Ciudad Militar Columbia nơi ông thay thế Cantillo và nắm chức Tham mưu trưởng (giữ quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang và trên thực tế là Tổng thống Cuba trong một thời gian ngắn) trong một nỗ lực nhằm tái lập trật tự trên đường phố và trong các lực lượng vũ trang. Ông đã đàm phán sự thay đổi mang quyền chỉ huy tính biểu tượng giữa Camilo Cienfuegos, Che Guevara, Raaul và Fidel Castro, sau khi Tòa án Tối cao quyết định rằng Cách mạng là nguồn gốc luật pháp và những đại diện của nó phải được nắm quyền chỉ huy. Với chỉ chưa tới 300 người Camilo nhận quyền từ Barquin mà chỉ riêng tại Columbia đã có 12.000 binh sĩ chuyên nghiệp. Các lực lượng nổi dậy của Castro đã tiến vào thủ đô ngày 3 tháng 1 năm 1959. Một thời gian ngắn sau khi Tiến sĩ Manuel Leo Urrutia lên nắm quyền.
=== Cuba sau cách mạng ===
Fidel Castro trở thành thủ tướng Cuba tháng 2 năm 1959, và trên thực tế đã nắm quyền lực tối cao tại đất nước cho tới khi tạm thời chuyển giao nó cho người em trai, Raul Castro, vì những lý do sức khỏe tháng 7 năm 2006. Trong năm 1959, Castro đã tiến hành nhiều biện pháp như tịch thu bất động sản tư nhân, quốc hữu hóa các cơ sở công cộng, và bắt đầu một chiến dịch thắt chặt quản lý lĩnh vực tư nhân như đóng cửa ngành công nghiệp sòng bạc. Castro cũng đã trục xuất nhiều người Mỹ, gồm cả những tên cướp khỏi hòn đảo này. Những biện pháp đó được chính phủ của ông tiến hành dưới danh nghĩa chương trình mà ông đã vạch ra trong Manifiesto de Montecristi khi còn đang ở tại Sierra Maestra. Tuy nhiên, ông đã không thành công trong việc thực hiện một số những điểm quan trọng của chương trình cải cách, như tổ chức bầu cử theo Luật bầu cử năm 1943 trong vòng 18 tháng cầm quyền đầu tiên và tái áp dụng các điều khoản của Hiến pháp 1940 đã bị tạm ngừng hiệu lực từ thời Batista.
Castro bay tới Washington, DC tháng 4 năm 1959, nhưng không được Tổng thống Mỹ Eisenhower tiếp đón, ông này đã quyết định tham gia một giải golf chứ không gặp Castro. Castro quay trở lại Cuba sau một loạt những cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo châu Phi-Châu Mỹ tại quận Harlem New York, và sau một bài diễn thuyết về "Cuba và Hoa Kỳ" đã được chuyển tới các trụ sở của Hội đồng quan hệ nước ngoài tại New York. Những vụ xử bắn những cựu quan chức của Batista bị kết án tham nhũng, cùng với việc quốc hữu hóa các công ty và sự can thiệp vào báo chí, trên danh nghĩa là ấn bản phụ thuộc các liên đoàn ủng hộ cách mạng, khiến chính phủ Hoa Kỳ đặt ra nghi ngờ về bản chất của chính phủ mới do Fidel Castro thành lập.
Thái độ đối với cuộc cách mạng Cuba cả tại Cuba và tại Hoa Kỳ đều thay đổi nhanh chóng. Việc quốc hữu hóa các công ty thuộc sở hữu Hoa Kỳ (giá trị ước tính năm 1959 là 1 tỷ dollar) nhanh chóng gây ra tình trạng thù địch bên trong chính quyền Eisenhower. Giới thượng lưu Cuba bắt đầu rời khỏi đất nước và hình thành nên một cộng đồng trưởng giả nước ngoài tại Miami. Giới nhà giàu cựu quan chức của Batista cũng như các nhóm tội phạm căm giận chính phủ cách mạng của Castro bởi các tài sản và sòng bạc của họ tại Cuba đã bị quốc hữu hóa trong số lượng những vụ "paredones", ngày càng tăng trong nước. Người Cuba nhanh chóng thành lập một nhóm lobby chính trị hùng mạnh tại Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ dần có thái độ thù địch với Cuba trong năm 1959. Điều này, tới lượt nó lại ảnh hưởng tới động thái của Cátro, ông quay lưng lại với các phái tự do trong phong trào cách mạng và ủng hộ các cá nhân theo đường lối Mác xít cứng rắn trong chính phủ, đáng chú ý nhất là Che Guevara, dù giả thuyết này còn bị tranh luận.
Tháng 10 năm 1959, Castro công khai tuyên bố tình cảm của mình với Chủ nghĩa cộng sản, dù ông vẫn chưa tuyên bố mình là một người cộng sản, trong lúc những phe phái tự do và chống cộng khác trong chính phủ bị loại bỏ. Nhiều người Cuba ủng hộ phương Tây đã bỏ khỏi đất nước gia nhập cộng đồng người Cuba tại Miami. Tháng 3 năm 1960, thỏa thuận viện trợ đầu tiên được ký với Liên bang Xô viết. Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ coi việc một đất nước có quan hệ thân mật với Liên Xô tại châu Mỹ là một mối đe dọa và lập kế hoạch lật đổ Castro (xem Kế hoạch Cuba). Cuối năm 1960, một lệnh cấm vận thương mại được Mỹ áp đặt. Chính sách thù địch của Mỹ càng làm tăng cường mối quan hệ của Castro với Liên bang Xô viết.
Cùng lúc ấy, chính quyền Mỹ cho phép thực hiện các kế hoạch xâm lược Cuba của những người Cuba lưu vong tại Floria, lợi dụng hoàn cảnh để tiến hành các cuộc nổi dậy chống Castro (xem một số chi tiết và tham khảo tại Chiến tranh chống các băng đảng và Sự kiện Vịnh Con lợn). Kết quả là sự thất bại thảm hại của nhóm quân này trong Sự kiện Vịnh Con lợn tháng 4 năm 1961. Tổng thống John Kennedy rút lại lời hứa hỗ trợ ném bom của Hoa Kỳ cho lực lượng xâm lược ở những phút cuối cùng và lực lượng chống Castro đã không có được nguồn tài lực cần thiết. Kennedy từ chối can thiệp quân sự trực tiếp từ Mỹ và các lực lượng xâm lược bị đánh tan tác. Sự kiện này khiến Castro nhanh chóng bắt tay làm đồng minh với Liên Xô để có được sự trợ giúp bảo vệ đất nước, ông tuyên bố Cuba là một nhà nước xã hội chủ nghĩa, và ông là một người theo chủ nghĩa Mác xít-Lêninít tháng 5 năm 1961.
=== Cuba của chủ nghĩa Mác-Lênin ===
Một trong những kết quả chiến lược của liên minh Cuba-Xô viết là quyết định đặt các tên lửa đạn đạo tầm trung (MRBMs) Xô viết tại Cuba, gây ra cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, trong đó chính quyền John F. Kennedy đã đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân với Liên bang Xô viết trừ khi họ rút số tên lửa đó. Ý tưởng đặt tên lửa tại Cuba được đưa ra bởi Castro hoặc Khrushchev, nhưng được Liên bang Xô viết đồng ý với lý do rằng Hoa Kỳ có tên lửa đặt tại Thổ Nhĩ Kỳ ở Trung Đông, vì thế đe dọa trực tiếp tới an ninh Liên Xô. Chỉ vài phút trước khi chiếc tàu chở tên lửa Liên Xô chạm tới vành đai phong tỏa của Hoa Kỳ, người Xô viết đã quyết định lùi bước, và ký một thỏa thuận với Kennedy. Tất cả các tên lửa đều được rút khỏi Cuba, nhưng cùng lúc ấy Hoa Kỳ phải rút tên lửa của mình ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ và những nơi khác tại Trung Đông. Tuy nhiên, Kennedy không chịu mất mặt bằng cách thực hiện thỏa thuận ấy ngay lập tức, mà chỉ chịu đồng ý sẽ rút tên lửa sau vài tháng.
Một kết quả khác là Kennedy đồng ý không xâm lược Cuba trong tương lai. Sau cuộc khủng hoảng đó, liên lạc đã được nối lại giữa Hoa Kỳ và Castro, dẫn tới việc trả tự do cho những chiến binh chống Castro đã bị bắt trong Sự kiện Vịnh Con lợn đổi lấy một gói viện trợ. Tuy nhiên, vào năm 1963 quan hệ một lần nữa xấu đi khi Castro đưa Cuba theo một hệ thống hoàn toàn cộng sản đúng hình thức của Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ áp đặt một lệnh cấm vận ngoại giao và thương mại hoàn toàn lên Cuba. Ở thời điểm ấy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Mỹ Latinh đủ mạnh để khiến lệnh cấm vận có ảnh hưởng mạnh và Cuba buộc phải chuyển tất cả quan hệ thương mại của mình sang Liên Xô và các nước đồng minh của Liên Xô.
Năm 1965, Castro sáp nhập các tổ chức cách mạng của mình với Đảng Cộng sản, và ông trở thành Tổng bí thư đảng này, Blas Roca là Phó tổng bí thư; sau này được kế nhiệm bởi Raúl Castro, người với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng và đồng minh thân tín nhất của Fidel đã trở thành nhân vật số hai trong chính phủ từ thời điểm ấy. Vị trí của Raúl Castro càng được củng cố với sự ra đi của Che Guevara để thực hiện mong ước không thành công khuấy động các phong trào nổi dậy tại Congo, và sau đó là Bolivia, nơi ông bị giết hại năm 1967. Osvaldo Dorticós Torrado, Chủ tịch Cuba từ 1959 tới 1976, chỉ mang tính đại diện và có ít quyền lực. Castro đưa ra một hiến pháp mới năm 1976 theo đó ông trở thành Chủ tịch, trong khi vẫn giữ chức chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Trong thập kỷ 1970, Castro bước ra vũ đài quốc tế với tư cách người phát ngôn hàng đầu của các chính phủ chống chủ nghĩa đế quốc của Thế giới thứ ba. Ở mức độ cụ thể hơn, ông đã cung cấp trợ giúp quân sự quý giá cho những lực lượng ủng hộ Xô viết tại Angola, Ethiopia, Yemen và các điểm xung đột tại châu Phi và Trung Đông khác. Các lực lượng Cuba đóng vai trò quyết định trong việc giúp đỡ các lực lượng MPLA giành chiến thắng trong Nội chiến Angola năm 1975, cũng như cung cấp sự trợ giúp để Nelson Mandela lật đổ chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Dù khoản tiền duy trì các hoạt động đó do Liên Xô chi trả, chúng vẫn là một lực cản lớn với nền kinh tế và nhân lực của Cuba. Cuba cũng bị ảnh hưởng bởi sự lệ thuộc của nền kinh tế vào xuất khẩu đường. Người Liên Xô cung cấp thêm viện trợ kinh tế bằng cách mua toàn bộ sản lượng đường do nước này sản xuất, dù Liên Xô có đủ củ cải đường đáp ứng cho nhu cầu của mình. Đổi lại những người Xô viết cung cấp cho Cuba nhiên liệu, bởi nước này không thể mua được nó từ bất kỳ một nguồn nào khác.
Sự phụ thuộc của kinh tế Cuba vào Liên bang Xô viết càng trở nên sâu sắc khi Castro kiên quyết xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa ở Cuba. Mong ước này gồm một hệ thống chăm sóc y tế và giáo dục miễn phí cho toàn bộ người dân. Trong suốt thập niên 1970 và 1980, người Xô viết chấp nhận cung cấp viện trợ để đổi lấy một đồng minh chiến lược ngay cạnh Hoa Kỳ và một giá trị tuyên truyền vô giá về thanh thế to lớn của Fidel Castro tại các nước đang phát triển.
Tới thập niên 1970, khả năng giữ Cuba bị cô lập của Hoa Kỳ đã sụt giảm. Cuba đã bị trục xuất khỏi Tổ chức các nước châu Mỹ năm 1962 và tổ chức này đã hợp tác với Hoa Kỳ tẩy chay thương mại với Cuba trong thập kỷ sau đó, nhưng vào năm 1975, Tổ chức các nước châu Mỹ dỡ bỏ mọi lệnh cấm vận chống Cuba và cả México cùng Canada đều thiết lập quan hệ thân cận với Cuba. Cả hai nước đều tuyên bố họ hy vọng bồi dưỡng sự tự do hóa tại Cuba bằng cách cho phép các liên hệ thương mại, văn hóa và ngoại giao được nối lại. Castro quả thực có ngừng công khai ủng hộ các phong trào nổi dậy chống các chính phủ Mỹ Latinh, dù các nhóm ủng hộ Castro tiếp tục chiến đấu chống lại nền độc tài khi ấy đang hiện diện ở hầu hết các nước Mỹ Latinh.
Cộng đồng Cuba hải ngoại tại Hoa Kỳ đã phát triển về số lượng, tài sản và sức mạnh và đã chính trị hóa các yếu tố để ngăn cản sự bình thường hóa quan hệ của Hoa Kỳ với Cuba. Tuy nhiên, những nỗ lực của người Cuba hải ngoại nhằm thành lập một phong trào chống Castro bên trong Cuba, không mang lại nhiều thành công. Chủ nhật, ngày 6 tháng 4 năm 1980, 7.000 người Cuba lao vào đại sứ quán Peru tại La Habana xin tị nạn chính trị. Một trong những người đã vào đại sứ quán kể lại những trải nghiệm của mình trong "Những ngày tại Đại sứ quán" (xuất bản mùng 8 tháng 6 năm 2007). Thứ hai ngày 7 tháng 4, chính phủ Cuba cho phép những người Cuba tị nạn trong Đại sứ quán Peru được di cư. Ngày 16 tháng 4 500 công dân Cuba rời Đại sứ quán Peru tới Costa Rica. Ngày 21 tháng 4 nhiều người trong số đó bắt đầu tới Miami bằng thuyền tư nhân và được Bộ ngoại giao Mỹ cứu trợ ngày 23 tháng 4. Tuy nhiên, cuộc di tản bằng tàu vẫn tiếp tục, bởi Castro cho phép bất kỳ ai muốn rời đất nước được ra đi tại cảng Mariel và cuộc di tản này đã được gọi là Sự kiện Mariel. Tổng cộng, hơn 125.000 người Cuba đã di cư sang Hoa Kỳ trước khi làn sóng tàu di cư chấm dứt ngày 15 tháng 6.
=== Cuba thời hậu chiến tranh lạnh ===
Sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 khiến nền kinh tế Cuba bị ảnh hưởng nặng nề. Nó dẫn tới một cuộc di cư khác tới Hoa Kỳ năm 1994, nhưng cuối cùng đã giảm xuống mức vài nghìn người một năm theo một thỏa thuận Hoa Kỳ-Cuba. Một lần nữa tăng lên trong giai đoạn 2004-06 dù ở mức thấp hơn nhiều so với trước đó. Danh tiếng của Castro đã được thử thách thật sự với hậu quả của sự tan vỡ Liên bang Xô viết, dẫn tới cắt bỏ các khoản viện trợ, mất thị trường xuất khẩu và mất nguồn cung dầu mỏ với giá rẻ. Nó cũng gây ra, tương tự như tại các quốc gia cộng sản chủ nghĩa khác, một cuộc khủng hoảng lòng tin với những người tin tưởng rằng Liên bang Xô viết là một hình mẫu "xây dựng chủ nghĩa xã hội" thành công và là một mô hình để các nước khác noi theo. Tuy nhiên, tại Cuba những sự kiện ấy chưa đủ để thuyết phục những người Cộng sản Cuba rằng họ phải thay đổi mô hình phát triển đất nước.
Tới cuối thập kỷ 1990, tình hình kinh tế Cuba đã được ổn định. Khi ấy Cuba đã ít nhiều có các mối quan hệ kinh tế với hầu hết các quốc gia Mỹ Latinh và đã cải thiện quan hệ với Liên minh châu Âu, tổ chức này bắt đầu có quan hệ thương mại và các khoản giúp đỡ cho hòn đảo này. Trung Quốc cũng xuất hiện với tư cách một đối tác tiềm năng mới, thậm chí khi Cuba đã đứng về phía Liên Xô trong cuộc Chia rẽ Trung-Xô trong thập kỷ 1960. Cuba cũng tìm thấy các đồng minh mới là Tổng thống Hugo Chávez tại Venezuela và Tổng thống Evo Morales của Bolivia, những nước xuất khẩu dầu và khí tự nhiên lớn. Năm 2014, sau 53 năm bao vây cấm vận, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố mong muốn bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước. Ngày 20/3/2016 Tổng thống Mỹ Barack Obama bắt đầu chuyến thăm lịch sử tới Cuba. Đây có thể coi là chuyến thăm lịch sử tới Cuba bởi lần đầu tiên trong 88 năm qua mới có một tổng thống đương nhiệm của Mỹ thăm chính thức quốc đảo này.
== Chuyển giao trách nhiệm ==
Ngày 31 tháng 7 năm 2006, Fidel Castro xin thôi các chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Cuba và chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Quốc hội Cuba bầu em trai và cũng là người bạn chiến đấu của ông là Phó chủ tịch thứ nhất, Raúl Castro, đảm nhiệm các vụ này. Cuộc chuyển giao quyền lực này đã được miêu tả là tạm thời để Castro hồi phục từ cuộc phẫu thuật sau khi phải chịu một cơn "bệnh đường ruột cấp tính gây chảy máu". Fidel Castro quá ốm yếu để tham dự buổi lễ toàn quốc lần thứ 50 kỉ niệm thời điểm con tàu Granma cập đất liền ngày 2 tháng 12 năm 2006, khiến có những đồn đoán cho rằng Castro bị ung thư dạ dày, dù Bác sĩ Tây Ban Nha García Sabrido, sau một cuộc khám xét ngày Giáng sinh, đã nói rằng tình trạng ốm yếu của ông là một vấn đề về tiêu hóa và không phải ung thư giai đoạn cuối.
Ngày 31 tháng 7 năm 2007, băng hình cuộc gặp của Castro với Tổng thống Venezuela Hugo Chávez đã được phát sóng, theo các báo cáo của truyền thông quốc tế, Castro "tỏ ra yếu ớt nhưng khỏe hơn vài tháng trước", và nhà lãnh đạo Cuba đã có một cuộc nói chuyện điện thoại kéo dài đáng ngạc nhiên trên buổi nói chuyện trên đài của Chávez Aló Presidente tháng sau đó. Dù những người trung thành với Castro trong chính phủ Cuba đã nói rằng ông sẽ vẫn ra tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2008 vào Quốc hội Cuba, vẫn có những nghi ngờ về việc ông sẽ tiếp tục hay thậm chí có khả năng quay lại cầm quyền hay không. Kể từ năm 2007 tới nay, Fidel Castro không tham gia bất kỳ hoạt động chính trị nào, ông tập trung viết báo và thỉnh thoảng trả lời phỏng vấn một số nhà báo nước ngoài.
== Chính trị ==
Sau khi Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa được ban hành năm 1976, được thông qua mà không cần tuân thủ các quy tắc do Hiến pháp năm 1940 đề ra, Cộng hòa Cuba đã được xác định là một nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp này đã được thay thế bằng Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa năm 1992, hiến pháp hiện nay, tuyên bố nhà nước được dẫn dắt bởi các tư tưởng của José Martí, và các tư tưởng chính trị của Mác, Engels và Lênin. Hiến pháp hiện nay cũng quy định trách nhiệm của Đảng Cộng sản Cuba (PCC) là "lực lượng lãnh đạo xã hội và đất nước." Tổng bí thư Đảng Cộng sản, Raúl Castro, hiện là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Chủ tịch Cuba) và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (thỉnh thoảng còn được gọi là Thủ tướng Cuba). Các thành viên của cả hai hội đồng đều do Quốc hội Quyền lực Nhân dân bầu. Chủ tịch Cuba, người cũng do quốc hội bầu, hoạt động với nhiệm kỳ năm năm và không có điều khoản hạn chế số nhiệm kỳ được phục vụ. Fidel Castro đã là Chủ tịch từ khi Hiến pháp được thông qua năm 1976 khi ông thay thế Osvaldo Dorticós Torrado. Tòa án tối cao Cuba là nhánh tư pháp cao nhất của chính phủ. Đây cũng là tòa đưa ra phán xét cuối cùng đối với các phiên phúc thẩm từ các tòa án địa phương.
Cơ quan lập pháp Cuba, Quốc hội Quyền lực Nhân dân (Asamblea Nacional de Poder Popular), là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao và có 609 hoạt động theo nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội họp hai phiên mỗi năm, giữa hai phiên họp quyền lập pháp do Hội đồng Bộ trưởng gồm 21 thành viên nắm giữ. Các ứng cử viên quốc hội được phê chuẩn bởi hội nghị nhân dân. Tất cả các công dân Cuba trên mười sáu tuổi và không phạm tội hình sự đều được đi bầu cử. Điều 131 Hiến pháp nói rằng việc bầu cử sẽ được tiến hành "tự do, bình đẳng, và theo hình thức bỏ phiếu kín". Điều 136 quy định: "Để các đại biểu hay đại diện được coi là trúng cử họ phải có hơn nửa số phiếu bầu hợp lệ tại khu vực bầu cử". Bầu cử được tiến hành theo hình thức bỏ phiếu kín và phiếu được kiểm công khai. Những con số phiếu bầu cao bất thường dành cho một cá nhân nào đó sẽ được tái kiểm bởi những quan sát viên không đảng phái, độc lập, hay không thuộc các cơ quan nhà nước. Các ứng cử viên được lựa chọn tại địa phương từ nhiều ứng cử viiên trước khi có được sự phê chuẩn chính thức của ủy ban bầu cử. Sau cuộc bầu cử, chỉ có một ứng cử viên cho mỗi ghế, với đa số phiếu, được bầu.
Không một đảng chính trị nào được phép đưa ra ứng cử viên hay vận động tranh cử trên hòn đảo, dù Đảng Cộng sản Cuba đã tổ chức năm cuộc Đại hội đại biểu từ năm 1975. Năm 1997, đảng tuyên bố có 780.000 đảng viên, và đại diện của đảng chiếm ít nhất một nửa các Hội đồng quốc gia và Quốc hội. CÁc vị trí còn lại thuộc các ứng cử viên được gọi là không đảng phái. Các đảng chính trị khác thực hiện chiến dịch tranh cử và vận động tài chính ở nước ngoài, còn các hoạt động của các nhóm đối lập bị hạn chế và coi là bất hợp pháp. Tuy hiến pháp Cuba có quy định cho phép tự do ngôn luận, những quyền này bị hạn chế theo Điều 62, nói rằng "Không một quyền tự do nào được ghi nhận cho các công dân có thể tiến hành hoạt động chống đối.... sự tồn tại và các mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa, hay trái ngược với quyết định của nhân dân Cuba về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Những hành động vi phạm nguyên tắc này có thể bị xét xử theo pháp luật." Bởi những phương tiện sản xuất nằm trong tay nhà nước và dưới sự kiểm soát của chính phủ, đã có nhiều trường hợp vi phạm nguyên tắc này khiến người vi phạm mất việc làm.
Các thành viên Đảng Cộng sản Cuba tham gia vào Các Ủy ban Bảo vệ Cách mạng toàn dân, đóng vai trò chủ chốt trong cuộc sống hàng ngày. Các nhóm này được hình thành để phối hợp với các định chế công cộng, đảm bảo rằng người dân trung thành với mục tiêu chủ nghĩa xã hội của chính phủ, và hành động như một người giám sát với hàng xóm chống lại các hoạt động "phản cách mạng".
Từ khi Cuba trở thành một nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 1961, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều biện pháp mang tính chính sách tạo ra các hiệu ứng mạnh cả về chính trị và kinh tế với hòn đảo này; chúng được nghiên cứu kỹ để thực hiện mục đích lật đổ giới lãnh đạo và khuyến khích Cuba tiến hành thay đổi chính trị theo hướng đa đảng. Biện pháp đáng chú nhất trong số đó là lệnh Cấm vận Hoa Kỳ chống Cuba và Đạo luật Helms-Burton sau đó năm 1996. Nhiều người tin rằng chính phủ Cuba không đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về dân chủ, đặc biệt vì thiếu hệ thống bầu cử đa đảng và sự hạn chế quyền tự do ngôn luận khiến ứng cử viên không thể trình bày quan điểm của mình trong chiến dịch tranh cử. Chính phủ Cuba, những người ủng hộ họ và các nhà quan sát khác bên trong Cuba cho rằng Cuba có một hình thức dân chủ riêng, đưa ra lý luận là sự tham gia rộng rãi vào quá trình đề cử ở cả tầm vóc quốc gia và khu vực.
=== Nhân quyền ===
Chính phủ Cuba đã bị phương Tây cáo buộc về những hành động vi phạm nhân quyền, gồm tra tấn, bỏ tù, xét xử không công bằng và tử hình không xét xử. Những người hoạt động đối lập than phiền bị sách nhiễu và tra tấn Tuy chính phủ Cuba đã đình hoàn hình phạt tử hình năm 2001, nhưng nó không được áp dụng với những thủ phạm của một vụ không tặc có vũ trang hai năm sau đó. Các nhóm như Ân xá Quốc tế và Human Rights Watch đã đưa ra những báo cáo về những người mà theo họ là các "tù nhân lương tâm" Cuba. Những người đối lập cáo buộc chính phủ Cuba đàn áp tự do biểu thị quan điểm bằng cách hạn chế truy cập Internet. Chính phủ Cuba từ chối cho Ủy ban Quốc tế của Hội Chữ thập đổ tiếp cận với các tù nhân và các nhóm nhân quyền của họ gồm cả việc cấm Ân xá Quốc tế hoạt động tại Cuba.
Đối với những cáo buộc từ phương Tây, Fidel Castro tuyên bố rằng nhà nước đôi khi phải hạn chế quyền tự do của một số cá nhân để bảo vệ các quyền lợi của tập thể nhân dân như quyền được lao động, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và y tế miễn phí. Tại đất nước Cuba, những quyền cơ bản nhất của con người là "quyền có nhà ở, quyền được đi học, quyền được chăm sóc y tế, quyền được lao động" luôn được Nhà nước chăm lo và hoàn toàn miễn phí, đó là điều mà ngay cả công dân nhiều nước phương Tây phát triển cũng chưa được hưởng.
Một ký giả Việt Nam đã từng sang Cuba 4 lần từ năm 2006 đến 2014; cũng đã được làm việc với lãnh đạo Bộ Kinh tế Cuba; Bộ Nội vụ Cuba, đã nhận xét:
Quả thật, tôi cũng xin phép được nhắc lại câu của Đại sứ Lê Quảng Ba nếu như nói về Cuba: “Bao giờ ta có thể làm được như họ?!”.
Bấy lâu nay, cũng do Cuba xa chúng ta quá, hơn nữa, việc cung cấp thông tin còn rất hạn chế, cho nên thế giới và cả Việt Nam nữa – cũng không hiểu Cuba. Rất nhiều lời nhận xét về Cuba là xuất phát từ những kẻ trọc phú ở Việt Nam – đó là một số đại gia lắm tiền nhiều của và họ nhìn người dân Cuba bằng con mắt của kẻ lắm tiền. Nói nôm na là họ coi cái gì ở Cuba cũng kém, cũng xấu. Nhưng họ không biết rằng, ở Cuba, có những điều mà ít nhất 2/3 dân số Việt Nam đang nằm mơ cũng không được như vậy.
Tất cả trẻ em Cuba đều được giáo dục miễn phí ngay từ mẫu giáo lớn (5 tuổi) cho đến khi tốt nghiệp đại học hoặc học lên đến tiến sĩ... Tất cả người dân Cuba đều được khám, chữa bệnh miễn phí và được dùng những loại thuốc tốt nhất có thể... Tất cả người dân, trẻ em Cuba đều được uống sữa tươi miễn phí... Rồi nữa, giáo dục của Cuba được xếp vào hàng tiên tiến nhất thế giới, ngang với Đan Mạch. Y tế Cuba thì đứng vào hàng đầu và họ đã chế ra được vắc-xin phòng chống bệnh ung thư và nhiều loại thuốc đặc biệt khác. Thể thao Cuba thì cũng đứng vào hàng thứ 14, 15 gì đó trên thế giới
Còn về trật tự xã hội thì quả thực đó là một thiên đường cho sự ngăn nắp, nề nếp, văn minh và sự tôn trọng các quy tắc trật tự đô thị, bảo vệ môi trường.
Đúng là người dân Cuba còn thiếu thốn bởi cái lệnh cấm vận dã man của Mỹ. Nhưng trong phạm vi có thể, Chính phủ Cuba đã lo cho trẻ em và người già hết mức. Đấy chính là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Những điều đó – chắc chắn rằng những người vốn nhìn Cuba hay Triều Tiên bằng con mắt “trọc phú” sẽ không bao giờ nhìn thấy bởi họ quen đến những nơi có tiền là có thể mua tất cả. Nhưng họ lại không nghĩ rằng, có những điều trong cuộc sống con người ta mà có tiền cũng chẳng thể mua được: Đó là sự hạnh phúc, bình an.
Cuba, Triều Tiên – không phải là họ không biết và không có khát vọng làm giàu. Nhưng họ không làm giàu bằng mọi cách như ở Việt Nam. Họ không làm giàu bằng kiểu tàn phá môi trường; không làm giàu bằng các trò làm ăn chộp giật, lừa đảo, bất chấp luật pháp. Đúng là xã hội của họ còn nhiều thiếu thốn, cách quản lý, xây dựng kinh tế của họ cũng còn nhiều điều phải cải tổ nhưng rõ ràng họ đã chăm lo rất tốt cho đời sống người dân, đặc biệt là trẻ em và người già. Mà cũng phải nói thêm rằng, bình quân thu nhập theo đầu người của Cuba còn cao gấp 3 lần người Việt Nam. Và Cuba đã dành 54% tổng thu nhập quốc gia cho giáo dục và y tế.
=== Liên đoàn thương mại ===
Có các liên đoàn tại Cuba, với số thành viên lên tới 98% nhân lực hòn đảo này. Các liên đoàn không đăng ký với bất kỳ một cơ quan nhà nước nào, và tự lấy kinh phí hoạt động từ nguồn đóng góp thành viên hàng tháng. Những người ủng hộ họ cho rằng các viên chức liên đoàn được bầu lên trên cơ sở tự do, và có nhiều quan điểm chính trị bên trong mỗi liên đoàn. Tuy nhiên, tất cả các liên đoàn đều là một phần của một tổ chức được gọi là Confederación de Trabajadores Cubanos (Hiệp hội Công nhân Cuba, CTC), hội này thực sự có những mối quan hệ mật thiết với nhà nước và Đảng Cộng sản. Những người ủng hộ cho rằng CTC cho phép công nhân chuyển ý kiến lên chính phủ; những người đối lập lại cho rằng chính phủ sử dụng nó để kiểm soát các công đoàn thương mại và chỉ định các thành viên lãnh đạo công đoàn. Quyền tự do bày tỏ ý kiến của công nhân cũng là một vấn đề được tranh luận. Những người ủng hộ hệ thống cho rằng những ý kiến của công nhân trên thực tế đã hình thành nên chính sách của chính phủ trong nhiều hoàn cảnh, như đề xuất cải cách thuế năm 1993, trong khi phe đối lập, đưa ra những nghiên cứu của các tổ chức lao động quốc tế cho thấy công nhân bị buộc phải thề nguyền trung thành với các lý tưởng của Đảng Cộng sản, và cho rằng chính phủ chi phối một cách có hệ thống và cản trở các nhà hoạt động công đoàn, trong khi vẫn ngăn cấm việc thành lập các liên đoàn thương mại độc lập (không thuộc CTC), rằng các lãnh đạo các liên đoàn độc lập đã bị bỏ tù, và rằng quyền đình công của công nhân không được ghi nhận trong luật.
=== Quan hệ đối ngoại ===
==== Việt Nam ====
Quan hệ ngoại giao giữa hai nước vô cùng đặc biệt. Ngày 12 tháng 9 năm 1973, Fidel Castro là vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất thăm vùng giải phóng miền Nam khi chiến tranh chưa kết thúc. Cũng trong chuyến thăm lần đầu tiên này, Cuba đã tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế - xã hội với tổng trị giá khoảng 80 triệu USD bao gồm: khách sạn Thắng Lợi (Hồ Tây, Hà Nội), Bệnh viện Việt Nam - Cuba (Đồng Hới, Quảng Bình), đường Xuân Mai, trại bò giống Ba Vì, Xí nghiệp gà Lương Mỹ; tặng bò giống, gà giống và chi hơn 6 triệu USD để mua thiết bị hiện đại, đồng thời cử chuyên gia về cầu đường sang Việt Nam tham gia cùng bộ đội Trường Sơn mở rộng Đường Trường Sơn, và giúp đào tạo trên 1.000 sinh viên Việt Nam ở trình độ đại học và cao học...
Cuba là nước Mỹ Latinh đầu tiên và cũng là một trong những nước sớm nhất trên thế giới công nhận chính thức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cơ quan đại diện thường trú của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại La Habana (Ban đầu tòa đại sứ này đặt tạm tại một biệt thự ở khu phố lao động Kohly, nhưng sau được Chính phủ Cuba cấp thêm một biệt thự sân vườn rất lớn tại Quinta Avenida, đại lộ số 5 dài nhất và đẹp nhất thủ đô La Habana) được hưởng đầy đủ quy chế ngoại giao. Sau khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Namthành lập, cơ quan này nhanh chóng được chuyển thành đại sứ quán miền Nam Việt Nam. Thời chiến khốc liệt, thông cảm hoàn cảnh khó khăn của nước bạn, Thủ tướng Fidel Castro bao cấp toàn phần. Tất cả từ nhà cửa, xe cộ, trang thiết bị làm việc, ăn ở, chi phí ngoại giao, kể cả lương bổng, phụ cấp của cán bộ, nhân viên sứ quán đều được Cuba bảo đảm chu đáo.
Sau Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, tất cả các nước đều dừng viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam, riêng Cuba là nước duy nhất tiếp tục viện trợ cho Việt Nam 10 năm tiếp theo từ 1975-1985.
==== Mỹ ====
Ngày 17 tháng 12 năm 2014, qua vai trò trung gian của Tòa Thánh Vatican, Chủ tịch Cuba Raul Castro và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố đã đạt được một thỏa thuận về việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước sau hơn 50 năm gián đoạn. Tuy nhiên, việc bình thường hóa quan hệ còn phải trải qua một giai đoạn dài phía trước vì nó phải nhận được sự phê chuẩn từ lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ.
== Phân chia hành chính ==
Cuba có ba cấp hành chính là trung ương, tỉnh (provincias) và hạt (municipios). Cấp tỉnh có 14 đơn vị, cấp hạt có 169 đơn vị. Có một hạt đặc biệt, được xếp ngang với cấp tỉnh, đó là Isla de la Juventud. Trước kia Cuba chỉ có sáu tỉnh: Pinar del Río, Habana, Matanzas, Las Villas, Camagüey và Oriente. Cách phân chia hành chính hiện nay rất giống với kiểu tỉnh quân sự Tây Ban Nha trong những cuộc chiến tranh giành độc lập của Cuba, khi hầu hết những vùng có nhiều rắc rối đều được chia nhỏ.
== Địa lý ==
Cuba là một quần đảo nằm tại Biển Caribbean, với tọa độ địa lý 21°3N, 80°00W. Cuba là hòn đảo chính, được bao quanh bởi bốn nhóm đảo lớn. Chúng gồm Colorados, Camagüey, Jardines de la Reina và Canarreos. Hòn đảo chính Cuba chiếm hầu hết diện tích đất nước (105.006 km² hay 40.543 dặm vuông) và là hòn đảo lớn thứ 17 trên thế giới theo diện tích. Hòn đảo lớn thứ hai tại Cuba là Đảo Thanh niên (Isla de la Juventud), tên cũ là Đảo Thông (Isla de la Pinos) ở phía đông nam, với diện tích 3056 km² (1180 dặm vuông). Cuba có tổng diện tích đất liền 110.860 km².
Hòn đảo chính gồm chủ yếu các đồng bằng phẳng tới hơi dốc. Ở cực phía đông nam Sierra Maestra, một rặng núi dốc đứng với điểm cao nhất là Pico Real del Turquino 2.005 mét (6.578 ft). Khí hậu địa phương là nhiệt đới, dù được điều tiết ôn hòa bởi gió mậu dịch. Nói chúng (với biến thiên theo địa phương), có một mùa khô từ tháng 11 tới tháng 4, và một mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 10. Nhiệt độ trung bình 21 °C vào tháng 1 và 27 °C vào tháng 7. Cuba nằm trên đường đi của các cơn bão và chúng thường xảy ra nhất trong khoảng từ tháng 9 tới tháng 10. La Habana là thành phố lớn nhất và thủ đô Cuba; các thành phố lớn khác gồm Santiago de Cuba và Camagüey. Những thị trấn khác gồm Baracoa từng là khu định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại Cuba, Trinidad, và một di sản thế giới của UNESCO, and Bayamo.
== Xã hội ==
==== Giáo dục ====
Về lịch sử, Cuba luôn có tỷ lệ giáo dục và biết chữ cao nhất Mỹ Latinh, cả trước và sau thời kỳ cách mạng. Giáo dục là miễn phí đối với mọi công dân Cuba gồm cả giáo dục đại học. Các định chế giáo dục tư nhân không được phép hoạt động. Phổ cập giáo dục áp dụng với mọi đứa trẻ từ sáu tuổi tới hết mức giáo dục cấp hai căn bản (thường là 15 tuổi) và tất cả học sinh, không cần biết giới tính và sắc tộc, đều mặc đồng phục của trường với màu sắc thể hiện cấp học. Trong suốt quá trình học, học sinh không phải trả một khoản phí nào, từ tiền may đồng phục, tiền mua sắm sách vở, giấy bút và còn được nuôi ăn một bữa hoặc cả ngày (tùy theo từng trường). Do vậy, gần như không có một trẻ em Cuba nào bị thất học, dù đó là ở nơi nông thôn xa xôi.
Giáo dục tiểu học kéo dài sáu năm, giáo dục trung học cơ sở được chia thành mức căn bản và tiền đại học. Giáo dục cao học được tiến hành tại các trường đại học, các viện, các viện sư phạm và các viện bách khoa. Đại học La Habana được thành lập năm 1728 và có một số trường cao đẳng cũng như đại học khác. Bộ Giáo dục Cao học Cuba cũng điều hành chương trình Giáo dục Từ xa mở các lớp buổi chiều và buổi tối tại các vùng nông thôn cho các lao động nông nghiệp. Giáo dục được đề cao cả về mặt chính trị và ý thức hệ, và sinh viên bậc cao học được chờ đợi sẽ là người thực hiện các mục tiêu do chính phủ Cuba đề ra.
==== Chăm sóc y tế ====
Chính phủ Cuba điều hành một mạng lưới y tế quốc gia và đảm trách tất cả các nghĩa vụ thuế và hành chính đối với việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Về lịch sử, Cuba từ lâu đã được xếp hạng một trong những quốc gia có số nhân viên y tế cao và có nhiều đóng góp vào công cuộc chăm sóc sức khỏe cộng đồng thế giới từ thế kỷ 19. Theo những con số thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi thọ và tỷ lệ tử vong trẻ em tại Cuba từng có thể so sánh với các nước công nghiệp phát triển theo các số liệu được thu thập lần đầu năm 1957. Khảo sát chi tiết hơn của WHO về Cuba cho thấy chúng được chuẩn bị bởi mỗi chính phủ và luôn được công bố không thay đổi bởi WHO; vì thế đã có câu hỏi được đặt ra.
Nhánh các bệnh viện dành cho các nhà ngoại giao và khách du lịch riêng biệt với nhánh trên.
Một số thống kê về Cuba được tờ Independent của Anh nêu ra về y tế Cuba:
Tuổi thọ bình quân: nam 75,11; nữ: 79,85 (Mỹ tương ứng là 75; 80,8).
Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: 6,22 ca tử vong trên 1.000 trẻ em (Mỹ là 6,43).
Tỷ lệ nhiễm HIV: dưới 0,1 phần trăm (Mỹ: 0,6 phần trăm).
Số bác sĩ trên 1000 dân: 5,91 (Mỹ: 2,56).
Số giường bệnh trên 10.000 dân: 49 (Mỹ: 33).
25.000 bác sĩ Cuba đang làm nhiệm vụ nhân đạo tại 68 quốc gia. Năm 2006, 1.800 bác sĩ từ 47 nước đang phát triển đã tốt nghiệp từ 21 trường y tế của Cuba. Mỗi năm có hơn 5.000 "khách du lịch sức khỏe" đi du lịch tới Cuba, tạo ra hơn 40 triệu USD cho nền kinh tế Cuba.
Số bác sĩ Fidel Castro được cung cấp để gửi sang Mỹ để giúp đỡ các nạn nhân của cơn bão Katrina: 1.586
Tất cả người dân Cuba đều được khám, chữa bệnh miễn phí và được dùng những loại thuốc tốt nhất có thể. Những bệnh viện ở Cuba không có cảnh bệnh nhân phải chung nhau một giường. Tất cả người dân, trẻ em Cuba đều được uống sữa tươi miễn phí. Nếu là trẻ em dưới 10 tuổi thì mỗi ngày được uống nửa lít sữa miễn phí, chỉ cần ra cửa hàng Nhà nước để lấy.
Chính phủ Cuba thường xuyên cử các đoàn y tế tới các khu vực có thiên tai, dịch bệnh trên thế giới (đặc biệt tại các nước nghèo) để hỗ trợ Kể từ khi Cuba cử một nhóm bác sĩ đến giúp Chile khắc phục hậu quả của một trận động đất năm 1960, đến nay Cuba này đã gửi hơn 135.000 nhân viên y tế đến nhiều nơi trên thế giới trong các sứ mệnh nhân đạo. "Ngoại giao y tế" tạo ra lợi ích sức khỏe và cải thiện quan hệ giữa các quốc gia là nền tảng của chính sách đối ngoại Cuba trong suốt hàng chục năm qua. Bên cạnh những giá trị về nhân đạo và tạo lập hình ảnh quốc gia, Cuba cũng được hưởng lợi kinh tế từ chính sách “ngoại giao y tế”. Cùng với các dịch vụ giáo dục, thể thao, việc cử các chuyên gia y tế ra nước ngoài làm việc đưa về cho Cuba khoảng 10 tỷ USD hàng năm, trở thành nguồn thu nhập quan trọng nhất đối với hòn đảo này.
Ngày 1/7/2015, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức xác nhận Cuba trở thành quốc gia đầu tiên đã thành công trong việc ngăn chặn vi rút HIV truyền từ mẹ sang con. Theo Giám đốc WHO Margaret Chan, thành công của Cuba là một trong những thành tựu quan trọng nhất của hệ thống y tế toàn cầu, là chiến thắng y học rất vĩ đại của nhân loại trong cuộc chiến lâu dài với HIV/AIDS. Một trong những yếu tố quan trọng là nhờ vào hệ thống chăm sóc y tế quốc gia toàn diện tập trung vào sức khỏe sản phụ, Tại Cuba có đến 99% bà mẹ mang thai và 100% các bé sơ sinh từ mẹ bị HIV đều được điều trị thuốc ngăn chặn phơi nhiễm HIV và các loại thuốc này miễn phí hoàn toàn cho bệnh nhân, theo hướng dẫn của bác sĩ.
== Nhân khẩu ==
Theo CIA World Factbook, 51% người Cuba là Mulatto (lai da trắng và đen), 37% da trắng, 11% da đen, và 1% Trung Quốc. Các cuộc nghiên cứu DNA trên khắp vùng Antilles đã cho thấy có sự hiện diện của các nhóm neo-Taino trong dân số ở mức độ lớn hơn quan niệm trước kia.
Theo Cuba's Oficina Nacional de Estadisticas ONE 2002 Census, dân số Cuba là 11.177.743 người, trong đó:
5.597.233 nam và
5.580.510 nữ.
Tính theo chủng tộc 7.271.926 da trắng, 1.126.894 da đen và 2.778.923 mulatto (hay mestizo). Số người Trung Quốc tại Cuba chủ yếu là hậu duệ của các lao động đã tới đây trong thế kỷ 19 để xây dựng các tuyến đường sắt và làm việc tại các khu mỏ. Sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, nhiều người trong số các lao động này đã ở lại Cuba vì họ không đủ tiền quay lại Trung Quốc.
Chính phủ Cuba kiểm soát sự di dân vào thủ đô La Habana vì đây là vùng thành thị (nơi sinh sống của gần 20% dân số đất nước) đã quá tải về sử dụng đất, nước, điện, vận tải và các yếu tố hạ tầng đô thị khác. Những người dân di cư nội bộ tới La Habana được đặt biệt hiệu là "Palestinos" (người Palestine); họ chủ yếu tới từ vùng phía đông Oriente. Cuba cũng là nơi sinh sống của một số người không phải gốc Cuba. Có khoảng vài nghìn người tị nạn Bắc Phi ở độ tuổi thiếu niên và nhỏ hơn.
Tỷ lệ sinh của Cuba (9,88 sinh trên 1000 người năm 2006) là một trong những tỷ lệ thấp nhất khu vực Tây Bán Cầu. Tổng dân số đã tăng liên tục từ khoảng 7 triệu người năm 1961 tới hơn 11 triệu hiện nay, nhưng tỷ lệ tăng đã ngừng lại trong vài thập kỷ qua, và gần đây đã quay sang xu hướng giảm, lần đầu tiên chính phủ Cuba đã thông báo trong năm 2006 có hiện tượng giảm dân số từ vụ Di cư Mariel. Sự sụt giảm trong tỷ lệ sinh - từ 3.2 trẻ em trên phụ nữ năm 1970 xuống còn 1.38 năm 2006 - là mức lớn thứ ba ở Tây Bán Cầu, chỉ Guadeloupe và Jamaica có mức giảm lớn hơn. Cuba, vốn cho phép nạo thai, có tỷ lệ nạo thai 58.6 trên 1000 ca mang thai năm 1996 so với tỷ lệ trung bình vùng Caribbean là 35, tỷ lệ trung bình vùng Mỹ Latinh là 27 (tại Mỹ La tinh hầu như là nạo thai bất hợp pháp), và tỷ lệ trung bình tại châu Âu 48. Ngoài ra, việc sử dụng biện pháp tránh thai được ước tính khoảng 79% (ở một phần ba phía trên các nước tại Tây Bán Cầu). Với tỷ lệ nạo thai cao, tỷ lệ sinh thấp, và dân số đang già đi, sơ đồ nhân khẩu Cuba rất giống với sơ đồ nhân khẩu các quốc gia Đông Âu như Ba Lan hay Ukraine chứ không phải các quốc gia Mỹ Latinh hay Caribbean láng giềng.
Nhập cư và di cư đã mang lại những hiệu ứng đáng kể trên sơ đồ nhân khẩu học Cuba trong thế kỷ 20. Trong khoảng 1900 và 1930, gần mộ triệu người Tây Ban Nha đã tới nước này. Từ năm 1959, hơn một triệu người đã rời bỏ hòn đảo, chủ yếu đi tới Miami, Florida, nơi có một cộng đồng nhập cư có giáo dục cao và thành công về mặt kinh tế đang sinh sống (Vận động hành lang Cuba-Mỹ). Cuộc di cư xảy ra ngay lập tức sau Cách mạng Cuba chủ yếu thuộc các tầng lớp trung và thượng lưu với đa số người da trắng, vì thế đã dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ sinh và chủng tộc trong nhiều nhóm sắc tộc. Tìm cách bình thường hóa sự di cư giữa hai nước - đặc biệt sau sự hỗn loạn xảy ra với vụ Di tản Mariel - Cuba và Hoa Kỳ đã đồng thuận (trong cái ngày nay thường được gọi là Thỏa thuận Clinton-Castro năm 1994) hạn chế sự di cư tới Mỹ. Theo đó, Hoa Kỳ trao một số lượng visa cụ thể cho những người muốn di cư (20.000 từ năm 1994) trong khi những người Cuba được cứu vớt ngoài biển khi di cư bất hợp pháp không có visa sẽ bị trả về Cuba. U.S. law trao cho Tổng chưởng lý quyền quyết định trao quyền cư trú thường xuyên cho những người dân hay công dân Cuba đang tìm cách hợp pháp hóa tình trạng của mình nếu họ đã có mặt tại Hoa Kỳ trong ít nhất một năm sau khi được chấp nhận hay có sự cam kết và được chấp nhận là những người nhập cư; những người di cư bất hợp pháp đó chủ yếu là những người liều mạng và nhanh nhẹn. Năm 2005 thêm 7.610 người nhập cư Cuba đã tới Hoa Kỳ tớ ngày 30 tháng 9. Các công dân Cuba cần phải có một giấy phép ra đi trước khi có thể rời đất nước. Human Rights Watch đã chỉ trích các biện pháp hạn chế di cư của Cuba và những điều mà họ gọi là giữ trẻ em làm "con tin" nhằm ngăn chặn những người Cuba đi du lịch nước ngoài đào thoát.
== Tôn giáo ==
Cuba có nhiều đức tin phản ánh sự đa dạng các yếu tố văn hóa trên hòn đảo này. Theo khảo sát của Pew Research Center, năm 2010 Cuba có khoảng 59,2% dân số theo Kitô giáo (trong đó đa số là Công giáo Rôma), 23,0% không tôn giáo, 17,4% theo các tín ngưỡng dân gian (như Santería) và còn lại 0,4% theo các tôn giáo khác. Công giáo được đưa tới bởi người Tây Ban Nha hồi đầu thế kỷ 16 và hiện là tôn giáo lớn nhất ở đây. Sau cách mạng, Cuba đã chính thức trở thành một quốc gia vô thần và ngăn cấm hoạt động tôn giáo. Từ Đại hội Đảng Cộng sản Cuba lần thứ 4 năm 1991, các biện pháp hạn chế đã được nới lỏng và, theo National Catholic Observer, những vi phạm trực tiếp của các định chế nhà nước vào quyền tôn giáo đã được bãi bỏ, dù giáo hội vẫn phải đối mặt với các hạn chế trong liên lạc thư từ và điện tử, và chỉ được nhận quà tặng từ các nguồn tài trợ được nhà nước cho phép. Giáo hội Công giáo hiện diện thông qua Hội đồng Giám mục Công giáo Cuba (COCC), do Hồng y Jaime Lucas Ortega y Alamino, Tổng Giám mục La Habana lãnh đạo. Công giáo ở Cuba hiện có 11 giáo phận thuộc về 3 giáo tỉnh, 56 dòng nữ tu và 24 dòng nam tu. Tháng 1 năm 1998, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã có chuyến thăm lịch sử tới hòn đảo này, theo lời mời của Chính phủ Cuba và Giáo hội Công giáo tại Cuba.
Nét đặc trưng lớn nhất trong tôn giáo Cuba là sự hiện diện của nhiều niềm tin thuộc các dạng thức khác nhau. Sự đa dạng này có nguồn gốc từ người Tây và Trung Phi, những người đã được đưa tới lao động tại Cuba, và trên thực tế đã tái tạo các tôn giáo châu Phi của họ. Họ tạo ra nó bằng cách kết hợp các tôn giáo cũ với các yếu tố đức tin trong đạo Công giáo, với kết quả là một thứ tôn giáo rất giống với Umbanda của Brasil. Công giáo thường được thực hành cùng với Santería, một tín ngưỡng pha trộn Công giáo với các niềm tin khác, chủ yếu là từ châu Phi. Vị thánh quan thầy của Cuba là La Virgen de la Caridad del Cobre (Đức Mẹ đồng trinh Bác ái) được người dân đặc biệt tôn kính và xem là một biểu trưng của đất nước. Trong tín ngưỡng Santería, bà được đồng hóa với nữ thần Ochún. Lễ hội tôn giáo lớn "La Virgen de la Caridad del Cobre" được người Cuba tổ chức hàng năm ngày 8 tháng 9. Các tôn giáo khác cũng hoạt động gồm Palo Monte và Abakuá mà phần lớn các nghi lễ được thực hiện bằng các ngôn ngữ châu Phi.
Các nhóm Tin Lành, được Hoa Kỳ truyền đến từ thế kỷ 18, luôn có bước tăng trưởng vững chắc về số lượng tín hữu. Có khoảng 300.000 người Cuba thuộc 54 giáo phái Tin Lành trên hòn đảo này. Phong trào Ngũ tuần cũng đã phát triển mạnh trong những năm gần đây, và chỉ riêng Assemblies of God đã tuyên bố mình có 100.000 tín đồ. Giáo hội Trưởng lão Cuba tuyên bố có 10.000 tín đồ. Cuba có các cộng đồng Do Thái, Hồi giáo và một số ít các thành viên thuộc tôn giáo Bahá'í. La Habana chỉ có ba Hội đường Do Thái và không có một thánh đường Hồi giáo nào. Đa số người Do Thái Cuba là hậu duệ của những người Do Thái từ Ba Lan và Nga bỏ chạy khỏi cuộc tàn sát người Do Thái đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, cũng có một số lượng đáng kể người Do Thái Sephardic tại Cuba, họ có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ (chủ yếu tại Istanbul và Thrace). Đa số những người Do Thái Sephardic sống tại các tỉnh, dù họ thực sự có duy trì một hội đường tại La Habana. Trong thập niên 1960, tới 8.000 người Do Thái đã di cư sang Miami. Trong thập niên 1990, xấp xỉ 400 người Do Thái Cuba đã quay trở về Israel trong cuộc di cư được sắp xếp sử dụng visa do các quốc gia thông cảm với nguyện vọng về Israel của họ cung cấp.
== Văn hóa ==
Văn hóa Cuba chịu ảnh hưởng nhiều ở thực tế đây là đất nước tiếp thu và hòa nhập nhiều nền văn hóa, chủ yếu từ Tây Ban Nha và châu Phi. Nước này là nơi sản sinh ra khá nhiều tác phẩm văn học, gồm cả từ những nhà văn không phải người Cuba như Stephen Crane, và Ernest Hemingway.
Thể thao là niềm đam mê quốc gia của Cuba. Vì những mối liên hệ lịch sử với Hoa Kỳ, nhiều người Cuba yêu thích những môn thể thao phổ biến tại Bắc Mỹ, chứ không phải các môn thể thao truyền thống tại các nước Mỹ Latinh khác. Bóng chày là môn thể thao được ưa thích nhất tại đây; các môn thể thao và giải trí khác ở Cuba gồm bóng rổ, bóng chuyền và điền kinh. Cuba rất mạnh trong môn đấm bốc nghiệp dư, thường đoạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế lớn.
Âm nhạc Cuba rất phong phú và là khía cạnh được biết đến của văn hóa. "Hình thức trung tâm" của âm nhạc này là Son, đã trở thành nền tảng của nhiều phong cách âm nhạc khác như salsa, rumba và mambo và một biến thể tiết tấu chậm hơn của mambo là cha-cha-cha. Âm nhạc Rumba có nguồn gốc từ văn hóa Châu Phi-Cuba thời kỳ đầu. Tres cũng được sáng tạo tại Cuba, nhưng các nhạc cụ Cuba truyền thống khác có nguồn gốc châu Phi và/hay Taíno như maraca, güiro, marímba và nhiều loại trống gỗ gồm cả mayohuacan. Âm nhạc dân gian Cuba ở mọi phong cách được thưởng thức và yêu thích trên toàn thế giới. Âm nhạc cổ điển Cuba, với nhiều ảnh hưởng sâu từ châu Âu và châu Phi, với các tác phẩm cho giao hưởng cũng như độc tấu, đã được cả thế giới biết tới, với nhà soạn nhạc như Ernesto Lecuona.
Văn học Cuba đã bắt đầu có tiếng vang từ đầu thế kỷ 19. Chủ đề chủ chốt của thời kỳ ấy là độc lập và tự do đã được thể hiện qua các tác phẩm của José Martí, người lãnh đạo phong trào Hiện đại trong văn học Cuba. Các tác gia như Nicolás Guillén và Jose Z. Tallet coi văn học là phương tiện phản kháng xã hội. Các bài thơ và những cuốn tiểu thuyết của José Lezama Lima cũng để lại nhiều ảnh hưởng. Các tác gia như Reinaldo Arenas, Guillermo Cabrera Infante, Pedro Juan Gutiérrez, Leonardo Padura Fuentes, và Ronaldo Menedez đã nhận được sự công nhận của thế giới trong thời kỳ hậu cách mạng, dù nhiều tác gia buộc phải rời bỏ đất nước vì sự kiểm soát hệ tư tưởng truyền thông của các cơ quan quyền lực Cuba.
Ẩm thực Cuba là hỗn hợp của ẩm thực Tây Ban Nha và các phong cách ẩm thực Caribbean. Công thức chế biến món ăn của Cuba sử dụng cùng loại hương vị và kỹ thuật với Tây Ban Nha, với một số ảnh hưởng vùng Caribbean trong gia vị và mùi vị. Một bữa ăn truyền thống của Cuba sẽ không bao giờ được phục vụ theo kiểu từng món một; mà tất cả thức ăn sẽ được đưa ra cùng lúc. Bữa ăn đặc trưng gồm chuối lá, đậu đen (black bean) và gạo, ropa vieja (thịt bò thái nhỏ), bánh mì Cuba, thịt lợn với hành, và hoa quả nhiệt đới. Đậu đen và gạo, được gọi là moros y cristianos (hay nói gọn là moros), và chuối lá là thực phẩm chủ lực trong bữa ăn của người Cuba. Nhiều món thị được nấu chín từ từ với nước chấm nhạt. Tỏi, thìa là Ai Cập, oregano và lá nguyệt quế là các loại gia vị được sử dụng nhiều.
== Kinh tế ==
Bài chính: Kinh tế Cuba, Du lịch Cuba, Chế độ phân phối tại Cuba, Sociolismo
Chính phủ Cuba tuân theo các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong tổ chức nền kinh tế kế hoạch hóa to lớn do nhà nước kiểm soát của họ. Đa số các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu và sự điều hành của chính phủ và đa số lực lượng lao động làm việc cho các công ty nhà nước. Những năm gần đây, đã có xu hướng chuyển dịch lao động sang lĩnh vực tư nhân. Năm 2006, lĩnh vực công cộng sử dụng 78% lực lượng lao động và tư nhân sử dụng 22% so với tỷ lệ này năm 1981 là 91.8% và 8.2%. Đầu tư vốn bị hạn chế và buộc phải được sự đồng ý của chính phủ. Chính phủ Cuba áp đặt hầu hết các loại giá cả và khẩu phần lương thực cho các công dân. Hơn nữa, bất kỳ một công ty nào muốn thuê nhân công Cuba phải trả tiền cho chính phủ Cuba, và chính phủ sẽ trả tiền trực tiếp cho người đó bằng đồng peso Cuba.
Bắt đầu từ cuối thập niên 1980, các khoản viện trợ của Xô viết cho nền kinh tế quản lý nhà nước của Cuba bắt đầu cạn kiệt. Trước khi Liên bang Xô viết sụp đổ, Cuba phụ thuộc vào Moskva về thị trường xuất khẩu và những khoản viện trợ tối cần thiết. Người Xô viết từng trả giá cao cho sản phẩm đường của Cuba trong khi cung cấp dầu mỏ cho nước này với giá thấp hơn thị trường. Sự biến mất của các khoản trợ cấp đó đã khiến nền kinh tế Cuba rơi vào một giai đoạn suy thoái nhanh chóng, được gọi là Giai đoạn Đặc biệt tại Cuba. Có thời điểm, Cuba nhận được các khoản viện trợ lên tới sáu tỷ dollar Mỹ.
Năm 1992, Hoa Kỳ thắt chặt lệnh cấm vận thương mại. Một số người tin rằng điều này có thể đã tới sự sụt giảm tiêu chuẩn sống tại Cuba và chạm tới điểm khủng hoảng chỉ trong vòng một năm.
Tương tự các quốc gia xã hội chủ nghĩa và có xu hướng xã hội chủ nghĩa sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Cuba đưa ra các biện pháp theo định hướng thị trường tự do giới hạn nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm nghiêm trọng thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, và dịch vụ xảy ra khi các khoản viện trợ của Liên Xô chấm dứt. Những biện pháp này gồm cho phép một số công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ và chế tạo, hợp pháp hóa sự sử dụng đồng dollar Mỹ trong thương mại và khuyến khích du lịch. Năm 1996 du lịch đã vượt qua ngành công nghiệp mía đường để trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho Cuba. Cuba đã tăng gấp ba thị phần du lịch của mình tại Caribbean trong thập kỷ qua, với sự đầu tư to lớn vào hạ tầng du lịch, tỷ lệ tăng trưởng này được dự đoán sẽ còn tiếp diễn. 1.9 triệu du khách đã tới Cuba năm 2003 chủ yếu từ Canada và Liên minh châu Âu mang lại khoản tiền 2.1 tỷ dollar cho nước này. Sự tăng trưởng nhanh chóng của lĩnh vực du lịch trong Giai đoạn Đặc biệt đã tác động mạnh mẽ tới kinh tế xã hội Cuba. Nó đã dẫn tới dự báo về sự xuất hiện của một nền kinh tế hai thành phần và tạo điều kiện thuận lợi cho một kiểu du lịch apartheid nhà nước trên hòn đảo này.
Chính phủ Cuba đã phát triển đáng kể khả năng Du lịch y tế của họ, coi đó là một trong những phương tiện quan trọng mang lại thu nhập cho đất nước. Trong nhiều năm, Cuba đã phát triển các bệnh viện đặc biệt điều trị bệnh riêng cho người ngoại quốc và các nhà ngoại giao nước ngoài. Mỗi năm, hàng ngàn người châu Âu, người Mỹ Latinh, người Canada và người Mỹ tới đây để sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế có giá cả thấp hơn tới 80% so với tại Hoa Kỳ.
Từ cuộc Cách mạng Cuba năm 1959, tiêu chuẩn sống người dân Cuba luôn trượt theo một vòng xoáy đi xuống. Năm 1962, chính phủ đưa ra chính sách phân phối lương thực, càng trở nên gắt gao sau sự sụp đổ của Liên Xô. Ngoài ra, Cuba đã trải qua tình trạng thiếu hụt nhà ở vì chính phủ không thể đáp ứng nổi sự gia tăng nhu cầu. Tới cuối năm 2001, nghiên cứu cho thấy mức sống trung bình tại Cuba thấp hơn giai đoạn Xô viết. Những vấn đề chủ chốt là nhà nước không thể trả lương đáp ứng nhu cầu của người lao động và hệ thống phân phối luôn bị ám ảnh thường xuyên với tình trạng thiếu hụt hàng hóa. Khi số lượng hàng hóa phân phối giảm suát, người Cuba dần phải quay sang chợ đen để có được những sản phẩm căn bản: quần áo, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật dụng chăm sóc sức khoẻ. Khu vực không chính thức này được nhiều người dân Cuba gọi là sociolismo. Ngoài ra, tình trạng tham nhũng nhỏ trong các ngành công nghiệp nhà nước, như ăn cắp tài sản nhà nước để bán ra chợ đen, cũng thường xảy ra. Chính sách cấm vận của Mỹ chống Cuba là một tác nhân quan trọng: Cuba ước tính sự cấm vận của Mỹ khiến kinh tế của họ bị tổn thất khoảng 20 tỷ USD/năm.
Trong những năm gần đây, sự nổi lên của Venezuela với vị Tổng thống Dân chủ Xã hội Hugo Chávez khiến Cuba có được nhiều khoản viện trợ từ nước này giúp cải thiện nền kinh tế. Viện trợ của Venezuela cho Cuba chủ yếu thông qua khoản cung cấp lên tới 80.000 barrel dầu mỏ mỗi ngày đổi lấy lao động chuyên gia và các mặt hàng nông nghiệp. Trong nhiều năm qua, Cuba đã thu hồi lại một số biện pháp định hướng kinh tế thị trường đã được đưa ra trong thập kỷ 1990. Năm 2004, các quan chức Cuba đã công khai ủng hộ đồng Euro trở thành "đối trọng toàn cầu với đồng dollar Mỹ", và hạn chế đồng dollar trong dự trữ cũng như trong thanh toán thương mại. Những hạn chế ngày càng tăng của chính phủ Hoa Kỳ về đi lại của những người Mỹ gốc Cuba cũng như khoản tiền họ được phép mang về Cuba càng khiến chính phủ Cuba tăng kiểm soát sự lưu chuyển đồng dollar trong nền kinh tế. Trong thập kỷ qua, người Cuba nhận được khoảng 600 triệu tới 1 tỷ dollar hàng năm, chủ yếu từ các thành viên gia đình đang sống tại Mỹ.. Con số này bị ảnh hưởng bởi thực tế chính phủ Mỹ cấm các công dân của mình gửi quá 1.200 USD về Cuba.
Năm 2005 Cuba xuất khẩu hàng hóa trị giá 2.4 tỷ dollar, xếp hạng 114 trên 226 quốc gia trên thế giới, và nhập khẩu 6.9 tỷ dollar, xếp hạng 87 trên 226 nước. Các đối tác thương mại chính của nước này là Hà Lan, Canada và Trung Quốc; các đối tác nhập khẩu chính là Venezuela, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Cuba là đường, nikel, thuốc lá, cá, sản phẩm y tế, chanh, cà phê và lao động có tay nghề; các mặt hàng nhập khẩu gồm, thực phẩm, nhiên liệu, quần áo và máy móc. Cuba hiện có khoản nợ khoảng 13 tỷ dollar, chiếm xấp xỉ 38% GDP. Theo Heritage Foundation, Cuba phụ thuộc vào các tài khoản tín dụng luân phiên từ nước này sang nước khác. Con số 35% thị phần đường thế giới trước kia của Cuba đã giảm xuống chỉ còn 10% vì nhiều yếu tố, gồm cả sự sụt giảm giá hàng hóa sử dụng đường Cuba kém tính cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới. Ở một thời điểm, Cuba từng là nước sản xuất và xuất khẩu đường lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, vì tình trạng đầu tư kém và các thảm họa thiên nhiên, sản lượng đường của Cuba đã giảm nghiêm trọng. Năm 2002, hơn một nửa các nhà máy đường ở Cuba phải đóng cửa. Mùa thu hoạch gần đây nhất chỉ đạt 1.1 triệu mét tấn, thấp nhất trong gần một trăm năm qua, chỉ tương đương với sản lượng năm 1903 và 1904. Cuba chiếm 6.4% thị trường thế giới về nickel chiếm khoảng 25% tổng xuất khẩu Cuba. Gần đây, một trữ lượng dầu mỏ lớn đã được tìm thấy tại Châu thổ Bắc Cuba dẫn tới việc các thành viên Jeff Flake và Larry Craig thuộc Quốc hội Hoa Kỳ kêu gọi bãi bỏ lệnh cấm vận với Cuba.
Bất chấp thiệt hại do cấm vận kinh tế, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, Cuba vẫn là nước có thu nhập bình quân đầu người đạt mức khá cao, đạt mức 18.796 USD/người/năm (theo sức mua tương đương - PPP) vào năm 2011, bằng một nửa Nhật Bản và xếp hạng 60/185 quốc gia. Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao (0,815 điểm vào năm 2013, hạng 44 thế giới)
== Chính sách thuế ==
Sau Cách mạng Cuba năm 1959, các công dân được bãi bỏ thuế thu nhập cá nhân (lương của họ được coi là lương thực và không phải chịu thuế). Tuy nhiên, từ năm 1996, nhà nước bắt đầu áp dụng các loại thuế thu nhập Cá nhân trên công dân Cuba được hưởng lương bằng ngoại tệ mạnh, chủ yếu là các chủ doanh nghiệp.
== Quân đội ==
Dưới thời Fidel Castro, Cuba đã trở thành một xã hội quân sự hóa cao độ. Từ năm 1975 cho tới tận cuối thập kỷ 1980, viện trợ quân sự ồ ạt của Xô viết đã cho phép Cuba nâng cấp mạnh khả năng quân sự của mình. Từ khi mất khoản viện trợ từ Liên bang Xô viết Cuba đã phải giảm đáng kể số lượng quân đội từ 235.000 người năm 1994 xuống còn khoảng 60.000 người năm 2003. Chính phủ hiện chi khoảng 1.7% GDP cho quân sự. Bộ trưởng các Lực lượng Vũ trang Cách mạng (FAR) hiện nay là Raúl Castro, em trai của Fidel Castro, người cũng đã đóng vai trò quan trọng với tư cách một lãnh đạo trong Cách mạng Cuba.
Ngân sách hạn chế khiến Cuba khó có thể mua sắm các hệ thống vũ khí hiện đại. Quân đội Cuba đã nỗ lực cải tiến các loại vũ khí cũ và tạo ra nhiều vũ khí tự chế độc đáo nhưng mạnh mẽ.
== Xem thêm ==
Fidel Castro
Che Guevara
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Nhân quyền tại Cuba
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Chính thức
(tiếng Anh) Granma International edition of Communist Party of Cuba Newspaper
(tiếng Anh) Government of Cuba
List of members of the Council of State
(tiếng Anh) Cuban News Agency Cuban News
(tiếng Tây Ban Nha) http://www.cu/ Cuban Portal
Cuban music old and new Cultural Videos
Cuba Pictures
Quốc ca Cuba
Chung
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding Cuba
Cuba Inside Out History, currents, commentary, resources
Full Text of the 1899 Cuban Census at University of South Carolina Library's Digital Collections Page |
nhà đường.txt | Nhà Đường (tiếng Trung: 唐朝; bính âm: Táng Cháo, Hán Việt: Đường triều; phát âm tiếng Trung: [tʰɑ̌ŋ tʂʰɑ̌ʊ]; tiếng Hán trung đại: Dâng) (18 tháng 6, 618 - 1 tháng 6, 907) là một Triều đại Trung Quốc tiếp nối sau nhà Tùy và sau nó là thời kì Ngũ Đại Thập Quốc. Nhà Đường được hoàng đế Đường Cao Tổ Lý Uyên thành lập. Cao Tổ hoàng đế đã từ lâu thâu tóm lấy quyền hành khi nhà Tùy suy sụp rồi sụp đổ. Triều đại này bị gián đoạn khi Nữ hoàng đế Võ Tắc Thiên nắm lấy quyền hành và lập ra nhà Võ Chu (8 tháng 10, 690 - 3 tháng 3, 705). Bà là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Nhà Đường với kinh đô Trường An (là thành phố đông dân nhất thời bấy giờ, nay là Tây An) được các nhà sử học coi là đỉnh cao trong văn minh Trung Hoa; ngang bằng hoặc vượt trội hơn so với thời kì đầu nhà Hán — một thời kì hoàng kim của văn minh thế giới.
Lãnh thổ của nhà Đường rất rộng lớn, lúc cực thịnh đạt gấp rưỡi lãnh thổ của nhà Hán nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh và các cuộc chinh chiến quân sự. Trong hai cuộc điều tra trong thế kỷ 7 và thế kỷ 8, dân số trên lãnh thổ nhà Đường được ước tính lên đến 50 triệu người (đây mới là dân số dựa trên số hộ trong sổ sách, dân số thực có thể còn gấp đôi như vậy). Và, khi bộ máy nhà nước đi xuống và không thể điều tra dân số một cách chính xác trong thế kỷ 9, con số ước tính là 80 triệu người. Với số dân lớn như vậy, nhà Đường có một lực lượng quân đội hùng mạnh với binh lính chuyên nghiệp và những thương nhân buôn bán, trao đổi hàng hóa trên toàn bộ khu vực châu Á dọc theo Con đường Tơ lụa nổi tiếng. Nhiều nước khác nhau đã triều cống cho triều đình nhà Đường, nhà Đường cũng chinh phục hoặc khuất phục một số khu vực rồi đặt chúng dưới quyền cai trị gián tiếp thông qua một hệ thống bảo hộ. Bên cạnh quyền bá chủ về mặt chính trị, nhà Đường cũng có ảnh hưởng lớn đến văn hóa các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.
Thời kì nhà Đường phần lớn là một giai đoạn tiến bộ và ổn định, nhưng vào giữa Triều đại thì xảy ra loạn An Sử, từ đó triều đình ngày càng đi xuống. Giống với nhà Tùy, nhà Đường duy trì bộ máy các quan lại trong triều đình từ các sĩ đại phu thông qua các cuộc thi khoa cử và tiến cử. Trật tự này đã bị suy yếu khi các thống đốc quân sự khu vực được gọi là tiết độ sứ nổi lên trong thế kỷ 9. Văn hóa Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và cường thịnh trong thời kì nhà Đường, đây được coi là thời kì đỉnh cao của thi ca, hay thơ Trung Quốc. Hai thi sĩ nổi tiếng nhất Trung Hoa là Lý Bạch và Đỗ Phủ, thuộc về thời kì của Triều đại này, cùng với các họa sĩ nổi tiếng như Hàn Cán, Chương Tuyển và Chu Phương. Có một số lượng lớn các công trình văn học lịch sử, toàn thư và các nghiên cứu về địa lý được hoàn thành trong thời kỳ nhà Đường.
Có nhiều đổi mới đáng được công nhận và chú ý dưới thời nhà Đường, trong đó bao gồm sự phát triển của ngành in mộc bản. Trong thời nhà Đường, Phật giáo có tác động chủ yếu đến văn hóa Trung Quốc, và nhiều giáo phái bản địa trở nên nổi bật. Tuy nhiên, về sau triều đình đã ngược đãi Phật giáo và tôn giáo này đã suy giảm tầm ảnh hưởng. Mặc dù chính phủ và triều đình nhà Đường suy sụp trong thế kỷ 9, song nghệ thuật và văn hóa vẫn tiếp tục phát triển. Triều đình trung ương mục nát nên đã không thể quản lý được nền kinh tế, song việc mậu dịch vẫn không bị ảnh hưởng và thương mại vẫn tiếp tục thịnh vượng.
== Khởi nguyên và quốc hiệu ==
Quốc hiệu "Đường" vốn là tên cũ của đất Tấn, nay nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh Sơn Tây. Thời Tây Ngụy, Lý Hổ là một người trong Bát trụ quốc (八柱國), được phong là Lũng Tây quận công (隴西郡公), sau khi mất được truy hiệu là Đường quốc công (唐國公). Con là Lý Bỉnh (李昞) kế tập. Năm 582, con của Lý Bỉnh là Lý Uyên kế thừa tước vị Đường quốc công, sau được thăng tước là Đường vương (唐王). Sau này, khi Tùy Cung Đế nhường lại đế vị cho Lý Uyên, ông bèn đổi quốc hiệu sang Đường. Sau này khi nhà Đường đã vong, thời Ngũ Đại Thập Quốc phía bắc có Lý Tồn Úc xưng quốc hiệu là Hậu Đường, phía nam có Lý Biện xưng quốc hiệu là Nam Đường, đều tự cho mình là kế thừa của nhà Đường. Ngay cả vua nhà Nam Đường cũng tự xưng mình là dòng dõi của Kiến vương Lý Khác (李恪) - con trai của Đường Hiến Tông.
Hoàng tộc nhà Đường xưng mình phát tích từ dòng họ Lý ở Lũng Tây, trong Cựu Đường thư và Tân Đường thư đều cho rằng Lý thị nhà Đường là hậu duệ của Lão Tử, mà Lý Uyên cũng tự xưng mình là hậu duệ nhiều đời của Lý Cảo - là Thái Tổ Vũ Chiêu Vương của nhà Tây Lương thời Ngũ Hồ thập lục quốc. Một học giả hiện đại là Trần Dần Khác (陳寅恪, 1890 - 1969) đã khảo chứng và cho rằng Lý Đường là dòng dõi họ Lý ở Long Khánh thuộc Triệu Quận.
== Lịch sử ==
=== Khai quốc ===
Họ Lý thuộc về tầng lớp quý tộc quân sự, cát cứ phía tây bắc trong suốt thời gian cai trị của các hoàng đế nhà Tùy. Mẹ của Lý Uyên mang họ Độc Cô, có một người em là hoàng hậu của Bắc Chu Hiếu Minh Đế Vũ Văn Dục, đó là Minh Kính hoàng hậu Độc Cô thị và ngay cả Văn Hiến hoàng hậu của Tùy Văn Đế cũng là chị họ của Lý Uyên, nhờ vậy mà họ Lý được trọng dụng, Tổ phụ của Lý Uyên là Lý Hổ đã theo Vũ Văn Thái-người sáng lập ra triều Bắc Chu- tiến vào Quan Trung, thời Tây Ngụy từng được ban cho họ Đại Dã, làm quan đến chức thái úy, cùng với Lý Bật là một trong "Bát trụ quốc" của nhà Tây Ngụy. Sau khi Bắc Chu Hiếu Mẫn Đế lên kế vị, lúc này Lý Hổ đã mất nên được truy phong là "Đường quốc công". Cha của Lý Uyên, tức Lý Bỉnh, được tập phong tước hiệu Đường quốc công. Sau khi Lý Bỉnh mất, Lý Uyên khi ấy chưa được mười tuổi đã kế thừa tước Đường quốc công.
Trong những năm Đại Nghiệp thời Tùy Dạng Đế, do chính sách tàn bạo của nhà vua cũng như ba lần đánh Cao Câu Ly thất bại dẫn đến mâu thuẫn giai cấp xảy ra, dân chúng ở các địa phương đồng loạt khởi nghĩa. Lý Uyên có công trong việc dẹp vài cuộc nổi loạn mà được Dạng Đế trọng dụng. Năm 616, được phái đi làm lưu thủ ở Thái Nguyên để trấn áp quân nổi dậy. Ban đầu ông đánh thắng một số trận, song quân khởi nghĩa ngày càng mạnh, mỗi lúc một đông thêm nên khiến ông bối rối. Lý Uyên thấy thiên hạ đại loạn, nhà Tùy không thể kéo dài sự thống trị được lâu nữa nên trong thâm tâm đã có dự tính hành động. Tuy nhiên ông vẫn do dự không quyết, phải có sự thúc đẩy của mấy người con trai có tài (tiêu biểu là Lý Thế Dân), ông mới hạ quyết tâm. Năm 617, Lý Uyên chính thức khởi binh tạo phản tại Tấn Dương (nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây).
Tháng 11 năm 617, Lý Uyên cùng người con thứ là Lý Thế Dân phá quân đội của Khuất Đột, đánh lấy Tùy kinh Đại Hưng, lập Dương Hựu làm vua, tức Tùy Cung Đế, cải niên hiệu là Nghĩa Ninh, tôn Dạng Đế là Thái thượng hoàng. Lý Uyên xưng là Đại thừa tướng, hiệu là Đường Vương.
Vào lúc Lý Uyên chiếm kinh đô nhà Tùy khiến các thế lực cát cứ kinh động. Lúc đó Dạng Đế tàn bạo, quân sĩ vì căm ghét, nên đã gây ra Giang Đô chính biến, ép Tùy Dạng Đế phải chết. Nhà Tùy diệt vong.
Tháng 3 năm 618, hay tin Tùy Dạng Đế bị hại, Lý Uyên tại thành Đại Hưng (大興城) đã tuyên bố thành lập Triều đại nhà Đường. Tháng 5, ép Cung Đế nhường ngôi, cải niên hiệu là Vũ Đức (武德). Năm đó, đổi tên thành Đại Hưng thành kinh đô Trường An, dẹp hết các quý tộc tàn dư thời nhà Tùy, lại đem quân đánh diệt các thế lực cát cứ, dần dần thống nhất Trung nguyên, thiên hạ mau chóng quay lại cục diện thái bình. Cũng năm này, vua phong cho con trưởng Lý Kiến Thành làm Thái tử, con thứ Lý Thế Dân làm Tần vương, con thứ 4 là Lý Nguyên Cát làm Tề vương, còn con thứ ba là Lý Nguyên Bá (李元霸) chết yểu.
Năm 618, con thứ của ông là Lý Thế Dân đem quân bình định tây bắc, diệt Tiết Cử, Tiết Nhân Cảo. Sau đó, lại khiến La Nghệ ở U Châu (幽州) phải đầu hàng. Ngay cả khởi nghĩa của Lý Mật ở Lạc Dương cũng thất bại phải hàng nhà Đường, thực lực quân đội nhà Đường nhanh chóng tăng trưởng, dần dần diệt hết các quần hùng ở Trung Nguyên, thống nhất thiên hạ.
Năm 619, sứ nhà Đường là An Hưng Quý (安興貴) và An Tu Nhân (安修仁) bắt tróc lấy Hà Tây tẩu lang của Lý Quỹ. Năm 620, Lý Thế Dân đánh vào vùng Sơn Tây của Lưu Vũ Chu, Tống Kim Cương (宋金剛). Năm 621, Lý Thế Dân đánh chiếm Hà Nam của Vương Thế Sung. Vương Thế Sung cùng thế lực của Đậu Kiến Đức ở Hà Bắc liên minh kháng Đường. Năm 622, Đậu Kiến Đức bị bắt, Vương Thế Sung đầu hàng. Sau đó bộ hạ Đậu Kiến Đức là Lưu Hắc Thát lại định khởi quân phản Đường, Lý Thế Dân và Lý Kiến Thành trước sau tiến đánh, Lý Kiến Thành bắt được Lưu Hắc Thát, bình định Hà Bắc năm 623. Cũng năm đó, Phụ Công Thạch cùng Đỗ Phục Uy hợp bộ hạ ở Đan Dương phản Đường, đến năm 624 thì bị quân Đường giết, Giang Hoài và Giang Nam được bình định. Năm 621, tướng Lý Tĩnh đánh Giang Lăng, Tiêu Tiển đầu hàng. Năm sau, Phùng Áng ở Lĩnh Nam hàng phục, Lâm Sĩ Hoằng ở Kiền Châu (虔州) cũng chết, nhà Đường chiếm làm đất.
=== Trinh Quán chi trị ===
Sau khi dẹp xong quần hùng, Tần vương Lý Thế Dân và Thái tử Lý Kiến Thành bắt đầu có xung đột. Kiến Thành đã hai lần mưu sát Thế Dân nhưng bất thành. Đến lần thứ 3 thì việc bị lộ, Lý Thế Dân lần này quyết định ra tay trước. Ngày mùng 4 tháng 6 năm 626, tức năm Vũ Đức thứ 9, Lý Thế Dân gây ra Sự biến Huyền Vũ môn giết chết Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát. Đường Cao Tổ biết chuyện, đau buồn nhưng ông không xử phạt Lý Thế Dân. Sau đó chẳng lâu, Đường Cao Tổ thoái vị về làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi lại cho Lý Thế Dân, tức là Đường Thái Tông.
Khi ông mới lên ngôi năm 626, Đông Đột Quyết đem quân đánh đến gần thành Trường An, cách thành 40 dặm ở về phía Kính Dương. Kinh thành chấn động. Lúc ấy, binh ở Trường An chỉ có vài vạn không thể đánh giao tranh được, vì vậy Thái Tông phải nghĩ ra kế, bèn đích thân suất lĩnh quân cùng Cao Sĩ Liêm (高士廉) và Phòng Huyền Linh gồm 6 kị mã đứng cách Vị Thủy đối thoại với Hiệt Lợi khả hãn (頡利可汗), Thái Tông trách Hiệt Lợi bội ước. Trong sách Đường ngữ lâm có nói rằng Thái Tông đưa phẩm vật trong kho phủ cho Đột Quyết để chúng rút quân. Sau đó, nhà Đường và Đột Quyết làm Lễ thề Vị Thủy (渭水之盟, Vị Thủy chi minh), Đột Quyết rút lui, và nhà Đường về sau đặt quan hệ với 2 khả hãn Hiệt Lợi và Đột Lợi, từ đó Đường Thái Tông chỉ còn chuyên tâm lo trị nước.
Năm 627, nội bộ của Đông Đột Quyết xung đột và tan rã. Những bộ lạc phản đối Hiệt Lợi khả hãn như Tiết Diên Đà, Hồi Hột, Bạt Dã Cổ (拔也古), Đồng La (同羅) nổi dậy tiêu diệt triều đình của Hiệt Lợi khả hãn, đưa thủ lĩnh Tiết Diên Đà lên làm Khả hãn. Hai khả hãn Đột Lợi và Hiệt Lợi chạy sang liên lạc với nhà Đường. Đúng lúc đó, ở Đông Đột Quyết xảy ra bão tuyết dẫn đến mất hết lương thực và thức ăn gia súc, nhiều người trong bộ lạc chết vì đói rét, Đông Đột Quyết dần dần suy yếu. Ngày 26 tháng 4 năm 628, tức năm Trinh Quán thứ 2, một người địa phương là Lương Lạc Nhân (梁洛仁) đã giết thủ lĩnh của Hạ Châu (夏州) là Lương Sư Đô, chấm hết các thế lực cát cứ. Năm 630, Lý Tĩnh suất quân Đường sang diệt Đông Đột Quyết.
Đường Thái Tông lo việc trị nước, trọng dụng kẻ can gián mình, lưu lại cho lịch sử một thời đại Đường triều đi lên sự thịnh thế, Đường Thái Tông trở thành bậc đế vương hiếm có một thời. Trong việc nội chính, nhà vua thi hành chế độ quân điền, lại thi hành tô dung điều chế để lo về việc chia ruộng đất và đánh thuế. Về mặt đối ngoại, hoàng đế gả công chúa cho khả hãn Đột Quyết để giành lấy quyền cai quản đất cao nguyên Mông Cổ. Oai danh của Thái Tông khiến các dân tộc vùng tây bắc tôn kính, gọi ông là Thiên Khả Hãn (天可汗). Năm 641, tức năm Trinh Quán thứ 15, Thái Tông gả Văn Thành công chúa cho Tán phổ Thổ Phồn là Tùng Tán Cán Bố, ổn định việc quan hệ ngoại giao ở phía tây.
Về quan chế, hoàng đế noi theo chế độ tể tướng đời Tần Hán. Đường Thái Tông còn dựa theo chế độ nhà Tùy, phát triển hoàn thiện các cơ cấu tam tỉnh và lục bộ cùng với chế độ thi cử tuyển nhân tài. Thái Tông còn giảm bớt quyền hạn của hoàng tộc, đả phá sự thống trị thế tập rối ren đời Tùy. Thái Tông cầu hiền như khát nước, bất kể giai cấp xuất thân, sử dụng hàng loạt những bậc đại thần có năng lực, sáng suốt và sẵn sàng biết can gián hoàng đế, tiêu biểu như: Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối (杜如晦), Trưởng Tôn Vô Kị, Ngụy Trưng, Mã Chu (馬周), Cao Sĩ Liêm (高士廉) và Tiêu Vũ (蕭瑀) là những bậc văn thần giỏi; còn như Uất Trì Kính Đức, Lý Tĩnh, Hầu Quân Tập (侯君集), Trình Tri Tiết, Lý Thế Tích và Tần Thúc Bảo là những võ tướng xuất chúng. Ngoài ra, Thái Tông còn lệnh cho các quan viên khắp nơi đều phải lắng nghe dân tình, cho trăm họ được quyền phát biểu kiến nghị, và phái một số người điều tra về sinh hoạt của các quan để theo dõi biết ai ngay ai gian mà xử lý.
Suốt 23 năm thời Trinh Quán, xã hội trật tự, kinh tế ổn định, khôi phục thịnh thế, văn vật phát triển, sử gọi đó là "Trinh Quán chi trị" (Sự thịnh trị thời Trinh Quán). Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời nhà Tống có ghi lại, năm 630 thời Trinh Quán, giá 1 đấu gạo không quá 3, 4 tiền, cả năm tử hình không đến 29 người. Khi Thái Tông mất, thái tử Lý Trị lên ngôi, ban hành đại xá, thì thượng thư bộ Hình tâu rằng trong toàn quốc chỉ có 50 người bị tù và hai người bị xử tử. Thái Tông là vị vua duy nhất của Trung Quốc khi qua đời được cả ngoại nhân đến kinh đô khóc thương giống như người thân của họ, có người còn vẩy huyết lên quan tài của ông để bày tỏ sự thương tiếc.
Sử gia Trung Hoa khen đời Thái tông thịnh trị như đời vua Nghiêu, vua Thuấn. Ngay cả sự tổng kết chính trị trong Trinh Quán chính yếu sau này cũng được các đế vương Nhật Bản và Tân La mô phỏng theo.
=== Nhật Nguyệt lăng không ===
Cuối đời Đường Thái Tông, con trưởng của hoàng đế là thái tử Lý Thừa Càn và Ngụy vương Lý Thái (李泰) đánh nhau. Thái Tông trị tội cả hai người, phế ngôi Thái tử của Lý Thừa Càn, lập Tấn vương Lý Trị lên ngôi. Sau khi Đường Thái Tông băng hà, Lý Trị kế vị, đó chính là Đường Cao Tông. Trước đây, Cao Tông đã thầm yêu một vị ni cô vốn là Tài nhân của Đường Thái Tông, đó là nàng Võ Chiếu, còn được gọi là Võ Mị Nương. Theo tục lệ lúc đó, Hoàng đế băng hà thì phi tần chưa có con đều phải xuất gia làm ni cô, Võ Mị Nương buộc phải vào chùa Cảm Nghiệp để theo đạo tu hành. Sau này, Đường Cao Tông bất chấp dư luận đưa nàng vào cung, lập làm Chiêu nghi. Võ chiêu nghi nhanh chóng đắc sủng, hãm hại Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi của Cao Tông, lên thay ngôi Hoàng hậu và xử tử 2 vị hậu phi kia rất tàn nhẫn.
Năm 656, tức năm Hiển Khánh thứ nhất, Cao Tông nhân vì sự kiện Kiện Khang, bèn giao việc quốc chính cho Võ hoàng hậu xử lý. Võ hoàng hậu từ đó trở thành người thực tế nắm quyền lực tối cao của nhà Đường, cùng Cao Tông xưng hiệu Thiên Hoàng (天皇) và Thiên Hậu (天后), gọi chung là Nhị Thánh (二圣). Võ hoàng hậu nhiếp chính cho Cao Tông, đến năm 659, tiêu diệt Tây Đột Quyết, nhà Đường càng lên đỉnh cực thịnh. Sau đó, nhà Đường liên minh với nước Tân La tiêu diệt Cao Câu Ly và Bách Tế, đánh bại viện quân của Nhật Bản. Lúc Tân La lo chiếm toàn bán đảo Triều Tiên, nhà Đường chiếm lấy phía bắc, lập ra An Đông đô hộ phủ, chiếm lại vùng đất của nhà Hán mà năm xưa Cao Câu Ly đã giành lấy.
Sau khi Đường Cao Tông băng hà, thái tử Lý Hiển kế vị, đó là Đường Trung Tông. Nhưng vì tân hoàng đế không hợp ý mình nên chỉ 1 tháng sau, Võ thái hậu đã phế truất ông làm Lư Lăng vương). Sau đó, bà lập Lý Đán lên ngôi, chính là Đường Duệ Tông. Sau khi bình định cuộc phản loạn của 1 tông thất là Lý Kính Nghiệp (李敬業), năm Thiên Thụ thứ nhất (690), Võ thái hậu phế truất Duệ Tông, tự xưng làm Hoàng đế, lấy quốc hiệu là Chu (周), sử sách gọi Triều đại của bà là Võ Chu Triều đại. Võ hậu cũng tự xưng mình thành Thánh Thần hoàng đế (圣神皇帝).
Trước và sau Võ Tắc Thiên đã có những phụ nữ khác nắm quyền khuynh loát triều chính như Lữ hậu, Từ Hi thái hậu... nhưng chỉ có bà là dám công khai xưng hoàng đế và lên ngôi. Bà định đô ở tại Lạc Dương (gọi là Thần Đô), lập Lý Đán làm hoàng tự, bà chính là nữ hoàng đế đầu tiên và duy nhất trong lịch sử, chính là Võ Tắc Thiên.
Những năm Võ Tắc Thiên còn giám quốc, phát triển sự nghiệp thời Trinh Quán, gọi là Trinh Quán di phong (貞觀遺風). Kế tục chế độ quân điền, phát triển nông nghiệp, tiếp tục khoa cử tuyển nhân tài, ngoài ra còn có thi võ tuyển tướng sĩ. Về đối ngoại, chiến tranh mở rộng và giữ vững cương vực; các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng rất tiến bộ. Nhưng Võ Tắc Thiên lại dùng các quan lại tàn khốc, gây nên nỗi kinh hoàng truyền đến hậu thế. Võ Tắc Thiên lại sắp đặt Bắc Môn bác sĩ, thường nhiễu vượt Môn hạ tỉnh, Trung thư tỉnh làm tiền lệ cho các quan lại ác độc giết hại các quan lại chống đối. Võ Tắc Thiên đối với Phật giáo rất sùng bái, khiến Phật giáo thời đó phát triển cực thịnh.
=== Khai Nguyên thịnh thế ===
Vào năm 705, tức năm Thần Long thứ nhất, tả vũ lâm tướng quân Kính Huy (敬暉), phượng các thị lang Trương Giản Chi, hữu vũ lâm tướng quân Hoàn Ngạn Phạm (桓彥範), loan đài thị lang Thôi Huyền Vĩ (崔玄暐) cùng tư hình thiếu khanh Viên Thứ Kỷ (袁恕己) cùng mọi người phát động chính biến, giết chết 2 anh em họ Trương - sủng nam của Võ Tắc Thiên, buộc nữ hoàng đế phải thoái vị. Sau đó, họ khôi phục ngôi vị hoàng đế của Trung Tông Lý Hiển, lập lại quốc hiệu Đại Đường. Sử Trung Hoa gọi đó là Thần Long cách mạng (神龍革命) hay Ngũ vương chính biến (五王政變), Lý Đán được tấn phong làm An Quốc Tương vương, Thái Bình công chúa được phong làm Trấn Quốc Thái Bình công chúa. Trung Tông lập Hoàng hậu là Vi hoàng hậu. Vi hoàng hậu là người đàn bà cứng rắn và mưu mô, trong cung bà tư thông với Võ Tam Tư, cháu của Võ Tắc Thiên, rồi tự tìm vây cánh cho mình. Vi hậu mưu đồ bất chính, muốn noi theo Võ Tắc Thiên ngày xưa, cùng con gái cưng An Lạc công chúa (安樂公主) và Thượng Quan Uyển Nhi kết thành bè đảng, sát hại thái tử Lý Trọng Tuấn. Năm 710, tức năm Cảnh Long thứ 4, Vi hoàng hậu cùng An Lạc công chúa mưu giết chết Đường Trung Tông, lập Ôn vương Lý Trọng Mậu (李重茂) làm hoàng đế, tức Đường Thương Đế, lại muốn hại đến Tương vương Lý Đán. Lúc đó, con trai của Lý Đán là Lý Long Cơ hiệp lực với Thái Bình công chúa gây ra Sự biến Đường Long (唐隆之變, Đường Long chi biến), tru diệt Vi hậu, An Lạc công chúa cùng với toàn bộ thế lực tàn dư dòng họ Võ, lập Lý Đán phục vị hoàng đế, tức là Đường Duệ Tông. Đường Trung Tông được an táng theo nghi lễ hoàng đế, thụy hiệu là Đại Hòa Đại Thánh Đại Chiêu Hiếu hoàng đế.
Sau khi Duệ Tông lên ngôi, Lý Long Cơ và Thái Bình công chúa phát sinh cảnh cô cháu tranh nhau, Duệ Tông trái phải đều khốn. Năm 712, tức năm Diên Hòa thứ nhất, Duệ Tông đành nhường lại ngôi vị cho Thái tử Lý Long Cơ, tức là Đường Huyền Tông. Năm 713, Đường Huyền Tông khép Thái Bình công chúa vào tội có ý muốn tạo phản, ép phải tự sát, bè đảng của bà cũng bị giết hoặc biếm truất đi, từ đó kết thúc cục diện bè đảng Võ Tắc Thiên hoặc những chuyện nữ nhi tham chính sự. Cũng năm đó, Huyền Tông cải niên hiệu là Khai Nguyên. Thời kỳ niên hiệu được gọi là Khai Nguyên thịnh thế, nền chính trị khá trong sáng, nhà vua trọng dụng 2 vị lương thần là Diêu Sùng và Tống Cảnh (宋璟) làm tể tướng, nhờ đó kinh tế dần phát triển, nông nghiệp đã phát minh ra máy cày tay (曲轅犁, Khúc viên lê) và đồng xa (筒車). Nông nghiệp được chú trọng và đề cao, quốc lực ngày càng tăng, nhà Đường bước vào thời toàn thịnh. Kinh đô Trường An trở thành chốn đô hội với số nhân khẩu đông, trở thành thành thị cổ phát triển nhất. Đường Huyền Tông lại thu dụng tể tướng Trương Cửu Linh (張九齡), nghe theo kiến nghị của ông cải cách chỉnh đốn lại chế độ quan lại, sử dụng hiền tài, đề nghị các địa phương bồi dưỡng nho sinh sĩ phu ưu tú.
=== Loạn An-Sử ===
An Lộc Sơn tên thật là Loát Lạc Sơn, người dân tộc Túc Đặc (một tộc người Tajik). An Lộc Sơn xuất thân từ một gia đình thương nhân có nguồn gốc từ Bukhara (Sogdiana) đến sinh sống và làm ăn ở vùng đất mà nay là Ürümqi, thủ phủ khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, miền tây bắc Trung Quốc.
An Lộc Sơn bị kết án tử hình vì tội ăn cắp, bỏ trốn và gia nhập quân đội nhà Đường. Nhờ có thành tích xuất sắc trong chiến đấu ở vùng tây bắc, đặc biệt là trong việc chống lại quân Khiết Đan, ông được phong đến chức Tiết độ sứ vào năm 742.
An Lộc Sơn có mâu thuẫn với Dương Quốc Trung (楊國忠), anh của Dương Quý Phi. Sợ bị Dương trấn áp, An Lộc Sơn nghe theo lời của Sử Tư Minh (đồng hương, bạn thân và đồng thời là thuộc hạ) làm loạn, khởi 15 vạn binh từ Ngư Dương, đánh xuống phía nam. Khi tin báo An Lộc Sơn làm phản báo về, Đường Huyền Tông ban đầu không tin vì lòng trung của Lộc Sơn. Mặt khác, chính Lộc Sơn cũng thông gia với Huyền Tông, có 1 con trai còn ở kinh thành để làm con tin. Mãi sau vua Đường mới biết là sự thật, bèn hạ lệnh giết chết phò mã - con trai Lộc Sơn.
Cuối năm 755, An Lộc Sơn và Sử Tư Minh làm phản. An Lộc Sơn xưng là Thánh Vũ Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Yên. Bằng năng lực và kinh nghiệm quân sự cộng với lực lượng trong tay hùng mạnh, quân Yên làm chủ chiến trường phía đông. Nhà Đường vội vã mộ 6 vạn quân để giữ Lạc Dương, nhưng quân mới đều là dân lưu lạc không được huấn luyện nên nhanh chóng bị Lộc Sơn đánh bại. Mùa hè năm 756, An Lộc Sơn đánh vào Lạc Dương. Nhiều thành trì phía đông lọt vào tay Lộc Sơn.
Lộc Sơn mang quân tiến về phía tây, đánh kinh thành Trường An, án binh lại trước cửa Đồng Quan vì gặp đạo quân của Kha Thư Hàn án ngữ.
Trong lúc các tướng Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật đang đánh mạnh và giành lại quyền chủ động ở phía đông, An Lộc Sơn cũng bế tắc trước ải Đồng Quan thì Đường Huyền Tông lại mắc sai lầm, bắt Kha Thư Hàn ra quân, trong khi tướng này muốn cố thủ để chờ quân của Tử Nghi và Quang Bật đánh về. Bị thúc ép quá, Thư Hàn đành ra quân và bị Lộc Sơn đánh tan rã. 20 vạn quân Đường bị giết, quân Lộc Sơn ồ ạt tiến vào Trường An.
Đường Huyền Tông cùng thừa tướng Dương Quốc Trung hốt hoảng, bỏ Trường An rút về đất Thục (蜀, nay là Tứ Xuyên). Trong khi quân sĩ đói rét thì gia đình Quốc Trung vẫn ăn trên ngồi chốc. Quân sĩ khởi loạn, giết chết Quốc Trung và ép Huyền Tông phải giết Dương Quý Phi, nếu không sẽ không hộ giá nữa. Đường cùng, Huyền Tông buộc phải nghe theo, mang Qúy phi thắt cổ ở gò Mã Ngôi.
Sau khi chiếm Trường An, An Lộc Sơn nghe tin Dương Quý Phi đã chết, ra lệnh tàn sát dân kinh thành rất nhiều. Bản thân Lộc Sơn cũng chán nản, sau đó không lâu, Lộc Sơn bị bệnh và trở nên ốm yếu rồi bị chính con trai của mình là An Khánh Tự giết hại.
Trước sự bất lực của vua cha, thái tử Lý Hanh lên ngôi tại núi Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông, vọng tôn Huyền Tông làm thượng hoàng. Vua con tổ chức quân đội đánh mạnh vào quân Yên của An Lộc Sơn, thu hồi lại nhiều đất đai. Tuy nhiên chiến sự vẫn giằng co chưa phân được thua. Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật về hội binh với Túc Tông nên Sử Tư Minh thừa cơ chiếm lại 13 quận Hà Bắc. Thế quân Yên lại mạnh.
Năm 757, nhà Đường nhờ thế lực của người Hồi Hột bắt đầu phản công và lấy lại được Trường An.
Thủ hạ của Lộc Sơn là Sử Tư Minh không theo An Khánh Tự, nên ly khai và rút về Phạm Dương (gần Bắc Kinh ngày nay). Quân phản loạn trở nên phân rã, suy yếu. Sử Tư Minh đầu hàng triều đình nhưng phát hiện ra âm mưu định ám sát mình của nhà Đường, nên lại tiếp tục làm phản. Năm 758, Tư Minh mang quân giải vây cho Khánh Tự đang bị triều đình vây khốn. Quân Đường bị đánh bại bỏ chạy. Tuy nhiên sau đó Tư Minh vào thành giết chết An Khánh Tự, tự xưng làm Yên Đế.
Năm 761, Sử Tư Minh bị con trai cả là Sử Triều Nghĩa sát hại vì có ý định lập con nhỏ làm thái tử. Sau khi Sử Tư Minh chết, quân phản loạn mất tư lệnh tài năng, Sử Triều Nghĩa mau chóng bị triều đình dẹp tan (763).
Cuộc phản loạn này làm nhà Đường suy yếu nghiêm trọng cả về chính trị, quân sự và kinh tế. Lịch sử nhà Đường ghi lại thì trước loạn An Sử, dân số là 53 triệu, sau loạn chỉ còn 17 triệu.
Loạn An Sử chấm dứt nhưng một bộ phận tướng sĩ của Lộc Sơn quy hàng triều đình vẫn làm tiết độ sứ ở Hà Bắc. Để thưởng công cho các tướng sĩ (mà không ít người là người dân tộc thiểu số), nhà Đường phải phong đất đai và chức tước cho họ, tạo thành vô số chính quyền quân sự nhỏ làm lung lay quyền lực của triều đình trung ương.
Nhiều quận, huyện ở Hà Nam, Sơn Tây, Sơn Đông bị các tướng truyền nối cho con cháu nhiều đời không lệ thuộc triều đình. Cục diện phiên trấn cát cứ của các tiết độ sứ bắt đầu hình thành và kéo dài hơn 100 năm, cho tới khi nhà Đường sụp đổ vào năm 907.
=== Họa phiên trấn và hoạn quan ===
Sau loạn An Sử, nhà Đường bắt đầu suy yếu. Phiên trấn cát cứ, hoạn quan chuyên quyền, chia bè đảng khuynh đảo đã khiến chính trị nhà Đường trở nên tồi tệ. Do sau khi bình định xong loạn An Sử, triều đình phong chức tiết độ sứ ở các địa phương nhằm an trí, các địa khu được quản hạt được gọi là phiên trấn. Vào thời Đường Huyền Tông ở biên giới đã có 10 Tiết độ sứ. Trong quá trình dẹp loạn An Sử và chống Thổ Phồn, lại có thêm rất nhiều Tiết độ sứ được phong, cả nước đã có tới 40 Tiết độ sứ.
Vì để đề phòng xâm lược hay nội phản, quyền lực của các tiết độ sứ khá lớn, có quyền thay vua quyết định việc ở tại phiên trấn nhậm và thậm chí là có quân đội riêng, có tính chất thế tập cha truyền con nối. Bọn họ tập trung đại quyền: quân đội, chính trị, của cải vào mình, trở thành "nước trong nước". Từ đó khiến tình trạng đuôi to khó vẫy, ngoài nặng trong nhẹ, khiến hình thành các thế lực cát cứ.
Năm 773, Tiết độ sứ Ngụy Bác vì để dụ dỗ các tướng thân cận của An - Sử đến đầu hàng mình nên không thèm để ý đến triều đình, đã công nhiên lập "Tứ thánh từ" cho cha con An - Sử, lại còn yêu cầu Đường Đại Tông phong cho mình chức Tể tướng. Đường Đại Tông tuy trong lòng rất tức giận nhưng chẳng còn cách nào nên vẫn phải phong cho ông ta làm Tể tướng, gả con gái mình là Vĩnh Lạc công chúa cho con trai ông ta.
Đến đời Đường Đại Tông lên ngôi nhờ sự ủng hộ của một viên hoạn quan. Đại Tông sau khi làm hoàng đế, mong muốn cải cách lại triều chính, tuy nhiên, tiềm lực đất nước đã bị phá hoại nặng, biên phòng lỏng lẻo, nạn ngoại xâm diễn ra nghiêm trọng, mà các khu vực phía đông nam dân chúng sinh biến loạn. Năm 763, Thổ Phồn đem 20 vạn quân đánh vào Quan Trung, trong 3 tháng đã đánh đuổi được Đường Đại Tông, chiếm cứ Trường An, cướp sạch của cải. Ở Hà Bắc lại có người Hồi Hột nổi dậy đánh phá. Do ở Hà Bắc các phiên trấn dần dần làm phản, các nơi khác cũng noi theo, cục diện cát cứ chính thức hình thành.
Đến năm 779, tức năm Đại Lịch thứ 14, Đại Tông hoàng đế băng hà, thụy hiệu là Duệ Văn Hiếu Vũ hoàng đế
Sau đó, hoàng thái tử Lý Quát kế vị, tức Đường Đức Tông. Đức Tông sau khi kế vị, liền đặt mối họa phiên trấn lên hàng đầu cần phải lo diệt. Tháng giêng năm 781, tức năm Kiến Trung thứ 2, Đức Tông đem quân đánh Tiết độ sứ ở Sơn Nam. Năm 783, Hoài Tây Tiết độ sứ Lý Hi Liệt cùng với một loạt các Tiết độ sứ khác liên kết với nhau cắt đứt đường lương thực của nhà Đường từ Đông Nam, dẫn quân tấn công Tương Thành (Tương Thành, Hà Nam), uy hiếp Lạc Dương. Đến tháng 10, tình hình Tương Thành rất nguy ngập, Đức Tông phải lệnh cho các đạo quân ở Kinh (phía bắc Kinh Châu, Cam Túc ngày nay) và Nguyên (Cổ Nguyên, Cam Túc ngày nay) cứu viện cho Tương Thành. Kinh Nguyên Tiết độ sứ Đào Lệnh Ngôn dẫn hơn 5000 quân đi qua kinh thành, trời mưa rét mà không được khao thưởng nên lòng quân tức giận, thế là quân sĩ bất ngờ làm phản, tấn công kinh thành, xông vào hoàng cung. Đường Đức Tông phải dẫn theo hậu phi và hoạn quan vội vàng bỏ chạy về phía Ưng Thiên (huyện Càn, Thiểm Tây).
Phiến quân Kinh Nguyên lập tức tôn Chu Thử làm chủ. Chu Thử từng làm Kinh Nguyên Tiết độ sứ, vì vào triều dâng tấu mà bị Đường Đức Tông giam giữ ở Trường An. Chu Tỉ tự xưng là "Đại Tấn hoàng đế" cải nguyên "Ứng Thiên". Chu Tỉ lệnh binh mã sứ Hàn Mân dẫn hơn 3000 kỵ binh tinh nhuệ, tấn công Ưng Thiên để truy sát Đường Đức Tông. May mà Đoàn Tú Thực đã dùng kế đánh tráo con dấu mà lừa được phản quân. Đường Đức Tông đã bảo toàn được tính mạng.
Chiến tranh với phiên trấn xảy ra suốt 5 năm, sau này cũng giết được những kẻ cầm đầu loạn lạc như Chu Thử và Lý Hi Liệt. Nhà Đường sau đó tuy không chấp nhận cho các tiết độ sứ xưng vương, nhưng cũng phải thừa nhận họ được quyền thống trị tại địa phương. Sự phân hóa cát cứ ngày càng rõ rệt hơn trong thời cai trị của Đức Tông. Ngay cả họa hoạn quan bắt đầu khống chế cấm quân, đảm nhận giám quân, cục diện hoạn quan lộng quyền cũng tuyên bố hình thành từ đây. Mọi chuyện dựng vua này giết vua khác trong triều Đường sau này cũng do đám hoạn quan này đứng đầu.
Đức Tông đã từng trọng dụng những viên quan như Dương Viêm (楊炎) làm tể tướng sử sụng Lưỡng thuế pháp, dùng Lưu Yến (劉晏) cải cách vận chuyển đường thủy, cải biến thuế muối, thi hành Thường bình pháp, cải thiện quốc gia. Nhưng đồng thời, hoàng đế cũng trọng dụng tên hoạn quan cũng là gian thần Lô Kỉ (卢杞), để cho chúng tâu xằng làm bậy, và sau này chúng giết hại 2 vị quan tài giỏi là Dương Viêm và Lưu Yến. Đến cuối đời, Đức Tông nghi kị đại thần, chỉ tin dùng bọn hoạn quan, thậm chí dùng chúng để dò xét các quan. Vì thế tuy là có ý định tốt nhưng kết quả là càng làm cho tình trạng cát cứ ngày càng nghiêm trọng.
Đến năm 805, tức năm Trinh Nguyên thứ 21, Đức Tông băng hà, thụy hiệu là Thần Vũ Hiếu Văn hoàng đế. Lúc này, hoàn cảnh nhà Đường đã như mặt trời gần lặn xuống.
=== Sự trung hưng thời Vĩnh Trinh và Nguyên Hòa ===
Sau khi Đức Tông băng hà, hoàng thái tử Lý Tụng, lúc đó đã làm Thái tử được 26 năm, lên ngôi, tức Đường Thuận Tông, cải niên hiệu là Vĩnh Trinh. Sau khi Thuận Tông lên ngôi, bèn sử dụng Vương Thúc Văn (王叔文) cải cách quan lại, thay đổi những điều bất hợp lý về chế độ quan lại xử trị ở địa phương từ thời Đức Tông để lại. Vương Thúc Văn bãi bỏ Cung thị và Ngũ phường tiểu nhi - cơ cấu mà trước đây bọn gian thần dùng để đè nén áp bức nhân dân. Lại cho giảm thuế má, binh dịch, bãi miễn tên tham quan Kinh triệu doãn Lý Thật (李實), ức chế các thế lực cát cứ ở địa phương. Tuy nhiên, chính những cải cách này đã động chạm đến những lợi ích của bè phái thủ cựu quan liêu, cho nên chúng tìm cách gây trở ngại. Chính ngày 20 tháng 6 năm 805, mẹ của Vương Thúc Văn qua đời buộc ông phải bỏ chức vụ về chịu tang, sau đó ông bị giáng chức làm Tư hộ tham quân ở Du Châu (渝州). Sau đó những người quan viên thuộc phái cải cách gồm: Vương Thúc Văn, Vương Phi (王伾), Hàn Diệp (韓曄), Hàn Thái (韓泰), Trần Gián (陳諫谏), Lăng Chuẩn (凌准), Trình Dị (程異), Vi Chấp Nghị (韋執誼), Lưu Vũ Tích, Liễu Tông Nguyên - gọi là Nhị Vương bát Tư Mã (hai người họ Vương và tám vị quan Tư Mã), cả thảy đều bị giáng chức làm quan ở địa phương. Cuộc Vĩnh Trinh cách tân (永貞革新) với mong muốn cải cách mau chóng nhưng cuối cùng lại là chóng tiêu tan.
Đầu tháng 1 năm 806, Thuận Tông dưới sự áp lực của hoạn quan và gian thần, đành phải nhường ngôi tại Hưng Khánh cung, đến ngày 19 tháng 1 năm đó, Hoàng đế bị hãm hại ở cung này, thọ 46 tuổi. Thụy hiệu là Chí Đức Hoằng Đạo Đại Thánh Đại An Hiếu hoàng đế.
Sau khi Thuận Tông nhường ngôi, Thái tử Lý Thuần kế vị, đó là Đường Hiến Tông, lấy niên hiệu là Nguyên Hòa. Hiến Tông là vị hoàng đế có công phục hưng sự thịnh trị của nhà Đường, mặc dù sự thịnh thế đó tồn tại không được lâu và cũng không rực rỡ bằng thời Đường Thái Tông và Đường Huyền Tông, nhưng sử sách gọi đó là Nguyên Hòa trung hưng (元和中興). Hiến Tông chăm lo siêng năng việc cai trị, lo duyệt tấu chương, muốn hưng thịnh lại nhà Đường đang bị rạn nứt dần. Hiến Tông thường ưa nghe lời can gián, rộng rãi bao dung, tích cực cho thu góp tiền đồng trong hoàng tộc, thi hành tiết kiệm. Nhờ đó mà tài lực quốc gia đi lên, có thể tiến hành chiến tranh chống lại các phiên trấn bất quy thuận.
Năm 806, Kiếm Nam-Tây Xuyên Tiết độ sứ Lưu Tịch (劉闢) làm loạn, phát binh tấn công chiếm địa bàn Đông Xuyên, bị Hiến Tông dẹp trừ, khiến cho các phiên trấn chấn động, bèn dâng biểu về xin quy thuận triều đình. Sau khi bình định được Tây Xuyên, quân Đường nhanh chóng tấn công tiêu diệt trấn Hạ Tuy (thuộc huyện Tịnh Biên, Thiểm Tây ngày nay), bắt được Trấn Hải Tiết độ sứ Lý Kỳ vốn không nghe lệnh triều đình. Vì thế mà uy tín của nhà Đường ngày càng được tăng lên.
Tháng 10 năm 814, tức năm Nguyên Hòa thứ 9, Hiến Tông bắt đầu đi thảo phạt phiên trấn ở miền Hoài Tây của Ngô Nguyên Tế. Đến năm 817, tức năm Nguyên Hòa thứ 12, thế lực của Ngô Nguyên Tế bị tiêu diệt. Tháng giêng năm 818, các phiên trấn ở địa phương phái sứ tiết đến Trường An xin hiến đất và nộp cống quy thuận.
Đường Hiến Tông cũng là vị hoàng đế hết lòng sùng bái Phật giáo. Ông đã từng đi đến chùa Pháp Môn để rước Phật cốt. Việc này bị Hình bộ thị lang Hàn Dũ phản đối. Hoàng đế tức giận nên đã giáng chức Hàn Dũ đi làm thứ sử ở Triều Châu.
Ngày 27 tháng 1 năm 820, tức năm Nguyên Hòa thứ 15, Hiến Tông bị bọn hoạn quan Trần Hoằng Chí (陳弘志) giết tại Trung Hòa điện ở Đại Minh cung, thụy hiệu là Chiêu Văn Chương Vũ Đại Thánh Chí Thần Hiếu hoàng đế. Thời kỳ trung hưng thời Hiến Tông chấm dứt, các phiên trấn cát cứ lại nổi lên tranh giành.
=== Sự biến Cam Lộ và Đảng tranh ===
Sau khi Đường Hiến Tông băng hà, hoàng đệ của ông là Lý Hằng kế vị, tức Đường Mục Tông. Mục Tông ham chơi vô độ, cục diện phiên trấn cát cứ lại tiếp diễn, quyền thế của hoạn quan càng bành trướng, chia bè đảng và tranh quyền lẫn nhau, triều chính bắt đầu xuống dốc. Mục Tông băng hà sau 3 năm trị vì, thụy hiệu là Duệ Thánh Văn Huệ Hiếu hoàng đế. Tiếp sau đó, 3 người con trai của Mục Tông lần lượt nối ngôi là: Đường Kính Tông Lý Trạm, Đường Văn Tông Lý Ngang, và Đường Vũ Tông Lý Viêm. Ba ông này đều là anh em cùng cha khác mẹ, lần lượt được thế lực hoạn quan ủng hộ lên ngôi, nhưng sau cũng bị giết, mà lúc sống cũng chẳng được nắm quyền là bao, từ đó phản ánh một nền chính trị Đại Đường đã bị bại hoại.
Ngay sau khi Mục Tông giá băng, Đường Kính Tông Lý Trạm lên ngôi. Vốn là vị Hoàng đế chẳng lo việc nước dân, Kính Tông suốt ngày yến tiệc ham vui, vì ham chơi vô độ mà gây ra họa khiến phải băng hà vào năm 826, tức năm Bảo Lịch thứ 2, sau khi yến tiệc quá chén, Kính Tông bị nhóm hoạn quan Lưu Khắc Minh (劉克明) hại chết, thọ 18 tuổi, thụy hiệu là Duệ Vũ Chiêu Mẫn Hiếu hoàng đế.
Sau đó, Đường Văn Tông Lý Ngang kế nhiệm, vốn là vị quân chủ cũng chăm việc chính sự, sinh hoạt tiết kiệm, đả kích bọn hoạn quan, động chạm đến lợi ích của bè đảng hoạn quan gian nghịch, cho nên mới dẫn đến Cam Lộ chi biến định tru diệt bọn hoạn quan bị thất bại. Sau đó, bọn hoạn quan đoàn kết nhất trí, hoàng đế phải sai đại thần mượn binh lực của phiên trấn để kháng cự với hoạn quan, chính sự xung đột của phiên trấn và hoạn quan càng khiến nhà Đường mau suy tàn. Ngày 4 tháng 1 năm 840, tức năm Khai Thành thứ 5, Văn Tông bị giết ở Thái Hòa điện thuộc Đại Minh cung, thọ 33 tuổi, thụy là Nguyên Thánh Chiêu Hiến Hiếu hoàng đế.
Ngay lập tức, Đường Vũ Tông Lý Viêm kế vị, niên hiệu là Hội Xương. Vũ Tông lên ngôi là do tên trùm hoạn quan Cừu Sĩ Lương (仇士良) ủng hộ, trong triều các bè phái mọc lên như nấm, Cừu Sĩ Lương cũng tạm nhường cho Vũ Tông tự xử lý triều chính. Vũ Tông trọng dụng đại thần Lý Đức Dụ (李德裕), chủ trương diệt bọn hoạn quan, khôi phục chính trị triều Đường, sử gọi đó là Hội Xương trung hưng (會昌中興). Nhưng đồng thời cũng xảy ra chuyện Vũ Tông diệt Phật, đàn áp Phật giáo trên quy mô toàn quốc và cực kì khắc nghiệt. Sự đàn áp Phật giáo lần này là lần thứ 3 trong Tam Vũ nhất Tông diệt Phật (三武一宗滅佛). Vũ Tông lại sùng bái Đạo giáo, cho luyện tiên đơn để uống mong trường sinh bất lão, nào ngờ lại ngộ độc đan dược mà băng hà, thọ 36 tuổi, thụy hiệu là Chí Đạo Chiêu Túc Hiếu hoàng đế.
Chỉ trong vòng 4 triều Mục Tông, Kính Tông, Văn Tông và Vũ Tông, bọn gian thần tranh giành, sử gọi là Ngưu Lý đảng tranh, cực kì khốc liệt, làm hao tổn nghiêm trọng đến quốc lực nhà Đường. Ngưu Lý đảng tranh bắt đầu từ năm Nguyên Hòa thứ 3 (808), từ việc mở khoa thi sĩ tử, những cử nhân như Ngưu Tăng Nhụ (牛僧孺), Lý Tông Mẫn (李宗閔), Hoàng Phủ Thực (皇甫湜) trình biểu phê bình việc triều chính và mong cải cách. Quan khảo thấy những người này tài năng rất hợp bèn cấp báo lên cho vua Hiến Tông. Lúc này quan tể tướng là Lý Cát Phủ (李吉甫, cha của Lý Đức Dụ) bất mãn, nhân đó bọn họ đả kích kịch liệt với Lý Cát Phủ, giáng chức ông làm tiết độ sứ ở Hoài Nam.
Trong triều lúc đó đại thần phân ra 2 phái. Đảng của Lý (Cát Phủ, sau là Đức Dụ) chủ trương đối đầu với phiên trấn để giành lại quyền hành cho triều đình trung ương, còn đảng của Ngưu (Tăng Nhụ) chủ trương hòa bình thỏa hiệp với phiên trấn. Ngưu đảng không hài lòng với chế độ khoa cử hiện thời, Lý đảng thì lại ủng hộ. Lý đảng kiến nghị giản lược hệ thống cơ cấu quốc gia, Ngưu đảng phản đối. Sau khi Mục Tông lên ngôi, cho khảo thi tiến sĩ. Chủ trì việc thi cử đó là Tiền Huy (錢徽) - người của Ngưu đảng, bị người vu cáo là có dính đến tệ hại riêng tư trong kì thi. Đương khi đó Hàn Lâm học sĩ Lý Đức Dụ làm chứng, Tiền Huy bị giáng chức, Lý Tông Mẫn cũng bị liên lụy theo, bị biếm trích ra vùng ngoài, thành thử ra Lý Tông Mẫn và Ngưu Tăng Nhụ đều kết oán với Lý Đức Dụ.
Lý đảng và Ngưu đảng cùng những quan viên xuất thân khoa cử liên kết thành bè đảng, còn Lý Đức Dụ thì kết bè đảng với những quan liêu xuất thân quý tộc, 2 phái tranh ngầm nhau rất dữ dội. Văn Tông lên ngôi, Lý Tông Mẫn nhờ kết thế với bọn hoạn quan mà leo lên làm tể tướng, Ngưu Tăng Nhụ cũng cùng lên chức cao, cực lực đả kích mạnh mẽ phái của Lý đảng, khiến Lý Đức Dụ bị đày đi làm tiết độ sứ ở Tây Xuyên. Đến khi Vũ Tông tức vị, Ngưu đảng thất thế, Lý Đức Dụ lên làm tể tướng, ra sức bài xích Ngưu đảng. Đường Tuyên Tông về sau kế vị, lại bài xích các cựu thần đời Vũ Tông, Lý Đức Dụ bị đày ra Hải Nam. Như vậy, sự đảng tranh diễn ra suốt gần 40 năm đã được Tuyên Tông chấm dứt.
=== Đại Trung tạm trị ===
Năm 846, sau khi Vũ Tông băng hà, Lý Thầm là chú của Vũ Tông, được hoạn quan Mã Nguyên Chí (马元贽) ủng hộ, lên ngôi hoàng đế, tức Đường Tuyên Tông, cải niên hiệu là Đại Trung. Mặc dù Tuyên Tông lên ngôi là để thế lực hoạn quan lợi dụng, nhưng hoàng đế đã sớm cố gắng tìm cách để nắm thực quyền, nhà Đường xuất hiện một thời kỳ phục hưng ngắn ngủi, người đời tôn gọi Tuyên Tông là "Tiểu Thái Tông", ý sánh ông với vua Đường Thái Tông trước đó. Tuyên Tông ra sức tăng cường hoàng quyền, hạn chế thế lực hoạn quan trong chính quyền, ra tay dẹp Ngưu Lý đảng tranh, trong thời đại nhà Đường đang hỗn loạn bỗng xuất hiện một thời trung hưng với cục diện tốt đẹp của Đại Trung chi trị. Tuy nhiên Tuyên Tông cũng là ông vua rất đa nghi, bọn quan lại thì vờ tỏ vẻ cho thiên hạ thái bình. Vua cũng sùng bái Đạo giáo, mong được có tiên dược để trường sinh bất lão. Năm 859, tức năm Đại Trung thứ 13, Tuyên Tông vì dùng thuốc đan quá độ, bị lâm bệnh nặng mà băng hà, an táng ở Trinh lăng. Thực tế sự thịnh trị của Đại Trung cũng không ổn định, sau khi Tuyên Tông băng hà, cục diện loạn lạc giặc cướp lại nổi lên ào ạt.
=== Nhà Đường tàn vong ===
Sau thời Tuyên Tông, kế đến là Đường Ý Tông Lý Thôi và Đường Hi Tông Lý Huyên đều là những ông vua không có năng lực, thế nhà Đường ngày càng xuống dốc. Ý Tông là ông vua kiêu mạn xa xỉ lại dâm dật, tin dùng hoạn quan. Khi Ý Tông kế vị năm 859, sự giàu nghèo trong xã hội ngày càng có khoảng cách lớn, mâu thuẫn giai cấp càng tăng, khắp nơi dân chúng nổi dậy, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Cừu Phủ (裘甫) nổi dậy ở Chiết Đông (浙东), số dân tham gia vào bộ chúng lên tới nghìn người. Ở mặt nam có nước Nam Chiếu nổi dậy chiến tranh với nhà Đường, đem quân đánh chiếm Giao Chỉ (nay là miền bắc Việt Nam).
Trong khi đó, quân phòng bị Nam Chiếu ở tại Quế Lâm cũng nổi dậy làm phản do cấp trên trì hoãn không cho họ về quê, cướp lương và đưa thủ lĩnh Bàng Huân lên đứng đầu cuộc nổi loạn. Bàng Huân dẫn nghĩa quân bắc tiến đánh đến Từ Châu, bắt lấy viên Quan sát sứ ở Từ Châu và Tứ Châu là Thôi Ngạn Tằng (崔彦曾), rất nhiều nông dân nổi dậy hưởng ứng, nhất thời thanh thế chấn động, chiếm cứ Hoài Khẩu, uy hiếp thành Trường An. Nhưng Bàng Huân lại muốn được triều đình chiêu an, ý muốn được phong làm Tiết độ sứ, thường cứ bỏ lỡ cơ hội tốt, đến năm 869 bị đại tướng nhà Đường là Khang Thừa Huấn (康承训) đánh giết. Từ những năm đầu dân chúng khởi nghĩa, Ý Tông vẫn cứ không lo, chìm đắm trong thanh sắc vui thú, chỉ thích ai có công làm cho nhà vua vui vẻ, tin bọn gian nịnh, triều chính bại hoại đen tối.
Ngày 19 tháng 7 năm 873, tức năm Hàm Thông thứ 14, Ý Tông băng hà, Hi Tông lên kế vị. Hi Tông suốt ngày chỉ thích đá gà với đánh cầu, ít khi lo việc quốc sự. Năm 874, Hi tôn thấy nổi loạn ở khắp nơi, cũng thức tỉnh mà xuống chiếu tự kể tội mình: tội gây binh đao, bắt lính khắp nơi, đánh thuế xe, thuế ngựa, bắt dân làm xâu, phải bỏ hoang ruộng đất... Nhưng đã trễ, loạn lạc đã nổi lên khắp nơi.
Bấy giờ giá muối ngày càng tăng, phiên trấn thì binh lửa chẳng dứt, bách tính liền nhiều năm bị bọn cường hào địa chủ kiêm tịnh mất ruộng đất, đói kém nghiêm trọng, mà phú thuế đánh ngày càng nặng. Năm 860, loạn ở Chiết Giang, đông tới 3 vạn vì nạn đói. Triều đình phái ba lộ quân, toàn là lính Hồi Hột, Thổ Phồn (không dùng lính Hán) đi tiễu trừ, bao vây thành; nông dân trong thành, già trẻ trai gái đều chống cự kịch liệt; giữ thành được 3 tháng, tới khi hết lương thực mới chịu thua. Năm 862 lại xảy ra loạn ở Từ Châu; năm 868, một vụ nữa ở Quế Châu, triều đình phải cầu cứu với tộc Sa Đà; nghĩa quân mắng triều đình là "quốc tặc", đem rợ vào giết dân.
Ghê gớm nhất cuộc đại loạn Hoàng Sào. Năm 875, Vương Tiên Chi, Thượng Nhượng và Hoàng Sào trước sau nổi dậy ở đất Dự (nay thuộc tỉnh Hà Nam) và đất Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), hai quân đội khởi nghĩa dồn hợp lại đánh phá các thành trì ở Trung Nguyên. Quân của Hoàng Sào lại tiến xuống phía nam, đốt phá thành trì và cướp đoạt cả vùng đất Quảng Châu, lại xông vào hàng quán giết rất nhiều thương nhân vô tội người Tây Vực (tài liệu của Ả Rập ghi có tới 12 vạn ngoại nhân chết trong vụ đó).
Do không thích hợp với khí hậu ở Lĩnh Nam, Hoàng Sào lại bắc tiến đánh lên phía bắc rất thuận lợi. Vượt qua Trường Giang, Hoài Hà, năm 880 tháng 11, tức năm Quảng Minh thứ nhất, Hoàng Sào đánh chiếm thành Trường An, Hi Tông bỏ chạy đến Tứ Xuyên. Năm đó Hoàng Sào vào Hàm Nguyên điện, tự xưng làm hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Tề, lấy niên hiệu Kim Thống. Sau đó, quân Đường có đem quân đánh thành Trường An, nhưng lòng dân không phục, bị Hoàng Sào đánh đuổi. Năm 883, Chu Ôn (hay Chu Toàn Trung) cùng với một người tộc Sa Đà là Lý Khắc Dụng dẫn quân Đường tái đánh thành Trường An. Sang năm, Hoàng Sào bị thủ hạ sát hại.
Loạn Hoàng Sào chiếm hơn nửa giang sơn của nhà Đường, giết hại số người ước đến 830 vạn người, dẫn đến quốc lực của nhà Đường càng suy thoái. Sau đó lại đến những cuộc đấu tranh của cái họa hoạn quan và phiên trấn, Hi Tông lại bị hoạn quan kìm giữ ở Phượng Tường, mà quân đội phiên trấn vào cướp phá ở thành Trường An. Ngày 6 tháng 3 năm Văn Đức thứ 1 (888), Hi Tông băng hà, người em là Lý Diệp lên ngôi, tức Đường Chiêu Tông. Chiêu Tông ở ngôi, mong muốn khôi phục nước nhà, nhưng thế lực phiên trấn ngày càng lớn mạnh, những cải cách của nhà vua đề xướng mau chóng thất bại tiêu tan.
Năm Thiên Phục thứ 3 (903), Chu Toàn Trung áp giải Chiêu Tông hồi kinh, sau đó Chu ra tay diệt hết lũ hoạn quan. Năm Thiên Hựu thứ 1 (904), Chu Toàn Trung lại đề nghị dời đô đến Lạc Dương, phá hủy hết cung điện ở Trường An. Ngày 11 tháng 8 năm đó, Chiêu Tông bị sát hại. Lý Chúc lên ngôi, tức Đường Ai Đế.
Lúc này nhà Đường bề ngoài còn tồn tại mà thực ra đã tiêu vong, Ai Đế cũng chỉ là bù nhìn. Năm 905, Chu Toàn Trung biếm truất các quan triều, toàn bộ bị giết hết ở tại trạm Bạch Mã, ném xác xuống Hoàng Hà, sử gọi là Bạch Mã chi họa. Năm 907, Chu Toàn Trung giết Ai Đế, tự lập lên ngôi, đổi quốc hiệu là Đại Lương, tức nhà Hậu Lương, cải niên hiệu Khai Bình, đóng đô ở Khai Phong. Nhà Đường hoàn toàn bị diệt vong.
Năm 923, Lý Tồn Úc diệt nhà Hậu Lương, tái lập quốc hiệu Đường, sử gọi là nhà Hậu Đường. Tuy nhiên Lý Tồn Úc vốn là người Sa Đà, không có liên hệ huyết thống với hoàng tộc nhà Đường, họ Lý chỉ là quốc tính được ban cho trước đó. Quốc hiệu Đường chỉ là tên gọi để vỗ về những người Hán vẫn còn nhớ về nhà Đường. Do vậy nhà Hậu Đường không được coi là sự tiếp nối nhà Đường.
== Cương vực ==
Khi Đường Cao Tổ mới kiến lập nhà Đường, Đường triều phải cầu hòa với Đột Quyết và có chiến lược phòng thủ, về sau mới bắt đầu phản kích. Năm Trinh Quán thứ 4 (630) đời Thái Tông, nhà Đường đem quân đánh tan Đông Đột Quyết. Mạc Nam (phía nam sa mạc Gobi) trở thành khu vực thuộc phạm vi thế lực của nhà Đường. Năm Trinh Quán thứ 20 (646), nhà Đường lại đem quân tiêu diệt hãn quốc Tiết Diên Đà, từ đó cả khu vực Mạc Nam và Mạc Bắc (tức phía bắc sa mạc Gobi) rộng lớn đều nằm dưới thế lực của nhà Đường. Ở Mạc Bắc, nhà Đường thành lập An Bắc đô hộ phủ, tại Mạc Nam thiết lập Thiền Vu đô hộ phủ, ở phía nam lập ra La Phục châu (nay là Hà Tĩnh, Việt Nam), ở phía bắc thành lập Huyền Khuyết châu (sau đổi là Kim Ngô châu, nay thuộc khu vực sông Angara tại Nga), tây lập An Tức châu (nay thuộc Bukhara, Uzbekistan), phía đông lập Ca Vật châu (nay thuộc Thông Hóa, tỉnh Cát Lâm). Đến năm Vĩnh Thuần thứ nhất (682), đời Đường Cao Tông, Đột Quyết phục quốc, sau bị Hậu Đột Quyết diệt, khiến biên cương phía bắc lục đục nghiêm trọng. Năm Thiên Bảo thứ 3 (744), thời Đường Huyền Tông, Hồi Hột lập quốc và chiếm cứ Mạc Nam, Mạc Bắc. Sau loạn An Sử, việc khởi loạn ở biên thùy lại diễn ra, nhà Đường và Hồi Hột lại xảy ra chiến tranh quy mô lớn.
Tại tây bắc, năm Trinh Quán thứ 4 thời Thái Tông đã lập Tây Y châu tại bảy thành Y Ngô, mở đầu cho việc chiếm lĩnh Tây Vực. Năm Trinh Quán thứ 19 (645) Nhà Đường dời An Tây đô hộ phủ đến Quy Từ. Năm Hiến Khánh thứ 4 (659) đời Cao Tông, quân Đường diệt Tây Đột Quyết, thế lực mở rộng đến khu vực Hàm Hải (biển Aral) và Lý Hải (biển Caspi). Nhưng việc nhà Đường cai quản vùng phía tây Thông Lĩnh (tức dãy núi Pamir) vẫn bất ổn, năm Càn Phong thứ 2 (667), do thế lực của nước Đại Thực (tức Omeyyad) phát triển, cương vực nhà Đường giới hạn về phía đông Thông Lĩnh. Sau loạn An Sử và 36 năm nội loạn, nhà Đường bị mất vùng An Tây đô hộ phủ.
Tại đông bắc, năm Hiển Khánh thứ 5 (660), quân Đường hợp với quân Tân La diệt Bách Tế. Tháng 8 năm Tổng Chương thứ nhất (668) lại cùng Tân La diệt Cao Câu Ly, thành lập An Đông đô hộ phủ ở Bình Nhưỡng. Nhưng do dân địa phương phản đối kịch liệt, và Tân La bắc tiến, nên năm Hàm Hanh thứ nhất (670) An Đông đô hộ phủ dời đến Liêu Đông. Năm Khai Nguyên thứ nhất (713), An Đông đô hộ phủ di dời đến vùng Liêu Tây. Những năm Thiên Bảo (742-756), bỏ An Đông đô hộ phủ, sau loạn An Sử, nhà Đường mất đi quyền trực tiếp khống chế vùng bán đảo Liêu Đông. Từ năm 698 thời Võ Tắc Thiên, có Đại Tộ Vinh lập Bột Hải quốc, còn gọi là nước Đại Chấn, hiệu là "Hải Đông thịnh quốc". Nhưng nước đó quan hệ hữu hảo với Đường, phần lớn thời gian tồn tại đều nộp cống xưng thần.
Trên cao nguyên Thanh Tạng, Thổ Phồn ngày càng hưng khởi, dến thế kỷ thứ 6 thì cùng với Thổ Dục Hồn, và Tô Bì (Sumpa) trở thành tam đại thế lực trên vùng cao nguyên. Đầu thế kỷ 7, tán phổ Tùng Tán Cán Bố thống nhất cao nguyên, đánh Tô Bì ở phía tây của Tây Tạng, Dương Đồng ở địa khu A Lý và đất Ni Bà La (nay là Nepal). Năm Long Sóc thứ 3 (663), Thổ Phồn diệt Thổ Dục Hồn, chiếm hết đất đai. Sau chiếm bốn trấn phủ An Tây của nhà Đường, trở thành nước đối địch lớn nhất của Đường triều. Sau loạn An Sử, phần lớn phiên binh ở Hà Lũng tham gia bình loạn (chủ yếu là binh dưới quyền Lũng Hữu tiết độ sứ và Hà Tây tiết độ sứ) nên việc phòng thủ trở nên trống trải, do đó quân Thổ Phồn nhân cơ hội này để tiến lên. Thổ Phồn cho quân đánh Lũng Tây, vùng Hoàng Hà ở Tây Cam, Lương của nhà Đường song không không được, tuy vậy Thổ Phồn đã chiếm cứ được phía tây Lũng Sơn. Năm Đại Trung thứ 2 (848) đời Tuyên Tông, một người ở Sa Châu (nay thuộc Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc) là Trương Nghị Triều phát động khởi nghĩa, quần chúng tam gia rất đông, chiếm cứ lấy Sa Châu. Sau đó Trương Nghị Triều đem quân đánh chiếm tới 10 châu: Qua, Y, Tây, Cam, Túc, Lan, Thiện, Hà, Mân, Khuếch (nay thuộc các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải và Tân Cương). Năm Đại Trung thứ 5 (851), nhóm nghĩa quân của Trương quy thuận triều đình, Tuyên Tông tha cho nghĩa binh về, phong Trương làm Tiết độ sứ, các vùng Hà Lũng lại một lần nữa do triều đình khống chế. Năm 890, Hà Tây và Lũng Hữu bị tộc người Đảng Hạng chiếm đóng. Cuối cùng, nhà Đường hoàn toàn mất quyền khống chế toàn bộ các khu vực ở phía tây Đôn Hoàng.
Trên cao nguyên Vân-Quý ở tây nam, năm Thiên Bảo thứ 7 (748), Nam Chiếu kiến quốc, khi hòa khi chiến với Đường, cũng góp một phần vào việc làm suy yếu quốc lực của Đường. Đồng thời, lúc đó dân bản địa ở Giao Châu cũng bắt đầu nổi dậy, từ khi Hán Vũ Đế diệt nước Nam Việt đến nay đất đó nội thuộc đã lâu, thời ấy gọi là An Nam (tức phía bắc Việt Nam ngày nay), từ thời Đường mạt đã bắt đầu trở thành phiên trấn cát cứ mà đến đời nhà Tống đã trở thành 1 nước độc lập, hoàn toàn thoát li khỏi các Triều đại ở Trung Nguyên.
== Phân chia hành chính ==
Từ thời nhà Tùy đã thực hiện chế độ châu huyện, sau đổi sang chế độ quận huyện. Đường lại đổi quận là châu, khôi phục 2 cấp châu huyện. Đầu năm Trinh Quán đời Thái Tông, thiên hạ đại định, Đường Thái Tông căn cứ theo địa hình sông núi toàn quốc mà phân ra 10 đạo: Quan Nội, Hà Nam, Hà Đông, Hà Bắc, Sơn Nam, Lũng Hữu, Hoài Nam, Giang Nam, Kiếm Nam và Lĩnh Nam, gọi là Trinh Quán thập đạo. Mỗi đạo đặt chức quan sát sứ để giám sát, không có chức năng hành chính. Trong các châu nhà Đường lại thiết lập ra "phủ". Trước năm Khai Nguyên thứ nhất đã thiết lập Kinh Triệu phủ và Hà Nam phủ. Khi thời Khai Nguyên xã hội ngày càng thăng tiến, hoàng đế dần đổi nhiều châu ra thành phủ. Đến năm Thần Long thứ 2 đời Đường Trung Tông, lại đặt ra thập đạo Tuần sát sứ, thập đạo tồn phủ sứ, và thập đạo án sát sứ. Lại đặt vài quan giám sát ở các đô thị do triều đình trung ương phái khiển, không trú lại nhất định, trị sở không cố định. Năm Khai Nguyên thứ 21, tại vùng Quan Nội quanh Trường An lại phân ra Kinh kì đạo, vùng Hà Nam quanh Lạc Dương phân ra Đô kì đạo, phân đạo Sơn Nam ra làm hai đạo đông và tây, lại phân Giang Nam ra làm hai đạo đông tây và Kiềm Trung, cộng lại là 15 đạo, gọi là Khai Nguyên thập ngũ đạo. Mỗi đạo thiết lập cố định một viên quan giám sát là quan sát sứ, giống như nhà Hán thiết lập thứ sử làm chức trách giám sát ở các châu, mỗi địa phương đều thiết lập trị sở cố định (thủ phủ), chính thức thành lập 15 giám sát khu, dần dần đã có chuyển biến trong khu vực hành chính. Từ đây, hình thành 3 cấp hành chính: đạo, châu (phủ), huyện; do cấp đạo có ít chức năng hành chính nên 3 cấp hành chính lúc này gọi là hư tam cấp.Tại biên cương, kình kỳ và các khu vực trọng yếu, nhà đường thiết lập đô đốc phủ do võ quan đô đốc kiêm quản quân sự lẫn dân chính các châu quận. Toàn quốc có hơn 40 phủ Đô đốc chia làm 3 cấp: Đại, Trung, Hạ Dưới đây là danh sách 15 đạo:
Kinh kỳ đạo, trị sở là thủ đô Tây Kinh Trường An: Kinh Bắc phủ (nay thuộc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây);
Quan Nội đạo, trị sở ở Trường An: Kinh Triệu phủ (nay thuộc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây.);
Đô kì đạo, trị sở là Đông Đô Lạc Dương: Hà Nam phủ (nay thuộc thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam);
Hà Nam đạo, trị sở đặt ở Biện Châu (nay thuộc thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam);
Hà Đông đạo, trị sở đặt ở Bồ Châu (nay thuộc phía tây thành phố Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây);
Hà Bắc đạo, trị sở ở Ngụy Châu (nay thuộc đông bắc huyện Đại Danh, tỉnh Hà Bắc);
Sơn Đông tây đạo, trị sở ở Lương Châu (nay thuộc thành phố Hán Trung, tỉnh Thiểm Tây);
Sơn Nam đông đạo, trị sở ở Tương Châu (nay thuộc thành phố Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc);
Hoài Nam đạo, trị sở ở Dương Châu (nay thuộc thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Tô);
Giang Nam đông đạo, trị sở ở Tô Châu (nay thuộc thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô);
Giang Nam tây đạo, trị sở ở Hồng Châu (nay thuộc thành phố Nam Xương, tỉnh Giang Tây);
Kiềm Trung đạo, trị sở ở Kiềm Châu (nay thuộc huyện Bành Thủy, thành phố Trùng Khánh);
Lũng Hữu đạo, trị sở ở Thiện Châu (nay thuộc huyện Lạc Đô, tỉnh Thanh Hải);
Kiếm Nam đạo, trị sở ở Ích Châu (nay thuộc Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên);
Lĩnh Nam đạo, trị sở ở Quảng Châu (nay thuộc thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông).
Trấn thủ ở tại các đạo là các võ tướng gọi là đô đốc, về sau đô đốc nắm quyền ở các đạo hay một bộ phận của đạo được trao cờ tiết xưng là tiết độ sứ. Sau khi bình định loạn An Sử, nhà Đường liền lập ra nhiều chức tiết độ sứ để quản hạt các địa khu trong nước, gọi là phiên trấn. Về sau khiến cho Tiết độ sứ chuyên quyền ở các địa phương, một số còn gây loạn, những tiết độ sứ khác thì chiêu binh mãi mã, thành một tập đoàn quân sự riêng gần như tách biệt khỏi triều đình. Cuối thời Đường, tồn tại 3 cấp hành chính: phiên trấn (quân) và châu (phủ), huyện. Cuối thời Đường đã có khoảng 4-50 phiên trấn, trừ Kinh Triệu phủ (Kinh đô) và một vài châu nhỏ ở ngoài phủ Hà Nam, các nơi khác trong toàn quốc đều xảy ra cục diện phiên trấn cát cứ. Thời Đường Đức Tông đã từng có phiên trấn ở Hà Sóc làm loạn từng uy hiếp kinh đô Trường An, Đức Tông phải dời đến Hán Trung, suốt 4 năm mới bình được loạn, nhưng cũng từ đó về sau họa phiên trấn ngày càng lan rộng. Thời Đường Hiến Tông đã từng bình dẹp loạn Ngô Nguyên Tế ở Hoài Tây, các thế lực địa phương quy thuận triều đình trung ương, nhưng họa vẫn chưa diệt trừ tận gốc. Sau khi Hiến Tông mất thì cục diện cát cứ loạn lạc lại tiếp tục diễn ra. Và cuối cùng nhà Đường bị diệt vong trong tay một tiết độ sứ là Chu Ôn. Sau nhà Đường, thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc thực tế là kế tục cái họa của phiên trấn gây ra, chỉ một số phiên trấn nổi lên hoàn toàn độc lập. Nhà Đường chủ yếu có các bậc quan ở địa phương như sau:
Châu (quận) đứng đầu là: thứ sử (thái thú);
Biệt giá, Trưởng sử, Tư mã;
Lục sự, Tham quân sự;
Lục tào: Ty công, Ty thương, Ty hộ, Ty binh, Ty pháp, Ty sĩ.
Huyện: Huyện lệnh;
Huyện thừa, Chủ bạ;
Huyện úy, Lục sự, Tả sứ.
Hương: Kì lão;
Lí: Lý chính;
Thôn: Thôn trưởng;
Bảo: Bảo trưởng;
Liên: Liên trưởng.
== Thể chế chính trị ==
Đây là danh sách về thể chế chính trị thời nhà Đường, khái quát về quan chức nhà nước thời kỳ đó đã hoàn thiện hơn, có Lục bộ và Tam tỉnh, cấu tạo đã có sự đa dạng chặt chẽ hơn trong bộ máy chính quyền trung ương.
== Ngoại giao ==
Khi nhà Đường sử dụng vũ thành lập Triều đại, đã từng có quan hệ hữu hảo với các nước lân bang. Sau khi Đường Cao Tông kế vị, việc quân sự sa sút dần, mối quan hệ với các nước láng giềng bất ổn định: khi chiến khi hòa. Mới đầu nhà Đường đã từng thành lập 6 đô hộ phủ: An Tây năm 640, An Bắc năm 647, Thiền Vu năm 650, An Đông năm 668, An Nam năm 679 và Bắc Đình năm 701.
=== Khu vực đông bắc ===
Đối với vùng đông bắc quốc gia, lúc đó ở khu vực này có khá nhiều bộ lạc người Mạt Hạt cư trú. Thời Tùy Đường đã phân chia ra nhiều bộ tộc, trong đó Túc Mạt, Hắc Thủy, Bạch Sơn, Bá Đốt, Phất Niết, Hiệu Thất, và An Xa Cốt, tên khác An Cư Cốt (安居骨).}} là 7 thế lực bộ lạc lớn mạnh. Năm 698, tại vùng đông bắc trước vốn là lãnh thổ của Cao Câu Ly, sau khi bị Tân La và nhà Đường phối hợp tiêu diệt, một viên tướng người Mạt Hạt của Cao Câu Ly là Đại Tộ Vinh lập nên Chấn Quốc. Năm 713, Đại Tộ Vinh thần phục nhà Đường, được Đường Huyền Tông sách phong là Bột Hải quận vương (渤海郡王), thiết lập Hốt Hãn châu (忽汗州). Tuy nhiên, Bột Hải Quốc cũng thường quấy nhiễu vùng duyên hải và biên cương phía đông bắc của nhà Đường, như năm 732, Bột Hải Vũ Vương Đại Vũ Nghệ phái tướng Trương Văn Hưu (張文休) đem thủy quân vượt vịnh Bột Hải tấn công vào Đăng Châu của Đường (nay thuộc Bồng Lai, Sơn Đông), sát hại thứ sử Đăng Châu là Vi Tuấn (韦俊). Nhưng sau đó 2 bên đã có bàn thuyết qua lại và nghị hòa, vua Bột Hải đề nghị liên minh, và thường cử con em quý tộc sang Trường An học tập. Năm 726, triều đình nhà Đường lại lập ra Hắc Thủy đô đốc phủ ở khu vực của bộ tộc Hắc Thủy Mạt Hạt. Nhà Đường và nước Tân La cũng có mối quan hệ mật thiết. Tân La đã từng phái nhiều lưu học sinh sang nhà Đường học tập, trong đó có một người ưu tú sau được phong làm Tiến sĩ, đó là Thôi Trí Viễn (Choe Chiwon, 崔致遠). Văn hóa Trung Quốc về sau cũng dần truyền bá vào hai nước Bột Hải và Tân La, đồng thời việc giao thương biên mậu rất thường xuyên. Từ năm 660 - 668, liên quân nhà Đường và Tân La trước sau đã diệt Bách Tế và Cao Câu Ly. Sau chiến tranh Tân La-Đường, Tân La đã chiếm lấy toàn bộ vùng bán đảo Triều Tiên và lấy sông Đại Đồng làm ranh giới ngăn cách với nhà Đường. Năm 723, một vị sư người Tân La là Tuệ Siêu (慧超, Hyecho) đã cất công đi đến tận Quảng Châu rồi vượt biển sang các nước tại Ấn Độ để cầu kinh, lại theo lối tắt lên tận Ba Tư, Đại Thực và cả Đột Quyết, rồi trở về kinh thành Trường An, soạn viết bộ "Vãng ngũ Thiên Trúc quốc truyện" (往五天竺国传, truyện kể việc đi đến 5 nước ở Thiên Trúc). Một lưu học sinh người Tân La ở tại nhà Đường là Tiết Thông (薛聰, Seol Chong) cũng giúp nhà Đường chỉnh lý lại độc biểu ký pháp, tạo thuận tiện cho việc viết các hư từ hư tự tiếng Tân La, xúc tiến văn hóa Triều Tiên phát triển. Ở những vùng thành thị duyên hải phía đông nhà Đường có khá nhiều người Tân La sống tụ lại thành Tân La phường, và còn có Tân La quán tiếp đãi người Tân La, người Tân La nhập nội ngày càng đông đúc.
Thời Võ Tắc Thiên, Oa Quốc (倭國) đổi xưng là Nhật Bản, cùng nhà Đường có mối quan hệ mật thiết. Thiên hoàng Kōtoku (孝徳天皇, Hiếu Đức thiên hoàng) của Nhật Bản thi hành cải cách, noi theo pháp chế nhà Đường, dùng chế độ trung ương tập quyền. Nhật Bản lại học tập theo chế độ quân điền, lập tô dung điều chế, lại lập hộ tịch và sổ sách tài chính...nhất nhất noi theo nhà Đường. Nhật Bản lại dựa theo luật "Đường lệnh" của nhà Đường mà ban hành "Đại Bảo lệnh". Ngay cả về mặt kiến trúc, Nhật cũng mô phỏng theo thành Trường An mà xây dựng 2 kinh thành Heian-kyō (Bình An kinh) và Heijō-kyō (Bình Thành kinh). Nhật Bản trước sau đã từng 13 lần phái sứ thần đến nhà Đường, mỗi lần đoàn sứ thần sang có đến trăm người, trừ những sứ thần và thủy thủ ra, còn có các lưu học sinh, sư tăng, thầy thuốc, âm thanh sinh, thợ mò ngọc, thợ rèn, thợ đúc, thợ tinh xảo sang học hỏi. Đặc biệt trong số đó, nổi danh sau này có một du học sinh người Nhật là Kibi no Makibi (吉備真備, Cát Bị Chân Bị) cùng Abe no Nakamaro (阿倍仲麻呂, A Bội Trọng Ma Lữ), còn có nhà sư Kūkai (空海, Không Hải) và Ennin (圓仁, Viên Nhân). Cao tăng Không Hải đã để lại tác phẩm "Văn kính bí phủ luận" (文鏡秘府論) và một bộ tự điển Hán tự của Nhật Bản là "Triện đãi vạn tượng danh nghĩa" (篆隸萬象名義). Cao tăng Viên Nhân khi tìm kiếm kinh kệ Phật Pháp đã đi khắp cả quận huyện nhà Đường, mang về rất lớn và rất nhiều cho Nhật Bản những kinh tượng Phật học và khí cụ. Một vị cao tăng người Bách Tế là Vị Ma Chi (味摩之) đã đi đến nhà Đường học tập và sau truyền đến Nhật Bản những vũ điệu cầu múa của vùng Kinh Sở, gọi là "Ngô kỹ nhạc" (吳伎樂). Ngay cả văn tự Nhật Bản là Hiragana (Bình giả danh, kiểu chữ mềm) và Katakana (Phiến giả danh, kiểu chữ cứng) cũng là biến thể của loại thảo thư và giai thư bộ thủ của Trung Quốc. Hòa thượng Giám Chân cũng từng được mời đến Nhật Bản, về sau thành lập phái Luật tông, có nhiều đóng góp cho việc truyền bá kinh đạo và nghề thuốc cho Nhật Bản. Nhờ những cuộc giao lưu giữa Trung Quốc và Nhật Bản, đặc biệt là qua việc truyền bá kinh Phật, đã khiến Phật giáo trở nên hưng thịnh ở Nhật Bản.
Bấy giờ, bộ tộc Khiết Đan vốn là giống người Đông Hồ, tự xưng là dòng dõi của thanh ngưu bạch mã (con vật tôn thờ của họ). Đầu thời Đường, thủ lĩnh đứng đầu của Khiết Đan là Đại Hạ Ma Hội (大賀摩會) thần phục nhà Đường. Năm 648, Khiết Đan dưới chế độ ki mi (ràng buộc) đã thành lập Tùng Mạc đô đốc phủ (松漠都督府), Đại Hạ Quật Ca (大贺窟哥) làm Đô đốc ở đó và kiêm chức Tá lĩnh tướng quân, ban quốc tính họ Lý. Thời Võ Tắc Thiên, Đô đốc ở Doanh Châu - khu vực quản lý người Khiết Đan, là Triệu Văn Hối (趙文翽) nổi dậy làm phản suốt 10 năm. Đầu thời Khai Nguyên, Tùng Mạc đô đốc phủ phục tùng nhà Đường, quan hệ hòa hảo suốt hơn trăm năm, kinh tế văn hóa giao lưu càng phát triển, Khiết Đan trung thành cho đến khi nhà Đường bị diệt, sau đó, thủ lĩnh Khiết Đan là Da Luật A Bảo Cơ xưng hãn rồi xưng đế, đặt quốc hiệu là Đại Liêu.
=== Khu vực Tái Bắc và tây bắc ===
Đông Đột Quyết ở tây bắc thường tiến xuống phía nam đánh vào Trung Nguyên, mới đầu thời Đường đã có các thế lực phân hóa cát cứ ở phía bắc hợp với Đột Quyết đánh nhà Đường, gây ra mối họa lớn cho biên cương phía tây bắc nhà Đường. Các thời Cao Tổ và Thái Tông đều ra sức đề phòng, đến năm Trinh Quán thứ 3 (629) Thái Tông sai tướng Lý Tĩnh và Lý Tích đem quân tiến đánh buộc Đông Đột Quyết phải hàng phục, tiểu khả hãn là Đột Lợi khả hãn đầu hàng, đại khả hãn Hiệt Lợi khả hãn bị bắt, Hãn quốc Đông Đột Quyết tiêu vong. Đa số dân chúng Đột Quyết đi đến Trường An, hoàng đế Thái Tông chiêu dụ cả thảy cho an trí ở đất Linh Vũ cho đến đất quận U Châu, thiết lập ki mi phủ để quản hạt, điều đó gây chấn động đến Tây Đột Quyết và các nước Tây Vực. Nhất tề các tiểu quốc ở phía tây này đến triều đình quy phục, cùng tôn Đường Thái Tông là Thiên khả hãn. Tây Đột Quyết sang phía tây đánh nước Ba Tư, phía bắc bình định nước Sơ Lặc, khống chế con đường tơ lụa. Cho đến năm 640 nhà Đường đánh thành Cao Xương (nay thuộc vùng đông nam Thổ Lỗ Phồn, Tân Cương), thiết lập An Tây đô hộ phủ. Năm 647 bình định Yên Kì, năm 648 bình định Quy Từ. An Tây đô hộ phủ dời đến Quy Từ, thống quản 4 trấn: Vu Điền, Cao Xương, Yên Kì và Quy Từ. Năm Hiển Khánh thứ 2 (657) thời Đường Cao Tông, tướng Tô Định Phương) và Tiêu Tự Nghiệp (蕭嗣業) đánh bại Tây Đột Quyết. Phạm vi thế lực của nhà Đường tại Tây Vực càng rộng. Nhà Đường lúc đó cùng với một đế quốc ở phía tây là nước Đại Thực (tức Abbas) bắt đầu quan hệ. Năm 751, nhà Đường và nước Đại Thực xảy ra "Trận chiến Talas", kết quả là nhà Đường thua trận. Từ sau loạn An Sử, thế nhà Đường đã suy nên không còn ảnh hưởng gì ở Trung Á nữa.
Sau khi Đông Đột Quyết bị diệt, người Hồi Hột lại thần phục Đột Quyết rồi sau đó bị Tiết Diên Đà khống chế. Năm 646, quân Đường hợp với Hồi Hột đánh tan Tiết Diên Đà. Năm 682, A Sử Na Cốt Hốt Lộc (阿史那骨咄祿) xưng hãn trên cao nguyên Mông Cổ, Đông Đột Quyết phục quốc (sử gọi là Hậu Đột Quyết), lại có người Khiết Đan mưu cùng Đột Quyết xâm phạm vùng biên giới phía bắc thời Võ Tắc Thiên. Võ Tắc Thiên bèn cho người sang cầu hòa thân thiết để cải thiện quan hệ với người Khiết Đan và Đột Quyết, nhưng lại chưa thể thành công. Đến năm Thiên Bảo thứ 3 (744) thời Đường Huyền Tông, nhà Đường và Hồi Hột đem quân diệt Hậu Đột Quyết, người Hồi Hột tự kiến quốc. Năm 790, nhà Đường ép tộc này phải đổi danh là Hồi Cốt. Hai bên quan hệ tốt đẹp, cho đến khi xảy ra loạn An Sử, người Hồi Hột theo quân Đường đàn áp loạn, nhân đó tràn vào Lạc Dương, rồi kéo xuống phía nam bắt giết người cướp của và thiêu rụi hàng quán. Cho đến năm Khai Thành thứ 5 (840) thời Đường Văn Tông, Hồi Hột do thống trị vô đạo nên bị người Kiết Tư diệt. Do dần dần dời về nam nên càng gần và phải nương tựa vào tộc Khiết Đan, có dời sang phía tây tới Cam Châu (Cam Châu Hồi Cốt), Tây Châu (Cao Xương Hồi Cốt), Quy Từ (Quy Từ Hồi Cốt), Thông Lĩnh rồi dung nhập vào Cát La Lộc (葛逻禄), tức Kara-Khanid.
Thổ Dục Hồn do chi hệ tộc Mộ Dung người Tiên Ti, thời Ngũ Hồ thập lục quốc đã dời về phía tây đến vùng cực đông bắc của cao nguyên Thanh Tạng, năm 329 kiến quốc, sử dụng chế độ như của nhà Tấn, do nằm ở vùng địa chính trị đặc thù nên quan hệ với Đông Tấn thường thay đổi, sau trở thành một cường quốc thời Ngũ Hồ thập lục quốc và Nam Bắc triều. Năm Đại Nghiệp thứ năm (609) thời nhà Tùy, bị quân Tùy chiếm lĩnh, đến cuối thời Tùy lại phục quốc. Thổ Dục Hồn lại giáp với 2 thế lực nhà Đường và Thổ Phồn (cùng ở trên cao nguyên Thanh-Tạng), đến thời Mộ Dung Phục Doãn chủ trương có chính sách ngoại giao thân thiện với nhà Đường. Đường Thái Tông đã từng muốn triệu kiến nhưng không thành. Năm 634, nhà Đường bắt đầu đem quân Tây chinh, sang năm, tướng Lý Tĩnh đánh chiếm Thổ Cốc Hồn. Sau đó, Mộ Dung Thuận lên kế vị đã chịu xưng thần với nhà Đường. Thời Mộ Dung Nặc Hạt Bát nhà Đường gả Hoằng Hóa công chúa hòa thân. Năm 663, Thổ Phồn diệt Thổ Dục Hồn. Nặc Hạt Bát chạy đến đến Đường trú ở An Đông châu (thuộc Ninh Hạ ngày nay).
=== Khu vực tây nam ===
Ở phía tây nhà Đường có một đại quốc đó là Thổ Phồn. Vị tán phổ của Thổ Phồn là Tùng Tán Cán Bố đã đem quân chinh phạt cao nguyên Thanh Tạng và sau đó thu phục các bộ lạc, dùng vũ lực để trở nên hùng mạnh, nước này cũng đến nhà Đường để kết thân. Năm Trinh Quán thứ 15 (641) đời Thái Tông, hoàng đế đã phái Thượng thư Lễ bộ Giang Hạ vương Lý Đạo Tông (李道宗) hộ tống Văn Thành công chúa sang Thổ Phồn kết hôn với Tùng Tán Cán Bố, Tùng Tán Cán Bố ra tận Bách Hải nghênh tiếp. Văn Thành công chúa trở thành hoàng hậu của Tùng Tán Cán Bố, bà cũng có công đưa văn hóa phong vật Trung Hoa truyền nhập vào Thổ Phồn, lại giúp vua quan Thổ Phồn may sửa các loại phục sức tơ lụa. Văn Thành công chúa lúc lấy chồng trang phục có những văn hoa rất tinh xảo, trên đó có cả hình tượng về kiến trúc của Trung Nguyên và pha trộng với hình tượng kiến trúc của Thổ Phồn. Thổ Phồn cũng tham khảo lịch pháp của nhà Đường để chế ra lịch pháp của mình. Từ đó về sau, 2 nước Đường - Thổ Phồn duy trì hơn 20 năm hòa bình, cho đến sau khi xảy ra xung đột kịch liệt. Vào năm Thần Long thứ 2 (706) đời Đường Trung Tông do việc quân sự với Thổ Phồn bất lợi, nhà Đường bèn mở hội thề tại Trường An ký kết mối quan hệ hữu hảo song phương với Thổ Phồn, sử gọi đó là Hội thề Thần Long (神龍會盟, Thần Long hội minh). Sau đó, Đường Trung Tông chấp thuận, cho Kim Thành công chúa (金城公主) gả cho vị Tán phổ Xích Đức Tổ Tán (赤德祖贊), nhưng thực tế ở Thổ Phồn vẫn mạt mã lệ binh, tích cực chuẩn bị chiến tranh. Năm 714, Thổ Phồn tiến đến yêu cầu nhà Đường hoạch định lại đường ranh giới nhưng bị nhà Đường cự tuyệt. Hai bên xảy ra giao chiến và cuối cùng Thổ Phồn chiến bại đành phải quay ra chủ động đàm phán cầu hòa.
Năm Khai Nguyên thứ 20 (732) đời Đường Huyền Tông, 2 bên lại làm lễ thề, quyết định lấy Xích Lĩnh (赤嶺) làm biên giới. Năm 734 chính thức lập bia. Không lâu sau đó xảy ra loạn An Sử khiến nhà Đường xuống dốc và Thổ Phồn thừa cơ đem quân xâm phạm bành trướng thế lực. Đến thời Đường Đức Tông, Thổ Phồn yêu cầu nhà Đường xác lập lại mối quan hệ cậu cháu của hai nước (vua Thổ Phồn là con cái của công chúa nhà Đường), mà không dùng lễ của một nước xưng thần. Năm 783, 2 nước hội thề tại Thanh Thủy, đó là cuộc hội thề long trọng và đầy đủ cơ bản và hai nước lấy Hạ Lan sơn (賀蘭山) làm ranh giới. Năm 787, nhà Đường lại mở hội minh ở Bình Lương, Thổ Phồn dự định khi diễn lễ thề sẽ ra tay chém cướp, kết quả nhà Đường trừ những quan viên chủ minh ra có hơn 60 người bị bắt giam, quân Đường bị giết đến 500 người, bị bắt nhiều đến 1000 người, sử gọi là "Bình Lương kiếp minh" (平涼劫盟). Năm Trường Khánh thứ 1 thời Đường Mục Tông, nội bộ Thổ Phồn phân liệt suy yếu, bèn trở lại thỉnh cầu hội minh với Đường. Sau đó hai bên gặp nhau tại phía tây Trường An tiến hành lễ, sử gọi đó là Hội thề Trường Khánh (長慶會盟, Trường Khánh hội minh) lấy bia ở địa giới Thanh Thủy làm cương vực. Từ đó về sau 2 nước trở nên quan hệ hòa bình, nhưng cũng do Thổ Phồn bị nội chiến liên miên đến nỗi không còn khả năng tái chiến với Đường được nữa.
Vào năm Thiên Bảo thứ 7 (748), Nam Chiếu thống nhất một vùng tây nam bao gồm Vân Nam, Quý Châu, phía nam Tứ Xuyên và nam tiến chiếm lấy khu vực miền bắc nước Miến Điện ngày nay, thậm chí tiến sang chiếm lấy phía bắc nước Lào ngày nay. Nhà Đường và Nam Chiếu một thời đã từng có quan hệ giao hảo nhưng cũng có khi tồi tệ đi. Nam Chiếu đã từng sang tận Thổ Phồn để giao ước, trong một thời gian dài hai nước này đã hợp tác với nhau cùng đem quân đánh nhà Đường. Nhưng từ sau năm 779, liên quân Thổ Phồn và Nam Chiếu đánh Đường thất bại, nguyên khí Nam Chiếu tổn hại nặng, mà Thổ Phồn lại tức Nam Chiếu. Hai nước lại càng kết sâu sự mâu thuẫn. Năm 794 nhà Đường và Nam Chiếu lập hội minh ở núi Điểm Thương (nay là dãy núi Thương Sơn), hai bên kết lập quan hệ tốt đẹp. Nhưng đến sau năm 820, do thấy nhà Đường đang suy nên Nam Chiếu trở mặt bắt đầu chiến tranh bạo loạn. Năm 829, Nam Chiếu huy động quân toàn quốc tấn công nhà Đường. Năm 831 tiến đánh đến Thành Đô, nhưng sau do sợ nhà Đường báo thù nên đành phải giao hảo lại như trước. Hai nước quan hệ khi hòa khi chiến, và sau này lật lọng cho đến lúc Nam Chiếu bị diệt.
=== Khu vực Nam Dương và Tây Dương ===
Nhà Đường đối với vùng Đông Nam Á và Nam Á như nước Chân Lạp (nay là Campuchia) và Ha Lăng (nay là đảo Java), nước Thất Lợi Phật Thệ (tức Srivijaya, đảo Sumatra), nước Lâm Ấp (trung bộ Việt Nam), Phiếu (Miến Điện), Sư Tử Quốc (Tăng Già La, tức Sri Lanka ngày nay) và Thiên Trúc (Ấn Độ) đều có quan hệ lai vãng về kinh tế văn hóa.
Đường Tam Tạng - tức Huyền Trang hòa thượng sang Tây Thiên Trúc thỉnh kinh pháp, đem về 657 bộ, ông từng sử dụng tiếng Phạn dịch cuốn "Đạo đức kinh" để tặng cho Thiên Trúc. Đồng thời sau khi về Trường An ông đã nhớ tả lại những điều mình biết về Thiên Trúc ghi lại trong sách "Đại Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện" (大唐西域求法高僧傳) và "Nam Hải ký quy nội pháp truyện" (南海寄歸內法傳). Đó là trước tác về quan hệ giữa nhà Đường và Thiên Trúc Tây Vực. Nhà Đường còn cho du nhập vào khúc Bà La Môn của Ấn Độ, dung hợp âm nhạc ca vũ của Thiên Trúc và Trung Hoa lại. Và kiến trúc Phật giáo của nhà Đường cũng tiếp thu theo phong cách của Thiên Trúc.
Ở các vùng Tây Vực có các nước: Khang (康國, tức Samarkand), nước An (安國, của dòng họ Chiêu Vũ Cửu 昭武九), nước Tào (曹國), nước Thạch (石國), nước Mễ (米國), nước Hà (何國), nước Hỏa Tầm (火尋國), nước Mậu Địa (戊地國) và nước Sử (史國) có đến 9 nước đều phái sứ tiết thương nhân sang nhà Đường.
Năm 650 nước Đại Thực (Omeyyad) với nhà Đường đã bắt đầu có mối liên hệ, và sau đó đã thông sứ với nhà Đường đến 36 lần đưa sứ giả. Quân Đường tại Tây Vực và nước Đại Thực cũng có mối giao thiệp, trong Trận chiến Talas quân Đường bị đánh bại, Đại Thực đã bắt sống quân Đường, trong đó có không ít những người giỏi về thợ thủ công nhờ đó giúp nước này chế ra giấy, kĩ thuật chế giấy và một số đồ thủ công đã được truyền sang Đại Thực. Năm Khai Nguyên thứ 3 715 thời Đường Huyền Tông, quốc giáo của nước Đại Thực là Hồi giáo truyền nhập vào Trung Hoa, các luân lý học của Đại Thực, cả ngữ pháp học, thiên văn học, toán học, hàng hải học...đều truyền đến Trung Quốc vào thời này. Đại Thực là nước rộng lớn, thế lực xa rộng đến tận vùng Maroc ở Đại Tây Dương, nhà Đường lúc đó đã có những ảnh hưởng đến Đại Thực qua sự giao thương của các thương nhân, tiếp cận vùng Tây Á, Đông Phi và Bắc Phi.
Nước Ba Tư từ năm 633 đã bị Đại Thực xâm lược, năm 638 kinh đô Ba Tư là Thái Tây Phong (泰西封, Ctesiphon) rơi vào tay địch. Năm 644 toàn nước Ba Tư bị thôn tính, năm 651 vị quốc vương cuối cùng của Ba Tư bị giết, Ba Tư diệt vong. Quân Đại Thực xông vào các hàng quán của Ba Tư và giết hại rất nhiều người ngoại trừ những tín đồ Hồi giáo, các thương nhân và quý tộc phải dời sang sống trong vùng Tây Vực, đến các vùng thành thị ở duyên hải phía đông Trung Quốc để tiếp tục nghề buôn. Và đến sau hợp thành bộ phận của người Sắc Mục và người Hồi. Do đó, các Hỏa giáo, Cảnh giáo và Mani giáo đã được truyền bá rộng rãi đến đất Đường, nhưng không thịnh lắm. Từ khi Trương Khiên thông sang Tây Vực và từ đó phát sinh người Ba Tư truyền nhập trò chơi Polo (một môn thể thao cưỡi ngựa đánh cầu) lưu hành đến nhà Đường, đi sâu vào và được giới quý tộc nhà Đường vui thích. Cuối thời Đường, một người Hồi là Lý Tuần (李旬) đã giới thiệu một loại sách hệ thống về y dược ở bên xứ Ba Tư tên là "Hải dược bản thảo" (海药本草). Nhà Đường cũng có quan hệ giao vãng với một số nước ở vùng Trung Tây Á như Tochari (吐火罗, Thổ Hỏa La) và Đế quốc Đông La Mã.。
== Quân sự ==
Sau khi nhà Đường thống nhất Trung Quốc, từ Thái Tông, Cao Tông cho đến Võ Tắc Thiên đều phải dụng binh, đánh bại các thế lực ở phía bắc và phía tây bắc như Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết, lại diệt nước Cao Xương, chiếm đất thành lập châu huyện, một lần nữa lại khống chế Tây Vực. Ở vùng đông bắc thì tiêu diệt nước Cao Câu Ly và Bách Tế, và đánh bại viện quân Nhật Bản trong trận Bạch Giang. Đến thời Huyền Tông, việc đối ngoại càng mở rộng đến đỉnh cao, thế lực thậm chí đến tận vùng Trung Á, vươn đến tận nước Hắc Y Đại Thực (tức Vương triều Abbas theo Hồi giáo Sunni). Nhưng sau loạn An Sử, khiến nhà Đường xuống thế và lung lay, không còn sức để bảo vệ các miền lãnh thổ đã chiếm được trước đây và đã dần dần bị các nước Thổ Phồn, Hồi Hột với thực lực quân sự hùng hậu chiếm lấy, bản thân bên trong nhà Đường còn phải đối phó với thế lực phiên trấn cát cứ. Tuy nhiên đến thời Đường Hiến Tông nhờ những thắng lợi các phiên trấn ở vùng Hoài Tây và Kiếm Nam, nên phiên trấn quy thuận, nhưng lại không thể diệt tận được họa phiên trấn đã ăn sâu vào gốc rễ. Nhà Đường từ đó càng xuống dốc trầm trọng. Ngay kinh thành Trường An cũng từng một lần bị phiên trấn đánh chiếm (năm 763), phía tây nam lại có Nam Chiếu liên hợp với Thổ Phồn đánh đến tận Thành Đô năm 831.
Nhà Đường kế thừa nhà Tùy thi hành phủ binh chế, noi theo chế độ phủ binh của thời Bắc Chu và Bắc Tề, từ thời Bắc Chu các phủ binh là do xét trong hộ tịch mà trưng dân, Tùy Đường thì rút các tráng đinh nam đến tuổi phục dịch cho vào phủ binh, việc hợp dân lại tạo thành quân lính đó được gọi là chế độ trưng binh. Phủ binh chế là cơ bản tuyển quân lính đưa vào các Chiết Xung phủ. Chiết Xung phủ phân ra 3 cấp: Thượng phủ là một nghìn mấy trăm người, Trung phủ là một nghìn người, Hạ phủ là 800 người. Trưởng quan ở quân phủ gọi là Chiết Xung đô uý (折沖都尉). Chức phó là Tả hữu Quả nghị Đô úy (左右果毅都尉). Quân phủ lệ thuộc vào 12 vệ của Hoàng đế và 6 soái của Đông cung thái tử; mỗi vệ có một Đại tướng quân và hai tướng quân phụ tá, mỗi soái có chủ soái và 2 phó soái. Các chức vụ này đều ở triều, làm nhiệm vụ mới chỉ huy quân nên không thành uy hiếp cho triều đình được. Số lượng Chiết Xung phủ lúc đông nhất lên đến 634 phủ, gồm 600 ngàn quân, thay phiên nhau đóng ở quanh Trường An mỗi kỳ một tháng, mỗi năm 3 kỳ. Phủ binh còn được điều đi đóng ở khu vực xung yếu mỗi năm một kỳ. Phủ binh chế cũng hợp nhất với Quân điền chế từ cơ sở trưng dân nông binh. Quân lính cứ đến 21 tuổi thì nhập quân và đến 60 tuổi thì được miễn, cứ mỗi hộ có 3 trai tráng thì tuyển 1 người đi lính thú. Vệ sĩ bình thường cũng ở tại nông trang làm ăn cày cấy và lo tập huấn luyện. Họ thường được chia ra làm nhiều phiên cứ thay nhau canh trực cho kinh đô Trường An gọi là thượng phiên. Đến khi có chiến tranh thì quy tụ lại để sẵn sàng xông trận. Trong thời gian phục dịch họ được miễn trừ tô thuế, tuy nhiên việc khẩu phần lương thực và binh khí vẫn phải tự mình phụ trách.
Phủ binh chế trên thực tế là sự kết hợp giữa binh sĩ và nông dân, giám bớt gánh nặng cho quốc gia, nhờ họ tự làm ăn mà nhà nước đỡ tốn chi phí nuôi và cấp lương, đó gọi là ngụ binh ư nông. Lúc thường làm dân, có chiến thì đi lính; quân không biết tướng, tướng cũng không biết quân. Chiến sự kết thúc thì quân trở về phủ, tướng lĩnh về triều, còn những tướng đầu hàng thì có quân đi theo để phòng nguy hiểm. Phủ binh chế có khuyết điểm là khi động viên binh sĩ nhập ngũ lại quá lâu dài, quân trễ biếng, ảnh hưởng đến nông nghiệp, mà triều đình lại miễn trừ thuế khoá cho binh sĩ nên thành ra cũng có tổn thất. Do đó, Thái Tông, Cao Tông cho đến Võ Tắc Thiên đều phải có sự lựa chọn lúc gặp chinh chiến thì mộ thêm quân đối lại với phủ binh cho có sự bổ sung. Thời Thái Tông, quân đội toàn quốc được triều đình trực tiếp quản lý, ước có đến hơn 600 phủ binh, việc nhậm quân sự là nhất thiết, không quản việc phái các hộ vệ đi xa từ kinh sư đến địa phương trú nghỉ hay xuất chinh, chấp hành việc phân đều quân đội. Tuy nhiên, do sau này để tiện việc quản lý, nhu cầu thiết yếu triều đình phải đặt ra trưởng quân quản lý quân đội từng khu vực ở địa phương, họ được gọi là "tiết độ sứ". Mà thời kinh tế xã hội được cải thiện, nhân dân thường phản kháng chống lại chế độ binh dịch. Ngoài ra do quốc gia thái bình đã lâu, quân phủ ít dùng đến, chính quyền thường có sự thanh nhàn, quân đội hầu như đã có sa sút trong chiến đấu.
Đến thời Huyền Tông, triều đình bỏ lơ việc nắm nhân khẩu, chế độ quân điền bị xâm phạm, quyền lợi quân lính không đảm bảo, nhiều người không thiết tha với phủ binh khiến trong phủ binh có nhiều người bỏ trốn, phủ binh trống rỗng. Đường Huyền Tông cho cải cảnh chế độ phủ binh, giảm độ tuổi phục dịch xuống còn 25 đến 50 tuổi nhưng tình hình không cải thiện. Chế độ phủ binh chế đến hồi suy bại, chỉ còn là hình thức, chế độ thượng phiên cũng bỏ đi. Trong những năm Thiên Bảo, Huyền Tông thu nạp Trương Thuyết (張說) có kiến nghị thi hành trưng binh chế và mộ binh chế và dần dà phế bỏ đi phủ binh chế. Vì lòng hư vinh muốn trọn xưng là "thống lĩnh tứ di", bèn lo chiêu mộ được những sĩ binh đóng trường kì ở biên giới tiến hành việc chiến tranh với nước ngoài, xưng là "Kiện nhi" (健儿). Và ít nhất cũng có liên hệ với lính đánh thuê ở tại bản địa, bọn họ chỉ mong ra biên thùy đánh trận để thu được những ích lợi cho mình. Các tướng lĩnh ở biên trấn thông qua lợi ích mà quan hệ với các bộ tộc du mục (cho nhiều tướng lĩnh và phủ binh được nhờ vào các dị tộc), họ luôn luôn có sự khống chế đối với sĩ binh cho đến về sau này khi xảy ra chiến họa.
Sau loạn An Sử, việc quân sự của nhà Đường bắt đầu thất thế: trong thì có phiên trấn cát cứ, ngoài thì Hồi Hột, Thổ Phồn và Nam Chiếu cứ xâm nhập. Tiêu biểu như việc quân Đường mượn quân người Hồi Hột để dẹp loạn An Sử (khiến họ một phen cướp phá). Năm 763, Thổ Phồn đã từng chiếm giữ Trường An 15 ngày. Nam Chiếu cũng từng đánh chiếm Thành Đô, rồi tiến đánh An Nam cho đến khi nhà Nam Hán thời Ngũ Đại Thập Quốc thu hồi. Các tướng sĩ phòng thủ Nam Chiếu cũng sinh ra bất mãn, gây cuộc "Sự biến Bàng Huân". Về sau lại có giặc Hoàng Sào, rồi chiến tranh giữa Chu Toàn Trung và người Sa Đà của Lý Khắc Dụng. Các địa chức quân nhân xảy ra lục đục, chiếm lĩnh địa phương, thậm chí tự lập chính quyền riêng, dẫn đến nhà Đường tiêu vong và kế tiếp xảy ra cục diện phân chia Ngũ Đại Thập Quốc, đó là kết cục kế tiếp lâu dài do họa phiên trấn gây ra.
Thời Đường Huyền Tông đã có mối quan hệ với Ả Rập, và sau này tiếp nhận Hồi giáo dưới Triều đại Abbas. Và cùng với nhiều nước họ Chiêu Vũ Cửu, Burusho (Bột Luật), Thổ Hỏa La ở các vùng thuộc Trung Á. Năm 751, khi nhà Đường thất bại trong chiến dịch TalasĐường, mưu đồ kinh lực Trung Á bị bẻ gãy, nhưng về sau khi loạn An Sử và họa phiên trấn khiến nền kinh tế ở Hoa Bắc tiêu điều, các quân sĩ đóng lâu năm ở vùng tây bắc thường nhàn rỗi phải rút về Trường An lo bảo vệ chính quyền, và khoảng 150 năm sau khi Thổ Phồn và Hồi Hột mạnh lên thì chiếm lấy một nửa vùng phía tây rộng lớn của nhà Đường.
Trong thời kỳ nhà Đường có rất nhiều danh tướng, với Nhị thập tứ công thần đồ (Tranh vẽ 24 vị công thần) ở Lăng Yên các và Quách Tử Nghi, cha con tướng Lý Thịnh (李晟) và Lý Tố, Cao Biền là những vị tướng chiến ngoại giỏi của người Hán, ngay những tướng lĩnh dị tộc cũng có những địa vị trọng yếu: người có pha dòng máu Hồ và Hán là An Lộc Sơn, Sử Tư Minh (người Đột Quyết), Hắc Xỉ Thường Chi (黑齿常之, người Bách Tế), Cao Tiên Chi (người Cao Câu Ly), A Sử Na Xã Nhĩ (người Đột Quyết), Lý Quang Bật (người Khiết Đan), Lý Hoài Quang (người Mạt Hạt), Ca Thư Hàn (哥舒翰, người Đột Quyết), Bộc Cố Hoài Ân (người bộ Thiết Lặc), Hồn Hòa (渾瑊) và A Điệt Quang Tiến (阿跌光進).
== Kinh tế ==
=== Nông nghiệp ===
Nông cụ thời Đường và việc sản xuất so với thời trước đã tiến bộ, thời Khai Nguyên đã phát minh ra máy kéo cày, lại đổi mới những cái máy trút nước và máy rỗng. Năm 624 khi toàn quốc được thống nhất, đất nước có hơn 130 năm yên bình phát triển, các công trình thủy lợi gia tăng củng cố đến hơn 160 công trình, tiêu biểu như kênh Ngọc Lương, hồ Giáng Nham, hồ Kính An Huy, kênh Đậu Công, Văn Thủy ở Sơn Tây, Tam Hà ở Hà Bắc, Bành Sơn ở Tứ Xuyên, Vũ Lăng ở Hồ Nam...Vào năm 740, tổng công trình có đến 14.003.862 hạng (tương ứng với 1.219.700.000 mẫu theo hệ thống đo lường ngày nay). Công cụ nông nghiệp tiến bộ, công trình phát triển, sản lượng tăng và sản xuất được nâng lên. Năm 749, số lương thực đem ra bán đã đến 9600 vạn thạch. Đặc biệt giá gạo ở Trường An và Lạc Dương năm 726 thời Đường Huyền Tông, mỗi đấu gần 13 đồng, ở Thanh Châu và Tề Châu mỗi đấu chỉ gần 5 đồng. Ngũ cốc nhiều và sung túc thể hiện đầu thời kỳ nhà Đường này hộ khẩu gia tăng, sản xuất mọi thứ đều có sự tăng trưởng.
Sau thời giữa nhà Đường, vùng trung du và hạ du Hoàng Hà bị loạn An Sử phá hoại, mà ở vùng sông Hoài tương đối bị chiến tranh phá hoại ít được nhiều, nên kinh tế nông nghiệp không bị lụn bại cho lắm mà vẫn còn phát triển được, sau này vùng trung và hạ du Hoàng Hà cũng được hồi phục phát triển vượt bật. Đời sau đó của nhà Đường, về đất phía nam sông Hoài số lượng khai khẩn đất hoang, xây dựng thủy lợi, trồng cây lương thực...phát lắm, mà sản lượng ở vùng Giang Hoài luôn dồi dào, trở thành khu sản xuất lương thực trọng yếu của đất nước. Đường trắng đã vốn có từ thời Trinh Quán thời Đường Thái Tông năm 647, mà sau đời nhà Tống ở các tỉnh phía nam Trường Giang lượng đường dùng vào thực phẩm rất đắt hàng, là nơi trồng nhiều mía để sản xuất đường. Những người buôn bán lương thực thường vận chuyển các giống trà (chè) từ miền nam, nghề trồng trà (chè) ở đó rất phát đạt, có đóng góp lớn cho kinh tế miền nam, và sau này kĩ thuật trồn trà được truyền lên phía bắc. Các loại sản phẩm trà (chè) phương nam này được vận chuyển lên khắp các miền bắc, thậm chí lan sang nước Thổ Phồn, nước Bột Hải, và cả nước Đại Thực, nước Ba Tư. Nhưng do phú thuế không đủ, cả nước dùng cũng thiếu, đầu năm 793, quan diêm thiết sứ là Trương Bàng (張滂) tấu xin cho việc sản xuất trà lưu đi các châu quận hãy để Diêm thiết độ chi tuần viện quản lý, chủ quản quan lại dựa vào chất lượng chia ra 3 đẳng hạng mà định giá, mỗi mười thuế một, và sau này thời Đường đó trở thành thu nhập quan trọng, do đó việc đánh thuế trà cũng bắt đầu được quan tâm.
=== Thủ công nghiệp ===
Thủ công nghiệp thời Đường phân ra 2 loại là quan doanh và tư doanh. Quan doanh do bộ Công chủ quản là một bộ rất quan trọng của triều đình, trực tiếp quản lý các cơ cấu "Thiếu phủ giám" (少府監), "Tương tác giám" (將作監), "Quân khí giám (軍器監). "Thiếu phủ giám" lo việc chế tác các đồ thủ công nghiệp tinh xảo; "Tương tác giám" quản lý việc xây dựng các công trình; "Quân khí giám" lo chế tạo ra binh khí vật dụng cho chiến tranh. Giám được chia thành "thự" (署), thự được chia thành phường (坊). Ngoài ra còn có "Chú tiến giám" (鑄錢監) lo việc đúc tiền bạc và "Dã giám" (冶監) lo việc luyện kim nữa. Các sản phẩm của quan doanh dĩ nhiên không đem ra trao đổi bên ngoài, mà chỉ dùng để cung phụng cho hoàng gia và các nha môn quan lại. Nhân công cũng được sắp xếp mà phân ra: công tượng, hình đồ, quan nô tì, quan hộ, tạp hộ. Thủ công nghiệp tư doanh mà so với quan doanh thì chưa phát đạt bằng. Các sản phẩm thủ công nghiệp đời Đường chủ yếu là dệt vải sợi, làm gốm sứ, và rèn kim loại. Tơ, sợi gai là đối tượng chủ yếu của ngành dệt. Lụa vải ở Hoài Nam đạo, các hàng vải ở đô thị vùng Giang Hoài có sản phẩm đẹp và đắt giá. Vải dệt tơ tằm thời nhà Đường tiếp tục sử dụng rộng rãi phương pháp nhuộm màu có hoa văn từ thời Nam Bắc triều; và cả mặt trước và sau đều được nhuộm màu có hoa văn, vải len hai loại đều có phép nhuộm màu sắc mới. Các loại vải lụa đều có tiếp thụ ảnh hưởng của các tộc Hồ, Tây Vực và một phần nhỏ phong cách Ba Tư. Đồ sứ rất tinh xảo, những con ngựa Đường tam thải đã chứng thực về sự phát triển số lượng gốm sứ đương thời. Đường tam thải có ba màu chủ đạo là màu vàng, màu xanh lục, màu trắng; biểu hiện được kĩ thuật chế tác sứ và cách nung luyện mặc dù chúng là các đồ chôn theo người chết song vẫn được chế tác tinh xảo, được ưa chuộng và dùng trong nhiều tầng lớp xã hội thời nhà Đường. Việc chế tạo ra vàng và bạc đã học được kĩ thuật của Tây Vực, biết cách nung vôi với kĩ thuật cao, đạt được những vật vàng bạc rất thuần không tạp chất. Vùng Hoài Nam, Dương Châu chuyên sản xuất gương vuông vắn, gương Giang Tâm là gương đồng thượng đẳng. Giữa thời nhà Đường, thủ công nghiệp miền nam phát triển tiến bộ, đặc biệt là sản xuất tơ lụa, làm giấy và đóng thuyền: dân gian tự trồng dâu tằm, sử dụng trúc để làm giấy, chế tạo ra thuyền di chuyển bằng lực chân đạp của người. Các lò gốm Việt ở Việt Châu nung chế ra các loại sứ màu đẹp mà sau này trở thành đại biểu kiệt xuất của nền thủ công nghiệp miền nam.
Nói chung, các loại trang sức nghệ thuật thời nhà Đường đều có ảnh hưởng của các vùng Trung Đông và ảnh hưởng từ một số hàng của nước ngoài đưa vào, nghề gốm và kim thuộc đã có phong cách mới. Hình dáng chiếch ly rượu và men màu đồ sành sứ mô phỏng theo Ba Tư, và phương thức xe chỉ và dệt sợi cũng học theo Ba Tư. Sản phẩm của Trung Hoa thời Đường với các loại đồ thủ công nghiệp được lan truyền đến nhiều quốc gia và được ưa chuộng.
=== Thương nghiệp và giao thông ===
Đời nhà Đường có nhiều khu thành thị buôn bán lớn với nền kinh tế phát triển vượt bậc. Trường An, Lạc Dương, Tô Châu, Dương Châu, Thành Đô, Quảng Châu là những khu trung tâm thương nghiệp khá sầm uất. Việc giao thông qua lại cũng cực kì phát triển, đường bộ thì lấy Trường An làm trung tâm và mở rộng ra toàn quốc. Giao thông đường thủy thì ở Lạc Dương là trung tâm của Đại Vận Hà. Các dịch trạm trong cả nước lên tới 1463. Trong đó lục dịch có 1.297 sở, thủy dịch có 166 sở. Thương nhân thường dùng những phẩm vật buôn bán để ở cửa hàng thu lợi nhuận cao, các điểm giao thông khắp các vùng đều rất tiện. Bắt đầu trung kì của nhà Đường, đã có những người bán sỉ và những thợ khắc dời xuống nam, khiến vùng lưu vực Trường Giang có nền kinh tế thương nghiệp rất phát triển, tài chính quốc gia phần lớn phải dựa vào việc đánh thuế má của thương nghiệp nơi đây, do đó có câu "Dương nhất Ích nhì" (chỉ Dương Châu và Ích Châu); mà ở Giang Nam nói đến thành thị lớn nhất ở miền đông là Tô Châu - một nơi rất phồn hoa, cùng với Dương Châu trở nên phát triển siêu việt không kém gì hai đô thị Lạc Dương và Trường An thời Đường. Mà nói đến thành phố lớn nhất ở phía nam Trung Quốc thời bấy giờ. Đương thời người ta cũng cho rằng ở Giang Nam có thành Tô Châu là thuộc loại thị phố cao cấp nhất. Ngoài ra còn có Hàng Châu, Hồ Châu là những vùng kinh tế phát triển đến mức thịnh vượng, cùng đồng hành với nền thương mại phồn vinh ở Tô Châu, buôn bán tấp nập và thậm chí mở cả chợ đêm.
Thời nhà Đường là lúc mà nhiều thành thị đã phát triển thuộc loại lớn trên thế giới, buôn bán tơ lụa phát đạt và rất có giá... Tiền bạc thời đó chủ yếu là tiền đồng xâu, còn như tiền giấy thì đã có loại phi tiền được thế giới thời cận đại công nhận là xuất hiện từ khá sớm ngay từ nhà Đường. Khoảng 200 năm sau đến đời nhà Tống đã bắt đầu thông dụng, và ở Tứ Xuyên đã "chính thức" cho lưu hành. Đương thời cũng đã xuất hiện các loại cửa hàng gần giống như ngân hàng ngày nay, cho các thương nhân vay vốn hoặc có thể gửi tiền vào đó quy đổi ra ngân phiếu mà dùng. Thương nghiệp thời nhà Đường cực kì phát triển mà nhất là trong thời Khai Nguyên thịnh thế, cho đến gần cuối thời nhà Đường từ khi xảy ra loạn Hoàng Sào và nạn phiên trấn cát cứ mà dẫn đến nhân khẩu giảm, kinh tế xã hội sa sút không còn bằng như trước nữa.
Thời Đường, mậu dịch hải ngoại bắt đầu hưng thịnh, vào nửa đầu thế kỷ thứ 8, các thương nhân thường đi từ Quảng Châu qua eo biển Malacca đi đến vùng biển Ấn Độ Dương, tiếp cận các nước Ấn Độ, Sri Lanka, lại tiến tiếp về phía tây đến vịnh Ba Tư, vịnh Aden rồi đến biển khu vực Hồng Hải. Sang phía đông theo đường biển để đến Tân La, Nhật Bản, và vùng biển Thái Bình Dương kia có thể thông sang Tân Thế giới (châu Mỹ) mà sau này trong cuộc phát kiến lục địa của người châu Âu phát hiện ra. Các thương nhân vùng Trung Đông như người Do Thái, người Ba Tư, người Ả Rập thường sang buôn bán. Các vùng men bờ của Trung Quốc như Giao Châu, Quảng Châu, Tuyền Châu, Minh Châu (huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang), Dương Châu là những nơi các thuyền lớn tụ hội rất nhiều mà nhất là mùa mưa sau ngày xuân lại càng hưng khởi, trở thành những cảng khẩu mậu dịch đối ngoại rất trọng yếu. Vì nền thương nghiệp mậu dịch càng thịnh lên nên triều đình cũng đặt ra Thị bạc ty để đảm đương. Việc trưng thu thuế của các thuyền đậu mang lại lợi nhuận cao, đóng góp không nhỏ trong ngân khố quốc gia.
=== Ban hành tiền tệ ===
Từ tháng 7 năm Vũ Đức thứ 4 (621), đã có lệnh bãi bỏ các loại tiền cũ trước đây, ban ra tiền "Khai Nguyên thông bảo", chính thức lập ra các xưởng đúc tiền. Sau đó nối thừa theo thời Ngụy Tấn Nam-Bắc triều, nhà Đường ngoài những tiềm lực mặt hàng về lụa để buôn bán, còn cho đúc ra tiền để giao thương và thông dụng trong dân gian. Tiền và lụa đều có thể trở thành những vật trung gian để trao đổi.
Ban đầu, kinh tế xã hội lấy việc kinh tế làm chủ, lúc đó các loại thương phẩm ở Tô Châu giá còn rất thấp. Nhưng tình hình về sau khi loại tiền "tiền bạch kiêm hành" được dùng trong chế độ về tiền tệ, định ngạch về giá thương phẩm do đó cũng tăng lên. Từ đời nhà Tùy đến cuối thời Trinh Quán, sau đó đến thời Cao Tông, Vũ hậu cho đến Vũ Tông, kinh tế thương phẩm qua từng thời kỳ có tốc độ phát triển dần dần, "tiền bạch kiêm hành" về sau cũng mất đi tính quan trọng ban đầu.
Chính phủ nhà Đường không ngừng cấm tư nhân không được đúc tiền và đúc bừa bãi, cho cấm sử dụng các loại tiền xấu. Nhưng vì việc giao thương buôn bán và kinh tế thị trường ngày càng phát đạt, có cấm cũng như không, tư nhân vì ham lợi nên đều tự đúc tiền giả và cho lén dùng nhiều.
=== Đất đai và thuế khóa ===
Đầu đời Đường việc hộ dân vẫn noi theo nhà Tùy, đầu năm Vũ Đức, chia làm 3 hạng hộ chế. Năm 624, nhà Đường ban bố chế lệnh quân điền và tô dung điều.
Thời Tùy mạt do loạn lạc biến động, số lượng địa chủ kiêm tính nhiều ruộng đất rất thường thấy, mà ruộng đất vô chủ hoang hóa khá nhiều. Nhà Đường trước tiên dùng một bộ phận quan điền để cấp ban ruộng cho các quý tộc, quan lại, công thần, ruộng đó gọi là "tứ điền" (赐田,ruộng được ban). Lại có "công giải điền" (公廨田) cấp cho quan thự; "dịch điền" (驿田) cung cấp cho các trạm ngựa; "đồn điền" (屯田) dành cho quân chính. Còn những ruộng đất còn lại phân chia bình quân theo phép quân điền cho dân chúng. "Quân điền lệnh" quy định rằng chính phủ y theo hộ tịch mà cấp ruộng và phân ra ruộng công ruộng tư, có chế độ trong việc trồng trọt chia hạng công tư điền. Nhân khẩu chia làm 3 hạng tuổi: 4 tuổi trở lên được phần nhỏ, 16 tuổi được hạng trung, 21 tuổi trở lên là đinh, 60 tuổi trở lên là lão. Đinh nam và những người 18 tuổi trở lên được hưởng 1 khoảnh (công điền 80 mẫu, tư điền 20 mẫu). Người già hoặc kẻ tàn tật được hưởng 40 mẫu. Người vợ thiếp cô quả được hưởng 30 mẫu. Giới tu hành như hòa thượng, đạo sĩ mỗi người hưởng 30 mẫu; ni cô, nữ quan được 20 mẫu. Nô tì, gái có chồng và trâu cày không phải cấp ruộng. Quý tộc, quan lại và quan khanh công lao bản thân và họ hàng thân thích đều theo thứ bậc cao thấp mà phân chia ruộng tư cho. Thời nhà Tùy và nhà Đường đều có sự khoan dung hơn trong việc mua bán đất đai, nhưng chế độ nhà Đường có sự nghiêm cách hạn chế hơn. Quân điền chế không chỉ có giúp nhà Đường được sự thu nhập tài chính được nhiều đủ hơn, mà tầng lớp quý tộc quan lại đối với nhu cầu sản nghiệp ruộng đất cũng thưa đi, đối với đầu đời Đường tô thuế dựa vào ruộng được tác dụng chủ chốt.
Lao dịch thời Đường phân 2 hạng là dao dịch (làm việc cho nhà vua) và chính dịch. Chính dịch dùng khi có chinh chiến, cho dù nam có từng dao dịch vẫn tham gia chiến trận. Dao dịch lại chia ra tạp dao và sắc dịch. Tạp dịch thường là những công tác ở địa phương khi có việc trùng tu bổ kiến trúc công trình. Sắc dịch là công việc về nhiều loại công tượng. Chính dịch gồm cả thuế dịch và binh dịch. Thuế dịch lại có án chiếu theo tô dung điều để thu nạp thuế chính và thuế đất, thuế hộ và thuế phụ trợ. Phép tô dung và quân điền đều là những cách phối hợp nhau thực hành chế độ thuế khóa. Tô dung điều dựa vào số đinh mà trưng thu. Mỗi đinh hàng năm phải giao nộp thóc lúa 2 thạch, gọi là "tô". Căn cứ vào loại đất ruộng để mỗi năm có sự định quyên nộp: lụa 2 trượng, gấm 3 lượng, hoặc 2 trượng 5 thước, đay gai 3 cân (mỗi cân bằng 16 lượng). Đó gọi là "điều". Mỗi đinh phải làm dao dịch khoảng 20 ngày, tháng nhuận 2 ngày. Còn nếu không muốn làm dao dịch mỗi ngày phải nạp lụa 3 thước, hoặc vải 3 thước 7 tấc 5 phân. Gọi là "dung".
== Văn hóa ==
=== Tư tưởng học thuật ===
Đầu thời nhà Đường, tư tưởng học thuật kế thừa theo Nho giáo từ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, tiêu biểu như Khổng Dĩnh Đạt (孔颖达) với tác phẩm "Ngũ Kinh chính nghĩa" (五經正義), trong đó là tác phẩm nối tiếp và hoàn thành tư tưởng Nho học từ đời Hán và Tấn, mà người có công lao nhất là Đặng Huyền (郑玄). Từ thời Đường và cả thời Minh Sơ sau này đều chấp hành theo những tư tưởng triết thuật thời trước. Đến trung kì thời Đường, những tư tưởng cải tiến trọng đại đã phát sinh, những người có sáng kiến, kế thừa đời trước và truỳen lại cho đời sau như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Lý Cao (李翱), Lưu Vũ Tích (刘禹锡). Rồi lại có Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị là những người có giá trị tư tưởng đồng dạng, họ không chỉ là các thi nhân. Đời sau khi bàn luận về kinh học, những ý nghĩa nghiêm cách nổi bật đều sưu tập trong "Hán Tấn Đường kinh học". Khi nói về lý học thì đời sau xem "Đường Tống Minh lý học" là hơn.
Hàn Dũ và Lý Cao có để lại tác phẩm nổi tiếng thể hiện tư tưởng chủ nghĩa duy tâm, còn Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích là đại biểu của tư tưởng chủ nghĩa duy vật. Hàn Dũ có tác phẩm "Nguyên Đạo" và "Nguyên Tính" chủ trương phục cổ sùng Nho, bài xích Phật giáo, cho rằng tăng đạo không quan tâm đến sinh sản, lãng phí tiền của xã hội, tăng ni đạo sĩ nên về quê hoàn tục, nên đốt trụi kinh văn của Phật gia, lấy các chùa miếu đạo quán làm nơi sinh sống cho dân cư. Họ chủ trương tôn sùng Khổng Tử, lấy "Luận Ngữ" làm tác phẩm thể hiện quan niệm đạo đức trong đạo thuật. Họ lại cho rằng trời sinh ra nhân tính, có phân ra 3 phẩm thượng, trung và hạ. Lý Cao trong "Phục tính thư" (复性书), phát triển tính thiện luận của Mạnh Tử, cho rằng bản tính con người vốn thiện, nhưng vì trong đời sống sinh hoạt gặp phải những hoàn cảnh tình cảm vui, buồn, giận, sướng quấy rối tâm hồn, khiến họ không thể phát huy tính thiện, nên cần phải khôi phục đức thiện và khắc chế tình cảm ham muốn, kêu gọi "phục tính". Hàn Dũ và Lý Cao đều để lại danh tiếng về suy nghiệm lý học cho thuật học đời nhà Tống về sau.
Liễu Tông Nguyên trong các tác phẩm "Thiên thuyết" (天說), "Thiên đối" (天對), và "Phong kiến luận" (封建論), triết lý văn chương văn chương trong đó cho mệnh người và mệnh trời không có quan hệ, trời tức là nguyên khí của tự nhiên, không hề có chuyện thưởng phạt cho nhân thế, "Công là ở công, họa là ở họa" (功者自功,祸者自祸 - Công giả tự công, Họa giả tự họa), mọi chuyện đều chỉ do con người tạo ra. Lưu Vũ Tích thì phát triển những nhận định bàn luận về tự nhiên của Tuân Tử cho rằng vũ trụ là được tạo bởi vật chất, bản thân trời cũng cùng dạng với vật chất, tuy có tồn tại theo quy luật khách quan, nhưng không ảnh hưởng gì đến nhân sự. Họ cho rằng chủ nghĩa duy tâm lý luận là thị phi điên đảo của thế gian, con người không có khả năng, do đó tuyên dương cái được gọi là "thiên mệnh".
=== Văn học và sử học ===
Văn học thời Đường với thể loại thơ ca cực kỳ phát triển. Người thời Thanh biên soạn"Toàn Đường thư" (全唐詩) thu thập ghi chép nhiều đến trên 2200 nhà thơ sáng tác đến khoảng 48.900 bài thơ, song đó chưa phải là đã đầy dủ. Đầu thời Đường đã có "Sơ Đường tứ kiệt" tức là 4 vị thi nhân kiệt xuất: Vương Bột, Dương Quýnh (楊炯), Lư Chiếu Lân (盧照鄰) và Lạc Tân Vương (骆宾王). Đến thời Thịnh Đường thì lại có các thi nhân thuộc phái điền viên như Vương Duy (王维), Mạnh Hạo Nhiên; phái biên tái như Sầm Tham (岑参), Vương Xương Linh. Và đặc biệt thành công nhất là "thi tiên" Lý Bạch và "thi thánh" Đỗ Phủ, danh tiếng đến tận ngày nay. Thơ của Lý Bạch nhẹ nhàng bồng bềnh tự nhiên không bó buộc, lại có sắc thái chủ nghĩa lãng mạn đầy sung mãn. Mà thơ của Đỗ Phủ thì thể hiện tậm trạng về chủ nghĩa hiện thực. Thời kỳ Trung Đường, nổi tiếng nhất có thể kể đến Bạch Cư Dị, khác ở chỗ thơ của ông dễ hiểu. Ngoài ra cũng có những nhà thơ khác như Hàn Dũ, Nguyên Chẩn, Liễu Tông Nguyên, Lưu Vũ Tích, Lý Hạ. Thời Vãn Đường thì có hai thi nhân Lý Thương Ẩn và Đỗ Mục là xuất chúng, được gọi là "tiểu Lý Đỗ". Sau này các đời nhà Tống, Minh, Thanh tuy cũng xuất hiện những nhà thơ kiệt xuất, nhưng về tổng thể khó sánh bằng thi nhân thời Đường. Thơ văn nhà Đường đã đạt đến đỉnh cao tột cùng mà sau này không thời nào vượt tới được.
Trên phương diện tản văn, từ thời Lục triều đến đương thời, văn đàn rất thịnh hành lối hình thức biền văn, văn biền ngẫu giảng cứu về thanh vận, đối ngữ, điển cố, từ ngữ đẹp đẽ hoa lệ, với câu bốn chữ và sáu chữ chiếm chủ yếu. Thời Đường Sơ tản văn rất phổ biến, với các tác phẩm của "Sơ Đường tứ kiệt" (Vương, Dương, Lư và Lạc), nhưng chủng văn kiểu đó vào thời nhà Đường lại có hình thức cương hóa, nội dung trống rỗng, cho nên đến những năm Thiên Bảo thời Đường Huyền Tông, chủ trương phục cổ văn lại hưng khởi. Vận động cổ văn trên danh nghĩa là chủ trương phục hồi lại tản văn thời Tiên Tần và Lưỡng Hán, còn thực tế thì muốn văn chương có nhiều nội dung hơn, nội dung chủ trương là "Văn dĩ tải đạo" (文以載道, dùng văn chương truyền tải đạo lý). Hàn Dũ là người đầu tiên trong Đường Tống bát đại gia chủ trương tả được cái khí thế mênh mông của tản văn và lại có những tư tưởng rất thâm sâu. Sau khi Hàn Dũ mất, vận động cổ văn dần dà suy thoái, song đến thời Đường mạt thì biền văn lại hưng khởi.
Thể loại truyền kì của Trung Quốc thuộc hình thức tiểu thuyết cổ điển, xuất hiện từ đời nhà Tùy, hưng thịnh ở thời Đường. Các tác phẩm truyền kì bao quát như: "Liễu nghị truyện" (柳毅傳), "Oanh oanh truyện" (鶯鶯傳), "Nam Kha thái thú truyện" (南柯太守傳), "Chẩm trung ký" (枕中記), "Trường hận truyện" (長恨傳). Các loại truyền kì về sau đều cải biên thành hí kịch và tiểu thuyết Bạch thoại. Thể loại biện văn cũng có địa vị trọng yếu trong văn học sử nhà Đường. Biện văn xuất phát từ khi tăng lữ Phật giáo tuyên truyền kinh đạo Phật pháp. Biện văn đã được dùng trong lúc xướng giảng kinh văn Phật của các tăng lữ và dần dần có xu hướng nhập sâu vào văn học. Biện văn càng lưu truyền vào càng về sau càng rất có ảnh hưởng.
Sử học thời Đường bắt đầu khai sáng làn gió tu sửa các chính sử. Những năm Trinh Quán thời Đường Thái Tông, các sử quán đã phụng chiếu cho tu sửa 6 bộ chính sử như "Tấn thư", "Lương thư", "Trần thư", "Bắc Tề thư", "Chu thư" và "Tùy thư". Lại có sử gia Lý Diên Thọ biên soạn ra "Nam sử" và "Bắc sử". Trong chính Nhị thập tứ sử của Trung Hoa đã có tới 8 bộ sử được hoàn thiện từ đời Đường. Sử chép thời Đường thành thư sách rất sắc bén, chép tỏ tường các nguồn, nội dung phong phú, nhưng vì các nhà thống trị trực tiếp quản lý khống chế việc tu sửa sử sách nên vì nhu cầu chính trị thiên vị nhà Đường nên việc chép sử có phần hạ thấp đời trước và khoe khoang quá đáng về chính trị Đường triều. Ngoài ra, có Đỗ Hựu tả rõ về "Chính điển" (政典) trong chính thư "Thông điển" (通典), có Lưu Tri Kỉ。}} chế soạn ra "Sử thông" (史通). Đỗ Hựu chuyên ghi chép về tài chính, kinh tế, và điển chương, pháp lệnh, chế độ với những nhận thức rất hiện thực về chính trị, lựa chọn nhiều nguồn tài liệu. Lưu Tri Kỉ có hơi chút cường điệu trong văn phong viết sử, trong quá trình viết có tự mình ó sáng kiến mới và bình luận kiến giải, là người khởi xướng cho lý luận học lịch sử Trung Quốc.
=== Tôn giáo ===
Tôn giáo từ trước đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội Trung Quốc, thời Đường đã lên mức độ cực đại. Thịnh Đường là thời kỳ Tam đại giáo là Khổng giáo, Phật giáo, và Đạo giáo tiếp tục phát triển đến đỉnh cao. Tư tưởng của 3 trường phái này phát huy giúp con người điều chỉnh lại tư tưởng và hành vi của mình, thẩm thấu trong các lĩnh vực xã hội. Xã hội thời Thịnh Đường được duy trì những chuẩn mực đạo đức cao. Đường triều vì thế trở nên huy hoàng.
Đường Thái Tông không chỉ tôn sùng Nho học, mà còn là người phù trì Phật giáo, bảo hộ Đạo giáo, xây dựng cả một hệ thống hoàn thiện điện tế trời đất, tông miếu thờ thần linh, chùa chiền tượng phật. Người dân kính Trời và tin Thần, tôn sùng đạo đức, đọc sách thánh hiền, có trách nhiệm cao đối với sự hưng thịnh của xã tắc. Nho gia giảng: "Nhân giả ái nhân"- (Người yêu thương người), Đạo gia giảng: "Ngộ đạo chứng chân"-(Giác ngộ Đạo và chứng được Chân Lý), Phật gia giảng: "Từ bi phổ độ chúng sinh" (Từ bi cứu độ muôn loài). Các tín ngưỡng chính thống giúp cho con người mở rộng nhãn quan, duy trì phẩm chất mộc mạc, thiện lương, thuần chính, tìm cầu chân lý, kiên định hành thiện.
Ở thời Đường, Phật giáo có chủ yếu những tông phái sau: Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp Tướng tông (法相宗), Tịnh độ tông và Thiền tông. Phật giáo thời Đường rất phát triển, có chuyển biến hướng về dân gian. Thiên Thai tông có phụng túng Diệu Pháp Liên Hoa kinh (妙法莲华经), cũng xưng là Pháp Hoa tông. Hoa Nghiêm tông phụng túng Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh, thường thích tham dự vào việc chính trị. Tịnh Thổ tông thì có những khuôn tắc sửa đổi khi nhập môn. Thiền tông có phân ra Nam Thiền và Bắc Thiền. Bắc Thiền là của Ngọc Tuyền Đại Thông Thần Tú pháp sư, chủ trương thiền định mà dần dần ngộ đạo. Nam Thiền là của pháp sư Huệ Năng (惠能). Đến thời Đường Vũ Tông thì lại có chủ trương hủy diệt đàn áp đạo Phật, sử gọi là Hội Xương diệt Pháp (會昌滅法), khiến cho Phật giáo Nam Thiền suýt bị tiêu vong, mà các tông phái thiểu số của đạo Phật cũng một phen chấn động.
Phật giáo tuy địa vị chính trị không bằng Đạo giáo, nhưng phạm vi truyền bá rất rộng, có thực lực kinh tế lớn, có nhiều tín đồ và tăng ni hơn cả Đạo giáo nhiều. Tư tưởng Phật giáo cũng được truyền bá sâu rộng, phát dương quang đại. Một lượng lớn kinh thư Phật giáo được biên dịch và lưu truyền trong thời kỳ này.
Còn Đạo giáo hay còn gọi là đạo Lão, tôn thờ Lão Tử (gọi ông là Thái Thượng Lão Quân), mà hoàng tộc nhà Đường mang họ Lý, trong khi đó Lão Tử cũng mang họ Lý, nên thuyết đồn rằng Lão Tử là tổ nhà Đường, thành ra Đạo giáo rất được coi trọng đặc biệt là trong giới thượng lưu, cùng với Phật giáo trở thành tôn giáo lớn ở Trung Hoa. Có truyền thuyết kể rằng Đường Cao Tổ đến núi Chung Nam xây Thái Hòa điện, trông thấy Lão Tử tự xưng là tổ nhà Đường, bèn truy phong cho Lão Tử làm Thái Thượng Huyền Nguyên hoàng đế (太上玄元皇帝), bắt tất cả các vương công và trăm quan phải nghiên cứu về Lão Tử và Đạo đức kinh, về sau Võ Tắc Thiên lại bắt hoàng tộc và quan lại học cuốn "Lão Tử", cùng với cuốn "Hiếu Kinh" và "Luận Ngữ" làm sách để thi cử khảo hạch kẻ sĩ. Đời Đường Huyền Tông cho đến Đường Đại Tông lại cực lực đề xướng Đạo giáo, khiến đạo này trở nên thịnh phát. Huyền Tông tự mình chú giải "Đạo đức kinh", năm 733, lại lập ra kì thi khoa cử kinh điển dành cho Đạo gia cùng với thi cử của Nho gia, cùng cho các cử nhân thi giáo điển của sách "Minh Kinh" (明經), nâng cấp Đạo học ngang tầm với Nho học về bắt các thí sinh đều phải thông hiểu kinh nghĩa của hai đạo học này. Theo "Tân Đường thư" phần Bách quan chí ghi lại, những năm Khai Nguyên thời Huyền Tông toàn quốc có 1687 cung quán Đạo giáo, trong đó nữ quán có đến 550 nơi, đương thời chủ yếu Đạo giáo có 2 tông phái là: Thanh Kinh Pháp phái (清经法派) và Chính Nhất phái (正一派), có các nhân vật nổi tiếng như: Vương Viễn Tri (王远知), Phan Sư Chính (潘师正), Tư Mã Thừa Trinh (司马承祯), Ngô Quân (吴筠) và Trương Quả (张果). Lý do Đạo giáo được hoàng thất dành cho thiện cảm có nguyên nhân chủ yếu là họ nhiều lần luyện đan để cho hoàng đế được trường sinh bất lão, song trong thành phần của chúng có khả năng có độc nên có nhiều hoàng đế nhà Đường dùng đan trường sinh bất lão đó mà thiệt mạng, như Thái Tông và Tuyên Tông.
Cùng với Phật giáo, còn có Hồi giáo, Cảnh giáo, Bái Hỏa giáo và Mani giáo là những tôn giáo được truyền bá vào từ bên ngoài. Nhưng ảnh hưởng đến xã hội còn nhỏ. Nhà Đường đối với các tôn giáo ngoại lai rất khoan dung nên có nhiều giáo sĩ nước ngoài đã đến truyền thụ đạo pháp và trong đó nhiều nhất là Hồi giáo và Cảnh giáo. Hồi giáo là quốc giáo của nước Đại Thực (Ả Rập), nên cũng gọi là "Đại Thực pháp giáo". Năm 650, đấng tiên tri Muhammad và người cữu phụ là Sa Đức (沙德) đã 2 lần cử sứ giả đến tiếp kiến Đường Cao Tông xin được cho phép truyền bá Hồi giáo, lập một nhà thờ Hồi giáo đầu tiên là chùa Hoài Thánh (怀圣寺) ở tại Quảng Châu. Về những thế kỷ sau, Hồi giáo theo bước của những thương nhân Tây Vực men theo Con đường tơ lụa bằng đường thủy và đường bộ mà đến Trung Quốc khiến tôn giáo này phát triển mạnh mẽ. Cảnh giáo cũng thông qua con đường tơ lụa của các thương nhân Tây Vực mà truyền vào Trung Hoa khi nhà Đường có quan hệ giao thương với nước Đại Tần (tức là Đế quốc Đông La Mã), nên cũng gọi là "Đại Tần Cảnh giáo". Năm 635 nhà Đường đã tiếp nhận đạo này và cho xây dựng thánh đường chùa Đại Tần ở Trường An, lại cho dựng bia đá. Nhưng đến năm Hội Xương thứ 5 (845) đời Đường Vũ Tông do nạn diệt Phật, Cảnh giáo cũng đồng thời bị cấm, cho nên về sau gần như tuyệt tích tại Trung Quốc.
Mani giáo được sáng lập từ khoảng năm 242 do một người tên là Mani sống dưới thời vua Shapur I của đế quốc Ba Tư. Sau loạn An Sử, thế lực Hồi Hột mạnh lên, Mani giáo cũng được Hồi Hột che chở truyền giáo tại Trung Hoa, về sau do ảnh hưởng của nạn diệt Phật thời Vũ Tông, Mani giáo cũng bị đả kích và suy yếu trầm trọng nhưng vẫn chưa tuyệt hẳn, các tín đồ dần dần rời khỏi nơi khống chế của chính quyền đến phía nam để kết hợp tôn giáo lại, và chạy đến vùng Phúc Kiến nay để bắt đầu lập địa điểm truyền giáo, lưu truyền đến duyên hải đông nam Chiết Giang, đất Mân, và dần dần chuyển thành tôn giáo bí mật trong dân gian. Mani giáo cũng ảnh hưởng đến các giáo phái về sau này như Minh giáo, Di Lặc giáo, Bạch Liên giáo.
=== Giáo dục và tuyển quan lại ===
=== Nghệ thuật ===
Do hấp thu được những đặc trưng văn hóa của Tây Vực và sắc thái tôn giáo nên nghệ thuật thời Đường không giống với các Triều đại trước và sau đó. Thời Đường Sơ đã có 2 họa sĩ rất nổi danh là Diêm Lập Bản (閻立本) và Diêm Lập Đức (閻立德). Ngô Đạo Tử có tên gọi là "họa thánh" (thánh vẽ), ông là một họa sư chuyên về vẽ nhân vật, sơn thủy, hấp thụ các kỹ thuật và phương pháp của các phái họa của Tây Vực. Ông có một chủ trương riêng là "Ngô đái đương phong" (吳帶當風). Trương Huyên (张萱) và Chu Phưởng (周昉) chủ yếu vẽ tranh về nữ giới, họ có những tác phẩm họa như "Đảo luyện đồ" (搗練圖), "Quắc Quốc phu nhân du xuân đồ" (虢國夫人游春圖, Quắc Quốc phu nhân là chị họ của Dương Quý Phi), "Trâm hoa sĩ nữ đồ" (簪花仕女圖), phát triển xa hơn trong việc vẽ nhân vật. Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, sơn thủy phong cảnh chủ yếu phối cảnh cho chủ đề nhân vật, nhưng đến thời Tùy Đường, tranh sơn thủy phong cảnh đã trở thành chủ đề. Đương thời khi các phái nhà thơ phân chia ra Bắc phái và Nam phái, nhà thơ Vương Duy rất giỏi về vẽ tranh thủy mặc cảnh non nước, là đại diện tiêu biểu của Nam phái, Tô Thức đời nhà Tống cũng bình luận về tác phẩm của ông rằng: "Trong thơ có họa, trong họa có thơ" (诗中有画,畫中有詩 - Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi). Một họa gia Bắc phái là Lý Tư Huấn (李思訓) rất giỏi trong việc dùng sắc xanh đậm để vẽ cảnh sơn thủy nhiều màu sắc. Lại có Tào Bá (曹霸), Hàn Cán giỏi vẽ ngựa, Hàn Hoảng (韓滉) giỏi vẽ trâu, Tiết Tắc (薛稷) giỏi vẽ chim hạc, Biên Loan (边鸾) rất giỏi vẽ chim công.
Sự nghiệp bích họa thời Đường rất đặc biệt phát triển. Các bích họa trong mộ thất ở hang Mạc Cao là những tác phẩm tinh tế để lại cho người đời. Thời Đường, nghệ thuật điêu khắc đồng dạng xuất chúng. Các hang đá Đôn Hoàng, Long Môn, Mạch Tích Sơn và Bỉnh Linh tự (炳靈寺) là những nơi khắc thể hiện sự phát triển thịnh vượng của nghệ thuật điêu khắc trong thời kỳ này. Hang đá Long Môn với Lô Xá Na Đại Phật và Lạc Sơn Đại Phật ở Tứ Xuyên được nhiều người ca ngợi. Sáu con chiến mã ở Chiêu Lăng (lăng mộ của Đường Thái Tông), bức tượng gốm ba màu trong một táng tính tế và đẹp đến phi thường. Nói về điêu khắc có Dương Huệ Chi (楊惠之) được xưng là "tố thánh" (thánh nặn). Thời nhà Đường, những bậc về thư pháp rất tài giỏi. Âu Dương Tuân (歐陽詢), Lư Thế Nam (虞世南) là những thư pháp gia trứ danh thời Sơ Đường. Các loại thư pháp của Âu Dương Tuân ngòi bút rất nghiêm chỉnh, nhất là tác phẩm "Cửu Thành cung lễ tuyền minh" (九成宮醴泉銘, Bài minh về suối rượu cung Cửu Thành). Thư pháp của Lư Thế Nam nét chữ uyển chuyển mềm mại, tác phẩm tiêu biểu như "Khổng Tử miếu đường bi" (孔子廟堂碑), "Nhữ Nam công chúa mộ chí" (汝南公主墓誌) và "Mô Lan đình tự" (摹蘭亭序). Nhan Chân Khanh và Liễu Công Quyền (柳公權) là hai nhà thư pháp của thời trung hậu kì nhà Đường. Thư pháp của Nhan Chân Khanh đầy đặn, trong chứa gân cốt, cứng kiện mà không bó buộc, tiêu biểu có "Đa bảo tháp bi" (多寶塔碑), "Nghiêm Thị gia bảo miếu bi" (颜氏家寶庙碑) và "Ma Cô tiên đàn ký" (麻姑仙坛记). Nét chữ của Liễu Công Quyền cứng cáp, tiêu biểu có "Huyền bí tháp bi" (玄秘塔碑), người đời gọi hai người này là "Nhan cân Liễu cốt" (顏筋柳骨). Trương Húc và Hoài Tố rất giỏi về thảo thư, phóng thoáng mà làm rung động, có sự thâm sâu, rất có phong cách và tính nghệ thuật.
Các loại âm nhạc ca múa thời Đường cũng rất phát triển. Đường Thái Tông khi dẹp Cao Xương có lấy được nhạc nơi đó, nhập với nhạc ở Trung Nguyên thành 10 bộ nhạc: Yên nhạc (燕樂), Thanh Thương nhạc (清商樂), Tây Lương nhạc (西涼樂), Thiên Trúc nhạc (天竺樂), Cao Ly nhạc (高麗樂), Quy Từ nhạc (龟兹乐), An Quốc nhạc (安國樂), Sơ Lặc nhạc (疏勒乐), Khang Quốc nhạc (康國樂), và Cao Xương nhạc (高昌樂). Sau đến thời Đường Cao Tông, 10 bộ nhạc đã bắt đầu suy lạc, các âm nhạc gia lại nghiên cứu về những loại nhạc vũ mới, còn những loại nhạc này dần dần mất đi về đến thời Đường Huyền Tông thì triệt tiêu hẳn. Đường Huyền Tông bản thân cũng là một âm nhạc gia, nên cũng tự thân diễn tấu được đàn tì bà, trống yết cổ và nhiều loại nhạc cụ và giỏi trong việc sáng tác, như có "Nghê thường vũ y khúc" (霓裳羽衣曲, Khúc múa váy xiêm có màu sắc cầu vồng), "Tiểu phá trận nhạc" (小破陣樂) và hơn hàng trăm nhạc khúc. Họ vô cùng coi trọng nhã nhạc, 10 bộ nhạc được phân thành Tọa bộ kĩ (坐部伎, ngồi tại trên tòa đường diễn tấu) và Lập bộ kĩ (立部伎, đứng trên tòa đường diễn tấu). Hoàng đế đã từng đích thân tuyển 300 người tọa bộ kĩ, hiệu là "Hoàng đế lê viên đệ tử" (Đường Huyền Tông có tài âm nhạc, chọn ba trăm con em nhà nghề vào dạy ở trong vườn lê, vì thế ngày nay gọi rạp hát tuồng là lê viên), Lý Quy Niên (李龜年) và Vĩnh Tân nương tử (永新娘子) là hai người ca hát có tiếng vang một thời. Về vũ đạo (điệu múa) thì nhà Đường có 2 điệu cực kỳ có tiếng là kiện vũ (múa khỏe) và nhuyễn vũ (múa dẻo). Kiện vũ là dùng những tiết tấu sảng khoái, hào hùng mà nên hay, có tác phẩm "A liêu" (阿辽), múa "Chá chi" (柘枝, một điệu múa mà thân mình giống như là không có xương, người xem đều lấy làm kinh dị), "Phất lâm" (拂林), "Đại Vị Châu" (大渭州), "Hoàng chương" (黄獐, con hưu vàng), "A liên" (阿连), "Kiếm khí" (剑器), "Hồ toàn" (胡旋), "Hồ đằng" (胡腾), "Dương liễu chi" (杨柳枝)...nhiều loại. Nhuyễn vũ cũng gọi là văn vũ, nhu mềm uyển chuyển đẹp, tiết tấu thong thả, có các tác khúc "Thùy thủ la" (垂手罗), "Hồi ba nhạc" (回波乐), "Lan lăng vương" (兰陵王), "Xuân oanh chuyển" (春莺啭), "Tá tịch" (借席), "Ô dạ đề" (乌夜啼), "Lương Châu" (凉州), "Lục yêu" (绿腰), "Khuất chá chi" (屈柘枝), "Cam Châu" (甘州). Các loại điệu múa có tiếng như "Thất đức vũ" (七德舞), "Thượng nguyên vũ" (上元舞), "Cửu công vũ" (九功舞), lưu hành trong cung đình. Những người múa rất hay như Dương Quý Phi, Công Tôn Đại Nương (公孫大娘), Tạ A Man (谢阿蛮). Thời nhà Tấn sau loạn Bát Vương, các loại nhạc múa của Tây Vực đã truyền vào Trung Hoa, dung hợp với ca múa Hoa Hạ tạo thành những điệu nhạc hay, truyền nối nhiều thế kỉ, đến thời Đường lại càng có nhiều loại đặc sắc.
== Khoa học kỹ thuật ==
Khoa học kỹ thuật đời Đường so với thời trước có nhiều phát minh tiến bộ. Nói về các phát minh như "Tứ đại phát minh" của Trung Quốc thì đã có 2 phát minh tập trung trong thời nhà Đường, tức thuốc nổ và bản mộc in ấn.
== Xã hội ==
Trong xã hội thời Đường, mặc dù thế lực của giới quý tộc bị tước giảm, nhưng vẫn không tạo ra được sự bình đẳng xã hội. Trong "Đường luật" có ghi rõ rằng, người phân ra 2 loại "lương" (lành, tốt) và "tiện" (hèn, đáng khinh rẻ), tiện dân thì chỉ được kết hôn với tiện dân thôi; những địa chủ có giết hại bộ khúc cũng chỉ phạt hình 1 năm, mà bộ khúc giết hại địa chủ thì xử trảm. Dù cũng đã thi hành chế độ khoa cử tuyển nhân tài, nhưng bọn con em thế tộc vẫn được sự ưu đãi trong tu dưỡng học hành và được dễ đề bạt làm chức tước cao, cho dù không có thi khoa cử đỗ đạt tiến sĩ gì nữa thì việc leo lên chức vẫn không khó gì; Tể tướng thời nhà Đường xuất thân từ quý tộc thế gia không phải là ít. Những tiến sĩ được tuyển bạt thời Đường, một ít có mang hàm nghĩa công bằng xã hội, phòng cái tệ thi thì không nghiêm ngặt, thường có khảo hạch lại thi sinh khi có cả chủ khảo chấm, để xem cái thực học ra sao mà khen hay chê, đề phòng việc thí sinh lợi dụng quyền môn hoặc đút lót quan trường; nhưng mà cũng có những trang tài xuất chúng như Đỗ Phủ, vậy mà đỗ đạt khoa bảng vẫn thấp.
Thời nhà Đường, ở phương Bắc có quận Sơn Đông luôn có tập trung những người mang địa vị xã hội rất cao, Thái Tông từng sai Cao Sĩ Liêm biên soạn "Thị tộc chí", hi vọng căn cứ việc chính trị tương lai có được thành tựu kết quả bình đẳng không có sự thiên vị thế tộc mà luôn tuyển người tài dựa vào khoa thi cử, sự đắc thế của bọn quý tộc vẫn không bị lay chuyển địa vị. Cuộc "Ngưu Lý đảng tranh" đã khiến cuộc thi cử trở nên còn hay mất là dựa vào bọn đảng phái, nhưng vẫn không thể cản trở được người thường dân muốn quật khởi chí khoa bảng. Lúc này kỹ thuật in ấn đã lưu hành rộng, sách vở nhiều, tư nhân mở lớp dạy cũng nhiều, học sinh các nơi rất đông và không có cách nào để lũng đoạn trí thức được. Từ trung kì nhà Đường cho đến thời Ngũ Đại liền năm nhiều sự biến loạn, điều đó khiến cho giới sĩ phu ở phương Bắc việc học bị phá hoại không còn như trước nữa, cho đến đời Bắc Tống thì sự học miền Bắc thật điêu linh. Các lãnh tụ sau này cũng không thể trừ bỏ được, do đó có câu "Giàu không quá ba đời", đành cứ theo chế độ khoa cử mà tuyển sĩ thân.
Thời Đường cũng có thịnh hành theo thời đại "phong cách Hồ". Sở dĩ có điều này là do đời Đường có sự pha tạp nhiều các tầng lớp không phải tộc người Hán về tập tục và ngôn ngữ, trong đó chủ yếu có những người thuộc sắc tộc du mục phía bắc và những người Tây Vực truyền phong tục, cũng do phong tục xã hội truyền thừa lại từ thời Ngũ Hồ thập lục quốc khi các dân tộc ngoại lai di dân về phía nam đến Trung Nguyên, những nhân tố tác động này hình thành "phong cách Hồ" rất lưu hành thời Đường. Như "nhạc Hồ", "trang phục Hồ", "thức ăn Hồ" rất cực thịnh ở kinh đô Trường An..}}Các loại phục sức văn hóa của Tây Vực có ảnh hưởng rất lớn đối với thời Tùy Đường, đặc biệt ở vùng phương Bắc khi mà người Hán người Hồ sống hòa quyện chung trong một chế độ, trang phục thường ngày là Hồ phục Tiên Ti, những dịp tế lễ quan trọng thì đổi sang mặc Hán phục (Đường phục). Người phụ nữ có địa vị cao trong xã hội, điều này được phản ánh trong trang phục. Con gái quý tộc và cung đình nhiều người để lộ một nửa ngực còn váy thì làm bằng tơ tằm, mỏng, rộng và thoải mái. Váy yếm là loại trang phục rất thông dụng và đối với ca nữ thường chỉ mặc che đến nách với sắc đẹp sặc sỡ lòe cả mắt, quý tộc nhuộm màu đẹp đẽ tao nhã. Thời nhà Tùy đã dùng sắc vàng để làm hoàng bào cho nhà vua. Đời Đường Cao Tổ đã quy định cấm dân gian mặc trang phục sắc vàng, hoàng bào trở thành trang phục chỉ sử dụng trong hoàng thất.
== Sự tương đồng với triều Hán ==
Cũng như đời Hán có một phần đầu là Tần và một phần đuôi là Tam Quốc, đời Đường có một phần đầu là Tùy và phần đuôi là Ngũ Đại Thập Quốc, những thời kỳ này đều kéo dài tối đa 60 năm và mang đặc điểm chiến loạn liên miên (Tam Quốc - Ngũ Đại) hoặc có nền cai trị tàn bạo (Tần - Tùy). Các triều Tây Tấn và Bắc Tống đều là một lực lượng quý tộc xuất hiện trong lòng chính quyền cai trị miền bắc, dần dần lớn mạnh và soán vị Triều đại hiện hành tại miền bắc, tức việc Tấn Võ Đế phế vua Ngụy kiến lập Tây Tấn và Tống Thái Tổ phế vua Hậu Chu. Sau đó nam chinh để tái thống nhất Trung Quốc. Các Triều đại phía Nam là Thục Hán và Ngô hay Thập Quốc có kinh tế và văn hóa phát triển nhưng không có khả năng quân sự để thực hiện thống nhất nên chỉ có thể bị động chờ đợi đợt xâm chiếm từ phía bắc. Mặc dù có thể tái thống nhất và thiết lập được một thời kỳ thịnh vượng tương đối, nhưng nhà Tấn và nhà Tống không có khả năng chế ngự được các áp lực mạnh mẽ từ những nước do người Hồ thành lập ở phía bắc, và sau một thời kỳ ổn định tạm thời, đều phải dời về phía Nam do bị các dân tộc phía bắc xâm chiếm Trung Nguyên thành nhà Đông Tấn và Nam Tống, với quốc lực yếu kém hơn hẳn thời kỳ đầu. Việc bị chiếm hẳn phương bắc là điều chưa từng xảy ra đối với hai triều Hán - Đường, vì vậy nhà Tống cũng như nhà Tấn cũng được xem là phần đuôi của hai Triều đại lớn trước đó.
Khác với nhà Hán bị phân chia thành Tây Hán và Đông Hán một cách rõ rệt, nhà Đường về cơ bản có tính chất liên tục, tuy nhiên sự liên tục này không hoàn toàn, thời điểm thường được xem là sự gián đoạn tương đối của nhà Đường là thời Võ Tắc Thiên làm hoàng đế đã đổi quốc hiệu thành Chu (690 – 705). Hai Triều đại này đều kết thúc do bị quyền thần đoạt ngôi, Đường có phần bi thảm hơn nhiều do toàn bộ hoàng gia và đại thần đều bị Chu Ôn sát hại. Có lẽ chỉ trừ những con cháu Đường thất cư ngụ ở miền nam là tránh được bàn tay của Chu Ôn, trong đó có Lý Biện - người thành lập Nam Đường, ông tự xưng là cháu nhiều đời của Đường Hiến Tông.
Nhà Đường đã xây dựng được một cơ sở vững chắc hơn cho sự thống nhất vì vậy thời gian chia cắt sau đó ngắn hơn thời Hán và cũng không có thêm thời kỳ chia cắt lần 2 như Nam Bắc Triều sau khi Đông Tấn diệt vong. Nền tảng cho văn hóa Trung Hoa cũng được xây dựng đến mức độ toàn mỹ nhất, vì vậy Nhà Tống kế thừa điều đó trở nên thịnh vượng và lâu dài hơn nhà Tấn. Do vậy Đường - Tống đã trở thành thời kỳ phát triển cao nhất, hoàn bị nhất của văn minh Trung Hoa.
== Vai trò của ngoại thích, tiết độ sứ và hoạn quan trong lịch sử nhà Đường ==
Một điều đặc biệt của nạn ngoại thích và phiên trấn thời Đường là ngoài sự uy hiếp đến triều đình trung ương, nó lại giúp triều đình vững mạnh trong một số thời kỳ. Các thành tựu dưới thời Đường Cao Tông có sự góp phần không nhỏ từ sự tham chính của Võ Hậu, bản thân Cao Tông có bệnh về mắt và đột quỵ có tính di truyền trong hoàng tộc, dưới thời Võ Hậu tham chính rồi xưng đế không có sự bất ổn trong xã hội mà chỉ có biến loạn trong Đường thất, các hiền thần Khai Nguyên bắt đầu xuất hiện lúc này, vì vậy bà có thể được xem là người đặt nền móng cho Khai Nguyên thịnh thế. Khi nhà Đường suýt mất trong loạn An Sử và loạn Hoàng Sào, vốn là hai cuộc nổi loạn có sức tàn phá hàng đầu trong lịch sử Trung Quốc, có lẽ chỉ thua loạn Thái Bình Thiên Quốc và Nội chiến Trung Quốc (1927-1950), nhà Đường đều nhờ binh lực của các tiết độ sứ kết hợp ngoại nhân mà vững vàng trở lại. Một số hoạn quan chẳng hạn như Cao Lực Sĩ trong vài thời kỳ đóng vai trò trung gian tích cực, điều hòa mối quan hệ giữa vua Đường và đại thần, các vua Đường Hiến Tông và Tuyên Tông là do hoạn quan lập nên nhưng họ lại là những hoàng đế có năng lực, ngay bản thân một số hoạn quan (Lý Phụ Quốc, Ngư Triều Ân, Trình Nguyên Chấn, Câu Văn Trân, Vương Thủ Trừng, Cừu Sĩ Lương, Dương Phục Cung) trong thời kỳ này thì đóng vai trò tích cực, trong thời kỳ khác lại có tác động tiêu cực. Chính vì vậy các hoàng đế nhà Đường không bao giờ kiểm soát được họ, dẹp được thế lực này lại bị thế lực khác lừa dối và uy hiếp.
Ba vấn nạn này vừa tàn phá, lại vừa góp phần củng cố nền cai trị của nhà Đường, cho nên nếu nhìn theo góc độ tích cực, việc áp dụng chính sách tiết độ sứ của nhà Đường đã thành công trên mức trung bình chứ không phải thất bại. Sự sụp đổ vào đầu thế kỷ 10 còn mang tính chất cực kỳ bất ngờ khi vua Đường cần phải bị ám sát để Chu Ôn có thể cướp ngôi, vì Chu Ôn đã nhận thấy ở Đường Chiêu Tông khả năng khôi phục Đường thất nên đã giết ông. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra nếu không thực hiện giải pháp ám sát bởi các tiết độ sứ xung quanh đa phần đều ủng hộ Chiêu Tông, Đường Ai Đế bị Chu Ôn ép nhượng vị khi chỉ mới 14 tuổi tất nhiên không thể chống nổi Toàn Trung. Không những vậy, Toàn Trung còn phải giết hại toàn bộ hoàng gia chỉ trừ Ai Đế, đến năm 908 cũng giết nốt để diệt trừ hậu họa. Sự kiện này cho thấy rằng đến những ngày cuối cùng của nhà Đường, quyền lực của hoàng đế tuy sụt giảm nghiêm trọng nhưng vẫn còn duy trì ở mức độ có thể giữ được ngai vàng một thời gian dài nữa, nếu như không có sự tiếm vị của Chu Ôn. Hoàng đế vẫn có khả năng kêu gọi được sự thần phục danh nghĩa của các tiết độ sứ và ra lệnh cho họ trong một số công việc, các nước phương nam và nhà Liêu phía Bắc chỉ tách ra sau khi Chu Ôn soán vị. Đó là lý do vì sau nhà Hậu Lương có lãnh thổ nhỏ và sớm diệt vong nhường chỗ cho nhà Hậu Đường. Triều đại này không phải con cháu họ Lý nhưng thành lập dưới danh nghĩa của họ Lý. Thực tế lãnh thổ của Hậu Lương là phạm vi quyền lực của triều đình trong những năm cuối cùng. Vì con cháu họ Lý đã bị giết hết nên Lý Tồn Úc tự lập làm vua, nếu Đường Ai Đế còn sống đến năm 923, chúng ta có thể suy đoán ông sẽ được Lý Tồn Úc tôn phò lên ngôi tiếp tục nhà Đường. Sau khi Hậu Đường bị diệt còn có nước Nam Đường tự xem là con cháu họ Lý và phát triển thịnh vượng nhất trong Thập Quốc. Sự xuất hiện của Nam Đường và Hậu Đường cho thấy uy danh của nhà Đường vẫn có sức ảnh hưởng cực lớn trong thời Ngũ Đại, ngay cả khi họ Lý đã không còn một ai. Trong trường hợp Lý Biện thực sự là con cháu họ Lý, thì sự kháng cự của Lý thị có thể đến năm 975 mới được xem là kết thúc.
Trong thời nhà Tống, việc giải trừ binh quyền của tiết độ sứ hóa ra lại mang nhiều hiểm họa khi nhà Tống bắt đầu tỏ ra yếu kém về quân sự ngay sau khi thống nhất được Thập Quốc, dẫn đến kết cục yếu kém trước Liêu - Kim - Tây Hạ - Mông Cổ, phải cắt đất xưng thần với họ và cuối cùng mất nước. Nhà Tống đã bộc lộ sự yếu kém về quân sự ngay từ cuối thế kỷ X, tức là không đầy 40 năm từ khi thành lập.
== Niên biểu các sự kiện nhà Đường ==
=== Thế kỷ 7: Sơ Đường ===
613 Lý Uyên giữ chức Vệ úy thiếu khanh, Đậu thị qua đời
617 Lý Uyên lập Tùy Cung Đế
618 Giang Đô chính biến, Lý Uyên phế Cung Đế thành lập nhà Đường
618 diệt Tiết Cử, Tiết Nhân Cảo
621 diệt Tiêu Tiển, trận Hổ Lao
622 diệt Vương Thế Sung, Đậu Kiến Đức
623 diệt Lưu Hắc Thát
624 diệt Phụ Công Thạch, Đỗ Phục Uy
626 Huyền Võ Môn chi biến (玄武門之變), Thái Tông lên ngôi, Vị Thủy chi minh
626 - 649 Trinh Quán chi trị (貞觀之治)
629 Huyền Trang khởi hành sang Ấn Độ
630 bình định Đông Đột Quyết
634 bình định Thổ Cốc Hồn, xây dựng Đại Minh Cung
635 Cao Tổ qua đời
641 Thái Tông gả Văn Thành công chúa
643 phế thái tử Lý Thừa Càn
645 Chiến tranh Cao Câu Ly - Đường
649 Thái Tông qua đời, bắt đầu Trinh Quán di phong
650 - 655 Vĩnh Huy chi trị (永徽之治)
651 Võ thị được phong Chiêu nghi
653 Cao Dương công chúa cùng 2 thân vương bị buộc tự vẫn
654 giải cứu Tân La
655 Võ thị được phong Hoàng hậu
656 - 657 bình định Tây Đột Quyết
658 chiến thắng Cao Câu Ly
659 Trưởng Tôn Vô Kị bị bức tử, diệt Đô Man
660 diệt Bách Tế
662 chiến dịch Cao Câu Ly tạm thời thất bại, quân Đường rút lui
663 Thổ Phiên chiếm Thổ Cốc Hồn, quân Đường giữ Bách Tế chuẩn bị đánh Cao Câu Ly
665 Thượng Quan Nghi bị giết
665 - 683 Nhị thánh lâm triều
666 tế trời ở Thái Sơn
666 - 668 diệt Cao Câu Ly, chia đất cho Tân La, lập An Đông đô hộ phủ
668 thất bại trước Thổ Phiên
673 - 674 bình định Tân La
675 thái tử Lý Hoằng qua đời
676 Tân La chiếm toàn bán đảo Triều Tiên
678 Thổ Phiên đánh bại Lý Kính Huyền ở Thanh Hải
679 vua Thổ Phiên Tùng Cán Tán Phổ qua đời, hòa hoãn với Thổ Phiên, đánh thắng Tây Đột Quyết
680 Bùi Hành Kiệm bình định hẳn Tây Đột Quyết
681 phế thái tử Lý Hiền
682 đại phá quân Đột Quyết
683 Đường Cao Tông qua đời
=== Thế kỷ 8: Thịnh Đường ===
=== Thế kỷ 9: Trung Đường ===
=== Thế kỷ 10: Vãn Đường ===
== Đánh giá ==
Nhà Đường, cùng với Nhà Chu và nhà Hán, được coi là 3 Triều đại để lại nhiều dấu ấn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Thậm chí về nhiều mặt (lãnh thổ, tôn giáo...) nhà Đường còn vượt hơn 2 Triều đại trước. Do vậy nhà Đường còn được người dân Trung Hoa các đời sau ca tụng là "Thịnh thế Thiên triều". Ngày nay danh từ "người Đường" cũng thường được sử dụng tương tự như "người Hán" để chỉ người Trung Hoa, dù có phần ít thông dụng hơn.
Là Triều đại rực rỡ nhất trong lịch sử Trung Quốc, nhà Đường cũng đồng thời là Triều đại hỗn loạn nhất trong lịch sử với 4 vấn nạn chính của chế độ phong kiến diễn ra ở mức độ nghiêm trọng nhất: ngoại thích, hoạn quan, tiết độ sứ và khởi nghĩa nông dân, ngoài ra cũng không thiếu các cuộc đấu tranh trong nội bộ hoàng tộc (sự biến Huyền Vũ và cách mạng Đường Long là hai ví dụ). Các vấn nạn này xảy ra liên tục trong suốt gần 300 năm của nhà Đường và chỉ ngưng lại trong một số khoảng thời gian nhỏ, có tính chất luân phiên nhau. Ở những Triều đại khác cũng có những vấn nạn này nhưng ở thời Đường chúng có sức tàn phá nặng nề nhất, bi thảm nhất khiến cho Trung Quốc không thể phục hồi suốt gần 1000 năm sau đó, mở đầu cho thời kỳ các bộ tộc phương bắc mạnh lên.
Trong khoảng 150 năm đầu là thời đại ngoại thích xen kẽ đấu tranh hoàng tộc, 150 năm cuối là thời đại hoạn quan kết hợp với tiết độ sứ, cùng với khởi nghĩa nông dân, sức nặng quyền lực di chuyển dần từ triều đình ra các vùng biên, cuối cùng tập trung hoàn toàn trong tay các tiết độ sứ từ khu vực xung quanh kinh đô trở ra. Triều đại của Đường Huyền Tông là giai đoạn chuyển giao giữa 2 thời đại này khi quyền lực của hoạn quan và các tiết độ sứ được tăng lên cùng với quyền lực của ngoại thích trong triều đình suy giảm. Hai cuộc nổi loạn lớn nhất (loạn An - Sử và Hoàng Sào) đã tàn phá hoàn toàn nguyên khí nhà Đường và khiến trung tâm văn minh của Trung Quốc dịch chuyển xuống phía nam. Nhìn chung, 150 năm cuối nhà Đường là giai đoạn đen tối bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nhà Đường sụp đổ cũng khởi đầu cuộc di dân lớn của người Hán xuống phía nam và các nước xung quanh.
Âu Dương Tu, Tống Kì (宋祁) trong sách "Tân Đường thư" ở phần "Bắc Địch truyện" đối với công tích của nhà Đường đều có khẳng định: "Nhà Đường có đức lớn vậy !" (唐之德大矣, Đường chi đức đại hĩ).
Nhà sử học Hướng Đạt (向达, 1900 - 1966): "Lý Đường là thời đại chỉ có một trong lịch sử, trên có tiếng vang hơn cả Hán, Ngụy, Lục triều. Dưới đến Lưỡng Tống đổi vận mới cho văn minh. Mà có thể làm cho rực rỡ huy hoàng, kế tập những văn vật cũ, hấp thu những tinh anh của ngoại lai. Có những ảnh hưởng rất sâu sắc đến tư tưởng học thuật thời Lưỡng Tống, là không thể ngược lại được gốc nguồn (nhà Đường) đó".
Vua Minh Hiến Tông: "Từ thời Tam Đại về sau, công lao cai trị không đâu thịnh bằng nhà Đường, mà trong 300 năm triều Đường, không đâu thịnh bằng thời Trinh Quán (Đường Thái Tông)". "Làm việc giúp đời yên dân, thành sự rực rỡ lạ thường, cơ hồ chẳng lúc nào bằng được, có lòng quý thương, sửa mình mà chính lại cái lòng tự lấy làm thẹn với đạo của Nhị Đế Tam Vương, không vị nào thành thật vậy. Nói đến những bậc phát triển cơ nghiệp, đáng chỉ có đây là đỉnh cao rồi vậy".
Nhà Hán Học là Max Weber: "Dựng nên văn hóa và bản đồ Trung Quốc với những bậc dựng nghiệp chân chính, nhà Đường đáng lưu vinh đến muôn đời.
Vương Phu Chi (王夫之) nhà Minh: "Thịnh thế Khai Nguyên, Hán Tống cũng không bằng". "Trước có Hán, sau có Tống, đều không bì kịp".
== Các vị vua của nhà Đường ==
Ghi chú: Sau khi Võ Tắc Thiên bị bức thoái vị năm 705, Đường Trung Tông (Lý Hiển) lên ngôi, khôi phục quốc hiệu Đường. Hoàng hậu họ Vi ám hại Trung Tông, đưa một hoàng tử nhỏ tuổi là Lý Trọng Mậu lên ngôi gọi là Thiếu Đế hay Thương Đế, để lũng đoạn triều chính. Lý Long Cơ phối hợp với cô là Thái Bình công chúa (con Võ Tắc Thiên) làm chính biến, giết chết Vi hậu. Lý Đán lên ngôi, tức là Đường Duệ Tông, Lý Long Cơ được phong làm thái tử.
== Tham chiếu ==
Benn, Charles. 2002. China's Golden Age: Everyday Life in the Tang Dynasty. Oxford University Press. ISBN 0-19-517665-0.
Schafer, Edward H. 1963. The Golden Peaches of Samarkand: A study of T’ang Exotics. University of California Press. Berkeley and Los Angeles. 1st paperback edition: 1985. ISBN 0-520-05462-8.
Schafer, Edward H. 1967. The Vermilion Bird: T’ang Images of the South. University of California Press. Berkeley and Los Angeles.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tư liệu tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Trung
赵剑敏. 《细说隋唐》. 上海人民出版社. ISBN 7-208-04232-2.
任士英. 《正说唐朝二十一帝》. ISBN 7-101-04773-4.
崔瑞德. 《剑桥中国隋唐史》. 中国社会科学出版社. ISBN 7-500-40561-0 .
王仲荦. 《中国断代史系列—隋唐五代史(上、下)》. 上海人民出版社. ISBN 7-208-04216-0.
张传玺 主编. 《中国古代史纲》(下). 北京大学出版社. ISBN 7-301-00087-1. /K•016
《话说中国—大唐气象》. 上海文艺出版社. ISBN 7-5321-2736-2.
《话说中国—变幻中的乾坤》. 上海文艺出版社. ISBN 7-5321-2752-4.
许倬云. 《万古江河》. 上海文艺出版社. ISBN 7-5321-3022-3.
張元, 李孝悌 soạn. 《簡明中國歷史》. 龍騰文化. ISBN 957-458-522-0.
龔書鐸, 劉德麟 chủ biên (2007). 《圖説天下 05:圖説隋、唐、五代》. Đài Bắc: 鳳凰出版社.
Tiếng Anh
Abramson, Marc S. (2008), Ethnic Identity in Tang China, Philadelphia: University of Pennsylvania Press, ISBN 978-0-8122-4052-8
Cotterell, Arthur (2007), The Imperial Capitals of China: An Inside View of the Celestial Empire, London: Pimlico, ISBN 978-1-84595-009-5
de la Vaissière, E. (2005), Sogdian Traders. A History, Leiden: Brill, ISBN 90-04-14252-5
Schafer, Edward H. (1967), The Vermilion Bird: T’ang Images of the South, Berkeley and Los Angeles: University of California Press
Adshead, S. A. M. (2004), T'ang China: The Rise of the East in World History, New York: Palgrave Macmillan, ISBN 1-4039-3456-8 (hardback).
Andrew, Anita N.; Rapp, John A. (2000), Autocracy and China's Rebel Founding Emperors: Comparing Chairman Mao and Ming Taizu, Lanham: Rowman & Littlefield, ISBN 0-8476-9580-8
Beckwith, Christopher I. (1987), The Tibetan Empire in Central Asia, Princeton: Princeton University Press, ISBN 0-691-02469-3
Benn, Charles (2002), China's Golden Age: Everyday Life in the Tang Dynasty, Oxford University Press, ISBN 0-19-517665-0
Bernhardt, Kathryn (tháng 7 năm 1995), “The Inheritance Right of Daughters: the Song Anomaly?”, Modern China: 269–309
Bowman, John S. (2000), Columbia Chronologies of Asian History and Culture, New York: Columbia University Press
Brook, Timothy (1998), The Confusions of Pleasure: Commerce and Culture in Ming China, Berkeley: University of California Press, ISBN 0-520-22154-0 |
nhà thờ thánh michael, stretton en le field.txt | Nhà thờ Thánh Michael ở Stretton en le Field, là một nhà thờ Anh giáo không hoạt động ở làng Stretton en le Field, Leicestershire, Anh quốc (Lưới tọa độ SK303119). Nhà thờ này đã được hội đồng Di sản Anh Quốc xếp vào danh sách các công trình cấp II, và đang do Quỹ Bảo Tồn Nhà thờ Anh (Churches Conservation Trust) quản lý.
== Lịch sử ==
Hầu như toàn bộ cấu trúc của nhà thờ đều được xây dựng từ thế kỷ thứ 14. Tòa tháp được xây thêm vào thế kỷ thứ 15, và trong thế kỷ kế tiếp là hai hàng cửa sổ bên mái vòng. Nhiều sửa đổi khác được tiến hành trong ba thế kỷ tiếp theo. Tòa tháp hình chóp được xây dựng lại vào năm 1889, và trong năm 1911 thì toàn bộ nhà thờ được trùng tu bởi Christopher Spalding. Sau khi nhà thờ này được tuyên bố không hoạt động (không có linh mục và giáo dân), nó được chuyển giao cho Quỹ Bảo Tồn Nhà thờ Anh
== Kiến trúc ==
=== Ngoại thất ===
Toàn bộ nhà tờ được xây dựng bằng đá cát kết của địa phương. Toàn bộ nhà thờ có một gian chính với một lối đi về hướng Bắc, một cổng vòm ở hướng Nam, một gian thờ và một tòa tháp ở hướng Tây. Tòa tháp có hai tầng. Ở tầng thứ nhất là một cửa sổ theo kiểu Gothic ở Anh thế kỷ 14-15 và tầng cao hơn được để trống hai hướng và dùng để treo một quả chuông nhỏ. Các lang can được làm theo kiểu răng cưa, và trên đỉnh tháp là một chóp nhọn gắn chìm. Gian giữa có một lang can trơn và các cửa sổ hình cung được chia đôi bở các chấn song cửa. Năm cửa sổ nóc vòm có dầu vuông và ánh sáng được chia đôi cũng bởi các chấn song. Lối đi về phía bắc cũng có cửa số và một cửa đi vào, một vài trong số này bị chắn kín lại, nằm dưới một mái vòm kiểu Tudor. Gian thờ có một lang can răng cưa với các chóp nhọn cùng với một cửa sổ lấy sáng gồm năm ô kiểu Gothic ở Anh thế kỷ 14-15.
=== Nội thất ===
Ở giữa gian giữa và lối đi lên phía Bắc là ba mái vòm lồi ra. Trong bức tường của lối đi vào là phần còn sót lại của một lăng mộ được lắp chìm đá vát nhọn. Toàn bộ nhà thờ được lát gạch vuông. Tất cả các cửa sổ đều được bọc lưới mắt cáo. Các thanh xà gỗ của nhà thờ có các phần u ra được trang trí bằng các tạo vật độc đáo. Mái vòm nhà thờ trông có vẻ được làm bằng đá nhưng thực chất là gỗ trát vữa làm cho nó cỏ vẻ ngoài của đá. Bên trong nhà thờ là một dàn ghế gỗ tựa dài từ thế kỷ thứ 18 và một bình phong-lang can (cũng từ thế kỷ 18) chia hội trường ra khỏi gian thờ. Bình đựng nước thánh của nhà thờ có niên đại từ 1662.
== Chú thích == |
biển đông.txt | Biển Đông là tên gọi riêng của Việt Nam để nói đến vùng biển có tên quốc tế là South China Sea (tiếng Anh) hay Mer de Chine méridionale (tiếng Pháp), là một biển rìa lục địa và là một phần của Thái Bình Dương, trải rộng từ Singapore tới eo biển Đài Loan và bao phủ một diện tích khoảng 3.447.000 km². Đây là biển lớn thứ tư thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập. Vùng biển này và các quần đảo của nó là đối tượng tranh chấp và xung đột giữa nhiều quốc gia trong vùng.
== Tên gọi ==
=== Cách gọi theo Việt Nam ===
Tại Việt Nam, tên gọi biển Đông là tên gọi truyền thống, trước kia còn gọi là bể Đông hay Đông Hải theo từ Hán Việt, ý là vùng biển nằm ở phía đông Việt Nam. Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, mục Dư địa chí chép: Xét trong sách vở đã ghi chép, đất nước ta phía đông đến biển, phía tây giáp Vân Nam,.... Hoàng Việt địa dư chí, Phan Huy Chú viết: 其地西接哀牢,東臨大海,南夾廣南,北連乂安。/Kỳ địa tây tiếp Ai Lao, đông lâm đại hải, nam giáp Quảng Nam, bắc liên Nghệ An./Đất [Đàng Trong] phía tây tiếp giáp Ai Lao, phía đông [là] biển lớn, đoạn phía nam là Quảng Nam, phía bắc nối liền với Nghệ An. Trong Bình Ngô đại cáo, (biển Đông được nhắc đến với tên gọi là Đông Hải (東 海), Nguyễn Trãi viết:
« 決 東 海 之 水 不足 以 濯 其 污, 罄 南 山之 竹 不 足 以 書 其 惡 。/
Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô, Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác./
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.»
– (s:Bình Ngô đại cáo, nguyên văn chữ Hán và bản dịch của Ngô Tất Tố.
Sử gia Trần Trọng Kim (1919) từng chép lại lời Bà Triệu rằng:
« Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể đông, quét sạch bờ-cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm-đuối, chứ không thèm bắt-chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì-thiếp người ta.»
– (s:Việt Nam sử lược/Quyển I/Phần II/Chương III, Trần Trọng Kim, trang 50.)
Thời nhà Nguyễn, người Việt cũng vẫn gọi biển Đông là bể Nam nhưng bằng chữ Nôm, với nghĩa là bể (biển) nước Nam, khác biệt với Nam Hải bằng chữ Hán theo cách viết văn tự chữ Hán (gọi theo người Trung Hoa). Trong cuốn Đại Nam Quốc sử Diễn ca (1870), viết bằng chữ Nôm với thể thơ lục bát, đoạn An Dương Vương mất nước Âu Lạc vào tay Triệu Đà có viết (ở đây Bể Nam và Nam Hải tương đương về vần luật và dấu thanh, nhưng Bể Nam được dùng mà không phải là Nam Hải), như sau:
...Kim qui đâu lại hiện linh, Mới hay giặc ở bên mình không xa. Bây giờ Thục chúa tỉnh ra, Dứt tình, phó lưỡi Thái a cho nàng. (𣷭南)Bể Nam đến bước cùng đàng (/đường), Văn tê theo ngọn suối vàng cho xuôi.,..
– (s:Đại Nam Quốc sử Diễn ca, 4. Triệu Đà diệt Thục.)
=== Cách gọi theo Tây phương ===
Tên gọi phổ biến nhất của biển này trong hầu hết các ngôn ngữ thường là "biển Nam Trung Hoa", mang ý nghĩa là vùng biển nằm ở phía nam của đại lục địa Trung Quốc (South China Sea). Do tại Trung Quốc "biển Đông" (Đông hải) được dùng để chỉ biển Hoa Đông nên cần chú ý phân biệt để tránh lẫn lộn hai khái niệm "biển Đông" khác nhau này.
Tên gọi quốc tế của biển Đông ra đời từ nhiều thế kỷ trước, là biển Nam Trung Hoa (South China Sea) hay gọi tắt là biển Hoa Nam vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất trong khu vực và đã có giao thương với phương Tây qua con đường tơ lụa. Tên gọi nhiều biển, đại dương vốn căn cứ vào vị trí của chúng so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu, không có ý nói về chủ quyền, cần tránh nhầm lẫn. Có thể kể ra các thí dụ là Ấn Độ Dương, là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở châu Á và châu Phi, không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản.
=== Cách gọi theo Trung Quốc ===
Trải dài hàng nghìn năm Bắc thuộc - Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm, hầu hết bản đồ Trung Hoa vẽ về Việt Nam từ thế kỷ XV hoặc trước nữa cho tới đầu thế kỷ XX đều ghi biển cả phía đông Việt Nam là Giao Chỉ dương, nghĩa là biển Giao Chỉ.
Thời Hán và Nam Bắc triều, người Trung Quốc gọi biển này là "Trướng Hải" (Hán văn phồn thể: 漲海, Hán văn giản thể: 涨海), "Phí Hải" (Hán văn: 沸海), từ thời Đường dần dần đổi sang gọi là "Nam Hải" (南海). Hiện tại "Nam Hải" là tên gọi quan phương của biển này ở Trung Quốc. Từ thời cận đại, do tên gọi của biển này trong nhiều ngôn ngữ mang ý nghĩa là biển nằm ở phía nam Trung Quốc nên khi dịch sang Trung văn đã làm phát sinh thêm tên gọi "Nam Trung Quốc Hải" (Hán văn phồn thể: 南中国海, Hán văn giản thể: 南中國海) và "Trung Quốc Nam Hải" (Hán văn phồn thể: 中國南海, Hán văn giản thể: 中国南海).
=== Cách gọi theo Philippines ===
Philippines gọi là biển Luzon (theo tên hòn đảo lớn Luzon của Philippines) hoặc biển Tây Philippines (West Philippines Sea).
=== Cách gọi theo bán đảo Đông Dương ===
Theo một số tài liệu hàng hải, bản đồ cũ vùng biển này còn được gọi là Đông Dương Đại Hải (東洋大海), nghĩa là biển lớn cạnh bán đảo Đông Dương.
=== Cách gọi theo khu vực Đông Nam Á ===
Trong bối cảnh tranh chấp căng thẳng về phân chia chủ quyền vùng biển, đã có quan điểm của một số học giả – sử gia đề xuất đổi tên biển thành "biển Đông Nam Á" ("Southeast Asia Sea") hay biển Đông Nam châu Á (South East Asia Sea) - là một tên gọi trung lập. Tên gọi này bắt nguồn từ việc khu vực kinh tế Đông Nam Á đang là thị trường năng động đang đà phát triển; các nước khu vực Đông Nam Á bao bọc hầu như toàn bộ chu vi của "Biển Đông" với tổng chiều dài bờ biển vào khoảng 130.000 km trong khi đường bờ biển của các tỉnh duyên hải phía nam Trung Quốc chỉ vào khoảng 2.800 km.
== Địa lý ==
=== Giới hạn ===
Tổ chức Thủy văn học Quốc tế đề ra giới hạn của biển Đông như sau:
Ở phía nam: giới hạn phía đông và phía nam của eo biển Singapore và eo biển Malacca, phía tây đến Tanjong Kedabu (1°06′B 102°58′Đ), trải xuống bờ biển phía đông đảo Sumatra tới mũi Lucipara (3°14′N 106°05′Đ) rồi đến Tanjong Nanka - cực tây của đảo Banka - băng qua đảo này đến Tanjong Berikat (2°34′N 106°51′Đ) rồi đến Tanjong Djemang (2°36′N 107°37′Đ) trên đảo Billiton, sau đó men theo bờ biển phía bắc đảo này đến Tanjong Boeroeng Mandi (2°46′N 108°16′Đ) rồi từ đó đến Tanjong Sambar (3°00′N 110°19′Đ) - cực tây nam của đảo Borneo.
Ở phía đông: xuất phát từ Tanjong Sambar, đi qua bờ phía tây đảo Borneo đến điểm phía bắc Tanjong Sampanmangio, rồi theo một đường thẳng đến các điểm phía tây của đảo Balabac và cụm rạn đá Secam, hướng đến điểm phía tây của đảo Bancalan và đến mũi Buliluyan (điểm tây nam của đảo Palawan), băng qua đảo này đến điểm phía bắc mũi Cabuli, rồi từ đây đến điểm tây bắc của đảo Lubang và đến mũi Fuego (14°08'B) thuộc đảo Luzon, băng qua đảo này đến mũi Engaño (tức điểm đông bắc của đảo Luzon), rồi sau đó đi dọc theo một đường thẳng nối mũi này với điểm phía đông của đảo Balintang (20°B) và điểm phía đông của đảo Y'Ami (21°05'B), rồi từ đây hướng đến Garan Bi (mũi phía nam của đảo Đài Loan (Formosa), băng qua đảo này đến điểm đông bắc của Santyo (25°B).
Ở phía bắc: từ Fuki Kaku - điểm phía bắc của đảo Đài Loan - đến đảo Ngưu Sơn, rồi sau đó đến điểm phía nam của đảo Bình Đàm (25°25'B) rồi hướng về phía tây dọc theo vĩ tuyến 25°24'B tới bờ biển Phúc Kiến.
Ở phía tây: đất liền châu Á, giới hạn phía nam của vịnh Thái Lan và bờ biển phía đông bán đảo Mã Lai.
Biển nằm trên một thềm lục địa ngầm; trong những kỷ băng hà gần đây nước biển đã hạ thấp xuống hàng trăm mét, và Borneo từng là một phần của lục địa châu Á.
Các nước và lãnh thổ có biên giới với vùng biển này (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc) gồm: đại lục Trung Quốc, Ma Cao, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia, và Việt Nam.
Nhiều con sông lớn chảy vào biển Đông gồm các sông Châu Giang, Mân Giang, sông Cửu Long (Phúc Kiến), sông Hồng, sông Mê Kông, sông Rajang, sông Pahang, và sông Pasig.
=== Địa danh trong biển Đông ===
Vịnh Bắc Bộ là phần biển Đông giữa miền Bắc Việt Nam với Đảo Hải Nam miền Nam Trung Quốc. Bờ phía tây là bờ biển Việt Nam từ Thanh Hóa đến Móng Cái. phía bắc từ Móng Cái trở sang phía đông là 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc với bán đảo Lôi Châu. Bờ đông là đảo Hải Nam của Trung Quốc. Trong vịnh có hàng nghìn đảo nhỏ, với các đảo trong vịnh Hạ Long được UNESCO xếp loại là di sản thiên nhiên thế giới. Đảo Bạch Long Vĩ thuộc Việt Nam ở giữa vịnh, có diện tích khoảng 2,5 km².
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông đã được nhiều chính quyền Việt Nam liên tục thực hiện chủ quyền từ nhiều thế kỷ qua. Quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc dùng vũ lực chiếm giữ một phần từ năm 1956 và hoàn toàn từ năm 1974. Tranh chấp chủ quyền, một phần hay toàn bộ, cũng đã diễn ra tại quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Đài Loan.
Những lý do chính để các nước tranh chấp chủ quyền hai quần đảo trên là:
Diện tích lãnh hải với đặc quyền kinh tế và việc triển khai quốc phòng.
Biển Đông nằm trên một trong những đường giao thông hàng hải lớn trên thế giới, có nguồn thủy sản và tiềm năng dầu khí.
Hiện nay sự tranh chấp đang được các bên thương lượng đàm phán vì sự hòa bình và ổn định trong khu vực để phát triển kinh tế.
=== Các đảo và đá ngầm ===
Phía đông bắc biển Đông có quần đảo Đông Sa (Pratas Islands) hiện do Đài Loan quản lý nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền.
Phía tây bắc biển Đông cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, Việt Nam khoảng 200 km, cách đảo Hải Nam, Trung Quốc 235 km có quần đảo Hoàng Sa với 18 đảo, cồn cát và 22 đá, bãi (theo giáo sư Sơn Hồng Đức, thì có đến 230 đảo, cồn, đá, bãi). Phú Lâm là đảo lớn nhất. Độ cao tuyệt đối lớn nhất là 14 m, đo được tại một điểm trên đảo Đá. Quần đảo này hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nhưng Việt Nam và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền.
Phía đông quần đảo Hoàng Sa có các bãi và núi ngầm như bãi ngầm Macclesfield, núi ngầm Stewart, bãi ngầm/cạn Truro và bãi cạn Scarborough.
Bãi cạn Scarborough: nằm về phía đông của bãi Macclesfield, gần bờ biển Philippines. Đây là một bãi san hô sâu khoảng 15 m.
Bãi ngầm Truro: nằm về phía đông bãi cạn Scarborough, sâu 18,2 m.
Núi ngầm Stewart: sâu tối thiểu 447 m, nằm rất gần đảo Luzon của Philippines.
Bên trong vùng biển, có hơn 200 đảo và bãi đá ngầm đã được đặt tên, đa số chúng thuộc quần đảo Trường Sa. Quần đảo Trường Sa trải dài trên một vùng rộng 810 km, dài 900 km với khoảng 175 thực thể địa lý đã được xác định; hòn đảo lớn nhất là đảo Ba Bình với chỉ hơn 1,36 km chiều dài và điểm cao nhất là 3,8 mét.
Có một núi ngầm rộng 100 km được gọi là bãi Cỏ Rong (tên tiếng Anh: Reed Bank), nằm ở đông bắc quần đảo Trường Sa, cách biệt khỏi đảo Palawan của Philippines bởi máng biển Palawan. Hiện bãi Cỏ Rong nằm sâu 20 m dưới mực nước biển, song trước kia nó từng là một vùng đất nổi trước khi bị nước biển nhấn chìm vào cuối thời băng hà.
== Địa chất ==
Biển Đông được hình thành từ Oligocen muộn đến Miocen sớm (32-17 tr. năm) bằng cơ chế giãn đáy đại dương, tiếp tục phát triển như một biển rìa trong suốt Kainozoi muộn. Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế thành tạo Biển Đông.
== Tài nguyên thiên nhiên ==
Đây là một vùng biển có ý nghĩa địa chính trị vô cùng quan trọng. Nó là đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hoá thương mại chuyển qua hàng năm, hơn 50% đi qua eo biển Malacca, eo biển Sunda, và eo biển Lombok. Hơn 1,6 triệu m³ (10 triệu thùng) dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng ngày, nơi thường xảy ra các vụ hải tặc, nhưng hiện đã giảm nhiều so với giữa thế kỷ 20.
Vùng này đã được xác định có trữ lượng dầu mỏ khoảng 1,2 km³ (7,7 tỷ thùng), với ước tính tổng khối lượng là 4.5 km³ (28 tỷ thùng). Trữ lượng khí tự nhiên được ước tính khoảng 7.500 km³.
Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippines, vùng biển này chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái.
== Tranh chấp biển ==
Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng Biển Đông và các nguồn tài nguyên của nó. Bởi Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng 200 hải lý (370,6 km) từ lãnh hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền với những phần rộng lớn của nó. Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển. Những báo cáo gần đây cho thấy CHND Trung Hoa đang phát triển một nhóm tàu sân bay để bảo vệ những đường vận chuyển nhiên liệu ở Biển Đông. Những vùng có nguy cơ tranh chấp gồm:
Indonesia và CHND Trung Hoa về vùng biển phía đông bắc quần đảo Natuna.
Philippines và CHND Trung Hoa về những khu khai thác khí gas Malampaya và Camago.
Philippines và CHND Trung Hoa về bãi cát ngầm Scarborough.
Việt Nam và CHND Trung Hoa về vùng biển phía tây Quần đảo Trường Sa. Một số hay toàn bộ quần đảo Trường Sa đang bị tranh chấp bởi Việt Nam, CHND Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan), Philippines, và một số nước khác.
Quần đảo Hoàng Sa đang bị tranh chấp bởi Việt Nam và CHND Trung Hoa; CHND Trung Hoa quản lý một phần quần đảo từ năm 1956 và toàn bộ quần đảo từ năm 1974 đến nay.
Malaysia, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam về những vùng ở Vịnh Thái Lan.
Singapore và Malaysia dọc theo Eo biển Johore và Eo biển Singapore.
Cả Trung Hoa và Việt Nam đều theo đuổi các tuyên bố chủ quyền một cách mạnh mẽ. Quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm được 6 đảo năm 1974 và 18 binh sĩ đã thiệt mạng. Quần đảo Trường Sa là nơi đã xảy ra xung đột hải quân khiến hơn bảy mươi lính thủy Việt Nam đã bị giết hại ở phía nam đá Gạc Ma vào tháng 3 năm 1988. Các nước tranh chấp thường xuyên thông báo về các vụ va chạm giữa các tàu hải quân.
ASEAN nói chung, và Trung Quốc nói riêng luôn muốn đảm bảo rằng những tranh chấp bên trong Biển Đông sẽ không leo thang trở thành xung đột quân sự. Vì vậy, các cơ cấu phát triển chung (Joint Development Authorities) đã được lập ra tại các vùng tranh chấp chồng lấn để cùng phát triển vùng và phân chia quyền lợi công bằng tuy nhiên không giải quyết vấn đề chủ quyền của vùng đó. Điều này đã trở thành sự thực, đặc biệt là ở Vịnh Thái Lan. Tuy nhiên, gần đây Trung Quốc đã tuyên bố sẽ không ngại dùng vũ lực để chiếm đoạt quần đảo Trường Sa.
Trung Quốc tăng cường cải tạo các đảo và bãi đá tự nhiên, xây dựng các khu quân sự. Đặc biệt là việc xây dựng các đường băng, càng tăng cường thêm mưu đồ chiếm trọn biển Đông, thực hiện yêu sách "đường 10 đoạn" (vốn không được quốc gia hay tổ chức nào công nhận) Những tuyên bố lãnh thổ chồng lấn ở Pulau Pedra Branca hay Pulau Batu Putih của cả Singapore và Malaysia đã được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế. Tòa án phán quyết theo chiều hướng có lợi cho Singapore.
== Xem thêm ==
Vịnh Bắc Bộ
Vịnh Thái Lan
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
== Đọc thêm ==
Zou, Keyuan (2005), Law of the Sea in East Asia: Issues and Prospects, Routledge, ISBN 978-0415350747
== Liên kết ngoài ==
South China Sea Virtual Library
Weekly Piracy Report |
lãnh thổ phụ thuộc ross.txt | Lãnh thổ phụ thuộc Ross (Ross Dependency) là một khu vực của Châu Nam Cực, chạy dọc kinh độ 160°đông và 150°đông, kết thúc tại vĩ độ 60°nam. Đòi hỏi chủ quyền của New Zealand với khu vực này được hợp thức hóa năm 1923, khi Tổng quyền của New Zealand được bổ nhiệm làm Tổng quyền của Phụ thuộc Ross theo một lệnh hội đồng được thông qua ở Luân Đôn, Vương quốc Anh. Từ khi Hiệp ước Nam Cực có hiệu lực năm 1961, Điều 1 nêu rõ "Hiệp ước không công nhận, tranh cãi hay xác lập bất cứ yêu cầu chủ quyền lãnh thổ nào, sẽ không có yêu cầu lãnh thổ nào được xác nhận khi hiệp ước còn hiệu lực", hầu hết các quốc gia trên thế giới không công nhận những đòi hỏi lãnh thổ ở Nam Cực của bất cứ quốc gia nào.
Tên của lãnh thổ này lấy từ tên của nhà thám hiểm James Clark Ross, người đã khám phá ra Biển Ross, bao gồm phần của Victoria Land, và phần lớn Thềm băng Ross. Đảo Ross, quần đảo Balleny và đảo Scott hình thành nên một phần của Phụ thuộc Ross, và cả đảo Roosevelt.
== Liên kết ==
New Zealand, Antarctica and the Southern Ocean — Ministry of Foreign Affairs and Trade. Outline of NZ involvement
Antarctica New Zealand — Crown entity charged with administering, developing and managing Ross Dependency
50 years of Scott Base
History - From University of Canterbury
http://www.south-pole.com/homepage.html
Stamps of Ross Dependency
map of Ross Dependency (central part)
Scientific Research by NIWA in Antarctica
Dominion Post Photos of Antarctica: enter, go to Categories:Places;Antarctica
Antarctica and New Zealand, NZ Ministry for Culture and Heritage
== Tham khảo == |
sàn giao dịch chứng khoán.txt | Sàn giao dịch cổ phiếu là một hình thức sàn giao dịch cung cấp các dịch vụ cho những người môi giới cổ phiếu và người mua bán cổ phiếu để trao đổi các cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác. Sàn giao dịch cổ phiếu cũng cung cấp các dịch vụ cho việc phát hành và thu hồi chứng khoán cũng như các phương tiện tài chính và các sự kiện như việc chi trả lợi tức và cổ tức.
Chứng khoán được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán gồm: các cổ phiếu do các công ty phát hành, các chứng chỉ quỹ và các sản phẩm hợp tác đầu tư và trái phiếu. Để có thể giao dịch trên một sàn giao dịch cổ phiếu, cổ phiếu phải được niêm yết ở đó.
Thường có một trung tâm để ít nhất là ghi lại dữ liệu, nhưng việc giao dịch ngày càng ít có liên kết đến một nơi cụ thể, bởi vì các sàn giao dịch hiện đại là các mạng lưới thông tin điện tử, tạo nên ưu thế về tốc độ và chi phí giao dịch. Chỉ các thành viên mới được phép giao dịch trên một sàn giao dịch chứng khoán.
Một sàn giao dịch chứng khoán là thành phần quan trọng nhất của một thị trường chứng khoán. Thông thường không bắt buộc phải phát hành cổ phiếu thông qua sàn giao dịch, và cổ phiếu cũng không bị bắt buộc phải giao dịch trên sàn. Những giao dịch như vậy được gọi là giao dịch ngoài sàn hay mua bán thẳng. Đây là cách thường thấy để giao dịch các trái phiếu.
Chào giá ban đầu của các cổ phần và các trái phiếu tới các nhà đầu tư được thực hiện tại thị trường sơ cấp và việc giao dịch sau đó được thực hiện tại thị trường thứ cấp.
Các sàn giao dịch ngày càng biến thành một phần của thị trường chứng khoán thế giới.
Cung và cầu trên các thị trường chứng khoán được dẫn dắt bởi nhiều yếu tố, giống như trên mọi thị trường tự do, bị ảnh hưởng bởi giá các cổ phần (xem giá trị cổ phần).
== Lịch sử sàn giao dịch chứng khoán ==
Trong thế kỷ 12 ở nước Pháp, các courratiers de change lo lắng về việc quản lý và điều chỉnh các khoản nợ của các phường hội nông nghiệp với ngân hàng. Bởi vì những người đó giao dịch nợ, nên có thể coi họ là những người môi giới buôn bán đầu tiên.
Một số nguồn khác cho rằng nguồn gốc của thuật ngữ "bourse" ("thị trường chứng khoán" trong tiếng Pháp) bắt nguồn từ chữ bursa trong tiếng La tinh, có nghĩa là một cái túi bởi vì ở thế kỷ 13 tại Bruges, dấu hiệu một cái túi tiền (hay có lẽ ba cái túi tiền), được treo trước cửa ngôi nhà nơi những nhà buôn thường tụ họp.
Tuy nhiên, có lẽ giả thuyết chính xác hơn là ở cuối thế kỷ 13, những nhà buôn hàng hoá ở Bruges đã tụ tập tại ngôi nhà của một người đàn ông tên là Van der Burse, và năm 1309 họ đã chính thức hoá việc gặp gỡ không nghi thức đó cho tới tận ngày nay và trở thành "Bruges Bourse". Ý tưởng này nhanh chóng lan ra quanh vùng Flanders và các tỉnh xung quanh và "Bourses" nhanh chóng được mở tại Ghent và Amsterdam.
Vào giữa thế kỷ 13, những ông chủ ngân hàng tại Venice bắt đầu mua bán chứng khoán chính phủ. Năm 1351, Chính phủ Venice đặt ra ngoài vòng pháp luật những lời đồn thổi với chủ ý làm hạ giá quỹ công trái chính phủ. Trong thế kỷ 14, người dân ở Pisa, Verona, Genoa và Florence cũng bắt đầu buôn bán các trái phiếu chính phủ. Điều này chỉ là có thể bởi vì có các thành bang độc lập không bị cai trị bởi một công tước mà bởi một hội đồng những công dân có uy tín.
Hà Lan sau này bắt đầu có các công ty cổ phần, cho phép những người giữ cổ phần đầu tư vào doanh nghiệp kinh doanh và thu được một phần chia từ lợi nhuận của nó – hay một phần thua lỗ. Năm 1602, Công ty Đông Ấn Hà Lan phát hành những cổ phần đầu tiên trên Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam. Đây là công ty đầu tiên phát hành cổ phần và khế ước nợ.
== Vai trò của sàn giao dịch chứng khoán ==
=== Huy động các khoản tiết kiệm để đầu tư ===
Khi mọi người đưa ra những khoản tiết kiệm của mình và đầu tư vào các cổ phần, việc này dẫn tới sự phân chia hợp lý hơn các nguồn tài nguyên bởi vì vốn, có thể dùng để tiêu dùng, hay gửi trong các ngân hàng, được huy động và tái định hướng để thúc đẩy hoạt động kinh doanh mang lại lợi ích cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp, thương mại và công nghiệp, dẫn tới một sự tăng trưởng kinh tế cao hơn và sức sản xuất ở mức độ lớn hơn.
=== Tạo thuận lợi cho phát triển công ty ===
Các công ty coi nguồn vốn thu được là một cơ hội để mở rộng các dây chuyền sản xuất, tăng thêm các kênh phân phối, ngăn chặn tính bất ổn, tăng thị phần, hay mua sắm thêm các tài sản khác cần thiết cho kinh doanh. Một sự bỏ thầu mua lại hay một thoả thuận kết hợp thông qua thị trường chứng khoán là cách đơn giản nhất để phát triển công ty bằng cách mua lại hay kết hợp.
=== Tái phân phối của cải ===
Bằng cách trao cho mọi người một cơ hội để mua các cổ phần và nhờ đó trở thành người đồng sở hữu (những người nắm giữ cổ phần) của doanh nghiệp có thể sinh lời, thị trường chứng khoán giúp làm giảm bất bình đẳng trong thu nhập. Cả nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và nghiệp dư thông qua sự tăng trưởng của giá chứng khoán và phân chia cổ tức đều có cơ hội nhận được phần chia lợi nhận từ công việc kinh doanh đầy hứa hẹn do người khác lập ra.
=== Hợp tác quản lý ===
Bằng cách có được nhiều người sở hữu ở nhiều tầng lớp khác nhau, các công ty nói chung có khuynh hướng cải thiện các tiêu chuẩn quản lý và hiệu năng của mình nhằm thoả mãn các yêu cầu của những người nắm giữ cổ phần đó và việc hợp tác quản lý của mọi người trên thị trường chứng khoán cũng như của chính phủ càng chặt chẽ hơn. Nhờ vậy, mọi người cho rằng các công ty công chúng (các công ty được sở hữu bởi các nhà đầu tư nắm giữ cổ phần và là thành viên tham gia vào các sàn giao dịch chứng khoán công cộng) thường được quản lý tốt hơn so với các công ty tư nhân (các công ty này không có cổ phần được giao dịch trên các sàn công cộng, thông thường thuộc sở hữu của người sáng lập và/hay gia đình hay người thừa kế của họ, hay là bởi một nhóm các nhà đầu tư nhỏ). Tuy nhiên, một số trường hợp đã cho thấy có lẽ có những sự chệch hướng lớn trong kiểu hợp tác quản lý tại một số công ty thuộc sở hữu công cộng (ví dụ Enron Corporation, MCI WorldCom, Pets.com, Webvan, hay Parmalat).
=== Tạo các cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư nhỏ ===
Đối lập với những công việc kinh doanh đòi hỏi tiêu tốn những khoản vốn lớn, đầu tư vào các cổ phần là cơ hội mở cho cả những nhà đầu tư chứng khoán lớn và nhỏ bởi vì một người chỉ mua một số cổ phần mà anh ta có khả năng. Vì thế Sàn giao dịch chứng khoán cung cấp một nguồn thu nhập khác cho những người có tiền tiết kiệm ở mức độ thấp.
=== Chính phủ tăng vốn cho những dự án phát triển ===
Chính phủ hay thậm chí cả các chính quyền địa phương như các chính quyền thành phố có thể quyết định vay tiền để hỗ trợ tài chính cho những dự án hạ tầng to lớn như thoát nước và xử lý nước thải hay cung cấp nhà ở bằng cách bán một kiểu chứng khoán khác được gọi là khế ước nợ. Những khế ước nợ đó có thể tăng giá thông qua Sàn giao dịch chứng khoán khi các thành viên công chúng mua nó, nhờ vậy không cần phải đánh thuế quá cao đối với người dân để có tiền đầu tư phát triển.
=== Thước đo của nền kinh tế ===
Tại sàn giao dịch chứng khoán, giá cổ phần lên và xuống phụ thuộc phần lớn vào thị trường. Giá cổ phần tăng lên hay giữ ổn định khi các công ty và nền kinh tế nói chung cho thấy những dấu hiệu của sự ổn định. Vì thế sự chuyển động của giá cổ phần có thể là một đồng hồ báo khuynh hướng chung của nền kinh tế.
== Những yêu cầu niêm yết ==
Các công ty cần thiết phải đáp ứng được các yêu cầu của sàn giao dịch để có thể niêm yết và giao dịch cổ phần của mình tại đó. Ví dụ, để được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE), một công ty phải phát hành ít nhất một triệu cổ phần trị giá tương đương $100 triệu và phải kiếm được hơn $10 triệu trong vòng 3 năm vừa qua lai [1]).
== Quyền sở hữu ==
Các sàn giao dịch chứng khoán có nguồn gốc là những tổ chức đa bên, do chính các thành viên mua bán chứng khoán của nó sở hữu. Gần đây có khuynh hướng "bỏ đa bên", các thành viên sẽ bán các cổ phần của họ tại một đợt phát hành đầu tiên. Theo cách này tổ chức đa bên trở thành một phường hội, với các cổ phần được niêm yết trên một sàn giao dịch chứng khoán. Các ví dụ về việc này là Sàn giao dịch chứng khoán Australia (1998), Euronext (2000), NASDAQ (2002) và Sàn giao dịch chứng khoán New York (2005).
== Các kiểu giao dịch khác ==
Trong thế kỷ 19, các sàn giao dịch cho phép mua bán theo các hợp đồng trước theo mặt hàng. Giao dịch mua bán qua các hợp đồng trước được gọi là các hợp đồng tương lai. Những giao dịch hàng hoá này sau này bắt đầu được thực hiện trên các sản phẩm khác, như các tỷ lệ lãi suất và cổ phần, cũng như các hợp đồng lựa chọn. Hiện chúng được gọi chung là các hợp đồng tương lai.
== Tương lai của sàn giao dịch chứng khoán ==
Tương lai của sàn giao dịch chứng khoán là điện tử, hệ thống các chuyên gia của Sàn giao dịch chứng khoán New York dường như đang chống lại những kiểu giao dịch mới, Các mạng lưới thông tin điện tử, hay ECNs. ECNs ca ngợi tốc độ xử lý những khối lượng trao đổi lớn của họ, trong khi hệ thống các chuyên gia đề xướng vai trò của các chuyên gia trong việc giữ trật tự của các thị trường, đặc biệt ở các điều kiện lạ thường hay các kiểu lệnh đặc biệt.
Các mạng lưới thông tin điện tử gồm một mạng lưới lợi nhuận quyền lợi đặc biệt với chi phí của các nhà đầu tư từ thậm chí là những giao dịch thương mại trao đổi trực tiếp nhỏ nhất. Mặt khác, các hệ thống dựa trên máy móc được cho là hiệu quả hơn và cải thiện được bộ máy thừa hành truyền thống và hạn chế yêu cầu đàm phán qua trung gian.
Về lịch sử, 'thị trường' (như đã được ghi chú, gồm toàn bộ mua bán cổ phần trên mọi giao dịch) đã chậm chạp trong việc phản ứng với cuộc cách mạng công nghệ. Sự thay đổi sang thương mại hoàn toàn điện tử có thể làm xói mòn/hạn chế lợi nhuận thương mại của những sàn giao dịch bằng chuyên gia và những "thương nhân trên tầng" của NYSE.
"Tôi sẽ nói rõ ràng rằng các mạng lưới thông tin điện tử (ECNs) đang chiến thắng," William Lupien người sáng lập Instinet hệ thống giao dịch và OptiMark hệ thống đã tuyên bố. "Mọi thứ đang diễn ra một cách tồi tệ thật nhanh chóng khi bạn đạt tới điểm chóp."
Quốc hội đã uỷ nhiệm việc thành lập một hệ thống thị trường multiple chứng khoán quốc gia năm 1975. Từ đó, ‘các hệ thống thông tin điện tử’ đã phát triển nhanh chóng.
Khi thực hiện các giao dịch lớn với tốc độ ánh sáng, các hệ thống điện tử làm giảm khả năng chạy trước (front running), hay trao đổi trước khi có lệnh của khách hàng, một hành vi bất hợp pháp mà nhiều nhà môi giới trên sàn NYSE đã bị điều tra và phạt nặng trong những năm gần đây. Khi hoạt động dưới hệ thống giám sát của các chuyên gia, nếu trên thị trường có một trao đổi lớn dưới một cái tên, những người mua khác ngay lập tức có thể kiểm tra để biết nhà giao dịch dưới cái tên đó ở tầm cỡ nào, và dự đoán ra nguyên nhân tại sao anh/chị ta lại ra quyết định mua hay bán. Đó là cách Thị trường dự đoán hoạt động của giá.
ECNs đã thay đổi quá trình giao dịch chứng khoán thông thường (giống như những dịch vụ môi giới trước chúng) thành một hình thức kinh doanh kiểu hàng hoá (commodity-type business). ECNs có thể điều chỉnh sự công bằng của initial public offerings (IPOs), giám sát Hambrecht's OpenIPO process, hay đánh giá hiệu quả của nghiên cứu chứng khoán và sử dụng phí giao dịch để trợ cấp cho những cuộc nghiên cứu mức độ nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, một số người tin rằng cách tốt nhất là phối hợp ưu điểm của công nghệ và con người – nói cách khác một kiểu lai.
Trao đổi 25.000 cổ phiếu trong cổ phần của Lucent (định giá gần đây: $2.80; số lượng gần đây: 49.069.700) là một giao dịch khá đơn giản đối với thương mại điện tử; trao đổi 100 cổ phiếu thuộc cổ phần Hạng A của Berkshire Hathaway (định giá gần đây: $88.710,00; số lượng gần đây: 450) thì có lẽ không được như vậy. Sự lựa chọn hệ thống cần phải rõ ràng (nhưng luôn thuộc quyền của người giao dịch), dựa trên những đặc trưng riêng của loại chứng khoán được trao đổi.
Thậm chí khi ECNs đang trở nên một phần trọng yếu của hệ thống thị trường quốc gia, các cơ hội kiếm lời có lẽ vẫn là ở sự chênh lệch giữa giá đặt và giá chào. Điều này đặc biệt chính xác đối với những giám đốc đầu tư điều hành các khoản giao dịch lớn, và sở hữu một số tiền góp vốn trong một ECN hay một công ty chuyên nghiệp. Ví dụ, trong các tài khoản môi giới chứng khoán của mình, "Các khoản đầu tư chính xác chiếm tới 29% các lệnh hữu danh trong các cổ phần được niêm yết ở NYSE, và 37% trong số các lệnh hữu danh trên Sàn giao dịch chứng khoán Boston, nơi có sự giám sát chung của các chuyên gia.
Nói một cách chính xác, những giao dịch đó được quản lý bởi những đội môi giới "quản lý dòng lệnh" riêng biệt, những người tìm cách có được khả năng thực hiện tốt nhất có thể cho khách hàng và việc thực hiện phải có tỷ suất lợi nhuận cao.
=== Thị trường thứ cấp ===
Những nghiên cứu gần đây của các giáo sư tài chính SMUCox Kumar Venkataraman và Hendrik Bessembinder đưa ra những hiểu biết sâu sắc và đáng tin cậy vào những khả năng mới.
== Xem thêm ==
Bán đấu giá
Thị trường vốn
Trao đổi hàng hoá
Cổ đông
Nhà đầu tư chứng khoán
Thị trường chứng khoán
Người giao dịch
=== Các danh sách ===
Danh sách các sàn giao dịch chứng khoán
Danh sách các chỉ số thị trường chứng khoán
Danh sách các chủ đề marketing
Danh sách các chủ đề quản lý
Danh sách các chủ đề kinh tế
Danh sách các chủ đề kế toán
Danh sách các chủ đề tài chính
Danh sách các nhà kinh tế
Bản mẫu:Các thị trường tài chính
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Uỷ ban chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội |
lleyton hewitt.txt | Lleyton Glynn Hewitt (sinh ngày 21 tháng 2 năm 1981) là cựu tay vợt số 1 thế giới người Úc. Năm 2001, anh trở thành tay vợt trẻ nhất dành vị trí số 1. Thành tích lớn nhất của Hewitt là vô địch đơn nam US Open 2001 và Wimbledon 2002. Năm 2005, Tạp chí Tennis xếp anh ở vị trí thứ 34 trong những tay vợt xuất sắc nhất từ năm 1965.Anh đã giải nghệ vào năm 2016
Hewitt được biết đến nhiều nhờ khả năng thi đấu bền bỉ, nền thể lực dồi dào, lối đánh ổn định và khả năng di chuyển điêu luyện.
== Chung kết đơn Grand Slam ==
=== Vô địch (2) ===
=== Hạng nhì (2) ===
== Chung kết đôi Grand Slam ==
=== Vô địch ===
== Chung kết đơn Master Cup ==
=== Vô địch (2) ===
=== Hạng nhì ===
== Các trận chung kết đơn trong sự nghiệp ==
=== Vô địch (30) ===
== Chung kết đôi ==
=== Vô địch (2) ===
== Số tiền thưởng giành được ==
== Xem thêm ==
Những nhà vô địch đơn nam giải Mỹ mở rộng
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Kết quả những trận gần đây của Hewitt
Thứ tự Hewitt trong bảng xếp hạng TG trong lịch sử
Lý lịch, kết quả, thống kê |
25 tháng 2.txt | Ngày 25 tháng 2 là ngày thứ 56 trong lịch Gregory. Còn 309 ngày trong năm (310 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
1793 - George Washington triệu tập cuộc họp nội các đầu tiên sau khi nhậm chức Tổng thống Mỹ
1875 – Ái Tân Giác La Tái Điềm lên ngôi hoàng đế triều Thanh khi chưa tròn 4 tuổi, tức Quang Tự Đế, Từ Hi thái hậu và Từ An thái hậu đồng nhiếp chính.
1861 - Đại đồn Chí Hòa thất thủ.
1921 - Tbilisi, thủ đô của Gruzia, bị chiếm giữ bởi người Bolshevik.
1932 – Adolf Hitler nhập quốc tịch Đức, cho phép ông có quyền tham gia cuộc bầu cử Tổng thống Đức diễn ra trong cùng năm.
1945 – Chiến tranh Đông Dương: Chiến dịch Hòa Bình kết thúc với thắng lợi của Việt Minh, quân Liên hiệp Pháp rút lui.
1947 – Hội đồng cai quản quân Đồng minh chính thức tuyên bố giải thể nước Phổ.
1951 – Đại hội Thể thao liên Mỹ lần thứ nhất khai mạc tại Buenos Aires, Argentina với 21 quốc gia tham dự.
1956 – Trong bài diễn văn Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó của mình, nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev lên án sự sùng bái cá nhân của Stalin.
1968 - Thảm sát Hà My.
1986 – Tổng thống Ferdinand Marcos phải đào tị khỏi Philippines sau 20 năm cầm quyền; Corazon Aquino trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Philippines.
2009 – Các thành viên của Lực lượng biên phòng Bangladesh nổi loạn tại tổng hành dinh ở thủ đô Dhaka.
== Sinh ==
1398 - Minh Tuyên Tông Hoàng đế Trung Hoa (m. 1435)
1643 - Ahmed II Sultan của Đế quốc Ottoman (m. 1695)
1841 - Pierre-Auguste Renoir, họa sĩ, nghệ sĩ tạo hình và nhà điêu khắc Pháp (m. 1919)
1845 - George Reid Thủ tướng thứ tư của nước Úc (m. 1918)
1890 - Vyacheslav Mikhailovich Molotov, chính khách Xô Viết (m. 1986)
1943 - George Harrison, thành viên của The Beatles (m. 2001)
1973 - Julio José Iglesias, ca sĩ người Tây Ban Nha
1981 - Park Ji-Sung, cầu thủ Hàn Quốc
1983 - Eduardo da Silva, cầu thủ người Brasil
1997 - Lý Hoàng Nam, vận động viên quần vợt Việt Nam
== Mất ==
1643 - Marco da Gagliano, nhà soạn nhạc người Ý (s. 582)
1852 - Thomas Moore, nhà thơ Ireland (s. 1779)
1886 - Phạm Viết Chánh, danh sĩ và đại thần triều Nguyễn (s. 1824)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
gnss.txt | Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu (tiếng Anh: Global Navigation Satellite System - GNSS) là tên dùng chung cho các hệ thống định vị toàn cầu sử dụng vệ tinh như GPS (Hoa Kỳ), Hệ thống định vị Galileo (Liên minh châu Âu) và GLONASS (Liên bang Nga) và Hệ thống định vị Bắc Đẩu (Trung Quốc).
== Tham khảo == |
hiệp hội vận tải hàng không quốc tế.txt | Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (International Air Transport Association viết tắt IATA) là một nhóm nghề nghiệp quốc tế của các hãng hàng không có trụ sở tại Montreal, Quebec, Canada (nơi ICAO ngẫu nhiên cũng đóng trụ sở, dù đây là cơ quan khác hẳn).
IATA được thành lập tháng 4 năm 1945, ở La Habana, Cuba. Đây là tổ chức kế nhiệm của Hiệp hội Vận chuyển Hàng không Quốc tế (tên tiếng Anh: International Air Traffic Association) được thành lập ở Den Haag năm 1919, năm có dịch vụ theo lịch trình quốc tế đầu tiên. Vào thời điểm thành lập, IATA có 57 thành viên từ 31 quốc gia, phần lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Ngày nay, hiệp hội này có 270 thành viên từ 140 quốc gia ở khắp nơi trên thế giới.
Mục đích chính của tổ chức này là trợ giúp các công ty hàng không đạt được sự cạnh tranh hợp pháp và thống nhất giá cả. Để phục vụ cho việc tính toán giá cước vận tải, IATA chia thế giới ra 3 khu vực:
Nam, Trung và Bắc Mỹ.
Châu Âu, Trung Đông và châu Phi. châu Âu theo IATA bao gồm châu Âu theo địa lý và các nước Maroc, Algérie và Tunisia.
Châu Á, Úc, New Zealand và các đảo Thái Bình Dương.
Để đạt được mục tiêu này, các hãng hàng không đã được bảo đảm một sự miễn thuế đặc biệt bởi mỗi một cơ quan điều chỉnh cạnh tranh chính trên thế giới để tham khảo về giá thông qua cơ quan này. Tuy nhiên, tổ chức này đã bị cáo buộc là hoạt động như một cartel, và nhiều hãng hàng không giá rẻ không phải là thành viên đầy đủ của IATA. Các cơ quan thẩm quyền về cạnh tranh của Liên minh châu Âu hiện đang điều tra tổ chức này. Năm 2005 Neelie Kroes, Cao ủy châu Âu về cạnh tranh, đã kiến nghị bỏ sự ngoại lệ tham khảo giá. Tháng 7 năm 2006 Bộ Giao thông Hoa Kỳ cũng đề nghị rút bỏ quyền miễn trừ chống độc quyền[1]. IATA cùng phối hợp với Sita để đưa ra giải pháp vé điện tử [2].
IATA ấn định mã sân bay IATA gồm 3 chữ cái và mã chỉ định hãng hàng không IATA (tiếng Anh: IATA airline designator) gồm 2 chữ cái được dùng phổ biến khắp thế giới. ICAO cũng ấn định mã sân bay và hãng hàng không. Đối với các hệ thống đường ray và đường bay IATA cũng ấn định mã nhà ga xe lửa IATA. Đối với các mã cho các chuyến trễ, IATA ấn định mã chậm trễ IATA.
IATA làm nòng cốt cho việc xác nhận hợp cách các hãng lữ hành (ngoại trừ Hoa Kỳ), khi điều này được Hội đồng Báo cáo Hàng không thực hiện. Dù đối với mục đích trên thực tế, và sự cho phép bán vé máy bay từ các hãng vận tải tham gia vào tổ chức, điều này đạt được thông qua các tổ chức thành viên quốc gia.
Các thành viên cũng quy định việc vận chuyển hàng hóa nguy hiểm và xuất bản Sổ tay các quy định Hàng hóa Nguy hiểm IATA, một sách tham khảo nguồn được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu cho các hãng hàng không vận chuyển các chất nguy hiểm.
== Xem thêm ==
Mã sân bay IATA
IATAN
ATA (Hiệp hội Vận tải Hàng không châu Mỹ)
Quy hoạch chuyến bay
Kenneth Beaumont
Moving associations
Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO)
Hội Kinh doanh thương mại Máy bay Vận chuyển Quốc tế
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web của IATA
Distribution of IATA Documents |
akrotiri và dhekelia.txt | Các khu vực có chủ quyền Akrotiri và Dhekelia (tiếng Anh: The Sovereign Base Areas of Akrotiri and Dhekelia) là hai khu vực do Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland quản lý trên đảo Síp bao gồm các căn cứ quân sự có chủ quyền của Đế quốc Anh.
== Lịch sử ==
Các căn cứ Akrotiri và Dhekelia do Anh nắm giữ sau khi đế quốc Anh cho phép đảo Síp độc lập và sau cùng là chuyển đảo Síp từ một thuộc địa trong đế quốc này thành một nước cộng hòa trong Khối thịnh vượng chung. Anh quốc vẫn nắm giữ các căn cứ này do vị trí chiến lược của đảo Síp trong Địa Trung Hải.
== Xem thêm ==
Cộng hòa Síp
== Tham khảo ==
Wikimedia Atlas của Akrotiri and Dhekelia, có một số bản đồ liên quan đến Akrotiri and Dhekelia.
Mục “Akrotiri” trên trang của CIA World Factbook.
Mục “Dhekelia” trên trang của CIA World Factbook.
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
Sovereign Base Areas Administration web-pages
BBC News – "UK offers to cede Cyprus land"
BBC News – "Cyprus protesters clash at UK base"
Cyprus Mail, Nathan Morley – "Mystery of Dhekelia Cemetery"
Cyprus Mail, Nathan Morley – "Dhekelia at 60"
Cyprus Independence Agreement - Hansard Official UK Parliament Record
James Rogers and Luis Simón. The Status and Vị trí của the Military Installations of the Member States of the European Union and Their Potential Role for the European Security and Defence Policy (ESDP). Brussels: European Parliament, 2009. 25 trang |
thẻ đỏ.txt | Thẻ đỏ là một loại hình phạt trong bóng đá. Các loại hình phạt trong môn này theo từ nhẹ đến nặng bao gồm: khiển trách bằng miệng, thẻ vàng "1" và thẻ đỏ. 1 thẻ đỏ tương đương với 2 thẻ vàng. Thẻ đỏ cũng dùng cho những cầu thủ phạm lỗi trong điều 12 của Luật bóng đá.
== Kiểu phạt ==
Mỗi khi 1 cầu thủ bị phạt 1 thẻ đỏ hoặc 2 thẻ vàng (giá trị 2 thẻ đã nói trên) thì thường sẽ bị đuổi khỏi sân và không được thay thế bằng cầu thủ dự bị. Mỗi khi trọng tài rút 1 thẻ vàng cho cầu thủ, có nghĩa là cầu thủ không được phạm lỗi để nhận thêm thẻ, vì khi đó, sau khi trọng tài rút thẻ vàng thứ 2 thì 1 thẻ đỏ sẽ được rút ra. (cầu thủ có thể bị phạt thẳng bằng thẻ đỏ)
Thẻ đỏ để phạt những cầu thủ phạm những lỗi nặng nhất hay phạm các lỗi được quy định trong luật 12 của Luật bóng đá. Thủ môn có thể nhận thẻ đỏ do lỗi phản ứng, phạm lỗi nặng trong vòng cấm hoặc chơi bóng bằng tay khi đứng ngoài vạch 16,50 m "2". Thẻ đỏ có thể được rút ra khi xảy ra xô xát "3" giữa các cầu thủ.
Như trên đã nói, một cầu thủ bị phạt thẻ đỏ sẽ bị đuổi khỏi sân và không được thay thế bằng cầu thủ dự bị. Do đó, một đội bị phạt bao nhiêu thẻ đỏ thì số người còn lại trên sân sẽ ít đi bấy nhiêu và ngược lại. Nếu thủ môn bị phạt thẻ đỏ, một trong những cầu thủ còn lại sẽ thay thế cho thủ môn và đội vẫn chơi với 10 người như bình thường.
== Lịch sử ==
Thẻ đỏ ra đời từ một cuộc cãi cọ ở World Cup, do không hiểu tiếng tiếng của nhau nên trọng tài không thể xử phạt. Thẻ vàng cũng có mặt lúc đó. Trước đây, khi chưa có 2 loại thẻ, trọng tài chỉ nói: "Anh đã phạm lỗi... "4" !" rồi báo cho đội trưởng của anh ta. Từ đó, 2 loại thẻ này dùng để phạt các cầu thủ mắc lỗi. Sau khi bị thẻ đỏ họ có thể chịu cú đá phạt trực tiếp từ đối phương.
== Tham khảo ==
== Chú thích ==
=== Chú thích 1 ===
Chú thích trong bài "Thẻ vàng".
=== Chú thích 2 ===
Khu cấm địa.
=== Chú thích 3 ===
Những hành động có thể gây nguy hiểm.
=== Chú thích 4 ===
Tuỳ trường hợp mà cầu thủ đó phạm lỗi nào. Ví dụ, anh ta câu giờ thì trọng tài sẽ nói: "Anh đã phạm lỗi câu giờ!".
== Ngoại lệ ==
=== Ngoại lệ 1 ===
Đó là trong một trận đấu World Cup, khi một trọng tài người Anh Graham Poll đã rút tới 3 thẻ vàng rồi mới tới thẻ đỏ cho 1 cầu thủ. |
ném biên (bóng đá).txt | Ném biên từ đường biên dọc là hình thức bắt đầu lại trận đấu khi bóng bị bay ra khỏi đường biên dọc ở hai bên sân, người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội bất kỳ. Đội còn lại sẽ được ném biên từ đường biên dọc (điểm bóng dừng lại ngoài sân).
Một đội được hưởng quả ném biên khi:
toàn bộ trái bóng, sau khi chạm vào một cầu thủ của đội bất kỳ, ra khỏi đường biên dọc phía bên trái hoặc bên phải sân, trên mặt đất hay trong không gian.
Từ quả ném biên, bàn thắng chỉ được công nhận là hợp lệ khi tiếp xúc chân ít nhất một cầu thủ khác.
== Quy định ==
Quay mặt vào trong sân.
Có thể dẫm một phần chân lên biên dọc hoặc đứng hẳn ra ngoài đường biên dọc.
Dùng lực đều cả 2 tay.
Ném bóng từ phía sau liên tục, qua đầu. Cầu thủ ném biên không được chạm bóng lần nữa nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác. Bóng trong cuộc ngay sau khi vào trong sân.
== Xử lý các lỗi vi phạm ==
Cầu thủ thực hiện quả ném biên không phải là thủ môn:
Nếu sau khi bóng vào cuộc, cầu thủ ném biên lại chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay) trước khi bóng một cầu thủ khác: Cầu thủ đó bị phạt quả gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi phạm lỗi.
Nếu cầu thủ sau khi ném bóng vào cuộc lại cố tình dùng tay chơi bóng trước khi bóng chạm một cầu thủ khác:
Phạt quả trực tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi phạm lỗi.
Quả phạt đền nếu vị trí phạm lỗi ở trong khu phạt đền của đội phạm lỗi.
Nếu thủ môn sau khi ném bóng vào cuộc lại chạm bóng lần thứ 2 (không phải bằng tay), trước khi bóng chạm một cầu thủ khác: Phạt quả gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại vị trí phạm lỗi.
Nếu thủ môn sau khi ném bóng vào cuộc lại cố tình dùng tay chơi bóng lần nữa trước khi bóng chạm một cầu thủ khác:
Vị trí phạm lỗi ở ngoài khu phạt đền sẽ phạt quả trực tiếp cho đội đối phương được hưởng tại nơi phạm lỗi.
Vị trí phạm lỗi ở trong khu phạt đền sẽ phạt quả gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại vị trí phạm lỗi.
Nếu đối phương có hành vi khiểm nhã hoặc ngăn cản cầu thủ ném biên: Cầu thủ đó bị coi là có hành vi khiếm nhã và nhận thẻ vàng.
Đối với những vi phạm khác: Quyền ném biên được chuyển cho đội đối phương.
== Kĩ thuật ném biên ==
Có 2 kĩ thuật ném biên là đứng tại chỗ ném biên và chạy lấy đà ném biên.
=== Đứng tại chỗ ném biên ===
Mặt đối diện với hướng bóng đi, hai chân đứng chân trước chân sau hoặc đứng mở ra. Khớp gối hơi gập lại, phần thân trên ngửa ra sau thành hình cánh cung ngược, hai tay mở tự nhiên, hai ngón tay cái đối diện nhau bàn tay cầm ở phần sau của bóng, co khuỷu tay đưa bóng ra phía sau đầu. Khi ném bóng, chân sau hoặc cả hai chân đạp mạnh xuống đất, hai gối duỗi thẳng nhanh chóng di chuyển cơ thể, hai tay cầm bóng vung từ sau ra trước, khi bóng đã đưa qua đầu, dùng lực vút của cổ tay ném bóng vào trong sân. Khi ném bóng, chân sau có thể kéo lướt thẳng trên mặt đất, nhưng tuyệt đối hai chân đều không được rời khỏi mặt đất.
=== Chạy lấy đà ném biên ===
Chạy, hai tay cầm bóng ở trước ngực, đến bước đà cuối cùng đưa bóng ra phía sau đầu, đồng thời ngửa phần thân trên về phía sau tạo thành hình cánh cung ngược và thực hiện động tác ném bóng tương tự như động tác ném bóng tại chỗ. Chạy lấy đà ném biên là nhờ vào tốc độ chạy đà để ném bóng được xa hơn, nhằm tăng thêm uy lực tấn công. Khi ném biên, mặt phải hướng về hướng bóng đi, hai tay đưa bóng ra phía sau đầu, động tác ném bóng phải liên tục, hai tay dùng lực đều nhau, hai chân không được rời khỏi mặt đất. Chú ý khi ném biên, hai chân phải đứng ở bên ngoài hoặc trên đường biên dọc.
== Chiến thuật ném biên ==
=== Chiến thuật tấn công khi ném biên ===
Trong thi đấu cả hai bên đều có rất nhiều cơ hội để thực hiện các quả ném biên. Ngày nay ném biên không chỉ đơn thuần là việc đưa bóng vào cuộc, mà nó còn là cơ hội để tổ chức tấn công, đặc biệt là khi được hưởng quả ném biên ở gần đường biên ngang trên sân đối phương thì sự uy hiếp lại càng tăng thêm. Khi đồng đội thực hiện quả ném biên, các cầu thủ khác phải tích cực chạy chỗ, cắt đuôi, lôi kéo đối phương tiếp ứng, yểm hộ đồng đội... để tạo ra các khoảng trống thuận tiện cho việc nhận bóng.
=== Chiến thuật phòng thủ khi đối phương ném biên ===
Khi đối phương ném biên, các cầu thủ của đội phòng thủ phải tiến hành kèm chặt các cầu thủ tấn công ở gần bóng của đối phương. Khi kèm người các cầu thủ phòng ngự phải đứng đúng vị trí, tránh để bị đối phương cắt đuôi và phải chú ý hỗ trợ, bọc lót cho nhau.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Toàn văn Luật bóng đá Việt Nam
The current Laws of the Game (FIFA)
Liên đoàn Bóng đá Việt Nam
Văn bản pháp quy về bóng đá tại Việt Nam
Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2005
Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2006
Quy định về kỷ luật của FIFA (FDC) |
xêsi.txt | Xêsi (tiếng Latinh: caesius) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Cs và số nguyên tử bằng 55. Nó là một kim loại kiềm mềm, màu vàng ngà, và với điểm nóng chảy là 28 °C (83 °F) khiến cho nó trở thành một trong các kim loại ở dạng lỏng tại hay gần nhiệt độ phòng. Xêsi là một kim loại kiềm, có tính chất vật lý và hóa học giống với rubidi, kali; là kim loại hoạt động mạnh, có khả năng tự cháy, phản ứng với nước thậm chí ở nhiệt độ −116 °C (−177 °F). Nó là nguyên tố có độ âm điện thấp thứ hai sau franxi, và chỉ có một đồng vị bền là xêsi-133. Xêsi được khai thác trong mỏ chủ yếu từ khoáng chất pollucit, trong khi các đồng vị phóng xạ khác, đặc biệt là xêsi-137 - một sản phẩm phân hạch hạt nhân, được tách ra từ chất thải của các lò phản ứng hạt nhân.
Nhà hóa học người Đức Robert Bunsen và nhà vật lý học Gustav Kirchhoff đã phát hiện ra xêsi năm 1860 bằng một phương pháp mới được phát triển là "quang phổ phát xạ nung bằng ngọn lửa". Các ứng dụng quy mô nhỏ đầu tiên của xêsi là "chất bắt giữ" trong ống chân không và trong tế bào quang điện. Năm 1967, dựa trên nguyên lý của Einstein về sự không đổi của tốc độ ánh sáng trong vũ trụ, Ủy ban Quốc tế về Cân đo đã tách biệt hệ đếm 2 sóng riêng biệt từ quang phổ phát xạ của xêsi-133 để đồng định nghĩa giây và mét trong hệ SI. Từ đó xêsi được ứng dụng rộng rãi trong các đồng hồ nguyên tử độ chính xác cao.
Từ thập niên 1990, ứng dụng của nguyên tố này trên quy mô lớn nhất là xêsi format trong dung dịch khoan. Nó có nhiều ứng dụng trong kỹ thuật điện, điện tử, và hóa học. Đồng vị phóng xạ xêsi-137 có chu kỳ bán rã khoảng 30 năm và được sử dụng trong y học, thiết bị đo công nghiệp và thủy văn. Mặc dù nguyên tố chỉ có độ độc tính trung bình, nó là vật liệu nguy hại ở dạng kim loại và các đồng vị phóng xạ của nó ảnh hưởng đến sức khỏe cao nếu được phóng thích ra môi trường.
== Đặc trưng ==
=== Tính chất vật lý ===
Xêsi là một kim loại có màu nhạt rất dẻo, độ cứng thấp và rất mềm (độ cứng của nó là 0,2, là nguyên tố mềm nhất), nó chuyển sang màu tối khi có mặt ôxy ở dạng vết. Xêsi có điểm nóng chảy ở 28,4 °C (83,1 °F), là một trong ít các kim loại nguyên tố ở dạng lỏng trong điều kiện gần nhiệt độ phòng. Thủy ngân là kim loại nguyên tố duy nhất có điểm nóng chảy thấp hơn xêsi. Thêm vào đó, kim loại xêsi có điểm sôi khá thấp, 641 °C (1.186 °F), thấp nhất trong tất cả các kim loại trừ thủy ngân. Các hợp chất của nó cháy cho ngọn lửa màu xanh dương hoặc tím.
Xêsi tạo hợp kim với các kim loại kiềm khác, cũng như với vàng, và tạo hỗn hống với thủy ngân. Ở nhiệt độ dưới 650 °C (1.202 °F), nó không tạo hợp kim với coban, sắt, molypden, niken, platin, tantalum hay wolfram. Nó tạo thành các hợp chất đa kim với antimon, galli, indi và thori, có tính cảm quang. Xêsi tạo hỗn hợp với tất cả kim loại kiềm, trừ liti; hợp kim với tỉ lệ mol chiếm 41% xêsi, 47% kali, và 12% natri có điểm nóng chảy thấp nhất trong bất kỳ hợp kim kim loại nào đã được biết đến, ở −78 °C (−108 °F). Một vài hỗn hống đã được nghiên cứu như: CsHg2 có màu đen tạo ra ánh kim màu tía, trong khi CsHg có màu vàng ánh bạc.
=== Tính chất hóa học ===
Kim loại xêsi có độ hoạt động mạnh và tự bốc cháy. Nó phản ứng nổ với nước thậm chí ở nhiệt độ thấp, mạnh hơn các kim loại khác trong nhóm 1. Phản ứng với nước đá ở nhiệt độ thấp −116 °C (−177 °F). Do có tính hoạt động mạnh, kim loại xêsi được xếp vào nhóm vật liệu nguy hại. Nó được trữ và vận chuyển trong hidrocacbon khô, như dầu khoáng. Tương tự, nó phải được xử lý trong khí trơ như argon. Tuy nhiên, phản ứng nổ xêsi-nước thường ít mạnh hơn phản ứng nổ natri-nước với cùng một lượng natri. Điều này là do xêsi phát nổ ngay lập tức khi tiếp xúc với nước, nên có ít thời gian để tích tụ hydro. Xêsi có thể được chứa trong ống thủy tinh borosilicat được hút chân không. Với một lượng hơn 100 gram (3,5 oz), xêsi được vận chuyển trong các thùng chứa bằng thép không gỉ được bịt kín.
Tính chất hóa học của xêsi tương tự các kim loại kiếm khác như gần với tính chất của rubidi hơn. Là một kim loại kiếm, trạng thái ôxy hóa phổ biến của nó là +1. Có một số khác biệt nhỏ từ thực tế rằng nó khối lượng nguyên tử lớn hơn và độ dương điện lớn hơn so với các kim loại kiềm khác. Xêsi là nguyên tố hóa học có độ dương điện cao nhất. Ion xêsi cũng lớn hơn và ít "cứng" hơn so với các kim loại kiềm nhẹ hơn.
=== Hợp chất ===
Phần lớn các hợp chất của xêsi chứa nguyên tố ở dạng cation Cs+, nó tạo liên kết ion với nhiều loại anion. Một ngoại lệ đáng chú ý là trường hợp anion caesua (Cs−). Các ngoại lệ khác bao gồm nhiều suboxit (xem phần các oxit bên dưới).
Đối với các hợp chất thông thường, các muối Cs+ hầu như không màu trừ anion là có màu. Nhiều muối đơn giản là hygroscopic, nhưng ít hơn so với các muối tương ứng của các kim loại kiềm nhẹ hơn. Các muối phosphat, acetat, cacbonat, halua, oxit, nitrat, và sulfat đều tan trong nước. Các muối kép thường ít tan hơn, và tính tan thấp của xêsi nhôm sulfat được khai thác để lấy Cs từ quặng của nó. Muối kép với antimon (như CsSbCl4), bismuth, cadmi, đồng, sắt, và chì cũng ít tan.
Xêsi hydroxit (CsOH) là một bazơ cực mạnh và sẽ nhanh chóng ăn mòn bề mặt của bán dẫn như silicon. CsOH thông thường được coi là "bazơ mạnh nhất" (sau FrOH), phản ánh tính hút tương đối yếu giữa ion lớn Cs+ và OH−; nhưng trên thực tế thì nhiều hợp chất khác không tan trong dung dịch, như n-butyl liti (C4H9Li) hay amit natri (NaNH2) là các bazơ mạnh hơn.
Hỗn hợp cân bằng hóa học của xêsi và vàng sẽ phản ứng để tạo thành xêsi aurua vàng (Cs+Au−) trong điều kiện nung. Aion aurua có ứng xử như một giả halogen. Hợp chất phản ứng mãnh liệt với nước tạo xêsi hydroxit, vàng kim loại, và khí hydro; trong amoniac lỏng nó có thể phản ứng với một loại nhựa trao đổi ion xêsi đặc biệt tạo ra tetramethylammonium aurua. Hợp chất với platin tương tự như xêsi platinua đỏ (Cs2Pt) chứa ion platinua có ứng xử như một giả chalcogen.
==== Phức ====
Giống như các cation kim loại, Cs+ tạo phức với các bazơ Lewis trong dung dịch. Do có kích thước lớn, Cs+ thường có số phối trí lớn hơn 6, là điển hình cho các cation kim loại kiềm nhẹ hơn. Xu hướng này thể hiện rõ bởi số phối trí 9 trong CsCl, so với mẫu halit khi các kim loại kiềm khác liên kết với clo. Nó có số phối trí cao và mềm (khuynh hướng tạo thành liên kết cộng hóa trị) là điểm cơ bản để tách Cs+ ra khỏi các cation khác, như xử lý chất thải hạt nhân khi 137Cs+ được tác ra khỏi một lượng lớn K+ không phóng xạ.
==== Halua ====
Xêsi florua (CsF) là một chất rắn màu trắng háo nước được sử dụng rộng rãi trong hóa học cacbon-flo làm nguồn cung cấp anion florua. Xêsi florua có cấu trúc giống halit, nghĩa là các ion Cs+ và F− xếp trong một hình lập phương kết chặt giống như Na+ và Cl− trong natri clorua.
Xêsi clorua (CsCl) kết tinh theo hệ lập phương, còn được gọi là cấu trúc xêsi clorua. Kiểu cấu trúc này là một ô mạng lập phương nguyên thủy với một đơn vị cơ bản gồm 2 nguyên tử, mỗi nguyên tử có số phối trí là 8; các nguyên tử clorua nằm trên các đinh của ô mạng, còn xêsi nằm ở trọng tâm của hình lập phương. Cấu trúc này giống với CsBr và CsI, và nhiều hợp chất khác không chứa Cs. Cấu trúc CsCl được tham chiếu vì Cs+ có bán kính ion là 174 pm và Cl− 181 pm.
==== Oxit ====
Xêsi tạo nhiều hợp chất hai cấu tử với ôxy hơn các kim loại kiềm khác. Khi cháy trong không khí, superoxit CsO2 là sản phẩm chính. Xêsi oxit (Cs2O) "bình thường" tạo các tinh thể hệ sáu phương có màu vàng cam, và chỉ có oxit loại anti-CdCl2. Nó hóa hơi ở 250 °C (482 °F), và phân hủy thành kim loại xêsi và peroxit Cs2O2 ở nhiệt độ trên 400 °C (752 °F). Ngoài các superoxit và ozonua CsO3, nhiều suboxit có màu sáng cũng được nghiên cứu, như Cs7O, Cs4O, Cs11O3, Cs3O (lục sẫm), CsO, Cs3O2, hay Cs7O2. Chất Cs7O2 có thể được nung trong chân không để tạo ra Cs2O. Hợp chất hai cấu tử với lưu huỳnh, selen, và telluri cũng tồn tại.
=== Phổ biến ===
Xêsi là một nguyên tố tương đối hiếm vì nó chiếm trung bình khoảng 3 ppm trong vỏ Trái Đất. Nguyên tố này phổ biến thứ 45 trong số các nguyên tố và thứ 36 trong nhóm kim loại. Tuy vậy, nó phổ biến hơn các nguyên tố như antimony, cadmi, thiếc và tungsten, và lớn gấp 20 lần so với thủy ngân hoặc bạc, nhưng chỉ hơn 3,3% so với rubidi là loại cộng sinh với nó.
Do có bán kính ion lớn, xêsi là một trong những nguyên tố không tương hợp trong việc thay thế với các nguyên tố khác trong ô mạng tinh thể. Trong sự kết tinh phân đoạn mácma, xêsi được tập trung ở pha lỏng và kết tinh sau cùng. Do đó, các mỏ xêsi lớn nhất là các thân quặng pecmatit được hình thành từ quá trình làm giàu quặng này. Do xêsi không thể thay thế kali cũng như rubidi, các khoáng vật kiềm hình thành do quá trình bay hơi như sylvit (KCl) và carnallit (KMgCl3·6H2O) chỉ có thể chứa 0,002% xêsi. Từ đó, Cs được tìm thấy trong ít khoáng vật. Một phần xêsi có thể được tìm thấy trong beryl (Be3Al2(SiO3)6) và avogadrit ((K,Cs)BF4), lên đến 15 wt% Cs2O trong khoáng pezzottait (Cs(Be2Li)Al2Si6O18), lên đến 8,4 wt% Cs2O trong londonit ((Cs,K)Al4Be4(B,Be)12O28), và ít phổ biến hơn trong rhodizit. Nguồn khoáng sản duy nhất quan trọng có giá trị kinh tế của xêsi là pollucit Cs(AlSi2O6), nó được tìm thấy ở một vài nơi trên thế giới trong các pecmatit, và đồng sinh với nguyên tố có giá trị hơn là liti trong lepidolit và petalit. Trong pecmatit, các hạt có kích thước lớn và các khoáng vật bị chia tách rõ tạo ra một loại quặng cao cấp trong khai thác mỏ.
Một trong những nguồn tài nguyên giàu xêsi và quan trọng nhất trên thế giới là mỏ Tanco ở Bernic Lake, Manitoba, Canada. Mỏ được ước tính chứa 350.000 tấn quặng pollucit, chiếm 2/3 trữ lượng trên thế giới. Mặc dù cân bằng hàm lượng xêsi trong pollucit là 42,6%, các mẫu pollucit tinh khiết từ mỏ này có thể chỉ chiếm khoảng 34% xêsi, trong khi hàm lượng trung bình 24 wt%. Pollucit thương mại chứa hơn 19% xêsi. Mỏ pecmatit Bikita ở Zimbabwe được khai thác để lấy petalit, nhưng nó chỉ chứa một lượng đáng kể pollucit. Một lượng pollucit khá phong phú cũng được khai thác ở sa mạc Karibib, Namibia. Với tốc độ khai thác các mỏ trên thế giới hiện nay với sản lượng 5 đến 10 tấn mỗn năm, với trữ lượng hiện tại việc khai thác có thể kéo dài hàng ngàn năm.
=== Đồng vị ===
Xêsi có ít nhất 39 đồng vị đã biết, là nhiều hơn bất kỳ một nguyên tố nào (ngoại trừ franxi). Nguyên tử lượng của các đồng vị này nằm trong khoảng từ 112 tới 151. Nhiều trong số này được tổng hợp từ các nguyên tố nhẹ hơn bằng quá trình bắt neutron chậm (quá trình S) bên trong các sao già, cũng như trong các vụ nổ siêu tân tinh (quá trình R). Mặc dù có nhiều đồng vị như vậy, song xêsi chỉ có 1 đồng vị ổn định trong tự nhiên là Cs133 có 78 neutron. Mặc dù nó có spin hạt nhân lớn (7⁄2+), các nghiên cứu cộng hưởng từ hạt nhân có thể được tiến hành trên đồng vị này ở tần số cộng hưởng 11,7 MHz.
135Cs có chu kỳ bán rã rất dài khoảng 2,3 triệu năm, dài nhất trong tất cả các đồng vị của xê-si. 137Cs và 134Cs có chu kỳ bán rã lần lượt là 30 và 2 năm. 137Cs phân rã beta tạo thành đồng vị 137mBa có thời gian tồn tại ngắn, và sau đó thành bari không phóng xạ, trong khi 134Cs chuyển trực tiếp thành 134Ba. Các đồng vị có số khối 129, 131, 132 và 136 có chu kỳ bán rã từ một ngày đến hai tuần, trong khi hầu hết các đồng vị còn lại có chu kỳ bán rã từ vài giây đến một giây. Có ít nhất 21 đồng phân hạt nhân ở trạng thái kích thích. Ngoài 134mCs (có chu kỳ bán rã dưới 3 giờ), tất cả đều rất không bền và phân rã có chu kỳ vài phút hay ngắn hơn.
Đồng vị 135Cs là một trong những sản phẩm phân hạch hạt nhân của urani có thời gian tồn tại lâu, nó được tạo ra trong các lò phản ứng hạt nhân. Tuy nhiên, sản lượng sản phẩm phân hạch của nó bị giảm trong hầu hết các lò phản ứng do nguyên tử trước đó của nó, 135Xe, là một neutron cực kỳ động và chuyển hóa thường xuyên thành 136Xe bền trước khi phân rã thành 135Cs.
Do phân rã beta của nó (thành 137mBa), 137Cs là một nguồn phát phóng xạ gamma mạnh. Chu kỳ bán rã của làm nó trở thành một sản phẩm phân hạch có thời gian tồn tại trung bình cùng với 90Sr—cả hai góp phần phát ra phóng xạ của các nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng sau nhiều năm làm lạnh cho đến hàng trăm năm sau khi sử dụng. Ví dụ, 137Cs cùng với 90Sr hiện tạo ra một nguồn phóng xạ lớn nhất ở khu vực xung quanh thảm họa Chernobyl. Không khả thi để xử lý 137Cs bằng bắt neutron (do tỉ lệ bắt giữ thấp) và kết quả là nó phải được để cho phân rã.
Hầu như tất cả xêsi được tạo ra từ phân hạch hạt nhân đều từ phân rã beta của các sản phẩm phân hạch giàu neutron hơn, trải qua nhiều đồng vị iod và xenon khác nhau. Do iod và xenon có bay hơi và có thể phân tán qua nhiên liệu hạt nhân hoặc không khí, xêsi phóng xạ thường được tạo ra rất xa nguồn phân hạch. Với vụ thử vũ khí hạt nhân khoảng năm 1945, 137Cs đã được giải phóng vào khí quyển và sau đó vào bề mặt trái đất ở dạng bụi phóng xạ.
== Sản xuất ==
Khai thác quặng pollucit là một phương án sản xuất xêsi và được tiến hành trên quy mô nhỏ so với hầu hết các mỏ kim loại khác. Quặng được nghiền, sàng, nhưng thường không tập trung, và sau đó nghiền mịn. Xêsi sau đó được chiết tác từ chủ yếu pollucit bởi ba phương pháp: hòa tan bằng axit, phân rã kềm, và khử trực tiếp.
Hòa tan axit, đá pollucit silicat được hòa tan trong các axit mạnh như axit clohydric (HCl), axit sulfuric (H2SO4), axit bromhydric (HBr), hay axit flohydric (HF). Với axit clohydric sẽ tạo ra hỗn hợp clorua tan và vác muối kép clorua không tan của xêsi được kết tủa ở dạng xêsi antimon clorua (Cs4SbCl7), xêsi iod clorua (Cs2ICl), hay xêsi hexaclorocerat (Cs2(CeCl6)). sau khi tách, muối kép đã được kết tủa ở dạng tinh khiết được phân hủy, và thu được CsCl tinh khiết sau khi cho nước bốc hơi. Phương pháp sử dụng axit sulfuric cho ra muối kép không tan trực tiếp ở dạng phèn xêsi (CsAl(SO4)2·12H2O). Nhôm sunfat trong dung dịch được chuyển thành nhôm oxit không tan bằng cách nung phèn với cacbon, và sản phẩm được thủy luyện với nước để tạo ra dung dịch Cs2SO4.
Nung pollucit với canxi cacbonat và canxi clorua tạo ra các canxi silicat không tan và xêsi clorua tan. Dùng nước hoặc ammoniac loãng (NH4OH) tạo ra dung dịch clorua loãng (CsCl). Dung dịch này có thể cho bốc hơi tạo ra xêsi clora hoặc chuyển thành phèn xêsi hay xêsi cacbonat. Dù không có tính thương mại, việc khử trực tiếp quặng với kali, natri hay canxin trong chân không cũng tạo ra trực tiếp kim loại xêsi.
Hầu hết xêsi được khai thác (ở dạng muối) được chuyển trực tiếp thành xê-si format (HCOO−Cs+) cho các ứng dụng như khoan dầu. Để cung cấp cho sự phát triển của thị trường, Cabot Corporation đã xây dựng nhà máy năm 1997 ở mỏ Tanco gần Bernic Lake, Manitoba, với công suất 12.000 thùng (1.900 m3) mỗi năm ở dạng dung dịch xêsi format. Các hợp chất của xêsi được sản xuất ở quy mô nhỏ ban đầu là xêsi clorua và các nitrat của nó.
Ngoài ra, kim loại xêsi có thể thu được từ các hợp chất được làm tinh khiết từ quặng. Xêsi clorua và các xêsi halua khác có thể được khử ở 700 đến 800 °C (1.292 đến 1.472 °F) với canxi hoặc bari, sau đó chưng cất kim loại. Bằng cách tương tự, aluminat, carbonat, hay hydroxit có thể được khử bằng magiê. Kim loại cũng có thể được tách ra bằng điện phân dung dịch xêsi cyanua (CsCN). Ngoại lệ, xêsi dạng khí và tinh khiết có thể được tạo ra bằng cách nhiệt phân xêsi azua CsN3 ở 390 °C (734 °F), loại cyanua này được tạo ra từ dung dịch xêsi sulfat và bạc azua. Trong các ứng dụng chân không, xêsi dicromat có thể được phản ứng với zirconi tạo ra kim loại xê-si tinh khiết mà không tạo ra các sản phẩm khí khác.
Cs2Cr2O7 + 2 Zr → 2 Cs + 2 ZrO2+ Cr2O3
Giá xêsi kim loại tinh khiết 99,8% năm 2009 khoảng 10 USD một gram (280 USD một ounce), nhưng các hợp chất của nó rẻ hơn đáng kể.
== Lịch sử ==
Xêsi (tiếng Latinh caesius có nghĩa là "thiên thanh" hay "lam nhạt") được Robert Bunsen và Gustav Kirchhoff phát hiện nhờ quang phổ năm 1860 trong nước khoáng lấy từ Dürkheim, Đức. Việc xác định nó dựa trên các vạch màu lam nhạt trong quang phổ của nó và nó là nguyên tố đầu tiên được phát hiện nhờ phân tích quang phổ, chỉ một năm sau khi Bunsen và Kirchhoff phát minh ra kính quang phổ.
Để thu được một mẫu xêsi tinh khiết, 44.000 lit nước khoáng đã được cho bốc hơi tạo ra 240 kilôgam (530 lb) dung dịch muối. Các kim loại kiềm thổ được kết tủa ở dạng sulfat hoặc oxalat, để lại các kim loại kiềm trong dung dịch. Sau khi chuyển thành các nitrat và tách ra bằng ethanol thì thu được một hỗn hợp không chứa natri. Từ hỗn hợp này, liti được kết tũa bằng ammoni cacbonat. Kali, rubidi và xêsi tạo thành các muối không tan với axit cloroplatinic, nhưng các muối này có độ hòa tan hơi khác nhau trong nước nóng. Do đó, xêsi và rubidi hexacloroplatinat ((Cs,Rb)2PtCl6) ít tan hơn có thể thu được từ kết tinh phân đoạn. Sau khi khử hexachloroplatinat bằng hydro, xêsi và rubidi có thể được tách ra dựa trên tính tan khác nhau của dạng cacbonat của chúng trong cồn. Quá trình này tạo ra 9,2 gam (0,32 oz) rubidi clorua và 7,3 gam (0,26 oz) xêsi clorua từ 44.000 lit nước khoáng ban đầu.
Hai nhà khoa học đã sử dụng xêsi clorua này để tính toán khối lượng nguyên tử của nguyên tố mới là 123,35 (so với con số hiện tại được chấp nhận là 132,9). Họ đã cố gắng tạo ra xêsi nguyên tố bằng cách điện phân xêsi clorua nóng chảy, nhưng thay vì tạo ra kim loại, thì họ thu được một chất màu xanh đồng nhất "không thể nhìn bằng mắt thường cũng như bằng kính hiển vi" có thể thấy được kim loại ở dạng vết nhỏ nhất"; kết quả là họ đã gán cho nó tên là subclorua (Cs2Cl). Trong thực tế, sản phẩm họ tạo ra có thể là một hỗn hợp keo của xêsi kim loại và xêsi clorua. Việc điện phân dung dịch clorua với anot thủy ngân tạo ra hỗn hống xêsi sẵn sàng phân hủy trong các điều kiện dung dịch. Kim loại tinh khiết cuối cùng cũng được nhà hóa học Đức Carl Setterberg tách ra khi nghiên cứu luận án tiến sĩ của ông với Kekulé và Bunsen. Năm 1882, ông tạo ra kim loại xêsi bằng cách điện phân xêsi cyanua, và điều này đã tránh các vấn đề như đã gặp khi sử dụng clorua.
Trong lịch sử, ứng dụng quan trọng nhất của xêsi là trong nghiên cứu và phát triển, chủ yếu là lĩnh vực điện và hóa. Rất ít ứng dụng phát triển trên xêsi mãi cho đến thập niên 1920, khi nó được sử dụng trong các ống chân không radio. Nó có hai chức năng; là một getter, nó loại bỏ ôxy thừa sau khi chế tạo, và làm chất áo trên cathode được nung nóng, nó làm tăng độ dẫn điện. Xêsi không được công nhận là một kim loại trong công nghiệp hiệu suất cao mãi cho đến thập niên 1950. Những ứng dụng của xêsi không phóng xạ như tế bào năng lượng, photomultiplier, các bộ phận quang học của kính hồng ngoại, chất xúc tác cho một số phản ứng hữu cơ, các tinh thể dùng trong máy đếm nhấp nháy, và trong máy phát điện MHD. Xêsi cũng và vẫn được sử dụng làm nguồn cung cấp các ion dương trong quang phổ khối ion thứ cấp (secondary ion mass spectrometry).
Từ năm 1967, Hệ thống đơn vị đo lường quốc tế xác định giây dựa trên tính chất của xêsi. Hệ SI định nghĩa một giây là 9.192.631.770 chu kỳ phân rã tương ứng với sự chuyển hai mức năng lượng từ trạng thái ổn định của nguyên tử xêsi-133.
== Ứng dụng ==
=== Thăm dò dầu khí ===
Có lẽ ứng dụng phổ biến nhất của xêsi hiện nay là trong các dung dịch khoan dựa trên xesi format (Cs(HCOO)) trong công nghiệp khai thác dầu mỏ. Dung dịch gốc nước của xêsi format (HCOO−Cs+)—được tạo ra từ phản ứng của xêsi hydroxit với Axit formic—được phát triển giữa thập niên 1990 được sử dụng trong khoan giếng dầu và dung dịch hoàn thiện giếng. Chức năng của dung dịch khoan là bôi trơn mũi khoan, mang mùn khoan lên trên bề mặt, và duy trì áp suất thành hệ trong quá trình khoan giếng. Các dung dịch hoàn thiện hỗ trợ cho việc lắp đặt các thiết bị điều khiển (phần cứng) sau khi khoan nhưng phải trước khi khai thác để duy trì áp suất. Tỷ trọng cao của format xêsi (tới 2,3 sg), cùng với tính tương đối lành tính của các hợp chất Cs, làm giảm các yêu cầu đối với các chất rắn huyền phù tỷ trọng cao và có độc trong dung dịch khoan, làm cho nó có một số ưu thế đáng kể về mặt công nghệ, môi trường và công trình,. Xêsi format có thể được trộn với kali và natri format để giảm tỉ trọng dung dịch xuống bằng với tỉ trọng của nước (1.0 g·cm−3). Hơn nữa, nó có thể tự phân hủy và tái sử dụng, và có thể được tái chế, đây là một điểm quan trọng vì chi phí cao của nó (khoảng $4.000 một Barrel năm 2001). Các format kiềm thì an toàn trong vận chuyển và không phá hỏng thành hệ hoặc các kim loại chìm xuống lỗ khoan như những muối tỉ trọng cao ăn mòn thay thế (như dung dịch kẽm bromua ZnBr2); chúng cũng ít cần làm sạch hơn và giảm chi phí đổ thải.
=== Đồng hồ nguyên tử ===
Xêsi cũng đáng chú ý vì các sử dụng trong đồng hồ nguyên tử, với độ chính xác ở mức giây trong hàng nghìn năm. Kể từ năm 1967, đơn vị đo lường thời gian của Hệ đo lường quốc tế (SI), giây, là dựa trên các thuộc tính của nguyên tử xêsi. SI định nghĩa giây bằng 9.192.631.770 chu kỳ bức xạ, tương ứng với sự chuyển trạng thái của hai mức năng lượng spin điện tử trong trạng thái tĩnh của nguyên tử Cs133. Đồng hồ xêsi chính xác đầu tiên được Louis Essen tạo ra năm 1955 ở National Physical Laboratory ở UK. Các đồng hồ này được cải tiến theo định kỳ cứ mỗi nửa thế kỷ, và hình thành các tiêu chuẩn tuân thủ thời gian và đo đạc tần số, và được xem là "đơn vị chính xác nhất mà còn người từng đạt được." Các đồng hồ này đo đạc tần số với sai số 2 đến 3 phần 1014, tương ứng với độ chính xác thời gian là 2 nano giây mỗi ngày, hoặc 1 giây trong 1,4 triệu năm. Phiên bản mới nhất có độ chính xác hơn 1/1015, tức là chúng lệch 1 giây trong 20 triệu năm. Các đồng hồ xêsi cũng được dùng trong các mạng lưới quan sát thời gian trong truyền tín hiện điện thoại di động và truyền thông tin trên Internet.
=== Năng lượng điện và điện tử ===
Các máy phát điện ion nhiệt bằng hơi xêsi là các thiết bị năng lượng thấp chuyển năng lượng nhiệt thành năng lượng điện. Trong bộ chuyển ống chân không hai điện cực, nó trung hòa điện tích trong khoảng không hình thành ở gần ca-tốt, và do vậy nó tăng cường dòng điện.
Xêsi cũng có những đặc điểm quan trọng do tính quang điện của nó, theo đó năng lượng ánh sáng được chuyển thành dòng điện. Nó được dùng trong các tế bào quang điện do các ca-tốt gốc xêsi như hợp chất kim loại K2CsSb, có ngưỡi điện thế thấp để phát ra electron. Các thiết bị quang điện sử dụng xêsi như các thiết bị nhận dạng ký tự quang học, các đèn nhân quang điện, và các ống video camera. Tuy nhiên, germani, rubidi, selen, silicon, telluri, và nhiều nguyên tố khác có thể thay thế xêsi trong các loại vật liệu cảm quang.
Các tinh thể xêsi iodua (CsI), xêsi bromua (CsBr) và xêsi florua (CsF) được ứng dụng làm scintillator trong máy điềm scintillation trong nhiều nghiên cứu khoáng sản và vật lý hạt, vì chúng rất thích hợp để nhận dạng các tia phóng xạ gamma và tia X. Xêsi với vai trò là một nguyên tố nặng cung cấp năng lượng dừng tốt, có khả năng nhận dạng tốt hơn. Các hợp chất của xêsi cũng cung cấp chất phản ứng nhanh (CsF) và ít hút ẩm (CsI).
Hơi xếi được dùng phổ biến trong từ kế. Nguyên tố cũng được dùng làm chuẩn nội trong quang phổ học. Giống các kim loại kiềm khác, xêsi có ái lực mạnh với ôxy và được sử dụng làm "thắng" (phanh) trong ống chân không. Các ứng dụng khác ở dạng kim loại như tia laser năng lượng cao, đèn huỳnh quang, và chỉnh lưu.
=== Dung dịch ly tâm ===
Do có tỉ trọng lớn, các dung dịchxe6ssi clorua,xêsi sulfat, vãe6ssi trifluoroacetat (Cs(O2CCF3)) được sử dụng phổ biến trong sinh học phân tử để tách lọc ly tâm. Công nghệ này được ứng dụng chủ yếu trong tách các hạt virus, bào quan và các phần phân đoạn của tế bào, và các axit nucleic từ các mẫu sinh học.
=== Hóa học và y học ===
Các ứng dụng về hóa của xêsi tương đối ít. Doping với các hợp chất Xêsi được dùng để nâng cao hiệu quả một số chất xúc tác trong sản xuất chất hóa học như các monome axit acrylic, anthraquinone, etylen oxit, metanol, phthalic anhydrua, styren, metyl methacrylat, và nhiều olefin khác nhau. Nó cũng được sử dụng trong chuyển đổi xúc tác sulfur đioxit thành sulfur trioxit trong sản xuất axit sulfuric.
Xêsi florua sử dụng thích hợp trong hóa vô cơ làm chất bazo, hoặc nguồn anhydrous tạo ra ion florua. Các muối Xêsi đôi khi thay các muối natri và kali trong tổng hợp hữu cơ như chất vòng hóa, ester hóa, và polymer hóa. Nó cũng được dùng trong dosimetry bức xạ thermoluminescent (TLD): Khi tiếp xúc với bức xạ, nó thu được những khuyết tật tinh thể do đó khi được nung nóng, chuyển thành phát ra ánh sáng thích hợp với liều nhậu được. Do vậy, việc đo đạc xung ánh sáng bằng đèn nhân quang điện có thể cho phép liều bức xạ tích tụ để có thể lượng hóa được.
=== Hạt nhân và đồng vị của nó ===
Xêsi-137 là một đồng vị phóng xạ rất phổ biến được sử dụng như nguồn phát tia gamma trong các ứng dụng công nghiệp. Ưu điểm của nó là có chu kỳ bán rã gần 30 năm, nó có trong chu trình nhiên liệu hạt nhân, và có 137Ba đồng vị bền cuối. Khả năng hòa tan lớn trong nước là một bất lợi làm cho nó không thích hợp với large pool irradiators trong việc cung ứng cho thực phẩm và dược phẩm. Nó được dùng trong nông nghiệp, điều trị ung thư, và khử trùng vi sinh trong thực phẩm, bùn cống, và thiết bị phẫu thuật. Các đồng vị phóng xạ của xêsi trong các thiết bị xạ trị được dùng trong lĩnh vực y học để trị các loại ung thư nhất định, nhưng những thay thế tốt hơn trong trường hợp khẩn cấp và sử dụng xêsi clorua tan trong nước trong các nguồn có thể tạo ra sự ô nhiễm trên diện rộng, từ từ làm cho các xêsi này không thể sử dụng được nữa. Xêsi-137 đã được sử dụng trong nhiều thiết bị đo đạc công nghiệp, như đo độ ẩm, tỉ trọng, thủy chuẩn, và đo bề dày. Nó cũng được sử dụng trong các thiết bị đo địa vật lý giếng khoan để đo mật độ electron của các thành hệ đá, giá trị này tương tự như mật độ khối của thành hệ.
Đồng vị 137 cũng được sử dụng trong các nghiên cứu thủy văn tương tự như sử dụng triti.Xêsi-137 là đồng vị con trong phản ứng phân hạch hạt nhân. Với việc bắt đầu thử nghiệm hạt nhân khoảng năm 1945, và tiếp tục những vụ thử sau đó trong suốt giữa thập niên 1980, xêsi-137 đã được giải phóng vào không khí và nó dễ dàng được hấp thụ trong các dung dịch. Việc biết sự thay đổi theo năm trong khoảng thời gian đó cho phép thiết lập mối quan hệ giữa đất và các lớp trầm tích. Xêsi-134, và các đồng vị ít phổ biến hơn là xêsi-135, cũng được sử dụng trong thủy văn bằng cách đo lượng xêsi đầu ra của công nghiệp hạt nhân. Trong khi chúng ít phổ biến hơn cả xêsi-133 hay xêsi-137, các đồng vị này có ưu điểm là được tạo ra độc lập từ các nguồn nhân tạo.
=== Ứng dụng khác ===
Xêsi và thủy ngân từng được dùng làm nhiên liệu trong động cơ đẩy của các động cơ ion thời kỳ đầu trên tàu không gian với các chuyến hành trình rất dài. Phương pháp ion hóa là việc tách các electron lớp ngoài cùng từ nhiên liệu khi tiếp xúc với điện cực wolfram có điện thế. Các vấn đề quan tâm như hoạt động ăn mòn của xêsi đối với các bộ phận trên tàu không gian đã chuyển hướng phát triển sang ứng dụng nhiên liệu khí trơ, như xenon; loại này dễ xử lý trong các thí nghiệm ở mặt đất và ít có tiềm năng can thiệp trên phi thuyến không gian. Cuối cùng, xenon đã được sử dụng trên phi thuyền thí nghiệm Deep Space 1 được phóng năm 1998. Tuy nhiên, động cơ đẩy Field Emission Electric Propulsion sử dụng một hệ thống sơn giản các ion kim loại lỏng được tăng tốc như trường hợp của xêsi để tạo ra lực đẩy đã được chế tạo.
Xêsi nitrat được sử dụng làm chất ôxy hóa và chất tạo màu để đốt silic trong pháo sáng hồng ngoại, như pháo sáng LUU-19, do nó phát ra nhiều ánh sáng trong quang phổ cận hồng ngoại. Xêsi đã từng được sử dụng để giảm dấu vết khí thải động cơ trên màn hình radar của máy bay quân sự SR-71 Blackbird. Xêsi cùng với rubidi đã được thêm vào dạng carbonat trong thủy tinh do nó giảm độ dẫn điện và tăng độ ổn định và độ bền của sợi quang học và các thiết bị quan sát ban đêm. Xêsi florua hoặc nhôm florua được sử dụng trong chất hỗ trợ cấu trúc hàn hợp kim nhôm có chứa magiê.
Máy phát điện MHD-hệ thống phát điện đã được nghiên cứu nhưng không được chấp nhận rộng rãi. Kim loại xê-si cũng được xem là chất lỏng làm việc trong các chu trình Rankine nhiệt độ cao của các máy phát điện turboelectric. Các muối xê-si được đánh giá là chất chống sốc đã được sử dụng sau khi tiêm do nhiễm độc asen. Do ảnh hưởng của nó lên nhịp tim, tuy nhiên, chúng có vẻ ít được dùng hơn so với các muối kali hay rubidi. Chúng cũng được dùng để trị động kinh.
== Cảnh báo ==
Các hợp chất xêsi không phóng xạ có độ độc trung bình. Tiếp xúc một lượng lớn có thể gây khó chịu và co thắt, do tính chất tương tự của xêsi so với kali, nhưng những lượng lớn như vậy không thể có được một cách thông thường trong các nguồn tự nhiên, vì thế xêsi không bị coi là chất hóa học chính gây ô nhiễm môi trường. Liều gây chết trung bình (LD50) của xêsi clorua đối với chuột là 2,3 g/kg, so với LD50 của kali clorua và natri clorua. Ứng dụng chính của xêsi không phóng xạ, là xêsi format trong dung dịch khoan dầu khí, lợi dụng độc tính thấp của nó để giảm chi phí thay thế.
Tất cả các kim loại kiềm đều có độ hoạt động hóa học cao. Xêsi, một trong các kim loại kiềm nặng nhất, là một trong số các kim loại hoạt động hóa học mạnh nhất và gây nổ mạnh khi tiếp xúc với nước, do khí hydro được giải phóng ra từ phản ứng bị nung nóng bởi nhiệt giải phóng ra từ chính phản ứng này, gây ra đánh lửa và gây nổ mạnh (như các kim loại kiềm khác) – nhưng do xêsi là quá hoạt hóa nên phản ứng nổ này diễn ra ngay cả với nước lạnh hay nước đá. Nhiệt độ bắt lửa của xêsi là −116 °C, do đó nó có tính tự cháy cao, và bùng nổ trong không khí tạo thành xêsi hydroxit và nhiều oxit khác. Xêsi hydroxit là một bazơ cực mạnh, có khả năng ăn mòn thủy tinh.
Các đồng vị Cs134 và Cs137 (có trong sinh quyển ở mức một lượng rất nhỏ do rò rỉ phóng xạ) là gánh nặng phóng xạ, phụ thuộc vào vị trí của từng khu vực. Xêsi phóng xạ không tích lũy trong cơ thể như nhiều sản phẩm từ phân rã hạt nhân khác (chẳng hạn như iốt phóng xạ hay stronti phóng xạ). Khoảng 10% xêsi phóng xạ hấp thụ được thải ra khỏi cơ thể tương đối nhanh trong mồ hôi và trong nước tiểu. 90% còn lại có chu kỳ bán rã sinh học khoảng 50 đến 150 ngày. Xêsi phóng xạ sau kali và có khuynh hướng tích lũy trong tế bào thực vật, như trong trái cây và rau. Thực vật hấp thụ xêsi ở các mức khác nhau, một số không hấp thụ nhiều, và một số hấp thụ lượng lớn. đôi khi thể hiện khả năng kháng hấp thụ nó. Nó được ghi nhận rằng nấm trong các khu rừng bị ô nhiễm tích tụ xêsi phóng xạ (xêsi-137) trong túi sinh bào tử. Tích tụ xêsi-137 trong các hồ được quan tâm nhiều sau thảm họa Chernobyl. Các thí nghiệm trên chó cho thấy một liều đơn 3,8 millicuries (140 MBq, 4,1 μg xêsi-137) trên mỗi kilogram gây tử vong trong 3 tuần; một lượng nhỏ hơn có thể gây vô sinh và ung thư. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế và các nguồn khác cảnh báo rằng các vật liệu phóng xạ như xêsi-137 có thể được dùng trong các thiết bị phân tán phóng xạ hoặc "bom bẩn".
== Xem thêm ==
Cs-137
Tai nạn Goiânia
Bom bẩn
Khoáng vật của xêsi
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Xesi tại Từ điển bách khoa Việt Nam
(Cs) (Chemical element) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Caesium: the essentials WebElements
Frequently Asked Questions about Cesium and alt.cesium Humor site dedicated to caesium
Cesium Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos (Hoa Kỳ)
CESIUM | Cs - PubChem
Periodic Table of Elements | Element Cesium - Cs EnvironmentalChemistry
The Modern Alchemist: Reacting Fluorine with Caesium Ri Channel 2012 |
thiên hoàng.txt | Thiên hoàng (天皇/ てんのう, Tennō) còn gọi là Ngự Môn (御門/ みかど, Ngự Môn) hay Đế (帝), là tước hiệu của Hoàng đế Nhật Bản. Nhiều sách báo ở Việt Nam gọi đây là Nhật hoàng, còn trong truyền thông thế giới sử dụng tiếng Anh, Thiên hoàng được gọi là Emperor of Japan. Thiên hoàng là người đứng đầu Hoàng gia Nhật Bản.
Sau năm 1945, Thiên hoàng không còn thực quyền mà chỉ là người đứng đầu quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến. Thiên hoàng được xem như là biểu tượng của đất nước Nhật Bản và được người dân Nhật tôn kính. Thiên hoàng cũng đồng thời là vị nguyên thủ quốc gia duy nhất hiện nay được gọi là Emperor trong tiếng Anh hiện nay. Thiên hoàng còn có vai trò là Giáo chủ của Thần đạo Nhật Bản. Trong lịch sử, chỉ có một trường hợp có một không hai là Dụng Minh Thiên hoàng đi lễ Phật ở chùa năm 585.
Hoàng gia Nhật Bản là nền quân chủ di truyền còn tồn tại lâu dài nhất trên thế giới, và hiện tại Thiên hoàng là vị quân chủ duy nhất trên thế giới sử dụng danh hiệu Hoàng đế (Emperor). Các Thiên hoàng xuất thân là thủ lĩnh bộ lạc Yamato. Theo Cổ Sự Ký và Nhật Bản Thư Kỷ, Đế quốc Nhật Bản được Thần Vũ Thiên hoàng sáng lập năm 660 TCN. Tuy nhiên, phần chính sử Nhật Bản chỉ được bắt đầu với Khâm Minh Thiên hoàng, Thiên hoàng thứ 29 theo Danh sách Thiên hoàng truyền thống. Đương kim Thiên hoàng là Akihito (明仁; Minh Nhân), niên hiệu là Bình Thành (平成; Heisei), nên đôi khi ông còn được gọi là Bình Thành Thiên hoàng. Ông lên ngôi vào năm 1989 sau khi cha ông, tức Chiêu Hòa Thiên hoàng (昭和天皇, Shōwa tennō) băng hà.
Với truyền thống tôn sùng Hoàng đế, Thiên hoàng được coi là Thiên tử - con của trời. Thiên hoàng bắt đầu xưng "Thiên tử" (天子, tenshi) từ đầu thế kỷ thứ VII.
Theo huyền thoại Nhật Bản, các vị Thiên hoàng được xem là con cháu của Thái Dương Thần Nữ và do đó cũng được xem là Thần linh trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945. Cho đến năm 1945, triều đình Nhật đã luôn luôn là chỉ huy của các lực lượng quân sự. Tuy nhiên, hầu như thời nào, Thiên hoàng cũng bị điều khiển bởi các thế lực chính trị, với mức độ cao hay thấp, tiêu biểu là họ từng bị Mạc phủ chi phối từ thế kỉ XII đến thế kỉ XIX.
Từ giữa thế kỷ XIX, Hoàng cung Nhật Bản được gọi là Kyūjō (宮城; "Cung thành"), sau đó là Kōkyo (皇居; "Hoàng cư"), và tọa lạc trên địa điểm cũ của thành Edo (江戸城; Giang Hộ thành) tại trung tâm Tokyo. Trước đó, kinh đô Nhật Bản đã đặt tại Kyoto trong gần 11 thế kỷ.
Thiên hoàng đản sanh nhật (天皇誕生日; sinh nhật Thiên hoàng) được tổ chức ngày 23 tháng 12 - ngày sinh của Đương kim Thiên hoàng Akihito - là ngày nghỉ quốc gia Nhật, chỉ 2 ngày trước lễ Giáng sinh (được tổ chức ngày 25 tháng 12). Khi Thái tử Naruhito lên ngôi, ngày lễ này sẽ chuyển sang ngày 23 tháng 2.
== Vai trò hiện tại ==
Giống như hầu hết các chế độ quân chủ lập hiến khác, Thiên hoàng không phải là người đứng đầu chính phủ. Điều 65 của Hiến pháp trao quyền hành pháp cho nội các, trong đó có Thủ tướng Chính phủ là người lãnh đạo. Thiên hoàng cũng không phải là Tổng tư lệnh (nghi thức) của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản. Luật của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản năm 1954 cũng ghi rõ ràng vai trò này là của Thủ tướng Chính phủ.
Quyền hạn của Thiên hoàng bị giới hạn trong việc điều hành những nghi lễ quan trọng. Điều 4 của Hiến pháp khẳng định rằng "Thiên hoàng chỉ có trách nhiệm đại diện quốc gia như đã ghi trong Hiến pháp, Thiên hoàng không có quyền lực trong chính phủ." Nó cũng quy định rằng "Mọi hoạt động của Hoàng đế liên quan đến quốc gia phải tham khảo ý kiến và được Nội các thông qua. Việc này thuộc trách nhiệm của Nội các." (điều 3). Điều 4 cũng nói rằng Thiên hoàng có thể uỷ quyền đại diện quốc gia cho người khác nhưng phải phù hợp với các điều khoản trong Hiến pháp.
Trong khi Thiên hoàng là người chính thức bổ nhiệm chức Thủ tướng Chính phủ, Điều 6 của Hiến pháp đòi ông bổ nhiệm ứng cử viên "theo chỉ định của Quốc hội" mà không có quyền từ chối.
Điều 6 của Hiến pháp chỉ định vai trò của Thiên hoàng trong các nghi lễ sau đây:
Bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ theo chỉ định của Quốc hội.
Bổ nhiệm Chánh án Tòa án tối cao theo chỉ định của Nội các.
Các nhiệm vụ khác của Thiên hoàng được nêu rõ trong Điều 7 của Hiến pháp, theo đó "Dưới sự đồng ý của Nội các, Hoàng đế thay mặt nhân dân thực hiện các quyền sau":
Ban hành các tu chính án Hiến pháp, đạo luật, sắc lệnh của Nội các và hiệp ước;
Triệu tập Quốc hội.
Giải tán Hạ nghị viện.
Tuyên bố kết quả cuộc tổng tuyển cử Quốc hội.
Bổ nhiệm hay bãi miễn các Bộ trưởng, các viên chức theo pháp luật hiện hành, có toàn quyền trong việc uỷ nhiệm thư với đại sứ, bộ trưởng.
Thực hiện ân xá, giảm án, hoãn thi hành án, khôi phục quyền công dân.
Trao huân chương.
Xác định việc Quốc hội chuẩn y các hiệp định quốc tế, các văn bản ngoại giao theo pháp luật hiện hành.
Tiếp đón các Bộ trưởng và Đại sứ quốc tế.
Đại diện quốc gia trong các buổi lễ long trọng.
Nghi lễ thường nhật của Thiên hoàng theo cơ sở của hiến pháp là Nhậm chức Hoàng gia (Shinninshiki) ở Hoàng cung Tokyo và nghi lễ phát biểu hoàng gia trong Tham Nghị viện của Tòa nhà quốc hội. Nghi lễ phát biểu hoàng gia mở theo khóa họp thường và bổ sung của Quốc hội. Khoá họp thường được mở theo cách này mỗi tháng một và sau cuộc bầu cử mới vào Hạ viện. Khoá họp bổ sung thường triệu tập vào mùa thu và được mở ra sau đó .
== Lịch sử ==
Mặc dù Thiên hoàng đã là biểu tượng của tính liên tục với quá khứ, mức độ quyền lực được thực hiện bởi các hoàng đế của Nhật Bản được thay đổi đáng kể trong lịch sử Nhật Bản. Vào đầu thế kỷ thứ 7, Thiên hoàng bắt đầu được gọi là "Thiên tử" (天子, tenshi, hoặc 天子様 tenshi-sama) .
=== Nguồn gốc ===
Thiên hoàng được ghi lại sớm nhất trong Kojiki và Nihon Shoki là Thiên hoàng Jimmu, người được cho là hậu duệ của cháu nữ thần Amaterasu là Ninigi, người xuống từ thiên đường (Tenson kōrin). Theo Nihon Shoki, các Thiên hoàng là một dòng dõi nam giới không bị gián đoạn trong hơn 2.600 năm. Chìa khóa để hiểu biết về nguồn gốc của triều đình Nhật Bản có thể nằm trong các ngôi mộ hoàng gia cổ đại được gọi là kofun. Tuy nhiên kể từ thời kỳ Minh Trị, Cơ quan nội chính Hoàng gia đã từ chối mở cửa kofun cho công chúng hoặc các nhà khảo cổ, với lý do là không để làm phiền linh hồn của các vị vua trong quá khứ. Vào tháng 12 năm 2006, Cơ quan nội chính Hoàng gia thay đổi quyết định này và cho phép các nhà nghiên cứu tiến vào một số kofun mà không bị giới hạn.
=== Sự kiểm soát của các phe phái ===
Đã có sáu gia đình không thuộc hoàng gia đã kiểm soát Thiên hoàng: Soga (khoảng năm 530-645), Fujiwara (khoảng năm 850-1070), Taira (1159-khoảng năm 1180), Minamoto (và Mạc phủ Kamakura) (1192-1333), Ashikaga (1336-1565) và Tokugawa (1603-1867). Tuy nhiên, mỗi shogun từ các gia đình Minamoto, Ashikaga và Tokugawa phải được chính thức công nhận bởi Thiên hoàng, người vẫn là nắm chủ quyền, mặc dù không thể thực hiện quyền hạn của mình một cách độc lập khỏi Mạc phủ.
=== Tranh chấp ===
Sự phát triển của tầng lớp samurai từ thế kỷ thứ 10 dần dần làm suy yếu quyền lực của hoàng gia trên nhiều lĩnh vực, dẫn đến một thời điểm bất ổn. Thiên hoàng bắt đầu xung đột với các shogun trị vì. Một số trường hợp, chẳng hạn như cuộc nổi dậy năm 1221 của Thiên hoàng Go-Toba chống lại Mạc phủ Kamakura và Tân chính Kemmu năm 1336 dưới thời Thiên hoàng Go-Daigo đã thể hiện một cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa hoàng gia và chính phủ quân sự của Nhật Bản.
=== Vấn đề lãnh thổ ===
Cho đến những thế kỷ gần đây, lãnh thổ của Nhật Bản chưa bao gồm một số vùng xa xôi của lãnh thổ hiện đại của nó. Cái tên Nippon chỉ được sử dụng trong những thế kỉ sau khi hoàng gia được thành lập. Chính phủ tập trung chỉ bắt đầu xuất hiện ngay trước và trong thời gian của Thái tử Shotoku (572-622). Thiên hoàng về cơ bản là một hiện thân của sự hòa hợp thiêng liêng hơn là người đứng đầu của một chính quyền cai trị thực tế. Tại Nhật Bản, luôn luôn dễ dàng cho các lãnh chúa đầy tham vọng nắm giữ quyền lực thực tế, vì các vị trí như vậy không mâu thuẫn với vị trí của Thiên hoàng. Chính phủ nghị viện ngày nay tiếp tục tồn tại bên cạnh Thiên hoàng như các tướng quân, quan nhiếp chính, lãnh chúa, người giám hộ... trước kia.
Trong lịch sử danh hiệu Tennō ở Nhật Bản chưa bao gồm chỉ định lãnh thổ như là trường hợp với nhiều vị vua châu Âu. Vị trí của Thiên hoàng là một hiện tượng lãnh thổ độc lập - Thiên hoàng là Thiên hoàng, thậm chí nếu ông có thuộc hạ trong một tỉnh.
=== Shōgun ===
Từ năm 1192 đến 1867, chủ quyền của nhà nước được thực hiện bởi shogun hoặc quan nhiếp chính shikken (1203-1333), người có thẩm quyền theo lệnh của hoàng gia. Khi các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đầu tiên tiếp xúc với người Nhật (xem thời kỳ Nanban), họ so sánh Thiên hoàng, người nắm biểu tượng quyền lực tối cao nhưng rất có rất ít quyền lực chính trị với Giáo hoàng, và Shogun với các nhà cai trị thế tục ở châu Âu (ví dụ như Hoàng đế La Mã Thần thánh). Họ thậm chí còn sử dụng thuật ngữ "Hoàng đế" để gọi shogun/nhiếp chính, ví dụ: trong trường hợp của Toyotomi Hideyoshi, người được các nhà truyền giáo gọi là "Hoàng đế Taicosama" (từ taiko, kampaku đã nghỉ hưu hay Nhiếp chính quan, và tên gọi kính cẩn sama).
=== Minh Trị Duy tân ===
Sau khi Tàu Đen của Phó Đề đốc Matthew C. Perry của Hải quân Hoa Kỳ dùng vũ lực buộc Nhật Bản mở lại giao dịch thương mại với nước ngoài và việc Mạc phủ không có khả năng cản trở cuộc tấn công của những "kẻ man rợ", Thiên hoàng Kōmei bắt đầu khẳng định quyền lực chính trị của ông. Đến đầu những năm 1860, mối quan hệ giữa triều đình và Mạc phủ đã bị thay đổi một cách triệt để. Các lãnh địa bất mãn và ronin bắt đầu tụ hội dưới khẩu hiệu sonnō jōi ("tôn thờ hoàng đế, trục xuất những kẻ man rợ"). Các lãnh địa của Satsuma và Chōshū, kẻ thù truyền kiếp của Tokugawa đã tận dụng cuộc khủng hoảng này để đoàn kết các lực lượng của họ và giành được một chiến thắng quân sự quan trọng bên ngoài Kyoto chống lại lực lượng của Tokugawa.
Năm 1868, Mạc phủ bị giải tán. Một hiến pháp mới đã mô tả Thiên hoàng là "người đứng đầu đế chế, kết hợp trong chính người là chủ quyền", mà quyền lợi bao gồm xử phạt và ban hành pháp luật, chấp hành và thực hiện "mệnh lệnh tối cao của quân đội và hải quân". Một hội nghị được tạo ra vào năm 1893 cũng tôn Thiên hoàng là nhà lãnh đạo của Sở chỉ huy đế quốc.
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
Vai trò của Thiên hoàng là người đứng đầu của Thần đạo Quốc gia bị lợi dụng trong thời gian chiến tranh để tạo ra một sự tôn sùng hoàng gia đã dẫn đến chiến thuật tấn công cảm tử thần phong và các hành vi cuồng tín khác. Điều này đã dẫn đến việc Tuyên bố Potsdam yêu cầu việc "phải xác định thời hạn cho việc loại bỏ tất cả các quyền hạn và ảnh hưởng của những người đã lừa dối người dân Nhật Bản bắt tay vào cuộc chinh phục thế giới". Sau khi Nhật đầu hàng, quân Đồng minh đã ban hành Chỉ thị Thần đạo để chia tách nhà thờ khỏi nhà nước trong phạm vi toàn Nhật Bản, dẫn đến Tuyên ngôn nhân gian của Thiên hoàng đương nhiệm. Sau đó, một hiến pháp mới đã được soạn thảo để xác định vai trò của Thiên hoàng và chính phủ.
=== Hiến pháp hiện tại ===
Hiến pháp quy định về một Thể chế Đại nghị của chính phủ và đảm bảo các quyền cơ bản nhất định. Theo các điều khoản của nó, Thiên hoàng là "biểu tượng của Quốc gia và của sự thống nhất của nhân dân" và nắm một vai trò hoàn toàn theo nghi lễ mà không có sự sở hữu chủ quyền.
Hiến pháp, hay còn được gọi là "Hiến pháp Nhật Bản" (日本國憲法, Nihonkoku-Kenpō), "Hiến pháp thời hậu chiến" (戦後憲法, Sengo-Kenpō) hoặc "Hiến pháp Hòa bình" (平和憲法, Heiwa-Kenpō), được lập ra theo sự chiếm đóng của Đồng minh sau Thế Chiến II và được dự định là nhằm để thay thế chế độ quân chủ và quân phiệt tuyệt đối trước đó của Nhật Bản với một hình thức dân chủ tự do. Hiện nay, đây là một tài liệu cơ bản và không hề bị sửa đổi kể từ khi nó được thông qua.
=== Giáo dục ===
Theo truyền thống thì Thiên hoàng được giáo dục bởi gia sư. Ví dụ, Thiên hoàng Đại Chính có Nogi Maresuke, Thiên hoàng Chiêu Hòa có Nguyên soái Tōgō Heihachirō, Thiên hoàng Akihito có Elizabeth Gray Vining và Shinzo Koizumi làm gia sư.
== Tên gọi ==
Có hai từ tiếng Nhật tương đương với từ tiếng Anh "Hoàng đế": tennō (天皇), được sử dụng để chỉ hoàng đế của Nhật Bản, và kōtei (皇帝, danh hiệu của hoàng đế các nước khác), được sử dụng chủ yếu để mô tả hoàng đế không phải người Nhật. Sumeramikoto (nghĩa là "người của hoàng gia") cũng được sử dụng trong tiếng Nhật cũ. Danh hiệu tennō được sử dụng bởi Thiên hoàng cho đến thời Trung cổ; sau một thời gian không được sử dụng, danh hiệu này được sử dụng lại từ thế kỷ thứ 19. Trong tiếng Anh, mikado (御門, 帝 hoặc みかど), theo nghĩa đen có nghĩa là "cánh cửa tôn kính" (tức là cửa của cung điện hoàng gia, dùng để chỉ ra người đang sống và sở hữu cung điện) đã từng được sử dụng (như trong The Mikado, một operetta của thế kỷ 19), nhưng thuật ngữ này hiện nay đã lỗi thời . (So với Sublime Porte, một thuật ngữ cũ cho chính phủ Ottoman.)
Theo truyền thống của người Nhật, sẽ coi là thiếu tôn trọng nếu gọi tên riêng của bất kỳ người nào, nhất là người có cấp bậc cao quý. Trong trường hợp của gia đình hoàng gia, vẫn được coi là không thích hợp để sử dụng tên riêng. Kể từ thời của Thiên hoàng Minh Trị, theo lệ mỗi Thiên hoàng chỉ dùng một niên hiệu và Thiên hoàng sẽ được đổi danh hiệu sau khi chết bằng cách sử dụng niên hiệu, cộng với từ tennō. Trước thời của Thiên hoàng Minh Trị, niên hiệu được thay đổi thường xuyên hơn và miếu hiệu của Thiên hoàng được lựa chọn theo một cách khác.
Bên ngoài Nhật Bản, bắt đầu với Thiên hoàng Chiêu Hòa, các Thiên hoàng thường được gọi bằng tên riêng của họ, ngay cả khi còn sống và sau khi chết. Ví dụ như, Thiên hoàng trước đây thường được gọi là Hirohito trong tiếng Anh, mặc dù ông không bao giờ được gọi là Hirohito tại Nhật Bản, và được đổi tên thành Chiêu Hòa sau khi chết và là cái tên duy nhất mà người nói tiếng Nhật hiện đang sử dụng khi đề cập đến ông.
Thiên hoàng đương nhiệm thường được gọi bằng danh hiệu Tennō Heika (天皇陛下) hoặc Kinjō Heika (今上陛下) hoặc đơn giản là Tennō. Thiên hoàng đương nhiệm sẽ được đổi tên thành Heisei Tennō (平成天皇)) sau khi chết và chỉ được gọi bởi tên này tại Nhật Bản. Những người không nói tiếng Nhật thường gọi ông là Akihito, hay "Thiên hoàng Akihito" và gần như chắc chắn sẽ vẫn tiếp tục làm như vậy sau khi ông chết. Sẽ là bất kính nếu dùng thụy hiệu để chỉ một Thiên hoàng còn sống.
=== Nguồn gốc của tên gọi ===
Ban đầu, người cai trị của Nhật Bản được biết đến như là 大和大王/大君 (Yamato-ōkimi, Đại vương của Yamato), 倭王/倭国王 (Wa-ō/Wakoku-ō, Vua của Oa quốc), hoặc 治天下大王 (ame-no-shita shiroshimesu ōkimi hoặc sumera no mikoto, Đại vương cai trị tất cả dưới thiên đường) trong nguồn Nhật Bản và Trung Quốc trước thế kỷ thứ 7.
== Truyền thống kết hôn ==
Trong suốt lịch sử, Thiên hoàng và quý tộc Nhật Bản bổ nhiệm vị trí của chính cung, thay vì lập ra hậu cung hay một loại các tì nữ.
Các triều đại hoàng gia Nhật Bản luôn thực hành chế độ đa thê, một truyền thống chỉ kết thúc vào khoảng thời kì Taishō (1912-1926). Bên cạnh hoàng hậu, Thiên hoàng vẫn có thể và gần như luôn luôn lấy thêm một số thứ cung ("thê thiếp") với nhiều thứ bậc khác nhau. Sau một sắc lệnh của Thiên hoàng Ichijō, một số Thiên hoàng thậm chí đã có đến hai hoàng hậu (kōgō and chūgū là hai danh hiệu dùng trong trường hợp này). Với sự giúp đỡ của chế độ đa thê, gia tộc hoàng gia do đó có thể có nhiều con cháu hơn. (Con của thứ cung thường được công nhận là hoàng tử và do vậy có thể được công nhận là người thừa kế ngai vàng nếu hoàng hậu không sinh được một người thừa kế.)
Trong số tám tennō nữ (đương kim hoàng hậu) của Nhật Bản, không hề có ai kết hôn hoặc sinh con sau khi lên ngôi. Một số là quả phụ, đã sinh con trước khi lên ngôi.
Trong việc ngối nôi, con của hoàng hậu thường được lựa chọn hơn là con trai của thứ cung. Vì vậy, việc chọn vợ cho thái tử, tức là cung cấp hoàng hậu tương lai có tầm quang trọng lớn.
Rõ ràng, truyền thống lâu đời nhất của cuộc hôn nhân chính thức trong các triều đại quân chủ là một cuộc hôn nhân giữa các thành viên trong triều đại, thậm chí giữa anh chị em mang một nửa dòng máu, chú và cháu gái. Hôn nhân như vậy được coi là để bảo tồn tốt hơn dòng máu hoàng gia hay nhằm vào việc sinh ra một đứa trẻ mang tính biểu tượng của sự hòa giải giữa hai chi nhánh của các triều đại quân chủ. Con gái của người không phải hoàng gia vẫn là thê thiếp, một thực tế kéo dài cho đến khi Thiên hoàng Shōmu (701-706) chọn người vợ Kōmyō của ông, một người thuộc gia tộc Fujiwara làm chính cung.
Cũng như nhiều nước khác, hoàng gia Nhật Bản luôn liên minh với những thế lực mạnh. Nhiều liên minh như thế đã được thiết lập thông qua hôn nhân. Những cuộc hôn nhân như vậy đã sớm trở thành một truyền thống điều khiển các cuộc hôn nhân của những thế hệ sau này, mặc dù liên minh thực tế ban đầu đã mất đi ý nghĩa thực sự của nó. Một mô hình được lặp đi lặp lại là người con rễ thuộc hoàng gia luôn nằm dưới sự ảnh hưởng của người cha vợ không thuộc hoàng gia.
Bắt đầu từ thế kỷ 7 và 8, Thiên hoàng chủ yếu lấy phụ nữ của gia tộc Fujiwara làm chính cung - những người hầu như là mẹ của quốc vương tương lai. Điều này được che giấu bằng một truyền thống kết hôn giữa những người thừa kế của hai kami (các vị thần của thần đạo): hậu duệ của Amaterasu với con cháu của gia đình kami thuộc gia tộc Fujiwara. (Nguyên là, tộc Fujiwara là hậu duệ từ giới quý tộc tương đối nhỏ, do đó kami của họ có một vị trí không đáng kể trong thế giới thần thoại Nhật Bản.) Con cái của hoàng gia, những người thừa kế của đất nước, với nguồn gốc đến từ hai kami được coi rất phù hợp - hoặc ít nhất là phù hợp với các lãnh chúa Fujiwara mạnh mẽ, những người nhận được ưu tiên trong các cuộc hôn nhân của hoàng gia. Thực tế đằng sau những cuộc hôn nhân như vậy là một liên minh giữa một hoàng tử của triều đình và một lãnh chúa Fujiwara (cha vợ hoặc ông nội của hoàng tử), người với các nguồn lực của mình sẽ hỗ trợ hoàng tử lên ngôi và thường xuyên nắm quyền kiểm soát chính phủ. Những sắp xếp này tạo ra truyền thống nhiếp chính (Sesshō và Kampaku), với các vị trí này chỉ được giữ bởi một lãnh chúa sekke của Fujiwara.
Trước đó, các Thiên hoàng thường kết hôn với những phụ nữ từ gia đình của các lãnh chúa Soga và phụ nữ của chính gia tộc hoàng gia, tức là anh em họ và thậm chí là chị em (chị em cùng cha khác mẹ/cùng mẹ khác cha). Một số người của hoàng gia thuộc thế kỷ thứ 5 và thứ 6 như Thái tử Shōtoku là con của các cặp vợ chồng như vậy. Những cuộc hôn nhân này thường là liên minh hoặc công cụ để lên ngôi: các lãnh chúa Soga đảm bảo sự thống trị của mình khi vị hoàng tử được đặt trên ngai vàng là con rối do chính lãnh chúa đó điều khiển; hay một hoàng tử bảo đảm sự kết hợp của hai gia tộc để tăng cường quyền lên ngôi của chính ông và con cháu. Những cuộc hôn nhân cũng là một phương tiện để đánh dấu một sự hòa giải giữa hai nhánh của triều đình.
Sau vài thế kỷ, Thiên hoàng không thể nào chọn bất cứ ai từ những gia đình bên ngoài để làm chính cung, mặc cho những lợi ít về quyền lực hay sự giàu có do một cuộc hôn nhân như vậy mang lại. Rất hiếm khi một hoàng tử lên ngôi mà người mẹ không có nguồn gốc từ các gia đình đã được phê duyệt. Sự cần thiết trước kia đã biến đổi thành một truyền thống nghiêm ngặt. Truyền thống đã trở nên ép buột hơn so là thành luật.
Phụ nữ Fujiwara thường làm hoàng hậu trong khi phi tần lại đến từ các gia đình quý tộc ít cao quý. Trong hàng ngàn năm, con trai của một người nam của hoàng gia và một phụ nữ của tộc Fujiwara thường là người được nối ngôi.
Năm chi họ của Fujiwara là Ichijō, Kujō, Nijō, Konoe và Takatsukasa là nguồn cung cấp thái tử phi từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 19, thậm chí thường xuyên hơn so với con gái của hoàng thân. Con gái của tộc Fujiwara do vậy thường là hoàng hậu và là mẹ của Thiên hoàng.
Sự hạn chế này về cô dâu của Thiên hoàng và thái tử đã được thực hiện rõ ràng hơn trong thời đại Meiji bởi luật hoàng gia năm 1889. Một điều khoản trong đó quy định rằng con gái của Sekke (năm chi nhánh chính của Fujiwara) và con gái của gia tộc hoàng gia thường là cô dâu được chọn.
Luật này được bãi bỏ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thiên hoàng đương nhiệm, Akihito, đã trở thành thái tử đầu tiên trong hơn một ngàn năm kết hôn với một phụ nữ từ bên ngoài.
== Chôn cất ==
Trong thời kỳ Kofun, cái gọi là "tang lễ cổ xưa" đã được tổ chức cho các Thiên hoàng đã chết, nhưng chỉ có những nghi thức tang lễ từ cuối giai đoạn, vốn được các biên niên sử mô tả chi tiết hơn, được biết đến. Chúng tập trung xung quanh các nghi thức mogari, một lưu ký tạm thời giữa cái chết và chôn cất vĩnh viễn .
Hoàng hậu Jitō là nhân vật hoàng gia Nhật đầu tiên được hỏa táng (năm 703). Sau đó, trừ một vài ngoại lệ, tất cả các Thiên hoàng đều được hỏa táng đến tận thời kỳ Edo . Trong 350 năm tiếp theo, chôn ở mộ trở thành nguy thức tang lễ được ưa chuộng. Vào năm 2013, Cơ quan nội chính Hoàng gia thông báo rằng Thiên hoàng Akihito và Hoàng hậu Michiko sẽ được hỏa táng sau khi chết .
Cho đến năm 1912, Thiên hoàng thường được chôn ở Kyoto . Từ Thiên hoàng Taishō trở đi, các Thiên hoàng được chôn cất tại Nghĩa trang Hoàng gia Musashi ở Tokyo.
== Kế thừa ==
Triều đại hoàng gia Nhật Bản tuyên bố họ đã "cai trị từ thời xa xưa" (万世一系 bansei ikkei). Thiên niên kỷ trước, gia đình hoàng gia Nhật Bản đã phát triển một hệ thống truyền ngôi đặc thù riêng. Hiện nay, Nhật Bản sử dụng nghiêm ngặt quyền con trưởng, vốn được du nhập qua từ nước Phổ, một nước mà Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng rất nhiều trong những năm 1870.
Các nguyên tắc kiểm soát và tương tác của hoàng gia dường như rất phức tạp và tinh vi, thậm chí dẫn đến những kết quả mang phong cách riêng. Một số nguyên tắc chính rõ ràng trong việc kế thừa là:
Phụ nữ được cho phép nối ngôi. Tuy nhiên, việc phụ nữ lên ngôi rõ ràng là rất hiếm so với nam giới.
Nhận con nuôi là có thể và là một cách được sử dụng nhiều để tăng số lượng người thừa kế (tuy nhiên, con nuôi phải là đứa con khác họ nội thành viên của gia đình hoàng gia).
Thoái vị được sử dụng rất thường xuyên, và trong thực tế đã xảy ra thường xuyên hơn so với việc chết khi còn tại vị. Trong những ngày đó, nhiệm vụ chính của Thiên hoàng là linh mục (hay thần thánh), có chứa rất nhiều các nghi lễ lặp đi lặp lại vốn được coi là một dịch vụ mà sau khoảng mười năm, người thoái vị sẽ được tôn làm cựu Hoàng đế.
Quyền con trưởng không được sử dụng, thay vào đó, trong những ngày đầu, hoàng gia thực hành một hệ thống luân chuyển. Thông thường một người em trai (hay em gái) nối tiếp các anh chị em lớn tuổi hơn thậm chí trong trường hợp của người tiền nhiệm vẫn còn con cái. "Lượt" của thế hệ tiếp theo đến thường xuyên hơn sau một số cá nhân thuộc thế hệ trưởng bối. Xoay chuyển thường xuyên giữa hai hoặc nhiều chi nhánh của hoàng gia, khiến nhiều khi có tới hau người anh em họ đã kế ngôi lẫn nhau. Thiên hoàng Go-Saga thậm chí ra sắc lệnh thay đổi sự luân phiên chính thức giữa những người thừa kế của hai người con trai của ông, làm cho hệ thống này tiếp diễn trong một vài thế kỷ (cuối cùng dẫn đến việc Shogun gây ra (hoặc sử dụng) xung đột giữa hai nhánh này, Thiên hoàng "miền nam" và Thiên hoàng "miền bắc"). Trong năm trăm năm qua, có lẽ do ảnh hưởng của Nho giáo, hầu như người con trai cả là người sẽ lên nối ngôi.
Trong lịch sử Nhật Bản, quyền lên ngôi luôn luôn được giao cho con cháu thuộc nhánh nam từ dòng dõi hoàng gia. Nói chung, phần lớn Thiên hoàng là nam giới, mặc dù trong số hơn một trăm người nam lại có chín phụ nữ làm Thiên hoàng trên mười lần.
Hơn một ngàn năm trước, theo truyền thống thì một Thiên hoàng lên ngôi khi còn tương đối trẻ. Một vị vua vừa trải qua qua năm đầu đời của ông được coi phù hợp và đủ tuổi. Do vậy, vô số Thiên hoàng lên ngôi khi còn là trẻ con, trẻ nhất là 6 hoặc 8 tuổi. Hầu như tất cả các hoàng hậu và hàng chục Thiên hoàng đều thoái vị và sống suốt quãng đời còn lại trong nhung lụa, gây ảnh hưởng đằng sau hậu trường. Một số Thiên hoàng thậm chí còn thoái vị để nghỉ hưu trong khi vẫn còn ở tuổi thiếu niên. Truyền thống này được thể hiện trong dân gian, sân khấu, văn học, và các hình thức khác của văn hóa Nhật Bản, nơi mà Thiên hoàng thường được mô tả hoặc phác họa như là một trẻ vị thành niên.
Trước thời Minh Trị Duy tân, lịch sử Nhật có tám nữ Thiên hoàng, tất cả đều là con gái của bên nam của hoàng gia, không một ai kế vị với tư cách là vợ hoặc góa phụ của Thiên hoàng đã mất. Con gái và cháu gái của Hoàng gia, tuy nhiên, thường lên ngôi như một loại thước đo "khoảng cách dừng" - nếu một người nam phù hợp không có sẵn hoặc một số chi nhánh của hoàng gia đang kình địch lẫn nhau, vì vậy mà một thỏa hiệp là cần thiết. Hơn một nửa hoàng hậu Nhật Bản và nhiều Thiên hoàng thoái vị khi một hậu duệ nam phù hợp được coi là đủ tuổi để cai trị. Bốn nữ Thiên hoàng, Suiko, Kōgyoku và Jitō, cũng như Jingū trong thần thoại, là quả phụ của các Thiên hoàng đã chết và là công chúa mang dòng máu hoàng gia. Một người, Gemmei, là vợ góa của một thái tử và công chúa của hoàng gia. Bốn người khác, Genshō, Kōken (hay Shōtoku), Meishō và Go-Sakuramachi, là con gái độc thân của các Thiên hoàng trước. Không ai trong số các hoàng hậu này kết hôn hoặc sinh con sau khi kế vị.
Điều 2 của Hiến pháp Minh Trị năm 1889 ghi rằng "Ngôi báu sẽ được truyền cho con cháu của hoàng nam, theo quy định của Luật Hoàng gia". Luật Hoàng gia năm 1889 cố định việc cho con trai nối dõi, và loại trừ phụ nữ khỏi việc kế thừa. Trong trường hợp dòng chính mất đi tính hiệu quả, ngai vàng sẽ được truyền cho nhánh phụ gần nhất, vẫn là hoàng nam. Nếu hoàng hậu không sinh ra một người thừa kế, Thiên hoàng có thể lấy thêm một thứ phi và con trai ông với người thứ phi đó sẽ được công nhận là người thừa kế ngai vàng. Luật này được ban hành trong cùng một ngày với Hiến pháp Minh Trị, do đó được hưởng trạng thái cân bằng với hiến pháp.
Điều 2 của Hiến pháp Nhật Bản, vốn ban hành vào năm 1947 theo ảnh hưởng của lực lượng chiếm đóng của Mỹ và vẫn có hiệu lực, quy định rằng "Ngai vàng được kế vị và sự kế vị đó phải phù hợp với Luật Hoàng gia do Quốc hội thông qua." Hoàng Thất Điển Phạm ngày 16 tháng 1 năm 1947 thông qua bởi Đế quốc Nghị Hội cuối cùng vẫn giữ lại điều khoản không cho phụ nữ kế vị của bộ luật năm 1889. Chính phủ của thủ tướng Yoshida Shigeru đã thông qua đạo luật một cách vội vã để tuân theo bản hiến pháp do Hoa Kỳ định ra, vốn có hiệu quả vào tháng 5 năm 1947. Trong một nỗ lực để kiểm soát quy mô của gia đình hoàng gia, luật quy định rằng chỉ có các nam thành viên hợp pháp của hoàng thất có quyền kế vị; công chúa nếu kết hôn với người ngoài hoàng thất thì sẽ bị phế bỏ tước vị của mình và không được xem là thành viên của hoàng thất ; Thiên hoàng và tất cả các thành viên khác trong Hoàng gia không được quyền nhận con nuôi.
=== Tình trạng hiện nay ===
Việc kế vị được quy định bởi luật của Quốc hội. Luật hiện chưa cho phép phụ nữ kế vị. Một đề xuất nhằm làm thay đổi bộ luật này đang được xem xét cho đến khi công chúa Kiko sinh hạ một người con trai.
Trước sự ra đời của Hisahito, con trai của Hoàng tử Akishino vào ngày 6 tháng 9 năm 2006, có nảy sinh một vấn đề về việc kế vị, kể từ khi Hoàng tử Akishino là người con trai duy nhất được sinh ra trong gia đình hoàng gia từ năm 1965. Sau sự ra đời của công chúa Aiko, đã có một cuộc tranh luận công khai về việc sửa đổi Luật Hoàng gia hiện tại để cho phép phụ nữ kế vị. Vào tháng 1 năm 2005, Thủ tướng Koizumi Junichirō bổ nhiệm một ủy ban đặc biệt gồm các thẩm phán, giáo sư đại học và công chức để nghiên cứu sự thay đổi trong Luật Hoàng gia và để kiến nghị với chính phủ.
Ủy ban giải quyết vấn đề về quyền kế vị vào ngày 25 tháng 10 năm 2005 đã đề nghị sửa đổi luật để cho phép phụ nữ của dòng nam thuộc hoàng gia được quyền lên kế vị. Ngày 20 tháng 1 năm 2006, Thủ tướng Koizumi Junichirō dành một phần của bài phát biểu hàng năm của ông để nói về cuộc tranh cãi và hứa hẹn sẽ trình lên một dự luật cho phép phụ nữ lên ngôi để đảm bảo rằng việc kế vị vẫn sẽ được tiếp tục trong tương lai một cách ổn định. Ngay sau khi có công bố rằng công chúa Kiko mang thai đứa con thứ ba, Koizumi đã đình chỉ kế hoạch. Con trai của bà, Hoàng tử Hisahito, xếp thứ ba trong dòng kế vị ngai vàng theo luật kế vị hiện hành. Ngày 3 tháng 1 năm 2007, Thủ tướng Abe Shinzō tuyên bố rằng ông sẽ từ bỏ đề nghị thay đổi Luật Hoàng gia .
== Xem thêm ==
Nhật Bản
Lịch sử Nhật Bản
Danh sách Thiên hoàng
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Asakawa Kan'ichi (1903). The Early Institutional Life of Japan. Tokyo: Shueisha. OCLC 4427686; see online, multi-formatted, full-text book at openlibrary.org
Screech, Timon (2006). Secret Memoirs of the Shoguns: Isaac Titsingh and Japan, 1779–1822. London: RoutledgeCurzon. ISBN 0-7007-1720-X; ISBN 978-0-7007-1720-0.
Sakaiya Taichi, Mười hai người lập ra nước Nhật, Chương I: Thái tử Shotoku, Đặng Lương Mô biên dịch, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
== Liên kết bên ngoài ==
Japan opens imperial tombs for research
The Imperial Household Agency
List of the Emperors, accompanied with the regents and shoguns during their reign and a genealogical tree of the imperial family
The Emperor of Japan, explanation of the title of Emperor in the context of western terminology |
ngọc trai.txt | Ngọc trai (Hán-Việt: 珍珠, trân châu) là một vật hình cầu, cứng được một số loài vật tạo ra, chủ yếu là loài thân mềm (nhuyễn thể) như con trai. Ngọc trai được sử dụng làm đồ trang sức và cũng được tán thành bột để dùng trong mỹ phẩm. Ngọc trai được đánh giá là một loại đá quý và được nuôi và thu hoạch để làm đồ trang sức. Ngành Đông y cho rằng trân châu có vị hơi ngọt tính bình vào được kinh tâm can thận, có tác dụng phối hợp chữa kinh phong, an thần, giải độc, tan màn mây ở mắt, trở ngại tuần hoàn nước mắt, ù tai, xây xẩm...
== Lịch sử ==
Trước thế kỷ 20, mò ngọc trai là cách phổ biến nhất để thu hoạch ngọc trai. Các thợ lặn thường bắtsò/trai từ đáy biển hoặc đáy sông và kiểm tra từng con một để tìm ngọc. Không phải tất cả sò/trai tự nhiên đều tạo ra ngọc. Thông thường một mẻ 3 tấn trai/sò chỉ tìm được 3 hoặc 4 con có viên ngọc hoàn hảo. Việc mò ngọc ở Việt Nam được nhắc đến nhiều trong sử sách, có lẽ nổi tiếng nhất được nêu trong tuyên ngôn độc lập Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, trong đó Nguyễn Trãi đã tố cáo việc quân xâm lược nhà Minh đã bóc lột dân Việt Nam bằng việc bị buộc phải xuống biển mò ngọc trai để cống nộp cho nhà Minh.
Tuy nhiên, ngày nay hầu như tất cả ngọc trai trang sức là ngọc trai nuôi. Thông thường vật lạ cấy vào con sò/trai là mảnh vỏ con trai được đánh bóng cùng với một mảnh nhỏ mô của con trai khác vào cơ quan sinh dục của con trai để làm xúc tác tạo ngọc. Những con sò ngọc ở Biển Nam và Tahiti thường sống sót qua lần khai thác ngọc đầu tiên và được cấy nhân to hơn và được thả lại xuống nước thêm 2-3 năm nữa. Phương pháp sản xuất ngọc nuôi Mikimoto được phát triển bởi một nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Tokyo giữa năm 1907-1916 và công nghệ nuôi cấy này không được Mikimoto lấy bản quyền. Nhóm nghiên cứu do Nishikawa và Tátuhei Mise lãnh đạo. Nishikawa được cấp bản quyền công nghệ năm 1916 và cưới con gái của Mikimoto. Mikimoto đã có thể sử dụng công nghệ này sau khi bản quyền hết hạn vào năm 1935. Sau khi bản quyền được cấp năm 1916, em trai của Tatsuhei là người đầu sản xuất lứa ngọc trai thương mại đầu tiên trên loại trai Akoya. Mitsubishi ngay lập tức áp dụng công nghệ này đối với loại trai Nam Hải năm 1917 ở Philippines, và sau đó ở Buton và Palau. Mitsubishi là người đầu tiên sản xuất ngọc trai nuôi ở Biển Nam mặc dù đến năm 1931 lứa ngọc trai thương mại đầu tiên mới được sản xuất thành công. Công nghệ này được áp dụng cho sản xuất thương mại cho loại ngọc đen Tahiti thập niên 1970.
== Đặc điểm tự nhiên ==
Độ bóng của ngọc trai phụ thuộc vào độ phản xạ và độ khúc xạ ánh sáng từ những lớp trong mờ và độ đẹp của hạt ngọc tỷ lệ thuận với độ dày và nhiều của lớp trong mờ này. Sự phát tán ngũ sắc mà một số loại ngọc tạo ra là do sự chồng lấn lên nhau của các lớp liên tục nhau làm tán xạ ánh sáng chiếu vào bề mặt. Ngọc trai thường có màu trắng, đôi khi có màu kem hoặc phớt hồng và có thể nhuốm màu vàng, xanh lá cây, nâu, tím hoặc đen.
== Ngọc trai nước ngọt và nước mặn ==
Ngọc trai gồm hai loại: trai nước ngọt và trai nước biển. Ngọc trai nước ngọt được loài trai sống ở hồ, sông và những nơi nước ngọt khác tạo ra. Phần lớn ngọc trai nuôi nước ngọt ngày nay được Trung Quốc sản xuất. Ngược lại, ngọc trai nước mặn được những con điệp, hàu bao sống ở các vịnh biển tạo ra. Akoya, Tahiti, Nam Hải là ba loại ngọc trai nước mặn chủ yếu. Ở Việt Nam, ngọc trai được nuôi cấy ở đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Nha Trang (Khánh Hòa), Phú Quốc...
== Ngọc trai tự nhiên và ngọc trai nuôi ==
=== Quá trình tạo ngọc ===
Ngọc trai nuôi và ngọc trai tự nhiên khác nhau ở cách tạo ngọc một cách tự nhiên hay có sự can thiệp của con người. Trong cả hai cách, sự hình thành của ngọc trai như sau: Ngọc trai được hình thành bên trong thân thể loài nhuyễn thể (lớp Hai vỏ). Đây là cách phản xạ lại để tự chữa lành các vết thương của loài nhuyễn thể bằng cách tiết ra chất bao bọc dị vật bằng những lớp cacbonat canxi (CaCO3) dưới dạng chất khoáng aragonit hoặc canxit (cả hai dạng là dạng kết tinh của cacbonat canxi) được dính với nhau bởi một hợp chất hữu cơ giống chất sừng gọi là conchiolin. Sự kết hợp của cacbonat canxi và conchiolin được gọi là xà cừ. Niềm tin thông thường rằng một hạt cát chui vào trong vỏ sẽ đóng vai trò của tác nhân kích thích tạo ngọc nhưng trên thực tế thì sự kích thích đó thường hiếm khi xảy ra. Tác nhân kích thích điển hình thường là các chất hữu cơ, ký sinh trùng hoặc thậm chí những tổn hại làm chuyển chỗ lớp màng áo sang phần khác của thân thể con vật. Các vật lạ hoặc chất hữu cơ chui vào bên trong vỏ động vật thân mềm khi nó hé vỏ ra ăn hoặc hô hấp. Ngọc trai nuôi được tạo ra bằng cách cấy một miếng biểu mô màng áo cùng với các hột làm bằng vỏ trai đã chế tác thành hình dạng mong muốn (chính xác là loại trai Cóc, vỏ rất dày khoảng 10 mm hoặc hơn, là loại trai nước ngọt sống ở sông Mississippi) được đưa vào bộ phận sinh dục của con trai bằng dụng cụ cấy đặc biệt đưa vào theo hình dích dắc để con trai không thể đào thải vật cấy ra được.
=== Ngọc trai tự nhiên ===
Thành phần ngọc trai tự nhiên chủ yếu là xà cừ. Người ta cho rằng ngọc trai tự nhiên tạo ra do những điều kiện tình cờ khi có một vật lạ nhỏ bên ngoài hoặc hạt cát chui vào bên trong con sò, trai và nằm luôn trong đó. Bị kích thích bởi vật lạ này, con trai tạo ra một lớp xà cừ bao bọc lấy hạt cát xâm nhập đó. Quá trình này lặp đi lặp lại nhiều năm và tạo ra viên ngọc.
=== Ngọc trai nuôi ===
Ngọc trai nuôi (ngọc trai có nhân và không nhân hay có nhân mô) và ngọc nhân tạo có thể phân biệt được với ngọc tự nhiên bằng cách kiểm tra X quang. Nhân của hạt ngọc nuôi được tạo ra bởi con người và viên ngọc có hình dáng của nhân mà người ta cấy vào. Sau khi viên hạt được người ta cấy vào, con trai, sò sẽ tạo ra một vài lớp xà cừ trên bề mặt viên hạt này trước khi nó được lấy ra 6 tháng sau đó. Khi được kiểm tra bằng X quang, nhân của hạt ngọc nuôi sẽ lộ ra một cấu trúc khác với cấu trúc của ngọc tự nhiên. Nhân của viên ngọc nuôi sẽ lộ ra một tâm đặc không có các vòng đồng tâm chồng lên nhau trong khi nhân của ngọc trai tự nhiên gồm có các vòng xuyến chồng lên nhau. Một viên ngọc tự nhiên có tâm xà cừ đặc hoặc 100% trân châu. Ngọc tự nhiên cũng có hình dạng tự nhiên, kiểu viên hình tròn hiếm khi thấy.
=== Giá trị của ngọc trai tự nhiên ===
Ngọc trai tự nhiên có giá trị là loại đồ trang sức quý hiếm. Giá trị thực của ngọc trai tự nhiên tương đương với đá quý và phụ thuộc vào kích cỡ, hình dạng và chất lượng của hạt ngọc. Ngọc trai tự nhiên đang trở nên ngày càng hiếm hơn do người ta bắt trai và sò để nuôi. Do đó, cơ hội để mò ra ngọc tự nhiên ngày càng hiếm hoi. Phần lớn những viên ngọc tự nhiên được bán cho những nhà sưu tập và hiếm khi được dùng làm đồ trang sức như dây chuyền.
=== Nguồn gốc của ngọc trai tự nhiên ===
Các loại ngọc trai tự nhiên trước đây được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. Ngày nay, việc sản xuất ngọc trai tự nhiên chỉ giới hạn ở các biển ngoài khơi Bahrain. Úc cũng là một trong những nước duy trì đội tàu lặn mò trai ngọc. Các thợ lặn mò trai của Úc lặn bắt những con sò ngọc trai để nuôi cấy ngọc trai. Mẻ sò trai ngọc bắt được tương tự như số sò được bắt thời mò sò tự nhiên trước đây. Do đó, số lượng đáng kể ngọc trai tự nhiên vẫn được tìm thấy ở vùng biển Ấn Độ Dương thuộc Úc. Ngọc trai có thể được tìm thấy ở biển, các vùng nước ngọt lớn.
=== Các loại ngọc trai tự nhiên khác nhau ===
Ngọc trai đen, thướng gọi là ngọc trai đen Tahiti, được đánh giá cao vì chúng hiếm thấy. Việc sản xuất ngọc đen bằng nuôi cấy mang lại sản lượng thấp hơn và không thể sản xuất hàng loạt do loại sò, trai này có sức khỏe kém, khó sống sót và con sò, trai thường đào thải vật lạ chui vào tự nhiên hay do con người cấy vào. Trước khi có trai ngọc nuôi, ngọc trai đen hiếm hoi và được định giá rất cao với lý do đơn giản là con sò/trai ít khi tạo ra ngọc đen cũng như do loại sò/trai này hiếm khi tạo ngọc.
Ngọc trai đen quý hiếm hơn ngọc trai nước ngọt Trung Quốc cũng như ngọc trai Akoya của Nhật Bản và Trung Quốc vì thế cũng có giá trị cao hơn. Tuy nhiên ngọc trai Nam Hải còn hiếm và có giá trị cao hơn cả ngọc trai đen. Điều này đơn giản là do loài trai Pinctada margaritifera tạo ngọc đen có số lượng nhiều hơn so với loài trai Pinctada maxima tạo ngọc Nam Hải, loài này rất hiếm gặp ở các đầm phá mà thường phải lặn xuống một số ít vị trí ở tầng nước sâu. Ngọc trai đen được tạo từ loài trai Pinctada margaritifera không phải là loại ngọc trai Nam Hải mặc dù chúng thường bị mô tả nhầm lẫn là ngọc trai đen Nam Hải. Do chưa có một định nghĩa chính thức về ngọc trai từ loài trai đen nên những loại ngọc trai này đều được xem là ngọc trai Tahiti đen. Định nghĩa chính xác của CIBJO và GIA về ngọc trai Nam Hải là loại ngọc trai được tạo ra từ loài trai tạo ngọc Pinctada maxima. Màu sắc của viên ngọc Nam Hải cũng chính là màu sắc của con trai Pinctada maxima mang viên ngọc đó, đó có thể là màu trắng, bạc, hồng, vàng, kem hay là một sự kết hợp ngẫu nhiên của những màu cơ bản này, bao gồm cả những sắc màu cầu vồng của lớp xà cừ trên chính lớp vỏ của con trai.
== Viên ngọc trai lớn nhất ==
Viên ngọc trai lớn nhất từ trước đế này là từ Philippines vào năm 1934. Viên ngọc này nặng 14 lb (6,4 kg) khi nó được một người thợ lặn Hồi giáo Philippines vô danh tìm ra tại ngoài khơi của đảo Palawan. Sau này, một người tù trưởng Palawan đã tặng nó cho Wilbur Dowell Cobb năm 1936 làm quà tặng để trả ơn đã cứu sống con trai mình. Đầu tiên viên ngọc này được gọi là "Trân châu của Allah (Thượng đế)" và tên chính thức của nó hiện nay là "Viên trân châu Lão Tử". Theo định giá năm 2006, viên trân châu này có giá trị 61.850.000 USD.
== Ngọc ốc ==
Con ốc có ngọc đẹp và còn đắt giá hơn viên ngọc trai nếu cùng kích thước. Ngọc ốc đẹp nhất phải kể đến ngọc ốc Giác (một loại ốc lớn 4–6 kg có vỏ mỏng, màu vàng). Ngọc ốc thường có vân rất đẹp màu vàng, thường có hình tròn và là ngọc tự nhiên. Ngọc ốc Giác được các nhà sưu tập ưa thích và có giá vài trăm triệu đồng Việt Nam với viên ngọc có đường kính khoảng 18 mm. Ngọc ốc rất hiếm nên khó kiếm trên thị trường. Ngọc ốc Giác thường gặp ở biển Kiên Giang.
== Xem thêm ==
Ammolite — another organic gemstone formed primarily of fossil aragonite mollusk shells.
Baroque pearl
Broome
Conch pearl, non-nacreous pearls
Melo melo pearl, non-nacreous pearls
Xà cừ
Scallop pearl, non-nacreous pearls
Con trai
== Thư viện ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The History of Pearls. PBS Pearl History Special.
UT Geological Department on Pearls
A list of the world's famous pearls
Pearls and Pearling life by Edwin Streeter
George Frederick Kunz Book of the Pearl Book available in html and in pdf from the Gem and Diamond Foundation |
thủy lực cắt phá.txt | Thủy lực cắt phá (tiếng Anh: hydraulic fracturing, thường rút ngắn thành fracking) là kỹ thuật khai thác mỏ bằng cách dùng áp suất chất lỏng để làm nứt các tầng đá trong lòng đất. Đường nứt sẽ chạy theo mạch đất thiên nhiên, khai mở những khoáng chất vốn bị nén chặt trong lòng đất. Bằng cách bơm chất lỏng trộn với một số hóa chất và cát dưới áp suất cao vào giếng mỏ làm nứt vỡ tầng đá, một số địa chất như khí đốt và dầu mỏ có thể bơm lên được.
Kỹ thuật thủy lực cắt phá thường được dùng khai thác ở những vùng đá phiến dầu và khí đốt than để kích thích đất đá nhả và tăng lưu lượng khoáng chất. Thủy lực cắt phá còn có ưu điểm là có thể đâm ngang trong lòng đất thay vì bị hạn chế theo chiều dọc.
Thủy lực cắt phá được dùng từ năm 1947 nhưng lúc đầu chỉ là thí nghiệm, đến năm 1949 mới áp dụng thương mại thành công. Tính đến năm 2012 có hơn 2,5 triệu vụ khoan mỏ trên thế giới dùng kỹ thuật này để khai thác dầu mỏ và khí đốt. Riêng ở Hoa Kỳ có hơn một triệu vụ. Tuy nhiên có nơi như Pháp thì lại ban luật cấm dùng kỹ thuật này.
Kỹ thuật thủy lực cắt phá hiện vẫn còn gây tranh cãi. Bên ủng hộ thì cho đây là động lực phát triển kinh tế bằng cách tăng hiệu lực khai thác mỏ và các chất hiđrôcacbon; bên phản đối thì lo hậu quả tai hại môi sinh, ô nhiễm nguồn nước ngầm, ô nhiễm không khí, cạn kiệt nguồn nước ngọt, và còn có thể gây động đất cùng những tác động xấu đến sức khỏe con người.
== Quá trình ==
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA), thuỷ lực cắt phá là phá trình hỗ trợ một giếng dầu, khí tự nhiên đạt được khai thác tối đa. EPA định nghĩa quá trình rộng hơn bao gồm thu thập nguồn nước, xây dựng giếng, hỗ trợ giếng, và xử lý chất thải.
=== Phương pháp ===
Một vết nứt thuỷ lực được tạo ra bằng cách bơm chất lỏng cắt phá vào giếng khoan với tỉ lệ đủ để tăng áp suất ở độ sâu mục tiêu (determined by the location of the well casing perforations), để tăng građien nứt vỡ (građien áp suất) của đá. građien nứt vỡ được định nghĩa là áp suất tăng lên trên đơn vị độ sâu có liên quan đến khối lượng riêng, và thường được đo bằng pound trên inch vuông, trên foot vuông, hoặc bar và các đơn vị khác. Khi đá nứt vỡ, dung dịch cắt phá thấm vào đá làm tăng dần vết nứt. Các vết vỡ được định vị khi áp suất giảm cùng với sự giảm ma sát, có liên quan đến khoảng cách từ giếng. Người vận hành thường cố duy trì "chiều rộng vết nứt", hoặc làm chậm lại sự giảm chiều rộng, bằng cách sử dụng proppant cắt phá thuỷ lực cùng với chất lỏng được bơm – , nó là một chất liệu như hạt cát, gốm, và các hạt khác, vì vậy giúp ngăn chặn vết nứt đóng lại khi ngừng bơm và áp suất bị loại bỏ. Sự nghiên cứu về sức bền của proppant trở nên quan trọng hơn ở vị trí sâu hơn vì áp suất và áp lực lên vết vỡ cao hơn. Vết vỡ được chống đỡ phải đủ độ thẩm thấu để cho phép dầu, khí, nước muối và chất lỏng cắt phá chảy đến giếng.
Trong quá trình, dung dịch cắt phá rò rỉ (dung dịch cắt phá bị mất đi do thấm vào đá xung quanh) xảy ra. Nếu không được quản lý, nó có thể vượt quá 70% lượng dung dịch bơm vào. Việc này có thể làm phá huỷ chất nền, thay đổi cấu trúc hình học của vết vở, do đó giảm hiệu quả.
Ví trí của một hoặc nhiều hơn các vết vỡ dọc theo hố khoan được điều khiển chặt chẽ bởi các phương pháp để bịt các lỗ hổng dung quanh hố khoan. Thuỷ lực cắt phá được thực hiện trong hố khoan được chống ống, và khu vực cần bị vỡ sẽ được tiếp cận bằng cách khoan thủng ống chống ở các vị trí đó.
Thiết bị cắt phá thuỷ lực được sử dụng trong mỏ dầu khí thường bao gồm máy xay xi măng, một hoặc nhiều máy bơm cắt phá áp suất cao (thường là máy bơm loại triplex hoặc quintuplex) và đơn vị giám sát. Đi cùng với thiết bị là thùng chứa, hoặc các đơn vị cất giữ proppant, sắt xử lý áp suất cao, một đơn vị hoá học thêm vào, ống áp suất thấp linh động, và nhiều máy đo tốc độ dòng chảy, khối lượng riêng chất lỏng, và áp suất xử lý. Chất hoá học thêm vào thường bằng 0,5% tổng thể tích chất lỏng. Thiết bị cắt phá vận hành trong một phạm vi áp suất và tốc độ bơm, có thể lên đến 100 mêgapascal (15.000 psi) và 265 lít một giây (9,4 cu ft/s) (100 barrel trên phút).
== Sử dụng ==
Thuỷ lực cắt phá được sử dụng để tăng tốc độ mà chất lỏng, ví dụ như dầu, khí, nước có thể phục hồi từ vỉa chứa tự nhiên ngầm. Vỉa chứa thường là đá cát kết, đá vôi hoặc đá dolomit có độ xốp, nhưng cũng bao gồm các vỉa chứa "không thông thường" ví dụ như các tầng đá phiến sét hoặc than đá. Thuỷ lực cắt phá cho phép khai thác dầu khí tự nhiên từ các hệ tầng đá sâu dưới lòng đất (thường 2.000–6.000 m (5.000–20.000 ft)), which is greatly below typical groundwater reservoir levels. Ở độ sâu này, có thể không đủ độ thẩm thấu hoặc áp suất vỉa chứa để cho phép dầu khí tự nhiên chảy từ đá vào giếng khoan với hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, tạo ra vỡ truyền ở đá trong khai thác vỉa chứa đá phiến sét không thấm. Sự thẩm thấy được đo bằng đơn vị trong phạm vi từ micro darcy đến nano darcy. Vết vỡ là các đường truyền nhau liên kết một thể tích vỉa chứa lớn hơn đến giếng. Cái được gọi là "siêu cắt phá", tạo ra vết vỡ ở đá sâu hơn để giải phóng nhiều dầu khí hơn, và tăng hiệu quả. Năng suất của các hố phiến sét điển hình thường giảm sau một hoặc hai năm, nhưng thời gian khai thác một giếng có thể kéo dài đệ hàng thập kỷ.
Trong khi mục đích công nghiệp chính của thuỷ lực cắt phá còn hỗ trợ sản xuất từ giếng dầu khí, thuỷ lực cắt phá còn được áp dụng:
Hỗ trợ giếng nước ngầm
Tạo điều kiện khai thác mỏ
Như một phương tiện tăng cường xử lý chất thải, thường là chất thải hiđrôcacbon
Xử lý chất thải bằng cách bơm sâu nó vào đá
Đo áp lực Trái Đất
Tạo ra điện trong hệ thống địa nhiệt tăng cường
Tăng cường tốc độ phương pháp địa chất cô lập CO2
Từ cuối những năm 1970, thuỷ lực cắt phá đã được sử dụng, trong một số trường hợp, tăng sản lượng nước uống từ giếng ở một số nước, bao gồm Hoa Kỳ, Úc, và Nam Phi.
== Tác động kinh tế ==
Thủy lực cắt phá là một yếu tố lớn làm giảm giá dầu thô vào năm 2012 từ 115 USD vào mùa hè xuống khoảng 70 USD vào mùa đông làm biến động tài chính và trật tự chính trị thế giới, tác động mạnh đến kinh tế và chính trị các nước Nga, Venezuela, và khối OPEC nói chung.
== Tham khảo == |
lee byung-chul.txt | Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Lee.
Lee Byung-chul (12 tháng 2 năm 1910 Uiryeong, Gyeongsangnam-do – 19 tháng 11 năm 1987 Seoul) người đã sáng lập Samsung Group và là một trong những doanh nhân thành đạt nhất Hàn Quốc. Với sự tan rã của Daewoo chaebol, Samsung hiện nay tập đoàn doanh nghiệp lớn nhất Hàn Quốc
== Thời thơ ấu ==
Ông là con của một gia đình địa chủ giàu có (một chi nhánh của Gyeongju Lee). Ông tham dự thi đại học tại Đại học Waseda ở Tokyo, nhưng ông lại không hoàn thành chương trình học của mình.
== Sự nghiệp ==
Sau khi cha ông mất sớm, ông sử dụng thừa kế của mình mở xưởng gạo tại quê mình, Gyeongnam.
=== Khởi đầu ===
Nỗ lực đó thực sự không thành công nên ông quyết định thành lập một doanh nghiệp vận tải ở Daegu vào 1 tháng 3 năm 1938, và đặt tên là Samsung Trading Co, tiền thân của Samsung. Samsung có nghĩa là "Ba ngôi sao" giải thích cho biểu tượng ban đầu của công ty.
Năm 1945 Samsung vận chuyển tốt các hàng hóa trên khắp đất nước Hàn Quốc và một số quốc gia khác. Công ty đặt trụ sở tại Seoul vào năm 1947. Nó là một trong mười "công ty thương mại" lớn nhất khi Chiến tranh Triều Tiên bắt đầu vào năm 1950. Với cuộc chinh phục Seoul của quân đội Bắc Triều Tiên, Lee buộc phải di chuyển kinh doanh của mình đến Pusan. Số lượng quân đội và thiết bị khổng lồ của quân đội Mỹ tràn vào Pusan vào năm kế tiếp và một nửa cuộc chiến được minh chứng rằng rất có lợi cho công ty vận tải đường bộ của Lee.
Vào 1961 khi General Park tịch thu sức mạnh, Lee ở Nhât4 Bản và một thời gian ông đã không quay trở lại Hàn Quốc. Cuối cùng một thỏa thuận đã được chấp nhận và Lee trở về nhưng Samsung phải từ bỏ quyền kiểm soát do các ngân hàng mua lại và làm theo chỉ thị kinh tế từ chính phủ Park.
=== Cheil toàn cầu ===
Năm 1953, ông thành lập Cheil Sugar (hiện là CJ CheilJedang) trở nên thành công và đạt nhiều lợi nhuận. Sử dụng thu nhập từ Cheil Sugar, ông thành lập một số công ty khác bán sản phẩm trong một loạt thị trường: dệt may (Cheil Wool Textile Co.), xe hơi, bảo hiểm, cửa hàng bách hóa (Shinsegae), và điện tử tiêu dùng.
=== Liên đoàn công nghiệp Hàn Quốc ===
Sau này ông làm chủ tịch Liên đoàn công nghiệp Hàn Quốc và được biết đến là người giàu nhất Hàn Quốc.
== Bộ sưu tập nghệ thuật Hàn Quốc ==
Sau khi ông mất, tài sản của ông (Ho-Am) đã được mở cho công chúng tham quan. Bộ sưu tập nghệ thuật Hàn Quốc của ông được coi là bộ sưu tập lớn nhất và bộ sưu tập cá nhân tốt nhất trong cả nước và nó có một số đối tượng được chỉ định là "Kho báu quốc gia" của chính phủ Hàn Quốc. Ho-Am nằm gần công viên Everland, công viên giải trí nổi tiếng nhất của Hàn Quốc (Everland thuộc sở hữu của Samsung Group).
== Giải thưởng Ho-Am ==
Giải thưởng Ho-Am được thành lập vào năm 1991, tên sau đó là Tên hiệu của Lee.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Biography on Ho-Am Prize Website
[호암캠프] 호암 이병철의 사회 공헌 활동"조상의 아름다운 전통을 잇는 데 큰 관심"
죽은 이병철의 산 교훈 미디어오늘 2011-12-21
이병철 회장 "신앙인은 때때로 광인, 공산당원과…" 중앙일보 2011.12.17 |
kỹ thuật phân tích mircoarray.txt | Microarray tiền sản là kĩ thuật được dùng để xác định các bất thường nhiễm sắc thể (NST) bao gồm các bất thường nhỏ mà karyotype truyền thống không phát hiện được.
Hiện nay theo khuyến cáo của American College of Obstetricians and Gynecologists (ACOG) và Society for Maternal-Fetal Medicine (SMFM), chẩn đoán tiền sản bằng microarray là xét nghiệm di truyền đầu tiên đối với những thai phụ có thai nhi bất thường trong siêu âm. Ngoài ra, microarray còn là một xét nghiệm di truyền được ưu tiên sử dụng để xác định nguyên nhân gây tử vong ở thai chết lưu.
Microarray tiền sản phát hiện tất cả các thể dị bội lâm sàng và các chuyển đoạn không cân bằng. Ngoài ra, CMA xác định thêm 6% bất thường gen ở những thai nhi có bất thường trong siêu âm nhưng karyotype bình thường, và phát hiện hiện thêm 1.7% các trường hợp thai nhi có kết quả siêu âm bình thường và karyotype bình thường.
== 1. Giới thiệu ==
Chẩn đoán tiền sản bằng microarray (CMA tiền sản) là xác định sự tăng hoặc giảm lượng DNA trên toàn bộ gen. CMA sàng lọc toàn bộ gen với độ phân giải cao chủ yếu nhằm xác định các aneuploidy NST cũng như cũng như vị trí và sự thay đổi quá nhỏ mà karyotype truyền thống không phát hiện được.
CMA được xem là xét nghiệm di truyền đầu tiên ở những trẻ sơ sinh và trẻ em có các khiếm khuyết trí tuệ không giải thích được, các bất thường bẩm sinh, các hội chứng tự kỷ. Trong những hội chứng này, CMA đã phát hiện thêm 15% các bất thường DNA ở các trường hợp có Karyotype bình thường.
Trên cơ sở đó, CMA cũng được ứng dụng và nghiên cứu để chẩn đoán tiền sản. Tháng 12 năm 2012, Eunice Kennedy Shriver National Institute of Child Health and Human Development đã công bố kết quả của nhiều nghiên cứu trên diện rộng về sự so sánh của CMA và Karyotype truyền thống trong chẩn đoán tiền sản. Và tiếp theo đó ACOG và SMFM đã đề nghị ứng dụng CMA trong chẩn đoán tiền sản và đây cũng là xét nghiệm di truyền đầu tiên khi phát hiện bất thường thai nhi trong siêu âm.
== 2. Kỹ thuật microarray ==
CMA xác định các aneuploidy NST cũng như cũng như vị trí và sự thay đổi quá nhỏ mà karyotype truyền thống không phát hiện được. Ngược lại với karyotype truyền thống chỉ phát hiện được thay đổi lượng lớn trên NST và bất thường cấu trúc, CMA có thể cung cấp thông tin ở mức độ siêu hiển vi trên toàn bộ gen. Những đoạn DNA tăng hoặc mất gọi là biến thể số lượng bản sao (copy number variants - CNV).
Để phát hiện CNV, DNA từ thai nhi được gắn nhãn với một màu huỳnh quang và DNA tham khảo được gắn với một màu huỳnh quang khác. Các DNA này được lai với các probe nằm trên microarray slide. Sự tương quan tín hiệu huỳnh quang giữa DNA thai nhi và DNA tham khảo được đọc bởi máy và phân tích bằng phần mềm chuyên biệt. Các kết quả này được các chuyên viên đánh giá và giải thích đưa ra kết luận có xuất hiện các CNV trong array đang phân tích hay không.
== 3. Ưu điểm chẩn đoán tiền sản bằng microarray: ==
- Độ chính xác cao.
- Phát hiện số lượng lớn các hội chứng (>140 trong một array).
- Phát hiện các microdeletion và microduplication mà karyotype & FISH không phát hiện được.
- Tỷ lệ dương tính giả thấp hơn karyotype do không nuôi cấy tế bào.
- Tránh lỗi chủ quan khi phân tích bằng kính hiển vi.
- Thời gian nhanh hơn karyotype.
== 4. Đối tượng nên làm CMA tiền sản: ==
Theo khuyến cáo của Mỹ American College of Obstetricians and Gynecologists và Society for Maternal-Fetal Medicine, những đối tượng nên làm CMA tiền sản là:
- Thai phụ với các bất thường thai nhi trong siêu âm.
- Thai phụ có kết quả xét nghiệm tiền sản không xâm lấn (NIPT) dương tính.
- Thai phụ với các bất thường thai nhi trong siêu âm nhưng có kết quả karyotype thai nhi bình thường.
- CMA sàng lọc các bất thường thai nhi cho mọi lứa tuổi của thai phụ.
== 5. Phạm vi của CMA tiền sản: ==
- Không phát hiện đảo đoạn, chuyển đoạn tương hỗ.
- Không phát hiện các đột biến điểm.
- Không phát hiện thể khảm ở mức thấp.
== 6. Tài liệu tham khảo ==
== Tham khảo == |
đài phát thanh.txt | Đài phát thanh là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống truyền thông của một quốc gia. Cơ quan này có thể thuộc sở hữu tư nhân hoặc của nhà nước. Các chương trình phát thanh thường là chương trình thời sự, tin tức, chuyên mục, chương trình giải trí (âm nhạc, đọc truyện, trò chơi phát thanh...), thông tin quảng cáo... Thông tin được truyền đi bằng sóng vô tuyến từ các cột hoặc trạm phát sóng để đến được các thiết bị thu như đài radio hoặc điện thoại di động. Ngày nay tín hiệu vô tuyến cũng được truyền qua đường cáp quang hoặc vệ tinh để đến được những vùng xa xôi. Các chương trình phát thanh cũng được cung cấp trực tuyến trên internet và có thêm kênh truyền thanh có hình.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Đài truyền hình
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Patent
Một số đài phát thanh
Trang chủ của Đài Tiếng nói Việt Nam
Nghe VOV trực tuyến trên TNVN.gov.vn
Bản đồ phủ sóng của VOV
http://vovnews.vn/ Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOVNEWS)
http://vovgiaothong.vn/ Báo điện tử VOV Giao thông |
1853.txt | 1853 (số La Mã: MDCCCLIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1853
== Sự kiện ==
=== Tháng 3 ===
19 tháng 3: Thái Bình Thiên Quốc đánh chiếm Nam Kinh
29 tháng 3:Thái Bình Thiên Quốc định đô Thiên Kinh
== Sinh ==
== Mất ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
xuất khẩu.txt | Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
== Các nhân tố tác động đến xuất khẩu ==
Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái
Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc), thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên.
Tỷ giá hối đoái tăng (tức là tiền tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ), thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ thu được và quy đổi về tiền trong nước trở nên cao hơn.
== Xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế ==
Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại nhu). Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân. Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Chính vì thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu. Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến nghị các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa.
== Xem thêm ==
Nhập khẩu
Cán cân thương mại
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.