filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
tiếng hà lan.txt | Tiếng Hà Lan hay tiếng Hòa Lan () là một ngôn ngữ thuộc nhánh phía Tây của Nhóm ngôn ngữ German, được nói hàng ngày như tiếng mẹ đẻ bởi khoảng 23 triệu người tại Liên minh châu Âu — chủ yếu sống ở Hà Lan và Bỉ— và là ngôn ngữ thứ hai của 5 triệu người.
Ngoài hai quốc gia thuộc Vùng đất Thấp, đây là bản ngữ của đa phần người dân Suriname, cũng như vị thế chính thức tại các nước vùng Caribe là Aruba, Curaçao và Sint Maarten. Các nhóm thiểu số có nguy cơ bị biến mất vẫn còn có mặt tại Pháp, Đức, và ở Indonesia, trong khi khoảng nửa triệu người bản ngữ định cư tại Hoa Kỳ, Canada và Úc. Các phương ngữ Hà Lan ở Cape Town thuộc miền nam châu Phi đã biến đổi thành tiếng Afrikaans, một ngôn ngữ kế tục được hiểu chung được khoảng 16 triệu người dùng, chủ yếu ở Nam Phi và Namibia.
Tiếng Hà Lan là một trong những ngôn ngữ gần gũi với tiếng Đức và tiếng Anh và được coi là hòa trộn giữa hai ngôn ngữ này. Tiếng Hà Lan, như tiếng Anh, không chịu ảnh hưởng của sự chuyển đổi phụ âm tiếng Đức cao, không sử dụng dấu umlaut với chức năng ngữ pháp, bỏ đi phần lớn việc dùng thức giả định, và đã cân bằng nhiều phần hình thái ngôn ngữ, trong đó có hệ thống cách. Những đặc trưng giống như tiếng Đức gồm có sự tồn tại ba giống ngữ pháp — mặc dù ít quan trọng về ngữ pháp — cũng như việc sử dụng phân từ hình thức (modal particle), sự vô thanh hóa âm tiết cuối, và thứ tự từ tương tự nhau. Từ vựng tiếng Hà Lan thuộc hệ German là chính và tiếp nhận nhiều từ mượn Rôman hơn tiếng Đức nhưng ít hơn tiếng Anh.
== Tên gọi ==
Tên gọi "Hà Lan" (荷蘭) hay "Hòa Lan" (和蘭) trong tiếng Việt bắt nguồn từ việc dịch phiên âm tiếng Hán của từ "Holland". Từ này thường được nhiều ngôn ngữ khác dùng để chỉ phần đất Hà Lan tại châu Âu nhưng thực chất đây là tên của một vùng của quốc gia này.
Trong tiếng Anh từ Dutch thường để chỉ toàn bộ ngôn ngữ, tức là tính cả các phương ngữ. Các biến thể ở Bỉ đôi khi còn được gọi là Flemish. Ở cả Bỉ và Hà Lan, tên chính thức cho ngôn ngữ này là Nederlands, còn các phương ngữ có tên riêng như, e.g. Hollands "tiếng Holland", West-Vlaams "tiếng Flemish Tây", Brabants "tiếng Brabant". Tuy vậy việc dùng từ Vlaams ("tiếng Flemish") để miêu tả tiếng Hà Lan chuẩn đối với các biến thể tại Flanders lại hết sức phổ biến tại hai quốc gia này.
Người ta biết tới ngôn ngữ Hà Lan thông qua nhiều cái tên khác nhau. Ở thời kỳ Trung Cổ, dietsc được sử ở khu vực Flanders và Brabant, trong khi diets hoặc duutsc được sử dụng ở miền bắc Hà Lan. Những từ này hình thành từ từ theudisk của tiếng Giécman Cổ, một trong những cái tên đầu tiên được sử dụng cho các ngôn ngữ không phải Rôman ở Tây Âu. Nghĩa đen của nó là "ngôn ngữ của dân thường", tức là ngôn ngữ German địa phương. Thuật ngữ này đối lập với tiếng Latinh, thứ ngôn ngữ phi địa phương được dùng trong văn viết và Nhà thờ Kitô giáo. Trong văn bản đầu tiên có sự hiện diện của từ này, có niên đại từ năm 784, nó chỉ các thổ ngữ German của đảo Anh. Nó xuất hiện trong Lời thề Strasbourg (842) với tên teudisca để chỉ phần tiếng German của lời tuyên thệ.
Cho tới khoảng thế kỷ 16, những người nói các biến thể của nhóm ngôn ngữ German Tây từ cửa sông Rhine tới dãy Alps dần quen với việc dùng từ Dietsch, (Neder)duyts hay một vài từ cùng gốc của từ theudisk để ám chỉ ngôn ngữ địa phương họ. Điều này dẫn tới sự lúng túng không tránh khỏi một khi các thuật ngữ tương tự nhau lại dùng để chỉ các ngôn ngữ khác nhau. Do vậy một cách phan biệt đã ra đời. Nhờ cạnh thương mại và thuộc địa của người Hà Lan vào thế kỷ 16 và 17, thuật ngữ dutch của tiếng Anh bắt đầu dùng để chỉ riêng tiếng Hà Lan. Ngoại lệ đáng chú ý là tiếng Đức Pennsylvania hay còn có tên gọi trong tiếng Anh là Pennsylvania Dutch, một biến thể tiếng Đức miền Trung Tây được người sử dụng nó gọi là Deitsch. Ngược lại tiếng Hà Lan Jersey được dùng cho tới tận những năm 1950 ở New Jersey lại là một ngôn ngữ creole có nguồn gốc Hà Lan.
Ngay trong tiếng Hà Lan, từ Diets đã không còn hay được dùng nữa - mặc dù từ Platdiets vẫn được dành cho các phương ngữ chuyển tiếp Limburg-Ripuaria ở dông bắc Bỉ. Nederlands, từ chính thức trong tiếng Hà Lan dành cho ngôn ngữ này, phải mãi tới thế kỷ 19 mới được công nhận hoàn toàn. Cách đạt tên này đã được dùng từ trước vào cuối thế kỷ 15, nhưng vì nhiều lý do phải cạnh tranh với thuật ngữ thông dụng hơn là Nederduits "tiếng Hà Lan đê địa". Một trong số các lý do là để phân biệt với Hoogduits, "tiếng Hà Lan cao địa", tức là ngôn ngữ được nói ở Đức. Từ Hoog sau này bị lược bỏ chỉ còn Duits, ngày nay để chỉ tiếng Đức. Tuy nhiên từ Nederduits lại gây bối rối bởi các ngôn ngữ địa phương miền bắc nước Đức cũng được gọi là Niederdeutsch, và thế là từ Duits trong tên gọi bị lược bỏ, mở đường để Nederlands trở thành cái tên chính thức để chỉ tiếng Hà Lan. Người ta dùng từ Neder (nghĩa là "thấp") để chỉ tiếng Hà Lan là bởi vì địa thế xuôi dòng của Hà Lan trong vùng đồng bằng Rhine–Meuse–Scheldt gần Biển Bắc, gợi cho người ta liên tưởng về vùng đất La Mã trước đây mang tên Hạ Germania.
== Lịch sử ==
Ban đầu ba phương ngữ German được nói tại Vùng đất thấp: Frisia ở miền bắc và dọc bờ biển phía tây; Saxon ở miền đông (lân cận khu vực Hạ Đức); và Franken ở miền trung và nam. Phương ngữ Franken được coi là tiếng Hà Lan cổ, sau đó phát triển thành tiếng Hà Lan Trung Cổ và sau là tiếng Hà Lan hiện đại. Sự phân chia các giai đoạn này chỉ mang tính ước lệ bởi sự chuyển giao giữa chúng là rất chậm. Các nhà ngôn ngữ học chỉ có thể phát hiện ra phần nào của một cuộc cách mạng khi ngôn ngữ Hà Lan chuẩn xuất hiện và được công nhận.
=== Nguồn gốc ===
Trong cây ngôn ngữ Ấn-Âu, tiếng Hà Lan thuộc nhóm các ngôn ngữ German, nghĩa là cùng nguồn gốc với các ngôn ngữ như tiếng Anh, Đức, và các ngôn ngữ Scandinavia. Tất cả các ngôn ngữ German tuân theo quy tắc chuyển đổi âm của định luật Grimm và định luật Verner có nguồn gốc từ ngôn ngữ German nguyên thủy, điều giúp phân biệt nhóm ngôn ngữ này với các nhóm ngôn ngữ Ấn-Âu khác. Điều này được cho là bắt đầu vào thời đại đồ sắt Tiền La Mã ở Bắc Âu, khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên.
Các ngôn ngữ German thường được phân thành ba nhóm: Đông (ngày nay không còn tồn tại), Tây, và Bắc German. Dù phải trải qua những đột biến của Giai đoạn Di cư, những người thuộc nhóm ngôn ngữ này vẫn có thể hiểu người thộc nhóm ngôn ngữ kia. Tiếng Hà Lan thuộc nhánh phía Tây cùng tiếng Anh, Scots, các ngôn ngữ Frisia, tiếng Hạ Đức và các ngôn ngữ các ngôn ngữ Đức cao địa (bao gồm tiếng Đức chuẩn, Yiddish, Luxembourg và nhiều thổ ngữ khác). Nó mang đặc điểm của các cải tiến về mặt âm vị học và hình vị học mà không có trong nhánh Bắc và Đông. Các biến thể Tây German vào thời này được phân ra làm ba nhóm phương ngữ: Ingvaeon (German biển Bắc), Istvaeon (German Weser-Rhine) và Irminon (German Elbe). Người ta cho rằng các bộ lạc Frank thuộc nhóm phương ngữ Istvaeon với ảnh hưởng nhất định từ Ingvaeon ở phía tây bắc, điều vẫn còn hiện hữu trong tiếng Hà Lan hiện đại.
=== Tiếng Frank ===
Ngôn ngữ Frank là một ngôn ngữ không có quá nhiều chứng cứ chứng thực. Ngoại lệ đáng chú ý là các chữ viết Bergakker được tìm thấy ở thành phố Tiel của Hà Lan. Các chữ viết này này có thể nằm trong một bản ghi tiếng Frank thể kỷ thứ 5. Mặc dù một số tên địa danh được ghi trong các văn bản tiếng Latinh như vadam (tiếng Hà Lan hiện đại: wad, tiếng Việt: "bãi bùn do triều xuống"), có thể được xem là những từ đơn tiếng "Hà Lan", các chữ viết Bergakker mới là chứng cứ về hình thái tiếng Hà Lan. Tuy nhiên người ta vẫn chưa thống nhất cách dịch phần còn lại của bản chữ viết này.
Người Frank xuất hiện ở miền nam Hà Lan (người Frank Salia) và miền trung nước Đức (người Frank Ripuaria), rồi sau đó di cư xuống Gaul. Tên của vương quốc của họ (Francia) nằm trong tên của Pháp (France), quốc gia có nguồn gốc từ phần phía tây của vương quốc. Mặc dù cai trị những người Gallo-Roman trong gần 300 năm, ngôn ngữ của họ vẫn biến mất tại Pháp và Đức vào khoảng thế kỷ thứ 7. Tại Pháp nó bị thay thế bởi tiếng Pháp Cổ (một ngôn ngữ Roman với ảnh hưởng đáng kể của tiếng Frank cổ), và tại Đức là tiếng Alemanni.
Tuy nhiên, tiếng Franconia hay Franken Cổ không biến mất hoàn toàn, bởi nó vẫn tiếp tục được dùng tại Vùng đất thấp, và sau đó biến đổi thành ngôn ngữ ngày nay mà người ta gọi là tiếng Hạ Franconia Cổ hay tiếng Hà Lan Cổ.
=== Tiếng Hà Lan Cổ ===
Tiếng Hạ Franconia Cổ hay tiếng Hà Lan Cổ được coi là giai đoạn chính trong sự hình thành cũng như phát triển của một thứ ngôn ngữ Hà Lan riêng biệt. Từ "Hạ" hay "Thấp" trong từ Tiếng Hạ Franconia là để chỉ các quốc gia tại Vùng đất thấp, nơi tiếng Frank không bị ảnh hưởng bởi sự chuyển đổi phụ âm tiếng Đức Cao địa, để phân biệt với tiếng Franconia Trung và Cao ở Đức.
Tiếng Franconia Cao sau đó cùng với tiếng Alemanni và Bayern biến đổi thành tiếng Đức Cao Cổ. Cũng trong khoảng thời gian này quy luật phụ âm xát hẹp mũi Ingvaeon dẫn tới sự phát triển của tiếng Saxon Cổ, tiếng Frisia Cổ và tiếng Anh cổ (Anglo-Saxon). Vì hầu như không bị ảnh hưởng bởi các sự phát triển kia, tiếng Hà Lan Cổ giữ quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nguyên thủy của người Frank, dân tộc về sau làm chủ châu Âu trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên ngôn ngữ này vẫn phải trải qua những tiến triển của riêng nó như sự vô thanh hóa âm tiết cuối. Thực tế vật tìm thấy tại Bergakker chỉ ra ngôn ngữ này có thể đã trải qua sự chuyển đổi này trong thời kỳ tiếng Frank Cổ.
Bằng chứng về các câu viết bằng tiếng Hà Lan Cổ là cực kỳ hiếm. Bản ghi cổ nhất được tìm thấy trong bộ luật Lex Salia, văn bản của người Frank được viết khoảng năm 510 này, với câu văn sau được ghi nhận là câu tiếng Hà Lan cổ xưa nhất: Maltho thi afrio lito (Ta nói với ngươi, ta trao tự do cho ngươi, kẻ đầy tớ) được dùng để thả tự do cho nô lệ.
Một trong những câu cổ xưa khác là Visc flot aftar themo uuatare (Một con cá đang bơi dưới nước). Một văn bản tiếng Hà Lan cổ xưa còn được bảo tồn là Lời thề rửa tội Utrecht (776-800) bắt đầu với câu Forsachistu diobolae [...] ec forsacho diabolae (Con có chịu từ bỏ quỷ dữ không? [...] Con xin từ bỏ quỷ dữ). Có lẽ câu văn nổi tiếng nhất là Hebban olla vogala nestas hagunnan, hinase hic enda tu, wat unbidan we nu (Mọi loài chim đều đã bắt đầu làm tổ, trừ tôi và bạn, chúng ta còn chờ gì nữa), được cho là ra đời vào năm 1100, và viết bởi một tu sĩ người Flemish tại tu viện ở Rochester, Anh.
=== Tiếng Hà Lan Trung cổ ===
Tiếng Hà Lan Cổ biến đổi một cách tự nhiên thành tiếng Hà Lan Trung cổ. Năm 1150 thường được nhắc tới như là khoảng thời gian gián đoạn, nhưng nó thực chất đánh dấu thời kì văn viết tiếng Hà Lan nở rộ và hình thành nên nền văn học Hà Lan Trung đại. Thời kì này chưa hề có một thứ ngôn ngữ chuẩn mực thực sự quan trọng; tiếng Hà Lan Trung cổ thực ra vẫn là cái tên đại diện cho nhiều phương ngữ gần gũi nhau có nguồn gốc từ tiếng Hà Lan cổ. Trong thực tế, do tiếng Hà Lan là một thứ tiếng khá bảo thủ (tức là không thay đổi nhiều theo thời gian), các tác phẩm văn học thời kì này vẫn dễ hiểu đối với người ngày nay.
Điểm khác biệt đáng lưu ý của tiếng Cổ và Trung Cổ là sự tiêu giảm nguyên âm. Các nguyên âm tròn ở các âm tiết cuối của từ khá phổ biến trong tiếng Hà Lan cổ; trong khi đó ở tiếng Hà Lan Trung Cổ, các nguyên âm đó trở thành âm schwa (âm giống như âm ơ trong tiếng Việt).
Các khu vực phương ngữ tiếng Hà Lan Trung Cổ ảnh hưởng nhiều bởi ranh giới chính trị. Tầm ảnh hưởng chính trị của một số người cai trị thường tạo ra tầm ảnh hưởng về mặt ngôn ngữ học khi ngôn ngữ trong mỗi vùng trở nên thuần nhất hơn. Có thể phân chia như sau theo độ quan trọng:
Tiếng Flemish trong Bá quốc Flanders. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời Trung Cổ (được gọi là cuộc "xâm lăng Flemish") nhưng mất ưu thế vào tay tiếng Brabant vào thế kỷ 13.
Tiếng Brabant, được dùng chủ yếu tại Công quốc Brabant và các khu vực lân cận. Đây là ngôn ngữ chiếm ưu thế trong gần như suốt thời Trung Cổ, được gọi là "cuộc xâm lăng Brabant".
Tiếng Holland, với Bá quốc Holland là trung tâm, là nơi tiếng Frisia Cổ được sử dụng. Nó ít có ảnh hưởng trong thời Trung cổ nhưng có tầm ảnh hưởng mạnh hơn vào thế kỷ 16 trong cuộc "xâm lăng Holland"; Chiến tranh Tám mươi Năm diễn ra ở miền Nam Hà Lan trong thời kỳ này.
Tiếng Limburg, ngày nay được dùng tại các tỉnh Limburg của Hà Lan và Bỉ, và các vùng đất lân cận tại Đức. Qua thời gian nó dần liên kết với các khu vực chính trị khác nhau và do đó trở thành phương ngữ phân kỳ nhất trong số này. Nó còn bị ảnh hưởng một phần từ sự chuyển đổi phụ âm Đức cao địa và là ngôn ngữ ít thân thiết nhất với ngôn ngữ chuẩn sau này. Tuy nhiên đây là phương ngữ Hà Lan Trung Cổ đầu tiên phát triển được truyền thống văn chương.
== Ghi chú ==
== Sách tham khảo ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Hà Lan trên trang Open Directory Project
Nederlandse Taalunie, Liên đoàn tiếng Hà Lan
Zeer Goed Học tiếng Hà Lan |
14 tháng 5.txt | Ngày 14 tháng 5 là ngày thứ 134 (135 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 231 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1483 - Charles VIII đăng quang vua Pháp.
1643 – Quốc vương Henri IV của Pháp bị ám sát tại Paris bởi một phần tử tôn giáo cực đoan, con là Louis XIV kế vị.
1804 – Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark khởi hành từ Trại Dubois gần Hartford, Illinois ngày nay.
1868 – Chiến tranh Boshin: Trận thành Utsunomiya kết thúc khi dư đảng của Mạc phủ Tokugawa triệt thoái về phía bắc.
1948 – Israel tuyên bố là một nhà nước độc lập, các quốc gia Ả Rập lân cận liền tấn công Israel, khởi đầu chiến tranh Ả Rập-Israel.
1955 – Chiến tranh Lạnh: Tám quốc gia cộng sản ký một hiệp ước phòng thủ chung là Hiệp ước Warszawa.
== Sinh ==
1316 - Charles IV, Hoàng đế La Mã thần thánh (m. 1378).
1771 - Robert Owen, nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng người Anh.
1863 - John Charles Fields nhà toán học Canada (m. 1932).
1928 - Nhạc sĩ Xuân Hồng (tên thật là Nguyễn Hồng Xuân).
1984 - Mark Elliot Zuckerberg người sáng lập Facebook.
== Mất ==
964 - Giáo hoàng John XII.
1470 - Vua Karl VIII của Thụy Điển (s. 1409).
1608 - Charles III, công tước Lorraine (s. 1543).
1610 - Henri IV vua nước Pháp bị tên cuồng tín François Ravaillac đâm chết trên đường Rue de la Ferronnerie, Paris. Ravaillac bị xử tử bằng tứ mã phanh thây 13 ngày sau đó.
1643 - Vua Louis XIII của Pháp (s. 1601).
2010 - Ngô Khánh Thụy, chính trị gia người Singapore (s. 1918)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
2017: Ngày của Mẹ
== Tham khảo == |
bắc ngụy.txt | Nhà Bắc Ngụy (tiếng Trung: 北魏朝, bính âm: běi wèi cháo, 386-534), còn gọi là Thác Bạt Ngụy (拓拔魏), Hậu Ngụy (後魏) hay Nguyên Ngụy (元魏), là một triều đại thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Sự kiện đáng chú ý nhất của triều đại này là việc thống nhất miền bắc Trung Quốc năm 439. Nhà nước này cũng tham gia mạnh mẽ vào việc tài trợ cho nghệ thuật Phật giáo nên nhiều đồ tạo tác cổ và tác phẩm nghệ thuật từ thời kỳ này còn được bảo tồn. Năm 494, triều đại này di chuyển kinh đô từ Bình Thành (nay là Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây) về Lạc Dương và bắt đầu cho xây dựng hang đá Long Môn. Trên 30.000 tượng Phật từ thời kỳ của triều đại này còn được tìm thấy trong hang. Người ta cho rằng triều đại này bắt nguồn từ bộ Thác Bạt của tộc Tiên Ti. Dưới ảnh hưởng của Phùng thái hậu và Ngụy Hiếu Văn Đế, Bắc Ngụy đẩy mạnh Hán hóa, thậm chí đổi họ hoàng tộc từ Thát Bạt sang Nguyên. Việc áp đặt Hán hóa gây mâu thuẫn sâu sắc giữa giới quý tộc Bắc Ngụy tại Lạc Dương và người Tiên Ti ở 6 quân trấn (lục trấn) phương bắc - là 6 tiền đồn lập lên nhằm phòng thủ người Nhuyễn Nhuyên (còn gọi Nhu Nhiên) - dẫn đến việc nổi loạn của người lục trấn, làm suy sụp hệ thống lưới cai trị từ Lạc Dương. Sau một thời gian xung đột, Bắc Ngụy bị phân chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy.
== Sự trỗi dậy của thị tộc Thác Bạt ==
Nhà Tây Tấn (265-420) đã gây dựng một liên minh với thị tộc Thác Bạt để chống lại nhà nước của người Hung Nô là Hán Triệu. Năm 315, thủ lĩnh Thác Bạt đã được phong làm Đại vương. Tuy nhiên, sau cái chết của người lập ra vương quốc là Thác Bạt Ỷ Lư, nước Đại bị trì trệ và tồn tại chủ yếu dưới dạng nửa liên minh, nửa chư hầu đối với Hậu Triệu và Tiền Yên, cuối cùng mất về tay Tiền Tần năm 376.
Thời Ngụy Tấn, tại vùng phía bắc và đông bắc có đông người Tiên Ty sinh sống, trong đó có họ Mộ Dung và họ Thác Bạt lớn mạnh. Bắc Ngụy xuất xứ tại núi Tiên Ti thuộc Bắc Lộc, dãy Đại Hưng An.
Họ Thác Bạt trấn trị phía bắc, xen lẫn với người Hung Nô. Ngay từ thời Hòa Đế đời Đông Hán, đại tướng Đậu Hiến đánh bại Hung Nô, Tiên Ti thừa cơ chiếm lĩnh đất cũ của Hung Nô, hơn mười vạn hộ Hung Nô tự xưng là Tiên Ti, gia nhập tộc Tiên Ti cùng với văn hóa Hung Nô và sự sùng bái nguyên thủy của người Hung Nô. Do đó Tiên Ti lại là dân tộc hỗn hợp Đông Hồ và Tiên Ti. Thác Bạt bộ Tiên Ti cực kỳ hung hãn, nhưng văn hóa Tiên Ti lạc hậu, chữ viết chưa có. Thế nhưng họ có tính cách mạnh mẽ và cái đầu thông minh như sói thảo nguyên Mông Cổ, tài năng quân sự siêu việt, là một chi cự phách trong Đông Hồ.
Nước Đại là một nhà nước của thị tộc Thác Bạt thuộc bộ lạc Tiên Ti tồn tại trong thời kỳ Thập lục quốc ở Trung Quốc. Quốc gia này tồn tại từ khoảng năm 310-315 tới năm 376, với kinh đô đặt tại Thịnh Lạc (ngày nay gần huyện Hòa Lâm Cách Nhĩ, Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông).
Sau khi hoàng đế Tiền Tần Phù Kiên bị quân Đông Tấn đánh bại tại trận Phì Thủy trong cố gắng không thành để thống nhất Trung Quốc, Tiền Tần bắt đầu tan rã. Nhiều tướng lĩnh Tiền Tần li khai, các bộ lạc bị chinh phục cũng nổi dậy. Dưới quyền của Thác Bạt Khuê, thủ lĩnh bộ tộc Thác Bạt là ba anh em Trưởng Tôn Tung, Trưởng Tôn Phổ Lạc và Trưởng Tôn Đạo Sinh, các mưu sĩ người Hán Trương Cổn và Hứa Khiêm. Năm 386, Thác Bạt Khuê, con trai (hay cháu) Thác Bạt Thập Dực Kiện (vương cuối cùng của nước Đại), đã giành lại độc lập của người Thác Bạt ban đầu như là vương quốc Đại. Sau đó ông đổi tước hiệu của mình thành Ngụy vương, sau này triều đại của ông được gọi là Bắc Ngụy.
== Thống nhất phương Bắc ==
Lúc bấy giờ Thác Bạt Khuê phải đối phó với các thế lực khác: phương nam có bộ lạc Độc Hồ, phương bắc có bộ tộc Hạ Lan, phía đông có Khố Xa Khê, phía tây một dải Hoàng Hà có Thiết Phất bang của tộc Hung Nô, ở Âm Sơn lại có bộ tộc Nhu Nhiên và Cao Xa. Năm 391, Thác Bạt Khuê đánh bại các bộ lạc Nhu Nhiên và giết chết thủ lĩnh của họ là Úc Cửu Lư Hạt Đa Hãn (Yujiulü Heduohan), buộc người Nhu Nhiên phải chạy về phía tây.
Ban đầu Bắc Ngụy là chư hầu Hậu Yên, nhưng vào năm 395 đã nổi dậy chống Yên và vào năm 398 đã xâm chiếm phần lớn lãnh thổ Hậu Yên về phía bắc sông Hoàng Hà. Cùng năm, ông lập kinh đô tại Bình Thành (Sơn Tây, Trung Quốc). Sự lớn mạnh và xâm thực của Thác Bạt Khuê khiến nước Hậu Yên hùng mạnh của Mộ Dung Thùy bị suy sút thảm hại. Sau khi Thùy chết, Hậu Yên từ một cường quốc phương Bắc sau khi Tiền Tần tan rã bị cắt làm hai nước nhỏ bé: một nửa theo ngành chính chạy lên tận Long Thành ở Liêu Đông phía đông bắc, một nửa do Mộ Dung Đức cầm đầu chạy về Hoài Bắc (Nam Yên).
Năm 399, Thác Bạt Khuê tự xưng là Đạo Vũ Đế. Cùng năm ông đánh bại các bộ lạc Cao Xa gần sa mạc Gobi.
Về đại thể, Thác Bạt Khuê đã lập nền tảng cho sự cai trị ở Trung Nguyên của nhà Bắc Ngụy. Mặc dù sau đó, trong cuộc chiến tàn khốc của Ngũ Hồ, một số quốc gia mới xuất hiện như Hạ của họ Hách Liên hoặc mất đi do cuộc Bắc tiến của Lưu Dụ nhà Đông Tấn như Nam Yên và Hậu Tần nhưng vị thế Bắc Ngụy không hề bị suy giảm.
Khi Lưu Dụ cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Lưu Tống (420), trên bản đồ phía bắc chỉ còn các nước: Bắc Ngụy, Bắc Yên, Hạ, Bắc Lương, Tây Tần.
Qua thời con ông là Minh Nguyên Đế Thác Bạt Tự đến thời cháu ông là Thái Vũ Đế Thác Bạt Đảo, Bắc Ngụy đã hoàn thành cuộc thống nhất toàn miền Bắc Trung Quốc.
Năm 431, Vua Hạ Hách Liên Định mang quân diệt Tây Tần. Cùng năm 431, Thái Vũ Đế điều quân đánh Hạ. Nước Hạ vừa qua chiến tranh với Tây Tần, bị quân Ngụy diệt gọn.
Năm 436, Thái Vũ Đế đánh Bắc Yên, bắt Vua Yên Phùng Hoàng. Nước Bắc Lương còn lại trơ trọi cũng không tồn tại được lâu. Năm 439, Thác Bạt Đào đánh Bắc Lương, bắt Vua Lương Thư Cừ Mục Kiền. Cục diện Ngũ Hồ loạn Hoa hơn 100 năm với hơn 20 quốc gia chấm dứt.
Toàn thể phương Bắc được thống nhất trong tay Bắc Ngụy. Miền Nam trong tay nhà Lưu Tống. Cục diện đối lập miền Bắc giữa Bắc Ngụy và các triều đại miền Nam duy trì khá lâu và được sử sách gọi thời Nam Bắc triều (420 - 589).
Biên giới nhà Bắc Ngụy rất rộng lớn: đông bắc đến Liêu Tây, tây đến Đông Tân Cương, nam đến Hoài Nam, bắc đến Thảo nguyên Mông Cổ.
== Chiến tranh với Lưu Tống ==
Xem chi tiết: Chiến tranh Lưu Tống - Bắc Ngụy
=== Lần thứ nhất ===
Chiến tranh giữa Ngụy và Tống bùng nổ ngay khi Ngụy chưa thống nhất được miền Bắc.
Năm 422, nhân lúc Tống Vũ Đế Lưu Dụ mới mất, Ngụy Minh Nguyên Đế phát động Nam tiến, sai Hề Cân đánh chiếm Hoạt Đài, đánh Hổ Lao; sai Thúc Tôn Kiến mang quân từ Bình Nguyên qua sông Hoàng Hà đánh các quận Thái Sơn, Cao Bình, Kim Hương; phía đông quân Ngụy tiến vào Thanh Châu, Đông Dương.
Tháng 1 năm 423, quân Ngụy hạ được thành Kim Dung, Lạc Dương và Lâm Tri. Các thành của Tống chỉ có Đông Dương và Hổ Lao còn cầm cự.
Tướng Tống Đàn Đạo Tế mang quân cứu ứng, thấy Đông Dương yếu hơn và gần hơn nên cứu trước. Quân Ngụy đúng lúc đó bị dịch bệnh nên thấy viện binh phải lui. Đàn Đạo Tế không được cấp nhiều lương nên phải dừng lại không truy kích được. Thành bị phá nặng nên tướng trấn thủ Đông Dương là Trúc Quỳ phải dời tới thành Bất Kỳ.
Hổ Lao ở xa, các cánh quân của Đạo Tế ở Hồ Lục, Lưu Túy ở Hạng Thành, Thẩm Thúc Ly ở Cao Kiều nhưng không dám tới cứu vì sợ thế lớn của Bắc Ngụy. Do không được cứu nên tới tháng 4 năm 424, thành bị hạ. Quân Ngụy tuy lấy được thành nhưng tổn thất khá nhiều.
Sau lần chiến tranh đó, Lưu Tống bị mất vùng đất từ Hồ Lục, Hạng Thành trở lên phía bắc.
=== Lần thứ hai ===
Ngụy Thái Vũ Đế lên ngôi (425) lúc tình hình Lưu Tống cũng đã ổn định dưới thời Văn Đế. Nhân lúc Bắc Ngụy phải đối phó với Nhu Nhiên phía bắc, năm 429, Tống Văn Đế đòi Ngụy trả đất Hà Nam. Ngụy Thái Vũ Đế không chịu.
Năm 430, Tống Văn Đế sai Đáo Ngạn Chi mang quân Bắc phạt. Tháng 7 quân Tống tới Tu Xương. Quân Ngụy ở 4 thành Cao Ngao, Hoạt Đài, Hổ Lao và Kim Dung ít quân nên chủ động rút lui. Ngạn Chi thu 4 trấn rồi tiến đến bến Linh Xương và chia quân tiến sang Đồng Quan phía tây.
Thôi Hạo của Bắc Ngụy thấy quân Tống mắc sai lầm chí mạng là chỉ có 5 vạn mà dàn ngang 2000 dặm đông tây nên lực lượng rất yếu ớt. Tháng 10 cùng năm, Bắc Ngụy phản công, lấy lại được Lạc Dương và Hổ Lao.
Tháng 11, Tống Văn Đế lại sai Đàn Đạo Tế đi tiếp ứng. Nhưng Đạo Tế chưa tới thì Ngạn Chi bị mất 2 thành đã hoảng sợ, hạ lệnh đốt thuyền, bỏ giáp nặng rút về Bành Thành. Quân Ngụy đuổi theo đến Lịch Thành, Thái thú Tế Nam của Tống là Tiêu Thừa Chi chỉ có vài trăm quân nhưng dụng "không thành kế", cho mở toang cổng thành. Quân Ngụy sợ có phục binh không dám vào thành. Các nhà sử học Trung Quốc cho rằng chính mưu kế này gợi ý cho La Quán Trung ghép vào chuyện không thành kế của Gia Cát Lượng lừa Tư Mã Ý trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa.
Tháng 2 năm 431, quân Ngụy giao tranh với Đàn Đạo Tế lên Bắc cứu Hoạt Đài. Hai bên đánh nhau 30 trận, đều bị tổn thất nặng. Thúc Tôn Kiến bèn dùng kế đánh úp đường vận lương của quân Tống khiến Đạo Tế bị thiếu lương. Đạo Tế phải rút quân. Quân Ngụy truy kích bắt được Chu Tu Chi.
Cuộc bắc phạt của Tống Văn Đế thất bại.
=== Lần thứ ba ===
Chiến sự Tống - Ngụy tạm ngừng trong nhiều năm. Bắc Ngụy tập trung tiêu diệt các nước Ngũ Hồ còn lại như Hạ, Bắc Yên, Bắc Lương.
Sau khi củng cố thực lực, năm 450, Thái Vũ Đế điều 10 vạn quân vây đánh Huyền Hồ. Tướng Tống Trần Hỷ chỉ có 1000 quân chống trả trong 42 ngày, quân Ngụy bị thiệt hại hơn 1 vạn nhưng không hạ được thành. Tuy vậy, các thành xung quanh đều sợ thế Ngụy và bỏ thành rút chạy.
Lưu Tống yếu thế hơn, nhưng Vua Tống vẫn muốn ra quân. Tháng 7 năm 450, quân Tống xuất phát. phía đông, Vương Huyền Mô và Thẩm Khánh Chi cầm quân thủy; phía tây, Hoàng tử Lưu Đãn cùng Liễu Nguyên Cảnh đánh chiếm Hoằng Nông.
Chiến sự phía đông:
Tướng Ngụy ở các thành Cao Ngao, Nhạc An đều bỏ thành chạy. Huyền Mô đánh Hoạt Đài, 1 tháng không hạ được. Tháng 9, Thái Vũ Đế đích thân Nam tiến cứu Hoạt Đài, xưng là có trăm vạn quân. Vương Huyền Mô bỏ lỡ mấy cơ hội hạ thành, nghe tin đó hoảng sợ, rút quân. Quân Ngụy truy kích giết hơn vạn quân Tống.
Tổng chỉ huy Tiêu Bân nghe tin Huyền Mô thua trận, định đi cứu thì Mô đã chạy về đến nơi. Thấy quân Ngụy thế lớn, các tướng Tống phải bàn nhau rút về cố thủ ở Cao Ngao, Thanh Khẩu, Lịch Thành. Sau vì vị trí của Cao Ngao đặc biệt nên quân Tống phải bỏ Cao Ngao.
Chiến sự phía tây:
Tướng Tống Liễu Nguyên Cảnh cùng lão tướng Bàng Quý Minh tiến đánh Lư Thị rồi hạ được Hoằng Nông, tiến đánh Đồng Quan và Thiểm Châu. Tướng Ngụy Trương Thị Liên Đề không chống nổi, tử trận cùng 3000 quân. 2 vạn quân Ngụy bị bắt, được Nguyên Cảnh cho thả hết.
Thiểm Thành bị mất khiến Đồng Quan bị mất theo. Quân Tống uy hiếp phía tây dữ dội. Hào kiệt người Hán ở Quan Trung cũng như người Khương (1 trong Ngũ Hồ) hưởng ứng quy hàng. Cùng lúc đó, tướng Tống Lưu Khang Tổ cũng hạ được Trương Xã rồi tiến đánh Hổ Lao.
Nhưng lúc đó tin bại trận của Vương Huyền Mô phía đông báo về Kiến Khang. Tống Văn Đế lại cho rằng cánh này bị thua nặng thì phía tây cũng không nên đơn độc vào sâu đất địch nên hạ lệnh lui quân. Các tướng Tống đành rút về Tương Dương. phía tây bắc Ngụy qua được nguy hiểm.
=== Lần thứ tư ===
Thái Vũ Đế thấy quân Tống rút lui, bèn khởi đại quân Nam tiến. Tướng Ngụy Thác Bạt Nhân đánh Thọ Dương, hạ Huyền Hồ và Hạng Thành. Tống Văn Đế điều Lưu Khang Tổ cứu Thọ Dương. Quân Tống chỉ có 8000, đụng 8 vạn quân Ngụy ở Úy Vũ. Chiếm ưu thế quân số, Thác Bạt Nhân tiêu diệt toàn bộ cánh quân này, giết chết Khang Tổ.
Tướng giữ Thọ Dương của Tống là Hoàng tử Lưu Thước cố thủ không đánh, quân Ngụy không hạ được.
Thái Vũ Đế đích thân cầm quân chủ lực đánh Bành Thành. Các hoàng tử Lưu Nghĩa Cung (em Tống Văn Đế) và Lưu Tuấn (con Văn Đế) cố thủ không ra, quân Ngụy không hạ được. Tháng 12 năm 450, Tống Văn Đế sai Tang Chất đi cứu Bành Thành. Chất chỉ có 1 vạn quân, đụng đại quân Ngụy, bị giết gần hết, chỉ còn 800 quân chạy vào Vu Thai.
Ngụy Thái Vũ Đế cho 1 cánh quân nhỏ vây Vu Thai mà cất đại quân Nam tiến tiếp. Rằm tháng chạp, quân Ngụy tới Qua Bộ, ông ra lệnh phá nhà dân làm bè, phao tin quân Ngụy muốn vượt Trường Giang vào Kiến Khang. Kinh thành nhà Tống rơi vào tình trạng khẩn cấp, phải điều động cả con em vương công ra trận. Nhưng đến ngày 2 tháng 1 năm 451, Thái Vũ Đế hạ lệnh lui quân, chỉ bắt theo dân Tống mang về.
Ngụy Thái Vũ Đế quay trở lại Vu Thai, đòi tướng Tống Tang Chất dâng rượu. Chất sai mang bình nước tiểu cho Vua Ngụy. Thái Vũ Đế nổi giận hạ lệnh đánh thành, không tiếc mạng quân sĩ cố đánh cho được. Sau đó Vua Ngụy lại gửi thư hăm dọa Tang Chất. Chất cũng cứng cỏi, gửi thư mắng lại, lại chép giải thưởng của Triều đình Lưu Tống vào thư:
"Ai chém được Phật Ly (tức Thái Vũ Đế), phong hầu vạn hộ, thưởng 1 vạn tấm vải!"
Thái Vũ Đế càng tức giận, thúc quân đánh rát, nhưng hơn 1 tháng quân Ngụy hao tổn nhiều vẫn không hạ được thành. Lúc đó Bành Thành vẫn trong tay quân Tống, Thái Vũ Đế sợ quân địch hợp 2 mặt đánh lại nên đành giải vây Vu Thai, rút về Bắc.
Lúc quân Ngụy rút về qua Bành Thành, Hoàng thân Lưu Nghĩa Cung không dám ra đánh. Sau đó vua Tống phát lệnh truy kích tới, quân Ngụy bèn giết hơn 1 vạn dân Tống bắt theo về vì họ đi chậm rồi toàn quân rút mau.
Chiến tranh Tống - Ngụy kết thúc năm 451. Cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề. Quân dân Tống bị chết không thể đếm hết, người ngựa của Bắc Ngụy cũng tổn thất một nửa; trên thực tế cả Ngụy và Tống đều là người thua.
== Chính sách ==
Thời kỳ đầu trong lịch sử Bắc Ngụy, nhà nước này vẫn tiếp tục thực hiện một loạt các truyền thống từ lịch sử ban đầu của mình như là bộ lạc Tiên Ti, và một số trong số này là bất thường, theo quan điểm Trung Hoa truyền thống:
Các quan lại không nhận lương, mà trưng thu những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống của họ trực tiếp từ những người dân do họ quản lý. Theo tiến trình phát triển của đế quốc, điều này dường như là yếu tố chính góp phần vào sự tha hóa của các quan chức. Vì thế chỉ sau hơn 100 năm kể từ khi ra đời, nhà nước này đã phải cung cấp lương bổng cho các quan lại.
Các hoàng hậu không được chỉ định theo sự yêu mến của hoàng đế hay đẳng cấp khi sinh ra, mà các ứng viên được đưa ra xem xét trong một nghi lễ, theo đó họ phải đích thân rèn các bức tượng vàng, như là cách thức của ân huệ thần thánh. Chỉ có bà vợ nào thành công trong việc rèn tượng vàng mới có thể trở thành hoàng hậu.
Tất cả đàn ông, không phụ thuộc vào sắc tộc, phải tết tóc thành một bím tóc và sau đó cuộn lại để đặt trên đỉnh đầu, và có một chiếc mũ đội trùm lên.
Khi Thái tử được chỉ định, mẹ của ông ta, nếu còn sống, bị buộc phải tự tử (Một số sử gia không tin rằng đây là tập tục truyền thống của người Thác Bạt, mà tin rằng nó là truyền thống được Đạo Vũ Đế đặt ra, dựa trên việc Hán Vũ Đế cho tử hình người thiếp yêu của ông là Câu Dực Phu nhân Triệu Tiệp dư, mẹ đẻ của người con trai bé nhất của ông là Lưu Phất Lăng (tức Hán Chiêu Đế sau này), trước khi chỉ định Phất Lăng làm Hoàng thái tử nhằm tránh sự can thiệp của ngoại thích vào công việc triều chính.
Do các hoàng đế không còn mẹ đẻ, vì thế khi lên ngôi, họ thông thường sẽ phong tặng cho bảo mẫu của mình tước hiệu "Bảo thái hậu" (保太后). Do vậy, Bắc Ngụy có 3 dạng Hoàng thái hậu, một là mẹ đẻ của Hoàng đế (truy phong), hai là bảo mẫu của Hoàng đế và ba là (cựu) hoàng hậu của Hoàng đế tiền nhiệm.
Khi quá trình Hán hóa của Nhà nước Bắc Ngụy tăng lên thì các truyền thống tập tục này dần dần bị bãi bỏ.
=== Luật pháp ===
Trong thời kỳ đầu, Đạo Vũ Đế dựa vào nguyên tắc giản dị để tiến hành sửa chữa pháp luật cũ ở Trung Nguyên. Ba mươi năm, sau Thái Vũ Đế sai Thôi Hạo là thủ lĩnh sĩ tộc người Hán tiến hành chỉnh lý pháp luật gồm 391 điều, trong đó những dấu vết cũ của người Tiên Ty không còn nhiều nữa. Năm 477 Hiếu Văn Đế chủ trì việc chỉnh lý pháp luật nhiều lần cùng các đại thần thảo luận việc chỉnh lý pháp luật, đích thân chấp bút để soạn thảo pháp luật. Năm 491, Bắc Ngụy ban hành bộ luật có 20 chương, 832 điều, đồng thời ban hành Ngụy lệnh.
==== Tổ chức nông dân ====
Chế độ tam trưởng chế.
Năm gia đình tạo thành một lân có lân trưởng đứng đầu
Năm lân tạo thành một lý có một lý trưởng đứng đầu.
Năm lý tạo thành một đảng có một đảng trưởng đứng đầu.
Ở mỗi cấp này, những người đứng đầu đều do chính quyền trung ương chỉ định. Nhờ đó Nhà nước quản lý được số hộ toàn quốc, trực tiếp quản lý thuế đến từng hộ. Các lân trưởgn, lý trưởng, đảng trưởng được hưởng đặc quyền không phải đi phu, chỉ lo việc lập hộ tịch, thu thuế và khuyến khích làm ruộng, chăn tằm trong địa phận. Tam trưởng chế xoá bỏ chế độ Tôn chủ đốc bộ trước đó, ảnh hưởng đến quyền lợi của địa chủ người Tiên Ty và người Hán.
==== Chế độ quân điền ====
Nhằm đảm bảo cho Nhà nước có thể khai hoang và cải tạo các khu vực đất đai khô cằn, hoang vu, cằn cỗi, Nhà nước Bắc Ngụy đã phát triển hệ thống này bằng cách chia nhỏ đất đai theo số lượng đàn ông của từng độ tuổi để gieo trồng trên đất ấy, đây là chế độ quân điền. Nhà Tùy và nhà Đường sau này đã phục hồi lại chế độ quân điền này trong thế kỷ 7.
==== Di dân ====
Trong thời kỳ trị vì của Đạo Vũ Đế (386-409), tổng lượng dân cư phải di dời từ các khu vực phía đông Thái Hành Sơn (lãnh thổ cũ Hậu Yên) tới Bình Thành ước chừng khoảng 460.000. Các cuộc di dời nói chung được thực hiện khi Bắc Ngụy chiếm lĩnh thêm được các lãnh thổ mới.
=== Dời đô ===
==== Đến Bình Thành ====
Sau khi Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê chuyển kinh đô đến Bình Thành vào năm 398 và bắt đầu áp dụng phong tục và luật lệ của người Hán (quản lý hành chính, cấu trúc bộ máy Nhà nước, nghi lễ Nhà nước, hệ thống tiêu chuẩn đo lường cân nặng, lịch pháp, thành lập trường học Nho giáo, buộc người Thác Bạt để tóc và đội mũ như người Hán.
Năm sau, Đạo Vũ Đế tổ chức lại chính quyền, mở rộng bộ máy chính quyền, thu thập các loại sách vở trong toàn quốc và chở về Bình thành. Những người sử dụng đất đều được đăng ký (hộ) và các khu đất xung quanh Kinh thành được phân chia cho nông dân tự canh canh tác. Phần lớn diện tích đất nông nghiệp ở miền Bắc được dùng làm đồn điền quân sự, số khác được sử dụng làm mục trường chăn thả gia súc.
Bắc Ngụy mở rộng lãnh thổ, lấy Hà Tây làm mục trường rộng lớn để nuôi ngựa. Ngụy thư có ghi: "Hà Tây có nước có cỏ tốt bèn lấy làm nơi chăn thả súc vật, sinh sản nhanh chóng, ngựa có đến 2 triệu con".
==== Đến Lạc Dương ====
Năm 493, Hiếu Văn Đế trên danh nghĩa là đánh miền Nam đã cho mang đến Hà Dương (Hà Nam) 2 triệu con ngựa, tổ chức quân túc vệ 15 vạn thường trú tại Lạc Dương, dời hộ tịch toàn bộ người vùng Đại tới Lạc Dương. Hành động này không phải chỉ là chuỵên dời đổi kinh đô mà còn có ý nghĩa chuyển đổi văn hóa quan trọng, vì Đại Đồng là đất nằm phía bắc dãy Hồng Sơn, lọt vào vùng đất chịu nhhiều ảnh hưởng của văn hóa du mục, còn Lạc Dương ở vào trung tâm Thần Châu thời cổ, là kinh đô Đông Chu, Đông Hán, Ngụy, Tấn. Lạc Dương phía đông có Thánh Cao, phía tây có Hào Sơn, Dẫn Trì, sau lưng là Hoàng Hà, quay mặt sang các sông Y, sông Lạc. Dời kinh đô đến đây là để hiển thị Bắc Ngụy là chính quyền chính thống của Trung Quốc và có lợi cho việc hấp thụ mau lẹ Văn hóa Hán tộc.
Chính ở Cố đô Lạc Dương này, Hiếu Văn Đế tiến hành cải cách các lãnh vực kinh tế, kiến trúc thượng tầng văn hóa. Ông hạ lệnh cấm dùng chữ Hồ, ăn mặc theo lối Hồ (Hồ là khái niệm chỉ chung những dân tộc ít người Trung Quốc), buộc nhân dân phải dùng rộng rãi tiếng Hán. Hễ bất cứ quan viên người Tiên Ty nào dưới 30 tuổi mà nói tiếng Tiên Ty trong Triều đình đều bị gián chức trừ quan.
Kinh thành Lạc Dương đầu đời Bắc triều bị Ngũ Hồ tán phá, chỉ còn có một trăm nhà, năm 494 được xây dựng lại. Vòng thành có 12 cửa, ở giữa là cung điện. Ở phía nam là khu hành chính. Trong thành và ngoài thành dân số rất đông đúc. phía tây là một chợ lớn, phía đông là một chợ nhỏ bán ngũ cốc và súc vật, phía nam là một chợ bán cá và những sản phẩm nhập khẩu. Các thương nhân nước ngoài tới ở khu riêng gọi là Tứ Di quán. Đô thành Lạc Dương có đến 10 vạn hộ, số dân khoảng trên 50 vạn người. Lạc Dương thành một trung tâm thương mại thịnh vượng trao đổi hàng hóa với Trung Á và Tây Á.
=== Hán hóa ===
==== Tôn giáo ====
Khi Nhà nước Bắc Ngụy phát triển, các hoàng đế dần dà ưa thích các thể chế của người Hán và các quân sư cũng gia tăng. Thôi Hạo (381-450), một quân sư của Triều đình Bắc Ngụy tại Bình Thành đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này. Ông giới thiệu các phương thức quản lý của người Hán cũng như luật lệ cho Triều đình Bắc Ngụy, cũng như sáng tạo ra Thiên Sư đạo (một kiểu thần quyền Đạo giáo), kéo dài tới tận năm 450. Sức lôi cuốn của các sản phẩm của người Hán, khiếu thẩm mỹ hoàng gia đối với xa xỉ phẩm, uy tín của văn hóa Trung Hoa vào thời gian đó và Đạo giáo tất cả hợp lại đều là những yếu tố trong ảnh hưởng của người Hán tại Nhà nước Bắc Ngụy.
Các đền chùa Phật giáo bắt đầu xuất hiện ở nhiều nơi, thay thế dần cho Đạo giáo trong vai trò của quốc giáo.
Phật giáo cũng phát triển mạnh trong giai đoạn này với 2 triệu người tu hành, 3 vạn ngôi chùa được xây. Các hang động Phật lớn như Đôn Hoàng, Long Môn được xây dựng quy mô dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Lạc Dương có đến 1367 ngôi chùa, có 3000 nhà sư nước ngoài đến Kinh thành.
Ảnh hưởng của người Hán còn gia tăng trong quá trình di chuyển kinh đô tới Lạc Dương năm 494 và Hiếu Văn Đế còn tiếp tục điều này bằng cách thiết lập chính sách Hán hóa có hệ thống, được những vị hoàng đế sau ông thực hiện tiếp. Các truyền thống Tiên Ti dần dà bị xóa bỏ.
==== Đổi họ ====
Hoàng gia còn đẩy quá trình Hán hóa xa hơn một bước khi đổi họ Thác Bạt của mình thành họ Nguyên. Những người họ Thác Bạt xa thì đổi làm Trưởng Tôn, họ Ất Phiên đổi thành Thúc Tôn. Các họ kép (hai chữ) đều đổi thành họ đơn (1 chữ), trong đó 8 họ sang nhất là: Mục, Lục, Hạ, Lưu, Lâu, Vũ, Hệ, Uất. Sĩ tộc người Hoa thì có 4 hộ lớn nhất là Lư, Thôi, Trịnh, Vương ở Phạm Dương, Thanh Hà, Vinh Dương, Thái Nguyên; họ Lý ở Lũng Tây, Triệu Quận kém hơn một bậc. Các họ người Hán này cũng được coi là quý tộc, con gái được tuyển vào cung vua.
Các sĩ tộc khác cũng được phân chia lại theo đẳng cấp rõ ràng. Hôn nhân với các gia đình người Hán được khuyến khích. Sĩ tộc và sĩ tộc Hán dựa theo dòng dõi và đẳng cấp mà gả con cái cho nhau.
=== Chế độ quân điền ===
Nhà Bắc Ngụy ban hành "quân điền chế", ban bố "Tam trường chế" thực hành "Quan lộc chế", tiến hành một loạt cải cách.
Năm 491 cho ban hành một bộ luật mới có 20 chương 832 điều. Các quan chức trong bộ máy Nhà nước được Nhà nước trả lương, đó là chế độ quan lộc chế. Năm 483 ban hành quan lộc chế, chính thức cấp bổng lộc cho quan lại quy định mỗi hộ dân phải nộp hàng năm 3 xấp lụa, 2 hộc 9 đấu lúa làm nguồn để trả lương. Quan lại nếu tham ô có giá trị ngang 1 xấp lụa thì bị tử hình, năm đó Nhà nước tiến hành giám sát quan viên các nơi phát hiện tại 40 nơi có quan viên tham nhũng, tất cả đều bị xử tử.
=== Quân đội ===
Ảnh hưởng lớn của người Hán có ảnh hưởng chính đối với Triều đình và tầng lớp trên của giai cấp quý tộc Thác Bạt. Quân đội bảo vệ biên cương phía bắc Đế chế và người Tiên Ti ít Hán hóa hơn bắt đầu thể hiện cảm giác thù nghịch đối với Triều đình quý tộc và tầng lớp trên của xã hội dân sự. Thời kỳ đầu trong lịch sử Bắc Ngụy, phòng thủ ở biên giới phía bắc chống lại người Nhu Nhiên là quan trọng hơn cả và nghĩa vụ quân sự trên biên cương phía bắc từng được coi là danh giá và được đánh giá cao.
Trên tất cả, trong suốt lịch sử từ khi thành lập cho tới các giai đoạn đầu của nhà nước này, sức mạnh của đao kiếm và cung tên đã tạo ra và duy trì nó; nhưng khi quá trình Hán hóa của Hiếu Văn Đế được bắt đầu một cách nghiêm túc thì nghĩa vụ quân sự, cụ thể là tại biên cương phía bắc, đã không còn được coi là danh giá và các gia đình chiến binh Tiên Ti truyền thống ở biên giới phía bắc đã không còn được kính trọng và không nhận được nhiều đặc quyền đặc lợi như trước đây nữa. Các gia đình này trước đó được coi là tầng lớp trên thì hiện tại lại bị coi là tầng lớp dưới trong hệ thống cấp bậc xã hội.
=== Xây dựng chính quyền và thực hiện cải cách ===
Văn Thành Ðế lại rất sùng bái và có công trong việc phát triển Phật giáo, củng cố chính quyền trung ương. Sau khi Văn Thành Đế qua đời, nhờ sự giúp đỡ của quần thần, Phùng Hoàng hậu (Phùng Thục Nghi, cháu gái Phùng Hoằng, Vua Bắc Yên) tiêu diệt triệt để âm mưu cướp ngôi của Thái Nguyên Vương Ất Phất Bộ Hồn, hỗ trợ cho Hiến Văn Đế còn nhỏ tuổi. Phùng Hoàng hậu được tôn làm Phùng Thái hậu, lần đầu tiên chính thức lâm triều. Nhà nước Bắc Ngụy được củng cố mạnh mẽ dưới thời gian Phùng Thái hậu nhiếp chính và tiếp sau đó là Hiếu Văn Đế.
Dưới sự dẫn dắt và ủng hộ của Phùng Thái hậu, Hiếu Văn Đế quyết chí cải chính, phú quốc cường binh, khiến cho Vương triều Bắc Ngụy ngày càng hùng mạnh, kinh tế và văn hóa phát triển từ trước tới nay chưa từng có.
=== Cải cách của Hiếu Văn Đế ===
Nhà Bắc Ngụy từ khi dựng nước đến khi thống nhất phương Bắc luôn luôn gây ra chiến tranh cướp đoạt, chiếm giữ súc vật và người rồi ban chiến lợi phẩm ấy cho tôi thần làm tài sản và nô lệ. Sự thống trị của chính quyền Bắc Ngụy vô cùng tàn bạo, áp bức giai cấp và áp bức dân tộc đan xen vào nhau. Vì vậy bị nhân dân các tộc phản kháng dữ dội mà điển hình là cuộc nổi dậy phản kháng của Cái Ngô trong thời Thái Vũ Đế. Các cuộc nổi dậy đấu tranh ấy của các dân tộc xảy ra liên miên khiến cho Chính phủ Bắc Ngụy không thể không thay đổi. Vì đó mới có một loạt biện pháp biến pháp quân điền của Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế.
Hiếu Văn Đế Nguyên Hoằng có tên Thác Bạt Hoằng, lên ngôi lúc mới 4 tuổi, nhưng đến năm 23 tuổi mới thực sự nắm quyền. Hiếu Văn Đế là một đế vương có hùng tâm đại chí.
Trong thời gian các năm 472 – 487, nhà Bắc Ngụy dưới sự chấp chính của Phùng Thái hậu đã ban hành quy định giải phóng thợ thủ công, cấm nhà giàu và quý tộc nuôi nô bộc, cấm phát triển nô tì, cấm bắt lương dân làm nô tì, cấm bắt người đang có tang làm nô tì, người nào phạm tội bị tử hình, vương công phạm pháp thì bị bãi bỏ tước vị, bãi bỏ độc quyền công nghiệp của nhà nước.
Chính sự thời Hiếu Văn Đế được đánh giá là đạt đến cực thịnh của thời Bắc Ngụy. Ba chính sách cải cách lớn: tam trưởng chế, quân điền chế, xâu thuế đã giảm nhẹ mâu thuẫn xã hội, tăng cường sức mạnh nhà nước trung ương tập quyền cho Triều đình Bắc Nguỵ. Sau khi Hiếu Văn Đế chết, số lượng hộ tăng lên gấp đôi so với lúc toàn thịnh của Tây Tấn, tổng cộng có 5 triệu hộ (khoảng 30 triệu dân), Vương triều Bắc Ngụy kho lẫm đầy ắp. Năm 477, Sứ thần Nhu nhiên đến Bắc Ngụy có đề nghị được dẫn đi xem các thứ quý giá của nước Ngụy. Triều đình liền cho mở kho đủ các loại châu báu khiến cho sứ giả thán phục: "Đại quốc thật hết sức giàu, trong đời chưa từng thấy".
Cuộc cải cách của họ Thác Bạt Tiên Ty tương đối thành công, chính trị Bắc Nguỵ ổn định, kinh tế phồn vinh, dân số tăng vọt, quan hệ quốc tế rộng rãi mang dáng dấp một nước lớn ở phương Đông. Hơn nữa, văn hoá phát triển, Phật giáo thịnh hành, các hang động Vân Cương, Long Môn đến nay vẫn khiến người ngưỡng mộ, khiến các quốc gia Hán tộc Nam triều hủ bại, nội loạn triền miên không thể so sánh với Bắc Nguỵ, đến nỗi người Trung Quốc sau này phần lớn chỉ biết đến Bắc Nguỵ tiếng tăm lừng lẫy, mà rất ít biết những nước của người Hán cùng thời ở Nam triều như Tống, Tề.
Ông đặt ra chế độ Hán hóa và đồng hóa và tạo quyền lợi cho các sĩ tộc người Hán nhằm mục đích chia quyền lợi ngang bằng giữa người Tiên Ty và người Hán, ngăn ngừa sự chia rẽ chủng tộc làm phát sinh biến loạn.
Chính sách ưu đãi sĩ tộc của nhà Bắc Ngụy thực chất chính là sự kế tục đường lối của một số quốc gia Ngũ Hồ như Hán Triệu, Hậu Triệu, Tiền Tần, Tiền Yên, Hậu Tần... thời Ngũ Hồ Thập lục quốc. Chính vì vậy, trong các cuộc khởi nghĩa chống đối của nông dân sau này, các sĩ tộc Hán không hề tham gia.
== Biến loạn cung đình ==
Nhà Bắc Ngụy ngay trong thời kỳ xây dựng và hưng thịnh đã xảy ra những biến cố trong cung đình.
Khi Đạo Vũ Đế Thác Bạt Khuê (386 - 409) cơ bản xây dựng được nền móng cai trị ở Trung Nguyên và mong muốn cải cách thì có những người phản đối. Điển hình trong số đó là Hoàng thân Thác Bạt Nghi và Tham Sùng. Hai người vì muốn chống lại ý tưởng cải cách đã định ám hại Đạo Vũ Đế. Thác Bạt Khuê phải lo lắng đối phó với phe chống đối nên lâm bệnh. Tháng 10 năm 409, người con thứ của ông là Thác Bạt Chiêu muốn giành ngôi nên đã ám sát ông. Đạo Vũ Đế lúc đó 39 tuổi.
Con trưởng Đạo Vũ Đế là Thác Bạt Tự dẹp loạn và lên ngôi, tức là Minh Nguyên Đế (409 - 423).
Con Minh Nguyên Đế là Thái Vũ Đế Thác Bạt Đào (423 - 451) có nhiều tham vọng, trọng dụng Thôi Hạo đã xây dựng nước Bắc Ngụy giàu mạnh, thống nhất cả miền Bắc Trung Quốc. Do nghe theo lời gièm pha của Hoạn quan Tông Ái, ông giết công thần Thôi Hạo và Ưu Ni Đạo Thành. Cái chết của các đại thần có quan hệ gần gũi với Thái tử Thác Bạt Hoảng khiến Thái tử buồn rầu lâm bệnh mất. Sau đó, Thái Vũ Đế hối hận. Tông Ái sợ mình bị liên lụy nên nhân cơ hội Thái Vũ Đế say rượu ngủ bèn đột nhập cung cấm giết vua. Năm đó ông 44 tuổi.
Tông Ái lập con Thái Vũ Đế là Nam An Vương Thác Bạt Dư lên ngôi, được vài tháng lại giết đi. Quần thần rất bất bình. Trung Hội cùng Nguyên Hạ, Lục Lệ đồng mưu bắt giết Tông Ái và đón con Thái tử Hoảng là Thác Bạt Tuấn mới 12 tuổi lên ngôi, tức là Ngụy Văn Thành Đế.
Văn Thành Đế chỉ sống tới 25 tuổi thì chết yểu (465). Con là Thác Bạt Hoàng lên thay, tức là Ngụy Hiến Văn Đế. Vì vua mới 11 tuổi nên mẹ là Phùng Thái hậu nhiếp chính. Mấy năm sau, dù Vua đã lớn nhưng Thái hậu vẫn muốn nắm quyền không trao lại cho con, đồng thời không từ bỏ chuyện tư tình trong cung cấm. Hiến Văn đế buồn bực, muốn nhường ngôi cho chú là Tử Thôi nhưng Tử Thôi không nhận, vì thế năm 471, ông truyền ngôi cho con là Thác Bạt Hoằng mới 4 tuổi (Ngụy Hiếu Văn Đế) để lên làm Thái thượng hoàng. Khi đó Thượng hoàng mới 17 tuổi.
Năm 472, quân Nhu Nhiên phương Bắc sang quấy phá biên giới. Thượng hoàng Hoàng thay con cầm quân đi đánh bại được Nhu Nhiên. Phùng Thái Hoàng thái hậu ở nhà lại cùng anh em Lý Phu, Lý Dịch tư thông. Năm 476, Thác Bạt Hoàng trở về triều, nghe chuyện không hay của mẹ, bèn bắt chém anh em Phu, Dịch. Phùng Thái Hoàng thái hậu tức giận về chuyện đó, bèn sai cận thần bày tiệc hạ độc giết chết Thượng hoàng con Thác Bạt Hoàng. Năm đó Thượng hoàng mới 22 tuổi.
Như vậy ngay trong thời hưng thịnh, Bắc Ngụy đã có tới 4 vua bị giết trong cung đình, kể cả vua khai quốc Đạo Vũ Đế lẫn vua thống nhất phương Bắc Thái Vũ Đế. Biến loạn chỉ trong phạm vi cung thất nên không ảnh hưởng nhiều tới tình hình xã hội, ít gây xáo trộn đời sống. Sang đầu thế kỷ 6, xung đột lan ra bên ngoài, nhiều vị vua khác liên tiếp bị sát hại và Bắc Ngụy lâm vào đại loạn.
== Suy yếu và chia cắt ==
=== Hồ Thái hậu và sự khởi đầu bạo loạn ===
Mặc dù Bắc Nguỵ đã có lệ xử tử mẹ Thái tử nhưng đến Tuyên Vũ Đế Nguyên Khác (499 - 515) lại bỏ lệ đó, cho mẹ thái tử Nguyên Hủ là Hồ thị khỏi chết. Hồ thị được cất nhắc từ bậc Thừa hoa lên Sung hoa. Hồ thị lại được các hoạn quan Lưu Đằng, Hầu Cương và các đại thần Vu Trung, Thôi Quang ra sức bảo vệ nên tránh được lệ xử chết. Năm 515, Bắc Ngụy Tuyên Vũ Đế chết, con là Nguyên Hủ mới 6 tuổi lên thay, tức Bắc Ngụy Hiếu Minh Đế (515 - 528). Hồ thị được tôn làm Hoàng thái phi, rồi Hoàng thái hậu, nắm quyền điều hành triều đình.
Nắm được quyền hành, Hồ Thái hậu mời các hoàng thân Cao Dương vương Nguyên Ung, Nhiệm Thành vương Nguyên Trừng, Thanh Hà vương Nguyên Dịch vào nắm quyền, rồi đẩy đại thần Vu Trung từng ủng hộ mình ra làm quan ở ngoài.
Hồ Thái hậu cùng các thân vương đại thần ham hưởng lạc xa hoa, xây cất nhiều để thưởng ngoạn khiến dân bị lao dịch nặng. Thái hậu còn bày ra việc dắt hơn 100 vương công đại thần tới xem kho vải rồi bảo ai muốn lấy bao nhiêu cứ lấy. Kết quả là Lý Sùng và Nguyên Dung vì tham lấy nhiều nên vác quá nặng và bị ngã. Lý Sùng bị vẹo lưng, còn Nguyên Dung bị trật chân, thành trò cười nổi tiếng ở kinh thành lúc đó. Hà Gian vương Nguyên Thám lại cùng với Cao Dương vương Nguyên Ung thách nhau về sự giàu có như Thạch Sùng và Vương Khải nhà Tấn trước đây.
Giới quý tộc sống trong cảnh xa hoa nhờ tham nhũng. Hà Gian Vương Nguyên Thám của cải chất đống không ai đếm xuể, còn giàu hơn cả Thạch Sùng đời Tây Tấn. Nguyên Thám cho xây Văn Bá đường tương tự như điện Huy Âm trong Hoàng cung. Trong nhà có giếng ngọc, chai vàng, ngay cả sợi dây thừng để múc nước giếng cũng làm bằng một loại vàng ngũ sắc. Nguyên Sâm lấy bạc làm máng ngựa, lấy vàng làm khâu mồm ngựa, khi có yến tiệc bày la liệt hơn 100 cái lọ vàng và hũ bạc, dùng bát thủy tinh, chén mã não, chén ngọc đỏ để uống rượu. Khi ăn uống xong dẫn khách đi xem các kho tàng chứa đầy vàng bạc châu báu và tơ lụa sản xuất ở các nơi. Trong nhà có hơn 300 kỹ nữ toàn người quốc sắc thiên hương. Chương Vũ Vương Nguyên Dung cũng giàu có không kém. Nhưng tất cả đều không sánh được với Thừa tướng Cao Dương Vương Nguyên Ung (con thứ sáu của Hiến Văn Đế): trong nhà có 6000 gia nhân, 500 mỹ nữ, dinh thự đẹp hơn cả Hoàng cung, tài sản ngang với ngân khố Quốc gia.
Thanh Hà vương Nguyên Dịch đẹp trai và có tài, được thái hậu yêu và cho làm phụ chính, thường hạn chế quyền hành của hoạn quan Lưu Đằng (người bảo vệ Hồ Thái hậu thời trước) và Nguyên Xoa là hoàng thân họ xa và là em rể Hồ Thái hậu. Nguyên Xoa và Lưu Đằng căm ghét Nguyên Dịch. Tháng 7 năm 520, hai người cùng nhau bàn mưu nói Dịch mưu phản cướp ngôi, phát động chính biến, giết chết Dịch và bắt giam Hồ Thái hậu.
Thứ sử Tương Châu Trung Sơn vương Nguyên Hy phản đối việc giết Nguyên Dịch, bèn dấy quân chống Nguyên Xoa nhưng bị thủ hạ phản lại nên bị Nguyên Xoa giết chết. Năm 521, tướng Hề Khang Sinh cùng phe với Hồ Thái hậu nổi dậy chống lại cũng bị giết.
Dù mời Cao Dương vương Ung cùng nhiếp chính nhưng trên thực tế quyền hành trong tay Nguyên Xoa và Lưu Đằng. Hai người tham lam, ăn nhiều tiền đút lót để bán quan chức nên chính sự càng ngày càng rối.
Năm 523, Lưu Đằng chết. Bộ tộc Nhu Nhiên ở phía bắc nhân lúc Bắc Ngụy rối ren bèn mang quân quấy phá. Dân chúng ở vùng biên bị đói, thỉnh cầu Triều đình phát lương nhưng không được đáp ứng, sáu trấn biên giới là Ốc Dã, Hoài Sóc, Vũ Xuyên, Phủ Minh, Nhu Huyền và Hoài Hoang bèn nổi dậy giết chết tướng sở tại Vu Cảnh mà khởi nghĩa. Đây là Sự kiện Lục trấn khởi nghĩa.
=== Lục trấn khởi nghĩa ===
Bắc Ngụy có lập các trấn ở miền biên giới phía bắc Bình Thành, tập trung trọng binh trấn thủ để phong ngừa người Nhu Nhiên. Các trấn đó là Hoài Sóc, Vũ Xuyên, Phủ Minh, Nhu Huyền, Hoài Hoang, Ốc Dã. Quân đồn trú đều là người dân tộc thiểu số. Bọn quan lại trấn thủ rất tham tàn, chúng chiếm hết ruộng tốt, chỉ để lại ruộng xấu và ruộng hoang cho binh sĩ và dân chúng canh tác. Ngoài ra bọn chúng còn bắt binh sĩ trồng trọt, đẵn cây, đập sắt, ăn bớt tiền lương của quân sĩ. Bắt đầu từ năm 519, các thủ lĩnh quân sự người Tiên Ty đã liên minh với nhau và nổi loạn, năm 523, nhân dân hai trấn Hoài Hoang (huyện Cô, Hà Bắc) và Ốc Dã (Hữu Dực Kỳ, Ngạc Nhĩ Đa Tư, Nội Mông) khởi nghĩa, sau đó kéo theo lục trấn khởi nghĩa tại phía bắc Thiểm Tây. Nghĩa quân Hoài Hoang trấn giết chết quan trấn thủ Vu Cảnh, được người Tiên Ty và người Hán hưởng ứng. Nghĩa quân nhiều lần đánh bại quân triều đình, về sau phát triển thành cuộc khởi nghĩa nông dân ở Hà Bắc có quy mô lớn hơn.
Năm 525, Hiếu Minh Đế đã 16 tuổi. Hồ Thái hậu bị giam cầm, năn nỉ vua con Nguyên Hủ nói với Nguyên Xoa cho ra ngoài. Nguyên Xoa không nghi ngờ, bèn thả Hồ Thái hậu ra. Hai mẹ con đồng mưu với Cao Dương Vương Ung để đối phó với Nguyên Xoa, bày ra việc có người tố cáo Xoa câu kết với quân sáu trấn làm phản. Kết quả Xoa bị bắt xử tử.
Nhà Lương ở phía nam nhân lúc Bắc Ngụy khó khăn, Lương Vũ Đế Tiêu Diễn bèn tấn công lên phía bắc. Năm 526, quân Lương chiếm 52 thành ở Thọ Dương của Bắc Ngụy, Triều đình Ngụy không có phương kế nào chiếm lại.
Hồ Thái hậu trở lại nắm quyền hành chỉ lo hưởng lạc, tư thông với đại thần Trịnh Nghiễm. Hiếu Minh Đế khi đó đã lớn, không cam chịu bị mẹ sai khiến. Hồ Thái hậu tìm cách gạt bỏ hoặc giết chết những người gần gũi với vua con nên quan hệ mẹ con ngày càng xấu.
Hiếu Minh Đế muốn dựa vào Tù trưởng Bộ lạc Tú Dung Nhĩ Chu Vinh để chống lại phe Thái hậu. Tháng 1 năm 528, Nhĩ Chu Vinh nghe theo mưu kế của thủ hạ Cao Hoan, chuẩn bị dấy binh đánh vào Lạc Dương với danh nghĩa "dẹp trừ Trịnh Nghiễm để làm sạch chỗ bên cạnh vua". Vinh chưa kịp phát binh thì trong triều xảy ra chính biến. Hồ Thái hậu sai người hạ độc giết chết vua con Nguyên Hủ - lúc đó mới 19 tuổi - và lập cháu nội Hiếu Văn Đế là Nguyên Chiêu mới lên 3 tuổi làm vua.
=== Nhĩ Chu Vinh ===
Xem chi tiết: Nhĩ Chu Vinh
Lương quận công Nhĩ Chu Vinh (493 - 530), một đại tướng đang cầm quân ở Tinh Châu đã đem quân vào Kinh thành can thiệp.
Nhĩ Chu Vinh tự là Thiên Bảo, người tộc Khiết Hồ ở vùng Bắc Tú Dung (bắc huyện Sóc, Sơn Tây), do tổ tiên cư trú ở vùng Nhĩ Chu Xuyên nên lấy tên địa phương làm họ. Ông tổ Nhĩ Chu Vinh là Nhĩ Chu Vũ Kiện lúc Thái Tổ Thác Bạt Khuê mới lên ngôi đã dẫn 1700 võ sĩ theo giúp bình định Tấn Dương và Trung Sơn, được phong Tán kỵ Thường thị, phong đất 300 dặm. Đến đời ông của Nhĩ Chu Vinh là Nhĩ Chu Đại Cần được Hiếu Văn đế phong tước Lương quận công. Nhĩ Chu Vinh có tài quân sự đem quân đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa của lục trấn, Mạc Chiết Thái Đề, Khất Phục Mạc Vu, Vạn Sĩ Ngọc Chân, Tố Hòa Bà Luân. Do có công lao nên nhà Bắc Ngụy phong làm Bác Lăng Quận Công, thực ấp 1500 hộ.
==== Thao túng triều đình Lạc Dương ====
Nhĩ Chu Vinh nhân đó bèn khởi binh, lấy cớ "hỏi thị thần về lý do Hoàng đế băng hà", phát binh từ Tấn Dương, lập Trường Lạc vương Nguyên Tử Du làm vua mới, tức Ngụy Hiếu Trang Đế (528 - 530). Trịnh Nghiễm cùng các thuộc hạ vội bỏ trốn, để mặc Hồ Thái hậu. Hồ Thái hậu hoảng sợ, vội bắt các cung nữ cũ của vua con Nguyên Hủ xuống tóc, bản thân mình cũng xuống tóc để xuất gia mong trốn tránh. Nhĩ Chu Vinh kéo thẳng vào kinh thành Lạc Dương. Trăm quan sợ uy thế của Vinh phải ra nghênh đón vua mới Hiếu Trang Đế. Nhĩ Chu Vinh sai bắt Hồ Thái hậu và vị hoàng đế nhỏ tuổi mới Nguyên Chiêu đến Hà Âm rồi dìm chết tại sông Hoàng Hà. Còn khoảng 2.000 cận thần khác, trong đó có Cao Dương Vương Ung, cũng bị dẫn giải tới bờ sông và bị tàn sát. Đó là Sự kiện Hà Âm nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.
Quân Nhĩ Chu Vinh tiến vào Lạc Dương, cướp bóc tàn phá Kinh thành, dân chúng kéo nhau bỏ trốn. Nhĩ Chu Vinh gả con gái cho Hiếu Trang Đế và rút về Tấn Dương nhưng thực tế vẫn kiểm soát Triều đình.
==== Dẹp Cát Vinh ====
Ngoài sáu trấn biên giới dấy loạn trong thời Hiếu Minh Đế, quân nhiều nơi cũng phản Triều đình. Năm 524, Hách Liên Ân người Cao Bình (Cố Nguyên, Ninh Hạ) khởi binh làm loạn, đề cử Tù trưởng Sắc Lặc là Hồ Thâm lên làm Cao Bình Vương. Tại Tần Châu (Thiên Thủy, Cam Túc), Mạc Chiết Thái Đề cử binh nổi loạn, giết chết Thứ sử Tần Châu chiếm thành trì. Mạc Chiết Thái Đề dẫn binh đánh chiếm Cao Bình trấn, giết quan trấn thủ Bắc Ngụy, xưng Tần Đế. Mạc Chiết Thái Đề chết, người con Mạc Chiết Niệm Sinh lên nối ngôi, tự xưng thiên tử, đặt niên hiệu Thiên Kiến (524 -527), thiết lập bá quan. Tựu Đức Hưng xưng vương ở Doanh Châu, Đỗ Lạc Chu xưng vương ở Thượng Cốc, Lưu Lãi Thăng xưng đế ở Phần Châu, Khất Phục Mạc Vu nổi dậy ở Tú Dung. Năm 526, Tiên Vu Tu Lễ dấy quân ở Tả Nhân, Định Châu. Tại Nam Tú Dung, Mặc Kỳ Ngọc Chân cũng khởi binh nổi loạn. Tại Tinh Châu, Tố Hòa Bà Luân Hiểm cũng cử binh nổi loạn.
Khi Nguyên Hủ còn sống, nhà Bắc Ngụy dùng Tiêu Bảo Dần là con Nam Tề Minh Đế làm tướng, dẹp được Mạc Chiết Niệm Sinh, lại quay sang đánh Hồ Thám. Hồ Thám tử trận nhưng thủ hạ vẫn kế tục chống lại, Bảo Dần không dẹp nổi, bị thua nhiều lần sợ bị hỏi tội bèn phản lại Bắc Ngụy, tự xưng Tề Đế ở Trường An.
Các lực lượng chống Bắc Ngụy không có sự liên hệ chặt chẽ với nhau chỉ muốn cát cứ một vùng nên Bắc Ngụy vẫn đứng vững được. Các cuộc khởi nghĩa đó tuy bị Nhĩ Chu Vinh đàn áp, song đã làm lung lay nền thống trị của nhà Bắc Ngụy.
Sau khi Hồ Thâm bị Phá Lục Hàn Bạt Lăng giết, lực lượng Hồ Thâm do Mặc Kỳ Sửu Nô thống lĩnh nổi dậy ở Lũng Tây (Thiểm Tây, Cam Túc), kiểm soát Thiểm Tây và Đông Cam Túc.
Năm 525, lực lượng vũ trang chống Bắc Ngụy mạnh nhất trong số các trấn là trấn Ốc Dã, Hoài Sóc (tây bắc Bao Đầu, Nội Mông), Vũ Xuyên (Nội Mông) do Thủ lĩnh Phá Lục Hàn Bạt Lăng làm thống soái, giết tướng giữ trấn, xưng là Nguyên Chân vương, đặt niên hiệu Trấn Vương (523 - 525). Bắc Ngụy một mặt chiêu dụ các bộ tộc hưởng ứng khởi nghĩa như Sắc Lặc, một mặt câu kết với tộc Nhu Nhiên do A Na Khôi thống lĩnh cùng trấn áp quân khởi nghĩa. Năm 525, A Na Khôi thống lĩnh 10 vạn quân cùng quân Bắc Ngụy tấn công từ hai phía, Phá Lục Hàn Bạt Lăng tử trận, hơn 20 vạn trấn binh buộc phải đầu hàng nhà Bắc Ngụy, cuộc khởi nghĩa tan rã.
Cùng năm 526, Tiên Vu Tu Lễ bị thủ hạ Nguyên Hồng Hiển giết chết, một thủ hạ khác là Cát Vinh lại giết Hiển mà làm thủ lĩnh quân khởi nghĩa. Lực lượng Cát Vinh tập hợp các cánh quân khởi nghĩa khác, ngày càng lớn mạnh, xưng là Tề Đế.
Năm 528, khi Nhĩ Chu Vinh tiến vào Lạc Dương là lúc Cát Vinh phát triển lực lượng mạnh nhất, có vài chục vạn quân. Năm ấy Cát Vinh hạ thành Tín Đô, vây đánh Nghiệp Thành nhưng không hạ được.
Tháng 8 năm 528, Cát Vinh vây đánh Nghiệp Thành lần thứ 2. Tháng 9 năm đó, Nhĩ Chu Vinh cùng thủ hạ Hầu Cảnh suất lĩnh mang quân cứu Nghiệp Thành. Cát Vinh cậy quân đông có ý khinh địch. Nhĩ Chu Vinh cho quân khua khoắng bụi bay mù khiến quân địch không biết rõ quân mình nhiều hay ít rồi chia quân vây bọc đánh địch từ mấy phía. Quân Cát Vinh thua to. Cát Vinh bị bắt tại trận, thủ hạ thấy vậy đều xin hàng. Nhĩ Chu Vinh cho những người đầu hàng tùy ý giải tán, hàng chục vạn người tan đi trong 1 ngày. Ông lại lựa các hàng tướng có tài cất nhắc, sai quản lý những quân lính đầu hàng còn ở lại. Cát Vinh bị áp giải về Lạc Dương và bị xử chém.
==== Quyền lớn bị giết ====
Năm 529, Lương Vũ Đế Tiêu Diễn lại sai Đại tướng Trần Khánh Chi mang quân đưa một hoàng thân Bắc Ngụy đã hàng Lương là Bắc Hải vương Nguyên Hạo về làm vua Ngụy.
Bắc Hải Vương Nguyên Hạo (cháu Hiến Văn đế) năm 528 giữ chức Phiêu Kỵ Đại tướng quân, Thứ sử Tương Châu , thấy xảy ra Sự biến Hà Âm, liền chạy sang phía nhà Lương. Mùa đông năm 528, Lương Vũ Đế lập Nguyên Hạo làm Ngụy Vương, dự định đưa về làm vua Ngụy, cho Nguyên Hạo mượn quân. Vũ Đế phái Trực các Tướng quân Trần Khánh Chi đem 7000 quân đưa Nguyên Hạo về nước. Mặc dù Trần Khánh Chi chỉ mang theo ít quân song liên tiếp giành thắng lợi, sau khi xâm nhập lãnh thổ Bắc Ngụy đã đánh chiếm Truất Thành, biến nơi đây thành bàn đạp tiến quân. Hiếu Trang Đế phái Thượng Đảng Vương Nguyên Thiên Mục đem quân chủ lực đánh dẹp Hình Cảo lúc đó cát cứ Sơn Đông xưng Hán Vương, làm cho hậu phương Bắc Ngụy trống rỗng. Nguyên Hạo xua quân chiếm Huỳnh Thành, Đại Lương , mặc dù tướng Khâu Đại Thiên có 7 vạn quân giữ thành song không chống nổi sức tấn công mãnh liệt của Nguyên Hạo và đầu hàng. Đến mùa xuân năm 529, sau khi Trần Khánh Chi chiếm được Tuy Dương , Nguyên Hạo tuyên bố mình là vua Bắc Ngụy, đổi niên hiệu Hiếu Cơ.
Nhà Bắc Ngụy vội vàng phái Đại đô đốc Đông Nam đạo Dương Dục trấn giữ Vinh Dương, Thượng thư Bộc xạ Nhĩ Chu Thế Long trấn giữ Hổ Lao, Tỵ Thủy, Thị trung Nhĩ Chu Thế Thừa trấn giữ Ngạc Bản để bảo vệ Lạc Dương.
Tại Vinh Dương, Dương Dục bị Trần Khánh Chi bắt sống. Thượng Đảng Vương Nguyên Thiên Mục sau khi đánh dẹp xong Hình Cảo kéo quân tới Vinh Dương, bị Trần Khánh Chi đánh bại. Nhĩ Chu Thế Long ở Hổ Lao nghe tin thất lợi liền bỏ thành chạy trốn. Sau khi Vinh Dương và Hổ Lao thất thủ, Lạc Dương không còn cứ điểm nào che chở, triều thần Bắc Ngụy hoang mang định dời về Trường An nhưng Trung thư Xá nhân Cao Đạo Mục đề nghị Hiếu Trang Đế lui về quận Hà Nội, xuống chiếu cần vương.
Sau 47 trận đánh thắng liên tiếp, Trần Khánh Chi chiếm được 32 thành của Bắc Ngụy. Mùa hè năm 529, khi quân Ngụy không chống nổi sức tấn công của quân Lương, Hiếu Trang Đế đã phải dời bỏ Kinh đô Lạc Dương đến quận Hà Nội, và Nguyên Hạo tiến vào Lạc Dương. Tại Lạc Dương, Lâm Hoài Vương Nguyên Úc, An Phong Vương Nguyên Diên Minh và văn võ bá quan niêm phong phủ khố đón Nguyên Hạo vào thành. Nguyên Hạo phong Trần Khánh Chi làm Thị trung kiêm Xa Kỵ Tướng quân. Các châu quận ở Nam Hoàng Hà đua nhau quy phục Nguyên Hạo. Nguyên Hạo thỏa chí, ngày đêm chìm đắm trong tửu sắc.
Tuy nhiên lúc này Nguyên Hạo không muốn phụ thuộc nước Lương nữa, chuẩn bị thoát li khỏi sự ràng buộc của nhà Lương. Trần Khánh Chi nhận thấy điều đó nên đã có sự cảnh giác, nội bộ xuất hiện nghi kị, rạn nứt.
Tháng 6 nhuận năm đó, Nhĩ Chu Vinh từ Tấn Dương mang quân phản công đánh Lạc Dương, đánh tan quân Nguyên Quán Thụ (con Nguyên Hạo), bắt sống Nguyên Quán Thụ. Đại quân Nhĩ Chu Vinh đánh thốc về Lạc Dương và tái chiếm Lạc Dương không gặp trở ngại nào, Nguyên Hạo tập hợp được mấy trăm quân kỵ bỏ Lạc Dương chạy về phía nam đến Lâm Dĩnh thì bị lính huyện ở đây giết chết. Quân Trần Khánh Chi thất bại phải rút về nước, chạy đến sông Tung Cao, Khánh Chi phải cạo râu tóc giả làm hòa thượng mới thoát về đến nước Lương.
Sang năm 530, các thủ hạ của Nhĩ Chu Vinh lần lượt dẹp được các trấn làm phản từ thời Nguyên Hủ. Tiêu Bảo Dần cũng bị bắt sống ở Bình Thành. Vinh đã tái thống nhất phần lớn Bắc Ngụy như thời hòa bình trước đây. Công lao và quyền lực của Nhĩ Chu Vinh rất cao. Ông chi phối mọi công việc triều chính, vị Hoàng đế mới lập trên thực tế không có quyền hành thực sự và phần lớn các quyết sách đều qua tay Nhĩ Chu Vinh. Hiếu Trang Đế không cam tâm bị cướp quyền, bèn lập mưu trừ khử.
Tháng 9 năm 530, Nhĩ Chu Vinh vào triều, bị Hiếu Trang Đế sai mấy thân tín phục binh chém chết.
=== Cao Hoan diệt họ Nhĩ Chu ===
Xem chi tiết: Cao Hoan
Cái chết của Nhĩ Chu Vinh đã dẫn tới nội chiến, ban đầu là giữa bè đảng Nhĩ Chu Vinh với Hiếu Trang Đế. Cháu họ Vinh là Nhĩ Chu Triệu, Nhĩ Chu Thế Long lập Thái thú Thái Nguyên Trường Quảng Vương Nguyên Diệp làm vua mới ở Tấn Dương, tháng 11 năm 530 mang quân tấn công Lạc Dương. Khi biết tin quân Nhĩ Chu khởi hành, Hiếu Trang Đế đã sai người mang thư tới cầu viện Thủ lĩnh Hạt Đậu Lăng Bộ Phiên tới đánh bộ Tú Dung của họ Nhĩ Chu. Quân Bộ Phiên chưa kịp tới thì tháng 12, quân Nhĩ Chu hạ thành Lạc Dương, bắt Hiếu Trang Đế giết chết. Khi đó Hiếu Trang Đế mới 24 tuổi.
Quân Bộ Phiên đánh Hà Tây, Nhĩ Chu Triệu không chống nổi, bèn cầu cứu thủ hạ cũ của Nhĩ Chu Vinh là Cao Hoan đang làm Thứ sử Tấn Châu. Cao Hoan hợp binh với họ Nhĩ Chu giết chết Bộ Phiên, được sự tín nhiệm rất cao của họ Nhĩ Chu.
Vài chục vạn quân của Cát Vinh trước đây được Nhĩ Chu Vinh cho giải tán, chạy về ngụ ở Tinh Châu, Tứ Châu, bị người Khiết Hồ khinh rẻ ngược đãi, thành ra phát sinh biến loạn trong vùng. Nhĩ Chu Triệu lo lắng, bèn hỏi kế Cao Hoan. Cao Hoan xin đi chinh phạt, rồi nhân đó li khai họ Nhĩ Chu, chiếm đóng Ký Châu.
Sang tháng 2 năm 531, Nhĩ Chu Triệu lại phế Nguyên Diệp mà lập cháu Hiếu Văn Đế là Nguyên Cung làm vua, tức là Tiết Mẫn Đế.
Cao Hoan muốn mộ binh đánh họ Nhĩ Chu, bèn phao ra tin rằng họ Nhĩ Chu muốn mang lưu dân sáu trấn cấp cho người Khiết Hồ làm tôi tớ. Những người đó rất hoảng sợ, đều xin theo Cao Hoan phản lại họ Nhĩ Chu. Nhân lúc nhuệ khí binh sĩ lên cao, tháng 6 năm 531, Cao Hoan khởi binh đánh họ Nhĩ Chu ở Tín Đô, lập Thái thú Bột Hải Nguyên Lãng làm vua, tức là Ngụy An Định Vương.
Lực lượng họ Nhĩ Chu đông và mạnh hơn Cao Hoan nhiều nhưng mất đoàn kết. Nhĩ Chu Thế Long làm Thượng thư lệnh ở Lạc Dương, khống chế Tiết Mẫn Đế; Nhĩ Chu Triệu chiếm cứ Tấn Dương; Nhĩ Chu Thiên Quang làm Thứ sử Ung Châu, chiếm cứ Quan Lũng; Nhĩ Chu Trọng Viễn trấn thủ Đại Lương, địa bàn có Từ Châu và Duyện Châu; 4 người không ai theo ai.
Cao Hoan dấy binh, Trọng Viễn và Triệu ra quân đánh - Trọng Viễn đóng ở Bình Dương, còn Triệu đóng ở Tỉnh Hình. Cao Hoan tung tin li gián rằng:
Anh em Trọng Viễn và Thế Long muốn diệt Nhĩ Chu Triệu
Nhĩ Chu Triệu đồng mưu với Cao Hoan để giết anh em Trọng Viễn.
Họ Nhĩ Chu nghi ngờ lẫn nhau. Trọng Viễn không đánh mà rút quân. Cao Hoan thừa cơ Nhĩ Chu Triệu cô thế hoang mang, bèn tiến quân đánh bại Triệu, mang quân vây Nghiệp Thành. Triệu bỏ chạy về Tấn Dương. Tháng 1 năm 532, ông hạ được Nghiệp Thành.
Họ Nhĩ Chu lúc nguy cấp lại liên minh chống Cao Hoan. Tháng 3 năm 532, Nhĩ Chu Thiên Quang từ Trường An, Nhĩ Chu Triệu từ Tấn Dương, Nhĩ Chu Độ Tân từ Lạc Dương, Nhĩ Chu Trọng Viễn từ Đông Quận cùng hội quân ở gần Nghiệp Thành, có tất cả 20 vạn quân. Nhưng trong nội bộ quân Nhĩ Chu cũng vẫn rạn nứt, tướng Hạ Bạt Thắng chưa đánh đã sang hàng Cao Hoan. Cao Hoan chỉ có 3 vạn quân bộ và 3000 quân kỵ. Ông sai buộc lừa ngựa chắn hết đường về khiến quân sĩ chỉ còn đường tử chiến, đại phá quân Nhĩ Chu, giành chiến thắng quyết định.
Sau khi thua trận, tháng 4 năm 532, một tướng đồng mưu với Hạ Bạt Thắng bên quân Nhĩ Chu là Hộc Tư Thung về Lạc Dương giết chết Thế Long, Ngạn Bá, bắt sống Độ Tân và Thiên Quang giao cho Cao Hoan. Trọng Viễn chạy về Nam đầu hàng Lương Vũ Đế. Một thuộc tướng khác của họ Nhĩ Chu là Hạ Bạt Nhạc giết Nhĩ Chu Hiển Thọ đang trấn giữ Trường An để đầu hàng Cao Hoan.
Cao Hoan tiến vào Lạc Dương, giết Tiết Mẫn Đế do họ Nhĩ Chu lập nên và giết cả An Định Vương Nguyên Lãng do mình lập, dựng Nguyên Tu làm vua, tức là Ngụy Hiếu Vũ Đế.
Cao Hoan làm Đại thừa tướng, cầm quyền chính nhà Bắc Ngụy. Tháng 7 năm 532, ông mang quân đánh Nhĩ Chu Triệu ở Tấn Dương. Triệu bỏ Tấn Dương chạy về Tú Dung. Cuối năm, ông điều Đậu Thái đánh úp Tú Dung, tháng 1 năm 533 thì phá được Tú Dung. Nhĩ Chu Triệu bỏ chạy rồi tự tử. Họ Nhĩ Chu bị tiêu diệt.
=== Đông Tây hai vua ===
Xem chi tiết: Vũ Văn Thái
Diệt được họ Nhĩ Chu, Cao Hoan tính đến thủ hạ còn sót lại của họ này là Hạ Bạt Nhạc ở Quan Trung. Dù Nhạc đã hàng nhưng không có ý thần phục. Cao Hoan muốn điều Nhạc lên Tinh Châu, Nhạc không muốn rời Quan Trung nên từ chối.
Trong khi đó chính Ngụy Hiếu Vũ Đế Nguyên Tu cũng không muốn bị Cao Hoan khống chế nên muốn dựa vào anh em họ Hạ Bạt, cho Hạ Bạt Thắng làm Thứ sử Kinh Châu.
Cao Hoan quyết tâm giải quyết họ Hạ Bạt. Năm 534, ông sai Thứ sử Tần Châu Hầu Mạc Trần Duyệt nhân lúc bất ngờ giết chết Hạ Bạt Nhạc trong tiệc. Thủ hạ Nhạc bèn tôn thuộc tướng của Nhạc là Vũ Văn Thái lên thay.
Vũ Văn Thái lấy cớ báo thù cho Nhạc, đánh thẳng vào Thượng Khuê. Hầu Mạc Trần Duyệt thua trận tự sát. Hiếu Vũ Đế bèn phong cho Thái làm Đại đô đốc Quan Tây.
Mùa hè năm 534, Hiếu Vũ Đế giả tiếng đi đánh Lương Vũ Đế, định điều quân đánh vào Tấn Dương là căn cứ mới của Cao Hoan. Mưu ấy không lừa được Cao Hoan, ông cũng dâng biểu nói sẽ đi cùng Vua Ngụy đánh Lương. Hai bên thư từ qua lại, cuối cùng đổ lỗi cho nhau, thành ra càng thêm oán giận.
Cuối cùng Hiếu Vũ Đế cũng dời Lạc Dương, nhưng chủ ý sang Quan Trung với Tập đoàn quân phiệt Quan Lũng của Vũ Văn Thái chứ không phải đánh Lương. Cao Hoan mang quân truy sát. Tháng 7 năm đó, Hiếu Vũ Đế chạy sang phía tây, thủ hạ trốn hết. Tháng 8, Vũ Văn Thái đón Hiếu Vũ Đế vào Quan Trung. Gặp được bộ hạ Vũ Văn Thái ra tiếp đón, Hiếu Vũ Đế bèn nói:
"Nước sông Hoàng Hà thì chảy về đông, còn ta thì đi về tây, Sau nếu có về được Lạc Dương, toàn bộ đều là công lao của các vị!"
Hạ Bạt Thắng ở Kinh Châu muốn hưởng ứng Hiếu Vũ Đế, bị thủ hạ Cao Hoan là Hầu Cảnh đánh bại, phải chạy về Nam hàng Lương Vũ Đế.
Cao Hoan không bắt được Nguyên Tu, bèn lập Nguyên Thiện Kiến làm vua mới, tức là Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế. Thấy Lạc Dương gần họ Vũ Văn, ông thiên đô về Nghiệp Thành.
Nguyên Tu ở với họ Vũ Văn, nhưng Vũ Văn Thái là kẻ có hùng tài đại lược nên cực kỳ dè chừng. Bởi Nguyên Tu vốn chẳng phải là kẻ cam chịu nghe lời người khác, đến kẻ kiêu hùng như Cao Hoan mà còn dám phản kháng, huống hồ là kẻ thực lực chẳng thể bằng được Cao Hoan như Vũ Văn Thái. Bởi thế Vũ Văn Thái tuy trước mặt tôn làm đế, nhưng một mình chiếm toàn bộ quyền lực. Lâu cũng không coi vào mắt được. Chỉ qua được bốn tháng, Vũ Văn Thái bèn phái người dùng rượu độc giết chết Nguyên Tu. Vì Nguyên Tu rời bỏ sang tây nên còn được gọi là Xuất Đế. Thái lập Nam Dương Vương Nguyên Bảo Cự lên ngôi, tức Tây Ngụy Văn Đế.
Cả Cao Hoan và Vũ Văn Thái tuyên lập những người thừa kế kình địch lên ngai vàng Bắc Ngụy, dẫn tới sự chia cắt lãnh thổ Bắc Ngụy thành hai nhà nước từ khoảng năm 534-535 thành Đông Ngụy và Tây Ngụy.
== Sụp đổ ==
Cả hai triều đại Đông Ngụy lẫn Tây Ngụy đều chỉ là con rối trong tay các quyền thần từ khi thành lập và không tồn tại lâu. Năm 550, con trai Cao Hoan là Cao Dương buộc Hiếu Tĩnh Đế của Đông Ngụy phải nhường ngôi cho mình, kết thúc nhà Đông Ngụy và thành lập Bắc Tề. Tương tự, năm 556, cháu Vũ Văn Thái là Vũ Văn Hộ cũng buộc Cung Đế của Tây Ngụy phải nhường ngôi cho con trai Vũ Văn Thái là Vũ Văn Giác, kết thúc Tây Ngụy và lập ra Bắc Chu, chấm dứt hoàn toàn sự trị vì của các hậu duệ từ triều Bắc Ngụy.
Cái chết của vua cuối cùng trong tình trạng thống nhất của Bắc Ngụy là Hiếu Vũ Đế đầu năm 535 được xem là mốc kết thúc của nhà Bắc Ngụy. Nhà Bắc Ngụy tồn tại 149 năm, có tất cả 15 vua. Bắc Ngụy chính là một trong các triều đại Trung Quốc có nhiều vua yểu mệnh (trên dưới 30 tuổi) và bị sát hại nhất (11/15 vua). Điều đáng chú ý là triều Bắc Ngụy có 2 vị vua bị chính mẹ sát hại (Hiến Văn Đế và Hiếu Minh Đế).
== Các hoàng đế ==
== Xem thêm ==
Chiến tranh Lưu Tống-Bắc Ngụy
Chiến tranh Nam Tề-Bắc Ngụy
Chiến tranh Lương-Bắc Ngụy, 528-529
== Tham khảo ==
Thẩm Khởi Vĩ, Kể chuyện Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2007
Học viện quân sự cấp cao, Lịch sử Trung Quốc từ thượng cổ đến Năm đời mười nước, 1992
Đặng Huy Phúc, Các hoàng đế Trung Hoa, Nhà xuất bản Hà Nội, 2002
== Ghi chú == |
dudley.txt | Dudley là một thành phố và đô thị tự quản Anh. Theo điều tra dân số 2001 (theo Văn phòng Thống kê Quốc gia), 'Tiểu Khu đô thị' Dudley (của West Midlands) có dân số 194.919 người, khiến nó là khu định cư lớn thứ 26 tại Anh và đo bằng tiểu khu đô thị, đây là đô thị lớn thứ nhì ở Anh quốc, sau Reading và là khu định cư lớn nhất Vương quốc Anh không có trường đại học riêng.
== Tham khảo == |
bạc liêu (thành phố).txt | Thành phố Bạc Liêu là thành phố của tỉnh Bạc Liêu. Cơ cấu kinh tế của thành phố Bạc Liêu là thương mại - dịch vụ - công nghiệp và nông nghiệp. Thành phố Bạc Liêu nằm ở phía Đông của tỉnh Bạc Liêu, nằm bên bờ rạch Bạc Liêu, cách biển 10 km và là trung tâm hành chính và đầu mối giao lưu trong và ngoài tỉnh. Hiện thành phố Bạc Liêu là đô thị loại 2.
== Vị trí địa lý ==
Bắc giáp huyện Vĩnh Lợi.
Nam giáp biển Đông.
Tây giáp huyện Hoà Bình.
Đông giáp thị xã Vĩnh Châu, của tỉnh Sóc Trăng.
== Hành chính ==
Về hành chính, Thành phố Bạc Liêu gồm 7 phường: 1, 2, 3, 5, 7, 8, Nhà Mát và 3 xã: Hiệp Thành, Vĩnh Trạch, Vĩnh Trạch Đông.
== Kinh tế xã hội ==
Thành phố có một cửa biển là cửa biển Nhà Mát thuộc phường Nhà Mát. Ở phường này còn có khu Quán âm Phật đài (thường gọi Phật bà Nam Hải). Theo tín ngưỡng của những người đi biển, Phật bà Nam Hải đã chở che cho họ rất nhiều trong lúc họ hoạt động, làm ăn trên biển. Nơi đây đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Bạc Liêu, thu hút hàng ngàn du khách đến viếng, thưởng ngoạn mỗi năm, nhất là vào dịp Vía Bà (tháng 3 âm lịch). Ngoài khu du lịch Quán âm Phật đài, Thành phố còn đang xây dựng một khu du lịch cũng ở phường Nhà Mát.
Thành phố Bạc Liêu có 3 dân tộc chính: Kinh, Kh'mer và Hoa. Do đó văn hoá ẩm thực của địa phương này cũng khá đa dạng, nhiều món ăn được biết tới như: bánh xèo, bún nước lèo.
== Lịch sử ==
=== Thời Pháp thuộc ===
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ký sắc lệnh bỏ xưng danh địa hạt, đổi thành tỉnh, đại lý đổi thành quận. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, sắc lệnh trên được áp dụng cho toàn Nam Kỳ, trong đó có hạt tham biện Bạc Liêu đổi thành tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu đặt tại làng Vĩnh Lợi thuộc quận Vĩnh Lợi. Thời Pháp thuộc, làng Vĩnh Lợi vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Vĩnh Lợi và là tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu.
Ngày 18 tháng 12 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập các thị xã Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá và Mỹ Tho trực thuộc các tỉnh cùng tên gọi. Các thị xã này đều có Ủy ban thị xã, thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng. Thị xã Bạc Liêu lúc đó được thành lập trên phần đất làng Vĩnh Lợi.
Đất miền Hậu Giang trù phú nên có nhiều phú nông. Dưới thời Pháp thuộc, nhiều gia đình hạng cự phú có con cái ăn tiêu phóng khoáng "thả cửa" nên danh từ "công tử Bạc Liêu" đã xuất hiện để chỉ giới dân chơi giàu có miền Lục tỉnh.
=== Giai đoạn 1956-1975 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh số 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Ba Xuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất phần đất tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu trước đó, tỉnh lỵ đặt tại Sóc Trăng nhưng lúc này lại bị đổi tên là "Khánh Hưng".
Như vậy, lúc này tỉnh Bạc Liêu đã bị giải thể, đồng thời xã Vĩnh Lợi chỉ còn đóng vai trò là quận lỵ quận Vĩnh Lợi.
Bạc Liêu hồi thời Pháp thuộc rất sung túc, dân cư đông đảo, nổi tiếng là xứ ăn xài, lắm khách hào hoa phong nhã, chợ búa mua bán phồn thịnh, nền kinh tế dồi dào. Cho đến khi chính phủ Ngô Đình Diệm chấp chánh, tỉnh Bạc Liêu bị sáp nhập vào tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng cũ) trước kia thịnh vượng đông đảo bao nhiêu, bây giờ lại hóa ra u trệ bấy nhiêu. Vì bỗng dưng bị thu hẹp lại thành một quận là quận Vĩnh Lợi, trọn 9 năm châu thành Bạc Liêu lâm vào cảnh vắng vẻ, nền kinh tế bị sụp đổ, du khách có dịp đi ngang qua cảm tưởng cho là một tỉnh bị chiến tranh tàn phá.
Suốt 9 năm dưới thời chính quyền Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Bạc Liêu đã phải chịu cảnh tủi hờn từ một tỉnh phát triển mạnh ngày nào dưới thời Pháp thuộc thì giờ đây bị thu hình lại chỉ thành một quận lỵ nhỏ nhoi (tức quận Vĩnh Lợi). Thời Pháp thuộc, Cà Mau ngày nào chỉ là một quận lỵ nhỏ, thua xa tỉnh lỵ Bạc Liêu thì lúc này, Bạc Liêu lại trở thành quận lỵ Vĩnh Lợi thua cả tỉnh lỵ Quản Long (tức Cà Mau cũ). Do không nghiên cứu kỹ, nhắm mục đích tuyên truyền chính trị hơn là nghĩ đến lợi ích thiết thực của đại đa số quần chúng nhân dân, chính quyền Ngô Đình Diệm đã động phạm đến luật tự nhiên. Rốt cuộc thì vẫn phải trở về đường cũ.
Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 254/NV quy định kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở tách các quận Vĩnh Lợi, Giá Rai, Vĩnh Châu của tỉnh Ba Xuyên và quận Phước Long của tỉnh Chương Thiện.
Tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu khi đó lại có tên là "Vĩnh Lợi", do lấy theo tên xã Vĩnh Lợi thuộc quận Vĩnh Lợi là nơi đặt tỉnh lỵ. Trong giai đoạn 1964-1975, xã Vĩnh Lợi vẫn tiếp tục giữ hai vai trò là quận lỵ quận Vĩnh Lợi và là tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu như thời Pháp thuộc.
==== Chính quyền Cách mạng ====
Ngày 13 tháng 11 năm 1948, chính quyền cách mạng cắt 2 làng Vĩnh Trạch, Vĩnh Lợi để thành lập thị xã Bạc Liêu thuộc tỉnh Bạc Liêu. Năm 1957, Liên Tỉnh uỷ miền Tây giải thể tỉnh Bạc Liêu, đồng thời đưa thị xã Bạc Liêu giao về tỉnh Sóc Trăng quản lý. Trong gia đoạn 1964-1973, địa bàn tỉnh Bạc Liêu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh Sóc Trăng của chính quyền cách mạng quản lý, vì vậy thị xã Bạc Liêu lúc này vẫn thuộc tỉnh Sóc Trăng.
Tháng 11 năm 1973, Khu uỷ Tây Nam Bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, lúc này thị xã Bạc Liêu trở lại thuộc tỉnh Bạc Liêu cho đến đầu năm 1976. Địa bàn thị xã Bạc Liêu tương ứng với xã Vĩnh Lợi và xã Vĩnh Trạch cùng thuộc quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt thị xã Bạc Liêu thuộc tỉnh Bạc Liêu cho đến đầu năm 1976.
=== Từ năm 1976 đến nay ===
Tháng 2 năm 1976, tỉnh Minh Hải được thành lập trên cơ sở hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu trước đó. Lúc này, thị xã Bạc Liêu bị đổi tên thành thị xã Minh Hải và được chọn làm tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải. Tuy nhiên, thị xã Minh Hải (thị xã Bạc Liêu) chỉ đóng vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải trong thời gian ngắn 1976-1984.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 326-CP về việc phân vạch địa giới hành chính thị xã Minh Hải thuộc tỉnh Minh Hải. Theo đó, thị xã Minh Hải (tỉnh lỵ) có 8 phường và 7 xã ngoại thị. Phía bắc giáp Rạch Trà Khứa và Ấp Cái Giá, phía đông giáp Rạch Cầu Thắng, phía tây giáp Rạch Dần Xây, phía nam giáp biển Đông.
Ngày 25 tháng 07 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 275-CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã của thị xã Minh Hải thuộc tỉnh Minh Hải:
Chia xã Vĩnh Trạch thành hai xã lấy tên là xã Vĩnh Thuận và xã Vĩnh Hòa.
Chia xã Vĩnh Lợi thành hai xã lấy tên là xã Vĩnh Hiệp và xã Vĩnh Thành.
Ngày 17 tháng 5 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 75-HĐBT về việc đổi tên thị xã Minh Hải thành thị xã Bạc Liêu thuộc tỉnh Minh Hải.
Ngày 18 tháng 12 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 170-HĐBT về việc chuyển tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau.
Ngày 14 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 33B-HĐBT về việc sáp nhập xã Vĩnh Hiệp và xã Vĩnh Thành thành một xã lấy tên là xã Hiệp Thành thuộc thị xã Bạc Liêu, tỉnh Minh Hải.
Ngày 2 tháng 2 năm 1991, địa giới hành chính thị xã Bạc Liêu tiếp tục có sự điều chỉnh: nhập phường 6 vào phường 5, nhập phường 4 vào phường 7, nhập phường 1 vào phường 3 và phường 8; nhập hai xã Vĩnh Thuận và Vĩnh Hòa thành một xã Thuận Hòa.
Ngày 06 tháng 11 năm 1996, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, theo đó chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau. Khi đó thị xã Bạc Liêu trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Bạc Liêu.
Ngày 25 tháng 8 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/1999/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc thị xã Bạc Liêu. Theo đó, chia xã Thuận Hòa thành 2 xã: Vĩnh Trạch và Vĩnh Trạch Đông.
Ngày 13 tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 55/2002/NĐ-CP về việc thành lập phường, xã thuộc thị xã Bạc Liêu và huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, thành lập phường 1 thuộc thị xã Bạc Liêu trên cơ sở 582,6 ha diện tích tự nhiên và 17.568 nhân khẩu của phường 7.
Ngày 24 tháng 12 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 166/2003/NĐ-CP về việc thành lập xã, phường thuộc các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải và thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Theo đó, thành lập phường Nhà Mát thuộc thị xã Bạc Liêu trên cơ sở 2.439 ha diện tích tự nhiên và 9.237 nhân khẩu của xã Hiệp Thành.
Cuối năm 2004, thị xã Bạc Liêu gồm 10 đơn vị hành chính trực thuộc: phường 1, phường 2, phường 3, phường 5, phường 7, phường 8, phường Nhà Mát, xã Hiệp Thành, xã Vĩnh Trạch và xã Vĩnh Trạch Đông.
Ngày 5 tháng 2 năm 2007, thị xã Bạc Liêu đã được công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Bạc Liêu.
Ngày 27 tháng 8 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 32/NQ-CP về việc thành lập THÀNH PHỐ BẠC LIÊU thuộc trực thuộc tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Bạc Liêu. Thành phố Bạc Liêu có diện tích tự nhiên 17.538,19 ha và 188.863 nhân khẩu; 10 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 07 phường: 1, 2, 3, 5, 7, 8, Nhà Mát và 03 xã: Hiệp Thành, Vĩnh Trạch, Vĩnh Trạch Đông..
Ngày 16 tháng 4 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 537/QĐ-TTg công nhận thành phố Bạc Liêu là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bạc Liêu.
Trước đây, thị xã Bạc Liêu vốn là một trong các đô thị lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và còn hơn cả thị xã Cà Mau. Do bị mất vai trò là tỉnh lỵ của tỉnh Minh Hải trong một thời gian khá dài (1985-1996), thị xã Bạc Liêu cũ (ngày nay là thành phố Bạc Liêu) lại tiếp tục dần dần thua kém các thị xã khác ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2010, Bạc Liêu mới được nâng cấp trở thành thành phố Bạc Liêu trực thuộc tỉnh Bạc Liêu, như vậy là muộn hơn nhiều so với các thị xã của các tỉnh khác trong khu vực. Thế mà thành phố Bạc Liêu vẫn không ngừng cố gắng vươn lên phát triển, chỉ trong vòng 4 năm từ năm 2010 đến năm 2014 thành phố Bạc Liêu đã trở thành đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bạc Liêu (cùng với các thành phố Long Xuyên, Cà Mau và Rạch Giá trong vùng Đồng Bằng sông Cửu Long). Đây quả là một niềm hãnh diện, một nguồn động lực to lớn cho nhân dân thành phố Bạc Liêu nói riêng và toàn tỉnh Bạc Liêu nói chung.
== Các tuyến đường chính trên địa bàn ==
Trần Phú
Hùng Vương
Võ Văn Kiệt
Cao Văn Lầu
23 tháng 8
Võ Thị Sáu
Ninh Bình
Hoà Bình
Trần Huỳnh
Tôn Đức Thắng
Nguyễn Tất Thành
Cách mạng Tháng 8
Hai Bà Trưng
Nguyễn Văn Linh
Bà Triệu
Lê Duẩn
Nguyễn Thị Minh Khai
Bạch Đằng
Tên Đường của thành phố Bạc Liêu trước năm 1975
Đường Độc Lập nay là đường Trần Phú
Đường Mạc Đĩnh Chi nay là đường Cao Văn Lầu
Đường Thống Nhất, Tôn Thọ Tường, Nguyễn Công Trứ nay đường Thống Nhất
Đường Nguyễn Thái Học nay là đường Võ Thị Sáu
Đường Bạch Đằng,Đào Duy Từ, Trịnh Hoài Đức nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai
Đường Thành Thái nay là đường Lê Hồng Phong
Đường Duy Tân nay là đường Nguyễn Văn Trỗi
Đường Nguyễn Trung Trực, Tô Hiến Thành nay là đường Phùng Ngọc Liêm
Đường Nguyễn Trãi nay là đường Hồ Thị Kỷ
Đường Đồng Khánh nay là đường Nguyễn Văn A
Đường Thái Lập Thành nay là đường Điện Biên Phủ
Đường Phan Châu Trinh nay là đường Hà Huy Tập
Đường Trưng Trắc, Trưng Nhị nay là đường Hai Bà Trưng
Đường Đinh Tiên Hoàng nay là đường Phan Đình Phùng
Đường Lê Lợi, Trương Công Định nay là đường Lê Lợi
Đường Võ Tánh nay là đường Ngô Gia Tự
Đường Trương Vĩnh Ký nay là đường Hoàng Văn Thụ
Đường Phan Thanh Giản nay là đường Phan Ngọc Hiển
Đường Dân Chủ nay là đường Ninh Bình
Đường Tự Do nay là đường Minh Diệu
Đường Minh Mạng nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa
== Liên kết ngoài ==
Địa chỉ trang thông tin điện tử tỉnh Bạc Liêu.
Đài Truyền hình Bạc Liêu.
Diễn đàn cộng đồng Bạc Liêu.
Website Trường THPT Lê Văn Đẩu.
Website công nghệ thông tin.
Website đại học Bạc Liêu.
== Chú thích ==
Bản mẫu:Danh sách các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Bạc Liêu |
sân bay quốc tế washington dulles.txt | Sân bay quốc tế Washington Dulles (tiếng Anh: Washington Dulles International Airport) (IATA: IAD, ICAO: KIAD) phục vụ cho Đại đô thị Washington, D.C. (Vùng đô thị Baltimore-Washington). Tên sân bay này được đặt theo John Foster Dulles - ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Dwight D. Eisenhower. Đây là sân bay trung tâm của hãng United Airlines và là một thành phố trọng tâm (focus city) của hàng JetBlue Airways.
Sự khởi đầu của hãng Hàng không giá rẻ (low-cost carrier) Independence Air năm 2004 đã khiến Sân bay quốc tế này xếp từ vị trí sân bay bận rộn thứ 24 lên vị trí thứ năm và trở thành một trong 10 Sân bay bận rộn nhất thế giới. Vào những ngày cao điểm nhất, sân bay này phục vụ 600 chuyến bay giá rẻ/ngày. Hãng Independence, kết hợp dịch vụ của các hãng hàng không JetBlue và AirTran, đã khiến cho Dulles trở thành trung tâm của các hãng hàng không giá rẻ lớn nhất Hoa Kỳ. Hiện tại, trong một ngày điển hình, sân bay Dulles phục vụ 1800 đến 2000 chuyến bay – so với 1000 đến 1200 chuyến/ngày năm 2003. Đây là sân bay cửa ngõ cho các chuyến bay xuyên Đại Tây Dương ở bờ đông Hoa Kỳ. Gần đây, với sự nhượng lại của hãng Independence Air, JetBlue đã dần dần mở rộng hoạt động focus city tại sân bay Dulles bằng 6 chuyến bay thẳng hàng ngày đến Boston và Thành phố New York. Hãng này cũng phục vụ các chuyến bay thẳng đến Long Beach, Oakland, Ft. Lauderdale, Las Vegas, West Palm Beach và San Diego, khiến cho JetBlue trở thành hãng lớn thứ 2 tại sân bay Dulles xét về các điểm đến trực tiếp. Diện tích của sân bay là 13.000 mẫu Anh (52,6 km²) đất, cách trung tâm thủ đô Washington 26 dặm (41,6 km), nằm giữa biên giới 2 hạt (county – tương đương cấp tỉnh) Hạt Fairfax và Hạt Loudoun, tiểu bang Virginia. Sân bay này tọa lạc một phần ở Chantilly và một phần ở Dulles (Virginia), phía tây Herndon và tây nam Sterling. Năm 1958, làng Willard đã được giải toả để xây sân bay này. Sân bay quốc tế Washington Dulles do Cơ quan quản lý sân bay vùng đô thị Washington (Metropolitan Washington Airports Authority) (MWAA) vận hành và quản lý. Năm 2005, sân bay này phục vụ 25 triệu khách. Vào một ngày điển hình, hơn 60.000 hành khách đi qua Washington Dulles đến và từ hơn 125 điểm đến trên khắp thế giới.
=== Các nhà ga ===
Nhà ga chính thiết kế đẹp mắt với các móc xích treo tạo ra một khu vực khéo kín rộng rãi được không có cột chống đỡ. Đây là nơi làm thủ tục lên máy bay, băng truyền hành lý, các khu vực thông tin cũng như khu xử lý thủ tục nhập cảnh cho hành khách đến quốc tế. Có 2 loạt cổng ở tòa nhà ga chính.
==== Các cổng "H" ====
Ethiopian Airlines (Addis Ababa, Rome-Fiumicino)
Lloyd Aereo Boliviano (Santa Cruz de la Sierra, La Paz)
Saudi Arabian Airlines (Jeddah, Riyadh)
TACA (Guatemala City, Lima, San Salvador)
==== Các cổng "Z" ====
US Airways (Charlotte, San Jose (CR) [kết thúc ngày 28/10/2006], San Juan [theo mùa vụ, bắt đầu ngày 29/10/2006])
US Airways operated by America West Airlines (Las Vegas, Phoenix)
US Airways Express operated by Colgan Air (Altoona, Beckley, Bluefield, Pittsburgh, Shenandoah Valley)
US Airways Express cung cấp bởi hãng Air Midwest (Lewisburg/Greenbriar, WV)
US Airways Express cung cấp bởi hãng Mesa Airlines (Charlotte)
US Airways Express cung cấp bởi hãng PSA Airlines (Charlotte)
=== Midfield Terminals ===
There are three midfield terminal buildings: One contains the A and B Midfield Concourses, another the C and D Midfield Concourses, and the last the G Midfield Concourse. The C and D Concourses, completed in 1983, were designed to be temporary. Their replacements are under development. The A and B Concourses are the first of the permanent Midfield Concourses.
==== Midfield Concourse A ====
United Airlines
United Express operated by Chautauqua Airlines (Boston, Buffalo, Columbus, Greensboro, Harrisburg, Indianapolis, Manchester (NH), Rochester (NY), Toronto)
United Express operated by Colgan Air (Allentown, Binghamton, Charleston (WV), Charlottesville, State College, White Plains)
United Express operated by GoJet Airlines (Cincinnati/Northern Kentucky, Kansas City, Portland (ME), San Antonio, Syracuse)
United Express operated by Mesa Airlines (Atlanta, Austin, Birmingham (AL), Boston, Buffalo, Charlotte, Cleveland, Columbia, Daytona Beach, Detroit, Greensboro, Greenville/Spartanburg, Hartford, Jacksonville, Kansas City, Manchester (NH), Minneapolis/St. Paul, Nashville, Newark, New York-JFK, New York-LaGuardia, Myrtle Beach, Norfolk, Philadelphia, Pittsburgh, Portland (ME), Raleigh/Durham, Rochester (NY), Savannah)
United Express operated by Trans States Airlines (Albany, Burlington, Dayton, Harrisburg, Hartford, Knoxville, Manchester (NH), Newark, New Orleans, Norfolk, Providence, Raleigh/Durham, Richmond, Roanoke, Syracuse, St. Louis)
==== Midfield Concourse B ====
AirTran Airways (Atlanta, Orlando)
Air France (Paris-Charles de Gaulle)
All Nippon Airways (Tokyo-Narita)
Continental Airlines (Cleveland, Houston-Intercontinental)
Continental Express operated by ExpressJet Airlines (Cleveland, Houston-Intercontinental, Newark)
Delta Air Lines (Atlanta, Cancún, Cincinnati/Northern Kentucky, Salt Lake City)
Delta Connection operated by Atlantic Southeast Airlines (Atlanta)
Delta Connection operated by Comair (Cincinnati/Northern Kentucky, New York-JFK)
JetBlue Airways (Boston, Fort Lauderdale, Las Vegas, Long Beach, New York-JFK, Oakland, San Diego, West Palm Beach)
KLM Royal Dutch Airlines (Amsterdam)
Lufthansa (Frankfurt, Munich)
Korean Air (Seoul-Incheon)
MAXjet (London-Stansted)
Northwest Airlines (Detroit, Minneapolis/St. Paul)
Northwest Airlink operated by Pinnacle Airlines (Memphis)
Scandinavian Airlines System (Copenhagen)
South African Airways (Dakar, Johannesburg)
Southwest Airlines (Chicago-Midway, Las Vegas, Orlando, Tampa)
Sun Country Airlines (Minneapolis/St. Paul)
Virgin Atlantic (London-Heathrow)
==== Midfield Concourse C ====
Air Canada
Air Canada Jazz (Montréal, Ottawa)
Lufthansa (Frankfurt)
United Airlines (Albuquerque, Amsterdam, Beijing [Currently requires connection via Chicago-O'Hare; Non-stop service starts ngày 25 tháng 3 năm 2007/pending gov't approval], Boston, Brussels, Buenos Aires-Ezeiza, Bermuda, Calgary [starts May, 2007], Chicago-O'Hare, Denver, Edmonton [starts May, 2007], Fort Myers [starts late october], Frankfurt, Hartford, Kuwait City [starts Oct. 28, 2006], London-Heathrow, Los Angeles, Mexico City, Montego Bay, Montevideo, Munich, Nassau, New Orleans, New York-LaGuardia, Oakland, Oranjestad, Paris-Charles de Gaulle, Phoenix, Portland (OR), Punta Cana, Rio de Janeiro-Galeão, Rome-Fiumicino [starts ngày 1 tháng 4 năm 2007/Pending Gov't Approval], Sacramento, San Diego, San Francisco, San Jose (CA), São Paulo-Guarulhos, Seattle/Tacoma, St. Maarten, St. Thomas, Tokyo-Narita [starts Oct. 28, 2006], Tucson [starts Oct. 31, 2006] Vancouver, West Palm Beach [starts December 2006], Zurich)
Ted operated by United Airlines (Cancún, Fort Lauderdale, Las Vegas, Miami, Orlando, San Juan, Tampa)
United Express (See Concourse A)
United Express operated by Shuttle America (Albany, Atlanta, Dallas/Fort Worth, Halifax, Hartford, Houston-Intercontinental, Indianapolis, Minneapolis/St. Paul, Montréal, Raleigh/Durham, Toronto)
==== Midfield Concourse D ====
American Airlines (Dallas/Fort Worth, Los Angeles, Miami, San Juan)
AmericanConnection operated by Chautauqua Airlines (St. Louis)
American Eagle (Chicago-O'Hare, Miami)
Aeroflot (Moscow-Sheremetyevo)
Austrian Airlines (Vienna)
British Airways (London-Heathrow)
United Airlines (Destinations listed under Concourse C)
== Airline Lounges ==
Air France operates a Departures Lounge in the B Concourse, opposite B46.
All Nippon Airways operates a Club ANA lounge in the B Concourse, opposite B46.
American Airlines operates an Admirals Club lounge in Concourse D opposite D26.
British Airways operates a Terraces Lounge and a First Class Lounge in Concourse D opposite D19.
Northwest Airlines/KLM operate a WorldClubs lounge in the B Concourse opposite B20.
United Airlines operates three Red Carpet Clubs in the C and D Concourses opposite C8, C16, and D7.
Virgin Atlantic operates a Clubhouse in the B Concourse opposite B32.
Star Alliance members without a lounge offer access to the United Red Carpet Club lounges or the ANA Lounge, while other airlines who do not operate a lounge of their own offer access to lounges of partner airlines.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
MWAA: Sân bay Dulles
The Washington Post: Independence Air brings traffic spike to Dulles
Washington Metropolitan Area Transit Authority — The schedule for the # 5A Metrobus from Washington to Dulles International Airport ($3.00 one-way fare to airport).
Washington Flyer — The schedule for the luxury coach bus service between West Falls Church Metro Station and Dulles International Airport ($9.00 one-way fare to airport).
Fairfax Connector — The schedules for # 950 and # RIBS 2 buses connecting to Herndon-Monroe transfer station to meet the # 5A Metrobus to Dulles International Airport ($3.00 one-way fare to airport by using a free transfer between bus lines). These schedules can be found under the heading of "North County" bus schedules.
The Mobile Lounges at Dulles International Airport
Internet Archive: Dwight D. Eisenhower dedicates Dulles Airport - 1962 (audio) |
bộ hải quân hoa kỳ.txt | Bộ Hải quân Hoa Kỳ (United States Department of the Navy) được thành lập bằng một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 30 tháng 4 năm 1798 để cung ứng hỗ trợ kỹ thuật và hành chính cho Hải quân Hoa Kỳ và lực lượng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ dưới quyền lãnh đạo dân sự (và khi được lệnh điều hành của Quốc hội Hoa Kỳ hay Tổng thống Hoa Kỳ thì lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ cũng được đặc dưới quyền của Bộ Hải quân Hoa Kỳ). Bộ do Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ lãnh đạo. Bộ trưởng được một Thứ trưởng Hải quân Hoa Kỳ trợ tá. Bộ Hải quân từng là một bộ cấp nội các cũng giống như Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ gồm có Lục quân Hoa Kỳ. Cả hai bộ này bị nhập lại dưới quyền của bộ mới thành lập có tên ban đầu là Tổ chức Quân sự Quốc gia vào năm 1947. Tổ chức Quân sự Quốc gia sau đó được đổi tên thành Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ vào năm 1949. Lúc đó Bộ Hải quân trở thành một bộ phận của Bộ Quốc phòng cho đến ngày nay.
Bộ Hải quân gồm có các văn phòng hành chính, phần lớn nằm trong Ngũ Giác Đài và tòa nhà phụ của Hải quân kế đó. Bộ có trách nhiệm tuyển mộ nhân sự quân sự và cả dân sự, tổ chức, tiếp liệu, trang bị, huấn luyện, huy động tăng giảm lực lượng Hải quân và Thủy quân Lục chiến và cơ sở vật chất, nhân lực của các lực lượng này. Bộ cũng trông coi việc đóng, tu bổ, sửa chữa các tàu thuyền, phi cơ, trang bị và các cơ sở vật chất.
Bộ gồm có hai trong số 7 lực lượng đồng phục của Hoa Kỳ là Hải quân Hoa Kỳ và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ.
Sĩ quan quân sự cao cấp nhất trong bộ là Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ và Tham mưu trưởng Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Hai người này là những cố vấn Hải quân chính của Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ và Tổng thống Hoa Kỳ. Hai người này điều hành hai bộ phận riêng của mình trong bộ và phục vụ với vai trò là thành viên trong Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ (Joint Chiefs of Staff).
== Việc đổi tên bất thành vào năm 2007 ==
Trong một đạo luật được Hạ viện Hoa Kỳ giới thiệu có số mã "H.R. 1585", tên Đạo luật Ủy nhiệm Quốc phòng (National Defense Authorization Act) cho năm tài chính 2008, Bộ Hải quân sẽ được đổi tên thành Bộ Hải quân và Thủy quân Lục chiến. Đạo luật đã được thông qua ở Hạ viện Hoa Kỳ ngày 17 tháng 5 năm 2007.
Việc đề nghị đổi tên đã gặp phải sự phản đối trong số các thành viên lãnh đạo dân sự của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và trong số các đô đốc Hải quân cũng như các tướng lãnh Thủy quân Lục chiến cao cấp. Tại Thượng viện Hoa Kỳ, đạo luật này được đổi mã số thành SA2011, được tu chính, và bị lượt bỏ phần đổi tên cùng một số thay đổi khác. Tu chính này được Thượng nghị sĩ Carl Levin, đảng viên Dân chủ Michigan bảo trợ và giới thiệu vào ngày 9 tháng 7 năm 2007, và nó được đa số đồng ý chấp thuận vào ngày 1 tháng 10 năm 2007.
Phiên bản của Hạ viện Hoa Kỳ có phần đổi tên được Ủy ban Quốc hội Hoa Kỳ rút lại.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Department of the Navy website
US Marine Corps official website
US Navy official website
Department of Defense website
History of the Department of the Navy Seal used on US Naval Dinnerware from late 1800s through the 1970s |
andrew wiles.txt | Andrew John Wiles là nhà toán học người Anh, được biết đến như người đầu tiên chứng minh được định lý lớn Fermat.
Wiles được giới thiệu về Định lý lớn Fermat ngay lúc ông mới 10 tuổi. Những năm sau đó ông thử tìm cách chứng minh định lý theo các phương pháp truyền thống trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, khi bắt đầu giai đoạn nghiên cứu sinh ông chuyển sang nghiên cứu các hàm elip, dưới sự hướng dẫn của giáo sư John Coates.
Trong thời gian làm nghiên cứu sinh tại trường Clare tại Cambridge, Wiles còn kiêm nhiệm trợ lý giáo sư tại Đại học Harvard. Đến năm 1980 khi nhận bằng tiến sĩ, Wiles sang làm việc một thời gian ở Bonn trước khi đến Hoa Kỳ. Năm 1981, ông đã là giáo sư tại Đại học Princeton.
Điều then chốt trong việc chứng minh định lý Fermat lại trực tiếp phụ thuộc vào mệnh đề Shimura-Taniyama (mối liên hệ này được G. Frey đề xuất và K. Ribet chứng minh). Từ đó, Wiles tập trung vào việc chứng minh mệnh đề Shimura-Taniyama. Công việc này đã chiếm một khoảng thời gian là 7 năm.
Tháng 6 năm 1993, Wiles cho rằng công việc chứng minh sắp được hoàn tất, nhưng sau đó phát hiện ra một vấn đề trục trặc không nhỏ. Công việc còn dở dang đến tận 19 tháng 9 năm 1994, khi ông đột nhiên có ý tưởng đúng. Năm 1995, bài báo Modular elliptic curves and Fermat's Last Theorem của Wiles xuất hiện trên tạp chí Annals of Mathematics.
== Các giải thưởng ==
Andrew Wiles đã nhận được nhiều giải thưởng khoa học và toán học từ năm 1988:
Junior Whitehead Prize của LMS (1988)
Fellow of the Royal Society (1989)
Giải Rolf Schock (1995)
Giải Fermat (1995)
Giải Wolf về Toán học (1995/6)
Giải Toán học của Viện hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ (1996)
Royal Medal (1996)
Giải Ostrowski (1996)
Giải Cole (1997)
Giải Wolfskehl (1997) – see Paul Wolfskehl
A silver plaque from the International Mathematical Union (1998) recognizing his achievements, in place of the Fields Medal, which is restricted to those under 40 (Wiles was born in 1953 and proved the theorem in 1994)
King Faisal Prize (1998)
Giải Clay (1999)
Giải Shaw (2005)
Pythagoras Award (Croton, 2004)
Giải Abel (2016)
== Vinh dự ==
Wiles được phong tước Hiệp sĩ (KBE) của Vương quốc Anh. Vì vậy trong văn bản, tên của ông còn viết là Sir Andrew Wiles.
Một tiểu hành tinh vành đai chính được đặt tên theo ông: 9999 Wiles (được phát hiện bởi C. J. van Houten, I. van Houten-Groeneveld và T. Gehrels 29 tháng 9 năm 1973)
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Andrew Wiles tại Wikimedia Commons |
new hampshire.txt | New Hampshire (phát âm là Niu Ham-Sờ, S nặng)là một tiểu bang thuộc vùng New England ở phía đông-bắc của Hoa Kỳ. Tiểu bang này bảy vùng khác nhau: Seacoast, Dartmouth - Lake Sunapee, Lakes Region, Merrimack Valley, Monadnock Region, White Mountains và Great North Woods.
Ðây là nơi sinh của Tổng thống Franklin Pierce (tại Hillsboro).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
New Hampshire Government
Visit New Hampshire |
cách mạng văn hóa.txt | Đại Cách mạng Văn hóa Giai cấp Vô sản (tiếng Hoa giản thể: 无产阶级文化大革命; tiếng Hoa phồn thể: 無產階級文化大革命; Bính âm: Wúchǎn Jiējí Wénhuà Dà Gémìng; phiên thiết Hán-Việt: Vô sản Giai cấp Văn hóa Đại Cách mạng; thường gọi tắt là Đại Cách mạng Văn hóa 文化大革命 wénhuà dà gémìng, hay vắn tắt hơn là Văn Cách 文革, wéngé) là một phong trào chính trị xã hội tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa diễn ra trong 10 năm từ 1966 tới 1976, gây tác động rộng lớn và sâu sắc lên mọi mặt của cuộc sống chính trị, văn hóa, xã hội ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngoài ra, cuộc cách mạng này đã làm thay đổi quan niệm xã hội, chính trị và đạo đức của quốc gia này một cách sâu sắc và toàn diện.
Cuộc cách mạng này được Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo từ ngày 16 tháng 5 năm 1966, với mục tiêu chính thức là "đấu tranh với giai cấp tư sản trong lĩnh vực tư tưởng và sử dụng những tư tưởng và lề thói mới của giai cấp vô sản để thay đổi diện mạo tinh thần của toàn bộ xã hội". Tuy nhiên, mục đích chính của cách mạng này được một số người cho là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt bị thất bại dẫn đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao Trạch Đông so với đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ và cũng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài,...
Dù Mao Trạch Đông tự tuyên bố chính thức là Văn cách kết thúc năm 1969, ngày nay người ta vẫn cho rằng cuộc cách mạng này còn bao gồm cả giai đoạn từ 1969 đến 1976 khi Tứ nhân bang (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diêu Văn Nguyên) bị bắt giữ.
Tổng cộng 1,5 đến 1,8 triệu người bị giết chết hay tự sát, khoảng 20 triệu người bị đưa về nông thôn lao động cưỡng bức trong nhiều năm. Khoảng 200 triệu người bị thiếu ăn thường xuyên.
== Bối cảnhSửa đổi ==
Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc được thành lập, Mao Trạch Đông muốn áp dụng mô hình của Stalin để xây dựng đất nước. Mao Trạch Đông tin rằng mô hình của Stalin là phương thức tiến hành cải tạo chủ nghĩa cộng sản tại Trung Quốc. Dưới thời kỳ Khrushchev lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu phủ nhận mô hình của Stalin, còn được gọi chủ nghĩa xét lại. Mao Trạch Đông chống lại chủ nghĩa hữu khuynh, mở rộng đấu tranh giai cấp, bác bỏ chủ nghĩa xét lại về Stalin. Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra quan điểm Mao Trạch Đông phát động Đại Cách mạng Văn hóa để bắt đầu ngăn chặn chủ nghĩa tư bản phục hồi, duy trì Đảng trong sạch và tìm con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng chính mình. Trong Đảng, Mao Trạch Đông chỉ trích đối lập, Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình và chính sách khác là "sai lầm", mâu thuẫn giữa Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông gia tăng, về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đưa ra quan điểm trái ngược với Mao Trạch Đông, để phát triển quan điểm của mình họ đã lập các nhóm nhỏ mà không cần thông báo trước với Mao Trạch Đông. Chính trong thời điểm này, Ủy ban Trung ương Đảng và Mao Trạch Đông đề xuất chủ nghĩa sửa đổi, Đảng và Nhà nước đang đối mặt với chủ nghĩa tư bản phục hồi hết sức nguy hiểm, vài năm trước tại nông thôn thực hiện chính sách "bốn sạch" (tiếng Trung: 四清, tứ thanh), và tại thành thị là "năm diệt" (tiếng Trung: 五反, ngũ phiên) và thể hiện sự phê phán các tư tưởng, vận động quần chúng ra sức đấu tranh bảo vệ Đảng và Nhà nước.
=== Phong trào bốn sạchSửa đổi ===
Năm 1956, Đại hội Đảng lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ trích Stalin, Mao Trạch Đông phản đối đưa ra quan điểm trái chiều. Tháng 4/1959, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa VIII Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông đưa ra quan điểm, nhấn mạnh sức mạnh được tập trung vào Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương do ông lãnh đạo. Ngày 2/7/1959, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng và Hội nghị Trung ương 8 khóa VIII họp tại Lư Sơn, tại Hội nghị này đã đưa ra quan điểm "đánh đổ tập đoàn phản động Bành" và "bảo vệ con đường đúng đắn của Đảng, đập tan chủ nghĩa cơ hội xét lại".
=== Đại nhảy vọtSửa đổi ===
Năm 1958, sau kế hoạch Năm năm lần thứ nhất, Mao Trạch Đông kêu gọi phát triển một "chủ nghĩa xã hội triệt để" trong nỗ lực đưa đất nước sang xã hội cộng sản tự cung tự cấp. Để đạt được mục tiêu này, Mao khởi xướng kế hoạch Đại nhảy vọt, thiết lập các "Xã Nhân dân đặc biệt" (thường gọi là Công xã nhân dân) ở nông thôn thông qua việc sử dụng lao động tập thể và vận động quần chúng. Nhiều cộng đồng dân cư đã được huy động để sản xuất một mặt hàng duy nhất-đó là thép. Và Mao Trạch Đông tuyên bố sẽ tăng sản lượng nông nghiệp lên gấp đôi mức năm 1957. Nhưng trên thực tế,sản lượng nông nghiệp thời kì đó của Trung Quốc còn không bằng thời vua Càn Long và thời nhà Thanh.
Cuộc Đại nhảy vọt là một thất bại về kinh tế. Các ngành công nghiệp rơi vào tình trạng bất ổn vì nông dân sản xuất quá nhiều thép chất lượng thấp trong khi các ngành khác bị bỏ rơi. Hơn nữa, những người nông dân không qua đào tạo và được trang bị nghèo nàn để sản xuất thép, phần lớn dựa vào khu vực sân sau nhà để đạt chỉ tiêu sản xuất thép do các quan chức địa phương đặt ra. Trong khi đó, các công cụ nhà nông chính bị nấu chảy để làm thép khiến quy mô sản xuất nông nghiệp bị thu nhỏ. Điều này dẫn đến sự sụt giảm sản lượng của phần lớn các mặt hàng ngoại trừ gang và thép không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Tồi tệ hơn nữa, để tránh bị phạt, chính quyền địa phương thường xuyên phóng đại các con số và che giấu khiến cho vấn đề thêm trầm trọng trong nhiều năm.
Hầu như chưa phục hồi từ nhiều thập kỷ chiến tranh, nền kinh tế Trung Quốc thêm một lần nữa rơi vào khủng hoảng. Năm 1958, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt buộc phải thừa nhận rằng những số liệu thống kê sản xuất đã bị phóng đại. Ngoài ra, phần nhiều lượng thép sản xuất ra không tinh khiết và vô ích. Trong khi đó, sự hỗn loạn trong các khu sản xuất tập thể, thời tiết xấu và việc xuất khẩu lương thực nhằm đảm bảo an ninh lương thực đã dẫn đến một trận đói kém cực lớn. Thực phẩm trong tình trạng hết sức khan hiếm và sản xuất giảm đáng kể. Theo nhiều nguồn khác nhau, số người chết do nạn đói này gây ra ước tính 20 đến 30 triệu người.
Sự thất bại của cuộc Đại nhảy vọt có tác động lớn lên uy tín của Mao Trạch Đông bên trong Đảng. Năm 1959, ông ta từ chức Chủ tịch nhà nước, và sau đó Lưu Thiếu Kỳ lên thay. Tháng 7 năm 1959, những người lãnh đạo cấp cao của Đảng triệu tập tại Lư Sơn để thảo luận về các quyết sách của Đảng, nhất là các tác động của cuộc Đại nhảy vọt. Tại hội nghị, nguyên soái Bành Đức Hoài, khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, đã chỉ trích chính sách của Mao Trạch Đông trong cuộc Đại nhảy vọt là đã quản lý kém và đi ngược lại các quy luật kinh tế..
Trong lúc Hội nghị Lư Sơn đóng vai trò như một hồi chuông báo tử cho nguyên soái Bành, cũng là nhà phê bình lớn tiếng nhất của Mao, điều này đã dẫn đến một sự chuyển giao quyền lực vào tay những người thuộc phái ôn hòa cầm đầu là Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, những người nắm quyền kiểm soát chính phủ. Sau Hội nghị, Mao Trạch Đông đã tìm cách tước bỏ các chức vụ chính thức của Bành Đức Hoài và buộc tội ông ta là kẻ "cơ hội cánh hữu". Bành Đức Hoài bị thay bởi Lâm Bưu, một vị tướng khác trong lực lượng quân cách mạng và sau này là người đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách của Chủ nghĩa Mao Trạch Đông.
== Xung đột giữa Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch ĐôngSửa đổi ==
Vào đầu những năm 1960, mặc dù Mao Trạch Đông vẫn còn giữ chức Chủ tịch Đảng, trách nhiệm chính trong sự thất bại của cuộc Đại nhảy vọt đã buộc ông ta phải giam mình khỏi những vấn đề thường nhật của nhà nước và chính phủ. Nhiều chính sách Đại nhảy vọt của ông ta bị đảo ngược, các tác động tiêu cực của chúng giảm nhẹ và dần dần biến mất. Trong số những cải cách của Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình thì việc xóa bỏ phần nào tình trạng sản xuất tập thể được xem là thực dụng và hiệu quả hơn. Trong suốt quá trình này, Lưu Thiếu Kỳ đặt ra cụm từ nổi tiếng, "Mua tốt hơn tự sản xuất, và cho thuê tốt hơn so với đi mua". Điều này đã mở ra một biên giới mới trong kinh tế Trung Quốc và đối lập với lý thuyết "tự cung tự cấp" của Mao Trạch Đông.
Những chính sách kinh tế thành công của Lưu Thiếu Kỳ đã thu hút sự ủng hộ từ bên trong Đảng. Cùng với Đặng Tiểu Bình, Kỳ dường như muốn trục xuất Mao Trạch Đông ra khỏi bộ máy quyền lực nhưng vẫn giữ ông ta trong vai trò biểu tượng quốc gia. Đáp lại, Mao Trạch Đông đã khởi xướng Phong trào Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa vào năm 1962 để lấy lại nền tảng chính trị của mình. Mục tiêu chính của phong trào là khôi phục lòng nhiệt thành cách mạng của các đảng viên và quần chúng. Đáng chú ý hơn, phong trào này còn tập trung vào cải cách hệ thống giáo dục tiểu học và trung học. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của nó là sự kết hợp của đơn vị hành chính xã và lao động nhà máy vào giáo dục. Phong trào đã đạt được kết quả là đưa chủ nghĩa Mao vào giới trẻ Trung Quốc.
Năm 1963, Mao Trạch Đông bắt đầu công kích Lưu Thiếu Kỳ công khai hơn. Ông ta tuyên bố rằng đấu tranh giai cấp vẫn đang được tiến hành và phải được học hỏi và áp dụng "ngày một, tháng một, và năm một", và bóng gió rằng các thành phần cố hữu của giai cấp tư sản (ám chỉ Lưu Thiếu Kỳ) vẫn còn tồn tại mặc dù cách mạng đã thành công. Năm 1964, Phong trào Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa tiến triển trở thành Phong trào Bốn-dọn-dẹp, một phong trào chính trị - xã hội rộng lớn hơn nhằm mục đích "làm sạch chính trị, kinh tế, tư tưởng, và tổ chức của bọn phản động". Mao Trạch Đông xem chiến dịch này là nhắm vào các thành phần trung lưu vừa được thiết lập nhưng đã trở nên xa rời quần chúng, trong khi Lưu Thiếu Kỳ lại muốn một cách tiếp cận từ dưới lên để loại bỏ những tội phạm nhỏ, tầng lớp địa chủ và thành phần phản động. Sự bất đồng trong quan điểm về bản chất của phong trào đã tạo ra xung đột giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ.
== Khẩu chiến chính trịSửa đổi ==
Cuối năm 1959, nhà sử học và cũng là Phó Thị trưởng Bắc Kinh Ngô Hàm xuất bản phiên bản đầu tiên của bộ kịch lịch sử tựa đề Hải Thụy bãi quan (海瑞罢官). Trong vở kịch, một người đầy tớ trung thành tên Hải Thụy bị sa thải bởi một tên hoàng đế biến chất. Trong khi vở kịch nhận được sự ca ngợi từ phía Mao thì năm 1965 vợ Mao Trạch Đông là Giang Thanh và đồng minh của bà ta là Diêu Văn Nguyên, biên tập viên cho một tờ báo ở Thượng Hải, đã viết bài báo công kích vở kịch. Diêu gọi vở kịch là "một thứ cỏ độc" hãm hại Mao với ngụ ý Mao như một tên hoàng đế suy đồi và Bành Đức Hoài như một công chức trung thực.
Bài báo Thượng Hải đó lan truyền khắp nước và nhiều tờ nhật báo hàng đầu khác đã xin đăng lại. Thị trưởng Bắc Kinh là Bành Chân, một người ủng hộ Ngô Hàm, đã thành lập một ủy ban nghiên cứu bài báo và công bố rằng những lời chỉ trích của Diêu Văn Nguyên là không chính đáng. Ngày 12 tháng 2 năm 1966, Ủy ban (gọi là "Nhóm Năm tên chịu trách nhiệm về cuộc Đại Cách mạng văn hóa") đã công bố một báo cáo mà về sau được biết đến với tên "Đại cương tháng Hai" (二月提纲) nhằm tìm cách giới hạn tranh luận về nhân vật Hải Thụy trong khuôn khổ văn chương và lôi kéo sự chú ý của dư luận ra khỏi các hàm ý chính trị.
Tuy nhiên, Giang Thanh và Diêu Văn Nguyên tiếp tục tố cáo cả Ngô Hàm và Bành Chân trên báo chí. Ngày 16 tháng 5, dưới sự chỉ đạo của Mao, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành một thông báo chính thức về cuộc Đại Cách mạng văn hóa. Trong tài liệu này, Bành Chân bị chỉ trích gay gắt và nhóm "Năm tên" bị giải tán và được thay thế bởi Nhóm Cách mạng văn hóa. Ngày 18 tháng 5, Lâm Bưu tuyên bố trong một bài phát biểu rằng "Chủ tịch Mao là một thiên tài, và mọi thứ Chủ tịch nói đều thực sự tuyệt vời; những lời nói của Chủ tịch sẽ tạo ra ý nghĩa cuộc sống của hàng trăm ngàn người trong chúng ta". Vì vậy, bắt đầu giai đoạn đầu của sự sùng bái nhân cách Mao Trạch Đông do Giang Thanh, Lâm Bưu và những kẻ cùng phe điều hành.
Ngày 25 tháng 5, một giảng viên triết học tại Đại học Bắc Kinh tên là Nhiếp Nguyên Tử (聂元梓) đã viết một tấm áp phích lớn và dán ở bảng tin công cộng. Nhiếp công kích giới lãnh đạo Đảng trong trường và các quan chức của Đảng ở Bắc Kinh là "bọn côn đồ đen tối chống lại Đảng", ngụ ý rằng có các thế lực đen tối trong Chính phủ và các trường đại học đang cố gắng ngăn chặn tiến trình cách mạng. Vài ngày sau đó, Mao ra lệnh phổ biến những lời của Nhiếp ra khắp nước và gọi đó là "tấm áp phích lớn tuyên truyền cho Chủ nghĩa Mác đầu tiên ở Trung Quốc". Ngày 29 tháng 5, tại trường trung học thuộc Đại học Thanh Hoa, đơn vị Hồng vệ binh đầu tiên được thành lập. Mục đích của đơn vị này là trừng phạt và cô lập cả giới trí thức lẫn những kẻ thù chính trị của Mao.
Ngày 1 tháng 6 năm 1966, tờ Nhân dân Nhật báo đã phát động một cuộc công kích vào các lực lượng phản động trong giới trí thức. Sau đó, giới chủ tịch các trường đại học và những người trí thức nổi tiếng khác bị truy tố. Ngày 28 tháng 7 năm 1966, đại diện Hồng vệ binh đã viết thư cho Mao nói rằng các cuộc thanh trừng trên diện rộng và tất cả những sự kiện chính trị-xã hội có liên quan đều được thực hiện chính xác và công minh. Mao đáp lại với sự ủng hộ toàn diện của mình bằng tấm áp phích lớn tựa đề "Oanh tạc các trụ sở" (tiếng Trung: 炮打司令部——我的一张大字报). Mao viết rằng, bất chấp cuộc Cách mạng vô sản đã được tiến hành, giai cấp thống trị vẫn bị thâu tóm bởi các thành phần tư sản, các nhà tư bản và những người theo chủ nghĩa xét lại, và rằng các thành phần phản cách mạng này vẫn còn tồn tại, thậm chí ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao của Đảng. Điều này thực ra là một cuộc khẩu chiến chống lại Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và những người cùng phe với họ.
== Diễn biếnSửa đổi ==
=== 1966Sửa đổi ===
Ngày 8 tháng 8 năm 1966, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thông qua "quyết định liên quan đến Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản" (còn gọi là "Thông cáo 16 điểm"). Quyết định này quy định rằng Cuộc Cách mạng văn hóa Vô sản là "một cuộc cách mạng lớn đụng chạm đến tất cả mọi người và thiết lập một giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong nước, một giai đoạn sâu rộng hơn".
Vì vậy, quyết định đó lấy phong trào sinh viên sẵn có và phát triển nó lên một cấp độ chiến dịch đại chúng toàn quốc, kêu gọi sự tham gia của không những sinh viên mà còn cả công nhân, nông dân, quân nhân, trí thức cách mạng và các cán bộ cách mạng để tiến hành nhiệm vụ chuyển đổi cấu trúc thượng tầng bằng cách treo các áp phích ký tự lớn và tổ chức các cuộc tranh luận sôi nổi. Theo ý Mao thì Trung Quốc cần "một cuộc cách mạng văn hóa" để đưa Chủ nghĩa xã hội trở lại. Các quyền tự do quy định theo Thông cáo 16 điểm sau đó được đưa vào Hiến pháp Trung Quốc như là "Bốn quyền tuyệt vời nhất của nền dân chủ vĩ đại": Quyền tự do ngôn luận, phát biểu ý kiến, quyền được viết các áp phích ký tự lớn và quyền được tổ chức các tranh luận lớn. Thực ra, trong bốn quyền đó, một số quyền đã bao hàm lẫn nhau.
Những người mà không có mối liên quan với Đảng Cộng sản sẽ được thử thách và thông thường bị buộc tội tham nhũng và bị bỏ tù. Những quyền tự do này được bổ sung bởi quyền được bãi công, mặc dù quyền này đã bị suy yếu bởi sự dính dáng của quân đội vào nền chính trị dân sự vào tháng 2 năm 1967. Tất cả những quyền này đã bị xóa bỏ khỏi Hiến pháp sau khi Chính phủ của Đặng Tiểu Bình dập tắt Phong trào Bức tường Dân chủ năm 1979.
Ngày 16 tháng 8 năm 1966, hàng triệu Hồng vệ binh từ khắp các nơi trên đất nước tập trung tại Bắc Kinh để có cơ hội thấy mặt Chủ tịch Mao. Ngay trên đầu cổng Thiên An Môn, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Lâm Bưu đã xuất hiện và diễn thuyết trước 11 triệu Hồng vệ binh, và nhận được rất nhiều tràng reo hò từ đám đông. Mao ca ngợi hành động của Hồng vệ binh trong các chiến dịch gần đây là "phát triển Chủ nghĩa xã hội và dân chủ".
Trong Chiến dịch tiêu hủy Bốn cái cũ, tất cả những gì liên quan đến các loại tôn giáo đều bị Hồng vệ binh ngược đãi thẳng tay. Nhiều công trình tôn giáo như chùa chiền, nhà thờ, tu viện Hồi giáo, và các nghĩa trang đều bị đóng cửa, đôi khi còn bị cướp phá hoặc bị đập bỏ. Điều khủng khiếp nhất của chiến dịch là việc sử dụng bừa bãi hình thức tra tấn, giết chóc dẫn đến các vụ tự tử do nạn nhân không chịu được tra tấn và nhục nhã. Trong tháng 8 và tháng 9, chỉ riêng ở Bắc Kinh đã có 1772 người bị sát hại. Tại Thượng Hải, trong tháng 12 có 704 vụ tự tử và 534 ca tử vong liên quan đến Cách mạng Văn hóa. Trong thời gian này ở Vũ Hán cũng chứng kiến 62 vụ tự sát và 32 vụ giết người.
Chính quyền cũng không dám ngăn chặn hành động của Hồng vệ binh. Xie Fuzhi, cảnh sát trưởng quốc gia, cho biết: "Đừng nói rằng họ sai khi đánh đập những kẻ xấu; nếu trong cơn thịnh nộ mà họ có đánh ai đó đến chết thì cũng có thể hiểu được."
Trong hai năm, đến tận tháng 7 năm 1968 (ở vài nơi, thời gian có thể lâu hơn), các nhóm hoạt động của Hội sinh viên như lực lượng Hồng vệ binh đã mở rộng lĩnh vực quyền lực của mình, và gia tăng các nỗ lực tái thiết Xã hội chủ nghĩa. Họ bắt đầu bằng cách phát tờ rơi giải thích cho hành động phát triển và củng cố Chủ nghĩa xã hội của họ và đưa tên các nhân vật bị khép tội "phản cách mạng" lên trên bảng tin của trường. Họ tập hợp lại thành từng nhóm lớn, tổ chức các buổi tranh luận lớn, và viết các vở kịch mang tính "giáo dục". Họ tổ chức các cuộc họp công cộng để chỉ trích những lời bào chữa của các bị cáo "phản cách mạng".
Thế giới này là của các bạn, cũng như của chung chúng ta, nhưng xét cho cùng thì nó vẫn là của các bạn. Các bạn, những người trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết, đang ở độ thăng hoa của cuộc đời giống như mặt trời lúc tám hoặc chín giờ sáng. Chúng tôi hy vọng vào các bạn. Thế giới thuộc về các bạn. Tương lai Trung Quốc thuộc về các bạn.
Đây là một trong nhiều trích đoạn từ cuốn Hồng bảo thư mà sau này Hồng vệ binh luôn mang theo như một sự chỉ dẫn hành động từ phía Mao Trạch Đông. Đó là kim chỉ nam cho hành động vì mục tiêu tương lai của Hồng vệ binh. Những trích dẫn trực tiếp từ lời của Mao đã dẫn đến các hành động khác của Hồng vệ binh dưới quan điểm của các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mao khác. Mặc dù Thông cáo 16 điểm và các tuyên bố khác từ các nhà lãnh đạo cấp cao khác của Chủ nghĩa Mao đều ngăn cấm hình thức "bạo động vũ trang" (武斗) và ủng hộ "đấu tranh tâm lý" (文斗), nhưng những cuộc đấu tranh này thường dẫn đến việc sử dụng vũ lực. Ban đầu, những cuộc khẩu chiến giữa các nhóm hoạt động thậm chí trở thành bạo lực, nhất là khi họ bắt đầu tước vũ khí của quân đội năm 1967. Những người khởi xướng Chủ nghĩa Mao đã giới hạn hoạt động của Hồng vệ binh trong khuôn khổ hình thức "bất bạo động", nhưng đôi khi chính điều đó lại dường như khuyến khích bạo lực; và chỉ sau các vụ cướp vũ khí quân đội của Hồng vệ binh, họ mới bắt đầu đàn áp các phong trào quần chúng. Lưu Thiếu Kỳ bị đưa vào một trại tạm giam và qua đời tại đó năm 1969. Đặng Tiểu Bình cũng bị đưa đi "cải tạo" ba lần và cuối cùng phải làm việc trong một nhà máy cơ khí cho đến khi Chu Ân Lai đưa ông trở lại vài năm sau đó. Tuy nhiên, phần lớn những người bị bắt giữ không được may mắn như vậy và nhiều người trong số họ không bao giờ được quay trở lại.
Hành động của Hồng vệ binh được chủ tịch Mao Trạch Đông ca ngợi. Ngày 22 tháng 8 năm 1966, ông ban hành một thông cáo chung, trong đó quy định cấm mọi sự can thiệp từ phía cảnh sát vào hoạt động của Hồng vệ binh. Người nào làm trái với Thông cáo đó sẽ bị gán cho tội danh "phản cách mạng".
Ngày 5 tháng 9 năm 1966, một thông cáo khác được ban hành khuyến khích tất cả Hồng vệ binh đến Bắc Kinh trong một quãng thời gian xác định. Tất cả chi phí, bao gồm ăn ở và đi lại sẽ được chính quyền chi trả. Ngày 10 tháng 10 năm 1966, một đồng minh của Mao là Lâm Bưu đã công khai chỉ trích Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình là "những kẻ dẫn đường cho Chủ nghĩa Tư bản" và là "mối đe dọa" đến Chủ nghĩa Xã hội. Sau đó, Bành Đức Hoài cũng bị đưa đến Bắc Kinh và bị truy tố trước quần chúng.
=== 1967Sửa đổi ===
Ngày 3 tháng 1 năm 1967, Lâm Bưu và Giang Thanh đã sử dụng truyền thông và cán bộ địa phương để tạo ra cái gọi là "Bão táp tháng Giêng", trong đó nhiều quan chức cấp cao Thượng Hải cũng bị chỉ trích nặng nề và bị đem ra truy tố. Điều này đã mở đường cho Vương Hồng Văn nắm quyền quản lý thành phố với chức danh người đứng đầu Ủy ban Cách mạng thành phố. Do đó, chính quyền thành phố bị bãi bỏ. Ở Bắc Kinh, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình một lần nữa trở thành mục tiêu của sự chỉ trích, nhưng những chỉ trích khác cũng nhắm vào các việc làm sai trái của Phó thủ tướng Trần Vân. Các quan chức chính phủ hay đảng viên địa phương cũng nhân cơ hội này để cáo buộc địch thủ tội "phản cách mạng".
Ngày 8 tháng Giêng, Mao đã ca ngợi những hành động này thông qua tờ báo của Đảng là tờ Nhân dân Nhật báo, khuyến khích các quan chức địa phương phê bình và tự phê bình nếu có dính líu tới hoạt động "phản cách mạng". Điều này dẫn đến các cuộc thanh trừng trên diện rộng và liên tiếp giữa các quan chức địa phương khiến cho chính quyền nhân dân ở nhiều địa phương bị tê liệt hoàn toàn. Tham gia vào các cuộc thanh trừng "phản cách mạng" này là cách duy nhất để tránh bị thanh trừng, nhưng cũng không có gì đảm bảo.
Vào tháng hai, Giang Thanh và Lâm Bưu, dưới sự ủng hộ của Mao, đã nhấn mạnh rằng "đấu tranh giai cấp" cần mở rộng sang ngành quân đội. Nhiều tướng lĩnh chủ chốt trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã tỏ thái độ lo ngại và phản đối Cách mạng văn hóa; họ gọi đó là "một sự sai lầm". Cựu Bộ trưởng Ngoại giao là Trần Nghị đã tỏ ra tức giận ngay trong cuộc họp Bộ Chính trị, và nói rằng sự chia bè kết phái sẽ hủy hoại quân đội hoàn toàn và sau đó là đến Đảng.
Các tướng lĩnh khác, bao gồm Nhiếp Vinh Trăn, Hạ Long và Từ Hướng Tiền cũng bày tỏ sự bất mãn. Họ lần lượt bị tố cáo bởi các phương tiện truyền thông quốc gia dưới sự kiểm soát của Trương Xuân Kiều và Diêu Văn Nguyên. Cuối cùng thì tất cả bọn họ đều bị thanh trừng bởi Hồng vệ binh. Cùng lúc đó, nhiều đơn vị Hồng vệ binh lớn quay sang đối đầu với nhau do mâu thuẫn về lập trường cách mạng khiến cho tình hình thêm phức tạp và làm đất nước thêm hỗn loạn.
Do vậy, Giang Thanh đã ra thông báo dừng tất các hành động không lành mạnh bên trong lực lượng Hồng vệ binh. Ngày 6 tháng 4, Lưu Thiếu Kỳ đã bị lên án công khai và rộng rãi bởi nhóm thành viên gồm Giang Thanh, Khang Sinh, thậm chí có cả Mao. Tiếp theo đó là một kháng nghị và các cuộc tuần hành của quần chúng, đáng chú ý nhất là cuộc tuần hành ở Vũ Hán ngày 20 tháng 7. Trong nơi này, Giang Thanh đã công khai tố cáo bất kỳ "hành động phản cách mạng nào"; sau đó đích thân bà ta bay tới Vũ Hán để chỉ trích Zaidao Chen, tướng phụ trách khu vực Vũ Hán.
Ngày 22 tháng 7, Giang Thanh chỉ đạo Hồng vệ binh thay thế Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa nếu cần thiết, do đó làm cho lực lượng vũ trang hiện tại bị vô hiệu. Sau lần ca ngợi ban đầu của Giang Thanh, Hồng vệ binh bắt đầu cướp phá các doanh trại và các tòa nhà quân đội. Hành động này đã không thể bị ngăn chặn bởi các tướng lĩnh quân đội và kéo dài tới tận mùa thu năm 1968.
=== 1968Sửa đổi ===
Mùa xuân 1968, một chiến dịch lớn nổ ra nhằm mục đích đẩy mạnh tôn sùng Mao Trạch Đông lên mức ngang thần thánh. Ngày 27 tháng 7 năm 1968, sự lấn quyền quân đội của Hồng vệ binh chính thức kết thúc và chính quyền trung ương gửi các đơn vị quân đội tới để bảo vệ nhiều khu vực là mục tiêu của Hồng vệ binh. Mao ủng hộ và thúc đẩy ý tưởng cho phép quần chúng lắng nghe một trong những chỉ dẫn tối cao của mình. Một năm sau đó, các nhóm Hồng vệ binh hoàn toàn tan rã vì Mao sợ rằng sự hỗn loạn do họ gây ra có thể làm hại nền tảng căn bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong bất kỳ trường hợp nào thì mục tiêu của Hồng vệ binh đã đạt được và Mao đã củng cố được quyền lực chính trị của mình.
Đầu tháng 10, Mao tiến hành chiến dịch thanh trừng những quan chức không trung thành với ông ta. Họ bị đưa tới vùng nông thôn và làm việc trong các trại lao động. Cũng trong tháng này, tại Đại hội Đảng lần thứ 12-khóa 8, Lưu Thiếu Kỳ bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi Đảng và Lâm Bưu được đưa lên giữ chức Phó Chủ tịch Đảng và được Mao chọn làm người kế tục. Địa vị và danh tiếng của Bưu chỉ xếp sau Mao.
Lâm Bưu, người được Mao chọn kế vị, trở thành nhân vật nổi bật nhất trong cuộc Đại Cách mạng văn hóa sau năm 1968. Tháng 12 năm 1971, Trung Quốc (và thế giới) bị sốc sau khi một chiếc máy bay bị rơi ở Mông Cổ và Lâm Bưu được cho là một trong những hành khách xấu số. Sự kiện này xảy ra sau một loạt những nỗ lực ám sát Mao bất thành. Từ đó đến nay, chưa thể xác minh được các sự kiện liên quan đến Lâm Bưu trong gian đoạn 1968-1971 với độ thuyết phục và chính xác được vì lý do nhạy cảm chính trị xung quanh sự kiện máy bay rơi đó. Những năm tháng quyền lực của Lâm Bưu và cái chết đầy bí ẩn của ông ta là chủ đề quan tâm của nhiều sử gia khắp thế giới nhưng chưa một ai có thể đưa ra kết luận xác đáng về vấn đề đó.
Tháng 12 năm 1968, Mao triển khai Phong trào Tiến về nông thôn. Phong trào kéo dài từ cuối thập kỷ 1960 đến đầu thập kỷ 1970 đã huy động hàng trăm ngàn trí thức trẻ sống ở các thành phố đi về các vùng nông thôn để sống, lao động và học hỏi kinh nghiệm của những người công nhân và nông dân. Từ "trí thức" lúc đó được dùng với nghĩa rộng nhất là những học sinh mới tốt nghiệp trung học. Cuối những năm 1970, những "trí thức trẻ" này cuối cùng cũng được phép trở về thành phố quê nhà. Xét khía cạnh nào đó thì phong trào này là một cách thức điều chuyển các thành viên Hồng vệ binh từ thành phố về nông thôn, nơi mà họ ít có khả năng gây loạn nhất.
=== 1969Sửa đổi ===
Đại hội Đảng IX được tổ chức vào tháng 4 năm 1969, và phục vụ như là một phương tiện để "hồi sinh" đảng với tư duy mới và cán bộ mới sau khi nhiều thành phần lãnh đạo cũ đã bị loại trừ trong các cuộc đấu tranh của những năm trước đó. Khuôn khổ thể chế của Đảng thành lập hai thập kỷ trước đó đã bị hư hại gần như hoàn toàn: cho nên đại biểu Quốc hội lần này thực ra đã được lựa chọn bởi Ủy ban cách mạng chứ không phải thông qua bầu cử của đảng viên . Con số đại diện của quân đội tăng lên nhiều so với đại hội trước đó (28% các đại biểu là thành viên PLA), và việc bầu cử thêm nhiều thành viên PLA vào ủy ban Trung ương mới phản ánh sự gia tăng này. Nhiều sĩ quan quân đội được lên chức trung thành với thống soái PLA Lâm Bưu, thành hình một phe phái mới phân chia giữa lãnh đạo quân đội và dân sự.
== Hậu quảSửa đổi ==
Cách mạng văn hóa ở Trung Quốc đã để lại những hậu quả nghiêm trọng không chỉ về kinh tế, xã hội mà cả về văn hóa. Trước khi Mao Trạch Đông qua đời, người ta có ước tính rằng có khoảng 12 đến 20 triệu người, gồm 5,4 triệu Hồng vệ binh, đi lao động nặng nhọc ở nông thôn, trong đó là 1 triệu người dân Thượng Hải, tức là 18% dân số của thành phố lúc đó. Số nạn nhân bị chết trong giai đoạn này có nhiều ước tính khác nhau, nhưng chắc chắn là rất lớn. Theo nhà nghiên cứu Rudolph Rummel, từ năm 1964 đến năm 1975, khoảng 7,7 triệu người Trung Quốc bị giết và 1,5 triệu người chết do đói kém và xung đột dân sự , tổng cộng là 9,2 triệu người đã chết. Khoảng 3 triệu Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc bị kỷ luật và cầm tù, 60% Đảng viên bị khai trừ, nhiều người trong số họ phải lao động nặng nhọc trong thời gian diễn ra Cách mạng văn hóa. Về mặt xã hội, trong thời Cách mạng văn hóa, nhiều trường đại học ở Trung Quốc đã bị đóng cửa, dẫn đến hậu quả là cả một thế hệ không được tiếp cận với giáo dục đại học. Trong thập niên 1980, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc khi đó là Hồ Diệu Bang đã nhận xét rằng khoảng 100 triệu người Trung Quốc chịu đau khổ của thời kỳ này.
Văn hóa Trung Quốc, một nền văn hóa có truyền thống lịch sử 5000 năm, gần như bị hủy hoại hoàn toàn trong Cách mạng văn hóa. Có một thực tế đáng buồn là bạn bè quốc tế gần như khó có thể cảm nhận được giá trị cốt lõi của văn hóa cổ truyền này. Đáng buồn hơn nữa đó là muốn tìm hiểu văn hóa Trung Hoa thực sự, ta phải tìm hiểu bên ngoài Trung Quốc.
== Nhận địnhSửa đổi ==
Đặng Tiểu Bình đã nhận định như sau: "Cách mạng Văn Hóa là một sai lầm. Chúng ta phải mạnh dạn chối bỏ sai lầm này của Mao trong những năm tháng cuối đời của ông. Nhưng cũng cần nhìn vào sự thật. Sự thật là không phải mọi sai lầm và quá đáng trong cuộc Cách mạng Văn Hóa đều do Mao." .
Trong nghị quyết năm 1981 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Cách mạng văn hóa được nêu lên với kết quả là "gây ra bất ổn định xã hội, và gây ra thảm họa cho Đảng, nhà nước, và nhân dân".
== Chú thíchSửa đổi ==
== Đọc thêmSửa đổi ==
=== Tổng quanSửa đổi ===
Michael Schoenhals, ed., China's Cultural Revolution, 1966-1969: Not a Dinner Party (Armonk, N.Y.: M.E. Sharpe, 1996. An East Gate Reader). xix, 400p. ISBN 1563247364.
MacFarquhar, Roderick and Schoenhals, Michael. Mao's Last Revolution. Harvard University Press, 2006. ISBN 0674023323
Morning Sun, "Bibliography," Morningsun.org Books and articles of General Readings and Selected Personal Narratives on the Cultural Revolution.
=== Chủ đề chuyên sâuSửa đổi ===
Chan, Anita. 1985. Children of Mao: Personality Development and Political Activism in the Red Guard Generation. Seattle: University of Washington Press.
Chan, Che Po. 1991. From Idealism to Pragmatism: The Change of Political Thinking among the Red Guard Generation in China. Ph.D. diss., University of California, Santa Barbara.
Zheng Yi. Scarlet Memorial: Tales of Cannibalism in Modern China. Westview Press, 1998. ISBN 0813326168
Yang, Guobin. 2000. China's Red Guard Generation: The Ritual Process of Identity Transformation, 1966-1999. Ph.D. diss., New York University.
Fox Butterfield, China: Alive in the Bitter Sea, (1982, revised 2000), ISBN 0-553-34219-3, an oral history of some Chinese people's experience during the Cultural Revolution.
Chang, Jung và Halliday, Jon. Mao: The Unknown Story. Jonathan Cape, London, 2005. ISBN 0224071262
=== KhácSửa đổi ===
Simon Leys (penname of Pierre Ryckmans) Broken Images: Essays on Chinese Culture and Politics (1979). ISBN 0-8052-8069-3
- Chinese Shadows (1978). ISBN 0-670-21918-5; ISBN 0-14-004787-5.
- The Burning Forest: Essays on Chinese Culture and Politics (1986). ISBN 0-03-005063-4; ISBN 0-586-08630-7; ISBN 0-8050-0350-9; ISBN 0-8050-0242-1.
- The Chairman's New Clothes: Mao and the Cultural Revolution (1977; revised 1981). ISBN 0-85031-208-6; ISBN 0-8052-8080-4; ISBN 0-312-12791-X; ISBN 0-85031-209-4; ISBN 0-85031-435-6 (revised ed.).
Liu, Guokai. 1987. A Brief Analysis of the Cultural Revolution. edited by Anita Chan. Armonk, N.Y.: M. E. Sharpe.
Sijie Dai, translated by Ina Rilke, Balzac and the Little Chinese Seamstress (New York: Knopf: Distributed by Random House, 2001). 197p. ISBN 2001029865
Xingjian Gao, translated by Mabel Lee, One Man's Bible: A Novel (New York: HarperCollins, 2002). 450p.
Hua Gu, A Small Town Called Hibiscus (Beijing, China: Chinese Literature: distributed by China Publications Centre, 1st, 1983. Panda Books). Translated by Gladys Yang. 260p. Reprinted: San Francisco: China Books.
Hua Yu, To Live: A Novel (New York: Anchor Books, 2003). Translated by Michael Berry. 250p.
Nien Cheng, Life and Death in Shanghai (Grove, May 1987). 547 pages ISBN 0394555481
Jung Chang, Wild Swans: Three Daughters of China (New York: Simon & Schuster, 1991). 524 p. ISBN 91020696
Heng Liang Judith Shapiro, Son of the Revolution (New York: Knopf: Distributed by Random House, 1983).
Yuan Gao, with Judith Polumbaum, Born Red: A Chronicle of the Cultural Revolution (Stanford, CA: Stanford University Press, 1987).
Jiang Yang Chu translated and annotated by Djang Chu, Six Chapters of Life in a Cadre School: Memoirs from China's Cultural Revolution [Translation of Ganxiao Liu Ji] (Boulder: Westview Press, 1986).
Bo Ma, Blood Red Sunset: A Memoir of the Chinese Cultural Revolution (New York: Viking, 1995). Translated by Howard Goldblatt.
Guanlong Cao, The Attic: Memoir of a Chinese Landlord's Son (Berkeley: University of California Press, 1996).
Ji-li Jiang, Red Scarf Girl: A Memoir of the Cultural Revolution (New York: HarperCollins, 1997).
Anchee Min, Red Azalea (New York: Pantheon Books, 1994). ISBN 1-4000-9698-7.
Rae Yang, Spider Eaters: A Memoir (Berkeley: University of California Press, 1997).
Weili Ye, Xiaodong Ma, Growing up in the People's Republic: Conversations between Two Daughters of China's Revolution (New York: Palgrave Macmillan, 2005).
Lijia Zhang, "Socialism Is Great": A Worker's Memoir of the New China (New York: Atlas & Co, Distributed by Norton, 2007).
Emily Wu, Feather in the Storm (Pantheon, 2006). ISBN 978-0-375-42428-1.
Xinran Xue, The Good Women of China: Hidden Voices (Chatto & Windus, 2002). Translated by Esther Tyldesley. ISBN 0701173459
Ting-Xing Ye, Leaf In A Bitter Wind (England, Bantam Books, 2000)
== Liên kết ngoàiSửa đổi ==
Đại cách mạng văn hóa vô sản ở Trung Quốc tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Cultural Revolution (Chinese political movement) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Encyclopedia Britannica. The Cultural Revolution
History of The Cultural Revolution
Chinese propaganda posters gallery (Cultural Revolution, Mao, and others)
Hua Guofeng's speech to the 11th Party Congress, 1977
Morning Sun - A Film and Website about Cultural Revolution and the photographs of the subject available from the film's site.
Memorial for Victims of the Chinese Cultural Revolution
Exhibition causes stir with candid views of 'great' Mao The Times, ngày 14 tháng 7 năm 2005
Chinese Museum Looks Back in Candor: Groundbreaking New Exhibit on Cultural Revolution Sparks Official Displeasure but Visitors' Praise from the Washington Post, ngày 3 tháng 6 năm 2005
"William Hinton on the Cultural Revolution" by Dave Pugh
"Student Attacks Against Teachers: The Revolution of 1966" by Youqin Wang
A Tale of Red Guards and Cannibals by Nicholas D. Kristof. The New York Times, ngày 6 tháng 1 năm 1993.
The new face of the cultural revolution in China, by Rainer Hurtado Navarro, November 26th., 2010. |
louisiana.txt | Louisiana (tiếng Pháp: État de Louisiane; tiếng Pháp Creole tại Louisiana: Léta de la Lwizyàn) là một tiểu bang phía nam của Hoa Kỳ. Tiểu bang Louisana phía tây giáp Texas; phía bắc giáp Arkansas; phía đông giáp Mississippi; và phía nam là Vịnh Mexico. Tiểu bang này đã được vị tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ Thomas Jefferson mua lại từ tay người Pháp.
Thế kỷ 21 đã phải chịu hai thiệt hại lớn do: bão Katrina (2005) tàn phá thành phố New Orleans và thảm họa tràn dầu lịch sử (2010) làm ô nhiễm vùng biển lớn trong Vịnh Mexico.
== Xem thêm ==
Vùng đất mua Louisiana
Phương tiện liên quan tới Louisiana tại Wikimedia Commons
== Tham khảo == |
người việt tại đức.txt | Người Việt tại Đức là nhóm người ngoại quốc gốc Á lớn nhất tại quốc gia này, theo Văn phòng Thống kê Liên bang có 87.214 người có quốc tịch Việt Nam đang sinh sống tại Đức tính đến cuối năm 2015 , trong số đó 22.469 người lãnh tiền trợ cấp thất nghiệp lâu năm hay tiền trợ cấp xã hội (2014).. Không được tính trong các con số đó là những người Việt đã nhập quốc tịch Đức. Giữa những năm 1981 và 2007, 41.499 người đã từ bỏ quốc tịch Việt Nam để lấy quốc tịch Đức.Thêm vào đó, khoảng 40.000 người di cư gốc Việt không chính thức cũng hiện đang sinh sống tại Đức, chủ yếu tại các bang ở miền Đông.
== Lịch sử di cư ==
=== Tây Đức ===
Cộng đồng người Việt tại Tây Đức gồm có những người tị nạn sau Chiến tranh Việt Nam. Những thuyền nhân rời Việt Nam đầu tiên sau khi Sài Gòn thất thủ, gồm có 208 gia đình với tổng cộng 644 người trên con thuyền Hải Hồng, đã đến Hannover bằng máy bay vào ngày 3 tháng 12 năm 1978. Không ai trong số đó có thể nói tiếng Đức. Một số nhân tố đã giúp đỡ họ trong việc hội nhập kinh tế và xã hội trong xã hội Đức. Họ đã nhận được trợ cấp chính phủ dưới hình thức phúc lợi xã hội và giúp đỡ tìm việc làm, cũng như sự ủng hộ của xã hội nói chung trong việc hội nhập vào cuộc sống tại Đức. Hơn thế nữa, khác những nhóm người nhập cư khác, họ nhận thức rằng họ không còn cơ hội hồi hương nếu họ thất bại tại miền đất mới. Họ đã tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh tế, nhưng gần như tập trung vào ngành kim loại. Đến lúc nước Đức thống nhất, Tây Đức có khoảng 33.000 người di dân gốc Việt, chủ yếu là những thuyền nhân và thân nhân của họ được vào theo diện đoàn tụ gia đình.
=== Đông Đức (DDR) ===
==== Moritzburger ====
Moritzburger là tên gọi khoảng 350 người Việt tới Moritzburg và một trại khác ở Sachsen, DDR, bằng đường xe lửa kéo dài 3 tuần qua Bắc Kinh, Moskva, Warszawa vào năm 1955 theo thỏa thuận giữa Bắc Việt và DDR. Chờ đợi chào đón là những trẻ mồ côi nhưng tới lại là con cái các cán bộ góp phần trong cuộc chiến tranh chống Pháp, tuổi từ 9 đến 15. Họ đã ở lại tới 1959. Khoảng 150 người Moritzburger sau đó lại sang DDR học nghề rồi học đại học.
==== Học tập và lao động ====
Đông Đức bắc đầu mời những sinh viên Bắc Việt để tham gia các chương trình học tập và đào tạo từ thập niên 1950; sự hợp tác được mở rộng năm 1973, khi họ hứa sẽ đào tạo 10.000 người nữa trong 10 năm tiếp theo. Năm 1980, Đông Đức ký hiệp định với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để các hãng Đông Đức đào tạo người Việt; giữa 1987 và 1989/ Chính phủ Đông Đức xem các chương trình đào tạo công nghiệp không những là một cách để tăng số người lao động trong ngành công nghiệp sở tại, mà còn là một hình thức viện trợ phát triển cho các thành viên nghèo trong khối xã hội chủ nghĩa. Đến giữa thập niên 1980, người Việt, cùng với người Mozambique, tạo thành những nhóm lao động ngoại quốc chính tại Cộng hòa Dân chủ Đức. Từ một dân số 2.482 trong năm 1980, số người Việt tại Đông Đức đã tăng đến 59.053 trong năm 1989, với số người vào lớn nhất trong năm 1987 và 1988. Họ chủ yếu tập trung trong các thành phố Karl-Marx-Stadt, Dresden, Erfurt, Đông Berlin và Leipzig. Theo hợp đồng, họ ở Đông Đức 5 năm, sau đó họ sẽ hồi hương.
Những người lao động khách Việt Nam nhận tiền lương khoảng M 400/tháng, trong đó chính phủ Việt Nam lấy 12%, và một phần khác được trả bằng hàng hóa tiêu dùng—chủ yếu máy may, xe đạp, quần áo, đường và xà phòng—thay vì tiền mặt vì lạm phát. Khi nói đến các đặc điểm và quan hệ của họ đối với xã hội Đông Đức, họ gần như hoàn toàn trái ngược với những thuyền nhân: họ thuộc thành phần ưu tú từ quốc gia gốc, thay vì là những người tị nạn, và họ biết rằng họ sẽ rời Đức, cho nên không cố gắng hội nhập với xã hội Đông Đức hay học ngôn ngữ sở tại. Mặc dù trên danh nghĩa là những người anh em từ hai nước xã hội chủ nghĩa, những người được huấn luyện từ Việt Nam và những người Đức làm việc với họ không được khuyến khích liên hệ với nhau; thêm vào đó, phụ nữ Việt Nam có thai bị bắt buộc phá thai. Đôi khi họ cũng gặp bạo lực từ những thành phần bài ngoại, và trong những trường hợp họ được bảo đảm an toàn cá nhân, họ bị căm ghét vì họ được ưu đãi trong việc nhận hàng hóa tiêu dùng. Mặt dù cả hai quốc gia đều là nước xã hội chủ nghĩa, nhiều người đã giúp gia đình mình thành tiểu tư sản, dùng những nguyên liệu và máy may gửi về Việt Nam để may đồ và bán cho các người láng giềng.
=== Sau thống nhất ===
Sau khi nước Đức thống nhất, chính phủ Đức tìm cách giảm bớt số người lao động khách ở miền Đông bằng cách cho mỗi người M3.000 để rời khỏi Đức và hồi hương. Hàng chục nghìn người đã đồng ý và về Việt Nam, nhưng những người này lại được thay thế bởi những người Việt làm lao động hợp đồng ở những nước Đông Âu khác xin tị nạn. Trong suốt thập niên 1990, các cố gắng của chính phủ Đức để đưa những người nhập cư này về quê hương không được hiệu quả cho lắm, vì Đức không muốn cưỡng bức những người này hồi hương và Việt Nam lại không muốn tiếp nhận họ; tuy nhiên, gần 40% bị cấm ở lại Đức dài hạn.
Căng thẳng giữa người Đức và người Việt gây ra bạo lực bắt đầu vào ngày 22 tháng 8 năm 1992 tại thành phố Rostock, Mecklenburg-Vorpommern ở đông bắc nước này, nơi những người thanh niên đầu trọc và Tân Quốc xã đã tấn công người Di-gan từ România, và trong ngày thứ ba đã đốt ngôi chung cư nơi trên 100 người Việt tị nạn đang sinh sống. Một số người bị thương nhưng không ai thiệt mạng; cảnh sát đã sơ tán những người Việt cư trú tại đó nhưng không có hành động gì đối với những người tấn công. Một tuần sau, những người biểu tình cực đoan đốt một thành phố trại tại Berlin. Tuy một số người địa phương đã cổ vũ vụ Rostock, hầu hết những người Đức tỏ vẻ phê phán hơn về các hành động này; 15.000 người cánh tả đã biểu tình phản đối bạo lực. Thị trưởng của Rostock, ông Klaus Kilimann, đang đi nghỉ mát mãi đến ngày thứ ba của sự việc, bị chỉ trích là làm sự việc xấu thêm vì không ra lệnh cảnh sát can thiệp sớm hơn; ông lại đổ lỗi vào các viên chức của bang, nhưng sau khi chịu nhiều sức ép, đã từ chức vào cuối năm 1993.
Hiện nay, có hơn 80 Hội đoàn với các quy mô khác nhau trên toàn nước Đức. Các Hội đoàn mạnh và có ảnh hưởng sâu rộng đối với Đức và bà con Việt Nam là: VIFI ở Bochum, Hội Doanh nghiệp Việt Nam toàn quốc; Hội người Việt của Berlin, Hội Cựu chiến binh Việt Nam tại Berlin – Brandenburg, Hội phụ nữ Việt Nam ở Berlin, Hội người Tràng An, Hội Người Hà Nội tại CHLB Đức, Hội Thiện Từ Tâm Berlin; Hội người Việt Nam ở Brandenburg; Hội Diên Hồng ở Rostock; Hội người Việt Nam của Leipzig, Magdeburg, Dresden và Chemnitz; Hội đồng hương Thái Bình, Thanh Hoá, Hải Phòng, Hội Kinh Bắc; Trung tâm Thương mại Đồng Xuân, Trung tâm Thương mại châu Á-Thái Bình Dương...Các Hội đoàn người Việt Nam mong muốn hợp tác với Hội hữu nghị Việt Nam-Đức, trước mắt là việc trao đổi thông tin, giới thiệu đối tác, sau đó sẽ tiến hành thực hiện các dự án cụ thể từ nhỏ đến lớn trong khả năng cho phép. Các Hội người Việt Nam tại Đức thực sự là chỗ dựa tin cậy của bà con Việt kiều. Các Hội đã tích cực, chủ động tổ chức nhiều hoạt động trong cộng đồng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bà con Việt kiều và được Đại sứ quán Việt Nam đánh giá cao.
Tình trạng băng đảng Việt Nam tại Đức trở nên trầm trọng, với khoảng 6 băng nhóm gồm 150 người mỗi nhóm cạnh tranh nhau tại khu vực Berlin năm 1996. Chỉ 5 tháng đầu năm 1996 đã có 15 vụ giết người trong các băng đảng này. Các thành phần tội phạm này buôn lậu thuốc lá và điều hành các ổ cờ bạc, mại dâm và sang băng lậu. Năm 1994, Việt Nam đồng ý nhận lại những người lao động khách để đổi cho $65 triệu tiền "tài trợ phát triển", tuy nhiên đến cuối năm đó chỉ chịu nhận 67 người thay vì 2500 người như đã hứa hẹn. Một số nhà điều tra Đức tin rằng Hà Nội tỏ ra miễn cưỡng khi nhận lại những người lao động khách vì những người cầm đầu các tổ chức tội phạm tại Đức có thể là quan chức chính quyền hay sĩ quan quân đội cấp cao tại Việt Nam.
== Nhân khẩu và phân bổ ==
Cộng đồng người Việt Nam tại CHLB Đức tương đối đông. Theo con số mà Đức công bố là khoảng 100.000 người Việt Nam sinh sống và làm ăn tại Đức, trong đó khoảng 40.000 người sang Đức theo diện thuyền nhân. Hiện nay, cộng đồng người Việt tương đối ổn định, cần cù làm ăn, tuân thủ luật pháp nước bạn; đại đa số tích cực tham gia các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, giao lưu, gặp gỡ do cộng đồng tổ chức.
Dân số người Việt tại Đức tương đối trẻ tuổi so với trung bình và các nhóm người thiểu số khác; 25% là trẻ em 15 tuổi trở xuống, 63% giữa 15 và 45 tuổi, với chỉ 10% ở dộ tuổi từ 45 đến 65 và 2% trên 65 tuổi. 10.000 sống ở Berlin, trong đó khoảng một phần tư là người Hoa từ Việt Nam. Người Việt, cùng với người Hàn, là một trong những nhóm người nhập cư gốc Á có tỷ lệ nhập cư nam nữ đồng đều, ít nhất là trong những người thường trú hợp pháp; trái lại, người Thái và người Philippines có nhiều phụ nữ hơn nam giới, trong khi người Trung Quốc và Ấn Độ thì ngược lại.
== Học vấn ==
Hiện nay có khoảng hơn 5.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Đức. Thành tích học tập của họ rất tốt. Qua các cuộc trao đổi với những người trong lĩnh vực hàn lâm, khoa học, họ đều xác nhận sinh viên Việt Nam đang theo học tại Đức đều có kết quả rất cao.
Học sinh gốc Việt rất được ưa chuộng, vì họ siêng năng, cho nên có thành tích cao. Nhiều nghiên cứu về giáo dục cho thấy, số học sinh Việt Nam học tại Gymnasium (Trường trung học phổ thông lấy tú tài để được học đại học) rất đông. Nhà giáo dục học Olaf Beuchling dựa theo con số của cơ quan thống kê liên bang đã tính ra rằng, số học sinh gốc Việt học tại Gymnasium nói chung tại Đức là 59% trong khi đó học sinh gốc Đức chỉ có 43%.. Con số này nổi bật nếu ta biết rằng con số học sinh của dân di cư tại Gymnasien thường rất thấp (tại tiểu bang Rheinland-Pfalz trong khóa học 2011/2012 có 41,1% học sinh Đức chuyển từ tiểu học sang Gymnasium trong khi số học sinh có cha hoặc mẹ hoặc cả hai là người ngoại quốc chỉ có 21,9%).
== Công ăn việc làm ==
Sau khi mất công việc, những người lao động khách gốc Việt bán dạo ngoài đường, đặc biệt là bán thuốc lá lậu, trong khi một số khác dựa vào tiền trợ cấp thất nghiệp. Thoạt tiên báo chí Đức có cái nhìn thiện cảm đối những người bán thuốc lá, nhưng đến năm 1993 đã nhấn mạnh liên hệ với tội phạm có tổ chức. Những người bán thuốc lá thường bị cảnh sát ngược đãi; tại Berlin một số người Việt đã bắt đầu xung đột với một người cảnh sát thường hành hung một người bán thuốc lá và dọa sẽ biểu tình và ngăn chặn giao thông để gây sự chú ý cho vấn đề này. Đến giữa năm 1994, truyền thông địa phương đã chú ý đến vấn đề cảnh sát hành hung người Việt; trên 85 cuộc điều tra đã được tiến hành đối với cảnh sát ở Berlin và các khu vực lân cận, nhưng cuối cùng chỉ 5 cảnh sát bị trừng phạt.
Sau lời thông cáo năm 1993 rằng chỉ những người có nguồn tài chính hợp pháp mới được cấp giấy phép thường trú, càng thêm những người từng là lao động khách đã tự làm việc riêng vì ít có cơ hội làm việc khác với vốn liếng tiếng Đức ít ỏi. Nhiều người đã mở tiệm hoa và tiệm tạp hóa. Một số người khác nhập khẩu hàng hóa rẻ từ Việt Nam, đặc biệt là vải, và bán lại trong các cửa hiệu gia đình; tuy nhiên, họ không thể cạnh tranh với những cửa hàng giá thấp hơn.
Vì các áp lực kinh tế cho các nhà bán lẻ nhỏ, số người Việt thất nghiệp tại Đức có chiều hướng tăng lên, và đến năm 2000 đã có 1.057 người thất nghiệp.
Trên toàn nước Đức có hơn 8.000 doanh nghiệp của người Việt Nam. Riêng Berlin đã có 1.500 doanh nghiệp người Việt Nam có đăng ký tại Phòng Công nghiệp và Thương mại của Chính quyền sở tại. Các doanh nghiệp Việt Nam tập trung chủ yếu ở các bang phía Đông nước Đức. Họ kinh doanh chủ yếu trong các ngành nghề thương mại, dịch vụ, nhà hàng, khách sạn, du lịch, bảo hiểm, xuất nhập khẩu, sản xuất nhỏ v.v. Ở phía Tây Đức, người Việt Nam chủ yếu làm việc trong các công ty, tập đoàn, doanh nghiệp của Đức. Các doanh nghiệp Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động từ thiện hướng về Tổ quốc. Một số doanh nghiệp làm ăn thành đạt đã trở về Việt Nam thực hiện một số dự án đầu tư lớn và đã tạo công ăn việc làm cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước; họ luôn hướng về Tổ quốc, muốn đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế ở Việt Nam thông qua việc chuyển vốn về trong nước đầu tư.
== Chia rẽ nội bộ ==
Ngay sau khi Đức thống nhất, cộng đồng Việt Nam tại Đức vẫn còn bị chia rẽ. Sự cảm thông của những người gốc miền Nam dành cho những người gốc miền Bắc lúc đầu đã bị thay thế bằng sự ngờ vực, vì chủ nghĩa chống cộng kiên quyến của những cựu thuyền nhân làm những cựu lao động khách bực mình, và lối xưng hô của những cựu lao động khách gợi lại những ký ức đau buồn cho những cựu thuyền nhân. Vì thế, những người Việt tại Đức đến từ miền Nam Việt Nam và miền Bắc Việt Nam ít có quan hệ với nhau. Đến năm 2015 tức là 25 năm sau khi Đông và Tây Đức thống nhất, người dân gốc Việt tại Đức vẫn còn nhiều ngăn cách. Sinh hoạt của cộng đồng bên Tây Đức (người Việt Miền Nam) thì người bên Đông không tham gia và ngược lại sinh hoạt cộng đồng bên Đông Đức (người Việt Miền Bắc) thì người bên Tây không hưởng ứng.
Những cựu thuyền nhân cũng hòa nhập vào xã hội hơn; họ có thể nói tiếng Đức giỏi, và con cháu họ thường có trình độ học thức cao hơn con cháu những cựu lao động khách. Tuy nhiên, con cháu của những cựu thuyền nhân ít có cầu nối vào văn hóa Việt Nam; trong nhiều trường hợp, cha mẹ nói chuyện với họ bằng tiếng Đức thay vì tiếng Việt, với hy vọng rằng họ sẽ hòa nhập nhanh hơn; kết quả là trình độ tiếng Đức của cha mẹ được trau dồi, trong khi trình độ tiếng Việt của con cái bị giảm dần. Ngược lại, nhiều cựu công nhân khách có trình độ tiếng Đức yếu. Tuy nhiên, theo nhật báo Die Zeit, sau 20 năm nước Đức thống nhất, thế hệ con cháu của các cựu công nhân khách đang viết nên một câu chuyện thần kỳ về quá trình vươn lên trong xã hội Đức vì trong các gia đình Việt Nam, áp lực học tập là rất lớn. Những gia đình có gốc là công nhân xuất khẩu lao động ở Đông Đức thường được lấy ví dụ để phản bác luận điểm cho rằng con cái các gia đình nhập cư chỉ học hành tử tế khi bố mẹ chúng hòa nhập tốt với xã hội Đức.
== Quá trình hội nhập vào xã hội Đức ==
Theo ông Hans-Jörg Brunner, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Đức tại Việt Nam: "Đa số người Việt Nam tại Đức nói tiếng Đức tốt cho nên họ hội nhập vào xã hội sở tại khá tốt. Họ tổ chức thành các hội đoàn như hội đồng hương hay cộng đồng người Việt ở các thành phố, thị trấn ở Đức để thường xuyên gặp mặt, gìn giữ văn hóa truyền thống. Mặt khác, họ hòa nhập vào xã hội Đức khá tích cực".
== Những người Việt Nam tại Đức ==
Philipp Rösler, cựu Phó Thủ tướng Đức
Đặng Ngọc Long, Nhạc sĩ, Diễn viên điện ảnh
Marcel Nguyen, Vận động viên thể dục dụng cụ
Phan Thị Minh Khai, Diễn viên, người dẫn chương trình, đạo diễn
Jenny-Mai Nuyen, Nhà văn
== Tôn giáo ==
Phần đông người Việt nhập cư tại Đức trên danh nghĩa là tín đồ Phật giáo. Những ngôi chùa kiểu Việt được xây dựng là một trong những dấu tích đáng chú ý nhất cho sự hiện diện của người Việt tại nước này, trong đó đáng kể nhất là chùa Viên Giác ở Hannover, Niedersachsen, chùa Phật giáo lớn nhất ở châu Âu. Những ngôi chùa, cũng như các cuộc diễn hành trong các ngày lễ hội, là những trọng tâm quan trọng trong việc tự giác của người Việt theo đạo Phật tại Đức, một dấu hiệu rằng họ đang coi quốc gia sở tại như nhà mình. Tuy nhiên, sự dễ nhận diện của các ngôi chùa trong không gian công cộng đã dẫn đến sự phản đối từ những người Đức láng giềng, vì họ cho rằng đây là những dấu hiệu người Việt không muốn hòa nhập vào xã hội Đức.
Những người Công giáo tạo thành một cộng đồng nhỏ hơn; tính đến tháng 5 năm 1999, có 12.000 người Công giáo gốc Việt tại Đức, theo thống kê của Hội đồng Giám mục Đức. Mỗi năm, cứ vào dịp Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (khoảng tháng 6), người Công giáo Việt tại Đức lại tổ chức một đại hội thường niên tại Aschaffenburg gần Frankfurt am Main, đến nay đã hơn 35 năm .
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Baumann, Martin (2000), Migration—Religion—Integration: Buddhistische Vietnamesen und hinduistische Tamilen in Deutschland, Marburg: Diagonal Verlag, ISBN 978-3-927165-67-0
Bui, Pipo (2004), Envisioning Vietnamese Migrants in Germany: Ethnic Stigma, Immigrant Origin Narratives and Partial Masking, Berlin/Hamburg/Münster: LIT Verlag, 978-3-825869-17-5
Fernandez Molina, Cristina (2005), Katholische Gemeinden anderer Muttersprache in der Bundesrepublik Deutschland: Kirchenrechtliche Stellung und pastorale Situation in den Bistümern im Kontext der Europäischen und deutschen Migrationspolitik, Frank & Timme GmbH, ISBN 978-3-865960-16-0
Hillmann, Felicitas (2005), Spaan; Hillmann, Felicitas; van Naerssen, A. L., biên tập, Riders on the storm: Vietnamese in Germany's two migration systems, Taylor and Francis, tr. 80–100, ISBN 978-4-15365-02-4
Wolf, Bernd (2007), The Vietnamese diaspora in Germany (PDF), Germany: Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit, truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009
== Liên kết ngoài ==
Thông tin Đức quốc
Sinh hoạt cộng đồng Việt tại Đức
Hội Diên Hồng
Trang chủ Chùa Viên Giác và Báo Viên Giác
Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Đức
Association of Vietnamese Youths and Students in Germany |
31 tháng 12.txt | Ngày 31 tháng 12 là ngày thứ 365 (366 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Đây là ngày cuối cùng trong năm.
== Sự kiện ==
1225 – Khởi đầu Nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Sau khi xuống chiếu nhường ngôi, Lý Chiêu Hoàng bỏ hoàng bào mời chồng là Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế, Vương triều Lý chấm dứt tồn tại, tức ngày Mậu Dần (1) tháng 12 năm Ất Dậu.
1600 – Nữ vương Elizabeth I cấp giấy phép cho Thống đốc và Công ty thương mại của London tới Đông Ấn, một trong những công ty cổ phần đầu tiên của Anh Quốc.
1660 – Quốc vương Louis XIV của Pháp phong cho James II của Anh là Công tước xứ Normandy.
1687 – Huguenot lần đầu căng buồm đi từ Pháp đến Mũi Hảo Vọng.
1757 – Nữ hoàng Elizaveta của Nga ban chiếu chỉ hợp nhất Königsberg vào Nga.
1796 – Baltimore được hợp nhất thành một thành phố.
1857 – Nữ vương Victoria của Anh lựa chọn Ottawa làm thủ đô của Canada, khu vực này khi đó là một thị trấn lâm nghiệp.
1862 – Nội chiến Hoa Kỳ: Tổng thống Abraham Lincoln ký một đạo luật kết nạp Tây Virginia và Liên bang, do vậy Virginia bị tách làm đôi.
1862 – Nội chiến Hoa Kỳ: Trận Stones River bắt đầu gần Murfreesboro, Tennessee.
1878 – Kỹ sư người Đức Carl Benz yêu cầu nhận bằng sáng chế đối với động cơ hai thì đầu tiên mà ông tin tưởng, và được trao bằng sáng chế vào năm 1879.
1879 – Thomas Edison lần đầu tiên chứng minh đèn sợi đốt trước công chúng tại Edison, New Jersey, Hoa Kỳ.
1906 – Quốc vương Mozaffar al-Din Shah Qajar ký vào bản Hiến pháp Ba Tư năm 1906.
1907 – Lễ đón giao thừa lần đầu tiên được tổ chức tại Quảng trường Thời đại (khi đó gọi là Quảng trường Longacre) tại thành phố New York, Hoa Kỳ.
1923 – Tiếng chuông từ tháp Big Ben lầu đầu được phát qua sóng phát thanh thông qua BBC.
1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hungary tuyên chiến với Đức.
1946 – Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman chính thức tuyên bố chấm dứt các chiến sự trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
1951 – Kế hoạch Marshall mãn hạn sau khi phân bổ hơn 13,3 tỷ đô la Mỹ viện trợ nước ngoài để tái thiết châu Âu.
1954 – Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được hình thành
1955 – General Motors trở thành công ty đầu tiên của Hoa Kỳ kiếm được trên 1 tỷ đô la Mỹ một năm.
1963 - Khai mạc buổi họp thống nhất các đoàn thể Phật giáo ở Việt Nam, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
1965 – Lãnh đạo quân đội Trung Phi Jean-Bédel Bokassa tiến hành đảo chính chống lại chính phủ của Tổng thống David Dacko.
1991 – Toàn bộ các thể chế chính thức của Liên Xô ngừng hoạt động vào ngày này, Liên Xô hoàn toàn tan rã.
1992 – Tiệp Khắc giải thể một cách hòa bình, hình thành nên hai quốc gia độc lập mới là Séc và Slovakia.
1994 – Ngày này bị bỏ qua tại Kiribati do Quần đảo Phoenix và Quần đảo Line đổi múi giờ từ UTC-11 sang UTC+13 và từ UTC-10 sang UTC+14, tương ứng.
1999 – Chính phủ Hoa Kỳ trao lại quyền kiểm soát Kênh đào Panama và vùng đất liền kề cho Panama theo hiệp ước ký kết vào năm 1977.
1999 – Thủ tướng Nga Vladimir Putin làm quyền tổng thống, tiếp nhận từ Tổng thống Nga Boris Yeltsin từ nhiệm.
2004 – Tòa nhà Đài Bắc 101 được khánh thành tại Đài Loan, là cao ốc cao nhất thế giới vào đương thời.
2015 – IUPAC chính thức công bố quyền đặt tên nguyên tố thứ 113 cho viện nghiên cứu RIKEN của Nhật Bản.
== Sinh ==
1378 – Giáo hoàng Calixtô III (m. 1458)
1491 – Jacques Cartier, nhà thám hiểm người Pháp (m. 1557)
1514 – Andreas Vesalius, nhà giải phẫu học sinh tại lãnh thổ nay thuộc Bỉ (m. 1564)
1815 – George G. Meade, tướng lĩnh quân đội người Mỹ (m. 1872)
1830 – Isma'il Pasha, chính trị gia người Ai Cập (m. 1895)
1838 – Émile Loubet, chính trị gia người Pháp, tổng thống của Pháp (m. 1929)
1842 – Giovanni Boldini, họa sĩ người Ý (m. 1931)
1869 – Henri Matisse, họa sĩ người Pháp (m. 1954)
1870 - Mbah Gotho - Người sống thọ nhất thế giới*1878 – Horacio Quiroga, tác gia, nhà thơ người Uruguay-Argentina (m. 1937)
1880 – George Marshall, tướng lĩnh và chính trị gia người Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1959)
1904 – Umm Kulthum, ca sĩ và diễn viên người Ai Cập (m. 1975)
1922 – Nguyễn Lam, chính trị gia người Việt Nam (m. 1990)
1925 – Irina Korschunow, nhà văn người Đức-Nga
1931 – Hải Ninh, đạo diễn người Việt Nam (m. 2013)
1937 – Avram Hershko, nhà sinh vật học người Israel, đoạt giải Nobel
1937 – Anthony Hopkins, diễn và nhà soạn nhạc người Anh Quốc-Hoa Kỳ
1941 – Alex Ferguson, cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Anh Quốc
1943 – John Denver, ca sĩ, tay chơi guitar, và diễn viên người Mỹ (m. 1997)
1943 – Ben Kingsley, diễn viên người Anh
1960 – Steve Bruce, cầu thủ bóng đấ người Anh
1965 – Củng Lợi, diễn viên người Trung Quốc
1972 – Grégory Coupet, thủ môn bóng đá người Pháp
1977 – PSY, ca sĩ, nhà sản xuất âm nhạc người Hàn Quốc
1987 – Uyên Linh, ca sĩ người Việt Nam
== Mất ==
192 – Commodus, hoàng đế La Mã
335 – Giáo hoàng Sylvestrô
669 – Lý Thế Tích, tướng lĩnh và chính trị gia triều Đường, tức ngày Mậu Thân (3) tháng 12 năm Kỉ Tị (s. 594)
1384 – John Wycliffe, nhà thần học và phiên dịch người Anh (s. khoảng 1328)
1650 – Đa Nhĩ Cổn, tướng lĩnh, thân vương, chính trị gia, nhiếp chính vương của triều Thanh, tức 9 tháng 12 năm Canh Dần (s. 1612)
1691 – Robert Boyle, nhà hóa học và vật lý học người Ireland (s. 1627)
1719 – John Flamsteed, nhà thiên văn người Anh (s. 1646)
1876 – Catherine Labouré, nữ tu người Pháp được phong thánh (s. 1806)
1877 – Gustave Courbet, họa sĩ người Pháp (s. 1819)
1889 – Ion Creanga, tác gia và học giả người Romania (s. 1837)
1936 – Miguel de Unamuno, nhà văn, nhà triết học người Tây Ban Nha (s. 1864)
1967 – Hoàng Việt, nhạc sĩ người Việt Nam (s. 1928)
1990 – Vasili Lazarev, nhà du hành vũ trụ người Liên Xô (s. 1928)
1993 – Zviad Gamsakhurdia, tổng thống Gruzia đầu tiên (s. 1939)
2004 – Gérard Debreu, nhà kinh tế học và toán học người Pháp, đoạt giải Nobel (s. 1921)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
wikimedia commons.txt | Wikimedia Commons (cũng được gọi tắt là Commons hay Wikicommons) là kho hình ảnh, âm thanh, và tập tin phương tiện khác có nội dung tự do. Dự án này trực thuộc Quỹ Hỗ trợ Wikimedia. Các tập tin được truyền lên kho này được sử dụng ở các wiki khác của Wikimedia, kể cả Wikipedia, Wikibooks, và Wikinews, giống như các tập tin được truyền thẳng lên các wiki đó.
Dự án này do Erik Möller đề nghị vào tháng 3 năm 2004 và mở cửa ngày 7 tháng 9 năm 2004. Kho dùng chung này được thiết lập với một lý do quan trọng là để không cần phải làm việc nhiều lần quá giữa các dự án và phiên bản ngôn ngữ của Wikimedia, bởi vì một tập tin phải được truyền lên nhiều lần trên nhiều wiki riêng trước khi Commons được thành lập. Tính năng để sử dụng những tập tin của Commons ở dự án nào của Wikimedia được thực hiện và bật lên vào tháng 10 năm 2004.
Vẫn có thể truyền tập tin thẳng lên một wiki riêng, nhưng tại vì Commons có quy định tác quyền ngặt hơn phần nhiều dự án khác, tính năng truyền lên vẫn được giữ ở những wiki đó để truyền lên những tập tin không được vào Commons, như là hình ảnh được sử dụng hợp lý. Vào năm 2006, Wikimedia Commons nói riêng không cho phép truyền lên tập tin dưới điều kiện sử dụng hợp lý hay giấy phép phi tự do, chẳng hạn như các giấy phép mà hạn chế sử dụng thương mại hoặc cấm làm tác phẩm phái sinh. Các giấy phép hợp với dự án có Giấy phép Văn bản Tự do GNU (GFDL) và các loại giấy phép Attribution (ghi công) và ShareAlike (phát hành cùng giấy phép) của Creative Commons; dự án này cũng nhận các tập tin thuộc phạm vi công cộng và các tập tin mà Wikimedia giữ quyền.
== Hình ảnh tiêu biểu ==
== Các mốc đạt được ==
30 tháng 11 năm 2006, 1 triệu tập tin phương tiện.
9 tháng 10 năm 2007, 2 triệu tập tin phương tiện.
16 tháng 7 năm 2008, 3 triệu tập tin phương tiện.
4 tháng 3 năm 2009, 4 triệu tập tin phương tiện.
2 tháng 9 năm 2009, 5 triệu tập tin phương tiện.
27 tháng 1 năm 2010, 1 triệu thành viên đăng ký và 8 triệu trang.
31 tháng 1 năm 2010, 6 triệu tập tin phương tiện.
17 tháng 7 năm 2010, 7 triệu tập tin phương tiện.
1 tháng 1 năm 2011, 8 triệu tập tin phương tiện.
23 tháng 2 năm 2011, 9 triệu tập tin phương tiện.
15 tháng 4 năm 2011, 11 triệu tập tin phương tiện.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Creative Commons, dự án cung cấp nhiều loại giấy phép nội dung tự do và thư mục về tác phẩm có nội dung tự do
Lưu trữ Internet, có sưu tập video trên mạng lớn nhất mà có thể truy nhập miễn phí
Dự án Gutenberg, sưu tập văn kiện lớn nhất có nội dung tự do (có cả sách và bản nhạc)
Ourmedia, lưu trữ tư liệu thuộc sở hữu cộng đồng
== Liên kết ngoài ==
Wikimedia Commons (tiếng Anh; phiên bản tiếng Việt đã lỗi thời)
Wikimedia Commonplace, công cụ để truyền tập tin lên Wikimedia Commons, chạy trên Windows |
sikh giáo.txt | Sikh giáo ( /ˈsɪkɪzəm/; tiếng Punjab: ਸਿੱਖੀ, Sikkhī) hay Tích-khắc giáo theo phiên âm Hán Việt, cũng gọi là đạo Sikh, do Guru Nanak sáng lập vào thế kỷ 15 tại vùng Punjab, truyền dạy những giáo lý của Guru Nanak (người lập đạo và cũng là guru đầu tiên) và 10 vị guru khác truyền lại (người cuối cùng thành thánh trong Guru Granth Sahib).
Những khai thị của Guru Nanak và các Guru tiếp theo (cùng với những Thánh Hindu hiện đại và các vị Thánh Hồi giáo khác), được Guru viết thành những câu thơ trong kinh thánh của đạo Sikh, Guru Granth Sahib. Các tín đồ của đạo Sikh (gọi là người Sikh) coi Guru Granth Sahib là lời trực tiếp của Thiên Chúa: thực vậy, trong rất nhiều các câu thơ, Guru Nanak đã tuyên bố tương tự như vậy (Khi Ngôi Lời từ Chúa tới tôi, Oh Lalo, vì vậy tôi đã thuật lại lời này, Guru Nanak, trang 722 của Guru Granth Sahib). Không giống như kinh thánh của các tôn giáo lớn khác trên thế giới, nói chung là được các tín đồ của tôn giáo biên soạn ra chứ không phải bởi các vị tiên tri; các câu trong Guru Granth Sahib được viết theo thể thơ bắt chước các raga cổ điển khác nhau, được Sikh Guru tự mình sáng tác, một khía cạnh mà đã được các nhà sử học và học giả nhấn mạnh trong khi thảo luận về tính xác thực của những lời giảng của các tiên tri khác nhau của thế giới mà chúng ta đã biết ngày nay.
Trong số những trụ cột chính của đạo Sikh được các Guru đạo Sikh thành lập là việc thực hành Naam Jaap (chiêm nghiệm & Thiền định về những lời nói của Guru Granth Sahib như là một phương tiện thiết yếu để khai thác tính tôn giáo và hợp nhất với Đấng sáng tạo); Đức tin và sự thờ phượng của Đấng Toàn Năng Thiên Chúa (là người tối cao, ở mọi nơi, mạnh mẽ và trung thực tuyệt đối, vô sắc (Nirankar), không sợ hãi (Nirvair), không thù hận (Nirbhau), duy nhất, tự tồn tại, không thể hiểu trọn vẹn, và là Đấng Tạo Hóa của tất cả mọi thứ (Karta Purakh), và Satnam, sự thật vĩnh cửu tuyệt đối); Bình đẳng cho tất cả mọi người không phân biệt giai cấp, tín ngưỡng, màu da, giới tính của họ; Tham gia vào các Hoạt động từ thiện phục vụ nhân loại (Sewa) và cầu nguyện hàng ngày cho sự thịnh vượng của tất cả chúng sinh (Sarbat da bhala); và Sống một đời sống chân thật và trung thực.
Theo các tác phẩm của SGPC (cơ quan quản lý chính của nơi thờ phượng đạo Sikh) phổ biến, sau đây là các thuộc tính nguyên tắc của đạo Sikh:
Một tôn giáo thực tế và đơn giản, ở chỗ nó không thúc đẩy một công thức nhất định của niềm tin, và không tin vào lời nói đơn thuần. Hơn nữa, người theo đạo Sikh tin rằng tôn giáo không đánh đồng với việc đi hành hương miếu, mộ, hoặc sống một đời sống khắc khổ của những hành giả khổ hạnh. Thay vào đó, nó hàm ý sống cuộc sống hàng ngày của bạn, trong khi tập trung vào việc xây dựng cá tính của bạn, vì hòa hợp thiên tính là không thể với một nội tâm không trong sáng.
Một tôn giáo phổ quát, tin tưởng vào sự bình đẳng của tất cả chúng sinh, không phân biệt đẳng cấp, tín ngưỡng, giới tính, quốc tịch và tôn giáo của họ. Trong kinh thánh của đạo Sikh, Guru Granth Sahib, Guru đã đưa vào cả những câu thơ thiêng liêng của người Hindu và Hồi giáo để thiết lập một ví dụ điển hình. Guru Nanak cũng bắt đầu truyền thống Langar, một nhà bếp cộng đồng ở tất cả những thánh đường của đạo Sikh-Gurudwaras, trong đó tất cả mọi người, dù cao hay thấp, giàu hay nghèo, ngồi lại với nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Guru Nanak cũng nhấn mạnh và đặc biệt khẳng định sự bình đẳng của phụ nữ (Tại sao gọi đàn bà là xấu xa, khi nhà vua cũng được sinh ra từ họ? Nếu không có người phụ nữ, thì sẽ không có ai cả, Guru Nanak nói ở trang 473 trong Guru Granth Sahib).
Từ bỏ tất cả các nghi thức, hình thức: Theo đạo Sikh, nghi lễ như những cuộc hành hương, nhịn ăn nhịn uống, v.v..., không có tính tâm linh. Guru Nanak nói, nơi tôi hành hương là Lời, chiêm nghiệm và kiến thức thiêng liêng trong tôi. Sám hối, ăn chay, khổ hạnh, bố thí tất cả đều kém hơn so với sự thật; hành động đúng là vượt trội so với tất cả.
Một tôn giáo dựa vào niềm tin và sự lạc quan: đạo Sikh tin vào Karma, và cũng tin rằng ân sủng (Nadar) của Guru hay Thiên Chúa có thể xóa karma xấu trong quá khứ và tạo điều kiện trở về với Đấng sáng tạo. Một người Sikh luôn luôn phấn đấu để được ở trạng thái Charhdi Kala (một trạng thái tinh thần lạc quan và vui vẻ, không sợ hãi, ghen ghét hay hận thù), mà chỉ có thể đạt được với một niềm tin tuyệt đối vào tên của Thiên Chúa. Như một phần của lời cầu nguyện hàng ngày, người Sikh cầu nguyện cho sự thịnh vượng của toàn nhân loại.
Một tôn giáo dân chủ: Guru thứ mười, Guru Gobind Singh đã trao thẩm quyền của tôn giáo Sikh cho người Panth (người Sikh). Bất kỳ quyết định Sangat (hội thánh) đưa ra đều được coi tối cao trong đạo Sikh.
Sikh giáo là tôn giáo lớn thứ năm trên thế giới, với khoảng 30 triệu tín đồ.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Trong tiếng Punjab, "Sikh" có nghĩa là "học trò", hoặc "môn đệ", còn những người Sikh là "học trò của các Guru". Đạo Sikh không có các giáo chức, nhưng trong các gurdwaras (đền thờ của đạo Sikh) thường có những người có khả năng đọc được Sách kinh, gọi là Granthi, đứng ra trông coi việc đạo. Tuy nhiên, họ không phải là chức sắc tôn giáo.
== Lịch sử hình thành và phát triển ==
Dưới Vương quốc Hồi giáo Delhi (1206-1526), Ấn Độ thường xuyên bị phân liệt về lãnh thổ và chính trị bởi các thủ lĩnh Hồi giáo chia nhau cầm quyền ở các địa phương và nhiều lần bị quân Mông Cổ tấn công xâm lược, nhất là ở vùng Tây Bắc rộng lớn. Bên cạnh đó, người Hồi giáo cai trị lại thực hiện chính sách phân biệt tôn giáo. Họ dành nhiều ưu ái, quyền lợi về chính trị, kinh tế cho tín đồ Hồi giáo cũng tức là hạn chế quyền lợi của các tôn giáo khác, trong đó có đông đảo tín đồ Ấn giáo. Cùng với những lý do khác về kinh tế, xã hội đã dẫn đến phong trào đấu tranh của các giáo phái ở Ấn Độ. Những nhà tư tưởng của các phong trào này đều phủ nhận sự phân chia đẳng cấp, đòi bình đẳng của mọi người trước thần linh và chủ trương không phân biệt biệt địa vị xã hội và tôn giáo, tín ngưỡng. Trong bối cảnh lịch sử đó, Guru Nanak đã sáng lập ra đạo Sikh vào đầu thế kỷ 16 tại bang Punjab thuộc miền Bắc Ấn Độ cùng chung sống hòa bình với các tôn giáo khác đã có ở Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Jaina giáo (Kỳ Na giáo), Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo. Đạo Sikh được xem như một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận tư tưởng, giáo luật, lễ nghi của các tôn giáo đã có ở Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo.
Guru Nanak sinh năm 1469 trong một gia đình thuộc đẳng cấp thứ hai, Ksatriya (bao gồm vua chúa, quý tộc, tướng lĩnh) thuộc bộ tộc Bedi tại làng Talwandi gần Lahore. Từ nhỏ, ông được giáo dục là một người theo Ấn giáo. Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ người cha, người đã từng làm việc cho ông chủ làng là người Hồi giáo (Muslim), Nanak sớm tiếp nhận và tinh thông cả Ấn giáo (Hindu) lẫn Hồi giáo (Muslim). Lúc nhỏ, ông là một đứa trẻ rất thông minh, sùng đạo và đầy triển vọng, có thể tranh luận cùng với các đạo sư của các giáo phái nhằm giải đáp mọi thắc mắc về tín ngưỡng tôn giáo nói chung. Ở tuổi 16, Nanak trở thành một quan chức chính phủ và được làm quen với thế giới Hồi giáo rộng lớn, gặp gỡ nhiều nhân vật uyên bác và huyền học nhưng vẫn không có được câu trả lời thích đáng cho vấn đề tín ngưỡng, vì thế ông vẫn tiếp tục theo đuổi tìm kiếm đạo lý riêng cho chính mình. Năm 19 tuổi, mặc dù đã tận tâm với đời sống cầu nguyện và thiền định, nhưng ông vẫn cưới vợ và có được hai người con trai. Sau khi lập gia đình, ông đã chuyển đến Sutanpur sống cùng với người anh rể một thời gian. Tại đây, ông và một nhóm người nữa, đã cùng nhau tụ họp vào mỗi buổi sáng và buổi chiều để đọc kinh cầu nguyện và thiền định, dần dần số người đi theo này càng đông tạo thành một cộng đồng lớn để rồi chính thức trở thành một cộng đồng Sikh giáo, có hệ thống tổ chức được công nhận vào năm 1521. Chính ở tại Sutalpur, Guru Nanak đã trải qua sự "thực nghiệm tâm linh", chứng đạt được một vài sự huyền bí, và một trong những chứng nghiệm đó đã được Gủru Nanak lấy làm nguyên tắc chỉ đạo cho đạo Sikh, khi đó ông nói: "Không có Hindu cũng không có Islam, vì thế tôi sẽ theo con đường của ai? Tôi sẽ theo con đường của Thượng đế, Chúa trời không phải Hindu giáo cũng chẳng phải Islam giáo, và con đường tôi theo là con đường của Chúa".
Cho rằng mình là người được Chúa Trời chọn mặc khải để cứu giúp nhân loại, Nanak đã từ quan và trở thành nhà truyền giáo đi thuyết giảng khắp Ấn Độ, Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya), Tây Tạng (Tibet), Ceylon (Sri Lanka) cho tận đến thánh địa Hồi giáo Mecca tại Ả Rập Xê Út. Ông đã thăm viếng nhiều trung tâm của Hồi giáo, Ấn giáo và Phật giáo, thuyết giảng về một tôn giáo không chuộng hình thức, và cho rằng "giá trị của con người quan trọng hơn địa vị hoặc giai cấp, hay nói đúng ra là tinh thần (tâm linh) bên trong quan trọng hơn nghi thức bên ngoài". Trong tư tưởng giáo huấn của Nanak, ông luôn khuyên con người hãy "tìm chân lý ở chính bên trong bản thân mình", (bên trong cái tâm đã được đồng nhất với Thượng đế, Chân Sư (Sat Guru). Đây là tư tưởng cốt lõi của đạo Sikh, là trạng thái tôn giáo tại tâm của con người.
Tôn chỉ của đạo Sikh là ‘Nhất thần giáo’ chỉ thờ duy nhất một vị thần là Chúa Trời – người đã tạo ra vũ trụ và con người, và là đấng tối cao trong tất cả các tôn giáo. Chỗ thờ tự của đạo Sikh gọi là Gurdwara, theo tiếng Punjab nghĩa là ‘Nhà của Thượng đế’ cũng là ‘cổng vào Guru’. Sách kinh thường cầu nguyện của đạo Sikh gọi là Adi Granth, còn gọi là Guru Granth Sahib; chữ viết trong kinh gọi là Gurmukhi; và lời của kinh gọi là Gurbani. Đạo Sikh không có các chức sắc nhưng lại có những con người với các trách nhiệm khác nhau gọi là Granthi và Giani. Gianthi là những người trông coi việc đạo trong các đền thờ Gurdwaras, có bổn phận đọc kinh Guru Granth Sahib và hướng dẫn các buổi cầu kinh hằng ngày. Trong khi đó, Giani là học giả và là người rất thông thạo ngôn ngữ và văn học Punjab. Họ có trách nhiệm giảng giải cho các tín đồ hiểu được nội dung và ý nghĩa trong sách kinh, tuy nhiên, tất cả họ không phải là chức sắc tôn giáo. Nghi thức cầu nguyện trong cộng đồng những người theo đạo Sikh là ngày hai lần (sáng và tối), chủ yếu bao gồm sự thiền định và những bài hát ca tụng của các Gurus. Trong đó, Sodar và Arati được tụng vào buổi chiều và Japti thì được tụng vào buổi sáng sớm dưới sự hướng dẫn của các Granthi.
Trong thời gian trị vì (1556-1605) của Akbar Đại đế giàu lòng khoan dung tôn giáo, đạo Sikh nhận được sự khích lệ đáng kể vì tư tưởng tôn giáo của nhà vua tương đồng với tư tưởng Sikh giáo nhằm thực hiện sự hòa đồng tôn giáo hay đoàn kết tôn giáo. Nhiều công trình kiến trúc, nghệ thuật văn hoá của Sikh giáo đã được xây dựng. Guru Ram Das (1534 – 1581) tận dụng sở đất mà hoàng đế Akbar ban tặng, đã xây thành một hồ nước hình vuông rộng lớn gọi là "Amristar" (Hồ rượu tiên hay là hồ mật hoa); chính giữa mặt hồ có một ngôi đền được làm bằng vàng do chính con trai của Guru Ram Das, Guru Arjan xây dựng. Và thế rồi một đô thị lớn, tên gọi Punjab được hình thành, nơi đây được coi là thánh địa của Sikh giáo. Bên cạnh đó, Guru Arjan cũng được biết đến là nhà biên soạn bộ thánh kinh đầu tiên ‘Adi Granth’ và đã thiết lập một hệ thống thu nhập thuế từ những tín đồ Sikh giáo cho những công việc từ thiện. Đạo Sikh thời bấy giờ ngày càng có nhiều ưu thế mãi cho đến đời Guru Teg Bahadur (1621-1675), người đã bị hoàng đế Aurangzeb hành hình mà không rõ lý do. Hành động này đã làm cho những người theo đạo Sikh từ một đạo giá cải cách vốn bình lặng trở thành một giáo phái kiêu hùng gồm những con người sẵn sàng quyết chiến, "tử vì đạo" (đây là một đặc điểm của tôn giáo nói chung mà S. Freud, V.I. Lênin... đã chỉ ra) dưới sự lãnh đạo của Guru Govind Singh, người luôn sẵn sàng đấu tranh để bảo vệ đạo giáo (con trai của Guru Teg Bahadur).
Guru Govind Singh tuân thủ với những gì Guru Nanak đã dạy. Ngoài ra, ông còn củng cố giáo đồ của mình bằng cách lập ra kiểu rửa tội khai tâm bằng thanh kiếm và đặt ra một số quy lệ phù hợp cho một đạo quân. Ông chịu trách nhiệm dạy dỗ và un đúc lòng dũng cảm chiến đấu cho tín đồ đạo Sikh, nhằm bảo đảm tính sống còn cho đạo giáo này. Ông kêu gọi những người Sikh cùng chí hướng là Khalsa (tiếng Ả Rập là Khalas, nghĩa là tinh khiết, thuần tuý) và chỉ dẫn họ gắn thêm thành tố Singh (có nghĩa là sư tử) vào cuối họ tên nhằm để nhấn mạnh bản tính quân đội trong họ. Các Khalsa phải tuân theo giới luật riêng ví dụ như không được hút thuốc lá, ngoại tình và ăn thịt các con vật được đem hiến tế.
Dù chỉ là một nhóm thiểu số nhưng Khalsa có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ cộng đồng Sikh giáo. Người Sikh thường mang trên mình 5 dấu hiệu tôn giáo để chứng tỏ sự trung thành với giáo lý của đạo Sikh. Cả 5 dấu hiệu đều được bắt đầu bằng chữ cái K nên được gọi là ngũ Ks – (1) kesh (không cắt tóc và râu), (2) kanga (lược gỗ), (3) kachs (quần mặc trong), (4) kara (vòng kim loại), và (5) kirpan (cây kiếm nhỏ). Biểu tượng của Sikh giáo là lá cờ hình tam giác màu vàng cam, gồm có 3 biểu vật phối hợp với nhau: (1) Khanda – con dao găm hai lưỡi tượng trưng cho sự tự do và công lý, (2) Chakar – hình tròn, cho thấy sự cân bằng giữa 2 lưỡi gươm, thể hiện tính đơn nhất, chỉ có một thần và (3) kirpans – gồm hai lưỡi gươm cong, một đại diện cho tôn giáo, là quyền năng của Chúa (Chân Sư), và cái kia đại diện cho thế sự cũng là năng lực của Chúa, người thống lãnh tín đồ đạo Sikh. Và Ek Onkar là thánh ngữ của đạo Sikh có nghĩa là "Duy nhất một Chúa" được viết bằng tiếng Punjab xuất hiện ở bên ngoài của các ngôi đền Sikh giáo.
Đạo Sikh là một tôn giáo cải cách, ra đời trên cơ sở tiếp nhận giáo lý, giáo luật... của các tôn giáo ở Ấn Độ như Ấn giáo, Hồi giáo..., nên tư tưởng của nó có nhiều điểm tương đồng với các tôn giáo kể trên nhưng vẫn có cái riêng, cái đã tạo nên bản sắc không thể trộn lẫn của đạo Sikh với các tôn giáo khác.
== Các tư tưởng cơ bản của Sikh giáo ==
Adi Granth (First Book) và Dasam Granth (Book of Tenth King) là thánh kinh của những người theo đạo Sikh. Adi Granth do Guru thứ năm Arjan biên soạn dựa trên những tài liệu đã được cha của ông biên soạn và sưu tập. Adi Granth được viết bằng chữ Gurmukhi (chữ này có những nét gần giống với mẫu tự của tiếng Phạn và chia làm 6 phần: (1) Japji: gồm có những bài kinh của Guru Nanak, được dùng trong lễ cầu nguyện sáng sau khi tắm. (2) So Daru: những bài kinh được dùng trong lễ cầu nguyện buổi chiều. (3) So Purkhu. (4) Sohila: là bài kinh cầu nguyện trước khi ngủ. (5) Rāg: phần này có cả thảy 31 phân đoạn tạo thành phần chính yếu của quyển kinh. (6) Bhog: có 13 chương được tụng vào những buổi lễ khác nhau. Riêng Dasam Granth là tập sách bổ sung cho bổn kinh Adi Granth do Guru thứ mười cũng là vị Guru cuối cùng Govind Singh biên soạn. Nó được viết bằng tiếng Hindi, giới thiệu những luật lệ quy định do chính Guru Govind Singh đặt ra.
Adi Granth cũng gọi là "Granth Sahib," hoặc "Darbar Sahib," là quyển kinh chính yếu được hầu hết mọi người tôn kính luôn được giữ gìn trân trọng trong đền thờ lớn Amristar. Adi Granth trình bày những giáo điều mà Guru Nanak và 9 vị Guru Thế tổ khác truyền lại, mở đầu bằng Mool mantar là những lời mà Guru Nanak dùng để mô tả về Chúa trời, và cũng là khái niệm cơ bản của đạo Sikh về Chúa trời nói chung. Nội dung chủ yếu thể hiện sự thống nhất của Chúa trời, mà cốt lõi của Chúa trời là sự thật (SAT NAAM), và là cái nội tại của mọi biểu hiện sáng tạo. Đạo Sikh, do đó, là một đơn thần giáo, nghĩa là chỉ tin và tôn thờ duy nhất một vị thần đó là Chúa trời (IKONKAAR). Chúa trời tạo ra vũ trụ, sự tồn tại của vũ trụ phụ thuộc vào ý chí của Chúa trời (KARTA PURKH). Chúa trời vượt ra ngoài phạm vi sinh, tử (AJOONI), không có hình thù, không có giới tính, chưa bao giờ và sẽ không bao giờ mang hình dáng con người trên trái đất. Chúa trời không có lòng hận thù (NIR VAIR) hay sợ hãi (NIR BHAU) mà luôn tràn ngập sự yêu thương. Người đã, đang và sẽ tồn tại mãi mãi. Chúa trời đến với nhân loại trên toàn thế gian thông qua lời nói được phát ra bởi các Guru được thể hiện dưới hình thức các shabads. Và Chúa luôn ngự ở trong lòng của mỗi chúng ta, mỗi một người nam hay nữ đều phải tìm Chúa trong chính bản thân mình.
Tư tưởng này đưa Đạo Sikh đến một trạng thái gọi là tôn giáo tại tâm của các cá nhân như đã đề cập ở trên. Tư tưởng này tương đồng với tư tưởng "chính Phật tại tâm" của trường phái Trúc Lâm Yên Tử ở Việt Nam và cả trong tư tưởng "lòng tin nơi chính mình" của Martin Luther, người đã sáng lập ra đạo Tin Lành (Protestantisme).
Là một cộng đồng lớn đã cải cách trong Ấn Độ giáo, giáo lý của đạo Sikh ít nhiều có những điểm gần giống với tư tưởng Ấn giáo, chẳng hạn như những khái niệm về luân hồi (samsara) và nghiệp báo (karma). Đạo Sikh cho rằng, mục đích trong cuộc sống của con người là thoát ly sinh, tử và hợp nhất với Chúa trời, và theo họ, mục đích này có thể đạt được bằng cách nghe theo lời dạy của bậc đạo sư (Sat Guru – True guru), suy ngẫm về thánh lý và làm tất cả các công việc thiện và phục vụ mọi người. Đối với các tín đồ đạo Sikh, thiên đường chính là thế giới này! Thiện nghiệp có nghĩa là sự tái sinh làm lại thân con người; còn tái sinh làm súc sanh thì giống như ở trong địa ngục, đó là kết quả do ác nghiệp mà ra.
Tuy nhiên, trung thành với tôn chỉ, chỉ tin và tôn thờ duy nhất một vị thần, tín đồ đạo Sikh cấm không được tôn thờ nhiều thần, không sùng bái, không hành hương đến các điện thờ lớn của Hindu và thực hành các nghi lễ mù quáng. Họ không chấp nhận phương thức sống thụ động, thoát tục, trở thành tu sĩ hoặc chọn lối sống ẩn dật để trốn tránh đời sống thực tại. Trong tư duy của những người theo đạo Sikh, việc giải thoát hay không được giải thoát trong cuộc đời này là do mình. Họ cho rằng, mỗi một con người cần phải tu thân ngay trong cuộc sống hiện tại, và vượt lên những vất vả khó khăn trong cuộc sống hằng ngày bằng cách khắc phục năm tật xấu luôn tiềm tàng trong chính mỗi con người; đó là dâm dục, sân hận, tham lam, cố chấp (chấp thủ) và tự kiêu (ngã mạn).
Trong đạo Sikh, người phụ nữ rất được coi trọng, và quan niệm của họ về người phụ nữ có phần nào đồng tình với quan niệm đa thê của Hồi giáo "Chúng ta được sinh ra từ người phụ nữ, Người phụ nữ đã mang thai chúng ta, chúng ta đính hôn và kết hôn với phụ nữ. Chúng ta làm bạn với người phụ nữ, và nhờ người phụ nữ nòi giống mới được nối dõi. Khi một người phụ nữ chết, chúng ta lại kết hôn với người khác, chúng ta ràng buộc với thế giới qua người phụ nữ. Vậy tại sao chúng ta lại nói điều không tốt về người phụ nữ, những người đã sinh ra các vị Vua chúa? Người phụ nữ do chính người phụ nữ sinh ra, chẳng có một ai được sinh ra mà không có người phụ nữ. Duy nhất Chúa trời là không phải do người phụ nữ sinh ra" (Guru Nanak, Var Asa). Đạo Sikh nhấn mạnh sự bình đẳng về xã hội và giới tính, cho rằng nam và nữ đều được coi trọng như nhau, phản đối tục giết bé gái sơ sinh hoặc tục thiêu sống người vợ cùng với người chồng đã chết, trái lại cho phép người góa phụ tái hôn. Các tín đồ đạo Sikh tin rằng, muốn đạt tới cuộc sống tốt đẹp thì cần phải luôn giữ đức tin trong trái tim, khối óc, phải làm việc chăm chỉ và trung thực, phải có lòng hảo tâm bố thí cho tất cả mọi người. Sống biết chia sẻ với mọi người cũng là một trách nhiệm xã hội mà những người theo đạo Sikh cần phải biết, mỗi một cá nhân cần nên giúp đỡ những người có nhu cầu thông qua công việc từ thiện.
== Một số nhận xét ==
1. Sự khủng hoảng về chính trị, bất bình đẳng về tôn giáo, phân biệt nặng nề về đẳng cấp trong xã hội,... vào giai đoạn cuối Vương triều Hồi giáo Đêli là những tiền đề cơ bản dẫn đến sự ra đời của đạo Sikh vào đầu thế kỷ 16 ở Ấn Độ. Điều này chúng ta thấy có sự tương đồng trong sự ra đời của Kitô giáo, của đạo Tin Lành và một số tôn giáo khác.
2. Tư tưởng cũng như cách hành đạo của đạo Sikh có nguồn gốc từ các tôn giáo ở Ấn Độ lúc bấy giờ mà rõ nhất là Ấn Độ giáo và Hồi giáo nhưng lại mang tính nhân văn hơn, gần gũi hơn với con người, đề cao "giá trị của con người quan trọng hơn địa vị hoặc giai cấp" hay "tìm chân lý ở chính bên trong bản thân mình"; cũng như cách tổ chức tôn giáo và hành đạo đơn giản hơn, cho phép tín đồ dễ thực hiện. Đây chính là điểm cải cách của Sikh giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Ấn lúc bấy giờ.
3. Vốn là một tôn giáo hòa bình, chống lại sự bất bình đẳng về tôn giáo và đẳng cấp ở Ấn Độ nhưng từ sau sự kiện Guru Teg Bahadur bị hoàng đế Aurangzeb hành hình (1675), đạo Sikh đã đi đến chỗ tạo ra một đẳng cấp lãnh đạo thần quyền và quân sự, một kiểu giáo đoàn chiến đấu gồm những phần tử "tinh khiết và thuần nhất" tức các Khalsa để cuối cùng thuyết giáo về thánh chiến và lập ra một kiểu rửa tội khai tâm bằng thanh kiếm (chịu ảnh hưởng của Hồi giáo).
4. Đạo Sikh hiện là một trong những tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và tư tưởng của người dân Ấn Độ, với khoảng hơn 23 triệu tín đồ, trong đó 90% sống ở tiểu bang Punjab và khoảng hơn 1 triệu tín đồ sống ở Anh và các thuộc địa cũ của Anh. Mặc dù dân số theo Sikh giáo không bằng dân số theo Ấn Độ giáo nhưng họ là một cộng đồng gắn bó và thịnh vượng với sự liên kết văn hoá, tôn giáo mạnh mẽ, có khuynh hướng vươn tới một nhà nước Sikh độc lập tự chủ như vẫn dung hoà, với một bản sắc riêng biệt của đạo Sikh.
== Mười vị guru ==
Có một lưu ý nhỏ cần nên biết trong quyền kế vị Gurus của đạo Sikh là từ sáng tổ Nanak đến Guru thứ tư Ram Das thì việc kế thừa là dựa trên phẩm chất và năng lực của chính vị Guru tương lai. Tuy nhiên, từ Guru thứ năm Arjan đến vị guru cuối cùng Govind Singh thì quyền kế vị đơn thuần là cha truyền con nối. Điều này dẫn đến lý do tại sao một số Gurus truyền tiếp đã tiếp nhận nhiều lý thuyết có vẻ như khác xa với ý tưởng nguyên bản của Guru Nanak. Mặc dù vậy, tất cả các vị Gurus đã củng cố và phát triển đạo Sikh ngày một lớn mạnh.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Dilgeer, Dr Harjinder Singh (2008), Sikh Twareekh, publisher Sikh University Press & Singh Brothers Amritsar, 2008.
Dilgeer, Dr Harjinder Singh (2012), Sikh History (in 10 volumes), publisher Sikh University Press & Singh Brothers Amritsar, 2010–12.
Duggal, Kartar Singh (1988), Philosophy and Faith of Sikhism, Himalayan Institute Press, ISBN 978-0-89389-109-1
Kaur, Surjit, Amongst the Sikhs: Reaching for the Stars, New Delhi, Roli Books, 2003 ISBN 81-7436-267-3
Khalsa, Guru Fatha Singh, Five Paragons of Peace: Magic and Magnificence in the Guru's Way, Toronto, Monkey Minds Press, 2010, ISBN 0-9682658-2-0, gurufathasingh.com
Khalsa, Shanti Kaur, The History of Sikh Dharma of the Western Hemisphere, Sikh Dharma, Espanola, NM, 1995 ISBN 0-9639847-4-8
Singh, Khushwant (2006), The Illustrated History of the Sikhs, Oxford University Press, India, ISBN 978-0-19-567747-8
Singh, Patwant (1999), The Sikhs, Random House, India, ISBN 978-0-385-50206-1
Takhar, Opinderjit Kaur, Sikh Identity: An Exploration of Groups Among Sikhs, Ashgate Publishing Company, Burlington, VT, 2005 ISBN 0-7546-5202-5
Teece, Geoff (2004), Sikhism: Religion in focus, Black Rabbit Books, ISBN 978-1-58340-469-0
Dilgeer, Dr Harjinder Singh (1997), The Sikh Reference Book, publisher Sikh University Press & Singh Brothers Amritsar, 1997.
Dilgeer, Dr Harjinder Singh (2005), Dictionary of Sikh Philosophy, publisher Sikh University Press & Singh Brothers Amritsar, 2005.
Chopra, R. M. (2001), Glory of Sikhism, publisher Sanbun, New Delhi, ISBN 978-3-473-47119-5
Chopra, R. M. (2014). "The Philosophical and Religious Thought of Sikhism", publisher Sparrow Publication, Kolkata, ISBN 978-81-89140-99-1.
Chopra, R. M., (2015),"A Study of Religions", publisher Anuradha Prakashan, New Delhi, ISBN 978-93-82339-94-6.
== Liên kết ngoài ==
www.sikhs.org first online Sikhism portal, set-up in the mid-1990s
sikhphilosophy.net Informative resource on Sikhism
The second scripture of Sikhism: Sri Dasam Granth Sahib
Sikhism Resource
srigranth.org
About Sikhism
sikh-heritage.co.uk
All-About-Sikhs.com
Guru Granth Sahib search engine with additional scriptural resources
Guide to the Sikh religion |
ẩm thực việt nam.txt | Ẩm thực Việt Nam là cách gọi của phương thức chế biến món ăn, nguyên lý pha trộn gia vị và những thói quen ăn uống nói chung của mọi người Việt trên đất nước Việt Nam. Tuy hầu như có ít nhiều có sự khác biệt, ẩm thực Việt Nam vẫn bao hàm ý nghĩa khái quát nhất để chỉ tất cả những món ăn phổ biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số nhưng đã tương đối phổ thông trong cộng đồng người Việt.
== Đặc điểm ==
Việt Nam là một nước nông nghiệp thuộc về xứ nóng, vùng nhiệt đới gió mùa. Ngoài ra lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung, Nam. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng - miền. Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng. Điều đó góp phần làm ẩm thực Việt Nam phong phú, đa dạng. Đây là một văn hóa ăn uống sử dụng rất nhiều loại rau (luộc, xào, làm dưa, ăn sống); nhiều loại nước canh đặc biệt là canh chua, trong khi đó số lượng các món ăn có dinh dưỡng từ động vật thường ít hơn. Những loại thịt được dùng phổ biến nhất là thịt lợn, bò, gà, ngan, vịt, các loại tôm, cá, cua, ốc, hến, trai, sò v.v. Những món ăn chế biến từ những loại thịt ít thông dụng hơn như thịt chó, thịt dê, thịt rùa, thịt rắn, thịt ba ba... thường không phải là nguồn thịt chính, nhiều khi được coi là đặc sản và chỉ được sử dụng trong một dịp liên hoan nào đó với rượu uống kèm. Người Việt cũng có một số món ăn chay theo đạo Phật được chế biến từ các loại thực vật, không có nguồn thực phẩm từ động vật. Tuy nhiên, trong cộng đồng thì lại có rất ít người ăn chay trường, chỉ có các sư thầy trong các chùa hoặc người bị bệnh nặng buộc phải ăn kiêng.
Một đặc điểm ít nhiều cũng phân biệt ẩm thực Việt Nam với một số nước khác: ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon tuy đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống ẩm thực người Việt ít có những món hết sức cầu kỳ, hầm nhừ ninh kỹ như ẩm thực Trung Hoa, cũng không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ cao độ như ẩm thực Nhật Bản, mà thiên về phối trộn gia vị một cách tinh tế để món ăn được ngon, hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn thưởng thức rất thú vị dù không thực sự bổ béo (ví dụ như các món măng, chân cánh gà, phủ tạng động vật...).
Trong thực tế nhiều người nhận thấy, một cách cảm tính, đặc trưng ẩm thực Việt Nam toát lộ trong sự đối sánh với các nền văn hóa ẩm thực khác trên thế giới: món ăn Trung Hoa ăn bổ dưỡng, món ăn Việt ăn ngon miệng, món ăn Nhật nhìn thích mắt. Tuy nhiên, đặc điểm này ngày càng phai nhòa trong thời hội nhập.
Theo ý kiến của tiến sĩ sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, cho rằng ẩm thực Việt Nam có 9 đặc trưng
Tính hoà đồng hay đa dạng.
Tính ít mỡ.
Tính đậm đà hương vị.
Tính tổng hoà nhiều chất, nhiều vị.
Tính ngon và lành.
Tính dùng đũa.
Tính cộng đồng hay tính tập thể.
Tính hiếu khách.
Tính dọn thành mâm.
=== Nguyên tắc phối hợp ===
Ẩm thực Việt Nam đặc trưng với sự trung dung trong cách pha trộn nguyên liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo. Các nguyên liệu phụ (gia vị) để chế biến món ăn Việt Nam vô cùng phong phú, bao gồm:
Nhiều loại rau thơm như húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa là, mùi tàu...
Gia vị thực vật như ớt, hạt tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá non...
Gia vị lên men như mẻ, mắm tôm, bỗng rượu, dấm thanh hoặc kẹo đắng, nước cốt dừa...
Khi thưởng thức các món ăn, tính chất phối trộn nguyên liệu một cách tổng hợp nói trên càng trở nên rõ nét hơn: người Việt ít khi ăn món nào riêng biệt, thưởng thức từng món, mà một bữa ăn thường là sự tổng hòa các món ăn từ đầu đến cuối bữa. Một nét đặc biệt khác của ẩm thực Việt Nam mà các nước khác, nhất là nước phương Tây không có chính là gia vị nước mắm. Nước mắm được sử dụng thường xuyên trong hầu hết các món ăn của người Việt. Ngoài ra còn có các loại nước chấm như tương bần, xì dầu (làm từ đậu nành). Bát nước mắm dùng chung trên mâm cơm, từ xưa đến nay làm khẩu vị đậm đà hơn, món ăn có hương vị đặc trưng hơn và biểu thị tính cộng đồng gắn bó của người Việt.
Ẩm thực Việt Nam tuân theo hai nguyên lý là Âm dương phối triển và Ngũ hành tương sinh.
Âm dương phối triển
Các gia vị đặc trưng của các dân tộc Đông Nam Á nhiệt đới nói trên được sử dụng một cách tương sinh hài hòa với nhau, như món ăn dễ gây lạnh bụng (tính hàn) buộc phải có gia vị cay nóng (tính nhiệt) đi kèm và ngược lại. Các nguyên liệu tính nóng (ấm) phải được nấu cùng nguyên liệu tính lạnh (mát) để tạo sự cân bằng cho món ăn.
Các món ăn kỵ nhau không thể kết hợp trong một món hay không được ăn cùng lúc vì không ngon, hoặc có khả năng gây hại cho sức khỏe cũng được dân gian đúc kết thành nhiều kinh nghiệm lưu truyền qua nhiều thế hệ. Ví dụ:
Thịt vịt tính "lạnh", thích hợp ăn vào mùa hè với nước mắm gừng, tính "nóng". Mặt khác, thịt gà và thịt lợn tính "ấm" thích hợp ăn vào mùa đông (trước đây thường chỉ khi đến Tết mới làm thịt lợn, thịt gà).
Thủy sản các loại từ "mát" đến "lạnh" rất thích hợp để sử dụng với gừng, sả, tỏi ("ấm").
Thức ăn cay ("nóng") thường được cân bằng với vị chua, được coi là ("mát").
Trứng vịt lộn ("lạnh"), phải kết hợp với rau răm ("nóng").
Bệnh nhân cúm và cảm lạnh phải uống nước gừng, xông bằng lá sả, lá bưởi ("nóng").
Ngũ hành tương sinh
=== Đặc điểm theo vùng miền, dân tộc ===
Tuy có những nét chung nói trên, ẩm thực Việt Nam có đặc điểm khác nhau theo từng vùng, mặc dù trong từng vùng này ẩm thực của các tiểu vùng cũng thể hiện nét đặc trưng:
==== Ẩm thực miền Bắc ====
Ẩm thực miền Bắc thường không đậm các vị cay, béo, ngọt bằng các vùng khác, chủ yếu sử dụng nước mắm loãng, mắm tôm. Sử dụng nhiều món rau và các loại thủy sản nước ngọt dễ kiếm như tôm, cua, cá, trai, hến... và nhìn chung, do truyền thống xa xưa có nền nông nghiệp nghèo nàn, ẩm thực miền Bắc trước kia ít thịnh hành các món ăn với nguyên liệu chính là thịt, cá. Nhiều người đánh giá cao ẩm thực Hà Nội một thời, cho rằng nó đại diện tiêu biểu nhất của tinh hoa ẩm thực miền Bắc Việt Nam với những món phở, bún thang, bún chả, các món quà như cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì... và gia vị đặc sắc như tinh dầu cà cuống, rau húng Láng.
==== Ẩm thực miền Nam ====
Ẩm thực miền Nam, là nơi chịu ảnh hưởng nhiều của ẩm thực Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, có đặc điểm là thường cho thêm đường và hay sử dụng sữa dừa (nước cốt và nước dão của dừa). Nền ẩm thực này cũng sản sinh ra vô số loại mắm khô (như mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía...). Ẩm thực miền Nam cũng dùng nhiều đồ hải sản nước mặn và nước lợ hơn miền Bắc (các loại cá, tôm, cua, ốc biển), và rất đặc biệt với những món ăn dân dã, đặc thù của một thời đi mở cõi, hiện nay nhiều khi đã trở thành đặc sản: chuột đồng khìa nước dừa, dơi quạ hấp chao, rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, đuông dừa, đuông đất hoặc đuông chà là, vọp chong, cá lóc nướng trui...
==== Ẩm thực miền Trung ====
Đồ ăn miền Trung với tất cả tính chất đặc sắc của nó thể hiện qua hương vị riêng biệt, nhiều món ăn cay và mặn hơn đồ ăn miền Bắc và miền Nam, màu sắc được phối trộn phong phú, rực rỡ, thiên về màu đỏ và nâu sậm. Các tỉnh thành miền Trung như Huế, Đà Nẵng, Bình Định rất nổi tiếng với mắm tôm chua và các loại mắm ruốc. Đặc biệt, ẩm thực Huế do ảnh hưởng từ phong cách ẩm thực hoàng gia, cho nên rất cầu kỳ trong chế biến và trình bày. Một mặt khác, do địa phương không có nhiều sản vật mà ẩm thực hoàng gia lại đòi hỏi số lượng lớn món, nên mỗi loại nguyên liệu đều được chế biến rất đa dạng với trong nhiều món khác nhau.
==== Ẩm thực các dân tộc thiểu số Việt Nam ====
Với 54 dân tộc sống trên nhiều vùng địa lý đa dạng khắp toàn quốc, ẩm thực của mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có bản sắc riêng biệt. Rất nhiều món trong số đó ít được biết đến tại các dân tộc khác, như các món thịt lợn sống trộn phèo non của các dân tộc Tây Nguyên. Tuy nhiên, nhiều món ăn đã trở thành đặc sản trên đất nước Việt Nam và được nhiều người biết đến, như mắm bò hóc miền Nam, bánh cuốn trứng (Cao Bằng, Lạng Sơn), bánh coóng phù (bánh trôi dân tộc Tày), lợn sữa và vịt quay mắc mật (quả mặt), khau nhục Lạng Sơn, phở chua, cháo nhộng ong, phở cốn sủi, thắng cố, các món xôi nếp nương của người Thái, thịt chua Thanh Sơn (Phú Thọ)...
==== Ẩm thực Việt Nam trên thế giới ====
Theo bước chân của người Việt đến khắp thế giới, ẩm thực Việt với tất cả những nét đặc sắc của nó dần được biết tới nhiều ở các nước khác như Hàn Quốc, Lào, Trung Quốc và các nước châu Âu có cộng đồng người Việt ngụ cư. Có thể dễ dàng tìm thấy các tiệm ăn Việt Nam ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Úc, Cộng hoà Séc, Đức, Ba Lan và Nga. Các món ăn thuần Việt như phở, nem rán, bánh mì và các loại hương liệu đặc biệt như mắm tôm, rau húng rất phổ biến ở những vùng có đông người châu Á, trong đó có người Việt, sinh sống. Tuy nhiên ẩm thực Việt Nam tại các nước trên thế giới đã ít nhiều lai tạp với ẩm thực bản địa, hoặc đã gia giảm, thay đổi để phù hợp hơn với khẩu vị của cộng đồng dân cư khắp thế giới.
== Bữa ăn ==
=== Bữa ăn gia đình Việt Nam truyền thống ===
Người Việt thường ăn phụ vào buổi sáng với các thức quà vặt (như các loại bánh, xôi, cháo, phở, bún). Một bữa ăn chính, đặc trưng của một gia đình Việt Nam diễn ra vào buổi trưa và buổi tối, thông thường là khi gia đình đã tụ họp đông đủ. Bữa ăn chính của người Việt thường bao gồm một món chủ lực (cơm), một món gia vị (nước chấm) và ba món ăn cơ bản đủ chất và cân bằng âm dương:
Một nồi cơm chung cho cả gia đình (mỗi người một bát và đôi đũa).
Một bát nhỏ đựng nước chấm (nước mắm hoặc xì dầu) cả gia đình dùng chung.
Một món mặn có chất đạm động vật và chất béo được luộc, rán hoặc kho như thịt, cá.
Một món rau luộc hoặc xào, hoặc rau thơm, rau sống, dưa muối.
Một món canh có thể đậm đà, cầu kỳ nhưng cũng không hiếm khi chỉ đơn giản là một bát nước luộc rau.
Hiện nay, do đời sống được nâng cao hơn, cơ cấu bữa ăn chính của người Việt hiện cũng đã cải thiện đáng kể theo hướng gia tăng các món mặn nhiều dinh dưỡng sử dụng nguyên liệu động vật. Bên cạnh xu hướng một số vùng miền (nhất là những vùng thôn quê) có đặc tính càng nhiều món trên mâm càng tốt, nhiều gia đình thành thị lại chú trọng xu hướng tinh giản bằng cách chỉ nấu một món trọng tâm có đủ chất đạm và các loại rau bày lên mâm, ăn kèm với các loại rau dưa lặt vặt khác. Một số gia đình làm các món ăn đặc biệt nhân ngày chủ nhật rảnh rỗi, những món cầu kỳ mà ngày thường ít có thời gian để làm. Bát nước chấm "cộng đồng" nay cũng dần được nhiều gia đình, hoặc các nhà hàng cầu kỳ san riêng ra bát cho từng người để hợp vệ sinh hơn, và có nhiều loại nước chấm khác nhau tùy theo trong bữa có loại đồ ăn gì.
=== Cỗ bàn ===
Cỗ bàn thường sử dụng nhiều món ăn trong đó nhấn mạnh đặc biệt các món mặn dùng nguyên liệu động vật, loại trừ tất cả những món ăn ngày thường như rau luộc, dưa cà...
==== Cỗ cúng tổ tiên ====
Cúng tổ tiên (ngày giỗ chạp, ngày tết cổ truyền) thường sử dụng xôi đậu xanh, xôi gấc với gà luộc nguyên con hoặc chân giò. Cúng người mới mất chỉ dùng xôi trắng và một quả trứng luộc.
==== Cỗ Tết ====
Cỗ tết truyền thống rất cầu kỳ, mâm cỗ cơ bản thường là 5 bát: bóng, miến, măng, mọc, chim hoặc gà tần và 5 đĩa: giò, chả, gà hoặc vịt luộc, nộm, xào. Ngày nay mâm cỗ tết đã có nhiều thay đổi về thực đơn theo xu hướng tinh giản, chú trọng "chơi" hơn "ăn".
==== Cỗ cưới hỏi ====
Đám ăn hỏi thường sử dụng đồ ăn như lợn sữa quay nguyên con, gà luộc đặt trên mâm xôi (thường là xôi màu đỏ), bánh xu xê, bánh cốm, mứt sen, chè, rượu, trầu cau. Thường lễ vật được làm theo số lượng chẵn và đặt trên các mâm hoặc tráp theo số lẻ. Tiệc cưới có thực đơn tương tự các bữa tiệc khác, thường phổ biến là thực đơn khoảng 10 món với một món ăn khai vị (xúp), một món cơm gạo ngon, một món xôi (thường là xôi đỏ như xôi gấc, xôi lá cẩm), một món canh, một món cá, hai món thịt, một món rau xào nấu, một món nộm, một món tráng miệng.
==== Tiệc ====
Tiệc có nhiều loại, tuy nhiên theo truyền thống thường là một dạng cỗ với nhiều món ăn mặn, nem, rau, nộm, món tráng miệng, và rượu hoặc bia uống kèm. Ngày nay tiệc có thể sử dụng một số hình thức cách tân như tiệc đứng với các món ăn kiểu Âu, tiệc cơ bản với những món nấu theo trọng tâm (như thuần món cá, món thịt chó, món thịt bò, món thịt dê).
==== Đồ lễ dùng cúng bái ====
Tùy theo dạng thức cúng và văn hóa các vùng miền, nhiều loại đồ lễ cúng bái cũng có sự khác biệt ít nhiều như Cúng tất niên, tết nhất (dùng bún măng, bánh chưng, dưa hấu, ngũ quả, thịt nguội), cúng đầy tháng (dùng xôi gấc, bánh hỏi thịt quay), cúng đất đai (rượu nếp, gạo, cơm trắng, muối), cúng cô hồn (mía, bánh kẹo, trái cây, cháo trắng), cúng sao (các loại chè).
=== Quà vặt ===
Các món quà dùng để ăn chơi, không sử dụng để ăn lấy no thay thế một bữa ăn chính. Trong ẩm thực Việt Nam các món quà rất phong phú, được bán dưới nhiều dạng: bán rong, bán ở các quán bình dân, quán đặc sản, hoặc dễ dàng chế biến trong gia đình. Các món quà thường có:
Các loại bánh như bánh giầy làm từ bột gạo, thường ăn với giò lụa. Bánh giò gồm bột gạo bọc nhân thịt lợn, mộc nhĩ, một chút sụn gói lá chuối và hấp chín. Bánh nếp, Bánh gai, bánh khoai, Bánh cuốn, nhiều vùng có những đặc sản bánh cuốn riêng, nổi tiếng có Bánh cuốn Thanh Trì, bánh cuốn trứng Lạng Sơn. Bánh trôi, bánh chay; Bánh xu xê hay còn gọi là bánh phu thê và Bánh cốm; bánh bèo, bánh bột lọc Huế; bánh khoái, bánh xèo v.v.
Cốm (đặc biệt nhất là cốm làng Vòng (trước những năm 1990 là ngoại ô Hà Nội, sau này thuộc quận Cầu Giấy), cốm Mễ Trì;
Ốc luộc sử dụng ốc nước mặn như ốc len, ốc gai, ốc hương, ốc nước ngọt như ốc vặn, ốc mít, ốc nhồi được luộc chín vừa, dùng que sắt hay tăm khêu ra chấm nước mắm pha gừng, sả, ớt, tỏi và lá chanh thái chỉ.
Các loại củ quả luộc hoặc nướng như sắn luộc chấm muối vừng, khoai lang, khoai sọ luộc chấm đường, ngô luộc, ngô nướng, ngô rang.
=== Đồ nhậu ===
Đồ chuyên dùng uống rượu, bia còn được gọi là "mồi nhậu", "đồ nhậu", "đồ nhắm", "mồi nhắm". Người Việt không quá cầu toàn các loại đồ nhắm đi kèm rượu bia nên ngoài các món ăn thông thường hoặc món ăn tiệc tùng, thường chỉ có một số món ăn "chuyên dụng" như:
Các món khô nướng: thường có cá mực khô, khô cá sặc, nai khô, khô cá đuối, cá chỉ vàng khô, thường nướng trên than hoa hoặc cồn, dùng làm đồ nhắm kết hợp với bia, rượu.
Các món trộn chua: quả cóc, quả xoài xanh... băm nhỏ trộn với ớt, tỏi và/hoặc các loại cá khô. Thường dùng làm đồ nhắm rượu, thịnh hành ở miền Nam Việt Nam.
Một số đồ khô khác: lạc rang (lạc rang húng lìu), bánh đa (bánh đa vừng, bánh đa dừa) nướng,
== Món ăn thông dụng ==
=== Cơm ===
Các món cơm nấu bằng các loại gạo tẻ hạt dài với lượng nước vừa vặn để cơm không bị khô hay nát. Đây không được coi là một loại thức ăn mà thường coi là món chủ lực để ăn no trong các bữa ăn. Tùy vùng miền có rất nhiều loại cơm và biến thể của cách nấu.
Cơm trắng: thông thường nấu bằng nồi và xới ra bát cho từng người trong suốt bữa ăn.
Cơm nắm: cơm nấu chín tới, hơi nhão. Đem nhồi rồi vắt trong khăn hoặc nắm thành các nắm to. Khi ăn thái khoanh chấm với muối vừng, ruốc (còn gọi là chà bông) thịt lợn, ruốc thịt gà, hay ăn với các loại giò chả.
Cơm tấm chỉ thịnh hành ở miền Nam Việt Nam, ở miền Bắc không dùng loại cơm gạo tấm này. Cơm tấm hay ăn kèm với sườn nướng chan mỡ hành hoặc trứng ốp la. Thịt lợn nướng (xương sườn hay miếng thịt) và một miếng bì ăn với cơm nấu bằng gạo tấm. Cơm và thịt ăn lẫn với nhiều loại rau, cùng với tôm tẩm bột, trứng hấp và tôm nướng. Thông thường các nhà hàng sẽ phục vụ món này với một bát nước chấm nhỏ, cũng như một bát canh rau có thả vài lát hành. Thỉnh thoảng người ta thay trứng hấp bằng trứng ốp-lết. (Cách phục vụ này thường không phổ biến ở các hàng, quán tại Việt Nam)
Cơm lam: gạo nếp nương cho vào ống tre, nứa, đổ thêm nước, nút kỹ bằng lá chuối và nướng ống trên lửa cho tới khi chín. Món này thường thịnh hành ở các dân tộc thiểu số như người Mường, người Thái.
Cơm gà rau thơm: cơm được nấu trong thân gà với một số loại rau thơm, có hương vị đặc biệt. Tuy nhiên món này ít phổ biến.
Cơm đĩa: thịnh hành ở các đô thị (cơm bụi), thường phục vụ người làm văn phòng ăn bữa trưa. Cơm cho vào bát loa dằn xuống tạo khuôn sau đó trút ra đĩa, một góc đĩa đặt các loại rau, thịt.
Cơm rang: cơm để nguội rang trong chảo mỡ, có thể kết hợp với nhiều loại rau dưa (dưa cải) củ (xu hào, cà rốt xắt hạt lựu), hoa quả (dứa, kiwi), thịt (thịt xá xíu, thịt lợn quay), giò, chả và các loại hải sản. Cơm rang có nhiều biến thể nhưng phổ biến nhất là các loại cơm rang thập cẩm, cơm rang Dương Châu, cơm chiên hải sản. Một số loại cơm rang được gói vào lá sen có hương vị rất thơm ngon.
Cơm hến: đặc sản Huế. Cơm trộn với thịt hến, ớt và rau thơm các loại ăn kèm với một bát nước hến luộc.
=== Xôi ===
Xôi sử dụng nguyên liệu chính là gạo nếp đem ngâm và đồ cách thủy, làm chín bằng hơi nước nóng trong một loại nồi hấp (gọi là cái "chõ" hay cái "xửng"). Gạo nếp thường phối trộn với các phụ gia khác tùy theo món xôi.
Các món xôi thường thấy là xôi vò (xôi trộn đậu xanh giã mịn, làm tơi từng hạt), xôi xéo (xôi, đậu xanh giã mịn nắm lại thái mỏng, mỡ nước, hành củ phi), xôi đỗ xanh, xôi đậu phộng (xôi lạc), xôi đỗ đen, xôi gấc (lấy màu đỏ của thịt quả gấc, thường trộn chút đường và mỡ), xôi lá cẩm (màu tím), xôi Hoàng Phố (gần tương tự xôi xéo nhưng có thêm hạnh nhân), xôi gà (xôi ăn với thịt gà xé phay), xôi lạp xường, xôi sầu riêng (dùng chút múi sầu riêng trộn vào gạo), bánh khúc (bánh khúc lăn qua gạo nếp đồ trong chõ), xôi thập cẩm, xôi lá dứa (dùng lá dứa giã lấy nước làm xôi có màu xanh và vị rất thanh). Riêng món xôi ngô (xôi bắp, có nơi gọi là xôi lúa) được chế biến từ nguyên liệu chính là ngô chứ không phải từ gạo nếp.
=== Cháo ===
Các món cháo Việt Nam có cách chế biến tương tự Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản: giống như nấu cơm nhưng cho tỷ lệ nước nhiều hơn hẳn gạo để gạo nát nhừ trong nồi. Cháo thường dùng gạo nếp, gạo dẻo kết hợp với gạo tẻ và nhiều nơi còn giã nhỏ gạo trước khi nấu. Nước dùng nấu cháo có thể nhiều kiểu như nước luộc gà, nước luộc trai, hến, nước luộc thịt. Cháo thường được ăn bình thường không kèm thức ăn gì đặc biệt, nhưng thường người Việt hay ăn cùng với trứng vịt muối, trứng kho, giá, hành tươi, thịt nướng, thịt gà hay thịt vịt xé nhỏ, quẩy. Có các món cháo như cháo trắng, cháo hành, cháo lươn, cháo sườn, cháo huyết, cháo tim gan (lợn), cháo gà, cháo cá ám, cháo vịt, cháo trai, cháo ếch, cháo sườn, cháo chân giò... Đặc biệt món rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh rất mát, bổ, nổi tiếng ở Nam Bộ.
=== Phở, bún, mì, hủ tiếu, miến... ===
Ẩm thực Việt Nam tự hào có rất nhiều kiểu mì, bún: mì làm từ bột mì, bún, bánh canh và bánh phở làm từ bột gạo, miến làm từ bột củ dong riềng hay đậu xanh,... Mỗi loại mì lại có ảnh hưởng và nguồn gốc từ nhiều nơi trong nước và mỗi loại lại có hương vị đặc trưng. Các món phở, bún, miến, mì thường có hai cách làm chính là:
Món nước: cho nguyên liệu vào bát và trút ngập nước dùng nhiều dinh dưỡng, ngon ngọt.
Món xào: cho vào chảo xào qua mỡ nước hoặc dầu thực vật, kết hợp cùng các loại rau, thịt
==== Phở ====
Phở sử dụng nguyên liệu chính là bánh phở màu trắng thái sợi bản, làm từ gạo, là một trong nhiều món ăn Việt Nam dạng mì nước. Phở thường được coi là món "quốc hồn quốc túy" của Việt Nam tuy hầu như không thể tìm thấy phở trong thực đơn của người Việt từ trước thời Pháp thuộc. Đây là món giàu dinh dưỡng, nước dùng rất trong được ninh bằng các loại xương và hương liệu (gừng nướng, củ hành khô nướng, quế, hồi, thảo quả v.v.) với những bí quyết riêng trong nhiều giờ.
Tuy có những tìm tòi cách tân tạo nên nhiều biến thái của phở với nhiều kiểu thịt khác nhau nhưng những nỗ lực đó không mấy thành công ngoại trừ phở bò và phở gà. Phở thường được sắp đặt trong bát lớn với thịt bày lên trên cùng với một số loại rau gia vị tùy vùng (như vài lát hành tây, giá đỗ, hành ta và rau húng thơm xắt nhỏ). Bày bánh phở đã chần vào bát, bày thịt lên trên, trút nước dùng nóng vào và rắc ít hành, ngò.
Bên cạnh bát phở cho thực khách là bát đựng vài miếng chanh tươi, dăm cọng rau thơm, chút tương ớt, bột tiêu. Ở Việt Nam đây thường là món dùng ăn sáng tuy rằng hiện nay có xu hướng thực khách, nhất là thực khách các đô thị trong nước và ở nước ngoài, ăn tất cả các buổi trong ngày. Phở có nhiều thương hiệu, ở miền Bắc Việt Nam rất nổi tiếng là các thương hiệu phở Phở Hà Nội và các cửa hàng phở Nam Định. Tuy nhiên tại nhiều vùng miền trong nước, và đặc biệt là ở các nước trên thế giới như Mỹ, châu Âu, phở có sự thay đổi, gia giảm ít nhiều để phù hợp với văn hóa ẩm thực từng vùng miền. Nhiều nhà kinh doanh cũng bắt đầu tạo những thương hiệu phở đặc biệt như Phở 24, Phở Cali xuất khẩu ra ngoại quốc. Các món phở chính thường thấy:
Phở chín: sử dụng thịt đã luộc thật chín.
Phở tái chần: những lát thịt được chần tái trước, sau đó được làm chín thêm bằng nước dùng chan vào bát (có nhiều dạng tái gầu, tái nạm v.v).
Phở tái lăn: cho thịt và các loại rau gia vị vào chảo mỡ thật nóng, đảo nhanh trước khi trút lên bát phở.
Phở xào: bánh phở xào mềm hoặc xào giòn cùng với các loại rau, thịt, trút ra đĩa.
Phở cuốn: bánh phở không thái, để bản to và cuộn các loại thịt, rau, chấm nước mắm pha chua ngọt dịu. Món phở cuốn, như một sự cách tân phở truyền thống, đang rất thịnh hành ở Hà Nội.
==== Bún ====
Bún sử dụng nguyên liệu chính là các sợi bún được vắt thành bún lá hoặc để nguyên dạng bún rối. Các món bún hết sức phong phú, đa dạng, trong đó nổi tiếng có:
Bún đậu mắm tôm: Bún lá ăn với đậu chiên, mắm tôm vắt chanh và ớt đánh sủi bọt. Rau sống đi kèm thường có rau kinh giới.
Bún bò: Là một dạng mì nước có thịt bò ướp hương vị, có nguồn gốc từ cố đô Huế. Sợi bún dùng cho món này dày hơn, có tiết diện tròn. Nước dùng là nước xương bò hầm kỹ, và nhiều loại gia vị khác. Không giống như phở, bát bún bò Huế có màu sắc hơi đỏ. Nó thường được ăn kèm với rau xà lách, giá và vài lát chanh để vắt vào nước. Trong khi cả bún bò Huế và phở đều là những món cơ bản dùng thịt bò, nước dùng của chúng lại khác biệt về hương vị (và các thành phần ăn kèm khác). Bún bò Huế rất nhiều gia vị nóng hơn so với phở. Ngoài bún bò Huế, cũng thường thấy bún bò Nam Bộ, một dạng bún nửa khô nửa nước, với nhiều rau thơm các loại cùng nước mắm pha loãng lót đáy bát, cho bún lên trên, rắc thịt bò xào và lạc rang lên trên cùng, trộn đều và ăn nóng.
Bún riêu: bún ăn với riêu cua, đậu phụ chiên. Nước dùng gồm nước xương ninh và nước cua nấu với cà chua. Ăn kèm rau sống, giá đỗ, xà lách gia thêm chút. Bún riêu có hai loại dạng chính là bún riêu cua kiểu miền Bắc có thể chỉ có bún, riêu cua, cà chua nhưng đôi khi có thể gia thêm rau muống, rau rút chần; và bún riêu Nam bộ là một dạng bún riêu cua nhưng thường làm các nguyên liệu thành miếng, như thịt bò viên, riêu cua viên, tiết lợn cắt miếng, đậu phụ chiên.
Bún cá: một dạng bún nước. Chần bún cho vào bát, đặt các lát cá chiên và chả cá lên trên, kết hợp với các loại rau như rau câu, dọc mùng, rau cải, trút nước dùng và ăn nóng. Ở các vùng miền khác nhau, bún cá được chế biến thêm để tạo ra những loại bún cá khác nhau như bún cá Hải Phòng, bún cá Quy Nhơn, bún cá Kiên Giang, bún cá Châu Đốc,...
Bún ốc: một dạng bún nước sử dụng nước luộc ốc và thịt của ốc (ốc nhồi, ốc vặn, ốc đá). Nhể thịt ốc cho lên trên bát bún, chan nước dùng và ăn khi thật nóng. Gia vị cho món bún ốc thường không thể thiếu ớt chưng rất cay và mắm tôm.
Bún thang: đặc sản một thời ở Hà Nội. Người nội trợ thái chỉ giò lụa, trứng luộc bày rất khéo trên bát bún, chan nước dùng nóng. Bún thang thường gia thêm chút hương vị cà cuống.
Bánh canh với giò heo.
Bún vịt xáo măng: món bún nước dùng với thịt vịt nấu với măng tươi hoặc măng chua.
Bún chả: Bún chả là một đặc sản của Hà Nội, gần giống với bún thịt nướng của miền Nam. Bún chả Hà Nội có khác biệt là có hai loại chả: thịt lợn nạc được băm nhuyễn, nặn viên, ép hơi dẹt (chả băm), cùng với thịt ba chỉ thái thành miếng nhỏ và ướp (chả miếng), sau đó nướng và thả vào nước chấm có nhiều lát đu đủ, cà rốt trộn chua. Hương vị thịt nướng rất thơm ngon, ăn với bún và rau sống. Bún chả Hà Nội ngày xưa không thể thiếu được chút tinh dầu cà cuống và rau húng Láng. Gần gũi với bún chả là các món Bún thịt nướng thông dụng ở miền Nam, dùng bún, thịt lợn nướng và nhiều loại rau thơm cùng giá. Có thể ăn kèm thêm với nem rán, tôm. Dùng với một bát nước chấm.
Bún thịt chó: bún ăn kèm với thịt chó xáo măng hoặc thịt chó nấu dựa mận.
Bún mọc: Giò sống (thịt lợn nạc giã nhuyễn) viên với nấm hương hấp chín, thịt chân giò luộc thái mỏng to bản. Bày giò sống và thịt chân giò lên trên, gia thêm chút rau dọc mùng (sơn hà) và chan nước dùng nóng và ngọt vào bát bún.
Bún nước lèo: nổi tiếng với bún nước lèo Trà Vinh và bún nước lèo Sóc Trăng. Ngoài nước lèo đặc biệt còn có huyết lợn, thịt cá lóc nghiền nhỏ, thịt lợn quay và các loại rau giá đa dạng nhưng không thể thiếu giá đỗ sống, bắp chuối thái mỏng và hẹ.
==== Hủ tiếu ====
Nguyên liệu chính là sợi hủ tiếu. Sợi hủ tiếu có hai loại: tươi hoặc khô. Loại khô phải trụng nước sôi cho mềm đi, loại tươi chỉ cần chần qua (nước sôi). Các món hủ tiếu cũng có hai dạng là chan nước lèo hoặc xào khô. Hủ tiếu thịnh hành ở miền Nam Việt Nam và nổi tiếng là các loại hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu Mỹ Tho, hủ tiếu Sa Đéc hoặc hủ tiếu Sài Gòn. Hủ tiếu thường ăn kèm với giá đỗ sống và các loại rau thơm.
==== Mì ====
Mì gần tương tự các loại bánh phở, bún khô. Mì thường được ngâm, chần cho mềm trước khi đưa vào chế biến các món dạng:
Mì xào dòn: mì trứng xào cháy cạnh, trên bày nhiều đồ hải sản, rau và tôm cùng nước gia vị thơm tho.
Mì xào mềm: mì chần nước và xào, không để cháy cạnh như mì xào dòn. Món mì xào mềm tương tự món phở xào.
Mì nước: tương tự như phở, bún nước các loại.
Mì Quảng: một món ăn kiểu mì rất thông dụng ở Quảng Nam, với nhiều thành phần, nguyên liệu. Mì Quảng có nhiều loại khác nhau ở cách chuẩn bị và các đặc tính hương vị.
Bánh đa cua (bánh đa đỏ): là một dạng mì nhưng sợi có màu sẫm. Thường chế biến như bún riêu cua, có thể kết hợp với thịt bò tái, tôm nõn. Bánh đa cua là đặc sản nổi tiếng của Hải Phòng.
Mì vằn thắn, Sủi cảo: dạng mì nước du nhập từ Trung Quốc với nước dùng có hương vị tôm nõn.
==== Miến ====
Miến thường làm dạng sợi bằng nguyên liệu là củ dong riềng, bột đao. Cách chế biến miến để ăn tương tự như các món bún nước hay phở. Trong ẩm thực người Việt thường có các món miến xào hoặc miến nước khá phổ thông sau: Miến xào lòng gà; Miến xào rau cần; Miến xào mộc nhĩ, nấm hương, thịt bò; Miến lươn nước với lươn tươi hoặc khô chiên rắc lên trên bát miến, gia chút rau răm, trút nước dùng và ăn nóng (nổi tiếng ở Nghệ An); miến xào hến ăn kèm với bánh đa nướng; miến lươn xào; miến lòng gà (nước).
=== Lẩu ===
Lẩu có thể coi là một biến thái của các loại mì nước hoặc món ăn mà ngày trước được gọi bằng tên hổ lốn (hay hẩu lốn) Việt Nam. Tuy nhiên, với nhiều loại gia vị, rau, nấm, măng, khoai sọ, thịt, thủy sản và các dạng nước dùng chuyên biệt, lẩu được coi là một trong những món ăn mà tính phong phú của nó khiến khó có thể liệt kê đầy đủ. Có thể có các dạng lẩu mắm (dùng các loại mắm cá rã thịt trong nồi để nấu nước dùng, ăn với nhiều loại rau vườn và rau rừng), lẩu dê, lẩu hải sản, lẩu thập cẩm, lẩu gà (thường đi kèm rau ngải cứu) v.v. và có nhiều loại lẩu từ Trung Quốc, Thái Lan) du nhập vào Việt Nam.
Nồi nước dùng ninh ngon ngọt luôn nóng rẫy được đặt trên bếp nhỏ giữa bàn ăn, khi ăn thực khách gắp các loại rau, hải sản, thịt nhúng vào nồi, để chín kỹ hoặc chín tái tùy thích và gắp ra ăn. Một nồi lẩu thường trở thành một món ăn chủ lực trong một bữa tiệc với nhiều người tham gia.
=== Các món nem, món cuốn ===
Các món cuốn thường sử dụng lá nem hoặc một loại lá thơm nào đó (như lá lốt, lá cách, lá móc mật...) cuộn nguyên liệu bên trong. Có thể nướng, rán hoặc ăn sống tùy loại.
Nem rán, hay chả giò theo tiếng miền Nam, chả ram theo tiếng miền Trung – món ăn với các loại nhân bằng thịt lợn, giá đỗ, cua, tôm, mộc nhĩ, su hào, trứng và một số thành phần khác được cuộn trong bánh đa nem, hay bánh tráng theo tiếng miền Nam. Bánh đa nem thường được làm ẩm trước khi cuốn bằng cách đặt lá bánh lên trên một cái khăn ẩm, hoặc lau qua bằng dấm thanh. Nem được rán nhỏ lửa đến khi chín vàng. Nem rán biểu hiện khá toàn diện các tinh chất của thực phẩm Việt Nam bởi vì chúng có nhiều loại và được làm từ nhiều thành phần. Nem cua bể, Chả giò rế là những loại nem khá được ưa chuộng.
Gỏi cuốn cũng là một món ăn kiểu cuộn của Việt Nam, được cuốn bằng bánh đa nem với nhân tôm, rau thơm, miến, thịt bò, chuối xanh, dứa thái con chì và các thành phần khác và chấm bằng nước chấm hay tương. Theo các bà nội trợ Hà Nội, chấm gỏi cuốn không thể thiếu được một chút rượu nếp cái trong bát nước chấm.
Bì lợn, nem tai, tré: Bì, tai lợn trộn thính. Gắp từng chút bì, tai lợn v.v. vào giữa bánh đa nem cùng với một số loại rau như lá sung, lá đinh lăng, lá mơ tam thể v.v. và cuộn lại, chấm nước chấm có vị chua ngọt dịu.
Bò bía: có gốc Trung Hoa, gồm củ cải và cà rốt hấp, lạp xưởng, trứng thái nhỏ, và tôm khô xào tất cả được cuộn trong bánh tráng thường được chấm với tương đã pha chế.
Cá cuốn: Cá tươi cuốn với hành tươi và nhiều loại thực vật khác như lá sung, lá đinh lăng, chuối xanh, quả sung, thì là, dứa, bún cuốn lại với bánh phở cuốn. Nhiều khi thực khách có thể ăn cá tươi thái lát sống, hoặc những con cá nhỏ còn bơi trong chậu và gọi là các món gỏi cá.
Bò cuốn lá lốt: không hoàn toàn là nem cuốn, nhưng có nhân thịt bò xay với chút tỏi, ướp và cuốn vào lá lốt, rán hoặc nướng lên. Các biến thể khác của nó là các món chả rán như chả xương sông, chả lá lốt dùng thịt lợn.
Nem lụi hay nem nướng: Một món thịt cuốn đặc biệt của ẩm thực miền Trung Việt Nam, có màu đỏ và hương vị riêng biệt. Nem lụi được nướng bằng xiên, khi ăn thường cuốn chung với bánh tráng, rau sống, khế, chuối chát, chấm vào một loại nước chấm đặc trưng được nấu bằng nếp và thịt heo xay nhuyễn. Có nhiều dạng xiên nướng rất đặc biệt như có thể dùng dóng mía để xiên.
=== Nộm (gỏi) ===
Các món nộm thường trộn với nguyên liệu chính một loại rau, củ, quả kết hợp với các loại rau thơm, phối trộn cùng nước mắm, muối, dấm, đường, tỏi, ớt và rắc lạc rang giã dập:
Gỏi đu đủ: đu đủ thái lát, tôm, thịt lợn, rau thơm chấm vào nước chấm có pha nhiều dấm.
Gỏi Huế rau muống: một kiểu gỏi có nguồn gốc từ Huế, nhân có rau muống.
Nộm thịt bò khô: một món quà đặc biệt phổ biến ở Hà Nội, làm từ đu đủ, thịt bò khô, rau thơm, nước mắm, dấm, đường, tỏi, ớt.
Nem chạo, nem tai: bì lợn hoặc tai lợn thái chỉ, thịt mỡ thái hạt lựu trộn với thính, ăn cùng lá (hoặc quả) sung, lá đinh lăng v.v.
Nộm hoa chuối: hoa chuối thái ngang mỏng, ngâm chút dấm và muối cho trắng trước khi làm nộm.
[Nộm sứa khô]: Sứa khô sau khi rã mặn, chần qua nước sôi khoảng 1 phút sau đó vớt ra. Gạo rang xay bột, rau thơm các loại, chanh, đường, muối, ớt nêm vừa ăn. Trộn tất cả với nhau. Ăn kèm lá sung. Có thể pha nước chấm mắm tỏi ớt tùy khẩu vị từng người. Chủ yếu là chất xơ nên rất phù hợp cho người mắc bệnh béo phì.
=== Các món thịt ===
==== Kho, rang ====
Thịt, cá kho: Món kho là sự sử dụng một số loại thịt cá thông dụng, ướp tẩm gia vị, rang qua hoặc rán sơ sau đó đổ nước xăm xắp và đun khoảng 1 tiếng cho cạn nước. Đây là món ăn dân dã trong các gia đình Việt Nam. Thịt lợn kho (thường là thịt mỡ hoặc nửa nạc nửa mỡ) kho với nước mắm, hạt tiêu, hành. Có thể kho thịt với dừa xắt nhỏ, hoặc phối trộn với trứng, đậu kho chung làm món kho Tàu. Cá thường kho với riềng, trám. Nếu là loại cá biển người ta hay cho một chút nước chè cho thịt cá rắn lại, còn nếu là cá nước ngọt hay kho với nước hàng (làm bằng đường thắng) để lấy màu nâu sẫm.
Các món rang (không phải phương thức rang như các loại hạt: lạc rang, vừng rang) thường là thịt gà, tôm, cua, v.v. được đảo với nước mắm, muối tương đối mặn, khô.
==== Giò ====
Là dạng thịt (thịt lợn, thịt bò) còn tươi nóng hổi đem giã nhuyễn, trộn gia vị, bó tròn và đem luộc. Tuy nhiên giò có nhiều dạng biến thể, nổi tiếng có giò lụa (chả lụa) làm từ thịt lợn nạc và nước mắm; giò bò làm từ thịt bò, hạt tiêu, thì là; giò thủ làm từ thịt thủ và mộc nhĩ, hạt tiêu (món này thường xào xong rồi mới ép chặt); giò hoa dùng thịt và trứng; giò sống là loại thịt lợn giã nhuyễn nhưng không đem hấp hay luộc mà để nặn viên gia vào các món canh, bún.
==== Chả ====
Chả dùng các loại thịt (có thể là thịt lợn, cá, tôm, cá mực tươi) băm hoặc giã nhuyễn, trộn gia vị và nướng chín bằng than hoặc hấp chín. Chả có các loại đặc biệt: chả quế, chả cốm (cho cốm lẫn với giò sống, hấp chín), chả mực, chả cá (cá quết nhuyễn, gia rau thì là và ép dẹt nướng hoặc hấp), chả bò, chả trái quất (viên chả thành viên nhỏ như quả quất, phết lòng đỏ trứng ra ngoài hấp chín sau đó đem nướng). Một số biến thể của món bò cuốn lá lốt cũng được gọi là các món chả như chả xương sông, chả lá lốt dùng thịt lợn.
==== Quay ====
Thịt heo quay: thịt lợn để nguyên con nướng chín bằng than hoặc chặt miếng, xăm lỗ chỗ trên bề mặt bì và rán trong chảo. Ở miền Bắc lợn sữa quay là một đồ sính lễ thường dùng trong đám ăn hỏi.
Thịt vịt quay: vịt để nguyên con quay chín trong chảo mỡ sôi. Nổi tiếng là món vịt quay dạng Quảng Đông hoặc Vịt quay nhồi lá mac mật Lạng Sơn.
==== Tiết canh ====
Tiết canh là món tươi sống làm từ tiết lợn, tiết vịt, tiết ngan (đôi khi có cả tiết chó, tiết chim, tiết cua bể) đã được hãm cho khỏi đông, kết hợp với sụn, thịt băm nhỏ để kết đông sản phẩm. Ăn kèm lạc rang tách vỏ, hạt tiêu, ớt, rau thơm và thậm chí, nó có thể ăn với lòng lợn luộc. Có hai dạng biến thể của tiết: hoặc hoàn toàn tươi sống, hoặc có chần qua nước sôi một chút. Món tiết canh thường được các cơ sở y tế khuyến cáo vì có thể truyền nhiều thứ bệnh và ký sinh trùng như dịch tả, giun, sán, bệnh dại,...
==== Dùng phụ gia để làm chín ====
Các nguyên liệu có thể làm chín thịt động vật có thể gồm: thính, phèo (chất sữa trong ruột non của lợn), nước cốt chanh. Các món thường thấy là nem chua: thịt xay hoặc giã nhuyễn trộn bì (da heo thái sợi) và hạt tiêu đen hoặc ớt cắt lát, bọc ngoài bằng lá chuối, lá ổi hoặc lá chùm ruột để vài ngày sẽ lên men chua tự nhiên. Tré dùng thịt đầu hoặc tai heo, trộn chung với thính, củ riềng thái sợi và hạt mè, gói trong lá chuối hoặc là ổi cũng để lên men chua tự nhiên. Thịt chua dùng thịt lợn lửng thái mỏng, trộn thính, để trong lọ hoặc ống tre, trúc. Các món này thường được ăn kèm với tỏi.
==== Các loại thịt đặc biệt ====
Thịt bò: được làm rất nhiều dạng thức, trong đó nổi tiếng có thịt bò lúc lắc (thịt bò cắt thành từng miếng vuông nhỏ đem ướp rồi xào lên, ăn với hành, rau sống và cà chua. Ăn với cơm. Đây cũng là một món ảnh hưởng từ Pháp); thịt bò 7 món; thịt bò sốt vang (thịt bò ướp gia vị hầm, thường rất cay và nóng, ăn nóng với bánh mì). Những món thịt bò non (thịt bê) rất ngon, mềm và ngọt thịt, thường được hấp chín hoặc xào tái.
Thịt gà: gà xé phay, gà xả (có thể dùng thịt lợn, thịt bò hay những loại thịt khác trộn xả), gà tần, gà quay, gà rút xương bỏ lò v.v.
Thịt vịt: vịt nấu cam, vịt dấm ghém, vịt om sấu, vịt quay, vịt tiềm v.v.
Thịt dê: có thể làm 5, 7 món. Nổi tiếng là các món thịt dê núi Ninh Bình ở các khu du lịch Ninh Bình.
Thịt chó: thường làm 5, 7 hoặc 8 tám món, thịnh hành là 7 món. Nổi tiếng là thịt chó Nhật Tân (Hà Nội), thịt chó Vân Đình (Hà Tây cũ), thịt chó Việt Trì. Các món thông dụng gồm chả chó, dồi chó, xáo chó, nhựa mận, thịt chó hấp, chân chó hầm.
Thịt rắn, dúi, thỏ, cầy hương, lươn, rùa, ba ba, v.v. ít thông dụng, thường chế thành các món đặc sản.
=== Các món muối ===
Các món đồ khô trộn muối thường dùng để ăn trường kỳ trong gia đình như:
Ruốc thịt, ruốc cá: rang thịt (cá) với nước mắm mặn, giã bông, tơi và khô.
Khô cá muối, mực muối: cá (thường dùng cá hố, cá nục, cá trích...) hoặc mực ống muối mặn và phơi khô, khi ăn có thể kho kẹo với gia vị hoặc nướng.
Muối lạc, muối vừng (mè), muối sả: rang lạc, vừng, đậu tương hoặc xào sả riêng biệt hoặc hỗn hợp các thành phần trên, rang muối thật khô sau đó giã nhỏ mịn cùng nhau.
Các món muối lạc, muối vừng, ruốc, sả nói trên trước kia thường xuyên được sử dụng trong mâm cơm gia đình như một trong những món ăn. Tuy nhiên, hiện nay các món này hầu như chỉ còn được xem như một thứ gia vị, phụ gia cho các món ăn khác. Ruốc có thể ăn kèm với cháo, xôi, bánh mì. Muối lạc, muối vừng để chấm các món rau luộc như quả su su luộc, măng tươi luộc, hoặc ăn kèm với cơm nắm.
=== Các món rau và canh ===
Các món rau và canh rất thịnh hành trong ẩm thực của người Việt. Nhiều loại rau, củ, quả được sử dụng để làm món luộc, xào, ăn sống và các món canh như rau muống, rau dền, rau rút, khoai sọ, khoai môn, quả đu đủ xanh. Ngoài ra, các loại bông như bông bí, bông mướp, bông súng, điên điển, thiên lý, so đũa... hoặc các loại lá cây như lá đinh lăng, lá xoài, ổi non cũng có thể dùng trong các món ăn Nam Bộ.
==== Rau ====
Rau sống: rau thơm các loại (rau húng thơm, rau húng lũi, rau húng chó, tía tô, kinh giới, dọc hành v.v.), xà lách, lá sung, lá đinh lăng, lá cách, rau cải non, rau má, rau tần ô, bông điên điển, cà chua v.v.
Nộm rau: các loại rau củ quả phối trộn với dấm, đường, tỏi, ớt và lạc rang giã dập.
Xa lát rau: các loại rau củ quả trộn với dầu ăn và dấm, ví dụ Xa lát Nga
Rau chần: giá đỗ chần, dọc hành chần, cải cúc chần, rau cần chần v.v.
Rau luộc: Rau muống luộc, rau rền luộc, củ cải luộc, cải bắp luộc, v.v.
Rau xào: rau muống xào, rau câu xào, xu hào xào v.v. thường kết hợp xào với các loại thịt động vật.
Rau nướng: khá thịnh hành ở miền Nam các loại đậu bắp nướng, rau muống nướng v.v.
Rau củ rán: cà tím tẩm bột rán, nấm rơm tẩm bột rán, khoai tây chiên.
Rau nấu: có thể dùng các loại rau, củ, quả để nấu thành canh, súp, hoặc nấu chung với lẩu.
==== Dưa muối ====
Các món dưa muối rất phổ biến trong ẩm thực Việt Nam với rất nhiều dạng. Tính chất thông dụng và đa dạng của các món dưa muối Việt Nam có thể tự hào sánh ngang với những món kim chi Triều Tiên.
Rau củ quả được muối chua theo hai phương thức: muối xổi để ăn ngay hoặc muối chua để sử dụng lâu dài. Rất nhiều loại rau (rau cải, dọc mùng (cây bạc hà), bông điên điển, ngó sen, súp lơ, bắp cải, cà rốt, v.v.), các loại củ (củ sen, củ cải trắng, củ xu hào, hành củ, củ kiệu) các loại quả (cà pháo, cà bát, cà tím, quả sung) được sử dụng làm món dưa muối chua. Và ở miền Trung còn có món dưa nhút nổi tiếng muối từ múi và xơ mít xanh.
==== Canh ====
Ẩm thực Việt Nam sử dụng nhiều loại canh. Từ bữa ăn gia đình thông thường đến các bữa tiệc, canh luôn là một trong số các món ăn cơ bản không thể thiếu. Các loại canh cơ bản thường có:
Nước luộc: nước rau muống luộc vắt chanh, nước rau cải bắp luộc cho gừng, nước thịt luộc xắt chút hành thái nhỏ, nước luộc gà v.v.
Các loại canh chua: rất thịnh hành trong ẩm thực của người Việt, có lẽ do đất nước ở xứ nóng nên hợp với các món canh chua, mát. Canh có vị chua do sấu, lá me, quả dọc nướng, quả me, tai chua, khế chua, bỗng rượu, dấm, mẻ, thường nấu với nguyên liệu chính là tôm, thịt, cá, xương, hến, trai. Mỗi loại nguyên liệu tạo chất chua được dùng phối trộn với các món canh khác nhau. Như canh cá dùng bỗng rượu nấu chứ không dùng khế chua, quả me nấu canh hến, tai chua hoặc nước chanh cho vào nước luộc rau muống v.v.
Các loại canh với rau củ quả nấu suông: canh rau dền, canh rau ngót, canh rau sắng, canh rau cải, canh xu hào v.v.
Các loại canh với rau củ quả nấu với một số nguyên liệu khác: rau ngót nấu thịt nạc, sườn nấu bí đỏ, canh bí đao với tôm nõn, mướp nấu lạc giã dập, rau mùng tơi nấu canh cua, canh bóng thập cẩm nấu bóng bì, súp lơ, giò sống, tôm nõn v.v.
Các loại canh riêu: Canh hến, canh trai, canh trùng trục, Canh riêu cua v.v.
Các loại canh đặc: thường dùng xương, thịt động vật ninh, hầm với một loại củ, quả như khoai tây, khoai sọ, khoai môn, quả đu đủ xanh (Canh sườn nấu khoai sọ, Đu đủ xanh hầm xương ống lợn, Chân giò lợn nấu với đậu xanh, Xương lợn nấu măng, Canh cà bung, nước cốt gà v.v.) hay các loại dưa (cá diêu hồng nấu dưa, thịt bò hầm dưa v.v.), Canh ốc nấu chuối đậu, Canh ếch nấu giả ba ba, Canh cua khoai sọ rau rút.
=== Các món bánh, mứt, kẹo ===
==== Bánh mặn ====
Bánh bao: loại bánh được làm chín bằng hơi nước, có thể thêm hành, nấm, rau, trứng, miến, thịt vào nhân. Bánh bao chỉ có nguồn gốc Trung Quốc (包子 baozi), đã được thay đổi để thích hợp với khẩu vị Việt Nam. Ruột bánh bao thường gồm thịt ướp băm nhỏ "xá xíu" (theo kiểu chế biến biến Trung Quốc), những mảnh trứng luộc nhỏ, miến và lạp xường. Một số vùng làm bánh bao nhân hải sản và có cả bánh bao chay, một đồ ăn thông dụng trong các đền chùa Phật giáo.
Bánh bèo: một món ăn ở miền trung gồm nhiều mẩu bánh làm từ bột gạo, để trong các đĩa tròn nhỏ, bên trên có mấy con tôm nhỏ và vài thứ khác, ăn với nước chấm.
Bánh bột chiên, hay bánh nhúng: một món có nguồn gốc từ Trung Quốc và có nhiều biến thể ở châu Á. Kiểu Việt Nam ăn với nước tương đậm.
Bánh bột lọc: một loại bánh có xuất xứ từ Huế làm từ bột sắn lọc, nhân tôm, thịt, ăn cùng nước chấm.
Bánh chưng: loại bánh làm bằng gạo nếp gói bằng lá dong, lá chít hay lá chuối, nhân gồm thịt mỡ lợn, đỗ xanh và hạt tiêu, theo truyền thống thường được dùng trong dịp Tết Nguyên đán. Kiểu bánh chưng đặc trưng miền Nam có thêm nhiều thành phần khác và được gọi là bánh tét; tuy nhiên tên này nói chung là dùng để chỉ bánh chưng.
Bánh cuốn: bột gạo nước dàn đều thành lớp mỏng, hấp chín nhờ hơi, có thể thêm nhân thịt lợn với hành. Bánh cuốn có nhiều kiểu phụ thuộc vào nhân bánh và những thành phần ăn kèm bánh như chả lụa, chả quế, trứng, tôm he xé bông. Bánh cuốn không nhân nổi tiếng nhất là bánh cuốn Thanh Trì.
Bánh đúc: gồm 2 loại: bánh đúc nóng và bánh đúc nguội. Bánh đúc nguội thường có dạng hình tròn lẫn lạc, có thể ăn kèm bún riêu cua hay chấm với mắm tôm vắt chanh, ở miền Bắc thường chấm với tương. Bánh đúc nóng thường được múc vào bát đã có sẵn thịt băm xào mộc nhĩ và hành.
Bánh hỏi: một kiểu mì dẹt rất mỏng được cuộn rối. Thường được rắc bên trên một ít hành tươi và một đĩa thịt để ăn phụ.
Bánh mì ba-tê: là loại bánh mỳ kẹp đặc trưng của Việt Nam. Nó thường là bánh mì kiểu Pháp có kèm ba-tê (pâté), nhiều kiểu thịt nguội Việt Nam (đa dạng), xúc xích, dăm bông, cà rốt hay một loại quả để làm dưa góp, mấy lát dưa chuột. Thường được cho thêm ít rau mùi, tương ớt, hạt tiêu (tuỳ theo sở thích). Món ăn này có ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam và được giới bình dân ưa thích ăn thay thế cho mọi bữa ăn trong ngày, nhưng thông thường nhất là sáng và trưa. Những loại bánh mì thông dụng nhất:
Bánh mì xíu mại (bánh mì với xíu mại những viên thịt to, ướp gia vị), hay bánh mì xá xíu
Bánh mì trứng: trứng tráng cuộn bên trong. Ngoài ra kiểu thường gặp hơn, hay dùng để ăn sáng ở Việt Nam là trứng ốp lếp với hành phi, ba tê rán, có thêm ít tương ớt hay magi, ăn kèm với bánh mì nhỏ.
Bánh mì bít tết ốp la: đập mấy quả trứng gà lên chảo mỡ đang sôi cùng mấy miếng bít tết thịt bò, rắc một ít khoai tây chiên và ăn kèm với bánh mì.
Bánh mì sốt vang: bánh mì ăn với thịt bò sốt vang, gia vị ăn kèm là chút rau mùi và hạt tiêu.
Bánh xèo: loại bánh làm bằng bột gạo, sữa dừa, hành tươi và bột nghệ để có màu vàng. Nó có nhân bằng thịt lợn, tôm và giá (hay các thành phần kiểu tương tự), được rán trong chảo. Khi ăn nó được quấn trong rau xà lách hoặc rau cải và tùy khẩu vị có thể thêm các loại rau thơm khác, ăn cùng nước chấm. Nó là một trong ít món ăn có ảnh hưởng của Pháp. Bánh xèo được bình chọn là một trong 10 loại bánh ngon và dinh dưỡng nhất thế giới do thành phần tinh bột, đạm và rau rất cân đối. Khi ăn người ta thường dùng tay để gói bánh vào rau.
Bánh khoái: giống bánh xèo nhưng nhỏ và dày hơn, là món ăn đặc trưng của xứ Huế.
Bánh khúc (hay xôi khúc) thường có nhân đậu xanh với thịt ba chỉ; lớp bột áo bên ngoài có nhuộm màu xanh lá cây làm từ bột nếp chế biến dùng màu từ rau khúc. Bánh này có đặc trưng từ miền Bắc.
Bánh khọt: cùng làm từ bột pha loãng có màu vàng từ bột nghệ, nhân thịt có thể có thêm đậu xanh. Bánh được ăn với rau và nước chấm (nước mắm) tương tự như bánh xèo.
Bánh căn: giống bánh khọt, không có nhân hoặc có thể thêm chút trứng gà hay thịt bò, khuôn đúc không dùng dầu mỡ, là món ăn có nguồn gốc từ người Chăm.
Bánh giò: Làm từ nhiều loại bột, nhân có thể có thịt, nấm, và tôm. Bánh giò có đặc điểm là bột màu trắng đục.
Bánh đậu: nguyên liệu chính là đậu xanh và bột được nướng trong các khuôn nhỏ đôi khi có thêm tôm phủ bên trên; thường được cắt thành miếng để ăn với bánh cuốn và rau, nước chấm.
Bánh gối: bánh rán có hình bán nguyệt giống chiếc gối, vỏ làm bằng bột mì, nhân gồm miến, mộc nhĩ, thịt lợn băm nhỏ, lạp xường, trứng.
Bánh nậm hay bánh lá: Được chế biến từ bột gạo và tôm, rất mềm, lành tính, dễ ăn. Đây là món đặc trưng của xứ Huế.
==== Bánh ngọt ====
Bánh dẻo: có nguồn gốc từ Trung Quốc, làm từ bột nếp nhào đường, nhân chay (đậu xanh, hạt sen, khoai môn, đậu đỏ, trà xanh...) hoặc nhân mặn (trứng muối, lạp xường, thập cẩm), thường thấy trong dịp tết Trung Thu.
Bánh nướng, thường thấy trong dịp tết Trung Thu, có nhân tương tự như bánh dẻo.
Bánh đậu xanh: nguyên liệu chính là đậu xanh được đãi vỏ trộn đường, phụ gia và hấp hay nấu rồi được ép khuôn.
Bánh gai: màu đen do dùng tro lá gai để ngâm gạo trước khi xay gạo làm bánh. Nhân bánh dùng hạt sen, mứt bí và dừa. Bánh gai nổi tiếng có các cửa hàng gia truyền ở Hải Dương, Nam Định.
Bánh ít: giống bánh gai, nhưng có hình dáng nhỏ tròn như bánh trôi.
Bánh bò (bánh bò đen, bánh bò trắng)
Bánh bông lan hay còn gọi là bánh ga tô, dùng bột mì và bột nở, ảnh hưởng của Pháp.
Bánh thuẫn: giống bánh bông lan nhưng đổ trong khuôn nhỏ hình hoa.
Bánh phục linh, bánh in: làm từ các loại bột năng hoặc bột nếp được rang cho thơm và nén chặt trong khuôn.
Bánh cốm: được làm từ cốm xanh.
Bánh khảo
==== Bánh kiểu Pháp ====
Bánh sừng bò (croissant)
Bánh nướng nhân sô-cô-la, nhân nho khô
Paté chaud (đọc là pa-tê sô): vỏ bột mỳ nướng, nhân thịt lợn
==== Mứt ====
Các loại mứt thường là các món quà đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán cổ truyền. Nhiều thứ cây trái có thể làm mứt được. Nguyên tắc chung là chúng đều được làm khô bớt nước đi và tẩm, ướp, hay ngâm với dung dịch đường nóng cô đặc. Các loại mứt thường thấy là: Mứt gừng mứt lạc, mứt dừa, mứt bí, mứt sen, mứt chà là, mứt me, mứt cà chua, mứt củ năng, mứt chùm ruột, mứt mãng cầu, mứt hạt bàng. Ngoài ra một số loại hoa quả sấy khô cũng có thể xếp vào họ các loại mứt, như mít khô, chuối khô.
==== Ô mai ====
Là các loại quả ép bớt nước được làm gần tương tự như mứt nhưng thường được xào, ướp không chỉ với đường mà bắt buộc phải có gừng, cam thảo, muối ăn. Ô mai ban đầu thường sử dụng quả mơ và các loại quả cùng họ như mận, đào. Sau này có rất nhiều biến thể của món ô mai trong đó bao gồm cả các loại được nhập khẩu từ Trung Quốc và một số nước châu Á khác. Các loại ô mai chủ yếu hiện nay có thể kể tên: ô mai me, ô mai sấu, ô mai mơ, ô mai chà là, ô mai dứa, ô mai táo mèo, ô mai sơ ri v.v. Phố Hàng Đường Hà Nội nổi tiếng với hàng trăm loại ô mai, được nhiều người mua sử dụng trong các dịp lễ tết hoặc đem tặng.
==== Kẹo ====
Rất nhiều loại kẹo được người dân làm một cách thủ công và hiện nay được đưa vào sản xuất đại trà tại các cơ sở sản xuất bánh mứt kẹo. Kẹo thường sử dụng nhiều đường, mạch nha với một loại hoa quả, hạt nào đó như kẹo lạc, kẹo dồi, kẹo vừng, kẹo mè xửng, kẹo sầu riêng, kẹo dừa, kẹo cu đơ, kẹo hạnh nhân v.v. Nhiều loại kẹo sản xuất thủ công đã trở thành đặc sản các vùng miền của đất nước như kẹo cu đơ, kẹo sầu riêng, kẹo dừa, kẹo mè xửng v.v.
== Đồ uống ==
Các dạng đồ uống Việt Nam truyền thống rất đa dạng, bao gồm các loại rượu, trà sử dụng lá chè, các loại nước lá mát, các loại chè ngọt sử dụng đậu, thạch, nước đường, sắn dây v.v.
=== Các loại rượu dân tộc ===
==== Rượu chưng ====
Các loại rượu chưng, còn gọi là rượu đế, rượu cuốc lủi làm từ ngũ cốc lên men rất phổ thông trong toàn quốc. Nơi nào có người Việt Nam sinh sống, nơi đó có các loại rượu được nấu từ thóc, gạo tẻ, gạo nếp, sắn, hạt mít, ngô v.v. Địa phương nào cũng có thể có những nhà nấu rượu ngon, tuy nhiên, nhiều loại rượu chưng nổi tiếng được các địa phương khác thậm chí nước ngoài biết đến, như Rượu làng Vân (ở Bắc Ninh, còn gọi là "Vân hương mĩ tửu"), rượu Kim Sơn ở Ninh Bình, rượu Bầu Đá (Bình Định), Rượu Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Rượu San Lùng, Rượu Thanh Kim làm từ mầm thóc nếp (Lào Cai), Rượu ngô Bắc Hà, Rượu Xuân Đài, Rượu Xuân Thạch (Trà Vinh), Rượu Hồng Đào (Quảng Nam), Rượu Gò Đen (Long An),...
==== Rượu ngâm ====
Rượu ngâm còn gọi là rượu thuốc sử dụng các loại thảo dược hoặc động vật được ngâm trong rượu trắng chưng cất có độ rượu cao. Các loại rượu ngâm rất phổ biến và đa dạng, thường gia đình nào cũng có thể có một vài bình rượu ngâm để nhiều khi đem ra uống nhâm nhi trong các bữa ăn như các vị thuốc, với quan niệm rượu dùng dẫn thuốc hiệu quả. Rượu ngâm bao gồm các dạng:
Rượu ngâm từ các loại động vật: gồm hàng trăm loại nhưng phổ biến nhất là rượu rắn (thường ngâm theo số lẻ một con, 3 con hoặc 5, 7 con rắn các loại), rượu bìm bịp (thường ngâm hai con, con đực con cái), rượu tắc kè, rượu ong đất, rượu nhung (ngâm nhung hươu), rượu mật gấu, rượu ngọc dương (ngâm tinh hoàn dê), rượu sâu chít, rượu hải mã (cá ngựa), rượu tay gấu v.v và các loại rượu ngâm với cao nấu từ xương, thịt động vật như rượu cao hổ, rượu cao khỉ, rượu cao trăn, rượu cao xương toàn tính, rượu tinh tượng (tinh hoàn voi), rượu hải cẩu v.v.
Rượu ngâm thuốc bắc hoặc các loại thực vật: rượu sâm, rượu táo tàu, rượu cùi vải, rượu kỷ tử, rượu ba kích, rượu đinh lăng, rượu hà thủ ô, rượu linh chi v.v.
Rượu sử dụng nước chiết từ các loại quả: thường ngâm các loại quả như quả mơ, mận, táo mèo, táo, dứa với đường, sau đó chiết lấy nước và hòa lẫn với rượu.
Ngoài ra rất phổ biến các loại rượu ngâm hỗn hợp nhiều loại động, thực vật khác nhau, gọi chung là các món "rượu dân tộc".
==== Rượu không qua chưng cất ====
Phổ biến là các loại rượu bổ từ rượu nếp cái (có rượu nếp đục màu trắng và rượu nếp cẩm màu tím thẫm), rượu cần (nổi tiếng có rượu cần Hòa Bình và rượu cần Tây Nguyên).
Người Việt cũng có một số loại rượu làm từ nước chiết từ cây, quả khác để lên men thành rượu như rượu đoát lấy nước chiết từ cây, hoa của cây đoát rừng (Quảng Ngãi), còn được các dân tộc thiểu số gọi là cây tà vạt (rượu tà vạt) hay cây đoác; rượu chà là lên men tự nhiên nước tiết ra từ cây chà là; rượu bưởi Đồng Nai dùng nước quả bưởi lên men; rượu mía cho lên men nước mía; rượu dưa hấu cho men rượu vào trong quả dưa để tạo rượu v.v.
==== Rượu vang ====
Các loại rượu vang (làm từ nho) ít phổ biến trong cộng đồng người Việt, thường được biết đến có rượu vang Thăng Long và rượu vang Đà Lạt.
=== Bia ===
Bia hơi hoặc bia đóng chai mới thịnh hành trong ẩm thực người Việt chưa lâu, có lẽ từ thời Pháp thuộc đến nay, và lập tức được người Việt say mê. Hiện trong nước có một loại bia nổi tiếng như bia Hà Nội, bia Sài Gòn và nhiều hãng bia nước ngoài. Văn hóa uống bia chiều hè nóng nực rất phổ thông trong cộng đồng người Việt tại các đô thị, đặc biệt là các đô thị miền Bắc.
=== Các loại trà (chè) đắng ===
Trà là thức uống phổ thông trong ẩm thực của người Việt cũng như hầu hết các nước châu Á khác. Dù cách uống trà kiểu Việt chưa được nâng lên thành nghi thức như nghệ thuật thưởng trà Trung Hoa hay thành một tôn giáo trong nghệ thuật sống như trà đạo Nhật Bản, nhưng người Việt vẫn sử dụng nước chè một cách phổ biến với hàng chục dạng thức: sử dụng búp chè sao khô (các loại trà đá, trà nóng rót ra chén), sử dụng lá chè bánh tẻ hoặc lá già để hãm nước chè xanh, hạt chè, hoa chè cũng được tận dụng nấu nước uống. Việt Nam có nhiều loại chè nổi tiếng có nguồn gốc từ miền Bắc như chè Thái (Thái Nguyên), chè Suối Giàng (Nghĩa Lộ), chè San Tuyết, chè Lâm Thao (Phú Thọ). Không chỉ được sử dụng nguyên chất, nhiều loại chè được ướp với các loại hoa có hương thơm như chè ướp hoa sen (dùng các hạt gạo sen), chè ướp hoa nhàitrà lài, chè ướp hoa sói, hoa ngâu v.v.
Hiện nay, có nhiều loại chè du nhập từ ngoại quốc cũng dần thịnh hành trong ẩm thực của người Việt như trà oolong, trà sữa trân châu Đài Loan, các loại trà Trung Hoa, trà Nhật Bản. Số ít người Việt cũng sử dụng các loại chè tán bột đựng trong các túi lọc nhỏ, nhưng đa phần người Việt chuộng uống trà bằng bộ ấm chuyên dùng để pha trà pha.
=== Cà phê ===
Việt Nam là một nước xuất khẩu cà phê, do đó nhiều loại cà phê được sử dụng ngày càng thịnh hành trong ẩm thực của người Việt tại khắp các vùng miền, đặc biệt tại các đô thị. Cà phê thường được pha, chiết bằng phin pha cà phê. Theo thuộc tính nhiệt, có thể kể ra hai cách uống phổ biến là cà phê nóng và cà phê đá, xét theo nguyên liệu phụ gia, cà phê thuần nhất gọi là cà phê đen, và cà phê sữa. Nước chiết cà phê cũng thường dùng để chế thêm vào một số loại nước sinh tố hay sữa chua cho hương vị đặc biệt. Ngày nay, cà phê hòa tan cũng là loại cà phê thông dụng.
=== Các loại nước lá, củ, quả ===
Các loại thực vật có tính mát được sử dụng để nấu nước uống như lá vối, nụ vối, hạt vối; nước lá mỏ quạ, nước nhân trần, chè đắng, nước rễ đinh lăng, củ sâm, chè dây, nước rau má, mướp đắng phơi khô hãm nước uống, nước nấu hoa và lá Áctisô (trà bông), chè vằng, bột sắn dây, thạch đen (làm từ lá thạch), thạch trắng (thạch rau câu) v.v.
=== Các loại chè ngọt ===
Chè là một đồ ăn ngọt, dùng nhiều đường, có thể được ăn lạnh hay ăn nóng. Đặc tính của chè trải rộng từ loại dùng nhiều nước đường loãng (như chè trân châu, thạch chè, chè đỗ đen), cũng có thể nửa loãng nửa đặc như cháo (như chè bưởi, chè khoai môn) hoặc đặc sệt (chè bà cốt, chè đỗ xanh). Chè thường được dùng ăn tráng miệng hoặc ăn như một món quà vặt. Ở Việt Nam, các món chè được chế biến khá giản dị nhưng tinh tế: nguyên liệu chính thường là các loại ngũ cốc (đậu, đỗ các loại, gạo nếp, bột sắn dây, bột đao, bột năng, bột khoai); các nguyên liệu khác như thạch đen, thạch trắng, nước cốt dừa, trân châu; đường trắng, đường đỏ, mật mía; các hương liệu như gừng, tinh dầu hoa bưởi, dầu chuối, vani... được nấu chung với nhau cho mềm. Chè thường thấy nhất bao gồm các loại chè đỗ xanh (nấu đỗ xanh đặc), chè bà cốt (nấu gạo nếp, gừng, đường đỏ hay mật mía) có thể được ăn chung với xôi tạo thành món xôi-chè.
Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều loại chè, mỗi loại dùng một kiểu thành phần khác nhau. Có các loại chè như: chè con ong (hay chè bà cốt), chè đậu xanh, chè đậu đen, chè ngô cốm, chè đỗ đỏ, chè đỗ trắng, chè bưởi, chè thập cẩm, chè hạt sen long nhãn, v.v. Một món chè có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng cũng được nhiều người Việt biết tới là chè mè đen hay xí mè phủ (phát âm kiểu người Hoa) làm từ hạt mè đen và sâm bổ lượng (đúng ra chữ Nho phải đọc là "thanh bổ lượng"). Các món chè Huế và chè Hà Nội nổi tiếng vì phong phú, đa dạng chủng loại với chất lượng cao.
=== Các loại thức uống từ hoa quả, ===
Trong các dạng đồ uống có nguồn gốc hoa quả, người Việt đã sử dụng rất nhiều loại hoa quả ngâm với đường (dạng xi rô) hoặc muối, chiết lấy nước pha đường để uống như nước chanh leo, nước sấu (sấu ngâm đường và gừng), nước dứa, nước mít, chanh muối (quả chanh nạo vỏ, vắt bớt nước, ngâm muối trong lọ để dùng dần), mơ muối (mơ ngâm tỷ lệ một kg mơ với một lạng muối), mơ đường (mơ ngâm theo tỷ lệ một kg mơ với một kg đường, ngâm 2 năm trở lên có thể dùng làm thuốc chữa ho).
Các loại nước uống sử dụng hoa quả xay thuần nhất hay hỗn hợp, hoặc hoa quả ép lấy nước du nhập cách thức chế biến từ nước ngoài, trước kia không được thông dụng. Hiện nay phương thức chế biến hoa quả kiểu này dần phổ biến trong cộng đồng người Việt với các món như sinh tố bơ, sinh tố mãng cầu (mãng cầu dầm), sinh tố dâu tây, sinh tố xoài, sinh tố đu đủ, sinh tố dưa hấu, nước cà chua ép, nước cà rốt ép.
=== Đồ uống khác ===
Một số dạng đồ uống khác cũng khá phổ thông như bát bảo lường xà (nấu bằng các loại thảo dược như lá tre, mía, táo tàu, có vị ngọt); tào phớ du nhập từ Trung Hoa, làm từ óc đậu có màu trắng, ăn ngậy và mát do chan cùng nước đường pha nhạt; nước đậu (đậu tương xay hòa nước, lọc và đun sôi để nguội); sữa tươi và sữa chua; các loại nước uống ngọt có gas du nhập từ ngoại quốc và các loại nước khoáng đóng chai như nước khoáng Kim Bôi.
== Thực phẩm ==
=== Rau, củ, quả ===
=== Gia vị ===
==== Rau thơm ====
Rau gia vị thường có tinh dầu thơm đặc biệt, dùng ăn sống hoặc gia vào các món ăn.
==== Các gia vị thực vật khác ====
Quế
Hồi (tiểu hồi, đại hồi)
Thảo quả
Hồ tiêu
Húng lìu
Gừng
Nghệ
Riềng
Me chua
Mè (hay vừng—bao gồm mè thông thường và mè đen)
Thanh trà
Lá và quả chanh
Lá cách
Tỏi
Hành khô
==== Các gia vị nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ ====
Muối
Nước mắm
Đường
Bột ngọt (hay mì chính)
Các loại dầu ăn (dùng trộn rau, nộm hay chiên xào)
Kẹo đắng còn gọi là caramen.
Mỡ nước (mỡ lợn) hay mỡ hành
==== Các gia vị hữu cơ lên men ====
Giấm (chính tả: GIẤM)
Giấm bỗng, giấm đỏ
Mẻ
Thính gạo.
Chao.
Rượu (rượu nếp, rượu gạo hoặc rượu vang...)
=== Mắm và nước chấm ===
Ẩm thực Việt Nam đặc trưng với việc sử dụng rất nhiều loại mắm, nước chấm từ loãng đến đặc. Mắm, nước chấm có thể dùng nguyên chất, có thể chưng lên hoặc pha chế, phối trộn với ớt, gừng hoặc tỏi, hạt tiêu, đường, chanh hoặc giấm. Người sành nội trợ thường có kinh nghiệm đặc biệt để pha chế nước chấm tùy theo món ăn. Thậm chí, cùng nguyên liệu là nước mắm, dấm, đường, tỏi, ớt, dùng để ăn với món gì thì tỷ lệ các thành phần pha chế cũng khác nhau, như khi dùng chấm rau sống thì pha nhạt, ăn với bún chả thì thêm chua.
==== Nước chấm ====
Nước mắm: Có thể được làm từ nhiều loại cá, nhưng chủ yếu chỉ cá cơm, cá trích, cá nục. Nước mắm được phân hạng từ cao xuống thấp gồm nước mắm nhĩ (còn gọi là nước cốt), nước mắm loại 1,2 (còn gọi là nước mắm long hay nước mắm ngang). Hầu hết các vùng miền ven biển Việt Nam đều có những sản phẩm nước mắm từ cá biển riêng biệt, đặc trưng, trong đó nổi tiếng có nước mắm Phú Quốc, nước mắm Phan Thiết, nước mắm Cát Hải.
Tương: một loại nước chấm làm từ xôi nếp, đậu tương, ngô hoặc lạc được gây mốc tương, ủ lên men trong chum. Nổi tiếng có Tương Bần, Tương Cự Đà, Tương Nam Đàn.
Xì dầu còn gọi là tương đen, tàu vị yểu: làm từ các loại hạt họ đậu như đậu nành. Xì dầu rất thịnh hành trong ẩm thực miền Nam Việt Nam.
==== Mắm đặc ====
Các loại mắm đặc có thể dùng để ăn sống thuần chất như một món ăn trong bữa cơm; có thể phối trộn với gia vị như ớt, riềng, tỏi, nước cốt chanh thành một dạng nước chấm; cũng thường được sử dụng để tạo nước dùng đặc biệt cho món lẩu mắm, nước lèo của một số món bún. Việt Nam có hàng trăm loại mắm đặc mà nổi tiếng là: mắm tôm, mắm ruốc, mắm nêm, mắm cáy, mắm tép, mắm tôm chua (đặc sản miền Trung), mắm cua, mắm bò hóc, mắm cá chẻm, mắm rươi, mắm ba khía. Theo phương ngữ miền Nam Việt Nam, nhiều loại cá khô như cá sặc, cá đối ướp muối phơi khô cũng được gọi là các loại mắm. Một món ăn có cách chế biến không giống mắm nhưng cũng thường gọi là mắm là mắm kho quẹt.
=== Hoa quả ===
== Hình thức chế biến các nguyên liệu ==
Các sản phẩm nông nghiệp như từ nếp và gạo có thể dùng phương pháp nấu trực tiếp (như cơm, xôi), xay nhỏ (như tấm), hay làm thành bột rồi mới chế biến (như các loại bánh được tráng hay nấu trong khuôn).
Các sản phẩm nông nghiệp từ lúa mì, lúa mạch thường chỉ được chế biến từ dạng bột (như bánh mì, bánh bao, các loại bánh nướng)
Các sản phẩm trái và củ thường có thể chế biến trực tiếp (như các món bắp khoai nướng hay luộc) hay chế biến thành bột (để làm các loại bánh)
Các loại đậu (đỗ) thường chỉ được nấu (như các loại chè) hay chế trực tiếp (như các loại tương đậu) có thể được dãi vỏ (như đậu xanh), xay nhuyễn (như tương và chao), và đôi khi cũng được dùng dưới dạng tinh bột (như bột đậu xanh, và đậu nành) nhưng mức độ sử dụng có ít hơn.
Thịt hay xương động vật thường được chế biến đưới hai dạng chính: tươi sống và khô (khô cá, khô nai)
== Các từ liên quan ==
=== Nấu ăn ===
Nấu, nướng, luộc, xào, xào lăn, rán, chiên, quay, hầm, bỏ (đút) lò, lùi (lụi), ninh, tần (chần), hấp, áp chảo, trui, rim, kho, um (om), ninh, chưng, hon, rang, phi, thui...
=== Ăn uống ===
Người Việt rất coi trọng ăn uống và đánh giá ẩm thực là một trong "tứ khoái". Nhiều từ và thành ngữ tiếng Việt sử dụng chữ "ăn" kết hợp, như: ăn mặc, ăn nằm, ăn uống, ăn chơi, làm ăn, ăn bớt, ăn xén, ăn bạ, ăn nói, ăn gian, ăn bậy, ăn lông (ở lỗ), vân vân.
== Văn hoá ăn chay ==
Trong những năm gần đây, văn hoá ăn chay đã trở thành một trong những văn hoá ăn uống tại Việt Nam.
== Tục ngữ, ca dao về ẩm thực ==
=== Về tầm quan trọng của ăn uống ===
Trời đánh còn tránh bữa ăn
Có thực mới vực được đạo
Dân dĩ thực vi tiên (người dân lấy ăn làm đầu)
Ăn được ngủ được là tiên
=== Về cách ăn và thái độ trong ăn uống ===
Ăn trông nồi, ngồi trông hướng
Miếng ăn là miếng nhục
Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp
Miếng ăn là miếng tồi tàn - Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu
=== Về đặc sản các vùng miền ===
Ăn Bắc mặc Nam. (Bắc ở đây là miền Bắc, còn Nam là miền Nam Việt Nam).
Ăn Bắc mặc Kinh. (Bắc ở đây là miền Bắc, còn Kinh là xứ Huế).
Bánh cuốn Thanh Trì, bánh gì (giầy) Quán Gánh.
Bánh giầy làng Kẻ, bánh tẻ làng So
Bánh đúc làng Kẻ, bánh tẻ làng Diễn
Giò Chèm, nem Vẽ, chuối Xù.
Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần. Nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét, cơm cháy Ninh Bình.
Ổi Định Công, hồng làng Quang, chè vối cầu Tiên, rượu hũ làng Ngâu, bánh đúc trâu làng Tó...
Kẹo mạch nha An Phú, kẻ Lủ thì bán bỏng rang, khoai lang Triều Khúc,...
Cháo Dương, tương Sủi v.v.
Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì
Tương Bần, húng Láng có gì ngon hơn?
Vải Quang, húng Láng ngổ Đầm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây
Thanh Trì có bánh cuốn ngon
Có gò Ngũ nhạc có con sông Hồng
=== Bí quyết nấu nướng ===
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng
Con trâu khóc ngả khóc nghiêng
Tôi không ăn riềng, mua tỏi cho tôi
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Ra mắt trang web chuyên về ẩm thực Việt Nam
Nâng ẩm thực Việt Nam thành nghệ thuật
Văn hóa ẩm thực Việt Nam trên đất Mỹ
Chuẩn hóa ẩm thực Việt
Việt Nam có đại sứ văn hóa ẩm thực |
câu lạc bộ bóng đá sông lam nghệ an.txt | Câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Việt Nam, có trụ sở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Là CLB giàu truyền thống và đậm bản sắc nhất Việt Nam, đoạt rất nhiều danh hiệu từ giải vô địch, cúp quốc gia cũng như các lứa tuổi trẻ và là một trong những câu lạc bộ đóng góp cầu thủ cho đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam nhiều nhất. Sông Lam Nghệ An chính thức được thành lập vào năm 1979 sau khi đội được xếp thi đấu ở hạng A2 toàn quốc. Sân nhà của Sông Lam Nghệ An là Sân vận động Vinh, sức chứa hiện nay là 18.000 khán giả. Tại mùa giải 2011-2012, đội bóng thi đấu tại V-league, hạng đấu cao nhất của Giải vô địch bóng đá Việt Nam. Đội đang là đương kim vô địch quốc gia Việt Nam. Đồ thi đấu truyền thống của Sông Lam Nghệ An toàn màu vàng mang đậm chất xứ Nghệ nên có biệt danh là Đội áo vàng (hay Đội bóng xứ Nghệ). Câu lạc bộ là một trong những đội bóng có truyền thống lịch sử lâu đời ở Việt Nam.
Phòng truyền thống của đội bao gồm với 3 danh hiệu vô địch quốc gia (V-League), 2 Cúp quốc gia, kỉ lục 4 siêu cúp quốc gia và 1 danh hiệu vô địch Giải bóng đá tập huấn mùa xuân. Ở đấu trường quốc tế, đội có thành tích thi đấu tốt tại AFC Champions League vào năm 2001. Với 10 danh hiệu lớn giành được, Sông Lam Nghệ An là câu lạc bộ giàu thành tích nhất Việt Nam ở thời điểm hiện tại (sau khi đội bóng Thể Công giải thể năm 2009).
Ở 2 mùa giải 2009-2010 và 2010-2011, dưới sự dẫn dắt của Huấn luyện viện trưởng Nguyễn Hữu Thắng, Sông Lam Nghệ An đạt cả 3 danh hiệu: V-League, Cúp bóng đá Việt Nam, Siêu cúp bóng đá Việt Nam.
Chủ tịch câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An hiện nay là ông Nguyễn Hồng Thanh.
== Lịch sử ==
=== Tiền thân ===
Thời kỳ thuộc Pháp, khu vực Vinh - Bến Thủy từng có một đội bóng lừng danh mang tên là Đội Áo Vàng. Đây được xem như là khởi đầu của truyền thống bóng đá Nghệ An. Một số người cho rằng đây là nguồn gốc của màu áo vàng truyền thống của đội Sông Lam Nghệ An ngày nay.
Tuy vậy, vùng Nghệ Tĩnh hầu như không có một đột bóng nổi bật nào suốt hầu hết thời gian chiến tranh. Mãi đến năm 1973, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ Tĩnh mới thành lập một đội bóng nghiệp dư để thi đấu ở Giải hạng B phong trào. Đội bóng này được xem là tiền thân đầu tiên của đội Sông Lam Nghệ An ngày nay.
=== Đội bóng đá Sông Lam Nghệ Tĩnh (1979-1992) ===
Năm 1979, sau khi hệ thống Giải bóng đá vô địch quốc gia được thành lập, với thành tích thi đấu tốt, đội được xếp thi đấu ở hạng A2 toàn quốc. Ngày 28 tháng 2 năm 1979, đội bóng được chính thức được Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ Tĩnh chuyển về Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh quản lý và quyết định đổi tên thành Đội bóng đá Sông Lam.
Năm 1980, Huấn luyện viên Nguyễn Thành Vinh bắt đầu nắm đội 1 của Đội bóng đá Sông Lam Nghệ Tĩnh. Từ đây, mặc dù là một đội bóng "trẻ" trong nền bóng đá Việt Nam so với các đội bóng như Thể Công, Cảng Sài Gòn, Công an Hà Nội, Công an Hải Phòng, nhưng với những nỗ lực của Huấn luyện viên Nguyễn Thành Vinh, đội bóng Sông Lam đã bắt đầu được chuỗi thành tích, cũng như một lối đá đặc trưng của riêng mình, sánh vai với các đội bóng đàn anh.
Năm 1986, đội lần đầu tiên thi đấu ở hạng A1 toàn quốc (hạng cao nhất lúc đó). Dù chỉ xếp hạng 5/6 ở bảng C và không vào được vòng 2, nhưng đây là khởi đầu của thành tích thi đấu bền bỉ ở các giải vô địch cao nhất quốc gia của đội bóng Sông Lam.
Năm 1989, lần đầu tiên phân hạng đội mạnh. Tuy không thi đấu ở vòng 2 do phải sang Lào thi đấu, đội vẫn được đặc cách thăng lên hạng đội mạnh bởi thành tích thi đấu tốt ở vòng 1.
Tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam 1990, trong trận thi đấu với đội Dệt Nam Định, do các cầu thủ Dệt Nam Định đuổi đánh trọng tài Nguyễn Thu nên hai đội cùng bị kỷ luật xuống hạng A1. Tuy nhiên sau đó Liên đoàn bóng đá Việt Nam lại hủy quyết định và công nhận Sông Lam Nghệ Tĩnh vẫn ở giải đội mạnh, riêng Dệt Nam Định bị cấm thi đấu một năm.
Tại Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam 1991, đội thi đấu với thành tích yếu kém, phải thi đấu chung kết ngược với đội Long An và may mắn trụ hạng nhờ thắng trong loạt đá luân lưu.
=== Đội bóng đá Sông Lam Nghệ An (1992-1994) ===
Năm 1992, Nghệ Tĩnh được tách thành hai tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh. Đội bóng Sông Lam Nghệ Tĩnh được chuyển về cho tỉnh Nghệ An quản lý và đổi tên thành Đội bóng đá Sông Lam Nghệ An. Cũng trong năm này, đội lọt vào bán kết và đạt Hạng 3 Giải vô địch bóng đá Việt Nam
=== Đoàn bóng đá Sông Lam Nghệ An (1994-2004) ===
Ngày 21 tháng 3 năm 1994, Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An có Quyết định 224, đổi tên thành Đoàn bóng đá Sông Lam và chuyển đổi hình thức tổ chức thành một đơn vị sự nghiệp thuộc ngành Thể dục Thể thao.
Năm 1996, đội thi đấu xuất sắc và đạt Huy chương đồng Giải vô địch quốc gia, Huy chương đồng Cúp Quốc gia 1996.
Tại mùa giải 1997, đội tiếp tục thi đấu khởi sắc nhưng lại bỏ lỡ cơ hội vô địch khi đội Thể Công bất ngờ bị cầm hòa với Cảng Sài Gòn ngay trên sân nhà Cột Cờ. Thua 1 điểm, Sông Lam đành nhận Huy chương bạc. Cũng trong năm này, tại giải vô địch giải bóng đá trong nhà, đội đoạt chức vô địch sau khi đánh bại đội Long An.
Năm 1998 là một mùa bóng nhiều thành tích của đội: Á quân Giải vô địch quốc gia, đoạt Huy chương đồng Cúp Quốc gia 1998, Vô địch cúp Dunhill khi đánh bại Đội bóng đá Công an Hà Nội 2-0 trong trận chung kết trên sân Vinh, tiếp tục vô địch Cúp bóng đá trong nhà.
Năm 1999, đội đoạt chức vô địch Giải bóng đá tập huấn mùa xuân 1999 với trận thắng Công an Hà Nội ngay trên sân Hàng Đẫy bằng thi đấu luân lưu 11m với sự xuất sắc của Võ Văn Hạnh. Trong giải Cup Dunhill cuối cùng ở Hải Phòng, đội giành Huy chương bạc.
Năm 2000, đội lần đầu tiên đoạt chức vô địch Giải vô địch quốc gia với 43 điểm sau 24 vòng đấu. Văn Sĩ Thủy là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất và đạt danh hiệu "Vua phá lưới" của mùa giải. Thành tích đó không thể quên được những đóng góp to lớn của Nguyễn Thành Vinh. 19 năm giữ cương vị huấn luyện viên trưởng, ông đã cùng bóng đá xứ Nghệ vượt qua khó khăn để đạt được vinh quang đầu tiên cho câu lạc bộ. Cũng vào năm này, họ tiếp tục thành công khi đánh bại Cảng Sài Gòn 2-0 trên sân Hàng Đẫy qua đó đoạt Siêu cúp quốc gia. Với thế hệ tài năng của Văn Sỹ Hùng, Văn Sỹ Thủy, Ngô Quang Trường, Phan Thanh Tuấn, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Hữu Thắng, Nguyễn Phi Hùng, Võ Văn Hạnh cùng các ngoại binh chất lượng như Iddi Batambuje, Lulenti Kyeyune, Enock Kyembe tất cả đều trở thành biểu tượng chiến thắng của bóng đá xứ Nghệ khi đó.
Năm 2001, giải vô địch quốc gia mang cơ chế chuyên nghiệp, chính thức mang tên V-League, và cho phép các cầu thủ nước ngoài tham gia thi đấu. Sông Lam Nghệ An tiếp tục một mùa bóng đầy thăng hoa khi là câu lạc bộ đầu tiên vô địch quốc gia với cái tên V-League. Điều đó đã được khẳng định khi đội thắng Công an Thành phố Hồ Chí Minh 4-3. Sau 18 vòng, đội đạt 36 điểm với vị trí đầu bảng. Năm 2001 trở đi, kết thúc một chuỗi thành công của đội bóng xứ Nghệ, câu lạc bộ bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nhiều cầu thủ đã từng mang thành công cho đội bóng cứ lần lượt ra đi bởi nguồn tài chính của câu lạc bộ quá eo hẹp. Hàng loạt ngoại binh có chất lượng không thể giữ chân nổi.
=== Câu lạc bộ bóng đá PJICO Sông Lam Nghệ An (2004-2007) ===
Là một trong những đội bóng mạnh, nhưng Sông Lam Nghệ An lại bước vào hình thức chuyên nghiệp khá trễ. Trong nhiều năm liền, đội được đặt dưới quyền quản lý của Sở Thể dục Thể thao Nghệ An. Mãi đến năm 2004, đội lần đầu tiên thi đấu chuyên nghiệp với sự tài trợ từ Công ty Cổ phần bảo hiểm PJICO. Từ mùa bóng 2004, đội thi đấu với tên ghép từ nhà tài trợ: Câu lạc bộ PJICO Sông Lam Nghệ An. Cũng vào giai đoạn này, huấn luyện viên Nguyễn Thành Vinh rời xứ Nghệ vào TP.Hồ Chí Minh với Câu lạc bộ Ngân hàng Đông Á, chẳng bao lâu sau, ông Nguyễn Hồng Thanh ra Hà Nội. Tất cả khiến câu lạc bộ chìm trong cơn khủng hoảng về nhân sự. Hàng loạt vụ tiêu cực xảy ra. Sau nhiều biến cố, với sự tài trợ từ PJICO, nguồn tài chính của đội bóng dần cải thiện, không còn rơi vào những hoàn cảnh bế tắc về chất lượng nội binh như những năm trước. Mùa bóng 2004, đội thi đấu không được ổn định và chỉ đạt 37 điểm, xếp vị trí thứ 4 sau 22 trận.
Năm 2005, ông Nguyễn Hữu Thắng trở lại câu lạc bộ với tư cách là huấn luyện viên trưởng. Nhưng mùa bóng 2005, câu lạc bộ không có thành tích gì nổi bật; họ vẫn thi đấu một cách mờ nhạt kể cả ngoại binh lẫn cầu thủ nội. Kết thúc 22 vòng đấu, câu lạc bộ đạt 31 điểm, xếp vị trí thứ 5.
=== Câu lạc bộ bóng đá Tài chính Dầu khí Sông Lam Nghệ An (2007-2009) ===
Đến năm 2007, sau khi nhà tài trợ PJICO rút lui. Một nhà tài trợ mới là Công ty Tài chính thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã nhận tài trợ cho đội. Từ mùa bóng 2007, đội thi đấu với tên mới là Câu lạc bộ bóng đá Tài chính Dầu khí Sông Lam Nghệ An.
Được sự tài trợ về nguồn tài chính nhưng giai đoạn này câu lạc bộ không có bất kì thành công nào. Với việc những tài năng như Lê Công Vinh, Dương Hồng Sơn, Nguyễn Hồng Tiến, Cao Xuân Thắng,...ra đi đã khiến Sông Lam Nghệ An loay hoay tìm giải pháp thay thế. Sau nhiều năm không danh hiệu, Sông Lam Nghệ An đã vực dậy cải thiện tài chính và đặt niềm tin vào những cầu thủ lớn lên ở lò đào tạo của mình. Những năm gần đây, Sông Lam Nghệ An tiếp tục duy trì được yếu tố địa phương, điều mà không nhiều đội bóng tại V-League có thể làm được.
=== Câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An (2009-nay) ===
Năm 2009, Công ty Cổ phần Bóng đá Sông Lam Nghệ An được thành lập với vốn điều lệ 100 tỷ đồng, gồm các cổ đông chính là Ngân hàng Bắc Á Tập đoàn TH Truemilk. Từ đây, câu lạc bộ chuyển hẳn sang hình thức chuyên nghiệp với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá Sông Lam Nghệ An.
Năm 2010, mở đầu một thời kì thành công mới cho bóng đá Sông Lam Nghệ An. Với sự trở lại của huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng, câu lạc bộ đã đánh bại Hoàng Anh Gia Lai 1-0 trên Sân vận động Thống Nhất để mang về phòng truyền thống chiếc cúp quốc gia thứ 2 trong lịch sử của họ. Đây cũng là kỉ nguyên mới để thầy trò huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng dành nhiều danh hiệu cao quý khác của bóng đá Việt Nam.
Giải bóng đá năm 2011, câu lạc bộ tiếp tục đoạt chức vô địch lần thứ 3 với trận hoà 1-1 trước Hà Nội T&T ngay trên Sân Vinh. Chỉ năm phút sau khi bóng lăn, khán đài như muốn nổ tung khi Fagan Andre Diego ghi bàn mở tỉ số 1-0 cho Sông Lam Nghệ An. Với những điều chỉnh nhân sự trong hiệp hai, Hà Nội T&T trở lại chính mình khi trung vệ Nguyễn Tiến Dũng được thay bằng tiền vệ trụ Lê Hồng Minh, hậu vệ Nguyễn Văn Biển vào trám chỗ của Nguyễn Hồng Tiến. Hà Nội T&T chơi dần nhịp nhàng hơn trước lúc có bàn gỡ hòa 1-1 vào phút 64. Còi tan trận vừa vang lên, huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng là người đầu tiên lao vào sân với đôi tay dang rộng, vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc. Mười năm trước, anh vô địch V-League đầu tiên với tư cách cầu thủ. Tròn chục năm sau đó, cũng tại Sân Vinh, giấc mơ của Hữu Thắng trở thành sự thật - là nhà vô địch cả trong vai trò cầu thủ lẫn huấn luyện viên. Sau 26 vòng đấu, đội bóng đạt 49 điểm ở vị trí đầu bảng.
Nhưng thật đáng tiếc cho Sông Lam Nghệ An, trong trận chung kết Cúp bóng đá Việt Nam 2011 chức vô địch đã phải nhường cho Navibank Sài Gòn khi thất bại 0-3 trên Sân vận động Thống Nhất. Để quên đi Cúp bóng đá Việt Nam 2011, Sông Lam Nghệ An có nhiều thời gian để chuẩn bị tốt cho trận tranh Siêu cúp bóng đá Việt Nam 2011 diễn ra tại Sân vận động Vinh. Nỗi buồn đó lại vơi đi, Sông Lam Nghệ An một lần nữa giành siêu cúp thứ 4 với trận thắng 3-1 trước đối thủ cũ Navibank Sài Gòn sau loạt đá luân lưu 11m. Như vậy, Sông Lam Nghệ An đã giành cú ăn hai ở mùa bóng 2011.
Trong 30 năm tồn tại, Sông Lam Nghệ An đã đem được nhiều chiến tích về trưng bày trong phòng truyền thống của mình: 3 lần vô địch quốc gia, 1 lần vô địch Giải bóng đá tập huấn mùa xuân, 4 lần đoạt Siêu cúp Việt Nam và 2 Cúp quốc gia.
Năm 2012, Sông Lam Nghệ An chính thức nhận được sự đảm bảo vững chắc về tài chính từ Ngân hàng Bắc Á. Theo đó, trên áo thi đấu của Sông Lam Nghệ An sẽ có logo "Bắc Á bank". Ngoài ra, phía ngân hàng này sẽ phê duyệt những đề án về việc phát triển đội bóng trong các mùa giải. Rõ ràng đây là thông tin không thể vui hơn với thầy trò huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng, giúp họ an tâm hướng về tương lai.
== Thành tích thi đấu ==
=== Đội tuyển ===
Vô địch Giải vô địch quốc gia: 3
1999-00; 2000-01; 2010-11
Vô địch Giải bóng đá tập huấn mùa xuân: 1
1999
Vô địch Cúp bóng đá Việt Nam: 2
2002; 2010
Vô địch Siêu cúp bóng đá Việt Nam: 4 (kỉ lục quốc gia)
2000; 2001; 2002; 2011
Là đội duy nhất ở Việt Nam 3 lần vô địch quốc gia liên tiếp (Nếu tính cà giải tập huấn mùa xuân 1999).
=== U21 ===
Vô địch quốc gia: 5 (kỉ lục quốc gia)
2000; 2001; 2002; 2012; 2014;
=== U19 ===
Vô địch quốc gia: 5 (kỉ lục quốc gia)
1999; 2001; 2004; 2005; 2006
=== U17 ===
Vô địch quốc gia: 7 (kỉ lục quốc gia)
2004; 2005; 2006; 2007; 2008; 2009; 2012
=== U15 ===
Vô địch quốc gia: 1
2002
=== Thiếu niên ===
Vô địch quốc gia: 5 (kỉ lục quốc gia)
1997; 1998; 2003; 2013, 2014
=== Nhi đồng ===
Vô địch quốc gia: 2
2001; 2002
=== Giải thưởng khác ===
Huân chương Lao động hạng 3 do Nhà nước Việt Nam trao tặng
== Đội hình hiện tại ==
Huấn luyện viên: Nguyễn Đức Thắng
Tính đến giai đoạn 1 mùa giải V.League 2017.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Những sự biến chuyển truớc mùa giải 2014 ==
=== Khủng hoảng tài chính và lực lượng ===
Dù thi đấu rất cố gắng, thế nhưng việc cán đích ở vị trí thứ 4 cộng thêm việc khủng hoảng tài chính đã khiến cho đội bóng xứ Nghệ mất cả hàng tá cầu thủ trong đội hình, trong đó đa phần là các trụ cột và ngôi sao như: tiền vệ đội trưởng Trọng Hoàng, tiền vệ Văn Bình, hậu vệ Văn Hoàn hiện đã chuyển sang thi đấu cho Becamex Bình Dương từng làm mưa làm gió rất nhiều trong màu áo SLNA ở mùa giải 2013 cũng như trong màu áo tuyển QG Việt Nam, thủ môn kì cựu Nguyễn Viết Nam cập bến Thanh Hoá, tiền vệ Hector từng thi đấu rất hay dưới những miếng đánh trên hàng công của đội bóng xứ Nghệ đã chuyển sang thi đấu cho CLB ĐKVĐ mùa giải 2013 Hà Nội T&T, tiền đạo tuyển thủ Plaza Willis Deon cũng đã trở về quê hương Trinidad & Tobago thi đấu và cả Kavin, người đã rất thành công trong việc đá cặp với trung phong số 1 của đội là Lê Công Vinh quyết định chuyển xuống Hạng nhất thi đấu cho CLB Hà Nội. Thậm chí, nếu không lanh tay, đội bóng xứ Nghệ cũng đã mất trắng trung phong số 1 Lê Công Vinh vào chính tay đối thủ đã giật 3 ngôi sao trụ cột của họ là Becamex Bình Dương.
=== Khủng hoảng vẫn có "Dream Team" ===
Những sự việc trên đã khiến cho SLNA phải thi đấu mùa giải 2014 với nhiều gương mặt trẻ do chính lò của họ đào tạo còn non kinh nghiệm thi đấu tại V-League, thậm chí là chưa từng chơi bóng tại V-League. Đó là những gương mặt từng thi đấu rất tốt tại các giải trẻ như các tuyển thủ U21 Việt Nam từng lên ngôi vô địch tại Giải bóng đá U21 Quốc tế báo Thanh niên là Nguyễn Đình Bảo, Phạm Thế Nhật, Hồ Khắc Ngọc, Hồ Sĩ Sâm, Trương Nam Thành, Lê Thế Cường, Nguyễn Sĩ Nam, Quế Ngọc Mạnh, Vương Quốc Trung, Cao Xuân Thắng, Võ Ngọc Đức, Đậu Thanh Phong, các tuyển thủ U23 Việt Nam dự SEA Games 27 tại Myanmar như: Trần Phi Sơn, Trần Nguyên Mạnh, Quế Ngọc Hải, Ngô Hoàng Thịnh, Phạm Mạnh Hùng, Trần Đình Hoàng, đặc biệt là có cả các tuyển thủ U19 Việt Nam như: Phan Văn Đức, Hoàng Văn Khánh, Nguyễn Viết Nguyên, Hồ Tuấn Tài. Chính sách CLB cũng đủ để thu nạp thêm nhiều hàng khủng nhưng đa số các cầu thủ này đều đã qua thời kì đỉnh cao phong độ như cựu đội trưởng đội tuyển QG tại AFF Suzuki Cup 2012 Nguyễn Minh Đức từ Vicem Hải Phòng, cựu cầu thủ U16 Việt Nam năm 2000 Phan Như Thuật từ SQC Bình Định, cựu thủ môn đội tuyển QG Trần Đức Cường đến từ Becamex Bình Dương cùng với Lê Công Vinh vừa trở về từ Consadole Sapporo tại J-League 2 và các ngôi sao còn lại của đội như Nguyễn Hồng Việt, Nguyễn Quang Tình, Trần Đình Đồng dìu dắt các đàn em, đáng chú ý, các cầu thủ này đều gốc Nghệ An. Ngoài ra, CLB cũng mạo hiểm đưa về nhiều ngoại binh khủng trong thời điểm kinh tế CLB đang khủng hoảng như tuyển thủ Cameroon Paul Biayaga Emile, Edouard Ndjodo, khủng nhất là trường hợp của cựu sao U17 Brazil Guilaume Moreira Rodrigues và tiền đạo được mệnh danh là "Adrian Mutu mới" trưởng thành từ lò đào tạo trẻ của CLB Livorno đang thi đấu tại Serie A Petrisor Voinea.
=== Là CLB thứ 5 tại Việt Nam có nhà tài trợ áo đấu ===
Giữa mùa giải 2013, nhờ mối quan hệ thân thiết giữa tiền đạo Lê Công Vinh và hãng thể thao Nike mà Sông Lam Nghệ An đã được đơn vị này quan tâm, soạn thảo hợp đồng cung cấp các trang thiết bị, dụng cụ và áo đấu cho "đội bóng xứ Nghệ". Tuy nhiên, bản hợp đồng này chỉ ở mức soạn thảo và đến giờ cũng chưa ai biết được vì sao Nike và Sông Lam Nghệ An lại không tiến tới việc ký hợp đồng chính thức. Ngày 28 tháng 12 năm 2013, Sông Lam Nghệ An với sự đảm bảo của công ty Hoàng Phúc International đã quyết định ký hợp đồng tài trợ với hãng thể thao danh tiếng Kappa. Theo đó, Kappa sẽ tài trợ các trang thiết bị luyện tập, dụng cụ thi đấu (gồm: giày, túi, áo đấu, áo tập, áo khoác) cho tất cả các cầu thủ đội 1 lẫn đội trẻ của Sông Lam Nghệ An. Như vậy, Sông Lam Nghệ An là CLB thứ 5 tại Việt Nam có nhà tài trợ áo đấu sau Hà Nội T&T, QNK Quảng Nam, CLB Hà Nội (hạng Nhất) (đều do Kappa tài trợ), Thanh Hoá (do Mitre tài trợ).
== Thành viên nổi bật ==
=== Quả bóng vàng Việt Nam ===
Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng Việt Nam khi đang chơi cho Sông Lam Nghệ An:
Võ Văn Hạnh – 2001
Phạm Văn Quyến – 2003
Lê Công Vinh – 2004, 2006, 2007
Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng Việt Nam trưởng thành từ lò Sông Lam Nghệ An, sau đó chuyển nhượng sang câu lạc bộ khác:
Dương Hồng Sơn – 2008
=== Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất ===
Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất khi đang chơi cho Sông Lam Nghệ An:
Iddi Batambuje – 2001
=== Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất ===
Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất khi đang chơi cho Sông Lam Nghệ An:
Phạm Văn Quyến – 2000, 2002
Nguyễn Huy Hoàng – 2001
Lê Công Vinh – 2004
Nguyễn Trọng Hoàng – 2009
Trần Phi Sơn – 2012
=== Vua phá lưới ===
Cầu thủ đoạt giải Vua phá lưới khi đang chơi cho Sông Lam Nghệ An:
Văn Sĩ Thủy – 1999-00
== Các huấn luyện viên trong lịch sử ==
== Sân vận động ==
Sân nhà: Sân vận động Vinh (18.000 chỗ ngồi); Địa chỉ: số 6, đường Đào Tấn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
== Thành tích tại V-League ==
== Thành tích tại các Cúp châu Á ==
== Biểu trưng của câu lạc bộ ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hội cổ động viên bóng đá xứ Nghệ
Liên đoàn bóng đá Việt Nam
Báo Thể thao
Báo Thể thao Việt Nam
"Chảo lửa" Thành Vinh trước trận "chung kết" V-League
Thành Vinh lên cơn sốt
20 tỷ đồng treo thưởng cho "trận chung kết" V-League 2011
Các bài viết về SLNA |
1902.txt | 1902 (số La Mã: MCMII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1902
== Sự kiện ==
4 tháng 3 - Hiệp hội Ô tô Hoa Kỳ (AAA) thành lập.
6 tháng 3 - Real Madrid thành lập với tên gọi "FC Madrid".
20 tháng 5 - Cuba giành độc lập từ Hoa Kỳ.
== Sinh ==
13 tháng 2 - Talcott Parsons, nhà xã hội học người Mỹ, giáo sư của Đại học Harvard (mất 1979)
23 tháng 4 - Halldór Laxness, nhà văn Iceland đoạt giải Nobel Văn chương năm 1955 (mất 1998)
30 tháng 4 - Theodore Schultz, nhà kinh tế Mỹ đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1979 (mất 1998)
3 tháng 5 - Alfred Kastler, nhà văn Pháp đoạt giải Nobel Vật lý năm 1966 (mất 1984)
? tháng ? - Hoàng Văn Hợp, liệt sĩ cách mạng Việt Nam kháng chiến chống Pháp (mất 1931) nguyên Huyện ủy viên Huyện ủy Quỳnh Lưu - Nghệ An
20 tháng 12 - Hoàng tử George, Công tước xứ Kent (mất 1942)
== Mất ==
4 tháng 7 - Swami Vivekananda, nhà lãnh tụ tôn giáo người Ấn Độ (sinh 1863)
12 tháng 5 - Phạm Thị Hằng (Từ Dụ), chính cung của Hoàng đế Thiệu Trị, mẹ Hoàng đế Tự Đức (sinh 1810)
8 tháng 8 - James Tissot, họa sĩ Pháp (sinh 1836)
== Giải Nobel ==
Vật lý - Hendrik Lorentz, Pieter Zeeman
Hóa học - Hermann Emil Fischer
Y học - Sir Ronald Ross
Văn học - Theodor Mommsen
Hòa bình - Élie Ducommun, Albert Gobat
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
dương hồng sơn.txt | Dương Hồng Sơn sinh ngày 20 tháng 11 năm 1982 tại Nghệ An, là một cựu cầu thủ chơi ở vị trí thủ môn, anh từng khoác áo Sông Lam Nghệ An, Câu lạc bộ T&T Hà Nội, đồng thời cũng từng là tuyển thủ của đội tuyển Việt Nam. Anh quyết định treo găng vào đầu năm 2016.
Tại giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008, Hồng Sơn đã thi đấu khá xuất sắc, và là một trong những cầu thủ quan trọng giúp cho đội tuyển Việt Nam lần đầu tiên đoạt cúp vô địch, anh cũng đoạt được danh hiệu "Cầu thủ xuất sắc nhất" tại giải này.
== Sự nghiệp cầu thủ ==
=== Giai đoạn đầu ===
Hồng Sơn sinh ra trong một gia đình lao động ở Cầu Giát, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Giống như nhiều cầu thủ khác, Hồng Sơn cũng đam mê bóng đá từ nhỏ và đến năm 1995, anh đã cùng đội trẻ của Quỳnh Lưu thi đấu với đội trẻ Sông Lam Nghệ An, khi đó do huấn luyện viên Nguyễn Văn Huy dẫn dắt. Từ đó, anh đã được huấn luyện viên Nguyễn Văn Huy chú ý đến.
=== Sông Lam Nghệ An ===
Sau khi trở thành người của SLNA, Dương Hồng Sơn chăm chỉ luyện tập và một năm sau đã cùng với U14 SLNA vô địch toàn quốc. Hai năm sau đó, Dương Hồng Sơn lại cùng những Phan Thanh Hoàn, Chu Ngọc Cảnh, Nguyễn Công Mạnh vô địch U16 toàn quốc.
Với 2 danh hiệu trên, Sơn được chọn vào đội U16 quốc gia.Rất may cho Sơn là khi đó, hầu như toàn đội đều là cầu thủ của SLNA nên cả 2 huấn luyện viên cũng là của SLNA: Nguyễn Hồng Thanh và Nguyễn Thành Vinh.
Đã từng có thời gian huấn luyện viên Nguyễn Thành Vinh cho Sơn lên đá trung vệ và hậu vệ bởi thể hình nhỏ bé của anh, nhưng cả 2 vị trí này đều không thành công.Sau đó, huấn luyện viên Nguyễn Hồng Thanh đã nói với anh:"Những thủ môn nhỏ bé, nếu chăm chỉ luyện tập, tự tin và có năng khiếu vẫn trở thành những thủ môn tốt".Và từ đó, ông lại đưa Hồng Sơn trở về với vị trí thủ môn.
Năm 2002, Hồng Sơn được ban lãnh đạo đem cho Hà Nội ACB mượn.Sau một mùa bóng thi đấu ở đây, anh đã giúp CLB lên hạng. Trở về với SLNA, ngay trong mùa giải đầu tiên được bắt chính, anh đã để lại một ấn tượng không tốt. Trong một pha thiếu kiềm chế, anh đã đánh cùi chỏ vào cầu thủ Ngọc Thanh của Thể Công.Kết cục, Hồng Sơn bị ban lãnh đạo phạt và đẩy xuống đội trẻ thi đấu.
=== T&T Hà Nội ===
Năm 2007, SLNA hết hạn hợp đồng với Dương Hồng Sơn, và anh đã từ chối Xi măng Hải Phòng để đến T&T Hà Nội khi đó vừa lên Hạng Nhất. Mặc dù thi đấu chưa được thật sự tốt trong một số trận đầu nhưng kết cục, anh vẫn thi đấu tốt và giúp CLB lên được V-League.
=== Đội tuyển quốc gia ===
Dương Hồng Sơn được huấn luyện viên Alfred Riedl gọi cho Asia Cup 2007. Anh đã chơi rất tốt trong các trận tiếp UAE và Qatar, giúp Việt Nam vào Tứ kết nhưng đã để thua trước Iraq, đội bóng sau đó đã vô địch giải.
Tại AFF Suzuki Cup 2008, Dương Hồng Sơn được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất giải. Anh đã nhiều lần cứu thua cho đội tuyển bóng đá Việt Nam đặc biệt trong các trận tiếp Singapore ở trận lượt về và trận tiếp Thái Lan trong cả hai lượt trận.
== Sự nghiệp huấn luyện viên ==
Sau khi có được bằng HLV thủ môn và chấm dứt sự nghiệp cầu thủ, anh trở thành HLV thủ môn cho đội U-19 của Câu lạc bộ T&T Hà Nội.
== Thành tích ==
Với Đội tuyển Việt Nam
Vô địch AFF Suzuki Cup 2008
Cá nhân:
Cầu thủ xuất sắc nhất giải AFF Suzuki Cup 2008
Quả bóng vàng Việt Nam 2008
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử trên VFF |
wikisource.txt | Wikisource là một thư viện trực tuyến gồm những văn bản nguồn có nội dung mở, được Wikimedia Foundation điều hành. Mục tiêu của nó là lưu giữ tất cả mọi hình thức văn bản tự do, trong mọi thứ tiếng. Hiện nay trang Wikisource cũng cung cấp những bản dịch.
== Nội dung của thư viện ==
Wikisource tập hợp những văn kiện đã được xuất bản, bao gồm tiểu thuyết, tác phẩm phi hư cấu (sách khoa học), thư từ, diễn văn, thơ ca, văn kiện hiến pháp và lịch sử, đạo luật, kinh kệ, và nhiều loại tài liệu khác. Tất cả mọi văn kiện được đưa vào phải không còn bản quyền, hoặc tác giả đã phát hành nội dung dưới Giấy phép Creative Commons Ghi công-Chia sẻ tương tự 3.0. Dự án cũng nhận những tài liệu bằng mọi thứ tiếng, kể cả bản tự dịch.
Wikisource không nhận những sách của "nhà xuất bản cá nhân" (tiếng Anh: vanity press) và những tài liệu do chính người đóng góp viết nên.
== Lịch sử ==
Dự án này ban đầu có tên Dự án Sourceberg trong giai đoạn lên kết hoạch (một cách chơi chữ từ Dự án Gutenberg). Dự án Sourceberg chính thức bắt đầu khi nó được nhận một địa chỉ URL tạm của riêng mình vào ngày 24 tháng 11 năm 2003 (http://sources.wikipedia.org); mọi văn bản và thảo luận được chuyển từ ps.wikipedia.org (địa chỉ ban đầu của dự án, ps là viết tắt của Project Sourceberg) sang. Một cuộc bỏ phiếu đã thay đổi tên dự án sang Wikisource vào ngày 6 tháng 12 năm 2003. Tuy vậy, dự án chỉ chuyển sang URL cố định như hiện tại (http://wikisource.org) vào 23 tháng 7 năm 2004.
== Các tên miền con cho các ngôn ngữ ==
Một phiên bản tiếng Hê-brơ của Wikisource (he.wikisource.org) đã được tạo ra vào tháng 8 năm 2004. Việc có một website riêng dành cho tiếng Hebrew là do khó khăn khi gõ và sửa các văn kiện tiếng Hê-brơ trong môi trường viết từ trái sang phải (vì Hê-brơ viết từ phải sang trái). Vào các tháng sau, những thành viên ở nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Đức yêu cầu có wiki riêng, nhưng một cuộc bỏ phiếu vào tháng 12 về việc có nên tạo ra tên miền ngôn ngữ riêng không đã không cho được kết quả nào. Sau một cuộc bỏ phiếu thứ hai kết thúc vào ngày 12 tháng 5 năm 2005, đã cho phép mỗi ngôn ngữ được lưu trữ văn kiện của mình trong wiki riêng.
Đầu tiên có 14 ngôn ngữ được tạo ra vào ngày 23 tháng 8 năm 2005. Các ngôn ngữ mới này không có tiếng Anh, mà mã en: được tạm đổi hướng sang website chính (wikisource.org).
Đến ngày 11 tháng 9 năm 2005, người ta đã cấu hình thiết lập phiên bản tiếng Anh, cùng với 8 ngôn ngữ khác được tạo ra trong ngày hôm đó.
Thêm ba ngôn ngữ nữa được tạo ra vào ngày 29 tháng 3 năm 2006 và rồi đến 14 ngôn ngữ nữa vào 2 tháng 6 năm 2006. Hiện nay, Wikisource đã có hơn 50 tên miền ngôn ngữ, bên cạnh các ngôn ngữ khác vẫn còn lưu giữ ở wikisource.org, được xem là trang thử nghiệm hoặc là trang nhà cho các ngôn ngữ chưa có tên miền riêng (hiện nay có 31 ngôn ngữ).
Trang wikisource.org vẫn được giữ lại để giúp việc điều hành các ngôn ngữ phụ và lưu trữ các ngôn ngữ khác chưa có tên miền riêng.
=== Wikisource tiếng Việt ===
Wikisource phiên bản tiếng Việt được chính thức tạo ra vào ngày 2 tháng 6 năm 2006. Tuy phần nhiều phiên bản ngôn ngữ của Wikisource có khẩu hiệu "Thư viện tự do" (tiếng Anh: The Free Library), Wikisource tiếng Việt chọn khẩu hiệu "Văn thư lưu trữ mở" vì hai lý do: thứ nhất là cộng đồng Wikipedia tiếng Việt đã quyết định sử dụng từ "mở" thay vì "tự do" để chỉ đến phần mềm tự do, và thứ hai là nhiều người bị lẫn lộn khi Wikibooks đầu tiên có khẩu hiệu "Thư viện mở", họ tưởng là có thể mượn sách thường ở đấy.
== Xem thêm ==
Dự án Gutenberg
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wikisource tiếng Việt
Cổng chính Wikisource
Wikisource tiếng Việt cũ tại "Wikisource dùng chung"
Thảo luận và kế hoạch đầu tiên về dự án tại Wikimedia Meta-Wiki
Lịch sử Wikisource theo một thành viên |
thí nghiệm.txt | Thí nghiệm, hay thực nghiệm, là một bước trong phương pháp khoa học dùng để phân minh giữa mô hình khoa học hay giả thuyết. Thí nghiệm cũng được sử dụng để kiểm tra tính chính xác của một lý thuyết hoặc một giả thuyết mới để ủng hộ chúng hay bác bỏ chúng. Thí nghiệm hoặc kiểm nghiệm có thể được thực hiện bằng phương pháp khoa học để trả lời một câu hỏi hoặc khảo sát vấn đề. Trước tiên đó là thực hiện quan sát. Sau đó đặt ra câu hỏi, hoặc nảy sinh vấn đề. Sau đó, giả thuyết được hình thành. Tiếp đến thí nghiệm được đưa ra để kiểm tra giả thuyết. Kết quả thí nghiệm được phân tích, rồi vạch ra kết luận, đôi khi một lý thuyết được hình thành từ kết quả thí nghiệm, và các kết quả được công bố trên các tạp chí nghiên cứu.
Một thí nghiệm thường có mục đích chính là kiểm tra giả thuyết. Tuy nhiên, thí nghiệm cũng được dùng để kiểm chứng câu hỏi hoặc kiểm tra kết quả trước đó.
Lặp lại thí nghiệm là "một thủ tục tiêu chuẩn trong việc xác nhận bất kỳ một khám phá khoa học nào." [1]
"Khoa học đã được bảo vệ lâu dài khỏi những gian lận khoa học bằng cách xây dựng một cơ chế an toàn: để được chấp nhận rộng rãi, các thí nghiệm phải được lặp lại bởi những người khác." [2]
Điều quan trọng là chúng ta phải biết mọi yếu tố trong một thí nghiệm. Và cũng rất quan trọng khi các kết quả thí nghiệm càng chính xác càng tốt. Nếu thí nghiệm được thực hiện cẩn thận, thì các kết quả thường là ủng hộ hoặc bác bỏ giả thuyết. Và thí nghiệm không bao giờ có thể "chứng minh" một giả thuyết, nó chỉ có thể ủng hộ thêm mà thôi. Tuy nhiên, nếu một ai đó lặp lại thí nghiệm mà thu được kết quả mâu thuẫn với các thí nghiệm trước thì nó có thể bác bỏ được lý thuyết hay giả thuyết. Thí nghiệm cũng phải kiểm soát được các yếu tố gây nhiễu—bất kỳ yếu tố nào làm ảnh hưởng đến độ chính xác hoặc tính lặp lại của thí nghiệm hoặc khả năng giải thích kết quả thí nghiệm.
"... những kết quả thí nghiệm có thể không luôn chỉ được giải thích bằng lý thuyết duy nhất. the results of an experiment can never uniquely identify the explanation. Chúng chỉ có thể phân chia phạm vi của các mô hình ra làm hai nhóm, nhóm phù hợp với các kết quả thí nghiệm và nhóm mâu thuẫn với kết quả thí nghiệm."
Thí nghiệm không phải là phương pháp duy nhất mà các nhà khoa học sử dụng để kiểm tra giả thuyết. Thí nghiệm thường dựa vào quan sát mà các điều kiện có thể được kiểm soát và điều chỉnh bởi người làm thí nghiệm nhằm loại bỏ các yếu tố không liên quan, thường thực hiện trong phòng thí nghiệm khoa học. Thông tin về tự nhiên (bản chất) cũng được thu thập và kiểm tra giả thuyết trong các nghiên cứu quan sát ngoài thực tế, đó là những quan sát về các hiện tượng trong thiên nhiên, mà không bị kiểm soát bởi người làm thí nghiệm.
== Xem thêm ==
Vật lý thực nghiệm
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Lessons In Electric Circuits - Volume VI - Experiments
Trochim, William M., Experimental Design, The Research Methods Knowledge Base, 2nd Edition. (version current as of ngày 11 tháng 7 năm 2006).
Description of weird experiments (with film clips)
Science Experiments for Kids
Shadish, William R., Thomas D. Cook, and Donald T. Campbell. 2002. Experimental and Quasi-experimental Designs for Generalized Causal Inference. Boston: Houghton Mifflin. 623 p.
Guide for Understanding and Implementing Defense Experimentation (GUIDEx), The Technical Cooperation Program, 2006
Experiment in Physics from Stanford Encyclopedia of Philosophy
Bản mẫu:Experimental design Bản mẫu:Statistics |
câu hỏi sức khỏe chung.txt | Bảng câu hỏi sức khỏe tổng quát (General Health Questionaire) là một công cụ kiểm chứng tâm lý để xác định được điều kiện tâm thần. Bộ câu hỏi đã được dịch ra tiếng Tây Ban Nha và Ba Tư.
Bộ câu hỏi có một số câu hỏi, mỗi câu trả lời ứng với thang Likert 4 mức độ. Có các phiên bản với 12, 28, 30 và 60 câu hỏi. GHQ có giá trị khi áp dụng ở người lớn và thanh thiếu niên, nhưng không phải ở trẻ em, và được sử dụng miễn phí.
== Tham khảo == |
1943.txt | 1943 (số La Mã: MCMXLIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Sáu trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1943
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
18 tháng 1: Liên Xô phát động phản công tại Leningrad.
23 tháng 1: Quân Anh công chiếm Tripoli
=== Tháng 2 ===
2 tháng 2: Quân Đức tại Stalingrad đầu hàng, Trận Stalingrad kết thúc, quân Liên Xô thắng lợi.
9 tháng 2: Hoa Kỳ đánh chiếm đảo Midway, Alabama
18 tháng 2 Tống Mỹ Linh diễn thuyết tại Quốc hội Hoa Kỳ.
25 tháng 2: Ban thường vụ Trung ương Đảng họp tạo Võng La, Đông Anh, Hà Nội.
=== Tháng 4 ===
19 tháng 4: Tại Warsaw, Illinois xảy ra khởi nghĩa nhân dân.
=== Tháng 5 ===
13 tháng 5: Liên quân Đức - Ý đầu hàng đồng minh.
16 tháng 5: Khởi nghĩa tại Warsaw, Illinois bị trấn áp
=== Tháng 6 ===
10 tháng 6: Quốc tế cộng sản tuyên bố giải thể.
=== Tháng 7 ===
2 tháng 7: Đặng Tiểu Bình đề xuất kinh tế thời chiến.
10 tháng 7: Quân đồng minh đổ bộ lên đảo Sicily.
25 tháng 7: Xảy ra binh biến tại Ý
27 tháng 7: Không quân Hoa Kỳ không kích Hamburg
=== Tháng 8 ===
17 tháng 8: Quân đồng minh chiếm đảo Sicily.
23 tháng 8: Kết thúc trận Vòng cung Kursk.
=== Tháng 9 ===
3 tháng 9: Quân đồng minh đổ bộ lên Ý.
4 tháng 9: Liên quân Mỹ Áo tiến công Napoli.
8 tháng 9: Chính phủ phát xít Ý đầu hàng.
25 tháng 9: Quân Liên Xô giải phóng Smolenskaya Oblast.
=== Tháng 10 ===
13 tháng 10: Ý tuyên chiến với Đức
=== Tháng 11 ===
1 tháng 11: Quân Mỹ đổ bộ lên đảo Bougainville
6 tháng 11: Quân Liên Xô giải phóng Kiev
12 tháng 11: Ba nước Anh Pháp Mỹ hộp hội nghị.
22 tháng 11: Hoa Kỳ công chiếm đảo Tarawa
== Sinh ==
1 tháng 1 - Don Novello, diễn viên người Mỹ
2 tháng 1 - Barış Manço, Turkish singer and television personality (d. 1999)
4 tháng 1 - Doris Kearns Goodwin, nhà văn người Mỹ
6 tháng 1 - Terry Venables, ông bầu bóng đá người Anh
9 tháng 1 - Freddie Starr, diễn viên hài, ca sĩ người Anh
10 tháng 1 - Jim Croce, ca sĩ người Mỹ, (mất 1973)
11 tháng 1 - Jim Hightower, người Mỹ radio host and author
13 tháng 1 - Richard Moll, diễn viên người Mỹ
16 tháng 1 - Brian Ferneyhough, nhà soạn nhạc người Anh
18 tháng 1 - Kay Granger, chính trị gia người Mỹ
19 tháng 1 - Janis Joplin, ca sĩ người Mỹ, (mất 1970)
19 tháng 1 - Margriet công chúa của Hà Lan
20 tháng 1 - Mel Hague, ca sĩ, tác gia người Anh
24 tháng 2 - Sharon Tate, người Mỹ actress and murder victim (d. 1969)
25 tháng 1 - Tobe Hooper, đạo diễn phim người Mỹ
26 tháng 1 - César Gutiérrez, Venezuelan Major League baseball_player (d. 2005)
29 tháng 1 - Tony Blackburn, British radio disc jockey
30 tháng 1 - Marty Balin, nhạc sĩ người Mỹ
2 tháng 2 - Erkan Genis, Turkish artist
3 tháng 2 - Blythe Danner, nữ diễn viên người Mỹ
4 tháng 2 - Alberto João Jardim, chính trị gia người Bồ Đào Nha
5 tháng 2 - Nolan Bushnell, người Mỹ video game pioneer
5 tháng 2 - Michael Mann, đạo diễn phim, nhà văn, nhà sản xuất phim người Mỹ
5 tháng 2 - Craig Morton, cầu thủ bóng bầu dục người Mỹ
6 tháng 2 - Fabian, ca sĩ người Mỹ
7 tháng 2 - Gareth Hunt, diễn viên người Anh
9 tháng 2 - Joe Pesci, diễn viên người Mỹ
9 tháng 2 - Joseph E. Stiglitz, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Mỹ
14 tháng 2 - Maceo Parker, nhạc sĩ người Mỹ
18 tháng 2 - Graeme Garden, nhà văn, diễn viên hài, diễn viên người Scotland
19 tháng 2- Tim Hunt, British biochemist, recipient_of_the_Nobel_Prize in Physiology hoặc Medicine
19 tháng 2 - Homer Hickam, người Mỹ author and retired NASA engineer
20 tháng 2 - Mike Leigh, đạo diễn phim người Anh
21 tháng 2 - David Geffen, người Mỹ record executive and film_producer
23 tháng 2 - Fred Biletnikoff, cầu thủ bóng bầu dục, Coach người Mỹ
24 tháng 2 - Hristo Prodanov, Bulgarian mountaineer
25 tháng 2 - George Harrison, nhạc sĩ người Anh, (mất 2001)
26 tháng 2 - Bill Duke, diễn viên, người đạo diễn người Mỹ
27 tháng 2 - Morten Lauridsen, nhà soạn nhạc người Mỹ
27 tháng 2 - Graham Bowers, nhạc sĩ, nghệ sĩ, kĩ sư người Anh
- tháng 3 - hn Leeson, diễn viên người Anh
1 tháng 3 - Richard H. Price, nhà vật lý người Mỹ
1 tháng 3 - Gil Amelio, Thương gia người Mỹ
2 tháng 3 - Peter Straub, tác gia người Mỹ
2 tháng 3 - Zygfryd Blaut, cầu thủ bóng đá người Ba Lan
3 tháng 3 - Trond Mohn, Norwegian billionaire
4 tháng 3 - Lucio Dalla, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Ý
4 tháng 3 - Zoltan Jeney, nhà soạn nhạc người Hungary
8 tháng 3 - Lynn Redgrave, nữ diễn viên người Anh
9 tháng 3 - Bobby Fischer, đấu thủ cờ vua người Mỹ
9 tháng 3 - Charles Gibson, phóng viên truyền hình người Mỹ
15 tháng 3 - David Cronenberg, đạo diễn phim người Canada
16 tháng 3 - Helen Armstrong, nghệ sĩ vĩ cầm người Mỹ
18 tháng 3 - Kevin Dobson, diễn viên người Mỹ
19 tháng 3 - Mario J. Molina, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người México
19 tháng 3 - Mario Monti, Italian member of the European Commission
20 tháng 3 - Gerard Malanga, nhà thơ, nhà nhiếp ảnh người Mỹ
20 tháng 3 - Naima Neidre, Estonian graphic artist
21 tháng 3 - Ellen Cannon Reed, người Mỹ witch and author, (d. 2003)
21 tháng 3 - Vivian Stanshall, English comedian, writer, artist, broadcaster, and musician (d. 1995)
21 tháng 3 - István Gyulai, quan chức thể thao người Hungary (d. 2006)
22 tháng 3 - Bruno Ganz, diễn viên người Thụy Sĩ
22 tháng 3 - Keith Relf, nhạc sĩ người Anh, (mất 1976)
25 tháng 3 - Royston MaldoomOBE, British choreographer (1943)
26 tháng 3 - Bob Woodward, nhà báo người Mỹ
29 tháng 3 - Eric Idle, diễn viênnhà văn, nhà soạn nhạc người Anh
29 tháng 3 - John Major, Prime_Minister of the United Kingdom
29 tháng 3 - Vangelis, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc người Hy Lạp
31 tháng 3 - Christopher Walken, diễn viên người Mỹ
2 tháng 4 - Frank Feather, British-born international business futurist and author
5 tháng 4 - Max Gail, diễn viên người Mỹ
8 tháng 4 - Miller Farr, cầu thủ bóng bầu dục người Mỹ
10 tháng 4 - Andrzej Badeński, vận động viên điền kinh người Ba Lan
20 tháng 4 - John Eliot Gardiner, người chỉ huy dàn nhạc người Anh
22 tháng 4 - Louise Glück, nhà thơ, nhà thơ người Mỹ
23 tháng 4 - Hervé Villechaize, diễn viên người Pháp, (mất 1993)
23 tháng 4 - Dominik Duka, người RomâniaBishop, Theologian người Séc
23 tháng 4 - Frans Koppelaar, họa sĩ người Đức
28 tháng 4 - John O. Creighton, nhà du hành vũ trụ
5 tháng 5 - Michael Palin, diễn viên hài người Anh
8 tháng 5 - Paul Samwell-Smith, nhạc sĩ người Anh
8 tháng 5 - Toni Tennille, ca sĩ người Mỹ
10 tháng 5 - Richard (Dick) Darman,, doanh nhân người Mỹ
14 tháng 5 - Jack Bruce, nhạc sĩ, người sáng tác bài hát người Anh
14 tháng 5 - Ólafur Ragnar Grímsson, President of Iceland
17 tháng 5 - Tuanku Syed Sirajuddin, King
22 tháng 5 - Betty Williams, chính trị gia người Ireland
25 tháng 5 - Jessi Colter, ca sĩ, nhà soạn nhạc người Mỹ
26 tháng 5 - Erica Terpstra, vận động viên bơi lộichính trị gia, tổng thống người Đức người Đức
27 tháng 5 - Bruce Weitz, diễn viên người Mỹ
30 tháng 5 - James Chaney, người Mỹ, (mất 1964)
31 tháng 5 - Joe Namath, cầu thủ bóng bầu dục người Mỹ
31 tháng 5 - Sharon Gless, nữ diễn viên người Mỹ
2 tháng 6 - Fil Villarreal, CMS, USAF/Retired
2 tháng 6 - Ilayaraaja, nhà soạn nhạc người Ấn Độ
3 tháng 6 - John Burgess, Australian game show actor
4 tháng 6 - Joyce Meyer, Christian author and speaker
6 tháng 6 - Richard Smalley, nhà hóa học, giải thưởng Nobel người Mỹ
7- tháng 6 - kki Giovanni, nhà thơ người Mỹ
8 tháng 6 - Colin Baker, diễn viên người Anh
14 tháng 6 - Jim Sensenbrenner, chính trị gia người Mỹ
15 tháng 6 - Johnny Hallyday, ca sĩ, diễn viên người Pháp
15 tháng 6 - Poul Nyrup Rasmussen, Prime_Minister of Denmark
16 tháng 6 - Joan Van Ark, nữ diễn viên người Mỹ
17 tháng 6 - Newt Gingrich, chính trị gia người Mỹ
17 tháng 6 - Barry Manilow, nhạc sĩ người Mỹ
23 tháng 6 - James Levine, người chỉ huy dàn nhạc người Mỹ
26 tháng 6 - John Beasley, diễn viên người Mỹ
26 tháng 6 - Klaus von Klitzing, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Đức
June 27 - Rico Petrocelli, baseball_player
29 tháng 6 - Maureen O'Brien, nữ diễn viên người Anh
29 tháng 6 - Soon-Tek Oh, diễn viên người Nhật Bản
3 tháng 7 - Kurtwood Smith, diễn viên người Mỹ
4 tháng 7 - Konrad "Conny" Bauer, German trombonist
4 tháng 7 - Geraldo Rivera, Reporter, người dẫn chương trình người Mỹ
5 tháng 7 - Curt Blefary, baseball_player (d. 2001)
7 tháng 7 - Joel Siegel, người Mỹ film_critic (d. 2007)
10 tháng 7 - Arthur Ashe, vận động viên quần vợt người Mỹ, (mất 1993)
12 tháng 7 - Christine McVie, nhạc sĩ người Anh
15 tháng 7 - Jocelyn Bell Burnell, nhà vật lý thiên văn người Ireland
16 tháng 7 - Reinaldo Arenas, nhà văn người Cuba, (mất 1990)
20 tháng 7 - Wendy Richard, nữ diễn viên người Anh
21 tháng 7 - Edward Herrmann, diễn viên người Mỹ
23 tháng 7 - Dr. Randall Forsberg, người Mỹ nuclear freeze advocate (d. 2007)
23 tháng 7 - Bob Hilton, người Mỹ game show host and announcer
25 tháng 7 - Jim McCarty, nhạc sĩ người Anh
26 tháng 7 - Mick Jagger, ca sĩ người Anh
27 tháng 7 - Rick Wright, English keyboardist (Pink Floyd)
31 tháng 7 - Sab Shimono, diễn viên người Mỹ
2 tháng 8 - Patrick Adiarte, diễn viên, diễn viên múa người Mỹ
2 tháng 8 - Kathy Lennon, ca sĩ người Mỹ
4 tháng 8- Bjørn Wirkola, Norwegian ski jumper
5 tháng 8- Nelson Briles, baseball_player (d. 2005)
6 tháng 8 - Jim Hardin, former Baltimore Orioles, New York Yankees and Atlanta Braves pitcher (d. 1991)
7 tháng 8 - Dino Valente, nhạc sĩ người Mỹ, (mất 1994)
11 tháng 8 - Abigail Folger, người Mỹ heiress and murder victim (d. 1969)
11 tháng 8 - Pervez Musharraf, Pakistani general and leader
14 tháng 8- Jimmy Johnson, người Mỹ football coach and television analyst
17 tháng 8 - Robert De Niro, diễn viên người Mỹ
18 tháng 8 - Gianni Rivera, cầu thủ bóng đá người Ý
20 tháng 8 - Sylvester McCoy, diễn viên người Anh
24 tháng 8 - John Cipollina, nhạc sĩ người Mỹ, (mất 1989)
28 tháng 8 - Lou Piniella, baseball_player and manager
30 tháng 8 - Jean-Claude Killy, French skier
1 tháng 9 - Don Stroud, diễn viên người Mỹ
6 tháng 9 - Richard J. Roberts, English biochemist and molecular biologist, recipient_of_the_Nobel_Prize in Physiology hoặc Medicine
6 tháng 9 - Roger Waters, nhạc sĩ người Anh
9 tháng 9 - Art LaFleur, diễn viên người Mỹ
10 tháng 9 - Daniel Truhitte, diễn viên người Mỹ
11 tháng 9 - Gilbert Proesch, nghệ sĩ, người Ý
11 tháng 9 - Raymond Villeneuve, nhân vật khủng bố người Canada
22 tháng 9 - Toni Basil, người Mỹ musician and video artist
28 tháng 9 - J. T. Walsh, diễn viên người Mỹ, (mất 1998)
29 tha1ng - Lech Wałęsa, President of Poland, recipient of the Nobel Peace Prize
30 tháng 9 - Johann Deisenhofer, nhà hóa sinh vật học, giải thưởng Nobel người Đức
30 tháng 9 - Ian Ogilvy, diễn viên người Anh
- tháng 10 - dy Graubart, nữ diễn viên người Mỹ
2 tháng 10 - Franklin Rosemont, nhà thơ người Mỹ
6 tháng 10 - Michael Durrell, diễn viên người Mỹ
8 tháng 10 - Chevy Chase, diễn viên hài, diễn viên người Mỹ
14 tháng 10 - Lois Hamilton, Modelnữ diễn viên, nghệ sĩ người Mỹ, (mất 1999)
16 tháng 10 - Paul Rose, nhân vật khủng bố người Canada
31 tháng 10 - Paul Frampton, nhà vật lý người Anh
1 tháng 11 - John McEnery, diễn viên người Anh
4 tháng 11 - Chuck Scarborough người Mỹ News Anchor on NBC
5 tháng 11- Friedman Paul Erhardt, German người Mỹ pioneering television chef (d. 2007)
5 tháng 11- Sam Shepard, người Mỹ playwright and actor
7 tháng 11 - Michael Byrne, diễn viên người Anh
7 tháng 11 - Joni Mitchell, nhạc sĩ người Canada
7 tháng 11 - Michael Spence, nhà kinh tế học, giải thưởng Nobel người Mỹ
7 tháng 11 - Stephen Greenblatt, nhà phê bình văn học người Mỹ
11 tháng 11- Doug Frost, Australian swimming coach
12 tháng 11 - Wallace Shawn, diễn viên người Mỹ
14 tháng 11 - Peter Norton, kĩ sư phần mềm, doanh nhân người Mỹ
19 tháng 11 - Aurelio Monteagudo, vận động viên bóng chày người Cuba, (mất 1990)
20 tháng 11 - Mie Hama, nữ diễn viên người Nhật Bản
21 tháng 11 - Larry Mahan, người Mỹ rodeo cowboy
26 tháng 11 - Marilynne Robinson, nhà văn người Mỹ
2 tháng 12 - Wayne Allard U.S Senator from Colorado - Senior Senator
5 tháng 12- Eva Joly, Norwegian-born French magistrate
8 tháng 12 - James Douglas "Jim" Morrison, nhạc sĩ người Mỹ, (mất 1971)
11 tháng 12 - John Kerry, chính trị gia người Mỹ
12 tháng 12 - Grover Washington, Jr., người Mỹ saxophonist (d. 1999)
13 tháng 12 - Ferguson Jenkins, baseball_player
15 tháng 12 - Lucien den Arend, nhà điêu khắc
17 tháng 12 - Ron Geesin, nhạc sĩ, người sáng tác bài hát người Anh
18 tháng 12 - Keith Richards, nghệ sĩ đàn ghita, người sáng tác bài hát người Anh
19 tháng 12 - Ross M. Lence, người Mỹ political scientist (d. 2006)
23 tháng 12 - Harry Shearer, diễn viên, nhà văn người Mỹ
24 tháng 12 - Tarja Halonen, tổng thống Phần Lan
27 tháng 12 - Peter Sinfield, nhà thơ trữ tình, nhà sản xuất + người Anh
28 tháng 12 - Richard Whiteley, English television presenter (d. 2005)
31 tháng 12 - John Denver, nhạc sĩ người Mỹ, (mất 1997)
31 tháng 12 - Ben Kingsley, diễn viên người Anh
== Mất ==
5 tháng 1 - George Washington Carver, nhà thực vật học người Mỹ, (sinh 1864)
7 tháng 1 - Nikola Tesla, nhà khoa học Mỹ, sinh ra ở Croatia (sinh 1856)
8 tháng 1 - Richard Hillary, Battle of Britain Spitfire pilot, author of The Last Enemy (sinh 1919)
4 tháng 2 - Frank Calder, the first NHL President (sinh 1877)
28 tháng 3 - Sergei Rachmaninov, nhà soạn nhạc người Nga, (sinh 1873)
18 tháng 4 - Isoroku Yamamoto, đô đốc người Nhật Bản, (sinh 1884)
1 tháng 6 - Leslie Howard, diễn viên người Anh, (sinh 1893)
4 tháng 6 - Kermit Roosevelt, Explorer, tác gia người Mỹ, (sinh 1889)
4 tháng 7 - Wladyslaw Sikorski, chính trị gia người Ba Lan, (sinh 1881)
21 tháng 7 - Charlie Paddock, vận động viên điền kinh người Mỹ, (sinh 1900)
12 tháng 8 - Bobby Peel, vận động viên cricket người Anh (sinh 1857)
14 tháng 8 - Joe Kelley, vận động viên bóng chày (sinh 1871)
21 tháng 8 - Henrik Pontoppidan, Nhà văn người Đan Mạch, được trao giải Nobel về văn học (sinh 1857)
28 tháng 8 - King Boris III of Bulgaria (sinh 1894)
6 tháng 9 - Reginald McKenna, British Chancellor of the Exchequer 1915–1916 (born 1863)
1 tháng 9 - Charles Atangana, Cameroonian chief
24 tháng 9 - John Stone Stone, nhà vật lý, nhà phát minh người Mỹ, (sinh 1869)
5 tháng 10 - Leon Roppolo, nhạc sĩ người Mỹ, (sinh 1902)
9 tháng 10 - Pieter Zeeman, nhà vật lý đạt giải thưởng Nobel người Đức, (sinh 1865)
19 tháng 10 - Camille Claudel, nhà điêu khắc người Pháp, (sinh 1864)
1 tháng 12 - Damrong Rajanubhab, công chúa thái Lan và là một sử gia (sinh 1862)
14 tháng 12 - John Harvey Kellogg, bác sĩ người Mỹ, (sinh 1852)
15 tháng 12 - Fats Waller, nghệ sĩ dương cầm người Mỹ, (sinh 1904)
22 tháng 12 - Beatrix Potter, tác gia, vẽ minh họa người Anh, (sinh 1866)
== Giải Nobel ==
Vật lý - Otto Stern
Hóa học - George de Hevesy
Y học - Carl Peter Henrik Dam, Edward Adelbert Doisy, Gerhard Domagk
Văn học - không có giải
Hòa bình - không có giải
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
người lưu cầu.txt | Người Lưu Cầu (Ryukyu) hay người Lewchew (琉球民族, Ryūkyū minzoku, Okinawan: Ruuchuu minzuku) là dân tộc bản địa ở quần đảo Lưu Cầu nằm giữa Kyushu và Đài Loan. Các phân nhóm người Lưu Cầu được công nhận rộng rãi là người Amami, Okinawa, Miyako, Yaeyama và Yonaguni. Về mặt địa lý, họ sống cả ở Okinawa và Kagoshima. Các thứ tiếng của họ tạo thành nhóm ngôn ngữ Lưu Cầu, là một trong hai nhánh của hệ ngôn ngữ Nhật Bản (nhánh còn lại là tiếng Nhật).
== Lịch sử ==
=== Buổi đầu lịch sử ===
Xem thêm thông tin: thời kỳ Yayoi và thời kỳ Kofun
Các tài liệu ghi chép lịch sử bằng tiếng Hán lần đầu nhắc đến quần đảo Lưu Cầu là vào thế kỷ 6-7 (thời nhà Tùy). Các chi tiết cụ thể về các chuyến hải hành thời kỳ này vẫn chưa được biết đến, và người ta cho rằng người Lưu Cầu được người Trung Quốc nói đến bao gồm cả quần đảo Lưu Cầu và Đài Loan ngày nay.
=== Lịch sử hiện đại ===
Vào đầu thế kỷ 17, vương quốc Lưu Cầu bị phiên Satsuma của Kyūshū xâm chiếm. Phiên Satsuma duy trì vương quốc này tồn tại trên danh nghĩa vì những lợi ích thương mại với Trung Quốc, cho dù quần đảo Amami hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Satsuma. Dưới thời Minh Trị, vương quốc này bị xóa sổ hoàn toàn và tỉnh Okinawa được thành lập.
Sau thế chiến thứ hai, quần đảo Lưu Cầu cũng như quần đảo Nhật Bản bị chiếm đóng bởi Hoa Kỳ nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục kiểm soát Okinawa ngay cả sau hiệp ước San Francisco năm 1951, có hiệu lực ngày 28 tháng 4 năm 1952.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài == |
thành phố trực thuộc trung ương (việt nam).txt | Thành phố trực thuộc trung ương là một đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh của Việt Nam. Đây là các thành phố nằm dưới sự quản lý của Trung ương, khác với các thành phố trực thuộc tỉnh nằm dưới sự quản lý của tỉnh, chỉ tương đương cấp huyện.
== Khái quát ==
Thành phố trực thuộc Trung ương phải là các đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại I, và được xác định là các đô thị trung tâm cấp quốc gia. Đây là các thành phố lớn, có nền kinh tế phát triển, là khu vực quan trọng về quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội là động lực phát triển cho cả quốc gia chứ không còn nằm bó hẹp trong một tỉnh, hay một vùng (liên tỉnh) nữa. Các thành phố này có cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ phát triển, có nhiều cơ sở giáo dục bậc cao, dân cư đông, thuận lợi về giao thông vận tải.
== Các thành phố trực thuộc trung ương ==
Việt Nam hiện có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, gồm:
== Các đơn vị hành chính trực thuộc ==
Dưới thành phố trực thuộc Trung ương có các đơn vị hành chính cấp huyện vùng nông thôn (Huyện) và vùng đô thị (Quận, Thị xã). Các Quận hợp thành khu vực nội thành của thành phố. Dưới Quận là các phường. Các Huyện hợp thành vùng ngoại thành. Dưới Huyện là các xã, thị trấn.
Hiện nay, Thủ đô Hà Nội là thành phố trực thuộc Trung ương duy nhất có đơn vị hành chính trực thuộc là thị xã (thị xã Sơn Tây). Trước đây từng có trường hợp như vậy: Kiến An và Đồ Sơn từng là thị xã trực thuộc thành phố Hải Phòng, nhưng nay đã trở thành các quận của Hải Phòng.
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp huyện có thêm 1 đơn vị hành chính mới là Thành phố thuộc Thành phố trực thuộc trung ương nhằm tạo điều kiện thực thi đề án chính quyền đô thị TP HCM. Dưới Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương là các phường.
== Nâng cấp ==
Các tỉnh đã có quyết định của Bộ chính trị xây dựng thành thành phố trực thuộc trung ương là:
Thừa Thiên-Huế (lấy thành phố Huế làm trung tâm)
Khánh Hòa (lấy thành phố Nha Trang làm trung tâm)
Các tỉnh đang có đề án chia tách thành tỉnh mới và thành phố thuộc trung ương (trên cơ sở thành phố thuộc tỉnh) là:
Đắk Lắk: thành lập tỉnh Đắk Lắk mới và thành phố Buôn Ma Thuột trực thuộc TƯ .
Lâm Đồng: thành lập tỉnh Lâm Đồng mới và thành phố Đà Lạt trực thuộc TƯ
Các tỉnh đang có đề án chuyển thành thành phố trực thuộc TƯ là:
Quảng Ninh (trước năm 2025, lấy thành phố Hạ Long làm trung tâm).
Bình Dương (2020, lấy thành phố mới Bình Dương làm trung tâm)
Thái Nguyên (trước năm 2020) (lấy thành phố Thái Nguyên làm trung tâm)
Vĩnh Phúc (giai đoạn 2017 - 2020, lấy thành phố Vĩnh Yên làm trung tâm)
Bắc Ninh ( vào 2022, lấy thành phố Bắc Ninh làm trung tâm).
== Xem thêm ==
Phân cấp hành chính Việt Nam
Thành phố (Việt Nam)
Tỉnh (Việt Nam)
Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam
Quận (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc tỉnh (Việt Nam)
Thị xã (Việt Nam)
Huyện (Việt Nam)
Phường (Việt Nam)
Danh sách thị trấn tại Việt Nam
Thị trấn (Việt Nam)
Thị trấn nông trường
Xã (Việt Nam)
== Chú thích == |
australian plant name index.txt | Australian Plant Name Index (bằng tiếng Anh, viết tắt: APNI) là cơ sở dữ liệu trực tuyến chứa tất cả các tên gọi đã được xuất bản dành cho thực vật có mạch tại Úc. APNI có tất cả các tên gọi, cho dù đó là tên hiện hành, tên đồng nghĩa hay tên sai, đồng thời có thông tin về thư mục (các xuất bản phẩm liên quan), thông tin từ Census of Australian Vascular Plants (phân bố thực vật theo tiểu bang), liên kết đến các nguồn khác,...
== Tổng quan ==
Australian Plant Name Index được Phòng mẫu cây [Quốc gia] Úc công nhận là nguồn chính thống về danh pháp thực vật học của Úc. Đây là thành tố cốt lõi của Phòng mẫu cây Ảo Úc (Australia's Virtual Herbarium) - một dự án cộng tác với ngân quỹ 10 triệu đô la Úc, có mục đích cung cấp quyền truy cập trực tuyến đến dữ liệu và các bộ sưu tập mẫu vật của các phòng mẫu cây lớn của Úc.
APNI cung cấp hai loại giao diện để truy vấn thông tin:
Australian Plant Name Index (APNI): truy vấn đầy đủ, cung cấp đầy đủ kết quả, không tự động diễn giải
What's Its Name (WIN): không mạnh bằng giao diện trên, cung cấp kết quả chính xác, tự động diễn giải thông tin (không phải lúc nào cũng đúng).
Ban đầu APNI vốn dĩ là sản phẩm trí óc của Nancy Tyson Burbidge, ban đầu được xuất bản dưới dạng bản in gồm bốn tập, 3.055 trang với trên 60.000 tên gọi thực vật. Sách được tổng hợp bởi nhà thực vật học Arthur Chapman và là một phần của Australian Biological Resources Study (ABRS). Năm 1991, nó trở thành cơ sở dữ liệu trực tuyến và được giao cho Các vườn thực vật Quốc gia Úc (Australian National Botanic Gardens). Hai năm sau, Trung tâm Nghiên cứu Đa dạng sinh học Thực vật (Centre for Plant Biodiversity Research) đảm nhận nhiệm vụ duy trì cơ sở dữ liệu này.
== Xem thêm ==
The Plant List
Index Kewensis
International Plant Names Index
Danh pháp thực vật học
== Tham khảo ==
“Australian Plant Name Index”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2007.
“The Australian Plant Name Index: an on-line resource of Australian plant names, and What's Its Name ?”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2007.
Chapman, Arthur (1991). Australian Plant Name Index (Australian Flora and Fauna Series 12—15). Canberra: Dịch vụ In ấn Chính phủ Úc.
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Australian Plant Name Index (APNI) (tiếng Anh)
What's Its Name (WIN) (tiếng Anh) |
xã jubilee, quận peoria, illinois.txt | Xã Jubilee (tiếng Anh: Jubilee Township) là một xã thuộc quận Peoria, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 1.695 người.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Xã thuộc tiểu bang Illinois |
windows 95.txt | Windows 95 là một phiên bản trong chuỗi các phiên bản hệ điều hành Windows của tập đoàn Microsoft, được cung cấp vào ngày 24 tháng 8 năm 1995, với tên mã là Chicago.
Windows 95 được thừa hưởng những tính chất ưu việt của các hệ điều hành trước, như giao diện đồ họa tương tác, cho đến nay vẫn được sử dụng trong phiên bản mới nhất, Windows 10, cộng thêm nhiều tính năng mới; như hỗ trợ rộng rãi các thiết bị hơn, hỗ trợ thiết bị kết nối qua cổng USB, được kèm thêm phiên bản Internet Explorer 4, hỗ trợ các ứng dụng 32 bit, hỗ trợ tên tập tin dài đến 255 ký tự.
Windows 95 mở đầu cho việc sử dụng nút Start, thanh taskbar trong giao diện GUI của Microsoft, điều vẫn tồn tại trong các hệ điều hành về sau, cho đến Windows Vista nút Start được thay bằng biểu tượng lá cờ Windows.
== Quảng bá ==
Khi Windows 95 được tung ra thị trường, Windows 95 nhận được sự đón nhận rộng rãi, như ban nhạc The Rolling Stones đã biểu diễn một buổi hòa nhạc với bài hát "Start Me Up" (nhắc đến nút Start). Nó được biết nhiều đến nỗi Microsoft đã phải trả cho ban nhạc này 8 triệu đô la trong chiến dịch quảng bá Windows 95. Microsoft đã dành 300 triệu đô la trong chiến dịch quảng bá cho tính ưu việt của hệ điều hành này.
Tại Thành phố New York, ở tòa nhà Empire State đã treo một lá cờ biểu tượng của Windows. Ở Toronto, 300 tấm pano đã được treo trên Tháp CN.
== Các ấn bản ==
Windows 95 Retail
Windows 95 Retail SP1 4.00.950a
OEM Service Release 1 4.00.950A
OEM Service Release 2 4.00.950B
OEM Service Release 2.1 4.00.950B
OEM Service Release 2.5
== Xem thêm ==
Microsoft
Windows 98
Windows XP
Windows Vista
Windows 7
== Tham khảo == |
địa tạng.txt | Địa Tạng, Địa Tạng Vương (skt. क्षितिगर्भ, Kṣitigarbha; tiếng Trung: 地藏; bính âm: Dìzàng; Wade–Giles: Ti-tsang; jap. 地蔵, Jizō; tib. ས་ཡི་སྙིང་པོ, sa'i snying po, kor.: 지장, 지장보살, ji jang, ji jang bosal) là một vị Bồ-tát được tôn thờ trong Phật giáo Đông Á, thường được mô tả như một tỉ-khâu phương Đông. Địa Tạng Bồ-tát được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng. Do đó, Địa Tạng thường được xem như là vị Bồ-tát của chúng sanh dưới địa ngục hay là giáo chủ của cõi U Minh. Trong văn hóa Nhật Bản, Địa Tạng là Bồ-tát hộ mệnh cho trẻ em, cũng như bảo vệ các vong linh của trẻ em hoặc bào thai chết yểu. Địa Tạng thường được mô tả là một tỉ-khâu trọc đầu với vầng hào quang, một tay cầm tích trượng để mở cửa địa ngục, tay kia cầm ngọc Như Ý tượng trưng cho ánh sáng xua tan bóng đêm. Một số tranh tượng ở Trung Quốc và Việt Nam cũng khắc họa Địa Tạng Vương Bồ tát đội mũ thất phật và mặc cà sa đỏ - hình ảnh tu sĩ Phật giáo Bắc Truyền, hình tượng nhân vật Đường Tăng trong tiểu thuyết Tây Du Ký rất giống hình tượng của Đức Bồ Tát.
Địa Tạng Vương Bồ tát là một trong 6 vị bồ tát quan trọng của Phật giáo Đại thừa. 5 vị còn lại là các Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát và Phổ Hiền Bồ tát và Di Lặc Bồ tát.
== Các Tiền Thân và Hóa Thân của Địa Tạng Vương Bồ Tát ==
== Lợi Ích của pháp tu Địa Tạng Vương Bồ Tát ==
Công Năng, Oai Lực của đức Địa Tạng bao trùm khắp Tam Giới, không thể nghĩ bàn. Riêng trong cõi thế gian này Đức Thích Ca Mâu Ni qua kinh Địa Tạng Bản Nguyện đã cho chúng ta biết nếu ai nghe được danh hiệu bồ tát Địa Tạng rồi chí tâm quy y, cúng dường, chiêm ngưỡng, tô vẽ hình tượng, đảnh lễ bồ tát sẽ được các lợi ích sau đây:
=== Lợi ích trong cuộc sống hiện tại: ===
Những nguyện lớn mau chóng thành tựu.
Được trí huệ lớn.
Tiêu Trừ Tai Nạn.
Thoát Khỏi Hiểm Nguy.
Tiêu Trừ Tội Chướng, Bệnh Tật.
Được quỷ thần hộ vệ.
=== Lợi Ích cho kiếp sau: ===
Thoát Khỏi Thân Nữ.
Được Thân Xính Đẹp.
Thoát Kiếp Nô Lệ.
=== Lợi ích lúc lâm chung: ===
khi người thân sắp mất, chúng ta có thể niệm danh hiệu bồ tát hoặc tụng kinh Địa Tạng, làm nhiều việc thiện cho người đó
trong giai đoạn 49 ngày sau khi mất, việc Tụng Kinh Địa Tạng cho vong linh quá cố có thể giúp họ được siêu thoát.
=== Lợi ích với người đã quá vãng ===
Siêu Độ vong linh: trong giấc ngủ nếu gặp ma quỷ, người lạ, các sự quái ác... chúng ta có thể chí tâm tụng kinh Địa Tạng
Siêu độ, gặp lại người thân quá vãng.:
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-Guang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
Glassman, Hank (2012). The Face of Jizo: Image and Cult in Medieval Japanese Buddhism, Honolulu: University of Hawaiʻi Press online review
Visser, Marinus Willem de, The Bodhisattva Ti-Tsang (Jizo) in China and Japan, Berlin: Oesterheld 1914.
Jizo Bodhisattva: modern healing & traditional Buddhist practice, by Jan Chozen Bays tại Google Books. ISBN 0-8048-3189-0
Jizo Bodhisattva: Guardian of Children, Travelers, and Other Voyagers, by Jan Chozen Bays tại Google Books
The Making of a Savior Bodhisattva: Dizang in Medieval China, by Zhiru tại Google Books
French, Frank G. (ed); Shi, Daoji (trans.)(2003). The Sutra of Bodhisattva Ksitigarbha's Fundamental Vows (地藏經), Sutra Translation Committee of the U.S. and Canada/The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation Taipai, Taiwan, 2nd ed.
== Liên kết ngoài ==
Kinh Địa Tạng |
d. w. griffith.txt | David Llewelyn Wark "D. W." Griffith (22 tháng 1 năm 1875 - 23 tháng 7 năm 1948), được gọi là "Nhà phát minh của Hollywood," là một đạo diễn phim, nhà văn và nhà sản xuất phim người Mỹ đi tiên phong trong kỹ thuật làm phim hiện đại. Ông được biết đến với các bộ phim đột phá The Birth of a Nation (1915) và Intolerance (1916).
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
David W. Menefee, Sweet Memories (Dallas, Texas: Menefee Publishing Inc., 2012)
Lillian Gish, The Movies, Mr. Griffith and Me (Englewood, New Jersey: Prentice Hall, 1969)
Karl Brown, Adventures with D. W. Griffith (New York: Farrar, Straus and Giroux, 1973)
Richard Schickel, D. W. Griffith: An American Life (New York: Simon & Schuster, 1984)
Robert M. Henderson, D. W. Griffith: His Life and Work (New York: Oxford University Press, 1972)
William M. Drew, D. W. Griffith's "Intolerance:" Its Genesis and Its Vision (Jefferson, New Jersey: McFarland & Company, 1986)
Kevin Brownlow, The Parade's Gone By (New York: Alfred A. Knopf, 1968)
Seymour Stern, An Index to the Creative Work of D. W. Griffith, (London: The British Film Institute, 1944–47)
David Robinson, Hollywood in the Twenties (New York: A. S. Barnes & Co, Inc., 1968)
Edward Wagenknecht and Anthony Slide, The Films of D. W. Griffith (New York: Crown, 1975)
William K. Everson, American Silent Film (New York: Oxford University Press, 1978)
Smith, Matthew (tháng 4 năm 2008). “American Valkyries: Richard Wagner, D. W. Griffith, and the Birth of Classical Cinema”. Modernism/modernity 15 (2): 221–42. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2014.
Iris Barry and Eileen Bowser, D. W. Griffith: American Film Master (Garden City, New York: Doubleday, 1965)
Drew, William M. “D.W. Griffith (1875–1948)”. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2007.
== Liên kết ngoài ==
Bibliography of books and articles about Griffith via UC Berkeley Media Resources Center
Các tác phẩm của hoặc nói về D. W. Griffith tại Internet Archive
Tác phẩm của D. W. Griffith trên LibriVox (sách audio thuộc phạm vi công cộng) LibriVox (public domain audiobooks)
D. W. Griffith tại Internet Movie Database
"The Box in the Screen" Griffith and television |
edward teach.txt | Edward Teach (c. 1680-22 tháng 11 1718),còn được biết đến với tên gọi Hải tặc râu đen, là một tên cướp biển khét tiếng của Anh với hoạt động xung quanh Tây Ấn và bờ biển phía đông của các thuộc địa châu Mỹ trong thế kỷ 18.
== Sự nghiệp ==
== Tuổi trẻ ==
Rất ít người biết về thời trai trẻ của Râu Đen (Blackbeard). Người ta chỉ biết rằng vào thời điểm mà ông chết là ở độ tuổi giữa 35 và 40, được sinh vào năm 1680. Theo những ghi nhận đương đại thời đó, ông thường được biết đến với tên gọi là Râu Đen (Blackbeard), hoặc Edward Thatch, Edward Teach. Vào thế kỉ 17, khi số lượng các thuộc địa ở châu Mĩ của Anh ngày càng tăng; và đến thế kỉ 18 đã nhanh chóng lan rộng việc buôn bán nô lệ sang Đại Tây Dương và biến cảng biển Bristol thành cảng biển quốc tế, và rất có thể Edward Teach đã lớn lên ở thành phố được coi là lớn thứ hai của Anh Quốc. Edward Teach gần như có thể biết đọc và biết viết. Nhà thơ Robert Lee cho rằng có thể Edward Teach được sinh ra trong một gia đình giàu có đáng kính, và đã đặt chân lên vùng biển Caribe vào những năm cuối của thế kỉ 17 bằng tàu buôn (có thể là tàu buôn nô lệ). Nhà thơ Charles Johnson vào thế kỉ 18 tuyên bố rằng Edward Teach đã từng làm thủy thủ trên 1 con tàu tư nhân khởi hành từ Jamaica trong cuộc chiến tranh của Queen Anne, vào những lúc đó Edward Teach đã bộc lộ sự táo bạo bất thường và lòng can đảm của bản thân, giữa tâm điểm của cuộc chiến mà Edward Teach tham gia chiến đấu phần lớn trong cuộc đời mình trước khi trở thành cướp biển.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
North Carolina Office of Archives and History: Special Section on BlackBeard
Mike Daniel, discoverer of shipwreck thought to be the Queen Anne's Revenge
BBC Video about the potential discovery of Teach's ship
Images of artefacts recovered from the shipwreck thought to be the Queen Anne's Revenge
National Geographic Magazine Article on Blackbeard |
isuzu.txt | Isuzu Motors Ltd. (いすゞ自動車株式会社, Isuzu Jidōsha Kabushiki-Kaisha), (TYO: 7202) là một công ty sản xuất ô tô của Nhật Bản, trụ sở chính ở Tokyo. Năm 2005, Isuzu trở thành hãng lớn nhất thế giới sản xuất các dòng xe tải từ trung bình đến hạng nặng. Nó có cơ sở sản xuất nằm ở các thành phố và tỉnh của Nhật Bản như Fujisawa, Tochigi, Hokkaidō. Isuzu nổi tiếng về sản xuất các xe thương mại và động cơ diesel. Vào năm 2009, Isuzu đã sản xuất được 21 triệu động cơ diesel. Động cơ diesel của Isuzu được các hãng ô tô khác như Renault, Opel và General Motors sử dụng.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website của Isuzu
Website của Isuzu tiếng Nhật |
cảng thị vải - cái mép.txt | Cảng Thị Vải - Cái Mép là một cụm cảng biển sâu ở Bà Rịa - Vũng Tàu, ở cửa sông Thị Vải và sông Cái Mép. Cảng Quốc tế Cái Mép (huyện Tân Thành) được thiết kế để tiếp nhận tàu côngtenơ có trọng tải lên đến 80.000 DWT với công suất thông qua đạt 600.000-700.000 TEU mỗi năm. Chiều dài bến là 600 m với tổng diện tích lên tới 48 hecta. Cảng Thị Vải cũng có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp có tải trọng lên đến 75.000 DWT. Công suất thông qua cảng đạt 1,6-2 triệu tấn mỗi năm. Tổng diện tích của cảng là 27 hecta.
Đầu thập niên 1990, nhận thấy những hạn chế của cụm cảng Sài Gòn, Chính phủ Việt Nam bắt đầu quan tâm tới xây dựng một cảng nước sâu mới phục vụ cho khu vực Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Thị Vải - Cái Mép được chọn lựa vì nó có độ sâu, nằm gần khu vực hội tụ sản xuất ở miền Đông Nam Bộ, lại nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế từ Hong Kong tới Singapore. Tháng 11 năm 1992, quy hoạch tổng thể hệ thống cảng nước sâu Thị Vải – Vũng Tàu được phê duyệt và đến ngày 28 tháng 2 năm 1998, dự án được điều chỉnh và bổ sung . Tháng 8 năm 2005, trong bản quy hoạch chi tiết nhóm cảng Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng Tàu, khu vực Thị Vải - Cái Mép được xác định là cảng cửa ngõ cho toàn vùng.
Theo quy hoạch, cảng Thị Vải - Cái Mép sẽ được kết nối với các khu công nghiệp ở Bà Ria - Vũng Tàu, Đồng Nai và các tỉnh khác bằng đường tỉnh lộ 965 và quốc lộ 51. Cảng có khả năng tiếp nhận các tàu trọng tải 50.000 - 80.000 DWT. Chính quyền đang vận động các công ty kinh doanh cảng biển và logistics lớn của thế giới như Maersk (Đan Mạch), SSA (Mỹ), PSA International (Singapore), Hutchison Whampoa (Hong Kong), Yang Ming (Đài Loan), CMA CGM (Pháp)... lập liên doanh đầu tư phát triển Thị Vải - Cái Mép. Hiện nay cảng côngtenơ SP-PSA đã được đưa vào sử dụng. Cảng Cái Mép mới có công suất 600.000 TEU đã khánh thành giai đoạn 1. Các công trình mở đường, nạo vét luồng tàu đã được triển khai để đến tháng 10-2010 toàn bộ cảng biển dọc sông Thị Vải sẽ hưởng lợi từ các công trình này. Quốc lộ 51, tỉnh lộ 965 và các đường quanh hàng rào cảng cũng đang khẩn trương được cải tạo để đảm bảo các xe côngtenơ có thể tiếp cận cảng thông suốt.
Nhờ cảng sâu cho phép tàu lớn vào cảng, thời gian vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu giữa miền Nam Việt Nam với các nước đã được rút ngắn đáng kể vì đỡ phải quá cảnh ở Singapore.
== Tham khảo == |
chi cử.txt | Chi Cử (danh pháp khoa học: Fagus) là một chi thực vật thuộc họ Fagaceae, có tên tiếng Việt là chi cử theo tên gọi loài đại diện có phân bổ ở Việt Nam là Fagus longipetiolata (Cử cuống dài). Chi này gồm các loài thực vật có bộ nhiễm sắc thể 2n=24
== Danh sách loài ==
Fagus × moesiaca
Fagus × multinervis
Fagus × taurica
Fagus aenea
Fagus alba
Fagus alpina
Fagus americana
Fagus antarctica
Fagus antarctica var. bicrenata
Fagus antarctica var. microphylla
Fagus antarctica var. palustris
Fagus antarctica var. pumilio
Fagus antarctica var. subalpina
Fagus antarctica var. sublobata
Fagus antarctica var. uliginosa
Fagus apiculista
Fagus argentea
Fagus asiatica
Fagus asplenifolia
Fagus atropunicea
Fagus beluloides
Fagus bijiensis
Fagus blairii
Fagus brevipetiolata
Fagus carroni
Fagus carronii
Fagus castanea dentata
Fagus castanea
Fagus chienii
Fagus clavata
Fagus cliffortioides
Fagus cochinchinensis
Fagus cochleata
Fagus comptoniifolia
Fagus crenata
Fagus crenata var. multinervis
Fagus crispa
Fagus cristata
Fagus cucullata
Fagus cunninghamii
Fagus cuprea
Fagus dombeyi
Fagus dombeyi var. microphylla
Fagus dubia
Fagus echinata
Fagus engleriana
Fagus ferruginea
Fagus ferruginea var. caroliniana
Fagus forsteri
Fagus fusca
Fagus glandulosa
Fagus glutinosa
Fagus grandiflora
Fagus grandifolia
Fagus grandifolia subsp. mexicana
Fagus grandifolia var. caroliniana
Fagus grandifolia var. mexicana
Fagus grandifolia var. pubescens
Fagus grandifolia var. typica
Fagus gunnii
Fagus hayatae
Fagus hayatae subsp. pashanica
Fagus hayatae var. zhejiangensis
Fagus heterophylla
Fagus hohenackerana
Fagus hohenackeri
Fagus incisa
Fagus japonica
Fagus japonica var. multinervis
Fagus javanica
Fagus laciniata
Fagus latifolia
Fagus longipetiolata (cử cuống dài)
Fagus longipetiolata f. clavata
Fagus lucida
Fagus lutea
Fagus macrophylla
Fagus menziesii
Fagus mexicana
Fagus moesiaca
Fagus moesiaca f. leucodermis
Fagus montagni
Fagus moorei
Fagus nana
Fagus nayonica
Fagus nervosa
Fagus nigra
Fagus nitida
Fagus obliqua
Fagus obliqua var. dentatosquamata
Fagus obliqua var. integrisquamata
Fagus obliqua var. macranthera
Fagus obliqua var. macrocarpa
Fagus obliqua var. valdiviana
Fagus orientalis
Fagus pashanica
Fagus pendula
Fagus philippensis
Fagus pumila
Fagus pumilio
Fagus pumilo
Fagus purpurea
Fagus pyramidalis
Fagus quercifolia
Fagus quercirdes
Fagus rotundifolia
Fagus salicifolia
Fagus sieboldii
Fagus sinensis
Fagus solandri
Fagus sylvatica
Fagus sylvatica subsp. orientalis
Fagus sylvatica var. atro punicea
Fagus sylvatica var. ferruginea
Fagus sylvatica var. heterophylla
Fagus sylvatica var. tortuosa
Fagus sylvestris
Fagus tientaiensis
Fagus truncata
Fagus uliginosa
Fagus valdiviana
Fagus variegata
Fagus virginiana
Fagus winkleriana
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Fagus tại Wikimedia Commons |
associated press.txt | Bài này nói về một tổ chức thông tấn. Xem các ý nghĩa khác tại AP (định hướng).
Associated Press (tiếng Anh của "Liên đoàn Báo chí", viết tắt AP), là một thông tấn xã của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới. Với phóng viên báo và phóng viên ảnh làm việc trong hơn 200 văn phòng trên khắp hành tinh, AP là một trong những nguồn cung cấp tin tức lớn nhất cho thế giới. AP cung cấp tin tức, ảnh chụp, ảnh đồ họa và những dịch vụ phát thanh cho hơn 1700 tờ báo và khoảng 6000 radio và đài truyền hình ở Hoa Kỳ. Ngoài ra, khoảng 8500 kênh truyền thông đa phương tiện bên ngoài Hoa Kỳ cũng đăng ký những dịch vụ thông tin của AP. AP truyền tin tức qua cáp và vệ tinh.
Theo thông tin chưa được kiểm chứng, số người đọc tin tức của AP hàng ngày ước lượng là xấp xỉ 1 tỉ người.
AP được hợp nhất thành một tổ chức hợp tác không lợi nhuận của hơn 1500 thành viên là các báo tin tức hàng ngày ở Hoa Kỳ. Các thành viên này bầu ra ban điều hành tổ chức.
AP đặt trụ sở tại thành phố New York.
== Lịch sử ==
== Thể thao ==
=== Các giải thưởng thể thao do AP tài trợ ===
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Associated Press tại Wikimedia Commons
Địa chỉ web chính thức của AP |
liên đoàn bóng đá amazonas.txt | Liên đoàn bóng đá Amazonas (tiếng Bồ Đào Nha: Federação Amazonense de Futebol), được thành lập ngày 26 tháng 9 năm 1967 và là một tổ chức quản lý tất cả các giải đấu bóng đá chính thức tại bang Amazonas, Brasil, trong đó bao gồm Campeonato Amazonense và các giải hạng dưới.
== Chú thích == |
ipad pro.txt | iPad Pro là một dòng máy tính bảng do Apple Inc. thiết kế, phát triển và đưa ra thị trường. iPad Pro sử dụng hệ điều hành iOS, với 2 kích cỡ màn hình, 9.7-inch và 12.9-inch, mỗi màn hình với 3 tùy chọn cho dung lượng bộ nhớ: 32, 128 hoặc 256 GB; cấu hình 256 GB khiến cho iPad Pro trở thành thiết bị iOS đầu tiên có cấu hình bộ nhớ này.
iPad Pro đầu tiên, phiên bản 12.9-inch, được thông báo vào ngày 9 tháng 9 năm 2015, và được đưa ra thị trường vào ngày 11 tháng 11 năm 2015. Nó lớn hơn tất cả các phiên bản iPad trước đó và là máy tính bảng iPad đầu tiên sử dụng RAM LPDDR4. Phiên bản 12,9-inch được nối tiếp với các phiên bản 9,7-inch nhỏ hơn, được công bố vào ngày 21 tháng 3 năm 2016, và được đưa ra thị trường vào ngày 31 tháng 3 năm 2016. So sánh với iPad Air 2, iPad Pro màn hình 9,7-inch có CPU nhanh hơn, camera tốt hơn, và iPad đầu tiên có tính năng True Tone Flash và Retina Flash. Nó cũng có bộ nhớ cao nhất cho một chiếc iPad với một lựa chọn lưu trữ 256 GB và bao gồm màn hình True Tone, cho phép màn hình LCD thích ứng với ánh sáng xung quanh để thay đổi màu sắc và cường độ của nó trong các môi trường khác nhau.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
iPad Pro – official site |
acton, luân đôn.txt | Acton là một quận ở phía tây Luân Đôn, nước Anh, tọa lạc trong khu Ealing của Luân Đôn. Acton nằm cách 10 km (6,4 dặm) về phía tây của Charing Cross.
Theo thống kê năm 2001, Acton, gồm các phường thuộc Đông Acton, Trung tâm Acton, Nam Acton và Southfield, có dân số vào khoảng 53.689 người. Acton có các phân khu: Đông Acton, Tây Acton, Nam Acton, Bắc Acton, Acton Green, Thị trấn Acton và Trung tâm Acton.
== Nơi tiếp giáp ==
Chiswick
Gunnersbury
Ealing
Park Royal
Harlesden
Shepherds Bush
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử Anh trực truyến - Acton |
đặc khu liên bang.txt | Đặc khu liên bang (federal district) hay đặc khu hành chánh liên bang là một đơn vị hành chánh chỉ có trong hệ thống chính quyền liên bang như Hoa Kỳ, Malaysia. Thông thường, các đặc khu này không phụ thuộc vào một trong các đơn vị hành chánh nào dưới liên bang. Đó là các địa khu riêng biệt dưới quyền quản lý trực tiếp của chính phủ liên bang và thường là thủ đô của chính quyền liên bang
== Hoa Kỳ ==
Nơi đặt các cơ quan của chính phủ liên bang Hoa Kỳ tại Washington D.C. được gọi là đặt khu liên bang, đó chính là Đặc khu Columbia (District of Columbia, viết tắt là D.C.).
Ngoài ra, Chính phủ Hoa Kỳ cũng có vài loại "đặc khu liên bang" khác nữa và không có liên quan gì đến một thành phố thủ đô. Đó là:
Đặc khu pháp lý liên bang: Hệ thống Tòa án liên bang Hoa Kỳ chia mỗi tiểu bang, cộng Đặc khu Columbia và Puerto Rico thành một hoặc nhiều đặc khu pháp lý liên bang.
Đặc khu dự trữ liên bang: Cục Dự trữ Liên bang bao gồm 12 ngân hàng ở khắp nước Mỹ; mỗi ngân hàng trong 12 ngân hàng này phục vụ một đặc khu Dự trữ Liên bang.
== Malaysia ==
Tại Malaysia, thuật từ lãnh thổ liên bang (tiếng Malaysia: Wilayah Persekutuan) được dùng để chỉ ba lãnh thổ được điều hành trực tiếp bởi chánh quyền liên bang, đó là Kuala Lumpur (thủ đô quốc gia), Putrajaya (trung tâm hành chánh chánh quyền liên bang) và đảo Labuan (trung tâm tài chánh quốc tế ở ngoài khơi).
== Mỹ La tinh ==
Thuật từ Distrito Federal có nghĩa "đặc khu liên bang" trong cả hai thứ tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được dùng để chỉ:
Đặc khu Liên Bang Argentina, ngày nay là thành phố tự trị Buenos Aires
Đặc khu Liên Bang Brazil
Đặc khu Liên Bang Mexico
== Tham khảo == |
hiến pháp nhật bản.txt | Hiến pháp Nhật Bản (Nihon-Koku Kenpō, 日本国憲法, Nhật Bản Quốc Hiến pháp) là một văn bản trên luật được thông qua và chính thức có hiệu lực năm 1947, được soạn ra nhằm dọn đường cho một chính quyền đại nghị cũng như cho phép bảo đảm các quyền cơ bản nhất của con người. Theo đó Thiên hoàng là "Biểu tượng của quốc gia, và cho sự hoà hợp của dân tộc", và chỉ có vai trò trong các buổi lễ quan trọng nơi mà ông phục vụ các nghi thức như một người đứng đầu quốc gia nhưng không giữ bất kì quyền lực chính trị nào. Được biết đến với tên "Bản Hiến pháp hòa bình" của Nhật Bản và là một trong các bản Hiến pháp nổi tiếng bằng tuyên bố từ bỏ quyền phát động chiến tranh như được quy định trong Điều 9, và trong chừng mực nào đó, cho phép Nhật Bản theo đuổi một chính quyền pháp trị trong khi duy trì một nền quân chủ (lập hiến). Bản Hiến pháp được soạn thảo khi Nhật Bản còn được điều hành bởi lực lượng chiếm đóng Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai với dự tính thay thế Hệ thống quân chủ chuyên chế trong tay chính quyền quân phiệt với một Thể chế dân chủ đại nghị. Hiện bản Hiến pháp này chưa trải qua bất kì sự chỉnh sửa nào kề từ khi được chấp thuận thông qua.
== Hoàn cảnh ra đời ==
Tại Hội nghị Potsdam, Tư lệnh tối cao Douglas MacArthur đã nêu ý kiến: Để đạt mục đích dân chủ hóa nước Nhật thì nhất thiết phải sửa đổi Hiến pháp Minh Trị ban hành từ năm 1889.
Tháng 2 năm 1946 phía Nhật Bản viết ra một dự thảo hiến pháp, nhưng Douglas MacArthur không chấp nhận, coi đó chẳng qua chỉ là một thứ "bình cũ rượu pha" của Hiến pháp Minh Trị. Cuối cùng Douglas MacArthur đã ra lệnh cho văn phòng của mình tự thảo ra Hiến pháp mới cho Nhật Bản sao cho kịp xong trước phiên họp ngày 26 tháng 2 năm 1946 của quân Đồng minh bởi ông không muốn các nước Đồng minh khác nhúng tay vào nội tình Nhật Bản.
Thừa lệnh Douglas MacArthur, thiếu tướng kiêm luật sư Courtney Whitney đã thành lập một hội đồng gồm 25 người phải thảo ra hiến pháp mới của Nhật Bản trong vòng một tuần. Ba người trực tiếp chấp bút cho bản dự thảo hiến pháp này là thiếu tướng Courtney Whitney, trung tá kiêm luật sư Milo Rowell và nữ thông dịch viên Beate Sirota Gordon (con gái độc nhất của giáo sư, danh cầm piano Leo Sirota). Sau một tuần gần như thức thâu đêm, hội đồng dự thảo hiến pháp của tướng Douglas MacArthur đã viết ra một văn kiện hoàn toàn mới và tiến bộ cho nước Nhật. Trong bản hiến pháp này, Nhật hoàng được coi là biểu tượng của nhà nước và sự đoàn kết toàn dân, song bị tước bỏ mọi thực quyền. Mọi phát ngôn, hành động của Nhật hoàng liên quan tới nhà nước phải được sự chấp thuận của nội các chính phủ do thủ tướng đứng đầu. Một cấu trúc lập pháp quốc hội lưỡng viện được thành lập. Trừ hoàng gia Nhật, mọi quyền lợi của các vương hầu khanh tướng bị bãi bỏ hoàn toàn. Đặc biệt nhất là Chương II; chỉ vẻn vẹn có một điều khoản- Điều 9- chỉ rõ nhân dân Nhật Bản "vĩnh viễn từ bỏ chiến tranh khỏi chủ quyền của quốc gia, vĩnh viễn không sử dụng vũ lực hay đe dọa bằng vũ lực khi giải quyết các tranh chấp quốc tế". Chú dẫn tại đây còn ghi rõ: Để bảo đảm thực thi điều khoản này, không bao giờ được duy trì lục quân, hải quân, và không quân cũng như tiềm năng chiến tranh khác. Quyền tham chiến của quốc gia sẽ không được thừa nhận.
Thiên hoàng Hirohito tuy không còn quyền hành, đã viết thư trả lời chính thức ủng hộ bản hiến pháp mới. Mùa thu năm 1946, đại đa số nhân dân Nhật Bản đã bỏ phiếu ủng hộ các đại biểu tán thành bản hiến pháp mới.
Ngày 3 tháng 11 năm 1946, Thiên hoàng chính thức công bố hiến pháp mới trước nghị viện. Đúng 6 tháng sau, bản hiến pháp chính thức có hiệu lực. Từ đó tại Nhật Bản, ngày 3 tháng 5 hàng năm trở thành ngày nghỉ lễ có tên Ngày Hiến pháp.
== Điều 9 ==
Tuyên bố từ bỏ quyền khai chiến:
Vào kỉ niệm lần thứ 60 năm ra đời bản Hiến pháp, ngày 3 tháng 5 năm 2007, hàng ngàn người đã xuống đường bày tỏ sự ủng hộ cho "Điều 9", các thành viên chính phủ sau đó cho rằng đây là lời kêu gọi cho một bản Hiến pháp hòa bình có khả năng tuyên bố chiến tranh và nên có các động thái thích hợp của chính phủ đối với những lời kêu gọi như vậy. Một văn bản dưới luật lập tức được nghị viện thông qua, theo đó một cuộc trưng cầu dân ý cho một bản sửa đổi Hiến pháp như vậy có thể được tổ chức sớm nhất 2010 và cần một sự chuẩn thuận đa số (cả Hạ viện và Thượng viện) đề thông qua.
== Cấu trúc ==
Bản Hiến pháp dài gần 5000 chữ, trong đó bao gồm phần mở đầu và 103 Điều khoản trong 11 Chương. Gồm các nội dung về:
Thiên hoàng (1-8)
Tuyên bố từ bỏ quyền tuyên chiến (9)
Quyền và nghĩa vụ công dân(10-40)
Quốc hội (41-64)
Nội các (65-75)
Tư pháp (76-82)
Tài chính (83-91)
Chính quyền địa phương (92-95)
Điều kiện thay đổi Hiến pháp (96)
Tòa đại hình (97-99)
Điều khoản bổ sung (100-103)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nguyên văn tiếng Anh của bản Hiến pháp từ website chính thức của Thượng viện Nhật Bản
Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp Nhật Bản
Dự án lật lại các nghiên cứu về Hiến pháp của nước Nhật của Reischauer Institute of Japanese Studies tại ĐH Harvard. |
lãi suất danh nghĩa.txt | Lãi suất danh nghĩa, là thuật ngữ tài chính và kinh tế học để chỉ tỷ lệ lãi trên giá trị danh nghĩa của một khoản tiền vay hoặc đầu tư... với hàm ý nó là tỷ lệ lãi chưa được điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát hoặc ảnh hưởng của việc tính lãi kép.
== Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế ==
Lãi suất danh nghĩa (với hàm ý chưa điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát) là lãi suất đã bao gồm cả những tổn thất do lạm phát gây ra do sự gia tăng của mức giá chung. Quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được biểu thị bằng các công thức sau:
(1 + r)(1 + i) = (1 + R) trong đó: r là lãi suất thực tế, i là tỷ lệ lạm phát và R là lãi suất danh nghĩa.
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát dự kiến
Trên thực tế, tỷ lệ lạm phát sau đó có thể khác với tỷ lệ lạm phát dự kiến nên không thể biết trước một cách chắc chắn được lãi suất thực tế còn lãi suất danh nghĩa thì có thể biết trước được một cách chắc chắn khi công bố.
== Lãi suất danh nghĩa và lãi suất hiệu quả ==
Lãi suất danh nghĩa(với hàm ý chưa điều chỉnh ảnh hưởng của việc tính lãi gộp) là lãi suất được công bố cho một kỳ nào đó của đơn vị thời gian cơ sở (đơn vị thời gian cơ sở thường là năm). Lãi suất được công bố sẽ không có ý nghĩa đầy đủ nếu không đi kèm với số kỳ được tính gộp lãi. Hai mức lãi suất danh nghĩa được công bố với kỳ hạn khác nhau sẽ không thể so sánh được với nhau nếu không quy về cùng một kỳ được tính gộp lãi. Lãi suất hiệu quả cho phép làm điều đó bằng cách quy đổi lãi suất danh nghĩa về lãi suất kép theo công thức sau:
TH1: Khi Lãi suất danh nghĩa được công bố là 1 năm
r
=
(
1
+
i
/
n
)
n
−
1
{\displaystyle r\ =\ (1+i/n)^{n}-1}
TH2: Khi Lãi suất danh nghĩa được công bố dưới 1 năm
r
=
(
1
+
i
)
n
−
1
{\displaystyle r\ =\ (1+i)^{n}-1}
Trong đó: r là lãi suất hiệu quả, i là lãi suất danh nghĩa và n là số kỳ được tính gộp lãi trong năm.
Cách tính toán này khác về căn bản với cách tính lãi suất đơn giản hay thường được gọi là lãi suất đơn ở chỗ nó tính gộp cả lãi suất tính trên phần lãi được hưởng (lãi mẹ đẻ lãi con). Công thức trên cũng cho thấy khi số kỳ được tính gộp lãi lớn thì sự khác biệt giữa lãi suất hiệu quả và lãi suất danh nghĩa sẽ rất lớn. Về bản chất, lãi suất hiệu quả cho biết tỷ lệ lãi thực tế trên một khoản cho vay hoặc đầu tư mà người cho vay hoặc nhà đầu tư thu được trên giá trị của khoản vay hoặc đầu tư đó trong một chu kỳ cho vay so với chu kỳ của lãi suất Danh nghĩa. Trong thực tế, các ngân hàng đều công bố lãi suất danh nghĩa và tính toán lãi suất hiệu quả dựa trên số kỳ tính gộp lãi.
== Tham khảo == |
samsung galaxy tab 7.0 plus.txt | Samsung Galaxy Tab 7.0 Plus (GT-P6200[L]) là máy tính bảng chạy Android sản xuất bởi Samsung, giới thiệu vào tháng 10 năm 2011.
Nó thuộc thế hệ trung cấp đầu tiên của dòng Samsung Galaxy Tab, nó bao gồm bản 10.1", 8.9", 7.0" và 7.7".
Samsung Galaxy Tab 7.0 Plus dường như nhận được nhiều cập nhật từ Samsung hơn cả người tiền nhiệm của nó Samsung Galaxy Tab 7.0.
== Tham khảo == |
kojiki.txt | Kojiki (古事記, Kojiki "Cổ sự ký") hay Furukoto Fumi là ghi chép biên niên cổ nhất còn sót lại của Nhật Bản. ‘’Cổ sự ký’’ được Ō no Yasumaro viết vào thế kỷ thứ 8 theo thánh chỉ của Hoàng gia. Kojiki tập hợp các thần thoại về nguồn gốc của nước Nhật và các vị thần (kami). Cùng với Nihon Shoki (‘’Nhật Bản thư kỷ’’), các thần thoại trong Kojiki đã ảnh hưởng ít nhiều tới các thần thoại và nghi lễ Thần đạo, bao gồm cả lễ thanh tẩy misogi.
== Cấu trúc ==
Kojiki bao gồm nhiều bài thơ và bài hát. Dù ghi chép lịch sử và thần thoại được viết bằng chữ Hán có xen lẫn nhiều ký tự Nhật Bản, các bài hát được viết bằng chữ Hán chỉ là ký âm. Cách sử dụng Hán tự đặc biệt này được gọi là Man'yōgana, hiểu được Man’yogana mới mong hiểu được nghĩa các bài hát. Các bài hát này dùng thứ thổ ngữ vùng Yamato thế kỷ 7-8, gọi là Jōdai Nihongo (tức "tiếng Nhật cổ đại").
Kojiki được chia làm 3 phần: Kamitsumaki (‘’quyển thượng’’), Nakatsumaki (‘’quyển trung’’) và Shimotsumaki (và ‘’quyển hạ").
Phần "Kamitsumaki" gồm cả lời tựa, tập trung vào các vị thần sáng tạo và sự ra đời của nhiều thần khác nhau.
Phần "Nakatsumaki" bắt đầu với câu chuyện về Thiên hoàng Jimmu, Thiên hoàng đầu tiên của Nhật Bản và kết thúc ở Thiên hoàng thứ 15, Thiên hoàng Ōjin. Nhiều câu chuyện trong đó chỉ là thần thoại, và các thông tin lịch sử trong đó ít tính thực tế. Chưa rõ lý do vì sao thành tích của các Thiên hoàng từ thứ 2 tới thứ 9 không được ghi lại. Các nghiên cứu gần đây cho rằng những Thiên hoàng này được tạo ra để lùi việc đăng cơ của Jimmu lại năm 660 TCN.
Phần "Shimotsumaki" chép về các Thiên hoàng từ thứ 16 tới thứ 333, không giống như các phần trước, phần này có rất ít đề cập tới các vị thần. Thông tin về các Thiên hoàng từ thứ 24 tới 33 cũng thiếu sót rất nhiều.
== Trong lịch sử ==
Trong thời Edo, Motoori Norinaga nghiên cứu rất kỹ Kojiki rồi viết Kojiki-den ("Chú giải Cổ sự ký"). Ông là người đầu tiên cho rằng ‘’Kojiki’’ đã bị làm giả rất lâu sau thời gian người ta cho rằng nó được biên soạn.
== Bản chép tay ==
Có hai phiên bản chép tay ‘’Kojiki’’ chính: Ise và Urabe. Bản Urabe còn lại bao gồm 36 bản chép tay tất cả đều dựa trên bản in năm 1522 của Urabe Kanenaga. Bản Ise có thể được chia thành bản chép tay Shinpukuji (真福寺本, ’’Chân Phúc Bản tự’’) từ năm 1371-1372 và bản chép tay Dōka (道果本, ’’Đạo Quả tự’’). Bản Dōka bao gồm:
Bản chép tay Dōka (道果本, ’’Đạo Quả tự’’) năm 1381; chỉ còn nửa đầu phần 1
Bản chép tay Dōshō (道祥本, ’’Đạo Tường tự]) năm 1424; chỉ còn phần 1, có nhiều lỗi
Bản chép tay Shun'yu (春瑜本, ’’Xuân Du tự]) năm1426; một phần
Bản chép tay Shinpukuji (1371–1372) là bản chép tay cổ nhất. Dù được phân vào nhóm Ise, nó thực chất là sự pha trộn của cả hai nhánh. Nhà sư Ken’yu chép lại bản chép tay của Ōnakatomi Sadayo's copy. Năm 1266, Sadayo chép lại hai phần một và ba, nhưng không tìm được phần 2. Cuối cùng, năm 1282, ông tìm thấy phần 2 trong một bản chép tay nhóm Urabe.
== Xem thêm ==
Đền Atsuta
Kyūji
Kokki, 620
Tennōki, 620
Teiki, 681
Nihon Shoki, 720
Kujiki, 807-936
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bently, John R. The Authenticity of Sendai Kuji Hongi: A New Examination of Texts, With a Translation And Commentary. ISBN 90-04-15225-3
Brownlee, John S. (1997) Japanese historians and the national myths, 1600-1945: The Age of the Gods and Emperor Jimmu. Vancouver: University of British Columbia Press. ISBN 0-7748-0644-3 Tokyo: University of Tokyo Press. ISBN 4-13-027031-1
Brownlee, John S. (1991). Political Thought in Japanese Historical Writing: From Kojiki (712) to Tokushi Yoron (1712). Waterloo, Ontario: Wilfrid Laurier University Press. ISBN 0-88920-997-9
Chamberlain, Basil Hall. (1919). The Kojiki.
Nihon Koten Bungaku Daijiten Henshū Iinkai (1986). Nihon Koten Bungaku Daijiten (bằng tiếng Nhật). Iwanami Shoten. ISBN 4-00-080067-1.
Ono, Motonori Shinto: The Kami Way
Philippi, Donald L. Philippi. (1977) Kojiki. Tokyo: University of Tokyo Press. 10-ISBN 0-86008-320-9
Starrs, Roy (2005). "The Kojiki as Japan's National Narrative", in Asian Futures, Asian Traditions, edited by Edwina Palmer. Folkestone, Kent: Global Oriental, ISBN 1-901903-16-8
Yamaguchi, Yoshinori; Takamitsu Kōnoshi (1997). Nihon Koten Bungaku Zenshū: Kojiki. Tōkyō: Shogakukan. ISBN 4-09-658001-5.
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh) The Internet Sacred Text Archive: Chamberlain's 1919 translation of Kojiki.
(tiếng Nhật) Online original text of Kojiki and other texts
(tiếng Nhật) Waseda University Library: 1644 manuscript, three volumes
Iwato, Iwato
Iwato, Iwato |
liên hoan phim việt nam.txt | Liên hoan phim Việt Nam là một liên hoan phim do Bộ Văn hóa - Thông tin và Cục Điện ảnh tổ chức. Đây là ngày hội của điện ảnh Việt Nam, nơi quy tụ của các nhà làm phim Việt Nam với nhiều giải thưởng được trao tặng. Ở liên hoan phim, còn có các hình thức tổ chức như hội thảo, chợ phim, dạ hội điện ảnh, các cuộc giao lưu giữa các nhà làm phim và khán giả. Những năm về sau, Liên hoan phim Việt Nam không chỉ trao giải cho điện ảnh mà cả những phim video.
Thông thường, Liên hoan phim Việt Nam được tổ chức cứ 2 năm 1 lần, tuy nhiên lịch trình này không được giữ đúngvà có nhiều khoảng cách (như từ năm 2002 đến 2004 không có) và được tổ chức tùy hứng.
== Lịch sử ==
Liên hoan phim Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên từ 18 tháng 8 đến 25 tháng 8 năm 1970 tại Hà Nội theo quyết định của Bộ Văn hoá với tiêu đề: "Vì tổ quốc và chủ nghĩa xã hội - Vì sự nghiệp phát triển của nền điện ảnh dân tộc". Các thể thức Liên hoan phim Việt Nam được quy định trong điều lệ. Trong liên hoan phim, thường có ba ban giám khảo:
Ban giám khảo phim tài liệu phóng sự và khoa học
Ban giám khảo phim truyện
Ban giám khảo phim hoạt hình và phim thiếu nhi
Mỗi ban giám khảo gồm từ 7 đến 11 ủy viên. Ngoài ra còn có ban giám khảo thiếu nhi mang tính xã hội để thiếu nhi tự chọn phim và khen thưởng những phim ưa thích của mình.
Các giải chính của Liên hoan phim Việt Nam:
Bông Sen Vàng - giải thưởng lớn nhất
Bông Sen Bạc
Giải đặc biệt của Ban giám khảo
Các ban giám khảo còn trao tặng cho những phim và tác giả, cá nhân xuất sắc nhất. Đó là các giải cho nam nữ diễn viên, họa sĩ phim, quay phim, nhạc sĩ... Ngoài các giải chính, còn có những giải thưởng của Hội Điện ảnh Việt Nam, các tổ chức xã hội, các ngành. Từ 1993, Hội Điện ảnh Việt Nam tặng giải hằng năm cho các tác phẩm xuất sắc nên không trao giải tại các liên hoan phim nữa. Bắt đầu từ 2003, giải của Hội Điện ảnh được mang tên Cánh diều vàng.
== Hạng mục trao giải ==
Những hạng mục trao giải hiện nay. Ở mỗi hàng mục có thể đồng trao giải cho nhiều tác giả, tác phẩm.
=== Điện ảnh ===
Bông sen vàng
Bông sen bạc
Biên kịch xuất sắc nhất
Đạo diễn xuất sắc nhất
Quay phim xuất sắc nhất
Thiết kế mỹ thuật
Âm nhạc xuất sắc nhất
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
Nữ diễn viên chính xuất sắc
Nữ diễn viên phụ xuất sắc
=== Phim video ===
Bông sen vàng
Bông sen bạc
Biên kịch xuất sắc nhất
Đạo diễn xuất sắc nhất
Quay phim xuất sắc nhất
Âm nhạc xuất sắc nhất
Nam diễn viên chính xuất sắc nhất
Nữ diễn viên chính xuất sắc
Nữ diễn viên phụ xuất sắc
=== Phim tài liệu ===
Bông sen vàng
Bông sen bạc
Biên kịch xuất sắc nhất
Đạo diễn xuất sắc nhất
Quay phim xuất sắc nhất
Âm thanh xuất sắc nhất
=== Phim hoạt hình ===
Bông sen vàng
Bông sen bạc
Biên kịch xuất sắc nhất
Đạo diễn xuất sắc nhất
Quay phim xuất sắc nhất
Hoạ sĩ tạo hình xuất sắc
Hoạ sĩ diễn xuất sắc nhất
Âm nhạc xuất sắc nhất
== Các kỳ liên hoan phim ==
Đến nay, đã có tất cả 19 kỳ liên hoan phim được tổ chức
== Xem thêm ==
Cánh diều vàng
Đại hội Điện ảnh Việt Nam quốc tế
== Tham khảo ==
Liên hoan phim Việt Nam tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Trang web của Bộ Văn hóa - Thông tin
Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 13 trên Vietnam Net |
lake district.txt | Lake District (Khu vực Hồ), còn được gọi là The Lakes hoặc Lakeland, là một khu vực miền núi Tây Bắc nước Anh. Vùng này được lập thành một vườn quốc gia từ năm 1951, là một địa điểm du lịch phổ biến, nó nổi tiếng với hồ nước, rừng và đồi núi qua các tác phẩm đầu thế kỷ 19 của William Wordsworth và Lake Poets (các nhà thơ khu vực Hồ) khác.
Trong lịch sử từng được phân chia giữa Cumberland, Westmorland và Lancashire, Lake District hiện nay hoàn toàn thuộc về Cumbria. Tất cả các ngọn núi ở Anh cao hơn ba ngàn feet (914,4 m) trên mực nước biển đều nằm trong vườn quốc gia này, bao gồm cả Scafell Pike, ngọn núi cao nhất ở Anh. Nó cũng chứa các hồ sâu nhất và dài nhất ở Anh, Wastwater và Windermere.
== Tham khảo == |
sức bền vật liệu.txt | Độ bền (ký hiệu: δ) là đặc tính cơ bản của vật liệu. Người ta định nghĩa độ bền như là khả năng chịu đựng không bị nứt, gãy, phá hủy dưới tác động của ngoại lực lên vật thể. Độ bền có thể hiểu rộng hơn, vì vậy người ta chia ra thành các đặc tính về độ bên theo cách tác động ngoại lực khác nhau: độ bền kéo, độ bền nén, độ bền cắt, độ bền uốn, độ bền mỏi, độ bền va đập, giới hạn chảy...
== Định nghĩa ==
Ứng suất đơn được diễn giải theo công thức:
σ
=
F
A
,
{\displaystyle \sigma ={\frac {F}{A}},}
Trong đó F là lực(N) tác động lên vùng A (cm2). Vùng bị tác động có thể xảy ra các trường hợp: biến dạng và không biến dạng tuỳ thuộc vào ứng suất thiết kế hoặc ứng suất thực áp đặt.
=== Các khái niệm ứng suất ===
Ứng suất nén là trạng thái ứng suất khi vật liệu bị tác động ép chặt. Trường hợp đơn giản của sự ép là lực ép đơn gây ra bởi phản lực tác động, lực đẩy. Sức bền nén của vật liệu luôn cao hơn sức bền kéo của vật liệu đó, tuy nhiên hình thể lại quan trọng để phân tích khi ứng suất nén đạt đến giới hạn cong vênh.
Ứng suất kéo là trạng thái ứng suất khi vật liệu chịu tác động kéo căng hướng trục. Bất kỳ một vật liệu nào thuộc loại đàn hồi thì phần lớn chịu được ứng suất kéo trung bình, ngược lại là các vật liệu chịu đựng lực kéo kém như, gốm, hợp kim dòn. Trong ngành chế tạo thép, một số loại thép có khả năng chịu được ứng suất kéo rất lớn, như các sợi dây cáp thép trong các thiết bị nâng hạ.
Ứng suất cắt là kết quả khi lực tác động lên sản phẩm mà gây ra biến dạng trượt của vật liệu trên một mặt phẳng song song với hướng tác động của lực áp vào. Ví dụ như người ta dùng kéo để cắt một tấm tôn mỏng.
=== Các khái niệm độ bền ===
Độ bền uốn là ứng suất thấp nhất làm biến dạng vĩnh viễn cho một vật liệu xem xét.
Độ bền nén là giới hạn ứng suất nén làm vật liệu bị biến dạng hay phá huỷ.
Độ bền kéo là giới hạn lớn nhất của ứng suất kéo làm đứt vật liệu xem xét.
Độ bền mỏi là số đo độ bền của vật liệu hoặc thành phần chịu tải trọng có chu kỳ, và chúng thường khó xác định hơn sơ với các độ bền có tải trọng tĩnh. Độ bền mỏi được xem như là cường độ ứng suất hoặc phạm vi ứng suất, thông thường với ứng suất trung bình 'số không' thì phù hợp với số chu kỳ phá huỷ vật liệu.
Độ bền va đập là khả năng chịu đựng của vật liệu khi chịu các tải trọng va đập đột ngột.
=== Các khái niệm sức căng ===
Sự méo mó(biến dạng) của vật liệu là sự thay đổi hình dạng khi chịu ứng suất.
Biến dạng nén hoặc kéo là khái niệm toán học diễn giải xu hướng biến dạng thay đổi của vật liệu.
Sự võng là miêu tả sự cong oằn của kết cấu duới tải trọng.
== Tham khảo == |
thế giới phương đông.txt | Thế giới phương Đông bao gồm các nền văn minh, các phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng của những người chỉ chung châu Á. Chủ yếu các nền văn minh Trung Hoa cổ, Ấn Độ cổ, Ba Tư cổ..
Tên gọi thế giới Phương đông thường dùng chỉ chung cho các nền văn minh, đang ở hiện tại cũng như quá khứ. Đặc trưng về tư tưởng và tập tục, vật chất, hội họa, kiến trúc, tôn giáo. Đã hội tụ được nhiều nguồn tạo thành một thế giới của người Phương đông, Chủ yếu những nét cổ xưa truyền lại hay đã mất trong dòng lịch sử dài của Á châu.
== Cái nôi nền văn minh ==
Từ khi xã hội loài người xuất hiện trên trái đất, các phát kiến để tự đấu tranh sinh tồn của con người. Xã hội xuất hiện, các bộ tộc, thị tộc cứ lớn mạnh lên. Với sự xuất hiện nhà nước với nhiều lo toan quản lý đời sống, các niềm tin. Việc trao đổi hàng hóa xuất hiện ngày càng nhiều, tạo ra các phong tục cần được trao đổi và bổ sung cho mình. Con đường Tơ lụa trải dọc từ Đông sang Tây, đi bằng ngựa, lạc đà. Mở rộng buôn bán bằng đường thủy qua nước láng giềng. Những cuộc chiến tranh tranh giành lãnh thổ, gây nên sự mất đi và xuất hiện một nhà nước mới. Các điều kiện đó đã đủ điều kiện chứng minh cho văn hóa của Phương đông là tinh hoa và phong phú.
== Văn hóa huyền bí ==
Người phương đông chú trọng phía trong bản thân, thầm kín chịu đựng. Những nét này đều mang đậm tính cách của các vùng, địa hình được trải dài phức tạp núi non hiểm trở, khiến những người xưa khó gần nhau về giao tiếp. Tôn giáo chủ yếu: Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo v.v. pha trộn lẫn nhau đưa ra những tinh túy nhất cho nhân loại. Người phương Tây vẫn còn chưa thể khám phá những bi ẩn trên như các nhà sư ngồi thiền để lại nhục thân, hay xá-lị, khi viên tịch hàng trăm năm mà vẫn chưa có thay đổi về thân thể; các bậc chân nhân sống hàng trăm năm trong các hang núi vùng Himalaya.
== Kinh dịch ==
Kinh dịch được xem là tổng hòa của các khoa học, mọi thứ trong vật chất tinh thần đều vận hành theo ngũ hành, bát quái. Quan điểm của người Trung Hoa trước Công nguyên, vẫn tồn tại cho tới hiện nay. Trong khoa học máy tính hệ nhị phân được quy định là số 0 và số 1; bản mạch trong phép toán đại số Boole, Alan Turing, John von Neumann theo mạch lôgic bóng nào tắt là âm, bóng nào sáng là dương tương ứng 0, 1. Cũng giống như trong kinh dịch là có âm và có dương vạn vật biến động, một bit cũng làm cho toàn hệ thống biến động, không thể thiếu nó.
== Các nền văn minh Phương đông ==
Nền văn minh Trung Hoa cổ xưa
Nền văn minh Babylon
Nền văn minh Lưỡng Hà
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ngọc xá lị - bí ẩn chưa được khám phá |
ipad air.txt | iPad Air là thế hệ thứ năm của máy tính bảng iPad được Apple thiết kế, phát triển và đưa ra thị trường. Sản phẩm đã được công bố vào ngày 22 tháng 10 năm 2013, và được phát hành với 2 màu xám và màu bạc vào ngày 1 tháng 11 năm 2013. iPad Air được thiết kế mỏng hơn với nhiều điểm tương đồng với sản phẩm iPad Mini 2 đã có trên thị trường lúc đó, cùng với một bộ vi xử lý Apple A7 64-bit với bộ đồng xử lý M7.
Sản phẩm này đã ngừng sản xuất khi sản phẩm iPad Pro 9.7 inch ra đời vào ngày 21 tháng 3 năm 2016.
Sản phẩm kế nhiệm của nó, iPad Air 2, đã được công bố vào ngày 16 tháng 10 năm 2014.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
iPad Air – official site
iPad Air Official Features - Tablet Hub |
hydro.txt | Hydro (tiếng Anh: hydrogen, từ tiếng Latinh: hydrogenium) là một nguyên tố hóa học trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố với nguyên tử số bằng 1, nguyên tử khối bằng 1 đvC. Trước đây còn được gọi là khinh khí (như trong "bom khinh khí" tức bom H); hiện nay từ này ít được sử dụng. Sở dĩ được gọi là "khinh khí" là do hydro là nguyên tố nhẹ nhất và tồn tại ở thể khí, với trọng lượng nguyên tử 1,00794 u. Hydro là nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ, tạo nên khoảng 75% tổng khối lượng vũ trụ và tới trên 90% tổng số nguyên tử. Các sao thuộc dải chính được cấu tạo chủ yếu bởi hydro ở trạng thái plasma. Hydro nguyên tố tồn tại tự nhiên trên Trái Đất tương đối hiếm do khí hydro nhẹ nên trường hấp dẫn của Trái Đất không đủ mạnh để giữ chúng khỏi thoát ra ngoài không gian, do đó hydro tồn tại chủ yếu dưới dạng hydro nguyên tử trong các tầng cao của khí quyển Trái Đất.
Đồng vị phổ biến nhất của hydro là proti, ký hiệu là H, với hạt nhân là một proton duy nhất và không có neutron. Ngoài ra hydro còn có một đồng vị bền là deuteri, ký hiệu là D, với hạt nhân chứa một proton và một neutron và một đồng vị phóng xạ là triti, ký hiệu là T, với hai neutron trong hạt nhân.
Với vỏ nguyên tử chỉ có một electron, nguyên tử hydro là nguyên tử đơn giản nhất được biết đến, và cũng vì vậy nguyên tử hydro tự do có một ý nghĩa to lớn về mặt lý thuyết. Chẳng hạn, vì nguyên tử hydro là nguyên tử trung hòa duy nhất mà phương trình Schrödinger có thể giải được chính xác nên việc nghiên cứu năng lượng và cấu trúc điện tử của nó đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cả cơ học lượng tử và hóa học lượng tử.
Ở điều kiện thường, các nguyên tử hydro kết hợp với nhau tạo thành những phân tử gồm hai nguyên tử H2. (Ở những nhiệt độ cao, quá trình ngược lại xảy ra.) Khí hydro lần đầu tiên được điều chế một cách nhân tạo vào đầu thế kỉ 16 bằng cách nhúng kim loại vào trong một axit mạnh. Vào những năm 1766-1781, Henry Cavendish là người đầu tiên nhận ra rằng hydro là một chất riêng biệt và rằng khi bị đốt trong không khí nó tạo ra sản phẩm là nước. Tính chất này chính là nguồn gốc của cái tên "hydrogen", trong tiếng Hy Lạp nghĩa là "sinh ra nước". Ở điều kiện tiêu chuẩn, hydro là một chất khí lưỡng nguyên tử không màu, không mùi, không vị và là một phi kim.
Trong các hợp chất ion, hydro có thể có thể tồn tại ở hai dạng. Trong các hợp chất với kim loại, hydro tồn tại dưới dạng các anion hydrua mang một điện tích âm, ký hiệu H-. Hydro còn có thể tồn tại dưới dạng các cation H+ là ion dương sinh ra do nguyên tử hydro bị mất đi một electron duy nhất của nó. Tuy nhiên một ion dương với cấu tạo chỉ gồm một proton trần trụi (không có electron che chắn) không thể tồn tại được trong thực tế do tính dương điện hay tính axit và do đó khả năng phản ứng với các phân tử khác của H+ là rất cao. Một cation hydro thực sự chỉ tồn tại trong quá trình chuyển proton từ các axit sang các bazơ (phản ứng axit-bazơ). Trong dung dịch nước H+ (do chính nước hoặc một loại axit khác phân ly ra) kết hợp với phân tử nước tạo ra các cation hydroni H3O+, thường cũng được viết gọn là H+. Ion này đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong hóa học axit-bazơ.
Hydro tạo thành các hợp chất cộng hóa trị với hầu hết các nguyên tố khác. Nó có mặt trong nước và hầu hết các hợp chất hữu cơ cũng như các cơ thể sống.
== Thuộc tính ==
Ở nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn hydro là một khí lưỡng nguyên tử có công thức phân tử H2, không màu, không mùi, dễ bắt cháy, có nhiệt độ sôi 20,27 K (-252,87 °C) và nhiệt độ nóng chảy 14,02 K (-259,14 °C). Tinh thể hydro có cấu trúc lục phương. Hydro có hóa trị 1 và có thể phản ứng với hầu hết các nguyên tố hóa học khác.
=== Cháy ===
Khí hydro (hay phân tử hydro) có tính cháy cao và sẽ cháy trong không khí trong khoảng nồng độ thể tích từ 4% đến 75%. Entropy của quá trình cháy hydro là −286 kJ/mol:
2 H2(g) + O2(g) → 2 H2O(l) + 572 kJ (286 kJ/mol)
Khí hydro nổ với hỗn hợp không khí với nồng độ 4–74% và với clo nếu nồng độ nó là 5–95%. Hỗn hợp có thể được đốt cháy bằng tia lửa, nhiệt hoặc ánh sáng mặt trời. Nhiệt độ tự cháy của hydro trong không khí là 500 °C (932 °F). Hỗn hợp oxy-hydro tinh khiết cháy phát ra ánh sáng tử ngoại và hỗn hợp với nhiều oxy cháy gần như không thể quan sát bằng mắt thường như được minh họa trong Space Shuttle Main Engine so với chùm lửa dễ nhìn thấy của Space Shuttle Solid Rocket Booster. Việc phá hiện Phát hiện rò rỉ khí hydro cháy có thể cần một thiết bị báo cháy; rò rỉ như vậy có thể rất nguy hiểm. Ngọn lửa hydro trong các điều kiện khác là màu xanh, giống như ngọn lửa khí đốt thiên nhiên màu xanh.
=== Nguyên tử hydro ===
Nguyên tử hydro là nguyên tử của nguyên tố hydro. Nó bao gồm một electron có điện tích âm quay xung quanh proton mang điện tích dương là hạt nhân của nguyên tử hydro. Điện tử và proton liên kết với nhau bằng lực Culông.
== Đồng vị ==
Hydro có 3 đồng vị tự nhiên gồm 1H, 2H và 3H. Các đồng vị khác có hạt nhân không bền (4H đến 7H) được tổng hợp trong phòng thí nghiệm nhưng không quan sát được trong tự nhiên.
Hydro là nguyên tố duy nhất có các tên gọi khác nhau cho các đồng vị của nó. (Trong giai đoạn đầu của nghiên cứu phóng xạ, các đồng vị phóng xạ nặng khác nhau cũng được đặt tên, nhưng các tên gọi này không được sử dụng, mặc dù một nguyên tố, radon, có tên gọi mà nguyên thủy được dùng chỉ cho một đồng vị của nó). Các ký hiệu D và T (thay vì H2 và H3) đôi khi được sử dụng để chỉ đơteri và triti, mặc dù điều này không được chính thức phê chuẩn. Ký hiệu P đã được sử dụng cho photpho và không thể sử dụng để chỉ proti.
1H: Đồng vị phổ biến nhất của hydro chiếm hơn 99,98%, đồng vị ổn định này có hạt nhân chỉ chứa duy nhất một proton; vì thế trong miêu tả (mặc dù ít) gọi là proti.
2H: Đồng vị ổn định có tên là deuteri, với thêm một neutron trong hạt nhân. Nó chiếm khoảng 0,0184-0,0082% của toàn bộ hydro (IUPAC); tỷ lệ của nó tới proti được xác định liên quan với nước tham chiếu tiêu chuẩn của VSMOW. Deuteri không có tính phóng xạ, và không thể hiện độc tính. Nước được làm giàu chứa deuteri thay vì hydro thông thường được gọi là nước nặng. Deuteri và các hợp chất của nó được dùng làm nhãn hiệu không phóng xạ trong các thí nghiệm hóa học và trong các dung môi dùng 1H-quang phổ NMR. Nước nặng được dùng làm chất điều hòa neutron và chất làm lạnh trong các lò phản ứng hạt nhân. Deuteri cũng có thể là nhiên liệu tiềm năng trong các phản ứng tổng hợp hạt nhân thương mại.
3H: Đồng vị phóng xạ tự nhiên có tên là triti. Hạt nhân của nó có hai neutron và một proton. Nó phân rã theo phóng xạ beta và chu kỳ bán rã là 12,32 năm. Do có tính phóng xạ nên nó có thể được dùng trong sơn phản quang, như trong các loại đồng hồ. Tấm thủy tinh ngăn chặn một lượng nhỏ phóng xạ thoát ra ngoài. Một lượng nhỏ triti có mặt trong tự nhiên do sự phản ứng giữa các tia vũ trụ với các khí trong khí quyển; triti cũng được giải phóng trong các thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Nó được dùng trong các phản ứng tổng hợp hạt nhân, ở dạng vết trong địa hóa đồng vị, và đặc biệt trong các thiết bị tự phát sáng. Triti cũng được dùng trong các thí nghiệm ghi nhãn hóa học và sinh học.
4H: Hydro-4 được tổng hợp khi bắn phá triti bằng hạt nhân đơteri chuyển động cực nhanh. Nó phân rã tạo ra bức xạ neutron và có chu kỳ bán rã 9,93696x10−23 giây.
5H: Năm 2001 các nhà khoa học phát hiện ra hydro-5 bằng cách bắn phá hydro bằng các ion nặng. Nó phân rã tạo ra bức xạ neutron và có chu kỳ bán rã 8,01930x10−23 giây.
6H: Hydro-6 phân rã tạo ra ba bức xạ neutron và có chu kỳ bán rã 3,26500x10−22 giây.
7H: Năm 2003 hydro-7 đã được tạo ra tại phòng thí nghiệm RIKEN ở Nhật Bản bằng cách cho va chạm dòng các nguyên tử heli-8 năng lượng cao với mục tiêu hydro lạnh và phát hiện ra các triton - hạt nhân của nguyên tử triti - và các neutron từ sự phá vỡ của hydro-7, giống như phương pháp sử dụng để sản xuất và phát hiện hydro-5.
== Lịch sử ==
=== Phát hiện và sử dụng ===
Hydro (trong tiếng Pháp, hydrogène, hydr-, thân từ của hydros, tiếng Hy Lạp nghĩa là "nước", và -gène, tiếng Pháp nghĩa là "sinh", có nghĩa là "sinh ra nước" khi hợp với Oxy Năm 1671, Robert Boyle đã phát hiện và miêu tả phản ứng giữa sắt và axit loãng sinh ra khí hydro. Năm 1766, Hydro lần đầu tiên được Henry Cavendish phát hiện như một chất riêng biệt, và đặt tên khí từ phản ứng kim loại-axit là "khí có thể cháy". và phát hiện năm 1781 rằng khí này tạo ra nước khi đốt. Ông thường được tín dụng cho phát hiện của nó như là một yếu tố. Cavendish tình cờ tìm ra nó khi thực hiện các thí nghiệm với thủy ngân và các axit. Mặc dù ông đã sai lầm khi cho rằng hydro là hợp chất của thủy ngân (và không phải của axit), nhưng ông đã có thể miêu tả rất nhiều thuộc tính của hydro rất cẩn thận. Năm 1783, Antoine Lavoisier đặt tên cho nguyên tố này và chứng tỏ nước được tạo ra từ hydro và oxy. không ông và Laplace lập lại thí nghiệm phát hiện của Cavendish thì nước được tạo ra khi hydro bị đốt cháy. Lavoisier tạo ra hydro từ các thí nghiệm nổi tiếng của ông về bảo tồn khối lượng bằng cách phản ứng của dòng hơi nước với sắt kim loại qua một sống sắt nung trên lửa. Quá trình oxy hóa kỵ khí của sắt của các proton của nước ở nhiệt độ cao có thể được biểu diễn theo các phản ứng sau:
Fe + H2O → FeO + H2
2 Fe + 3 H2O → Fe2O3 + 3 H2
3 Fe + 4 H2O → Fe3O4 + 4 H2
Nhiều kim loại như zirconi trải qua phản ứng tương tự với nước tạo ra hydro.
Hydro được hóa lỏng lần đầu tiên bởi James Dewar năm 1898 bằng cách sử dụng bộ phận làm lạnh và phát minh của ông phích nước. Ông đã tạo ra hydro rắn vào năm sau đó. Deuteri được Harold Urey phát hiện vào tháng 12 năm 1931 bằng cách chưng cất một mẫu nước nhiều lần, với phát minh này Urey nhận giải Nobel năm 1934. Triti được Ernest Rutherford, Mark Oliphant, và Paul Harteck điều chế năm 1934. Nước nặng được nhóm của Urey phát hiện năm 1932. François Isaac de Rivaz đã tạo động cơ de Rivaz đầu tiên sử dụng năng lượng từ việc đốt cháy hỗn hợp hydro và oxy năm 1806. Edward Daniel Clarke đã phát minh ra ống xì hàn hydro năm 1819. Đèn Döbereiner và đèn sân khấu được phát minh năm 1823.
Một trong những ứng dụng đầu tiên của nó là khinh khí cầu, được Jacques Charles phát minh năm 1783.. Hydro tạo lực nâng cho dạng du hành trên không vào năm 1852, đây là phát minh tàu hàng không dùng lực nâng hydro đầu tiên của Henri Giffard. Ferdinand von Zeppelin đã thúc đẩy ý tưởng khi khí cầu cứng dùng lực nâng của hydro mà sau này được gọi là Zeppelin; khi khí cầu đầu tiên bay năm 1900. Các chuyến bay trở nên thường xuyên hơn bắt đầu năm 1910 và khi nổ ra chiến tranh thế giới thứ nhất vào tháng 8 năm 1914, khi khí cầu đã vận chuyển 35.000 hành khách mà không có tai nạn nghiêm trọng. Tàu không khí lực nâng hydro được dùng làm các điểm qua sát và thả bom trong suốt cuộc chiến.
=== Vai trò trong thuyết lượng tử ===
Do cấu trúc nguyên tử tương đối đơn giản của nó chỉ gồm một proton và một electron, nguyên tử hydro, cùng với quang phổ ánh sáng từ nó hoặc nó hấp thụ, là trung tâm của sự phát triển học thuết về cấu trúc nguyên tử. Hơn thế nữa, sự đơn giản tương ứng của phân tử hydro và cation tương ứng H+2 cho phép hiểu biết đầy đủ hơn về các liên kết hóa học tự nhiên, sau một thời gian ngắn sau khi cơ học lượng tử của nguyên tử hydro đã được phát triển vào giữa thập niên 1920.
Một trong những hiệu ứng lượng tử đầu tiên được nhận thấy rõ ràng là quan sát của Maxwell liên quan đến hydro, nửa thế kỷ trước khi học thuyết cơ học lượng tử được phát triển toàn diện. Maxwell đã quan sát nhiệt dung riêng của H2 không thể tính được của khí hai nguyên tử dưới nhiệt độ phòng và bắt đầu ngày càng giống với khí đơn nguyên tử ở nhiệt độ đông đặc. Theo thuyết lượng tử, ứng xử này xuất phát từ khoảng cách các mức năng lượng quay (lượng tử hóa), nó làm mở rộng khoảng cách trong H2 do khối lượng thấp của nó. Các mức khoảng cách rộng này ức chế tỷ lệ bằng nhau của năng lượng nung trong chuyển động quay trong hydro ở các mức nhiệt độ thấp. Các khí hai nguyên tử bao gồm các nguyên tử nặng hơn không có các mức khoảng cách rộng này và không thể hiện cùng hiệu ứng.
== Trạng thái thiên nhiên ==
Hydro là nguyên tố phổ biến nhất trong vũ trụ, chiếm 75% các vật chất thông thường theo khối lượng và trên 90% theo số lượng nguyên tử. Nguyên tố này được tìm thấy với một lượng khổng lồ trong các ngôi sao và các hành tinh khí khổng lồ. Các đám mây phân tử của H2 liên quan đến sự hình thành sao. Hydro đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng ngôi sao thông qua phản ứng proton-proton và tổng hợp hạt nhân chu trình CNO.
Trong khắp vũ trụ, hydro được tìm thấy chủ yếu ở các trạng thái nguyên tử và plasma với các tính chất khác với hydro phân tử. Ở dạng plasma, electron và proton của hydro không liên kết cùng nhau, tạo thành các chất dẫn diện rất cao và phát xạ cao. Các hạt tích điện bị ảnh hưởng cao bởi từ trường và điện trường. Ví dụ, gió mặt trời tương tác với từ quyển của Trái Đất làm tăng dòng Birkeland và Aurora. Hydro được phát hiện ở trạng thái nguyên tử trung hòa điện trong các môi trường liên sao. Một lượng lớn hydro trung hòa được tìm thấy trong các hệ Lyman-alpha bị hãm được cho là thống trị mật độ baryon vũ trụ của Vũ trụ đến dịch chuyển đỏ z=4.
Tuy vậy, trên Trái Đất nó có rất ít trong khí quyển (1 ppm theo thể tích). Tuy nhiên, hydro là nguyên tố phổ biến thứ 3 trên bề mặt Trái Đất, chủ yếu là ở dạng hợp chất hóa học như nước và hydrocacbon. Hydro được tạo ra bởi một số vi khuẩn và tảo và là thành phần tự nhiên của trung tiện như ở dạng metan, là nguồn hydro có độ quan trọng ngày càng cao. Các nguồn khác bao gồm phần lớn các chất hữu cơ (hiện tại là mọi dạng của cơ thể sống), than, nhiên liệu hóa thạch và khí tự nhiên. Metan (CH4) là một nguồn quan trọng của hydro. Dưới áp suất cực cao, chẳng hạn như tại trung tâm của các hành tinh khí khổng lồ (như Sao Mộc), các phân tử hydro mất đặc tính của nó và hydro trở thành một kim loại (xem hydro kim loại). Dưới áp suất cực thấp, như trong khoảng không vũ trụ, hydro có xu hướng tồn tại dưới dạng các nguyên tử riêng biệt, đơn giản vì không có cách nào để chúng liên kết với nhau; các đám mây H2 tạo thành và được liên kết trong quá trình hình thành các ngôi sao.
Hydro đóng vai trò sống còn trong việc cung cấp năng lượng trong vũ trụ thông qua các phản ứng proton-proton và chu trình cacbon - nitơ. (Đó là các phản ứng nhiệt hạch giải phóng năng lượng khổng lồ thông qua việc tổ hợp hai nguyên tử hydro thành một nguyên tử heli.)
== Điều chế, sản xuất ==
Trong phòng thí nghiệm, hydro được điều chế bằng phản ứng của axit với kim loại, như kẽm chẳng hạn. Để sản xuất công nghiệp có giá trị thương mại nó được điều chế từ khí thiên nhiên. Điện phân nước là biện pháp đơn giản nhưng không kinh tế để sản xuất hàng loạt hydro. Các nhà khoa học đang nghiên cứu để tìm ra những phương pháp điều chế mới như sản xuất hydro sinh học sử dụng quá trình quang phân ly nước ở tảo lục hay việc chuyển hóa các dẫn xuất sinh học như glucose hay sorbitol ở nhiệt độ thấp bằng các chất xúc tác mới.
Hydro có thể điều chế theo nhiều cách khác nhau: hơi nước qua than (cacbon) nóng đỏ, phân hủy hydrocacbon bằng nhiệt, phản ứng của các bazơ mạnh (kiềm) trong dung dịch với nhôm, điện phân nước hay khử từ axit loãng với một kim loại (có khả năng đẩy hydro từ axit) nào đó.
Việc sản xuất thương mại của hydro thông thường là từ khí tự nhiên được xử lý bằng hơi nước nóng. Ở nhiệt độ cao (700-1.100 °C), hơi nước tác dụng với metan để sinh ra cacbon monoxit và hydro.
CH4 + H2O → CO + 3 H2
Điện phân dung dịch có màng ngăn:
2NaCl + 2H2O → 2NaOH + H2 + Cl2
Điện phân nước:
2H2O → 2H2 + O2
Lượng hydro bổ sung có thể thu được từ cacbon monoxit thông qua phản ứng nước-khí sau:
CO + H2O → CO2 + H2
== Hợp chất ==
Là nhẹ nhất trong mọi chất khí, hydro liên kết với phần lớn các nguyên tố khác để tạo ra hợp chất. Nó có độ điện âm 2,2 vì thế nó tạo ra hợp chất ở những chỗ mà nó là nguyên tố mang tính phi kim loại nhiều hơn (1) cũng như khi nó là nguyên tố mang tính kim loại nhiều hơn (2). Các chất loại đầu tiên gọi là hiđrua, trong đó hydro hoặc là tồn tại dưới dạng ion H- hay chỉ là hòa tan trong các nguyên tố khác (chẳng hạn như hiđrua palađi). Các chất loại thứ hai có xu hướng cộng hóa trị, khi đó ion H+ là một hạt nhân trần và có xu hướng rất mạnh để hút các điện tử vào nó. Các dạng này là các axit. Vì thế thậm chí trong các dung dịch axit người ta có thể tìm thấy các ion như hydroni (H3O+) cũng như proton.
Hydro kết hợp với oxy tạo ra nước, H2O và giải phóng ra năng lượng, nó có thể nổ khi cháy trong không khí. Oxit deuteri, hay D2O, thông thường được nói đến như nước nặng. Hydro cũng tạo ra phần lớn các hợp chất với cacbon. Vì sự liên quan của các chất này với các loại hình sự sống nên người ta gọi các hợp chất này là các chất hữu cơ, việc nghiên cứu các thuộc tính của các chất này thuộc về hóa hữu cơ.
== Các phản ứng sinh học ==
H2 là một sản phẩm của nhiều kiểu trao đổi chất kỵ khí và được nhiều dạng vi sinh vật sinh ra, thường thông qua các phản ứng có xúc tác các enzym chứa sắt hoặc nickel được gọi là hydrogenase. Các enzyme này xúc tác phản ứng oxy hóa khử thuận nghịch giữa H2 và 2 proton và 2 electron của nó. Sự tạo thành khí hydro xảy ra khi chuyển dịch cân bằng theo hướng khử được tạo ra trong khi lên men pyruvate đối với nước.
Việc phân cắt phân tử nước thành các proton, electron, và oxy xảy ra trong các phản ứng phụ thuộc sáng trong tất cả các sinh vật quang hợp. Một số sinh vật này bao gồm cả tảo Chlamydomonas reinhardtii và vi khuẩn lam, đã tiến hóa hai bước trong các phản ứng tối mà trong đó các proton và electron bị khử để tạo ra khí H2 bởi các enzym biệt hóa trong lục lạp. Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để can thiệp về mặt di truyền của các enzym vi khuẩn lam để tổng hợp một cách hiệu quả khí H2 thậm chí có mặt oxy. Những nỗ lực cũng đã thực hiện đối với gen của tảo trong phản ứng sinh học.
== Cảnh báo ==
Hydro là một chất khí dễ bắt cháy, nó cháy khi mật độ chỉ có 4%. Nó có phản ứng cực mạnh với clo và flo, tạo thành các axit hydrohalic có thể gây tổn thương cho phổi và các bộ phận khác của cơ thể. Khi trộn với oxy, hydro nổ khi bắt lửa. Hydro cũng có thể nổ khi có dòng điện đi qua.
Hydro biểu hiện một số mối nguy hiểm đối với sự an toàn của con người như khả năng cháy, nổ khi trộn với không khí với oxy tự do. Ngoài ra, hydro lỏng là một hỗn hợp lạnh và thể hiện các mối nguy hiểm (như làm tê cóng) liên quan đến chất lỏng rất lạnh. Hydro hòa tan trong nhiều kim loại, và khi rò rỉ có thể có những ảnh hưởng xấu đến các kim loại như tính giòn do hydro, làm rạn nứt và gây nổ. Khí hydro rò rỉ vào không khí có thể tự cháy. Hơn thế nữa, hydro cháy khi nhiệt độ rất cao hầu như không nhìn thấy và điều này có thể gây bỏng.
Thậm chí việc giải đoán dữ liệu hydro (bao gồm cả dữ liệu an toàn) vẫn chưa rõ ràng bởi một số hiện tượng. Nhiều tính chất vật lý và hóa học của hydro phụ thuộc tỷ số đồng phân spin parahydro/orthohydron (nó thường mất vài ngày hoặc vài tuần ở một nhiệt độ cho trước để đạt đến tỉ số cân bằng, từ đó mới lấy được số liệu). Các thông số cháy nổ hydro như áp suất và nhiệt độ ngưỡng cháy nổ, phụ thuộc mạnh vào hình dạng của vật thể chứa chúng.
== Xem thêm ==
Phản hydro
Tế bào nhiên liệu
Hydro nguyên tử
Liên kết hydro
Bom hạt nhân
Ô tô hydro
Kinh tế hydro
Năng lượng hydro
Vạch hydro trong quang phổ
Bảng tuần hoàn các nguyên tố
Hydro quang học
Hydro khí nén (CGH2)
Hydro lỏng (LH2)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Chart of the Nuclides (ấn bản 17). Knolls Atomic Power Laboratory. 2010. ISBN 978-0-9843653-0-2.
Ferreira-Aparicio, P; M. J. Benito, J. L. Sanz (2005). “New Trends in Reforming Technologies: from Hydrogen Industrial Plants to Multifuel Microreformers”. Catalysis Reviews 47 (4): 491–588. doi:10.1080/01614940500364958.
Newton, David E. (1994). The Chemical Elements. New York: Franklin Watts. ISBN 0-531-12501-7.
Rigden, John S. (2002). Hydrogen: The Essential Element. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 0-531-12501-7.
Romm, Joseph, J. (2004). The Hype about Hydrogen, Fact and Fiction in the Race to Save the Climate. Island Press. ISBN 1-55963-703-X. at Global Public Media.
Scerri, Eric (2007). The Periodic System, Its Story and Its Significance,. New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-530573-6.
== Liên kết ngoài ==
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Hoa Kỳ – Hydro
WebElements.com – Hydro
EnvironmentalChemistry.com – Hydro
It's Elemental – Hydro
Hình ảnh của Hydro
Thám hiểm hydro
Hydro H2-thuộc tính, sử dụng, ứng dụng |
ngữ chi khơ mú.txt | Ngữ chi Khơ Mú là một nhóm các ngôn ngữ trong ngữ hệ Nam Á. Theo phân loại truyền thống nó thuộc về nhánh Bắc Môn-Khmer của ngữ tộc Môn-Khmer, nhưng theo các phân loại gần đây hơn, nó thuộc về ngữ tộc Khasi-Khơ Mú. Nó bao gồm các phân nhóm sau:
Khao:
tiếng Khao
tiếng Bit
Mlabri:
tiếng Mlabri
Xinh Mun:
tiếng Kháng
tiếng Phong-Kniang
tiếng Xinh Mun hay tiếng Puộc.
Khơ Mú:
Khơ Mú:
tiếng Khơ Mú
tiếng Khuen
tiếng Ơ Đu
Mal-Phrai:
tiếng Mal
tiếng Phray
tiếng Phai
tiếng Lua Môn-Khmer
Chỉ có tiếng Khơ Mú là ngôn ngữ duy nhất trong nhóm có số lượng tương đối lớn người sử dụng, trong khi các ngôn ngữ khác, như tiếng Mlabri, chỉ có rất ít người sử dụng. Tồn tại một sự chưa đồng thuận trong việc đặt nhánh Khao, trong bài này liệt kê như là một phần của cây ngôn ngữ Khơ Mú, nhưng nó có thể trên thực tế là thuộc nhóm Khơ Mú hay nhóm Palaung; theo nhà ngôn ngữ học Svantesson thì tiếng Khao và tiếng Bit tốt nhất nên phân loại như là thuộc nhóm Palaung
== Liên kết ngoài ==
Trang về ngữ chi Khơ Mú từ website của Ethnologue
== Xem thêm ==
Tiếng Khơ Mú
Người Khơ Mú
== Ghi chú == |
vương quốc lưu cầu.txt | Vương quốc Lưu Cầu (tiếng Lưu Cầu: 琉球國 Ruuchuu-kuku, tiếng Nhật: 琉球王国 Ryūkyū Ōkoku, giản thể: 琉球国; phồn thể: 琉球國; bính âm: Liúqiú Guó; Hán-Việt: Lưu Cầu Quốc) là một vương quốc thống trị phần lớn quần đảo Ryukyu từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Các vua Lưu Cầu đã thống nhất đảo Okinawa và mở rộng lãnh địa vương quốc đến quần đảo Amami là một phần của tỉnh Kagoshima ngày nay, và quần đảo Yaeyama gần Đài Loan.
== Lịch sử ==
Theo ba cuốn sử truyền thống của Lưu Cầu —Chūzan Seikan (中山世鑑, Chūzan Seikan Trung Sơn thế giám), Chūzan Seifu (中山世譜, Chūzan Seifu Trung Sơn thế phả), và Kyūyō (球陽, Kyūyō Cầu Dương)— thì lịch sử Vương quốc Lưu Cầu bắt đầu với Nhà Tenson (天孫王朝, Nhà Tenson Thiên Tôn Vương triều), kéo dài 17.000 năm. Sử gia ngày nay cho rằng đây là một huyền sử viết vào thế kỷ 16 và 17 để củng cố địa vị chính thống cho triều đại nhà Sho khi phải ganh đua với giới quý tộc bản địa.
Khi nhà Tenson kết thúc thì Vương triều Shunten (舜天王朝, Thuấn Thiên Vương triều) nổi lên kế nghiệp từ năm 1187 đến 1259, truyền được ba đời vua. Theo Chūzan Seikan của Shō Shōken thì người sáng lập triều đại này là con trai của Minamoto no Tametomo, quý tộc người Nhật, cùng huyết thống với Hoàng gia Nhật Bản. Minamoto no Tametomo vốn ở Kyoto, có ý tranh quyền nhưng thất bại, bị đày ra Izu. Tametomo sau trốn đến Lưu Cầu, sinh ra Shunten, người sáng lập ra nhà Shunten. Một số học giả Nhật Bản và Trung Quốc thì cho rằng triều Shunten cũng là hư cấu do các sử gia của nhà Sho tạo nên như một huyền thoại chuyển tiếp từ nhà Tenson sang nhà Sho.
Xét về thực trạng thì chính sử Lưu Cầu bắt đầu vào thế kỷ 14 khi các bộ lạc rải rác trên đảo Okinawa kết hợp thành ba tiểu quốc: Hokuzan (北山, Hokuzan Bắc Sơn), Chūzan (中山, Chūzan Trung Sơn) và Nanzan (南山, Nanzan Nam Sơn). Sử gia gọi đó là thời kỳ Sanzan (三山, Tam Sơn). Ba nước đúng ra là ba tập hợp liên kết một số bộ lạc, có tù trưởng cầm đầu. Ba nhóm đánh nhau tranh giành quyền lực, cuối cùng Chuzan chiếm ưu thế, được triều đình Trung Quốc sắc phong vào đầu thế kỷ 15, coi như triều đại chính thống cho dù hai nhóm Nanzan và Hokuzan chưa hẳn bị đánh bại. Quốc chủ Chuzan truyền ngôi cho Hashi. Vào thời nhà Minh năm 1421 Hashi lấy họ "Shō", xưng là vua Shō Hashi (尚巴志, Thượng Ba Chí). Hashi lần lượt triệt hạ Hokuzan năm 1416 và Nanzan năm 1429, thống nhất toàn đảo Okinawa, và lập ra nhà Shō I.
Shō Hashi noi theo lệ cha truyền con nối giống nhà Minh, xây dựng Naha làm thương cảng và đóng đô ở thành Shuri. Đến năm 1469, vua Shō Toku qua đời mà không có con kế vị; một lãnh chúa chư hầu tên là Shō En bèn xưng là con nuôi của Toku rồi lại phao rằng có sắc phong của Trung Hoa nên lên đoạt ngôi. Sử gọi là tiếm vương, lập ra nhà Sho II. Ryūkyū đạt thời kỳ vàng son dưới triều vua thứ nhì Shō Shin, trị vì 1478-1526.
== Trong thương mại châu Á (thế kỷ 15-16) ==
Từ năm 1390, lãnh chúa ở các đảo Miyako và Yaeyama đã lập ra lệ tiến cống vương quốc Chuzan. Lệ này bắt nguồn phần do nhu cầu kinh tế trao đổi hàng hóa, phần do ảnh hưởng chính trị của Chuzan thu hút các lãnh chúa địa phương. Thuyền buôn các xứ Chuzan, Hokuzan và Nanzan sau hoạt động ngày càng rộng lớn, nam xuống đến Đài Loan, Hoa Nam và đến tận Đông Nam Á. Phía bắc thì thuyền buôn Lưu Cầu ra đến các thương cảng Hakata, Sakai của Nhật Bản và Busan của Triều Tiên.
Sau khi Sho Hashi thống nhất Okinawa thì dần thu phục toàn bộ quần đảo Nansei về một mối. Đối ngoại thì vua Lưu Cầu gửi sứ sang triều cống nhà Minh, rồi nhà Thanh. Với diện tích nhỏ hẹp, ít tài nguyên, Lưu Cầu lại có ưu thế địa lý là nằm trên thương lộ từ Đông Bắc Á đến Đông Nam Á khiến xứ này là trung gian giao thương tự nhiên. Tàu bè Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Hoa và các nước Đông Nam Á như Xiêm La, Tà Nê, Malacca, Chăm Pa và Java đều buôn bán với Lưu Cầu. Đối với Trung Hoa, Chương Châu và Phúc Châu thuộc Phúc Kiến là hai thương cảng chính cho tàu thuyền Lưu Cầu qua nhiều thế kỷ.
Khi nhà Minh diệt nhà Nguyên, chiếm được Trung Hoa thì họ ngại ảnh hưởng ngoại bang xâm nhập nên ra chính sách cấm hải, hạn chế giao thương. Song do nhu cầu các sản phẩm ngoại quốc, cùng mưu đồ chính trị tạo uy thế, nhà Minh đòi các nước lân bang nếu muốn giao thương với Trung Hoa thì phải chịu lệ triều cống. Lưu Cầu lợi dụng vị thế này, làm nhịp cầu trung gian cho giới con buôn tránh lệnh cấm hải. Đến thế kỷ 14 Lưu Cầu đã biến mình thành một cường quốc thương mại vùng Đông Á. Lưu Cầu là nguồn cung cấp ngựa và lưu huỳnh, bán sang Trung Hoa làm thuốc súng. Tính riêng năm 1383, Trung Hoa mua vào 980 con ngựa từ Lưu Cầu. Trong quan hệ giao thương với Trung Hoa, sau khi chịu cống nạp, Lưu Cầu luôn được nhà Minh ban cho nhiều vật phẩm giá trị, kể cả tàu thuyền đi biển cỡ lớn. Trong thời gian 54 năm (1385 - 1439), nhà Minh cấp cho Lưu Cầu 30 thuyền buôn đi biển. Từ thế kỷ 15 đến 16, Vương quốc Lưu Cầu nắm địa vị trung chuyển thương mại chính ở Đông Á. Các đoàn thương thuyền và sứ thần của Lưu Cầu phần lớn đều khởi hành từ Naha. Đối với các quốc gia ở Đông Nam Á, thuyền buôn của Lưu Cầu thường đem đến các loại hàng như: lưu huỳnh, gốm sứ, lụa, gấm, satin, tiền đồng, sắt, thuốc chữa bệnh của Trung Quốc; kiếm, thương, áo giáp, tranh tường, quạt, đồ sơn mài và đồng, vàng của Nhật Bản... Các thuyền buôn sẽ trở về phương bắc với hồ tiêu, dầu lô hội, sừng tê giác, trầm hương, ngà voi, san hô, thủy ngân, da trăn, da cá sấu, động vật quý hiếm, gỗ đinh hương, gỗ nhuộm vải, nhạc cụ và nhiều sản phẩm thủ công khác của Đông Nam Á và Nam Á. Hương liệu của Đông Nam Á bán ở Trung Quốc và thị trường khu vực Đông Bắc Á cũng thu được lãi lớn, có khi đến 1.500 lần. Theo Minh sử, Lưu Cầu đã cử 171 thuyền buôn sang Trung Quốc, 89 thuyền đến An Nam, 37 thuyền đến Java và 19 thuyền tới Nhật Bản. Nếu thông tin trên là xác thực thì số thuyền của vương quốc Lưu đến An Nam chỉ đứng sau so với Trung Quốc. Trong số các quốc gia Đông Nam Á, Xiêm được coi là điểm trung điểm hướng tới của các thương thuyền Lưu Cầu. Trong số 48 chuyến đi đến Đông Nam Á trong khoảng thời gian 1425-1564 thì có tới 62 thuyền đã tới Xiêm trong khi đó tổng số thuyền đến vương quốc này trong thời gian 1385 - 1570 có thể lên đến 150 chiếc. Từ năm 1425 -1465, Lưu Cầu đã tặng vua Xiêm tổng cộng 63.500 cân lưu huỳnh. Từ năm 1463 đến 1472, Lưu Cầu đã phái 10 chuyến thuyền đến vương quốc Malacca đồng thời triều đình nước này cũng cử 6 chuyến thuyền đến Lưu Cầu. Ngoài ra, các thuyền buôn Lưu Cầu còn đến các nước trên đảo Java và Sumatra. Năm 1509, Lưu Cầu đã biếu quốc vương An Nam 10.000 cân lưu huỳnh, tức là gấp hơn ba lần mức thông thường vẫn gửi biếu vua Xiêm Hơn thế nữa, qua những đợt khảo cổ học ở Okinawa, các nhà khoa học Nhật Bản đã tìm thấy nhiều mảnh gốm sứ có nguồn gốc từ miền Bắc Việt Nam với niên đại thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16. Các thuyền buôn của Lưu Cầu xuống Đông Nam Á đều men theo vùng ven biển của Phúc Kiến, họ có quan hệ mật thiết với các thương nhân Hoa kiều và Ả Rập. Có điều đặc biệt là toàn bộ các hoạt động thương mại của vương quốc Lưu Cầu, ngay cả trong những ngày cực thịnh, cũng đều được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của triều đình. Mọi thương thuyền đi ra nước ngoài đều phải có giấy phép do triều trung ương đóng tại thành Shuri cấp. Những thuyền không có giấy phép đều bị coi là thuyền hoạt động bất hợp pháp.
Sau khoảng hai thế kỉ phát triển thịnh vượng về thương mại. Hoạt động ngoại thương của Lưu Cầu vương quốc đã bắt đầu suy thoái do ảnh hưởng từ các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài. Sau khi đế quốc Bồ Đào Nha đánh chiếm Malacca vào năm 1511 thì hệ thống thương mại tại Đông Nam Á đã bị xáo trộn nghiêm trọng. Do bị các tàu buôn phương Tây cạnh tranh và dùng vũ lực uy hiếp, hoạt động của thương nhân tại Đông Nam Á đã bị suy giảm nhanh chóng. Để tự vệ, nhiều nước đã hạn chế ngoại thương và ngoại giao với bên ngoài, vì thế vai trò cầu nối giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á của Lưu Cầu không còn duy trì được lợi thế nữa. Từ nửa sau thế kỉ 16, Lưu Cầu chỉ còn giữ quan hệ thương mại ở mức hạn chế với Đông Nam Á và chấm dứt hẳn sau chuyến đi cuối cùng đến Xiêm vào năm 1570. Tuy nhiên, Lưu Cầu vẫn giữ quan hệ với Trung Quốc và Nhật Bản, hai nước có nguồn hàng xuất phong phú. Ngoài ra, vị thế thương mại của Lưu Cầu còn bị ảnh hưởng bởi quyết định mở cửa của nhà Minh vào năm 1569, còn Nhật Bản cũng tự mình cử các đoàn thương thuyền đến Đông Nam Á. Đến những năm 30 của thế kỉ 17, khi Nhật Bản thi hành chính sách Sakoku (tỏa quốc) thì các thương nhân người Hoa đã chiếm lĩnh một phần hoạt động thương mại tại Đông Nam Á và cạnh tranh quyết liệt với phương Tây để chiếm vị thế là cầu nối giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
== Nhật Bản xâm lược (1609) ==
Khoảng năm 1590, Toyotomi Hideyoshi yêu cầu Vương quốc Lưu Cầu trợ giúp cho chiến dịch xâm chiến Triều Tiên (nhập Đường). Nếu thắng lợi, Hideyoshi dự định tiến quân đánh Trung Quốc. Vì Vương quốc Lưu Cầu là chư hầu của nhà Minh, yêu cầu này bị từ chối. Mạc phủ Tokugawa nổi lên sau sự suy sụp của nhà Toyotomi trao quyền cho gia tộc Shimazu —đại danh của phiên Satsuma (ngày nay là tỉnh Kagoshima)—gửi đinh chinh phạt Lưu Cầu. Việc chiếm giữ Lưu Cầu diễn ra khá nhanh, với sự kháng cự vũ trang tối thiểu. Sau khi tràn vào kinh thành Shuri, quân Nhật đã cướp đi hầu hết những di sản văn hoá quý báu của Lưu Cầu trong đó có nhiều tác phẩm độc đáo của văn hoá châu Á vốn được lưu giữ tại vương quốc qua nhiều thế kỷ. Trước khi rút quân của đảo, quân Satsuma đã bắt quốc vương Shō Nei cùng hơn 100 triều thần, án ti của Lưu Cầu đưa về Kagoshima. Đến năm 1610, quốc vương lại bị đưa đến Edo để diện kiến Tướng Quân Tokugawa Hidetada. Sau đó, quốc vương Lưu Cầu đã bị buộc phải tuyên thệ ba điều, trong đó có đoạn "các đảo Lưu Cầu đã phụ thuộc vào chính quyền phong kiến Satsuma" và hứa sẽ mãi trung thành với Satsuma; các triều thần và án ti của Lưu Cầu bị bắt cũng phải hứa làm theo lời tuyên thệ này. Satsuma cũng đặt ra 15 quy định, trong đó có điều khoản "không cho phép một thương nhân Lưu Cầu nào thực hiện các quan hệ buôn bán mà không có chấp thuận bằng văn bản của Satsuma". Mùa thu năm 1611, quốc vương Sho Nei cùng các triều thần và án ti được trở về Lưu Cầu tiếp tục cai quản. Trong thời gian 3 năm đó quốc vương bị bắt, Satsuma đã thiết lập một chính quyền quân sự tạm thời để cai quản Lưu Cầu, Satsuma cũng phái các phụng hành và viên chức đến Lưu Cầu để tiến hành thống kê các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị của vương quốc để làm cơ sở đưa ra các biện pháp quản chế thích hợp. Tuy nhiên, Satsuma đã sáp nhập các hòn đảo thuộc quần đảo Amami vào khu vực thuộc chủ quyền của Nhật Bản.
== Hậu chiến ==
Sau khi trở về được tiếp tục cai trị, quốc vương và giới án ti Lưu Cầu vẫn giữ được phần nào sự uy nghiêm trong quá khứ, tuy nhiên sự tôn kính dành cho quốc vương của thần dân Lưu Cầu đã suy giảm. Sau năm 1612, mặc dù bộ máy hành chính của Lưu Cầu vẫn tiếp tục được hoàn thiện để đáp ứng những nhu cầu quản lý mới nhưng thiết chế chính trị đó cũng ngày càng bị quan liêu hoá, giới quan lại và trí thức đắm chìm trong tư tưởng Nho giáo. Từ năm 1620, do phải chú ý đến quan hệ với Trung Quốc nên Nhật Bản đã từng bước nới lỏng kiểm soát đối với Lưu Cầu thay vì áp đặt một hệ thống cai trị chặt chẽ kiểu Nhật như dự tính ban đầu. Mạc phủ Tokugawa trao cho phiên Satsuma được quyền thu cống phẩm và đại diện cho mình quản lý Lưu Cầu song cũng nhiều biện pháp để giám sát.
Lưu Cầu luôn cần sự chấp thuận từ Nhật Bản trong các vấn đề kinh tế và chính trị quan trọng, song bên cạnh đó, họ vẫn duy trì mối quan hệ với Trung Quốc và chấp thuận tấn phong từ triều đình ở Bắc Kinh. Triều đình Lưu Cầu cũng muốn dùng mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc để làm đối trọng với Nhật Bản. Sau năm 1612, Lưu Cầu thực hiện chế độ cống nạp cho cả Trung Quốc và Nhật Bản thông qua đại danh Shimazu của phiên Satsuma. Vì nhà Minh cấm buôn bán với Nhật Bản, phiên Satsuma, với sự cho phép của Mạc phủ Tokugawa, sử dụng quan hệ thương mại của vương quốc này để duy trì quan hệ buôn bán với Trung Quốc. Lưu ý rằng Nhật Bản trước đó đã đóng cửa với phần lớn các nước châu Âu, trừ Hà Lan, những quan hệ buôn bán như thế là đặc biệt quan trọng với cả Mạc phủ Tokugawa và phiên Satsuma, người sau này sẽ sử dụng quyền lực và ảnh hưởng của mình, theo cách đó, giúp lật đổ Mạc phủ trong thập kỷ 1860.
Vua Lưu Cầu là chư hầu của Daimyō Satsuma, nhưng đất đai của ông không được tính là một phần của bất kỳ một han (phiên) nào: cho đến khi chính thức sáp nhập quần đảo này và giải thể vương quốc năm 1879, Lưu Cầu thật sự không được coi là một phần của Nhật Bản, và người Lưu Cầu không được coi là người Nhật Bản. Mặc dù về mặt lý thuyết là dưới quyền kiểm soát của Satsuma, Lưu Cầu có mức độ tự trị cao, để phục vụ tốt nhất lợi ích cho đại danh Satsuma và Mạc phủ, trong thương mại với Trung Quốc. Lưu Cầu là một nhà nước triều cống cho Trung Quốc, và vì Nhật Bản không có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc, về cơ bản Bắc Kinh không nhận ra rằng Lưu Cầu bị Nhật Bản kiểm soát và nếu có, họ sẽ chấm dứt buôn bán. Do đó, Satsuma và Mạc phủ bắt buộc phải buông bỏ theo nghĩa rằng không chính thức hay bằng vũ lực chiếm giữ Lưu Cầu hay kiểm soát các chính sách và luật pháp ở đây. Tình thế này làm lợi cho cả 3 bên liên quan: triều đình Lưu Cầu, đại danh Satsuma và Mạc phủ, biến Lưu Cầu thành một rất quốc gia đặc biệt. Người Nhật bị cấm đến thăm Lưu Cầu mà không được phép của Tướng Quân, và người Lưu Cầu bị cấm lấy tên, mặc trang phục hay áp dụng các phong tục Nhật Bản. Họ thậm chí còn cấm thể hiện rằng mình biết tiếng Nhật khi đến Edo; gia tộc Shimazu, đại danh của Satsuma, gây dựng được thanh thế lớn khi khi phiên duy nhất có một vị quốc vương và cả vương quốc làm chư hầu, Satsuma thu lợi lớn từ sự đặc biệt của Lưu Cầu, họ còn nói thêm rằng đây là một vương quốc hoàn toàn biệt lập.
Là một nước "chư hầu", song về mặt ngoại giao, Lưu Cầu vẫn được Nhật Bản đối xử ngang hàng với Triều Tiên hay Xiêm. Năm 1670, khi đoàn triều cống của Lưu Cầu đến Trung Quốc triều cống bị hải tặc ở Đài Loan tấn công, Nhật Bản đã yêu cầu Hà Lan giúp đỡ. Trong đó, phía Nhật Bản giải thích rằng tuy Lưu Cầu không phải là một bộ phận lãnh thổ Nhật Bản song là một nước thần thuộc.
Trong quan hệ với Trung Quốc, vì là nước "đồng văn" và là một cường quốc thương mại nên Lưu Cầu luôn giành được thứ bậc cao trong ngoại giao chính thức. Đoàn sứ thần Lưu Cầu xếp thứ tư sau Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản khi thực hiện nghi lễ ngoại giao tại triều đình nhà Minh. Tuy nhiên, dưới thời nhà Thanh, sứ thần Lưu Cầu đã được xếp ở vị trí thứ hai, chỉ sau sứ thần Triều Tiên. Khi quốc vương Lưu Cầu lên ngôi, nhà Minh và nhà Thanh luôn cử người sang tấn phong. Để tỏ rõ uy thế, các đoàn phái bộ Trung Quốc thường có từ 300 đến 800 người và có thể lưu lại kinh thành Shuri từ 4 tháng đến 9 tháng. Trong thời gian lưu lại Lưu Cầu, một số thành viên phái đoàn Trung Quốc đã tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa và chính trị của vương quốc. Sau khi Lưu Cầu bị Nhật Bản xâm lược, đề đề phòng, nhà Minh chỉ cho Lưu Cầu 10 năm sang triều cống một lần, song về sau đã giảm xuống 5 năm rồi 2 năm. Tuy nhiên các đoàn ngoại giao đơn thuần của Lưu Cầu cũng thường xuyên đến Bắc Kinh để tham dự các sự kiện trọng đại.
Đến thế kỉ 18, Satsuma đã bắt Lưu Cầu phải thu lượm về các thông tin về tình hình Trung Quốc để báo lại với Mạc phủ. Trong bối cảnh đó, Lưu Cầu nhận thức được thế cục chính trị giữa các nước lớn và luôn thận trọng trong các bước đi. Lưu Cầu đã giữ được thế trung lập cùng sự độc lập tương đối nhờ áp dụng thế cờ nước đôi giữa hai cường quốc. Lúc này, lực lượng phản Thanh phục Minh ở Đông Nam Trung Quốc cũng xem các thương nhân Lưu Cầu là những kẻ đối địch. Sau khi nhà Thanh thay thế nhà Minh tại Trung Quốc, do bất mãn nên cộng đồng Hoa kiều di cư đến thứ hàng thế kỉ trước tại Lưu Cầu từ chỗ là một khối cư dân riêng biệt đã thực sự hòa nhập với đất nước sở tại. Satsuma cũng yêu cầu Lưu Cầu phải phát huy tiềm năng tri thức và tài buôn bán cũng như liên hệ với Trung Quốc của cộng đồng Hoa kiều này. Lưu Cầu cũng từng cử 97 lưu học sinh chính thức đến Trung Quốc, trong đó 78 người đã trở về, đối tượng cử đi là con cái của án ti, triều thần cấp cao và của Hoa kiều. Các lưu học sinh Lưu Cầu được cử sang Trung Quốc đều học tập có kết quả tốt và đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển văn hoá, giáo dục của vương quốc
Khi Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew Calbraith Perry đến Nhật Bản để ép nước Nhật mở cửa giao thương với Mỹ vào thập kỷ 1850, ông ban đầu dừng chân ở Lưu Cầu, như nhiều thủy thủ phương Tây đã làm trước đó, và ép Vương quốc Lưu Cầu ký hiệp ước bất bình đẳng mở cửa Lưu Cầu cho thương mại Mỹ. Từ đây, ông tiếp tục đến Edo.
== Giải thể ==
Sau cuộc Minh Trị Duy Tân, Chính quyền Minh Trị Nhật Bản giải thể Vương quốc Lưu Cầu, chính thức sáp nhập quần đảo này vào Nhật Bản thành tỉnh Okinawa năm 1879. Các sứ giả của nhà vua Lưu Cầu đã phủ phục suốt ba ngày bên ngoài dinh tể tướng ở Bắc Kinh để nài xin cứu giúp, nhưng khi ấy nhà Thanh đã suy yếu bởi các cuộc xâm lăng của liên quân tám nước phương Tây và cả đế quốc Nhật Bản; do đó lời khẩn cầu gửi quân cứu giúp đã bị khước từ. Dù vậy, Trung Hoa phản đối về mặt ngoại giao và cựu Tổng thống Hoa Kỳ Ulysses S. Grant được yêu cầu đứng ra phân xử. Grant cho rằng quyền sáp nhập quần đảo của Nhật Bản là hợp lẽ và đưa ra phán quyết thuận lợi cho Nhật mà không quan tâm đến quyền tự chủ của người dân Lưu Cầu. Khi tiến hành sáp nhập, quân đội Nhật ra tay ám sát những chính trị gia Lưu Cầu chống đối. Nhóm đảo Amami-Ōshima đã được sáp nhập vào phiên Satsuma từ trước, nay trở thành một phần của tỉnh Kagoshima. Vua Shō Tai, vị vua cuối cùng của Lưu Cầu, được chuyển đến Tokyo và được phong làm Hầu tước (xem Kazoku), cũng như nhiều quý tộc người Nhật khác, và qua đời ở đó năm 1901. Trẻ em Lưu Cầu bị bắt buộc hấp thụ nền giáo dục Nhật với các giáo trình về Nhật ngữ, văn hoá và bản sắc Nhật, cùng lúc người dân bị nghiêm cấm sử dụng ngôn ngữ bản địa. Tuy nhiên, nhiều vấn đề phát sinh từ lịch sử vẫn chưa hề được giải quyết cho đến tận thời hiện tại. Có nhiều người Ryūkyū và người Nhật cảm thấy người Ryūkyū không phải là người Nhật "chính hiệu". Một số cư dân Ryūkyū cho rằng chính quyền trung ương đã kỳ thị dân bản địa bằng cách cho phép quân đội Mỹ đến lập căn cứ tại Okinawa trong khi hạn chế tối đa sự hiện diện của binh sĩ Mỹ trên 4 hòn đảo chính của Nhật.
== Các sự kiện chính ==
1372 Sứ thần đầu tiên của nhà Minh đến Okinawa, vốn đã bị chia thành 3 vương quốc, dưới thời kỳ Sanzan. Quan hệ triều cống chính thức với Đế quốc Trung Hoa bắt đầu.
1419 Chūzan, do Shō Hashi lãnh đạo, chiếm Nakijin gusuku, kinh đô của Hokuzan.
1429 Chūzan chiếm Shimajiri Osato gusuku, kinh đô của Nanzan, thống nhất đảo Okinawa. Shō Hashi lập ra Vương quốc Ryūkyū, đăng cơ và đóng đô ở Shuri (giờ là một phần của Naha).
1470 Shō En (Kanemaru) lập ra triều Sho thứ hai.
1477 Vị quốc vương thứ ba, Shō Shin, lên ngôi. Thời kỳ vàng son của vương quốc.
1609 (5 tháng 4) đại danh của phiên Satsuma ở phía Nam Kyūshū xâm lược vương quốc. Quốc vương Lưu Cầu trở thành chư hầu của Nhật Bản.
1624 Daimyo Satsuma sáp nhập quần đảo Amami.
1846 Bác sĩ Bernard Jean Bettleheim (qua đời năm 1870), một nhà truyền đạo Tin Lành người Anh, đến Vương quốc Lưu Cầu. Ông thành lập bệnh viện nước ngoài đầu tiên trên đảo ở đền Nami-no-ue.
1853 Phó đề đốc Matthew Perry của Hải quân Hoa Kỳ đến thăm vương quốc. Bettleheim rời đi với Perry.
1866 Sứ đoàn chính thức cuối cùng từ nhà Thanh đến vương quốc.
1874 Đoàn triều cống cuối cùng tới Trung Quốc, khởi hành từ Naha.
1879 Nhật Bản thay thế phiên Ryūkyū bằng tỉnh Okinawa, chính thức sáp nhập quần đảo này. Vua Shō Tai (尚泰, Thượng Thái) và được nhận tước Phiên Vương (藩王, Han'ō) và được chuyển đến Tokyo.
== Vua Lưu Cầu ==
'
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Người Ryukyu
Quần đảo Ryukyu
Lịch sử quần đảo Ryukyu
Gusuku
Tamaudun
Các di chỉ Gusuku và di sản liên quan của Vương quốc Lưu Cầu
Phòng trào Ryukyu độc lập
Lưu Cầu huyết lệ tân thư
== Tham khảo ==
Matsuda, Mitsugu (2001) The Government of the Kingdom of Ryukyu, 1609-1872: a dissertation submitted to the Graduate School of the University of Hawaii in partial fulfillment of the requirements for the degree of Doctor of Philosophy, January 1967, Gushikawa: Yui Pub., 283 p., ISBN 4-946539-16-6
Smits, Gregory (1999) Visions of Ryukyu: identity and ideology in early-modern thought and politics, Honolulu: University of Hawai'i Press, 213 p., ISBN 0-8248-2037-1
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử vắn tắt của Uchinanchu (người Okinawa) |
nguyễn quang sáng.txt | Nguyễn Quang Sáng (12 tháng 1 năm 1932 – 13 tháng 2 năm 2014, bút danh Nguyễn Sáng) là một nhà văn Việt Nam, từng đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.
== Tiểu sử ==
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng, còn có bút danh là Nguyễn Sáng sinh ngày 12 tháng 1 năm 1932 tại xã Mỹ Luông (nay là thị trấn Mỹ Luông), huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông mất ngày 13 tháng 2 năm 2014.
Từ tháng 4 năm 1946, ông xung phong vào bộ đội, làm liên lạc viên cho đơn vị Liên Chi 2. Đến năm 1948 được bộ đội cho đi học thêm văn hoá ở Trường trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố. Năm 1950, về công tác tại phòng chính trị Bộ Tư lệnh phân khu miền Tây Nam Bộ, làm cán bộ nghiên cứu tôn giáo (chủ yếu là Phật giáo và Hòa Hảo).
Năm 1955, ông theo đơn vị tập kết ra Bắc, chuyển ngành với cấp bậc chuẩn úy, về làm cán bộ Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam. Từ năm 1958, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, làm biên tập viên tuần báo Văn nghệ biên tập nhà xuất bản Văn học, cán bộ sáng tác.
Năm 1966, ông vào chiến trường miền Nam, làm cán bộ sáng tác của Hội Văn nghệ Giải phóng. Năm 1972, trở ra Hà Nội, tiếp tục làm việc ở Hội Nhà văn.
Sau ngày đất nước thống nhất tháng 4.1975, ông về TP.HCM, giữ chức Tổng thư ký (về sau đổi tên gọi thành Chủ tịch) Hội Nhà văn TP.HCM các khoá l, 2, 3.
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957; Ủy viên Ban Chấp hành Hội khoá 2, 3 và là Phó tổng thư ký Hội khoá 4.
Ông mất tại nhà riêng Quận 7 TP.HCM vào lúc 17 giờ ngày 13 tháng 2 năm 2014. Hưởng thọ 82 tuổi.
Nguyễn Quang Sáng là một Đảng Viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957).
Ông là cha ruột của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng, người hiện đang làm giám khảo của chương trình truyền hình Vietnam Idol.
== Tác phẩm ==
=== Văn xuôi ===
Con chim vàng-(1956)
Người quê hương-(truyện ngắn, 1968)
Nhật ký người ở lại-(tiểu thuyết, 1961)
Đất lửa-(tiểu thuyết, 1963)
Câu chuyện bên trận địa pháo-(truyện vừa, 1966)
Chiếc lược ngà (truyện ngắn, 1966)
Bông cẩm thạch (truyện ngắn 1969)
Cái áo thằng hình rơm (truyện vừa, 1975)
Mùa gió chướng (tiểu thuyết, 1975)
Người con đi xa (truyện ngắn, 1977)
Dòng sông thơ ấu (tiểu thuyết, 1985)
Bàn thờ tổ của một cô đào (truyện ngắn, 1985)
Tôi thích làm vua (truyện ngắn, 1988)
25 truyện ngắn (1990)
Paris - tiếng hát Trịnh Công Sơn (1990)
Con mèo của Foujita (truyện ngắn - 1991)
Nhà văn về làng (truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2008)
Người đàn bà Tháp Mười (1971)
Chị Nhung (1970)
=== Kịch bản phim ===
Cánh đồng hoang (1978)
Pho tượng (1981)
Cho đến bao giờ (1982)
Mùa nước nổi (1986)
Dòng sông hát (1988)
Câu nói dối đầu tiên (1988)
Thời thơ ấu (1995)
Giữa dòng (1995)
Như một huyền thoại (1995)
Mùa gió chướng (1977)
== Giải thưởng ==
Ông Năm Hạng - truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất (1959)
Tư Quắn - truyện ngắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội (1959)
Dòng sông thơ ấu - giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1985)
Con mèo của fujita - tập truyện ngắn,Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1994
Cánh đồng hoang (kịch bản phim) bộ phim được tặng Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980), Huy chương vàng liên hoan phim ở Moskva (1981)
Mùa gió chướng (kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc (Hà Nội 1980)
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt II năm 2001.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nguyễn Quang Sáng tại Internet Movie Database |
gây mê.txt | Gây mê là các phương pháp để ngăn cho bệnh nhân có cảm giác đau trên một phần hay toàn bộ cơ thể, để giúp thực hiện các phương pháp chữa bệnh có thể gây đau đớn như phẫu thuật.
== Lịch sử ==
Trước năm 1846, phẫu thuật thường không nhiều, do hiểu biết về sinh lý bệnh & chỉ định để điều trị bằng phẫu thuật còn sơ đẳng. Kỹ thuật tiệt trùng & ngăn ngừa nhiễm trùng vết mổ còn chưa được biết đến, cộng thêm sự chưa làm mất cảm giác được hoàn toàn đã là một trở ngại chính. Vì tất cả những yếu tố này mà mổ thì ít, mà số tai biến hoặc người bệnh chết trong mổ lại cao. Do đặc điểm đó, phẫu thuật có xu hướng tự nhiên chỉ là mổ cấp cứu, ví dụ, cắt cụt chi khi gãy hở hoặc dẫn lưu ổ áp-xe. Mổ lớn với kỹ thuật cẩn thận không thể tiến hành trên bệnh nhân bởi không làm giảm đau được thích đáng .
Một vài phương thức làm giảm đau cho phẫu thuật đã được dùng (như cho uống rượu say, dùng lá hasit & dẫn xuất của thuốc phiện). Thỉnh thoảng phương pháp vật lý cũng được sử dụng để làm giảm đau (như gói chân tay trong băng hoặc làm thiếu máu với một garô). Làm mất tri giác thì bằng cách đánh mạnh vào đầu hoặc bóp cổ cho nghẹt mạch máu để làm mê man, dĩ nhiên phải trả giá khá đắt. Phương pháp phổ biến nhất thường được sử dụng để đạt được yên tĩnh trong khi mổ đơn giản là dùng sức mạnh để kiềm chế bệnh nhân
W.T. G. Morton, một nha sĩ Boston (còn đang là một sinh viên y khoa), đã tìm hiểu những hiệu quả gây mê của ete, đánh giá nó có nhiều hứa hẹn, đã thực hành trên động vật và sau đó trên người. Cuối cùng, ông thỉnh cầu sự trình diễn để chấp nhận được sử dụng thuốc một cách công khai như một nhà gây mê phẫu thuật vào ngày 16 tháng 10 năm 1846. Henry J. Bigelow, một nhà phẫu thuật nổi tiếng có mặt trong buổi trình diễn đã bình luận, "Sự kiện tôi đã thấy hôm nay sẽ lan đi toàn thế giới". Morton được công nhận người đầu tiên phát minh trị liệu gây mê.
Giai đoạn sau năm 1846, ete đã là một thuốc mê lý tưởng đầu tiên. Nó hỗ trợ cả hô hấp và tuần hoàn - là những đặc tính cốt tử ở thời kỳ sinh lý học con người còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Thuốc mê tiếp theo được sử dụng rộng rãi là Clorofoc; rồi Nitrous Oxyt (mà ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi), và Cyclopropane có lẽ là thuốc được sử dụng rộng nhất trong gây mê cho khoảng 30 năm tiếp theo.
Tuy nhiên, với hoàn cảnh ngày càng tăng nguy cơ cháy-nổ trong phòng mổ; Halothane, một thuốc gây mê không cháy nổ đã được giới thiệu trong thực hành lâm sàng vào năm 1956; nó đã cách mạng hóa phương thức gây mê hô hấp. Hầu hết những thuốc mới hơn đều được làm theo mẫu của Halothane.
Các thuốc giãn cơ (neuromuscular blocking agents) như Curare, với hình thức thô đã được thổ dân Nam Mỹ dùng như một thuốc độc tẩm vào mũi tên của họ. Vào thập kỷ 1940, các nhà gây mê đã sử dụng Curare để làm giãn cơ - điều mà trước đây chỉ đạt được với mê ở mức sâu. Hơn 6 năm sau nhiều thuốc tổng hợp thay thế đã được sử dụng trên lâm sàng.
Năm 1935, Lundy chứng minh tác dụng lâm sàng hữu ích của Thiopental, một thiobarbiturat tác dụng nhanh đã được sử dụng như một thuốc mê đơn độc, nhưng những liều đủ hiệu quả mê lại làm suy sụp trầm trọng tuần hoàn, hô hấp & hệ thần kinh... Dĩ nhiên, thiopental đến nay vẫn được chấp nhận như là một thuốc dùng để khởi mê nhanh chóng trong các phương thức gây mê.
Các thuốc được giới thiệu trong những năm gần đây khá nhiều như: Etomidate, isoflurane, Ketamine (Corssen & Domino,1966), propofol (Key,1977)... Nhưng thuốc mê hơi mới với phương thức "Low flow"; phương thức sử dụng các opioids tác dụng ngắn truyền hằng định trong tĩnh mạch (với hoặc không dùng thuốc mê hơi hiệu lực mạnh) & Sự phối hợp như một phương thức gây mê hoàn toàn chỉ dùng các thuốc không bốc hơi (Total intravenous Anesthesia – TIVA / gây mê tĩnh mạch theo nồng độ - AIVOC), là một xu hướng được nghiên cứu, ứng dụng ngày một rộng rãi vì những ưu điểm (hiệu lực, an toàn, môi trường...) & nhờ các tiến bộ khoa học công nghệ áp dụng rộng rãi trong y tế đang là một phát triển lý thú hiện thời trong thực hành gây mê.
=== Việt Nam ===
Trước 1954, ở vùng kháng chiến, đa số mổ với gây tê tại chỗ bằng novocaine, ở bệnh viện hậu phương có mê ether, cloroform mask hở hoặc mask ombredane, mổ sâu dùng thêm Morphine mua ở vùng tạm chiếm. 1952 Dược sĩ Lê Quang Toàn cục quân y sản xuất được chloroform. 1953-1954 do thu được chiến lợi phẩm nên đã sử dụng gây mê tĩnh mạch bằng thiopental (nesdonal) đơn thuần, nhưng tai biến khá nhiều (một phần do dùng nồng độ cao 5%). Hồi sức cơ bản với huyết thanh tiêm dưới da, không có cơ sở nào truyền máu.
Ở vùng tạm chiếm, có dùng tê, mê mask hở, mask Ombredane & mê ether vòng hở, nửa kín qua mask; thuốc chính là ether, chloroform, chlorua etyle, hỗn hợp Shleide, nesdonal. Thuốc hồi sức chủ yếu Subtosan truyền mạch máu. (GMHS, 1.1979).
Năm 1956, Nguyễn Dương Quang sang Trung Quốc học gây mê hồi sức 3 tháng, và đã về Việt Nam phát triển mê nội khí quản trong phẫu thuật cắt dạ dày, ruột. Nhờ vậy, năm 1957 đã áp dụng gây mê thành công để giáo sư Tôn Thất Tùng mổ lấy được một thai đôi ở bệnh nhân 27 tuổi. Giai đoạn này thuốc dãn cơ còn dùng hãn hữu, nên thường phải mê sâu giai đoạn III3 để đặt nội khí quản và bệnh nhân tự thở trong mê là chủ yếu. Truyền máu cũng đã bắt đầu phổ biến. Năm 1957 bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ phổ biến phương pháp tê Vichnepski & bác sĩ Nguyễn Văn Thanh báo cáo luận án tê trong xương; đã bắt đầu phát triển truyền máu động mạch, lấy máu trong ổ bụng & lồng ngực truyền lại.
Từ năm 1957 đến 1959, hờ có nhiều đoàn chuyên gia sang giúp (bác sĩ Albadjev/Bungarie ở QYV 108 & Bệnh viện Việt Đức; bác sĩ Tiệp khắc ở Bv Hải Phòng) đã áp dụng mê nội khí quản + Thiopental + Myorelaxin tiêm từng liều nhỏ & mê hạ huyết áp chỉ huy với arfonad. Đặc biệt đã giúp đào tạo lớp bác sĩ chuyên ngành gây mê hồi sức đầu tiên của Việt nam (dân y & quân y – Nguyễn Thụ, Trần Quang Dương, Phan Đình Kỷ, Nguyễn Quang Bích, Đoàn Bá Thả) & một lớp gây mê trung cấp ở Hải phòng. 1958 bệnh viện Việt Đức đã bắt đầu mổ tim & mê hạ thể nhiệt nông.
Năm 1960, bác sĩ Trương Công Trung (Bv 103) tiến hành tê ngoài màng cứng Dicaine; tê tuỷ sống, tê đuôi ngựa bắt đầu được phổ biến; đông miên nhân tạo được bác sĩ Hoàng Đình Cầu áp dụng để mổ phổi. 1961-1962 bác sĩ Tôn đức Lang đi học gây mê hồi sức ở Bungarie về phổ biến mê nội khí quản trẻ em, mê hạ huyết áp chỉ huy, hạ thể nhiệt nông, mê nội khí quản với ống Carlene. 1962 lớp y sĩ gây mê hồi sức đầu tiên tốt nghiệp do bác sĩ Nguyễn Thụ & Trần Quang Dương phụ trách; các bác sĩ gây mê hồi sức cũng đã bắt đầu được đào tạo có hệ thống. 1965 Bv Việt Đức lập được tuần hoàn ngoài cơ thể.
Sau 1962, khoa Phẫu thuật - Gây mê hồi sức được thành lập ở bệnh viện Việt Đức. 1963-1965: Gây mê hạ thể nhiệt, tuần hoàn ngoài cơ thể trong mổ tim, thận nhân tạo. Năm 1967 Bộ y tế & Cục quân y chỉ thị tổ chức thành lập phòng Hồi sức tập trung.
1967 hô hấp nhân tạo kéo dài đã được áp dụng trong điều trị mảng sườn di động. Từ 1967-1975 nhiều bác sĩ gây mê hồi sức tham gia chiến tranh chống Mỹ cứu nước & hy sinh ở các miền của đất nước (kể cả ở chiến trường B...). 1972-1974 (bác sĩ Nguyễn Tài Thu, Y sĩ Nguyễn Thí & bác sĩ Trương Hữu Tố BV103 sang Thượng hải học về châm tê...) sau đó Châm tê đã bắt đầu áp dụng trong phẫu thuật trong các bệnh viện quân & dân y. 1973-1976 có 2 hội nghị gây mê hồi sức toàn miền bắc với sự chủ trì của bác sĩ Hoàng Đình Cầu & bác sĩ Nguyễn Dương Quang.
Trong những năm chiến tranh (1967-1975) miền bắc đã đào tạo được 150 bác sĩ gây mê hồi sức & tự đảm nhận công việc gây mê hồi sức của tất cả các chiến trường, trong cũng khoảng thời gian này miền nam chỉ có 5 bác sĩ gây mê hồi sức & đã mời tất cả đến 23 đoàn chuyên gia ngoại quốc đến giúp đỡ. Đến năm 1979 đã có tổng số 190 bác sĩ & trên 300 y sĩ gây mê hồi sức. (gây mê hồi sức, 1.1979).
Việt Nam gia nhập Hội gây mê hồi sức thế giới năm 1986, khi Giáo sư Tôn Đức Lang tham dự hội nghị tại Cualalampua.
Vào những năm 2000, tổng số người làm công tác gây mê: trong đó GS, PGS: TS:4 ThS:37 BsCKII:12 CKI:170 BsCKSB: 300 KTV & Cử nhân:324. Chủ tịch hội gây mê hồi sức Việt Nam hiện nay là GS Nguyễn Thụ. Đa số các bệnh viện từ tuyến huyện trở lên đã có bác sĩ GMHS & Khoa gây mê hồi sức. Các bệnh viện tuyến quân khu, quân đoàn đều đã có bác sĩ GMHS & khoa GMHS.
Hội Hồi sức Cấp cứu đã được thành lập vào cuối năm 2000. GS Nguyễn Văn Đính làm chủ tịch.
== Mê ==
Mê (vô cảm toàn thân, gây mê toàn diện) là sự mất cảm giác và ý thức tạo bởi các thuốc mê khác nhau, gồm bốn hợp thành là không đau, dãn cơ, mất ý thức và quên.
=== Giai đoạn và độ mê ===
Giữa 1847 và 1858, John Snow đã mô tả một vài dấu hiệu giúp đỡ ông xác định chiều sâu gây mê ở những bệnh nhân được gây mê clorofoc hoặc ête. Năm 1920 Guedel A.E (sinh 1883) thêm các dấu hiệu khác, đã phác thảo bốn giai đoạn gây mê, chia giai đoạn ba (mê phẫu thuật) thành bốn mức độ.
Điểm Guedel: là một hệ thống để mô tả những giai đoạn (stage) & các mức độ mê (plane) trong mổ. (Những giai đoạn này thấy rõ nhất với hít hơi ête & khó mô tả khi gây mê phối hợp như khi khởi mê tĩnh mạch bằng thiopental & sau đó hít thuốc mê hơi halothane…).
Giai đoạn I: (quên & giảm đau) từ lúc bắt đầu sử dụng thuốc mê tới lúc mất ý thức - hơi thở yên tĩnh, tuy nhiên đôi khi không đều, & các phản xạ vẫn còn hiện diện.
Giai đoạn II: (mê sảng hoặc kích thích) từ lúc mất ý thức cho đến lúc mê hoàn toàn - trong giai đoạn này BN có thể cử động chân tay, nói huyên thuyên không mạch lạc, nín thở, hoặc trở nên quá khích, nôn mửa rất nguy hiểm do hít vào chất nôn. Tránh gây kích thích ở giai đoạn này; cần nhanh chóng đưa BN qua giai đoạn III.
Giai đoạn III: (mê phẫu thuật) bắt đầu từ khi thở đều (một cách cân đối) & mất hoàn toàn tri giác cho đến khi có dấu hiệu đầu tiên của suy hô hấp & tuần hoàn - giai đoạn này được chia ra bốn mức độ:
Mức độ 1 - mất tất cả những cử động & hít thở trở nên cân đối (như máy). Mất phản xạ mi mắt, nhưng nhãn cầu còn hoạt động rõ. Phản xạ họng hầu mất, nhưng phản xạ thanh quản & phúc mạc vẫn còn, trương lực cơ bụng có thể đánh giá thông qua trương lực của cơ ngoại nhãn cầu.
Mức độ 2 - nhãn cầu cố định chính giữa, kết mạc mất sáng (đục), & cơ liên sườn giảm bớt hoạt động. Hơi thở vẫn còn cân đối, dung tích lưu thông (tidal) giảm bớt, & không thay đổi nhịp hoặc biên độ khi rạch da. Đặt nội khí quản không còn gây ra co thắt thanh quản.
Mức độ 3 - xuất hiện liệt cơ liên sườn, chỉ còn hô hấp bằng cơ hoành. Đồng tử không phản ứng với ánh sáng nữa, & toàn bộ các cơ giãn hoàn toàn.
Mức độ 4 - mê sâu hoàn toàn, ngừng tự thở & mất cảm giác.
Giai đoạn IV: (gần chết) với nhiều dấu hiệu nguy hiểm. Giai đoạn này được mô tả với các đặc điểm như đồng tử giãn rộng tối đa & da lạnh với màu xám tro; huyết áp tụt thường không đo được, mạch quay rất yếu hoặc không bắt được. Ngừng tim sắp xảy ra - cần giảm bớt thuốc mê ngay, thông khí phổi bằng tay với 100% oxy, & thay khí liên tục trong bóng bóp (liên tục làm rỗng bóng)...
Mặc dù cổ điển nhưng những dấu hiệu & các giai đoạn gây mê này vẫn có thể công nhận đến chừng mực nào đó khi sử dụng nhiều loại thuốc mê thông thường, chúng không còn rõ lắm trong các kỹ thuật sử dụng thuốc mê hiện đại. Hơn nữa, Cullen & cộng sự (1972) đã chứng minh rằng không một dấu hiệu đơn lẻ nào trong các dấu hiệu chính đã được Guedel mô tả có quan hệ thoả đáng với nồng độ thuốc đo được trong phế nang khi cuộc mê đang duy trì ổn định. Do đó, chỉ thuật ngữ "giai đoạn hai" - trạng thái mê sảng khi. Chưa mê hoàn toàn còn hay dùng
Tuy nhiên có ít trường hợp điển hình như mô tả trên. Cách thăm dò thực tế sử dụng trên lâm sàng để lượng định độ mê. Ví dụ:
Nếu mi mắt lười nháy chạm vào lông mi (chậm nháy mắt), nếu BN còn nuốt, nếu nhịp thở còn sâu & không đều, & nếu biết rằng chưa sử dụng một lượng lớn thuốc mê – có thể đánh giá: mê phẫu thuật là chưa đạt.
Mất phản xạ khi đụng vào lông mi (eyelash) & thể hiện hô hấp đều đăng - chỉ ra rằng đang ở giai đoạn mê phẫu thuật. (Nếu rạch da ngay lúc này, sự biểu lộ của mê "nhẹ" có thể xuất hiện: bao gồm hiện tượng tăng hô hấp hoặc tăng huyết áp; cơ hàm có thể co chặt, & thậm chí nếu mở được mồm để đặt ống vào đường thở có thể kích thích gây oẹ "nôn khan", ho, nôn, hoặc co thắt thanh quản "laryngospasm"...là còn mê nông).
Khi gây mê sâu hơn - thì những phản ứng nêu trên giảm bớt oặc mất hẳn. Với hầu hết các thuốc mê thông thường, độ sâu mê tăng kéo theo dung tích lưu thông giảm bớt; co hẹp khí quản trở nên rõ rệt do sự tham gia của các cơ hô hấp phụ, hoạt động của cơ hoành trở nên trục trặc, & phần ngực dưới bị hạ thấp do cơ hoành lôi kéo. Khi sử dụng nhóm thuốc mê halogenated có hiệu lực mạnh, xu hướng của huyết áp rất tương quan với độ sâu của mê, & hiện tượng giảm huyết áp có thể sử dụng như một chỉ số tương đối của liều lượng.
Những gợi ý thể hiện mê đang "nhẹ" hơn bao gồm các hiện tượng chảy nước mắt, có đọạn ngừng thở khi kích thích phúc mạc, tăng trở kháng khi bóp bóng làm đầy phổi hoặc thể hiện trên đồng hồ đo áp lực, & có các dấu hiệu của mê "nhẹ" đã liệt kê ở phần trên.
Suy giảm hô hấp trầm trọng, ngừng thở, giảm huyết áp rõ rệt, hoặc ngừng tim - phải nhìn nhận như là dấu hiệu của mê sâu trừ phi do các nguyên nhân khác gây nên (ví dụ - tác dụng của dãn cơ, mất máu, thiếu oxy, giảm carbonic, hoặc do ảnh hưởng của phản xạ dây phế vị...).
Như vậy, từ kinh nghiệm phối hợp với sự quan sát liên tục các phản ứng của BN khi cho thuốc mê & khi kích thích, cho phép đánh giá ước lượng độ sâu mê. Phép đo nồng độ thuốc mê cuối thì thở ra (End-tidal) có thể hữu ích trong việc đánh giá độ mê khi sử dụng các loại thuốc mê hơi.
=== Phân loại về các phương thức gây mê ===
Có ba phương thức chính:
Mê thể khí (chỉ dùng thuốc mê bốc hơi đủ hiệu lực để khởi mê & duy trì mê).
Mê cân bằng (phối hợp sử dụng thuốc mê bốc hơi, khí & thuốc mê tĩnh mạch).
Mê hoàn toàn qua đường tĩnh mạch (chỉ phối hợp các thuốc theo đường tĩnh mạch đủ bảo đảm không đau, dãn cơ, mất ý thức & quên trong suốt cuộc mổ).
== Tê ==
=== Phân loại về các phương thức gây tê ===
Tê vùng: Tê tuỷ sống. Tê ngoài màng cứng. Tê đám rối.
Phong bế TKTV. Phong bế đám rối, hạch giao cảm cạnh sống.
Tê thân thần kinh.
Tê thấm ngấm, tê tại chỗ.
Tê tĩnh mạch.
== Các phương thức đặc biệt ==
Châm tê là dùng kim châm cứu châm vào huyệt của hệ thống kinh lạc để tạo được cảm giác tê, làm cho BN có thể chịu được phẫu thuật trong trạng thái tỉnh. Đã được phát triển rộng khắp thế giới, Trung quốc & Việt nam là nơi có nhiều kinh nghiệm nhất.
Mê điện cao tần – sử dụng dòng điện 10-20 mA với tần số 90–100 GHz qua các điện cực áp lên não để gây trạng thái mê phẫu thuật/do tính an toàn chưa cao nên hiện ít được phát triển & áp dụng.
== Phương pháp chung ==
=== Nhiệm vụ chung ===
Phải kiểm tra trước khi BN được đưa vào phòng mổ, cần đánh giá ước lượng các nguy cơ liên quan vô cảm-phẫu thuật & chọn lựa thuốc dùng tiền mê-mê & hồi sức, cũng như kỹ thuật vô cảm.
Phải kiểm tra so sánh chính xác lại bằng cách hỏi chính BN là họ yêu cầu mổ gì & nêu tên, tuổi của họ khi nhận hồ sơ & đưa BN vào PM.
Phải tập hợp, lắp ráp hoàn chỉnh mọi dụng cụ cần thiết & & bắt đầu tiến hành vô cảm trước khi mổ ít nhất là 15 phút.
Phải theo dõi liên tục BN từ lúc nhận vào phòng mổ cho tới khi đưa về giường bệnh.
Người gây mê phải ghi nhận đầy đủ, chính xác, hoàn chỉnh phiếu vô cảm trong suốt quá trình tiến hành & lưu ý tất cả vấn đề xảy ra (để tham khảo trong trường hợp về sau có tai biến, để phân tích nguyên nhân, để giúp việc dự báo trước trong khi phẫu thuật, để thống kê, do yêu cầu pháp luật).
=== Tổng quan ===
Có 5 bước tiến hành trong phương pháp gây mê chung:
Khám xét đánh giá trước mê-mổ. (Nêu tỷ mỷ trong phần khám đánh giá trước mê mổ)
Nhận và đặt bệnh nhân lên bàn mổ; sắp xếp chuẩn bị & thiết lập các phương tiện theo dõi kiểm soát, cho thuốc tiền mê.
Khởi mê hoặc tiến hành gây tê. Đây là giai đoạn bắt đầu từ lúc cho các thuốc mê hoặc tiến hành các kỹ thuật để tiêm thuốc tê - đến lúc đạt độ mê (giai đoạn III) hoặc tê đạt hiệu quả (không đau tới mốc yêu cầu) để có thể phẫu thuật được.Tuỳ từng kỹ thuật & thuốc sử dụng mà có cách tiến hành riêng biệt
Duy trì mê hoặc phối hợp trong khi tê. Đây là giai đoạn phẫu thuật, yêu cầu cơ bản trong giai đoạn này là đảm bảo độ mê hoặc tê phù hợp tối ưu để thực hiện các động tác phẫu thuật & bảo vệ BN trước mọi khích thích do phẫu thuật gây ra. Tuỳ từng kỹ thuật & thuốc sử dụng mà có cách tiến hành riêng biệt
Kết thúc mê, tê - săn sóc bệnh nhân trong và sau vô cảm. Đây là giai đoạn từ khi kết thúc các thì mổ cơ bản đến khi đưa bệnh nhân ra khỏi phòng mổ về PACU & từ đó chuyển về các nơi; đây là giai đoạn hạ dần độ mê, giảm- giải dãn cơ, phục hồi các phản xạ-tự thở-huyết động (với mê hạ HA)-nhiệt độ (với tuần hoàn NCT, mê hạ nhiệt)... Tuỳ từng kỹ thuật & thuốc sử dụng & quy định, qui chế của từng nơi mà có cách tiến hành riêng biệt.
=== Kỹ thuật thực hành ===
==== Thủ tục nhận bệnh ====
Kiểm tra đúng tên - loại mổ - yêu cầu đặc biệt của loại mổ - những xét nghiệm chính về tim, phổi & tiết niệu - Giấc ngủ & đau đêm trước - thụt tháo - ngưng ăn & uống.
==== Sắp xếp chuẩn bị & thiết lập các phương tiện ====
Kiểm tra máy & phương tiện giúp thở, phương tiện khai thông đường thở luôn sẵn sàng hoạt động được ngay có hiệu quả & phù hợp BN; Máy hút ở tư thế sẵn sàng; Kiểm tra tháo bỏ răng giả, mắt giả. Lắp đặt các phương tiện theo dõi (mạch, huyết áp, ống nghe, ECG, thông khí, phân tích khí Oxy, CO2, nhiệt kế... tối thiểu phải có huyết áp & ống nghe). Các gối chèn, dây buộc đủ chặt mà không gây tổn thương thần kinh & tuần hoàn, ánh sáng vừa phải, không chiếu đèn thẳng vào người & mặt BN cho tới khi đã mê hoặc bắt đầu phẫu thuật
==== Tư thế trên bàn mổ liên quan đến loại phẫu thuật ====
Có khoảng 21 tư thế chính:
nằm ngửa;
ngửa đầu cao (Fowler's);
Ngửa đầu thấp (Trendelenburg);
Ngửa đầu cao-cổ ưỡn cong (mổ bướu);
Ngửa thắt lưng nâng (mổ túi mật, bàng quang);
Nằm sấp;
Sấp đầu cao;
Sấp đầu thấp;
Sấp-khung chậu nâng cao;
Sấp chân thấp;
Sấp đầu thấp;
Ngửa chân cao (mổ lấy sỏi thận);
Ngửa chân cao đầu thấp (mổ lấy sỏi thận);
Ngồi;
Nửa ngồi;
Sấp nghiêng trái;
Sấp nghiêng phải;
Nghiêng lưng ưỡn;
Nghiêng thắt lưng nâng cao (mổ thận);
Nghiêng trái đầu cao;
Nghiêng phải đầu thấp.
Tư thế ít ảnh hưởng nhất tới hô hấp & tuần hoàn là nằm ngửa, tay dọc theo thân & nếu phải dang thì không bao giờ quá 90 độ hoặc bị treo hay rơi khỏi bàn làm tổn thương tới dây TK.
Khi thay đổi tư thế rất dễ tụt huyết áp. Một số phương pháp ngăn ngừa các bất lợi do tư thế mổ:
Với tư thế Trendelenburg - thường làm giảm dung tích hô hấp 15% - 24%, tím mặt, cổ & tổn thương thần kinh; do đó cần thường xuyên thay đổi & trợ giúp vùng vai (tránh tổn thương đám rối thần kinh); vùng gối (bầm máu); đỡ vùng mào chậu bằng dụng cụ; dễ suy giảm tuần hoàn, ứ đọng tĩnh mạch, tăng đờm dãi.
Tư thế nằm sấp - giảm hô hấp 10%, kê gối dưới mỗi vai & cái khác dưới khung chậu để tránh cản trở hô hấp & tuần hoàn tĩnh mạch về; ống NKQ có cuff giúp tránh trào ngược; người béo rất không phù hợp với tư thế này; khó điều khiển & kiểm soát đường thở; lật BN khi còn chưa tỉnh dễ làm tổn thương xương sọ & cổ.
Tư thế mổ sỏi - hạn chế hô hấp 18%, hai chân không cùng mặt phẳng làm căng dây chằng khung chậu, gai mào chậu tỳ thẳng xuống bàn mổ, dây chằng ép chặt dễ vỡ tĩnh mạch; nên dùng gối hình yên ngựa đặt giữa hai chân để khắc phục bất lợi của tư thế.
Tư thế nghiêng - hạn chế hô hấp 12%, có thể phối hợp làm giảm huyết áp. Nâng nhẹ hai chân (khoảng 10 độ) trên giường trong giai đoạn sau mổ có thể làm giảm đáng kể tai biến tắc mạch & thuyên tắc phổi.
==== Cho thuốc tiền mê ====
Có 3 căn nguyên chính để dùng thuốc tiền mê trước khi vô cảm. Thứ nhất là an thần: làm giảm lo sợ & làm ngắn bớt giai đoạn kích thích của gây mê. Thứ hai là tác dụng cộng thêm làm tăng hiệu lực của các thuốc giảm đau, tê, mê. Thứ ba là dự phòng & ngăn chặn trước các phản ứng xấu về sinh lý & dược lý, gây ra bởi các thuốc hoặc do kỹ thuật tiến hành (như cho co mạch để chống tụt huyết áp khi tê tuỷ; atropine khi có dùng các thuốc thường kèm theo sự suy giảm dây X; cho bacbituric để giảm thiểu hoặc trung hoà đối kháng tác dụng độc của thuốc tê; lidocain để giảm kích thích tim; hạn chế hoặc ngăn ngừa sự tăng tiết dễ dẫn đến tắc nghẽn đường thở). Các thuốc thường dùng có công hiệu để tiền mê để an thần & cộng thêm tác dụng là nhóm morphine; nhóm bacbituric; nhóm trấn tính tranquilizer (benzodiazepam...)
Các thuốc dự phòng có nhóm co mạch (như ephedrrine); Nhóm atropine, scopolamine để giảm tiết & giảm tác dụng kích thích dây X, giảm phản xạ phó giao cảm. Các thuốc Bacbiturat để trung hoà thuốc tê. Lidocaine để giảm kích thích tim. Thuốc kháng histamine để giảm & ngăn ngừa các phản ứng dị ứng.
==== Quá trình vô cảm ====
Kiểm soát chắc chắn đường thở (phải hút thường xuyên & sạch máu, chất tiết, dị vật ứ đọng trong đường thở); luôn bảo đảm thông suốt đường thở (từ việc đặt nâng lưỡi tới mở khí quản nếu phù hoặc phát triển khối máu tụ trong họng hầu...); dự phòng, hạn chế chấn thương. Những sai sót nhỏ của người gây mê thường để lại những tổn thương cho bệnh nhân như chấn thương môi, lợi, răng; đau họng; trầy kết mạc mắt; các vết bầm tím trên mặt, bầm máu nơi tiêm; đau lưng sau tư thế mổ lấy sỏi; nôn & mửa.
== Chú thích == |
5g.txt | 5G (Thế hệ mạng di động thứ 5 hoặc hệ thống không dây thứ 5) là thế hệ tiếp theo của công nghệ truyền thông di động sau thế hệ 4G. Theo các nhà phát minh, mạng 5G sẽ có tốc độ nhanh hơn khoảng 100 lần so với mạng 4G hiện nay, giúp mở ra nhiều khả năng mới và hấp dẫn. Lúc đó, xe tự lái có thể đưa ra những quyết định quan trọng tùy theo thời gian và hoàn cảnh. Tính năng chat video sẽ có hình ảnh mượt mà và trôi chảy hơn, làm cho chúng ta cảm thấy như đang ở trong cùng một mạng nội bộ. Các cơ quan chức năng trong thành phố có thể theo dõi tình trạng tắc nghẽn giao thông, mức độ ô nhiễm và nhu cầu tại các bãi đậu xe, do đó có thể gửi những thông tin này đến những chiếc xe thông minh của mọi người dân theo thời gian thực.
Mạng 5G được xem là chìa khóa để chúng ta đi vào thế giớiMạng lưới vạn vật kết nối Internet (IoT), trong đó các bộ cảm biến là những yếu tố quan trọng để trích xuất dữ liệu từ các đối tượng và từ môi trường. Hàng tỷ bộ cảm biến sẽ được tích hợp vào các thiết bị gia dụng, hệ thống an ninh, thiết bị theo dõi sức khỏe, khóa cửa, xe hơi và thiết bị đeo Tuy nhiên, để cung cấp 5G, các nhà mạng sẽ cần phải tăng cường hạ tầng cơ sở mạng lưới (gọi là trạm gốc). Họ có thể bắt đầu bằng cách khai thác dải phổ hiện còn trống. Sóng tín hiệu với tần số đo MHz sẽ được nâng cao lên thành GHz hay thậm chí nhanh hơn. Tần số giao tiếp của điện thoại hiện nay ở dưới mức 3 GHz nhưng mạng 5G sẽ yêu cầu những băng tần cao hơn. Mạng 5G được tung ra vào năm 2020 để đáp ứng nhu cầu kinh doanh và người tiêu dùng
== Lịch sử ==
== Bối cảnh của 5G ==
Kể từ khi hệ thống 1G được Nordic Mobile Telephone giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1981, cứ khoảng 10 năm lại xuất hiện một thế hệ điện thoại di động mới. Các hệ thống 2G đầu tiên bắt đầu tung ra vào năm 1991, các hệ thống 3G đầu tiên xuất hiện lần đầu vào năm 2001 và hệ thống 4G hoàn toàn tuân thủ các tiêu chuẩn "IMT nâng cao" đã được chuẩn hóa vào năm 2012. Sự phát triển các hệ thống tiêu chuẩn của các mạng 2G (GSM) và 3G (IMT-2000 và UMTS) mất khoảng 10 năm kể từ khi các dự án R & D chính thức bắt đầu, và quá trình phát triển hệ thống 4G đã được bắt đầu từ năm 2001 hoặc 2002. Các công nghệ làm tiền đề cho một thế hệ mới thường được giới thiệu trên thị trường từ một vài năm trước đó, ví dụ như hệ thống CdmaOne/IS95 tại Mỹ vào năm 1995 được xem là tiền đề cho 3G, hệ thống Mobile WiMAX ở Hàn Quốc năm 2006 được xem là tiền đề cho 4G, và hệ thống thử nghiệm đầu tiên cho LTE là ở Scandinavia năm 2009. Từ tháng 4 năm 2008, Machine-to-Machine Intelligence (M2Mi) Corp - một tổ hợp trong NASA Research Park - dưới sự lãnh đạo của Geoff Brown - bắt đầu phát triển công nghệ thông tin liên lạc 5G
Các thế hệ điện thoại di động thường dựa trên các yêu cầu đối với các tiêu chuẩn di động không-tương-thích-ngược dưới đây - theo ITU-R, như IMT-2000 cho 3G và IMT-Advanced cho 4G. Song song với sự phát triển của các thế hệ điện thoại di động của ITU-R, IEEE và các cơ quan tiêu chuẩn hóa khác cũng phát triển các công nghệ truyền thông không dây, thường cho tốc độ dữ liệu cao hơn và tần số cao hơn, nhưng phạm vi truyền ngắn hơn. Các tiêu chuẩn gigabit IEEE đầu tiên là IEEE 802.11ac, đưa vào thương mại từ năm 2013, và gần như lập tức được tiếp nối bởi tiêu chuẩn đa gigabit khác là WiGig hay IEEE 802.11ad.
Trong báo cáo Ericsson Mobility Report được công bố tháng 6/2014, Ericsson dự đoán tới năm 2019, tỷ lệ thuê bao 4G LTE ở Bắc Mỹ sẽ chiếm tới 85% và đây có thể sẽ là một trong những khu vực đầu tiên ứng dụng 5G. Nhật Bản và Hàn Quốc dự kiến cũng sẽ là những quốc gia sớm triển khai 5G vì NTT DOCOMO và SK Telecom cũng đang rất quan tâm đến công nghệ này.
Seizo Onoe, Phó chủ tịch điều hành kiêm Giám đốc kỹ thuật của NTT DOCOMO tin rằng: "5G hứa hẹn mang tới những tính năng quan trọng hỗ trợ ứng dụng, mang lại lợi ích cho người dùng và ngành công nghiệp. Thành công của Ericsson đã chứng tỏ tiềm năng thực tế của công nghệ truy cập vô tuyến 5G ở ngay giai đoạn đầu tiên".
Theo Sathya Atreyam, chuyên gia của IDC, hiện chưa có chuẩn chính thức cho 5G, nhưng 5G đã đạt một bước tiến vượt bậc từ tầm nhìn công nghệ trở thành một yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển mạng lưới và kinh doanh của các nhà khai thác viễn thông. Với tốc độ nhanh hơn, giảm độ trễ và hiệu suất hoạt động cao hơn ở các khu vực mật độ cao, 5G mang đến những trải nghiệm tiên tiến hơn cho người dùng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các ứng dụng M2M phục vụ người tiêu dùng.
== Tranh luận ==
Dựa trên những quan sát trên, một số nguồn tin cho rằng một thế hệ mới của các tiêu chuẩn 5G có thể được giới thiệu trong khoảng những năm 2020. Tuy nhiên, vẫn chưa có dự án phát triển 5G quốc tế đã chính thức được đưa ra, và vẫn còn là một mức độ của cuộc tranh luận về 5G. Trước năm 2012, một số đại diện ngành công nghiệp đã bày tỏ thái độ hoài nghi đối với 5G nhưng sau đó đã có một thái độ tích cực.
Các thế hệ điện thoại di động mới thường được gán dải tần số mới và băng thông rộng quang phổ trên một kênh tần số (1G lên đến 30 kHz, 2G lên đến 200 kHz, 3G lên đến 20 MHz, và 4G lên tới 100 MHz), nhưng những người hoài nghi cho rằng có rất ít phòng đối với băng thông kênh lớn hơn và băng tần mới phù hợp cho phát thanh Từ quan điểm của người sử dụng xem, thế hệ điện thoại di động trước đó đã ngụ ý sự gia tăng đáng kể trong bitrate cao điểm (tức là lớp vật lý bitrate net cho truyền thông ngắn khoảng cách), tăng tới 1 Gbit / s được cung cấp bởi 4G.
Nếu 5G xuất hiện và phản ánh những tiên đoán, sự khác biệt lớn từ một điểm người sử dụng xem giữa 4G và 5G kỹ thuật phải là cái gì khác hơn là tăng tốc độ bit cao điểm; ví dụ số cao hơn của thiết bị đồng thời kết nối cao hơn hệ thống hiệu quả quang phổ (khối lượng dữ liệu trên mỗi đơn vị diện tích), tiêu thụ pin thấp hơn, xác suất mất điện thấp hơn (phủ sóng tốt hơn), tốc độ bit cao trong phần lớn của vùng phủ sóng, độ trễ thấp, số lượng cao hơn các thiết bị hỗ trợ, chi phí thấp hơn việc triển khai cơ sở hạ tầng, tính linh hoạt cao hơn và khả năng mở rộng hoặc độ tin cậy cao hơn của truyền thông. Đó là những mục tiêu trong một số các tài liệu nghiên cứu và dự án dưới đây.
GSMHistory.com đã ghi nhận sự khác biệt của 5G như sau:
Một mạng di động siêu hiệu quả mang lại một mạng lưới hiệu suất tốt hơn cho chi phí đầu tư thấp. Nó đề cập đến các nhà khai thác mạng di động nhu cầu bức thiết để xem các đơn vị chi phí vận chuyển dữ liệu xuống xấp xỉ tốc độ tương tự như khối lượng dữ liệu nhu cầu đang tăng lên. Nó sẽ là một bước nhảy vọt trong hiệu quả dựa trên các nhu cầu IET chu đáo Network (DAN), triết học
Một mạng di động siêu nhan bao gồm các thế hệ tiếp theo của các tế bào nhỏ đông nhóm lại với nhau để cung cấp cho một phạm vi tiếp giáp trên ít nhất là đô thị khu vực và thế giới để được biên giới cuối cùng cho sự thật "khu vực rộng di động". Nó sẽ yêu cầu quyền truy cập vào phổ dưới 4 GHz có thể thông qua việc thực hiện toàn cầu đầu tiên của thế giới
Một mạng lưới sợi dây hội tụ mà sử dụng, lần đầu tiên truy cập Internet không dây, các băng sóng mm (20–60 GHz) để cho phép các kênh vô tuyến băng thông rộng có thể hỗ trợ tốc độ truy cập dữ liệu lên tới 10 Gbit / s. Các kết nối cơ bản bao gồm các liên kết "ngắn" không dây ở đầu của sợi cáp quang tại địa phương. Nó sẽ có thêm một "du mục" dịch vụ (như WiFi) chứ không phải là một khu vực rộng lớn "di động" dịch vụ.
== Dự án nghiên cứu và phát triển ==
Trong năm 2008, chương trình "5G hệ thống thông tin di động dựa trên chùm tia phân chia nhiều truy cập và chuyển tiếp với sự hợp tác nhóm" được thành lập Hàn Quốc R & D CNTT
Trong năm 2012, Chính phủ Anh công bố việc thành lập một Trung tâm Đổi mới 5G tại Đại học Surrey - trung tâm nghiên cứu đầu tiên trên thế giới thiết lập riêng cho nghiên cứu điện thoại di động 5G.
Trong năm 2012, NYU WIRELESS được thành lập như là một trung tâm nghiên cứu đa ngành, tập trung vào nghiên cứu không dây 5G cũng như trong các lĩnh vực khoa học y tế và máy tính. Trung tâm này được tài trợ bởi Quỹ Khoa học Quốc gia và một hội đồng của 10 công ty lớn không dây (tính đến tháng 7 năm 2014), những người phục vụ trong hội đồng quản trị Đại lý công nghiệp của trung tâm. NYU WIRELESS đã tiến hành và công bố đo kênh đó cho thấy rằng tần số sóng milimet sẽ khả thi cho multi-Gigabit mỗi tốc độ dữ liệu thứ hai cho các mạng 5G trong tương lai.
Trong năm 2012, Ủy ban châu Âu, dưới sự lãnh đạo của Neelie Kroes, cam 50.000.000 € cho nghiên cứu để cung cấp công nghệ điện thoại di động 5G vào năm 2020 Trong đó, Dự án Metis 2020 là lái xe của một số công ty viễn thông, và nhằm đạt cỡ quốc tế đồng thuận rộng rãi trên các điện thoại di động và không dây hệ thống thông tin liên lạc toàn cầu trong tương lai. Mục tiêu kỹ thuật tổng thể Metis là để cung cấp một khái niệm hệ thống hỗ trợ điện thoại di động cao hơn 1000 lần hệ thống quang phổ hiệu quả so với các triển khai LTE hiện tại. Ngoài ra, trong năm 2013 dự án khác đã bắt đầu, gọi là 5GrEEn, liên quan đến dự án Metis và tập trung vào việc thiết kế các mạng Xanh 5G Mobile. Ở đây mục tiêu là để xây dựng hướng dẫn cho các định nghĩa của mạng thế hệ mới với sự chăm sóc đặc biệt của năng lượng hiệu quả, tính bền vững và khả năng chi trả các khía cạnh.
Trong tháng 11 năm 2013, nhà cung cấp thiết bị viễn thông Trung Quốc Huawei cho biết sẽ đầu tư 600 triệu USD cho nghiên cứu công nghệ 5G trong năm năm tiếp theo. Chủ động nghiên cứu 5G của công ty không bao gồm đầu tư cho công nghệ 5G productize cho các nhà khai thác viễn thông toàn cầu.
== Xem thêm ==
1G
2G
3G
4G
Web 2.0
Web 3.0
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
5G Fifth generation Technology 5G Technology Technical Paper |
brics.txt | "BRICS" là tên gọi của một khối bao gồm các nền kinh tế lớn mới nổi gồm Brasil, Nga (Russia), Ấn Độ (India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa). Bởi vì họ cảm thấy không được đại diện cho mình đúng vị thế mới trong các cơ quan quốc tế, cho nên đã lập ra một diễn đàn mới để bày tỏ lợi ích cùng hoạch định những hoạt động chung trong khối.
Từ BRIC bắt đầu được dùng từ năm 2001. Đến năm 2010 thì khối này có thêm Nam Phi, nên được gọi từ đấy là BRICS.
== Đặc điểm chung và khác biệt giữa các nước BRICS ==
BRICS là một tổ chức chính trị, quốc tế hàng đầu của các nền kinh tế mới nổi (emerging economies). Đây là những nước có dân số lớn, diện tích rộng, tiềm lực quân sự hùng mạnh. Về mặt kinh tế, đây là các nền kinh tế đang nổi lên có tiềm lực kinh tế hùng hậu, đang cải cách mạnh mẽ và đều có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Cả năm nước trên đều là những siêu cường tiềm năng. Thuật ngữ "BRIC" được Jim O’Neill, giám đốc nhà băng Goldman Sachs đưa ra ban đầu để chỉ 4 nước Brasil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Khi Nam Phi được mời gia nhập nhóm này vào tháng 12 năm 2010, BRIC được viết lại thành BRICS. Vào ngày 14 tháng 4 năm 2011 Nam Phi tham dự lần đầu tiên vào cuộc họp mỗi năm của nhóm các quốc gia này, từ đó được gọi là BRICS.
Như vậy, vào năm 2011, BRIC trở thành BRICS gồm có 5 thành viên. Với Nga có thể là ngoại lệ, thì các thành viên BRICS được coi là các quốc gia công nghiệp hóa mới phát triển, nhưng là các nền kinh tế lớn và có ảnh hưởng đáng kể về các vấn đề khu vực và toàn cầu. Năm 2012, năm nước nhóm BRICS có dân số là 42% dân số thế giới, với GDP chiếm khoảng 13,6 nghìn tỷ USD (25%), và khoảng 4 nghìn tỷ USD trong dự trữ ngoại tệ.
Trung Quốc có nhiều điểm chung với Brazil và Nga. Các nhà xã hội học xác định các nền kinh tế này là một nhóm quốc gia không giàu và mạnh như các nền dân chủ phát triển, nhưng không nghèo và nhỏ bé như các nước châu Phi, Trung Mỹ hay Đông Nam Á khác. Các nước này đặc trưng bởi các nhà nước mạnh với các thể chế yếu, chính phủ chịu ảnh hưởng lớn của các công dân giàu có nhất, và nạn đói nghèo tràn lan.
Tuy nhiên Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Trung Quốc lớn gấp 28 Nam Phi, gấp 4 lần lớn hơn Ấn Độ và Nga. Về số thu hoạch đầu người thì Nga và Trung Quốc lớn gấp 10 lần Ấn Độ. Những trọng tâm về kinh tế cũng khác nhau.
Về mặt thể chế chính trị cũng có những sự khác biệt. Brasil, Nam Phi và Ấn Độ là các nước theo thể chế Dân chủ, Trung Quốc Tư bản Cộng sản chủ nghĩa, và Nga Dân chủ trên hình thức. Về địa lý, vì các nước này nằm cách xa nhau nên khó có cùng những lợi ích chính trị chung. Nga tranh cãi với các nước chung quanh, Trung Quốc có một quan hệ quốc tế căng thẳng với các nước trong vùng, còn Brasil thì cô lập tại châu Mỹ Latin. Quan hệ giữa các nước BRICS với nhau cũng không phải là êm thắm. Trung Quốc và Ấn Độ đã có chiến tranh dọc theo bên giới đôi bên, có sự khác biệt về quan hệ với Pakistan và với Dalai Lama, cũng như chiến lược biển cả. Mặc dù chiến tranh biên giới cuối cùng giữa Nga và Trung Quốc tại Amur 1969, cách đây rất lâu, nhưng cũng có những lo sợ là Trung Quốc sẽ dần dần dành ảnh hưởng lớn tại vùng Trung Á, những nước mà trước đây thuộc Liên Xô.
== Lịch sử thành lập ==
Các Bộ trưởng ngoại giao của bốn nước BRIC đã gặp nhau tại thành phố New York (Hoa Kỳ) trong tháng 9 năm 2006, bắt đầu một loạt cuộc họp cấp cao. Cuộc họp ngoại giao đầy đủ quy mô đã được tổ chức tại Yekaterinburg, Nga, vào ngày 16 Tháng Năm 2008.
=== Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên ===
Bốn nước BRIC đã tiến hành họp Hội nghị thượng đỉnh chính thức vào ngày 16 tháng 6 năm 2009 tại Yekaterinburg của Nga, với sự tham dự của các nhà lãnh đạo như Luiz Inacio Lula da Silva,Dmitry Medvedev, ông Manmohan Singh, và Hồ Cẩm Đào, tương ứng với các nước Brasil, Nga,Ấn Độ và Trung Quốc. [7] Nội dung của Hội nghị thượng đỉnh tập trung trên các phương tiện cải thiện các tình huống toàn cầu kinh tế và cải cách các tổ chức tài chính, thảo luận về việc bốn nước có thể hợp tác tốt hơn trong các hoạt động trong tương lai. Thảo luận việc đóng góp của các nước đang phát triển, chẳng hạn như các thành viên BRIC có thể trở thành tham gia nhiều hơn trong các vấn đề toàn cầu. Trong hậu quả của hội nghị thượng đỉnh Yekaterinburg, các quốc gia BRIC đã công bố sự cần thiết cho một đồng tiền dự trữ toàn cầu mới, trong đó sẽ có đa dạng, ổn định và triển vọng. Mặc dù tuyên bố rằng đã được phát hành đã không trực tiếp chỉ trích nhận thức sự thống trị của đồng đô la Mỹ - điều mà Nga đã chống lại trong quá khứ - nó cũng gây ra sự sụt giảm trong giá trị của đồng USD so với các đồng tiền lớn khác.
=== Nam Phi gia nhập ===
Từ năm 2010, Nam Phi đã bắt đầu nỗ lực tham gia nhóm BRIC, và quá trình gia nhập chính thức bắt đầu vào tháng 8 năm đó. Nam Phi chính thức trở thành một quốc gia thành viên vào ngày 24 tháng 12 năm 2010, sau khi được lời mời chính thức của các nước BRIC. Nhóm này đã được đổi tên thành BRICS - với thêm từ "S" (South Africa) Nam Phi. Vào tháng 4 năm 2011, Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma tham dự hội nghị thượng đỉnh BRICS 2011 ở Sanya, Trung Quốc, như là một thành viên đầy đủ. Diễn đàn BRICS, một tổ chức độc lập quốc tế khuyến khích thương mại, hợp tác chính trị và văn hóa giữa các quốc gia BRIC, được thành lập vào năm 2011.
=== Tương lai của BRICS ===
Goldman Sachs dự báo nếu không có gì xảy ra ngoài dự tính của họ, 50 năm nữa các nước BRIC sẽ là những thế lực kinh tế rất lớn của thế giới. Chỉ trong vòng 40 năm (kể từ lúc Goldman Sachs công bố nghiên cứu của mình năm 2003), quy mô kinh tế của (GDP tính theo dollar Mỹ) các nước BRIC đều sẽ vượt qua các nước G6 (Anh, Đức, Ý, Mỹ, Nhật Bản, Pháp) về GDP. Quy mô nền kinh tế của Ấn Độ sẽ vượt Nhật Bản vào năm 2032, còn của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2041. Năm 2003, tổng GDP tính bằng dollar Mỹ của BRIC bằng 15% của tổng GDP của G6. Nhưng đến năm 2040 thì sẽ trở nên ngang bằng và đến năm 2050 sẽ lớn gấp rưỡi. Năm 2050, sáu nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ lần lượt là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Brasil và Nga[2].
Đó là xét về quy mô kinh tế, còn xét về thu nhập (GDP trên đầu người) thì đến năm 2050, các cá nhân ở BRIC vẫn nghèo hơn các cá nhân của G6.
== Các cuộc họp thượng đỉnh của BRICS ==
Các nhóm đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh hàng năm từ năm 2009, với các nước thành viên lần lượt đăng cai tổ chức. Trước khi có sự gia nhập của Nam Phi, hai hội nghị thượng đỉnh BRIC đã được tổ chức, trong năm 2009 và 2010. Năm thành viên đầu tiên hội nghị thượng đỉnh BRICS đã được tổ chức vào năm 2011. Hội nghị thượng đỉnh tiếp theo được dự kiến diễn ra tại Ấn Độ vào cuối tháng 3 năm 2012.
== Ghí chú ==
^ Tuy nhiên cần lưu ý là cùng với tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái thực tế giữa đồng tiền của các nước BRIC so với dollar Mỹ sẽ tăng lên (một đơn vị tiền tệ của BRIC đổi được ít số lượng đơn vị dollar Mỹ hơn). Chính vì vậy, trong tương lai, GDP của BRIC khi quy đổi ra dollar Mỹ sẽ lớn hơn đáng kể so với trường hợp giả định tỷ giá hối đoái không thay đổi. Chính nghiên cứu của Goldman Sachs cũng lưu ý về sự đóng góp của thay đổi tỷ giá hối đoái vào mức tăng GDP của BRIC.
== Xem thêm ==
BRIICS: Nhóm 6 nước Brasil, Nga, Ấn Độ, Indonesia, Trung Quốc và Nam Phi. BRIICS = BRICS + Indonesia.
BRIMC: Nhóm 5 nước Brasil, Nga, Ấn Độ, México và Trung Quốc; BRIMC = BRIC + Mexico.
IBSAC: Nhóm các nước Ấn Độ, Brasil, Nam Phi, Trung Quốc. Nhóm này được coi là thế lực kinh tế lớn của thế giới trong tương lai theo quan điểm của Anh, nước đăng cai hội nghị G7 năm 2005; IBSAC = BRICS - Nga.
LEMs: Nhóm các nước nền kinh tế thị trường đang nổ lên lớn (Large Emerging-Market Economies). Báo cáo The United States and the World Economy (2005) của Viện Kinh tế Quốc tế (Mỹ) đề cập đến 9 nước gồm 4 nước BRIC cộng với Argentina, Indonesia, Hàn Quốc, México, Ả Rập Saudi và Thổ Nhĩ Kỳ. (Xem thêm Các nền kinh tế đang nổi lên
N-11 (Next Eleven): Nhóm 11 nước tiếp sau BRIC. Năm 2005, Goldman Sachs dự báo 11 nước đang phát triển khác ngoài BRIC trong tương lai sẽ có quy mô kinh tế rất lớn. Đó là các nước, Hàn Quốc, Bangladesh, Ai Cập, Indonesia, Iran, Nigeria, Pakistan, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, Mexico. Trong số 11 nước này đáng chú ý có Bangladesh hiện đang được xếp vào nhóm nước nghèo nhất, hay nhóm nước kém phát triển nhất, và Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp.
== Liên kết ngoài ==
2025: Việt Nam đứng thứ 17 về tiềm lực kinh tế?
Goldman Sachs: The BRICs Dream: Web Tour, tháng 7 năm 2006
Thomas Harr, Senior Analyst, Danske Bank: BRIC The Major Issues; tháng 6 năm 2006
Kristalina Georgieva, Country Director Russian Federation, World Bank: BRIC Countries in Comparative Perspective, 2006
Article on Brics from the Danish National Bank with extensive statistics and comaprisons with G7 countries and Denmark
Businessweek article on Goldman Sach's predictions regarding BRIC
Goldman Sach's predictions for BRIC - pdf
CIA 25 Year Forecast
BRICS+G: Sustainability and Growth in Brazil, Russia, India, China, South Africa and Germany
Mario Profaca's blog on current BRIC developments
A pile of BRICs or Asian CHIKS?
Current valuation of BRIC markets versus GDP growth
Nationmaster GDP per capita |
giải quần vợt wimbledon 2014 - đơn nam.txt | Chức vô địch Giải quần vợt Wimbledon 2014 – Đơn nam thuộc về Novak Djokovic, người đã đánh bại Roger Federer trong 5 séc ở trận chung kết. Đương kim vô địch Andy Murray để thua Grigor Dimitrov ở tứ kết.
== Tỷ số ==
=== Vòng chung kết ===
== Tham khảo == |
1617.txt | Năm 1617 (số La Mã: MDCXVII) là một năm thường bắt đầu vào ngày Chủ nhật trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Julius chậm hơn 10 ngày).
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
Pocahontas, cô gái da đỏ
== Tham khảo == |
xbox.txt | Microsoft Xbox là máy trò chơi điện tử thế hệ thứ sáu tung ra lần đầu tiên và ngày 15 tháng 11 năm 2001 ở Mỹ, ngày 22 tháng 2 năm 2002 ở Nhật Bản và ngày 14 tháng 3 năm 2002 ở châu Âu. Đây là lần xuất hiện đầu tiên của Microsoft trong lĩnh vực trò chơi điện tử sau khi liên kết với MSX và Sega. Các trò chơi nổi tiếng của máy Xbox bao gồm Halo: Combat Evolved, Halo 2, Amped, Star Wars Knights of the Old Republic Dead or Alive 3 và Oddworld: Munch's Oddysee.
== Xbox Live ==
Vào ngày 15 tháng 11 năm 2002, Microsoft đưa ra dịch vụ game trực tuyến gọi là Xbox Live cho phép những khách hàng của Xbox Live chơi hoặc đấu với những khách hàng khác của Xbox Live trong khắp thế giới và download những món đồ mới cho game của Xbox thông qua ổ cứng của hệ thống. Dịch vụ này chỉ dành cho mạng băng thộng rộng (ADSL và DSL, CABLE). Gần 250.000 người đã đăng ký dịch vụ này sau hai tháng ra mắt. Vào tháng 7 năm 2004, Microsoft thông báo rằng Xbox Live đã đạt được con số 1 triệu thuê bao và chỉ trong một năm sau, vào tháng 7 năm 2005, số thuê bao của Xbox Live đã đạt tới con số 2 triệu. Xbox Live Gold subscription - thuê bao vàng cua dịch vụ Xbox Live - cho phép người sử dụng sử dụng hầu hết mọi chức năng hiện trị giá 50$ (đô la Mỹ) một năm (tương đương 775.000 Việt Nam đồng).
== Thị trường ==
Vào tháng 2 năm 2005, ước tính cho thấy doanh thu của Xbox chỉ đứng trước GameCube của Nintendo nhưng thua xa PlayStation 2 của Sony. Dựa theo thống kê của công ty, Microsoft đã vận chuyển 22 triệu máy trên toàn cầu đến hết năm 2005. Mặc dù đứng trước số máy của GameCube 20.61 triệu, nó bị PlayStation 2 bỏ xa với 100 triệu máy.
Xbox được ưa chuộng ở Bắc Mỹ với ước tính 13.5 triệu máy được bán ra và nhiều hơn PlayStation 2. Ở châu Âu, Xbox đang dẫn trước GameCube nhưng vẫn sau PlayStation 2.
== Chú thích == |
la roque-baignard.txt | La Roque-Baignard là một xã ở tỉnh Calvados, thuộc vùng Basse-Normandie ở tây bắc nước Pháp.
== Dân số ==
== Xem thêm ==
Xã của tỉnh Calvados
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
La Roque-Baignard sur le site de l'Institut géographique national |
đế quốc bồ đào nha.txt | Đế quốc Bồ Đào Nha là đế quốc ra đời sớm nhất và kéo dài nhất trong lịch sử những đế quốc thực dân Châu Âu, kéo dài gần 6 thế kỉ, bắt đầu từ vụ chiếm Ceuta năm 1415 đến cuộc giao trả Ma Cao cho Trung Quốc Đại Lục năm 1999.
Những nhà thám hiểm Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm eo biển Châu Phi năm 1419, đặt nền tảng cho sự phát triển của ngành hàng hải, nghiên cứu bản đồ và công nghệ hàng hải (như thuyền buồm), mục đích là để họ có thể tìm được một lộ trình đường biển tới những nguồn giao thương các sản phẩm gia vị. Năm 1488, Bartolomeu Dias đi vòng quanh mũi Hảo Vọng, và tới năm 1498, Vasco da Gama đặt chân tới Ấn Độ. Năm 1500, do một cuộc cập bến tình cờ vào bờ biển Nam Mỹ, vì mục đích bí mật của quốc vương, Pedro Álvares Cabral đã phát hiện và thành lập thuộc địa Brasil. Qua vài thế kỷ sau đó, những thủy thủ Bồ Đào Nha tiếp tục thám hiểm các đảo và eo biển tại Đông Á, họ đã lập nên những công sự và trạm giao thương khi đi qua những nơi đó. Vào năm 1571, một chuỗi các tiền đồn đã kết nối Lisboa với Nagasaki: đế chế này đã thực sự có tầm ảnh hưởng toàn cầu, quá trình đó đã đem về một sự thịnh vượng cho đất nước Bồ Đào Nha.
Giữa giai đoạn 1580 và 1640, Bồ Đào Nha trở thành đối tác bậc dưới với Tây Ban Nha trong liên minh Iberia của quốc vương hai nước. Mặc dù hai đế chế tiếp tục được điều hành riêng biệt, những thuộc địa của Bồ Đào Nha trở thành mục tiêu tấn công của ba đế quốc châu Âu hùng mạnh đồng thời là đối thủ sừng sỏ của Tây Ban Nha là: Hà Lan (tham gia chiến tranh Độc Lập chống Tây Ban Nha), Anh và Pháp. Vì có dân số nhỏ hơn, Bồ Đào Nha đã không thể bảo vệ hệ thống kết nối những trạm giao thương và các đại lý ở nước ngoài, vì vậy đế chế này bắt đầu dần suy tàn. Việc đánh mất Brasil năm 1822-thuộc địa lớn và thu lợi nhiều nhất của Bồ Đào Nha-vào thời điểm các phong trào Độc lập đang lan tỏa khắp châu Mỹ, là một đòn giáng mạnh vào Bồ Đào Nha và đế chế của nó mà sau đó đã không bao giờ có thể phục hồi được nữa.
Cuộc tranh giành châu Phi bắt đầu cuối thế kỉ 19 đã để lại cho Bồ Đào Nha một ít thuộc địa tại lục địa này. Sau đệ nhị thế chiến, độc tài quân sự cánh tả Bồ Đào Nha là António Salazar đã cố gắng duy trì đê chế Bồ Đào Nha khi mà các quốc gia châu Âu khác đang bắt đầu rút khỏi những thuộc địa của họ. Năm 1961, một lực lượng nhỏ quân Bồ Đào Nha đóng tại Goa đã không thể chặn quân Ấn Độ tiến vào thuộc địa, nhưng Salazar quyết định tiến hành một cuộc chiến dài và đẫm máu nhằm dập tắt các lực lượng chống chủ nghĩa thực dân tại các thuộc địa Phi Châu. Cuộc chiến này kéo dài cho đến tận cuộc lật đổ chế độ cai trị Bồ Đào Nha năm 1974, được biết đến với cái tên cách mạng hoa Cẩm Chướng. Sau cuộc lật đổ, chính quyền mới lập tức thay đổi chính sách và công nhận nền độc lập cho tất cả các thuộc địa, bao gồm Đông Timor, rồi trao trả Ma Cao về Trung Quốc năm 1999, đánh dấu sự chấm hết của đế chế Bồ Đào Nha.
Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha (CPLP) chính là sự kế thừa về văn hóa của đế chế Bồ Đào Nha.
== Tham khảo == |
tĩnh điện.txt | Tĩnh điện là hiện tượng mất cân bằng điện tích trên bề mặt của một vật liệu. Điện tích sẽ được lưu giữ ở đó cho đến khi nó có thể truyền đi nơi khác thông qua một dòng điện hoặc sự phóng điện. Khái niệm "tĩnh" trong tĩnh điện ý nói đến sự tương phản với dòng điện, hình thức mà điện được truyền qua vật dẫn và mang theo năng lượng.
Một điện tích tĩnh điện được tạo ra khi hai bề mặt tiếp xúc với nhau rồi tách ra, và ít nhất một trong các bề mặt này có điện trở suất cao (có xu hướng cách điện hoặc cản trở dòng điện).
Những ảnh hưởng của tĩnh điện rất quen thuộc với cuộc sống thường ngày vì hầu hết mọi người đều có thể cảm thấy, nghe thấy và nhìn thấy các tia lửa điện khi một điện tích thừa bị trung hòa khi ở gần một vật dẫn lớn (ví dụ như dây nối đất đất).
== Nguyên nhân ==
Vật chất được cấu thành từ các nguyên tử trung hòa về điện tích vì chúng chứa số lượng bằng nhau về điện tích dương (proton trong hạt nhân) và điện tích âm (điện tử trong vỏ). Hiện tượng tĩnh điện yêu cầu sự tách rời các điện tích dương và âm này. Khi hai vật liệu tiếp xúc nhau, điện tử sẽ di chuyển từ vật này sang vật kia, gây ra sự dư thừa điện tích dương trên một vật liệu, và sự thừa điện tích âm ở bên còn lại. Khi các vật liệu được tách ra, sự mất cân bằng điện tích này vẫn được duy trì.
== Tham khảo == |
lục quân đế quốc nhật bản.txt | Lục quân Đế quốc Nhật Bản (kanji cổ: 大日本帝國陸軍, kanji mới: 大日本帝国陸軍; romaji: Dai-Nippon Teikoku Rikugun; Hán-Việt: Đại Nhật Bản đế quốc lục quân) là tên gọi lực lượng quân sự của đế quốc Nhật từ năm 1867 đến 1945 dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng Tham mưu Hoàng gia và Bộ Chiến tranh Nhật Bản.
== Tổ chức ==
==== Bộ máy chỉ huy ====
Bộ Lục quân, đứng đầu là Bộ trưởng Bộ Lục quân
Bộ Tổng tham mưu, đứng đầu là Tổng Tham mưu trưởng
Cục Quân huấn, đứng đầu là Cục trưởng.
Trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, không kể Nhật hoàng, thì 3 vị đứng đầu 3 cơ quan trên là 3 người có vị trí cao nhất.
Cục hàng không, Bộ Tư lệnh Cảnh bị Tōkyō, Bộ Tư lệnh Phòng vệ, Bộ Tư lệnh các Căn cứ, Bộ Tư lệnh các Quân khu, Cục Quân giới, v.v...
==== Biên chế ====
Tổng quân (総軍, sōgun): là quy mô đơn vị lục quân lớn nhất, gồm một số phương diện quân và các đơn vị cấp thấp hơn hợp thành. Tư lệnh thường mang hàm đại tướng;
Phương diện quân (方面軍, hōmengun): gồm một số đơn vị cấp quân đoàn và các đơn vị cấp thấp hơn hợp thành. Tư lệnh thường mang hàm đại tướng hoặc trung tướng;
Quân (軍, gun): khác với biên chế trong quân đội nhiều quốc gia khác, cấp quân trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản không có biên chế cố định, thường gồm một số sư đoàn và các đơn vị cấp thấp hơn hợp thành, có thể xem như có biên chế tương đương quân đoàn. Tư lệnh thường mang hàm trung tướng, tham mưu trưởng thường mang hàm thiếu tướng.
Sư đoàn (師団, shidan): là cấp đơn vị nòng cốt của Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Ban đầu, tư lệnh thường mang hàm trung tướng; về sau, thường mang hàm thiếu tướng;
Lữ đoàn (旅団, ryodan): lúc mới thành lập cấp này, lữ trưởng được quy định mang hàm thiếu tướng; sau đó có điều chỉnh lại, chỉ huy trưởng là đại tá.
Liên đội (連隊, rentai): lúc mới thành lập, cấp này có biên chế tương đương cấp trung đoàn, liên đội trưởng bộ binh thường mang hàm đại tá, liên đội trưởng kỵ binh, pháo binh, cơ giới mang hàm trung tá; sau đó có điều chỉnh lại, quy mô chỉ còn tương đương tiểu đoàn;
Đại đội (大隊, daitai): thời kỳ đầu, cấp trưởng quan đại đội bộ binh thường mang hàm thiếu tá, sau được điều chỉnh lại.
Trung đội (中隊, chutai): một trung đội bộ binh có 136 chiến sĩ; một trung đội kỵ binh có 159 chiến sĩ;
Tiểu đội (小隊, shoutai): khoảng 2-4 phân đội hay 20-40 chiến sĩ;
Phân đội (分隊, buntai): khoảng 10 chiến sĩ.
Các đơn vị được biên chế theo binh chủng: bộ binh, kỵ binh, pháo binh
==== Quân hàm ====
Thời kỳ 1944-1945, Lục quân Đế quốc Nhật Bản có các quân hàm sau, xếp từ cao xuống thấp:
Nguyên soái đại tướng (元帥大将, gensui taisho)
Đại tướng (大将, taisho)
Trung tướng (中将, chusho)
Thiếu tướng (少将, shousho)
Đại tá (大佐, taisa)
Trung tá (中佐, chusa)
Thiếu tá (少佐, shousa)
Đại úy (大尉, tai-i)
Trung úy(中尉, chu-i)
Thiếu úy (少尉, sho-i)
Chuẩn úy (准尉, jun-i)
Tào trưởng (曹長, sōchō)
Quân tào (軍曹, gunsō)
Ngũ trưởng (伍長, gochō)
Binh trưởng (兵長, heichō)
Thượng đẳng binh (上等兵, jōtōhei)
Nhất đẳng binh (一等兵, ittōhei)
Nhị đẳng binh (二等兵, nitōhei)
== Xem thêm ==
Thảm sát Nam Kinh.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sơ lược về Quân đội hoàng gia Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Bích chương Nhật trong thời chiến
Chương trình "Chiến thắng Thái Bình Dương" đài PBS |
chung kết cúp c1 châu âu 1973.txt | Trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1973 là trận chung kết thứ mười tám của Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu, ngày nay là UEFA Champions League. Đây là trận đấu giữa Ajax Amsterdam của Hà Lan và Juventus F.C. của Ý trên sân vận động Crvena Zvezda, Belgrade, Nam Tư (nay là Serbia) vào ngày 30 tháng 5 năm 1973. Với bàn thắng duy nhất ở phút thứ tư của Johnny Rep, Ajax Amsterdam lần thứ 3 liên tiếp giành Cúp C1 châu Âu, qua đó giành vĩnh viễn chiếc cúp này.
== Chi tiết trận đấu ==
== Xem thêm ==
Cúp C1 châu Âu 1972-73
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mùa giải 1972-73 trên trang chủ của UEFA
Cúp C1 châu Âu trên trang chủ của RSSSF
Lịch sử Cúp C1 châu Âu 1973 |
cải lương.txt | Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dòng nhạc Đờn ca tài tử và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long, nhạc tế lễ.
Giải thích chữ "cải lương" (改良) theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: "cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn", thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.. Ở đây là đã cải lương (cải cách, đổi mới) nghệ thuật hát bội. Từ một động từ theo nghĩa thông thường đã trở thành một danh từ riêng. Sau khi cải lương thì nghệ thuật Cải Lương đã khác hẳn với nghệ thuật hát bội cả về nội dung và hình thức.
Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy "có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918", nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới "bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách...nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ..."
== Lịch sử ==
=== Từ Đờn ca tài tử ===
Đã đến lúc, theo Vương Hồng Sển, người ta nghe hát bội hoài, hát bội mãi, cũng chán tai thét hóa nhàm thì các ban tài tử đờn ca xuất hiện.
Buổi đầu, khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nhóm đờn ca được thành lập cốt để tiêu khiển, để phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn...nhưng chưa hề biểu diễn trên sân khấu hay trước công chúng.
Và nếu trước kia "cầm" (trong "cầm, kỳ thi, họa") là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài. Chính vì thế nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, về nội dung lẫn hình thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ Trung, Bắc.
Nhắc lại giai đoạn này, trong Hồi ký 50 năm mê hát, có đoạn:
Căn cứ theo sách vở thâu thập và những lời của người lớn tuổi nói lại, và nếu tôi (Vương Hồng Sển) không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, là do sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên.
Tác giả giải thích:
Người miền Nam có cái hay là khi biết dùng bạo lực cải hại thân vào tù, thì họ không dùng bạo lực. Họ cố đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề ngoài lêu lổng, chơi bời...Họ (những tài tử) thường tụ họp vừa tập ca cho vui, vừa trau giồi nghệ thuật...rồi mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya...họ cũng hòa đờn, tập dượt ca cho đúng nhịp, để đánh cơn buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp "quan - hôn - tang - tế" (chủ nhà) đều có mời họ cho rôm đám.
Khi ấy, Đờn ca tài tử gồm hai nhóm:
Nhóm tài tử miền Tây Nam Bộ, như: Bầu An, Lê Tài Khị (Nhạc Khị), Nguyễn Quan Đại (Ba Đợi), Trần Quang Diệm, Tống Hữu Định, Kinh Lịch Qườn, Phạm Đăng Đàn...
Nhóm tài tử Sài Gòn, như: Nguyễn Liên Phong, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Tùng Bá...
=== Đến lối Ca ra bộ ===
Qua lối năm 1910, ông Trần Văn Khải kể:
Ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia, tục gọi Tư Triều (đờn kìm), Mười Lý (thổi tiêu), Chín Quán (đờn độc huyền), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca sĩ). Phần nhiều tài tử nầy được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp. Khi về, họ cho biết rằng Ban tổ chức có cho họ được đờn ca trên sân khấu và được công chúng đến xem đông đảo...
Nghe được cách cho "đờn ca trên sân khấu", Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino, ở sau chợ Mỹ Tho, bèn mời ban tài tử Tư Triều, đến trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy trên sân khấu, trước khi chiếu bóng, được công chúng hoan nghinh nhiệt liệt.
Trong thời kỳ này, Mỹ Tho là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn. Khách ở các tỉnh miền Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé trạm Mỹ Tho. Trong số khách, có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài " Bùi Kiệm - Nguyệt Nga", với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người ca đứng trên bộ ván ngựa và "ca ra bộ". Ca ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915 - 1916.
Cũng theo Vương Hồng Sển:
các điệu ca ra bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng của các buổi hát nhân những kỳ bãi trường do các trường trung học Taberd, Mỹ Tho, trường tỉnh Sóc Trăng...Cho nên chúng ta không nên quên ơn các nhà tiền bối, phần đông là các giáo sư trường Pháp, đã có sáng kiến dìu dắt và dạy cho ta biết một nghệ thuật hát ca khác với điệu hát bội thời ấy...
Nhà văn Sơn Nam còn cho biết:
năm 1917, Lương Khắc Ninh, sành về hát bội, đã diễn thuyết tại hội khuyến học Sài Gòn: Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm…(nay) muốn cải lương phải làm sao?...Chuyện nói đây không khó. Có học trò trường Taberd đến lúc phát thưởng, nó ra hát theo Lang Sa (Pháp), bộ tịch như Lang Sa. Rất đổi là hát theo ngoại quốc, trẻ em còn làm được, hà huống người An Nam mà hát An Nam không được sao?...Rồi đoàn ca nhạc kịch bên Pháp mỗi năm sáu tháng đã đến Sài Gòn trình diễn, có màn có cảnh phân minh, mỗi tuồng dứt trọn một đêm. Công chúng người Việt hâm mộ, thấy hợp lý, thêm tranh cảnh gọi Sơn thủy, đẹp mắt.
Và rồi ngay năm này (1917), ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc lập gánh hát xiệc, có thêm ít màn ca ra bộ.
=== Hình thành Cải lương ===
Qua năm 1918, cũng theo Vương Hồng Sển, năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang (Chiến tranh thế giới thứ nhất), mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày ra một cuộc hát lấy tiền dâng "mẫu quốc" và cho phép lập hội gánh hát để dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau giồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu.... Nhân cơ hội ấy, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương.
Đến năm 1920, cái tên "cải lương" xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:
Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.
Mặc dù Vương Hồng Sển đã nói cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ, nhưng theo sự hiểu của ông thì:
Năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu "độc thoại".
Năm 1916, có ca kiểu "đối thoại" (ca ra bộ)
Đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng Pháp - Việt nhứt gia (tức Gia Long tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai của cải lương.
Sau đêm này, André Thận trước và Năm Tú sau, đã đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn...lúc này hát cải lương mới thành hình thật sự...
Và diễn biến tiếp theo của cải lương được Từ điển bách khoa Việt Nam tóm gọn như sau:
Những năm 1920 - 1930 là thời kì phát triển rực rỡ, nhiều gánh hát ra đời, nổi tiếng nhất là hai gánh Phước Cương và Trần Đắc có dàn kịch gồm 3 loại: các tuồng tích của Trung Quốc, loại xã hội và loại phóng tác (như "Tơ vương đến thác", "Giá trị và danh dự").
Trong thời kì 1930 - 1934, nghệ thuật cải lương lan truyền ra ngoài Bắc và nhiều nghệ sĩ xuất sắc xuất hiện như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu... Thời kì kinh tế khủng hoảng, nhiều gánh hát tan rã. Dựa vào tâm lý của dân chúng ngả về tôn giáo, các gánh hát đua nhau diễn các tích về Phật, tiên, đi đầu là gánh hát Tân Thịnh.
Từ 1934, xuất hiện phong trào "kiếm hiệp", đi đầu là gánh Nhạn Trắng và tác giả Mộng Vân người Bạc Liêu. Những vở nổi tiếng: "Chiếc lá vàng", "Bích Liên vương nữ", "Bảo Nguyệt Nương". Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay... Nhiều vở diễn mới xuất hiện, nội dung phong phú và đa dạng.
=== Phát triển và Hưng thịnh ===
Tại miền Nam Việt Nam, thập niên 60 là thập niên hưng thịnh nhất của cải lương miền Nam, lấn át cả tân nhạc. Các sân khấu cải lương được đông khán giả đến xem hàng ngày, nên ngày nào cũng có diễn xuất, nhờ đó, các soạn giả và nghệ sĩ có cuộc sống khá sung túc, và một số ca sĩ tân nhạc phải tìm cách chuyển nghề sang hát cải lương để tìm kiếm thành công như Hùng Cường . Riêng tại vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định đã có trên 39 rạp hát cải lương và 20 nơi luyện cổ nhạc (gọi là "lò"), trong đó có những "lò" nổi tiếng như của Út Trong (từng là trưởng giàn cổ nhạc của gánh Thanh Minh suốt 13 năm, và là người đã huấn luyện Thanh Nga từ lúc còn thơ ấu), Văn Vĩ, Duy Trì, Huỳnh Hà, Tư Tân, Yên Sơn, Ba Giáo v.v.. Trong những giải thưởng của ngành Cải lương thời đó, nổi tiếng và uy tín có giải Thanh Tâm, do ông ký giả Thanh Tâm (tên thật là Trần Tấn Quốc) thành lập, hoạt động từ năm 1958 đến năm 1968, mà người nhận giải đầu tiên là nữ nghệ sĩ Thanh Nga . Những soạn giả tuồng nồi tiếng trong thời này có Năm Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Bảy Cao, Thiếu Linh, Thu An, Viễn Châu (sáng tạo hình thức tân cổ giao duyên, tức là hát cải lương chung với tân nhạc) . Những gánh hát cải lương nổi tiếng thời này có đoàn Thanh Minh, Thống Nhứt, Tiếng Chuông Vàng,... với những nghệ sĩ như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương, Thanh Sang, Phùng Há, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ, Thanh Thanh Hoa, v.v....
Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, cải lương miền Nam còn hoạt động mạnh 10 năm nữa, đến năm 1985, mới dần dần sa sút , vì nhiều lý do, trong đó có thiếu kịch bản hay, thiếu rạp diễn mới và thế hệ lão thành tàn lụi.
== Đặc điểm ==
=== Bố cục ===
Khởi sự, các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, Thoại Khanh Châu Tuấn...hãy còn giữ mang hơi hướm theo kiểu hát bội, do các soạn giả lớp cải lương đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Sau này, các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội), như Tội của ai, khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường... thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói.
=== Đề tài và cốt truyện ===
Buổi đầu, kịch bản cải lương lấy cốt truyện của các truyện thơ Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên...hoặc các vở tuồng hát bội, hoặc phỏng theo truyện phim và kịch bản Pháp, như Bằng hữu binh nhung (frères d’arme), Sắc giết người (Atlantide), Giá trị và danh dự (Le Cid), Tơ vương đến thác (La dame au camélias)...
Vào những năm 1930, đã xuất hiện những vỡ mới viết về đề tài xã hội Việt Nam.
Sau đó, lại có thêm các kịch bản dựa vào các truyện cổ Ấn Độ, Ai Cập, La Mã, Nhật Bản, Mông Cổ... Thế là cải lương có đủ loại tuồng ta, tuồng Tàu, tuồng Tây... sau có thêm dạng tuồng kiếm hiệp, tuồng Hồ Quảng v.v... chứng tỏ khả năng phong phú, biết đáp ứng sở thích của nhiều tầng lớp công chúng.
Sự dung nạp không thành kiến của cải lương có thể coi là sự lai tạp, nhưng đây cũng là khía cạnh đặc điểm có tính chất chung đối với văn hóa của vùng đất Nam Bộ.
=== Ca nhạc ===
Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch, vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc có sẵn, cốt sao cho phù hợp với các diễn biến cùng sắc thái tình cảm của câu chuyện.
Sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu mà sau này mang tên vọng cổ). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Hoa nhưng đã Việt Nam hóa.
Ngoài trừ bản vọng cổ, dưới đây là một số bài bản được sử dụng khá phổ biến trong các tuồng cải lương:
- Tam nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (đảo ngũ cung) - Khốc hoàng thiên - Phụng hoàng - Nặng tình xưa - Ngũ điểm - Bài tạ - Sương chiều - Tú Anh - Xang xừ líu - Văn thiên tường (nhất là lớp dựng) - Ngựa ô bắc - Ngựa ô nam - Đoản khúc Lam giang - Phi vân điệp khúc - Vọng kim lang - Kim tiền bản - Duyên kỳ ngộ - U líu u xáng - Trăng thu dạ khúc - Xàng xê v.v... - Và các điệu lý, như: giao duyên, lý con sáo, lý tòng quân, lý cái mơn v.v..
Ngoài ra, khi các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng)…thì lúc bấy giờ trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu...
== Dàn nhạc ==
Một đoàn cải lương không chỉ có các diễn viên diễn xuất trên sân khấu, mà luôn luôn phải có một dàn nhạc đi kèm. Vì thế, khi trình bày về âm nhạc trong nghệ thuật cải lương, không thể không nói tới dàn nhạc cải lương. Dàn nhạc cải lương có một vai trò đặc biệt trong tuồng diễn, đến nỗi, không có dàn nhạc thì không thể thành một tuồng diễn. Dàn nhạc trong cải lương không chỉ có nhiệm vụ nâng đỡ, phụ họa cho giọng hát, mà còn tô điểm thêm cho từng giai điệu để làm nổi bật chiều sâu tâm lý của nhân vật, tạo thêm kịch tính cho kịch bản, góp phần cho sự thành công của tuồng diễn.
Có một điều đặc biệt cần chú ý là ngay từ buổi đầu, lúc mới khai sinh, trong nghệ thuật cải lương đã có sự tồn tại song song của hai dàn nhạc: dàn nhạc cổ và dàn nhạc tân. Vai trò và sự tham gia của hai dàn nhạc trong vở diễn tuy có khác nhau nhưng không hề có sự lấn át lẫn nhau, mà luôn bổ túc cho nhau. Đó là sự phối hợp độc đáo giữa nét truyền thống và nét hiện đại trong nền âm nhạc cải lương.
=== Dàn nhạc cổ ===
Dàn nhạc cổ luôn giữ vai trò chủ chốt và được cho là linh hồn của tuồng cải lương. Dàn nhạc cổ cũng mang đậm nét truyền thống và góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc trong nghệ thuật âm nhạc cải lương. Về mặt cấu trúc, dàn nhạc cổ thường sử dụng những nhạc cụ như: đàn tranh, đàn bầu, đàn kìm, đàn cò, đàn tỳ bà, guitar phím lõm, đàn sến, song loan và sáo trúc...
=== Dàn nhạc tân ===
Dàn nhạc tân trong tuy chỉ đóng vai phụ, nhưng cũng rất tích cực, đồng thời cũng rất đa dạng về nhạc cụ. Như phần trên đã trình bày, ngay từ lúc cải lương được hình thành, thì đã có sự góp mặt của dàn nhạc tân, quá trình phát triển của dàn nhạc tân được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu từ năm 1920-1940; từ 1940-1960 và từ 1960-1975. Ở giai đoạn đầu, dàn nhạc tân không tham gia vở diễn mà chỉ đóng vai trò như một tiết mục quảng cáo, tức là biểu diễn trước lúc tuồng cải lương được bắt đầu; hoặc chỉ được sử dụng để "lấp vào chỗ trống" khi chuyển màn, chuyển cảnh... Trong giai đoạn này, cấu trúc của dàn nhạc tân chỉ có bộ hơi (các loại kèn đồng) kèm với một dàn trống jazz.
Ở giai đoạn thứ hai, khi nghệ thuật cải lương dung nạp thêm một số bài tân nhạc, thì dàn nhạc tân cũng bắt đầu được tham gia vở diễn. Nhưng sự tham gia này còn rất hạn chế, chỉ đệm cho diễn viên hát những đoạn tân nhạc. Đến lúc này thì dàn nhạc tân có thêm hai cây guitar solo và guitar bass.
Ở giai đoạn thứ ba thì dàn nhạc tân coi như có vai trò ngang hàng với dàn nhạc cổ trong vở diễn. Ngoài chức năng đệm cho tân nhạc, dàn nhạc tân còn phụ họa, điểm xuyến cho những vai diễn. Lúc này, dàn nhạc tân dung nạp thêm cây piano và cây organ.
Ngày nay, dàn nhạc tân còn dung nạp thêm nhiều loại nhạc cụ hiện đại khác, đặc biệt là cây organ điện tử với các chức năng ngày càng đa dạng. Cây Organ điện tử hiện đại này đang "thao túng trên sân khấu cải lương, quá lạm dụng, nhiều lúc cái hồn và chất âm nhạc truyền thống của Cải Lương bị sai lệch".
=== Diễn xuất ===
Diễn viên cải lương diễn xuất như kịch nói, chỉ khác là diễn viên ca chứ không nói, cử chỉ điệu bộ phù hợp theo lời ca, chứ không cường điệu như hát bội, Vương Hồng Sển cho rằng hát bội tượng trưng nhiều quá và la lối lớn tiếng quá, trái lại cải lương ca rỉ rả cho thêm muồi... Sau này (khoảng những năm 60), cải lương có pha thêm những cảnh múa, đu bay, diễn võ... cốt chỉ để thêm sinh động...
=== Y phục, tranh cảnh ===
Trong các vở diễn về tuồng tích xưa hay lấy cốt truyện ở nước ngoài thì y phục của diễn viên và tranh cảnh trên sân khấu cũng được chọn lựa sao gợi được bối cảnh nơi xảy ra câu chuyện, nhưng cũng chỉ mới có tính ước lệ chứ chưa đúng với hiện thực. Trong các vở về đề tài xã hội, diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời.
== Ghi công ==
Sơ khởi nên kể công ông Tống Hữu Định (tức Phó Mười Hai). Kế đó, người có công gầy dựng và đưa lên sân khấu là ông André Thận. Bên cạnh đó còn có vài người góp sức như: Kinh-lịch Quờn (hay Hườn), Phạm Đăng Đàng...
Ngoài ra còn phải kể đến công của những bầu gánh, soạn giả, nhạc sĩ và các đào kép tài danh thuộc thế hệ đầu, như: Tư Sự (gánh Đồng Bào Nam), Hai Cu (gánh Nam Đồng Ban), Trần Ngọc Viện (gánh Nữ Đồng Ban), Trương Duy Toản, Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), Nguyễn Tri Khương, Trần Văn Chiều (tự Bảy Triều), Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc, Năm Phỉ, Ngọc Xứng, Ngọc Sương, Phùng Há, Tư Sạng,Hai Giỏi, Năm Nở, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nam v.v... Tất cả đã góp phần hình thành và phát triển loại hình nghệ thuật cải lương.
Cũng nên nói thêm, từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một loại hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút đông đảo khán thính giả. Và do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một nhà báo kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát huy chương và khen thưởng cho những nam nữ nghệ sĩ trẻ có triển vọng nhất trong năm.
Các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng: Phùng Há, Bảy Nam, Út Trà Ôn, Thanh Sang, Minh Vương, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Vũ Linh, Ngọc Huyền, Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Năm Phỉ, Thanh Nga, Phượng Liên...
== Một số vở cải lương nổi tiếng ==
Chuyện tình Lan và Điệp
Tô Ánh Nguyệt
Sầu vương biên ải
Tuyệt tình ca
Nạn con rơi
Mưa rừng
Tôn Tẫn giả điên
Người vợ không bao giờ cưới
Đời cô Lựu
Lá sầu riêng
Nửa đời hương phấn
Tiếng hạc trong trăng
Sân khấu về khuya
Bên cầu dệt lụa
Tiếng trống Mê Linh
Tấm lòng của biển v.v...
== Các đoàn cải lương chuyên nghiệp ==
Nghệ thuật sân khấu Cải lương có 19 đơn vị phân bố chủ yếu ở các tỉnh Đồng bằng bắc bộ và Nam bộ gồm:
Nhà hát Cải lương Việt Nam;
Nhà hát Cải lương Hà Nội;
Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang;
Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh Đồng Nai;
Đoàn Cải lương Hải phòng
Đoàn Cải lương Quảng Ninh
Đoàn Cải lương Thái Bình
Đoàn Cải lương Nam Định
Đoàn Cải lương Thanh Hóa
Đoàn Cải lương Hương Tràm tỉnh Cà Mau;
Đoàn Cải lương Tây Đô thuộc Nhà hát Tây Đô tỉnh Cần Thơ;
Đoàn nghệ thuật Cải lương Long An;
Đoàn văn công Đồng Tháp;
Đoàn nghệ thuật Cải lương Bến Tre;
Đoàn Cải lương Ánh Hồng tỉnh Trà Vinh;
Đoàn Cải lương nhân dân Kiên Giang;
Đoàn Cải lương Cao Văn Lầu tỉnh Bạc Liêu;
Đoàn Cải lương An Giang;
Đoàn nghệ thuật Cải lương Tây Ninh.
== Xem thêm ==
Chèo cải lương
Ca nhạc cải lương
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cải lương...bài của Gs. Trần Văn Khê.
Cải lương: Còn khủng hoảng đến bao giờ? trên báo Thể thao Văn hóa cuối tuần: bài một số 47 năm 2009, bài 2 số 48 năm 2009, bài 3 số 49 năm 2009
Nguồn gốc ra đời nghệ thuật cải lương.
Chìm nổi cải lương
Những tư liệu về cải lương.
Vương Hồng Sển, Hồi ký 50 năm mê hát (Trích): Đọc truyện do Tuyết Nga phụ trách [Nguồn: Radio VNCP]: Phần 1, Phần 2 |
hiệp ước maastricht.txt | Hiệp ước Maastricht (tên chính thức: Hiệp ước về Liên minh châu Âu, tiếng Anh: Treaty on European Union, TEU) là hiệp ước được ký ngày 7.2.1992 ở Maastricht, Hà Lan sau khi thương thuyết xong ngày 9.12.1991 giữa các nước thành viên của Cộng đồng châu Âu, và có hiệu lực từ ngày 1.11.1993 dưới thời Ủy ban Delors.
Hiệp ước này thành lập Liên minh châu Âu và đưa tới việc thiết lập đồng euro. Hiệp ước Maastricht đã được các hiệp ước sau đó sửa chữa bổ sung nhiều.
Đến năm 1993 đã có 12 quốc gia phê chuẩn Hiệp ước Maastricht về Liên minh châu Âu: Anh, Pháp, Đức, Cộng hòa Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Hy Lạp, Đan Mạch, Luxembourg, Bỉ, và Hà Lan. Áo, Phần Lan, và Thụy Điển trở thành thành viên của EU vào năm 1995.
== Nội dung ==
Hiệp ước Maastricht dẫn tới việc lập ra đồng euro, và lập ra cái thường gọi là ba trụ cột chính của Liên minh châu Âu. Quan niệm về Liên minh chia thành trụ cột Cộng đồng châu Âu, trụ cột Chính sách đối ngoại và an ninh chung và trụ cột Tư pháp và Nội vụ. Hai trụ cột sau là các lãnh vực chính sách liên chính phủ, trong đó quyền của các nước thành viên mở rộng lớn nhất. Trong khi dưới trụ cột Cộng đồng châu Âu, các cơ quan thể chế siêu quốc gia của Liên minh - Ủy ban, Nghị viện và Tòa án – có quyền nhiều nhất. Cả 3 trụ cột đều là việc mở rộng các cơ cấu chính sách đã tồn tại từ trước.
Trụ cột Cộng đồng châu Âu là sự tiếp tục của Cộng đồng Kinh tế châu Âu và chữ "Kinh tế" được bỏ khỏi tên, để tiêu biểu cho nền tảng chính sách rộng lớn hơn do Hiệp ước Maastricht mang lại. Việc phối hợp trong chính sách đối ngoại đã diễn ra đầu thập niên 1970 dưới sự che chở của Việc hợp tác Chính trị châu Âu (tiếng Anh, "European Political Cooperation" hay "EPC"). Việc hợp tác Chính trị châu Âu đã được ghi vào các hiệp ước bởi Đạo luật chung châu Âu (tiếng Anh, "Single European Act"), nhưng không là thành phần của Cộng đồng Kinh tế châu Âu.
Trong khi đó trụ cột Tư pháp và Nội vụ đã đưa việc hợp tác vào các lãnh vực xét xử tội phạm, nơi nương náu cho người tỵ nạn, việc nhập cư và hợp tác tư pháp trong các vấn đề dân sự, một số trong các lãnh vực này vốn đã là chủ đề cho việc hợp tác liên chính phủ trong việc thi hành Hiệp ước Schengen năm 1990.
Việc lập ra hệ thống 3 trụ cột là kết quả của mong muốn mở rộng Cộng đồng Kinh tế tới các lãnh vực đối ngoại, quân sự, xét xử tội phạm, hợp tác tư pháp của nhiều nước thành viên, dù có mối nghi ngại của vài nước thành viên khác, nhất là Vương quốc Anh.
Thay vì đổi tên Cộng đồng Kinh tế châu Âu thành Liên minh châu Âu, thỏa thuận đạt được trong hiệp ước này sẽ lập ra một Liên minh châu Âu riêng rẽ, hợp pháp, bao gồm thay đổi tên gọi Cộng đồng Kinh tế châu Âu và các lãnh vực chính sách liên chính phủ về chính sách đối ngoại, quân sự, xét xử tội phạm, hợp tác tư pháp. Cơ cấu này đã hạn chế phần lớn quyền của Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu và Tòa án Cộng đồng châu Âu để thúc đẩy các lãnh vực chính sách liên chính phủ mới để bao gồm các trụ cột thứ hai và thứ ba: chính sách đối ngoại và các vấn đề quân sự (trụ cột Chính sách đối ngoại và an ninh chung) và việc hợp tác tư pháp trong xét xử tội phạm và các việc dân sự (trụ cột Tư pháp và Nội vụ).
== Phê chuẩn ==
Quá trình phê chuẩn hiệp ước này đầy khó khăn trong 3 nước thành viên. Cuộc trưng cầu ý dân lần đầu để phê chuẩn hiệp ước của Đan Mạch ngày 2.6.1992 đã bị các cử tri bác bỏ. Cuộc trưng cầu ý dân về hiệp ước lần thứ hai ngày 18.5.1993 (cùng với Thỏa ước Edinburgh) mới được chấp nhận với 4 lãnh vực bảo lưu (ví dụ Đan Mạch chưa gia nhập khu vực đồng euro). Tháng 9 năm 1992, cuộc trưng cầu ý dân của Pháp để phê chuẩn hiệp ước cũng chỉ đạt được đa số thuận khít khao 51,05%. Tại Vương quốc Anh, chính phủ của thủ tướng John Major (đảng Bảo thủ Anh) cũng phải trầy trật mới vượt qua được phe chống đối trong Hạ nghị viện Anh.
== Xem thêm ==
Hiệp ước Paris (1951)
Các hiệp ước Rome
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The Treaty on European Union
Download version
For other languages look at the EU page on the European Treaties
Currently established version in consolidated form
Currently established version in consolidated form for iPhone / iPod Touch
The History of the European Union - The Treaty of Maastricht
Maastricht Treaty European Navigator
Proposed 1962 treaty establishing a "European Union" |
nō.txt | Nō (能, Nō, Năng), hay Nōgaku (能楽, Năng Nhạc) là một thể loại quan trọng trong nghệ thuật kịch truyền thống Nhật Bản, được biểu diễn từ thế kỷ 14. Cùng với việc có quan hệ với kyōgen, nó phát triển từ rất nhiều loại hình nghệ thuật đại chúng, dân gian và cung đình, bao gồm Dengaku, Shirabyoshi, và Gagaku. Mặc dù Nō có tiết tấu chậm và được cách điệu hóa đã vài thế kỷ, gốc rễ của nó là từ Nuo (傩 (Na) của nhà Đường, 戏 (hí)), Sarugaku (bắt nguồn từ "Ngô nhạc" truyền thống suốt nhiều triều đại ở Trung Quốc), và kịch dân gian.
Kịch Nō như ngày nay là do công phát triển của Kan'ami và con trai ông là Zeami trong thời kỳ Muromachi với sự tài trợ của gia tộc Ashikaga hùng mạnh. Sau đó, nó chịu ảnh hưởng của một số loại hình kịch khác như kabuki và butō. Trong thời kỳ Minh Trị, mặc dù tài trợ từ chính phủ không còn, Nō và Kyōgen vẫn được nhìn nhận một cách chính thúc là hai trong ba loại hình kịch nghệ quốc gia.
Theo truyền thống, diễn viên kịch Nō và nhạc công không bao giờ luyện tập cùng nhau. Thay vào đó, mỗi diễn viên, nhạc công, và dàn hợp xướng tập riêng những động tác, bài hát, điệu múa cơ bản của mình hay dưới sự dạy bảo của những người đi trước. Do đó, nhịp độ của buổi diễn không bị bất kỳ cá nhân nào chi phối mà là sự phối hợp giữa tất cả mọi người. Theo đó, Nō là một ví dụ cho nền mỹ học truyền thống Nhật Bản, được Sen no Rikyū gọi là "ichi-go ichi-e" (tạm dịch là "chỉ một lần").
== Phân vai ==
Có bốn thể loại người biểu diễn kịch Nō chính là: shite, waki, kyōgen, và hayashi.
Shite (仕手, シテ, sĩ thủ), nghĩa đen là "người thực hiện" là vai trò thường thấy nhất trong kịch Nō.
Shite (diễn viên chính). Trong các vở kịch mà shite xuất hiện ban đầu dưới lốt người rồi sau hiện thân thành quỷ, vai ban đầu được gọi là maeshite và vai sau gọi là nochishite.
Shitezure (仕手連れ, シテヅレ) bạn diễn của shite. (Đôi khi được viết tắt là "tsure" (連れ, ツレ), mặc dù cụm này được dùng để chỉ cả shitezure và wakizure.)
Waki (脇, ワキ, hiếp) diễn vai phù trợ hay làm nền cho shite.
Wakizure (脇連れ, ワキヅレ) là bạn diễn với waki.
Kyōgen (狂言, cuồng ngôn) diễn aikyogen giải lao giữa các màn kịch. Diễn viên kyōgen cũng diễn trong những màn kịch riêng giữa hai vở kịch Nō.
Hayashi (囃子) hay hayashi-kata (囃子方) là các nhạc công chơi bốn loại nhạc cụ trong nhà hát kịch Nō: sáo fue, trống okawa hay ōtsuzumi, trống kotsuzumi, và trống cái taiko.
Jiutai (地謡, địa dao) là dàn hợp xướng, thường có từ 6 đến 8 người
Kōken (後見, hậu kiến) là người giúp việc sân khấu, thường gồm 1 đến 3 người
Một vở kịch Nō thông thường gồm 4 hay 5 loại diễn viên và kéo dài khoảng 30-120 phút. Chỉ có đàn ông mới được diễn kịch Nō.
== Vở kịch ==
Có khoảng 250 vở kịch Nō trong kịch mục hiện nay, có thể được phân chia theo nhiều tiêu chí. Nhưng tiêu chí phổ biến nhất là dựa vào nội dung, nhưng cũng lại có đến vài phương pháp sắp xếp.
=== Thể loại ===
Kami mono (神物, thần vật) hay waki nō (脇能, hiếp năng) có đặc điểm là để shite dưới vai người trong màn thứ nhất và vai một vị thần trong màn hai, và kể lại một câu truyện thần thoại về một ngôi đền hay ca ngợi một linh hồn đặc biệt.
Shura mono (修羅物, tu la vật) hay asura nō (阿修羅能, Atula năng) với shite thường xuất hiện với vai quỷ trong màn một và một trận chiến tượng trưng trong màn hai, kết thúc với cái chết của vai này.
Katsura mono (鬘物, man vật) hay onna mono (女物, nữ vật) với shite đóng vai nữ và là loại có nhiều bài hát và điệu múa tinh tế nhất trong các thể loại kịch Nō.
Có khoảng 94 vở kịch hỗn hợp, bao gồm kyōran mono (狂乱物) hay cuồng loạn vật, onryō mono (怨霊物) hay kịch ma báo thù, và genzai mono (現在物, hiện tại vật), kịch lấy chủ đề đương thời, và không được xếp vào các thể loại khác.
Kiri nō (切り能, kịch cuối cùng) hay oni mono (鬼物, quỷ năng) thường có "shite" đóng vai ma, quỷ, yêu tinh, và thường có màu sáng và tiết tấu nhanh, căng thẳng trong các động tác cuối.
=== Tâm trạng ===
Mugen nō (夢幻能, mộng ảo năng) thường về linh hồn, ma, ảo ảnh, và thế giới siêu nhiên. Thời gian thường được mô tả là đang trôi đi bằng các trang phục không có kẻ sọc dài, và các hành động chuyển giữa hai khoảng thời gian.
Genzai nō (現在能, hiện tại năng), như đã nói ở trên, miêu tả sự kiện bình thường hàng ngày. Tuy nhiên, ngược với mugen, cụm từ này bao hàm các thể loại kịch trên một diện rộng hơn.
=== Phong cách ===
Geki nō (劇能, kịch năng) hay các vở kịch dựa một phần vào phát triển từ kịch bản hay thuật lại hành động.
Furyū nō (風流能, phong lưu năng) hay kịch múa tập trung vào chất lượng thẩm mỹ của các điệu múa và bài hát được diễn.
Okina (hay Kamiuta) là một thể loại đặc biệt kết hợp các điệu múa lễ nghi của Shintō. Nó được coi là thể loại kịch Nō cổ nhất, và cũng là loại hay được diễn nhất. Nói chung là nó hay mở đầu bất kỳ một chương trình hay lễ hội nào.
=== Nguồn gốc ===
Truyện kể Heike, một câu chuyện thời trung cổ về sự hưng vượng và sụp đổ của gia tộc Taira, bắt nguồn từ bài hát của những nhà sư mù chơi đàn biwa, là một nguồn quan trọng trong các chất liệu của kịch Nō (và các thể loại kịch sau này), đặc biệt là kịch chiến binh. Một nguồn quan trọng khác là Truyện kể Genji, tác phẩm văn học vào thế kỷ thứ 11 có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tiếp theo của văn hóa Nhật Bản. Các tác giả cũng lấy cảm hứng từ thời kỳ Nara, thời kỳ Heian, và các nguồn từ Trung Quốc.
=== Một vài vở kịch nổi tiếng ===
Dưới đây là một số vở kịch Nō nổi tiếng theo đánh giá của trường kịch Nō Kanze.
== Yếu tố biểu diễn ==
Biểu diễn Nō bao gồm rất nhiều các yếu tố hợp thành phong cách chung, với mỗi yếu tố bắt nguồn từ văn hóa Phật giáo, Shintō, và các khía cạnh nhỏ nữa trong các quan điểm mỹ học của kịch Nō.
=== Sân khấu ===
Sân khấu kịch Nō truyền thống bao gồm một sảnh theo lối kiến trúc sân khấu kagura truyền thống của những ngôi đền Shintō, và thường được làm từ gỗ hinoki (cây bách Nhật Bản). Bốn cột được đặt tên theo hướng của nó trong vở diễn: waki-bashira ở trước, góc phải gần vị trí đứng và ngồi của waki; cột shite-bashira ở rìa, góc trái, ở gần vị trị ‘'shite thường biểu diễn; cột fue-bashira ở rìa góc phải, gần người thổi sáo; và cột metsuke-bashira, hay "cột nhìn", gọi vậy là vì "shite" thường đối mặt và ở gần cột này.
Sàn được đánh bóng để diễn viên có thể diễn cá pha trượt, và dưới sàn được chôn các bình lớn bằng hay các kết cấu rỗng nhưng chắc chắn để tăng độ vang của sàn gỗ khi diễn viên dậm mạnh lên sàn. Và để làm điều đó, sàn được nâng lên khoảng ba foot so với khán giả.
Sự trang trí duy nhất trên sân khấu là kagami-ita, bức tranh cây thông ở phía cuối sân khấu. Người ta tin rằng nó đại diện cho cây thông nổi tiếng ở đền Kasuga ở Nara, hoặc là biểu hiện của cho các bậc tiền bối đã đặt nền móng cho nghệ thuật Nō.
Một đặc điểm độc đáo khác của sân khấu là hashigakari, một cây cầu hẹp ở bên phải (từ phía khán đài nhìn tới là bên trái) mà diễn viên chính thường dùng để đi lên sân khấu. Đường này sau được phát triển thành hanamichi ở kabuki.
Tất cả các sàn diễn đều dành cho kịch Nō một cái móc hay cái thòng lọng ở trên trần để treo và đánh chuông cho vở kịch Dōjōji. Khi vở kịch đó được biểu diễn ở nơi khác, cái móc này sẽ được lắp thêm vào tạm thời.
=== Phục trang ===
Quần áo của diễn viên được trang trí bằng nhiều nhiều loại biểu tượng cho loại diễn viên. Ví dụ thần sấm sét sẽ có hình lục giác trên áo, trong khi rắn sẽ có hình tam giác tượng trưng cho vảy. Phục trang cho "shite" được đặc biệt cường điệu hóa, với kim tuyến lấp lánh, nhưng còn ít lộng lẫy hơn so với tsure, wakizure, và aikyōgen.
Nhạc công và hát bè thường mặc montsuki kimono (đen và được trang trí bằng gia huy của năm gia đình) cùng với hakama (một loại áo vải) hay kami-shimo, hòa trộn giữa hakama và áo thắt eo với vai phồng. Cuối cùng, những người phục vụ sân khấu mặc vải đen không được trang trí, giống như cách họ mặc ở các sân khấu phương Tây hiện nay.
=== Mặt nạ ===
Mặt nạ trong kịch Nō (能面 nō-men (năng diện) hay 面 omote (diện)) đều có tên riêng.
Thường chỉ có shite, diễn viên chính, mới đeo mặt nạ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tsure cũng có thể đeo mặt nạ, đặc biệt là với vai nữ. Mặt nạ kịch Nō vẽ chân dung của phụ nữ hay những nhân vật không phải người (thần thánh, quỷ, hay động vật). Cũng có vài mặt nạ kịch Nō để diễn tả trẻ con hay người già. Mặc khác, diễn viên không đeo mặt nạ đóng vai đàn ông trưởng thành ở 20, 30 hay 40 tuổi. Diễn viên phụ waki không đeo mặt nạ.
Vài loại mặt nạ, đặc việt là cho vai nữ, được thiết kế để chỉ cần một sự điều chỉnh nhẹ ở vị trí đầu cũng có thể biểu lộ nhiều cảm xúc như sợ hãi hay đau buồn nhờ vào ánh sáng và góc độ hướng đến khán giả. Với những mặt nạ lộng lẫy cho thần thánh hay quỷ, thường không thể thể hiện cảm xúc. Tuy vậy, thông thường, những nhân vật này không được yêu cầu phải thay đổi biểu lộ cảm xúc trong toàn buổi diễn, hay thể hiện cảm xúc thông qua ngôn ngữ cơ thể.
Những mặt nạ Nō hiếm nhất và giá trị nhất thậm chí không được lưu giữ ở các bảo tàng Nhật Bản, mà trong các bộ sưu tập cá nhân của hiệu trưởng (iemoto) các trường dạy kịch Nō; những báu vật này chỉ được trưng bày cho một thiểu số người xem và hiếm khi được mang ra biểu diễn. Nó không làm hư hại gì khi đem ra nghiên cứu và đánh giá mặt nạ kịch Nō, vi truyền thống đã để lại vài trăm tiêu chuẩn thiết kế mặt nạ khác nhau, có thể phân thành một tá các thể loại.
=== Đạo cụ sân khấu ===
Đạo cụ hay được sử dụng nhất trong kịch Nō là chiếc quạt, được mọi người biểu diễn mang theo cho dù vai trò của họ có là gì. ca sĩ hát bè và nhạc công cầm quạt khi tiến vào sân khấu, hay nhét nó vào khăn obi. Dù trong trường hợp nào, quạt cũng thường được đặt ở bên cạnh người diễn khi anh ta ngồi vào vị trí của mình, và thường được mang theo khi họ rời sân khấu.
Vài vở kịch có những nhân vật cầm cái vồ, thanh kiếm hay các đạo cụ khác. Tuy nhiên, trong cảnh múa, cây quạt được dùng để thể hiện bất kỳ một loại đạo cụ cầm tay nào khác, ví dụ như thanh kiếm mà diễn viên có thể gài vào khăn hay cầm sẵn ở tay kia.
Khi các đạo cụ cầm tay ngoài chiếc quạt được sử dụng, nó thường được giới thiệu hay được phục vụ sân khấu đưa cho. Giống như đối tác trên sân khấu phương Tây, nhân viên sân khấu kịch Nō mặc áo đen theo truyền thống, nhưng khống giống phương Tây ở chỗ họ xuất hiện trên sân khấu trong các cảnh, và có thể cứ ở trên sân khấu trong suốt buổi biểu diễn, trong cả hai trường hợp đều ở trước mắt khán giả.
Đạo cụ sân khấu kịch Nō còn có thuyền, giếng nước, bệ thờ, và cái chuôn đã nói ở trên cho Dōjōji, thường được mang lên sân khấu từ trước buổi diễn khi cần. Những đạo cụ này thể hiện bằng những nét chính để gợi ra vật thật, mặc dù chiếc chuông lớn, một trường hợp đặc biệt tồn tại lâu dài đối với các luật tục của kịch Nō, được thiết kế để giấu các diễn viên và cho phép thay đổi trnag phục trong các màn biểu diễn aikyogen xen giữa.
=== Bài hát và âm nhạc (Nōgaku 能楽, năng nhạc) ===
Nhà hát Nō đi cùng với dàn hợp xướng hay đồng ca hayashi (Nō-bayashi 能囃子). Nō là một loại kịch hát, và một vài nhà bình luận đã gọi đây là opera Nhật Bản. Tuy nhiên, giọng hát trong kịch Nō có một số giới hạn về âm, với độ ngân, độ vang trong một diện hẹp. Rõ ràng là giai điệu không phải là trung tâm của ca hát trong kịch Nō. Hơn nữa, lời ca là những câu thơ, phụ thuộc chặt chẽ vào thể loại thơ thất-ngũ quen thuộc trong thơ ca Nhật Bản, ít câu chữ nhưng nhiều ẩn ý.
Một lưu ý quan trọng là ca hát không phải luôn luôn đi liền với nhân vật; đôi khi, cách nói của diễn viên hay miêu tả sự kiện từ cái nhìn của một nhân vật khác hay thậm chí một người kể chuyện vô tư. Không hề phá vỡ nhịp điệu của vở diễn, điều đó thực sự đã giúp cho nhiều người từ những nền văn minh khác hiểu hơn về kịch Nō, đặc biệt là những nhân vật thuộc thể loại mugen (không lời).
Đồng ca Nō hayashi bao gồm bốn nhạc công, còn được gọi là "hayashi-kata". Có ba người đánh trống, chơi shime-daiko, ōtsuzumi, và kotsuzumi, và một người thổi sáo shinobue.
=== Jo, Ha, Kyū ===
Một trong những yếu tố biểu diễn huyền ảo nhất của kịch Nō là Jo-ha-kyū, bắt nguồn từ gagaku (nhã nhạc). Tuy nhiên, thay vì đơn giản chỉ chia một vở kịch thành ba phần, trong kịch Nō không chỉ diễn một mình kịch, mà cả hát và múa trong vở diễn, và thậm chí những bước đi, cử chỉ, âm thanh mà diễn viên hay nhạc công tạo ra. Hơn nữa, từ tầm nhìn cao, cả chương trình truyền thống của kịch Nō gồm năm vở diễn chứng minh ý niệm chung này, vở thứ nhất chơi jo, vở thứ hai, thú ba, và thứ tư là ha (vở thứ hai được gọi là jo trong số ha, vở thứ ba gọi là ha trong phần ha, và vở thú ba gọi là kyū trong phần ha), và vở thứ năm gọi là kyū. Nói chung, phần jo chậm và gợi nhiều liên tưởng, phần ha hay phần đi vào chi tiết hay không tuân theo quy luật tự nhiền và thế giới tự nhiên, và kyū giải quyết mọi vấn đề nhanh chóng và bất ngờ (tuy vậy, lưu ý là, điều này chỉ có nghĩa là kyū nhanh so với những các phần trước đó, và những người không quen với các quy tắc của kịch Nō có thể không nhận ra việc đẩy nhanh tốc độ).
== Diễn viên ==
Có khoảng 1500 diễn viên kịch Nō chuyên nghiệp ở Nhật Bản hiện nay, và loại hình nghệ thuật này vẫn tiếp tục phát triển. Các diễn viên bắt đầu việc rèn luyện từ tấm bé, theo truyền thống là từ lúc ba tuổi.
Năm trường dạy diễn xuất shite của kịch Nō hiện nay là Kanze (観世, Quán Thế), Hōshō (宝生, Bảo Sinh), Komparu (金春, Kim Xuân), Kita (喜多, Hỉ Đa), và Kongō (金剛, Kim Cương). Mỗi trường đo một gia đình đứng đầu gọi là sōke, và người đứng đầu mỗi gia đình được quyền sáng tác những vở kịch mới hay hiệu đính lại các bài hát.
Xã hội kịch Nō bảo vệ nghiêm ngặt truyền thống truyền lại từ tổ tiên (xem iemoto). Tuy vậy, vài tàng thư bí mật của trường Kanze do Zeami viết, và của trường Komparu do Komparu Zenchiku viết đã được lan truyền trong cộng đồng các nhà hát Nhật Bản.
Các diễn viên thường tuân theo một sự tiến triển nghiêm khắc thông qua sự phấn đấu cả đời từ những vai cơ bản cho đến những vai phức tạp nhất; vai Yoshitsune trong Funa Benkei là một trong những vai nỏi bật mà các diễn viên trẻ con thường biểu diễn trong kịch Nō.
== Ảnh hưởng với phương Tây ==
Các nghệ sĩ phương Tây tiêu biểu chịu ảnh hưởng từ kịch Nō là:
Benjamin Britten
William Butler Yeats
== Thuật ngữ mỹ học ==
Zeami và Zenchiku miêu tả một loạt các quan điểm thẩm mỹ riêng biệt rất cần thiết để hiểu được thể loại kịch Nō.
Hana (花, hoa): người biểu diễn kịch Nō chân chính chăm chút cho mối quan hệ tinh tế với khán giả của mình giống như cách chăm sóc hoa. Điều đáng chú ý là hana, giống như hoa, nghĩa là được mọi khán giả mến mộ, bất chấp việc dạy dỗ anh ta cao quý hay tầm thường. "Hana" có hai dạng. "Hana" theo cá nhân là vẻ đẹp của một bông hoa hàm tiếu, truyền qua thời gian, trong khi "hana" thực sự là bông hoa bằng cách tạo ra và chia sẻ sự hoàn hảo trên sân khâu.
Yūgen (幽玄, u huyền): thuật ngữ mỹ học được dùng để miêu tả nghệ thuật thế kỷ 13, 14 ở Nhật Bản, nhưng được sử dụng trong kịch Nō để thể hiện vẻ đẹp sâu sắc của thế giới trừu tượng, bao gồm vẻ đẹp thê lương của mất mát và nỗi buồn.
Kokoro hay shin (cả hay đều viết là 心 – tâm) "Tâm" của kịch Nō theo lời dạy của Zeami, để phát triển "hana" diễn viên phải ở vào trạng thái vô thức (vô tâm).
Rōjaku (老弱. lão nhược): bước cuối cùng trong việc phát triển diễn xuất của một diễn viên kịch Nō, theo đó một người cao tuổi đã bỏ đi mọi hành động hay âm thanh không cần thiết khi diễn.
Myō (妙, diệu): "vẻ đẹp" của diễn viên trình diễn hoàn mỹ không một tỳ vết và không chút giả tạo; ông thực sự đã hóa thân vào vai diễn.
Monomane (物真似, vật chân tự): mục đích của diễn viên kịch Nō là thể hiện chính xác diễn xuất của vài mình, tương phản với lý do thẩm mỹ của sự trừu tượng hóa và đẹp một cách hoàn thiện. Monomane đôi khi trái nghịch với yūgen, mặc dù cả hai đều thể hiện điểm kết thúc của một thể liên tục thay vì hoàn toàn tách biệt.
Kabu-isshin (歌舞一心, "Ca vũ nhất tâm"): thuyết cho rằng bài hát (bao gồm cả thơ) và điệu múa là hai phần của một tổng thể, và diễn viên kịch Nō cố gắng diễn tốt cả hai loại với tất cả trái tim và khối óc.
== Xem thêm ==
Iemoto
== Tham khảo ==
Karen Brazell. Traditional Japanese Theater: An Anthology of Plays. New York: Columbia University Press. 1998.
Benito Orolani. The Japanese Theatre: From Shamanistic Ritual to Contemporary Pluralism. Princeton: Princeton University Press. 1990.
== Link liên quan ==
video kịch Nō
Bản dịch 13 vở kịch Nō
Kyogen: Hài kịch truyền thống Nhật Bản
Đạo đức thật và giả trên biểu tượng và những vở kịch Nō
Bậc thầy mặt nạ kịch Nō Shigeharu Nagasawa/ 長澤重春能面集 Nhật Bản
Sân khấu kịch Nō
Trang về các cách thể hiện mặt nạ kịch Nō khác nhau
Các vở kịch đương thời biểu diễn theo kiểu kịch Nō cho một khán giả Mỹ
Comprehensive Web site on Japanese Noh
== Tham khảo == |
kiyohara no motosuke.txt | Kiyohara Motosuke (Nhật: 清原 元輔 (Thanh Nguyên, Nguyên Phụ), 908 – 6/990) là một nhà thơ quý tộc của Nhật Bản vào thời kỳ Heian. Xuất thân trong một gia đình văn học lớn, ông gọi Kiyohara Fukayabu (tác giả bài số 36 trong tập Ogura Hyakunin Isshu) bằng ông nội và là cha đẻ của nữ sĩ tài hoa Sei Shōnagon (tác giả bài số 62 trong tập Ogura Hyakunin Isshu), nổi tiếng đến ngày nay với tác phẩm Makura no Sōshi. Ông có chân trong Ba mươi sáu ca tiên, và một trong những bài thơ nằm trong tập thơ nổi tiếng Ogura Hyakunin Isshu. Ông giữ chức Tổng đốc tỉnh Kawachi và Higo.
Ông là một trong năm người nổi tiếng làm việc ở Viện Hòa Ca Nashitsubo no Gonin (梨壺の五人 (Lê Hồ Ngũ Nhân), Nashitsubo no Gonin), vì sân công thự làm việc có trồng nhiều cây lê. Ông có công biên tập Gosen Wakashū (, Hậu Tuyển Tập). Nhóm này cũng biên soạn kundoku (訓読, kundoku), các văn bản đọc lấy từ Vạn diệp tập.
Thơ của ông nằm trong nhiều tập thơ nổi tiếng, bao gồm cả Shūi Wakashū (, Thập Di Tập). Tập thơ cá nhân của ông là tập Motosukeshū (元輔集 (Nguyên Phụ Tập), Motosukeshū) vẫn còn được lưu truyền.
== Thơ Kiyohara Motosuke ==
Đây là bài thơ thứ 42 trong tập Ogura Hyakunin Isshu do Fujiwara no Teika biên tập:
=== Xuất xứ ===
Goshūi Wakashū (, Hậu Thập Di Tập), thơ luyến ái phần 4, bài 770.
=== Hoàn cảnh sáng tác ===
Lời thuyết minh trong tập Goshūi Wakashū cho biết tác giả viết thay cho một người đàn ông bị tình phụ. Bài thơ nhắc lại tình cảm tương thân tương ái, kỹ niệm đẹp, lời thề nguyền thuở hai bên còn gắn bó. Nhân đó người đàn ông trong cuộc nói lên mối hận lòng nhưng cũng cho biết lòng mình hãy còn vương vấn chưa thôi.
=== Đề tài ===
Bày tỏ mối hận lòng với người đàn bà đổi thay mà mình khó quên.
Chữ na trong câu đầu là một trợ từ bày tỏ sự cảm động. Katami ni (かたみに, Katami ni), một phó từ có nghĩa là tagai ni (lẫn nhau) nhưng có thể làm liên tưởng đến katami (形見, katami) là “kỷ niệm”. Núi Sue no Matsuyama (末の松山 (Mạt Tùng Sơn), Sue no Matsuyama) – đúng hơn là một dãi đất cao ven biển có nhiều tùng và hay bị sóng đánh tên gọi là Namiuchitōge (波打峠, Đèo Sóng Đánh) - trong bài thơ là một địa danh tỉnh Miyagi, miền bắc nước Nhật, đã trở thành một gối thơ (uta-makura) danh tiếng.
== Tham khảo ==
== Đường dẫn ngoài ==
McMillan, Peter. Năm 2010 (Bản in đầu, Năm 2008). Một Trăm Nhà Thơ, Mỗi Vị Một Thơ. New York: Nhà xuất bản Đại Học Columbia. (tiếng Anh)
Suzuki Hideo, Yamaguchi Shin'ichi, Yoda Yasushi. Năm 2009 (Bản in đầu, Năm 1997). Genshoku: Ogura Hyakunin Isshu. Tokyo: Bun'eidō. (tiếng Nhật)
Một trăm bài thơ Nhật Bản cổ (Hyakunin-isshu), biên dịch bởi William N. Porter, 1909, tại trang sacred-texts.com (tiếng Anh)
Ogura Hyakunin Isshu, biên dịch bởi chimviet.free.fr |
mỹ tâm.txt | Phan Thị Mỹ Tâm (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1981) là nữ ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên và doanh nhân người Việt Nam. Sinh ra tại Đà Nẵng, cô sớm bộc lộ năng khiếu về âm nhạc và liên tiếp giành chiến thắng tại nhiều cuộc thi ca hát lớn nhỏ lúc còn ở độ tuổi thiếu niên. Vào năm 2001, cô khởi nghiệp ca hát bằng album đầu tay Mãi yêu mang về thành công lớn không lâu sau khi tốt nghiệp thủ khoa tại trường Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong xuyên suốt thập niên 2000, Mỹ Tâm phát hành một chuỗi các sản phẩm âm nhạc thành công thương mại, bao gồm các album đề cử cho giải Cống hiến như Hoàng hôn thức giấc (2005), Vút bay (2006) và Trở lại (2008). Bên cạnh việc tự sáng tác, cô còn hát các ca khúc của tác giả khác như "Tóc nâu môi trầm", "Họa mi tóc nâu", "Ước gì", "Hát với dòng sông" hay "Cây đàn sinh viên".
Cô giành 3 giải Cống hiến cho "Ca sĩ của năm", 1 giải Âm nhạc châu Âu của MTV, 11 lần liên tiếp nhận giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" và 3 năm liên tiếp nhận giải "Gương mặt của năm" của Giải thưởng Làn Sóng Xanh. Tại sự kiện Top Asia Corporate Ball 2014 ở Kuala Lumpur, cô thắng giải "Huyền thoại Âm nhạc châu Á" và là "Nghệ sĩ có album bán chạy nhất lãnh thổ" do Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) công nhận trong năm 2014.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
=== 1981–2000: Thuở niên thiếu và khởi đầu sự nghiệp ===
Phan Thị Mỹ Tâm sinh ngày 16 tháng 1 năm 1981 tại Đà Nẵng, quê gốc tại Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cô là con út trong một gia đình gồm có tám anh chị em; 2 người hiện nay đang ở Mỹ, 2 người ở Thành phố Hồ Chí Minh và 4 người còn lại ở Đà Nẵng. Cô từng có 3 năm theo học ba lê từ lúc sáu tuổi, trước khi chuyển sang học chơi guitar và đàn organ. Cho dù thường xuyên tham gia các hoạt động văn nghệ và Đoàn đội lúc ở trường, cô lại không xem ca hát là sự nghiệp tương lai của mình. Trong lúc học cấp 2, cô giành giải nhất cuộc thi ca hát toàn trường, đoạt giải A "Liên hoan tiếng hát Miền Trung và Tây Nguyên" và tiếp tục giành Huy chương vàng Giọng hát hay "Xuân 1997" toàn thành phố Đà Nẵng khi mới 16 tuổi.
Mỹ Tâm từng được chọn vào Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội tại Hà Nội, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn phải vào Thành phố Hồ Chí Minh để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc vào năm 1997. Cùng năm đó, cô bắt đầu theo học Hệ trung cấp chính quy Khoa thanh nhạc Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ năm 1997 đến năm 1998, cô liên tiếp tham gia những hội diễn văn nghệ và các cuộc thi giọng hát hay của Quận và Thành phố. Tháng 4 năm 1998, cô đoạt giải nhất ở hai hội thi đơn ca tại quận Tân Bình và Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào tháng 11 cùng năm, cô đến tham dự cuộc thi "Giọng ca vàng" do báo Mực Tím tổ chức. Cô giành chiến thắng chung cuộc trong buổi thi chung kết với bài hát "Nhớ mùa thu Hà Nội".
Vào đầu năm 1999, Mỹ Tâm trở thành ca sĩ độc quyền cho trung tâm Vafaco. Bản thu âm đầu tiên của cô thực hiện dưới sự chỉ đạo của nhạc sĩ Nguyễn Hà, với ca khúc "Nhé anh". Cùng năm Mỹ Tâm cũng giành giải nhất "Hội diễn văn nghệ ngành Giáo dục TP.HCM 1999 - 2000". Đến giữa năm 2000, khi vừa kết thúc hợp đồng cùng hãng Vafaco, cô đồng sáng tác bài hát đầu tay mang tên "Mãi yêu" cùng nhạc sĩ Nguyễn Quang, "Mãi yêu" cùng phần trình bày lại nhạc phẩm "I Love You" của Céline Dion đã giúp cô đạt Huy chương Đồng tại Liên hoan Giọng ca vàng châu Á tại Thượng Hải, Trung Quốc.
=== 2001–02: Mãi yêu và Đâu chỉ riêng em ===
Vào tháng 6 năm 2001, Mỹ Tâm tốt nghiệp thủ khoa hệ trung cấp Nhạc viện Thành phố với số điểm 9,5. Để có kết quả này, cô phải hạn chế đi diễn để tập trung vào việc học tập và luyện thanh. Trong buổi thi, cô đã trình bày một ca khúc tiếng Pháp, Ý và nhạc phẩm "Đâu phải bởi mùa thu" trước những đánh giá cao về kỹ thuật thanh nhạc của các giảng viên. Cũng trong thời gian này, cô phát hành album phòng thu đầu tay mang tựa đề Mãi yêu (2001). Album mang dòng nhạc pop rock, với sự hợp tác cùng các tác giả Bảo Chấn ("Bài ca đêm"), Võ Thiện Thanh ("Sóng") hay Bảo Phúc ("Tình mãi xanh"). Mỹ Tâm đóng góp 2 bài hát tự sáng tác là "Mãi Yêu" và "Tình mơ", nhạc sĩ Quốc Bảo tham gia với 3 nhạc phẩm "Tóc nâu môi trầm", "Hai muơi" và "Em của tôi". Mãi yêu vượt doanh số 54.000 bản.
Cùng năm 2001, Mỹ Tâm được Đài truyền hình Việt Nam bình chọn là "Nhân vật tiêu biểu trong năm 2001", và lọt vào "Top 5 ca sĩ triển vọng" tại Giải thưởng âm nhạc Hoa Học Trò lần I do bạn đọc báo Hoa Học Trò bình chọn. Mỹ Tâm còn thực hiện video âm nhạc cho "Nhé anh" và "Tình mãi xanh" trong khuôn khổ cuộc thi VTV - Bài hát tôi yêu năm đầu tiên. Trong đêm trao giải diễn ra vào cuối tháng 9 năm 2002 tại Nhà hát Hòa Bình, cô giành giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" và "Bài hát được yêu thích nhất" cùng video "Nhé anh".
Trong năm 2002, Mỹ Tâm cho phát hành "Cây đàn sinh viên", đĩa đơn đầu tiên do một hãng băng đĩa sản xuất tại Việt Nam. Do nhạc sĩ Quốc An sáng tác, bài hát nhanh chóng trở thành một hiện tượng trong giới trẻ và sinh viên, đồng thời mang về cho Mỹ Tâm giải "Nữ ca sĩ được yêu thích nhất" tại giải thưởng Mai Vàng lần VII. Vào tháng 5, cô cho phát hành đĩa đơn "Ban mai tình yêu" với hình thức của một album rút ngắn và đem về thành công với bài hát "Tình lỡ cách xa" phát hành kèm. Đây được xem là đĩa đơn đầu tiên do một ca sĩ tự sản xuất tại Việt Nam. Cô tiếp tục cho ra mắt đĩa đơn "Hát với dòng sông", một ca khúc sáng tác bởi nhạc sĩ Quốc An và Nhất Huy. Tuy không xuất hiện trong sản phẩm âm nhạc chính thức nào và chỉ trình diễn trong một số chương trình ca nhạc, "Hát với dòng sông" trở thành một trong những bài hát trứ danh cho Mỹ Tâm. Bài hát giúp cho Quốc An giành giải "Nhạc sĩ có ca khúc được yêu thích" tại lễ trao giải Làn Sóng Xanh năm 2002.
Album phòng thu thứ hai của Mỹ Tâm, Đâu chỉ riêng em giới thiệu lần đầu tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tối 17 tháng 12 năm 2002. Trong album, Mỹ Tâm thể hiện lại các nhạc phẩm nước ngoài nổi tiếng: "Poupée de cire, poupée de son" và "Bang Bang (My Baby Shot Me Down)" phổ lời Việt. Video âm nhạc "Giấc mơ tình yêu" mà Mỹ Tâm thực hiện cùng đạo diễn Huỳnh Phúc Điền tại mùa giải VTV - Bài hát tôi yêu thứ 2 đã thắng giải "Video được khán giả yêu thích nhất" và "Video do Hội đồng Nghệ thuật bình chọn" trong buổi lễ diễn ra vào ngày 23 tháng 12. Lần đầu tiên Mỹ Tâm giành giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" tại giải thưởng âm nhạc Làn Sóng Xanh 2002.
=== 2003–05: Yesterday & Now và Hoàng hôn thức giấc ===
Vào tháng 6 năm 2003, Mỹ Tâm tiếp tục cho phát hành album Yesterday & Now (tựa tiếng Việt: Ngày ấy & Bây giờ), gồm nhiều bài hát lại và các sáng tác mới của Trần Huân ("Họa mi tóc nâu"), Võ Thiện Thanh ("Ước gì") và Lê Quang ("Niềm tin chiến thắng"). Đến nay, album này vẫn được xem là một trong những đĩa thu âm có lượng tiêu thụ cao nhất tại thị trường âm nhạc Việt Nam, khi đã vượt ngưỡng 68.000 đĩa, tính đến đầu tháng 3 năm 2005. Bài hát "Ước gì" trích từ album mang về giải "Nữ ca sĩ được yêu thích nhất" tại giải Mai Vàng lần IX và giải Làn Sóng Xanh cho "Nhạc sĩ có ca khúc được yêu thích nhất" thuộc về tác giả Võ Thiện Thanh; "Niềm tin chiến thắng" là một trong các sáng tác ca khúc cổ vũ thể thao xuất hiện trong Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003, sau đó được hãng Pepsi chuyển nhượng lại làm nhạc hiệu quảng cáo cổ vũ cho đội tuyển Việt Nam; và "Họa mi tóc nâu" đem về cho tác giả Trần Huân giải "Nhạc sĩ có ca khúc được yêu thích nhất" tại lễ trao giải Làn Sóng Xanh năm 2003. Trong cùng một hạng mục giải thưởng, Mỹ Tâm còn đem về cho nhạc sĩ Võ Thiện Thanh giải "Nhạc sĩ có ca khúc được yêu thích nhất" với nhạc phẩm "Xích lô" bổ sung trong phiên bản VCD tái phát hành của Mãi yêu vào tháng 7 năm 2003; và một giải nữa cho "Ca sĩ được yêu thích nhất". Kết thúc năm 2003, Mỹ Tâm còn mang về giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" do Vietnamnet bình chọn.
Chiều ngày 20 tháng 1 năm 2004, hãng nước giải khát PepsiCo Việt Nam công bố Mỹ Tâm trở thành ca sĩ độc quyền trong 1 năm và lên đường sang thủ đô Luân Đôn để gặp gỡ những ngôi sao ca nhạc thế giới như Britney Spears, Enrique Iglesias, P!nk và Beyoncé. Vào cuối tháng 3 năm 2004, Mỹ Tâm trình diễn trong "Liveshow Ngày ấy & bây giờ". Đêm nhạc tạo sự thu hút lớn từ dư luận, khi được đầu tư đến 3 tỷ đồng, mức kinh phí đầu tư lớn nhất trong lịch sử làm đêm nhạc của Việt Nam bấy giờ. Đêm diễn đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh thu về 13.000 vé, trong luồng đánh giá trái chiều của các nhà phê bình, khi được nhìn nhận ở việc đầu tư về mặt hậu kỳ, vũ đạo và hình ảnh, nhưng lại gặp những ý kiến khắt khe hơn về mặt giọng hát và kết cấu chương trình. Buổi diễn tại Hà Nội ước tính có xấp xỉ một vạn khán giả đến sân Mỹ Đình để xem cô biểu diễn. Một album trực tiếp dưới dạng VCD/DVD của chương trình cũng được biên tập trong vòng 6 tháng và chính thức phát hành vào tháng 8 năm 2004. Chương trình giúp Mỹ Tâm tham gia mùa giải tiền Cống hiến năm 2004 bằng hai đề cử cho "Chương trình của năm" và "Ca sĩ của năm". Vào tháng 9, cô tiếp tục trình diễn tại đêm nhạc "Quê hương tuổi thơ tôi" nằm trong chương trình "Âm nhạc và những người bạn" do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức tại Đà Nẵng. Trong năm, cô cũng giành giải Làn Sóng Xanh cho "Ca sĩ được yêu thích nhất", và giải "Lá phong" (Maple Leaf) do Lãnh sự quán Canada tại Thành phố Hồ Chí Minh trao tặng.
Vào tháng 4 năm 2005, album phòng thu thứ 4 Hoàng hôn thức giấc (tựa tiếng Anh: The Color of my Life) ra mắt. Album thực hiện trong suốt 1 năm, với 14 bài hát được chọn xuất hiện chính thức, trong đó có 4 bài hát Mỹ Tâm tự sáng tác ("Vì đâu", "Nụ hôn bất ngờ", "Nhịp đập dại khờ" và "Nhớ"). Đồng thời, có hai bài hát mua bản quyền quốc tế ("Người yêu dấu ơi", nhạc Nhật; "Không còn yêu", nhạc Pháp), cùng các sáng tác mới của Lê Quang, Võ Thiện Thanh và Trần Huân. Album đạt 20.000 bản ngay trong tuần đầu phát hành và đem về cho Mỹ Tâm đề cử cho "Album của năm" và "Ca sĩ của năm" trong khuôn khổ giải Cống hiến năm 2005. Tại lễ trao giải Làn Sóng Xanh 2005, Mỹ Tâm đoạt giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" và mang về cho nhạc sĩ Tường Văn giải "Nhạc sĩ có ca khúc được yêu thích nhất" với nhạc phẩm "Rồi mai thức giấc". Bài hát "Nhớ" còn đem về cho cô giải Yan Music Awards cho "Ca khúc được yêu thích nhất". Một chuyến lưu diễn xuyên Việt miễn phí dành cho sinh viên đầu tư hơn 3 tỷ đồng mang tên "Sức mạnh của những ước mơ" được Mỹ Tâm triển khai từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 22 tháng 10 năm 2005. Ước tính đã có hơn 12.000 khán giả đến dự đêm diễn đầu tiên tại khu ký túc xá Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (Thủ Đức). Một VCD/DVD thu trực tiếp từ chuyến lưu diễn mang tên "Liveshow Sức mạnh của những ước mơ" cùng CD Album Vol.4,5 - "Dường như ta đã" phát hành tháng 2 năm 2006.
=== 2006–09: Vút bay, Trở lại và Nhịp đập ===
Sau gần 3 tháng rời Việt Nam để thực hiện album, Mỹ Tâm công bố về album Vút bay (tựa Anh: Fly) trong một đêm nhạc vào ngày 21 tháng 12 năm 2006. Vút bay đánh dấu lần thực hiện album hoàn toàn tại nước ngoài đầu tiên của một ca sĩ Việt Nam. Ở Vút bay, Mỹ Tâm hợp tác cùng công ty Hàn Quốc Nurimaru Pictures, khi hãng tài trợ kinh phí và kết hợp cùng Bến Thành Audio-Video để phát hành album tại Việt Nam. Thực hiện từ ngày 7 tháng 10, Mỹ Tâm trải qua thời gian hai tháng để chuẩn bị cho album này tại Hàn Quốc và mô tả đây là sự đột phá mới của cô về phong cách biểu diễn. Album gồm 11 nhạc phẩm, trong đó có 4 ca khúc được Mỹ Tâm thể hiện bằng tiếng Hàn gồm "Dường như ta đã" (chuyển lời Hàn), "Hãy đến với em", "Giọt sương" và "Ngày hôm nay"; còn lại là các ca khúc nhạc Hàn lời Việt như "Bí mật", "Khóc một mình", "Ô cửa sổ" và "Em chờ anh". Trung Nghĩa từ Tuổi Trẻ nhận thấy album này giúp Mỹ Tâm có "cơ hội bước vào guồng máy công nghệ giải trí phát triển mạnh ở một nước châu Á" như Hàn Quốc. Vút bay có doanh số thấp tại thị trường trong nước và Hàn Quốc, trong khi vẫn kịp đạt ngưỡng 15.000 bản ở tuần đầu phát hành tại Việt Nam. Album này giúp Mỹ Tâm giành được đề cử cho "Album của năm" và "Ca sĩ của năm" tại giải Cống hiến năm 2006, lần đầu giành giải "Nhạc sĩ có ca khúc được yêu thích nhất" ở cương vị tác giả cho bài hát "Dường như ta đã" và "Ca sĩ được yêu thích nhất" tại giải Làn Sóng Xanh 2006. Đến hết năm 2006, cô còn đem về giải Ngôi sao bạch kim cho "Nữ ca sĩ có giọng hát xuất sắc nhất", và giải Yan Music Awards cho "Nghệ sĩ nữ yêu thích nhất".
Sau khi tạm vắng bóng trong năm 2007, Mỹ Tâm thực hiện dự án "Thời gian và tôi" kéo dài hơn 1 năm, kể từ ngày 25 tháng 2 năm 2008. Dự án này là sự hợp tác giữa công ty của cô và nhà sản xuất Cho Sung Jin của Hàn Quốc để thực hiện một số hoạt động, trong đó có việc thực hiện album mới, bắt đầu bằng chuyến đi sang Hàn Quốc từ ngày 29 tháng 2 đến đầu tháng 4. Vào đầu năm 2008, cô lên tiếng về album phòng thu thứ 6 Trở lại (tựa Anh: The Return), phát hành vào ngày 4 tháng 4 cùng năm. Album có tổng cộng 12 ca khúc pop ballad, gồm 2 sáng tác gốc của cô và các nhạc sĩ Trần Lê Quỳnh, Dương Thụ, Hồ Hoài Anh và Phương Uyên. Phần guitar xuất hiện trong album được nghệ sĩ Hàn Quốc Sam Lee thực hiện; trong khi nhạc sĩ Lee Han Boem, người từng hợp tác trong nhạc phẩm "Bí mật", lại tiếp tục tham gia trong ca khúc "Và em có anh" cùng nhạc sĩ Quốc Bảo. Bài hát "Hơi ấm ngày xưa" trích từ album này còn giúp Mỹ Tâm nhận được giải Mai Vàng 2008 cho "Nữ ca sĩ nhạc nhẹ được yêu thích nhất". Vào ngày 1 tháng 9, cô phát hành album thứ 7 Nhịp đập (tựa Anh: To the beat). Cũng vào thời gian này, Mỹ Tâm tổ chức chuyến lưu diễn xuyên Việt mang chủ đề "Sóng đa tần", là lần đầu tiên có một ca sĩ người Việt thực hiện chuyến lưu diễn xuyên quốc gia tại năm thành phố trên cả nước. Một DVD "Live Concert Tour Sóng Đa Tần" phát hành ngày vào ngày 17 tháng 4 năm 2009. Từ năm 2007 đến năm 2008, Mỹ Tâm đã giành giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" tại lễ trao giải 10 năm Làn Sóng Xanh vào ngày 20 tháng 12 năm 2007, giải Làn Sóng Xanh cho "Ca sĩ được yêu thích nhất" năm 2007, giải Mai Vàng năm 2008 cho "Nữ ca sĩ nhạc nhẹ", 2 lần liên tiếp giành giải HTV Awards cho "Nữ ca sĩ được yêu thích nhất", đề cử "Album của năm" cho Trở lại và lần đầu tiên đoạt giải "Ca sĩ của năm" tại giải thưởng âm nhạc Cống hiến năm 2008.
=== 2010–12: Những giai điệu của thời gian và Cho một tình yêu ===
Ngày 13 tháng 4 năm 2010, Mỹ Tâm phát hành tập sách ảnh mang tựa đề Những giai điệu của thời gian, mở đầu cho dự án năm 2010 và 2011 với tên gọi "Melodies of Time". Một album đặc biệt có tên đầy đủ Những giai điệu của thời gian: Special Edition cũng đồng thời ra mắt, gồm một số bài hát của Ngô Thụy Miên, Quốc Dũng, Tâm Anh và Y Vân. Cuối năm 2010, Mỹ Tâm nhận lời làm giám khảo của cuộc thi âm nhạc Sao Mai điểm hẹn cùng nhạc sĩ Tuấn Khanh và Hồ Hoài Anh. Sự xuất hiện của cô tại cuộc thi được đánh giá là thành công về mặt hình ảnh. Trong năm 2010, cô đoạt giải HTV Awards cho "Nữ ca sĩ được yêu thích nhất", đem về 3 giải Làn Sóng Xanh cho "Nhạc sĩ được yêu thích nhất", "Ca sĩ được yêu thích nhất" và "Gương mặt của năm".
Trong thời gian này, Mỹ Tâm tham gia loạt phim truyền hình Cho một tình yêu do Nguyễn Tranh và Lê Hoá đạo diễn. Trong phim, cô lần đầu tham gia vai chính và làm đạo diễn âm nhạc. Với nội dung phỏng tác theo bộ phim "Corner with Love" của Đài Loan, Mỹ Tâm vào vai Linh Đan, một cô gái nuôi ước mơ về âm nhạc, cùng chuyện tình giữa cô, Hải Đông (Quang Dũng) và Trần Vũ (Tuấn Hưng). Cho một tình yêu nhận nhiều đánh giá tiêu cực, chủ yếu là ở phần diễn xuất của dàn diễn viên. Vào ngày 8 tháng 3 năm 2011, cô ra mắt bài hát "Xin lỗi" trích từ nhạc phim.
Đêm 14 tháng 1 năm 2011, Mỹ Tâm tổ chức "Liveshow Những giai điệu của thời gian - Kỉ niệm 10 năm ca hát" tại Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích tri ân những cái tên từng giúp đỡ mình trong sự nghiệp âm nhạc. Đêm diễn nhận những phản hồi tích cực, trước khi đưa ra Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội vào ngày 16 tháng 3 cùng năm, với 1.000 vé đặt trước đã bán hết. Một DVD lưu lại đêm diễn mang tên "Liveshow Kỷ niệm 10 năm ca hát" cũng do Mỹ Tâm phát hành trong năm 2011. Ngày 8 tháng 9, cô mở thêm một chương trình ca nhạc kịch khác mang tên "Cho một tình yêu" tại Nhà hát Thành phố. Lấy bối cảnh ở bộ phim cùng tên mà cô thủ vai chính trong năm 2010, đêm diễn kể về câu chuyện tình tay ba của các nhân vật bằng 25 ca khúc cũ và mới cùng nhiều phong cách khác nhau. Đêm diễn nhận nhiều phản hồi tích cực từ phía các nhà phê bình, khi đề cao khả năng biên tập nội dung và đạo diễn của cô.
Vào ngày 22 tháng 10 năm 2011, Mỹ Tâm phát hành video âm nhạc "Đánh thức bình minh", nằm trong khuôn khổ Giải thưởng Video Âm nhạc Việt. Sau 11 tuần tranh giải, video giành chiến thắng chung cuộc với giải thưởng 300 triệu đồng và giải "Nữ ca sĩ xuất sắc nhất" trong đêm trao giải vào ngày 15 tháng 1 năm 2012, đồng thời được chọn trình chiếu trên kênh MTV châu Á. Vào ngày 14 tháng 2 năm 2012, cô cho ra mắt video âm nhạc "Sai" và phát hành đĩa đơn "Chuyện như chưa bắt đầu" vào ngày 2 tháng 6. "Chuyện như chưa bắt đầu" giữ vị trí quán quân trên Bảng xếp hạng Nhacso, với video âm nhạc đạt 1 triệu lượt xem chỉ trong vòng 1 tháng phát hành trên Youtube, đồng thời nhận một đề cử cho hạng mục "Bài hát của năm" trong giải Cống hiến lần thứ 8. Trong đêm trao giải, Mỹ Tâm lần thứ hai đem về giải "Ca sĩ của năm" do nghệ sĩ Trần Hiếu xướng danh.
Vào ngày 26 tháng 5 năm 2012, Mỹ Tâm tham gia trình diễn trong đêm nhạc MTV Exit với mục đích tuyên truyền chống lại nạn buôn người trái phép, thu hút 40.000 khán giả tại Sân vận động Mỹ Đình, Hà Nội. Ngày 1 tháng 8 năm 2012, Mỹ Tâm là nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên chính thức trở thành đối tác với hệ thống YouTube. Sau khi phát hành một trích đoạn ngắn vào tháng 11, video âm nhạc chính thức cho "Trắng đen" phát hành vào ngày 8 tháng 11, lọt vào 4 video âm nhạc được bình luận nhiều nhất và đứng thứ 32 trong danh sách yêu thích nhiều nhất trong tuần đầu phát hành trên trang mạng xã hội YouTube.
Ngày 30 tháng 11 năm 2012, Mỹ Tâm trở thành nghệ sĩ Việt đầu tiên đoạt giải thưởng Mnet Asian Music Awards (MAMA) cho "Nghệ sĩ châu Á xuất sắc nhất" ("Best Asian Artist"). Dù không có mặt tại lễ trao giải, cô vẫn xuất hiện trên màn hình sân khấu lớn của lễ trao giải diễn ra tại Hồng Kông với chiếc cúp trên tay. Tại lễ trao giải Làn Sóng Xanh 2012, Mỹ Tâm giành chiến thắng tại hạng mục quan trọng "Gương mặt của năm" và giải "Ca sĩ được yêu thích nhất".
=== 2013–14: Tâm ===
Vào ngày 24 tháng 3 năm 2013, Mỹ Tâm cho ra mắt album phòng thu thứ 8 mang tên Tâm tại Thành phố Hồ Chí Minh. Là một sản phẩm mang giai điệu pop soul, album gồm 10 sáng tác gốc của chính cô với sự hợp tác của Cho Sung Jin và các nhà sản xuất âm nhạc Hàn Quốc khác. Album nhận được những phản hồi tích cực từ các nhà phê bình, và là album thành công nhất của Mỹ Tâm về mặt thương mại cho đến hiện nay, khi đạt 5.000 bản chỉ trong ngày đầu tiên xuất bản và vươn lên vị trí đầu bảng nhiều tuần liền về số lượng tải trên hệ thống iTunes. Nhằm quảng bá cho album, nhiều video âm nhạc đã được đăng tải trên tài khoản YouTube chính thức của cô, với lượng tương tác cao trong thời gian phát hành.
Vào tháng 4 năm 2013, có thông tin Mỹ Tâm bị cắt suất diễn ở hai đêm nhạc trong khuôn khổ các hoạt động của cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế (DIFC) 2013 tại Đà Nẵng do đưa ra cát-xê quá cao. Cô sau đó đã lên tiếng phủ nhận sự việc và số tiền được cho là do quản lý của cô đưa ra. Vào ngày 24 tháng 8 năm 2013, Mỹ Tâm tổ chức đêm nhạc theo phong cách acoustic mang tên "Gởi tình yêu của em" tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cô tiếp tục đem chương trình này đến biểu diễn tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 10, trước khi tổ chức đêm diễn với mục đích từ thiện tại Đà Nẵng vào ngày 16 tháng 1 năm 2014. Một DVD ghi lại chương trình phát hành trong một buổi ký tặng diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 2014. Vào ngày 22 tháng 10, Mỹ Tâm phát hành video âm nhạc cho bài hát "Em phải làm sao", đạt mốc 200.000 lượt người xem trong ngày xuất bản và lọt vào 14 video âm nhạc được yêu thích nhất trong ngày. Vào ngày 21 tháng 9 năm 2013, Mỹ Tâm xác nhận lần quay trở lại ngôi vị giám khảo tại cuộc thi Thần tượng âm nhạc Việt Nam, mùa thứ 5. Ngày 30 tháng 11, Mỹ Tâm lên tiếng về việc hủy tài khoản Youtube với tên miền "Mytamtube" và chuyển sang tài khoản mới do gặp sơ suất trong quá trình quản lý, đồng nghĩa với việc xóa bỏ toàn bộ lượt xem, bình luận của người hâm mộ trên các video ca nhạc trong suốt thời gian qua. Vào ngày 1 tháng 3 năm 2014, Mỹ Tâm biểu diễn cùng ca sĩ Hiền Thục với nhạc phẩm "Tóc nâu môi trầm" trong đêm nhạc Dấu ấn. Mỹ Tâm xuất hiện trong vai trò giám khảo chương trình số 11 của Gương mặt thân quen, mùa thứ 2 phát sóng vào ngày 7 tháng 6. Vào ngày 21 tháng 7, Mỹ Tâm hợp tác trong ca khúc "Về bên anh" và "Nụ cười còn mãi", nằm trong album kỷ niệm 1 năm ngày mất của nam ca sĩ Wanbi Tuấn Anh, Khúc ca cho em.
Chiều 28 tháng 9 năm 2014, Mỹ Tâm công bố về chuyến lưu diễn miễn phí tại sân vận động đầu tiên của cô sau 10 năm—"Heartbeat", cùng với sự cộng tác với nhạc sĩ Lê Quang và Vĩnh Tâm trong phần nội dung âm nhạc. Có hơn 6.000 vé được đặt trước chỉ trong một giờ mở cửa, với 35.000 vé tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đã được đặt hết chỉ trong vòng 24 giờ đầu tiên. Sau cùng, ước tính có 40.000 khán giả đến dự đêm diễn được diễn ra tại Sân vận động Quân khu 7 ngày 9 tháng 11, và khoảng 25.000 người đến xem buổi trình diễn tại Sân vận động Hàng Đẫy vào ngày 23 tháng 11. Chương trình gây tiếng vang lớn và được mô tả là "liveshow đáng nhớ trong sự nghiệp" của cô, đồng thời mang về cho cô đề cử giải Cống hiến 2015 ở hạng mục "Chương trình của năm". Trong khi đó, video âm nhạc "Vì mình còn yêu" ra mắt trước thời điểm diễn ra đêm diễn "Heartbeat" lại nhận nhiều phản hồi tiêu cực áp đảo, khi được đánh giá thiếu đầu tư và sáng tạo. Một DVD ghi lại chương trình giới thiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 20 tháng 4 năm 2015, trước khi phát hành tại 2 đêm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, lần lượt vào ngày 22 và 26 tháng 4 năm 2015, nhằm tái hiện lại không khí của "Heartbeat" với những tiết mục được yêu thích trong chương trình. DVD bán được 3.600 bản chỉ trong 4 tiếng ra mắt, thu về lợi nhuận hơn 1 tỷ 80 triệu đồng và tiếp tục chạm mốc 10.000 bản trong một tháng.
Trong lễ kỷ niệm hai năm thành lập kênh MTV Việt Nam vào ngày 27 tháng 9 năm 2013, Mỹ Tâm trở thành đại diện đầu tiên của Việt Nam tranh giải "Nghệ sĩ xuất sắc thế giới" ("Best Worldwide Act") tại giải thưởng Âm nhạc châu Âu của MTV, tổ chức vào ngày 10 tháng 11 tại Amsterdam, Hà Lan. Sau khi dừng bước trước đối thủ Lý Vũ Xuân đến từ Trung Quốc, Mỹ Tâm nhận cúp "Nghệ sĩ xuất sắc Đông Nam Á" từ đại diện của kênh MTV Việt Nam trên sân khấu cuộc thi Thần tượng âm nhạc Việt Nam đêm 23 tháng 3 năm 2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đêm trao giải diễn ra vào tháng 12 năm 2013, Mỹ Tâm giành giải Làn Sóng Xanh cho "Ca sĩ được yêu thích nhất" lần thứ 11 liên tiếp trong sự nghiệp, trước khi cô công bố rút tên khỏi giải thưởng âm nhạc này kể từ năm 2014. Đài truyền hình Việt Nam cũng xướng tên Mỹ Tâm khi trao giải "Ấn tượng VTV" cho "Nghệ sĩ ấn tượng nhất VTV 2014".
=== 2015–nay: Giọng hát Việt ===
Tối ngày 6 tháng 4 năm 2015, Mỹ Tâm lần thứ 3 giành giải Cống hiến cho "Ca sĩ của năm" trong lễ trao giải lần thứ 10, diễn ra tại Nhà hát Thành phố. Nhạc sĩ Võ Thiện Thanh đã nhận giải thay cho Mỹ Tâm, khi cô đang trong thời gian thực hiện đêm diễn Dreaming together in Osaka cùng nghệ sĩ guitar Oshio Kotaro, diễn ra tại hội trường đài truyền hình quốc gia Nhật Bản NHK, Osaka. Đây là chương trình biểu diễn giao lưu giữa nghệ sĩ Việt Nam và Nhật Bản, nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội Hữu nghị Việt - Nhật vùng Kansai; Mỹ Tâm tham gia với tư cách là đại diện nghệ sĩ duy nhất đến từ Việt Nam. Ngày 12 tháng 4 năm 2015, Mỹ Tâm là người cuối cùng lên tiếng xác nhận tham gia dàn giám khảo trong mùa thi thứ 3 của chương trình Giọng hát Việt. Một ngày sau đó, cô cùng với Đàm Vĩnh Hưng, Thu Phương và Tuấn Hưng đã có buổi ghi hình đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10 tháng 7, Mỹ Tâm được thông báo chiến thắng hạng mục "Nghệ sĩ châu Á có lượng tiêu thụ sản phẩm tốt nhất" ("Best selling artist of Asia") tại Big Apple Music Awards, giải thưởng tôn vinh nghệ sĩ thuộc lĩnh vực âm nhạc khu vực châu Á, vùng Kavkaz và Trung Đông; với lễ trao giải diễn ra vào ngày 12 tháng 9 tại Hamburg, Đức. Vào ngày 6 tháng 9, Mỹ Tâm lần thứ 2 liên tiếp giành được Giải thưởng VTV 2015 cho "Ca sĩ ấn tượng".
Cô phát hành video âm nhạc "Khi cô đơn anh gọi tên em", một sáng tác tiếng Nhật của Mayumi Itsuwa do nữ ca sĩ Cẩm Vân viết lời Việt, vào ngày 17 tháng 10 năm 2015. Mỹ Tâm trình làng bài hát "Thứ tha" tại chương trình Thử thách cùng bước nhảy vào ngày 19 tháng 12 và ra mắt video âm nhạc phong cách thập niên 1960 vào ngày 22 tháng 12. Vào ngày 16 tháng 1 năm 2016, Mỹ Tâm tổ chức đêm nhạc "Ô cửa màu xanh" tại Nhà hát Hòa Bình để tạo nguồn quỹ từ thiện các hoạt động công tác xã hội tại một số tỉnh miền Nam và miền Trung. Các ca khúc trong chương trình được trình bày theo phong cách nhạc kịch và bolero, với sự xuất hiện của khách mời như Trọng Tấn và Quang Dũng. Buổi ký tặng DVD ghi hình của chương trình tổ chức vào tháng 1 năm 2017. Cô ra mắt video âm nhạc cho "Đôi mắt màu xanh" vào ngày 17 tháng 1 và "Hãy về với nhau" vào đầu tháng 4 năm 2016. Cô tham gia trong đêm nhạc miễn phí mừng ngày Quốc tế Phụ Nữ năm 2016 mang tên iConcert - Say it sing it share it do nhạc sĩ Nguyễn Hà cùng ê-kíp Nguyễn Production thực hiện tại sân vận động Quân khu 7. Chương trình này xác lập kỷ lục Guinness Việt Nam mới về số người tặng hoa cho nhau nhiều nhất trong một đêm nhạc.
Ngày 26 tháng 1 năm 2017, Mỹ Tâm phát hành video âm nhạc cho ca khúc "Anh thì không", một ca khúc nhạc ngoại chuyển lời Việt. Sau khi ông Vũ Xuân Hùng, tác giả phổ lời của bài hát, lên tiếng vi phạm tác quyền vì không liên lạc để xin phép và không trả phí, Mỹ Tâm đã công bố lời xin lỗi khán giả và khóa video để tôn trọng bản quyền. Cô khẳng định sẽ không trình bày ca khúc "Anh thì không" của Vũ Xuân Hùng nữa, thay vào đó là một phiên bản khác do Châu Đăng Khoa viết lời, ra mắt bản thu hoàn chỉnh ngày 21 tháng 2.
== Phong cách nghệ thuật ==
Từ khi khởi nghiệp bằng album đầu tay vào năm 2001, phong cách âm nhạc của Mỹ Tâm thường được ghi nhận bởi những ảnh hưởng mạnh mẽ của dòng nhạc trẻ đương thời, với các yếu tố pop rock nổi bật. Dù vậy, cô cũng từng tham gia thể nghiệm với nhiều thể loại âm nhạc khác nhau. Nếu như ở Hoàng hôn thức giấc (2005), các sáng tác mang yếu tố của dòng nhạc Trung Đông nổi bật hơn cả, thì âm điệu R&B, dance và hip-hop lại được thể hiện rõ rệt với Vút bay (2006) và Nhịp đập (2008). Ngoài ra, cô cũng từng thử sức với dòng nhạc trữ tình, nhạc Latin, ballad hay pop soul. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2005, Mỹ Tâm thổ lộ lấy Britney Spears và Jennifer Lopez làm hình mẫu cho mình. Về ca từ, các nhạc phẩm mà Mỹ Tâm thể hiện thường mang các chủ đề liên quan đến tình cảm lứa đôi, tình bạn và cuộc sống đời thường. Trang Vietnamplus khẳng định Mỹ Tâm "đã mở rộng thế giới pop 'mộc mạc' của mình bằng sự kết hợp và pha trộn nhiều thể loại âm nhạc trẻ trung, thời thượng, hấp dẫn giới trẻ".
Mỹ Tâm sở hữu chất giọng nữ trung trầm (mezzo alto), với âm vực rộng 3 quãng 8, trải dài từ C#3 đến C6, cùng nốt với giọng ngực cao nhất là E5. Nhà báo Tùng Lâm đánh giá "Giọng hát điêu luyện, mạnh mẽ và đầy xúc cảm của Mỹ Tâm không chỉ giúp cô có chỗ đứng vững chắc trong làng nhạc Việt, mà còn là cơ sở để người hâm mộ đặt trọn vẹn niềm tin khi cô đại diện cho Việt Nam 'đem chuông đi đánh xứ người'."
Mỹ Tâm còn được công chúng nhìn nhận ở cương vị của một nhạc sĩ. Cô bắt đầu viết nhạc từ khi còn ngồi ở ghế nhà trường tại Đà Nẵng và tiếp tục theo đuổi lối sáng tác chuyên nghiệp từ khi theo học thanh nhạc. Trong khi các nhạc phẩm trước đây của cô như "Tình mơ", "Mãi yêu" hoặc các bài hát nhạc nước ngoài phổ lời Việt ít nhận được sự chú ý của khán giả, thì sự nghiệp sáng tác của cô chỉ bắt đầu nở rộ kể từ khi Hoàng hôn thức giấc (2005) được ra mắt. Trong bài nhận xét album Tâm (2013) trên tờ Tuổi trẻ, nhà báo Quỳnh Nguyễn từng nhận định "Có lẽ Tâm là ngôi sao nhạc pop duy nhất của Việt Nam thể hiện thành công ca khúc của nhiều nhạc sĩ khác nhau nhưng cũng thành công với những sáng tác của chính mình." Vân An của VnExpress cho rằng "Mỹ Tâm có tài dẫn chuyện vừa chân thật, 'tưng tửng' nhưng lại cuốn hút đến kỳ lạ" khi "dẫn dắt khán giả hòa nhịp cùng dòng cảm xúc của mình để họ cảm được bài hát ấy một cách nhẹ nhàng và tự nhiên nhất".
== Các hoạt động khác ==
=== Thương hiệu riêng ===
Vào năm 2007, Mỹ Tâm cho ra mắt công ty giải trí MT Entertainment do chính cô làm giám đốc, đồng thời công bố về nhãn hiệu sữa tắm và nước hoa mang tên "My Time", phối hợp sản xuất với Công ty Mỹ phẩm Sài Gòn. Đây được xem là nhãn hiệu nước hoa đầu tiên do một ca sĩ Việt Nam sở hữu, với 4 mùi hương khác nhau và thực hiện trong vòng 8 tháng.
Vào năm 2012, Mỹ Tâm lên tiếng về thương hiệu thời trang "Nightingale" mà cô tự thiết kế, với thời gian hơn 2 năm chuẩn bị. Cô làm mẫu và công bố dòng thời trang này trên chương trình "Thời trang & Đam mê" vào tháng 8 năm 2013. Trong khi "Nightingale" nhận được những phản hồi trái chiều, cô vẫn tiếp tục cho ra mắt bộ sưu tập dành cho mùa hè vào tháng 4 năm 2014.
=== Hoạt động từ thiện ===
Trong chuyến lưu diễn phục vụ miễn phí cho sinh viên xuyên Việt "Sức mạnh của những ước mơ" vào năm 2005, cô hợp tác cùng Honda Việt Nam trong việc trao 50 suất học bổng trị giá 50 triệu đồng cho sinh viên nghèo vượt khó tại mỗi thành phố diễn ra chương trình. Nhân đợt phân phối 7.000 sản phẩm nước hoa "My Time" đầu tiên ra thị trường, Mỹ Tâm trích 10.000 đồng trên doanh thu mỗi chai nước hoa và 70 triệu đồng để làm từ thiện. Đêm diễn "Gởi tình yêu của em" tại Đà Nẵng vào năm 2014 cũng được cô tổ chức nhằm mục đích từ thiện, khi dùng lợi nhuận của việc bán vé để thực hiện chương trình trao quà cho bà con miền Trung chịu nhiều khó khăn và thiệt hại sau những trận bão lũ vào dịp Tết Nguyên Đán.
Vào tháng 4 năm 2008, Mỹ Tâm thành lập quỹ từ thiện "MT Foundation", nhắm tới đối tượng là những trẻ em mồ côi, khuyết tật và các trẻ em nghèo hiếu học. Bằng việc trích một phần lợi nhuận từ các sản phẩm âm nhạc và kinh doanh riêng, mỗi tháng Mỹ Tâm đều mang những phần quà và tiền từ MT Foundation đến với những mảnh đời cơ cực, cần giúp đỡ và chia sẻ. Bên cạnh đó, cô còn tổ chức chương trình "Nâng bước ngày mai", một hoạt động thường niên của quỹ "MT Foundation", với ước tính trung bình 700 suất học bổng, tương đương 1.4 tỷ đồng được trao cho học sinh nghèo hiếu học ở các tỉnh, bên cạnh các hoạt động từ thiện khác dành cho bà con nghèo diễn ra vào mỗi năm.
== Ảnh hưởng và công nhận ==
Nhiều tác giả và nhà báo trong nước lẫn quốc tế từng nhìn nhận Mỹ Tâm là một trong những nữ nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn tại Việt Nam. Trong danh sách 12 nghệ sĩ "Hiện tượng Pop toàn cầu mà bạn chưa biết" của ABC News, Mỹ Tâm được đánh giá "là một trong những giọng hát được công nhận của khu vực Đông Nam Á". Tờ Tuổi trẻ khẳng định "Dù yêu thích hay không yêu thích giọng hát Mỹ Tâm cũng rất khó phủ nhận vị trí 'đầu bảng' của cô trong thị trường nhạc trẻ suốt 15 năm qua. Mỹ Tâm cũng là nữ ca sĩ thuộc thế hệ 8X hiếm hoi được cả giới chuyên môn lẫn công chúng yêu mến". Trong quyển Popular Music in Vietnam: The Politics of Remembering, the Economics of Forgetting, nhà phân tích Dale A. Olsen có gọi Mỹ Tâm là "ca sĩ nhạc pop nổi tiếng nhất tại Việt Nam trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21".
Nhiều đồng nghiệp và nghệ sĩ khác từng đề cập đến Mỹ Tâm như là nhân tố ảnh hưởng hoặc là ca sĩ mà họ yêu mến, bao gồm Hồng Nhung, Hiền Thục, Hồng Đăng, Nguyễn Hà, Phú Quang, Xuân Lan, Nam Cường, Thy Dung, Uyên Trang, và Đặng Thu Thảo. Trong cuốn tản văn Thị Dân (2010), nhạc sĩ Quốc Bảo có chia sẻ "Tâm đã, đang và sẽ mãi mãi là 1 ngôi sao. Nhưng với tôi, Tâm là cô bé... chẳng sai chút nào. Em nhỏ bé nhưng mạnh mẽ, hồn nhiên nhưng sâu lắng, giản dị nhưng nhiều khát vọng...". Nữ nghệ sĩ Hàn Quốc Park Jeong-Ah từng chia sẻ mình yêu mến Mỹ Tâm nhờ phong cách ấn tượng trong một lần sang Việt Nam biểu diễn. Là một cộng tác viên lâu năm của Mỹ Tâm, nhà sản xuất âm nhạc Hàn Quốc Cho Sung Jin chia sẻ: "Tôi luôn nhìn thấy sự đam mê, những kỹ năng âm nhạc của cô phát triển hơn sau mỗi ngày" và khẳng định "Mỹ Tâm chính là nghệ sĩ hoàn hảo nhất trong cả cuộc đời âm nhạc của tôi". Sau đêm lưu diễn MTV Exit diễn ra vào tháng 5 năm 2012, nhóm nhạc Simple Plan cho rằng Mỹ Tâm là "siêu sao ca nhạc" và "là một tài năng lớn, có phong cách làm việc chuyên nghiệp". Theo Olsen, việc tham gia của Mỹ Tâm trong việc chuyển ngữ, trình bày và thu âm các bài hát nước ngoài phần nào giúp cô nhìn nhận là người đi đầu trong các vấn đề về tác quyền tại Việt Nam. Từ khi là đối tác của hệ thống YouTube vào năm 2012, Mỹ Tâm đã rút tên khỏi các trang nhạc số tại Việt Nam nhằm chuẩn hóa các vấn đề bản quyền ở phạm vi trong nước và quốc tế, đồng thời đưa âm nhạc của cô vào khuôn khổ các hệ thống nhạc trả phí.
Trong xuyên suốt sự nghiệp, Mỹ Tâm giành được nhiều giải thưởng, đề cử và vinh danh trong nước và quốc tế. Cho đến nay, cô đã giành được 3 giải Cống hiến, 3 giải HTV Awards, 3 giải Mai Vàng, 1 giải Mnet Asian Music Awards, 1 giải Âm nhạc châu Âu của MTV, 11 lần liên tiếp nhận giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" và 3 năm liên tiếp nhận giải "Gương mặt của năm" của Giải thưởng Làn Sóng Xanh. Vào ngày 27 tháng 5, Mỹ Tâm đến dự lễ trao giải diễn ra tại Monaco và trở thành một trong 25 nghệ sĩ khắp thế giới nhận giải "Nghệ sĩ có album bán chạy nhất lãnh thổ" ("Best-selling artists from each major territory") do Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) chứng nhận. Trong sự kiện "Top Asia Corporate Ball 2014" được bảo trợ bởi Bộ Văn hoá Du lịch Malaysia và Bộ Công Thương Malaysia diễn ra vào ngày 21 tháng 11, Mỹ Tâm được vinh danh với giải "Huyền thoại Âm nhạc châu Á" ("Asia's Music Legend") dành cho những nghệ sĩ xuất sắc và biểu tượng trong lĩnh vực âm nhạc. Tháng 3 năm 2017, Mỹ Tâm là một trong 7 nhân vật giải trí xuất hiện trong "Top 50 Phụ nữ ảnh hưởng nhất Việt Nam năm 2017" do tạp chí Forbes công bố.
== Danh sách đĩa nhạc ==
Mãi yêu (2001)
Đâu chỉ riêng em (2002)
Yesterday & Now (2003)
Hoàng hôn thức giấc (2005)
Dường như ta đã (2006)
Vút bay (2006)
Trở lại (2008)
Nhịp đập (2008)
Melodies of Time (2010)
Cho một tình yêu (2011)
Tâm (2013)
== Các buổi diễn ==
== Tham khảo ==
Chú giải
Chú thích
== Liên kết ngoài ==
Kênh của Mỹ Tâm trên YouTube
Mỹ Tâm trên Facebook
Mỹ Tâm trên Google+
MT Entertainment trên Facebook |
trương hy tần.txt | Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Trương (Jang).
Hy tần Trương thị (chữ Hán: 禧嬪張氏, hangul: 희빈장씨; 19 tháng 9, 1659 - 10 tháng 10, 1701), còn được phổ biến gọi là Trương Hy tần (張禧嬪), Ngọc Sơn Phủ Đại Tần (玉山府大嬪) hay Đại Tần Cung (大嬪宮), là một trong những hậu cung tần ngự nổi tiếng nhất trong lịch sử nhà Triều Tiên. Bà là tần ngự của Triều Tiên Túc Tông, sanh mẫu của Triều Tiên Cảnh Tông. Vì từng lên ngôi vị Vương phi (1690 - 1694), bà đôi khi cũng được gọi là Phế phi Trương thị (废妃張氏).
Tương truyền, Trương Hy tần là một mỹ nhân, biểu tượng sắc đẹp của Triều Tiên thời đó. Vì sủng ái bà, Túc Tông đã lạnh nhạt với Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị có xuất thân cao quý, được Tây Nhân phái hỗ trợ. Năm 1689, Nhân Hiển Vương hậu bị phế, và Trương Hy tần được sách lập làm Vương phi (王妃), một sự kiện làm chấn động lịch sử vương thất Triều Tiên, vì xuất thân của Trương Hy tần chỉ là Tần ngự bần hàn mà có thể lên được vị trí Trung điện chánh thất cao quý. Nhưng đến năm 1701, Túc Tông phục vị cho Nhân Hiển Vương hậu và Trương thị trở lại tước vị Hy tần (禧嬪). Không lâu sau Nhân Hiển Vương hậu qua đời, và Trương Hy tần bị kết tội ám hại Vương hậu, bị buộc phải tự sát vào ngày 10 tháng 10, trong khi tang lễ của Nhân Hiển Vương hậu vẫn đang diễn ra.
Cuộc đời thăng trầm độc đáo của Trương Hy tần trở thành đề tài nổi bậc cho các tác phẩm điện ảnh, như phim Trương Hy tần (MBC 1971), phim Trương Hy tần (KBS 2002), phim Đồng Y MBC 2010 và gần đây nhất là Trương Ngọc Trinh - Vi ái nhi sinh (SBS 2013) (張玉貞-為愛而生; Jang Ok Jung - Live for Love) với sự tham gia của nữ diễn viên Kim Tae Hee.
== Thân thế ==
Trương Hy tần có khuê danh là Trương Ngọc Trinh (張玉貞; 장옥정), sinh vào ngày 19 tháng 9 năm 1659, con gái của Tặng Lĩnh Nghị chính Trương Huỳnh (張炯), mẹ là Trinh Kính phu nhân Doãn thị ở Pha Bình (坡平尹氏; nay thuộc Gyeonggi, Hàn Quốc). Trên bà còn có anh trai là Trương Hi Tái (張希載) và một người chị lấy Kim Chí Trọng (金志重).
Theo "Trương Huỳnh thần đạo bi minh" (张炯神道碑铭), dòng dọi họ Trương có từ danh thần Trương An Thế (张安世), danh thời từ thời Cao Ly vương triều. Thái Tổ Lý Thành Quế thu nạp Trương An Thế vào làm phụ chánh, rồi con là Trương Trọng Dương (张仲阳) tiếp tục kế thừa, dòng họ dần vinh hiển. Trương Huỳnh sinh tiền làm chức Dịch quan, có chánh phu nhân đầu tiên là Cao thị, sau sinh non mà chết, về sau mới lấy Doãn thị là mẹ của Trương Hy tần. Về sau, bá phụ là Trương Huyền (張炫) bị phạm tội, cả nhà họ Trương liên lụy, Trương Hy tần khi ấy còn nhỏ bị nhập cung làm Nội nhân (內人).
Năm 1680, Nhân Kính Vương hậu Kim thị qua đời, Túc Tông trong thời gian đó sủng hạnh Trương nội nhân và khiến Minh Thánh Vương hậu Kim thị tức giận, sai người đuổi ra khỏi cung. Khi đó, bà được thu nạp bởi Thân phu nhân của Sùng Thiện quân (崇善君), con trai của Triều Tiên Nhân Tổ.
== Hậu cung tần ngự ==
Năm 1681, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị được lập làm Kế phi, nhưng sau 3 năm hôn nhân mà Nhân Hiển vương hậu vẫn không có con khiến Hiển Liệt Vương Đại Phi - thân mẫu nhà vua lo lắng. Túc Tông do muốn tìm người nối dõi vương thất và nhung nhớ Trương Ngọc Trinh, đề nghị với Hiển Liệt đại phi Kim thị là sẽ đưa Trương thị về cung, làm Hậu cung tần ngự (後宮嬪御) của Nội mệnh phụ. Đại phi khi đó phản đối kịch liệt, vì cho rằng Trương thị là yêu cơ, tà tâm hiểm độc, sẽ làm hại vương thất. Không lâu sau, Đại phi qua đời, Túc Tông tiếp tục đề nghị triệu Trương Ngọc Trinh vào cung, và người đứng ra bảo hộ là Từ Ý Đại vương đại phi Triệu thị, vương phi của Triều Tiên Nhân Tổ.
Năm 1686, ngày 10 tháng 12, Túc Tông ra chỉ phong Trương cung nhân làm Thục viên (淑媛) và ban Tựu Thiện đường (就善堂) ở Xương Khánh cung làm nơi ở. Đây là điều hiếm thấy, bởi vì theo luật của vương thất thì cung nữ bị đuổi ra khỏi cung sẽ vĩnh viễn không được trở lại cung. Điều này cho thấy Túc Tông đã sủng ái Trương Ngọc Trinh đến thế nào. Hai năm sau (1688), bà sinh hạ Vương tử Lý Quân (李昀) và được thăng lên bậc Chiêu nghi (昭儀). Ngoài vương tử Lý Quân, bà còn sinh cho Túc Tông một người con, được đặt tên là Thành Thọ (盛壽), nhưng sớm chết non.
Năm 1689, tháng giêng, bà được thăng lên bậc Tần (嬪), với phong hiệu là Hy (禧), gọi là Hy tần (禧嬪).
== Sắc lập Vương phi ==
Túc Tông đại vương có ý định lập Vương tử Lý Quân làm Vương thế tử (王世子), nhưng việc này gặp phải sự phản đối quyết liệt của phái Tây Nhân mà đứng đầu là Ly Dương Phủ viện quân Mẫn Duy Trọng (闵维重), cha của Nhân Hiển vương hậu Mẫn thị. Với lý do xuất thân thấp kém của mẹ vương tử là Hy tần Trương thị. Túc Tông đại vương hết sức giận dữ vì chuyện này, nên đã ra lệnh xử tử hoặc lưu đày những người có liên quan, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị cũng bị Túc Tông phế truất thành Phế phi (廢妃). Sự kiện này gọi là Kỷ Tị hoán cục (己巳換局).
Năm 1690, 22 tháng 10, nhà vua đã lập Trương Hy tần lên làm Vương phi (王妃), dưới sự ủng hộ của phái Nam nhân. Vương tử Lý Quân được danh chính ngôn thuận tấn phong làm Vương thế tử.
Từ sau khi Trương Ngọc Trinh nắm được vị trí Trung điện, phái Nam Nhân lũng đoạn triều chính, củng cố quyền lực và tìm cách loại bỏ phái Tây Nhân. Túc Tông thì lại muốn giữ nguyên thế lực Tây Nhân để có sự cân bằng hai phe đối lập. Trong triều xuất hiện mâu thuẫn giữa quyền lợi của nhà vua và phe phái chính trị ủng hộ cho Trung điện. Bản thân Trung điện từ khi sắc phong cũng tỏ ra ngỗ ngược, độc đoán và ghen tuông mù quáng với các Hậu cung tần ngự khác, trong khi người nhà của bà tác oai tác quái, gây nhiều thị phi khiến dân chúng căm phẫn. Những việc làm đó khiến Túc Tông ngày càng xa lánh, lạnh nhạt với Trung điện.
Trương Ngọc Trinh thất sủng khi nhà vua bắt đầu đầu sủng ái Thôi thủy tứ - một cung nữ trước đây từng hầu hạ Phế phi Mẫn thị. Thôi thị đã bí mật cầu nguyện cho Phế phi nhân ngày sinh của bà và bị Túc Tông bắt gặp. Không rõ việc này có phải do sự sắp đặt của tàn dư phái Tây Nhân hay không nhưng Túc Tông rất cảm động và sủng ái Thôi thị, sắc phong bà làm Thục viên (淑媛). Sau đó, Thôi thục viên đã cùng Tây Nhân đã tác động đến Túc Tông, dẫn đến việc nhà vua có ý muốn phục vị cho Phế phi Mẫn thị.
Nghe tin đó, Trương Ngọc Trinh đã cùng anh trai là Trương Hi Tái (張希載) tiến hành âm mưu, muốn giết hại Phế phi Mẫn thị nhưng bị Túc Tông phác giác và ngăn cản. Từ đó, Túc Tông càng có ý muốn phục vị cho Phế phi.
== Phế vị và ban chết ==
Năm 1694, ngày 1 tháng 6, dưới nỗ lực của phái Tây Nhân và Thôi thục viên, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị được phục vị và Trương Ngọc Trinh quay lại ngôi vị Hy tần (禧嬪). Bản sắc phong và ngọc ấn của Trương thị khi được sách phong Vương phi bị thu hồi và phá hủy.
Năm 1701, ngày 14 tháng 8, Nhân Hiển Vương hậu qua đời một cách đột ngột, có thuyết cho rằng do bị bệnh mãn tính từ những ngày bị lưu đày. Khi đó, phái Tây Nhân đã cáo buộc rằng Trương Hy tần cùng anh trai mình thuê một thầy cúng trù ếm Vương hậu bằng một hình nhân bị găm mũi tên . Không chỉ có vậy, các cuộc điều tra còn khẳng định Trương Hy tần và anh trai đã thông đồng với nhà Thanh khi tiết lộ nhiều tài liệu quân sự tối mật nhằm nhận được sự đồng thuận cho việc sắc phong Thế tử của Lý Quân. Trước sức ép từ phái Tây Nhân và kết quả điều tra, Túc Tông đã ban chết cho Trương Hy Tần với tội danh phản quốc và mưu hại Quốc mẫu.
Ngày 10 tháng 10, Trương Hy tần bị xử tử bằng độc dược, thọ 42 tuổi, sau khi chết vẫn được giữ nguyên tước hiệu nhàm đảm bảo địa vị của Thế tử Lý Quân.
== An táng và mộ phần ==
Sau khi ban chết cho Trương Hy Tần, Túc Tông đại vương ban chỉ vẫn giữ nguyên tước hiệu Hy tần của bà, vì thế nên tang lễ của Trương Hy Tần vẫn được tổ chức theo nghi thức Hậu cung tần ngự hàng Chính nhất phẩm theo pháp chế như bình thường.
Phần mộ của Trương Hy tần không phải là ẩn số, một số người cố tình đưa những thông tin thất thiệt. Phần mộ của Trương Hy tần gọi là Đại tần mộ (大嬪墓; 대빈묘) ban đầu nó ở Gwangju, Gyeonggi, về sau người ta quy hoạch lại các khu lăng mộ vương thất. Tháng 6, năm 1969, Đại tần mộ được chuyển về cụm lăng Tây ngũ lăng (西五陵), thuộc thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi.
Còn Minh Lăng (明陵) là nơi an táng của Túc Tông và 2 vương hậu sau của ông là Nhân Hiển Vương hậu và Nhân Nguyên Vương hậu, không có chuyện Trương Hy tần được an táng ở Minh Lăng.
== Thụy hiệu ==
Sau khi Triều Tiên Cảnh Tông đăng cơ, ông đã truy phong cho mẹ cung hiệu là Đại Tần Cung (大嬪宮), còn thụy hiệu đầy đủ là Ngọc Sơn Phủ Đại Tần (玉山府大嬪).
Tước hiệu trên là quy định dành cho mẹ của các vị quốc vương Triều Tiên chỉ là Hậu cung tần ngự, không theo lệ của Trung Quốc và Việt Nam là có thể được tấn phong Hoàng hậu, dù sinh mẫu của vị Hoàng đế là phi tần đi chăng nữa.
== Bí ẩn lịch sử ==
Bà là người gây nhiều tranh cãi trong giới Lịch sử Hàn Quốc. Do từ xa xưa những lời thêu dệt về sự độc ác của bà đã lan truyền khắp nơi trong triều đại Triều Tiên, nên ngày nay phần lớn mọi người đều đánh giá bà với thái độ tiêu cực. Tuy nhiên, hiện nay có một số ít các nhà sử học Hàn Quốc nghiên cứu và lập luận rằng vào thời gian đó, Triều Tiên Cảnh Tông được xác định bị vô sinh nên Trương Hy Tần rất hoang mang. Bà cho xây dựng và thường xuyên lui tới Thần Điện để cầu an và chữa bệnh cho Thế tử.
Cùng thời gian này, Nhân Hiển Vương hậu Mẫn thị bệnh tình ngày càng nghiêm trọng và nhiều Vương tử, Cung tần trong cung bị nhiễm căn bệnh lạ mọc mụn nhọt, hoa mắt... Từ đó đã lan truyền ra những tin tức thất thiệt bất lợi cho bà như "Trương Hy Tần cùng pháp sư nhập Thần điện nguyền rủa, trù ếm sát hại các Vương tử và Vương phi"... đã được thêm vào để kết tội Trương Hy tần. Dưới sức ép của phái Tây Nhân, Triều Tiên Túc Tông quyết định từ bỏ Trương Hy tần, ban cho bà cái chết bằng thuốc độc. Vì cái chết oan của mẹ mà Cảnh Tông đại vương về sau trở nên trầm cảm, oán giận vua cha bởi những ngày Hy tần tế thần, Cảnh Tông đều hiện diện ở Thần Điện.
Tuy nhiên, lập luận này chỉ là cách nhìn của những người sau hơn 300 năm và không có căn cứ nào chứng minh ngoài việc Cảnh Tông đại vương không có bất kỳ nhi tử nào. Đồng thời, việc lập đàn tế lễ hay làm phép trong cung mà chưa được sự chấp thuận của quốc vương dưới mọi hình thức đều bị coi là trọng tội không thể biện hộ.
Sau khi mất, Trương Hy Tần để lại khá nhiều câu chuyện được thêu dệt, truyền kỳ về tham vọng quyền lực, cũng như những chuyện liên quan đến cái chết của bà, mối quan hệ với Triều Tiên Cảnh Tông . Hay lời đồn đại bà âm mưu ám sát Nhân Hiển Vương hậu bằng những hình nhân thế mạng và tế lễ Thần điện. Nhưng, tất cả nguồn tin đó không được ghi lại cụ thể trong chính sử mà chỉ được lấy từ cuốn truyện Nhân Hiển Vương Hậu truyện (仁顯王后传) - tác giả là một cung nữ thân cận của Nhân Hiển Vương hậu thời đó viết lại và lưu truyền tới ngày nay.
Từ những năm 1990 tới nay, trong lịch sử điện ảnh và truyền hình Hàn Quốc, cuộc đời của Trương Hy tần trên màn ảnh được xây dựng theo hướng bám sát với những chi tiết trong lịch sử về sự độc ác và cái chết của Trương Hy tần như: Jang Hee Bin KBS 2002, Dong Yi MBC 2010, Queen In Hyun's man, Jang Ok Jung, Live In Love...
== Tổ phụ ==
== Trong văn hóa đại chúng ==
Được diễn bởi Kim Ji-mee trong phim Jang Hui-bin 1961.
Được diễn bởi Nam Jeong-im trong phim Femme Fatale, Jang Hee-bin 1968.
Được diễn bởi Yoon Yeo-jeong trong phim Jang Hui-bin MBC 1971.
Được diễn bởi Lee Mi-sook trong phim Women of History: Jang Hui-bin MBC 1981.
Được diễn bởi Jeon In-hwa trong phim 500 Years of Joseon: Queen Inhyeon MBC 1988.
Được diễn bởi Jung Sun-kyung trong phim Jang Hui-bin SBS 1995.
Được diễn bởi Kim Hye-soo trong phim Jang Hui-bin KBS 2002.
Được diễn bởi Lee So-Yeon trong phim Dong Yi MBC 2010.
Được diễn bởi Kim Tae-hee trong phim Jang Ok-jung, Live for Love SBS 2013.
== Tham khảo == |
bà rịa - vũng tàu.txt | Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, ở vị trí cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh trong khu vực miền Đông Nam Bộ, Bà Rịa - Vũng Tàu kết nối thuận lợi với thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương khác bằng đường bộ, đường không, đường thủy và đường sắt.
Vũng Tàu, thành phố du lịch biển và là trung tâm của hoạt động khai thác dầu mỏ phía Nam, đã từng là trung tâm hành chính của tỉnh. Từ ngày 2 tháng 5 năm 2012, tỉnh lỵ chuyển đến thành phố Bà Rịa, đồng thời là tỉnh đầu tiên của Đông Nam Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Vũng Tàu, Bà Rịa).
Theo số liệu năm 2004 của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh đứng đầu cả nước về GDP bình quân đầu người (đạt 10.543 USD tính theo sức mua tương đương) và về chỉ số phát triển con người HDI (0,828). Tỉnh có tỷ lệ đô thị hóa cao, 51.2%.
== Tự nhiên ==
=== Địa lý ===
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp Thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, giáp tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn phía Nam giáp Biển Đông.
=== Khí hậu ===
Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa; một năm chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27 °C, tháng thấp nhất khoảng 24,8 °C, tháng cao nhất khoảng 28,6 °C. Số giờ nắng rất cao, trung bình hàng năm khoảng 2400 giờ. Lượng mưa trung bình 1500mm.
Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão.
=== Địa hình ===
Bà Rịa - Vũng Tàu có 7 đơn vị hành chính nằm trên đất liền và một đơn vị hành chính hải đảo là huyện Côn Đảo. Địa hình tỉnh có thể chia làm 4 vùng: bán đảo hải đảo, vùng đồi núi bán trung du và vùng thung lũng đồng bằng ven biển. Bán đảo Vũng Tàu dài và hẹp diện tích 82,86 km2, độ cao trung bình 3-4m so với mặt biển. Hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn và đảo Long Sơn. Vùng đồi núi bán trung du nằm ở phía Bắc và Đông Bắc tỉnh phần lớn ở huyện Tân Thành, Châu Đức, Xuyên Mộc. Ở vùng này có vùng thung lũng đồng bằng ven biển bao gồm một phần đất của các huyện Tân Thành, Long Điền, Bà Rịa, Đất Đỏ. Khu vực này có những đồng lúa nước, xen lẫn những vạt đôi thấp và rừng thưa có những bãi cát ven biển. Thềm lục địa rộng trên 100.000 km2.
== Hành chính ==
Bà Rịa - Vũng Tàu có 2 thành phố trực thuộc tỉnh và 6 huyện. Trong đó được chia nhỏ thành 82 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 7 thị trấn, 24 phường và 50 xã.
Quy hoạch đô thị đến năm 2020: Thành phố Vũng Tàu (Đô thị loại I), Thành phố Bà Rịa (Đô thị loại II), Thành phố Tân Thành(Đô thị loại III), Thị xã Long Điền (Đô thị loại IV), Thị xã Đất Đỏ và các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, Côn Đảo. Trong đó:
Thành phố Vũng Tàu là trung tâm kinh tế, văn hóa, dịch vụ công cộng và đầu mối giao lưu của Miền Đông Nam Bộ cũng như của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là trung tâm du lịch, dịch vụ hàng hải phát triển cảng và khai thác dịch vụ dầu khí của cả nước.
Thành phố Bà Rịa là trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thành phố Tân Thành trong tương lai (hiện nay là huyện Tân Thành) được xây dựng là đô thị công nghiệp, cảng biển, là trung tâm kinh tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía nam và của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Các đô thị vệ tinh như Châu Đức, Đất Đỏ, Long Điền, Xuyên Mộc hỗ trợ, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các đô thị cảng biển.
== Dân số ==
Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh đạt gần 1.150.200 người, mật độ dân số đạt 516 người/km². Dân số nam đạt 513.410 người, trong khi đó nữ đạt 513.800 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,9 ‰
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Trên địa bàn toàn tỉnh có 28 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống. Trong đó, người kinh đông nhất với 972.095 người, tiếp sau đó là người Hoa có 10.042 người, đông thứ ba là người Chơ Ro với 7.632 người người Khơ Me chiếm 2.878 người, Người Tày có 1.352 người, cùng một số dân tộc ích người khác như người Nùng có 993 người, người Mường có 693 người, người Thái có 230 người, ít nhất là các dân tộc như Người Xơ Đăng, Hà Nhì, Chu Ru, Cờ Lao mỗi dân tộc chỉ có 1 người, Người nước ngoài thì có 59 người.
Tôn giáo:
Phật giáo: 292.000 tín đồ, 32255 tu sĩ, tăng ni, 334 cơ sở thờ tự
Công giáo: 249.345 tín đồ, 995 linh mục, tu sĩ, 144 cơ sở thờ tự
Cao Đài: 9.148 tín đồ, 458 chức sắc, chức việc, 19 cơ sở thờ tự
Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam: 5.049 tín đồ, 15 chức sắc, 08 cơ sở thờ tự
Bửu Sơn Kỳ Hương: 1.800 tín đồ
Tin Lành: 7000 tín đồ, 8 chức sắc, 7 cơ thờ tự
Tôn giáo khác: 4,34%
Không theo bất kỳ tôn giáo nào: 46,11%
Mỗi năm, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tăng thêm khoảng 30.000 dân (chủ yếu là dân từ các tỉnh thành khác đến sinh sống).
== Lịch sử ==
Năm 1658, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đưa 2.000 quân đánh thành Mô Xoài của Chân Lạp (thuộc vùng đất Bà Rịa ngày nay). Lý do của cuộc chinh phạt này được Chúa Nguyễn đưa ra là để bảo vệ những cư dân người Việt đã vào đây làm ăn sinh sống. Trận này, Chúa Nguyễn bắt được vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân. Chân Lạp xin được làm chư hầu và triều cống hàng năm. Năm Giáp Tuất, Thái Tông thứ 27 (1674), Chúa Hiền lại sai Nguyễn Dương Lâm và Nguyễn Diên đem quân đánh lũy Bô Tâm của Chân Lạp ở xứ Mô Xoài mà về sau người Việt gọi là Lũy cũ Phước Tứ (vùng thị trấn Long Điền ngày nay).
Tỉnh Bà Rịa được thành lập tháng 12 năm 1899 trên địa bàn phủ Phước Tuy của tỉnh Biên Hòa.
Tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lập tỉnh Phước Tuy gồm địa bàn tỉnh Bà Rịa và quần đảo Trường Sa.
Từ tháng 3 năm 1963 đến tháng 12 năm 1963 và từ tháng 11 năm 1966 đến tháng 10 năm 1967, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sáp nhập tỉnh Bà Rịa với tỉnh Biên Hòa và tỉnh Long Khánh thành tỉnh Bà Biên.
Từ tháng 2 năm 1976 sáp nhập vào tỉnh Đồng Nai.
Từ ngày 30 tháng 5 năm 1979, lập Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo.
Từ ngày 12 tháng 8 năm 1991, lập tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gồm Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo và 3 huyện thuộc tỉnh Đồng Nai vốn thuộc tỉnh Bà Rịa trước kia (Châu Thành, Long Đất và Xuyên Mộc). Khi đó Bà Rịa - Vũng Tàu gồm thành phố Vũng Tàu (tỉnh lị) và 4 huyện: Châu Thành, Côn Đảo, Long Đất, Xuyên Mộc.
Ngày 2 tháng 6 năm 1994, chia huyện Châu Thành thành thị xã Bà Rịa và 2 huyện: Châu Đức, Tân Thành.
Ngày 9 tháng 12 năm 2003, chia huyện Long Đất thành 2 huyện Long Điền và Đất Đỏ.
Ngày 2 tháng 5 năm 2012, tỉnh lị được chuyển về thị xã Bà Rịa.
Ngày 22 tháng 8 năm 2012, chuyển thị xã Bà Rịa thành thành phố Bà Rịa.
== Giáo dục & Y tế ==
=== Giáo dục ===
Tính đến thời điểm ngày 8 tháng 9 năm 2015, trên địa bàn toàn tỉnh có 505 trường học ở cấp phổ thông trong đó có Trung học phổ thông có 31 trường, Trung học cơ sở có 92 trường, Tiểu học có 184 trường, bên cạnh đó còn có 198 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.
=== Y tế ===
Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 98 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 10 Bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa khu vực và 82 Trạm y tế phường xã, với 1444 giường bệnh và 478 bác sĩ, 363 y sĩ, 644 y tá và khoảng 261 nữ hộ sinh.
== Kinh tế ==
Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hoạt động kinh tế của Tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí. Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ tỉ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam), Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông. Đương nhiên xuất khẩu dầu đóng góp một phần quan trọng trong GDP của Bà Rịa-Vũng Tàu. Bà Rịa-Vũng Tàu là nơi hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển như: có 93% tổng trữ lượng dầu mỏ và 16% tổng trữ lượng khí thiên nhiên của cả nước, được Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển quốc gia và quốc tế hiện đại, nằm trong vùng trọng điểm của Chương trình du lịch quốc gia.
Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước. Trung tâm điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của cả nước (trên 4000 MW trên tổng số gần 10.000 MW của cả nước). Công nghiệp nặng có: sản xuất phân đạm urê (800.000 tấn năm), sản xuất polyetylen (100.000 tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép (hiện tại tỉnh có hàng chục nhà máy lớn đang hoạt động gồm VinaKyoei, Pomina, Thép miền Nam (South Steel), Bluescopes, Thép Việt, Thép Tấm (Flat Steel), Nhà máy thép SMC và Posco Vietnam đang thi công nhà máy thép cán nguội.
Về lĩnh vực cảng biển: kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam bộ, thuộc nhóm cảng biển số 05 bao gồm: TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải. Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây. Sông Thị Vải có luồng sâu 15m đảm bảo các tàu container trên 100.000 tấn đã có thể cập cảng BRVT đi thẳng sang các nước châu Âu, châu Mỹ. Tính đến nay, toàn tỉnh có 24/52 cảng đã đi vào hoạt động, các cảng còn lại đang trong quá trình quy hoạch và xây dựng. Tỉnh BRVT là cửa ngõ giao thương của khu vực Miền Nam, và Việt Nam (nằm gần đường hàng hải quốc tế và là tỉnh có nhiều cảng biển nhất Việt Nam.)
Về lĩnh vực du lịch, tỉnh này là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước. Nổi tiếng đẹp nhất thành phố Vũng Tàu là bãi biển Thuỳ Vân hay còn gọi là Bãi Sau nằm ở đường Thuỳ Vân. Dọc bờ biển Long Hải, Xuyên Mộc có nhiều bãi biển đẹp và khu du lich lớn: Hồ Tràm MGM, Vietso resort.... Các khu du lịch có Khu du lịch Biển Đông, Khu du lịch Nghinh Phong... Các khách sạn có Khách sạn Pullman, khách sạn Imperial, Khách sạn Thuỳ Vân, khách sạn Sammy, khách sạn Intourco Resort, khách sạn DIC...
Tính đến nay trên địa bàn tỉnh đang có 301 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 27 tỉ USD và 450 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 244 ngàn tỉ đồng.
GDP bình quân đầu người năm 2010 không tính dầu thô và khí đốt ước đạt 5.872 đô la Mỹ (tăng 2,28 lần so với năm 2005)
Trong những năm gần đây tỉnh luôn đứng trong tốp những địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất tại Việt Nam. Nằm ở vị trí thứ 3 về việc đóng góp ngân sách nhà nước, sau TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Cơ cấu kinh tế Bà Rịa-Vũng Tàu (năm 2012): công nghiệp – xây dựng 69,7%; dịch vụ 24,5% và nông lâm ngư nghiệp 5,8%.
. Tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011-2020. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 61%, cao hơn tỷ lệ của cả nước là 46%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia ước đạt 1,7%, thấp hơn nhiều so với cả nước. 100% xã, huyện đạt phổ cập trung học cơ sở, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Tỷ lệ huy động số cháu đi mẫu giáo trong độ tuổi đạt 87,7% và tỉnh đang phấn đấu hoàn thành phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi vào cuối năm 2013. Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước sạch đạt 96%. 93% gia đình đạt chuẩn văn hóa.
Phấn đấu đến năm 2015, trở thành tỉnh công nghiệp và cảng biển, đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 14%/năm, kể cả dầu khí bình quân 10,8%/năm. GDP bình quân đầu người đạt 11.500 USD, kể cả dầu khí đạt 15.000 USD . Về cơ cấu kinh tế, công nghiệp xây dựng 62%, dịch vụ 35%, nông nghiệp 3%. Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh từ 21,69% xuống dưới 2,35% (theo chuẩn mới), cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn quốc gia. Mức hưởng thụ văn hóa đạt 42 lần/người/năm; 92% gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa; 92% thôn, ấp đạt chuẩn văn hóa; 99% dân số nông thôn được sử dụng điện và nước hợp vệ sinh.
Định hướng đến năm 2020, trở thành thành phố cảng, đô thị cảng lớn nhất nước cùng với Hải Phòng, trung tâm Logistics và công nghiệp hỗ trợ, trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước. Theo đó, GDP bình quân đầu người dự báo đạt 27.000 USD/người/năm (tương đương thu nhập của các nước phát triển).
=== Khu công nghiệp ===
Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hiện có các khu công nghiệp và cụm công nghiệp sau:
KCN Long Sơn
KCN Sonadezi Châu Đức (Khu công nghiệp hiện đại nhất Việt Nam)
KCN Phú Mỹ III (Khu công nghiệp đô thị chuyên sâu về công nghiệp hỗ trợ dành cho nhà đầu tư Nhật Bản)
CCN Đá Bạc (Cụm công nghiệp đô thị chuyên sâu về công nghiệp hỗ trợ dành cho nhà đầu tư Nhật Bản)
KCN Phú Mỹ I
KCN Đông Xuyên
KCN Mỹ Xuân A
KCN Mỹ Xuân A2
KCN Mỹ Xuân B1- CONAC
KCN Cái Mép
KCN Phú Mỹ II
KCN Mỹ Xuân B1 - Tiến Hùng
KCN Mỹ Xuân B1 - Đại Dương
KCN Long Hương
KCN Đất Đỏ 1
Tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn.
Đang quy hoạch thêm các khu công nghiệp ở huyện Đất Đỏ.
Ngoài ra, tỉnh đã quy hoạch 29 cụm công nghiệp tại các huyện, thành phố trong tỉnh.
== Đối ngoại ==
Tỉnh Bà Rịa - Vũng đã xây dựng mối quan hệ hợp tác về nhiều mặt với nhiều tỉnh thành trong cả nước và quốc tế. Tính đến tháng 9 năm 2015, tỉnh đã ký xác lập quan hệ đối tác kết nghĩa với các địa phương sau đây:
Quảng Ninh, Việt Nam
Kawasaki, Nhật Bản
== Giao thông vận tải ==
Đường bộ: Tỉnh có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh nối các huyện thị với nhau. Quốc lộ 51A (8 làn xe) chạy qua tỉnh dài gần 50 km. Trong những năm tới sẽ có Đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu 6 làn xe song song với Quốc lộ 51A.
Đường sông: Hệ thống các cảng biển như nêu trên. Từ Vũng Tàu có thể đi Thành phố Hồ Chí Minh bằng tàu cánh ngầm.
Hàng không: Sân bay Vũng Tàu chủ yếu phục vụ cho máy bay trực thăng thăm dò khai thác dầu khí. Trong tương lai, Sân bay Quốc tế Long Thành được xây dựng cách Vũng Tàu 70 km, ranh giới tỉnh khoảng 20 km.
Tỉnh cũng đang triển khai di dời sân bay Vũng Tàu sang đảo Gò Găng thuộc ngoại thành Vũng Tàu và xây dựng sân bay Gò Găng thành sân bay Quốc tế kết hợp với phục vụ hoạt động bay thăm dò và khai thác dầu khí.
Đường sắt: hiện tại chưa có đường sắt đến tỉnh. Theo quy hoạch đến năm 2015 của ngành đường sắt, một đường sắt đôi cao tốc khổ rộng 1.435 m sẽ được xây dựng nối Tp HCM và Vũng Tàu, tốc độ thiết kế: trên 300 km/g.
=== Xe Buýt ===
(4): Bình Châu - Phước Bửu - Đất Đỏ - Long Điền - Bà Rịa - Vũng Tàu.
(6): Phú Mỹ - Bà Rịa - Vũng Tàu.
(8): Bình Châu - La Gi (Bình Thuận).
(11): Ngã Tư Vũng Tàu (Thành phố Biên Hòa) - Long Thành - Phú Mỹ.
(15): Dầu Giây - Thị xã Long Khánh - Sông Ray - Bàu Lâm - Xuyên Mộc - Hòa Hiệp.
== Văn hóa ==
Điều đặc biệt nhất của tỉnh là Bà Rịa - Vũng Tàu có 10 đền thờ cá voi, nhiều nhất ở miền Nam. Đương nhiên lễ hội Nghinh Ông, hay Tết của biển, là một sự kiện quan trọng trong đời sống văn hóa và tâm linh của dân chài nơi đây.
Tỉnh có ngày lễ Lệ Cô Long Hải từ 10/2 đến 12/2 âm lịch để thờ cúng Mẫu - Nữ thần và kết hợp cúng thần biển.
Bên cạnh đó vào ngày giỗ ông Trần 20 tháng 2 (âm lịch) và tết trùng cửu 9 tháng 9 (âm lịch) tại Nhà Lớn Long Sơn có tổ chức lễ hội long trọng thu hút hàng chục ngàn người từ các nơi về tham dự.
== Danh nhân ==
Các danh nhân sinh ra và cư trú tại Bà Rịa-Vũng Tàu gồm:
=== Nhân vật lịch sử ===
Nguyễn Thị Rịa (1665-1759), người có công khai hoang lập ấp vùng đất Mô Xoài trước đây.
Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), nhà văn hóa và ngôn ngữ học.
Ông Trần (1855-1935), tên thật là Lê Văn Mưu, nghĩa quân chống Pháp, người khai sáng Đạo Ông Trần, nhà doanh điền lập nên xã đảo Long Sơn.
Dương Bạch Mai (1904-1964), chính trị gia, nhà ngoại giao.
Lê Thành Duy (1922-1946), công an nhân dân, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hoàng Việt (1928-1967), tên thật là Lê Chí Trực, nhạc sĩ.
Nguyễn Văn Tàu (sinh năm 1928), đại tá tình báo Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Võ Thị Sáu (1933-1952), nữ chiến sĩ thời chống Pháp, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Nguyễn Thanh Đằng (1945-1971), anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Giám mục Tôma Nguyễn Văn Trâm (sinh năm 1945), Giám mục tiên khởi của Giáo phận Bà Rịa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Báo Bà Rịa - Vũng Tàu
Cổng thông tin du lịch Bà Rịa - Vũng Tàu
Cổng thông tin Sở Giáo dục & Đào tạo Bà Rịa - Vũng Tàu |
nghị quyết 1973 của hội đồng bảo an liên hiệp quốc.txt | Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc là một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua đối với chính quyền Libya. Nghị quyết này đã được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua với nội dụng thiết lập vùng cấm bay và cho phép sử dụng vũ lực đối với chính quyền của Muammar Gaddafi trong cuộc nổi đậy tại Libya năm 2011.
Nghị quyết này được thông qua ngày 17 tháng 3 năm 2011. Nghị quyết được đề xuất bởi Pháp, Liban và Vương quốc Anh.
Mười thành viên Hội đồng Bảo an đã bỏ phiếu quyết, năm thành viên (Brasil, Đức, và Ấn Độ và các thành viên thường trực như Trung Quốc và Nga) bỏ phiếu trắng, không có phiếu chống. Nghị quyết giao quyền cho cộng đồng quốc tế thiết lập một vùng cấm bay Libya và dùng các phương thức cần thiết nhưng không có chiếm đóng nước ngoài để bảo vệ thường dân.
== Các điểm chính của nghị quyết ==
Nội dung chính của Nghị quyết 1973 (2011):
áp đặt một vùng cấm bay trên không phận Libya;
cho phép tất cả các phương tiện cần thiết để bảo vệ dân thường và các khu vực dân sự-dân cư;
tăng cường cấm vận vũ khí và hành động đặc biệt chống lại lính đánh thuê, bằng cách cho phép để kiểm tra bắt buộc đối với các tàu và máy bay;
áp đặt một lệnh cấm trên tất cả các chuyến bay đi và đến Libya;
áp đặt một lệnh phong tỏa các thuộc sở hữu của các cơ quan chức Libya, và xác nhận lại tài sản đó được sử dụng cho lợi ích của nhân dân Libya;
mở rộng lệnh cấm đi lại và phong tỏa tài sản của Nghị quyết 1970 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc bổ sung đối với một số cá nhân và tổ chức Libya;
thiết lập một nhóm chuyên gia để giám sát và thúc đẩy thực hiện xử phạt.
== Các nước bỏ phiếu ==
* Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an in đậm.
== Tham khảo == |
idaho.txt | Idaho (có thể phát âm như "Ai-đa-hồ") là một tiểu bang thuộc miền Tây Bắc Hoa Kỳ.
== Địa lý ==
Idaho giáp với Washington, Oregon, Nevada, Utah, Montana, Wyoming, và tỉnh British Columbia của Canada, biên giới Idaho–BC kéo dài 77 kilômét (48 dặm). Phong cảnh có đất gồ ghề và vài trong những vùng lớn nhất được để yên trong nước Mỹ. Tiểu bang này thuộc về dãy núi Rocky và có cảnh hay và rất nhiều tài nguyên. Nó có những dãy núi cao ngất có phủ tuyết, thác ghềnh, hồ yên ổn, và hẻm núi sâu. Nước của sông Snake chảy qua hẻm Hells, nó sâu hơn Grand Canyon. Thác Shoshone xuống những vách đá gồ ghề từ cao hơn thác Niagara.
Các sông lớn nhất của Idaho là sông Rắn (Snake River), sông Clearwater, và sông Cá hồi (Salmon River). Các sông quan trọng kia có sông Boise và sông Payette.
Nơi cao nhất ở Idaho (3,9 km hay 12.662 foot) là đỉnh Borah ở dãy núi Sông Mất (Lost River Mountains) về phía bắc của Mackay. Nơi thấp nhất của Idaho nằm trong Lewiston, ở đấy sông Clearwater nối với sông Rắn và chảy tiếp tới Washington.
Phần nhiều của những thành phố lớn ở Idaho, kể thủ phủ Boise, Idaho Falls, Pocatello, và Twin Falls, thuộc về Múi giờ dãy Rocky. Các vùng về phía bắc của sông Cá hồi, kể Coeur d'Alene và Lewiston, thuộc về Múi giờ Thái Bình Dương.
=== Các thành phố quan trọng ===
Các khu vực thành thị hơn 100.000 dân:
Boise (thủ phủ)
Các khu vực thành thị hơn 10.000 dân:
Blackfoot
Burley
Caldwell
Coeur d'Alene, thành phố của trường Đại học Bắc Idaho và vùng du lịch quan trọng
Idaho Falls
Lewiston
Meridian
Moscow, thành phố của trường Đại học Idaho
Mountain Home
Nampa
Pocatello
Post Falls
Rexburg
Twin Falls
Các thành phố và thị trấn nhỏ hơn:
Sun Valley
Island Park
Driggs
St. Anthony
Kuna
McCall
Rathdrum
Hayden
Kellogg
Wallace
Plummer
Worley
Mullan
St. Maries
Sandpoint
Thành phố Malad
=== Các hồ lớn ===
=== Các công viên quốc gia ===
Các công viên này trực thuộc Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) của chính phủ liên bang:
Đường mòn California
Khu dự trữ Quốc gia Thành phố Đá (hoặc Thành phố Đá) (City of Rocks National Reserve)
Khu kỷ niệm và bảo tồn Quốc gia Craters of the Moon
Khu kỷ niệm Quốc gia Lớp hóa thạch Hagerman (Hagerman Fossil Beds National Monument)
Đường mòn Quốc gia Lewis và Clark
Trại giam Quốc gia Minidoka (Minidoka Internment National Monument)
Công viên lịch sử Quốc gia Nez Perce
Đường mòn Oregon
Công viên Quốc gia Yellowstone
== Lịch sử ==
Miền Idaho có thể có người ở từ 14.500 năm trước đây. Khi các nhà khao cổ học đào tại hang Ụ Wilson (Wilson Butte Cave) gần Twin Falls vào năm 1959, họ tìm ra những đồ của con người, bao gồm những đầu mũi tên, những trong đồ tạo tác cũ nhất tại Bắc Mỹ. Các thổ dân Mỹ đông nhất ở vùng đó có người Nez Perce về miền bắc và nhánh bắc và tây của dân Shoshone về miền nam.
Tuy nhiên, Idaho là tiểu bang ngày nay cuối cùng được thám hiểm bởi người Âu Châu. Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark bước chân vào miền Idaho ngày nay vào ngày 12 tháng 8 năm 1805 tại đèo Lemhi. Cuộc thám hiểm đầu tiên vào miền nam Idaho được tin là một nhóm đứng đầu là Wilson Price Hunt, họ đi sông Rắn River để cố gắng đặt con đường sông về hướng tây từ St. Louis, Missouri đến Astoria, Oregon vào năm 1811 và 1812. Trong lúc đó, vào khoảng 8.000 thổ dân ở miền này.
Ngành buôn bán lông thú và công việc truyền giáo mang những thực dân đầu tiên vào miền này. Năm 1809, Nhà Kullyspell, nhà đầu tiên có người Mỹ trắng làm chủ và trạm buôn bán đầu tiên ở Idaho, được xây dựng. Năm 1836, Henry H. Spalding xây một hội truyền giáo gần Lapwai, ở đấy ông in ra cuốn sách đầu tiên của miền Tây Bắc, thành lập nhà trường đầu tiên của Idaho, xây dựng hệ thống tưới đầu tiên, và trồng khoai tây đầu tiên của tiểu bang. Narcissa Whitman và Eliza Hart Spalding là những phụ nữ da trắng đầu tiên vào miền Idaho ngày nay. Hội truyền giáo Cataldo, kiến trúc cũ nhất vẫn đứng ở Idaho, được xây dựng tại Cataldo bởi dân Coeur d'Alene và các nhà truyền giáo Công giáo từ năm 1848 đến 1853.
Trong thời kỳ này, miền Idaho thuộc về lãnh thổ vô tổ chức được gọi Miền Oregon và bị Hoa Kỳ và Vương quốc Anh tuyên bố quyền đất này. Hoa Kỳ giành được quyền đất này do Hiệp ước Oregon năm 1846. Biên giới đầu tiên của Lãnh thổ Oregon vào năm 1848 bao gồm cả ba tiểu bang ven biển thuộc miền Tây Bắc ngày nay và kéo dài về hướng đông tới đường chia lục địa. Năm 1853, các vùng ở bên bắc của vĩ tuyến 46° bắc được trở thành Lãnh thổ Washington, chia đôi miền Idaho ngày nay. Miền này được hợp nhất lại vào năm 1859, sau khi Oregon được phong cấp tiểu bang và các biên giới Lãnh thổ Washington bị vẽ lại.
Tuy hàng ngàn người đi qua Idaho trên Đường Oregon và qua miền này do cuộc đổ xô tìm vàng ở California năm 1849, nhưng chỉ có ít người ở lâu. Thị trấn đầu tiên ở Idaho là Franklin, được thành lập vào tháng 4 năm 1860 bởi các người Mormon tin rằng họ vẫn còn ở Lãnh thổ Utah (cuộc đo đạc sau đó cho rằng họ thực sự đã qua biên giới). Sau đó cùng năm, cuộc đổ xô tìm vàng đầu tiên trong một loạt đổ xô ở Idaho bắt đầu tại Pierce ở Quận Clearwater ngày nay. Tới năm 1862, các thị trấn đã được xây dựng ở miền bắc và miền nam do công nghiệp mỏ mở mang.
Ngày 4 tháng 3 năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln ký đạo luật thành lập Lãnh thổ Idaho từ những phần của Lãnh thổ Washington và Lãnh thổ Dakota với thủ phủ tại Lewiston. Lãnh thổ Idaho đầu tiên bao gồm phần lớn của những vùng mà tương lai được trở thành các tiểu bang Idaho, Montana, và Wyoming, và có dân số ít hơn 17.000 người. Lãnh thổ Idaho được cùng biên giới với tiểu bang ngày nay vào năm 1868.
Khi Tổng thống Benjamin Harrison ký đạo luật nhận Idaho là tiểu bang Hoa Kỳ ngày 3 tháng 7 năm 1890, dân số của tiểu bang là 88.548 người. George L. Shoup được trở thành thống đốc đầu tiên của tiểu bang này.
=== Tên gọi ===
Idaho có tên rất bất thường. Có lẽ là đây là tiểu bang duy nhất được đặt tên do một trò đánh lừa. Khi người ta đang chọn tên cho lãnh thổ mới, người vận động hành lang George M. Willing đề nghị "Idaho" vì cho rằng đây là một từ trong tiếng thổ dân có nghĩa "cái quý nhất của dãy núi". Sau đó, ông Willing bị phát hiện là đã tự đặt ra cái tên này, và vì thế lãnh thổ Idaho này được đổi tên thành Colorado. Cuối cùng, chuyện này bị quên lãng, và Idaho ngày nay được đặt tên này khi Lãnh thổ Idaho được thành lập chính thức năm 1863.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chính phủ tiểu bang Idaho (tiếng Anh)
Cục Công viên và Giải trí Idaho
Hướng dẫn Du lịch Chính thức Idaho |
thể loại nhạc.txt | Một thể loại nhạc, hay thể loại âm nhạc, là danh mục thông thường để nhận dạng một đoạn nhạc, cũng như là việc nó thuộc về một truyền thống chung hay một tập hợp các tục lệ. Nó được phân biệt với hình thức âm nhạc và phong cách âm nhạc, mặc dù vậy trong thực tế các từ này thỉnh thoảng được dùng thay thế nhau.
Âm nhạc có thể phân chia thành các thể loại khác nhau theo một vài cách. Bản tính nghệ thuật của âm nhạc nghĩa là các sự phân loại này thường độc đoán và gây tranh cãi, và một số thể loại còn có thể chồng chéo lên nhau. Có một vài tiếp cận về học thuật với những thể loại. Ở trong quyển Form in Tonal Music (Hình thức trong nhạc âm), Douglass M. Green liệt kê madrigal, motet, canzona, ricercar, và nhảy là những ví dụ cho những thể loại từ thời kỳ Phục Hưng. Theo Green, "Bản Op. 61của Beethoven và Op. 64 của Mendelssohn có thể loại giống hệt nhau - cả hai đều là những violin concerto - nhưng khác về mặt hình thức. Tuy nhiên, bản Rondo for Piano, K. 511 của Mozart và bản Agnus Dei từ Mass, K. 317 của ông, lại khá khác ở thể loại nhưng hình như là ở cùng một hình thức." Một vài người, như Peter van der Merwe, coi từ thể loại (genre) và phong cách (style) như nhau, nói rằng thể loại nên được định nghĩa là một đoạn nhạc mà có chung một phong cách nhất định hay "ngôn ngữ âm nhạc cơ bản" ("basic musical language"). Những người khác, như Allan F. Moore, cho rằng thể loại và phong cahs là hai từ khác biệt, và cái đặc điểm thứ hai như là chủ để có thể phân biệt giữa các thể loại. Một thể loại âm nhạc hay thể loại con có thể được định nghĩa bằng các kỹ thuật âm nhạc, phong cách, khung cảnh, và nội dung và tinh thần của chủ đề. Nguồn gốc địa lý đôi khi cũng dùng để nhận dạng thể loại nhạc, cho dù một thể loại địa lý đơn lẻ sẽ thường bao gồm nhiều thể loại con khác nhau.
Những tiêu chí thường được dùng để phân loại thể loại âm nhạc là: sự phân ba của nghệ thuật, phổ biến và truyền thống; khoảng thời gian; nguồn gốc quốc gia và vùng miền; kỹ thuật và đạo cụ; nguồn gốc hợp nhất; và chức năng xã hội.
== Xem thêm ==
Danh sách các thể loại âm nhạc
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài == |
york football league.txt | York Football League là một giải bóng đá nằm ở North Yorkshire, Anh, thành lập năm 1897. Hiện tại theo điều khoản tài trợ, giải đấu có tên là York Minster Engineering Football League. Hạng đấu cao nhất nằm ở Cấp độ 11 trong Hệ thống các giải bóng đá ở Anh. Giải đấu là thành viên của North Riding County Football Association. Đội bóng vùng York thành công nhất là Dringhouses, York Railway Institute, Osbaldwick và Rowntrees. Ba đội đang thi đấu ở các cấp độ cao hơn trong hệ thống bóng đá Anh từng thi đấu ở York Football League gồm: Pickering Town, Tadcaster Albion và Knaresborough Town.
== Lịch sử ==
Khi giải đấu thành lập vào cuối thập niên 1800, bóng đá mới chỉ bắt đầu phổ biến ở Anh. Bản thân The Football League chỉ bắt đầu trước 9 năm so với York League, nó cũng được thành lập trước cả đội bóng chính của thành phố là York City. Do cấu trúc giải đấu, có 9 đội đầu tiên tham gia, các đội bóng đó là:
Xuyên suốt lịch sử giải đấu, đội bóng duy nhất từ mùa giải đầu tiên vẫn còn tiếp tục thi đấu tại giải là Rowntrees (bây giờ là Nestlé Rowntree) cho đến lúc sự chuyển nhượng đội bóng vào đầu mùa giải 2013–14.
Tuy nhiên, Bishopthorpe United, Easingwold Town và St. Clements vẫn còn thi đấu ở hệ thống York League, sau khi tái thành lập ở các thời điểm khác nhau.
Acomb và Rowntrees (cùng với các đội đồng hành, York YMCA) cũng trở thành đội bóng sáng lập Yorkshire League từ mùa giải 1920–21.
Một số đội từ York League trong quá khứ đã leo lên thi đấu cao hơn; Pickering Town thăng hạng năm 1972. Hiện tại họ đang thi đấu ở Northern Counties East Premier Division. Tương tự, York Railway Institute và Rowntrees cũng giành chức vô địch của Northern Counties East League Division One trong thập niên 1980.
=== Giai đoạn gần đây ===
Hiện tại giải có tổng cộng 5 hạng đấu (và 3 hạng đấu dự bị), trong đó York League Premier Division là hạng cao nhất, nằm ở Cấp độ 11 trong Hệ thống các giải bóng đá ở Anh. Danh hiệu vô địch thường xuyên thay đổi khi không đội nào bảo vệ được danh hiệu cho đến mùa giải 2007–08, Huntington Rovers đã làm được điều này. Nhiều đội tham gia giải đấu đã thành công khi lên chơi đến hạng Premier Division (Terrington Glory, Tadcaster Magnets, F1 Racing).
Các đội mới tham gia mùa giải 2015-16 gồm Heworth Green, Howden AFC, Malt Shovel (của Selby), New York WMC và Pollington.
Các cựu cầu thủ chuyên nghiệp của York City cũng thi đấu trong giải, bao gồm Andy McMillan và Christian Fox ở Haxby United.
== Các câu lạc bộ mùa giải 2015–16 ==
=== Premier Division ===
Brooklyn
Church Fenton White Horse
Copmanthorpe
Dringhouses
Dunnington
F1 Racing
Harrison's Signs
Huntington Rovers
Old Malton St. Mary's
Osbaldwick
Riccall United
Tadcaster Magnets
Wigginton Grasshoppers
York Railway Institute
=== Division One ===
Cliffe
Easingwold Town
Hemingbrough United
Heslington
Malton & Norton
Pocklington Town Dự bị
Poppleton United
Rawcliffe
Sporting Knavesmire
Tockwith
York St. John University
=== Division Two ===
Barmby Moor
Bishopthorpe United
Fulford
Hamilton Panthers
Haxby United
Kirkbymoorside
Stamford Bridge
Strensall
Thorpe United
=== Division Three ===
Bubwith White Swan
Cawood
Civil Service
Huby United
Jorvik Blades
Moor Lane
Rufforth United
Selby Olympia
South Milford
Wilberfoss
=== Division Four ===
AFC Crayke
Heworth Green
Howden Academy
Huntington
London & North Eastern Railway Builders
Malt Shovel
New York Working Mens Club
Pollington
Settrington
The Raj
Wetherby Athletic 'B'
Wheldrake
== Đội vô địch ==
=== Premier Division ===
Sau đây là danh sách không đầy đủ về các đội vô địch hạng cao nhất của York Football League.
=== Division One ===
Sau đây là danh sách không đầy đủ của các đội vô địch ở hạng đấu cao thứ hai của York League. Từ năm 1923 đến năm 1960 (với ngoại lệ là các mùa giải 1932–33, 1939–40 và 1946–47), hạng đấu được chia thành 2 nhóm, vì vậy đó là lý do những năm đó có 2 nhà vô địch.
=== Division Two ===
Sau đây là danh sách không đầy đủ của các đội vô địch ở hạng đấu cao thứ ba của York League. Cấu trúc thường dùng nhất là chia thành 2 nhóm, vì vậy có 2 nhà vô địch ở một số mùa giải. Có thời điểm có tận 3 nhóm cùng thi đấu với nhau.
=== Division Three ===
Sau đây là danh sách không đầy đủ của các đội vô địch ở hạng đấu cao thứ tư của York League.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
York League (Current)
York League (Old)
York Leeper Hare Football League @ TheFA.com
York Press – Football News |
lý chính đạo.txt | Lý Chính Đạo (李政道; bính âm: Lǐ Zhèngdào) (sinh ngày 24 tháng 11 năm 1926) là một nhà vật lý người Mỹ gốc Hoa. Năm 1956, Lý Chính Đạo (Tsung-Dao Lee) và Dương Chấn Ninh (Chen Ning Yang) đã chỉ ra rằng các tương tác vật lý có thể không tuân theo đối xứng gương. Điều này có nghĩa là tính chất chẵn lẻ của hàm sóng, ký hiệu là P, không được bảo toàn khi hệ bị đặt dưới một tương tác như vậy và tính chất đối xứng gương có thể bị thay đổi.
Lý và Dương cùng nhận giải Nobel năm 1957.
Lý Chính Đạo là người trẻ tuổi nhất đoạt giải Nobel chiến tranh thế giới thứ II, và là người trẻ thứ ba trong lịch sử sau WL Bragg (người đã giành được giải thưởng lúc 25 tuổi với cha mình WH Bragg trong năm 1915) và Werner Heisenberg (người đã đạt vào năm 1932 cũng lúc 30 tuổi).
Lý và Dương là người gốc Hoa đầu tiên đoạt giải.
Năm 1962, Lý nhập quốc tịch thành công dân Mỹ; là người Mỹ trẻ tuổi nhất đã từng đoạt giải Nobel.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
đất ngập nước.txt | Đất ngập nước là một vùng đất mà đất bị bão hòa có độ ẩm theo mùa hay vĩnh viễn. Các vùng này cũng có thể bị bao phủ một phần hay hoàn toàn bởi hồ cạn. Các vùng đất ngập nước bao gồm đầm lầy, đồng lầy, đầm, và bãi lầy, hoặc hỗn hợp và tiểu loại bao gồm rừng ngập mặn, các loại rừng ngập nước. Nước trong vùng đất ngập nước có thể là nước mặn, nước ngọt hoặc nước lợ. Vùng đất ngập nước lớn nhất trên thế giới là Pantanal kéo dài từ Brasil, Bolivia và Paraguay ở Nam Mỹ.
Các vùng đất ngập nước được xem là có sự đa dạng sinh học cao nhất trong tất cả các hệ sinh thái. Thực vật trong vùng ngập nước gồm thực vật ngập mặn, súng, cỏ nến, lau, thông rụng lá, thông đen, bách, bạch đàn, và các loài khác. Động vật bao gồm các loài khác nhau như lưỡng cư, rùa, chim, côn trùng, và động vật có vú. Các vùng đất ngập nước còn có vai trò là hệ lọc nước thải tự nhiên — ví dụ như ở Calcutta, Ấn Độ và Arcata, California. Nghiên cứu các vùng đất ngập nước gần đây được gọi bằng thuật ngữ paludology (tiếng Anh) trong một số ấn phẩm.
== Chức năng của đất ngập nước ==
=== Cung cấp nước cho sinh hoạt ===
Đất ngập nước là những dòng sông, suối, các hồ chứa nước và các thủy vực nước ngọt chính là nguồn cung cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt của con người. nước ta là một nước có hệ thống sông ngòi rất phong phú, nhưng tài nguyên nước mặt lại phân bố không đều trên phạm vi lãnh thổ và thường 70 - 80% lượng nước sông tập trung trong mùa lũ, còn 6-9 tháng màu hạn chỉ có 20 – 30%, làm cho tình trạng thiếu nước trở nên gay gắt hơn khi dân số ngày càng tăng và khi độ che phủ của rừng ngày càng giảm do tình trạng rừng đầu nguồn bị tàn phá. Chưa có công trình nghiên cứu nào ở Việt Nam tính đến giá trị kinh tế của đất ngập nước trong chức năng cung cấp nước sinh hoạt của người dân, nhưng nước đối với cuộc sống của con người là sự tồn tại và phát triển, sẽ trở nên vô cùng quý giá, có thể không tính được thành tiền.
=== Đất ngập nước là những vùng sản xuất quan trọng ===
Hệ thống đất ngập nước tự nhiên sản xuất một loạt các thảm thực vật và các sản phẩm sinh thái khác có thể thu hoạch để sử dụng cá nhân và thương mại. Quan trọng nhất trong số này là cá có tất cả hoặc một phần của chu kỳ cuộc sống của nó xảy ra trong một hệ thống đất ngập nước. Cá tươi và nước mặn là nguồn protein chính của cho một tỷ người và chiếm 15% thêm hai tỷ khẩu phần ăn của người dân. Ngoài ra, cá tạo ra một ngành công nghiệp đánh bắt cá cung cấp 80% thu nhập và việc làm cho người dân ở các nước đang phát triển. Lương thực được tìm thấy trong hệ thống đất ngập nước là gạo, hạt phổ biến được tiêu thụ với tỷ lệ 1/5 tổng số lượng calo toàn cầu. Ở Bangladesh, Campuchia và Việt Nam, nơi những cánh đồng lúa đang chiếm ưu thế về cảnh quan, tiêu thụ gạo đạt 70%. Các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng ngập mặn khác:
Củi
Muối (sản xuất bằng cách bay hơi nước biển)
Thức ăn gia súc
Y học cổ truyền (ví dụ như từ vỏ cây rừng ngập mặn)
Sợi cho hàng dệt may
Thực vật có giá trị kinh tế như chiếu,...
=== Đất ngập nước là vùng sản xuất thủy sản ===
Đó là những vùng đất ngập nước bao gồm cả vùng đất ngập nước ngọt và đất ngập nước mặn sản xuất thủy sản cung cấp cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. nước trong các sông hồ Việt Nam rất giàu các sinh vật phù du là nguồn thước ăn cho cá. Các khu rừng ngập nước là những nơi cung cấp giống, bãi đẻ, thức ăn cho các loài thủy sản. Để hoạt động khai thác thủy sản mang lại hiệu quả, trước hết phải dựa vào cộng đồng dân cư. Các địa phương cần khôi phục lại tổ quản lý đầm vịnh do nhân dân tự nguyện thành lập theo từng nhóm nghề cụ thể. Bên cạnh đó, không cho người dân đánh bắt liên xã, mà thiết lập địa giới ngư trường theo từng xã. Hoạt động khai thác phải được đặt dưới sự quản lý của chính quyền cơ sở nhằm kiểm soát được số lượng ngư cụ, cũng như số hộ khai thác.
=== Chắn sóng, chống xói lở và ổn định bờ biển ===
Nhờ có đai rừng ngập mặn ven biển nên đã làm giảm động lực của sóng và thủy triều và hạn chế sự xói lở bờ biển. có thể nói rằng không có công trình nào bảo vệ bờ biển chống xói lở tốt bằng đai rừng ngập mặn.
=== Lưu trữ chứa và Chống ngập ===
Hệ thống đất ngập nước của vùng đồng bằng được hình thành từ các dòng sông lớn phía hạ lưu của họ đầu nguồn. Hệ thống sông đáng chú ý là kết quả lớn của vùng đồng bằng bao gồm sông Nile, sông Niger đồng bằng nội địa, [lũ đồng bằng sông Zambezi], sông Okavango nội địa đồng bằng, đồng bằng sông Kafue] [vùng ngập hồ Bangweulu] (Châu Phi), sông Mississippi (Mỹ), sông Amazon (Nam Mỹ), sông Dương Tử (Trung Quốc), sông Danube (Trung Âu) và sông Murray-Darling (Australia). "Các vùng lũ của con sông lớn làm hồ chứa tự nhiên, cho phép nước dư thừa để lây lan ra trên một diện tích rộng, làm giảm độ sâu và tốc độ của nó. Vùng đất ngập nước gần thượng nguồn của sông suối có thể làm chậm dòng chảy nước mưa và mùa xuân tuyết tan để nó không chạy thẳng ra đất vào các dòng nước. Điều này có thể giúp ngăn ngừa đột ngột, gây thiệt hại lũ lụt ở hạ lưu.
=== Chứa giá trị về đa dạng sinh học ===
Đất ngập nước là vùng cửa sông à nơi có sự đa dạng về loài chim định cư và di cư, nơi phân bố của rừng ngập mặn, đầm lầy nước mặn, cỏ biển và tảo. Đất ngập nước vùng đầm phá là nơi cư trú của nhiều loài cá nơi dừng chân của nhiều loài chim di cư. Các vùng đầm phá ven biển miền trung còn mang những nét độc đáo về sinh cảnh tự nhiên và chứa đựng giá trị đa dạng sinh học rất lớn cho khu hệ sinh vật thủy sinh. Các vùng đất ngập nước nội địa như U Minh, Đồng Tháp Mười và các hệ thống sông suối, hồ là những nơi chứa đựng nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu hoặc những loài có tầm quan trọng về đa dạng sinh học toàn cầu.
=== Nơi sinh sống cư trú lâu đời của cộng đồng dân cư ===
Đất ngập nước và các cộng đồng dân cư nông thôn đã gắn bó với nhau từ hàng ngàn năm. Cộng đồng dân cư Việt Nam đã sống với nhau thành những môi trường xã hội. Số lượng của những người sống và làm việc gần bờ biển dự kiến sẽ tăng vô cùng trong vòng 50 năm tới. Từ khoảng 200 triệu người hiện đang sống ở các vùng đất thấp ven biển, sự phát triển của các trung tâm đô thị ven biển dự kiến sẽ tăng dân số 5 lần trong vòng 50 năm. Vương quốc Anh đã bắt đầu có các khái niệm về quản lý tổ chức lại ven biển. Kỹ thuật quản lý này cung cấp bảo vệ bờ biển qua việc phục hồi vùng đất ngập nước tự nhiên chứ không phải thông qua kỹ thuật được áp dụng.
=== Những quan cảnh đẹp để phát triển du lịch ===
Có thể nói Việt Nam là một đất nước có cảnh quan đẹp, trong đó hầu hết các vùng đất ngập nước là những nơi có cảnh quan dẹp nhất. có những vùng đất ngập nước đã nổi tiếng trong cả nước và trên thế giới là điểm đến của các du khách trong nước và quốc tế như Hạ Long, Cát Bà, Phú Quốc và Đồng Bằng sông Cửu Long.
== Các đặc điểm tự nhiên chủ yếu hình thành đất ngập nước ==
=== Địa hình địa mạo ===
Các yếu tố địa hình địa mạo có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành các loại đất ngập nước. sự thay đổi của các dạng địa mạo chính là sự thay đổi hình dạng bề mặt của vỏ trái đất, từ đó tạo nên những vùng lưu trữ nước. chẳng hạn vùng đồi núi, các loại đất ngập nước ngọt là chủ yếu là sông, hồ,suối,đầm. vùng đồng bắng gồm các dạng ngập nước ngọt chủ yếu là đồng bằng ngập nước ngọt theo mùa ở ven sông(đồng lúa, đầm rừng, đồng cỏ ngập nước theo mùa), hệ thống sông và kênh rạch. Vùng đồng bằng ven biển, và các cửa sông và kênh rạch. Vùng đòng bằng ven biển và các cửa sông chụi ảnh hưởng của thủy triều gồm các dạng đất ngập nước mặn (rừng ngập mặn, đất canh tác thủy sản, đất canh tác nông lâm ngư nghiệp luân phiên). Vùng thềm lục địa cạn(ngập triều từ 6m trở xuống) và các đảo gồm các dạng đất ngập nước mặn ngập triều thường xuyên.
=== Khí hậu ===
Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế độ nhiệt ẩm có ảnh hưởng lớn đến chế độ địa chất thủy văn của từng vùng trong thời gian ngập nước, độ sâu ngập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình đất ngập nước. những hiện tượng thời tiết bất thường như hiện tượng Elnino hay Elnina cũng đã gây ra mưa lũ và hạn hán với diễn biến khá phức tạp trong những năm gần đây.
=== Thủy văn ===
Thủy văn đất ngập nước liên quan đến tán không gian và thời gian phân, lưu lượng, và các thuộc tính hóa lý của bề mặt và nước ngầm trong các hồ chứa của nó. Dựa trên thủy văn, vùng đất ngập nước có thể được phân loại như ven sông (kết hợp với dòng), tích hồ (kết hợp với hồ nước và hồ chứa), và palustrine (cô lập). Nguồn của dòng chảy thủy văn vào vùng đất ngập nước là chủ yếu mưa, nước mặt, nước dưới đất. Nước chảy ra khỏi vùng đất ngập nước do bốc hơi, dòng chảy bề mặt, và thoát nước dưới bề mặt. Thủy động lực học (thông qua sự chuyển động của nước và từ một vùng đất ngập nước) ảnh hưởng đến hydroperiods (mực nước biến động theo thời gian) bằng cách kiểm soát cân bằng nước và nước lưu trữ trong một vùng đất ngập nước.
Đặc điểm cảnh quan kiểm soát thủy văn vùng đất ngập nước và hydrochemistry. O2 và CO2 nồng độ của nước phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất khí quyển. Hydrochemistry trong vùng đất ngập nước được xác định bằng độ pH, độ mặn, chất dinh dưỡng, dẫn, thành phần của đất, độ cứng, và các nguồn nước. Hóa học nước của vùng đất ngập nước khác nhau trên cảnh quan và vùng khí hậu. Vùng đất ngập nước nói chung minerotrophic với ngoại lệ của đầm lầy.
Nước đầm lầy của họ nhận được từ không khí và do đó nước của họ có thành phần ion khoáng thấp vì nguồn nước ngầm có nồng độ cao hơn các chất dinh dưỡng và khoáng chất hòa tan so với lượng mưa.
Nước hóa học Fens dao động từ pH thấp và khoáng chất thấp để kiềm với sự tích lũy cao của canxi và magiê, vì họ có được nước từ mưa cũng như nước ngầm
=== Thảm thực vật rừng ===
Về thảm thực vật tự nhiên trên các vùng ngập nước. trên các vùng đất ngập nước chụi ảnh hưởng của vùng nước mặn ở ven biển, thảm thực vật tự nhiên là những loại cây chụi mặn và có khả năng thích nghi với điều kiện ngập nước. Phan Nguyên Hồng (1999) đã thống kê được 106 loài cây ngập mặn. thành phần của thảm thực vật tự nhiên vùng cửa sông thường gồm những loài cây nước lợ điển hình như loài Bần trắng, bần chua, vẹt khang, dừa nước là những loại chỉ thị cho môi trường nước lợ. thực vật ven hồ thường là các loài Súng, sen thuộc họ Súng, Béo cái thuộc họ Ráy, Bèo tai chuột thuộc họ Bèo tai chuột…
Cây Tràm là một loài cây quan trọng ở những vùng đất ngập nước theo mùa như đồng bằng sông cử long. Trong các đầm lầy, các loài lau. Sậy. cói cỏ cũng là loài thực vật chiếm ưu thế. Chúng thường được gọi là loài thực vật nhô vì thân của những loài này một phần ở trong nước và một phần nhô cao khỏi mặt nước. thực vật đầm lầy đặc trưng dọc các con kênh chia cắt các vùng đầm lầy khỏi những vùng bằng phẳng ở khu vực đồng bằng nơi ít bị ngập hơn những phần còn lại của vùng.
Những loài thực vật chiếm ưu thế trong hầu hết những vùng đầm lầy nước ngọt bao gồm những loài lau sậy, bồn bồn, lác, cỏ năng, cỏ ống, cói. Đặc tính của mỗi thảm thực vật thay đổi theo địa lý và chế độ địa chất thủy văn của từng đầm lầy. Liên quan đến hệ sinh thái đất ngập nước, các quần thể thực vật đáng chú ý là (1) rừng ngập mặn ở vùng cửa sông ven biển; (2) rừng đầm lầy trên đất trũng, đất phèn (3) các quần xã thực vật thủy sinh trong các ao hồ là những đối tượng quan trọng.
=== Đất đai ===
Carbon là chất dinh dưỡng quan trọng trong vùng đất ngập nước. Hầu hết các chất dinh dưỡng, chẳng hạn như lưu huỳnh, phốt pho, cacbon, và nitơ được tìm thấy trong đất của vùng đất ngập nước. Kỵ khí và hô hấp hiếu khí trong đất ảnh hưởng đến chu kỳ dinh dưỡng của carbon, hydro, oxy và nitơ, và độ tan của phốt pho góp phần biến hóa trong nước. Vùng đất ngập nước với độ pH thấp và dẫn nước muối có thể phản ánh sự hiện diện của axit sunfat và đất ngập nước với độ mặn trung bình có thể bị ảnh hưởng nặng nề bởi canxi hoặc magiêư. quá trình Sinh địa hóa trong vùng đất ngập nước được xác định bằng đất có tiềm năng oxi hóa khử thấp. Có các nhóm đất có liên quan đến vùng đất ngập nước:
Đất mặn phân bố chủ yếu ở rừng ngập mặn ven biển, địa hình thấp ven biển, cửa sông
Đất phù sa phân bố chủ yếu ở vùng châu thổ của các sông
Đất glây ở địa hình trũng, úng nước
Đất than bùn ở vùng trũng đọng nước
Đất cát ở vùng ven biển
== Hệ thống phân loại đất ngập nước ==
=== Bậc I ===
Có 2 hệ thống được phân biệt dựa vào bản chất của nước(nước mặn và nước ngọt). Theo đó đất ngập nước bị ảnh hưởng bởi môi trường biển(đất ngập nước thuộc đới bờ biển) và đất ngập nước không thuộc môi trường biển(đất ngập nước thuộc môi trường nội địa). Những vùng đất ngập nước ở gần bờ biển nhưng không chụi ảnh hưởng trực tiếp của bời biển. Chẳng hạn như đã có hệ thống đê ngăn mặn sẽ làm trong hệ thống đất ngập nước nội địa.
==== Đất ngập nước mặn ====
Hệ thống đất ngập nước mặn chình là đới chuyển tiếp giữa đất liền và đại dương, bao gồm các dạng ngập nước nằm ở đới bờ biển và chịu ảnh hưởng của biển. Những vùng ven bờ biển, những đảo nhỏ và những vùng ven đảo lớn, chụi ảnh hưởng của thủy triều. Mực nước ngập sâu nhất khi thủy triều thấp nhất, trung bình qua nhiều năm, không vượt quá 6m, những vùng đất ven biển không chụi ngập bởi thủy triều, theo ngày theo tháng hoặc bị ngập khi thủy triều lên cao bất thường. Thuộc hệ thống này bao gồm những vách đá ngăn biển và nền biển có bờ đáy là bùn cát hoặc đá cuội có thực vật hoặc không có thực vật.
==== Đất ngập nước ngọt ====
Bao gồm những loại đất ngập nước không nhận nước từ biển mặc dầu chúng có thể nằm ven biển. Trong hệ thống này có những cánh đồng trồng cây nông nghiệp đã được ngọt hóa bằng hệ thống đê ngăn mặn. Các vùng đồng bằng ngập nước định kỳ hay ngập nước theo mùa, nguồn nước từ các sông hoặc hồ chứa, các vùng đầm lầy, hồ tự nhiên hoặc nhân tạo, các đồng cỏ hoặc rừng đầm lầy ngập nước định kỳ hoặc theo mùa, các đồng ruộng trồng cây công nghiệp hoặc nuôi trồng thủy sản có thời gian ngập nước ít nhất 6 tháng trên một năm ở đồng bằng, trung du hoặc vùng núi. Các kênh rạch, sông, suối có nước chảy thường xuyên ít nhất là 6 tháng trên một năm. Các dòng chảy ngầm trong các địa hình cax-tơ.
=== Bậc II ===
Có 3 hệ thống phụ nằm trong vùng đất ngập mặn là:
Đất ngập nước mặn thuộc ven biển
Đất ngập nước mặn thuộc cửa sông
Đất ngập nước mặn thuộc đầm phá
Có 3 hệ thống phụ trong hệ thống đất ngập nước ngọt là:
Đất ngập nước ngọt thuộc sông
Đất ngập nước ngọt thuộc hồ
Đất ngập nước ngọt thuộc đầm
==== Đất ngập mặn ven biển thuộc ven biển ====
Ven biển là vùng chuyển tiếp giữa đất liền và đại dương. Vùng ven biển có những đặc trưng sau:
Đây là vùng chụi ảnh hưởng trực tiếp từ thủy triều, sóng biển hải lưu và gió.
Môi trường nước không hoặc có sự pha trộn rất ít giữa nước ngọt và nước mặn do nằm xa cửa sông
Giới hạn trên của vùng ven biển là mức thủy triều cao nhất bình quân hàng tháng trong năm
Giới hạn dưới của thềm lục địa có đọ sâu mực nước khi thủy triều mức thấp nhất không vượt quá 6 m
Vùng ven biển bao gồm các đảo nhỏ ven biển.
Những vùng đất gần ven biển nhưng được cách biệt với sự ảnh hưởng của biển bằng hệ thống đê ngăn mặn sẽ không thuộc hệ thống đất ngập nước mặn ven biển.
==== Đất ngập nước mặn thuộc cửa sông ====
Vùng cửa sông bao gồm cả tam giác châu đang hình thành do hoạt động tổng hợp của sông và biển, các dòng chảy phân nhánh, những diện tích lầy do điều kiện thoát nước, nhiều dạng tích tụ cát hình con trạch hoặc các giồng cát, cồn cát xếp thành các hình nan quạt.
Cửa sông khá đa dạng về hình thái và cấu trúc. Dạng địa hình đặc trưng nhất của cửa sông là châu thổ hay còn gọi là tam giác châu. Châu thổ là dạng địa hình tích tụ của dòng sông tại nơi đó đổ vào bồn biển. trên bề mặt châu thổ, dòng sông thường phân nhánh phức tạp, tuy nhiên cũng có những trường hợp không phân nhánh, do đó người ta vẫn xem sự phân nhánh là một dấu hiệu hình thái chỉ thị để xác định phạm vi của châu thổ.
Về mặt động lực có sự tương tác phức tạp giữa quá trình sông với các quá trình biển, như động lực sóng, động lực triều và các dòng sông, nước dồn nước rút. Khi dòng sông giàu phù sa, hoạt động triều và nước dồn, nước rút yếu thì quá trình bồi tụ thuận lợi. trong trường hợp dòng triều mạnh, cửa sông bị xâm thực và phù sa bị cuốn ra biển tham gia vào quá trình bồi tụ dọc bờ, hình thành loại cửa sông hình phễu. ngoài ra quá trình bồi tụ ở đây dược thúc đẩy mạnh mẽ do nước ngọt trộn với nước biển sinh ra quá trình ngưng keo mạnh đối với các chất phù sa lơ lửng trong nước sông.
Đặc trưng cơ bản phân biệt vùng cửa sông với ven biển là: quá trình địa mạo ở vùng cửa sông luôn luôn có sự tương tác giữa các hoạt động của biển và các hoạt động của sông. Chế độ thủy văn và chất lượng nước ở các cửa sông luôn thay đổi theo mùa và tương quan chặt chẽ với nước cửa sông. Thành phần vật chất của hệ sinh thái ở vùng cửa sông có sự pha trộn các sản phẩm từ đại dương do biển đem lại và các sản phẩm từ lục địa do nước sông mang tới.
Giới hạn trên của vùng cửa sông cũng là mức thủy triều cao nhất bình quân hàng tháng trong năm
Giới hạn dưới là thềm lục địa có độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m
==== Đất ngập nước mặn thuộc đầm phá ven biển ====
Đầm phá nước mặn hình thành ở những vùng phức hợp phản ánh sự dao động triều và biến đổi về độ mặn cũng như độ ngập. chúng thường bị chia cắt bởi những con lạch triều là những dòng nước hết sức quan trọng giúp cho việc trao đổi nước, chất dinh dưỡng, chất hữu cơ và các vùng sinh vật diễn ra. Chúng cũng là những tuyến kết nối đầm lầy nước mặn, cửa sông và các vùng biển mở, tạo cho đầm lầy nước mặn đóng vai trò thiết yếu trong việc đáp ứng các nhu cầu về nơi sinh sản nuôi dưỡng và kiếm ăn của nhiều loài sinh vật biển. mặc dù bị ảnh hưởng bởi sự lên xuống của thủy triều nhưng độ mặn của đầm lầy không cao.
==== Đất ngập nước thuộc sông ====
Hệ thống sông là hệ thống nhất quán của nhiều dòng sông, có chung một thủy hệ, cùng chung một dòng thoát nước đổ vào hồ lớn hoặc đổ ra biển, đất ngập nước ngọt thuộc sông bao gồm các dòng sông, suối kênh rạch nước ngọt và những vùng đồng bằng ngập lũ ven sông có chế độ thủy văn chụi ảnh hưởng của sông. Đồng bằng ngập lũ là vùng đất bằng phẳng tiếp giáp với sông và thường xuyên bị ngập lũ và thường tập trung nhiều nhất ở vùng hạ lưu các con sông. ở nhiều nơi vùng đồng bằng ngập lũ thường gắn với vùng đất thấp ven biển và thường kết thúc ở các cửa sông và châu thổ.
==== Đất ngập nước ngọt thuộc hồ ====
Hồ là những mặt nước cố định chiếm giữ những khu vực rộng lớn hoặc những vùng trũng diện tích nhỏ góp phần làm phong phú thêm các loại hình đất ngập nước. Những mặt nước này bao gồm từ những loại như hồ có quy mô lớn thường có mực nước sâu và nhiệt độ thay đổi tùy thuộc vào độ sâu, cho đến những ao nhỏ thường là nông và nước có cùng nhiệt độ. Chúng có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo. Đất ngập nước hình thành ở những rìa nông của hồ, ao tùy vào hướng độ dốc và độ sâu của nước.
==== Đất ngập nước ngọt thuộc về đầm ====
Đầm lầy nước ngọt thường xuất hiện ở những vùng nước cạn dọc bờ hồ, sông đặc biệt là những phần sông cụt chẳng hạn như những hồ hình thành từ những nhánh sông chết. Những vùng trũng sâu ở đồng bằng ngập lũ là những điều kiện hình thành đầm lầy nước ngọt thường là phải qua 1 quá trình diễn thế sinh thái. Đầm lầy tồn tại nhờ vào nước nguồn hơn là nước mưa. Các hoạt động của con người như đắp đê bao giữ nước đóng vai trờ quyết định cho sự tồn tại của đầm.
=== Bậc III ===
Là các lớp đất ngập nước được phân chia theo chế độ địa chất thủy văn: ngập thường xuyên hay không thường xuyên.
==== các loại hình thuộc hệ thống đất ngập nước mặn (thuộc ven biển, cửa sông đầm phá ven biển) ====
Các loại hình ngập nước mặn thường xuyên là những đối tượng luôn luôn ngập triều hàng tháng. Ranh giới được tính từ mức thủy triều thấp nhất bình quân hàng tháng tới độ sâu 6m
Các loại hình ngập nước mặn không thường xuyên là những đối tượng ở vùng trung gian triều bị ngập khi thủy triều cao nhất bình quân hàng tháng
Những loại hình không được xếp vào đất ngập nước mặn nếu không bị ngập bởi thủy triều lên cao nhất bình quân hàng tháng
==== Các loại hình thuộc hệ thống đất ngập nước ngọt(thuộc sông, đầm, hồ) ====
Đất ngập nước ngọt thường xuyên là những loại hình đất luôn luôn bị ngập nước khi mực nước xuống thấp nhất hàng năm tới độ sâu 6m, khi mực nước xuống thấp nhất bình quân hằng năm.
Đất ngập nước ngọt không thường xuyên là những loại hình bị ngập nước ngọt nếu thời gian ngập liên tục từ 3 tháng trở lên.
Những loại hình không được xếp vào đất ngập nước ngọt nếu thời gian ngập liên tục hàng năm không đạt 3 tháng.
Theo đó có các lớp đất ngập nước như sau:
1. Đất ngập nước mặn, ven biển, ngập thường xuyên
2. Đất ngập nước mặn ven biển, ngập không thường xuyên
3. Đất ngập nước mặn cửa sông ngập thường xuyên
4. Đất ngập nước mặn cửa sông ngập không thường xuyên
5. Đất ngập nước mặn đầm phá ngập thường xuyên
6. Đất ngập nước mặn, đầm phá ngập không thường xuyên
7. Đất ngập nước ngọt thuộc sông ngập thường xuyên
8. Đất ngập nước ngọt thuộc sông không thường xuyên
9. Đất ngập nước ngọt thuộc hồ ngập thường xuyên
10. Đất ngập nước ngọt thuộc hồ không ngập thường xuyên
11. Đất ngập nước ngọt thuộc đầm ngập thường xuyên
12. Đất ngập nước ngọt thuộc đầm ngập không thường xuyên
=== Bậc 4 ===
Các đơn vị phân loại đất ngập nước ở bậc 4 được phân biệt với nhau căn cứ vào hiện trạng đất đai sử dụng đất. các yếu tố phân loại gồm nền đất, thảm thực vật và hiện trạng sử dụng đất.
Tên goi mỗi lớp phụ mang đầy đủ tính chất của 1 đơn vị đất ngập nước từ bậc 1 đến bậc 4: hệ thống; hệ thống phụ; lớp và lớp phụ
1. Đất ngập nước mặn, ven biển, ngập thường xuyên không có thực vật.
2. Đất ngập mặn ven biển ngập thường xuyên có các thực vật thủy sinh
3. Đất ngập mặn ven biển thường xuyên có bãi san hô
4. Đất ngập mặn ven biển ngập thường xuyên có các công trình nuôi trồng thủy sản.
== Bảo tồn vùng đất ngập nước ==
=== Công ước Ramsar ===
Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý và thích đáng các vùng đất ngập nước (ĐNN), với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng ĐNN cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện nay và trong tương lai; công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của các vùng ĐNN và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của chúng. Hiện nay, hơn 2.000 vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế được công nhận thành khu Ramsar, cần được bảo vệ đặc biệt với diện tích hơn 1,85 triệu km2, trong đó vùng ĐNN Côn Đảo đã được công nhận 7 tiêu chí trở thành khu Ramsar.
== Xem thêm ==
Thực vật ngập mặn
Đầm lầy
Đồng lầy
Bãi lầy
Bãi bùn
Đất ngập nước gian triều
Bãi lầy triều
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Mitsch, W.J., J.G. Gosselink, C.J. Anderson, and L. Zhang. (2009) "Wetland Ecosystems". John Wiley & Sons, Inc., New York, 295 pp.
Ghabo, A. A. (2007) Wetlands Characterization; Use by Local Communities and Role in Supporting Biodiversity in the Semiarid Ijara District, Kenya. Terra Nuova East Africa. Wetlands in drylands.
1987 U.S. Army Corps of Engineers Wetland delineation manual
Dugan, Patrick (editor) (1993) Wetlands in Danger, World Conservation Atlas Series
Brinson, M. (1993) A Hydrogeomorphic Classification of Wetlands
Fredrikson, Leigh H. (1983) "Wetlands: A Vanishing Resource" Yearbook of Agriculture
W.H. MacKenzie and J.R. Moran (2004) "Wetlands of British Columbia: A Guide to Identification. Ministry of Forests, Land Management Handbook 52. [1]
== Liên kết ngoài ==
Wetlands International - A non-profit global organisation to sustain and restore wetlands, their resources and biodiversity for future generations
US Fish & Wildlife Service: National Wetlands Inventory
Wetlands: The Ecological Effect of Loss (Research article)
(tiếng Pháp)Pôle-relais zones humides littorales de la façade atlantique, Manche et Mer du Nord
Marshlands of Iberá (in English and Spanish)
Wetlands Water Quality Information Center, U.S. Department of Agriculture
Centro Studi Naturalistici
Wetlands legal updates
Wetland of Hong Kong
Forum des Marais Atlantiques - Pôle-relais zones humides littorales de la façade atlantique, Manche et Mer du Nord |
đông ấn.txt | Đông Ấn (tiếng Anh: Indies hay East Indies hoặc East India) là một thuật ngữ dùng để chỉ các đảo của Đông Nam Á, đặc biệt là Quần đảo Mã Lai. Về nghĩa rộng hơn, Đông Ấn cũng được sử dụng để chỉ các vùng đất ở Nam và Đông Nam Á, bao trùm cả Ấn Độ thuộc Anh(Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Myanma, Sri Lanka, Maldives) và cũng bao gồm cả Thái Lan, Malaysia, Indonesia, những nơi sau này gọi là Đông Ấn Hà Lan trước khi độc lập.
Đông Ấn cũng bao gồm Đông Dương, quần đảo Philippines, Brunei, Singapore và Đông Timor. Tuy nhiên nó không bao gồm Tây New Guinea (Tây Papua), là một phần của Melanesia.
== Tham khảo == |
bính âm hán ngữ.txt | Phương án phát âm tiếng Hán (giản thể: 汉语拼音方案, phồn thể: 漢語拼音方案, Hán Việt: Hán ngữ bính âm phương án, bính âm: pīnyīn), nói tắt là bính âm hoặc phanh âm, là cách thức sử dụng chữ cái Latinh để thể hiện cách phát âm các chữ Hán trong tiếng phổ thông Trung Quốc, tác giả là Chu Hữu Quang. Bính âm được phê chuẩn năm 1958 và được thi hành năm 1979 tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nó đã thay thế các hệ thống Latinh hóa cũ hơn như Wade-Giles (1859, sửa đổi năm 1912) và Hệ thống phiên âm Bưu điện, và thay thế chú âm phù hiệu trong việc dạy cách đọc chữ Hán tại Trung Quốc đại lục.
== Tổng quan ==
Cho tới nay, bính âm Hán ngữ đã được sử dụng như một hệ thống chuyển tự Latinh chữ Hán trong việc dạy và học Hán ngữ tiêu chuẩn tại Singapore, Malaysia, CHND Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc, Hồng Kông, Ma Cao. Năm 1979, Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đã chọn bính âm làm hệ thống Latinh hóa chuẩn cho Hán ngữ (ISO-7098:1991). Bính âm đã trở thành một công cụ hữu dụng trong việc học tiếng Trung Quốc.
Vào cuối thập niên 1990, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) đã lập ra bính âm thông dụng (通用拼音 tōngyòng pīnyīn, Hán Việt: "Thông dụng bính âm") dựa trên bính âm và có một số khác biệt so với phiên âm Hán ngữ. Hệ thống này được sử dụng chính thức tại Đài Loan. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, bính âm Hán ngữ đã trở thành hệ chuyển tự Latinh tiếng Trung tiêu chuẩn của Đài Loan.
== Bảng chữ cái ==
Bính âm sử dụng 26 chữ cái Latinh. Trong đó chữ cái V chỉ dùng để phiên âm tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số và tiếng địa phương.
== Nguyên âm ==
Hệ thống ngữ âm Trung Quốc có 36 nguyên âm (vận mẫu), gồm 6 nguyên âm đơn, 13 nguyên âm kép, 16 nguyên âm mũi và 1 nguyên âm uốn lưỡi. Các nguyên âm này được thể hiện như sau trong bính âm.
=== Nguyên âm đơn ===
a: cách phát âm: mồm há to, lưỡi xuống thấp. Là nguyên âm dài, không tròn môi. Cách phát âm gần giống "a" trong tiếng Việt.
o: cách phát âm: lưỡi rút về phía sau, gốc lưỡi nâng cao ở vị trí giữa, hai môi tròn và nhô ra một tí. Là nguyên âm dài, tròn môi. Cách phát âm hơi giống "ô" trong tiếng Việt.
e: cách phát âm: lưỡi rút về phía sau, gốc lưỡi nâng cao ở vị trí giữa, mồm há vừa. Là nguyên âm dài, không tròn môi. Cách phát âm hơi giống "ơ" và "ưa" trong tiếng Việt.
i: cách phát âm: đầu lưỡi dính với răng dưới, phía trước mặt lưỡi nâng sát ngạc cứng, hai môi giẹp, bành ra. Là nguyên âm dài, không tròn môi. Cách phát âm hơi giống "i" trong tiếng Việt.
u: cách phát âm: gốc lưỡi nâng cao, lưỡi rút về phía sau, hai môi tròn, nhô ra trước. Là nguyên âm dài, tròn môi. Cách phát âm hơi giống "u" trong tiếng Việt.
ü: cách phát âm: đầu lưỡi dính với răng dưới, phía trước mặt lưỡi nâng sát ngạc cứng, hai môi tròn, nhô ra trước. Là nguyên âm dài, tròn môi. Cách phát âm hơi giống "uy" trong tiếng Việt.
=== Nguyên âm kép ===
ai: cách phát âm: phát nguyên âm "a" trước, sau đó dần dần chuyển sang phát nguyên âm "i". Cách phát âm gần giống âm "ai" trong tiếng Việt.
ei: cách phát âm: phát nguyên âm "e" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm "i". Cách phát âm gần giống âm "ây" trong tiếng Việt.
ao: cách phát âm: phát nguyên âm "a" trước, sau đó dần dần chuyển sang phát nguyên âm "o". Cách phát âm gần giống âm "ao" trong tiếng Việt.
ou: cách phát âm: phát nguyên âm "o" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm "u". Cách phát âm gần giống âm "âu" trong tiếng Việt.
ia: cách phát âm: phát nguyên âm "i" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm "a". Trong tiếng Việt không có âm tương tự nhưng phát âm hơi na ná âm "ia".
ie: cách phát âm: phát nguyên âm "i" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm "e". Cách phát âm gần giống âm "ia" trong tiếng Việt.
ua: cách phát âm: phát nguyên âm "u" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm "a". Cách phát âm gần giống âm "oa" trong tiếng Việt.
uo: cách phát âm: phát nguyên âm "u" trước, sau đó dần dần chuyển sang phát nguyên âm "o". Cách phát âm gần giống âm "ua" trong tiếng Việt.
üe: cách phát âm: phát nguyên âm "ü" trước, sau đó dần dần chuyển sang phát nguyên âm "e". Cách phát âm gần giống âm "uê" trong tiếng Việt.
iao: cách phát âm: phát nguyên âm "i" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm kép "ao". Cách phát âm gần giống âm "eo" trong tiếng Việt.
iou: cách phát âm: phát nguyên âm "i" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm kép "ou". Cách phát âm na ná âm "iêu" trong tiếng Việt.
uai: cách phát âm: phát nguyên âm "u" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm kép "ai". Cách phát âm gần giống âm "oai" trong tiếng Việt.
uei: cách phát âm: phát nguyên âm "u" trước, sau đó lập tức chuyển sang phát nguyên âm kép "ei". Cách phát âm na ná âm "uây" trong tiếng Việt.
=== Nguyên âm er ===
Phát nguyên âm "e" trước, sau đó, lưỡi dần dần cuốn lên. "er" là một nguyên âm đặc biệt. "er" là một âm tiết riêng, không thể ghép với bất cứ nguyên âm và phụ âm nào. Chữ này tương đương với chữ "ai" trong tiếng Việt.
=== Nguyên âm mũi ===
an: phát nguyên âm a trước, sau đó, chuyển sang phát phụ âm n. cách phát âm gần giống "an" trong tiếng Việt.
en: phát nguyên âm "e" trước, sau đó chuyển sang phát phụ âm "n". Cách phát âm gần giống âm "ơn" trong tiếng Việt.
in: phát nguyên âm "i" trước, sau đó chuyển sang phát phụ âm "n". Cách phát âm gần giống âm "in" trong tiếng Việt
ün: phát nguyên âm "ü" trước, sau đó chuyển sang phát phụ âm "n". Cách phát âm na ná âm "uyn" trong tiếng Việt.
ian: phát nguyên âm "i" trước, sau đó chuyển sang phát nguyên âm mũi "an". Cách phát âm gần giống âm "iên" trong tiếng Việt.
uan: phát nguyên âm "u" trước, sau đó chuyển sang phát nguyên âm mũi "an". Cách phát âm gần giống âm "oan" trong tiếng Việt.
üan: phát nguyên âm "ü" trước, sau đó chuyển sang phát nguyên âm mũi "an". Cách phát âm gần giống âm "oen" trong tiếng Việt.
uen (un): phát nguyên âm "u" trước, sau đó chuyển sang phát phụ âm "en". Cách phát âm gần giống âm "uân" trong tiếng Việt.
ang: phát nguyên âm "a" trước, sau đó, chuyển sang phát âm "ng". Cách phát âm gần giống "ang" trong tiếng Việt.
eng: phát nguyên âm "e" trước, sau đó, chuyển sang phát âm "ng". Cách phát âm gần giống "ơng" trong tiếng Việt.
ing: phát nguyên âm "i" trước, sau đó, chuyển sang phát âm "ng". Cách phát âm gần giống "inh" trong tiếng Việt.
ong: phát nguyên âm o trước, sau đó, chuyển sang phát âm "ng". Cách phát âm na ná "ung" trong tiếng Việt.
iong: phát nguyên âm "i" trước, sau đó, chuyển sang phát nguyên âm mũi "ung". Cách phát âm giống với âm "ung" trong tiếng Việt.
iang: phát nguyên âm "i" trước, sau đó, chuyển sang phát nguyên âm mũi "ang". Cách phát âm gần giống "eng" trong tiếng Việt.
uang: phát nguyên âm "u" trước, sau đó, chuyển sang phát nguyên âm mũi "ang". Cách phát âm gần giống "oang" trong tiếng Việt.
ueng: phát nguyên âm "u" trước, sau đó, chuyển sang phát nguyên âm mũi "eng". Cách phát âm na ná "uâng" trong tiếng Việt.
=== Âm ng ===
Cách đọc như sau: gốc lưỡi nâng cao, dính chặt vào ngạc mềm, lưỡi con rủ xuống, không khí từ hang mũi toát ra. Cách phát âm gần giống "ng" trong tiếng Việt. "ng" chỉ có thể đứng sau nguyên âm mà không thể đứng trước nguyên âm như tiếng Việt.
== Phụ âm ==
Hệ thống ngữ âm Trung Quốc có 21 phụ âm (thanh mẫu), trong đó có 18 phụ âm đơn, 3 phụ âm kép, trong phụ âm đơn có một phụ âm uốn lưỡi:
b: là âm môi môi. Cách phát âm: hai môi dính tự nhiên, sau đó tách ra, luồng không khí từ hang mồm thoát ra. Là một âm tắc, vô thanh, không bật hơi. Cách phát âm gần giống "p" trong tiếng Việt.
p: là âm môi môi. Cách phát âm: hai môi dính tự nhiên, sau đó tách ra, luồng không khí từ hang mồm thoát ra. Là một âm tắc, vô thanh, có bật hơi. Trong tiếng Việt không có âm tương tự. Cách phát âm nhẹ hơn âm "p" nhưng nặng hơn âm "b" của tiếng Việt.
m: là âm môi môi. Cách phát âm: hai môi dính tự nhiên, luồng không khí từ hang mồm thoát ra. Là một âm mũi, hữu thanh. Cách phát âm gần giống "m" trong tiếng Việt.
f: là âm môi răng. Cách phát âm: môi dưới dính nhẹ với răng trên, luồng không khí từ khe giữa răng và môi thoát ra. Là một âm xát, vô thanh. Cách phát âm gần giống "ph" trong tiếng Việt.
d: là âm đầu lưỡi giữa. Cách phát âm: đầu lưỡi dính vào lợi trên, hình thành trở ngại, sao đó bỗng hạ thấp, luồng không khí từ hang mồm thoát ra. Là một âm tắc, vô thanh, không bật hơi. Cách phát âm gần giống "t" trong tiếng Việt.
t: là âm đầu lưỡi giữa. Cách phát âm: đầu lưỡi dính vào lợi trên, hình thành trở ngại, sao đó bỗng hạ thấp, luồng không khí từ hang mồm thoát ra. Là một âm tắc, vô thanh, có bật hơi. Cách phát âm gần giống "th" trong tiếng Việt.
n: là âm đầu lưỡi giữa. Cách phát âm: đầu lưỡi dính vào lợi trên, hình thành trở ngại, luồng không khí từ hang mũi thoát ra. Là một âm mũi, hữu thanh. Cách phát âm gần giống "n" trong tiếng Việt.
l: là âm đầu lưỡi giữa. Cách phát âm: đầu lưỡi dính vào lợi trên, luồng không khí từ hai mép lưỡi thoát ra. Là một âm biên, hữu thanh. Cách phát âm gần giống "l" trong tiếng Việt.
g: là âm gốc lưỡi. Cách phát âm: gốc lưỡi áp vào ngạc mềm, hình thành trở ngại, sau đó bỗng tách ra, luồng không khí từ hang mồm thoát ra. Là một âm tắc, vô thanh, không bật hơi. Cách phát âm gần giống "c", "k" trong tiếng Việt.
k: là âm gốc lưỡi. Cách phát âm: gốc lưỡi áp vào ngạc mềm, hình thành trở ngại, sau đó bỗng tách ra, luồng không khí từ hang mồm thoát ra. Là một âm tắc, vô thanh, có bật hơi. Cách phát âm gần giống "kh" trong tiếng Việt.
h: là âm gốc lưỡi. Cách phát âm: gốc lưỡi nâng cao, nhưng không áp vào ngạc mềm, hình thành trở ngại, luồng không khí từ giữa thoát ra. Là một âm xát, vô thanh. Cách phát âm gần giống "h" trong tiếng Việt.
j: là âm mặt lưỡi. Cách phát âm: mặt lưỡi áp nhẹ vào ngạc cứng, sau đó tách ra, luồng không khí từ giữa thoát ra. Là một âm bán tắc, vô thanh, không bật hơi. Cách phát âm gần giống "ch" trong tiếng Việt.
q: là âm mặt lưỡi. Cách phát âm: mặt lưỡi áp nhẹ vào ngạc cứng, sau đó tách ra, luồng không khí từ giữa thoát ra. Là một âm bán tắc, vô thanh, có bật hơi. Cách phát âm khá giống với âm sch trong tiếng Đức hoặc đọc như "sờ chờ" trong tiếng Việt.
x: là âm mặt lưỡi. Cách phát âm: mặt lưỡi nâng cao sát ngạc cứng, luồng không khí từ giữa thoát ra. Là một âm xát, vô thanh. Cách phát âm gần giống "x" trong tiếng Việt.
z: là âm đầu lưỡi trước. Cách phát âm: đầu lưỡi áp vào lợi trên, sau đó tách ra một tí, luồng không khí từ giữa thoát ra. Là một âm bán tắc, vô thanh, không bật hơi. Cách phát âm na ná "ch" trong tiếng Việt.
c: là âm đầu lưỡi trước. Cách phát âm: đầu lưỡi áp vào lợi trên, sau đó tách ra một tí, luồng không khí từ giữa thoát ra. Là một âm bán tắc, vô thanh, có bật hơi. Cách đọc như chữ "x" ở một số vùng miền.
s: là âm đầu lưỡi trước. Cách phát âm: đầu lưỡi nâng sát lợi trên, luồng không khí từ giữa thoát ra. Là một âm xát, vô thanh. Cách phát âm hơi giống "x" trong tiếng Việt.
r: là âm đầu lưỡi sau. Cách phát âm: đầu lưỡi nâng sát ngạc cứng trước, luồng không khí thoát ra mồm thoe một đường nhỏ và hẹp. Là một âm xát, hữu thanh, lúc phát âm phải uốn lưỡi. Cách phát âm hơi giống "r" trong tiếng Việt.
zh: là phụ âm kép. Là âm đầu lưỡi sau. Cách phát âm: đầu lưỡi áp vào ngạc cứng trước, sau đó tách ra một tí, luồng không khí thoát ra hang mồm. Là một âm bán tắc, vô thanh, không bật hơi, lúc phát âm phải uốn lưỡi. Cách phát âm hơi giống "tr" trong tiếng Việt.
ch: là phụ âm kép. Là âm đầu lưỡi sau. Cách phát âm: đầu lưỡi áp vào ngạc cứng trước, sau đó tách ra một tí, luồng không khí thoát ra hang mồm. Là một âm bán tắc, vô thanh, có bật hơi, lúc phát âm phải uốn lưỡi. Cách phát âm như âm "xờ chờ" trong tiếng Việt.
sh: là phụ âm kép. Là âm đầu lưỡi sau. Cách phát âm: đầu lưỡi áp vào ngạc cứng trước, luồng không khí thoát ra mồm theo một đường nhỏ và hẹp. Là một âm xát, vô thanh, lúc phát âm phải uốn lưỡi. Cách phát âm hơi giống "s" trong tiếng Việt.
== Dấu thanh ==
=== Ký hiệu dấu thanh ===
Hệ thống ngữ âm tiếng Trung phổ thông có 4 thanh điệu cơ bản. Trong bính âm, các thanh điệu này được ký hiệu là:
Thanh thứ nhất: cũng gọi là "âm bình", là thanh cao, rất đều. Gần giống thanh "ngang" trong tiếng Việt. Ký hiệu trong bính âm là "¯". Trong chú âm, thanh "ngang" lại không có ký hiệu.
Thanh thứ hai: cũng gọi là "dương bình", là thanh cao, đều, từ thấp lên cao. Gần giống thanh "sắc" trong tiếng Việt. Ký hiệu trong bính âm là "´".
Thanh thứ ba: cũng gọi là "thượng thanh", là thanh thấp, xuống thấp lại lên cao. Gần giống thanh "hỏi" trong tiếng Việt. Ký hiệu trong bính âm là "ˇ".
Thanh thứ tư: cũng gọi là "khứ thanh", là thanh từ cao xuống thấp. Ngắn và nặng hơn thanh "huyền", dài và nhẹ hơn thanh "nặng" trong tiếng Việt. Ký hiệu trong bính âm là "ˋ".
Ngoài ra còn một thanh nữa, gọi là thanh "nhẹ" (輕聲, khinh thanh). Thanh này chỉ dùng khi muốn làm nhẹ một âm phía trước. Trong bính âm, thanh nhẹ không có ký hiệu, nhưng trong chú âm thì nó được ký hiệu là "." (dấu khuyên nhỏ).
=== Cách đánh dấu thanh ===
Dấu 4 thanh điệu trong hệ thống bính âm phải đánh trên nguyên âm chủ yếu của một âm tiết (tức là một chữ):
Cách đánh dấu của nguyên âm đơn: dấu trực tiếp đánh trên nguyên âm đơn:
"a": dấu trực tiếp đánh trên nguyên âm "a"
"o": dấu trực tiếp đánh trên nguyên âm "o"
"e": dấu trực tiếp đánh trên nguyên âm "e"
"i": dấu trực tiếp đánh trên nguyên âm "i"
"u": dấu trực tiếp đánh trên nguyên âm "u", "ü": dấu trực tiếp đánh trên nguyên âm "ü"
Cách đánh dấu của nguyên âm kép và nguyên âm mũi:
nếu trong nguyên âm kép hoặc nguyên âm mũi có nguyên âm đơn "a", thì dấu đánh trên nguyên âm "a". Ví dụ: "ai", "ao", "an", "ang", dấu đánh trên nguyên âm "a".
Nếu trong nguyên âm kép hoặc nguyên âm mũi không có nguyên âm đơn "a", thì dấu đánh trên nguyên âm "o". Ví dụ: "ou", "ong", "iou", "iong", "uo", dấu đánh trên nguyên âm "o".
Nếu trong nguyên âm kép hoặc nguyên âm mũi không có nguyên âm đơn "a", thì dấu đánh trên nguyên âm "e". Ví dụ: "ei", "en", "eng", "ie", "uei", "uen", "ueng", "üe", dấu đánh trên nguyên âm "e".
Nguyên âm kép "iu", dấu đánh trên nguyên âm "u".
Nguyên âm kép "ui", dấu đánh trên nguyên âm "i", dấu chấm trên nguyên âm "i" phải bỏ đi.
== Quy tắc viết chữ ==
Các nguyên âm "ü", "üe", "üan", "ün", khi ghép với các phụ âm "j", "q", "x" lúc viết phải bỏ hai dấu chấm trên nguyên âm "ü". Ví dụ: ju jue juan jun qu que quan qun xu xue xuan xun.
Các nguyên âm "ü". "üe", khi ghép với phụ âm "l", "n", lúc viết hai dấu chấm trên nguyên âm "ü" phải giữ nguyên. Ví dụ: nü, nüe, lü, lüe.
Nếu trước nguyên âm "u" không ghép với phụ âm, lúc viết phải thêm bán nguyên âm "w" ở phía trước:u-wu.
Các nguyên âm "ua", "uo", "uai", "uei", "uan", "uen", "uang", "ueng", nếu phía trước không ghép với phụ âm khi viết bỏ chữ "u" ở phía trước, thay bằng bán nguyên âm "w". Ví dụ: ua - wa, uo - wo, uai - wai, uei - wei, uan - wan, uen - wen, uang - wang ueng - weng.
Nguyên âm "ü" chỉ có thể ghép với 5 phụ âm "n", "l", "j", "q", "x".
Nguyên âm "iou", nếu phía trước ghép với phụ âm, lúc viết phải bỏ "o" ở giữa. Ví dụ: qiū, niú, jiú, liù.
Các nguyên âm: "i", "in", "ing", nếu phía trước không ghép với phụ âm, lúc viết phải thêm bán nguyên âm "y" ở trước, ví dụ:i - yi, in - yin, ing - ying.
Các nguyên âm "ia", "ie", "iao", "iou", "ian", "iang", "iong", nếu phía trước không ghép với phụ âm, lúc viết phải thay nguyên âm "i" bằng chữ cái "y", ví dụ: ia - ya, ie - ye, iao - yao, iou - you, ian - yan, iang - yang, iong - yong.
Các nguyên âm "uei". "uen" nếu phía trước ghép với phụ âm, lúc viết phải bỏ "e" ở giữa đi. Ví dụ: ruì, lún, dùn.
Các âm tiết có nguyên âm "a", "o", "i" đứng đầu, khi đặt phía sau âm tiết khác, nếu xuất hiện hiện tượng ranh giới giữa hai âm tiết bị lẫn lộn phải dùng dấu cách âm (') tách ra. Ví dụ;
+) píng'ān (平安), có nghĩa là bình an, từ này có hai âm tiết, âm tiết sau có nguyên âm "a" đứng đầu nếu không dùng dấu cách âm tách ra có khi đọc thành "pín gān" không có nghĩa gì.
+) jiāo'ao (驕傲) có nghĩa là kiêu ngạo, từ này có hai âm tiết, âm tiết sau có nguyêm âm "a" đứng đầu, nếu không dùng dấu cách âm tách ra thì rất khó đọc.
Những danh từ riêng như tên người, địa danh, cơ quan, đoàn thể, đảng phái... chữ cái đầu phải viết hoa. Chữ cái đứng đầu mỗi câu, mỗi đoạn phải viết hoa.
== Cách ngắt chữ ==
Tiếng Hán là ngôn ngữ đơn âm tiết, vì thế quy tắc cơ bản để ngắt chữ trong bính âm Hán ngữ là ngắt sau mỗi từ đơn. Trong trường hợp các danh từ cố hữu được tạo nên từ nhiều từ đơn thì hết cả danh từ mới ngắt.
== Gõ trên máy tính ==
Do bính âm Hán ngữ dùng ký tự latinh, nên vấn đề khó khăn chỉ là thể hiện được thanh điệu. Đối với các văn bản dạng html, có thể gõ ra các ký hiệu thanh điệu với UTF-8 trong Unicode hoặc với GB2312 của Trung Quốc. Trong các trường hợp khác, người ta phải dùng con số để thể hiện thanh điệu. Ví dụ: để gõ bính âm của câu 我是越南人 (Tôi là người Việt Nam), nếu không gõ được Wǒ shì Yuènánrén, thì có thể gõ Wo3 shi4 Yue4nan2ren2.
== Xem thêm ==
Phiên âm Hán Việt
Phiên thiết Hán Việt
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Trương Văn Giới, Lê Khắc Kiều Lục, 301 câu đàm thoại tiếng Hoa
Tân Hán ngữ giáo trình
Bính âm Hán ngữ
== Liên kết ngoài ==
Chuyển đổi online chữ Hán sang bính âm
Chuyển đổi online bính âm thể hiện thanh điệu bằng số sang bính âm thể hiện thanh điệu bằng dấu.
New Edition Hanyu Pinyin Syllable Table
Phần mềm chuyển đổi chữ Hán sang bính âm |
độ lệch chuẩn.txt | Độ lệch chuẩn, hay độ lệch tiêu chuẩn, là một đại lượng thống kê mô tả dùng để đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số. Có thể tính ra độ lệch chuẩn bằng cách lấy căn bậc hai của phương sai.
Khi hai tập dữ liệu có cùng giá trị trung bình cộng, tập nào có độ lệch chuẩn lớn hơn là tập có dữ liệu biến thiên nhiều hơn. Trong trường hợp hai tập dữ liệu có giá trị trung bình cộng không bằng nhau, thì việc so sánh độ lệch chuẩn của chúng không có ý nghĩa.
Độ lệch chuẩn còn được sử dụng khi tính sai số chuẩn. Khi lấy độ lệch chuẩn chia cho căn bậc hai của số lượng quan sát trong tập dữ liệu, sẽ có giá trị của sai số chuẩn.
== Khái niệm độ lệch chuẩn ==
Độ lệch chuẩn, hay độ lệch tiêu chuẩn (Standard Deviation) là một đại lượng thống kê mô tả dùng để đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số. Có thể tính ra độ lệch chuẩn bằng cách lấy căn bậc hai của phương sai. Khi hai tập dữ liệu có cùng giá trị trung bình cộng, tập nào có độ lệch chuẩn lớn hơn là tập có dữ liệu biến thiên nhiều hơn. Trong trường hợp hai tập dữ liệu có giá trị trung bình cộng không bằng nhau, thì việc so sánh độ lệch chuẩn của chúng không có ý nghĩa. Độ lệch chuẩn còn được sử dụng khi tính sai số chuẩn. Khi lấy độ lệch chuẩn chia cho căn bậc hai của số lượng quan sát trong tập dữ liệu, sẽ có giá trị của sai số chuẩn.
== Công thức tính độ lệch chuẩn trong Phân tích kỹ thuật ==
Nếu gọi X là giá trị của công cụ tài chính, m = E(X) là trung bình cộng của X, S là phương sai, d là độ lệch chuẩn thì độ lệch chuẩn sẽ được tính toán như sau:
S = E[(X – m)^2]; d = Căn bậc hai của S
== Ý nghĩa của độ lệch chuẩn ==
Độ lệch chuẩn đo tính biến động của giá trị mang tính thống kê. Nó cho thấy sự chênh lệch về giá trị của từng thời điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Tính biến động cũng như độ lệch chuẩn sẽ cao hơn nếu giá đóng cửa và giá đóng cửa trên bình khác nhau đáng kể. Nếu sự chênh lệch không đáng kể thì độ lệch chuẩn và tính biến động ở mức thấp. Sự đảo chiều xu thế tạo các vùng đáy hoặc đỉnh của thị trường được xác định thời cơ bằng các mức độ biến động cao. Những xu thế mới của giá sau thời kỳ thoái trào của thị trường (tức là giai đoạn điều chỉnh) thường được xác định thời cơ bằng những mức độ biến động thấp. Sự thay đổi đáng kể về dữ liệu giá đem lại giá trị độ lệch chuẩn cao và dữ liệu giá ổn định hình thành độ lệch chuẩn ở mức thấp.
== Xem thêm ==
Phương sai
Hệ số biến thiên
Sai số chuẩn
== Tham khảo ==
Thống kê ứng dụng trong kinh tế - xã hội. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc. Nhà xuất bản Thống kê. Năm 2008. |
giải bóng đá vô địch thế giới 1970.txt | Giải bóng đá vô địch thế giới 1970 (tên chính thức là 1970 Football World Cup - Mexico / Mexico 70) là giải bóng đá vô địch thế giới lần thứ 9 và đã được tổ chức từ 31 tháng 5 đến 21 tháng 6 năm 1970 tại México. Đây là lần đầu tiên giải vô địch bóng đá thế giới được tổ chức tại Bắc Mỹ. Giải vô địch lần này được những người hâm mộ xem là giải hay nhất cho đến nay.
Sau 32 trận đấu, Brasil đã chiếm giải lần thứ 3 và do đó, được quyền giữ cúp vĩnh viễn.
== Vòng loại ==
71 đội bóng tham dự vòng tuyển và được chia theo các châu lục để chọn ra 14 đội vào vòng chung kết cùng với nước chủ nhà Mexico và đội đương kim vô địch thế giới Anh. (Xem Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1970)
== Các sân vận động ==
== Phân nhóm ==
== Trọng tài ==
== Đội hình ==
== Vòng bảng ==
=== Bảng 1 ===
Chú thích: Liên Xô xếp trên Mexico nhờ hơn về hiệu số bất phân thắng bại.
=== Bảng 2 ===
=== Bảng 3 ===
=== Bảng 4 ===
== Vòng đấu loại trực tiếp ==
=== Tứ kết ===
=== Bán kết ===
=== Tranh hạng ba ===
=== Chung kết ===
== Vô địch ==
== Danh sách cầu thủ ghi bàn ==
10 bàn
Gerd Müller
7 bàn
Jairzinho
2 bàn
1 bàn
phản lưới nhà
Javier Guzmán (trận gặp Ý)
== Giải thưởng ==
Quả bóng vàng: Pelé (Brasil)
Chiếc giày vàng: Gerd Müller (Tây Đức)
Cầu thủ trẻ xuất sắc (Awarded retrospectively): Teófilo Cubillas (Peru)
Đội tuyển chơi đẹp: Peru
== Bảng xếp hạng giải đấu ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
FIFA World Cup 1970 Mexico ™, FIFA.com
Chi tiết trên RSSSF
FIFA Technical Report |
thị trường chứng khoán luân đôn.txt | Sàn giao dịch chứng khoán London nằm tại London, Anh. Được thành lập từ 1801, đây là một trong những cơ sở giao dịch chứng khoán lâu đời nhất thế giới, với nhiều công ty trong nước Anh và ở nước ngoài niêm yết.Tính đến tháng 6 năm 2011, Sàn Giao dịch đã có một vốn hóa thị trường USD 3,7495 nghìn tỷ, làm cho nó thị trường chứng khoán lớn thứ tư trên thế giới (và là lớn nhất ở châu âu) Trụ sở của London Stock Exchange hiện đặt tại số 10, quảng trường Paternoster gần nhà thờ St Paul, trung tâm của thành phố London
== Lịch sử ==
=== Quán cà phê ===
Sàn Giao dịch Hoàng gia đã được thành lập bởi Thomas Gresham trên mô hình của Antwerp Bourse, được xem như là một thị trường chứng khoán. Nó đã được thành lập bởi Nữ hoàng Elizabeth đệ nhất vào năm 1571.
Trong thế kỷ 17, các nhà môi giới chứng khoán không được phép tham gia vào sàn giao dịch Hoàng gia do cách cư xử thô lỗ của họ. Họ phải hoạt động trong những cơ sở khác ở gần đó, trong đó đặc biệt là quán cà phê Jonathan. Tại quán cà phê đó, một nhà môi giới tên là John Casting bắt đầu niêm yết giá của một vài mặt hàng, tỷ giá hối đoái và các điều khoản quan trọng về than đá, muối và giấy trong 1698. Ban đầu, đây không phải là danh sách được xuất bản hàng ngày mà chỉ có vài ngày trong tuần.
Sau đó bản danh sách này và các hoạt động giao dịch được chuyển đến quán cà phê Garraway. Những cuộc đấu giá công cộng trong lúc này đã được thực hiện trong suốt khoản thời gian mà ngọn nến cháy và kết thúc khi ngọn nến tàn,việc này còn được gọi là phiên đấu giá "dựa trên chiều dài của ngọn nến". Khi cổ phiếu tăng giá, cùng với các công ty mới tham gia để huy động vốn, hội đồng hoàng gia cũng đặt thêm một số tiền. Đây là những dấu hiệu sớm nhất của việc tổ chức kinh doanh trong thị trường chứng khoán tại London.
=== Sàn giao dịch Hoàng gia ===
Sau khi sàn giao dịch Gresham bị phá hủy trong trận hỏa hoạn ở London,sau đó nó được xây dựng lại và tái thành lập vào năm 1669. Đây là một bước ngoặt trong việc ra khỏi phạm vi các quán cà phê và là bước tiến đến mô hình của thị trường chứng khoán hiện đại.
Sàn Giao dịch Hoàng gia không chỉ dành cho nhà môi giới mà còn cho các thương nhân và hàng hóa. Đây là sự ra đời của thị trường chứng khoán có quy định, việc này đã làm nảy sinh vấn đề là sự hình thành của những công ty môi giới không có giấy phép. Để điều chỉnh vấn đề này, Quốc hội đã thực hiện một số hành động trong năm 1697 đặt ra những khoản phạt nặng, cả về tài chính và pháp lý đối với những nhà môi giới không có giấy phép. Nó đã thiết lập ra một con số cố định các nhà môi giới (100), mà sau này tăng lên khi thương mại phát triển. Sự cố định này đã dẫn đến việc phát sinh một số vấn đề, một trong số đó là thương nhân đã bắt đầu rời khỏi Sàn Giao dịch Hoàng gia, tự nguyện hoặc bị trục xuất và bắt đầu giao dịch trên đường phố London. Trên đường nơi họ giao dịch còn được biết đến như "Phố Giao dịch và trao đổi" đây là nơi thích hợp vì được đặt gần Ngân hàng Anh. Quốc hội đã cố gắng để điều chỉnh lại và ra lệnh cấm các thương nhân không hợp lệ giao dịch trên những con phố.
Các công ty đã trở nên kiệt quệ như "bong bóng" khi các công ty liên tục mọc lên và phá sản một cách nhanh chóng, vì vậy họ đã thuyết phục Quốc hội thông qua một điều khoản ngăn chặn các công ty không phù hợp hình thành.
Sau cuộc chiến tranh bảy năm (1756-1763), việc giao dịch tại quán cà phê Jonathan lại bùng nổ một lần nữa. Trong năm 1773, Jonathan, cùng với 150 nhà môi giới khác, thành lập một câu lạc bộ và mở một "sàn giao dịch chứng khoán" mới và chính thức hơn trong phố Sweeting. Điều này đã đạt ra một khoản phí tham gia, sau khi nộp khoản phí này thương nhân có thể vào phòng chứng khoán và giao dịch chứng khoán.Tuy nhiên đây không phải là vị trí duy nhất để giao dịch, các cuộc giao dịch cũng diễn ra trong các gian phòng lớn của Ngân hàng Anh. Gian lận, lừa gạt cũng hoành hành trong những thời gian này và để ngăn chặn các cuộc giao dịch đó, đã có đề xuất là những người sử dụn phòng chứng khoán trả thêm lệ phí gia tăng.Điều này không được hoan nghênh và cuối cùng, giải pháp được đặt ra dưới hình thức lệ phí hàng năm và nó được chuyển đến Sàn Giao dịch vào phòng đăng ký chứng khoán.
Phòng Đăng ký được thành lập vào năm 1801 là nơi được tuân theo quy định đầu tiên ở London, nhưng sự chuyển đổi không được hoan nghênh tất cả các bên. Vào ngày đầu tiên của phiên giao dịch,những người không phải là thành viên đã bị trục xuất bởi một nhân viên cảnh sát. Mặc dù sự lộn xộn này, một tòa nhà mới và lớn hơn đã được lên kế hoạch, tại hội đồng Capel.
William Hammond đặt viên đá đầu tiên cho tòa nhà mới này vào ngày 18 tháng năm. Nó được hoàn thành vào ngày 30 tháng 12 khi dòng chữ "giao dịch chứng khoán" được khắc trên lối vào.
=== Bộ luật đầu tiên ===
Trong những năm hoạt động đầu tiên của thị trường, nhiều trường hợp đã làm xuất hiện rõ vấn đề là các quy định hay những điều luật cơ chủ yếu bị thiếu trong hội đồng thương mại Capel.Vào tháng 2 năm 1812, Uỷ ban hành chính đã tiếp thu các kiến nghị được đưa ra, mà sau này trở thành nền tảng của bộ luật đầu tiên được hệ thống hóa của thị trường giao dịch. Mặc dù văn bản này không được hoàn thiện, cách giải quyết vấn đề khá khuôn mẫu,nhưng trên thực tế,nó cũng khá toàn diện.
Cùng với những mệnh lệnh mới của chính phủ và sự gia tăng số lượng giao dịch tại đây, Thị trường chứng khoán đã dần dần trở thành một bộ phận trong nền kinh tế của thành phố. Mặc dù những lời chỉ trích liên tục từ báo chí và công chúng, chính phủ đã sử dụng tcác tổ chức chứng khoán để gia tặng một số lượng lớn tiền cho các cuộc chiến tranh chống lại Napoleon. Thị trường trong và ngoài nước
Sau chiến tranh và đối mặt sự bùng nổ của nền kinh tế thế giới, nước ngoài cho các thị trường tiềm năng như Brazil, Peru và Chile vay. Đặc biệt, thị trường nước ngoài cũng cho phép các nhà buôn và thương gia tham gia vào và Sàn giao dịch Hoàng gia đã chủ trì tất cả các phiên giao dịch có nước ngoài tham gia. Sự gia tăng ngày càng lớn của việc kinh doanh ở nước ngoài dẫn đến việc kinh doanh chứng khoán nước ngoài cũng phải được cho phép trong thị trường chứng khoán trong nước.
Giống như London nơi trở nên khá hứng thú với sự phát triển của thương mại quốc tế, vương quốc Anh cũng được hưởng lợi từ sự bùng nổ kinh tế. Hai thành phố khác đã đặc biệt thể hiện sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh, cụ thể là Liverpool và Manchester. Do đó, trong năm 1836, cả hai thị trường chứng khoán Manchester và Liverpool được mở ra. Đây cũng là khoản thời gian mà môi giới chứng khoán được công nhận là một nghề kinh doanh thực sự và thu hút nhiều doanh nhân tham gia. Tuy nhiên, khi bước vào thời kì suy thoái, và vào năm 1835 "cơn hoảng loạn Tây Ban Nha " chạm đến thị trường, kéo dài đến 1 đến 2 năm sau đó. Một số cổ phiếu tăng mạnh ở mức 10%, 20% và 30%, một tuần.
==== Thị trường chứng khoán trước chiến tranh thế giới ====
Tháng 6 năm 1853, cả hai bên tham gia giao dịch và các nhà môi giới đã trở nên rất nhiều nên chiếm nhiều diện tích, nên giờ đây thị trường chứng khoán trở nên đông đúc một cách bất tiện và kế hoạch mở rộng đã được đặt ra.Sàn giao dịch đã được mở rộng phía tây, phía đông và phía bắc, sau đó đã có quyết định Sàn Giao dịch cần một cơ sở hoàn toàn mới. Thomas Allason được bổ nhiệm làm kiến trúc sư chính, và tháng 3 năm 1854, một tòa nhà mới lấy cảm hứng từ The Great Exhibition đã được ra đời. Đây là một cải tiến lớn đối với cả môi trường và không gian xung quanh, với hai tầng.
Vào giữa những năm 1800, điện thoại, mã băng và điện báo đã được phát minh. Những công nghệ mới đã trở thành một cuộc cách mạng trong giao dịch ở thị trường chứng khoán. Mặc dù đã có liên kết giữa tất cả các thành phố lớn trong nước trong những năm 1840, các nhà quản lý tại Sàn Giao dịch ban đầu không bị thuyết phục bởi các lợi ích của điện thoại và nó không được áp dụng trước năm 1878. Hầu hết những lo ngại đều gắn liền với cậu hỏi liệu việc kinh doanh trở nên thu hút hơn hoặc bị thất bại khi dùng các thiết bị mới. Người quản lý cuối cùng đã đầu hàng ý kiến ban đầu của họ và điện thoại nhanh chóng trở thành một trong những công cụ môi giới chứng khoán quan trọng nhất.
==== Chiến tranh thế giới thứ nhất ====
Là trung tâm tài chính của thế giới, cả thành phố và các khu giao dịch chứng khoán chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự bùng nổ của Chiến tranh thế giới thứ nhất vào năm 1914. Lúc đầu, giá tăng do nỗi sợ hãi đang gia tăng rằng các khoản tiền gửi đang bị rút lại và các ngân hàng nước ngoài đang có nhu cầu vay hoặc nâng cao lãi suất.Đã có quyết định đóng cửa Sàn Giao dịch để xoa dịu tình hình và mở rộng ngân hàng August Holiday để ngăn chặn việc rút tiền hàng loạt từ các ngân hàng,nó được vội vã thông qua bởi cả hai nơi Ủy ban và Nghị viện. Sàn Giao dịch chứng khoán đã được đóng cửa từ cuối tháng Bảy cho đến năm sau, và một lần nữa các giao dịch đường phố quay lại cũng như xuất hiện một " hệ thống thách thức " Sở Giao dịch đã được mở cửa trở lại vào ngày 4 tháng 1 năm 1915 dưới sự một sự hạn chế, như tất cả các giao dịch đều phải bằng tiền mặt.Do những hạn chế và khó khăn trong hoạt động kinh doanh gây ra bởi chiến tranh, hàng ngàn thành viên đã rời khỏi sàn giao dịch giữa năm 1914 – 18.Khi hòa bình cuối cùng cũng trở lại vào tháng nười một năm 1018, tâm trạng sau chiến tranh trên sàn giao dịch cũng khá căng thẳng.
Vào năm 1923, thị trường chứng khoán đã được nhận huy chương riêng của nó (coat of arms) với khẩu hiệu "Dictum Meum Pactum", Lời nói của tôi là sự cam kết của tôi Chiến tranh thế giới thứ hai
Năm 1937, kinh nghiệm từ Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho các quan chức tại Sàn giao dịch lập những kế hoạch để xử lý các tình huống khi chiến tranh xảy ra. Một trong những mối quan tâm chính là các cuộc không kích và đánh bom trong phạm vi của sàn giao dịch, và có một đề xuất là di dời đến Denham. Tuy nhiên điều này đã không được diễn ra. Vào ngày đầu của tháng 9 năm 1939, Sàn Giao dịch đã bị đóng cửa "cho tới khi có thông báo tiếp theo" và hai ngày sau đó, tuyên bố chiến tranh đã được ban ra. Không giống như từ cuộc chiến tranh trước, Sở Giao dịch mở cửa lại sáu ngày sau đó, vào ngày 07 tháng 9.
Khi chiến tranh leo thang vào năm thứ hai, những mối quan tâm cho cuộc không kích lớn hơn bao giờ hết. Cuối cùng, vào đêm 29 tháng 12 năm 1940, một trong những vụ cháy lớn nhất trong lịch sử của London đã diễn ra. Sàn giao dịch đã bị đánh bởi 1 quả bom, may mắn thay đã được dập tắt nhanh chóng. Kinh doanh trực tiếp trên sàn đã giảm đáng kể và hầu hết các cuộc giao dịch đã được thực hiện qua điện thoại để giảm các thiệt hại.
Sở Giao dịch trên thực tế chỉ đóng cửa trong một ngày trong cuộc chiến, vào năm 1945 do thiệt hại từ một quả tên lửa V2, lúc đó giao dịch vẫn được tiếp tục trong tầng hầm ở nhà.
==== Sau chiến tranh ====
Sau khi một số thời kỳ hỗn loạn, thị trường chứng khoán đã có những năm khởi sắc vào cuối những năm 1950 và công việc kinh doanh đã thực sự bùng nổ. Điều này đã đẩy các quan chức để tìm một địa điểm phù hợp hơn cho trụ sở mới của mình. Công việc trên Stock Exchange Tower được bắt đầu vào năm 1967.Trụ sở mới của sàn giao dịch cao 321 feet, có 26 tầng với Hội đồng Quản trị ở tầng cao nhất, và tầng giữa là nơi cho các công ty trực thuộc hoạt động. Nữ hoàng Elizabeth II đã chính thức khánh thành tòa nhà vào ngày 08 tháng 11 năm 1972 và công trình xây dựng hoàn thành đã trở thành 1 cột mốc cho sự phát triển của thành phố, với sàn giao dịch rộng 23.000 ft vuông của nó. 1973 là năm của những thay đổi cho Sàn Giao dịch chứng khoán. Thứ nhất,lệnh cấm kinh doanh đã được bãi bỏ. Một văn bản của Ủy ban Tư bản đề nghị cho phép cả phụ nữ và những người nước ngoài vào. Và thứ hai, tháng ba, Sàn Giao dịch Chứng khoán London (chính thức) hợp nhất với 11 thị trường giao dịch khu vực Anh và Ailen. Việc mở rộng này đã dẫn đến việc thành lập một chức vụ mới là Giám đốc điều hành, sau quá trình tìm kiếm rộng rãi,vị trí này đã được trao cho Robert Fell. Các thay đổi của Chính phủ cũng tiếp tục vào năm 1991, khi Hội đồng quản trị của sàn giao dịch chứng khoán được thay thế bằng một Hội đồng quản trị được điều ra từ những thành viên của sàn giao dịch, điều hành và cơ sở người dùng. Điều này cũng đánh dấu sàn giao dịch chứng khoán cũ nay đã đổi tên thành "Sàn Giao dịch Chứng khoán Luân Đôn '. Chỉ số FTSE 100 (Footsie 100) đã được đưa ra bởi tờ Financial Times và người cộng tác giao dịch chứng khoán trong tháng 2 năm 1984.Và nó đã trở thành một trong các chỉ số quan trọng nhất của tất cả các và có khả năng theo dõi sự lên xuống của 100 công ty hàng đầu được liệt kê trên sàn giao dịch.
==== "Big Bang" ====
Sự kiện lớn nhất xảy ra vào năm 1980 chính là việc bãi bỏ một số quy định của thị trường tài chính ở Anh vào năm 1986. Cụm từ Big Bang được đặt ra để mô tả các biện pháp như việc bãi bỏ các loại phí hoa hồng cố định và sự phân biệt giữa những nàh đầu cơ chứng khoán và nhà môi giới chứng khoán trên sàn chứng khoán London, cũng như thay đổi từ giao dịch bằng lời nói bằng giao dịch qua màn hình điện tử.
Trong năm 1995 thị trường chứng khoán thực hiện dự án thị trường đầu tư thay thế (Alternative Investment Market), AIM, cho phép các công ty phát triển mở rộng ra thị trường quốc tế. Hai năm sau, Dịch vụ Thương mại điện tử (Electronic Trading Service) viết tắt (SETS) đã được đưa ra, nâng cao tốc độ và hiệu quả cho thị trường. Sau này, các dịch vụ CREST cũng đã được đưa ra. Năm của thiên niên kỷ mới, năm 2000, các cổ đông đã bỏ phiếu để chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn: London Stock Exchange plc. LSE cũng chuyển giao vai trò của nó từ danh sách những cộng ty cổ phần ở anh trở thành các cơ quan dịch vụ tài chính (FSA-UKLA)
EDX London, một công ty đa quốc gia mới, được thành lập trong năm 2003 có mối quan hệ đối tác với Tập đoàn OM. Sàn Giao dịch cũng đã thu nhận cộng ty Proquote, một nhà cung cấp các dữ liệu thị trường và các hệ thống kinh doanh.
Tòa nhà Stock Exchange Tower đã trở thành thừa thãi với sự cải tiến của Big Bang, mà nó đã bỏ đi nhiều hoạt động trực tiếp trên sàn giao dịch chứng khoán vì nó đã làm gia tăng việc sử dụng các hệ thống máy tính cho phép giao dịch gián tiếp được ưu tiên hơn giao dịch trực tiếp. Như vậy, trong năm 2004, sàn giao dịch đã di chuyển đến một trụ sở mới ở quảng trường Paternoster, gần Nhà thờ Thánh Paul.
Trong năm 2007 Sàn Giao dịch Chứng khoán London sáp nhập với Borsa Italiana, tạo thành Tập đoàn Giao dịch Chứng khoán London (LSEG). Trụ sở chính của tập đoàn đặt ở quảng trường Paternoster.
== Các hoạt động ==
=== Thị trường sơ cấp ===
Những nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ các công ty trên toàn thế giới tham gia thị trường vốn của London để huy động nguồn vốn. LSE cho phép công ty huy động tiền, đưa ra lý lịch của họ và có được một số thông tin về giá trị thị trường thông qua nhiều con đường, vì vậy có thể theo dõi thông tin các công ty qua toàn bộ tiến trình IPO.
Sàn giao dịch mở thêm một số thị trường cho từng danh mục, tạo cơ hội cho các công ty có quy mô khác nhau liệt kê ra. Công ty quốc tế có thể đưa ra một số sản phẩm tại London bao gồm cổ phiếu, chứng chỉ lưu ký và nợ, cung cấp những cách thức khác nhau và các mức chi phí trong việc huy động vốn. Năm 2004 tập đoàn đã mở một văn phòng ở Hồng Kông và đã thu hút hơn 200 công ty từ khu vực châu Á – Thái bình.
Đối với các công ty lớn có thể được đưa vào danh sách ở thị trường cao cấp. Điều này hoạt động như một hình thức trong tình trạng tương đồng khi mà UKLA cũng như các tiêu chí của thị trường chứng khoán London được đáp ứng. IPO lớn nhất (Phát hành cổ phiếu lần đầu)trên thị trường chứng khoán được kết thúc trong tháng năm 2011 bởi cộng ty đa quốc gia Glencore plc. Công ty huy động được $10bn vào nguồn vốn, làm cho nó trở thành một trong những lần IPO lớn nhất.
Trong điều khoản về chứng khoán của doanh nghiệp nhỏ hơn trong thị trường đầu tư thay thế (AIM). Đối với công ty quốc tế bên ngoài của EU,nó áp dụng chứng chỉ lưu ký (DR) như một cách để lên sàn và huy động vốn.
Những lợi ích trong việc tham gia một trong những thị trường chứng khoán bao gồm:
-Cung cấp khả năng truy cập vào vốn cho sự tăng trưởng và hoạt động tài chính cho những phát triển sau này
-Cả mở rộng phạm vi của cổ đông và tạo ra một thị trường cho cổ phiếu của công ty
-Dựa vào các giá trị trên thị trường chứng khoán đặt ra mục tiêu kinh doanh cho công ty
Có hai thị trường chuyên môn:
Thị trường chứng khoán chuyên nghiệp thị trường này tạo điều kiện tăng vốn thông qua phát hành các cộng cụ chứng khoán nợ đặc biệt hoặc các chứng chỉ lưu ký (DRs) cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Thị trường hoạt động dưới sự quản lý của Recognised Investment Exchange (1 công ty chiu trách nhiệm quản lý giao dịch chứng khoán ở london), và vào tháng Bảy,2011 nó có 32 DRs, 108 Trái phiếu châu âu và hơn 350 tín phiếu trung hạn.
Thị trường gây quỹ chuyên môn là thị trường giao dịch chứng khoán dành riêng cho thị trường London, được thiết kế để chấp nhận các quỹ mua xe phức tạp, các mô hình quản lý và chứng khoán. Nó thích hợp chỉ cho các tổ chức, những chuyên gia và những nàh đầu tư có vốn hiểu biết cao.Thị trường gây quỹ đặc biệt là một thị trường theo qui chế của EU và vì thế chứng khoán được phát hành trong thị trường phải thích hợp cho hầu hết yêu cầu của nhà đầu tư tạo ra môi trường phù hợp cho nàh phát hành vào thị trường
== Tham khảo == |
techno.txt | Techno là một loại nhạc dance điện tử (electric dance music) được phát triển vào đầu những năm thập niên 1980 và rất đã được ưa chuộng ở Detroit, Michigan, Hoa Kỳ. Nhiều người vẫn còn chưa hề biết về dòng nhạc này nhưng nó xuất hiện khá nhiều ở những game Âm nhạc hay MO(music online), ví dụ như Audition và SDO.
Những dụng cụ đa phần là những dụng cụ điện tử như: Synthesizer, keyboard, trống điện tử, sampler và sequencer(còn gọi là MIDI Sequencer).
== Lịch sử và phát triển ==
Giữa những năm của thập niên 1980, các nghệ sĩ của vùng Detroit đã phân nhánh dòng Techno từ loại nhạc Electric House Dance. Ngay cái tên của Techno cũng cho biết nó có phần nào dính dáng đến nhạc cụ điện tử và các công cụ tạo âm thanh khác. Techno là nhạc dance electronic nhưng có một chuẩn riêng. Các nhà sản xuất và các Dj đầu tiên của Techno là Kevin Saunderson, Juan Atkins và Derrick May. Ngoài ra còn có các nghệ sĩ của dòng nhạc khác phát triển thành techno như Afrika Bambaataa từ dòng nhạc electro-funk hay Kraftwerk của dòng nhạc Synth-rock. Ở Mỹ, techno phát triển mạnh nhưng không được dùng nhiều. Nhưng ở Anh, đầu những năm 90 techno phát triển mạnh và nó phân nhánh thành những thể loại như hardcore, ambient, and jungle. Trong thể loại Hardcore-techno, nhịp trong từng phút của thể loại này được đẩy nhanh một cách quá đáng, nực cười khiến cho mọi người không thể nhảy theo nó được. Nếu nhảy theo thì chắc chỉ có cách giật đùng đùng.
Ambient thì ngược lại, các beat chậm hẳn xuống và âm nhạc lắng hẳn xuống và trong lúc này tiếng âm thanh điện tử được sử dụng tối đa nhưng không quá nhiều. Các câu lạc bộ thường chơi thể loại nhạc này khi họ muốn làm giảm độ nóng của các sàn nhảy xuống và thoát ra khỏi hardcore techno. Hầu hết các nhánh phụ của nhạc techno chỉ được sử dụng trong các vũ trường và sàn nhảy, nơi mà tại đó các Dj sẽ chỉnh lại nó cho phù hợp với họ. Cho đến giữa các năm 90 các nghệ sĩ mới liên tiếp ra đời như The Orb và Aphex Twin nhưng chủ yếu họ chơi theo ambient.
Bên cạnh đó là những ban nhạc, nghệ sĩ có thiên hướng đi theo trường phái mạnh mẽ là Prodigy và Goldie. Và cũng không ngạc nhiên khi Prodigy trở thành một nhóm có tiếng tăm đầu tiên của thể loại Techno trên toàn thế giới. Đặc điểm của nhóm nhạc này là họ sáng tác và mix những album của mình mà không một DJ nào có thể mix lại được, họ định vị những tác phẩm của mình.
== Những loại nhạc khác ==
=== House ===
Nhạc house phát triển từ văn hóa sàn nhảy đầu những năm thập niên 80. Sau khi disco trở nên phổ biến, một vài Dj da màu, cộng đồng những người đồng tính họ muốn tạo ra một loại nhạc mới ít pop hơn và độc đáo hơn. Tiếng beat trở nên máy móc hơn, tiếng bass nặng hơn, trong khi các yếu tố điện tử khác của pop, Latin soul, dub reggae, rap và jazz được đem vào trên nền nhịp bốn-bốn. House chủ yếu là nhạc không lời những bản hoà tấu, thỉnh thoảng được thêm vào những câu hát của chính các nghệ sĩ hay các giọng ca giấu mặt của các Diva với những giai điệu quen thuộc. Cuối những năm 80 nó phát triển rất mạnh ở các thành phố Chicago, New York và London và tiếp đến là có mặt trong các bảng xếp hạng. Tại Mỹ, các nghệ sĩ có tên tuổi như C+C Music Factory và Madonna.
Sang đầu thập niên 90 nó cũng phát triển ra các nhánh phụ của mình như Hip-house, Ambient-house và acid house. House tiếp tục phát triển và cho đến cuối những năm 90 này, một loạt các nhóm như Daft Punk, Basement Jaxx và House of 909 đã làm cho cả thế giới phải có cái nhìn mới đối với nhạc House vì sự sáng tạo của họ. Các kênh MTV, Channel V hay GMC của pháp thay nhau chiếu các video clip của họ.
=== Trance ===
Người Đức trẻ tự hào vì chính họ đã sáng tạo nên dòng nhạc trance hiện nay. Đầu những năm 1990, nhạc techno và hardcore của Đức đã được chuyển sang thể loại trance, một thể loại nhấn mạnh các âm thanh điện tử và được kéo dài đến cuối ca khúc và chỉ thêm vào đó sự thay đổi của giai điệu và thình thoảng thay đổi không khí của nhạc cụ điện tử để người nghe có thể phân biệt được sự khác nhau mà thôi. Nhưng nhạc trance như một thứ tôn giáo, nó kéo người nghe đến gần và cảm nhận được từng âm thanh và cả ca khúc như một dòng suối cuốn chặt lấy họ. Đến giữa những năm 1990, trance đã giữ được vị trí độc tôn khi các sàn nhảy và các Dj trên toàn thế giới chọn nhạc trance bởi sức thu hút của nó cùng với đó là sức sáng tạo vô bờ bến trên nền nhạc trance.
Không như nguồn gốc chính của nó được bắt nguồn từ Detroit, các trung tâm nhạc trance được tập trung lại với nhau và tạo thanh một khối như hãng thu âm R&S tại Ghent, Bỉ và hãng Harthouse/Eye Q tại Frankfurt,Đức. Hãng R&S ra đời sớm hơn đồng nghĩa với việc giới thiệu các album sớm hơn như đĩa đơn "Energy Flash" của Joey Beltram, "The Ravesignal" của CJ Bolland và các nghệ sĩ khác như Robert Leiner, Sun Electric và Aphex Twin. Đầu năm 1992, hãng Harthouse, một nhánh nhỏ của hãng Epic đã giới thiệu những sản phẩm đầu tiên như đĩa đơn "Harttrance Acperience" của Vath và bên cạnh đó giới thiệu các nghệ sĩ Arpeggiators, Spicelab và Barbarella.
Đến cuối những năm 90, một sự thay đổi lớn đã diễn ra, các ban nhạc, nghệ sĩ cùng với âm nhạc của họ đã biến mất. Thay vào đó là những khuôn mặt mới cùng với những âm thanh sáng tạo mới trong lòng của Trance. Nhạc Trance cũ của Đức đã bị thay đổi ít nhiều nhưng nhìn chung, nó vẫn giữ được phong thái của nhạc trance ngày nào. Trance mới bị ảnh hưởng bởi nhạc house của châu Âu cùng với sự mềm mại. Năm 1998, các Dj được biết đến nhiều nhất đó là Paul Oakenfold, Pete Tong, Tony De Vit, Danny Rampling, Sasha, Judge Jules. hầu hết họ đều chơi nhạc trance đặc thù của nước Anh.
=== Eurodance ===
Eurodance là một thể loại của nhạc nhảy, rất phổ biến ở Châu Âu vào những năm 1990. Nó dễ dàng được nhận dạng bởi giọng ca nữ, hoà âm đơn giản, có vài phần rap nam hoặc hát của nam, nhịp đập mạnh từ 110 tới 150 BPM (nhịp đập trong một phút) với giai điệu của nhạc điện tử.
Eurodance được gọi như vậy là vì nó được phổ biến phần lớn ở châu Âu và nó được sản xuất chủ yếu ở Ý, Đức, Thuỵ Điển và Hà Lan. Ngoài những nhóm nổi tiếng nhất thì còn có hàng trăm dự án Eurodance khác.
Eurodance là dạng âm nhạc thương mại. Một vài nhà sản xuất như Max Martin người Thuỵ Điển đứng đằng sau nhiều những ban nhạc. Nếu những thành viên của ban nhạc yêu cầu quá nhiều, họ có thể bị sa thải. Rất nhiều ban không thọ nổi sau khi cho ra một hoặc 2 đĩa. Có một vài người cho rằng những ca sĩ nữ đã được chọn bởi ngoại hình của họ hơn là tài năng thực sự. Biểu diễn trực tiếp phần lớn là hát nhép (Playback), đôi khi là một ca sĩ khác hát trong phòng thu chứ không phải là người biểu diễn trên sân khấu.
Một vài ban như ban Aqua của Đan Mạch hay Daze, Hit’n’Hide không thường được coi là Eurodance, mà thuộc thể loại kẹo-cao-su (bublegum). Trong khi đó Blumchen và Scooter thuộc thể loại happy-hardcore. Sash!, ATB, Antiloop! gần như là những nhóm Trance, còn Robert Miles được xếp vào loại Dream dance.
== Xâm nhập game ==
Ngoài những đĩa nhạc dance được bán ra, những dòng nhạc điện tử này còn xâm nhập vào các game chuyên về âm nhạc như RockStar, Pump It Up, và còn các MO như Audition, SDO hay là jam. Ngoài việc lấy những bản nhạc của các ca sĩ khác vào, một số trò chơi còn lồng vào những bản nhạc không lời hoặc có lời của những ca sĩ giấu mặt. Hầu hết những trò chơi âm nhạc hoặc nhảy đều có những nhóm nhạc điện tử sáng tác độc quyền cho các trò chơi đó như: Pump It Up của hãng Andamiro do một nhóm nhạc điện tử BanYa đảm nhiệm sáng tác.
Ngoài các game trên, những tựa game khác còn có những bài hát nền rất hay mà chỉ có độc quyền trò chơi đó mà không thể tìm được ở đâu ngoại trừ việc được thu âm và upload trên Internet.
== Xem thêm ==
Nhạc Rap
Nhạc dance
Nhạc Hip-hop
Nhạc Pop
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Techno-những tư liệu về nhạc Techno
Techno Music Style – Guide to techno music style; includes reviews of techno music and links to techno-related websites
Korg EMX Summer in Detroit - A video example of Detroit techno being performed live
photophunk.com |
thomas chatterton.txt | Thomas Chatterton là một nhà thơ người Anh. Cậu đã tự sát năm 17 tuổi bằng thạch tín và đã chết vì nhiễm độc. Tác phẩm của cậu nổi tiếng sau khi cậu chết và có ảnh hưởng đến phong trào lãng mạn sau đó.
== Tác phẩm ==
'An Elegy on the much lamented Death of William Beckford, Esq.,' 4to, pp. 14, 1770.
'The Execution of Sir Charles Bawdwin' (edited by Thomas Eagles, F.S.A.), 4to, pp. 26, 1772.
'Poems supposed to have been written at Bristol, by Thomas Rowley and others, in the Fifteenth Century' (edited by Thomas Tyrwhitt), 8vo, pp. 307, 1777.
'Appendix' (to the 3rd edition of the poems, edited by the same), 8vo, pp. 309–333, 1778.
'Miscellanies in Prose and Verse, by Thomas Chatterton, the supposed author of the Poems published under the names of Rowley, Canning, &c.' (edited by John Broughton), 8vo, pp. 245, 1778.
'Poems supposed to have been written at Bristol in the Fifteenth Century by Thomas Rowley, Priest, &c., [edited] by Jeremiah Milles, D.D., Dean of Exeter,' 4to, pp. 545, 1782.
'A Supplement to the Miscellanies of Thomas Chatterton,' 8vo, pp. 88, 1784.
'Poems supposed to have been written at Bristol by Thomas Rowley and others in the Fifteenth Century' (edited by Lancelot Sharpe), 8vo, pp. xxix, 329, 1794.
'The Poetical Works of Thomas Chatterton,' Anderson s 'British Poets,' xi. 297-322, 1795.
'The Revenge: a Burletta; with additional Songs, by Thomas Chatterton,' 8vo, pp. 47, 1795.
'The Works of Thomas Chatterton' (edited by Robert Southey and Joseph Cottle), 3 vols. 8yo, 1803.
'The Poetical Works of Thomas Chatterton' (edited by Charles B. Willcox), 2 vols. 12mo, 1842.
'The Poetical Works of Thomas Chatterton' (edited by the Rev Walter Skeat, M.A.), Aldine edition, 2 vols. 8vo, 1875.
== Tham khảo ==
== Sách tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Các tác phẩm của Thomas Chatterton tại Dự án Gutenberg
Các tác phẩm của hoặc nói về Thomas Chatterton tại Internet Archive
Tác phẩm của Thomas Chatterton trên LibriVox (sách audio thuộc phạm vi công cộng)
The Rowley Poems at Exclassics.com
"Chatterton - A Novel" by Peter Ackroyd, Hamish Hamilton, London 1987
Musical settings of Chatterton's poems
Thomas Chatterton papers. Between 1758 and 1770. 2 items. At the University of Washington Libraries, Special Collections. |
hệ thống xã hội chủ nghĩa.txt | Bài này nói về thể chế chính trị thực tế mà một số quốc gia đã hoặc đang thực hiện. Xem thêm chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, Danh sách quốc gia xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa là thể chế chính trị chưa xuất hiện trên thực tế, song nó lại được các nước có đảng cộng sản giữ quyền lãnh đạo tuyên bố sẽ đưa đất nước mình theo con đường xã hội chủ nghĩa. Các nước này, tạm gọi tắt là hệ thống Xô viết, tự gọi mình là các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó từ chủ nghĩa xã hội được dùng theo nghĩa giai đoạn trước chủ nghĩa cộng sản. Các nước khác lại gọi họ là các nước cộng sản. Hệ thống các nước này không bao gồm các nước có mục tiêu chủ nghĩa xã hội không theo chủ nghĩa Marx-Lenin.
Những từ tương đồng với hệ thống xã hội chủ nghĩa trong sách báo còn có hệ thống kiểu Xô Viết, kinh tế quản lý tập trung, kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nền kinh tế mệnh lệnh và xã hội chủ nghĩa nhà nước.
== Nguyên mẫu ==
Nhà kinh tế chính trị học người Hungary Kornai János, trong cuốn Hệ thống xã hội chủ nghĩa của ông, đã phân loại ba nguyên mẫu của hệ thống xã hội chủ nghĩa:
Hệ thống chuyển đổi mang tính cách mạng (sự chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội)
Hệ thống cổ điển (hay chủ nghĩa xã hội cổ điển)
Hệ thống cải cách (hay chủ nghĩa xã hội cải cách)
== Đặc trưng ==
=== Quyền lực ===
Các đặc trưng của cơ cấu quyền lực chính là nền tảng để từ đó suy ra quy luật vận hành của chính hệ thống xã hội chủ nghĩa.
==== Về Đảng ====
Thể chế căn bản của cơ cấu quyền lực là đảng cộng sản. Các nước xã hội chủ nghĩa có hệ thống một đảng, trong đó không một đảng đối lập khác nào được hoạt động. Ở thời điểm đỉnh cao của quyền lực, đảng viên chiếm một tỉ lệ dân số đáng kể.
Phương châm chủ đạo của nguyên tắc tổ chức của Đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ban lãnh đạo được bầu tại đại hội tổ chức cơ sở theo từng nhiệm kỳ cụ thể. Mỗi tổ chức cơ sở có một bí thư lãnh đạo.
Các cơ sở chịu sự lãnh đạo của tổ chức đảng cao hơn, thường được tổ chức trên nguyên tắc phạm vi lãnh thổ.
Lãnh đạo cấp trung ương có bộ tham mưu rất lớn, là những người tạo ra hệ thống thứ bậc quan liêu bao gồm những người đứng đầu các ban, phó ban và những viên chức. Theo quy định chính thức, quan chức được chỉ định của đảng không có quyền lực, bởi vì quyền quyết định duy nhất thuộc về các cơ quan được bầu ra. Trên thực tế, họ có ảnh hưởng lớn đến việc quản lý các hoạt động.
Các cán bộ lãnh đạo được bầu (làm việc chuyên trách) và công chức được của đảng thường được biết đến như là bộ máy của đảng.
Rõ ràng là bản chất của quá trình lựa chọn đã bị đảo lộn. Trên thực tế, cơ quan được bầu không được chọn thành viên của bộ máy. Thay vào đó bộ máy lựa chọn những người sẽ tham gia cơ quan được bầu cho lần bầu cử tiếp theo, và chọn ra ai là người mà họ sẽ bầu làm bí thư. Rốt cục thì bộ máy xác định ai là người được gia nhập đảng, đảng viên nào trở thành thành viên của bộ máy đảng (nói cách khác là công chức của đảng) và công chức nào của bộ máy đảng được tiến cử lên vị trí cao hơn.
Tương tự như vậy, việc khai trừ ra khỏi đảng, hoặc khỏi các cơ quan được bầu của đảng, cũng nằm trong tay bộ máy đảng. Chính thức thì mọi chi tiết của việc kết nạp, tiến cử, tham gia và các cơ quan của đảng, giáng chức xuống cấp thấp hơn hoặc khai trừ đều được hợp thức hóa bằng các thủ tục hoặc quyết định của cơ quan được bầu, nhưng tất cả chỉ là hình thức thủ tục. Công việc đã được định đoạt trước khi việc bầu được tiến hành hoặc trước khi quyết định được đưa ra.
==== Nhà nước ====
Theo hiến pháp, pháp luật và các quy phạm pháp luật, nhà nước dưới hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển cũng giống như các nhà nước hiện đại khác. Nhà nước được chia thành 3 ngành: lập pháp, hành pháp và tư pháp; cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm hành pháp và tư pháp.
Hiến pháp của rất nhiều nước xã hội chủ nghĩa khẳng định rằng lực lượng lãnh đạo đất nước là đảng cộng sản. Mặc dù pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa không xác định cụ thể, trong thực tế phạm vi quyền phán quyết của đảng bao trùm lên các lĩnh vực:
Bổ nhiệm, thăng chức, giáng chức trong các cơ quan đảng và các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các vị trí quản lý chủ yếu trong nền kinh tế.
Các tổ chức đảng ra quyết định về tất cả các công việc chủ yếu của nhà nước trước khi cơ quan nhà nước quyết định.
Bộ máy của đảng có quan hệ trực tiếp với bộ máy nhà nước. Trong đó một công chức đảng nào đó hoặc một nhóm công chức trong bộ máy của đảng sẽ chịu trách nhiệm về tất cả các lĩnh vực quan trọng của hoạt động nhà nước.
==== Các tổ chức chính trị xã hội ====
Nhiều tổ chức, hiệp hội trong xã hội được gọi chung là các tổ chức quần chúng. Đặc điểm chính của các tổ chức này là mỗi tổ chức được quản lý một lĩnh vực nhất định.
Sự độc quyền về tổ chức này tạo khả năng cho các tổ chức đại chúng có chức năng đồng thời như một cơ quan có thẩm quyền.
Cách thức xây dựng và điều hành các tổ chức quần chúng như vậy thực ra đã tạo ra các tổ chức hoạt động chủ yếu trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương, đường lối đã định sẵn của đảng. Vì vậy, các tổ chức quần chúng nếu có tham gia vào quá trình bầu cử cơ quan đại diện nhân dân hoặc quá trình xây dựng chính sách thì cũng chủ yếu là theo định hướng đã vạch sẵn. Đó chính là nét đặc trưng của hệ thống không chấp nhận đa nguyên chính trị. Rủi ro của hệ thống là ở chỗ nếu các tổ chức, cá nhân hoạt động không khách quan thì sẽ không bảo vệ quyền lợi của tầng lớp mà họ được cử làm đại diện, qua đó, người dân có thể mất đi cơ hội có tiếng nói của mình.
Một số tổ chức chính trị xã hội ở Việt Nam:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Liên đoàn lao động Việt Nam.
Hội nông dân Việt Nam.
=== Hệ tư tưởng ===
Hệ tư tưởng chính thống được nêu trong nghị quyết của đảng, các bài phát biểu, bài viết của các nhà lãnh đạo đảng, sách giáo khoa về hệ tư tưởng, các bài báo và các công bố chính thức khác.
Hệ tư tưởng chính thống xuất phát từ nhiều nguồn và bám rễ sâu vào lịch sử của các ý tưởng xã hội chủ nghĩa.
Tầng sâu nhất là tư tưởng của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng và sau đó chủ yếu là các ý tưởng của Karl Marx.
Tầng tiếp theo bao gồm các ý tưởng, nguyện vọng và giá trị của phong trào cách mạng ở các nước sau này thành xã hội chủ nghĩa.
Tiếp theo đó là phạm vi của các tư tưởng xuất phát trong giai đoạn chuyển đổi cách mạng, rút ra từ những kinh nghiệm mà đảng cộng sản, từ vị thế một đảng cách mạng đối lập chuyển thành đảng cầm quyền.
=== Quan hệ sở hữu ===
Hình thức sở hữu đầu tiên và quan trọng nhất là xí nghiệp sở hữu nhà nước. Hình thức sở hữu thứ hai là hợp tác xã.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa cổ điển, các xí nghiệp tư nhân thuê lao động làm thuê hoặc là không tồn tại, hoặc bị hạn chế ở một bộ phận rất nhỏ của nền kinh tế.
Sự triệt tiêu gần như hoàn toàn chủ nghĩa tư bản tư nhân chính là điều được hệ tư tưởng chính thống coi là một tiêu chuẩn chủ yếu, thậm chí là tiêu chuẩn chủ yếu nhất của chủ nghĩa xã hội. Về tư tưởng, chỉ có sở hữu nhà nước và sở hữu hợp tác xã mới được công nhận là xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, các hình thức sở hữu tư nhân khác nhau vẫn tồn tại như thương mại và công nghiệp tư nhân cỡ nhỏ, canh tác nông nghiệp hộ gia đình, nền kinh tế tư nhân không chính thức.
Thực tế nhiều quốc gia hiện nay được gọi là nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa có mức độ sở hữu tư nhân cao, như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hiện nay một số quốc gia xã hội chủ nghĩa như Việt Nam đang tiến trên con đường kinh tế thị trường, đánh giá cao vai trò của tư nhân trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội
=== Những cơ chế điều phối ===
Bao cấp: cơ chế này được các nước Xã hội chủ nghĩa cổ điển trước đây sử dụng như Liên Xô, Việt Nam, Trung Quốc và các nước Đông Âu. Đây là cơ chế rất phù hợp trong giai doạn 1917-1970. nhưng nó thể hiện nhược điểm nội tại không thể khắc phục từ sau cuộc khủng hoảng dẩu mỏ từ 1970.
Cơ chế thị trường định hướng XHCN: là cơ chế quản lý mới dựa trên sự điều phối của quy luật cung cầu.đây có thể coi là hình thức kinh tế phù hợp trong giai đoạn quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, mà Việt Nam và Trung Quốc đang áp dụng.
Thực chất,cơ chế thị trường định hướng XHCN có nhiều yếu tố kinh tế tư bản nhưng do ĐCS lãnh đạo.
== Tham khảo ==
Kornai, János, The Socialist System. The Political Economy of Communism. Princeton: Princeton University Press, and Oxford: Oxford University Press, 1992. Bản tiếng Việt: Kornai János, Hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chính trị kinh tế học phê phán, Nguyễn Quang A dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2002. Tóm lược: Nguyễn Quang A, Mô hình Kornai về các hệ thống kinh tế |
trường đại học kinh tế quốc dân.txt | Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (tiếng Anh: National Economics University, viết tắt là NEU) là một trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam đầu ngành khối các trường đại học kinh tế và quản lý ở miền Bắc Việt Nam, chuyên đào tạo chuyên gia kinh tế cho đất nước trình độ đại học và sau đại học. Trường còn là trung tâm nghiên cứu kinh tế chuyên sâu, tư vấn các chính sách vĩ mô cho nhà nước Việt Nam, chuyển giao và tư vấn công nghệ quản lý và quản trị.
== Lịch sử ==
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-TTg ngày 25 tháng 1 năm 1956, với tên trường Kinh tế Tài chính. Trường Kinh tế Tài chính nằm trong hệ thống đại học nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nghị định số 252-TTg ra ngày 22 tháng 5 năm 1958 của thủ tướng chính phủ đổi thành trường Đại học Kinh tế Tài chính trực thuộc Bộ Giáo dục.
Tháng 1 năm 1965, đổi tên thành trường Đại học Kinh tế Kế hoạch.
Ngày 22 tháng 10 năm 1985, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Nguyễn Đình Tứ ra Quyết định số 1443/QĐ-KH đổi tên trường thành trường Đại học Kinh tế Quốc dân.[1]
== Hợp tác quốc tế ==
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có quan hệ trao đổi, hợp tác nghiên cứu - đào tạo với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu nổi tiếng và nhiều tổ chức quốc tế của các nước như Liên Bang Nga, Trung Quốc, Bulgaria, Ba Lan, Cộng hòa Séc và Slovakia, Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Thuỵ Điển, Hà Lan, CHLB Đức, Canada, Hàn Quốc, Thái Lan...Đặc biệt, trường cũng nhận được tài trợ của các nước và các tổ chức quốc tế như tổ chức Sida (Thuỵ Điển), UNFPA, CIDA (Canada), JICA (Nhật Bản), Chính phủ Hà Lan, ODA (Vương quốc Anh), UNDP, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Hanns Seidel (Đức)... để tổ chức nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và mở các khoá đào tạo thạc sĩ tại Trường về kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh và các lớp bồi dưỡng về kinh tế thị trường... Đồng thời, Trường cũng có quan hệ với nhiều công ty nước ngoài trong việc đào tạo, nghiên cứu và cấp học bổng cho sinh viên.
== Mục tiêu đến năm 2020 ==
Mục tiêu chung
Giữ vững, phát huy và khẳng định vị thế trường trọng điểm quốc gia, trường đầu ngành trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước, phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành trường đại học đa ngành về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế nhằm phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, phục vụ có hiệu quả nhu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế - xã hội Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể
Đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, chuẩn hoá đội ngũ giảng dạy và phục vụ; tạo ra sự đột phá về chất lượng đào tạo ở một số ngành, chuyên ngành mũi nhọn, đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế đảm bảo sự lan toả và làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng toàn diện các hệ đào tạo. Mở rộng, phát triển và khẳng định vị thế là một trung tâm nghiên cứu khoa học và tư vấn kinh tế, quản trị kinh doanh lớn và có uy tín hàng đầu của Việt Nam. Phát triển quan hệ hợp tác, liên kết chặt chẽ và nâng cao vai trò đào tạo, nghiên cứu và tư vấn trong mạng lưới các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản trị kinh doanh, trong hệ thống giáo dục đại học,Viện nghiên cứu, các doanh nghiệp ở Việt Nam; mở rộng quan hệ hợp tác trao đổi có hiệu quả với các trường đại học, Viện nghiên cứu và các Tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Mở rộng ảnh hưởng và không ngừng nâng cao hình ảnh uy tín của trường trong và ngoài nước. Phấn đấu trở thành trường đại học hiện đại với đầy đủ cơ sở vật chất và các trang thiết bị tiên tiến, môi trường phục vụ đào tạo và nghiên cứu cơ bản đạt tiêu chuẩn khu vực với hệ thống giảng đường đủ tiêu chuẩn, hệ thống thư viện hiện đại cùng một hệ thống các dịch vụ cung cấp có chất lượng cao
== Sứ mệnh - Tầm nhìn ==
=== Sứ mệnh ===
Là trường trọng điểm quốc gia, trường Đại học hàng đầu về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có sứ mệnh cung cấp cho xã hội các sản phẩm đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn, ứng dụng và chuyển giao công nghệ có chất lượng cao, có thương hiệu và danh tiếng, đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế về lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới.
=== Tầm nhìn ===
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phấn đấu phát triển thành trường đại học định hướng nghiên cứu, trường đại học đa ngành có uy tín, đạt chất lượng đẳng cấp khu vực và quốc tế trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh và một số lĩnh vực mũi nhọn khác. Phấn đấu trong những thập kỷ tới, trường được xếp trong số 1000 trường đại học hàng đầu trên thế giới.
== Các hiệu trưởng ==
Phạm Văn Đồng (Thủ tướng, Hiệu trưởng danh dự khi thành lập)
Nguyễn Văn Tạo: 1956-1960;
Đoàn Trọng Truyến: 1960-1963;
Hồ Ngọc Nhường: 1963-1968;
GS. Đỗ Khiêm: Phó Hiệu trưởng, phụ trách trường (1968-1970);
GS. Mai Hữu Khuê: 1970-1982;
Phạm Hữu Niên: 1982-1984 (Phụ trách trường);
TSKH. Lê Văn Toàn: 1984-1985;
GS.Nguyễn Pháp:1985-1987;
GS. TS Vũ Đình Bách: 1987-1994;
GS. TSKH Lương Xuân Quỳ: 1994-1999;
GS. TS Nguyễn Đình Hương: 1999-2002;
GS. TSKH. NGND Lê Du Phong: 2002-2003 (Q.Hiệu trưởng);
GS. TS Nguyễn Văn Thường: 2003-2008;
GS. TS Nguyễn Văn Nam: nhiệm kỳ 2008-2013.
PGS. TS Phạm Mạnh Hùng: 2013-2014 (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
GS. TS Trần Thọ Đạt: 2014 - 2018;
== Những cán bộ, giảng viên nổi tiếng ==
Trần Văn Cung, bí thư Chi bộ Cộng sản đầu tiên của Đông Dương Cộng sản Đảng.
Đoàn Trọng Truyến: sinh ngày 15 tháng 1 năm 1922 tại Thừa Thiên Huế, mất ngày 8 tháng 7 năm 2009, là nhà giáo Nhân dân, Giáo sư, nguyên Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng từ tháng 5/1984 đến tháng 2/ 1987. Ngoài ra, ông còn giữ nhiều cương vị lãnh đạo khác trong các Bộ, ngành, là Hiệu trưởng Trường Kinh tế tài chính (nay là Đại học Kinh tế quốc dân) từ 1960- 1963; Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.
Vũ Đình Bách: Nhà giáo nhân dân, GS.TS; Hiệu trưởng trường đại học Kinh tế quốc dân (1987- 1994). Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.Ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển trường đại học KTQD.
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bí thư Thành uỷ Hà Nội Lê Xuân Tùng
Nguyên bộ trưởng bộ kế hoạch và đầu tư, chủ tịch HĐQT ACB Trần Xuân Giá
Chủ tịch HĐQT Sabeco Phan Đăng Tuất
== Bê bối ==
Ngày 2/4/2013, Hội đồng kỉ luật của Bộ GD-ĐT đưa ra hình thức xử lý kỉ luật đối với hiệu trưởng Nguyễn Văn Nam. Về việc ông Nguyễn Văn Nam đã ban hành một số văn bản quản lý nhà trường không đúng quy định của pháp luật, chuyển đổi khoa Ngân hàng – Tài chính thành Viện Ngân hàng – Tài chính không thảo luận lấy ý kiến tại cơ sở; việc tách bộ môn Tài chính tiền tệ không lấy ý kiến của Ban chủ nhiệm khoa, Hội đồng khoa học; việc bổ nhiệm 49 cán bộ nguồn tại chỗ thiếu bước nhận xét, đánh giá cán bộ và lấy phiếu tín nhiệm tại cơ sở; điều chuyển ông Phạm Ngọc Linh nóng vội sai quy định, xử lý kỉ luật ông Hà Huy Bình không đúng với quy định của pháp luật nhận hình thức xử lý là khiển trách. Việc ông Nam ký quyết định chuyển sinh viên Đào Văn Hướng từ khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Tây Bắc sang lớp Ngân hàng tài chính (K50) trong khi SV này không đủ điều kiện nên theo Bộ “phải áp dụng hình thức kỉ luật cảnh cáo”. Tổng hợp các hình thức kỉ luật, ông Nguyễn Văn Nam phải chịu hình thức kỉ luật nặng hơn mức cảnh cáo là Hạ bậc lương.
== Cựu sinh viên ==
Trường Đại học Kinh tế quốc dân là nơi đào tạo ra nhiều lãnh đạo cấp cao nhất cho Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhiều doanh nhân nổi tiếng cũng là cựu sinh viên và nghiên cứu sinh của trường.
Thủ tướng Chính phủ nước CHXH Chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc
Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương Đảng Ngô Văn Dụ
Giáo sư kinh tế Đặng Phong
TS Lê Đức Thúy - Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trần Đình Long - Chủ tịch HĐQT tập đoàn Hòa Phát
Vũ Văn Tiền - Chủ tịch HĐQT ngân hàng An Bình và Geleximco
Nguyễn Thanh Phượng - Chủ tịch HĐQT Chứng khoán Bản Việt và Quản lý quỹ Bản Việt, thành viên HĐQT Ngân hàng Bản Việt
Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng - Tổng giám đốc Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel.
Anh hùng lao động Lê Văn Tam - Chủ tịch Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn.
Lê Đức Thọ - Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Vietinbank.
Phạm Quang Dũng- Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- Vietcombank.
Trương Đình Anh- Nguyên tổng giám đốc FPT
Nguyễn Văn Sự- Uỷ viên HĐQT, nguyên tổng giám đốc HAGL
Dương Công Minh- Chủ tịch HĐQT ngân hàng Liên Việt và CTCP Him Lam
Phạm Duy Hiếu- Nguyên tổng giám đốc ABBank
Thái Hương- Chủ tịch HĐQT CTCP Thực phẩm sữa TH, Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Bắc Á, CTCP Xây dựng và dịch vụ thương mại Vạn Niên
Hồ Đức Phớt, Tổng Kiểm toán Nhà nước Việt Nam
Nguyễn Văn Cẩn, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải Quan
== Quy mô ==
Tổng số giảng viên và nhân viên: 1228, trong đó có 18 giáo sư, 95 Phó giáo sư, 255 Tiến sĩ, 391 Thạc sĩ; 20 Giảng viên cao cấp, 230 giảng viên chính, 329 giảng viên. 2 Nhà giáo Nhân dân, 41 Nhà giáo Ưu tú, 382 Đảng viên.
Hiện trường đang đào tạo khoảng 45.000 sinh viên với 19 khoa, 45 chuyên ngành, 11 viện và 8 trung tâm, 13 bộ môn, 9 phòng ban chức năng và 4 đơn vị phục vụ khác.
=== Các khoa ===
Khoa Bất động sản và kinh tế tài nguyên
Khoa Du lịch và khách sạn
Khoa Đầu tư
Khoa Giáo dục quốc phòng
Khoa Giáo dục thể chất
Khoa Kế hoạch và phát triển
Khoa Khoa học quản lý
Khoa Bảo hiểm
Khoa Kinh tế học
Khoa Môi trường và đô thị
Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực
Khoa Lý luận chính trị
Khoa Luật
Khoa Marketing
Khoa Ngoại ngữ kinh tế
Khoa Tại chức
Khoa Thống kê
Khoa Tin học kinh tế
Khoa Toán kinh tế
Khoa Khoa học máy tính
=== Các viện ===
Viện Công nghệ thông tin kinh tế
Viện Chính sách công và quản lý
Viện Dân số và các vấn đề xã hội
Viện nghiên cứu Kinh tế và Phát triển
Viện Quản lý châu Á - Thái Bình Dương
Viện Quản trị Kinh doanh
Viện Đào tạo Sau đại học
Viện Đào tạo quốc tế
Viện Ngân hàng-Tài chính
Viện Kế toán-Kiểm toán
Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
=== Các ngành ===
Ngành Kinh tế
Ngành Quản trị kinh doanh
Ngành Ngân hàng - Tài chính
Ngành Bảo hiểm
Ngành Kế toán
Ngành Hệ thống thông tin kinh tế
Ngành Luật
Ngành Khoa học máy tính
Ngành Quản trị nhân lực
Ngành Thống kê kinh tế
Ngành Marketing
Ngành Toán ứng dụng trong kinh tế
Ngành Kinh tế tài nguyên
Ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
Ngành Bất động sản
Ngành Ngôn ngữ Anh
Ngành Quản trị Kinh doanh bằng Tiếng Anh (E-BBA)
Các chương trình định hướng ứng dụng (POHE)
Ngành Kinh tế nông nghiệp
Ngành Hệ thống thông tin quản lý
Ngành Kinh doanh thương mại
Ngành Kinh tế quốc tế
Ngành Kinh doanh quốc tế
Ngành Quản lý Công và Chính sách học bằng Tiếng Anh (E-PMP)
== Khen Thưởng ==
Huân chương Lao động hạng ba (năm 1972);
Huân chương Lao động hạng nhì (năm 1978);
Huân chương Lao động hạng nhất (năm 1983);
Huân chương Độc Lập hạng nhất: năm 1986, 1991 và 1996
Danh hiệu Anh hùng Lao động (năm 2000);
Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2001);
Huân chương Hồ Chí Minh (năm 2011);
Huy chương Hữu nghị Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (1987, 2008).
== Cơ sở vật chất ==
== Xem thêm ==
Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của trường
Diễn đàn sinh viên Trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân |
đầu máy xe lửa hơi nước.txt | Một đầu máy xe lửa hơi nước là một đầu máy xe lửa tạo ra sức kéo thông qua một động cơ hơi nước. Những đầu máy xe lửa dạng này tạo năng lượng bằng cách đốt cháy các vật liệu như than đá/than cốc, gỗ, hoặc dầu—để tạo ra hơi nước trong nồi hơi. Hơi nước làm piston di chuyển qua lại, piston lại gắn liền với trục quay chính của đầu máy xe lửa. Đầu máy xe lửa mang theo cả nhiên liệu và nguồn nước, hoặc trên chính đầu máy này, hoặc trong toa xe kéo phía sau. Đầu máy xe lửa hơi nước đầu tiên được Richard Trevithick sản xuất và hoạt động vào ngày 21 tháng 2 năm 1804. Trước đó 3 năm ông đã tạo ra đầu máy xe chạy trên đường đất.
Đầu máy xe lửa hơi nước được phát triển đầu tiên ở Anh trong những năm đầu thế kỷ 19 và được sử dụng cho vận tải đường sắt cho đến giữa thế kỷ 20. Từ những năm đầu 1900 chúng đã dần dần được các đầu máy xe lửa dùng điện và diesel thay thế, với khả năng chuyển đổi trọn vẹn đầu máy từ sử dụng hơi nước sang điện và diesel bắt đầu từ những năm 1930. Phần lớn các đầu máy xe lửa hơi nước đã ngừng phục vụ từ những năm 1980, mặc dù một số đầu máy này vẫn tiếp tục chạy trên các đoạn ray du lịch và di sản văn hóa.
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Tác phẩm viết về đầu máy hơi nước ===
Walt Disney's Railroad Story: The Small-Scale Fascination That Led to a Full-Scale Kingdom, 2014
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
TV and Radio programmes from the BBC archives celebrating steam trains
Database of surviving steam locomotives in North America
UK heritage railways and preserved locomotives database
Pages for the British project to build a modern steam locomotive. The Advanced Steam Locomotive. (5AT) |
cyperus.txt | Cyperus là một chi thực vật trong họ Cyperaceae với khoảng 700 loài, phân bố khắp các lục địa cả vùng nhiệt đới và ôn đới.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
CYPERUS interactive identification key by D. M. Ferguson @ LSU Herbarium
CYPERACEAE interactive identification keys @ LSU Herbarium
Flora of China Vol. 23 Page 219, 莎草属 suo cao shu, Cyperus Linnaeus, Sp. Pl. 1: 44. 1753.
Flora of Pakistan, V. 206 Page 89, Cyperus Linnaeus, Sp. Pl. 1: 44. 1753; Gen. Pl., ed. 5: 26. 1754; Boiss., Fl. Or. 5: 363. 1882; C.B.Clarke in Hook.f., Fl. Brit. Ind. 6: 597. 1893; R. R. Stewart, l.c. 86. 1972; Kukkonen in Rech.f., Fl. Iranica 173: 85. 1998. |
sen hồng.txt | Nelumbo nucifera là danh pháp khoa học của sen hồng (các tên gọi khác sen đỏ, sen Ấn Độ; trong các thư tịch Phật giáo và văn học tại Việt Nam, sen hồng còn được gọi bằng các tên gốc Trung văn như hà hoa (荷花), liên (hoa) (蓮(花)), hạm đạm (菡萏), phù cừ (芙蕖), thủy chi (水芝)). Về mặt thực vật học, Nelumbo nucifera (Gaertn.) đôi khi còn được gọi theo các danh pháp cũ như Nelumbium speciosum (Willd.) hay Nymphaea nelumbo. Đây là một loại cây thủy sinh sống lâu năm. Trong thời kỳ cổ đại nó đã từng là loại cây mọc phổ biến dọc theo bờ sông Nin ở Ai Cập cùng với một loài hoa súng có quan hệ họ hàng gần gũi có tên gọi dài dòng là hoa sen xanh linh thiêng sông Nin (Nymphaea caerulea); và hoa, quả cũng như các đài hoa của cả hai đã được họa lại khá rộng rãi như là một kiểu kiến trúc ở những nơi cần các hình ảnh linh thiêng. Người Ai Cập cổ đại sùng kính hoa sen và sử dụng nó trong các nghi thức tế lễ. Từ Ai Cập nó đã được đem đến Assyria và sau đó được trồng rộng rãi khắp các vùng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. Nó cũng có thể là loài cây bản địa ở khu vực Đông Dương, nhưng ở đây có sự nghi vấn về điều này. Năm 1787, lần đầu tiên nó được đưa tới Tây Âu như một loài hoa súng dưới sự bảo trợ của Joseph Banks và có thể thấy được trong các vườn thực vật hiện nay mà ở đó có sự cung cấp nhiệt. Ngày nay nó hiếm hoặc đã tuyệt chủng tại châu Phi nhưng lại phát triển mạnh ở miền nam châu Á và Australia. Nó là quốc hoa của Việt Nam và Ấn Độ.
Thân rễ của sen hồng mọc trong các lớp bùn trong ao hay sông, hồ còn các lá thì nổi ngay trên mặt nước. Các thân già có nhiều gai nhỏ. Hoa thường mọc trên các thân to và nhô cao vài xentimet phía trên mặt nước. Thông thường sen có thể cao tới 1,5 m và có thể phát triển các thân rễ bò theo chiều ngang tới 3 m, một vài nguồn chưa kiểm chứng được cho biết nó có thể cao tới trên 5 m. Lá to với đường kính tới 60 cm, trong khi các bông hoa to nhất có thể có đường kính tới 20 cm.
Có nhiều giống sen được trồng, với màu hoa dao động từ màu trắng như tuyết tới màu vàng hay hồng nhạt. Nó có thể chịu được rét tới khu vực 5 theo phân loại của USDA. Loài cây này có thể trồng bằng hạt hay thân rễ.
== Sử dụng ==
=== Ẩm thực ===
Hoa, các hạt, lá non và thân rễ ăn được. Tại châu Á, các cánh hoa đôi khi được sử dụng để tô điểm món ăn, trong khi các lá to được dùng để gói thức ăn. Thân rễ (ngó sen) có thể dùng chế biến nhiều món ăn (súp, canh, món xào) và là phần được dùng nhiều nhất. Các cánh hoa, lá non và thân rễ có thể ăn sống, mặc dù cần quan tâm tới việc truyền các loại ký sinh trùng sang người (chẳng hạn sán lá Fasciolopsis buski).
Các nhị hoa có thể phơi khô và dùng để ướp chè. Các hạt nhỏ lấy ra từ bát sen có nhiều công dụng và có thể ăn tươi (khi non) hoặc sấy khô và cho nổ tương tự như bỏng ngô. Hạt sen già cũng có thể luộc cho đến khi mềm và được dùng trong các món như chè sen hay làm mứt sen.
Tâm sen nằm trong các hạt sen được lấy ra từ bát sen cũng được sử dụng trong y học truyền thống châu Á như là một loại thuốc có tác dụng an thần và thanh nhiệt.
Lá sen có đặc điểm không thấm nước. Hiện tượng này được ứng dụng trong khoa học vật liệu, gọi là hiệu ứng lá sen, để chế tạo các bề mặt tự làm sạch.
Công dụng
Hoa sen là loại cây cảnh đẹp, được nhiều người ưu thích. Cây thường được trồng làm cây cảnh ngoại thất, trồng trong ao hồ nhân tạo hay tự nhiên.
Một số thành phần của sen được sử dụng như các vị thuốc:
Liên thạch, Liên nhục (quả) dùng điều trị bệnh lỵ mãn tính với liều lượng 8-16g dùng sắc, bột hoặc viên
Liên tâm (mầm quả) Chữa bệnh tâm phiền, mất ngủ, liều lượng 1,5 - 3g hãm nước sôi uống
Liên diệp (lá) Dùng an thần, cầm máu, liều lượng 10 - 20g sắc, tán bột hoặc đốt tồn tính
Liên tu (nhụy đực sen) Cầm xuất tinh và bạch đới 10g gia vào thang thuốc sắc uống
Liên ngẫu (ngó sen và củ sen) Tác dụng dinh dưỡng 10 - 50g sắc uống hoặc nấu ăn, dùng tươi cầm máu 10 - 30g giã vất nước uống
Liên phòng (gương sen đã lấy hạt) Đốt hoặc sao đen tán bột cầm máu rất tốt, liều lượng 2 - 4g bột
== Biểu tượng ==
=== Ai Cập ===
Hoa sen là thứ hoa nhất hạng, nở ở những vùng nước tù đọng và bẩn đục, bông sen toàn mỹ một cách tột bậc, là sự sống xuất hiện đúng lần đầu tiên trên khoảng mênh mông không rõ sắc màu của những vùng nước khởi nguyên. Trong tranh hình Ai Cập nó đã xuất hiện với ý nghĩa như vậy, trước tất cả, sau đó tạo hóa và vầng thái dương mới lóe ra từ trái tim rộng mở của nó. Như vậy hoa sen trước hết là bộ phận sinh dục, là âm hộ mẫu gốc, bảo đảm cho các cuộc sinh thành và tái sinh truyền lưu mãi mãi. Từ Địa Trung Hải cho đến Ấn Độ và Trung Hoa, tầm quan trọng về mặt trần tục cũng như về mặt linh thiêng đều bắt nguồn từ hình ảnh cơ bản này.
Hoa sen xanh được coi là linh thiêng nhất trên vùng đất Ai Cập, là loại hoa tỏa ra hương thơm của cuộc sống thần thánh.
=== Ấn Độ ===
Hoa sen với màu sắc trong trắng trên bùn nhơ được hiểu với nghĩa đạo đức ở Ấn Độ. Những người theo Ấn giáo gắn hoa sen với niềm tin tín ngưỡng của họ và thường gắn với các vị thần như Vishnu, Brahma hay Lakshmi. Từ thời cổ đại thì hoa sen đã là biểu tượng thiêng liêng của người Hindu. Nó thường được sử dụng như là một ví dụ về vẻ đẹp linh thiêng, chẳng hạn Sri Krishna thông thường được miêu tả như là "người có mắt sen". Các cánh hoa đã nở được coi là sự mở rộng của tâm hồn và là biểu tượng của sự thăng hoa tinh thần. Vẻ đẹp của hoa sen tương phản với nguồn gốc từ bùn lầy của nó thể hiện một sức mạnh tinh thần. Người ta cũng cho rằng cả Brahma và Lakshmi, các vị thần của sức mạnh và sự giàu có, có biểu tượng hoa sen gắn liền với họ tại chỗ ngồi của họ. Trong tiếng Hindi nó được gọi là कमल(Kamal), đây cũng là tên gọi phổ biến cho phụ nữ cũng như là một phần trong tên gọi của đàn ông tại Ấn Độ.
Hoa sen cũng được trích dẫn nhiều trong các văn bản Puranas và Vệ Đà.
"Người thực hiện bổn phận của mình mà không có sự quyến luyến, dâng các kết quả cho Đấng tối cao, sẽ không bị ảnh hưởng bởi các tác động tội lỗi, giống như lá sen không bị nước dính vào". Bhagavad Gita 5.10
Mặc dù chỉ là một loài hoa, nhưng hoa sen có nhiều huyền thoại nói về nguồn gốc thần thoại của nó, mà từ đó địa vị và ý nghĩa tinh thần lớn của nó đã được sáng tạo ra. Đáng chú ý nhất có lẽ là huyền thoại về "Samudra-manthana" - khuấy đảo đại dương.
Người ta kể rằng ngày xưa có một thời các vị thần thánh và quỷ dữ đã đạt được thỏa thuận là họ có thể cùng nhau khuấy đảo đại dương để lấy rượu tiên ẩn giấu dưới lòng đại dương. Khi họ đang khuấy tung đại dương lên thì biển cả đã để lộ ra 14 vật báu và bông hoa sen với Lakshmi ngồi trên đó là một trong số 14 vật báu này.
Vì hoa sen trong truyền thuyết có 8 cánh giống như không gian có 8 hướng, sen còn được coi là biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Nó được dùng nhiều theo nghĩa này trong hình vẽ của nhiều mandala và yantra.
Vay mượn các ý nghĩa của hoa sen trong Ấn giáo, trong Phật giáo hoa sen tượng trưng cho sự tinh khiết của thể xác, lời nói và tinh thần, vượt ra ngoài ái. Đức Phật thông thường được vẽ trong tư thế ngồi trên đài sen khổng lồ tỏa sáng lung linh.
=== Trung Hoa ===
Văn chương Trung Hoa, vốn kết hợp lối chuộng phúng dụ với một chủ nghĩa hiện thực sâu sắc, đã dùng từ sen để chỉ đích danh âm hộ, và danh hiệu phỉnh nịnh dành tặng những cô nàng đĩ thõa là Sen vàng.
=== Nhật Bản ===
Trong một giải thích tầm thường hóa hơn, văn học Nhật Bản thường coi loài hoa này, trong trắng đến thế giữa vùng nước bẩn, là một hình ảnh đức hạnh, vẫn có thể thanh khiết và nguyên vẹn giữa xã hội đầy những điều đê tiện, mà chẳng cần phải lui về một nơi hoang vắng như hoa lan (lan sinh u cốc, kỳ hương doanh dã), hoa cúc (biểu tượng của thú vui ở ẩn của kẻ sĩ).
=== Việt Nam ===
Tương đồng như Nhật Bản, hoa sen là biểu tượng cho sự trong sạch ở Việt Nam. Ca dao có câu:
Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Vẻ đẹp của sen cũng có thể được nhìn dưới khía cạnh Phật giáo:
Lá xanh thăm thẳm lòng Bi
Dũng cành vươn thẳng, thoát ly bùn sình
Nâng nụ sắc Trí kết tinh
Nở thành hoa thắm lung linh giữa đời
Sen hồng đã được chọn là quốc hoa của Việt Nam sau 1 cuộc bầu chọn diễn ra trong cả nước do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát động . Bông sen vàng còn là biểu tượng của Vietnam Airlines.
== Một vài hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Sen trắng
Hiệu ứng lá sen
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Mục từ Sen, trong cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier, Alain Gheerbrant), Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du dịch và xuất bản năm 1997, trang 810-811.
== Liên kết ngoài ==
Sen hồng (Nelumbo nucifera)
Plant Cultures.org: lịch sử, thực vật học và sử dụng của sen hồng
Sen: Từ ao hồ tới nhà vòm của P.C. Jain và Dr Daljeet.
Hệ sinh thái các đảo khu vực Thái Bình Dương: Nelumbo nucifera |
the beatles.txt | The Beatles là ban nhạc rock người Anh hoạt động trong thập niên 1960. Với 4 thành viên John Lennon, Paul McCartney, George Harrison và Ringo Starr, bộ tứ trở thành nghệ sĩ thành công nhất và ảnh hưởng nhất thời kỳ huy hoàng của nhạc rock. Khởi đầu với nhạc skiffle, beat và rock 'n' roll thập niên 1950, The Beatles sau đó đã chơi nhiều thể loại đa dạng, từ pop ballad tới psychedelic và hard rock, kết hợp với âm nhạc cổ điển theo nhiều cách khác nhau. Đầu những năm 1960, sự nổi tiếng của họ là nguồn gốc của hiện tượng Beatlemania, song cùng với sự phát triển trong quan điểm và cách viết nhạc, ban nhạc dần trở thành hiện thân của những ý tưởng thời kỳ giải phóng xã hội.
Từ năm 1960, The Beatles bắt đầu chơi nhạc tại các tụ điểm ở Liverpool và Hamburg trong suốt 3 năm. Nhà quản lý Brian Epstein đưa họ trở thành những nghệ sĩ chuyên nghiệp qua việc giới thiệu tiềm năng của nhóm tới nhà sản xuất George Martin. Họ sớm có được sự chú ý ở Anh ngay với đĩa đơn đầu tay "Love Me Do" vào cuối năm 1962. Ban nhạc được gán với tên gọi "Fab Four" trong quãng thời gian Beatlemania ngày một gia tăng tại Anh vào năm 1963, và tới năm 1964 họ trở thành ngôi sao nổi tiếng toàn thế giới, đưa British Invasion tới thị trường âm nhạc Mỹ. Kể từ năm 1965, The Beatles bắt đầu thu âm và thực hiện những kiệt tác xuất sắc nhất của họ, bao gồm những album vĩ đại nhất lịch sử âm nhạc thế giới như Rubber Soul (1965), Revolver (1966), Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band (1967), The Beatles (Album trắng, 1968) và Abbey Road (1969). Sau khi tan rã vào năm 1970, họ vẫn tiếp tục có được nhiều thành tựu. Lennon bị ám sát vào năm 1980, Harrison qua đời vì ung thư phổi vào năm 2001, 2 thành viên còn sống là McCartney và Starr tiếp tục những hoạt động dưới tên của ban nhạc.
Theo RIAA, The Beatles là nghệ sĩ có doanh số đĩa bán chạy nhất tại Mỹ với tổng cộng hơn 177 triệu đĩa đã bán. Họ cũng có nhiều album và đĩa đơn quán quân tại các bảng xếp hạng tại Anh hơn bất kể nghệ sĩ nào khác. Năm 2008, họ đứng đầu trong danh sách "Hot 100" các nghệ sĩ của tạp chí danh giá Billboard; và tới năm 2014, họ cũng là nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn quán quân tại đây nhất với 20 đĩa đơn. The Beatles từng giành tới 10 giải Grammy, 1 giải Oscar cho nhạc phim hay nhất và 15 giải Ivor Novello. Có tên trong danh sách "Nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ 20" của tạp chí Time, họ cũng được nhắc tới là nghệ sĩ có số đĩa bán chạy nhất lịch sử với hơn 600 triệu đĩa đã bán trên toàn thế giới. Năm 1998, tiểu hành tinh 8749 được đặt tên theo ban nhạc. Năm 2004, tạp chí Rolling Stone xếp The Beatles là nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.
== Lịch sử ==
=== 1957-1962: Thành lập, Hamburg và nổi tiếng tại nước Anh ===
Tháng 3 năm 1957, cậu nhóc 16 tuổi John Lennon lập nên nhóm nhạc skiffle gồm những người bạn của cậu ở trường Quarry Bank. Họ tự gọi ban nhạc là The Blackjacks, rồi sau đó đổi tên thành The Quarrymen vì biết rằng cái tên kia đã được một ban nhạc khác dùng. Cậu nhóc 15 tuổi Paul McCartney xin gia nhập trong vai trò guitar nền sau khi gặp Lennon vào tháng 7 cùng năm. Tháng 2 năm 1958, McCartney rủ George Harrison tới xem ban nhạc trình diễn. Cậu nhóc 14 tuổi cảm thấy ấn tượng về Lennon, song Lennon cho rằng cậu quá nhỏ để tham gia cùng nhóm. Tuy nhiên sau những nỗ lực của Harrison, cuối cùng cậu cũng được vào chơi trong vai trò guitar lead. Tháng 1 năm 1959, những người bạn cùng trường với Lennon rời nhóm, còn bản thân cậu tới học tại trường Nghệ thuật thành phố Liverpool. Ba tay guitar trẻ, lần này dưới tên Johnny and the Moondogs, đi rong ruổi khắp nơi để chơi nhạc và tìm một tay trống. Người bạn cùng trường với Lennon, Stuart Sutcliffe – người đã phải bán vài bức tranh của mình để mua chiếc bass – gia nhập nhóm vào tháng 1 năm 1960, rồi gợi ý đổi tên thành The Beatals để tri ân tới Buddy Holly và The Crickets. Họ dùng tên đó cho tới tháng 5 trước khi đổi thành The Silver Beetles, rồi được làm ban nhạc chơi lót cho ca sĩ Johnny Gentle trong một tour diễn ở Scotland. Đầu tháng 7, họ đổi tên lần nữa thành The Silver Beatles trước khi cuối cùng chọn cái tên The Beatles vào tháng 8 cùng năm.
Allan Williams, quản lý không chính thức của The Beatles, thu xếp chỗ ăn ở cho nhóm để đi trình diễn tại Hamburg, nhưng vì chưa có tay trống, họ đành thuê Pete Best vào giữa tháng 8 năm 1960. Ban nhạc 5 người lên đường 4 ngày sau, ký hợp đồng với một quản lý câu lạc bộ người Đức, Bruno Koschmider – người giúp họ có chỗ ở trong suốt 3 tháng rưỡi sau đó. Theo cây viết sử Mark Lewisohn, "họ tới Hamburg vào tối ngày 17 tháng 8, khi mà khu đèn đỏ bắt đầu hoạt động... với ánh đèn rực sáng của bao nhiêu hoạt động giải trí, với vô vàn những người đàn bà suồng sã ngồi không ngại ngần trước những cửa kính để chờ đợi đối tác."
Koschmider sở hữu 2 hộp đêm thoát y ở Hamburg, và ông quyết định để The Beatles trình diễn buổi đầu tại The Indra Club. Sau khi The Indra Club phải đóng cửa vì những lời phản ánh về tiếng ồn, ông đưa ban nhạc tới hộp đêm Kaiserkeller vào tháng 10. Sau khi ông biết rằng nhóm cũng chơi nhạc tại hộp đêm cạnh tranh Top Ten Club, Koschmider cho họ 1 tháng để giải quyết vấn đề, ngoài ra cũng cảnh cáo Harrison khi biết cậu đã khai gian để được trình diễn dưới tuổi lao động ở Đức. Harrison bị yêu cầu trục xuất vào cuối tháng 11. Chỉ 1 tuần sau, Koschmider nhận được lệnh bắt McCartney và Best sau khi họ cố ý gây cháy tấm thảm trong phòng, và rồi sau đó là quyết định trục xuất. Lennon trở lại Anh vào tháng 12, trong khi Sutcliffe quyết định ở lại Hamburg cùng cô gái mà anh đính hôn, Astrid Kirchherr – người chụp những bức ảnh bán chuyên nghiệp đầu tiên cho The Beatles.
Trong suốt 2 năm sau đó, The Beatles có những chuyến đi định kỳ ở Hamburg, nơi mà họ được tiếp xúc với preludin nhằm đảm bảo khả năng sáng tạo và cả thể lực cho những buổi diễn thâu đêm. Năm 1961, trong lần thứ 2 ban nhạc tới đây, Kirchherr đã cắt kiểu tóc mới cho Sutcliffe theo phong cách "exi", rồi sau đó cho tất cả các thành viên của The Beatles. Sau khi Sutcliffe quyết định rời nhóm để theo học nghệ thuật ở Đức, McCartney chuyển sang chơi bass. Nhà sản xuất Bert Kaempfert ký hợp đồng mới với ban nhạc 4 người vào tháng 7 năm 1962 và họ trở thành ban nhạc chơi lót cho Tony Sheridan trong khoảng thời gian ngắn sau đó.
Sau chuyến đi lần thứ 2 tới Hamburg, The Beatles bắt đầu có được chút tiếng tăm ở Liverpool với phong trào Merseybeat lan rộng. Tuy nhiên họ cũng bắt đầu cảm thấy nhàm chán vì phải trình diễn lặp đi lặp lại tại vài tụ điểm ngày qua ngày. Tháng 11 năm 1961, trong một lần diễn tại hộp đêm The Cavern Club, họ gây chú ý tới Brian Epstein, một doanh nhân trẻ tuổi sở hữu chuỗi cửa hàng lớn trong vùng. Sau này, Epstein nhớ lại: "Tôi ngay lập tức thấy thích thú với những gì tôi được nghe. Họ trẻ trung, họ thật thà, và họ có những tố chất mà tôi nhìn thấy... của một ngôi sao." Epstein tiếp xúc với ban nhạc trong khoảng 2 tháng sau đó, và nhóm cũng đồng ý nhận ông làm quản lý vào tháng 1 năm 1962. Sau khi nghe thử vài bản thu âm, Decca Records từ chối sản xuất cho nhóm với lời bình "Mấy ban nhạc chơi guitar sắp chết cả rồi, thưa ngài Epstein." Bi kịch ập đến ngay khi họ quay trở lại Đức vào tháng 4, khi Kirchherr gặp họ ở sân bay để thông báo Sutcliffe vừa qua đời vào đêm hôm trước vì xuất huyết não. Vận may cuối cùng đã tới khi 1 tháng sau, nhà sản xuất George Martin của hãng đĩa Parlophone đồng ý ký hợp đồng thu âm chính thức đầu tiên với The Beatles.
Những buổi thu đầu tiên của Martin với ban nhạc được thực hiện tại phòng thu Abbey Road Studios của EMI ngày 6 tháng 6 năm 1962. Martin lập tức than phiền với Epstein về cách chơi trống kém cỏi của Best và yêu cầu tìm kiếm một tay trống tạm thời. Vốn không hài lòng với thái độ của Best từ trước đó, The Beatles quyết định sa thải anh vào giữa tháng 8 và thay thế bằng Ringo Starr, thành viên của nhóm Rory Storm and the Hurricanes. Ngày 4 tháng 9, họ thu âm ca khúc "Love Me Do" với Starr chơi trống, song Martin vẫn không hài lòng và tuyển Andy White trong buổi thu thứ 3 vào 1 tuần sau để thực hiện 3 ca khúc "Love Me Do", "Please Please Me" và "P.S. I Love You". Martin đã chủ ý dùng bản thu với Starr chơi trống làm đĩa đơn cho ca khúc "Love Me Do" chứ không phải là phiên bản cuối cùng phát hành với White chơi trống và Starr chơi sắc-xô. Được phát hành vào tháng 10, "Love Me Do" đạt vị trí số 17 tại bảng xếp hạng của Record Retailer. Họ lần đầu lên truyền hình cũng trong tháng đó khi trình diễn trực tiếp trong chương trình tin tức People and Places. Một buổi thu nữa vào cuối tháng 11 giúp họ hoàn tất ca khúc "Please Please Me" mà Martin khẳng định: "Đây sẽ hẳn là ca khúc quán quân đầu tiên [của ban nhạc]."
Tháng 12 năm 1962, The Beatles thực hiện chuyến lưu diễn thứ 5 và cuối cùng của họ ở Hamburg. Năm 1963, tất cả đạt đồng thuận rằng cả 4 thành viên đều tham gia góp giọng trong các album của nhóm – bao gồm cả Starr dù giọng anh khá hạn chế – nhằm đảm bảo tính linh hoạt cho ban nhạc. Lennon và McCartney bắt đầu cộng tác viết nhạc, và cùng với thành công của ban nhạc, đóng góp của bộ đôi trên vô tình đã kìm hãm khả năng sáng tác cũng như hát chính của Harrison. Epstein, trong nỗ lực gây dựng hình ảnh của The Beatles, đã yêu cầu ban nhạc thể hiện thái độ trình diễn chuyên nghiệp hơn. Lennon nhớ lại những gì Epstein nói: "Nhìn xem, nếu cậu muốn tới một nơi tốt hơn thì cậu phải thay đổi thôi – đừng ăn uống trên sân khấu, đừng có chửi thề, đừng hút thuốc,..." Lennon nhấn mạnh: "Chúng tôi sẽ mặc những gì chúng tôi muốn, trong và ngoài sân khấu. Ông ấy [Epstein] cho rằng mặc quần bò trông không thông minh và đề nghị chúng tôi mặc quần âu, nhưng ông ấy lại không muốn chúng tôi mặc nó tới mức phẳng phiu. Ông ấy muốn chúng tôi vẫn thoải mái trong khuôn khổ cá nhân."
=== 1963-1966: Beatlemania và những năm lưu diễn ===
==== Please Please Me và With the Beatles ====
Ngày 11 tháng 2 năm 1963, The Beatles thu âm cùng lúc 10 ca khúc cho album đầu tay của họ, Please Please Me. Album bổ sung 4 ca khúc mà trước đó họ đã phát hành trong 2 đĩa đơn. Sau thành công của "Love Me Do", tới lượt "Please Please Me" cũng nhận được những đánh giá tích cực: được phát hành vào tháng 1, ca khúc đạt được vị trí quán quân tại hầu hết các bảng xếp hạng ở London ngoại trừ của Record Retailer, nơi mà nó chỉ có được vị trí số 2. Nhớ lại việc The Beatles đã "gấp rút thực hiện" album đầu tay và cho ra mắt Please Please Me, nhà báo Stephen Thomas Erlewine của Allmusic bình luận: "Hàng thập kỷ sau ngày phát hành, album vẫn cho thấy sự tươi trẻ trong nó, đặc biệt ở tính căn nguyên." Lennon có nói chút suy nghĩ về việc sáng tác trong quãng thời gian đó: anh và McCartney "chỉ cố gắng viết nhạc à la Everly Brothers, à la Buddy Holly – những ca khúc pop mà không có ý nghĩa gì trong đó – để viết nhạc. Còn ca từ thì nhìn chung không đáng để ý."
Được phát hành vào tháng 3 năm 1963, album trên khởi đầu cho chuỗi 11 album quán quân trong tổng số 12 album phòng thu mà ban nhạc phát hành tại Anh. Đĩa đơn thứ ba của nhóm, "From Me to You", được ra mắt vào tháng 4 và cũng đạt được những thứ hạng cao: đây cũng chính là đĩa đơn đầu tiên trong tổng số 17 đĩa đơn quán quân tại Anh của The Beatles, ngoài ra còn có 1 đĩa đơn thứ 18 được phát hành vào năm 1976. Tới tháng 8, đĩa đơn thứ 4, "She Loves You", trở thành đĩa đơn bán chạy nhất nước Anh vào thời điểm đó khi bán được 750.000 bản chỉ trong vòng 4 tuần. Sau đó nó cũng trở thành đĩa đơn đầu tiên đạt mốc 1 triệu bản cho tới khi bị đĩa đơn "Mull of Kintyre" của Paul McCartney vượt qua vào năm 1978. Thành công đột ngột của ban nhạc trở thành tâm điểm của báo chí mà The Beatles đáp lại với một thái độ vừa châm chọc vừa dửng dưng, khác biệt hoàn toàn với những hiện tượng nhạc pop lúc bấy giờ, và điều đó càng khiến công chúng quan tâm hơn. Cùng với tiếng tăm ngày một lớn, những lời tán tụng mê muội cũng bắt đầu xuất hiện. Hào hứng với những tiếng ồn ào từ sự phấn khích của khán giả, báo chí bắt đầu nhắc tới khái niệm Beatlemania.
Cuối tháng 10, The Beatles bắt đầu đi tour tại Thụy Điển – chuyến lưu diễn nước ngoài đầu tiên của họ kể từ chuyến đi cuối cùng tới Hamburg vào tháng 12 năm 1962. Khi họ quay trở lại Anh, theo Lewisohn, "hàng trăm khán giả điên loạn" chào đón họ dưới cơn mưa ở sân bay Heathrow. Khoảng 50 tới 100 phóng viên và nhiếp ảnh gia cũng có mặt theo đoàn tiếp đón từ BBC: đây cũng là lần đầu tiên cho hơn 100 sự kiện tương tự sau này. Ngày hôm sau, ban nhạc bắt đầu thực hiện tour diễn thứ 4 vòng quanh nước Anh chỉ trong vòng 9 tháng, và lần này tour diễn kéo dài 4 tuần. Tới giữa tháng 11, khi Beatlemania ngày một lớn, cảnh sát đã được huy động để dùng vòi rồng trấn áp đám đông quá khích trong buổi diễn của họ tại Plymouth.
Please Please Me giành vị trí quán quân tại Record Retailer trong 30 tuần, bị thay thế bởi album thứ hai của nhóm With the Beatles – sản phẩm được EMI trì hoãn ngày phát hành chỉ khi doanh số của Please Please Me có dấu hiệu đi xuống. Được thực hiện giữa tháng 7 và tháng 10, With the Beatles đã áp dụng nhiều kỹ thuật phòng thu hơn. Nó giữ vị trí quán quân trong 21 tuần và tồn tại trong bảng xếp hạng suốt 40 tuần. Erlewine viết về bản LP này là "phần tiếp theo của đặc cấp cao nhất – thứ tốt hơn cả sản phẩm trước đó." Album gây được sự chú ý tới cây viết William Mann của tạp chí The Times, người cho rằng Lennon và McCartney là "những nhạc sĩ sáng tác xuất sắc nhất nước Anh năm 1963". Tờ báo cũng cho đăng loạt bài viết của Mann với những phân tích chi tiết về phần nhạc cùng nhiều sự tôn trọng đáng kể. With the Beatles trở thành album thứ 2 trong lịch sử nước Anh đạt mốc 1 triệu bản, trước đó vốn chỉ là kỷ lục của album soundtrack phim South Pacific (1958). Khi viết lời tựa cho phần bìa album, quản lý hình ảnh của nhóm, Tony Barrow, đã dùng cụm từ "fabulous foursome", sau này được viết tắt thành "Fab Four" và trở thành tên gọi thân mật mà báo chí dùng với The Beatles.
==== British Invasion ====
Nhà phân phối của EMI, Capitol Records, vốn ban đầu không muốn phát hành các sản phẩm của The Beatles tại Mỹ bằng việc từ chối quảng bá những ca khúc của nhóm, bao gồm cả 3 đĩa đơn đầu tay của họ. Những thương thảo với những hãng đĩa tự do cạnh tranh như Vee-Jay và Swan Records cuối cùng cũng giúp ban nhạc xuất hiện tại thị trường Mỹ vào năm 1963, song những vấn đề bản quyền và quyền lợi quảng cáo lại là trở ngại lớn để đảm bảo thành công lâu dài cho The Beatles tại đây. Thành công trên các bảng xếp hạng bắt đầu tới khi Epstein quyết định thực hiện một chiến dịch quảng bá công phu vào giữa tháng 11 với số tiền khổng lồ vào thời điểm đó, 40.000 $, nhằm đưa các ca khúc lên sóng phát thanh qua sự hỗ trợ của DJ Carrol James. Tới cuối tháng, ban nhạc được giới thiệu tới vùng Tidewater ở bang Virginia qua DJ Gene Loving của đài WGH-AM, theo kèm là những thông tin và cả áo phát tặng. Chỉ vài ngày sau, hầu hết các ca khúc trên sóng phát thanh là của The Beatles. Nhưng cũng phải đến cuối tháng 1 năm 1964, các ca khúc của họ mới được phát sóng tại New York, và rồi sau đó là trên toàn nước Mỹ với sức lan tỏa mạnh mẽ qua các đài phát thanh. Việc nhu cầu thính giả gia tăng nhanh chóng buộc Capitol Records phải gấp rút hoàn tất việc phát hành đĩa đơn "I Want to Hold Your Hand" chỉ 1 tháng sau ngày phát hành ở Anh. Được phát hành vào ngày 26 tháng 12 năm 1963, cùng với việc ban nhạc dự định tới Mỹ 3 tuần sau đó, "I Want to Hold Your Hand" nhờ đó đã bán được tới 1 triệu bản và dĩ nhiên trở thành đĩa đơn quán quân cho tới tận giữa tháng 1.
Ngày 7 tháng 2 năm 1964, The Beatles rời nước Anh tạm biệt 4.000 người hâm mộ tại sân bay Heathrow. Khi bước xuống sân bây John F. Kennedy ở thành phố New York, đã có khoảng 3.000 người tới chờ đón họ. Ban nhạc lên sóng truyền hình trực tiếp trong chương trình The Ed Sullivan Show ngày 9 tháng 2, thu hút tới 75 triệu người xem, tương đương với 23 triệu hộ gia đình và 34% dân số Mỹ lúc đó. Cây viết sử Jonathan Gould cho rằng, theo đánh giá từ Nielsen Company, đây là "chương trình được chú ý nhất lịch sử ngành truyền hình Mỹ". Sáng ngày hôm sau, The Beatles tỉnh dậy với hầu hết là những đánh giá tiêu cực và thất vọng trên toàn nước Mỹ, song buổi diễn đầu tiên của họ diễn ra vài ngày sau đó vẫn làm nổ tung sân khấu Washington Coliseum. Trở lại New York, họ cũng nhận được điều tương tự khi trình diễn 2 buổi tại Carnegie Hall. Ban nhạc tiếp đó bay tới Florida và xuất hiện trong chương trình The Ed Sullivan Show lần thứ 2, với khoảng 70 triệu người xem trực tiếp, trước khi quay trở lại Anh vào ngày 22 tháng 2.
==== A Hard Day's Night ====
Sự thiếu quan tâm của Capitol Records tới ban nhạc là cơ hội ngàn vàng cho đối thủ cạnh tranh trực tiếp của họ, United Artists Records, thúc giục hãng phim của mình đề nghị tới The Beatles một hợp đồng làm phim, trong đó có những ưu đãi đặc biệt với phần soundtrack. Được đạo diễn bởi Richard Lester, bộ phim A Hard Day's Night chiếm trọn 6 tuần của ban nhạc trong khoảng từ tháng 3-4 năm 1964 mà trong đó họ vào vai chính mình dưới dạng phim ca nhạc tài liệu. A Hard Day's Night giúp ban nhạc giành được những đề cử Oscar và Grammy đầu tiên, trong đó có Kịch bản xuất sắc nhất và Nhạc phim xuất sắc nhất. Bộ phim được trình chiếu lần đầu tại London và New York với thành công vang dội trên toàn thế giới, theo kèm là nhiều đánh giá so sánh họ với Marx Brothers. Erlewine đánh giá cao album soundtrack từ bộ phim, A Hard Day's Night, và cho rằng đã nhìn thấy "chính họ trong dáng vẻ một ban nhạc. Tất cả những điều nổi bật nhất trong 2 album trước đó của họ đã được dung hòa lại thành thứ âm thanh bừng sáng, hân hoan và căn nguyên, hòa hợp với tiếng guitar rung rinh và giai điệu cuốn hút." "Tiếng guitar rung rinh" đó là chiếc Rickenbacker 360/12 12-dây của Harrison vốn được nhà sản xuất thiết kế riêng để tặng anh, và album này là lần đầu tiên anh có cơ hội thu âm với nó.
Đầu tháng 4 năm 1964, The Beatles chiếm tới 12 vị trí trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trong đó bao gồm cả 5 ca khúc quán quân. Thành công của họ làm gia tăng mối quan tâm của công chúng tới âm nhạc Anh quốc, và nhiều nghệ sĩ khác nhờ đó cũng bắt đầu xuất hiện tại các bảng xếp hạng của Mỹ, có được thành công khi đi tour trong suốt 3 năm sau đó – quãng thời gian mà báo chí đặt tên British Invasion. Kiểu tóc của ban nhạc, vốn bị coi là cổ lỗ từ lâu và luôn bị chế giễu bởi những người lớn tuổi, trở thành biểu tượng của làn sóng mới trong văn hóa của lớp trẻ.
The Beatles đi tour vòng quanh thế giới suốt tháng 7 và tháng 8 năm 1964, diễn tổng cộng tới 37 buổi chỉ trong 27 ngày tại Đan Mạch, Hà Lan, Hồng Kông, Úc và New Zealand. Tháng 8, họ quay trở lại Mỹ, trình diễn 30 buổi tại 23 thành phố. Một lần nữa có được sự quan tâm rất lớn từ công chúng, tour diễn một tháng lần này thu hút được từ 10-20.000 khán giả cho mỗi buổi diễn kéo dài chỉ trong 30 phút tại các thành phố từ San Francisco tới New York.
Tháng 8, nhà báo Al Aronowitz thu xếp cho The Beatles gặp gỡ Bob Dylan. Tới thăm ban nhạc tại khách sạn ở New York, Dylan đã giới thiệu cho họ cần sa. Gould quan tâm tới những mối liên quan giữa âm nhạc và văn hóa trong buổi gặp gỡ này mà theo đó, mỗi nghệ sĩ có tầng lớp người hâm mộ "thuộc về 2 thế giới hoàn toàn khác nhau": với Dylan là "những cậu nhóc nghệ sĩ và trí tuệ, lý tưởng hóa các quan điểm chính trị và xã hội, và theo phong cách bohemian ôn hòa", còn với The Beatles là "những đứa nhóc mới lớn – những cô cậu nhóc trung học sống trong thứ văn hóa được thương mại hóa bởi truyền hình, phát thanh, nhạc pop, tạp chí và thời trang. Với họ, ban nhạc là thần tượng, chứ không phải người lý tưởng hóa." Sau 6 tháng quen biết, Gould viết, "Lennon muốn thu âm theo cách bắt chước giọng mũi bè, tiếng đàn mỏng manh và những nhân vật nội tâm đa dạng của Dylan." Khoảng 1 năm kể từ ngày gặp gỡ, Dylan muốn "tiến lên, với sự trợ giúp của ban nhạc 5 người cùng chiếc Fender Stratocaster điện để đuổi những kẻ mất trí cuồng nhạc folk thuần túy ra khỏi hình tượng của anh ấy... sự khác biệt giữa tầng lớp nghe nhạc folk và nhạc rock gần như ảnh hưởng trực tiếp tới những tầng lớp khán giả [của ban nhạc]... [ý định này] cho thấy những dấu hiệu khả quan."
==== Beatles for Sale, Help! và Rubber Soul ====
Theo Gould, album thứ tư của nhóm, Beatles for Sale, là minh chứng rõ ràng cho sự đối lập giữa những áp lực thành công về mặt thương mại và những dự án âm nhạc tham vọng của The Beatles. Họ dự định thu âm album trong khoảng tháng 8-10 năm 1964, tiếp tục thực hiện theo cách giống với A Hard Day's Night vốn chỉ bao gồm toàn các sáng tác của riêng họ. Ban nhạc thực tế đã kiệt sức để hoàn thiện các ca khúc ở album trên, mặt khác việc đi tour với những ca khúc đó lại là một thách thức thực sự với thành công của họ. Lennon thừa nhận: "Các sáng tác đang trở thành vấn đề nghiêm trọng." Cũng vì thế, 6 ca khúc khác được chọn xen lẫn trong Beatles for Sale. Được phát hành vào đầu tháng 12 năm 1964, album tiếp tục thành công và một lần nữa cho thấy những tiến bộ vượt bậc trong sáng tác của bộ đôi Lennon-McCartney.
Đầu năm 1965, khi mời ban nhạc tới nhà ăn tối, bác sĩ nha khoa của Lennon và Harrison đã bí mật cho chất LSD vào trong tách cà phê của họ. Lennon nhớ lại: "Nó thật kinh khủng, nhưng nó thật tuyệt diệu. Tôi đã ngây ngất suốt 1-2 tháng liền." Anh và Harrison lập tức thường xuyên sử dụng LSD, rồi sau đó là Starr trong vài dịp đặc biệt. McCartney ban đầu từ chối việc thử LSD, song rốt cuộc cũng sử dụng nó vào cuối năm 1966. Anh trở thành Beatle đầu tiên công khai tuyên bố sử dụng ma túy trước công chúng khi trả lời trên báo chí rằng nó giúp "khai sáng" anh, giúp anh "trở nên một người tốt hơn, trung thực hơn, vị tha hơn với xã hội".
Tháng 4 năm 1965, The Beatles được trao Giải Grammy cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất. Tranh cãi nổ ra khi vào tháng 6 năm 1965, nữ hoàng Elizabeth II tước phong danh hiệu Thành viên Hoàng gia Anh (MBE) cho ban nhạc sau khi được đích thân Thủ tướng Harold Wilson đề cử. Thực tế vào thời điểm đó, đây là một danh hiệu vốn chỉ dành cho quân nhân và quan chức công vụ, và để phản đối, nhiều MBE bảo thủ đã quyết định trả lại tước vị mà họ từng được trao.
Được ra mắt vào tháng 7 năm 1965, bộ phim thứ hai của The Beatles, Help!, tiếp tục được đạo diễn bởi Lester. Được miêu tả là "sản phẩm chế nhạo Bond", bộ phim có được những phản ứng lẫn lộn từ giới phê bình và bản thân ban nhạc. McCartney nói: "Help! xuất sắc nhưng đó không phải là bộ phim của chúng tôi: chúng tôi tham gia như thể những diễn viên phụ. Nó rất vui nhộn, song về ý tưởng có vẻ có chút sai lầm." Phần soundtrack gồm hầu hết các sáng tác của Lennon khi anh viết nên ca khúc tiêu đề phim, cùng với đó là 2 đĩa đơn của nhóm, "Help!" và "Ticket to Ride". Album theo kèm trở thành bản LP thứ năm của ban nhạc, bao gồm trong đó những ca khúc hát lại là "Act Naturally" và "Dizzy Miss Lizzy": đây cũng là những ca khúc cuối cùng mà The Beatles hát những sáng tác không phải của họ, ngoại trừ bản hát lại ca khúc dân ca truyền thống của Liverpool, "Maggie Mae", trong album Let It Be sau này. Với Help!, ban nhạc cũng bắt đầu thử nghiệm kỹ thuật thu âm nhiều lần phần hát bên cạnh việc sử dụng nhiều nhạc cụ cổ điển trong hòa âm, tiêu biểu là dàn tứ tấu dây trong ca khúc bất tử "Yesterday". Được viết bởi McCartney, "Yesterday" có lẽ là ca khúc từng được hát lại nhiều nhất lịch sử âm nhạc.
Tour diễn lần thứ 3 tại Mỹ của ban nhạc được mở đầu với buổi diễn kỷ lục thế giới 56.000 khán giả tại sân vận động Shea Stadium ở New York ngày 15 tháng 8 năm 1965 – "có lẽ là một trong những buổi diễn nổi tiếng nhất của The Beatles", Lewisohn viết – tiếp theo đó là 9 buổi diễn thành công khác ở nhiều thành phố khác nhau. Trong buổi diễn ở Atlanta, The Beatles lần đầu sử dụng hệ thống loa vọng ngược đặt trên sân khấu. Kết thúc tour diễn, họ có cơ hội được gặp Elvis Presley – một trong những người ảnh hưởng nhất tới họ – khi ông mời tất cả tới nhà riêng tại Beverly Hills.
Giữa tháng 10 năm 1965, The Beatles quay trở lại phòng thu: lần đầu tiên kế hoạch thu âm của họ phải kéo dài hơn dự tính mà không vì bất cứ ràng buộc hợp đồng nào. Được phát hành vào tháng 12, Rubber Soul, có được thành công vang dội về chuyên môn và được coi là bước chuyển quan trọng của ban nhạc tới sự trưởng thành cùng thứ âm nhạc phức tạp hơn. Chủ đề của họ cũng bắt đầu mở rộng khi quan tâm nhiều hơn tới các khía cạnh khác của tình yêu và triết học. 2 cây viết sử Peter Brown và Steven Gaines gán định hướng mới của họ với việc "The Beatles bắt đầu có thói quen dùng cần sa", bổ sung bằng lời khẳng định từ ban nhạc: Lennon từng gọi đây là "album tốn kém", trong khi Starr nhớ lại: "Cỏ thực sự ảnh hưởng lớn tới những thay đổi của chúng tôi, đặc biệt là tới những người viết nhạc. Và cũng bởi họ viết theo những chất liệu mới, vậy nên chúng tôi cũng phải chơi nhạc theo cách mới." Nếu như Help! giới thiệu nhạc rock đi cùng âm nhạc cổ điển của flute và dàn dây thì lần này Harrison đã mang tới cho thế giới cây đàn sitar trong ca khúc "Norwegian Wood (This Bird Has Flown)", đưa sự phát triển của nhạc rock xa hơn những giới hạn thông thường của nó. Cùng với việc ca từ của họ giàu tính nghệ thuật hơn, người nghe cũng bắt đầu tìm hiểu những ý nghĩa sâu xa của nó. Lennon bình luận về "Norwegian Wood": "Tôi chỉ cố gắng viết về một vụ ngoại tình... và nó như kiểu cần một màn khói mờ để tôi không phải nói ra vậy."
Hầu hết những ca khúc của Rubber Soul được sáng tác bởi bộ đôi Lennon-McCartney: cho dù vẫn có thể nhận ra điểm khác biệt trong những ca khúc của riêng họ, song cả 2 vẫn không ngừng trao đổi những ý kiến trong cách viết nhạc. Ca khúc "In My Life", sau này đều được mỗi người tuyên bố là sáng tác cá nhân, được coi là điểm sáng trong danh sách những sáng tác của Lennon-McCartney. Harrison gọi Rubber Soul là album yêu thích của mình, trong khi Starr gọi đây là "bản thu khởi đầu". McCartney từng nói: "Chúng tôi đã có những thời kỳ đáng yêu, và đây là lúc để phát triển nó." Tuy nhiên, kỹ thuật viên âm thanh Norman Smith cũng nhấn mạnh rằng đây là thời điểm bắt đầu những tranh cãi trong ban nhạc – "sự cạnh tranh giữa Lennon và McCartney dần trở nên rõ ràng", ông viết, và "khi McCartney ngày một thể hiện thì George lại càng không có chỗ đứng." Năm 2003, tạp chí Rolling Stone xếp Rubber Soul ở vị trí số 5 trong danh sách "500 album vĩ đại nhất" của họ, còn Richie Unterberger của Allmusic miêu tả đây là "một trong những sản phẩm folk rock kinh điển".
=== 1966-1970: Phòng thu, tranh cãi, đỉnh cao và tan rã ===
==== Kết thúc những năm lưu diễn ====
Tháng 6 năm 1966, album Yesterday and Today – một ấn bản tuyển chọn được Capitol Records biên tập và bày bán tại Mỹ – gây phẫn nộ với phần bìa khi chụp hình The Beatles trong trang phục đồ tể với vô số những miếng thịt giả cùng búp bê. Đây được coi là hành động trả đũa trước những đánh giá cho rằng Capitol đã "tàn sát" những ấn bản phát hành tại Mỹ của nhóm. Hàng ngàn bản LP sau đó đã được tái bản với phần bìa mới, trong khi album với phần bìa gốc sau này từng được bán đấu giá tới 10.500 $ vào tháng 12 năm 2005. Cùng lúc đó ở Anh, Harrison lần đầu được gặp gỡ bậc thầy đàn sitar, Ravi Shankar – người đồng ý gặp gỡ và chỉ dẫn anh chơi loại nhạc cụ này.
Trong tour diễn tiếp theo tại Philippines sau sự kiện Yesterday and Today, The Beatles vô tình quên mất Đệ nhất phu nhân Imelda Marcos mời họ tới dùng bữa sáng tại Phủ Tổng thống. Khi tới nơi, Epstein buộc phải khôn ngoan từ chối nhận mình là quản lý của ban nhạc nhằm coi như mình chưa từng biết tới lời mời chính thức trên. Song họ ngay lập tức nhận ra rằng gia đình Marcos không có thói quen chấp nhận việc lời mời của họ bị từ chối. Sự việc trở nên ầm ỹ và ban nhạc đã phải rất vất vả để được xuất cảnh. Gần như ngay sau đó, ban nhạc có chuyến đi tới Ấn Độ lần đầu tiên.
Ngay khi trở về nước, The Beatles liền nhận được những lời chỉ trích từ tín đồ tôn giáo và những người theo quan điểm cực đoan tại Mỹ (đặc biệt là Ku Klux Klan) khi Lennon trả lời bài phỏng vấn từ tháng 3 với nhà báo Maureen Cleave: "Kitô giáo rồi sẽ biến mất. Nó sẽ bị phá hủy hoặc lu mờ... Giờ chúng tôi còn nổi tiếng hơn cả Chúa Jesus – tôi còn không rõ rằng cái gì sẽ biến mất trước, giữa rock 'n' roll và Kitô giáo. Chúa Jesus luôn đúng, nhưng quan điểm của ông là mờ mịt và tầm thường. Nghe những điều đó lẫn lộn vào nhau thực sự hủy hoại con người tôi." Những nhận xét này không được để ý tại Anh, song những độc giả trẻ tuổi của tờ Datebook tại Mỹ đã in nó ra khoảng 5 tháng sau, trước khi nhóm bắt đầu tour diễn tại đây, và nó dấy lên những tranh cãi trong cộng đồng người theo đạo ở "Bible Belt". Vatican cũng lên tiếng phản đối ban nhạc và yêu cầu cấm mọi bản thu của The Beatles được phát trên sóng phát thanh tại Tây Ban Nha, Hà Lan cũng như Nam Phi. Epstein chê trách Datebook đã ghi lại đoạn trò chuyện của Lennon trong một ngữ cảnh sai lệch. Tại buổi họp báo, Lennon khẳng định: "Nếu tôi cho rằng truyền hình còn được biết tới nhiều hơn cả Chúa Jesus, vậy hẳn tôi đã phải tránh xa nó." Lennon nhấn mạnh rằng anh đề cập tới vấn đề này nhằm nói về việc mọi người nhìn nhận như thế nào về thành công; và trước những gợi ý từ phóng viên, anh kết luận: "Nếu mọi người muốn tôi xin lỗi, nếu điều đó khiến mọi người vui, ok tôi xin lỗi."
Trong quá trình chuẩn bị cho tour diễn tại Mỹ, The Beatles nhận thấy rằng âm nhạc họ chơi thực tế rất khó nghe thấy được khi trình diễn trực tiếp. Vốn sử dụng bộ ampli Vox AC30, họ được cấp thêm một chiếc 100-watt mới cũng của Vox mà họ chỉ dành cho những buổi diễn tại sân khấu lớn từ năm 1964, song họ thấy vẫn không đủ hiệu quả. Bất lực trong việc cố gắng nghe rõ âm thanh giữa tiếng la hét từ người hâm mộ, ban nhạc ngày một chán nản trong việc tiếp tục đi diễn. Nhận ra rằng các buổi diễn không còn mang tính âm nhạc nữa, ban nhạc quyết định rằng tour diễn tháng 8 năm 1966 là lần đi diễn cuối cùng của họ.
==== Revolver và Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band ====
Rubber Soul là bước ngoặt quan trọng; Revolver, được phát hành vào tháng 8 năm 1966 – đúng 1 tuần trước chuyến lưu diễn cuối cùng của The Beatles – là một bước ngoặt nữa. Scott Plagenhoef từ Pitchfork Media nhận xét "âm thanh của ban nhạc đã đạt tới độ chín nhất" và "định nghĩa lại những gì mà âm nhạc quần chúng trông chờ". Revolver được thực hiện với cách viết nhạc tinh vi, trải nghiệm phòng thu cùng những kỹ năng trình diễn tuyệt vời, sắp xếp hài hòa những cải tiến trong sự kết hợp giữa âm nhạc cổ điển với psychedelic rock. Chia tay với cách chụp hình truyền thống, phần bìa lần này được thiết kế bởi Klaus Voormann – người bạn thân thiết của nhóm từ những ngày ở Hamburg – "một thứ lạnh lẽo, nghệ thuật, cắt dán trắng-đen khắc họa The Beatles theo kiểu nét vẽ bút mực của Aubrey Beardsley". Album được quảng bá bởi đĩa đơn "Paperback Writer", mặt sau là ca khúc "Rain". Vài đoạn phim ngắn được quay để giới thiệu cho đĩa đơn này, và theo nhà nghiên cứu văn hóa Saul Austerlitz, đó là "video ca nhạc thật sự đầu tiên của lịch sử"; chúng được trình chiếu trên các chương trình The Ed Sullivan Show và Top of the Pops vào tháng 6 cùng năm.
Một trong những ca khúc thể nghiệm trong Revolver là "Tomorrow Never Knows" mà phần lời được Lennon lấy từ cuốn sách The Psychedelic Experience: A Manual Based on the Tibetan Book of the Dead của Timothy Leary. Bản thu được thực hiện với 8 băng thâu khác nhau, mỗi chiếc được thực hiện bởi kỹ thuật viên hoặc thành viên của ban nhạc, rồi theo đó mỗi người thay đổi hiệu ứng với phần thu âm để Martin tổng hợp lại những hiệu ứng khác nhau. Ca khúc "Eleanor Rigby" của McCartney tiếp tục sử dụng dàn tứ tấu dây mà Gould miêu tả là "phép lai thực sự nhằm không nhận ra được phong cách hoặc thể loại của ca khúc". Khả năng sáng tác của Harrison cũng tiến bộ khi có tới 3 ca khúc của anh được cho vào album này. Năm 2003, Rolling Stone xếp Revolver ở vị trí số 3 trong danh sách những album vĩ đại nhất của họ. Tuy nhiên trong tour diễn tại Mỹ sau khi phát hành album, The Beatles lại không trình bày bất cứ ca khúc nào của album này. Theo Chris Ingham, họ đã dành tâm trí quá nhiều vào "phòng thu... và không có một hình mẫu nào khác cho một nhóm rock 'n' roll 4 người để có thể thuyết phục được họ, đặc biệt giữa biển người hâm mộ gào thét vốn chỉ làm họ mất đi sự nhạy cảm. "The Beatles trên sân khấu" và "The Beatles của phòng thu" đã trở thành 2 khái niệm hoàn toàn khác biệt." Buổi diễn cuối cùng của ban nhạc tại sân vận động Candlestick Park, San Francisco ngày 29 tháng 8 năm 1966 đã chấm dứt 4 năm lưu diễn không ngừng nghỉ của nhóm với hơn 1.400 buổi diễn trên toàn thế giới.
Thoát khỏi những mối bận tâm từ việc đi tour, The Beatles liền tập trung hơn vào các thử nghiệm khi bắt đầu thu âm Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band vào cuối tháng 11 năm 1966. Theo kỹ thuật viên Geoff Emerick, thời gian hoàn thiện album tổng cộng là hơn 700 giờ. Ông nhớ lại mối quan tâm của ban nhạc "rằng mọi thứ trong Sgt. Pepper cần phải khác biệt. Chúng tôi có micro ngay bên dưới miệng những chiếc kèn và tai nghe đưa những âm thanh trực tiếp từ những chiếc micro của violin. Chúng tôi ưu tiên sử dụng nhiều máy làm dao động để thay đổi tốc độ chơi của từng nhạc cụ cũng như giọng hát, và chúng tôi có những băng thâu được cắt rời rồi lại được đính lại với nhau theo cách trái với thông thường hoặc bất kỳ cách nào khác thường nhất." Ví dụ điển hình là tuyệt tác "A Day in the Life" được thực hiện với dàn nhạc 40 người. Quá trình thu âm được quảng bá với đĩa đơn gồm 2 ca khúc không nằm trong album "Strawberry Fields Forever"/"Penny Lane" vào tháng 2 năm 1967. Sgt. Pepper được phát hành vào tháng 6 cùng năm.
Sự phức tạp về âm nhạc, được thực hiện bởi kỹ thuật thu âm 4-băng, đã làm hầu hết nghệ sĩ đương thời sửng sốt. Thủ lĩnh Brian Wilson của The Beach Boys, vốn đang trong thời kỳ giữa những vấn đề cá nhân và trục trặc trong dự án tham vọng Smile, đã hoàn toàn choáng váng khi nghe "Strawberry Fields" và quyết định từ bỏ mọi ý tưởng ban đầu để cạnh tranh với những người bạn thân thiết của mình. Về chuyên môn, nhìn chung album được đánh giá cao một cách rộng rãi. Gould viết:
"Có một sự đồng thuận rộng khắp rằng The Beatles đã tạo nên một siêu phẩm nhạc pop: một sản phẩm thiên tài thực sự phong phú, chất lượng và dạt dào mà thứ tham vọng rõ nét cùng những tính căn nguyên khởi nguồn của nó đã được trải rộng ra tới mức tối đa, nâng tầm sự kỳ vọng từ trải nghiệm của thính giả. Về cơ bản, Sgt. Pepper là chất xúc tác cho việc bùng nổ những cấu trúc cần thiết cho một album nhạc rock vốn cần đòi hỏi cả về mặt thẩm mỹ cũng như kinh tế song không còn giống với thời bùng nổ nhạc pop bởi hiện tượng Elvis vào năm 1956 và ngay cả với Beatlemania vào năm 1963."
Sgt. Pepper cũng là album LP đầu tiên bao gồm phần lời hoàn chỉnh tất cả các ca khúc được ghi ở phần bìa sau. Nội dung của chúng trở thành trọng tâm của rất nhiều nghiên cứu và đánh giá: vào cuối năm 1967, phần ca từ trên đã trở thành chủ đề trong những bài điều tra bởi nhiều nhà nghiên cứu văn học Mỹ, còn giáo sư người Anh, Richard Poirier, đã đánh giá sinh viên của mình "nghe thứ âm nhạc với đẳng cấp viết lời mà ông, với tư cách là người dạy Anh văn, cũng chỉ mong đạt được." Poirier cũng chỉ rõ thứ mà ông gọi là "sự tượng trưng pha trộn": "Thật là thiếu khôn ngoan nếu cho rằng họ chỉ biết làm có một việc và cũng chỉ có một phong cách duy nhất... Một thứ cảm xúc đối với sản phẩm này xem chừng là không đủ... Bất cứ cảm xúc riêng biệt nào đều có thể tồn tại trong những ngữ cảnh có vẻ như hoàn toàn đối lập nhau." McCartney từng nói vào thời điểm đó: "Chúng tôi viết những ca khúc. Chúng tôi biết chúng tôi cần diễn đạt những gì với chúng. Nhưng cứ mỗi tuần lại có người nói một điều gì đó mới, và bạn không thể phủ nhận điều ấy... Bạn chỉ cần tự đặt khả năng nhìn nhận của bạn tương xứng với khả năng bạn hiểu từng ca khúc." Sgt. Pepper giành được 4 trong tổng số 7 đề cử của giải Grammy năm 1968 và trở thành album nhạc rock đầu tiên được trao giải thưởng Album của năm. Năm 2003, tạp chí Rolling Stone xếp đây là album vĩ đại nhất mọi thời đại trong danh sách của họ.
Phần bìa của Sgt. Pepper cũng là chủ đề trong nhiều bài nghiên cứu. Phần trọng tâm được thiết kế bởi Peter Blake và Jann Haworth, miêu tả The Beatles trong vai ban nhạc tưởng tượng theo nhan đề album đứng giữa những nhân vật nổi tiếng đương thời. Bộ ria mép mà họ nuôi theo ý tưởng về những người hippie được cây viết sử Jonathan Harris miêu tả "sự châm biếm rõ ràng và sặc sỡ về trang phục quân đội" cũng như "chống lại sự độc đoán và chống lại tính tổ chức".
Ngày 25 tháng 6 năm 1967, The Beatles trình diễn đĩa đơn tiếp theo của họ, "All You Need Is Love", tới hơn 350 triệu người xem toàn cầu qua chương trình Our World – chương trình trực tiếp toàn thế giới đầu tiên của ngành truyền hình. Được phát hành 1 tuần sau đó trong quãng thời gian Summer of Love, đĩa đơn đã trở thành thánh ca của giai đoạn này. Chỉ 2 tháng sau, ban nhạc có sự mất mát lớn trực tiếp đưa họ tới thời kỳ rối loạn. Vốn chỉ gặp gỡ thiền sư Maharishi Mahesh Yogi ở London vào tối hôm trước, ngày 25 tháng 8 ban nhạc quyết định bay tới Bangor để tham gia khu thiền đặc biệt của ông. Đúng 2 ngày sau, trợ lý quản lý của nhóm, Peter Brown, gọi điện thông báo Epstein qua đời. Những điều tra cho thấy cái chết là do ông bị sốc khi dùng ma túy, song nhiều tin đồn cho rằng thực chất Epstein đã tự tử. Epstein vốn đang trong quãng thời gian nhạy cảm, bị trầm cảm do những soi mói vào đời sống cá nhân và ban nhạc có vẻ không muốn ký hợp đồng tiếp với ông, vốn sắp đáo hạn vào tháng 10, khi mà họ tỏ rõ việc không hài lòng trong cách quản lý của ông, đặc biệt về Seltaeb – công ty phân phối các sản phẩm lưu niệm của họ tại Mỹ. Cái chết của Epstein khiến ban nhạc mất định hướng và lo sợ về tương lai của mình. Lennon nói: "Chúng tôi bỗng đổ sụp. Tôi biết mọi khó khăn sắp bắt đầu. Tôi chẳng hề có một chút khả năng gì khác ngoài việc chơi nhạc, và tôi đã rất sợ. Tôi liền nghĩ: "Tất cả chúng tôi đều biết như vậy.""
==== Magical Mystery Tour, Album trắng và Yellow Submarine ====
Magical Mystery Tour, bản soundtrack cho bộ phim cùng tên của The Beatles, được phát hành dưới dạng EP-kép tại Anh đầu tháng 12 năm 1967. Tại Mỹ, cả 6 ca khúc trên được gộp lại với 5 đĩa đơn trước đó của nhóm và trở thành bản LP tại đây. Unterberger nói về ấn bản Magical Mystery Tour tại Mỹ "thứ âm thanh psychedelic từ Sgt. Pepper, thậm chí phóng khoáng hơn (đặc biệt trong "I Am the Walrus")" và ông gọi 5 đĩa đơn được cho vào album là "đồ sộ, lộng lẫy và cách tân". Chỉ trong 3 tuần, nó đã trở thành album bán chạy nhất lịch sử hãng Capitol Records, và nó cũng là album tuyển tập duy nhất của Capitol được ban nhạc sau này chọn làm album phát hành chính thức. Được lên sóng đúng ngày Boxing Day, bộ phim Magical Mystery Tour, được chủ yếu đạo diễn bởi McCartney, khiến ban nhạc nhận được thất bại thực sự đầu tiên tại Mỹ. Tờ Daily Express gọi đây là "thứ rác rưởi ồn ào", còn Daily Mail gọi bộ phim là "sự tự mãn quá đà". The Guardian bình luận "một kiểu đạo đức hoang đường hướng về sự tục tĩu, sự hân hoan và cả sự ngu dốt của khán giả". Gould miêu tả "một minh chứng của cách dàn dựng non nớt về một nhóm người chỉ biết lên, xuống rồi lái chiếc xe bus". Cho dù tỉ lệ người xem vẫn ở mức cao, những công kích từ báo chí đã khiến các đài truyền hình của Mỹ sau đó cũng dè dặt hơn trong việc đưa bộ phim lên sóng.
Tháng 1 năm 1968, The Beatles quay 1 đoạn phim giới thiệu cho bộ phim hoạt hình Yellow Submarine với ban nhạc được vẽ lại theo lối hoạt họa theo kèm là soundtrack với 11 ca khúc, trong đó 4 là các ca khúc chưa từng được phát hành. Được phát hành vào tháng 6, bộ phim được đánh giá cao về âm nhạc, tính hài hước cũng như phong cách thể hiện kiểu mới. Album soundtrack chỉ được phát hành 7 tháng sau đó.
Trong quãng thời gian đó, ban nhạc thực hiện album The Beatles – bản LP sau này được phân biệt dưới tên gọi Album trắng với phần bìa vô cùng đặc trưng của mình. Ý tưởng thực hiện album lần này là hoàn toàn mới: không còn những định hướng từ Epstein, ban nhạc đã chuyển hướng sang Maharishi Mahesh Yogi như là guru của họ. Tham dự khu thiền ashram ở Rishikesh, Ấn Độ trong chuyến đi "Guide Course" dự tính kéo dài 3 tháng, ban nhạc đã có quãng thời gian đặc biệt nhất sự nghiệp của mình khi đã viết nên vô số những ca khúc xuất sắc mà trong đó là phần lớn các sáng tác cho Album trắng. Tuy nhiên, Starr bỏ về chỉ sau 10 ngày và so sánh chuyến đi với Butlin's, trong khi McCartney cũng ngày một cảm thấy chán nản và bỏ cuộc 1 tháng sau đó. Với Lennon và Harrison, sức sáng tạo của họ cũng bị đặt dấu hỏi khi những kỹ thuật viên như Magic Alex từng nhớ lại rằng Maharishi thực tế toàn cố gắng làm xao nhãng họ. Khi họ phát hiện ra rằng Maharishi có những hành vi không lành mạnh với một nữ thành viên trong đoàn, Lennon lập tức chấm dứt chuyến đi, mang theo Harrison cùng toàn bộ số thành viên còn lại trở về Anh. Tức giận và cảm thấy bị xúc phạm, Lennon viết nên ca khúc "Maharishi", sau này đổi tên thành "Sexy Sadie" nhằm tránh những kiện tụng không cần thiết. McCartney nói: "Chúng tôi đã phạm sai lầm. Chúng tôi cứ nghĩ rằng có thể có được nhiều hơn từ ông ấy."
Trong quãng thời gian thực hiện Album trắng, tức là khoảng từ cuối tháng 5 tới giữa tháng 10 năm 1968, mối quan hệ giữa các thành viên xấu đi trông thấy. Starr bỏ nhóm 2 tuần, buộc McCartney phải chơi trống trong "Back in the U.S.S.R." (và lần lượt cả Harrison và Lennon) rồi "Dear Prudence". Lennon mất mọi cảm hứng cộng tác với McCartney và gọi ca khúc "Ob-La-Di, Ob-La-Da" là "thứ âm nhạc bỏ đi của các cụ già". Căng thẳng đặc biệt gia tăng khi những động thái quan tâm lãng mạn của Lennon tới nghệ sĩ avant-garde Yoko Ono đã dẫn tới việc anh mang cô tới phòng thu, trong khi trước đó ban nhạc đã có quy ước không đem theo bạn gái hay vợ trong lúc thu âm. Nói về album-kép này, Lennon bình luận: "Mỗi ca khúc đều là sản phẩm cá nhân, chẳng có một chút Beatles nào trong đó hết; [đó là] John cùng ban nhạc, Paul cùng ban nhạc, George cùng ban nhạc." McCartney sau này gọi album "không phải là một thành quả hài lòng". Cả anh lẫn Lennon sau này đều cho rằng quá trình thu âm Album trắng chính là điểm khởi đầu của việc ban nhạc tan rã.
Được phát hành vào tháng 11, Album trắng là album đầu tiên của The Beatles dưới nhãn đĩa Apple Records, trong khi EMI tiếp tục song song giữ quyền phát hành. Nhãn đĩa riêng của ban nhạc là một công ty con của Apple Corps, vốn được Epstein lập nên nhằm giúp ban nhạc giải quyết những vấn đề về thuế. Album có được tới 2 triệu bản đặt hàng trước, rồi sau đó bán được tới 4 triệu đĩa ở Mỹ chỉ sau hơn 1 tháng, và các ca khúc thống trị các bảng xếp hạng tại đây. Cho dù thành công về thương mại, song album không hoàn toàn nhận được những đánh giá chuyên môn tích cực. Gould viết:
"Những đánh giá chuyên môn... trải rộng từ lẫn lộn tới thờ ơ. Đối lập với Sgt. Pepper vốn từng giúp ban nhạc có được sự ngưỡng mộ rộng khắp, Album trắng không có được những lời phê bình ấn tượng trong bất cứ mặt nào. Kể cả với những cây viết thân thiện nhất... cũng thực sự không hình dung ra những cảm xúc kỳ quái lẫn lộn trong các ca khúc. Hubert Saal của Newsweek, với lời bình mang tính mỉa mai nhất, cho rằng ban nhạc vẫn còn chưa "uốn lưỡi" thật kỹ."
Nhìn chung các đánh giá sau này đều tôn vinh Album trắng. Năm 2003, tạp chí Rolling Stone xếp album ở vị trí số 10 trong danh sách "500 album vĩ đại nhất". Mark Richardson từ Pitchfork Media miêu tả album "rộng lớn và trải khắp, bùng nổ với những ý tưởng cùng những đam mê và được hoàn thiện bởi những chất liệu ngay ngắn nhất... Sự thất bại của họ cũng đặc sắc như cá tính và vinh quang của họ vậy." Erlewine bình luận: "2 cây viết chủ lực [của ban nhạc] đã không còn chung một con đường, kể cả với George và Ringo", và "Lennon đã viết nên 2 trong số những bản ballad hay nhất của mình", các ca khúc của McCartney là "sửng sốt", còn Harrison "đã trở thành người viết nhạc đáng được tôn trọng", trong khi những sáng tác của Starr là "sự thích thú".
Bản LP Yellow Submarine được phát hành vào tháng 1 năm 1969, bao gồm 4 ca khúc từng được phát hành trước đó, trong đó có ca khúc tiêu đề (từng xuất hiện trong Revolver), "All You Need Is Love" (từng nằm trong EP Magical Mystery Tour) theo kèm là 7 bản nhạc hòa tấu sáng tác bởi Martin. Với thứ âm nhạc mới của ban nhạc, Unterberger và Bruce Eder của Allmusic cho rằng album là một sản phẩm "không chính yếu" song lại ấn tượng với ca khúc "It's All Too Much" của Harrison "viên ngọc trong số những ca khúc mới... rực rỡ với giai điệu của mellotron, định âm tuyệt hảo và những đoạn lướt mềm mại của guitar... một cuộc dạo chơi của người sành sỏi tới thứ âm nhạc psychedelic mờ ảo kiểu mới."
==== Abbey Road, Let It Be và tan rã ====
Cho dù Let It Be là album chính thức cuối cùng của ban nhạc, song thực tế album cuối cùng mà The Beatles thực hiện thu âm là Abbey Road. Ngọn nguồn của dự án tới từ câu nói của Martin với McCartney khi gợi ý "thu âm một sản phẩm với những chất liệu mới rồi chơi nháp chúng, rồi lần đầu tiên thực hiện chúng trước khi trình diễn trực tiếp – kể cả thu âm lẫn thu hình". Vốn dự định để dành cho chương trình tài liệu Beatles at Work, hầu hết quãng thời gian thực hiện dự án đều được quay lại bởi Michael Lindsay-Hogg tại phòng thu Twickenham Film Studios từ tháng 1 năm 1969. Martin cho rằng dự án "không hoàn toàn là những buổi thu vui vẻ. Đó cũng là lúc mà mối quan hệ giữa các Beatle đã chạm đáy của nó." Lennon miêu tả quãng thời gian này như "địa ngục... điều khốn khổ nhất... trên Trái đất", còn với Harrison là "thất vọng nhất từng có". Bị ức chế từ cả McCartney lẫn Lennon, Harrison rời nhóm 5 ngày. Khi quay trở lại, anh tuyên bố sẽ ra đi trừ khi "[ban nhạc] không được nhắc tới buổi trình diễn trực tiếp" và mặt khác nhấn mạnh việc dự án sẽ cho ra đời một album mới mang tên Get Back với các ca khúc sẽ được trình chiếu trên truyền hình. Anh cũng đề nghị cả nhóm dừng công việc ở Twickenham để tập trung thu âm ở phòng thu của hãng Apple. Các thành viên khác đều đồng ý, và ý tưởng đã góp phần cứu vớt nội dung những cảnh quay sau đó được chiếu trên truyền hình.
Những nỗ lực giảm bớt căng thẳng giữa các thành viên đã thúc đẩy chất lượng công việc, và Harrison đã mời tay keyboard trẻ Billy Preston tới tham gia trong 9 ngày cuối cùng của đợt thu. Preston được đề tên trong đĩa đơn "Get Back" của ban nhạc – đây cũng là nghệ sĩ duy nhất được có tên trong một sản phẩm chính thức của The Beatles. Sau khi kết thúc những buổi thu thử, ban nhạc không thể thống nhất được địa điểm trình diễn sau khi bỏ qua lần lượt từng đề xuất, trong đó có cả du thuyền trên biển, nhà thương điên, sa mạc Tunisia và đấu trường Colosseum. Cuối cùng họ cũng đồng ý trình diễn buổi diễn cuối cùng của ban nhạc trên tầng mái của Apple Corps ở địa chỉ số 3 phố Savile Row, London ngày 30 tháng 1 năm 1969. 5 tuần sau, kỹ thuật viên Glyn Johns – người từng được Lennon gọi là "nhà sản xuất giấu mặt" của dự án Get Back – bắt đầu tổng hợp và hoàn thiện album mà như ông gọi là "chiếc dây cương tự do" cho phép ban nhạc "làm tất cả song không được nhúng tay vào toàn bộ dự án".
Những trục trặc giữa các thành viên tiếp tục gia tăng khi liên quan tới vấn đề tìm kiếm cố vấn tài chính, một công việc tối quan trọng sau khi Epstein không còn quản lý nhóm nữa. Lennon, Harrison và Starr đồng ý chọn Allen Klein – quản lý của The Rolling Stones và Sam Cooke – trong khi McCartney lại muốn John Eastman, anh trai của Linda Eastman – người mà anh mới kết hôn ngày 12 tháng 3 cùng năm. Không thể đạt được đồng thuận vậy nên cả 2 nhân vật trên đều được bổ nhiệm, song những tranh cãi sau đó xuất hiện và rất nhiều cơ hội đầu tư đã bị bỏ lỡ. Tới ngày 8 tháng 5, Klein được chỉ định vào vị trí phụ trách doanh thu của ban nhạc.
Martin nhớ lại việc ông cảm thấy sốc khi McCartney đề nghị sản xuất 1 album mới, cho dù dự án Get Back là "trải nghiệm tồi tệ" và bản thân anh cho rằng "chúng tôi đã đi tới đoạn cuối của con đường". Những buổi thu đầu tiên của Abbey Road được thực hiện vào ngày 2 tháng 7 năm 1969. Lennon, người từ chối ý tưởng của Martin "tiếp tục chuỗi những ca khúc", đã yêu cầu các sáng tác của mình và McCartney phải được nằm ở mỗi mặt khác nhau của album. Cuối cùng hình thức được họ lựa chọn là các sáng tác cá nhân ở mặt A, còn mặt B chủ yếu là medley theo gợi ý của McCartney. Ngày 4 tháng 7, đĩa đơn solo đầu tiên của một Beatle được phát hành mang tên "Give Peace a Chance" (dưới tên Plastic Ono Band). Ngày 20 tháng 8 năm 1969, ca khúc với cấu trúc phức tạp "I Want You (She's So Heavy)" chính là lần cuối cùng cả 4 thành viên của The Beatles ngồi cùng nhau thu âm trong phòng thu. Lennon tuyên bố rời khỏi ban nhạc vào ngày 20 tháng 9 song đồng ý giữ yên lặng trước công chúng nhằm đảm bảo doanh thu cho album sắp ra mắt.
Được phát hành 4 ngày sau tuyên bố của Lennon, Abbey Road bán được 4 triệu bản tại Anh chỉ trong vòng 3 tháng và đứng đầu bảng xếp hạng tại đây trong vòng 17 tuần. Ca khúc thứ hai của album, bản ballad "Something", trở thành sáng tác duy nhất của Harrison được làm đĩa đơn mặt A cho The Beatles. Abbey Road nhận được nhiều đánh giá trái chiều, cho dù medley hầu hết nhận được những lời ngưỡng mộ. Unterberger gọi đây là "tuyệt tác thiên tài của ban nhạc" bao gồm "những hòa âm tuyệt vời nhất từng có của nhạc rock". Nhà nghiên cứu âm nhạc Ian MacDonald gọi album là "thất thường và đôi lúc rỗng tuếch", cho dù đánh giá cao medley "nhìn chung là thống nhất và hài hòa". Martin coi đây là album mà ông yêu thích nhất của nhóm, trong khi Lennon cho rằng album "có tiềm năng" song "không có sức sống trong nó". Kỹ thuật viên âm thanh Emerick nhớ lại việc thay thế bộ điều khiển trộn âm nút bấm bằng hệ thống cần gạt đã giúp họ tạo nên ít âm thanh gằn hơn, mặt khác khiến ban nhạc tập trung hơn vào những âm sắc thanh gọn và không bị pha tạp, cũng như góp phần làm nên thứ cảm xúc tương đối "dễ chịu hơn, gần gũi hơn" so với những album trước đó.
Ca khúc "I Me Mine" của Harrison được thu vào ngày 3 tháng 1 năm 1970 để dành cho album chưa hoàn thiện Get Back. Lennon, khi đó đang ở Đan Mạch, không tham gia vào buổi thu. Tới tháng 3, không hài lòng với kết quả dự án được thực hiện bởi Johns, giờ đã được đổi tên thành Let It Be, Klein liền chuyển tất cả các bản thu gốc cho Phil Spector – người vốn đang cộng tác cùng Lennon cho đĩa đơn solo "Instant Karma!". Bổ sung nhiều chất liệu mới, Spector đã chỉnh sửa, cắt gọt, ghi đè nhằm cố gắng biến các ca khúc có cảm giác như thu âm trực tiếp. McCartney không hài lòng với phương pháp này của Spector và đặc biệt bực tức trong việc thay đổi hòa âm ca khúc "The Long and Winding Road" khi cho thêm dàn hợp ca 14 người và phần bè mới với 36 nhạc cụ. Yêu cầu của McCartney về việc hủy bỏ ấn bản này bị bỏ qua, và gần như ngay lập tức anh tuyên bố chia tay ban nhạc trong buổi họp báo ngày 10 tháng 4 năm 1970 – chỉ đúng 1 tuần sau khi cho ra mắt album solo đầu tay.
Ngày 8 tháng 5 năm 1970, album Let It Be do Spector sản xuất được bày bán. "The Long and Winding Road" trở thành đĩa đơn cuối cùng của The Beatles, song nó chỉ được phát hành tại Mỹ. Bộ phim tài liệu cùng tên được phát hành không lâu sau, rồi được trao giải Oscar năm 1970 cho Nhạc phim xuất sắc nhất. Nhà báo Penelope Gilliatt của tờ Sunday Telegraph nhận xét "một bộ phim tồi song rất xúc động... về sự tan vỡ của một gia đình của những người anh em thân thiết, gần gũi về địa lý và có vẻ ngoài không tuổi". Nhiều đánh giá cho rằng vài phần trình bày trong bộ phim có chất lượng tốt hơn cả ấn bản trong album chính thức. Gọi Let It Be là "album duy nhất của The Beatles có nhiều phản ứng tiêu cực, thậm chí bài bác", Unterberger nói album "bị đánh giá quá thấp"; ông cũng ấn tượng "những khoảnh khắc hard rock tới từ "I've Got a Feeling" và "Dig a Pony"" và hài lòng với những ca khúc như "Let It Be", "Get Back", và "giai điệu folk của "Two of Us" khi John và Paul vẫn cùng nhau hòa âm". McCartney hoàn tất những thủ tục về việc giải tán ban nhạc vào ngày 31 tháng 12 năm 1970. Những tranh chấp pháp lý còn kéo dài sau khi ban nhạc tan rã và chúng chỉ chính thức chấm dứt vào ngày 29 tháng 12 năm 1974.
=== 1970-nay: Thời kỳ hậu-tan rã ===
==== Thập niên 1970 ====
Lennon, McCartney, Harrison và Starr đều cho phát hành những album solo vào năm 1970. Các album solo của họ vẫn có sự tham gia của một hoặc vài thành viên khác. Album Ringo (1973) của Starr là sản phẩm duy nhất có sự đóng góp của cả 4 cựu-Beatle, cho dù mỗi người chỉ thu âm một cách độc lập. Harrison cũng tổ chức chương trình hòa nhạc từ thiện Concert for Bangladesh vào tháng 8 năm 1971 ở New York với sự góp mặt của Starr. Ngoài một buổi thu ngẫu hứng sau này được cho vào bootleg mang tên A Toot and a Snore in '74, Lennon và McCartney không bao giờ cộng tác với nhau nữa.
2 album-kép tuyển tập thực hiện bởi Klein, 1962–1966 và 1967–1970, được phát hành vào năm 1973 dưới tên hãng Apple Records. Thường được gọi bằng tên Album đỏ và Album xanh, cả 2 đều có được chứng chỉ đa-Bạch kim tại Mỹ và Bạch kim tại Anh. Trong những năm 1976 tới 1982, EMI và Capitol Records cho ra mắt liên tiếp nhiều album tuyển tập của The Beatles, bắt đầu với album-kép Rock 'n' Roll Music. Sản phẩm duy nhất chưa từng được phát hành là The Beatles at the Hollywood Bowl (1977) – album thu âm trực tiếp chính thức đầu tiên của ban nhạc bao gồm những ca khúc chọn lọc từ 2 buổi diễn của họ tại Mỹ vào năm 1964 và 1965.
Âm nhạc và ảnh hưởng của The Beatles tiếp tục được khai thác dưới nhiều hình thức khác nhau, và thường ngoài khả năng kiểm soát của họ. Tháng 4 năm 1974, vở nhạc kịch John, Paul, George, Ringo … and Bert, được viết bởi Willy Russell và xướng ca bởi Barbara Dickson, công chiếu ở London. Vở nhạc kịch, với sự đồng ý từ Northern Songs, bao gồm 11 sáng tác của Lennon-McCartney và ca khúc "Here Comes the Sun" của Harrison. Không hài lòng về cách dàn dựng, Harrison rút lại giấy phép sử dụng ca khúc này. All This and World War II (1976) là một bộ phim trái lề bao gồm nhiều cảnh quay cùng các phần bìa album của The Beatles được trình bày bởi Elton John và Keith Moon cùng Dàn nhạc giao hưởng London. Vở nhạc kịch Broadway mang tên Beatlemania với nội dung chưa được cấp phép ra mắt vào năm 1977 và trở nên nổi tiếng, giúp họ có nhiều tour diễn khắp nơi. Năm 1979, ban nhạc khởi kiện nhà sản xuất và được bồi thường hàng triệu $. Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band (1978) – bộ phim được thực hiện với The Bee Gees và Peter Frampton thủ vai chính – thất bại hoàn toàn về mặt thương mại và được Ingham gọi là "thảm họa nghệ thuật".
==== Thập niên 1980 ====
Sau khi Lennon bị ám sát vào tháng 12 năm 1980, Harrison đã viết lại phần lời ca khúc "All Those Years Ago" để tưởng nhớ tới Lennon. Đĩa đơn được ra mắt vào tháng 5 năm 1981 với Starr chơi trống, McCartney hát chính và vợ anh, Linda, hát bè. Ca khúc tri ân của riêng McCartney, "Here Today", được đưa vào album Tug of War vào tháng 4 năm 1982. Năm 1987, Harrison sáng tác "When We Was Fab" viết về thời kỳ Beatlemania và cho vào album Cloud Nine của mình.
Khi những album phòng thu của The Beatles được phát hành dưới dạng CD bởi EMI và Apple Corps vào năm 1987, lưu trữ chính thức của chúng được đồng bộ hóa trên toàn thế giới với 12 LP từng được phát hành tại Anh cộng thêm bản LP tại Mỹ của Magical Mystery Tour (1967). Mọi EP khác không được trở thành album phòng thu của nhóm và các ca khúc được đưa vào album tuyển tập Past Masters (1988). Ngoài 2 Album đỏ và Album xanh, EMI cũng hủy toàn bộ những album tuyển tập khác của The Beatles, trong đó có cả Hollywood Bowl, khỏi lưu trữ của họ.
Năm 1988, The Beatles được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll ngay trong năm đầu tiên mà họ đủ điều kiện để được đề cử. Harrison và Starr thay mặt ban nhạc tới nhận giải thưởng cùng gia đình Lennon bao gồm người vợ góa Yoko Ono và 2 con trai, Julian và Sean. McCartney không có mặt với lý do "quan điểm khác biệt" khiến anh "cảm thấy hoàn toàn đạo đức giả khi phải vẫy tay và mỉm cười trước một đám đông giả tạo". Ngay năm sau, EMI/Capitol bắt đầu vướng vào vụ kiện bởi chính ban nhạc kéo dài cả thập kỷ về vấn đề bản quyền nhằm giải quyết những tranh chấp nhằm bày bán những sản phẩm chưa từng được phát hành của The Beatles.
==== Thập niên 1990 ====
17 năm sau Hollywood Bowl, Live at the BBC, album trình diễn trực tiếp chính thức tiếp theo của The Beatles được phát hành vào năm 1994. Cùng năm, McCartney, Ringo và Harrison cũng bắt tay vào dự án Anthology. Anthology vốn được manh nha từ năm 1970 khi giám đốc của Apple Corps – Neil Aspinall, người từng là trợ lý và quản lý hành trình của ban nhạc – bắt đầu việc tổng hợp những tài liệu về họ dưới tên dự án The Long and Winding Road. Tập trung khai thác những câu chuyện của The Beatles qua lời kể từ từng thành viên, Anthology theo kèm nhiều sản phẩm chưa từng được phát hành. McCartney, Harrison và Starr cũng bổ sung phần chơi bè và hát cho 2 ca khúc dưới dạng demo mà Lennon từng thu vào cuối những năm 1970 và đầu 1980.
Trong những năm 1995-1996, dự án được trình chiếu trên truyền hình trong 8 tập phim, theo kèm là 2 CD-box set được thiết kế bởi Voormann. Cả 2 ca khúc được thực hiện từ bản demo của Lennon, "Free as a Bird" và "Real Love", đều trở thành những đĩa đơn cuối cùng đứng tên The Beatles. Dự án thành công vang dội về mặt thương mại và serie phim truyền hình thu hút được tổng cộng khoảng 400 triệu người xem. "Free as a Bird" được trao Giải Grammy cho Trình diễn song ca hoặc nhóm nhạc pop xuất sắc nhất vào năm 1997. Năm 1999, nhân dịp tái bản bộ phim Yellow Submarine, bản CD soundtrack tổng hợp Yellow Submarine Songtrack cũng được phát hành.
==== Thập niên 2000 ====
Album tuyển tập 1 bao gồm những ca khúc quán quân tại Anh và Mỹ của The Beatles được phát hành vào ngày 13 tháng 11 năm 2000. 1 đạt kỷ lục album bán chạy trong thời gian ngắn nhất mọi thời đại với 3,6 triệu đĩa chỉ trong 1 tuần và 13 triệu đĩa trong tháng đầu tiên. Album đạt vị trí quán quân tại ít nhất 26 quốc gia, trong đó có cả ở Anh và Mỹ. Tính tới tháng 4 năm 2009, album bán được tổng cộng 31 triệu bản, trở thành album bán chạy nhất thập kỷ tại Mỹ.
Harrison qua đời vì bị ung thư phổi di căn vào tháng 11 năm 2001. McCartney và Starr là 2 trong số nhiều nghệ sĩ tham gia vào Concert for George, buổi diễn từ thiện tưởng nhớ tới Harrison được tổ chức bởi gia đình anh cùng Clapton. Sự kiện được tổ chức tại Royal Albert Hall nhân dịp kỷ niệm đúng 1 năm ngày mất của Harrison. Ngoài những ca khúc do anh sáng tác, chương trình còn có sự tham gia trình diễn của dàn nhạc cổ điển Ấn Độ, trình bày và dàn dựng bởi gia đình Ravi Shankar, vốn có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc đời Harrison.
Let It Be... Naked, một ấn bản khác của album Let It Be do McCartney biên tập, được phát hành vào năm 2003. Một trong những điểm khác biệt lớn nhất với ấn bản của Spector đó là việc không còn tồn tại phần bè bởi dàn dây. Album dễ dàng đạt vị trí quán quân tại Anh và Mỹ. Những album của The Beatles từng được phát hành trong giai đoạn 1964-1965 tại Mỹ được tuyển tập lại trong box set The Capitol Albums, Volume 1 (2004) và Volume 2 (2006) bao gồm cả 2 định dạng stereo và mono được chỉnh sửa theo những ấn bản đĩa than dự tính được bày bán tại Mỹ vào thời điểm đó.
Buổi trình diễn về The Beatles bởi Cirque du Soleil tại Las Vegas được George Martin và con trai Giles hoàn thiện thành album soundtrack mang tên Love với sự tham gia của hơn 130 nghệ sĩ mà Martin gọi là "cách để làm sống lại sự nghiệp âm nhạc của The Beatles trong một khoảng thời gian vô cùng cô đọng". Buổi diễn được thực hiện lần đầu vào tháng 6 năm 2006, và album được phát hành vào tháng 11 cùng năm khi McCartney còn thương lượng để cho ra mắt ca khúc "Carnival of Light" – bản thu thử nghiệm dài 14 phút của ban nhạc tại phòng thu Abbey Road vào năm 1967. Một phần trình diễn hiếm có của 2 cựu-Beatle diễn ra vào tháng 4 năm 2009 tại Royal Albert Hall trong khuôn khổ một hoạt động từ thiện của McCartney. Tại đây, Starr đã tới song ca 3 ca khúc.
Năm 2009, toàn bộ lưu trữ của The Beatles được phân phối dưới dạng kỹ thuật số sau quá trình biên tập và chỉnh âm kéo dài tận 4 năm. Cả 12 album chính thức tại Anh dưới định dạng stereo cùng Magical Mystery Tour và album tuyển tập Past Masters được phát hành đồng thời theo ấn bản CD và box set. So sánh với ấn bản CD năm 1987 vốn bị chê bai vì không rõ nét và sinh động, cây viết Danny Eccleston của tờ Mojo nhận xét: "Phần hát trở nên trong trẻo hơn, nhiều âm thanh tự nhiên hơn và tạo cảm giác nhiều đầu tư trong kỹ thuật trộn âm hơn." Tuyển tập tiếp theo The Beatles in Mono ra mắt bao gồm định dạng mono của từng album của ban nhạc cùng với bản stereo gốc năm 1965 của Help! và Rubber Soul (Martin sau này có chỉnh sửa vào năm 1987). The Beatles: Rock Band, một phần trong serie trò chơi điện tử Rock Band, cũng được ra mắt cùng ngày. Tháng 12 năm 2009, lưu trữ của ban nhạc được phát hành dưới định dạng FLAC và MP3 song giới hạn với 30.000 USB.
==== Thập niên 2010 ====
Vì những bất đồng về bản quyền kéo dài, The Beatles là một trong số những nghệ sĩ tên tuổi cuối cùng ký kết phân phối nhạc trực tuyến. Những tranh chấp bắt nguồn từ vụ kiện của Apple Corps với Apple Inc. – chủ sở hữu của iTunes – về việc sử dụng thương hiệu "Apple". Tới năm 2008, McCartney tuyên bố rằng trở ngại lớn nhất khiến lưu trữ của ban nhạc không thể có được định dạng kỹ thuật số là do EMI "còn muốn một thứ gì đó nữa từ chúng tôi". Năm 2010, toàn bộ 13 album phòng thu chính thức của The Beatles, cùng các album tuyển tập Past Masters, Album đỏ và Album xanh cuối cùng cũng được xuất hiện trên hệ thống phân phối của iTunes.
Năm 2012, tập đoàn Universal Music Group của Mỹ mua lại hãng đĩa EMI. Theo những điều luật ràng buộc, Liên minh châu Âu, vì những lý do chống độc quyền, đã buộc EMI phải giữ lại những lưu trữ quý giá, trong đó có Parlophone. EMI được phép giữ lại toàn bộ lưu trữ của The Beatles dưới tên hãng đĩa mới Capitol Records – một chi nhánh mới tại Anh của Universal. Cũng trong năm 2012, EMI cũng cho tái bản toàn bộ các album của ban nhạc dưới dạng đĩa than cũng như từng album dưới dạng box set.
Tới tháng 12 năm 2013, 59 bản thu khác của The Beatles được phát hành trên iTunes. Ấn phẩm mang tên The Beatles Bootleg Recordings 1963 được phép chia sẻ bản quyền tới tận 70 năm tiếp theo với điều kiện các ca khúc đều được giới thiệu ít nhất 1 lần cho tới cuối năm 2013. Apple Records cho phát hành sản phẩm này vào ngày 17 tháng 12 nhằm tránh việc bị phát tán miễn phí rồi bị gỡ trong cùng ngày trên iTunes. Người hâm mộ phản ứng khá trái chiều, và một blogger bình luận "một sản phẩm tuyệt hảo của The Beatles nhằm cố gắng giành lấy tất cả những gì mà vốn họ đã có hết rồi."
Ngày 26 tháng 1 năm 2014, McCartney và Starr cùng nhau trình diễn ca khúc "Queenie Eye" tại Giải Grammy lần thứ 56. Ngày hôm sau, chương trình truyền hình đặc biệt The Night That Changed America: A Grammy Salute to The Beatles được thực hiện tại nhà hát Ed Sullivan Theater nơi ban nhạc có lần xuất hiện đầu tiên trên truyền hình Mỹ vào năm 1964. Chương trình được lên sóng đúng ngày kỷ niệm 9 tháng 2 trên cùng kênh truyền hình giống 50 năm trước. Chương trình có phần hát lại các ca khúc của The Beatles bởi các nghệ sĩ đương thời, ngoài ra McCartney và Starr còn tham gia trò chuyện với David Letterman.
== Quan điểm âm nhạc ==
Trong cuốn Icons of Rock: An Encyclopedia of the Legends Who Changed Music Forever, Scott Schinder và Andy Schwartz viết về sự phát triển âm nhạc của The Beatles:
"Từ hình ảnh thuở ban đầu hồn nhiên của những chàng trai bù xù dí dỏm, The Beatles đã phát triển âm thanh, phong cách và cả thái độ trên sân khấu cũng như mở tung cánh cửa rock 'n' roll cho nhạc rock nước Anh. Những thành công ban đầu đã quá đủ để biến họ trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của thời đại, song họ không muốn dừng lại ở đó. Cho dù phong cách ban đầu của họ là vô cùng cơ bản, dung hòa được nhạc rock 'n' roll Mỹ nguyên thủy với nhạc R&B, song The Beatles đã dành hầu hết quãng thời gian còn lại của thập kỷ 1960 để phá vỡ mọi giới hạn của nhạc rock, đem tới những phong cách mới trong mỗi album. Những thử nghiệm ngày một phức tạp của ban nhạc đã được tạo nên từ vô số thể loại khác nhau, từ folk rock, nhạc đồng quê, psychedelic rock cho tới baroque pop mà không có chút liên hệ mật thiết nào với thời kỳ đầu của họ."
Trong cuốn The Beatles as Musicians, Walter Everett viết về sự cạnh tranh và đối lập giữa Lennon và McCartney trong những sáng tác của ban nhạc: "Có thể nói McCartney đã trưởng thành không ngừng – theo ý nghĩa giải trí – trong hình ảnh người nhạc sĩ tài năng với đôi tai đối âm hoàn hảo cùng nhiều khía cạnh khác của những ngón nghề từng được tất cả mọi người thừa nhận – thứ ngôn ngữ chung mà anh vô cùng chú trọng. Trái lại, âm nhạc của Lennon được đánh giá cao trong việc táo bạo sản xuất những tiềm thức lớn lao, tìm kiếm những xúc cảm nghệ thuật rất hệ thống."
Ian MacDonald miêu tả McCartney là "một người viết nhạc bẩm sinh – người tạo ra những âm thanh sống động cùng những hòa âm của chúng". Những giai điệu của McCartney thường đặc trưng bởi sự nổi bật của "trục dọc" cùng với đó là những quãng rộng, du dương nhằm diễn đạt "năng lượng và sự lạc quan ngoại hướng". Trong khi đó, "bản lĩnh vững vàng và đầy châm biếm" của Lennon là hình ảnh của "trục ngang" với những quãng nhỏ và nghịch tai cùng với đó là những giai điệu lặp theo kèm với thứ nhạc đệm mà anh luôn chú trọng: "Vốn là một người thực tế, anh ấy luôn giữ giai điệu của mình theo sát với nhịp điệu và phách, bổ sung vào ca từ những yếu tố blues hơn là sáng tạo ra những nốt có thể khiến người khác sửng sốt." MacDonald cũng đánh giá cao vai trò lead guitar của Harrison với "những nốt đặc trưng cùng chất liệu đầy màu sắc" bên cạnh những đóng góp của Lennon và McCartney, đồng thời gọi Starr là "hình mẫu của mọi tay trống pop/rock hiện đại".
=== Ảnh hưởng ===
Những người sớm có ảnh hưởng tới ban nhạc bao gồm Elvis Presley, Carl Perkins, Little Richard và Chuck Berry. Trong thời gian The Beatles ở cùng Little Richard tại câu lạc bộ Star-Club ở Hamburg từ tháng 4 tới tháng 5 năm 1962, họ đã được chỉ dẫn nhiều kỹ năng về nghệ thuật trình diễn. Về Presley, Lennon nói: "Chưa có gì thu hút tôi cho tới khi tôi được nghe Elvis. Nếu không có Elvis, hẳn sẽ không bao giờ có The Beatles."
Những nghệ sĩ lớn khác có ảnh hưởng tới ban nhạc còn có thể kể tới Buddy Holly, Eddie Cochran, Roy Orbison và The Everly Brothers. The Beatles tiếp tục thu nhận những ảnh hướng khác ngay từ những thành công đầu tiên của họ, cùng với đó là thường xuyên tham khảo nhiều hình mẫu về ca từ và âm nhạc từ các nghệ sĩ đương thời, bao gồm Bob Dylan, Frank Zappa, The Lovin' Spoonful, The Byrds và The Beach Boys, đặc biệt album Pet Sounds (1966) đã làm choáng ngợp và tạo cảm hứng lớn lao cho McCartney. Martin nhấn mạnh: "Nếu không có Pet Sounds thì sẽ không bao giờ có Sgt. Pepper... Pepper sinh ra là để đáp lại Pet Sounds." Ravi Shankar từng trải qua 6 tuần cùng Harrison tại Ấn Độ vào cuối năm 1966, và kể từ đó tạo nên những ảnh hưởng rõ ràng lên tư duy và sự phát triển âm nhạc của The Beatles.
=== Phong cách ===
Xuất phát điểm là một nhóm nhạc skiffle, The Beatles dễ dàng thu nhận những tinh hoa của nhạc rock 'n' roll thập niên 1950 và Merseybeat (sau này trở thành phong cách chủ đạo của nhóm), rồi sau đó họ mở rộng khả năng trình diễn của mình ra nhiều phong cách đa dạng khác nhau. Lennon nói về việc này trong buổi ra mắt album Beatles For Sale: "Bạn có thể nói album mới của chúng tôi là một bản LP đồng-quê-phương-Tây", trong khi Gould gọi Rubber Soul là "thứ phương tiện đã giúp những gã cuồng nhạc folk có thể tiếp cận được với nhạc pop".
Cho dù "Yesterday" không phải là ca khúc pop đầu tiên sử dụng dàn nhạc dây, song nó lại đánh dấu việc lần đầu tiên ban nhạc sử dụng những nhạc cụ cổ điển trong sáng tác của mình. Gould nhận xét: "Thứ âm thanh truyền thống hơn của dàn dây đã cho phép người nghe đánh giá một cách hoàn toàn mới trong tư cách người viết nhạc vốn đã dị ứng lâu ngày bởi tiếng trống đều đều và tiếng guitar điện." Họ tiếp tục những thử nghiệm với dàn dây qua nhiều hiệu ứng khác: ca khúc "She's Leaving Home" đã "tổng hợp được phong cách ballad tình cảm từ thời Victoria", Gould viết, "âm nhạc và ca từ chính là khuôn mẫu của melodrama".
Việc mở rộng phong cách của họ tiếp tục đi theo con đường mới với đĩa đơn mặt B "Rain" (1966) mà Martin Strong miêu tả "ca khúc psychedelic rõ ràng đầu tiên của The Beatles". Rất nhiều ca khúc của thể loại này đã được thực hiện sau đó, bao gồm "Tomorrow Never Knows", "Strawberry Fields Forever", "Lucy in the Sky with Diamonds" và "I Am the Walrus". Ảnh hưởng của âm nhạc Ấn Độ đã được thể hiện rõ ràng trong các sáng tác của Harrison bao gồm "The Inner Light", "Love You To" và "Within You Without You" mà 2 ca khúc sau được Gould gọi là "minh họa của raga trong một sản phẩm thu nhỏ".
Cải tiến chính là một trong những nét đặc trưng nhất trong quá trình phát triển của ban nhạc. Nhà nghiên cứu âm nhạc Michael Campbell bình luận: ""A Day in the Life" đã đúc kết nghệ thuật và những thành tựu của The Beatles trong một đĩa đơn. Điểm sáng nằm trong âm nhạc tuyệt hảo của họ: những âm thành giàu hình tượng, sự du dương của giai điệu ngọt ngào và sự phối hợp chặt chẽ giữa âm nhạc và ca từ. Ca khúc đã trở thành một biểu tượng mới – phức tạp hơn nhạc pop thông thường... và hoàn toàn tân tiến. Chưa bao giờ tồn tại một sản phẩm như vậy – vừa đặc trưng vừa kết hợp âm nhạc cổ điển – mà họ đã tổng hợp lại từ rất nhiều yếu tố đa dạng." Nhà nghiên cứu triết học Bruce Ellis Benson cũng đồng ý: "The Beatles... đã đem tới cho chúng ta ví dụ về những hình tượng có ảnh hưởng nhất như âm nhạc Celtic, R&B, âm nhạc đồng quê và cả âm nhạc phương Đông đều có thể dung hòa với nhau và tự trở thành một con đường hoàn toàn mới."
Cây bút Dominic Pedler viết về cách The Beatles đi xa hơn những thể loại âm nhạc thông thường: "Hơn cả việc đi từ thể loại này sang thể loại khác (mà đôi lúc bị nhầm lẫn), ban nhạc vẫn giữ nguyên trong mình sự bí ẩn âm nhạc đặc trưng, tạo nên những bản hit cùng lúc với việc nâng cấp nhạc rock và lục tìm những giới hạn rộng lớn kể cả từ những yếu tố ngoại vi như nhạc đồng quê và vaudeville. Một trong những bước tiến của họ là vẫn sử dụng folk rock như phần nền cho âm nhạc của mình bên cạnh âm nhạc Ấn Độ và cả triết học." Khi mối bất đồng giữa các thành viên ngày một gia tăng, sự khác biệt cá nhân lại ngày một rõ rệt. Phần bìa thiết kế tối giản của Album trắng hoàn toàn đối lập với sự phức tạp và đa dạng của phần nội dung âm nhạc, điển hình là ca khúc "Revolution 9" của Lennon được viết theo phong cách musique concrète ảnh hưởng từ Yoko Ono, "Don't Pass Me By" của Starr được viết theo phong cách đồng quê, "While My Guitar Gently Weeps" của Harrison mang phong cách rock ballad còn "Helter Skelter" của McCartney được coi là tiền thân của heavy metal.
=== Vai trò của George Martin ===
Ảnh hưởng của George Martin trong vai trò nhà sản xuất đã đưa ông trở thành một trong những nhân vật xứng đáng nhất với tên gọi "Beatle thứ năm". Ông đã đem tới niềm đam mê âm nhạc cổ điển qua nhiều hình thức khác nhau, biến mình trở thành "một thầy giáo dạy nhạc" qua việc tham gia vào công việc viết nhạc. Chính Martin là người đã gợi ý với McCartney việc sử dụng dàn tứ tấu dây làm phần bè cho ca khúc "Yesterday", từ đó giới thiệu với The Beatles "thế giới bất ngờ và rộng lớn của những nhạc cụ cổ điển đầy màu sắc". Sức sáng tạo của ban nhạc cũng nhận được sự ủng hộ lớn từ Martin khi ông dám đề nghị thử nghiệm với mọi ý kiến của họ, điển hình là việc cho thêm "chút baroque" vào nhiều ca khúc. Ngoài việc hòa âm và chỉ huy dàn nhạc, Martin đôi lúc còn tham gia thu âm cùng ban nhạc khi chơi piano, organ và cả kèn hơi.
Làm việc với Lennon và McCartney đòi hỏi Martin phải thích ứng được những quan điểm âm nhạc khác nhau của họ trong sáng tác cũng như thu âm. MacDonald bình luận: "Trong khi [ông ấy] làm việc tự nhiên hơn với một McCartney mềm mỏng thì thách thức trong việc đáp ứng những trực giác nhạy bén của Lennon lại giúp ông dồn nhiều tâm trí cho phần hòa âm mà trong đó ca khúc "Being for the Benefit of Mr. Kite!" là một ví dụ điển hình." Martin cũng nói về phong cách viết nhạc khác nhau của bộ đôi và ảnh hưởng lớn từ cá nhân ông:
"So với những ca khúc của Paul vốn được viết ít nhiều liên quan tới thực tế, các ca khúc của John mang tính phiêu diêu và nhiều yếu tố bí ẩn hơn... Khả năng tưởng tượng chính là điểm nổi bật trong các sáng tác của John – "những cây quýt", "bầu trời màu mứt cam", "những bông hoa bằng giấy bóng kính",... Tôi cứ nghĩ rằng cậu ấy là Salvador Dalí trong hình hài một nhạc sĩ phong lưu - nghiện thuốc. Mặt khác, tôi không thể nói rằng các chất kích thích không có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của các Beatle... họ biết rằng tôi – một người được học hành đầy đủ – sẽ không bao giờ đồng tình... Không những tôi không thử dùng những thứ đó, tự tôi thấy mình không cần tới chúng. Và tôi cũng không ngần ngại nói rằng nếu như tôi từng sử dụng ma túy thì Pepper sẽ không bao giờ được như vậy. Có lẽ sự cộng hưởng giữa những tay nghiện thuốc và những người không dùng chúng chính là chìa khóa của thành công, liệu có ai dám chắc?"
Harrison cũng tôn vinh vai trò trong phòng thu của Martin: "Tôi nghĩ chúng tôi đã cùng nhau trưởng thành suốt quãng thời gian đó, ông ấy là một người đường hoàng còn chúng tôi thì như lũ điên. Nhưng ông ấy lại luôn ở bên để giúp chúng tôi hiểu hơn về sự điên rồ của mình – chúng tôi vẫn thường thử nghiệm avant-garde vài ngày mỗi tuần, và ông ấy có mặt như người đáng tin cậy nhất để diễn đạt trực tiếp tới kỹ thuật viên và với băng thâu."
=== Phòng thu ===
Nhận thức rằng cải tiến kỹ thuật phòng thu cũng là giúp mở rộng chất lượng thu âm, The Beatles đã tận dụng triệt để kinh nghiệm từ George Martin và đội ngũ kỹ thuật viên của ông. Luôn hướng tới việc tận dụng mọi cơ hội để sáng tạo, từ cách chơi guitar ngược, dội âm theo nguyên tắc chai thủy tinh, thu âm băng ngược để có đoạn chơi ngược,... tất cả đều có trong những sản phẩm thu âm của họ. Niềm đam mê tạo nên những âm thanh mới trong mỗi bản thu cùng với khả năng hòa âm tuyệt vời của Martin cùng với tài năng của các kỹ thuật viên kinh nghiệm của EMI như Norman Smith, Ken Townsend và Geoff Emerick, đã tạo nên những ấn tượng vô cùng đặc trưng kể từ Rubber Soul, và có lẽ rõ ràng hơn, kể từ Revolver. Cùng với những cải tiến về kỹ thuật thu âm và hiệu ứng âm thanh, những vị trí đặt micro bất bình thường, băng thâu, ghi âm đè và thay đổi tốc độ băng thâu, The Beatles cũng đưa vào nhiều nhạc cụ chưa từng được sử dụng với nhạc rock vào thời điểm đó. Những nhạc cụ kể trên bao gồm dàn dây và dàn hơi cùng những nhạc cụ Ấn Độ như sitar trong "Norwegian Wood" và swarmandal trong "Strawberry Fields Forever". Họ cũng sử dụng nhiều nhạc cụ điện mới như mellotron mà McCartney chơi trong phần mở đầu của "Strawberry Fields", hay chiếc clavioline – chiếc keyboard đặc biệt đã tạo nên hiệu ứng như kèn ô-boa trong "Baby, You're a Rich Man".
== Tôn vinh ==
Cựu cộng tác viên của tờ Rolling Stone, Robert Greenfield, so sánh The Beatles với danh họa Pablo Picasso "người nghệ sĩ dám phá vỡ những quy tắc của thời kỳ của mình để đi tới một thứ độc nhất và căn nguyên... Đối với âm nhạc quần chúng, không thể có điều gì có thể cách mạng hơn, sáng tạo hơn, riêng biệt hơn..." Họ không chỉ mở ra thời kỳ British Invasion ở Mỹ, họ còn trở thành hiện tượng nổi tiếng toàn cầu.
Những cải tiến của ban nhạc đã tạo nên niềm cảm hứng cho vô vàn nghệ sĩ trên toàn thế giới. Rất nhiều nghệ sĩ đã tiếp nhận ảnh hưởng từ The Beatles và có được những thành công tại các bảng xếp hạng khi hát lại các ca khúc của ban nhạc. Trên sóng phát thanh, sự xuất hiện của họ đánh dấu một thời kỳ mới; năm 1968, phát thanh viên đài WABC ở New York từng cấm DJ cho phát bất cứ ca khúc nào "tiền-Beatles". Họ cũng góp phần định nghĩa lại album là một khối thống nhất chứ không phải là các bản hit theo kèm là những ca khúc "lấp chỗ trống", và họ cũng là những người đầu tiên cách tân các video ca nhạc. Buổi diễn của ban nhạc tại sân vận động Shea Stadium mở màn tour diễn vòng quanh nước Mỹ năm 1965 thu hút 55.600 khán giả và đây chính là buổi diễn ngoài trời lớn nhất lịch sử. Spitz miêu tả sự kiện này "một cơn địa chấn... một bước tiến khổng lồ trong việc định hình lại khái niệm buổi trình diễn thương mại". Trang phục và đặc biệt kiểu tóc của họ – thứ vốn trở thành biểu tượng của phong trào giải phóng xã hội – có ảnh hưởng toàn cầu về mặt thời trang.
Theo Gould, The Beatles đã thay đổi cách người nghe thưởng thức âm nhạc quần chúng, mặt khác đưa nó vào cuộc sống chính mình. Kể từ thời kỳ Beatlemania, sự nổi tiếng của ban nhạc đã trở thành hiện thân của những chuyển biến văn hóa xã hội của thập kỷ. Là biểu tượng của phong trào phản văn hóa thập niên 1960, họ chính là chất xúc tác đưa những người phóng túng tự do và những nhà hoạt động xã hội tới những chủ đề tranh luận đa dạng, thúc đẩy những hoạt động như phong trào giải phóng phụ nữ, phong trào giải phóng người đồng tính và bảo vệ môi trường. Theo Peter Lavezzoli, sau sự kiện gây tranh cãi "nổi tiếng hơn cả Chúa Jesus" vào năm 1966, The Beatles đã cảm thấy áp lực hơn trước mỗi phát ngôn của mình và "bắt đầu những cố gắng đầy toan tính mỗi khi truyền đạt một thông điệp về sự thông thái hay về kiến thức sâu xa."
== Giải thưởng và thành tựu ==
Năm 1965, nữ hoàng Elizabeth II đã trao tặng tước hiệu Thành viên Hoàng gia Anh (MBE) cho ban nhạc. Bộ phim Let It Be cũng giành tượng vàng Oscar năm 1971 cho Nhạc phim xuất sắc nhất. Ngoài 7 giải Grammy và 15 giải Ivor Novello, The Beatles còn có 6 album đạt chứng chỉ Kim cương, 24 album đạt chứng chỉ đa-Bạch kim, 39 album đạt chứng chỉ Bạch kim và 45 album đạt chứng chỉ Vàng tại Mỹ. Tại Anh, ban nhạc có 4 album đa-Bạch kim, 4 album Bạch kim, 8 album Vàng và 1 album Bạc. Họ được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 1998.
Với ít nhất 600 triệu đĩa đã bán, The Beatles là ban nhạc có số đĩa bán chạy nhất lịch sử (theo EMI, con số này là 1 tỷ). Họ cũng là nghệ sĩ có nhiều album quán quân nhất tại Anh (với 15 album) và bán được tổng cộng 21,9 triệu đĩa đơn, nhiều hơn bất kể nghệ sĩ nào khác. Năm 2004, tạp chí danh giá Rolling Stone xếp The Beatles là nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại. Năm 2008, họ cũng có được vị trí số một trong danh sách nghệ sĩ thành công nhất tại Billboard Hot 100 nhân dịp kỷ niệm 50 năm ra đời của bảng xếp hạng. Tính tới năm 2012, họ chính là nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn quán quân nhất tại bảng xếp hạng trên với 20 đĩa đơn. RIAA chứng nhận The Beatles bán được 117 triệu đĩa tại Mỹ, nhiều hơn bất kể nghệ sĩ nào khác. Họ cũng được có tên trong danh sách "Nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ 20" của tạp chí Time. Năm 2014, The Beatles được trao giải Grammy Thành tựu trọn đời.
== Danh sách đĩa nhạc ==
LP gốc phát hành tại Anh
Please Please Me (1963)
With the Beatles (1963)
A Hard Day's Night (1964)
Beatles for Sale (1964)
Help! (1965)
Rubber Soul (1965)
Revolver (1966)
Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band (1967)
The Beatles (1968)
Yellow Submarine (1969)
Abbey Road (1969)
Let It Be (1970)
Cần xem thêm EP Long Tall Sally (1964) và EP-kép Magical Mystery Tour (1967) vốn không nằm trong danh sách EP gốc tại Anh. Khi 2 sản phẩm trên được tái bản dưới định dạng CD, ấn bản tại Mỹ của Magical Mystery Tour cũng được tái bản toàn bộ và album tuyển tập Past Masters cũng được phát hành, vậy nên tất cả các ca khúc của The Beatles đều có thể được tìm thấy dưới định dạng CD.
Bổ sung
Danh sách đĩa nhạc của John Lennon
Danh sách đĩa nhạc của Paul McCartney
Danh sách đĩa nhạc của George Harrison
Danh sách đĩa nhạc của Ringo Starr
== Tác quyền ca khúc ==
Tới năm 1969, lưu trữ của The Beatles hầu hết thuộc về Northern Songs – một công ty được thành lập bởi Dick James để bảo vệ tác quyền của Lennon và McCartney, rồi sau đó của nhiều nghệ sĩ khác. Công ty được quản lý bởi James và Emmanuel Silver, toàn quyền về lợi nhuận với hơn 50% đóng góp cổ phần. McCartney được 20% lợi nhuận, Lennon 19-20% còn Epstein được 9-10% trong khi bình thường anh vẫn được nhận 25% kèm công tác phí.
Năm 1965, công ty không còn thuộc quyền sở hữu tư nhân nữa. Gần 5 triệu cổ phiếu được niêm yết với mệnh giá tổng cộng tới 3,75 triệu $. James và Silver sở hữu 935.000 cổ phiếu, Lennon và McCartney sở hữu lần lượt 750.000 cổ phiếu còn công ty của Epstein – NEMS – được nhận 375.000 cổ phiếu. Trong số 1,25 triệu cổ phiếu còn lại, Starr và Harrison chỉ nhận lần lượt 40.000 cổ phiếu. Cùng lúc công ty được đưa lên sàn chứng khoán, Lennon và McCartney cũng ký hợp đồng mới có thời hạn 3 năm ràng buộc họ với Northern Songs tới năm 1973.
Harrison thành lập công ty Harrisongs nhằm giới thiệu những sáng tác của mình trong thời kỳ The Beatles, nhưng rồi sau đó cũng ký hợp đồng với Northern Songs để chia sẻ bản quyền cho tới tháng 3 năm 1968, bao gồm cả những ca khúc như "Taxman", "Within You Without You". Những ca khúc đồng sáng tác bởi Starr trước năm 1968 như "What Goes On" và "Flying" cũng thuộc quyền sở hữu của Northern Songs. Harrison không ký hợp đồng mới với Northern Songs mà ký hợp đồng với Apple Corps nhằm giúp anh giữ được bản quyền tất cả các sáng tác của mình. Kể từ đó, Harrison đã không mất bản quyền cho những sáng tác sau này cho The Beatles như "While My Guitar Gently Weeps" và "Something". Cùng năm, Starr thành lập công ty Startling Music nhằm giữ bản quyền cho các sáng tác của mình như "Don't Pass Me By" và "Octopus's Garden".
Tháng 3 năm 1969, James bí mật thu xếp bán cổ phần của mình và Silver cho hãng truyền hình Anh quốc Associated Television (ATV) được thành lập bởi Lew Grade mà không thông báo cho The Beatles. Ban nhạc buộc phải thương thảo để dành lấy tác quyền qua việc đưa ra đề nghị rằng hãng truyền hình có trụ sở ở London được quyền nắm 14% lợi nhuận. Tuy nhiên, điều khoản này bị từ chối bởi Lennon khi anh tuyên bố "tôi phát ốm vì mấy gã ăn mặc bảnh bao béo mập ngồi ở văn phòng trên Thành phố". Tới cuối tháng 5, ATV đã có được phần lớn sản phẩm của Northern Songs, kiểm soát hầu hết các lưu trữ của Lennon-McCartney cũng như những sáng tác cho tới năm 1973. Quá thất vọng, cả Lennon và McCartney đều bán hết cổ phiếu của mình cho ATV vào cuối tháng 10 năm 1969.
Năm 1981, ACC – công ty mẹ của ATV – làm ăn thua lỗ, buộc họ phải rao bán mảng âm nhạc của mình. Theo 2 tác giả Brian Southall và Rupert Perry, Grade đã liên lạc với McCartney đề nghị bán ATV và Northern Songs với giá 30 triệu $. Theo lời McCartney kể lại vào năm 1995, anh đã gặp Grade và giải thích mình chỉ quan tâm duy nhất tới Northern Songs vậy nên anh chỉ mua lại nếu Grade chịu "phân tách" lời đề nghị. Không lâu sau, Grade rao bán Northern Songs với giá 20 triệu £ và cho các cựu-Beatles "1 tuần để suy nghĩ". Theo McCartney, anh và Ono có đề nghị với giá 5 triệu £ song bị từ chối. Theo nhiều nguồn vào thời điểm đó, Grade sau đó từ chối lời đề nghị mua Northern Songs rồi cũng từ chối lời mua lại ATV Music từ Ono và McCartney với giá 21-25 triệu £. Năm 1982, ACC được mua lại bởi doanh nhân người Úc, Robert Holmes à Court, với giá 60 triệu £.
3 năm sau, Michael Jackson mua lại ATV với giá 47,5 triệu $. Thương vụ giúp anh kiểm soát toàn bộ hơn 200 ca khúc của The Beatles, cùng với đó là hơn 40.000 hợp đồng bản quyền. Năm 1995, Jackson sát nhập công ty với Sony để thành lập nên công ty phát hành Sony/ATV Music Publishing mà anh nắm giữ 50% cổ phần. Công ty mới này được định giá tới hơn nửa tỷ $ và trở thành hãng quản lý âm nhạc lớn thứ 3 thế giới.
Cho dù bị mất tác quyền của phần lớn những sáng tác, song những người thừa kế hợp pháp của Lennon và bản thân McCartney vẫn được nhận % theo luật bản quyền, giúp họ có được 33⅓% doanh thu từ Mỹ và 50-55% doanh thu trên toàn thế giới. 2 ca khúc đầu tiên của Lennon-McCartney, "Love Me Do" và "P.S. I Love You", được phát hành bởi công ty con của EMI – Ardmore & Beechwood – trước khi họ ký hợp đồng với James. McCartney mua lại Ardmore vào giữa những năm 1980, và đây trở thành 2 ca khúc duy nhất của The Beatles thuộc quyền sở hữu của công ty MPL Communications của McCartney.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
Tài liệu khác
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
FBI — The Beatles Tài liệu của FBI về The Beatles
The Hugo Keesing Collection on The Beatles – Tuyển tập chọn lọc về nghệ thuật trình diễn, Đại học Maryland
The Beatles (British rock group) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) |
liên minh bưu chính quốc tế.txt | Liên minh Bưu chính Quốc tế hay Liên hiệp Bưu chính Quốc tế (tiếng Anh: Universal Postal Union hay viết tắt UPU, tiếng Pháp: Union postale universelle) là một Tổ chức Quốc tế điều hợp các chính sách bưu chính giữa các quốc gia thành viên và hệ thống bưu chính toàn cầu. Liên hiệp Bưu chính có bốn cơ quan gồm Hội đồng khoáng đại, Hội đồng quản trị, Hội đồng Điều hành Bưu chính, và Nha Quốc tế. Liên hiệp Bưu chính cũng đảm nhiệm việc giám sát Dịch vụ Bưu vụ tốc hành. Mỗi thành viên trong liên minh thỏa thuận dùng chung một bộ luật đồng nhất cho các chức năng bưu chính quốc tế. Trụ sở của Liên hiệp Bưu chính Quốc tế đặt ở Bern, Thụy Sĩ.
== Tổng quan ==
Trước khi thành lập Liên minh Bưu chính Quốc tế, một quốc gia phải ký một hiệp ước bưu chính riêng biệt với mỗi quốc gia khác mà mình muốn chuyển thư quốc tế đi và về. Hoa Kỳ đã kêu gọi cho một hội nghị bưu chính quốc tế mà sau đó được tổ chức vào năm 1863. Việc này dẫn đến việc Heinrich von Stephan, thuộc hoàng gia Vương quốc Phổ và sau này là Bộ trưởng Bưu điện Đức thành lập Liên minh Bưu chính Quốc tế, tổ chức quốc tế xưa hạng ba (sau Ủy ban Trung ương đặc trách Giao thông trên sông Rhine và Liên minh Viễn thống Quốc tế). Nó được thành lập vào năm 1874 dưới tên gọi "Liên minh Tổng Bưu chính" (General Postal Union) khi Hiệp ước Berne được ký kết vào ngày 9 tháng 10 năm 1874. Năm 1878, tên được đổi thành "Liên minh Bưu chính Quốc tế".
Liên minh Bưu chính Quốc tế xác định rằng:
nên có giá nhất định ít hoặc nhiều đồng bộ hơn cho thư gởi đi khắp nơi trên thế giới;
các thẩm quyền bưu chính nên đối xử công bằng đối với thư quốc tế và quốc nội; và
mỗi quốc gia nên giữ lại tất cả số tiền thu được qua việc bán tem quốc tế.
Một trong những kết quả quan trọng nhất của hiệp ước Liên minh Bưu chính Quốc tế là chấm dứt sự cần thiết như đã từng như thế trước đây đòi hỏi phải gắn tem thư của bất cứ quốc gia nào mà thư từ hay bưu kiện sẽ được trung chuyển qua; Liên minh Bưu chính Quốc tế nói rằng tem của các quốc gia thành viên đều được chấp nhận suốt đường vận chuyển quốc tế.
Sau khi Liên Hiệp Quốc được thành lập, Liên minh Bưu chính Quốc tế trở thành một cơ quan đặc trách của Liên Hiệp Quốc.
Năm 1969 Liên minh Bưu chính Quốc tế giới thiệu một hệ thống trả tiền mới mà theo đó cước phí có thể được trả giữa các quốc gia dựa theo sự sai khác tổng trọng lượng thư giữa các quốc gia tương ứng. Hệ thống mới này công bằng hơn đối với lưu lượng thư mỗi ngày theo chiều này nhiều hơn chiều ngược lại. Khi việc này làm ảnh hưởng đến chi phí giao các tạp chí, Liên minh Bưu chính Quốc tế thảo ra một hệ thống "hạn ngạch" mới, được sử dụng năm 1991.
Hệ thống đặt ra cước phí dành cho thư từ và tạp chí riêng biệt cho các quốc gia nào nhận ít nhất 150 tấn thư hàng năm. Đối với các quốc gia có ít thư, cưới phí nhất định ban đầu vẫn giữ nguyên. Hoa Kỳ có thương thảo riêng với 13 quốc gia châu Âu về cách thức tính tiền cước phí tại nơi thư đến mà bao gồm có giá từng thư cộng giá từng ký, và cũng có đồng ý tương tự với Canada. Liên minh Bưu chính Quốc tế cũng có điều hành hệ thống địa chỉ và tem thư hồi đáp quốc tế qua Văn phòng Hoán đổi Liên lãnh thổ (Extraterritorial Office of Exchange).
=== Các hoạt động nghiên cứu và phát hành tem ===
Liên minh Bưu chính Quốc tế, cùng với Hội Phát triển Nghiên cứu và Phát hành tem Thế giới (WADP), đã phát triển hệ thống mã số của hội, gọi tắt là "WNS", được khởi sự vào tháng 1 năm 2002. Trang web của hội (www.wnsstamps.ch/en/) có chỗ điền vào dành cho 160 quốc gia và các vùng lãnh thổ với trên 25.000 tem thư đã được đăng ký từ năm 2002. Nhiều trong số có hình ảnh mà thông thường có bản quyền của quốc gia phát hành nhưng cả Liên minh Bưu chính Quốc tế và Hội cho phép tải trực tuyến.
== Các tiêu chuẩn đặt ra của Liên minh Bưu chính Quốc tế ==
Các tiêu chuẩn là những nhân tố quan trọng trước tiên đối với các hoạt động bưu chính hữu hiệu cũng như liên kết hệ thống toàn cầu. Ban đặc trách tiêu chuẩn của Liên minh Bưu chính Quốc tế phát triển và duy trì một con số càng gia tăng các tiểu chuẩn quốc tế để cải thiện sự hoán đổi thông tin có liên quan đến bưu chính giữa các cơ quan bưu chính khắp nơi và cổ vỏ cho tính tương đối đồng bộ các sáng kiến bưu chính quốc tế và Liên minh Bưu chính Quốc tế. Ban này làm việc với các tổ chức vận chuyển bưu chính, khách hàng, các nhà cung cấp vật liệu, và những người hợp tác khác trong đó có vô số các tổ chức quốc tế khác nhau. Ban đặc trách tiêu chuẩn muốn chắc chắn rằng các tiêu chuẩn mạch lạc này được phát triển trong các lãnh vực như Hệ thống Hoán đổi Dữ liệu Điện tử (Electronic Data Interchange), mã hóa thư từ, các phiếu điền bưu chính. Các tiêu chuẩn của Liên minh Bưu chính Quốc tế được thảo ra theo các quy định có nói trong Phần V của "Thông tin tổng quát về các tiêu chuẩn của UPU" và được Văn phòng Quốc tế của UPU phát hành theo đúng quy định ghi trong Phần VII.
== Các hội nghị của Liên minh Bưu chính Quốc tế ==
Hội nghị thứ 1: 1874 tại Bern, Thụy Sĩ
Hội nghị thứ 2: 1878 tại Paris, Pháp
Hội nghị thứ 3: 1885 tại Lisbon, Bồ Đào Nha
Hội nghị thứ 4: 1891 tại Viên, Áo-Hungary
Hội nghị thứ 5: 1897 tại Washington, DC, Hoa Kỳ
Hội nghị thứ 6: 1906 tại Roma, Ý
Hội nghị thứ 7: 1920 tại Madrid, Tây Ban Nha
Hội nghị thứ 8: 1924 tại Stockholm, Thụy Điển
Hội nghị thứ 9: 1929 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh
Hội nghị thứ 10: 1934 tại Cairo, Ai Cập
Hội nghị thứ 11: 1939 tại Buenos Aires, Argentina
Hội nghị thứ 12: 1947 tại Paris, Pháp
Hội nghị thứ 13: 1952 tại Bruxelles, Bỉ
Hội nghị thứ 14: 1957 tại Ottawa, Canada
Hội nghị thứ 15: 1964 tại Viên, Úc
Hội nghị thứ 16: 1969 tại Tokyo, Nhật Bản
Hội nghị thứ 17: 1974 tại Lausanne, Thụy Sĩ
Hội nghị thứ 18: 1979 tại Rio de Janeiro, Brasil
Hội nghị thứ 19: 1984 tại Hamburg, Tây Đức
Hội nghị thứ 20: 1989 tại Washington, DC, Hoa Kỳ
Hội nghị thứ 21: 1994 tại Seoul, Hàn Quốc
Hội nghị thứ 22: 1999 tại Bắc Kinh, Cộng hòa Nhân dân Trung hoa
Hội nghị thứ 23: 2004 tại Bucharest, România
Hội nghị thứ 24: 2008 tại Geneva, Thụy Sĩ
== Liên minh Bưu chính Quốc tế và cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU ==
Viết thư quốc tế UPU là cuộc thi do Liên minh Bưu chính Thế giới (gọi tắt là UPU)- (cùng sự hỗ trợ của UNESCO) tổ chức hằng năm dành cho Trẻ em trên Thế giới (191 nước thành viên của UPU), đến nay đã 45 năm (từ 1971 - 2016). Tại Đại hội Liên minh Bưu chính Thế giới lần thứ XVI được tổ chức tại Tokyo - Nhật Bản năm 1969 (khi đó mới chỉ có 133 nước tham gia) đã đưa ra ý kiến chính thức C67/1969 (formal opinion C67) về việc tổ chức Cuộc thi viết thư dành cho thiếu nhi này. Và với sự hỗ trợ của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO, Liên minh Bưu chính Quốc tế đã chính thức khởi xướng cuộc thi bắt đầu từ năm 1971 cho tới nay. Mỗi năm, Trụ sở chính của UPU tại Bern - Thụy Sĩ sẽ ra một đề tài (trong khuôn khổ hoạt động của Liên hợp quốc), các nước thành viên tiếp nhận đề tài của cuộc thi sau đó triển khai rộng rãi bằng các phương tiện thông tin đại chúng trong đất nước của mình, chấm và chọn ra bài xuất sắc nhất để gửi dự thi Quốc tế. Vượt qua khuôn khổ của một cuộc thi viết văn thông thường, Viết thư Quốc tế UPU đã trở thành hoạt động mang tính xã hội cao, thu hút đông đảo tuổi trẻ học đường vào hoạt động lành mạnh, thiết thực và là hình thức giáo dục công dân rất hiệu quả đối với thiếu nhi. Thông qua các chủ đề được lựa chọn, đông đảo học sinh trên toàn thế giới đã được tham gia bàn luận, đề xuất ý tưởng về những vấn đề đang được xã hội quan tâm. Với tuổi đời gần nửa thế kỷ, cùng rất nhiều những tác phẩm văn học ấn tượng, in đậm hơi thở thời đại của những tác giả trẻ tuổi đến từ khắp hành tinh được vinh danh; Viết thư Quốc tế UPU đã được các tổ chức giáo dục trên toàn thế giới đánh giá là một trong số ít những cuộc thi có truyền thống lâu đời, mang sức hấp dẫn & thuyết phục mạnh mẽ và tính giáo dục lớn nhất thế giới.Việt Nam là một thành viên của UPU và cũng là một trong những đất nước hưởng ứng nhiệt tình cuộc thi tầm cỡ Quốc tế này
(Trên đây là phần mở đầu của bài viết Viết thư quốc tế UPU, thông tin chi tiết về cuộc thi luôn được cập nhật tại đây)
== Các quốc gia thành viên ==
Tất cả các quốc gia trong Liên Hiệp Quốc có thể trở thành quốc gia thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế. 192 quốc gia trong Liên Hiệp Quốc là thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế trừ Andorra, Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia và Palau vì tình trạng liên quan đến Liên minh Bưu chính Quốc tế chưa được giải quyết. Các quốc gia không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc cũng có thể làm thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế nếu hai phần ba số các quốc gia thành viên chấp thuận yêu cầu của họ. Vatican là một quốc gia thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế và là quan sát viên không phải thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Liên minh Bưu chính Quốc tế có 191 quốc gia thành viên trong đó có các lãnh thổ của Hà Lan như Antille thuộc Hà Lan và Aruba là một thành viên riêng của Liên minh Bưu chính Quốc tế, và các lãnh thổ hải ngoại của Vương quốc Anh, không phải là các quốc gia độc lập. Thành viên mới nhất là Montenegro, gia nhập vào ngày 26 tháng 7 năm 2006.
Trung Hoa Dân Quốc gia nhập vào ngày 1 tháng 3 năm 1914. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục đại diện cho Trung Quốc tại Liên minh Bưu chính Quốc tế cho đến khi Liên minh Bưu chính Quốc tế quyết định công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 13 tháng 4 năm 1972 như đại diện chính thức của Trung Quốc.
Nhiều quốc gia không được công nhận khác như Somaliland và Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ miền Bắc Síp phải để thư tín của họ đi qua các quốc gia thứ ba vì Liên minh Bưu chính Quốc tế không cho phép giao thư từ quốc tế trực tiếp (thư từ của Cộng hòa Bắc Síp Thổ Nhĩ Kỳ phải đi qua Thổ Nhĩ Kỳ và thư từ của Somaliland đi qua Ethiopia). Các vùng đất khác không có đại diện Liên minh Bưu chính Quốc tế là Thẩm quyền Quốc gia Palestine (mặc dù điều này có thể sớm thay đổi) và Cộng hòa Sahrawi / Tây Sahara.
Các quốc gia thành viên được ghi dưới đây theo thứ tự chữ cái theo tên chuẩn tiếng Anh ISO 3166 cùng với ngày gia nhập Liên minh Bưu chính Quốc tế (một số quốc gia có ghi nhiều ngày gia nhập). Các lãnh thổ của các quốc gia thành viên có chủ quyền được ghi bên dưới quốc gia đó.
=== Xếp thứ tự theo chuẩn ISO 3166 tiếng Anh ===
==== A ====
Afghanistan - 1 tháng 4 năm 1928
Albania - 1 tháng 5 năm 1922
Algérie - 1 tháng 10 năm 1907
Angola - 1 tháng 5 năm 1977
Antigua và Barbuda - 20 tháng 1 năm 1994
Argentina - 1 tháng 4 năm 1878
Armenia - 14 tháng 10 năm 1992
Úc - 1 tháng 10 năm 1907
Đảo Norfolk
Áo - 1 tháng 7 năm 1875
Azerbaijan - 1 tháng 4 năm 1993
==== B ====
Bahamas - 24 tháng 4 năm 1974
Bahrain - 21 tháng 12 năm 1973
Bangladesh - 7 tháng 2 năm 1973
Barbados - 11 tháng 11 năm 1967
Belarus - 13 tháng 5 năm 1947
Bỉ - 1 tháng 7 năm 1875
Belize - 1 tháng 10 năm 1982
Bénin - 27 tháng 4 năm 1961
Bhutan - 7 tháng 5 năm 1969
Bolivia - 1 tháng 4 năm 1886
Bosna và Hercegovina - 1 tháng 7 năm 1892; 26 tháng 1 năm 1993
Botswana - 12 tháng 1 năm 1968
Brunei - 15 tháng 1 năm 1985
Brasil - 1 tháng 7 năm 1877
Bulgaria - 1 tháng 7 năm 1879
Burkina Faso - 29 tháng 5 năm 1963
Burundi - 6 tháng 4 năm 1963
==== C ====
Campuchia - 21 tháng 12 năm 1951
Cameroon - 26 tháng 7 năm 1960
Canada - 1 tháng 7 năm 1878
Cabo Verde - 30 tháng 9 năm 1976
Cộng hòa Trung Phi - 28 tháng 6 năm 1961
Chad - 23 tháng 6 năm 1961
Chile - 1 tháng 4 năm 1881
Trung Quốc - 1 tháng 5 năm 1914
Hồng Kông - 1 tháng 4 năm 1877
Ma Cao
Colombia - 1 tháng 7 năm 1881
Comoros - 29 tháng 7 năm 1976
Congo, Democratic Republic of the - 1 tháng 1 năm 1886
Congo, Republic of - 5 tháng 7 năm 1961
Costa Rica - 1 tháng 1 năm 1883
Bờ Biển Ngà - 23 tháng 5 năm 1961
Croatia - 20 tháng 7 năm 1992
Cuba - 4 tháng 10 năm 1902
Síp - 23 tháng 11 năm 1961
Cộng hòa Séc - 18 tháng 5 năm 1920; 18 tháng 5 năm 1993
==== D ====
Đan Mạch - 1 tháng 7 năm 1875
Quần đảo Faroe
Greenland
Djibouti - 6 tháng 6 năm 1978
Dominica - 31 tháng 1 năm 1980
Cộng hòa Dominica - 1 tháng 10 năm 1880
==== E ====
Ecuador - 1 tháng 7 năm 1880
Ai Cập - 1 tháng 7 năm 1875
El Salvador - 1 tháng 4 năm 1879
Guinea Xích Đạo - 24 tháng 7 năm 1970
Eritrea - 19 tháng 8 năm 1993
Estonia - 7 tháng 7 năm 1922; 30 tháng 4 năm 1992
Ethiopia - 1 tháng 11 năm 1908
==== F ====
Fiji - 18 tháng 6 năm 1971
Phần Lan (bao gồm Quần đảo Åland) - 12 tháng 2 năm 1918
Pháp - 1 tháng 1 năm 1876
Các lãnh thổ hải ngoại của Pháp
Guyane (Pháp)
Guadeloupe (gồm có Saint Barthélemy và Saint Martin)
Martinique
Réunion
Saint Pierre và Miquelon
Các lãnh thổ nằm trong sự quản lý của Liên minh Bưu chính Quốc tế theo điều khoản 23 Hiến chương Liên minh Bưu chính Quốc tế
Polynésie thuộc Pháp (gồm có Đảo Clipperton)
Vùng đất Nam Cực và Nam thuộc Pháp
Nouvelle-Calédonie
Wallis và Futuna
==== G ====
Gabon - 17 tháng 7 năm 1961
Gambia - 9 tháng 10 năm 1974
Gruzia - 1 tháng 4 năm 1993
Đức - 1 tháng 7 năm 1875
Ghana - 10 tháng 10 năm 1957
Hy Lạp - 1 tháng 7 năm 1875
Grenada - 30 tháng 1 năm 1978
Guatemala - 1 tháng 8 năm 1881
Guinea - 6 tháng 5 năm 1959
Guinea-Bissau - 30 tháng 5 năm 1974
Guyana - 22 tháng 5 năm 1967
==== H ====
Haiti - 1 tháng 7 năm 1881
Honduras - 1 tháng 4 năm 1879
Hungary - 1 tháng 7 năm 1875
==== I ====
Iceland - 15 tháng 11 năm 1919
Ấn Độ - 1 tháng 7 năm 1876
Indonesia - 1 tháng 5 năm 1877
Iran - 1 tháng 9 năm 1877
Iraq - 22 tháng 4 năm 1929
Ireland - 6 tháng 9 năm 1923
Israel - 24 tháng 12 năm 1949
Ý - 1 tháng 3 năm 1957
==== J ====
Jamaica - 29 tháng 8 năm 1963
Nhật Bản - 1 tháng 6 năm 1877
Jordan - 16 tháng 5 năm 1947
==== K ====
Kazakhstan - 27 tháng 8 năm 1992
Kenya - 27 tháng 10 năm 1964
Kiribati - 14 tháng 8 năm 1984
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên - 1 tháng 1 năm 1900; 6 tháng 6 năm 1974
Đại Hàn Dân Quốc - 1 tháng 1 năm 1900
Kuwait - 16 tháng 2 năm 1960
Kyrgyzstan - 26 tháng 1 năm 1993
==== L ====
Lào - 20 tháng 5 năm 1952
Latvia - 1 tháng 10 năm 1921; 17 tháng 6 năm 1992
Liban - 12 tháng 5 năm 1931; 15 tháng 5 năm 1946
Lesotho - 6 tháng 9 năm 1967
Liberia - 1 tháng 4 năm 1879
Libya - 4 tháng 6 năm 1952
Liechtenstein - 13 tháng 4 năm 1962
Litva - 1 tháng 1 năm 1922; 10 tháng 1 năm 1992
Luxembourg - 1 tháng 7 năm 1875
==== M ====
Madagascar - 2 tháng 11 năm 1961
Malawi - 25 tháng 10 năm 1966
Malaysia - 17 tháng 1 năm 1958
Maldives - 15 tháng 8 năm 1967
Mali - 21 tháng 4 năm 1961
Malta - 21 tháng 5 năm 1965
Mauritania - 22 tháng 5 năm 1967
Mauritius - 29 tháng 8 năm 1969
México - 1 tháng 4 năm 1879
Moldova - 16 tháng 11 năm 1992
Monaco - 12 tháng 10 năm 1955
Mông Cổ - 24 tháng 8 năm 1963
Montenegro - 26 tháng 7 năm 2006
Maroc - 1 tháng 10 năm 1920
Mozambique - 11 tháng 10 năm 1978
Myanmar - 4 tháng 10 năm 1949
==== N ====
Namibia - 30 tháng 4 năm 1992
Nauru - 17 tháng 4 năm 1969
Nepal - 11 tháng 10 năm 1956
Hà Lan - 1 tháng 7 năm 1875
Netherlands Antilles và Aruba - 1 tháng 7 năm 1875 Aruba
Antille thuộc Hà Lan
New Zealand (bao gồm Ross Dependency) - 1 tháng 10 năm 1907
Quần đảo Cook
Niue
Tokelau
Nicaragua - 1 tháng 5 năm 1882
Niger - 12 tháng 6 năm 1961
Nigeria - 10 tháng 7 năm 1961
Na Uy - 1 tháng 7 năm 1875
==== O ====
Oman - 17 tháng 8 năm 1971
==== P ====
Pakistan - 10 tháng 11 năm 1947
Panama - 11 tháng 6 năm 1904
Papua New Guinea - 4 tháng 6 năm 1976
Paraguay - 1 tháng 7 năm 1881
Peru - 1 tháng 4 năm 1879
Philippines - 1 tháng 1 năm 1922
Ba Lan - 1 tháng 5 năm 1919
Bồ Đào Nha - 1 tháng 7 năm 1875
==== Q ====
Qatar - 31 tháng 1 năm 1969
==== R ====
România - 1 tháng 7 năm 1875
Nga - 1 tháng 7 năm 1875
Rwanda - 6 tháng 4 năm 1963
==== S ====
Saint Kitts và Nevis - 11 tháng 1 năm 1988
Saint Lucia - 10 tháng 7 năm 1980
Saint Vincent và Grenadines - 3 tháng 2 năm 1981
Samoa - 9 tháng 8 năm 1989
San Marino - 1 tháng 7 năm 1915
São Tomé và Príncipe - 22 tháng 8 năm 1977
Ả Rập Saudi - 1 tháng 1 năm 1927
Senegal - 14 tháng 6 năm 1961
Serbia - 1 tháng 7 năm 1875; 24 tháng 12 năm 1921; 18 tháng 6 năm 2001
Seychelles - 7 tháng 10 năm 1977
Sierra Leone - 29 tháng 1 năm 1962
Singapore - 8 tháng 1 năm 1966
Slovakia - 18 tháng 5 năm 1920; 18 tháng 5 năm 1993
Slovenia - 24 tháng 12 năm 1921; 27 tháng 8 năm 1992
Quần đảo Solomon - 4 tháng 5 năm 1984
Somalia - 1 tháng 4 năm 1959
Nam Phi - 1 tháng 1 năm 1893; 22 tháng 8 năm 1994
Tây Ban Nha - 1 tháng 7 năm 1875
Sri Lanka - 13 tháng 7 năm 1949
Sudan - 28 tháng 7 năm 1956
Suriname - 1 tháng 5 năm 1877; 20 tháng 4 năm 1976
Swaziland - 7 tháng 11 năm 1969
Thụy Điển - 1 tháng 7 năm 1875
Thụy Sĩ - 1 tháng 7 năm 1875
Syria - 12 tháng 5 năm 1931; 15 tháng 5 năm 1946
==== T ====
Tajikistan - 9 tháng 6 năm 1994
Tanzania - 29 tháng 5 năm 1963
Thái Lan - 1 tháng 7 năm 1885
Macedonia - 12 tháng 7 năm 1993 (tên theo UPU là The former Yugoslav Republic of Macedonia nên sắp theo vần "T")
Đông Timor - 28 tháng 11 năm 2003
Togo - 21 tháng 3 năm 1962
Tonga (bao gồm Niuafo'ou) - 26 tháng 1 năm 1972
Trinidad và Tobago - 15 tháng 6 năm 1963
Tunisia - 1 tháng 7 năm 1888
Thổ Nhĩ Kỳ - 1 tháng 7 năm 1875
Turkmenistan - 26 tháng 1 năm 1993
Tuvalu - 3 tháng 2 năm 1981
==== U ====
Uganda - 13 tháng 2 năm 1964
Ukraina - 13 tháng 5 năm 1947
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất - 30 tháng 3 năm 1973
Anh Quốc - 1 tháng 7 năm 1875
Gia nhập tự đông vì là lãnh thổ Vương miện Anh
Guernsey
Đảo Man
Jersey
Các lãnh thổ hải ngoại của Anh - 1 tháng 4 năm 1877
Anguilla
Bermuda
Lãnh thổ Ấn Độ Dương (Anh)
Quần đảo Virgin (Anh)
Quần đảo Cayman
Quần đảo Falkland
Gibraltar
Montserrat
Quần đảo Pitcairn
Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich
Saint Helena
Các vùng phụ thuộc St Helena
Ascension
Tristan da Cunha
Quần đảo Turks và Caicos
Hoa Kỳ - 1 tháng 7 năm 1875
Các lãnh thổ nằm trong sự điều hành của UPU theo điều khoản 23 Hiến chương Liên minh Bưu chính Quốc tế
Guam
Puerto Rico
Samoa thuộc Mỹ
Quần đảo Virgin (Mỹ)
Quần đảo Bắc Mariana (bao gồm Saipan và Tinian)
Uruguay - 1 tháng 7 năm 1880
Uzbekistan - 24 tháng 2 năm 1994
==== V ====
Vanuatu - 16 tháng 7 năm 1982
Thành Vatican - 1 tháng 6 năm 1929
Venezuela - 1 tháng 1 năm 1880
Việt Nam Cộng hòa - 20 tháng 10 năm 1951, Việt Nam kế thừa năm 1976
==== Y ====
Yemen - 1 tháng 1 năm 1930
==== Z ====
Zambia - 22 tháng 3 năm 1967
Zimbabwe - 31 tháng 7 năm 1981
== Tham khảo và ghi chú ==
Ghi chú
Nguồn
Codding, G.A. (1964). The Universal Postal Union: coordinator of the international mails. New York: New York University Press.
“General Postal Union; 9 tháng 10 năm 1874”. The Avalon Project at Yale Law School. The Lillian Goldman Law Library in Memory of Sol Goldman. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2008.
== Liên kết ngoài ==
UPU official site |
rutherfordi.txt | Rutherfordi (phát âm như "rơ-tơ-phót-đi") là nguyên tố hóa học có ký hiệu Rf và số nguyên tử 104. Trong bảng tuần hoàn, nó là nguyên tố thuộc lớp p và nguyên tố đầu tiên của nhóm các nguyên tố chuyển tiếp actini. Nó thuộc chu kỳ 7 và cũng thuộc nhóm nguyên tố 4. Các thí nghiệm hóa học đã xác định rằng rutherfordi có ứng xử giống như hafni trong nhóm 4. Rutherfordi là nguyên tố tổng hợp có tính phóng xạ, đồng vị ổn định nhất của nó là 267Rf với chu kỳ bán rã khoảng 1,3 giờ.
Một lượng nhỏ rutherfordi đã được tạo ra bằng cách bắn phá plutoni-242 bằng neon-22 gia tốc hoặc californi-249 bằng các ion cacbon-12 trong thập niên 1960. Phát hiện đầu tiên và sau đó đã gây tranh cãi về việc đặt tên nguyên tố này giữa các nhà khoa học Mỹ và Nga, và quyết định cuối cùng được đưa ra năm 1997 với tên gọi rutherfordium theo tên nhà vật lý New Zealand Ernest Rutherford. Các kỹ thuật thí nghiệm cải tiến cho phép xác định các tính chất hóa học của rutherfordi, các tính chất này rất khớp với các nguyên tố nhóm 4 khác. Một số tính toán chỉ ra rằng nguyên tố này có thể thể hiện các tính chất khác nhau đáng kể do các hiệu ứng tương đối.
== Lịch sử ==
=== Phát hiện ===
Rutherfordi đã được báo cáo là phát hiện lần đầu tiên vào năm 1964 tại Liên Viện Nghiên cứu Hạt nhân ở Dubna (lức đó ở Liên Xô). Các nhà nghiên cứu bắn phá pluto-242 bằng chùm ion neon-22 và tách các sản phẩm phản ứng bằng phương pháp sắc ký sau khi chuyển đổi muối clorua bởi tương tác với ZrCl4. Nhóm nghiên cứu đã xác định hoạt động phân hạch tự phát chứa trong biến động clorua. Sản phẩm thu được nhiều hạt nhân có tính chất hoàn toàn khác với những hạt nhân trước đây, tính toán sau đó chỉ ra rằng sản phẩm là có khả năng nhất Rutherfordi-259 (ký hiệu tiêu chuẩn là 259-Rf):
24294Pu + 2210Ne → 264-x104Rf → 264-x104RfCl4.
Năm 1969, các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Berkeley kết luận đã tổng hợp nguyên tố bằng cách bắn phá californium-249 bằng chùm 13 carbon-ion và đo sự phân rã alpha của 257Rf, thời gian bán hủy 3-4 giây, sau đó phân hủy thành Nobeli-253 với chu kì là 185 giây, phát ra 1 lượng nhỏ hạt alpha:
126C + 24998Cf → 257104Rf + 4 1n.
Nước Mỹ đã tổng hợp và xác nhận Rutherfordi vào năm 1973.
=== Đặt tên ===
Các nhà khoa học Nga đã đề xuất tên kurchatovi và các nhà khoa học Mỹ lại đề xuất tên rutherfordi cho nguyên tố mới..
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com - Rutherfordium |
roma.txt | Roma (tiếng Ý: Roma; tiếng Latinh: Rōma; còn gọi Rôma hay La Mã trong tiếng Việt) là thủ đô của nước Ý. Roma là thành phố và là cộng đồng lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,7 triệu cư dân trong phạm vi 1.285,3 km2, nếu tính cả khu vực đô thị xung quanh là 3,8 triệu. Thành phố Roma nằm ở trung tâm vùng phía Tây của bán đảo Ý, tọa lạc tại hợp lưu của sông Aniene vào sông Tiber và thuộc vùng Lazio của nước này.
Lịch sử Roma trải dài hơn 2500 năm. Đây là thành phố thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, là nơi quyền lực thống trị ở Tây Âu và các vùng đất giáp biển Địa Trung Hải trong hơn 700 năm từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên cho tới thế kỷ thứ 7 CN. Từ thế kỷ thứ nhất CN, Roma đã trở thành nơi cư ngụ chủ yếu của Giáo hoàng. Sau khi sự thống trị của Đế quốc Đông La Mã kết thúc, từ thế kỷ thứ 8, Roma trở thành thủ đô của Lãnh thổ Giáo hoàng mãi cho đến năm 1870. Năm 1871 Roma trở thành thủ đô của Vương quốc Ý. Năm 1946 quốc gia này chính thức đổi tên thành Cộng hoà Ý.
Vào thời Trung cổ, về mặt thế tục, Roma cũng thuộc sự cai quản của các Giáo hoàng như Giáo hoàng Alexanđê VI và Giáo hoàng Lêô X, những Giáo hoàng này đã biến thành phố Roma trở thành một trong những trung tâm lớn của thời kỳ Phục hưng Ý, cùng với Firenze. Phiên bản ngày nay của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô đã được xây dựng ở thời điểm này và Michelangelo đã vẽ lên những bức họa ở Nhà nguyện Sistina. Các nghệ sĩ và kiến trúc sư nổi tiếng như Bramante, Bernini và Raphael cũng có thời gian từng ở Roma và đã góp phần cho nền kiến trúc Phục hưng và Baroque.
Trong năm 2007, Roma được xếp thứ 11 trong những thành phố có nhiều du khách viếng thăm nhất thế giới, riêng tại Liên minh châu Âu đứng thứ 3, đồng thời cũng là điểm du lịch thu hút du khách phổ biến nhất ở Ý. Thành phố Roma là một trong những "thương hiệu" thành phố thành công nhất tại châu Âu và trên toàn thế giới, cả về danh tiếng lẫn tài sản. Khu trung tâm mang tính lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Những di tích và bảo tàng như Bảo tàng Vatican và đấu trường La Mã đều nằm trong danh sách 50 điểm du lịch được viếng thăm nhiều nhất thế giới (Bảo tàng Vatican đón tiếp 4,2 triệu du khách du lịch và đấu trường La Mã có 4 triệu khách du lịch hàng năm).
GDP của Roma là 97 tỷ euro (khoảng 117 tỷ USD), chiếm 6,7% GDP của Ý. Roma là trung tâm kinh tế hàng đầu và là một trung tâm văn hóa, thương mại, chính trị của Ý
== Nguồn gốc tên gọi ==
Theo truyền thuyết thì chính người Roman cổ đã tự lập nên thành phố này, cũng theo truyền thuyết thì nguồn gốc của cái tên "Roma" đến từ người thành lập và người lãnh đạo đầu tiên của thành phố Vua Romulus.
Tuy nhiên, có vẻ như cái tên Romulus được bắt nguồn từ Roma. Vào đầu thế kỷ thứ 4, có nhiều giả thuyết về cái tên Roma. Một vài nhà nghiên cứu đã chú trọng vào các cách giải thích khác nhau.:
Rumon hay Rumen, tên khác của sông Tiber, giống với cách giải thích theo tiếng Hy Lạp, động từ ῥέω (rhèo) và động từ tiếng Latinh ruo, đều có nghĩa là "chảy";
Từ từ ῤώμη (rhōmē) trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là sức mạnh.
== Lịch sử ==
Theo truyền thuyết, Roma, thủ đô nước Cộng hòa Ý, mảnh đất nằm trên bán đảo Địa Trung Hải hoa lệ. Thành phố này là nơi khởi nguồn của đế quốc La Mã cổ đại, thành phố văn hóa lịch sử nổi tiếng của thế giới.
Roma được bắt đầu xây dựng vào giữa thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, đến nay đã có 2.800 năm lịch sử, được nhiều người tôn vinh như một "thành phố vĩnh hằng".
Roma cổ đại được xây dựng trên 7 quả đồi liền nhau nên còn được gọi là "thành phố 7 quả đồi". Trong thành phố có công trình kiến trúc cổ như quảng trường, nhà thờ, tu viện, hoàng cung, trường đấu mãnh thú, miếu thần, pháo đài cổ, các tượng thần, vòi phun nước... Đến tham quan Roma, du khách sẽ chứng kiến tận mắt các tác phẩm vĩ đại lịch sử này. Cảm giác như đứng trong một viện bảo tàng khổng lồ, do đó Roma còn được du khách gọi là "thành phố bảo tàng". Đôi khi nếu không có xe cộ qua lại, không có các loại hàng tiêu dùng hiện đại bày bán trong quầy kính, du khách sẽ quên mất mình đang sống ở thế kỷ 21, trong một đất nước hiện đại mà gần như có ý nghĩ thay quần áo kỵ sĩ lên xe ngựa cùng đi với các quý bà nhàn hạ dạo chơi trên đường phố. Sẽ rất tuyệt vời nếu đến Roma vào mùa thu. Dưới ánh nắng vàng, du khách có thể dạo bước trên những tuyến phố cổ, nhìn ngắm các đài phun nước, những đàn bồ câu bay lượn xung quanh và những trang phục rực rỡ của người dân nơi đây như tô vẽ thêm nét đẹp và lãng mạn của người Ý.
Quảng trường Venice ở trung tâm thành phố là quảng trường lớn nhất Roma được xây dựng vào năm 1455. Tại đây vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà của những người nổi tiếng trước đây ở Roma. Các hoạt động lễ tiết trọng đại như tổng thống Ý tuyên thệ nhậm chức, đón tiếp nguyên thủ nước ngoài đều được tổ chức ở quảng trường Venice. Người Ý gọi quảng trường Venice là: "Diễn đàn tổ quốc" bởi nó tượng trưng cho biểu tượng nước Ý độc lập và thống nhất.
Quảng trường Tây Ban Nha, quảng trường trung tâm du lịch Roma, bao giờ cũng thu hút nhiều khách tham quan nhất. Có người đến để bày tỏ tình cảm với người yêu, người thì lang thang độc tấu đàn nuối tiếc một cuộc tình dang dở. Tại nơi đây, ngôi nhà màu hồng chính là ngôi nhà kỷ niệm của hai nhà thơ nổi tiếng người Anh: John Keats và Percy Byssche Shelley.
Năm 1672, đài phun nước thuyền cổ do Petro thiết kế được xây dựng đối diện với quảng trường Tây Ban Nha và được gọi là "Con thuyền thiên đàng". Trên cột trụ La Mã ở gần con thuyền thiên đàng điêu khắc nhiều nhân vật trong Kinh Thánh. Hằng năm vào dịp Lễ Giáng Sinh, nơi đây lại diễn ra các hoạt động tế lễ trang trọng của giáo hội. Gần quảng trường Tây Ban Nha còn có nhà thờ Chúa Ba Ngôi, nơi có tháp chuông xây bằng đá trông rất uy nghi và hoành tráng.
== Chính quyền ==
=== Chính quyền ===
=== Chính quyền quốc gia ===
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
=== Địa hình ===
=== Khí hậu ===
== Nhân khẩu ==
=== Các nhóm dân tộc ===
=== Tôn giáo ===
Cũng như phần lớn các vùng khác của nước Ý, người Roma chủ yếu theo Công giáo Rôma. Thành phố là một trung tâm quan trọng về tôn giáo và các cuộc hành hương trong nhiều thế kỷ, là nền tảng của Tôn giáo La Mã cổ đại với vị Pontifex Maximus (Tư tế tối thượng) và sau đó là sự trị vì của Thành Vatican và Giáo hoàng. Trước khi khi những Kitô hữu có mặt ở Rôma, Religio Romana (nghĩa là "Tôn giáo La Mã") là tôn giáo chính của thành phố trong thời cổ điển. Các vị thần người La Mã tôn vinh đầu tiên là thần Jupiter, vị thần được quyền uy nhất, tiếp theo là Mars, thần chiến tranh, và là cha của hai anh em sinh đôi sáng lập ra Roma là Romulus và Remus, dựa theo truyền thuyết. Các vị thần và nữ thần khác như Vesta và Minerva cũng được tôn thờ. Roma còn là nơi đặt nền tảng cho một số giáo phái bí ẩn, chẳng hạn như Mithraism. Sau khi Thánh Phêrô và Thánh Phaolô tử vì đạo trong thành phố và những người theo Kitô giáo đầu tiên bắt đầu xuất hiện trong thành phố, Roma bắt đầu chịu ảnh hưởng của Kitô giáo nhiều hơn, và Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô được khởi công xây dựng lần đầu tiên vào năm 313. Mặc dù có một số sự gián đoạn xảy ra (như các triều Giáo hoàng tại Avignon), Roma trong nhiều thế kỷ là trung tâm của Giáo hội Công giáo Rôma và vị giám mục Rôma còn được gọi là Giáo hoàng.
== Cảnh quan thành phố ==
=== Kiến trúc ===
Kiến trúc của Roma trong nhiều thế kỷ đã rất phát triển, đặc biệt là từ phong cách cổ điển và phong cách Đế quốc La Mã chuyển sang phong cách kiến trúc phát xít hiện đại. Trong một thời gian, Roma đã từng là trung tâm kiến trúc cổ điển chính của thế giới, phát triển những dạng thức kiến trúc mới như các loại vòm và mái vòm. Phong cách kiến trúc Romanesque trong thế kỷ 11, 12 và 13 cũng được áp dụng rộng rãi trong kiến trúc La Mã, sau đó thành phố trở thành một trong những trung tâm kiến trúc Phục Hưng và Baroque chính.
==== Roma cổ đại ====
Một trong những biểu tượng của Roma là Đấu trường La Mã (xây dựng từ năm 70-80 trước Công nguyên), một khán đài vòng cung ngoài trời lớn nhất từng được xây dựng trong Đế chế La Mã. Sức chứa ban đầu của khán đài là 60.000 khán giả, và không gian này được sử dụng cho những cuộc tranh tài của các võ sĩ giác đấu. Các di tích và địa điểm nổi tiếng của La Mã cổ đại bao gồm Hội trường La Mã (Roman Forum), tòa nhà Domus Aurea, đền Parthenon, Cột Trajan, Chợ Trajan, hầm mộ, sân vận động Massimo, nhà tắm công cộng Terme di Caracalla, Lâu đài Thiên thần, Lăng mộ Augustus, Pacis Ara, Khải hoàn môn Costantino, Kim tự tháp Cestius và bức tượng khắc Bocca della Verità.
==== Trung cổ ====
Tuy thường ít được chú ý đến nhưng di sản thời Trung cổ của Roma là một trong những di sản lớn nhất tại các thành phố của Ý. Các vương cung thánh đường có niên đại từ buổi ban đầu của Kitô giáo, bao gồm Vương cung thánh đường Đức Bà Cả và Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành (sau này đã được đại trùng tu lại vào thế kỷ 19). Cả hai tòa nhà đều được chạm khắc những họa tiết trang trí tinh vi mang giá trị thẩm mỹ cao từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Phong cách nghệ thuật tranh tường và nghệ thuật khảm thời Trung cổ đáng chú ý khác cũng có thể được tìm thấy trong các nhà thờ như Basilica di Santa Maria in Trastevere, Santi Quattro Coronati và Santa Prassede. Những công trình không theo giáo hội nào gồm một lượng lớn tháp, trong đó lớn nhất là tháp Milizie và Conti. Cả hai đều nằm kế Hội trường La Mã và cầu thang lớn dẫn đến nhà thờ Basilica di Santa Maria in Ara coeli.
==== Phục Hưng và Baroque ====
Roma là một trung tâm về thời kỳ Phục Hưng lớn trên thế giới, chỉ đứng sau Florence, và là nơi chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi phong trào Phục Hưng. Giai đoạn này có một kiệt tác của kiến trúc Phục hưng ở Roma là Quảng trường Piazza del Campidoglio do Michelangelo thiết kế. Cũng ở thời điểm này, các gia đình quý tộc lớn của Roma thường xây dựng những nơi ở sang trọng như cung điện Palazzo del Quirinale (nay là trụ sở của Tổng thống Cộng hòa Ý), cung điện Venezia, Farnese, Barberini, Chigi (hiện nay là nơi ở của Thủ tướng Chính phủ), cung điện Spada, Cancelleria và dinh thự Farnesina.
Nhiều quảng trường của các thành phố nổi tiếng vẫn giữ nguyên hình dáng được tạo từ thời Phục hưng và Baroque. Trong đó một số quảng trường rất lớn, hoành tráng với tháp tưởng niệm trang trí đặt ở giữa, một số quảng trường khác nhỏ và thơ mộng. Những quảng trường chính là Quảng trường Navona, Quảng trường Spagna, Campo de 'Fiori, Quảng trường Venezia, Quảng trường Farnese, Quảng trường Rotonda và Quảng trường Minerva. Một trong những ví dụ điển hình nhất của nghệ thuật Baroque là đài phun nước Trevi của Nicola Salvi. Những cung điện Baroque đáng chú ý khác của thế kỷ 17 là cung điện Madama, ngày nay là trụ sở của Thượng nghị viện Ý và cung điện Montecitorio, ngày nay là trụ sở của Hạ nghị viện Ý.
==== Tân cổ điển ====
Năm 1870, Roma đã trở thành thủ đô của Vương quốc Ý. Trong thời gian này, trường phái tân cổ điển với phong cách xây dựng chịu ảnh hưởng của kiến trúc cổ xưa đã chiếm ưu thế vượt trội trong kiến trúc La Mã. Ở giai đoạn này, nhiều cung điện lớn theo phong cách tân cổ điển được xây dựng để làm trụ sở của chính phủ, đại sứ quán và các cơ quan nhà nước khác. Một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của trường phái tân cổ điển La mã là đài tưởng niệm liệt sĩ Vittorio Emanuele II là nơi "Tổ quốc ghi công", nơi an nghỉ của các binh sĩ vô danh, đại diện cho 650.000 người Ý đã ngã xuống trong chiến tranh thế giới thứ nhất.
==== Kiến trúc phát xít ====
Chế độ cai trị phát xít tại Ý từ năm 1922 đến 1943 đã phát triển một phong cách kiến trúc đặc trưng bởi sự liên kết với kiến trúc La Mã cổ đại. Những nơi lưu dấu kiến trúc phát xít quan trọng nhất ở Roma là khu vực E.U.R. do Marcello Piacentini thiết kế vào năm 1938. Ban đầu khu này được hình thành với mục đích dành cho cuộc Triển lãm Thế giới 1942 ("Esposizione universale 1942") và có tên gọi là "E.42" ("Esposizione 42"). Tuy nhiên, triển lãm thế giới đã không có dịp diễn ra vì năm 1940 nước Ý bước vào chiến tranh thế giới thứ hai. Công tình tiêu biểu nhất của phong cách kiến trúc phát xít tại E.U.R. là cung điện Civiltà Italiana (1938–1943), thiết kế mang tính biểu tượng của công trình đã được xem như khối lập phương tại Quảng trường La Mã. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền La Mã thấy rằng họ đã có những mầm mống của một khu kinh tế ngoài trung tâm như những thủ đô khác mà hiện trong thời gian đó vẫn còn đang quy hoạch (xưởng đóng tàu Luân Đôn Docklands và La Défense ở Paris). Ngoài ra cung điện Farnesina, nơi đóng trụ sở của Bộ Ngoại giao Ý ngày nay, được thiết kế vào năm 1935 theo phong cách phát xít thuần chất.
=== Công viên và khu vườn ===
Công viên công cộng và khu bảo tồn thiên nhiên chiếm một khu vực rộng lớn ở Roma. Có thể nói, Roma là thành phố có một trong những vùng được không gian xanh bao phủ thuộc hàng lớn nhất trong các thủ đô châu Âu. Phần đáng chú ý nhất của khu không gian xanh này đặc trưng bởi rất nhiều biệt thự và khu vườn của các tầng lớp quý tộc Ý. Tuy nhiều biệt thự đã bị phá hủy trong giai đoạn bùng nổ xây dựng cuối thế kỷ 19 nhưng vẫn còn sót lại một lượng lớn. Đáng chú ý nhất trong số này là biệt thự Borghese, Ada và Pamphili Doria. Biệt thự Pamphili Doria nằm ở phía Tây của ngọn đồi Gianicolo rộng 1,8 km2. Ngoài ra trên đồi Gianicolo còn có biệt thự Sciarra với các sân chơi cho trẻ em và những khu vực đi bộ phủ bóng mát. Tại khu vực lân cận của Trastevere the Orto Botanico (khu vườn Botanico) là một không gian xanh thoáng mát và lợp phủ bóng râm. Trường đua ngựa La Mã cổ đai (sân vận động Maximus) là một không gian xanh lớn khác nhưng sự thu hút chính ở đây là các địa điểm đua xe ngựa cổ xưa, còn cây thì tương đối ít. Gần đó là biệt thự Celimontana tươi tốt, gần các khu vườn xung quanh nhà tắm công cộng Caracalla và Vườn Hoa hồng. Khu vườn của biệt thự Borghese là một không gian xanh lớn được biết đến nhiều nhất ở Roma, nơi đây có các phòng trưng bày nghệ thuật nổi tiếng nằm giữa các lối đi bộ phủ bóng mát cây xanh. Nó nằm gần với Tây Ban Nha Spanish Steps và Quảng trường Popolo. Roma cũng có nhiều công viên địa phương được hình thành gần đây hơn như công viên Pineto và Appian Way. Ngoài ra còn có các khu bảo tồn thiên nhiên tại Marcigliana và Tenuta di Castelporziano.
=== Đài phun nước và hệ thống cống dẫn nước ===
Roma là một thành phố nổi tiếng với rất nhiều đài phun nước được xây dựng theo tất cả các phong cách khác nhau, từ cổ điển, trung cổ đến Baroque và tân cổ điển. Đài phun nước đã có ở thành phố từ hơn 2.000 năm trước, người dân đã dẫn nước uống và trang trí các quảng trường của Roma. Trong thời Đế chế La Mã, vào năm 98 trước Công nguyên, theo Sextus Julius Frontinus, các lãnh sự La Mã được gọi là người phụ trách quản lý hoặc người giám hộ nguồn nước của thành phố. Roma có 9 hệ thống cống dẫn nước, cung cấp nước dẫn đến 39 đài phun nước tưởng niệm và 591 đài phun nước công cộng dạng bồn nhỏ, không kể nguồn nước cung cấp cho hoàng gia, tắm rửa hay cho các chủ sở hữu biệt thự tư nhân. Mỗi đài phun nước lớn đều được kết nối với hai cống dẫn nước khác nhau, phòng trường hợp một hệ thống không hoạt động được do sửa chữa. Trong thế kỷ 17 và 18, các Giáo hoàng La Mã tái tạo những đài phun nước La Mã bị hư hỏng và xây dựng các đài phun nước mới nhằm đánh dấu thời kì của họ, mở ra thời hoàng kim cho các đài phun nước La Mã. Như những bức tranh của Rubens, các đài phun nước La Mã mang tính biểu hiện phong cách mới của nghệ thuật Baroque. Có rất nhiều nhân vật biểu tượng đầy tính cảm xúc và sức sống được đặt tại các đài phun nước. Ở những đài phun nước này, điêu khắc đã trở thành yếu tố chính, và nước được thêm vào đơn giản chỉ để tạo sự chuyển động và đóng vai trò trang trí cho các tác phẩm điêu khắc. Chúng giống như những khu vườn Baroque, là "một hình ảnh của sự tự tin và quyền lực."
=== Tượng ===
Roma nổi tiếng với những bức tượng, nhưng đặc biệt những bức tượng có tính truyền cảm xúc cao. Chúng thường là những pho tượng cổ đã trở thành phương tiện truyền tải những lời diễn thuyết về các thảo luận chính trị và xã hội, là nơi để mọi người cất lên tiếng nói về quan điểm của họ (thông thường là châm biếm trào phúng). Có hai bức tượng nổi tiếng là: Pasquino và Marforio, ngoài ra vẫn có 4 bức tượng khác đáng chú ý là il Babuino, Madama Lucrezia, il Facchino và Abbot Luigi. Hầu hết những bức tượng đều từ thời La Mã cổ đại hay từ thời cổ điển, phần lớn trong số đó miêu tả những nhân vật trong thần thoại; il Pasquino đại diện Menelaus, Abbot Luigi - một thẩm phán La Mã bí ẩn, il Babuino đại diện cho Silenus, Marforio đại diện cho Oceanus, Madama Lucrezia là một bức tượng bán thân của Isis, và il Facchino là bức tượng duy nhất không phải của La Mã, được tạo thành trong năm 1580, và không đại diện riêng cho bất cứ nhân vật nào. Những bức tượng thường được phủ đầy áp phích hoặc những hình vẽ graffiti bày tỏ ý tưởng và quan điểm chính trị. Những bức tượng khác trong thành phố không phải tượng bộc lộ cảm xúc và quan điểm gồm Ponte Sant'Angelo, hoặc một số di tích nằm rải rác trong thành phố, như Giordano Bruno ở Campo de'Fiori.
=== Tháp và cột tưởng niệm ===
Thành phố có 8 tháp tưởng niệm cổ Ai Cập và 5 tháp tưởng niệm La Mã cổ đại cùng một số khác hiện đại hơn, như tháp tưởng niệm Ethiopia ở Roma được xây dựng gần đây (từ 2005). Thành phố có một vài tháp tưởng niệm ở các quảng trường, chẳng hạn như tại quảng trường Piazza Navona, Quảng trường Thánh Phêrô, Piazza Montecitorio, Piazza del Popolo và những tháp tưởng niệm khác trong các biệt thự, nhà tắm công cộng và trong các khu vườn, công viên, chẳng hạn như ở Villa Mattei, nhà tắm công cộng Thermae Diocletiani và ngọn đồi Mons Pincius. Ngoài ra, trung tâm của Roma cũng là nơi có hai cột tưởng niệm La Mã cổ đại là Cột của Trajan và Cột Marcus Aurelius với bề ngoài được trang trí theo dạng xoắn ốc nhẹ.
=== Cầu ===
Thành phố Roma có rất nhiều cây cầu nổi tiếng bắc qua sông Tiber. Những cây cầu nổi tiếng gồm cầu Ponte Cestio, Ponte Milvio, Ponte Nomentano, Ponte Sant'Angelo, Ponte Vittorio Emanuele II, Ponte Sisto và Ponte dei Quattro Capi. Hiện nay có năm cây cầu từ thời La Mã cổ đại vẫn còn lại trong thành phố. Hầu hết các công trình cầu công cộng của thành phố được xây dựng theo phong cách cổ điển hay Phục Hưng, nhưng cũng có những cây cầu theo phong cách Baroque, tân cổ điển và hiện đại. Theo bộ bách khoa toàn thư tiếng Anh Encyclopædia Britannica, cây cầu cổ nhất còn lại ở Roma là Ponte Sant'Angelo do Bernini thiết kế vào năm 1688, được hoàn thành vào năm 135 trước Công nguyên và có 10 bức tượng các thiên thần dùng trang trí trên cầu.
=== Hầm mộ ===
Roma có một lượng lớn hầm mộ cổ hoặc những nơi chôn cất ngầm trong thành phố hay gần thành phố, với số lượng ít nhất 40, một số vừa được phát hiện chỉ trong vài thập kỷ gần đây. Mặc dù nổi tiếng nhất là những nơi chôn cất Kitô hữu nhưng vẫn có mộ ngoại giáo và người Do Thái, hoặc được chôn cất trong hầm mộ riêng biệt hoặc nằm xen kẽ chung với nhau trong một khu đất. Những hầm mộ quy mô lớn đầu tiên được khai quật từ thế kỷ thứ hai trở đi. Ban đầu chúng được chạm khắc từ một loại mềm từ tro núi lửa là đá túp và đặt tại những vị trí ngoài ranh giới của thành phố vì luật La Mã cấm chôn cất trong thành phố. Hiện nay Giáo hoàng nắm quyền và trách nhiệm bảo trì các hầm mộ. Giáo hoàng đã trao quyền cho Dòng Salêdiêng Don Bosco trong việc giám sát hầm mộ của Thánh Callixtus ở ngoại ô Roma.
== Kinh tế ==
Với vai trò là thủ đô của nước Ý, Roma là trụ sở của tất cả các tổ chức chính của quốc gia, như Chủ tịch nước Cộng hoà, chính phủ (và Thủ tướng duy nhất), Quốc hội, Toà án tư pháp chính và đại diện ngoại giao của từ tất cả các quốc gia cho đến các tiểu bang của Ý và Thành Vatican (một trường hợp ngoại lệ duy nhất của đại sứ quán trong lãnh thổ quốc gia là Roma cũng là nơi đóng cứ điểm của Đại sứ quán Ý của Thành Vatican). Nhiều tổ chức quốc tế được đặt tại Roma, đặc biệt là những tổ chức văn hóa và khoa học nổi tiếng - chẳng hạn như Viện nghiên cứu Hoa Kỳ, British School, Viện hàn lâm Pháp, Viện Scandinavi, các Viện khảo cổ học Đức - với những học bổng danh dự tại Thành phố Vĩnh cửu này, cùng những tổ chức nhân đạo khác như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO). Roma cũng là nơi có các tổ chức văn hóa và chính trị quốc tế lớn từ khắp nơi trên thế giới như Quỹ Quốc tế về Phát triển Nông nghiệp (IFAD), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP), trường Cao đẳng Quốc phòng NATO và Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Bảo tồn và Phục hồi Tài sản Văn hóa (ICCROM). Roma hiện nay là một thành phố toàn cầu hàng đầu, cùng với Chicago, Istanbul, Frankfurt, Athena, Zurich, Thành phố Mexico, Praha, Budapest, Amsterdam, Viên và Dublin cùng một vài thành phố khác. Năm 2008, Roma được xếp hạng 15 trong tất cả các thành phố thế giới về tầm quan trọng toàn cầu, chủ yếu là về bề dày văn hóa.
Năm 2005, thành phố Roma có GDP là 94,376 tỷ euro (121,5 tỷ USD), đóng góp 6,7% vào của GDP của cả nước (nhiều hơn bất cứ thành phố nào khác ở Ý). Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp của thành phố từ giữa năm 2001 và 2005 đã giảm từ 11,1% xuống 6,5%, hiện đang là một trong những tỷ lệ thấp nhất của tất cả các thành phố thủ đô thuộc Liên minh châu Âu. Tốc độ tăng trưởng của Roma đạt 4,4%/năm và tiếp tục phát triển với một tốc độ cao hơn so với bất kỳ thành phố khác của đất nước. Điều này có nghĩa là nếu Roma là một quốc gia độc lập thì nó sẽ là quốc gia giàu có đứng thứ 52 trên thế giới tính theo GDP, gần với Ai Cập. Năm 2003, Roma có mức GDP bình quân đầu người đạt 29.153 euro (37.412 USD), cao thứ hai tại Ý chỉ sau Milan, và cao hơn 134,1% GDP bình quân đầu người trung bình của Liên minh châu Âu. Hơn hết, Roma có tổng thu nhập xếp hàng cao nhất ở Ý, đạt 47.076.890.463 euro trong năm 2008, nhưng xét về thu nhập của người lao động trung bình, thành phố chỉ đứng ở vị thứ 9 tại Ý với mức thu nhập là 24.509 euro. Ở góc độ toàn cầu, lao động Roma nhận được mức lương cao thứ 30 trong năm 2009, tăng 3 thứ hạng so với năm 2008.
Mặc dù nền kinh tế của Roma đặc trưng bởi sự vắng mặt của ngành công nghiệp nặng và bị chi phối chủ yếu bởi ngành dịch vụ, các công ty công nghệ cao (công nghệ thông tin, hàng không vũ trụ, quốc phòng, viễn thông), nghiên cứu, xây dựng và hoạt động thương mại (đặc biệt là ngân hàng), cùng với sự phát triển mạnh của ngành du lịch đầy năng động đều đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Roma. Fiumicino là sân bay quốc tế ở Roma và cũng là sân bay lớn nhất tại Ý. Bên cạnh đó, thành phố còn là nơi đóng trụ sở của đại đa số các công ty lớn của Ý, cùng với trụ sở của ba trong 100 công ty lớn nhất thế giới: Enel, Eni và Telecom Italia.
Giáo dục đại học, hệ thống phát thanh truyền hình quốc gia và ngành công nghiệp điện ảnh ở Roma cũng góp phần quan trọng trong nền kinh tế: Roma còn là trung tâm của ngành công nghiệp điện ảnh Ý nhờ vào hãng phim Cinecittà với hoạt động khởi nghiệp từ những 1930. Thành phố cũng là một trung tâm ngân hàng và bảo hiểm, điện tử, năng lượng, vận tải và công nghiệp hàng không vũ trụ. Rất nhiều trụ sở công ty và cơ quan quốc tế, bộ chính phủ, trung tâm hội nghị, địa điểm thể thao và viện bảo tàng được đặt tại khu kinh doanh chính của Roma: khu kinh tế Esposizione Universale Roma (EUR); Torrino (phía nam EUR); Magliana; Parco de' Medici-Laurentina và Tiburtina-valley nằm dọc theo con đường cổ Via Tiburtina.
=== Giáo dục ===
=== Văn hóa ===
=== Giải trí và biểu diễn nghệ thuật ===
Roma là một trung tâm âm nhạc quan trọng với nền âm nhạc lớn mạnh, bao gồm một số nhạc viện và nhà hát uy tín. Đây là nơi tọa lạc của nhạc viện Accademia Nazionale di Santa Cecilia (thành lập năm 1585), một trong những nhạc viện có bề dày lịch sử lâu nhất thế giới, trong đó những phòng hòa nhạc mới đã được xây dựng tại khu phức hợp âm nhạc cộng đồng đa chức năng Parco della Musica, một trong những địa điểm âm nhạc lớn nhất thế giới. Roma cũng có nhà hát opera là nhà hát Teatro dell'Opera di Roma, cùng vài viện âm nhạc nhỏ khác. Thành phố cũng là nơi đăng cai cuộc thi Eurovision Song Contest (Cuộc thi Ca khúc Truyền hình châu Âu) năm 1991 và Lễ trao giải MTV châu Âu (MTV Europe Music Awards) năm 2004.
Roma cũng từng có tác động lớn trong lịch sử âm nhạc. Trường phái La Mã là một nhóm các nhà soạn nhạc chủ yếu về mảng nhạc nhà thờ, hoạt động tại thành phố trong thế kỷ 16 và 17, kéo dài từ cuối thời kỳ Phục hưng đến đầu thời kỳ Baroque. Thuật ngữ này cũng dùng để chỉ âm nhạc mà họ sản xuất. Nhiều nhạc sĩ có mối liên hệ trực tiếp với Giáo hội Công giáo, Tòa Thánh và Nhà nguyện Sistina của Giáo hoàng, mặc dù họ làm việc tại một số nhà thờ khác nhau. Về phong cách âm nhạc, họ thường tương phản với Trường phái Venezia, một phong trào của các nhà soạn nhạc diễn ra cùng thời và có xu hướng phát triển mạnh hơn. Nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất từ trước đến nay của Trường phái La Mã là Giovanni Pierluigi da Palestrina, tên tuổi ông gắn liền với một tài năng hoàn hảo với phức điệu âm nhạc rõ ràng, nhịp nhàng uyển chuyển suốt 400 năm. Tuy nhiên, cũng có những nhạc sĩ khác hành nghề tại Roma với những phong cách và hình thức đa dạng.
=== Du lịch ===
Roma ngày nay là một trong những điểm đến du lịch quan trọng nhất của thế giới, điều này là sự rộng lớn đa dạng của kho tàng khảo cổ và nghệ thuật tại đây, cũng như do nét thu hút của những truyền thống độc nhất tại đây, do vẻ đẹp toàn cảnh và sự uy nghi tráng lệ của những căn biệt thự (công viên). Giá trị nhất ở Roma là số lượng bảo tàng lớn (Bảo tàng Capitolini, Bảo tàng Vatican, Nhà triển lãm Borghese, lưu trữ những gì liên quan đến cả nghệ thuật đương đại và hiện đại cùng rất nhiều những thứ khác), cống dẫn nước, đài phun nước, nhà thờ, cung điện, công trình lịch sử, đài tưởng niệm, di tích của Hội trường La Mã và các hầm mộ. Roma là thành phố thứ được viếng thăm nhiều đứng thứ ba tại Liên minh châu Âu, chỉ xếp sau Luân Đôn và Paris, với lượng du khách một năm trung bình 7-10 triệu người, mà đôi khi tăng gấp đôi vào năm thánh. Theo một nghiên cứu gần đây, đấu trường La Mã (4 triệu du khách) và Bảo tàng Vatican (4,2 triệu du khách) lần lượt đứng thứ 39 và 37 trong bảng xếp hạng những nơi được viếng thăm nhiều nhất trên thế giới.
Roma là một trung tâm khảo cổ học lớn và là một trong những trung tâm quan trọng nhất về nghiên cứu khảo cổ học của thế giới. Có rất nhiều viện nghiên cứu và viện văn hóa nằm rải rác trong thành phố, chẳng hạn như Viện Hàn lâm Hoa Kỳ tại Roma, Viện Thụy Điển tại Roma và một vài cơ quan khác. Roma tồn tại rất nhiều di tích cổ đại, bao gồm Hội trường La Mã, Chợ Trajan, Hội trường Trajan, Đấu trường La Mã, đền Pantheon. Đấu trường La Mã được đánh giá là một trong những di tích khảo cổ tiêu biểu nhất của Roma và là một kì quan thế giới.
Roma là một bảo tàng lưu trữ lớn và đầy ấn tượng về các lĩnh vực nghệ thuật, điêu khắc, đài phun nước, khảm trang trí ghép mảnh (mosaic), tranh tường và tranh vẽ từ tất cả các giai đoạn khác nhau trong lịch sử. Roma đã trở thành một trung tâm nghệ thuật từ thời La Mã cổ đại, với các hình thức nghệ thuật La Mã quan trọng như kiến trúc, hội họa, điêu khắc và khảm mosaic. Rèn kim loại, làm khuôn tiền xu và khắc đá quý, chạm trổ ngà voi, tượng thủy tinh, đồ gốm và sách minh họa hình ảnh được coi là những hình thức "nhỏ" trong các tác phẩm nghệ thuật La Mã. Roma sau này trở thành một trung tâm nghệ thuật Phục hưng chính, từ khi các giáo hoàng dành khoản tiền lớn cho các công trình xây dựng hoàng cung hùng vĩ, cung điện, quảng trường và công trình công cộng nói chung. Rome trở thành một trong những trung tâm tác phẩm nghệ thuật Phục hưng lớn của châu Âu, chỉ đứng sau Florence, và có thể so sánh với các thành phố lớn và các trung tâm văn hóa khác như Paris và Venice. Thành phố đã chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi phong trào baroque và trở thành quê hương của nhiều nghệ sĩ và kiến trúc sư, chẳng hạn như Bernini, Caravaggio, Carracci, Borromini, Cortona và một vài tên tuổi khác. Trong cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, thành phố là một trong những trung tâm của Grand Tour - một hình thức du lịch truyền thống ở châu Âu - khi mà những người giàu có, quý tộc trẻ Anh và châu Âu đến thăm thành phố để tìm hiểu về văn hóa, nghệ thuật, triết học và kiến trúc La Mã cổ đại. Roma là nơi có nhiều nghệ sĩ tân cổ điển và rococo, chẳng hạn như Pannini và Bernardo Bellotto. Ngày nay, thành phố là một trung tâm nghệ thuật lớn, với rất nhiều viện nghệ thuật và bảo tàng.
Roma đã phát triển thành nơi lưu trữ nghệ thuật đương đại, hiện đại và kiến trúc. Thư viện Nghệ thuật Hiện đại Quốc gia là nơi trưng bày cố định các tác phẩm của Balla, Morandi, Pirandello, Jerzy Dudek, De Chirico, De Pisis, Guttuso, Fontana, Burri, Mastroianni, Turcato, Kandisky, Cézanne. Năm 2010 chứng kiến buổi khai trương nền tảng nghệ thuật mới nhất của Roma, một loại hình nghệ thuật đương đại và triển lãm kiến trúc do kiến trúc sư Iraqnổi tiếng Zaha Hadid thiết kế. Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật và Kiến trúc thế kỷ 21 Maxxi tái hiện một khu vực đổ nát với kiến trúc hiện đại ấn tượng. Maxxi có một trường dành riêng cho phòng nghiên cứu thực nghiệm và văn hóa, trao đổi quốc tế và học tập. Nó là một trong những dự án kiến trúc hiện đại mong muốn nhất của Roma, cùng với Bảo tàng Renzo Piano (Renzo Piano's Auditorium Parco della Musica) và Trung tâm Hội nghị Massimiliano Fuksas ở Roma, Centro Congressi Italia EUR, ở khu EUR, dự kiến khai trương vào năm 2011. Trung tâm Hội nghị có đặc điểm như một container bán trong suốt khổng lồ, kết cấu thép và teflon treo giống như một đám mây bên trong có các phòng họp và một hội trường với hai quảng trường mở ra khu dân cư hai bên công trình.
Roma cũng được công nhận rộng rãi như một kinh đô thời trang thế giới. Mặc dù không đóng vai trò quan trọng như Milan, theo Hiệp hội Giám sát Ngôn ngữ Toàn cầu năm 2009, Roma là trung tâm thời trang quan trọng đứng thứ tư đối với thời trang thế giới, chỉ sau Milan, New York, Paris và vượt qua Luân Đôn. Các hãng thời trang và trang sức cao cấp nổi bật như Bulgari, Fendi, Laura Biagiotti và Brioni và một số tên tuổi khác, có trụ sở chính hoặc được thành lập trong thành phố. Ngoài ra, các thương hiệu lớn khác như Chanel, Prada, Dolce & Gabbana, Armani và Versace có nhiều cửa hàng sang trọng ở Roma, chủ yếu dọc theo con đường thời trang Via Condotti dei uy tín và cao cấp ở Roma.
Một số danh lam thắng cảnh ở Roma
Đấu trường La Mã: được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3. Là nơi giao đấu của các đấu sĩ.
Vương cung thánh đường Thánh Phêrô
Vương cung thánh đường Đức Bà Cả
Đài phun nước Trevi
Quảng trường Navona
Quảng trường Tây Ban Nha
Quảng trường Venezia
Vittoriano
Lâu đài Thiên Thần
Quảng trường La Mã
Tháp Traianus
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực của Roma đã phát triển qua nhiều thế kỷ và các thời kì biến đổi xã hội, văn hóa và chính trị. Roma trở thành một trung tâm nghệ thuật ẩm thực lớn từ thời La Mã cổ đại. Ẩm thực thời kì này chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa Hy Lạp cổ đại, và sau đó, quá trình bành trướng đế chế La Mã đưa Roma tiếp xúc với nhiều tập quán chế biến món ăn địa phương và kĩ thuật nấu ăn. Ban đầu, sự cách biệt giữa các tầng lớp xã hội không lớn lắm nhưng đã tăng dần theo tốc độ tăng trưởng của đế chế. Sau này, trong thời kỳ Phục hưng, Roma đã trở nên nổi tiếng là một trung tâm ẩm thực lớn, vì một số đầu bếp giỏi nhất thời đại làm việc cho các Giáo hoàng. Một đầu bếp điển hình là Bartolomeo Scappi, làm việc cho Giáo hoàng Pius IV trong nhà bếp Vatican và trở nên nổi tiếng khi xuất bản cuốn sách nấu ăn Opera dell'arte del cucinare vào năm 1570. Trong đó, ông liệt kê khoảng 1000 công thức ẩm thực Phục hưng đồng thời mô tả các kỹ thuật và dụng cụ nấu ăn đồng thời đưa ra hình ảnh được biết đến như chiếc nĩa đầu tiên. Ngày nay, thành phố là nơi có nhiều món ăn truyền thống Ý vô cùng nổi tiếng. Có thể thấy được ảnh hưởng của người Do Thái trong nền ẩm thực này vì người Do Thái đã sống ở Roma kể từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Các loại rau, đặc biệt là atisô hình cầu phổ biến rất rộng rãi. Một số ví dụ về món ăn nổi tiếng như "Saltimbocca alla Romana" – cốt lết bê theo phong cách La Mã; đứng đầu với giăm bông tươi, cây xô thơm, ninh với rượu vang trắng và bơ; "Carciofi alla giudia" – atisô chiên trong dầu ô liu, món điển hình của người Do Thái La Mã; "Carciofi alla Romana" – atisô phong cách La Mã, lớp lá bên ngoài được tách bỏ, nhồi với bạc hà, tỏi, vụn bánh mì sau đó đem om; "Spaghetti alla Carbonara"–spaghetti với thịt xông khói, trứng và pecorino; "Gnocchi di semolino alla Romana"–bánh bao semolina theo phong cách La Mã và một vài món ăn khác.
=== Phim màn ảnh rộng ===
=== Ngôn ngữ ===
=== Thể thao ===
== Giao thông ==
Roma là trung tâm của mạng lưới đường hướng tâm chạy theo những con đường nhấp nhô có từ thời La Mã cổ đại, bắt đầu từ ngọn đồi Capitoline và nối liền Roma với đế chế La Mã. Vòng quanh Roma ngày nay ở khoảng cách khoảng 10 km (6 dặm) là tuyến đường vòng cung (Grande Raccordo Anulare hoặc GRA).
Do vị trí nằm ở trung tâm bán đảo Ý, Roma là một nút đường sắt chủ yếu cho các khu trung trung tâm tại Ý. Nhà ga chính của Roma, Termini, là một trong những nhà ga lớn nhất ở châu Âu và có lưu lượng khách sử dụng nhiều nhất ở Ý, với khoảng 400.000 hành khách được chuyên chở mỗi ngày. Nhà ga lớn thứ hai trong thành phố là nhà ga Roma Tiburtina, hiện đang được tái phát triển thành một trạm đường sắt cao tốc.
Có ba sân bay phục vụ tại Roma. Sân bay quốc tế liên lục địa Leonardo Da Vinci là sân bay chính của Ý và thường được gọi là "Sân bay Fiumicino", vì nó nằm trong comune Fiumicino gần phía Tây Nam của Roma. Sân bay thứ hai là Ciampino Roma, trước đây là một sân bay dân sự và quân sự kết hợp, thường được gọi là "Sân bay Ciampino" vì nó nằm bên cạnh Ciampino về phía Đông Nam Roma. Sân bay thứ ba là Roma-Urbe, một sân bay nhỏ có lưu lượng thấp nằm cách khoảng 6 km về phía Bắc trung tâm thành phố, dành riêng phục vụ cho hầu hết máy bay trực thăng và các chuyến bay tư nhân.
Thành phố Roma đang hứng chịu các vấn đề giao thông, chủ yếu là do mô hình đường xuyên tâm đã gây khó khăn cho người dân Roma: nếu muốn di chuyển từ các vùng lân cận của một trong những tuyến đường xuyên tâm đến tuyến đường khác họ phải đi vào trung tâm lịch sử hoặc phải đi đường vòng. Vấn đề này không thể giải quyết do quy mô hệ thống tàu điện ngầm tại Roma bị hạn chế so với các thành phố khác có kích thước tương tự. Ngoài ra, Roma chỉ có 21 xe taxi cho mỗi 10.000 dân, cách biệt xa so với các thành phố lớn ở châu Âu. Nạn tắc nghẽn xe hơi thường xuyên xảy ra trong những năm 1970 và 1980 đã dẫn đến việc hạn chế lưu thông phương tiện vào trung tâm nội thành trong thời điểm ban ngày. Những khu vực áp dụng hạn chế được gọi là Khu Hạn chế Giao thông (Zona a Traffico Limitato (ZTL) ở Ý). Gần đây hơn, lượng giao thông tấp nập vào ban đêm ở Trastevere và San Lorenzo đã dẫn đến việc hình thành những khu ZTL đêm ở những vùng đó, ngoài ra còn có kế hoạch lập một khu ZTL đêm ở Testaccio.
Một hệ thống tàu điện ngầm 2 tuyến gọi là Metropolitana đã đi vào hoạt động tại Roma. Việc xây dựng nhánh đầu tiên bắt đầu vào những năm 1930. Tuyến đường này đã được lên kế hoạch trước với muc tiêu nhanh chóng kết nối nhà ga chính với khu E42 vừa được quy hoạch ở ngoại ô phía Nam, nơi dự định tổ chức Hội chợ Thế giới 1942. Sự kiện này đã không thể diễn ra vì chiến tranh. Khu vực này sau đó một phần được thiết kế lại và đổi tên thành EUR (Esposizione Universale di Roma: Triển lãm Thế giới Roma) trong những năm 1950 để đóng vai trò như một khu kinh doanh hiện đại. Cuối cùng, tuyến đường đã được mở vào năm 1955 và hiện nay đang là một phần của Tuyến B.
Tuyến A khai trương vào năm 1980, chạy từ Ottaviano đến nhà ga Anagnina, sau đó mở rộng quãng đường đến Battistini (1999-2000). Trong những năm 1990, phần mở rộng của Tuyến B đã đi vào hoạt động, chạy từ Termini đến Rebibbia. Mạng lưới ngầm nói chung là đáng tin cậy (mặc dù nó có thể bị tắc nghẽn trong giờ cao điểm và trong các sự kiện, đặc biệt là Tuyến A) vì độ dài tương đối ngắn. Vào năm 2005, tổng chiều dài của mạng lưới là 38 km (24 dặm).
Hai Tuyến A và B hiện tại giao nhau ở nhà ga Roma Termini. Một nhánh mới của Tuyến B (B1) đang được xây dựng với chi phí ước tính là 500 triệu euro, dự kiến khai trương vào năm 2012. B1 sẽ kết nối với B tại Quảng trường Bologna và sẽ có bốn trạm phân bố trong 3,9 km (2 dặm). Tuyến C là tuyến thứ ba, đang được xây dựng với chi phí ước tính 3 tỷ euro với 30 trạm trong khoảng cách 25,5 km (16 dặm). Tuyến C sẽ thay thế một phần tuyến đường sắt hiện có là Termini-Pantano với đầy đủ tính năng tự động và không người lái. Đoạn đầu dự kiến khánh thành vào năm 2011 và đoạn cuối vào năm 2015, nhưng những phát hiện khảo cổ học thường trì hoãn việc xây dựng ngầm. Tuyến thứ 4 là tuyến D cũng được quy hoạch với dự kiến 22 nhà ga phân bố trên một khoảng cách 20 km (12 dặm). Đoạn đầu kiến đưa vào hoạt động trong năm 2015 và các phần cuối sẽ hoạt động trước năm 2035.
Giao thông công cộng trên mặt đất tại Roma hình thành bởi mạng lưới xe buýt, xe điện và mạng lưới xe lửa đô thị (các tuyến FR). Mạng lưới xe buýt và xe điện do Trambus S. p. A. điều hành dưới sự bảo trợ của ATAC S. p. A. (viết tắt của Cục vận tải xe bus và xe điện của commune, trong tiếng Ý là Azienda Tranvie ed Autobus del Comune). Mạng lưới xe buýt đã vượt quá 350 tuyến xe buýt và trên 8.000 trạm dừng, trong khi hệ thống xe điện bị giới hạn nhiều hơn, chỉ có 39 km đường ray và 192 trạm. Ngoài ra còn có tuyến xe bus điện khai trương vào năm 2005 và các tuyến xe bus điện mở rộng khác cũng đã được quy hoạch.
== Tổ chức đoàn thể và liên hệ quốc tế ==
== Thành phố song sinh, thành phố kết nghĩa và thành phố cộng sự ==
Từ 1956, Roma chỉ được so sánh duy nhất với thành phố song sinh của nó:
Paris, Pháp
(tiếng Pháp) Seule Paris est digne de Rome; seule Rome est digne de Paris.
(tiếng Ý) Solo Parigi è degna di Roma; solo Roma è degna di Parigi.
(tiếng Anh) Only Paris is worthy of Rome; only Rome is worthy of Paris.
"Chỉ có Paris mới xứng với Roma; chỉ có Roma mới xứng với Paris."
Thành phố kết nghĩa và thành phố cộng sự của Roma gồm:
== Truyền thông ==
Dưới đây là danh sách các tờ báo, tạp chí, đài truyền thanh và truyền hình tại Roma:
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Rendina, Mario (2007). Roma ieri, oggi, domani (bằng tiếng Ý). Rome: Newton & Compton Editori. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Lucentini, Mario (2002). La Grande Guida di Roma (bằng tiếng Ý). Rome: Newton & Compton Editori. ISBN 88-8289-053-8. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Spoto, Salvatore (1999). Roma Esoterica (bằng tiếng Ý). Rome: Newton & Compton Editori. ISBN 88-8289-265-4. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Richard Brilliant (2006). Roman Art. An American's View. Rome: Di Renzo Editore. ISBN 88-8323-085-X.
Rome. DK. 2006. ISBN 1405310901.
Bertarelli, Luigi Vittorio (1925). Guida d'Italia (Vol. IV) (bằng tiếng Ý). Rome: CTI. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Tài liệu
The Holy Cities: Rome produced by Danae Film Production, distributed by HDH Communications; 2006.
== Liên kết ngoài ==
Rome travel guides tại DMOZ
City models of Ancient Rome
Vintage Rome: The Eternal City – slideshow by Life magazine
Chính thức
Official site of the City of Rome (tiếng Ý)
APT (official Tourist Office) of the City of Rome (tiếng Anh)
Rome Museums — Official site (tiếng Ý)
Vatican Museums (tiếng Anh)
Capitoline Museums (tiếng Anh) |
đế quốc mogul.txt | Đế quốc Mogul (Tiếng Ba Tư: شاهان مغول Shāhān-e Moġul; self-designation: گوركانى - Gūrkānī), thường được các sử liệu Anh ghi là đế quốc Mughal, Pháp ghi là đế quốc Moghol và Việt Nam gọi là đế quốc Mô-gôn, là một đế quốc Hồi giáo (chịu ảnh hưởng từ nền văn hoá Ba Tư) ở Tiểu lục địa Ấn Độ đã ra đời vào năm 1526, nắm quyền kiểm soát trên phần lớn tiểu lục địa trong các thế kỷ XVII và XVIII, và cáo chung vào giữa thế kỷ XIX. Các vua nhà Mogul đều thuộc dòng dõi nhà Timur có dòng máu Đột Quyết, Mông Cổ, Rajput và Ba Tư. Khi ở đỉnh cao quyền lực, vào khoảng năm 1700, đế quốc này trị vì trên phần lớn Tiểu lục địa - trải dài từ Bangladesh ở phía đông tới Balochistan ở phía tây, Kashmir ở phía bắc tới lòng chảo Kaveri ở phía tây. Trong thời gian này, đế quốc Mogul có lãnh thổ rộng đến 4.000.000 km² với dân số khoảng 110.000.000 - 130.000.000. Sau năm 1725 đế quốc Mogul suy yếu, các sử gia xem nguyên nhân của sự suy yếu này là:
Chiến tranh giành quyền kế vị thường nổ ra.
Mâu thuẫn về ruộng đất, khiến nhân dân vùng lên khởi nghĩa.
Thực thi nhiều chính sách bất dung hòa tôn giáo.
Sự trỗi dậy của đế quốc Sikh, đế quốc Maratha, đế quốc Durrani, cũng như sự xâm lược của thực dân Anh.
Sau thất bại cuộc binh biến Ấn Độ năm 1857, vị vua cuối cùng là Bahadur Shah II bị thực dân Anh bắt sống và đày ải.
Thời cực thịnh của đế quốc Mogul được bắt đầu khi Jalaluddin Mohammad Akbar, được biết như Akbar Đại đế, lên ngôi năm 1556 và kết thúc khi vua Aurangzeb qua đời năm 1707, mặc dù đế quốc Mogul vẫn tiếp tục tồn tại trong 150 năm sau đó. Trong giai đoạn này, đất nước được trị vì bởi triều đình trung ương liên kết với các địa phương, thi hành chính sách tự do tôn giáo. Nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng mà ngày nay thu hút rất nhiều khách du lịch, đều được xây dựng vào giai đoạn này.
- Năm 1562: vua Babua đánh chiếm Đêli
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Mughal Empire tại Wikimedia Commons
Mughal India an interactive experience from the British Museum
The Mughal Empire from BBC
Mughal Empire
The Great Mughals
Gardens of the Mughal Empire
Indo-Iranian Socio-Cultural Relations at Past, Present and Future, by M.Reza Pourjafar, Ali
A. Taghvaee, in Web Journal on Cultural Patrimony (Fabio Maniscalco ed.), vol. 1, January–June 2006
Adrian Fletcher's Paradoxplace — PHOTOS — Great Mughal Emperors of India
A Mughal diamond on BBC |
thế kỷ 20.txt | Thế kỷ 20 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1901 đến hết năm 2000, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory (tức là lịch cổ).Nhưng theo lịch thiên văn, Thế kỷ 20 được tính từ ngày 1/1/1900 và kết thúc vào ngày 31/12/1999.
== Sinh ==
1901 - Ngô Đình Diệm, tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam)
1902 - Hoàng Văn Hợp, liệt sĩ cách mạng kháng chiến chống Pháp (1930-1931), nguyên Huyện ủy viên Huyện ủy Quỳnh Lưu - Nghệ An
1903 - Nguyễn Công Hoan, nhà văn Việt Nam
1906 - Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long), nguyên hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên
1906 - Tô Ngọc Vân, họa sĩ nổi tiếng Việt Nam
1906 - Nguyễn Tường Lân, họa sĩ Việt Nam
1907 - Lê Phổ, họa sĩ Việt Nam
1908 - Nguyễn Gia Trí, họa sĩ Việt Nam
1910 - Nguyễn Tuân, nhà văn Việt Nam
1910 - Trần Văn Cẩn, họa sĩ Việt Nam
1911 - Bút Tre, nhà thơ Việt Nam
1911 - Võ Nguyên Giáp, đại tướng quân đội nhân dân Việt Nam
1912 - Giáo hoàng Gioan Phaolô I, giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Rôma
1912 - Hàn Mặc Tử, nhà thơ Việt Nam
1913 - Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của Ngành Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam
1913 - Nguyễn Hữu Đang, nhà báo đồng thời là "lão thành cách mạng" Việt Nam
1913 - Trương Tửu, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam
1914 - Lý Tự Trọng, nhà cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam
1914 - Huỳnh Văn Nghệ, nhà thơ Việt Nam
1916 - Thụy An, nhà văn Việt Nam
1916 - Hữu Loan, nhà thơ Việt Nam
1916 - Vũ Hoàng Chương, nhà thơ Việt Nam
1917 - Trần Đức Thảo, nhà nghiên cứu triết học Việt Nam
1917 - Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú
1918 - Huyền Thanh, nhà thơ trào phúng (báo Lao động) Việt Nam
1918 - Nguyễn Bính, nhà thơ Việt Nam
1919 - Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Hồng y - Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội
1919 - Tạ Đình Đề nhà cách mạng Việt Nam
1920 - Hoài Linh, (nhạc sĩ) Việt Nam
1920 - Bùi Xuân Phái, họa sĩ Việt Nam
1921 - Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Hồng y - Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội
1921 - Tạ Tỵ, họa sĩ Việt Nam
1921 - Quang Dũng (nhà thơ) Việt Nam
1922 - Ngô Linh Ngọc, nhà thơ và dịch giả Hán Nôm Việt Nam
1922 - Hoàng Cầm, nhà thơ Việt Nam
1922 - Nguyễn Tư Nghiêm, họa sĩ Việt Nam
1923 - Doãn Quốc Sỹ, nhà văn Việt Nam
1923 - Nguyễn Sáng, họa sĩ Việt Nam
1923 - Văn Cao, nhạc sĩ Việt Nam
1924 - Trần Lệ Xuân, Việt Nam
1924 - George H. W. Bush, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 41
1924 - Dương Bích Liên, họa sĩ Việt Nam
1925 - Hoàng Trung Thông, nhà thơ Việt Nam
1926 - Anh Bằng, nhạc sĩ Việt Nam
1926 - Dương Quân, nhà thơ trào phúng Việt Nam
1926 - Trần Dần, nhà thơ Việt Nam
1926 - Hoàng Nhật Tân (Hoàng Thanh Đạm), nhà nghiên cứu sử học và dịch giả, con trai Hoàng Văn Hoan
1927 - Bùi Tín, nhà báo Việt Nam
1928 - Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nguyên Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Hội đồng giáo hoàng về Công lý và Hòa Bình
1928 - Phùng Cung, nhà văn, nhà thơ Việt Nam
1928 - Sơn Tùng, (nhà văn) Việt Nam
1929 - Kim Đồng, người đội trưởng đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
1929 - Lê Đạt, nhà thơ Việt Nam
1929 - Tạ Lựu, họa sĩ biếm họa Việt Nam
1929 - Nguyễn Nghiêm, họa sĩ biếm họa quân đội Việt Nam
1930 - Neil Armstrong, người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng
1930 - Dương Viên, họa sĩ, nguyên Tổng thư ký Hội Mỹ thuật tạo hình Việt Nam
1930 - Phạm Thế Mỹ, nhạc sĩ Việt Nam
1930 - Minh Kỳ, nhạc sĩ Việt Nam
1932 - Phùng Quán, nhà văn, nhà thơ Việt Nam
1932 - Tử Phác, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Việt Nam
1932 - Nguyễn Văn Đông, nhạc sĩ Việt Nam
1933 - Tuân Nguyễn, nhà thơ Việt Nam
1933 - Hoàng Tiến, nhà văn Việt Nam
1933 - Phạm Mạnh Cương, nhạc sĩ Việt Nam
1934 - Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Hồng y - nguyên Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
1934 - Lê Dinh, nhạc sĩ Việt Nam
1934 - Thái Thanh, ca sĩ Việt Nam
1935 - Duyên Anh, nhà văn Việt Nam
1936 - Duy Khánh, nhạc sĩ, ca sĩ Việt Nam
1936 - Hùng Cường, ca sĩ Việt Nam
1936 - Nguyễn Đình Toàn, nhạc sĩ Việt Nam
1936 - Thanh Tâm Tuyền, nhà thơ Việt Nam
1937 - Trầm Tử Thiêng, nhạc sĩ Việt Nam
1938 - Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Hồng y - Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội
1938 - Hoàng Trang, ca sĩ Việt Nam
1938 - Cung Tiến, nhạc sĩ Việt Nam
1939 - Anh Việt Thu, nhạc sĩ Việt Nam
1939 - Trịnh Công Sơn, nhạc sĩ Việt Nam
1940 - John Lennon - ca sĩ phản chiến nổi tiếng, thành viên của The Beatles huyền thoại và Ringo Starr, tay trống chuyên nghiệp cũng của The Beatles
1940 - Thanh Sơn, (nhạc sĩ) Việt Nam
1942 - Paul McCartney - ca sĩ nhạc sĩ người Anh lập được rất nhiều kỉ lục Guinness, thành viên của The Beatles
1942 - Trần Thiện Thanh, nhạc sĩ, ca sĩ Việt Nam
1942 - Chế Linh, ca sĩ, nhạc sĩ Việt Nam
1942 - Nhật Ngân, nhạc sĩ Việt Nam
1943 - George Harrison - con bọ trầm lặng của The Beatles
1943 - Lệ Thu, ca sĩ Việt Nam
1943 - Chóe, họa sĩ biếm họa Việt Nam
1944 - Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
1944 - Gioan Maria Vũ Tất, Giám mục chính tòa Giáo phận Hưng Hóa
1944 - Nam Lộc, nhạc sĩ Việt Nam
1945 - Giuse Đinh Đức Đạo, Giám mục Phó Giáo phận Xuân Lộc
1945 - Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục chính tòa Giáo phận Vinh
1946 - Bill Clinton, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 42.
1946 - George W. Bush, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 43.
1946 - Phương Dung, ca sĩ Việt Nam
1947 - Phạm Tuân, phi hành gia người Việt Nam
1948 - Thanh Lan, ca sĩ, diễn viên Việt Nam
1949 - Giao Linh, ca sĩ Việt Nam
1952 - Giuse Ngô Quang Kiệt, nguyên Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội
1952 - Aloisiô Nguyễn Hùng Vị, Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum
1952 - Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn, Giám mục Phó Giáo phận Bà Rịa
1953 - Anphongsô Nguyễn Hữu Long, Giám mục Phụ tá Giáo phận Hưng Hóa
1954 - Phêrô Huỳnh Văn Hai, Giám mục chính tòa Giáo phận Vĩnh Long
1954 - Châu Đình An, nhạc sĩ Việt Nam
1955 - Giuse Trần Văn Toản, Giám mục Phụ tá Giáo phận Long Xuyên
1956 - Ngọc Lan, ca sĩ Việt Nam
1958 - Việt Dzũng, nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt
1958 - Giuse Nguyễn Tấn Tước, Giám mục chính tòa Giáo phận Phú Cường.
1960 - Dương Nguyệt Ánh, nữ khoa học gia người Mỹ gốc Việt
1961 - Barack Obama, tổng thống Hoa Kỳ thứ 44
1965 - Phêrô Nguyễn Văn Viên, Giám mục Phụ tá Giáo phận Vinh
1979 - Nguyễn Thúy Hiền, vận động viên Wushu Việt Nam
== Mất ==
1907 - Tú Xương, nhà thơ trào phúng Việt Nam
1909 - Nguyễn Khuyến, nhà thơ trào phúng Việt Nam
1910 - Ngô Đình Nhu, Cố vấn chính trị Việt Nam Cộng Hòa
1917 - Lương Ngọc Quyến, con trai nhà yêu nước Lương Văn Can
1924 - Phạm Hồng Thái, nhà hoạt động trong Phong trào Đông Du
1931 - Lý Tự Trọng, nhà cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam
1931 - Hoàng Văn Hợp, liệt sĩ cách mạng kháng chiến chống Pháp (1930-1931), nguyên Huyện ủy viên Huyện ủy Quỳnh Lưu - Nghệ An
1936 - Nguyễn Văn Vĩnh, nhà báo, nhà văn, nhà thông ngôn Việt Nam
1939 - Tản Đà, nhà thơ Việt Nam
1940 - Hàn Mặc Tử, nhà thơ Việt Nam
1945 - Phạm Quỳnh, nhà báo, nhà văn đồng thời là quan đại thần triều Nguyễn - Việt Nam
1946 - Nguyễn Tường Lân, họa sĩ Việt Nam
1951 - Trần Hữu Tri (Nam Cao), nhà văn hiện thực xã hội lớn đầu thế kỉ 20
1952 - Tử Phác, nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Việt Nam
1953 - Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long), nguyên hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên
1954 - Tô Ngọc Vân, họa sĩ người Việt Nam
1963 - Ngô Đình Nhu, Cố vấn chính trị Việt Nam Cộng Hòa
1963 - Ngô Đình Diệm, tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam)
1966 - Nguyễn Bính, nhà thơ Việt Nam
1969 - Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt Nam)
1975 - Minh Kỳ, nhạc sĩ Việt Nam
1975 - Anh Việt Thu, nhạc sĩ Việt Nam
1976 - Tú Mỡ, nhà thơ trào phúng Việt Nam
1976 - Vũ Hoàng Chương, nhà thơ Việt Nam
1977 - Nguyễn Công Hoan, nhà văn Việt Nam
1977 - Huỳnh Văn Nghệ, nhà thơ Việt Nam
1978 - Giáo hoàng Phaolô VI, giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Rôma
1978 - Giáo hoàng Gioan Phaolô I, giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Rôma
1978 - Giuse Maria Trịnh Như Khuê, Hồng y - Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội
1979 - Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú
1980 - John Lennon, bị ám sát
1980 - Huyền Thanh, nhà thơ trào phúng (báo Lao động) Việt Nam
1983 - Tuân Nguyễn, nhà thơ Việt Nam
1985 - Dương Quân, nhà thơ trào phúng Việt Nam
1987 - Nguyễn Tuân, nhà văn Việt Nam
1987 - Phùng Cung, nhà văn, nhà thơ Việt Nam
1987 - Bút Tre, nhà thơ Việt Nam
1988 - Dương Bích Liên, họa sĩ Việt Nam
1988 - Quang Dũng (nhà thơ) Việt Nam
1988 - Nguyễn Sáng, họa sĩ Việt Nam
1988 - Bùi Xuân Phái, họa sĩ Việt Nam
1989 - Thụy An, nhà văn Việt Nam
1990 - Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Hồng y - Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội
1993 - Hoàng Trung Thông, nhà thơ Việt Nam
1993 - Nguyễn Gia Trí, họa sĩ Việt Nam
1994 - Trần Văn Cẩn, họa sĩ Việt Nam
1995 - Phùng Quán, nhà văn, nhà thơ Việt Nam
1995 - Hoài Linh, (nhạc sĩ) Việt Nam
1995 - Văn Cao, nhạc sĩ Việt Nam
1996 - Hùng Cường, ca sĩ Việt Nam
1997 - Trần Dần, nhà thơ Việt Nam
1997 - Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của Ngành Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam
1997 - Duyên Anh, nhà văn Việt Nam
1998 - Tạ Đình Đề
1999 - Trương Tửu, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam
2000 - Trầm Tử Thiêng, nhạc sĩ Việt Nam
1948 - Mahātmā Gāndhī, anh hùng dân tộc Ấn Độ
1972 - Harry Truman, tổng thống Hoa Kỳ thứ 33
1945 - Franklin Delano Roosevelt, tổng thống Hoa Kỳ thứ 32, anh hùng thế chiến II
1945 - Adolf Hitler, trùm phát xít Đức, kẻ đã gây ra thế chiến II
== Tham khảo == |
bảo tàng anh.txt | Viện bảo tàng Anh (British Museum) là một viện bảo tàng văn hóa và lịch sử loài người ở Luân Đôn. Với trên 7 triệu vật thể hiện có, Viện bảo tàng Anh là một trong những viện bảo tàng lớn nhất thế giới, minh họa đầy đủ lịch sử văn hóa loài người từ nguyên thủy đến hiện tại.
== Quá trình phát triển ==
Viện bảo tàng Anh được thành lập từ năm 1753, chủ yếu dựa trên những bộ sưu tập của nhà khoa học Hans Sloane. Viện bảo tàng mở của lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 1 năm 1759. Qua hơn hai thế kỷ nó đã được mở rộng và có một và trụ sở chi nhánh. Tận đến năm 1997, khi tòa nhà Thư viện Anh mở cửa cho mọi người, Viện bảo tàng Anh đã được hợp nhất, bao gồm viện bảo tàng quốc gia trước đây và thư viện quốc gia. Từ năm 2001 giám đốc viện bảo tàng là Neil MacGregor.
== Chú thích == |
seagate technology.txt | Seagate tên đầy đủ là Seagate Technology (NASDAQ: STX), là một trong những nhà sản xuất ổ đĩa cứng lớn nhất thế giới. Được sáp nhập vào năm 1978 với tên cũ là Shugart Technology, hãng Seagate hiện nay hợp nhất tại Dublin, Ireland và có các văn phòng điều hành chính đặt tại Scotts Valley, California, Hoa Kỳ.
Seagate đưa ra thành công giải pháp lưu trữ không dây chạy pin đầu tiên trên thế giới.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ |
davis cup.txt | Davis Cup là một giải đấu quần vợt quốc tế cho các tay vợt nam thi đấu theo đội tuyển quốc gia do Liên đoàn quần vợt quốc tế tổ chức hàng năm theo thể thức loại trực tiếp. Davis Cup được sáng lập bởi Dwight F. Davis, một sinh viên đại học Harvard, Hoa Kỳ năm 1899. Ông đã đặt ra luật lệ tranh đấu và bỏ tiền riêng của mình để đặt làm cái Cúp Davis rất to, bằng bạc. Davis Cup đầu tiên diễn ra năm 1900 tại Longwood Cricket Club ở Boston, Hoa Kỳ giữa hai đội Hoa Kỳ và Anh. Một trăm năm sau (2000), giải Davis có tới 129 quốc gia tham dự. Cho đến nay, Mỹ thắng Davis Cup nhiều nhất (32 lần), sau đó đến Úc (28 lần), rồi đến Anh và Pháp (mỗi nước 9 lần).
Giải đấu tương đương của các tay vợt nữ là Fed Cup. Úc, Cộng hoà Séc và Hoa Kỳ là những quốc gia đã tổ chức cả hai giải đấu Davis Cup và Fed Cup trong cùng một năm.
== Việt Nam và Davis Cup ==
Việt Nam tranh giải Davis Cup lần đầu tiên năm 1964 . Từ năm 1964 đến 1974 Việt Nam đều có tranh giải với kết quả tốt nhất là vào chung kết Vùng Đông (Eastern Zone) A năm 1964, vùng Đông B năm 1965, 1969. Trong cả 3 vòng chung kết này Việt Nam được dẫn bởi tay vợt nổi tiếng Võ Văn Bảy (cũng là người Việt tham gia nhiều năm Davis Cup nhất, 8 năm), nhưng cả 2 lần đầu thua Ấn Độ , năm 1969 thua Nhật. Sau 1974, Việt Nam không tham dự mãi cho đến năm 2003. Năm 2004-2005, Việt Nam đứng hạng 3 trong Nhóm Á/Úc Vùng III.
== Hồ sơ và số liệu thống kê ==
=== Đội ===
=== Tính theo quốc gia (từ năm 1972) ===
== Bảng xếp hạng ITF hiện tại ==
Complete rankings Tính đến ngày 20 tháng 2 năm 2017
Ghi chú: Tổng số các nước trong Nhóm 1 là 24 nước. Tuy nhiên số nước trong mỗi vùng có thể khác nhau mỗi năm, tùy số nước trong vùng lên hoặc xuống hạng giữa Nhóm 1 và Nhóm Thế giới. Số các nước trong Nhóm 1 và Nhóm Thế giới tổng cộng là 22 từ vùng Âu/Phi, 9 vùng Mỹ châu và 9 từ vùng Á/Đại dương (châu).
Việt Nam sẽ đấu trong nhóm 3 vùng Á/Đại dương (châu) năm 2013, các nước đối thủ là Hongkong, Iran, Campuchia, Malaysia, Các nước Châu Đại dương, Oman, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh) Trang chủ Davis Cup |
bit chẵn lẻ.txt | Bit chẵn lẻ (tiếng Anh: parity bit) là một bit dùng để báo hiệu số lượng bit có giá trị bằng 1(2) trong một nhóm bit cho trước là một số chẵn hay là một số lẻ. Bit chẵn lẻ được sử dụng như là một mã dùng để phát hiện lỗi đơn giản nhất.
Có hai loại mã chẵn lẻ: bit chẵn lẻ dùng quy luật số chẵn (even parity bit) và bit chẵn lẻ dùng quy luật số lẻ (odd parity bit). Bit chẵn lẻ dùng quy luật số chẵn có giá trị bằng 1(2) khi số lượng các bit 1, trong một nhóm bit cho trước, là một số lẻ (và khi cộng thêm bit chẵn lẻ vào, tổng số lượng bit có giá trị bằng 1(2) là một số chẵn). Ngược lại, bit chẵn lẻ dùng quy luật số lẻ có giá trị bằng 1(2) nếu số lượng các bit 1, trong một nhóm bit cho trước, là một số chẵn (và khi cộng thêm bit chẵn lẻ vào, tổng số bit có giá trị bằng 1(2) là một số lẻ). Bit chẵn lẻ dùng quy luật chẵn là một trường hợp đặc biệt của kỹ thuật kiểm tra độ dư tuần hoàn (cyclic redundancy check - CRC). Trong CRC, bit CRC được kiến tạo bằmg cách dùng đa thức (polynomial) x+1.
== Phát hiện lỗi ==
Nếu một số lẻ lượng các bit (bao gồm cả bit chẵn lẻ), bị đảo lộn trong khi truyền thông một nhóm bit, thì bit chẵn lẻ sẽ có giá trị không đúng, và do đó báo hiệu rằng lỗi trong truyền thông đã xảy ra. Với lý do này, bit chẵn lẻ còn được gọi là một mã phát hiện lỗi, song nó không phải là một mã sửa lỗi, vì nó chẳng có cách nào xác định được vị trí của bit bị lỗi cả. Khi lỗi bị phát hiện, dữ liệu thu được phải bị bỏ đi và phải được truyền thông lại từ đầu. Trên kênh truyền có độ nhiễu cao, việc truyền tải dữ liệu thành công là một việc rất hao tốn thời gian, và đôi khi, việc truyền thông còn hầu như không thể thực hiện được nữa. Bit chẵn lẻ có một ưu điểm: nó là một mã tốt nhất chiếm chỉ một bit và chỉ dùng vài cồng XOR (XOR gate) để tạo giá trị mà thôi. Xin xem thêm mã Hamming để biết thêm về các mã sửa lỗi khác.
== Ứng dụng ==
Do đặc tính đơn giản của nó, bit chẵn lẻ được dùng trong rất nhiều ứng dụng phần cứng, những nơi mà việc tái diễn các thao tác khi có trục trặc xảy ra là một việc có thể thực hiện được, hoặc những nơi mà việc phát hiện lỗi đơn thuần là một việc có lợi. Lấy ví dụ, mạch nối SCSI (SCSI bus) dùng bit chẵn lẻ để phát hiện lỗi trong truyền thông, và rất nhiều các phần lưu trữ trong bộ nhớ các lệnh vi xử lý (microprocessor instruction cache) cũng dùng bit chẵn lẻ để bảo trợ hoạt động của nó nữa. Do các dữ liệu trong I-cache chỉ là một bản sao của bộ nhớ chính (main memory), nội dung của nó có thể được xóa đi, nạp lại nếu dữ liệu ở trong chẳng may bị thoái hóa (corrupted).
Trong truyền thông dữ liệu nối tiếp (serial data transmission), dạng thức dữ liệu được dùng phổ thông nhất là dạng thức 7 bit, với một bit chẵn lẻ dùng quy luật số chẵn, một Start bit và một hoặc hai Stop bit để đánh dấu/đồng bộ điểm bắt đầu cũng như kết thúc một byte dữ liệu trong chuỗi bit trên đường truyền. Dạng thức này thích ứng hầu hết các dạng thức 7-bit ký tự ASCII dưới hình thức byte 8-bit. Một byte dữ liệu trên đường truyền nối tiếp sẽ gồm 01 Start bit (bắt đầu), 7 bit dữ liệu, một parity bit và 01 Stop bit (kết thúc). Byte là một hình thức tiện lợi để biểu đạt dữ liệu. Những dạng thức khác cũng có thể thực hiện được, như dạng thức 8 bit dữ liệu cộng với một bit chẵn lẻ có thể dùng để chuyên chở tất cả các giá trị byte 8-bit.
Trong ngữ cảnh của truyền thông nối tiếp (serial communication), bit chẵn lẻ thường được phát sinh và kiểm tra bởi phần cứng giao thức - chẳng hạn như UART - và khi thu nhận, CPU có thể sử dụng kết quả nhận được (và hệ điều hành nữa) thông qua bit báo tình hình (status bit) trong thanh ghi của phần cứng giao thức. Việc khôi phục lại sau khi tình trạng lỗi xảy ra thường được thi hành bằng cách tái truyền dữ liệu, và chi tiết của việc này thường là do phần mềm phụ trách (ví dụ dùng các thường trình nhập/xuất (I/O routine) của hệ điều hành).
=== Khối chẵn lẻ ===
Khối chẵn lẻ (parity block) được dùng trong một số cấu hình RAID, và bằng cách dùng các khối chẵn lẻ, người ta đạt được tính dư thừa. Nếu một trong các ổ đĩa ở trong dãy đĩa bị hỏng, người ta có thể dùng các khối dữ liệu và các khối chẵn lẻ trong các đĩa còn làm việc để kiến tạo lại dữ liệu bị thất lạc (dữ liệu này nguyên ở trong cái đĩa bị hỏng).
Trong biểu đồ vẽ sẵn dưới đây, mỗi cột là biểu tượng của một ổ đĩa. Giả sử A1 = 00000111, A2 = 00000101, và A3 = 0000000. Ap - phát sinh do xử lý XOR giữa A1, A2, và A3 - sẽ có giá trị bằng 00000010. Nếu ổ đĩa thứ hai bị hỏng và giá trị A2 không thể truy cập được, thì giá trị này có thể được kiến tạo lại bằng xử lý XOR A1, A3, và Ap như sau:
A1 XOR A3 XOR Ap = 00000101
RAID Array
A1 A2 A3
Ap B1 B2
Bp C1 C2
C3 C4 Cp
Lưu ý: Các khối dữ liệu được đánh dấu theo hình thức A# (# ám chỉ một con số), khối chẵn lẻ là Ap (p = parity).
== Ghi chú == |
giải quần vợt wimbledon 2014 - đôi nữ.txt | Hsieh Su-wei và Peng Shuai là các nhà đương kim vô địch, nhưng ở vòng 3 đã để thua Tímea Babos và Kristina Mladenovic.Sara Errani và Roberta Vinci giành chiến thắng ở hạng mục này, đánh bại Babos và Mladenovic ở chung kết với tỷ số 6–1, 6–3.
== Tỷ số ==
=== Chung kết ===
== Tham khảo == |
tòa án nürnberg.txt | Tòa án Nürnberg là một loạt những phiên tòa quân sự do lực lượng Đồng minh tổ chức sau Thế chiến thứ Hai, họp ở Thành phố Nürnberg của Đức để xét xử cá nhân và tổ chức của chế độ Đức Quốc xã bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh.
Địa điểm Thành phố Nürnberg có ý nghĩa đặc biệt vì đây là nơi khởi sinh phong trào Quốc xã, kế tiếp là nơi Quốc xã thường tổ chức những buổi đại hội đảng lớn lao.
== Tội danh ==
Tòa án Nürnberg xét xử theo 4 tội danh:
Tham gia âm mưu phạm Tội ác chống hòa bình.
Trù định, khởi động và thực hiện chiến tranh xâm lược và những tội ác khác chống hòa bình.
Tội ác chiến tranh.
Tội ác chống nhân loại.
== Nguyên tắc ==
Tòa án dựa trên những nguyên tắc chính sau:
Chứng cớ: Tòa án Nürnberg không bị hạn chế trong những quy luật kỹ thuật về cách trình các chứng cứ để buộc tội. Ngược lại, Tòa án có thể áp dụng những cách thức riêng để xem xét các chứng cớ.
Tính hồi tố: nói một cách dễ hiểu, bị cáo không thể viện dẫn rằng "lúc ấy chưa có luật quy định về tội danh này." Điển hình là tội danh "Tội ác chống nhân loại": lúc tội ác này xảy ra thì chưa có định nghĩa cụ thể về tội danh này, nhưng không vì thế mà Tòa án Nürnberg mất hiệu lực.
Không cho phép lý lẽ "nguyên cáo cũng thế". Lấy một ví dụ cho dễ hiểu: các bị cáo Đức không thể viện dẫn người Nga cũng đã phạm tội ác tương tự trong cuộc chiến để mong được miễn tố.
Không cho phép chất vấn tư cách của chánh án. Một số người biện luận rằng vì các chánh án do các nước thắng trận đề cử, Tòa án không được công bằng. Lý do phản biện lý luận ấy là, ví dụ, điệp viên tình báo luôn bị đưa ra xét xử trước tòa án của quốc gia mà họ đã dò xét. Tuy nhiên, Tòa án Nürnberg cũng có tì vết vì chánh án Nikitchenko của Liên-Xô đã tham dự xét xử những phiên tòa thanh trừng nội bộ của Stalin.
Tóm lại, đây là những nguyên tắc của kẻ chiến thắng mà người Đức bại trận phải chấp nhận.
== Tòa án Quân sự Quốc tế ==
Những phiên tòa đầu tiên do Tòa án Quân sự Quốc tế (International Military Tribunal – IMT) triệu tập (1945-1946) để xét xử 24 nhân vật quan trọng cùng 6 tổ chức của Đức Quốc xã. Mỗi nước Đồng minh Anh, Pháp, Liên-Xô và Hoa Kỳ được cử một chánh án chính, một chánh án dự khuyết và các công tố viên.
Có 12 án tử hình, 3 án tù chung thân, 4 án tù 10-20 năm, 3 người được tha bổng, 1 người được miễn xử vì thiếu sức khỏe, 1 người tự tử trước khi xét xử. Án tử hình được thi hành bằng cách treo cổ thay vì xử bắn để tỏ rõ hành vi là tội ác, không phải là hành động theo nhiệm vụ trong cuộc chiến.
=== Những cá nhân bị truy tố ===
=== Những tổ chức bị truy tố ===
Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (NSDAP, gọi tắt Nazi tức Đảng Quốc xã): bị buộc tội.
Lực lượng Sturmabteilung (có nghĩa "Quân Bão tố", gọi tắt SA, còn gọi là "Quân Áo nâu"): được tha bổng.
Lực lượng Schutzstaffel (có nghĩa "Đội Phòng vệ", gọi tắt SS, còn gọi là "Quân Áo đen"): bị buộc tội, ngoại trừ bộ phận SS Kỵ binh được miễn tố.
Chính phủ Quốc xã: được tha bổng.
Bộ Tổng tham mưu Quân lực Đức (Oberkommando der Wehrmacht, gọi tắt OKW): được tha bổng.
Gestapo (Mật vụ) và Sicherheitsdienst (Cơ quan An ninh, gọi tắt SD): bị buộc tội.
== Tòa án Quân sự Nürnberg ==
Kế tiếp là 12 phiên tòa do Tòa án Quân sự Nürnberg (Nürnberg Military Tribunal – NMT) do Hoa Kỳ chủ trì (1946-1949) xét xử 185 nhân vật lãnh đạo quân sự, chính trị và kinh tế của Đức Quốc xã bị cáo buộc tội ác trong chiến tranh. Kết quả là 24 án tử hình (11 giảm còn tù chung thân), 20 án tù chung thân, 98 án tù có thời hạn, 35 tha bổng. Có 4 người không bị xét xử vì lý do sức khỏe, và 4 người tự tử trong khi đang bị xét xử.
=== Các nhóm bị cáo ===
Các bác sĩ y khoa của Quốc xã bị cáo buộc can dự vào những thí nghiệm trên người sống.
Thống chế Erhard Milch.
Các chánh án và quan chức Bộ Tư pháp Đức.
Oswald Pohl và đồng bọn thuộc WVHA (Wirtschafts-Verwaltungshauptamt – Cục Kinh tế và Hành chính) là cơ quan đặt trong Tổng hành dinh SS, có nhiệm vụ điều hành những hoạt động sản xuất và cung ứng (như hàng hậu cần và lao động nô lệ) cho Lực lượng SS và Quân đội, cũng phụ trách khai thác nguồn lợi kinh tế ở các trại tập trung và trại thủ tiêu, đến năm 1945 quản lý hơn 500 cơ sở sản xuất trên nước Đức và một số cơ sở sản xuất, hầm mỏ ở vùng chiếm đóng như Liên Xô.
Friedrich Flick và đồng bọn thuộc tập đoàn công ty Flick, can dự vào việc sử dụng công nhân nô lệ.
Công ty IG Farben, liên quan đến những nhân viên của công ty hóa chất này bị cáo buộc cộng tác với Quốc xã sản xuất phục vụ chiến tranh.
Wilhelm List và đồng bọn, liên quan đến những tướng lĩnh Đức bị cáo buộc phạm tội ác ở vùng Balkan, Hy Lạp, Albany, Nam Tư và Na Uy.
Ulrich Greifelt và đồng bọn thuộc các tổ chức SS khác nhau, liên quan đến những cáo buộc về việc giết người và di dân vì lý do chủng tộc.
Các Đội Đặc nhiệm (Einsatzgruppen), gồm bốn đội bán quân sự (A, B, C và D) gồm quy tụ Gestapo, binh sĩ SS... được tuyển chọn đặc biệt, cáo buộc việc sát hại người Do Thái và chính ủy Liên Xô, các dân tộc Slav... ở Đông Âu. Mười bốn người bị án tử hình. Chỉ có 4 người bị xử tử ngày 8/1/1951, khoảng ba năm rưỡi sau khi tuyên án. Những tử tội khác được giảm án.
Tổ hợp Công ty chế tạo vũ khí Krupp. 11 quản trị viên của Krupp bị tuyên những án tù do tội ác chống hòa bình và tội ác chống nhân loại.
Quan chức các bộ: Ernst von Weizsäcker và đồng bọn.
Tướng lĩnh Bộ Tổng tham mưu Quân lực Đức.
=== Một số bị cáo nổi tiếng ===
== Những Tòa án khác ==
Sau các phiên xử của Tòa án Quân sự Quốc tế truy tố 24 bị cáo, có dự định sẽ mở những phiên Tòa án Quân sự Quốc tế kế tiếp, nhưng vì có cuộc Chiến tranh lạnh, 4 nước Đồng minh Pháp, Anh, Hoa Kỳ và Nga không nhất trí với nhau, nên ý định không thành.
Một số tòa án khác được mở ra nhưng không thuộc hệ thống Tòa án Nürnberg, ví vụ: Tòa án Quân sự Dachau, Tòa án Nhân dân România, Tòa án Quân sự Liên Xô, một số phiên xử ở Phần Lan, Anh quốc...
Các Tòa án này xét xử những cáo buộc tội ác xảy ra trên lãnh thổ của họ. So với Tòa án Nürnberg, các tòa án này có thể du di một ít trong việc áp dụng những nguyên tắc xét xử. Lấy ví dụ trường hợp của Trung tá Waffen-SS Otto Skorzeny, chỉ huy đội quân giả dạng binh sĩ Mỹ xâm nhập vùng hành quân của Mỹ để gây rối loạn năm 1944). Trước Tòa án Quân sự Dachau, ông được tha bổng vì có nhân chứng phía Đồng minh khai nhận là chính quân Đồng minh cũng chiến đấu trong quân phục của địch. Nếu bị xét xử trong Tòa án Nürnberg, có thể ông không thoát khỏi hình phạt!
== Những nhân vật nổi tiếng thoát truy tố ==
== Đọc thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.