filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
jamaica.txt
Jamaica (phiên âm Tiếng Việt: Gia-mai-ca hoặc Ha-mai-ca; tiếng Anh phát âm /dʒəˈmeɪkə/) là một quốc đảo ở Đại Antilles, có chiều dài 234 kilômét (145 dặm) và chiều rộng 80 kilômét (50 dặm) với diện tích 11.100 km2. Quốc gia này nằm ở Biển Caribbean, cự ly khoảng 145 kilômét (90 dặm) về phía nam Cuba, và 190 kilômét (120 dặm) về phía tây Hispaniola, đảo có các quốc gia Haiti và Cộng hòa Dominica. Những người dân bản địa nói tiếng Taíno gọi đảo này là Xaymaca, có nghĩa là "Vùng đất của Gỗ và Nước", hay "Vùng đất của các Con suối". Đã từng là một khu vực thuộc Tây Ban Nha với tên gọi Santiago, khu vực này sau này thuộc thuộc địa Anh Jamaica. Với 2,8 triệu dân, đây là quốc gia nói tiếng Anh lớn thứ 3 ở châu Mỹ, sau Hoa Kỳ và Canada. Quốc gia này là một Vương quốc Khối thịnh vượng chung với Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia. Kingston là thành phố lớn nhất, thủ đô của Jamaica. == Lịch sử == Jamaica xuất phát từ tên gọi Xaymaca mà người Taíno đặt tên cho đảo này. Năm 1494, Cristoforo Colombo phát hiện ra đảo, sau đó nó trở thành thuộc địa của người Tây Ban Nha, những người bản xứ bị bắt làm nô lệ hoặc bị tàn sát. Năm 1655, người Anh cũng chia quyền sở hữu đảo này, cùng người Tây Ban Nha đưa nô lệ sang khai hoang lập đồn điền mía. Trong thế kỉ 17, đảo này là căn cứ của những bọn cướp biển, làm phương hại đến quyền lợi của người Tây Ban Nha. Giữa thế kỉ 19, những cuộc bạo loạn đã đe dọa chính sách thuộc địa của Anh dẫn đến việc trì hoãn không có chính quyền đại diện trong suốt hai thập kỉ. Năm 1944, chính quyền tự trị ra đời, Jamaica tuyên bố độc lập năm 1962 và là nước thành viên trong Khối Liên hiệp Anh. Đời sống chính trị trong nước do hai đảng đối lập luân phiên lên cầm quyền: đảng Lao động và đảng Dân tộc Nhân dân. == Chính trị == Vì là nước nằm trong Khối Liên hiệp Anh nên Jamaica theo thể chế quân chủ nghị viện. Đứng đầu nhà nước là Nữ hoàng Anh. Đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Nữ hoàng Anh Elizabeth II là người đứng đầu Nhà nước Jamaica thông qua một viên Toàn quyền làm đại diện. Thủ tướng do Toàn quyền bổ nhiệm, là lãnh tụ đảng chiếm đa số ghế ở Hạ nghị viện. Nghị viện chỉ định Nội các. Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Cơ quan lập pháp là quốc hội lưỡng viện: Thượng nghị viện gồm 21 thành viên do Toàn quyền bổ nhiệm theo sự tiến cử của Thủ tướng và lãnh tụ của đảng đối lập (13 thành viên của đảng cầm quyền, 8 thành viên của phe đối lập). Hạ nghị viện gồm 60 thành viên, được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm. Các đảng phái chính: Đảng Dân tộc nhân dân (PNP), Đảng Lao động Jamaica (JLP); Phong trào dân chủ dân tộc (NDM). == Địa lý == Jamaica nằm ở Trung Mỹ, thuộc quần đảo Đại Antilles, cách Cuba 150 km về phía Nam và cách Haiti 180 km về phía Tây. Vùng lãnh thổ phía Đông chủ yếu là núi, phía Tây là vùng cao nguyên đá vôi. == Văn hóa == Điểm nổi bật của đất nước mang nặng phong cách châu Mỹ này là âm nhạc. Dòng nhạc dân ca điển hình của người Jamaica trộn với phong cách nhạc của Cuba tạo nên một dòng nhạc R&B khá đặc trưng, người làm nên đỉnh cao của loại nhạc này là ca sĩ lừng danh Bob Marley. Anh đã đem tiếng hát của mình đấu tranh chống lại sự phân biệt chủng tộc và những bất công với người da màu. Jamaica cũng là một đất nước với nền văn hoá pha trộn của người Ấn Độ, người Tây Ban Nha, châu Phi, Trung Đông, người Trung Quốc và cả người Anh. Thổ ngữ được chuộng hơn tuy tiếng Anh mới là ngôn ngữ chính thức của đất nước này. Kingston là trung tâm văn hoá và thương mại của Jamaica. Ở khu trưng bày nghệ thuật, bảo tàng của Bob Marley là nơi thu hút du khách nhiều nhất. == Tôn giáo == Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất ở Jamaica. Theo điều tra dân số năm 2001, tỷ lệ dân theo các tôn giáo như sau Tin lành 62.5%, Công giáo Rôma 4%, Anh giáo 2%, còn lại là các tôn giáo khác. Như Rastafarianism một tôn giáo bản địa Phi châu có 24.020 môn đồ, theo điều tra năm 2001 . Đạo Bahá'í, chiếm khoảng 8000 môn đồ, Phật giáo, và Ấn giáo có 50,000 tín. Có một số dân nhỏ người Do Thái, khoảng 200 người, tự coi họ là Tự do-Bảo thủ. Những người Do Thái đầu tiên ở Jamaica có gốc tích từ đầu thế kỷ 15. Các nhóm Hồi giáo ở Jamaica có 5.000 tín đồ. == Kinh tế == Jamaica có tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là bôxít, và có một khí hậu lý tưởng thuận lợi cho nông nghiệp và du lịch. Việc phát hiện ra bôxít trong những năm 1940 và nền kinh tế của Jamaica chuyển từ khai thác đường và chuối sang thành lập các ngành công nghiệp bô xít-nhôm vào thời gian sau đó. Vào những năm 1970, Jamaica đã nổi lên như là một nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu các khoáng chất cũng như được tăng đầu tư nước ngoài. Jamaica phải đối mặt với một số vấn đề nghiêm trọng nhưng nó có tiềm năng cho sự phát triển và hiện đại hóa. Nền kinh tế Jamaica bị bốn năm liên tiếp của nó tăng trưởng âm (0,4%) vào năm 1999. Tất cả các ngành trừ các ngành bôxít/nhôm, năng lượng và du lịch đều giảm mạnh trong năm 1998 và 1999. Năm 2000, Jamaica đã có kinh nghiệm của mình năm đầu tiên của nó có sự phát triển tích cực kể từ năm 1995. Tăng trưởng kinh tế danh nghĩa tiếp tục ngược dòng trong những khoảng với sự tăng trưởng của Hoa Kỳ kể từ đó. Đây là kết quả của việc tiếp tục các chính sách của chính phủ chặt chẽ kinh tế vĩ mô, đã đạt được phần lớn thành công. Lạm phát đã giảm từ 25% năm 1995 còn lạm phát một con số trong năm 2000, đạt được một mức thấp trong nhiều thập kỷ là 4,3% trong năm 2004. Thông qua chương trình can thiệp định kỳ trên thị trường, các ngân hàng trung ương cũng đã ngăn ngừa bất cứ sự đột ngột giảm nào trong tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, đồng đô la Jamaica đã bị trượt giá, bất chấp sự can thiệp, dẫn đến một tỷ giá bình quân của 73,4 J đổi 1 USD và 107,64 J đổi 1 € (Tháng 5 năm 2008). Ngoài ra, lạm phát đã có xu hướng tăng lên kể từ năm 2004 và dự kiến một lần nữa đạt được mức tăng gấp đôi con số 12-13% thông qua năm 2008 do một sự kết hợp của thời tiết bất lợi hại cây trồng và tăng nhập khẩu nông nghiệp và giá năng lượng cao. Điểm yếu trong lĩnh vực tài chính là đầu cơ và các cấp dưới của việc xói mòn lòng tin đầu tư trong lĩnh vực sản xuất. Chính phủ tiếp tục nỗ lực để tăng giới hạn các khoản nợ mới tại địa phương và thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình bằng đồng đô la Mỹ, thu dọn để duy trì thanh khoản tỷ giá hối đoái và để giúp quỹ thâm hụt ngân sách hiện hành. Các chính sách kinh tế của chính phủ Jamaica khuyến khích đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực mà kiếm được hay tiết kiệm được ngoại tệ, tạo việc làm và sử dụng nguyên vật liệu địa phương. Chính phủ cung cấp một loạt các ưu đãi cho nhà đầu tư, bao gồm cả các cơ sở chuyển tiền để hỗ trợ họ trong việc hồi hương lại tiền của các nước xuất xứ; thời kỳ miễn thuế mà hoãn thuế cho khoảng thời gian của năm; và miễn thuế truy cập cho máy móc và nguyên liệu nhập khẩu cho các doanh nghiệp được chấp thuận. Khu thương mại tự do có kích thích đầu tư vào hàng may mặc, lắp ráp, sản xuất nhẹ, và nhập dữ liệu của các công ty nước ngoài. Tuy nhiên, trong 5 năm qua, ngành công nghiệp dệt may đã bị giảm thu nhập xuất khẩu, tiếp tục đóng cửa nhà máy, và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Điều này có thể được quy trách nhiệm cho cuộc cạnh tranh dữ dội, sự vắng mặt của hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) tính thay đổi, thuốc nhiễm độc trì hoãn giao hàng, và chi phí cao, hoạt động, bao gồm cả chi phí an ninh. Chính phủ Jamaica hy vọng để khuyến khích hoạt động kinh tế thông qua sự kết hợp của tư nhân hoá, chuyển dịch cơ cấu ngành tài chính, giảm lãi suất, và bằng cách thúc đẩy du lịch và các hoạt động sản xuất liên quan. Tính đến năm 2016, GDP của Jamaica đạt 13.779 USD, đứng thứ 121 thế giới và đứng thứ 2 khu vực Caribe (sau Trinidad và Tobago). == Hình ảnh == == Xem thêm == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official website of Queen Elizabeth as Queen of Jamaica The Cabinet Office of the Government of Jamaica Wikimedia Atlas của Jamaica, có một số bản đồ liên quan đến Jamaica. Jamaica tại DMOZ Satellite maps on Google
lai châu (thành phố).txt
Thành phố Lai Châu là trung tâm hành chính, kinh tế, chính trị của tỉnh Lai Châu, Việt Nam. Cả thành phố có bảy đơn vị hành chính cấp xã, đó là năm phường là Quyết Thắng, Đoàn Kết,Tân Phong, Đông Phong, Quyết Tiến và hai xã là Nậm Loỏng, San Thàng. == Lịch sử hành chính == Năm 2004, Chính phủ Việt Nam chia tỉnh Lai Châu cũ thành hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu mới. Thị xã Lai Châu cũ (trước năm 2004) thuộc địa phận của tỉnh Điện Biên và được đổi tên thành thị xã Mường Lay vào năm 2005. Toàn bộ thị trấn Phong Thổ (cũ) và hai xã: Nậm Loỏng, Tam Đường cùng 550 ha diện tích tự nhiên và 1.167 người của xã Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường được tách ra để thành lập thị xã Lai Châu mới vào năm 2004 và là tỉnh lỵ của tỉnh Lai Châu mới, ban đầu gồm 3 phường: Quyết Thắng, Đoàn Kết, Tân Phong và 2 xã: Nậm Loỏng, San Thàng (đổi tên từ xã Tam Đường cũ). Ngày 2 tháng 12 năm 2012, thành lập thêm 2 phường Đông Phong (tách ra từ phường Tân Phong và xã San Thàng) và Quyết Tiến (tách ra từ phường Quyết Thắng). Ngày 1 tháng 2 năm 2013, thị xã Lai Châu được Bộ Xây dựng ký quyết định công nhận là đô thị loại 3. Ngày 27 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ký Nghị quyết số 131/NQ-CP nâng cấp thị xã Lai Châu thành thành phố Lai Châu thuộc tỉnh Lai Châu..Hiện nay, thành phố Lai Châu có diện tích 70,77 km², gồm 5 phường: Đoàn Kết, Đông Phong, Quyết Thắng, Quyết Tiến, Tân Phong và 2 xã: Nậm Loỏng, San Thàng. == Địa lý == === Vị trí === Thành phố Lai Châu nằm tại toạ độ địa lý 20°20' đến 20°27' vĩ độ Bắc, 103°20' đến 103°32' kinh độ Đông, giáp với huyện Phong Thổ và huyện Tam Đường về phía bắc, giáp huyện Tam Đường ở phía nam, phía đông; giáp huyện Sìn Hồ ở phía tây. Thành phố cách cửa khẩu Ma Lù Thàng (cửa khẩu quốc gia với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) (Thiếu số km), cách thị trấn Sa Pa (tỉnh Lào Cai) khoảng 70 km, cách Hà Nội khoảng 380 km (qua thành phố Lào Cai và thị trấn Sa Pa). === Địa hình, địa chất === Thành phố Lai Châu là một cao nguyên đá vôi có độ cao trung bình gần 1.000 m (điểm thấp nhất gần 895 m, điểm cao nhất gần 1.300 m). Đây là trung tâm tỉnh lỵ có độ cao lớn nhất miền Bắc và thứ hai Việt Nam (sau thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), chạy dài theo hướng tây bắc xuống đông nam và nằm trong vùng có độ cao lớn nhất cả nước - từ 900 đến trên 2.000 m giữa 2 dãy núi lớn Hoàng Liên Sơn (phía đông) và Pu Sam Cáp (phía tây) dọc theo Quốc lộ 4D. Trong khu vực thành phố Lai Châu và vùng lân cận có nhiều ngọn núi cao từ 1.500 m đến trên 3.000 m, tiêu biểu là đỉnh Bạch Mộc Lương Tử cao 3045m ở phía Bắc và Pu Ta Leng (hay Phu Ta Leng - đỉnh núi cao thứ 2 tại Việt Nam với độ cao 3.096 m. Vào những ngày đẹp trời từ trung tâm thành phố có thể quan sát được khu vực này. Ngoài ra còn rất nhiều đỉn núi cao từ 2000 ~ 3000m. Địa chất của khu vực thành phố Lai Châu gồm ba tầng đá chính là tầng Vân Nam, tầng Điệp Vân Lục và tầng Điệp Đồng Giao. Trong khu vực thành phố có nhiều hang động karst và các dòng chảy ngầm, thường xảy ra sụt lún, không thuận lợi cho việc xây dựng các công trình cao tầng. === Khí hậu === Thành phố Lai Châu nằm trong vùng Tây Bắc, tuy nhiên do ảnh hưởng nhiều của địa hình và hoàn lưu khí quyển nên nhiệt độ có những nét khác biệt so với khí hậu vùng Tây Bắc nói chung. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 18 °C-19 °C thấp hơn nhiệt độ trung bình của tỉnh Lai Châu (gần 23 °C) và vùng Tây Bắc (khoảng 21 °C-23,5 °C). Vào mùa đông nhiệt độ tương đối thấp nhiều ngày xuống dưới 7 °C, thậm chí dưới 3 °C, nhiệt độ thấp nhất đo được -2 °C (1981). Với lượng mưa khá lớn khoảng 2.600 mm/năm - 2.800 mm/năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 - tháng 8 nên nhiệt độ mùa hè tương đối mát mẻ khoảng 20 °C-29 °C (so với vùng Tây Bắc là 24-35 °C). == Chú thích == == Tham khảo == Cổng giao tiếp điện tử tỉnh Lai Châu Trung tâm khí tượng thủy văn Việt Nam Video: Hành trình khám phá Tây Bắc hùng vĩ - Phố núi Lai Châu V/v điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện thuộc tỉnh Lai Châu
1925.txt
Theo lịch Gregory, năm 1915 (số La Mã: MCMXV) là năm bắt đầu == Sự kiện == === Tháng 1 === 11 tháng 1: Khai mạc đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải === Tháng 3 === 16 tháng 3: Xảy ra động đất tại Vân Nam === Tháng 6 === 1 tháng 6: Thành lập công hội tại Thượng Hải 11 tháng 6: Thủy quân Anh Quốc giết người Trung Quốc tại Hán Khẩu === Tháng 7 === 1 tháng 7: Thành lập chính phủ Dân Quốc tại Quảng Châu 9 tháng 7: Thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông 14 tháng 7: Hội Phục Việt được thành lập === Tháng 9 === 1 tháng 9: Hồ Hán Dân lưu vong sang Liên Xô === Tháng 10 === 14 tháng 10: Quân cách mang Quốc Dân giải phóng Huệ Châu. === Tháng 11 === 6 tháng 11: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy kế vị hoàng đế nhà Nguyễn 21 tháng 11: Quách Tùng Linh khởi binh đánh chiếm Sơn Hải Quan và Cẩm Châu. 23 tháng 11: Tây Sơn hội nghị, Quốc Dân Đảng khai trừ Lý Đại Chiêu, Mao Trạch Đông === Tháng 12 === 25 tháng 12: Nhật Bản đánh bại và giết chết Quách Tùng Linh == Sinh == Ngày 4 tháng 3 , Paul Mauriat (mất 2006), nhạc trưởng nổi tiếng người Pháp. Ngày 20 tháng 12, Mahathir bin Mohamad (sinh 20 tháng 12 năm 1925) là cựu thủ tướng Malaysia. == Mất == Ngày 12 tháng 3, Tôn Dật Tiên (sinh 12 tháng 11 năm 1866) là Cựu Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc. Ngày 6 tháng 11: Khải Định vua Nhà Nguyễn Việt Nam == Giải thưởng Nobel == Hóa học - Richard Adolf Zsigmondy Văn học - George Bernard Shaw Hòa bình - Austen Chamberlain, Charles Gates Dawes Vật lý - James Franck, Gustav Ludwig Hertz Y học - không trao giải == Xem thêm == == Tham khảo ==
toyotama-hime.txt
Toyotama-hime (豊玉姫 (Phong Ngọc Cơ), Toyotama-hime) còn được gọi là Otohime (乙姫 (Ất Cơ), Otohime), là một nữ thần trong thần thoại Nhật Bản. Nàng là con gái của thần biển Ryūjin. Nàng kết hôn với chàng thợ săn Hoori và hạ sinh một con trai sau này là cha của Thiên hoàng Jimmu, Thiên hoàng đầu tiên của Nhật Bản. Sau khi sinh con, bà biến thành một con rông hay ‘’wani và bay đi mất. Otohime cũng là một nhân vật trong trò chơi điện tử Ōkami. == Tham khảo == Bản mẫu:Shinto-stub
windows 8.1.txt
Windows 8.1 (tên mã là Blue) là bản nâng cấp của Windows 8, một hệ điều hành máy tính phát hành bởi Microsoft. Sau khi giới thiệu và phát hành dưới dạng beta công cộng vào tháng 6 năm 2013, nó được phát hành cho nhà sản xuất vào ngày 27 tháng 8 năm 2013 và phát hành rộng rãi vào ngày 17 tháng 10 năm 2013, gần một năm sau khi phiên bản trước của nó cho phát hành bán lẻ. Người dùng phiên bản Windows 8 và Windows RT bản bán lẻ có thể tải về miễn phí Windows 8.1 qua Windows Store. Không giống các gói dịch vụ trên các phiên bản Windows trước, những người dùng đã sử dụng Windows 8 ngoài các bản bán lẻ hoặc được cài đặt sẵn (ví dụ: giấy phép số lượng lớn) phải cài đặt Windows 8.1 bằng bộ cài mới từ kênh đăng ký hoặc qua doanh nghiệp của họ. Chính sách vòng đời hỗ trợ của Microsoft với Windows 8.1 tương tự như các gói dịch vụ trước của Windows: Nó là một phần trong vòng đời hỗ trợ của Windows 8 và cần phải cài đặt Windows 8.1 để tiếp tục nhận hỗ trợ và các bản cập nhật Windows sau ngày 12 tháng 1 năm 2016. Tuy nhiên, không giống như các gói dịch vụ khác, Windows 8.1 không thể tải về qua Windows Update. Được phát hành như một phần trong cuộc chuyển dịch của Microsoft sang các bản cập nhật lớn hằng năm cho các nền tảng phần mềm và dịch vụ của công ty, Windows 8.1 hướng tới việc sửa chữa những thiếu sót mà người dùng và các nhà đánh giá Windows 8 phàn nàn khi ra mắt. Những thay đổi đáng chú ý bao gồm cải thiện màn hình Start, thêm các tùy chọn xem dạng snap, thêm các ứng dụng cài đặt sẵn, tích hợp dịch vụ lưu trữ OneDrive (trước là SkyDrive) mạnh mẽ hơn, trình duyệt web Internet Explorer 11, một hệ thống tìm kiếm thống nhất dựa trên Bing, khôi phục lại nút Start trên thanh tác vụ và khôi phục khả năng vào thẳng desktop thay vì màn hình Start sau khi đăng nhập. Windows 8.1 cũng bắt đầu hỗ trợ các công nghệ đang phát triển như hiển thị độ phân giải cao, in 3D, Wi-Fi Direct và phát qua Miracast, cũng như hệ thống tập tin ReFS.. Windows 8.1 nhận được nhiều ý kiến trái chiều, mặc dù có vẻ tốt hơn Windows 8, khi các nhà phê bình khen ngợi các chức năng mở rộng cho các ứng dụng khi so sánh với Windows 8, việc tích hợp OneDrive, cùng với các chỉnh sửa về giao diện và mở rộng các thủ thuật và hướng dẫn vận hành giao diện Windows 8. Mặc dù đã có nhiều cải tiến, Windows 8.1 vẫn bị chỉ trích vì không giải quyết tất cả các vấn đề của Windows 8 (như mức độ tích hợp kém giữa các ứng dụng kiểu Metro và giao diện desktop) và các vấn đề về riêng tư có thể xảy ra trong khi mở rộng sử dụng các dịch vụ trực tuyến. Tính đến tháng 12 năm 2016, thị phần của Windows 8.1 là 8,43%. == Lịch sử == Vào tháng 2 năm 2013, nhà báo Mary Jo Foley của ZDNet tiết lộ một vài tin đồn về "Blue", tên mã cho một loạt các bản cập nhật dự tính cho khắp các sản phẩm và dịch vụ Microsoft, bao gồm Windows 8, Windows Phone 8, Outlook.com và SkyDrive. Cụ thể, báo cáo chỉ rõ rằng Microsoft đang dự định chuyển đổi sang một cơ chế phát triển "liên tục" hơn, từ đó các sửa đổi lớn cho các nền tảng phần mềm của hãng sẽ được phát hành liên tục hằng năm để đáp ứng cho nhu cầu của thị trường. Để đưa ra bằng chứng về báo cáo này, Foley nói rằng một nhân viên của Microsoft đã mô tả các trải nghiệm với "Windows Blue" trên trang LinkedIn của anh và nói rằng đó sẽ là một hệ điều hành tách biệt với Windows 8. Một bản dựng hậu RTM của Windows 8, bản dựng 9364, bị rò rỉ vào tháng 3 năm 2013. Bản dựng được tin là của "Windows Blue" này, đã hé lộ về một vài cải thiện trên khắp giao diện Windows 8, bao gồm các tùy chọn kích thước tùy chỉnh cho các ô xếp, mở rộng các tùy chọn về màu sắc trên màn hình Start, mở rộng ứng dụng PC Settings cùng với nhiều lựa chọn trước đây chỉ có trên Control Panel phiên bản desktop, cho phép các ứng dụng được "snap" sang nửa màn hình, cho phép chụp ảnh màn hình từ phần Share trong thanh charm, thêm các ứng dụng gốc mới, tăng cường tích hợp với SkyDrive (như tự động sao lưu thiết bị) và Internet Explorer 11. Ngay sau đó vào ngày 26 tháng 3 năm 2013, phó chủ tịch bộ phận truyền thông Frank X. Shaw đã chính thức thừa nhận về dự án "Blue", thông báo rằng các việc phát triển liên tục này sẽ trở thành "bình thường" tại Microsoft và "nhóm sản phẩm của chúng tôi cũng đang lên một kế hoạch đồng nhất để mọi người có thể có được điều mình muốn—tất cả các thiết bị, ứng dụng và dịch vụ của họ làm việc cùng nhau cho dù họ ở đâu và họ đang làm gì." Vào đầu tháng 5, các bài báo thông báo về phiên bản tiếp theo trên Financial Times và The Economist so sánh Windows 8 với New Coke của Coca-Cola một cách tiêu cực. Chủ đề này đã được nói lại nhiều lần và tranh luận rất nhiều trong các trang báo về máy tính. Shaw bác bỏ các chỉ trích này và cho rằng chúng "quá tiêu cực", cộng thêm rằng nếu được so sánh với Diet Coke thì sẽ hợp lý hơn. Vào ngày 14 tháng 5, Microsoft chính thức thông báo "Blue" sẽ có tên là Windows 8.1. Sau một bài thuyết trình tập trung vào phiên bản này, bản beta công khai của Windows 8.1 phát hành ngày 26 tháng 6 năm 2013 trong hội nghị Build. Bản dựng 9600 của Windows 8.1 phát hành cho các đối tác OEM phần cứng vào ngày 27 tháng 8 năm 2013 và ra mắt rộng rãi vào ngày 17 tháng 10 năm 2013. Không giống các bản phát hành và các gói dịch vụ Windows trước, các khách hàng giấy phép số lượng lớn và những người đăng ký MSDN Plus và TechNet Plus không thể lấy bản RTM sau khi phát hành; một người phát ngôn thông báo rằng thay đổi trong chính sách này là để cho phép Microsoft làm việc với các OEM "để đảm bảo một trải nghiệm chất lượng khi phát hành rộng rãi." Tuy nhiên, sau khi nhận nhiều chỉ trích, Microsoft thay đổi ý định và phát hành bản RTM trên MSDN và TechNet vào ngày 9 tháng 9 năm 2013. Trước khi phát hành Windows 8.1, Microsoft đã công chiếu một phim quảng cáo truyền hình mới vào cuối tháng 9 năm 2013 tập trung vào các thay đổi của nó như một phần của chiến dịch "Windows Everywhere". Một thời gian ngắn sau khi phát hành, Windows RT 8.1 bị thu hồi tạm thời bởi Microsoft sau các báo cáo về việc một số người dùng gặp phải một lỗi hiếm gặp gây nguy hại cho Boot Configuration Data (Dữ liệu Cấu hình Khởi động) của hệ điều hành trong lúc cài đặt, gây ra lỗi khi khởi động. Vào ngày 21 tháng 10 năm 2013, Microsoft xác nhận rằng lỗi này chỉ giới hạn trong máy tính bảng Surface thế hệ đầu và cứ mỗi 1000 lượt cài đặt mới có 1 trường hợp mắc lỗi này. Công ty đã phát hành các phương tiện khôi phục và các hướng dẫn dùng để sửa chữa lại thiết bị và phát hành trở lại Windows RT 8.1 vào ngày hôm sau. Người ta cũng phát hiện rằng các thay đổi về độ phân giải màn hình trên Windows 8.1 sẽ khiến nhập liệu bằng chuột bị chậm và giật trong một số trò chơi không sử dụng API của DirectInput—cụ thể là các trò chơi bắn súng góc nhìn thứ nhất, bao gồm Deus Ex: Human Revolution, Hitman: Absolution và Metro 2033. Người dùng cũng thấy các vấn đề này sẽ rõ rệt hơn khi dùng chuột chuyên chơi trò chơi với độ phân giải và/hoặc tốc độ cao. Microsoft đã phát hành một bản vá để sửa lỗi trên một số trò chơi vào tháng 11 năm 2013 và đã thừa nhận nguyên nhân là do "những thay đổi tới việc xử lý nhập liệu chuột cho các trường hợp tương tác có độ trễ thấp". === Cập nhật === Vào ngày 8 tháng 4 năm 2014, Microsoft phát hành "Windows 8.1 Update", trong đó bao gồm tất cả các bản cập nhật trước đó cộng thêm các tính năng mới. Phó chủ tịch Microsoft Joe Belfiore tại Mobile World Congress hé lộ phiên bản này vào ngày 23 tháng 2 năm 2014, rồi giới thiệu chi tiết tại hội nghị Build của Microsoft vào ngày 2 tháng 4. Belfiore nói rằng bản cập nhật sẽ giảm yêu cầu hệ thống tối thiểu cho Windows, vậy nên nó có thể được cài đặt trên các thiết bị chỉ có 1 GB RAM và 16 GB dung lượng lưu trữ. Không giống như Windows 8.1, bản cập nhật tích lũy này lại được phân phối qua Windows Update và phải cài đặt để nhận thêm các bản vá lỗi sau này cho Windows 8.1. Tại hội nghị Build 2014 trong tháng 4, Terry Myerson của Microsoft tiếp tục hé lộ về các thay đổi giao diện người dùng cho Windows 8.1, bao gồm khả năng chạy các ứng dụng kiểu Metro bên trong các cửa sổ desktop và một menu Start mới, kết hợp giữa thiết kế menu Start được Windows 7 sử dụng và màn hình Start mới trước đó. bằng cách kết hợp danh sách ứng dụng vào một cột và cột còn lại dùng để hiển thị các ô xếp ứng dụng. Myerson thông báo rằng những thay đổi này sẽ đến trong một bản cập nhật sau này, nhưng cũng không nói chi tiết hơn. Microsoft cũng hé lộ ý tưởng "ứng dụng Universal Windows", trong đó một ứng dụng Windows Runtime có thể chuyển đổi sang Windows Phone 8.1 và Xbox One khi chúng cùng chia sẻ một mã cơ sở chung. Khi mà nó chưa hoàn toàn thống nhất hệ sinh thái ứng dụng của Windows với hệ sinh thái trong Windows Phone, nó sẽ cho phép các nhà phát triển đồng bộ dữ liệu giữa các phiên bản ứng dụng ở mỗi nền tảng và cho phép truy cập vào các phiên bản của ứng dụng cho cả Windows, Windows Phone và Xbox One chỉ bằng một lần mua duy nhất. Microsoft ban đầu thông báo những người dùng không cài đặt bản cập nhật sẽ không nhận bất cứ bản cập nhật nào khác sau ngày 13 tháng 5 năm 2014. Tuy nhiện, giới hạn này đã đặt ra một thử thách lớn: Việc cài đặt Windows 8.1 Update qua Windows Server Update Services (WSUS) đã bị vô hiệu hóa chỉ một thời gian ngắn sau khi phát hành cùng với phát hiện về lỗi ảnh hưởng đến việc dùng WSUS tổng thể trong một số cấu hình máy chủ. Microsoft sau đó đã sửa chữa vấn đề này nhưng người dùng tiếp tục báo cáo về việc không thể cài đặt bản cập nhật. Nỗ lực của Microsoft để sửa lỗi đã không có tác dụng, tới mức khiến Microsoft phải đẩy lùi hạn chót tới ngày 30 tháng 6 năm 2014. Vào ngày 16 tháng 5, Microsoft phát hành một bản cập nhật để sửa lỗi BSOD trong khi cập nhật. == Phân phối == Microsoft phân phối Windows 8.1 như một "bản cập nhật" cho Windows 8, thậm chí tránh dùng từ "nâng cấp". Vòng đời hỗ trợ của Microsoft cho Windows 8.1 tương tự như các gói dịch vụ cho Windows trước: Nó là một phần của vòng đời hỗ trợ cho Windows 8 và việc nâng cấp lên Windows 8.1 là bắt buộc để tiếp tục nhận hỗ trợ và các bản cập nhật sau 12 tháng 1 năm 2016. Các bản bán lẻ và OEM của Windows 8, Windows 8 Pro và Windows RT có thể nâng cấp qua Windows Store miễn phí. Tuy nhiên, các khách hàng giấy phép số lượng lớn, những người đăng ký TechNet hoặc MSDN và người dùng Windows 8 Enterprise phải dùng bộ cài đặt độc lập cho Windows 8.1 và cài đặt qua quá trình cài đặt Windows truyền thống, có thể nâng cấp hoặc cài mới. Việc này yêu cầu cần có một mã khóa sản phẩm dành riêng cho Windows 8.1. Nâng cấp qua Windows Store yêu cầu mỗi máy phải tải về một gói nâng cấp có dung lượng tới 2–3,6 GB. Không giống các gói dịch vụ Windows truyền thống, một bộ cài đặt riêng biệt, chỉ cần tải về một lần là đã có thể cài đặt bao nhiêu lần tùy ý, sẽ yêu cầu cần có một mã sản phẩm dành riêng cho Windows 8.1. Vào ngày 1 tháng 7 năm 2014, thấy những khó khăn người dùng có thể gặp phải khi cập nhật qua Windows Store, Microsoft bắt đầu mở quá trình tải về tự động cho Windows 8.1. Windows 8 phát hành lại tại các nhà bán lẻ dưới dạng Windows 8.1 cùng thời gian nâng cấp trực tuyến cho những ai không có giấy phép Windows 8 từ trước đó. Các bản bán lẻ của Windows 8.1 chứa các giấy phép "Đầy đủ" có thể cài đặt trên bất cứ máy tính nào, bất kể hệ điều hành mà những máy tính đó đang sử dụng là gì, không giống như các bản bán lẻ của Windows 8, chỉ có mặt tại các nhà bán lẻ với giấy phép nâng cấp. Microsoft nói rằng những thay đổi này nhằm đáp ứng những phản hồi của khách hàng và cho người dùng nhiều sự linh hoạt hơn. Giá của các bản bán lẻ Windows 8.1 vẫn giữ nguyên. Windows 8.1 with Bing là một phiên bản SKU giá thấp của Windows 8.1 được giới thiệu bởi Microsoft vào tháng 5 năm 2014 trong một nỗ lực để khuyến khích hơn nữa việc sản xuất các thiết bị Windows giá rẻ, trong khi đó "hướng người dùng tới việc sử dụng các dịch vụ Microsoft như Bing và OneDrive". Nó được hỗ trợ bởi máy tìm kiếm Bing của Microsoft và đặt làm mặc định trong Internet Explorer và các OEM không thể thay đổi được. Tuy nhiên, giới hạn này không áp dụng cho người dùng cuối, họ vấn có thể thay đổi máy tìm kiếm mặc định tùy ý. Những chức năng khác đều giống y hệt phiên bản Windows 8.1 gốc. == Các tính năng mới và thay đổi == Microsoft đã có nhiều thay đổi trên Windows 8.1, đặc biệt tới giao diện người dùng, để đáp lại những chỉ trích từ những người dùng đầu tiên và các nhà phê bình khác sau khi Windows 8 được phát hành. === Giao diện người dùng và desktop === Màn hình Start nhận được một số cải tiến trên Windows 8.1, bao gồm một chế độ xem "All Apps" (Tất cả ứng dụng) với các chế độ sắp xếp khác nhau (có thể truy cập bằng cách nhấn vào một nút mũi tên xuống mới hoặc dùng ngón tay trượt lên phía trên), các kích thước nhỏ và cực lớn cho các ô xếp và các ô xếp màu cho các phím tắt chương trình desktop. Một số tùy chọn tùy chỉnh khác cũng được bổ sung, như bổ sung các tùy chọn về màu, các hình nền mới (một số có thêm cả các yếu tố chuyển động) và cho phép dùng màn hình nền desktop cho cả màn hình Start. Các ứng dụng không còn được tự động thêm vào màn hình Start sau khi cài đặt và tất cả các ứng dụng nay đều có các ô xếp màu (các chương trình desktop trước đó chỉ hiển thị bằng một màu duy nhất). Hệ thống "snap" ứng dụng cũng được mở rộng: tối đa tới bốn ứng dụng có thể được snap trên một màn hình hiển thị tùy thuộc vào kích cỡ màn hình, các ứng dụng có thể được snap để chiếm nửa màn hình và cũng có thể sử dụng trên bất cứ màn hình nào nếu có hệ thống đa màn hình. Các ứng dụng cũng có thể khởi động các ứng dụng khác ở chế độ snap để hiển thị nội dung; ví dụ, ứng dụng Thư có thể mở ảnh đính kèm trong một trình xem ảnh được snap vào nửa kia màn hình. Hỗ trợ cải thiện này cũng được cung cấp bởi các ứng dụng để sử dụng các thiết bị có hướng xoay chiều dọc. Màn hình khóa có thêm khả năng dùng một bản trình chiếu ảnh để làm hình nền và lối tắt tới ứng dụng Máy ảnh bằng cách trượt lên. Bàn phím trên màn hình cũng có một cơ chế tự động sửa lỗi (autocomplete) được cải thiện, hiển thị nhiều gợi ý từ và cho phép người dùng chọn từ chúng bằng cách trượt trên phím dấu cách. Từ điển tự động sửa lỗi cập nhật tự động sử dụng các dữ liệu từ Bing, cho phép nó nhận diện và gợi ý các từ liên quan tới các sự kiện và xu hướng hiện tại. Tương tự như Windows Phone, một số ứng dụng nay hiển thị một thanh nhỏ với ba dấu chấm để truy cập vào một menu kiểu pop-up bằng cách trượt, nhấn vào dấu chấm, hoặc nhấn chuột phải. Để cải thiện khả năng sử dụng của giao diện desktop, nút Start đã được khôi phục lại trên thanh tác vụ để mở màn hình Start và menu Quick Links (truy cập bằng cách nhấn chuột phải lên nút Start hoặc nhấn tổ hợp phím ⊞ Win+X) nay chứa các tùy chọn tắt máy và đăng xuất. Người dùng cũng có thể điều chính một số cách hoạt động của giao diện người dùng, như vô hiệu hóa các góc nóng phía trên màn hình dùng để mở thanh charm và danh sách ứng dụng gần đây vào thẳng desktop thay vì màn hình Start khi đăng nhập hoặc sau khi đóng tất cả ứng dụng trên một màn hình, tự động mở chế độ xem "All Apps" trên màn hình Start khi được mở và ưu tiên các chương trình desktop trên chế độ sắp xếp theo "Category" (Thể loại) trên "All Apps". Để hỗ trợ người dùng làm quen với giao diện người dùng Windows 8, một bản hướng dẫn tương tác cũng được bổ sung, cùng với ứng dụng Help + Tips mới cho các thông tin chi tiết hơn. Trái ngược lại, Windows RT 8.1 tiếp tục hạ thấp giao diện desktop hơn nữa bằng cách không hiển thị ô xếp Desktop trên màn hình Start mặc định (tuy nhiên, nó vẫn có thể được thêm vào màn hình Start thủ công). Quản lý bộ phận Windows Chaitanya Sareen cho rằng sự trở lại của nút Start được dự định là một "tấm chăn ấm" cho những người dùng đã trở nên bối rối bởi việc loại bỏ nút này trên Windows 8; nút Start ban đầu bị loại bỏ để cho thấy Windows 8 coi desktop như một "ứng dụng" hơn là một giao diện chính. Các thay đổi về giao diện hơn nữa được thực hiện vào phiên bản "Windows 8.1 Update" trong tháng 4 năm 2014, hướng nhiều hơn tới những môi trường không cảm ứng (như máy tính để bàn và các PC xách tay) sử dụng bàn phím và chuột và cải thiện sự liên kết giữa các ứng dụng Windows Store và ứng dụng desktop. Khi máy tính đang sử dụng chuột, màn hình Desktop sẽ hiển thị khi khởi động theo mặc định, màn hình Start sử dụng các menu ngữ cảnh thay vì các thanh công cụ ở cạnh dưới của màn hình để chỉnh sửa các ô xếp, một thanh tiêu đề tự động ẩn với các nút thu nhỏ và đóng được hiển thị trong các ứng dụng ở cạnh trên màn hình, thanh tác vụ có thể hiển thị và ghim các ứng dụng cùng với các chương trình desktop và có thể truy cập ngay trong các ứng dụng và thêm các nút tìm kiếm và nguồn trong màn hình Start. Trong môi trường không cảm ứng, các chương trình trình xem ảnh và trình đa phương tiện mặc định thay đổi trở về Windows Photo Viewer và Windows Media Player thay vì Xbox Video và ứng dụng Ảnh. === Ứng dụng === Bộ ứng dụng cài đặt sẵn trên Windows 8.1 đã thay đổi so với Windows 8; PC Settings được mở rộng, bổ sung thêm các tùy chọn trước đó chỉ có mặt trên Control Panel phiên bản desktop, Windows Store cập nhật với một giao diện cải thiện dành cho việc duyệt các ứng dụng và cập nhật tự động, ứng dụng Thư được cập nhật giao diện và bổ sung thêm một số tính năng khác, ứng dụng Máy ảnh tích hợp Photosynth để tạo ảnh toàn cảnh và một số công cụ chỉnh sửa ảnh cũng được bổ sung vào ứng dụng Ảnh (trong khi khả năng tích hợp với Flickr và Facebook bị loại bỏ hoàn toàn). Một số ứng dụng gốc khác cũng được bổ sung, bao gồm Calculator, Food and Drink, Health and Fitness, Sound Recorder, Reading List (có thể sử dụng để lấy và đồng bộ dữ liệu từ các ứng dụng qua OneDrive), Scan và Help + Tips. Với người dùng Windows RT, Windows 8.1 cũng bổ sung thêm một phiên bản của Microsoft Outlook vào bộ ứng dụng Office 2013 RT đi kèm. Tuy nhiên, nó không hỗ trợ bảo vệ mất dữ liệu, Group Policy, tích hợp Lync, hay tạo các email với quản lý quyền thông tin. Windows Store kích hoạt theo mặc định trong các môi trường Windows To Go. === Chức năng và dịch vụ trực tuyến === Windows 8.1 tích hợp chặt chẽ hơn với các dịch vụ của Microsoft. OneDrive (trước kia là SkyDrive) tích hợp với mức độ hệ thống để đồng bộ cài đặt người dùng và tập tin. Các tập tin được tự động tải về trong nền khi truy cập từ thư mục OneDrive của người dùng, trừ khi chúng được đánh dấu là ngoại tuyến. Theo mặc định, chỉ có các siêu dữ liệu và hình thu nhỏ được lưu trữ cục bộ và các điểm phân tích được sử dụng để tạo ra sự xuất hiện của một cấu trúc thư mục bình thường để tạo nên tính tương thích ngược. Ứng dụng OneDrive được cập nhật để bổ sung một trình quản lý tập tin cục bộ. Sử dụng OneDrive trên Windows 8.1 yêu cầu tài khoản Windows của người dùng phải được liên kết với một tài khoản Microsoft; bản desktop khách hàng SkyDrive trước (không yêu cầu điều trên) không còn được hỗ trợ trên Windows 8.1. Một hệ thống tìm kiếm thống nhất dựa trên Bing được bổ sung; nó có thể phân tích thói quen tìm kiếm của người dùng để trả các kết quả cục bộ và trực tuyến phù hợp. Kiểu hiển thị "hero" toàn màn hình sẽ tổng hợp các bài tin tức, các bài viết trên Wikipedia, đa phương tiện và các nội dung khác liên quan tới từ khóa tìm kiếm; ví dụ, khi tìm kiếm một nghệ sĩ, hệ thống sẽ trả kết quả là ảnh, tiểu sử và những bài hát và album trên Xbox Music của họ. Ứng dụng nhắn tin từ Windows 8 đã bị thay thế bởi Skype, cũng cho phép người dùng nghe các cuộc gọi trực tiếp từ màn hình khóa. Windows 8.1 cũng bao gồm Internet Explorer 11, được bổ sung hỗ trợ cho SPDY và WebGL và các công cụ phát triển mở rộng. Phiên bản Metro của IE 11 cũng bổ sung các tính năng như đồng bộ các thẻ, cho phép mở vô số các thẻ và tích hợp Reading List. Do các thay đổi trong dịch vụ Facebook Connect, hỗ trợ cho Facebook đã bị vô hiệu hóa trong tất cả các ứng dụng cài đặt sẵn từ ngày 8 tháng 6 năm 2015. === Bảo mật và tương thích phần cứng === Trên các phần cứng tương thích, Windows 8.1 cũng giới thiệu một hệ thống "mã hóa thiết bị" trong suốt dựa trên BitLocker. Việc mã hóa sẽ bắt đầu ngay khi người dùng bắt đầu sử dụng hệ thống; mã khôi phục được lưu lại vào cả tài khoản Microsoft của người dùng hoặc một phiên đăng nhập Active Directory, cho phép bất cứ mọi máy tính nào cũng có thể lấy được mã này. Trong khi mã hóa thiết bị có mặt trên tất cả phiên bản Windows 8.1 không giống như BitLocker (chỉ có trên các phiên bản Pro và Enterprise), mã hóa thiết bị yêu cầu thiết bị phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của Connected Standby và sở hữu chip Trusted Platform Module (TPM) 2.0. Windows 8.1 cũng giới thiệu các API nhận dạng vân tay được cải tiến, cho phép việc đăng nhập của người dùng, User Account Control, Windows Store và các ứng dụng Windows Store sử dụng các mẫu vân tay đã thiết lập từ trước làm phương thức xác minh. Một chế độ kiosk mới có tên là "Assigned Access" cũng được bổ sung, cho phép một thiết bị thiết lập để sử dụng một ứng dụng duy nhất trong một môi trường giới hạn. Thêm nữa, Windows Defender còn bao gồm một hệ thống phát hiện xâm nhập (IDS) sẽ quét các hoạt động mạng để phát hiện ra những dấu hiệu của một malware. Windows 8.1 cũng cho phép các VPN bên thứ ba tự động kết nối. Với việc quản lý thiết bị doanh nghiệp, Windows 8.1 bổ sung hỗ trợ cho tính năng Workplace Join trong Windows Server 2012 R2, cho phép người dùng đăng ký thiết bị của họ vào các mạng lưới hợp tác với sự kiểm soát tốt hơn các truy cập vào các tài nguyên và các yêu cầu bảo mật. Windows 8.1 cũng hỗ trợ OMA Device Management. Remote Data Control có thể sử dụng để xóa từ xa một dữ liệu "hợp tác" cụ thể từ các thiết bị Windows 8.1. Do những sự thay đổi để cải thiện "hiệu quả bảo mật", phiên bản 64-bit của Windows 8.1 không còn hỗ trợ các bộ vi xử lý không có tập lệnh so sánh và trao đổi gấp đôi rộng (CMPXCHG16B) (trình cài đặt sẽ thông báo là thiếu hỗ trợ cho "CompareExchange128"). Một người phát ngôn của Microsoft nói rằng thay đổi này chủ yếu tác động lên các hệ thống với các bộ xử lý AMD 64-bit cũ và "số lượng các vi xử lý bị ảnh hưởng là cực kỳ nhỏ, vì tập lệnh này hỗ trợ đã hơn 10 năm rồi". Các bộ xử lý bị ảnh hưởng chủ yếu là dòng Socket 754 và Socket 939 Athlon64 từ 2004 và 2005; các CPU Socket AM2 sẽ có tập lệnh này. Kể cả khi hệ thống có một bộ vi xử lý được hỗ trợ, bo mạch chủ cũng phải hỗ trợ tập lệnh này—có thể gây ra vấn đề trên các bộ xử lý Intel trong một vài trường hợp. Những thay đổi này không ảnh hưởng tới phiên bản 32-bit của Windows 8.1. === Chức năng phần cứng === Windows 8.1 bổ sung hỗ trợ cho in 3D, ghép đôi với các máy in sử dụng các thẻ NFC, Wi-Fi Direct, truyền đa phương tiện qua Miracast, chia sẻ kết nối mạng và NVMe. Để đáp ứng cho các màn hình có mật độ điểm ảnh lớn, Windows 8.1 có thể chỉnh tỉ lệ các văn bản và thành phần GUI lên tới 200% (trong khi Windows 8 chỉ hỗ trợ tới 150%) và có thể cài đặt các tỉ lệ khác nhau trên các màn hình khác nhau trong hệ thống đa màn hình. == Các tính năng bị loại bỏ == Backup and Restore, thành phần sao lưu của Windows dù đã lỗi thời nhưng vẫn có mặt trong Windows 8 qua phần cài đặt "Windows 7 File Recovery" trong Control Panel, nay đã bị loại bỏ. Bản cập nhật cũng loại bỏ giao diện người dùng đồ họa cho Windows System Assessment Tool, nghĩa là chỉ số Windows Experience Index sẽ không còn được hiển thị. Phiên bản dòng lệnh của công cụ này vẫn giữ lại trong hệ thống. Theo Microsoft, việc loại bỏ Windows Experience Index nhằm quảng bá ý tưởng rằng tất cả các loại phần cứng đều chạy tốt Windows 8 như nhau. Windows 8.1 loại bỏ chức năng của một số ứng dụng Universal Windows Platform cho phép hoạt động như các "hub" kết nối các dịch vụ tương đồng trong một giao diện duy nhất: Ứng dụng Ảnh không còn khả năng xem ảnh từ Facebook, Flickr hoặc SkyDrive. Thay vào đó, mỗi nhà cung cấp dịch vụ dự định tạo ra các ứng dụng tách biệt riêng; Ứng dụng Nhắn tin, trước đó có thể sử dụng để trò chuyện với Windows Live Messenger và Facebook Chat, đã bị thay thế bới một ứng dụng Skype mới, không tương thích với Facebook Chat; Ứng dụng Lịch chỉ có thể kết nối tới các dịch vụ Microsoft như Outlook.com và Microsoft Exchange, loại bỏ hỗ trợ cho Google Calendar. Bắt đầu từ tháng 10 năm 2016, tất cả các bản cập nhật sẽ trở thành các bản cập nhật tích lũy như với Windows 10; do đó việc phát hành các bản cập nhật nhỏ chỉ tập trung sửa một số lỗi nhất định nào đó sẽ không còn. Thay vào đó, sau khi cài đặt Windows, người dùng chỉ cần tải về một bản cập nhật lớn thay vì phải tải về tới hàng trăm bản cập nhật lớn nhỏ khác nhau như trước. == Đón nhận == Windows 8.1 nhận nhiều phản hồi tích cực hơn Windows 8. Tom Warren của The Verge vẫn cho rằng nền tảng này "đang trong quá trình hoàn thiện" do số lượng các ứng dụng đã có mặt, các cấp độ chức năng của các ứng dụng, vẫn kém hơn so với các chương trình desktop và cũng vì anh cảm thấy việc sử dụng chuột và bàn phím trên hệ điều hành vẫn còn "lạ lẫm". Tuy nhiên, anh đã chỉ ra nhiều thay đổi lớn trên Windows 8.1, ví dụ như mở rộng chức năng snap, tăng cường tùy biến màn hình Start, tích hợp SkyDrive và Bing, cải thiện các ứng dụng gốc và cụ thể anh còn cho rằng ứng dụng Thư đã "bỏ rất xa" so với phiên bản trong Windows 8. Anh kết luận rằng "Microsoft đã đạt nhiều thành công trong vòng 12 tháng vừa qua, kể cả khi nhiều thay đổi đáng ra phải được thực hiện ngay từ khi bắt đầu với Windows 8." Joel Hruska của ExtremeTech chỉ trích các vấn đề kết hợp liên tục tái diễn giữa Desktop và các ứng dụng trên Windows 8.1, chỉ ra một vài ví dụ như ứng dụng Ảnh, vẫn "không nhận biết được người dùng có thể đã có các thư mục ảnh từ trước" và ứng dụng Thư "vẫn không thể liên kết với desktop—nếu bạn thử gửi một thư từ Desktop mà không có phần mềm thư điện tử nào khác được cài đặt, Windows sẽ vẫn báo là không có chương trình thư nào để thực hiện hành động đó". Tuy nhiên, anh khen ngợi những cải tiến trong các ứng dụng khác, như Mọi người và Tin tức (chỉ ra các cải tiến về giao diện,và ứng dụng Tin tức sử dụng các liên kết phù hợp khi chia sẻ tin tức, không còn sử dụng các liên kết không đúng chuẩn và chỉ có thể được nhận dạng bởi ứng dụng này). Mặc dù có khen ngợi hệ thống snap linh hoạt hơn, anh vẫn chỉ ra một vài điểm khiếm khuyết, như không thể giữ nguyên các thiết lập snap trong một vài trường hợp. Chức năng tìm kiếm của Windows 8.1 nhận nhiều phản hồi trái chiều; trong khi sự tích hợp Bing và giao diện mới được khen ngợi thì hệ thống này lại bị chỉ trích gay gắt khi không tìm kiếm trong các thiết bị lưu trữ ngoài trong chế độ tìm kiếm "Everything". Peter Bright của Ars Technica khen ngợi nhiều cải tiến trên Windows 8.1, như giao diện cảm ứng "hoàn thiện" hơn, nội dung hướng dẫn "hợp lý", công cụ tự động hoàn thiện mới trên bàn phím trên màn hình, cải thiện phần mềm và tích hợp sâu SkyDrive. Tuy nhiên, anh cảm thấy sự chuyển đổi giữa desktop và các ứng dụng "vẫn còn hơi rời rạc và thiếu sự kết nối lẫn nhau" (kể cả khi tùy chọn sử dụng hình nền desktop cho màn hình Start đã cho thấy sự tích hợp nhiều hơn với giao diện desktop) và việc khôi phục nút Start khiến hai giao diện càng không nhất quán hơn do cách làm việc khác nhau của nó giữa desktop và các ứng dụng. Một vài điểm khác của Windows 8.1 cũng gây nhiều lo ngại do các vấn đề về riêng tư. Trong bài đánh giá của mình về Windows 8.1, Joel Hruska nói rằng Microsoft đã cố tình khiến người dùng khó khăn hơn trong việc tạo một tài khoản "cục bộ" không liên kết với tài khoản Microsoft để đồng bộ, như thể là nó "[làm] rõ cho việc công ty thật sự, thật sự muốn bạn chia sẻ mọi điều bạn làm với nó và đó không phải là thứ mà số lượng người dùng và doanh nghiệp có thể thoải mái làm." Woody Leonhard của InfoWorld chỉ ra rằng theo mặc định, hệ thống "Smart Search" của Windows 8.1 sẽ gửi các từ khóa tìm kiếm và các thông tin khác cho Microsoft, những thông tin đó có thể sẽ dùng cho quảng cáo mục tiêu. Leonhard cho rằng điều này thật mỉa mai cho Microsoft, khi mà công ty trước đó đã chỉ trích việc sử dụng một chiến lược tương tự như vậy của Google với chiến dịch quảng cáo "Scroogled". === Thị phần === Theo Net Applications, tỷ lệ sử dụng Windows 8.1 trong tháng 3 năm 2015 là 10,55%, gấp ba lần so với phiên bản Windows 8 gốc là 3,52%. Windows 8.1 đạt tỉ lệ thích nghi cao nhất ở mức 13,12% vào tháng 6 năm 2015 so với tỉ lệ tương ứng của Windows 8 là 8,02% vào tháng 9 năm 2013. === Đón nhận của doanh nghiệp === Steve Kleynhans từ Gartner thúc giục các doanh nghiệp tránh chuyển sang sử dụng Windows 8.1. Trong báo cáo của anh, anh trình bày rằng hỗ trợ cho Windows 7 sẽ kéo dài tới tận 2020, các doanh nghiệp nên nâng cấp trực tiếp lên Windows 10 ngay khi phát hành. Hơn nữa, anh còn khuyến khích hạ cấp các thiết bị đã cài đặt Windows 8.1 xuống Windows 7 cho đến khi phát hành Windows 10. == Tham khảo == == Đọc thêm == Northrup, Tony (15 tháng 11 năm 2013). Windows 8.1 Inside Out. Redmond, WA: Microsoft Press. ISBN 978-0-7356-8363-1. “Compare Windows 8.1 Editions”. Microsoft.com. Microsoft. == Liên kết ngoài == Website chính thức Bản cập nhật Windows 8.1
nắm đấm.txt
Nắm đấm là chỉ trạng thái của bàn tay con người khi các cơ ngón tay co lại. == Nắm đấm tự nhiên == Nắm đấm tự nhiên, hay nắm đấm vành khuyên là chỉ cách nắm tay một cách tự nhiên khi các ngón tay (khác ngón cái) co tự nhiên vào lòng bàn tay còn ngón tay cái thì quay bụng tiếp xúc với cạnh ngoài của ngón trỏ. Nắm đấm này từ khi sơ sinh con người thường nắm. == Nắm đấm cơ bản == Các ngón tay (trừ ngón cái) cuộn vào lòng bàn tay, đốt cuối của ngón cái đặt lên đốt thứ hai của ngón trỏ (cạnh trong của ngón cái tiếp xúc với lưng đốt thứ 2 ngón trỏ). Nắm đấm này dùng nhiều trong võ thuật. == Tham khảo == Lực của một cú đấm được tung ra còn phụ thuộc cả vào trọng lực và trọng lượng của cơ thể, nếu tư thế chân trụ không vững thì đòn đánh không phát huy hết tác dụng.
dễ thương.txt
Sự dễ thương là một thuật ngữ mang tính chủ quan mô tả một dạng hấp dẫn thể chất liên quan tới sự trẻ trung và bề ngoài, cũng như là một khái niệm khoa học và hình mẫu phân tích trong tập tính học, được Konrad Lorenz lần đầu giới thiệu. Lorenz đề xuất khái niệm schema trẻ nhỏ (Kindchenschema), một tập hợp các đặc điểm khuôn mặt và cơ thể khiến một sinh vật trông "dễ thương" và kích hoạt ("giải phóng") ở người khác sự thôi thúc để chăm sóc nó. == Xem thêm == Đẹp Kawaii (sự dễ thương trong văn hóa Nhật Bản) Neoteny == Chú thích ==
kraft heinz.txt
The Kraft Heinz Company là một công ty thực phẩm Hoa Kỳ trên toàn thế giới, được hành thành do sự sáp nhập của Kraft Foods Group và Heinz vào 2015. Sự sáp nhập được hỗ trợ bởi 3G Capital và Berkshire Hathaway, đầu tư 10 tỉ USD vào thương vụ này, làm cho giá trị của Kraft Heinz lên tới 46 tỉ USD. Vào năm 2015, Kraft Heinz Company có 13 thương hiệu khác nhau với doanh thu hàng năm từ 500 triệu USD trở lên. == Sáp nhập == Thương vụ sáp nhập đã được các ban giám đốc của cả hai công ty đồng ý với sự chấp thuận của các cổ đông và các cơ quan quản lý. Công ty mới trở thành công ty thực phẩm và nước giải khát lớn thứ năm trên thế giới và lớn thứ ba ở Hoa Kỳ. Công ty có trụ sở ở cả Pittsburgh và Chicago. Việc sáp nhập được hoàn thành vào ngày 2 tháng 7 năm 2015. Trong vụ sáp nhập này, cổ đông của Kraft đã nhận được 49% cổ phần trong công ty mới, cộng với khoản cổ tức một lần trị giá 16.50 USD mỗi cổ phần. Fortune báo cáo rằng sự tăng trưởng chậm chạp của Kraft tại thị trường Mỹ là do người tiêu dùng chuyển sang các thành phần tự nhiên và hữu cơ. Alex Behring, đối tác quản lý của 3G Capital, là chủ tịch của công ty mới; Bernardo Hees, cũng là đối tác của 3G Capital và giám đốc điều hành (CEO) của Heinz, là CEO của công ty mới; và John Cahill, CEO của Kraft, là phó chủ tịch của công ty mới. Vụ sáp nhập không ảnh hưởng tới quyền đặt tên cho Heinz Field, sân nhà của Pittsburgh Steelers. Vào ngày 17 tháng 2 năm 2017, Kraft Heinz đã đưa ra lời đề nghị tiếp cận trị giá 143 tỉ USD để mua lại công ty đa quốc gia Anh-Hà Lan Unilever, một đối thủ cạnh tranh lớn đáng kể với hơn 126,000 nhân viên và doanh thu lớn hơn 24 tỉ bảng so với Kraft Heinz. Unilever đã từ chối đề xuất ban đầu. Việc tiếp quản bị hủy bỏ ngay vào ngày 19 tháng 2 khi Thủ tướng Anh Theresa May ra lệnh kiểm soát thương vụ. == Xem thêm == Danh sách các công ty thực phẩm Danh sách các nhãn hiệu thực phẩm Danh sách các công ty sản phẩm sữa Hoa Kỳ == Tham khảo == == Đọc thêm == Kim, Susanna (ngày 25 tháng 3 năm 2015). “How the New Kraft Heinz Co. Is About to Take Over Your Kitchen”. ABC News. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. == Liên kết ngoài == Website chính thức Bản mẫu:Kraft Heinz Company Bản mẫu:Berkshire Hathaway
ricoh.txt
Ricoh Company, Ltd. (株式会社リコー, Kabushiki-gaisha Rikō) hoặc Ricoh là công ty Nhật Bản được thành lập ngày 6 tháng 2 năm 1936 với cái tên Riken Sensitized Paper (理研感光紙, Riken Kankōshi), một công ty zaibatsu thuộc viện nghiên cứu RIKEN. Trụ sở của Ricoh đặt ở Chūō, Tokyo. Ricoh chuyên sản xuất các sản phẩm điện tử, chủ yếu là máy ảnh và các thiết bị văn phòng như máy in, máy photocopy, máy fax và cung cấp các phần mềm quản lý dữ liệu. Từ cuối thập niên 1990 với 2000, công ty đã vươn lên trở thành nhà sản xuất máy in lớn nhất thế giới. Trong thời gian này, Ricoh đã mua lại Savin, Gestetner, Lanier, Rex-Rotary, Monroe, và Nashuatec. Dù thương hiệu Monroe không còn được tiếp tục nữa nhưng các sản phẩm tiếp tục được tiếp thị dưới những thương hiệu còn lại. Năm 2006, Ricoh mua các nhà máy của Danka với giá 210 triệu USD. Những nhà máy này tiếp tục sản xuất dưới một đơn vị kinh doanh, dưới thương hiệu Infotec. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Ricoh tại Wikimedia Commons
walsall f.c..txt
Câu lạc bộ bóng đá Walsall là câu lạc bộ bóng đá Anh tọa lạc ở Walsall, West Midlands. Đội bóng được thành lập năm 1888 với tên gọi Walsall Town Swifts, sau sự hợp nhất của 2 đội Walsall Town F.C. và Walsall Swifts F.C. Sân nhà hiện tại của họ là Bescot Stadium, trước đó đã từng thi đấu ở Fellows Park. Hiện tại đội bóng đang thi đấu ở League One. == Các sự kiện chính == 1888 – Được thành lập với tên gọi Walsall Town Swifts 1896 – Đánh bại Wolverhampton Wanderers để vô địch Birmingham Senior Cup, cũng như Aston Villa trong trận chung kết Birmingham Charity Cup. 1896 – Di chuyển đến Hillary Street Ground, mà bây giờ được biết đến với tên gọi Fellows Park, sân nhà của Walsall, cho đến năm 1990. 1933 – Đánh bại Arsenal trong FA Cup – kết quả vẫn được xem là một trong những trận thua đáng tiếc mọi thời đại trong lịch sử FA Cup. 1972 – CLB thoát khỏi khó khăn tài chính nhờ ông chủ mới Ken Wheldon. 1975 – Đánh bại Manchester United và Newcastle United ở FA Cup trên đường tiến đến vòng 5. Bàn thắng vào lưới Newcastle được ghi bởi tiền đạo George Andrews. 1978 – Đánh bại Leicester City ở FA Cup trên đường tiến đến vòng 5. 1979 – Mua tiền đạo Alan Buckley từ Birmingham City với giá kỉ lục £175,000. Ngay sau đó ông trở thành HLV kiêm cầu thủ. 1984 – Walsall vào đến bán kết League Cup, đánh bại Arsenal ở vòng 4, nhưng HLV Alan Buckley bị sa thải vì không thể giúp đội bóng lên chơi ở Second Division. 1986 – Chủ sở hữu trường đưa ngựa Terry Ramsden mua lại CLB. 1988 – Thăng hạng lên Second Division. 1989 – Xuống hạng Third Division sau chỉ một mùa giải thi đấu ở Second Division. 1990 – Walsall tiếp tục xuống hạng Fourth Division, và họ chuyển đến sân vận động mới Bescot Stadium sau gần 100 năm chơi ở Fellows Park. 1992 – Jeff Bonser mua lại CLB. Ông chỉ định cựu HLV Wolves Kenny Hibbitt làm HLV mới cho Walsall. 1994 – Chris Nicholl lên nắm quyền HLV. 1995 – Walsall thăng hạng lên Division Two. 1997 – Chris Nicholl từ chức HLV và được thay thế bởi Jan Sorensen. 1998 – Walsall vào vòng 4 của League Cup và FA Cup. Jan Sorensen bị sa thải cuối mùa và được thay bởi Ray Graydon. 1999 – Walsall thăng hạng lên Division One. 2000 – Walsall xuống hạng Division Two, sau khi thất bại trước kình địch West Bromwich Albion. 2001 – Walsall lại lên chơi ở Division One, sau khi thắng play-off ở Division Two. 2002 – Ray Graydon bị sa thải và thay bởi Colin Lee. 2003 – Walsall mua cầu thủ 35 tuổi Paul Merson, cựu tiền vệ của Arsenal và đội tuyển Anh. 2004 – Walsall xuống hạng khỏi Division One sau khi sa thải Colin Lee trước đó. Paul Merson đảm nhiệm vừa HLV, vừa cầu thủ. 2005 – Paul Merson bị sa thải sau chỉ 1 năm và được thay thế bởi Kevan Broadhurst. 2006 – Walsall xuống hạng League Two và Kevin Broadhurst bị sa thải với người kế nhiệm là Richard Money. 2007 – Walsall vô địch League Two và thăng hạng lên League One. 2008 – Walsall kết thúc League One ở nửa trên bảng xếp hạng, nhưng cuối mùa giải Richard Money từ chức và được thay bởi Jimmy Mullen. 2009 – Walsall vẫn duy trì ở League One sau khi Jimmy Mullen bị sa thải và Chris Hutchings lên thay thế. 2011 – Chris Hutchings bị sa thải và chủ tịch đội trẻ Dean Smith thay thế. 2011 – Suýt xuống hạng League Two khi bị thiếu 1 điểm. 2012 – Suýt xuống hạng League Two vào vòng áp chót của mùa giải. 2013 – Walsall kết thúc League One ở vị trí thứ 9, một sự cải thiện lớn sau hai mùa giải vừa qua. 2014 - Walsall kết thúc League One ở vị trí thứ 13, một lần nữa họ không thể đến được vòng play-off sau một chuỗi kết quả tồi tệ vào cuối mùa giải. == Đội hình hiện tại == Tính đến ngày 17 tháng 7 năm 2015. Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Cho mượn === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Các kỉ lục == Giải đấu Vị trí cao nhất trong tất cả các giải đấu (sau chiến tranh): thứ 14 ở Football League Second Division (nay là Championship), 1961–62 FA Cup: Vòng 5 (6): 1938–39, 1974–75, 1977–78, 1986–87, 2001–02, 2002–03 League Cup: Bán kết (1): 1983–84 Attendances Số khán giả nhiều nhất (ở Fellows Park): 25,453 v. Newcastle United. Second Division (nay là Championship), ngày 29 tháng 8 năm 1961 Số khán giả nhiều nhất (ở Bescot Stadium): 11,049 v. Rotherham United. First Division (nay là Championship), ngày 9 tháng 5 năm 2004 Số khán giả nhiều nhất ở Third Division (nay là League One): 19,589 v. Notts County, ngày 18 tháng 3 năm 1950 Số khán giả nhiều nhất ở Fourth Division (nay là League Two): 15,403 v. Carlisle United, ngày 10 tháng 9 năm 1959 Số khán giả nhiều nhất ở FA Cup: 24,045 v. Fulham, đấu lại vòng 4, ngày 30 tháng 1 năm 1962 Số khán giả nhiều nhất ở League Cup: 21,066 v. Liverpool, vòng 4, ngày 17 tháng 2 năm 1968 Số khán giả nhiều nhất ở Football League Trophy: 9,128 v. Millwall. Chung kết lượt về cấp Khu vực, ngày 16 tháng 3 năm 1999 Số khán giả trung bình cao nhất (ở Fellows Park): 15,711, 1947–48 Số khán giả trung bình cao nhất (ở Bescot Stadium): 7,853, 2003–04 Tỉ số Trận thắng đậm nhất ở mùa giải: 10–0 v. Darwen. Second Division, ngày 4 tháng 3 năm 1899 Trận thua đậm nhất ở mùa giải: 0–12 v. Small Heath. Second Division, ngày 17 tháng 12 năm 1892 Trận thắng đậm nhất ở Cup: 7–0 v. Macclesfield Town. vòng 2 FA Cup, ngày 6 tháng 12 năm 1997 Cầu thủ Nhiều lần ra sân nhất: Jimmy Walker (534) 1993-04, 2010–12 Nhiều lần ra sân nhất trong tất cả các mùa giải: Colin Harrison (473) 1964–82 Ghi nhiều bàn thắng nhất: Alan Buckley (202) 1973–78, 1979–84 Ghi nhiều bàn thắng nhất trong tất cả các mùa giải: Tony Richards (185) 1954–63 Nhiều Hattrick nhất: Gilbert Alsop (22) Ghi nhiều bàn thắng trong 1 mùa giải nhất: Gilbert Alsop (40) 1933–34, 1934–35 Thi đấu quốc gia nhiều nhất: Mick Kearns (15), Republic of Ireland Phí chuyển nhượng cao nhất phải trả: £175,000 cho Alan Buckley đến Birmingham City, tháng 6 năm 1979 Phí chuyển nhượng cao nhất được nhận: £1,000,000 cho Scott Dann từ Coventry City, tháng 1 năm 2008 Các chuỗi trận Nhiều trận thắng liên tiếp nhất (7): 1959, 2005 Nhiều trận thua liên tiếp nhất (15): 1988–89 Nhiều trận bất bại liên tiếp nhất (21): 1979–80 Nhiều trận không thể giành chiến thắng liên tiếp nhất (18): 1988–89 == Danh hiệu == === Mùa giải === Football League Third Division (bây giờ là League One) • Á quân (2): 1960–61, 1998–99 • Thắng Play-Off (2): 1987–88, 2000–01 Football League Fourth Division (bây giờ là League Two) • Vô địch (2): 1959–60, 2006–07 • Á quân (2): 1979–80, 1994–95 === Cup === Birmingham Senior Cup • Vô địch (4): 1880–81 (với tên gọi Walsall Swifts), 1896–97, 1897–98, 1993–94 • Á quân (6): 1883–84, 1884–85, 1885–86 (tất cả đều dưới tên Walsall Swifts), 1907–08, 1999–00, 2006–07 Staffordshire Senior Cup • Vô địch (4): 1881–82, 1884–85 (cùng với Walsall Town), 1928–29, 1967–68 • Á quân (13): 1880–81, 1881–82, 1886–87 (tất cả đều dưới tên Walsall Swifts), 1889–90, 1892–93, 1898–99, 1910–11, 1920–21, 1921–22, 1948–49, 1949–50, 1952–53, 1965–66 == Tham khảo ==
lớp (sinh học).txt
Trong phân loại sinh học, một lớp là một cấp bậc nằm dưới ngành và trên bộ. Ví dụ Mammalia là một lớp được sử dụng trong phân loại các loài chó, mèo mà ngành của nó là Chordata (các động vật có dây sống) và bộ chứa chúng là Carnivora (các động vật có vú và ăn thịt). == Lịch sử == Lớp như là một dạng phân loại sinh học đặc biệt có tên gọi đặc biệt để phân biệt của chính nó (chứ không phải chỉ là tên gọi chung cho cái gọi là chi cao hơn (genus summum)), lần đầu tiên được một nhà thực vật học người Pháp là Joseph Pitton de Tournefort đưa ra trong phân loại của ông đối với thực vật (xuất hiện trong cuốn Eléments de botanique xuất bản năm 1694). Carolus Linnaeus là người đầu tiên sử dụng một cách ổn định từ lớp trong sự phân chia 3 giới của tự nhiên, bao gồm khoáng vật, thực vật và động vật, trong cuốn Systema Naturae (1735, ấn bản lần thứ nhất) của ông. Do khi đó lớp được coi là cấp cao nhất trong hệ thống cấp bậc phân loại cho đến khi có sự xuất hiện của cái mà ngày nay gọi là ngành (phylum/phyla cho động vật hay divisio cho thực vật) trong thế kỷ 19. == Xem thêm == Cấp bậc (thực vật học) Cấp bậc (động vật học) Quy tắc quốc tế cho danh pháp động vật (ICZN) Quy tắc quốc tế cho danh pháp thực vật (ICBN) Miêu tả theo nhánh học Phát sinh loài học Hệ thống hóa Phép phân loại Phân loại khoa học Phân loại virus == Tham khảo ==
vùng đô thị.txt
Một vùng đô thị là một trung tâm đông dân số bao gồm một đại đô thị và các vùng phụ cận nằm trong phạm vi ảnh hưởng của đô thị này hay nói cách khác là vùng gồm có hơn một thành phố trung tâm gần sát nhau và vùng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của các thành phố trung tâm này. Một hai nhiều thành phố lớn có thể phục vụ như một trung tâm hay các trung tâm cho toàn vùng. Thông thường vùng đô thị được đặt tên theo tên thành phố trung tâm lớn nhất hoặc quan trọng nhất trong vùng. == Vùng đô thị tại nước Đức == Khi so sánh những vùng đô thị nên để ý là ranh giới một vùng còn tùy theo cái nhìn của các đoàn thể. Cho nên các con số về số dân trên lãnh thổ, sức mạnh về kinh tế chỉ là tương đối. Các vùng đô thị của Đức, ngoại trừ vùng Rhein-Ruhr, so sánh quốc tế thì tương đối ít người ở. 6 vùng có số dân còn ít hơn là con số trung bình của cả nước là 229 người dân mỗi cây số vuông. Cho nên khi so sánh trên phương diện quốc tế, mà không nêu lên những chi tiết cụ thể, thì không có ý nghĩa cho lắm. == Vùng đô thị Việt Nam == Việt Nam có 2 vùng đô thị là Vùng thủ đô Hà Nội và Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh == Xem thêm == Vùng Hà Nội Các vùng đô thị xếp theo dân số Vùng đô thị Hoa Kỳ Danh sách 20 vùng đô thị lớn nhất của Ý Vùng đô thị Nhật Bản Vùng đô thị Việt Nam == Tham khảo ==
walt disney.txt
Walter Elias Disney (5 tháng 12 năm 1901 – 15 tháng 12 năm 1966) là nhà sản xuất phim, đạo diễn, người viết kịch bản phim, diễn viên lồng tiếng và họa sĩ phim hoạt hình Mỹ và cùng với người anh là Roy O. Disney thành lập Công ty Walt Disney từ năm 1923. Ông lớn lên tại trang trại ở Macerline, Missouri. Ngay từ nhỏ, Disney đã có thiên hướng kinh doanh vượt trội với việc bán những bức phác họa cho bạn bè cùng lớp tiểu học. Walt Disney nhận ra rằng những nét vẽ nguệch ngoạc ấy lại là ý tưởng kinh doanh tuyệt vời sau việc đổi những bức tranh biếm họa ấy với những lần cắt tóc miễn phí. Disney quan tâm sâu sắc tới hội họa và điện ảnh thời trung học đã tham gia lớp học buổi tối tại Trường Nghệ thuật Chicago. Disney dấn thân vào con đường họa sĩ hoạt hình ở Kansas. Năm 1920, khi đang làm việc tại xưởng quảng cáo phim Kansas City Film Ads, Disney nghĩ ra những nhân vật hoạt hình đầu tiên và năm 1922 lập công ty đầu đời Lau-O-grams. Chẳng bao lâu sau công ty gặp khó khăn, Disney quyết định rời Thành phố Kansas đến Hollywood lập nghiệp chỉ với tinh thần hăng hái của tuổi trẻ, bộ đồ vẽ và những ý tưởng hoạt hình trong đầu. Lúc đi ông nói: "Tôi sẽ làm đạo diễn phim Hollywood!". Song ước mơ của Disney không trở thành hiện thực vì tìm chỗ đứng trong làng điện ảnh này không hề dễ dàng. Thế rồi một gara để xe của bác Robert cùng với người anh trai là Ron, Walt Disney thành lập xưởng phim "Disney Brothers Studios" với việc vay Ron 200 USD, người chú 500 USD và nhờ bố mẹ thế chấp ngôi nhà để có 2.500 USD nữa. Sau một thời gian dài, Disney thuê được trụ sở ở Hollywood và bán được loạt phim hoạt hình đầu tiên dựa trên nhân vật cổ tích là Alice, loạt phim Alice Comedies. == Luôn đi đầu == Năm 1932, bộ phim hoạt hình đầu tiên của thế giới Flowers and Trees do ông sản xuất giành được giải Oscar. Năm 1937, ông cho ra mắt bộ phim hoạt hình dài đầu tiên Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn ở rạp chiếu bóng Carthay ở Los Angeles. Bộ phim tốn 1.499.000 USD - một khoản tiền khổng lồ thời đó, nhất là trong bối cảnh Đại khủng hoảng diễn ra ở Mỹ. Ông đã mạo hiểm đặt cược toàn bộ sự nghiệp của mình vào bộ phim này và đã được đền đáp. Bộ phim đã thành công mỹ mãn trên phim trường và thương trường: đoạt giải Oscar cộng với 8 triệu USD lợi nhuận - một con số kỉ lục với điện ảnh Mỹ trong thập niên 1930. Từ bộ phim này, Walt Disney trở thành nhân vật được sùng bái trong làng điện ảnh. Trong vòng 5 năm sau đó, Disney sản xuất những bộ phim hoạt hình đã trở nên kinh điển như Pinocchio, Chú nai Bambi, Fantasia, Chú voi biết bay Dumbo. Vào thập niên 1940 Disney điều hành Burbank Studios với hơn 1.000 nhân viên. Walt Disney còn giữ một kỷ lục vô địch tuyệt đối - 39 Giải Oscar. Trong đó có một Giải Oscar danh dự thể hiện lòng ngưỡng mộ đối với thành quả lao động nghệ thuật bất hủ của ông. Walt Disney thường bổ sung một câu nói rất ý nghĩa, thể hiện sự mênh mông của lòng mình: "38 giải Oscar còn lại xứng đáng được tặng cho các cộng sự đã cùng với tôi lăn lộn làm phim". == Kinh doanh giải trí chứ không phải làm nghệ thuật == Walt Disney thừa nhận: "Tôi không bao giờ thừa nhận công việc của tôi là nghệ thuật cả. Đó chỉ là một phần của ngành kinh doanh giải trí". Nhưng Walt Disney nhắc đi nhắc lại rằng tiền không phải là mục đích của ông, mà chỉ là phương tiện đạt đến kết quả cuối cùng. Thế giới cổ tích, giải trí mà ông mang đến cho khán giả đã trở thành nhu cầu thiết yếu dài lâu, chứ không phải niềm khoái trá tức thời nữa. Ông quan tâm đến nhu cầu giải trí của mọi người chứ không phải tìm cách thể hiện mình. Cứ tưởng đối tượng phục vụ của Disney là trẻ em, nhưng thực ra không chỉ trẻ em mà còn người lớn. Vì vậy, Disneyland chính là một công viên gia đình, nơi mà các ông bố bà mẹ và con trẻ cùng vui chơi với nhau. Walt Disney lúc nào cũng đầy ắp ý tưởng. Ông hiểu trên phương diện hội họa mình thua xa các họa sĩ làm việc tại xưởng phim. Nhưng Walt là một cái máy sản xuất ý tưởng. Ông phác thảo sơ lược, rồi mô tả chi tiết bằng lời về nhân vật hoạt hình mà ông muốn thể hiện, từ đó các họa sĩ dưới quyền sẽ định hình. Chính Chuột Mickey đã ra đời như thế. == Vượt qua những thất bại đau đớn == Ngay sau khi xây dựng xưởng phim Disney Brothers, ông sáng tạo ra bộ phim Oswald the Lucky Rabbit. Vì sự non nớt của mình, ông đã tán thành một hợp đồng sản xuất và trong hợp đồng này ông sẽ sản xuất các bộ phim hoạt hình, nhưng công ty Mintz lại là chủ sở hữu các nhân vật. Bộ phim gây được tiếng vang lớn nhưng các nhà phân phối đã tàn nhẫn gạt người sáng tác ra khỏi cuộc chơi. Disney tuyên bố: "Không bao giờ ta làm việc cho bất kỳ ai nữa". Sau thất bại với công ty phân phối Mintz, Walt Disney chán nản trở về California. Walt nhận ra rằng xưởng phim mới của mình sắp bị giải tán nếu như ông không phát minh ra nhân vật mới nào. Trở về California, bức phác thảo đầu tiên mà ông đưa ra là một con chuột hấp dẫn, lanh lợi, trông giống như tranh biếm họa. Để thực hiện bộ phim này, Disney phải bán chiếc xe ôtô thể thao yêu quý của mình. Ngày 18 tháng 11 năm 1928, Chuột Mickey được công diễn lần đầu ở Thành phố New York đã thu được thành công lẫy lừng. Bị ám ảnh từ thất bại trước, ông cố gắng phân phối phim hoạt hình của ông tới từng nhà hát. Lại một bài học mới xuất hiện, Chuột Mickey đang làm của cải trở lại nhưng số tiền quay trở lại với Disney rất ít ỏi. Cuối cùng, năm 1930, sau 7 năm ở Hollywood, Disney đã đầu hàng và bán xưởng phim, ký một thỏa thuận với hãng chiếu bóng Columbia, đồng ý phân phối phim với giá 7.000 USD một bộ phim, tiền chia đều cho hai bên nhưng Disney vẫn giữ bản quyền. Hãng phim Columbia đã phân phối phim hoạt hình của Disney đi khắp thế giới. Vào năm 1930, Chuột Mickey đã trở thành một nhân vật được toàn cầu quan tâm. Chẳng bao lâu, Disney đã nhận ra tiềm năng giá trị thương mại của Mickey. Năm 1930, ông xuất bản cuốn sách Chuột Mickey và trong năm đầu tiên đã bán ra 97.939 bản. Năm 1932, ông đã thuê một thương gia New York có tên là Kay Kamen để khai thác khía cạnh thương mại của Chuột Mickey. Việc đầu tiên mà Kamen làm là cấp giấy phép cho Công ty chế biến sản phẩm sữa quốc gia để làm kem Mickey. Công ty này đã bán được 10 triệu chiếc kem trong tháng đầu. Đến cuối năm 1932, nhiều công ty cùng giúp bán biểu tượng Chuột Mickey và Disney đã nhận được khoảng 5% giá bán buôn những mặt hàng đã được cấp giấy phép. Trong vòng một năm đầu làm việc với công ty, Kamme đã mang lại cho công ty 300.000 USD, gần 1/3 lợi nhuận của công ty. Sản phẩm lâu bền nhất là đồng hồ Chuột Mickey. Công ty Ingersoll Waterbury đã giới thiệu mặt hàng này và bán được 25 triệu đồng hồ trong hai năm đầu. Sau đó không thấy ai nhắc đến những thất bại tiếp theo của Disney nữa. Ông trưởng thành, đủ kinh nghiệm lường trước những thất bại tiềm ẩn. Và cũng không phải thương trường ít chông gai hơn mà có lẽ mọi chông gai trở thành quá bé nhỏ đối với chàng khổng lồ Walt Disney. == Chú chuột Mickey lừng danh == Walt Disney kể lại: "Chúng tôi cảm nhận thấy là công chúng, đặc biệt là các em nhỏ thích những con vật nhỏ bé nhưng lanh lợi. Tôi nghĩ chúng tôi mắc nợ Charlie Chaplin một ý tưởng. Chúng tôi nghĩ đến chú chuột nhắt bé xíu cũng có lòng khát khao như Chaplin - một anh chàng nhỏ bé cố gắng làm điều mà anh ta có thể làm một cách tốt nhất". Bí quyết khiến Chuột Mickey nổi tiếng như thế là do chú ta "rất người". Năm 1928, Chuột Mickey ra đời và nhanh chóng trở thành nhân vật yêu thích của các gia đình Mỹ, tượng trưng cho tinh thần vui vẻ ngay cả khi trong tình huống ngặt ngẽo. Đó cũng là lần đầu tiên Disney dùng nhạc nền và các kĩ xảo phụ họa cho phim hoạt hình. Cộng với một nghệ thuật hoạt hình sáng tạo đến bất ngờ, hình tượng Mickey đã được công chúng nhiệt liệt đón chào, nhất là vào những ngày đầu tiên xuất hiện phim lồng tiếng. Năm 1955, Disney mở hướng đi mới: Ông bỏ ra 17 triệu USD khai trương công viên Disneyland rộng 70ha, một công viên hoàn toàn để vui chơi giải trí trên thế giới dựa theo những bộ phim hoạt hình của ông. Đây là một xứ sở huyền ảo không chỉ với trẻ em mà người lớn cũng thấy mê khi chu du trong đó. Một lần nữa mạo hiểm và thêm một lần thành công: Ngay trong bảy tuần đầu tiên Mickey và các bạn đã đón một triệu lượt khách đến thăm. Walt Disney cũng là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực truyền hình, bắt đầu nhảy vào lĩnh vực này vào năm 1954, một trong những người đầu tiên làm truyền hình màu: Vào năm 1961, ông cho ra đời kênh truyền hình Walt Disney's Wonderful World of Color. Disney World Nhưng Walt vẫn không chịu dừng lại ở đó vì ông luôn muốn làm tốt hơn nữa. Từ giữa thập niên 1960, Disney bắt tay thực hiện một dự án lớn - xây dựng Disneyworld với những mục đích xã hội. Disneyworld rộng hơn Disneyland 15 lần, gồm có công viên giải trí, hợp tố khách sạn, sân bay... Ông quan tâm dến từng chi tiết của công trình này, nhưng không kịp sống đến ngày khai trương Disneyworld vào tháng 10 năm 1971. Ông mất ngày 15 tháng 12 năm 1966 vì căn bệnh ung thư phổi. Ngày nay, tên tuổi ông Walt Disney là thương hiệu của cả một tập đoàn toàn cầu về phim ảnh và các khu vui chơi giải trí. == Các bộ phim hoạt hình dài của Walt Disney == Tem kỉ niệm của nứơc Mĩ in hình Walt Disney Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (1937, "Snow White and the Seven Dwarfs") Cậu bé người gỗ (1940, "Pinocchio") Fantasia (1940) Chú voi biết bay Dumbo (1941, "Dumbo") Chú nai Bambi (1942, "Bambi") Cô bé Lọ Lem (1950, "Cinderella") Alice lạc vào xứ sở thần tiên (1951, "Alice in Wonderland") Peter Pan (1953) Cô tiểu thư và tên du đãng (1955, "Lady and the Tramp") Người đẹp ngủ trong rừng (1959, "Sleeping Beauty") 101 con chó đốm (1961, "One Hundred and One Dalmatians") Câu chuyện rừng xanh (1967, "The Jungle Book") Gia đình mèo quý tộc (1970, "The Aristocats") Robin rừng xanh (1973, Robin Hood) Cuộc phiêu lưu của gấu Winnie the Pooh (1977, "The Many Adventures of Winnie the Pooh") Nhân viên cứu hộ (1977) Oliver và bạn hữu (1988, "Oliver & Company") Nàng tiên cá (1989, "The Little Mermaid") Truyện nhà vịt: Đi tìm cây đèn bị mất (1990, "DuckTales the Movie: Treasure of the Lost Lamp") Người đẹp và ác thú (1991, "Beauty and the Beast") Aladdin và cây đèn thần (1992, "Aladdin") Vua sư tử (1994, "The Lion King") Aladdin và cây đèn thần 2: Sự trở lại của Jafar (1994, "Aladdin: The Return of Jafar") Pocahontas (1995) Aladdin và cây đèn thần 3: Aladdin và vua trộm (1995, "Aladdin and the King of Thieves") Bố con nhà Goofy (1995, "A Goofy Movie") Thằng gù nhà thờ Đức Bà (1996, "The Hunchback of Notre Dame") Hercules (1997, "Hercules") Hoa Mộc Lan (1998, "Mulan") Tarzan (1999, "Tarzan") Fantasia 2000 (2000) Câu chuyện về Tigger (2000, "The Tigger Movie") Nàng tiên cá 2: Trở về biển cả (2001, "The Little Mermaid II: Return to the Sea") Cô bé Lọ Lem 2: Những giấc mơ trở thành hiện thực (2002, "Cinderella II: Dreams Come True") Peter Pan 2: Trở lại xứ sở "Không bao giờ" (2002, "Peter Pan: Return to Never Land") Lilo và Stitch (2002, "Lilo & Stich") Câu chuyện rừng xanh 2 (2003, "The Jungle Book 2") Câu chuyện lớn về Piglet (2003, "Piglet's Big Movie") Anh em gấu (2003, "Brother Bear") Đi tìm Nemo (2003, "Finding Nemo") Hoa mộc lan 2 (2004, "Mulan 2") Gia đình siêu nhân (2004, "The Incredibles") Mickey, Donald, Goofy: Ba chàng ngự lâm (2004, "Mickey, Donald, Goofy: The Three Musketeers") Ngôi nhà trên núi (2004, "Home on the Range") Khu rừng Heffalump (2005, "Pooh's Heffalump Movie") Chú gà bé nhỏ (2005, "Chicken Little") Anh em gấu 2 (2006, "Brother Bear 2'") Thế giới xe hơi (2006, "Cars") Enchanted (2007, "Enchanted") Cô bé Lọ Lem 3: Thay đổi thời gian (2007, "Cinderella III: A Twist in Time") Chú chuột đầu bếp (2007, "Ratatouille") Gặp gỡ gia đình Robinson (2007, "Meet the Robinsons") WALL-E (2008, "WALL-E") Tia chớp (2008, "Bolt") Biệt đội chuột lang (2009, "G-FORCE") Công chúa và chàng ếch (2009, "The Princess and the Frog") Alice ở Xứ sở thần tiên (2010, "Alice in Wonderland") Nàng công chúa tóc mây (2010, "Tangled") Tron: Legacy (2010, "Tron: Legacy") Thế giới xe hơi (2011, "Car 2") Đại nhạc hội rối(2012, "The Muppets") Công chúa tóc xù (2012, "Brave") Ralph đập phá (2012, "Wreck-It-Ralph") Oz vĩ đại và quyền năng (2013, "Oz the Great and Powerful") Chiến binh cô độc (2013, "The Lone Ranger") Thế giới máy bay (2013, "Planes") Nữ hoàng băng giá(2013, "Frozen") Tiên hắc ám (2014, "Maleficent") Biệt đội Big Hero 6 (2014, "Big Hero 6") Alexander và một ngày tồi tệ, kinh khủng, chán nản, bực bội (2014, "Alexander and the Terrible, Horrible, No Good, Very Bad Day") Khu rừng cổ tích (2014, "Into the Woods") Câu Chuyện Đồ Chơi 1,2,3 ("Toy Story 1,2,3") Những mảnh ghép cảm xúc (2015, "Inside Out (phim)"). Chú khủng long tốt bụng(2015'"The good dinasaur) Phi vụ động trời (2016"Zootopia") Câu chuyện rừng xanh(2016 "The Jungle Book) Đi tìm Dory(2016 "Finding Dory") Big friendly giant(BFG-2016) Pete và người bạn rồng(2016 "Pete's dragon") Hành trình của Moana (2016 "Moana") Người đẹp và quái vật (2017 "Beauty and The Beast") Vương quốc xe hơi 3 (2017 "Cars 3") == Chú thích == == Tham khảo == Thomas, Bob (1994 [1976]). Walt Disney: An American Original. New York: Disney Editions. ISBN 0-7868-6027-8. == Đọc thêm == Barrier, Michael (1999). Hollywood Cartoons: American Animation in Its Golden Age. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-516729-5. Broggie, Michael (1997, 1998, 2005). Walt Disney's Railroad Story. Virginia Beach, Virginia. Donning Publishers. ISBN 1-56342-009-0 Chytry, Josef. "Walt Disney and the Creation of Emotional Environments: Interpreting Walt Disney’s Oeuvre from the Disney Studios to Disneyland, CalArts, and the Experimental Prototype Community of Tomorrow (epcot)," Rethinking History (London), 16 (June 2012), 259–78. Eliot, Marc (1994). Walt Disney: Hollywood's Dark Prince. New York: Birch Lane Press. ISBN 155972174X. Gabler, Neal. Walt Disney: The Triumph of American Imagination (2006). New York, NY. Random House. ISBN 0-679-43822-X Schickel, Richard, and Dee, Ivan R. (1967, 1985, 1997). The Disney Version: The Life, Times, Art and Commerce of Walt Disney. Chicago: Ivan R. Dee, Publisher. ISBN 1-56663-158-0. Sherman, Robert B. và Sherman, Richard M. (1998). Walt's Time: From Before to Beyond. ISBN 0-9646059-3-7 Thomas, Bob (1991). Disney's Art of Animation: From Mickey Mouse to Beauty and the Beast. New York: Hyperion. ISBN 1-56282-899-1. Watts, Steven. The Magic Kingdom: Walt Disney and the American Way of Life, University of Missouri Press, 2001, ISBN 0-8262-1379-0 Barrier, Michael (2008). The Animated Man: A Life of Walt Disney, University of California Press. == Liên kết ngoài ==
google io.txt
Bản mẫu:Self-published Bản mẫu:Third-party Google I/O là hội nghị thường niên dành cho các lập trình viên được tổ chức bởi Google tại San Francisco, California. Google I/O mang đến những bài thuyết trình chuyên sâu về công nghệ mà trọng tâm là phát triển web, nền tảng di động, và những ứng dụng thương mại được xây dựng bằng các công nghệ web mở từ Google. Các sản phẩm cụ thể được đề cập là Android, Chrome, Chrome OS, Google APIs, Google Web Toolkit, App Engine... Google I/O được bắt đầu vào 2008. Từ "I" và "O" viết tắt của input/output, và "Innovation in the Open". Thể loại của sự kiện này tương tự như Google Developer Day. == 2008 (28–29 tháng 5 năm 2008) == Chủ đề chính là OpenSocial, App Engine, Android, Google Maps API, và Google Web Toolkit. Những gười phát biểu bao gồm David Glazer, Alex Martelli, Steve Souders, Dion Almaer, Mark Lucovsky, Guido van Rossum, Jeff Dean, Chris DiBona, Josh Bloch, Raffaello D’Andrea, và Geoff Stearns. == 2009 (27–28 tháng 5 năm 2009) == Chủ đề chính là Android, App Engine, Chrome, Google Web Toolkit, OpenSocial, Google AJAX APIs, và Google Wave. Những người phát biểu gồm Aaron Boodman, Adam Feldman, Adam Schuck, Alex Moffat, Alon Levi, Andrew Bowers, Andrew Hatton, Anil Sabharwal, Arne Roomann-Kurrik, Ben Collins-Sussman, Ben Galbraith, Ben Lisbakken, Brad Chen, Brady Forrest, Brandon Barber, Brett Slatkin, Brian Fitzpatrick, Brian McRae, Bruce Johnson, Casey Whitelaw, Charles McCathieNevile, Charles Chen, Chewy Trewhalla, Chris Chabot, Chris DiBona, Chris Mertens, Chris Nesladek, Chris Pruett, Chris Schalk, Cody Simms, Cyrus Mistry, Damon Lundin, Dan Bornstein, Dan Holevoet, Dan Morrill, Dan Peterson, Daniel Jefferies, Daniel S. Wilkerson, Dave Bort, Dave Carroll, Dave Day, Dave Peck, David King, David Sehr, David Sparks, DeWitt Clinton, Derek Collison, Dhanji Prasanna, Dion Almaer, Don Schwarz, Eric Bidelman, Eric Sachs, Gerardo Capiel, Gregg Tavares, Guido van Rossum, Guillaume Laforge, Henry Chan, Ian Fette, Iein Valdez, Itai Raz, Jacob Lee, Jeff Fisher, Jeff Ragusa, Jeff Sharkey, Jeffrey Sambells, Jerome Mouton, Jesse Kocher, et al. Quà tặng phần cứng cho người tham dự: T-Mobile myTouch 3G == 2010 (19–20 tháng 5 năm 2010) == Chủ đề chính là Android, App Engine, Chrome, Enterprise, Geo, Google APIs, Google TV, Google Web Toolkit, trang mạng xã hội, và Google Wave. Những người phát biểu bao gồm Aaron Koblin, Adam Graff, Adam Nash, Adam Powell, Adam Schuck, Alan Green, Albert Cheng, Albert Wenger, Alex Russell, Alfred Fuller, Amit Agarwal, Amit Kulkarni, Amit Manjhi, Amit Weinstein, Anders Sandholm, Angus Logan, Anne Veling, Arne Roomann-Kurrik, Bart Locanthi, Ben Appleton, Ben Cheng, Ben Collins-Sussman, et al. Quà tặng phần cứng cho người tham dự: Tại sự kiện: HTC Evo 4G Trước sự kiện: người tham dự Mỹ: Motorola Droid Trước sự kiện: người tham dự không phải Mỹ: HTC Nexus One == 2011 (10–11 tháng 5 năm 2011) == Chủ đề chính của ngày đầu là Android, ngày thứ hai là - Chrome và Chrome OS. Phần công bố chính về Android: Google Music - Một dịch vụ âm nhạc trực tuyến không dây giống như Amazon Cloud Player và Spotify Bản cập nhật Honeycomb 3.1 - Cho phép thiết bị chạy honeycomb chuyển trực tiếp nội dung từ thiết bị USB Ice Cream Sandwich - Phiên bản hợp nhất Honeycomb và Gingerbread thành một OS Phần công bố chính về Chrome và Chrome OS: Chromebook từ Samsung và Acer bắt đầu bán vào 15 tháng 6 Các ứng dụng Chrome Web Store có thể tích hợp thanh toán ngay trong ứng dụng với 5% phí Phiên bản web của Angry Birds Quà tặng phần cứng cho người tham dự: Samsung Galaxy Tab 10.1 Samsung Series 5 Chromebook Verizon MiFi Mobile Hotspot == 2012 (27–29 tháng 6 năm 2012) == Được tổ chức tại Moscone Center West ở San Francisco và kéo dài đến 3 ngày, thay vì 2 ngày như thông thường. Google tặng phần cứng cho người tham dự: Samsung Galaxy Nexus Asus Nexus 7 Nexus Q Samsung Chromebox === Ngày 1 === Chủ đề chính xuyên suốt trong ngày là Android, Google+ và Project Glass. Phần keynote được tổ chức cùng ngày. Công bố chính thức bao gồm: Android 4.1 ("Jelly Bean") Project Butter Google Now Giới thiệu Nexus 7 Giới thiệu Nexus Q Project Glass Hơn 400 triệu thiết bị Android được kích hoạt trên toàn cầu Dich vụ In-App Payments được bổ sung nhiều tùy chọn về mức giá và thuê bao khi tích hợp với Google Wallet Bản đồ ngoại tuyến cho Android Phiên bản 2 của Google Drive SDK Ứng dụng Google+ Hangout và các số liệu Chế độ xem 3D mới cho Google Earth cho Android Điểm mới và cập nhật của Youtube API Dữ liệu giao thông công cộng hiện đã tích hợp trong Google Maps API Cập nhật ứng dụng YouTube cho Android === Ngày 2 === Chủ đề chính xuyên suốt trong ngày là Google Chrome, The Cloud và Project Glass. Phần keynote thứ hai (và cuối cùng) được tổ chức vào ngày này. Công bố chính thức bao gồm: Google Chrome hiện có 310 triệu người dùng tích cực trên toàn thế giới Gmail hiện có 425 triệu người dùng tích cực trên toàn thế giới Nền tảng Google+ cho điện thoại (bao gồm SDK cho Android và iOS) Các bản phát hành chính thức bao gồm: Google Chrome cho Android được nâng cấp lên phiên bản ổn định Google Chrome cho iOS Google Drive cho iOS Google Docs hiện đã có thể hoạt động ngoại tuyến Google Compute Engine và IaaS cho phép người dùng chạy khối lượng công việc nặng trên Linux Virtual Machine lưu trữ trên cơ sở hạ tầng của Google Bản đồ nhiệt và biểu tượng được thêm vào Google Maps API Các cải tiến dành cho Styled Maps được thêm vào Google Maps API === Ngày 3 === Chính thức công bố bao gồm: Mobile App Analytics Chính thức phát hành bao gồm: Google Analytics cho Android == 2013 (15–17 tháng 5 năm 2013) == Google I/O 2013 được tổ chức tại Moscone Center, San Francisco. Công bố cập nhật cho Android, Chrome OS, Google Chrome và một số thiết bị khác dự kiến trong suốt hội nghị. Việc đăng ký mở cửa vào 13 tháng 3 năm 2013 lúc 7:00 AM PDT (GMT-7). Chỉ trong vòng 49 phút cho tất cả $900 (hoặc $300 cho học sinh và giảng viên) vé đã bán hết, mặc dù yêu cầu đăng ký có thêm điều kiện là phải có tài khoản Google+ và Google Wallet. Có một đội tàu bay điều khiển từ xa, trang bị máy ảnh, một máy quay toàn cảnh trong Google I/O, trực tiếp trên www.ioairshow.com === Ngày 1 === Công bố và giới thiệu: Google Play Music All Access (đăng ký trực tuyến) Google Play Games Cập nhật dịch vụ Google Play Google Play cho giáo dục Android Studio môi trường phát triển Samsung Galaxy S4 với Android gốc bán trên Google Play Google+ thiết kế lại với sự nhấn mạnh về quản lý hình ảnh và chia sẻ Google Hangouts, cập nhật tin nhắn tức thời Thiết kế lại Google Maps máy tính bàn và ứng dụng Android Cập nhật ứng dụng Google Search cho Android Android vượt 900 triệu kích hoạt toàn cầu Google App Engine hiện hỗ trợ PHP Google TV cập nhật Android 4.2.2 Jelly Bean === Ngày 2 === Chủ đề chính trong ngày là ứng dụng Google Glass và phát triển Google+. Quà phần cứng cho người tham dự: Google Chromebook Pixel == Tham khảo == == Liên kết == Website chính thức Google I/O on Google Buzz Google I/O on Twitter (official hashtags: #io2008, #io2009, #io2010,#io11, #io12) Google I/O 2008 Session Videos and Slides Google I/O 2009 Session Videos and Slides Google I/O 2009 session Debugging Arts of the Ninja Masters Google I/O 2010 Session Videos and Slides Google I/O 2011 Session Videos and Slides Google I/O 2012 Session Videos and Slides Google I/O 2013 Session Videos and Slides
chittagong.txt
Chittagong, thành phố cảng phía Đông Nam của Bangladesh, bên sông Karnaphuli, gần Vịnh Bengal. Thành phố là trung tâm thương mại cho vùng nông nghiệp xung quanh sản xuất đay, gunny (một loại sợi thô), trà và da sống. Thành phố có Đại học Chittagong (1966). Chittagong đã trở thành một trung tâm thương mại quan trọng dưới thời cai trị của người Bồ Đào Nha thế kỷ 16. Nó đã trở thành một thuộc địa của Công ty Đông Ấn Anh giữa thời kỳ 1760 và 1765. Ban đầu là một phần của Arakan, sáu mươi năm sau hoàng đế của Miến Điện tuyên bố đây là một phần đất phụ thuộc của lãnh thổ mình. Lời tuyên bố là một trong những nguyên nhân gây ra Chiến tranh Miến Điện-Anh năm 1824. Chittagong đã là một phần của Pakistan từ năm 1947 đến 1971, khi nó trở thành một phần của quốc gia mới độc lập Bangladesh. Bến cảng tự nhiên của Chittagong là một cửa ngõ cổ xưa đến vùng Bengal. Nó được ghi nhận là một trong những bến cảng lớn nhất của Đông bởi nhà địa lý La Mã Ptolemy vào thế kỷ thứ nhất. Là một phần của truyền thống đi biển phong phú của người Bengal, bờ biển Chittagong đã được định cư và cai trị bởi các vương quốc Ấn Độ và Bengal. Các nhà kinh doanh Ả Rập nhìn thấy đồng tiền phát triển, ngân hàng và vận chuyển ở Chittagong trong thế kỷ thứ 9. Những người theo Hồi giáo đầu tiên đã thiết lập sự thống trị của cảng như một trung tâm buôn bán hàng hải, trong khi Arakan, Bengal và Tripura cạnh tranh để kiểm soát vùng nội địa rộng lớn hơn. Sự chinh phục của người Hồi giáo diễn ra vào thế kỷ 14. Chittagong trở thành cảng chính của Vương quốc Hồi giáo Bengal. Nó được nhiều nhà thám hiểm hàng đầu thế giới sử dụng, bao gồm Ibn Battuta và Niccolò de 'Conti. Sau đó, Mrauk U, với sự trợ giúp từ các trụ sở thương mại Bồ Đào Nha, đã giành quyền kiểm soát khu vực này. Cuộc chinh phục Mughal của Chittagong đã tái lập lại quyền kiểm soát của Bengal và mở ra kỷ nguyên ổn định và thương mại. Thành phố được đổi tên thành Islamabad. Lịch sử đa dạng này được phản ánh qua phương ngữ Chittagonian ở vùng nông thôn của Bengali, vốn có nguồn gốc từ tiếng Ả rập gần 50%, cũng như từ vay mượn của Ba Tư và Ba Tư. Bắt đầu vào năm 1760, được chuyển nhượng cho Công ty Đông Ấn Anh, Chittagong đã trở thành cảng chính của Đông Bengal và Assam thuộc Vương quốc Anh, cũng như một trung tâm đường sắt. Một cuộc nổi dậy chống thực dân nổi bật đã diễn ra vào năm 1930. Đây là một căn cứ quan trọng cho Lực lượng Đồng Minh trong Chiến dịch Miến Điện trong Thế chiến II. Công nghiệp hóa nhanh chóng theo sau chiến tranh, như Chittagong đã trở thành một phần của Đông Pakistan. Trong cuộc chiến giải phóng Bangladesh năm 1971, Chittagong là nơi tuyên bố độc lập của đất nước. Chittagong hiện đại là một trung tâm kinh tế quan trọng ở Nam Á. Đây là nơi có Sở Giao dịch Chứng khoán Chittagong và nhiều công ty lâu đời nhất và lớn nhất của Bangladesh. Cảng Chittagong là cảng biển quốc tế lớn nhất trên Vịnh Bengal. Đây là căn cứ lớn nhất của Hải quân Bangladesh. Tuy nhiên, mặc dù GDP của một thành phố lớn ở khu vực Nam Á đang tăng cao và đang phát triển và là một trong những thành phố phát triển nhanh nhất trên thế giới, tỷ lệ đói nghèo là 11,3% vào năm 2010. Chittagong nổi tiếng là Một thành phố khá sạch sẽ, nhưng vẫn phải đối mặt với những vấn đề về hậu cần và kinh tế xã hội. Vùng nội địa miền núi Chittagong là vùng đa dạng sinh học nhất Bangladesh, với 2.000 loài thực vật đặc hữu và các động vật hoang dã đang bị đe dọa nghiêm trọng. == Kinh tế == Chittagong tạo ra 40% sản lượng công nghiệp của Bangladesh, 80% thương mại quốc tế và 50% thu ngân sách của chính phủ. Sở Giao dịch Chứng khoán Chittagong có hơn 700 công ty niêm yết, với mức vốn hóa thị trường là 32 tỷ đô la Mỹ vào tháng 6 năm 2015. Thành phố này là nơi có nhiều tập đoàn lớn nhất và lâu đời nhất của đất nước. Cảng Chittagong đã thông qua lượng hàng hóa trị giá 60 tỷ USD thương mại trong năm 2011, đứng thứ 3 ở Nam Á sau cảng Mumbai và cảng Colombo. == Khí hậu == Khí hậu nhiệt đới gió mùa == Chú thích ==
kinh tế new zealand.txt
Kinh tế New Zealand là một nền kinh tế thị trường phát triển chủ yếu dựa vào trao đổi thương mại quốc tế, với các đối tác thương mại chính là Úc, Hoa Kỳ và Nhật Bản. New Zealand có thế mạnh về du lịch và xuất khẩu nông nghiệp, chỉ có một ít cơ sở sản xuất chế tạo và các thành phần công nghệ cao. Nền kinh tế thị trường tự do được cải cách vào cuối thập kỷ trước của New Zealand đã loại bỏ những rào cản đối với đầu tư nước ngoài, Ngân hàng thế giới đã ca ngợi New Zealand là một trong những quốc gia có môi trường kinh doanh tốt nhất thế giới. == Xu hướng kinh tế vĩ mô == Dưới đây là biểu đồ xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của New Zealand theo giá thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, đơn vị tính triệu đô la New Zealand. Để tính cho sức mua tương đương, 1 USD = 1,51 Đô la New Zealand (thời điểm 2008). == Chú thích ==
mốc phát triển của trẻ em.txt
Từ khi sinh ra cho đến 6 tuổi, trẻ em sẽ thay đổi theo một số mốc phát triển. Không phải em nào cũng phải theo y khuông các mốc này. Nhưng nếu cha mẹ cảm thấy con mình bị tụt lại khá xa, nên hỏi bác sĩ. Nguồn: Developmental Milestones Author: RxPG Team == Tham khảo ==
hợp kim.txt
Hợp kim là dung dịch rắn của nhiều nguyên tố kim loại hoặc giữa nguyên tố kim loại với nguyên tố phi kim. Hợp kim mang tính kim loại (dẫn nhiệt cao, dẫn điện, dẻo, dễ biến dạng, có ánh kim...). Hợp kim đơn giản: Hợp kim được tạo thành trên cơ sở kim loại, giữa hai kim loại với nhau (như latông: Cu và Zn); giữa kim loại với á kim (như thép, gang: Fe và C) song nguyên tố chính của hợp kim vẫn là kim loại Hợp kim sắt, hay còn gọi là hợp kim đen: hợp kim với thành phần chủ yếu là sắt với các nguyên tố khác Hợp kim màu, là hợp kim của các kim loại khác ngoài sắt. Trong số này có đồng thau, đồng điếu, hợp kim nhôm, vàng tây... Hợp kim gốm, còn gọi là hợp kim bột: hợp kim của cacbua vonfram kết hợp với coban (Co), có lúc thêm titan cacbua Hợp kim phức tạp: Hợp kim có nguyên tố chính là kim loại với hai hay nhiều nguyên tố khác. Thành phần của nguyên tố trong hợp kim thường được biểu thị bằng phần trăm (%) theo khối lượng, khi nói đến phần trăm theo nguyên tử phải chỉ định rõ kèm theo. == Các đặc tính == Đặc tính sản phẩm hợp kim giống kim loại thông thường khác với đặc tính của kim loại hợp thành, đôi khi còn khác hẳn. Hợp kim luôn cho ta những đặc tính vượt trội so với kim loại nguyên chất hợp thành. Ví dụ, thép(hợp kim của sắt) có độ bền vượt trội so với kim loại hợp thành của nó là sắt. Đặc tính vật lý của hợp kim không khác nhiều kim loại được hợp kim hoá, như mật độ, độ kháng cự, tính điện và hệ số dẫn nhiệt, nhưng các đặc tính cơ khí của hợp kim lại có sự khác một cách rõ rệt, như độ bền kéo, độ bền cắt, độ cứng, khả năng chống ăn mòn... Không giống như kim loại nguyên chất, nhiều hợp kim không có một điểm nóng chảy nhất định. Thay vì, chúng có một miền nóng chảy bao gồm trạng thái các khối chất rắn hòa lẫn với khối chất lỏng. Điểm nhiệt độ bắt đầu chảy được gọi là đường đông đặc và hoàn thành việc hóa lỏng hoàn toàn gọi là đường pha lỏng trong giản đồ trạng thái của hợp kim. == Hợp kim ngày nay == Thuật ngữ hợp kim ngày nay mang ý nghĩa rộng hơn so với lúc nó xuất hiện. Trước đây các vật liệu công nghiệp chứa một vài nguyên tố được chế tạo chủ yếu bằng cách nấu chảy. Ngày nay nhiều vật liệu thu được bằng cả các phương pháp khác, chẳng hạn như bằng phương pháp luyện kim bột, bằng con đường khuếch tán; các hợp kim có thể thu được khi hóa bụi bằng plasma trong quá trình kết tinh từ pha hơi trong chân không, khi điện phân. Giống như kim loại, hợp kim có cấu tạo tinh thể. Hợp kim thường được cấu tạo bằng các tinh thể: tinh thể hỗn hợp, tinh thể dung dịch rắn và tinh thể hóa học. Trong loại hợp kim có tinh thể hỗn hợp hoặc là dung dịch rắn, kiểu liên kết chủ yếu là liên kết kim loại. Trong loại hợp kim có tinh thể là hợp chất hóa học, kiểu liên kết là liên kết cộng hóa trị. == Nguồn == Vật liệu học, B.N.Arzamaxov, Nhà xuất bản Giáo dục - 2000, Microsoft ® Encarta ® Reference Library 2005, www.encarta.com, Hóa học 12, Nhà xuất bản Giáo dục, GCSE Chemistry, www.gcsescience.com == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
giải oscar cho phim tài liệu hay nhất.txt
Dưới đây là danh sách các phim tài liệu đoạt giải Oscar. Năm ghi trong danh sách này là năm phát giải. == Các phim đoạt giải và các phim được đề cử == Bản mẫu:TOCDecades40 === Thập niên 1940 === Năm 1942, có một thể loại phim tài liệu và 4 phim đoạt giải. 1942 The Battle of Midway Kokoda Front Line Moscow Strikes Back Prelude to War Từ năm 1943 chia ra 2 thể loại (phim tài liệu và phim tài liệu ngắn) 1943 - Desert Victory Baptism of Fire The Battle of Russia Report from the Aleutians War Department Report 1944 - The Fighting Lady Resisting Enemy Interrogation 1945 - The True Glory The Last Bomb 1946 - không phát giải 1947 - Design for Death Journey Into Medicine The World Is Rich 1948 - The Secret Land The Quiet One 1949 - Daybreak in Udi Kenji Comes Home === Thập niên 1950 === 1950 - The Titan: Story of Michelangelo With These Hands 1951 - Kon-Tiki I Was a Communist for the FBI 1952 - The Sea Around Us The Hoaxters Navajo 1953 - The Living Desert The Conquest of Everest A Queen Is Crowned 1954 - The Vanishing Prairie The Stratford Adventure 1955 - Helen Keller in Her Story (cũng được biết dưới tên The Unconquered) Crèvecoeur 1956 - The Silent World Where Mountains Float (tiếng Đan Mạch:Hvor bjergene sejler) The Naked Eye 1957 - Albert Schweitzer On the Bowery Torero 1958 - White Wilderness Antarctic Crossing The Hidden World Psychiatric Nursing 1959 - Serengeti Shall Not Die The Race for Space === Thập niên 1960 === 1960 - The Horse with the Flying Tail Rebel in Paradise 1961 - Sky Above and Mud Beneath, directed by Pierre-Dominique Gaisseau La grande olimpiade, directed by Romolo Marcellini 1962 - Black Fox: The Rise and Fall of Adolf Hitler Alvorada 1963 - Robert Frost: A Lover's Quarrel With the World Le Maillon et la chaîne The Yanks Are Coming 1964 - Jacques-Yves Cousteau's World Without Sun 14-18 Alleman The Finest Hours Four Days in November 1965 - The Eleanor Roosevelt Story The Battle of the Bulge... The Brave Rifles The Forth Road Bridge Let My People Go: The Story of Israel Mourir à Madrid 1966 - The War Game The Face of a Genius Helicopter Canada The Really Big Family Le Volcan interdit 1967 - The Anderson Platoon Festival Harvest A King's Story A Time for Burning 1968 - Journey Into Self Ghi chú: Tại buổi lễ phát giải thứ 41 ngày 14.4.1969, phim Young Americans đã được công bố thắng giải. Ngày 7.5.1969, phim này bị tuyên bố là không đủ tư cách vì bị phát hiện là đã được quay trong tháng 10 năm 1967, vì thế không đủ tư cách để được trúng giải năm 1968. Phim về nhì Journey Into Self, đã được trúng giải và được phát tượng ngày 8.5.1969. A Few Notes on Our Food Problem Legendary Champions Other Voices 1969 - Arthur Rubinstein - The Love of Life Before the Mountain Was Moved In the Year of the Pig Olimpiada en México The Wolf Men === Thập niên 1970 === 1970 - Woodstock Erinnerungen an die Zukunft Jack Johnson King: A Filmed Record... Montgomery to Memphis Say Goodbye 1971 - The Hellstrom Chronicle Alaska Wilderness Lake Le chagrin et la pitié On Any Sunday Ra 1972 - Marjoe Bij de beesten af Malcolm X Manson The Silent Revolution 1973 - The Great American Cowboy Always a New Beginning Journey to the Outer Limits Schlacht um Berlin Walls of Fire 1974 - Hearts and Minds Antonia: A Portrait of the Woman The Challenge... A Tribute to Modern Art The 81st Blow The Wild and the Brave 1975 - The Man Who Skied Down Everest The California Reich Fighting for Our Lives The Incredible Machine The Other Half of the Sky: A China Memoir 1976 - Harlan County, USA Hollywood on Trial Off the Edge People of the Wind Volcano: An Inquiry Into the Life and Death of Malcolm Lowry 1977 - Who Are the DeBolts? And Where Did They Get Nineteen Kids? The Children of Theatre Street High Grass Circus Homage to Chagall: The Colours of Love Union Maids 1978 - Scared Straight! Mysterious Castles of Clay Raoni Le vent des amoureux With Babies and Banners: Story of the Women's Emergency Brigade 1979 - Best Boy Generation on the Wind Going the Distance The Killing Ground The War at Home === Thập niên 1980 === 1980 From Mao to Mozart: Isaac Stern in China directed by Murray Lerner Agee The Day After Trinity Front Line The Yellow Star - The Persecution of the Jews in Europe 1933-45 1981 Genocide directed by Arnold Schwartzman Against Wind and Tide: A Cuban Odyssey Brooklyn Bridge Eight Minutes to Midnight: A Portrait of Dr. Helen Caldicott El Salvador: Another Vietnam 1982 Just Another Missing Kid directed by John Zaritsky A Portrait of Giselle After the Axe Ben's Mill In Our Water 1983 He Makes Me Feel Like Dancin' directed by Emile Ardolino Children of Darkness First Contact The Profession of Arms Seeing Red 1984 The Times of Harvey Milk directed by Robert Epstein và Richard Schmiechen High Schools In the Name of the People Marlene Streetwise 1985 Broken Rainbow directed by Maria Florio và Victoria Mudd The Mothers of Plaza de Mayo Soldiers in Hiding The Statue of Liberty Unfinished Business 1986 - (tie): Artie Shaw: Time Is All You've Got and Down and Out in America Chile: Hasta Cuando? Isaac in America: A Journey with Isaac Bashevis Singer Witness to Apartheid 1987 The Ten-Year Lunch Eyes on the Prize Hellfire: A Journey from Hiroshima Radio Bikini A Stitch for Time 1988 Hôtel Terminus: The Life and Times of Klaus Barbie The Cry of Reason: Beyers Naude - An Afrikaner Speaks Out Let's Get Lost Promises to Keep Who Killed Vincent Chin? 1989 Common Threads: Stories from the Quilt Adam Clayton Powell Crack USA: County Under Siege For All Mankind Super Chief: The Life and Legacy of Earl Warren === Thập niên 1990 === 1990 American Dream directed by Barbara Kopple Berkeley in the Sixties Building Bombs Forever Activists: Stories from the Veterans of the Abraham Lincoln Brigade Waldo Salt: A Screenwriter's Journey 1991 In the Shadow of the Stars directed by Allie Light và Irving Saraf Death on the Job Doing Time: Life Inside the Big House The Restless Conscience: Resistance to Hitler Within Germany 1933-1945 Wild by Law 1992 The Panama Deception directed by Barbara Trent và David Kasper Changing Our Minds: The Story of Dr. Evelyn Hooker Fires of Kuwait Liberators: Fighting on Two Fronts in World War II Music for the Movies: Bernard Herrmann 1993 I Am a Promise: The Children of Stanton Elementary School directed by Susan Raymond The Broadcast Tapes of Dr. Peter Children of Fate For Better or For Worse The War Room 1994 Maya Lin: A Strong Clear Vision directed by Freida Lee Mock Complaints of a Dutiful Daughter D-Day Remembered Freedom on My Mind A Great Day in Harlem 1995 Anne Frank Remembered directed by Jon Blair The Battle Over Citizen Kane Hank Aaron: Chasing the Dream Small Wonders Troublesome Creek: A Midwestern 1996 When We Were Kings directed by Leon Gast The Line King: The Al Hirschfeld Story Mandela Suzanne Farrell: Elusive Muse Tell the Truth and Run: George Seldes and the American Press 1997 The Long Way Home directed by Mark Jonathan Harris Ayn Rand: A Sense of Life Colors Straight Up 4 Little Girls Waco: The Rules of Engagement 1998 The Last Days directed by James Moll The Dancemaker The Farm: Angola, U.S.A. Lenny Bruce: Swear to Tell the Truth Regret to Inform 1999 One Day in September by Kevin MacDonald Buena Vista Social Club Genghis Blues On the Ropes Speaking in Strings === Thập niên 2000 === 2000: Into the Arms of Strangers: Stories of the Kindertransport – Mark Jonathan Harris và Deborah Oppenheimer Legacy – Tod Lending Long Night's Journey into Day – Deborah Hoffmann và Frances Reid Scottsboro: An American Tragedy – Daniel Anker và Barak Goodman Sound and Fury – Josh Aronson và Roger Weisberg 2001: Murder on a Sunday Morning (Un coupable idéal) – Jean-Xavier de Lestrade và Denis Poncet Children Underground – Edet Belzberg LaLee's Kin: The Legacy of Cotton – Deborah Dickson và Susan Frömke Promises – B.Z. Goldberg và Justine Shapiro War Photographer – Christian Frei 2002: Bowling for Columbine – Michael Donovan và Michael Moore Daughter from Danang – Gail Dolgin và Vicente Franco Prisoner of Paradise – Malcolm Clarke và Stuart Sender Spellbound – Jeffrey Blitz và Sean Welch Winged Migration (Le peuple migrateur) – Jacques Perrin 2003 The Fog of War directed by Errol Morris Balseros Capturing the Friedmans My Architect The Weather Underground 2004: Born into Brothels – Ross Kauffman và Zana Briski The Story of the Weeping Camel (Die Geschichte vom weinenden Kamel) – Byambasuren Davaa và Luigi Falorni Super Size Me – Morgan Spurlock Tupac: Resurrection – Karolyn Ali và Lauren Lazin Twist of Faith – Kirby Dick và Eddie Schmidt 2005: March of the Penguins (La marche de l'empereur) – Luc Jacquet Darwin's Nightmare – Hubert Sauper Enron: The Smartest Guys in the Room – Alex Gibney và Jason Kliot Murderball – Henry Alex Rubin và Dana Adam Shapiro Street Fight – Marshall Curry 2006: An Inconvenient Truth – Davis Guggenheim Deliver Us from Evil – Amy Berg và Frank Donner Iraq in Fragments – James Longley và Yahya Sinno Jesus Camp – Heidi Ewing và Rachel Grady My Country, My Country – Jocelyn Glatzer và Laura Poitras 2007: Taxi to the Dark Side – Alex Gibney và Eva Orner No End in Sight – Charles Ferguson và Audrey Marrs Operation Homecoming: Writing the Wartime Experience – Richard Robbins Sicko – Michael Moore và Meghan O'Hara War/Dance – Sean Fine và Andrea Nix 2008: The Betrayal (Nerakhoon) – Ellen Kuras và Thavisouk Phrasavath Encounters at the End of the World – Werner Herzog và Henry Kaiser The Garden – Scott Hamilton Kennedy Man on Wire – Simon Chinn và James Marsh Trouble the Water – Carl Deal và Tia Lessin 2009: The Cove – Louie Psihoyos và Fisher Stevens Burma VJ – Anders Østergaard và Lise Lense-Møller Food, Inc. – Robert Kenner và Elise Pearlstein The Most Dangerous Man in America: Daniel Ellsberg and the Pentagon Papers – Judith Ehrlich and Rick Goldsmith Which Way Home – Rebecca Cammisa === Thập niên 2010 === 2010: Inside Job – Charles H. Ferguson và Audrey Marrs Exit Through the Gift Shop – Banksy và Jaimie D'Cruz Gasland – Josh Fox and Trish Adlesic Restrepo – Tim Hetherington và Sebastian Junger Waste Land – Lucy Walker and Angus Aynsley 2011: Undefeated – TJ Martin, Dan Lindsay và Richard Middlemas Hell and Back Again – Danfung Dennis và Mike Lerner If a Tree Falls: A Story of the Earth Liberation Front – Marshall Curry và Sam Cullman Paradise Lost 3: Purgatory – Joe Berlinger và Bruce Sinofsky Pina – Wim Wenders và Gian-Piero Ringel 2012: Searching for Sugar Man – Malik Bendjelloul và Simon Chinn 5 Broken Cameras – Emad Burnat and Guy Davidi The Gatekeepers - Dror Moreh, Philippa Kowarsky, and Estelle Fialon How to Survive a Plague - David France and Howard Gertler The Invisible War - Kirby Dick và Amy Ziering == Xem thêm == Giải Oscar cho phim tài liệu ngắn hay nhất Bản mẫu:Các giải Oscar == Tham khảo ==
motorola.txt
Motorola (phiên âm tiếng Anh: /moʊtɵ'roʊlə/) là một công ty viễn thông đa quốc gia có nguồn gốc từ Hoa Kỳ (tên đầy đủ là Motorola, Inc.), có trụ sở tại Schaumburg, Illinois. Ngày 04 tháng 1 năm 2011, công ty Motorola được chia thành hai công ty độc lập: Di động Motorola (Motorola Mobility) and Giải pháp Motorola (Motorola Solutions) sau khi mất 4,3 tỉ đô la trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2009. Giải pháp Motorola được coi là sự kế thừa trực tiếp của công ty Motorola, trong khi đó Di động Motorola sau khi được tách ra đã sử dụng giải pháp thương mại hoá sản phẩm công nghệ theo mô hình công ty spin off. Motorola tổn thất 1,2 tỷ $ trong quý 4 năm 2007 và mất vị trí thứ 3. năm 2010, thị phần toàn cầu của Motorola đã giảm xuống đứng ở vị trí thứ 7. năm 2010, Motorola tách thành 2 công ty con bao gồm Motorola Mobility chuyên phát triển thiết bị di động và Motorola Solution tập trung vào các giải pháp về mạng. Ngày 15 Tháng 8 năm 2011, Google thông báo rằng họ đã đồng ý mua lại công ty với giá 12.5 tỷ đô nhằm bảo vệ nền tảng Android khỏi các vụ kiện bản quyền từ các đối thủ Apple, Microsoft và các công ty khác. Google sẽ sở hữu hệ thống sản xuất điện thoại quy mô toàn cầu với 20.000 nhân viên cùng lượng bằng sáng chế lên đến 17.000. Ngày 29 tháng 1 năm 2014, Google tuyên bố sẽ bán Motorola Mobility cho công ty công nghệ Trung Quốc Lenovo với giá 2,91 tỷ ÚSD. Việc mua lại đã được hoàn tất vào ngày 30 tháng 10 năm 2014. Công ty vẫn đặt trụ sở tại Chicago và tiếp tục sử dụng thương hiệu Motorola, nhưng Liu Jun-chủ tịch kinh doanh thiết bị di động của Lenovo- trở thành chủ tịch của công ty. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức
kinh tế thị trường.txt
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. == Ưu điểm == Trong nền kinh tế thị trường, nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung. Người sản xuất nào có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì cũng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn cho phép tăng quy mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía những người sản xuất hiệu quả. Những người sản xuất có cơ chế sản xuất kém hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực sản xuất thấp, sức cạnh tranh kém sẽ bị đào thải. == Nhược điểm == Cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường có thể dẫn tới bất bình đẳng. Đấy là chưa kể vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Do một số nguyên nhân, giá cả có thể không linh hoạt trong các khoảng thời gian ngắn hạn khiến cho việc điều chỉnh cung cầu không suôn sẻ, dẫn tới khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu. Đây là nguyên nhân của các hiện tượng thất nghiệp, lạm phát. Trong thực tế hiện nay, không có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo, cũng như không có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn (trừ nền kinh tế Bắc Triều Tiên). Thay vào đó là nền kinh tế hỗn hợp. Tùy ở mỗi nước mà các yếu tố thị trường nhiều hay ít. Trong thương mại quốc tế, mức độ thị trường hóa nền kinh tế có thể được sử dụng làm tiêu chí trong xác định điều kiện thương mại giữa hai == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Kinh tế thị trường là gì? Khổ vì "nền kinh tế phi thị trường"
cộng hòa séc.txt
Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika, ), hay gọi tắt là Séc (tiếng Séc: Česko) là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và là nước không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Praha, với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ cộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc hiện nay cũng là thành viên của các tổ chức OECD, OSCE, Ủy hội châu Âu và Nhóm Visegrád. Lãnh thổ Cộng hòa Séc, ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Morava và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế quốc Áo và Đế quốc Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Tiệp Khắc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai quốc gia độc lập là Séc và Slovakia. == Tên gọi == Tên gọi cũ trong tiếng Anh của Cộng hòa Séc là tên "Bohemia", được biến đổi từ tiếng Latinh "Boiohaemum", có nghĩa là "quê hương của người Boii". Tên gọi Séc hiện tại được lấy từ tên Čechy, chuyển hóa từ cách phát âm cũ Cžechy của Ba Lan. Sau khi Tiệp Khắc (Československo trong tiếng Séc hay Czechoslovakia trong tiếng Anh), một liên bang bao gồm Séc và Slovakia giải thể thành hai quốc gia riêng biệt, Séc không có tên gọi chính thức trong tiếng Anh. Năm 1993, Bộ Ngoại giao Cộng hòa Séc đề nghị tên Czechia như là một tên thay thế chính thức cho tất cả trường hợp không phải là các văn bản chính thức và tên gọi của cơ quan chính quyền, nhưng tên gọi này không được dùng rộng rãi trong các văn bản tiếng Anh. Tháng 4 năm 2016 chính phủ Séc dự định sẽ đề nghị lên Liên Hiệp Quốc về việc coi Czechia là một trong những tên gọi chính trong cơ sở dữ liệu địa lý. Phiên âm Hán Việt của Séc là Tiệp Khắc, tuy nhiên chữ Tiệp Khắc hay "Tiệp" trong tiếng Việt lại thường được dùng để chỉ nhà nước liên bang giữa Séc và Slovakia hoặc các chính thể tương tự. == Lịch sử == === Tiền sử === Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bằng chứng của người tiền sử sinh sống tại vùng đất ngày nay là nước Cộng hòa Séc. Từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, các bộ tộc Celt, Boii đã đến Séc định cư. Đến thế kỷ 1, các bộ tộc Marcomanni và Quani tại vùng đất thuộc Đức ngày nay cũng đến sinh sống tại vùng đất này. Trong suốt Giai đoạn Di cư tại châu Âu vào thế kỷ 5, các bộ lạc thuộc Đức đã rời khỏi vùng đất Séc và di tản ra các vùng đất ở phía Đông và phía Tây. Người Slav từ vùng Biển Đen-Karpat định cư tại đây (do các cuộc tấn công dữ dội từ vùng Siberia và các bộ lạc Đông Âu: Hung, Avar, Bulgar và Magyar). Vào thế kỷ 6 họ di cư tới các vùng đất tại phía Nam như Bohemia, Moravia và một số vùng đất mà ngày nay thuộc về lãnh thổ nước Áo. Trong suốt thế kỷ 7, thương gia Samo đến từ vùng Francia đã lãnh đạo và ủng hộ cuộc khởi nghĩa của người Slav để chống lại tộc người Avar năm 623, trở thành người thống trị của Vương quốc Slav đầu tiên. Đây là tổ chức chính quyền đầu tiên của người Slav, nhưng thực tế đây là một liên minh của các bộ lạc lớn mạnh chứ không thực sự là một quốc gia quân chủ chuyên chế. === Đại Moravia === Sau khi Đế chế của vua Samo tan rã, người Moravia và Nitra đã thành lập các công quốc mới hùng mạnh. Năm 833, Mojmir I của Moravia đã tấn công và sát nhập công quốc Nitra, lập ra một công quốc duy nhất là Đại Moravia (Velká Morava). Năm 846, Mojmir I nhường ngôi cho một người cháu của mình là Rastislav (846-870). Dưới thời Rastislav, một cuộc cải cách văn hóa lớn đã diễn ra khi hai nhà truyền giáo Cyril và Methodius được ông mời đến Đại Moravia để truyền bá đạo Thiên chúa vào đất nước này. Họ cũng góp công lớn trong việc xây dựng bảng chữ cái của người Slav, tức bảng ký tự Cyril. Dưới thời vua Svatopluk I, Đại Moravia đạt tới sự mở rộng lớn nhất về diện tích. Lãnh thổ của nó trải dài trên các vùng đất ngày nay là Hungary, Ba Lan, Áo, Đức, Serbia, Slovenia, Croatia và Ukraina. Về sau, những cuộc chiến tranh liên miên với Đế chế Frank đã làm cho Đại Moravia suy yếu và những người Hungary xâm lược đã khiến đất nước tan rã vào đầu thế kỉ thứ 10. === Thời kỳ Trung cổ === Năm 995, công quốc Bohemia thành lập dưới sự lãnh đạo của vương triều Premyslid, thành viên của một bộ tộc tên là Séc. Vương triều Premyslid đã thống nhất các vương triều Séc khác và thành lập một chính quyền trung ương vững mạnh. Đầu thế kỉ 11, công quốc Bohemia đã chinh phục nước Đại Moravia. Tuy Moravia vẫn là một lãnh địa tách biệt của Bohemia song nước này lại bị cai trị bởi một trong những người con trai của vua Bohemia. Sang thế kỉ 14 là thời đại hoàng kim của Séc. Vào năm 1306, dòng họ Premyslid không có người kế vị. Sau nhiều cuộc chiến tranh giành quyền lực đẫm máu, dòng họ Luxemburg đã đoạt được ngôi vua Bohemia. Vị vua thứ hai của triều đại Luxemburg là Karel IV (1342-1378, Charles trong tiếng Anh và tiếng Pháp, Karl trong tiếng Đức) đã đưa đất nước Bohemia trở nên hùng mạnh. Năm 1344, ông nâng chức Giám mục của thành phố Praha lên thành tổng Giám mục đồng thời kiềm chế quyền lực của các quý tộc Séc và đưa Bohemia, Moravia trở thành các quận hành chính, và đưa Brandenburg (tới năm 1415), Lusatia (tới năm 1635), Silesia (tới năm 1742) vào quyền kiểm soát của Séc. Karel IV cũng đã biến Praha trở thành một thủ đô hoa lệ với rất nhiều công trình xây dựng, tiêu biểu như lâu đài Praha và cầu Karl. Ông cũng thành lập Đại học Karlova ở Praha (Univerzita Karlova) năm 1348 với mong muốn biến Praha thành một trung tâm học vấn của châu Âu. Vào thế kỉ 15, một cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu đã diễn ra tại Séc, lịch sử gọi là cuộc Chiến tranh Hussite. Đất nước Séc suy yếu và đến năm 1526, Séc đã bị sát nhập vào đế chế Habsburg. === Thời kỳ thuộc triều đại Habsburg === Sau khi bị sát nhập vào Đế chế Habsburg, người Séc bắt đầu bị đồng hóa. Tiếng Séc bị cấm sử dụng và tiếng Đức trở thành ngôn ngữ chính thức ở Séc. Năm 1618, người Bohemia đã nổi dậy chống lại triều đình Habsburg. Họ đã chọn một người theo đường lối của Jean Calvin là Frederick của Palatinate (Fridrich Falcký) lên ngôi. Nhưng đến ngày 6 tháng 11 năm 1620, quân đội Séc bị đánh bại tại Trận Núi Trắng (Bitva na Bílé hoře). Cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm (1618-1648) đã phá hủy phần lớn những làng mạc, thành phố của Bohemia. Đến thời nữ hoàng Maria Theresa và con trai bà, vua Joseph II, những người chịu ảnh hưởng của Thời đại Khai sáng, tình hình Bohemia bắt đầu có những chuyển biến. Tuy chính sách đồng hóa vẫn không thay đổi, nhưng tình hình xã hội, giáo dục đã được cải thiện cho người Séc. Vào thế kỉ 19, chủ nghĩa bành trướng của Pháp dưới thời vua Napoleon I đã kích thích tinh thần phục hưng dân tộc của người Séc. Tầng lớp trí thức mới đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phục hưng và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Tháng 2 năm 1848, cuộc Cách mạng tháng 2 ở Pháp đã làm bùng nổ một cao trào cách mạng tư sản lan khắp châu Âu. Vào ngày 12 tháng 6 năm 1848, khởi nghĩa của những người dân chủ cấp tiến và được sự hưởng ứng nhiệt liệt của nhân dân đã bùng nổ tại Praha, nhưng đến ngày 17 tháng 6, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. Năm 1867, nhà nước quân chủ lưỡng hợp Áo-Hung được thành lập, trong đó Séc nằm trong tầm ảnh hưởng của nước Áo. Vào những năm cuối cùng của đế chế Áo-Hung, tình hình giữa người Séc và người Đức ở Bohemia ngày càng trở nên căng thẳng. Mối quan hệ xấu đi giữa các dân tộc trong đế chế đã đẩy nhanh sự sụp đổ của quốc gia này. Năm 1900, Tomáš Masaryk, người sau này trở thành tổng thống Tiệp Khắc đã thành lập Đảng Tiến bộ Séc. Ý tưởng về một quốc gia kết hợp giữa hai dân tộc Séc và Slovakia bắt đầu được hình thành. === Tiệp Khắc (1918-1993) === Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc cùng với sự sụp đổ của Đế chế Áo-Hung, ngày 28 tháng 10 năm 1918, Cộng hòa Tiệp Khắc (bao gồm Séc và Slovakia ngày nay) tuyên bố độc lập. Hiệp ước St. Germain được ký kết vào tháng 9 năm 1919 đã chính thức công nhận nền cộng hòa mới của Tiệp Khắc. Sau đó, Ruthenia cũng được sát nhập vào Tiệp Khắc vào tháng 6 năm 1920. Quốc gia Tiệp Khắc mới thành lập có dân số khoảng 13,5 triệu người, thừa hưởng tới 70-80% các cơ sở công nghiệp của Áo-Hung. Lúc đó Tiệp Khắc là một trong mười nước công nghiệp hóa nhất thế giới. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền phát xít ở Đức bắt đầu đe dọa tiến hành xâm lược Trung Âu. Sau khi sáp nhập nước Áo vào lãnh thổ Đức, Tiệp Khắc trở thành mục tiêu tiếp theo của phát xít Đức. Tháng 4 năm 1938, Đức nêu yêu sách đòi vùng đất Sudetenland của Tiệp Khắc. Ngày 29 tháng 9 năm 1938, Hiệp ước München được ký kết. Anh, Pháp vì không muốn chiến tranh với Đức đã quyết định vứt bỏ liên minh quân sự với Tiệp Khắc. Và hậu quả là đến ngày 16 tháng 3 năm 1939, toàn bộ lãnh thổ Tiệp Khắc đã bị Đức chiếm đóng. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, khoảng 390.000 người dân thành thị, trong đó có 83.000 người Do Thái đã bị giết hại hoặc bị hành quyết. Hàng trăm ngàn người đã bị đưa vào các nhà tù và các trại tập trung để làm công việc khổ sai. Chiến tranh kết thúc vào ngày 9 tháng 5 năm 1945 với việc cuộc khởi nghĩa Praha lật đổ ách thống trị của phát xít Đức thành công và quân đội Liên Xô và Mỹ tiến vào Tiệp Khắc. Từ năm 1945-1946, hầu như toàn bộ người Đức thiểu số (khoảng 2,7 triệu người) đã bị trục xuất khỏi Tiệp Khắc sang Đức và Áo. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc nhanh chóng phát triển do sự thất vọng của người Tiệp Khắc đối với phương Tây vì đã vứt bỏ họ trong Hiệp ước München và do ảnh hưởng ngày càng mạnh của Liên Xô. Trong cuộc bẩu cử năm 1946, Đảng Cộng sản đã giành được tỉ lệ phiếu 38%, trở thành chính đảng lớn nhất và chính thức cầm quyền từ tháng 2 năm 1948. Sau đó, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã xây dựng một chính quyền toàn cộng sản. Sau khi nắm quyền, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã quốc hữu hóa các ngành kinh tế, xây dựng một nền kinh tế kế hoạch. Kinh tế tăng trưởng nhanh trong thập niên 1950 và thập niên 1960, sau đó bắt đầu giảm sút từ thập niên 1970 và rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Chính quyền cộng sản trở nên thiếu dân chủ. Năm 1968, phong trào Mùa Xuân Praha bùng nổ đòi mở rộng tự do dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, song sau đó bị quân đội Liên Xô đàn áp và dập tắt. Tháng 11 năm 1989, cuộc Cách mạng Nhung lụa diễn ra trong hòa bình, đưa đất nước Tiệp Khắc trở lại quá trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Tiệp Khắc diễn ra cuộc "chia li trong hòa bình". Hai dân tộc Séc và Slovakia tách ra, thành lập hai quốc gia mới là Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia. === Cộng hòa Séc (từ 1993 đến nay) === Sau khi lại trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1993, quốc hội Cộng hòa Séc đã quyết định giữ nguyên lá cờ của Liên bang Tiệp Khắc cũ làm là cờ của Cộng hòa Séc. Cùng năm đó, nước này gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đến năm 1995, Cộng hòa Séc trở thành một thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Ngày 12 tháng 3 năm 1999, Cộng hòa Séc gia nhập NATO. Vào năm 2004, cùng với 9 quốc gia Đông Âu và Nam Âu khác, Cộng hòa Séc đã trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu. Kinh tế Cộng hòa Séc đi theo nền kinh tế thị trường và đang trên đà phát triển mạnh, song cũng vẫn phải đối mặt với nhiều mạo hiểm và thách thức to lớn. == Chính trị == === Hệ thống chính trị === Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ dân chủ nghị viện. Theo hiến pháp, tổng thống là người đứng đầu nhà nước còn thủ tướng là người điều hành chính phủ. Tổng thống Cộng hòa Séc được bầu bởi Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm. Theo Hiến pháp, một tổng thống không được phép nắm quá hai nhiệm kỳ liên tiếp. Tổng thống có vai trò chủ yếu về mặt nghi thức song ông cũng có thể dừng thông qua một đạo luật hoặc giải tán quốc hội trong những trường hợp đặc biệt. Tổng thống hiện nay của Cộng hòa Séc là ông Miloš Zeman. Mới đây Cộng hòa Séc đã thông qua bộ luật mới về việc bầu cử tổng thống trực tiếp, tức là tổng thống sẽ được người dân bầu ra chứ không do Quốc hội bầu như trước nữa. Thủ tướng Cộng hòa Séc là người đứng đầu chính phủ. Thủ tướng nắm trong tay nhiều quyền lực lớn như quyết định các vấn đề đối nội và đối ngoại, triệu tập quốc hội và chọn ra các bộ trưởng của chính phủ. Thủ tướng hiện nay của Cộng hòa Séc là ông Bohuslav Sobotka. Quốc hội của Cộng hòa Séc được tổ chức theo mô hình lưỡng viện, bao gồm hạ viện và thượng viện. Hạ viện (Poslanecká sněmovna) gồm 200 ghế còn thượng viện (Senát) bao gồm 81 ghế. Tại Cộng hòa Séc có 14 khu vực bầu cử tương ứng với 14 khu vực hành chính của cả nước. Tòa án Hiến pháp (hay Tòa án Lập pháp) của Cộng hòa Séc gồm có 15 thành viên và có nhiệm kỳ 10 năm. Các thành viên của Tòa án Hiến pháp được chỉ định bởi tổng thống và được thông qua bởi thượng viện. Là một quốc gia đa đảng, chính trường Cộng hòa Séc có sự tham gia của rất nhiều đảng phái. Chẳng hạn trong kỳ bầu cử vào Hạ viện Quốc hội Séc tiến hành ngày 28 và 29 tháng 5 năm 2010 đã có tới 27 đảng phái và tổ chức chính trị đăng ký tham gia. Hai đảng có ảnh hưởng lớn nhất ở Cộng hòa Séc là Đảng Dân chủ Công dân (Občanská demokratická strana) và Đảng Xã hội Dân chủ Séc (Česká strana sociálně demokratická). === Quân đội === Quân đội Séc gồm có lục quân, không quân và lực lượng hậu cần đặc biệt. Quân đội Séc ngày nay là một phần của Quân đội Tiệp Khắc trước kia, vốn là một trụ cột quan trọng của Hiệp ước Warsaw cho đến tận năm 1989. Kể từ khi gia nhập NATO vào ngày 12 tháng 3 năm 1999, lực lượng quân đội Séc đã có những sự thay đổi dáng kể về nhiều mặt. Tuy số lượng binh lính giảm xuống còn khoảng 67.000 nhưng về mặt chất lượng lại được nâng cao và trình độ tổ chức chuyên nghiệp hơn. Năm 2004, chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc bị giải thể. Lực lượng quân đội Séc ngoài nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước còn tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc tại Iraq, Afghanistan, Bosna và Hercegovina, Kosovo. Năm 2005, ngân sách quốc phòng của Cộng hòa Séc đạt khoảng hơn 2 tỉ USD, chiếm 1,81% GDP. == Phân chia hành chính == Bắt đầu từ năm 2000, Cộng hòa Séc được chia thành 13 khu vực (kraje hoặc kraj) và một thành phố thủ đô là Praha. Mỗi khu vực có một Hội đồng Địa phương (krajské zastupitelstvo) được bầu chọn qua bầu cử và người lãnh đạo riêng (hejtman). Ở Praha, quyền lực được thi hành bởi Hội đồng Thành phố và thị trưởng của Praha. Mỗi khu vực nói trên của Cộng hòa Séc được coi là một vùng cấp ba của Liên minh châu Âu. Trong khi đó, toàn bộ lãnh thổ Cộng hòa Séc được coi là một vùng cấp hai của Liên minh châu Âu. (Xem Các vùng của Liên minh châu Âu) == Địa lý == === Địa hình === Về mặt địa lý, Cộng hòa Séc nằm ở khu vực Trung Âu còn theo phân loại của Liên Hiệp Quốc thì nước này thuộc khu vực Đông Âu. Về mặt lịch sử và văn hóa, Cộng hòa Séc được xem là có liên hệ gần gũi hơn với các nước Đông Âu, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Diện tích của Cộng hòa Séc tương đối nhỏ, xếp hàng thứ 115 thế giới (xem Danh sách quốc gia theo diện tích). Tổng diện tích của nước này là 78.886 km², trong đó phần đất chiếm 77.276 km² và phần nước chiếm 1.590 km². Do bị bao quanh bởi các quốc gia khác nên Cộng hòa Séc không giáp biển. Nước này có chung đường biên giới 1.881 km với các nước Đức về phía tây, Ba Lan về phía đông bắc, Slovakia về phía đông nam và Áo về phía nam. Về mặt lịch sử, lãnh thổ Cộng hòa Séc có thể chia làm 3 vùng lịch sử: Bohemia, Moravia và Silesia. Lưu ý rằng Silesia chỉ có một phần nhỏ lãnh thổ ở Cộng hòa Séc. Địa hình nước này có thể chia thành hai miền chính: Bohemia ở phía tây và Moravia ở phía đông. Địa hình Bohemia có cấu trúc như một bồn địa, gồm những đồng bằng rộng và cao nguyên được bao bọc xung quanh bởi những dãy núi thấp. Những dãy núi chính bao quanh Bohemia gồm dãy Karkonosze và dãy Sudeten. Đỉnh núi Snezka tại Bohemia và ngọn núi cao nhất Cộng hòa Séc (1602 m). Trong khi địa hình Bohemia khá bằng phẳng thì ngược lại, địa hình Moravia lại chủ yếu là đồi núi. Cộng hòa Séc cũng là nơi bắt nguồn của nhiều con sông lớn tại châu Âu như sông Elbe, sông Vltava ở xứ Bohemia và sông Morava ở xứ Moravia. Các con sông của nước này chảy vào các biển khác nhau như: biển Bắc, biển Baltic và biển Đen. Về khoáng sản, Cộng hòa Séc có một số tài nguyên như than đá, than chì, cao lanh, đất sét, gỗ xây dựng... === Khí hậu === Cộng hòa Séc nằm trong khu vực khí hậu ôn hòa. Do nằm sâu trong lục địa và không còn chịu các tác động của biển nên Cộng hòa Séc có khí hậu ôn đới lục địa, một trong những nguyên nhân gây ra sự chênh lệch lớn giữa thời tiết mùa hạ và mùa đông tại nước này. Sự đa dạng của địa hình cũng góp phần làm nên sự phức tạp của các kiểu khí hậu khác nhau tại Cộng hòa Séc. Nhìn chung trên toàn lãnh thổ Cộng hòa Séc, khí hậu về mùa đông thường khá lạnh nhưng cũng không đến nỗi quá khắc nghiệt. Nhiệt độ trung bình thấp nhất tại nước này vào tháng 1, tháng lạnh nhất trong năm là -5,4 °C. Tuyết thường rơi nhiều hơn tại những vùng núi cao nhưng tan nhanh tại các vùng thấp của Cộng hòa Séc khiến cho mùa đông ở nước này tương đối ẩm. Khi mùa đông kết thúc, băng tuyết tan chảy nhanh làm mực nước các con sông dâng cao và thỉnh thoảng có thể gây ra những trận lũ lớn. Mùa hè tại Cộng hòa Séc thường ấm áp. Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 7, tháng nóng nhất tại Cộng hòa Séc là 23,3 °C. Mùa hè tại nước này thường có nhiều mưa. Bên cạnh đó, những trận bão mạnh từ Đại Tây Dương có thể tràn vào nước này cũng mang theo một lượng mưa khá lớn. Nhiệt độ và lượng mưa giảm dần về mùa thu và các rừng cây bắt đầu rụng lá. == Dân số == Dân số của Cộng hòa Séc hiện nay khoảng 10,3 triệu người. Trong suốt lịch sử, dân số của nước này có nhiều biến động. Số liệu thống kế năm 1857 cho thấy dân số của vùng đất Séc lúc đó là khoảng 7 triệu người. Sau đó con số này tăng dần qua các năm và đến đầu thế kỉ 20 thì đạt xấp xỉ 9,4 triệu dân. Sang năm 1910, dân số của Séc vượt qua ngưỡng 10 triệu. Hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai đã khiến cho dân số của nước này giảm sút nghiêm trọng. Sau chiến tranh, số lượng nhân khẩu của nước này tiếp tục phục hồi. Nhưng hiện nay dân số của Cộng hòa Séc lại có chiều hướng giảm xuống, tuy phần nào đỡ hơn các nước Đông Âu khác. Theo báo cáo dân số năm 2006 của Liên Hiệp Quốc, tốc độ tăng dân số của Cộng hòa Séc là -0,03%. Nguyên nhân là do tỉ lệ sinh của nước này giảm cùng với việc Cộng hòa Séc gia nhập EU năm 2004, làm xuất hiện một dòng người nhập cư sang các nước phát triển hơn ở Tây Âu kiếm sống. Đa phần dân cư của Cộng hòa Séc là người Séc, chiếm tỉ lệ 95%. Bên cạnh đó, tại Séc còn có nhiều cộng đông dân tộc thiểu số khác như người Slovakia, người Đức, người Ba Lan, người Hungary, người Việt Nam. Sau khi Liên bang Tiệp Khắc tan rã, một bộ phận người Slovakia vẫn tiếp tục ở lại Cộng hòa Séc và trở thành nhóm sắc tộc thiểu số lớn nhất nước này, chiếm 3% dân số. Xếp tiếp sau đó là người Ba Lan. Ở Cộng hòa Séc có một số trường tiểu học và trung học cơ sở dạy tiếng Ba Lan. Trước kia, người Đức chiếm một tỉ lệ khá lớn trong dân số Séc nhưng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chính quyền Tiệp Khắc đã ra lệnh trục xuất khoảng 3 triệu người Đức ra khỏi lãnh thổ nước này. Ngày nay cộng đồng người Đức tại Séc chỉ còn lại rất ít và có nguy cơ bị đồng hóa do tiếng Đức không phải là một ngôn ngữ phổ biến tại đây. Bên cạnh các dân tộc có nguồn gốc từ các quốc gia láng giềng trong khu vực, còn có một số dân tộc khác mới nhập cư vào Séc trong thế kỉ 20. Khi cuộc nội chiến Hy Lạp xảy ra, rất nhiều người Hy Lạp đã chạy sang Tiệp Khắc, đầu tiên là những trẻ em tị nạn vào năm 1948-1949 rồi tiếp đó là thân nhân và cả những người cánh tả tại Hy Lạp. Cộng đồng người gốc Á lớn nhất tại Cộng hòa Séc là người Việt Nam. Người Việt Nam đến Tiệp Khắc lần đầu vào năm 1956 để du học theo thỏa thuận về giáo dục giữa hai chính phủ cộng sản lúc bấy giờ. Số người Việt Nam nhập cư vào Cộng hòa Séc tăng nhanh cho đến khi chế độ xã hội chủ nghĩa tại nước này sụp đổ vào năm 1989. Thế hệ đầu tiên của người Việt Nam tại đây chủ yếu kinh doanh trong những cửa hàng nhỏ, còn thế hệ người Việt tiếp theo sinh ra tại Séc nổi tiếng với thành tích học tập rất tốt. Trong năm 2009, có khoảng 70.000 người Việt tại Cộng hòa Séc. Ngày 3 tháng 7 năm 2013, chính phủ Cộng hòa Séc công nhận cộng đồng người Việt tại Séc trở thành dân tộc thứ 14 của quốc gia này. Còn một lưu ý nữa là cộng đồng người Do Thái từng có một cộng đồng rất lớn tại Cộng hòa Séc nhưng đa phần họ trong Thế chiến Thứ hai đã bị phát xít Đức tàn sát. Ngày nay tại Séc có rất ít người Do Thái nhưng những nét văn hóa của họ vẫn còn được gìn giữ, đặc biệt là tại thủ đô Praha. == Kinh tế == === Khái quát lịch sử === Vào thế kỉ 19, hai vùng đất Bohemia và Moravia của Cộng hòa Séc ngày nay là trung tâm công nghiệp chính của Đế chế Áo-Hung. Vì vậy sau khi Đế chế Áo-Hung sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước này đã thừa kế một phần lớn những cơ sở công nghiệp. Vào thời điểm đó, Tiệp Khắc được đánh giá là một nước có cơ sở hạ tầng tốt với trình độ dân trí cao song nhiều nhà máy và thiết bị của nước này có phần lạc hậu hơn so với các nước tư bản Tây Âu. Trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, kinh tế Tiệp Khắc tương đối phát triển và gắn bó chặt chẽ với Liên Xô. Nhưng đến năm 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã khiến cho nền kinh tế Séc mất đi nhiều thị trường lớn ở phía đông và rơi vào khủng hoảng. Cuộc Cách mạng Nhung lụa diễn ra vào năm 1989 đã tạo điều kiện cho sự thay đổi căn bản toàn bộ nền kinh tế Séc. Tháng 1 năm 1991, "liệu pháp sốc" đã mang đến những thay đổi rất lớn: 95% các mặt hàng không còn chịu kiểm soát giá cả của nhà nước, lạm phát hạ xuống dưới 10%, tỉ lệ thất nghiệp thấp, thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài giảm đáng kể và đáng chú ý nhất là sự chuyển đổi trọng tâm hợp tác kinh tế từ Đông sang Tây. Cộng hòa Liên bang Đức, Hà Lan và Mỹ trở thành những nhà đầu tư lớn nhất tại Cộng hòa Séc. Sự chuyển đổi đó cũng yêu cầu những cải cách mạnh mẽ về luật pháp và hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho đầu tư và phát triển. Ngân hàng và bưu chính viễn thông được quan tâm đẩy mạnh. Về tài chính, từ năm 1995, tỷ giá hối đoái giữa đồng koruna của Cộng hòa Séc và đôla Mỹ đã được thiết lập một cách ổn định. Sự tư nhân hóa ồ ạt nền kinh tế cũng diễn ra với tốc độ chóng mặt: năm 1998, đã có đến hơn 80% xí nghiệp thuộc sở hữu tư nhân. Cuộc khủng hoảng chính trị và tài chính 1997 đã tác động mạnh đến nền kinh tế Séc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1997 hạ xuống còn 0,3%, năm 1998 là -2,3% và năm 1999 là -0,5%. Nguyên nhân là do sự thực hiện "liệu pháp sốc" một cách vội vã và không vững chắc. Chính phủ Cộng hòa Séc đã phải xem xét lại các chính sách kinh tế của mình và điều chỉnh lại sao cho thích hợp hơn như tăng tốc việc hội nhập với các tiêu chuẩn kinh tế của EU, tái cơ cấu các doanh nghiệp, tiến hành tư nhân hóa với các ngân hàng và các ngành dịch vụ công cộng. Bắt đầu từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng của nước này dần dần hồi phục. Xuất khẩu vào thị trường EU, đặc biệt là Đức tăng mạnh đã làm giảm thâm hụt thương mại của nước này xuống còn 5% GDP. Năm 2004, Cộng hòa Séc chính thức trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu, đòi hỏi nước này phải thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế hơn nữa. Những năm gần đây, Cộng hòa Séc đang trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh tại khu vực Đông Âu. Theo số liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế, năm 2016, GDP danh nghĩa của Cộng hòa Séc là 193.535 tỷ USD (GDP theo sức mua tương đương: 34,768 tỷ USD), thu nhập bình quân đầu người đạt 17,570 USD, cao hơn so với nhiều nước Đông Âu khác như Ba Lan, Hungary, Slovakia tuy nhiên vẫn còn thấp hơn mức trung bình của Liên minh châu Âu. Nền kinh tế nước này được đánh giá là tăng trưởng nhanh và ổn định. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này đạt 5,7%. Cộng hòa Séc là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế lớn như Liên minh châu Âu, WTO và OECD. === Các ngành kinh tế === Nông nghiệp của Cộng hòa Séc không có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Các loại cây trồng chủ yếu của nước này là lúa mì, khoai tây, củ cải đường, cây hublông... Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chỉ chiếm 3,4% GDP của Cộng hòa Séc. Vốn là một nước có sẵn những cơ sở công nghiệp từ thế kỉ 19, nền công nghiệp của Cộng hòa Séc có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển. Các ngành công nghiệp chính của nước này là luyện kim, sản xuất máy móc, thiết bị điện tử, phương tiện giao thông, dệt may, chất hóa học, dược phẩm, chế biến lương thực thực phẩm... Bên cạnh đó, Cộng hòa Séc rất với ngành công nghiệp sản xuất đồ gốm sứ và pha lê. Công nghiệp chiếm tỉ trọng 39,3% trong nền kinh tế. Dịch vụ là lĩnh vực đóng góp nhiều nhất trong nền kinh tế, chiếm 57,3% GDP. Các ngành ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông là những động lực năng động của nền kinh tế Séc và thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Thương mại là một hoạt động kinh tế quan trọng với các đối tác thương mại chủ yếu là Cộng hòa Liên bang Đức, Slovakia, Áo, Ba Lan... Du lịch cũng là một thế mạnh của Cộng hòa Séc. Năm 2001, doanh thu từ du lịch mang về cho nước này khoảng 118 tỉ koruna, đóng góp tới 5,5% GNP của nước này. Thủ đô Praha thường là lựa chọn hàng đầu của du khách với rất nhiều các công trình văn hóa, lịch sử nổi tiếng. Những khu du lịch spa như Karlovy Vary thường là điểm đến được yêu thích vào các kỳ nghỉ. Những lễ hội âm nhạc hay bia của Cộng hòa Séc cũng góp phần làm đất nước này trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn. === Tiền tệ === Đồng tiền chính thức hiện nay của Cộng hòa Séc là đồng koruna. Trong tiếng Séc, từ koruna có nghĩa là "vương miện". Đồng tiền này chính thức được sử dụng từ ngày 18 tháng 2 năm 1993 sau khi Cộng hòa Séc và Slovakia tách khỏi Tiệp Khắc. Ký hiệu trong giao dịch quốc tế của đồng koruna Séc theo ISO 4217 là CZK. Đồng tiền koruna của Cộng hòa Séc bắt đầu tham gia các tỷ giá hối đoái từ năm 1995 và được thả nổi kể từ năm 1999. Trong năm 2007, chỉ số lạm phát của đồng tiền này là 2,4% và đã được duy trì ổn định trong suốt nhiều năm qua. Cộng hòa Séc có kế hoạch gia nhập khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (euro) vào năm 2012 nhưng sau đó đã tuyên bố hoãn lại. Đầu năm 2008, Ngân hàng Quốc gia Séc tuyên bố sẽ lùi thời hạn gia nhập khu vực đồng tiền chung đến năm 2019. === Cơ sơ hạ tầng === Năng lượng: Cộng hòa Séc nhìn chung là một nước nghèo tài nguyên về năng lượng, ngoại trừ một ít dầu mỏ và khí gas ở miền nam Moravia. Hiện nay nước này đang hạn chế dần việc sử dụng than làm chất đốt vì vì sản sinh ra nhiều khí nhà kính gây ô nhiễm môi trường. Năng lượng nguyên tử chiếm 30% tổng nhu cầu năng lượng hiện nay ở Cộng hòa Séc, và dự kiến có thể tăng lên 40% trong những năm tới. Khí gas tự nhiên được nhập khẩu từ nước ngoài và là một khoản chi tiêu lớn của Cộng hòa Séc. Gas được nhập từ tập đoàn Gazprom của Nga qua các đường ống trung chuyển ở Ukraina và nhập từ các công ty của Na Uy, được vận chuyển qua Đức. Sản lượng điện năm 2005 đạt 77,38 tỷ Kwh và ngoài đáp ứng tiêu thụ trong nước, Cộng hòa Séc xuất khẩu gần 25 tỷ Kwh điện năng. Giao thông: là trái tim của châu Âu nên Cộng hòa Séc có mạng lưới giao thông dày đặc và khá phát triển. Đường sắt có tổng chiều dài 16.053 km (năm 2005) và mật độ đường sắt cao nhất trong Liên minh châu Âu: 120 km trên 1.000 km vuông. Hàng năm đường sắt nước này chuyên chở khoảng 178 triệu hành khách và 100 triệu mét khối hàng hóa. Công ty "Đường sắt Séc" chiếm 99% tổng hành khách vận chuyển bằng đường sắt. Đường bộ của Cộng hòa Séc có trên 6.174 km đường quốc lộ cao tốc hạng nhất (giới hạn tốc độ 130 km/h) nối thủ đô và các thành phố chính như Brno, Plzen, Pripram... và hòa vào hệ thống đường cao tốc châu Âu tạo thành xương sống của hệ thống đường bộ nước này. Đường bộ cấp thấp hơn có tổng chiều dài 48.778 km. Về đường hàng không, Cộng hòa Séc có khoảng 60 sân bay công cộng trong đó lớn nhất là Sân bay quốc tế Pragua hàng năm đón khoảng 11 triệu lượt khách. Hãng hàng không quốc gia là Czech Airlines có đường bay đến những thành phố lớn ở châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Á, Trung Đông và Bắc Phi. Đường sông chủ yếu tập trung ở ba con sông chính là Labe, Vltava và Berounka với tổng chiều dài khoảng 300 km. Vận tải thủy chiếm từ 2 đến 5% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và có vai trò quan trọng trong thương mại với Đức, Bỉ và Hà Lan, ngoài ra nó cũng phục vụ cho du lịch. Giao thông công cộng ở các thành phố lớn cũng khá thuận tiện với các phương tiện chủ yếu là xe bus, tàu điện, ngoài ra thủ đô Prague bắt đầu có tàu điện ngầm từ ngày 9 tháng 5 năm 1974, chiều dài đường tàu điện ngầm khoảng 54 km. Thông tin và truyền thông: Cộng hòa Séc có trên 3,2 triệu thuê bao cố định (2005) và trên 12 triệu thuê bao di động (2006). Số người sử dụng điện thoại di động tăng mạnh từ giữa thập niên 1990 và đến nay đạt 120 thuê bao trên 100 người. Hệ thống thông tin nội địa đã được nâng cấp thiết bị ADSL để tạo điều kiện thuận lợi cho sử dụng Internet và 93% dung lượng trao đổi dưới dạng kỹ thuật số. Để phục vụ viễn thông quốc tế, Cộng hòa Séc có 6 vệ tinh: 2 Intersputnik, 1 Intelsat, 1 Eutelsat, 1 Inmarsat và 1 Globalstar. Cộng hòa Séc có 4 đài truyền hình ở phạm vi toàn quốc và trên 20 đài khu vực trong đó Czech Television, TV Nova và Prima TV là những hãng lớn nhất. Cộng hòa Séc là nước Đông Âu đầu tiên cho phép tư nhân phát sóng truyền hình năm 1994. Nước này cũng có 7 đài phát thanh toàn quốc, 76 đài phát thanh địa phương. Internet khá phát triển với những nhà cung cấp dịch vụ chính là Seznam, Centrum, Atlas, iDnes, Volny và Tiscali. == Văn hóa == === Văn học === Văn học Séc bắt nguồn từ thế kỉ 8 sau công nguyên dưới thời Đại Moravia. Hai anh em Cyril và Methodius đã được vương triều Byzantine cử tới Đại Moravia để truyền bá Đạo Thiên chúa, đồng thời sáng lập ra ngôn ngữ viết Slav đầu tiên: tiếng Slavonic cổ viết trên bảng chữ cái Glogotic, tiền thân của bảng ký tự Cyril sau này. Sau khi Đại Moravia sụp đổ và được thay thế bởi vương triều Bohemia vào thế kỉ 9, tiếng Latin đã dần lấn lướt tiếng Slavonic cổ để trở thành ngôn ngữ chính thức trong nền văn học Séc. Bên cạnh đó, tiếng Đức cũng trở thành một ngôn ngữ có tầm ảnh hưởng lớn tại vùng đất này cho đến tận cuối thế kỉ 19. Vào thế kỉ 13, dưới triều đại Premyslid của Bohemia, nền văn học Séc đã có những thay đổi đáng chú ý. Những nhà thống trị ở Bohemia bắt đầu tách họ ra khỏi nền văn học Tây Âu lúc đó nói chung và cố gắng xây dựng một nền văn học dân tộc riêng của người Séc. Thời kỳ này văn học Séc được chia làm hai thể loại chính là huyền thoại và sử thi về các anh hùng. Văn xuôi cũng bắt đầu xuất hiện trong thời gian này. Hai tác phẩm đáng chú ý xuất hiện trong giai đoạn này là cuốn từ điển Séc-Latin và bộ sử biên niên đầu tiên viết bằng tiếng Séc: sử biên niên Dalimil. Trong thời kỳ chiến tranh tôn giáo Hussite, văn học còn được dùng tranh luận và đả kích giữa các nhóm tôn giáo với nhau. Sự phân hóa rõ rệt thể hiện trên phương diện ngôn ngữ: tiếng Latin được dùng bởi những người theo đạo Thiên chúa, còn tiếng Séc được dùng bởi những người theo đạo Tin lành. Trận Núi Trắng năm 1620 với thất bại của những người Tin lành đã khiến nền văn học viết bằng tiếng Séc bị ảnh hưởng. Những chính sách đồng hóa dưới thời Đế chế Áo và Đế chế Áo-Hung càng làm cho tiếng Séc có nguy cơ biến mất. Tuy nhiên Thời kỳ Khai sáng trong Đế chế Áo-Hung đã lại tạo điều kiện cho tiếng Séc có cơ hội phát triển, cùng với đó là cả một nền văn học Séc mới. Từ đó đến nay, nền văn học Séc đã trải qua nhiều thăng trầm, biến động và sản sinh ra những tác gia lớn. Franz Kafka, nhà văn gốc Do Thái của Cộng hòa Séc với những tác phẩm viết bằng tiếng Đức, ông được coi là người khơi nguồn cho văn học phi thực ở châu Âu. Năm 1984, Jaroslav Seifert đã trở thành công dân Cộng hòa Séc đầu tiên (lúc đó là Tiệp Khắc) đoạt giải thưởng Nobel về Văn học. === Tôn giáo === Cộng Hòa Séc, cùng với Estonia, là một trong những nước có tỉ lệ người không tín ngưỡng cao nhất thế giới mặc dù người dân Séc từ xưa đã luôn có thái độ khoan dung đối với tôn giáo. Theo thống kế năm 2001, 59% dân số Cộng hòa Séc không theo một tôn giáo nào, một tỉ lệ khá lớn nếu so sánh với các nước láng giềng như Đức và Ba Lan .. Tôn giáo phổ biến nhất tại Cộng hòa Séc là Công giáo, chiếm tỉ lệ 26,8%. Tin Lành chiếm tỉ lệ 2,1%. Trong vòng từ năm 1991 đến năm 2001, tỉ lệ người không có tín ngưỡng tăng 19.1 phần trăm (gần hai triệu người) trong vòng 10 năm. Cơ Đốc Giáo dường như không có dấu hiệu phát triển và số người theo đạo Công giáo giảm một triệu người. Chỉ 19% người dân Séc nói rằng họ tin vào Chúa (ty lệ thấp nhì trong Liên Minh châu Âu sau Estonia với 16%) === Âm nhạc === Tại Cộng hòa Séc, giao hưởng và nhạc kịch có một sư liên hệ mật thiết với các vũ khúc dân gian truyền thống của Bohemia và Moravia. Một trong những thể loại nhạc độc đáo và đặc trưng nhất của xứ Bohemia là Polka, một loại nhạc nhảy có tiết tấu nhanh và vui nhộn được hình thành vào giữa thế kỉ 19. Nhạc Polka (tiếng Séc có nghĩa là "cô gái Ba Lan") đã nhanh chóng trở nên thịnh hành không chỉ ở châu Âu mà còn trên khắp thế giới, đồng thời nó cũng trở thành chất liệu để viết giao hưởng của hai nhạc sĩ người Áo là Johann Strauss I và Johann Strauss II. Nhạc dân gian Moravia được chơi với nhiều loại nhạc cụ như đại hồ cầm, kèn clarinet và violong. Nhạc Moravia thường biểu hiện những ảnh hưởng từ nước ngoài, đặc biệt là từ România và Ba Lan. Ngày nay, các hình thức âm nhạc hiện đại như pop, rock and roll đang ngày càng trở nên phổ biến. Các bài hát trong tiếng Anh nhiều khi được người Séc đặt lại lời theo tiếng Séc và kết hợp với một vài phong cách truyền thống của họ. === Lễ hội === Cộng hóa Séc có hai ngày quốc khánh (tức ngày độc lập). Ngày 1 tháng 1 năm 1993 là ngày Cộng hòa Séc tách ra từ Liên bang Tiệp Khắc để trở thành một quốc gia độc lập. Còn ngày quốc khánh thứ hai là 28 tháng 10 năm 1918, ngày mà nhân dân hai nước Séc và Slovakia cùng nhau thành lập Liên bang Tiệp Khắc sau sự sụp đổ của Đế chế Áo-Hung. Giống với nhiều quốc gia châu Âu khác, Cộng hòa Séc cũng tổ chức những ngày lễ quan trọng của Kitô giáo như Lễ Phục sinh, Lễ Giáng sinh. Vào đêm vọng Lễ Giáng Sinh 24 tháng 12, tất cả các thành phố lớn của Cộng hòa Séc đều được trang hoàng lộng lẫy. Ngày tiếp theo là ngày Giáng Sinh 25 tháng 12. Tiếp đó ngày 26 tháng 12 được gọi là ngày Thánh Stêphanô, được coi như ngày Giáng sinh thứ hai của Cộng hòa Séc. Bên cạnh đó, Cộng hòa Séc còn là điểm đến của nhiều lễ hội văn hóa quốc tế. Lễ hội Âm nhạc Quốc tế Praha được tổ chức vào mùa xuân hàng năm thu hút rất nhiều các dàn nhạc giao hưởng từ khắp nơi trên thế giới. Bên cạnh đó còn có Liên hoan Phim Quốc tế được tổ chức tại thành phố Karlovy Vary hay các lễ hội bia được tổ chức tại nhiều miền khác nhau của đất nước này. === Ẩm thực === Ẩm thực Cộng hòa Séc có ảnh hưởng lớn đến các nền ẩm thực tại khu vực Trung Âu và bản thân nó cũng chịu ảnh hưởng của các nền ẩm thực khác. Nhiều món ăn phổ biến trong khu vực có nguồn gốc và xuất xứ từ đất nước này. Đa phần các món ăn chính của Cộng hòa Séc đều có thịt, gồm thịt lợn, thịt bò và thịt gà. Do không phải một quốc gia giáp biển nên cá là một món ăn hiếm gặp tại nước này, chủ yếu được dùng nhiều vào dịp Giáng sinh. Thịt heo hầm với bánh mỳ hấp và dưa cải muối (tiếng Séc: vepřo-knedlo-zelo) được coi là một trong những món ăn phổ biến nhất của Cộng hòa Séc. Dưa cải muối trong món ăn này có hai cách chế biến khác nhau. Nó được chế biến chua hơn tại Bohemia và ngọt hơn tại Moravia. Thịt bò hầm nấu với sữa (svíčková na smetaně) cũng là một món ăn thịt khá phổ biến. Món ăn này gồm những miếng thịt bò hầm chấm với nước sốt đặc từ sữa, được kèm theo bởi bánh mỳ hấp, một thìa mứt quả và một lát chanh. Một số món ăn nhẹ tiêu biểu cho ẩm thực Séc là món bánh kếp rán (bramboráky) được làm từ hỗn hợp khoai tây, bột mì, sữa kèm theo một số gia vị rồi đem rán. Bên cạnh đó, pho mát cũng là một món ăn được ưa chuộng với nhiều chủng loại đa dạng. Món bánh mỳ hấp có nhân mứt hoa quả xay nghiền (ovocné knedlíky) được làm từ bột khoai tây nhào trộn và bộc mứt nghiền trái cây, sau đó đem luộc và được dùng với bơ, đường và pho mát. Có rất nhiều loại bánh bao hoa quả khác nhau được chế biến cùng nhiều loại trái cây đa dạng như dâu tây, đào, anh đào, mơ, mận... Những món ăn này không chỉ đơn thuần được coi như món tráng miệng mà đôi khi được xem là một món ăn chính trong bữa ăn. Trong dịp lễ Giáng sinh, món bánh vánočka sẽ được làm cùng với rất nhiều bánh quy và kẹo ngọt (vánoční cukroví). Cộng hòa Séc còn là một quốc gia về bia. Nghề làm bia tại Cộng hòa Séc đã có lịch sử lâu đời từ hàng trăm năm nay và được làm chủ yếu từ hoa của cây hublông. Một trong những loại bia cuar nước này là bia Plzeň (Pilsener), được làm tại thành phố Plzeň (tiếng Đức: Pilsen) ở xứ Bohemia. === Thể thao === Thể thao là một phần không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của người dân Cộng hòa Séc. Hai môn thể thao phổ biến và giành được nhiều sự hâm mộ nhất tại nước này là bóng đá và hockey trên băng. Bên cạnh đó, các môn thể thao như bóng rổ, bóng chuyền, bóng ném, điền kinh... cũng rất phổ biến. Hockey trên băng là một môn thế mạnh của Cộng hòa Séc. Nước này đã từng 1 lần đoạt huy chương vàng tại Thế vận hội Mùa đông 1998 và 5 lần vô địch giải hockey trên băng toàn thế giới. Bóng đá cũng là một môn thể thao ưa chuộng tại nước này. Trước kia khi còn nằm trong Liên bang Tiệp Khắc, đội tuyển bóng đá quốc gia Tiệp Khắc đã từng hai lần đoạt ngôi vị á quân thế giới (World Cup) và một lần vô địch châu Âu (Euro). Còn hiện nay, đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hòa Séc đã từng đạt ngôi á quân tại Euro 1996. Nước này cũng có tên trong dach sách 16 đội tuyển tham dự vòng chung kết Euro 2008 tại Áo và Thụy Sĩ. Theo bảng xếp hạng các đội tuyển bóng đá quốc gia của FIFA (tháng 1 năm 2008), Cộng hòa Séc xếp thứ 6 thế giới. Bên cạnh đó, Cộng hòa Séc còn được biết đến là quê hương của một số tay vợt trong môn tennis như Martina Navratilova và Ivan Lendl. === Giáo dục === Giáo dục phổ thông ở Cộng hòa Séc kéo dài từ 12 đến 13 năm, giáo dục bậc tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc. Trẻ em đến trường khi 6 tuổi, kết thúc bậc tiểu học năm 11 tuổi và trung học cơ sở lúc 15 tuổi. Sau đó học sinh có thể học tiếp bậc phổ thông trung học 4 năm hoặc học các trường đào tạo nghề 3 năm. Tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc đào tạo nghề, học sinh có thể học lên bậc đại học kéo dài 3 năm. Ở bậc trên đại học, đào tạo thạc sĩ mất từ 2 đến 3 năm; đào tạo tiến sĩ là 3 năm. Hệ thống giáo dục cơ sở của nước này gồm trường công, trường tư và trường tôn giáo (thường ít gặp). Năm học tại Cộng hòa Séc bắt đầu từ ngày 1 tháng 9 hoặc ngày thứ hai đầu tiên của tháng 9 (nếu ngày 1 tháng 9 là thứ bảy hoặc chủ nhật) và kết thúc vào ngày 30 tháng 6 năm sau (hoặc ngày thứ sáu cuối cùng của tháng 6). Học sinh được nghỉ trong những dịp lễ như Giáng sinh, Năm mới và Phục sinh. Cộng hòa Séc từ lâu là một trong những trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng hàng đầu tại châu Âu. Năm 1348, vua Charles IV (tiếng Séc: Karel IV) đã thành lập trường Đại học Charles tại Praha (Univerzita Karlova). Ngày nay đây vẫn là trường đại học lớn và dẫn đầu về chất lượng giáo dục tại nước này. === Y tế === Cộng hòa Séc chú trọng nâng cao sức khỏe cộng đồng với các chương trình mang tính chất phòng ngừa cũng như tích cực chống lại bệnh ung thư, hút thuốc lá...Người dân được cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe dựa trên cơ sở bảo hiểm y tế, người bệnh không trực tiếp chi trả tiền chữa bệnh. Dịch vụ y tế có thể được cung cấp bởi cả khu vực công cộng và khu vực tư nhân với chi phí nhìn chung thấp hơn mức bình quân của châu Âu. == Xếp hạng quốc tế == Xếp thứ 79 trên 221 quốc gia và vùng lãnh thổ về dân số (xem Danh sách các nước theo số dân) Xếp hạng 30/177 quốc gia về Chỉ số Phát triển Con người (xem Danh sách các quốc gia theo thứ tự về Chỉ số phát triển con người) Xếp thứ 40/180 quốc gia về GDP (xem Danh sách quốc gia theo GDP danh nghĩa năm 2008) Xếp thứ 35/180 quốc gia về thu nhập bình quân đầu người (xem Danh sách quốc gia theo GDP (PPP) bình quân đầu người năm 2008) Xếp hạng 5/168 quốc gia về chỉ số tự do báo chí (Nhà báo không biên giới) Xếp hạng 37/157 quốc gia về chỉ số tự do kinh tế == Hình ảnh về Cộng hòa Séc == == Xem thêm == Tiệp Khắc Mùa Xuân Praha 1968 Cách mạng Nhung == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cộng đồng người Việt thành dân tộc thiểu số tại Séc Sec tại Từ điển bách khoa Việt Nam Czech Republic tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Government of the Czech Republic - Trang web của chính quyền Cộng hòa Séc (tiếng Anh) Trang mạng của Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam Giới thiệu Tổng quan về Nền Kinh tế Cộng hoà Séc Trang thông tin của người Việt tại Séc và châu Âu Báo điện tử Cộng đồng Việt Nam tại Cộng hòa Séc Hội người Việt Nam tại Cộng hòa Séc Trang tin Séc Hội Phật tử Việt Nam tại CH Séc Tổng công ty Du lịch và Dịch vụ Hàng không Biển Đông (EAST SEA) Hội doanh nghiệp Việt Nam tại CH Séc Hội người Czech gốc Việt Nam Website chùa Thiên Ân tại CH Séc Trang tin của người Việt
nhuộm răng.txt
Nhuộm răng là một trong những phong tục xưa của nhiều dân tộc ở Đông Á, như Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia và miền Nam Trung Quốc. Tại Việt Nam, ngoài người Kinh, các dân tộc khác như Thái, Si La, Tày, Dao đều có tục này; nhưng mỗi nơi, mỗi dân tộc đều có cách nhuộm răng khác nhau về ý nghĩa, thẩm mỹ, sức khỏe và chất liệu sử dụng trong lúc nhuộm. == Lịch sử == === Việt Nam === Theo các truyện cổ tích Việt Nam thì từ hàng nghìn năm trước người Việt đã có tục nhuộm răng. Theo truyền thuyết Việt Nam tục này đi cùng với tục xăm mình và ăn trầu. Khoảng vào năm 1862, khi nền văn minh Tây phương xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, và nhất là đầu những năm của thế kỷ 20, tục này mới giảm mà dần dần mất hẳn. === Nhật Bản === Tại Nhật Bản, tục nhuộm răng đen gọi là Ohaguro (お歯黒?, âm Hán Việt: xỉ hắc). Lối trang sức này thường dành cho phụ nữ đã có chồng nhưng nam giới cũng theo, coi như một cách ngừa sâu răng tương tự như chất trám răng của nha khoa hiện đại. Tục này cũng được nhắc đến trong Truyện kể Genji. Vào cuối thời Heian, tục nhuộm răng khá phổ biến trong giới quý tộc. Nam giới và con gái đến tuổi dậy thì đều theo. Ngoài ra Gia tộc Taira và các võ sĩ samurai thì đến các đền chùa xin nhuộm răng và vẽ lông mày. Hoàng tộc Nhật Bản giữ lệ nhuộm răng đen cuối thời đại Edo mới bỏ. Sau thời kỳ Edo, lệ này chỉ có một số người theo như nam giới quý tộc, phụ nữ có chồng. Gái mại dâm và geisha cũng giữ tục nhuộm răng. Đối với dân quê tục nhuộm răng được gắn liền với việc hiếu hỷ (lễ cưới, đám tang). Ngày 5 Tháng Hai năm 1870, triều đình Nhật Bản ra lệnh cấm tục nhuộm răng nên lệ này mai một dần đến hết thời Minh Trị. Sang triều Taisho thì gần như mất hẳn. Nhật Bản ngày nay không còn tục nhuộm răng nhưng trong các phim kịch và sách truyện lịch sử vẫn còn nhắc đến. Ngoài ra giới geisha đôi khi còn thực hiện nên khách ghé hanamachi (xóm làng chơi) thỉnh thoảng vẫn còn thấy người răng đen. == Kỹ thuật nhuộm răng ở Việt Nam == === Thời gian nhuộm === Trong những tập tục của người Việt, khi trẻ con thay răng sữa, nếu là răng hàm dưới thì vứt răng xuống gầm giường, còn trên thì vứt lên mái nhà và hô 3 tiếng cho "ông thiêng" cho nó tha đi để mà mau mọc răng. Người ta chỉ nhuộm răng sau khi đã thay toàn bộ răng sữa, thời gian đó là thích hợp nhất để nhuộm vì lúc ấy răng còn non, độ thấm của thuốc nhuộm dễ gắn chặt vào men và ngà răng hơn. Người bình dân thường nhuộm theo phương pháp đơn giản, nhưng người giàu có hay quan lại lại nhuộm răng theo nhiều lối cầu kỳ với những phương pháp gia truyền khác nhau. Người con gái Thái chỉ sau khi lấy chồng mới nhuộm răng và ăn trầu, cách nhuộm răng của họ cũng khác với người Kinh. Với bà thầy Thại, một người nhuộm răng nổi tiếng ở Huế, mỗi đợt nhuộm là 15 người ăn ở luôn tại nhà trong thời gian nửa tháng. Buổi chiều "bà thầy" cho người đang nhuộm leo lên một đồi nhỏ trong làng, há miệng to để gió thổi vào cho thuốc nhuộm mau khô. Thuốc nhuộm răng của bà thầy Thại nổi tiếng vang khắp cả một vùng Trung kỳ, đại lý thuốc của bà có ở chợ Đông Ba, Quảng Trị, Đông Hà và vào đến Quảng Nam, Quảng Ngãi... === Thành phần thuốc nhuộm === Thuốc nhuộm răng gồm các thành phần căn bản như sau: Bột nhựa cánh kiến Nước cốt chanh Phèn đen Nhựa của gáo dừa. === Cách nhuộm === Người Si La có tục nhuộm răng phổ biến nhưng nam giới nhuộm răng đỏ còn nữ nhuộm đen. [1] Người Thái nhuộm răng như sau: Đầu tiên, để làm sạch răng họ phải chà xát nhiều lần bằng một miếng cau khô, sau đó dùng lưỡi dao hơ cho vừa nóng, rắc bột cánh kiến lên để bột nhựa cánh kiến nóng chảy ra. Chờ bột nhựa cánh kiến vừa nguội mới lấy miết vào răng. Trong vòng 7 dến 10 ngày sau không được dùng thức ăn uống nóng, không nhai đồ ăn cứng, khi răng trở nên màu ngà họ sẽ nhuộm đen bằng nhựa cây mét non. Phần viết về người Dao có đoạn: "Người Dao nhuộm răng đơn giản bằng nước vắt của lá cây mơ tam thể hoặc lá cây mơ lông. Cách này có độ bền kém cho nên thường phải nhuộm lại luôn." [2] Đối với người Kinh, cách nhuộm răng được miêu tả như sau: Khởi đầu, miệng và răng phải được làm vệ sinh thật sạch cho đến khi lấy tay sờ vào thân răng phải trơn láng mới được. Trong ba ngày đầu phải đánh răng, xỉa răng bằng vỏ cau khô với than bột trộn với muối bột. Một ngày trước khi nhuộm phải nhai ngậm chanh hoặc hạnh, súc miệng bằng rượu trắng pha nước chanh để lớp men răng "mềm" đi, axít của chanh sẽ bào mòn tạo thành những vệt lõm sần sùi trên men răng. Thời gian này là thời gian đau đớn nhất cho người nhuộm vì răng, môi, lưỡi, lợi và niêm mạc trong vòm họng sưng tấy, răng lung lay như muốn rụng. Thuốc nhuộm răng bằng nhựa cánh kiến được điều chế trước đó 7–10 ngày theo đúng công thức với tỷ lệ bột nhựa cánh kiến và nước cốt chanh tùy theo mỗi người, chất sền sệt đó được trét lên một mảnh vải thô trắng hay lụa. Người ta trét lên lá dừa, cau hay lá ngái sau đó mới áp lên hai hàm răng. Việc áp thuốc nhuộm răng được thực hiện vào sau buổi ăn chiều, đến giữa đêm sẽ được thay bằng một miếng áp mới. Đến sáng sẽ gỡ ra lớp nhựa sơn mới phủ lên đêm trước. Sau đó phải súc miệng bằng nước mắm, có nơi dùng nước dưa chua, để thải hết chất thuốc còn sót lại. Người nhuộm răng phải ngậm miệng suốt đêm, tránh để miếng thuốc nhuộm bong ra, phải làm như vậy mỗi đêm 2 lần trong 7 đêm. Khoảng thời gian đó người nhuộm răng chỉ được nuốt chửng thức ăn chứ không được nhai. Khi thấy răng có màu đỏ già (màu của cánh kiến) thì việc nhuộm răng sẽ bước qua giai đoạn 2 là giai đoạn nhuộm đen răng bằng cách phết dung dịch bôi đen lên răng. Thuốc bôi đen là hỗn hợp phèn đen trộn với nhựa cánh kiến, dung dịch này được phết trong 2 ngày. Phải súc miệng bằng một thứ thuốc gọi là thuốc xỉa nước. Giai đoạn cuối cùng là cố định bằng nhựa của gáo dừa được đốt hay nấu chảy, chất nhựa này tạo thành một lớp men trên thân răng gọi là "giết răng". Khi hoàn tất giai đoạn này người nhuộm răng sẽ có một hàm răng đen bóng như hột mãng cầu. Được bảo vệ cẩn thận răng nhuộm có thể giữ màu đen bóng 20, 30 năm. Muốn cho hàm răng lúc nào cũng đen nhánh thì độ một năm lại nhuộm bồi thêm một lớp. Răng không được chăm sóc sẽ bị phai màu, loang lổ gọi là "răng cải mả", trông không đẹp. == Dân tộc Kinh == Tục ngữ Việt có câu "cái răng cái tóc là góc con người" nên hàm răng đen ngày trước là tối quan trọng, không kém gì mái tóc. Tục nhuộm răng cũng đánh dấu ngưỡng cửa bước vào cuộc đời trưởng thành của mỗi người. Người nào không nhuộm răng thì dư luận cho là người không đứng đắn. Trong một xã hội cổ truyền vốn coi trọng sự suy xét của cộng đồng nói chung thì câu "răng trắng như răng chó" là có ý chê trách. Răng đen cũng là một đặc điểm khác biệt giữa người Việt và người Tàu nên còn có câu: "răng trắng như răng Ngô". Tục nhuộm răng đối với người Việt thường gắn liền với tục ăn trầu tuy hai tập tục này là hai khía cạnh khác nhau về xã giao và đoàn kết. === Truyền thuyết === Theo các truyện cổ tích Việt Nam thì từ hàng nghìn năm trước người Việt đã có tục nhuộm răng. Theo truyền thuyết Việt Nam tục này đi cùng với tục xăm mình và ăn trầu. Sứ thần của nước Văn Lang đã trả lời vua nhà Chu (Trung Quốc) về tục ăn trầu rằng: "Người Việt có tục ăn trầu để khử mùi ô uế và nhuộm cho răng đen...". Nhưng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chỉ ghi lại lời vua Hùng về tục xăm mình, còn tục nhuộm răng không thấy. Theo Lịch sử Việt Nam (tập 1, Nhà xuất bản Khoa Học Xã hội, 1971, trang 48) có đoạn: "Về thời Hùng Vương, ai cũng xăm mình. Ai cũng búi tóc hoặc cắt tóc ngắn. Ai cũng thích đeo hoa tai và nhiều vòng tay. Người ta nhuộm răng, ăn trầu". Trong bài hịch của vua Quang Trung khi kéo quân ra Bắc đánh giặc nhà Thanh vào năm 1789 có câu liên quan đến tục nhuộm răng vì đây là một tập tục quan trọng trong văn hóa người Việt. Đánh cho để dài tóc Đánh cho để đen răng Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn... === Thợ nhuộm răng === Tục nhuộm răng có từ thuở xa xưa, nhưng chỉ thông dụng ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Khi lên mười ba, mười bốn tuổi, mọi người đều thích nhuộm răng. Việc nhuộm răng trải qua nhiều giai đoạn, kéo dài từ một đến hai tuần và những thứ thuốc gia truyền thường được xem như một thứ gia bảo, người ngoài khó biết được công thức pha chế. Ở nông thôn có người nhuộm răng gọi là "thầy", ông ta đi từ làng này sang làng khác để hành nghề. Ở Huế lại có các "bà thầy" nhuộm răng thường hành nghề cố định trong các chợ, như chợ Đông Ba có đến 5, 6 người hành nghề này. Họ có một cái sạp ngay giữa chợ, các chợ nhỏ như chợ Bến Ngự, chợ Bao Vinh, chợ An Cựu cũng có một đến hai "bà thầy" nhuộm răng. Ở kinh đô Huế có bà thầy vừa hành nghề nhuộm răng vừa sản xuất thuốc nhuộm, thuốc xỉa... Muốn nhuộm răng phải ghi tên và đặt tiền cọc trước, có khi mất cả hàng tháng mới được nhuộm. === Văn chương === Trong văn chương thì tục nhuộm răng và răng đen của người phụ nữ được ca ngợi tôn vinh như một nét đẹp không thể thiếu được. Răng đen ai nhuộm cho mình Cho duyên mình đẹp, cho tình anh say? (Ca dao) Răng đen là nét đáng yêu được xếp vào hàng thứ tư trong cái duyên của người con gái. Trong bài "Mười thương" của ca dao Việt Nam có đoạn: Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên, Ba thương má lúm đồng tiền, Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua Và để hấp dẫn, để sửa soạn, để trang điểm người con gái bao giờ cũng rất chú trọng đến hàm răng đen gợi cảm của mình: Lấy chồng cho đáng tấm chồng, Bõ công trang điểm má hồng răng đen. (Ca dao) Và: Năm quan mua lấy miệng cười Mười quan chẳng tiếc, miệng người răng đen.(Ca dao) Còn trong bài thơ "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm thì: ...Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu toả nắng... Trong thành ngữ Việt Nam cũng có nhắc đến phong tục này Con gà tốt mã về lông, Răng đen về thuốc, rượu nồng về men == Sự suy tàn của tục nhuộm răng == === Việt Nam === Tục nhuộm răng là một nét văn hóa để phân biệt với các tộc người khác. Hầu như tất cả người dân Việt Nam từ kẻ nghèo cho đến người giàu, từ giai cấp nông dân cho đến giới quan lại, điền chủ, hoàng thân quốc thích, vua chúa ai ai cũng nhuộm răng. Khoảng vào năm 1862, khi nền văn minh Tây phương xâm nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, và nhất là đầu những năm của thế kỷ 20, nhiều phụ nữ đã để răng trắng hay cạo hàm răng đen được nhuộm từ thuở mới thay răng để trở thành người phụ nữ mới nhằm tham gia vào công cuộc cải cách xã hội, phong trào đòi nữ quyền, giải phóng, phong trào này phát triển rầm rộ trong thời đại canh tân. Thuở ấy trong xã hội có hai phái kình chống nhau kịch liệt, một nhóm cho rằng để răng trắng, hớt tóc là bè lũ theo Tây, làm me Tây...; còn nhóm kia thì cho rằng tóc củ hành, răng đen, áo the quần vải là hủ lậu, kém văn minh... Thời đó, người ta chỉ đánh giá bề ngoài mà không chú trọng nhân cách, tư tưởng ở bên trong. Đấy là giai đoạn đánh dấu sự suy tàn của tục nhuộm răng ở Việt Nam. Răng đã nhuộm đen sau đem cạo trắng thường không trắng hẳn mà có màu xám/đen lờ lợ không đều. Tiếng Việt cũng dùng từ ngữ "răng cải mả" giống như loại răng đen mà để phai để gọi hàm răng không mấy đẹp này. == Xem thêm == Ăn trầu == Chú thích == == Liên kết == Bách khoa toàn thư văn hóa Việt Ảnh chụp một người già đã nhuộm răng thuở trước ở Bắc Ninh Tục nhuộm răng của người Việt xưa Tục nhuộm răng của người Việt Nam - (Vietsciences-Hồ Đắc Duy) Răng đen hột huyền
hệ thống thông tin di động toàn cầu.txt
Hệ thống thông tin di động toàn cầu (tiếng Anh: Global System for Mobile Communications; tiếng Pháp: Groupe Spécial Mobile; viết tắt: GSM) là một công nghệ dùng cho mạng thông tin di động. Dịch vụ GSM được sử dụng bởi hơn 2 tỷ người trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các mạng thông tin di động GSM cho phép có thể roaming với nhau do đó những máy điện thoại di động GSM của các mạng GSM khác nhau ở có thể sử dụng được nhiều nơi trên thế giới. GSM là chuẩn phổ biến nhất cho điện thoại di động (ĐTDĐ) trên thế giới. Khả năng phú sóng rộng khắp nơi của chuẩn GSM làm cho nó trở nên phổ biến trên thế giới, cho phép người sử dụng có thể sử dụng ĐTDĐ của họ ở nhiều vùng trên thế giới. GSM khác với các chuẩn tiền thân của nó về cả tín hiệu và tốc độ, chất lượng cuộc gọi. Nó được xem như là một hệ thống ĐTDĐ thế hệ thứ hai (second generation, 2G). GSM là một chuẩn mở, hiện tại nó được phát triển bởi 3rd Generation Partnership Project (3GPP) Đứng về phía quan điểm khách hàng, lợi thế chính của GSM là chất lượng cuộc gọi tốt hơn, giá thành thấp và dịch vụ tin nhắn. Thuận lợi đối với nhà điều hành mạng là khả năng triển khai thiết bị từ nhiều người cung ứng. GSM cho phép nhà điều hành mạng có thể sẵn sàng dịch vụ ở khắp nơi, vì thế người sử dụng có thể sử dụng điện thoại của họ ở khắp nơi trên thế giới. == Giao diện vô tuyến == GSM là mạng điện thoại di động thiết kế gồm nhiều tế bào (cell) do đó các máy điện thoại di động kết nối với mạng bằng cách tìm kiếm các cell gần nó nhất. Các mạng di động GSM hoạt động trên 4 tần số. Hầu hết thì hoạt động ở tần số 900 MHz và 1800 MHz. Vài nước ở Châu Mỹ thì sử dụng tần số 850 MHz và 1900 MHz do tần số 900 MHz và 1800 MHz ở nơi này đã bị sử dụng trước. Và cực kỳ hiếm có mạng nào sử dụng tần số 400 MHz hay 450 MHz chỉ có ở Scandinavia sử dụng do các băng tần khác đã bị cấp phát cho việc khác. Các mạng sử dụng tần số 900 MHz thì đường lên (từ thuê bao di động đến trạm truyền dẫn uplink) sử dụng tần số trong dải 890–915 MHz và đường xuống downlink sử dụng tần số trong dải 935–960 MHz. Và chia các băng tần này thành 124 kênh với độ rộng băng thông 25 MHz, mỗi kênh cách nhau 1 khoảng 200 kHz. Khoảng cách song công (đường lên & xuống cho 1 thuê bao) là 45 MHz. Ở một số nước, băng tần chuẩn GSM900 được mở rộng thành E-GSM, nhằm đạt được dải tần rộng hơn. E-GSM dùng 880–915 MHz cho đường lên và 925–960 MHz cho đường xuống. Như vậy, đã thêm được 50 kênh (đánh số 975 đến 1023 và 0) so với băng GSM-900 ban đầu. E-GSM cũng sử dụng công nghệ phân chia theo thời gian TDM (time division multiplexing), cho phép truyền 8 kênh thoại toàn tốc hay 16 kênh thoại bán tốc trên 1 kênh vô tuyến. Có 8 khe thời gian gộp lại gọi là một khung TDMA. Các kênh bán tốc sử dụng các khung luân phiên trong cùng khe thời gian. Tốc độ truyền dữ liệu cho cả 8 kênh là 270.833 kbit/s và chu kỳ của một khung là 4.615 m. Công suất phát của máy điện thoại được giới hạn tối đa là 2 watt đối với băng GSM 850/900 MHz và tối đa là 1 watt đối với băng GSM 1800/1900 MHz. Mã hóa âm thanh GSM sử dụng khá nhiều kiểu mã hóa thoại để nén tần số audio 3,1 kHz vào trong khoảng 6.5 and 13 kbit/s. Ban đầu, có 2 kiểu mã hoá là bán tốc (haft rate -5.6 kbps)và toàn tốc (Full Rate -13 kbit/s)). Để nén họ sử dụng hệ thống có tên là mã hóa dự đoán tuyến tính (linear predictive coding - LPC). GSM được cải tiến hơn vào năm 1997 với mã hóa EFR (mã hóa toàn tốc cải tiến -Enhanced Full Rate), kênh toàn tốc nén còn 12.2 kbit/s. Sau đó, với sự phát triển của UMTS, EFR được tham số lại bởi kiểu mã hóa biến tốc, được gọi là AMR-Narrowband. Có tất cả bốn kích thước cell site trong mạng GSM đó là macro, micro, pico và umbrella. Vùng phủ sóng của mỗi cell phụ thuộc nhiều vào môi trường. Macro cell được lắp trên cột cao hoặc trên các toà nhà cao tầng, micro cell lại được lắp ở các khu thành thị, khu dân cư, pico cell thì tầm phủ sóng chỉ khoảng vài chục mét trở lại nó thường được lắp để tiếp sóng trong nhà. Umbrella lắp bổ sung vào các vùng bị che khuất hay các vùng trống giữa các cell. Bán kính phủ sóng của một cell tuỳ thuộc vào độ cao của anten, độ lợi anten thường thì nó có thể từ vài trăm mét tới vài chục km. Trong thực tế thì khả năng phủ sóng xa nhất của một trạm GSM là 35 km (22 dặm). Một số khu vực trong nhà mà các anten ngoài trời không thề phủ sóng tới như nhà ga, sân bay, siêu thị... thì người ta sẽ dùng các trạm pico để chuyển tiếp sóng từ các anten ngoài trời vào. == Lịch sử == Vào đầu thập niên 1980 tại châu Âu người ta phát triển một mạng điện thoại di động chỉ sử dụng trong một vài khu vực. Sau đó vào năm 1982 nó được chuẩn hoá bởi CEPT (European Conference of Postal and Telecommunications Administrations) và tạo ra Groupe Spécial Mobile (GSM) với mục đích sử dụng chung cho toàn châu Âu. Mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ GSM được xây dựng và đưa vào sử dụng đầu tiên bởi Radiolinja ở Phần Lan. Vào năm 1989 công việc quản lý tiêu chuẩn vá phát triển mạng GSM được chuyển cho viện viễn thông châu Âu (European Telecommunications Standards Institute - ETSI), và các tiêu chuẩn, đặc tính phase 1 của công nghệ GSM được công bố vào năm 1990. Vào cuối năm 1993 đã có hơn 1 triệu thuê bao sử dụng mạng GSM của 70 nhà cung cấp dịch vụ trên 48 quốc gia. == Cấu trúc mạng GSM == Một mạng GSM để cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho khách hang cho nên nó khá phức tạp vì vậy sau đây sẽ chia ra thành các phần như sau: chia theo phân hệ: - Phân hệ chuyển mạch NSS: Network switching SubSystem - Phân hệ vô tuyến RSS = BSS + MS: Radio SubSystem - Phân hệ vận hành và bảo dưỡng OMS: Operation and Maintenance SubSystem BSS Base Station Subsystem= TRAU + BSC + BTS + TRAU: bộ chuyển đổi mã và phối hợp tốc độ + BSC: bộ điều khiển trạm gốc + BTS: trạm thu phát gốc MS: chính là những chiếc di động gồm: ME và SIM + ME Mobile Equipment: phần cứng và phần mềm + SIM: lưu trữ các thông tin về thuê bao và mật mã / giải mật mã. Chức năng của BSC: - điều khiển một số trạm BTS xử lý các bản tin báo hiệu - Khởi tạo kết nối. - Điều khiển chuyển giao: Intra & Inter BTS HO - Kết nối đến các MSC, BTS và OMC Chức năng của BTS: - Thu phát vô tuyến - Ánh xạ kênh logic vào kênh vật lý - Mã hóa và giải mã - Mật mã / giải mật mã - Điều chế / giải điều chế. BSS nối với NSS thông qua luồng PCM cơ sở 2 Mbps Mạng và hệ thống chuyển mạch Network and Switching Subsystem (phần này gần giống với mạng điện thoại cố định). Đôi khi người ta còn gọi nó là mạng lõi (core network). Phần mạng GPRS (GPRS care network) Phần này là một phần lắp thêm để cung cấp dịch vụ truy cập Internet. Và một số phần khác phục vụ việc cung cấp các dịch vụ cho mạng GSM như gọi, hay nhắn tin SMS... Máy điện thoại - Mobile Equipment Thẻ SIM (Subscriber identity module) Modul nhận dạng thuê bao (Subscriber identity module) Một bộ phận quan trọng của mạng GSM là modul nhận dạng thuê bao, còn được gọi là thẻ SIM. SIM là 1 thẻ nhỏ, được gắn vào máy di động, để lưu thông tin thuê bao và danh bạ điện thoại. Các thông tin trên thẻ SIM vẫn được lưu giữ khi đổi máy điện thoại. Người dùng cũng có thể thay đổi nhà cung cấp khác, nếu đổi thẻ SIM. Một số rất ít nhà cung cấp dịch vụ mạng ngăn cản điều này bởi việc chỉ cho phép 1 máy dùng 1 SIM hay dùng SIM khác, nhưng do họ sản xuất, được gọi là tình trạng Khóa SIM. Ở Australia, Bắc Mỹ và châu Âu, một số nhà khai thác mạng viễn thông tiến hành khóa máy di động họ bán. Lý do là giá của các máy này được những nhà cung cấp đó tài trợ, và họ không muốn người dùng mua máy đó để xài cho hãng khác. Người dùng cũng có thể liên hệ với nhà sản xuất để đăng ký gỡ bỏ khóa máy. Số được khóa theo máy di động là số Nhận dạng máy di động quốc tế IMEI (International Mobile Equipment Identity), chứ không phải số thuê bao. Một vài nước như Bangladesh, Belgium, Costa Rica, India, Indonesia, Malaysia, và Pakistan tất cả các máy di động đều được bỏ khóa (Tất nhiên, cả Việt Nam nữa). === XEM THÊM === Dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp GPRS == Tham khảo == {{|de}}
vương quốc ireland.txt
Vương quốc Ireland (tiếng Ireland: Rioghacht Éireann) là tên của nhà nước Ireland từ 1542, thành lập dựa trên Đạo luật Vương miện Ireland năm 1542 của Quốc hội Ireland dựa trên tính hợp pháp tranh cãi về quyền chinh phục. Triều đình vương quốc mới mới thay thế quyền lãnh chúa Ireland vốn tồn tại từ năm 1171. Vua Henry VII do đó trở thành vua đầu tiên được công nhận của Ireland kể từ năm 1169. Vương quốc riêng của Ireland không còn tồn tại khi Ireland hợp nhất vào với Vương quốc Anh để hình thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland năm 1801. == Tham khảo == de Beaumont, Gustave and William Cooke Taylor, Ireland Social, Political, and Religious:Translated by William Cooke Taylor: Contributor Tom Garvin, Andreas Hess: Harvard University Press: 2006: ISBN 9780674021655 (reprint of 1839 original) Pawlisch, Hans S.,: Sir John Davies and the Conquest of Ireland: A Study in Legal Imperialism:Cambridge University Press, 2002: ISBN 9780521526579 Keating, Geoffrey: The History of Ireland, from the Earliest Period to the English Invasion (Foras Feasa Ar Éirinn) Translated by John O'Mahony 1866 Full text at Google Books
tủa chùa (thị trấn).txt
Thị trấn Tủa Chùa là thị trấn duy nhất và là huyện lị của huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, Việt Nam. Thị trấn có vị trí: Bắc giáp xã Mường Báng. Đông giáp xã Mường Báng. Nam giáp xã Mường Báng. Tây giáp xã Mường Báng, xã Sính Phình. Thị trấn Tủa Chùa được thành lập vào ngày 2 tháng 1 năm 1989 trên cơ sở một số phần lãnh thổ của xã Tủa Chùa và xã Mường Báng. Thị trấn có diện tích là 2,15 km². Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, thị trấn Tủa Chùa có 2.940 người, trong đó có 1.517 nam và 1.423 nữ. Thị trấn Tủa Chùa có tỉnh lộ 129 đi qua. Thị trấn bao gồm khu phố Thắng Lợi, khu phố Đồng Tâm, khu phố Thống Nhất, khu phố Thành Công, khu phố Quyết Thắng, khu phố Đoàn Kết và bản Cáp. == Xem thêm == Danh sách thị trấn tại Việt Nam == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
1281.txt
Năm 1281 là một năm trong lịch Julius. == Sự kiện == == Sinh == == Mất == == Tham khảo ==
em là bà nội của anh.txt
Em là bà nội của anh (tựa đề tiếng Anh: Sweet 20) là một bộ phim điện ảnh hài tâm lý xã hội của Việt Nam được khởi chiếu vào tháng 12 năm 2015. Đây là một bộ phim được làm lại từ phim Hàn Quốc Susanghan Geunyeo (Miss Granny), có nội dung xoay quanh câu chuyện về một người phụ nữ ngoài 70 tuổi trở lại thành một cô gái tuổi 20. Đây là phim điện ảnh đầu tay do nhà phê bình Phan Gia Nhật Linh (Phan Xi Nê) làm đạo diễn. Phiên bản đặc biệt với thời lượng 137 phút (dài hơn 10 phút so với bản chính thức) được công chiếu từ ngày 5 tháng 2 năm 2016 nhân dịp Tết Bính Thân. Phim cũng đã có mặt trên kênh K+1 vào ngày 4 tháng 3 năm 2016. == Nội dung == Chuyện phim xoay quanh bà Đại (NSƯT Minh Đức), bà già kiểu cách, khó tính, đặc biệt yêu thương cậu con trai độc nhất Quang (Đức Khuê) đang là giáo sư đại học. Nhưng tuổi xế chiều của bà không được yên ổn khi mâu thuẫn với con dâu (Hồng Ánh), với bạn bè, với quá khứ đầy sóng gió xưa kia cứ thế ập đến. Trong lúc quẫn bách nhất, phép màu đột ngột xảy đến, biến bà Đại trở thành cô gái trẻ trung tuổi đôi mươi. Không lãng phí cơ hội trời cho, bà quyết định tận dụng từng khoảnh khắc của “giấc mơ đẹp” để hoàn thành nhiều tâm nguyện còn dang dở. Cô gái Thanh Nga (Miu Lê) xinh đẹp xuất hiện, làm đảo lộn cuộc sống của cậu ca sĩ nhạc rock nổi loạn Ngô Trí Tùng (Ngô Kiến Huy) - vốn chính là cháu bà Đại, nhà sản xuất âm nhạc đẹp trai Mạnh Đức (Hứa Vĩ Văn) và cả ông bạn già tên Bé (NSƯT Thanh Nam) lỡ yêu sâu đậm bà Đại từ thuở trẻ. == Diễn viên == Miu Lê vai Thanh Nga (bà Đại lúc trẻ lại): một cô gái xinh đẹp, khoảng tuổi 20, giọng hát trong trẻo, nhưng vẫn còn nguyên dáng đi gù lưng, sự nóng tính, già dặn, tự nhiên đến mức vô duyên của một người già 70 tuổi. Do một sự may mắn có lại được tuổi thanh xuân, nên cô đã tranh thủ thực hiện những ước muốn thời trẻ chưa thực hiện được. Về sau vì cứu người cháu, cô chấp nhận truyền máu và trở lại là bà già như xưa. NSƯT Minh Đức vai bà Đại: một bà già 70 tuổi khó tính, góa chồng từ trẻ, 1 mình nuôi con nhỏ nên người. Bà có quan hệ không tốt với con dâu và nhiều người khác. Thực sự bà rất thương con cháu, và luôn nghĩ cho họ, nhưng do nóng nảy mà bà luôn bị hiểu lầm. Ngô Kiến Huy vai Tùng: cháu trai cưng của bà Đại, yêu thích âm nhạc và thích sáng tác, tay guitar và thủ lĩnh của ban nhạc Bầy Chó Hoang. Tuy nhiên những bài hát của cậu rất khó nghe và thường thất bại thảm hại. Cho đến khi gặp Thanh Nga - bà của cậu tuổi 20, cậu mới chịu thay đổi phong cách âm nhạc. Bầy Chó Hoang đã được lên biểu diễn tại các chương trình lớn, và sáng tác "Mình yêu từ bao giờ" của cậu đã trở thành hit. Hứa Vĩ Văn vai Mạnh Đức: một giám đốc sản xuất trẻ tuổi, đẹp trai, lịch lãm của đài truyền hình. Bị thu hút bởi giọng hát, cá tính của Thanh Nga, anh có tình cảm với cô. NSƯT Thanh Nam vai ông Bé: người bạn lâu năm của bà Đại, vốn yêu thầm bà Đại từ thời trẻ. Ông luôn bảo vệ bà Đại mỗi khi bà gặp chuyện, cũng như luôn tìm cách thể hiện tình yêu với bà. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện, nếu bà Đại tuổi 20 mất máu, bà sẽ lập tức bị lão hóa. Hari Won vai Min Ji: trợ lý xinh đẹp của giám đốc Mạnh Đức, luôn tìm cách tiếp cận tình cảm của anh. Cô xem Thanh Nga như là một tình địch nguy hiểm. Thu Trang vai Duyên: con gái ông Bé, một cô gái vô duyên, lỡ thì, luôn kèn cựa với Thanh Nga vì sợ cô giành mất tình cảm của cha mình. Lều Phương Anh vai Nhon: cháu gái bà Đại, tốt nghiệp ngành âm nhạc đã lâu nhưng vẫn thất nghiệp nằm dài ở nhà. Cô ghen tị với Thanh Nga, nên thường tỏ ra vô duyên và cư xử kém ý thức. Tuy nhiên cuối phim, cô đã trở thành ca sĩ hát chính trong ban nhạc Bầy Chó Hoang, thay thế vị trí của Thanh Nga bị "mất tích". Hồng Ánh vai bà Vy: con dâu bà Đại, một người phụ nữ nội trợ hiền lành, cam chịu trước sự khó tính của mẹ chồng. Đức Khuê vai ông Quang: con trai độc nhất của bà Đại. Hiểu được sự hi sinh của mẹ, ông đã cố gắng học tập và trở thành giảng viên đại học. Bà Đại luôn thích khoe thành tích ông với mọi người. Kim Xuân vai bà Xuân: Một phụ nữ lớn tuổi nhưng rất trẻ con, đồng bóng. Bà luôn tỏ ra quyến rũ và tươi trẻ một cách phản cảm. Bà rất thích ông Bé và luôn tìm cách thu hút sự chú ý của ông. Trung Dân vai chủ tiệm thuốc Phi Phụng vai chủ tiệm đồ lót Ngân Quỳnh vai bác sĩ Võ Ngọc Trai vai chàng trai trên xe buýt Duy Khánh Zhou Zhou vai MC chương trình ca nhạc Đàm Phương Linh vai MC chương trình ca nhạc David Phạm vai chàng trai ở hồ bơi Harry Lu vai chồng cũ của bà Đại Hà Linh vai thợ chụp ảnh Quốc Thuận vai chủ tiệm dép Annie Huỳnh Anh vai cô gái trên xe buýt Hồng Thắm vai bà Bảo Tiên Trọng Hiếu Idol vai ông Bé lúc trẻ lại == Nhạc phim == == Doanh thu == Em là bà nội của anh đạt được doanh thu hơn 85 tỷ đồng sau một tháng ra mắt và vượt qua Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh để trở thành bộ phim Việt Nam ăn khách nhất trong năm 2015. Bộ phim tiếp tục phá vỡ kỷ lục phòng vé và vượt mốc 100 tỷ đồng vào tháng 2 năm 2016. Ngày 17 tháng 2, với doanh thu 4,76 triệu USD (tính đến ngày 22 tháng 2 là 102 tỷ đồng), Em là bà nội của anh đã chính thức vượt qua Để Mai tính 2 để trở thành bộ phim Việt Nam có doanh thu lớn nhất từ trước tới nay. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Em là bà nội của anh tại Internet Movie Database Trailer phim.
khoa học thống kê.txt
Thống kê là nghiên cứu của tập hợp nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm phân tích, giải thích, trình bày và tổ chức dữ liệu. Chúng ta áp dụng thống kể để nghiên cứu các lĩnh vực khoa học, công nghiệp hoặc các vấn đề xã hội. Thống kê rất cần thiết để bắt đầu nghiên cứu một tiến trình. Ví dụ, tổng thể có thể gồm nhiều loại khác nhau như “tất cả mọi người đang sống trong một đất nước” hay “tập hợp các phân tử của tinh thể”. Nó đề cập tới tất cả các khía cạnh của dữ liệu bao gồm việc lập kế hoạch, thu thập dữ liệu mẫu cho các cuộc khảo sát và thí nghiệm. Trong trường hợp không thể thu thập được trong quá trình điều tra tổng thể, thống kê thu thập dữ liệu bằng cách phát triển các mẫu thí nghiệm và mẫu khảo sát cụ thể. Mẫu đại diện cần được đảm bảo rằng những suy luận và kết luận có thể tin cậy được từ đó suy ra toàn bộ tổng thể. Một nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc lấy kích thước mẫu, thao tác trên hệ thống và sau đó lấy kích thước mẫu cùng dạng để xác định xem các thao tác đã thay đổi giá trị của các phép đo. Ngược lại, một quan sát nghiên cứu không liên quan đến việc thực hiện thí nghiệm. Hai phương pháp thống kê chính được sử dụng trong phân tích dữ liệu: thống kê mô tả, đây là phương pháp tóm tắt dữ liệu từ một mẫu sử dụng các chỉ số như là giá trị trung bình hoặc độ lệch chuẩn, và thống kê suy luận, rút ra kết luận từ dữ liệu biến thiên ngẫu nhiên (ví dụ: các sai số quan sát, mẫu của tổng thể). Thống kê mô tả được sử dụng thường xuyên nhất với hai thuộc tính phân phối (mẫu hoặc tổng thể): chiều hướng trung tâm (hoặc vị trí) tìm cách để mô tả giá trị trung bình hoặc giá trị đặc trưng của phân phối, trong khi phân tán (hoặc thay đổi) mức độ đặc trưng mà các thuộc tính của phân phối đi trệch so với nghiên cứu. Suy luận về thống kê toán học được thực hiện trong khuôn khổ của lý thuyết xác suất, trong đó đề cập tới việc phân tích các hiện tượng ngẫu nhiên. Để thực hiện một suy luận khi chưa biết số lượng, hoặc nhiều ước lượng được đánh giá bằng cách sử dụng mẫu. Thủ tục thống kê tiêu chuẩn liên quan đến sự phát triển của một giả thuyết vô nghĩa ban đầu là không có mối quan hệ nào giữa hai đại lượng. Loại bỏ hoặc bác bỏ giả thuyết này là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giải thích những quan điểm mới của khoa học thống kê, đưa ra một ý nghĩa chính xác trong đó một giả thuyết được chứng minh là sai. Những gì thống kê gọi là một giả thuyết khác chỉ đơn giản là một giả thuyết trái với giả thuyết vô nghĩa. Phân tích từ một giả thuyết hai hình thức cơ bản của lỗi này được ghi nhận: sai số loại I (giả thuyết vô nghĩa sai bị bác bỏ cho một tính chất xác thực không đúng) và sai số loại II (giả thuyết không được bác bỏ và sự khác biệt thật sự giữa các tổng thể được bỏ qua cho một phủ định sai). Một việc quan trọng là tập hợp các giá trị của các ước lượng dẫn đến bác bỏ giả thuyết vô nghĩa. Do đó sai số của xác suất loại I là xác suất các ước lượng thuộc các miền quan trọng cho rằng giả thuyết đúng (có ý nghĩa thống kê) và sai số của xác suất loại II là xác suất mà các ước lượng không phụ thuộc các lớp quan trọng được đưa ra rằng giả thuyết thay thế là đúng. Các chính sách thống kê của một bài đánh giá xác suất đúng khi bác bỏ giả thuyết vô nghĩa khi giả thuyết là sai. Nhiều vấn đề đã được liên kết với khôn khổ: từ việc có được một cỡ mẫu đủ để xác định một giả thuyết vô nghĩa thích hợp. Quy trình đánh giá tạo ra các dữ liệu thống kê cũng có thể bị lỗi. Nhiều trong số các lỗi này được phân loại ngẫu nhiên (noise - dữ liệu vô nghĩa) hoặc có hệ thống (bias – độ sai lệch), nhưng các loại khác của sai lệch (ví dụ, sai lệch khi một báo cáo phân tích của các đơn vị không đúng) cũng rất quan trọng. Sự xuất hiện của dữ liệu bị thiếu/ hoặc sự kiểm tra có thể dẫn đến các ước tính có sai số và cần phát triển kỹ thuật cụ thể để giải quyết những vấn đề này. Khoảng tin cậy cho phép các nhà thống kê thể hiện rõ ràng các mẫu ước lượng phù hợp với các giá trị có nghĩa trong toàn bộ dân số. Độ tin cậy chính thức 95% cho một giá trị là một phạm vi rộng, nếu lấy mẫu và phân tích được lặp lại trong cùng điều kiện (cho ra một bộ dữ liệu khác nhau). Miền giá trị sẽ bao gồm những giá trị thực (dân số) trong 95% của tất cả các trường hợp có thể xảy ra. Trong thống kê, biến phụ thuộc là bất kỳ mối quan hệ thống kê giữa hai biến ngẫu nhiên hoặc hai bộ dữ liệu. Sự tương quan đề cập đến bất kỳ một lớp chung nào của các quan hệ thống kê liên quan đến sự phụ thuộc. Nếu hai biến có liên quan, chúng có thể có hoặc không thể là biến nguyên nhân của các yếu tố khác. Các hiện tượng tương quan có thể được gây ra bởi một hiện tượng trước đó không được chú ý đến bởi một biến thứ ba, biến không được xuất hiện trước đó, được gọi là biến ẩn hoặc biến nhiễu. Thống kê có thể được cho là đã bắt đầu trong nền văn minh cổ xưa, phát triển trước đó ở cuối thế kỷ thứ 5 TCN, nhưng nó đã không kéo dài cho đến thế kỷ 18, khi kỹ thuật thống kê bắt đầu kiểm tra độ chính xác của dữ liệu nhiều hơn từ việc tính toán và dựa trên lý thuyết xác suất thống kê. Thống kê tiếp tục là một lĩnh vực nghiên cứu thiết thực, ví dụ như nghiên cứu một vấn đề làm sao để phân tích lượng dữ liệu lớn hơn. == Quy mô == Thống kê là một phần toán học của khoa học gắn liền với tập hợp dữ liệu, phân tích, giải thích hoặc thảo luận về một vấn đề nào đó, và trình bày dữ liệu, hay là một nhánh của toán học. Có thể xem thống kê là một môn khoa học riêng biệt chứ không phải là một nhánh của toán học. === Toán thống kê === Toán thống kê là ứng dụng của toán học để thống kê, ban đầu được hình thành như là khoa học của nhà nước – tập hợp dữ liệu và phân tích các dữ liệu về một đất nước: kinh tế, đất đai, quân sự, dân số... Kỹ thuật toán học được sử dụng bao gồm các phân tích toán học, đại số tuyến tính, phân tích ngẫu nhiên, phương trình vi phân, lý thuyết xác suất và thống kê toán. == Tổng quan == Khi ứng dụng thống kê cho một vấn đề khoa học, ngành công nghiệp, hoặc một vấn đề xã hội...rất cần thiết để bắt đầu với việc thống kê tổng thể hoặc tiến trình nghiên cứu. Nghiên cứu về tổng thể có thể có nhiều chủ đề như “tất cả những người đang sống trong một nước” hay “mỗi nguyên tử tạo nên tinh thể”. Các nhà thống kê tổng hợp dữ liệu về toàn bộ tổng thể (hoạt động điều tra mẫu tổng thể). Điều này có thể được thống kê bởi Viện thống kê chính phủ. Thống kê mô tả có thể được sử dụng để tổng hợp các số liệu tổng thể. Mô tả bằng các con số bao gồm để lệch trung bình và độ lệch chuẩn cho các dữ liệu liên tục (như thu nhập), trong khi tần số và tỷ lệ phần trăm hiệu quả hơn về mô tả các loại dữ liệu. Khi một cuộc điều tra mẫu tổng thể không thể thực hiện được, ta lụa chọn một tập hợp con của dân số, đó được gọi là một mẫu nghiên cứu. Khi mẫu đó là đại diện của mẫu tổng thể được xác định, dữ liệu được tập hợp cho các biến trong mẫu quan sát hoặc mẫu thực tế. Một lần nữa thống kê mô tả có thể được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu mẫu. Tuy nhiên, các bản thiết kế mẫu đã bị tác động bởi một yếu tố ngẫu nhiên, do đó việc thành lập số mẫu mô tả cũng không được chắc chắn. Để rút ra kết luận có ý nghĩ về toàn bộ tổng thể, thống kê suy luận là rất cần thiết. Nó sử dụng mẫu trong dữ liệu mẫu để suy luận về tổng thể, mô tả ngẫu nhiên. Những suy luận có thể mang hình thức trả lời có hoặc không các câu hỏi về dữ liệu (kiểm định giả thuyết), ước tính số lượng dữ liệu (ước tính), mô tả các liên kết của dữ liệu (tương quan) và các mối quan hệ của các mẫu trong dữ liệu (ví dụ sử dụng phân tích hồi quy). Suy luận có thể mở rộng để dự báo, tiên đoán và ước tính giá trị không được chứ ý đến hoặc sự liên kết với tổng thể được nghiên cứu. Nó có thể bao gồm các biến ngoại suy hoặc biến nội suy của chuỗi thời gian hoặc dữ liệu không gian, và khai thác dữ liệu. == Thu thập dữ liệu == === Phương pháp chọn mẫu === Trong bộ dữ liệu điều tra tổng thể, trường hợp không thể thu thập số liệu, dữ liệu thống kê phân tích được phát triển bằng các thiết kế thử nghiệm cụ thể và các mẫu khảo sát. Thống kê chính là việc cung cấp công cụ để nói trước và dự báo việc sử dụng các dữ liệu thông qua các mô hình thống kê. Để sử dụng một mẫu như một thông tin hướng dẫn cho toàn bộ tổng thể, điều quan trọng là nó thực sự đại diện cho mẫu tổng thể. Lấy mẫu đại diện phải đảm bảo rằng nó được suy luận và kết luận một cách chính xác từ việc chọn mẫu cho toàn bộ tổng thể. Một vấn đề lớn nhằm làm tăng kích cỡ mẫu được lựa chọn là mẫu đại diện. Thống kê cung các phương pháp thiết kê thử nghiệm mẫu, các thử nghiệm này có thể làm giảm bớt các vấn đề ở việc bắt đầu nghiên cứu, tăng khả năng nhận biết các mẫu tin tưởng về mẫu thống kê. Lý thuyết chọn mẫu là một phần của lý thuyết xác suất thống kê toán. Xác suất được sử dụng trong “toán học thống kê” (cách khác “lý thuyết thống kê”) để nghiên cứu sự phân bố lấy mẫu thống kê mẫu và các tính chất của thủ tục thống kê. Việc sử dụng các phương pháp thống kê là được chấp nhận khi các phương pháp hoặc thống kê mẫu tổng thể đủ thông tin để chấp nhận giả thuyết. Sự khác biệt trong quan điểm giữa lý thuyết xác suất cổ điển và lý thuyết xác suất lấy mẫu là xấp xỉ, lý thuyết xác suất bắt đầu từ các tham số cho tổng quy mô mẫu để suy ra xác suất mẫu. Tuy nhiên phương pháp thống kê phát triển theo hướng đối lập – quy nạp từ các mẫu để các thông số lớn hơn hoặc tổng quy mô mẫu. === Các nghiên cứu thực nghiệm và quan sát === Mục đích cho một dự án nghiên cứu thống kê là điều tra nguyên nhân, và từ đó rút ra kết luận của những thay đổi ảnh hưởng đến giá trị các nhân tố ảnh hưởng hoặc các biến độc lập dựa trên các biến phụ thuộc hoặc trả lời cho nghiên cứu. Có hai loại chính của nghiên cứu thống kê các biến nguyên nhân: nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu quan sát. Cả hai loại nghiên cứu này đều có sự tác động của biến độc lập (hoặc các biến) về hành vi của các biến phụ thuộc được quan sát. Sự khác biệt giữa hai biến này nằm ở cách nghiên cứu dựa trên thực tế. Mỗi biến có thể có ý nghĩa. Nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc lấy kích thước mẫu nghiên cứu, thao tác hệ thống và thêm vào kích thước mẫu sử dụng cho quá trình lấy mẫu, sau đó lấy mẫu bổ sung để xác định các thao tác sử đổi giá trị của các phép đo. Ngược lại, một nghiên cứu quan sát không liên quan đến thao tác thực nghiệm. Thay vào đó, dữ liệu được thu thập và mối tương quan giữa các yếu tố dự báo và trả lời cho các khám phá và kiểm tra. Trong khi các công cụ của việc phân tích dữ liệu có kết quả tốt từ việc phân tích ngẫu nhiên, cũng có thể áp dụng cho các loại dử liệu khác- như nghiên cứu tự nhiên và nghiên cứu quan sát – mà một nhà thống kê sẽ sử dụng như biến thay thế, nhiều lý thuyết đánh giá có cấu trúc (ví dụ: sự khác biệt trong các đánh giá khác nhau và biến đo lường thông tin, trong rất nhiều biến khác) cung cấp kết quả phù hợp cho các nhà nghiên cứu. == Các thực nghiệm == Các bước cơ bản của một nghiên cứu thống kê là: Lập kế hoạch nghiên cứu, bao gồm việc tìm kiêm số liệu để trả lời cho các nghiên cứu. Sử dụng các thông tin sau: ước tính sơ lược về kích thước của hiệu quả điều tra, các giả thuyết, các biến khảo sát dự định. Xem xét việc lựa chọn đối tượng khảo sát và đúng quy trình nghiên cứu. Các nhà thống kê cho rằng nên so sánh thử nghiệm một cách đáng tin cậy với tiêu chuẩn mẫu hoặc tiêu chuẩn so sánh một kết quả nghiên cứu. Chấp nhận ước lượng không chệch của mức ý nghĩa đáng tin cậy. Thiết kế nghiên cứu nhằm ngăn sự ảnh hưởng của các biến gây nhiễu và phân bố mẫu ngẫu nhiên của hệ số tin cậy cho các đối tượng để ước lượng không chệch của mức ý nghĩa đáng tin cậy và sai sót trong nghiên cứu. Ở giai đoạn này, các thí nghiệm và các thống kê viết giao thức nghiên cứu mà chính việc hướng dẫn thực hiện các thí nghiệm và chỉ ra những phân tích ban đầu của các dữ liệu nghiên cứu. Kiểm tra các nghiên cứu sau các giao thức thử nghiệm và phân tích dữ liệu và phân tích Kiểm tra thêm các dữ liệu thiết lập trong phân tích thứ cấp, đề xuất giả thuyết mới cho các nghiên cứu sau này. Tìm kiếm tài liệu và trình bày kết quả nghiên cứu. Các thí nghiệm về nghiên cứu hành vi con người có mối liên quan đặc biệt. Các nghiên cứu nối tiếng của Hawthorne, nghiên cứu về những thay đổi trong môi trường làm việc tại nhà máy Hawthorne của Công ty Western Electric. Các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc xác định liệu tăng việc chiếu sáng có tăng năng suất làm việc của công nhân lắp ráp. Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã đo năng suất trong nhà máy, sau đó biến đổi sự chiếu sáng trong một khu vực của nhà máy và kiểm tra xem có ảnh hưởng của thay đổi ánh sáng đến năng suất hay không. Nghiên cứu cho thấy năng suất thực sự được cải thiện (dựa theo các điều kiện thử nghiệm). Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ ra các sai sót trong quá trình thí nghiệm, đặc biệt là thiếu các nhóm kiểm soát và thông tin mờ nhạt. Các hiệu ứng Hawthorne đề cập đến việc tìm kiếm một kết quả (trong trường hợp này là năng suất lao động) thay đổi do sự quan sát. Những người trong các nghiên cứu Hawthorne làm việc có hiệu quả không phải vì thay đổi ánh sáng, mà vì họ đang được quan sát. === Nghiên cứu quan sát === Một ví dụ của nghiên cứu quan sát là một trong những khám phá sự tương quan giữa giữa việc hút thuốc là và ung thư phổi. Nghiên cứu này thường sử dụng việc điều tra để thu thập các quan sát về các khu vực tham gia nghiên cứu và sau đó thực hiện các phân tích thống kê. Trong trường hợp này, những nhà nghiên cứu thu thập các quan sát của những người hút thuốc và không hút thuốc, có thể thông qua một nghiên cứu về bệnh chứng, và sau đó tìm số liệu các trường hợp ung thư phổi trong mỗi nhóm điều tra. == Các kiểu dữ liệu == Các biến thử khác nhau đã được tạo ra để phân loại mức độ đo lường. Các nhà tâm lý Stanley Smith Stevens đã xác định thang đo danh nghĩa, thứ tự, khoảng thời gian và tỷ lệ đo. Thang đo danh nghĩa không có thứ tự xếp hạng có ý nghĩa trong các giá trị, và cho phép chuyển đổi một-một. Thang đo thứ tự có sự khác biệt chính xác giữa các giá trị liên tiếp, nhưng có một thứ tự có ý nghĩa giá trị và cho phép bất kỳ chuyển đổi nào để chuyển đổi. Đo khoảng thời gian có ý nghĩa và khoảng cách giữa các phép đo được xác định, nhưng giá trị bằng không là tùy ý (như trong trường hợp số dô kinh độ và độ C hoặc độ F), và cho phép bất kỳ chuyển đổi truyến tính. Đo tỷ lệ có cả một giá trị số không có ý nghĩa và khoảng cách giữa các phép đo khác nhau được xác định, và cho phép chuyển đổi sang sự thay đổi tỷ lệ. Vì các biến chỉ phù hợp cho thang đo danh nghĩa hoặc thang đo thứ tự, không thể đo lường một cách hợp lý về số lượng, đôi khi chúng được nhóm lại với nhau như các biến phân loại, trong khi thang đo tỷ lệ và thang đo thời gian được nhóm lại với nhau như là các biến định tính, những biến có thể rời rạc hoặc liên tục do tính chất số lượng. Chúng thường được phân biệt như vậy thường ít tương quan với các dữ liệu trong nghiên cứu khoa học lưu trữ và phân tích thông tin được đưa vào. Trong đó các biến phân loại phân đôi có thể được đại diện với các kiểu dữ liệu Boolean (sử dụng hệ thống dữ liệu lý luận như AND, OR, NOT để xác định quan hệ giữa các thực thể), biến phân loại Polytomous với số nguyên....và các biến liên tục với các loại dữ liệu nghiên cứu khoa học lưu trữ và phân tích thông tin được đưa vào. Nhưng các bản đồ của các kiểu dữ liệu khoa học lưu trữ và phân tích thông tin đưa vào với các loại dữ liệu thống kê phụ thuộc vào phân loại sau khi được thực hiện. Có nhiều phân tích khác đã được đề xuất. Ví dụ, Mosteller và Tukey (1977) phân lớp, phân bậc, tính phân số, đếm, tổng số lượng và cân bằng. Nelder (1990) mô tả tính liên tục, chỉ số liên tục, tính tỷ lệ và chế độ phân loại của dữ liệu. Cũng như Chrisman (1998) và Van Den Berg (1991) . Vấn đề có thích hợp hay không để áp dụng các loại khác nhau của các phương pháp thống kê số liệu thu được từ các loại khác nhau của các phương pháp đo lường phức tạp do các vấn để liên quan đến việc chuyển đổi các biến và giải thích chính xác các câu hỏi đặt ra nghiên cứu. “mối quan hệ giữa các dữ liệu và những gì dữ liệu mô tả đơn thuần phản ánh một thực tế là một số loại báo cáo thống kê có thể có giá trị chân lý đó không phải là bất biến theo một số biến thay đổi. Có hay không một sự chuyển đổi hợp lý để chiêm ngưỡng phụ thuộc vào câu hỏi ai đang cố gắng để trả lời”. (Hand, 2004, p. 82) == Thuật ngữ và lý thuyết của thống kê suy luận == === Thống kê, ước tính và số lượng chính === Hãy xem xét một mẫu các phân phối độc lập có cùng tính chất, các biến ngẫu nhiên với một phân phối xác suất nhất định: suy luận thống kê và lý thuyết tính toán xác định một mẫu ngẫu nhiên là vec-tơ ngẫu nhiên được đưa ra bởi các vec-tơ theo cột của các biền phân phối độc lập có cùng tính chất. Tổng thể được chọn làm mẫu được mô tả bởi một phân phối xác suất mà có thể có tham số chưa biết. Một thống kê là một biến ngẫu nhiên, đó là một chức năng của các mẫu ngẫu nhiên, nhung không phải là chức năng của các tham số chưa biết. Mặc dù các phân phối mẫu của xác suất thống kê có thể có tham số chưa biết. Xem xét chức năng của các tham số chưa biết: một ước lượng là một thống kê được sử dụng để ước lượng hàm này. Ước lượng thường được sử dụng bao gồm ý nghĩa của mẫu khảo sát, không gồm mẫu phương sai và hiệp phương sai mẫu. Biến ngẫu nhiên là một hàm của mẫu ngẫu nhiên và các tham số chưa biết, nhưng có phân phối xác suất không phụ thuộc vào các tham số chưa biết, được gọi là một đại lượng quan trọng hay biến phụ thuộc. Sử dụng biến phụ thuộc bao gồm các chỉ số z, các số liệu thống kê chi bình phương và giá trị t-value của phân phối Student. Giữa hai ước lượng của một tham số cho trước, với ước lượng điểm trung bình bình phương được cho rằng có hiệu quả hơn. Hơn nữa một ước lượng được cho là giá trị tiệm cận nếu giá trị kỳ vọng của nó bằng với giá trị thực của tham số chưa biết được ước tính, và là giá trị tiệm cận nếu giá trị kỳ vọng của nó hội tụ ở giới hạn với giá trị thực của tham số như vậy. Các đặc tính thích hợp để ước lượng bao gồm: ước lượng UMVUE có phương sai nhỏ nhất cho tất cả các giá trị có thể có của các tham số ước lượng (đây thường là các đặc tính dễ dàng để xác minh hiệu quả) và đánh giá phù hợp cùng quy về trong xác suất để đúng với giá trị của tham số. Điều này vẫn còn để lại những câu hỏi làm thế nào để có ước lượng trong một tình huống nhất định và thực hiện các tính toán, một phương pháp đã được đề xuất: các phương pháp trong thời điểm hiện tại, những phương pháp likelihood lớn nhất, phương pháp bình phương nhỏ nhất và phương pháp gần nhất của ước lượng phương trình. === Giả thuyết vô nghĩa và các giả thuyết thay thế === Giải thích thông tin thống kê có thể bao gồm sự phát triển của một giả thuyết trong đó giả định rằng bất cứ điều gì xảy ra được đề xuất như là một nguyên nhân không có hiệu quả trên các biến đo lường. Minh họa tốt nhất cho một người mới làm thống kê là gặp phải tình trạng khó khăn khi thử nghiệm với những người khảo sát. Các giả thuyết không có giá trị H0, khẳng định rằng bị cáo là vô tội, trong khi các giả thuyết khác H1, khẳng định rằng bị cáo có tội. Bản cáo trạng đưa ra những nghi ngờ về việc có tội. Các giả thuyết H0 (hiện trạng) đối lập với giả thuyết H1 và được tồn tại khi H1 được hỗ trợ bằng các chứng cứ “bác bỏ những điều vô lý”. Tuy nhiên “không đạt yêu cầu để bác bỏ giả thuyết H0” trong trường hợp không bao gồm tính vô tội, nhưng chỉ đơn thuần là không đủ bằng chứng để buộc tội. Vì vậy, người được khảo sát không nhất thiết phải chấp nhận H0 nhưng không bác bỏ H0. Trong khi người ta không thể “chứng minh” một giả thuyết, người ta có thể kiểm tra xấp xỉ để đưa ra phương pháp thử nghiệm, phương pháp kiểm tra các sai số loại II. Những gì các nhà thống kê gọi là một giả thuyết có một hoặc hai khả năng xảy ra chỉ đơn giản là một giả thuyết trái ngược với giả thuyết vô nghĩa. === Sai số === Tác động từ giả thuyết hai loại sai số cơ bản được ghi nhận: Sai số loại I là giả thuyết rỗng bị bác bỏ là sai khi “bác bỏ phủ định”. Sai số lại II là giả thuyết không rỗng được bác bỏ để loại bỏ và sự khác biệt trên thực tế giữa các quần thể được bỏ qua cho một “bác bỏ khẳng định” Độ lệch chuẩn đề cập đến mức độ các quan sát cá nhân trong mẫu khác với một giá trị trung tâm, chẳng hạn như các mẫu hoặc ý nghĩa tổng thể, trong khi sai số chuẩn đề cập đến một ước tính của sự khác biệt giữa trung bình mẫu và ý nghĩa tổng thể. Một lỗi thống kê là số lượng mà một quan sát khác với giá tị kỳ vọng của nó, giá trị thặng dư là số lượng một quan sát khác với giá trị ước lượng giả định giá trị dự kiến về một mẫu nhất định (còn gọi là dự đoán). Sai số bình phương có nghĩa khi được sử dụng cho việc ước lượng hiệu quả thu thập dữ liệu, một lớp được sử dụng rộng rãi trong ước lượng. Sai số căn bậc hai đơn giản là căn bậc hai của sai số căn bậc hai có nghĩa. Nhiều phương pháp thống kê nhằm giảm thiểu tổng giá trị thặng dư của bình phương, và chúng được gọi là “phương pháp bình phương nhỏ nhất” trái ngược với độ lệch chuẩn nhỏ nhất. Sau đó cung cấp cung cấp số lượng bằng với các lỗi nhỏ và lớn, trong khi trước đây chỉ ra rõ các sai số lớn hơn. Tổng giá trị thặng dư của giá trị bình phương có thể phân biệt được, nó cung cấp thuộc tính có ích để tính hàm hồi quy. Bình phương tối thiểu áp dụng hồi quy tuyến tính được gọi là bình phương nhỏ nhât thông thường và bình phương nhỏ nhất chấp nhận cho hàm hồi quy phi tuyến tính được gọi là bình phương tối thiểu phi tuyến tính. Cũng trong một mô hình hồi quy tuyến tính các phần không xác định của mô hình được gọi là sai số giới hạn, bị nhiễu hoặc có thể là dữ liệu thừa. Tiến trình đo lường tạo ra số liệu thống kê cũng có thể có sai số. Nhiều trong số các sai số này được phân loại ngẫu nhiên (dữ liệu thừa) hoặc hệ thống (độ sai lệch), nhưng các loại sai số khác (ví dụ: sai lệch, chẳng hạn như khi một báo cáo phân tích của các đơn vị không chính xác) cũng quan trọng. Sự xuất hiện của dữ liệu bị mất và/ hoặc kiểm định, điều này có thể dẫn đến ước lượng sai lệch và từ đó đã phát triển một phương pháp cụ thể để giải quyết vấn đề này. === Ước lượng theo khoảng === Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra là một phần của một mẫu tổng thể, vì vậy kết quả không hoàn toàn đại diện cho toàn bộ tổng thể. Bất kỳ ước tính thu được từ mẫu chỉ gần đúng với giá trị tổng thể. Khoảng tin cậy cho phép các nhà thống kê thể thiện chặt chẽ các mẫu dự tính phù hợp với các giá giá trị thực trong toàn bộ tổng thể. Thông thường chúng được thể hiện ở khoảng tin cậy 95%. Chính thức khoảng tin cậy 95% cho một giá ở phạm vi rộng, nếu lấy mẫu và phân tích được lặp đi lặp lại trong cùng một điều kiện (cho ra bộ dữ liệu khác nhau), khoảng cách giữa hai giá trị sẽ bao gồm giá trị thật (tổng thể) đạt 95% giá trị trong tổng số các trường hợp có thể xảy ra. Điều này không có nghĩa là xác suất mà giá trị thực trong khoảng tin cậy là 95%. Từ những quan điểm, kết luận như vậy là không có nghĩa, như là giá trị thực không phải là một biến ngẫu nhiên. Hoặc là giá trị thực hoặc trong phải trong một khoảng tin cậy. Tuy nhiên, sự thật là trước khi bất kỳ dữ liệu nào được lấy mẫu và đưa ra kế hoạch làm thế nào để tạo ra khoảng tin cậy, xác suất là 95% cho khoảng tin cậy chưa được thống kê sẽ bao gồm các giá trị đúng: tai thời điểm này, giớí hạn của khoảng tin cậy là các biến ngẫu nhiên chưa được quan sát. Một phương pháp mà không mang lại một khoảng tin cậy được hiểu là một xác suất nhất định có chứa các giá trị thực sử dụng trong một khoảng tin cậy từ thống kê Bayesian: phương pháp này phụ thuộc vào cách giải thích khác nhau thế nào là “xác suất”, đó như là xác suất Bayesian. Trong nguyên tắc chọn khoảng tin cậy có thể được đối xứng hoặc không đối xứng. Một khoảng tin cậy có thể không đối xứng vì nó hoạt động thấp hơn hoặc cao hơn các ràng buộc cho một tham số (khoảng tin cậy phía trái hoặc phải), nhưng nó cũng có thể là không đối xứng vì khoảng hai chiều được xây dựng đối xứng trong dự tính. Đôi khi các giới hạn cho một khoảng tin cậy đạt được tiệm cận và được sử dụng để ước tính giới hạn. === Mức ý nghĩa === Thống kê hiếm khi chỉ trả lời các câu hỏi dưới dạng có/không dưới các phân tích. Sự giải thích thường đi xuống đến mức ý nghĩa thống kê áo dụng với số lượng và thường đề cập đến xác suất của một giá trị chính xác từ chối giả thuyết rỗng (có thể xem như là giá trị p-value). Phân phối chuẩn là để thử nghiệm một giả thuyết đối với một giả thuyết khác. Một miền quan trọng là đê tập hợp các giá trị của các ươc lượng dẫn dến bác bỏ giả thuyết rỗng. Do đó xác suất của sai số loại I là xác suất mà các ước lượng thuộc các khu vực quan trọng cho rẳng giải thuyết đúng (có ý nghĩa thống kê) và xác suất sai số loại II là xác suất mà các ước lượng không thuộc miền quan trọng được ddauw ra bằng giả thuyết thay thế là đúng. Các số lượng thống kê của một thử nghiệm là xác suất mà nó đúng bác bỏ giả thuyết rỗng khi giả thuyết là sai. Đề cập đến mức ý nghĩa thống kê không nhất thiết là kết quả của tổng thể so với số hạng thực. Ví dụ, trong một nghiên cứu lớn về một loại thuốc có thể chỉ ra rằng thuốc có tác dụng mang lạ lợi ích đáng kể về mặt thống kê nhưng rất nhỏ, như vậy loại thuốc này dường như không có khả năng tác dụng nhiều cho bệnh nhân. Trong khi về nguyên tắc mức chấp nhận ý nghĩa được thống kê có phải xem xét vấn đề, các giá trị p-value là mức ý nghĩa nhỏ nhất cho phép thử nghiệm để bác bỏ giả thuyết. Kết quả tương đương nói rằng các giá trị p-value là xác suất, giả định giả thuyết là đúng, kết quả quan sát là cực kỳ thấp như kiểm định thống kê. Do đó gái trị p-value càng nhỏ, xác suất sai số loại I càng thấp. Một vấn đề thường xảy ra với loại này: Một sự khác biệt đó là có ý nghĩa thống kê cao vẫn có thể không có ý nghĩa, nhưng nó có thể phát biểu đúng các kiểm định trong thống kê. Một câu trả lời trở thành giả thuyết chỉ có mức ý nghĩa bao gồm các giá trị p-value, tuy nhiên không biết được kích thước hay tầm quan trọng của kiểm định quan sát được và cũng có thể kết luận được tầm quan trọng của các khác biệt nhỏ trong các nghiên cứu lớn. Một cách tiếp cận tốt hơn và ngày càng phổ biến là để báo cáo khoảng tin cậy. Mặc dù chúng được đưa ra từ việc tính toán tương tự như những kiểm định giả thuyết hoặc giá trị p-value, mô tả kích thước của ảnh hưởng và những điều không chắc chắn. Độ sai lệch của thay đổi điều kiện, những ý kiến sai lầm của Aka: những lời phê bình chỉ ra các giá trị để kiểm định giả thuyết (giả thuyết vô nghĩa) được ưa chuộng, vì xác suất của kết quả của giả thuyết vô nghĩa đưa ra kết quả quan sát được. Một thay thế cho phương pháp này được đưa ra bởi suy luận Bayesian, mặc dù nó đòi hỏi việc một xác suất cho trước. Bác bỏ giả thuyết không tự động chứng minh được giả thuyết thay thế. Như tất cả mọi thứ trong thống kê suy luận nó dựa vào kích thước mẫu, và do đó dưới miền giá trị p-value giá trị cso thể không được tính. === Các ví dụ === Một số thử nghiệm và thống kê nổi tiếng là: Phân tích phương sai (ANOVA) Kiểm định chi bình phương Sự tương quan Phân tích nhân tố Mann-Whiteney Độ lệch chuẩn ý nghĩa bình phương Hệ số tương quan Pearson Phân tích hồi quy Thứ bậc hệ số tương quan của Spearman Kiểm định t-test Chuỗi thời gian == Sử dụng thống kê sai == Sử dụng sai mục đích các số liệu thống kê có thể có những kết quả không lường được, những sai số nghiêm trọng trong mô tả và giải thích sai ý nghĩa ngay cả các chuyên gia có kinh nghiệm cũng có các lỗi như vậy, và nghiêm trọng là chúng có thể dẫn đến đưa ra quyết định sai. Ví dụ chính sách xã hội, nghề thuốc, và độ tin cậy của cấu trúc dựa trên các số liệu thống kê. Ngay cả khi các kỹ thuật thống kê được áp dụng một cách chính xác, kết quả có thể khó để giải thích cho những người thiếu chuyên môn. Ý nghĩa thống kê của một phương pháp có thể được gây ra bởi sự thay đổi ngẫu nhiên trong mẫu, có thể hoặc không thể đồng ý với đánh giá trực quan của mức ý nghĩa. Tập hợp các kỹ năng thống kê cơ bản mà mọi người cần phải thỏa thuận với các thông tin trong cuộc sống hàng ngày như một kỹ năng trong lĩnh vực thống kê. Có ý kiến cho rằng kiến thức thống kê được cho là bị lạm dụng một các quá bình thường bằng cách tìm ra hướng để giải thích các dữ liệu có ích cho người trình bày. Một sự nghi ngờ và tìm hiểu sai về số liệu thống kê được kết hợp với các trích dẫn, “có ba loại của sự lừa dối: dối trá, rất dối trá và thông kê”. Lạm dụng các số liệu thống kê có thể có được kể cả vô ý và có chủ ý, và cuốn sách làm thế nào đề nói dối các nhà thống kê đã chỉ ra một loạt các quyết định. Trong một nỗ lực để làm sáng tỏ việc sử dụng và lạm dụng các số liệu thống kê, đánh giá các kỹ thuật thống kê được sử dụng trong các lĩnh vực cụ thể được thực hiện (ví dụ: Warne, Lazo, Ramos, and Ritter). Cách để tránh số liệu thống kê bao gồm sử dụng sở đồ thích hợp và ngăn ngừa sai số. Sử dụng sai số có thể xảy ra khi kết luận là sai số quá lớn và yêu cầu có tính đại diện hơn so với giá trị thật, thường là có ý hay vô ý không nhận thấy ra sai số mẫu. Đồ thị dạng cột được cho là biểu đồ đơn giản nhất để sử dụng và hiểu, các biểu đồ này có thể vẽ bằng tay hoặc bằng các chương trình máy tính đơn giản. Nhưng hầu hết mọi người đều không nhìn ra giá trị sai lệch hay sai số, vì vậy những lỗi sai này không được sửa chữa. Nên mọi người thường tin vào kết quả ngay cả khi nó không phải là kết quả tốt. Để làm cho dữ liệu thu thập được từ các số liệu thống kê đang tin cậy và chính xác, mẫu được chọn phải có tính tổng thể. Theo Huff, “độ tin cậy của một mẫu có thể bị phá hủy giá trị sai lệch, cho phép một số mức độ hoài nghi” Để hỗ trợ cho sự hiểu biết của các số liệu thống kê, Huff đã đề xuất một loạt các câu hỏi được hỏi trong mỗi trường hợp: Ai nói vậy? Làm thế nào để anh/chị biết Những gì còn thiếu Có ai thay đổi nội dung Nó có ý nghĩa không === Hiểu sai mối tương quan === Các khái niệm về mối tương quan đặc biệt đáng chú ý cho những rắc rối tiềm ẩn có thể xảy ra. Phân tích thống kê của một tập dữ liệu thường cho thấy rằng hai biến (thuộc tính) của tổng thể được xem xét dưới nhiều trường hợp khác nhau, như chúng có mối quan hệ. Ví vụ, một nghiên cứu về thu nhập hàng năm mà dựa vào độ tuổi có thể cho thấy rằng người nghèo có xu hướng có cuộc sống ngắn hơn so với người giàu. Hai biến được cho là có quan hệ, tuy nhiên, no có thể có hoặc không biến khác. Các hiện tượng tương quan có thể được giải thích bởi một hiện tượng trước đây không được xem xét đến như một yếu tố thứ ba, gọi là biến nhiễu hoặc biến bác bỏ. Vì lý do này, không còn cách nào để lập tức suy ra sự tồn tại của một quan hệ nhân quả giữa hai biến. (xem tương quan nào không đưa đến kết quả). == Lịch sử của khoa học thống kê == Phương pháp thống kê đã tồn tại ít nhất là thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Một số học giả xác định được nguồn gốc của số liệu thống kê đến năm 1663, với các ấn phẩm của tự nhiên và quan sát chính trị Bills do John Graunt. Ứng dụng đầu tiên của thống kê xoay quanh nhu cầu chính sách các quốc gia trên cơ sở dữ liệu nhân khẩu học và kinh tế, do đó hình thành ngành nghiên cứu nguồn gốc thống kê. Phạm vi của các môn học thống kê mở rộng trong những năm đầu thế kỷ 19 bao gồm việc thu thập và phân tích dữ liệu nhưng không chuyên sâu. Ngày ngay, thống kê được sử dụng rộng rãi hơn trong chính phủ, kinh doanh, khoa học tự nhiên và xã hội. Cơ sở hình thành toán học đã được đưa ra vào thế kỷ 17 với sự phát triển lý thuyết xác suất của Blaise Pascal và Pierre de Fermat. Lý thuyết xác suất toán xuất phát từ việc nghiên cứu trò chơi may rủi, mặc dù khái niệm xác suất đã được nghiên cứu trong thời trung cổ và luật của các triết gia như Juan Caramuel. Các phương pháp bình phương nhỏ nhất đã được mô tả đầu tiên bởi Adrien-Mrie Legendre vào năm 1805. Các lĩnh vực hiện đại của số liệu thống kê xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 trong 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên, vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, được dẫn dắt bởi các công việc của Sir Francis Galton và Karl Pearson, đã trở thành một hệ thống thống kê toán học sử dụng trong phân tích, không chỉ trong các nghiên cứu khoa học, mà còn sử dụng trong các ngành công nghiệp và chính trị. Sự đóng góp của Galton trong lĩnh vực này bao gồm giới thiệu các khái niệm về độ lệch chuẩn, tương quan, hồi quy và các ứng dụng của các phương pháp này để nghiên cứu về đặc điểm của con người, chieuf cao, cân nặng, chiều dài của lông mi và các đặc điểm khác. Pearson phát triền các hệ số tương quan, được định nghĩa như là tích số quan trọng. Phương pháp của hiện tại cho việc điều chỉnh phân phối màu và hệ thống các đường cong liên tục, trong số những mẫu khác. Galton và Pearson thành lập Biometrika là cuốn sách đầu tiên của thống kê toán và sinh học, thành lập ban thống kê đầu tiên tại trường đai học London. Giai đoạn thứ hai của những năm 1910 và 1920 đã được khởi xướng bởi William Gosset, và đỉnh cao trong tri thức của Sir Ronald Fisher, người đã viết cuốn sách để xác định các ngành học trong các trường đại học trên toàn thế giới. Ấn phẩm quan trọng nhất của Fissher là 1916 trang, các tương quan giữa mối liên hệ với giả thuyết, kế thừa của Mendelianvà 1925 cách sử dụng phương pháp thống kê cho những nhà nghiên cứu. Bài viết của ông là người đầu tiên sử dụng các thuật ngữ thống kê, phương sai. Ông đã phát triển mô hình thử nghiệm nghiêm ngặt và cũng hệ thống đầy đủ dữ liệu, thống kê phụ thuộc, phân biệt tuyến tính của Fisher và thông tin Fisher. Giai đoạn cuối cùng, trong đó chủ yếu là nhận thấy sự tinh tế và mở rộng phát triển trước đó, nổi lên từ sự hợp tác giữa Egon Pearson và Jerzy Neyman trong năm 1930. Họ giới thiệu các khái niệm về sai số “loại II”, sức mạnh của một thử nghiệm và khoảng thời gian tin cậy. Năm 1934, Jerzy Neyman cho thấy việc chọn mẫu ngẫu nhiên phân lớp là một phương pháp tốt hơn của ước lượng so với chọn mẫu có mục đích. Ngày nay phương pháp thống kê được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực có liên quan đến việc ra quyết định, để cho các kết luận chính xác từ một bộ phận so với các dữ liệu và đưa ra quyết định khi đối mặt với kết luận không chắc chắn dựa trên phương pháp thống kê. Việc sử dụng máy tính hiện đại đã tính toán nhanh các tính toán thống kê quy mô lớn, và cũng đã có những phương pháp mới có thể không chính xác bằng việc tính bằng tay. Thống kê tiếp tục là một lĩnh vực nghiên cứu thiết thực, ví dụ như vấn đề làm sao để phân tích dữ liệu lớn. == Ứng dụng == === Ứng dụng thống kê, lý thuyết thống kê và toán thống kê === “Thống kê ứng dụng” bao gồm thống kê mô tả và các ứng dụng của thống kê suy luận (bằng chứng cần thiết). Lý thuyết thống kê liên quan tới những lập luận logic cơ bản giải thích của phương pháp tiếp cận kết luận thống kê, cũng bao gồm toán thống kê. Toán thống kê không chỉ bao gồm các thao tác của phân phối xác suất cần thiết cho kết quả phát sinh liên quan đến các phương pháp tính toán và suy luận, nhưng còn khía cạnh khác nhau của các số liệu thống kê tính toán và thiết kế các thử nghiệm. === Học qua máy và khai thác dữ liệu === Có hai ứng dụng cho học qua máy móc và khai thác dữ liệu: quản lý dữ liệu và phân tích dữ liệu. Các công cụ thống kê cần thiết cho việc phân tích dữ liệu. === Thống kê trong xã hội học === Thống kê được áp dụng cho một loạt các môn học, bao gồm cả khoa học tự nhiên và xã hội, chính trị và kinh doanh. Thống kê tư vấn có thể giúp các tổ chức và công ty không có chuyên môn trả lời những thắc mắc. === Tính toán thống kê === Sự tăng nhanh và ổn định ở khả năng tính toán bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 20 đã có một tác động đáng kể vào việc thực hành của môn khoa học thống kê. Mô hình thống kê lúc đầu gần như là của một lớp mô hình tuyến tính, nhưng khả năng tính toán, cùng với các thuật toán số học phù hợp, gây ra một lãi suất tăng trong các mô hình phi tuyến (như mạng thần kinh) cũng như tạo ra các kiểu mới, chẳng hạn như mô hình tuyến tính tổng quát và mô hình đa cấp. Khả năng tính toán tăng cũng dẫn đến sự phổ biến ngày càng tăng của các phương pháp tính toán dựa trên chọn mẫu, chẳng hạn như xem xét hoán vị và khả năng tự hoán vị, trong khi các kỹ thuật như Gibbs lấy mẫu đã sử dụng mô hình Bayesian khả thi hơn. Các cuộc cách mạng máy tính có ảnh hưởng đến tương lai của số liệu thống kê với sự nhấn mạnh mới về “thử nghiệm” và thống kê “thực nghiệm”. Một số lượng lớn của tổng thể và đặc biệt là phần mềm thống kê tịa thời điểm hiện tại. === Thống kê áp dụng cho toán học hay nghệ thuật === Theo truyền thống, thống kê có liên quan tới sự suy luận bản vẽ qua việc sử dụng một phương pháp bán tiêu chuẩn đã được “yêu cầu thử nghiệm” trong hầu hết các ngành khoa học. Điều này đã thay đổi việc sử dụng số liệu thống kê trong các bối cảnh không có kết luận. Những gì đã được coi là một chủ đề vô vị, thực hiện trong nhiều lĩnh vực như một mức yêu cầu, bây giờ được xem một cách nhiệt tình. Ban đầu một số người khó tính đã cười nhạo, nhưng hiện nay lại được coi là phương pháp cần thiết trong mọi lĩnh vực. Lý thuyết số tự nhiên n, biểu đồ phân rã của dữ liệu được tạo ra bởi một hàm phân phối có thể được chuyển đổi với các công cụ quen thuộc được sử dụng trong thống kê để cho thấy những điều cơ bản, mà sau đó có thể dẫn đến các giả thuyết. Phương pháp thống kê bao gồm các phương pháp dự báo được kết hợp với lý thuyết hỗn hợp và hình học nhân bản để tạo ra các tác phẩm video được đánh giá có vẻ đẹp tuyệt vời. Các quá trình nghệ thuật của Jackson Pollock dựa trên thí nghiệm nghệ thuật phân bố cơ bản trong tự nhiên được tiết lộ. Với sự ra đời của máy tính, các phương pháp thống kê được áp dụng để hợp thức hóa với các quá trình tự nhiên phân phối theo định hướng như vậy để thực hiện và phân tích nghệ thuật hình ảnh động. Phương pháp thống kê có thể được sử dụng để xác nhận trong nghệ thuật trình diễn, như trong một thẻ giả dựa trên quá trình Markov và chỉ hoạt động một thời gian nhất định, qua đó có thể dự đoán được việc sử dụng phương pháp thống kê. Thống kê có thể được sử dụng trong việc tạo hình nghệ thuật, như trong âm nhạc hay thống kê ngẫu nhiên phát minh bởi Lannis Xenakis, nơi âm nhạc biểu diễn rõ ràng. Mặc dù kiểu nghệ thuật không phải lúc nào cũng như mong đợi, nó diễn ra theo cách đó là được đoán trước và có hòa âm được bằng cách sử dụng thống kê. === Lĩnh vực chuyên môn === Các kỹ thuật thống kê được sử dụng trong một loạt các nghiên cứu khoa học và xã hội, bao gồm: ngành sinh học, tính toán sinh học, tính toán xã hội học, hệ thống sinh học, khoa học xã hội và nghiên cứu xã hội. Một số lĩnh vực sử dụng điều tra thống kê được áp dụng rộng rãi rằng họ có chuyên môn. Những ngành này bao gồm: Khoa học tính toán bảo hiểm (đánh giá rủi ro trong các ngành công nghiệp bảo hiểm và tài chính) ứng dụng thông tin kinh tế thiên văn học (đánh giá thống kê của dữ liệu thiên văn) sinh học thống kê kinh doanh hóa học (phân tích dữ liệu hóa học) khai thác dữ liệu (áp dụng thống kê và nhận dạng mẫu để khám phá tri thức từ dữ liệu) dân số học kinh tế học (phân tích thống kê các số liệu kinh tế) thống kê năng lượng thống kê kỹ thuật khoa học nghiên cứu bệnh dịch (phân tích thống kê của bệnh) địa lý và hệ thống thông tin địa lý, đặc biệt trong phân tích không gian xử lý hình ảnh thống kê y tế thống kê về hành vi, tâm lý độ bền cơ khí thống kê xã hội Ngoài ra còn có các loại cụ thể của phân tích thống kê cũng đã phát triển các thuật ngữ chuyên ngành thống kê các phương pháp thống kê: thống kê đa biến phân lớp thống kê phân tích dữ liệu có cấu trúc (thống kê) mô hình phương trình cấu trúc phương pháp điều tra phân tích sự tồn tại thống kê trong các môn thể thao khác nhau, đặc biệt là bóng chày và bóng bầu dục. Thống kê là một công cụ quan trọng trong cơ sở sản xuất kinh doanh. Nó được sử dụng để hiểu hệ thống đo lường biến động, kiểm soát quá trình (như trong kiểm soát quá trình thống kê hoặc thông qua hệ thống), cho dữ liệu tóm tắt, và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu. Nó đóng vai là một công cụ quan trọng, và là công cụ duy nhất đáng tin cậy. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của cơ quan thống kê các nước Trang chủ của Tổng cục Thống kê Việt Nam
9 tháng 1.txt
Ngày 9 tháng 1 là ngày thứ 9 trong lịch Gregory. Còn 356 ngày trong năm (357 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 475 – Hoàng đế La Mã Zeno bị bức phải tẩu thoát khỏi kinh thành Constantinopolis, tướng của ông là Basiliscus đoạt quyền cai quản đế quốc. 1127 – Sự kiện Tĩnh Khang: Quân đội triều Kim dưới quyền Hoàn Nhan Tông Vọng và Hoàn Nhan Tông Hàn chiếm được kinh thành Biện Kinh của triều Tống, sau đó bắt giữ Hoàng đế Tống Khâm Tông và Thái thượng hoàng Tống Huy Tông, tức ngày Bính Thìn (25) tháng 11 nhuận năm Bính Ngọ. 1150 – Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng tiến hành binh biến, sát hại và đoạt lấy hoàng vị triều Kim của ông chú là Hoàng đế Kim Hi Tông, tức ngày Đinh Tị (9) tháng 12 năm Kỉ Tị. 1317 – Philippe V tiến hành nghi lễ đăng quang quốc vương của Pháp 1349 – Do bị cho là nguyên nhân gây ra Cái chết Đen đang diễn ra, những người Do Thái tại Basel, Thụy Sĩ bị vây bắt và hỏa thiêu. 1431 – Jeanne d'Arc bị đưa ra xét xử trước tòa án dị giáo tại Rouen, thuộc khu vực kiểm soát của chính quyền chiếm đóng Anh. 1788 – Connecticut trở thành bang thứ năm được nhận vào Hoa Kỳ. 1793 – Jean-Pierre Blanchard trở thành người đầu tiên bay bằng một khinh khí cầu tại Hoa Kỳ. 1799 – Thủ tướng Anh William Pitt Trẻ ban hành một Thuế thu nhập hai Shilling cho mỗi Bảng Anh để tăng nguồn thu cho Anh Quốc trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon. 1822 – Vương tử Pedro I quyết định ở lại Brasil, chống lại mệnh lệnh của Quốc vương Bồ Đào Nha João VI, khởi đầu quá trình độc lập của Brasil. 1861 – Mississippi trở thành bang thứ hai thoát ly khỏi Hợp chúng quốc trước khi nổ ra Nội chiến Mỹ. 1871 – Chiến tranh Pháp-Phổ: Trận Villersexel kết thúc với kết quả bất phân thắng bại 1878 – Umberto I trở thành quốc vương của Ý. 1916 – Chiến tranh thế giới thứ nhất: Chiến dịch Gallipoli kết thúc với thắng lợi của Ottoman trước liên quân Anh-Pháp. 1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hoa Kỳ xâm nhập đảo Luzon tại Philippines. 1960 – Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser khởi đầu việc xây dựng Đập Aswan khi cho nổ mười tấn dynamit để phá hủy 20 tấn đá granit bên bờ đông của Sông Nin. 1992 – Hội đồng người Serbia tại Bosnia và Herzegovina tuyên bố thành lập Cộng hòa Srpska, xem chính thể này là một thành phần của Nam Tư. 2005 – Mahmoud Abbas giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống của Chính quyền Quốc gia Palestine. 2007 – CEO Steve Jobs của hãng Apple giới thiệu iPhone thế hệ thứ nhất khi phát biểu tại một hội nghị ở San Francisco, Hoa Kỳ. 2011 – Chuyến bay 277 của Iran Air gặp nạn tại tỉnh Tây Azerbaijan, khiến 77 người thiệt mạng. == Sinh == 1554 – Giáo hoàng Grêgôriô XV (m. 1623) 1750 – Phan Huy Ích, nhà văn hóa, chính khách Việt Nam (m. 1822) 1797 – Ferdinand von Wrangel, nhà thám hiểm của Đế quốc Nga, tức 29 tháng 12 năm 1796 (m. 1870) 1859 – Carrie Chapman Catt, nhà hoạt động người Mỹ (m. 1947) 1908 – Simone de Beauvoir, nữ văn sĩ, triết gia Pháp (m. 1986) 1913 – Richard Nixon, tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ (m. 1994) 1914 – Mộng Tuyết, nhà thơ, nhà báo người Việt Nam (m. 2007) 1923 – Boris Alekseevich Chichibabin, tác gia người Liên Xô và Ukraina (m. 1994) 1924 – Sergey Iosifovich Paradzhanov, đạo diễn, nhà biên kịch tại Liên Xô (m. 1990) 1930 – Igor Aleksandrovich Netto, cầu thủ bóng đá Liên Xô (m. 1999) 1941 – Kim Long, linh mục và nhạc sĩ người Việt Nam 1941 – Joan Baez, ca sĩ-người viết ca khúc và nhà hoạt động người Mỹ 1942 – Trương Đình Tuyển, chính trị gia người Việt Nam 1944 – Jimmy Page, nhạc sĩ người Anh 1955 – Trần Thế Ngọc, chính trị gia người Việt Nam 1956 – Đinh Đức Lập, viên chức người Việt Nam 1958 – Mehmet Ali Ağca, sát thủ người Thổ Nhĩ Kỳ 1959 – Rigoberta Menchú, nhà hoạt động người Guatemala, đoạt giải Nobel 1967 – Claudio Caniggia, cầu thủ bóng đá người Argentina 1978 – Gennaro Gattuso, cầu thủ bóng đá người Ý 1978 – A. J. McLean, nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ (Backstreet Boys) 1979 – Ban Tomiko, ca sĩ và diễn viên người Nhật Bản 1982 – Catherine, thành viên vương thất Anh Quốc 1985 – Nguyễn Minh Châu, cầu thủ bóng đá người Việt Nam 1987 – Kai Asami, diễn viên người Nhật Bản 1987 – Wanbi Tuấn Anh, ca sĩ người Việt Nam (m. 2013) 1987 – Lucas Leiva, cầu thủ bóng đá người Brasil 1988 – Lee Yeon hee, diễn viên, người mẫu người Hàn Quốc 1989 – Nina Dobrev, diễn viên người Bulgaria-Canada == Mất == 1150 – Hoàn Nhan Đản, tức Kim Hi Tông, hoàng đế của triều Kim, tức ngày Đinh Tị (9) tháng 12 năm Kỉ Tị (s. 1119) 1283 – Văn Thiên Tường, chính trị gia và tác gia triều Tống, tức 8 tháng 12 năm Nhâm Ngọ (s. 1236) 1324 – Marco Polo?, thương nhân và nhà thám hiểm người Ý (s. 1254) 1514 – Anne, nữ công tước của Brittany, vương hậu của Pháp (s. 1477) 1757 – Bernard le Bovier de Fontenelle, tác gia người Pháp (s. 1657) 1872 – Henry Wager Halleck, tướng lĩnh người Mỹ (s. 1815) 1873 – Napoléon III, chính trị gia người Pháp, tổng thống của Pháp (s. 1808) 1878 – Vittorio Emanuele II, quốc vương của Ý (s. 1820) 1950 - Trần Văn Ơn, học sinh Việt Nam (s. 1931) 1961 – Emily Greene Balch, nhà kinh tế học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1867) 1989 – Marshall Stone, nhà toán học người Mỹ (s. 1903) 1995 – Souphanouvong, thành viên vương thất Vương quốc Lào, chính trị gia Lào (s. 1909) 1995 – Giacôbê Huỳnh Văn Của, linh mục người Việt Nam (s. 1915) 1998 – Fukui Kenichi, nhà hóa học người Nhật Bản, đoạt giải Nobel (s. 1918) 2004 – Song Hào, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1917) 2004 – Lê Trọng Nguyễn, nhạc sĩ người Việt Nam (s. 1926) 2012 – Malam Bacai Sanhá, tổng thống Guiné-Bissau (s. 1947) 2013 – Hoàng Hiệp, nhạc sĩ Việt Nam (s. 1931) 2013 – James M. Buchanan, nhà kinh tế học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1919) == Ngày lễ và kỷ niệm == Việt Nam - Ngày tưởng niệm nêu cao tinh thần học sinh - sinh viên. == Tham khảo ==
đảo anh.txt
Đảo Anh hay là Đại Anh (tiếng Anh: Great Britain) nằm ở phía tây bắc của châu Âu đại lục. Đây là hòn đảo lớn thứ tám thế giới, và là đảo lớn nhất quần đảo Anh cũng như châu Âu. Với dân số khoảng 60,0 triệu người vào giữa năm 2009, đây là đảo đông dân thứ ba trên thế giới, chỉ sau Java và Honshu. Đảo Anh có trên 1.000 đảo nhỏ hơn bao quanh. Đảo Ireland nằm ở phía tây của đảo Anh. Về mặt chính trị, "Great Britain" trong tiếng Anh cũng có thể đề cập tới đảo Anh cùng các đảo lân cận hợp thành các xứ Anh, Scotland và Wales. Toàn bộ đảo Anh là lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (nước Anh), và hầu hết lãnh thổ của nước Anh là đảo Anh. Hầu hết lãnh thổ của các xứ Anh, Scotland, và Wales nằm trên đảo Anh, và thủ phủ của các xứ cũng nằm trên đảo: tương ứng là Luân Đôn, Edinburgh, và Cardiff. Vương quốc Anh (Kingdom of Great Britain) là kết quả của sự liên hiệp chính trị giữa Vương quốc Anh (Kingdom of England) và Vương quốc Scotland theo Đạo luật Liên hiệp 1707 vào ngày 1 tháng 5 năm 1707 dưới sự trị vì của Nữ hoàng Anne. Năm 1801, theo Đạo luật Liên hiệp 1800, vương quốc này sáp nhập với Vương quốc Ireland để tại thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Sau Chiến tranh Độc lập Ireland, hầu hết đảo Ireland ly khai khỏi liên hiệp, và vương quốc do đó trở thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Sự đa dạng về hệ động thực vật trên đảo Anh tương đối hạn chế do kích thước của đảo và do thực tế rằng động vật hoang dã đã có ít cơ hội để phát triển từ thời kỳ băng hà cuối. Mức độ đô thị hóa cao đã góp phần vào việc đảo Anh có một tỉ lệ tuyệt chủng loài cao hơn 100 lần so với tỷ lệ tuyệt chủng chung của trái đất. == Định nghĩa chính trị == Đảo Anh là hòn đảo lớn nhất của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Về mặt chính trị, đảo Anh (Great Britain) là sự kết hợp của ba xứ England, Scotland và Wales, song không bao gồm Bắc Ireland; Great Britain cũng bao gồm một số hòn đảo ngoài khơi các xứ Anh, Scotland và Wales như đảo Wight, Anglesey, quần đảo Scilly, quần đảo Hebride, và các nhóm đảo Orkney và Shetland. Great Britain không bao gồm đảo Man và Quần đảo Eo Biển và chúng cũng không phải là một phần của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland mà là các lãnh thổ phụ thuộc tự trị với hệ thống luật pháp và thuế riêng. Liên hiệp chính trị giữa hai vương quốc Anh (Kingdom of England) và Scotland đã diễn ra vào năm 1707 khi Đạo luật Liên hiệp 1707 đã thông qua Hiệp ước Liên hiệp năm 1706 và hợp nhất nghị viện của hai nước, tạo thành Vương quốc Anh (Kingdom of Great Britain), bao trùm toàn bộ hòn đảo. Trước đó, một liên minh cá nhân đã tồn tại giữa hai nước kể từ Liên hiệp các vua (Union of the Crowns) dưới thời hai nước có chung một người trị vì là James VI của Scotland và James I của Anh. == Định nghĩa địa lý == Đảo Anh nằm trong vùng thềm lục địa của châu Âu và nằm ở phía tây bắc của châu Âu đại lục và ở phía đông của đảo Ireland. Đảo Anh tách biệt với lục địa châu Âu qua biển Bắc và eo biển Manche, eo biển này chỉ rộng 34 kilômét (21 mi) tại eo Dover. Hòn đảo trải dài trên 10 vĩ độ, có trục bắc-nam, với diện tích 209.331 km2 (80.823 sq mi) nếu không tính tất cả các đảo nhỏ xung quanh. eo biển Bắc, biển Ireland, eo biển St George và biển Celtic phân tách đảo Anh với đảo Ireland ở phía tây. Hòn đảo kết nối về mặt tự nhiên với đại lục châu Âu qua Đường hầm eo biển Manche, đường hầm tàu hỏa dưới biển dài nhất trên thế giới và được hoàn thành vào năm 1993. Về mặt địa lý, hòn đảo có các miền đồng quê thấp và lượn sóng ở phía đông và nam, còn các đồi và núi thì thống trị ở các vùng phía tây và phía bắc. Đảo có trên 1.000 đảo nhỏ hơn bao quanh. Khoảng cách lớn nhất giữa hai điểm trên đảo là 968 km (601,5 mi) (giữa Land's End, Cornwall và John O'Groats, Caithness), hay 1.349 km (838 mi) nếu đi theo mạng lưới xa lộ quốc gia. == Xem thêm == Vương quốc Anh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
aragonit.txt
Aragonit là một dạng khoáng vật nhóm cacbonat. Nó và khoáng vật canxit là hai dạng phổ biến nhất, có nguồn gốc tự nhiên của cacbonat canxi, CaCO3. Mạng tinh thể của aragonit khác với mạng tinh thể của canxit, kết quả là hình dạng tinh thể khác hẳn, đó là một hệ thống hình thoi trực tâm với các tinh thể hình kim. Bằng cách cặp đôi tinh thể lặp lại thì nó tạo ra dạng giả lục giác. Nó có thể là hình trụ hay dạng sợi, thỉnh thoảng tạo nhánh dạng vú đá gọi là flos-ferri (hoa sắt) do sự liên kết của chúng với quặng tại mỏ sắt Carthinia. Khu vực điển hình của aragonit là Molina de Aragón (Guadalajara, Tây Ban Nha), cách Aragon khoảng 25 km. Một hang động toàn aragonit là hang Ochtiná Aragonit) tại Slovakia. Tại Hoa Kỳ, aragonit dạng vú đá có tại hang Carlsbad. Aragonit tạo thành dạng tự nhiên ở gần như phần lớn các mai, vỏ của động vật thân mềm. Do sự tích lũy khoáng chất tại mai động vật thân mềm được kiểm soát sinh học rất mạnh nên một số dạng tinh thể là khác biệt với các dạng tinh thể aragonit nguồn gốc vô cơ. Ở một số động vật thân mềm, toàn bộ mai là aragonit; ở những loài khác, aragonit tạo thành các bộ phận rời rạc của lớp mai hai khoáng chất (aragonit và canxit). Aragonit cũng được tạo thành trong lòng đại dương và trong các hang động dưới dạng các chất vô cơ kết tủa, được gọi tương ứng là xi măng đại dương và speleothem. Lớp xà cừ các mai, vỏ hóa thạch chứa aragonit của một số dạng cúc (ngành Mollusca, phân lớp Ammonodea) đã tuyệt chủng tạo thành một loại vật liệu óng ánh gọi là ammolit. Ammolit chủ yếu là aragonit với một ít tạp chất làm cho nó óng ánh và như thế nó có giá trị như một loại đá quý. Aragonit là không ổn định về mặt nhiệt động lực học ở điều kiện tiêu chuẩn, và có xu hướng biến đổi thành canxit trong khoảng thời gian cỡ 10 đến 100 triệu năm. == Xem thêm == Danh sách khoáng vật Xà cừ Ngọc trai Axít hóa đại dương Hang Ochtiná Aragonit == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Aragonite tại Wikimedia Commons Thông tin về aragonit Hang Ochtinska aragonit
ủy ban thường vụ đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cộng hòa nhân dân trung hoa.txt
Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc hay Ủy viên hội Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc(giản thể: 全国人民代表大会常务委员会; phồn thể: 全國人民代表大會常務委員會; bính âm: Quánguó Rénmín Dàibiǎo Dàhuì Chángwù Wěiyuánhuì) tên đầy đủ Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là cơ quan thường trực quyền lực cao nhất của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.Ủy ban thường vụ do Chủ tịch,Phó chủ tịch,Tổng Thư ký và 161 người là thành viên của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc cấu thành.Theo Luật Tổ chức Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định Ủy ban Thường vụ do Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc tạo ra,chịu trách nhiệm báo cáo công tác,với nhiệm kỳ 5 năm theo Nhân đại,quản lý các Ủy ban chuyên trách của Nhân đại (Ủy ban Dân tộc,Ủy ban Pháp luật,Ủy ban Kinh tế Tài chính,Ủy ban Vệ sinh Văn hóa Khoa học Giáo dục,Ủy ban Đối ngoại,Ủy ban người Trung Quốc tại nước ngoài (Ủy ban Hoa kiều)).Thành viên Ủy ban Thường vụ không đảm nhiệm các chức vụ thuộc cơ quan hành chính,cơ quan thẩm phán,cơ quan kiểm sát. == Công tác và quyền hạn == Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định về công tác và quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: 1) Sửa đổi Hiến pháp, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp 2) Xây dựng và sửa đổi Luật hình sự, Luật dân sự, Luật cơ bản các cơ quan nhà nước cũng như các Luật cơ bản khác 3) Trong phiên họp Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc luật pháp được ban hành và sửa đổi bổ sung nhưng không được trái với những nguyên tắc cơ bản 4) Định nghĩa luật pháp 5) Trong phiên họp Đại hội nhân dân toàn quốc, xem xét và phê chuẩn kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đất nước cũng như báo cáo thực thi kế hoạch, dự toán ngân sách cũng như báo cáo phân bổ ngân sách; 6) Giám sát công tác Quốc Vụ viện,Ủy ban quân sự trung ương,Tòa án Nhân dân Tối cao,Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao 7) Thu hồi quy định do Quốc vụ viện lập ra trái với quy định và định chế luật pháp 8) Thu hồi các nghị quyết của tỉnh,khu tự trị,thành phố trực thuộc trung ương trái với quy định hành chính,quy định địa phương 9) Trong phiên họp Đại hội nhân dân toàn quốc,Thủ tướng Quốc vụ viện đề cử Bộ trưởng,Tổng kiểm toán (chủ nhiệm ủy ban thẩm kê) và các ứng viên Tổng thư ký 10) Bầu cử Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương và quyết định thành viên của Hội đồng quân sự Trung ương 11) Căn cứ vào Viện trưởng Pháp viện Nhân dân Tối cao thông qua hoặc miễn nhiệm phó viện trưởng thẩm phán,ủy viên thẩm phán,thẩm phán 12) Căn cứ vào Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao thông qua hoặc miễn nhiệm phó viện trưởng viện kiểm sát,kiểm sát viên,kiểm sát viên kiểm sát Ủy ban Kiểm sát Quân sự viện kiểm sát trưởng,phê chuẩn viện trưởng viện kiểm sát ở tỉnh,khu tự trị,thành phố trực thuộc trung ương. 13) Thực hiện quan hệ đối ngoại của Nhân đại 14) Phê chuẩn thành lập tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc, quyết định thành lập khu hành chính đặc biệt cũng như chế độ khu hành chính đặc biệt 15) Quyết định ban hành lệnh Tổng động viên 16) Quy định chế độ quân hàm == Thành viên Ủy ban == Theo điều 65 và 68 Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định Ủy ban thường vụ (không đảm nhiệm các chức vụ thuộc cơ quan hành chính,cơ quan thẩm phán,cơ quan kiểm sát,và phải có một số lượng đại biểu dân tộc thiểu số) như sau: Ủy viên trưởng: chủ trì công việc của Ủy ban Thường vụ,triệu tập Ủy ban Thường vụ Phó Ủy viên trưởng: giúp đỡ công tác cho Ủy viên trưởng Tổng Thư ký: giúp đỡ công tác cho Ủy viên trưởng Thành viên === Thành phần hiện tại === Ủy viên trưởng:Trương Đức Giang Phó Ủy viên trưởng:Lý Kiến Quốc-Vương Thăng Tuấn-Trần Xương Trí-Nghiêm Tuyển Kỳ-Vương Thần-Trầm Dược Dược-Cát Bỉnh Hiên-Trương Bình-Hướng Ba Bình Thố (Tây Tạng)-Ngải Lực Canh.Y Minh Ba Hải (Duy Ngôn Nhĩ)-Vạn Ngạc Sương-Trương Bảo Văn-Trần Trúc Thành viên: 161 Tổng Thư ký: Vương Thần === Danh sách chức vụ qua các thời kỳ === == Tham khảo == == Xem thêm == Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam
sóc trăng (thành phố).txt
Thành phố Sóc Trăng là tỉnh lị của tỉnh Sóc Trăng. == Hành chính == Thành phố Sóc Trăng là một trong những đô thị trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với Huế, Hạ Long, Đông Hà và Thủ Dầu Một, thành phố Sóc Trăng là một trong năm thành phố trực thuộc tỉnh không có xã trực thuộc (tính tới thời điểm 2017). Sau hơn 10 năm được công nhận là đô thị loại III (2005), thành phố Sóc Trăng đang phấn đấu hoàn thiện các tiêu chí để đạt đô thị loại II. Vì không có xã nên toàn thành phố Sóc Trăng có tất cả 10 phường trực thuộc: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Dân cư TP gồm 3 dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer... Thành phố có diện tích tự nhiên là 7.615,22 ha, với 173.922 nhân khẩu, Địa giới hành chính thành phố như sau: phía đông giáp huyện Long Phú; phía tây giáp huyện Mỹ Tú và huyện Châu Thành; phía nam giáp huyện Mỹ Xuyên và Trần Đề == Lịch sử == === Thời Pháp thuộc === Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Sóc Trăng trở thành tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh lỵ Sóc Trăng đặt tại làng Khánh Hưng, tổng Nhiêu Khánh, quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. === Giai đoạn 1956-1975 === ==== Việt Nam Cộng hòa ==== Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Sóc Trăng và tỉnh lỵ Sóc Trăng như thời Pháp thuộc. Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh số 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Ba Xuyên được thành lập do hợp nhất hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng trước đó. Tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên đặt tại Sóc Trăng nhưng lúc này lại đổi tên là Khánh Hưng, do nằm trong địa bàn xã Khánh Hưng thuộc quận Châu Thành (sau đó là quận Mỹ Xuyên). Năm 1970, xã Khánh Hưng có diện tích 46,3 km², dân số 64.433 người. Đến năm 1972, xã Khánh Hưng có dân số 70.113 người, bao gồm 18 ấp trực thuộc: Khánh Bình, Khánh Thành, Khánh Bạch, Khánh Vĩnh, Khánh Diệu, Khánh Tâm, Khánh Hùng, Khánh Hòa, Khánh Quang, Khánh Sơn, Nhà Việc, Giồng, Chông Chát, Kho Dầu, Sung Đinh 1, Sung Đinh 2, Kênh Sáng, Tự Do. ==== Chính quyền Cách mạng ==== Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Ba Xuyên mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Sóc Trăng. Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng cũng thành lập và duy trì tên gọi thị xã Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng trong suốt giai đoạn 1956-1976. Địa bàn thị xã Sóc Trăng khi đó tương ứng với xã Khánh Hưng thuộc quận Mỹ Xuyên, tỉnh Ba Xuyên của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt thị xã Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng cho đến đầu năm 1976. === Từ năm 1976 đến nay === Theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24 tháng 2 năm 1976 và Quyết định số 17/QĐ-76 ngày 24 tháng 3 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ để thành lập một tỉnh mới có tên là tỉnh Hậu Giang. Thị xã Sóc Trăng lúc này thuộc tỉnh Hậu Giang, ban đầu gồm 6 phường trực thuộc: phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 6. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Thị xã Sóc Trăng đóng vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Sóc Trăng. Ngày 30 tháng 10 năm 1995, địa giới hành chính thị xã Sóc Trăng có sự điều chỉnh như sau: Thành lập phường 7 thuộc thị xã Sóc Trăng trên cơ sở tách đất của xã An Hiệp và xã An Ninh của huyện Mỹ Tú. Thành lập phường 8 thuộc thị xã Sóc Trăng từ xã Tân Thạnh - huyện Long Phú và phường 5 của thị xã Sóc Trăng. Thành lập phường 9 thuộc thị xã Sóc Trăng trên cơ sở tách đất của phường 4. Thành lập phường 10 thuộc thị xã Sóc Trăng trên cơ sở tách đất của phường 3 - thị xã Sóc Trăng và xã Đại Tâm - huyện Mỹ Xuyên. Ngày 2 tháng 11 năm 2005, thị xã Sóc Trăng được công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Sóc Trăng. Ngày 8 tháng 2 năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 22/2007/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng. Theo đó, thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Sóc Trăng. Thành phố Sóc Trăng có 7.615,22 ha diện tích tự nhiên và 173.922 nhân khẩu, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. == Các tuyến đường chính trên địa bàn == Dương Minh Quan Quốc lộ 1 Quốc lộ 60 Hai Bà Trưng Tôn Đức Thắng Xô Viết Nghệ Tĩnh Ngô Gia Tự Lê Lợi Hùng Vương Nguyễn Chí Thanh Phạm Hùng Điện Biên Phủ Lý Thường Kiệt Nguyễn Huệ 30 tháng 4 Lê Hồng Phong Nguyễn Thị Minh Khai Mạc Đĩnh Chi Lê Duẩn Phú Lợi Nguyễn Văn Linh Trương Công Định Nam Kỳ Khởi Nghĩa === Các con đường bị đổi tên sau năm 1975 === Đường Nguyễn Trường Tộ sau năm 1975 đổi thành đường Mậu Thân 68 và sau đó lại đổi thành đường Tôn Đức Thắng Đường Lê Văn Duyệt nay là đường Nguyễn Chí Thanh Đường Tôn Thất Đạm nay là đường Ngô Gia Tự Đường Nguyễn Tri Phương nay là đường Điện Biên Phủ Đường Tự Đức nay là đường Nguyễn Văn Hữu Đường Gia Long nay là đường Đường Minh Mạng nay là đường Đường Cách mạng nay là đường Đường Quang Trung nay là đường Nguyễn Huệ Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm nay là đường 30 tháng 4 Đường Phùng Khắc Khoan nay là đường Nguyễn Văn Thêm Đường Yersin nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai Đường Phan Thanh Giản nay là đường Lê Hồng Phong Đường Võ Tánh nay là đường Đường Nguyễn Huỳnh Đức nay là đường Nguyễn Văn Trỗi. == Quy hoạch == Thành phố Sóc Trăng sẽ được mở rộng hơn 5.000 ha. Kỳ họp HĐND tỉnh sắp tới đây trong chương trình nghị sự, ngoài nhiều nội dung quan trọng, còn thảo luận về việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Sóc Trăng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025. Theo dự kiến, diện tích thành phố Sóc Trăng sau khi được mở rộng là 12.734,71 ha; so với diện hiện trạng là 7.615,22 ha. Diện tích mở rộng gồm 1.232 ha của xã An Hiệp (đến ngã ba An Trạch), 20 ha đất Phú Tân, 913 ha của xã An Ninh; toàn bộ 1.475,49 ha của thị trấn Mỹ Xuyên, 731 ha của xã Đại Tâm (tới rạch Bưng Cốc) và 567 ha đất của xã Tham Đôn. Các chỉ tiêu quy hoạch theo tiêu chuẩn của đô thị loại II. Khi diện tích thành phố Sóc Trăng mở rộng dân số từ 173.00 người sẽ lên trên 209.000 người == Giao thông == Thành phố Sóc Trăng với một vị trí địa lý thuận lợi có thể đi lại hầu hết các tỉnh thành trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Về mạng lưới đường ô tô có 129 km đường nội thành. Các tuyến đường lớn ở TP Sóc Trăng gồm các đường: Lê Lợi, Hai Bà Trưng, đường 30/04, Xô Viết Nghệ Tĩnh...và các đại lộ: đại lộ Phú Lợi, đại lộ Trần Hưng Đạo và đại lộ Hùng Vương. Trong đó quan trọng hơn cả là tuyến đại lộ Trần Hưng Đạo với 1 làn xe ôtô và 2 làn xe môtô cùng khu vực dành riêng cho người đi bộ với hệ thống đèn chiếu sáng LED (700m) cùng hàng cây xanh rợp bóng mát hai bên đường. Nằm ngay khu vực trung tâm thành phố nên đây là tuyến đường thường xuyên tổ chức các sự kiện tiêu biểu của thành phố và của tỉnh. == Văn hóa == === Lễ hội === Lễ hội Ooc Om Boc - Đua Ghe Ngo (Cúng trăng), được tổ chức đua ghe vào Rằm tháng 10 Âm lịch hàng năm, cùng với lễ hội Loi -Pro tip - lễ hội thả đèn nước trên sông Nguyệt (sông Maspero) tại trung tâm thành phố Sóc Trăng. Năm 2013 là Festival Đua Ghe Ngo Đồng bằng sông Cửu Long được tổ chức 2 năm một lần. Lễ Sen Đôlta (thờ cúng tổ tiên của người Khmer) Lễ Chol Chnăm Thmây (Vào năm mới),... Thanh minh (của người Kinh và Hoa). Lễ hội thí vàng (tháng 7), chủ yếu là tại các khu vực có nhiều người Hoa sinh sống. Lễ kỳ yên ở các đình chùa. Mỗi làng xã người Việt, người Hoa thường có đình chùa và được tổ chức vào khoảng 3 ngày liên tiếp trong năm tùy đình chùa đó. Lễ hội chính là cúng thần và trình diễn cải lương. === Di tích === Đây là thành phố có nhiều chùa với khoảng 50 chùa trong tổng số hơn 200 chùa của tỉnh. Nổi bật nhất là Chùa Dơi(chùa Mã Tộc, Mahatup), Chùa Đất Sét (Bửu Sơn tự), Chùa Khléang, chùa La Hán, chùa Phật Học, Chùa Khánh Sơn, chùa Hương Sơn... Hằng năm, vào dịp lễ tết, khách hành hương thập phương đến với thành phố hàng ngàn người mỗi ngày. Bửu Sơn tự (hay chùa Đất Sét): Đây là một am thờ đã qua nhiều đời của dòng tộc họ Ngô, có tất cả tượng Phật đến linh thú, bảo tháp, đỉnh trầm đều được làm từ đất sét. Phần lớn do ông Ngô Kim Tòng sáng tạo trong suốt 42 năm (1928-1970). Ngoài ra, trong chùa còn có 6 cây nến lớn hai cây nặng 200 kg hai cây nến nhỏ nặng 100 kg và 3 cái đỉnh bằng đất mỗi cái cao 2m. Hai cây nến nhỏ đã đốt liên tục trong 40 năm kể từ năm 1970 khi ông Ngô Kim Tòng qua đời. Sáu cây nến lớn chưađốt, mỗi cây sẽ có thời gian cháy liên tục khoảng 70 năm. Chùa Mã Tộc (hay chùa Dơi): Chùa được xây dựng cách đây hơn 400 năm [31]. Chùa còn có tên là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là nơi trú ẩn của khoảng 1 triệu con dơi[cần dẫn nguồn], phần lớn có sải cánh 1-1h,2 m, những con lớn nhất có sải cánh lên tới 1,5 m. chúng treo mình trên những cành cây chung quanh chùa để ngủ suốt ngày, đến chiều tối mới bắt đầu lần lượt bay đi kiếm ăn ở những nơi khác. === Ẩm thực === Một cửa hàng bán trà bánh (nhiều nhất là bánh pía) ở TP. Sóc Trăng Sóc Trăng có nền văn hóa ẩm thực hết sức phong phú và đa dạng, trong đó có thể kể đến như: Bánh pía: Với nhiều thương hiệu như Tân Huê Viên, Công Lập Thành, Tân Hưng, Lập Hưng, Quảng Trân,... Lạp xưởng Bánh phồng tôm Bún nước lèo là đặc sản nổi tiếng của Sóc Trăng == Các địa điểm tham quan, du lịch == Ngoài các ngôi chùa, nhà thờ, thành phố Sóc Trăng còn có những địa điểm tham quan Hồ Nước Ngọt: khu công viên văn hóa này rộng khoảng 20ha, trên đường Hùng Vương, thành phố Sóc Trăng. Bao gồm 2 hồ: hồ nhỏ còn được gọi là Hồ Tịnh Tâm từ những năm 60 theo nguyên bản Hồ Tịnh Tâm ở Đại hội Huế (vì ông tỉnh trưởng Ba Xuyên bấy giờ người Huế), hồ lớn được đào năm 1982 là công trình thủy lợi do hàng ngàn người dân Sóc Trăng đào thủ công. Năm 2000, trong nỗ lực tạo một sân chơi lành mạnh cho sinh hoạt giải trí của người dân đồng thời cũng làm cơ sở tổ chức các sự kiện quan trọng của địa phương, Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã cho thành lập Ban quản lý dự án Khu văn hóa Hồ Nước Ngọt, tiến hành nâng cấp cải tạo, xây bờ kè, tráng nhựa đường nội bộ, lắp đặt hệ thống chiếu sáng, xây dựng các trung tâm hội chợ, triển lãm… và mở rộng diện tích đến 20ha, biến nơi đây thành một địa chỉ văn hóa thực sự trong đời sống tinh thần của người dân địa phương. Hồ Nước Ngọt đã trở thành điểm đến thân quen của mọi người khi mỗi sáng nhiều bà con vào đây đi bộ, tập thể dục, lớp thanh, thiếu niên đến đây chơi thể thao, các em thiếu nhi đến đây giải trí sau giờ học với nhiều trò chơi hấp dẫn, người lao động đến đây để thư giản, hưởng chút không khí trong lành sau một ngày làm việc cật lực… Hiện đang có đề án mở rộng khu công viên này và đào thêm hồ [33] Công viên 30/4 vừa được sửa chữa cuối năm 2015, trở thành nơi đông vui, tụ hợp nhiều người dân sinh hoạt ngoài trời. Công viên Bạch Đằng Bảo tàng tỉnh Phòng trưng bày văn hóa Khơ-me Nhà văn hóa thiếu nhi Khu du lịch Bình An == Giáo dục và y tế == === Giáo dục === Trường Đại học Nam Việt (đề án) Trường Cao đẳng Nghề Sóc Trăng Trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng Trường Cao đẳng Cộng đồng Sóc Trăng Trường Trung cấp Y tế Sóc trăng (đang nâng cấp lên thành trường Cao đẳng) Trung học Văn hóa nghệ thuật Trường chính trị Tỉnh Hệ thống trường Trung học phổ thông Trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Thị Minh Khai Trường Trung học phổ thông Hoàng Diệu Trường Trung học phổ thông Thành phố Sóc Trăng Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông iSchool Sóc Trăng (Lê Lợi cũ) Hệ thống trường Trung học cơ sở Trường Tiểu học và THCS Lý Thường Kiệt Trung học cơ sở Dương Kỳ Hiệp Trung học cơ sở Lê Hồng Phong Trung học cơ sở Lê Vĩnh Hoa Trung học cơ sở Phường 6 Trung học cơ sở Lê Quý Đôn Trung học cơ sở Dục Anh Trung học cơ sở Tôn Đức Thắng Hệ thống trường trường Tiểu học Trường Tiểu học và THCS Lý Thường Kiệt Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai Trường Tiểu học Phường 2 Trường Tiểu học Mạc Đĩnh Chi Trường Tiểu học Dục Anh Trường Tiểu học Kim Đồng === Y tế === Bệnh viện công Bệnh viện đa khoa TP Sóc Trăng Bệnh viện đa khoa Sóc Trăng Bệnh viện đa khoa Tỉnh Sóc Trăng (Đang Xây dựng) quy mô chỉ đứng sau Bệnh viện Trung ương Cần Thơ Bệnh viện chuyên khoa Sản & Nhi (Đang Xây dựng) Bệnh viện đa khoa 30/4 Bệnh viện tư nhân Bệnh viện Triều Châu (Dự án) Bệnh viện Vạn Phúc (Dự án) Bệnh viện Hoàng Tuấn Phòng khám tư nhân Phòng khám Vạn Phúc Phòng xét nghiệm Y khoa Thắng Vân == Thương mại == Hệ thống chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng, trung tâm thương mại Chợ Trung tâm Thành phố Sóc Trăng Chợ Bông Sen Chợ Khánh Hùng Chợ Sung Đinh Chợ Phường 2 Chợ Mùa Xuân Siêu thị Coopmart Siêu thị Thế giới Di Động Siêu thị dienmay.com Siêu thị FPT Shop Siêu thị Quang Đại Siêu thị Trietmart Siêu thị Điện máy chợ lớn (chi nhánh Sóc Trăng) Cao ốc Thiên Ngọc (dự án) Siêu thị Vinatex Mart (đang có đề án xây dựng) Cao ốc, Siêu thị Tổng hợp Ánh Quang Plaza (đang xây dựng) ở góc đường Tôn Đức Thắng, Lê Lợi Hùng Vương Plaza (đang có đề án xây dựng) Viển Thông A == Các khu dân cư == Khu dân cư Minh Châu Khu dân cư 5A Khu dân cư Sáng Quang Khu dân cư Hưng Thịnh Khu dân cư 586 Sóc Trăng (Trần Hưng Đạo) Khu dân cư F3 Khu dân cư Trần Quang Diệu == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Bản mẫu:Danh sách các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Sóc Trăng
edge.txt
EDGE (Enhanced Data Rates for GSM Evolution), đôi khi còn gọi là Enhanced GPRS (EGPRS), là một công nghệ di động được nâng cấp từ GPRS cho phép truyền dữ liệu với tốc độ có thể lên đến 384 kbit/s cho người dùng cố định hoặc di chuyển chậm và 144kbit/s cho người dùng di chuyển tốc độ cao. Trên đường tiến đến 3G, EDGE được biết đến như một công nghệ 2.75G. Thực tế bên cạnh điều chế GMSK, EDGE dùng phương thức điều chế 8-PSK để tăng tốc độ dữ liệu truyền. Chính vì thế, để triển khai EDGE, các nhà cung cấp mạng phải thay đổi trạm phát sóng BTS cũng như là thiết bị di động so với mạng GPRS. == Đặc điểm == EDGE cung cấp cho chúng ta một tốc độ dữ liệu gấp 3 lần tốc độ GPRS. Khi sử dụng EDGE nhà điều hành có thể quản lý và phục vụ được hơn gấp 3 lần số thuê bao đối với GPRS, và gấp 3 lần giá trị dữ liệu trên một thuê bao, thêm một dung lượng đáng kể cho truyền thông thoại. EDGE sử dụng cấu trúc khung dữ liệu, kênh lô-gic,và băng thông sóng mang 200 kHz giống như TDMA (Đa-truy-nhập-phân-chia-theo-thời-gian) dùng trong mạng GSM hiện nay, cho phép nó phủ sóng trực tiếp trên nền GSM hiện có. Đối với một số mạng GSM/GPRS hiện nay, EDGE thực chất chỉ là một sự nâng cấp phần mềm. EDGE cho phép truyền tải các dịch vụ di động tiên tiến như tải video, clip nhạc, tin nhắn đa phương tiện hoàn hảo, truy cập internet, e-mail di động tốc độ cao. == Tham khảo ==
northumberland.txt
Northumberland là một hạt nghi lễ và quận đông nhất ở đồng bắc của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Đối với mục đích Eurostat thì hạt Northumberland là vùng NUTS 3 (mã UKC21) và là một trong ba quận, huyện đơn nhất bao gồm các hạt "Northumberland và Tyne và Wear" NUTS khu vực 2. Hạt này giáp Cumbria về phía tây, County Durham ở phía nam và Tyne và Mang về phía đông về phía nam, cũng như có một biên giới với khu vực Scotland Hội đồng Biên giới phía bắc, và một bờ biển Biển Bắc của vẻ đẹp tự nhiên đăng chú với con đường dài 64 dặm Anh (103 km). Từ năm 1981, Hội đồng hạt đã được đặt ở Morpeth, nằm ở phía đông của hạt. Các ranh giới lịch sử của hạt Northumberland gồm Newcastle upon Tyne, thị trấn hạt truyền thống, cũng như Tynemouth và các khu định cư khác ở Bắc Tyneside, tất cả các lĩnh vực chuyển giao Tyne và Mang vào năm 1974 dưới chính quyền địa phương Đạo luật 1972. Các ranh giới của hạt lịch sử đôi khi được thực hiện để loại trừ Islandshire, Bedlingtonshire và Norhamshire (gọi chung là North Durham), hạt nằm lọt Durham được nhập vào Northumberland vào năm 1844. Trong lịch sử, đất này là đất bá tước xứ Northumberland (1377 - 1786) - dòng họ Percy. Các đời bá tước xứ Northumberland: Henry I (1377–1408) Henry II (1416–1455), cháu nội của Henry (1341–1408) Henry III (1455–1461) John (1461 - 1471) Henry IV (1470–1489) Henry V (1489–1527) Henry VI (1527–1537) Thomas (1528–1572) John Dudley (1551 - 1553) Henry VIII (1572–1585) Henry IX (1585–1632) Algernon (1632–1668) Josceline (1668–1670) George I (1670–1716) Algernon I Seymour - Công tước thứ 7 của Somerset (1716–1750), Elizabeth Seymour (1750–1776) Hugh I (1776–1786) Về sau trở thành đất công tước: Hugh I (1776–1786) Hugh II (1786–1817) Hugh III (1817–1847) Algernon II (1847–1865) George V (1865–1867) Algernon III (1867–1899) Henry X (1899–1918) Alan (1918–1930) Henry George Alan (1930–1940) Hugh Algernon (1940–1988) Henry Alan Walter Richard (1988–1995) Ralph George Algernon (1995 - nay) + Kế vị: George Percy, Earl Percy (sinh năm 1984) Tọa lạc ở biên giới Anh và Scotland, Northumberland đã là địa điểm của nhiều trận đánh trong quá khứ. Hạt này nổi bật với cảnh quan chưa phát triển cao vùng đất hoang với cây thạch nam, một phong cảnh được nhiều họa sĩ phong cảnh yêu thích, và hiện nay phần lớn được bảo vệ như một vườn quốc gia. Hạt Northumberland có dân cư thưa thớt nhất ở Anh, với chỉ 62 người trên mỗi km vuông. == Tham khảo ==
tiếng việt.txt
Tiếng Việt, còn gọi tiếng Việt Nam hay Việt ngữ, là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam. Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm — một hệ chữ dựa trên chữ Hán — để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại). Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ, cùng các dấu thanh để viết. Tiếng Việt được chính thức ghi nhận trong hiến pháp là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam. Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để viết. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước quy định giọng chuẩn và quốc tự của tiếng Việt. Cũng cần lưu ý tránh nhầm lẫn với Việt ngữ (粵語) hay tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ được sử dụng ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây) cũng như ở Hồng Kông và Ma Cao. Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đặt mã ngôn ngữ hai chữ cái cho tiếng Việt là "vi" (tiêu chuẩn ISO 639-1) và đặt mã ngôn ngữ ba chữ cái cho tiếng Việt là "vie" (tiêu chuẩn ISO 639-2). == Xếp loại == Với những cơ sở khoa học gần đây được đa số các nhà ngôn ngữ học thừa nhận, tiếng Việt thuộc hệ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay, có quan hệ gần gũi với tiếng Mường. Xa hơn là các thứ tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Những ngôn ngữ này có chung một số từ vựng căn bản. Thí dụ, từ tay trong tiếng Việt tương đương trong tiếng Mường là thay, trong tiếng Khmer là đay và trong tiếng Môn là tai. == Lịch sử == Tiếng Việt là ngôn ngữ có nguồn gốc bản địa, xuất thân từ nền văn minh nông nghiệp, tại nơi mà ngày nay là khu vực phía bắc lưu vực sông Hồng và sông Mã của Việt Nam. Theo A. G. Haudricourt giải thích từ năm 1954, nhóm ngôn ngữ Việt-Mường ở thời kỳ khoảng đầu Công nguyên là những ngôn ngữ hay phương ngữ không thanh điệu. Về sau, qua quá trình giao thoa với Hoa ngữ và nhất là với các ngữ thuộc ngữ hệ Tai-Kadai vốn có hệ thống thanh điệu phát triển cao, hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện và có diện mạo như ngày nay, theo quy luật hình thành thanh điệu. Sự xuất hiện các thanh điệu, bắt đầu khoảng thế kỷ thứ 6 (thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam) với ba thanh điệu và phát triển ổn định vào khoảng thế kỷ 12 (nhà Lý) với 6 thanh điệu. Sau đó một số phụ âm đầu biến đổi cho tới ngày nay. Trong quá trình biến đổi, các phụ âm cuối rụng đi làm thay đổi các kết thúc âm tiết và phụ âm đầu chuyển từ lẫn lộn vô thanh với hữu thanh sang tách biệt. Ví dụ của A.G. Haudricourt. === Nguồn gốc bản địa === === Ảnh hưởng từ Trung Hoa === Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập quốc. Có 6 âm sắc chính là: ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Giai đoạn từ đầu công nguyên, tiếng Việt có rất nhiều âm mà không có trong tiếng Trung Hoa. Bắt đầu từ khi Trung Quốc có ảnh hưởng tới Việt Nam thông qua nhiều con đường và bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, tiếng Việt bắt đầu có những âm được vay mượn từ tiếng Hán. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn sách Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt chia quá trình tiếp xúc Hán – Việt thành hai giai đoạn lớn: một là giai đoạn từ đầu công nguyên đến đầu đời nhà Đường (đầu thế kỉ 8), từ vựng tiếng Hán ảnh hưởng tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là từ Hán cổ; hai là giai đoạn từ đời Đường (thế kỉ 8 – thế kỉ 10) trở về sau, từ vựng tiếng Hán ảnh hưởng tới tiếng Việt trong giai đoạn này gọi là từ Hán Việt. Từ Hán cổ và từ Hán Việt được gọi chung là từ gốc Hán. Một số từ ngữ Hán cổ có thể kể đến như "đầu", "gan", "ghế", "ông", "bà", "cô", "chè", "ngà", "chén", "chém", "chìm", "buồng", "buồn", "buồm", "mùi", "mùa"... Từ Hán cổ là những từ gốc Hán được du nhập vào tiếng Việt đã lâu, đã được đồng hoá rất mạnh, nên những từ này hiện nay nói chung không còn xa lạ đối với người Việt nữa. Hệ thống Hán-Việt trong tiếng Việt bằng cách đọc các chữ Hán theo ngữ âm hiện có của tiếng Việt (tương tự như người Nhật Bản áp dụng kanji đối với chữ Hán và katakana với các tiếng nước ngoài khác. Hiện nay có 1945 chữ Hán thông dụng trong tiếng Nhật, cũng có khoảng 2000 từ Hán-Hàn thông dụng). Số lượng từ vựng tiếng Việt có thêm hàng loạt các yếu tố Hán-Việt. Như là "chủ", "ở", "tâm", "minh", "đức", "thiên", "tự do"... giữ nguyên nghĩa chỉ khác cách đọc; hay thay đổi vị trí như "nhiệt náo" thành "náo nhiệt", "thích phóng" thành "phóng thích", "đảm bảo" thành "bảo đảm"...; hoặc được rút gọn như "thừa trần" thành "trần" (trong trần nhà), "lạc hoa sinh" thành "lạc" (trong củ lạc, còn gọi là đậu phộng)...; hoặc được đọc chệch đi như "tiếp thu" thành "tiếp thụ", "tháp nhập" thành "sát nhập", "thống kế" thành "thống kê", "chúng cư" thành "chung cư", "vãn cảnh" thành "vãng cảnh", "khuyến mãi" thành "khuyến mại"...; hay đổi khác nghĩa hoàn toàn như "phương phi" trong tiếng Hán có nghĩa là "hoa cỏ thơm tho" thì trong tiếng Việt lại là "béo tốt", "bồi hồi" trong tiếng Hán nghĩa là "đi đi lại lại" sang tiếng Việt thành "bồn chồn, xúc động"...Mặt khác người Trung Quốc gọi là Thái Sơn, Hoàng Hà, cổ thụ...thì người Việt lại đọc là núi Thái Sơn, sông Hoàng Hà, cây cổ thụ (mặc dù sơn = núi, hà = sông, thụ = cây)...Do tính quy ước của ngôn ngữ mà ít nhiều các cách đọc sai khác với tiếng Hán vẫn được chấp nhận và sử dụng rộng rãi, trong khi các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt hiện nay cũng như các cơ quan, các cấp quản lý, tổ chức xã hội - nghề nghiệp lẫn các nhà khoa học Việt Nam chưa tìm được tiếng nói chung trong việc chuẩn hoá cách sử dụng tên riêng và từ vựng mượn từ tiếng nước ngoài.. Bên cạnh đó, cũng có những từ được cho là dùng sai và khó chấp nhận như, “quan ngại” được dùng và hiểu như “lo ngại”, “vấn nạn” được hiểu là “vấn đề nan giải”, “vô hình trung” thì viết thành “vô hình chung” hay “vô hình dung”, “việt dã” bị hiểu là “chạy dài”; “trứ tác” được dùng như “sáng tác”, “phong thanh” được dùng như “phong phanh", “bàng quan” được dùng như “bàng quang”, “đào ngũ” được dùng là “đảo ngũ”,"tham quan" thành "thăm quan", "xán lạn" thành "sáng lạng"… Đặc biệt là các yếu tố Hán-Việt được sử dụng để tạo nên những từ ngữ đặc trưng chỉ có trong tiếng Việt, không có trong tiếng Hán như là các từ "sĩ diện", "phi công" (dùng 2 yếu tố Hán-Việt) hay "bao gồm", "sống động", "sinh đẻ" (một yếu tố Hán kết hợp với một yếu tố thuần Việt). Nói chung tỉ lệ vay mượn tiếng Hán trong tiếng Việt rất lớn. Theo ước lượng của các nhà nghiên cứu, từ Hán Việt chiếm khoảng trên dưới 70% vốn từ trong phong cách chính luận, khoa học (Maspéro thì cho rằng, chúng chiếm tới hơn 60% lượng từ tiếng Việt). Tác giả Lê Nguyễn Lưu trong cuốn sách Từ chữ Hán đến chữ Nôm thì cho rằng, về lĩnh vực chuyên môn và khoa học tỉ lệ này có thể lên đến 80%, nhưng khi nhận xét về văn ngữ trong một cuốn tiểu thuyết thì chỉ còn 12,8%, kịch nói rút xuống còn 8,9%, và ngôn ngữ nói chuyện hằng ngày còn thấp hơn nữa.. Dù ở tỷ lệ nào đi nữa đại đa số những từ đó đều đã được Việt hóa cho phù hợp với nhận thức của người Việt. Tiếng Việt gọi là "thủ tướng" nhưng tiếng Hoa là "tổng lý"; tiếng Việt là "truyền hình" thì tiếng Hoa là "điện thị"; tiếng Việt là "thành phố" thì tiếng Hoa là "đô thị". Những chữ thủ tướng, truyền hình, thành phố hoàn toàn là Hán Việt nhưng người Hoa tuyệt nhiên không dùng. Do vậy tiếng Việt dù vay mượn tiếng Hán nhưng giữ được bản sắc riêng của mình trước ảnh hưởng của văn hóa Hán, trong khi lợi dụng được những thành tựu ngôn ngữ trong tiếng Hán để tự cải tiến mình. Kể từ đầu thế kỷ thứ 11, Nho học phát triển, việc học văn tự chữ Nho được đẩy mạnh, tầng lớp trí thức được mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng chữ Nho cực kỳ phát triển với cái áng văn thư nổi tiếng như Nam quốc sơn hà bên sông Như Nguyệt (sông Cầu). Cùng thời gian này, một hệ thống chữ viết được xây dựng riêng cho người Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết được phát triển, và đó chính là chữ Nôm. Để tiện cho việc học chữ Hán và chữ Nôm của người Việt, Ngô Thì Nhậm (1746-1803) đã biên soạn cuốn sách Tam thiên tự giải âm (còn gọi là Tam thiên tự, Tự học toản yếu). Tam thiên tự giải âm chỉ lược dạy 3000 chữ Hán, Nôm thông thường, đáp ứng nhu cầu cần thiết, nhớ chữ, nhớ nghĩa từng chữ, mỗi câu bốn chữ. Hiệp vần cũng có điểm đặc biệt, tức là vần lưng (yêu vận, vần giữa câu). Tiếng thứ tư câu đầu hiệp với tiếng thứ hai câu dưới, rồi cứ thế mãi đến 3000 chữ, 750 câu. Ví dụ: Thiên- trời, địa - đất, cử - cất, tồn - còn, tử - con, tôn - cháu, lục - sáu, tam -ba, gia - nhà, quốc - nước, tiền - trước, hậu - sau, ngưu - trâu, mã - ngựa, cự - cựa, nha - răng, vô - chăng, hữu - có, khuyển - chó, dương - dê v.v...Trần Văn Giáp đánh giá đây tuy chỉ là quyển sách dạy học vỡ lòng về chữ Hán, như lời tác giả đã nói, nhưng thực ra cũng có thể coi nó chính là sách tự điển Hán Việt thông thường và phổ biến ở cuối thế kỷ XVIII, cùng thời với các sách Chỉ nam ngọc âm, Chỉ nam bị loại, và xuất hiện trước các sách Nhật dụng thường đàm, Thiên tự văn và Đại Nam quốc ngữ. Nhờ có chữ Nôm, văn học Việt Nam đã có những bước phát triển rực rỡ nhất, đạt đỉnh cao với Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820). Tiếng Việt, được thể hiện bằng chữ Nôm ở những thời kỳ sau này về cơ bản rất gần với tiếng Việt ngày nay. Tuy hầu hết mọi người Việt đều có thể nghe và hiểu văn bản bằng chữ Nôm, chỉ những người có học chữ Nôm mới có thể đọc và viết được chữ Nôm. Chữ Nôm được chính thức dùng trong hành chính khi vua Quang Trung lên ngôi vào năm 1789. === Ảnh hưởng từ châu Âu === Kể từ khi Pháp xâm lược Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ thứ 19, tiếng Pháp dần dần thay thế vị trí của chữ Nho như là ngôn ngữ chính thức trong giáo dục, hành chính và ngoại giao. Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo châu Âu, đặc biệt là hai tu sĩ người Bồ Đào Nha Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa, với mục đích dùng ký tự Latinh để biểu hiện tiếng Việt, ngày càng được phổ biến, đồng thời chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương (chủ yếu là từ tiếng Pháp) như phanh, lốp, găng, pê đan... và tiếng Hán như chính đảng, kinh tế, giai cấp, bán kính... Tờ Gia Định báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc Ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam độc lập sau này. === Thời kỳ 1945 cho đến nay === Chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, chỉ sử dụng 27 ký tự Latin và 6 dấu thanh, đơn giản, tiện lợi và có tính khoa học cao, dễ học, dễ nhớ, thông dụng; thay thế hoàn toàn tiếng Pháp và tiếng Hán vốn khó đọc, khó nhớ, không thông dụng với người Việt. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, sự phát triển tiếng Việt giữa miền Bắc và miền Nam có chiều hướng khác nhau. Vì các lý do chính trị và kinh tế, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc, và sự hiện diện của các chuyên viên nhân sự Trung Quốc đưa nhiều từ Bạch Thoại (ngôn ngữ nói của Trung Quốc) vào ngữ vựng tiếng Việt. Những từ này thường có gốc Hán-Việt, nhưng thường đổi ngược thứ tự hay có nghĩa mới. Tại miền Nam, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ đã đem một số từ tiếng Anh vào ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày. Tuy nhiên, trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam thì ở miền Bắc có xu hướng sử dụng từ thuần Việt và ở miền Nam lại có khuynh hướng sử dụng từ Hán-Việt. Ví dụ như miền Nam vẫn giữ tên "Ngân hàng Quốc gia" trong khi miền Bắc đổi thành "Ngân hàng Nhà nước" (1960), miền Nam lại gọi là "phi trường" thì miền Bắc gọi là "sân bay", miền Nam gọi là "Ngũ Giác Đài" thì miền Bắc gọi là "Lầu Năm Góc", miền Nam gọi là "Đệ nhứt thế chiến" thì miền Bắc kiên quyết gọi là "Chiến tranh thế giới thứ nhất", miền Nam gọi là "hỏa tiễn" thì miền Bắc lại gọi là "tên lửa",, miền Nam vẫn gọi là "thủy quân lục chiến" còn miền Bắc lại đổi thành "lính thủy đánh bộ"... Ngược lại danh từ miền Bắc như "tham quan", "sự cố", "nhất trí", "đăng ký", "đột xuất", "vô tư" v.v. thì miền Nam dùng những chữ "thăm viếng", "trở ngại/trục trặc", "đồng lòng", "ghi tên", "bất ngờ", "thoải mái"... Các từ có gốc phương Tây, miền Nam có khuynh hướng biến đổi thành từ Hán Việt, như Băng đảo, Úc Đại Lợi, Hung Gia Lợi còn miền Bắc có khuynh hướng phiên âm ra thành Ai-xơ-len, Ô-xtrây-li-a, Hung-ga-ri... Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, quan hệ Bắc Nam được kết nối lại. Gần đây, sự phổ biến của các phương tiện truyền thanh và truyền hình trên toàn quốc đã làm tiếng Việt được chuẩn hóa một phần nào. Nhiều từ thuần Việt được sử dụng phổ biến thay cho từ Hán Việt, cũng như với sự tiến triển của internet và toàn cầu hóa, ảnh hưởng của tiếng Anh ngày càng lớn trên báo chí và đội ngũ phóng viên, nhiều từ nước ngoài được đưa vào tiếng Việt thiếu chọn lọc, viết nguyên bản theo ngôn ngữ nước ngoài... == Phân bố == Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam, và cũng là ngôn ngữ phổ thông đối với các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Thêm vào đó, tiếng Việt được hơn 1 triệu người sử dụng tại Hoa Kỳ (đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 3 tại Texas, thứ 4 tại Arkansas và Louisiana và thứ 5 tại California), cũng như trên 100.000 người tại Canada và Úc (đứng thứ 6 toàn quốc). Theo Ethnologue, tiếng Việt còn được nhiều người sử dụng tại Anh, Ba Lan, Campuchia, Côte d'Ivoire, Đức, Hà Lan, Lào, Na Uy, Nouvelle-Calédonie, Phần Lan, Pháp, Philippines, Cộng hòa Séc, Sénégal, Thái Lan, Trung Quốc và Vanuatu. Tiếng Việt cũng còn được dùng bởi những người Việt sống tại Đài Loan, Nga... Ngoài ra Tiếng Việt cũng được công nhận là ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Cộng hòa Séc vì người Việt được công nhận là dân tộc thiểu số tại Séc. == Tiếng địa phương == Tiếng Việt có sự thay đổi trong giọng nói từ Bắc vào Nam, không đột ngột mà tiệm tiến dần theo từng vùng liền nhau. Trong đó, giọng Bắc Hà Nội, giọng Trung Huế và giọng Nam Sài Gòn là ba phân loại chính. Những tiếng địa phương này khác nhau ở giọng điệu và từ địa phương. Thanh ngã và thanh hỏi ở miền Bắc rõ hơn ở miền Nam và Trung. Miền Bắc sử dụng một số phụ âm (tr, ch, n, l...) khác với miền Nam và Trung. Giọng Huế khó hiểu hơn những giọng khác vì có nhiều từ địa phương. Từ điển Việt-Bồ-La (1651) của Alexandre de Rhodes lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, Dictionarium Anamitico Latinum (1772-1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine lấy tiếng miền Nam làm nền tảng. Theo trang thông tin của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc và học giả Laurence Thompson thì cách đọc tiêu chuẩn hiện nay được dựa vào giọng Hà Nội. Tuy nhiên, chưa có quy định nào nói rằng giọng Hà Nội là chuẩn quốc gia. == Ngữ âm == === Nguyên âm === Giống như nhiều ngôn ngữ khác ở Đông Nam Á, tiếng Việt khá phong phú về nguyên âm. Dưới đây là bảng các nguyên âm theo giọng Hà Nội. Trong bảng trên, các nguyên âm trước, giữa và nguyên âm mở là nguyên âm không tròn môi, còn lại là nguyên âm tròn môi. Ă và â là dạng ngắn của a và ơ. Đồng thời, tiếng Việt còn có hệ thống nguyên âm đôi và nguyên âm ba. === Phụ âm === Bảng dưới đây trình bày các phụ âm trong tiếng Việt và cách viết. Một số phụ âm chỉ có một cách viết (như b, p), nhưng một số có nhiều cách viết như k, có thể được biểu diễn bằng c, k hay q. Đồng thời, các phụ âm có thay đổi tuỳ theo địa phương. Sự khác biệt về phụ âm giữa các vùng miền được trình bày kĩ hơn trong bài phương ngữ tiếng Việt. === Thanh điệu === Tiếng Việt là một ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang một thanh điệu nào đó. Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ được biểu thị bằng các dấu thanh, còn gọi là dấu, nên một số người quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các "dấu". Có sự khác biệt về số lượng thanh điệu và điệu trị của thanh điệu giữa các phương ngôn của tiếng Việt, thanh điệu có tên gọi giống nhau không đồng nghĩa với việc chúng sẽ được nói giống nhau trong mọi phương ngôn của tiếng Việt. Phương ngôn tiếng Việt Bắc Bộ có sáu thanh điệu, phương ngôn tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ có năm thanh điệu. Thanh điệu của tiếng Việt tiêu chuẩn được cho là gồm sáu thanh ngang (còn gọi là thanh không dấu do chữ quốc ngữ không có dấu thanh cho thanh điệu này), sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng nhưng lại thiếu các quy định cụ thể về việc lấy cách phát âm trong phương ngôn nào của tiếng Việt làm cách phát âm tiêu chuẩn cho sáu thanh điệu này. Các âm tiết mang vần nhập thanh, tức là các vần kết thúc bằng một trong ba phụ âm cuối /k/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "c" hoặc chữ cái nhị hợp "ch"), /t/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "t"), /p/ (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái "p") chỉ có thể mang thanh sắc hoặc thanh nặng. Ba âm tắc trên đã làm cho các âm tiết mang vần nhập thanh chỉ có thể mang các thanh điệu có điệu trị ngắn và nhanh. Trong thơ ca các thanh điệu được phân thành hai nhóm: thanh bằng gồm có ngang và huyền, thanh trắc gồm các thanh còn lại. Trong các thể thơ cổ như Đường luật và lục bát, sự hoà hợp thanh điệu bằng - trắc giữa các tiếng trong một câu thơ rất quan trọng. == Ngữ pháp == Giống như nhiều ngôn ngữ khác tại Đông Nam Á, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập. Các quan hệ ngữ pháp được thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống hư từ và cách sắp xếp trật tự từ trong câu. Trật tự từ thông dụng nhất trong tiếng Việt là chủ ngữ - vị ngữ - phụ ngữ (SVO). Vị trí các từ được sắp xếp theo thứ tự, từ mang ý chính đứng trước từ mang ý phụ phụ đứng sau bổ sung nghĩa cho từ mang ý chính, tương tự như danh từ đứng trước tính từ đứng sau bổ sung nghĩa cho danh từ. Tiếng Việt còn có hệ thống đại từ nhân xưng phức tạp dựa trên các từ ngữ chỉ quan hệ thân thuộc, và hệ thống danh từ đơn vị. == Từ vựng == Từ vựng tiếng Việt được chia ra thành hai bộ phận lớn: từ thuần Việt và từ mượn. Ngoài ra còn có những từ hỗn chủng, là kết quả của sự kết hợp các yếu tố thuần Việt và ngoại lai. === Từ thuần Việt === Từ thuần Việt là những từ xuất hiện lâu đời trong tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất. Do có sự tiếp xúc từ rất sớm với các ngôn ngữ nhóm Tày-Thái nên nhiều từ thuần Việt và các từ tương ứng trong các tiếng này có sự giống nhau nhất định về ngữ âm và ngữ nghĩa. === Từ Hán-Việt === Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của Trung Quốc xâm chiếm nước Việt. Quá trình tiếp xúc lâu dài đã đưa vào tiếng Việt một khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán. Giai đoạn đầu, hiện tượng này diễn ra lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu thông qua đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc giữa người Việt và người Hán, tạo nên một lớp từ có nguồn gốc Hán cổ mà ngày nay đã hoà lẫn với các từ thuần Việt. Đến đời Đường, tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua đường sách vở. Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu được đọc theo ngữ âm đời Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán-Việt. Khi được đưa vào tiếng Việt, bên cạnh việc bị thay đổi về mặt ngữ âm, nhiều từ Hán Việt bị thay đổi cả ngữ nghĩa. Từ Hán Việt chiếm một phần không nhỏ trong vốn từ vựng tiếng Việt. Chúng có vai trò quan trọng, hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Người Việt Nam có thói quen đặt tên người theo tiếng Hán Việt như Sơn, Thủy, Phong,...mà ít khi đặt theo tiếng thuần Việt như Núi, Nước, Gió,...Việc sử dụng từ thuần Việt để đặt tên đôi khi bị coi là không hay, quê mùa. Tuy nhiên, nhiều người nổi tiếng có xu hướng đặt các nghệ danh theo tên Hán Việt, thường được báo chí Việt Nam gọi là các tên kêu, các mỹ từ như Nhật Kim Anh, Lý Nhã Kỳ, Phan Đinh Tùng, Quang Lê, Ngô Kiến Huy... Người Việt Nam có ý thức trong việc nhận thức và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt nên việc sử dụng từ Hán Việt có sự chọn lọc, có xu hướng thay thế từ Hán Việt bằng từ thuần Việt khi có thể. Trong bức thư gửi cho Hồ Mộ La vào năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Răng không kêu chú là chú Minh, lại kêu bằng “Minh thúc”. Tiếng ta có, thì nên dùng tiếng ta, như rứa phổ thông hơn, phải không cháu?". Hồ Chí Minh cũng đề xuất thay thế các từ "giám mã" bằng "giữ ngựa"... === Từ có nguồn gốc Ấn-Âu === Kể từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng đáng kể đến tiếng Việt và các từ ngữ gốc Pháp thâm nhập khá nhiều vào tiếng Việt, chỉ sau từ Hán-Việt. Sự ảnh hưởng này là do tiếng Pháp được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ của Nhà nước và trong giảng dạy ở nhà trường, cũng như trong các loại sách báo khác. Ảnh hưởng này kéo theo sự xuất hiện của nhiều từ gốc Pháp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong khoa học - kĩ thuật. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Việt Nam chịu ảnh hưởng đáng kể của Liên Xô. Do đó, một số từ gốc Nga có điều kiện du nhập vào Việt Nam (như xô viết, bôn-sê-vích). Đồng thời, cùng với sự tiếp xúc, hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới, trong tiếng Việt cũng xuất hiện các từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh. Nhìn chung, khi được đưa vào tiếng Việt, những từ này được Việt hoá về mặt âm đọc (thêm thanh điệu, thay đổi âm hoặc giảm bớt âm tiết). Do vậy, những từ đơn âm tiết (hoặc được đơn âm hoá), vay mượn qua khẩu ngữ dễ dàng thâm nhập vào tiếng Việt. Trong khi đó, những từ có hai hoặc nhiều âm tiết trở lên, được vay mượn thông qua sách vở vẫn còn dấu ấn ngoại lai. Đặc biệt, nhiều từ được vay mượn nguyên dạng nên tạo không ít khó khăn trong cách phát âm. === Từ hỗn chủng === Từ hỗn chủng là những từ được tạo thành từ các yếu tố có nguồn gốc khác nhau, như giữa yếu tố thuần Việt và Hán Việt, giữa yếu tố thuần Việt và yếu tố Ấn-Âu. Cùng với sự phát triển của tiếng Việt, các từ hỗn chủng được tạo ra ngày càng nhiều, đóng vai trò quan trọng trong việc diễn đạt các khái niệm mới trong xã hội hiện đại. Ví dụ: vôi hoá (Hán-Nôm: 𥔦化) - "vôi" là thuần Việt, "hoá" là Hán-Việt. ôm kế - "ôm" là từ tiếng Đức Ohm, "kế" là Hán-Việt. nhà băng - "nhà" là thuần Việt, "băng" là từ tiếng Pháp banque. game thủ - "game" là tiếng Anh, "thủ" là Hán-Việt. == Chữ viết == Hiện nay, tiếng Việt dùng hệ chữ viết như ký tự Latin gọi là chữ Quốc Ngữ. Theo tài liệu của những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha lúc trước, chữ Quốc Ngữ phát triển từ trước thế kỷ thứ 17 rồi được chuẩn định do công của một nhà truyền giáo người Pháp tên là Alexandre de Rhodes (1591–1660). Ông là người cho in cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum năm 1651. Sau cuộc xâm lăng của người Pháp giữa thế kỷ thứ 19, chữ Quốc Ngữ trở nên thịnh hành và hầu như tất cả các văn bản viết đều dùng nó kể từ sau thập niên 1920. Trước đó, người Việt dùng hai loại chữ viết là chữ Hán và chữ Nôm. Chữ Nôm tồn tại cho đến đầu thế kỷ 20 mới mất vị trí là công cụ truyền đạt ý tưởng văn chương tiếng Việt. Ngày nay, chữ Nôm không còn thông dụng ở Việt Nam. === Thư pháp === Cùng với chữ Hán, chữ Nhật và chữ Hàn, chữ viết tiếng Việt cũng được nhiều người yêu thích thư pháp nâng lên thành một nghệ thuật. Có thể nói, thư pháp chữ Việt đầu tiên được viết là thư pháp chữ Nôm. Dần dần, cùng với việc chữ Nôm bị thay thế bởi chữ Quốc Ngữ, do nhu cầu treo chữ trong nhà, người ta đã khởi xướng thư pháp chữ Quốc ngữ. === Bộ gõ chữ Việt === Để có thể viết chữ Việt trên máy tính, cần có bộ gõ tiếng Việt là một loại phần mềm hỗ trợ soạn thảo văn bản bằng tiếng Việt trên máy tính, thường cần phải có phông ký tự chữ Quốc ngữ đã được cài đặt trong máy tính. Các bộ gõ tiếng Việt khác nhau sẽ quy định các phím bấm khác nhau cho các dấu thanh, dấu mũ và dấu móc. Có những quy ước chuẩn dấu tiếng Việt, bộ mã, cách gõ và những phần mềm khác nhau. Hiện nay, bộ mã chữ Việt theo chuẩn quốc tế Unicode là được dùng phổ biến nhất. == Chuyện bên lề == Vào cuối những năm 70, NASA sử dụng tiếng Việt và 54 ngôn ngữ khác trên khắp thế giới để liên lạc với người ngoài hành tinh, bằng cách ghi trên đĩa ghi vàng Voyager đặt trên hai con tàu Voyager 1 và Voyager 2. Các tác phẩm phim ảnh có phụ đề bằng tiếng Việt thường được gọi tắt là Vietsub (viết tắt của Vietnamese Subtitle: phụ đề tiếng Việt). == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói Hệ thống chữ nổi tiếng Việt Ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam == Liên kết ngoài == Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes trên mạng Từ điển tiếng Việt xưa trên mạng nhà sách Sông Hương: Từ điển Việt-Latinh của J.L. Taberd, Từ điển Việt Bồ La, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị Giáo sĩ Bồ Đào Nha và chữ Quốc ngữ * GS Lâm Văn Bé, Sách tiếng Việt và Việt học tại các thư viện ngoài Việt Nam (Phần 1), Phần 2, hay là Phần 1, Phần 2 Thư viện lập trình đọc tiếng Việt “㗂越” (bản chữ Nôm) tại VinaWiki
thời kỳ heian.txt
Thời kỳ Heian (平安時代, Heian-jidai, âm Hán Việt: Bình An thời đại) là thời kì phân hóa cuối cùng trong lịch sử Nhật Bản cổ đại, kéo dài từ năm 794 đến 1185. Đây là thời kỳ đạo Khổng và các ảnh hưởng của Trung Quốc phát triển tới đỉnh cao. Thời kì Heian cũng được coi là giai đoạn đỉnh cao của quyền lực Nhật hoàng, đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật, thơ ca và văn học. Heian (平安, Heian) trong tiếng Nhật có nghĩa là "hòa bình" hoặc "yên bình". == Lịch sử == Heian kế tiếp thời kỳ Nara, bắt đầu từ năm 794 sau khi Nhật hoàng thứ 50, Kammu, rời kinh đô Heijō-kyō (平城京, Bình Thành Kinh ở Nara) tới Heian kyō (平安京, Bình An kinh thành phố Kyoto ngày nay). Đây được coi là một dấu son trong văn hóa Nhật Bản, được các thế hệ sau ghi nhớ ngưỡng mộ. Thời kỳ Heian cũng đánh dấu sự thăng hoa của tầng lớp samurai, tầng lớp sau cùng sẽ chiếm đoạt quyền lực và bắt đầu thời kì phong kiến ở Nhật Bản. Về cơ bản, quyền lực tối cao do Nhật hoàng nắm giữ. Nhưng trong thực tế, dòng họ quý tộc Fujiwara đã thâu tóm quyền lực. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi tại các tỉnh lị, nhà Fujiwara và các dòng họ quý tộc khác phải có vệ sĩ, cảnh vệ và các binh sĩ. Tầng lớp võ sĩ đã học hỏi được rất nhiều điều trong suốt thời kỳ Heian. Đầu năm 939, Taira no Masakado đe dọa quyền lực của chính quyền trung ương bằng việc dẫn đầu cuộc nổi loạn ở tỉnh Hitachi ở phía Bắc. Gần như trong cùng thời điểm, Fujiwara no Sumitomo nổi loạn ở phía Tây. Phần lớn sức mạnh của chính quyền nằm trong quân đội riêng của shogun. Sự lấn tới của tầng lớp võ sĩ vào ảnh hưởng của hoàng gia là hậu quả của cuộc nổi loạn Hōgen. Cùng thời gian này, Taira no Kiyomori học theo âm mưu của Fujiwara bằng việc đưa con ông lên giữ ngôi trị vì Nhật Bản bằng chức nhiếp chính. Gia tộc này (gia tộc Taira) vẫn tại vị cho đến sau cuộc chiến đánh dấu sự mở đầu của Mạc phủ, Chiến tranh Genpei. Thời kỳ Kamakura bắt đầu năm từ năm 1185 khi Minamoto no Yoritomo giành được quyền lực từ hoàng đế và thiết lập Mạc phủ, tức Mạc phủ Kamakura, tại Kamakura. == Chế độ nhiếp chính Fujiwara == Khi Nhật hoàng Kammu rời kinh đô tới Heian-kyō (Kyoto), trung tâm của hoàng gia trong hơn 1000 năm sau đó. Kammu không chỉ muốn tăng cường quyền lực hoàng đế mà còn củng cố vị thế địa chính trị của bộ máy cai trị. Kyoto có một con sông dẫn ra biển và có thể đến được bằng đường bộ qua các tỉnh phía Đông. Thời Heian giai đoạn đầu (784-967) là sự tiếp tục văn hóa thời kì Nara, thủ đô Heian (Kyoto) được thiết kế theo kiểu kinh đô Trường An của nhà Đường. Nara cũng như vậy nhưng ở quy mô lớn hơn. Bất chấp sự suy thoái của các cải cách Taika-Taihō, chính quyền hoàng gia vẫn rất mạnh vào giai đoạn đầu thời kì Heian. Sự thật là, việc Nhật Hoàng Kammu tránh xa các cải cách mạnh mẽ đã làm giảm cường độ các cuộc đấu tranh chính trị và ông đã được thừa nhận là một trong những hoàng đế mạnh mẽ nhất của Nhật Bản. Dù đã bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự năm 792, Kammu vẫn tiến hành những cuộc tấn công quân sự lớn nhằm thu phục người Emishi, những người được cho là con cháu của người thời kỳ Jōmon đã di cư, sống ở Bắc và Đông Nhật Bản. Sau khi thu được một số lãnh thổ năm 794, năm 797 Kammu bổ nhiệm một tướng lĩnh mới với tên hiệu Chinh di đại tướng quân. Năm 801, vị tướng này đánh bại người Emishi và mở rộng lãnh địa hoàng gia tới cuối phía Đông của đảo Honshū. Quyền lực hoàng đế với các tỉnh ở thời điểm mong manh nhất. Tuy nhiên, trong thế kỉ 9 và 10, phần lớn quyền lực rơi vào tay các gia tộc lớn, họ không coi trọng các vùng đất có phong cách Trung Hoa và hệ thống thuế của chính quyền tại Kyoto. Sự ổn định đến với thời kì Heian, dù sự kế vị được đảm bảo cho gia đình hoàng đế theo phương thức truyền ngôi, quyền lực lại lần nữa tập trung vào tay của dòng họ quý tộc như nhà Fujiwara. Sau cái chết của Kammu năm 806 và sự tranh giành quyền kế vị của hai con trai ông, hai cơ quan mới được thành lập để điều chỉnh lại hệ thống hành chính Taika-Taihō. Thông qua Ngự tiền viện, Hoàng đế có thể soạn thảo các chiếu chỉ trực tiếp và chắc chắn hơn trước kia. Ban Cảnh binh thủ thay thế các đơn vị cấm vệ mang nặng tính nghi lễ. Trong khi hai cơ quan này củng cố quyền lực của Thiên hoàng, chúng và các cấu trúc kiểu Trung Hoa khác nhạt dần khi đất nước phát triển hơn. Ảnh hưởng Trung Hoa thực sự chấm dứt với đoàn sứ bộ của Hoàng gia đến nhà Đường năm 838. Nhà Đường là một đất nước đang suy vong, và Phật giáo Trung Quốc đang bị khủng bố quyết liệt, làm xói mòn sự kính trọng của người Nhật với các thể chế Trung Quốc. Nhật Bản bắt đầu thay đổi theo chiều hướng hướng nội hơn. Giống như gia tộc Soga nắm quyền kiểm soát ngai vàng trong thế kỷ 6, gia tộc Fujiwara đã thông hôn với Hoàng gia trong thế kỷ 9, và một trong những thành viên của họ trở thành người đứng đầu Ngự tiền phòng của Hoàng đế. Một người nhà Fujiwara khác trở thành Nhiếp chính quan, Sessho cho cháu trai mình, khi đó là một ấu chúa, và một người nữa được phong chức Kanpaku. Cho đến cuối thế kỷ 9, vài Thiên Hoàng cố gắng, nhưng thất bại để kìm hãm nhà Fujiwara. Tuy vậy, có một lần dưới triều Nhật Hoàng Daigo (897-930), chế độ nhiếp chính Fujiwara bị gián đoạn vì Nhật hoàng trực tiếp trị vì. Tuy nhiên, gia đình Fujiwara không hề bị suy yếu dưới triều Daigo mà thực tế họ còn mạnh hơn. Tập quyền ở Nhật Bản tiếp tục bị xói mòn, và nhà Fujiwara, cùng với vài gia đình lớn và tổ chức tôn giáo, có thêm nhiều shōen (trang ấp) và vô cùng giàu có vào đầu thế kỷ 10. Vào đầu thời Heian, các shōen đã có được địa vị pháp lý, và các tổ chức tôn giáo lớn giữ lấy cái danh vĩnh cửu, từ chối nộp thuế, và miễn nhiễm trước việc kiểm soát của chính quyền với các shōen mà họ nắm giữ. Những người canh tác trên đất thấy việc đổi tên gọi thành shōen rất có lợi cho phần chia sau vụ mùa. Nhân dân và đất đai ngày càng vuột khỏi tầm kiểm soát của thuế khóa và triều đình, thực tế đã trở lại tình trạng trước Cải cách Taika. Trong vòng một thập kỷ sau cái chết của Daigo, gia đình Fujiwara nắm quyền kiểm soát toàn diện triều đình. Năm 1000, Fujiwara no Michinaga đã có thể phế lập Thiên Hoàng theo ý muốn. Rất ít quyền lực thuộc về chế độ hành chính truyền thống, và việc triều chính nằm cả trong tay gia đình Fujiwara. Nhà Fujiwara được nhà sử học George B. Sansom gọi là "độc tài cha truyền con nối." Bất chấp việc chiếm đoạt vương quyền, nhà Fujiwara vẫn tạo ra một thời kỳ nở hoa của nghệ thuật và mỹ học giữa triều đình và tầng lớp quý tộc. Những vần thơ duyên dáng cùng văn học tiếng bản ngữ rất được ưa chuộng. Văn tự tiếng Nhật đã từ lâu dựa vào kanji, nay nó được bổ sung thêm bằng kana, hai cách phát âm chữ viết Nhật Bản: katakana, một hệ thống dựa vào trí nhớ sử dụng chữ tượng hình Trung Hoa; và hiragana, bảng ký hiệu âm tiết bằng chữ thảo với một phương pháp viết riêng biệt đặc sắc Nhật Bản. Hiragana cho người viết cảm xúc với những từ phát âm, và với nó, lại càng quảng bá cho sự nổi tiếng của văn học tiếng Nhật, đa phần các tác phẩm được những người phụ nữ trong triều viết ra, họ đều không biết tiếng Trung Quốc như đàn ông. Ba phụ nữ cuối thế kỷ 10, đầu thế kỷ 11 đã giới thiệu cái nhìn về cuộc sống và sự lãng mạn ở triều đình Heian trong "Tinh Linh Nhật ký" (蜻蛉日記 Kagero nikki) do "mẹ của Fujiwara Michitsuna" viết, "Sách gối đầu" của Sei Shonagon và "Truyện kể Genji" của Murasaki Shikibu. Nghệ thuật bản xứ cũng nở hoa dưới triều đại Fujiwara sau hàng thế kỷ noi theo hình mẫu Trung Hoa. Những bức vẽ phong cách Nhật Bản sặc sỡ yamato-e về đời sống triều đình và những câu chuyện về đền thờ và nơi linh thiêng trở thành thông dụng vào giữa và cuối thời Heian, trở thành khuôn mẫu cho nghệ thuật Nhật Bản ngày nay. Khi văn hóa phát triển rực rỡ, sự phân quyền cũng ngày càng trầm trọng. Trong khi thời kỳ đầu tiên của phát triển shōen vào đầu thời kỳ Heian đã chứng kiến việc khai hoang nhiều đất đai mới và việc phong đất cho các nhà quý tộc và các thể chế tôn giáo, thời kỳ thứ hai chứng kiến gia sản các "gia tộc triều đình" phình lên. (Thực tế, hệ thống gia tộc cũ vẫn gần như còn nguyên vẹn ở trong triều đình tập quyền cũ). Các thể chế mới nay cần đối diện với sự thay đổi về xã hội, kinh tế, và chính trị. Luật Taihō mất hiệu lực, các thể chế của nó bị gạt khỏi chức năng nghi lễ. Hệ thống hành chính gia đình nay trở thành thể chế chung. Khi gia đình quyền lực nhất Nhật Bản, nhà Fujiwara thống trị Nhật Bản và quyết định mọi việc triều chính, ví dụ như việc thừa kế ngai vàng. Việc gia đình và triều chính hoàn toàn bị trộn lẫn, một hình mẫu được bắt chước bởi các gia đình khác, các tu viện, và thậm chí cả Hoàng gia. Việc quản lý đất đai trở thành công việc chính yếu của các gia đình quý tộc, không nhiều sự quản lý trực tiếp từ Hoàng gia hay chính phủ trung ương vì quyền lực của họ đã suy giảm và sự đoàn kết lớn trong gia đình và việc thiếu ý thức thống nhất quốc gia của người Nhật. === Tầng lớp quân sự cầm quyền === Vào đầu thời này, khi chế độ cưỡng bách tòng quân vẫn được trung ương kiểm soát, các hoạt động quân sự không nằm trong tay của các quý tộc địa phương. Nhưng khi hệ thống này bị dỡ bỏ sau năm 792, các thế lực địa phương trở thành nguồn sức mạnh quân sự chủ yếu. Những người chủ Shōen đã trở thành những người đầy quyền thế và, vì họ đã tiếp thu được kỹ thuật quân sự tiến bộ (ví dụ như phương pháp huấn luyện, cung, tên, ngựa khỏe hơn và những thanh kiếm siêu hạng) và đối mặt với tình hình địa phương ngày càng tồi tệ đi trong thế kỷ 9, hoạt động quân sự trở thành một phần của đời sống các shoen. Không chỉ các "shoen" mà cả các thế chế dân sự và tôn giáo cũng tổ chức các đơn vị bảo an riêng để bảo vệ chính mình. Dần dần, tầng lớp trên ở địa phương chuyển thành giai cấp quý tộc quân sự dựa trên tư tưởng của bushi (võ sĩ) hay samurai. Sự hâm mộ các võ sỹ gồm nhiều loại khác nhau, phá vỡ cơ cấu quyền lực xưa cũ và tạo ra những quan hệ mới trong thế kỷ 9. Tầm quan trọng của tình cảm, những mối liên hệ gia đình, và mối quan hệ họ hàng được củng cố trong các nhóm quân sự và trở thành một phần của chế độ gia đình trị. Trong thời đại này, các gia đình quân sự lớn ở địa phương tập hợp xung quanh những quý tộc triều đình, những người đã trở thành những nhân vật địa phương nổi bật. Những gia đình quân sự gây dựng thanh thế bằng mối liên hệ với hoàng gia, các danh gia quân sự tại triều đình và tiếp cận với nguồn nhân lực. Các gia tộc Fujiwara, Taira và Minamoto nằm trong số những gia tộc nhận được sự ủng hộ lớn nhất của các giai tầng quân sự mới. Sản lượng lương thực suy giảm, dân số gia tăng, và cạnh tranh giữa các gia đình lớn về các nguồn lực đều dẫn đến sự suy giảm dần quyền lực của nhà Fujiwara và làm gia tăng sự mất ổn định quân sự vào giữa thế kỷ 10 và thế kỷ 11. Thành viên của các gia tộc Fujiwara, Taira, và Minamoto—tất cả đều có nguồn gốc hoàng gia—tấn công lẫn nhau, tuyên bố quyền kiểm soát những dải đất lớn của những vùng đất chiếm được, thiết lập những chế độ thù địch, và nói chung là đã phá vỡ nền hòa bình của Xứ sở Mặt trời mọc. Nhà Fujiwara kiểm soát ngai vàng cho đến triều đại Nhật hoàng Go-Sanjō (1068-73), Thiên hoàng đầu tiên không do một người mẹ từ gia đình Fujiwara sinh ra kể từ thế kỷ 9. Go-Sanjo, quyết tâm phục hồi đế quyền qua sức mạnh kiểm soát cá nhân, thi hành các cải cách để kiềm chế ảnh hưởng của nhà Fujiwara. Ông cũng thiết lập một cơ quan để soạn thảo và xác nhận tính hợp lệ của các hồ sơ bất động sản với mục đích tái xác nhận quyền kiểm soát trung ương. Shōen không có giấy phép đúng đắn, và những người nắm giữ đất đai lớn, như nhà Fujiwara, cảm thấy bị đe dọa vì mất đi nhiều đất đai. Go-Sanjo cũng thành lập Incho, hay "Viện Sảnh", do người thừa kế của Thiên Hoàng đứng đầu, người từ bỏ quyền lợi để cống hiến bản thân mình cho sự cai trị ở hậu trường, hay Insei ("Viện Chính’’). ‘'Incho lấp đầy khoảng trống quyền lực của nhà Fujiwara. Thay vì bị xua đuổi, nhà Fujiwara trở lại vị trí cũ của mình là độc tài dân sự và Trung Đại Nhân và thường bị bỏ qua trong việc ra các quyết định. Trong thời gian này, rất nhiều người nhà Fujiwara bị thay thế, phần lớn là bởi thành viên của gia tộc Minamoto đang nổi lên. Trong khi nhà Fujiwara bất hòa và chia thành hai phe Bắc Nam, hệ thống "Insei" cho phép huyết thống trực hệ hoàng gia lại giành được ảnh hưởng đằng sau ngai vàng. Thời kỳ từ năm 1086 đến năm 1156 là thời gian của "Incho" có quyền uy tối thượng và sự nổi lên của tầng lớp quân sự trên toàn quốc. Quân sự thay vì dân sự đã thống trị triều đình. Tranh đoạt ngai vàng vào giữa thế kỷ 12 cho nhà Fujiwara cơ hội để tái lập quyền lực của mình. Fujiwara no Yorinaga sát cánh cùng vị Thiên Hoàng già trong một trận quyết chiến năm 1156 chống lại người được cho là người kế vị, được sự ủng hộ của hai gia tộc Taira và Minamoto (Bạo loạn Hogen). Cuối cùng, nhà Fujiwara bị tiêu diệt, hệ thống triều đình cũ bị thay thế, và hệ thống "Insei" không còn quyền lực vì bushi (võ sỹ) nắm việc triều chính, tạo ra một bước ngoặt trong lịch sử Nhật Bản. Năm 1159, hai nhà Taira và Minamoto xung đột (Bạo loạn Heiji), và 20 năm quyền lực của nhà Taira bắt đầu. Nhà Taira bị cám dỗ bởi đời sống triều đình và bỏ mặc vấn đề của các tỉnh. Cuối cùng, Minamoto no Yoritomo nổi lên từ căn cứ của mình ở vùng Kantō và đánh bại nhà Taira, và cùng với họ là vị Hoàng đế bù nhìn Antoku, trong chiến tranh Genpei. Các Thái chính đại thần (Daijo-daijin) và nhiếp chính quan bạch (Sessho and Kampaku) thời Heian: Thái chính đại thần (Daijo-daijin) họ Fujawara: Yoshifusa: 857 - 872 Mototsune: 880 - 891 Tadahira: 936 - 949 Saneyori: 967 - 970 Koretada: 971 - 972 Kanemichi: 974 - 977 Yoritada: 978 - 989 Kaneie: 990 Tamemitsu: 991 - 992 Michinaga: 1017 - 1018 Kinsue: 1021 - 1029 Yorimichi: 1061 - 1062 Norimichi: 1070 - 1071 Nobunaga: 1080 - 1089 Tadazane: 1112 - 1113 Masazane: 1122 - 1124 Tadamichi: 1129 Tadamichi: 1149 - 1150 Saneyuki: 1150 - 1157 Munesuke: 1157 - 1160 Koremichi: 1160 - 1165 Taira no Kiyomori: 1167 Tadamasa: 1168 - 1170 Motofusa: 1170 - 1171 Moronaga: 1171 - 1179 Kanezane: 1189 - 1190 Kanefusa: 1190 - 1196 Nhiếp chính (Sesshō) họ Fujiwara: Yoshifusa: 858 - 872 Mototsune: 880 - 891 Tadahira: 930 – 941 Saneyori: 969 – 970 Koretada: 970 - 972 Kaneie: 990 Michitaka: 990 – 993 Michinaga: 1016 - 1017 Yorimichi: 1017 - 1019 Morozane: 1086 - 1090 Tadazane: 1107 – 1113 Tadamichi: 1123 – 1129, 1141 - 1150. Motozane: 1165 – 1166 Motofusa: 1166 – 1172 Konoe Motomichi: 1180 – 1183 Matsudono Moroie: 1183 – 1184 Konoe Motomichi: 1184 – 1185 Quan bạch (Kampaku) họ Fujiwara: Mototsune: 880 - 890 Tadahira: 941 – 949 Saneyori: 967 – 969 Kanemichi: 972 - 977 Yoritada: 977 - 986 Kaneie: 990 Michitaka: 990; 990 - 995 Michikane: 995 Yorimichi: 1019 – 1067 Norimichi: 1094 – 1099 Tadazane: 1105 – 1107; 1113 – 1121 Tadamichi: 1121 – 1123; 1129 – 1141; 1150 – 1158 Konoe Motozane: 1158 – 1165 Motofusa: 1172 – 1179 Konoe Motomichi: 1179 – 1180 == Văn hóa Heian == === Sự phát triển của Phật giáo === Phật giáo bắt đầu lan rộng ở Nhật Bản trong suốt thời kì Heian, chủ yếu qua hai giáo phái lớn là Thiên thai tông và Chân ngôn tông. Thiên thai tông có nguồn gốc từ Trung Quốc, dựa trên Diệu pháp liên hoa kinh, một trong những kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa. Chân ngôn tông lại là một giáo phái bản địa sáng lập bởi Kūkai, một giáo phái có quan hệ gần gũi với Ấn Độ Giáo, Phật giáo Tây Tạng nguyên căn cũng như tư duy của Phật giáo Trung Hoa. Kūkai tạo được một ảnh hưởng mạnh mẽ với người kế nhiệm Nhật hoàng Kammu cũng như các thế hệ người Nhật Bản không chỉ bởi tính linh thiêng, mà còn bởi nghệ thuật viết chữ, khả năng thi ca, hội họa, điêu khắc của ông. Trong khi đó, bản thân Kammu rất hâm mộ Thiên thai tông. Giữa các tu viện của Thiên thai tông trên núi Hiei và triều đình ở kinh đô mới ngay chân núi có một quan hệ gắn bó chặt chẽ. Chính vì thế, Thiên thai tông có ảnh hưởng đặc biệt tới Nhật hoàng Kammu và tới cả quốc gia. === Văn học thời kỳ Heian === Mặc dù chữ viết Trung Hoa (Kanbun-Hán văn) vẫn là ngôn ngữ chính thức của triều đình thời kỳ Heian, việc ra đời và sử dụng rộng rãi kana chúng kiến sự bùng nổ của văn học Nhật Bản. Tuy nhiên, dẫu có sự ra đời của nhiều thể loại văn chương như truyện-tiểu thuyết (物語, monogatari "vật ngữ"), các thể loại nhật ký (日記, nikki), du ký (紀行, kikō, kỷ hành), tùy bút (草子, sōshi, thảo tử), văn học chỉ thịnh hành trong triều đình và các nhà sư. Lời của bản quốc ca Nhật Bản hiện nay, Kimi Ga Yo, nguyên là một bài waka được viết trong hậu kỳ Heian, cũng như Truyện kể Genji (源氏物語, Genji monogatari) của Murasaki Shikibu, được công nhận là tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên không chỉ của Nhật Bản mà còn của cả thế giới. Người cùng thời và là đối thủ của Murasaki Shikibu trong cung, bà Sei Shōnagon hé lộ sự quan sát và suy ngẫm thâm trầm trong Sách gối đầu (枕草子, Makura no Sōshi) được viết vào thập kỷ 990. Bài thơ Nhật Bản nổi tiếng Iroha (いろは) cũng được viết dưới thời Heian. == Kinh tế == Trong khi một mặt thời kỳ Heian là một giai đoạn hòa bình kéo dài bất thường, một mặt nó lại làm suy yếu nền kinh tế Nhật Bản và dẫn đến nghèo đói cho gần như mọi cư dần chỉ trừ một vài người thuộc giai tầng trên. Các quý tộc được hưởng lợi lộc từ nền văn hóa Heian, những Yokibito nghĩa là "người tốt" hay "người may mắn", có tổng số 5000 người ở đất nước có 5 triệu dân. Một lý do mà tầng lớp samurai có thể nắm quyền là giai cấp quý tộc thống trị thiếu khả năng quản lý nước Nhật và các tỉnh. Cho đến năm 1000 chính quyền không còn biết làm thế nào để phát hành tiền tệ nữa và tiền dần dần biến mất. Việc thiếu các phương tiện trung gian hữu hình để trao đổi kinh tế được minh họa rõ rệt trong các tiểu thuyết đương thời. Ví dụ như người đưa thư được thưởng những vật dụng hữu ích, như lụa kimono cũ, thay vì trả tiền. Nhà thống trị Fujiwara cũng thất bại trong việc duy trì một lực lượng cảnh sát đầy đủ, kẻ cướp tha hồ săn đuổi khách bộ hành. Điều này lại một lần nữa xuất hiện trong các tiểu thuyết qua sự kinh hãi khi phải ra ngoài vào ban đêm ám ảnh nhân vật chính. == Các sự kiện == 784: Nhật hoàng Kammu dời đô đến Nagaoka-kyo (Kyoto) 794: Nhật hoàng Kammu dời đô đến Heian-kyo (Kyoto) 804: Nhà sư Saichō (Dengyo Daishi) khởi đầu hệ phái Thiên Thai Tông * 806: Nhà sư Kūkai (Kōbō Daishi) truyền bá hệ phái Shingon (Tantric) 819: Kūkai xây dựng tu viện trên núi Koya, ở phía Đông Bắc phần ngày nay là tỉnh Wakayama 858: Nhật hoàng Seiwa bắt đầu sự thống trị của nhà Fujiwara 990: Sei Shonagon viết Sách gối đầu 1050: Tầng lớp quân sự nắm quyền (samurai) 1053: Đền Byodo-in (gần Kyoto) được Fujiwara Yorimichi khánh thành 1068: Nhật hoàng Go-Sanjo lật đổ gia tộc Fujiwara 1087: Nhật hoàng Shirakawa thoái vị và đi tu, trở thành "ẩn đế" đầu tiên (insei) 1156: Taira Kiyomori đánh bại gia tộc Minamoto và nắm quyền, theo đó chấm dứt thời kỳ "insei" 1185: Nhà Taira bị đánh bại (chiến tranh Genpei) và Minamoto Yoritomo của gia tộc Hōjō nắm quyền, trở thành Shogun đầu tiên của Nhật Bản, trong khi Hoàng đế (hay "mikado") chỉ là bù nhìn. 1191: Phật giáo Rinzai Zen được truyền vào Nhật Bản bởi nhà sư Eisai ở Kamakura và được tầng lớp samurai, tầng lớp thống trị trong xã hội Nhật Bản đón nhận. == Chú thích == == Tham khảo == == Link liên quan == Nghệ thuật Heian ở New York Metropolitan Museum of Art Nghệ thuật và thư pháp Heian ở Bảo tàng Quốc gia Tokyo Nghệ thuật Heian ở British Museum Thời kỳ Heian tại mnsu.edu
công viên thống nhất.txt
== Giới thiệu == Công viên Thống Nhất là một trong những công viên lớn ở Hà Nội, Việt Nam. Trong công viên có Hồ Bảy Mẫu. Nó tiếp giáp với 4 mặt phố: phố Trần Nhân Tông, Nguyễn Đình Chiểu, Lê Duẩn và Đại Cồ Việt. Là một trong những công viên lớn của Hà Nội, có Hồ Bảy Mẫu nằm ở trung tâm, tuy tiếp giáp tới tận 4 mặt phố nhưng công viên lại rất yên tĩnh, thoáng mát, luôn là lựa chọn lý tưởng cho bạn thư giãn, vui chơi, sinh hoạt nhóm, hay học tập ngoài trời. == Du lịch == Để đến được công viên, bạn có thể di chuyển bằng xe máy (có chỗ gửi xe ngay ngoài cổng công viên cho bạn với giá vé là 5000 ban ngày, 7000 ban đêm), hoặc bạn có thể di chuyển bằng xe buýt cũng khá thuận tiện, có các tuyến xe buýt đi qua công viên là 03, 32, 35, 41, 44 và 51. Công viên có 2 lối vào cổng, một là trên đường Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, Hà Nội, mặt khác là trên đường Đại Cồ Việt, Hà Nội, gần với Đại học Bách Khoa và Rạp xiếc trung ương, nằm ở ngã tư giao cắt giữa Giải phóng, Đại cồ việt, Lê duẩn và Xã đàn cũng khá dễ tìm cho bạn.Công viên có thu vé vào cửa với giá 4000 trên một người lớn và 2000 đối với trẻ em.Thế nhưng chưa bao giờ thu tiền vào cửa,chỉ có thu tiền gửi xe. == Lịch sử == Có một thời gian, Công viên Thống Nhất mang tên công viên Lê Nin. Từ khi vườn hoa Chi Lăng được đặt tên công viên Lê Nin, công viên Thống Nhất dùng lại tên cũ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Private cash saves Lenin's Park - BBC Dự án nâng cấp công viên Thống Nhất của Vincom
hợp hiến.txt
Hợp hiến là trạng thái của luật pháp khi tuân thủ hiến pháp của quốc gia. Một nghị luật hay một thủ tục trong hoạt động chính phủ nếu đúng theo quy định của hiến pháp thì được gọi là hợp hiến. Nếu sai thì gọi là vi hiến. Bình thường thì mọi nghị luật được coi là hợp hiến cho đến khi đưa ra kháng cáo. == Trường hợp vi hiến == Vài trường hợp vi hiến dễ nhận diện là Viên chức công quyền có hành vi lạm quyền, vượt qua giới hạn của chức vụ. Ngành lập pháp thông qua nghị luật trái ngược với hiến pháp. Một người bị ngăn cấm không được thực hiện quyền công dân do hiến pháp công nhận. == Tham khảo ==
bắc phạt (1926-1928).txt
Bắc phạt (tiếng Trung: 北伐; bính âm: běi fá) là một chiến dịch quân sự được lãnh đạo bởi Trung Quốc Quốc Dân Đảng (QDĐ) từ năm 1926 đến 1928. Mục đích chính của nó là thống nhất Trung Quốc dưới ngọn cờ Quốc Dân Đảng bằng cách tiêu diệt quyền lực của các quân phiệt địa phương. Điều này đã dẫn đến sự kết thúc của chính phủ Bắc Dương và tái hợp Trung Quốc năm 1928. == Chuẩn bị == Bắc phạt còn được biết đến như là cuộc Hành quân Phương bắc đã khởi đầu tại căn cứ quyền lực của QDĐ ở tỉnh Quảng Đông. Năm 1925, phong trào Ngũ Tạp (phong trào ngày 30 tháng 5) đã thông báo các kế hoạch tấn công và phản kháng chống lại chủ nghĩa đế quốc phương Tây và chế độ quân phiệt của nó ở Trung Quốc. Cuộc hợp tác Quốc-Cộng giữa QDĐ và Cộng sản đảng (CSĐ) đã bị ngờ vực sau sự kiện Trung Sơn hạm vào tháng 3 năm 1926 và các vụ việc diễn ra sau đó trong một nỗ lực đưa Tưởng Giới Thạch lên nắm quyền chỉ huy tối cao của quân đội QDĐ. Mặc dù nghi ngờ chính sách liên minh với Liên Xô và CSĐ của Tôn Trung Sơn, Tưởng vẫn cần đến sự hỗ trợ từ phía Liên Xô và chưa thể phá bỏ liên minh ngay lúc đó Các lãnh đạo quân sự có tiếng và các binh sĩ tinh nhuệ khi đó được đào tạo tại trường quân sự Hoàng Phố do Tôn Trung Sơn sáng lập năm 1924. Trường tiếp nhận tất cả mọi thành phần không phân biệt đảng phái chính trị. Thành công của cuộc Bắc phạt phải kể đến đóng góp của sự hợp tác quân sự giữa QDĐ và CSĐ. Điều này cũng đã được Liên Xô cổ vũ mạnh mẽ vì khi đó Liên Xô mong muốn một Trung Quốc thống nhất. == Cuộc viễn chinh thứ nhất == == Thanh trừng == == Quân phiệt phản công == == Cuộc viễn chinh thứ hai == == Xem thêm == Tưởng Giới Thạch == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Map of the route of the Northern Expedition in Chinese ROC Ministry of National Defense Official Website The Armed Forces Museum of ROC
casio.txt
CASIO OWNS, Ltd. (カシオ計算機株式会社, Kashio Keisanki Kabushiki-gaisha) (TYO: 6952) là một công ty chế tạo thiết bị điện tử Nhật Bản được thành lập năm 1946, có trụ sở ở Tokyo, Nhật Bản. Casio được người ta biết tên tuổi nhiều nhất là về các loại sản phẩm như máy tính (calculator), thiết bị âm thanh, PDA, camera, đồng hồ, nhạc cụ. Năm 1957 Casio đã tung ra thế giới sản phẩm máy tính compact hoàn toàn bằng điện. == Lịch sử == Casio được thành lập tháng 4 năm 1946 bởi Tadao Kashio (樫尾 忠雄, Kashio Tadao), một kỹ sư chuyên về công nghệ chế tạo. Sản phẩm chính đầu tiên của Kashio là ống yubiwa, một nhẫn đeo ở ngón tay có thể giữ một điếu thuốc lá, cho phép người đeo nó có thể hút thuốc cho đến mẫu cuối cùng trong khi khiến cho người đeo rảnh tay. Nhật Bản đã bị tàn phá sau chiến tranh thế giới thứ 2, do đó, thuốc lá là mặt hàng quý và phát minh này đã thành công Sau khi nhìn thấy máy tính điện tại cuộc Trưng bày Kinh doanh ở Ginza, Tokyo năm 1949, Kashio và những người anh em của mình đã sử dụng lợi nhuận thu được từ ống yubiwa để phát triển máy tính riêng của họ. CASIO cũng được người ta biết đến như một huyền thoại trong BF2142. Phần lớn máy tính thời đó hoạt động bằng cách sử dụng bánh răng truyền động và có thể vận hành bằng tay sử dụng một tay quay hoặc một động cơ. Kashio có hiểu biết về điện tử và đã nghĩ ra cách tạo một máy tính sử dụng solenoid. Máy tính có kích cỡ bằng cái bàn làm việc đã được hoàn thành năm 1954, là chiếc máy tính cơ-điện đầu tiên của Nhật Bản. Một trong những cải tiến trung tâm của chiếc máy tính là nó được áp dụng một bàn phím số 10 phím; vào thời điểm đó các máy tính khác đang sử dụng một "bàn phím đầy đủ", tức là mỗi hàng (hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm,...) đều có riêng 9 phím số. Một cải tiến nữa là chỉ sử dụng một màn hình thay vì 3 cái (2 cái dành cho nhập liệu và 1 cái hiển thị kết quả) như các máy tính khác. Năm 1957, mẫu 14-A ra đời, được bán với giá 485.000 yên và là mẫu máy tính thu nhỏ hoàn toàn dùng điện đầu tiên của thế giới dựa trên kĩ thuật trễ. Năm này cũng là năm thành lập Casio Computer Co. Ltd. Trong thập niên 80, các sản phẩm điện tử của Casio đạt được tiếng tăm rộng lớn. Đồng thời công ty cũng là một trong những nhà sản xuất đầu tiên loại đồng hồ dùng tinh thể thạch anh và trỏ nên nổi tiếng với nhiều chủng loại đồng hồ điện tử đeo tay, gồm có cả loại có tích hợp máy tính đơn giản, loại có thể hiện nhiều múi giờ, loại có tích hợp nhiệt kế, áp kế, cao độ... Đặc biệt nổi tiếng là sản phẩm kết hợp hai chức năng: hiển thị bằng màn hình LCD và màn hình đồng hồ bình thường, một số trong đó có thể nhận tín hiệu vô tuyến của đồng hồ nguyên tử hàng ngày để chỉnh giờ chính xác, gọi là Wave ceptor. == Các dòng sản phẩm == Máy Chiếu === Máy tính bỏ túi === === Đồng hồ === == Hình ảnh == === Máy ảnh === === Nhạc cụ === === Điện thoại di động === === Máy tính tiền === == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức toàn cầu
pokémon diamond and pearl adventure!.txt
Pokémon Diamond and Pearl Adventure! (viết tắt là DPA) là loạt manga Pokémon dựa trên Pokémon Diamond, Pearl, và Platinum. Truyện này được viết và minh họa bởi Ihara Shigekatsu. Tất cả 8 tập truyện này đều được dịch ra tiếng Anhvà được phát hành ở Bắc Mỹ bởi Viz Media. Phần dịch của Viz Media được cấp phép bởi Nhà xuất bản Singapore Chuang Yi. == Nhân vật == Hareta (Tiếng Nhật: ハレタ), Piplup (Tiếng Nhật: Pochama) Mitsumi (Tiếng Nhật: ミツミ) Jun (Tiếng Nhật: ジュン) Tiến sĩ Nanakamado(Tiếng Nhật: ナナカマド博士 Dr. Nanakamado) Tougan (Tiếng Nhật トウガン Tougan) Akagi (Tiếng Nhật: アカギ Akagi) == Danh sách tập truyện == === Tập 1 === Ngày phát hành: 1 tháng 4, 2008 ISBN 1-4215-2286-1 Chương 1: In Search of the Legendary Pokémon Dialga!! Chương 2: Hareta's Very First Pokémon Battle!! Chương 3: The Mystery Boy, Jun!! Chương 4: Win with Teamwork!! Chương 5: Find Munchlax!! === Tập 2 === Ngày phát hành: 2 tháng 9, 2008 ISBN 1-4215-2287-X Chương 1: Beauty Contest: The Pokémon Super Contest!! Chương 2: Dialga's Secret Keys!! Chương 3: Team Galactic's Conspiracy, Revealed!! Chương 4: Challenge! The Fortress Of Steel!! Chương 5: Serious Training on Iron Island!! === Tập 3 === Ngày phát hành: 3 tháng 2, 2009 ISBN 1-4215-2574-7 Chương 1: The Legendary Pokémon, Captured Chương 2: A Battle Of Wills Chương 3: The Battle Rages On Chương đặc biệt: Deoxys, The Phantom Pokémon! (Part 1) Chương đặc biệt: Deoxys, The Phantom Pokémon! (Part 2) === Tập 4 === Ngày phát hành: 2 tháng 6, 2009 ISBN 1-4215-2674-3 Chương 1: A Novel Test!! Chương 2: An Enormous Power Awakens! Chương 3: Team Galactic's Greatest Warrior Chương 4: Clash! Hareta vs. Mitsumi!! Special Chapter: The Tale of Hareta and Shaymin === Tập 5 === Ngày phát hành: 6 tháng 10, 2009 ISBN 1-4215-2923-8 Chương 1: Battle Against Team Galactic...and Mitsumi! Chương 2: (Violent)Earthquake! Cyrus's Consuming Ambition!! Chương 3: The Advent of the Legendary Pokémon!! Chương 4: Will Hareta's Wish Get Through?! Chương 5: Bonds Connect Across Space-Time === Tập 6 === Ngày phát hành: 2 tháng 3, 2010 ISBN 1-4215-3170-4 Chương 1: A New Battle Begins! Chương 2: Hareta's Heart's Desire Chương 3: Clash! Hareta vs. Koya Chương 4: Hearts and Spirits Collide Chương 5: Clash! Hareta vs.Jun Chương đặc biệt: Mitsumi's Wish === Tập 7 === Chương 1: Look for Giratina! Chương 2: A Clash! Hareta vs. Charon Chương 3: The Anger of Legendary Pokémon Heatran Chương 4: Hareta's Excellent New Partner... Minun?! Chương 5: Charon Must Be Stopped! Chương đặc biệt: Return to Hareta's Home Forest! === Tập 8 === Ngày phát hành: 2 tháng 11, 2010 Chương 1: The Birth of the Greatest Tag Team?! Chương 2: Koya's Sad Reunion Chương 3: Enter the Distortion World!! Chương 4: Hareta's Fierce Battle!! Chương cuối: Gathering of the Legendary Pokémon! Chương đặc biệt: Hareta's Future == Tổng quan == Pokémon == Chú thích == == Liên kết ngoài == Pokémon Diamond and Pearl Adventure! on Bulbapedia
sân vận động emirates.txt
Sân vận động Emirates (còn được biết tới với cái tên Ashburton Grove) là một sân bóng đá ở Holloway, London và là sân nhà của câu lạc bộ Arsenal. Với sức chứa 60.272 chỗ ngồi, Emirates là sân vận động lớn thứ ba ở nước Anh sau Wembley và Old Trafford. Năm 1997, Arsenal đưa ra kế hoạch về khả năng chuyển đến một sân vận động mới sau khi đội bóng bị Hội đồng Slington từ chối cho phép quy hoạch mở rộng diện tích sân Highbury. Sau khi xem xét các lựa chọn khác (bao gồm cả việc mua sân Wembley), câu lạc bộ đã mua lại một doanh nghiệp bất động sản công nghiệp và xử lý chất thải ở khu Ashburton Grove năm 2000. Một năm sau họ đã đạt được sự chấp thuận của Hội đồng trong việc xây dựng một sân vận động mới. HLV Arsene Wenger đã mô tả sự kiện trên là "quyết định lớn nhất trong lịch sử Arsenal" kể từ khi Hội đồng quản trị bổ nhiệm Herbert Chapman. Mặc dù công cuộc di chuyển đă bắt đầu từ năm 2002, nhưng vấn đề khó khăn tài chính đã trì hoàn kế hoạch trên cho tới tháng 2 năm 2004. Sau đó Emirates Airline đã được công bố là nhà tài trợ chính cho dự án xây sân vận động. Dự án được hoàn thành vào năm 2006 với chi phí khoảng 390 triệu bảng. Sân vận động đã phải trải qua một quá trình "Arsenalisation" từ năm 2009 nhằm mục đích khôi phục các di sản và lịch sử của Pháo thủ. Mặt sân còn được sử dụng để tổ chức các buổi diễn âm nhạc và trận đấu giao hữu quốc tế với Brazil. == Lịch sử == === Xuất xứ === Để ngăn ngừa Thảm họa Hillsborough từng xảy ra vào tháng 4 năm 1989, một cuộc điều tra do Hội Chúa Taylor của Gosforth dẫn đầu đã được thực hiện nhằm đảm bảo an toàn cho những đám đông ở các sân vận động thể thao. === Các lựa chọn bên lề và mâu thuẫn nảy sinh === === Vấn đề tài chính và việc đặt tên === === Xây dựng và khánh thành === == Tham khảo == == Đọc thêm == Andrews, David L.; Cole, Cheryl L.; Silk, Michael L. (2005). Sport and corporate nationalisms. London: Berg. ISBN 1-85973-799-4. Bernstein, George L (2004). The Myth of Decline: The Rise of Britain Since 1945. London: Pimlico. ISBN 1-84413-102-5. Brown, Adam (1998). Fanatics!: power, identity, and fandom in football. London: Routledge. ISBN 0-415-18103-8. Conn, David (2005). The Beautiful Game?: Searching for the Soul of Football. London: Random House. ISBN 1-4464-2042-6. Glinert, Ed (2009). The London Football Companion: A Site-by-site Celebration of the Capital's Favourite Sport. London: Bloomsbury. ISBN 0-7475-9516-X. Spurling, Jon (2010). Highbury: The Story of Arsenal In, Issue 5. London: Hachette. ISBN 1-4091-0579-2. == Liên kết ngoài == arsenal.com/thestadium — official website for the new stadium Article about design of stadium and surrounding area on designbuild-network.com Images of Emirates Stadium from Flickr
niue.txt
Niue là một đảo quốc ở Nam Thái Bình Dương, thường được biết đến như " Đảo đá Polynesia", và cư dân bản địa trên đảo gọi tắt là "Đảo đá". Niue cách 2.400 km về phía đông bắc New Zealand, trong một tam giác giữa Tonga ở phía tây nam, Samoa ở phía tây bắc và Quần đảo Cook ở đông nam. Diện tích đảo là 260 km² với khoảng 1400 cư dân chủ yếu là người Polynesia. Trong sự tự trị, Niue có liên kết tự do với New Zealand, và có chủ quyền không đầy đủ. Nữ hoàng Elizabeth II là Nguyên thủ Quốc gia của Niue. Hầu hết quan hệ ngoại giao chịu sự quản lý của New Zealand, nước đại diện cho Niue. Năm 2003, Niue là "quốc gia WiFi" đầu tiên trên thế giới. == Chính trị == Hiến pháp Niue giao quyền hành pháp cho vương quyền của Nữ hoàng New Zealand và Toàn quyền New Zealand. Hiến pháp ghi rõ chủ quyền thực tiễn trong các công việc hàng ngày được trao cho Nội các chính quyền Niue, gồm thủ tướng và ba Bộ trưởng khác. Thủ tướng và Bộ trưởng là thành viên của Hội đồng Lập pháp Niue, tương đương với Quốc hội. Hội đồng gồm 20 thành viên qua bầu cử, 14 trong số đó được bầu bởi cử tri mỗi làng, 6 bởi tất cả các cử tri. Các cử tri phải là công dân New Zealand, thường trú ít nhất là ba tháng, và các ứng cử viên ít nhất là 12 tháng. Bất kỳ ai sinh ra ở Niue đều được bỏ phiếu. Nếu hai ứng cử viên có cùng số phiếu, sẽ phải bầu cử lại, nếu số phiếu vẫn cân bằng, ứng cử viên sẽ rút thăm để chọn người thắng cuộc. == Địa lý == Niue là một hòn đảo rộng 269 km² ở Nam Thái Bình Dương, phía đông của Tonga. Tọa độ 19°03′48″S 169°52′11″W Niue là một trong những hòn đảo san hô lớn nhất. Địa hình có các vách đá vôi dốc đứng dọc theo bờ biển trong khi cao nguyên trung tâm cao 60m so với mực nước biển. Các vỉa san hô ngầm bao quanh đảo ngoại trừ một nơi ở chính giữa phía tây đảo, gầm thủ đô Alofi. Điểm đặc trưng nữa là một số hang động đá vôi được phát hiện ở gần bờ biển Hòn đảo có hình bầu dục với đường kính khoảng 18 km, có hai vịnh lớn ở bờ biển phía tây, Vịnh Alofi ở hướng chính tây và Vịnh Avatebe ở tây nam. Giữa hai vịnh là Mũi Halagigie. Đa số dân chúng sinh sống gần bờ biển phía tây, bao quanh thủ đô và phía tây bắc. Đất trên đảo có nhiều phosphate, nhưng không thể trồng trọt được. Chênh lệch về thời gian trên đảo và đất liền New Zealand là 23 giờ vào mùa đông ở Nam Bán Cầu và 24 giờ vào mùa hè, vì đất liền New Zealand áp dụng giờ mùa hè. == Quốc phòng và đối ngoại == Niue tự trị trong liên kết tự do với New Zealand từ 3/12/1974 khi người dân tán thành bản Hiến pháp trong một cuộc trưng cầu dân ý. Niue hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về đối nội. Công việc đối ngoại của Niue rất bị hạn chế. Chương 6 của đạo luật Hiến pháp Niue ghi rõ: "Không điều gì trong đạo luật này hay Hiến pháp ảnh hưởng đến trách nhiệm của Nữ hoàng New Zealand trong các vấn đề đối ngoại và quốc phòng của Niue" Hòn đảo có một phái bộ đại diện tai Wellington, New Zealand. Niue là thành viên của Diễn đàn các đảo Thái Bình Dương và một số tổ chức khu vực và quốc tế. Mặc dù không phải là thành viên của Liên Hợp Quốc nhưng Niue là một Nhà nước tham gia Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, Công ước về Chống biến đổi khí hậu, Hiệp ước Ottawa, Hiệp ước Rarotonga Niue được cho là đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào ngày 12/12/2007. Tuy nhiên, trên phương diện Hiến pháp, không chắc Niue có quyền thiết lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào được hay không. Theo thông lệ, các quan hệ đối ngoại và quốc phòng là trách nhiệm của New Zealand, nước có quan hệ ngoại giao đầy đủ với Trung Quốc. Hơn nữa Thông cáo thiết lập quan hệ giữa Niue và Trung Quốc khác biệt trong quan điểm về vấn đề Đài Loan trong thỏa thuận giữa New Zealand Và Trung Quốc. New Zealand "chấp nhận" quan điểm của Trung Quốc trong vấn đề Đài Loan nhưng chưa bao giờ tán thành tuyệt đối, nhưng Niue "công nhận chỉ có một Trung Quốc trên thế giới, chính phủ Trung Quốc là chính quyền hợp pháp duy nhất trên thế giới đại diện cho toàn Trung Quốc và Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc" Những người chỉ trích đặt câu hỏi liệu Niue có thể tiếp tục được nhận trợ cấp thông qua liên kết tự do với New Zealand được hay không khi họ bất chấp khuyến cáo của New Zealand và thiết lập một chính sách đối ngoại độc lập. == Kinh tế == Kinh tế của Niue có quy mô nhỏ, năm 2003 tổng GDP theo sức mua là 17 triệu đô la New Zealand, tương đương 10 triệu đô la Mỹ. Hầu hết các hoạt động kinh tế xoay quanh chính quyền. Viện trợ nước ngoài, chủ yếu từ New Zealand là nguồn thu nhập chính của hòn đảo. Mỗi năm quốc đảo bị New Zealand giảm đi 250.000 đôla New Zealand tiền viện trợ điều này có nghĩa đất nước sẽ phải trông cậy vào nền kinh tế của mình nhiều hơn trong thời gian sắp tới. Niue cũng là quốc gia Wifi đầu tiên trên thế giới, tên miền.nu của quốc đảo là một tên miền phổ biến trên Internet, đem đến nguồn thu 3 tỷ đô la Mỹ từ 1996 đến 2005. Niue sử dụng đô la New Zealand. == Du lịch == Du lịch là một trong ba lĩnh vực kinh tế được ưu tiên (hai lĩnh vực khác là ngư nghiệp và nông nghiệp) để phát triển kinh tế kinh tế Niue. Năm 2006, chỉ riêng tiêu dùng của du khách đã là 1,6 tỷ đô la, đã biến du lịch thành ngành xuất khẩu chính của Niue. Niue sẽ tiếp tục nhận được hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức hải ngoại. Air New Zealand là hãng hàng không duy nhất ở Niue, có các chuyến bay tới đây mỗi tuần một lần. Niue cũng thử thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch của mình bằng các đề nghị giảm thuế nhập khẩu và thuế doanh nghiệp. == Truyền thông == Niue có rất ít cơ quan truyền thông vì diện tích và dân số quá nhỏ. Ở đây có hai cơ sở truyền thông là Đài truyền hình Niue và báo Niue Star. Có một mạng tin tức là http:/ / talanet. okakoa. com. == Nông nghiệp == Nông nghiệp rất quan trọng trong kinh tế và ảnh hưởng nhiều đến cách sống của người dân trên đảo. Hầu hết các hộ đều trồng cây khoai nước, một loại cây nhiệt đới có rễ nhiều bột dùng làm thức ăn ở các đảo Thái Bình Dương. Khoai nước là một loại lương thực chính, loại khoai nước màu hồng đang chiếm ưu thế trên thị trường khoai nước ở Australia và New Zealand. Đây là một trong các loại khoai nước tự nhiên tại Niue, với khả năng chống chịu sâu bọ tốt. Sắn, củ từ và khoai lang cũng phát triển rất tốt, các giống chuối cũng vậy. Ngoài ra đảo cũng có dừa trong các khu vực rừng rậm hay ven biển. == Xem thêm == Music of Niue Communications in Niue Demographics of Niue Transportation in Niue Niuean language Niuean diplomatic missions == Tham khảo == HEKAU, Maihetoe & al., Niue: A History of the Island, Suva: Institute of Pacific Studies (USP) & the government of Niue, 1982 [no ISBN] == Liên kết ngoài == Niuean Government official site Niue Tourism Niue Island.nu portal for the people of Niue Open Directory Project - Niue directory category CIA World Factbook - Niue Niue (Seafriends): history, geography, ecology, marine ecology, natural history, fish index, detailed maps (110pp) Map of Niue Environment Department InvestNiue Niue Companies Office Niue Constitution Act 1974 Statistics Niue Bản mẫu:Administrative divisions of New Zealand
cúp bóng đá bắc, trung mỹ và caribe.txt
Cúp bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe hay Cúp Vàng CONCACAF (tiếng Anh: CONCACAF Gold Cup) là giải bóng đá giữa các đội tuyển bóng đá quốc gia khu vực Bắc, Trung Mỹ và Caribe do Liên đoàn bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF) tổ chức. Giải lần đầu tiên, diễn ra tại Hoa Kỳ năm 1991 và nhà vô địch đầu tiên là Hoa Kỳ. Thực ra, giải vô địch Bắc, Trung Mỹ và Caribe đã được tổ chức từ năm 1963 với tên gọi Giải vô địch bóng đá CONCACAF và đến năm 1991 được đổi tên như hiện nay. Tính đến nay, Mexico là quốc gia đoạt chức vô địch nhiều lần nhất với tổng cộng 10 lần, trong đó có 7 lần vô địch Cúp Vàng. Từ năm 1996 đến năm 2005, một số quốc gia Nam Mỹ (Brasil, Colombia, Peru) và châu Á (Hàn Quốc) đã được mời tham dự. == Kết quả == (Các đội mời được in nghiêng)
wabi-sabi.txt
Wabi-sabi (侘寂, sá tịch) là một thuật ngữ đại diện cho thẩm mỹ Nhật Bản và một thế giới quan của văn hoá Nhật Bản, tập trung vào việc chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Thẩm mỹ này đôi khi được mô tả như một trong những vẻ đẹp "không hoàn hảo, vô thường, và không đầy đủ". Đây là một khái niệm bắt nguồn từ giáo lý Phật giáo về Tam pháp ấn (三法印, sanbōin), chia ra làm Vô thường (無常, mujō), Khổ (苦, ku) và sự không tồn tại hoặc vắng mặt của bản ngã tự nhiên (空, kū). Đặc điểm của thẩm mỹ wabi-sabi bao gồm sự bất đối xứng (asymmetry), sự không bằng phẳng (roughness), sự lược giản hoá (simplicity), sự cần kiệm (economy), sự khắc khổ (austerity), sự khiêm nhường (modesty), sự gần gũi (intimacy), và sự am tường tính nguyên vẹn đơn sơ mà cách tự nhiên và vạn vật vận hành. == Mô tả == Theo Leonard Koren, wabi-sabi có thể được định nghĩa là "điểm đáng chú ý và đặc trưng nhất của vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản, và nó gần như chiếm vị trí tương tự trong đền Pantheon của các giá trị thẩm mỹ của Nhật Bản như với các lý tưởng về cái đẹp và sự hoàn hảo của Hy Lạp ở phương Tây." ("the most conspicuous and characteristic feature of traditional Japanese beauty and it occupies roughly the same position in the Japanese pantheon of aesthetic values as do the Greek ideals of en:beauty and perfection in the West.") Trong khi đó, Andrew Juniper lưu ý rằng "[nếu] một đối tượng hoặc sự biểu lộ có thể mang lại, trong (tâm hồn) chúng ta, một sự u sầu bình lặng (serene melancholy) và một khao khát tâm linh, thì đối tượng ấy có thể được gọi là wabi-sabi." Với Richard Powell, "[w]abi-sabi nuôi dưỡng tất cả những gì là xác thực bằng cách thừa nhận ba sự thực đơn giản: không gì là mãi mãi, không gì là hoàn toàn, và không gì là hoàn hảo." Tác giả Taro Gold - người cũng là một Phật tử - mô tả wabi-sabi như "trí tuệ và vẻ đẹp của sự không hoàn hảo." Hai từ wabi và sabi không chỉ mang ý nghĩa đơn giản. Wabi ban đầu tham chiếu đến sự cô độc sống giữa thiên nhiên, xa khỏi xã hội con người; sabi mang nghĩa là "lạnh" ("chill"), "nghiêng" ("lean") hoặc "sự héo tàn" ("withered"). Khoảng thế kỷ thứ 14, những ý nghĩa này bắt đầu thay đổi, mang hàm nghĩa tích cực hơn. Wabi hiện tại bao hàm sự tinh giản hoá, tươi mát hoặc tĩnh lặng một cách mộc mạc, hoặc sự sang trọng được giảm bớt đi, và có thể sử dụng với cả đối tượng tự nhiên và nhân tạo. Nó cũng có thể tham chiếu đến những đường nét lỗi hoặc dị thường phát sinh trong quá trình xây dựng, thứ tạo nên sự độc đáo và sang trọng cho đối tượng. Sabi là vẻ đẹp hoặc sự tĩnh lặng tới theo thời gian, khi sự tồn tại của đối tượng và sự vô thường của nó được chứng thức bởi lớp gỉ sét (hoặc lớp ngả màu do thời gian và không khí tác động) và lớp bên ngoài của nó, hoặc ở bất kì sửa chữa nào có thể nhìn thấy. Sau nhiều thế kỷ kết hợp ảnh hưởng nghệ thuật và Phật giáo từ Trung Quốc, wabi-sabi sau cùng phát triển thành một lý tưởng Nhật Bản rõ ràng. Theo thời gian, ý nghĩa của wabi và sabi chuyển mình theo hướng vui tươi và hứa hẹn hơn. Khoảng 700 năm trước đây, đặc biệt trong giới quý tộc Nhật Bản, việc hiểu về khoảng trống/chân không/hư không (emptiness) và sự không hoàn hảo được coi như tương đương với bước đầu tiên tới satori (ngộ đạt). Ở Nhật Bản ngày nay, wabi-sabi thường được định nghĩa là "sự am hiểu về sự lược giản mang tính tự nhiên" ("wisdom in natural simplicity"). Trong các quyển sách trưng bày nghệ thuật, nó thường được định nghĩa là "vẻ đẹp không hoàn thiện" ("flawed beauty"). Từ quan điểm kỹ thuật hoặc thiết kế, wabi có thể được hiểu như phẩm chất không hoàn hảo của bất kì đối tượng nào, do những hạn chế không thể tránh khỏi trong thiết kế và xây dựng/sản xuất, đặc biệt là đối với các điều kiện sử dụng không thể đoán trước hoặc có sự thay đổi; và sabi có thể được hiểu như các khía cạnh về việc tin vào sự không hoàn hảo, hoặc cái chết có giới hạn (limited mortality) của bất kỳ đối tượng nào, do đó mà có kết nối âm vị và từ nguyên với từ tiếng Nhật sabi - làm cho gỉ sét. Cụ thể, mặc dù chữ kanji 錆 (sabi, nghĩa là "gỉ sét") và 寂 (sabi, như trên) là khác nhau, cũng như ý nghĩa áp dụng của chúng, mẫu tự ban đầu của chúng (trước khi thành kanji, yamato-kotoba) được cho là giống nhau. Một ví dụ điển hình của sự hiện thân này có thể được nhìn thấy trong các phong cách nhất định của gốm Nhật Bản. Trong trà đạo Nhật Bản, đồ gốm được dùng thường mộc mạc và có vẻ ngoài đơn giản, ví dụ như đồ gốm Hagi (萩焼), với các hình dáng không thật đối xứng, và các màu sắc hoặc hoạ tiết xuất hiện để nhấn mạnh một phong cách chưa tinh chế hoặc đơn giản. Trong thực tế, điều này cần tới kiến thức và khả năng quan sát của người tham gia để nhận và phân biệt được những dấu hiệu ẩn của một thiết kế hoặc lớp men thật sự xuất sắc (tương đồng với sự xuất hiện của một viên kim cương thô). Điều này có thể được giải thích như một loại của thẩm mỹ wabi-sabi, được tiếp tục khẳng định bằng cách mà màu của lớp tráng men sẽ thay đổi theo thời gian, khi nước nóng được rót vào chúng một cách lặp đi lặp lại (sabi) và sự thật rằng bát uống trà thường bị nứt hoặc mẻ ở dưới trôn bát (wabi), điều tạo nên một dấu ấn riêng cho phong cách Hagi-yaki. Cả wabi và sabi đều dẫn lối cảm thức về sự trống trải và cô đơn. Theo quan điểm của Phật giáo Đại thừa về vũ trụ, chúng có thể được xem như là những đặc điểm tích cực, đại diện cho sự giải phóng từ một thế giới vật chất và sự siêu việt đến một cuộc sống đơn giản hơn. Bản thân triết lý Đại thừa, tuy nhiên, cảnh báo rằng sự hiểu biết thành thật không thể đạt được thông qua lời nói hay ngôn ngữ, do đó việc chấp nhận wabi-sabi qua những thuật ngữ không lời có thể là phương pháp thích hợp nhất. Simon Brown ghi chú rằng wabi-sabi mô tả một phương tiện mà nhờ đó học viên có thể học cách sống cuộc sống thông qua các giác quan và chấp nhận cuộc sống như nó vẫn vậy một cách tốt hơn, chứ không phải bị ngắt đoạn bởi những suy nghĩ không cần thiết. Trong ý nghĩa này, wabi-sabi là đại diện vật chất của phái Thiền tông. Ý tưởng rằng được bao quanh bởi những vật có bản chất tự nhiên, dễ đổi thay và độc đáo giúp chúng ta kết nối với thế giới thực của chúng ta và thoát khỏi sự phiền nhiễu tiềm ẩn căng thẳng. Trong một ý nghĩa, wabi-sabi là một sự tu luyện, theo đó, học viên của wabi-sabi học cách tìm sự thú vị, quyến rũ và vẻ đẹp ở những vật thông thường nhất, tự nhiên nhất. Lá úa vào mùa thu là một ví dụ. Wabi-sabi có thể thay đổi nhận thức của chúng ta về thế giới đến mức mà một vết nứt hoặc vết rạn ở một chiếc bình khiến cho chúng trở nên thú vị hơn và mang tới giá trị tinh thần lớn hơn cho đối tượng. Những vật chất tương tự có sự biến đổi theo thời gian như gỗ đã bóc vỏ, giấy và vải trở nên thú vị hơn khi chúng thể hiện những thay đổi có thể quan sát được theo thời gian. Khái niệm về wabi và sabi có nguồn gốc từ tôn giáo, nhưng thực tế sử dụng của các từ này trong tiếng Nhật thường khá giản dị. Bản chất mang tính nguyên hợp (syncretic) (là sự kết hợp của những niềm tin khác nhau đôi khi có vẻ mâu thuẫn với nhau về tư tưởng, đặc biệt là những tư tưởng của con người trong giai đoạn sơ khai) của hệ thống tín ngưỡng Nhật Bản cũng nên được chú ý. == Wabi-sabi trong nghệ thuật Nhật Bản == Nhiều lĩnh vực nghệ thuật Nhật Bản qua hàng nghìn năm qua đã bị ảnh hưởng bởi triết học Thiền tông và Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là sự chấp nhận và suy niệm về sự không hoàn hảo, luôn luôn biến chuyển và vô thường của vạn vật. Những nghệ thuật như vậy có thể được minh hoạ như một thẩm mỹ wabi-sabi. Các ví dụ bao gồm: Honkyoku (âm nhac shakuhachi truyền thống của các tăng nhân Thiền tông lang thang) Ikebana (nghệ thuật cắm hoa) Các khu vườn Nhật Bản, vườn thiền và bonsai (những khu vườn nhỏ trong khay) Thơ của Nhật Bản Gốm của Nhật Bản, Đồ gốm Hagi, Đồ gốm Raku Tiệc trà Nhật Bản Một thẩm định Nhật Bản đương đại của khái niệm này được tìm thấy trong bài luận có ảnh hưởng không nhỏ In Praise of Shadows (Về sự ca ngợi những ảo ảnh) của Tanizaki Jun'ichirō. == Ứng dụng của phương Tây == Nhà thiết kế Leonard Koren (sinh năm 1948) năm 1994 xuất bản cuốn Wabi-Sabi for Artists, Designers, Poets & Philosophers (Wabi-Sabi cho nghệ nhân, nhà thiết kế, nhà thơ và triết gia) như một khái lược tổng quát về wabi-sabi, phản chiếu nó với lý tưởng của phương Tây về cái đẹp. Theo Penelope Green, cuốn sách của Koren sau đó "trở thành một chủ đề được bàn luận (talking point) về một ý định văn hoá lãng phí về sám hối, và là một hòn đá nền tảng cho các nhà thiết kế ở tất cả các lĩnh vực." Nghệ nhân gốm Bernard Leach (1887–1979) đã chịu ảnh hưởng sâu sắc tính thẩm mỹ và kỹ thuật của Nhật Bản, và thành lập một phong trào thẩm mỹ châu Âu có ảnh hưởng có bao gồm Dame Lucy Rie và Hans Coper. Một vài bài thơ haiku tiếng Anh được phỏng theo thẩm mỹ wabi-sabi, với những bài thơ ngắn gọn, tối giản, gợi lên sự cô đơn và ngắn ngủi, như bài thơ của Nick Virgilio: "autumn twilight:/ the wreath on the door/ lifts in the wind" ("hoàng hôn mùa thu:/ vòng hoa trên cửa / bay lên trong gió"). Các tác phẩm của nghệ sĩ người Mỹ John Connell (sinh năm 1940) tập trung vào ý tưởng về wabi. Trong những năm 1990, khái niệm này được vay mượn bởi những nhà phát triển phần mềm máy tính và được sử dụng trong lĩnh vực lập trình linh hoạt và Wiki để mô tả sự chấp nhận của tình trạng không hoàn hảo còn tiếp diễn, là sản phẩm của những phương pháp này. Ngày 16 tháng 3 năm 2009, Marcel Theroux dẫn chương trình "In Search of Wabi Sabi" ("Tìm hiểu về Wabi-sabi") trên kênh BBC Four, là một tập của loạt chương trình Hidden Japan. Theroux đi khắp Nhật Bản, cố gắng hiểu được thị hiếu thẩm mỹ của con người nơi đây, bắt đầu bằng việc ra lệnh có phần khôi hài một thử thách từ cuốn sách Living Wabi Sabi của Taro Gold để "yêu cầu người dân trên một đường phố Tokyo mô tả về Wabi Sabi." Theroux đã cho thấy rằng, cũng giống như Gold dự đoán, "họ sẽ có khả năng cung cấp cho bạn một cái nhún vai lịch sự và giải thích rằng Wabi Sabi chỉ đơn giản là không thể giải thích." Wabi Sabi được tham chiếu trong một tập của King of the Hill, khi Bobby Hill tham gia một cuộc thi chăm hoa hồng. Nhà tài trợ của cậu là một cửa hàng thuốc lá và cho Bobby thấy rằng sự không hoàn hảo của bông hoa hồng khiến chúng tốt đẹp hơn. Jack Dorsey, nhà sáng lập tỉ phú của Twitter và Square, cũng là một người khuyến khích triết lý Wabi-sabi trong thiết kế. == Xem thêm == Clinamen Higashiyama Bunka ở thời kỳ Muromachi Iki (một lý tưởng thẩm mỹ Nhật Bản) Mono no aware Shibui Trà đạo như một tôn giáo Wabi-cha Kintsugi (cũng được biết đến như Kintsukuroi) en:Distressing (một nghệ thuật trang trí cố tình tạo vẻ ngoài cũ kĩ và nhuốm màu thời gian cho đồ vật) == Chú thích == == Tham khảo == Crowley, James and Sandra (2001). Wabi Sabi Style. Gibbs Smith, Publisher. ISBN 1-58685-753-3. Suzuki, Daisetz T. (1959). “Chapter 2: General Remarks on Japanese Art Culture”. Zen and Japanese Culture. New York: MJF Books. tr. 19–38. ISBN 1-56731-124-5. Tierney, Lennox (1999), Wabi Sabi, Layton, Utah: Gibbs Smith, Publisher. ISBN 0-87905-849-8 == Liên kết ngoài == Tìm hiểu về Wabi-sabi với Marcel Theroux
phố tràng tiền.txt
Tràng Tiền là phố nổi tiếng bậc nhất của Hà Nội, Việt Nam. Phố Tràng Tiền nẳm ở khu trung tâm, có từ lâu đời. Thời Pháp tên phố là Rue Paul Bert. == Đặc điểm và vị trí == Phố Tràng Tiền nằm theo hướng đông - tây, kéo dài từ đầu hồ Gươm, chỗ phố Hàng Khay, cho tới nhà hát Lớn Hà Nội. Đoạn giữa cắt với phố Tràng Tiền là phố Ngô Quyền và Nguyễn Xí. Đây là một con phố tuy ngắn nhưng quan trọng. Hai bên phố có nhiều hiệu sách, cửa hàng,... Phố Nguyễn Xí cạnh đó là nơi có các nhà sách tư nhân hạ giá. Phố Tràng Tiền trước kia còn nổi tiếng có kem Tràng Tiền, ngày nay vẫn tồn tại nhưng ít người đến ăn hơn. == Tham khảo ==
trường kinh tế và khoa học chính trị luân đôn.txt
Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (tiếng Anh: The London School of Economics and Political Science, viết tắt LSE), là một cơ sở nghiên cứu và giáo dục công lập chuyên về các ngành khoa học xã hội ở Luân Đôn, và là một trường thành viên của liên hiệp Viện Đại học London. LSE được thành lập vào năm 1895, chính thức gia nhập Viện Đại học London vào năm 1900 dưới hình thức một phân khoa kinh tế và bắt đầu tự cấp bằng tốt nghiệp từ năm 1902. LSE có một thể chế đặc biệt duy nhất ở Anh - trường đại học chuyên ngành một khoa (single faculty)- Khoa xã hội học - trực thuộc Đại học London. Học viện có trụ sở chính tại phố Houghton, Westminster (khu thuộc Aldwych), ngay cạnh Tòa án Hoàng gia và Temple Bar, London Temple Bar, LSE được biết đến là một trong những trường đại học danh tiếng bậc nhất thế giới về giảng dạy và nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học xã hội. Ngoài ra, cơ cấu sinh viên tại LSE mang tính quốc tế cao nhất trong tất cả các trường đại học toàn cầu. Có thời điểm, số quốc gia có sinh viên theo học tại LSE còn nhiều hơn cả số thành viên của Liên Hiệp Quốc. LSE là thành viên của Russell Group, Liên hiệp các trường đại học châu Âu (European University Association), Tổ chức các trường đại học Vương quốc Anh (Association of Commonwealth Universities), Cộng đồng các trường quản lý châu Âu và các công ty quốc tế (Community of European Management Schools and International Companies), Tổ chức các trường chuyên ngành và các vấn đề quốc tế (The Association of Professional Schools and International Affairs), UK Universities, Tam giác vàng của các trường đại học Vương quốc Anh (Golden Triangle of British Universities), và mới đây nhất là nhóm 5 trường ĐH dẫn đầu Vương quốc Anh. == Lịch sử == Học viện kinh tế chính trị London được thành lập vào năm 1895 bởi hội Fabian (nhóm Cánh tả với chủ trương cải cách) với các thành viên Sidney và Beatrice Webb, Graham Wallas và George Bernard Shaw, dùng nguồn vốn đóng góp, bao gồm tài sản để lại trị giá £20 000 từ Henry Hunt Hutchinson cho hội Fabian. Quyết định thành lập trường được đưa ra trong một bữa tiệc sáng ngày 4 tháng 8 năm 1894. LSE được thành lập để đạt được mục đích của hội Fabian trong việc cải cách xã hội, tập trung nghiên cứu về các vấn đề đói nghèo, sự bất công cùng các vấn đề liên quan. Điều này dẫn đến việc hội Fabian và LSE trở thành một trong những ảnh hưởng chính đến Đảng Lao động Anh (Labour Party). Đầu tiên, trường được thành lập với mục đích đổi mới phương pháp giảng dạy các vấn đề doanh nghiệp và chính trị tại vương quốc Anh. Sidney và Beatrice Webb chịu ảnh hưởng từ hình ảnh của Học viện Chính trị Paris (Institut d'Etudes Politiques de Paris) trong việc định hình nên LSE. Trường được mở cửa vào tháng 10 năm 1895 ở số 9 John Street, Adelphi, với chức năng ban đầu là một cơ sở đào tạo vào ban đêm cho giai cấp lao động. Trường được mở rộng một cách nhanh chóng cùng với việc khánh thành thư viện mới, Thư viện khoa học kinh tế và chính trị vương quốc Anh, đặt tại số 10 Adelphi Terrace, tháng 9 năm 1896. Năm 1900, LSE chính thức trở thành một khoa kinh tế của liên hiệp các trường đại học London tại Bloomsbury, bắt đầu nhận học sinh cử nhân và tiến sĩ cũng ngay trong năm đó. Cùng lúc, LSE mở rộng ra các ngành khoa học xã hội khác bao gồm địa lý, triết học, tiên phong trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, cũng như giảng dạy lịch sử, luật, tâm lý học và xã hội học. Trước năm 1902, LSE đã và sẽ tiếp tục mở rộng địa điểm tại Aldephi Terrace, đồng thời chuyển tới Clare Market, thuộc Aldwych như hiện nay từ năm 1902., giữ vai trò là trụ sở hành chính chính thức cũng như các lớp học được khánh thành tại Houghton Street vào năm 1922. Trong suốt những năm này, dưới sự điều hành của William Beveridge, cha đẻ của chương trình phúc lợi xã hội và NHS (National health Service), LSE đã định nghĩa lại kinh tế cùng các khái niệm liên quan theo quy tắc tiêu chuẩn là "một môn khoa học nghiên cứu nhân thái (human behaviour) cùng mối quan hệ giữa những ý nghĩa tận cùng và khan hiếm với những mục đích sử dụng khác nhau" (a science which studies human behaviour as a relationship between ends and scarce means which have alternative uses). Vì thế, LSE được nhìn nhận như là một nơi tiên phong của môn kinh tế học hiện đại. Dưới thời Beveridge, Friedrich Hayek được bổ nhiệm vào làm tại trường và đã mang đến uy thế cho LSE bởi cuộc tranh luận nổi tiếng với John Maynard Keynes. Năm 1939, với sự bùng nổ của Thế chiến thứ 2, trụ sở của LSE tại phố Houghton trở thành nơi làm việc cho nội các của cuộc chiến tranh kinh tế. Trong khi các cuộc thảo luận sau đó giữa giám đốc nhà trường, Carr-Saunder và thủ tướng Winston Churchill, LSE đã được đồng ý cho dời địa điểm tạm thời tới Cambridge, đặt tại Peterhouse college. Chiến tranh oanh tạc xảy ra khiến cho thời gian LSE lưu lại Cambridge kéo dài, và sau đó quay trở lại Luân Đôn vào năm 1945. Cuộc tranh luận nổi tiếng Keynes-Hayek giữa Cambridge và LSE tiếp tục định dạng cho tư duy kinh tế ngày nay như là các quốc gia vẫn tiếp tục tranh luận về các vấn đề phúc lợi xã hội với nền kinh tế được kiểm soát duy nhất bởi thị trường. Công trình nghiên cứu của Hayek tiếp tục ảnh hưởng đến khoa học kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, trong những năm này, Harold Joseph Laski, một giáo sư môn khoa học chính trị tại LSE đã có uy thế trong giới chính trị Anh như là nhà biện hộ cho các chính sách thiên tả. Rất nhiều các nguyên thủ quốc gia trong đó có John F. Kennedy và em trai đã từng học tại LSE. Lúc đầu, LSE là một tổ chức có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, điều này đã thay đổi trước những năm 1960, khi giám đốc LSE, Walter Adams đấu tranh để tách LSE khỏi gốc rễ Fabian. Điều này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình học sinh. Anthony Giddens, nguyên giám đốc LSE là người tạo ra thuyết Third Way (một hệ thống các lý luận học thuyết chính trị quản lý nhà nước- kết hợp giữa quan điểm thị trường tự do và quan điểm về sự cần thiết về sự can thiệp của nhà nước) mà sau này được sử dụng bởi Tony Blair và Bill Clinton. == Hoạt động == LSE tiếp tục có những ảnh hưởng to lớn tới xã hội quốc tế, đặc biệt là quan hệ gần gũi và ảnh hưởng trực tiếp tới chính trị, kinh tế và luật. Hiện tại, LSE đang hoạt động trong các dự án của chính phủ Anh bao gồm thẻ ID, nghiên cứu chi phí cho các hoạt động của chính phủ, các chính sách cộng đồng và nhà nước. Thêm vào đó, LSE đã mang đến xu hướng về vấn đề học phí trong các trường ĐH tại Anh vào năm 2006, đồng thời tiếp tục thu hút đầu tư và nguồn vốn cao nhờ nằm trong nhóm G5. Vào năm 2008, LSE bị chỉ trích vì cùng với ĐH Cambridge đưa ra danh sách các môn học A-levels được cho là không thích hợp ("soft" subjects) cho việc đăng ký đầu vào đại học. Top 10 nhà tuyển dụng hàng đầu của học sinh LSE hoạt động trong các lĩnh vực kế toán, ngân hàng đầu tư, tư vấn và luật. Đặc biệt, LSE còn được biết đến là cái nôi của đầu tư ngân hàng (investment banking’s nursery), trong đó khoảng 30% cử nhân LSE làm việc trong các lĩnh vực ngân hàng, dịch vụ tài chính và kế toán. LSE còn là ưu tiên lựa chọn của các nhà tuyển dụng trong nền kinh tế tư nhân, dịch vụ tài chính. Trong suốt những năm vừa qua, LSE tiếp tục mở rộng quanh Houghton Street. Dự án kêu gọi vốn đầu tư mới nhất "Campaign for the LSE", đã tập trung được 100 triệu bảng Anh, LSE mua lại tòa nhà Public Trustee tại 24 Kingsway. Tòa nhà này được xây dựng lại và đổi tên "New Academic Building" với tổng chi phí 45 triệu bảng Anh, tăng tổng diện tích toàn trường lên 120,000 feet vuông. 100 triệu bảng Anh được đầu tư vào tháng 11 năm 2007, tòa nhà mới được đi vào hoạt động tháng 10 năm 2008 và được khánh thành bởi Nữ hoàng Elizabeth II và Công tước Edinburgh vào ngày 5 tháng 11 năm 2008. Giám đốc hiện tại của LSE là Sir Howard Davies, nguyên Chủ tịch Cơ quan dịch vụ tài chính Anh (Financial Service Authority), Giám đốc Hội Doanh nghiệp Vương quốc Anh (Confederation of British Industry) và Phó thống đốc Ngân hàng Anh quốc. Sau nhiệm kỳ làm việc đầu tiên, Sir Horward Davies tiếp tục được tái bổ nhiệm quản lý LSE từ tháng 6 năm 2007 cho đến năm 2013. == Ngành học và tuyển sinh == Học viện kinh tế và chính trị Luân Đôn là trường đại học chuyên khoa duy nhất ở Anh tập trung chủ yếu vào các nghiên cứu về khoa học xã hội. Trường có 120 khóa Thạc sĩ Khoa học, 2 khóa Thạc sĩ Quản trị kinh doanh,1 khóa Thạc sĩ Luật, 30 khóa Cử nhân khoa học, 1 Cử nhân Luật và 4 Cử nhân Văn chương (bao gồm Lịch sử quốc tế và Địa lý). Học viện kinh tế Luân Đôn là một trong hai trường Anh quốc duy nhất dạy Lịch sử kinh tế (cùng với đại học Cambridge). Các khóa học khác bao gồm Nhân chủng học, Tội phạm học, Quan hệ quốc tế, Tâm lý xã hội học và Xã hội học. Các khóa học được dạy trên 30 trung tâm nghiên cứu và 19 tòa nhà, cùng một trung tâm ngoại ngữ. Các bộ phận nghiên cứu bao gồm Trung tâm nghiên cứu châu Á, Trung tâm Manheim dành cho Tội phạm học, trung tâm Darwin@LSE, Khối thị trường tài chính thành lập bởi Mervun King, Trung tâm điều hành Kinh tế, Tổ chức châu Âu, Tổ chức nghiên cứu về loài và sự di trú (MSU). Kể từ khi các chương trình này được bao gồm trong Khoa học xã hôi, chúng được gói gọn lại và các sinh viên đều được yêu cầu học một môn bên ngoài ngành học của mình trong năm thứ nhất và thứ hai nhằm thúc đẩy học sinh có kiến thức rộng hơn về khoa học xã hội. Nhiều học sinh được khuyến khích tham gia các khóa thực hành, nơi sinh viên có thể tham gia các bài giảng của các giáo sư mà không phải bắt buộc đăng ký. Mục đích là để học sinh có thể đạt được những kiến thức sâu rộng hơn. Và tại cấp độ này, một số Khoa có rất ít học sinh (90 học sinh trong suốt 3 năm học), đảm bảo các buổi giảng vừa và cho phép học sinh tiếp cận tốt hơn so với các trường đại học khác. Đầu vào của trường khá khắt khe, tỉ lệ chọi cho một suất học trong LSE luôn cao hơn 2 trường Oxford và Cambridge với trung bình 17 người cho mỗi suất. Một vài khóa như Luật, Quản trị, Kinh tế và Chính trị, tỉ lệ này thậm chí còn cao hơn với trên 20 người cho một chỗ. Năm 2008, điểm UCAS của sinh viên vào được học viện là 484 tương đương với 4 điểm A cho A-level. LSE cũng là một trong 3 trường đại học suy nhất ở Anh Quốc (cùng với Oxford và Cambridge) không phải vào phần Clearing trong UCAS (tuyển chọn bổ sung). LSE, giống như nhiều trường đại học khác ở Anh, không nhận học sinh thông qua hệ thống phỏng vấn và chỉ nhận học sinh dựa trên kết quả học tập của học sinh. Giống như MIT, LSE không có chương trình học bổng thể thao. Những năm gần đây, LSE trở thành một trong những trường đại học bị chỉ trích vì nhận khá nhiều học sinh từ các trường tư của Anh. Với nhiều sự đề cập và phản ánh từ dư luận, thống kê đưa ra bởi Hội đồng các trường tư thục, tổ chức của tất cả các trường tư thục ở Anh, đã khẳng định học sinh từ trường tư chỉ có 29.69% cơ hội vào được LSE – tỉ lệ chấp nhận thấp nhất của nhóm Russell. Đầu vào cho học sinh sau đại học cũng rất cao (đặc biệt cho những sinh viên không có học bổng). Sinh viên đều bắt buộc phải có bằng loại Nhất (First Class) hoặc 2.1 (Upper Second) hoặc tương đương mới được chấp nhận vào các khóa học thạc sĩ. Quá trình để nhận học sinh sau đại học được tiến hành từ khi nhận hồ sơ từ giữa tháng 10 và được xem xét bắt đầu từ tháng 11. Các hồ sơ xin học được xét và sinh viên có thể được nhận, từ chối hoặc nhận có điều kiện. Quá trình xét nhận được tiến hành cho tới khi trường cần đủ chỉ tiêu cho năm học. Do vậy, những học sinh gửi hồ sơ sớm sẽ có nhiều cơ hội hơn những sinh viên khác. Tỉ lệ hồ sơ thành công khác nhau theo từng năm mặc dù hầu hết các khóa học đều chỉ nhận tầm 5% đến 10% số đơn xét tuyển. LSE đang cố gắng triển khai kế hoạch để tăng số học sinh mỗi năm bằng cách mở rộng các thiết bị và tòa nhà cần thiết. LSE cũng đưa ra khóa học Thạc sĩ Quản trị kinh doanh toàn cầu TRIUM, được kết nối với Khối đại học thương mại của Trường đại học New York và Khối đại học Quản lý HEC của Paris. Khóa học được chia làm 6 kì, được tổ chức trong tại 5 quốc gia trong vòng khoảng thời gian 16 tháng. Tổ chức tư vấn Whitefield, một tổ chức tư vấn toàn cầu và tờ Thời báo Tài chính đã xếp chương trình MBA này đứng thứ 2 trên toàn thế giới. Chương trình học mùa hè của LSE được bắt đầu từ năm 1989 và đã được mở rộng với hơn 3000 học sinh vào năm 2006, tương đương với số sinh viên đại học của trường. Khóa học mùa hè bao gồm 50 môn, dựa trên các khóa học của LSE như Kế toán, Tài chính, Luật, Quan hệ quốc tế và Quản lý. Khóa học kéo dài 2 ký, mỗi kì 3 tuần vào tháng bảy và tháng Tám mỗi năm. LSE cũng đưa ra chương trình học hè LSE-PKU hợp tác với trường đại học Peking của Trung Quốc. Các khóa học này được lấy điểm, tính vào các chứng chỉ khác nhau và một vài khóa có thể được tính như một phần của thư mời có điều kiện cho khóa học thạc sĩ của LSE. Năm 2007, Khóa học hè này đã nhận sinh viên trên hơn 100 quốc gia, bao gồm một số của các trường phổ thông, đại học hàng đầu trên thế giới cũng như các chuyên gia từ một số ngân hàng quốc gia và các tổ chức tài chính lớn. Cùng với khóa học, trường cũng cung cấp chỗ ở trong ký túc xá cho sinh viên, và khóa học hè bao gồm cả một chương trình hoạt động xã hội như bài giảng của các khách mời, tiếp tân và câu lạc bộ đêm Crush tại trường. Các giáo sư của khóa học đang hi vọng có thể mở rộng hơn trong tương lai đặc biệt khi trường mới khánh thành tòa nhà New Academic building mới tháng 11/2008. == Năm học == Một năm học được chia ra làm 3 học kỳ. Học kỳ I - được gọi là "Michaelmas Term" - bao gồm 10 tuần học từ khoảng tháng 10 đến 2 tuần trước Noel. Học kỳ II - Lent Term - bao gồm 10 tuần học từ khoảng tháng 1 đến trước kỳ nghỉ lễ Phục Sinh. Học kỳ III - Summer Term - bao gồm 10 tuần học từ khoảng tháng 4 đến hè. Vào Michaelmas Term, trường thường khai giảng vào 1 ngày thứ năm cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10. Tuy nhiên, trong tuần đầu tiên – Freshers Week- các hoạt động chủ yếu chỉ để giúp học sinh mới làm quen với trường. Các hoạt động học tập chỉ chính thức bắt đầu vào ngày thứ hai sau Freshers Week. == Sinh viên == LSE có khoảng 8000 học sinh chính khóa (đại học và cao học) và 800 học sinh học bán thời gian. Trong số này, khoảng 25% la người Anh, 18% đến từ các nước châu Âu, 50% còn lại đến từ khoảng 150 nước khác trên thế giới. Trong số này 58% số học sinh học cao học (Master, MPA, LLM, PhD, MPhil). Tỷ lệ nam:nữ là 51:49. === Hội sinh viên === Hội sinh viên (LSE Student Union, LSESU) là một thành viên của Hội sinh viên quốc gia (National Union of Students- NUS). LSESU được xem là một trong những hội sinh viên năng động nhất nước Anh- một danh tiếng có từ thập niên 1960 khi sinh viên tiến hành bạo động và chiếm giữ trường để tỏ thái độ phản đối Chiến tranh Việt Nam hay chống phân biệt chủng tộc. Gần đây nhất, tháng 1 năm 2009, một số sinh viên đã chiếm giữ giảng đường Old Theatre trong 1 tuần nhằm phản đối hành động của Israel ở dải Gaza. LSESU chịu trách nhiệm về vấn đề tố chức các hoạt động phong trào, vui chơi cho học sinh, cũng như đại diện cho quyền lợi của học sinh. (RAG- Raising And Giving: quyên góp tiền cho các hoạt động từ thiện) Freshers’ Week, Global Week… LSESU có một tờ báo riêng - tờ The Beaver, 1 đài radio - đài Lse, 1 đài truyền hình LooSE Television, và một tạp chí Clare Market Review. Ngoài ra, các khoa của trường có các tờ báo riêng của mình, ví dụ tờ Rerum causae của Khoa Triết học hay tờ Rationale của khoa Kinh tế. Hội Thể thao LSE (LSE Athletics Union, LSEAU) chịu trách nhiệm về các hoạt động thể thao của trường. Cơ sở vật chất gồm có 1 sân đá banh, 1 khu thể thao (bóng rổ, võ...), 1 phòng tập thể dục (gym) Dưới sự quản lý của LSESU là hơn 170 hội/nhóm phong trào (societies) liên quan đến tất cả các lãnh vực, từ Business Society, Knitting Society, Lager and Real Ale Society...đến LSEConservatives hay LSE Socialist Union… Ngoài ra, các học sinh học ở đây đều thành lập hội đại diện cho quốc gia của mình, Swedish Society, Vietnam Society (VietSoc) hoặc Japanese Society… LSESU là nơi duy nhất ở Anh tổ chức tranh luận và họp toàn thể (Union General Meeting) hàng tuần (1pm thứ năm hằng tuần), Ngày 15 tháng 1 năm 2009, LSESU đã họp và bỏ phiếu 219/154 phản đối hành động của Israel ở Gaza. == Hoạt động == Trường LSE chuyển đến khu vực hiện nay, khu Clare Market và Houghton Street, vào năm 1902. Năm 1920, vua George V đặt viên đá đầu tiên xây dựng Old Buiding, một trong những tòa nhà trung tâm của trường. Từ đó đến nay, LSE đã mở rộng khuôn viên trường ra các khu vực lân cận (từ Kingsway đến Royal Court of Justice). Hiện nay, LSE có 30 tòa nhà. Trong khuôn viên còn có các tượng động vật hoặc hình thù kỳ lạ do các cựu học sinh tặng. Trường trải qua một đợt tu bổ lớn dưới thời Hiệu trưởng Anthony Giddens (1996-2003). Tòa nhà Connaught và Clement ở Aldwych; tòa nhà Garrick ở Houghton street; khu văn phòng sinh viên (Student Services Centre) ở Old Building cũng như thư viện trung tâm (the Lionel Robbins Building) được cải tạo và nâng cấp. Gần đây, LSE đã phát triển thêm 1 tòa nhà. Được cắt băng khánh thành vào ngày 5 tháng 11 năm 2008 bởi vợ chồng Nữ hoàng Anh tòa nhà thân thiện với môi trường này gồm có 4 giảng đường, các phòng học và là nhà mới của khoa Luật và khoa Quản trị. Peacock Theatre là giảng đường chính của trường LSE với 999 chỗ ngồi. Đây đồng thời cũng là nhà hát thứ sáu của Sadler's Wells. LSE nổi tiếng với các chương trình thuyết giảng đại chúng (Public lectures) tổ chức hàng tuần bởi các cựu học sinh của trường cũng như các nhân vật nổi tiếng trong giới học thuật, kinh tế cũng như chính trị. Các chương trình gần đây có sự tham gia của các nhân vật như thủ tướng Anh Gordon Brown, thủ tướng Úc Kevin Rudd, cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, anh hùng đấu tranh chống chế độ phân biệt chủng tộc apartheid Nelson Mandela, cựu tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, các cựu thủ tướng Anh Tony Blair, John Major hay Margaret Thatcher, cựu thủ tướng Đức Gerhard Schroeder, tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva, thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, giám đốc cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ Ben Bernanke và Alan Greenspan, tổng thống Mexico Vicente Fox. Ngoài ra còn có George Osborne MP, Lord Stern, Cherie Booth, George Soros, Mary McAleese, Archbishop Rowan Williams, John Lewis Gaddis, Joseph Meegan, Archbishop Desmond Tutu, Jens Lehmann, Milton Friedman, Jeffrey Sachs. Ngoài ra, LSE còn là nơi tổ chức những buổi biểu diễn văn nghệ và hòa nhạc (We Are Scientists, Dr. Karl Kennedy và Tim Westwood). == Sinh hoạt == Trường có khu ký túc xá dành cho sinh viên nằm rải rác ở trung tâm Luân Đôn. Các KTX này có thể cung cấp chỗ ăn ở cho khoảng 3400 sinh viên. 11 KTX này bao gồm: Anson Road Bankside House Butlers Wharf Carr-Saunders Hall Grosvenor House High Holborn Lilian Knowles Northumberland House Passfield Hall Rosebery Hall Sidney Webb House Ngoài ra, sinh viên của LSE có thể đăng ký vào một trong 8 khu KTX của Hiệp hội các trường Đại học Luân Đôn (University of London- mà LSE là một trong 19 thành viên), gồm có: College Hall Connaught Hall International Hall Lillian Penson Hall Nutford House Garden Halls Canterbury Hall Commonwealth Hall Hughes-Parry Hall LSE đảm bảo một chỗ trong KTX cho tất cả học sinh năm 1, tuy nhiên chỉ khoảng 1.200 sinh viên năm 1 ở trong KTX, còn lại thường thuê nhà riêng ở ngoài. == Thư viện và lưu trữ == Thư viện trung tâm của trường-được thành lập năm 1896- là Thư viện quốc gia Anh quốc về Chính trị và Kinh tế (British Library of Political and Economic Science - BLPES). Đây là thư viện lớn nhất thế giới về xã hội học và khoa học chính trị. Thư viện được đặt tên Lionel Robbins Building- theo tên của nhà kinh tế học nổi tiếng- Lionel Robbins- người đã từng học, dạy ở LSE và sau này trở thành một thành viên trong Hội đồng quản lý của trường. Những bộ lưu trữ ở đây có tầm quan trọng cao và đã được tặng thưởng danh hiệu "Status" bởi Museums Libraries and Archives Council (MLAC). Lionel Robbins Building được nâng cấp và sửa chữa vào năm 2000 bằng 1 dự án trị giá £35 triệu bảng Anh. Được tiến hành bởi công ty Foster and Partners. Việc sửa chữa này hoàn thành và được khánh thành bởi công chúa Anne – (The Princess Anne) vào ngày 27/11/2001. Với hệ thống giá để sách dài hơn 50 km nếu xếp liên tiếp, chứa hơn 4,5 triệu cuốn sách và 30 000 đầu báo in cũng như 15000 đầu báo điện tử. Thư viện rộng khoảng 20 000 m2: bao gồm 1700 chỗ ngồi tự học và 450 máy tính. Thư viện đón khoảng 6500 học sinh và giáo viên đến sử dụng mỗi ngày, cũng như phục vụ cho khoảng 12000 người dùng đăng ký bên ngoài LSE. Từ năm 1946, thư viện cũng đồng thời là một United Nations depository library, cung cấp các chương trình ấn phẩm của Liên Hiệp Quốc. Từ năm 1964, thư viện trở thành một trung tâm lưu trữ của châu Âu (European Documentation Centre) - là nơi tiếp nhận các ấn phẩm trong cộn đồng các nước châu âu. Các văn bản/tư liệu của các tổ chức khác cũng được luu trữ tại đâ, ví dụ như: OECD (Organisation for Economic Co-operation and Development), ILO (International Labour Organization), OAS (Organization of American States), GATT/WTO (General Agreement on Tariffs and Trade / World Trade Organization) Thư viện SHAW, nằm ở Old Building, là nơi lưu giữ những tác phẩm thuộc thể loại đại chúng và giải trí. Ngoài ra, Fabian Window –tấm kính khắc hình những người sáng lập sáng lập phong trào Fabian, được khánh thành bởi cựu thủ tướng Anh Tony Blair năm 2006, cũng nằn trong thư viện SHAW này. Ngoài ra, sinh viên tại trường cũng có thể sử dụng hệ thống thư viện của các trường liên kết nằm trong hệ thống Đại học Luân Đôn (ví dụ, Senate House Library….) == Danh tiếng giáo dục == Theo thống kê mới nhất của Đề tài đánh giá nghiên cứu (RAE 2008) tài trợ bởi chính phủ Anh LSE được xếp ngang hàng cũng Oxford dựa trên 14 tiêu chuẩn đánh giá. Chương trình cũng xếp LSE là trường đại học hàng đầu ở 5 ngành Nhân chủng học, Kinh tế, Luật , Chính sách xã hội và Nghiên cứu châu Âu. Thời báo Independent cũng đưa LSE lên thứ hạng thứ nhất theo các thống kê và nghiên cứu, dựa vào 35% thành công của trường trong những đề án hàng đầu, trong khi Oxford và Cambridge đạt 32% (theo thời báo Independent, 18 tháng 12 năm 2008). Trên 68% nghiên cứu của LSE đạt chuẩn 4 sao (hạng thế giới) và 3 sao (hạng quốc tế) trong đó khoa kinh tế là khoa mạnh nhất trong số những ngành học phổ biến trên toàn nước Anh. Hai trong số ba bảng xếp hạng chính của đại học Anh Times và Sunday Times đã xếp hạng LSE là trường đứng thứ 2 trong top những trường nghiên cứu khoa học mạnh nhất sau Cambridge. Các bảng xếp hạng khác cũng xếp LSE vào những vị trí dẫn đầu như của The Independent hay của The Guardian. Ngoài ra, LSE đã đệ trình 97% các cái đề tài của các cán bộ nhân viên trường, nhiều hơn bất cứ các trường đại học khác. LSE cũng được xếp hạng thứ nhất trong khối các trường đại học ở Luân Đôn. Năm 2007, trong bảng xếp hạng các trường đại học toàn cầu về xã hội học, LSE được xếp thứ 3 trên toàn thế giới sau Harvard và Berkeley về khoa học xã hội (thứ 3 năm 2006, thứ 2 năm 2005 và 2004). "..Những nghiên cứu về xã hội, kinh tế và chính trị của trường không chỉ gói gọn trong Anh quốc và các nước Châu Âu, mà còn bao gồm các quốc gia khác trên mọi lục địa. Từ khi thành lập, LSE đã quyết tâm trở thành nơi thí nghiệm về những vấn đề khoa học xã hội, nơi mọi ý tưởng được hình thành, phân tích, đánh giá và phát triển trên toàn cầu. Chính những điều đó đã tạo nên tên tuổi và danh tiếng bậc nhất trên toàn cầu cho LSE…." (QS Top Universities) Năm 2007, Khóa thạc sĩ Quản lý của trường được Bảng xếp hạng Thời báo Tái chính châu Âu xếp thứ 2 trên thế giới (thứ 8 năm 2006 và thứ 4 năm 2005). Không những thế, Khoa Tâm lý học, và Triết học đều vang danh dưới bảng thống kể của trung tâm tâm lý học Blackwell. Trường được xếp thứ nhất trên thế giới về Triết học của khoa học xã hội và đứng thứ hai về Triết học khoa học và đứng thứ 3 cho khóa học về ‘Lựa chọn lý trí, quyết định và Lý thuyết trò chơi’. Trong năm 2009 này, trong tờ Hướng dẫn về các đại học tốt’ (Times Good University Guide), trường đã đứng thứ nhất ở Anh quốc về các khóa sau: Tài chính kế toán (Accounting&Finance), Nghiên cứu thương mại (Business Studies), Kinh tế (Economics) và Chính sách xã hội (Social Policy), đứng thứ 2 cho Địa lý học (Geography), Nhân chủng học (Anthropology) và Chính trị học (Politics), đứng thứ 4 về Lịch sử học (History) và Triết học (Philosophy), xếp thứ 5 về Luật (Law), thứ 7 về Xã hội học (Sociology) và khoa Toán (Maths) xếp thứ 8. LSE đứng thứ 3 xét về toàn diện trong bảng xếp hạng của thời báo chủ nhật (Sunday Times) tính trong vòng 10 năm từ 1997 tới 2007. == Những đóng góp vào lịch sử kinh tế học == === LSE và Cambridge === Trong những năm 1930, cuộc tranh luận giữa LSE và trường đại học Cambridge rất nổi tiếng trong giới trí thức. Sự bất đồng ý kiến này bắt nguồn khi Edwin Cannan (1861-1935), giáo sư Kinh tế học ở LSE, và Alfred Marshall (1842-1924), giáo sư Kinh tế chính trị ở Cambridge và cũng là nhà kinh tế học đầu ngành lúc bấy giờ, tranh luận về vấn đề nền tảng của kinh tế học và liệu kinh tế học có nên được coi là một thực thể có hệ thống hay không (whether the subject should be considered as an organic whole) (Marshall đã bác bỏ quan niệm của LSE về sự riêng rẽ giữa học thuyết và lịch sử kinh tế.) Sự tranh luận còn liên quan đến vai trò của một nhà kinh tế học, liệu nên được coi là một chuyên gia riêng hay chỉ là một cố vấn về mặt thực tiễn. Với LSE và những nhà kinh tế–sử học, sự ứng dụng của các lý thuyết kinh tế mang tính quyết định cao hơn bản thân chúng.[neutrality disputed] Các nhà kinh tế học ở LSE và Cambridge đã cùng làm việc với nhau vào những năm 1920, tiêu biểu là "the London and Cambridge Economic Service" – tuy vậy nhưng đến những năm 1930 thì cuộc tranh cãi giữa hai trường đại học này lại tiếp tục diễn ra trước giải pháp cho vấn đề khủng hoảng kinh tế. Các giáo sư Robbins và Hayek của LSE, và Keynes của Cambridge là những nhân vật chính trong sự bất đồng chính kiến giữa hai trường. Cuộc tranh luận được mở rộng từ vấn đề giảm phát cùng với quản lý lượng cầu - như là giải pháp cho những vấn đề kinh tế lúc bấy giờ, cho đến những khái niệm rộng hơn của kinh tế học và kinh tế vĩ mô. Quan điểm của Robbins và Hayek được dựa trên ý kiến của Học viện Kinh tế Áo về sự nhấn mạnh vào tự do thương mại và chống chủ nghĩa can thiệp, đây cũng là một phương thức mà Robbins sau này đã tiếp cận và đi đến kết luận là không thích hợp cho bối cảnh khủng hoảng kinh tế những năm 30. === LSE và Chicago === Keynes và những chính sách, đường lối về kinh tế của Cambridge đã trở thành khuôn mẫu chuẩn kể từ những năm 30. Tuy sức ảnh hưởng ngày càng mạnh của Milton Friedman và Học viện Kinh tế Chicago nhưng vẫn phải nói rằng nhiều ý kiến về đường lối dân chủ của LSE vẫn ảnh hưởng đến phần lớn kinh tế dân chủ hiện đại. Lý do là do tầm ảnh hưởng chung của Friedrich Hayek đến cả hai trường (sau khi rời khỏi LSE ông đã chuyển tới Học viện Kinh tế Chicago). Sự kiểm chứng về tính hợp lệ trong lý lẽ của Hayek nằm ở sự lớn mạnh của những tổ chức và hiệp định quốc tế về tự do mậu dịch, ví dụ như những tổ chức và hiệp định đã qua được GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch mà sau này trở thành WTO, Tổ chức Thương mại Thế giới). Những ảnh hưởng về kinh tế học LSE là mô hình Học viện Kinh tế đầu tiên trên thế giới. Một số đóng góp cụ thể và quan trọng trong những quan niệm của chúng ta về kinh tế học có thể được tìm thấy dưới đây, với những cá nhân đã giảng dạy, nghiên cứu và học tập ở LSE và những nghiên cứu của họ. Phần lớn những nhà kinh tế học này đã được trao giải thưởng Nobel Kinh tế cho nhiều học thuyết hay công trình nghiên cứu cụ thể, liệt kê dưới đây là những công trình có tầm ảnh hưởng nhất đến tư duy và xây dựng mô hình kinh tế hiện đại: 1.John Hicks, với đóng góp nổi tiếng nhất là sự phát triển ra mô hình Hicks-Hansen IS-LM, điểm khởi đầu chuẩn mực cho kinh tế vĩ mô trường phái Keynesian cho mọi nhà kinh tế học hiện nay. 2.Friedrich Hayek, người được trao giải thưởng Nobel Kinh tế năm 1974, một trong những người lỗi lạc nhất ủng hộ chủ nghĩa kinh tế dân chủ. Lý thuyết về kinh tế-triết học của ông đã giúp vạch ra nhiều chủ trương và chính sách kinh tế ở Anh và Mỹ, tạo ra tầm ảnh hưởng đến cả Margaret Thatcher và Ronald Reagan. Sự áp dụng tư tưởng triết học của ông đã dẫn đến những thành tựu kinh tế quan trọng như là giảm sự chi phối từ các tổ chức công đoàn lao động đến nền kinh tế (mà Bean và Crafts tin rằng là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự trì trệ về kinh tế trong suốt 25 năm trước đó, khoản thời gian mà các nước châu Âu đều có tăng trưởng kinh tế ấn tượng). Ông cũng đã tạo ảnh hưởng rõ rệt lên những tư duy kinh tế thị trường đằng sau Iron Curtain (tư tưởng đã làm sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa của các nước Đông Âu). 3.James Meade được trao giải cho những đóng góp mang tính nền tảng của ông trong lý thuyết thương mại. 4.William Arthur Lewis, người đã phát triển học thuyết về tính hai mặt của nền kinh tế (Dual Model), chứng minh sự phát triền của phần lớn những lý thuyết kinh tế về quá trình công nghiệp hóa, và tạo ra nền tảng cho quan điểm "revisionist" (tạm dịch là người theo chủ trương xét lại) của Heywood về quá trình công nghiệp hóa ở nước Pháp trong mối tương quan với nước Anh. Lewis cũng là người đi tiên phong trong việc nghiên cứu tầm quan trọng của tỷ lệ trao đổi trong thương mại quốc tế (terms of trade) trong các lý thuyết về thương mại. 5.Merton Miller, người được trao giải Nobel Kinh tế năm 1990 cho việc tiên phong về lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết kinh tế tài chính. 6.Ronald Coase, được trao giải thưởng Nobel Kinh tế năm 1991 cho những khám phá và việc làm rõ tầm quan trọng của chi phí giao dịch (transaction costs) và quyền sở hữu của cải (property rights) trong cấu trúc tổ chức và chức năng hoạt động của nền kinh tế. 7.Amartya Sen, được trao giải Nobel Kinh tế năm 1998 vì nhiều đóng góp cho bộ môn kinh tế phát triển, bao gồm sự mở đường trong nghiên cứu về bất bình đẳng giới, và ông cũng luôn chú ý sử dụng "her" thay vì "his" trong các văn bản tiếng Anh khi nhắc đến một cá thể. Sen đã rời LSE để đến Oxford. Ông không được cho phép giảng dạy chủ đề nghiên cứu chính của mình về "tình trạng nghèo khó" (poverty) trong khoa Kinh tế. 8.Robert Mundell, cũng được trao giải Nobel Kinh tế năm 1999 cho những nghiên cứu về sử dụng đồng tiền chung (optimum currency area), và những nghiên cứu này vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phân tích và xem xét tính hiệu quả của đồng tiền chung. Trong khi những tiêu chí về chính trị (như nước Anh đã dùng khi quyết định không sử dụng đồng Euro) mang rất ít điểm tương đồng với những tiêu chí về OCA của Mundell, những nhà kinh tế học mang nặng tính lý thuyết lại sử dụng các tiêu chí OCA như là công cụ chính để phân tích sự hiệu quả của đồng tiền chung. 9.Mô hình Mundell-Fleming được mở rộng từ lý thuyết IS-LM, đưa vào ảnh hưởng của điểm cân bằng từ những nơi bên ngoài lãnh thổ một quốc gia, và cũng là nền tảng cho việc phân tích những lợi ích của hai loại tỷ giá hối đoái trôi nổi và cố định. 10.George Akerlof, người được trao giải Nobel Kinh tế năm 2001, có lẽ được biết tới nhiều nhất với bài báo của ông, "Thị trường cho những cái xe hơi cũ: Sự không chắc chắn về chất lượng và Cơ chế thị trường", xuất bản trong tờ Tạp chí Kinh tế (ra hàng quý) năm 1970, nhận diện những vấn đề nghiêm trọng có thể gây tổn hại đến thị trường như là bất đối xứng thông tin (asymmetric information). 11.Cũng phải kể tới nhà kinh tế học từ LSE A.W. Phillips, người chưa từng được nhận giải Nobel cho những công trình của ông, nhưng lại vô cùng nổi tiếng với đóng góp về đường cong Phillips (được ông giới thiệu lần đầu năm 1958). Đường cong Phillips đã chứng minh được thất nghiệp và lạm phát như là công cụ của chính phụ trong việc đưa ra đường lối kinh tế đúng đắn. Bên cạnh những đóng góp to lớn về mặt hàn lâm, những công trình nghiên cứu khác và chất lượng đầu ra của LSE tiếp tục có những ảnh hưởng rõ rệt đến bộ môn kinh tế học. •Tháng 1/2006, the IDEAS Economic Research Assessment đã xếp Học viện Kinh tế và Chính trị London LSE vào vị trí thứ 3 trong số các trường đại học có khoa nghiên cứu kinh tế tốt nhất thế giới, và vị trí thứ nhất bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. •Năm 1999, đại học Yale đã phân tích tầm ảnh hưởng của những nghiên cứu về Kinh tế lượng (Econometrics) và công trình của 100 người tốt nghiệp Ph.D kinh tế, từ khắp các trường trên toàn thế giới, và đã xếp LSE vị trí đầu bảng và cho rằng đây cũng là học viện duy nhất có hơn 2000 trang công trình nghiên cứu được xuất bản bởi những sinh viên đã tốt nghiệp. •The UK Research Assessment Exercise (RAE) đã đánh giá khoa Kinh tế của LSE đạt 5* (điểm cao nhất) trong hai lần sát hạch gần đây nhất (1996 and 2001). Có rất nhiều các bảng xếp hạng phi chính phủ khác nhìn chung cũng đã xếp các khoa/phòng nghiên cứu kinh tế của LSE nằm trong top 20 trên thế giới, và phần lớn dẫn đầu các vị trí ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Ở những nơi khác thì LSE thường được xếp trong top 12 những nơi có chất lượng nghiên cứu tốt nhất thế giới. == Các cá nhân tiêu biểu == === Cựu học sinh === Rất nhiều những cựu sinh viên và nhân viên từng học tập và làm việc tại LSE đã có đóng góp lớn cho những lĩnh vực khác nhau từ chính trị, kinh doanh, luật, tài chính cho đến văn học, âm nhạc, diễn viên và giáo dục. Trong số học có 16 người được trao giải Nobel về các lĩnh vực Kinh tế, Hòa bình và Văn học. Gần đây nhất, vào năm 2008, danh sách đã được bổ sung thêm một giải Nobel Kinh tế cho Paul Krugman. === Những người được trao giải Nobel === 1925 George Bernard Shaw - Văn học 1950 Ralph Bunche - Hòa bình 1950 Bertrand Russell - Văn học 1959 Philip Noel-Baker - Hòa bình 1972 Sir John Hicks - Kinh tế 1974 Friedrich Hayek - Kinh tế 1977 James Meade - Kinh tế 1979 Sir William Arthur Lewis - Kinh tế 1987 Óscar Arias - Hòa bình 1990 Merton Miller - Kinh tế 1991 Ronald Coase - Kinh tế 1998 Amartya Sen - Kinh tế 1999 Robert Mundell - Kinh tế 2001 George Akerlof - Kinh tế 2007 Leonid Hurwicz - Kinh tế 2008 Paul Krugman - Kinh tế === Đứng đầu Nhà nước === Có 44 cựu sinh viên LSE là người đứng đầu Nhà nước và chính phủ, bao gồm 7 người đang đương chức: thủ tướng Taro Aso của Nhật Bản, tổng thống Mwai Kibaki của Kenya, Nữ hoàng Margrethe II của Đan Mạch,tổng thống Anote Tong của Kiribati, thủ tướng Sergei Stanishev của Bulgaria, tổng thống Óscar Arias của Costa Rica, Thái tử Haakon của Na Uy và Tổng thống John Atta-Mills của Ghana. Một số người khác từng là người đứng đầu chính phủ/nhà nước có thể kể đến như cựu thủ tướng Romano Prodi của Italy, Marek Belka (Thủ tướng Ba Lan, 2004-2005), hai cựu Thủ tướng Canada, Pierre Trudeau và Kim Campbell,Sher Bahadur Deuba (Thủ tướng Nepal, 1995-1997, 2001-2002, 2004-2005), Heinrich Brüning (Thủ tướng Đức, 1930-1932), Sri K. R. Narayanan (Tổng thống Ấn Độ, 1997-2002), Percival Patterson (Thủ tướng Jamaica, 1992-2006), Constantine Simitis (Thủ tướng Hy Lạp, 1996-2004), Moshe Sharett tổng thống Israel, Lý Quang Diệu - người sáng lập ra đảo quốc Singapore và Jomo Kenyatta - cha đẻ của đất nước Kenya cũng đều từng học ở LSE. Ngoài ra, John F. Kennedy, cố Tổng thống Mỹ (1961-1963) đã từng học tập tại LSE với hai người anh em trai của ông là Joseph P. Kennedy, Jr. và Robert F. Kennedy. Lord Attlee (Clement Richard Attlee), Thủ tướng Anh giảng dạy tại đây vào thời điểm (1945-1951). Harmodio Arias (1886-1962) - President of Panama, 1932-1936 Óscar Arias (b. 1941) - President of Costa Rica, 1986-1990, 2006-nay and Nobel Prize winner Lord Clement Attlee (1883-1967) - Prime Minister of United Kingdom, 1945-1951 Errol Walton Barrow (1920-1987) - Prime Minister of Barbados, 1962-1966, 1966-1976, 1986-1987 Marek Belka (b. 1952) - Prime Minister of Poland, 2004-2005 Pedro Gerardo Beltran Espanto (1897-1979) - Prime Minister of Peru, 1959-1961 Maurice Bishop (1944-1983) - Prime Minister of Grenada (1979-1983) Heinrich Brüning (1885-1970) - Chancellor of Germany, 1930-1932 Forbes Burnham - (1923-1985) - President of Guyana Kim Campbell (b. 1947) - Prime Minister of Canada, June-November 1993 Eugenia Charles (1919-2005) - Prime Minister of Dominica, 1980-1995 John Compton (b. 1926) - Premier of Saint Lucia, 1964-1979, and Prime Minister of Saint Lucia, February-July 1979 & 1982-1996 Sher Bahadur Deuba (b. 1943) - Prime Minister of Nepal, 1995-1997, 2001-2002, 2004-2005 Tuanku Jaafar (b. 1922) - Yang di-Pertuan Agong (King) of Malaysia, 1994-1999 John F. Kennedy (1917-1963) - President of the United States 1961-1963 Jomo Kenyatta (1891-1978) - First President of Kenya, 1964-1978 Mwai Kibaki (b. 1931) - President of Kenya, 2002-nay Tanin Kraivixien (b. 1927) - Prime Minister of Thailand, 1976-1977 Yu Kuo-Hwa (1914-2000) - Premier of Taiwan, 1984-1989 Hilla Limann (1934-1998) - President of Ghana, 1979-1981 Alfonso López Pumarejo (1886-1959) - President of Colombia, 1934-1938, 1942-1945 Michael Manley (1924-1997) - Prime Minister of Jamaica, 1972-1980, 1989-1992 Ratu Sir Kamisese Mara (1920-2004) - Prime Minister of Fiji 1970-1992, President of Fiji 1994-2000 Queen Margrethe II (b. 1940) - Queen of Denmark, 1972-nay Beatriz Merino (b, 1947) - First female Prime Minister of Peru, 2003-2003 Sri K. R. Narayanan (1921-2005) - President of India, 1997-2002 Kwame Nkrumah (1909-1972) - First President of Ghana, 1960-1966 Sylvanus Olympio (1902-1963) - Prime Minister of Togo, 1958-1961, and first President of Togo, 1961-1963 Percival Patterson (b. 1935) - Prime Minister of Jamaica, 1992-2006 Romano Prodi (b. 1939) - Prime Minister of Italy, 1996-1998, 2006-nay and President of the European Commission, 1999-2004 Navinchandra Ramgoolam (b. 1947) - Prime Minister of Mauritius, 1995-2000 Seewoosagur Ramgoolam (1900-1985) - Prime Minister of Mauritius (1961-1982) Veerasamy Ringadoo (1920-2000) - First President of Mauritius, March-June 1992 Moshe Sharett (1894-1965) - Prime Minister of Israel, 1953-1955 Constantine Simitis (b. 1936) - Prime Minister of Hy Lạp, 1996-2004 Sergey Stanishev (b. 1966) - Prime Minister of Bulgaria, 2005-nay Edward Szczepanik (1915-2005) - Prime Minister of the Polish government in exile, 1986 - 1990 Banja Tejan-Sie, (1917-2000) - Governor-General and leader of opposition Sierra Leone People's Party in Sierra Leone Anote Tong (b. 1952) - President of Kiribati, 2003-nay Pierre Trudeau (1919-2000) - Prime Minister of Canada, 1968-1979, 1980-1984 Lý Quang Diệu (b. 1923) - Prime Minister of Singapore, 1959-1990 === Nội các chính phủ === 29 thành viên Quốc hội Anh (Hạ viện- Members of Parliament) đương chức, bao gồm Ed Miliband và Yvette Cooper, cũng là hai thành viên của nội các đương thời, đều là cựu sinh viên của LSE. Bộ trưởng dưới thời nội các cũ Ruth Kelly và 45 thành viên đương chức của Thượng nghị viện cũng đã từng học ở LSE, bao gồm Lord Stern, hiện đang nắm giữ chức vụ chủ tịch IG Patel. Một số thành viên Quốc hội Anh đã từng được LSE đào tạo cũng phải kể đến Margaret Hodge, Edwina Currie, Baronness Virginia Bottomley và Frank Dobson. 5 thành viên trong bộ máy chính quyền của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama – Giám đốc Ngân quỹ Peter Orszag, Pete Rouse, Mona Sutphen (Cố vấn cao cấp), Paul Volcker (Trưởng Hội đồng cố vấn hồi phục kinh tế) và Jason Furman đều tốt nghiệp từ LSE, và Larry Summers (Trưởng Hội đồng Cố vấn Kinh tế Quốc gia của Nhà Trắng) thì đã từng giảng dạy ở trường. Ngoại trừ Đại học Harvard, LSE hiện đang là trường đại học có nhiều cựu sinh viên đại diện nhất trong bộ máy chính phủ hiện thời của Hoa Kỳ. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì (Yang Jie Chi) cũng tốt nghiệp từ LSE. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Na Uy và Phần Lan, và Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia, Juwono Soedarsono đều từng là nghiên cứu sinh ở LSE. === Tài chính và Kinh doanh === Vẫn thường được gọi là cái nôi sản sinh ra các thiên tài của trung tâm tài chính Luân Đôn, LSE đã đào tạo ra rất nhiều nhà doanh nghiệp và tài chính trong những năm vừa qua. Thống đốc Ngân hàng Anh, Mervyn King, và năm cử nhân nữa từ LSE (Andrew Sentance, Tim Besley, Charles Bean, Rachel Lomax và David Blanchflower) hiện đang là thành viên của Hội đồng Chính sách Tiền tệ, đưa ra những quyết định về lãi suất và kiềm chế lạm phát. Một số tỷ phú như David Rockefeller (Chase Manhattan Bank); Sir Stelios Haji-Ioannou, người sáng lập ra easygroup, Lord Saatchi, George Soros, Robert Kaplan, Michael S. Jeffries, Sir Gordon Brunton, Richard Nesbitt đều đã từng học ở LSE. Nick Varney, CEO của Merlin Entertainments, tập đoàn giải trí lớn thứ hai trên thế giới và Clara Furse, Giám đốc điều hành đương nhiệm của Sàn chứng khoán London(London Stock Exchange) cũng là hai cựu sinh viên của trường. Thống đốc Ngân hàng Trung ương Australia Nugget Coombs và Syed Ali Raza, Chủ tịch Ngân hàng Pakistan và chủ ngân hàng quốc tế, chính trị gia David Rockefeller (gia đình ông đã lập ra Quỹ Rockefeller hỗ trợ tài chính sau chiến tranh) cũng đã từng tốt nghiệp tại LSE. === Giới nghệ thuật và truyền thông === Sir Mick Jagger, trưởng nhóm nhạc The Rolling Stones, cũng đã từng theo học ở LSE nhưng bỏ dở vì ông muốn theo đuổi sự âm nhạc riêng của mình. Sir David Attenborough, một người theo chủ nghĩa tự nhiên, đạo diễn được để cử Oscar Frederick M. Zollo, nữ diễn viên Jaime Murray cũng đều từng học ở LSE. Một số cựu sinh viên khác phải kể đến Edward R. Pressman, nhà sử học nổi tiếng David Starkey, Jules O'Riordan, Loyd Grossman, Robert Kilroy-Silk, Kirsty Lang, Barbara Serra, Martin Lewis, Robert Elms, Rod Liddle, Val Venis, Josh Chetwynd, Keith Murdoch, phóng viên BBC thường trú tại Washington Justin Webb, James Floyd và Mark Urban. Monica Lewinsky cũng đã tốt nghiệp LSE năm 2006, và một cựu thí sinh của series trò chơi Big Brother Michael Cheshire và nữ ca sĩ/diễn viên người Iceland Felicia Jensen hiện cũng đang theo học ở đây. Nhà văn China Miéville đã tốt nghiệp bằng tiến sĩ tại LSE. === Pháp luật và tòa án === Cherie Booth QC, vợ của cựu Thủ tướng Anh Tony Blair, có bằng LLB (Luật) ở LSE. Sir Charles Webster người sáng lập ra Liên Hợp Quốc cũng từng tốt nghiệp tại LSE. Và cả những người sau đây cũng đều là cựu sinh viên của trường: Ian Johnston, Trưởng Cảnh sát Giao thông Anh, tiến sĩ B. R. Ambedkar, Kiến trúc sư trưởng của Viện Ấn Độ học, Makhdoom Ali Khan, luật sư của Lincoln's Inn và cũng là cựu Chủ tịch hội luật sư Pakistan, Anthony Kennedy, ở Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, và cuối cùng là các chủ tịch và chánh án của Tòa án Quốc tế Manfred Lachs và Sir Christopher Greenwood. === Triết học-khoa học === Khoa Triết học được thành lập bởi ngài Karl Popper và đã trở thành nơi giảng dạy và học tập của nhiều nhà khoa học-triết gia danh tiếng như Paul Feyerabend và Imre Lakatos. Nancy Cartwright, một trong số những nhà khoa học-triết gia lỗi lạc nhất, hiện đang là giáo sư ở LSE. Hai trong số 100 tỷ phú giàu nhất thế giới, George Soros và Spiro Latsis, đã từng học triết học dưới sự giảng dạy của Karl Popper và Imre Lakatos (theo thứ tự). === Tiểu thuyết, hư cấu === Nhân vật được hư cấu Thủ tướng và Bộ trưởng Đối ngoại Anh, James Hacker, đã học ngành kinh tế ở LSE trong series phim truyền hình được yêu thích Yes Minister và Yes, Prime Minister. Nhân vật Tổng thống Mỹ Jed Bartlett trong phim truyền hình nổi tiếng The West Wing của đài NBC cũng từng học kinh tế ở LSE. Ngoài ra, lý lịch mới được công bố của siêu điệp viên trong tiểu thuyết James Bond trong bộ phim Casino Royale (2006) đã cho thấy rằng cha của James, Andrew Bond, cũng từng học tại LSE. Bokonon hay Lionel Boyd Johnson, một thủ lĩnh tôn giáo trong phim Cat's Cradle của đạo diễn Kurt Vonnegut cũng là cựu sinh viên LSE, tuy nhiên việc học của ông bị gián đoạn bởi cuộc thế chiến thứ I. === Các hiệu trưởng === • Sir Howard Davies 2003-nay • Professor Lord Anthony Giddens 1997-2003 • Sir John Ashworth 1990-96 • G. Patel 1984-90 • Professor Lord Ralf Dahrendorf 1974-84 • Sir Walter Adams 1967-74 • Sir Sydney Caine 1957-1967 • Sir Carr-Saunders 1937-57 • Sir William (later Lord) Beveridge 1919-37 • William Pember Reeves 1908-19 • Sir Halford Mackinder 1903-08 • William Hewins 1895-1903. == Nhóm vận động hành lang == Theo những báo cáo gần đây, LSE được đánh giá là 1 thành viên của nhóm các trường Đại học hoạt động độc lập, được biết đến với tên G5. Tài liệu hỗ trợ bậc học cấp cao của Times cho biết, 5 trường bao gồm LSE, Đại học Hoàng Gia (Imperial College London), Đại học Oxford (University of Oxford), Đại học Cambridge (University of Cambridge) và Đại học Luân Đôn (University College London, viết tắt UCL). Nhóm "G5" đã tổ chức những buổi họp thường xuyên nhằm chính thức thảo luận về hướng đi của họ khi môi trường đào tạo và giáo dục của Anh (UK) có nhiều sự thay đổi, đặc biệt là mối quan tâm của họ trong việc duy trì chất lượng giảng dạy sau bậc trung học/cao đẳng. Những trường Đại học này cũng nhấn mạnh nếu không được tài trợ hợp lý để hỗ trợ chất lượng giảng dạy, họ sẽ giảm số học sinh bản xứ chưa tốt nghiệp được nhận vào trường, thay vào đó là học sinh quốc tế và nghiên cứu sinh (thường những học sinh này trả phần lớn hoặc gần như hoàn toàn học phí). Nhóm G5 cũng đã có những lần họp không công bố trong nhiều tháng. Mục đích của nhóm là bảo đảm có những khoản dư từ mức chuẩn học phí (3000 bảng/học sinh cho 1 năm học, bắt đầu từ 2006), để hỗ trợ cho học sinh bản xứ và trong khối Châu Âu. Ông Richard Sykes, hiệu trưởng trường Đại học Hoàng Gia (Imperial College) phát biểu: "Trường chúng tôi không cung cấp những khóa học rẻ. Chúng tôi sẽ giúp Chính phủ nhận ra điểm này để chấm dứt luật về số học phí tối đa được trả hiện nay. Nếu họ không đồng ý và nhấn mạnh chất lượng khóa học ở trường là quá cao, dẫn đến chi phí không cần thiết; chúng tôi sẽ vẫn duy trì chất lượng giảng dạy. Bên cạnh đó, trường sẽ tăng số học sinh quốc tế và nghiên cứu sinh". Những điểm chung nổi bật nhất giữa 5 trường đó là: kết quả nghiên cứu chất lượng cao, chất lượng giảng dạy được đánh giá tốt, truyền thống đào tạo những cá nhân xuất sắc và nối tiếng, tầm ảnh hưởng lớn đến những vấn đề chính trị, và chỗ đứng vững trong lĩnh vực hàn lâm. Ngoài ra, còn có những Đoàn thể dành cho sinh viên rất phát triển, Hiệp hội Học sinh của các trường Đại học Luân Đôn (University of London Student Union) đã đứng ra tổ chức các hoạt động như sự kiện năm 1968 ở phố Downing (Downing Street), hoạt động chống lại chiến tranh Irac..v.v... LSE cũng là thành viên của tổ chức "Tam giác Vàng" (the Golden Triangle), bao gồm các trường Đại học của Oxford, Cambridge, Imperial, LSE, UCL và King’s College (KCL). Các trường LSE, UCL và KCL là những trường nổi bật của tập hợp các trường Đại học Luân Đôn (the University of London) và Imperial tách khỏi khối Đại học Luân Đôn năm 2007. Hiện tại, những trường này đang nỗ lực để giới thiệu những chứng chỉ riêng. == Hệ thống quản lý == Là thành viên của nhóm các trường Đại học Luân Đôn, LSE có hiệu trưởng danh dự - Công Chúa (The Princess Royal) Anne, người đại diện chính cho University of London. Không như những trường và tổ chức giáo dục khác ở Anh, hiệu trưởng danh dự không tham gia vào hoạt động quản lý ở LSE. Trường LSE có một Giám đốc điều hành / Hiệu trưởng (the Director), chịu trách nhiệm chủ yếu về việc điều hành Trường, ban Điều hành (Board of Trustees) và tổ chức quản lý (the Court of Governors). Giám đốc và trợ lý Giám đốc được đề cử từ Hội đồng (Council) và chính thức thừa nhận bởi tổ chức quản lý (the Court of Governors). Người đứng đầu tổ chức quản lý hiện nay là Peter Sutherland tới từ Ireland, đã từng là Tổng Giám đốc của Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organisation), người thay thế Lord Grabiner vào tháng 12/2007. Dưới Peter Sutherland là Ông Anthony Battishill (Phó chủ tịch), ngoài ra còn có nhiều những cá nhân nổi bật khác như Cherie Booth, Ông Stelios Haji-loannou và Lord Saatchi. == Chứng chỉ == Học viện Kinh tế và Chính trị Luân Đôn đào tạo nhiều chứng chỉ khác nhau từ bằng Tú tài Đại học (Bachelor’s), Thạc sĩ (Master’s) và Tiến sĩ (PhD degrees). Các chứng chỉ này đều phổ biến và được công nhận ở các trường Đại học ở Anh. LSE không cấp bằng danh dự thường niên (annual honorary degrees) như một số trường Đại học khác. Trong lịch sử 113 năm của trường, LSE chỉ cấp 15 bằng Danh dự cho Học vị Tiến sĩ, một trong số đó thuộc về Nelson Mandela (Doctor of Science; Economics). Từ năm 1902, khi bắt đầu gia nhập khối các trường Đại học Luân Đôn, cho tới năm 2007, các chứng chỉ đều được cấp bởi tổ chức này. Bằng cấp được công nhận chung cho các trường thuộc Đại học Luân Đôn (BSc London). Năm 2007, các trường được phép cấp chứng chỉ riêng của mình, và LSE lần đầu tiên được công nhận chứng chỉ riêng vào tháng 6 năm 2008. Những sinh viên tốt nghiệp từ năm 2008 sẽ được lựa chọn chứng chỉ của Đại học Luân Đôn hoặc của LSE. Tại thời điểm hiện tại, Hiệu trưởng trường, ông Howard Davies thông báo LSE cùng với UCL và KCL sẽ tiếp tục nằm trong khối các trường Đại học Luân Đôn. Ngoài ra, trường sẽ sử dụng đồng phục tốt nghiệp và bằng cấp riêng. Đã có nhiều tranh luận về việc sắp xếp này trong Hiệp hội Học sinh của trường. Mặc dù có những ý kiến phản đối liên quan đến địa vị hội viên của LSE và các trường Đại học Luân Đôn; việc trường giới thiệu và sử dụng chứng chỉ riêng đã có được sự ủng hộ từ đa số sinh viên. == Biểu tượng == Biểu tượng của trường là chữ LSE trên nền hình vuông đỏ. Biểu tượng chính thức và đầy đủ thường đi kèm với dòng chữ màu đen "The London School of Economics and Political Science" (Học viện Kinh tế và Chính trị Luân Đôn) ở phía phải của hình. Biểu tượng trên được sử dụng rộng rãi cùng với hình ảnh tượng trưng (coat of arms) mang nhiều ý nghĩa lịch sử. Hình ảnh tượng trưng của LSE được thiết kế từ năm 1925, khi Hội đồng gồm 12 thành viên quyết định lấy hình ảnh của 1 linh vật làm biểu tượng cho những hoạt động của trường. Hình ảnh của "Hải Ly" (The Beaver) được chọn để tượng trưng cho tầm nhìn rộng, sự cải tiến, kiên định và cầu tiến. Năm 1925, Hải ly khắc bằng gỗ được giới thiệu bởi 4 Giáo sư được chính thức đặt tên "Felix Q". Từ đó, Hải ly trở thành nhân vật được hầu hết sinh viên yêu thích ở LSE và được đặt tên cho tờ báo nổi tiếng của sinh viên. == Vị trí == Trường LSE thuộc Hội đồng Thành phố của Westminster (the City of Westminster), nằm giữa Covent Garden, Aldwych và Temple Bar, trong phạm vi thành phố Luân Đôn (the City of London). Trường nằm cạnh Tòa án Hoàng Gia (the Royal Courts of Justice), Lincoln’s Inn và Kingsway (nơi lúc trước là Clare market). LSE cũng nằm trong khu vực trung tâm giao thông bị đánh thuế của Luân Đôn (the central London Congestion Charging zone). Ga tàu điện ngầm gần nhất là Holborn, Temple và Covent Garden. London Waterloo, một ga tàu lớn khác, nằm cách khu vực trường khoảng 0.7 dặm, bên kia bờ sông Thames. == LSE trên các phương tiện truyền thông == Lý lịch mới được công bố của siêu điệp viên trong tiểu thuyết James Bond trong bộ phim Casino Royale (2006) đã cho thấy rằng cha của James, Andrew Bond, cũng từng học tại LSE. Bokonon hay Lionel Boyd Johnson, một thủ lĩnh tôn giáo trong phim Cat's Cradle của đạo diễn Kurt Vonnegut cũng là cựu sinh viên LSE, tuy nhiên việc học của ông bị gián đoạn bởi cuộc thế chiến thứ I. Ngoài ra, trong chương trình TV ở Mỹ có tên "The West Wing" (Cánh trái), Martin Sheen, trong vai Tổng thống Josiah Edward "Jed" Bartlet, đã từng theo học khóa học Thạc sĩ và Tiến sĩ về Kinh tế ở LSE. Nhân vật Thủ tướng trong loạt phim hài của Anh mang tên "Yes Minister" and "Yes prime Minister" (Vâng, thưa Thủ tướng!), cũng là cựu học sinh của LSE. Chương trình kịch "Spooks" của đài BBC, phát sóng vào ngày 17/11/08, nhân vật chính Alexis Meynall, nhân viên đầu tư ngân hàng ở Luân Đôn, có đề cập về khoảng thời gian ông theo học ở LSE. == Chú thích == == Tham khảo == 1. "LSE: A History of the London School of Economics and Political Science, 1895-1995", Oxford University Press, ngày 1 tháng 6 năm 1995. 2. "Determined Challengers Keep Heat On The Elite", The Times Higher Education Supplement, ngày 28 tháng 10 năm 2005. 3. "Outstanding library and archive collections receive national recognition", MLA News, ngày 28 tháng 10 năm 2005. 4. "1969: LSE closes over student clashes", BBC News 5. "JEEA Published Ranking", "Source: Table 3 of Pantelis Kalaitzidakis, Theofanis P. Mamuneas, and Thanasis Stengos (2003)". 6. "Top 200 universities: evolution over time", "ULB 6/17/02" 7. "EconPh.D Net Dec 1, 2005", "EconPh. D Net" 8. "Cowles, Yale", "Francisco Cribari-Neto, Mark J. Jensen and Álvaro A. Novo, "Research in Econometric Theory: Quantitative and Qualitative Productivity Rankings," Econometric Theory, 1999". 9. "HERO 1996", "UK Research Assessment Exercise 1996". 10. "HERO 2001", "UK Research Assessment Exercise 2001". 11. "IDEAS Research Assessment UK top 20% of Departments & World top 5% of Departments", "IDEAS, University of Connecticut, Top 20% UK institutions". == Liên kết ngoài == LSE Homepage LSE Students' Union LSE Events & Conferences The Beaver Newspaper Pulse Radio University of London Homepage The Times' Profile of The LSE
sắc tộc.txt
Sắc tộc hay nhóm sắc tộc (tiếng Anh: ethnic group hay ethnicity), hiện nay nhiều khi thường gọi là dân tộc, là một nhóm được định nghĩa theo đặc tính xã hội. Những nhóm này dựa trên di sản văn hóa, chia sẻ nguồn gốc chung, lịch sử, nơi ở, ngôn ngữ hoặc phương ngữ, và có thể những khía cạnh khác như tôn giáo, thần thoại và nghi lễ, ẩm thực, phong cách trang phục, đặc điểm cơ thể... Một sắc tộc được phân loại dựa vào đặc điểm chung, mà thường là dựa vào đặc điểm chung về nguồn gốc như tổ tiên, dòng dõi... Đặc điểm sắc tộc cho biết điểm phân biệt giữa các sắc tộc và của cả những người cùng thuộc một sắc tộc. Có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau ứng với mỗi trường hợp. Sự khác biệt nhỏ trong cách phát âm cũng đủ phân loại con người theo các sắc tộc khác nhau. Mặt khác, với hai người khác nhau về nhân cách, tín ngưỡng, nơi cư trú, thời gian, thậm chí cả ngôn ngữ vẫn có thể xem nhau như cùng sắc tộc, và điều này được nhiều người công nhận. Người dân cùng sắc tộc có chung lối sống, quy tắc cư xử, có trách nhiệm với các thành viên khác và chịu trách nhiệm về hành động của những người cùng tộc. Một sắc tộc thường trải qua nhiều thế hệ, cả những thành viên đã chết vẫn được xem như người trong tộc. Một điểm mơ hồ là những thế hệ tương lai cũng được tính là cùng tộc. Dù không xác định rõ khoảng thời gian nhưng một sắc tộc thường có hàng trăm năm tuổi. Đặc tính sắc tộc là một trong số nhân tố quan trọng nhất xác định đặc trưng văn hóa, đặc trưng xã hội của các thành viên sắc tộc. Tuy vậy, nhiều người có cùng gốc gác vẫn có thể sống ở những nước khác nhau và vì thế được xem là người dân ở những nước khác nhau. Hay có những tranh luận về Yếu tố đặc trưng của một sắc tộc. == Tham khảo == Abizadeh, Arash, "Ethnicity, Race, and a Possible Humanity" World Order, 33.1 (2001): 23-34. (Article that explores the social construction of ethnicity and race.) Barth, Fredrik (ed). Ethnic groups and boundaries. The social organization of culture difference, Oslo: Universitetsforlaget, 1969 Beard, David and Kenneth Gloag. 2005. Musicology, The Key Concepts. London and New York: Routledge. Billinger, Michael S. (2007), "Another Look at Ethnicity as a Biological Concept: Moving Anthropology Beyond the Race Concept", Critique of Anthropology 27,1:5–35. Cole, C.L. "Nike's America/ America's Michael Jordan", Michael Jordan, Inc.: Corporate Sport, Media Culture, and Late Modern America. (New York: Suny Press, 2001). Camoroff, John L. and Jean Camoroff 2009: Ethnicity Inc.. Chicago: Chicago Press. Dünnhaupt, Gerhard, "The Bewildering German Boundaries", in: Festschrift for P. M. Mitchell (Heidelberg: Winter 1989). Eriksen, T.H. 1993. Ethnicity and Nationalism: Anthropological Perspectives, London, Pluto Press. Eysenck, H.J., Race, Education and Intelligence (London: Temple Smith, 1971) (ISBN 0-85117-009-9) Hartmann, Douglas. "Notes on Midnight Basketball and the Cultural Politics of Recreation, Race and At-Risk Urban Youth", Journal of Sport and Social Issues. 25 (2001): 339-366. Hobsbawm, Eric, and Terence Ranger, editors, The Invention of Tradition. (Cambridge: Cambridge University Press, 1983). Thomas Hylland Eriksen (1993) Ethnicity and Nationalism: Anthropological Perspectives, London: Pluto Press Levinson, David, Ethnic Groups Worldwide: A Ready Reference Handbook, Greenwood Publishing Group (1998), ISBN 978-1-57356-019-1. Merriam, A.P. 1959. "African Music", in R. Bascom and, M. J. Herskovits (eds), Continuity and Change in African Cultures, Chicago, University of Chicago Press. Morales-Díaz, Enrique; Gabriel Aquino; & Michael Sletcher, "Ethnicity", in Michael Sletcher, ed., New England, (Westport, CT, 2004). Omi, Michael and Howard Winant. Racial Formation in the United States from the 1960s to the 1980s. (New York: Routledge and Kegan Paul, Inc., 1986). Seeger, A. 1987. Why Suyá Sing: A Musical Anthropology of an Amazonian People, Cambridge, Cambridge University Press. Seidner, Stanley S. Ethnicity, Language, and Power from a Psycholinguistic Perspective. (Bruxelles: Centre de recherche sur le pluralinguisme1982). Sider, Gerald, Lumbee Indian Histories (Cambridge: Cambridge University Press, 1993). Smith, Anthony D. (1987). “The Ethnic Origins of Nations”. Blackwell. Smith, Anthony D. (1998). Nationalism and modernism. A Critical Survey of Recent Theories of Nations and Nationalism. London – New York: Routledge. Smith, Anthony D. (1999). “Myths and memories of the Nation”. Oxford University Press. ^ U.S. Census Bureau State & County QuickFacts: Race. == Xem thêm == Dân tộc (cộng đồng) == Liên kết ngoài == Ethnicity tại DMOZ Downloadable article: "Evidence that a West-East admixed population lived in the Tarim Basin as early as the early Bronze Age" Li et al. BMC Biology 2010, 8:15. Biomedcentral.com Rian.ru American Psychological Association's Office of Ethnic Minority Affairs
somaliland.txt
Somaliland (tiếng Somali: Somaliland, tiếng Ả Rập: صوماليلاند Ṣūmālīlānd hay أرض الصومال Arḍ aṣ-Ṣūmāl) là một quốc gia tự tuyên bố độc lập song được quốc tế công nhận là một khu vực tự trị của Somalia. Chính phủ Somaliland tự xác định mình là quốc gia kế thừa của lãnh thổ bảo hộ Somaliland thuộc Anh, vốn độc lập vào ngày 26 tháng 6 năm 1960 với tên gọi Quốc gia Somaliland, trước khi hợp nhất với Lãnh thổ ủy trị Somalia vào ngày 1 tháng 7 năm 1960 để hình thành nước Cộng hòa Somalia. Somaliland giáp với Ethiopia ở phía nam và tây, với Djibouti ở phía tây bắc, với vịnh Aden ở phía bắc, và với vùng tự trị Puntland của Somalia ở phía đông. Sau khi chính phủ trung ương sụp đổ vào năm 1991, chính phủ địa phương đã tuyên bố độc lập khỏi phần còn lại của Somalia vào ngày 18 tháng 5 cùng năm. Kể từ đó, lãnh thổ này nằm dưới quyền quản lý của một chính phủ nước Cộng hòa Somaliland (tiếng Somali: Jamhuuriyadda Somaliland, tiếng Ả Rập: جمهورية صوماليلاند Jumhūrīyat Ṣūmālīlānd). Chính phủ này duy trì các quan hệ phi chính thức với một số chính phủ nước ngoài, những nước này cử phái đoàn ngoại giao đến Hargeisa. Ethiopia cũng duy trì một văn phòng thương mại tại Somaliland. Tuy nhiên, tuyên bố độc lập của Somaliland vẫn không được quốc gia hay tổ chức quốc tế nào công nhận. . == Lịch sử == Các văn vật sớm nhất của loài người trong khu vực là các bích họa hang động Laas Geel, có niên đại trước 3000 TCN. Hồi giáo được đưa đến vùng duyên hải phía bắc Somalia từ bán đảo Ả Rập, một thời gian ngắn sau hành trình hijra của Muhammad. Nhiều vương quốc Somalia Hồi giáo được thành lập trong khu vực vào giai đoạn này. Nhiều thế kỷ sau, đến thập niên 1500, Đế quốc Ottoman chiếm đóng Berbera và vùng xung quanh. Pasha của Ai Cập là Muhammad Ali sau đó thiết lập chỗ đứng tại khu vực từ năm 1821 đến năm 1841. Năm 1888, sau khi ký kết các hiệp định liên tiếp với các Sultan người Somalia đương nhiệm như Mohamoud Ali Shire của Vương quốc Warsangali, Anh Quốc thiết lập một vùng đất bảo hộ trong khu vực, được gọi là Somaliland thuộc Anh. Người Anh tiến hành đóng quân, và xếp vùng đất bảo hộ này vào thành phần của Ấn Độ thuộc Anh cho đến năm 1898. Somaliland thuộc Anh sau đó nằm dưới quyền quản lý của Bộ Ngoại giao cho đến năm 1905, và sau đó là Bộ Thuộc địa. Nhìn chung, người Anh không quan tâm nhiều đến khu vực nghèo tài nguyên này. Theo tuyên bố thì mục đích của việc thiết lập vùng đất bảo hộ là để "đảm bảo một thị trường cung ứng, kiểm soát buôn bán nô lệ, và loại trừ việc các cường quốc khác can thiệp." Người Anh chủ yếu nhìn nhận vùng đất bảo hộ này là một nguồn cung cấp thịt cho các tiền đồn Ấn Độ thuộc Anh của họ tại Aden. Do vậy, khu vực có biệt danh là "cửa hàng thịt của Aden". Chính phủ thuộc địa trong giai đoạn này không mở rộng cơ sở hạ tầng hành chính vượt quá vùng duyên hải, trong khi Somalia thuộc Ý trải qua can thiệp thuộc địa nhiều hơn. Somaliland thuộc Anh độc lập vào ngày 26 tháng 6 năm 1960, còn Lãnh thổ ủy thác Somalia (tức Somalia thuộc Ý cũ) cũng độc lập năm ngày sau đó. Ngày 1 tháng 7 năm 1960, đúng như kế hoạch, hai lãnh thổ hợp nhất để hình thành nước Cộng hòa Somalia. Ngày 20 tháng 7 năm 1961, thông qua trưng cầu dân ý đại chúng, người dân Somalia thông qua một hiến pháp mới. Đến thập niên 1990, chính phủ của Mohamed Siad Barre sụp đổ. Nhiều người Somalia vỡ mộng với sinh hoạt dưới chế độ độc tài quân sự, chính phủ trở nên ngày càng chuyên chế, các phong trào kháng chiến xuất hiện trên toàn quốc và được Ethiopia khuyến khích, cuối cùng dẫn đến Nội chiến Somalia. Trong số các nhóm vũ trang có Mặt trận Dân tộc Somalia (SNM) có cơ sở tại Hargeisa. Mặt trận Dân tộc Somalia ban đầu chủ trương hợp nhất, song cuối cùng chuyển sang theo đuổi độc lập, muốn tách khỏi phần còn lại của Somalia. Dưới quyền lãnh đạo của Abdirahman Ahmed Ali Tuur, chính phủ địa phương tuyên bố các lãnh thổ ở tây bắc bộ Somalia độc lập trong một hội nghị được tổ chức tại Burao từ ngày 27 tháng 4 năm 1991 đến ngày 15 tháng 5 năm 1991. Abdirahman Ahmed Ali Tuur sau đó trở thành Tổng thống đầu tiên của chính thể Somaliland, song từ chức vào năm 1994 và bắt đầu công khai mưu cầu và chủ trương hòa giải với phần còn lại của Somalia theo thể chế liên bang phân quyền. Đại hội Hòa giải dân tộc tại Borama bổ nhiệm Muhammad Haji Ibrahim Egal làm tổng thống thứ nhì. Đại hội này họp trong bốn tháng, khiến an ninh dần được cải thiện, cũng như hợp nhất lãnh thổ mới. Muhammad Haji Ibrahim Egal được tái bổ nhiệm vào năm 1997, và tại nhiệm cho đến khi mất vào năm 2002. Phó tổng thống Dahir Riyale Kahin tuyên thệ nhậm chức tổng thống một thời gian ngắn sau đó. Cuộc chiến tại nam bộ Somalia giữa một bên là quân Hồi giáo nổi dậy và bên còn lại là chính phủ trung ương Somalia cùng Liên minh châu Phi hầu như không có ảnh hưởng trực tiếp đến Somaliland, lãnh thổ này cùng với Puntland láng giếng vẫn tương đối ổn định. == Địa lý == Somaliland nằm tại tây bắc bộ Somalia, giữa 08°00' – 11°30' vĩ Bắc và giữa 42°30' – 49°00' kinh Đông. Lãnh thổ này giáp với Djibouti ở phía tây, với Ethiopia ở phía nam, và với Puntland ở phía đông. Somaliland có 740 kilômét (460 mi) đường bờ biển, phần lớn là dọc theo vịnh Aden. Lãnh thổ có diện tích 137.600 km2 (53.100 sq mi). Khí hậu Somaliland pha trộn giữa các điều kiện ẩm và khô. Phần phía bắc của lãnh thổ có nhiều đồi, và nhiều nơi có cao độ 900 và 2.100 mét (3.000 và 6.900 ft) trên mực nước biển. Những nơi như Awdal, Sahil và Maroodi Jeex (Woqooyi Galbeed) có đất đai phì nhiêu và nhiều núi, còn Togdheer thì phần lớn là bán hoang mạc. Awdal có một số đảo, ám tiêu san hô, rừng ngập mặn. Một bình nguyên cây bụi bao phủ, bán hoang mạc được gọi là Guban nằm song song với vùng duyên hải vịnh Aden. Với chiều rộng 12 km ở phía tây đến 2 km ở phía đông, bình nguyên bị các sông suối chia cắt, song lòng các sông suối này về cơ bản là cát khô ngoại trừ trong mùa mưa. Khi có mưa, các bụi cây thấp và bụi cỏ của Guban biến thành thảm thực vật tươi tốt. Cal Madow là một dãy núi ở phần phía bắc của lãnh thổ, kéo dài từ tây bắc của Erigavo đến cách vài km phía tây của Bosaso. Dãy núi này có đỉnh cao nhất của Somalia là Shimbiris với cao độ 2.416 mét (7.927 ft). Các rặng núi gồ ghề theo chiều đông-tây thuộc dãy Karkaar cũng nằm trong vùng nội địa của vùng duyên hải vịnh Aden. Tại các khu vực trung bộ, các dãy núi phía bắc nhường chỗ cho các cao nguyên thấp và sông suối thường khô hạn, được người địa phương gọi là Ogo. Cao nguyên phía tây của Ogo dẫn kết hợp vào Haud, một khu vực quan trọng đối với chăn thả gia súc. == Kinh tế == Shilling Somaliland là một tiền tệ ổn định song không được quốc tế công nhận và hiện nay không có tỷ giá hối đoái chính thức. Đơn vị tiền tệ này do Ngân hàng Somaliland điều chỉnh, ngân hàng được thành lập vào năm 1994 theo quy định trong hiến pháp. Do Somaliland không được quốc tế công nhận, các nhà tài trợ quốc tế gặp khó khăn trong việc cung cấp viện trợ. Do vậy, chính phủ dựa chủ yếu vào tiền thuế thu được, và kiều hối từ cộng đồng người Somalia tha hương đóng góp rất nhiều cho kinh tế của Somaliland. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng 1 tỷ USD kiều hối đến Somalia hàng năm từ những người tha hương tại Hoa Kỳ, châu Âu, và các quốc gia vùng Vịnh. Các nhà phân tích cho rằng công ty Dahabshiil có thể giải quyết hai phần ba trong số đó, và rằng có đến một nửa trong đó là đến Somaliland. Nông nghiệp thường được coi là một ngành kinh tế có tiềm năng, đặc biệt là sản xuất ngũ cốc và trồng hoa. Khai mỏ cũng có tiềm năng, dẫu cho việc khai thác đá giản đơn đã dẫn đến việc chúng có chứa hỗn tạp nhiều loại khoáng sản khác nhau. Nghiên cứu gần đây tại Somaliland cho thấy rằng khu vực có dự trữ lớn về dầu mỏ và khí thiên nhiên ở ngoài khơi và ven bờ. Cũng có một vài giếng đã được khoan trong những năm gần đây, song do tình trạng không được công nhận của khu vực, các công ty dầu mỏ nước ngoài không thể kinh doanh tại đây. Từ sau chiến tranh Eritrea-Ethiopia, Somaliland trở thành nơi quá cảnh xuất khẩu chính của Ethiopia. Ethiopia đã ký một hợp đồng với chính phủ Somaliland, ghi rõ rằng thành phố cảng Berbera sẽ xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa đi và đến từ Ethiopia. == Nhân khẩu == === Ngôn ngữ === Hầu hết người dân tại Somaliland nói hai ngôn ngữ chính thức của khu vực: tiếng Somali và tiếng Ả Rập. Điều 6 trong Hiến pháp năm 2001 quy định rằng ngôn ngữ chính thức của Somaliland là tiếng Somali, mặc dù tiếng Ả Rập là một môn học bắt buộc trong trường học và được sử dụng tại các nhà thờ Hồi giáo quanh khu vực. Tiếng Anh cũng được sử dụng và được dạy trong trường học. Tiếng Somali là một tập hợp các ngôn ngữ gọi là Các ngôn ngữ Đất thấp Đông Cushitic bởi người Somali sống tại Somalia, Djibouti và các lãnh thổ lân cận. Đông Cushitic là một nhánh của Nhóm ngôn ngữ Cushitic, một phần của Ngữ hệ Á-Phi rộng lớn. Phơng ngữ Somali được sử dụng rộng rãi nhất là tiếng Somali tiêu chuẩn, một thuật ngữ được dùng để chỉ một vài phương ngữ nhỏ, những người sử dụng có thể hiểu lẫn nhau một cách dễ dàng. Tiếng Somali tiêu chuẩn được nói tại hầu hết Somali và các lãnh thổ lân cận (Djibouti, Ogaden, đông bắc Kenya) và được các đài truyền thông tại Somaliland sử dụng. Khả năng ngôn ngữ có ý nghĩa lớn trong xã hội Somali, khả năng có thể cầu hôn, được chiến đấu, tở thành một chính trị gia hay lãnh đạo tôn giáo một phần dựa trên sự khéo léo về mặt ngôn ngữ của người đó. Thời kỳ trước cách mạng, tiếng Anh là ngôn ngữ chiếm ưu thế tại hệ thống trường học và trong chính quyền. == Tôn giáo == Với một vài ngoại lệ, toàn bộ người dân Somaliland là người Hồi giáo, phần lớn thuộc hệ phái Hồi giáo Sunni và phái Shài’i của luật học Hồi giáo. Hồi giáo cũng đóng vai trò là tôn giáo quốc gia. Có những dầu tích về tôn giáo truyền thống tiền Hồi giáo từng tồn tại ở Somaliland, song hiện Hồi giáo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong ý thức dân tộc của người Somali. Nhiều quy tắc xã hội của người Somali xuất phát từ tôn giáo của họ. Nhiều phụ nữ Somali mang hijab khi họ ở nơi công cộng. Thêm vào đó, người Somali không dùng thịt lợn, cờ bạc và đồ uống có cồn. Người Hồi giáo thường tụ tập vào chiều thứ sáu để nghe thuyết pháp và cầu nguyện tập thể. == Hệ thống thị tộc == Có khoảng 3,5 triệu cư dân tại Somaliland. Xã hội Somaliland được tổ chức thành các thị tộc. Thị tộc lớn nhất tại Somaliland là Isaaq và thị tộc lớn thứ hai là Gadabuursi Dir, một số thị tộc lớn khác hiện diện tại Somaliland là Issa, Gabooye, và Harti Darod (như Warsangali và Dhulbahante). Người Warsangali và Dhulbahante chủ yếu cư trú tại Sool, một số phần ở Đông Sanaag và một phần nhỏ ở đông nam Togdheer, trong khi người Isaaq tập trung chủ yếu tại các vùng Maroodi Jeex, Sanaag, Gabiley, Togdheer và Saaxil. Các thị tộc được chia tiếp thành các dòng tộc. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Somaliland tại Wikimedia Commons
kinh tế hy lạp.txt
Kinh tế Hy Lạp là nền kinh tế mạnh, tăng trưởng nhanh nhờ việc thực thi chính sách ổn định kinh tế trong những năm gần đây. Nền kinh tế Hy Lạp xếp thứ 28 trên thế giới. Tăng trưởng của đất nước đạt khoảng 4% vào năm 2007, GDP bình quân đầu người đạt 33.000 USD vào năm 2004. Hy Lạp là thành viên của OECD. == Lịch sử == Việc phát triển nền kinh tế hiện đại của Hy Lạp được bắt đầu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 bằng việc thông qua luật công nghiệp và pháp chế xã hội đồng thời với việc đánh thuế bảo hộ. Cuộc cách mạng về kinh tế Hy Lạp trong mối quan hệ với Tây Âu có thể hình dung qua sự so sánh về mức sống qua các thời kỳ. Thu nhập đầu người (theo sức mua tương đương) của Hy Lạp bằng 65% của Pháp vào năm 1850, bằng 56% vào năm 1890, 62% vào năm 1938, 75% vào năm 1980 và 86% vào năm 2006. Hy Lạp đạt được tỉ lệ tăng trưởng cao từ những năm 1950 đến đầu những năm 1970 do đầu tư nước ngoài mở rộng. Từ năm 2010, nền kinh tế Hy Lạp có những dấu hiệu khủng hoảng nặng nề. == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới Economy of Greece tại Wikimedia Commons
trúc hồ.txt
Trúc Hồ sinh năm 1964 là một nhạc sĩ, nghệ sĩ soạn hòa âm người Mỹ gốc Việt hiện ở Hoa Kỳ. Ông được xem là một trong những nhạc sĩ có tư tưởng chống đối chế độ cộng sản tại Việt Nam tiêu biểu và có sáng tác đều đặn của dòng nhạc hải ngoại mang tư tưởng đối lập. == Thân thế == Trúc Hồ tên thật là Trương Anh Hùng, sinh ngày 2 tháng 4 năm 1964 tại Sài Gòn, con trai nhạc sĩ Trúc Giang. Trúc Hồ vượt biên và định cư tại Nam California, Hoa Kỳ, vào năm 1981. Thời gian đầu, Trúc Hồ học piano cổ điển và sáng tác tại trường Đại học Goldenwest và Long Beach. Nhạc phẩm đầu tay của ông là bài hát "Dòng Sông Kỷ Niệm" sáng tác năm 1981. == Sự nghiệp âm nhạc == Cho đến nay, ông đã sáng tác gần 100 ca khúc, đều đặn cho các chương trình ca nhạc của Trung tâm Asia, trong đó nhiều bài nổi tiếng một thời như "Trái tim mùa đông", "Như vạt nắng", "Em đã quên một dòng sông"... Ông đặc biệt được chú ý bởi những ca khúc viết chung với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và đã được dàn hợp ca của trung tâm Asia dàn dựng quy mô như: "Một ngày Việt Nam", "Việt Nam về trong nỗi nhớ", "Bước chân Việt Nam"... Trúc Hồ lập gia đình năm 1990 với Nguyễn Khoa Diệu Quyên (trước kia cùng hoạt động trong cùng ca đoàn Hungtinton Beach tại nam California) và có 2 con là Trương Ngọc La La và Trương Anh Lý Bạch. Diệu Quyên rất hoạt bát và thường xuất hiện trong những sinh hoạt cộng đồng. Ngày 16 tháng 3 năm 2009, Diệu Quyên được Hạ viện tiểu bang California vinh danh và trao giải thưởng "Phụ Nữ Xuất Sắc" vì là một nhà giáo dục gương mẫu và là một người nhiệt tình phục vụ cho cộng đồng. Hiện nay, nhạc của ông chưa được phép lưu hành tại Việt Nam, tuy nhiên vài bài nhạc của ông vẫn trình diễn trong nước như "Em đã quên một dòng sông" (ghi tên tác giả Hải Triều), "Cơn mưa hạ" ghi là nhạc Hoa. Ngoài sáng tác, ông còn là giám đốc âm nhạc của Trung tâm Asia (cho đến tháng 11 năm 2016) và giám đốc điều hành của Đài truyền hình SBTN - đài truyền hình phát sóng 24/24 đầu tiên của người Việt hải ngoại. == Đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam == === Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói === Ngày 14 tháng 10 năm 2012, Trúc Hồ qua đài SBTN và thư trên mạng kêu gọi đồng bào tham dự phong trào vận động cho nhân quyền. Mục đích là để phản đối việc chính quyền đã bỏ tù những ai "tranh đấu cho sự toàn vẹn lãnh thổ", và đấu tranh cho nhân quyền, đồng thời đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải tôn trọng những quyền căn bản của người dân, đã được công nhận trong bản tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết. Ngày thứ hai 10/12/2012 phái đoàn của nhạc sĩ Trúc Hồ đã có mặt tại Hội đồng Nhân quyền LHQ tại place de Nation, Genève, đúng vào ngày Quốc tế Nhân quyền để trao Thỉnh Nguyện Thư "Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói " với 125.000 chữ ký đến bà Laura Dupuy Lasserre, chủ tịch Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Đây cũng là chặng cuối của cuộc vận động Nhân quyền lần này, kết thúc chiến dịch " Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói " khởi đầu cách đó gần hai tháng. == Tác phẩm == === Âm nhạc === Đến nay Trúc Hồ đã sáng tác hơn 100 ca khúc, đều đặn cho mỗi chương trình của Asia, trong số đó có: === Phim === Vượt sóng, giám đốc phát hành Cơn mưa hạ, giám đốc == Xem thêm == Trung tâm Asia == Chú thích == == Liên kết == Asia Entertainment Saigon Broadcasting Televion Network
nouvelle-france.txt
Nouvelle-France hay Tân Pháp Quốc là vùng thuộc địa của thực dân Pháp ở Bắc Mỹ kéo dài trong một dai đoạn từ khi Jacques Cartier phát hiện ra sông Saint Lawrence năm 1534, tới khi Nouvelle-France bị nhượng lại cho Đế quốc Anh và Tây Ban Nha năm 1763. Trong thời điểm đỉnh cao (trước Hiệp ước Utrecht), lãnh thổ của Nouvelle-France trải dài từ Newfoundland tới dãy núi Rocky, từ Vịnh Hudson tới Vịnh Mexico. Vùng lãnh thổ này được chia làm năm thuộc địa, mỗi thuộc địa có một chính quyền riêng, bao gồm: Canada, Acadia, Vịnh Hudson, Newfoundland và Louisiana. == Chú thích == == Tham khảo == Bảo tàng ảo của Tân Pháp Quốc Pháp tại châu Mỹ Bibliothèque nationale de France Chronologie de l'histoire du Québec (French) Tân Pháp: 1524-1763
28 tháng 11.txt
Ngày 28 tháng 11 là ngày thứ 332 (333 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 33 ngày trong năm. == Sự kiện == 936 – Với sự giúp đỡ của hoàng đế Khiết Đan Da Luật Đức Quang, Thạch Kính Đường lên ngôi hoàng đế, khởi đầu triều Hậu Tấn. 1470 – Vua Lê Thánh Tông hạ chiếu lệnh xuất quân đánh Chiêm Thành. 1787 – Đại diện của Quốc vương Louis XVI của Pháp là Armand Marc cùng đại diện của Nguyễn Ánh là Bá Đa Lộc ký kết hiệp ước Tương trợ tấn công và phòng thủ tại Lâu đài Versailles. 1893 – Trong tổng tuyển cử tại New Zealand, phụ nữ lần đầu tiên bỏ phiếu trong bầu cử cấp quốc gia. 1912 – Albania tuyên bố độc lập khỏi Đế quốc Ottoman. 1929 – Richard E. Byrd cùng cơ trưởng Bernt Balchen, phi công Harold Irving June và nhiếp ảnh gia Ashley Chadbourne McKinley đã lái máy bay Ford Trimotor trở thành nhóm người đầu tiên bay qua Nam Cực. 1958 – Tchad, Cộng hòa Congo, và Gabon trở thành các nước cộng hòa tự trị bên trong thành phần Đế quốc thực dân Pháp. 1975 – Đông Timor tuyên bố độc lập khỏi Bồ Đào Nha. 1979 – Một chiếc máy bay của Air New Zealand đâm vào núi Erebus ở Nam Cực khiến toàn bộ 257 người trên máy bay tử vong. 1989 – Đối mặt với những phản đối trong Cách mạng Nhung, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc tuyên bố từ bỏ hệ thống chính trị độc đảng. 1990 – Lý Quang Diệu kết thúc nhiệm kỳ Thủ tướng Singapore, Phó Thủ tướng Ngô Tác Đống kế nhiệm. 1991 – Nam Ossetia tuyên bố độc lập khỏi Gruzia. == Sinh == 1118 – Manuel I Komnenos, hoàng đế của Đế quốc Đông La Mã (m. 1180) 1592 - Hoàng Thái Cực, hoàng đế thứ hai của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc 1632 – Jean-Baptiste Lully, nhà soạn nhạc người Ý-Pháp (m. 1687) 1757 – William Blake, thi nhân và họa sĩ người Anh (m. 1827) 1811 – Maximilian II, quốc vương của Vương quốc Bayern thuộc Liên minh các quốc gia Đức (m. 1864) 1820 – Friedrich Engels, triết gia người Đức (m. 1895) 1880 – Aleksandr Aleksandrovich Blok, thi nhân người Nga (m. 1921) 1881 – Stefan Zweig, tác gia, nhà soạn kịch và nhà báo người Áo (m. 1942) 1908 – Claude Lévi-Strauss, nhà nhân loại học người Pháp (m. 2009) 1915 – Konstantin Simonov, tác gia người Nga tại Liên Xô (m. 1979) 1927 – Abdul Halim, Quốc vương của Vương quốc Kedah thuộc Liên bang Malaysia 1941 – Laura Antonelli, diễn viên người Ý 1950 – Russell Alan Hulse, nhà vật lý học người Mỹ, đoạt Giải Nobel Vật lý 1960 – John Galliano, nhà thiết kế thời trang người Gibraltar-Anh 1962 – Trần Khả Tân, diễn viên Hồng Kông 1967 – Anna Nicole Smith, người mẫu và diễn viên người Mỹ (m. 2007) 1967 – Murata Renhō, chính khách người Nhật gốc Đài Loan 1969 – Lexington Steele, diễn viên khiêu dâm người Mỹ 1977 – Fabio Grosso, cầu thủ bóng đá người Ý 1984 – Mary Elizabeth Winstead, diễn viên người Mỹ 1985 – Álvaro Pereira, cầu thủ bóng đá người Uruguay 2000 - Dịch Dương Thiên Tỉ, thành viên nhóm nhạc TFBOYS, ca sĩ, diễn viên người Trung Quốc == Mất == 741 – Giáo hoàng Grêgôriô III 819 – Liễu Tông Nguyên, văn học gia nhà Đường (s. 773) 1262 – Thân Loan (Shinran), hòa thượng người Nhật Bản (s. 1173) 1680 – Gian Lorenzo Bernini, nhà điêu khắc người Ý (s. 1598) 1694 – Matsuo Bashō, nhà thơ người Nhật Bản (s. 1644) 1763 – Naungdawgyi, quốc vương tại Myanmar (s. 1734) 1859 – Washington Irving, tác gia và sử gia người Mỹ (s. 1783) 1915 – Mubarak Al-Sabah, quân chủ Kuwait (s. 1896) 1947 – Philippe Leclerc de Hauteclocque, tướng lĩnh người Pháp (s. 1902) 1954 – Enrico Fermi, nhà vật lý học người Ý, đoạt Giải Nobel Vật lý (s. 1901) 1962 – Wilhelmina, nữ vương của Vương quốc Hà Lan (s. 1880) == Ngày lễ và kỷ niệm == Việt Nam: Ngày Lâm nghiệp Việt Nam == Tham khảo ==
công nghệ thông tin.txt
Công nghệ Thông tin, viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin. Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội". Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)." Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông. Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính. == Thông tin == Từ tiếng Anh Information (hay còn gọi là Thông tin trong Tiếng Việt) bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin với từ gốc (information) của từ được bổ nhiệm (informatio): đây là danh từ có gốc từ động từ Informare có ý nghĩa như: kỷ luật, hướng dẫn, dạy và đưa hình thức vào tâm trí. == Công nghệ == Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu. Tóm lại, bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh vực công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông tin, kết nối với khách hàng và các công cụ sản xuất. Các chuyên gia IT tham gia xây dựng nhiều các chức năng khác nhau từ phạm vi cài đặt phần mềm ứng dụng đến thiết kế mạng máy tính phức tạp và cơ sở dữ liệu thông tin. Một vài công việc mà các chuyên gia thực hiện có thể bao gồm quản lý dữ liệu, mạng, kỹ thuật phần cứng máy tính, thiết kế phần mềm và thiết kế cơ sở dữ liệu cũng như quản lý, quản trị toàn bộ hệ thống. Công nghệ thông tin bắt đầu lan rộng hơn nữa so với máy tính cá nhân và công nghệ mạng thông thường, và có nhiều tích hợp các công nghệ khác như sử dụng điện thoại di động, ti vi, xe máy và nhiều nữa, và làm tăng trưởng nhu cầu nghề nghiệp cho các công việc đó. Trong thời gian gần đây, Hội đồng Quản trị Tín nhiệm Cơ khí và Công nghệ và Hiệp hội Kỹ thuật máy tính đã hợp tác để hình thành tiêu chuẩn và chương trình giảng dạy cho các chứng chỉ ngành Công nghệ Thông tin như là một ngành học so với ngành Khoa học máy tính và Hệ thống thông tin ngày nay. SIGITE (Nhóm yêu thích đặc biệt về giáo dục IT) là nhóm làm việc ACM để định nghĩa các tiêu chuẩn trên. Các dịch vụ IT toàn cầu có tổng doanh thu $763 tỉ USD năm 2009. == Quy mô và tăng trưởng của công nghệ thông tin == Hilbert và Lopez xác định tốc độ theo cấp số nhân về sự thay đổi công nghệ (một dạng của định luật Moore) như sau: năng suất ứng dụng máy móc chuyên dụng để tính toán thông tin bình quân đầu người đã tăng gần gấp đôi với chu kỳ 14 tháng từ năm 1986 đến năm 2007; năng suất bình quân đầu người về mục đích sử dụng máy tính nói chung trên thế giới đã tăng gấp đôi mỗi 18 tháng trong suốt hai thập kỉ; năng suất viễn thông toàn cầu bình quân đầu người tăng gấp đôi mỗi 34 tháng; khả năng lưu trữ bình quân đầu người trên thế giới tăng gấp đôi mỗi 40 tháng (3 năm) và thông tin phát sóng bình quân đầu người tăng gấp đôi khoảng 12,3 năm. == Xem thêm == Khoa học máy tính Công nghệ thông tin và truyền thông Công nghệ thông tin và truyền thông dành cho phát triển Công nghệ thông tin tiếp cận Lịch sử thông tin Máy tính == Tham khảo == == Nghiên cứu thêm == Blais, Steven (tháng 12 năm 2011). Business Analysis: Best Practices for Success. John Wiley & Sons. ISBN 1-118-07600-1. == Liên kết ngoài == The Information Technology Infrastructure Library (ITIL) (tiếng Anh)
hypena labatalis.txt
Hypena labatalis là một loài bướm đêm trong họ Erebidae. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Dữ liệu liên quan tới Hypena labatalis tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Hypena labatalis tại Wikimedia Commons
hải phòng.txt
Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là thành phố lớn thứ 3 cả nước, lớn thứ 2 miền Bắc sau Hà Nội. Hải Phòng còn là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ. Tính đến tháng 12/2015, dân số Hải Phòng là 2.103.500 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố lớn thứ 3 ở Việt Nam sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Được thành lập vào năm 1888, Hải Phòng là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Là Trung tâm kinh tế - khoa học - kỹ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong 2 trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hải Phòng có nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung tâm dịch vụ, du lịch, giáo dục, y tế và thủy sản của vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam. Hải Phòng là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, nằm ngoài Quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Hải Phòng còn giữ vị trí tiền trạm của miền Bắc, nơi đặt trụ sở của bộ tư lệnh quân khu 3 và Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam. Hải Phòng còn được gọi là Đất Cảng, hay Thành phố Cảng. Việc hoa phượng đỏ được trồng rộng rãi nơi đây, và sắc hoa đặc trưng trên những con phố, cũng khiến Hải Phòng được biết đến với mỹ danh Thành phố Hoa Phượng Đỏ. Không chỉ là một thành phố cảng công nghiệp, Hải Phòng còn là một trong những nơi có tiềm năng du lịch rất lớn. Hải Phòng hiện lưu giữ nhiều nét hấp dẫn về kiến trúc, bao gồm kiến trúc truyền thống với các chùa, đình, miếu cổ và kiến trúc tân cổ điển Pháp tọa lạc trên các khu phố cũ. Đồng thời, Hải Phòng hiện đang sở hữu một khu dự trữ sinh quyển thế giới của UNESCO nằm tại Quần đảo Cát Bà, cùng với các bãi tắm và khu nghỉ dưỡng ở Đồ Sơn. Thành phố còn có những nét đặc trưng về văn hóa, đặc biệt là ẩm thực và các lễ hội truyền thống. == Địa lý tự nhiên == === Vị trí === Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông - cách huyện đảo Bạch Long Vĩ khoảng 70 km. Thành phố cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Đông Đông Bắc. Điểm cực Bắc của thành phố là xã Lại Xuân thuộc huyện Thủy Nguyên; cực Tây là xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo; cực Nam là xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Bảo; và cực Đông là đảo Bạch Long Vĩ === Địa hình === Đồi núi, đồng bằng Địa hình phía bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam ra biển. Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu. Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi. Sông Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/1 km². Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con người nơi đây. Các con sông chính ở Hải Phòng gồm Sông Đá Bạc - Bạch Đằng dài hơn 32 km, là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra biển ở cửa Nam Triệu, là ranh giới giữa Hải Phòng với Quảng Ninh. Sông Cấm dài trên 30 km là nhánh của sông Kinh Môn, chảy qua nội thành và đổ ra biển ở cửa Cấm. Sông Lạch Tray dài 45 km, là nhánh của sông Kinh Thầy, từ Kênh Đồng ra biển bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Dương và cả nội thành. Sông Văn Úc dài 35 km chảy từ quý Cao, đổ ra biển qua cửa sông Văn Úc làm thành ranh giới giữa hai huyện An Lão và Tiên Lãng. Sông Thái Bình có một phần là ranh giới giữa Hải Phòng với Thái Bình. Sông Bạch Đằng Ngoài ra còn có nhiều con sông khác khá nhỏ nằm ở khu vực nội thành quận Hồng Bàng. Sông Rế chảy qua huyện An Dương, là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho 80% các hộ dân của thành phố. Bờ biển và biển Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km, thấp và khá bằng phẳng, nước biển Đồ Sơn hơi đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ.... đẹp và kì thú. Cát Bà cũng là đảo lớn nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long. === Tài nguyên === Tài nguyên đất đai: Hải Phòng có diện tích đất là 1507,57 km²,trong đó diện tích đất liền là 1208,49 km². Tổng diện tích đất sử dụng là 152,2 nghìn ha trong đó đất ở chiếm 8,61%; đất dùng cho nông nghiệp chiếm 33,64%; đất lâm nghiệp chiếm 14,45%; còn lại là đất chuyên dụng. Nằm ở ven biển nên chủ yếu là đất phèn, đất mặn, phù sa, đất đồi feralit màu nâu vàng. Tài nguyên rừng: Hải Phòng có khu rừng nguyên sinh trên đảo Cát Bà, là nơi dự trữ sinh quyển Thế giới. Điều đặc biệt là khu rừng này nằm trên đá vôi, một trạng thái rừng rất độc đáo. Tài nguyên nước: Là nơi tất cả các nhánh của sông Thái Bình đổ ra biển nên Hải phòng có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mang lại nguồn lợi rất lớn về nước. Ngoài ra, tại Tiên Lãng còn có mạch suối khoáng ngầm duy nhất ở đồng bằng sông Hồng, tạo ra Khu du lịch suối khoáng nóng Tiên Lãng được nhiều người biết đến. Tài nguyên biển: bờ biển Hải Phòng trải dài trên 125 km, mang lại nguồn lợi rất lớn về cảng, góp phần phát triển thành cảng cửa ngõ quốc tế của cả miền Bắc và cả nước. Ngành du lịch ở đây cũng rất phong phú với những bãi tắm sạch đẹp như Cát Bà, Đồ Sơn cùng với phong cảnh hữu tình tạo nguồn lợi lớn cho du lịch, Cát Bà còn có các rặng san hô, hệ thống hang động, biển có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế. Tài nguyên khoáng sản: Hải Phòng có tài nguyên đá vôi nhiều, và có mỏ đá vôi ở Thuỷ Nguyên. === Khí hậu === Thời tiết Hải phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm ấm đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt độ trung bình vào mùa hè vào tháng 7 là 28,3 °C, tháng lạnh nhất là tháng 1 :16,3 °C .Số giờ nắng trong năm cao nhất là các tháng mùa hè và thấp nhất vào tháng 2,độ ẩm trung bình trên 80%,lượng mưa 1600–1800 mm/năm.Tuy nhiên thành phố cũng phải hứng chịu những đợt nắng nóng và đợt lạnh bất thường,năm 2011 nhiệt độ trung bình tháng 1 của thành phố xuống tới 12,1 °C, gần đây nhất ngày 24/1/2016 thành phố trải qua ngày có nhiệt độ lạnh trung bình thấp kỷ lục,nhiệt độ thấp nhất xuống tới 4,2 °C. Trung bình cả năm 23,4 °C. So với Hà Nội,thời tiết Hải Phòng có một chút khác biệt,thành phố mát hơn khoảng gần 1 độ vào mùa hè và lạnh hơn một chút về mùa đông,trong 30 năm gần đây do ảnh hưởng biến đổi khí hậu nhiệt độ thành phố đang có xu hướng tăng lên. . == Lịch sử == === Thời kỳ đầu - thế kỷ 16 === Theo các kết quả khảo cổ học Cái Bèo (Cát Bà) (thuộc văn hóa Hạ Long), Tràng Kênh (Thủy Nguyên), Núi Voi (An Lão) (thuộc văn hóa Đông Sơn), đã xác định vùng đất này từ xưa là nơi đã có cư dân Việt cổ sinh tụ, làm ăn. Theo thư tịch cũ, toàn địa bàn xứ Đông (Hải Dương) xưa - bao gồm cả Hải Phòng ngày nay - thời Hùng Vương thuộc bộ Dương Tuyền, là một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Dưới thời Bắc thuộc, những năm đầu Công nguyên, các vùng đất thuộc địa bàn Hải Phòng như nội thành Hải Phòng ngày nay, huyện Thủy Nguyên, huyện An Lão, huyện Tiên Lãng, huyện Vĩnh Bảo... theo truyền thuyết cũng như thần phả làng xã còn lưu truyền, là nơi nữ tướng Lê Chân (?-43) về gây dựng căn cứ và tuyển mộ nghĩa quân chống quân Đông Hán dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng. Nữ tướng Lê Chân cũng là người có công đầu trong việc khai phá lập nên trang An Biên xưa (còn được biết đến là trấn Hải Tần Phòng Thủ) - tiền thân của thành phố Hải Phòng ngày nay. Là nơi chiếm giữ vị trí chiến lược quan trọng, địa thế hiểm trở, là cửa ngõ vào Đại La - Thăng Long, các vương triều Việt Nam đã từng có những chiến tích lừng lẫy trong lịch sử chống lại sự xâm lược của láng giềng phương Bắc với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng như trận Bạch Đằng, 938 của Ngô Quyền, trận Bạch Đằng, 981 của Lê Hoàn và trận Bạch Đằng, 1288 của Trần Hưng Đạo. Thời Lê sơ, toàn bộ địa bàn Hải Phòng ngày nay thuộc trấn Hải Dương (một trong Thăng Long Tứ Trấn) hay còn được gọi là xứ Đông, và là miền duyên hải cực đông của xứ này. === Đầu thế kỷ 16 - cuối thế kỷ 18 === Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập nên nhà Mạc với trung tâm quyền lực đặt ở Thăng Long. Năm 1529, Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) nhường ngôi cho con trai cả là Mạc Đăng Doanh để lui về quê hương Cổ Trai làm Thái Thượng Hoàng. Ông đã cho xây dựng làng Cổ Trai từ một làng chài ven biển thuộc huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn của trấn Hải Dương khi đó (ngày nay là xã Ngũ Đoan thuộc huyện Kiến Thụy của thành phố Hải Phòng) trở thành kinh đô thứ hai của nhà Mạc (Dương Kinh) tồn tại đồng thời với trung tâm Thăng Long. Mạc Đăng Dung lấy Nghi Dương làm trung tâm của Dương Kinh, cắt phủ Thuận An ở trấn Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình ở trấn Sơn Nam cho lệ thuộc vào Dương Kinh. Mạc Đăng Dung vốn xuất thân từ cư dân làm nghề chài lưới và buôn bán ven biển, và nhà Mạc thuộc số ít các triều đại phong kiến Việt Nam coi trọng phát triển công thương nghiệp, đặc biệt là nền kinh tế sản xuất hàng hóa (điển hình là đồ gốm sứ) thay vì tập trung chủ yếu vào kinh tế tiểu nông truyền thống. Dương Kinh được xây dựng như một kinh đô thu nhỏ, với vai trò là kinh đô thứ hai của nhà Mạc sau trung tâm quyền lực ở Thăng Long. Theo những mô tả của các bộ chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử), văn bia cổ còn lưu lại và hiện trường được phát lộ cùng khối lượng hiện vật phong phú thu được qua các đợt khai quật khảo cổ thì Dương Kinh bao gồm quần thể kiến trúc cung điện, lầu các với quy mô trải rộng như Các Dương Tự, điện Tường Quang, Phúc Huy, phủ Hưng Quốc, đồn binh, kho lương và cả một trường Quốc học song song với Quốc Tử Giám tại Thăng Long; ngoài ra còn có các đình, chùa được xây mới hoặc tu bổ, cùng với hệ thống đê bao ngăn nước mặn và chống lũ lụt. Ngoài ra, nhà Mạc còn cho xây dựng một số thương cảng trên bến dưới thuyền làm nơi giao thương như phố Lỗ Minh Thị, An Quý, Do Nha. Khác với các cung điện ở Đình Bảng (Bắc Ninh) dưới thời Lý, Thiên Trường (Nam Định) dưới thời Trần, hay Lam Kinh (Thanh Hóa) thời Lê sơ vốn chủ yếu là nơi nghỉ ngơi, thờ tự của các vua chúa và hoàng tộc, Dương Kinh thời Mạc còn có vai trò như một trung tâm kinh tế, giao thương quan trọng nằm sát biển cùng với Thăng Long, Phố Hiến nằm khá sâu trong đất liền. Ngày nay, các nhà sử học Việt Nam có chung nhận định Dương Kinh thời Mạc không chỉ là kinh đô hướng biển mà còn là đô thị ven biển đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nhà Mạc thất thủ ở Thăng Long (1592), phải rút lên đất Cao Bằng, tướng nhà Lê-Trịnh là Trịnh Tùng đã đem quân đốt phá, san phẳng các công trình kiến trúc được xây dựng thời Mạc trên địa bàn Dương Kinh. Trải qua hơn 200 năm sau với các triều đại từ Lê Trung Hưng (Lê-Trịnh) đến nhà Tây Sơn và cuối cùng là nhà Nguyễn, địa bàn Hải Phòng bấy giờ nằm trong địa phận quản lý của trấn Hải Dương rồi tỉnh Hải Dương (1831) về sau. Sau khi Dương Kinh triều Mạc bị phá hủy cuối thế kỷ XVI, tiếp đến giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài suốt 2 thế kỷ XVII - XVIII đã hình thành nên sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài. Trong thời kỳ này, miền duyên hải thuộc địa bàn Hải Phòng ngày nay vẫn giữ một vai trò quan trọng trong quan hệ thương mại giữa xứ Đàng ngoài với các thuyền buôn phương Tây (đặc biệt là người Hà Lan và người Anh) bên cạnh sự hình thành và phát triển của Phố Hiến. Trong những thư tịch của các nhà hàng hải, thương nhân châu Âu có liên quan đến xứ Đàng ngoài trong thế kỷ XVII - XVIII thì ngoài 2 đô thị chính lúc đó là Kẻ Chợ (Thăng Long) và phố Hiến còn nhắc nhiều đến 2 địa danh khác là Batshaw (còn được viết là Batsha) và Domea nằm trong khoảng vĩ độ 20°45' và 20°50' bắc thuộc vùng Đồ Sơn - Tiên Lãng ngày nay. Domea, một cảng cửa khẩu quốc tế quan trọng của xứ Đàng ngoài, đóng vai trò như tiền cảng của Phố Hiến, nơi hiếm hoi trên toàn lãnh thổ Việt Nam lúc đó, ng­ười nư­ớc ngoài, trong đó chủ yếu là ngư­ời Hà Lan đư­ợc thật sự tự do sinh sống và buôn bán. Trong thời kỳ này nhiều loại rau có nguồn gốc từ xứ lạnh như bắp cải, su hào, súp lơ… đã được các thuyền buôn Hà Lan mang tới và phổ biến cho dân địa phương cách gieo trồng. Di chỉ thương cảng Đò Mè (Domea) ngày nay được hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử và khảo cổ xác định thuộc địa bàn làng An Dụ, xã Khởi Nghĩa, phía bắc huyện Tiên Lãng ngày nay. Nhà hàng hải người Anh ở thế kỷ XVII l à William Dampier có viết về Batsha (Batshaw) và Domea trong cuốn sách Du hành và Khám phá năm 1688. Theo Dampier viết, đi từ biển vào đầu tiên là qua Batsha, sau đến Domea, rồi đến Hean (phố Hiến) và cuối cùng là tới Cachao (Kẻ Chợ hay Thăng Long). Theo như mô tả của William Dampier, cư dân sống ở làng chài mang tên Batsha (thuộc khu vực bán đảo Đồ Sơn ngày nay) không chỉ làm nghề đánh cá mà còn làm hoa tiêu dẫn đường cho những thuyền buôn phương Tây vào vùng cửa sông Thái Bình thuộc khu vực các huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo (Hải Phòng). Đây là khu vực chủ yếu ở Đàng Ngoài, nơi mà các thương thuyền đến từ phương Tây như Hà Lan hay Vương quốc Anh được tự do ra vào, buôn bán trao đổi hàng hoá và lưu trú lâu dài vào thời đó. Nhưng không phải chỉ những nhà hàng hải hay thương nhân châu Âu mới chú ý đến vai trò của Batsha (Batshaw) trên con đường thương mại của xứ Đàng Ngoài mà đến cả những tên tuổi vĩ đại trong lịch sử khoa học như Isaac Newton và Pierre-Simon Laplace cũng nhắc đến địa danh Batsha trong các tác phẩm của họ bởi hiện tượng thủy triều đặc biệt ở vùng biển Đồ Sơn. Trong tác phẩm khoa học kinh điển Principia Mathematica (tên gọi tắt là Các nguyên lý) của nhà vật lý kiêm toán học vĩ đại người Anh Isaac Newton xuất bản bằng tiếng Latin lần đầu vào năm 1687 có nhắc đến địa danh cảng Batsham nằm trong vĩ độ 20°50' bắc, thuộc vương quốc Tunquini (xứ Đàng Ngoài), nơi mà thủy triều lên xuống chỉ một lần trong ngày. Newton cũng cho biết ông có được thông tin đó từ những nhà hàng hải, những người có thể đã từng du hành tới Đàng Ngoài trong thế kỷ XVII. Cuối thế kỷ XVIII, một nhà nhà vật lý kiêm toán học vĩ đại khác là Pierre-Simon Laplace (người được giới khoa học mệnh danh là Newton của nước Pháp) đã nhắc lại hiện tượng thủy triều ở cảng Batsha của vương quốc Tunking (Tunquin) trong tác phẩm của ông xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1796 có tựa đề Exposition du système du monde. Hơn 90 năm sau những ghi chép của William Dampier, Abbé Richard ở thế kỷ XVIII trong cuốn sách Lịch sử Đàng Ngoài xuất bản ở Paris (Pháp) năm 1778 với nhiều chi tiết mô tả về Domea: "Cách cửa sông 5 hoặc 6 hải lý có một thành phố khác gọi là Domea, nhỏ hơn Phố Hiến nhưng lại rất nổi tiếng với người nước ngoài và nó ở trong một cái vụng được tạo bởi dòng sông đối diện với nó. Họ thả neo và chỉ ở nơi này họ mới được phép đặt cơ sở để tiến hành buôn bán…" Bản đồ châu Á của Johann Matthias Hase, xuất bản ở Nuremberg (Đức) năm 1744 cũng đánh dấu Domea như­ là một địa danh quan trọng ở khu vực xứ Đàng Ngoài. Do những biến động của lịch sử Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII cùng chính sách bế quan tỏa cảng của các triều đại phong kiến về sau đã làm cho hoạt động ngoại thương gần như đình trệ, kéo theo sự suy tàn của nhiều làng nghề sản xuất cùng những thương cảng quan trọng một thời, trong đó có Domea. === Đầu thế kỷ 19 === Sau khi nhà Nguyễn chính thức được thành lập năm 1802 và kiểm soát gần như toàn bộ lãnh thổ Việt Nam như ngày nay nhưng ảnh hưởng về chính trị và kinh tế của xứ Đàng Ngoài bao gồm phần lớn miền Bắc Việt Nam đã không còn như thời trước. Hệ quả của chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình Huế cùng sự buông lỏng cai trị đối với phần Đông Bắc đất nước đã khiến nhiều vùng đất thuộc địa bàn Hải Phòng khi đó thường xuyên ở vào tình trạng bất ổn chính trị, đời sống nhân dân bấp bênh do thiên tai và nạn hải tặc từ miền nam Trung Hoa. Năm 1871 - 1873, Bùi Viện, được sự tiến cử với vua Tự Đức của Doanh điền sứ Doãn Khuê, đã thực hiện việc xây dựng một bến cảng bên cửa sông Cấm mang tên Ninh Hải và một căn cứ phòng ngự bờ biển ở liền kế bên, gọi là nha Hải phòng sứ. Khi Pháp đánh chiến Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873-1874, nhà Nguyễn phải ký Hòa ước Giáp Tuất, trong đó quy định nhà Nguyễn phải mở cửa thông thương các cảng Ninh Hải (Hải Phòng) thuộc tỉnh Hải Dương và Thị Nại tỉnh Bình Định, để đổi lấy việc Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ. Sau đó tại cảng Ninh Hải này, nhà Nguyễn và Pháp lập nên một cơ quan thuế vụ chung, quản lý việc thương mại ở vùng cảng này gọi là Hải Dương thương chính quan phòng. Từ đây tên gọi Hải Phòng chính thức được nhắc đến về mặt địa lý. Năm 1887, thực dân Pháp tách một số huyện ven biển của tỉnh Hải Dương nằm lân cận cảng Ninh Hải ra để thành lập tỉnh Hải Phòng. Ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hải Phòng - thành phố Hải Phòng chính thức có tên trên bản đồ Liên bang Đông Dương. Theo sắc lệnh thành phố Hải Phòng được tách ra từ tỉnh Hải Phòng, phần còn lại của tỉnh Hải Phòng lập thành tỉnh Kiến An. Về mặt hành chính, thành phố Hải Phòng là một nhượng địa nên thời kỳ này thuộc quyền trực trị của Pháp thay vì dưới thể chế bảo hộ của xứ Bắc Kì. Vào cuối thời Pháp thuộc khoảng thập niên 1940, dân số Hải Phòng tính được 73.000 người, chiếm địa vị thành phố lớn thứ 4 sau Sài Gòn, Chợ Lớn, và Hà Nội. Dưới thời Pháp thuộc, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Hải Phòng đứng ngang hàng với Hà Nội, Sài Gòn, là thành phố cấp I. Là hải cảng lớn nhất của xứ Bắc Kỳ, đầu mối giao thông quan trọng trên đường hàng hải quốc tế và là một trung tâm công nghiệp, Hải Phòng đã trở thành một trong những cái nôi đánh dấu sự ra đời của giai cấp công nhân và phong trào công nhân Việt Nam đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp. Hải Phòng là một trong những trung tâm của phong trào cách mạng cả nước trong các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945. === Từ 1945 đến nay === Từ ngày 15 tháng 8 năm 1945 đến ngày 25 tháng 8 năm 1945, chính quyền tay sai dưới chế độ thực dân rồi phát xít ở Hải Phòng, Kiến An (tỉnh) đã bị lực lượng cách mạng lật đổ, chính quyền cách mạng được thiết lập. Ngày 20 tháng 11 năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ ở Hải Phòng. Ngày 13 tháng 5 năm 1955, Hải Phòng được giải phóng hoàn toàn, chính quyền nhân dân tiếp quản thành phố từ tay quân đội Pháp. Kể từ đó, ngày 13 tháng 5 hằng năm được chọn làm ngày giải phóng thành phố. Ngày 26 tháng 9 năm 1955, huyện Hải An của tỉnh Kiến An sáp nhập vào thành phố Hải Phòng. Ngày 5 tháng 6 năm 1956, thị xã Cát Bà và huyện Cát Hải của khu Hồng Quảng sáp nhập vào thành phố Hải Phòng. Ngày 22 tháng 7 năm 1957, chuyển thị xã Cát Bà thành huyện Cát Bà. Ngày 5 tháng 7 năm 1961, khu vực nội thành được chia thành 3 khu phố mới là Hồng Bàng, Ngô Quyền và Lê Chân. Ngày 27 tháng 10 năm 1962, thành phố Hải Phòng như ngày nay được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra quyết định thành lập trên cơ sở hợp nhất thành phố Hải Phòng cũ và tỉnh Kiến An. Ngày 10 tháng 4 năm 1963, thành lập thị xã Đồ Sơn trên cơ sở điều chỉnh địa giới huyện Kiến Thụy. Ngày 7 tháng 4 năm 1966, hợp nhất 2 huyện An Dương và Hải An thành huyện An Hải. Ngày 4 tháng 4 năm 1969, hợp nhất 2 huyện An Lão và Kiến Thụy thành huyện An Thụy. Trong giai đoạn 1955-1975, với vai trò là thành phố Cảng lớn nhất miền Bắc, tiếp nhận phần lớn hàng viện trợ quốc tế và là căn cứ xuất phát của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Vì vậy trong các cuộc leo thang đánh phá miền Bắc, máy bay của không quân Mỹ đã tập trung bắn phá ác liệt Hải Phòng, tiến hành phong tỏa Cảng, nhằm hủy diệt đầu mối giao thông vận tải, ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho miền Nam và của quốc tế với Việt Nam. Nhiều nhà máy, công trình xây dựng, bến cảng, đường giao thông, cầu phà và khu dân cư bị phá hủy hoàn toàn. Kể từ trận đầu bắn rơi máy bay Mỹ trên đảo Bạch Long Vĩ (ngày 26 tháng 3 năm 1965) đến chiến thắng oanh liệt trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972, quân và dân Hải Phòng đã chiến đấu trên 4000 trận, bắn rơi 317 máy bay Mỹ (trong đó có 5 pháo đài bay B52), 28 lần bắn cháy tàu chiến của hải quân Mỹ. Do những thành tích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thành phố đã được nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất và Huân chương Sao vàng (1985). Sau khi thống nhất đất nước (1975), Hải Phòng là một trong 3 thành phố trực thuộc trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (cùng với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Đầu năm 1976, Hải Phòng có 3 khu phố: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền; 2 thị xã: Đồ Sơn, Kiến An và 7 huyện: An Hải, An Thụy, Cát Bà, Cát Hải, Thủy Nguyên, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, sáp nhập huyện Cát Bà vào huyện Cát Hải. Ngày 5 tháng 3 năm 1980, sáp nhập thị xã Đồ Sơn và 21 xã của huyện An Thụy thành huyện Đồ Sơn; sáp nhập thị xã Kiến An và 16 xã còn lại của huyện An Thụy thành huyện Kiến An. Ngày 3 tháng 1 năm 1981, đổi khu phố thành quận. Từ đó, Hải Phòng có 3 quận: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền và 7 huyện: An Hải, Cát Hải, Đồ Sơn, Kiến An, Thủy Nguyên, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Ngày 6 tháng 6 năm 1988, chia huyện Đồ Sơn thành thị xã Đồ Sơn và huyện Kiến Thụy; chia huyện Kiến An thành thị xã Kiến An và huyện An Lão. Ngày 5 tháng 5 năm 1990, Hải Phòng được công nhận là đô thị loại 2. Ngày 9 tháng 12 năm 1992, thành lập huyện đảo Bạch Long Vĩ. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chuyển thị xã Kiến An thành quận Kiến An. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, chia huyện An Hải thành quận Hải An (trên cơ sở tách 5 xã: Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải, Nam Hải, Tràng Cát thuộc huyện An Hải và phường Cát Bi thuộc quận Ngô Quyền) và huyện An Dương. Ngày 9 tháng 5 năm 2003, Hải Phòng được công nhận là đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương. Ngày 12 tháng 9 năm 2007, thành lập quận Dương Kinh trên cơ sở tách 6 xã: Anh Dũng, Hưng Đạo, Đa Phúc, Hải Thành, Tân Thành, Hòa Nghĩa thuộc huyện Kiến Thụy và chuyển thị xã Đồ Sơn thành quận Đồ Sơn. === Tên gọi "Hải Phòng" === Như vậy, nguồn gốc địa danh Hải Phòng có thể là từ: Tên gọi rút ngắn trong cụm từ Hải tần phòng thủ, của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1. Tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng Tên Hải Phòng có thể bắt nguồn từ ti sở nha Hải phòng sứ hay đồn Hải Phòng do Bùi Viện lập từ năm 1871 đời Tự Đức, với căn cứ như sau: "Bến cảng trên sông Cấm trước khi gọi là Hải Phòng đã được gọi là Ninh Hải, địa danh Ninh Hải được dùng chính thức trong giấy tờ, sử sách của ta từ trước khi có tên Hải Phòng cho đến khi bị tên Hải Phòng loại hẳn". Trong quá khứ bom đạn, người Hải Phòng gắn bó với những cái tên nhà "máy Tơ", "máy Chai", "máy Bát", "máy Chỉ",..., rồi cơ khí như nhà máy cơ khí "Ca-rông", "Com-ben", "Sắc-rích",..., các rạp chiếu phim "Khánh Nạp", "Công Nhân", các con phố, đường, những tên ngõ "Đất Đỏ" (nay là ngõ Hoàng Quý), ngõ "Lửa Hồng", ngõ "Đá"... Có 2 câu thơ == Hành chính == Hải Phòng là một trong ba thành phố trực thuộc trung ương đầu tiên của Việt Nam ngay sau năm 1975 cùng với thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hải Phòng hiện nay là ông Lê Văn Thành. Trụ sở Ủy ban nhân dân đặt tại số 18 phố Hoàng Diệu, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng (cổng chính) và phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền. Thành phố Hải Phòng gồm 7 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành và 2 huyện đảo; (223 đơn vị cấp xã gồm 70 phường, 10 thị trấn và 143 xã): Dự kiến đến năm 2020, Hải Phòng sẽ tiến hành chia tách các huyện cũ để thành lập thêm 5 quận mới: Bến Rừng, Bắc Sông Cấm, Tây Bắc, An Dương và Tràng Cát - Cát Hải. Nâng tổng số quận lên thành 12 quận, mở rộng vùng trung tâm. == Chính trị == Cơ quan lãnh đạo chính trị của Đảng bộ Thành phố Hải Phòng giữa hai kỳ đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố là Thành ủy Hải Phòng hay còn được gọi Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hải Phòng, hay Đảng ủy Thành phố Hải Phòng. Đứng đầu Thành ủy là Bí thư Thành ủy và là ủy viên Trung ương Đảng. === Lịch sử === Tiền thân của Thành ủy Hải Phòng là Đảng bộ Đông Dương Cộng sản đảng Hải Phòng được thành lập tháng 8 năm 1929. Sau khi các đảng Cộng sản tại Việt Nam hợp nhất, Đảng bộ Hải Phòng được thành lập tháng 4 năm 1930 do Nguyễn Đức Cảnh làm Bí thư. Tháng 10 năm 1939, Xứ uỷ Bắc Kỳ thành lập các khu Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương và vùng mỏ thuộc khu B (sau đó gọi là liên tỉnh B). Trong thời gian này Thành ủy không được lập, Bí thư Khu ủy Tô Hiệu trực tiếp lãnh đạo phong trào. Ngày 26 tháng 11 năm 1940, tại làng Đồng Tải (huyện An Lão), Thành ủy Hải Phòng và Tỉnh ủy Kiến An họp bàn thực hiện chủ trương hợp nhất thành Liên tỉnh Hải Kiến. Trong thời gian từ 1940-1954 Đảng bộ bị khủng bố liên tục và phải hoạt động bí mật, có thời gian Xứ ủy Bắc Kỳ phải kiêm nhiệm trực tiếp hoạt động. Sau hiệp định Geneve, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản Hải Phòng. Đảng bộ Hải Phòng được tái lập và hoạt động cho tới nay. === Các đời Bí thư === Giai đoạn 1930-1962 Nguyễn Đức Cảnh là Bí thư Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Hải Phòng từ tháng 4-5/1930, là Bí thư Thành ủy Hải Phòng đầu tiên; Nguyễn Văn Túc là Bí thư Tỉnh ủy Hải Phòng giai đoạn 4/1937; Lương Khánh Thiện là Bí thư Tỉnh ủy Hải Phòng giai đoạn 1938-1939; Tô Hiệu là Bí thư Khu ủy Khu B trong giai đoạn từ tháng 10-12/1939; Lê Quang Đạo là Bí thư Thành ủy Hải Phòng giai đoạn 1945-1946; Lê Trung Toản là Bí thư Thành ủy Hải Phòng giai đoạn 1946; Lê Quốc Thân là Bí thư Tỉnh ủy Kiến An giai đoạn 1946; Hoàng Mậu là Bí thư Thành ủy Hải Phòng giai đoạn 1952; Đỗ Mười là Bí thư Thành ủy Hải Phòng giai đoạn 1955-1956; Hoàng Hữu Nhân là Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố đầu tiên (1957-1961), Bí thư Thành ủy (1961-1968); Giai đoạn 1962-nay Từ năm 1962, thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An hợp nhất thành thành phố Hải Phòng. Hải Phòng là thành phố trực thuộc Trung ương vì vậy Bí thư Thành ủy thường là Ủy viên Trung ương Đảng. == Dân cư == === Đặc trưng === Năm 1897 tức vài năm sau khi thành lập, Hải Phòng có dân số 18.480. Người Hải Phòng mang những dấu ấn đậm nét của người dân miền biển mà vẫn thường được gọi là ăn sóng nói gió. Những cư dân vùng ven biển Hải Phòng (trải dài từ huyện Thủy Nguyên cho tới huyện Vĩnh Bảo ngày nay) chính là những người đi tiên phong trong công cuộc khai phá tạo dựng nên mảnh đất có tên là Hải Tần Phòng Thủ những năm đầu Công nguyên khi nữ tướng anh hùng Lê Chân về đây gây dựng căn cứ chống quân Đông Hán. Nhưng lịch sử hình thành và phát triển đô thị Cảng biển Hải Phòng như ngày hôm nay chỉ thực sự được quan tâm đúng mức vào giai đoạn nửa sau thế kỷ 19 khi thực dân Pháp đẩy mạnh quá trình khai thác thuộc địa ở Đông Dương. Điều đó góp phần tạo nên sự đa dạng và phức tạp trong thành phần cư dân nơi đây, với những nét khác biệt so với nhiều địa phương khác tại Việt Nam cùng thời điểm. Từ những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 dưới thời Pháp thuộc, Hải Phòng cùng với Sài Gòn có vai trò như những cửa ngõ kinh tế của Liên bang Đông Dương trong giao thương với quốc tế ở vùng Viễn Đông. Vì thế ở thời điểm đó tại Hải Phòng tập trung nhiều thành phần dân di cư tới sinh sống lập nghiệp. Cộng đồng người Việt lúc đó ngoài cư dân địa phương còn đón nhận nhiều dân di cư tới từ nhiều tỉnh thành của miền Bắc như Hà Nội - Hà Tây, Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên... Nhiều người trong số đó dù không sinh ra tại Hải Phòng nhưng đã gắn bó với thành phố Cảng trong những năm tháng đáng nhớ của sự nghiệp. Điển hình là những nhà hoạt động cách mạng và sau là những người giữ trọng trách của Đảng như Nguyễn Đức Cảnh, Tô Hiệu, Nguyễn Văn Linh, Lê Quang Đạo, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, nhà thơ Thế Lữ, nhà văn Nguyên Hồng, cùng những doanh nhân giàu lòng yêu nước như Nguyễn Sơn Hà, Bạch Thái Bưởi... Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Hải Phòng là nơi tiếp nhận một số lượng lớn những cán bộ cách mạng từ miền Trung và miền Nam tập kết ra Bắc. Nhiều người đã lập gia đình tại Hải Phòng để rồi sau ngày thống nhất đất nước, đã đưa gia đình trở lại quê hương miền Nam. Một số người trong các lĩnh vực kinh doanh, giải trí tại Việt Nam hiện nay như Đặng Thành Tâm, Ngọc Sơn (ca sĩ), Duy Mạnh đều có cha là người miền Nam tập kết còn mẹ là người Hải Phòng. Ngoài ra, trong giai đoạn này cũng có nhiều con em các gia đình cách mạng sinh ra tại miền Nam sau đó được gửi ra miền Bắc, sống và học tập trong những năm niên thiếu tại Trường Học sinh miền Nam trên địa bàn Hải Phòng như Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang. Trong số những cộng đồng người nước ngoài cư trú lâu dài tại Hải Phòng dưới thời Pháp thuộc, cộng đồng người Pháp có ảnh hưởng lớn nhất về mọi mặt. Đó có thể là những viên chức của chính quyền thuộc địa, sĩ quan quân đội, thương nhân, nhà công nghiệp hay dân di cư thông thường. Nhiều người trong số này đã kết hôn với người Việt bản xứ. Điển hình là trường hợp của nhà dân tộc học và nhân chủng học Georges Condominas sinh năm 1921 tại Hải Phòng, có cha là người Pháp còn mẹ là người lai ba dòng máu Việt - Hoa - Bồ Đào Nha. Ngoài ra, có Michel Henry (1922 - 2002), nhà triết học người Pháp, sinh năm 1922 tại Hải Phòng, trở về Pháp năm lên 7 tuổi. Nhưng gần như tất cả người Pháp đã rời khỏi thành phố sau khi Hải Phòng được giải phóng ngày 13 tháng 5 năm 1955. Họ chủ yếu đi bằng tàu biển vào Sài Gòn hoặc trở về Pháp. Sau trường hợp của Georges Condominas và Michel Henry, còn có nghệ sĩ tạo hình bong bóng Fan Yang (hiện giữ 17 kỷ lục Guinness thế giới), sinh năm 1962 tại Việt Nam, có cha là người Pháp gốc Hungary còn mẹ là người Hải Phòng. Cộng đồng người Hoa ở Hải Phòng thời điểm đó vào loại đông nhất ở miền Bắc (Bắc Kỳ) và trở thành cộng đồng người nước ngoài có ảnh hưởng lớn tại Hải Phòng về mặt thương mại (tòa nhà Bảo tàng Hải Phòng hiện nay được xây dựng năm 1919, nằm trên đường Điện Biên Phủ, trước kia vốn là trụ sở của Ngân hàng Pháp - Hoa thời thuộc địa). Nhiều người Hoa cũng kết hôn với người Việt và định cư qua nhiều thế hệ tại vùng đất cửa biển. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, ngày nay họ vẫn đóng vai trò là một bộ phận cư dân của thành phố. Sự kết hợp giữa các yếu tố Á - Âu, Việt - Pháp, Việt - Hoa, Pháp - Hoa đã để lại những dấu ấn còn đậm nét trong những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, kiến trúc và ẩm thực tại Hải Phòng ngày nay. Đây cũng là một trong những lý do có ảnh hưởng đến tính cách đặc trưng của người Hải Phòng: cởi mở, phóng khoáng, mạnh mẽ, trực tính, nhạy bén trong kinh doanh buôn bán và dễ tiếp nhận những cái mới. Nhiều người con đất Cảng đi lập nghiệp xa quê lâu năm nhưng vẫn giữ được phần nhiều những nét tính cách rất Hải Phòng đó. === Những nhân vật tiêu biểu === Nhiều người có đóng góp trong các lĩnh vực văn hóa, khoa học, nghệ thuật, kinh tế, chính trị, giải trí, thể thao... ở Việt Nam cũng như trên thế giới là những người sinh ra tại Hải Phòng hoặc có nguyên quán ở Hải Phòng. Cũng có nhiều người dù không sinh ra tại Hải Phòng nhưng mảnh đất cửa biển là nơi đã nuôi dưỡng tài năng, lưu dấu những năm tháng đáng nhớ trong cuộc đời và sự nghiệp của họ. Tiêu biểu trong số đó có nữ tướng Lê Chân, Thái tổ Mạc Đăng Dung, các nhà hoạt động cách mạng Tô Hiệu, Nguyễn Đức Cảnh; nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Thế Lữ, nhà thơ Thanh Tùng, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang; các doanh nhân Nguyễn Sơn Hà, Bạch Thái Bưởi. Một số trường hợp đặc biệt như nhà nhân chủng học Georges Condominas, nhà triết học Michel Henry là những người gốc Pháp nhưng sinh ra và sống thời thơ ấu tại Hải Phòng. Ngoài ra, còn trường hợp của nghệ sĩ tạo hình bong bóng Fan Yang có mẹ là người Hải Phòng. Đỗ Mười, Hoàng Hữu Nhân, Đặng Văn Minh và Đoàn Duy Thành cũng từng là Bí thư, Chủ tịch của Hải Phòng trong một thời gian dài. Trong top những người gàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam có ông Phạm Nhật Vượng - ngài chủ tịch Vingroup quê gốc Hà Tĩnh nhưng sinh ra trên đất Hải Phòng, có mẹ là người Hải Phòng, ông Đỗ Hữu Hạ chủ tịch tập đoàn tài chính Hoàng Huy, và ông Đặng Thành Tâm cũng sinh ra, lớn lên ở Hải Phòng, mẹ là người Hải Phòng. Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính nổi tiếng nhất vẫn là chuyên gia kinh tế, quản trị tiến sĩ Lê Thẩm Dương người gốc Hải Phòng, sinh ra ở Phú Thọ. Trong các cuộc thi nhan sắc cũng có nhiều hoa hậu, á hậu Hải Phòng, hoặc gốc Hải Phòng (quê nội ở Hải Phòng) như Phạm Hương, Mai Phương Thuý, Ngọc Hân, Đỗ Mỹ Linh, Mai Phương, Nguyễn Thj Huyền etc... Trong lĩnh vực âm nhạc, Hải Phòng là nơi sản sinh ra những nhạc sĩ nổi tiếng như Từ Công Phụng, Từ Linh Đoàn Chuẩn, Văn Cao, Ngô Thụy Miên, Hoàng Qúy. Đặc biệt hiện nay, đồng chí Lê Văn Thành, hiện đang là Chủ tịch HĐND, kiêm Bí Thư Thành Ủy Hải Phòng là người Vĩnh Bảo, Hải Phòng, là một lãnh đạo rất có tâm huyết với quê hương. Nhờ có công sức của ông mà Hải Phòng sau nhiều năm "ngủ sâu" đã "tỉnh giấc" với nhiều dự án quan trọng với tốc độ triển khi nhanh nhất trong lịch sử, trong thời kỳ ông làm lãnh đạo - Hải Phòng lần đầu tiên đứng ở vị trí quán quân về thu hút FDI trong năm 2016, và nhiều chỉ số năng lực cạnh tranh PCI được cải thiện đáng kể. Có thể nói ông cùng với nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng Đoàn Duy Thành là những lãnh đạo được nhân dân Hải Phòng mến mộ và mong đợi nhất so với nhiều lãnh đạo trong các thời kỳ khác, ông được thường được thanh niên Hải Phòng gọi là Bác Thành, với tấm lòng kính trọng như nhân dân Đà Nẵng dành cho Bác Thanh. == Kiến trúc và Quy hoạch đô thị == Kiến trúc của thành phố Hải Phòng là sự pha trộn hài hòa giữa 2 nền văn hóa Á - Âu. Sự pha trộn này tạo ra cho thành phố một nét đẹp đô thị riêng biệt, vừa thanh lịch, vừa mạnh mẽ. Đến thời điểm 2011, Hải Phòng còn giữ được nhiều khu phố với kiến trúc khá nguyên vẹn từ thời Pháp thuộc. Như ở quận Hồng Bàng, nhiều phố với những biệt thự do người Pháp xây dựng vẫn được giữ nguyên về tổng thể, tập trung các cơ quan hành chính sự nhiệp. Ở quận Hồng Bàng có khu phố Tàu gần Chợ Sắt (phố Khách nay là phố Phan Bội Châu và phố Trung Quốc nay là phố Lý Thường Kiệt) có những nét giống như khu vực Chợ Lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là phố Tam Bạc nằm ngay bên con sông Tam Bạc thơ mộng, trên bến dưới thuyền, từng là đề tài cho nhiều họa sĩ. Một nét độc đáo về đô thị Hải Phòng còn là những dòng sông. Những con sông chảy trong lòng thành phố hiện đại cùng với những cây cầu lớn nhỏ bắc qua. Hiện nay thành phố có khoảng 20 cây cầu lớn nhỏ, lớn nhất là cầu Bính - một trong những cây cầu dây văng lớn nhất Đông Nam Á. Thành phố đang được quy hoạch theo 5 hướng giống như 5 cánh phượng ra biển, đồng thời bám theo những dòng sông lịch sử như sông Cấm, Tam Bạc, Lạch Tray,... để xứng tầm là một đô thị đặc biệt và thành phố dịch vụ cảng văn minh, hiện đại trong tương lai rất gần. Theo quy hoạch, đến năm 2015 Hải Phòng sẽ cơ bản trở thành thành phố công nghiệp cùng với Quảng Ninh, đi trước cả nước 5 năm và dự kiến vào trước năm 2020, muộn nhất là 2025 sẽ là thành phố thứ 3 xếp loại đô thị đặc biệt và tầm nhìn từ năm 2025 đến năm 2050 sẽ trở thành thành phố quốc tế. === Kiến trúc Pháp === Quận Hồng Bàng, và Quận Lê Chân hiện nay còn lưu giữ nhiều tòa nhà, ngôi nhà mang di sản kiến trúc từ thời Pháp thuộc, đặc biệt là hai tuyến phố Tam Bạc và phố Lý Thường Kiệt. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, Tam Bạc vẫn giữ được những nét cổ kính trong không gian kiến trúc với những tòa nhà hàng trăm năm tuổi. Phố Tam Bạc được mở từ thời Pháp thuộc, ban đầu gồm hai đoạn phố với tên gọi là Marésanne Proc và Gaull de Luis. Năm 1953, phố được đổi tên là Bạch Thái Bưởi. Sau năm 1954, chính quyền cách mạng tiếp quản thành phố và đổi tên thành phố Tam Bạc. Sở dĩ có tên gọi này giản đơn vì tuyến phố chạy dọc theo một dòng sông có tên là Tam Bạc. Chạy song song với phố Tam Bạc, phố Lý Thường Kiệt còn lưu giữ nhiều nét kiến trúc xưa. Nhà ở đây xuyên từ phố Lý Thường Kiệt sang phố Tam Bạc. Những bức tường vàng ố màu thời gian, những cánh cửa gỗ hẹp ngang và cao của các ngôi nhà ống lợp ngói âm dương theo phong cách kiến trúc cổ Trung Quốc (thời kỳ trước phố này được gọi là phố Khách vì có nhiều người Hoa đến đây sinh sống, buôn bán) xen lẫn với những ngôi biệt thự kiến trúc Gô-tích của Pháp được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 20 với những ô cửa sổ nhỏ nằm chót vót trên các mái vòm cong cong, tạo nên vẻ đẹp kiến trúc giao thoa Đông – Tây cho con phố. Nhà số 14 ngõ Gạo (nay là ngõ 61) từng là trạm giao liên quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam thời trước Cách mạng Tháng Tám. === Một số công trình kiến trúc tiêu biểu === Nhà hát thành phố Hải Phòng (quen gọi là "Nhà hát Lớn" của thành phố): Công trình kiến trúc lâu đời tọa lạc ở trung tâm thành phố. Cùng với Nhà hát lớn Hà Nội và Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh tại TP Hồ Chí Minh, Nhà hát thành phố Hải Phòng là một trong số ít những nhà hát được Pháp xây dựng tại Đông Dương. Trên khu vực quảng trường Nhà hát lớn của Thành phố còn có địa danh Quán Hoa, gồm 5 quán bán hoa được xây dựng từ thời Pháp thuộc với đường nét kiến trúc đình làng cổ Việt Nam. Khi xây dựng quán hoa, các bộ phận được làm sẵn từ nơi khác rồi mang đến lắp ráp chỉ trong một đêm. Bảo tàng Hải Phòng: Trưng bày các hiện vật và thông tin về lịch sử thành phố từ thời tiền sử tới nay. Tòa nhà Bảo tàng Hải Phòng vốn là trụ sở của Ngân hàng Pháp-Hoa thời Pháp thuộc, được xây dựng theo kiến trúc gô-tích từ cuối thập niên 1910. Ngoài ra còn có các công trình như Bưu điện thành phố Hải Phòng, Trụ sở Ngân hàng nhà nước, Trung tâm triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Hải Phòng, Trung tâm hội nghị thành phố Hải Phòng, Tượng đài nữ tướng Lê Chân, Khu đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Khu tưởng niệm Vương triều Mạc ở xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy == Kinh tế == Hải Phòng là một "trung tâm kinh tế quan trọng" của miền bắc nói riêng và của cả Việt Nam nói chung. Dưới thời Pháp thuộc, Hải Phòng là thành phố cấp 1, ngang hàng với Sài Gòn và Hà Nội. Những năm cuối thế kỷ 19, người Pháp đã có những đề xuất xây dựng Hải Phòng thành "thủ đô kinh tế" của Đông Dương.. Ngày nay, Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam, từ năm 2005 đến nay luôn đứng trong top 5 các tỉnh thành phố đóng góp ngân sách nhiều nhất cả nước, cụ thể là luôn đứng ở vị trí thứ 4 sau Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, và Hà Nội. Năm 2009, thu ngân sách nhà nước của địa phương đạt 34.000 tỷ đồng. Năm 2011, thu ngân sách trên địa bàn thành phố đạt 47.725 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2010.. Năm 2015, tổng thu ngân sách của thành phố đạt 56 288 tỷ đồng.Phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2020 trên địa bàn thành phố đạt trên 80.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa đạt trên 20.000 tỷ đồng. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2013, thành phố Hải Phòng xếp ở vị trí thứ 15/63 tỉnh thành. Trong quá trình hội nhập sâu và rộng của đất nước, với các hiệp định tự do thương mai lịch sử đã được ký kết như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, thành lập Cộng đồng chung ASEAN là cơ hội phát triển rất lớn cho thành phố Cảng Hải Phòng. Hiện nay thành phố Hải Phòng đã và đang là một địa điểm đầu tư hấp dẫn của giới đầu tư nước ngoài tại VN, hàng loạt các dự án FDI lớn tập trung vào các ngành công nghệ cao, ít ô nhiễm như LG Electronics 1,5 tỷ USD; Bridgestone 1,2 tỷ USD, LG Display 1,5 tỷ USD cùng rất nhiều các tên tuổi lớn khác như Regina Miracle, Fuji Xerox, Kyocera, Nipro Pharma,GE... cho thấy sức hút lớn của thành phố. Bên cạnh đó hiệu ứng từ những dự án phát triển cơ sở hạ tầng kết nối như Cao Tốc Hà Nội - Hải Phòng (rút ngắn thời gian đi Thủ đô Hà Nội xuống 1 tiếng 30 phút), Cảng cửa ngõ trung chuyển quốc tế Lach Huyện tại Cát Hải, các khu Công nghiệp mới luôn được đầu tư và mở rộng liên tục như VSIP, Tràng Duệ, Deep C II (Đình Vũ), Deep C III (Cát Hải), Nam Đình Vũ... Đã góp phần không nhỏ cho quy hoạch phát triển trở thành một "Thành phố Cảng Xanh" của Hải Phòng. Các tập đoàn lớn như Vingroup, Himlam, Hilton, Nguyễn Kim, Lotte, Tập đoàn Hiệp Phong (Hong Kong), Apage (Singapore)... đã mang vào Hải Phòng hàng loạt những dự án lớn trong những năm gần đây, Vingroup với dự án khu du lịch sinh thái 1 tỷ USD tại Đảo Vũ Yên (800ha); dự án Vincom Lê Thánh Tông; Vinhomes Riverside Xi Măng với tòa tháp 45 tầng; Dự án bệnh viện Vinmec, Dự án nông nghiệp công nghệ cao Vin-Eco; Khu du lịch,công viên 65 trò chơi tại Đảo Dáu của Himlam; Khách sạn 5 sao Hilton Trần Quang Khải, Khu đô thị Ourcity và TTTM Quốc tế của tập đoàn Alibaba, Khu đô thị Water front... cùng các dự án khác như Đảo Hoa Phượng, Dragon Hill tại Đồ Sơn cho thấy một dấu hiệu tốt về sự phát triển dịch vụ và du lịch của thành phố. Hải Phòng là trung tâm phát luồng hàng xuất nhập khẩu lớn nhất miền Bắc. Đến nay, Hải Phòng đã có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá với trên 40 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Trung tâm Hội chợ triển lãm quốc tế Hải Phòng là trung tâm hội chợ lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Hải Phòng đang phấn đấu để trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn nhất của cả nước. === Làng nghề === Hải Phòng là địa phương có nhiều làng nghề: Làng chài Cái Bèo, Làng hoa Hạ Lũng, Làng nghề chiếu cói Lật Dương, Làng tạc tượng Bảo Hà,Làng mây tre đan Chính Mỹ, Làng đúc Mỹ Đồng, Làng cau Cao Nhân, Vận tải thủy An Lư; Khai thác, nuôi trồng thủy sản Lập Lễ; Sản xuất cá giống Hội Am; Con rối Nhân Mục; Mây tre đan Tiên Cầm; Hoa cây cảnh Mông Thượng; Bánh đa Kinh Giao; Hoa Đồng Dụ; Hoa Kiều Trung; Hoa Minh Kha; Nuôi trồng thủy sản Tân Thành.... === Sản vật === Những sản vật nổi tiếng: gà Liên Minh, Mật ong hoa rừng Cát Bà, Dưa chuột Kỳ Sơn, Bưởi Lâm Động, Táo Bàng La, Cá thu một nắng Đồ Sơn... == Giao thông == Với vị trí là đầu mối giao thông quan trọng, là cửa ngõ ra biển của toàn miền Bắc. Hải Phòng hội đủ tất cả các loại hình giao thông là đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không và hệ thống cảng biển. === Hệ thống cảng biển === Hải Phòng có vị trí chiến lược, là cửa ngõ ra biển kết nối với thế giới của cả miền Bắc. Do vậy hệ thống cảng biển của thành phố được chú trọng đầu tư mở rộng từ rất sớm. Vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Hải Phòng đã được người Pháp xây dựng như một trung tâm thương mại, tài chính và đặc biệt nhất là cảng biển có tiếng tăm của Thái Bình Dương. Đầu thế kỷ XX, cảng Hải Phòng đã có mối quan hệ gắn bó với nhiều cảng lớn ở Đông Nam Á, châu Á, châu Đại Dương, Bắc Mỹ, ven Ấn Độ Dương, Địa Trung Hải, Đại Tây Dương, biển Bắc Âu... Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, cùng với Cảng Sài Gòn là một trong 2 hệ thống cảng biển lớn nhất Việt Nam, hiện đang được Chính phủ nâng cấp. Cảng Hải Phòng nằm trên tuyến đường giao thông trên biển, kết nối Singapore với Hồng Kông và các cảng của Đông Á và Đông Bắc Á. Ngoài cảng biển, ở Hải Phòng còn có hơn 35 bến cảng khác với các chức năng khác nhau, như vận tải chất hóa lỏng (xăng, dầu, khí đốt), bến cảng đóng tàu, bến cho tàu vận tải đường sông nhỏ có trọng tải 1-2 tấn ("tàu chuột") như cảng sông Vật Cách, cảng sông Sở Dầu. Theo quy hoạch phát triển vươn mình ra biển của thành phố và theo tính toán đến năm 2020, lượng hàng qua cảng Hải Phòng dự kiến sẽ đạt từ 110-120 triệu tấn vượt xa so với công suất tối đa hiện nay, vì thế dự án cụm Cảng cửa ngõ trung chuyển quốc tế Lạch Huyện đã được triển khai tại đảo Cát Hải với vốn đầu tư 1 tỷ USD. Đây là tương lai của Cảng biển Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp nhận tàu container, tàu tổng hợp có trọng tải đến 100.000 DWT và được xác định là cảng cửa ngõ quốc tế (loại IA). Khi siêu cảng Container Lạch Huyện được đưa vào sử dụng, Thành phố có kế hoạch di chuyển hết tất cả các Cảng sông nội đô ra Lạch Huyện, nhằm chỉnh trang bộ mặt đô thị của Thành phố. === Đường sắt === Hải Phòng có một tuyến đường sắt là tuyến Hà Nội - Hải Phòng, do Pháp xây dựng từ năm 1901 đến ngày 16.6.1902 thì hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hiện được sử dụng để vận chuyển hành khách và hàng hóa, tuyến đường sắt này đang có kế hoạch được nâng cấp và điện khí hóa tuyến đường sắt này dài 102 km, gần như song song với quốc lộ 5A, đi qua địa phận các tỉnh thành: Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội. Ga Hải Phòng là ga hành khách cuối cùng trên tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng. Cùng với ga Huế và ga Nha Trang, ga Hải Phòng nằm trong số ít những ga đường sắt vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét kiến trúc thời Pháp thuộc. === Đường hàng không === Ở Hải Phòng hiện chỉ có 1 sân bay phục vụ dân sự, Sân bay quốc tế Cát Bi là sân bay đầu tiên của miền Bắc xây dựng từ thời Pháp thuộc. Sân bay này ban đầu xây dựng phục vụ mục đích quân sự. Hiện nay Vietnam Airlines và Jetstar Pacific Airlines đang khai thác đường bay Hải Phòng - Thành phố Hồ Chí Minh với 42 chuyến một tuần phục vụ vận tải hành khách. Vietnam Airlines mới đây đưa vào hoạt động đường bay Hải Phòng - Đà Nẵng với 7 chuyến một tuần (trước đây đã từng khai thác đường bay Hải Phòng - Macao (bay thuê chuyến) và Hải Phòng - Paris (thời chiến tranh)). Thành phố đang thực hiện nâng cấp sân bay Cát Bi theo tiêu chuẩn sân bay dân dụng cấp 4E, giai đoạn 1 đến năm 2015, bảo đảm tiếp nhận được máy bay B747 hạn chế tải trọng, B777-300, B777-200, A321. Xây dựng mới đường băng số 2, với kích thước dài 3050m, rộng 60m. Sân đỗ máy bay được mở rộng thành 8 vị trí đỗ. Cải tạo đường băng số 1 (cũ) thành đường lăn dài 3.050m, rộng 44m. Tổng vốn đầu tư giai đoạn 1 là 5 nghìn tỷ đồng. Hiện nay hãng hàng không giá trị nhất Việt Nam VietJet Air đã chọn Cảng Quốc tế Cát Bi làm Hub (bãi đỗ) cho hãng bay cả mình, hãng cũng đề xuất xây dựng một nhà ga thứ hai, vốn xã hội hóa, dự kiến qúy 4, năm 2017 sẽ khởi công xây dựng nhà ga mới này. Thành phố có dự án xây dựng thêm một cảng hàng không quốc tế Hải Phòng dự kiến đặt tại huyện Tiên Lãng. Đây là Dự án có khả năng sẽ là sân bay lớn nhất tại miền Bắc với quy mô khoảng 6000 ha với tổng vốn đầu tư dự tính hiện thời qua 3 giai đoạn đến 2030 là hơn 8 tỉ USD. === Đường bộ === Các tuyến đường huyết mạch nối Hải Phòng với các tỉnh thành khác như: Quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 37, và các tuyến đường cao tốc như Đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường cao tốc ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình. Là nơi toàn bộ các nhánh hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển nên Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc. Chính vì điều đó, việc xây dựng cầu đường trở nên rất quan trọng đối với thành phố này. Một số công trình cầu tiêu biểu như: cầu Bính bắc qua sông Cấm nối giữa quận Hồng Bàng và huyện Thủy Nguyên, được cho là một trong những cây cầu đẹp nhất Đông Nam Á; cầu Lạc Long bắc qua sông Tam Bạc, thuộc quận Hồng Bàng, và được xem đây là cây cầu có đường dẫn đẹp nhất thành phố; và cầu Quay còn gọi là cầu xe lửa, bắc qua sông Tam Bạc, "cây cầu lịch sử" được xây dựng vào thời Pháp thuộc. === Giao thông đô thị === Thành phố Hải phòng có khoảng 600 tuyến đường phố, nằm trong 7 quận nội thành. Đường dài nhất là đường Phạm Văn Đồng, dài 14.5 km. Ngắn nhất là phố Đội Cấn, nối từ phố Lê Lợi đến phố Lương Văn Can thuộc quận Ngô Quyền, chỉ dài hơn 70 mét. Năm 2011, Thủ tướng đã phê duyệt kết quả đàm phán dự án "Phát triển giao thông đô thị thành phố Hải Phòng" với tổng mức đầu tư 276,611 triệu USD. Dự án này được thực hiện trong 5 năm, từ năm 2011 và dự kiến hoàn thành vào năm 2016. Dự án bao gồm xây dựng tuyến đường trục đô thị Hải Phòng dài 20 km từ xã Lê Lợi (An Dương) đến quận Hải An và các cầu trên tuyến gồm xây mới cầu Niệm 2, cầu Đồng Khê vượt qua sông Lạch Tray và đường Trường Chinh, hầm chui cầu Rào, cải tạo cầu Niệm hiện tại. Cũng trong dự án này, thành phố sẽ thí điểm xây dựng tuyến xe buýt công cộng từ trung tâm đi Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Đồng thời, vận hành nâng cao thể chế năng lực quản lý giao thông vận tải, lập và thực hiện quy hoạch về giao thông đô thị, vận tải công cộng… Hầu hết các quận huyện của Hải Phòng đều có các bến xe vận chuyển hành khách và hàng hóa. Biển xe máy 4 số theo thứ tự từ F đến S. Biển xe máy 5 số phân theo quận huyện có ký hiệu 15A1 đến 15N1. Trong khi đó biển ô tô 4 số gồm các đầu số 16K, 16H, 16L, 16M, 16N, 16R, 16LD,...và biển ô tô 5 số gồm các loại 15A, 15B, 15C, 15D, 15R, 15LD,... == Văn hóa == === Văn học === Nhắc đến một Hải Phòng trong văn học là người ta nghĩ ngay đến tên tuổi nhà văn Nguyên Hồng và ngược lại nhắc đến sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng thì không thể bỏ qua những tác phẩm viết về con người cũng như mảnh đất đã góp phần nuôi dưỡng tài năng văn chương của ông. Nguyên Hồng không sinh ra tại Hải Phòng (quê gốc của ông ở Nam Định) nhưng những năm tháng đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông gắn liền với từng góc phố, bến tàu và những con người lam lũ cùng khổ nơi đất Cảng. Đó là cảm hứng để có một thiên tiểu thuyết Bỉ Vỏ ra đời. Rất nhiều người Hà Nội và trên cả đất nước đã từng biết và xúc động khi nghe tuyệt phẩm "Em ơi Hà Nội phố" của nhạc sĩ Phú Quang. Nhưng ít người biết rằng, lời ca trong "Em ơi Hà Nội phố" chỉ là một đoạn trong trường ca cùng tên của nhà thơ Phan Vũ, một trường ca cho đến tận bây giờ vẫn được cho là hay nhất về Hà Nội. Phan Vũ, cũng giống như Đoàn Chuẩn là những người con của Hải Phòng, đã cảm nhận, đã yêu và viết cho Hà Nội những tuyệt phẩm rất giá trị mà ngay cả người Thủ Đô cũng chưa chắc đã so được... === Nghệ thuật === Hải Phòng là nơi đã sản sinh và nuôi dưỡng nhiều tài năng nghệ thuật lớn của đất nước. Mỹ thuật Hải Phòng không phải là trung tâm nghệ thuật lớn như Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh. Các họa sĩ, nhà điêu khắc của Hải Phòng hoạt động nghệ thuật trong một môi trường ít nhiều buồn tẻ và khó khăn. Nhiều họa sĩ đã chọn cho riêng mình một môi trường nghệ thuật khác và đã không còn sinh sống ở Hải Phòng nữa. Tuy nhiên dù còn ở Hải Phòng hay không, tất cả họ đều có một phong cách nghệ thuật mạnh mẽ đậm chất miền biển. Sân khấu, Điện ảnh Nền văn hoá sân khấu của Hải Phòng ngày càng được nâng cao. Hiện có rất nhiều nhóm kịch nói đang hoạt động, đem lại hiệu quả rất cao. Với người dân Hải Phòng và cả nước, có lẽ thân thuộc nhất là nghệ sĩ hài Quang Thắng hay đạo diễn Văn Lượng với chương trình truyền hình "Ơi Hải Phòng" phát sóng hàng tuần trên VTV4. Và các bộ phim hấp dẫn, gây tiếng vang lớn lấy bố cảnh, cuộc sống người Hải Phòng lên những thước phim: " Nước mắt của biển", "Con mắt bão", "Sóng ở đáy sông" Đoàn Chèo Hải Phòng là đơn vị nghệ thuật chèo chuyên nghiệp của chiếng chèo Đông. Âm nhạc Nền văn hóa cổ của Hải Phòng, còn lưu đọng đến bây giờ những điệu hát dân ca, những tích chèo, múa rối... như hát trù, hát đúm ở Thủy Nguyên; hát chèo, nhạc múa rối ở Tiên Lãng, Vĩnh Bảo; các điệu hò kéo thuyền vùng ven biển... Những làn điệu ấy gắn liền với nền văn minh lúa nước, tạo thành bản sắc của cư dân vùng đất nơi đầu sóng ngọn gió. Nếu Bình Định được gọi là đất thơ, nơi sản sinh và nuôi dưỡng tài năng của những nhà thơ lớn như Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu thì Hải Phòng là mảnh đất đã sản sinh, nuôi dưỡng những tên tuổi của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam như nhạc sĩ Văn Cao, Hoàng Quý, Đoàn Chuẩn, Đỗ Nhuận, Trần Chung, Ngô Thụy Miên rồi Duy Thái sau này. Hải Phòng cùng với Hà Nội được coi là 2 cội nguồn hình thành nên nền âm nhạc hiện đại của Việt Nam. Từ những thập niên 30, 40 của thế kỷ 20, các nhạc sĩ tiên phong của Tân nhạc Việt Nam tại Hải Phòng và Hà Nội thường xuyên có sự giao lưu, trao đổi với nhau trong các sáng tác cũng như xuất bản (in ấn) tác phẩm. Tại Hải Phòng khi đó quy tụ những nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc như các nhạc sĩ lập nên nhóm Đồng Vọng: Lê Thương, Hoàng Quý, Hoàng Phú, Canh Thân, Văn Cao... - nhóm nhạc đã góp phần làm nên nền tân nhạc Việt Nam, rồi nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, Đỗ Nhuận, ca sĩ Trần Khánh, nhà thơ-nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, Vũ Trọng Hối, Lương Vĩnh... Sau khi Hải Phòng được giải phóng ngày 13 tháng 5 năm 1955 và nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh thành phố cảng hiên ngang bất khuất trong mưa bom bão đạn, người dân đất Cảng vừa chiến đấu vừa sản xuất để bảo vệ và xây dựng đất nước đã tạo cảm hứng cho các nhạc sĩ sáng tác nên hàng loạt các ca khúc mang âm điệu hào hùng đi vào lòng người như "Thành phố Hoa phượng đỏ" (Hải Như, Lương Vĩnh), "Bến cảng quê hương tôi" (Hồ Bắc), "Chiều Cát Bà" (Văn Lương), "Thành phố của em" (Văn Dung), "Chiều trên bến cảng" (Nguyễn Đức Toàn)... Nhiều ca khúc sau này trở thành những nhạc phẩm được nhiều người yêu thích, những bài ca đi cùng năm tháng. Đặc biệt, ca khúc "Thành phố Hoa phượng đỏ" được chọn làm nhạc hiệu Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng và được coi như bài hát truyền thống của người dân thành phố Cảng dù đang sống ở trong nước hay ngoài nước. Hải Phòng cũng là nơi sinh trưởng và là quê hương của nữ ca sĩ Thu Phương - một tiếng hát và tính cách điển hình Hải Phòng gây ảnh hưởng với cộng đồng Việt Nam trên thế giới. Cô cũng được đánh giá là một trong những nữ ca sĩ có ảnh hưởng của nền nhạc nhẹ đương đại Việt Nam từ thập niên 90. === Lễ hội === Cũng như mọi địa phương trên cả nước, Hải Phòng cũng là nơi có các lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam. Liên hoan Du lịch "Đồ Sơn biển gọi": diễn ra vào ngày 30-4 đến 2-5 hàng năm với nhiều hoạt động sôi nổi, hấp dẫn nhằm quảng bá về du lịch Hải Phòng. Hội chọi trâu Đồ sơn: Ngày Hội chọi trâu là ngày vui nhất trong những ngày hội làng ở Đồ Sơn. Bởi lẽ, ngày Hội vừa mang tinh thần thượng võ của dân tộc, vừa là biểu tượng bao đời của nền nông nghiệp Việt Nam, con trâu gắn liền với xứ sở trồng lúa nước. Hội vật cầu làng Kim (Kim Sơn, Kiến Thụy) sáng mồng 6 tháng giêng Lễ hội đua thuyền rồng trên biển Đồ Sơn Lễ hội làng cá Cát Bà Lễ hội núi Voi (huyện An Lão) Lễ hội Hoa Phượng đỏ: đây là hoạt động du lịch mới của thành phố, bắt đầu từ năm 2012. Lễ hội tại khu tưởng niệm Vương triều Mạc: Từ ngày 21 đến 22/8al ngày mất của Thái tổ Mạc Đăng Dung và Lễ hội ngày mồng 6 tháng giêng. Lễ giỗ Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn (Vợ vua Mạc thái Tổ) ngày 15/6 âm lịch tại Từ đường họ Mạc cổ trai xã Ngũ Đoan huyện Kiến Thụy Lễ hội đình Đồng Giới ở huyện An Dương là một trong những lễ Hội được thành phố Hải Phòng công nhận là di sản văn hóa phi vật thể === Ẩm thực === Ẩm thực Hải Phòng bình dị và dân dã, không cầu kỳ nhưng đậm đà khó quên, chủ yếu là các món hải sản. Các nhà hàng hải sản ở khu vực Đồ Sơn có tôm cua cá mực rất tươi và giá phải chăng. Phong cách chế biến hải sản ở Hải Phòng theo phong cách dân dã, nhấn mạnh thực chất và vị tươi ngon của nguyên liệu nhiều hơn sự cầu kỳ trong gia vị và cách chế biến. Các món ăn như bánh đa cua, bún cá, bánh mỳ cay, cơm cháy hải sản, ốc cay, nem cua bể (nem vuông), giờ đây đã quá quen thuộc và nổi tiếng. Những món ăn này có thể được tìm thấy trên đường phố của những nơi khác như TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội,... nhưng được thưởng thức chúng trên Thành phố Hoa phượng đỏ vẫn là lý tưởng nhất vì sự lựa chọn nguyên liệu tươi ngon cùng với những bí quyết ẩm thực riêng của người đầu bếp. Ẩm thực Hải Phòng đã từng được quảng bá sang Châu Âu tại lễ hội biển Brest 2008 (Cộng hòa Pháp) và đã gây được tiếng vang lớn. Ngoài ra, Hải Phòng còn có nhiều món ăn khác như lẩu bề bề, nộm giá, thịt san biển, sủi dìn, bánh bèo,... Một số món ăn không thể thưởng thức ở những nơi khác mà chỉ có tại Hải Phòng. === Biểu tượng === Từ lâu, hoa phượng đỏ (hay phượng vĩ) đã trở thành biểu tượng của thành phố cảng Hải Phòng. Đối với mỗi người Hải Phòng, dù già hay trẻ, dù đang sống tại thành phố hay sống xa quê hương thì vẫn luôn giữ trong ký ức một màu đỏ rực khó phai của hoa phượng vĩ hai bên bờ hồ Tam Bạc mỗi độ hè về. Cây phượng vĩ được người Pháp du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, có đặc điểm sinh thái là bắt đầu nở hoa vào những ngày đầu mùa hè, mùa hoa phượng kéo dài trong khoảng 1 tháng (từ đầu tháng 5 đến hết tháng 6) đúng vào thời điểm bắt đầu mùa du lịch biển của Hải Phòng và ngày giải phóng thành phố (13 tháng 5). Dù ngày nay phượng vĩ được trồng khắp mọi nơi tại Việt Nam nhưng nhắc đến Hải Phòng người ta vẫn thường gọi bằng cái tên đầy thi vị là Thành phố Hoa phượng đỏ. Nguồn gốc của tên gọi đó có thể bắt nguồn từ một bài hát về Hải Phòng, Thành phố Hoa phượng đỏ, được nhạc sĩ Lương Vĩnh phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Hải Như viết năm 1970. Bài hát này đã được chọn làm nhạc hiệu của Đài Phát thanh Truyền hình Hải Phòng và được xem như bài hát truyền thống của thành phố. Đường Phạm Văn Đồng của Hải Phòng từ cầu Rào - Đồ Sơn chính thức được công nhận là con đường trồng nhiều cây phượng nhất của Việt Nam. Trên chiều dài hơn 20 km này được trồng 3.068 cây phượng. Ngoài biểu tượng về hoa phượng, Nhà hát lớn Hải Phòng nằm ngay giữa quảng trường trung tâm thành phố bao năm qua cũng được coi như biểu tượng kiến trúc đặc trưng của Hải Phòng. Nhà hát được xây dựng vào năm 1904, hoàn thành năm 1912 theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp với nguyên vật liệu mang từ Pháp sang. Cùng với Nhà hát lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thì đây là số ít những nhà hát được người Pháp xây dựng tại Việt Nam thời kỳ thuộc địa. == Xã hội == === Giáo dục === Với lợi thế là một thành phố trực thuộc trung ương, Hải Phòng là một trung tâm giáo dục lớn của Việt Nam. Các trường của Hải Phòng đều có cơ sở vật chất rất tốt và toàn diện. Hiện nay (2012), trên địa bàn thành phố có 5 trường Đại học và học viện, 16 trường Cao đẳng, 26 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 56 trường Trung học phổ thông và hàng trăm trường học từ bậc học cơ sở tới ngành học mầm non. Trường Trung học Phổ Thông chuyên Trần Phú của Hải Phòng giữ Kỉ lục Việt Nam vì là trường duy nhất 21 năm liên tục có học sinh đạt giải quốc tế. ==== Các trường Đại học - Cao đẳng tại Hải Phòng ==== Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (Vietnam Maritime University) - Trường Đại học trọng điểm quốc gia về khối ngành Giao thông Vận tải & Hàng hải. Trường Đại học Hải Phòng (Haiphong University) - Trường Đại học đào tạo đa ngành, tiền thân là Đại học Sư phạm Hải Phòng. Trường Đại học Y Dược Hải Phòng (Haiphong University Of Medicine and Pharmacy) - Trường Đại học đào tạo bác sĩ đa khoa và chuyên khoa, cử nhân điều dưỡng và là một trung tâm nghiên cứu y học tại Hải Phòng Trường Đại học Dân lập Hải Phòng (Hai Phong Private University) - Trường Đại học Dân lập đào tạo đa ngành. Trường Cao đẳng Công nghệ Viettronics Trường Cao đẳng Y tế Hải phòng Trường Cao đẳng Cộng đồng Trường cao đẳng Hàng Hải 1 Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương 2 ==== Các Trường Trung học Phổ thông tại Hải Phòng ==== Trường Trung học phổ thông năng khiếu Trần Phú là trường Trung học phổ thông được xếp hạng thứ 3 toàn quốc tính theo thành tích trong các kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia. Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Hải Phòng. Trường trước kia mang tên là trường Bonnal, một ngôi trường danh tiếng khắp đất Bắc Kì, cũng là ngôi trường lâu đời nhất Hải Phòng, thứ 2 miền Bắc, ngôi trường mang đậm nét kiến trúc thời Pháp. Trường Trung học phổ thông Thái Phiên, Hải Phòng (Số 258 phố Đà Nẵng, phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền). Lớp chọn của trường Trung học phổ thông Thái Phiên ngày trước chính là tiền thân của trường chuyên Trần Phú hiện nay.Đây là trường Trung học phổ thông không chuyên top đầu thành phố nằm trong top 100 trường Trung học phổ thông. Năm 2010 xếp thứ 66/100. Năm 2011 xếp thứ 51/100.Năm 2012 xếp thứ 76/100 Trường THPT Lê Ích Mộc - Kỳ Sơn,Thủy Nguyên. Trường được thành lập năm 2002. Ngôi trường mang tên trạng nguyên Lê Ích Mộc - vị trạng nguyên đầu tiên của thành phố Hải Phòng. Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn,Hải Phòng. Trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn (ngõ 185 đại lộ Tôn Đức Thắng) là ngôi trường có nhiều học sinh đạt kết quả cao trong các kỳ thi đại học và là một trong những ngôi trường có học sinh năng động sáng tạo nhất trong cả nước. Trường Trung học phổ thông An Lão - 43 đường Lê Lợi, thị trấn An Lão, huyện An Lão. Đây là một trong những trường Trung học phổ thông có chất lượng giảng dạy rất tốt, có nhiều học sinh đạt kết quả cao trong các kỳ thi đại học. Trường Trung học phổ thông Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Đây là ngôi trường được nhận danh hiệu kỷ lục là trường Trung học phổ thông nông thôn có nhiều học sinh thi đỗ thủ khoa, á khoa các trường đại học do Hội đồng xác lập kỷ lục gia Việt Nam trao tặng. Trường Trung học phổ thông Kiến An, Hải Phòng. Đây là ngôi trường có tuổi đời lớn thứ hai ở Thành phố Hải Phòng, luôn nằm trong top đầu thành phố về chất lượng đào tạo học sinh Trung học phổ thông cũng như các giải Học sinh giỏi. Trường Trung học phổ thông Tiên Lãng, Hải Phòng là ngôi trường đầu tiên ở Hải Phòng có học sinh đạt giải nhất Chung kết Năm cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia, điểm thi Đại học luôn nằm trong top 200 trường Đại học hàng đầu. Trường Trung học phổ thông Mạc Đĩnh Chi, Hải Phòng (Quận Dương Kinh) là một trong những ngôi trường có tỉ lệ học sinh đỗ đại học cao trong thành phố. Trường Trung học phổ thông Hồng Bàng Trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong Trường Trung học phổ thông An Dương Trường Trung học phổ thông Hải An Trường Trung học phổ thông Lê Chân Trường Trung học phổ thông Thăng Long Trường Trung học phổ thông Kiến Thụy Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo địa chỉ tại xã An Thái,huyện An Lão,thành phố Hải Phòng,tiền thân là trường cấp 3 An Thái,sau đổi thành trường PTTH vừa học vừa làm Trần Hưng Đạo,thời kỳ này hiệu trưởng là Thầy Lê Hồng Thúy,vì có công đóng góp,xây dựng cơ sở vật chất cũng như mô hình mới nên Thầy được nhận danh hiệu anh hùng lao động Trường Trung học phổ thông Nguyễn Trãi địa chỉ tại xã An Hưng, huyện An Dương, là ngôi trường đầu tiên đạt chuẩn quốc gia của thành phố Hải Phòng, được chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về thăm và tặng danh hiệu Trường đạt chuẩn quốc gia == Tôn giáo, tín ngưỡng == Hải Phòng có khá nhiều đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, nữ tướng anh hùng Lê Chân và Ngô Quyền cũng như đền thờ chúa bà Năm Phương và hệ thống chùa chiền, đền thờ tứ phủ phong phú. Ngoài ra, Công giáo tại Việt Nam cũng có một giáo phận đặt ở Hải Phòng (Giáo phận Hải Phòng) == Hạ tầng công nghệ thông tin == Thành phố những năm gần đây quan tâm khá nhiều đến công nghệ thông tin và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm việc trên lĩnh vực này(gia công, thiết kế, tư vấn, quản trị, triển khai phần mềm, hệ thống thông tin,...). Bằng chứng là đã có hàng loạt công ty gia công phần mềm được thành lập và phát triển: An Biên soft, P.I.T Việt, Vigoor, Hapecom,... Điều này giúp nhiều sinh viên ngành công nghệ thông tin của thành phố và các tỉnh lân cận (Quảng Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định,...) tránh khỏi tình trạng thiếu việc chung hiện nay. Nhưng hướng đi chung của các công ty ở Hải Phòng cũng không khác Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng - tập trung mạnh vào gia công phần mềm từ những dự án thuê ngoài của các nước phát triển. Hải Phòng cũng là một trong 4 trọng điểm và việc làm công nghệ thông tin của Việt Nam (3 nơi khác là TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng). Mục tiêu của thành phố là đến năm 2020, tỉ trọng của ngành công nghệ thông tin (phần mềm và phần cứng) chiếm khoảng 20%-30% GDP của thành phố, hướng Hải Phòng thành một trong những thành phố hàng đầu của Đông Nam Á về phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin. Hầu hết mọi hoạt động của chính quyền cũng như cơ quan đều được số hóa, giao diện chủ yếu qua internet và công khai trên các cổng thông tin điện tử. == Thể dục, thể thao == Hải Phòng là một trung tâm mạnh của thể thao Việt Nam. Hải Phòng có thế mạnh trong các môn thể thao như bắn cung, bóng đá, bơi lội, nhảy cao, thể dục dụng cụ, cử tạ và khiêu vũ thể thao. Nhiều vận động viên Hải Phòng đã đánh dấu những cột mốc quan trọng của thể thao Việt Nam trong hành trình hội nhập vào thể thao khu vực cũng như quốc tế. Thể dục dụng cụ Hải Phòng từng có Nguyễn Thị Nga, người giành HCV SEA Games đầu tiên năm 1997 cho thể dục dụng cụ Việt Nam. Hơn một thập kỷ sau, đến lượt Phan Thị Hà Thanh đưa thể dục dụng cụ Việt Nam xuất hiện trên bản đồ của thể dục dụng cụ thế giới với tấm HCĐ giải vô địch thể dục dụng cụ châu Á 2009, 2 HCB World Cup thể dục dụng cụ 2010 và tấm HCĐ tại giải vô địch thể dục dụng cụ thế giới năm 2011. Đây là lần đầu tiên một vận động viên thể dục dụng cụ Việt Nam giành được huy chương tại giải vô địch thể dục dụng cụ thế giới. Trong điền kinh, Bùi Thị Nhung là vận động viên đầu tiên đoạt được HCV cấp châu lục về cho điền kinh Việt Nam với tấm HCV ở nội dung nhảy cao nữ tại giải vô địch châu Á năm 2003. Trong bơi lội, Nguyễn Hữu Việt là một trong những cái tên hàng đầu của thể thao Việt Nam trên đường đua xanh với 3 tấm HCV SEA Games liên tiếp. Riêng bóng đá vẫn là môn thể thao được người Hải Phòng yêu thích nhất. Bóng đá được người Pháp du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 20, trong khi Hải Phòng là một vài nơi ở Việt Nam lúc đó có phong trào bóng đá phát triển mạnh nhất với nhiều đội bóng (gồm cả người Việt và người Pháp) được thành lập. Bóng đá Hải Phòng đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nhiều đội bóng lần lượt bị giải thể để hiện nay chỉ còn lại một đội bóng duy nhất là Câu lạc bộ bóng đá Hải Phòng đang thi đấu tại Giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia V-League. Tuy vậy sân vận động Lạch Tray vẫn thuộc số ít sân bóng tại Việt Nam còn duy trì được số lượng khán giả cao trong vài năm qua (trung bình trên một vạn khán giả mỗi trận đấu). == Y tế == Các bệnh viện lớn Tại Hải Phòng, hiện có 15 bệnh viện và viện y phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân thành phố và các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Thái Bình,... Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng (phố Nhà thương, quận Lê Chân). Đây là bệnh viện lớn nhất Hải phòng, là nơi áp dụng những khoa học kĩ thuật hàng đầu Việt Nam. Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng (phố Trần Quang Khải, quận Hồng bàng) Bệnh viện nhi Hải Phòng (phố Việt Đức, Lãm Hà, quận Kiến An) Bệnh viện đa khoa Kiến An (phố Trần Tất Văn,Quận Kiến An) Bệnh viện lao Hải Phòng (phố Trần Tất Văn,Quận Kiến An) Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Hải Phòng (tên khác - bệnh viện Nauy - phố Trần Tất Văn,Quận Kiến An) Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Phòng (phố Nguyễn Đức Cảnh, quận Lê Chân) Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng (phường Đông Khê, quận Ngô Quyền) Viện Quân y 7 (phố Bến Bính, quận Hồng Bàng) Viện Y học biển Việt Nam (Đường Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân) Viện Y học Hải Quân (Đường Phạm Văn Đồng, quận Dương Kinh) Viện Mắt Hải Phòng Bệnh viện Phụ sản Quốc tế Hải Phòng (phố Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân) Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng (phố Nhà Thương, phường Cát Dài, quận Lê Chân) == Du lịch == Hải Phòng là một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Là một thành phố lớn và gần biển đảo, Hải Phòng là một mắt xích quan trọng trong tam giác kinh tế và du lịch Hải Phòng - Hà Nội - Quảng Ninh. Hải Phòng sở hữu nhiều điểm tham quan, khu du lịch chất lượng cao, đạt tầm quốc tế như khu nghỉ dưỡng (resort) 4 sao và sòng bạc (casino), sân golf Đồ Sơn, khu nghỉ dưỡng - sinh thái và bể bơi lọc nước biển tạo sóng lớn nhất châu Á tại Hòn Dáu, 2 khu nghỉ dưỡng Sông Giá và Camela ở nội đô, khu du lịch suối nước nóng ở Tiên Lãng, 2 khu nghỉ dưỡng Catba Island và Catba Resort and Spa ở quần đảo Cát Bà, đảo nhân tạo Hoa Phượng (sẽ chính thức đi vào hoạt động vào năm 2013),... Khách du lịch nước ngoài, đặc biệt là khách du lịch Châu Âu luôn có hứng thú với quần đảo Cát Bà, một hòn đảo xinh đẹp với hệ sinh thái rừng, biển phong phú cùng với những khách sạn, nhà hàng chất lượng cao. Năm 2010, Hải Phòng đón 4,2 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm 596.400 lượt. Trong 7 tháng đầu năm 2011, thành phố đón 2,516 triệu lượt khách, khách quốc tế chiếm 339,3 nghìn lượt. Tổng doanh thu của hoạt động khách sạn, nhà hàng, dịch vụ đạt hơn 5,6 nghìn tỷ đồng, tăng 29,2% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu lưu trú và dịch vụ lữ hành đạt 908,4 tỷ đồng, tăng 15% và đạt 60,6% kế hoạch. Ngày nay, do nhận được sự quan tâm đúng đắn của thành phố và các nhà đầu tư nên du lịch Hải Phòng ngày càng thêm khởi sắc. Sản phẩm tour du lịch của Hải Phòng ngày càng đa dạng và lôi cuốn, với hệ thống di tích đền miếu và giá trị văn hoá truyền thống lễ hội, tài nguyên di sản văn hoá... Điều đó đã góp phần làm phong phú các tour du lịch trên địa bàn. Khu du lịch Đồ Sơn gần đây đã khai trương bể bơi nước mặn tạo sóng lớn nhất Châu Á ở Hon Dau Resort, xây dựng khách sạn 5 sao hình cánh buồm Pullman tại đảo nhân tạo Hoa Phượng - biểu tượng tương lai của Hải Phòng. Cát Bà hiện nay đang làm tốt việc mở rộng tour, tuyến bằng thuyền trên vịnh với tàu, xuồng cao tốc và bơi thuyền kayak, ngoài ra đang nghiên cứu và phát triển thêm chương trình du lịch lặn biển tại nơi có san hô... Mặc dù đạt được nhiều kết quả khả quan và được đánh giá là một điểm đến hấp dẫn nhưng theo đánh giá của những của những chuyên gia lữ hành, du lịch Hải Phòng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế vốn có. Hải Phòng vẫn chưa khai thác hết những thế mạnh về địa lý, tự nhiên và con người. Du lịch thành phố đã và đang tiếp tục có những bước chuyển mình mạnh mẽ để xứng đáng với vị thế trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Hải Phòng được chọn là trung tâm của Năm Du lịch Quốc gia 2013 đồng bằng Sông Hồng. Lễ khai mạc được dự kiến tổ chức ngày 12 tháng 5 năm 2013 tại Quảng trường Nhà hát lớn thành phố Hải Phòng. === Danh lam thắng cảnh === Khu du lịch biển Đồ Sơn: Đồ Sơn là khu nghỉ mát nằm cách thành phố Hà Nội 120 km và cách trung tâm thành phố Hải Phòng 20 km. Đây là một bán đảo nhỏ được bao quanh bởi núi, vươn dài ra biển có những bãi cát mịn trên những bờ biển rợp bóng phi lao. Trong lịch sử, Đồ Sơn là nơi nghỉ ngơi của vua chúa, quan lại đô hộ; với "ngôi nhà bát giác kiên cố" của Bảo Đại - ông vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam. Ngày nay, Đồ Sơn là một điểm đến lý tưởng của khách du lịch trong ngày hè, với chất lượng dịch vụ tốt và giá cả tương đối mềm. Đồ Sơn còn có casino duy nhất ở Việt Nam, cùng với hệ thống sân golf đạt chuẩn quốc tế. Quần đảo Cát Bà: Cát Bà là đảo lớn nhất trong hệ thống quần đảo gồm 366 đảo nhỏ thuộc vịnh Lan Hạ (một phần của Vịnh Hạ Long, Đảo Cát bà là đảo lớn nhất Vịnh Hạ Long), cách thành phố Hải Phòng 70 km. Cát Bà có những bãi biển trong xanh trải dài trên những bãi cát trắng mịn màng và hệ thống sinh thái rừng ngập mặn, nhiệt đới xanh quanh năm. Đến Cát Bà du khách có thể đến thăm vịnh Lan Hạ, động Trung Trang, động Trung Sơn, động Phù Long, vườn quốc gia Cát Bà hay tham gia tắm biển, chèo thuyền kayak, lặn biển và thưởng thức đặc sản biển nổi tiếng. Đặc biệt trong khu rừng nguyên sinh Cát Bà có loài Voọc đầu vàng, loài thú cực quý hiếm trên thế giới chỉ có tại Cát Bà.. Quần đảo Cát Bà đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Paris vào ngày 29 tháng 10 năm 2004 và đang đề nghị được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí đa dạng sinh học, là một phần của Vịnh Hạ Long mở rộng. Hòn Dáu: Là một đảo nhỏ nằm cách Đồ Sơn 1 km về phía Đông Nam. Nét hấp dẫn của Hòn Dáu là nét hoang sơ tĩnh mịch cách biệt hẳn với Đồ Sơn ồn ào với những gốc si cổ thụ khổng lồ. Hệ thực vật nguyên vẹn cả 3 tầng cùng với những rễ cây lớn tua tủa đam sâu vào lòng đất càng làm cho đảo thêm cổ kính. Nét hoang sơ, tĩnh mịch như càng được tôn thêm với Đền Thờ Nam Hải Vương cùng với ngọn hải đăng hơn một trăm năm tuổi. Đối với người dân nơi đây, đảo Hòn Dáu là một nơi linh thiêng đến mức họ tin rằng không một ai có thể lấy đi ở đây bất cứ thứ gì dù đó chỉ là một hòn đá, hay một chiếc lá cây. Chính vì thế, trải qua hàng trăm năm, đảo Dáu vẫn giữ được nét hoang sơ kỳ vĩ. Danh thắng khác: Tràng Kênh, Núi Voi === Các đền thờ, chùa nổi tiếng === Đền Nghè (thờ nữ tướng Lê Chân-người khai sinh ra TP Hải Phòng ngày nay) Đền Tam Kì (thờ Quan Lớn đệ Tam thoải phủ) Chùa Cấm, Cây đa Mười Ba Gốc, đền Tiên Nga, vườn hoa chéo.. (thờ Chúa bà Năm Phương - Vũ Quận Quyến Hoa công chúa - Hộ quốc trang dân - Thượng đẳng tôn thần. Chúa bản cảnh Hải Phòng) Đền Long Sơn (hay còn gọi là đền Suối Rồng ở Đồ Sơn thờ cô Chín Sòng) Đền Vạn Ngang - Đồ Sơn (thờ chính cung Công đồng Thoải phủ) Đền Sơn Lâm (đền bà Ngọc) số 220 Tây Sơn, phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An, Hải Phòng. Thờ Chúa Bà Sơn Trang Đông Cuông. Đền Bà Đế Đền Phú Xá (thờ Đức Thánh Trần) Phủ Thượng Đoạn (thờ Mẫu Liễu Hạnh) Đền Trần - Đồ Sơn. Chùa Hàng (phố Chùa Hàng), chùa Đỏ, chùa Phổ Chiếu, chùa Vẽ, chùa An Dương... Khu tưởng niệm các Vua Vương triều Mạc ở xã Ngũ đoan, Kiến thụy. Chùa Đồng Giới Đình Đồng Dụ Chùa Văn Tra === Khu nghỉ dưỡng === Khu du lịch suối nước nóng Tiên Lãng: Khu du lịch suối nước nóng này được coi là độc nhất vô nhị ở đồng bằng Bắc Bộ. Trong những năm gần đây lượng khách du lịch nội địa và nước ngoài đến đây ngày càng tăng. Đây còn được coi là một trong 5 mỏ nước khoáng nóng có giá trị nhất ở Việt Nam. Hòn Dáu Resort: Hon Dau Resort nằm tại khu 3 của khu du lịch biển Đồ Sơn, với hệ thống khách sạn, nhà hàng, trung tâm mua sắm, bể bơi, khu công viên nước, khu vui chơi, sân gofl, bãi tắm tự nhiên và nhân tạo cùng với không gian thiên nhiên rộng mở, hồ nước và cây xanh. Hòn Dáu resort được xây dựng với mục đích xóa bỏ tính mùa vụ trong du lịch và định kiến về nước biển Đồ Sơn không được trong. Hòn Dáu Resort còn được đánh giá là "Đà Lạt thu nhỏ" trong lòng biển và là khu nghỉ dưỡng đồng bộ nhất miền Bắc. Catba Sunrises và Catba Island Resort & Spa: Đây là 2 khu nghỉ dưỡng cao cấp nằm tại Cát Bà, cung cấp cho du khách những dịch vụ, tiện nghi cao cấp với tiêu chuẩn châu Âu. Nơi đây rất thu hút du khách quốc tế đến nghỉ dưỡng. Ngoài ra còn có một số resort khác đang trong quá trình xây dựng như Sông Giá Resort, đảo nhân tạo Hoa Phượng (2013) và Cát Bà Amatina(2012). === Khách sạn chuẩn quốc tế === Hiện, toàn thành phố có tất cả 108 cơ sở lưu trú được xếp hạng từ 1 đến 5 sao. Một số khách sạn tiêu biểu cao cấp của Hải Phòng là Best Western Pearl River đạt 5 sao, cùng với các khách sạn 4 sao khác là khách sạn quốc tế Sao Biển, khách sạn Nam Cường (cũ là Tray Hotel), khách sạn Harbour View, Camela, Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island Resort & Spa, Hữu Nghị, Princess Hotel, Hoàng Long Classic, Sunflower International Village,... Một số resort cao cấp ở Hải Phòng là: Doson Resort, Hon Dau Resort, Camela Hotel & Resort, Cát Bà Sunrise, Cát Bà Island Resort & Spa, Sông Giá resort, Monkey Island Resort, Flamingo Cát Bà, Cat Ba Beach Resort,... Tại Hải Phòng đang có nhiều dự án xây dựng những khách sạn mới tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó có 2 khách sạn theo tiêu chuẩn 5 sao quốc tế đang được xây dựng: một tại đảo nhân tạo Hoa Phượng, Đồ Sơn và một ở vịnh tránh bão thuộc đảo Cát Bà, nằm tại Cát Bà Island Resort & Spa. Ngành du lịch Hải Phòng dự tính sẽ có thêm từ 5 tới 7 khách sạn chuẩn quốc tế tại nội thành và trên các khu du lịch, nghỉ dưỡng Đồ Sơn, Cát Bà, và đảo nhân tạo Hoa Phượng để nâng tầm du lịch của thành phố. == Hợp tác quốc tế == Ngoài việc kết nghĩa với thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng có quan hệ hợp tác hữu nghị với các thành phố của các quốc gia gồm: == Hình ảnh Hải Phòng == == Xem thêm == Cảng Hải Phòng Đường Hải Phòng, Hồng Kông == Chú thích == == Liên kết ngoài == Hải Phòng tại Từ điển bách khoa Việt Nam Hải Phòng tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Cẩm nang du lịch miễn phí về Hải Phòng Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng Báo Hải Phòng
thời kỳ asuka.txt
Thời kỳ Asuka (飛鳥時代, (Phi Điểu thời đại), Asuka-jidai) là một thời kỳ trong lịch sử Nhật Bản kéo dài từ năm 538 đến năm 710, mặc dù giai đoạn khởi đầu của thời kỳ này có thể trùng với giai đoạn cuối của thời kỳ Kofun. Thời kỳ Asuka được đặt theo tên vùng Asuka, cách thành phố Nara hiện giờ khoảng 25 km về phía nam. Quốc gia Yamato, ra đời trong thời kỳ Kofun, phát triển rất nhanh trong thời kỳ Asuka. Nhiều cung điện hoàng gia được xây dựng trong vùng ở thời kỳ này. Thời kỳ Asuka được biết đến với những thay đổi quan trọng về nghệ thuật, xã hội và chính trị. Những thay đổi này có nguồn gốc vào cuối thời Kofun, nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của sự xuất hiện của đạo Phật ở Nhật Bản. Phật giáo xuất hiện đánh dấu một thay đổi lớn trong xã hội Nhật Bản. Thời kỳ Asuka còn được phân biệt với các thời kỳ khác bởi sự thay đổi tên của quốc gia từ Oa quốc (倭) thành Nhật Bản (日本). Dựa trên những thay đổi về mặt nghệ thuật, thời kỳ này có thể được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn Asuka (cho tới cải cách Taika), khi những nhân tố Phật giáo đầu tiên xuất hiện với ảnh hưởng từ Bắc Ngụy và Bách Tế, và giai đoạn Hakuho (từ sau cải cách Taika) khi những ảnh hưởng của nhà Tùy và nhà Đường bắt đầu xuất hiện. == Tên gọi == Thuật ngữ "thời kỳ Asuka" đầu tiên được sử dụng để mô tả một giai đoạn trong lịch sử nghệ thuật và kiến trúc Nhật Bản. Nó được sử dụng lần đầu bởi các học giả nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Sekino Tadasu và Okakura Kakuzo vào khoảng năm 1900. Sekino xem thời Asuka kết thúc cùng với cải cách Taika vào năm 646 trong khi Okakura xem thời kỳ này kết thúc với việc dời đô sang điện Heijo ở Nara. Mặc dù các sử gia thường sử dụng mốc thời gian của Okakura, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật và kiến trúc ưa thích cách phân loại của Sekino hơn, và sử dụng thuật ngữ "thời kỳ Hakuho" để chỉ giai đoạn sau cải cách Taika. == Quốc gia Yamato == Chính thể Yamato, nổi lên vào cuối thế kỷ 5, tiêu biểu bởi các lãnh chúa hùng mạnh, các gia tộc và những cận thần của họ. Mỗi gia tộc do một tộc trưởng đứng đầu. Tộc trưởng cũng là người tiến hành các nghi lễ tế thần (kami) của bộ tộc để cầu bình an cho bộ tộc. Các thành viên của dòng họ tộc trưởng là những quý tộc và có vai trò quan trọng trong triều đình Yamato. Các lãnh chúa địa phương trong thời Yamato sau đó trở thành những thành viên của triều đình hoàng gia vào đầu thời kỳ Asuka. Việc triều đại Yamato bắt đầu từ bao giờ vẫn còn là một việc gây tranh cãi. Sự thống trị trên toàn lãnh thổ Nhật Bản có lẽ chỉ bắt đầu từ cuối thời kỳ Kofun hoặc vào đầu thời kỳ Asuka. Thời kỳ Asuka, một phân kỳ của thời kỳ Yamato, là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản có một vương triều Nhật Bản cai trị tương đối hoàn chỉnh vùng đất nay thuộc tỉnh Nara, còn khi đó được gọi là tỉnh Yamato. Triều đình Yamato, tập trung ở vùng Asuka, áp đặt quyền lực lên các lãnh chúa ở Kyushu và Honshu, phong tước hiệu, một số được cha truyền con nối, cho các lãnh chúa ở đó. Cái tên Yamato bắt đầu được dùng để chỉ chung cả Nhật Bản từ khi triều đình Yamato áp chế được các lãnh chúa địa phương và kiểm soát đất đai nông nghiệp. Dựa theo hình mẫu Trung Quốc (bao gồm cả việc tiếp thu chữ Hán), triều đình Yamato phát triển một hệ thống hành chính tập trung với các buổi thiết triều có sự tham gia của những người đứng đầu các bộ tộc nhưng vẫn chưa có thủ đô chính thức. Vào giữa thế kỷ 7, diện tích đất nông nghiệp biến thành đất công, do chính sách cai trị tập trung, đã là khá lớn. Đơn vị hành chính cơ bản nhất của hệ thống Gokishichido là cấp xã, và xã hội được tổ chức thành các nhóm phường hội làm các nghề khác nhau. Hầu hết là nông dân, ngoài ra còn có ngư dân, thợ dệt, thợ làm đồ gốm, thợ trang trí nhà cửa, thợ làm đồ sắt và những người có trách nhiệm đặc biệt trong các nghi lễ tôn giáo. Triều đình Yamato có quan hệ với vương quốc Gaya trên bán đảo Triều Tiên. Khi đó, người Nhật gọi vương quốc Gaya là Mimana. Có những cứ liệu khảo cổ học từ các lăng mộ thời kỳ Kofun cho thấy có sự tương đồng về hình dáng, nghệ thuật và các lớp vải phủ ngoài của những đồ vật chôn theo. Một nguồn khác cũng đề cập tới mối liên hệ này là cuốn Nihon Shoki. Trong một thời gian dài, các sử gia Nhật Bản cho rằng Gaya là một thuộc địa của Yamato, một giả thuyết giờ đây đã bị bác bỏ. Một giả thuyết khác dễ được chấp nhận hơn là cả những quốc gia ở Triều Tiên và Nhật Bản khi đó đều là chư hầu của các triều đình nhà Tùy và nhà Đường ở Trung Quốc. == Dòng họ Soga và Thánh Đức Thái tử == Xem thêm Thánh Đức Thái tử. Dòng họ Soga kết hôn với gia đình hoàng tộc, và vào năm 587, Soga no Umako, tộc trưởng dòng họ Soga, trở nên quyền lực đến mức ông đã có thể đặt cháu mình lên ngôi hoàng đế, sau đó lại giết hoàng đế đó và thay bằng Nữ hoàng Suiko (593-628). Suiko, nữ hoàng đầu tiên trong tám nữ hoàng, chỉ là một con rối trong tay Umako và quan nhiếp chính Thánh Đức Thái tử (574-622). Thánh Đức Thái tử, được xem là một bộ óc cải cách vĩ đại của thời kỳ này, là một tín đồ Phật giáo trung thành có học vấn uyên thâm. Ông chịu ảnh hưởng lớn từ Nho giáo và tin vào thiên mệnh. Dưới sự cai trị của Thánh Đức, các khái niệm cương thường trong Nho giáo được áp dụng vào xã hội Nhật Bản, thể hiện qua bộ luật 17 điều Kenpo jushichijo. Ngoài ra, Thánh Đức còn áp dụng lịch Trung Quốc vào Nhật Bản, phát triển một hệ thống đường sá cho thương mại, xây dựng nhiều đền thờ Phật, ghi chép sử ký của triều đại Yamato và cử những triều thần sang Trung Quốc học về đạo Phật và đạo Nho. Trong giai đoạn này, Ono no Imoko cũng đã được cử đi sứ đến Trung Quốc. Nhiều phái đoàn Nhật Bản bao gồm các triều thần, những nhà sư và các du học sinh đã được cử đến Trung Quốc trong thế kỷ 7. Một số ở lại đó hàng 20 năm và rất nhiều người trở về Nhật Bản sau đó trở thành những nhà cải cách tầm cỡ. Việc cử các học giả sang học hỏi hệ thống chính trị Trung Quốc cho thấy sự thay đổi quan trọng so với thời kỳ Kofun, vào lúc năm quốc gia Oa quốc chỉ cử các phái đoàn sang để cầu phong. Thánh Đức thậm chí còn làm triều đình Trung Quốc nổi giận khi ông tìm kiếm sự bình đẳng với các hoàng đế Trung Hoa qua những lá thư chính thức mà ông xưng hô là "Thiên tử của đất nước mặt trời mọc gửi Thiên tử của đất nước mặt trời lặn". Một số học giả Nhật Bản cho rằng sự can đảm đó của Thánh Đức đã đặt ra một tiền lệ quan trọng khi Nhật Bản từ đó về sau không bao giờ chấp nhận địa vị chư hầu trong quan hệ với Trung Quốc nữa, trừ thời điểm sau này Ashikaga Yoshimitsu đã chấp nhận mối quan hệ như vậy trong thế kỷ 15. Kết quả là Nhật Bản trong thời kỳ này không hề phải cầu phong Trung Quốc dù họ vẫn phải nộp cống. Xét theo quan điểm của Trung Quốc thời kỳ đó, Nhật Bản đã là một nước phiên thuộc từ các thế kỷ trước khi các vị vua cai trị Nhật Bản đều cầu phong của Trung Quốc. Mặt khác, Nhật Bản dần lơ là các quan hệ chính trị với Trung Quốc và thay vào đó bằng những liên hệ thuần túy về văn hóa và học thuật. == Cải cách Taika và bộ luật Ritsuryo == === Cải cách Taika === Khoảng 20 năm sau khi Thánh Đức Thái tử, Soga no Umako và Nữ hoàng Suiko lần lượt qua đời, những cuộc vận động tranh giành quyền lực trong triều đình đã dẫn đến một cuộc lật đổ sự kiểm soát của dòng họ Soga vào năm 645. Cuộc lật đổ do Hoàng tử Naka no Oe và Nakatomi no Kamatari cầm đầu giành lại quyền kiểm soát triều chính từ tay gia đình Soga và mở đầu cho cuộc cải cách Taika (Taika no Kaishin). Giai đoạn từ 645 đến 649 trong lịch sử Nhật Bản do đó còn được gọi là thời kỳ Taika, có nghĩa là "Đại hóa" (Sự thay đổi lớn). Sự kiện dẫn đến cuộc cải cách Taika được gọi là sự biến năm Ất Tỵ, cuộc đảo chính năm 645. Mặc dù không tạo ra một định chế pháp luật, cải cách Taika, thông qua nhiều cải biến quan trọng, đã đặt nền tảng cho bộ luật ritsuryo là một hệ thống các cơ chế vận hành xã hội, bộ máy hành chính và tài chính của Nhật Bản từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 10. Ritsu là bộ hình luật, còn ryo là bộ luật hành chính. Kết hợp lại, chúng tạo thành một bộ luật hoàn chỉnh dựa bao gồm những điều khoản riêng rẽ đã được thừa nhận từ thời cải cách Taika. Cải cách Taika chịu nhiều ảnh hưởng từ Trung Quốc và bắt đầu với việc phân chia lại đất đai hướng đến việc kết thúc hệ thống sở hữu đất đai hiện hành của các lãnh chúa lớn cũng như sự kiểm soát của họ với các lãnh địa và các làng nghề. Đất tư và tá điền trở thành đất công và nông dân tự do khi triều đình tìm cách kiểm soát toàn bộ Nhật Bản và buộc mọi người dân phải phục tùng chính quyền trung ương. Đất đai không còn được cha truyền con nối nữa mà chuyển sang cho nhà nước khi người chủ đất chết đi. Các loại thuế đánh dựa trên thu hoạch nông nghiệp và đánh vào vải, bông, lụa, các hầm mỏ cũng như các sản phẩm khác. Ngoài ra, nông dân còn phải đi phu xây dựng các công trình quân sự hoặc công cộng. Hệ thống cha truyền con nối ở các lãnh địa của các lãnh chúa bị hủy bỏ thay bằng một hệ thống mới với ba thừa tướng trợ giúp công việc cho nhà vua được thiết lập bao gồm Tả đại thần, Hữu đại thần và Đại thần Daijo. Đất nước được chia thành các tỉnh đứng đầu có tỉnh trưởng do triều đình chỉ định. Các tỉnh lại được chia thành các huyện và làng. Naka no Oe tiếp tục là Thái tử nhiếp chính, trong khi Kamatari được ban cho họ mới là Fujiwara, như một phần thưởng cho những đóng góp của ông cho triều đình. Dòng họ Fujiwara sau đó trở thành một dòng họ quý tộc lâu đời ở Nhật Bản. Một thay đổi lâu đời khác là việc đổi tên nước thành Nihon, hoặc đôi khi là Dai Nippon (Đại Nhật Bản) trong các tài liệu ngoại giao và các biên niên sử. Năm 662, Naka no Oe chính thức lên ngôi vua thay chú và mẹ, trở thành Hoàng đế Tenji. Hoàng đế Nhật Bản cũng bắt đầu được gọi là Thiên Hoàng kể từ đó. Ngôi vị này nhắm mục đích nâng cao uy thế của gia tộc Yamato và nhấn mạnh nguồn gốc Thần thánh của Hoàng gia với hy vọng giữ Hoàng tộc đứng trên mọi xung đột chính trị. Tuy vậy, trong nội bộ Hoàng tộc, tranh quyền đoạt vị vẫn tiếp diễn khi anh và con trai của Thiên Hoàng tranh giành ngôi báu trong chiến tranh Jishin. Người anh, sau này lấy niên hiệu là Thiên Hoàng Temmu, củng cố cải cách Tenji và tập trung quyền lực vào trong tay triều đình. === Hệ thống Ritsuryō === Hệ thống ritsuryō được lập thành nhiều mức. Bộ luật Ōmi (近江令 (‘’Cận Giang Lệnh’’), Bộ luật Ōmi), được đặt tên theo nơi đóng đô của triều đình Nhật hoàng Tenji, được hoàn thành năm 668. Những sự hệ thống hóa cao hơn được Nhật hoàng Jito ban bố năm 689 trong Bộ luật Asuka Kiyomihara (飛鳥浄御原令 (Phi Điểu Tịnh Ngự Nguyên Lệnh), Bộ luật Asuka Kiyomihara), đặt theo tên nơi đặt triều đình của cố Nhật hoàng Tenmu. Hệ thống ritsuryō được củng cố thêm và hệ thống lại năm 701 trong Bộ luật Taiho (大宝律令 (Đại Bảo Luật Lệnh), Taihō Ritsuryō), mà trừ việc thay đổi chút ít và bỏ đi một số chức năng nghi lễ chính yếu, vẫn còn hiệu lực cho đến năm 1868. Dù Ritsu (Luật) có nguồn gốc từ hệ thống luật Trung Hoa, Ryō (Lệnh) được sắp xếp theo tập tục địa phương. Vài học giả biện luận rằng hệ thống luật này chủ yếu dựa theo mẫu của Trung Quốc. Luật Taihō có các điều khoản hình sự theo lối Nho giáo (nhẹ hơn so với các hình phạt khắt khe) và tập quyền trung ương kiểu Trung Quốc qua Thần kỳ quan (神祇官 (Jingi-kan), Thần kỳ quan) (Bộ Lễ), với chức năng coi sóc đạo Shinto và nghi lễ triều đình, và Thái chính quan (太政官 (Daijō-kan), Thái chính quan) (Bộ Công), với tám bộ (để tập trung quyền lực, lễ nghi, sự vụ dân sự, hoàng tộc, pháp lý, quân sự, nhân dân và quốc khố). Mặc dù hệ thống thi cử kiểu Trung Quốc không được áp dụng, ’’Đại Học Liêu’’ (大学寮, Daigaku-Ryō) được thành lập để đào tạo các quan lại tương lai dựa trên nền tảng Nho giáo cổ điển. Tuy vậy, hệ thống mưu lược cổ điển, ví dụ như dòng dõi quý tộc tiếp tục là tiểu chuẩn chính để lựa chọn các vị trí quan trọng, và tước hiệu sẽ sớm được truyền đời lại. Luật Taihō không đề cập đến việc lựa chọn Quốc Chủ. Vài Nữ hoàng vẫn lên ngôi từ thế kỷ 5 đến 8, nhưng sau năm 770, việc thừa kế chỉ được dành cho đàn ông, thường là cha truyền con nói, mặc dù đôi khi vẫn truyền theo mối quan hệ anh-em hay bác-. Fujiwara Fuhito (藤原不比等(‘’Đằng Nguyên Bất Tỷ Đẳng’’), Fujiwara Fuhito), con trai của Nakatomi no Kamatari, là một trong những người soạn thảo Taihō Ritsuryō. Theo bộ sử Shoku Nihongi (續日本紀(‘’Tục Nhật Bản Kỷ’’), Shoku Nihongi), hai trong số 19 thành viên của hội đồng phác thảo Luật Taiho là pháp sư Trung Quốc (Shoku-Shugen and Satsu-Koukaku). Các pháp sư Trung Quốc cũng giữ vai trò quan trọng như các chuyên gia ngôn ngữ học, và hai lần được Nữ Thiên Hoàng Jito ban thưởng. == Quan hệ đối ngoại == Từ năm 600 đến năm 659, Nhật Bản gửi 7 sứ thần đến nhà Đường ở Trung Quốc. Nhưng trong vòng 32 năm tiếp theo, trong giai đoạn Nhật Bản đang hoàn thành hệ thống luật pháp dựa trên thư tịch Trung Hoa ủa mình, họ không gửi ai đi. Mặc dù Nhật Bản cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, họ đã gửi 11 sứ thần đến Silla, và theo Nihon Shoki thì Silla đã gửi 17 sứ bộ đến Nhật Bản dưới triều Thiên Hoàng Temmu và Nữ Thiên Hoàng Jito. Gia tộc thống trị Yamato và Baekje có quan hệ thân tình với nhau, và Yamato đã gửi hải quân của mình đến cứu viện Baekje, năm 660-663, chống lại cuộc xâm lăng của Silla và nhà Đường (xem trận Baekgang). Thay vì chu du đến Trung Quốc, rất nhiều pháp sư từ Tam Quốc Triều Tiên được gửi đến Nhật Bản. Kết quả là, điều này cũng tình cờ thúc đẩy việc Nhật gửi quân cứu viện Baekje. Một vài pháp sư nổi tiếng đến từ Triều Tiên như Eji (慧慈 (Tuệ Từ), Eji), Ekan (慧灌 (Tuệ Quán), Ekan), Eso (慧聡(Tuệ Thông), Eso) and Kanroku (觀勒 (Quan Lặc), Kanroku). Eji, đến từ Goguryeo là thầy giáo của Thái tử Shotoku, và cố vấn cho ông về chính trị. === Torai-jin === Những người nhập cư Trung Quốc và Triều Tiên đã trở thành tự nhiên trong xã hội Nhật Bản cổ đại được gọi là torai-jin (渡来人 (Độ Lai Nhân), torai-jin). Họ truyền bá nhiều khía cạnh ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống của mình cho cư dân bản địa. Người Nhật đối xử tốt với những torai-jin này vì triều đình Yamato đánh giá cao tri thức và văn hóa của họ. Theo ghi chép trong Shinsen-shōjiroku (新撰姓氏録, Shinsen-shōjiroku), danh sách tên các gia đình quý tộc được Triều đình Yamato biên soạn năm 815, một phần tư các gia đình quý tộc có nguồn gốc từ Trung Quốc và Triều Tiên. 163 trong số 1182 cái tên là từ Trung Quốc, và 154 là từ bán đảo Triều Tiên (104 từ Baekje, 41 từ Goguryeo, và 9 từ Silla và Gaya). Tuy nhiên, những người nhập cư này nói chung bị coi là thuộc giai tầng thấp hơn trong hệ thống Kabane xếp hạng rất nhiều gia tộc là thành viên của triều đình. Họ thường được xếp vào bậc "Atai", "Miyatsuko", hay "Fubito", trong khi các thành viên của các gia đình thống trị như Soga, Mononobe, và Nakatomi được xếp vào hạng "Omi" hay "Muraji". === Những người nhập cư === Một ví dụ về các gia tộc có tổ tiên ngoài Nhật Bản là gia tộc Yamatonoaya (東漢氏) (Đông Hán thị’’), là hậu duệ của Hán Linh Đế. Người đứng đầu gia tộc này là Achi-no-Omi (阿智使主) (A Trí Sứ Chủ). Theo Nihongi, dưới triều Nhật hoàng Kimmei, gia tộc Hata (秦氏) (Tần Thị’’), hậu duệ của Tần Thủy Hoàng, đã mang đến nghề nuôi tằm dệt vải. Gia tộc Kawachino-Fumi clan (西文氏) (Tây Văn Thị), là hậu duệ của Hán Cao Tổ, dạy cho triều đình Yamato văn tự Trung Hoa, theo Shinsen-shōjiroku. Gia tộc Takamoku là hậu duệ của Tào Phi. Takamuko no Kuromaro (高向玄理 (Cao Hướng Huyền Lý), Takamuko no Kuromaro) là một thành viên chủ chốt đã viết nên Cải cách Taika. Tori Busshi (止利仏師 (Chi Lợi Phật Sư), Tori Busshi), cũng đến từ Trung Quốc, là một trong những họa sĩ nổi tiếng nhất thời Asuka. Năm 660, một trong Tam Quốc Triều Tiên, Baekje, mất về tay Silla và nhà Đường. Sau đó, rất nhiều nạn dân Baekje đã chạy loạn đến Nhật Bản. Triều đình Yamato đã đón nhận hoàng tộc và nạn dân Baekje. Hoàng gia Baekje được Nhật hoàng ban cho cái tên "Kudara no Konikishi" (百済王, Bách Tề Vương). == Truyền bá Phật giáo == Phật giáo (仏教, Bukkyō) truyền vào Nhật Bản được cho là nhờ vua Baekje Seong năm 538, đặt nước Nhật trước một thể thức học thuyết tôn giáo này. Gia tộc Soga, một gia đình trong triều đình Nhật nổi lên từ khi Nhật hoàng Kimmei lên ngôi khoảng năm 531, rất chuộng việc chấp nhận Phật giáo và kiểu mẫu văn hóa và chính quyền dựa trên Nho giáo Trung Hoa. Nhưng có những người ở triều đình Yamato – ví dụ như gia tộc Nakatomi, những người có trách nhiệm điều hành các nghi lễ Shinto ở triều đình, và gia tộc Mononobe nắm binh quyền – bắt đầu cố gắng duy trì đặc quyền của mình và chống lại ảnh hưởng của một tôn giáo ngoại lai như Phật giáo. Nhà Soag du nhập vào hệ thống tài khóa kiểu Trung Hoa, thành lập cơ quan ngân khố đầu tiên, và coi các vương triều ở Triều Tiên là các bạn hàng thương mại thay vì đối tượng để mở rộng lãnh thổ. Sự gay gắt tiếp diễn giữa nhà Soga và hai nhà Nakatomi và Mononobe kéo dài hơn một thế kỷ, trong suốt thời kỳ đó nhà Soga tạm thời chiếm ưu thế. Trong Cải cách Taika, Chỉ dụ về việc đơn giản hóa việc chôn cất được ban bố, và việc xây dựng các kofun (cổ phần) bị cấm. Chỉ dụ cũng quy định kích cỡ và hình khối của kofun theo đẳng cấp. Kết quả là, các kofun sau đó, mặc dù nhỏ hơn, được nhân ra bởi những bức bích họa cầu kỳ. Việc vẽ tranh và trang trí của các kofun này thể hiện sự truyền bá của Đạo Lão và Đạo Phật trong thời kỳ này. Takamatsuzuka Kofun và Kitora Kofun nổi tiếng nhất vì những bức họa của nó. Từ đầu thời kỳ Asuka, việc sử dụng các lăng mộ kofun cầu kỳ của Hoàng gia Nhật Bản và các quý tộc bắt đầu không còn được sử dụng vì niềm tin Phật giáo đã thắng thế, vốn nhấn mạnh vào tính tạm thời của đời người. Tuy vậy, thường dân và quý tộc ở những vùng xa xôi hẻo lánh vẫn tiếp tục sử dung kofun cho đến cuối thế kỷ 7, các lăng mộc đơn giản hơn nhưng đặc biệt tiếp tục được sử dụng trong thời kỳ tiếp theo. == Ảnh hưởng của Đạo giáo == Đạo giáo cũng được truyền vào Nhật Bản trong thời Asuka. Vào giữa thế kỷ 7, Nữ hoàng Saimei xây dựng đền thờ đạo Lão ở núi Tōnomine (多武峯談山) (Đa Võ Phong Đàm Sơn). Hình dạng bát giác của lăng mộ triều đình trong thời kỳ này và những thiên đồ được vẽ ở Kitora và Takamatsuzuka cũng phản ánh vũ trụ quan Đạo giáo. Tennō (Thiên Hoàng), tước hiệu mới của triều đình Nhật Bản trong thời đại này, cũng được cho là có nguồn gốc từ vị thần tối cao của Đạo giáo, Tenko-Taitei(天皇大帝) (Thiên Hoàng Đại Đế), vị thần của sao Bắc Cực . Niềm tin Đạo giáo cuối cùng được pha trộn với Shintō và Phật giáo tạo thành một thể thức nghi lễ mới. Onmyōdō, một loại bói đất và vũ trụ học Nhật Bản, là một trong những kết quả của việc kết hợp tôn giáo này. Trong khi thời kỳ Asuka bắt đầu với cuộc xung đột tôn giáo giữa các gia tộc thì sau đó, các tôn giáo từ bên ngoài này đã hòa nhập vào với niềm tin của dân bản địa. == Nghệ thuật và kiến trúc == === Nghệ thuật Asuka === Một số công trình kiến trúc xây dựng trong thời đại này vẫn còn đến ngày nay. Các công trình bằng gỗ ở Hōryū-ji, xây dựng vào thế kỷ 7, đã chịu ảnh hưởng của Trung Hoa và các quốc gia Tây Á. Ví dụ như các cây cột ở Hōryū-ji khá giống với cột của điện Parthenon của Hy Lạp cổ đại, như ở các đường gờ dọc cột. Ngũ Trọng Tháp (五重の塔) là sự chuyển biến từ kiến trúc Ấn Độ giống gò đất, Stupa. Những bức bích họa ở kofun Takamatsuzuka và Kitora, có từ thế kỷ thứ 5, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ bích họa nhà Đường và Goguryeo. Nghệ thuật tượng Phật Nhật Bản được cho là phỏng theo kiểu cách thời Lục Quốc ở Trung Hoa. Phong cách của tượng phật thời kỳ này được gọi là phong cách Tori, được lấy từ tên nhà điêu khắc nổi tiếng Kuratsukuri Tori, cháu nội của một người nhập cư Trung Hoa Shiba Tatto. Một vài kiểu mẫu tiêu biểu của phong cách này bao gồm mắt rõ ràng, hình quả hạnh, và các nếp gấp được sắp xếp đối xứng trên trang phục. Đặc điểm nhận dạng rõ rệt nhất của các bức tượng này là việc thể hiện nụ cười được gọi là Nụ cười Cổ xưa. Kudara Kanon ở Hōryū-ji là bức tượng Phật nổi tiếng nhất của thời kỳ này. === Văn hóa Hakuhō === Giai đoạn thứ hai của nghệ thuật Phật giáo, tiếp nối thời kỳ nghệ thuật Asuka, được gọi là Văn hóa Hakuhō (Bạch Phượng Văn hóa) (白鳳文化) và bắt đầu từ Cải cách Taika cho đến ngày dời đô khỏi Nara năm 710. Trong suốt nửa sau thế kỷ 8, hàng loạt các bài hát và bài thơ được soạn và biểu diễn bởi người từ nhiều đẳng cấp khác nhau, từ chiến binh đến Thiên hoàng. Tập thơ sớm nhất được biết đến là Man'yōshū. Nó bao gồm tác phẩm của vài nhà thơ đáng chú ý như Công chúa Nukata và Kakinomoto Hitomaro. Waka (Hòa Ca) cũng xuất hiện như một thể thơ mới trong thời kỳ này. Nó được hình như một thuật ngữ để phân biệt lối thơ dân tộc với lối thơ từ Trung Hoa; dưới ảnh hưởng của thể thơ waka, một thể thơ được yêu thích hơn ra đời với cái tanka. Nó bao gồm 31 chữ chia thành 5 dòng, theo mẫu 5/7/5/7/7. == Các sự kiện == 538: Vương quốc Triều Tiên Baekje gửi đi một đoàn sứ thần để giới thiệu Phật giáo cho Thiên Hoàng Nhật Bản. 593: Thái tử Shotoku giữ trọng trách Nhiếp chính cho nữ Thiên Hoàng Suiko và truyền bá Phật giáo cùng với gia tộc Soga. 600: Yamato gửi đoàn sứ bộ đầu tiên đến Trung Quốc kể từ năm 478. 604: Thái tử Shotoku ban hành Thập thất điều Hiến pháp (十七条憲法) (Jūshichijō kenpō) theo phong cách Trung Hoa, dựa trên nguyên tắc Nho giáo, thực chất điều này đã khởi đầu Đế chế Nhật Bản. 607: Thái tử Shotoku xây dựng Chùa Hōryūji ở Ikaruga. 645: Soga no Iruka và cha ông là Emishi bị giết trong sự biến Isshi. Thiên hoàng Kōtoku lên ngôi và củng cố hoàng quyền qua các gia đình quý tộc (xem Cải cách Taika), chia cả nước thành các tỉnh. 663: Thủy quân Nhật Bản bị liên minh Đường-Silla đánh bại trong trận Baekgang, không phục hồi được Baekje. 670: Koseki (Hộ Tịch) (sổ đăng ký gia đình) (Kōgo-Nenjaku) được soạn thảo. 672: Hoàng tử Ōama, sau này là Thiên hoàng Temmu chiếm đoạt ngai vàng qua một cuộc nội chiến (Jinshin no Ran) chống lại Thiên hoàng Kōbun. 689: Luật Asuka Kiyomihara được ban bố. 701: Luật Taihō được ban bố. == Tham khảo == Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies.
san josé, costa rica.txt
San José (tiếng Tây Ban Nha: San José; IPA: [ˌsɑːn hɒˈsɛː]) là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Costa Rica. Nằm ở trung tâm của vùng đại đô thị bao gồm một số thị trấn phụ cận trong Thung lũng Trung tâm Costa Rica, San José là trung tâm kinh tế và giao thông của quốc gia Trung Mỹ này. San José cũng là lỵ sở của Tổng San José (cantón Central de San José). Với địa vị là thủ đô, San José là nơi đặt trụ sở của các cơ quan công quyền. Được thành lập năm 1738, San José là một trong những thủ đô châu Mỹ Latin trẻ nhất. Tuy hình thành vào thế kỷ 18, mãi đến năm 1823 San José mới được chọn làm thủ đô. Ngày nay đây là một thành phố hiện đại với sinh hoạt thương mại sầm uất, là một điểm đón tiếp nhiều du khách nước ngoài. == Lịch sử == Theo Hiến chương Lâm thời của Costa Rica năm 1821 thì thủ phủ phải luân chuyển giữa bốn thị trấn chính: Cartago, San José, Heredia và Alajuela. San José tiếp nhận vai trò thủ đô lần đầu tiên từ Tháng Năm đến Tháng Tám năm 1822. Không lâu sau đó chiến tranh bộc phát giữa hai phe: nhóm bảo hoàng (tập trung ở Cartago và Heredia) và nhóm cộng hòa (chủ yếu ở San José và Alajuela). Nhóm thứ nhất muốn nhập Costa Rica vào Đế quốc México trong khi nhóm thứ hai chống lại, đòi độc lập. Dân quân phe Cộng hòa dấy binh đánh chiếm được Cartago rồi tuyên bố chuyển hẳn thủ phủ về San José cho đến năm 1834 thì trao lại cho thị trấn Alajuela. Dân Cartago bất bình lại nổi lên tấn công San José năm 1835 nhưng bị đánh bại. == Dân số == Dân số chính thức của thành phố là 346.799, tương ứng với dân số của toàn tổng San José. San José xếp hạng đông nhất trong tất cả 20 tổng thuộc tỉnh San José. Nếu xét về cả khu đô thị gồm các ngoại ô thì San José vươn rộng, vượt ranh giới tổng San José để bao gồm 1/3 dân số toàn quốc. Thành phố này chi phối các thị trấn phụ cận như Alajuela, Heredia và Cartago) trong Thung lũng Trung tâm. == Địa lý == San José nằm ở cao độ 1161 m trên mực nước biển nên dù nằm trong vùng nhiệt đới, thành phố có khí hậu mát mẻ quanh năm. Nhiệt độ trung bình là 23 độ C và lượng mưa quân bình là 150 mm hằng tháng. == Công sở == Đại học Costa Rica được thành lập ở San José từ năm 1843, lúc đầu mang tên "Đại học Santo Tomás". San José cũng là nơi đặt trụ sở của Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ. Ngành hàng không có Sân bay quốc tế Juan Santamaría, cách San José 23 km về phía tây bắc, thuộc thị trấn Alajuela. == Tham khảo == Bản mẫu:Thủ đô Nam Mỹ
đội tuyển bóng đá quốc gia cộng hòa dân chủ nhân dân triều tiên.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, còn có biệt danh là "Chollima", là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và đại diện cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên trên bình diện quốc tế. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là trận gặp đội tuyển Trung Quốc vào năm 1956. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là tấm huy chương vàng Asiad 1978, 2 chức vô địch Cúp Challenge AFC giành được vào các năm 2010, 2012 và vị trí thứ tư của cúp bóng đá châu Á 1980. Đội đã hai lần tham dự giải vô địch bóng đá thế giới vào các năm 1966 và 2010, trong đó thành tích cao nhất là lọt vào tứ kết (1966). == Danh hiệu == Vô địch châu Á: 0 Hạng tư: 1980 Vô địch Cúp Challenge: 2 Vô địch: 2010; 2012 Hạng ba: 2008 Vô địch Đông Á: 0 Hạng ba: 2005 Hạng tư: 2008 Bóng đá nam tại Asiad: 1978 1990; 2014 1990; 2002; 2010 Hạng tư: 1974; 1982 == Thành tích quốc tế == === Giải vô địch bóng đá thế giới === === Cúp bóng đá châu Á === CHDCND Triều Tiên từng 4 lần tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á với kết quả cao nhất là hạng tư. Đội từng một lần bị cấm tham gia (2007) khi chính quyền từ chối cho phép đội Jordan đến đá vòng loại giải trước đó (2004) ở Triều Tiên. === Cúp Challenge AFC === 2006 - Không tham dự 2008 - Hạng ba 2010 - Vô địch 2012 - Vô địch 2014 - Không tham dự === Giải vô địch bóng đá Đông Á === 2003 - Bỏ cuộc 2005 - Hạng ba 2008 - Hạng tư 2010 đến 2013 - Không vượt qua vòng loại == Đội hình hiện tại == Đây là danh sách 23 cầu thủ được triệu tập cho giải vô địch bóng đá Đông Á 2017. Bàn thắng và số lần khoác áo đội tuyển cập nhật ngày 13 tháng 10 năm 2015, sau trận gặp Yemen == Chú thích ==
lâm đồng.txt
Lâm Đồng là một trong năm tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, đồng thời tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Nằm trên cao nguyên cao nhất của Tây Nguyên là Lâm Viên - Di Linh với độ cao 1500 mét so với mực nước biển và là tỉnh duy nhất ở Tây Nguyên không có đường biên giới quốc tế. Tỉnh lỵ là thành phố Đà Lạt nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 300 km về hướng Bắc, đồng thời cách cảng biển Nha Trang 210 km về hướng Tây. Năm 2010, Lâm Đồng là tỉnh đầu tiên của Tây Nguyên có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Đà Lạt, Bảo Lộc). == Địa lý == === Vị trí === Lâm Đồng thuộc Nam Tây Nguyên, có tọa độ địa lý từ 11˚12’- 12˚15’ vĩ độ bắc và 107˚45’ kinh độ đông. phía đông bắc giáp với tỉnh Khánh Hoà, phía đông giáp với tỉnh Ninh Thuận, phía tây giáp Đắk Nông, phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bình Phước, phía nam và đông nam gáp tỉnh Bình Thuận, giáp tỉnh Đắc Lắc ở phía Bắc. Phía bắc tỉnh là dãy núi Yang Bông có đỉnh cao 1749 mét. Dãy núi phía nam có đỉnh Đan Sê Na cao 1950 mét, đỉnh Lang Biang cao 2163 mét, Hòn Giao cao 1948 mét. phía nam hai dãy núi là cao nguyên Lang Biang, trên đó có thành phố Đà Lạt ở độ cao 1475 mét. phía đông và nam tỉnh có cao nguyên Di Linh cao 1010 mét, địa hình khá bằng phẳng và đông dân cư, là nơi đầu nguồn của sông La Ngà. === Địa hình === Nằm ở phía nam Tây Nguyên, trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của hệ thống sông suối lớn, địa hình đa số là núi và cao nguyên với độ cao trung bình từ 800 đến 1.000 mét so với mực nước biển, đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng. Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam. === Khí hậu === Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, chính vì vậy khí hậu Lâm Đồng được chia làm 2 mùa riêng biệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ cũng thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 250C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm. Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%. Đặc biệt Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân. Nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng. Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, phần lớn sông suối chảy từ hướng đông bắc xuống tây nam, hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn. == Lịch sử == 1 tháng 11 năm 1899, chính quyền Pháp lập tỉnh Đồng Nai Thượng (Province de Haut Donnai), tỉnh lỵ đặt tại Di Linh (Djiring) Năm 1903, bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, chuyển thành đại lý hành chính Di Linh, do đại diện của Công sứ Bình Thuận cai trị Năm 1913, nhập đại lý Đà Lạt với đại lý Di Linh, gọi chung là đại lý Di Linh và vẫn thuộc tỉnh Bình Thuận 6 tháng 1 năm 1916: thành lập tỉnh Lâm Viên, gồm đại lý Đà Lạt mới lập lại và đại lý Di Linh, tách từ tỉnh Bình Thuận. Tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh Lâm Viên còn được gọi là Langbiang hay Lâm Biên 31 tháng 10 năm 1920: xóa bỏ tỉnh Lâm Viên, một phần lập ra thành phố Đà Lạt, phần còn lại lập lại tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt 8 tháng 1 năm 1941, lập lại tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh lị tỉnh Đồng Nai Thượng chuyển về Di Linh 19 tháng 5 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tách một phần đất sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm 2 quận Bảo Lộc (Blao) và Di Linh. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. Như vậy tỉnh Lâm Đồng do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt bao gồm 2 tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức do Việt Nam Cộng hòa đặt. Tháng 2 năm 1976, sáp nhập tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức để tái lập tỉnh mới là tỉnh Lâm Đồng mới, gồm thành phố Đà Lạt và 4 huyện: Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương, Đức Trọng. Ngày 14 tháng 3 năm 1979, chia huyện Bảo Lộc thành 2 huyện: Bảo Lộc và Đạ Huoai; chia huyện Đơn Dương thành 2 huyện: Đơn Dương và Lạc Dương. Ngày 6 tháng 6 năm 1986, chia huyện Đạ Huoai thành 3 huyện: Đạ Huoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên. Ngày 28 tháng 10 năm 1987, chia huyện Đức Trọng thành 2 huyện: Đức Trọng và Lâm Hà. Ngày 11 tháng 7 năm 1994, chia huyện Bảo Lộc thành thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Ngày 17 tháng 11 năm 2004, thành lập huyện Đam Rông trên cơ sở tách 3 xã thuộc huyện Lạc Dương và 5 xã thuộc huyện Lâm Hà. Ngày 8 tháng 4 năm 2010, chuyển thị xã Bảo Lộc thành thành phố Bảo Lộc. == Hành chính == Lâm Đồng có 2 thành phố thuộc tỉnh và 10 huyện, 147 đơn vị hành chính cấp xã gồm 117 xã, 18 phường và 12 thị trấn. == Kinh tế == Lâm Đồng có diện tích trồng Trà lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên một phần lớn doanh thu của tỉnh là nhờ vào phát triển du lịch và xuất khẩu cà phê. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Lâm Đồng xếp ở vị trí thứ 61/63 tỉnh thành, đến năm 2012 xếp hạng 54/63 tỉnh thành Việt Nam. Giai đoạn 9 tháng đầu năm 2012, GDP theo giá so sánh năm 1994 đạt 7.247 tỷ đồng tăng 15,6% so với cùng kỳ 2011. Trong đó Nông lâm thủy sản 1.752 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng đạt 2.760,8 tỷ đồng, dịch vụ 2.733,7 tỷ đồng. Cũng trong giai đoạn này, GDP theo giá hiện hành đạt 19.366 tỷ đồng tăng 24% so với cùng kỳ 2011. Trong đó Nông lâm thủy sản 6.104 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng đạt 4.515 tỷ đồng, dịch vụ 8.747 tỷ đồng. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 197.7 tỷ đồng tăng 9,6 %, tổng mức đầu tư xã hội đạt 8.550 tỷ đồng, Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 2.886,5 tỷ đồng, thu hút du lịch đạt 2,98 triệu lượt đồng thời giải quyết cho 22.663 lao động. == Dân cư và Tôn giáo == === Dân cư === Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Lâm Đồng đạt gần 1.218.700 người, mật độ dân số đạt 125 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 464.700 người, dân số sống tại nông thôn đạt 754.000 người. Dân số nam đạt 609.500 người, trong khi đó nữ đạt 609.200 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 13,3 ‰ Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh có 43 dân tộc cùng 18 người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh là đông nhất với 901.316 người, xếp ở vị trí thứ hai là người Cơ Ho với 145.665 người, người Mạ đứng ở vị trí thứ 3 với 31.869 người, thứ 4 là người Nùng với 24.526 người, người Tày có 20.301 người, Chu Ru có 18.631 người, người Hoa có 14.929 người, Mnông có 9.099 người, người Thái có 5.277 người, người Mường có 4.445 người cùng các dân tộc ít người khác như Mông với 2.894 người, Dao với 2.423 người, Khơ Me với 1.098 người...ít nhất là Lô Lô, Cơ Lao và Cống mỗi dân tộc chỉ có duy nhất 1 người. === Tôn giáo === Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Lâm Đồng có 12 Tôn giáo khác nhau chiếm 599.461 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 303.761 người, Phật giáo có 199.255 người, Tin Lành có 83.542 người, Cao Đài có 12.606 người, cùng các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo với 103 người, Hồi Giáo có 75 người, Bà La Môn có 72 người, 27 người theo Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, 11 người theo Minh Sư Đạo, 5 người theo đạo Bahá'í, 3 người theo Minh Lý Đạo, 1 người Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam. == Y tế & giáo dục == === Giáo dục === Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng có 459 trường học ở cấp phổ trong đó có Trung học phổ thông có 37 trường, Trung học cơ sở có 133 trường, Tiểu học có 251 trường, trung học có 22 trường, có 16 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 200 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Lâm Đồng cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh. Tỉnh có 3 trường đại học là Đại Học Đà Lạt, Đại học Yersin và Đại học Kiến Trúc TP Hồ Chí Minh cơ sở tại Đà Lạt. === Y tế === Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng có 187 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 14 Bệnh viện, 22 phòng khám đa khoa khu vực và 148 Trạm y tế phường xã, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, với 3015 giường bệnh và 582 bác sĩ, 596 y sĩ, 859 y tá và khoảng 483 nữ hộ sinh. == Giao thông == Mặc dù địa hình chủ yếu là đèo, núi, tuy nhiên hệ thống giao thông đường bộ vẫn phân bố đều khắp các vùng trong tỉnh. Các tuyến đường Quốc lộ tại Lâm Đồng như Quốc lộ 20, Quốc lộ 28, Quốc lộ 55, Quốc lộ 27. Các con sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh như sông Đa Dâng, sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Đa Nhim, nhưng vì tốc độ chảy khá cao, ngắn và dốc nên không thuận lợi cho giao thông đường thuỷ. Mặc khác đối với đường hàng không thì tỉnh có sân bay Liên Khương, với các hãng Vietnam Airlines, Air Mekong và Vietjet Air có các chuyến bay thẳng nối Đà Nẵng, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tới Sân bay quốc tế Liên Khương, nằm ở ngoại ô thành phố Đà Lạt. == Du lịch == Lâm Đồng có nhiều thắng cảnh nổi tiếng như các thác nước tại huyện Đức Trọng và những thắng cảnh thiên nhiên tại Đà Lạt như Hồ Than Thở, Hồ Xuân Hương. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do không được quan tâm bảo trì đúng mức, cảnh quan nhiều thắng cảnh đang bị phá hủy. Ngày 10 trong 17 thắng cảnh quốc gia xuống cấp, trong đó có ba ngọn thác ở huyện Đức Trọng đã được xếp hạng quốc gia tại Lâm Đồng đã biến mất gồm: thác Gougah, thác Liên Khương và thác Bảo Đại . Lý do là vì các đơn vị được giao đầu tư thiếu năng lực và chỉ lo khai thác kinh doanh bán vé . Ông Đinh Bá Quang - Trưởng phòng Quản lý di sản văn hóa (Sở VH-TT-DL) Lâm Đồng cho biết: "Theo quy định, hằng năm các đơn vị trích từ 3 - 5% lãi suất kinh doanh để tu bổ, tôn tạo và tổ chức các hoạt động văn hóa tại di tích. Thế nhưng thực tế qua kiểm tra thì các điểm này không thực hiện được như vậy". == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức Hội đồng nhân dân tỉnh Lâm Đồng Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng Báo Lâm Đồng
giải pulitzer.txt
Giải Pulitzer là một giải thưởng của Mỹ, trao cho nhiều lĩnh vực, trong đó quan trọng hơn cả là về báo chí và văn học. Đặc biệt về báo chí, Pulitzer được xem như một trong những giải danh giá nhất. Joseph Pulitzer, chủ bút báo New York World đề nghị giải này trong di chúc của ông viết năm 1904. Khi đó ông có đề ra 13 giải: 4 cho báo chí, 4 cho văn học, 4 cho sân khấu và 1 cho giáo dục. Nhạy cảm với sự thay đổi, Pulitzer có lập ra một hội đồng tư vấn có quyền thay đổi nội dung giải thưởng. Từ năm 1917, giải được trao vào tháng 4 hàng năm bởi hiệu trưởng trường Đại học Columbia. Một phong bì khoảng 10.000 đô la được tặng kèm theo giải thưởng. Hiện nay, giải Pulitzer có tới 21 nội dung: một số thể loại phóng sự, biên tập, biếm họa, nhiếp ảnh, tiểu thuyết, tiểu sử, sân khấu, thơ và âm nhạc. == Một vài giải Pulitzer nổi tiếng == === Tiểu thuyết === Stephen Vincent Benét với John Browns' Body 1929. Margaret Mitchell - Cuốn theo chiều gió (Gone with the Wind) 1937. John Steinbeck - Chùm nho uất hận (The Grapes of Wrath) 1940. Tennessee Williams - Chuyến tàu mang tên dục vọng (A Streetcar Named Desire) 1948 và Con mèo trên mái nhà nóng bỏng (Cat on a Hot Tin Roof) 1955. Ernest Hemingway - Ông già và biển cả (The Old Man and the Sea) 1953. William Faulkner - A Fable 1955 và The Reivers 1963. Harper Lee - Giết con chim nhại 1960 Edward Osborne Wilson và Bert Hölldobler - The Ants 1991. Richard Russo - Empire Falls 2002. Viet Thanh Nguyen - The Sympathizer 2016. === Báo chí === 1983, 1988 và 2002: Thomas L. Friedman với những bài báo cho New York Times. 1999: Maureen Dowd với những bài báo cho The New York Times. === Nhiếp ảnh === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính thức của giải Pulitzer
east midlands counties football league.txt
East Midlands Counties Football League là một giải bóng đá Anh nằm ở Cấp độ 10 của Hệ thống các giải bóng đá ở Anh. Giải khởi tranh từ mùa giải 2008–09, gồm các câu lạc bộ từ Central Midlands League, Leicestershire Senior League và 2 đội từ Northern Counties East League. Ngày 15/5/2008 FA Leagues Committee đặt giải đấu mới này vào Bậc 6 của National League System. 18 đội được mời để thành lập nên giải đấu mới; Từ Central Midlands League: Blackwell Miners Welfare, Dunkirk, Gedling Miners Welfare, Graham Street Prims, Greenwood Meadows, Heanor Town, Holbrook Miners Welfare, Radford; Từ Leicestershire Senior League: Bardon Hill, Barrow Town, Ellistown, Hinckley Downes, Holwell Sports, Ibstock United, Kirby Muxloe SC, St. Andrews; Từ Northern Counties East League – Borrowash Victoria, Gedling Town == Đội vô địch == 2008–09: Kirby Muxloe (Thăng hạng) 2009–10: Dunkirk (Thăng hạng) 2010–11: Gresley (Thăng hạng) 2011−12: Heanor Town (Thăng hạng) 2012–13: Basford United (Thăng hạng) 2013–14: Thurnby Nirvana (Thăng hạng) 2014–15: Bardon Hill (Thăng hạng) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
berili.txt
Berili hoặc beri (theo sách giáo khoa hóa học phổ thông) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Be và số nguyên tử bằng 4, nguyên tử khối bằng 9. Là một nguyên tố hóa trị hai có độc tính, berili có màu xám như thép, cứng, nhẹ và giòn, và là kim loại kiềm thổ, được sử dụng chủ yếu như chất làm cứng trong các hợp kim (chủ yếu là berili đồng). == Các đặc trưng nổi bật == Berili là một trong số các kim loại nhẹ có điểm nóng chảy cao nhất. Suất đàn hồi của berili là lớn hơn của thép khoảng 33%. Nó có độ dẫn nhiệt tốt, không nhiễm từ và kháng lại sự tấn công của axít nitric đậm đặc. Nó cho tia X đi qua, và các nơtron được giải phóng khi nó bị bắn phá bằng các hạt alpha từ các nguồn phóng xạ như radi hay poloni (khoảng 30 nơtron/triệu hạt alpha). Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn berili kháng lại sự ôxi hóa khi bị phơi ra trước không khí (mặc dù khả năng cào xước mặt kính của nó có được có lẽ là do sự tạo thành một lớp mỏng ôxít). == Ứng dụng == Berili được sử dụng như là chất tạo hợp kim trong sản xuất berili đồng. (Be có khả năng hấp thụ một lượng nhiệt lớn) Các hợp kim berili-đồng được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dụng do độ dẫn điện và độ dẫn nhiệt cao, sức bền và độ cứng cao, các thuộc tính không nhiễm từ, cùng với sự chống ăn mòn và khả năng chống mỏi tốt của chúng. Các ứng dụng bao gồm việc sản xuất các điện cực hàn điểm, lò xo, các thiết bị không đánh lửa và các tiếp điểm điện. Do độ cứng, nhẹ và độ ổn định về kích thước trên một khoảng rộng nhiệt độ nên các hợp kim berili-đồng được sử dụng trong công nghiệp quốc phòng và hàng không vũ trụ như là vật liệu cấu trúc nhẹ trong các thiết bị bay cao tốc độ, tên lửa, tàu vũ trụ và vệ tinh liên lạc viễn thông. Các tấm mỏng berili được sử dụng với các thiết bị phát hiện tia X để lọc bỏ ánh sáng và chỉ cho tia X đi qua để được phát hiện. Trong lĩnh vực in thạch bản tia X thì berili được dùng để tái tạo các mạch tích hợp siêu nhỏ. Do độ hấp thụ nơtron nhiệt trên thiết diện vuông của nó thấp nên công nghiệp sản xuất năng lượng hạt nhân sử dụng kim loại này trong các lò phản ứng hạt nhân như là thiết bị phản xạ và điều tiết nơtron. Berili được sử dụng trong các vũ khí hạt nhân vì lý do tương tự. Ví dụ, khối lượng tới hạn của khối plutoni được giảm đi đáng kể nếu nó được bao bọc trong vỏ berili. Berili đôi khi được sử dụng trong các nguồn nơtron, trong đó berili được trộn lẫn với các chất bức xạ alpha như Po210, Ra226 hay Ac227. Berili cũng được dùng trong sản xuất các con quay hồi chuyển, các thiết bị máy tính khác nhau, lò xo đồng hồ và các thiết bị trong đó cần độ nhẹ, độ cứng và độ ổn định kích thước. Ôxít berili là có lợi trong nhiều ứng dụng cần độ dẫn nhiệt tốt cùng độ bền và độ cứng cao, với điểm nóng chảy cao, đồng thời lại có tác dụng như là một chất cách điện. Các hợp chất berili đã từng được sử dụng trong các ống đèn huỳnh quang, nhưng việc sử dụng này đã bị dừng lại do bệnh phổi do nhiễm berili trong số các công nhân sản xuất các ống này (xem dưới đây). Kính thiên văn vũ trụ James Webb (JWST) (Các chi tiết liên quan đến berili có từ NASA ở đây) sẽ có 18 phần lục giác làm từ berili trong các gương của nó. Do JWST sẽ tiếp xúc với nhiệt độ -240 °C (30 K) nên các gương phải làm bằng berili là vật liệu có khả năng chịu được nhiệt độ rất thấp này. Berili co lại và biến dạng ít hơn thủy tinh – và vì thế giữ được tính đồng nhất cao hơn trong các nhiệt độ như thế. == Lịch sử == Tên gọi berili có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp beryllos tức berin. Đã có thời berili được nhắc đến như là glucinium (từ tiếng Hy Lạp glykys, ngọt), do vị ngọt của các muối của nó. Nguyên tố này được Louis Vauquelin phát hiện năm 1798 như là ôxít trong berin và trong ngọc lục bảo. Friedrich Wöhler và Antoine Alexandre Brutus Bussy, độc lập với nhau, đã cô lập được kim loại này năm 1828 bằng cách cho kali phản ứng với clorua berili. == Sự phổ biến == Berili là thành phần thiết yếu trong số 100 trên khoảng 4000 khoáng chất đã biết, quan trọng nhất trong số đó là bertrandit (Be4Si2O7(OH)2), berin (Al2Be3Si6O18), chrysoberin (Al2BeO4) và phenakit (Be2SiO4). Các dạng quý hiếm của berin là ngọc aquamarin và ngọc lục bảo. Cùng với hiđrô, heli và liti, một lượng nhỏ berili cũng đã được tạo ra trong Vụ Nổ Lớn. Nguồn thương mại quan trọng nhất của berili và các hợp chất của nó là berin và bertrandit. Berili kim loại đã không có sẵn cho đến tận năm 1957. Hiện nay, phần lớn sản lượng của kim loại này được thực hiện bằng cách khử florua berili bằng magiê kim loại. Giá của các thỏi berili luyện trong chân không tại thị trường Hoa Kỳ là 338 USD trên một pound (hay 745 USD/kg) vào năm 2001. xem giá cả Cô lập BeF2 + Mg → MgF2 + Be == Đồng vị == Trong số 10 đồng vị của berili thì chỉ có 9Be là ổn định.10Be nguồn gốc vũ trụ được tạo ra trong khí quyển Trái Đất nhờ sự phá vỡ hạt nhân ôxy và nitơ bởi các tia vũ trụ. Do berili có xu hướng tồn tại trong dung dịch có pH nhỏ hơn 5,5 (và phần lớn nước mưa có pH nhỏ hơn 5), nó sẽ đi vào trong dung dịch và được đưa tới mặt đất nhờ các trận mưa. Khi nước mưa trở thành kiềm hơn, Be sẽ thoát ra khỏi dung dịch.10Be nguồn gốc vũ trụ vì thế tích lũy trong lớp đất bề mặt, ở đây do chu kỳ bán rã tương đối lớn của nó (1,51 triệu năm) cho phép nó tồn tại lâu dài trước khi bị phân rã thành 10B.10Be và các sản phẩm con của nó được sử dụng để nghiên cứu xói mòn đất, sự hình thành đất từ regolit, sự phát triển và tiến hóa của các loại đất laterit, cũng như các thay đổi trong hoạt động của Mặt Trời và niên đại của các lõi băng. Một thực tế là 7Be và 8Be không ổn định có ý nghĩa vũ trụ học sâu sắc do nó có nghĩa là các nguyên tố nặng hơn berili không thể sinh ra trong các phản ứng nhiệt hạch trong Vụ Nổ Lớn. Ngoài ra, các mức năng lượng hạt nhân của 8Be là đủ để cacbon có thể được tạo ra trong các ngôi sao, vì thế làm cho sự sống trở thành có thể. (Xem Phương thức ba alpha và Tổng hợp hạt nhân trong Vụ Nổ Lớn). Đồng vị có thời gian tồn tại ngắn nhất đã biết của berili là 13Be nó phân rã theo bức xạ nơtron. Nó có chu kỳ bán rã 2,7 × 10−21 giây.6Be cũng có thời gian tồn tại rất ngắn với chu kỳ bán rã 5,0 × 10−21 giây. == Phòng ngừa == Berili và các muối của nó là các chất có độc tính và có khả năng gây ung thư. Sự phơi nhiễm berili kinh niên sẽ sinh ra các bệnh phổi và các bệnh u hạt trong cơ thể. Bệnh liên quan đến phơi nhiễm berili cấp tính là viêm phổi do hóa chất đã được phát hiện lần đầu tiên ở châu Âu từ năm 1933 và tại Hoa Kỳ từ năm 1943. Các trường hợp bệnh liên quan đến phơi nhiễm kinh niên đã lần đầu tiên được miêu tả năm 1946 trong số các công nhân tại xí nghiệp sản xuất đèn huỳnh quang tại Massachusetts. Bệnh phổi do phơi nhiễm berili kinh niên tương tự như sarcoidosis trong nhiều khía cạnh, và các chẩn đoán thường là rất khó phân biệt. Mặc dù việc sử dụng các hợp chất chứa berili trong các ống đèn huỳnh quang đã bị dừng lại từ năm 1949, nhưng tiềm năng phơi nhiễm berili vẫn tồn tại trong công nghiệp hạt nhân và vũ trụ và trong công nghiệp tinh luyện berili kim loại và sản xuất các hợp kim chứa berili, sản xuất các thiết bị điện và việc tiếp xúc với các vật liệu chứa berili khác. Các nhà nghiên cứu đầu tiên đã nếm berili và nhiều hợp chất khác nhau của nó để xác định độ ngọt nhằm kiểm tra sự hiện diện của nó. Các thiết bị chẩn đoán hiện đại không cần phải có thủ tục đầy nguy hiểm này. Berili và các hợp chất của nó cần được tiếp xúc với một sự cẩn thận cao độ và các phòng ngừa đặc biệt phải được thực thi khi thực hiện bất kỳ một hoạt động nào mà kết quả là tạo ra bụi berili (ung thư phổi là hoàn toàn có khả năng khi bị phơi nhiễm bụi berili lâu dài). == Các tác động tới sức khỏe == Berili có thể có tác hại nếu hít thở phải. Các tác động phụ thuộc vào thời gian phơi nhiễm. Nếu nồng độ berili trong không khí là đủ cao (lớn hơn 1.000 μg/m³), thì các chứng bệnh do phơi nhiễm cấp tính có thể phát sinh, gọi là "bệnh berili cấp tính", tương tự như bệnh viêm phổi. Các tiêu chuẩn về không khí nghề nghiệp và cộng đồng là có hiệu quả trong việc ngăn chặn phần lớn các thương tổn phổi cấp tính. Một số người (1-15%) rất nhạy cảm với berili. Các cá nhân này có thể phát sinh các phản ứng viêm nhiễm trong hệ hô hấp. Các chứng bệnh này gọi là "bệnh berili kinh niên" (CBD), và có thể xảy ra nhiều năm sau khi phơi nhiễm berili nồng độ cao (lớn hơn 0,2 μg/m³). Bệnh này có thể sinh ra các triệu chứng như mệt mỏi, suy yếu, khó thở, biếng ăn, giảm cân và cũng có thể dẫn đến chứng to tim vè bên phải và bệnh tim trong các trường hợp nặng. Một số người tuy nhạy cảm với berili nhưng có thể không có bất kỳ triệu chứng nào. Trong cộng đồng nói chung không có khả năng phát sinh các bệnh berili cấp tính hay kinh niên do thông thường không khí xung quanh có nồng độ berili rất thấp (0,00003-0,0002 μg/m&³). Việc nuốt phải berili vẫn chưa có thông báo nào cho thấy có các tác động xấu tới sức khỏe con người do có rất ít berili được hấp thụ thông qua dạ dày và ruột non. Các vết loét được phát hiện trong cơ thể chó khi trong khẩu phần ăn người ta cho thêm berili vào. Berili tiếp xúc với da bị xước hay bị rách có thể sinh ra các vết phát ban hay vết loét. Phơi nhiễm berili kinh niên có thể tăng khả năng ung thư phổi. Bộ y tế Hoa Kỳ và IARC đã xác định rằng berili là chất gây ung thư ở người. Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) Hoa Kỳ cũng xác định berili là chất có khả năng gây ung thư ở người. EPA cũng ước tính sự phơi nhiễm trong thời gian sống 0,04 μg/m³ berili có thể tăng khả năng bị ung thư trong 1 trên 1.000 thử nghiệm. Hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào về các tác động của berili tới sức khỏe của trẻ em. Có lẽ các tác động này cũng tương tự như ở người lớn. Cũng chưa rõ là trẻ em sẽ khác với người lớn như thế nào trong tính nhạy cảm với berili. Hiện vẫn chưa rõ ràng là berili có khả năng sinh ra quái thai ở người hay không. Berili có thể được đo trong nước tiểu và máu. Lượng berili trong máu hay nước tiểu có thể không phản ánh đúng thời gian và số lượng phơi nhiễm. Nồng độ berili cũng có thể đo trong các mẫu thử phổi và da. Một thử nghiệm máu khác là thử nghiệm sự gia tăng lympho berili trong máu (BeLPT), xác định sự nhạy cảm berili và có giá trị dự báo cho các bệnh phơi nhiễm berili kinh niên (CBD). Các mức thông thường của berili mà các ngành công nghiệp liên quan thải ra khí quyển ở ngưỡng 0,01 μg/m³;, tính trung bình trong chu kỳ 30 ngày, hay 2 μg/m³ đối với không khí trong phòng làm việc trong thời gian 8 giờ làm việc. == Tham khảo == Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos, Hoa Kỳ-Berili == Chú thích == == Liên kết ngoài == Hóa điện toán Wiki It's Elemental – Berili IARC Chuyên khảo "Berili và các hợp chất của berili" NPI - Berili và các hợp chất WebElements.com – Berili
danh sách màn hình với mật độ điểm ảnh.txt
Đây là danh sách thiết bị hiển thị với mật độ điểm ảnh ở pixel trên cm (ppcm) và pixel trên inch (PPI). Thiết bị màn hình có giới hạn số lượng của pixel có thể hiển thị, và không gian hạn chế mà chúng hiển thị. Trên một máy tính xách tay hoặc điện thoại di động, mật độ điểm ảnh cao hơn là do mong muốn, do những thiết bị này dùng để xem gần. Mật độ điểm ảnh thường chỉ xác định chiều ngang vào dọc. Màn hình có mật độ điểm ảnh cao nhất hiện nay tính đến tháng 4 năm 2012, là màn hình 5.2-MP (2.560 x 2.048) 0,61" của MicroOLED, theo tính toán ppi hơn 5.300. == Thiết bị của nhà sản xuất == === Acer === === Ainol === === Alcatel === === Amazon === === Apple === === Asus === === BlackBerry === === Google === === HP === === HTC === === Huawei === === IBM === === Jolla === === LG === === Microsoft === === Motorola Mobility === === Nintendo === === Nokia === === Olipad === === OLPC === === Openmoko === === OpenPandora === === Oppo === === Palm === === Panasonic === === Pioneer === === Pixel Qi === === Samsung === === Sharp === === Sony === === Sony Ericsson === === Tesco === === Toshiba === === Xiaomi === == Màn hình thương mại == === Desktop === === Di động === == Truyền hình == == Màn hình E-ink == (4, 8 hoặc 16 mức độ màu xám) == Máy ảnh kỹ thuật số == == Thiết bị lọc theo kích thước == == Xem thêm == == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết == Tính toán PPI, tính PPI, dot pitch, và kích thước của màn hình hiển thị.
chi cúc.txt
Chi Cúc (danh pháp khoa học: Chrysanthemum) là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc (Asteraceae). Đây là chi bản địa của châu Á và đông bắc châu Âu. Đa số các loài trong chi có nguồn gốc từ Đông Á, trong đó trung tâm đa dạng là Trung Quốc. Có khoảng 40 loài. Danh pháp "Chrysanthemum" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp chrysos (nghĩa là "vàng") and anthemon (nghĩa là "hoa"). Tên này do Carl von Linné đặt vào năm 1753. Chrysanthemum đã được trồng tại Trung Quốc từ 1.500 năm trước Công nguyên. Sau nhiều thế kỷ, số lượng giống cây tăng đã lên rất nhiều. Chrysanthemum có nhiều công năng hữu ích cho cuộc sống của con người như làm hoa trang trí, làm thuốc chữa bệnh, làm phong phú cho đời sống ẩm thực và thậm chí là làm thuốc trừ sâu. Chrysanthemum cũng in đậm dấu ấn vào văn hóa của nhiều quốc gia. == Phân loại học == Trước đây chi này có nhiều loài hơn bây giờ, nhưng vài thập niên trước người ta đã chia chúng ra thành các chi nhỏ như và xếp các loài được trồng có giá trị kinh tế vào chi Dendranthema. Tên chi là vấn đề gây tranh cãi; vào năm 1999, Hệ thống mã danh pháp quốc tế cho thực vật (International Code of Botanical Nomenclature) chọn loài định danh cho chi này là Chrysanthemum indicum (cúc hoa vàng), trả các loài có giá trị kinh tế về chi Chrysanthemum. Một số loài trước đây từng thuộc chi Chrysanthemum nhưng đã được dời sang chi Glebionis. Một số chi được chia ra từ Chrysanthemum là: Argyranthemum, Leucanthemopsis, Leucanthemum, Rhodanthemum và Tanacetum. == Miêu tả == Chrysanthemum dại là những cây lâu năm hoặc cây bụi dạng thảo mộc. Lá cây xếp xen kẽ, chia thành nhiều lá chét thường có mép hình răng cưa. Cụm hoa phức gồm một dãy đầu hoa hoặc thi thoảng là một đầu hoa đơn độc. Đế hoa được bao phủ bởi các lớp lá bắc. Hoa có một hàng hoa con tia (ray floret) màu trắng, vàng hoặc đỏ; tuy nhiên, người ta đã lai tạo được thành nhiều dãy hoa con tia có màu sắc đa dạng. Hoa con trên đĩa (disc floret) của Chrysanthemum dại có màu vàng. Quả của cây là loại quả bế có gân. == Lịch sử == Chrysanthemum được trồng đầu tiên tại Trung Quốc để làm thảo dược từ thế kỷ 15 trước Công nguyên. Ban đầu cây có hoa nhỏ và màu vàng. Sau nhiều thế kỷ gieo trồng, số lượng giống tăng đáng kể. Sách viết về hoa cúc thời nhà Tống ghi chép được 35 giống, đến thời nhà Nguyên đã tăng lên thành 136 giống. Sách Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân thời nhà Minh liệt kê hơn 900 giống cúc. Ngày nay có hơn 3.000 giống ở Trung Quốc. Không rõ từ đâu và từ lúc nào mà giống Chrysanthemum ngoại đã du nhập vào châu Âu. Năm 1764, Hà Lan nhập khẩu giống ngoại nhập đầu tiên từ Nhật Bản. Khoảng 25 năm sau, thuyền trưởng Blanchard mang về Pháp không dưới 1.000 giống. Năm 1798, Đại tá John Stevens nhập Chrysanthemum sinense từ Anh Cách Lan sang trồng tại Hoa Kỳ. == Công năng == === Trang trí === Các giống Chrysanthemum hiện đại có màu sắng đa dạng hơn loài mọc dại; ngoài màu vàng truyền thống thì còn có màu trắng, tím và đỏ. Chi này Chrysanthemum gồm nhiều giống lai. Chrysanthemum được chia làm hai nhóm cơ bản là nhóm chịu rét trồng vườn và nhóm trưng bày. Nhóm chịu rét còn có khả năng nở nhiều hoa nhỏ mà không cần nhiều sự hỗ trợ kỹ thuật, có thể chịu đựng mưa gió. Nhóm trưng bày thì cần qua đông ở nơi tương đối khô, mát và thỉnh thoảng cần được chiếu sáng vào ban đêm. === Ẩm thực === Ở một số nơi thuộc châu Á, hoa Chrysanthemum vàng hoặc trắng thuộc loài C. morifolium được đun với nước để tạo thành thứ nước uống vị ngọt, gọi đơn giản là trà hoa cúc (菊花茶, Hán-Việt: Cúc hoa trà). Ở Triều Tiên, rượu gạo vị hoa cúc được gọi là gukhwaju (tiếng Triều Tiên: 국화주, "Cúc hoa tửu"). Lá cây được hấp hoặc luộc để làm rau ăn, đặc biệt là trong ẩm thực Trung Quốc. Hoa có thể thêm vào canh thịt rắn (蛇羹, Hán-Việt: xà canh) để tăng mùi thơm. Ở Việt Nam, người ta dùng tần ô (C. coronarium) để ăn sống, nấu canh hay nhúng lẩu. Ở Nhật Bản, hoa nhỏ được dùng để bày biện cho món sashimi. === Vị thuốc === Cúc hoa được xem là một vị thuốc. Hai vị thường dùng nhất là cúc hoa trắng và cúc hoa vàng. Theo Tây y, ngoài tinh dầu và nhiều nguyên tố vi lượng, cúc hoa có chứa selen có khả năng khử gốc tự do, chống lão hoá và chứa crom là chất phân giải và bài tiết cholesterol, phòng chống bệnh tim mạch. Theo Đông y, cúc hoa vị ngọt, cay, tác động vào ba đường kinh gồm kinh phế, kinh can và kinh thận. Cúc hoa có tác dụng dưỡng âm, ích can, tán phong thấp, thanh đầu mục, giáng hỏa. Xa xưa, Đông y chủ yếu dùng cúc hoa trắng. Đây là thành phần quan trọng của các bài thuốc "Tang cúc ẩm", "Kỷ cúc địa hoàng hoàn", "Cúc hoa tán",... Chỉ từ nửa cuối thế kỷ 20 thì cúc hoa vàng mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi sau khi con người có thêm hiểu biết hóa dược về nó. Cúc hoa trắng (cam cúc, cúc hoa, cam cúc hoa, bạch cúc hoa [cúc hoa trắng], bạch cúc, chân cúc, dược cúc, tiết hoa, kim tinh; danh pháp hai phần: Chrysanthemum morifolium Ramat): được xếp trong nhóm "Thuốc phát tán phong nhiệt". Tuy Chrysanthemum morifolium màu sắc đa dạng nhưng Đông y thường dùng loại hoa trắng. Cúc hoa trắng vị cay, ngọt, đắng, khí hơi lạnh, vào kinh can và kinh phế, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh nhiệt giải độc. Nghiên cứu cho thấy cúc hoa trắng làm giãn động mạch vành, tăng độ co bóp và hiệu suất sử dụng ôxy của van tim, hạ huyết áp, ức chế nhiều loại vi khuẩn và nấm da,... Cúc hoa vàng (dã cúc hoa, khổ ý, dã sơn cúc, lộ biên cúc, hoàng cúc tử, dã hoàng cúc, quỷ tử cúc, kim cúc, cúc riềng vàng; danh pháp hai phần: Chrysanthemum indicum L.): được xếp trong nhóm "Thuốc thanh nhiệt giải độc". Cúc hoa vàng có vị đắng, cay, khí hơi lạnh, vào kinh can và kinh tâm, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, chữa eczema, lở loét, mề đay, đau họng, đau đầu chóng mặt. Nghiên cứu cho thấy cúc hoa vàng kháng virus, vi khuẩn, giải nhiệt, tăng cường chức năng đại thực bào, hạ huyết áp,... === Thuốc trừ sâu === Pyrethrum (Chrysanthemum [hoặc Spathipappus] cinerariaefolium) là nguyên liệu thiên nhiên quan trọng để pha chế thuốc trừ sâu. Người ta chiết xuất hoạt chất pyrethin trong quả và bán dưới dạng nhựa dầu. Hoạt chất này tác động lên hệ thống thần kinh của côn trùng và ngăn muỗi cái đốt. Ở liều lượng thấp chất này có tác dụng đuổi muỗi. Chất này độc cho cá nhưng ít độc với thú và chim hơn các hóa chất trừ sâu tổng hợp khác. Chất này không bền, có thể bị rữa bởi vi khuẩn hay bị phân hủy dễ dàng khi tiếp xúc với ánh sáng. Các pyrethroid như permethrin là những thuốc trừ sâu tổng hợp dựa trên pyrethrum tự nhiên. === Giảm ô nhiễm === Lá cây được Nghiên cứu về làm sạch không khí của NASA chứng minh là có thể làm giảm ô nhiễm không khí trong nhà. == Trong văn hóa == Ở một số quốc gia châu Âu như Pháp, Bỉ, Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan, Hungary, Croatia, Chrysanthemum bẻ cong là biểu tượng của cái chết và chỉ được dùng trong các đám tang hoặc đặt trên mộ; tương tự, ở Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên, hoa Chrysanthemum trắng là biểu tượng của tiếng than khóc và/hoặc nỗi sầu khổ. Cúc trắng còn biểu tượng cho lòng chân thành. === Văn hóa phương Đông === ==== Trung Quốc ==== Cúc là một trong "Tứ quân tử" (四君子) của văn hóa Trung Quốc (cùng với Mai, Lan và Trúc) và là biểu tượng của tính thanh cao. Hoa cúc cũng là một trong bốn loài hoa biểu tượng cho bốn mùa trong năm. Hoa cúc là chủ đề cho nhiều bài thơ của Trung Quốc. Thi sĩ Đào Tiềm nổi tiếng vì niềm yêu hoa cúc. Thi phẩm "Ẩm tửu" kỳ 5 (飲酒其五) của ông có câu: Lễ hội hoa cúc được tổ chức hàng năm ở Đồng Hương, gần Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Trấn Tiểu Lãm (小榄镇) ở thành phố Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông là một đô thị cổ có tên cũ là "Cúc thành", nghĩa là "thành phố hoa cúc". Cổ nhân Trung Hoa tin rằng hoa cúc (có khả năng chịu rét tốt) chắc hẳn thu được "tinh khí của đất trời" nên chắc chắn có ích lợi cho sức khỏe. Một quyển sách từ thời nhà Hán có kể về bí quyết của dân một làng thuộc tỉnh Hà Nam, nhờ uống nước suối có cánh hoa cúc mà trường thọ. Cây hoa cúc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong dịp Tết Trùng cửu. ==== Hàn Quốc ==== Thi ca: Dưới thời nhà Triều Tiên, hoa cúc là điểm tựa tinh thần và là cảm hứng nghệ thuật của giới trí thức. Ngoài ra, cúc còn được xem là loại hoa có thể xua đi nỗi ưu phiền và được người Triều Tiên gọi là 忘憂物 (Hán-Việt: Vong ưu vật). Thời hiện đại, nhà thơ nổi tiếng Hàn Quốc là Seo Jeong-ju có thi phẩm "Bên hoa cúc" (tiếng Triều Tiên: 국화 옆에서) sáng tác năm 1947. Trong bài thơ này, tác giả đã thông qua hình ảnh hoa cúc trải qua hai mùa xuân và hạ để nở vào mùa thu để liên hệ đến tinh thần bền bỉ của người chị gái Trích một đoạn: Lễ hội: Tương tự truyền thống của Trung Quốc, cúc cũng là loại hoa được yêu quý tại Hàn Quốc. Nước này có một số lễ hội hoa cúc đã được tổ chức vào mùa thu như: Lễ hội hoa cúc Masan Gogopa (tỉnh Gyeongsang Nam), Lễ hội hoa cúc Mười triệu (thành phố Iksan, tỉnh Jeolla Bắc), Lễ hội hoa cúc Gochang,... ==== Nhật Bản ==== Hoa cúc là biểu tượng của hoàng gia Nhật Bản. Ngai hoa cúc là tên chỉ ngai vàng của Thiên hoàng Nhật Bản. Kikukamonshō (菊花紋章 (Cúc hoa văn chương), Huy hiệu hoa cúc) là từ chung để chỉ biểu tượng nhận diện gia đình có hình hoa cúc ở Nhật Bản. Con dấu Hoàng gia Nhật Bản là một ví dụ nổi bật. Có nhiều điện thờ trước đây nhận tiền từ nhà nước cũng dùng huy hiệu hình hoa cúc, nổi tiếng nhất là Đền Yasukuni ở Tokyo. Huân chương Hoa cúc Tối cao là danh hiệu do Thiên hoàng trao tặng. Mùa thu hàng năm, thành phố Nihonmatsu, tỉnh Fukushima lại tổ chức "Triển lãm búp bê hoa cúc Nihonmatsu" tại phế tích Lâu đài Nihonmatsu. Thời Đế quốc Nhật Bản, các vũ khí nhỏ phải có dấu Hoa cúc hoàng gia vì chúng được xem là tài sản riêng của Thiên Hoàng. Dịp Trùng cửu ở Nhật, tức Chōyō (重陽 (Trùng dương), Chōyō) còn có tên khác là Lễ hội hoa cúc, tức Kiku no Sekku (菊の節句, Kiku no Sekku). Ngày nay vẫn còn tục thưởng lãm hoa cúc vào ngày này. ==== Việt Nam ==== Thi ca: cúc được xem là biểu tượng của ẩn sĩ và sự thanh cao hay của quê hương, được các nhà thơ Việt Nam đưa vào tác phẩm từ nhiều thế kỷ qua, như Trần Khắc Chung, Huyền Quang, Phạm Mại, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến,... Trần Khắc Chung (hiệu Cúc Ẩn) được xem là người tiên phong trong thơ vịnh cúc của Việt Nam. Thời Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt, ông làm thơ kêu gọi người khác phò vua giúp nước thay vì hưởng nhàn: Bài "Thơ tình cuối mùa thu" của nữ sĩ Xuân Quỳnh có đề cập đến hoa cúc mùa thu: (...) Mùa thu ra biển cả Theo dòng nước mênh mông. Mùa thu vào hoa cúc Chỉ còn anh và em (...) Âm nhạc: nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã phổ nhạc cho bài thơ "Thơ tình cuối mùa thu". === Văn hóa phương Tây === ==== Hoa Kỳ ==== Năm 1966, hoa cúc được Thị trưởng Richard J. Daley công nhận là hoa chính thức của thành phố Chicago, Illinois. Hoa cúc cũng là hoa chính thức của thành phố Salinas, California. ==== Úc ==== Tại Úc, người ta tặng mẹ hoa cúc nhân dịp Ngày của Mẹ (rơi vào mùa thu tháng 5 ở bán cầu nam). Đàn ông thi thoảng đeo hoa cúc trên ve áo để vinh danh mẹ. == Danh sách loài == Chi Chrysanthemum gồm các loài: Chrysanthemum aphrodite Chrysanthemum arcticum Chrysanthemum argyrophyllum Chrysanthemum arisanense Chrysanthemum boreale Chrysanthemum chalchingolicum Chrysanthemum chanetii Chrysanthemum cinerariaefolium Chrysanthemum coccineum Chrysanthemum coronarium Chrysanthemum crassum Chrysanthemum glabriusculum Chrysanthemum horaimontanum Chrysanthemum hypargyrum Chrysanthemum indicum Chrysanthemum japonense Chrysanthemum japonicum Chrysanthemum lavandulifolium Chrysanthemum mawii Chrysanthemum maximowiczii Chrysanthemum mongolicum Chrysanthemum morifolium Chrysanthemum morii Chrysanthemum naktongense Chrysanthemum okiense Chrysanthemum oreastrum Chrysanthemum ornatum Chrysanthemum pacificum Chrysanthemum potentilloides Chrysanthemum rhombifolium Chrysanthemum sinense Chrysanthemum shiwogiku Chrysanthemum sinuatum Chrysanthemum vestitum Chrysanthemum weyrichii Chrysanthemum yoshinaganthum Chrysanthemum zawadskii == Hình ảnh == == Xem thêm == Trà hoa cúc == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Chrysanthemum tại Wikimedia Commons Dữ liệu liên quan tới Chrysanthemum tại Wikispecies
mỏ bạc iwami ginzan.txt
Mỏ bạc Iwami Ginzan (tiếng Nhật: 石見銀山) là một mỏ bạc thuộc tỉnh Shimane, đảo Honshū, Nhật Bản. Nó được UNESCO chọn vào danh sách di sản thế giới (văn hóa) năm 2007. == Lịch sử == Mỏ bạc này được phát triển năm 1526 bởi một thương gia Nhật Bản tên Kamiya Jutei. Mỏ này đạt năng suất cao nhất vào khoảng 38 tấn mỗi năm vào đầu thế kỉ 17 và đứng thứ 3 trên thế giới thời đó. Bạc từ mỏ được dùng để đúc tiền một cách rộng rãi. Mỏ này bị các lãnh chúa cạnh tranh nhau gay gắt cho đến khi mạc phủ Tokugawa giành được quyền kiểm soát nó vào năm 1600 sau trận Sekigahara. Mỏ này sau đó được bảo vệ bởi hàng rào và các cây thông. Thành trì Yamabuki được xây ở trung tâm của quần thể. Việc sản xuất bạc ở mỏ chấm dứt ở thế kỉ 19 khi nó bị cạnh tranh bởi các mỏ khác và sau đó mỏ này bị đóng cửa. == Di sản thế giới == Vài phần của khu mỏ hiện còn giữ được hiện trạng tốt và chính phủ Nhật Bản quyết định đưa mỏ này trở thành một khu bảo tồn đặc biệt thuộc nhóm các công trình lịch sử. Chính phủ nước Nhật cũng đề cử nó trở thành di sản thế giới và sau đó được chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2007. == Xem thêm == Du lịch Nhật Bản == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Iwami-Ginzan Silver Mine site
giáo hoàng luciô i.txt
Luciô I (Tiếng Latinh: Lucius I) là người kế nhiệm Giáo hoàng Cornelius và là vị Giáo hoàng thứ 22 của Giáo hội Công giáo. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông lên ngôi Giáo hoàng vào năm 253 và ở ngôi trong 6 tháng. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông bắt đầu vào ngày 25 tháng 6 năm 253 và kết thúc vào ngày 5 tháng 3 năm 254. = Giáo hoàng = Lucius sinh tại Roma tuy nhiên ngày sinh của ông không được xác định. Không có gì để có thể biết về gia đình của ông ngoại trừ tên của người cha là Porphyrianus – được ghi trong Liber Pontificalis. Cuộc bầu cử của ông diễn ra trong thời gian xảy ra cuộc bách hại đạo Ki-tô, nguyên nhân của việc lưu đày Giáo hoàng tiền nhiệm Cornelius. Ông đã được bầu khi Cornelius qua đời, nhưng gần như ngay lập tức, theo lệnh của hoàng đế Trêbônianô Gallê, ông bị trục xuất và bị đi đày. Tuy nhiên sau khi Gallê bị ám sát, ông đã được phép quay trở lại Rô-ma vì hoàng đế mới là Valêrianô ít thù địch hơn với các Ky-tô hữu. Lập trường của Lucius phù hợp với vị tiền nhiệm là Giáo hoàng Cornelius. Ông không chống đối việc trở về trong lòng Giáo hội của những người hối cải từ cuộc bách hại của Đêciô, nên ông đã trở thành mục tiêu công kích của những người theo phái Novatianus, đến nỗi giám mục Cyprian lên tiếng bênh vực. Ông đã được biểu dương trong một là thư của Cyprian (xem Epist. Lxviii. 5) về việc lên án bè phái Novationists khi họ không nhận những người đã chối đạo trong các cuộc bách hại quy trở lại. Vốn tính khắc khổ, ông nghiêm cấm các giáo hữu nam nữ không được chung sống một nhà, nếu không có quan hệ huyết nhục với nhau và cũng chỉ thị các giáo sĩ không nên sống chung một nhà với các nữ phó tế, dù chỉ là cho ở trọ vì lý do bác ái. Ngài chống đối việc nới lỏng các vấn đề luân lý mà các giáo sĩ cao cấp vấp phải, chẳng hạn như việc ăn ở với nhau như vợ chồng của các nữ phó tế với các thành viên trong hàng giáo sĩ ngày càng phổ biến. = Cái chết và chôn cất = Đức Lucius chết tự nhiên. Ngày kỷ niệm của ông trong Roman Martyrology là ngày 5 tháng 3 với những dòng: " Trong nghĩa trang St Callistus trên đường Via Appia, Rô-ma đã chôn cất Lucius, giáo hoàng, người kế nhiệm thánh Cornelius. Ngài đã chịu tha hương cho đức tin Ki-tô và đã chết như một chứng nhân tiêu biểu". Ông đã được chôn cất tại nghĩa trang St Callixtus. Sau đó, chúng được di chuyển tới nhà thờ Santa Cecilia ở Trastevere, cùng với hài cốt của thánh Cecilia và những người khác. Đầu của ông được bảo quản trong một hòm thánh tích ở nhà thờ St Ansgar tại Copenhagen, Đan Mạch. Di tích này đã được đưa đến Roskilde vào khoảng 1100, sau khi thánh Lucius được công bố làm vị bảo trở của vùng Zealand, Đan Mạch. == Chú thích == = Tham khảo = Pope Thánh Lucius I, Wikipedia Tiếng Anh [1] 265 Đức Giáo hoàng, Thiên Hựu Nguyễn Thành Thống, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản tháng 5 năm 2009. Thánh Lucius I, Các vị Giáo hoàng của giáo hội toàn cầu, hội đồng giám mục Việt Nam [2] Tóm lược tiểu sử các Đức Giáo hoàng, Đà Nẵng 2003,Jos. TVT chuyển ngữ từ Tiếng Anh. == Liên kết ngoài == Opera Omnia
bảng chữ cái hy lạp.txt
Bảng chữ cái Hy Lạp là hệ thống 24 ký tự được dùng để viết tiếng Hy Lạp từ cuối thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên hoặc đầu thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên. Theo nghĩa hẹp đây là bảng chữ cái đầu tiên và lâu đời ghi mỗi nguyên âm và phụ âm bằng một biểu tượng riêng. Nó cũng được sử dụng như vậy cho đến ngày nay. Những chữ cái này cũng được dùng trong bảng số Hy Lạp từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Bảng chữ cái Hy Lạp được kế thừa từ Bảng chữ cái Phoenicia, và nó không hề liên quan đến hệ thống chữ viết trước của Hy Lạp là Linear B hay Cypriot. Nó cũng là nền tảng cho nhiều bảng chữ cái khác ở châu Âu và Trung Đông, bao gồm cả bảng chữ cái Latinh. Ngoài việc được sử dụng để viết tiếng Hy Lạp hiện đại, ngày nay các chữ cái này cũng được dùng như những biểu tượng Toán và khoa học, Vật lý hạt trong Vật lý, hay tên các ngôi sao, tên của các cơn bão nhiệt đới siêu cấp và trong những mục đích khác. == Ký tự chính == Dưới đây là bảng chữ cái Hy Lạp, cùng với dạng của nó sau khi đã chuyển tự. Bảng này cũng cung cấp các ký tự Phoenicia tương ứng với mỗi chữ cái Hy Lạp. Phát âm sử dụng Bảng mẫu tự phiên âm quốc tế. == Ký tự không dùng nữa == Những chữ cái sau đây không nằm trong bảng chữ cái Hy Lạp tiêu chuẩn, nhưng đã được sử dụng vào thời tiền cổ và trong một số thổ ngữ nhất định. Những chữ cái: digamma, stigma, heta, san, koppa, sampi, sho; cũng được sử dụng trong bảng số Hy Lạp. == Tham khảo == Elsie, Robert (1991). “Albanian Literature in Greek Script: the Eighteenth and Early Nineteenth-Century Orthodox Tradition in Albanian Writing” (PDF 0.0 bytes). Byzantine and Modern Greek Studies 15 (20). Humez, Alexander; Nicholas Humez (1981). Alpha to omega: the life & times of the Greek alphabet. Godine. ISBN 0-87923-377-X. — A popular history, more about Greek roots in English than about the alphabet itself. Jeffery, Lilian Hamilton (1961). The local scripts of archaic Greece: a study of the origin of the Greek alphabet and its development from the eighth to the fifth centuries B.C. Oxford. ISBN 0-19-814061-4. Macrakis, Michael S. (ed.) (1996). Greek letters: from tablets to pixels: proceedings of a conference sponsored by the Greek Font Society. Oak Knoll. ISBN 1-884718-27-2. — Includes papers on history, typography, and character coding by Hermann Zapf, Matthew Carter, Nicolas Barker, John A. Lane, Kyle McCarter, Jerôme Peignot, Pierre MacKay, Silvio Levy, et al. Hansen and Quinn (1992 - especially noted for an excellent discussion on traditional accents and breathings, as well as verbal formation). Greek - An Intensive Course, Second Revised Edition. Fordham University Press. Powell, Barry B. (1991). Homer and the Origin of the Greek Alphabet. — discusses dating, early inscriptions, and ties to origin of texts of Homer. ISBN 0-521-58907-X Macrakis, Stavros M. (1996). Character codes for Greek: Problems and modern solutions. — Includes discussion of the Greek alphabet used for languages other than Greek. C. J. Ruijgh (1998) Sur la date de la création de l’alphabet grec. Mnemosyne 51, 658–687 == Chú thích == == Liên kết ngoài == U0370.pdf Phạm vi Hy Lạp (tiếng Anh) Examples of Greek handwriting (tiếng Anh) Greek Unicode Issues (tiếng Anh) Unicode FAQ - Greek Language and Script (tiếng Anh) Unicode alphabetic test for Greek Unicode range (tiếng Anh) Unicode numeric test for Greek Unicode range (tiếng Anh) Unicode review for all Greek-related Unicode ranges (tiếng Anh)
barack obama.txt
Barack Hussein Obama II (IPA: /bəˈɹɑk oʊˈbɑː.mə/; sinh ngày 4 tháng 8 năm 1961) là tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ. Ông là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ này, cụ thể là vào ngày 20 tháng 1 năm 2009. Lớn lên ở Honolulu, Hawaii, cá nhân ông thừa hưởng những nền văn hoá Phi-Âu-Á-Mỹ của thế giới từ thuở thiếu thời, Obama tốt nghiệp Viện Đại học Columbia và Trường Luật Viện Đại học Harvard, nơi ông từng là chủ tịch Harvard Law Review. Obama có thiên hướng hoạt động vì cộng đồng từ thời thanh niên và hoạt động cộng đồng tại Chicago trước khi nhận văn bằng luật, rồi làm luật sư về dân quyền và dạy luật hiến pháp tại Trường Luật Viện Đại học Chicago từ năm 1992 đến 2004. Ông phục vụ ba nhiệm kỳ đại diện cho Hạt 13 tại Thượng viện Tiểu bang Illinois từ năm 1997 đến 2004. Năm 2000, ông ứng cử vào Viện Dân biểu Hoa Kỳ nhưng thất bại. Năm 2004, Obama gây tiếng vang toàn quốc khi đọc bài diễn văn then chốt tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ vào tháng 7, sau đó vào tháng 11, ông đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống khởi đầu từ năm 2007, đến năm 2008, Obama thắng sít sao Hillary Rodham Clinton để nhận sự đề cử của Đảng Dân chủ. Ông đánh bại ứng cử viên Cộng hòa John McCain trong cuộc tổng tuyển cử, và tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ ngày 20 tháng 1 năm 2009. Chín tháng sau, Obama được trao giải Nobel Hòa bình. Trong nhiệm kỳ đầu, những sáng kiến của Obama nhằm kích thích nền kinh tế dẫn đến việc ban hành Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư (2009), Đạo luật Giảm thuế và Tạo việc làm (2010) hầu có thể ứng phó với cuộc suy thoái tại Mỹ giai đoạn 2007-2009; ông cũng ký ban hành Đạo luật chăm sóc và bảo vệ bệnh nhân hợp túi tiền; Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng; Bãi bỏ đạo luật Don’t Ask, Don’t Tell Repeal Act (2010). Tháng 1 năm 2011, Đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Viện Dân biểu sau khi Đảng Dân chủ mất 63 ghế, tiếp đó bùng nổ một cuộc tranh luận kéo về chi tiêu liên bang và về quyết định nên hay không nâng cao mức nợ quốc gia, Obama ký ban hành Đạo luật Kiểm soát Ngân sách 2011 và Đạo luật American Taxpayer Relief 2012. Tháng 11 năm 2012, Obama đánh bại ứng viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney và tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai ngày 20 tháng 1 năm 2013. Obama là ứng cử viên Dân chủ đầu tiên kể từ Franklin D. Roosevelt chiến thắng trong hai cuộc bầu cử tổng thống với đa số phiếu phổ thông. Trong nhiệm kỳ này, Obama chú trọng đến các chính sách nội địa như gia tăng biện pháp kiểm soát vũ khí sau khi xảy ra vụ thảm sát Trường tiểu học Sandy Hook, kêu gọi người dân Mỹ có thái độ cởi mở hơn đối với cộng đồng LGBT, hối thúc Tối cao Pháp viện tuyên bố vi hiến những cấm đoán hôn nhân đồng tính tại một số tiểu bang. Về đối ngoại, Obama ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ can thiệp tại Iraq nhằm đối phó với những thắng lợi của ISIS sau khi người Mỹ rút quân khỏi Iraq trong năm 2011, chấm dứt những cuộc hành quân ở Afghanistan, cổ xúy những cuộc thảo luận dẫn đến Hiệp ước Paris 2015 về biến đổi khí hậu toàn cầu, đàm phán với Iran để ký thỏa ước hạt nhân, và bình thường hóa bang giao với Cuba. == Thiếu thời == Chào đời ngày 4 tháng 4 năm 1961 tại Bệnh viện Phụ sản Kapi’olani (nay là Trung tâm Y tế Kap’olani cho Phụ nữ và Nhi đồng) ở Honolulu, Hawaii, Obama là tổng thống đầu tiên sinh tại Hawaii. Mẹ của Obama, Stanley Ann Dunham, sinh tại Wichita, Kansas thuộc dòng dõi Anh. Cha của Obama, Barack Obama, Sr., là người bộ tộc Luo ở Nyan’oma Kogelo, Kenya. Bố mẹ Obama gặp nhau năm 1960 trong lớp học tiếng Nga tại Đại học Hawai’I tại Mānoa; cha của Obama được cấp học bổng theo học tại đây. Hai người kết hôn tại Wailuku ở Maui ngày 2 tháng 2 năm 1961, rồi ly thân khi mẹ Obama đem con trai mới sinh tới Seattle, Washington vào cuối tháng 8 năm 1961 để theo học tại Đại học Washington trong một năm. Cùng lúc, Obama, Sr. nhận văn bằng tốt nghiệp về kinh tế học tại Hawaii vào tháng 6 năm 1962, rồi nhận học bổng đến học cao học tại Đại học Harvard. Tháng 3, 1964, hai người ly hôn. Obama Sr. trở về Kenya trong năm 1964 và tái hôn; ông chỉ đến Hawaii thăm con trai một lần duy nhất trong năm 1982. Ông chết trong một tai nạn xe hơi năm 1982. Năm 1963, Dunham gặp Lolo Soetoro, một sinh viên người Indonesia tốt nghiệp môn địa lý tại Trung tâm Đông-Tây thuộc Đại học Hawaii, họ kết hôn với nhau tại Molokai ngày 15 tháng 3 năm 1965. Sau một năm gia hạn visa J-1, năm 1966, Lolo trở về Indonesia, 16 tháng sau Dunham đem con trai đến sống với chồng tại khu Menteng Dalam ở phía nam Jakarta, từ năm 1970 họ dọn đến một khu sung túc hơn ở trung tâm Jakarta. Từ 6 đến 10 tuổi, Obama theo học tại những trường nói tiếng Indonesia: Trường Công giáo St Francis of Asisi trong hai năm, và Trường Công lập Besuki, cậu cũng học thêm tiếng Anh từ bà mẹ. Năm 1971, Obama trở về Honolulu sống với ông bà ngoại, Madelyn và Stanley Dunham, cậu giành được một học bổng vào Trường Punahou, một trường tư thục, và học ở đây từ lớp năm cho đến khi tốt nghiệp năm 1979. Từ năm 1972 đến 1975, Ann Dunham nghiên cứu môn nhân học tại Đại học Hawaii, nhờ đó mà cậu có cơ hội sống gần mẹ và em gái. Obama quyết định ở lại Hawaii với ông bà ngoại để tiếp tục chương trình học tại Trường Punahou khi mẹ cậu, đem theo em gái, quay về Indonesia trong năm 1975 để nghiên cứu thực địa. Trong gần hai thập niên kế tiếp, Ann sống ở Indonesia, ly dị Lolo năm 1980, lấy bằng Tiến sĩ năm 1992, trước khi qua đời năm 1995 tại Hawaii do bệnh ung thư buồng trứng và ung thư tử cung. Về thời thơ ấu của mình, Obama nhắc lại, "Bố tôi trông không giống những người xung quanh – ông đen như nhọ nồi, mà mẹ tôi trắng như sữa – tôi chỉ nhớ như thế." Ông cũng miêu tả những nỗ lực thời thanh niên để thích ứng với những định kiến xã hội về nguồn gốc đa chủng tộc của mình. Nhưng khi nhớ về những năm sống ở Honolulu khi tuổi đời tăng dần, Obama viết: "Cơ hội Hawaii mà đã cống hiến – trải nghiệm một nền văn hóa đa dạng trong một môi trường sống tôn trọng lẫn nhau – đã trở thành một phần không thể thiếu trong nhân sinh quan của tôi, và là nền tảng cho những giá trị thân thiết nhất mà tôi luôn nắm giữ." Obama cũng kể về việc cậu dùng rượu, marijuana, và cocaine khi còn là một thiếu niên để "tống khứ khỏi tâm trí câu hỏi tôi là ai". Tại Civil Forum on the Presidency năm 2008, Obama bày tỏ sự ân hận vì đã dùng ma túy trong những ngày ở trường trung học. Sau khi tốt nghiệp trung học, năm 1979, Obama vào Đại học Occidental ở Los Angeles. Năm 1981, Obama theo học khoa học chính trị, chuyên ngành quan hệ quốc tế tại Đại học Columbia ở Thành phố New York, tốt nghiệp với văn bằng cử nhân năm 1983, làm việc một năm cho Business International Corporation, rồi New York Public Interest Research Group. === Chicago và Trường Luật Harvard === Hai năm sau khi tốt nghiệp, Obama trở thành giám đốc Đề án Phát triển Cộng đồng, một tổ chức liên kết với giáo hội bao gồm 8 giáo xứ Công giáo tại Roseland, West Pullman, và Riverdale thuộc khu South Side, Chicago, và hoạt động trong khu vực này như là một nhà tổ chức cộng đồng từ tháng 6 năm 1985 đến tháng 5 năm 1988. Ông giúp thiết lập một chương trình huấn nghiệp, một chương trình dự bị đại học, và một tổ chức bảo vệ quyền lợi người thuê nhà thuộc đề án Algeld Gardens. Obama cũng đảm nhận chức trách tư vấn viên và hướng dẫn viên cho Tổ chức Gamaliel, một học viện về tổ chức cộng đồng. Đến giữa năm 1988, lần đầu tiên ông đến châu Âu, lưu lại đây ba tuần, rồi đến ở Kenya trong năm tuần để gặp gỡ nhiều thân nhân bên họ nội, đây là lần đầu tiên họ gặp nhau. Năm 1922, Obama trở lại Kenya với hôn thê, Michelle, và em gái Auma, rồi đến Kenya lần thứ ba vào tháng 8 năm 2006 để thăm nơi sinh trưởng của cha, một ngôi làng gần Kisumu, phía tây Kenya. Cuối năm 1988, Obama vào Trường Luật Harvard, rồi được chọn làm biên tập viên cho tờ Harvard Law Review vào cuối năm thứ nhất, và chủ tịch của tờ tạp chí vào năm học thứ hai. Vào những dịp hè, ông trở về Chicago, làm việc tại công ty luật Sidley Austin năm 1989, và Hopkins & Sutter năm 1990. Sau khi tốt nghiệp năm 1991 với văn bằng tiến sĩ (J. D.) hạng ưu từ Harvard, ông về Chicago. Obama là người da đen đầu tiên được bầu vào chức chủ tịch tạp chí Harvard Law Review nên đã gây nhiều chú ý, nhờ đó mà có được hợp đồng cho một quyển sách viết về mối quan hệ chủng tộc, được phát triển thành một cuốn hồi ký, xuất bản vào giữa năm 1995 với tựa đề Dreams from My Father. === Đại học Chicago và luật sư dân quyền === Để có thể hoàn thành quyển sách đầu tiên của mình, ông được cấp học bổng và một văn phòng để viết sách, năm 1991, Obama nhận một vị trí thỉnh giảng về Luật học và Chính quyền học tại Trường Luật Đại học Chicago. Rồi ông giảng dạy môn luật hiến pháp tại Trường Luật Đại học Chicago suốt mười hai năm trong cương vị giảng viên (1992 – 1996), và giảng viên chính (1996 – 2004). Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1992, Obama lãnh đạo tổ chức Project Vote với mười nhân viên và bảy trăm tình nguyện viên, nhắm đến mục tiêu vận động từ 150 000 đến 400 000 người Mỹ gốc Phi trong tiểu bang Illinois đăng ký bầu cử. Năm 1993, Obama làm việc cho công ty luật Davis, Miner, Barnhill & Garland chuyên về dân quyền và phát triển kinh tế khu dân cư. Từ năm 1994 đến 2002, Obama được bổ nhiệm vào ban giám đốc Woods Fund of Chicago, năm 1985 tổ chức này gây quỹ cho Đề án Phát triển Cộng đồng. Ông cũng có tên trong ban giám đốc Chicago Annenberg Challenge từ năm 1995 – 2002, là chủ tịch sáng lập và chủ tọa ban giám đốc từ năm 1995-1999. == Nghị trường: 1997 – 2008 == === Thượng nghị sĩ Tiểu bang: 1997 – 2004 === Obama đắc cử vào Thượng viện Illinois năm 1996, kế nhiệm Thượng nghị sĩ Alice Palmer đại diện cho hạt 13 của Illinois. Ông giành được sự ủng hộ từ hai đảng cho những nỗ lực cải cách luật lệ về y tế và đạo đức. Năm 2001, trong cương vị đồng chủ tọa một ủy ban hỗn hợp, Obama ủng hộ Thống đốc Ryan thuộc đảng Cộng hòa ban hành những quy định về tín dụng nhằm ngăn chặn những vụ tịch biên nhà thế chấp. Năm 1988, Obama tái đắc cử vào Thượng viện bang Illinois sau khi đánh bại ứng viên đảng Cộng hòa Yessee Yehudah, rồi lại đắc cử lần nữa năm 2002. Trước đó, trong năm 2000, Obama thất bại trước Bobby Rush trong nỗ lực tranh một ghế trong Viện Dân biểu Hoa Kỳ. Tháng 1, 2003, Obama trở thành chủ tịch Ủy ban Y tế và Dân sinh tại Thượng viện Illinois khi đảng Dân chủ giành được thế đa số sau một thập niên là đảng thiểu số. Ông bảo trợ và vận động thông qua đạo luật giám sát việc thực thi luật pháp dựa trên sự phân loại chủng tộc bằng cách yêu cầu cảnh sát báo cáo chủng tộc những người lái xe mà họ bắt giữ, và đạo luật bắt buộc ghi hình các cuộc thẩm vấn trong những vụ án sát nhân. Tháng 11, 2004, Obama từ nhiệm khỏi Thượng viện Illinois sau khi đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ. === Tranh cử vào Thượng viện Hoa Kỳ === Tháng 5, 2002, Obama mở một cuộc thăm dò về triển vọng cho cuộc đua vào Thượng viện Hoa Kỳ, thành lập ban vận động, khởi sự gây quỹ, và tuyển dụng cố vấn chính trị David Axelrod. Đến tháng 1 năm 2003, ông chính thức tuyên bố tranh cử. Ngay từ đầu, Obama phản đối chính phủ George W. Bush về vụ xâm lăng Iraq năm 2003. Ngày 2 tháng 10 năm 2002, ngày Tổng thống Bush và Quốc hội đồng thuận về nghị quyết tiến hành chiến tranh, ông công khai bày tỏ lập trường chống đối trong một lần nói chuyện tại một cuộc tụ họp chống chiến tranh Iraq. Trong một cuộc tụ họp khác vào tháng 3 năm 2003, Obama nói với đám đông rằng "đã quá trễ" để dừng cuộc chiến này. Có 15 ứng viên thuộc hai đảng Cộng hòa và Dân chủ tham dự cuộc đua, nhưng với chiến thắng áp đảo trong vòng bầu cử sơ bộ, Obama đột ngột trở thành ngôi sao đầy triển vọng của Đảng Dân chủ trên chính trường liên bang. Bắt đầu xuất hiện những suy diễn về triển vọng tranh cử tổng thống, nhờ đó mà quyển hồi ký của ông, Dreams from My Father, được tái bản. Đến tháng 7 năm 2004, Obama đọc bài diễn văn then chốt tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ năm 2004, có 9,1 triệu người xem. Bài diễn văn tạo tiếng vang và vị trí của Obama trong đảng Dân chủ được nâng cao. Tháng 6, 2004, đối thủ thuộc đảng Cộng hòa, Jack Ryan, rút lui khỏi cuộc đua. Sáu tuần lễ sau, Alan Keyes nhận sự đề của đảng Cộng hòa thay thế vị trí của Ryan. Trong cuộc tổng tuyển cử tháng 11 năm 2004, Obama chiếm 70% tổng số phiếu bầu. === Thượng viện Hoa Kỳ: 2005 – 2008 === Ngày 3 tháng 1 năm 2005, Obama tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ, là thành viên duy nhất của Câu lạc bộ Nghị sĩ Liên bang Da đen đến từ Thượng viện Hoa Kỳ. CQ Weekly, căn cứ trên bảng phân tích những biểu quyết của Obama tại Thượng viện từ năm 2005 – 2007, xếp ông vào thành phần "đảng viên Dân chủ trung kiên". Ngày 13 tháng 11 năm 2008, Obama tuyên bố từ nhiệm từ ngày 16 tháng 11 năm 2008 để tập trung cho giai đoạn tiếp nhận chức vụ tổng thống. === Lập pháp === Obama bảo trợ Đạo luật Secure America and Orderly Immigration, và giới thiệu hai dự luật mang tên ông: Lugar-Obama, và Đạo luật Federal Funding Accountability and Transparency năm 2006 thiết lập USAspending.gov, một công cụ tìm kiếm trên internet về chi tiêu liên bang. Ngày 3 tháng 6 năm 2008, Obama – cùng các thượng nghị sĩ Tom Carper, Tom Coburn, và John McCain – đệ trình một dự luật giám sát chi tiêu của liên bang: Đạo luật Strengthening Transparency and Accountability in Federal Spending 2008. Obama cũng bảo trợ một dự luật đòi hỏi chủ nhân những nhà máy hạt nhân phải thông báo cho giới hữu trách tiểu bang và địa phương về tình trạng rò rỉ phóng xạ, nhưng không được Thượng viện thông qua. Tháng 1, 2007, Obama đệ trình dự luật Deceptive Practices and Voter Intimidation Prevention nhằm buộc tội hình sự các thủ đoạn lừa đảo trong những cuộc bầu cử liên bang, và Iraq War De-Escaltion 2007, nhưng cả hai dự luật này đều không được thông qua. Tháng 12 năm 2006, Tổng thống Bush ký ban hành Đạo luật Xúc tiến Dân chủ, An ninh, Cứu tế tại Cộng hòa Dân chủ Congo, đánh dấu nỗ lực đầu tiên của Chính phủ liên bang được khởi xướng bởi Obama. Cuối năm 2007, Obama bảo trợ một tu chính nhằm tăng thêm sự bảo trợ dành cho quân nhân giải ngũ do rối loạn nhân cách. Tu chính này được Thượng viện thông qua vào mùa xuân năm 2008. Ông cũng bảo trợ một tu chính cho Chương trình Y tế dành cho trẻ em, cung ứng một năm bảo trợ việc làm cho các thành viên gia đình đang chăm sóc thương binh. === Các ủy ban === Trong năm 2006, Obama có chân trong các ủy ban Thượng viện như Ngoại giao, Môi trường và Tiện ích công và Cựu Chiến binh. Tháng 1 năm 2007, ông rời Ủy ban Môi trường và Tiện ích công, nhận nhiệm vụ ở Ủy ban Y tế, Giáo dục, Lao động và Hưu trí và Ủy ban Nội chính và Chính quyền. Ông cũng là Chủ tịch Tiểu ban Thượng viện về Âu châu. Là thành viên Ủy ban Ngoại giao Thượng viện, Obama mở các cuộc viếng thăm chính thức đến Đông Âu, Trung Đông và Phi châu. Tháng 8 năm 2005, ông đến Nga, Ukraina và Azerbaijan. Chuyến đi tập trung vào chiến lược kiểm soát nguồn cung cấp vũ khí quy ước, vũ khí sinh học và vũ khí hủy diệt hàng loạt như là biện pháp ban đầu chống các cuộc tấn công khủng bố. Sau những lần thăm binh sĩ Mỹ trú đóng ở Kuwait và Iraq trong tháng 1 năm 2006, Obama đến Jordan, Israel và lãnh thổ Palestine. Trong một lần gặp gỡ sinh viên Palestine hai tuần lễ trước khi Hamas thắng cuộc bầu cử, Obama đã cảnh báo: "Hoa Kỳ sẽ không bao giờ công nhận các ứng viên Hamas thắng cử trừ khi họ từ bỏ lập trường xóa bỏ quốc gia Israel". Tháng 8 năm 2006, ông đến thăm Nam Phi, Kenya, Djibouti, Ethiopia và Tchad. Khi diễn thuyết tại Đại học Nairobi, ông đề cập đến nạn tham nhũng và sự bất hòa giữa các chủng tộc, khơi dậy những tranh cãi trong vòng giới lãnh đạo Kenya, một số người xem nhận xét của ông là thiếu chính xác và không công bằng, trong khi những người khác bênh vực ông. == Tranh cử Tổng thống == === Chiến dịch tranh cử năm 2008 === Tháng 2 năm 2007, đứng trước tòa nhà Old State Capitol tại Springfield, Illinois, Obama tuyên bố chính thức tham gia cuộc đua vào Tòa Bạch Ốc năm 2008. Điểm lại quá trình hoạt động của mình tại Illinois trong hàm ý liên kết với hình ảnh của Abraham Lincoln khi đọc bài diễn văn "Một nhà tự chia rẽ" năm 1858 tại chính địa điểm này, Obama nói: "Đó là lý do, ngay dưới bóng tòa nhà Old State Capitol, nơi Lincoln đã một lần kêu gọi sự hòa giải và đoàn kết cho một nhà tự chia rẽ, nơi những niềm hi vọng và những giấc mơ được mọi người cùng chia sẻ vẫn còn sống động, hôm nay tôi đứng trước quý vị để thông báo quyết định ra tranh cử Tổng thống Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ." Obama cũng nhấn mạnh đến đòi hỏi chấm dứt cuộc chiến Iraq, tăng cường sự độc lập về năng lượng, và cung ứng sự chăm sóc sức khỏe phổ quát, trong chiến dịch tranh cử với chủ đề chính là "niềm hi vọng" và "thay đổi". Có khá đông ứng viên trong vòng bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ, nhưng sau cùng chỉ còn là cuộc tranh chấp tay đôi giữa Obama và Thượng nghị sĩ Hillary Rodham Clinton. Khoảng cách giữa Clinton và Obama thu hẹp dần, phần lớn là do Obama có kế hoạch dài hạn tốt hơn, vượt trội về khả năng gây quỹ, và biết cách tận dụng lợi thế theo luật bầu cử. Ngày 7 tháng 6 năm 2008, Clinton rút lui khỏi cuộc đua đồng thời tuyên bố ủng hộ Obama. Ngày 23 tháng 8, Obama chọn Joe Biden, thượng nghị sĩ đại diện bang Delaware, vào liên danh. Tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ ở Denver, Colorado, Obama đọc bài diễn văn chấp nhận sự đề cử, không phải trong phòng họp của đại hội mà tại vận động trường Invesco Field at Mile High trước cử tọa 75 000 người; 38 triệu người trên khắp thế giới theo dõi sự kiện này. Trong giai đoạn bầu cử sơ bộ cũng như trong cuộc tổng tuyển cử, chiến dịch tranh cử của Obama lập kỷ lục về gây quỹ, nhất là những khoản đóng góp nhỏ. Obama và John McCain, ứng cử viên được Đảng Cộng hòa đề cử, tham dự ba cuộc tranh luận trong tháng 9 và tháng 10 năm 2008. Ngày 4 tháng 11, Obama thắng cử với 365 phiếu cử tri đoàn, McCain được 173 phiếu. Obama giành được 52,9% phiếu phổ thông, tỷ lệ này của McCain là 45,7%. Obama trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Ông đọc bài diễn văn chiến thắng trước hàng trăm ngàn người tập họp về Công viên Grant ở Chicago. === Chiến dịch tranh cử 2012 === Ngày 4 tháng 4 năm 2011, Obama tuyên bố tái tranh cử qua video "It Begins with Us" được đưa lên website của ông, và nộp hồ sơ cho Ủy hội Tuyển cử Liên bang. Là tổng thống đương chức, Obama không có đối thủ trong giai đoạn bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ, ngày 3 tháng 4 năm 2012, ông được 2778 đại biểu ủng hộ để được Đảng Dân chủ đề cử. Tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ 2012 tổ chức ở Charlotte, North Carolina, cựu tổng thống Bill Clinton chính thức đề cử Obama và Joe Biden làm ứng cử viên tổng thống và phó tổng thống, đối đầu với ứng cử viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney, cựu Thống đốc tiểu bang Massachusetts, và Dân biểu Paul Ryan. Ngày 6 tháng 11 năm 2012 Obama giành được 332 phiếu cử tri đoàn, vượt quá số quy định 270 phiếu để tiếp tục chức vụ tổng thống cho nhiệm kỳ thứ hai. Obama là tổng thống Dân chủ đầu tiên kể từ Franklin D. Roosevelt hai lần giành được đa số phiếu phổ thông. Khi phát biểu với những người ủng hộ và các tình nguyện viên tại trung tâm hội nghị McCormick Place ở Chicago sau khi tái đắc cử, Obama nói: == Tổng thống Hoa Kỳ == Lễ nhậm chức của Barack Obama như là Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ diễn ra ngày 20 tháng 1 năm 2009. Ngay từ những ngày đầu tiên, Obama ban hành những sắc lệnh và những bản ghi nhớ hướng dẫn quân đội Hoa Kỳ phát triển kế hoạch triệt thoái binh sĩ khỏi Iraq. Ông ra lệnh đóng cửa trại giam Vịnh Guantanamo, nhưng bị Quốc hội cản trở bằng cách từ chối cấp ngân quỹ. Obama cũng cho hạ thấp tiêu chuẩn bí mật dành cho các cuộc ghi âm của tổng thống. === Đối nội === Dự luật đầu tiên được Obama ký ban hành là Đạo luật Lilly Ledbetter Fair Pay Act năm 2009. Năm ngày sau, ông ký lệnh tái khởi động Chương trình Bảo hiểm Sức khỏe cho Trẻ em, hỗ trợ cho 4 triệu trẻ em không có bảo hiểm. Tháng 3, 2009, Obama đảo ngược chính sách của chính phủ Bush hạn chế ngân quỹ dành cho nghiên cứu tế bào gốc từ phôi, cùng lúc ông cam kết phát triển "những hướng dẫn nghiêm ngặt" cho các cuộc nghiên cứu. Ngay trong hai năm đầu của nhiệm kỳ tổng thống, Obama bổ nhiệm hai phụ nữ vào tòa án tối cao. Sonia Sotomayor thay thế David Souter về hưu. Được chuẩn thuận ngày 6 tháng 8 năm 2009, Sotomayor là người nói tiếng Tây Ban Nha đầu tiên được bổ nhiệm vào tòa tối cao. Với việc bổ nhiệm Elena Kagan, được Obama đề cử ngày 10 tháng 10 năm 2010 để thay thế John Paul Stevens về hưu, được phê chuẩn ngày 5 tháng 8 năm 2010, lần đầu tiên trong lịch sử có ba nữ thẩm phán phục vụ tại Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Ngày 30 tháng 9 năm 2009, chính quyền Obama đề xuất bản quy tắc mới về nhà máy điện, hãng xưởng và nhà máy lọc dầu trong nỗ lực hạn chế khí thải gây hiệu ứng nhà kính và kìm hãm tình trạng nóng ấm toàn cầu. Trong tháng 4 năm 2010, Obama công bố một sự thay đổi trong định hướng của NASA, cơ quan không gian Hoa Kỳ, cung cấp ngân quỹ cho các đề án khoa học địa cầu, một loại hỏa tiễn mới, nghiên cứu và phát triển các chuyến thám hiểm Sao Hỏa, và các chuyến bay đến Trạm Không gian Quốc tế. Ngày 22 tháng 12 năm 2010, Obama ký ban hành Sắc lệnh Don’t Ask, Don’t Tell Repeal 2010, thực hiện lời hứa của ông khi tranh cử chấm dứt chính sách Don’t ask, don’t tell năm 1993 đã ngăn cấm người đồng tính tham gia lực lượng vũ trang. Trong thông điệp liên bang năm 2011, tổng thống tập trung vào các chủ đề giáo dục và đổi mới, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đổi mới kinh tế để tăng cường sức mạnh cạnh tranh của nước Mỹ trên thế giới. Ông nói về việc đóng băng chi tiêu nội địa trong 5 năm, bỏ việc giảm thuế cho các công ty dầu mỏ, đảo ngược chính sách cắt giảm thuế cho giới giàu có nhất, và cắt giảm chi phí y tế. Tổng thống cũng cam kết đến năm 2015 sẽ có 1 triệu xe chạy bằng điện lưu thông trên đường. === Hôn nhân đồng giới === Từ khi tranh cử vào thượng viện bang Illinois năm 1996, Obama đã ủng hộ hôn nhân đồng tính; nhưng khi tranh cử vào Thượng viện Hoa Kỳ năm 2004, ông tuyên bố ủng hộ sự kết ước dân sự (civil union) và chống đối hôn nhân đồng tính. Ngày 9 tháng 5 năm 2012, một thời gian ngắn sau khi tuyên bố tái tranh cử, Obama nói rằng ông đã thay đổi quan điểm và công khai ủng hộ hôn nhân đồng tính. Obama là tổng thống Mỹ đầu tiên ủng hộ hôn nhân đồng tính. Tháng 8 năm 2009, Obama ký ban hành Đạo luật Matthew Shepard và James Byrd Jr. Hate Crime Prevention mở rộng luật liên bang 1969 thêm tội căm ghét giới LGBT. Ngày 21 tháng 1 năm 2013, trong diễn văn nhậm chức lần thứ hai, Obama là tổng thống đầu tiên kêu gọi quyền bình đẳng dành cho người đồng tính: “Cuộc hành trình của chúng ta chưa thể hoàn tất cho đến khi những anh chị em đồng tính được đối xử như mọi người khác theo luật pháp – bởi vì nếu chúng ta sinh ra trong bình đẳng thì chắc chắn rằng tình yêu chúng ta dành người khác cũng bình đẳng như vậy.” Năm 2013 chính quyền Obama thúc giục tòa tối cao ủng hộ các cặp đôi đồng tính trong vụ án Hollingsworth v. Perry và United States v. Windsor. Sau khi Tối cao Pháp viện ra phán quyết về vụ án Obergefell v. Hodges (công nhận hôn nhân đồng tính là quyền căn bản), Obama nhấn mạnh, “Phán quyết này khẳng định điều hàng triệu người Mỹ đã tin tưởng: Khi nào mọi người Mỹ được đối xử bình đẳng lúc ấy tất cả chúng ta đều được tự do hơn.” === Phúc lợi cho phụ nữ === Ngày 11 tháng 3 năm 2009, Obama thành lập Hội đồng Tòa Bạch Ốc về Phụ nữ, cơ quan này được ủy nhiệm rộng rãi để tư vấn tổng thống về các vấn đề liên quan đến phúc lợi của nữ giới tại Mỹ. Hiện nay hội đồng được đặt dưới quyền lãnh đạo của Cố vấn trưởng của Tổng thống, Valerie Jarrett. Ông cũng cho thành lập Đội đặc nhiệm Tòa Bạch Ốc bảo vệ sinh viên khỏi tấn công tình dục để tư vấn tổng thống về các vấn đề liên quan đến nạn tấn công tình dục tại các trường đại học ở Hoa Kỳ. Phó Tổng thống Joe Biden và bà Jarrett là đồng chủ tịch. === Kinh tế === Ngày 17 tháng 2 năm 2009, Obama ban hành gói kích thích trị giá 787 tỉ USD nhằm phục hồi nền kinh tế đang chịu ảnh hưởng từ đợt suy thoái toàn cầu, với các biện pháp như gia tăng chi tiêu liên bang cho y tế, cơ sở hạ tầng, giáo dục, cắt giảm thuế, và hỗ trợ trực tiếp cho các cá nhân. Để đối phó với cơn khủng hoảng tài chính, Bộ trưởng Ngân khố cung ứng quỹ dự phòng 2 000 tỉ USD để mua bất động sản đang mất giá. Obama quyết định can thiệp vào nền công nghiệp ô tô đang bị khủng hoảng, cho gia hạn các khoản nợ của General Motors và Chrysler để tiếp tục sản xuất trong khi tiến hành cải tổ. Trong những tháng kế tiếp, Tòa Bạch Ốc thiết lập điều kiện phá sản cho hai công ty, trong đó có việc bán Chrysler cho công ty Fiat của Ý, và tái cấu trúc GM, chính phủ Mỹ mua 60% cổ phần, chính phủ Canada mua 12%. Đến tháng 6 năm 2009, không hài lòng với tiến độ của gói kích thích kinh tế, Obama kêu gọi nội các đẩy mạnh đầu tư. Ông ban hành chương trình Car Allowance Rebate System trị giá 3 tỉ USD, hỗ trợ người dân đổi xe cũ tiêu hao nhiều nhiên liệu cho xe mới tiết kiệm nhiên liệu. Giống năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục gia tăng trong năm 2009, đến đỉnh điểm vào tháng 10 ở mức 10%. Sang quý 1 năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp được kéo xuống còn 9,7%, rồi 9,6% trong quý 2 cho đến cuối năm. Từ tháng 2 đến tháng 12 năm 2010, tỷ lệ người có việc làm tăng 0,8%. Quý 3 năm 2009 chứng kiến mức tăng trưởng GDP là 1,6%, quý 4 là 5,0%, tỷ lệ này trong quý 1 năm 2010 là 3,7%. Tháng 7, 2010, Quỹ Dự trữ Liên bang cho biết các hoạt động kinh tế tiếp tục gia tăng nhưng ở nhịp độ chậm. Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang, Ben Bernake, nói rằng tổng quan nền kinh tế là "không ổn định cách bất thường". Nhìn chung, nền kinh tế phát triển ở mức 2,9% trong năm 2010. Văn phòng Ngân sách Quốc hội và phần lớn các nhà kinh tế học cho rằng kế hoạch kích thích của Obama đã giúp tăng trưởng kinh tế. Văn phòng phát hành một bản báo cáo theo đó gói kích thích làm gia tăng số người có việc làm từ 1 – 2,1 triệu. Obama và Văn phòng Ngân sách Quốc hội dự đoán mức thâm hụt ngân sách năm 2010 sẽ là 1,5 ngàn tỷ USD (10,6% GDP) so với mức thâm hụt năm 2009 là 1,4 ngàn tỉ USD (9,9% GDP). Chính phủ dự đoán mức thâm hụt năm 2011 chỉ còn 1,34 ngàn tỉ, và mức thâm hụt trong 10 năm sẽ lên đến 8, 53 ngàn tỉ USD (90% GDP). Ngày 2 tháng 8 năm 2011, sau một đợt tranh luận kéo dài tại Quốc hội về việc có nên nâng giới hạn nợ quốc gia hay không, Obama ký ban hành Đạo luật Hạn chế Ngân sách 2011. Đạo luật này áp đặt giới hạn chi tiêu cho đến năm 2021, thiết lập quy trình nâng mức nợ, bổ nhiệm Ủy ban Hỗn hợp Quốc hội về giảm thâm hụt nhằm cắt giảm mức thâm hụt với mục tiêu tiết kiệm ít nhất 1,5 ngàn tỉ USD trong 10 năm. Bằng cách thông qua đạo luật này, Quốc hội đã có thể buộc chính phủ phải cắt giảm nợ công. Tháng 1/2009, Khi Obama nhậm chức, nợ công của Mỹ là 10,6 nghìn tỷ USD nhưng đến tháng 11/2016 khi Donald Trump đắc cử tổng thống nợ công của Mỹ là 19,8 nghìn tỷ USD. Giống năm 2008, mức thất nghiệp tăng trong năm 2009 lên đến đỉnh điểm 10% và dừng ở mức đó trong suốt quý 4, rồi xuống 9,7% trong quý đầu năm 2010, và 9,6% trong quý 2 cho đến cuối năm. Tháng 11 năm 2012, mức thất nghiệp xuống 7,7%, rồi 6,7% trong tháng cuối cùng năm 2013, và được kéo giảm còn 6,3% trong quý đầu năm 2014. GDP tăng trưởng trở lại trong quý 3 năm 2009, lên tới 1,6% và 5% trong quý 4, và tiếp tục tăng trưởng 3,7% trong quý đầu năm 2010, rồi sút giảm đôi chút trong những quý còn lại. Tháng 7 năm 2010, Quỹ Dự trữ Liên bang nhận thấy các hoạt động kinh tế có gia tăng dù còn chậm. Tổng thể, nền kinh tế tăng trưởng 2,9% trong năm 2010. Tháng 12 năm 2013, Obama tuyên bố sự bất bình đẳng trong lợi tức đang gia tăng là một “thách thức nghiêm trọng” và kêu gọi Quốc hội ủng hộ mạng lưới an toàn và nâng định mức lương. === Cải tổ y tế === Obama kêu gọi Quốc hội thông qua luật cải tổ hệ thống chăm sóc sức khỏe của Hoa Kỳ, một lời hứa quan trọng khi tranh cử và là một mục tiêu lập pháp của ông. Obama đề nghị mở rộng bảo hiểm y tế để bao gồm những người chưa được bảo hiểm, và cho phép những người mất việc hoặc thay đổi công việc duy trì bảo hiểm của mình. Ông kêu gọi chi tiêu 900 tỉ USD trong 10 năm và bao gồm một kế hoạch bảo hiểm của chính phủ để cạnh tranh với khu vực bảo hiểm tư như là một biện pháp nhằm làm giảm giá bảo hiểm đồng thời nâng cao chất lượng hệ thống chăm sóc sức khỏe. Dự luật cũng quy định việc bỏ rơi người mắc bệnh là bất hợp pháp, và yêu cầu tất cả người Mỹ đều có bảo hiểm sức khỏe. Kế hoạch này cũng tính đến việc cắt giảm chi tiêu y tế và đánh thuế trên những công ty bảo hiểm cung ứng các gói bảo hiểm đắt tiền. Ngày 14 tháng 7 năm 2009, giới lãnh đạo đảng Dân chủ ở Viện Dân biểu giới thiệu bản kế hoạch dày 1 017 trang xem xét toàn bộ hệ thống chăm sóc sức khỏe của nước Mỹ; Obama muốn Quốc hội phê chuẩn kế hoạch này vào cuối năm 2009. Sau nhiều cuộc tranh luận diễn ra suốt kỳ nghỉ hè năm 2009 của Quốc hội, ngày 9 tháng 9, Obama đọc diễn văn trước kỳ họp toàn thể của Quốc hội, bày tỏ mối quan tâm đến những đề xuất. Tháng 3, 2009, Obama gỡ bỏ lệnh cấm sử dụng ngân sách liên bang cho nghiên cứu tế bào gốc. Ngày 21 tháng 3 năm 2010, Đạo luật Patient Protection and Affordable Care được Thượng viện thông qua, trước đó trong tháng 12 Viện Dân biểu đã biểu quyết với tỷ lệ 219-212 phê chuẩn dự luật. Tổng thống ký ban hành ngày 23 tháng 3 năm 2010. === Môi trường === Ngày 30 tháng 9 năm 2009, chính phủ Obama đệ trình bản quy định mới về nhà máy năng lượng, xưởng chế tạo, và nhà máy lọc dầu trong nỗ lực hạn chế khí thải cùng quy trình chặn đứng tình trạng nóng ấm toàn cầu. Ngày 20 tháng 4 năm 2010, một vụ nổ phá hủy giàn khoan ngoài khơi Vịnh Mexcio gây ra một vụ rò rỉ dầu kéo dài. Obama đến thị sát, cho mở một cuộc điều tra cấp liên bang, và thành lập một ủy ban lưỡng đảng đề xuất những chuẩn mực mới về an toàn. Tuy nhiên, sau khi BP thất bại trong nỗ lực xử lý sự cố, các phương tiện truyền thông lên tiếng chỉ trích và đòi hỏi Obama và chính phủ liên bang phải hành động quyết liệt hơn. === Kiểm soát súng === Ngày 16 tháng 1 năm 2013, một tháng sau vụ xả súng ở Trường Tiểu học Sandy Hook, Obama ký 23 sắc lệnh hành pháp và phác thảo nhiều dự án liên quan đến việc kiểm soát súng. Ông thúc giục Quốc hội tái xét một lệnh cấm đã hết hạn liên quan đến vũ khí sát thương, giới hạn băng đạn chỉ chứa 10 viên, kiểm tra nhân thân người mua súng, thông qua lệnh cấm bán và sở hữu loại đạn xuyên áo giáp, và trừng phạt nặng hơn những kẻ buôn lậu súng. Ngày 5 tháng 1 năm 2016, Obama công bố những biện pháp kiểm tra chặt chẽ hơn nhân thân người mua súng. Trong một bài xã luận đăng tải trong năm 2016 của tờ New York Times, Obama ví sánh nỗ lực thay đổi quan điểm của công luận về kiểm soát vũ khí với cuộc đấu tranh giành quyền bầu cử cho phụ nữ và phong trào dân quyền trong lịch sử nước Mỹ. === Bầu cử giữa kỳ năm 2010 === Obama gọi cuộc bầu cử ngày 2 tháng 11 năm 2010, khi Đảng Dân chủ mất 63 ghế ở Viện Dân biểu, là "đáng hổ thẹn" và là một "thất bại nặng nề". Ông nói rằng sự thất bại này là do người dân Mỹ chưa cảm thấy tác dụng của tiến trình phục hồi kinh tế. == Đối ngoại == Trong tháng 2 và tháng 3, Phó Tổng thống Joe Biden và Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton thực hiện những chuyến công du riêng lẻ nhằm công bố một "kỷ nguyên mới" trong tiểu bang giao giữa Hoa Kỳ với Nga và Âu châu, những từ "đột phá" và "điều chỉnh" được sử dụng để báo trước những thay đổi quan trọng trong chính sách ngoại giao. Obama tỏ ý muốn tiếp cận với giới lãnh đạo Ả-rập khi dành cho kênh truyền hình Ả-rập, Al Arabiya, cuộc phỏng vấn đầu tiên của ông. Ngày 19 tháng 3, Obama tiếp tục nỗ lực tiếp cận với thế giới Hồi giáo bằng cách gởi thông điệp năm mới qua một video đến nhân dân và chính quyền Iran, nhưng bị giới lãnh đạo Iran cự tuyệt. Đến tháng 4, bài diễn văn của Obama đọc tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ được chính phủ các nước Ả-rập tiếp nhận cách thuận lợi. Ngày 4 tháng 6 năm 2009, trong diễn từ đọc tại Đại học Cairo, Ai Cập, Obama kêu gọi cho "một sự khởi đầu mới" trong mối quan hệ giữa thế giới Hồi giáo với Hoa Kỳ, ông cũng lên tiếng thúc đẩy tiến trình hòa bình ở Trung Đông. Ngày 26 tháng 6 năm 2009, phản ứng trước hành động của chính phủ Iran chống lại những người biểu tình sau cuộc bầu cử tổng thống 2009 ở Iran, Obama nói: "Sử dụng bạo lực chống lại họ là vô nhân đạo. Chúng tôi theo dõi và lên án chúng." Ngày 24 tháng 9 năm 2009, Obama trở thành Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên chủ tọa một cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Tháng 3, 2010, Obama công khai chống lại kế hoạch của Thủ tướng Israel, Benjamin Netanyahu, tiếp tục đề án xây dựng nhà ở cho người Do Thái trong những khu dân cư có nhiều người Ả-rập ở khu Đông Jerusalem. Cũng trong tháng này, một thỏa thuận đạt được với chính phủ Dmitry Medvedev của Nga thay thế Thỏa ước Cắt giảm Vũ trang Chiến lược 1991 bằng một hiệp ước mới cắt giảm một phần ba số lượng vũ khí hạt nhân tầm xa trong kho vũ khí của cả hai bên. Hiệp ước New START này được Obama và Medvedev ký kết trong tháng 4 năm 2010, và được Thượng viện Hoa Kỳ phê chuẩn vào tháng 12 năm 2010. Tháng 12 năm 2014, Obama tuyên bố ý định bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Cuba. Ngày 20 tháng 7 năm 2015, các cơ quan đại diện quyền lợi tại thủ đô của Mỹ và Cuba được nâng cấp thành đại sứ quán. Tháng 5 năm 2016, trong chuyến công du đến Việt Nam, Obama đã dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. === Chiến tranh Iraq === Ngày 27 tháng 2 năm 2009, khi nói chuyện với binh sĩ Thủy quân Lục chiến Mỹ sắp được gửi đến Afghanistan, Obama tuyên bố rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ chấm dứt các cuộc hành quân chiến đấu tại Iraq trong vòng 18 tháng, "Cho phép tôi trình bày điều này cách rõ ràng nhất: đến 31 tháng 8 năm 2010, nhiệm vụ chiến đấu của chúng ta tại Iraq sẽ chấm dứt." Cuộc triệt thoái sẽ được hoàn tất trong tháng 8 năm 2010, để lại một lực lượng chuyển tiếp từ 35 000 đến 50 000 binh sĩ cho đến cuối năm 2011. Ngày 19 tháng 8 năm 2010, lữ đoàn chiến đấu cuối cùng rời khỏi Iraq. Lực lượng chuyển tiếp đảm trách công tác chống khủng bố, huấn luyện, trang bị, và cố vấn cho lực lượng an ninh Iraq. Ngày 31 tháng 8 năm 2010, Obama tuyên bố nhiệm vụ chiến đấu của Hoa Kỳ tại Iraq đã chấm dứt. Ngày 21 tháng 10 năm 2011, Tổng thống Obama tuyên bố toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ rời khỏi Iraq để kịp đoàn tụ với gia đình trong những ngày lễ. Tháng 6 năm 2014, sau khi Mosul thất thủ về tay ISIL, Obama gởi 275 lính đến Iraq bảo vệ người Mỹ có mặt ở đất nước này cùng đại sứ quán Hoa Kỳ ở Bagdad. ISIL tiếp tục đà chiến thắng, thực hiện những vụ diệt chủng và tàn sát tập thể. Tháng 8 năm 2014 khi đang xảy ra vụ thảm sát Sinjar, ISIL tàn sát khoảng từ 2 000 đến 5 000 người thiểu số sắc tộc Yazidi, Obama ra lệnh mở chiến dịch không kích chống ISIL. Đến cuối năm 2014, còn 3 100 binh sĩ Mỹ tại Iraq và 16 000 lần xuất kích do máy bay của Không lực và Hải quân Hoa Kỳ thực hiện. Mùa xuân năm 2015, với sự tham gia của “Lữ đoàn Panther” thuộc Sư đoàn Không kỵ 82 số lượng binh sĩ Mỹ ở Iraq lên tới 4 400, đến tháng 7, các cuộc xuất kích do không quân Mỹ dẫn đầu lên đến 44 000 vụ. === Chiến tranh Afghanistan === Từ lúc mới nhậm chức, Obama chủ trương tăng cường sức mạnh quân sự tại Afghanistan, ông tuyên bố gia tăng số binh sĩ Mỹ lên đến 17 000 người nhằm "đảo ngược tình hình đang sa sút tại Afghanistan", vùng đất theo ông đã không nhận đủ "sự quan tâm chiến lược và nguồn lực cần thiết". Tháng 5, 2009, Tổng thống thay thế tư lệnh quân đội tại đây, Tướng David D. McKiernan, bằng cựu tư lệnh Lực lượng Đặc biệt, Tướng Stanley A. McChrystal, ngụ ý rằng những kinh nghiệm của McChrystal trong Lực lượng Đặc biệt sẽ giúp áp dụng hiệu quả chiến thuật chống nổi dậy trong chiến tranh . Ngày 1 tháng 12 năm 2009, Obama tuyên bố bổ sung 30 000 quân đến Afghanistan. Ông cũng đề xuất kế hoạch rút quân trong vòng 18 tháng kể từ ngày này. Sau khi bộ chỉ huy của McChrystal chỉ trích nhân viên Tòa Bạch Ốc, tháng 6 năm 2010, David Petraeus được bổ nhiệm thay thế McChrystal. Tháng 2 năm 2013, Obama hứa rút quân ở Afghanistan từ 68 000 xuống còn 34 000 vào tháng 2 năm 2014. Tháng 9 năm 2015, chiến sự trở nên căng thẳng, Tòa Bạch Ốc công bố kế hoạch duy trì quân đội ở Afghanistan. === Israel === Obama miêu tả mối dây ràng buộc giữa Hoa Kỳ với Israel là "không thể phá vỡ được". Ngay từ đầu, chính phủ Obama đẩy mạnh hợp tác quân sự với Israel bằng cách tăng viện trợ quân sự, lập lại Nhóm Chính trị Quân sự Hoa Kỳ-Israel, và Nhóm Tư vấn Chính sách Quốc phòng, gia tăng các chuyến viếng thăm quân sự cao cấp giữa hai nước. Chính phủ Obama yêu cầu Quốc hội phân bổ tiền cho chương trình Iron Dome nhằm đáp trả đợt sóng tấn công bằng hỏa tiễn của Paestine nhắm vào Israel. Trong năm 2011, Hoa Kỳ phủ quyết một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lên án các khu định cư của Israrel. Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất chống lại nghị quyết này. Obama ủng hộ giải pháp hai nhà nước trong cuộc tranh chấp Ả-rập – Israel dựa trên hiện trạng năm 1967. Năm 2014, Obama ví sánh phong trào Zion với Phong trào Dân quyền Mỹ, nói rằng cả hai phong trào này đều đấu tranh để giành công lý và quyền bình đẳng cho người dân bị bách hại, “Đối với tôi, ủng hộ Isarel và dân tộc Do Thái là một phần của các giá trị tôi vẫn đấu tranh cho kể từ lúc tôi quan tâm đến và tham gia vào chính trị.” === Libya === Tháng 3, 2011, khi lực lượng trung thành với Muammar Gaddafi áp đảo những nhóm nổi dậy trên khắp lãnh thổ Libya, Âu châu và Liên đoàn Ả-rập lên tiếng kêu gọi thành lập một khu vực cấm bay, và Thượng viện Hoa Kỳ nhất trí thông qua một nghị quyết. Phản ứng trước Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Gaddafi – trước đó thề rằng sẽ "không dung tha" đối với phe nổi dậy ở Benghazi – tuyên bố ngưng lập tức mọi hoạt động quân sự. Tuy nhiên, có những báo cáo về việc binh sĩ của Gaddafi tiếp tục nã pháo vào Misrata. Hôm sau, theo chỉ thị của Obama, quân lực Hoa Kỳ dẫn đầu các cuộc không kích, sử dụng hỏa tiễn Tomahawk, oanh tạc cơ tàng hình B-2 Spirit, và các chiến đấu cơ hủy diệt khả năng phòng vệ của chính phủ Libya với lý do bảo vệ tính mạng thường dân và cưỡng chế thi hành lệnh cấm bay. Sáu ngày sau, 25 tháng 3, với sự đồng thuận của 23 thành viên, NATO lãnh đạo chiến dịch Operation Unified Protector. Sự hỗ trợ của NATO là nhân tố quyết định dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Gaddafi ngày 23 tháng 10 năm 2011. === Nội chiến tại Syria === Ngày 18 tháng 10 năm 2011, trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến, Obama dõng dạc tuyên bố “Assad phải ra đi”, vì chính nghĩa của người dân Syria. Tới ngày 19 tháng 11 năm 2015 Obama tái khẳng định lập trường của mình. Cuối cùng Obama cũng cho lập chương trình huấn luyện phiến quân chống Assad, song do thu được kết quả rất hạn chế nên năm 2015 phải bị bãi bỏ. Sau khi xảy ra vụ tấn công bằng vũ khí hóa học trong năm 2013 được cho là do chế độ Assad thực hiện, Obama nhấn mạnh rằng Assad phải từ bỏ vũ khí hóa học, cuối cùng cũng có một thỏa hiệp theo đó Assad từ bỏ nhiều vũ khí hóa học nhưng những vụ tấn công bằng khí gas chlorine vẫn tiếp diễn. Năm 2014, một mặt Obama cho mở những cuộc không kích nhắm vào lực lượng ISIL, mặt khác luôn nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ sẽ không gởi quân đến chiến đấu ở Syria. === Osama bin Laden === Khởi đầu với những thông tin tiếp nhận trong tháng 7 năm 2010, mạng lưới tình báo của CIA trong những tháng kế tiếp xác định rằng Osama bin Laden đang trú ẩn trong một tòa nhà kín đáo ở Abbottabad, một vùng ngoại ô cách Islamabad, thủ đô Pakistan, 35 dặm. Tháng 3, 2011, Giám đốc CIA Leon Panetta tường trình những thông tin tình báo cho Tổng thống Obama. Trong sáu tuần kế tiếp, khi họp bàn với các cố vấn an ninh, Obama bác bỏ kế hoạch ném bom, nhưng cho phép toán đặc nhiệm SEAL của Hải quân Hoa Kỳ đột kích vào tòa nhà. Kết quả thu được từ cuộc đột kích, tiến hành ngày 1 tháng 5 năm 2011, là cái chết của bin Laden, nhiều giấy tờ bị thu giữ, cùng những đĩa vi tính. Thi thể của bin Laden được nhận dạng nhờ xét nghiệm DNA, rồi được thủy táng chỉ vài giờ sau đó. Vào chiều tối ngày 1 tháng 5 tại Washington, D.C., ngay sau khi Tổng thống thông báo, nhiều cuộc ăn mừng tự phát diễn ra trên khắp đất nước, và những đám đông hoan hỉ tụ họp bên ngoài Tòa Bạch Ốc, tại khu bình địa và Quảng trường Times ở New York. Trong số những phản ứng tích cực đến từ hai chính đảng và từ nhiều quốc gia trên thế giới có lời chúc tụng của các cựu tổng thống Bill Clinton và George W. Bush. === Iran === Năm 2013, chính quyền Obama mở những cuộc thương thuyết với Iran nhằm ngăn cản quốc gia này sở hữu vũ khí hạt nhân. Những cuộc thương thuyết kéo dài hai năm với nhiều lần đứt quãng, cuối cùng hai bên thông báo một thỏa thuận vào ngày 14 tháng 7 năm 2015. Iran cam kết không chế tạo vũ khí hạt nhân, đổi lại Mỹ sẽ gỡ bỏ lệnh cấm vận. Trong khi Obama ca ngợi thỏa ước như là một bước tiến tới một thế giới có nhiều hi vọng hơn, Đảng Cộng hòa và giới bảo thủ, trong đó có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, đưa ra nhiều lời chỉ trích mạnh mẽ. === Cuba === Đã có những cuộc gặp gỡ bí mật giữa Hoa Kỳ và Cuba tại các địa điểm trung lập như Canada và Vatican từ mùa xuân năm 2013. Giáo hoàng Francis khuyên Hoa Kỳ và Cuba nên trao đổi tù nhân như là một cử chỉ thiện chí. Ngày 10 tháng 12 năm 2013, Chủ tịch Cuba Raul Castro, trong một động thái công khai đầy ý nghĩa, chào mừng và bắt tay Obama trong lễ tưởng niệm Nelson Mandela ở Johannesburg. Tháng 12 năm 2014, Obama, qua sự trung gian của Giáo hoàng Francis, mở những cuộc thương thuyết nhằm phục hồi bang giao với Cuba sau 54 năm thù địch. Tờ New Republic gọi sự kiện này là “thành quả ngoại giao tốt nhất của Obama.” Ngày 1 tháng 7 năm 2015, Obama tuyên bố bang giao chính thức giữa hai quốc gia được phục hồi, rồi hai đại sứ quán được mở tại Washington và Havana. Obama mở một cuộc viếng thăm kéo dài hai ngày đến Havana trong tháng 3 năm 2016, trở thành tổng thống đương nhiệm đầu tiên của Hoa Kỳ đến thăm đất nước này kể từ chuyến công du của Tổng thống Calvin Coolidge thực hiện trong năm 1928. === Châu Phi === Là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên nói chuyện trước Liên minh châu Phi ở Addis Ababa, Ethiopia ngày 29 tháng 7 năm 2015, Obama kêu gọi thế giới gia tăng mối ràng buộc kinh tế qua đầu tư và thương mại với lục địa này, và ca ngợi những tiến bộ trong giáo dục, cơ sở hạ tầng, và kinh tế. Ông cũng phê phán việc thiếu dân chủ, chỉ trích những nhà lãnh đạo tham quyền cố vị, cùng sự kỳ thị đối với các cộng đồng thiểu số (LGBT, các nhóm tôn giáo và sắc tộc) cũng như tình trạng tham nhũng trên lục địa này. Ông đề nghị đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa và thương mại tự do, đồng thời cải thiện chất lượng sống cho người dân ở Phi châu. Obama cũng đến thăm Kenya, quê hương của thân phụ ông. == Hình ảnh chính trị và văn hóa == Cha là người Kenya, mẹ người Mỹ gốc Âu, lớn lên ở Honolulu và Jakarta, theo học tại những viện đại học tinh hoa của nước Mỹ (thuộc Ivy League), những trải nghiệm ban đầu của Obama khác biệt đáng kể với thế hệ chính khách người Mỹ gốc Phi khởi nghiệp chính trị của mình trong thập niên 1960 bằng cách tham gia các cuộc đấu tranh của Phong trào Dân quyền Mỹ. Bày tỏ sự kinh ngạc về những tra vấn liệu ông có "đủ đen" không, trong một lần nói chuyện với Hiệp hội Nhà báo Da đen vào tháng 8 năm 2007, Obama nhận xét rằng vấn đề không phải là ngoại diện hoặc thành tích của ông về những sự việc liên quan đến cử tri da đen, nhưng là "não trạng của chúng ta vẫn còn bị câu thúc bởi ý tưởng cho rằng bất cứ ai tìm kiếm sự ủng hộ từ những người anh em da trắng đều bị coi là đang làm một điều sai trái". Obama thường được nhắc đến như là một nhà hùng biện xuất sắc. Từ giai đoạn chuẩn bị nhậm chức và suốt nhiệm kỳ tổng thống, mỗi tuần ông đều có một bài nói chuyện được đưa lên Internet. Theo Gallup, Obama khởi đầu nhiệm kỳ với tỷ lệ ủng hộ là 68%, rồi suy giảm đều đặn suốt trong năm, cuối cùng chạm đáy vào tháng 8 năm 2010 ở mức 41%, tương tự với những gì xảy ra với hai tổng thống tiền nhiệm của ông, Ronald Reagan và Bill Clinton trong năm đầu tiên của họ tại Tòa Bạch Ốc. Tỷ lệ này tăng lên đôi chút sau cái chết của Osama bin Laden, kéo dài đến tháng 6 năm 2011 rồi rơi tuột trở lại mức cũ vào thời điểm trước khi mở cuộc hành quân tiêu diệt bin Laden. Tuy nhiên, theo cuộc khảo sát của Harris Interactive vào tháng 1 năm 2009 cho kênh truyền hình France 24 và nhật báo International Herald Tribune, Obama được xem là nhà lãnh đạo thế giới nhiều quyền lực nhất cũng như được tôn trọng nhất. Trong một cuộc khảo sát vào tháng 5 năm 2009 của Harris, Obama được đánh giá là nhà lãnh đạo thế giới được yêu thích nhất, và là nhân vật được kỳ vọng nhất có thể dẫn dắt thế giới ra khỏi cơn suy thoái kinh tế. Obama được trao Giải Grammy cho album nói hay nhất về phiên bản audio của quyển Dreams from My Father trong tháng 2 năm 2006 và cho quyển The Audacity of Hope trong tháng 2 năm 2008. Bài diễn văn chấp nhận thua cuộc trong kỳ bầu cử sơ bộ ở New Hampshire của Obama được phổ nhạc, khi video "Yes We Can" được đưa lên YouTube liền có 10 triệu lượt xem ngay trong tháng đầu tiên, và được nhận Giải Daytime Emmy. Tháng 12, 2008, Obama được tạp chí Time chọn làm Nhân vật của Năm do nỗ lực của ông trong kỳ bầu cử tổng thống mà tạp chí này miêu tả là "cuộc hành trình vững chãi để đạt đến những thành quả hầu như là bất khả". Ngày 9 tháng 10 năm 2009, Ủy ban Nobel Na Uy tuyên bố Obama đoạt Giải Nobel Hòa bình 2009 "do những nỗ lực phi thường của ông nhằm củng cố nền ngoại giao quốc tế và sự hợp tác giữa các dân tộc". Ngày 10 tháng 12 năm 2009, Obama đến Oslo nhận giải với thái độ "hết sức khiêm tốn và lòng biết ơn sâu sắc". Lần trao giải này gây ra những phản ứng trái nghịch nhau từ những nhà lãnh đạo thế giới cũng như giới truyền thông. Tờ New York Times gọi sự kiện này là "một sự ngạc nhiên đến bất ngờ". Obama là người thứ tư trong số các Tổng thống Hoa Kỳ được trao giải Nobel Hòa bình, và là người thứ ba nhận giải khi đương chức. == Gia đình và đời sống cá nhân == Cả những người ủng hộ lẫn chỉ trích đều xem hình ảnh của Obama như là một nhân cách trung tính mà bất cứ ai cũng có thể lồng vào đó quá khứ và khát vọng của mình. Những câu chuyện của Obama về nguồn gốc gia đình củng cố thêm nữa điều mà một bài viết đăng trên tạp chí The New Yorker tháng 5 năm 2004 miêu tả là hình ảnh chung cho mọi người. Trong quyển Dreams from My Fathers, ông gắn kết lịch sử gia đình họ ngoại với tổ tiên là người Mỹ bản địa và là họ hàng xa với Jefferson Davis, tổng thống Liên minh miền Nam trong cuộc Nội chiến Mỹ. Còn khi nói chuyện trước một cử tọa người Do Thái trong cuộc đua vào Thượng viện Hoa Kỳ năm 2004, Obama tìm thấy sự tương đồng trong nguồn gốc ngôn ngữ giữa cái tên Barack bắt nguồn từ Đông Phi với tên Baruch, trong tiếng Hebrew nghĩa là "người được chúc phúc". Tháng 10 năm 2006, khi xuất hiện trong chương trình truyền hình The Oprah Winfrey Show, Obama nói về tính đa dạng trong đại gia đình của mình: "Michelle sẽ bảo cho các bạn biết, khi họp mặt vào dịp Giáng sinh hoặc Lễ Tạ ơn, thì đây đúng là một Liên Hiệp Quốc thu nhỏ. Tôi có những người họ hàng trông giống như Bernie Mac (diễn viên và danh hài người Mỹ gốc Phi), trong khi những người khác trông giống như Margaret Thatcher. Ở đây chúng tôi có tất cả". Obama gặp người vợ tương lai của mình, Michelle Robinson, năm 1988 khi nhận một công việc mùa hè cho văn phòng luật sư Sidley & Austin ở Chicago. Là cố vấn cho Obama tại công ty, Robinson cùng làm việc với Obama trong các hoạt động xã hội theo nhóm. Đến cuối hè, họ bắt đầu hẹn hò, đính hôn năm 1991 và kết hôn vào tháng 10 năm 1992. Con gái đầu của hai người, Malia Ann, chào đời năm 1999, kế đó là Natasha ("Sasha") năm 2001. Năm 2005, gia đình Obama dọn đến ngôi nhà mới trị giá 1,6 triệu USD ở Kenwood. Tháng 12 năm 2007, tạp chí Money ước tính tài sản của gia đình Obama là 1,3 triệu. Khoản hoàn trả thuế năm 2007 cho thấy lợi tức của họ là 4,2 triệu USD, tăng từ khoảng 1 triệu USD năm 2006, và 1,6 triệu USD năm 2005, hầu hết là nhờ vào tiền bán sách. Obama có bảy anh chị em cùng cha khác mẹ, sáu trong số họ còn sống, và một em gái cùng mẹ khác cha, Maya Soetoro-Ng. Soetoro-Ng kết hôn với một người Canada gốc Hoa. Obama thích chơi bóng rổ, thời trung học từng là thành viên đội bóng rổ liên trường. Ông thuận tay trái, nhưng lại thích sử dụng tay phải trong một số động tác chơi bóng. Trước khi tuyên bố tranh cử, Obama bắt đầu bỏ thuốc lá, ông nói với tờ Chicago Tribune "Trong vài năm qua, từng hồi từng lúc tôi đã bỏ thuốc. Vợ tôi kiên quyết yêu cầu tôi bỏ thuốc, nếu không tôi sẽ không chịu đựng nổi áp lực của chiến dịch tranh cử". Đầu năm 2011, vợ ông tự hào tuyên bố với báo chí rằng ông đã cai thuốc thành công. === Niềm tin tôn giáo === Obama tiếp nhận đức tin Cơ Đốc khi đã trưởng thành. Một chủ đề trong bài diễn văn quan trọng đọc tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ năm 2004, cũng là tựa đề một quyển sách xuất bản năm 2006 của Obama, The Audacity of Hope, được truyền cảm hứng bởi quản nhiệm nhà thờ của ông, Mục sư Jeremiah Wright. Trong chương 6 tựa đề "Đức tin", Obama viết ông "không được nuôi dưỡng trong một gia đình có niềm tin tôn giáo". Obama miêu tả ông bà ngoại như là những tín hữu Giám Lý và Baptist chỉ trên danh nghĩa, nhưng mẹ ông, khi đến với tôn giáo, trở thành "người mộ đạo nhất mà tôi từng biết". Obama miêu tả người cha gốc Kenya của mình dù "được giáo dưỡng trong môi trường Hồi giáo" lại là "một người vô thần" và người cha kế gốc Indonesia là "người xem tôn giáo là điều chẳng mang lại lợi ích cụ thể nào". Cuốn sách cũng thuật lại sự kiện Obama, lúc ấy ở tuổi hai mươi, khi đang làm việc cho một nhà thờ địa phương trong cương vị một nhân viên tổ chức cộng đồng, đã nhận ra rằng "sức mạnh của truyền thống tôn giáo trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi có thể kích hoạt sự thay đổi trong xã hội". Obama viết: "Từ những nhận thức này – niềm tin tôn giáo không đòi hỏi tôi phải từ bỏ ý thức phê phán, chấm dứt các nỗ lực tranh đấu cho sự công bằng xã hội và kinh tế, hay rút lui khỏi thế giới mà tôi hiểu biết và yêu quý – tôi đã đến Nhà thờ Trinity United Church of Christ (thuộc hệ phái Tự trị Giáo đoàn) để chịu lễ báp têm". Trong một lần nói chuyện với Sarah Pulliam và Ted Olsen của tạp chí Christianity Today, Obama khẳng định: "Tôi tin vào sự chết cứu chuộc và sự sống lại của Chúa Giê-xu Cơ Đốc. Tôi tin rằng đức tin ấy là con đường dẫn tôi đến sự tẩy sạch tội lỗi và được hưởng sự sống đời đời. Nhưng quan trọng hơn, tôi tin vào hình mẫu mà Chúa Giê-xu đã thiết lập bằng cách cho người đói ăn, chữa lành người bệnh tật, và luôn ưu tiên cho những người thấp hèn nhất hơn là cho những kẻ quyền thế". Tháng 5, 2008, do bất đồng với một tuyên bố gây nhiều tranh cãi của Mục sư Jeremiah Wright, Obama rút lui khỏi Nhà thờ Trinity United Church of Christ. Theo một cuộc khảo sát do Pew Research Center thực hiện trong năm 2010 chỉ có 34% người dân Mỹ biết tổng thống của họ là tín hữu Tin Lành (sút giảm 14% so với năm 2009). Trong khi đó, đến 48% dân Mỹ không biết tôn giáo của Obama là gì, và 18% tin rằng ông là người Hồi giáo. Sau một thời gian kéo dài tìm kiếm một nhà thờ thích hợp cho Obama và gia đình ở Washington, đến tháng 6 năm 2009 tổng thống cho biết địa điểm thờ phượng chính của ông là Nhà thờ Evergreen trong Trại David. == Đặt tên == Tên của ông còn là nguồn cảm hứng cho các nhà khoa học đặt tên: Năm 2007, tên ông được đặt cho loài địa y mới là Caloplaca Obama. Năm 2016, Viện bảo tàng Lịch sử và Thiên nhiên quốc gia Bishop ở tiểu bang Hawaii quyết định đặt tên ông cho một loài cá biển nhằm tôn vinh công dân Hawaii đầu tiên đạt tới chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ. Đó là loài cá có tên khoa học là Tosanoides flavofasciatus, thường sống dưới tầng nước sâu hơn 50m ngoài khơi vùng biển Nhật Bản. Sau đó loài sinh vật biển này đã di cư tới rạn san hô vòng Kure, thuộc Khu bảo tồn hải dương quốc gia Papahānaumokuākea từ đầu tháng 6 vừa qua, trở thành những con cá Tosanoides flavofasciatus đầu tiên được phát hiện bên ngoài lãnh hải nước Nhật.. Loại ký sinh trùng mới có tên Baracktrema obamai, một sinh vật mảnh như sợi tóc, loại giun dẹp nhỏ sống trong máu của loài rùa. Baracktrema obamai có họ hàng xa với một loại ký sinh trùng gây ra dịch bệnh rất nguy hiểm ở con người. Tuy nhiên, chúng vô hại đối với loài rùa. == Tham khảo == Chú thích Thư mục Đọc thêm == Liên kết ngoài == Chính thức Website chính thức của Tổng thống Barack Obama (Nhà Trắng) Website chính thức của The Obama Foundation Website chính thức của Organizing for Action Khác Barack Obama (president of United States) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Barack Obama tại DMOZ Barack Obama trên C-SPAN Các tác phẩm của Barack Obama tại Dự án Gutenberg Các tác phẩm của hoặc nói về Barack Obama tại Internet Archive (tiếng Việt) Diễn văn chiến thắng của Obama ngày 4/11/2008 (tiếng Việt) Diễn văn nhậm chức của Obama ngày 20/01/2009
bạc liêu.txt
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc duyên hải vùng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Việt Nam. Tỉnh Bạc Liêu được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1899 và chính thức hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, tỉnh Bạc Liêu bị giải thể nhập vào tỉnh Ba Xuyên. Ngày 8 tháng 9 năm 1964, tỉnh Bạc Liêu được tái lập trở lại. Tháng 2 năm 1976, tỉnh Bạc Liêu lại bị giải thể, nhập vào tỉnh Minh Hải. Ngày 06 tháng 11 năm 1996, tỉnh Bạc Liêu được tái lập thêm lần nữa, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 cho đến ngày nay. Bạc Liêu có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống như người Hoa, người Việt, người Khmer, người Chăm... Người Bạc Liêu có phong cách phóng khoáng, đặc trưng của vùng Nam Bộ. Bạc Liêu có Công tử Bạc Liêu lừng danh một thuở giàu có và chịu chơi, ngoài ra vùng đất này còn gắn liền với tên tuổi của nhạc sĩ Cao Văn Lầu và bài Dạ cổ hoài lang đặt nền móng cho sự phát triển của nền cổ nhạc Nam Bộ. Bạc Liêu được nhiều người biết đến bởi nghề làm muối, muối Bạc Liêu xưa nay vốn nổi tiếng về chất lượng do không có vị đắng, chát và ít lẫn tạp chất. Thời Pháp, Mỹ, hoạt động kinh doanh muối Bạc Liêu rất rộng lớn, chiếm cứ toàn vùng Nam Bộ, ra tới tận Phan Thiết miền Trung và đặc biệt giao lưu xuất khẩu theo đường sông Mêkông qua Campuchia, hiện nay nghề làm muối tuy không còn thịnh như trước nhưng Bạc Liêu vẫn là vùng sản xuất muối lớn nhất miền Tây. Bạc Liêu từng là vùng đất có một vị trí quan trọng trong chiến lược khai thác và xây dựng vùng Đồng bằng sông Cửu Long của người Pháp, được người Pháp lên kế hoạch xây dựng thành trung tâm hành chính của miền Tây, đồng thời đầu tư nhiều tiền của xây cất dinh thự và công sở tại đây. Bạc Liêu cũng là vùng đất có nhiều người Hoa sinh sống qua câu ca dao: == Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ == Tỉnh Bạc Liêu nằm trên bán đảo Cà Mau, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, miền đất cực nam của Việt Nam, với diện tích đất tự nhiên là 2.570 km2, chiếm gần 0.8% diện tích cả nước và đứng hàng thứ 7 trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Phía bắc giáp với Hậu Giang, phía đông và đông bắc giáp với Sóc Trăng, phía tây nam giáp với Cà Mau, phía tây bác giáp với Kiên Giang, phía đông nam giáp với Biển Đông với đường bờ biển dài 56 km. Tọa độ địa lý của tỉnh Bạc Liêu: Điểm cực Bắc ở vĩ độ 9o37’00’’ Bắc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Hồng Dân Điểm cực Nam ở Vĩ độ 9o00’00’’ Bắc tại thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải Điểm cực Tây ở Kinh độ 105o15’00’’ Đông tại xã Tân Thạnh, thị xã Giá Rai Điểm cực Đông ở Kinh độ 105o52’30’’ Đông tại xã Hưng Thành, huyện Vĩnh Lợi Vùng biển thuộc quyền quản lý của tỉnh Bạc Liêu rộng hơn 20.000 km2, một vùng biển giàu tiềm năng, nguồn lợi hải sản rất phong phú và đa dạng. Bạc Liêu nằm ở vị trí trung chuyển trên tuyến đường giao thông huyết mạch quan trọng của cả nước (quốc lộ 1A), cách thành phố Cần Thơ khoảng 110 km và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 280 km về phía Bắc; hiện nay còn có các tuyến đường mới như Nam Sông Hậu, Ngã Bảy - Cà Mau (Quản Lộ - Phụng Hiệp) đi qua địa phận tỉnh Bạc Liêu. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho Bạc Liêu trong sự giao lưu, phát triển kinh tế. == Địa lý tự nhiên == Bạc Liêu có địa hình khá bằng phẳng, không có đồi, núi chính vì lẽ đó cũng không có các chấn động địa chất lớn. Địa hình chủ yến là đồng bằng, sông rạch và kênh đào chằng chịt. Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô hay còn gọi là mùa nắng thường bắt đầu từ tháng 10, tháng 11 năm trước đến tháng 4, tháng 5 năm sau. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4, tháng 5 đến tháng 10, tháng 11. Nhiệt độ trung bình năm 28,50C, nhiệt độ thấp nhất trong năm là 180C, nhiệt độ cao nhất trong năm là 360C. Bạc Liêu thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn các rừng chủ yến như rừng tràm, chà là, giá, cóc, lâm vồ,... Bên dưới là thảm thực vật gồm cỏ và các loài dây leo. Rừng Bạc Liêu có 104 loài thực vật, 10 loài thú nhỏ, 8 loài bò sát,... Bạc Liêu có bờ biển dài 56 km. Biển Bạc Liêu có nhiều loài tôm, cá, ốc, sò huyết,... Hàng năm, sản lượng khai thác đạt gần 100 nghìn tấn cá, tôm. Trong đó, sản lượng tôm gần 10 nghìn tấn. Hệ thống sông ngòi tại Bạc Liêu chia làm hai nhóm. Nhóm 1 chảy ra hải lưu phía nam, nhóm 2 chảy ra sông Ba Thắc. Bờ biển thấp và phẳng rất thích hợp để phát triển nghề làm muối, trồng trọt hoặc nuôi tôm, cá. Hàng năm, sự bồi lấn biển ở Bạc Liêu ngày một tăng. Đây là điều kiện lý tưởng cho Bạc Liêu phát triển thêm quỹ đất, đồng thời là yếu tố quan trọng đưa kinh tế biển của Bạc Liêu phát triển. == Đơn vị hành chính == Hiện nay, Bạc Liêu có 7 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã , 5 huyện , trong đó có 63 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 10 phường, 5 thị trấn và 49 xã. == Lịch sử == === Thời phong kiến === Tên gọi "Bạc Liêu", đọc giọng Triều Châu là "Pô Léo", có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, đánh cá, đi biển. Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là "Bạc" và Léo phát âm là "Liêu". Ý kiến khác lại cho rằng "Pô" là "bót" hay "đồn", còn "Liêu" có nghĩa là "Lào" (Ai Lao) theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào. Còn đối với người Pháp, họ căn cứ vào tên Pô Léo theo tiếng Triều Châu nên họ gọi vùng đất này là Phêcheri - chaume có nghĩa là "đánh cá và cỏ tranh". Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Khmer Po Loenh, nghĩa là cây đa cao. Năm 1680, Mạc Cửu với vai trò là một di thần nhà Minh ở Trung Quốc đến vùng Mang Khảm chiêu tập một số lưu dân người Việt, người Hoa cư trú ở Mang Khảm, Phú Quốc, Rạch Giá, Long Xuyên (Cà Mau), Luống Cày (Lũng Kỳ), Hưng úc (tức Vũng Thơm hay Kompong som), Cần Bột (Campốt) lập ra những thôn xóm đầu tiên trên vùng đất Bạc Liêu. Năm 1708, Mạc Cửu dâng vùng đất Mang Khảm cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên toàn bộ thôn xóm vùng này là trấn Hà Tiên, lúc này Mạc Cửu được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên, với tước Cửu Ngọc Hầu. Mạc Cửu lập dinh trại đồn trú tại Phương Thành, dân cư ngày càng đông đúc hơn. Năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát thu nhập thêm vùng đất Ba Thắc, lập ra Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (Sóc Trăng, Bạc Liêu). Toàn bộ vùng đất phương Nam thuộc về chúa Nguyễn. Đến năm 1777, Trấn Giang, Trấn Di được bãi bỏ. Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi. Năm 1808, trấn Gia Định đổi là thành Gia Định cai quản 5 trấn là Phiên An, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Thanh (tức Vĩnh Long), Hà Tiên Năm 1832, vua Minh Mạng bỏ thành Gia Định, chia Nam Kỳ thành lục tỉnh là Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, bao gồm đất từ Hà Tiên đến Cà Mau. Phần đất tỉnh An Giang, tính từ Châu Đốc đến Sóc Trăng và Bạc Liêu tính đến cửa biển Gành Hào. Thời vua Tự Đức, vùng này thuộc phủ Ba Xuyên, rồi sau đó lại tách ra lập thành huyện Phong Thạnh trực thuộc phủ Ba Xuyên, tỉnh An Giang. === Thời Pháp thuộc === Ngày 5 tháng 1 năm 1867, thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ Lục tỉnh. Đầu thời Pháp thuộc, phủ Ba Xuyên đổi thành hạt thanh tra Ba Xuyên. Ngày 15 tháng 7 năm 1867, Pháp đổi hạt Ba Xuyên thành hạt thanh tra Sóc Trăng. Đến ngày 5 tháng 6 năm 1876, Nam Kỳ được Pháp chia thành 24 khu tham biện (inspection) do các viên thanh tra hành chính (inspecteur) đảm nhiệm. Năm 1877, Nam Kỳ được Pháp điều chỉnh lại còn 20 khu tham biện. Đến ngày 18 tháng 12 năm 1882, Pháp cắt 3 tổng Quảng Long, Quảng Xuyên, Long Thuỷ của đại lý (Dlégation) Cà Mau thuộc địa hạt Rạch Giá (Arrondissement de Rach Gia) và 2 tổng Thạnh Hoà, Thạnh Hưng của đại lý Châu Thành thuộc địa hạt Sóc Trăng và thành lập địa hạt Bạc Liêu (Arrondissement de Bạc Liêu). Địa hạt Bạc Liêu là địa hạt thứ 21 của Nam Kỳ, lúc đầu có 2 đại lý là Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu. Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ký sắc lệnh bỏ xưng danh địa hạt, đổi thành tỉnh, đại lý đổi thành quận. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, sắc lệnh trên được áp dụng cho toàn Nam Kỳ, trong đó có hạt tham biện Bạc Liêu đổi thành tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu đặt tại làng Vĩnh Lợi thuộc quận Vĩnh Lợi. Tỉnh Bạc Liêu ban đầu chỉ có 2 quận: Vĩnh Lợi và Cà Mau. Năm 1903, lập đại lý hành chánh Cà Mau thuộc tỉnh Bạc Liêu, gồm 3 tổng: Quảng Long, Quảng Xuyên, Long Thủy. Năm 1904, cắt một phần đất của quận Vĩnh Lợi để lập thêm quận Vĩnh Châu. Ngày 16 tháng 5 năm 1911, Toàn quyền Đông Dương quyết định nâng đại lý hành chánh Cà Mau lên thành quận Cà Mau trực thuộc tỉnh Bạc Liêu. Ngày 5 tháng 10 năm 1917, thực dân Pháp chia địa bàn tỉnh Bạc Liêu thành 4 quận trực thuộc: Quận Cà Mau gồm 2 tổng Quảng Xuyên, Quảng Long và các làng Tân Lộc, Tân Lợi, Tân Phú, Thới Bình của tổng Long Thủy. Quận Vĩnh Lợi gồm các làng Hoà Bình, Hưng Hội, Long Thạnh, Vĩnh Lợi, Vĩnh Trạch của tổng Thạnh Hoà. Quận Vĩnh Châu gồm các làng Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hoà, Khánh Hoà, Lạc Hoà của tổng Thạnh Hưng. Quận Giá Rai gồm làng Vĩnh Mỹ của tổng Thạnh Hoà; làng Phong Thạnh, Long Điền của tổng Long Thủy. Ngày 18 tháng 12 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập các thị xã Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá và Mỹ Tho trực thuộc các tỉnh cùng tên gọi. Các thị xã này đều có Ủy ban thị xã, thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng. Thị xã Bạc Liêu lúc đó được thành lập trên phần đất làng Vĩnh Lợi. Ngày 6 tháng 4 năm 1923, tách các làng Tân Lợi, Tân Lộc, Thới Bình của tổng Long Thủy lập tổng mới Long Thới, thuộc quận Cà Mau (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1924). Ngày 24 tháng 9 năm 1938, giải thể quận Vĩnh Châu, nhập vào địa bàn quận Vĩnh Lợi; đồng thời tách tổng Quảng Xuyên khỏi quận Cà Mau lập quận mới có tên là quận Quảng Xuyên. Ngày 14 tháng 9 năm 1942, lập cơ sở hàng chính Tân An thuộc quận Cà Mau. Ngày 5 tháng 4 năm 1944, lập quận Thới Bình bao gồm tổng Thới Bình. Ngày 6 tháng 10 năm 1944, đổi tên quận Thới Bình thành quận Cà Mau Bắc, đổi tên quận Quảng Xuyên thành quận Cà Mau Nam. Sau đó lại hợp nhất 2 quận Cà Mau Bắc và Cà Mau Nam thành một quận có tên là quận Cà Mau thuộc tỉnh Bạc Liêu. Năm 1947, chính quyền thực dân Pháp cũng giao quận Phước Long (trước đó thuộc tỉnh Rạch Giá) cho tỉnh Bạc Liêu quản lý. === Giai đoạn 1945-1954 === Sau năm 1945, chính quyền kháng chiến của Việt Nam đã nhiều lần thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Bạc Liêu. Năm 1947, quận Hồng Dân (trước đó có tên là quận Phước Long) thuộc tỉnh Rạch Giá giao hai làng Vĩnh Hưng, Vĩnh Phú về quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Năm 1948, tỉnh Bạc Liêu giao quận Vĩnh Châu và làng Hưng Hội về tỉnh Sóc Trăng, đồng thời thành lập thêm quận mới lấy tên là quận Ngọc Hiển. Ngày 13 tháng 11 năm 1948, cắt 2 làng Vĩnh Trạch, Vĩnh Lợi để thành lập thị xã Bạc Liêu. Cùng thời điểm này, tỉnh Sóc Trăng giao làng Châu Thới về Bạc Liêu. Làng Châu Thới hợp nhất với làng Long Thạnh thành làng Thạnh Thới. Năm 1951, thành lập thêm huyện Trần Văn Thời, gồm các xã: Khánh Bình Đông, Khánh Bình Tây, Trần Hợi, Hưng Mỹ, Khánh An, Khánh Lâm. Năm 1952, tỉnh Bạc Liêu tiếp nhận hai huyện An Biên, Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá. Sau Hiệp định Genève, tháng 10 năm 1954 huyện Vĩnh Châu được đưa về tỉnh Bạc Liêu, huyện An Biên và huyện Hồng Dân đưa về tỉnh Rạch Giá. Huyện Vĩnh Lợi và thị xã Bạc Liêu được tái lập. === Giai đoạn 1954-1975 === ==== Việt Nam Cộng hòa ==== Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Bạc Liêu như thời Pháp thuộc. Ngày 15 tháng 2 năm 1955, Thủ hiến Nam Việt của chính quyền Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) quyết định tạm sáp nhập vùng Chắc Băng và quận An Biên thuộc tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Sóc Trăng. Ngày 24 tháng 5 năm 1955, quyết định sáp nhập ba quận An Biên, Phước Long và Chắc Băng để thành lập đặc khu An Phước thuộc tỉnh Sóc Trăng, nhưng không lâu sau lại cho giải thể đặc khu này. Sau đó, quận An Biên và vùng Chắc Băng lại trở về thuộc tỉnh Rạch Giá như cũ. Ngày 9 tháng 3 năm 1956, theo Sắc lệnh 32/VN, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lấy phần lớn diện tích đất của tỉnh Bạc Liêu bao gồm quận Cà Mau và 4 xã của quận Giá Rai là Định Thành, Hoà Thành, Tân Thành, Phong Thạnh Tây để thành lập tỉnh Cà Mau; tỉnh lỵ ban đầu cũng có tên là Cà Mau. Tỉnh Bạc Liêu còn lại 4 quận: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Phước Long. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh số 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này vùng đất tỉnh Bạc Liêu cũ thời Pháp thuộc có sự thay đổi hành chính như sau: Đổi tên tỉnh Cà Mau thành tỉnh An Xuyên, còn tỉnh lỵ Cà Mau thì đổi tên là "Quản Long". Thành lập tỉnh Ba Xuyên trên cơ sở hợp nhất phần đất tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu trước đó, tỉnh lỵ đặt tại Sóc Trăng nhưng lúc này lại bị đổi tên là "Khánh Hưng". Như vậy, lúc này tỉnh Bạc Liêu đã bị giải thể. Ngày 13 tháng 01 năm 1958, theo Nghị định số 9-BNV/NC/NP của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, quận Vĩnh Châu bị giải thể av2 sáp nhập vào quận Vĩnh Lợi. Tuy nhiên, đến ngày 5 tháng 12 năm 1960, tái lập quận Vĩnh Châu thuộc tỉnh Ba Xuyên. Ngày 21 tháng 12 năm 1961, quận Phước Long được chính quyền Việt Nam Cộng hòa giao về cho tỉnh Chương Thiện mới được thành lập. Ngày 18 tháng 4 năm 1963, thành lập mới quận Kiến Thiện thuộc tỉnh Chương Thiện trên cơ sở tách một phần đất đai của các quận Phước Long và Long Mỹ cùng tỉnh. Bạc Liêu hồi thời Pháp thuộc rất sung túc, dân cư đông đảo, là xứ ăn xài, lắm khách hào hoa phong nhã, chợ búa mua bán phồn thịnh, nền kinh tế dồi dào. Cho đến khi chính phủ Ngô Đình Diệm chấp chánh, tỉnh Bạc Liêu bị sáp nhập vào tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng cũ) trước kia thịnh vượng đông đảo bao nhiêu, bây giờ lại hóa ra u trệ bấy nhiêu. Vì bỗng dưng bị thu hẹp lại thành một quận là quận Vĩnh Lợi, trọn 9 năm châu thành Bạc Liêu lâm vào cảnh vắng vẻ, nền kinh tế bị sụp đổ, du khách có dịp đi ngang qua cảm tưởng cho là một tỉnh bị chiến tranh tàn phá. Suốt 9 năm dưới thời chính quyền Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Bạc Liêu từ một tỉnh phát triển mạnh ngày nào dưới thời Pháp thuộc bị thu hình lại thành một quận lỵ nhỏ nhoi (tức quận Vĩnh Lợi). Thời Pháp thuộc, Cà Mau ngày nào chỉ là một quận lỵ nhỏ, thua xa tỉnh lỵ Bạc Liêu thì lúc này, Bạc Liêu lại trở thành quận lỵ Vĩnh Lợi thua cả tỉnh lỵ Quản Long (tức Cà Mau cũ). Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 254/NV quy định kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở tách các quận Vĩnh Lợi, Giá Rai, Vĩnh Châu của tỉnh Ba Xuyên và quận Phước Long của tỉnh Chương Thiện. Riêng quận Kiến Thiện vẫn thuộc tỉnh Chương Thiện cho đến năm 1975. Tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu có tên là "Vĩnh Lợi", do lấy theo tên xã Vĩnh Lợi thuộc quận Vĩnh Lợi là nơi đặt tỉnh lỵ. Tỉnh Bạc Liêu gồm 4 quận: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Phước Long cho đến năm 1975. Ngày 11 tháng 7 năm 1968, tách một phần nhỏ đất đai của xã Hưng Hội, quận Vĩnh Lợi thuộc tỉnh Bạc Liêu giao về cho quận Hòa Tú mới được thành lập trực thuộc tỉnh Ba Xuyên; đổi lại quận Vĩnh Lợi thuộc tỉnh Bạc Liêu nhận thêm xã Châu Thới vốn trước đó thuộc quận Thạnh Trị, tỉnh Ba Xuyên. Ngày 11 tháng 3 năm 1970, quận Vĩnh Lợi thuộc tỉnh Bạc Liêu nhận thêm một phần đất đai trước đó thuộc xã Châu Hưng, quận Thạnh Trị, tỉnh Ba Xuyên và cũng nhận lại phần đất đai trước đó thuộc xã Hưng Hội nhưng từng bị cắt chuyển về thuộc quận Hòa Tú thuộc tỉnh Ba Xuyên; đồng thời nửa phía bắc xã Châu Thới thuộc quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu cũng lại sáp nhập vào xã Châu Hưng thuộc quận Thạnh Trị, tỉnh Ba Xuyên. Bên cạnh đó, dải đất rộng 1500m chạy dọc sông Mỹ Thanh thuộc các xã Khánh Hòa và Vĩnh Phước của quận Vĩnh Châu thuộc tỉnh Bạc Liêu cũng giao về cho quận Hòa Tú thuộc tỉnh Ba Xuyên. ==== Chính quyền Cách mạng ==== Năm 1957, Liên Tỉnh uỷ miền Tây giải thể tỉnh Bạc Liêu, đồng thời đưa các huyện Giá Rai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu giao về tỉnh Sóc Trăng quản lý. Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định hợp nhất huyện Vĩnh Châu và huyện Vĩnh Lợi, thành huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu. Năm 1962, huyện Giá Rai sáp nhập vào tỉnh Cà Mau. Năm 1963, Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định giải thể huyện Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu để tái lập huyện Vĩnh Lợi và huyện Vĩnh Châu. Ngày 07 tháng 03 năm 1972, nhập xã Vĩnh Hưng của huyện Giá Rai vào huyện Vĩnh Lợi. Trong giai đoạn 1964-1973, địa bàn tỉnh Bạc Liêu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh Sóc Trăng của chính quyền cách mạng quản lý, ngoại trừ huyện Giá Rai thuộc tỉnh Cà Mau. Tháng 11 năm 1973, Khu ủy Tây Nam Bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu. Tuy nhiên, chính quyền Cách mạng vẫn đặt huyện Vĩnh Châu thuộc tỉnh Sóc Trăng cho đến đầu năm 1976. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì tỉnh Bạc Liêu cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa). Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, tỉnh Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu và hai huyện Vĩnh Thuận, An Biên (ngoại trừ 2 xã Đông Yên và Tây Yên) của tỉnh Rạch Giá sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên. Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu được tiến hành hợp nhất vào ngày 1 tháng 1 năm 1976 với tên gọi ban đầu là tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu. === Tỉnh Minh Hải giai đoạn 1976-1996 === Ngày 10 tháng 3 năm 1976, tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu được đổi tên thành tỉnh Minh Hải, đồng thời thị xã Bạc Liêu cũng được đổi tên là thị xã Minh Hải. Tỉnh Minh Hải ban đầu gồm thị xã Minh Hải, thị xã Cà Mau và 7 huyện là Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Châu Thành, Thới Bình, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển. Tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải ban đầu đặt tại thị xã Minh Hải. Ngày 11 tháng 07 năm 1977, Hội đồng chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 181-CP giải thể huyện Châu Thành. Các xã của huyện này được nhập vào các huyện Giá Rai, Trần Văn Thời và Thới Bình. Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 326-CP lập thêm 6 huyện mới là Phước Long, Cà Mau, U Minh, Phú Tân, Cái Nước, Năm Căn. Số huyện trong tỉnh tăng lên 12 huyện. Ngày 30 tháng 08 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 94-HĐBT giải thể huyện Cà Mau, các xã của huyện này được sáp nhập vào thị xã Cà Mau và các huyện Giá Rai, Thới Bình, Cái Nước. Tỉnh còn lại 2 thị xã và 11 huyện. Ngày 17 tháng 05 năm 1984, Hội động Bộ trưởng ra nghị định số 75-HĐBT đã đổi tên thị xã Minh Hải thành thị xã Bạc Liêu trực thuộc tỉnh Minh Hải. Hợp nhất huyện Hồng Dân và huyện Phước Long lấy tên là huyện Hồng Dân. Hợp nhất huyện Cái Nước và huyện Phú Tân thành huyện Cái Nước. Ngày 17 tháng 12 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định 168/HĐBT đổi tên huyện Năm Căn thành huyện Ngọc Hiển (mới), đồng thời đổi tên huyện Ngọc Hiển (cũ) thành huyện Đầm Dơi. Đồng thời chuyển tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau. Lúc này, tỉnh Minh Hải có 11 đơn vị hành chính trực thuộc là thị xã Cà Mau, thị xã Bạc Liêu và 9 huyện là Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Trần Văn Thời, Đầm Dơi, Ngọc Hiển. === Tỉnh Bạc Liêu từ năm 1997 đến nay === Ngày 6 tháng 11 năm 1996, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX, ra Nghị quyết chia và điều chỉnh địa giới một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Minh Hải thành tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau. Tỉnh Bạc Liêu lúc này gồm có thị xã Bạc Liêu (tỉnh lị) và 3 huyện: Giá Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lợi. Ngày 25 tháng 8 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/1999/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc thị xã Bạc Liêu và các huyện Hồng Dân, Giá Rai. Ngày 25 tháng 09 năm 2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 51/2000/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hồng Dân để thành lập huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Ngày 24 tháng 12 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 98/2001/NĐ-CP, chia huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu thành hai huyện Đông Hải và Giá Rai. Ngày 24 tháng 12 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 166/2003/NĐ-CP, thành lập xã, phường thuộc các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải và thị xã Bạc Liêu. Cuối năm 2004, tỉnh Bạc Liêu gồm có Thị xã Bạc Liêu, huyện Hồng Dân, huyện Phước Long, huyện Vĩnh Lợi, huyện Giá Rai và huyện Đông Hải. Ngày 26 tháng 7 năm 2005, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 96/2005/NĐ-CP, thành lập huyện Hoà Bình. Tỉnh Bạc Liêu có 7 đơn vị hành chính trực thuộc là thị xã Bạc Liêu, huyện Vĩnh Lợi, huyện Hoà Bình, huyền Hồng Dân, huyện Phước Long, huyện Giá Rai, huyện Đông Hải. Ngày 27 tháng 8 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/NQ-CP về việc thành lập THÀNH PHỐ BẠC LIÊU thuộc tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Bạc Liêu. Ngày 16 tháng 4 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 537/QĐ-TTg công nhận thành phố Bạc Liêu là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bạc Liêu. Như vậy, thành phố Bạc Liêu cùng với các thành phố Long Xuyên, Cà Mau, Rạch Giá là 4 đô thị loại II của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong vòng 4 năm được công nhận là thành phố (2010-2014), thành phố Bạc Liêu từ đô thị loại III nhanh chóng đã phát triển lên đô thị loại II, trong khi thành phố Cà Mau từ thành phố đô thị loại III lên đô thị loại II mất đến 11 năm (1999-2010), thành phố Sóc Trăng lên thành phố đô thị loại III từ năm 2007 (trước thành phố Bạc Liêu 3 năm) nhưng đến nay vẫn chưa được lên đô thị loại II. Ngày 11 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết định thành lập thị xã Giá Rai trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Giá Rai. == Kinh tế == Năm 2011, Mặc dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng tình hình kinh tế và xã hội tỉnh Bạc Liêu tiếp tục duy trì ổn định và phát triển. Trong đó, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt 9.826 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2010. Thu nhập bình quân đầu người trong năm 2011 đạt gần 25 triệu đồng (tương đương 1.123 USD), cơ cấu kinh tế gồm khu vực nông nghiệp chiếm 51,7%, công nghiệp xây dựng chiếm 24,52% và dịch vụ chiếm 23,78% trong GDP. Tổng vốn đầu tư phát triển năm 2011 thực hiện 5.603 tỷ đồng, chiếm khoảng 25,83% GDP. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 9.958 tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ, sản lượng lương thực 900 ngàn tấn, sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng cả năm lên trên 250 ngàn tấn, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh lên 4.356 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu thực hiện 260 triệu USD, chỉ số giá cả năm tăng 16,5%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá đạt 18.060 tỷ đồng. Doanh thu du lịch đạt gần 470 tỷ đồng, với khoảng 530 ngàn lượt du khách (Trong đó có khoảng 17.000 lượt khách Quốc tế). chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh được cải thiện đáng kể. Trong năm, tỉnh đã tiếp nhận và xúc tiến đầu tư 42 dự án, trong đó đã đồng ý chủ trương đầu tư 25 dự án, với tổng số vốn đăng ký 1.107 tỷ đồng và 225 triệu USD. Tổng thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 1.484 tỷ đồng, trong đó, thu trong cân đối 871 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương trong cân đối đạt 2.490 tỷ đồng, bằng 106,9% dự toán, bằng 97,9% so năm 2010. Kết quả giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản khu vực Nhà nước ước thực hiện 2.062/2.155 tỷ đồng, đạt 95,6%. Tổng các nguồn vốn huy động đạt 12.000 tỷ đồng, tăng 12%, trong đó huy động tại địa phương tăng 19%, tổng dư nợ cho vay đạt 9.800 tỷ đồng, tăng 17%, cho vay trung và dài hạn đạt 3.300 tỷ đồng, tăng 13% so với năm 2010. Trong năm 2011, có 78% rác thải đô thị được thu gom, 94% hộ nhân dân sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó khu vực nông thôn là 54%. Hoạt động quản lý khoa học và công nghệ có sự chuyển biến tích cực, chất lượng thẩm định các đề tài khoa học từng bước được nâng lên, nhiều đề tài, dự án đã đưa vào ứng dụng mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao năng suất lao động trên nhiều lĩnh vực và cải thiện đời sống người dân. Trong giai đoạn 6 tháng đầu năm 2012, Tuy có sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới và những khó khăn trong nước, nhưng tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt 3.626 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994), tăng 11,87% so cùng kỳ, trong đó Khu vực nông nghiệp tăng 8,96%, công nghiệp - xây dựng tăng 13,95% và dịch vụ tăng 14,15% so với cùng kỳ. Các chỉ tiêu kinh tế như giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu, sản lượng lương thực, thu ngân sách, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đều có mức tăng trưởng so cùng kỳ. Một số chỉ tiêu được xếp ở vị trí khá so với các tỉnh miền Tây Nam bộ như Tăng trưởng kinh tế ở vị trí 2/22 tỉnh, thành phố. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 3/22 tỉnh, thành phố. thu ngân sách 7/22 tỉnh, thành phố. số doanh nghiệp vừa và nhỏ ngừng hoạt động và tỷ lệ nợ xấu thấp nhất so các tỉnh thành trong khu vực. Tháng 12 năm 2012, thực hiện theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 1 năm 2012. Do đó, Sản xuất nông nghiệp về diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch đều tăng trưởng so với cùng kỳ, công tác phòng trừ sâu hại và dịch bệnh được triển khai thực hiện tốt, nhờ thực hiện tốt các kiểm soát, kiểm dịch nên chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển tốt và tăng so với cùng kỳ, giá trị sản xuất công nghiệp trong 12 tháng tăng 15,5% so với cùng kỳ, tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng 20,3% so với cùng kỳ, tổng nguồn vốn đầu tư cho xây dựng tăng 17% so với cùng kỳ. Về tài chính, mặc dù đang trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nên nguồn thu trong cân đối tăng chậm, tổng thu trong cân đối ngân sách tăng 19% so với cùng kỳ, thu quản lý qua ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng 16,7% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các mặt công tác Văn hóa - Xã hội và An ninh - Quốc phòng tiếp tục ổn định và giữ vững, công tác thanh tra, tư pháp thực hiện theo kế hoạch đề ra đạt hiệu quả, đúng quy định của pháp luật, tình hình tai nạn giao thông so với tháng trước giảm cả 03 mặt, về số vụ, số người chết và số người bị thương == Cao ốc Bạc Liêu == Baclieu Tower từng là tòa nhà cao nhất Đồng bằng sông Cửu Long thời điểm tòa nhà này được khánh thành (năm 2011), cao 18 tầng, nằm tại trung tâm thành phố Bạc Liêu, đối diện bưu điện tỉnh Bạc Liêu, có vị trí đẹp nhất trung tâm thành phố. Tòa nhà này đã được đầu tư của PetroVietnam, khởi công từ ngày 29 Tháng Chín năm 2010 và khánh thành vào ngày 30 Tháng Tư năm 2011. Baclieu Tower có 18 tầng, bao gồm 1 tầng hầm, từ sân thượng của tòa nhà, bạn có thể thấy tổng quan về thành phố Bạc Liêu, một thành phố trẻ và năng động. Tòa nhà này đã được quy hoạch trung tâm thương mại, khách sạn, trung tâm hội nghị, văn phòng... Tuy nhiên, nó vẫn chưa đi vào hoạt động vì không ai thuê (do giá mặt bằng khá cao). Hiện nay, chỉ có quán cà phê Thanh Niên kinh doanh ở trước tòa nhà. Nó đã được bán đấu giá bằng cách tự đầu tư với giá khoảng 240 tỷ đồng, nhưng không ai mua cho đến bây giờ. == Dân cư == Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Bạc Liêu đạt gần 873.300 người, mật độ dân số đạt 354 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 234.700 người, dân số sống tại nông thôn đạt 638.600 người. Dân số nam đạt 434.500 người, trong khi đó nữ đạt 438.800 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 10,1 ‰ Bạc Liêu có ba dân tộc chủ yếu là Kinh, Hoa và Khmer. Sự hòa quyện văn hóa giữa ba dân tộc đã tạo cho Bạc Liêu một nền văn hóa rất riêng biệt khó trộn lẫn từ văn hóa ẩm thực cho đến phong cách sống, giao tiếp hàng ngày. == Du lịch == Thăm di tích, thắng cảnh... Vùng đất Bạc Liêu có nhiều di tích ghi dấu những sự kiện từ ngày đầu khai hoang mở đất. Đây còn là vùng đất hội tụ văn hóa của ba dân tộc Kinh - Hoa - Khmer thể hiện qua những công trình văn hóa độc đáo, tạo nên vẻ đẹp riêng Bạc Liêu. Trước hết, phải kể đến di tích cấp quốc gia Tháp cổ Vĩnh Hưng. Di tích này nằm cách thành phố Bạc Liêu khoảng 20 km về hướng Tây Bắc, thuộc ấp Trung Hưng 1, xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi. Đây là công trình kiến trúc nghệ thuật có niên đại 892 sau Công nguyên. Những cổ vật được phát hiện nơi này đã "kể lại" những ngày vàng son của nền văn hóa Óc Eo một thời. Trở lại thành phố Bạc Liêu, du khách hãy đến xem đồng hồ Thái Dương, một sản phẩm của nhà bác vật đầu tiên ở Việt Nam - ông Lưu Văn Lang (1880-1969). Đồng hồ Thái Dương được xây dựng bằng gạch và xi măng, chỉ dựa vào hướng đi của ánh nắng mặt trời để báo giờ. Quần thể nhà Công tử Bạc Liêu tọa lạc trên đường Điện Biên Phủ (phường 3) là địa chỉ không thể bỏ qua của du khách khi đến Bạc Liêu. Đây là nhà của ông Trần Trinh Trạch, cha của Trần Trinh Huy - người được mệnh danh là Công tử Bạc Liêu. Ngôi nhà xây dựng năm 1919 được coi là bề thế nhất của Bạc Liêu thời đó, do kỹ sư người Pháp thiết kế và có nhiều vật liệu phải chở từ Pháp sang. Nhà Công tử Bạc Liêu hiện được bày biện, phục tráng gần như nguyên trạng. Du khách muốn tận hưởng không khí mát dịu trong lành của rừng hoang sơ giữa lòng thành phố Bạc Liêu, hãy đến với vườn chim Bạc Liêu, cách trung tâm thành phố 6 km về hướng biển. Đây là cảnh quan độc đáo mà thiên nhiên ban tặng cho Bạc Liêu, cũng là thảm rừng ngập mặn quý hiếm còn sót lại ở Việt Nam, là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật quý hiếm... Giữa lòng thành phố Bạc Liêu còn có khu du lịch sinh thái Hồ Nam, một trong sáu điểm du lịch tiêu biểu đồng bằng sông Cửu Long ở Bạc Liêu… Khu du lịch này có vị trí đắc địa về phong thủy với hồ nước rộng đến 12ha bốn bề lộng gió, hệ thống các dịch vụ vừa hiện đại, vừa mang đậm tính dân dã truyền thống của Bạc Liêu xưa, đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng... Sau khi ngắm vườn chim, thăm vườn nhãn cổ, xem cây xoài 300 tuổi, một điểm không thể bỏ qua là khu Quán âm Phật đài được xây dựng gần cửa biển Nhà Mát - một công trình kiến trúc, văn hóa, tâm linh ở Bạc Liêu. Cách đây không xa lại có thêm khu biển nhân tạo vừa được mở cửa để phục vụ du khách. Ngoài ra, Bạc Liêu còn có rất nhiều đình, chùa và các đền thờ được xây dựng để thờ các vị tiền nhân có công lao đối với quê hương Bạc Liêu (chùa Vĩnh Đức, chùa Long Phước, chùa Xiêm Cán, chùa Giác Hoa, đình thần Nguyễn Trung Trực, đình Tân Hưng...). Đặc biệt, Bạc Liêu còn có Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi với khuôn viên rộng 6.000m2; khu di tích Đồng Nọc Nạng (thị xã Giá Rai); khu di tích Ninh Thạnh Lợi (huyện Hồng Dân); khu lưu niệm Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nghệ nhân Cao Văn Lầu... Vừa qua hiệp hội du lịch đồng bằng sông Cửu Long đã công nhận thêm 3 điểm du lịch tiêu biểu vùng đồng bằng sông Cửu Long năm 2014 ở Bạc Liêu là: Quảng trường Hùng Vương (thành phố Bạc Liêu),Khu nhà công tử Bạc Liêu (thành phố Bạc Liêu),Khu biển nhân tạo thuộc khu du lịch Nhà Mát (thành phố Bạc Liêu) nâng tổng số điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh lên 6 điểm du lịch nhiều nhất toàn vùng. Khám phá những giá trị văn hóa phi vật thể Bên cạnh những di tích vật thể thì Bạc Liêu còn độc đáo bởi những giá trị văn hóa phi vật thể như các lễ hội, phong tục, tập quán cổ truyền. Đó là các lễ hội Kỳ yên, lễ hội Phật giáo Thượng Ngươn, Trung Ngươn, Hạ Ngươn; lễ hội Chôl Chnăm Thmây, Oóc-om-bóc, Đôn-ta của người Khmer; lễ Giỗ tổ cổ nhạc, lễ cúng Thanh minh... Văn hóa ẩm thực cũng tạo nên nét đặc trưng cho vùng đất cuối trời Nam này. Ẩm thực Bạc Liêu mang sắc thái dân tộc và yếu tố bản địa vùng miền. Nhiều món ăn tạo nên thương hiệu Bạc Liêu như bún bò cay, bánh xèo, bún nước lèo… Bạc Liêu là một trong những cái nôi của đờn ca tài tử Nam bộ. Đây là nơi sinh ra các nhạc sư, nghệ nhân, nhiều ca sĩ, nghệ sĩ lừng danh… Và nói đến đất nước - con người Bạc Liêu, không thể không nhắc đến những trang sử vẻ vang của hai lần giành lại chính quyền từ tay giặc không đổ máu, những cuộc nổi dậy của nông dân Ninh Thạnh Lợi, nông dân Nọc Nạng... Tất cả làm nên một Bạc Liêu với nhiều kỳ tích! Một sức hấp dẫn rất Bạc Liêu sẽ không chỉ dừng lại ở những địa điểm du lịch, những nét văn hóa phi vật thể độc đáo mà còn quyến rũ bởi văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, văn hóa làm du lịch của Bạc Liêu. Du khách về thăm Bạc Liêu hãy cảm nhận sức hấp dẫn, sự quyến rũ ấy bằng chính giác quan và cảm quan của mình! - Hiện nay Bạc Liêu chiếm 8/25 điểm du lịch tiêu biểu của ĐBSCL và dẫn đầu khu vực. Trong năm 2015 du lịch Bạc Liêu đã có bước chuyển mình mạnh mẽ. Theo đó trong năm 2015 tỉnh đã đón 1,1 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt gần 1000 tỷ đồng. Ngành du lịch Bạc Liêu phấn đấu đến năm 2030 tỉnh sẽ đón 4 triệu lượt khách du lịch. == Giáo dục & Y tế == === Giáo dục === Hệ thống giáo dục của tỉnh Bạc Liêu có nhiều cấp học, bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp. Theo thống kê đến ngày 30 tháng 9 năm 2007, Bạc Liêu có 234 trường học ở các cấp phổ thông, thấp nhất khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Sáng ngày 20 tháng 07 năm 2009, 100% xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh có phòng học kiên cố. Toàn tỉnh Bạc Liêu có: 64 trường Mầm non 154 trường Tiểu học 67 trường trung học cơ sở 85 trường Trung học 1 trường Đại học (ĐH Bạc Liêu) Chỉ tiêu phổ cập đúng độ tuổi và THCS đều đạt và vượt tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định: 96,93% đối tượng tốt nghiệp lớp 9; 81,35% đối tượng từ 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS, trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,10%, trẻ em 11-14 tuổi tốt nghiệp Tiểu học đạt 90,79%. 31/61 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. == Y tế == == Giao thông == Đường bộ: Quốc lộ 1 đi qua huyện Vĩnh Lợi, thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình và thị xã Giá Rai. Tỉnh lộ 1, nối huyện Hồng Dân với Thành phố Bạc Liêu, đi qua các huyện Hồng Dân, Phước Long, Vĩnh Lợi, Hòa Bình. Tỉnh lộ 2, nối thị trấn Phước Long với quốc lộ 1 tại xã Vĩnh Mỹ B huyện Hòa Bình, để đến thành phố Bạc Liêu, tỉnh lộ 2 đi qua huyện Phước Long, Hòa Bình. Quản Lộ - Phụng Hiệp: nối thị xã Ngã bảy với thành phố Cà Mau, đi qua huyện Phước Long và thị xã Giá Rai. Quốc lộ 91C - đường Nam Sông Hậu, chạy dọc theo sông Hậu và biển Đông, nối thành phố Cần Thơ với Bạc Liêu (thành phố). Tuyến đường đê biển, chạy dọc theo bờ biển Bạc Liêu, nối thị trấn [[Gành Hào với thành phố Bạc Liêu, đi qua thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, Đông Hải. Các tỉnh lộ khác nối các huyện với nhau, huyện lộ nối các xã với thị trấn, các tuyến đường nông thôn,... Đặc điểm chung của các tuyến đường ở Bạc Liêu (trừ các tuyến đường ở thành phố và thị trấn) là đều nằm cạnh một con sông, con kênh nhất định. Đây cũng là đặc điểm của giao thông miền Tây Nam Bộ Đường thủy: Bạc Liêu chỉ có 2 con sông tự nhiên nằm ở phía bắc và phía nam của tỉnh đó là sông Gành Hào - ranh giới tự nhiên với tỉnh Cà Mau và sông Cái - ranh giới tự nhiên với tỉnh Hậu Giang, còn lại trên địa bàn tỉnh là các kênh đào. Giống như các tỉnh khác ở miền Tây, Bạc Liêu sở hữu cho mình một hệ thống kênh rạch chằng chịt nhưng đa phần là các con kênh nhỏ, chỉ có một vài con kênh lớn, lớn nhất là kênh Bạc Liêu - Cà Mau và kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp. Kênh rạch ở Bạc Liêu chia làm 2 phần riêng biệt, từ kênh Bạc Liêu - Cà Mau trở xuống phía Nam đến bờ biển, nước của các con kênh ở đây là nước mặn, hệ sinh thái dưới nước của các con kênh này là hệ sinh thái nước mặn. Còn từ kênh Bạc Liêu - Cà Mau trở ra phía Bắc, nước của các con kênh ở đây là nước ngọt, hệ sinh thái dưới nước của các con kênh này là hệ sinh thái nước ngọt. Vào mùa khô, đôi khi tình trạng xâm nhập mặn vào các con kênh nội đồng vẫn còn hay xảy ra. == Ảnh == == Tỉnh kết nghĩa == Tỉnh Ninh Bình, Việt Nam Ninh Bình có các công trình phục vụ phát triển kinh tế xã hội mang tên các địa danh của tỉnh Bạc Liêu như: kênh Cự Lĩnh, trường cấp II Ninh Bình - Bạc Liêu, sông Vĩnh Lợi, cống Vĩnh Lợi, cống Bạc Liêu ở xã Yên Mỹ, hồ Yên Quang, cống Bạc Liêu ở xã Khánh Lợi, trạm bơm Bạc Liêu, trục kênh Bạc Liêu. Bạc Liêu có đường Ninh Bình là tuyến đường có Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia là Khu lưu niệm nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu- đây là điểm thăm quan, du lịch tiêu biểu của tỉnh Bạc Liêu. Trên Quảng trường Hùng Vương lớn nhất khu vực ĐBSCL tại phường 1, TP Bạc Liêu có một công trình mang tên “Biểu tượng kết nghĩa Bạc Liêu - Ninh Bình”. Đó là một biểu tượng có hồ nước rộng 176m2 với 3 vòm cong trên hồ liên kết với nhau tượng trưng cho sự trùng trùng điệp điệp, hùng vĩ của thiên nhiên đèo Ba Dội Ninh Bình hòa quyện với những ruộng muối đặc trưng của Bạc Liêu. Ngoài ra còn có một số cây cầu khác mang địa danh Ninh Bình như Trường THCS Bạc Liêu- Ninh Bình; Trường Tiểu học Hoa Lư, cầu Gia Viễn, cầu Trường Yên, cầu Tràng An… tại các huyện của tỉnh Bạc Liêu. == Tham khảo ==
león (tỉnh).txt
León (Llión, trong tiếng Leon) là một tỉnh ở phía tây bắc Tây Ban Nha, tây bắc cộng đồng tự trị Castile và León. Khoảng ¼ trong tổng số 500.200 dân của tỉnh (năm 2008) sống ở tỉnh lỵ León. Tỉnh này có chung vườn quốc gia Picos de Europa (ở dãy núi Picos de Europa) cùng với Cantabria và Asturias. Tổng cộng có 211 đô thị ở tỉnh này. == Các Comarca == El Bierzo Maragatería Tierra de Campos La Montaña La Ribera La Cabrera Tierras de La Bañeza Tierras de León == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang mạng du lịch chính thức của tỉnh León Chính quyền tỉnh León Hội đồng thành phố León
bahrain.txt
Bahrain (phát âm tiếng Việt: Ba-ranh; tiếng Ả Rập: البحرين ), gọi chính thức là Vương quốc Bahrain (tiếng Ả Rập: مملكة البحرين ), là một quốc gia quân chủ Ả Rập trên vịnh Ba Tư . Đây là một đảo quốc gồm một quần đảo nhỏ tập trung quanh đảo Bahrain, nằm giữa đảo Qatar và duyên hải đông bắc của Ả Rập Saudi, Bahrain liên kết với Ả Rập Saudi qua đường đắp cao Quốc vương Fahd dài 25 km. Dân số Bahrain đạt 1.234.567 vào khoảng năm 2010, trong đó bao gồm 666.172 người ngoại quốc. Bahrain có diện tích 780 km2, là quốc gia nhỏ thứ ba tại châu Á sau Maldives và Singapore. Bahrain thời cổ đại từng thuộc văn minh Dilmun. Đảo quốc nổi tiếng từ xưa với nghề tìm kiếm ngọc trai, ngọc trai Bahrain được cho là tốt nhất thế giới trong thế kỷ 19. Bahrain là một trong các khu vực cải sang Hồi giáo sớm nhất (628). Sau giai đoạn người Ả Rập cai trị, Bahrain bị người Bồ Đào Nha chiếm đóng vào năm 1521. Đến năm 1602, Quốc vương Abbas I của vương triều Safavid Ba Tư trục xuất người Bồ Đào Nha. Năm 1783, thị tộc Bani Utbah chiếm lấy Bahrain từ Nasr Al-Madhkur (thống đốc của Ba Tư) và kể từ đó đảo quốc nằm dưới quyền cai trị của gia tộc Al Khalifa. Đến cuối thập niên 1800, sau các hiệp ước liên tiếp với Anh, Bahrain trở thành một lãnh thổ bảo hộ của Anh. Năm 1971, Bahrain tuyên bố độc lập. Bahrain thay đổi tiền tố quốc hiệu từ 'nhà nước' sang 'vương quốc' vào năm 2002. Năm 2011, đảo quốc này trải qua các cuộc thị uy lấy cảm hứng từ Mùa xuân Ả Rập. Bahrain có nền kinh tế hậu dầu mỏ đầu tiên tại khu vực vịnh Ba Tư. Kể từ cuối thế kỷ 20, Bahrain tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực ngân hàng và du lịch. Nhiều tổ chức tài chính lớn hiện diện tại thủ đô Manama của đảo quốc. Bahrain có chỉ số phát triển con người ở mức cao và được Ngân hàng Thế giới công nhận là một nền kinh tế thu nhập cao. == Từ nguyên == Trong tiếng Ả Rập, Bahrayn là dạng kép của bahr ("biển"), do đó al-Bahrayn nghĩa là "hai biển", song hai biển ám chỉ điều gì thì vẫn còn tranh luận. Thuật ngữ này xuất hiện năm lần trong kinh Quran, song không ám chỉ đảo quốc hiện đại — ban đầu người Ả Rập gọi là Awal — mà là toàn bộ miền đông bán đảo Ả Rập (đặc biệt là al-Katif và al-Hasa). Ngày nay, "hai biển" của Bahrain thay vào đó thường được cho là vịnh phía đông và tây của đảo, biển bắc và nam của đảo, hoặc là nước mặn và nước ngọt tại bên trên và bên dưới mặt đất. Ngoài các giếng nước, có các khu vực tại vùng biển phía bắc của Bahrain xảy ra hiện tượng nước ngọt sủi bọt lên giữa dòng nước mặn, hiện tượng này được các du khách chú ý từ thời cổ. Một thuyết khác về từ nguyên của Bahrain cho rằng hai biển chính là vịnh Ba Tư và một hồ nước yên lặng tại đại lục bán đảo Ả Rập. Cho đến vãn kỳ Trung Cổ, "Bahrain" được dùng để chỉ miền đông bán đảo Ả Rập, gồm cả miền nam Iraq, Kuwait, Al-Hasa, Qatif và Bahrain. Khu vực trải dài từ Basra tại Iraq đến eo biển Hormuz tại Oman. Không rõ thời điểm chính xác khi thuật ngữ "Bahrain" bắt đầu chỉ đề cập đến quần đảo Awal. Đảo và vương quốc được viết phổ biến là Bahrein cho đến thập niên 1950. == Lịch sử == === Cổ đại === Bahrain là quê hương của văn minh Dilmun, là một trung tâm mậu dịch quan trọng trong thời đại đồ đồng giúp liên kết Lưỡng Hà và thung lũng sông Ấn. Bahrain sau đó nằm dưới quyền cai trị của người Assyria và người Babylon. Từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 3 TCN, Bahrain là bộ phận của đế quốc Achaemenes Ba Tư. Đến khoảng năm 250 TCN, người Parthia (từ đông bắc Ba Tư) kiểm soát vịnh Ba Tư và bành trướng ảnh hưởng xa đến Oman. Người Parthia lập các đồn quân sự dọc duyên hải phía nam của vịnh Ba Tư để kiểm soát các tuyến mậu dịch. Người Hy Lạp cổ đại gọi Bahrain là Tylos, trung tâm mậu dịch ngọc trai, khi đô đốc Hy Lạp Nearchus đổ bộ lên Bahrain theo lệnh Alexandros Đại đế. Nearchus được cho là vị chỉ huy đầu tiên của Alexandros đến đảo, ông ghi lại rằng Bahrain có các đồn điền lớn trồng bông để sản xuất trang phục. Sử gia Hy Lạp Theophrastus viết rằng cây bông bao phủ phần lớn Bahrain và rằng Bahrain nổi tiếng về gậy đi bộ (ba toong) xuất khẩu được chạm khắc các hình vẽ. Alexandros có kế hoạch định cư người Hy Lạp tại Bahrain, và mặc dù không rõ về quy mô tiến hành trên thực tiễn, song Bahrain là bộ phận hội nhập nhiều trong thế giới Hy Lạp hoá: ngôn ngữ của tầng lớp thượng lưu là tiếng Hy Lạp (dù Aramaic được sử dụng hàng ngày), trong khi thần Zeus được thờ phụng dưới dạng thần mặt trời Shams Ả Rập. Bahrain thậm chí còn trở thành địa điểm thi đấu thể thao Hy Lạp. Sử gia Hy Lạp Strabo cho rằng người Phoenicia có nguồn gốc từ Bahrain. Herodotus cũng cho rằng quê hương của người Phoenicia là Bahrain. Trong thế kỷ 3, quân chủ đầu tiên của vương triều Sassanid Ba Tư là Ardashir I hành quân đến Oman và Bahrain, đánh bại người cai trị Bahrain là Sanatruq. Khi đó, Bahrain được gọi là Mishmahig. Bahrain cũng là nơi thờ một vị thần bò gọi là Awal, những người thời phụng xây một tượng lớn cho Awal tại Muharraq, song hiện đã biến mất. Sau nhiều thế kỷ được gọi là Tylos, Bahrain được gọi là Awal. Đến thế kỷ 5, Bahrain trở thành một trung tâm của Cảnh giáo, ngôi làng Samahij là nơi ở của các giám mục. Năm 410, theo như hồ sơ tôn giáo của Giáo hội Đông phương Syria, một giám mục tên là Batai bị rút phép thông công khỏi giáo hội tại Bahrain. Tín đồ Cảnh giáo thường bị triều đình Đông La Mã ngược đãi do bị cho là dị giáo, song Bahrain nằm ngoài phạm vi kiểm soát của đế quốc này. Cư dân Bahrain thời kỳ tiền Hồi giáo gồm có người Ả Rập Cơ Đốc giáo, người Ba Tư theo Hoả giáo, người Do Thái, và người nói tiếng Aram. Theo học giả Anh Robert Bertram Serjeant, người Bahrain có thể là hậu duệ Ả Rập hoá của những người Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo và Ba Tư sống trên đảo vào thời điểm người Hồi giáo chinh phục. === Thời kỳ Muhammad === Tương tác đầu tiên của Muhammad với cư dân Bahrain là cuộc xâm chiếm Al Kudr. Muhammad ra lệnh tấn công bất ngờ bộ lạc Banu Salim với cáo buộc rằng họ âm mưu tấn công Medina. Ông nhận được tin tức rằng một số bộ lạc tập hợp một đội quân tại Bahrain và chuẩn bị tấn công vào đại lục. Song các nhân sĩ bộ lạc rút lui khi biết rằng Muhammad đang dẫn quân đến giao chiến với họ. Tư liệu Hồi giáo truyền thống viết rằng Al-Ala'a Al-Hadrami được Muhammad cử làm sứ giả trong cuộc chinh phục Zaid ibn Haritha (Hisma) đến khu vực Bahrain vào năm 628 và rằng quân chủ địa phương là Munzir ibn-Sawa al-Tamimi hưởng ứng và cải đạo toàn bộ khu vực sang Hồi giáo. === Trung Cổ === Năm 899, giáo phái Qarmat (thuộc hệ Hồi giáo Shia) chiếm được Bahrain, tìm cách lập ra một xã hội không tưởng dựa trên lý trí và tái phân phối của cải trong những người thụ giáo. Sau đó, giáo phái Qarmat yêu cầu triều cống từ khalip tại Baghdad, và đến năm 930 họ cướp phá Mecca và Medina, đưa Đá Đen thiêng liêng về căn cứ của họ tại Ahsa, tức khu vực Bahrain trung đại, để đòi tiền chuộc. Theo sử gia Al-Juwayni, hòn đá được trả lại 22 năm sau vào năm 951 trong hoàn cảnh khó hiểu. Sau thất bại vào năm 976 trước vương triều Abbas Ba Tư, giáo phái Qarmat bị vương triều Uyuni của người Ả Rập tại al-Hasa (nay thuộc Ả Rập Saudi) lật đổ, vương triều này chiếm được toàn bộ khu vực Bahrain vào năm 1076. Vương triều Uyuni kiểm soát Bahrain cho đến năm 1235, vào năm này quần đảo bị một thống đốc Ba Tư chiếm đóng trong một thời gian ngắn. Năm 1253, người Usfuri du mục lật đổ vương triều Uyuni, nhờ đó giành quyền kiểm soát miền đông bán đảo Ả Rập, trong đó có quần đảo Bahrain. Năm 1330, quần đảo trở thành một nước chư hầu của quân chủ Hormuz, song tại địa phương quần đảo nằm dưới quyền kiểm soát của vương triều Jarwani tại Qatif (nay thuộc Ả Rập Saudi) theo Hồi giáo Shia. Đến giữa thế kỷ 15, quần đảo nằm dưới quyền kiểm soát của vương triều Jabri, một triều đại Bedouin cũng có căn cứ tại Al-Ahsa và kiểm soát hầu hết miền đông bán đảo Ả Rập. === Thời kỳ đầu hiện đại === Năm 1521, người Bồ Đào Nha liên minh với Hormuz và chiếm được Bahrain từ tay quân chủ Jabri là Migrin ibn Zamil. Bồ Đào Nha cai trị Bahrain trong khoảng 80 năm, trong thời gian đó họ dựa chủ yếu vào các thống đốc người Ba Tư theo Hồi giáo Sunni. Năm 1602, Abbas I của vương triều Safavid Ba Tư trục xuất người Bồ Đào Nha khỏi quần đảo, giúp thúc đẩy Hồi giáo Shia. Trong hai trăm năm sau đó, các quân chủ Ba Tư duy trì quyền kiểm soát đối với quần đảo, song bị gián đoạn do các cuộc xâm chiếm vào năm 1717 và 1738 của giáo phái Ibadi tại Oman. Trong hầu hết giai đoạn này, vương triều Ba Tư quản lý gián tiếp Bahrain, hoặc là thông qua thành phố Bushehr (nay thuộc Iran) hoặc thông qua các thị tộc Ả Rập Sunni nhập cư. Nhóm sau là các bộ lạc từ lãnh thổ Ba Tư quay trở lại phía bán đảo Ả Rập của vịnh Ba Tư, họ được gọi là Huwala. Năm 1753, một thị tộc Huwala là Nasr Al-Madhkur xâm chiếm Bahrain nhân danh Karim Khan Zand (người sáng lập vương triều Zand tại Ba Tư) và khôi phục quyền cai trị trực tiếp của Ba Tư. Năm 1783, Nasr Al-Madhkur để mất quần đảo Bahrain sau khi thất bại trước bộ lạc Bani Utbah. Bahrain không phải là lãnh thổ mới của người Bani Utbah vì họ hiện diện tại đây từ thế kỷ 17. Trong thời gian này, họ bắt đầu mua các vườn chà là tại Bahrain; một văn kiện cho thấy rằng 81 năm trước khi gia tộc Al-Khalifa đến, một vị sheikh của bộ lạc Al Bin Ali (một nhánh của Bani Utbah) đã mua một vườn chà là từ Mariam bint Ahmed Al Sanadi trên đảo Sitra. Al Bin Ali là nhóm chi phối kiểm soát thị trấn Zubarah trên bán đảo Qatar, ban đầu là trung tâm quyền lực của Bani Utbah. Sau khi Bani Utbah giành quyền kiểm soát Bahrain, Al Bin Ali thực tế có địa vị độc lập tại đây với vị thế bộ lạc tự quản. Họ sử dụng hiệu kỳ có bốn dải đỏ và ba dải trắng gọi là Al-Sulami tại Bahrain, Qatar, Kuwait, và tỉnh Đông của Ả Rập Saudi. Sau đó, các thị tộc và bộ lạc Ả Rập khác từ Qatar chuyển đến Bahrain để định cư sau khi Nasr Al-Madhkur thất bại. Trong các gia tộc này có Al Khalifa, Al-Ma'awdah, Al-Fadhil, Al-Mannai, Al-Noaimi, Al-Sulaiti, Al-Sadah, Al-Thawadi. Gia tộc Al Khalifa chuyển từ Qatar đến Bahrain vào năm 1799. Ban đầu, tổ tiên của họ bị Ottoman trục xuất khỏi Umm Qasr thuộc miền trung bán đảo Ả Rập đến Kuwait vào năm 1716, họ ở lại đó cho đến năm 1766. Khoảng thập niên 1760, các thị tộc Al Jalahma và Al Khalifa, đều thuộc liên minh Utub, di cư đến Zubarah thuộc Qatar ngày nay, khiến Al Sabah là gia tộc duy nhất sở hữu Kuwait. === Từ thế kỷ 19 === Vào đầu thế kỷ 19, Bahrain bị cả người Oman và gia tộc Al Saud (hoàng tộc Ả Rập Saudi ngày nay) xâm chiếm. Năm 1802, quần đảo nằm dưới quyền cai quản của một thiếu nhi 12 tuổi khi quân chủ Oman cho con trai ông ta là Salim làm thống đốc của pháo đài Arad. Năm 1816, công sứ chính trị Anh tại vịnh Ba Tư là William Bruce nhận được thư từ Sheikh của Bahrain với nội dung lo ngại về tin đồn rằng Anh sẽ ủng hộ Imam của Muscat tấn công đảo. Bruce đến Bahrain để cam đoan với Sheikh rằng đó không phải sự thực và đưa ra một thoả thuận phi chính thức đảm bảo với Sheikh rằng Anh duy trì là một bên trung lập. Năm 1820, bộ lạc Al Khalifa được Anh công nhận là quân chủ ("Al-Hakim" theo tiếng Ả Rập) của Bahrain sau khi ký kết quân hệ hiệp ước. Tuy nhiên, mười năm sau đó họ buộc phải cống nạp hàng năm cho Ai Cập (chư hầu của Ottoman) bất chấp việc tìm kiếm bảo hộ từ Ba Tư và Anh. Năm 1860, gia tộc Al Khalifa viết thư cho triều đình Ba Tư và Ottoman, và họ chấp thuận đưa Bahrain nằm dưới quyền bảo hộ của Ottoman trong tháng 3 do được hưởng các điều kiện tốt hơn. Cuối cùng, chính phủ Ấn Độ thuộc Anh khuất phục Bahrain khi người Ba Tư từ chối bảo vệ quần đảo. Thượng tá Lewis Pelly ký một hiệp ước mới với gia tộc Al Khalifa để đưa Bahrain nằm dưới quyền cai trị và bảo hộ của Anh. Sau chiến tranh Qatar–Bahrain vào năm 1868, các đại biểu của Anh ký kết thoả ước khác với gia tộc Al Khalifa. Nó ghi rõ rằng quân chủ không thể chuyển nhượng bất kỳ lãnh thổ nào của mình ngoại trừ cho Anh và không thể tham gia quan hệ với bất kỳ chính phủ ngoại quốc nào nếu Anh không đồng ý. Đổi lại Anh cam kết bảo vệ Bahrain khỏi toàn bộ hành vi công kích bằng đường biển và giúp đỡ trong trường hợp có tấn công trên bộ. Quan trọng hơn là người Anh cam kết ủng hộ quyền cai trị của gia tộc Al Khalifa tại Bahrain, bảo đảm cho vị thế quân chủ vốn bất ổn của họ. Các thoả ước khác vào năm 1880 và 1892 chính thức hoá vị thế bảo hộ Bahrain của người Anh. Náo động trong cư dân Bahrain bắt đầu khi Anh chính thức thiết lập địa vị thống trị hoàn toàn đối với lãnh thổ vào năm 1892. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên có quy mô rộng đã diễn ra trong tháng 3 năm 1895 nhằm chống lại quân chủ Bahrain là Sheikh Issa bin Ali. Sheikh Issa là người đầu tiên trong gia tộc Al Khalifa cai trị mà không có quan hệ với Ba Tư. Đại diện của Anh tại vịnh Ba Tư là Arnold Wilson đến Bahrain từ Muscat trong thời gian này. Khởi nghĩa phát triển thêm với việc một số người biểu tình bị quân Anh giết. Trước khi phát triển dầu mỏ, quần đảo phần lớn chuyên về tìm kiếm ngọc trai, và cho đến thế kỷ 19 vẫn được đánh giá là có chất lượng tốt nhất thế giới. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, có khoảng 400 tàu tìm ngọc trai và giá trị xuất khẩu hàng năm là trên 30.000 bảng Anh. Năm 1911, một nhóm thương gia Bahrain yêu cầu hạn chế ảnh hưởng của Anh đối với quốc gia. Các thủ lĩnh của nhóm này sau đó bị tống giam và lưu đày sang Ấn Độ. Năm 1923, người Anh tiến hành cải cách hành chính và thay thế Sheikh Issa bin Ali bằng con trai ông. Một số địch thủ tăng lữ và gia đình như al Dossari rời đi hoặc bị lưu đày sang Ả Rập Saudi và Iran. Ba năm sau, người Anh đặt Bahrain dưới quyền cai trị thực tế của Charles Belgrave, người này giữ chức vụ cố vấn cho quân chủ Bahrain cho đến năm 1957. Belgrave tiến hành một số cải cách như thành lập trường học hiện đại đầu tiên tại quần đảo vào năm 1919, trường nữ sinh đầu tiên tại vịnh Ba Tư vào năm 1928 và bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1937. Trong khi đó, ngành lặn tìm ngọc trai phát triển với tốc độ nhanh chóng. Năm 1927, quân chủ của Iran là Reza Shah yêu sách chủ quyền đối với Bahrain trong một bức thư gửi đến Hội Quốc Liên, động thái này thúc đẩy Charles Belgrave tiến hành các biện pháp khắc nghiệt bao gồm khuyến khích xung đột giữa người Hồi giáo Shia và Sunni nhằm dẹp yên khởi nghĩa và giới hạn ảnh hưởng của Iran. Belgrave thậm chí còn đề xuất đổi tên vịnh Ba Tư thành "vịnh Ả Rập"; song bị chính phủ Anh bác bỏ. Quan tâm của Anh trong phát triển của Bahrain bắt nguồn từ lo ngại về tham vọng của Ả Rập Saudi và Iran trong khu vực. Công ty Dầu mỏ Bahrain (Bapco) là công ty con của Công ty Standard tại California (Socal), họ phát hiện dầu mỏ vào năm 1931 và bắt đầu sản xuất vào năm sau đó. Điều này khiến cho Bahrain được hiện đại hoá nhanh chóng. Quan hệ với Anh trở nên mật thiết hơn, bằng chứng là Hải quân Hoàng gia Anh chuyển toàn bộ Bộ tư lệnh Trung Đông từ Bushehr thuộc Iran sang Bahrain vào năm 1935. Bahrain tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai bên phía Đồng Minh. Ngày 19 tháng 10 năm 1940, bốn máy bay SM.82s của Ý tiến hành oanh tạc Bahrain cùng các mỏ dầu Dhahran tại Ả Rập Saudi, nhằm mục tiêu là nhà máy lọc dầu do Đồng Minh điều hành. Sau chiến tranh, cảm tình chống Anh ngày càng phổ biến khắp thế giới Ả Rập và dẫn đến náo loạn tại Bahrain. Náo loạn tập trung mục tiêu vào cộng đồng Do Thái. Năm 1948, sau khi gia tăng các hành vi thù địch và cướp bóc, hầu hết thành viên của cộng đồng Do Thái Bahrain từ bỏ tài sản và đào thoát sang Bombay, sau đó định cư tại Israel và Anh. Tính đến năm 2008, 37 người Do Thái còn sống tại Bahrain. Trong thập niên 1950, Uỷ ban Đoàn kết Quốc gia yêu cầu hình thành hội đồng dân cử, loại bỏ Belgrave và tiến hành một số cuộc thị uy và tổng đình công. Năm 1965, một cuộc khởi nghĩa kéo dài trong một tháng bùng phát sau khi hàng trăm công nhân của Công ty Dầu mỏ Bahrain bị sa thải. === Độc lập === Ngày 15 tháng 6 năm 1971, mặc dù Shah của Iran yêu sách chủ quyền lịch sử với Bahrain, song ông chấp thuận một cuộc trưng cầu dân ý do Liên Hiệp Quốc tổ chức và cuối cùng Bahrain tuyên bố độc lập và ký một hiệp ước hữu nghị mới với Anh. Bahrain gia nhập Liên Hiệp Quốc và Liên đoàn Ả Rập trong cùng năm. Cuộc bùng nổ dầu mỏ trong thập niên 1970 mang lại lợi ích rất lớn cho Bahrain, song cuộc suy thoái tiếp sau đó khiến kinh tế bị tổn hại. Quốc gia này đã bắt đầu đa dạng hoá kinh tế và hưởng lợi từ nội chiến Liban trong thập niên 1970 và 1980, khi mà Bahrain thay thế Beirut (thủ đô Liban) trong vai trò là trung tâm tài chính Trung Đông. Sau cách mạng Hồi giáo tại Iran vào năm 1979, đến năm 1981 các phần tử theo trào lưu chính thống Shia tại Bahrain tiến hành đảo chính thất bại dưới bảo trợ của Mặt trận Hồi giáo Giải phóng Bahrain. Cuộc đảo chính do một giáo sĩ Shia lưu vong tại Iran tên là Hadi al-Modarresi chỉ đạo, ông ta tự xưng là thủ lĩnh tối cao của một chính phủ thần quyền. Trong tháng 12 năm 1994, một nhóm thanh niên ném đá vào các vận động viên nữ trong một giải chạy marathon quốc tế do các vận động viên này để hở chân. Xung đột sau đó với cảnh sát nhanh chóng phát triển thành bất ổn dân sự. Một cuộc khởi nghĩa quần chúng diễn ra từ năm 1994 đến năm 2000 khi các phần tử tả khuynh, tự do và Hồi giáo liên hiệp. Kết quả là khoảng bốn mươi người thiệt mạng và khởi nghĩa kết thúc sau khi Hamad ibn Isa Al Khalifa trở thành Emir của Bahrain vào năm 1999. Ông cho tiến hành bầu cử nghị viện, trao cho nữ giới quyền bỏ phiếu, và phóng thích toàn bộ các tù nhân chính trị. Một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 14–15 tháng 2 năm 2001 có kết quả là đại đa số ủng hộ Hiến chương Hành động Quốc gia. Ngày 14 tháng 2 năm 2002, Bahrain đổi quốc hiệu chính thức từ Nhà nước Bahrain sang Vương quốc Bahrain. Bahrain tham gia hành động quân sự chống lại Taliban vào tháng 10 năm 2001 khi triển khai một tàu hộ tống trên biển Ả Rập để phục vụ các hoạt động cứu hộ và nhân đạo. Do đó đến tháng 11 cùng năm, chính phủ Hoa Kỳ xác định Bahrain là một "đồng minh lớn không thuộc NATO". Bahrain phản đối xâm chiếm Iraq và đề nghị Saddam Hussein tị nạn trong những ngày trước cuộc xâm chiếm. Quan hệ giữa Bahrain và Qatar được cải thiện sau khi tranh chấp biên giới về quần đảo Hawar được Toà án Công lý Quốc tế tại La Hay giải quyết vào năm 2001. Sau khi tiến hành tự do hoá chính trị, Bahrain đàm phán một hiệp định tự do mậu dịch với Hoa Kỳ vào năm 2004. Được truyền cảm hứng từ Mùa xuân Ả Rập, cộng đồng Shia vốn chiếm đa số tại Bahrain bắt đầu các cuộc thị uy lớn chống giới lãnh đạo theo Hồi giáo Sunni vào đầu năm 2011. Chính phủ sau đó yêu cầu trợ giúp an ninh từ Ả Rập Saudi và các quốc gia vùng Vịnh khác và tuyên bố tình trạng khẩn cấp kéo dài trong ba tháng. Chính phủ sau đó tiến hành đàn áp lực lượng đối lập, bao gồm việc tiến hành hàng nghìn vụ bắt giữ và tra tấn có hệ thống. Có trên 80 thường dân và 13 cảnh sát thiệt mạng tính đến tháng 3 năm 2014. == Chính trị == Bahrain nằm dưới quyền cai trị của chế độ Al-Khalifa, là một nền quân chủ lập hiến do quốc vương đứng đầu, quốc vương hiện nay là Shaikh Hamad bin Isa Al Khalifa. Quốc vương Hamad có quyền lực hành pháp rộng lớn, bao gồm bổ nhiệm thủ tướng và các bộ trưởng, chỉ huy quân đội, chủ toạ Hội đồng Tư pháp Tối cao, bổ nhiệm Hội đồng Cố vấn của nghị viện và giải tán Hội đồng Đại diện. Người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, thủ tướng hiện hành Shaikh Khalīfa bin Salman Al Khalifa là chú của Quốc vương Hamad và giữ chức vụ này kể từ năm 1971, khiến ông là thủ tướng tại nhiệm lâu nhất trên thế giới. Năm 2010, khoảng một nửa thành viên chính phủ thuộc gia tộc Al Khalifa. Bahrain có quốc hội lưỡng viện (al-Jam'iyyah al-Watani) gồm Hội đồng Cố vấn (Majlis Al-Shura) có 40 ghế và Hội đồng Đại diện (Majlis Al-Nuwab) có 40 ghế. 40 thành viên của Shura do quốc vương bổ nhiệm, còn 40 thành viên của Hội đồng Đại diện được bầu theo thể thức đa số tuyệt đối trong các khu vực bầu cử một ghế với nhiệm kỳ 4 năm. Hội đồng Cố vấn có thể phủ quyết trên thực tế Hội đồng Đại diện, do các dự thảo luật cần phải được họ tán thành. Sau khi được Hội đồng Cố vấn tán thành, quốc vương có thể phê chuẩn và ban hành đạo luật hoặc trả lại nó trong vòng sáu tháng cho Quốc hội, và tại đây nó chỉ có thể được thành luật nếu hai phần ba thành viên của cả hai hội đồng tán thành. Năm 1973, quốc gia này tổ chức bầu cử nghị viện lần đầu tiên; tuy nhiên, hai năm sau, tiểu vương đương nhiệm giải tán nghị viện và đình chỉ hiến pháp sau khi nghị viện bác bỏ Luật An ninh Nhà nước. Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2010 có ba lần bầu cử nghị viện, cuộc bầu cử năm 2002 bị phe đối lập Al Wefaq tẩy chay, Al Wefaq giành đa số ghế trong cuộc bầu cử năm 2006 và 2010. Cuộc bầu cử bổ sung năm 2011 được tổ chức để thay thế 18 thành viên của Al Wefaq từ chức nhằm phản đối chính phủ đàn áp. Việc mở cửa chính trị mang lại lợi ích lớn cho các phái chủ nghĩa Hồi giáo Shia và Sunni trong bầu cử, tạo cho họ một nền tảng nghị viện để theo đuổi các chính sách của mình. Nó khiến cho các giáo sĩ lại nổi bật trong hệ thống chính trị, khi thủ lĩnh tôn giáo Shia tối cao là Sheikh Isa Qassim giữ một vai trò sống còn. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1999 gọi là "thời kỳ Luật An ninh Nhà nước", diễn ra nhiều vi phạm nhân quyền bao gồm bắt giữ tuỳ tiện, giam giữ không xét xử, tra tấn và buộc phải lưu vong. Sau khi Tiểu vương Hamad Al Khalifa kế vị cha là Isa Al Khalifa vào năm 1999, ông cho tiến hành các cải cách rộng lớn và nhân quyền được cải thiện đáng kể. Tình trạng nhân quyền bắt đầu kém đi vào năm 2007 khi tra tấn bắt đầu được sử dụng lại. Năm 2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền mô tả tình hình nhân quyền của Bahrain là "ảm đạm". Năm 2011, Bahrain chịu chỉ trích do đàn áp khởi nghĩa Mùa xuân Ả Rập. Trong tháng 9 năm đó, chính phủ bổ nhiệm một uỷ ban để xác nhận các tường thuật về vi phạm nhân quyền nghiêm trọng như tra tấn có hệ thống. Chính phủ cam kết tiến hành cải cách và tránh lặp lại các "sự kiện đau thương". Năm 2016, Nghị viện châu Âu thông qua một nghị quyết lên án các lạm dụng nhân quyền của nhà đương cục Bahrain, và kêu gọi kết thúc cuộc đàn áp chống lại các nhà bảo vệ nhân quyền, đối lập chính trị và xã hội dân sự tại đây. Quyền lợi chính trị của nữ giới Bahrain gia tăng khi họ giành được quyền bỏ phiếu và tranh cử trong bầu cử cấp quốc gia lần đầu tiên vào năm 2002. Tuy nhiên, vào năm đó không có nữ giới nào đắc cử., do đó có sáu người được bổ nhiệm vào Hội đồng Cố vấn. Nada Haffadh trở thành nữ bộ trưởng đầu tiên của Bahrain khi bà được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Y tế vào năm 2004. Đến khi Bahrain được bầu làm nước đứng đầu Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2006, họ bổ nhiệm luật sư Haya bint Rashid Al Khalifa làm chủ tịch của Đại hội đồng. Năm 2006, Lateefa Al Gaood trở thành nữ nghị viên đầu tiên sau chiến thắng mặc định. Số lượng nữ nghị viên tăng lên bốn sau bầu cử bổ sung năm 2011. Hầu hết cơ quan phát sóng nội địa do nhà nước sở hữu. Các nhà báo Bahrain phải chịu nguy cơ bị khởi tố vì phạm các tội như "phá hoại" chính phủ và tôn giáo. Tự kiểm duyệt là điều phổ biến. Các nhà báo là mục tiêu của giới quan chức trong biểu tình chống chính phủ năm 2011. Đến năm 2016, Bahrain có 1,3 triệu người sử dụng internet. === Quân sự === Bahrain có quân đội quy mô nhỏ song được trang bị tốt, có tên là Lực lượng Phòng thủ Bahrain (BDF), với quân số khoảng 13.000 người (2012). Tư lệnh tối cao của quân đội Bahrain là quốc vương và người có quyền lực thứ nhì là thái tử. Lực lượng Phòng thủ Bahrain chủ yếu sử dụng trang thiết bị của Hoa Kỳ, như F16 Fighting Falcon, F5 Freedom Fighter, UH60 Blackhawk, M60A3 tanks, và tàu USS Jack Williams với tên mới là RBNS Sabha. Chính phủ Bahrain có quan hệ mật thiết với Hoa Kỳ, họ ký kết các thoả ước hợp tác với quân đội Hoa Kỳ và cung cấp cho Hoa Kỳ một căn cứ tại Juffair kể từ đầu thập niên 1990, song Hoa Kỳ có hiện diện về hải quân tại đảo quốc kể từ năm 1948. Đây là trụ sở của Bộ tư lệnh Trung tâm Hải quân Hoa Kỳ (COMUSNAVCENT) / Hạm đội 5 Hoa Kỳ (COMFIFTHFLT), và có khoảng 6.000 nhân viên quân sự Hoa Kỳ. Bahrain tham gia chiến dịch can thiệp do Ả Rập Saudi lãnh đạo tại Yemen nhằm chống lại phiến quân Houthis theo Hồi giáo Shia và lực lượng trung thành với cựu tổng thống Ali Abdullah Saleh, === Ngoại giao === Bahrain thiết lập quan hệ song phương với 190 quốc gia (2012). Tính đến năm 2012, Bahrain duy trì mạng lưới 25 đại sứ quán, 3 lãnh sự quán, và bốn phái bộ thường trực tại Liên đoàn Ả Rập, Liên Hiệp Quốc và Liên minh châu Âu. 36 quốc gia khác đặt đại sứ quán tại Bahrain. Bahrain giữ vai trò khiêm tốn, ôn hoà trên chính trường khu vực và gắn bó với quan điểm của Liên đoàn Ả Rập về hoà bình Trung Đông và quyền lợi của người Palestine bằng việc ủng hộ giải pháp hai nhà nước. Bahrain là một thành viên sáng lập của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh. Quan hệ với Iran có khuynh hướng căng thẳng do cuộc đảo chính bất thành năm 1981 mà Bahrain đổ lỗi cho Iran, ngoài ra các thành phần bảo thủ cực đoan tại Iran thỉnh thoảng yêu sách chủ quyền đối với Bahrain. === Hành chính === Khu tự quản đô thị đầu tiên tại Bahrain là chính quyền Manama gồm 8 thành viên được thành lập vào tháng 7 năm 1919. Các thành viên của chính quyền tự quản được bầu hàng năm; Bahrain đi đầu trong thế giới Ả Rập về chính quyền tự quản. Chính quyền tự quản có trách nhiệm dọn dẹp đường phố và cho thuê nhà ở và cửa hàng. Cho đến năm 1929, họ tiến hành mở rộng đường phố cũng như mở chợ và lò mổ. Năm 1958, chính quyền tự quản bắt đầu các dự án lọc nước. In 1960, Bahrain comprised four municipalities including Manama, Hidd, Al Muharraq, and Riffa. Trong vòng 30 năm sau đó, 4 chính quyền tự quản được phân thành 12 do các khu dân sư như Hamad Town và Isa Town phát triển. Các chính quyền tự quản này được Manama quản lý bằng hội đồng khu tự quản trung ương với các thành viên do quốc vương bổ nhiệm. Các cuộc bầu cử chính quyền tự quản đầu tiên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2002. Tháng 9 năm 2014, Bahrain có thay đổi về hành chính. == Kinh tế == Bahrain là nền kinh tế tự do nhất tại Trung Đông và đứng thứ 12 toàn cầu dựa theo Chỉ số tự do kinh tế do Heritage Foundation/Wall Street Journal công bố. Năm 2008, Bahrain trở thành trung tâm tài chính tăng trưởng nhanh nhất thế giới dựa theo Chỉ số trung tâm tài chính toàn cầu của City of London. Dịch vụ ngân hàng và tài chính của Bahrain, đặc biệt là ngân hàng Hồi giáo, được hưởng lợi từ bùng nổ kinh tế khu vực do nhu cầu dầu mỏ tăng cao. Sản xuất và chế biến dầu mỏ là sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của Bahrain, chiếm 60% nguồn thu xuất khẩu, 70% thu nhập chính phủ, và 11% GDP. Nhôm là sản phẩm xuất khẩu đứng hạng hai, tiếp đến là tài chính và vật liệu xây dựng. Tình hình kinh tế thay đổi cùng với biến động của giá dầu mỏ kể từ năm 1985, chẳng hạn như trong và sau khủng hoảng vịnh Ba Tư năm 1990-1991. Nhờ có hạ tầng thông tin và giao thông phát triển cao, Bahrain là nơi đặt trụ sở của một số hãng đa quốc gia và đang tiếp tục xây dựng một số dự án công nghiệp lớn. Một phần lớn trong xuất khẩu là các sản phẩm dầu mỏ từ dầu thô nhập khẩu, dầu thô chiếm khoảng 51% nhập khẩu của đảo quốc vào năm 2007. Bahrain dựa nhiều vào nhập khẩu thực phẩm để cung cấp cho dân số đang gia tăng; Úc là quốc gia xuất khẩu thịt và quả chủ yếu cho Bahrain. Do chỉ có 2,9% lãnh thổ Bahrain là đất canh tác, nông nghiệp đóng góp 0,5% trong GDP của Bahrain. Năm 2004, Bahrain ký kết Thoả thuận mậu dịch tự do Hoa Kỳ -Bahrain, theo đó giảm hàng rào mậu dịch nhất định giữa hai quốc gia. Tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là trong thanh niên, cùng việc cạn kiệt tài nguyên dầu mỏ và nước ngầm là các khó khăn kinh tế dài hạn chủ yếu. Năm 2008, tỷ lệ người không có việc làm là 4%, trong đó nữ giới chiếm 85% tổng số. Năm 2007, Bahrain trở thành quốc gia Ả Rập đầu tiên tiến hành trợ cấp thất nghiệp, cùng một loạt cải cách lao động khác. === Du lịch === Bahrain là một điểm đến du lịch, đón trên tám triệu du khách vào năm 2008. Hầu hết du khách đến từ các quốc gia Ả Rập lân cận song ngày càng có nhiều người đến từ bên ngoài khu vực do di sản của đảo quốc và danh tiếng của Giải đua ô tô Công thức 1 Bahrain. Vương quốc này có văn hoá Ả Rập hiện đại cùng di sản khảo cổ học của năm nghìn năm văn minh. Bahrain có các pháo đài như di sản thế giới Qalat Al Bahrain. Bảo tàng Quốc gia Bahrain có các đồ tạo tác về lịch sử quốc gia có niên đại từ những cư dân sớm nhất trên đảo vào khoảng 9000 năm trước và Beit Al Quran là một bảo tàng lưu giữ các đồ tạo tác Ả Rập về Qur'an. Một số địa điểm du lịch lịch sử phổ biến tại đảo quốc là thánh đường Al Khamis, đây là một trong các thánh đường lâu năm nhất trong khu vực, và còn có pháo đài Arad tại Muharraq, đền Barbar, các gò mộ A'ali và đền Saar. Tree of Life (cây sinh mệnh) có tuổi đời 400 năm mọc tại hoang mạc Sakhir cũng là một điểm đến du lịch nổi tiếng. Ngắm chim (chủ yếu tại quần đảo Hawar), lặn biển và cưỡi ngựa là các hoạt động du lịch phổ biến tại Bahrain. Nhiều du khách đến từ Ả Rập Saudi và đến Manama chủ yếu là vì các trung tâm mua sắm tại đây, như Bahrain City Centr và Seef Mall tại khu vực Seef. Manama Souq và Gold Souq tại khu vực cổ của Manama cũng nổi tiếng với du khách. Kể từ năm 2005, Bahrain hàng năm đều tổ chức một lễ hội trong tháng 3 mang tên Mùa xuân văn hoá, có các nhạc sĩ và nghệ sĩ nổi danh quốc tế trình diễn trong các buổi hoà nhạc. Manama được Liên đoàn Ả Rập chỉ định là Thủ đô Ả Rập về Văn hoá trong năm 2012 và Thủ đô Du lịch Ả Rập trong năm 2013. == Hạ tầng == Sân bay quốc tế Bahrain (BIA) nằm trên đảo Muharraq tại phía đông bắc. Sân bay này phục vụ trên 100.000 chuyến bay và trên 8 triệu hành khách vào năm 2010. Gulf Air là hãng hàng không quốc gia của Bahrain, hãng điều hành và đặt căn cứ tại BIA. Bahrain có mạng lưới đường bộ phát triển tốt, đặc biệt là tại Manama. Việc phát hiện dầu mỏ vào đầu thập niên 1930 làm tăng tốc xây dựng đường xá tại Bahrain, liên kết một số làng hẻo lánh như Budaiya tới Manama. Tại phía đông có một cầu liên kết Manama tới Muharraq từ năm 1929, một đường đắp cao được xây dựng vào năm 1941 nhằm thay thế cầu gỗ cũ. Hiện nay có ba cây cầu hiện đại liên kết hai đảo. Lưu lượng qua lại giữa hai đảo lên cao sau khi xây dựng Sân bay quốc tế Bahrain vào năm 1932. Các đường vành đai và xa lộ sau đó được xây dựng nhằm liên kết thủ đô với các làng tại tỉnh Bắc và hướng đến các thị trấn tại miền trung và miền nam Bahrain. Bốn đảo lớn và toàn bộ các thị trấn và làng mạc được liên kết bằng các đường chất lượng tốt. Trong năm 2002, có 3.164 km đường, trong đó 2.433 km được trải bề mặt. Đường đắp cao Quốc vương Fahd dài 24 km liên kết Bahrain và Ả Rập Saudi qua đảo Umm an-Nasan, công trình hoàn thành vào năm 1986 và do Ả Rập Saudi tài trợ. Năm 2008, có trên 17 triệu hành khách đi qua đường đắp cao này. Hải cảng chính của Bahrain là Mina Salman, gồm có 15 bến. Năm 2001, Bahrain có một đội thương thuyền gồm tám chiếc có tải trọng từ 1.000 GRT, tổng cộng là 270.784 GRT. Xe riêng và taxi là phương thức giao thông chính tại thành thị. Lĩnh vực truyền thông tại Bahrain chính thức bắt đầu vào năm 1981 khi công ty Batelco được thành lập, và cho đến năm 2004 đây là công ty độc quyền trong lĩnh vực này. Năm 1981, có trên 45.000 máy điện thoại được sử dụng tại Bahrain. Đến năm 1999, Batelco có trên 100.000 hợp đồng điện thoại di động. Năm 2002, do áp lực từ các thể chế quốc tế, Bahrain thi hành luật viễn thông và lập một cơ quan điều tiết độc lập. Năm 2004, Zain bắt đầu hoạt động tại Bahrain và đến năm 2010 VIVA trở thành công ty thứ ba cung cấp dịch vụ di động tại đảo quốc. Bahrain có liên kết internet từ năm 1995, tỷ lệ liên kết di động và internet của Bahrain là 210,4/người (2008). The number of Bahraini Số người sử dụng internet tại Bahrain tăng từ 40.000 vào năm 2000 lên đến 250.000 vào năm 2008,. Đến tháng 8 năm 2013, có 22 nhà cung cấp dịch vụ internet được cấp phép. == Địa lý == Bahrain là một quần đảo nhìn chung là bằng phẳng và khô hạn tại vịnh Ba Tư. Đảo quốc gồm một đồng bằng hoang mạc thấp cao dần lên một dốc đứng thấp tại trung tâm có điểm cao nhất là Jabal ad Dukhan 134 m. Bahrain có tổng diện tích tự nhiên là 665 km² song nhờ cải tạo đất nên diện tích tăng lên đến 765 km². Bahrain thường được miêu tả là một quần đảo gồm 33 đảo, song các dự án cải tạo đất quy mô lớn đã làm thay đổi tình trạng đó; cho đến tháng 8 năm 2008 số đảo và nhóm đảo tăng lên đến 84. Bahrain không có biên giới trên bộ với quốc gia khác, và có 161 km đường bờ biển. Đảo quốc còn yêu sách thêm 12 hải lý lãnh hải và 24 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải. Đảo lớn nhất Bahrain là đảo Bahrain, tiếp đến là quần đảo Hawar, Muharraq, Umm an Nasan, và Sitra. Bahrain có mùa đông ôn hoà và mùa hè rất nóng và ẩm ướt. Tài nguyên tự nhiên của đảo quốc gồm lượng lớn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, cùng với cá tại vùng biển ngoài khơi. Đất canh tác chỉ chiếm 2,82% diện tích. Khoảng 92% diện tích Bahrain là hoang mạc với các trận hạn hán và bão bụi theo định kỳ. đó là các mối nguy tự nhiên chủ yếu đối với người Bahrain. Các vấn đề môi trường tại Bahrain bao gồm hoang mạc hoá do đất canh tác thoái hoá, thoái hoá bờ biển do tràn dầu và chất thải khác từ các tàu chở dầu cỡ lớn, lọc dầu, trạm phân phối, và cải tạo đất phi pháp. Khu vực nông nghiệp và hộ gia đình sử dụng quá mức tầng nước ngầm Dammam, khiến nó bị mặn đi do các vùng nước lợ và mặn liền kề. Một nghiên cứu thuỷ hoá cho thấy chất lượng nước của tầng nước ngầm thay đổi đáng kể do dòng chảy ngầm từ phần tây bắc của Bahrain, là nơi tầng nước ngầm nhận nước từ dòng nước ngầm từ miền đông Ả Rập Saudi, đến phần phía nam và đông nam. Bốn loại mặn hoá dòng nước ngầm được xác định, cùng với đó là bốn lựa chọn để quản lý chất lượng nước ngầm. === Khí hậu === Dãy núi Zagros ở bên kia vịnh Ba Tư thuộc Iran khiến gió cấp thấp hướng về Bahrain. Bão bụi từ Iraq và Ả Rập Saudi thổi đến do gió tây bắc, có tên địa phương là gió shamal, làm giảm tầm nhìn trong các tháng 6 và 7. Mùa hè tại Bahrain rất nóng. Vùng biển quanh Bahrain rất nông, do đó nhiệt tăng lên nhanh chóng vào mùa hè và gây ra độ ẩm cao, đặc biệt là vào ban đêm. Nhiệt độ mùa hè có thể lên đến 50°C trong các điều kiện thích hợp. Lượng mưa tại Bahrain ở mức tối thiểu và không đều, mưa chủ yếu xuất hiện vào mùa đông với mức kỷ lục là 71,8 mm. === Đa dạng sinh học === Ghi nhận được trên 330 loài chim tại quần đảo Bahrain, 26 loài trong đó sinh sản tại Bahrain. Hàng triệu chim di cư bay qua khu vực vịnh Ba Tư trong các tháng mùa đông và mùa thu. Một loài gặp nguy hiểm toàn cầu là Chlamydotis undulata định kỳ di cư trong mùa thu. Nhiều đảo và vùng biển nông của Bahrain có tầm quan trọng toàn cầu đối với việc sinh sản của chim cốc Socotra; có đến 100.000 cặp chim này được ghi nhận tại quần đảo Hawar. Chỉ có 18 loài thú được tìm thấy tại Bahrain, các loài như linh dương, thỏ sa mạc và nhím gai phổ biến trong hoang dã song linh dương sừng thẳng Ả Rập trên đảo bị săn đến tuyệt chủng. 25 loài lưỡng cư và bò sát, 21 loài bướm và 207 loài thực vật được ghi nhận tại Bahrain. Quần thể sinh cảnh hải dương đa dạng và gồm lớp cỏ biển và bãi bùn rộng, các rạn san hô rải rác cũng như các đảo xa bờ. Lớp cỏ biển là nơi tìm kiếm thức ăn quan trọng đối với một số loài bị đe doạ như cá cúi và đồi mồi dứa. Năm 2003, Bahrain cấm chỉ bắt bò biển, rùa biển và cá heo trong lãnh hải của mình. Khu Bảo tồn Quần đảo Hawar là nơi kiếm ăn và sinh sản có giá trị đối với nhiều loài chim biển di cư, nó là một địa điểm được công nhận quốc tế đối với chim di cư. Khu sinh sản của loài chim cốc Socotra tại quần đảo Hawar là khu sinh sản chim lớn nhất thế giới, và loài cá cúi kiếm ăn quanh quần đảo tạo thành tập hợp cá cúi lớn thứ nhì thế giới sau Úc. Bahrain có năm khu bảo tồn được quy định, bốn trong số đó là môi trường hải dương. Đó là: Quần đảo Hawar, đảo Mashtan, vịnh Arad, vịnh Tubli và công viên hoang dã Al Areen Wildlife. == Nhân khẩu == Năm 2010, dân số Bahrain tăng lên 1,2 triệu, trong đó 568.399 người là công dân Bahrain và 666.172 người là ngoại kiều. Số liệu này tăng so với 1,05 triệu (517.368 ngoại kiều) vào năm 2007, là năm dân số Bahrain vượt mốc một triệu. Mặc dù đa số cư dân Bahrain là người Trung Đông, song có một lượng đáng kể người đến từ Nam Á sống tại đảo quốc. Năm 2008, có khoảng 290.000 công dân Ấn Độ sống tại Bahrain, là nhóm ngoại kiều lớn nhất tại đây. Bahrain là quốc gia có chủ quyền có mật độ dân số cao thứ tư thế giới với 1.646 người/km² vào năm 2010. Đa số cư dân sống tại miền bắc của đảo quốc, tỉnh Nam là nơi thưa dân nhất. Miền bắc của Bahrain đô thị hoá cao nên được co là một đại đô thị lớn. Bahrain có thành phần dân tộc đa dạng, người Bahrain theo Hồi giáo Shia được phân thành hai dân tộc chính là Baharna và Ajam. Hầu hết người Bahrain theo Hồi giáo Shia thuộc dân tộc Baharna, người Ajam có nguồn gốc là người Ba Tư. Người Ba Tư theo Hồi giáo Shia tạo thành các cộng đồng lớn tại Manama và Muharraq. Có thiểu số nhỏ người Bahrain Shia thuộc dân tộc Hasawis đến từ Al-Hasa (thuộc Ả Rập Saudi). Người Bahrain theo Hồi giáo Sunni chủ yếu chia thành hai dân tộc chính: người Ả Rập và người Huwala. Người Ả Rập theo Hồi giáo Sunni là dân tộc có uy thế nhất tại Bahrain, họ nắm giữ hầu hết các chức vụ trong chính phủ và hoàng tộc Bahrain là người Ả Rập Sunni. Người Ả Rập Sunni có truyền thống cư trú tại các khu vực như Zallaq, Muharraq, Riffa và quần đảo Hawar. Người Huwala là hậu duệ của người Iran theo Hồi giáo Sunni, một bộ phận trong đó là hậu duệ của người Ba Tư Sunni, trong khi những người khác là hậu duệ người Ả Rập Sunni. Ngoài ra còn có người theo Hồi giáo Sunni có gốc Baloch. Hầu hết người Bahrain gốc Phi đến từ Đông Phi và có truyền thống cư trú tại đảo Muharraq và Riffa. Quốc giáo của Bahrain là Hồi giáo và hầu hết công dân Bahrain là người Hồi giáo. Không có số liệu chính thức về tỷ lệ tín đồ phái Shia và Sunni của người Hồi giáo Bahrain, song khoảng 70% người Hồi giáo Bahrain theo phái Shia. Tồn tại một cộng đồng Cơ Đốc giáo bản địa tại Bahrain. Cư dân Bahrain không theo Hồi giáo có số lượng là 367.683 theo điều tra nhân khẩu năm 2010, hầu hết trong số đó là người Cơ Đốc giáo. Ngoại kiều chiếm đa số tín đồ Cơ Đốc giao tại Bahrain. Bahrain còn có một cồng đồng Do Thái giáo bản địa với số lượng là 37 công dân Bahrain (2010). Do dòng di dân và công nhân nhập khẩu từ Ấn Độ, Philippines hay Sri Lanka, tỷ lệ người Hồi giáo tại Bahrain suy giảm trong những năm gần đây. Theo điều tra nhân khẩu năm 2001, 81,2% cư dân Bahrain là người Hồi giáo, 10% là người Cơ Đốc giáo, và 9,8% tin theo Ẩn Độ giáo và các tôn giáo khác. Điều tra nhân khẩu năm 2010 ghi nhận rằng tỷ lệ người Hồi giáo giảm xuống còn 70,2%. Các quan chức chính phủ Bahrain bác bỏ các báo cáo từ phái đối lập cho rằng chính quyền muốn thay đổi tình hình nhân khẩu của quốc gia bằng những người Syria Sunni nhập tịch. Tín đồ Baha'i chiếm khoảng 1% tổng dân số Bahrain. Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức tại Bahrain, song tiếng Anh được sử dụng phổ biến. Tiếng Ả Rập Bahrain là phương ngôn được nói phổ biến nhất của tiếng Ả Rập tại Bahrain, song nó khác nhiều so với tiếng Ả Rập tiêu chuẩn. Tiếng Ả Rập giữ một vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị, theo hiến pháp thì nghị sĩ phải thông thạo tiếng Ả Rập. Trong số cư dân Bahrain, có nhiều người nói tiếng Ba Tư hay Urdu,. Tiếng Nepal cũng được nói phổ biến trong cộng đồng công nhân Nepal và binh sĩ Gurkha. Tiếng Malayalam, Tamil và Hindi được nói trong các cộng đồng Ấn Độ. Toàn bộ các thể chế thương mại và bảng hiệu đường phố được ghi song ngữ Ả Rập-Anh. === Giáo dục === Giáo dục là bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 14 tuổi. Giáo dục miễn phí đối với công dân Bahrain trong các trường công lập, Bộ Giáo dục Bahrain cung cấp sách giáo khoa miễn phí. Nam sinh và nữ sinh được tách biệt trong các trường học riêng. Vào lúc đầu thế kỷ 20, các trường Qur'an (Kuttab) là hình thức giáo dục duy nhất tại Bahrain. Chúng là các trường học truyền thống có mục tiêu là giảng dạy thanh thiếu niên đọc kinh Qur'an. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Bahrain trở nên mở cửa trước ảnh hưởng từ phương Tây, và xuất hiện nhu cầu về các thể chế giáo dục hiện đại. Hệ thống trường học công lập hiện đại tại Bahrain bắt đầu từ năm 1919 khi có một trường học cho nam sinh được khai giảng tại Muharraq. Năm 1926, Ủy ban giáo dục cho mở trường công lập thứ nhì cho nam sinh tại Manama, và đến năm 1928 trường công lập đầu tiên cho nữ sinh được mở tại Muharraq. Tính đến năm 2011, có 126.981 học sinh trong các trường công lập. Năm 2004, Quốc vương Hamad ibn Isa Al Khalifa cho thi hành một dự án hỗ trợ giáo dục 12 năm tại Bahrain. Mục tiêu của dự án là liên kết toàn bộ trường học tại vương quốc thông qua internet. Ngoài các trường trung học của Anh, đảo quốc còn có Trường Bahrain (BS) của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có các trường tư cung cấp chương trình IB Diploma hoặc A-Levels của Anh. Bahrain cũng khuyến khích các thể chế học tập bậc cao, thu hút tài năng ngoại kiều và tăng số công dân Bahrain trở về sau khi ra nước ngoài học tập. Đại học Bahrain được thành lập nhằm phục vụ học tập bậc đại học và sau đại học, còn Viện Khoa học Y tế Đại học Quốc vương Abdulaziz do Bộ Y tế trực tiếp điều hành, huấn luyện các bác sĩ, y tá, dược sĩ và nhân viên y tế. Hiến chương Hành động Quốc gia năm 2001 tạo tiền đề hình thành các đại học tư nhân như Đại học Ahlia tại Manama và Viện Đại học Bahrain tại Saar. Đại học Hoàng gia cho Nữ giới (RUW) được thành lập vào năm 2005, là trường đại học quốc tế tư nhân đầu tiên chuyên biệt về giáo dục cho nữ giới. === Y tế === Bahrain có hệ thống chăm sóc y tế phổ quát tồn tại từ năm 1960. Công dân Bahrain được miễn phí chăm sóc y tế do chính phủ tài trợ còn ngoại kiều được nhiều trợ cấp. Chi tiêu y tế chiếm 4,5% GDP của Bahrain theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới. Các bác sĩ và y tá bản địa chiếm đa số lực lượng lao động trong linh vực y tế, đây là điều khác biệt với các quốc gia vùng Vịnh khác. Bệnh viện đầu tiên tại Bahrain là Bệnh viện Truyền giáo Hoa Kỳ, khánh thành vào năm 1893 với tư cách trạm xá. Năm 1957, Tổ hợp Y tế Salmaniya tại Manama là bệnh viện công lập đầu tiên được khánh thành tại Bahrain. Các bệnh viện tư nhân cũng hiện diện trên toàn quốc, như Bệnh viện Quốc tế Bahrain. Tuổi thọ triển vọng tại Bahrain là 73 đối với nam giới và 76 đối với nữ giới. So với nhiều quốc gia trong khu vực, tỷ lệ mắc AIDS và HIV is tương đối thấp. Sốt rét và lao (TB) không tạo ra vấn đề lớn tại Bahrain do không phải là dịch bản địa. Do đó, số ca mắc sốt rét và lao giảm trong các thập niên gần đây, số ca công dân Bahrain mắc các bệnh này trở nên hiếm hoi. Bộ Y tế bảo trợ chiến dịch vắc xin định kỳ chống lao và các dịch bệnh khác như viêm gan B. Bahrain đang phải chịu nạn béo phì khi có đến 28,9% nam giới và 38,2% nữ giới được phân loại là béo phì (2012). Bahrain cũng là một trong các quốc gia có tỷ lệ mắc tiểu đường cao nhất thế giới, với trên 15% cư dân bị bệnh, và chiếm 5% số ca tử vong. Các bệnh tim mạch gây ra 32% số ca tử vong tại Bahrain, đứng số một về nguyên nhân từ vong tại đây (thứ nhì là ung thư). Bệnh hồng cầu hình liềm và bệnh tan máu bẩm sinh phổ biến tại đảo quốc, một nghiên cứu kết luận rằng lần lượt 18% và 24% người Bahrain mắc hai bệnh này. == Văn hoá == Hồi giáo là tôn giáo chủ yếu, và người Bahrain khoan dung trước việc hành lễ của các tín ngưỡng khác. Các quy tắc liên quan đến trang phục nữ giới thường thoải mái hơn so với các quốc gia lân cận; trang phục truyền thống của nữ giới thường bao gồm hijab hoặc abaya. Trang phục truyền thống của nam giới là thobe kèm với khăn trùm đầu truyền thống như keffiyeh, ghutra và agal, song trang phục phương Tây được phổ biến. Phong trào nghệ thuật hiện đại tại Bahrain chính thức xuất hiện trong thập niên 1950, đạt đỉnh cao khi thành lập một hội nghệ thuật. Chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực, và ngệ thuật thư pháp là các hình thức nghệ thuật phổ biến tại đảo quốc. Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng được phổ biến trong các thập niên gần đây. Gốm và dệt cũng là các sản phẩm nổi tiếng, chúng được sản xuất nhiều trong các làng tại Bahrain. Thư pháp Ả Rập phát triển có tính đại chúng do chính phủ bảo trợ nghệ thuật Hồi giáo, đỉnh cao là lập một bảo tàng Hồi giáo mang tên Beit Al Quran. Bảo tàng Quốc gia Bahrain có trưng bày thường trực nghệ thuật đương đại. Kiến trúc Bahrain tương tự như các quốc gia lân cận trong vịnh Ba Tư. Các tháp gió giúp thông gió tự nhiên trong nhà, và là một dấu hiệu phổ biến tại các toà nhà cổ, đặc biệt là khu phố cổ của Manama và Muharraq. Văn học Bahrain vẫn nặng tính truyền thống, hầu hết nhà văn và nhà thơ truyền thống viết theo phong cách Ả Rập cổ điển. Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều nhà thơ trẻ tuổi chịu ảnh hưởng từ văn học phương Tây, hầu hết viết thơ tự do và thường chứa nội dung chính trị và cá nhân. Trong văn học, Bahrain là địa điểm vùng đất cổ đại Dilmun được nói đến trong Sử thi Gilgamesh. Truyền thuyết cũng kể rằng đây là địa điểm Vườn Eden. Phong cách âm nhạc tại Bahrain tương tự các quốc gia lân cận. Phong cách âm nhạc dân gian Khaliji được phổ biến tại đảo quốc. Phong cách âm nhạc sawt là một dạng phức hợp âm nhạc đô thị, được trình diễn bằng đàn Oud, vĩ cầm và trống mirwas. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Bahrain. Đội tuyển bóng đá quốc gia Bahrain thi đầu nhiều lần tại Cúp châu Á, Cúp các quốc gia Ả Rập, song chưa từng vượt qua vòng loại Giải vô địch thế giới. Bahrain có giải bóng đá chuyên nghiệp nội địa hạng cao nhất là Ngoại hạng Bahraini. Bóng rổ, Rugby và cưỡi ngựa cũng phổ biến tại đảo quốc. Bahrain có một đường đua công thức một, tại đó bắt đầu tổ chức Giải đua ô tô Công thức 1 Bahrain Gulf Air từ 2004. Cuộc đua từ đó được tổ chức thường niên, ngoại trừ năm 2011 do có biểu tình chống chính phủ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chính phủ Bahrain Government official web site Di sản Bahrain Writer's Society Karrana village - Bahrain includes Background Notes, Album and heritage page. Karrana village album - Bahrain includes hundreds of images about karrana. Spring of Culture, tháng 3 năm 2006 cultural festival Romanya vize Suy ngẫm Meditation Hall for Peace, Sufi Meditation Thông tin chung [4] CIA World Fact Book (contains 2001 census) Bahrain News Agency in English Bahrain Tribune - The Gulf's first smart-size English language daily newspaper Gulf Daily News - Bahrain's main English language daily newspaper al-Bab - Bahrain Arab Links - Bahrain Open Directory Project - Bahrain directory category Encyclopedia of the Nations - Bahrain US State Department - Bahrain includes Background Notes, Country Study and major reports iXpats.com - Bahrain Online community for expats living and working in Bahrain Microsoft Online Encyclopedia - Bahrain - Bahrain Travel Guide Every thing you need to know about living and working in Bahrain including Bahrain F1, Bahrain Hotels & much more. Bahrain IT Team The the new vision of IT in Bahrain
thập niên 1980.txt
Thập niên 1980 hay thập kỷ 1980 chỉ đến những năm từ 1980 đến 1989, kể cả hai năm đó. Không chính thức, nó cũng có thể bao gồm vài năm vào cuối thập niên trước hay vào đầu thập niên sau. == Tham khảo ==
electrum.txt
Electrum là một hợp kim của vàng và bạc, ngoài ra có thể có một ít đồng và các kim loại khác. Electrum thường có màu vàng nhạt hoặc rất nhạt, tùy theo tỉ lệ vàng và bạc. Electrum đã được sử dụng từ thiên niên kỷ 3 TCN vào thời Vương quốc Ai Cập cổ đại, đôi khi được dùng để phủ các đỉnh kim tự tháp phía trên các kim tự tháp Ai Cập cổ đại.[1] Electrum cũng được dùng để sản xuất các bình đựng nước và tiền xu. == Tham khảo ==
pages.txt
Pages là một ứng dụng soạn thảo văn bản và thiết kế trang phát triển bởi Apple Inc., nằm trong bộ ứng dụng iWork chạy trên hệ điều hành OS X lẫn iOS. Phiên bản đầu tiên được công bố ngày 11/1/2005 và phát hành một tháng sau đó. Pages được Apple quảng cáo là một ứng dụng dễ thao tác cho phép người dùng soạn thảo văn bản một cách nhanh chóng. == Đặc trưng == Là một ứng dụng soạn thảo và tạo trang gồm: hơn 140 phông mẫu; giao diện đơn giản chỉ gồm một thanh công cụ chứa toàn bộ thao tác trong chương trình; khả năng xử lý thuật toán cao cấp với Mac OS X's Grapher; chế độ "Toàn màn hình" cho phép người sử dụng tập trung dễ dàng vào văn bản; tương thích tốt với Numbers và Keynote;... Pages cho phép nhiều người làm việc trên văn bản và sẽ tô mỗi phần thay đổi của mỗi người bằng một màu khác nhau. Hoạt động kèm với iTunes, iMovie, iPhoto, Aperture, cho phép chèn nhạc, hình, phim trực tiếp vào văn bản. Pages có thể đọc các file.docx (Microsoft Word),.pdf,... và lưu lại với đuôi file tương tự. == Tính tương thích == Cho tới 11/2012 thì Pages vẫn chỉ được xem như là phần mềm "nội bộ" của Apple vì chỉ có thể chạy trên OS X, không đọc được các file văn bản khác cũng như không thể được đọc bởi các phần mềm tương tự. == Tham khảo ==
bình dương.txt
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thành phố Thủ Dầu Một, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 30 km theo đường Quốc lộ 13. Bình Dương là vùng đất chiến trường năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên, vùng Tam giác sắt trong đó có ba làng An. Ngoài ra còn có khu du lịch Đại Nam là khu du lịch lớn nhất Đông Nam Á. == Điều kiện kinh tế == Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích 2694,4 km2 xếp thứ 4 trong vùng Đông Nam Bộ. Với tọa độ địa lý 10o51' 46" – 11o30' Vĩ độ Bắc, 106o20' – 106o58' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước. Phía Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai. Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh. Địa hình tương đối bằng phẳng, hệ thống sông ngòi và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến 11, mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm 1.800 mm đến 2.000 mm. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5oC. Bình Dương là cửa ngõ giao thương với Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế – văn hóa của cả nước, có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á … cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và các cảng biển chỉ từ 10 km – 15 km… thuận lợi cho phát triển kinh tế và xã hội toàn diện. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, GDP tăng bình quân khoảng 14,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, công nghiệp, dịch vụ tăng trưởng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, năm 2010, tỷ lệ công nghiệp – xây dựng 63%, dịch vụ 32,6% và nông lâm nghiệp 4,4%. Hiện nay, Bình Dương có 28 khu công nghiệp và cụm công nghiệp tập trung có tổng diện tích hơn 8.700 ha với hơn 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động có tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ đôla Mỹ. == Hành chính == Bình Dương có 1 thành phố, 4 thị xã và 4 huyện (với 41 phường, 2 thị trấn và 50 xã): == Điều kiện tự nhiên == Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau như vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi... Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại. Các loại đất như đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, thị xã Bến Cát, Thuận An, Thủ Dầu Một. Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các thị xã Tân Uyên, huyện Phú Giáo, khu vực Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13. Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, thị xã Dĩ An, đất thấp mùn Glây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối. Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ, nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt hẳn. Những tháng 7,8,9, thường là những tháng mưa dầm. Có những trận mưa dầm kéo dài 1–2 ngày đêm liên tục. Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26 °C–27 °C. Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3 °C và thấp nhất từ 16 °C–17 °C (ban đêm) và 18 °C vào sáng sớm. Vào mùa khô, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%–80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lượng mùa mưa trung bình hàng năm từ 1.800–2.000 mm. Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng. Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác. Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa 3 con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. === Tài nguyên rừng === Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về nhiều chủng loài. Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn. Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quý như căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương... Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm. === Khoáng sản === Cùng với những giá trị quý giá về tài nguyên rừng, Bình Dương còn là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều loại khoáng sản phong phú tiềm ẩn dưới lòng đất. Đó chính là cái nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành như gốm sứ, điêu khắc, mộc, sơn mài... Bình Dương có nhiều đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong nằm rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở các huyện như Dĩ An, thị xã Tân Uyên, Thuận An, thành phố Thủ Dầu Một. == Dân cư == Tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 1.691.400 người, mật độ dân số 628 người/km². Trong đó dân số nam đạt 813.600 dân số nữ đạt 877.800 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 14,2 ‰. Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 1.084.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 607.200 người. Trên địa bàn Bình Dương có khoảng 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh và sau đó là người Hoa, người Khơ Me... == Lịch sử hình thành == Bình Dương là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa kia. Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập tháng 12 năm 1899 từ Sở Tham biện Thủ Dầu Một, tách từ tỉnh Biên Hòa. Tháng mười năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập các tỉnh Bình Dương, và một phần tỉnh Bình Long. Như vậy Bình Dương là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956. Tỉnh lị là Phú Cường, Thủ Dầu Một. Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã (ngày 30 tháng 8 năm 1957) trong đó các quận là quận Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát, Trị Tâm, Phú Giáo. Năm 1959, cắt một phần đất, cùng với phần đất của 2 tỉnh Biên Hòa và tỉnh Phước Long lập ra tỉnh Phước Thành. Tỉnh này tồn tại đến năm 1965 thì giải thể. Ngày 18 tháng 12 năm 1963, lập thêm quận Phú Hòa, quận lị đặt tại Bến Cỏ, xã Phú Hòa Đông, đến ngày 18 tháng 5 năm 1968 dời về xã Tân Hòa. Quận Phú Hòa hiện nay nhập với quận Củ Chi thành huyện Củ Chi thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1976, chính quyền mới hợp nhất tỉnh Bình Dương (gồm hai tỉnh Bình Phúc và Dương Phúc cũ) và tỉnh Bình Phước (gồm hai tỉnh Bình Long và tỉnh Phước Long cũ) thành tỉnh Sông Bé, nhưng đến ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra thành hai tỉnh như cũ. Khi tách ra, tỉnh Bình Dương có diện tích 2.718,5 km², dân số 646.317 người (tính cả 5 xã và thị trấn của huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước chuyển sang), gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An. Ngày 28 tháng 5 năm 1997, Chính phủ ra Nghị định 54-CP thành lập một số phường, thị trấn thuộc thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên Đến ngày 23 tháng 7 năm 1999, huyện Thuận An được chia tách thành 2 huyện Thuận An và Dĩ An, huyện Bến Cát được chia tách thành 2 huyện Bến Cát và Dầu Tiếng, huyện Tân Uyên được chia tách thành 2 huyện Tân Uyên và Phú Giáo. Như vậy, từ tháng 8 năm 1999, Bình Dương có tất cả 7 đơn vị hành chính cấp huyện. Cùng năm này, thành lập xã An Bình thuộc huyện Dĩ An và xã Định An thuộc huyện Dầu Tiếng. Ngày 10 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ra Nghị định 156/2003/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập phường, xã thuộc thị xã Thủ Dầu Một và các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo, Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Ngày 17 tháng 11 năm 2004, Chính phủ ra Nghị định 190/2004/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập xã thuộc các huyện Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Ngày 9 tháng 6 năm 2008, Chính phủ ra Nghị định 73/2008/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường; thành lập phường thuộc thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Ngày 11 tháng 8 năm 2009, Chính phủ ra Nghị quyết số 36/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên để mở rộng thị xã Thủ Dầu Một; thành lập phường thuộc thị xã Thủ Dầu Một; thành lập thị trấn Thái Hòa thuộc huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ngày 13 tháng 1 năm 2011, Chính phủ ra Nghị quyết 04/NQ-CP thành lập 2 thị xã mới là Dĩ An và Thuận An, trên cơ sở 2 huyện Dĩ An và Thuận An cũ. Ngày 2 tháng 5 năm 2012, Chính phủ ra Nghị quyết thành lập thành phố Thủ Dầu Một trên cơ sở thị xã Thủ Dầu Một cũ. Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết 136/NQ-CP chia huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng, chia huyện Tân Uyên thành thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên; đồng thời thành lập phường, thị trấn thuộc các huyện Bắc Tân Uyên, Bàu Bàng, thị xã Thuận An và thành phố Thủ Dầu Một. Như vậy, từ tháng 1 năm 2014, Bình Dương có 9 đơn vị hành chính cấp huyện. Ngày 8 tháng 7 năm 2014, Quyết định 1120/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ công nhận thành phố Thủ Dầu Một là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bình Dương. == Chính trị == Cơ quan chính trị cao nhất của tỉnh Bình Dương là Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương, hay Đảng ủy tỉnh Bình Dương, gọi tắt Tỉnh ủy Bình Dương, là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giữa hai kỳ đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh. Đứng đầu Tỉnh ủy là Bí thư Tỉnh ủy và thường là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương hiện nay là Trần Văn Nam. === Lịch sử === Tháng 2 năm 1936 thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ nhất đồng thời để đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ hiện tại Xứ ủy Nam Kỳ đã chỉ định Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một gồm 5 ủy viên. Đến tháng 1 năm 1937, Trung ương Đảng chính thức công nhận Tỉnh ủy lâm thời, với tên gọi chính thức là Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một. Khi Thế chiến II bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp trấn áp các phòng trào đòi độc lập. Tháng 11 năm 1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra bất thành, chính quyền thực dân Pháp khủng bố ác liệt, nhiều đảng viên phải lẩn tránh nhiều nơi. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một bị xóa sổ. Giữa năm 1942, nhiều đảng viên tập hợp quay trở lại, tháng 3 năm 1943 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được tái lập. Tháng 5 năm 1943, Bí thư các Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh họp lại thành lập Liên Tỉnh ủy miền Đông để chỉ đạo chung các phong trào tại địa phương. Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, Tỉnh ủy chức tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh và thành lập Ủy ban nhân dân tỉnh. Giữa tháng 9, Ủy ban nhân dân tỉnh đổi tên thành Ủy ban Hành chánh kháng chiến tỉnh. Cuối tháng 9 năm 1945, Liên quân Anh - Pháp nổ súng quân tái chiếm Nam Bộ. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Nam BỘ quyết định Nam Bộ kháng chiến. Thực hiện chủ trương "giải tán" của Đảng ngày 11/11/1945, Tỉnh ủy cũng tiến hành tự "giải tán", thực chất phát triển phong trào cách mạng dưới tên Việt Minh. Theo chủ trương tháng 3 năm 1951 của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tỉnh ủy Biên Hòa sát nhập thành Tỉnh ủy Thủ Biên, hoạt động đưới sự chỉ đạo của Phân liên khu ủy miền Đông gồm đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, và 5 tỉnh Gia Định Ninh, Thủ Biên, Bà Rịa - Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Đại diện cho Trung ương là cơ quan Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hoạt động trên toàn miền Nam. Sau khi Hiệp định Geneve được ký, Tỉnh ủy Thủ Biên chuẩn bị lực lượng thi hành Hiệp định. Theo các thảo thuận về tập kết 2 bên, Xứ ủy Nam Bộ quyết định phân chia lại địa bàn các tỉnh để phù hợp với tình hình mới. Cuối năm 1954 Tỉnh Thủ Biên tách lại 2 tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Tháng 1/1955 Hội nghị Ban Chấp hành tỉnh Thủ Dầu Một được tổ chức. Sau khi Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại làm Tổng thống, thực thực hiện chính sách "tố cộng, diệt cộng". Từ năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm nhiều cuộc càn quét quy mô lớn khiến cho Tỉnh ủy Thủ Dầu Một tổn thất rất lớn. Đầu năm 1960, phong trào Đồng khởi tại Bến Tre nổ ra. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập Ban chỉ đạo đồng khởi của tỉnh và tiến hành đồng khởi tại tỉnh tháng 2 năm 1960. Tuy nhiên, đồng khởi nhanh chóng bị trấn áp và thất bại. Để phù hợp tình hình mới, Xứ ủy Nam Bộ sát nhập 2 tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên. Tháng 9/1960 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Biên được chỉ định. Đầu năm 1961 Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay thế cho Xứ ủy Nam Bộ. Trung ương Cục quyết định tách ra, tái lập lại 2 tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một và thành lập tỉnh Phước Thành để phù hợp với chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. Tháng 6/1961 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tỉnh ủy Phước Thành được thành lập. Tháng 10/1967 Bộ Chính trị phê chuẩn Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền về tiến hành tổng công kích-tổng khởi nghĩa, còn gọi "Nghị quyết Quang Trung". Trung ương Cục quyết định sắp xếp lại các lực lượng để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Tổ chức thành 5 phân khu hướng tiến công Sài Gòn-Gia Định và khu vực xung quanh. Căn cứ vào tình hình chiến trường, Trung ương Cục quyết định thành lập Ban Chấp hành các phân khu thay cho các Tỉnh ủy. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được sát nhập vào Ban chấp hành Phân khu ủy Phân khu 5. Tháng 6/1969 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Để đáp ứng nhiệm vụ mới, tháng 5/1971 Trung ương Cục quyết định sát nhập Phân khu 5 và tỉnh Biên Hòa thành Phân khu Thủ Biên, Trung ương Cục chỉ định Ban chấp hành Phân khu ủy Thủ Biên. Đến cuối năm 1972, Trung ương Cục quyết định tổ chức lại chiến trường miền Đông Nam Bộ, giải thể các Phân khu, thành lập lại các tỉnh. Tháng 9/1972 Phân khu Thủ Biên được giải thể, tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập. Trung ương cục chỉ định Tỉnh ủy Thủ Dầu Một. Tháng 12/1975 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về phát triển đất nước sau chiến tranh. Thực hiện Nghị quyết, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã ban hành các nghị quyết giải thể khu, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Tháng 2/1976 tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước được sát nhập thành tỉnh Sông Bé, đồng thời Trung ương Cục cũng chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Sông Bé. Tháng 11/1976, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ nhất (vòng 1) diễn ra từ ngày 10-20/11/1976, nhiệm vụ chính là tham gia thảo luận ý kiến chính trị, bầu đại biểu tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Ngày 19/4/1977, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ nhất (vòng 2) được khai mạc. Đại hội đã chính thức bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sông Bé với nhiệm kỳ 1976-1979. Sau Đại hội, Tỉnh ủy tiến hành đại hội Đảng vòng 2 ở các Đảng bộ trực thuộc tỉnh ủy. Tại kỳ họp thứ 10 (15/10-12/11/1996) Quốc hội khóa IX ra nghị quyết về việc chia tách tỉnh và điều chỉnh địa giới hành chính, trong đó có tỉnh Sông Bé. Ngày 1/1/1997 tỉnh Bình Dương được tái lập. Trước đó ngày 12/12/1996 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 118-QĐNS/TW thành lập Đảng bộ Bình Dương và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Bình Dương. Thực hiện Chỉ thị 51-CT/TW của Ban Bí thư và Hướng dẫn 06-HD/TC-TW ngày 23/7/1997 của Ban Tổ chức Trung ương về việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố mới được chia tách. Tỉnh ủy lâm thời tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI từ 17-19/12/1997. Đại hội chính thức bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương khóa VI gồm 47 ủy viên. === Các đời Bí thư Tỉnh ủy === Giai đoạn 1936-1976 == Kinh tế == Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6 tỷ 507 triệu USD. Năm 2007, tỉnh Bình Dương đặt mục tiêu thu hút trên 900 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm 2006. Theo bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2006, tỉnh Bình Dương đứng đầu cả nước với 76,23 điểm, trong khi thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, lần lượt xếp thứ thứ 40 với 50,34 điểm và xếp thứ 7 với 63,39 điểm. Bình Dương có khoảng 28 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần I, Sóng Thần II, Đồng An, Nam Tân Uyên, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, VSIP - Việt Nam Singapore, Mỹ Phước 1, 2, 3, 4 và 5. Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỷ đồng. Nhằm tăng sự thu hút đầu tư, địa phương này đang tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới để phát triển công nghiệp ra các huyện phía bắc của tỉnh. Tháng 10 năm 2012, Bình Dương tiếp tục thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp đảm bảo an sinh xã hội. Các doanh nghiệp xuất khẩu đã ký đơn hàng và khai thác thị trường mới đối với các mặt hàng và nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực như sản phẩm gỗ, hàng dệt may, hàng giày dép, mủ cao su,…). So với tháng trước, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1 tỷ 178 triệu đô la Mỹ, tăng 5% và tăng 11,9% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 987 triệu đô la Mỹ, tăng 5,9% và tăng 7,2% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2012, đầu tư trong nước có 1.375 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới và 418 doanh nghiệp tăng vốn 11.010 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài 2 tỷ 589 triệu đô la Mỹ, gồm 96 dự án mới với tổng vốn đầu tư 1 tỷ 568 triệu đô la Mỹ và 107 dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng 1 tỷ 021 triệu đô la Mỹ. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 108.941 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ, so với tháng trước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước thực hiện đạt 5.702 tỷ đồng, tăng 1,2%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,51%, thu ngân sách 19.500 tỷ đồng, đạt 72,2% dự toán hội đồng nhân dân tỉnh giao, trong đó thu nội địa đạt 13.500 tỷ đồng, thu từ lĩnh vực xuất nhập khẩu 6.000 tỷ đồng. Tổng vốn huy động tín dụng ước đạt 71,206 tỷ đồng, tăng 1,19% so với tháng trước, tăng 24,1% so với đầu năm, dư nợ cho vay đạt 52.390 tỷ đồng, tăng 2,6% so với đầu năm, tỷ lệ nợ xấu khoảng 1.368 tỷ đồng, chiếm 2,51%. == Văn hóa == Bình Dương có các làng nghề truyền thống, như điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài. Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực. == Giáo dục == Danh sách các trường Cao đẳng, Đại học, trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn tỉnh Bình Dương: == Giao thông == Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Trong hệ thống đường bộ, Quốc lộ 13 là con đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ Thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối Vương quốc Campuchia xuyên đến biên giới Thái Lan và Lào. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế. Đường Quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng thuộc tỉnh Bình Phước xuyên suốt vùng Tây Nguyên, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có Tỉnh lộ 741 từ Thủ Dầu Một đi Phước Long... và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh. Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa 3 con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. == Phát triển đô thị == Thành phố Thủ Dầu Một: Đô thị loại II. Trở thành đô thị loại I vào năm 2017 Thị xã Thuận An: Đô thị loại III. Thị xã Dĩ An: Đô thị loại III. Thị xã Bến Cát: Đô thị loại IV. Định hướng trở thành đô thị loại III năm 2020 Thị xã Tân Uyên: Đô thị loại IV. Định hướng trở thành đô thị loại III năm 2020 Đô thị Bàu Bàng(Bàu Bàng): Đô thị loại V Đô thị Tân Lợi(Bắc Tân Uyên): Đô thị loại V Thị trấn Dầu Tiếng(Dầu Tiếng): Đô thị loại V Thị trấn Phước Vĩnh(Phú Giáo): Đô thị loại V == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
5 tháng 2.txt
Ngày 5 tháng 2 là ngày thứ 36 trong lịch Gregory. Còn 329 ngày trong năm (330 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 249 – Thừa cơ Hoàng đế Tào Phương cùng Đại tướng quân Tào Sảng thăm mộ Minh Đế, Tư Mã Ý phát động chính biến, đoạt thực quyền của triều Ngụy, tức ngày Giáp Ngọ (6) tháng 1 năm Kỉ Tị. 756 – Loạn An Sử: Sau khi chiếm được Lạc Dương, An Lộc Sơn xưng là Đại Yên hoàng đế, tức ngày Ất Mão (1) tháng 1 năm Bính Thân. 1576 – Chiến tranh tôn giáo Pháp: Henri IV từ bỏ đạo Công giáo Rôma tại Tours và tái gia nhập lực lượng Tin Lành. 1661 – Thuận Trị Đế Phúc Lâm của triều Thanh qua đời ở Dưỡng Tâm điện do mắc bệnh đậu mùa, Thái tử Huyền Diệp sau đó kế vị, tức Khang Hy Đế, tức ngày Đinh Tị (7) tháng 1 năm Tân Sửu. 1778 – Nam Carolina trở thành bang thứ nhì phê chuẩn Các điều khoản Hợp bang. 1783 – Bắt đầu chuỗi năm trận động đất tại vùng Calabria, Ý. 1818 – Karl XIV Johan đăng quang quân chủ của Thụy Điển và Na Uy. 1852 – Bảo tàng Ermitazh tại Sankt-Peterburg, Nga được mở cửa cho công chúng, nay là một trong những bảo tàng lớn nhất và cổ nhất trên thế giới. 1859 – Wallachia và Moldavia hợp nhất thành một thân vương quốc trong thành phần Đế quốc Ottoman, được xem là mốc khai sinh ra nước Romania hiện nay. 1885 – Quốc vương Leopold II của Bỉ thành lập Nhà nước Tự do Congo với địa vị là một thuộc địa cá nhân. 1909 – Nhà hóa học người Bỉ Leo Hendrick Baekeland tuyên bố tạo thành Bakelite, chất dẻo tổng hợp đầu tiên trên thế giới. 1936 – Phim hài Thời đại tân kỳ của Charlie Chaplin được công chiếu. 1946 – Đảng Thanh hữu Thiên Đạo được thành lập tại Triều Tiên với nền tảng là các tín đồ Thiên Đạo. 1958 – Gamal Abdel Nasser được bổ nhiệm làm tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Ả Rập Thống nhất. 1962 – Tổng thống Pháp Charles de Gaulle kêu gọi trao quyền độc lập cho Algérie. == Sinh == 1817 – Bernhard von Schkopp, tướng lĩnh người Đức (m. 1904) 1836 – Tenshōin, phu nhân người Nhật Bản (m. 1883) 1842 – Karl von Wedel, tướng lĩnh và nhà ngoại giao người Đức (m. 1919) 1912 – Nguyễn Khang, họa sĩ người Việt Nam (m. 1989) 1913 – Nguyễn Khắc Viện, nhà khoa học và nhà hoạt động người Việt Nam (m. 1997) 1919 – Andreas Papandreou, kinh tế gia và chính trị gia người Hy Lạp, Thủ tướng Hy Lạp (m. 1996) 1932 – Cesare Maldini, cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Ý 1942 – Susan Hill, tác gia người Anh Quốc 1944 – Al Kooper, ca sĩ và nhà sản xuất người Mỹ 1946 – Chu Lai, nhà văn người Việt Nam 1946 – Charlotte Rampling, diễn viên người Anh Quốc 1948 – Sven-Göran Eriksson, cầu thủ bóng đá và nhà quản lý người Thụy Điển 1952 – Daniel Balavoine, ca sĩ và nhà sản xuất người Pháp (m. 1986) 1953 – Trần Quốc Vượng, chính trị gia người Việt Nam 1965 – Gheorghe Hagi, cầu thủ bóng đá người Romania 1972 – Mary, thành viên vương thất Đan Mạch 1975 – Giovanni van Bronckhorst, cầu thủ bóng đá người Hà Lan 1976 – Tony Jaa, diễn viên và võ sư người Thái Lan 1977 – Pavel Novotny, diễn viên khiêu dâm người Séc 1981 – Lâm Chấn Huy, ca sĩ người Việt Nam 1982 – Rodrigo Palacio, cầu thủ bóng đá người Argentina 1982 – Phạm Đình Khánh Đoan, vận động viên điền kinh Việt Nam 1984 – Carlos Tévez, cầu thủ bóng đá người Argentina 1985 – Cristiano Ronaldo, cầu thủ bóng đá người Bồ Đào Nha 1985 – Paul Vandervort, ca sĩ và người mẫu người Mỹ 1987 – Trấn Thành, diễn viên, người dẫn chương trình người Việt Nam 1987 – Darren Criss, diễn viên và ca sĩ người Mỹ 1992 – Neymar, cầu thủ bóng đá người Brasil 1995 – Ratchanok Intanon, vận động viên cầu lông người Thái Lan 1995 – Adnan Januzaj, cầu thủ bóng đá người Bỉ-Albania 2002 – Davis Cleveland, diễn viên người Mỹ == Mất == 1597 – Phaolô Miki, chủng sinh Công giáo người Nhật Bản, được phong thánh (s. 1562) 1661 – Ái Tân Giác La Phúc Lâm, tức Thuận Trị Đế, hoàng đế của triều Thanh (s. 1638) 1807 – Pasquale Paoli, thủ lĩnh quân sự và chính trị gia người Corse (s. 1725) 1909 – Nguyễn Khuyến, quan viên, tác gia người Việt Nam (s. 1835) 1971 – Rákosi Mátyás, chính trị gia người Hungary (s. 1892) 1993 – Joseph L. Mankiewicz, nhà biên kịch, nhà sản xuất, đạo diễn người Mỹ (s. 1909) 1996 – Lâm Thanh Tường, chính trị gia người Singapore (s. 1933) 1999 – Wassily Leontief, nhà kinh tế học người Liên Xô và Nga, đoạt giải Nobel (s. 1906) 2013 - Hải Ninh, đạo diễn điện ảnh Việt Nam (s. 1931) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
chứng nhận doanh số đĩa thu âm.txt
Chứng nhận doanh số đĩa thu âm là một hệ thống chứng nhận một đĩa thu âm (âm nhạc) được chuyển giao hoặc bán với một số lượng bản sao nhất định. Hầu hết tất cả các nước đều dựa theo sự thay đổi các hạng mục của RIAA (Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Mỹ), được đặt tên theo các vật liệu quý như vàng, bạch kim và kim cương. Bạc thường sử dụng tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Số lượng hàng hoặc các lô hàng được chứng nhận cho các giải thưởng này khác nhau phụ thuộc vào quy mô lãnh thổ mà album được phát hành. Thông thường người ta chỉ trao cho album nào phát hành ít nhất toàn quốc và được chứng nhận riêng lẻ theo từng nước nơi mà album đó bán ra. Ngoài ra, cấp độ doanh số bán hàng khác nhau cũng dựa trên loại hình phát hành âm nhạc khác nhau, như album, đĩa đơn hoặc video âm nhạc. Ban đầu chứng nhận này chỉ được áp dụng cho các đĩa ghi LP, ngày nay chứng nhận doanh số còn được trao cho các loại đĩa CD. Chứng nhận thường được trao theo lũy tích, và có thể một album riêng lẻ được chứng nhận cả 4 hạng mục gồm bạc, vàng, bạch kim và cứ tiếp tục. Một album được chứng nhận là đĩa bạch kim, khi tiếp tục ít nhất 2 lần chứng nhận nữa, được gọi là "đĩa bội bạch kim" hay "đĩa đa bạch kim". Các nghệ sĩ có thể được chứng nhận đĩa bội bạch kim nếu họ có ít nhất 2 album trong cùng một lãnh thổ đều được chứng nhận đĩa bạch kim. Những đĩa bán ra quá ít người mua được gọi đùa là "Sold Lead", trái ngược với số lượng cao ngất nghểu của các đĩa vàng hay đĩa bạch kim. == Số bán cần có == Số lượng hàng hoặc các lô hàng cần bán để được chứng nhận cho các giải thưởng này khác nhau phụ thuộc vào quy mô từng lãnh thổ quốc gia mà album được phát hành. Một vài thí dụ: Số ở trên là số bán cho LP và album, số ở dưới (trong ngoặc) là số bán cần thiết cho đĩa đơn (single). == Xem thêm == Danh sách album bán chạy nhất Danh sách đĩa đơn bán chạy nhất Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Mỹ Danh sách chứng nhận doanh số đĩa thu âm == Tham khảo == == Liên kết mở rộng == Danh sách các Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm của một số quốc gia The Best Selling Albums Ever... Worldwide U.S./Canada Diamond Award Albums Certification of Awards RIAA certification – official website
chồng.txt
Chồng là một người đàn ông tham gia vào một mối quan hệ hôn nhân và cam kết trở thành một đối tác suối đời của một người vợ để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của một người chồng về gia đình. == Pháp luật == Thông thường, chồng được pháp luật và cộng đồng công nhận một cách chính thức thông qua hình thức hôn nhân, trong đó chồng là chú rể và vào lúc kết thúc của một đám cưới một người đàn ông được gọi là một người chồng, trong khi một người phụ nữ được gọi là một người vợ. Mặt khác, nếu hai bên nam nữ mới làm lễ đính hôn mà chưa làm lễ cưới thì trường hợp này người đàn ông được gọi là chồng chưa cưới. Ngày nay pháp luật rất nhiều nước, trong đó có Việt Nam đều xác lập địa vị pháp lý bình đẳng giữa vợ và chồng. Theo đó, vợ và chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, có tư cách pháp lý như nhau trong quan hệ hôn nhân và gia đình cũng như về quyền sở hữu tài sản, pháp luật còn quy định chặt chẽ thủ tục kết hôn, ly hôn, phân chia tài sản khi ly hôn. Trong một số trường hợp, pháp luật có ưu tiên nhất định cho người phụ nữ với chính sách quyền phụ nữ, bảo vệ bà mẹ và trẻ em để tiến tới thực hiện bình đẳng giới. == Văn hóa == Trong quan niệm của các nền văn hóa khác nhau thì người chồng có vai trò, vị trí khác nhau. Trong quan niệm của người Á Đông thì người chồng (phu) là trụ cột của gia đình. Một số nước vẫn còn tồn tại thói gia trưởng trong đó đề cao quá mức người chồng. Trong một số trường hợp, nếu vai trò trụ cột gia đình đổi sang cho người vợ thì khả năng gia đình đó sẽ bị sứt mẻ. Tại các nước theo Hồi giáo, người chồng có địa vị rất cao, họ có quyền có nhiều vợ, trong khi ở một số nền văn hóa theo chế độ mẫu hệ hoặc chế độ mẫu hệ còn tồn tại thì địa vị của người chồng thấp hơn nhiều. Trong Văn hóa Việt Nam có nhiều câu ca dao, tục ngữ nói về vợ, chồng như: Chó chui gầm chạn: Chỉ về người chồng phải ở rể tại gia đình của nhà vợ dẫn đến vị trí bị giảm sút và có thân phận tủi nhục như con chó. Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn Râu tôm nấu với ruột bầu/Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon Trai khôn chọn vợ chốn chợ đông, gái khôn chọn chồng giữa chốn ba quân Trai khôn dựng vợ, gái lớn gả chồng Gái thương chồng, đương đông buổi chợ/Trai thương vợ, nắng quái chiều hôm Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm, xông hương mặc người Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống Của chồng công vợ Lệnh ông không bằng cồng bà Có chồng bớt áo hai vai/Bớt màu trang điểm kẻo trai nó lầm Ai kêu xeo xéo bên sông/Tôi còn vá áo cho chồng tôi đây Đốn cây ai nở dứt chồi/Đạo chồng nghĩa vợ giận rồi lại thương Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa Chồng nói thì vợ bớt lời/Cơm sôi bớt lửa, một đời không khê Phu xướng phụ tùy (chồng nói thì vợ phải nghe theo) Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử: Ở nhà thì theo bố, cưới rồi thì theo chồng, chồng chết thì theo con Anh em như thể chân tay, vợ chồng như thể áo quần (Lưu Bị) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Người chồng hoàn hảo cần có tính cách gì? Nghe đàn ông chỉ cách chọn chồng 8 kinh nghiệm chọn chồng cực hay 10 bí quyết chọn chồng Dấu hiệu của một người chồng tốt Những nhược điểm thường có ở một người chồng tốt 10 bước để trở thành người chồng tốt
la mã cổ đại.txt
La Mã cổ đại hay Rome cổ đại là một nền văn minh phồn thịnh, bắt đầu trên Bán đảo Ý từ thế kỉ 8 trước Công nguyên. Trải dài qua Địa Trung Hải, và với trung tâm là Roma, La Mã cổ đại là một trong những nền văn minh lớn nhất thế giới trong thời kỳ cổ đại. Trong suốt 12 thế kỉ tồn tại của nền văn minh, qua các cuộc chinh chiến và đồng hóa, La Mã cổ đại đã thống trị các khu vực Nam Âu, Tây Âu, Tiểu Á, Bắc Phi và một phần của Đông Âu. Đây là nền văn minh quyền lực nhất trên lãnh thổ Địa Trung Hải. == Lịch sử == === Thời kì Quân chủ === Thành phố Roma phát triển từ những khu định cư trên và xung quanh đồi Palatine, xấp xỉ mười tám dặm từ biển Tyrrhenia (một phần của biển Địa Trung Hải) trên dòng sông Tiber. Tại vị trí này sông Tiber có một hòn đảo mà ở đó có thể lội qua sông. Do dòng sông và chỗ cạn, Roma ở vị trí quyết định đối với giao thông và buôn bán. Trong truyền thuyết của người La Mã, Roma được xây dựng bởi Romulus vào ngày 21 tháng 4 năm 753 TCN. Romulus, người mà tên đã được coi là sinh ra tên của thành Roma, là người đầu tiên trong 7 vị vua của Roma mà người cuối cùng là Tarquin Kiêu hãnh bị phế truất vào năm 510 hay 509 TCN khi La Mã Cộng hoà được thiết lập. Những vị vua thần thoại hay bán thần thoại là (theo thứ tự thời gian): Romulus, Numa Pompilius (Vua hiền Numa), Tullus Hostilius, Ancus Marcius, Tarquinius Priscus, Servius Tullius, và Tarquinius Superbus (Tarquin Kiêu hãnh). === Thời kì Cộng hoà === Cộng hòa La Mã được thành lập vào năm 509 TCN, theo những tác giả về sau như Livy, khi nhà vua bị hạ bệ, và một hệ thống dựa trên những quan chức hành chính địa phương được bầu ra hằng năm. Quan trọng nhất là hai quan chấp chính tối cao, những người cùng nhau áp dụng quyền hành pháp, nhưng phải đấu tranh với Hội đồng Nguyên lão cứ lớn lên về quy mô và quyền lực cùng với lực lượng của nền Cộng hoà. Các chức vị quan toà lúc đầu chỉ được giới hạn cho quý tộc nhưng sau này được mở rộng cho cả người bình dân. Người La Mã dần dần đánh bại những dân tộc khác trên bán đảo Ý, chủ yếu liên quan đến những bộ tộc Ý khác (thuộc dòng Ấn-Âu) như người Samnite và Sabine, nhưng cũng có cả người Etrusca. Mối đe doạ cuối cùng cho đế chế La Mã đến khi Tarentum, một thuộc địa lớn của Hy Lạp, nhận được sự giúp đỡ của vua xứ Ipiros là Pyrros vào năm 282 TCN. Trong nửa sau của thế kỉ thứ 3 TCN, Roma xung đột với Carthage trong 2 cuộc Chiến tranh Punic, xâm chiếm Sicilia và Iberia. Sau khi đánh bại Vương quốc Macedonia và Đế chế Seleucid vào thế kỉ thứ 2 TCN, người La Mã trở thành những người chủ không thể chối cãi của vùng Địa Trung Hải. Xung đột nội bộ giờ đây trở thành mối đe doạ lớn nhất đối với nền Cộng hoà. Hội đồng Nguyên lão, khư khư giữ lấy quyền lực cho mình, liên tục phản đối những cải cách đất đai quan trọng. Một hậu quả không lường trước được từ cải cách quân sự của Gaius Marius là quân lính thường có lòng trung thành với người chỉ huy của họ nhiều hơn đối với thành phố, và một vị tướng hùng mạnh như Marius, hay đối thủ của ông Lucius Cornelius Sulla, có đủ khả năng uy hiếp buộc thành phố và Hội đồng Nguyên lão phải nhượng bộ. Vào giữa thế kỉ 1 TCN ba người, Julius Caesar, Gnaeus Pompeius Magnus (Pompey) và Marcus Licinius Crassus, đã nắm quyền kiểm soát không chính thức của chính phủ cộng hoà thông qua một hiệp ước bí mật được biết đến như là Chế độ Tam hùng đầu tiên. Caesar có thể hoà hợp với những đối thủ Pompey và Crassus, cả hai đều là những người cực giàu với quân đội riêng và sự nghiệp thượng nghị sĩ, và hành động vì lợi ích của cả hai người khi bầu chọn quan chấp chính tối cao, trước khi dùng cương vị thống đốc của mình như người cầm quyền của Gaule để tự mình có được danh tiếng quân sự. Sau cái chết của Crassus và sự sụp đổ của chế độ Tam hùng, một sự tách biệt giữa Caesar và Hội đồng Nguyên lão đã dẫn tới nội chiến, với Pompey dẫn đầu lực lượng của Hội đồng. Caesar chiến thắng và được phong làm nhà độc tài suốt đời sau khi từ chối tước hiệu quốc vương. Tuy nhiên, ông ta chiếm lấy quá nhiều quyền lực quá nhanh đối với một vài thượng nghị sĩ, và bị ám sát trong một âm mưu được tổ chức bởi Brutus và Cassius vào ngày 15 tháng 3 năm 44 TCN. Một chế độ Tam hùng thứ hai, bao gồm người thừa kế đã được chỉ định của Augustus và những cựu trợ thần Marcus Antonius và Marcus Aemilius Lepidus, lên nắm quyền, nhưng những thành viên của nó nhanh chóng rơi vào một cuộc đấu tranh giành quyền thống trị. Trong nỗ lực cuối giành chính quyền Cộng hoà, Augustus đánh bại Antonius tại trận chiến Actium vào năm 31 TCN và thôn tính những vùng lãnh thổ của Cleopatra, người vợ phương Đông của Antonius. Augustus giữ lại Ai Cập như là thuộc địa không chính thức của nhà vua, bảo đảm một thu nhập để lấy lòng những cư dân thủ đô. Giờ đây ông ta nắm lấy quyền lực gần như tuyệt đối với tư cách là thống soái quân sư, người bảo vệ duy nhất của quần chúng, và quyền lực tối cao trên lãnh thổ La Mã, và lấy tên Augustus. Những xác lập hiến pháp trên (đã biến Roma từ một nước cộng hoà thành một đế quốc). Người kế vị được chỉ định của Augustus, Tiberius, lên nắm quyền mà không có cuộc đổ máu nào (thậm chí còn không có nhiều sự kháng cự), và như vậy đã hoàn thành công trình của ông. === Thời kì Đế quốc === Trong thời kì Đế quốc, biên giới đế chế tương đối ổn định vì người La Mã đã chế ngự được các cuộc nổi dậy, những kẻ lăm le quyền lợi đế quốc, những cuộc xâm lược của những "người man rợ" (barbarian) và những khó khăn khác. Để đối phó tốt hơn với nhiệm vụ giữ cả đế chế lại với nhau, các hoàng đế bắt đầu chỉ định các vị đồng hoàng đế (co-emperor), mặc dù điều này thường dẫn đến nội chiến. Sau năm 395 đế chế đã bắt đầu tách thành hai phần đông và tây. === Sụp đổ === Theo Edward Gibbon, Đế quốc La Mã đã không chống cự được cuộc xâm lược của người man rợ (barbarian) do sự mất lòng tin đối với các cư dân. Họ đã trở nên lười biếng và uỷ mị, giao phó nghĩa vụ bảo vệ Đế chế của họ cho bọn lính đánh thuê người dã man. Vai trò của lực lượng quân đội người dã man trở nên dày đặc và ăn sâu đến nỗi họ có thể dễ dàng vượt mặt Đế chế. Những người La Mã, Gibbon nói, đã trở thành ẻo lả như phụ nữ và không muốn sống theo kiểu quân sự. Thêm vào đó, Gibbon cũng ám chỉ vai trò của Thiên chúa giáo trong sự sụp đổ của Roma. Thiên chúa giáo, ông nói, đã tạo ra niềm tin vào một thế giới khác và gợi ý rằng có một cuộc sống tốt đẹp hơn sau cái chết. Điều này cổ vũ sự thờ ơ giữa những công dân La Mã tin rằng họ sẽ có một cuộc sống tốt hơn sau khi họ chết, do đó huỷ hoại ý muốn của họ về việc duy trì và hi sinh cho đế chế. Thêm nữa, sự nổi lên của Thiên chúa giáo cũng tạo ra một sự xác định tư hữu quan trọng hơn nhà nước, làm thu nhỏ hơn mong muốn đưa những nhu cầu của nhà nước lên trên của bản thân. Giải thích này được nhìn nhận với thái độ hoài nghi bởi đế chế chỉ bị tan rã ở phía Tây, trong khi ở phía Đông, Đế chế vẫn tiếp tục như là Đế chế Byzantine ở Phương Đông. Tuy nhiên, mọi người điều đồng ý rằng sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã rất phức tạp không chỉ có một nguyên nhân. Các nhà sử học ngày nay đã đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau cho sự sụp đổ của đế chế phía tây: việc nhiễm độc chì các thùng rượu, bệnh dịch, sự mục nát chính trị, văn hóa đô thị không còn sức sáng tạo, và việc dịch chuyển dịch vụ quân sự cho người nước ngoài và người ở ven đế quốc. Trong Đế quốc La Mã, từ "người dã man" chỉ bất cứ ai không phải là một công dân La Mã, và được áp dụng chủ yếu cho những bộ tộc Bắc Âu ngoài tầm ảnh hưởng của nền văn hoá Roma. == Xã hội == Cuộc sống của các cư dân La Mã cổ đại được xác định quanh các thành phố như thành phố Roma. Thành phố có một số lượng khổng lồ các công trình xây dựng như là Colosseum, quảng trường của hoàng đế Trajan và đền thờ các vị thần (Pantheon). Trên thành phố Roma cổ có các vòi nước uống tươi mát được cung cấp thường xuyên bởi những hệ thống dẫn nước dài hàng trăm dặm, các rạp hát, khu thể thao lớn, tổ hợp các phòng tắm phức hợp với thư viện và khu mua sắm, khu chợ lớn, cùng với các khu vực sản xuất hàng hóa. Trên lãnh thổ của La Mã, các kiến trúc về nhà ở rất đa dạng, từ những căn nhà đơn giản cho đến các biệt thự quý tộc. Bên trong thủ đô Roma của La Mã cổ đại, là nơi ở của hoàng đế nằm ở trên ngọn đồi thoáng mát, Palatene, có lẽ từ palace bắt nguồn từ đây. Các tầng lớp cư dân từ trung xuống thấp, sống trong thành phố thì sống trong những căn hộ nhiều người, trông giống như nhiều khu dân cư thời hiện nay. Người La Mã xây dựng các đường ống dẫn nước hầu hết khắp nơi trong lãnh thổ của mình, từ những vùng đất của người Đức ngày nay cho đến Bắc Phi, đặc biệt là ở thành Roma, với các đường dẫn nước dài tổng cộng 415 km. Với việc xây dựng các hệ thống cầu dẫn nước như Pont du Gard, Cầu máng Segovia, người La Mã cũng đã thiết lập nên 1 nền tảng kỹ thuật mà hơn 1000 năm sau vẫn chưa ai vượt qua được. === Chính phủ === Thời kỳ đầu, Roma được điều hành bởi các vị vua được bầu chọn. Các yêu cầu về năng lực của vua chưa được rõ ràng; ông ta có thể nắm giữ quyền lực gần như độc đoán, hoặc chỉ đơn thuần như một thủ tướng của nghị viện và dân tộc. Ít nhất trong lực lượng quân đội, quyền uy của nhà vua là tuyệt đối. Hơn nữa, vua cũng là lãnh tụ tôn giáo. Để tăng thêm quyền lực của vua, có ba bộ phận hành chính: Nghị viện là nơi tham vấn chính cho vua; Hội đồng Curiata có thể ủng hộ và phê chuẩn các luật lệ mà vua đề xuất; Hội đồng Calata là tập hợp các lãnh đạo tôn giáo của dân chúng nhằm chứng thực hành động đúng, lắng nghe thông cáo và biểu thị sự hăng hái và lên kế hoạch cho ngày hội của tháng tiếp theo. Sự cạnh tranh quyền lực của nền cộng hòa La Mã thể hiện một cách cai trị đặc sắc của một thể chế chính trị dân chủ. Truyền thống pháp luật La Mã chỉ được thông qua bởi sự bỏ phiếu tín nhiệm của nhân dân (Hội đồng Tributa). Tương tự vậy, ứng cử viên cho chức vụ công thì phải thực hiện bầu cử của dân chúng. Tuy nhiên, Nghị viện La Mã được xem như là nơi tập trung cao nhất của quyền lực, tập hợp các cố vấn chính. Nền Cộng hòa La Mã nắm giữ quyền lực to lớn (auctoritas), nhưng thực tế lại không có quyền làm luật; nó được hiểu như là một nhóm cố vấn. Tuy nhiên, giống Nghị viện, bản thân các nghị viên là những cá nhân rất có thế lực, gây khó khăn rất lớn cho các quyết định chung của Nghị viện. Một nghị viên mới phải được chọn trong rất nhiều gia đình quyền thế bởi nhân viên kiểm duyệt (censura), người mà có quyền loại bỏ một nghị viên khỏi Nghị viện, nếu phát hiện thấy nghị viên nào có biểu hiện "mất phẩm chất"; lý do để thay đổi có thể bao gồm cả tội hối lộ (đút lót), hay theo như luật dưới thời Cato Già thì một nghị sĩ bị buộc phải sa thải khi ôm vợ người khác ở chốn công đường. === Luật pháp === Nguồn gốc của điều cơ bản luật pháp và thực tiễn của La Mã có thể chỉ ra luật của 12 chương mục (từ 449 TCN) cho đến những luật lệ của Hoàng dế Justinian I (khoảng 530). Luật pháp của La Mã như là các luật lệ của Justinian, bởi vì nó là cơ sở lý luận và thực tiễn trong thời kỳ Đế chế Byzantine và trong lục địa Tây Âu, và được tiếp tục ở các thời kỳ về sau, cho đến tận thời kỳ thế kỷ 18 của rất nhiều quốc gia. Luật pháp của La Mã gồm 3 phần chính: Ius Civile, hay "công luật", áp dụng cho tất cả công dân La Mã và chức vị Praetor Urbanus có trách nhiệm áp dụng luật này, Ius Gentium, hay "luật quốc tế", áp dụng cho tất cả các người ngoại quốc trong các trường hợp họ tiếp xúc với các công dân La Mã và chức vị Praetor Peregrinus có trách nhiệm áp dụng luật này, và Ius Naturale, hay "luật tự nhiên", bao gồm tất cả các luật trong tự nhiên và được xem như áp dụng cho tất cả mọi người. === Kinh tế === Đế chế La Mã cai trị một vùng lãnh thổ to lớn, cùng với một lượng khổng lồ về tài nguyên thiên và con người. Vốn dĩ, nền kinh tế của La Mã chủ yếu dự trên nền tảng là nông nghiệp và thương mại. Nông nghiệp phát triển kéo theo thương mại phát triển đã làm thay đổi bán đảo Ý, vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, những người tiểu điền chủ có thể sở hữu những điền trang nho và ôliu rộng lớn. Những tiểu điền chủ không đủ khả năng gây bất ổn về giá cả bởi, Đế chế La Mã đã sát nhập thêm Ai Cập, Sicilia và Tunisia trở thành các chư hầu cung cấp sản vật. Hàng hóa xuất trở lại từ Roma là dầu ôliu và rượu vang. Kỹ nghệ và chế tạo đồ dùng với mức hoạt động khá nhỏ, nhưng khá nhộn nhịp là các công việc khai mỏ và khai thác đá xây dựng, tùy theo mức độ xây dựng vào mỗi triều đại khác nhau. Mức độ sản xuất chỉ có các xi nghiệp nhỏ với vài chục lao động. Tuy nhiên, trong lĩnh vực sản xuất gạch xây dựng cũng có những xí nghiệp lên đến hàng trăm người. Một số nhà viết sử, như Peter Temin, mô tả sự phát triển kinh tế của thời kỳ khởi đầu của La Mã đã thúc đẩy các kỹ nghệ khác và nghệ thuật phát triển, đặc biệt ảnh hưởng mạnh mẽ lên kinh tế thời Phục Hưng và về sau này của châu Âu. === Gia đình === Đơn vị cơ bản của xã hội La Mã là các "tiểu lâu đài" (household) và gia đình (familiy). Tiểu lâu đài bao gồm người đứng đầu, cha (người cha của gia đình), mẹ, các trẻ em, và những người có quan hệ khác. Ở tầng lớp cao hơn, thì nô lệ và đầy tớ luôn luôn là bộ phận của "tiểu lâu đài". Người đứng đầu tiểu lâu đài có một quyền lực rất lớn với những người sống cùng với ông ta: ông ta có thể quyết định cưới hay tách ly (ly hôn), bán trẻ làm nô lệ, yêu sách về tài sản, có quyền định đoạt cuộc sống của thành viên dưới quyền. Patria potestas là một khái niệm mở rộng với những người đàn ông (con trai trưởng thành) đối với lâu đài của ông ta sinh sống. Người con gái, bắt buộc phải chịu sự điều hành và cai quản của gia đình bên chồng mình. Tập hợp của các tiểu lâu đài có liên hệ tạo nên một gia đình (gens). Gia đình luôn là nền tảng trên quan hệ huyết thống (hoặc con nuôi được thừa nhận), nhưng thực chất chính là liên minh về quản trị và kinh tế. Đặc biệt, trong thời kỳ Cộng Hòa Roman, có một số gia đình siêu quyền thế, thường tham gia vào công việc chính trị của đế chế. Dưới thời La Mã việc sử dụng các đám cưới được xem trọng như một hình thức củng cố hoặc tìm kiếm mối liên kết về đồng minh hơn là sự lãng mạn của tình yêu, đặc biệt đối với giai cấp quyền thế. Người cha luôn có ý tìm chồng cho con gái của mình khi cô con gái bước vào tuổi từ 12 đến 14 tuổi. Người chồng luôn được gặp gỡ thường xuyên với cô dâu trước ngày cưới. Trong khi, những người con gái của gia đình quyền thế có xu hướng lấy chồng sớm, thì con gái của tầng lớp dưới thường kết hôn muộn hơn. === Các tầng lớp === Những cư dân La Mã tự do được chia thành 2 tầng lớp: quý tộc và người bình dân. Quý tộc là tầng lớp thống trị. Ban đầu, chỉ có họ mới có thể được bầu vào các chức vị. Việc lấy nhau giữa các tầng lớp bị cấm và danh hiệu quý tộc chỉ có thể được thừa kế chứ không được nhận. Dưới nền Cộng hoà La Mã, một loạt những đấu tranh dẫn tới việc người bình dân được hưởng những quyền bình đẳng hoặc gần như bình đẳng. Cuối thời kì Cộng hoà, sự phân biệt giữa quý tộc và người bình dân bắt đầu mất đi ý nghĩa của nó. Một tầng lớp cai trị mới, gọi là quý nhân, là những gia đình, quý tộc hay người bình dân, đã sản ra một quan chấp chính tối cao. Trong thời kì Đế quốc, sự phân chia giai cấp bị bỏ và bị hầu hết mọi người quên lãng. Đầu thời kì Cộng hoà, những công dân còn bị chia thành các tầng lớp dựa vào vũ khí mà họ có thể mua được cho nghĩa vụ quân sự. Tầng lớp giàu nhất là những người cưỡi ngựa hoặc kị sĩ, những người có thể mua được một con ngựa chiến. Có cả người cưỡi ngựa là quý tộc và người bình dân. Sau này nước Cộng hoà đã cố định lượng tài sản được thay bằng quân trang như cơ sở của sự phân chia giai cấp. Những tầng lớp trên có nhiều quyền lực và uy tín chính trị hơn những tầng lớp dưới. Hệ thống này cũng mất đi ý nghĩa của nó sau sự bãi bỏ của nền Cộng hoà. === Cưới xin === Đối với tầng lớp thượng lưu La Mã, người cha thường bắt đầu tìm người chồng cho con gái của mình khi con gái họ vào khoảng 12-14 tuổi. Người chồng có thể lớn hơn cô dâu khoảng hai tuổi hay thậm chí gấp ba lần tuổi cô ta. Thường là các cô không hoặc ít phản đối - mặc dù có bằng chứng rằng một số cô gái có quyền chọn chồng cho mình (con gái và vợ Cicero tự ý tìm chồng cho cô). Trong khi tầng lớp thượng lưu cưới lúc còn rất trẻ, có bằng chứng cho thấy phụ nữ thuộc tầng lớp hạ lưu - thường cưới muộn hơn vào khoảng độ tuổi mười mấy, đầu hai mươi. Cưới xin đối với họ không mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và chính trị trong thế giới chính trị La Mã cắt cổ, vì thế không việc gì phải vội. Bạn bè và gia đình tham dự lễ dạm hỏi trước lễ cưới. Tại buổi lễ này người cha được hỏi liệu ông có hứa gả con gái mình ("cô dâu") và thường thì phải trả lời là có. Cô dâu tương lai sau đó sẽ được nhận các món quà cười trong đó có một chiếc nhẫn để đeo vào ngón giữa, mà nhiều người tin rằng tại đấy có dây thần kinh nối thẳng với tim. === Giáo dục === Mục tiêu của nền giáo dục ở Roma là làm cho các học sinh trở thành những nhà hùng biện có ảnh hưởng lớn. Trường học khai giảng vào ngày 24 tháng 3 hằng năm. Mỗi ngày học bắt đầu vào sáng sớm và kéo dài đến hết buổi chiều. Thông thường, những đứa trẻ được dạy đọc và viết bởi cha của chúng. Về sau, khoảng 200 năm TCN, những đứa bé trai và gái được gửi đến trường khi chúng được khoảng 6 tuổi. Nền giáo dục cơ bản của Roma bao gồm đọc, viết, và đếm, và những vật dụng bao gồm những cuộn giấy da và sách. Ở tuổi 13, học sinh học về văn học Hi Lạp và La Mã và cả phần ngữ pháp. Ở tuổi 16, một số học sinh vào học ở trường hùng biện. Những người nghèo hơn thương được dạy ở nhà bởi người cha bởi vì trường học không phải là miễn phí. === Sức khỏe === Đa số người La Mã tắm tại các nhà tắm công cộng hay nhà tắm tư hằng ngày, không chỉ vì sạch sẽ mà còn vì lý do xã hội. == Kinh tế == Nền kinh tế thời kì đầu phụ thuộc vào lực lượng lao động nô lệ, và nô lệ chiếm khoảng 20 phần trăm dân số. Giá của 1 nô lệ phụ thuộc vào kĩ năng của họ, và một nô lệ có huấn luyện y khoa tương đương với 50 nô lệ làm nông nghiệp. Vào các thời kỳ sau, việc thuê sức lao động trở nên kinh tế hơn là sở hữu nô lệ. === Tài chính === Mặc dù việc đổi hàng lấy hàng là thông dụng (và thường được sử dụng trong việc thu thuế) hệ thống tiền tệ đã phát triển ở mức độ cao, với tiền xu bằng đồng thau, đồng thiếc và kim loại quý được lưu thông xuyên suốt đế chế và ra ngoài biên giới (một vài đồng đã được phát hiện ở Ấn Độ). === Buôn bán === Ngựa thì quá đắt, và những súc vật thồ khác thì quá chậm cho buôn bán lớn trên những con đường của người La Mã dùng để nối giữa những bốt quân sự hơn là chợ và hiếm khi được thiết kế để dùng bánh xe. Do đó có rất ít vận chuyển hàng hoá giữa các vùng của La Mã, cho đến sự nổi lên của nền buôn bán bằng đường thuỷ của người La Mã vào thế kỉ thứ 2 TCN. Nền buôn bán nông nghiệp tự do đã thay đổi cảnh quan của Ý, và đến thế kỉ 1 TCN những điền trang nho và oliu rộng lớn đã thế chỗ những nông dân tiểu canh, những người đã không thể địch được với giá ngũ cốc nhập khẩu. Khối lượng buôn bán lớn đến nỗi chỉ một đụn những đồ chứa bằng gốm chưa hoàn tất đã cao tới hơn 40 mét và có chu vi tới 1 kilômét. == Văn hóa == Roma đã sản sinh ra nhiều nhà văn và nhà viết kịch. Rất nhiều tác phẩm văn học viết bởi các tác giả Roma trong thời kì đầu của nền Cộng hoà có tính chất chính trị hoặc trào phúng. Đặc biệt những kết cấu tu từ của Cicero rất được ưa chuộng. Một vài trong số những vở kịch được ưa thích nhất ở thời kì đầu của nền Cộng hoà là những vở hài kịch, đặc biệt là những vở của Terence, một nô lệ La Mã đã được trả tự do bị bắt trong cuộc chiến Punic thứ nhất. == Kĩ thuật == Thời kì này La Mã cũng đã có những đóng góp quan trọng về kĩ thuật cho sự phát triển của nền văn minh thế giới: 1. Chế tạo thủy tinh (khoảng thế kỉ đầu trước công nguyên) 2. Sử dụng chì 3. Khai thác than 4. Chế tạo xi-măng. Họ cũng là những người đầu tiên biết đặt các thiết bị như guồng nước nhằm lợi dụng thuỷ năng và chế tạo ra thuyền buồm. == Nhân khẩu học == Dân số từ thế kỷ 6 TCN đến thế kỷ 1 CN. == Chú thích == == Tham khảo == Adkins, Lesley; Roy Adkins (1998). Handbook to Life in Ancient Rome. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-512332-8. Casson, Lionel (1998). Everyday Life in Ancient Rome. Baltimore: The Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-5992-1. Dio, Cassius. “Dio's Rome, Volume V., Books 61-76 (CE 54-211)”. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006. Duiker, William; Jackson Spielvogel (2001). World History . Wadsworth. ISBN 0-534-57168-9. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Durant, Will (1944). The Story of Civilization, Volume III: Caesar and Christ. Simon and Schuster, Inc. Elton, Hugh (1996). Warfare in Roman Europe AD350-425. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-815241-8. Flower (editor), Harriet I. (2004). The Cambridge Companion to the Roman Republic. Cambridge, U.K.: Cambridge University Press. ISBN 0-521-00390-3. Edward Gibbon, The History of the Decline and Fall of the Roman Empire Goldsworthy, Adrian Keith (2008). Caesar: Life of a Colossus. Yale University Press Goldsworthy, Adrian Keith (1996). The Roman Army at War 100BC-AD200. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-815057-1. Goldsworthy, Adrian Keith (2003). The Complete Roman Army. London: Thames and Hudson, Ltd. ISBN 0-500-05124-0. Grant, Michael (2005). Cities of Vesuvius: Pompeii and Herculaneum. London: Phoenix Press. ISBN 1-89880-045-6. Haywood, Richard (1971). The Ancient World. David McKay Company, Inc. Keegan, John (1993). A History of Warfare. New York: Alfred A. Knopf. ISBN 0-394-58801-0. Livy. The Rise of Rome, Books 1-5, translated from Latin by T.J. Luce, 1998. Oxford World's Classics. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-282296-9. Mackay, Christopher S. (2004). Ancient Rome: A Military and Political History. Cambridge, U.K.: Cambridge University Press. ISBN 0-521-80918-5. Matyszak, Philip (2003). Chronicle of the Roman Republic. London: Thames & Hudson, Ltd. ISBN 0-500-05121-6. O'Connell, Robert (1989). Of Arms and Men: A History of War, Weapons, and Aggression. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-505359-1. Scarre, Chris (tháng 9 năm 1995). The Penguin Historical Atlas of Ancient Rome. Penguin Books. ISBN 0-14-051329-9. Scullard, H. H. (1982). From the Gracchi to Nero. (5th edition). Routledge. ISBN 0-415-02527-3. Werner, Paul (1978). Life in Rome in Ancient Times. translated by David Macrae. Geneva: Editions Minerva S.A. Willis, Roy (2000). World Mythology: The Illustrated Guide. Collingwood, Victoria: Ken Fin Books. ISBN 1-86458-089-5. == Đọc thêm == Cowell, Frank Richard. Life in Ancient Rome. New York: G.P. Putnam's Sons, 1961 (paperback, ISBN 0-399-50328-5). Gabucci, Ada. Rome (Dictionaries of Civilizations; 2). Berkekely: University of California Press, 2007 (paperback, ISBN 0-520-25265-9). Wyke, Maria. Projecting the Past: Ancient Rome, Cinema, and History. New York; London: Routledge, 1997 (hardcover, ISBN 0-415-90613-X, paperback, ISBN 0-415-91614-8). == Xem thêm == Hy Lạp cổ đại Văn minh La Mã cổ đại == Liên kết ngoài == Ancient Rome History of Ancient Rome Gallery of the Ancient Art: Ancient Rome Lacus Curtius Livius.Org Nova Roma - Educational Organization about "All Things Roman" The Private Life of the Romans by Harold Whetstone Johnston United Nations of Roma Victrix (UNRV) History Water and Wastewater Systems in Imperial Rome
warwickshire.txt
Warwickshire là một hạt của Anh. Hạt có diện tích 1975 km², dân số 536.100 người. == Tham khảo ==
tiếng mân đông.txt
Tiếng Mân Đông (giản thể: 闽东语, phồn thể: 閩東語; bính âm: Mǐndōngyǔ; La Mã hóa Phúc Châu: Mìng-dĕ̤ng-ngṳ̄) là ngôn ngữ được nói chủ yếu ở vùng phía Đông tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc, ở trong và gần Phúc Châu và Ninh Đức. Phương ngữ Phúc Châu được xem là tiếng Mân Đông chuẩn. Trong Wikipedia, ngôn ngữ này được viết tắt là cdo. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phân loại phương ngữ Mân
liên minh kinh tế á âu.txt
Liên minh Kinh tế Á Âu (tiếng Anh Eurasian Economic Union viết tắt EAEU hoặc EEU) là một liên minh kinh tế đã chính thức hoạt động vào đầu năm 2015 giữa các quốc gia Armenia, Belarus, Kazakhstan, Nga, và Kyrgyzstan (tháng 5 năm 2015), những nước trước đó thuộc Liên Xô cũ. Liên minh giữa các nước trước đó có tên là Cộng đồng kinh tế Âu Á. Liên minh Âu Á có một thị trường chung cho 176 triệu người với Tổng sản phẩm nội địa trên 4 ngàn tỷ USD. EEU sẽ cho tự do luân chuyển hàng hóa, tư bản, dịch vụ và định cư và sẽ cung cấp hệ thống chuyên chở chung, chung một chính sách về nông nghiệp và năng lượng cũng như trong tương lai tiền tệ chung. == Tiến trình thành lập == === Đề xuất === Sau khi kết thúc chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Liên Xô, Nga và các nước cộng hòa Trung Á đối mặt với việc nền kinh tế đang khủng hoảng trầm trọng và sự sụt giảm tăng trưởng GDP. Tiến trình thành lập liên minh đã bắt đầu ngay sau khi Liên Xô sụp đổ bằng việc liên kết các nền kinh tế thông qua Cộng đồng Kinh tế Á Âu vào tháng 12 năm 1991 bởi tổng thống của Belarus, Kazakhstan và Nga. Năm 1994, trong bài diễn văn tại Đại học Quốc gia Moskva, tổng thống Kazakhstan, Nursultan Nazarbayev đã nêu ra ý tưởng về việc thành lập một khu vưc mậu dịch tự do để kết nối và giúp tăng trưởng nền kinh tế giữa châu Âu và Đông Á. Nó nhanh chóng được xem là một cách để thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư và tạo ra đối trọng với liên minh kinh tế của phương Tây. === Các hiệp định thành lập (những năm 1990) === Năm 1995, Belarus, Kazakhstan, Nga và sau đó có thêm Kyrgyzstan và Tajikistan dã ký vào thỏa thuận đầu tiên để thành lập Liên minh thuế quan. Mục tiêu là dần dần mở cửa đường biên giới mà không cần kiểm tra hộ chiếu của công dân các nước thành viên. Năm 1996, Belarus, Kazakhstan, Nga và Kyrgyzstan đã ký hiệp định về tăng cường hội nhập trong các lĩnh vực kinh tế và nhân đạo để thống nhất nền kinh tế giữa các nước và cho phép tạo ra một thị trường chung cho hàng hóa, thiết bị, vốn, lao động, và phát triển giao thông vận tải, năng lượng và hệ thống thông tin liên lạc. Năm 1999, Belarus, Kazakhstan, Nga, Kyrgyzstan và Tajikistan đã ký hiệp định về Liên minh Thuế quan và Không gian kinh tế thống nhất vì các mục tiêu và các chính sách mà các quốc gia đang theo đuổi để hình thành nên Liên Minh Thuế quan Á Âu và Không gian Kinh tế thống nhất. === Cộng đồng Kinh tế Á Âu (2000) === Để tiến xa hơn trong việc liên kết và hợp tác kinh tế, năm 2000 Belarus, Kazakhstan, Nga, Kyrgyzstan và Tajikistan đã thành lập Cộng đồng Kinh tế Á Âu (EurAsEC), Uzbekistan đã tham gia vào năm 2006. Mục tiêu nhằm thành lập một thị trường chung thống nhất cho tát cả các nước thành viên. Cộng đồng Kinh tế Á Âu dựa trên khuôn mẫu là Cộng đồng Kinh tế châu Âu. Quy mô dân số của hai cộng đồng này lần lượt là 171 triệu dân và 169 triệu dân. 2003 chứng kiến hiệp định thứ 2 về Không gian Kinh tế thống nhất được ký bởi Belarus, Kazakhstan và Nga. Đây là nền tảng để tiếp tục hoàn thành tiến trình hội nhập tiến tới thành lập một thị trường chung thống nhất. Năm 2006 tiến trình tiến thêm một bước nữa khi Liên minh Thuế quan Á Âu được thành lập. === Liên minh thuế quan và thị trường chung (2010–2012) === Được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2010 như là một liên minh thuế quan giữa Belarus, Kazakhstan, và Nga (tiếng Nga: Таможенный союз Белоруссии, Казахстана и России). Liên minh ban đầu gồm Belarus, Kazakhstan, và Nga, và kết nạp thêm Armenia và Kyrgyzstan từ ngày 1 tháng 1 năm 2015. === Liên minh Kinh tế Á Âu === Liên minh Kinh tế Á Âu chính thức ra đời ngày 29-5-2014 với 5 thành viên sáng lập là Liên bang Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzstan. Lễ ký kết Hiệp ước về Liên minh Kinh tế Á-Âu tổ chức Astana, Kazakhstan ngày 29 tháng 5 năm 2014. Tổ chức này ra đời trên cơ sở hợp nhất hai tổ chức tiền thân là Cộng đồng Kinh tế Á Âu và Liên minh Thuế quan Á Âu. == Ký kết == Ngày 29 tháng 5 năm 2014, Nga, Belarus và Kazakhstan đã ký kết hiệp ước thành lập Liên minh kinh tế Á Âu theo khuôn mẫu của EU, mà có hiệu quả từ ngày 01.01.2015. Hiệp ước này mở rộng quan hệ kinh tế mà 3 nước này đã có, một Liên minh Thuế quan từ năm 2010. Kiểm soát biên giới sẽ được hủy bỏ, ngoài ra họ dự định sẽ dùng chung một loại tiền tệ. Armenia và Kyrgyzstan cũng dự định tham gia. Tuy nhiên Armenia chỉ tuyên bố dự định này sau khi Nga dọa sẽ tăng giá khí đốt và sẽ bán vũ khí cho nước thù địch là Azerbaijan, sau đó đã ký vào tháng 10 năm 2014. Còn Kyrgyzstan tham dự vào tháng 5 năm 2015 == Mục tiêu == 2007: Bắt đầu tiến trình thống nhất kinh tế khu vực. 01 tháng 1 năm 2015, Hiệp ước có hiệu lực. Bắt đầu thực hiện trao đổi hàng hóa, dòng vốn, dịch vụ và lao động Bắt đầu thực hiện sự tự do lựa chọn đào tạo và nơi làm việc Triển khai việc điều phối chung trong các lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp và giao thông vận tải 01 Tháng 1 năm 2016: Thị trường chung mở cửa cho dược phẩm và thiết bị y tế 2019: Thống nhất thị trường năng lượng thông thường. 2025: Thống nhất thị trường dầu mỏ và khí đốt. Hoàn thành việc kiến tạo các điều kiện cho thị trường tài chính duy nhất. Thiết lập liên minh tiền tệ và thực hiện đồng tiền chung. == Điạ lý == == Thành viên == Hiệp định thành lập Liên minh Kinh tế Á Âu được ký chính thứ bởi ba nước thuộc Liên Xô cũ gồm: Belarus, Kazakhstan, và Nga. Armenia và Kyrgyzstan cũng đã ký vào hiệp định để gia nhập EEU lần lượt vào các ngày 9 tháng 10 và 23 tháng 12 năm 2014. === Ứng cử viên tiềm năng === ==== Tajikistan ==== ==== Uzbekistan ==== === Trường hợp Ukraina === Vào tháng 8 năm 2013, Ukraina làm đơn xin làm quan sát viên của Liên minh Âu Á. Dưới quyền tổng thống Viktor Fedorovych Yanukovych chính phủ Ukraina lại định ký một hiệp ước chung với Liên minh châu Âu vào tháng 11 năm 2013. Những nhà quan sát cho là Ukraina sẽ thôi gia nhập Liên minh Âu Á. Tuy nhiên hiệp ước này không thành công, vì những quan điểm khác biệt về chính trị cũng như những khó khăn kinh tế hiện thời của Ukraina, trong khi Nga hứa sẽ cho Ukraina vay 15 tỷ USD. Chính phủ Ukraina sau đó tuyên bố sẽ làm việc chặt chẽ với Cộng đồng các Quốc gia Độc lập. Lời tuyên bố này dẫn tới những cuộc biểu tình Euromaidan và các vụ xô xát đổ máu tại Kiev, mà kết quả cuối cùng là quốc hội Ukraina phế truất tổng thống Viktor Fedorovych Yanukovych. Chính quyền hiện nay ở Kiev từ bỏ tiến trình tham gia EAEU và tuyên bố chính sách hướng tới sự gia nhập EU. === FTA === Ai Cập Việt Nam === Đang đàm phán FTA === Indonesia Singapore === Các nước quan tâm đến FTA với EAEU === Trung Quốc Liên minh Châu Âu Ấn Độ Iran Thổ Nhĩ Kỳ Hàn Quốc == Xem thêm == Cộng đồng các Quốc gia Độc lập Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể Tổ chức Hợp tác Thượng Hải == Weblinks == eurasiancommission.org Eurasian Economic Union, EAEU Eurasian Economic Commision, eec Legal portal of the Eurasian Economic Union, EAEU == Chú thích == == Tham khảo == == Thư mục == Hubert Thielicke (Hg.): Die Eurasische Union: Postsowjetischer Traum oder weitreichendes Integrationsprojekt?, Potsdam 2012. ISBN 978-3-941880-44-3
corrientes (tỉnh).txt
Corrientes là một tỉnh nằm ở đông bắc Argentina, thuộc vùng Mesopotamia. Tỉnh này giáp ranh với: Paraguay, tỉnh Misiones, Brasil, Uruguay và các tỉnh Entre Rios, Santa Fe và Chaco. == Chú thích == == Liên kết == (tiếng Tây Ban Nha) Official site (tiếng Tây Ban Nha) History Esteros del Iberá (in English and Spanish) (tiếng Tây Ban Nha) Corrientes Info Pictures of Corrientes
huyện.txt
Huyện là thuật ngữ để chỉ một đơn vị hành chính bậc hai của một quốc gia (đơn vị bậc một là tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương như ở Việt Nam). Huyện được chia thành các xã và ít nhất là một thị trấn nơi chính quyền huyện đặt cơ quan hành chánh. Cấp huyện là một thuật ngữ khác được dùng để chỉ các đơn vị hành chánh tương đương với huyện gồm có huyện, quận, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Gần như trong tiếng Việt, "huyện" được dùng để chỉ đơn vị hành chính ở Việt Nam, Trung Quốc và có thể các quốc gia láng giềng như Lào, Campuchia trong khi "quận" được dùng khá rộng rãi hơn để chỉ các đơn vị hành chính tương đương ở các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Pháp. == Việt Nam == === Phân chia cấp đơn vị hành chính === Hiện nay, tại Việt Nam thì các đơn vị hành chính được phân chia một cách chính thức thành 3 cấp là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. === Các đơn vị hành chính tương đương === Tại các thành phố trực thuộc trung ương, huyện ngang cấp với: Quận (nội thành). Thị xã (nếu có) Tại các tỉnh, huyện tương đương với: Thành phố trực thuộc tỉnh (nếu có) Thị xã (nếu có) === Các đơn vị hành chính cấp dưới === Một huyện thông thường được chia ra thành nhiều xã và có thể có một vài thị trấn. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam cũng có trường hợp huyện không có các đơn vị hành chính cấp dưới như: Bạch Long Vĩ, thuộc thành phố Hải Phòng. Côn Đảo, thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Cồn Cỏ, thuộc tỉnh Quảng Trị. Hoàng Sa, thuộc thành phố Đà Nẵng. === Phân loại đơn vị hành chính cấp huyện === Theo nghị định của Chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2007 "Về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện" thì dơn vị hành chính cấp huyện được phân làm 3 loại: loại I, loại II và loại III. Thành phố trực thuộc tỉnh, quận thuộc thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh là các đơn vị hành chính cấp huyện loại I. Quận thuộc Thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có dân số và mật độ dân số cao, tính chất quản lý nhà nước về đô thị phức tạp và khó khăn, đạt tỷ lệ thu chi cân đối ngân sách hàng năm cao, là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc đô thị loại đặc biệt. Các đơn vị hành chính cấp huyện còn lại được tính điểm để phân loại theo các tiêu chí: Dân số Diện tích tự nhiên Các yếu tố đặc thù == Trung Quốc == Trong phân cấp hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, huyện là cấp hành chính thứ ba sau cấp tỉnh và cấp địa khu, các đơn vị "cấp huyện" bao gồm huyện, huyện tự trị, thành phố cấp huyện, kỳ, kỳ tự trị, và khu. Có 1467 huyện ở Trung Quốc đại lục trong tổng số 2861 đơn vị cấp huyện. == Nhật Bản == == Hàn Quốc == == Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên == == Đài Loan == == Xem thêm == Quận Phân cấp hành chính Việt Nam Danh sách các đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nghị định của Chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2007 "Về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện"
hộ gia đình.txt
Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung (nhân khẩu). Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai. Hộ gia đình được phân loại như sau: Hộ một người (01 nhân khẩu) Là hộ chi có một người đang thực tế thường trú tại địa bàn. Hộ hạt nhân: Là loại hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ có 01 thế hệ) và được phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng có con đẻ hoặc không có con đẻ hay bố đẻ cùng với con đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ. Hộ mở rộng: Là hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan hệ gia đình với gia đình hạt nhân. Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con đẻ và những người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác; Hộ hỗn hợp: Là trường hợp đặc biệt của loại Hộ mở rộng. == Tham khảo == Haviland, W.A. (2003). Anthropology. Wadsworth: Belmont, CA. Sullivan, arthur; Steven M. Sheffrin (2003). Economics: Principles in action. Upper Saddle River, New Jersey 07458: Pearson Prentice Hall. p. 29. ISBN 0-13-063085-3. "U.S. Census: Current Population Survey - Definitions and Explanations". Census.gov. Truy cập 2012-03-24. "Statistical unit - Household". Statcan.gc.ca. 2012-02-23. Truy cập 2012-03-24. http://ses.library.usyd.edu.au/bitstream/2123/375/2/adt-NU20010514.11220001front.pdf Collins Dictionary of Social Work, John Pierson and Martin Thomas, 2002, Harper Collins, Glasgow, UK "household work strategy â€" Dictionary definition of household work strategy | Encyclopedia.com: FREE online dictionary". Encyclopedia.com. Truy cập 2012-03-24. Hochschild, Arlie Russell; Machung, Anne (2003). The second shift. New York: Penguin Books. ISBN 978-0-14-200292-6. Hochschild, Arlie Russell (2001). The time bind: when work becomes home and home becomes work. New York: Henry Holt & Co.. ISBN 978-0-8050-6643-2. "Housing policy and rented housing in Europe - Michael Oxley, Jacqueline Smith - Google Books". Books.google.co.nz. Truy cập 2012-03-24. "The State of Humanity - Julian Lincoln Simon - Google Books". Books.google.co.nz. Truy cập 2012-03-24.
đồng tháp.txt
Đồng Tháp là một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Vùng đất Đồng Tháp được Chúa Nguyễn khai phá vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII. Từ đầu thế kỷ XVII, đã có lưu dân Việt đến vùng Sa Đéc khẩn hoang, lập ấp. Thời Gia Long, Sa Đéc thuộc huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, Pháp lập tỉnh Sa Đéc. Ngày 09 tháng 02 năm 1913, giải thể tỉnh Sa Đéc, đồng thời nhập địa bàn vào tỉnh Vĩnh Long. Tỉnh Sa Đéc được chia thành 2 tỉnh Kiến Phong và Sa Đéc vào thời Việt Nam Cộng Hoà. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Phong hợp nhất thành tỉnh Đồng Tháp. Tỉnh Đồng Tháp nằm ở cửa ngõ của sông Tiền, có đường biên giới giáp với Campuchia có chiều dài hơn 50 km với 4 cửa khẩu, trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế là Thường Phước và Dinh Bà. Đồng Tháp nổi tiếng với những ruộng sen, hiện diện khắp nơi ở Đồng Tháp. Ngó và hạt sen trở thành đặc sản của vùng này. Đặc biệt, ở đây có loài sen khổng lồ mà một người trưởng thành có thể đứng được trên lá sen. Ngoài ra, Đồng Tháp rất thích hợp cho loại hình du lịch sinh thái. Mùa nước nổi về, càng có lý do để khách du lịch đến với xứ sen Đồng Tháp. Nơi đây nổi tiếng với câu thơ, thể hiện tinh thần sùng bá lãnh tụ của vùng này: == Vị trí địa lý == Đồng Tháp là một trong 13 tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, lãnh thổ của tỉnh Đồng Tháp nằm trong giới hạn tọa độ 10°07’ - 10°58’ vĩ độ Bắc và 105°12’ - 105°56’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp với tỉnh Prey Veng thuộc Campuchia, phía Nam giáp với tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp với tỉnh An Giang, phía Đông giáp với tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang. Tỉnh Đồng Tháp có đường biên giới quốc gia giáp với Campuchia với chiều dài khoảng 50 km từ Hồng Ngự đến Tân Hồng, với 4 cửa khẩu là Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước. Hệ thống đường quốc lộ 30, 80, 54 cùng với quốc lộ N1, N2 gắn kết Đồng Tháp với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực. == Điều kiện tự nhiên == Địa hình Đồng tháp tương đối bằng phẳng với độ cao phổ biến 1–2 mét so với mặt biển. Địa hình được chia thành 2 vùng lớn là vùng phía bắc sông Tiền và vùng phía nam sông Tiền. Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới toàn tỉnh, khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm trung bình năm là 82,5%, số giờ nắng trung bình 6,8 giờ/ngày. Lượng mưa trung bình từ 1.170 – 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm 90 – 95% lượng mưa cả năm. Những đặc điểm về khí hậu như trên tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện. Đất đai của Đồng Tháp có kết cấu mặt bằng kém bền vững lại tương đối thấp, nên làm mặt bằng xây dựng đòi hỏi kinh phí cao, nhưng rất phù hợp cho sản xuất lượng thực. Đất đai tại tỉnh Đồng Tháp có thể chia làm 4 nhóm đất chính là nhóm đất phù sa (chiếm 59,06% diện tích đất tự nhiên), nhóm đất phèn (chiếm 25,99% diện tích tự nhiên), đất xám (chiếm 8,67% diện tích tự nhiên), nhóm đất cát (chiếm 0,04% diện tích tự nhiên). Nguồn rừng tại Đồng Tháp chỉ còn quy mô nhỏ, diện tích rừng tràm còn dưới 10.000 ha. Động vật, thực vật rừng rất đa dạng có rắn, rùa, cá, tôm, trăn, cò, cồng cộc, đặc biệt là sếu cổ trụi. Đồng Tháp là tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu có: Cát xây dựng các loại, phân bố ở ven sông, cồn hoặc các cù lao, là mặt hàng chiến lược của tỉnh trong xây dựng. Sét gạch ngói có trong phù sa cổ, trầm tích biển, trầm tích sông, trầm tích đầm lầy, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh với trữ lượng lớn. Sét cao lanh có nguồn trầm tích sông, phân bố ở các huyện phía bắc tỉnh. Than bùn có nguồn gốc trầm tích từ thế kỷ thứ IV, phân bố ở huyện Tam Nông, Tháp Mười với trữ lượng khoảng 2 triệu m3. Đồng Tháp Mười ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước mặt khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn. Ngoài ra còn có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền ở Hồng Ngự. Phía nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, sông Sa Đéc… hệ thống kênh rạch chằng chịt. Đồng Tháp có nhiều vỉa nước ngầm ở các độ sâu khác nhau, nguồn này hết sức dồi dào, mới chỉ khai thác, sử dụng phục vụ sinh hoạt đô thị và nông thôn, chưa đưa vào dùng cho công nghiệp. == Hành chính == Tính đến ngày 14 tháng 10, năm 2013, tỉnh Đồng Tháp có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện. Trong đó có 8 thị trấn, 17 phường và 119 xã == Lịch sử == === Thời nhà Nguyễn độc lập === Đất Đồng Tháp được khai phá vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII dưới thời các chúa Nguyễn. Từ đầu thế kỷ XVII, đã có lưu dân Việt đến vùng Sa Đéc khẩn hoang, lập ấp. Thời Gia Long, Sa Đéc thuộc huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Từ năm 1832, sau cải cách hành chính của Minh Mạng, phần đất tỉnh Đồng Tháp ngày nay nằm trên địa bàn hai tỉnh Định Tường nhà Nguyễn (phần phía Bắc tỉnh Đồng Tháp, cũng là phần phía bờ Bắc sông Tiền Giang) và tỉnh An Giang của nhà Nguyễn (phần phía bờ Nam sông Tiền, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, nay là phần phía Đông Nam tỉnh Đồng Tháp). Phần đất Đồng Tháp nằm trên đất tỉnh Định Tường nhà Nguyễn thì trực thuộc tỉnh Định Tường này (một trong 3 tỉnh miền Đông của Nam Kỳ lục tỉnh) cho đến khi Pháp chiếm Định Tường năm 1861. Phần đất Đồng Tháp nằm trên đất tỉnh An Giang nhà Nguyễn thì trực thuộc tỉnh An Giang này (một trong 3 tỉnh miền Tây của Nam Kỳ lục tỉnh) cho đến khi Pháp chiếm tỉnh An Giang năm 1867. === Thời Pháp thuộc === Thời Pháp thuộc, địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngày nay bao gồm toàn bộ đất đai tỉnh Sa Đéc, quận Hồng Ngự của tỉnh Châu Đốc, tổng Phong Thạnh Thượng thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên và một phần nhỏ đất đai thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. ==== Trước năm 1900 ==== Sau khi chiếm hết được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1862, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh Định Tường cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn, đồng thời đặt ra các hạt Thanh tra. Lúc bấy giờ, hạt Thanh tra Kiến Tường được thành lập trên địa bàn huyện Kiến Phong thuộc phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường cũ. Trụ sở hạt Thanh tra Kiến Tường đặt tại Cao Lãnh. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở. Về sau, trụ sở được dời từ Cao Lãnh (thuộc thôn Mỹ Trà) đến Cần Lố (thuộc thôn Mỹ Thọ). Chính vì vậy, hạt Thanh tra Kiến Tường cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Cần Lố; bao gồm 3 tổng: Phong Hòa, Phong Phú và Phong Thạnh. Vào các ngày 20, 22 và 24 tháng 6 năm 1867, Pháp vi phạm hòa ước 1862, chiếm 3 tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Lúc này, thực dân Pháp cũng xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn ở khu vực này, đồng thời cũng đặt ra các hạt Thanh tra. Ngày 16 tháng 08 năm 1867, Pháp lập hạt Thanh tra Sa Đéc, là một trong 24 hạt thanh tra trên toàn cõi Nam Kỳ. Lúc bấy giờ, hạt Thanh tra Sa Đéc được thành lập trên địa bàn phủ Tân Thành thuộc tỉnh An Giang cũ. Ngày 04 tháng 12 năm 1867, huyện Phong Phú được tách ra để lập hạt Thanh tra mới. Ngày 1 tháng 1 năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ là Bonard quyết định sáp nhập huyện Phong Phú với vùng Bãi Sào (Sóc Trăng) lập thành quận đặt dưới sự cai trị của người Pháp, lập Toà Bố tại Sa Đéc. Hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành) đặt lỵ sở tại Sa Đéc gồm có 3 huyện: Vĩnh An, An Xuyên và Phong Phú. Ngày 20 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt Thanh tra Cần Lố, đưa hai tổng Phong Hòa và Phong Phú vào hạt Thanh tra Cái Bè; đồng thời đưa tổng Phong Thạnh qua hạt Thanh tra Sa Đéc. Ngày 5 tháng 6 năm 1871, giải thể hạt Thanh tra Cái Bè nhập vào địa bàn hạt Thanh tra Mỹ Tho. Đồng thời, địa bàn tổng Phong Thạnh cũng được chia cho 3 hạt thanh tra Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc: Hạt Châu Đốc: lấy phần đất 3 làng An Bình, An Long và Tân Thạnh thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong. Phần đất này nằm ở phía tây bắc Đồng Tháp Mười, sau gọi là tổng An Phước thuộc hạt Châu Đốc. Hạt Long Xuyên: lấy địa phận các làng Tân Phú, Tân Thạnh của tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong để lập tổng mới gọi là tổng Phong Thạnh Thượng thuộc hạt Long Xuyên. Hạt Sa Đéc: lấy địa phận các làng Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Nhị Mỹ, Phong Mỹ (trước đây thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới cũng lấy tên là tổng Phong Thạnh. Lại lấy địa phận các làng Mỹ Long, Bình Hàng Tây (nguyên thuộc tổng Phong Phú, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới gọi là tổng Phong Nẫm. Hai tổng Phong Thạnh (mới) và Phong Nẫm đều thuộc về hạt Sa Đéc. Ngày 05 tháng 06 năm 1871, hạt Sa Đéc nhận thêm hạt Cần Thơ vừa bị giải thể. Ngày 30 tháng 4 năm 1872, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định tách huyện Phong Phú thuộc hạt Sa Đéc và hợp với vùng Bắc Tràng (thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long trước đây) để lập thành một hạt, đặt Toà Bố tại Trà Ôn. Một năm sau, Toà Bố từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng. Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang). Ngày 05 tháng 01 năm 1876, hạt Thanh tra Sa Đéc đổi thành hạt tham biện Sa Đéc, các thôn đổi thành làng. Sa Đéc trở thành một hạt tham biện (arrondissement) thuộc khu vực hành chính (circonscription) Vĩnh Long do thực dân Pháp đặt ra. Địa hạt Sa Đéc trong giai đoạn 1876-1899 không còn chia cấp huyện nữa mà trực tiếp quản lý từ cấp tổng trở xuống. Hạt Sa Đéc lúc này bao gồm 9 tổng: An Hội, An Mỹ, An Phong, An Thới, An Tịnh, An Trung, An Thạnh, Phong Nẫm, Phong Thạnh. ==== Giai đoạn 1900-1945 ==== Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 20 tháng 12 năm 1899 thì kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, đổi tất cả các hạt ở Nam Kỳ thành tỉnh. Lúc bấy giờ, các hạt tham biện Sa Đéc, Long Xuyên và Châu Đốc lần lượt trở thành các tỉnh sau: tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc. Tình hình đó kéo dài cho đến đầu năm 1956. Ban đầu, các tổng trực thuộc tỉnh. Về sau, thực dân Pháp mới tiến hành lập các quận trực thuộc tỉnh, quận vốn là đơn vị hành chính trung gian giữa cấp tỉnh và cáp tổng. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, thực dân Pháp lập tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc nằm ở hai bên sông Tiền Giang, giáp các tỉnh Long Xuyên, Tân An, Vĩnh Long, Cần Thơ và Mỹ Tho. Dân số tỉnh Sa Đéc theo số liệu thống kê năm 1901 là 182.924 người và năm 1920 là 203.588 người. Năm 1903, tỉnh Sa Đéc có 10 tổng với 79 làng trực thuộc như sau: An Hội (6 làng), An Mỹ (15 làng), An Phong (8 làng), An Thới (9 làng), An Tịnh (4 làng), An Trung (6 làng), An Thạnh Thượng (6 làng), An Thạnh Hạ (6 làng), Phong Nẫm (11 làng), Phong Thạnh (6 làng). Tỉnh lỵ Sa Đéc ban đầu đặt tại làng Vĩnh Phước thuộc quận Châu Thành (kể từ năm 1924). Sau này, thực dân Pháp hợp nhất ba làng Tân Phú Đông, Vĩnh Phước và Hòa Khánh lại thành một làng lấy tên là Tân Vĩnh Hòa. Từ đó, tỉnh lỵ Sa Đéc thuộc địa bàn làng Tân Vĩnh Hòa. Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Sa Đéc bị chính quyền thực dân Pháp giải thể, toàn bộ diện tích tỉnh bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long. Ngày 10 tháng 12 năm 1913, thực dân Pháp thành lập quận Cao Lãnh thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 1 tháng 4 năm 1916, thực dân Pháp cho thành lập thêm quận Sa Đéc và quận Lai Vung cùng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Sau năm 1924, tỉnh Sa Đéc được tái lập với 3 quận trực thuộc: Châu Thành (đổi tên từ quận Sa Đéc), Cao Lãnh, Lai Vung. Năm 1917, thực dân Pháp lập quận Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên. Lúc này tổng Phong Thạnh Thượng trực thuộc quận Chợ Mới. Ngày 19 tháng 12 năm 1929, thực dân Pháp lập thêm quận Hồng Ngự thuộc tỉnh Châu Đốc do tách ra từ quận Tân Châu cùng tỉnh. Quận Hồng Ngự gồm có 2 tổng trực thuộc: Cù Lao Tây và An Phước. === Giai đoạn 1945-1954 === Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc nằm trong danh sách 21 tỉnh ở Nam Bộ. Lúc này, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975. Đồng thời, chính quyền Việt Minh cũng cho thành lập thị xã Sa Đéc trực thuộc tỉnh Sa Đéc trên cơ sở tách đất làng Tân Vĩnh Hòa và các vùng lân cận. Ngày 19 tháng 5 năm 1947, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ tự trị thân Pháp quyết định tách đất quận Thốt Nốt để lập thêm quận Lấp Vò ban đầu cùng thuộc tỉnh Long Xuyên. Ngày 14 tháng 5 năm 1949, tỉnh Sa Đéc nhận thêm quận Lấp Vò từ tỉnh Long Xuyên. Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu. Theo đó, tỉnh Long Châu Tiền nằm ở phía bờ trái (tả ngạn) sông Hậu, hai bên sông Tiền, thuộc khu 8 và có 5 huyện: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò. Ngày 14 tháng 5 năm 1949, huyện Lấp Vò được trả về tỉnh Sa Đéc. Cũng trong năm đó, huyện Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền chia thành 2 huyện mới là Phú Châu và Tân Châu. Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa, gồm 7 huyện: Châu Thành (của tỉnh Sa Đéc cũ), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới. Trong đó, hai huyện Tân Hồng và Tân Châu vốn là hai huyện Hồng Ngự và Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền trước đó. Tháng 7 năm 1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa. Tuy nhiên, tên các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Sa lại không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận. Đến cuối năm 1954, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc đều được chính quyền Việt Minh tái lập trở lại. === Giai đoạn 1956-1976 === ==== Việt Nam Cộng hòa ==== Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Sa Đéc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc như thời Pháp thuộc. Năm 1955, quận Cao Lãnh vẫn thuộc tỉnh Sa Đéc; tổng Phong Thạnh Thượng vẫn thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên và quận Hồng Ngự vẫn thuộc tỉnh Châu Đốc như cũ. Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Sắc lệnh 22-NV thành lập tỉnh Phong Thạnh bao gồm đất đai của quận Cao Lãnh thuộc tỉnh Sa Đéc, quận Hồng Ngự thuộc tỉnh Châu Đốc, tổng Phong Thạnh Thượng thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên và một phần nhỏ đất đai thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho trước đó. Tỉnh lỵ tỉnh Phong Thạnh đặt tại Cao Lãnh. Thời gian này, tỉnh Sa Đéc vẫn còn tồn tại với 3 quận trực thuộc còn lại: Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò. Đến ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Phong Thạnh được đổi tên thành tỉnh Kiến Phong; còn toàn bộ phần còn lại tỉnh Sa Đéc bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong có tên là "Cao Lãnh", về mặt hành chánh thuộc xã Mỹ Trà, quận Cao Lãnh. Năm 1957, tỉnh Kiến Phong gồm 4 quận ban đầu: Cao Lãnh, Mỹ An, Thanh Bình và Hồng Ngự. Trong đó, quận Mỹ An được thành lập mới trên phần đất phía đông bắc thuộc quận Cao Lãnh và một phần đất đai thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho trước đó. Quận Thanh Bình được thành lập mới bao gồm toàn bộ đất đai của tổng Phong Thạnh Thượng, toàn bộ Cù Lao Tây (trước thuộc quận Hồng Ngự) và một phần nhỏ đất đai thuộc quận Hồng Ngự trước đó. Ngày 13 tháng 7 năm 1961, lại tách đất quận Cao Lãnh để lập mới quận Kiến Văn cùng thuộc tỉnh Kiến Phong. Năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho lập mới quận Đồng Tiến thuộc tỉnh Kiến Phong trên cơ sở tách phần lớn vùng đất phía đông của quận Thanh Bình hợp với một phần nhỏ đất đai phía bắc trước đó thuộc quận Cao Lãnh. Năm 1973, tỉnh Kiến Phong có 6 quận: Cao Lãnh, Mỹ An, Kiến Văn, Thanh Bình, Đồng Tiến, Hồng Ngự. Ngày 12 tháng 7 năm 1974, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập quận mới có tên là quận Hậu Mỹ thuộc tỉnh Định Tường (trước năm 1956 là tỉnh Mỹ Tho). Lúc này, xã Mỹ Đa thuộc quận Mỹ An của tỉnh Kiến Phong được giao về cho quận Hậu Mỹ của tỉnh Định Tường quản lý. Các đơn vị hành chính của quận Hậu Mỹ chưa sắp xếp xong thì chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Địa bàn tỉnh Sa Đéc vừa bị giải thể tương ứng với quận Sa Đéc và quận Lấp Vò cùng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Trong đó, quận Châu Thành thuộc tỉnh Sa Đéc cũ được đổi tên thành quận Sa Đéc, riêng quận Lai Vung trước đó cũng bị giải thể và sáp nhập vào quận Lấp Vò. Ngày 8 tháng 10 năm 1957, theo Nghị định số 308-BNV/NC/NĐ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa, quận Sa Đéc và quận Lấp Vò cùng trực thuộc tỉnh Vĩnh Long. Lúc này, xã Tân Vĩnh Hòa chỉ còn giữ vai trò là quận lỵ quận Sa Đéc. Ngày 11 tháng 7 năm 1962, tỉnh Vĩnh Long cho thành lập mới hai quận là Đức Tôn và Đức Thành, do lần lượt tách ra từ quận Sa Đéc và quận Lấp Vò. Ngày 24 tháng 09 năm 1966, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 162-SL/ĐUHC quyết định tái lập tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc mới tách ra từ tỉnh Vĩnh Long, chỉ gồm phần đất nằm giữa hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang, với diện tích khoảng 900 km². Tỉnh lỵ tỉnh Sa Đéc có tên là "Sa Đéc", về mặt hành chánh thuộc xã Tân Vĩnh Hòa, quận Châu Thành (từ sau năm 1968 thuộc quận Đức Thịnh). Tỉnh Sa Đéc khi đó bao gồm 4 quận trực thuộc: Châu Thành (do đổi tên từ quận Sa Đéc trước đó), Lấp Vò, Đức Tôn và Đức Thành. Đến ngày 14 tháng 03 năm 1968, lại đổi tên quận Châu Thành thành quận Đức Thịnh thuộc tỉnh Sa Đéc. Năm 1973, tỉnh Sa Đéc vẫn gồm 4 quận trực thuộc như cũ: Đức Thịnh, Đức Tôn, Đức Thành, Lấp Vò. ==== Chính quyền Cách mạng ==== Chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng phân chia, sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong tỉnh như bên chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Cuối năm 1956, chính quyền Cách mạng thành lập cũng tỉnh Kiến Phong, đến giữa năm 1957 giải thể và sáp nhập phần còn lại của tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Vĩnh Long. Chính quyền Cách mạng khi đó cũng đồng thời tách xã Mỹ Trà và các vùng lân cận để thành lập thị xã Cao Lãnh thuộc tỉnh Kiến Phong. Như vậy, lúc bấy giờ thị xã Cao Lãnh và huyện Cao Lãnh cùng là hai đơn vị hành chính cấp huyện ngang bằng nhau. Sau đó, chính quyền Cách mạng cũng cho thành lập thêm huyện Kiến Văn, huyện Mỹ An và huyện Thanh Bình như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tỉnh Kiến Phong khi đó gồm các đơn vị hành chính trực thuộc: thị xã Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh, huyện Mỹ An (ngày nay là huyện Tháp Mười), huyện Kiến Văn, huyện Thanh Bình, huyện Hồng Ngự. Tháng 12 năm 1965 tỉnh Kiến Phong nhận thêm huyện Chợ Mới từ tỉnh An Giang (trước năm 1956 thuộc tỉnh Long Xuyên). Ngày 5 tháng 5 năm 1969, tỉnh Kiến Phong thành lập thêm huyện Tam Nông, tương ứng với địa bàn quận Đồng Tiến của chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ. "Tam Nông" vốn là tên một huyện của tỉnh Phú Thọ kết nghĩa với tỉnh Kiến Phong trong thời kỳ đấu tranh chống lại quân đội Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Năm 1957, chính quyền Cách mạng cũng giải thể và sáp nhập tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Vĩnh Long. Đồng thời, huyện Châu Thành cũ cũng đổi tên thành huyện Sa Đéc. Như vậy, lúc bấy giờ thị xã Sa Đéc và huyện Sa Đéc là hai đơn vị hành chính cấp huyện ngang bằng nhau và cùng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Địa bàn thị xã Sa Đéc của chính quyền Cách mạng khi đó tương ứng với xã Tân Vĩnh Hòa thuộc quận Sa Đéc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Bên cạnh đó, huyện Lai Vung trước đó cũng bị giải thể và sáp nhập vào huyện Lấp Vò cùng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Trong giai đoạn 1963-1968, chính quyền Cách mạng lại tách đất huyện Châu Thành để thành lập thêm huyện Lê Hà (lấy tên một người chiến sĩ cộng sản đã hy sinh trước đó) thuộc tỉnh Vĩnh Long có địa giới hành chính trùng với quận Sa Đéc sau năm 1962 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Huyện Lê Hà sau năm 1968 bị giải thể. Trong giai đoạn 1966-1974, địa bàn tỉnh Sa Đéc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh Vĩnh Long của chính quyền Cách mạng quản lý. Do đó, huyện Lấp Vò, huyện Sa Đéc và thị xã Sa Đéc vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, tên gọi các quận Đức Thịnh, Đức Tôn và Đức Thành cũng không được phía chính quyền Cách mạng công nhận và sử dụng. Tháng 8 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam quyết định giải thể các tỉnh Kiến Phong và An Giang để tái lập các tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc gồm các huyện Chợ Mới, Cao Lãnh, Kiến Văn, Mỹ An và thị xã Cao Lãnh của tỉnh Kiến Phong cũ; đồng thời cũng nhận lại các huyện Lấp Vò, Châu Thành, thị xã Sa Đéc của tỉnh Vĩnh Long giao lại; tỉnh lỵ tỉnh Sa Đéc khi đó đặt tại thị xã Sa Đéc. Tỉnh Long Châu Tiền gồm các huyện: Hồng Ngự, Thanh Bình, Tam Nông của tỉnh Kiến Phong cũ và các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân A và Phú Tân B của tỉnh An Giang cũ; tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Tân Châu, huyện Tân Châu (ngày nay là thị xã Tân Châu). Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì tỉnh Sa Đéc và tỉnh Long Châu Tiền như trước đó cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa). Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, tỉnh Long Châu Tiền, tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Tường sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên. Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Phong cũ thời Việt Nam Cộng hòa được tiến hành hợp nhất lại thành một tỉnh. === Từ năm 1976 đến nay === Tháng 2 năm 1976, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Kiến Phong và tỉnh Sa Đéc thời Việt Nam Cộng hòa để thành lập tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Tháp, có tỉnh lỵ ban đầu đặt tại thị xã Sa Đéc. Tỉnh Đồng Tháp lúc này gồm thị xã Sa Đéc, và 5 huyện: Cao Lãnh, Châu Thành, Hồng Ngự, Lấp Vò, Tam Nông. Ngày 05 tháng 01 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 4-CP về việc chia huyện Cao Lãnh thành hai huyện lấy tên là huyện Cao Lãnh và huyện Tháp Mười; đồng thời đổi tên huyện Lấp Vò thành huyện Thạnh Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp. Ngày 23 tháng 02 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 13-HĐBT, điều chỉnh địa giới hành chánh một số huyện của tỉnh Đồng Tháp. Trong đó, chia huyện Tam Nông thành hai huyện lấy tên là huyện Tam Nông và huyện Thanh Bình. Đồng thời, thành lập thị xã Cao Lãnh trên cơ sở tách thị trấn Cao Lãnh và các xã Hòa An, Mỹ Trà, Mỹ Tân của huyện Cao Lãnh. Ngày 22 tháng 04 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 41-HĐBT, chia huyện Hồng Ngự thành hai huyện lấy tên là huyện Hồng Ngự và huyện Tân Hồng. Đến ngày 27 tháng 06 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam tiếp tục ban hành Quyết định số 77-HĐBT, chia huyện Thạnh Hưng thành hai huyện lấy tên là huyện Thạnh Hưng và huyện Lai Vung. Ngày 29 tháng 04 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 36-CP về việc di chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp từ thị xã Sa Đéc về thị xã Cao Lãnh. Ngày 06 tháng 12 năm 1996, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 81-CP về việc đổi tên huyện Thạnh Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp thành huyện Lấp Vò. Cuối năm 2003, tỉnh Đồng Tháp có thị xã Cao Lãnh, thị xã Sa Đéc, và các huyện là Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành. Ngày 16 tháng 1 năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 10/2007/NĐ-CP về việc thành lập THÀNH PHỐ CAO LÃNH thuộc tỉnh Đồng Tháp trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cao Lãnh. Ngày 23 tháng 12 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 08/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hồng Ngự để thành lập thị xã Hồng Ngự, thành lập phường thuộc thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Ngày 14 tháng 10 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 113/NQ-CP về việc thành lập THÀNH PHỐ SA ĐÉC thuộc tỉnh Đồng Tháp trên cơ sở toàn bộ 5.981 ha diện tích tự nhiên, 152.237 nhân khẩu và 09 đơn vị hành chính cấp xã của thị xã Sa Đéc. Sau khi thành lập thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp có 337.400 ha diện tích tự nhiên, 1.673.184 nhân khẩu và 12 đơn vị hành chính cấp huyện gồm thành phố Cao Lãnh và thành phố Sa Đéc, thị xã Hồng Ngự và các huyện: Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Cao Lãnh, Tháp Mười, Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò. == Kinh tế == Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp trong 9 tháng đầu năm 2012 được triển khai thực hiện trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế thế giới và cả nước, nhưng tình hình kinh tế -xã hội trong tỉnh vẫn duy trì và phát triển. Tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 463 triệu USD, bằng 71,3% kế hoạch và tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 467,4 triệu USD bằng 66,7% kế hoạch. Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 1.629 tỷ đồng, huy động vốn tín dụng tăng 27,8% và dư nợ cho vay tăng 10,46% so với đầu năm. Sản lượng lúa 2 vụ đông xuân và hè thu đạt 2,6 triệu tấn, vượt kế hoạch 2,3% sản lượng, thủy sản ước đạt 334.300 tấn, bằng 79,5% kế hoạch. Về thương mại, dịch vụ, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước đạt 30.468 tỷ đồng, bằng 70,3% kế hoạch. Công tác xã hội hóa đầu tư được đẩy mạnh, tập trung vào các công trình nước sạch, vệ sinh môi trường, cầu đường nông thôn, trường học, y tế... góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới. Trong 10 tháng đầu năm 2012 do chịu hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công khu vực Châu âu kéo dài, trong nước hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục bị áp lực lãi suất vay cao, mức tiêu thụ sản phẩm đạt thấp. Tuy nhiên kinh tế tỉnh Đồng Tháp vẫn ổn định, đời sống dân cư, an sinh xã hội, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững. Cây lúa vẫn là loại cây trồng chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong diện tích gieo trồng và trong giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp. Diện tích gieo trồng lúa cả năm ước tính 487.623 ha, sản lượng lúa cả năm 2012 ước tính 3.036 ngàn tấn thấp hơn mục tiêu kế hoạch. Do thay đổi cơ cấu cây trồng nên sản lượng một số nông sản trong năm 2012 giảm so với năm 2011. Sản lượng Thủy sản nuôi trồng năm 2012 vẫn tăng 15,89% so với năm trước và đạt 436 ngàn tấn, vượt 9,81% kế hoạch năm. Ước tính tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản các đơn vị thuộc nhà nước quản lý năm 2012 là 2.380 tỷ đồng đạt 98,61% kế hoạch năm. Tổng trị giá hàng nhập khẩu năm 2012 ước tính 695 triệu USD, bằng 109,72% so với năm 2011. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn là xăng dầu, ước tính khối lượng nhập khẩu 633 ngàn tấn, với trị giá nhập khẩu 640 triệu USD, tăng 17,87% về khối lượng và tăng 5,88% về giá trị so với năm 2011. Đồng Tháp là tỉnh có đàn gia cầm (vịt) chăn thả khá lớn so với nhiều tỉnh thành trong cả nước, số hộ nuôi vịt đẻ là 899 hộ với số lượng vịt nuôi là 650.512 con, số hộ nuôi vịt thịt là 152 hộ với số lượng vịt nuôi là 126.788 con. Trong tháng 10, sản lượng cá tra đạt khoảng 33.145 tấn, giá trị sản xuất toàn ngành Công nghiệp đạt 1.231.517 triệu đồng, tổng mức vốn đầu tư thực hiện tháng 10 là 231.093 triệu đồng. Ước tính 10 tháng đầu năm, tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện 1.851.540 triệu đồng. Trong tháng 10, tính tổng mức bán lẻ đạt 34.375 tỷ đồng, khối lượng hàng hóa vận chuyển là 213 ngàn tấn. Khối lượng vận chuyển hàng hóa 10 tháng đầu năm 2012 ước tính 2.415 ngàn tấn tăng 3,99% so với cùng kỳ 2011. Ước tính trong tháng 10 hoạt động xuất khẩu đạt 74.584 ngàn USD. Trong khi nhập khẩu dự kiến đạt 60.555 ngàn USD. Nếu không tính hàng tạm nhập tái xuất thì kim ngạch xuất khẩu tháng 10 ước đạt 57.084 ngàn USD. Trong 10 tháng đầu năm 2012, Nếu không tính hàng tạm nhập tái xuất thì kim ngạch xuất khẩu ước đạt 539.558 ngàn USD, đạt 83% so với kế hoạch xuất khẩu năm 2012. Kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 547.651 ngàn USD, bằng 88,9% so với cùng kỳ năm 2011 và đạt 78,24% kế hoạch năm. Ước tính tốc độ tăng trưởng GDP năm 2012 đạt 9,66%. GDP bình quân đầu người năm 2012 ước tính đạt 24,8 triệu đồng. == Văn hóa & Xã hội == === Dân cư === Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đồng Tháp đạt gần 1.673.200 người, mật độ dân số đạt 495 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 297.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.376.000 người. Dân số nam đạt 833.700 người, trong khi đó nữ đạt 839.500 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 7,0 ‰ Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đồng Tháp có 21 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh có 1.663.718 người, người hoa có 1855 người, người khmer có 657 người, còn lại là những dân tộc khác như chăm, thái, mường, tày... === Du lịch === Tỉnh Đồng Tháp có nhiều điểm du lịch và di tích lịch sử, trong đó có 1 di tích quốc gia đặc biệt là khu di tích gò tháp, có 12 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và 49 di tích cấp tỉnh. Các địa điểm tham quan như khu di tích Gò Tháp, khu di tích Xẻo Quýt, Lăng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Đền thờ Thượng tướng Quận công Trần Văn Năng, Vườn quốc gia Tràm Chim, Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, Vườn cò Tháp Mười, Làng hoa cảnh Tân Quy Đông (Vườn hồng Sa Đéc)… Các điểm tham quan, du lịch của tỉnh mới được đầu tư, tôn tạo một phần, hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu kém, chưa đồng bộ nhất là giao thông, nên còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sức hấp dẫn mạnh đối với du khách, chưa khai thác tốt tiềm năng, thế mạnh của vùng sông nước Đồng Tháp Mười và biên giới đất liền với Campuchia. Bên cạnh đó, tỉnh còn có các tuyến du lịch liên tỉnh, đưa khách nước ngoài từ thành phố Hồ Chí Minh về Đồng Tháp, đi An Giang, Cần Thơ, về thành phố Hồ Chí Minh, tuyến ngoại tỉnh, chủ yếu đưa khách trong tỉnh đi tham quan các tỉnh khác như Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang… == Giao thông == Hệ thống giao thông trên địa phận tỉnh Đồng Tháp khá phong phú với quốc lộ 30 giáp quốc lộ 1A tại ngã 3 An Hữu (Cái Bè - Tiền Giang) chạy dọc theo bờ Bắc sông Tiền, quốc lộ 80 từ cầu Mỹ Thuận nối Hà Tiên đi qua các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Kiên Giang, quốc lộ 54 chạy dọc theo sông Hậu nối Đồng Tháp với Vĩnh Long và Trà Vinh, tuyến đường N2 nối quốc lộ 22 và quốc lộ 30 xuyên qua khu vực Đồng Tháp Mười là một phần của tuyến đường Hồ Chí Minh xuyên suốt Bắc Nam. Mạng giao thông thủy trên sông Tiền, sông Hậu nối Đồng Tháp với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi trong giao thương với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và mở rộng đến các tỉnh của Campuchia. === Tinh lộ === === Quốc lộ === Quốc lộ 30 Quốc lộ 54 Quốc lộ 80 tuyến đường N2 == Y tế & Giáo dục == === Giáo dục === Tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2011, tỉnh Đồng Tháp có 172 trường mẫu giáo, 506 trường phổ thông, trong đó có 321 trường tiểu học, 130 trường trung học cơ sở, 41 trường trung học phổ thông, 12 trường phổ thông cơ sở, 2 trường trung học phổ thông chuyên, 5 trừơng Đại học và Cao đẳng. Danh sách các trường Đại học, Cao đẳng tại Đồng Tháp: Đại học Đồng Tháp Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp Cao đẳng Y tế Đồng Tháp Cao đẳng nghề Đồng Tháp === Y tế === Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh Đồng Tháp có 168 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 12 bệnh viện, 13 phòng khám đa khoa khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 142 trạm y tế phường xã, tổng số giường bệnh là 3.458 giường, trong đó các bệnh viện có 2.440 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 150 giường, bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng có 80, trạm y tế có 888 giường. Cũng theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, tỉnh có 762 bác sĩ, 990 y sĩ, 1029 y tá, 414 nữ hộ sinh, 183 dược sĩ cao cấp, 838 dược sĩ trung cấp và 492 dược tá. == Đặc sản == Bánh phồng tôm Sa Giang Nem Lai Vung Quýt hồng, quýt đường Lai Vung Xoài Cao Lãnh Chuột đồng, chuột cống nhum đồng tháp Hủ tiếu Sa Đéc Cá linh Bánh xèo Cao Lãnh Khô cá lóc Lẩu mắm cá linh Cá lóc nướng trui cuốn lá sen non Sen Tháp Mười, rượu sen Nhãn Châu Thành Cá tra, cá ba sa Ốc nướng tiêu Gà đập đất, vịt hoàng đế Vịt nướng Sa Đéc, Cao Lãnh Bì mắm Bình Thạnh Trung Lấp Vò. Mứt chuối phồng. Chả bía Hồng Ngự Bì lợn Tân Hồng Hến một nắng Tam Nông == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức tỉnh Đồng Tháp Thông tin về Đồng Tháp của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam
danh sách công ty pháp.txt
Dưới đây là danh sách các công ty, tập đoàn đến từ Pháp. == A == Alstom Altran Apave Asia Pacific Antefilms Production Arcelor-Mittal Areva Arianespace Arkane Studios Atlas Telecom Atos Origin Auchan Automobiles Venturi AXA == B == Baccarat Beurger King Muslim BIC BNP Paribas BNP Paribas Hong Kong Bolloré Bouygues Bouygues Télécom Breguet, chủ sở hữu là The Swatch Group Brittany Ferries Bugatti văn phòng tại Pháp nhưng hiện nay có chủ sở hữu là tập đoàn Volkswagen của Đức. Bull == C-D == Canal+ Capgemini Carrefour Cartier SA Casino Guichard Ceca specialty chemicals Chantelle Christian Dior CMA CGM Crédit Agricole Calyon CLSA Crédit Lyonnais Crédit Foncier de France Cyfac Danone Dassault Group Dassault Aviation Dassault Systemes DCN Dexia Diptyque == E-K == EADS EADS Astrium EADS Astrium Space Transportation Éditions Philippe Amaury Amaury Sport Organisation Électricité de France (EDF) Essilor Eurotunnel France Télécom Orange Galeries Lafayette Havas Hermès HSBC SA, một phần của tập đoàn HSBC Anh quốc Iliad Free Infogrames JCDecaux Jean-Paul Gaultier Keolis == L-Q == Lacoste La Poste Lafarge Lagardère Group Hachette Hachette Filipacchi Media Hachette Livre LOOK L'Oréal Lancôme LVMH - sản xuất hàng xa xỉ, chủ sở hữu thương hiệu Louis Vuitton, Moët et Chandon, và Hennessy Mandriva Mecca-Cola Michelin Montagut Nicolas NYCO Pentalog Pernod Ricard Pierre Fabre Group PPR PSA Peugeot Citroën, với các nhãn hiệu: Citroën Peugeot Publicis Quantic Dream == R-S == RATP Renault SAFRAN Snecma Saint-Gobain Salomon Group Mavic Sanofi-Aventis - sáp nhập với Sanofi-Synthélabo và Aventis năm 2004 Schlumberger Limited - sáp nhập với Netherlands Antilles Schneider Electric SFR SNCF SNCM Société Générale Boursorama SG Cowen Sodexho STMicroelectronics SUEZ == T-Y == Technip TF1 Group Thales Group Thomson Total Ubisoft Valtech Veolia Environnement VINCI Vivendi Yoplait == Công ty cũ == Những công ty đã sáp nhập hoặc thay đổi tên hoặc phá sản: Aéropostale Aérospatiale-Matra Aventis - sáp nhập và trở thành Sanofi-Aventis Banque de l'Indochine - hiện là một phần của Crédit Agricole Company of One Hundred Associates Crédit Commercial de France, hiện nay HSBC SA một phần của tập đoàn HSBC Holdings plc Elf Aquitaine - hiện nay là một phần của Total Genset - hiện nay là một phần của Serono Matra, hiện nay là một phần của Lagardere Matra Marconi Space, đổi tên thành EADS Astrium SAGEM - sáp nhập với công ty SNECMA trở thành SAFRAN Sanofi-Synthélabo - sáp nhập và trở thành Sanofi-Aventis SNECMA Moteurs Thomson-CSF, hiện nay là một phần của Thales Vivendi - hiện tách ra thành 2 công ty Vivendi (trước đây là Vivendi Universal) và Veolia Environnement == Xem thêm == CAC 40 chỉ số chứng khoán Euronext == Tham khảo ==
lễ giáng sinh.txt
Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Noel hay Christmas là một ngày lễ kỷ niệm Chúa Giêsu sinh ra đời. Theo phần lớn các tín hữu Kitô giáo, Chúa Giêsu được sinh tại Bethlehem (Bêlem) thuộc xứ Judea (Giuđêa) (ngày nay là 1 thành phố của Palestine), lúc bấy giờ thuộc Đế quốc La Mã, khoảng giữa năm 7 TCN và năm 2. Ngày lễ được cử hành chính thức vào ngày 25 tháng 12 nhưng thường được mừng từ tối ngày 24 tháng 12 bởi theo lịch Do Thái, thời điểm tính bắt đầu một ngày là lúc hoàng hôn chứ không phải nửa đêm. Lễ chính thức ngày 25 tháng 12 được gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng" và thường thu hút nhiều người tham dự hơn. Nhiều giáo hội Chính thống giáo Đông phương như ở Nga, Gruzia vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên lễ Giáng sinh của họ ứng với ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregorius. Theo lịch phụng vụ Công giáo, trước lễ Giáng Sinh là 4 tuần Mùa Vọng, và sau lễ Giáng Sinh là Mùa Giáng sinh ("12 ngày mùa Giáng Sinh"). == Tên gọi == Noel (phiên âm tiếng Việt: Nô-en hoặc No-en), từ tiếng Pháp Noël, dạng cổ hơn là Naël, có gốc từ tiếng Latinh nātālis (diēs) có nghĩa là "(ngày) sinh". Cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Noel xuất phát từ danh hiệu Emmanuel, tiếng Hebrew nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta", được chép trong sách Phúc âm Matthêu. Trong tiếng Anh, ngày lễ này được gọi phổ biến là Christmas. Chữ Christ là tước hiệu của Chúa Giêsu, còn chữ Mas nghĩa là thánh lễ. Do đó Christmas theo nghĩa chiết tự là "(ngày) lễ của Đức Kitô". Chữ Christ bắt nguồn và được viết trong tiếng Hy Lạp là Χριστός (Khristós, phiên âm Việt là "Ki-tô" hoặc "Cơ-đốc", có nghĩa là Đấng được xức dầu), mở đầu bằng chữ cái "Χ" (Chi) nên Christmas còn được viết tắt là Xmas. == Sự giáng sinh của chúa Giê-su (Jesus) == Theo Phúc âm của Thánh Luca (Luke) và Thánh Mát-thêu (Matthew) thì Chúa Giê-su được Đức Mẹ Maria, một phụ nữ đồng trinh và là vợ bác thợ mộc Giuse, sinh ra ở Bethlehem xứ Judea. Theo Luke, thì Giê-su được sinh ra và đặt nằm trong một máng cỏ vì bà Maria và ông Giuse không tìm được chỗ trọ qua đêm khi đang cùng đoàn người du hành đến Bethlehem. Các thiên sứ loan tin rằng người này sẽ là Đấng cứu thế, và các mục đồng đến chiêm bái ngài. Theo Phúc âm Matthew thì các nhà thông thái đã theo hướng một ngôi sao để đến Bethlehem và dâng tặng những phẩm vật lên Chúa hài đồng, vì người sinh ra để làm vua của người Do Thái. Herod Đại đế biết được liền tàn sát tất cả các trẻ em trai mới sinh ở Bethlehem để giết Chúa Giêsu, nhưng gia đình ngài đã kịp chạy trốn đến Ai Cập và sau đó định cư tại Nazareth. == Lịch sử == === Ngày tháng === Ngay từ thời kỳ Kitô giáo sơ khởi, dù ban đầu Giáo hội chưa cử hành lễ mừng kính sự giáng sinh của Đức Giêsu nhưng ngày 25 tháng 12 đã được coi là sinh nhật Đức Giêsu bởi Irenaeus, Hippolytus thành Roma và Sextus Julius Africanus. Bên cạnh đó có các suy đoán khác, Clemens thành Alexandria đề cập đến một số ngày được người ta đưa ra như 20 tháng 5. Trong nhiều thế kỷ, những sử gia Kitô giáo chấp nhận ngày 25 tháng 12 này. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 18, các học giả bắt đầu đề xuất các cách giải thích khác. Isaac Newton cho rằng lễ Giáng sinh được chọn vào ngày Đông chí - mà theo lịch thời đó rơi vào ngày 25 tháng 12 - bởi vì với các Kitô hữu, Đức Giêsu chính là "Mặt trời công chính" đã được tiên tri trong Malachi 4:2. Năm 1743, một người Đức theo Kháng Cách, Paul Ernst Jablonski cho rằng lễ Giáng sinh được chọn vào ngày 25 tháng 12 là để tương ứng với lễ hội tôn vinh mặt trời Dies Natalis Solis Invicti của người La Mã, ông xem việc này là một sự "ngoại giáo" hóa đã làm tha hóa Giáo hội đích thực. Tuy nhiên có quan điểm ngược lại cho rằng chính lễ hội Dies Natalis Solis Invicti được Hoàng đế Aurelianus thiết lập vào năm 274 hầu như là một nỗ lực nhằm tạo ra một ngày lễ ngoại giáo thay thế cho một ngày vốn đã có ý nghĩa với các Kitô hữu ở Rôma. Năm 1889, học giả Pháp Louis Duchesne cho rằng thời điểm được chọn là ngày Giáng sinh được tính bằng 9 tháng sau sự kiện Truyền tin, ngày Đức Giêsu được hoài thai; truyền thống có từ rất sớm trong Giáo hội liên kết sự chết và sự nhập thể của Đức Giêsu với nhau, theo đó hai sự kiện này rơi vào cùng một ngày trong niên lịch: 25 tháng 3 theo cách tính của Tây phương hoặc 6 tháng 4 theo cách tính của Đông phương. Do vậy, việc ấn định 25 tháng 12 là ngày Giáng sinh không chịu ảnh hưởng từ ngoại giáo, đến khi Hoàng đế Aurelianus muốn biến ngày này thành ngoại giáo thì tới lượt các Kitô hữu tái thích ứng ngày này thành ngày lễ cử hành mừng sinh nhật Đấng Kitô. == Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa == === Vòng lá mùa Vọng === Vòng lá mùa Vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy, trong 4 tuần Mùa Vọng. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Lutheran ở Đức vào năm 1839 với 24 cây nến gồm 20 nến đỏ và 4 nến trắng, cứ mỗi ngày gần Giáng sinh được đốt thêm một cây nến. Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách sự sống vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday). Hoặc 4 cây nến đỏ, cứ mỗi tuần mùa Vọng đốt 1 cây nến. Ngoài ra, tại phương Tây, thường có một lịch mùa Vọng là một lịch đặc biệt được sử dụng để đếm hoặc kỷ niệm những ngày chờ đợi đến lễ Giáng sinh. === Hang đá === Vào mùa Giáng sinh, một máng cỏ được đặt trong hang đá (có thể làm bằng gỗ, giấy), được dựng lên trong nhà hay ngoài trời, với các hình tượng Chúa Giê-su, Mẹ Maria, Thánh Giu-se, xung quanh là các thiên sứ, mục đồng cùng các gia súc như bò, lừa để kể lại sự tích Chúa ra đời trong máng cỏ. Bên trên thường có gắn một ngôi sao, biểu trưng cho ngôi sao đã dẫn đường cho các nhà chiêm tinh đến diện kiến Chúa Giáng sinh. === Cây Giáng sinh === Cây Giáng Sinh là cây xanh thường là cây thông được trang hoàng để trình bày trong dịp lễ Giáng Sinh theo phong tục của người Kitô giáo. === Thiệp Giáng sinh === Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole (1808 - 1882), một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ John Callcott Horsley (1817 - 1903), một họa sĩ ở Luân Đôn, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kỳ người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó. === Quà Giáng sinh === Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn. Đối với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người. Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba nhà thông thái (hay nhà chiêm tinh, theo truyền thống cũng là ba vị vua) từ phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng có ý nói Chúa Giêsu là vua, nhũ hương để tuyên xưng Giêsu là Thiên Chúa và mộc dược tiên báo cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại. Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giêsu hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra. Theo truyền thuyết xưa, Ông già Noel thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông Giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc bít tất (vớ). Ngoài ra, ngày nay ở Việt Nam thì Giáng sinh cũng là dịp để các bạn trẻ có cơ hội gửi cho nhau những món quà, những bó hoa tươi và lời chúc tốt đẹp đến người thân và bạn bè. === Chợ Giáng sinh === Chợ Giáng sinh là một chợ đường phố kiểu truyền thống được tổ chức vào dịp Giáng sinh (thường bắt đầu khoảng 1 tháng trước Lễ Giáng sinh) có nguồn gốc tại vùng đất ngày nay là nước Đức và Đông Bắc nước Pháp. Bắt đầu xuất hiện từ cuối thời Thời kỳ Trung Cổ (khoảng thế kỷ 14), cho đến nay chợ Giáng sinh vẫn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Đức, Áo và Đông bắc Pháp trong dịp Giáng sinh cũng như được phổ biến đến nhiều quốc gia khác trên thế giới. == Lễ Giáng Sinh ở các nước == === châu Âu === Ở hầu hết các quốc gia châu Âu, ngày lễ Giáng Sinh vào hai ngày 25 và 26 tháng 12 là ngày nghỉ lễ chính thức có trả lương cho tất cả người lao động. Đối với người châu Âu, theo truyền thống Giáng sinh trước hết là một dịp đoàn tụ gia đình, để mỗi người nói lên tình yêu và tỏ sự quan tâm tới những người thân trong gia đình, họ hàng và với bạn bè, hàng xóm, khi những người con đi làm xa về thăm lại gia đình. Sau buổi thánh lễ vào chiều ngày 24 tháng 12, thường được nối tiếp là một bữa ăn tối chung trong gia đình và trao quà vào lúc nửa đêm; từ buổi chiều là ngoài đường gần như không còn người qua lại. Sáng ngày 25 tháng 12, thường là cả gia đình cùng đi nhà thờ dự thánh lễ. === Hà Lan === Cũng như các quốc gia Tây Âu khác, tại Hà Lan không khí lễ hội bắt đầu từ mùa Vọng, đặc biệt là từ đêm 6 tháng 12, đêm thánh Nicolas. Món quà của thánh Nicolas tặng cho ba chị em nghèo khổ qua chiếc ống khói và phong tục treo tất ở ống khói có thể được bắt nguồn từ câu chuyện này. Theo truyền thuyết, mỗi năm vị Thánh bổn mạng ở Amsterdam này đi thuyền tới thành phố với người cộng sự của mình là Black Peter ăn mặc như một người Moor. Họ được đón chào nồng nhiệt. Mọi người trao đổi quà với nhau và họ náo nức chuẩn bị cho mùa Giáng sinh. === Hoa Kỳ === Giáng Sinh là ngày lễ lớn nhất ở Hoa Kỳ, tương tự với Tết Nguyên Đán ở Việt Nam, đều nhấn mạnh đến ý nghĩa sum họp gia đình. Sau lễ Tạ ơn vào Thứ Năm cuối cùng của tháng 11, dân chúng lẫn những nơi buôn bán bắt đầu chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. === Hungary === Theo truyền thống, các gia đình Hung vẫn ăn chay cho đến hết ngày 24 tháng 12 và bữa chay tối chung ngày 24 tháng 12 của cả gia đình được chuẩn bị chu đáo với các món táo, hạnh nhân, mật ong và tỏi, các loại ngũ cốc, kèm xúp đậu nấu với bơ, sau này khi tục lệ ăn chay được nới lỏng, họ có thể thêm món súp cá hoặc bắp cải nhồi thịt. Cũng theo phong tục, bà chủ nhà không được rời bàn tiệc trong suốt buổi ăn và mọi người đứng ăn, và rơm được đặt dưới bàn để tưởng nhớ sự tích Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ. === Nga === Đối với những người theo Chính thống giáo Nga, nhiều nước Đông Âu và ở đất thánh Jerusalem, Giáng sinh rơi vào ngày 7 tháng 1 bởi họ dùng lịch Julius chứ không dùng lịch Gregorius có từ thế kỷ 16. Ông già Tuyết trong ngày Giáng sinh theo Chính thống giáo Nga có vẻ ngoài tương tự như "đồng nghiệp" ở phương Tây nhưng mặc áo màu xanh và có một người cháu đi theo trợ giúp là Công chúa Tuyết. Công chúa là người trao quà cho trẻ em. Với nhiều người Nga, lý do chính để ăn mừng Giáng sinh không phải bản thân ngày lễ này, mà đây là dịp để nghỉ ngơi. === Nhật Bản === Nhật Bản không có ngày nghỉ lễ Giáng Sinh chính thức. Giáng Sinh ở Nhật Bản không mang nhiều màu sắc tôn giáo. Từ đầu tháng 12, phố xá đã bắt đầu treo đèn trang trí. Các trung tâm lớn ở Tokyo như ga Tokyo, Ikebukuro, Shinjuku, Shibuya, Roppongi, Ginza v.v. đều treo đèn gọi là illumination rất đẹp. Đặc biệt nổi tiếng có lẽ là hành lang đèn có tên "Tokyo Millenario" do đạo diễn mỹ thuật người Ý tên là Valerio Festi thiết kế chạy dài 800 m tại Marunouchi gần ga Tokyo. Gần đến ngày Giáng Sinh tại các quảng trường đều có đặt cây thông. Các siêu thị bán nhiều mặt hàng cho lễ Giáng Sinh như giày ủng đỏ đựng đầy bánh kẹo bên trong, các vòng lá thông gắn băng lụa đỏ và chuông mạ vàng, có cả bánh ngọt mùa Giáng Sinh của châu Âu như panettone có xuất xứ từ Italia. Một số nhân viên bán hàng hóa trang thành ông già Noel khi phục vụ khách hàng. Các cửa hàng bách hóa lớn (department stores) mở cửa đến 11 giờ đêm, làm việc cả 31 tháng 12 và 1 tháng 1. Trai gái thường lấy mùa Giáng Sinh để tỏ tình, tặng quà nhau mang ý nghĩa đặc biệt. Vào đêm Giáng Sinh các gia đình Nhật thường ăn bánh ngọt mùa Giáng Sinh do họ tự làm hoặc mua ở hiệu. === Việt Nam === Ngày nay, ở Việt Nam, dù không phải là ngày nghỉ chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Một số công ty, tổ chức tư nhân có thể cho nhân viên nghỉ trong ngày Giáng sinh. Trong những ngày này, cây thông Nô-en được trang trí ở nhiều nơi, có thể là cây nhân tạo làm bằng nhựa, hoặc cây thật thường là thông ba lá hoặc thông đuôi ngựa, trong khi ở các nước phương tây dùng đa dạng các loài thông, vân sam, lãnh sam. Trên cây, người ta thường treo các đồ trang trí nhiều loại nhưng thường có những cặp chuông, dây giả tuyết, những chiếc ủng, các gói quà tượng trưng và đèn trang trí giống như các nước phương Tây. Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp. Trong đêm Giáng Sinh, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, hát karaoke,... và đặc biệt là những người Công giáo thì chuẩn bị tham dự thánh lễ tại thánh đường giáo xứ hoặc giáo họ của mình. Người Việt Nam rất thích thú các ca khúc Giáng sinh. == Ý kiến của Gerry Bowler == BBC dẫn ý kiến của Gerry Bowler trong cuốn sách Christmas in the Crosshairs: Two Thousand Years of Denouncing and Defending the World's Most Celebrated Holiday (Giáng Sinh trong tầm ngắm: Hai nghìn năm bài trừ và bảo vệ cho dịp lễ trọng thể nhất thế giới) ra mắt dịp Christmas 2016 tại Anh, từng có những 'cuộc chiến' chống lễ Giáng Sinh qua nhiều thế kỷ cho rằng các chế độ toàn trị đều bài xích hoặc cố biến lễ Giáng Sinh thành một thứ lễ hội phục vụ chính trị: Cụ thể là Gerry Bowler cho hay khi những người Bolshevik lên nắm quyền tại Nga, Lenin đã ra lệnh cho công an mật bắn chết ai dám bỏ ngày đi làm để ở nhà mừng lễ Giáng Sinh. Sau đó, hình ảnh Stalin được xây dựng tương tự ông già Giáng Sinh: một cụ già đôn hậu, đem quà cho trẻ con. Chế độ phát-xít Đức tuy không cấm hẳn Giáng Sinh nhưng thay đổi lời bài hát về lễ này để ca ngợi Hitler. == Xem thêm == Mùa Vọng và Mùa Giáng sinh Chợ Giáng sinh Bánh khúc cây Thể loại:Nhạc Giáng sinh Thể loại:Phim Giáng sinh Món quà Giáng sinh, truyện ngắn của O. Henry Hưu chiến lễ Giáng Sinh Nhà thờ Giáng sinh Do They Know It's Christmas? Lễ Phục Sinh: một lễ quan trọng khác của người Kitô giáo == Chú thích == Ghi chú Nguồn == Liên kết ngoài == Lễ Giáng Sinh tại Từ điển bách khoa Việt Nam Sự giáng sinh của Chúa Giêsu tại Từ điển bách khoa Việt Nam Sống Phụng vụ Mùa Vọng và Giáng sinh hôm nay (tiếp theo): Ý nghĩa mùa Giáng sinh Vương Nghi và Giuse Nguyễn. Hội đồng Giám mục Việt Nam Bạn biết gì về lễ Giáng Sinh? Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ FathersOfTheChurch.com, 12/1/2012 8:27:04 AM
sơn tây (trung quốc).txt
Sơn Tây (tiếng Trung: 山西; Bính âm: Shānxī; Wade-Giles: Shan-hsi, ; bính âm bưu chính: Shansi) là một tỉnh ở phía bắc của Trung Quốc. Giản xưng của Sơn Tây là "Tấn" (晋), theo tên của nước Tấn tồn tại trong thời kỳ Tây Chu và Xuân Thu. Tên gọi Sơn Tây có nghĩa là "phía tây núi", ý đề cập đến vị trí của tỉnh ở phía tây của Thái Hành Sơn. Sơn Tây giáp Hà Bắc về phía đông, Hà Nam về phía nam, Thiểm Tây về phía tây và Nội Mông về phía bắc. Tỉnh lỵ của Sơn Tây là thành phố Thái Nguyên. == Lịch sử == === Từ thời cổ đến Tiên Tần === Sơn Tây được xem là một trong những phát địa của dân tộc Trung Hoa, có lịch sử thành văn trong ba nghìn năm. Các di chỉ văn hóa Tây Hà Độ và văn hóa Đinh Thôn thể hiện rằng ngay từ thời đại đồ đá cũ, loài người đã có nhiều hoạt động sinh hoạt trên địa bàn Sơn Tây ngày nay. Trong truyền thuyết, Sơn Tây là khu vực hoạt động chủ yếu của Hoàng Đế và Viêm Đế- thủy tổ của dân tộc Trung Hoa. Ba vị vua thời thượng cổ nổi tiếng của Trung Quốc là Nghiêu, Thuấn, Vũ đều kiến đô lập nghiệp trên đất Sơn Tây: kinh đô của Nghiêu nằm ở Bình Dương (nay thuộc Lâm Phần), kinh đô của Thuấn nằm ở Bồ Bản (nay thuộc Vĩnh Tế), kinh đô của Vũ nằm ở An Ấp (nay thuộc huyện Hạ). Chính quyền nô lệ đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc- vương triều Hạ đã được thành lập trên khu vực bao gồm nam bộ tỉnh Sơn Tây ngày nay. Sang thời nhà Thương, Sơn Tây cũng là một khu vực thống trị chủ yếu của triều đình. Ở Lâm Phần ngày nay có Nghiêu miếu và Nghiêu lăng, ở Thấm Thủy có khu Thuấn Vương Bình, Long Môn ở Hà Tân được xem là nơi vua Vũ trị thủy, còn được gọi là Vũ Môn Khẩu. Theo Sử ký, khi Chu Công Đán phụ chính Chu Thành Vương, có một chư hầu là nước Đường nổi loạn, Chu công Đán mang quân tiêu diệt. Sau đó, Chu Thành Vương bèn chính thức phong cho Cơ Ngu làm vua chư hầu nước Đường, gọi là Đường Thúc Ngu. Đất Đường ở khu vực phía đông Hoàng Hà và Phần Hà, sau này nước Đường đổi tên thành nước Tấn. Thời kỳ đầu Tây Chu, lãnh thổ của nước Ân bao gồm một phần đông nam bộ tỉnh Sơn Tây ngày nay; nước Hàn tập trung quanh khu vực Hàn Thành thuộc tỉnh Thiểm Tây và Hà Tân thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Năm 805 TCN, Tấn Mục hầu nghe lệnh Chu Tuyên vương, đem quân đánh tộc Nhung, năm 802 TCN, ông đánh thắng đất Thiên Mẫu. Thời Xuân Thu, đại bộ phận tỉnh Sơn Tây thuộc về nước Tấn. Đến thời Tấn Văn công, nước Tấn xưng bá Trung Nguyên. Các kinh đô của Tấn trước sau đều nằm trên địa phận Sơn Tây: Đường (sau gọi là Tấn), Khúc Ốc , Giáng (còn gọi là Dực), Tân Giáng (nguyên gọi là Tân Điền) Đầu thời Đông Chu, hai chi trưởng – thứ nước Tấn tại đất Dực và đất Khúc Ốc đã nổ ra chiến tranh giành ngôi vị quân chủ. Chiến tranh kéo dài gần 100 năm, trải qua 4 thế hệ mới kết thúc bằng thắng lợi của chi thứ Khúc Ốc với kết quả 5 vua Tấn ngành trưởng bị giết. Các khanh tộc tại nước Tấn về sau tiến hành tranh chấp quyền lực với nhau, lấn át cả vua Tấn. Năm 453 TCN, trong trận Tấn Dương, ba nhà Triệu, Hàn, Ngụy hợp binh đánh bại quân họ Trí, ba nhà này sau đó cùng chia đất của họ Trí và nắm quyền nước Tấn. Nước Tấn sau đó hình thành cục diện bị chia ba, đến năm 403 TCN thì nước Tấn diệt vong, đây cũng là mốc thời gian mà nhiều học giả nhận định là khởi đầu thời kỳ Chiến Quốc, cũng vì nguyên do này mà Sơn Tây còn được gọi là "Tam Tấn". Thời Chiến Quốc, nước Triệu đặt kinh đô tại Tấn Dương, nước Hàn đặt kinh đô tại Bình Dương, nước Ngụy trong thời gian 403 TCN-361 TCN đặt đô thành tại An Ấp Sau trung kỳ Chiến Quốc, kinh đô của Triệu và Ngụy phân biệt di dời đến địa phận Hà Bắc và Hà Nam ngày nay. === Thời Tần, Hán đến Nam-Bắc triều === Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng phân thiên hạ thành 49 quận, ban đầu trên địa bàn Sơn Tây có Thái Nguyên quận và Thượng Đảng quận, về sau phân tách thành 5 quận: Nhạn Môn quận, Đại quận, Thái Nguyên quận, Thượng Đảng quận, Hà Đông quận. Trong những năm Nguyên Phong thời Hán Vũ Đế, triều Hán thiết lập Tịnh châu thứ sử bộ trên địa phận Sơn Tây. Đến thời Hán Quang Vũ Đế, người Hung Nô tiến gần hơn vào Trung Nguyên, nuôi ngựa trên Lã Lương Sơn (呂梁山) và lưu vực Phần Hà. Thời Đông Hán, Tịnh châu được phân thành 9 quận: Thái Nguyên, Thượng Đảng, Tây Hà, Vân Trung, Định Tương, Nhạn Môn, Sóc Phương, Ngũ Nguyên, đến những năm cuối Đông Hán thì được nhập vào Ký châu. Năm 216, Tào Tháo phân người Hung Nô ở Sơn Tây ngày nay thành 5 bộ: Tịnh châu Tư thị (tại Phần Dương ngày nay) là tả bộ, Kì (tại huyện Kỳ ngày nay) là hữu bộ, Bồ Tử (tại huyện Thấp ngày nay) là nam bộ, Tân Hưng (tại Hãn Châu ngày nay) là bắc bộ, Đại Lăng (tại Văn Thủy ngày nay) là trung bộ, nhân khẩu đạt vài trăm nghìn người. Ngoài ra, trên địa bàn Sơn Tây còn có người Yết ở Vũ Hương, bộ lạc Thát Bạt của người Tiên Ti cư trú tại huyện đại và Đại Đồng. Năm 220, Tào Ngụy thiết lập Tịnh châu trên địa phận Sơn Tây, chia làm 6 quận: Thái Nguyên, Thượng Đảng, Tây Hà, Nhạn Môn, Nhạc Bình, Tân Hưng. Đến thời Tây Tấn, Sơn Tây thuộc về Tịnh châu: Thượng Đảng quận, Thượng Cốc quận. Sau khi triều Tấn suy yếu do loạn bát vương, vào năm 304, thủ lĩnh Hung Nô là Lưu Uyên đã lập quốc, đặt quốc hiệu là Hán, định đô tại Li Thạch, năm 305, sau một nạn đói, ông dời đô đến Lê Đình Sau đó, khu vực Sơn Tây trước sau thuộc nước Hậu Triệu của tộc Yết, nước Nhiễm Ngụy của tộc Hán, nước Tiền Yên của người Tiên Ti, nước Tiền Tần của tộc Đê, nước Hậu Tần của tộc Khương. Do chiến loại trong thời Ngũ Hồ thập lục quốc, kinh tế Sơn Tây bị phá hoại nghiêm trọng. Thác Bạt Khuê đã lập ra Bắc Ngụy vào năm 386, hai năm sau, để gần hơn về mặt địa lý với các lãnh thổ mới chinh phục được, ông đã thiên đô Bắc Ngụy đến Bình Thành. Bắc Ngụy sau đó thống nhất phương bắc Trung Quốc, mở ra thời kỳ Nam-Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Sau đó, đến năm 534, Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy và Tây Ngụy. Thực quyền Đông Ngụy nằm trong tay đại tướng Cao Hoan. Năm 543, nhà Đông Ngụy cho đắp thêm Trường thành tại Sơn Tây dài 150 dặm. Năm 550, con của Cao Hoan là Cao Dương tiếm vị Đông Ngụy, lập ra Bắc Tề, cha con Cao Hoan lấy Tấn Dương làm biệt đô. Thực quyền Tây Ngụy nằm trong tay Vũ Văn Thái, đến năm 557 thì hậu duệ của Vũ Văn Thái là Vũ Văn Giác cũng tiếm vị Tây Ngụy, lập ra Bắc Chu. Thời Bắc Ngụy, Phật giáo lần đầu tiên có được sự hưng thịnh tại Trung Quốc, có tới ba vạn chùa viện, tăng ni lên đến 200 vạn, nhà sư Pháp Hiển bắt đầu chuyến đi huyền thoại tới Ấn Độ của ông từ Sơn Tây. Việc xây đục hang đá Vân Cương đã được hoàn thành trong khoảng thời gian 453-495. === Từ thời Tùy đến Kim === Thời Tùy, Sơn Tây thuộc về Ký châu, có vị thế quan trọng về mặt kinh tế. Tháng 9 năm 617, Lý Uyên từ nơi khởi binh tại Thái Nguyên đã vượt qua Hoàng Hà, đến tháng 11 thì công chiếm kinh đô Trường An. Năm 618, Lý Uyên lập nên triều Đường, bảy năm sau thì thống nhất toàn Trung Quốc. Triều đình nhà Đường có thái độ trọng thị với Sơn Tây, xem đây là đất "Long Hưng", định Thái Nguyên làm Bắc Đô, kinh tế của Sơn Tây cũng đứng vào hàng đầu tại Trung Quốc. Khi đó, toàn Đại Đường có 18 hồ muối, vùng Hà Đông có 5 hồ, một hồ sản xuất được cả vạn hộc muối, cung cấp cho kinh thành, được Liễu Tông Nguyên gọi là "quốc chi đại bảo". Thời Đường, xuất hiện nhiều danh nhân là người Sơn Tây, như Tiết Nhân Quý, Võ Tắc Thiên, Địch Nhân Kiệt. Trong thời Tùy Đường, Phật giáo hưng thịnh, Ngũ Đài sơn tại Hãn châu từ thời gian đó đã là một thánh địa của Phật giáo Trung Quốc. Đến thời Ngũ Đại Thập Quốc, Lý Tồn Úc, Thạch Kính Đường và Lưu Trí Viễn lần lượt thành lập các triều đại Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Thái Nguyên khi đó là một nơi trọng yếu. Em trai của Lưu Trí Viễn là Lưu Mân đã lập ra nước Bắc Hán tại bắc bộ và trung bộ Sơn Tây, nước này nằm kẹp giữa Hậu Chu về phía nam và Đại Liêu của người Khiết Đan ở phía bắc, được Liêu bảo hộ. Sau khi triều Tống được thành lập, nước Bắc Hán ỷ thế có người Khiết Đan chống lưng ở phương Bắc, tiến hành đối kháng với Tống. Năm 979, Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa thống lĩnh đại quân diệt nước Bắc Hán, phóng hỏa thiêu hủy thành Tấn Dương. Năm 982, triều Tống phái đại tướng Phan Mỹ (潘美) xây thành mới tại khu vực Thái Nguyên ngày nay. Đầu thời Bắc Tống, Sơn Tây thuộc Hà Đông lộ, lại khôi phục cảnh phồn vinh. Thái Nguyên sản xuất ra gương đồng và kéo đồng, được xuất đi tiêu thụ ở các địa phương khác. Sau thời Tống Chân Tông, tại Sơn Tây người ta cũng bắt đầu sử dụng than đá làm nhiên liệu. Sau sự biến Tĩnh Khang năm 1125-1127, Sơn Tây chuyển sang thuộc quyền cai quản của triều Kim, quân Kim đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế phương Bắc Trung Quốc. Do Sơn Tây có Thái Hành Sơn làm chướng ngại tự nhiên, khói lửa chiến tranh gây cho Sơn Tây thiệt hại nhỏ hơn các địa phương khác. Kinh tế và văn hóa Sơn Tây phát triển trong thời Đại Định chi trị dưới sự cai trị của Kim Thế Tông và thời Minh Xương chi trị dưới sự cai trị của Kim Chương Tông. Bình Dương phủ (nay là Lâm Phần) trở thành trung tâm sản xuất giấy của Kim Quốc. === Thời Nguyên, Minh, Thanh === Khi đế quốc Mông Cổ xâm lược Hà đông bắc lộ và Hà đông nam lộ của Kim, họ đã tàn phá Sơn Tây, cả nghìn lý không có bóng người. Trong thời Nguyên, Sơn Tây thuộc Trung thư tỉnh, chịu sự quản lý trực tiếp của triều đình. Năm 1271, triều Nguyên thành lập Hà Đông Sơn Tây đạo tuyên úy ti tại khu vực phía đông Hoàng Hà, phía tây của Thái Hành Sơn, danh xưng Sơn Tây từ đó cũng bắt đầu được sử dụng. Năm 1368, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương phái Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân suất lĩnh quân Minh tiến vào Sơn Tây, thiết lập Sơn Tây hành tỉnh. Chu Nguyên Chương sau này phong cho ba nhi tử làm phiên vương, trú trát tại Sơn Tây: Chu Vi là Tấn vương, trú tại Thái Nguyên; Chu Quế là Đại vương, trú tại Đại Đồng; Chu Mô là Thẩm vương, trú tại Lộ An (Trường Trị), xây dựng Minh Trường Thành để phòng bị Bắc Nguyên xâm lược. Đầu thời Minh, có một lượng lớn di dân từ Sơn Tây đến vùng bình nguyên Hoa Bắc- vùng mà khi ấy đang vắng bóng người. Đại hòe thụ ở Hồng Động trở thành một địa điểm tập hợp nổi tiếng, đến nay cư dân các tỉnh vẫn lưu truyền ngạn ngữ: "Nếu hỏi tổ tiên đến từ xứ nào? Đại hòe thụ ở Hồng Động, Thiểm Tây". Triều Minh sau đó đã thiết lập Sơn Tây thừa tuyên bố chính sứ ti, tiền thân của Sơn Tây ngày nay. Thời Minh, thương nhân Sơn Tây kiểm soát phần lớn việc buôn bán muối và dịch vụ ngân hàng trong cả nước. Đến thời nhà Thanh, triều đình đã đem một số khu vực ở bên ngoài Minh Trường Thành để nhập vào Sơn Tây. Sơn Tây tổng cộng có 9 phủ, 16 châu, 108 huyện. Thời gian này, ngành thương mại và tài chính của Sơn Tây hoạt động rất tích cực, xuất hiện văn danh "Sơn Tây phiếu hiệu" trên quy mô toàn quốc. Thương nhân Sơn Tây lập ra nhiều Sơn Tây hội quán hoặc Sơn Thiểm hội quán trên khắp Trung Quốc. Thời Thanh, Sơn Tây ít chịu ảnh hưởng của ngoại quốc, song một vài cơ sở sản xuất đã được thành lập tại Thái Nguyên vào năm 1898, và một tuyến đường sắt bằng vốn Pháp-Thanh đã được xây dựng từ năm 1904 đến 1907 để kết nối Thái Nguyên và Thạch Gia Trang ở tỉnh Hà Bắc ngày nay. Năm 1900, tổ chức bài ngoại Nghĩa Hòa đoàn đã đốt cháy một nhà thờ truyền giáo Anh tại Thái Nguyên, sau đó giết chết những người ngoại quốc và người Trung Quốc cải đạo theo Tây giáo. Điều này đã khiến phong trào Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, cuối cùng lan đến Bắc Kinh. Nghĩa Hòa Đoàn được cho là đã giết chết 100.000 thường dân khắp miền Bắc Trung Quốc, trong đó có 32.000 người Trung Quốc theo Tây giáo. === Sau năm 1911 === Trong Cách mạng Tân Hợi, quân phiệt Diêm Tích Sơn tại Thiểm Tây đã chỉ huy lực lượng cách mạng địa phương đánh đuổi quân Thanh khỏi tỉnh, rồi tuyên bố độc lập khỏi triều Thanh. Diêm Tích Sơn sau đó được chính phủ Trung Hoa Dân Quốc bổ nhiệm chức Sơn Tây đô đốc, ông ủng hộ Viên Thế Khải xưng đế, vì thế được phong làm "nhất đẳng hầu". Năm 1917, không lâu sau khi Viên Thế Khải chết, Diêm Tích Sơn củng cố quyền thống trị Sơn Tây. Cho tới năm 1911, Sơn Tây là một trong những tỉnh nghèo nhất Trung Hoa. Diêm Tích Sơn tin rằng, nếu không hiện đại hóa kinh tế cũng như cơ sở hạ tầng, Sơn Tây sẽ không chống nổi các quân phiệt từ các nơi khác. Ngày 18 tháng 12 năm 1931, một nhóm sinh viên tại Thái Nguyên tập hợp phản đối chính sách nhân nhượng Nhật Bản của chính phủ Nam Kinh. Cuộc biểu tình trở nên bạo lực đến nỗi cảnh sát Quốc dân đảng đã nổ súng vào đám đông. Sự kiện "Thảm sát 18/12" gây ra một làn sóng giận dữ, tạo điều kiện cho các thuộc hạ của Diêm Tích Sơn thừa cơ trục xuất các viên chức Quốc dân đảng khỏi tỉnh, viện cớ là để đảm bảo an ninh. Sau vụ này, tổ chức Quốc dân đảng tại Sơn Tây chỉ còn trên danh nghĩa, trung thành với Diêm Tích Sơn còn hơn cả với Tưởng Giới Thạch. Năm 1934, Tưởng Giới Thạch đi máy bay đến Thái Nguyên, tại đó ông ta ca ngợi chính quyền của Diêm Tích Sơn có công giúp đỡ, ủng hộ Chính phủ Nam Kinh, trên thực tế là thừa nhận quyền thống trị Sơn Tây của Diêm Tích Sơn. Quan hệ tài chính giữa Sơn Tây và chính phủ trung ương rất phức tạp. Diêm Tích Sơn đã tạo ra được một tổ hợp công nghiệp nặng xung quanh Thái Nguyên, nhưng không công khai ra bên ngoài Sơn Tây, có lẽ là để đánh lừa Tưởng Giới Thạch. Dù đạt được những thành công nhất định trong công cuộc hiện đại hóa nền công nghiệp Sơn Tây, Diêm Tích Sơn vẫn liên tiếp yêu cầu chính phủ trung ương hỗ trợ tài chính để dùng mở rộng đường sắt và những việc khác, nhưng đều bị từ chối. Năm 1916, ít nhất 10% trong số 11 triệu dân Sơn Tây nghiện thuốc phiện, điều này khiến Diêm Tích Sơn quyết định phải tiêu diệt nạn thuốc phiện sau khi lên nắm quyền. Trước tiên, Diêm Tích Sơn xử lý bọn buôn thuốc phiện và những người nghiện nặng, đưa những người nghiện nặng vào tù và đưa họ và gia đình họ ra trước công chúng để làm nhục. Rất nhiều người bị kết án đã chết vì bị cắt cơn đột ngột. Sau năm 1922, một phần do sự phản đối của công chúng, Diêm Tích Sơn từ bỏ chính sách trừng phạt, chuyển sang chính sách phục hồi nhân phẩm cho người nghiện, thông qua gia đình họ mà buộc họ phải bỏ thuốc phiện, và xây dựng các trại cai nghiện cho mục đích này. Tháng 2 năm 1936, dưới sự chỉ huy của Lưu Chí Đan và Từ Hải Đông, 34.000 quân Cộng sản đã xâm nhập vào tây nam Sơn Tây. Những người Cộng sản có được sự ủng hộ phổ biến của người dân, và, mặc dù họ ít hơn và được vũ trang kém, song đã thành công trong việc chiếm một phần ba phía nam của Sơn Tây trong vòng chưa đầy một tháng. Những người Cộng sản ở Sơn Tây đã hợp tác thông tin với các nông dân địa phương để né tránh và dễ dàng xác định vị trí các lực lượng của Diêm Tích Sơn. Khi quân chính phủ Trung ương được phái đến chi viện, quân Cộng sản buộc phải rút khỏi Sơn Tây, sau đó lực lượng Quốc Dân đảng vẫn còn ở Sơn Tây thể hiện sự thù địch với quyền cai trị của Diêm Tích Sơn, nhưng không ảnh hưởng đến quyền cai quản của ông. Năm 1936, quân Nhật và lực lượng Mông Cương đã xâm lược khu vực do Diêm Tích Sơn kiểm soát, gián điệp Nhật Bản đã phá hủy một kho hậu cần lớn ở Đại Đồng và thực hiện các hành vi phá hoại khác. Trong chiến tranh Trung-Nhật (1937-1935), hầu hết Sơn Tây đã nhanh chóng bị người Nhật tàn phá. Sau khi để mất thủ phủ Thái Nguyên, Diêm Tích Sơn di chuyển trụ sở của mình đến một nơi ẩn náu biệt lập ở Lâm Phần, chống lại nỗ lực kiểm soát hoàn toàn Sơn Tây của Nhật Bản. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quân của Diêm Tích Sơn (bao gồm cả quân Nhật cũ) đã tổ chức chống lại những người Cộng sản trong cuộc nội chiến Trung Quốc kéo dài trong bốn năm. Đến tháng 4 năm 1949, chính phủ Quốc dân để mất quyền kiểm soát miền Bắc Trung Quốc, quân cộng sản bao vây lực lượng của Diêm Tích Sơn. Sau chiến thắng trong chiến dịch Thái Nguyên, lực lượng cộng sản đã hoàn toàn kiểm soát Sơn Tây. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Sơn Tây nằm trong các kế hoạch "Tiểu tam tuyến kiến thiết" và "Chi viện nội địa", kinh tế xã hội vì thế từng có thời điểm đã phát triển một cách nhanh chóng. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, tại Sơn Tây đã tiến hành xây dựng chủ nghĩa tập thể, trong đó nổi bật là mô hình kinh tế tập thể chủ nghĩa tại thôn Đại Trại, Mao Trạch Đông từng ban ra lời hiệu triệu "Nông nghiệp học Đại Trại". Sau cải cách kinh tế, kinh tế Sơn Tây chuyển từ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên than đá phong phú dưới lòng đất sang dùng than đá để phát triển điện lực, than hóa học. Bước sang thế kỷ 21, Sơn Tây đang nỗ lực tiến hành chuyển đổi mô hình kinh tế từ tập trung vào các ngành sử dụng nhiều tài nguyên sang phát triển công nghệ cao, các ngành công nghiệp có giá trị cao, và đã đạt được một số thành công. == Địa lý == Sơn Tây nằm ở trung bộ lưu vực Hoàng Hà, ở phía tây của Thái Hành Sơn, có tọa độ giới hạn từ 34°34′-40°43′ vĩ Bắc và 110°14′—114°33′ kinh Đông. Lãnh thổ Sơn Tây có hình bình hành kéo dài từ đông bắc đến tây nam, với diện tích là khoảng 156.700 km², chiếm 1,6% tổng diện tích Trung Quốc, dài khoảng 682 km theo chiều bắc-nam, rộng khoảng 385 km theo chiều đông-tây. Thái Hành Sơn ngăn cách Sơn Tây với Hà Bắc ở phía đông; ở phía tây thì Hoàng Hà ngăn cách Sơn Tây với Thiểm Tây; nam và đông nam của Sơn Tây là Hà Nam; phía bắc Sơn Tây là khu tự trị Nội Mông. Địa thế điển hình của Sơn Tây là lớp đất hoàng thổ bao trùm các cao nguyên sơn địa, bị giới hạn bởi Ngũ Đài Sơn và Hằng Sơn ở phía bắc, Thái Hành Sơn ở phía đông, Lã Lương Sơn ở phía tây. Địa thế của Sơn Tây nói chung là cao ở đông bắc, thấp ở tây nam. Vùng cao nguyên trong tỉnh nhấp nhô chứ không bằng phẳng, có các thung lũng sông dọc ngang. Địa mạo của Sơn Tây phức tạp và đa dạng: núi non, gò đồi, đài địa, bình nguyên, nhìn chung là núi nhiều sông ít, trong đó vùng núi non và gò đồi chiếm 80,1% diện tích của tỉnh, vùng đồng bằng và thung lũng sông chiếm 19,9% diện tích của tỉnh. Phần lớn Thiểm Tây có cao độ trên 1.500 mét so với mực nước biển, điểm cao nhất là đỉnh chính Hiệp Đầu của Ngũ Đài Sơn với cao độ 3061,1 mét trên mực nước biển, cũng là đỉnh cao nhất vùng Hoa Bắc. Bồn địa thung lũng lớn nhất Sơn Tây là bồn địa Thái Nguyên kéo dài 160 km. Ở phía bắc Thái Nguyên có ba bồn địa riêng biệt, chúng đều là các khu vực canh tác, bồn địa Đại Đồng nằm xa hơn về phía bắc. Sơn Tây có trên 1.000 sông lớn nhỏ, thuộc hai hệ thống sông lớn là Hoàng Hà và Hải Hà. Trong đó, con sông lớn thứ hai tại Trung Quốc- Hoàng Hà chảy từ bắc xuống nam dọc theo một hẻm núi ở ranh giới phía tây giữa Sơn Tây và Thiểm Tây, ở Phong Lăng Độ (風陵渡), Hoàng Hà chuyển hướng tây-đông và tạo thành một đoạn ranh giới giữa Sơn Tây và Hà Nam, tổng chiều dài Hoàng Hà tại Sơn Tây là 968 km. Ngoài Hoàng Hà ra, Sơn Tây có 5 sông có diện tích lưu vực trên 10.000 km², có 48 sông có diện tích lưu vực từ 1.000 km² đến 10.000 km², có 397 sông có diện tích lưu vực từ 100 km² đến 1.000 km². Phần Hà là sông lớn nhất trong nội bộ Sơn Tây, chảy từ đông bắc xuống tây nam, chiều dài dòng chính là 694 km. Các chi lưu lớn của Hoàng Hà ở Sơn Tây bao gồm: Phần Hà, Thấm Hà, Đan Hà, Tốc Thủy Hà, Tam Xuyên Hà. Các chi lưu lớn của hệ thống Hải Hà trên địa bàn Sơn Tây là: Tang Can Hà, Hô Đà Hà, Trạc Chương Hà, Thanh Chương Hà. Diện tích lưu vực Hoàng Hà tại Sơn Tây là 97.138 km², chiếm 62% diện tích toàn tỉnh; diện tích lưu vực Hải Hà tại Sơn Tây là 59.133 km², chiếm 38% diện tích toàn tỉnh. Ở các dãy núi, thường thấy một vài loại đất nâu nhạt hoặc đất rừng nâu, các thảo nguyên xuất hiện trên cao độ lớn hơn. Đất phù sa xuất hiện ở các khu vực trung bộ và nam bộ của Sơn Tây và chủ yếu tạo thành từ đất nâu đá vôi do Phần Hà bồi đắp. Tỉnh Sơn Tây cũng có trầm tích hoàng thổ và đá vôi. Nguồn tài nguyên hữu cơ tự nhiên của Sơn Tây không phải là nhiều, và có độ mặn quá mức. Sơn Tây nằm ở vùng có vĩ độ trung bình ở nội lục, thuộc vùng khí hậu ôn đới lục địa gió mùa, bán khô hạn. Do ảnh hưởng từ các nhân tố bức xạ Mặt Trời, hoàn lưu gió mùa và vị trí địa lý, khí hậu Sơn Tây có đủ bốn mùa phân biệt, mưa nhiệt cùng lúc, ánh nắng đầy đủ, có sự khác biệt khí hậu đáng kể giữa nam và bắc, có sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa mùa đông và mùa hè, ngoài ra giữa ngày và đêm cũng có sự chênh lệch nhiệt độ lớn. Nhiệt độ bình quân năm của các địa phương tại Sơn Tây biến đổi từ 4,2-14,2 °C, về tổng thể thì tăng dần từ bắc xuống nam, thấp dần từ bồn địa lên vùng núi cao. Nhiệt độ trung bình tại Thái Nguyên vào tháng giêng là −7 °C và tăng lên 24 °C trong tháng 7; các số liệu tương ứng tại Đại Đồng là −16 °C và 22 °C. Lượng giáng thủy trung bình năm của các địa phương tại Sơn Tây dao động từ 358-621 mm, thấp dần từ tây bắc đến đông nam, phân bố không đều theo mùa, tương đối tập trung vào mùa hè (từ tháng 6-8), chiếm 60% tổng lượng giáng thủy cả năm. Trong mùa đông, Sơn Tây thường xảy ra hạn hán do các cơn gió tây bắc khô thổi đến từ cao nguyên Mông Cổ. Trong mùa hè, gió mùa đông nam mang theo lượng ẩm thì lại bị Thái Hành Sơn chặn. Mưa đá là một mối nguy hiểm tự nhiên thường xuất hiện tại Sơn Tây, cùng với đó là nạn lũ lụt mà chủ yếu đe dọa khu vực dọc theo Phần Hà. === Sinh vật === Mặc dù đã bị con người khai phá để tiến hành hoạt động canh tác trong một thời gian dài, người ta đã phát hiện được hơn 2700 loài thực vật có mạch trên địa bàn Sơn Tây, trong đó có 463 loài cây thân gỗ. Thảm thực vật Sơn Tây từ nam lên bắc có thể phân thành: nam bộ và đông nam bộ chủ yếu là rừng lá rộng rụng lá và cây bụi rụng lá thứ sinh: rừng lá rộng xanh mùa hè hoặc rừng hỗn giao lá kim lá rộng, có nhiều loại thực vật nhất; trung bộ chủ yếu là rừng lá kim và cây bụi trung sinh, cũng có các rừng lá rộng xanh hè, là khu vực có diện tích rừng lớn nhất; bắc bộ và tây bắc bộ là nơi phân bố của các đám cây bụi cỏ và thảo nguyên bán khô hạn, rất ít thực bì rừng, các loại thực vật chiếm ưu thế là cỏ ngọn dài (Stipa bungeana), các loại cỏ sống được trong môi trường hạn và ninh điều (Caragana intermedia intermedia), sa cức (Hippophae) và các loại khác. Thông đỏ bắc phương Nam (南方红豆杉, Taxus chinensis var. mairei) là loài thực vật được bảo hộ cấp một quốc gia tại Trung Quốc; các loài được bảo hộ ở cấp hai có mặt trên địa bàn Sơn Tây là: cây liên hương (Cercidiphyllum japonicum), cây sí quả du (Elaeagnus mollis), liễu thủy khúc (Fraxinus mandschurica), thu hạch đào (Juglans mandshurica Maxim), đoạn Amur "(Tilia amurensis). Sơn Tây có hơn 1000 loài thực vật có thể dùng làm dược liệu, phân bố rộng rãi trên vùng đồi núi, có tiếng là đảng sâm (Codonopsis pilosula), hoàng kỳ (Radix astragali), cam thảo (Glycyrrhiza uralensis), liên kiều (Forsythia suspensa) và các loại khác. Tỷ lệ che phủ rừng của Sơn Tây đạt 18,03%, rừng chiếm khoảng một phần năm diện tích của tỉnh. Tuy nhiên, tỉnh còn lại khá ít các khu rừng tự nhiên, chúng nằm ở những vùng đất nhỏ biệt lập tại sườn núi hướng về phía bắc. Tại Trung Điều Sơn (中条山) ở xa về góc đông nam của tỉnh, gần ranh rới với tỉnh Hà Nam, có một dải rừng nguyên sinh lớn. Sơn Tây cũng tiến hành trồng rừng trên khắp địa bàn, bao gồm cả việc trồng cây ở sát ngay các khu đất canh tác và trên các sườn núi. Việc phá hủy các khu rừng nguyên sinh trong thời cổ đại đã loại bỏ hầu hết các loại động vật hoang dã tại Sơn Tây. Hiện nay, các loài động vật hoang dã ở Sơn Tây chủ yếu là loài sống trên cạn, đã biết được 439 loại (kể cả các loài đã tuyệt chủng). Trong đó, tỉnh có 71 loài động vật quý hiếm được bảo hộ trọng điểm cấp quốc gia, trong đó có 17 loại được bảo hộ cấp 1: Gà lôi tai nâu (Crossoptilon mantchuricum), đại bàng vàng (Aquila chrysaetos), cò quăm mào Nhật Bản (Nipponia nippon), hạc trắng (Ciconia ciconia), hạc đen (Ciconia nigra), đại bàng biển đuôi trắng (Haliaeetus leucoryphus), đại bàng đuôi trắng (Haliaeetus albicilla), sếu Nhật Bản (Grus japonensis), ô tác lớn (Otis tarda), chim diều râu (Gypaetus barbatus), Ichthyaetus relictus, hổ, báo hoa mai, hươu xạ Siberi (Moschus moschiferus), hươu xạ lùn (Moschus berezovskii). Các loài động vật hoang dã được bảo hộ trọng điểm cấp tỉnh có diệc xám (Ardea cinerea), gõ kiến nhỏ đầu xám (Picoides canicapillus) và 27 loại khác. == Nhân khẩu == Theo điều tra mẫu, cuối năm 2011, tỉnh Sơn Tây có 35.933.000 người, tăng 192.000 người so với năm trước. Trong năm này, tỷ lệ sinh của Sơn Tây là 10,47‰, còn tỷ lệ tử vong là 5,61‰, tỷ số giới tính khi sinh là 113,14 nam/100 mữ. Hầu hết cư dân Sơn Tây là người Hán, cuối năm 2011 họ chiếm 99,7% tổng số dân cư. Phần lớn người Hán tại Sơn Tây nói tiếng Tấn, riêng cư dân hai địa cấp thị Lâm Phần và Vận Thành ở hạ du Phần Hà, tại tây nam của Sơn Tây, nói phương ngữ Phần Hà của Quan thoại Trung Nguyên. Tiếng Tấn được một số người phân là một nhánh của Quan thoại, song cũng có người xem nó là một nhánh riêng biệt của tiếng Hán. Trên địa phận Sơn Tây, phương ngữ Tịnh Châu của tiếng Tấn được nói tại trung bộ, bao gồm Thái Nguyên và Tấn Trung; phương ngữ Lữ Lương được nói tại phía tây của trung bộ, bao gồm Lữ Lương và 5 huyện tây bắc của Lâm Phần; phương ngữ Thượng Đản được nói tại đông nam bộ ở chân núi phía tây Thái Hành Sơn, bao gồm Trường Trị và Tấn Thành; phương ngữ Ngũ Đài được nói tại bắc bộ Sơn Tây, bao gồm Hãn Châu; phương ngữ Đại Đồng được nói tại khu vực Đại Đồng. Các cộng đồng thiểu số tại Sơn Tây bao gồm người Hồi ở khu vực Thái Nguyên-Du Thứ, và một số người Mông Cổ và người Mãn sinh sống quanh Đại Đồng. Cư dân Sơn Tây tập trung đông đúc tại bồn địa Thái Nguyên, khu vực đông nam quanh Trường Trị và thung lũng Phần Hà. == Các đơn vị hành chính == Tỉnh Sơn Tây được chia ra 11 đơn vị cấp địa khu, tất cả đều là địa cấp thị: 11 đơn vị cấp địa khu này được chia ra 119 các đơn vị cấp huyện (23 quận, 11 thành phố cấp huyện, và 85 huyện). Các đơn vị này lại được chia ra làm 1388 các đơn vị cấp hương (561 trấn, 634 hương, và 193 phó quận). == Kinh tế == Do xảy ra hiện tượng xói mòn trên phạm vi rộng, chỉ một phần ba diện tích Sơn Tây là đất canh tác. Sau khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã có những nỗ lực nhằm bảo toàn đất và nước trên quy mô rộng lớn, tạo ra loại ruộng bậc thang, trồng cây gây rừng, đào kênh mương thủy lợi, đắp bờ các mảnh đất canh tác, khử mặn, và cải tạo đất ven sông. Ở cực bắc của tỉnh, mùa sinh trưởng của cây trồng rất ngắn chỉ với 120 ngày, mùa đông lạnh và kéo dài khiến cho chỉ canh tác được một vụ kê có bông, lùa mì xuân, yến mạch trần, khoai tây và vừng mỗi năm. Ở phần còn lại của tỉnh, ngoại trừ các khu vực đồi núi, mùa sinh trưởng kéo dài hơn (210 ngày), cho phép canh tác ba vụ hai năm hoặc hai vụ một năm. Một số thuốc lá và lạc cũng như cây ăn quả được trồng tại các vùng bồn địa trung bộ và đồng bằng ven Hoàng Hà. Năm 2011, đầu tư cho "tam nông" tại Sơn Tây đạt 65 tỷ NDT, tổng sản lượng lương thực đạt 11.930.000 tấn. Trên địa bàn Sơn Tây đã phát hiện được hơn 120 loại khoáng sản, trong đó đã xác minh được trữ lượng của 70 loại. Vào năm 2011, trữ lượng than đá của Sơn Tây đạt 267,379 tỷ tấn, chiếm 20% tổng trữ lượng than đá của Trung Quốc. Các chủng loại khoáng sản có trữ lượng đứng vào hàng đầu toàn quốc của Sơn Tây là: khí vỉa than, bô xít, perlite, gali, zeolit, rutile, muối magiê, mirabilite, feldspat kali, ilmenite, đá vôi, feldspat, thạch cao, coban, đồng và các loại khác. Theo hạch toán sơ bộ, tổng GDP của Sơn Tây vào năm 2011 là 1.110,02 tỷ NDT, tăng trưởng 13% so với năm trước. Trong đó, khu vực một đạt giá trị 64,14 tỷ NDT, khu vực hai đạt giá trị 657,78 tỷ NDT, khu vực ba đạt giá trị 388,09 tỉ NDT. Trong năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Sơn Tây là 14,76 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 9,33 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 5,43 tỷ USD. Ngành công nghiệp của Sơn Tây dựa trên cơ sở nguồn tài nguyên than đá phong phú, tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nặng tại Thái Nguyên-Tấn Trung. Ngành gang thép sản xuất ra thép thỏi, gang thỏi, và các sản phẩm thép hoàn chỉnh. Ngoài ra Sơn Tây còn có các ngành cơ cấu hạng nặng, hóa chất công nghiệp, phân bón hóa học, như xi măng, giấy, dệt may, xay bột, và rượu. Các trung tâm khai mỏ và gang thép khác bao gồm Dương Tuyền, Trường Trị, Đại Đồng và Lâm Phần. Từ thập niên 1980, Sơn Tây cũng phát triển mạnh mẽ các ngành điện tử, dệt may, chế biến thực phẩm, nhựa gia dụng. Các sản phẩm đặc sản của địa phương phải kể đến như Phần tửu (汾酒), một loại rượu mùi làm từ lúa miến của thôn Hạnh Hoa. == Văn hóa == Ẩm thực Sơn Tây được biến đến nhiều nhất với đặc điểm sử dụng rộng rãi các loại giấm địa phương làm gia vị và với các món mì. Một món ăn bắt nguồn từ Thái Nguyên có tên là Thái Nguyên đầu não (太原头脑), món canh này nấu với các nguyên liệu gồm thịt cừu, sơn dược, rễ sen, hoàng kì, hành củ, cũng như rượu để thêm mùi vị, thưởng thức bằng cách nhúng những chiếc bánh không có men vào canh, và được cho là có thể chữa bệnh. Không kể việc sử dụng thịt lợn và thịt gà, một trong những loại thịt phổ biến nhất ở Sơn Tây là thịt cừu non, cũng như một số bộ phận khác trong cơ thể của dê hoặc cừu. Chẳng hạn, súp thịt cừu thường được nấu với gan, dạ dày, và một số các cơ quan khác của cừu. Tấn kịch (晋剧) là một thể loại hí khúc phổ biến tại Sơn Tây. Loại hình nghệ thuật này được đại chúng hóa trong thời gian cuối thời nhà Thanh, với sự trợ giúp của các thương nhân Sơn Tây-những người mà khi ấy hoạt động trên khắp Trung Quốc. Cũng được gọi là Trung lộ bang tử (中路梆子), nó là một loại hình bang tử(梆子), một nhóm các loại hình nhạc kịch thường được phân biệt bằng việc sử dụng sinh tiền để tạo ra nhịp và bởi một phong cách hát mạnh mẽ hơn; Tấn kịch cũng được bổ sung bằng khúc tử (曲子), một thuật ngữ chung để chỉ các loại nhạc kịch du dương hơn ở xa về phía nam. Bồ kịch (蒲剧), bắt nguồn từ nam bộ Sơn Tây, là một thể loại bang tử cổ xưa hơn, sử dụng âm trình rất rộng. Tấn thương (晋商), tức các thương nhân Sơn Tây đã tạo thành một hiện tượng lịch sử kéo dài trong nhiều thế kỷ từ thời Tống đến thời Thanh, Các thương nhân Sơn Tây có phạm vi hoạt động xa và rộng kéo dài từ Trung Á đến vùng bờ biển phía đông Tung Quốc. Thời Thanh, các thương nhân Sơn Tây kiểm soát giao thương cả hai phía của Trường Thành. Đến cuối thời Thanh, một sự phát triển mới lại xuất hiện: việc tạo ra phiếu hiệu (票号), mà về bản chất cung cấp các dịch vụ như chuyển tiền, giao dịch, tiền gửi và vay mượn giống như ngân hàng. Sau khi phiếu hiệu đầu tiên được thành lập tại Bình Dao, các chủ hiệu Sơn Tây đã thống trị thị trường tài chính Trung Quốc trong hàng thế kỷ cho đến khi triều Thanh sụp đổ và các ngân hàng Anh xuất hiện. == Du lịch == Thành cổ Bình Dao là một di sản thế giới nằm ở huyện cùng tên thuộc Tấn Trung, cách thủ phủ Thái Nguyên 80 km. Nơi đây từng là một trung tâm tài chính lớn của Trung Quốc, nổi danh với việc còn bảo tồn được nhiều đặc điểm văn hóa, kiến trúc và lối sống Hán từ thời Minh-Thanh. Hang đá Vân Cương, hang đá nhân tạo nông nằm gần Đại Đồng. Có trên 50.000 hình và tượng Phật và Bồ Tát được trạm khắc bên trong các hang động, cao từ 4 cm đến 7 mét và cũng là một di sản thế giới. Ngũ Đài Sơn có điểm cao nhất của Sơn Tây. Nó được biết đến như là nơi cư trú của Văn Thù Bồ Tát, và vì thế cũng là một điểm hành hương Phật giáo lớn, với nhiều chùa và cảnh đẹp tự nhiên. Các điểm đáng chú ý bao gồm các chính điện làm bằng gỗ có niên đại từ thời Đường của chùa Nam Thiền và chùa Phật Quang, cũng như Đại Bạch tháp tại chùa Tháp Viện được xây dựng từ thời Minh. Hằng Sơn, tại Hồn Nguyên, là một trong "Ngũ Lạc" của Trung Quốc, và cũng là một địa điểm tâm linh chính của Đạo giáo. Không xa Hằng Sơn là của Huyền Không nằm trên vách đá và đã tồn tại trong suốt 1400 bất chấp các trận động đất đã từng xảy ra trong khu vực. Phật Cung tự Thích Ca tháp, nằm ở huyện Ứng, là một ngôi tháp được xây dựng vào năm 1056 dưới thời Liêu. Tháp có hình bát giác với chín tầng (từ ngoài có thể nhận thấy là có năm tầng), và cao 67 m (220 ft), là tháp gỗ cao nhất trên thế giới. Đây cũng là tháp hoàn toàn bằng gỗ cổ nhất còn tồn tại ở Trung Quốc. Thác Hồ Khẩu nằm trên dòng chính của Hoàng Hà trên ranh giới giữa Sơn Tây và Thiểm Tây. Với độ cao 50 mét, nó là tháp cao thứ hai tại Trung Quốc. Đại Trại là một thôn tại huyện Tích Dương. Thôn nằm trên địa hình đồi núi, khó khăn, song là một điểm linh thiêng trong Cách mạng Văn hóa, khi nó trở thành gương mẫu cho toàn thể dân tộc về sức mạnh của giai cấp vô sản, đặc biệt là nông dân. Nương Tử Quan nằm ở đông bắc của huyện Bình Định, thuộc ranh giới giữa Sơn Tây và Hà Bắc, là một quan ải trứ danh của Vạn Lý Trường Thành, thôn Nương Tử Quan là một thôn cổ nổi tiếng. Sơn Tây cũng từng là vùng căn cứ địa cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, các di tích nổi tiếng là tổng bộ Bát lộ quân, công xưởng binh khí Bát lộ quân động Hoàng Nhai ở Lê Thành, nhà kỉ niệm Lưu Hồ Lan ở Văn Thủy. == Giao thông == Sơn Tây có các sân bay dân dụng: sân bay Vương Thôn Trường Trị, sân bay Vân Cương Đại Đồng, sân bay Kiều Lý Lâm Phần, sân bay Lã Lương, sân bay quốc tế Vũ Túc Thái Nguyên, sân bay Ngũ Đài Sơn, sân bay Quan Công Vận Thành. Trong năm 2011, các sân bay dân dụng của Sơn Tây đã khởi hành 76.300 chuyến bay, vận chuyển được 7.260.000 lượt khách và 44.500 tấn hàng hóa. Sân bay quốc tế Vũ Túc Thái Nguyên có 85 đường bay nối đến 54 thành phố. Sơn Tây phụ thuộc nhiều vào vận tải đường sắt, loại hình vận tải này đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa công nghiệp và thực phẩm trong và liên tỉnh. Tuyến đường sắt dài nhất của Sơn Tây là đường sắt Đồng-Bồ, chạy từ Đại Đồng ở cực bắc xuống đến Phong Lăng Độ ở tây nam (giao giới giữa Sơn Tây-Thiểm Tây-Hà Nam). Có nhiều tuyến đường sắt khác chạy ngang qua Sơn Tây, quan trọng nhất là tuyến đường sắt Kinh-Bao, ngoài ra còn có nhiều tuyến nhánh được xây dựng trong thời gian gần đây để kết nối các tuyến đường sắt chính với các điểm công nghiệp và khai mỏ. Năm 2011, tổng lý trình đường sắt hoạt động của Sơn Tây là 3773,7 km. Sơn Tây đã mở rộng các tuyến đường cao tốc, đường dài và đường mọi thời tiết, đặc biệt là tại hay gần các đô thị lớn và các khu khai mỏ, nhiều tuyến đường đóng vai trò là tuyến trung chuyển đến mạng lưới đường sắt. Năm 2011, tổng lý trình công lộ thông xe của Sơn Tây là 135.000 km, trong đó có 4.005 km công lộ cao tốc. Từ Thái Nguyên đến các địa cấp thị khác chỉ mất có ba giờ nếu đi theo đường cao tốc, 82% số huyện/thị/khu có đường cao tốc chạy qua. Năm 2011, hệ thống công lộ của Sơn Tây đã thực hiện vận chuyển 652 triệu tấn hàng hóa và 329 triệu lượt người. Các thuyền đáy bằng nhỏ có thể thông hành trên Phần Hà, xa đến Lâm Phần về phía bắc. Tuy nhiên, việc vận chuyển hàng hóa trên Phần Hà, cũng như đoạn chảy theo hướng bắc-nam của Hoàng Hà, là không đáng kể. == Các trường đại học và cao đẳng == Các trường đại học và cao đẳng lớn ở Sơn Tây: Đại học Sơn Tây (山西大学) Đại học Trung Bắc (中北大学) Đại học Công nghệ Thái Nguyên (太原理工大学) Đại học Kinh tế Tài chính Sơn Tây (山西财经大学) Đại học Y khoa Sơn Tây (山西医科大学) Đại học Khoa học Công nghệ Thái Nguyên (太原科技大学) Đại học Công nghiệp Thái Nguyên (太原工业学院) Đại học Sư phạm Thái Nguyên (太原师范学院) Học viên Trung y Sơn Tây (山西中医学院) Đại học Sư phạm Sơn Tây (山西师范大学) Đại học Nông nghiệp Sơn Tây (山西农业大学) Học viện Y Trường Trị (长治医学院) Học viện Trường Trị (长治学院) Học viện Vận Thành (运城学院) Đại học Đại Đồng Sơn Tây (山西大同大学) Học viện Tấn Trung (晋中学院) Học viện Khoa học Công nghệ Hoa Bắc (华北工学院) Học viện Sư phạm Hãn Châu (忻州师范学院) Tất cả các trường trên trực thuộc quản lý của chính quyền tỉnh Sơn Tây == Chú thích == == Tham khảo ==
kè (thủy lợi).txt
Kè là dạng công trình bảo vệ bờ sông, bờ biển khỏi tác động xói lở gây ra bởi dòng chảy và sóng. Thông thường kè được thiết kế ở trên mái đê. == Các thông số == Các thông số cơ bản của thiết kế kè gồm có: Cao trình đỉnh kè và chân kè: chính là giới hạn phạm vi bảo vệ của kè đối với bờ. Độ dốc mái: biểu thị theo tỉ lệ, chẳng hạn 1:3. Mái càng thoải (ít dốc) thì kè càng có tác dụng bảo vệ, nhưng giá thành sẽ đắt hơn (vì diện tích mặt kè lớn). Cấu tạo và kích thước lớp phủ: Lớp phủ mái kè phải được thiết kế đủ năng lực chống lại tác động của dòng chảy, sóng, v.v... Thông thường lớp phủ gồm những cấu kiện rời ghép với nhau. Giữa chúng có khe hở để cho nước bên trong thoát ra ngoài, tránh tác động của áp suất nước trong đất. Cấu tạo và kích thước lớp đệm: Lớp đệm nằm ngay dưới các cấu kiện của lớp phủ, có tác dụng ngăn không cho các hạt cát bị dòng thấm đẩy trào ra ngoài qua lớp phủ (ngăn hiện tượng xói ngầm). Lớp đệm đóng vai trò như một tầng lọc ngược với kích thước hạt cỡ hạt dăm, sạn, hoặc có thể dùng vải địa kĩ thuật. == Xem thêm == Đê Xói lở == Tài liệu == K.W. Pilarczyk, Dikes and Revetment, Design, Maintenance and Safety Assessment. Taylor-Francis, 1998. == Tham khảo ==
đội tuyển bóng đá quốc gia hoa kỳ.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Hoa Kỳ, còn có biệt danh là "The Yanks", là đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Hoa Kỳ và đại diện cho Hoa Kỳ trên bình diện quốc tế. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của Hoa Kỳ là trận gặp Thụy Điển vào năm 1916. Đội là một trong những đội bóng hàng đầu của khu vực CONCACAF, với 5 chức vô địch khu vực, lần đầu là vào năm 1991 cùng với tấm huy chương vàng của Đại hội Thể thao Liên châu Mỹ 1991. Còn ở cấp độ thế giới, thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là vị trí thứ 3 World Cup 1930 và ngôi vị á quân Cúp Liên đoàn các châu lục 2009. == Danh hiệu == Vô địch thế giới: 0 Hạng ba: 1930 Cúp Liên đoàn các châu lục: 0 Á quân: 2009 Hạng ba: 1992; 1999 Vô địch CONCACAF: 5 Vô địch: 1991; 2002; 2005; 2007; 2013 Á quân: 1989; 1993; 1998; 2009; 2011 Hạng ba: 1996; 2003 Hạng tư: 2015 Vô địch Nam Mỹ: 0 Hạng tư: 1995; 2016 Bóng đá nam tại Olympic: 1904 1904 Hạng tư: 2000 Bóng đá nam tại Americas Games: 1991 1959; 1999 == Thành tích quốc tế == === Giải vô địch bóng đá thế giới === === Cúp Liên đoàn các châu lục === === Cúp Vàng CONCACAF === === Cúp bóng đá Nam Mỹ === 1993 - Vòng 1 1995 - Hạng tư 2007 - Vòng 1 2016 - Hạng tư == Kết quả thi đấu == === 2017 === == Kỷ lục == Số liệu thống kê chính xác tới 28 tháng 3 năm 2017. Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu ở đội tuyển quốc gia. == Đội hình hiện tại == 23 cầu thủ dưới đây được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp Honduras và Panama vào các ngày 24 và 28 tháng 3 năm 2017.Số liệu thống kê đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Panama. === Triệu tập gần đây === Chú thích: = Cầu thủ rút lui vì chấn thương PRE = Đội hình sơ bộ RET = Đã chia tay đội tuyển quốc gia == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Hoa Kỳ trên trang chủ của FIFA
fukuoka (thành phố).txt
Thành phố Fukuoka (tiếng Nhật: 福岡市 Fukuoka-shi; Hán-Việt: Phúc Cương Thị) là trung tâm hành chính của tỉnh Fukuoka, ở Kyushu, phía nam Nhật Bản. Fukuoka cùng với Kitakyushu (cũng thuộc tỉnh Fukuoka) còn là đô thị quốc gia của Nhật Bản ở Kyushu. Fukuoka nằm ở tọa độ 33°35' Bắc 130°24′ Đông. Để đi đến Fukuoka, có nhiều phương tiện như sân bay Fukuoka, đường sắt tốc độ cao tại nhà ga Hakata và bằng phà. Công ty Đường sắt Nhật Bản (JR) chi nhánh Kyushu còn điều hành loại tàu thủy có thiết bị nâng thân trên tuyến đường nối từ ga Hakata đến Busan (Hàn Quốc). Ngoài ra còn có đường tàu điện ngầm Nanakuma, mới được khánh thành tháng 2 năm 2005. Fukuoka là nơi sản sinh ra nhiều nghệ sĩ âm nhạc tài năng hơn bất kì thành phố nào khác của Nhật Bản. Những tên tuổi lớn là Ayumi Hamasaki, "nữ hoàng" của J-POP, Chage & Aska, Shiina Ringo, Spitz, MISIA, YUI... Từ thập niên 1970, giới nghệ sĩ ở đây rất tự hào vì họ là nguồn gốc của loại nhạc Rock địa phương, "Mentai Rock". Những năm gần đây, những buổi biểu diễn âm nhạc ngày càng được trẻ hóa do sự tình nguyện biểu diễn chung của những nhạc công địa phương cùng các nghệ sĩ nước ngoài đến đây. Những ban nhạc kết hợp kiểu này có thể kể Fever, Cut Flowers, Dr. Funkinstein, F8 & The Routes... == Lịch sử == === Thời cổ đại và trung đại === Theo những khai quật khảo cổ trong thành phố thì từ thời kì đồ đá cũ con người đã sinh sống ở vùng đất này. Vì nằm khá gần Bán đảo Triều Tiên nên có nhiều giao lưu với Triều Tiên và Trung Hoa. === Sự xâm lược của quân Mông Cổ === Cảng biển ở Vịnh Hakata là cửa ngõ giao thương quan trọng giữa Nhật Bản với Triều Tiên và Trung Quốc. Sau khi chinh phục Cao Ly, Đại Hãn Hốt Tất Liệt đã chuyển sự chú ý qua Nhật Bản. Hốt Tất Liệt đã nhiều lần cho sứ giả sang yêu cầu Triều đình Kamakura qui phục nhà Nguyên nhưng đã bị từ chối. Sau nhiều lần không có kết quả, năm 1274, Hốt Tất Liệt đưa quân xâm lược đảo Tsushima và tiến vào vịnh Hakata với một hạm đội gồm 900 tàu chiến, 30.000 lính chiến, bao gồm cả lính Hán, Cao ly. Do thiếu vũ khí và sự chống trả của những võ sĩ Gokenin nên quân Nguyên đã rút lui. Sau cuộc xâm lược năm 1274, những võ sĩ Nhật Bản đã xây dựng một hàng rào đá dài 20 km, cao khoảng 2–3 m ở biên giới bờ biển vịnh Hakata, bây giờ là thành phố Fukuoka. Năm 1281, Hốt Tất Liệt tấn công lần thứ hai vào quận Fukuoka, tăng cường quân lực lên 140.000 quân lính, 4.000 tàu chiến. Nhưng gặp một cơn bão mạnh và cuộc xâm lược lại thất bại. Cơn bão đó sau này được gọi là Kamikaze (Thần Phong- gió thần). Trận đánh năm 1274 gọi là Bunei no eki và năm 1281 gọi là Koan no eki được xem là hai trận đánh chống ngoại xâm nổi tiếng trong lịch sử Nhật Bản === Fukuoka thế kỷ 20 === 1903: Cao đẳng Y tế Fukuoka, một trường cao đẳng trực thuộc Đại học Hoàng gia Kyoto, được thành lập 1910: Hệ thống xe điện đi vào hoạt động 1929: Xuất hiện những chuyến bay thương mại trên trục Fukuoka-Osaka-Tokyo 1945: Hoa kỳ không kích tập trung vào các thành phố ở Nhật trên đảo Honshu, nhưng Fukuoka cũng là một mục tiêu. 1951: Sân bay Fukuoka thành lập 1953: Sở thú Fukuoka 1981: Tàu điện ngầm đi vào hoạt động 1988: Đội bóng chày chuyên nghiệp Osaka-Chim ưng Nankai, chuyển tới Fukuoka và đổi tên thành "Những chú chim ưng" Fukuoka Daiei 1995: ACROS (Asian Crossroads Over the Sea - Giao lộ châu Á trên biển), một trung tâm đa năng, đã được thành lập để nối chặt quan hệ giữa Nhật với các quốc gia châu Á khác. Ở đây có khu buôn bán Tenjin, và một công viên lớn, những khu vườn bậc thang, một thư viện và nhiều tiện nghi khác để khuyến khích mối quan hệ hòa bình với những quốc gia cùng châu lục == Địa lý == Ba phía Fukuoka là ba mặt núi, và mặt phía bắc là biển Genkai. Cách Tokyo 1.100 km, các Seoul 540 km, cách Thượng Hải 870 km, Fukuoka khá gần gũi với Hàn Quốc và Trung Quốc, có sự giao thoa vè văn hóa và kinh tế lâu đời. === Động đất === Fukuoka là nơi từng chịu nhiều động đất. Một trận động đất gần đây vào lúc 10:53 sáng ngày 20 tháng 3 năm 2005 đã làm 1 người thiệt mạng và làm 400 người khác bị thương. Nguồn phát sinh ở biển Genkai. == Dân cư == Tháng 3 năm 2005, dân số thành phố là 1.391.146 người, mật độ dân số 4.084,40 người/km² (tổng diện tích 340,60 km²). Fukuoka là thành phố trẻ thứ hai ở Nhật, có tốc độ tăng dân số là 4,4% cũng làm Fukuoka là thành phố có tốc độ tăng dân số nhanh thứ hai ở Nhật (số liệu năm 2000). Thành phố Fukuoka được chia làm 7 khu: Higashi-ku Hakata-ku Chuo-ku Minami-ku Jonan-ku Sawara-ku Nishi-ku == Lễ hội == === Yamakasa === Yamakasa (山笠), kéo dài 2 tuần tháng 7 hàng năm, là lễ hội lâu đời nhất ở Fukuoka, đã có 700 năm lịch sử. Từng đoàn nam (không có phụ nữ, riêng bé gái thì có thể chấp nhận), đến từ nhiều quận khác nhau, cùng học mang trên vai những cái phao nặng vài ngàn pound. Tất cả những người tham gia đều mặc khố (ở đây gọi là shimekomi, còn ở những nơi khác của Nhật gọi là fundoshi). === Hakata Dontaku === Hakata Dontaku (博多どんたく), tổ chức vào ngày 3 và 4 tháng 5 ở thành phố Fukuoka. Đây là lễ hội trình diễn truyền thống, với những đoàn diễu hành rất lớn. Tên đầy đủ của lễ hội là Hakata Dontaku Minato Matsuri (博多どんたく港まつり). Lễ hội này đã bị gián đoạn 7 năm vào thời Minh trị, và vào năm thứ 12 Minh Trị, nó lại được tổ chức lại với cái tên Hakata Dontaku. == Thể thao == Là cứ điểm của đội bóng chày Fukuoka SoftBank Hawks. Fukuoka đã không thành công trong vòng tranh quyền tổ chức Thế vận hội mùa hè năm 2016. Một vài sự kiện thể thao hàng năm: Vô địch Judo toàn Nhật Bản. Giải Marathon Fukuoka mở rộng. == Giáo dục == Fukuoka là trung tâm giáo dục của vùng Kyushu với nhiều trường đại học lớn. Các trường đại học: Đại học Kyushu Viện Mỹ thuật Kyushu Đại học Fukuoka Đại học Seinan Gakuin Đại học Towa == Tham khảo ==
honshu.txt
36°B 138°Đ Honshu (tiếng Nhật: 本州, Hán Việt: Bản Châu, "châu gốc"; ) là đảo lớn nhất của Nhật Bản. == Địa lý == Honshu là hải đảo dài, nằm chếch đông bắc và tây nam, ngoài khơi bán đảo Cao Ly của châu Á; tây giáp biển Nhật Bản, đông là Thái Bình Dương. Đảo có chiều dài khoảng 1.300 km, rộng từ 50 đến 230 km. Diện tích toàn đảo là 228.000 cây số vuông, chiếm 60% diện tích cả nước Nhật. Honshu là đảo lớn nhất Nhật Bản và là hải đảo lớn thứ 7 trên thế giới. Đường bờ biển bao quanh đảo có chiều dài khoảng 5.450 km. Đối diện với Honshu ở eo biển Tsugaru về phía Bắc là đảo Hokkaido, nối nhau bằng đường hầm Seikan. Đối diện với Honshu ở eo biển Kanmon thuộc biển Seito Naikai phía Tây Nam là đảo Kyushu. Cây cầu Kanmon và bằng đường hầm Kanmon (dành riêng cho xe lửa) và đường hầm Shin-Kanmon (dành riêng cho tàu cao tốc Shinkansen) là ba tuyến đường nối Honshu và Kyushu. Đối diện với Honshu ở eo biển Akashi cũng ở phía Tây Nam là đảo Shikoku. Hai đảo được nối với nhau bằng các hệ thống cầu Akasshi-Kaikyo, Seto-Ohashi, và Nishiseto. Cả bốn đảo chính của Nhật Bản: Honshu, Hokaido, Kyushu và Shikoku cũng được nối kết bằng hệ thống phà biển. Vị trí trung tâm của đảo, cả về mặt địa lý cũng như kinh tế là Đại đô thị Tokyo. Nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương, Honshu có địa hình nhiều đồi núi. Ngoài ra cũng có một số núi lửa vẫn âm ỉ. Động đất xảy ra thường xuyên trên Honshu. Thiên tai đáng ghi nhớ nhất là trận động đất tháng 09 năm 1923 đã tàn phá gần như toàn phần thành phố Tokyo. Địa hình nổi tiếng nhất Honshu là núi Phú Sĩ, cũng là ngọn núi cao nhất Nhật Bản, đo được 3.776 mét. Đây là một ngọ núi lửa vẫn hoạt động tuy im tiếng đã mấy trăm năm. Vì nhiều núi nên Honshu có nhiều sông suối. Sông ngòi nói chung chảy xiết. Lớn nhất là sông Shinano. Khí hậu trên đảo đa dạng từ khu vực ôn đới mát mẻ phía bắc cho đến vùng cận nhiệt đới phía nam. Suốt chiều dài đảo Honshu là mạch núi cao. Cùng với ngọn Phú Sĩ là vùng Alps Nhật Bản hiểm trở. ĐỊa hình núi cao còn tạo cho đảo Honshu vùng khí hậu riêng biệt như khí hậu đại dương ở phía đông, khí hậu biển lục địa ở phía tây nam, và khí hậu biển Nhật Bản ở phí bắc. == Dân số == Honshu là đảo có dân số lớn thứ hai trên thế giới, sau đảo Java của Indonesia. Năm 1975, dân số toàn đảo là 89 triệu người; đến năm 1990 là hơn 98 triệu; hiện nay là 118,3 triệu, chiểm 80% tổng dân số cả Nhật Bản. Dân cư sống tập trung ở những phần đất thấp, đáng chú ý nhất là bình nguyên Kanto, nơi có 25% dân số sống tại Tokyo, Yokohama và các cùng lân cận. Các thành phố lớn khác gồm Kyoto, Osaka, Kobe, Hiroshima, Sendai và Nagoya. == Hành chính == Trên đảo có tất cả 34 tỉnh. Honshu được chia thành 5 vùng địa lý, đó là: Tohoku: gồm các tỉnh Akita, Aomori, Fukushima, Iwate, Miyagi, Yamagata Kanto: gồm các tỉnh Chiba, Gunma, Ibaraki, Kanagawa, Saitama, Tochigi, Tokyo Chubu: gồm các tỉnh Aichi, Fukui, Gifu, Ishikawa, Nagano, Niigata, Shizuoka, Toyama, Yamanashi Kinki: gồm các tỉnh Hyogo, Kyoto, Mie, Nara, Osaka, Shiga, Wakayama Chugoku: gồm các tỉnh Hiroshima, Okayama, Shimane, Tottori, Yamaguchi === Các trung tâm văn hoá trên đảo Honshu === Ba phần tư số thành phố lớn của Nhật Bản nằm trên đảo Honshu, trong đó phải kể đến các khu đặc biệt của Tokyo (nhiều khi được coi là một thành phố), Yokohama, Osaka, Kyoto, Sakai, Kobe, Nagoya, Sendai, Hiroshima. Các trung tâm văn hóa quan trọng của Nhật Bản gồm Nara, Kyoto, Osaka, Tokyo, Kamakura cũng nằm trên đảo Honshu. == Kinh tế == Ở Honshu có các vùng công nghiệp quan trọng nhất của Nhật Bản, đó là Keihin, Bắc Kanto, Chukyo, Hanshin,... Ngoài ra còn phải kể đến vùng công nghiệp Seto Naikai với một phần ở Honshu, một phần ở Shikoku. == Hình ảnh == == Chú thích == == Xem thêm == Đảo Hokkaido Đảo Shikoku Đảo Kyushu
gốm.txt
Gốm là một loại vật dụng, trong xây dựng công trình, dinh thự và ngay cả máng nước, vật gia dụng... đã hơn 25.000 năm, từ sau khi con người phát minh ra lửa và rời hang núi hốc đá, cất nhà ở để định cư. Người ta đề cập đến 2 cách thức làm gốm là gốm cổ điển và gốm không nung. === Gốm cổ điển === Nguyên tắc chính của gốm cổ điển vẫn bao gồm 05 công đoạn: Chọn đất nguyên liệu: Đất sét hay đất sình nhiều mùn được xem như nguyên liệu chủ yếu để làm gạch. Đất thường được thu, lọc trong nước dư để loại rác rến, sạn đá... và hong cho ráo bớt nước đến thuỷ phần 55 - 65 ppm để dễ tạo hình. Tạo hình: Đất được cho qua khuôn đúc, quay phôi (không liên tục) hay nén qua khuôn để tạo hình theo mẫu cho trước. Hong khô: Phôi gốm còn ướt, được đặt nơi bóng râm và hong cho ráo đến khi còn thuỷ phần 30 - 35 ppm. Sau đó xếp vào lò nung. Nung: Nhiệt năng từ việc đốt củi, than, than đá hay gaz nâng nhiệt độ lò từ nhiệt độ thường lên 1100o đến 1600o C trong 20 đến 30 giờ. Sau đó cho nhiệt độ giảm dần trở về nhiệt độ thường trong thời gian tương tự. Loại bỏ phế phẩm: Loại bỏ các sản phẩm bị cong vênh, bể vỡ do non lửa hay quá già lửa v.v... và thu sản phẩm. Tỷ lệ phế phẩm rất cao chính là đặc trưng của công nghệ sản xuất gốm cổ điển. == Gốm không nung == ==== Nguyên lý hoá thạch ==== Hoá thạch là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học dù đã có chuyên ngành riêng là ngành thạch học (petrography). Một hỗn hợp có khả năng hoá thạch khi: Hoá thạch thụ động (passive petrifaction): Năng lượng nội hàm đủ lớn, có khả năng biến tính tự động để tạo thế cân bằng nhiệt hoá mới với mức năng lượng và hoạt tính hoá học thấp hơn nhiều. Hoá thạch chủ động (active petrifaction): Năng lượng nội hàm ở mức thấp, cần một số tác động ở mức thấp của áp suất, nhiệt độ, xúc tác... trong thời gian dài đủ hoàn tất quá trình hoá thạch. Hoá thạch hỗn hợp (joint petrifaction): Năng lượng nội hàm ở mức độ cận bão hoà, chỉ cần một số tác động ở mức thấp của áp suất, nhiệt độ, xúc tác... trong thời gian ngắn để kích thích quá trình hoá thạch diễn ra. Tiếp theo là quá trình tự động hoá thạch. === Độ bền === Kết quả hóa thạch làm cho gốm có độ bền cao. Điều này xuất phát từ mức năng lượng nhiệt hoá rất thấp, khó có tác nhân tự nhiên nào tác động được trong thời gian rất dài. Các di tích của tác động cơ, lý, hoá... được bảo tồn trên hoá thạch trong suốt quá trình tồn tại của nó, làm cho hoá thạch ổn định màu sắc và hình dạng lâu dài. Năng lượng nhiệt hoá càng chuyển xuống mức thấp hơn khi hoá thạch càng tồn tại lâu, nên nó lại càng bền vững, độ ổn định càng cao ở mọi khía cạnh. Như trên đã phân tích, chúng ta có nhiều phương án sản xuất gốm không nung. Ở đây chúng ta đi vào một phương án rẻ tiền, giản đơn nhất: phương án tự hoá thạch. === Chất liệu đông kết === Gốm không nung là phương tiện lý tưởng để tạo hình ở mọi quy mô, kể cả mỹ thuật công nghiệp với các chất đông kết cụ thể: Keo Lignin Một hỗn hợp đất- đá bazan, bazan- cát pha, đất cát pha... dùng keo lignin với các chất độn rơm rạ, bã mía hay cành lá cây xay nhỏ... làm gốm dân dụng. Keo Nanoic-silicon Keo làm bằng silic thuần tuý có hạt cỡ Nano là sản phẩm công nghệ cao và là một loại polyme vô cơ cao cấp. Nó khác về bản chất với thuỷ tinh lỏng. Với xúc tác là Cloro- silicium, vữa làm từ nanoic- silicon đóng rắn trong vòng 3 giờ và hoàn tất quá trình hoá thạch sau 11 giờ. Sản phẩm cuối cùng cứng rắn như đá hoa cương, chịu đựng xung tác cơ học tốt, sánh ngang với xi măng Portland mark 300 trở lên. Keo Magne Đây là polyme vô cơ tốt nhất, kinh tế nhất, đa dụng nhất, trong mọi phương án gạch không nung. Sản phẩm từ keo magne còn dùng trong rất nhiều ngành công nghiệp khác. == Một số tiêu chí == Về kỹ thuật Gốm không nung nhẹ, bóng, chịu nước, chịu độ ẩm cao, cách âm và cách nhiệt tốt, có thể sản xuất với mọi kích thước, mọi hình dạng. Có thể sản xuất gốm không nung dạng ngói sản phẩm, theo dạng phiến để lót sàn hoặc lợp thay tôn, ngói trong điều kiện thời tiết nhiệt đới gió mùa và nhiệt độ cao như ở Việt Nam. Khi bỏ gốm xây dựng vào nước, ta sẽ thấy những bọt bong bóng nhỏ nổi lên. Về công nghệ Sản xuất gốm không nung rất dễ dàng và năng suất cao ở mọi trình độ công nghiệp từ thủ công đến dây chuyền công nghệ cấp cao. Quy trình sản xuất gốm không nung không gây ô nhiễm, không có chất thải độc hại, không có thứ phế liệu, không có trở ngại hậu dụng như gốm nung cổ điển. Về lợi ích kinh tế Giá thành gốm không nung là rất thấp. Gốm không nung có tỷ trọng thấp nên có thể sản xuất gốm không nung tập trung, công suất và sản lượng lớn, chi phí vận chuyển thấp. Về môi trường Môi trường được bảo vệ tốt hơn công nghệ gốm cổ điển vì gốm không nung rất phù hợp với quan điểm ưu sinh học, tính hấp thu và thải nhiệt rất linh hoạt. Gốm không nung bảo vệ môi trường do không thải hoá chất độc môi trường trong sản xuất hay sử dụng. Về năng lực sản xuất Gốm không nung có tiềm năng sản xuất rất lớn với nguồn nguyên liệu gần như vô tận. Công cụ hỗ trợ sản xuất quyết định năng lực sản xuất gốm không nung. == Xem thêm == Men gốm Sứ Gốm Bát Tràng Gốm Thổ Hà Đồ gốm Đồ sành Đồ bán sứ Đồ sứ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Ceramics tại Wikimedia Commons
thể thức hai lượt.txt
Trong thể thao (đặc biệt là bóng đá), thể thức hai lượt, thể thức sân nhà sân khách hay thể thức lượt đi lượt về để chỉ việc tổ chức thi đấu giữa hai đội trong hai trận hay lượt trận đấu, trong đó mỗi đội đóng vai trò đội chủ nhà ở mỗi lượt. Đội thắng thường được phân định bằng tổng tỉ số tức tổng số bàn thắng hay số điểm của mỗi đội trong hai lượt trận. Ví dụ, nếu tỉ số trong hai lượt trận là: Lượt đi: Đội A 4–1 Đội B Lượt về: Đội B 2–1 Đội A Thì tổng tỉ số sẽ là Đội A 5–3 Đội B, do đó Đội A là đội thắng. Ở một vài cuộc thi đấu thể thao khác, một cặp đấu được coi là hòa nếu mỗi đội thắng một lượt trận, bất chấp tổng tỉ số là bao nhiêu. Thể thức hai lượt được sử dụng trong các giải đấu loại trực tiếp và các trận playoff. == Sử dụng == Trong bóng đá, thể thức hai lượt được sử dụng trong các giai đoạn hai của các giải bóng đá quốc tế cấp câu lạc bộ như UEFA Champions League và Copa Libertadores; ở nhiều giải đấu cúp, trong đó có Coppa Italia và Cúp Nhà vua Tây Ban Nha; hay trong các trận play-off giải quốc nội như play-off English Football League và MLS Cup Playoffs; và trong các trận đấu play-off vòng loại ví dụ như vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới. Trong khúc côn cầu trên băng, National Hockey League sử dụng series hai trận, tính tổ số bàn thắng cho các trận playoff trong thời kỳ đầu. Trong rugby union, các trận đấu hai lượt được sử dụng ở giai đoạn vòng loại Rugby World Cup. Các trận bán kết của giải vô địch Ý cũng sử dụng thể thức hai lượt, cũng như các trận bán kết và chung kết của giải hạng hai Anh RFU Championship. == Cách giải quyết tỉ số hòa == Nếu tổng tỉ số hai đội bằng nhau sau hai lượt trận, có nhiều cách để xác định đội thắng. Theo luật bàn thắng sân khách, đội ghi nhiều bàn thắng hơn trên sân khách sẽ đi tiếp. Nếu số bàn thắng sân khách hai đội bằng nhau, hoặc không được tính tới, thì trận đấu được giải quyết bằng hiệp phụ và/hoặc loạt luân lưu. Các trận đấu lại, tổ chức tại sân của đội chủ nhà lượt về hoặc sân trung lập, từng được sử dụng tại một số giải đấu cấp câu lạc bộ châu Âu. Trong các trận liguilla (playoff) của Primera División de México, đội có thành tích tốt hơn trong mùa giải đi tiếp. Trong các trận playoff lên hạng ở Serie B của Ý, các cặp đấu hai lượt có tổng tỉ số bằng nhau thì hai đội sẽ bước vào hiệp phụ (bàn thắng sân khách không được tính); nếu tỉ số vẫn cân bằng, đội có thứ hạng cao hơn trên bảng xếp hạng là đội chiến thắng. == Tham khảo ==
cung thể thao quần ngựa.txt
Cung thể thao Quần Ngựa là 1 cung thể thao tại quận Ba Đình, Hà Nội. Cung nằm cuối đường Văn Cao, sát ngã ba Văn Cao-Hoàng Hoa Thám. Cung Thể thao Quần Ngựa được xây dựng trên phần đất của sân vận động Quần Ngựa cũ. Chủ trì thiết kế: PGS. TS. KTS Chế Đình Hoàng. Cung thể thao này là nơi đã diễn ra các sự kiện lớn của Thể thao Việt Nam như Sea Games 22, lễ bế mạc Asean Para Games, Asian Indoor Games III. Hiện nay cung thể thao này là một nơi quan trọng nhằm phục vụ cho nhu cầu tập luyện và thi đấu các bộ môn thể thao. nơi đây không chỉ phục vụ cho nhu cầu thể thao mà còn phục vụ cho rất nhiều mục đích khác như: hội trường, họp, tổ chức biểu diễn,... Cung có các khu vực chính sau: Hội trường Phòng tập luyện Nhà thi đấu === Không gian === - 4 khu khán đài với sức chứa 5000 chỗ. Bước của khung khán đài là 7m và 7.5m. Riêng với khung khán đài trục 7- 8 có bước khung là 9m - Khu sàn thi đấu tách rời với bước cột là 7m và 7.5m - Diện tích lòng sân thi đấu: 24 x 48m == Tham khảo ==
áp lục.txt
Sông Áp Lục (giản thể: 鸭绿江; phồn thể: 鴨綠江; bính âm: Yālǜ Jiāng; Hán-Việt: Áp Lục Giang; tiếng Triều Tiên: 압록강/鴨綠江 Aprokkang) là sông hình thành biên giới tự nhiên giữa hai quốc gia Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Tên của con sông bắt nguồn từ tiếng Mãn (, Yalu ula) có nghĩa là "sông biên giới". Tên con sông theo tiếng Triều Tiên đọc theo âm Hán-Triều của chữ Hán. Bắt nguồn từ độ cao 2.500 m của ngọn Bạch Đầu trên dãy Trường Bạch, sông Áp Lục chảy 130 km về phía Nam qua thành phố Hyesan trước khi đổi hướng tây bắc tới Lâm Giang. Tại đây, con sông chảy theo hướng nam dài 300 km rồi đổ vào Vịnh Triều Tiên. Hai thành phố hai bên cửa sông là Dandong (Đan Đông), Trung Quốc và Sinuiju (Tân Nghĩa Châu) của Bắc Triều Tiên. Hai tỉnh biên giới Trung Quốc giáp sông Áp Lục gồm Cát Lâm và Liêu Ninh. Bờ phía nam sông là các tỉnh Ryanggang, Chagang và Pyongan Bắc của Bắc Triều Tiên. Sông Áp Lục có chiều dài tổng số 790 km, lưu vực rộng 30.000 km². Các sông góp nước chính là sông Changjin, Heoch và Tokro. Mặc dù nơi rộng nhất đến 5 km, việc đi lại trên sông không thuận tiện vì chỗ sâu nhất không quá 3 m và phần lớn chiều dài bị đọng bùn. == Sông Áp Lục và lịch sử địa phương == Lưu vực sông Áp Lục là nơi phát tích của vương quốc Cao Câu Ly. Nhiều pháo đài dọc theo con sông và kinh đô của vương quốc nằm tại địa điểm ngày nay là Tập An, Trung Quốc. Địa danh này có các di vật từ thời vương quốc Cao Cấu Ly khá phong phú. Bởi vị trí chiến lược giữa Trung Quốc và Triều Tiên, con sông là nơi diễn ra một số trận đánh: Trận sông Áp Lục (1894) trong Chiến tranh Trung-Nhật (1894-1895) Trận sông Áp Lục (1904) trong Chiến tranh Nga-Nhật Trong thời gian Nhật Bản chiếm Triều Tiên từ 1910 đến 1945, phần đất phía Triều Tiên được đầu tư công nghiệp hóa rất tập trung. Cho tới năm 1945 gần 20% sản lượng công nghiệp của Đế quốc Nhật Bản là từ Triều Tiên. Trong Chiến tranh Triều Tiên, các lực lượng quân sự của Liên hiệp quốc đã tiến tới bờ sông Áp Lục. Tuy không tiến qua sông nhưng đã ném bom phần đất phía Trung Quốc, khiêu khích quốc gia này tham chiến. Trong cuộc xung đột này, mọi cây cầu qua sông đều bị phá hủy. Cây cầu duy nhất không bị tàn phá là Cầu Hữu nghị Trung – Triều nối liền hai thành phố Tân Nghĩa Châu và Đan Đông. Thung lũng cuối sông còn được gọi là "Thung lũng MIG" bởi nơi đây đã diễn ra những trận không chiến giành quyền làm chủ bầu trời trong Chiến tranh Triều Tiên. Những chiếc tiêm kích MiG-15 của cả Liên Xô, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đã chiến đấu bên nhau trong những trận không chiến với quân đội liên minh đứng đầu là Hoa Kỳ. Đầu thập niên 1990, những người vượt biên từ Bắc Triều Tiên thường vượt qua sông để sang bờ phía Trung Quốc. Sông Áp Lục cung cấp năng lượng thủy điện có hiệu quả. Đập Thủy Phong trên sông có chiều cao đến 100 m và dài 850 m, là một trong những đập thủy điện lớn nhất ở Châu Á. Đối tượng vận chuyển chủ yếu trên sông là gỗ súc lấy từ các cánh rừng hai bờ. Con sông cũng cung cấp nguồn cá cho dân cư địa phương. Năm 2010 sông Áp Lục vỡ bờ vì nước lũ gây thiệt hại ở hai bên bờ cả Đan Đông (Trung Quốc) và Sinuiju (Triều Tiên) bị ngập khiến hàng chục nghìn người phải di tản. == Chú thích ==