text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Nhân vật Liên được tác giả đặt ở vị trí trung tâm của truyện. Tính cách tâm hồn cô bé được tái hiện qua ánh mắt quan sát và những suy nghĩ cảm xúc khi đối diện với cuộc sống nơi phố huyện nghèo. Bằng tài nghệ khám phá thế giới nội tâm phong phú tinh tế, Thạch Lam đã tái hiện một cách chân thực sống động những vẻ đẹp tiềm ẩn trong nhân vật Liên…
1. Liên có tâm hồn nhạy cảm tinh tế nhân hậu của một đứa trẻ biết yêu thương.
a. Yêu thiên nhiên: Trái tim cô bé nhạy cảm tinh tế trước cái đẹp của thiên nhiên
– Tâm hồn trẻ thơ trong sáng ấy đã rộng mở để đón nhận những biến động tinh tế mơ hồ của cảnh vật. Liên càng biết được sự đổi thay của đất trời lúc ngày tàn:
+ Em lắng nghe từng tiếng động, báo hiệu một ngày sắp hết: từ tiếng trống thu không; tiếng ếch nhái kên ran ngoài đồng ruộng; đến cả tiếng muỗi vo ve. Như thể em đang đón nhận cả cái không khí im vắng tĩnh lặng của buổi chiều quê.
+ Cái nhìn của Liên bao quát cả khung trời phía tây đang rực rỡ trong ánh hoàng hôn. Bầu trời hồng rự rỡ như lửa cháy với những đám mây "ánh lên như hòn than sắp tàn". Trên nền trời nổi bật đường viền sẫm màu của những rặng tre…Khoảnh khắc ngày tàn khơi lên trong cô bé một nỗi buồn man mác mơ hồ.
– Không chỉ yêu cảnh vật, Liên còn rất gắn bó với miền đất này. Khi quan sát cảnh phiên chợ đã tàn em cảm nhận được cái tiêu điều của vùng đất nghèo khó qua những thứ rác rưởi bot lại trên nền chợ " vỏ bưởi vỏ thị, lá nhãn, lá mía". Liên yêu mảnh đất này đến mức thuộc lấy cả mùi cát bụi " một mùi âm ẩm của cát bụi bốc lên khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của vùng đất này".
– Đặc biệt Liên tìm thấy ở đây những vẻ đẹp bình dị mà giàu chất thơ. Qua cách cảm nhận của em một đêm mùa hạ bỗng trở nên trong trẻo êm ả lạ thường " trời bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát". Có cả vẻ đẹp của bầu trời đêm thăm thẳm với hàng ngàn ngôi sao đang ganh nhau lóe sáng….
==> Cách cảm nhận về thiên nhiên chứng tỏ tâm hồn cô bé Liên luôn rộng mở gắn bó và yêu thương với thế giới xung quanh.
b. Không chỉ yêu thiên nhiên trái tim cô bé còn biết yêu thương, cảm thông xót xa cho những nỗi khổ của con người.
– Liên thương trong cuôc sông nghèo khổ cơ cực của những người dân nghèo.
+ Em xót xa khi thấy những đứa trẻ nhà nghèo phải tìm bới nhặt nhạnh trong đống rác mặc dù biết mình không có tiền cho chúng.
+ Liên dành cho cụ Thi điên chút lòng qua cút rượu rót đầy.
+ Cô bé thương mẹ con chị Tí " ngày mò cua bắt tép tối lại dọn hàng tới tận khuya mà cũng chẳng ăn thua"
+ Ánh mắt cô bế siết bao ái ngại khi quan sát cảng khốn cùng của gia đình bác sẩm " cả nhà ngủ gục trên manh chiếu rách; chiếc thau sắt trống không…" Dường như em mường tượng được nỗi đói rét cùng cực đang chờ đợi họ.
Xem thêm: Văn nghị luận: Quan niệm của em về lối sống giản dị của một con người– Cùng với nỗi xót xa trong cuộc sống vất vả nghèo khó cơ cực của những người dân phố huyện, cô bé Liên còn cảm nhận cả sự bế tắc tù đọng trong kiếp sống của họ. Họ bị giam cầm trong giữa cái ao đời quẩn quanh tăm tối không ánh sáng không tương lai. Cái nhìn của en thấm đượm niềm thương cảm sâu xa. " Chừng ấy người ngồi lặng trong bóng tối như đang mong đợi một cái gì tươi sáng hơn cho.." ( sr mình quên mất đoạn dc này)
==> Miêu tả những cảm xúc tinh tế sâu sắc khi đối diên với thiên nhiên con người cuộc sống. Thạch Lam đã làm hiện lên một thế giới tâm hồn trẻ thơ trong sáng giàu tinh yêu thương.
2. Không chỉ biết yêu thương cô bé Liên còn biết ước mơ, biết hướng tới tương lai
a. Tâm hồn ấy luôn thiết tha hướng về ánh sáng
– Bản thân cô bé phải sống trong không gian tiêu điều tăm tối của phố huyên nghèo, đặc biệt bóng tối như trùm lấp cả đất trời chiếm lĩnh mọi khoảng thời gian không gian. Không phải ngẫu nhiên Thạch Lam tô đậm đêm tối " đường phố và các ngõ con dần chứa đầy bóng tối…tối hết cả con đường thăm thẳm qua sông, con đường qua chợ, những ngõ con vào làng càng…". Trên nền trời cuộc sống tăm tối ấy nổi bật hình ảnh hai đứa trẻ nhỏ nhoi đáng thương như bị qiam cầm trong bóng tối " Từ khi nhà Liên dọn ở Hà Nội về đây, từ khi có cái cửa hàng này, đêm nào Liên và An cũng phải ngồi với cái tối của quang cảnh phố chung quanh".
– Nhưng bằng tất cả sức sống của một tâm hồn trẻ thơ tươi sáng, Liên đã không chịu " khuất phục" cái bóng tôi dày đặc kia. Ánh mắt em luôn thiết tha kiếm tìm những nguồn sáng. Có lúc cô bé ngước lên bầu trời đêm thăm thẳm đển chiêm ngưỡng " hàng ngàn ngôi sao đang ganh nhau lấp lánh", có lúc Liên tìm về những với những ngọn đèn gần gũi ấm áp xung quanh: đèn dây sáng trong hiệu khách; vầng sáng nhỏ tên chõng hành chị Tí;…thậm chí Liên nâng niu đến cả từng hột sáng lọt qua khe liếc. Tâm hồn em như một mầm cây khỏe khoắn luôn hướng về nơi có ánh sáng.
b. Cô bé còn biết kiếm tìm những niềm vui, biết hướng tới tương lai. Vẻ đẹp này được thể hiện qua niềm mong đợi chuyến tàu đêm qua phố huyện.
– Liên cố thức đợi chuyến tàu không phải để bán thêm vài món hàng mà em đợi tàu để được nhìn thấy một cộc sông náo động, một nguôn sáng rực rỡ. Bởi vì con tàu ấy là niềm vui duy nhất sau mỗi ngày dài đằng đẵng buồn tẻ và tăm tối của cuộc sống nơi đây…Cho nên Liên đợi nó như người ta mong một điều gì đó lớn lao kì diệu.
– Liên đánh thức em dậy từ lúc tàu chưa đến..cô bé đón với tất cả niềm hân hoan vui sướng
+ Qua cái nhìn của e con tàu bỗng trở nên lỗng lẫy lạ thường "đoàn tàu rầm rộ đi tới…." Con tàu như đến môth thế giới của thần thoại. Nó khơi lên trong Liên biết bao nhiêu cảm xúc hồi tưởng về một quá khứ hạnh phúc và mơ tưởng về môt thế giới khác
+ Lúc con tàu đi qua Liên vẫn còn bâng khuâng dõi theo. Nó đánh thứ trong Liên những ý nghĩ mơ hồ mà em không lí giải được. Em chìm vào giấc ngủ với ý nghĩ " minhg sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như….một vùng nhỏ" Suy nghĩ ấy chứng tỏ Liên đã sớm có ý thức về bản thân mình, sự thức tình cái tôi cá nhân ấy đã gieo vào lòng người đọc niềm hi vọng rằng cô bé có tâm hồn tươi sáng kia sẽ không bị giam cầm trong kiếp sống tù đọng tăm tối này mãi mãi.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Bàn về bệnh thành tích - Một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay | Cảm nhận về nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ | 1,361 | |
Cảm nhận về nhân vật Ngô Tử Văn trong tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
Bài làm
Nguyễn Dữ là tác giả tiêu biểu sống vào khoảng thế kỉ XVI. Ông để lại cho đời một tác phầm duy nhất và rất có giá trị đó là “ Truyền kì mạn lục”. “ Truyền kì mạn lục là một bức tranh hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm gồm hai mươi truyện, trong đó “ CCPSDTV” là một trong những truyện tiêu biểu của “Truyền kì mạn lục”. “CCPSDTV” đã phê phán hiện thực xã hội qua những yếu tố hoang đường, phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc, đồng thời ca ngơi phẩm chất của kẻ sĩ. Kẻ sĩ ở đây chính là Ngô Tử Văn, nhân vật trung tâm xuyên suốt toàn bộ câu truyện với phẩm chất dũng cảm, khẳng khái và cương trực.
Ngô Tử Văn xuất hiện ngay từ đầu truyện qua lời giới thiệu của tác giả. Chàng được biết đến là một người có tính tình bộc trực, khảng khái, thấy gian tà là không thể chịu nổi. Lời giới thiệu mang giọng ngợi khen, có tác dụng định hướng cho người đọc hành động kiên quyết của nhân vật.
Minh chứng cho tính tình bộc trực, dũng cảm của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền của chàng. Hành động ấy là ngòi nổ cho một cuộc chiến đấu của chàng và hồn ma tên tướng giặc bại trận. Tử Văn đã chuẩn bị thật kĩ lưỡng “ tắm rửa sạch sẽ” rồi chàng “ châm lửa đốt đèn”. Trong khi ai cũng lắc đầu, lè lưỡi ngao ngán , không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền này thì Tử văn cương quyết đốt đền và “ vung tay không sợ gì cả”. Ta dẽ dàng nhận thấy được phẩm chất tiêu biều của kẻ sĩ nước Việt lúc bấy giờ thông qua nhân vật Tử Văn, một thái độ dứt khoát, bất chấp hậu quả xấu cho bản thân, chàng đã vì nghĩa lớn, vì an lành, hạnh phúc của nhân dân mà hành động.Xem thêm: Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, khi con tàu đã rời ga, Thạch Lam viết: "Liên lặng theo mơ tưởng Hà Nội xa xăm...đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và im lặng." Phân tích đoạn văn trên, nêu chủ đề của tác phẩm và giọng văn của Thạch Lam
Sự cương trực, khảng khái của Tử Văn còn được bộc lộ qua cuộc gặp gỡ giữa chàng với hồn ma tên tướng giặc. Hồn ma tên tướng giặc tỏ ra gian trá, xảo quyệt “ tự xưng mình là cư sĩ”, buông lời mắng mỏ, uy hiếp Tử Văn, dung tà phép khiến chàng bị một cơn sốt nóng, sốt rét. Trước sự ngang ngược và quyền phép đáng sợ của tên tướng giặc, “Tử Văn vẫn mặc kệ, ngất ngưởng tự nhiên”. Thái độ ấy cho ta thấy được một niềm tin vào chính nghĩa mãnh liệt từ chàng, một khí phách cứng còi của một người anh hung trừ gian diệt bạo cho nhân dân, luôn tỏ ra điềm tỉnh dù đang đứng trước một thế lực hung tàn.
Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Soạn còn thể hiện rõ trong quá trình chàng bị lôi xuống địa phủ. Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng xám. Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch. Diêm Vương-người cầm cán cân công lí cũng hồ đồ, vu oan cho Tử Văn, nhưng trước hoàn cảnh như vậy. Tử Văn càng chứng tỏ mình là một người có khí phách. Chàng kiên quyết đấu tranh, dũng cảm vạch mặt tên bạo tướng gian tà bằng những lời lẽ đanh thép, “cứng cỏi, không chịu nhún nhường chút nào”. Giữa chốn công đường nơi âm phủ, tính cách Tử văn vẫn bộc trực, khẳng khái, vẫn một quyết tâm sắt đá, chàng chiến đấu đến cùng vì lẽ phải. Cuối cùng, chàng đã đánh lui tất cả, bảo toàn sự sống của mình, đánh bại tên tướng giặc gian trá,phục hồi chức vị cho thổ thần và được giữ chức Phán sự ở đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ công lí.Xem thêm: Ôn Tập 3 Tiếng Việt Lớp 5 Cuối Kì 1
Sự thắng lợi này đã khẳng định chàng là người tốt, chính nghĩa, dám đấu tranh để thực hiện công lí. Con người của chính nghĩa đã được đứng ra để thực hiện công lý là một thắng lợi có ý nghĩa sâu sắc, khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Chi tiết nhận chức Phán sự như là “ phần thưởng” của tác giả dành cho nhân vật chính, chi tiết đã thể hiện niềm tin vào sự sống: “ Ở hiền gặp lành”. Tử Văn được trở về sống với thế giới thần thánh, bất tử, một nơi dành cho những con người hiền lành, tốt bụng, dũng cảm và khảng khái.
Truyện ca ngợi nhân vật Ngô Tử Văn, một trí thức nước Việt có nhân cách cứng cỏi, cao đẹp, qua đó bộc lộ niềm tin vào công lí, vào việc chính nghĩa thắng tà. Đồng thời qua tác phẩm ta cũng thấy được một bức tranh về một xã hội nhiểu nhương, cái ác lộng hành, quan lại tham nhũng lúc bấy giờ. | Cảm nhận về nhân vật Ngô Tử Văn trong tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên | 970 | |
Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm Bến quê
Là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Minh Châu có nhiều những tìm tòi quan trọng góp phần đổi mới văn học nước nhà.Truyện ngắn của ông thường chứa đựng những suy ngẫm trải nghiệm sâu sắc về con người và cuộc đời. “Bến quê ” là tác phẩm tiêu biểu cho đề tài đó.
Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời.Chuỗi nghịch lý bắt đầu chính trong những ngày ấy. Bị cột chặt trên giuờng bệnh, Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông. Cảnh vật nơi ấy đẹp như thơ như hoạ: Những bông bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng đậm sắc, con sông Hồng màu đỏ nhạt, ánh nắng sớm, vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông …Những cảnh sắc vốn quen thuộc gần gũi nhưng dường như rất mới mẻ đối với anh. Chính vào lúc nhận ra vẻ đẹp và sự giàu có của bến quê cũng là lúc Nhĩ hiểu ra một cách đau xót, bởi một người “đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất ” lại chưa từng đặt chân lên “cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình ”.
Căn bệnh liệt gắn chặt Nhĩ vào giường bệnh. Mọi sinh hoạt của anh trông cả vào sự chăm sóc của vợ con. Sáng hôm ấy, bằng trực giác, anh nhận ra thời gian của mình chẳng còn bao lâu nữa, anh mới cảm nhận thấm thía về người vợ của mình. Nhĩ để ý “thấy Liên mặc áo vá ”, “những ngón tay gầy guộc âu yếm vuốt ve bên vai anh ”, anh nói với vợ những lời xót xa, ân hận: “Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm ”. Giờ đây Nhĩ mới thực sự thấu hiểu và biết ơn vợ sâu sắc bởi “tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tảo tần và chịu đựng hy sinh từ bao đời xưa và cũng chính nhờ điều đó, mà sau nhiều tháng ngày bôn tẩu tìm kiếm, Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này ”. Nhĩ -con ngưuời của một thời huy hoàng, cho đến khi không còn khả năng đi lại mới phát hiện ra vẻ đẹp của bến quê cũng như sự tảo tần và đức hy sinh của vợ. Trước khi ốm anh chỉ biết đến những chân trời xa ngát với những công việc cao sang mà thờ ơ, vô tình với tất cả những gì gần gụi xung quanh, kể cả nguười vợ suốt một đời yêu thương và tận tuỵ. Sự thấu hiểu muộn màng trong những ngày cuối đời dù sao cũng đem lại cho anh sự bình yên, tin cậy sau cả một đời bôn tẩu, kiếm tìm.
Xem thêm: Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới - bài 43)Song nghịch lý của câu chuyện không chỉ có thế. Cũng trong buổi sáng hôm ấy, khi nhận ra vẻ đẹp qua ô cửa sổ, Nhĩ bừng dậy nỗi khát khao cháy lòng và vô vọng là một lần được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Khát khao đó mang ý nghĩa sâu sắc bởi đó chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình dị mà sâu xa của cuộc sống, những giá trị dễ bị ta vô tình, bỏ qua và quên lãng nhất là lúc còn trẻ khi những khát vọng xa vời vẫy gọi, cuốn người ta đi. Sự nhận thức này chỉ đến được với ta khi đã từng trải. Với Nhĩ, đó là lúc cuối đời khi phải nằm liệt trên giường bệnh. Vì thế đó là sự thức tỉnh pha lẫn niềm ân hận xót xa: “Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết mọi sự giàu có lẫn vẻ đep của bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia cả trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm say mê pha lẫn nỗi ân hận đau đớn ”. Với anh, bây giờ đó thực sự là miền đất xa lắc vì Nhĩ “lực bất tòng tâm ”. Không thể tự làm điều mình khao khát, Nhĩ nhờ con trai thay mình sang sông, đặt chân lên bãi phù sa màu mỡ. Oái oăm thay, đứa con không hiểu ước muốn của cha,đã đi một cách miễn cưỡng và bị cuốn vào trò chơi phá cờ thế trên hè phố. Cậu con trai có thể lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Từ đó Nhĩ nghiệm ra một qui luật khá phổ biến của đời người “Con nguười ta trên đường đời thật khó tránh đuợc những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Anh không trách con vì “nó đã thấy gì hẫp dẫn bên kia sông đâu ”.
Ở cuối truyện, khi Nhĩ tưởng tượng chính mình như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên mặt đất dấp dính phù sa. Nhĩ xúc động mạnh, chân dung anh khác thường “mặt mũi đỏ rựng, hai mắt long lanh chứa môt nỗi say mê đầy đau khổ ”. Khi con đò sắp chạm vào bờ đất bên này, Nhĩ thu hết tàn lực, đu người lên cửa sổ, giơ cánh tay gầy guộc “khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào đó ”. Phải chăng anh đang nôn nóng thúc giục con trai hãy mau hơn kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày? Và duờng như nó còn có ý nghĩa khái quát hơn: Muốn thức tỉnh mọi người vượt lên những cái vòng vèo hoặc chùng chình trên đường đời để hướng tới những giá trị đích thực vốn rất gần gũi bình dị mà bền vững!
Bằng cách tạo dựng chuỗi nghịch lý để nhân vật tự nhận thức, suy ngẫm và cách xây dựng nhiều hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng tác giả đã tạo nên ý nghĩa sâu xa cho tác phẩm. Ngòi bút miêu tả thiên nhiên đẹp, tinh tế, giọng văn thầm trầm ẩn chứa những chiêm nghiệm, suy ngẫm của tác giả đã góp phần không nhỏ tạo nên những ấn tượng riêng cho tác phẩm.
Những dòng cuối cùng của “Bến quê” khép lại nhưng dư âm từ những trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con ngưuười dường như vẫn còn lan toả đâu đây, thức tỉnh trong ta sự trân trọng vẻ đẹp về những gì bình dị, gần gũi của gia đình, quê hưuơng, xứ sở.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên (Có dàn ý chi tiết) | Cảm nhận về nhân vật Nhĩ trong tác phẩm Bến quê | 1,174 | |
Đề bài:Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê
Viết về người lính và chiến tranh là nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, nhà văn.Với Phạm Tiến Duật,ta được đến với sự trẻ trung,ngang tàng của các chiến sĩ Trường Sơn qua “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.Gặp “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ,ta lại bắt gặp những cô gái mở đường không tiếc thân mình “đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom”.Và đến với “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê ta lại không khỏi thán phục trước tinh thần dũng cảm, tình đồng đội nồng ấm, tâm hồn lạc quan trong sáng của ba nữ thanh niên xung phong mà đề lại ân tượng sâu sắc nhất trong em là Phương Định.
Phương Định cùng Nho và Thao – những cô gái thanh niên xung phong sống trên cao điểm mênh mông khói bụi Trường Sơn và bom đạn hủy diệt của kẻ thù.Công việc của chị và đồng đội trong tổ chinh sát mặt đường là “đo khối lượng đất đá lấp hố bom,đếm bom chưa nổ và nếu cần thì phá bom” để bảo vệ con đường cho những đoàn xe băng về phía trước,góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.Công việc của chị thật vinh quang nhưng cũng đầy hi sinh gian khổ.Song chính hoàn cảnh gian khó hiểm nguy ấy đã làm cho chúng ta cảm nhận được những phẩm chất đáng quý của chị.
Cảm nhận đầu tiên về nhân vật Phương Định là vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm,thía độ bình tĩnh vượt lên mọi hiểm nguy.Hằng ngày,chị thường xuyên phải chạy trên cao điểm bị bom đạn cày nát mà còn ẩn dấu những quả bom chưa nổ.Điều đó cũng có nghĩa chị luôn phải đối mặt với thần chết.Mỗi ngày, chị phải phá từ 3-5 lần bom, nguy hiểm là vậy nhưng chị vẫn bình thản thậm chí còn thấy thú vị dù trên mình còn có vết thương chưa lành miệng.Cứ mỗi lần phá bom,đất rắn,tiếng xẻng va chạm vào cỏ quả bom nghe sắc lạnh đến ghê người.Ngay cả lúc ấy,chị vừa trách vừa nhắc nhở mình “phải nhanh hơn chút nữa”,nếu không vỏ quả bom nóng lên hoặc nóng từ bên trong quả bom hay nóng do mặt trời khi đó sẽ rất nguy hiểm”.Xác đinh được tính chất nguy hiểm,song với tinh thần dũng cảm cùng tình yêu Tổ quốc,chị đã vượt qua tất cả.Thao tác,tư thế,thái độ bình tĩnh khi phá bom là vẻ đẹp đáng quý ở Phương Đinh nói riêng và những cô gái trẻ nói chung.Có những lúc,chị cũng nghĩ đến cái chết nhưng cái chết này mờ nhạt.Còn ý nghĩa cháy bỏng là “ Liệu mìn có nổ.bom có nổ không? LÀm thế nào để châm mìn lần thứ hai?”Mục đích hoàn thành nhiệm vụ luôn được chị đặt lên trên hết.
Xem thêm: Phân tích nhân vật lão Hạc trong truyện Lão Hạc (Có dàn ý chi tiết)Trong chị luôn thường trực tình đồng đội,đồng chí nồng ấm.Tấm long vị tha của chị luôn quan tâm tới đồng đội.Khi chị Nho và Thao ở trên cao điểm,phải ở nhà trực máy nhưng trong lòng Phương Đinh luôn lo lắng,sốt ruột,đứng ngồi không yên.Chị lo lắng đến mức chạy ra chạy vào lắng nghe cả tiếng súng hỗ trợ của các anh bộ đội pháo binh.sự lo lắng ấy khiến chị cáu với cả đội trưởng “Chinh sát chưa về”.Điều đó thể hiện lòng quan tâm,lo lắng của chị với đồng đội thật sâu sắc.Chị luôn trìu mến,yêu thương bạn bè,chẳng thế mà chị đã nhận xét về người đồng đội trẻ tuổi-Nho,chị phát hiện ra vẻ dễ thương của Nho “nhẹ,mát mẻ như một que kem trắng”,chị còn hiểu rất rõ sở thích của bạn,của đồng đội.Chị Thao thích ghi bài hát mặc dù chị hát toàn sai nhạc,chị ghi tới ba cuốn sổ dày bài hát,chị Thao còn thích tỉa đôi long mày nhỏ như que tăm,chị hiểu được sự cương quyết,tạo báo nhưng rất đáng gờm trong công việc của chị Thao.Tuy vậy chị Thao rất sợ máu và vắt.Chị hiểu được ở Nho thích thuê thùa,trên ngực áo của Nho luôn có một bông hoa.Chị còn hiểu được tâm trạng của đồng đội như khi Nho bị thương,chị Thao thì cuống quýt lên còn Nho lại bình tĩnh,gan dạ.Phương ĐỊnh băng bó,tiêm thuốc và pha sữa cho Nho.Tình cảm đồng đội,đồng chí là ngọn lửa sưởi ấm lòng,là niềm tin,là động lực,là nguồn động viên khích lệ các chị thêm vững lòng trên mặt trận đầy gian nguy này.Ngược lại,chị Phượng Đinhk cũng rất cần sự cổ vũ,động viên của đồng đội.Chị cảm thấy ấm lòng và tự tin hơn khi cảm thấy ánh mắt dõi theo,khích kệ của các anh chiến sĩ pháo binh.Chị được rất nhiều chiến sĩ cảm mến.Điều đó càng làm tình đồng đội,đồng chí trong chị thêm sâu đậm biết bao!
Nét nổi bật và cũng là điểm hấp dẫn nhất của Phương ĐInh với người đọc chúng ta là tâm hồn trong sáng,giàu mơ mộng,là sự hồn nhiên như trẻ thơ của chị.Chị là cô gái Hà Nội vào chiến trường khói lửa,chị vẫn hay nhớ nhà,nhớ những kỉ niệm tuổi thơ.Chị hay hát,hay cười một mình,ngắm mình trong gương.Chị tự đánh giá mình là “một cô gái khá”.Chị có cái điệu đà của người Hà Nội nhưng là cái điệu thật đáng yêu vì nó hồn nhiên và vô cùng chân thực.
Qua nhân vât Phương Định,ta càng hiểu thêm về những vẻ đẹp đáng quý của những cô giá thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn nói riêng và thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy.Âm vang của những câu hát sau sẽ luôn vang vọng trong con người Việt Nam với lòng tự hào đầy trân trọng:
“Cô gái mở đường ra đi cứu nước
Tiếng hát ai vang vọng núi rừng…..”
Nguồn Edufly
Xem thêm: Nghị luận xã hội về khiêm tốn và giản dị | Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi | 1,033 | |
Cảm nhận về nhân vật Quan phụ mẫu trong truyện ngắn sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn
Gợi ý
Văn xuôi quốc ngữ buổi đầu đã có sự đóng góp của Phạm Duy Tốn. Truyện ngắn sống chết mặc bay của ông là một trong những thành tựu của dòng văn học hiện thực thuở sơ khai. Truyện được viết vào tháng 7 – 1928, được đăng tải trên tạp chí Nam Phong số 18 tháng 12 năm 1928 mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Đồng thời vạch trần bộ mặt thật của những kẻ tự xưng là cha mẹ dân.
Khúc đê làng X, thuộc phủ X có hai, ba đoạn nước đã rỉ ra ngoài. Trong khi nước sông Nhị Hà cứ dâng lên cao, nên có nguy cơ vỡ đê. Bên ngoài trống dội lên từng hồi, hàng trăm người vật lộn với thiên nhiên từ chiều đến gần một giờ đêm để bảo vệ con đê. Trời thì cứ mưa tầm tã không ngớt, nước sông cứ cuồn cuộn dâng cao, sức người như đã kiệt, thế mà trong đình, đèn thắp sáng trưng, quan ngồi chễm chệ uy nghi. Quân lính đứng hầu cạnh nào gãi, nào quạt, nào điếu đóm… Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn để trong khay khảm khói nghi ngút. Quang sạp, có đủ mặt thầy đề, thầy đội, thầy thông nhì, chánh tổng sở tại. Tất cả đang tụ họp để vui chơi tổ tôm. Cảnh tượng này hoàn toàn đối lập với cảnh ngoài đê trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê. Xem thêm: Cảm nhận về hình ảnh người nông dân xưa qua bài ca dao: "Con cò mà đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi! Ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong,Đừng xáo nước đục đau lòng cò con" Rõ ràng qua hai cảnh được dựng lên ta thấy rằng đây là một viên quan vô trách nhiệm trước sự sống chết của hàng trăm con người. Hắn chỉ biết hưởng thụ sống sung sướng cho bản thân.
Ngoài đê, dân chúng đang từng giờ từng phút đối mặt với nguy hiểm của nước lũ mạnh và vô cùng hung dữ. Người đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào kè, bì bõm dưới bùn lầy, mưa gió lướt thướt, ướt như chuột lột. Vậy mà Quan phụ mẫu hắn uy nghi, chễm chệ ngồi trong đình. Bát sách, thát văn, lúc mau, lúc khoan thật nhịp nhàng. Ngoài kia đàn sâu lũ kiến đang vùi mình dưới mưa cũng không bằng trong đình đang nước bài cao thấp. Quan như bị ma lực hút hồn vào một trăm hai mươi lá bài đen đỏ, mà quên đi tính mạng dân lành, thật đáng thương tâm. Quanh năm quan đâu có biết đến đời sống của dân chúng và công việc mình phụ trách, dưới cái ghế của quan có bao kẻ xu nịnh ôm chân dạ vâng.
Thậm chí chúng còn tranh nhau phô bày để quan lớn rỗ, rằng: Mình vào được nhưng không dám cố ăn kìm. Rằng: mình có đôi mà không dám phỗng qua mặt. Thì ra chúng đã chìm nổi cho quan ù thông (thắng liên tiếp 2 ván). Như vậy thì quan làm sao nhớ đến nhiệm vụ của mình được. Hơn nữa trong đình thì cao, đèn thắp sáng quan làm sao mà dám xuống chỗ sùng sũng bùn lầy đêm tối kia. Cái bọn mà ta gọi là điếu đóm, lau nhau ấy đã rất khéo léo. Xem thêm: Một trong những nét phong cách nổi bật của thơ Hồ Chí Minh là "hình tượng thơ luôn luôn vận động hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai". Hãy chứng tỏ điều đó qua hai bài thơ Chiều tối và Giải đi sớm trong Nhật kí trong tù của Bác Rồi lại ván bài tiếp, quan vừa xơi xong bát yến, vuốt râu rung đùi. Hắn chỉ chăm chăm nhìn vào đĩa đựng bài chờ bốc trúng quân bài để hắn hạ. Bỗng có người khẽ vào dễ có khi đê vỡ, quan gắt mặc kệ. Bên ngoài tiếng người gào thét ầm ĩ, tiếng gà trâu kêu vang tứ phía, một người nhà quê ướt sũng hộc tốc chạy đến bẩm đê vỡ mất rồi. Và rồi như không cần suy nghĩ, quan sắt, thoái thác trách nhiệm ông sẽ cách cổ, bỏ tù… rồi lại tiếp tục ván bài đang dở. Quan lớn mặc kệ cho đê vỡ, dân chúng chạy loạn, những sinh linh bé nhỏ kia sẽ bị những cơn lũ cuốn đi. Nào là phụ mẫu chi dân, nào là lo cho dân, thương dân. Bộ mặt của bọn quan lại phong kiến hiện rõ hơn bao giờ hết.
Quan có biết đâu sau ván bài ù là lúc nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, cửa nhà, dân chúng kẻ sống thì không có chỗ ở, kẻ chết thi mất xác… Than ôi! Dân còn biết trông cậy vào ai? Truyện ngắn làm ta liên tưởng đến Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan. Con mẹ nuôi là kẻ mất trộm, lên trình quan việc mất trộm, nó không những không trình báo được việc mát trộm còn bị quan lại Huyện Hinh ăn chặn đồng hào đôi sáng loáng bằng thủ đoạn cực kì bẩn thỉu. Con ma Huyện Linh ăn những đồng tiền xương máu của dân một cách trắng trợn. Còn ở đây, vị quan phụ mẫu thương dân đã bỏ mặc đê vỡ và chối bỏ trách nhiệm. Xem thêm: Chứng minh tình thương là hạnh phúc của con người – văn lớp 12 Sống chết mặc bay – tên của truyện ngắn đã thể hiện sâu sắc bộ mặt tên quan phụ mẫu vô trách nhiệm với công việc của mình, mặc cho dân chúng đối mặt với cái chết còn hắn thì chỉ lo không ù được ván bài, ngài cứ sống chết mặc bay.
Bằng nghệ thuật tương phản, tác giả vạch trần và lên án thói vô trách nhiệm, nhẫn tâm, vô nhân đạo của bọn quan lại, chúng coi thường tính mạng nhân dân. Chúng chỉ lo ăn chơi cờ bạc bóc lột dân đen đến tận xương tuỷ.
Qua truyện ngắn này giúp ta cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người nông dân trong xã hội cũ. Đồng thời khiến ta càng thêm căm ghét và kinh tởm bọn quan lại bỉ ổi vô lương. Chúng là lũ sâu mọt, tham quan mà xã hộithời nào cũng phải thanh lọc. Truyện ngắn sống chết mặc bay có giá trị hiện thực thời đại sâu sắc.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về nhân vật Quan phụ mẫu trong truyện ngắn sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn | 1,151 | |
Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ
Bài làm
Văn học trung đại là những tiếng kêu thống thiết cho thân phận phụ nữ trong xã hội đương thời. Đó là Hồ Xuân Hương với tác phẩm “Bánh trôi nước”, Nguyễn Du với “Truyện Kiều” và còn cả Nguyễn Dữ với “Chuyện người con gái Nam Xương.” Xây dựng nhân vật trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ không chỉ bày tỏ sự xót xa, niềm thương cảm trước thân phận nổi trôi của người phụ nữ mà ẩn sâu trong đó còn là sự ngợi ca, tôn vinh những nét đẹp thuần túy, cao cả về phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam được khắc họa tiêu biểu qua nhân vật Vũ Nương.
Nguyễn Dữ là một con người đa cảm, học rộng tài cao nhưng chọn lối sống ẩn dật, cũng vì thế mà cảm quan nhìn đời của ông đầy tinh tế và sâu sắc. Chọn hình ảnh Vũ Nương, từng lớp phẩm hạnh của người phụ nữ Việt dưới thời phong kiến được lột tả. Trước hết, Vũ Nương được phác họa bởi vẻ đẹp phẩm hạnh của một người phụ nữ truyền thống trong văn hóa Việt. “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương. Người đã thùy mị nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp”. Ở Vũ Nương hội tụ những nét cơ bản của người phụ nữ truyền thống thông qua các tính từ “thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp.” Cũng bởi có những vẻ đẹp chuẩn mực ấy, Trương Sinh vì mến “dung hạnh” nên mới xin mẹ "trăm lạng vàng” để cưới nàng về.Thế nhưng ngay từ những chi tiết đầu tiên, Nguyễn Dữ đã lờ mờ vẽ ra bi kịch của Vũ Nương, người phụ nữ trong cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối. Trương Sinh đã dùng tiền để có thể hỏi cưới nàng về. Tuy vậy, cuộc sống của Vũ Nương và Trương Sinh luôn có sự hòa hảo bởi đức hạnh nết na, khéo léo của nàng. “Trương Sinh có tính hay ghen, đối với vợ phòng ngừa thái quá” nhưng Vũ Nương luôn xử xự đúng mực, tinh tế “giữ gìn khuôn phép” để vợ chồng không phải xảy đến thất hòa. Cũng bởi người phụ nữ trong gia đình thời phong kiến luôn là chuẩn mực ứng xử, phải đức độ và biết tiến lùi để giữ hòa khí trong gia đình.Xem thêm: Soạn bài Giang sơn tươi đẹp
Đấy là trong cuộc sống thường ngày. Khi cuộc vui chẳng tày gang thì Trương Sinh phải đi lính, lúc tiễn chồng, Vũ Nương lại xuất hiện với nét đẹp của một tấm lòng chung thủy, yêu thương chồng và xót xa cho tình cảnh của chồng mình. Vũ Nương có nói rằng “Lang quân đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi.” Thời phong kiến, đâu có ai không mong áo gấm vinh quy bái tổ, được hưởng tiếng thơm, cuộc sống giàu sang… thế nhưng trong lòng Vũ Nương, những thứ đó chỉ là phù du, vật ngoài thân không quan trọng bằng sự bình an của chồng mình. Nàng cảm thông cho sự khó khăn tiếp đến mà chồng mình phải chịu đựng, xót xa tình cảnh vợ lìa chồng, thương cảm nỗi niềm mẹ xa con.
Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương
Rồi tới những năm tháng chia xa, Vũ Nương còn là người vợ chung thủy hết mực. Nỗi nhớ thương chồng nơi biên ải xa xôi trở thành nỗi trăn trở vò võ không nguôi “mỗi khi bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn nơi góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Câu văn nhẹ nhàng tuần tự, như kéo dài nỗi nhớ mòn mỏi của người vợ nơi quê nhà với chồng chốn phương xa. Lòng chung thủy của Vũ Nương ngôn từ nào mà hết cho được. Hơn cả, Vũ Nương cũng là một người con dâu hết sức hiếu thuận và thảo hiền. Khi mẹ chồng “vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc thang, lễ Phật cầu thần, cúng ma gọi vía và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn.” Nàng hiểu nỗi đau xa cách của người mẹ, nên lấy tấm lòng đối đãi, cư xử dịu dàng. Và lời nói của người mẹ chồng trước khi lâm chung đã phần nào ghi nhận công lao của người con dâu hiếu thảo “Sau này trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, mong ông xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ.” Thời xưa, mẹ chồng nàng dâu vốn không phải lúc nào cũng bằng mặt bằng lòng, nhưng tấm lòng hiếu thảo cảm động trời xanh của Vũ Nương đã khiến cho mẹ chồng không có điểm nào trách cứ mà còn vô cùng yêu mến, trân trọng. Và đến cả khi mẹ chồng mình đã nhắm mắt xuôi tay “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ sinh ra.” Tất cả những chi tiết tiêu biểu mà Nguyễn Dữ thể hiện đã phác họa chân thực hình ảnh người một người vợ chung thủy, kính trọng chồng, giữ được nề nếp gia phong, cư xử đúng mực và cả một người con hiếu thảo, làm tròn được đạo hiếu thay chồng.Xem thêm: Em hãy giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ: Thất bại là mẹ thành công
Không chỉ vậy, Vũ Nương còn được biết tới như một người mẹ yêu thương con hết mực. Trong nhà thiếu vắng bóng dáng người cha, việc lớn bé gì đều đến tay và Vũ Nương đã đóng cả vai người cha lẫn người mẹ. Nàng cố gắng bù đắp phần nào thiếu thốn tình cảm của con mình khi vắng đi người cha, dùng cái bóng của chính mình tạo nên người cha câm xoa dịu tâm hồn của một đứa trẻ. Nghĩ cho con, thương con như vậy nhưng chính việc tốt đó mà nàng làm lại gây nên chính oan nghiệt của nàng. Nhưng nàng cũng mang trong mình một sự dũng cảm, gan dạ để chứng minh cho sự trong sạch của mình khi bị chồng nghi oan. Vũ Nương tắm gội chay sạch, ngửa lên trời mà than rằng “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi người phỉ nhổ.” Tiếng than đó thống thiết, như lời biện bạch duy nhất cho lương tâm của nàng, khẳng định cho lý trí cao hơn tình cảm. Trời không phụ lòng người, sự trong sạch của nàng vì thấu tận trời xanh nên nàng đã được Linh Phi cứu mạng.Xem thêm: Nghị luận về Nỗ lực học là trách nhiệm của thanh niên
Dù dưới thủy cung được mọi người đối xử tốt đến đâu, Vũ Nương chưa tùng nguôi ngoai nỗi nhớ con, nhớ chồng, nhớ quê hương làng nước với mái nhà đầm ấm, trong nàng lúc nào cũng dấy lên một nỗi xót xa không kể xiết, hơn cả là nỗi hàm oan chưa được thấu tỏ. Thế rồi khi Trương Sinh lập đàn giải oan, Vũ Nương đã hiện về trong một không khí huyền ảo và lộng lẫy, nàng quay lại gặp mặt người nàng vẫn thương yêu không hề oán trách. Mối tình nặng với nhân gian chưa nguôi, nhưng Vũ Nương vẫn nói với Trương Sinh “Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể lại về nhân gian được nữa.”. Câu nói chia biệt làm cho người đọc thấy xót xa , Vũ Nương đã được giải oan nhưng cuộc sống khi xưa không có cách nào trọn vẹn nữa. Chồng mất vợ, con mất mẹ bơ vơ côi cút. Đó là niềm thương cảm của tác giả đối với Vũ Nương nói riêng và người phụ nữ đương thời nói chung. Nhưng câu nói ấy cũng là sự khẳng định cho tấm lòng ân nghĩa, thủy chung, biết phải trái đúng sai của Vũ Nương. Nàng nợ ơn cứu mạng của đức Linh Phi nên không trở về nhân gian nữa. Có thể nói xây dựng nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã khắc họa hình tượng người phụ nữ vừa nặng tình cũng vừa nặng nghĩa.
Khép lại tác phẩm, chúng ta không khỏi day dứt và xót xa cho số mệnh của Vũ Nương, một người phụ nữ hiền lành nết na, trọn đạo vẹn tình nhưng cuộc đời lại phải chịu quá nhiều cay đắng. Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” mà Nguyễn Dữ đã hoàn thiện là biểu tượng hoàn hảo cho người phụ nữ Việt nam xã hội đương thời, dịu dàng, nhẫn nhịn, nặng tình, chung thủy, thương con và giàu đức hy sinh. Vũ Nương như minh chứng cho hà khắc của lễ giáo đã đày đọa con người đến chỗ khổ đau, chiến tranh loạn ly khiến gia đình xa cách và tan vỡ.
Ngọc Huyền | Cảm nhận về nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ hay nhất | 1,642 | |
Cảm nhận về những câu hát châm biếm trong sách giáo khoa Ngữ văn 7
Gợi ý
Cuộc đời vốn đa sắc, đa màu, muôn hình, muôn vẻ. Văn học dân gian trong đó có ca dao đã phản ánh được điều ấy. Trong ca dao ta bắt gặp cảnh đẹp làm ngơ ngẩn lòng người của non sông, đất nước. Cũng có khi gặp những cảnh ngộ tnương tâm, sự ngược đời khiến ta không nén nỗi thương cảm. Lại có những câu hát châm biếm trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 khiến ta phải bật cười. Cái cười trong chùm ca dao cũng đa dạng, phong phú: cười đả phá cái xấu, đề cao cái tốt, cười chua xót, mỉa mai.
Đọc bài ca dao thứ nhất ta tưởng đó là lời một cô cháu ngoan đang hăm hở đi tìm vợ cho chú minh. Nhưng thử đọc kĩ xem, ta sẽ nhận ra sự bất thường của việc đi tìm vợ cho chú. Để được cô yếm đào ưng thuận làm vợ chú, bản "lí lịch" của chú được hé lộ dần qua lời của đứa cháu. Nào là thích rượu chè, thích ngủ muộn, nằm ườn thích những ngày mưa, thích đêm kéo dài. Để làm gì ư: ngày mưa để khỏi phải ra đồng cày cấy, đêm thừa trống canh để ngủ cho no mắt… tóm lại toàn là những thói xấu mà người lao động xưa thậm ghét. Điều thú vị là tất cả những thói xấu đó được nói một cách rất lạc quan, mà mới đọc ta có cảm tưởng như đó là lời khen, khen ông chú tài giỏi. Lời nhẹ nhàng, đùa vui hóm hỉnh nhưng ý nghĩa phê phán lại rất sâu cay qua từ "hay" được hiểu theo cả hai nghĩa, lối chơi chữ được kết hợp với điệp từ và cách nói ngược… tất cả làm cho lời mỉa mai cứ nhẹ tênh như là biểu dương, khâm phục. Chân dung ông chú chính là đại diện tiêu biểu cho những gã đàn ông lười nhác, những gã chồng hèn chỉ biết bám váy vợ, kiểu như:
Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo
Hay:
Chồng người năng vũ năng văn
Chồng tôi chỉ chủ miếng ăn
Đong ít thì nó cằn nhằn
Bốc thêm nắm nữa nó nhăn răng cười. Xem thêm: Phân tích hình ảnh người đàn bà làng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa”- Văn 12 Tạm biệt ông chú lười chảy thây ấy, ta lại chiêm ngưỡng chân dung một ông thầy bói giả cầy. Một loạt những điều hiển nhiên, vớ vẩn đến trẻ con cũng biết lần lượt xuất hiện trong lời của thầy:
Số cô chẳng giàu thì nghèo
Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà
Số cô có mẹ có cha
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông
Số cô có vợ có chồng
Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.
Những điều vốn thế, hiển nhiên thế chẳng cần phải tìm đến bói toán người ta cũng biết lại được thầy nói bằng cái vẻ nghiêm trang, nghiêm trọng. Lại nữa, bằng cách nói nước đôi theo kiểu chẳng thế này thì thế nọ. Chấn tướng của thầy càng rõ hơn. Bộ mặt thật của kẻ chuyên lừa bịp kiếm tiền bị vạch trần, bị phơi bày, bị lôi ra ánh sáng. Nhục nhã và xấu xa, hắn xứng đáng để người ta mỉa mai, bêu riếu. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, tác giả dân gian còn muốn phê phán những người mê tín đến mức lú lẫn, không phân biệt đâu là thực, là hư. Tìm đến lễ bái vu vơ, tiền mất mà tật mang, mua thêm nỗi lo lắng vào lòng. Bời thế tiếng cười lại đa sắc, đa diện và ý nghĩa của nó lại càng thấm thìa, sấu xa.
Bài ca dao thứ ba lại vẽ ra cảnh thương tâm của một đám tang ở nông thôn xưa qua hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa. Tang chủ là gia đình cò – một thân phận bé mọn tận cùng của xã hội và cái chết thật thương tâm:
Con cò chết rũ trên cây
Hình ảnh cò "chết rũ" khiến cho ta liên tưởng đến cái chết vì đói khát, chết vì kiệt sức khi không có nổi miếng ăn. Vậy mà, đã chết rồi, cò vẫn không được yên. Khốn khổ cho cái gia đình cò ấy khi có người nằm xuống, mất mát, đau thương tưởng có người sẻ chia, ai ngờ. Xa gần kéo đến rất đông nào cà cuống, chim ri, chào mào, chim chích… nhưng hẳn là chẳng để chia buồn vì cái ồn ào, láo nháo không chút tang ma kia đã nói lên điều đó. Chúng đến để "uống rượu la đà", để "ríu rít bò ra lấy phần", để "đánh trống quân"… nghĩa là để làm cho gia đình tang chủ thêm rối ren, trong lúc vốn đã rối lên vì có người chết. Mỗi một con vật, một hành động là một ẩn dụ cho một loại người, hạng người, một việc làm của con người. Tang ma vốn là một việc hiếu, việc nghiêm trọng, việc để mọi người chia sẻ bỗng bị biến thành màn hài kịch, biến thành cơ hội để tất cả xúm vào xâu xé, kiếm chác, đánh chén no say, chia chác om sòm. Mỉa mai thay, đau đớn thay. Đằng sau những lời ca châm biếm ấy là giọt nước mắt cảm thương cho gia đinh cò, cảm thương cho những kiếp người bé mọn phải chịu khổ trăm bề. Bài ca dao cũng là lời tố cáo, lên án hủ tục ma chay lạc hậu ở nông thôn xưa. Lời ca dao vì thế mà khiến cho mỗi người không thể dửng dưng trước nỗi đau của người khác, nhắc nhở người ta bài học về sự cảm thông và chia sẻ. Xem thêm: Anh (chị) hãy bình giảng bài: Đây mùa thu tớì của Xuân Diệu Cuối cùng là chân dung "cậu cai" với "nón dấu lông gà" hiện lên khá oai, oách:
Cậu cai nón dấu lông gà
Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai
Ba năm được một chuyến sai
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê
Tìm một cách "định nghĩa" về cậu cai, người dân muốn vạch trần bản chất, vạch trần sự thật về bọn tay sai cho giai cấp thống trị. Hãy thử xem cậu cai thuộc thứ hạng gì trong cái bộ máy cai trị, bóc lột ấy nhé. Trong bộ máy cai trị ấy, nhỏ nhất là cậu lệ (cậu lính lệ) và cậu cai kia, hơn hẳn cậu lính lệ một bậc. Thật oách, trong con mắt dân đen phải không. Và bởi thế, xét cho cùng chả là gì cả nhưng cậu vẫn tha hồ lên mặt với dân, bắt nạt dân làng, lắng nhắng, lắm sự. Cũng bởi thế, người dân được nhìn tận mặt cậu cai, bởi được cái vố "nón dấu lông gà", "ngón tay đeo nhẫn" của cậu. Họ phát hiện ra cái sự thật nực cười mà cậu cai cố tìm cách dấu đậy nó đi:
Ba năm được một chuyến sai
Áo ngắn đi mượn, quằn dài đi thuê
Thảm hại biết bao vì tất cả những thứ hào nhoáng kia đều thuộc về người khác, cậu ta chả có gì, chả là cái gì vậy mà lại hay khoe mẽ. Thân phận rờm, uy quyền cũng rởm, tác giả dân gian đã vạch trần con người thật của cậu cai, phơi cậu ta ra trước bàn dân thiên hạ, gọi tất cả ánh mắt hướng về. Nhưng nếu chỉ "cởi trần" cái nhân vật cậu cai kia thôi thì chưa có nhiều điều để nói, cũng không phải là mục đích của người xưa. Đằng sau cậu cai là cả một tập hợp những kẻ rởm như cậu. Nghĩa là, tất cả bọn tay sai của tầng lớp thống trị, của những ông quan cai trị người Pháp đều một duộc như cậu cai. Hào nhoáng, lố lăng nhưng bản chất thì tầm thường và quyền hành chỉ là cái vỏ mà chúng thì luôn sống trong ảo tưởng. Dùng phép đối trong hình ảnh, thâm ý của tác giả dân gian thật sâu sắc. Vừa thổi chúng bay lên chín tầng mây ở hai câu đầu thì lại kéo chúng rơi xuống thực tại mỉa mai. Vừa khoác lên người chúng nón dấu lông gà, áo ngắn, quần dài vừa vạch trần chúng ra, phơi bày con người thật trước bàn dân thiên hạ. Ta thì hả hê cười, còn hẳn bọn chúng sẽ tím ruột, tím gan khi đọc những câu ca dao thâm thúy như thế. Tác giả dân gian quả thật rất tài. Xem thêm: Phân tích đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) Mỗi bài ca dao một cách cười, một kiểu cười, một ẩn ý sâu sa. Tuy nhiên, điểm gặp gỡ của cả bốn bài ca dao là thái độ phê phán những con người xấu xa, những sự việc, hiện tượng, những hủ tục rườm rà, sự bóng bẩy hào nhoáng mà không thực chất. Qua đó, tác giả muốn xem nó như một vũ khí để loại bỏ cái xấu, cái ác để cuộc sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Xưa nhưng không cũ, tiếng cười phê phán và những sự việc, con người bị đem ra phê phán trong bài ca dao ta vẫn có thể bắt gặp trong cuộc sống ngày nay. Bởi thế, hơn ai hết, ta hãy biết dùng tiếng cười để điều chỉnh mình, hoàn thiện mình và sống đẹp hơn.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về những câu hát châm biếm trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 | 1,620 | |
Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng.
Hướng dẫn
a) Niềm khát khao tổ ấm gia đình, cũng là khát khao hạnh phúc của nhân vật Tràng là khát khao mãnh liệt dẫu rất thô sơ, chất phác, hồn nhiên.
– Khát vọng đó đã vượt qua cả những nỗi lo âu, sợ hãi và toan tính trước nạn đói và trước cái chết.
– Khi quyết định cho người đàn bà theo về, Tràng cũng liều lĩnh tặc lưỡi: “Chậc, kệ”, cái tặc lưỡi của Tràng vừa là sự ngộ nghĩnh đơn sơ vừa mang được một nội dung tư tưởng: đó là thái độ mạnh mẽ và dứt khoát, dẫu rất bản năng và hài hước của một người lao động khốn khổ trước hai sự lựa chọn: hạnh phúc và nạn đói.
– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh lên tự đắc”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cảtăm tối, “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới.
– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn “hắn thấy bây giờ hắn mới nên người”. Tràng thấy trách nhiệm và biết gắn bó với tổ ấm gia đình.
b) Sự sâu sắc của Kim Lân khi thể hiện niềm khát khao hạnh phúc của người nông dân khốn khổ là ở chỗ, ông đã cho ta thấy: người dân lao động, dẫu đứng trước cái chết vẫn luôn nghĩ tới cuộc sống và họ không ngừng tìm kiếm hạnh phúc. Đó là giá trị nhân bản sâu sắc nhất của thiên truyện.
Nguồn: thêm: Cái chết không phái là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống | Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng. | 320 | |
Cảm nhận về niềm vui chiến thắng và lòng tự hào sau cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên trong Tụng giá hoàn kinh của Trần Quang Khải
Gợi ý
Thượng tướng thái sư Trần Quang Khải (1241 – 1294), con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông, không những là một danh tướng kiệt xuất mà còn là một nhà thơ đã in dấu ấn trong văn chương dân tộc.
Trần Quang Khải làm thơ không nhiều, nhưng chỉ cần một bài như Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) cũng đủ để thành một tên tuổi.
Bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt, giữa không khí hào hùng, ngây ngất men say của vinh quang chiến thắng. Và tác giả của nó, một vị tướng lỗi lạc, mà tên tuổi đã từng phải bao phen khiến quân thù phải kinh hồn bạt vía, người vừa lập công lớn trong chiến trận, nay kiêu hãnh giữ trọng trách phò giá hai vua về kinh đô trong khúc khải hoàn ca của dân tộc. Tức cảnh sinh tình. Trong hào quang của chiến thắng, tâm hồn vị tướng – nhà thơ của chúng ta bỗng dạt dào cảm hứng thi ca, kết tinh thành những vần thơ thật đẹp:
Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức.
Non nước ấy ngàn thu.
(Trần Trọng Kim dịch)
Dường như sự xúc động quá lớn về niềm vui chiến thắng khiến nhà thơ không nói được nhiều. Bao nhiêu cảm xúc, suy tư dồn nén cả lại vào bốn dòng ngũ ngôn tứ tuyệt gân guốc, chắc nịch. Xem thêm: Phân tích đoạn trích Hai Cây Phong Hai câu mở đầu nóng bỏng hơi thở chiến trận và đậm chất anh hùng ca: Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Chương Dương là Hàm Tử là hai chiến thắng lẫy lừng của Đại Việt trong cuộc kháng chiến vĩ đại chống quấn xâm lược Mông cổ năm 1285. Đối với quân dân nhà Trần lúc đó, chỉ cần nhắc đến cái tên Chương Dương – Hàm Tử cũng đã đủ thấy nức lòng. Đặc biệt, đối với thượng tướng Trần Quang Khải, người trực tiếp chỉ huy và lập nên chiến công trong trận Chương Dương, cũng là người góp phần hỗ trợ đắc lực cho Trần Nhật Duật đánh trận Hàm Tử, thì càng thêm xao xuyến, bồi hồi.
Tác giả không tả lại cảnh khói lửa binh đao, cũng không tả lại cảnh quyết chiến của quân ta, mà chỉ kể lại theo cách liệt kê sự kiện, nhưng vẫn làm sống dậy cả một không khí trận mạc hào hùng với tiếng gươm khua, ngựa hí, tiếng binh khí và cả tiếng thét tiến công vang dội. Sức gợi cảm của cách nói giản dị mà cương quyết, rắn rỏi là ở đó.
Nếu như mạch cảm xúc của hai câu đầu hướng về chiến trận, về hào quang chiến thắng, thì ở hai câu sau, mạch cảm xúc lại mở ra một hướng khác:
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.
Vẫn với hai câu thơ ngắn gọn, chắc nịch mà lại chất chứa cảm xúc, tâm trạng và bao nỗi niềm suy tư. Vị tướng thắng trận mới đang trên đường trở về kinh đô, chưa kịp nghĩ ngơi (chứ đừng nói tới việc hưởng thụ chiến công), đã lo nghĩ cho đất nước, những mong một nền thái bình muôn thuở cho ngàn đời con cháu mai sau. Thật cảm động và đáng kính phục! Xem thêm: Cảm nhận của em về những bài ca dao có cách mở đầu bằng cụm từ “Thân em...” Thân em như hạt mưa sa... Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân Tuy nhiên, Trần Quang Khải cảm nhận sâu sắc nền thái bình ấy đâu phải cứ mong là có. Để có nó, cần có sự chung lòng, chung sức, với bao tâm huyết (tu trí lực) của triều đình và trăm họ, trong đó có sự gắng sức của chính bản thân ông.
Niềm mong mỏi của nhà thơ chính là khát vọng của cả một dân tộc, của một triệu trái tim Đại Việt xưa và nay. Vì thế hai câu kết với cảm hứng hoà bình đậm chất nhấn văn đã đem lại cho bài thơ một vẻ đẹp mới, lấp lánh đến muôn đời.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về niềm vui chiến thắng và lòng tự hào sau cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên trong Tụng giá hoàn kinh của Trần Quang Khải | 731 | |
Cảm nhận về nỗi buồn chinh phụ trong đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm)
Gợi ý
Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn là kiệt tác trong nền văn học cổ điển của nước nhà. Bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) là tác phẩm dịch đặc sắc vừa truyền đạt tư tưởng sâu sắc của tác giả, vừa phô diễn vẻ mĩ lệ của tiếng Việt.
Đoạn trích diễn tả nỗi nhớ nhung sầu muộn của người chinh phụ, khía cạnh nổi bật của chủ đề tác phẩm: oán ghét chiến tranh và đòi quyền sông cho người phụ nữ.
Chiến tranh phong kiến đã xô đẩy người chinh phu biền biệt ngoài chiến địa. Người chinh phụ vò võ đợi chờ, nỗi thương nhớ chất chồng trong lòng, tràn ra cả không gian xa cách:
“Lòng này gửi gió đông có tiện
Nghìn vàng xin gửi đến nơi Yên
Non Yên dù chẳng tới miền
Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun…”
Một chút ngờ vực “Lòng này gửi gió đông có tiện”, một cử chỉ trân trọng “Nghìn vàng gửi đến non Yên” đã thể hiện được tình cảm thiêng liêng trong lòng người chinh phụ. Hình ảnh ước lệ (non Yên – một địa danh ở Trung Quốc) khiến cho cách biểu đạt sang trọng, cổ kính làm tôn vẻ đẹp của tâm hồn người chinh phụ. Nỗi nhớ trong lòng người đã tràn ra cả không gian rộng lớn:
“Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời”
Trong hình ảnh khoa trương ấy có cả thời gian thương nhớ “đằng đẵng”, có cả không gian chia li rộng lớn mà chỉ kích thước của vũ trụ “đường lên bằng trời” thì mới sánh kịp. Mà nói thời gian đằng đẵng, nói không gian xa cách vô tận “bằng trời” là để làm nổi bật nỗi cô đơn trong lòng người chinh phụ:
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”
Mỗi từ ngữ ở đây, ngoài nghĩa riêng, nó còn thấm đẫm tâm trạng của người chinh phụ. Từ “thăm thẳm” ngầm ý oán trách, từ “đau đáu” như hiện lên nỗi thèm khát mà vô vọng trong trái tim yêu thương của người chinh phụ. Tình và cảnh xâm nhập, thẩm thấu lẫn nhau tạo ra hình ảnh của nỗi lòng thương nhớ não nề:Xem thêm: Cách làm bài văn nghị luận lớp 10“Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”
Câu thơ khiến ta gợi nhớ một câu Kiều “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nhưng đó là câu thơ đã có tính khái quát, triết lí, lạnh. Câu thơ này là một hiện tượng cụ thể của một nỗi lòng, nỗi lòng đã hoàn toàn phơi ra bên ngoài cảnh vật: “Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun”. Chao ôi, “cành cây sương đượm” đã buốt gia, “tiếng trùng” đã ảo não, lại còn mưa phun vào tiếng trùng! Âm thanh của một cõi lòng tan nát. Khi “tiếng trùng mưa phun” rung lên thì ta không còn nghe tiếng của “lòng này” nữa mà tâm trạng của người chinh phụ càng lần khuất trong hình ảnh, âm điệu của thiên nhiên làm xao động lòng người:
“Sương như búa, bổ mòn gốc liễu
Tuyết nhường cưa, xẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên
Bóng lioa theo bóng nguyệt lên trước rèm…”
Hình ảnh nào cũng là hình ảnh bên ngoài và hình ảnh nào cũng là hình ảnh bên trong, âm thanh nào cũng là âm thanh của thiên nhiên và âm thanh nào cũng là âm thanh cửa lòng người. Một hệ thống hình ảnh thiên nhiên đã họa lên nỗi lòng của người chinh phụ, nhớ thương mòn mỏi, héo hắt. Những hình ảnh so sánh bất ngờ, độc đáo mà chỉ có sự đồng cảm với nỗi đau của người chinh phụ thì mới có cái nhìn, cái nghe kì lạ như vậy.
“Sương như búa,bổ mòn gốc liễu
Tuyết nhường cưa, xẻ héo cành ngô”
Hình ảnh so sánh nào cũng lạ, cũng táo bạo. Hình ảnh nào cũng đau đớn “sương như búa…”, “tuyết nhường cưa…”, khi đau đớn nặng nề (búa bổ) khi thì đau đớn dai dẳng (cưa xẻ). “Gốc liễu”, “cành ngô” là những vật yếu mềm, hiện thân của người phụ nữ bị nỗi sầu muộn tàn phá cả thể xác lẫn tinh thần. Không còn phân biệt được những âm thanh cô đơn này là bên trong hay bên ngoài.Xem thêm: Bàn về tình bạn, nhà văn Ni-cô-lai Ô-xtơ-rôp-xki nói: Tình bạn trước hết phải chân thành, phải phê bình sai lầm của bạn, của đồng chí, phải nghiêm chỉnh giúp đỡ bạn, giúp đỡ đồng chí sửa chữa sai lầm. Hãy bình luận ý kiến trên“Giọt sương phủ bụi chim gù S
âu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khai”
Tiếng chim gù (gọi bạn) đơn phương trong bụi bị “sương phủ” tiếng chim gù nghe lạnh thấu xương. Sắc độ của âm thanh được phân biệt trong hai từ “vẳng” và “nện”. “Vẳng” là dành cho tiếng con trùng “sâu tường”, và “nện” là dành cho tiếng “chuông chùa”, tiếng chuông chùa đã làm thổn thức trái tim cô quạnh của người chinh phụ. Không một âm thanh nào trong đêm trăng là không dội vang vào lòng người chinh phụ. Song để ý một chút ta có thể nhận ra sắc độ của âm thanh, có những âm thanh nỉ non, thê thiết của “tiêhg trùng mưa phun”, của tiếng “chim gù” phủ sương, của tiếng dế não nùng, lại có những âm thanh dữ dội của “chuông chùa nện khơi”, của “gió thốc ngoài hiên” biểu hiện sức sống mãnh liệt của người chinh phụ. Chính sức sống mãnh liệt đó làm rung chuyển cây cỏ, tiếng trùng trong đêm trăng, làm lay động lá màn đơn chiếc của nàng. Và kì lạ thay, nỗi sầu muộn đã tàn phá dung nhan của nàng, làm đau đớn trái tim yêu thương của nàng, nhưng không thể hủy diệt được sức sống mãnh liệt của nàng, không thể hủy diệt được tình yêu của nàng, nàng vẫn hiện diện như một bông hoa trong đêm trăng.
“Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm”
Nếu như hai khổ thơ đầu, ầm điệu tha thiết của tình cảm được thể hiện ở những từ láy như “đằng đẵng”, “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha” thì ở hai khổ thơ tiếp theo tâm trạng của nhân vật trữ tình được biểu hiện ở thanh điệu; những thanh trắc khô khóc như “búa”, “bổ”, “tuyết”, “héo”, “nện”, “thóc”… phô diễn được xung đột nội tâm của người chinh phụ: sự tàn phá ghê gớm của hoàn cảnh khắc nghiệt và sự trỗi dậy của tinh thần người thiếu phụ đòi được sống, được yêu thương và những vần thơ thần bút đã hiện lên cùng với tinh thần ham sống, dam mê, khát khao hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ:Xem thêm: Phân tích ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn ghi ta trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo“Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau”
Thiên nhiên đã bày ra một cuộc ái ân thật là mê li. Những ẩn dụ “hoa”, “nguyệt” đã tạo ra “trường liên tưởng” về một quá khứ tình cảm êm đẹp, về chuyện buồng the ân ái nồng nàn. Nhạc điệu uyển chuyển, tha thiết hơn, nồng nàn hơn bằng những điệp ngữ, điệp từ, bằng sự hòa âm, hòa điệu tạo ra sự trùng điệp mê li. Bằng những hình ảnh hoa nguyệt gợi cảm lạ lùng, bằng nhạc điệu đầy cám dỗ, tác giả đã tạo nên nỗi lòng khao khát hạnh phúc lức đôi của người chinh phụ. Và đây cũng là những dòng thơ thể hiện một cách rực rỡ vẻ đẹp mĩ lệ của tiếng Việt.
Đoạn thơ đã thể hiện một cách rực rỡ tài hoa của tác giả và dịch giả Chinh phụ ngâm. Tình cảm nhân bản, nồng nàn. Tư tưởng sâu sắc, thái độ căm ghét chiến tranh, phản kháng chiến tranh được bộc lộ một cách kín đáo, tế nhị (chỉ bóng gió mà thái độ oán trách vua vẫn lộ ra “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu”). Bút pháp biến hóa, nhạc điệu thay đổi rất hay (âm điệu của từ láy ở hai khổ thơ đầu, âm điệu và thanh sắc ở khổ ba, bôn, điệp từ, điệp ngữ ở đoạn kết). Đoạn thơ gây xúc động đổi với người đọc là những biểu hiện sông mãnh liệt của người phụ nữ bị chiến tranh vùi dập. Nỗi nhớ chồng (chinh phụ) tha thiết, vô vọng. Thương nhớ, sầu muộn trong chia lìa ảm đạm đã tàn phá cả tinh thần và thể xác của người chinh phụ, nhưng không có gì có thể dập tắt được ngọn lửa của sự sông, của tình yêu và những khát vọng về hạnh phúc lứa đôi trong lòng người chinh phụ.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về nỗi buồn chinh phụ trong đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm) | 1,585 | |
Cảm nhận về Nỗi thương mình (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)
Hướng dẫn
Nghệ Tĩnh vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi thoát ẩn của những bậc thi sĩ, anh hùng, nơi sinh ra những con người có chí ý vững bền, tâm hổn mạnh bạo. Đại thi hào Nguyễn Du cũng là một trong những người được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy. Sự nghiệp thơ văn của ông không nhiều nhưng những gì mà ông đóng góp cho kho tàng văn học dân tộc lại vô cùng đồ sộ, vĩ đại. Truyện Kiều là một trong những kiệt tác của Nguyễn Du. Từ cốt truyện của Thanh Tâm tài nhân. Nguyễn Du đã sáng tạo nên một tác phẩm mới với cái nhìn mới về con người, xã hội. Với Nguyễn Du không chỉ là câu chuyện tài mệnh mà còn là câu chuyện giữa tài và tâm. Chính điều này đã mang đến cho Truyện Kiều một linh hồn mới, một sức sống mới, phù hợp với tâm hồn của người Việt Nam. Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa Việt Nam và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống. Nhân vật trung tâm của Truyện Kiều là nhân vật Thúy Kiều – một con người tài sắc vẹn toàn. Nhưng cũng không tránh khỏi bi kịch của cuộc đời. Đoạn trích Thuý Kiều tự thương mình tả lại cảnh Kiều mắc lừa Sở Khanh, bị Tú Bà đánh đập tàn nhẫn. Thuý Kiều đành nhận lời tiếp khách làng chơi.
Đoạn trích Nỗi thương mình nằm ở vị trí từ câu 1229 đến 1240. Tái hiện cảnh lầu xanh và tâm trạng của Thuý Kiều sau khi tỉnh giấc thấy xót thương mình.
Mở đầu đoạn trích Nguyễn Du miêu tả cảnh ăn chơi trác táng ở chốn lầu xanh:
Lầu xanh mới rủ trướng đào
Càng treo giá ngọc, càng cao phẩm người.
Trướng đào tức là biểu hiện quảng cáo có hàng mới và có hàng mới ắt có đông người tìm đến vì đông người nên giá mua vui càng cao:
Hai câu tiếp theo của đoạn trích:
Biết bao bướm lả ong lơi
…Dập dìu lá gió cành chim.
Rồi tiếp đó là những cuộc say sưa nào là trận cười, cảnh đưa rước… tất cả những cuộc vui đó cứ kéo dài ra quanh năm suốt tháng. Đây chính là cách dùng ngôn ngữđộc đáo của Nguyễn Du khi miêu tả những cuộc vui ở lầu xanh. Khách làng chơi đến lầu xanh được ví như loài ong bướm lúc nào cũng lả lơi.
Bướm lả – ong lơi
Lá gió – cành chim
Cảnh sinh hoạt ở một ổ ăn chơi, một cái gì đó dữ dội xô bồ, gấp gáp bởi những từ ngữ mà Nguyễn Du sử dụng khá đặc biệt, xé các nhóm từ rồi đan chéo lại với nhau. Cho nên trong một câu thơ một chủ thể, một vị thể được tách thành hai chủ thể, hai vị thể. Sự tách bạch đó không đơn thuần chỉ được nhân lên về lượng mà còn nhân lên cả về chất. Cuộc sống buông thả, không nề nếp, quy củ mà vô cùng trác tán.
Trước hết câu thơ không có chủ từ, đó là chốn lầu xanh, bởi đâu đâu cũng thấy nàng Kiều xuất hiện là nhân vật trung tâm của giá ngọc phẩm người:
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Nguyễn Du không để cho nàng Kiều xuất hiện trực tiếp mà ông chỉ lách ngòi bút của mình thôi mà đã hiện lên tất cả.
Khi tỉnh rượu cũng là lúc đã tàn canh. Hay đúng hơn cũng là lúc cuộc chơi đã hết. Kiều tỉnh giấc và thương mình: Giật mình, mình lại thương mình xót xa. Câu thơ này đã đưa nàng Kiều từ phận gái lầu xanh trở về với con người nàng Kiều đích thực.
Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ qua một số tác phẩm văn học trung đại đã học: Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều)Tỉnh rượu, tàn canh là lúc con người sống thật với lòng minh nhất, tự ý thức về những hành động của mình, ý thức về những điều chua chát, đắng cay về bản thân mình. Và đôi khi đã ý thức được hành động của mình thì đó cũng là lúc nhân phẩm của con người trỗi dậy, và lúc này đây sự trỗi dậy của nhân phẩm, của bản chất tốt đẹp ở nàng Kiều. Chỉ trong một câu thơ thôi có tới ba chữ mình nhưng Kiều vẫn cảm thấy mình cô đơn. Kiều tự suy nghĩ, đánh giá, tự thương mình. Chữ mình thứ hai có ý nghĩa quan trọng nhất, chính chữ mình này biểu hiện sự tự thương lớn nhất, chỉ có mình thấu hiểu hoàn cảnh của mình, bản thân mình, không ai có thể thấu hiểu bản thân mình bằng mình trong lúc này. Chữ mình thứ hai này nửa trực tiếp, nửa gián tiếp, là lời Kiều tự nói với mình, cũng là lời nói của tác giả, tác giả như thấu hiểu mọi nguồn cơn, mọi sự tình và cùng chia sẻ, cảm thông với thân phận bọt bèo, nổi trôi của nàng Kiều. Đây là một câu thơ đa nghĩa có độ sâu làm lay động lòng người.
Sau khi giật mình và tự thương mình Kiều luôn sống trong tâm trạng buồn thương:
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
Mặc người mưa sở, mây
Tần Những mình nào biết cố xuân là gì?
Tâm trạng của Kiều lúc này đang có sự phân thân. Hiện tại thì đau đớn, tan tác, chia lìa, nhục nhã đau đớn, đối lập với quá khứ, một quá khứ êm đềm, trong trắng trinh nguyên. Cuộc sống khi xưa thơ mộng đẹp đẽ bao nhiêu thì cuộc sống hiện tại nhục nhã ê chề bấy nhiêu. Những dằn vặt da diết đau đớn của một con người bị xô đẩy vào một hoàn cảnh đối lập hoàn toàn với bản chất, tâm hồn và với cuộc sống trong sạch trước đấy.
Một lời than, sự ngạc nhiên, sự dằn vặt và ẩn đằng sau là nỗi tủi thân chua xót đến cùng cực. Trước là cuộc sống êm đềm hạnh phúc, tinh khôi… giờ chỉ là một bông hoa tan tác, bị dùi dập giữa đường, bị ngắt khỏi cành bi lìa khỏi cội. Cuộc sống thật phũ phàng, cuộc đời thô bỉ, với cảnh tượng dày vò, mua đi bán lại:
Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Ở câu thơ này không đơn thuần chỉ là sự so sánh hai từ sao đặt liền nhau câu trước, câu sau tạo nên sự cách biệt. Một con người, hai thân phận, cộng lại là nỗi chua xót đắng cay, tủi thân đến vô bờ:
Mặt sao dày gió dạn xương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.
Nói đến mặt là nói đến tâm hồn, thế mà giờ đày mặt dày gió dạn xương. Nàng nhớ đến những, bướm lả ong lơi mà cay đắng tủi nhục, khôn cùng.
Trong đoạn trích Nỗi thương mình Nguyễn Du đã đặc biệt thành công trong việc miêu tả tâm trạng của nàng Kiều. Biệt tài của Nguyễn Du trong đoạn trích là miêu tả tâm trạng cô độc của Kiều, bị tách ra khỏi sự giao tiếp xã hội để giao tiếp với nội tâm thì thiên nhiên lập tức xuất hiện để nói hộ lòng người. Thiên nhiên với con người làm một, cảnh hòa với tình. Nguyễn Du có được thành công ấy là do tác giả đã vận dụng sự hiểu biết của mình về cuộc đời trong việc xây dựng, khám phá nội tâm nhân vật cũng như nghệ thuật sử dụng từ ngữ một cách chính xác, lựa chọn, sáng tạo hình ảnh phù hợp với hoàn cảnh. Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Kiều, một tâm trạng bi thương, thấm thìa. Một con người có ý thức sau xa về nhân phẩm của mình và giữ gìn phẩm chất ấy cho dù cuộc đời có vùi dập đến đâu vẫn không sao xóa bỏ được ý thức ấy cho dù ở chốn lầu xanh. Khi xây dựng nhân vật Thuý Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện lòng thương cảm sâu sắc đối với nhân vật đồng thời qua đó tác giả cũng lên án, phê phán xã hội một cách sâu sắc.
Nguồn: thêm: Dựa vào văn bản ”Vượt thác” kết hợp với thông tin qua sách báo, ti vi... em hãy tả lại hình ảnh một người làm nghề chèo thuyền | Cảm nhận về Nỗi thương mình (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) | 1,492 | |
Cảm nhận về nỗi đau chia li qua truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê (Khánh Hoài)
Gợi ý
Chia li, chuyện ấy tưởng như chỉ có ở con người, ở những người đã lớn, đã trưởng thành. Vậy mà tác giả Khánh Hoài đã đem sự chia li ấy đến với hai con búp bê qua tiêu đề truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê. Rồi từ câu chuyện chia tay của hai con búp bê tác giả dẫn ta đến với cuộc chia tay đẫm nước mắt của hai anh em Thành, Thủy vì cha mẹ li hôn. Đọc truyện ngắn của Khánh Hoài lòng ta thấy xót xa, thấy thương cho Thành, Thủy và thầm hỏi, trong cuộc sống này, còn có bao nhiêu cuộc chia tay làm tâm hồn trẻ thơ sớm phải đau đớn như thế?
Truyện được kể theo ngôi thứ nhất, người xưng tôi trong câu chuyện là Thành – người anh trai có cô em gái tên Thủy. Bố mẹ li hôn, Thành ở lại thành phố. Thủy theo mẹ về quê. Chọn ngôi kể thứ nhất này đã giúp truyện hấp dẫn, sinh động, tăng tính chân thực bởi người kể chuyện cũng chính là người trực tiếp tham gia câu chuyện, trực tiếp chịu nỗi đau chia li. Ta hãy bắt đầu từ cuộc chia tay nhỏ nhất – cuộc chia tay của hai con búp bê Vệ Sĩ và Em Nhỏ. Mẹ bắt hai anh em Thành – Thủy chia đồ chơi. Từ hai con búp bê, tác giả giúp người đọc cảm nhận tình yêu thương đằm thắm của hai anh em. Dòng hồi ức của Thành trở về với những kĩ niệm thân thương của hai anh em. Lần Thủy mang kim chỉ ra tận sân vận động vá áo cho anh. Trong tâm trí Thành vẫn còn nhớ như in từng mũi kim của em rất khéo. Đêm, Thành hay ngủ mơ thấy ma, Thủy "võ trang" cho con Vệ Sĩ rồi đặt nó ở đầu giường gác cho anh ngon giấc. Còn Thành thì thường đưa đón em mỗi buổi học về, anh em vừa dắt tay nhau đi vừa trò chuyện, Thành cũng thường giảng bài, giúp em học… Kỉ niệm cứ thế mà ùa về theo dòng hồi ức đẫm nước mắt của Thành. Cũng qua dòng hồi ức ấy, ta thấy Thành và Thủy hết mực thương nhau, vậy mà phải dứt lìa. Rồi khi chứng kiến cảnh Thành và Thủy chia đồ chơi, đặc biệt là chia hai con búp bê lòng ta một lần nữa quặn đau cùng anh em họ. Hãy thử nhìn cái cách Thủy phản ứng khi thấy anh mình đặt hai con búp bê sang hai bên: "Thủy tru tréo giận dữ" rồi trách "Sao anh ác thế". Khi thấy anh đặt hai con búp bê trở lại gần nhau thì cặp mắt Thủy dịu lại, hình như Thuỷ bằng lòng. Có lẽ trong sâu thẳm tâm hồn cô bé, nỗi đau chia li luôn ám ảnh, bởi thế Thủy đã không thể chịu được khi phải chứng kiến sự chia li, dù chỉ là của hai con búp bê vô tri. Và khi người anh để Vệ Sĩ và Em Nhỏ bên nhau, lòng Thủy dịu lại. Nhưng rồi nghĩ đến anh mình, Thủy lại chợt kêu lên: "Lấy ai gác đêm cho anh?". Mâu thuẫn giằng xé trong lòng cô bé ấy. Ta chợt thấy lòng mình nhói đau. Cuộc chia ta của hai con búp bê tưởng sẽ nhẹ nhàng kia hóa ra lại trở thành nỗi trăn trở, đau đớn trong lòng cả hai anh em và cả lòng người mẹ. Bởi ta hiểu rằng, tác giả không chỉ kể một cuộc chia tay của hai con búp bê hay việc chia đồ chơi một cách đơn thuần. Đằng sau đó là cuộc chia tay của cha mẹ, của anh em Thành. Là nỗi trăn trở của một tấm lòng giàu yêu thương và cảm thông. Bởi thế cuộc chia tay thứ nhất đã làm không ít trái tim thổn thức cùng hai anh em Thành, Thủy. Xem thêm: Dạy và học văn đầy nghịch lý
Cuộc chia tay thứ hai cũng không kém phần xúc động. Thành dắt tay em đến trường để chia tay cô giáo và các bạn. Hãy nhìn cô bé Thủy lúc ở sân trường: "Em cắn chặt môi, im lặng, mắt đăm đăm nhìn khắp sân trường, từ cột cờ đến bảng tin… Rồi em bật khóc thút thít", ta đủ biết lúc này Thủy đang xúc động rất mạnh. Có lẽ, cô bé đang cố ghi nhớ hình ảnh ngôi trường thân thương vào kí ức, bởi chúng ta biết rằng, với trẻ thơ, trường học chính là ngôi nhà thứ hai, gần gũi và thân thiết, sắp xa vĩnh viễn ngôi nhà thứ hai ấy, thử hỏi làm sao bé Thủy không xúc động cho được. Rồi cảnh chia tay trong lớp học diễn ra. Thủy khóc, cô giáo nước mắt giàn giụa, các bạn cũng thút thít khóc. Một lần nữa mắt ta cũng như nhòe đi trước cuộc chia tay giữa bé Thủy cùng cô giáo và các bạn. Nỗi đau ấy rồi sẽ trở thành một kỉ niệm buồn trong kí ức tuổi học trò của Thủy. Càng đau đớn hơn khi ta biết rằng, việc học của Thủy sẽ phải dừng lại bởi "nhà bà ngoại ở xa trường lắm". Một tương lai toàn màu xám mở ra trước mắt cô bé học sinh lớp bốn đáng thương ấy. Có thể dửng dưng được chăng, trước những thiệt thòi mất mát của con trẻ từ cuộc chia tay của cha mẹ? Hình ảnh một cô bé gầy gò, ngồi bên thúng hoa quả ở một góc chợ quê chợt hiện về trong trí tưởng tượng của tôi. Tương lai của em đấy sao, cô bé Thủy bé bỏng tội nghiệp? Khép lại cuộc chia tay thứ hai là cảnh anh em Thủy – Thành trở về và sự kinh ngạc của Thành khi "thấy mọi người vẫn đi lại bình thường. Và nắng vẫn vàng ươm trùm lên cảnh vật". Nghĩa là cuộc sống vẫn diễn ra bình thường, mọi vật vẫn bình yên chỉ có tâm hồn anh em Thành là đang giông bão. Càng thấy các em lạc lõng bơ vơ giữa dòng đời, giữa những toan tính nghĩ suy của người lớn. Một lần nữa trong ta câu hỏi lại trở về: làm gì để không còn ở cuộc đời này sự thờ ơ, bình thản đến vô tâm ấy nữa? Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Cảm nghĩ về bà Cuộc chia tay thứ ba cũng là cuộc chia tay cuối cùng trong câu chuyện: "Vừa tới nhà, tôi đã nhìn thấy một chiếc xe tải đỗ trước cổng. Mấy người hàng xóm đang giúp mẹ tôi khuân đồ đạc lên xe". Mặc dù đã biết trước sự chia tay ấy, nhưng giường như không ai muốn đón nhận nó, đặc biệt là Thành và Thủy. Bởi thế, cô bé Thủy "như người mất hồn, mặt tái xanh như tàu lá". Và câu chuyện về cuộc chia tay của hai con búp bê trở lại, Thủy mở hòm đồ chơi, lấy con Vệ Sĩ đặt lên giường cho anh rồi ôm ghì lấy con búp bê, hôn gấp gáp lên mặt nó và thì thào: "Ở lại, gác cho anh tao ngủ nhé! Xa mày, con Em Nhỏ sẽ buồn lắm đấy, nhưng biết làm thế nào…". Lại một lần nữa ta chứng kiến nước mắt của những đứa trẻ vô tội Thủy "khóc nức lên", còn Thành cũng "khóc nấc lên". Người chia xa, anh em li biệt, hai con búp bê những tưởng đã chịu chung số phận với anh em Thành, Thủy. Nhưng thật bất ngờ "Bỗng em lại tụt xuống khỏi xe, chạy về phía tôi, tay ôm con búp bê em đi nhanh về chiếc giường, đặt con Em Nhỏ quàng tay vào con Vệ Sĩ" và bắt Thành hứa không bao giờ để chúng xa nhau. Một kết thúc có hậu cho hai con búp bê. Chúng không phải lìa nhau. Còn anh em Thành, Thủy thì sao? Cuối cùng thì chiếc xe tải vẫn rồ máy lao đi mang theo đứa em nhỏ và những kỉ niệm đầy ắp của hai anh em mà không hẹn ngày gặp lại. Mắt ta lại một lần nữa nhòe đi, tim như có ai bóp chặt khi chứng kiến cảnh chia tay ấy. Xem thêm: Bài văn biểu cảm về cây chuối lớp 7 hay nhất Không kể nhiều chuyện của người lớn và nguyên nhân của cuộc chia tay. Tác giả Khánh Hoài xoáy vào ba cuộc chia tay đẫm nước mắt và hậu quả mà anh em Thành, Thủy phải gánh chịu khi cha mẹ li hôn. Đặc biệt là viết về tâm hồn, tình cảm trong sáng, nhân hậu, thiết tha của hai đứa trẻ. Bởi thế, câu chuyện có sức lay động lớn, có sức truyền cảm, ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Ý nghĩa giáo dục cũng vì thế mà được nhân lên và dễ dàng đi vào lòng người, nhất là với những người làm cha, làm mẹ. Và trên hết, tác giả muốn gửi đến mọi người thông điệp: trách nhiệm của người làm cha, làm mẹ trong việc giữ gìn tổ ấm gia đình và bảo vệ hạnh phúc trẻ thơ. Hãy để các em được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình và xã hội.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về nỗi đau chia li qua truyện ngắn Cuộc chia tay của những con búp bê (Khánh Hoài) | 1,621 | |
Đề bài: Cảm nhận về phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu
Trương Hán Siêu là một danh sĩ đời Trần, sau lúc qua đời được vua Trần truy phong là Thiếu Bảo.Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục Thuý sơn khắc thạch”,”Linh tế tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng giang phú”,…Trong thơ văn cỗ Việt Nam có một số tác phẫm lấy đề tài sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.
“Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn này. Bài cảm nhận về “Bạch Đằng giang phú” dựa trên văn bản dịch của giáo sư Bùi Văn Nguyên.
Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình. Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thuỷ. Phú Đường luật được đặt ra từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chữ, có những kiểu câu được quy pạm rõ rang. “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu viết theo lối phú cổ thể, có vần sử dụng phép đối rất sáng tạo:
… “Tiếng thơm đồn mãi,
Bia miệng không mòn.
Đến chơi sông chừ ủ mặt
Nhớ người xưa chừ lệ chan…”
Qua bài phú này, Trương Hán Siêu ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ, dòng sông lịch sử đã gán liền với tên tuổi bao anh hùng, với bao chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong sự nghiệp chống xâm lăng. Nhà thơ khẳng định: Núi sông hiểm trở, nhiều nhân tài hào kiệt đã tạo nên truyền thống anh
Hùng của dân tộc, sự bền vững của Tổ quốc muôn đời. Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo của “Bạch Đằng giang phú”.
“Giương buồm giong gió chơi vơi”.
“Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật “khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc) của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc, Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.
Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,…
Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:
“Nơi có người đi
Đâu mà chẳng biết”.
Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự. Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Độc tiểu thanh ký của Nguyễn Du“Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.
Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.
“Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”
Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”. Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ “Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với cánh buồm thơ lần theo sông núi:
“Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,
Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”
“Bát ngát sóng kình muôn dặm”
Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và dài, cuồn cuộn nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu xanh bao la “Bát ngát sóng kình muôn dặm – Thướt tha đuôi trĩ một màu- Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”. Câu văn tả rhực mượn một hình ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng Bạch Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết: “Thuồng luồng nuốt thuỷ triều, cuộn làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối- Lầm tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh chiến trường rùng rợn một thời:
“ Bờ lau san sát
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy
Gò đầy xương khô
Bpờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch Đằng”).
Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu sắc gợi cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ được miêu tả qua những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục năm sau trận đại thắng trên sông Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng sông cảm thương xúc động:
“ Buồn vì cảnh thảm
Đứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.
Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu” của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ nguồn”
“Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”
Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông, nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt của tổ tiên:
“ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,
Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người trong bài thơ “Chiều tối” (mộ) của Hồ Chí Minh | Cảm nhận về phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu | 1,460 | |
Cảm nhận về sự gặp gỡ của hai tâm hồn, nhà quân sự qua bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi và Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Đọc Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi ta bỗng nhớ đến Cảnh khuya của Hồ Chí Minh và đọc Cảnh khuya của Hồ Chí Minh, ta liên tưởng đến Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi. Vì sao vậy? Phải chăng hai kiệt tác thi ca là nơi gặp gỡ của hai tâm hồn nghệ sĩ lớn?
Mở đầu hai tác phẩm nỗi tiếng này là hai bức tranh thiên nhiên diễm lệ. Cả hai bức tranh ấy đều được phác họa bằng nét vẽ đầu tiên đầy ấn tượng: tiếng suối chảy rì rầm, êm đềm và thơ mộng, lãng mạn và quyến rũ:
Côn Sơn suối chày rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
(Bài ca Côn Sơn)
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
(Cảnh khuya)
Trong cảnh thanh tĩnh của núi rừng, âm thanh của tiếng suối gợi bao cảm xúc. Nó tha thiết như chính thiên nhiên đang vẫy gọi. Nhà thơ của chúng ta bỗng thấy dạt dào cảm hứng. Họ lắng nghe và cảm nhận tiếng suối chảy không chỉ bằng thính giác mà cả tâm hồn mình – một tâm hồn nghệ sĩ thanh cao và lãng mạn. Tiếng suối chảy róc rách hay chính Đất Trời đang dạo nhạc để cho lòng người ngất ngây? Xem thêm: Qua hai nhân vật Mị và A Phủ hãy phân tích giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) Hai hình ảnh so sánh thật đẹp, thật độc đáo. Nó giống như hai anh em sinh đôi vậy. Chỉ khác là với Nguyễn Trãi thì tiếng suối là tiếng đàn cảm, còn với Hồ Chí Minh thì tiếng suối lại là tiếng hát. Dù là tiếng đàn hay tiếng hát thì nó cũng là âm nhạc. Nhạc trời hay nhạc rừng? Hay chính bản nhạc yêu đời, yêu cuộc sống đang ngân lên trong tâm hồn thi nhân? Chẳng biết vì sao mà hai nhà thơ ở hai thời đại cách xa nhau như thế lại có chung một cảm nhận. Chao ôi, sự cảm nhận của thi nhân mới tinh tế làm sao!
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về sự gặp gỡ của hai tâm hồn, nhà quân sự qua bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi và Cảnh khuya của Hồ Chí Minh | 383 | |
Cảm nhận về thân phận người lao động nghèo trong xã hội xưa qua bài ca dao: Thương thay thân phận con tằm
Gợi ý
Ca dao là tiếng lòng của người lao động trong xã hội xưa. Trong tiếng lòng ấy, ta nghe thấy lời tâm tình về tình yêu quê hương đất nước, lời tâm tình của lòng cha mẹ yêu con, lời của người con hiếu thảo, lời tha thiết nồng nàn của đôi lứa và cả những lời than cho kiếp người bị xã hội dập vùi. Một trong những lời than thân ấy là bài ca dao:
"Thương thay thân phận con tằm
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.
Thương thay lũ kiến li ti
Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.
Thương thay hạc lánh đường mây
Chim bay mòi cánh biết ngày nào thôi.
Thương thay con cuốc giữa trời
Dầu kêu ra máu có người nào nghe".
Đúc kết và dồn nén. Lời than đã chắt lọc những gì tiêu biểu nhất để rồi dùng một vài hình ảnh, từ ngữ giàu sức biểu đạt. Tập hợp hình ảnh bốn con vật: tằm, hạc, kiến, cuốc, mỗi con vật một số phận một dáng vẻ riêng là những ẩn dụ về con người, kiếp người trong xã hội cũ với nỗi khổ vì thiếu thốn vật chất và đè nén về tinh thần.
Bắt đầu từ thân phận con tằm:
"Thương thay thân phận con tằm
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ” Xem thêm: Đọc truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” của Puskin và kể lại theo ngôi thứ nhất của ông lão đánh cá Sinh ra để làm tơ, nhả tơ, con tằm rút ruột mình để cho người sợi tơ óng. Lúc rút hết ruột mình cũng là lúc con tằm kết thúc đời tằm, chỉ còn xác nhộng vô tri. Làm đẹp cho người, tằm phải tự kết liễu đời mình. Một nắm lá dâu thôi, tằm cho những sợi tơ quý. Và khi lấy được tơ rồi, ngay lập tức, tằm bị rẻ rúng, bị gạt sang bên lề của cuộc sống. Người lao động xưa cũng thế, vắt kiệt sức mình, họ làm giàu cho bọn địa chủ, quan tham để rồi gục chết mà không nhận được chút lòng thương. Vứt xác tằm cũ, một lứa tằm mới lại được nuôi để hiến tơ. Kiếp người cũng thế, hết cha lại con, đời đời kiếp kiếp đem sức mình, còng lưng, sấp mặt làm ra của cải cho chúng chất thành núi còn thân xác ngày một xác xơ đến tận cùng như con tằm bị rút tơ. Mượn hình ảnh con tằm và sự bòn rút tận ruột gan, bài ca dao dồn nén bằng nghệ thuật ẩn dụ đã gợi ra bao nỗi thảm thương của thân phận con người trong xã hội phong kiến khi mà đất nước còn nô lệ. Và hơn hết ta thầm ước một sự đổi đời cho đất nước và mỗi kiếp người.
Từ con tằm rút tận cùng thân xác để cho tơ rồi chết trong sự ghẻ lạnh ta đến với con kiến cũng đáng thương không kém con tằm. Bản thân con kiến bé li ti, ai cũng biết và hẳn phần nó ăn cũng tí ti như thế. Vậy nhưng, lúc nào thấy kiến ta cũng gặp sự mải miết, vội vàng, không ngừng nghỉ. Nó kiếm mồi để còn nuôi kiến chúa. Thứ kiến to kềnh chỉ nằm trong hang sẵn chờ kiến thợ mang mồi về ăn. Nằm trong hệ thống hình ảnh ẩn dụ, "lũ kiến bé tí ti" chính là những kiếp người. Họ làm nhiều, rất nhiều đấy nhưng nào hưởng thụ được bao bởi phần lớn của cải họ làm ra phải giành cho "kiến chúa", cho bọn chỉ chuyên "ngồi mát ăn bát vàng" không hiếm ở nông thôn xưa. Xem thêm: Tường thuật một hoạt động từ thiện của lớp em Cũng đáng thương không kém là hình ảnh chim hạc gày gò. Cánh mỏi rã rời mà vẫn cứ phải bay. Không có điểm dừng, không biết khi nào dừng. Con chim hạc ấy cứ bay vô định, nhẫn nại, cam chịu… Kiếp người cũng thế, phận khổ và nghèo, làm lụng liên miên mà tương lai thì vô định, cố gắng mà vô vọng cả hạc và người của ca dao đem đến cho ta cảm giác ngậm ngùi thương thân hạc gầy, phận người nghèo khổ khốn cùng và ước một điểm dừng cho hạc nghỉ đôi cánh, ước một tia sáng của niềm hi vọng cho những con người đáng thương.
Cuối cùng là hình ảnh con cuốc, thân xác rạc gầy, tiếng kêu khắc khoải, tha thiết, quặn đau đến ứa máu mà nào ai thèm nghe. Tiếng kêu ấy theo gió, tan loãng vào không gian, tan loãng vào cõi đời và lòng người hờ hững, vô cảm. Lại một ẩn dụ sâu sắc về con người. Thấp cổ bé họng là cách mà người ta gọi những người nghèo khổ tận cùng trong xã hội, bởi thế, tiếng kêu của họ cũng như tiếng kêu kia của cuốc, ai đoái hoài, ai thương, ai cảm thông?
Khép lại bài ca dao là tiếng kêu khắc khoải của con quốc. Tiếng kêu ấy da diết dội vào lòng ta. Những kiếp người và cuộc đời của tằm, kiến, của hạc, của cuốc trong bài ca dao đã là quá khứ. Cách mạng và sự đổi đời đã đem cho ta cuộc sống mới, nhưng khi đọc những lời than thân ấy của cha ông, ta càng hiểu hơn, càng thương hơn quá khứ đau thương, của dân tộc và trân trọng cuộc sống đủ đầy mà mỗi ngày ta đang được nhận. Xem thêm: Cảm nghĩ về mùa Xuân trên quê hương em lớp 7Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về thân phận người lao động nghèo trong xã hội xưa qua bài ca dao_ Thương thay thân phận con tằm | 976 | |
Đề bài: Qua bài thơ Bánh trôi nước, Tự tình II của Hồ Xuân Hương và bài Thương vợ của Trần Tế Xương, anh (chị) hiểu những gì về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa?
Hồ Xuân Hương sáng tác nhiều bài thơ nổi tiếng về đề tài phụ nữ. Thơ bà là tiếng nói đòi quyền sống tự do và thể hiện khát khao hạnh phúc. Trần Tế Xương cũng có một số bài thơ nói về những vất vả gian truân mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ.
Mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước quen thuộc trong dân gian, Hổ Xuân Hương gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc của mình về thân phận nhỏ bé và phụ thuộc của người phụ nữ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Chiếc bánh trôi nước làm bằng bột nếp trắng tinh, mịn màng, tròn trịa và xinh xắn khiến người ta liên tưởng tới vẻ đẹp hổn nhiên, đầy đặn của những cô gái đương xuân. Bánh luộc trong nồi nước sôi, mấy lần chìm xuống nổi lên mới chín. Bột bánh trắng trong nổi rõ màu nâu đỏ của nhân làm bằng đường thẻ. Với đôi mắt và trái tim đa cảm, Hồ Xuân Hương đã nhận ra đằng sau những chi tiết rất thực ấy là cả một nỗi niềm thương thân trách phận của người phụ nữ. Tạo hóa sinh ra họ là để duy trì và phát triển sự sống của nhân loại, đồng thời làm đẹp cho đời. Vai trò của họ là vô cùng quan trọng, nhưng quan niệm thiên vị đến mức lệch lạc trong xã hội phong kiến đã cố tình phủ nhận điều đó. Nào là: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Nào là: Nữ nhân ngoại tộc.
Rồi luật Tam tòng cột chặt người phụ nữ vào thân phận bị phụ thuộc vĩnh viễn: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Những quan niệm khắt khe, cổ hủ ấy đã tước đoạt điều quý giá nhất là được tự do sống đúng với con người mình và đáng sợ hơn là nó biến người phụ nữ thành cái bóng mờ nhạt trong suốt cuộc đời. Họ tồn tại chứ không phải là sống theo đúng nghĩa tích cực của từ đó. Chẳng khác gì những chiếc bánh trôi nước, rắn, nát, méo, tròn hoàn toàn do tay kẻ nặn.
Ở bài thơ Tự tình II, Hồ Xuân Hương đã bộc bạch tâm trạng bức xúc cao độ của bản thân, đồng thời cũng là tâm trạng chung của bao phụ nữ cùng cảnh ngộ trong xã hội phong kiến:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Nói đến người phụ nữ là nói đến cái đẹp, tình yêu thương và đức hi sinh. Họ cống hiến hết cho cuộc đời mà không đòi hỏi quyền lợi vật chất nào ngoài sự trân trọng, cảm thông và chia sẻ. Nhưng những cái đó hầu như không được gia đình và xã hội quan tâm vì cho rằng thiên chức của phụ nữ là phục tùng vô điều kiện. Hiểu rõ điều bất công đó nên Hồ Xuân Hương đã viết nên những câu thơ thấm đẫm nỗi xót xa, chua chát như trên. Hồng nhan là cách gọi những phụ nữ đẹp, rộng hơn là để chỉ chung giới nữ. Nhưng gọi là cái hồng nhan có nghĩa là đã hạ nó xuống ngang hàng với những vật vô tri vô giác khác. Nỗi hờn tủi, bẽ bàng chất chứa trong câu thơ: Trơ cái hồng nhan với nước non in đậm dấu ấn phong cách diễn tả độc đáo của Xuân Hương.
Xem thêm: Phân tích bài "Đám tang lão Gô - ri - ô" của Ban - dắcTâm sự trĩu nặng nỗi buồn thân phận và duyên phận của nữ sĩ không biết ngỏ cùng ai nên càng cuộn xoáy, day dứt trong lòng giữa đêm khuya thanh vắng. Nhưng dù bị phụ phàng hay quên lãng thì nhân vật trữ tình trong bài thơ vẫn không tuyệt vọng, vẫn khao khát sống mạnh mẽ, vẫn ước ao đến cháy lòng hạnh phúc tròn đầy, vẫn mong muốn được san sẻ và bù đắp những tình cảm chân thành nhất giữa người với người.
Bài Thương vợ của nhà thơ trào phúng nổi tiếng Trần Tế xương có thể coi là chân dung tương đối hoàn chỉnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.
Ngày xưa, Nho giáo buộc phụ nữ phải có bổn phận thờ chồng, nuôi con. Thờ chồng đối với bà Tú bao hàm cả việc nuôi chồng, thế là bất công vì đúng ra, người đàn ông phải giữ vai trò trụ cột trong gia đình về mọi mặt.
Bà Tú vốn con nhà gia giáo, khá giả. Lúc còn ở với cha mẹ, bà không phải chịu cảnh vất vả nắng sương. Làm vợ ông Tú lận đận về đường khoa cử, lại không nghề không nghiệp nên bà đành chấp nhận cảnh sống long đong, khổ sở. Quanh năm lo tảo tần buôn bán nơi mom sông, bến chợ để Nuôi đủ năm con với một chồng. Mà nuôi ông chồng đặc biệt tài hoa như ông Tú thì không phải chỉ lo miếng cơm, manh áo bình thường mà còn phải chuẩn bị sẵn cho ông ít rượu ít trà, ít tiền bỏ túi để có lúc ông vui bạn vui bè, chuẩn bị cho ông một hai bộ cánh tươm tất để nhỡ đi đâu ông khỏi tủi… Như vậy là bà Tú phải lo rất nhiều, phải làm rất nhiều mà không dám kể lể, thở than: Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Bà âm thầm coi đó là định mệnh đã an bài. Suy nghĩ và tâm trạng của bà Tú cũng là suy nghĩ, tâm trạng chung của phụ nữ thời xưa.
Nhà thơ Trần Tế Xương từng tự nhận mình là ông chồng vô tích sự, để vợ phải lặn lội thân cò… chẳng khác chi những thân cò thân vạc đáng thương trong ca dao – dân ca, tượng trưng cho thân phận vất vả, cực nhọc của người phụ nữ. Bên cạnh nỗi khổ vật chất, bà Tú còn nỗi khổ tinh thần. Bà hết lòng vì chồng, vì con nhưng chồng con nào có biết cho chăng?! Thế nên mới có tiếng thở dài như một lời than não ruột: Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!
Có lẽ ông Tú đã hoá thân vào vợ mình, để thấu hiểu và thông cảm với bà. Lấy chồng mà chẳng được nhờ vả, cậy dựa; lấy phải ông chồng hờ hững thì quả là có cũng như không mà thôi.
Ba bài thơ cùng một đề tài và cùng toát lên thân phận nhỏ bé, phụ thuộc rất đáng thương của người phự nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Nhà thơ Hồ Xuân Hương và nhà thơ Trần Tế Xương đã góp tiếng nói đáng kể vào tiếng nói chung bảo vệ quyền lợi chính đáng của một nửa nhân loại – những người gánh vác trọng trách duy trì sự sống trên trái đất này.
Xem thêm: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em về đoạn trích "Cha con nghĩa nặng” trong tác phẩm cùng tên của Hồ Biểu Chánh | Cảm nhận về thân phận người phụ nữ Việt Nam thủa xưa | 1,359 | |
Đề bài: Cảm nhận về truyện Chiếc lá cuối cùng
Ai đã từng đọc những truyện ngắn của nhà văn người Mĩ O’Hen-ri (1862 – 1910) hẳn sẽ cảm nhận một điều: từ hiện thực cuộc sống đầy rẫy những bất công vô lý, đem đến bao bất hạnh cho những cuộc đời nghèo khổ, nhà văn luôn khơi dậy được vẻ đẹp tâm hồn những con người ấy qua những tình huống truyện bất ngờ, cảm động. Chiếc lá cuối cùng là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn ắp tràn tình thương yêu và niềm tin với con người, một bức thông điệp khẳng định sứ mạng và sức mạnh của nghệ thuật chân chính.
Câu chuyện kể về cuộc sống chật vật của những người hoạ sĩ nghèo: hai nữ họa sĩ trẻ Xiu và Giôn-xi sống cùng căn hộ với người họa sĩ già Bơ-men. Những khó khăn về vật chất đã vắt kiệt sức sáng tạo, khiến họ lâm vào cảnh bi đát. Cụ Bơ-men suốt bốn chục năm mơ ước vẽ một bức kiệt tác mà không thực hiện được, đành phải ngồi làm mẫu cho các họa sĩ trẻ để kiếm chút tiền còm nuôi thân. Giôn-xi bị sưng phổi, bệnh tật và nghèo túng đã lấy nốt của cô niềm tin vào cuộc sống. Chỉ còn lại Xiu mòn mỏi với những bức vẽ và ám ảnh bởi suy nghĩ của Giôn-xi: cô gái bệnh tật ấy đang đếm từng chiếc lá rơi để chờ định mệnh phán quyết mạng sống của chính mình, với niềm tin khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ ra đi… Không gian cuộc sống của những con người khốn khổ ấy lạnh lẽo u ám như mùa đông, nặng trĩu những buồn lo.
Đáng sợ làm sao khi mỗi ngày trôi đi trong gió tuyết và những cơn mưa lạnh lẽo dai dẳng, những chiếc lá thường xuân tiếp tục rơi xuống, chỉ còn lại một chiếc lá cuối cùng để Giôn-xi như nhìn thấy cái chết của mình đang đến gần. Có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy rối lòng, bất lực trước một con người đã buông xuôi, chán sống. Bởi thế nhà văn đã tập trung miêu tả khoảnh khắc căng thẳng của Xiu và cụ Bơ-men lúc Giôn-xi đang ngủ: “Họ sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”. Có lẽ trong giây phút đó, họ đã nhìn thấy nhánh thường xuân cuối cùng trụi lá rồi chăng? Dường như cùng với cái khắc nghiệt của trời đông, mưa gió, họ có thể đoán trước được điều gì khi Giôn-xi tỉnh dậy vào sáng hôm sau và thấy chiếc lá cuối cùng đã rụng.
Trong hoàn cảnh này, người đau khổ nhất không phải là Giôn-xi mà chính là cô gái trẻ Xiu. Bởi lẽ, cô là người sẽ phải chứng kiến toàn bộ tấn bi kịch sắp diễn ra vào sáng hôm sau khi Giôn-xi lại nhìn ra cửa sổ. Nhà văn không mô tả cụ thể tâm trạng Xiu, chỉ cho biết cô “tỉnh dậy sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ”,như vậy có nghĩa là cô đã phải trải qua một đêm trắng đầy âu lo thổn thức, trong sự bồn chồn và bất lực. Một đêm mưa gió ngoài trời dữ dội, một chiếc lá mong manh bám trên bức tường gạch chắc chắn sẽ bị vùi dập tơi tả, không chống chọi nổi sự tàn phá của tự nhiên. Điều đó có nghĩa là sau phút kéo mành lên, Giôn-xi sẽ nhìn thấy cái chết của chính mình. Nhưng Xiu cũng không thể chịu được khoảnh khắc nhìn thấy “Giôn-xi đang mở to cặp mắt thẫn thờ nhìn tấm mành mành màu xanh đã kéo xuống”. Không kéo mành lên cũng không được, vì như vậy Xiu sẽ mang mặc cảm chính mình mới là người gây ra cái chết của Giôn-xi. Ta hiểu tâm trạng của cô khi làm theo một cách chán nản, bản thân cô cũng không còn phương cách nào giúp cho người đồng nghiệp, người em gái kia từ bỏ suy nghĩ điên rồ đáng sợ kia.
Chính vào lúc ấy, một hình ảnh bất ngờ đã làm đảo lộn mọi dự đoán, đảo ngược cả tình huống tưởng như chắc chắn trong dự định của Giôn-xi, trong nỗi lo của Xiu và trong sự thất vọng của mọi người. Tình huống ấy đã thắp lại niềm hy vọng như một phép màu: vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Có lẽ người vui mừng nhất lúc này là Xiu, vì chiếc lá cô nhìn thấy không phải là một ảo ảnh: “Đó là chiếc lá cuối cùng trên cây. Ở gần cuống lá còn giữ màu xanh sẫm, nhưng với rìa lá hình răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, chiếc lá vẫn dũng cảm treo bám vào cành cách mặt đất chừng hai mươi bộ”. Còn Giôn-xi? Cô cũng nhận ra: “Đó là chiếc lá cuối cùng”, thừa nhận sự thật một cách miễn cưỡng và tiếp tục suy nghĩ: “Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”.
Giôn-xi thật đáng thương nhưng cô cũng thật đáng trách khi vẫn đeo đuổi ý định từ bỏ cuộc sống. Cô chìm đắm trong ý nghĩ kỳ quặc của mình, mặc kệ những sợi dây ràng buộc cô với tình bạn và với thế gian cứ lơi lỏng dần từng sợi một.Cô đã phụ lòng của Xiu, bởi lẽ cô đã xem nỗi đau của mình lớn hơn tất cả mọi sự quan tâm lo lắng của mọi người. Trong thời điểm ấy, sẽ không ai có thể giúp đỡ cô, ngoại trừ chính bản thân cô. Thời gian một ngày kéo dài đằng đẵng để Giôn-xi chứng kiến chiếc lá thường xuân chống chọi với mùa đông khắc nghiệt. Chiếc lá bướng bỉnh ấy không chấp nhận sự buông xuôi của một cô gái còn quá trẻ. Thế nhưng, khi con người ấy đã chấp nhận đầu hàng số phận, thì sức mạnh của màn đêm buông xuống, gió bấc ào ào, mưa đập mạnh vào cửa sổ lại có một uy lực khiến cho Giôn-xi không còn một niềm tin nào vào sự sống của chính mình. Sự cố chấp ấy quả thật đáng chê trách.
Xem thêm: Có một niềm tự hào về mảnh đất Thăng Long - Hà Nội ấy là: "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An". Em hiểu điều đó như thế nào?Nhà văn đã tạo ra một tình huống thử thách trước số phận của Giôn-xi, để rồi, cuối cùng người đọc có thể thở phào nhẹ nhõm: “chiếc lá thường xuân vẫn còn đó”. Chiếc lá mong manh ấy đã chiến thắng được thời tiết khắc nghiệt, để tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Giôn-xi. Cuối cùng, cô gái ấy đã nhận ra sự ích kỷ tồi tệ của bản thân mình. Chiếc lá cuối cùng đã cứu sống một sinh linh. Trước hết là thức tỉnh khát vọng sống tiềm ẩn trong tâm hồn của Giôn-xi, để cô nhận ra: “có một cái gì đấy đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội.”. Phép nhiệm màu đã xảy ra, vượt qua tất cả những quy luật thường tình của thiên nhiên tạo hoá, khiến Giôn-xi không hiểu và không sao hiểu được. Phải chăng, Thượng đế chí công và nhân từ không nỡ để một cô gái trẻ phải sớm giã từ cuộc sống? Không những thế, sau thời khắc bừng tỉnh, cô gái Giôn-xi đã lại bắt đầu mơ ước về tương lai: “một ngày nào đó em sẽ vẽ được vịnh Na- plơ". Thượng đế thật công bằng, vị thượng đế ấy có tên là… Bơ-men.
Người hoạ sĩ già khốn khổ ấy không có quyền năng tối thượng của Thượng đế, nhưng ông có một trái tim giàu lòng thương cảm. Hoá ra, trong thời điểm làm mẫu cho Xiu, con người ấy đã đi đến một quyết định táo bạo, đoạt quyền của Đấng-toàn-năng bằng chính khả năng của mình. Con người đã bốn mươi năm theo đuổi kiệt tác mà không thành công đã tạo nên một kiệt tác cuối cùng của đời mình: chiếc lá cuối cùng! Khi bắt tay vào công việc, người nghệ sĩ chân chính ấy đã âm thầm hành động với ước nguyện thật cao cả: trả lại niềm tin vào sự sống cho Giôn-xi. Không ai được biết có bao nhiêu tinh hoa đã phát tiết trong giờ phút vẽ nên chiếc lá trên tường của cụ Bơ-men. Tất cả đều diễn ra quá bất ngờ, đến nỗi cả Xiu là người đã chứng kiến giờ phút chiếc lá cuối cùng rụng xuống cùng cụ Bơ-men cũng phải bàng hoàng. Ta chợt hiểu những lời nói hối hả của cô với Giôn-xi: “Em thân yêu, thân yêu. Em hãy nghĩ đến chị, nếu như em không còn muốn nghĩ đến mình nữa. Chị sẽ làm gì đây?”. Cô đã hiểu tất cả, nhưng không dám nói rõ cho Giôn-xi, bởi lẽ cô chưa thể hình dung ra phản ứng của Giôn-xi trước một sự lừa dối bắt nguồn từ lòng tốt của người hoạ sĩ già. Lời nói ấy còn bộc lộ một niềm sung sướng vô biên của Xiu trước giải pháp tình thế mà cụ Bơ-men đã nghĩ ra trong đêm chiếc lá cuối cùng thực sự đã rụng xuống. Bởi thế, lần kéo mành vào hôm sau, ta không còn gặp tâm trạng chán nản đến cùng cực của Xiu nữa.
Vì sự sống của một cô gái, cụ Bơ-men đã bất chấp thử thách của thời tiết khắc nghiệt, quên đi sự sống của bản thân mình. Có lẽ bản thân cụ cũng không ngờ đó là bức vẽ cuối cùng của cuộc đời mình, nhưng chắc chắn một điều khi người hoạ sĩ ấy vẽ chiếc lá, bức vẽ ấy không nhằm để lưu lại tên tuổi nghệ sĩ với đời. Điều đáng quan tâm lúc đó là sự sống đã tắt trong tâm hồn một cô gái trẻ, làm thế nào để cô thôi không bị ám ảnh bởi quy luật lạnh lùng của tạo hoá, để rồi vươn lên giữa cuộc đời bằng chính sức sống tiềm tàng trong tâm hồn cô. Đó là lúc người hoạ sĩ già ấy hiểu thấu sứ mạng vinh quang và cao cả của nghệ thuật: hướng về con người chứ không phải là nhằm tạo chút danh tiếng hão huyền, nghệ thuật chỉ thật sự bắt đầu khi sáng tạo của người nghệ sĩ giúp ích cho đời.
Cuối cùng thì Giôn-xi đã vượt qua cửa ải của chính mình, trở lại với niềm tin sự sống nhờ niềm tin vào sức sống mãnh liệt từ chiếc lá cuối cùng – tác phẩm của cụ Bơ-men. Nhưng người nghệ sĩ già ấy đã phải trả một cái giá quá đắt bằng chính mạng sống của mình. Giôn-xi chỉ được biết điều ấy khi đã thật sự bình phục bằng nghị lực của chính mình. Qua lời thuật lại của Xiu, ta hiểu được lòng biết ơn của Xiu đối với người hoạ sĩ cao cả ấy, và cô muốn nhắc nhở Giôn-xi không thể vô ơn trước sự hy sinh của một con người chân chính, vì sự sống của đồng loại đã không ngần ngại xả thân. Cụ Bơ-men đã nhiễm chính căn bệnh sưng phổi của Giôn-xi vào lúc tạo nên chiếc lá cuối cùng giữa một đêm đông mưa gió lạnh lẽo. Chi tiết xúc động này khiến ta tin rằng Giôn-xi dù biết rằng chiếc lá ấy là một sản phẩm nhân tạo, nhưng chắc chắn cô sẽ không bao giờ hối hận trước một sự lừa dối cao cả như thế, Người hoạ sĩ già Bơ-men là hiện thân của sự cao thượng, lòng vị tha, đức hy sinh của một con người chân chính.
Câu chuyện kết thúc bằng một sự đảo ngược tình huống lần thứ hai. Chiếc lá cuối cùng là một sự lừa dối, nhưng lại là một sự lừa dối cao cả để đem lại niềm tin vào sự sống cho con người. Kiệt tác cuối cùng của người họa sĩ già đã được ra đời nằm ngoài tất cả mọi dự đoán của công chúng. Nhưng chiếc lá cuối cùng ấy mãi mãi là bằng chứng của tấm lòng yêu thương con người. Bởi thế, Chiếc lá cuối cùng sẽ mãi bất tử với thời gian.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường sống | Cảm nhận về truyện Chiếc lá cuối cùng | 2,177 | |
Đề bài: Cảm nhận về truyện Cô bé bán diêm
Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.
Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé.
Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây trường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán. Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.
Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.
Xem thêm: Hãy chỉ ra yếu tố thần kì trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và phân tích tác dụng của chúngCó lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy: “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.
Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.
Trong giây phút cuối cùng của đời em, có lẽ nhà văn không muốn người đọc phải chứng kiến một cái chết thảm thương vì rét, vì đói, vì thiếu tình thương và niềm vui trong cuộc đời khốn khổ của cô bé, nên đã cho em rất nhiều ánh lửa và niềm vui được gặp lại bà nội hiền hậu mà em rất mực kính yêu. Hình ảnh bà hiện lên trong những phút cuối cùng của em bé không hẳn là ảo ảnh mà chính là sự thực đã được nhìn qua tâm hồn thánh thiện của em. Bà em hiện ra với nụ cười như ban cho em diễm phúc được sống lại quãng đời ấm áp đầy tình thương thuở trước. Tiếng reo của em khi gặp lại bà cũng những lời cầu xin ngây thơ là tiếng nói cuối cùng của một người sắp giã từ trần thế. Em được sống với niềm vui trọn vẹn của riêng mình nhưng chúng ta có lẽ khó ai cầm được dòng nước mắt: “Dạo ấy, bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.”. Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được sự thực về cuộc đời nghiệt ngã và bất công mà em đang hứng chịu. Điều em cần chính là tình thương thật sự trong một thế giới bao dung và nhân hậu. Bởi thế, cái chết đối với em không còn là một điều đáng sợ. Em được về với bà, đến một thế giới khác “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ”. Nhà văn đã để chính đôi tay bé nhỏ của em thắp lên Ánh sáng – “diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày” – để em được thấy bà em “to lớn và đẹp lão” đến đón em cùng bay vào thế giới ước mơ trong ánh sáng huy hoàng xua hết tối tăm đè nặng cuộc đời em.
Câu chuyện kết thúc. Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt”. Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm”. Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn. Ông đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ. An-đéc-xen đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Lấy chủ đề: Tự học mang lại nhiều ích lợi to lớn. Em hãy viết một số đoạn văn bày tỏ những suy nghĩ của mình về vấn đề này | Cảm nhận về truyện Cô bé bán diêm | 1,642 | |
Cảm nhận về tâm trạng của người vợ với nỗi sầu chia li trong đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc)
Gợi ý
Trong văn học Việt Nam, nỗi sầu chia li đã được nhiều tác giả quan tâm và phản ánh. Nguyễn Dữ có những dòng về sự ngóng trông của người vợ có chồng đi chinh chiến: Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn ngoài vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không sao ngăn được. (Người con gái Nam Xương). Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã viêt rất cảm động về sự chia tay đau buồn của đôi vợ chồng trẻ:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
(Truyện Kiều)
Nhưng có lẽ, chưa có nỗi sầu nào bi thương bằng nỗi sầu chia li của người chinh phụ được diễn tả trong Chinh phụ ngâm khúc.
Chinh phụ ngâm khúc là một sáng tác văn chương xuất hiện vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. Cả khúc ngâm là nỗi sầu nhớ thương vời vợi của người vợ có chồng ra trận. Nỗi sầu ấy đậm đặc ngay từ sau phút chia li:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chănXem thêm: Suy nghĩ của em về tình cảm yêu nước thương dân được thể hiện trong các văn bản Chiếu dời đô của Lí Thái Tổ, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Người chồng chia tay vợ lên đường chinh chiến (một cuộc chinh chiến vô nghĩa đối với họ), người vợ trẻ về một mình trong cô đơn, buồn tủi:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Chao ôi, có sự chia tay nào xót thương hơn thế, có sự ngăn cách nào khắc nghiệt hơn thế. Cả một nỗi sầu chia li nặng nề đã phủ lên khí trời, sắc núi:
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Sự đoái trông của người vợ trẻ thật tội nghiệp. Nàng muốn níu giữ lại mà hình bóng người chồng cứ xa dần, để rồi chỉ còn lại là không gian xa thẳm. Giữa khung cảnh tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh, người vợ càng trở nên lẻ loi, cô quạnh. Sự chia li từ chỗ mới chỉ là cách ngăn, chẳng mấy chốc đã tăng lên nhanh chóng cả về không gian và tâm trạng:
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Dương thiếp hãy trông sang Xem thêm: Cảm nhận của em về văn bản “Sau phút chia li” (trích “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Từ câu Chàng thì đi cõi xa – Thiếp thì về buồng cũ đến Chốn Hàm Dương – Bến Tiêu Tương rồi lại Bến Tiêu Tương – Cây Hàm Dương, thì sự ngăn cách đã lên đến mấy trùng, như mấy trùng nỗi nhớ thương sầu muộn trong lòng người chinh phụ.
Đối với bất kì ai, khi người thân của mình phải đi vào chốn cõi xa mưa gió (chốn binh đao khói lửa, nơi chiến trận thảm khốc), cũng đều có tâm trạng buồn đau thương nhớ. ở người chinh phụ, nỗi buồn đau sầu muộn ấy còn thêm bội phần bởi cái tình chồng vợ đương độ đằm thắm gắn bó thiết tha (còn ngảnh lại – hãy trông sang). Gắn bó mà không được gắn bó, gắn bó mà phải chia li. Thực là oái oăm và nghịch chướng. Thực là thương tâm và đau xót bởi cái cảnh người thì tận chốn Hàm Dương, kẻ thì mãi Bến Tiêu Tương.
Cái tên Hàm Dương – Tiêu Tương (dù là được dùng theo bút pháp ước lệ của văn chương cổ điển) vẫn còn là những địa danh để người vợ có ý niệm về độ xa cách, nhưng đến bốn câu thơ tiếp theo thì cả ý niệm ấy cũng không còn, sự xa cách đã đến cực độ:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâuXem thêm: Tai nạn giao thông đang là một vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Em hãy viết một đoạn văn nêu rõ những hậu quả nghiêm trọng mà tai nạn giao thông gây ra cho đời sống con người Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Trong cảnh trời cao đất rộng, thăm thẳm mênh mông đến khôn cùng., nỗi sầu chia li của người vợ đã trở thành khối sầu, núi sầu chất chồng, đè nặng cả trái tim và tâm hồn nàng, để rồi sau đó sẽ theo nàng về chốn buồng cũ, đè nặng lên cuộc sống mòn mỏi ngóng trông đến hoá đá của nàng.
Tình cảm vợ chồng và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi của người vợ trẻ thật mãnh liệt, nó làm lay động tâm thức bao thế hệ bạn đọc.
Chỉ có tấm lòng đầy ắp tình yêu thương của nhà thơ mới có thể chia sẻ và diễn tả một cách xúc động đến thế.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về tâm trạng của người vợ với nỗi sầu chia li trong đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc) | 949 | |
Cảm nhận về tình cảm anh em thân thương ruột thịt qua bài ca dao: “Anh em nào phải người xa. Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy”
Gợi ý
Tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa là những câu ca dao hay nhất trong kho tàng ca dao việt Nam. Vì sao vậy, giản dị, dễ hiểu thôi, mỗi người đều sinh ra từ chiếc nôi gia đình, lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ, cha, sự sẻ chia của anh chị em ruột thịt. Gia đình là điểm tựa đầu tiên cho ta bước vào đời, cũng là nơi trở về để tìm sự nâng đỡ. Nếu cha mẹ cho ta hình hài, nuôi dưỡng ta lớn lên, dạy dỗ ta nên người thì anh em cho ta thêm đôi cánh, cho ta thêm sức mạnh. Bởi thế, bên cạnh việc nhắc nhở ta về tình yêu thương của cha mẹ và bổn phận của đạo làm con, ca dao còn nhắc ta về tình anh em ruột thịt. Lời nhắc nhở, dặn dò, thấm thía, cảm động làm sao:
Anh em nào phải người xa
Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân
Yêu nhau như thể tay chân
Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy
Quan hệ anh em một nhà được nói hết sức giản dị, dễ hiểu. Anh em ruột thịt khác biệt rõ ràng với quan hệ láng giềng. Dùng phép di chiếu giữa hai tiếng "người xa" ngắn gọn, bình thản với tám tiếng liền hơi "cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân". Thân mật, tha thiết, trang trọng, thiêng liêng là những cảm xúc mà tám tiếng giản dị ấy đem lại. Cách diễn đạt không có gì mới, lạ, không cầu kì, cứ nhẹ nhàng, tự nhiên mà thấm thía, sâu sa. Theo cái mạch ấy, tác giả đi tiếp đến những lời răn: Xem thêm: Phân tích câu nội dung trong những câu hát đối đáp
Yêu nhau như thể tay chân
Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy
Dùng cách nói so sánh đơn giản, hình ảnh so sánh cũng gần gũi – cách nói ta thường gặp trong dân gian, tác giả chỉ cho ta thấy tình anh em như tay với chân, gắn bó, sẻ chia nhưng là sự gắn bó sẻ chia bằng máu thịt. Vậy có dễ tách rời? Dùng một ý niệm trừu tượng là tình yêu thương để so sánh với hình ảnh cụ thể là tay, chân, tác giả dân gian đã gợi cho ta nhiều liên tưởng. Dù ví thế nào, thì cuối cùng, tác giả dân gian cũng nói VỚI ta một điều: ông bà, cha mẹ ta luôn muốn các con cháu mình yêu thương nhau tha thiết, gắn bó VỚI nhau không thể tách rời bằng mạch máu, đường gân trên cùng một cơ thể. Cơ thể ấy là gia đình ta, mẹ cha ta. Bời vậy anh em gắn bó không chỉ làm ấm lòng ta mà còn ấm lòng cha mẹ ta. Phải chăng, đó cũng là cách báo hiếu với người đã sinh thành, dưỡng dục của đạo làm con. Khép lại bằng những thanh bằng, câu ca dao đem đến cho ta cảm giác nhẹ nhàng, êm ái. Cảm giác ấy như được ngân lên, lan toả mãi trong lòng ta, lòng người, về một chân lí giản đơn nhưng có sức sống vĩnh hằng qua thời gian, năm tháng: Xem thêm: Chứng minh câu nói “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết, mà nghĩ đến cái sống” Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.
Một lời răn thấm thía, một lời dạy nhẹ nhàng, sâu xa. Bài học ta nhận được cứ lấp lánh trong hồn ta, lấp lánh trong cuộc sống bởi con người Việt Nam vốn trọng tình, trọng nghĩa, sống đúng với lời răn dạy đó ta đã làm vui lòng cha mẹ ta, vui lòng anh em ta bởi có ai mà không muốn đem đến cho người thân yêu của mình hạnh phúc và niềm vui?.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về tình cảm anh em thân thương ruột thịt qua bài ca dao_ “Anh em nào phải người xa. Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy” | 692 | |
Cảm nhận về tình yêu quê hương của con người gần trọn đời xa quê qua bài thơ Ngẫu nhiên vịết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương
Gợi ý
Hạ Tri Chương là một nhà thơ nỗi tiếng của Trung Quốc vào đời Đường. Ông là bạn vong niên với Lý Bạch. Hầu hết các sáng tác của ông đều thể hiện tình cảm yêu thương sâu nặng với quê hương. Một trong những bài thơ mang cảm hứng chủ đạo về nỗi niềm nhớ quê hương của tác giả là Ngẫu nhiên viết nhân buồi mới về quê (Hồi hương ngẫu thư):
Thiếu tiều li gia, lão đại hồi
Hương ảm vô cải, mắn mao tồi
Nhi đồng tương kiến, bắt tương thức
Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?
Ngay nhan đề bài thơ đã thể hiện niềm xúc động dâng trào khi tác giả trở về với mảnh đất đã sinh ra mình mà gần hết cuộc đời này mới trở lại. Tình cảm nhớ quê luôn thường trực trong lòng tác giả, nhưng phải đến khi trở về hôn lên mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, tình cảm ấy không thể nén được và trào dâng
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Khi đi trẻ, lúc về già)
Quê hương chính là cội nguồn của mỗi cá nhân, gia đình, thậm chí cả dòng họ. Được sinh ra nhưng tuổi ấu thơ đã phải rời gia đình, quê hương sống nơi đất khách quê người. Vậy là tác giả ngay từ nhỏ đã phải làm quen với phong tục tập quán và kể cả lũ bạn hoàn toàn mới lạ. Sự hoà đồng có lẽ cũng nhanh, nhưng nó vẫn không phải là quê nhà, là sinh khí âm dương hội tụ của mẹ cha để sinh ra mình. Điều đó có ảnh hưởng rất nhiều đến nhận thức của nhà thơ. Nỗi niềm nhớ quê đã trở thành thường trực đau đáu trong lòng. Quê hương trong bài thơ là cố hương. Tác giả xa cách không phải là ba năm, mười lăm năm mà là hơn nửa thế kỉ, gần một đời người. Đành rằng cuộc sống chốn Tràng An náo nhiệt, ồn ào, sung túc. Công danh có thành đạt đến mức nào, cái chất quê, cái máu, cái hồn trong ông vẫn không hề thay đổi. Có nỗi đau nào hơn nỗi đau li gia. Tuy vậy, ta thấy rằng với tác giả, vui sướng vô cùng là cuối đời còn được hồi hương.Xem thêm: Cảm nhận về bài tùy bút ‘Sài Gòn tôi yêu’ của Minh Hương Cuộc đời đầy sóng gió và cát bụi, mái tóc còn xanh mướt ngày nào khi xa quê thì nay, chính trên mảnh đất này mái tóc ấy đã bạc phơ. Dầu cho tóc bạc, da mồi, địa vị công danh thay đổi. Nhưng cái cốt cách, cái linh hồn của đất mẹ quê cha vẫn nguyên đó.
Hương âm vô cải, man mao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)
Lời nói, giọng quê vẫn không thay đổi. Ấy chẳng phải là sự gắn bó với quê hương đó sao. Thật vậy truyền thống văn hoá của gia đình, dân tộc quê hương không dễ gì thay đổi được. Nó được ăn sâu trong máu, trong tâm hồn tác giả. Lí Bạch trên bước đường chống kiếm lãng du xa quê từ nhỏ nhưng ánh trăng nơi quán trọ đã gợi trong ông những kỉ niệm thân thương nhất về quê hương. Ánh trăng làm sống dậy một thời gắn bó từ thuở nằm nôi. Hạ Tri Chương cũng vậy, ông sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương hết mực của cha mẹ, của quê hương, chỉ có những kẻ bạc tình mới nỡ nhắm mắt quên đi nguồn cội.
Cảnh cảm động nhường nào khi trên đỉnh danh vọng cao sang mà hình ảnh quê hương không hề phai nhạt. Ta hiểu rằng về với quê có lẽ là ước nguyện lớn nhất của đời ông. Ước nguyện ấy đã biến thành hiện thực, bao năm li biệt nay trở về với quê hương, trong lòng sao tránh khỏi cảm xúc dâng trào. Có lẽ ngay từ đầu ngõ tác giả đã thốt lên con đã về đây hỡi người mẹ hiền quê hương, ông như muốn ôm trọn cả quê hương vào lòng với những dòng nước mắt sung sướng. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam Nhưng về tới quê hương một nghịch lí đã xảy ra:
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?)
Thời gian xa quê dài dằng dặc, bạn bè cùng trang lứa ngày xưa ai còn ai mất. Quê hương đã có thay đổi gì chưa. Đời sống của bà con như thế nào? Bao nhiêu câu hỏi cứ dội về hiện hữu. Sau tiếng cười nói ồn ào của lũ trẻ, lòng tác giả không khỏi man mác. Trong con mắt lũ trẻ thì mình là khách lạ, đó là một thực tế bởi khi ông từ giã quê hương thì làm gì đã có chúng. Sau nụ cười tinh nghịch của trẻ thơ là những giọt nước mắt chua cay và sung sướng. Ta là khách lạ! xa quê gần một đời người nay mới trở lại, ta dù lạ với lũ trẻ thơ như quá đỗi thân thuộc với mảnh đất quê hương. Sung sướng hơn bao giờ hết nhà thơ đang đứng trên mảnh đất quê hương, ông đã thực hiện được tâm nguyện của mình "sống chết vơi quê hương". Tình cảm ấy đẹp quá, thiêng liêng quá!
Cảm ơn nhà thơ Hạ Tri Chương, chính ông đã đánh thức trong lòng độc giả những tình cảm gắn bó với quê hương. Nó làm thức tỉnh bao kẻ đang muốn từ bỏ quê hương. Đồng thời củng cố, khắc sâu hơn niềm tin yêu quê hương gia đình của mỗi con người. Và dĩ nhiên không có tình cảm gắn bó với quê hương sẽ không lớn nổi thành người. Xem thêm: Bình giảng bài thơ ‘Qua Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh QuanVanmau.edu.vn | Cảm nhận về tình yêu quê hương của con người gần trọn đời xa quê qua bài thơ Ngẫu nhiên vịết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương | 1,042 | |
Cảm nhận về tình yêu quê hương qua hai bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buồi mới về quê của Hạ Tri Chương và Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch
Gợi ý
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người
(Quê hương – Đỗ Trung Quân)
Quê hương trong mỗi chúng ta là những gì gần gũi, bình dị nhưng rất đỗi thiêng liêng. Với Đỗ Trung Quân quê hương là chùm khế ngọt, là cánh diều biếc, con đường đi học, là tuổi thơ tắm nắng trưa hè. Còn với Lý Bạch và Hạ Tri Chương thì quê hương chính là gia đình, làng xóm và những kỉ niệm ấu thơ. Dẫu kỉ niệm khác nhau nhưng ở họ đều có chung một tình yêu thương cháy bỏng.
Đời hiệp khách chống kiếm lãng du xa quê từ thuở nhỏ, bao kỉ niệm đành bỏ lại sau lưng để theo chí tang bồng hồ thi. Đêm nay dừng chân nơi quán trọ,
Lý Bạch lại bắt gặp ánh trăng thân thuộc ngày nào. Ánh trăng đêm nay sáng quá, ánh trăng sáng tận đầu giường nơi lữ khách ngơi chân. Ánh trăng đêm nay lạ quá, trăng tràn khắp nẻo, lan ra bao phủ khắp không gian. Đêm vắng, trên mặt đất những giọt sương như những hạt ngọc lung linh. Trăng đêm nay đẹp khiến không ai có thể hững hờ trước sự choáng ngợp của ánh sáng. Lòng lữ khách bồi hồi xao xuyến say sưa trước cảnh đêm trăng. Thi nhân tìm thấy trong không gian tĩnh lặng ấy hơi ấm của quê hương đang lan toả khắp căn phòng: Xem thêm: Loài cây em yêu (Chọn bất cứ cây gì ở làng quê Việt Nam - tre, dừa, chuối, gạo, đa, ổi...) Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Rất tự nhiên ngẩng đầu ngắm trăng sáng. Ánh trăng đêm nay gợi nhớ về kỉ niệm ngày nào trên núi Nga Mi. Nỗi niềm nhớ về quê hương đang trĩu nặng trong lòng, tác giả chạnh về quá khứ, xót xa thay khi nhận ra đang ở quê người. Và cũng rất tự nhiên hành động:
Cúi đầu nhớ cố hương.
Nó như một sự phản xạ không điều kiện, như nằm ngoài ý thức. Dưới ánh trăng khuya một lữ khách đang ngóng mắt về quê hương nơi ấy có mẹ già tần tảo sớm hôm, có bà con láng giềng thân thuộc, có đám bạn chăn trâu thổi sáo, những đêm trăng ríu rít nô đùa… Họ bây giờ ra sao? Quê hương vẫn thế hay có gì thay đổi. Hỏi mà như để khẳng định với chính mình! Và dĩ nhiên khi đôi chân lãng du đã mệt mỏi thì ai cũng trở lại quê hương, về với quê hương là về với mẹ, người mẹ ấy vẫn từng ngày từng giờ dang rộng cánh tay chào đón những đứa con.
Với Lý Bạch ánh trăng gợi nhớ về quê hương. Còn Hạ Tri Chương cũng xa quê từ ngày thơ ấu, lứa tuổi đáng ra phải được sống trọn với quê hương nhưng buồn thay:
Khi đi trẻ, lúc về già
Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao Xem thêm: Phân tích thái độ "sống chết mặc bay" của tên quan huyện trong truyện ngắn "sống chết mặc bay" của Phạm Duy Tốn Sống ở kinh đô Tràng An sầm uất đua chen, lòng tác giả thổn thức chờ ngày về với mẹ. Niềm khắc khoải mong chờ ấy đau đáu bên lòng. Khi đi mái tóc vẫn còn xanh và khi trở lại thì tóc đà khác bao. Tóc đã nhuộm màu thời gian, nhưng giọng quê, hồn quê thì không hề thay đổi. Chất quê hương đã ăn sâu vào máu thịt, nó trở thành giọt máu nuôi sống bản thân. Cảm động xiết bao, thời gian xa cách, tấm lòng với quê son sắt thuỷ chung. Trong cái giọng quê vẫn thế ấy là sự thuỷ chung xa cách lòng sao lại không man mác bùi ngùi. Nếu như Lý Bạch có ánh trăng gợi về quê hương thì Hạ Tri Chương là lũ trẻ nơi đầu xóm. Nghịch lí là lũ trẻ kia không biết ông là ai:
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?
Trở lại quê hương, mái đầu tóc đã pha sương. Bao năm xa cách nay mới được trở về đất mẹ. Tuy xa cách quê hương trong khoảng thời gian đằng đẵng nhưng giọng quê – giọng của quê hương đất mẹ vẫn không thay đổi. Điều đó chứng tỏ rằng với Hạ Tri Chương quê hương là những"gì thiêng liêng nhất. Và như vậy thì dù thời gian và con người có thay đổi nhưng tình cảm với quê hương thì không bao giờ thay đổi. Xem thêm: Qua chùm ca dao "Những câu hát than thân", nghĩ về thân phận những người nông dân trong xã hội cũ Không khỏi xúc động cho hai con người, họ có những cảnh ngộ khác nhau nhưng tình yêu quê hương thì hoàn toàn đồng điệu. Trong lòng hai nhà thơ nỗi nhớ quê hương luôn ăn sâu vào tiềm thức, nó luôn thường trực trong trái tim của mỗi người. Thế mới biết quê hương là nguồn cảm hứng mãnh liệt và được thể hiện ở những cung bậc khác nhau, mức độ khác nhau qua những kỉ niệm khác nhau.
Đúng vậy quê hương trong thơ Đỗ Trung Quân cũng thật bình dị mà sâu sắc: chùm khế ngọt, con diều biếc, con đường đi học,… còn với Tế Hanh thì quê hương hiện lên là làng chài ven biển, con thuyền lướt sóng. Hai tiếng quê hương sao nghe xúc động đến thế.
Cùng một chủ đề là tình yêu quê hương mà mỗi tác giả lại có cách biểu lộ khác nhau. Để rồi khi bài thơ khép lại những ai chưa từng nhớ quê nhà cũng nao lòng tìm đọc nững dòng thơ. Hai bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch và Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương đã để lại trong lòng chúng ta bao tình cảm thiêng liêng, trân trọng với gia đình và quê hương yêu dấu.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về tình yêu quê hương qua hai bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buồi mới về quê của Hạ Tri Chương và Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch | 1,055 | |
Cảm nhận về tình yêu Sài Gòn qua Sài Gòn tôi yêu của Minh Hương
Gợi ý
Sài Gòn tôi yêu là một bài tùy bút nằm trong tập tùy bút – bút kí Nhớ Sài Gòn tập I của Minh Hương. Sài Gòn tôi yêu là một cảm nhận sâu sắc và một mối tình đằm thắm chân tình của nhà văn với con người và mảnh đất mà ông gắn bó suốt mấy chục năm.
Bài tùy bút mở đầu bằng những ấn tượng chung về Sài Gòn: Sài Gòn cứ trẻ hoài như một cây tơ đương độ nõn nà, trên đà thay da, đổi thịt, miễn là cư dân ngày nay và cả ngày mai biết cách tưới tiêu, chăm bón, trân trọng giữ gìn cái đô thị ngọc ngà này. Một sự cảm nhận thật độc đáo, với hình ảnh so sánh liên tưởng đầy bất ngờ, thú vị.
Từ ấn tượng chung, tác giả đột ngột chuyển sang bày tỏ trực tiếp tình yêu Sài Gòn của mình:
Tôi yêu Sài Gòn da diết… Tôi yêu trong nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang ui ui buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh. Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cả cái tĩnh lặng vào buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số đường còn những cây xanh che chở. Xem thêm: Bên cạnh chất hiện thực, truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam còn đậm đà chất lãng mạn. Anh (chị) hãy dựa vào tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam để làm sáng tỏ vấn đề này Ngay trong phần đầu của bài tùy bút, tác giả đã bộc lộ tình yêu nồng nhiệt, thiết tha của mình với thành phố Sài Gòn. Điệp từ tôi yêu được điệp lại ở đầu các câu văn như ngân đi ngân lại điệp khúc tình yêu, như nhấn thêm vào bản đàn tâm trạng rộn rã yêu thương của nhà văn.
Minh Hương yêu Sài Gòn với tất cả những cái đáng yêu, cả những điều không mấy dễ chịu của nó. Dường như hình ảnh Sài Gòn đã ăn sâu vào trong tiềm thức, trở thành một phần máu thịt không thể thiếu trong cuộc sống của ông
Tình yêu Sài Gòn sâu nặng khiến nhà văn có được cảm nhận thật chính xác và tinh nhạy về thành phố. Con mắt tinh tường của nhà văn nhận ra cả cái sắc nắng "ngọt ngào" buổi sớm mai, cái "nhớ thương" của cơn gió lộng buổi chiều, cái ào ào đột ngột của những cơn mưa nhiệt đới; cả sự "trái chửng" của thời tiết đang ui ui buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh; cả cái nhịp sống đa dạng của phố phường; thưa thớt về đêm khuya, náo động, dập dìu vào giờ cao điểm; cả cái không khí mát dịu, thanh sạch ở những con đường rợp bóng cây xanh… Tất cả đã tạo nên vẻ đẹp và những nét riêng biệt cho thành phố phương Nam này.
Có thể nói, đây là đoạn văn kết hợp cảm xúc với quan sát tinh tế, đậm chất trữ tình. Xem thêm: Bác Hồ dạy chúng ta: "Điều gì phải thì cố làm cho kì được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ". Em hiểu lời dạy trên đây của Bác như thế nào? Sau những dòng cảm xúc trữ tình, nhà văn chuyển sang những cảm nhận và bình luận về người Sài Gòn. Phải chăng, ông muốn lí giải kĩ hơn căn nguyên sâu xa tình yêu Sài Gòn của mình: không chỉ yêu nhịp sống, thời tiết, phong cảnh mà còn yêu hơn người Sài Gòn.
Người từ bốn phương hội về đây, rồi nhanh chóng hòa hợp thành người Sài Gòn. Thành phố bao dung và nhân hậu này bao giờ cũng dang hai cánh tay rộng mở mà đón nhiều người từ trăm nẻo đất nước kéo đến. Một thành phố như vậy, lẽ nào lại không yêu? Và có lẽ tình yêu Sài Gòn không chỉ là của riêng nhà văn.
Yêu Sài Gòn, tác giả yêu tất cả những con người Sài Gòn và nhận ra ở họ bao nét đẹp tâm hồn, làm nên một phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng:
Họ ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi. Phần đông ít dàn dựng, tính toán. Người Sài Gòn cũng như phần lớn người Lục tỉnh đều rất chân thành, bộc trực.
Theo tác giả, phong cách ấy đã được kếttinh, trảinghiệm trong một thời giandài của cuộc sống, được thử thách trong cam go của lịch sử.
Giới thiệu về phong cách người Sài Gòn, tác giả đi sâu vào giới thiệu phongcách của cô gái Sài Gòn – những bông hoa của thành phố làm cho thành phốthêm rực rỡ hơn hương thơm và sắc màu. Xem thêm: Tường thuật lại một tiết mục văn nghệ đã để lại cho em nhiều cảm xúc Cách viết xen lẫn những dòng cảm nhận và những lời bình luận của MinhHương làm cho đoạn văn vừa đậm đà cảm xúc trữ tình, vừa giàu chất suy ngẫm.
Bài tùy bút kết thúc bằng việc khẳng định lại tình yêu son sắt thủy chung vàmong ước tha thiết của nhà văn:
Vậy đó, tôi yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây. Một mối tình dai dẳng, bền chặt. Thương mến bao nhiêu cũng không uổng công, hoài của. Tôi mong ước mọi người, nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi.
Cách kết thúc như vậy khiến cho chủ đề được xoáy sâu, nổi bật lên mà đểlại những dư âm trong người đọc.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về tình yêu Sài Gòn qua Sài Gòn tôi yêu của Minh Hương | 1,012 | |
Cảm nhận của anh chị về vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người
Bài làm
Từ ngàn xưa,từ khi máy móc,công nghệ hiện đại chưa ra đời,con người chúng ta và thiên nhiên đã có sự gắn bó mật thiết không thể tách rời.Và rồi dù càng ngày càng có nhiều công cụ,máy móc ra đời nhưng xuyên suốt qua hàng thế kỉ,thiên nhiên vẫn khẳng định vị thế và vai trò to lớn của nó đối với đời sống con người.
Vậy thiên nhiên là gì ?Và vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người là gì ?Theo như trong kinh thánh thì thượng đế trong những ngày đầu tiên đã tạo nên trời đất,sông suối,rừng núi,biển sâu cùng vô vàn thụ tạo và tất cả chúng đã được con người chúng ta gộp lại dưới cái tên chung là thiên nhiên.Vậy chúng ta có thể định nghĩa thiên nhiên là những thứ không phải do con người tạo ra mà là món quà quí giá mà con người ta được trao ban.Đó chính là nơi mà con người lẫn động vật đều dựa vào nó mà sống sót.Còn về vai trò thì tất nhiên là vô cùng lớn.Ngay từ không khí mà con người chúng ta hít thở từng giây từng phút để sống cũng là từ thiên nhiên,và còn gì quí hơn thế chứ.Dù con người có thể tạo ra bao máy móc hiện đại cách mấy đi nữa thì nào có thể thay thế được vai trò của thiên nhiên,mà chẳng phải để tạo ra những máy móc đó thì đều phải khai thác nguyên liệu từ thiên nhiên mà ra sao.Vậy vai trò của thiên nhiên là vô cùng to lớn đối với đời sống con người chúng ta là điều không thể phủ định.Xem thêm: Phân tích đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây (trích sử thi Đăm Săn)
Vậy tại sao thiên nhiên lại có vai trò to lớn đối với đời sống con người ?Con người chúng ta ngoài nhu cầu về vật chất thì còn có vốn sống tinh thần là nhu cầu không thể thiếu mà thiên nhiên thì lại là nguồn đáp ứng cho các nhu cầu đó.Ở trong nghệ thuật,thi ca thiên nhiên là nơi gửi gắm,chia sẻ buồn vui,làm cho tâm hồn thêm thanh cao,trong sáng.Ta có thể lấy bài thơ ‘‘Ngắm trăng’’của Hồ chủ tịch làm ví dụ.Trước vẻ đẹp huyền dịu của thiên nhiên,vị chủ tịch vĩ đại đã quên đi cái phút chốc phũ phàng,nghiệt ngã chốn lao tù để thảnh thơi mà ‘‘thưởng nguyệt’’như cái thú thanh cao của thi sĩ muôn đời.Vẻ đẹp thiên nhiên miêu tả trong lời thơ thật giản dị mà độc đáo:ánh trăng soi qua khung cửa sổ nhà lao và trở thành tri âm,tri kỉ của người tù.Thiên nhiên quả là một món quà to lớn của nhân loại,bởi đắm sâu trong thiên nhiên là vô vàn vẻ đẹp thần bí,hùng vĩ,tráng lệ,thanh cao mà đã khiến con người ta ngây ngất qua hàng thế hệ.Có bao giờ các bạn để ý đến vẻ đẹp đó chưa ?Để tâm tới vẻ đẹp của hàng cây lấp lánh sương mai trong nắng sớm buổi bình minh hay cái ánh chiều tà lặng dần dưới dòng nước dát bạc.Rồi còn vẻ đẹp của những cánh rừng xanh bạt ngàn hay thảm lúa vàng óng ánh trải tận chân trời.Dù ở thành phố đông đúc hay dù chốn núi đồi hoang sơ thì thiên nhiên vẫn luôn là mảng màu tươi đẹp của cuộc sống.Thiên nhiên đóng một vai trò hết sức là quan trọng trong cuộc sống của con người bởi nó là chỗ nguồn cho mọi sự sống,cho vốn sống tinh thần và cho niềm vui được trọn đầy.Vai trò của thiên nhiên thật sự không thể nào thay thế,vì vậy mà mới nói thiên nhiên đúng là một món quà vô giá của tạo hóa.Xem thêm: Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
Nhưng mà có lẽ bởi vì nó là món quà vô giá mà nhiều người cho nó là vô giá trị.Đó là những con người ngu ngốc khai thác rừng một cách quá bừa bãi chỉ để phục vụ cho nhu cầu lợi ích riêng của họ.Họ không hề để ý hậu họa sau này.Khi những cánh rừng bị phá hủy thì điều dẫn tới sẽ là thiên tai,lũ lụt triền miên và tất nhiên kẻ chịu thiệt sẽ phải là con người.Thiên nhiên là người bạn tốt của con người nhưng nếu ta không biết quí trọng nó thì nó sẽ trở mình thành thiên tai,tai họa cho ta.
Nhưng nói đi cũng phải nói lại,con người chúng ta từ ngàn xưa đã nhận ra vai trò to lớn của thiên nhiên và tới ngày nay con người vẫn không ngừng góp sức bảo vệ thiên nhiên.Và đó chính là thứ mà chúng ta cần phải noi theo.Chúng ta là những con người nằm dưới sự che trở của thiên nhiên vì vậy chúng ta cần phải tích cực bảo vệ nó.Chúng ta có thể giúp những việc nhỏ theo sức của mình như trồng cây xanh,quyên tiền cho các quỹ bảo vệ môi trường hay tham gia các hoạt động như ‘‘mùa hè xanh’’.Hãy luôn nhớ phải quí trọng thiên nhiên bởi nó đóng vai trò rất lớn đối với đời sống con người chúng ta.
Thiên nhiên là một món quà vô giá của tạo hóa,vai trò của nó đối với cuộc sống chúng ta là vô cùng to lớn và không thể nào thay thế được.Vì vậy chúng ta phải yêu quí và bảo vệ thiên nhiên.Mong rằng thiên nhiên sẽ mãi là bạn của chúng ta và hy vọng chúng ta cũng sẽ là người bạn tốt với thiên nhiên.Hỡi thiên nhiên người bạn thân thương xin hãy giúp cho quả đất luôn mãi một màu xanh nhé.Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn" | Cảm nhận về vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người | 1,000 | |
Cảm nhận về vẻ đẹp cổ điển trong bài thơ Qua đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan
Gợi ý
Đến với văn học Trung đại Việt Nam ta bắt gặp một nữ sĩ với những vần thơ trang nhã cổ điển. Ấy chính là Bà Huyện Thanh Quan. Với bài thơ Qua Đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà. Cả hai bài thơ này được làm theo thể thơ Đường luật mẫu mực, phong vị cổ điển, lời ít ý nhiều. Chính nhờ điều này mà hai bài thơ sống mãi với thời gian. Thỉ pháp cổ điển ấy chính là văn chương bác học, dùng nhiều điển cố, điển tích, ngôn ngữ thơ điêu luyện, chắt lọc… Trong hai bài thơ trên của Bà Huyện Thanh Quan thể hiện rõ vấn đề này.
Trước tiên, điểm nỗi bật trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình với ngôn ngữ tinh tế mà đượm buồn. Cả hai bài thơ ta đều bắt gặp một khung cảnh gợi buồn, gợi nhớ nhất trong một ngày. Cảnh Đèo Ngang trong lúc xế bóng vắng vẻ hoang sơ:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
(Qua Đèo Ngang)
Còn trời chiều trong bài thơ Chiều hôm nhớ nhà
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn
(Chiều hôm nhớ nhà)
Đối diện với khung cảnh này thì những người hời hợt lắm cũng phải buồn chứ không nói gì đến người giàu cảm xúc như thi sĩ.
Nếu như trong bài Qua Đèo Ngang tín hiệu nghệ thuật đầu tiên mà tác giả sử dụng là bóng xế tà thì bài thơ Chiều hôm nhớ nhà cũng đồng thời là bóng hoàng hôn. Thơ xưa khi nói về tâm sự, nỗi buồn người ta thường mượn cảnh để kí thác đặc biệt là hình ảnh bóng chiều. Bác Hồ của chúng ta sau này đã từng thể hiện thành công hình ảnh chiều tà thể hiện sự vất vả và ý chí, nghị lực của người tù: Xem thêm: Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không…
(Chiều tối)
Buổi chiều gợi cho ta cảm giác nhớ nhà, nhớ gia đình người thân. Đặc biệt đây lại là tâm trạng của kẻ lữ thứ xa quê, trên đỉnh đèo Ngang chỉ có:
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Thì ở Chiều hôm nhớ nhà cũng hoang vắng đến lạnh lùng:
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn
Đây là âm thanh rõ nhất khiến ta cảm giác đầy đủ nhất. Ta nghe thấy tiếng ốc nhưng lại xa đưa, lúc khoan lúc nhặt nghe thật buồn tẻ. Cái âm thanh đó chỉ làm sâu hơn nỗi buồn của nhà thơ.
Cả hai bài thơ tác giả chỉ thấy cuộn lên một nỗi buồn, nỗi buồn sâu thẳm mênh mông.
Xa chốn kinh kì ồn ã náo nhiệt vào làm quan ở Huế, lòng nữ sĩ có bao nỗi buồn chất chứa. Kinh thành Thăng Long nơi bà từng sống nó khác hẳn với cuộc sống nơi này – đèo Ngang.
Hình ảnh con người trong hai bài thơ này chỉ thoáng bóng. Đó chính là những người dân lao động nghèo vất vả, lam lũ. Cuộc sống của họ thật tẻ nhạt, đơn sơ:
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
(Qua Đèo Ngang)
Và
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục từ lại cô thôn
(Chiều hôm nhớ nhà)
Thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ nhuần nhị tạo nên một hình ảnh thưa thớt, vắng vẻ của cuộc sống con người nơi đây. Vài chú tiều phu đốn củi lom khom, lác đác mấy ngôi nhà chợ thưa thớt, cô tịch, đìu hiu. Hai câu thực trong bài Qua Đèo Ngang đối nhau rất chỉnh, tạo sự hài hoà và phô rõ cuộc sống của con người nơi Đèo Ngang. Đèo Ngang lúc này hoàng hôn đã buông xuống, mọi hoạt động của con người cũng lắng xuống, không còn sự ồn ào, xao động của thời điểm trước đó. Vì vậy Bà Huyện Thanh Quan không thể vui vẻ, càng không thể hững hờ trước cảnh buồn man mác đó.Xem thêm: Bác Hồ dạy thanh niên: “Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng". Em hãy bình luận lời dạy trên Nhưng nỗi niềm u hoài ấy là gì? Đó là nỗi niềm u uẩn trong lòng nữ sĩ. Bà nhớ về một thời xa xưa, dĩ vãng. Cái thời vàng son mà bà từng chứng kiến nó thật lộng lẫy tươi đẹp biết bao. Giờ đây, trước cảnh vật, trong lòng nữ sĩ, cháy bỏng lên một tâm sự nhớ nước, thương nhà sau tiếng kêu đều, khoan nhặt của chim quốc, gia gia.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia
(Qua Đèo Ngang)
Nghệ thuật chơi chữ quốc là nước, gia là nhà. Tiếng quốc kêu hay chính lời non nước, tiếng cuốc kêu hay chính hồn Thục Đế. Sự đồng điệu trong âm thanh da diết không dứt ấy làm tâm hồn nhà thơ rộn lên, nao lên trong niềm nhớ nhà
nhớ nước. Tiếng cuốc kêu như ứng với tiếng gọi tha thiết, mãnh liệt nhất trong tâm tư tình cảm của bà. Tiếng gọi gửi về đất nước? Tiếng gọi gửi vê quê hương?
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
(Chiều hôm nhớ nhà)
Chiều xế bóng, mặt trời sắp tắt, bóng đêm dần bao phủ ngay cả những chú chim cũng đang tìm chốn ngủ, những bước chân lữ thứ tìm quán trọ qua đêm… Bà Huyện Thanh Quan nhớ lắm thương lắm muốn trở về, gặp lại quê hương, gặp lại người thân nhưng đành bất lực"
Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ Xem thêm: Viết một đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) nêu cảm nhận của em về con người Đỗ Phủ qua ước muốn vĩ đại của ông được thể hiện qua bài thơ: “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” (Mao Ốc vị thu phong sở phá ca) Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn
(Chiều hôm nhớ nhà)
Ở đây tác giả sử dụng điển cố: Chương Đài để thể hiện sự mong mỏi xa cách giữa tác giả và người thân, quê hương gia đình. Lấy ai để tâm sự, giãi bày nỗi hàn ôn. Và vì vậy đối diện với mây trời non nước Đèo Ngang nữ sĩ như gặp lại chính mình:
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Mảnh tình riêng ấy là tâm sự cô đơn, bé nhỏ trước mây trời, sông nước. Bà và cảnh đã hoà làm một bởi có chung một tâm trạng. Cảnh bao la rộng lớn nhưng buồn bởi vì chủ thể trữ tình đang chất chứa một tâm trạng u hoài. Tâm sự chất chứa ấy lại bắt gặp chính nó: ta với ta, mấy ai mà bày tỏ, hàn huyên tâm sự. Cái cổ điển chính là mượn cảnh để tả tình, trong tình có cảnh, vần thơ buồn nhớ, cô đơn đến vô cùng.
Hai bài thơ trên là điển hình cho phong cách thơ Bà Huyện Thanh Quan. Chất cổ điển, trữ tình hoà quyện tạo nên thành công nổi bật cho hai bài thơ. Dẫu đã gấp trang sách lại chúng ta không thể nào quên những vần thơ trác tuyệt như vậy.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về vẻ đẹp cổ điển trong bài thơ Qua đèo Ngang và Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan | 1,240 | |
Cảm nhận về vẻ đẹp ngôn từ trong đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc)
Gợi ý
Chinh phụ ngâm khúc là khúc ngâm của người vợ có chồng ra trận. Từ việc diễn tả một cách xúc động và đầy cảm thông nỗi sầu chia li của người vợ trẻ, tác phẩm đã có một giá trị tư tưởng sâu sắc, thể hiện ở cả hai nội dung: tố cáo chiến tranh và sự cảm thông sấu sắc với nỗi lòng người vợ trẻ cũng là giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.
Từ thế kỉ XVI, giai cấp phong kiến thống trị đã liên tiếp phát động nhiều cuộc chiến tranh để tranh giành, xâu xé quyền lợi. Các cuộc chiến tranh Nam -Bắc triều rồi lại Trịnh – Nguyễn kéo dài hàng trăm năm gây ra không ít thảm cảnh. Biết bao cảnh chia li đầy máu và nước mắt vì chiến tranh loạn lạc. Đối với những cặp vợ chồng trẻ thì sự chia li càng trở nên đau xót. Cuộc sống vợ chồng đương độ mặn nồng mà đành phải dứt áo tiễn biệt nhau, hỏi còn gì chua xót hơn? Người chồng dấn thân vào chốn binh đao khói lửa đã bi thương lắm rồi, nhưng làm sao sánh được với nỗi sầu muộn buồn đau ngóng trông vô vọng của người vợ trẻ cô đơn vò võ nơi buồng the. Dường như trái tim nhạy cảm của người phụ nữ đã phần nào dự cảm được số phận bi thảm của người chồng ngay từ phút chia li tâm trạng thương đau của người vợ, chiến trận hiện ra thật thảm khốc: Xem thêm: Em hiểu thế nào là lòng vị tha? Hãy viết đoạn văn giải thích cách hiểu của em về đức tính này Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo
Chinh phu từ sĩ bao người
Nào ai mạc mặt, nào ai liệm hồn?
Vì thế mà ngay sau phút chia li, cả một núi sầu đã đè nặng lên người vợ trẻ:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bế Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Hình bóng người chồng cứ xa dần, xa dần rồi mất hút vào không gian thăm thẳm, mênh mông, để rồi chỉ còn lại là tâm trạng sầu thương của người vợ trẻ. Bao nhiêu tình cảm âu yếm chỉ còn là hoài niệm. Bao nhiêu ước vọng về hạnh phúc lứa đôi trở thành vô vọng. Ai làm cho lứa đôi chia lìa? Ai làm cho cuộc sống của người vợ chỉ còn là một chuỗi sầu muộn, mòn mỏi ngóng trông đến hoá đá? Chiến tranh thật là tàn nhẫn! Nhà thơ không một lời phê phán chiến tranh, chỉ để người chỉnh phụ bày tỏ nỗi sầu chia li chất chồng và dường như sự phẫn uất của tác giả cùng tăng dần theo nỗi sầu ấy. Giá trị tố cáo của đoạn thơ chính là ở đó.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Qua Đèo Ngang Không chỉ có ý nghĩa tố cáo chiến tranh. Sau phút chia li còn là một đoạn thơ có giá trị nhân đạo sấu sắc. Bản thân ý nghĩa tố cáo đã là một khía cạnh của tinh thần nhân đạo. Song giá trị nhân đạo của đoạn thơ còn sâu sắc hơn nhiều. Tinh thần nhân bản ấy chính là sự đồng cảm sâu sắc, sự chia sẻ đầy tình người với nỗi sầu chia li và khát khao hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ. Dường như nhà thơ đã hoá thân thành người chinh phụ. Nếu không, làm sao có thể cảm nhận được trùng trùng lớp lớp sầu thương đang dâng lên trong lòng nàng và nhuộm màu sắc chia li lên cảnh vật:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trồng lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Đặt tác phẩm vào hoàn cảnh ra đời là đầu thế kỉ XVIII (Cái thời mà tư tưởng phong kiến Nam quyền chi phối đời sống tinh thần cả xã hội, ít ai quan tâm tới tấm trạng và nỗi lòng của người phụ nữ) mới thấy hết giá trị nhân bản của đoạn thơ. Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hai câu thơ cuối trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, trong đó có sử dụng ít nhất hai từ láy, hai từ Hán Việt (gạch chân dưới những từ đó) Với những ý nghĩa như trên, Sau phút chia li trở thành đoạn thơ được nhiều người nhớ đến và yêu mến.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về vẻ đẹp ngôn từ trong đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc) | 896 | |
Cảm nhận về đoạn cuối bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ của Xuân Quỳnh
Hướng dẫn
…Nghe tiếng gà trưa, người chiến sĩ bồi hồi, như được sống lại bao kỉ niệm tuổi thơ về người bà tần tảo, đôn hậu, như được mang theo tình hậu phương để ra trận:
‘Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng’
Câu thơ ‘Giấc ngủ hồng sắc trứng’ là một câu thơ hay có hình tượng đẹp và rất biểu cảm.
Tiếng gà trưa làm sáng lên trong tâm hồn người chiến sĩ tình yêu xóm làng quê hương, tình yêu Tổ quốc, tình yêu bà và gia đình thân yêu. Tiếng gà trưa làm sáng lên trong trái tim người lính trẻ về lí tưởng chiến đấu cao đẹp với bao niềm tin. Chữ ‘vì’ được điệp lại bôn lần, làm cho cảm xúc và niềm tin trở nên tha thiết, mãnh liệt:
‘Cháu chiến đấu hôm nay,
Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác 0 trứng hồng tuổi thơ’
Đọc đoạn thơ, ta nhớ đến những cha chú, những anh chị của chúng ta, những Giải phóng quân thời chống Mĩ. Nhớ đến để biết ơn và tự hào.
Nguồn:
Xem thêm: Kể cho bố mẹ nghe một chuyện lí thú (cảm động, hoặc buồn cười,...) mà em gặp ở trường | Cảm nhận về đoạn cuối bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ của Xuân Quỳnh | 233 | |
Cảm nhận về đoạn Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích Cung oán ngâm) của Nguyễn Gia Thiều
Gợi ý
1. Trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, nhân vật phụ nữ có một vị trí đặc biệt, với nhiều vấn đề về tình cảnh và số phận của họ. Đã có một người chinh phụ với tình cảnh lẻ loi và niềm khao khát hạnh phúc trong Chinh phụ ngâm, một Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du với số phận bi kịch suốt 15 năm lưu lạc, rồi còn nhiều nữa những Ngọc Hoa, Cúc Hoa trong truyện Nôm… Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều góp thêm một tiếng nói mạnh mẽ tố cáo chế độ phong kiến đày ải, giam hãm những người phụ nữ mỏi mòn trong thân phận cung nữ.
Chế độ cung nữ của các vua chúa phong kiến là một hiện tượng hết sức độc ác, vô lí đã tồn tại hàng ngàn năm dưới các triều đại phong kiến. Hiện tượng ấy cũng đã trở thành đề tài của nhiều tác phẩm văn chương trong thời trung đại, nhưng phải đến Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều thì tình cảnh bị bỏ rơi, giam hãm của những cung nữ và niềm oán hận của họ mới được thể hiện một cách hết sức mạnh mẽ, vừa đau đớn, vừa chua xót. Đoạn thơ trích Nỗi sầu oán của người cung nữ (từ câu 209 đến câu 244 Cung oán ngâm) thể hiện tập trung tình cảnh cô quạnh, bị bỏ rơi và niềm bi phẫn của người cung nữ.
2. Đoạn thơ mở ra bằng hình ảnh người cung nữ một mình lẻ loi, cô đơn giữa cảnh lộng lẫy vàng son nơi cung cấm. Giữa không gian của những cung quế, lầu đãi nguyệt, gác thừa lương đầy vẻ xa hoa, tráng lệ lại chỉ thấy bóng dáng lẻ loi, âm thầm buồn bã của người cung nữ.
– Trong cung quế âm thầm chiếc bóng,
Đêm năm canh trông ngóng lần lần.
– Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ,
Gác thừa lương thức ngủ thu phong
Nếu những danh từ Hán – Việt ở đầu các câu thơ trên gợi ra vẻ sang trọng, đài các ở ncã cung cấm, thì động từ – thường là từ thuần Việt, nôm na, lại vẽ ra bóng dáng lẻ loi và tâm trạng khắc khoải, mòn mỏi trong sự đợi chờ vô vọng của người cung nữ. Những cặp động từ “trông ngóng, đứng ngồi, thức ngủ” đã diễn tả không chỉ những hành động lặp đi lặp lại mà còn biểu hiện tinh tế tâm trạng khắc khoải, bồn chồn của người cung nữ.
Ớ những câu thơ tiếp theo, không gian thu hẹp lại trong căn phòng nơi cung cấm. Không gian ấy vẫn còn vẻ xa hoa với những phòng tiêu, gương loan, cửa châu, rèm ngà, nhưng vẫn không che lấp được sự trống trải, cô quạnh của người cung nữ. Tất cả vẫn chỉ là sự lạnh lẽo: “Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng”, “Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo”. “Gói loan tuyết đóng, chăn cũ giá đông”. Không gian đã vậy, còn thời gian của sự đợi chờ vô vọng lại càng dằng dặc, lê thê:Xem thêm: Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí)Ngày sáu khắc, tin mong nhạn vắng
Đêm năm canh, tiếng lắng chuông rền.
Trong những đêm dài lạnh lẽo với những giấc cô miên chập chờn, người cung nữ có gượng đốt hương để mong có hơi ấm và mùi hương thơm xua bớt đi sự lạnh lẽo, nhưng mùi hương chỉ làm tăng thêm sự tịch mịch (mùi hương tịch mịch), thắp ngọn đèn lên thì chỉ làm rõ không gian thâm u của căn phòng (bóng đèn thâm u).
3. Trở lên trên là đoạn thơ 20 câu vẽ ra hình ảnh cô quạnh của người cung nữ trong không gian tráng lệ nhưng cô tịch, lạnh lẽo nơi cung cấm. 16 câu thơ tiếp theo của đoạn trích đi sâu hơn diễn tả tâm trạng của người cung nữ đôi với nỗi sầu tủi, oán hận ngày càng thấm thìa, gay gắt.
Mọi tư thế, động tác của nhân vật trữ tình người cung nữ điều thể hiện sự buồn chán, trễ nải: Tranh biếng ngắm, mặt buồn trông, đứng tủi, ngồi sầu. Muốn giải bày lòng mình cũng chỉ biết “đã than với nguyệt lại rầu với hoa”. Nỗi buồn rầu, chán ngán kéo dài hết ngày nọ sang ngày kia, tưởng đã đến cực điểm: “Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải / Ngán trăm chiều, bước lại ngẩn ngơ”.
Đến đây, từ nỗi sầu thương, tâm trạng người cung nữ chuyển sang nỗi oán hận. Mới đầu chỉ là lời oán trách về sự thờ ơ của vua, để nhan sắc của mình phôi pha, hoài phí với thời gian:
Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
Để gầy bông thắm, để xơ nhụy vàng!
ở đoạn trên, cung nữ đã một lần oán trách: “Khoảnh làm chi bấy chúa xuân / Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi”.
Không dừng lại ở đó, sự oán trách đã thành oán hận, thành lời lên án gay gắt với nhà vua:
Giết nhau chẳng cái lưu cầu,
Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!
Trong những bài thơ về đề tài cung nữ cũng thường có những lời oán thán về việc họ bị bỏ rơi, chẳng được vua chúa đoái hoài. Nhiều trường hợp đó chỉ là cách nói ẩn dụ của một công thần bị thất sủng mượn người cung nữ để nói lên lời than trách với vị quân vương. Đến Cung oán ngâm, có lẽ đây là lần đầu tiên trong văn chương thời trung đại có một người lên án trực tiếp và gay gắt thứ tội ác này của vua chúa. Giam hãm bao nhiêu cung nữ trong hậu cung, để những người phụ nữ đẹp ấy phải chết dần chết mòn trong nỗi u sầu, cô độc. Đó chẳng phải là một tội ác sát nhân hay sao? Hơn nữa, cái cách giết người ở đây mới thật thâm hiểm và ác độc, không cần dùng đến gươm sắc, chỉ bằng “cái u sầu”, mà phải là những người trong cuộc – những nạn nhân của chế độ cung nữ như ở đây mới thật sự thấm thìa: “Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa”. Lời thơ đến câu này không còn giọng thở than sầu thảm như ở đoạn trên mà chuyển thành giọng oán hận gay gắt. Lên án sự ác độc của vua chúa, người cung nữ còn oán trách cả ông trời, mà cụ thể là việc xe duyên của Nguyệt Lão:Xem thêm: Từ trích đoạn Nước Đại Việt ta (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi) em có suy nghĩ gì về lòng yêu nướcTay Nguyệt Lão chẳng xe thì chớ!
Xe thế này có dở dang không’?
Truy tìm nguồn cội của tấn bi kịch đời mình, người cung nữ chỉ biết oán trách số phận trớ trêu trong tay tạo hóa, điều ấy cũng là lẽ thường trong quan niệm nhân sinh của thời xưa – con người khi không thể tự chủ cuộc đời mình và không thể cắt nghĩa nổi những nguyên cớ dẫn đến số phận của mình, thì thường chỉ biết oán trách. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm cũng từng cất lên lời oán trách trời xanh: “Xanh kia thăm thẳm tầng trên/ Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”. Lời của người chinh phụ vẫn trong chừng mực của một lời than thở, trách cứ nhẹ nhàng. Đến người cung nữ thì lời oán trách đã mạnh mẽ hơn nhiều. Còn trong Truyện Kiều, trước tình cảnh Thúy kiều mấy lần bị đẩy vào vòng ô nhục, đã cô’ giãy giụa mà vẫn không sao thoát được, thì Nguyễn Du phải thốt lên tiếng chửi đầy tức giận:
Chém cha cái số ba đào
Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi
Nghĩ đời mà ngán cho đời,
Tài tình chi lắm cho trời đất ghen.
Người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều không dừng lại ở sự oán trách sô’ phận của mình, mà sự giận dữ đã chuyển thành ý muôn hành động tung phá để thoát khỏi tình cảnh bị giam hãm mãi mãi trong cô đơn, u buồn ở chốn nội cung:
Đang tay muốn bứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!
Cố nhiên, từ ý nghĩ đến hành động còn là một khoảng cách không phải dễ gì vượt được. Người cung nữ vẫn còn mong mỏi đến một ngày nào đó lại được đấng quân vương đoái hoài tới và nhờ thế mà chấm dứt được cảnh sông cô quạnh, u buồn của mình. Nhân vật cung nữ của Nguyễn Gia Thiều chứa đựng nhiều mâu thuẫn, phức tạp, phản ánh phần nào những mâu thuẫn trong tư tưởng của chính tác giả.Xem thêm: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. Dựa vào những tác phẩm đã học và đọc thêm, em hãy chứng minh ý kiến trên của Hoài Thanh4. Đoạn Nỗi sầu oán của người cung nữ là đoạn thơ khá tiêu biểu cho giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Cung oán ngâm. Đoạn thơ đã diễn tả sâu sắc và đầy sức ám ảnh về tình cảnh mỏi mòn, u sầu của người cung nữ, qua đó cho thấy bộ mặt tráo trở và sự độc ác của vua chúa. Không gian nơi nội cung, ngoài thì lộng lẫy, xa hoa, nhưng thực chất chỉ là một không gian tù hãm, thâm u, chỉ là nơi giam cầm những cung nữ trong kiếp đọa đày. Nỗi u sầu và sự oán hận của người cung nữ đã được biểu hiện với tất cả sự thấm thìa, mạnh mẽ, gay gắt và bằng sự cảm thông sâu sắc của tác giả. Đó chính là giá trị nhân đạo của đoạn thơ này cũng như của cả khúc ngâm. Với Cung oán ngâm, thêm một lần nữa trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII, những khát vọng tự nhiên chính đáng của con người, đặc biệt là người phụ nữ, đã được nói lên một cách thành thực và mạnh mẽ.
Đoạn thơ cũng cho thấy thành công xuất sắc của Nguyễn Gia Thiều trong nghệ thuật sáng tạo ngôn ngữ và sử dụng thể thơ song thất lục bát. Lớp từ ngữ Hán – Việt và lớp từ Nôm thuần Việt đã được tác giả phối hợp một cách tài tình, đầy sáng tạo, vừa tạo nên vẻ sang trọng, đài các của nơi cung câm, lại vừa biểu hiện được trực tiếp, gợi cảm những tâm trạng, cảm xúc đến độ gay gắt mạnh mẽ của nhân vật trữ tình người cung nữ. Nhiều động từ và tính từ, chủ yếu là thuần Việt được đặt ở trọng tầm các câu thơ, tạo ấn tượng rất mạnh mẽ đến sự tiếp nhận của người đọc:
Chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi.
Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng,
Gương loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi.
Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
Để gầy bông thắm, để xơ nhụy vàng!
Thể thơ song thất lục bát đã xuất hiện từ hàng thế kỉ trước, nhưng đến Cung oán ngâm mới thật sự đạt đến sự hoàn chỉnh chặt chẽ trong cấu trúc của từng khổ thơ, trong cách gieo vần ở chữ thứ 5 của câu thất và đối về thanh điệu của cặp câu 7 chữ. Thể song thất lục bát qua Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm đã cho thấy nó rất thích hợp với những khúc ngâm bởi khả năng thể hiện những tâm trạng lớn, trải ra trong một thời gian dài mà mỗi khổ thơ là một con sóng, hết đợt sóng này đến đợt sóng khác tiếp nối để tạo nên một tác phẩm trữ tình trường niên.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về đoạn Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích Cung oán ngâm) của Nguyễn Gia Thiều | 2,025 | |
Cảm nhận về đoạn trích trong bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi
Gợi ý
Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng. Có lẽ Nguyễn Trãi viết bài thơ này trong thời kì ông cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn để giữ cho tâm hồn được thanh cao, trong sạch.
Đối với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là một miền đất có sức hút kì lạ. Chẳng thế mà hai lần cáo quan về ở ẩn, ông đều tìm về với Côn Sơn. Và núi rừng Côn Sơn thanh vắng đã trở thành một thế giới riêng đầy thân thương gắn bó với thi nhân. Tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi được sống với chính mình. Dường như thiên nhiên đã trở thành cứu cánh cho tâm hồn ông – một tâm hồn đớn đau vì nhân tình thế thái. Tại Côn Sơn, mọi vật đối với ông trở nên có tình, có nghĩa, như bầu bạn, như tri âm:
Núi láng giềng, chim bầu bạn
Mây khách khứa, nguyệt anh tam
(Thuật hứng – Bài 19)
Cảnh trí Côn Sơn thanh tĩnh, rộng mở, để cho tâm hồn Nguyễn Trãi hoá thân tìm về, ùa vào đó mà quên đi mọi nỗi ưu phiền:
Côn Sơn suối chày rì rầm
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Xem thêm: Chứng minh câu tục ngữ "Một cây làm chẳng nên non ba cây chụm lại nên hòn núi cao" Trong rừng có trúc bóng râm,
Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.
(Trích Côn Sơn ca)
Đoạn mở đầu bài Côn Sơn ca đem đến cho người đọc bao cảm nhận mới mẻ về tâm hồn thi sĩ của ức Trai. Trong cảm xúc của ông, cảnh trí Côn Sơn hiện ra thật thơ mộng và lãng mạn: có riếng suối chảy rì rầm, có đá rêu phơi êm ái, có rừng thông mọc rậm, dày, có rừng trúc xanh mát…, vừa có cái hoang dã của thiên nhiên, vừa có hơi ấm của cuộc sống đầy ắp tình người. Hơn nữa, trong con mắt thi nhân, thiên nhiên không chỉ là cảnh, mà đã trờ thành nhà.
Ngôi nhà thiên nhiên ấy thật đặc biệt: suối là đàn, rêu là chiếu, bóng thông làm giường, bóng tre trúc là nơi ngâm vịnh thơ ca. Thật là tuyệt thú! Và trong ngôi nhà thiên nhiên ấy, ông để tâm hồn mình giao hoà với cảnh và vẽ lại nó bằng một ngọn bút tài hoa.
Bức tranh thiên nhiên được chấm phá bằng âm thanh rì rầm của tiếng suối được cảm nhận như tiếng đàn:
Côn Sơn suối chày rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Một hình ảnh so sánh thật độc đáo và gợi cảm. Suối đang chảy hay thi nhân đã thả hồn mình vào tiếng suối, làm rung lên cung đàn diễn tả nỗi khát khao yêu cuộc sống? Xem thêm: Kể về một người thầy (cô) kính yêu nhất của em Năm trăm năm sau, thi sĩ Hồ Chí Minh cũng đã có chung cảm nhận ấy:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Phải chăng những tâm hồn nghệ sĩ đã tìm về với nhau?
Sau những giây phút thả hồn mình cùng tiếng suối, thi nhân lại đến ngồi bên những phiến đá mà thời gian đã rêu phong bao phủ. ông ngồi chơi ngắm cảnh, hay ngồi đánh cờ một mình? Có lẽ là cả hai. Trên nhân gian này, không ít người đã từng ngồi trên đá, nhưng làm sao họ cảm nhận được như thi nhân? Côn Sơn có đá rêu phơi Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
Một hình ảnh so sánh liên tưởng đầy thú vị khiến ta không khỏi ngỡ ngàng. Nguyễn Trãi trở về Côn Sơn không phải là để ẩn dật theo đúng nghĩa của cách sống ẩn dật, mà ông trở về Côn Sơn với nỗi hân hoan đầy tự do của một con người trở về nhà mình (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Và trong ngôi nhà ấy, ông không những được tha hồ nghe nhạc rừng, ngồi trên đá đánh cờ, mà còn được nằm dưới bóng thông râm mát, được ngâm thơ nhàn dưới bóng trúc xanh. Một cuộc sống mà người và cảnh gắn bó với nhau, hoà nhập vào nhau. Lòng ức Trai thanh thản đến lạ kì.
Chưa bao giờ mà tâm hồn thi sĩ của ức Trai lại được bộc lộ đầy đủ, sâu sắc và đằm thắm đến thế! Xem thêm: Viết một bài văn ngắn khái quát về đặc điểm nghệ thuật của những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người mà em đã học và được đọc thêm Cũng tại Côn Sơn này, hồn thơ ức Trai còn tiếp tục rộng mở để đón nhận thiên nhiên, chở thiên nhiên về chất đầy kho:
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chờ yên hà nặng vạy then
(Thuật hứng – Bài 24)
Tình yêu thiên nhiên sâu nặng đến mức thi nhân sợ bóng hoa tan mà không dám quét nhà:
Hé cừa, đem chờ hương quế lọt,
Quét hiên, ngày đợi bóng hoa tan
(Quốc Âm thi tập – Bài 160)
Nhân cách thanh cao và tâm hồn thi sĩ của Nguyễn Trãi thực sự là tấm gương sáng để ta soi vào.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận về đoạn trích trong bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi | 905 | |
Đề bài: Cảm nhận về “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương
Bài làm
Nhà thơ Hạ Trị Chương là một nhà thơ lập nghiệp xa quê từ kh còn nhỏ nên trong lòng ông nỗi nhớ quê hương luôn thường trực trong tim mình.
Bài thơ “Ngẫu nhiên viết nhân buổi về quê” là một cảm xúc chân thực, đầy nghẹn ngào của tác giả khi trở về thăm quê hương khi tuổi đã già nhìn thấy quê hương thay đổi mỗi ngày, lòng càng da diết
Bài thơ là niềm cảm xúc trào dâng của một người con xa quê nhưng lúc nào cũng đầy vơi thương nhớ.. Nỗi nhớ nhà da diết luôn chất chứa trong trái tim người lữ khách. Nó chính là tiếng lòng thổn thức của tác giả khi đặt chân về lại nơi xưa nơi chôn rau cắt rốn của mình khi bóng chiều xế bóng.
Trong những câu thơ đầu tiên người đọc cảm nhận được sự mênh mông của không gian, sự dài đằng đẵng của thời gian, thể hiện quãng thời gian xa quê của tác giả Hạ Trị Chương là vô cùng lớn.
Cuộc sống vất vả, vật lộn nơi xa khiến cho con người ta luôn muốn quay trở lại nơi bình yên, thân thuộc của mình. Những năm tháng lập nghiệp nơi đất khách quê người nhưng lòng tác giả luôn hướng về quê hương của mình với những người bạn thủa còn để chỏm.Xem thêm: Tả cảnh đầm sen vào mùa hạ
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Khi đi trẻ, lúc về nhà)
Một câu thơ thể hiện sự đối lập giữa ra đi và trở về, giữa già và trẻ thể hiện sự thay đổi của thời gian là vô cùng nhiều, thể hiện quãng thời gian dài xa cách của tác giả với quê hương của mình.
Trong một câu thơ những tác giả đã sử dụng những từ ngữ đối nghịch đầy xót xa, thể hiện sự nuối tiếc của con người khi dòng thời gian trôi đi không chờ đợi một ai. Thời gian là thứ mà khi đã trôi đi không bao giờ có thể lấy lại được nó là một trong ba thứ quý giá và quan trọng nhất với cuộc đời một con người.
Câu thơ chính là sự chua xót, ai oán, xót xa của tác giả trước những sự thật không thể thay đổi của đời người. Thể hiện tâm trạng nuối tiếc quá khứ, những thứ đã đi qua, tuột mất khỏi tay tác giả.
Hương âm vô cải, mấn tao tồi
(Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác bao)
Trong câu thơ này tác giả thể hiện sự khẳng định của mình về những thứ không thay đổi trong tim tác giả. Tiếng nói, thói quen của quê hương vẫn ăn sâu bám rễ trong lòng tác giả, không hề thay đổi.
Câu thơ thể hiện sự chua chát, xót xa tới nao lòng của tác giả khi về thăm quê, nhìn thấy quê hương thân yêu của mình, thấy những đứa trẻ ngây thơ buột miệng hỏi mình là khách nơi nào tới.Xem thêm: Ca dao dân ca là tiếng nói cảm động về tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước. Em có đồng ý như vậy không? Hãy phân tích một số dẫn chứng để làm rõ
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
Tiểu vấn: Khách tòng hà hà xứ lai
(Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng khách ở chốn nào tới chơi?)
Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của tác giả Hạ Trị Chương thể hiện tiếng lòng tha thiết nhớ thương của tác giả khi về thăm lại mảnh đất quê hương nơi gắn bó những kỷ niệm thời thơ bé.
Bài thơ là sự rung động mãnh liệt của tác giả trước những đổi thay của cuộc đời của quê hương, sau những năm dài xa cách.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nhận về “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” của Hạ Tri Chương- văn lớp 7 | 655 | |
Cảm nhận đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Gợi ý
1. Từ Hải là một giấc mơ của Nguyễn Du: giấc mơ anh hùng – anh hùng cái thế.
Thông thường, để làm nổi bật phẩm chất anh hùng của một hình tượng nhân vật, người ta hay đặt nhân vật vào hoàn cảnh đặc thù là đối mặt với gian nan thử thách. Dân gian vẫn có câu “Lửa thử vàng gian nan thử sức”, lại câu “Gian nan là nợ anh hùng phải vay” là thế. Phải chiến thắng được những gian nan thử thách ấy thì mới khẳng định được bản lĩnh và chí khí anh hùng. Những gian nan thử thách nào vậy? Thử thách ngoài mình và thử thách trong mình. Thắng những thế lực ngoài mình đã khó hơn thắng kẻ địch, thắng thiên nhiên đã khó nhưng thắng những thói thường trong mình còn khó gấp bội. Không ít người chiến thắng được uy vũ, nhuhg lại gục ngã trước những mời mọc đầy cám đỗ trong mình. Mà rốt cuộc, nói đến anh hùng là nói đến cái phi thường. Muôn làm chuyện phi thường thì cũng cần phải thắng được cái bình thường.
Nguyễn Du không chỉ khắc họa Từ Hải lập nên nhiều kì tích phi thường, ông còn làm nổi bật tính cách anh hùng của Từ Hải khi đặt nhân vật đối mặt và vượt lên cái bình thường. Đoạn trích Chí anh hùng này là thế. Ớ đây có những vướng bận gia đình, có “Thói nữ nhi thường tình”. Nên bề ngoài có thể xem cái gian nan thử thách trong lòng mà Từ phải đổi mặt để giải quyết là vấn đề “anh hùng và mĩ nhân” – mĩ nhân cản bước, còn anh hùng thì vượt ải mĩ nhân. Nghĩ thế không sai, nhưng cũng không hẳn. Xem kĩ, Kiều đâu có cản bước Từ Hải, Từ Hải đâu có rũ bỏ Kiều. Vậy, có thể coi đó là môĩ mâu thuẫn giữa hạnh phúc lứa đôi và lí tưởng anh hùng chăng? Cũng không hẳn, sau khi chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, Từ Hải đã có Kiều, đã sông cùng mĩ nhân. Nhưng chỉ vậy thôi là chưa thõa, điều Từ Hải muôn đó là phải tạo được sự nghiệp anh hùng nữa, bấy giờ trai anh hùng mới thật xứng với gái thuyền quyên. Nghĩa là Từ Hải muôn hướng tới một hạnh phúc phi thường. Chỉ bao giờ được thế, Từ Hải mới thõa chí. Cho nên, xét cho cùng đó là mốì mâu thuẫn giữa hạnh phúc nhỏ – bình thường và hạnh phúc lớn – phi thường.
2. Không cần phải đọc kĩ lắm cũng có thể thấy đoạn thơ đã tự hình thành hai phần nhỏ hơn. Phần một gồm bỗn câu đầu: hình ảnh lên đường của Từ Hải. Phần hai là đoạn còn lại: cuộc đối thoại Từ Hải — Thuý Kiều khi Từ dứt áo ra đi. Cũng lạ, Nguyễn Du dựng cảnh Từ Hải lên đường trước, rồi lời từ biệt mới đến sau. Ở đây, dù chưa phải là khung cảnh nhân vật đang chọc trời khuấy nước, Nguyễn Du vẫn làm nổi lên tầm vóc của Từ Hải. Hơn nữa, chưa phải bộc lộ minh bằng hành vi, mà mới chỉ qua lời nói – lời nói với vợ thôi, chí khí anh hùng của Từ Hải cũng đã toát lên mãnh liệt.Xem thêm: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích Vợ chồng A Phủ3. Từ Hải ít nhiều đã được mô tả trong không gian tổ ấm. Điều này có lí của nó: tổ ấm thường tình không phải là cái không gian hợp với tầm vóc kẻ phi thường, nếu không nói là không gian ây sẽ tù hãm người anh hùng. Ra khỏi cái tổ âm hương lửa đương nồng của hạnh phúc lứa đôi, Từ mới thực là Từ. Đúng thế, Từ Hải chỉ thực sự là mình trong khống gian trời đất:
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.
Sự nồng nàn của tình yêu, vị ngọt ngào của hạnh phúc có thể là chất xúc tác, cũng có thể là chất bào mòn chí khí kẻ anh hùng. Mĩ nhân có thể là động lực của kẻ anh hùng, cũng có thể đánh đắm những sự nghiệp anh hùng. Sau này, Chế Lan Viên có nói đến cái hình ảnh “Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp – Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn” là cũng theo nghĩa bào mòn, đánh đắm ấy, chúng từng là giấc mơ con đè nát bao cuộc đời cỏn con. Từ Hải khấc mĩ nhân, hạnh phúc chỉ mới là một nửa đời chàng, tình nhân lãng mạn mới chỉ là một nửa con người chàng. Từ còn một nửa khác: một khách anh hùng với sự nghiệp cái thế. Một chữ “thoắt” đã cho thấy tính cách anh hùng của Từ. Đó là sự thức dậy mau lẹ của con người của một mái nhà. Trái lại, Từ sinh ra là thuộc về bốn phương. Ngang dọc bốn phương mới thực sự là sứ mạng, thực sự là cuộc sống của chàng. Rời khỏi một mái ấm, Từ đến với không gian thực của mình: không gian càn khôn trời đất.
Trong Truyện Kiều, chữ “thoắt” thường chứa đựng những biến cố, đôi khi là biến cố trọng đại. Có thể đó là biến cố đầy ngang trái “Thoắt mua về thoắt bán đi”. Có thể đó là biến cố đau thương “Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiền hương…”. Chữ “thoắt” này diễn ra âm thầm, nhưng thực sự cũng chứa đựng một biến cố lớn của đời Từ. Bắt đầu từ giây phút ấy, Từ mới thực sự sông rồi chết lẫm liệt như một anh hùng cái thế. Và như vậy, chữ “thoắt” đã chia đời Từ Hải làm hai thật rành rẽ: nó là dấu ngắt cho một bản tình ca hùng tráng đồng thời mở đầu cho bản hùng ca bi tráng.Xem thêm: Học như bơi thuyền ngược nước, Không tiến sẽ phải lùi. Anh (chị) nghĩ gì về câu này
Đúng là Nguyễn Du đã khắc hoạ Từ Hải thật hoành tráng:
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.
Đó là hình tượng tráng sĩ. Người đọc thơ cổ điển có thể liên tưởng đến một nhân vật khác cũng thuộc thế kỉ XVIII, trong Chinh phục ngâm:
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Cả hai đều toát lên vẻ oai phong lẫm liệt đầy lí tưởng của những trang hào kiệt. Nhưng, nếu chàng chinh phu được tô điểm bằng sắc màu lãng mạn trong cái nhìn kiêu hãnh và trìu mến của nàng chinh phụ, thì Từ Hải lại được tạo hình bằng đường nét ngạo nghễ trên cái nền kì vĩ của không gian. Một đằng lẫm liệt cùng sắc phục, một đằng mênh mang khát vọng. Đằng là vẻ đẹp quý phái, đằng là vẻ đẹp phong trần.
Có thể nói, bên cạnh những hình ảnh “Chọc trời khuấy nước mặc dầu – Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, hay “Phong trần mài một lưỡi gươm – Những phường giá áo túi cơm xá gì”, “Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo…” thì “Trông vài trời bể mênh mang – Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong” cũng là một bức chân dung hết sức hoàn hảo mà Nguyễn Du đã dành cho Từ Hải.
Đoạn hai là một màn đối thoại. Lời tác giả nhường hẳn cho lời nhân vật. Các nhân vật bộc lộ phẩm cách của mình qua ngôn ngữ của chính mình. Nếu ở Thuý Kiều là lối nói đúng mực của người đàn bà nề niếp, trọng bổn phận đạo lí, nhưng cũng không thiếu kiên tâm, thì ở Từ Hải là lối nói sắt đá, quyết đoán của một bậc trượng phu, song cũng không phải vô tình, Kiều viện đạo phu thê, Từ lại viện đạo tri kỉ. Kiều ứng xử theo lẽ bình thường, Từ ứng xử theo lối phi thường. Nàng muốn được theo chân Từ Hải
Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đì!”
Kiều viện ra đạo lí phu thê thường tình vừa như một lí lẽ vừa như một thề nguyền để thuyết phục từ Hải. Nàng muốn được kề vai sát cánh chia ngọt sẻ bùi cùng chồng. Còn Từ Hải có chấp nhận cái thường tình không? Chấp thuận cái thường tình thì còn đâu là kẻ phi thường. Đó không thể là cung cách Từ Hải. Nhưng Từ cũng không nỡ gạt đi một cách lạnh lùng, mà cũng viện ra những lí lẽ riêng để thuyết phục Kiều. Chàng xuất phát từ đạo lí khác: đạo lí tri kỉ. Từ Hải xem đạo tri kỉ cao trọng hơn đạo phụ thê. Một khi đã là tri kỉ, hiểu rõ lòng dạ của nhau, thì không nên cậu nệ lẽ phu thê theo thói thường của người đời:Xem thêm: Bạn em chỉ ham thích trò chơi điện tử, truyền hình, ca nhạc,..., không quan tâm đến thiên nhiên. Em hãy chứng minh cho bạn thấy rằng thiên nhiên chính là nơi đem lại cho ta sức khoẻ, ... , chúng ta cần gần gũi với thiên nhiên, yêụ mến thiên nhiênTừ rằng: “Tâm phúc tương tri
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?”
Rồi Từ bộc bạch cái chí phi thường của mình. Đó là chí của một người muốn dựng nghiệp vương bá:
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau, vội gì!
Từ Hải sẽ xây dựng cơ đồ huy hoàng của một bậc vương bá để xứng đáng với Kiều. Cũng có nghĩa: lúc Từ tạo dựng xong nghiệp vương nghiệp bá cho mình cũng tức là đưa Kiều lên địa vị một mệnh phụ phu nhân. Chỉ khi đạt được điều ây, Từ mới rước nàng về. Vậy nên cái hạnh phúc mà Từ Hải muốn hướng tới đâu chỉ là chút “hương lửa đương nồng” trong một mái ấm của đời thường. Mà chính là một hạnh phúc phi thường: hạnh phúc của bậc anh hùng cái thế. Từ muốn một mình thực hiện điều đó. Từ cũng không muốn một mình thực hiện điều đó. Từ cũng không muôn vì điều đó mà Kiều phải bận lòng và làm vướng bận mình. Điều kinh ngạc là cái việc kinh thiên động địa ấy, Từ hoàn toàn tin rằng minh chỉ thực hiện chóng vánh trong một năm! Nghĩa là cái việc vá trời lấp biển ấy với Từ chả khó khăn gì, chỉ như trở bàn tay.
Ngẫm ra, cái sự nghiệp hướng tới đã là phi thường. Cái thời lượng dành cho việc phi thường ấy lại chẳng lâu la gì. Cái cách đạt được nó xem ra cũng chẳng khó khăn gì. Ngần ấy hội lại chẳng đã đủ làm rõ mặt phi thường của con người Từ Hải hay sao?
Hai câu kết của đoạn trích lại trở về với iời của tác giả. Nguyễn Du mô tả Từ Hải ra đi với lời nói quả quyết, cử chỉ dứt khoát, dáng hình tựa như cánh chim bằng cất mình bay thẳng vào muôn trùng dặm khơi vậy:
Quyết lời dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
Mở đầu với dáng điệu “trông vời trời bể mênh mang”, kết thúc với “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi” – toàn những tư thế hoành tráng, chiều kích kì vĩ – Từ Hải đã hiện ra như một tính cách phi thường lồng lộng giữa càn khôn. Có thể nói đó là bút pháp lí tưởng hoá nhằm vẽ ra một con người lí tưởng để thực hiện giấc mơ anh hùng của ngòi bút Nguyễn Du.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) | 2,052 | |
Cảm nhận đoạn Trao duyên (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Gợi ý
Sau khi đã giải quyết xong thủ tục bán mình (Tờ hoa đã kí, cân vàng mới trao), lấy tiền lo lót cho xong vụ kiện (Họ chung ra sức giúp vì, lễ tân đã đặt, tụng kì cũng xong), Kiều đang chờ lên xe hoa theo Mã Giám Sinh. Đêm ấy Kiều bồi hồi thương cho Kim Trọng, tìm cách trả nghĩa nợ tình cho chàng. Đèn thắp sáng đêm, nước mắt đầm đìa. Nhân Thuý Vân thức dậy hỏi, Kiều bấy giờ mới cậy em thay lời và trao duyên cho em. Đây là đoạn thơ trữ tình độc nhất trong Truyện Kiều. Trước đây Tản Đà từng nhận xét: “Trong cả quyển Kiều, văn tả tình không mấy đoạn dài hon như vậy. Đoạn này thật lăm li, mà như thế mới hết tình sự".
Nếu nói Nguyễn Du là nghệ sĩ tài hoa bậc thầy về miêu tả tâm lí nhân vật thì đoạn này là đoạn thơ tiêu biểu nhất, thần tình nhất, khiến cho các nhà phân tích, bình giảng trước nay không hết lời thán phục và ca ngợi. Ông Lê Trí Viễn đã có những lời phân tích, bình phẩm thấu đáo nhất đối với hai câu sau đây. Mở đầu đoạn trích Nguyễn Du viết:
“Cậy em, em có chịu lời”
Tại sao lại dùng “cậy” mà không dùng “nhờ”, ông Lê Trí Viễn giải thích ngoài lí do thanh điệu “trắc”, gây một điểm nhấn lắng đọng cho câu thơ, còn vì chữ “cậy” bao hàm cái ý hi vọng tha thiết của một lời đối với hai câu thơ, còn vì chữ “cậy” bao hàm cái ý hi vọng tha thiết của một lời dốì dăng (trông cậy), có ý nương tựa, gửi gắm, tin tưởng nơi quan hệ ruột thịt. Nếu dùng “nhờ” thì bấy nhiêu nghĩa sẽ nhạt hết. Còn nói “chịu” mà không nói “nhận” cũng như vậy: “chịu” lời là một sự chấp nhận bắt buộc, còn “nhận” thì tuỳ lòng, mà trong trường hợp này Kiều muôn em không được từ chối đề nghị của mình. Lời lẽ thắt buộc được lựa chọn thật là chính xác, chặt chẽ.
“Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”
Cái yêu cầu em ngồi lên trên để Kiều lạy trước, thưa sau cũng là một ý nài ép như vậy. Nhưng bây giờ lại dùng lễ nghi để ràng buộc. Lời “thưa” rất trang trọng, ràng buộc nội dung nghiêm trang, trịnh trọng sẽ nói ở sau. Vừa tình vừa lễ như vậy thì Vân chối sao đặng?
Lời thưa của Thuý Kiều rất rõ ràng, vắn tắt, dứt khoát:
“Giữa đường đứt gánh tưong tư
Giao loan chắp mối to thừa mặc em!”
Người xưa xem tình yêu là một gánh nghĩa vụ, gánh nặng, cho nên nói gánh tương tư. Mà giữa đường đứt gánh thì dang dở vô cùng, không sao mang xách cho hết. Hình ảnh đã nói rõ tình trạng bất lực của Thuý Kiều. Mọi việc phó thác cho em gánh, ở đây dùng chỉ nối mối tơ dây tơ duyên. Đoạn trên có câu: “Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong”. Nhưng tơ duyên còn vướng đã đứt, đối với Thuý Vân, đó là mối tơ thừa. Thuý Kiều hiểu thấu cảm giác và tình cảm thiệt thòi của em nên nói thẳng ra luôn “mặc em”, có nghĩa là phó mặc cho em đó, dở hay em cũng phải gánh vác cho chị. Câu nói này cũng mang giọng điệu người chị phó thác cho em nữa, cho nên có nhiều sức nặng. Bổn cầu thơ đã nói hết tình trông cậy, uỷ thác và nài ép, không cho em chối từ.Xem thêm: Nhân dân ta có câu tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Nhưng có bạn lại bảo: Gần mực thì chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng. Em hãy viết bài văn chứng minh để thuyết phục bạn ấy theo ý kiến của em Nhờ cậy xong Kiều mới nói lí do:
“Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kì
Hiếu, tỉnh khôn lẽ hai bề vẹn hai”.
Nội dung thông báo cụ thể, rõ ràng, nhưng sự trùng điệp ba chữ “khi”: khi gặp, khi ngày, khi đêm đã nói lên sự thề ước nhiều lần sâu nặng, không thể nuốt lời, nên phải nhờ em.
Từ đây Kiều chuyển sang phân tích ý nghĩa:
“Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”.
Tuổi trẻ còn lâu dài, vì thương chị mà thay chị nốì tình với Kim Trọng thì chị dẫu chết cũng hả dạ, vì có được tiếng thơm là người có tình nghĩa với chàng. Nhưng điều đặc biệt là từ đây trở đi Kiều coi mình như đã chết, như người chết. Câu “Ngày xuân em hãy còn dài” có nghĩa là “Ngày xuân của chị đã hết rồi”, chị chỉ còn “thịt nát xương mòn” và “ngậm cười chín suối”, nơi cõi chết, chín suối (cửu tuyền) là nơi đất rất sâu, chỗ người ta mai táng người chết.
Nói xong lời thoả nguyện bình sinh và hàm ơn đối với em, Kiều liền trao vật kỉ niệm:
“Chiếc thoa với bức tờ mây,
Duyên này thì giữ vật này của chung!”
Kim thoa là tặng vật đầu tiên Kim Trọng tặng cho Kiều khi nàng nhận lời. “Giờ Kim thoa với khăn hồng trao tay”. Tờ mây là tờ hoa tiên có vẽ vân mây, là tờ hoa tiên trên đó Kiều đã ghi lời thề (“Tiên thề cùng thảo mộc trương”). Lạ nhất là câu tiếp theo: “Duyên này thì giữ, vật này của chung!” Nhiều nhà bình luận Truyện Kiều đã nói rất đúng: Kiều trao duyên chứ không trao tình. Duyên đây là nhân duyên, duyên phận, cơ duyên, tức là sự run rủi của số phận cho hai người trai gái được lấy nhau. Nhưng vật kỉ niệm này là của chung – lời lẽ có vẻ như là Kiều còn muốn giữ lại cho mình, không muốn trao cả cho em. Nhưng xét cho kĩ thì Kiều đã nói đúng. Kiều trao kỉ vật, nhưng còn cái hồn của kỉ vật – tức mốì tình trao gởi, nơi đầu mày mối mắt, cái ngây ngất, nồng nàn, lời thề dưới trăng thì trao làm sao đặng? Nó thuộc về quá khứ, chôn sâu trong trái tim Kiều, cho nên chỉ có thể là của chung.Xem thêm: Trẻ em lang thang cơ nhỡ với cộng đồng xã hội. (Yêu cầu lập dàn bài)
Nhưng kỉ vật này cũng không phải chỉ là kỉ vật tình yêu hai người: Xưa là của Kiều và Kim nay thành của Kim và Vân. Từ nay nó còn là kỉ vật làm tin nhắc nhở đến chị nữa đó, để em có được hạnh phúc thì cũng đừng quên chị.
“Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.
Mất người, còn còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
Cây đàn hồ ngày nào Kiều đàn cho Kim Trọng và mảnh trầm hương ngày nào tùng chứng kiến lời thề nguyền cũng để lại cho em, như là của tin. Đôì với chị chúng đã trở thành quá khứ xa xôi rồi (ngày xưa). Đến đây Kiều lại thây mình là người đã chết:
“Mai sau dù có bao giờ,
Đốt lò hương ấy, so tơ plúm này.
Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”
Kiều đã mất hết hiện tại. Tương lai của nàng trông chờ vào lòng thương. Mai sau em đốt hương, chơi đàn (so tơ) – những lúc hạnh phúc, em hãy nhớ đến chị. Cái cách hình dung oan hồn bơ vơ của mình nơi mai hậu thật là thê thảm: Kiều sau này chỉ còn là ngọn gió vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ! Còn gì có thể gây lòng thương cảm hơn là gợi lên những hình ảnh của hư vô? Kiều lúc ấy đã chết, nàng chỉ còn có oan hồn, nhưng xin nhớ cho:
“Dạ đài cách mặt khuất lời,
Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai”.
Kiều mang nặng lời thề, nhưng dù có tan tành thân xác phụ nữ mảnh mai như bồ liễu, nàng cũng quyết đền ơn đáp nghĩa (đền nghĩa) cho Kim Trọng. Lúc bấy giờ chị và em đã là người của hai thế giới khác nhau:
“Dạ đài cách mặt khuất lời,
Rảy xin chén nước cho người thác oan”.
Dạ đài là nơi âm phủ tăm tối. Em sẽ không trông thấy (khuất lời), em hãy rảy một chén nước cho người thác oan là chị. Kiều tuy tự nguyện hi sinh, bán mình chuộc cha, nhưng vẫn ý thức mình bị oan uổng, sau khi chết hồn oan không tan. Theo niềm tin tôn giáo cổ truyền thì nước trong là chất tinh khiết có thể tẩy rửa nổi oan khuất, làm cho oan hồn được mát mẻ.
Từ khi trao vật kỉ niệm cho dến giờ, Kiều như quên hẳn hiện tại, nàng chỉ sống với cái mai hậu hư vô của mình, vì nàng hi vọng em và chàng Kim Trọng mai hậu được hạnh phúc và mai đây nàng sẽ được thương đến. Hiện tại thì nàng chỉ là con số không.
“Bây giờ trâm gẫy, bình tan,
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!
Trăm nghìn gửi lạy tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi”.
Nhìn lại hiện tại Kiều chỉ thấy mất mát. “Trâm gẫy bình tan” là hình ảnh của tình duyên tan vỡ. Một lời kêu than, một lời tiếc nuôi: “Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân” – Bao nhiêu là ái ân hò hẹn (đã “kể làm sao xiết muôn vàn” là nhiều lắm). Thế là đã hết! Kiều tự thấy có lỗi rất lớn với Kim Trọng, cho nên gửi lại chàng trăm lạy, nghìn lạy. Đây là lễ vong từ biệt trong lòng, câu “Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi” thấm đượm, chua chát.Xem thêm: Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích có tám câu cuối nhà thơ đã rất tài hoa trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Mỗi cảnh vật như nói với ta một nỗi buồn khác nhau và nỗi buồn đó ngày càng mãnh liệt hơn... Phân tích đoạn trích để làm rõ nội dung đó Từ câu “Bây giờ trâm gẫy bình tan” Kiều như chỉ nói với mình và Kim Trọng trong hiện tại, nàng quên hẳn Thuý Vân trước mặt mình, cũng giống như trước đó, nàng sông hẳn trong thế giới hư vô của mai sau.
“Phận sao phận bạc như vôi?
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.
Đó là lời oán trách, lời chất vấn số phận vô lí, nhưng nàng phải chấp nhận số phận: “Đã đành nước chảy hoa trôi lã làng”. “Nước chảy hoa trôi” là cảnh xuân đã hết, hoa rụng, tuyết tan, nước chảy đưa các cánh hoa trôi nổi, phiêu dạt. Kiều như thấy mình cũng là cánh hoa lìa cành, mặc dòng nước trôi, không làm chủ được mình nữa.
Hai câu cuối cùng là than với Kim, thương xót Kim, đau vì mình phụ Kim, một điều mà mình không muốn. “Thôi thôi” là tiếng than tiếc rẻ, là dằn vặt, “Thôi thôi” cũng là tiếng xác nhận sự phụ bạc của mình (như “Thôi thôi” vốn liếng đi đời nhà ma!), lời đau đớn ấy đã khiến Kiều ngất đi:
“Cạn lời hồn ngất máu say
Một hơi lặng ngất, đôi tay giá đồng”.
Đoạn trao duyên đây đúng là Kiều đã nói hết lời (cạn lời). Lời trao duyên nhưng nói như một lời trăn trối, lời vĩnh biệt. Trước lời trao là tình của mình, sau khi trao mình đã trắng tay. Trước khi trao mình là người sống, sau khi trao mình cầm bằng như đã chết, chỉ còn hồn oan, chín suối, dạ đày, ngọn gió. Trước khi trao Kiều sống với hiện tại, khi trao Kiều vừa sống với quá khứ và hiện tại. Nhưng khi trao xong Kiều chỉ sống với tương lai hư vô. Phải trở về hiện tại là lúc đớn đau, tan nát đến chết ngất – Nguyễn Du đã hình dung trạng thái tâm lí của Kiều. Lời của nàng là lời nói từ trạng thái ấy, không gian ấy. Cho nên lời nàng Kiều khi thì đôi thoại, khi thì độc thoại, khi thì nói với người trước mặt, khi thì nói với người vắng mặt.
Toàn bộ đoạn thơ là nỗi lòng đau đớn tan nát, thê thảm nhất. Mối tình sắp mất thì lời thê thảm. Đây đúng là đoạn văn lâm li nhất trong Truyện Kiều.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận đoạn Trao duyên (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) | 2,165 | |
Cảm tưởng của anh (chị) về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão
Gợi ý
Cảm hứng chủ đạo của văn học dân tộc trong giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là cảm hứng yêu nước, anh hùng ca. Các tác phẩm phản ánh được âm hưởng hào hùng của các cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc, mang âm điệu khỏe khoắn của cuộc sống yên bình, thịnh trị. Hào khí Đông A chính là bầu không khí chung đầy nhiệt huyết, mạnh mẽ của văn học thời kì này, thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí quyết tâm, khát vọng sâu thẳm, lòng tự hào.dân tộc đẹp đẽ của con người. Nằm trong mạch nguồn ấy, Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là một bài thơ độc đáo, được ra đời trong không khí quyết chiến quyết thắng của triều đại nhà Trần chống giặc Mông xâm lược.
Hai câu thơ đầu tiên mở ra tư thế của người nghĩa sĩ, tráng sĩ trong cuộc chiến đấu của dân tộc. Đó ià một tư thế đẹp đẽ, oai hùng, gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Bản dịch thơ làm mất giá trị gợi hình của bản phiên âm. Trong bản phiên âm, có sự đối lập giữa hình ảnh người tráng sĩ và không gian trời đất, vũ trụ, nhưng không thấy con người nhỏ bé, đơn chiếc mà hiển hiện một tư thế sừng sững, uy nghi. Hình ảnh người tráng sĩ cắp ngang ngọn giáo tạo nên bức tượng đài nghệ thuật về con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ dân tộc, không mệt mỏi, chán nản mà tràn đầy khí phách.Xem thêm: Đọc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Câu thơ thứ hai thể hiện khí thế, sức mạnh của “ba quân”. Đó không chỉ là sức mạnh của quân đội mà còn là sức mạnh của cả dân tộc, đất nước. Hình ảnh cả dân tộc đứng dậy- chông ngoại xâm truyền cho người đọc một cảm hứng ngợi ca, tự hào sâu sắc. So với bản phiên âm, bản dịch thơ chưa chuyển tải được khí thế hào hùng của dân tộc chống ngoại xâm khi đánh mất chữ tì hổ. Đó chính là ý thức sâu sắc của tác giả về sức mạnh, tiềm lực của dân tộc, đất nước. Đặc biệt, khí thê ấy có thể làm át cả sao Ngưu, trời cao. Sức mạnh của dân tộc lớn lao hơn cả sức mạnh của đất trời, của tạo hóa. Câu thơ thể hiện lòng tự hào, tự tôn dân tộc mạnh mẽ của Phạm Ngũ Lão.
Nếu như câu thơ đầu tiên thể hiện cái tôi tráng sĩ thì câu thơ thứ hai lại khẳng định cái ta cộng đồng dân tộc. Tư thế của con người được lồng trong tư thế của dân tộc. Chính sự hòa quyện, lồng ghép ấy tạo nên tứ thơ đẹp, kì vĩ, mang đậm âm hưởng sử thi, vừa hào hùng, vừa vĩ đại, gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Hình ảnh người anh hung của cả một dân tộc anh hùng là hình ảnh cụ thể đặt trong hình ảnh mang tính chất khái quát, là cặp hình ảnh quen thuộc, truyền thống của thơ ca cổ, có giá trị nâng tầm thời đại, chở đi tư thế cả dân tộc đấu tranh, đầy đẹp đẽ, hiên ngang. Giọng thơ hào sảng, phấn chấn, mang đậm âm hưởng hào khí Đông A, hai câu thơ đầu là bức tranh hoành tráng về không khí chiến đấu, chiến thắng, về tư thế con người dân tộc trong đấu tranh. Thơ Phạm Ngũ Lão sử dụng hình ảnh ước lệ song vẫn bộc lộ được sự chân thực trong cảm xúc của tác giả. Hiện thực lịch sử là hoàn cảnh điển hình nảy sinh xúc cảm đẹp trong tâm hồn người nghệ sĩ và truyền cảm hứng ngợi ca, hào hùng đầy phấn chấn cho người tiếp nhận.Xem thêm: Hướng dẫn phân tích tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải Hai câu thơ sau, Phạm Ngũ Lão đưa ra quan niệm về công danh, hay chính là quan niệm về chí làm trai trong xã hội phong kiến, liên quan đến thi cử, lập thân, đỗ đạt để ra làm quan. Quan niệm của Phạm Ngũ Lão có sự biến đổi mới mẻ: chí làm trai, công danh chính là sự gánh vác của con người với sự nghiệp lớn lao của đất nước, làm rạng danh dân tộc, làm vẻ vang quê hương. Quan íiiệm giặc còn, nợ công danh vẫn còn của ông thể hiện ý chí chiến đấu bền bỉ, lòng quyết tâm chống giặc mạnh mẽ. Người tráng sĩ phải có chí lớn, có trách nhiệm với quốc gia, dân tộc.
Nếu công danh là chí, là nợ thì thẹn công danh cũng là điều dễ hiểu. Phạm Ngũ Lão mượn cách nói ước lệ, sử dụng điển tích, điển cố mà gửi gắm tâm trạng của mình. Đó vừa là sự khiêm tốn, tế nhị, vừa là sự khẳng định một cách đúng mực về cái tôi của chính mình. Người đọc nhận ra cái thẹn cao cả, khẳng định một nhân cách đẹp đẽ, đáng kính trọng của Phạm Ngũ Lão. Như vậy, trong quan niệm của tác giả, người anh hùng phải có chí lớn, có cái tâm cao cả, phải là người anh hùng của cả một dân tộc anh hùng. Hào khí Đông A, tinh thần yêu nước không thể hiện bằng triết lí khô cứng mà là sự giãi bày nỗi lòng của tác giả, được viết ra bằng một giọng văn súc tích, “quí hồ tinh bất quí hồ đa”.Xem thêm: Cảm nhận của em về nhân vật Tấm trong Tấm CámVanmau.edu.vn | Cảm tưởng của anh (chị) về bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão | 982 | |
Đề bài: Tả lại cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ
Trời đã quá trưa. Nắng hè gay gắt chiếu xuống mặt đất. Trên cánh đồng làng vẫn nhấp nhô bóng người đang lúi húi làm cỏ lúa. Từ trên đường nhìn xuống, em thấy chiếc nón cũ chỉ đủ che cho mái đầu của mẹ còn lưng áo nâu bạc ướt đẫm mồ hôi phơi ra dưới nắng. Em cất tiếng gọi: – Mẹ ơi! Con mang cơm ra đây này! Mẹ nghỉ tay ăn cơm đã! Mẹ ngẩng lên đáp lại: -Ừ! Mẹ vào ngay đây! Rồi mẹ vác chiếc cào cỏ lên vai, nhẹ nhàng vén từng bụi lúa lội bước lên bờ. Mẹ khoan khoái vốc từng vốc nước mát trong của dòng mương chạy ngang cánh đồng để rửa mặt. Nụ cười tươi tắn làm rạng rỡ gương mặt đầy đặn rám nắng của mẹ.
Mẹ em năm nay tuổi đã gần bốn mươi, dáng người đậm chắc, khỏe mạnh. Mọi việc lớn nhỏ một tay mẹ lo hết vì bố em là bộ đội, đóng quân tít tận vùng biên giới phía Bắc, ít có dịp về nhà. Quanh năm, mẹ quần quật làm việc, cấy hái ngoài đồng, nắng mưa chẳng quản. Làng xổm đều khen mẹ em tính nết hiền hoà, đảm đang, tháo vát và mừng cho ông bà nội có được người con dâu hiền thảo.
Em thương mẹ lắm! Ngoài giờ học, em thường giúp mẹ những việc lặt yặt như quét dọn, tưới rau, chò gà cho lợn ăn… Mẹ khen em ngoan và cười bảo: – Mẹ muốn rèn cho con đức tính cần cù, chăm chỉ, chứ ngần ấy việc, mẹ làm chỉ loáng cái là xong. Em hiểu ý và càng cố gắng hơn để san sẻ bớt nỗi nhọc nhằn của mẹ.
Ngày mùa, cánh đồng làng em vàng rực một màu lúa chín. Hương lúa thơm ngọt, nồng nàn quyện với hương hoa cau, hoa bưởi thơm ngát tỏa lan khắp xóm thôn. Mọi người đều náo nức trước vụ mùa bội thu. Niềm vui hiện rõ trong giọng nói, ánh mắt, nụ cười của mẹ. Tưởng chừng bao vất vả, gian nan đều đã lùi xa.
Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau đây trong Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: Em ơi em... Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôiTuy còn nhỏ nhưng em đã hiểu rằng bát cơm em ăn, tấm áo em mặc, quyển sách quyển vở em học… đều được đổi bằng mồ hôi của mẹ. Đêm đêm, mẹ thức cùng em cho tới khi nào em học bài và làm bài xong thì mẹ mới buông màn đi ngủ. Bô" đi vắng nên mẹ em vừa phải làm người mẹ dịu dàng, vừa phải làm người cha nghiêm khắc. Những lời động viên mộc mạc, chân tình cùng với nụ cười đôn hậu của mẹ làm cho lòng em thêm ấm áp và tin tưởng.
Em nhớ lần lỡ tay làm vỡ chiếc bình cắm hoa bằng thủy tinh của bô" mua vào dịp Tết năm ngoái. Vì lo sợ nên em đã đổ tội cho chú mèo tam thể. Tối hôm ấy, sau khi dọn dẹp xong, mẹ gọi em ra sân nói chuyện. Hai mẹ con ngồi trên chiếc chõng tre kê dưới gốc cau. Dải Ngân Hà bàng bạc vắt ngang qua bầu trời đêm lấp lánh sao. Trăng sáng in rõ bóng cây trên mặt sân, mỗi khi gió thổi lại rung rinh, lay động. Em hồi hộp chờ đợi và cũng mang máng đoán ra điều mẹ sẽ nói. Tiếng mẹ cất lên khe khẽ chỉ vừa đủ để em nghe: – Thu à! Lúc chiều, mẹ biết là con nói dối. Nếu con lỡ tay đánh vỡ chiếc bình, con cứ mạnh dạn, thành thật nhận lỗi, ông bà và mẹ sẽ chẳng trách con đâu. Nhưng sự dối trá của con làm cho cả nhà buồn đấy! Lần sau đừng như thế nữa nghe chưa, con gái của mẹ!
Nghe mẹ nói, nước mắt em ứa ra. Em khóc vì xấu hể và ân hận. Em ôm lấy mẹ và lí nhí xin lỗi. Mẹ vuốt tóc em, thủ thỉ: – Thôi, đừng khóc nữa con Ị Mẹ tin rằng con sẽ không bao giờ biến mình thành kẻ dối trá đáng ghét! Nào, hãy ngẩng đầu lên!
Em nắm thật chặt đôi bàn tay chai sần của mẹ và ngước mắt nhìn. Dưới ánh trăng, nụ cười khoan dung của mẹ mới đẹp làm sao! Trái tim em cất lên tiếng gọi thiết tha: – Mẹ Ị Mẹ kính yêu của con! Con sẽ cố gắng làm theo lời mẹ dạy để trở thành một đứa con ngoan!
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật Gióng, trong truyện "Thánh Gióng" | Cảm xúc của em trước nụ cười của mẹ | 816 | |
Cảm xúc của em về mùa xuân – Bài làm 1
Mùa đông qua đi, mùa xuân tới làm vạn vật giống như tỉnh dậy sau giấc ngủ dài.Đối với em, đẹp và vui nhất là những ngày tết đầu năm.Mùa xuân là mùa của những sắc màu.Màu xanh biếc của bầu trời, màu xanh non của cây cối đang đâm chồi, màu hồng rực rỡ của hoa đào, màu vàng tươi của hoa mai.Mỗi khi đi ngắm ngày xuân cùng gia đình, em lại cảm thấy trong lòng xôn xao.Đặc biệt nhất của ngày tết là em cùng bố mẹ về quê chơi. Em được tham dự nhiều ngày lễ Tết, được cùng bố mẹ ngắm chợ hoa, chơi các trò chơi dân gian cùng các bạn.. Em thấy đất nước mình đẹp nhất là khi tết đến, xuân về!
Cảm xúc của em về mùa xuân – Bài làm 2
Khi mùa đông lạnh lẽo qua đi cũng là lúc mùa xuân mang sức sống tràn đầy trở lại. Bầu trời cao, trong xanh, chim én từ đâu bay về ngập trời báo hiệu ngày Tết đã tới. Em cảm thấy rất vui và háo hức.Đêm giao thừa em được cùng bố mẹ đi ngắm pháo hoa được bắn lên trời với nhiều hình dạng và màu sắc, rực rỡ vô cùng.Mùng 1 và mùng 2 tết em cùng bố mẹ về quê thăm ông bà, họ hàng.Ai ai cũng vui vẻ, phấn khởi, mọi người đề chúc nhau năm mới hạnh phúc.Em được đi chơi rất nhiều nơi cùng bố mẹ, được nhận rất nhiều lì xì.Ra đường, nơi đâu cũng thấy hoa đào, hoa mai cùng những câu đố đỏ. Em rất thích những ngày tết đầu năm!Xem thêm: Chứng minh tình thương là hạnh phúc của con người
Cảm xúc của em về mùa xuân – Bài làm 3
Mùa xuân đến, Tết đi gõ cửa mọi nhà.Ai ai cũng xúng xính diện những bộ quần áo mới thật đẹp để đi chơi với gia đình mình.Mọi người chúc phúc cho nhau những điều tốt đẹp nhất. Những đứa trẻ con háo hức được lì xì tiền mừng tuổi. Hoa đào, hoa mai nở rộ, khoe sắc thắm.Hàng loạt cây quất sai trĩu quả được bày bán nhiều trên vỉa hè.Những câu đối đỏ, biển hiệu “Chào mừng năm mới 2016” được treo khắp mọi nẻo đường.Không khí Tết càng thêm náo nhiệt, tươi vui. Yêu sao ngày Tết của em!
Cảm xúc của em về mùa xuân – Bài làm 4
“Tết, tết, tết, tết đến rồi!Tết, tết, tết, tết đến rồi!…” Mỗi khi câu hát đón xuân này vang lên thì trong em lại háo hức, vui sướng.Mọi người trong gia đình em ai cũng tất bật đón tết đến. Bố mẹ em sửa sang, lau dọn nhà cửa. Còn chị em em cùng nhau trang trí cây đào, cây quất. Em thích nhất là lúc cả nhà quây quần bên nhau luộc bánh chưng. Tiếng cười nói rôm rả, trêu đùa vang lên làm không khí trở nên vui tươi hơn. Bánh chưng chin cũng là lúc tết đã đến rất gần rồi. Em và mọi người ở bên nhau để đón chờ giây phút giao thừa.Cảm xúc đó thật hạnh phúc.Em rất thích được chuẩn bị đón tết cùng với mọi người trong gia đình em.Xem thêm: Nói về lòng yêu nước, nhà văn I-li-a Ê-ren-bua nói: “Dòng suối... Tổ quốc”. Em hiểu câu nói trên như thế nào? Liên hệ bản thân, em hãy phát biểu những suy nghĩ của mình về lòng yêu quê hương, đất nước | Cảm xúc của em về mùa xuân | 601 | |
Cảm xúc của mọi người dân Việt Nam qua ba khổ thơ cuối trong bài thơ Bác ơi như thể nào?
Hướng dẫn
– Lời thơ không chỉ dừng lại là lời của một cá nhân mà là tiếng lòng cảm xúc của cả dân tộc Việt Nam.
Tác giả khẳng định nỗi nhớ Bác Hồ thường trực trong trái tim hàng triệu người con Việt Nam, nỗi nhớ ấy đã nghìn thu, muôn thuở như cuộc đời Bác, sự nghiệp của Bác, nhưng lời thơ không bi lụy. Vì tác giả đã khẳng định về sự bất diệt và sức sống vĩnh hằng của trái tim Hồ Chí Minh. Sự ra đi của Bác cũng chỉ là cuộc hành trình về với tổ tiên.
“Bác đã lên đường theo tổ tiên
Mác – Lê-nin thế giới Người Hiền”
Đó cũng chính là động lực thúc đẩy cả dân tộc tiếp tục con đường mà Bác đã lựa chọn và theo đuổi.
– Lời thơ là lời biết ơn sâu nặng công lao của Hồ Chí Minh, đồng thời trước sự ra đi của Người, nhiều đứa con của Người đã tìm thấy được thanh lọc tâm hồn, được trong sáng hơn, đẹp đẽ hơn. Đó là sức mạnh tinh thần mà Bác đã tạo ra, nhân cách của cuộc đời Bác đã là một tấm gương sáng mà mỗi người có thể tự soi chiếu để mình được trong sáng hơn.
– Cuối bài thơ là lời hứa, lời nguyện ước của cả dân tộc trước Bác
+ Không dám khóc nhiều
+ Chúng con cùng nhau tiến lên…
+ Nguyện cùng Người vươn tới mãi…
Lời thơ là lời thề hứa, bời vậy giọng điệu câu thơ khoẻ khoắn, rắn rỏi. Lời thề hứa cũng là lời đáp lại những mong mỏi của Người, đáp lại những lời băn khoăn trăn trở mà Người đang thực hiện dang dở. Bởi vậy, có thể thấy tình cảm thiết tha sâu nặng ân tình mà hàng triệu trái tim Việt Nam cũng dâng lên Người. Tinh thần nhân văn của bài thơ cũng chính là ở đó.
Nguồn: thêm: Cho đề bài "Tưởng tượng 20 nãm sau, vào một ngày em về thăm trường cũ. Hãy viết thư cho một bạn học hồi ấy kể lại buổi thăm trường đầy xúc động đó". Em hãy viết đoạn văn miêu tả quang cảnh và con người nơi trường cũ nhiều kỉ niệm | Cảm xúc của mọi người dân Việt Nam qua ba khổ thơ cuối trong bài thơ Bác ơi như thể nào_ | 398 | |
Cảnh vườn quê hiện lên thật đẹp nhưng lại thấm đượm nỗi buồn da diết bâng khuâng trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Phân tích bài thơ để chứng tỏ điều đó
Gợi ý
YỂU CẦU
Phân tích bài thơ để làm nổi rõ vẻ đẹp và nét buồn của bức tranh thôn Vĩ đã được khúc xạ qua nỗi niềm tiếc nuối bâng khuâng của Hàn Mặc Tử về một mối tình dở dang bất hạnh.
Cảnh và tình quyện chặt, tình thấm vào cảnh, cảnh nói lên tình trong những hình ảnh thơ mới mẻ và sáng tạo, những ý thơ độc đáo và sâu sắc, và nhất là trong giọng thơ buồn da diết rất đặc trưng của Hàn Mặc Tử (có thể kết hợp lí giải thêm về nỗi buồn của thi nhân trong bài thơ).
BÀI LÀM
Tôi đã trót yêu cái buồn của thơ Hàn Mặc Tử – người thi sĩ tài hoa bạc mệnh. Dường như cái khoảng thời gian ngắn ngủi Tử hiện hữu trên đời này là để yêu. Yêu điên cuồng thế giới… cho dù bị bệnh tật hành hạ. Nỗi buồn trong thơ Người có nhiều nhừng cung bậc khác nhau, lúc thê thảm thiết tha, khi chở nặng một chút lòng man mác… nhưng tất cả đều dội lên một niềm khát khao sông tột độ. Có những câu thơ, bài thơ đọc lên, ta cảm thấy day dứt, diết da; nhưng có những bài nhà thơ truyền cho tôi cảm giác buồn vô cùng tinh tế – Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thế với cảnh, với hồn người xứ Huế đẹp, thấm đượm một nỗi buồn da diết bâng khuâng:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách dường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Vườn Huế mộng thơ và đẹp nhưng là vẻ đẹp của một bức tranh nhạy cảm. Cái nắng trinh nguyên của sớm mai nơi thôn Vĩ như rải những vệt sáng lấp lóa trên những cành lá còn ướt đẫm sương đêm. Buổi mai vàng, khi ùa lòng mình vào Vĩ Dạ, hòa vào cỏ cây, ngước mắt nhìn lên là thẳng tắp nhưng hàng cau đang hứng đầy buồng nắng, "Nắng hàng cau" có lẽ chỉ có thôn Vĩ mới có cái nắng tinh khôi ấy, ta như cảm được cả hương thơm của nắng tỏa xuống không gian, cái hương rất nhẹ của hoa cau mới nở. "Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên", câu thơ có bảy chữ nhưng có đến hai chữ "nắng" tạo trong ta cái cảm giác về cấp độ của ánh sáng; đầu tiên là "nhìn nắng" đó là một thứ ánh sáng của sự chủ động, ta định hướng được rất tự nhiên và từ đó vươn lên một góc nhìn tập trung "nắng hàng cau" để rồi đón nhận một cảm giác tươi mới trinh nguyên "nắng mới lên", sắc nắng, vị nắng trộn hòa vào cảnh vật vừa như vút lên trong cái tầm thanh thoát của hàng cau xứ Huế, lại vừa chợt như ùa xuông, tỏa rộng tràn lên tất cả "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc". Câu thơ cứ như là buột miệng, như không kìm nổi lòng mình phải reo lên khi bắt gặp cái sắc màu biếc xanh như ngọc ấy. Vườn ai đó chợt sáng bừng lên, làm rạng rờ cả một khoảng không gian của trời đất, mượt mà tươi non. Ngắm nhìn cảnh nơi thôn Vĩ buổi sớm mai, ta cứ tưởng như đêm qua cảnh vật được tắm mình bằng một trận mưa rào, cây cối như được rửa trôi, sạch sẽ và tinh khôi, chỉ còn những giọt sương mai rất nhỏ bám vào cành lá đợi chờ từng tia nắng xuyên qua. Có lẽ chỉ cần từ "mướt" là đủ, song thêm từ "xanh" sau càng làm tôn thêm, nổi bật thêm cái tươi mát, xum xuê của Vĩ Giạ. Người dân Huế, thường đồng nghĩa hai từ "vườn" và từ "nhà", bởi ở nơi đây mỗi ngôi nhà đều được bao quanh bởi vườn cây. Mồi nhà là một khoảng khá rộng ngôi nhà nhỏ được đặt ở giữa, xung quanh là cây cối tạo nên một cấu trúc thẩm mĩ rất gắn kết, hài hòa. Đang cái mạch của sự ngỡ ngàng, câu thơ tiếp theo là một sự phát hiện mới, hòa vào trong cái không gian tinh khiết ấy lá thâp thoáng một dáng nét của con người: Xem thêm: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện và chứng tỏ tính độc đáo, sáng tạo của Nam Cao trong đoạn mở đầu truyện ngắn Chí Phèo: "Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng cứ rượu xong là hắn chửi... Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết..." Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Câu thơ đã biểu hiện được thần thái tâm hồn thôn Vĩ. Có sự xuất hiện của con người, thiên nhiên như càng được thổi thêm một luồng sinh khí tạo nên nét đẹp hài hòa trong giá trị tạo hình, một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, đôn hậu và thanh khiết của con người nơi miệt vườn xứ Huế, nó còn như một lời chào mời tha thiết, nửa như trách móc dỗi hờn:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Hình như ta cảm thấy có hai nhân vật trữ tình trong bài thơ một người đang trách móc xa xôi sự vô tình của người kia đốì với một kỉ niệm đẹp. Còn nhân vật trữ tình thứ hai thì bàng hoàng tiếc nuối, anh bị lời trách cứ lôi kéo: "cảnh đẹp đến nhường ấy sao anh chẳng về chơi". Câu mở đầu cho bài thơ, một lời mời chào và còn hàm chứa cả một nỗi niềm tiếc nuối, day dứt. Có thể thấy những cảnh đẹp của vườn Vĩ Dạ chỉ là một lớp vỏ ngoài của một nỗi lòng đang khắc khoải, rõ ràng bài thơ không chỉ đơn thuần để thể hiện cái tình đối với Huế, mà đối với một bóng hình giai nhân nhà thơ đã từng nặng lòng thương nhớ. Bài thơ được làm ở Quy Nhơn, nên những cảnh Huế chỉ là trong tưởng tượng. Thi nhân là một người đa cảm, lại đang phải sống cách biệt với những người thân yêu của mình nên hơn bao giờ hết thèm được sống lại những ngày tháng cũ, những kỉ niệm êm đềm. "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?" hay chăng đó chính là lời của thi nhân, người đã nhập vai một người khác để thể hiện lòng mình, nói một lời chào, lời mời gọi thiết tha, nhưng ngay sau đó như không trốn tránh nổi cái hiện hữu nơi hồn mình. Người đã bừng tỉnh, đã nhận ra rằng đó chỉ là sự tưởng tượng, một giấc mơ của chính mình. Bởi vì, thôn Vĩ chỉ còn là hoài niệm, chỉ còn là sự đi về trong tâm tưởng nhớ thương của một con người đang cần lắm một tình yêu, một tâm hồn để sưởi ấm lòng mình. Cho nên cảnh hiện lên thật đẹp nhưng lại vẫn thấm đẫm một nỗi buồn sâu lắng. Và chính bởi cái buồn da diết ấy nên nguồn mạch của những kỉ niệm vẫn không bị phá vỡ, nhưng ở đây không còn là cái tươi trinh của một buổi sớm mai nơi thôn Vĩ mà chợt chuyển sang cảnh sông nước, của dòng sông Hương với mây và gió: "Gió theo lối gió mây đường mây".
Ở khổ thơ thứ hai này, mỗi câu thơ như trải ra thật chậm thật nhẹ và cũng thanh thoát như hồn người xứ Huế. vẫn là hình thức tả cảnh thiên nhiên, nhưng ở đây dù có lấp liếm che giấu khéo đến đâu, thi nhân vẫn để lộ ra cái tình thật của lòng mình, vẫn chưa thoát ra được cái mộng ảo của tâm hồn. Gió và mây, đều gợi nên sự chia li "lối gió", "đường mây" cái ranh giới mỗi lúc như được nới rộng thêm ra, càng làm tăng thêm cái khoảng phân cách, "mây" và "gió" mỗi từ được nhắc lại hai lần trong một câu thơ, cách lặp lại ấy như càng bị đẩy ra một khoảng xa hơn. Sự li tán đó có phải chăng cũng chính là sự li tán của lòng người. Câu thơ như bị bứt ra, đẩy ra xa chứ không gãy đôi, càng tạo thêm cái da diết đến nao lòng người, như rạch vào nỗi đau của thân phận kẻ bị chia lìa. Đến đây không còn là cái tươi mới rạo rực ở khổ đầu nữa mà chuyển sang cái gam màu của sự trầm lắng: "Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay". Cảnh đẹp nhưng buồn quá, hay bởi thi nhân đang trải cả hồn mình lên cảnh vật. Xưa nay "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", hơn lúc nào hết, thi nhân bây giờ mới cảm nhận thật sâu sắc lòng mình, nhìn dòng nước trôi lững lờ, sự chuyển động của thiên nhiên như chậm lại, nhưng các chiều không gian vẫn mở và sâu hun hút càng táng thêm sự đơn côi. Hai chữ "buồn thiu" được đặt giữa dòng thơ là một sự lan tỏa của cái buồn lặng lẽ rủ lên dòng nước đang chảy trôi lại vừa như ngấm vào tỏa sang để khẽ lay hoa bắp bên sông, rung nhẹ lên một chút đủ để diễn tả một nỗi buồn hiu hắt. Trong cái tâm trạng buồn trĩu nặng của cảnh chia li ấy, lại đang đắm mình trong ảo mộng của màu trăng, nhà thơ như chợt bừng lên cuống quýt một lời nhắn gửi: Xem thêm: Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mộng ảo quá, thiên nhiên như thấm đẫm một màu trăng. Mới ở khổ một còn đang là một bức tranh thiên nhiên đẫm ngợp ánh nắng, đến bây giờ là nhuốm ánh trăng. Câu thơ nào cũng đều tỏa nên một sắc màu, đều có nét ánh lên, càng làm cho hồn người đa cảm nhận rõ hơn sự trống trải, đơn lạnh của chính mình. Nên chợt nhìn thấy thấp thoáng của con thuyền, lòng thi nhân như chợt rung lên mãnh liệt nhưng vẫn ở trong trạng thái rất đỗi mơ hồ, không xác định.
Thơ Hàn Mặc Tử dường như có sự thâm nhập quá lớn của ánh trăng, nên bao giờ cũng tạo ra một vẻ đẹp kì ảo của mộng và rất thơ. Giữa cái mênh mang hư ảo, trăng như thấm vào từng kẻ lá, trộn hòa vào từng dòng nước nhỏ. Dòng sông chở đầy ánh trăng, "Sông trăng" chỉ có Hàn Mặc Tử mới có thể tưởng tượng ra được cả cái sông trăng ấy của dòng sông Hương, ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ tạo nên một không khí hư ảo, và chỉ trong cái mộng ảo đó mới có thể cảm nhận được sông trăng, bến trăng và thuyền mới có thể "chở trăng về" như một du khách trên sông Hương. Cái hình ảnh thuyền chở trăng ấy, rõ ràng là không mới, và cả sau này Bác Hồ cũng có hình ảnh này:
Khuya về hát ngát trăng ngân đầy thuyền
Tất nhiên là không thể có sự so sánh bởi hai câu thơ đều mang một hình ảnh ấy song lại là hai tâm thế hoàn toàn khác nhau. Người thơ ở đây đang rất đơn côi, đang khao khát được ai đó sẻ chia tâm sự: "Có chở trăng về kịp tối nay" là cả một nỗi lòng sự mong đợi, một câu hỏi gần như là sự khắc khoải bồn chồn. Con thuyền ngây ngô trên bến vắng tạo nên trong lòng người một niềm phấp phỏng, hi vọng, chờ đợi một cái gì đang rời đi, biết có thể nào, có khi nào quay trở lại. Cái nỗi niềm ấy đang ngập dâng lên trong lòng thi sĩ. Cả bôn câu thơ của khổ hai là sự ảo hóa của bút pháp tài tình lên cho cảnh thêm huyền ảo và tình càng dâng lên vời vợi, say đắm.
Bài thơ mang một niềm bâng khuâng, một sự tiếc nuối vẫn trong cái mạch hư ảo ấy:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra Xem thêm: Cảm nhận về bài Vội vàng của Xuân Diệu Ớ khổ thơ cuối này niềm bâng khuâng, sự quyến riết trước cảnh trời mây sông nước như trải rộng ra cái cảm giác mông lung của hư thực. Nhưng dù mông lung, dù huyền ảo "nhìn không ra" vẫn thấy rõ hay đúng hơn là cảm nhận rất rõ một bóng hình người con gái của Huế thơ song lại không thể nào nắm bắt được, lại vẫn là trong ảo trong mơ, cái hình bóng chập chờn ấy càng làm tăng thêm sự khắc khoải bồn chồn của lòng người đa cảm, cảm giác gần mà lại như hút xa bởi nhà thơ chỉ có thể cảm nhận được cái màu áo trắng thoắt ẩn hiện mà không thể nhìn bằng thị giác của mình. Màu sắc trắng chỉ còn là một ấn tượng càng làm cho sự hẫng hụt lên tới cao độ, muôn bấu víu, cầm nắm mà cảnh đầy màu hư ảo quá, nó lại bị chìm trong màu của khói sương:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh.
Bóng hình của giai nhân mờ ảo trong sương, cảnh vật phủ bởi một màu sương, nhưng cũng có thể đó là một ẩn ý của người thơ, sương khói ấy phải chăng là khoảng cách của thời gian, là màu của một mối tình vô vọng. Thi nhân đã cảm mến một người con gái Huế, đang sống trong chờ đợi và ảo mộng và trong khi yêu người ta rất dễ nghi ngờ:
Ai biết tình ai có đậm đà?
Tự cắt nghĩa trong một câu hỏi bâng khuâng, nhà thơ như càng trào lên một sự băn khoăn vừa da diết xót xa.
Những câu hỏi tu từ trong bài thơ cứ xoáy lên mà không cần một sự trả lời; nhừng hình ảnh về mảnh vườn xanh mướt, về bến sồng trăng, về con thuyền và cả mối tình sâu kín mà nhà thơ đã như là một sự vô tình làm nhòe đi để tạo ra nét mênh mang. Rồi hàng loạt các từ "vườn ai", "tình ai", "ai biết"… cũng là để thể hiện cái mênh mang ấy. Ba khổ trong bài thơ, mỗi khổ thơ là một câu hỏi, một nỗi niềm day dứt của lòng người: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?", "Có chở trăng về kịp tôì nay?", và câu cuối cùng cũng là để kết bài thơ: "Ai biết tình ai có đậm đà?", âm "a" như ngân, kéo dài ra, như nỗi niềm đớn đau, buồn tủi đang bị cuộc sống kéo triền miên. Âm hưởng của bài thơ là buồn, nhưng không làm cho người ta bi lụy, yếu lòng, bởi đằng sau nỗi niềm ấy của thi nhân, ta thấy vút lên một khát vọng về cuộc sống tình hơn, hoàn thiện hơn. Những chi tiết, những thủ pháp nghệ thuật, cách thức, câu từ đã được Hàn Mặc Tử chuyên chở bằng chính tình cảm của mình, của hồn mình, nên đọc cả bài thơ, ta không thấy có gì gượng ép, mà ngược lại ta như đang cùng sông với nhà thơ trong cái thế giới huyền ảo của Người. Bài thơ là sự đan cài giao thoa của tình của cảnh, bộc lộ được nhừng nét đẹp, cái trong sáng gắn với một vùng quê xứ Huế – là thôn Vĩ với những nét rất độc đáo của miền Trung.
Cảnh đẹp nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng, da diết, Đây thôn Vĩ Dạ như một biện chứng tình cảm của một nghệ sĩ tài hoa đa tình đa cảm. Con người luôn khao khát vươn tới sự thánh thiện của cuộc đời ấy, đã sống hết mình trong sự đớn đau của tinh thần và thể xác. Cái buồn da diết của thi nhân còn là tâm trạng của một lớp thanh niên lúc bấy giờ yêu cuồng nhiệt, thiết tha nhưng không thoát khỏi nỗi buồn thời đại.
Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp nhưng rất khó vẽ. Bởi cái thần kì ảo quá, cái tình da diết quá và có lẽ đó chính là cái làm cho bài thơ sống mãi, như sự trường tồn của tâm hồn Hàn Mặc Tử.
Vanmau.edu.vn | Cảnh vườn quê hiện lên thật đẹp nhưng lại thấm đượm nỗi buồn da diết bâng khuâng trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Phân tích bài thơ để chứng tỏ điều đó | 2,872 | |
Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm
Hướng dẫn
Trong lời đề tựa cho vở kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng có viết: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Bằng những hiểu biết của anh (chị) về vở kịch, hãy giải thích “bệnh Đan Thiềm”. Theo anh (chị), Đan Thiềm giống với một nhân vật nào trong số những truyện ngắn sáng tác trước năm 1945 mà anh (chị) đã được học? Giải thích sự tương đồng đó.
Trả lời
– Vài nét về tác giả – tác phẩm:
+ Nguyễn Huy Tưởng là gương mặt quan trọng của văn học Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp sáng tác của ông kéo dài từ những năm bốn mươi đến những năm năm mươi của thế kỉ XX. Ông nổi tiểng là một nhà viết kịch và một tác giả tiểu thuyết chuyên viết về đề tài lịch sử. Đặc biệt, ông là một trong số không nhiều những tác giả kịch nói xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.
+ Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng và cũng là vở bi kịch xuất sắc nhất của nền kịch nói Việt Nam hiện đại. Tác phẩm được viết trước Cách mạng, được xây dựng từ nhiều yếu tố có thật trong lịch sử. Từ một câu chuyện chỉ xuất hiện thoáng qua trong chính sử, Nguyễn Huy Tưởng muốn khái quát hoá thành những vấn đề vô cùng lớn lao của con người nói chung: nghệ sĩ và nhân dân, cái đẹp vĩnh cửu, muôn đời, vĩ đại với những lợi ích thiết thực, trước mắt.
– Vẻ đẹp của nhân vật Đan Thiềm:
+ Đan Thiềm là một cung nữ của Lê Tương Dực. Bà là một cung nữ có nhân cách cao cả, khác hẳn với những cung nữ, phi tần khác của Lê Tương Dực. Điều đó thể hiện qua sự đối lập giữa Đan Thiềm và Kim Phượng. Kim Phượng sẵn sàng dùng nhan sắc mê hoặc quân nổi loạn chỉ để cầu được sống thì Đan Thiềm sẵn sàng đón nhận cái chết và giữ một tư thế đàng hoàng, đĩnh đạc trước quân nổi loạn. Bà chỉ cầu xin cho Vũ Như Tô được sống vì tiếc cho đất nước một tài năng.
+ Đan Thiềm là người sáng suốt. Trong đối thoại với Vũ Như Tô ở đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, Đan Thiềm là người hiểu thấu tình thế tuyệt vọng của Vũ Như Tô. Vũ Như Tô ngơ ngác không hiểu mình làm gì nên tội nhưng Đan Thiềm sáng suốt, hiểu thấu mọi sự, hiểu được sự mù quáng của dân chúng.
Xem thêm: Giản dị trong đời sống, trong tác phong, trong quan hệ với mọi người, Hồ Chủ tịch cũng rất giản dị trong lời nói và bài viết vì muốn cho quần chúng nhân dân hiểu được, nhớ được, làm được. Em hãy tìm một ví dụ để chứng minh cho sự giản dị trong thơ văn của+ Mối quan hệ đặc biệt giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô, như chính Vũ Như Tô nói, đó là mối quan hệ giữa những người tri kỉ. Đan Thiềm hiểu thấu tài năng của Vũ Như Tô, trân trọng tài năng của ông, thấu hiểu cả sự cao cả trong mục đích muốn tô điểm cho đất nước của ông. Bà hiểu rõ tài năng ấy sẽ làm rạng danh cho đất nước. Bà là người duy nhất đồng cảm, thấu hiểu, trân trọng khát vọng sáng tạo chân chính của Vũ Như Tô. Nhưng cũng chính vì trân trọng tài năng của Vũ Như Tố, tiếc tài năng của Vũ Như Tô, đồng thời cũng vì hiểu rõ khát vọng sáng tạo của Vũ Như Tô khó có thể thực hiện được bằng những phương cách thông thường nên Đan Thiềm đã phạm phải một sai lạm là khuyên Vũ Như Tô chấp nhận xây Cửu Trùng Đài. Hành động đó xuất phát từ viếc bà lo sợ nếu Vũ Như Tô không chấp nhận xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực, ông sẽ phải nhận án chém và đất nước mãi mãi sẽ mất đi một thiên tài. Động cơ của hành động đó là đúng đắn nhưng bản thân hành động đó là một sai lầm.
– “Bệnh” Đan Thiềm có lẽ là căn bệnh của những con người đối lập với hoàn cảnh, bị đẩy vào một hoàn cảnh đen tối, nhìn thấu lẽ đời, hiểu rõ cái xấu của thực tại và vì thế, liên tài, mê đắm người tài hoa, trân trọng tài năng. Hiểu rõ cuộc đời, hiểu rõ những mâu thuẫn của cuộc đời nhưng lại trân trọng tài năng nên người như Đan Thiềm dễ phạm phải sai lầm (điển hình là hành động khuyên Vũ Như Tô cộng tác với Lê Tương Dực). Đó là một hành động vô vọng bảo vệ một điều tốt đẹp không thể nào tồn tại được trong một thực tế đen tối. Người cầm bút phải chăng cũng cùng bệnh với Đan Thiềm là có con mắt sáng suốt lẽ đời, hiểu thấu cuộc đời, đồng thời lại nhìn thấy được những điều tốt đẹp, tiếc cho những điều tốt đẹp và vì thế nên có thể phạm phải những sai lầm như Đan Thiềm?
– Nhân vật Đan Thiềm có thể so sánh với nhân vật quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Đó đều là những nhân cách tốt đẹp, đối lập với hoàn cảnh, những con người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, sẵn sàng hi sinh cả tính mạng vì những giá trị tốt đẹp mà mình trân trọng.
Nguồn: thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng Bê-li-cốp | Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm | 980 | |
Cầu Long Biên Chứng nhân lịch sử ngữ văn 6
Hướng dẫn
I. ĐỀ LUYỆN TẬP
Đề 1. Đọc diễn cảm "Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch sử" rồi ghi lại một số câu văn, đoạn văn có hình ảnh so sánh mà em cảm nhận được.
Đề 2. Phân tích một vài nét về quy mô và không gian nghệ thuật của cầu Long Biên mà em cảm nhận được qua bài "Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch sử".
Đề 3. Cảm nghĩ của em về cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử hào hùng của dân tộc qua bài kí của Thuý Lan.
II. BÀI VĂN TỰ LUẬN
Đề 1. Đọc diễn cảm "Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch sử" rồi ghi lại một số câu văn, đoạn văn có hình ảnh so sánh mà em cảm nhận được.
“Cầu Long Biên – Chứngnhân lịch sử” là một bài kí của Thuý Lan. Những dòng hồi tưởng đan xen với miêu tả biểu lộ một tình yêu đàm thắm thiết tha đối với Hà Nội. Có một số câu văn đặc sắc, một số hình ảnh so sánh cho ta bao ấn tượng đẹp:
– Cầu Long Biên như một chứngnhân sống động, đau thươngvới anh dũng của thủ đô Hà Nội.
– Nhìn từ xa, cầu LongBiên như một dải lụa uốn lượn vắt ngang sông Hồng, nhưng thực ra "dải lụa ” ấy nặng tới 17 nghìn tấn!
– Khi chiều xuống, nhìn về phía Hà Nội, thấy những ánh đèn mọc lên như sao sa, gợi lên bao quyến rũ và khát khao.
– Những ngày ấy từ phía Cầu Đất nhìn lên, tôi thấy chiếc cầu rách nát giữa trời.Những nhịp cẩu tả tơi như ứa máu nhưngcả cây cầu vẫn sừng sững giữa mênh mông trời nước… Nước mắt ứa ra, tôi tưởngnhư mình đứt từngkhúc ruột.
Đề 2. Phân tích một vài nét về quy mô và không gian nghệ thuật của cầu Long Biên mà em cảm nhận được qua bài "Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch sử".
"Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử" của Thúy Lan từng đăng tải trên báo "Người Hà Nội" và nó đã hiện diện trên trang sách Ngữ văn Trung học cơ sở. Bài văn như đã đưa chúng ta ngược thời gian một thế kỉ, để sống với cây cầu, một chứng nhân lịch sử. "Một thế kỉ qua, cầu Long Biên đã chứng kiến bao sự kiện lịch sử hào hùng, bi tráng". Đáng yêu quý và tự hào biết bao, bởi lẽ "Cầu Long Biên như một nhân chứng sống động, đau thương và anh dũng của thủ đô Hà Nội".
Trước hết nói về quy mô và không giannghệ thuật của cầu Long Biên.
Thúy Lan đã cho ta biết một vài số liệu, một vài thông tin về cầu Long Biên. Nó được khởi công xây dựng vào năm 1898 và hoàn thành sau bốn năm. Cầu dài 2290m có 9 nhịp dài và 10 nhịp ngắn. Một so sánh rất hay: "Cầu Long Biên như một dải lựa uốn lượn vắt ngang sông Hồng", "dải lụa" ấy nặng tới 17 nghìn tấn. Cầu Long Biên là "thành tựu quan trọng trong thời văn minh cầu sắt" ở nước ta. Thời Pháp thuộc, cầu mang tên Đu-me, tên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương; sau Cách mạng tháng Tám, nó mang một cái tên mới rất đáng yêu, đáng tự hào: "Cầu Long Biên".
Xem thêm: Những nét chính của trích đoạn Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân)Cầu Long Biên nằm trên một không gian địa lí hoành tráng. Đứng trên cầu nhìn về phía Gia Lâm là "màu xanh bãi mía, nương dâu, bãi ngô, vườn chuối…", ta say mê ngắm nhìn "không bao giờ chán mắt", "cái màu xanh cần lao ấy gợi bao yêu thương và yên tĩnh trong tâm hồn".Chiều xuống đứng trên cầu Long Biên, nhìn về phía Hà Nội, “thấy nhữngánh đến mọc lên như saosa, gợi lên bao quyến rũ và khát khao”.
Thuý Lan đã đan xen kí ức, hồi tưởng với miêu tả sự kiện, cảnh vật bằng một số chi tiết chọn lọc đầy ấn tượng. Niềm tự hào và tình yêu thiết tha thủ đô Hà Nội được thể hiện một cách tinh tế. Cảnh cũ người xưa thoáng hiện cứ giăng mắc mãi hồn ta – những thế hệ sinh ra và lớn lên khi cầu Long Biên đã trăm tuổi.
Đề 3. Cảm nghĩ của em về cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử hào hùng của dân tộc qua bài kí của Thuý Lan.
Cầu Long Biên là một chứngnhân lịch sử đem đến cho ta bao tự hào.
Cầu Long Biên "đã chứng kiến bao sự kiện lịch sử hào hùng "thời kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19 – 12 – 1946), các chiến sĩ quyết từ của Trung đoàn Thủ đô sau hơn hai tháng chiến đấu trong lòng Hà Nội đã bí mật rút lên chiến khu Việt Bắc qua chân cầu Long Biên, ra đi quyết hẹn "Ngày về":
"Những đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả Đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…".
Những năm tháng chống đế quốc Mĩ xâm lược, cầu Long Biên bị đánh phá ác liệt, "trở thành mục tiêu ném bom dữ dội nhất của không lực Hoa Kì". Lần thứ nhất, cầu bị đánh 10 đợt, hỏng 7 nhịp và 4 trụ lớn. Lần thứ hai, cầu bị bắn phá 4 đợt với 1000m bị hỏng và 2 trụ lớn bị cắt đứt. Lần cuối cùng vào năm 1972, chiếc cầu bị không quân Mĩ ném bom la-de. Qua đó, ta càng thấy rõ, cầu Long Biên là biểu tượng cho tinh thần hi sinh và ý chí chiến đấu dũng cảm kiên cường của quân và dân ta, cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Trong bom đạn giặc Mĩ "chúng ta hàn, bom Mĩ lại cắt", "những nhịp cầu tả tơi như ứa máu nhưng cả cây cầu vẫn sừng sững giữa mênh mông trời nước".
Trong thời kì đổi mới và kiến thiết hòa bình, cầu Long Biên đã "rút về vị trí khiêm nhường". Ta đã có cầu Thăng Long, cầu Chương Dương sừng sững bắc qua sông Hồng… Nhưng cầu Long Biên vẫn mang ý nghĩa "chiếc cầu lịch sử", là điểm du lịch, là nhịp cầu hữu nghị để "du khách ngày càng xích lại gần với đất nước Việt Nam".
Đọc bài "Cầu Long Biên – chứngnhân lịch sử",ta biết thêm bao điều thú vị về chiếc cầu 100 tuổi của thủ đô Hà Nội. Với một lối viết hào hứng say mê, Thúy Lan đã biểu lộ bao tình cảm yêu mến, tự hào đối với cầu Long Biên, đối với Thủ đô Hà Nội yêu quý. Đoạn văn viết về cầu Long Biên trong bom đạn giặc Mĩ là hay nhất.
Nguồn: thêm: Hãy kể lại một kỉ niệm ngày xuân mà em nhớ mãi | Cầu Long Biên Chứng nhân lịch sử ngữ văn 6 | 1,178 | |
Cổ nhân nói: “Làm người khó”. Hãy bình luận
Gợi ý
Ở đời, mỗi người phải gánh một việc. Việc lớn hay nhỏ là tùy theo học thuật và tài đức của từng người: sự nghiệp tuy có khác nhau, song cũng là muốn ích lợi chung cho xã hội.,Nếu ai cứ riêng mình, không biết đến kẻ khác, như thế gọi là kí sinh.
Người ta là giống đa tình, đã có tình thời có dục, muốn điều nọ lại muốn điều kia, muốn ngon ngọt, muốn yên vui, muốn công danh, muốn tiền của; bây giờ mới sinh ra công này việc nọ; tình càng nhiều, dục càng lớn, việc càng nhiều. Cho nên vô tình vô dục, không gọi là người ở đời được.
Than ôi! Cảnh đời là một cái trò rối, người đời là những con người rất rối. Nếu ở đời mà không sẵn có lòng cao thượng, mỗi khi cảnh ngộ, sao cho khỏi động tâm? Lúc giàu sang sinh ra kiêu ngạo; lúc nghèo hèn sinh ra xiểm du; lúc thất chí thì khóc, lúc đắc chí thì cười, có khác gì con người gỗ cứ để người ta giật mà nhảy mà múa. Phải biết rằng khi tình dục người ta đã no đã chán, nghĩ lại mùi đời cũng không có ý vị gì mật thiết cho lắm.
Thử để mình ra ngoài thế giới, ngoảnh lại mà trông, nào hình hình, sắc sắc, nào lợi lợi, danh danh, người ta đang om sòm trên chốn diễn trường, mà thực đã nên người giác ngộ. Làm người có tình dục cũng phải có nghĩa lí. Tình dục bởi khí huyết mà ra; vậy nghĩa lí để phòng tình dục thì nghĩa lí thắng, tình dục phải lui; nếu cứ buông dông, thả dài, mắt trông động lòng, tai nghe động tưởng, cả đời chỉ để cho cái tình dục nó sai khiến mình, nó trói buộc mình, thế gọi là tinh lụy.Xem thêm: Cuộc sống sẽ ra sao nếu nguồn nước sạch ngày càng vơi cạn? ở đời, có học vấn cũng phải có kinh lịch ; học vấn cho biết lẽ phải, kinh lịch để lập thói quen. Những kẻ có học vấn mà không có kinh lịch, ngồi nói thì thật là khôn, đến lúc ra tay mà làm lại hay nát việc. Như thế gọi là gàn. Những tay triết học non non, hầu hết mắc phải bệnh ấy.
Gan nên lớn mà lòng phải tế nhị. Nếu táo gan mà hay suất lược, chỉ là người tráng sĩ chứ chưa được là vĩ nhân.
Tình nên nhiệt mà tính phải hòa bình. Nếu cứ nóng nảy mà không biết nhẫn nhục, thành sự thì ít mà bại sự thì nhiều.
Tư tưởng nêu cao mà nước đi phải thấp; ý chí nhỏ hẹp thì ra người tầm thường, mà việc làm không cứ tuần thường thì ra người vu khoát. Phàm vật đã đến cực điểm thì hay giống nhau: cho nên người cực hiền giống như người ngu; người cực gian giống như thật, cực nhã giống như tục; còn những kẻ chí nhỏ tài sơ mới hay khoe tài khoe trí.
Vanmau.edu.vn | Cổ nhân nói_ “Làm người khó”. Hãy bình luận | 529 | |
Cội rễ của học hành thì cay đắng, nhưng quả của nó thì ngọt ngào
Hướng dẫn
– Người Hi Lạp rất có lí khi dùng hình ảnh cội rễ để nói về quá trình học tập của con người. Cội rễ thường kín đáo, khuất lấp cũng như việc học thường âm thầm, lặng lẽ. Nhưng đáng bàn hơn trong câu ngạn ngữ là từ cay đắng. Cội rễ của học hành thì cay đắng có nghĩa, học tập là một quá trình khổ ải, gian nan. Sở dĩ việc học thường được xem là khó, là khổ, vì nó luôn đòi hỏi phải nhận thức cái mới, cái chưa biết. Từ chưa biết đến biết là cả một chặng đường không hề ngắn. Đối với người học, bất cứ một tri thức mới nào cũng đều là những “câu đố" đầy bí ẩn, thách thức. Từ chuyện học để biết đọc, biết viết thuần thục tiếng mẹ đẻ đến học để thành thạo một ngoại ngữ, từ việc học để biết tính toán đơn giản đến học để nắm vững một môn khoa học phức tạp… cái khó cứ thế mà không ngừng nhân lên. Nó buộc con người phải huy động cao nhất khả năng làm việc của trí tuệ. Học tập, vì thế, không có chỗ cho sự an nhàn, biếng nhác.
– Việc học rất khổ ải bởi đó còn là quá trình đánh thức mọi năng lực của con người. Trong học tập, mỗi người phải là một chủ thể tích cực, tiếp nhận tri thức bằng khối óc năng động của mình. Từ tri thức đã nắm bắt được, người học phải biết hình thành các kĩ năng, vận dụng vào thực tế, giải quyết bao nhiêu vấn đề đặt ra. Có như vậy mới thực hiện đúng phương châm học tập hiện đại được UNESCO đúc kết: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
Xem thêm: Dàn ý phân tích tác phẩm “Tuyên Ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh– Nếu hình ảnh cội rễ trong câu ngạn ngữ này được dùng để chỉ quá trình học tập, thì hình ảnh quả lại nói về thành quả có được từ quá trình gian khổ ấy. Những quả kết nên từ cội rễ đắng cay của việc học đúng là hết sức ngọt ngào. Nhờ khổ công học tập, nhiều người có được vị thế xứng đáng trong xã hội, được hưởng thụ mức sống cao về vật chất và tinh thần. Nhờ học tập, con người được hưởng niềm hạnh phúc của sự hiểu biết, khám phá, sáng tạo. Chính học tập nâng con người lên một tầm cao mới, giúp con người thoả mãn những hoài bão, khát vọng lớn lao.
– Câu ngạn ngữ của người Hi Lạp nhấn mạnh mối quan hệ qua lại giữa cội rễ đắng cay và quả ngọt ngào. Đây là quan hệ nhân quả: có trải qua quá trình học hành khổ ải thì mới mong có được những thành quả tốt đẹp. Xét từ ý nghĩa này, câu ngạn ngữ là một chân lí, đúng với mọi cá nhân, mọi hoàn cảnh, mọi thời đại.
– Đối với mỗi học sinh, câu ngạn ngữ của người Hi Lạp thực sự là một lời nhắc nhở. Hằng ngày, chúng ta thường xuyên nếm trải những khó khăn, gian khổ của việc học hành và những thành quả ngọt ngào thì vẫn còn xa vời phía trước. Đối mặt với một đề văn lạ, một bài toán mới, nhiều người không khỏi nản lòng, nhụt chí. Nhìn người khác thành công trong học hành, ta có thể nghĩ rằng, vinh quang đó không thể dành cho ta. Những lúc như vậy, hãy nhớ rằng, không ai có được kết quả tốt đẹp mà không từng trải qua những khó nhọc, gian lao. Rõ ràng, chỉ có một con đường: phải chăm sóc cội rễ đắng cay của học hành mới xứng đáng được hưởng nhũng quả ngọt mà nó sinh ra.
(Lưu ý: Để bài viết có sức thuyết phục cao, bên cạnh thao tác lập luận, người viết cần chọn những dẫn chứng phù họp với từng luận điểm được nêu trong bài.)
Nguồn: thêm: Kể về người hàng xóm mà em yêu quý hay nhất | Cội rễ của học hành thì cay đắng, nhưng quả của nó thì ngọt ngào | 723 | |
Danh ngôn phương Tây có câu: “Hỏi một câu, chỉ dốt nát trong chốc lát, không hỏi sẽ dốt nát cả đời”. Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên?
Gợi ý
Trong công việc hay cuộc sống, có nhiều điều mà chúng ta chưa biết. Tuy nhiên, nhiều người vì tính sĩ diện hoặc sợ người khác nghĩ mình là dốt nên cứ cố giấu hoặc tự mày mò để tìm. Thực ra, điều đó rất nguy hiểm bởi kẻ giấu dốt thì thiệt hại cho bản thân vì sự thiếu hiểu biết của mình, không can đảm học hỏi, không can đảm thừa nhận khuyết điểm nên ngày càng xuống dốc, càng thiếu kiến thức. Chính vì thế mà phương Tây mới có câu: “Hỏi một câu, chỉ dốt nát trong chốc lát. Không hỏi sẽ dốt nát cả đời”.
Khi mình gặp vấn đề nào đó, mình không hiểu, không biết nên mình không giải quyết được nó. Nếu bạn tìm ai đó để hỏi, nhờ giúp đỡ, nhờ lý giải để mình hiểu… có thể bạn chỉ tỏ ra dốt nát một lát thôi, có thể bạn bị “chê” dốt ngay lúc đó thôi. Nhưng quãng thời gian về sau bạn không còn bị dốt nữa… Nhưng nếu bạn không thể vượt qua được sự ái ngại, sợ hãi bị coi khinh đó bạn sẽ dốt cả đời… Và điều đó thật nguy hiểm và thảm hại… Đó mới là điều đáng chê trách nhất. Đó mới là cái dốt nát thực sự của bạn.
Vậy thì lý do tại sao người ta lại cố tình “giấu dốt”? Một câu hỏi đặt ra cho một ví dụ cụ thể là: Nếu trong công việc của mình, bạn gặp những trở ngại mà chưa thể có cách giải quyết, bạn sẽ làm thế nào? Bạn sẽ nhờ sự giúp đỡ của đồng nghiệp hay sẽ tự tìm cách mày mò giải quyết? Việc chọn phương thức xử lý cho vấn đề trên sẽ tiết lộ bạn là người thế nào. Nếu bạn nhờ sự trợ giúp của đồng nghiệp, bạn là một người ham học hỏi, còn ngược lại? Thật ra, có rất nhiều trường hợp gặp khó khăn trong công việc nhưng không dám nói ra vì sợ bị chê cười là người thiếu hiểu biết. Điều đó càng chứng tỏ rằng, bạn muốn giấu sự thiếu hiểu biết của mình hơn là học hỏi từ người xung quanh. Trên thực tế, không phải ai cũng là người hoàn hảo và biết tất cả mọi thứ, chính vì thế nếu bạn tỏ ý cầu thị sự giúp đỡ của những người khác, điều đó không chỉ hỗ trợ cho sự hiểu biết của bạn mà còn là một cầu nối của bạn với người khác.Xem thêm: Suy nghĩ của anh (chị) về tình mẹ con Vậy bạn có phải là một người vượt qua được mặc cảm của bản thân để “phơi bày” ra sự không tốt của mình, như người xưa thường nói chẳng ai lại “vạch áo cho người xem lưng”. Điều này trước hết liên quan đến việc bạn cần phải có lòng dũng cảm để vượt qua bản thân mình. “Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất”. Với những người chưa hiểu biết nhiều, tâm lý sợ bị người khác chê cười hoặc bị người khác đánh giá thấp càng nặng nề. Nếu cứ kéo dài mãi tình trạng này, bạn vừa mất nhiều thời gian cho công việc, vừa dề bị cô lập trong một cộng đồng lớn. Nhưng nếu bạn biết cách vượt qua rào cản này, bạn sẽ nhanh chóng lấp đầy được khoảng trống của sự thiếu hiểu biết, một câu nói đơn giản “Xin lỗi, vấn đề này tôi chưa biết, mong được sự giúp đỡ của các bạn” đôi khi được nhiều hơn cả kiến thức căn bản, đó sẽ là chìa khoá thành công cho công việc của bạn, hơn nữa đó là những mối quan hệ trong cuộc sống.
Trong cuộc sống, không phải ai cũng hoàn hảo, không phải ai cũng là người giỏi tất cả các kiến thức của những vấn đề khác nhau, thế nên mới có chuyện một ông giáo sư Sử học nổi tiếng nhận bà bán rau chưa từng qua một trường lớp nào là thầy, bởi vì bà bán rau ấy đã đem đến cho ông cả một khối kiến thức về cuộc sống thường ngày mà ông chưa biết. Vậy mới biết, người có học thức thực sự là người biết học ở tất cả những gì họ chưa biết, có thể bạn có rất nhiều kiến thức, nhưng không gì có thể đảm bảo rằng, bạn biết hết tất tật kiến thức trên đời.Xem thêm: Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Một người mẹ đã từng tâm sự như thế này: “Năm nay con mình mới bắt đầu học môn Lịch sử, hôm qua nó hỏi mình Yết Kiêu là ai hả mẹ? Thời kỳ phong kiến của nước ta có những cuộc khởi nghĩa nào? Mình không biết phải trả lời con như thế nào, bởi thật sự mình không có kiến thức về những vấn đề ây. Chã nhẽ lại giở lại sách để không bị ngượng với con cái?”.
Bạn thấy không, không phải ai cũng có tất cả những kiến thức về tất cả các lĩnh vực, rất nhiều những bậc phụ huynh không có đủ kiến thức để hỗ trợ con em mình trong học tập. Trên đây mới chỉ là một ví dụ nhỏ về một môn học thuộc, chưa nói gì đến những môn học mang tính logic, suy luận hay tư duy sâu xa. Nhưng vấn đề thực sự lại là ở chỗ cách giải quyết của họ là như thế nào? Bao nhiêu người sẽ lựa chọn cách đọc thêm sách để lấy kiến thức? Bao nhiêu người sẽ lẳng lặng giấu sự kém hiểu biết của mình vào trong?
Bác Hồ của chúng ta cũng đã từng phải đề ra mục tiêu diệt giặc dốt cho đất nước thời mới khai sinh, đất nước bước vào thời kỳ hội nhập, tâm lý giấu dốt càng nên được xoá bỏ. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều phụ nữ Nhật tiếp tục theo học Đại học, Cao học hay tìm mọi cách để tích lũy kiến thức nhằm mục đích nuôi dạy con cái.Xem thêm: Bài đọc tham khảo Cần tự giáo dục lấy mình Là học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường, thực sự chúng ta không nên giấu dốt, bởi điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình tích lũy kiến thức của bản thân, càng ngày kiến thức sẽ càng tụt dốc đến mức thảm hại. Xa hơn nữa, giấu dốt cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ với bạn bè, càng ngày bạn sẽ càng có xu hướng thu mình vào vỏ ốc, không còn tự tin, năng nổ với vốn kiến thức eo hẹp của mình.
Người Trung Quốc thường có câu “Biết người chỉ là biết, tự biết mình mới giỏi”. Điều quan trọng là bạn phải biết kiến thức của mình ở đâu, hãy ham học hỏi và cóp nhặt tri thức một cách từ từ, chậm rãi. Đừng để cho cái dốt ngăn cản con đường tiến đến thành công của bạn.
Vanmau.edu.vn | Danh ngôn phương Tây có câu_ “Hỏi một câu, chỉ dốt nát trong chốc lát, không hỏi sẽ dốt nát cả đời”. Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên_ | 1,236 | |
Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, em viết đơn gửi Ban Giám hiệu nhà trường xin được miễn giảm học phí
Gợi ý
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày…tháng…năm
ĐƠN XIN MIỄN GIẢM HỌC PHÍ
Kính gửi: Thầy Hiệu trường Trường THCS Tô Hiệu, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Đồng kính gửi: Cô giáo chủ nhiệm lớp 6B
Em tên là: Nguyễn Thị An
Học sinh lóp 6B Trường THCS Tô Hiệu, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Em viết đơn này xin trình bày một việc như sau:
Gia đình em hiện nay gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Bố em là thương binh hạng 2/ 4, vết thương thường xuyên bị tái phát; mẹ em đang ốm nặng phải nằm bệnh viện; em còn hai em nhỏ đang đi học.
Vì vậy, em viết đơn xin nhà trựờng cho em được miễn học phí trong năm học này.
Em cam đoan những điều trên là đúng sự thật, nếu có gì sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô.
Học sinh
An
Nguyễn Thị An
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bài văn miêu tả căn phòng của tôi | Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, em viết đơn gửi Ban Giám hiệu nhà trường xin được miễn giảm học phí | 192 | |
Do không được nghe giảng về câu tục ngữ “Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền”… Em sẽ giải thích thế nào cho những người đó hiểu
Gợi ý
Đề bài:
Do không được nghe giảng về câu tục ngữ: "Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền" nhiều người không hiểu những từ Hán Việt trong câu ấy nghĩa là gì, người xưa muốn nói điều gì qua câu tục ngữ ấy và nói như thế có lí hay không.
Em sẽ giải thích thế nào cho những người đó hiểu
Bài làm:
Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn thể hiện kinh nghiệm của dân gian về nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội trong đó có lao động sản xuất. Những kinh nghiệm đó xuất phát từ thực tế việc quan sát công cuộc lao động để sản xuất ra của cải vật chất của dân gian. Câu tục ngữ sau là một trong số đó: Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền. Người, xưa muốn nói điều gì qua câu tục ngữ ấy và nói như thế có lí hay không?
Câu tục ngữ trên sử dụng một số yếu tố Hán Việt. Nhất, nhị, tam có nghĩa là thứ nhất, thứ hai, thứ ba. “Canh” nghĩa là làm (canh tác). “Trì” là ao, “viên” là vườn, “điền” là ruộng. Như vậy, bám sát câu chữ để giải nghĩa thì câu tục ngữ đó có nghĩa là: Thứ nhất là làm ao, thứ hai làm vườn, thứ ba làm ruộng. Nhưng cơ sở của việc xếp thứ tự trong câu tục ngữ là gì vậy?Xem thêm: Văn hào M.Go - rơ - ki viết: "Sách mở rộng ra trước mắt tôi những chân trời mới". Hãy bình luận ý kiến trên
Trước hết, có thể hiểu câu tục ngữ đề cập đến giá trị kinh tế của các mô hình lao động của. nhà nông. Theo dó, làm ao mang lại giá trị kinh tế lớn nhất, tiếp đến là làm vườn rồi mới đến làm ruộng. Hiểu theo nghĩa đó không phải là không có lí. Nếu làm ao, người nông dân có thể sử dụng diện tích mặt nước để nuôi các loại cá: cá mè, cá trắm,… Đó đều là những loại thực phẩm thiết yếu của đời sống và có giá trị kinh tế cao. Hơn nữa, thức ăn lại dễ dàng, có thế nuôi cá hằng các loại cỏ, lá rau, phân gia súc, gia cầm,… Không chỉ vậy, người làm ao còn có thể tận dụng mặt nước để trồng lúa hoặc các rau rihư rau cần. Làm vườn thì có thể trồng các loại cây ăn quả: bưởi, táo, xoài,… So với cá thì các loại quả có giá trị kinh tế thấp hơn và giá cả thường biến động thất thường hơn. Nhưng trong ba mô hình canh tác ấy thì làm ruộng vẫn mang lại giá trị kinh tế thấp hơn cả. Ruộng phổ biến ở nhiều nơi. Ruộng thường chỉ trồng lúa và các loại rau màu theo thời vụ. Do sự phổ biến đó mà giá cả của lúa và các loại rau màu rẻ nhất trong ba loại sản phẩm của ba mô hình canh tác kể trên.Xem thêm: Bác Hồ có viết: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”,Em hiểu lời dạy đó như thế nào? Tuy nhiên, cũng có thể hiểu câu tục ngữ theo một cách khác. Tiêu chí so sánh ba mô hình canh tác đó còn có thể là công sức đẳu tư, sự vất vả và độ khó của kĩ thuật canh tác. Làm aọ phải đầu tư nhiều để đào ao, nạo vét, xây đắp bờ, mua giống, học hỏi kĩ thuật nuôi, thức ăn, chăm sóc, phòng bệnh. Có thể nói, trong ba loại sản phẩm: cá, quả, rau lúa thì kĩ thuật nuôi và chăm sóc cá phức tạp nhất, nếu bất cẩn có thế dẫn đến thiệt hại nặng nề về kinh tế. Không chỉ vậy, việc chăm sóc, thu hoạch cá đều phải tiếp xúc với nước nên mất nhiều công sức. Việc trồng cây ăn quả không đòi hỏi nhiều về vốn, giống… như nuôi cá nhưng cũng phẳi đầu tư để chọn được giống cho quả ngon, sai; học kĩ thuật chăm sóc cây để bón phân, phòng bệnh, thụ hoạch,… Việc trồng lúa và hoa màu đơn giản hơn cả. Có điều đó do giống rẻ, kĩ thuật canh tác truyền thống nên rất phổ’ biến, không mất công sức học hỏi nhiều
Những nhận định trên của nhân dân đều xuất phát từ cơ sở thực tiễn là những trải nghiệm thực tế trong đời sống lao động sản xuất. Kinh nghiệm mà câu tục ngữ thể hiện giúp người nông dân lựa chọn được mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện và khai thác tốt điều kiện tự nhiên ấy từ đó làm ra nhiều của cải vật chất.Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ PhủVanmau.edu.vn | Do không được nghe giảng về câu tục ngữ “Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền” … Em sẽ giải thích thế nào cho những người đó hiểu | 879 | |
Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian
Gợi ý
Tôi là một chú gà trống. Nhưng trước đây, tôi là một cậu bé. Các bạn biết vì sao tôi biến thành gà trống không? Nghĩ lại chuyện đó, tôi thấy thật buồn!
Ngày đó, tôi hay trốn tiết để đi chơi. Cô giáo thấy tôi vắng nhiều buổi nên đến nhà tôi thông báo với gia đình. Bố mẹ tôi xin lỗi cô và nói sẽ khuyên tôi đi học đầy đủ. Lúc đó tôi không những không nghe lời mà còn nói hỗn rằng: ”Chuyện của con, bố mẹ đừng có xía vào". Nói xong tôi chạy vào phòng, đóng chặt cửa, không nghe bố mẹ khuyên nhủ. Tôi nghĩ lại những trò vui khi bỏ học đi chơi. Nhưng tôi bỗng giật mình vì có tiếng ai gọi tên mình. Tôi bật dậy thì thấy cô Tiên Xanh đang đứng với vẻ mặt buồn rầu. Tôi hỏi: "A! Cô Tiên Xanh, cô đến để làm gì thế?". Cô Tiên nói: "Ta đến để trừng phạt con, vì con hỗn láo với cha mẹ, ta sẽ biến con thành con gà trong một tuần lễ, nếu con biết sửa đổi thì con sẽ mau chóng biến thành người”.
Tức thì, tôi thấy người mình như nhỏ lại, tôi đưa tay lên thì tay tôi biến thành cánh gà và đôi chân tôi thu nhỏ, trở nên gân guốc với những cái móng cáu bẩn. Tôi ngẩng đầu thì cô Tiên đã biến mất. Tôi sợ hãi hét lên thì chỉ thấy những tiếng kéc ke ke phát ra. Từ đấy, tôi trở thành một con gà trống.Xem thêm: Hãy kể lại một lễ hội dân gian mà em biết hoặc được tham dựHằng ngày, tôi chỉ đứng một chỗ, người ta cho tôi thóc, tôi cũng không ngó đến. Nhưng rồi hai hôm, tôi đói lả ra, nhìn mấy hột thóc mà thèm, bèn ăn luôn. Thấy cũng ngon lắm. Ăn xong, khoái chí, tôi gáy một tràng. Thế là cứ sáng sáng, tôi lại nhảy lên cây rơm để gáy. Đã một tuần trôi qua, tôi vẫn chỉ là gà trống, tôi hơi buồn nhưng cũng từ đó tôi không muốn nhớ đến chuyện tôi từng là người. Liền mấy tháng trời ăn uống xô bồ, trông tôi mập mạp hẳn lên.
Tôi được thả đi chơi rong hằng ngày nên rất vui. Có lúc còn giỡn với mấy chú gà con. Tôi nghĩ: "Được làm gà và chơi cùng gà con sướng thật". Nhưng rồi một hôm, tôi đang ngủ thì có một tên trộm bắt tôi và bóp cổ làm tôi không kêu lên được. Rồi hắn đưa tôi về nhà, nấu nước sôi để chuẩn bị làm thịt. Tôi hốt hoảng, cố tìm mọi cách để thoát thân nhưng vô hiệu, hắn tóm chặt hai chân tôi, để đầu tôi chúc xuống. Tôi nhắm nghiền mắt nghĩ: "Đời mình đến đây hết rồi sao? Chỉ tại mình không vâng lời mẹ, bây giờ bị biến thành gà và còn bị làm thịt nữa. Mình tưởng, mình làm gà là vui sướng. Nhưng… mẹ ơi! Vĩnh biệt mẹ thân thương của con.” Nước mắt tôi trào ra. Tôi giật bắn mình khi thấy gã ăn trộm cầm con dao sắc. Bỗng nghe có tiếng gọi, tôi mở mắt thì thấy cô Tiên Xanh. Tôi nói: "Cô Tiên Xanh ơi! Hãy cho cháu trở thành người. Cháu biết hối hận rồi cô ạ!’ Cô nói: "Con biết hối hận là tốt. Xem thêm: Bạn thân của em ước mơ trở thành chiến sĩ công an
Thôi được, ta cho con trở về với mẹ". Trong chớp mắt, tôi nhìn thấy mình đứng trước ngôi nhà thân thương. Nhìn lại thì thấy tôi không phải là gà nữa mà là một con người thực sự. Tôi liền chạy vào nhà và ôm lấy bố mẹ nói: "Bố mẹ ơi! Con biết lỗi rồi! Từ nay, con sẽ chăm ngoan học hành, vâng lời bố mẹ, thầy cô”.
Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ lại ngày ấy, ngày mà tôi biến thành gà. Các bạn có biết vì sao tôi xin cô Tiên cho trở thành người không? Lý do rất đơn giản, bởi vì tôi muốn sống với cha mẹ, sống một cuộc sống đầm ấm và hạnh phúc.
Vanmau.edu.vn | Do một lỗi lầm em buộc biến thành con gà trống trong một thời gian | 732 | |
Do một lỗi lầm em bị phạt buộc phải biến thành con chuột trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày em đã gặp những điều thú vị và rắc rối gì.Vì sao em mong chóng hết hạn để trở lại làm người
Gợi ý
Tôi đang nức nở thì có một anh Chuột Nhắt đến bên cạnh hỏi thăm “Chít… chít… làm sao mà cậu khóc thế?”. Thấy có người an ủi, tôi càng tủi thân khóc to hơn. Thật bất hạnh cho tôi, đang là một cô bé được bố mẹ cưng chiều, trong chốc lát đã bị biến thành một con chuột nhắt…
Trong lúc khó khăn có anh Chuột Nhắt ở bên thật may mắn. Tôi kể cho anh nghe ngọn nguồn câu chuyện, vì sao tôi lại ra thế này…. Hôm đó, lớp học của tôi có bài kiểm tra sử một tiết. Vì hôm trước mải đi chơi với bạn tôi đã không học bài.
Ngồi trong lớp lo sợ điểm kém sẽ bị bố mẹ mắng, tôi đành liều lĩnh mở vở ra quay. Việc làm hôm đó của tôi trót lọt, không bị ai phát hiện. Đến hôm trả bài kiểm tra, tôi được chín, nguời bạn thân của tôi chỉ được bốn. Thấy lạ, bạn ấy hỏi tôi. Vì muốn trốn tránh việc làm sai trái của mình nên nhất định tôi không chịu nhận. Tôi còn chắc chắn rằng, nếu nói dối ngay lập tức tôi sẽ bị biến thành con chuột nhắt trong ba ngày, loài vật mà bạn tôi ghét nhất. Vừa nói xong, tôi thấy người mình có sự thay đổi. Càng ngày tôi càng bé dần đi, trên miệng có những sợi râu dài, phía sau còn có một cái đuôi… Hốt hoảng, lo sợ tôi vội chạy đến nhìn vào trong gương. Thật không thẻ tin được, tôi đã thực sự biến thành một con chuột nhắt…Xem thêm: Viết bài văn ngắn nêu cảm nhận của em về con người trong bài Mưa của Trần Đăng Khoa
Từ giờ phút đó, tôi phải sống trong thế giới của họ hàng nhà chuột mà thường ngày tôi vẫn sợ. Anh Chuột Nhắt thông cảm và cho tôi đi cùng. Anh giới thiệu với tôi cuộc sống của loài Chuột, nghe vô cùng hấp dẫn. Trên đường đi,, tôi gặp rất nhiều loại chuột. Chuột cống oai phong bệ vệ. Những chú chuột nhắt nhanh nhẹn, tinh khôn. Mấy cậu chuột chù lúc nào cũng lấm lét. Anh chuột nhắt dẫn tôi ra đồng, gặp họ hàng chuột đồng vui tính. Các anh hoạt bát lắm lại rất hiếu khách nữa. Các anh an ủi tôi thời gian ba ngày sẽ trôi qua thật nhanh. Nếu không sống trong hoàn cảnh này có lẽ tôi không bao giờ tưởng tượng được loài chuột cũng tình cảm như thế. Tối đến, tôi đuợc các anh chuột dẫn đi dạo quanh đồng, ăn tối, uống sương và ngắm trăng lên. Chưa bao giờ tôi thức khuya để được ngắm ánh trăng đẹp đến vậy. Vừa ngắm trăng, chúng tôi còn vừa ca hát nhảy múa quanh đống lửa bập bùng. Tôi mạnh dạn hát tặng tất cả một bài ca về mẹ. Bài hát tình cảm quá khiến nhà chuột ai cũng sụt sùi xúc động… Chơi mãi đến khi ông mặt trời sắp ló trên ngọn lúa, chúng tôi mới trở về đi ngủ. Một đêm trôi qua thật bình yên, giản dị và hạnh phúc.
Buổi sáng hôm sau, lần đầu tiên tôi đón bình minh muộn đến thế. Ở trong hang tối, tôi cũng không biết mặt trời đã dậy từ bao giờ. Chỉ thấy có một chị chuột nhắt đến bên đánh thức và tặng tôi một khay thức ăn đầy. Đang đói bụng, tôi ăn ngấu nghiến, ngon lành. Xong bữa sáng, chúng tôi lại tiếp tục rong ruổi khắp mọi nơi. Họ nhà chuột kháo nhau, hôm nay bếp nhà bà lão nọ có món cá kho ngon lắm. Anh chuột nhắt rủ tôi cùng đi chinh phục.Xem thêm: Em đã có dịp xem vô tuyến, phim ảnh báo chí, sách vở về hình ảnh một lực sĩ đang cử tạ. Hãy miêu tả lại hình ảnh ấyBước chân vào, bếp tối om, chỉ có vài tia sáng lách mình qua khe cửa lọt vào. Tôi không quen nhìn tôi dò dẫm bước theo anh nhắt. Nỗi lo sợ của tôi tăng lên theo từng bước chân. Gần đến nồi cá rồi. Anh nhắt nhẹ nhàng leo lên. Bỗng “ngheo…ngheo”, quả tim của tôi như muốn nhảy ra ngoài. Chưa kịp nhìn xem con mèo hung tợn ấy ở đâu, anh nhắt đã nhanh chân chạy mất, để lại mình tôi lạc lõng. Vì không quen đường nên tôi chẳng biết chạy đi đâu vội chui vào gầm chạn. Nhưng con mèo tinh quái đã phát hiện ra và tiến lại gần. Tôi nghe rõ từng hơi thở của nó. Nó không muốn bắt tôi ngay mà vờn vờn, đùa giỡn. Giờ tôi mới hiểu thế nào là mèo vờn chuột. Thật là đáng sợ. Mỗi lúc, tôi lại càng bị dồn vào góc tường. Tôi không dám thở nữa. Con mèo tiến gần thêm. Ngày tận thế của tôi đã đến. Tôi sẽ không thể về nhà, bố mẹ bạn bè sẽ không biết tôi nơi đâu mà tìm. Thế là hết. Nhưng kia, cánh cửa bếp hé mở. Bà lão xuống nấu cơm. Nhờ ánh sáng, tôi thấy đường rõ hơn. Và trong lúc tên mèo nghếch ngác kia quay mặt nhìn bà chủ, tôi ba chân bốn cẳng chạy ra ngoài…. Vậy là tôi thoát chết trong gang tấc.
Tôi lao ra ngoài chỉ mong chạy càng xa nơi ấy càng tốt. Tôi cứ cắm đầu chạy mà không biết mình đang đi đâu, đến khi dừng lại chỉ thấy một bụi cây rậm rạp, hoang sơ. Sợ quá, tôi quay đầu chay về thì “phì… phì…”, một con rắn to tướng, dài ngoằng ngay sau lưng. Tôi sợ tưởng ngất ngay đi được, ôi, số phận tôi thật trớ trêu, nhà đã ngay kia rồi mà không thể quay về được. Nhắm mắt lại chờ tử thần mang đi, tôi đợi! mãi mà rắn ta không hành động. Tĩnh lặng quá. Mở mắt ra đã không thấy nó đâu rồi. Thì ra một anh săn rắn đã mang nó đi.Xem thêm: Thanh niên và số phậnTôi lại lang thang thất thểu đi tìm nhà. Mặt trời đã xế bóng. Một ngày trôi đi dài quá với bao sự rắc rối. Nhìn bóng mình nghiêng nghiêng trên mặt đất, tôi thấy rất nhớ nhà. Tôi nhớ những món ăn mẹ nấu, nhớ dáng ngồi đọc báo của cha, nhớ giọng nói dễ thương của cậu em trai năm tuổi… và tôi cũng thấy nhớ bạn bè. Tôi muốn kết thúc thật nhanh ba ngày khủng khiếp này. Lúc đó trở về tôi sẽ thú nhận sự dối trá của tôi, sẽ xin lỗi cô giáo và người bạn thân của mình. Giá như tôi dũng cảm thì bây giờ tôi đã không phải chịu sự trừng phạt.
Hình phạt này với tôi thật quá sức tưởng tượng nhưng đó là một cơ hội quí giá cho tôi và những ai lầm đường. Sau lần này sẽ không bao giò tôi nói dối nữa. Tôi cũng sẽ dũng cảm hơn trước sai trái của mình.
Vanmau.edu.vn | Do một lỗi lầm em bị phạt buộc phải biến thành con chuột trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày em đã gặp những điều thú vị và rắc rối gì.Vì sao em mong chóng hết hạn để trở lại làm người | 1,246 | |
Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt biến thành con cá vàng trong 3 ngày. Trong 3 ngày đó em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm. Tại sao em mong trở lại thành người
Gợi ý
"Xoảng!" – Chiếc lọ hoa rơi khỏi tay tôi, vỡ tan. Bố hoảng hốt chạy vào: "Có chuyện gì vậy con?". Tôi tái mét mặt, chả là cái bình này bố tôi quý lắm. Đang không biết nói sao thì con Miu đi qua, tôi đổ ngay cho nó làm vỡ. Thế là con mèo nhỏ không được ăn cơm tối, ánh mắt nó như trách tôi: "Cô chủ! Sao lại đổ lỗi cho Miu?". Nhưng tôi lờ đi, về giường ngủ. Đột nhiên, một thứ ánh sáng kỳ ảo xuất hiện, một ông lão có bộ râu trắng dài, cầm cây gậy lóng lánh bước tới: "Con đã làm một điều sai trái! Con sẽ phải biến thành cá vàng trong ba ngày" – Nói rồi ông vung gậy biến mất. Tôi lo lắng nhìn lại, tay, chân vẫn còn đủ cả, vậy là tôi yên chí đi ngủ vì nghĩ rằng đó chỉ là một giấc mơ.
Sáng hôm sau, khi vừa tỉnh giấc, tôi đã thấy mọi người ngồi ăn sáng, kể cả con Miu cũng đã được phần cá riêng. Tôi vừa chạy ra vừa nói: "Bố kỳ quá! Sao không gọi con dậy?". "Binh!" – Tôi xoa đầu khi đập vào tấm kính trong, đau quá! Ai lại để kính ở đây? Tôi chột dạ nhìn lại. ồ, không! Tôi đang ở trong cái bình thủy tinh nhỏ, có cả rong nữa. "Chẳng lẽ cụ già ấy nói đúng?" – Tôi tự hỏi rồi nhìn lại. Trời ơi, cả người tôi phủ một lớp vảy vàng óng với những vây mỏng. Ôi! Tôi còn đang sống được ở trong nước nữa. Bỗng một con quái vật xuất hiện với cái mặt to lớn khủng khiếp, mắt xanh và cái lưỡi đỏ lòm… Tôi đứng như trời trồng đợi chết. "Miu! Không được trêu cá vàng!" – Tiếng em tôi – nó bế con quái vật ấy đi rồi. Hóa ra con quái vật đó là Miu, thường nó hiền vậy mà cũng có lúc trông dữ tợn quá. Tôi vội hét lên: "Thu ơi! Thu ơi! Giúp chị với! Giúp chị thoát khỏi đây với!". Hỏng rồi, nó không nghe thấy tiếng tôi. Tôi cảm thấy tuyệt vọng quá! Tôi còn phải đi học, tôi còn bạn bè, thầy cô, hôm nay tôi đã hẹn tụi bạn đến sinh nhật tôi rồi mà! Đến mọi người trong nhà cũng còn không nhận thấy sự biến mất của tôi, giống như tôi đã nổ tung như bong bóng xà phòng vậy… Rồi cả một ngày đằng đẵng trôi qua: không học, không chơi, không làm gì cả. Cả một ngày chỉ được mấy hạt thức ăn cho cá hồng hồng trông như thuốc chuột, chẳng dám ăn. Và một nỗi sọ hãi bám lấy tôi, ánh mắt của con Miu nhìn tôi như căm giận, tôi cố lờ đi. Ngày thứ hai, không có gì, tôi vẫn không ăn, không uống mặc dù bụng đã đói meo và vẫn là đôi mắt đáng sợ của Miu con đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi có cảm giác nó sắp vồ lấy tôi nhưng còn e sợ điều gì đó…Xem thêm: Cảm nhận truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục - Trích Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ)
Và ngày thứ ba, ngày cuối cùng tôi phải là cá vàng đã tới, tôi cảm giác như thời gian trôi thật chậm và tôi muốn giục nó phải nhanh lên, nhanh nữa lên để tôi có thể biến lại thành người. Hôm nay là chủ nhật, bố mẹ và em tôi sẽ đi chơi công viên, tôi cũng muốn lắm nhưng tôi biết rằng có la lên thì cũng chẳng được gì nên đành cắn răng chịu vậy. "Rầm" – Cánh cửa vừa đóng vào con Miu lao ngay đến chỗ tôi, qua mạt kính trông nó to hơn, dữ tợn hơn, mắt nó nhe những chiếc răng nhọn hoắt ra và để lộ một cổ họng đỏ lòm. "Méo!" – Một tiếng kêu chát chúa, nó giơ móng vuốt lên… "Không! Tao là chủ mày cơ mà! Nhận ra đi! Đừng đụng vào tao! á!.á!" – Tôi hét lên. "Bốp!" Cái bình vỡ tan, tôi rơi ra: "Khó thở quá! Khó thở quá! Ai giúp tôi với!". Tôi nhận ra cái chậu nước trước mặt: "Phải đến được đó! Mình chưa muốn chết khi chưa biến thành người đâu!". Tôi cố giãy giụa, đến rồi nhưng cái chậu cao quá làm sao đây. Bỗng cái chậu nghiêng về phía tôi, không còn thời gian suy nghĩ tôi nhảy lên, lấy hết sức nhảy vào chậu nước: "Tõm". Con Miu lao về phía tôi. "Cạch" – Cửa mở ra, tiếp theo là cái giọng the thé của em tôi: "Đang vui thì mưa!". Con Miu biến mất từ lúc nào. May quá! cảm ơn trời!Xem thêm: Dựa vào Cây tre Việt Nam của Thép Mới em hãy viết 1 bài văn ngắn trình bày cảm nhận của em về Cây tre Việt NamĐêm đã buông. Tôi cảm thấy thật hồi hộp làm sao. Bụt hiện lên gõ xuống đất ba cái, tôi lớn lên làm người. "Cảm ơn Bụt! cảm ơn cô Chậu nhé! Tôi đi đây!".
"Trang ơi! Dậy! Con!" – Tôi mở mắt và thấy mẹ đang ngồi bên cạnh. "Tối qua con cứ nói lung tung, làm mẹ lo quá!" – Mẹ nói. Hóa ra chuyện đêm qua chỉ là giấc mơ thôi sao? Tôi chạy vội ra bếp, ôm lấy Miu: "Miu oi! Xin lỗi! Chị sẽ không bao giờ làm vậy nữa đâu!".
Vanmau.edu.vn | Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt biến thành con cá vàng trong 3 ngày. Trong 3 ngày đó em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm. Tại sao em mong trở lại thành người | 984 | |
Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt phải biến thành một con cá vàng trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày đó, em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm gì? Tại sao em mong trở lại thành người?
Gợi ý
"Xoảng!" – Chiếc lọ hoa rơi khỏi tay tôi, vỡ tan. Bố hoảng hốt chạy vào: "Có chuyện gì vậy con?". Mặt tôi tái mét, chả là cái bình này bố tôi quý lắm. Đang không biết nói sao thì con Miu đi qua tôi đổ ngay cho nó làm vỡ. Thế là con mèo nhỏ không được ăn cơm tối, ánh mắt nó như trách tôi: "Cô chủ! Sao lại đổ lỗi cho Miu?". Nhưng tôi lơ đi, về giường ngủ. Đột nhiên, một thứ ánh sáng kỳ ảo xuất hiện, một ông lão có bộ râu trắng dài, cầm cây gậy lóng lánh bước tới: "Con đã làm một điều sai trái! Con sẽ phải biến thành cá vàng trong ba ngày" – Nói rồi ông vung gậy biến mất. Tôi lo lắng nhìn lại, tay, chân vẫn còn đủ cả, vậy là tôi yên chí di ngủ vì nghĩ rằng đó chỉ là một giấc mơ.
Sáng hôm sau, khi vừa tỉnh giấc, tôi đã thấy mọi người ngồi ăn sáng, kể cả con Miu cũng đã được phần cá riêng. Tôi vừa chạy ra vừa nói: "Bố kỳ quá! Sao không gọi con dậy?". "Binh!" – Tôi xoa đầu khi đập vào tấm kính trong, đau quá! Ai lại để kính ở đây? Tôi chột dạ nhìn lại. Ồ, không! Tôi đang ở trong cái bình thủy tinh nhỏ, có cả rong nữa. "Chẳng lẽ cụ già ấy nói đúng?" – Tôi tự hỏi rồi nhìn lại. Trời ơi, cả người tôi phủ một lớp vảy vàng óng với những vây mỏng. Ôi! Tôi còn đang sống được ở trong nước nữa. Bỗng một con quái vật xuất hiện với cái mặt to lớn khủng khiếp, mắt xanh và cái lưỡi đỏ lòm… Tôi đứng như trời trồng đợi chết. "Miu! Không được trêu cá vàng!" – Tiếng em tôi – nó bế con quái vật ấy đi rồi. Hóa ra con quái vật đó là Miu, thường nó hiền vậy mà cũng có lúc trông dữ tợn quá. Tôi vội hét lên: "Thu ơi! Thu à! Giúp chị với! Giúp chị thoát khỏi đây với!". Hỏng rồi, nó không nghe thấy tiếng tôi. Tôi cảm thấy tuyệt vọng quá! Tôi còn phải đi học, tôi còn bạn bè, thầy cô, hôm nay tôi đã hẹn tụi bạn đến sinh nhật tôi rồi mà! Đến mọi người trong nhà cũng còn không nhận thấy sự biến mất của tôi, giống như tôi đã nổ tung như bong bóng xà phòng vậy… Rồi cả một ngày đằng đẵng trôi qua: không học, không chơi, không làm gì cả. Cả một ngày chỉ được mấy hạt thức ăn cho cá hồng hồng trông như thuốc chuột, chẳng dám ăn. Và một nỗi sợ hãi bám lấy tôi, ánh mắt của con Miu nhìn tôi như căm giận, tôi cố lơ đi. Ngày thứ hai, không có gì, tôi vẫn không ăn, không uống mặc dù bụng đã đói meo và vẫn là đôi mắt đáng sợ của Miu con đang nhìn tôi chằm chằm. Tôi có cảm giác nó sắp vồ lấy tôi nhưng còn e sợ điều gì đó…Xem thêm: Viết thư gửi cho ông bà ở quê hỏi thăm sức khỏe Và ngày thứ ba, ngày cuối cùng tôi phải là cá vàng đã tới, tôi cảm giác như thời gian trôi thật chậm và tôi muốn giục nó phải nhanh lên, nhanh nữa lên để tôi có thể biến lại thành người. Hôm nay là chủ nhật, bố mẹ và em tôi sẽ đi chơi công viên, tôi cũng muốn lắm nhưng tôi biết rằng có la lên thì cũng chẳng được gì nên đành cắn răng chịu vậy. "Rầm" – Cánh cửa vừa đóng vào, con Miu lao ngay đến chỗ tôi, qua mặt kính trông nó to hơn, dữ tợn hơn, mắt nó nhe những chiếc răng nhọn hoắt ra và để lộ một cổ họng đỏ lòm. "Méo!" – Một tiếng kêu chát chúa, nó giơ móng vuốt lên… "Không! Tao là chủ mày cơ mà! Nhận ra đi! Đừng đụng vào tao! Á! Á!" – Tôi hét lên. "Bốp!" Cái bình vỡ tan, tôi rơi ra: "Khó thở quá! Khó thở quá! Ai giúp tôi với!". Tôi nhận ra cái chậu nước trước mặt: "Phải đến được đó! Mình chưa muốn chết khi chưa biến thành người đâu!". Tôi cố giãy giụa, đến rồi nhưng cái chậu cao quá làm sao đây. Bỗng cái chậu nghiêng về phía tôi, không còn thời gian suy nghĩ tôi nhảy lên, ráng lấy hết sức nhảy vào chậu nước: "Tõm". Con Miu lao về phía tôi. "Cạch" – Cửa mở ra, tiếp theo là cái giọng the thé của em tôi: "Đang vui thì mưa!". Con Miu biến mất từ lúc nào. May quá! Cảm ơn trời!Xem thêm: Những ngày đầu xuân quê em tổ chức phong trào trồng cây nhớ ơn Bác Hồ. Em hãy tả lại buổi trồng cây ấy.
Đêm đã buông. Tôi cảm thấy thật hồi hộp làm sao. Bụt hiện lên gõ xuống đất ba cái, tôi lớn lên làm người. "Cảm ơn Bụt! Cảm ơn cô Chậu nhé! Tôi đi đây!".
"Trang ơi! Dậy! Con" – Tôi mở mắt và thấy mẹ đang ngồi bên cạnh. "Tối qua con cứ nói lung tung, làm mẹ lo quá!" – Mẹ nói. Hóa ra chuyện đêm qua chỉ là giấy mơ thôi sao? Tôi chạy vội ra bếp, ôm lấy Miu: "Miu ơi! Xin lỗi! Chị sẽ không bao giờ làm vậy nữa đâu!".
——————————–
Tôi là chú gà trống. Các bạn biết vì sao tôi biến thành chú gà trống không? Rất dễ hiểu. Các bạn nghe tôi kể sẽ rõ:
Ngày đó, tôi có nghỉ học nhiều tiết để đi chơi. Cô giáo thấy tôi vắng nhiều ngày nên đến nhà tôi thông báo với cha mẹ. Cha mẹ tôi xin lỗi cô và nói sẽ khuyên tôi đi học đầy đủ. Lúc đó tôi nói với cha mẹ rằng: "Chuyện của con, cha mẹ đừng có xía vào". Nói xong tôi vào phòng, tôi nghĩ lại những ngày vui nhộn khi đi chơi. Nhưng tôi bỗng giật mình vì có ai gọi tôi. Tôi bật dậy thì thấy cô Tiên Xanh đang đứng với vẻ mặt buồn rầu. Tôi hỏi: "A! Cô Tiên Xanh, cô đến để làm gì thế?". Cô Tiên nói: Ta đến để trừng phạt con, vì con hỗn láo với cha mẹ, ta sẽ biến con thành con gà trong một tuần lễ, nếu con biết sửa đổi thì con sẽ mau chóng biến thành người. Tức thì, tôi thấy người mình như nhỏ lại, tôi đưa tay lên thì tay tôi biến thành cánh gà và người tôi nữa. Tôi ngẩng đầu thì cô Tiên đã biến mất. Từ đấy tôi trở thành chú gà trống.Xem thêm: Phân tích khổ thơ thứ 6 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu – văn 12 Hằng ngày, tôi chỉ đứng một chỗ, người ta cho tôi thóc, tôi cũng không ngó đến. Nhưng rồi một hôm, tôi đói lả ra, nhìn mấy hột thóc mà thèm bèn ăn luôn. Thế là cứ sáng sáng, tôi lại nhảy lên cây rơm để gáy, từ đó tôi quên bẵng chuyện tôi là gà. Tôi ăn liền mấy tháng nên trông tôi mập mạp hẳn lên.
Tôi được thả đi chơi rong hằng ngày nên rất vui. Có lúc còn giỡn với mấy chú gà con. Tôi nghĩ: "Được làm gà và chơi cùng gà con sướng thiệt". Nhưng rồi một hôm, tôi đang ngủ thì có một tên trộm bắt tôi và bịt miệng tôi, rồi đưa tôi về nhà, nấu nước sôi để chuẩn bị làm thịt. Tôi hốt hoảng, cố tìm mọi cách để thoát nhưng vô hiệu. Tôi nhắm nghiền mắt nghĩ: "Đời mình đến đây hết rồi sao? Chỉ tại mình không vâng lời mẹ, bây giờ bị biến thành gà và còn bị làm thịt nữa. Mình tưởng, mình làm gà là vui sướng: Nhưng… mẹ ơi! Vĩnh biệt mẹ thân thương của con. Bỗng nghe có tiếng gọi, tôi mở mắt thì thây cô Tiên Xanh. Tôi nói: "Cô Tiên Xanh ơi! Hãy cho cháu trở thành người. Cháu biết hối hận rồi cô ạ! Cô nói: “Con biết hối hận là tốt. Thôi được ta cho con trở về với mẹ". Trong chớp mắt, tôi nhìn thấy mình đứng trước ngôi nhà thân thương. Nhìn lại thì thấy tôi không phải là gà nữa mà là một con người thực sự. Tôi liền chạy vào nhà và ôm lấy cha mẹ nói: "Cha mẹ ơi! Con xin lỗi cha mẹ! Từ nay, con sẽ chăm ngoan học hành, vâng lời cha mẹ và không phụ lòng mong mỏi của cha mẹ, thầy cô".
Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ lại ngày ấy, ngày mà tôi biến thành gà. Các bạn có biết vì sao tôi xin cô Tiên cho trở thành người không? Lý do rất đơn giản, bởi vì tôi muốn sống với cha mẹ, sống một cuộc sống đầm ấm và hạnh phúc.
Vanmau.edu.vn | Do một lỗi lầm nào đó mà em bị phạt phải biến thành một con cá vàng trong thời hạn 3 ngày. Trong 3 ngày đó, em đã gặp những điều thú vị và nguy hiểm gì_ Tại sao em mong trở lại thành người_ | 1,574 | |
Dàn ý biểu cảm về cây phượng sân trường em
Hướng dẫn
a) Mở bài
Cây phượng – người bạn đồng hành của mỗi lứa tuổi học trò chúng ta.
– Cứ đến hè mỗi chúng ta lại thấy những sắc màu của hoa phượng đỏ rực, có đôi lúc ta chợt cảm thấy mình đang đứng giữa một rừng hoa bát ngát, thơ mộng và ngọt ngào làm sao.
– Để nói cảm nhận về cây phượng tôi không biết phải như thế nào? Với tôi, nó là người bạn, người thân, người tri kỉ và là người luôn dõi theo từng bước chân của mỗi học trò như tôi.
b) Thân bài
– Miêu tả về cây phượng: thân cây? Lá cây? Hoa phượng? Rễ cây?….
– Phượng đẹp nhưng nhìn mỗi cánh hoa phượng, tôi cảm thấy chứa đựng một điều gì đó buồn.
+ Buồn khi xa những tiếng cười của học trò về nghỉ hè.
+ Buồn khi lại phải tiễn đưa một thế hệ học trò.
+ Buồn khi phượng lại phải cô đơn, buồn hiu, khi không ai ngắm mình.
+ Nhạc sĩ Vũ Hoàng có câu:
“những chiếc xe chở đầy hoa phượng
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?”
– Các hoạt động vui chơi, giải trí dưới góc cây phượng: nhảy dây, đá cầu,…=>phượng che chở, đùm bọc và bảo vệ đẻ chúng ta đc vui chơi thoiar mái, đem lại cảm giác an toàn.
– Cảm nhận của bản thân:
+ Tôi yêu quý cây phượng vì nó không chỉ là người bạn, người tri kỉ, mà nó là người cất giữ những kỉ niệm về tuổi học trò của tôi, là người luôn dõi theo từng bươc chân của tôi.
+ Tôi hi vọng tất cả các bạn phải biết quý trọng và nâng niu cây phượng, đừng làm hại đến cây phượng.
c) Kết bài:
– Tổng kết lại cảm nhận cây phượng như thế nào?
+ Có thể ngày hôm nay ta vô tư là vậy, nhưng sau này ta sẽ nhớ lại”cây phương” chính là nơi ta cảm thấy an toàn, tuyệt vời và luôn cất giấu những kỉ niệm tươi đẹp tuổi học trò của chúng ta.
Nguồn: thêm: Tả một vườn thú mà em có dịp đến thăm | Dàn ý biểu cảm về cây phượng sân trường em | 364 | |
Dàn ý bài thơ Phong Kiều dạ bạc
Hướng dẫn
I. Mở bài:
– Trương Kế, thi sĩ đời Đường có tài tả cảnh. Bài thơ ‘Phong Kiều dạ bạc’ là bài thơ kiệt tác của ông được người đời ca ngợi.
Viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, có bao nhiêu cảnh là bấy nhiêu tình: niềm thao thức buồn của li khách lúc nửa đêm trên bến Phong Kiều.
– Trích dẫn nguyên tác hoặc bài thơ dịch.
II. Thân bài:
1. Hai câu đầu: cảnh buồn, tình buồn.
– Trăng xế, trăng tà; ánh trăng nhạt nhòa, vàng úa.
– Tiếng quạ kêu não nùng.
– Ngọn lửa chài chập chờn trên bến sông.
– Những lùm cây phong trên bờ sông ẩn hiện mờ tỏ.
– Sương phủ trắng đầy trời, mênh mông bao la.
– Giữa khung cảnh ấy, màu sắc, ánh sáng, âm thanh ấy, du khách năm trong con thuyền đã buồn lại càng thêm buồn. Năm chi tiết nghệ thuật trong bức tranh đêm bến [1]
Phong Kiểu rất chọn lọc, điển hình và biểu cảm. Ba chữ ‘đối sầu miên’ đã thể hiện rõ tâm cảnh của du khách:
‘Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên’
(Trăng tà chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài cây bến; sầu vương giấc hồ)
2. Hai câu 3, 4 gợi tả tâm trạng thao thức của người lữ khách.
– Đêm đã khuya, du khách vẫn trằn trọc. Vì lưu lạc. Vì loạn lạc. Vì nhớ quê. Vì con đường công danh… Một tiếng chuông chùa Hàn Sơn từ núi cao, núi xa vọng đến thuyền khách. Giữa đêm khuya thanh vắng tiếng chuông chùa nghe càng rõ. Li khách nghe tiếng chuông chợt tỉnh hồn mai.
– Thi sĩ đã lấy động để tả tĩnh, lấy tiếng chuông chùa Hàn Sơn để làm nổi bật cảnh thanh vắng bến Phong Kiều vào lúc nửa đêm, đồng thời thể hiện nỗi buồn cô đơn, niềm thao thức của kẻ xa quê. Con thuyền trong bài thơ tượng trưng cho một cuộc đời lưu lạc:
‘Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự,
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền’
(Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn)
III. Kết bài:
– ‘Phong Kiều dạ bạc’là một bài thơ rất hay. Hay về chi tiết nghệ thuật, nhất là tiếng quạ kêu, tiếng chuông chùa gợi buồn.
– Cảnh vật buồn, tâm trạng buồn. Lấy động để tả tĩnh, lấy không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật để diễn tả tâm trạng nghệ thuật, đã tạo nên giá trị nhân văn của bài thơ.
Nguồn: thêm: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu | Dàn ý bài thơ Phong Kiều dạ bạc | 433 | |
Dàn ý bài văn phân tích năm câu cuối bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá
Hướng dẫn
I. Mở bài:
– Đỗ Phủ (712 – 770) là nhà thơ hiện thực lớn nhất, không chỉ của đời Đường mà của cả lịch sử thi ca cổ Trung Quốc. Ông để lại hàng nghìn bài thơ tuyệt tác,
được người đời mệnh danh là ‘thi thánh’.
– Cuộc đời ông lưu lạc lênh đênh, nếm trải nhiều đau khổ, nên tâm hồn ông chan hòa với nhân dân lầm than trong xã hội loạn lạc. Ông là ‘nhà thơ dân đen’ (Phan Ngọc).
– ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’là một kiệt tác của Đỗ Phủ. Năm câu thơ cuối là những câu thơ đẹp nhất trong bài thơ, lấp lánh tư tưởng nhân đạo sâu sắc của thi hào Đỗ Phủ:
… ‘ước gì ngàn vạn gian nhà rộng Che khắp thế gian, dân rét mừng.
Vững như núi, gió mưa, chẳng chuyển Than ôi, bao giờ mắt thấy ngôi nhà ấy Dẫu lều tan, riêng ta chết cũng cam lòng’.
II. Thân bài:
1. Để thấy được cái hay, cái đẹp của năm câu thơ cuối ta cần phải biết qua một vài nét của phần đầu bài thơ. Những dòng thơ tự sự chân thật, cảm động kể chuyện ‘gió thu tốc nhà’. Tai họa dồn dập trút lên gia đình nhà thơ trong một ngày đêm. Gió thu thổi tốc nhà ‘tranh bị rải khắp ven sông…’. Bao nhiêu tranh bị trẻ con xóm Nam cướp sạch. Nhà thơ ‘khản tiếng, rát hầu, đành chịu mất’. Thời loạn lạc đạo lí suy đồi. Tai họa dồn dập, nỗi khổ tưởng chừng không thể nào chịu đựng nổi. Mưa gió suốt đêm, nhà dột, chăn cũ mỏng và rách, rét lạnh thấu xương, thêm tuổi già bệnh tật:
‘Từ ngày loạn lạc sinh ít ngủ Dầm nước thâu đêm, chịu nổi sao!’
Đoạn thơ như cuốn phim làm sống lại một cảnh lầm than cực khổ của một nhà thơ tài ba mà bất hạnh trong xã hội loạn li.
Xem thêm: Mùa hè đến với rực rỡ hoa phượng, râm ran tiếng ve. Em hãy tả lại cảnh này và nói lên cảm tưởng của mình khi hè đến
2. Trước nỗi đau ấy, con người gục xuống khóc than? Không! Tâm hồn nhà thơ sáng ngời. Quên hết nỗi đau của riêng mình, lòng ông hướng về bao người cần lao trong xã hội. Ông mơ ước, khát khao: có ngôi nhà ngàn vạn gian’Che khắp thế gian dân rét mừng, Vững như núi, gió mưa chẳng chuyển’. Thật vô cùng cảm động, nhà thơ nguyện quên minh cho hạnh phúc của nhân dân:
‘Than ôi, bao giờ mắt thấy ngôi nhà ấy Dẫu lêu tan, riêng ta chết cóng cũng cam lòng’
– Cái hay, cái sâu sắc của đoạn thơ là bằng bút pháp tương phản: cảnh đời và tấm lòng, nỗi khổ và niềm mong ước. Đoạn thơ như một lời tâm sự, chân thực và cảm động được diễn tả qua hình ảnh ngôi nhà to lớn trong ước mơ của tác giả Yếu tố hiện thực, yếu tố trữ tình lãng mạn kết hợp một cách hài hòa làm sán° u tư tưởng, tình cảm nhân ái, lí tưởng nhân đạo bao la của Đô Phủ.
– Ở năm dòng cuối bài thơ, ước vọng nhân đạo chân thành thấm đượm tình người của Đỗ Phủ sáng mãi cùng thời gian. Giả sử nếu bài thơ dừng lại câu thơ tả thực ở phần trên thì có lẽ không phải là tác phẩm của bậc ‘thi thánh’ nữa. Thi pháp cổ gọi năm câu thơ ấy là loại câu ‘cảnh cú’ (làm rung chuyển lên cả bài thơ). Câu thơ để lại dấu ấn một hồn thơ, một tấm lòng, đi dọc thời gian từ đó đến nay đã 13 thế kỷ mà ta đọc lên vẫn xiết bao cảm động!
I. Kết luận:
– Đọc ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’, ta như thấy hiện lên trước mắt hình ảnh một ông già gầy yếu ngồi trong một gian nhà bị dột dưới mưa gió tầm tã, tấm chăn mỏng ướt sũng, đôi mắt đăm chiêu, tư lự nhìn xa xăm… Hình ảnh ấy như một ám ảnh chập chờn mãi trong lòng ta.
– Năm dòng thơ cuối vừa đẹp về tư tưởng, vừa đẹp về hình ảnh, bừng sáng tấm lòng nhân đạo của tác giả. Khát vọng che chở cho dân lành đói khổ đã chắp cánh cho thơ Đỗ Phủ đến với mọi tâm hồn nhân ái và làm cho con người nhân ái hơn. Chữ ‘tâm’ trong thơ ông đã giúp cho chữ ‘tài’ trở nên bất tử. Đọc bài thơ, ta khâm phục và kính yêu một hồn thơ vĩ đại, một trái tim nhân hậu bao la.
Nguồn: thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Tháng ba, rét nàng Bân | Dàn ý bài văn phân tích năm câu cuối bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá | 827 | |
Bài thơ Hạt gạo làng ta được Trần Đăng Khoa sáng tác khi ông mới chỉ là một cậu bé 11 tuổi. Thế nhưng, nội dung bài thơ lại thể hiện được sự chín chắn trong suy nghĩ và nó khiến cho người đọc phải suy ngẫm.
Trước khi phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta, các em cần lập dàn ý, vạch ra các ý chính cần có trong bài. Làm như vậy sẽ giúp các em trong quá trình làm bài không sợ bị thiếu ý, sót ý. Dưới đây là phần hướng dẫn lập dàn ý phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta do Kho tàng văn học biên soạn.
I. Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta
1. Mở bài
– Giới thiệu về nhà thơ Trần Đăng Khoa và bài thơ Hạt gạo làng ta.
– Trần Đăng Khoa vốn được xem là thần đồng thơ Việt Nam.
– Bài thơ Hạt gạo làng ta được sáng tác khi nhà thơ 11 tuổi.
2. Thân bài phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta
Khổ 1: Giá trị của hạt gạo
– Hạt gạo là sản phẩm mang giá trị vật chất.
– Hạt gạo là sản phẩm mang giá trị tinh thần vô giá.
Khổ 2: Những đắng cay để có được hạt gạo
– Nỗi vất vả trong khắc phục thiên tai.
– Sự tàn phá ghê gớm của thiên nhiên.
Khổ 3: Ý chí vượt khó của người dân trong chiến tranh để bảo vệ hạt gạo
– Bom Mĩ bắn phá, người lính lên đường đi đánh giặc.
– Hậu phương vừa chiến đấu, vừa sản xuất để có được hạt gạo thơm.
Khổ 4: Đóng góp của các em thiếu nhi
– Cùng với cha mẹ giúp sức nhỏ bé để cây lúa được phát triển.
– Tươi nước, bắt sâu, gánh phân.
Khổ 5: Niềm vui của con người trước mùa màng bội thu
– Hạt gạo được gửi đi muôn nơi.
– Trẻ em hát vang bài ca về hạt gạo.
II. Bài làm phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta
Năm 8 tuổi, Trần Đăng Khoa ra mắt tập thơ Góc sân và khoảng trời. Khi ấy, ông được xem như một hiện tượng của thi ca, thần đông của thi ca Việt Nam. Mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng thơ của Trần Đăng Khoa để hiện rằng đây là một cậu bé chín chắn. Cách ông làm thơ, cách ông lựa chọn từ ngữ và hình ảnh, mọi thứ đều rất sắc. Năm 11 tuổi, Trần Đăng Khoa sáng tác bài thơ Hạt gạo làng ta. Bài thơ ra đời tiếp tục gây được ấn tượng mạnh với độc giả. Hạt gạo vốn dĩ đã quen thuộc với người dân Việt Nam nay được đem vào trong thơ. Tuy đề tài không mới nhưng cách thể hiện, cách chiêm nghiệm của tác giả lại mới mẻ và đầy sức thuyết phục.Xem thêm: Tả một đêm trăng đẹp
Bài thơ bắt đầu với việc nói lên giá trị của hạt gạo. Việt Nam vốn là đất nước nông nghiệp đi lên từ cây lúa. Người dân Việt Nam đã quen với đồng ruộng, quen với cây lúa. Vì vậy mà những hạt gạo trắng tinh khôi vẫn được xem như hạt ngọc của đất trời. Hạt ngọc ấy không chỉ mang giá trị về vật chất, là nguồn lương thực chính của người dân Việt Nam mà nó còn mang một giá trị tinh thần vô cùng to lớn:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay
Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta
Hạt gạo lớn lên nhờ đất phù sa màu mỡ, lớn lên nhờ nước của sông Kinh Thầy. Trong hạt gạo có hương thơm giống như hương của loài hoa sen trồng trong hồ nước đầy. Và hạt gạo đi vào trong những câu hát ngọt bùi mẹ vẫn hát mỗi ngày. Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã miêu tả hạt gạo với tất cả những gì đẹp đẽ nhất, tinh tế nhất. Hạt gạo vì thế đã gắn liền với đời sống tinh thần của con người. Và để có được những hạt gạo trắng thơm như vậy thì con người đã phải trải qua không ít những khó khăn, gian khổ:
Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
Chỉ với vài câu thơ ngắn ngủi mà nhà thơ đã diễn tả được hết sự khắc nghiệt của thiên nhiên Việt Nam. Việc cày cấy đối với người nông dân chưa khi nào là thuận lợi. Từ gieo mạ cho tới lúc gặt lúa, ngày ngày người dân đều phải ra thăm đồng, phải tìm cách chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt. Tháng bảy thì trời nổi nhiều bão dông, tháng 3 thì trời mưa xối xả, thân cây lúa thì mềm và rỗng nên nếu không được bảo vệ chúng sẽ không qua nổi những tai ương. Chưa hết, tháng 6 trời nắng như đổ lửa. Người nông dân đã rơi biết bao nhiêu giọt mồ hôi để có được hạt lúa chín. Cách so sánh nước như ái nấu của nhà thơ đủ khiến người đọc cảm nhận được sự bỏng rát của nước. Nó làm chết những con cá cờ. Những con cua sống ở dưới nước cũng phải ngoi lên bờ. Vậy mà trong hoàn cảnh này, mẹ em lại xuống cấy. Mẹ em hay bất cứ một người nông dân nào khác đã phải vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên để có thể mang đến một mùa màng bội thu.Xem thêm: Em hãy tưởng tưởng và kể lại cuộc trò chuyện, tâm sự giữa các đồ dùng học tập
Tuy vậy, sự khắc nghiệt của thiên nhiên không phải là tất cả những gì người nông dân trải qua. Có một thứ còn khủng khiếp hơn thiên nhiên đó chính bom đạn của giặc Mĩ:
Những năm bom Mĩ
Trút lên mái nhà
Những năm khẩu súng
Theo người đi xa
Những năm băng đạn
Vàng như lúa đồng
Bát cơm mùa gặt
Thơm hào giao thông
Năm 1969 là năm mà giặc Mĩ đang tàn phá đất nước ta. Chúng ném bom, gieo tội ác trên mảnh đất Việt Nam. Biết bao nhiêu chàng trai, cô gái đã cầm súng lên đường ra nơi chiến tuyến để bảo vệ đất nước, bảo vệ nền hòa bình. Còn các bà, các mẹ ở nhà trở thành hậu phương vững chắc. Bên cạnh việc chiến đấu họ vẫn tiếp tục sản xuất và bảo vệ thành quả lao động của mình. Hình ảnh băng đạn của giặc vàng như lúa đồng cho thấy sức tàn phá khủng khiếp của chiến tranh nhưng người dân không vì thế mà run sợ. Khổ thơ đã ca ngợi ý chí của người nông dân, sẵn sàng đương đầu với thử thạch để bát cơm mùa gặt thơm hào giao thông.
Đóng góp vào sự phát triển của cây lúa còn có công lao của các bạn nhỏ. Những đứa trẻ đang tuổi ăn, tuổi chơi nhưng đã biết giúp gia đình tưới nước chống hạn cho ruộng lúa, bắt sâu vào buổi trưa cho sâu khỏi ăn lúa, gánh phân để bón cho cây lúa phát triển:Xem thêm: Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi hương của Trần Tế Xương
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gàu
Trưa nào bắt sâu
Lúa cao rát mặt
Chiều nào gánh phân
Quang trành quét đất
Có thể thấy trong qua những câu thơ, các bạn nhỏ đã gặp phải nhiều khó khăn trong công việc nhưng họ vẫn làm việc với sự hăng say nhất. Đó chính là tuổi trẻ, là tương lai của đất nước. Chính họ đã góp phần làm nên những hạt gạo dẻo thơm. Để rồi khi lúa chín, mùa màng bội thu là niềm vui chung của đất nước. Hạt gạo được gửi đi đến muốn nơi, gieo nên sự sống, gieo nên niềm vui cho con người:
Hạt gạo làng ta
Gửi ra tiền tuyến
Gửi về phương xa
Em vui em hát
Hạt vàng làng ta
Đến câu kết của bài thơ, nhà thơ đã gọi hạt gạo là hạt vàng. Ở đây, hẳn tác giả muốn nói hạt gạo quý giá như hạt vàng. Đây là một sự so sánh rất đúng, thể hiện được cái nhìn tinh tế của nhà thơ.
Bài thơ rõ ràng được viết với một sự chiêm nghiệm sâu sắc. Nhà thơ hẳn đã chứng kiến, đã trải qua, đã hòa mình vào cùng đám trả tát nước, bắt sâu, gánh phân mới có thể làm nên một bài thơ tuyệt vời đến vậy.
Với phần lập dàn ý phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta và bài văn mẫu tham khảo trên đây thì Kho tàng văn mẫu hy vọng đã giúp các em nắm được kiến thức và nội dung chính của bài học. Chúc các em học tập thật đối và có những bài làm văn thật hay.
Thu Thủy | Dàn ý chi tiết và bài làm phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa | 1,512 | |
Dàn ý chi tiết Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong Vợ chồng A Phủ
Hướng dẫn
Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam qua các nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ), bà cụ Tứ (Vợ nhặt), người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa)
Mở bài:
HÌnh ảnh người phụ nữ Việt Nam luôn được ngợi ca trong thơ văn từ xưa đến nay với những nét đẹp vừa có điểm chung vừa mang nét riêng. Từ văn học dân gian thông qua hình ảnh con cò đến văn học trung đại “Truyện Kiều”, thơ Hồ Xuân Hương, “Chinh phụ ngâm”…đến những tác phẩm hiện đại như “Vợ chồng A Phủ”, “Vợ nhặt”. “Chiếc thuyền ngoài xa”.
Thân bài:
phân tích và chứng minh vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam thông qua các nhân vật
Ngoại hình:
Mị tràn đầy sức sống và tươi trẻ, Mị mang dáng vẻ của người con gái xuân thì vùng sơn cước. Tô Hoài không chú trọng miêu tả ngoại hình nhân vật mà chỉ thể hiện điều đó qua những chi tiết nhỏ “Mị đẹp, trẻ, thổi sáo giỏi” hay cách nói ví von “Bông hoa ban mới nở của núi rừng Tây Bắc”.
Tâm hồn: Nếu như vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ hiện đại rất ít được chú tâm miêu tả thì vẻ đẹp tâm hồn ở họ lại được khắc họa rõ nét qua hành động, việc làm. Nói như cách nói của Nguyễn Minh Châu thì mỗi con người đều chứa đựng vẻ đẹp tâm hồn mà suốt cuộc đời vẫn không thể khám phá hết.
Mị:
+ Hiếu thảo, thương cha mình nên chấp nhận cuộc sống vật vờ như xác chết mà không thể chết đi để giải thoát.Xem thêm: Phân tích giá trị nhân đạo trong bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá (Mao Ốc vị thu phong sở phá ca) của Đỗ Phủ
+ Yêu tự do: Mị khao khát được đi chơi xuân, được thổi sáo, Mị thả hồn trong tiếng sáo bay bổng.
+ Sức sống tiềm tàng – đây là vẻ đẹp tâm hồn quan trọng nhất và được tập trung thể hiện: phân tích hai chi tiết nổi bật là đêm tình mùa xuân và hành động cởi trói cho A Phủ.
Đêm tình mùa xuân: đây là lúc sức sống tiềm tàng của Mị bùng lên mạnh mẽ. Từ lâu khi bước chân vào nhà Thống lí Phá Tra và sống cuộc đời trâu ngựa, Mị đã chai sạn chẳng biết đến vui hay buồn, chẳng còn tha thiết cuộc sống. Thế mà cái đêm tình mùa xuân với tiếng sáo du dương thổi bùng lên ngọn lửa tha thiết sống. Hành động Mị uống rượu và muốn tìm về quá khứ là hành động Mị ý thức được bi kịch đời mình. Ý nghĩ muốn chết lần này cũng là biểu hiện của việc ý thức kiếp sống đọa đày của mình.
Đêm Mị cởi trói cho A Phủ: Từ ý nghĩ chuyển sang hành động, Mị nghĩ về bản thân mình và nghĩ đến A Phủ phải chịu tội đang chờ cái chết. Mị thương hoàn cảnh A Phủ, thương bản thân mình. Cái giây phút ngắn ngủi trong đêm ấy và quyết định nhanh chóng của MỊ cởi dây trói cho A Phủ và cùng A Phủ bỏ trốn đã làm thay đổi số phận của hai con người trong xã hội của cường quyền và thần quyền.
Bạ cụ Tứ: hiện lên trong tác phẩm là một người mẹ già, nghèo nhưng tấm lòng đối với con cái lại sâu nặng.
Xem thêm: Chứng minh câu tục ngữ: ‘Một cây làm chẳng nên non…’
+ Thái độ của bà khi Tràng dẫn một người đàn bà lạ về nhà: ngạc nhiên – hiểu ra – vui lòng chấp nhận.
+ Suy nghĩ: lòng người mẹ nghèo vừa mừng vừa tủi lại thương cho các con không biết có qua được khó khăn này. Bà hiểu cảnh đời trớ trêu khiến con bà có được vợ dễ dàng nhưng lại tỏ ra thương yêu, thông cảm cho con dâu.
+ Hành động: Bà mẹ nghèo trong bữa cơm đạm bạc ngày cưới, chi tiết bà bưng lên nồi chè khoán; bà lo sửa sang quét dọn nhà cửa
+ Hướng các con đến ngày mai: Bà luôn suy nghĩ những điều tốt đẹp “không ai giàu ba họ không ai khó ba đời”. Bà vẽ nên nhiều hướng đi tương lai cho cả gia đình; bà dọn dẹp, quét tước để mong điều mới mẻ đến cho cuộc đời.
Người đàn bà thuyền chài: Nguyễn Minh Châu đã khắc họa chân dung người đàn và thuyền chài thô kệch, rỗ mặt và trong trạng thái của một người phụ nữ có quá nhiều nỗi buồn ẩn chứa trên gương mặt mệt mỏi. Bằng lời nói, bằng giọng điệu và những ánh nhìn, người đàn bà dường như không có niềm tin, không có sức sống cũng không còn sinh lực. Không có bất cứ một vẻ đẹp nào với dáng vẻ bên ngoài nhưng tấm lòng của nhà văn lại muốn tìm tòi những nét đẹp phẩm chất bên trong người đàn bà này.
+ Vẻ đẹp của người phụ nữ vị tha, độ lượng: Chị không kêu la, oán than hay căm ghét người đàn ông đã đánh mình. Chị không chạy trốn hay chống trả những trận đòn roi vì chị nghĩ cũng tại một phần lỗi của mình. Chỉ có chị mới thấu hiểu và thông cảm cho cái tính vũ phu của chồng chị.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ... Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương
+ Vẻ đẹp của một người mẹ sẵn sàng hi sinh tất cả vì con: người đàn bà sẵn sàng chịu đánh chỉ xin được đánh xa tầm mắt của các con, sẵn sàng quỳ xuống xin con đừng đánh cha mình vì bà không muốn con mình chịu khổ, không muốn con mình hứng chịu những lỗi lầm của người lớn. Bà nói những người đàn bà trên thuyền sống vì con chứ không thể sống vì mình. Niềm hạnh phúc duy nhất của người mẹ này là nhìn con ăn no ngủ say.
+ Vẻ đẹp của người phụ nữ từng trải, sâu sắc và hiểu đời: Bà hiểu những điều bà gánh chịu từ người chồng vũ phu là do cuộc đời cơ cực đẩy ông ta trở nên hun hăng chứ bản chất không phải thế. Bà giúp cho Phùng và Đẩu nhận ta chân lí ở đời: con thuyền sẽ không thể chèo chống qua bão tố nếu không có người đàn ông. Chẳng những thế người phụ nữ này còn giúp Phùng có cái nhìn toàn cục về cuộc đời. Vốn dĩ cuộc đời thật không đẹp lung linh như con thuyền xa khơi kia.
Kết bài:
Khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ qua ba tác phẩm và đánh giá chung về ngòi bút của nhà văn hiện đại. | Dàn ý chi tiết Vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong Vợ chồng A Phủ | 1,185 | |
Dàn ý cho bài viết: Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” ka-ra-ô-kê và internet trong giới trẻ hiện nay
Gợi ý
Sinh động, mới mẻ, hấp dẫn,… đó là những gì mà công nghệ thông tin, công nghệ kĩ thuật số… đã mang đến cho đời sống con người. Nhưng bên cạnh đó, không ít những thành quả của khoa học kĩ thuật đang bị lạm dụng gây ra những hiện tượng “nghiện” đầy nguy hiểm. Hiện tượng nhiều học sinh, sinh viên hiện nay “nghiện” ka ra ô kê và intơnét cũng là một trong số những trường hợp đó.
Về bản chất, chúng ta không thể phủ nhận những tác dụng to lớn của ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét. Ka-ra-ô-kê là một loại hình giải trí lành mạnh. Mỗi khi có dịp vui, bạn bè có thể cùng nhau đi hát ka-ra-ô-kê; âm nhạc, lời ca, tiếng hát có thể trở thành nguồn vui, tiếng cười giúp chúng ta giải toả căng thẳng, gắn bó thêm tình bạn bè bằng hữu,… In-tơ-nét lại là một phương tiện thông tin vô cùng hữu ích. Sử dụng in-tơ-nét, chúng ta có thể nắm bắt nhanh chóng, cập nhật, sinh động nhiều thông tin trên nhiều lĩnh vực: y tế, giáo dục, khoa học, âm nhạc… Bạn muốn biết thông tin mới nhất về việc tuyển sinh vào lớp 10 – vào các trường Đại học, Cao đẳng,…? Bạn muốn biết những thông tin nổi bật về mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội trong ngày?,… Bạn chỉ cần “click” vào biểu tượng In-tơ-nét trên màn hình máy tính. Từ đây, có thể áp dụng những tri thức quý báu ây vào cuộc sống: vào bài học trên lớp, vào việc nghiên cứu, vào việc thực hành,… Mặt khác, in-tơ-nét cũng là phương tiện thông tin liên lạc tiện lợi: chỉ bằng một số tiền rất nhỏ chúng ta có thể trao đổi thông tin trực tiếp với bạn bè, người thân (qua Yahoo), nhìn rõ nhau (qua Webcam),…
Tuy nhiên, cũng giống như một số thành tựu khoa học kĩ thuật khác, ở nhiều bạn trẻ, ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét bị lạm dụng và gây ra nhiều tác hại.Xem thêm: Bạn Nguyễn Hoàng Nam viết một đoạn văn ngắn nói về ngôi trường của mìnhỞ nhiều thành phố, thị trấn, thị xã,… có những dãy phố ka-ra-ô-kê dài hút mắt, có những cửa hàng ka-ra-ô-kê quy mô lớn chứng tỏ sự chuyên nghiệp của loại hình giải trí này càng cao, nhiều ngôi nhà mặt đường gần khu dân cư không bỏ qua cơ hội kinh doanh cũng mở hàng ka-ra-ô-kê,… Nếu chỉ đơn thuần là phục vụ nhu cầu giải trí lành mạnh, phục vụ những cuộc gặp gỡ bạn bè xả “stress”., thì đâu cần đến nhiều quán ka-ra-ô-kê như vậy? Mặt khác, những quán ka-ra-ô-kê dường như hoạt động cả ngày, đặc biệt là vào những buổi tối. Một câu hỏi đặt ra: giới trẻ có thực sự cần đến nhiều quán ka-ra-ô-kê như vậy đế’ phục vụ cuộc sống của mình không?
Sự thật đã trả lời cho chúng ta. Nhiều bạn trẻ đến với ka-ra-ô-kê như một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Bâ’t kì một sự việc gì cũng là lí do để họ “đi ka-ra-ô-kê”. Sinh nhật, cuối tuần, quần áo mới,… Thực chất của những cuộc ka-ra-ô-kê như vậy là dịp để họ tụ tập, hò hét và… say xỉn! Có những cuộc hát thâu đêm, có những giọng hét nhiều hơn hát, có những nhóm ra khỏi phòng hát không còn được một người tỉnh táo, họ thậm chí gây sự với ngay chủ cửa hàng,… Giá của những cuộc ka-ra-ô-kê như vậy lại không hề “mềm” chút nào. Nó liên tục tăng lên chóng mặt, giá cụ thể tuỳ thuộc vào chất lượng phòng hát, chất lượng âm thanh nhưng có lẽ không dưới bốn mươi ngàn đồng một tiếng. Vậy là đã rõ, những cuộc hát hò vô bổ như vậy chỉ là sản phẩm của những bạn trẻ không biết trân trọng sức lao động, không biết trân trọng đồng tiền, thậm chí coi những cuộc hát hò ấy như một thứ trang sức cho sự giàu có của cha mẹ mình. Đó là mục đích của họ sau mỗi cuộc ka-ra-ô-kê chăng? Lúc ấy, ka-ra-ô-kê đã trở thành kẻ đồng phạm của thói ăn chơi, đua đòi đáng lên án.
Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống: Bên kia sông Đuống... Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Với in-tơ-nét, số bạn trẻ biết sử dụng những tính năng của chúng sao cho mang lại hiệu quả lớn nhất cũng chỉ chiếm thiểu số. Đến với những “quán nét”, một cảnh tượng không thể nào khác được là những những gương mặt trẻ tuổi đang căng thẳng, hồi hộp với bao trò game (trò chơi điện tử). Có thể kể đến vô số trò chơi như đế chế, MU,… Có những bạn ngồi lì trước máy quên cả ăn uống, ngủ nghỉ (đừng nói chi đến việc học hành!). Lại có những bậc mà phụ huynh không thấy con về nhà, đã tốn bao công sức “truy lùng” rồi bất ngờ phát hiện cậu ấm “mai danh ẩn tích” ở một quán “nét” và đang hào hứng với trò chơi điện tử! Không chỉ vậy, “ôm ấp” chiếc máy tính và mạng in-tơ-nét còn có những “đệ tử” trung thành của Yahoo. Họ lạm dụng chức nãng của hệ điều hành này để ngày đêm chát chít với bạn bè, dĩ nhiên, câu chuyên của họ chỉ đơn giản là: “Ăn cơm chưa? Ăn rồi à? Đang làm gì đấy?” rất vui vẻ! Nhưng điều nguy hiểm nhất là qua đây, nhiều bạn trẻ có thể “kết bạn” dễ đàng, yêu nhau dễ dãi và mắc bẫy cũng dễ dàng. Hàng trăm câu chuyên bị “lừa tình”, “lừa tiền” qua Yahoo không còn là chuyện lạ. Đó là những lời cảnh tỉnh nghiêm khắc đốì với những ai còn đang mù quáng với những câu chuyện, những lời tán gẫu qua một kênh ảo như vậy. Có những bạn đến với in-tơ-nét đơn thuần chỉ là để… tải nhạc và “down ảnh”. Những đối tượng như vậy tưởng chừng vô hại nhưng kì thực trong hành động của họ lại tiềm ẩn những hiểm họa rất lổn. Chưa kể đến việc mất thời gian, tiền bạc và sức lực. Hãy xem đến những loại nhạc và loại ảnh họ tải về: “Em yêu! Nhổ anh không? Nhớ à? Đang làm gì đấy?”… những tấm ảnh ngoài luồng, những đoạn “clip” đen,… Chẳng phải chúng đang tiềm ẩn những hiểm họa làm suy thoái cả một thế hệ người hay sao? Giới trẻ sẽ yêu như thế nào,’ sông như thế nào khi lớn lên trong môi trường những ngôn từ nhạt nhèo, thậm chí ngớ ngẩn; những tấm ảnh nhơ nhớp, như vậy?Xem thêm: Phân tích tâm trạng và tình cảm của Hoàng cầm thể hiện trong bài thơ “Bên kia sông Đuống" Việc “nghiện” ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét đang lấy đi sức lực, thời gian, tiền bạc và hơn hết là sự vô tư, trong sáng của tuổi trẻ.
Sa đà vào những hoạt động như vậy, một điều dễ hiểu là những bạn trẻ ấy không có thời gian cho việc học hành, cho những hoạt động ngoại khoá bổ ích, hiển nhiên không có cả thời gian cho gia đình, người thân. Vậy rồi tương lai những người bạn ây sẽ ra sao?
Nguyên nhân của lối sống ấy bắt nguồn từ việc những bạn trẻ ấy chưa xác định được lí tưởng sống đúng đắn, họ ham vui chơi, đua đòi, lười biếng, và chỉ quen thói hưởng thụ. Sinh ra trong sự nuông chiều của gia đình, không biết trân trọng những giá trị chân thực của đồng tiền và quan trọng là không chịu học tập, rèn luyện đã biến họ trở thành những người Việt trẻ hư hỏng, đáng chê trách. Vậy thì trước lối sống sai lầm ấy của những bạn trẻ này, trách nhiệm thuộc về việc giáo dục của gia đình họ nhưng phần lớn là do việc tự nhận thức và quá trình tự rèn luyện của bản thân mỗi con người mà thôi.
Ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét là những phát minh có ích cho cuộc sống con người nhưng nếu không biết sử dụng đúng cách thì chúng sẽ gây những tác hại vô cùng to lớn. “Nghiện” ka-ra-ô-kê và in-tơ-nét là biểu hiện của sự tiêu cực khi sử dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật này. Tuổi trẻ chúng ta – thế hệ tiên phong trong nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ – không thể là những con nghiện, là những nô lệ cho ka-ra-ô-kê, in-tơ-nét hay bất kì phương tiện máy móc nào khác. Các bạn trẻ, chúng là hãy là những chủ nhân thông minh của những thành quả khoa học kĩ thuật!
Vanmau.edu.vn | Dàn ý cho bài viết_ Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng “nghiện” ka-ra-ô-kê và internet trong giới trẻ hiện nay | 1,513 | |
Dàn ý cảm nghĩ về cô giáo mà em yêu quý
Hướng dẫn
Mở bài
– Hình ảnh ngôi trường thân thương, lớp học với những bạn bè thân thiêt, với những thầy cô giáo quý mến là hình ảnh quen thuộc trong mỗi một cô cậu học sinh chúng ta
– Nhưng đi qua những hình ảnh đó ta đọng lại được bao nhiêu
– Còn tôi hình ảnh trong tâm trí đọng lại nhiều nhất là hình ảnh cô giáo dạy văn năm lớp sáu
Thân bài
– Cô là người giáo viên đầu tiên dạy tôi năm tôi lên bậc trung học cơ sở
+ Tôi may mắn được học dưới sự dạy dỗ của cô
+ Bước từ cấp tiểu học lên trung học còn khá nhiều bỡ ngỡ với chúng tôi lúc đó
+ Sợ tiếp nhận với chương trình mới nên lo lắng không biết tiếp nhận sao cho thật hiệu quả
+ Môn đầu tiên chúng tôi được học lúc đó là môn Ngữ văn
+ Bước vào lớp học cô với giọng điệu dễ mến, gương mặt nhân hậu, thanh thoát. Cô chào chúng tôi với lời chào thân thương: Chào các em lớp sáu!
– Hình ảnh cô ngay từ buổi đầu dạy lớp làm tôi ấn tượng sâu sắc cho tận bây giờ:
+ Cô tên Trang, năm nay cô tôi hai bảy tuổi, tôi đã quen thân với cô được ba năm nay
+ Tình cảm tôi dành cho cô luôn giống như lúc đầu đó là sự yêu quý, là sự ngưỡng mộ, là sự kính trọng đối với cô
+ Buổi đầu tiên dạy tôi, cô rất thân thiện đối với chúng tôi. Những cử chỉ, lời nói khiến chúng tôi nhập tâm vào bài học một cách nhanh nhất
+Hình ảnh mái tóc dài mượt cùng với chiếc áo dài thướt tha. Chao ôi! Hình ảnh đó của cô đẹp làm sao?
+ Cô chắp cánh tri thức, chắp cánh ước mơ cho chúng tôi
+ Tôi mơ ước sau này được như cô ; với phấn trắng, bảng xanh, với những con chữ,với sự tận tâm dạy những đứa học trò quý mến
– Tôi yêu quý cô không chỉ bởi những điều đó, mà còn vì cô có một trái tim thiện nguyện
+ Cô thường dành dụm tiền mua những món quà nhỏ tặng cho các bạn có sự vươn lên trong học tập
+ Cô ân cần, quan tâm, giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh khó khăn
– Chính cô là người truyền cảm hứng, niềm yêu thích văn chương cho tôi đến tận bây giờ
Kết bài
– Cảm ơn cô đã cho em một tâm hồn văn thơ đẹp đẽ
– Cảm ơn cô đã cho em hiểu được phần nào về cuộc sống này thông qua những bài học trên lớp
– Trong mắt em, cô là cô giáo mà em yêu quý vô cùng!
Nguồn: thêm: Dựa vào văn bản "Bài ca nhà tranh bị gió thu phá" của Đỗ Phủ, phát biểu cảm nghĩ của em về những người già neo đơn có hoàn cảnh bất hạnh | Dàn ý cảm nghĩ về cô giáo mà em yêu quý | 503 | |
Dàn ý Cảm nghĩ về mùa thu
Hướng dẫn
a) Mở bài
– Nếu Sang thu của Hữu Thỉnh là:
“Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về”
+ Với Hữu Thỉnh, mùa thu được cảm nhận bởi hương ổi, bởi giọt sương
+ Bản thân cảm nhân mùa thu: bắt đầu bằng cảm giác se se lạnh, những chiếc lá bắt đầu úa vàng, những cơn gió nhẹ thoảng qua
b) Thân bài:
– Có ai đó từng nói rằng, mùa thu là mùa đa sầu, đa cảm, là mùa mà đem lại cho ta nhiều cung bậc cảm xúc nhất:
+ có lúc vui:…..
+ có lúc buồn:…
+ có lúc lại xao xuyến bồi hồi:
…….
=> tùy vào tâm trạng của mỗi người mà giải thích và cảm nhận cung bậc cảm xúc, vui, buồn,.. như thế nào
– So sánh mùa thu với các mùa còn lại trong năm:
+ Mùa thu với mùa đông: không ảm đạm, buồn hiu và cô quạnh như mùa đông:
+ Mùa thu có trời xanh, nắng nhạt nhưng đủ cho ta thấy được sự tồn tại của nắng…
….
+ Mùa thu với mùa xuân và mùa hạ:có chút trầm lắng, nhịp sống có vẻ không ồn ào, tấp nập như mùa xuân và mùa hạ.
+ Nếu mùa xuân và mua hạ cây cối thi nhau đua sắc nở hoa thì mùa thu lại là nhưng chiếc lá úa vàng, những chiếc lá đang bắt đầu rụng một cách nhẹ nhàng=> cảm nhận thu đã thực sự như thế nào?
– Cảm nhận mùa thu đẹp như thế nào:
+ Đẹp trong từng âm thanh, đẹp trong tưng hơi thở và đẹp trong chính con mắt của mỗi một con người biết nhìn và cảm về mùa thu.
+ Mùa thu là mùa của ấm áp, mùa của hạnh phúc, mùa của nhưng trái tim đang cùng nhau suwoir ấm, mùa của sự ấm cúng.
Ấm cúng như thế nào?
Hạnh phúc như thế nào?
………..
– Cảm nhận của mỗi người:
c) Kết bài:
– Cùng nói vè mùa thu đẹp như thế nào? Ta cảm nhận bằng trái tim của một con người yêu thiên n hiên, một đôi mắt của một thi sĩ và đôi tai của một nhạc sĩ
=> Mùa thu đẹp đến lạ lùng, đẹp đến nỗi mà muốn níu giữ mãi mãi chỉ có mùa thu.
Nguồn: thêm: Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ của đoạn thơ sau: "Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn" ("Đò Lèn” - Nguyễn Duy) | Dàn ý Cảm nghĩ về mùa thu | 434 | |
Dàn ý cảm nghĩ về một đêm trăng rằm trung thu
Hướng dẫn
Mở bài
Trong mỗi chúng ta ai cũng cất giữ những hoài niệm cho riêng mình. Và tôi hoài niệm mà tôi luôn ghi nhớ cho tận bây giờ là đêm trung thu năm tôi lên chín.Đó là đêm trung thu tràn ngập tiếng cười, tình thương yêu của Bố dành cho tôi.
Thân bài
– Tết trung thu được xem như là cái tết mà tất cả mọi trẻ thơ mong đợi, đó cũng là mong ước của tôi khi tôi còn thơ bé:
+ Mong đợi là vì đó là lúc những chiếc đèn lồng được thắp lên đi qua mỗi làng, mỗi xóm nhỏ
+ Mong đợi là vì sẽ được ăn bánh trung thu đặc sệt vị ngọt lịm và tất nhiên mỗi trẻ em đều thích vị ngọt cả bánh
+ Ngoài ra, đó cũng chính là lúc chúng tôi được xem múa rồng, phá cỗ
+ Là lúc trăng sắp khắp các nẻo đường, để tụi tôi có thể chạy nhảy chơi cùng bạn bè
– Đáng nhớ nhất đêm trung thu năm đó là vì sự xuất hiện của bố:
+ Bố tôi đi làm xa, ở nhà chỉ có mẹ và anh tôi. Trung thu của tôi mọi năm đều không có bố, tôi chỉ được chơi trung thu bên bạn bè, mẹ và anh trai tôi
+ Năm đó cũng chính là năm mẹ tôi bận việc ở chỗ làm, anh tôi thì đi qua nhà bạn hỏi bài tập về nhà
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà”+ Chỉ còn mình tôi lúc đó nên tôi phải ở nhà giữu nhà không được đi phá cỗ cùng bạn bè, cảm xúc tôi lúc đó buồn lắm
+ Và rồi điều tuyệt vời xuất hiện, trong lúc quay quắt ngồi chơi nagwms trăng một mình thì hình ảnh bố hiện ra
+ Bố về! bố đem theo bánh trung thu, lồng đèn!
+ Tôi quá ngạc nhiên vì sự xuất hiện của bố ngay lúc này nên tôi chạy và ôm chầm lấy ông
– Món quà bố tặng tôi nhân dịp tết trung thu:
+ Đó là một cái bánh nhân trứng ngọt lịm như tình thương ông dành cho con gái của mình
+ Đó là chiếc lồng đèn mà mỗi đứa trẻ mơ ước có nó mỗi đêm rằm trung thu
-Trung thu năm đó là trung thu tôi cùng chơi với bố dưới ánh trăng sáng trước sân nhà
– Hình ảnh đó mỗi khi nhớ đến tôi lại thấy bồi hồi, xao xuyến
Kết bài
-Chao ôi! Giá được quay về lúc đó, thì tôi không chỉ ôm ông và sẽ dành tặng ông nụ hôn của một bé gái dành tặng cha mình
– Cảm ơn ông đã đem lại cho tôi những xúc cảm ngọt ngào nhất của tuổi thơ
– Chưa bao giờ tôi đòn trung thu vui như đêm năm ấy.
Nguồn: | Dàn ý cảm nghĩ về một đêm trăng rằm trung thu | 486 | |
Dàn ý Cảm nhận 3 khổ đầu bài thơ Ánh Trăng để thấy vẻ đẹp của tình nguời và ánh trăng
Hướng dẫn
a.Đặt vấn đề:
-Nguyễn Duy thuộc thể hệ nhà thơ quân đội, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Thơ ông giàu chất triết lý, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt, suy tư. Bài thơ Ảnh trăng được sáng tác năm 1978, như một lời tâm sự chân thành, sâu lắng, như một lời nhắn nhủ thấm thìa mà trước hết là tự nhắc nhở mình.
-Bài thơ là một câu chuyện nhỏ được kể theo trinh tự thời gian, từ quá khứ đến hiện tại. Trong dòng tự sự ấy, nhà thơ kể về mối quan hệ giữa mình và vầng trăng. Đó là những kỉ niệm đẹp, tình cảm gắn bó giữa con người và vầng trăng trong quá khứ. Khi thay đổi môi trường sống, con người đã lãng quên vầng trăng. Điều đó được thể hiện qua ba khổ thơ đầu của bài thơ (Trích dẫn thơ).
b.Triển khai:
-Ánh trăng trước hết là tiếng lòng, là sự tự vấn lương tâm cùa riêng Nguyễn Duy. Nhà thơ đứng giữa hôm nay mà suy ngẫm về thời đã qua và từ tâm trạng riêng, tiếng thơ ông cất lên như một lời nhắc nhở. vầng trăng ở đây không chỉ là một hình ảnh cụ thể của đất trời mà còn là biểu tượng cho một quá khứ đẹp đẽ, là mối liên hệ giữa tâm tình riêng và ý nghĩa phổ biến rộng lớn, giữa nội dung cụ thể và tính khái quát của bài thơ. Khổ thơ đầu gợi nhắc về những kỉ niệm trong quá khứ:
Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ
-Vầng trăng tuổi thơ của tác giả được trải rộng trên một không gian bao la, rộng lớn: cánh đồng, dòng sông, biển cả. Hai câu thơ mười tiếng gieo vần lưng đồng, sông. Từ với được lặp đi lặp lại ba lần để nói lên tuổi thơ được đi nhiều, được cảm nhận những vẻ đẹp của thiên nhiên thoáng đãng. Thật sung sướng khi được thả hồn trên đồng quê, ngắm trăng trên dòng sông, trải trên bể. Thiên nhiên bình dị, hiền hòa và đáng yêu.vầng trăng gắn bó với nhà thơ từ lúc nhỏ. Tuổi thơ của chúng ta có mấy ai được cái may mắn ấy. Đến khi lớn lên phải sống trong chiến tranh, ỏ' trong rừng, ánh trăng đã trở thành tri kỉ:
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri ki
-Từ tri ki có nghĩa là biết người như biết mình. Bạn tri kỉ như người bạn rất thân, hiếu biết mình. Từ hồi nhò đến lúc chiến tranh là một thời gian dài để xây đắp một tình cảm vững bền. Không phải dễ gì mà người ta coi nhau như tri ki. Trăng với người bạn trong những năm ở rừng thời chiến tranh đã trở nên đôi bạn không thể rời xa.
-Đất nước đã trải qua những năm dài máu lửa. Trăng với anh bộ đội đã vượt mọi sự tàn phá hủy diệt bon đạn cùa quân thù. Các tao nhân ngày xưa cũng thường lên lầu vọng nguyệt, còn các anh bộ đội cũng một thời xông pha mặt trận, cũng có những lúc đứng trên đồi cao hay đi hành quân vượt núi cũng say sưa ngắm trăng. Thời gian thậtv dài mà tác giả chỉ gói gọn trong bốn dòng thơ thật ngắn gọn.Ta cảm nhận như đang có một nỗi lòng rưng rưng xúc động ẩn hiện trong mỗi dòng thơ, chỉ chờ dâng trào lên. Và nét độc đáo ở từng chữ mỗi đầu dòng thơ không viết hoa, phải chăng Nguyễn Duy muốn cho cảm xúc được dào dạt trôi theo dòng chảy của thời gian, của kỉ niệm?. Tác giả cũng nhắc cả những suy nghĩ của mình về vầng trăng và con người đối với sự việc trong quá khứ:
trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa.
-Lại một vần lưng nữa xuất hiện, âm điệu thơ đi liền mạch trần trụi – thiên nhiên – hồn nhiên. Hình ảnh ẩn dụ so sánh làm nổi bật chất trần trụi, chất hồn nhiên cùa người lính suốt những năm tháng ở núi rừng. Đó còn là cốt cách của người lính:
trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ.
Xem thêm: Nêu những nét chính trong sự nghiệp sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh
-Con người đã sống hết lòng với thiên nhiên, con người cũng như cây cỏ là những người bạn hồn nhiên không thể tách rời. vầng trăng là biểu tượng đẹp của những năm tháng ấy, đã trở thành vầng trăng tri kì, vầng trăng tình nghĩa ngỡ như không bao giờ quên. Một ý thơ làm lay động đến tâm hồn như một sự thức tĩnh lương tâm đối với những kẻ vô tình ngỡ không bao giờ quên. Cái vầng trăng tình nghĩa. Từ ngỡ như một điểm nhấn, một dấu hiệu đặc biệt. Nó gợi cho ta suy nghĩ
về những điều còn chưa nói. Từ ngỡ như một lối rẽ đưa ý tho' theo hướng khác: đó là giá trị của ngôn từ, là nhãn tự trong bài, là tài năng thể hiện của nhà thơ mà ta không dễ gì nhận ra được.
-Chiến tranh đã đi qua, hòa bỉnh lập lại, cũng như bao người lính khác, tác giả trở về cuộc sống bình thường. Nhưng nhà thơ không phải trở về với sông, với biển mà trở về với thành phố tấp nập đông vui:
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện cứa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường.
-Từ cuộc sống ở núi rừng, trở về cuộc sống nơi thị thành, sống bình yên và đầy đủ với ánh điện, cửa gương và không biết tự bao giờ vầng trăng đã trờ thành người dưng, vầng trăng tri kỉ, vầng trăng nghĩa tình đã bị lãng quên, hờ hững. Cách so sánh thật thấm thìa. Ánh trăng đã bị lu mờ trước ánh đèn chiếu rọi. Mới ngày nào vầng trăng ấy gắn bó tuổi thơ rồi vẫn đồng hành cùng ta trên bước đường hành quân. Vậy mà giờ đây ta lại vô tình dửng dưng. Lẽ nào ta lại vô tình lãng quên quá khứ. Câu thơ không trực tiếp bộc lộ cảm xúc nhưng sức ám ảnh vô cùng mạnh mẽ. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng như người dung qua đường trong hiện tại để diễn tả những thay đổi trong tình cảm con người. Hôm nay con người sống trong sự sung túc, bỏ lại sau lưng quá khứ, gắn bó ân tình giữa thiên nhiên bình dị và con người. Tưởng như con người ở đây tự đánh mất chính mình, đánh mất miền kí ức thăm thẳm có đau thương mất mát nhưng vô cùng gắn bó.
-Giữa con người với thiên nhiên, với vầng trăng là quan hệ chung sống, quan hệ thân tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện diện như là hình ảnh cùa quá khứ, là hiện thân của kí ức chan chứa nghĩa tình. Thế mà khi hòa bình lập lại, con người về chốn đô thành đã vội bội bạc với vầng trăng. Trăng vẫn thủy chung khiến lương tri con người thức tĩnh.
-Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam luôn có truyền thống chung thủy, nghĩa tình. Gần gũi với chúng ta hơn đó là cha mẹ. Ai ai cũng lớn lên qua những câu hát chứa chan tình thương của mẹ. Rồi chính cha là người dẫn dắt ta đi khắp nẻo đường đời. Tình thương của cha mẹ luôn là trời bể. Các thầy cô giáo là những người dạy dỗ chúng ta nên người. Thầy cô trang bị cho chúng ta những hành trang vững chắc nhất để vào đời, đó là kiến thức. Do đó, ai cũng rất yêu mến cha mẹ, kính trọng thầv cô, không quên công lao to lớn của họ đã giúp chúng ta khôn lớn. Vì thế, lối sống ân nghĩa thủy chung là bổn phận tất yếu, là đạo lý làm người, là một tình cảm đẹp đẹp xuất phát từ trong chính mỗi con người chúng ta.
c.Đánh giá:
-Đoạn thơ tái hiện thời quá khứ êm đềm cùa tác giả gắn liền với những không gian quen thuộc, đó là cánh đồng, dòng sông, biển cả. Lúc nhà thơ đi chiến đấu, trăng tiếp tục là người bạn tri kỉ. Khi đất nước thanh bình, nhà thơ chuyển không gian sinh sống đến chốn thành phố phồn hoa và vầng trăng đã bị mất dần theo kí ức.
– Ba khô thơ đâu là cái cớ khơi gợi cảm xúc, có ý nghĩa rât khái quát, sâu săc bởi lời nhan nhủ chân thành, là niềm tin về tình bạn, tình người bất diệt. Ánh trăng cũng chính là biểu tượng cho tình người để chúng ta điều chỉnh hành vi của mình, để sống tốt đẹp hơn.
Nguồn: thêm: Nhà văn lớn người Pháp, Mác-xen Pruts cho rằng: “Đối... biết đến”. Vận dụng phong cách nghệ thuật của một tác giả để phân tích và chứng minh ý kiến trên | Dàn ý Cảm nhận 3 khổ đầu bài thơ Ánh Trăng để thấy vẻ đẹp của tình nguời và ánh trăng | 1,601 | |
Dàn ý cảm nhận của anh chị về chi tiết bát cháo hành trong truyện Chí Phèo
Hướng dẫn
Mở bài:
Nam Cao là một nhà văn đi đầu trong chủ nghĩa hiện thực, những trang văn của ông thấm đẫm tinh thần nhân đạo và luôn ám ảnh day dứt giữa ranh giới của sự sống và cái chết. Chí Phèo là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người nông dân bị tha hóa bởi nhà tù thực dân phong kiến.
Lựa chọn những chi tiết nghệ thuật đặc sắc để làm nên ý nghĩa tác phẩm là phong cách nghệ thuật tiêu biểu của nhà văn. Với truyện ngắn Chí Phèo chi tiết bát cháo hành có thể xếp vào chi tiết đắc nhất chứa đựng tinh thần nhân đạo, nhân văn sâu sắc.
Thân bài:
Khái quát về bi kịch bị mất nhân hình lẫn nhân tính của Chí Phèo trước khi gặp Thị Nở và ăn bát cháo hành
Chí Phèo bị mất nhân hình:
+ Vừa chào đời Chí Phèo đã bị bỏ rơi ở lò gạch cũ và trở thành một đứa con hoang. Chí phải trải qua những năm tháng tuổi thơ khổ cực với kiếp sống toi mọi cho người ta.
+ Chí làm đầy tớ cho nhà Bá Kiến, bị Bá Kiến ghen tuông và đổ tội để rồi Chí đi tù thực dân trong 7, 8 năm trời.
+ Bước ra nhà tù là một Chí Phèo với ngoại hình ghê tởm: cái đầu cạo trọc, răng trắng hớn, mặt thì đen, hai mắt gườm gườm…Xem thêm: Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nhận của anh (chị) về tình cảm lão Hạc dành cho “cậu Vàng”
+ Cái nghề rạch mặt ăn vạ khiến khắp người hắn là những vết sẹo dài, sẹo ngắn.
Chí Phèo bị tha hóa nhân tính
+ Chí Phèo ra khỏi nhà tù và sống bằng nghề rạch mặt ăn vạ, hắn làm cho Bá Kiến để có chút tiền mua rượu.
+ Hắn phá phách, ức hiếp, rạch mặt, ăn vạ…đủ mọi trò của một tên quỹ dữ để đòi những món nợ cho Bá Kiến
+ Hắn luôn luôn say và chỉ giao tiếp với người đời bằng tiếng chửi.
Bát cháo hành
Sự xuất hiện: xuất hiện ở phần giữa truyện. Trong một lần say rượu hắn ngủ đi ngang vườn chuối để về căn chòi của hắn. Chí Phèo gặp Thị Nở đang nằm ngủ quên bên gốc chuối ăn mặc hớ hênh. Thế là hắn nhào vô bất chấp tiếng kêu la của Thị. Chính cái khung cảnh hữu tình của đêm trăng thanh, gió mát dưới liếp chuối đã mở đầu cho mối tình vỏn vẹn năm ngày của hắn và Thị.
Khi tỉnh lại, Chí Phèo ốm một trận, Thị thương hắn nên đã lẻn về nhà lấy ít gạo và hành nấu cho hắn bát cháo.
Ý nghĩa bát cháo đối với Chí Phèo
+ Là sự chăm sóc tận tâm của Thị dành cho Chí Phèo, nhờ có bát cháo Chí Phèo khỏi bệnh.
+ Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm cướp giật của người khác miếng ăn, Chí Phèo được một người đàn bà tử tế cho hắn. Đó là hương vị của tình yêu hay nói đúng hơn là tình người.Xem thêm: Từ một số bài ca dao than thân đã học hoặc đã đọc, hãy phát biểu cảm nghĩ của anh (chị) về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. (Yêu cầu lập dàn bài)
+ Không chỉ giải cảm cho Chí Phèo, bát cháo hành còn khiến Chí Phèo thức tỉnh sau cơn say dài của rượu. Hắn nhớ về ngày còn trẻ với những mơ ước giản dị. Hắn tỉnh và nhận ra mình cô đơn, so với già nua và bệnh tật, cô đơn còn đáng sợ hơn. Đó cũng là lần đầu hắn cảm nhận về cuộc sống xung quanh đáng quý, hắn muốn được sống hòa đồng với mọi người.
Bát cháo hành đánh thức phần người lương thiện của Chí Phèo, cùng với tình cảm chân thành của Thị Nở, bát cháo như cái nắm tay cứu Chí ra khỏi bờ vực của kiếp sống của quỹ.
Sự thúc đẩy của bát cháo hành đến bi kịch cuối cùng của Chí Phèo
+ Sau năm ngày yêu nhau, Thị Nở nhớ đến bà cô già và về thưa chuyện. Sau khi bị bà cô chửi mắng, Thị trở nên trút giận lên Chí Phèo và một lần nữa bỏ rơi Chí. Hắn chẳng còn cơ hội nào để quay về. Hắn uống rượu và nghe hơi cháo hành. Ban đầu hắn định xách dao đến đâm chết bà cô già của Nở nhưng hơi cháo hành không cho hắn mãi sống kiếp quỹ nữa. Hắn đến nhà Bà Kiến và giết Bá Kiến rồi tự tử. Cái chết với hắn là sự giải thoát tốt nhất để chấm dứt một kiếp người sinh ra là người nhưng bị khướt từ mọi quyền làm một con người.
Ý nghĩa nghệ thuật của bát cháo hành:
Xem thêm: Suy nghĩ về tuổi hai mươi- Văn 12
+ Chi tiết quan trọng trong việc thúc đẩy diễn biến câu chuyện cũng là mấu chốt để tâm lí, tính cách của nhân vật hiện ra.
+ Nổi bật tinh thần nhân đạo của tác phẩm: Nam Cao tin vào sức mạnh của tình người.
Kết bài:
Chi tiết nghệ thuật bát cháo hành là nỗi tâm sự của Nam Cao trước hiện thực xã hội nửa phong kiến thực dân qua đó tố cáo tội ác của thực dân phong kiến.
Chi tiết nghệ thuật này còn làm nên phong cách nghệ thuật và tư tưởng của một nhà văn hiện thực lớn của nước ta. | Dàn ý cảm nhận của anh chị về chi tiết bát cháo hành trong truyện Chí Phèo | 953 | |
Dàn ý kể chuyện tưởng tượng gặp Thánh Gióng và hỏi ngài ấy bí quyết vươn vai thành tráng sĩ
Hướng dẫn
Mở bài:
Từ bé đã thích thú khi nghe chuyện cổ tích kể về những nhân vật kì tài của đất nước, trong đó Thánh Gióng luôn là môt niềm ao ước cháy bỏng trong tôi về giấc mơ vươn vai thành tráng sĩ
Vào giờ học văn, tôi say mê tưởng tượng về Thánh Gióng và đêm hôm ấy, tôi đã nằm mơ gặp được ngài.
Thân bài:
Khung cảnh trước khi gặp Thánh Gióng
Choàng mở mắt thì thấy mình đang đứng trên một lối mòn xung quanh là ruộng lúa mênh mông, những ao đầm liên tiếp nối nhau
Nghe văng vẳng tiếng sáo tre từ phía trước, tôi bước theo âm thanh du dương ấy và đến một rừng tre.
Tả Thánh Gióng
Tôi ngỡ ngàng trước những cảnh quen thuộc như từng bắt gặp ở đâu cho đến khi thấy trước mắt là một chàng trai đang thổi sáo
Thấy bóng người lạ, chàng trai ngưng thổi sáo và tiến về phía tôi. Tôi nhận ra chính là Thánh Gióng trong truyền thuyết nên càng ngạc nhiên, vui mừng khôn tả.
Thánh Gióng mặc bộ trang phục của binh lính ngày xưa, dây thắt lưng nâu và tóc búi sau. Dáng vóc to lớn, khỏe khoắn với những cơ bắp cuồn cuộn, gương mặt chữ điền phúc hậu với đôi long mày đậm ra dáng một vị tướng tài.
Cuộc trò chuyện của em với Thánh Gióng
Hai người bắt đầu cuộc trò chuyện, Thánh Gióng thân mật, ân cần trò chuyện với tôi như biết tôi từ trước
Ban đầu tôi còn lo lắng và ngại nhừng như nhìn đôi mắt thân thiện của ngài ấy nên đã bày tỏ lòng mình và mong muốn được khỏe mạnh, tài giỏi.
Thánh Gióng tâm sự, chia sẻ bí quyết của ngài là phải thường xuyên luyện tập, trau dồi kĩ năng lãnh đạo quân lính…Ngài tận tình khuyên nhủ em phải học tập, rèn luyện đạo đức, trau dồi kĩ năng và phải sống có lí tưởng, kiên định vì lí tưởng, ước mơ chính đáng.
Em cảm ơn ngài, định hỏi thêm vài điều thắc mắc nhưng đã choàng tỉnh giấc vì tiếng đồng hồ báo thức.
Xem thêm: Em hãy tả lại vườn cây lưu niệm ở trường em
Kết bài:
Tôi rất vui khi được gặp Thánh Gióng dù chỉ trong mơ, một giấc mơ thú vị
Tôi tự nhủ sẽ làm theo những gì Thánh Gióng căn dặn. | Dàn ý kể chuyện tưởng tượng gặp Thánh Gióng và hỏi ngài ấy bí quyết vươn vai thành tráng sĩ | 418 | |
Dàn ý nghị luận xã hội về tính tự lập
Hướng dẫn
Lúc đi học, ta có thầy cô dìu dắt và sự chia sẻ của bạn bè. Khi vào đời ta có đồng nghiệp, đồng môn giúp đỡ. Nhưng không phải vì thể mà chúng ta quên đi không rèn luyện đức tính tự lập. Ví dụ, trong văn bản Cổng trường mở ra, nhà văn Lý Lan viết Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm lay con dắt qua cánh công, rồi buông tay mà nói: Đi đi con, hãy can đảm lên, thê giới này là của con,…
– Hình ảnh người mẹ buông tay mà không cầm tay con là nhằm giúp đứa con thơ rèn tính tự lập ngay từ buổi đầu đến trường. Vậy tự lập là gì? Tự lập có tác dụng như thế nào đối với đời sống của mỗi chúng ta?
Thân bài
– Tự lập là tự đứng một mình, không có sự giúp đỡ của người khác. Tự lập là tự mình làm lấy mọi việc, không dựa vào người khác. Người có tính tự lập là người biết tự lo liệu, tạo dựng cuộc sống cho mình mà không ỷ lại, phụ thuộc vào mọi người xung quanh.
– Tự lập là đức tính cần có đối với mỗi con người khi bước vào đời. Vì trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng có cha mẹ, người thân ở bên cạnh đế dìu dắt, giúp đỡ mỗi khi ta gặp khó khăn. Vì vậy, chúng ta cần phải tập tính tự lập để có thể tự lo liệu cho cuộc dời của mỗi người. Người có tính tự lập sẽ dễ đạt được thành công, được mọi người yêu mến, kính trọng.
– Tự lập là một đức tính cần phải rèn luyện từ nhỏ mới có được. Trong văn bản Cổng trường mở ra, người mẹ đã giúp con mình rèn luyện tính tự lập ngay từ buổi đầu đến trường. Việc mẹ buông tay là để con tự tin bước vào lóp học, con sẽ tự làm quen với bạn bè cùng với mái trường mến yêu.
Xem thêm: Viết đoạn văn bình luận về đóng góp to lớn của các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam
– Khi cắp sách tới trường, ta được thầy cô và bạn cùng lớp dạy tự tin trước đám đỏng, không rụt rè nhút nhát. Dạy cách tự mình làm những việc trong khả năng có thể, đừng bao giờ ngại khó, ngại khổ để rồi bỏ cuộc nửa chừng. Khi rèn luyện được tính tự lâp trong học tập, ta sẽ có thái độ chủ động, tích cực, có động cơ và mục đích học tập rõ ràng, đúng đắn. Từ đó nó sẽ giúp cho ta tìm được phương pháp học tập tốt. Kiến thức tiếp thu được vững chắc, bản lĩnh được nâng cao.
– Tự lập là một phẩm chất để khẳng định nhân cách, bản lĩnh và khả năng của một con người. Chỉ biết dựa dẫm vào người khác sẽ trở thành một gánh nặng cho người thân và cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa. Những người không có tính tự lập, cứ dựa vào người khác thì khó có được thành công thật sự.
– Tuy nhiên, tự lập không có nghĩa là tự tách mình ra khỏi cộng đồng. Có nhũng việc chúng ta phải biết đoàn kết và dựa vào đồng loại để tạo nên sức mạnh tổng hợp.
Kết bài
– Tự lập là một phẩm chất tốt đẹp của con người, tuy nhiên không phải tự nhiên sẵn có. Chúng ta cần phải rèn luyện khả năng tự lập một cách bền bỉ, đều đặn. Đe có thể tự lập, bản thân mồi người phải có sự nỗ lực, cố gắng và ý chí mạnh mẽ để vươn lên, vượt qua thử thách, khó khăn, để trau dồi, rèn luyện năng lực, phẩm chất.
– Nếu mọi người đều biết sống tự lập kết hợp với tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn và cuộc sống mỗi người sẽ được hạnh phúc hơn. Người có tính tự lập cũng là người có bản lĩnh, họ luôn đứng vững trong mọi hoàn cảnh dù cho dòng dời có đổi thay.
Nguồn: thêm: Cảm nghĩa về một người thân yêu nhất của anh (chị) | Dàn ý nghị luận xã hội về tính tự lập | 734 | |
Dàn ý phân tích bài văn Tụng giá hoàn kinh sư
Hướng dẫn
I. TÁC GIẢ
Trần Quang Khải (1241 – 1294) là thượng tướng, một trong những người có công lớn nhất trong cuộc kháng chiến (lần thứ 2 và thứ 3) đánh thắng giặc Nguyên – Mông. Học rộng, giỏi thơ văn, có tài thao lược và ngoại giao. Ông có tập thơ ‘Lạc Đạo’, nổi tiếng nhất là bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’.
II. XUẤT XỨ, CHỦ ĐỂ
Tháng 4-1285 Trần Nhật Duật chém đầu Toa Đô tại Hàm Tử quan. Tháng 6- 1285 Trần Quang Khải đại phá giặc Nguyên Mông tại Chương Dương độ, thừa thắng quân ta tiến lên giải phóng Kinh thành Thăng Long. Bài thơ ‘Tụng giá hoàn kinh sư’ được viết sau chiến thắng Chương Dương độ.
Bài thơ biểu lộ niềm tự hào, niềm vui thắng trận và nói lên khát vọng đem tài trí xây dựng đất nước thanh bình bền vững muôn đời.
III. PHÂN TÍCH
Bài thơ được viết theo thế thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Hai câu đầu bình đối như hai trang kí sự chiến trường. Vị ngữ ‘đoạt sáo’ (cướp giáo) và ‘cầm Hồ’ (bắt giặc Mông Cố) được đật ở đầu câu, thể hiện hai thế đánh, hai cú đánh liên tiếp giáng xuống đầu giặc với sức mạnh ‘Sát Thát’ của tướng sĩ đời Trần. Chương Dương độ và Hàm Tử quan, hai địa danh, hai chiến công đã được ghi vào sử sách và thơ ca dân tộc trở nên trường tồn, chói lọi:
Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân‘Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan’
Càu thơ như một bản tin chiến sự, có một sức nén và vang xa, dào dạt tự hào. Phải là người tham dự, chỉ huy trận đánh mới viết hàm súc và đĩnh đạc, hào hùng như vậy.
Hai câu cuối, xuất hiện một ý thơ mới. Trong khói lửa chiến trường, trong niềm vui chiến thắng giải phóng Kinh thành Thăng Long, trên đống tro tàn do lũ giặc gây ra, nhà thơ đã nghĩ đến nhiệm vụ mới:
‘Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san’
Trước mắt mọi người, từ vua tôi tướng sĩ đến trăm họ, toàn dân, ai ai cũng phải đem tài trí, sức lực của cải (trí lực) để xây dựng giang san đất nước bền vững trong thanh bình đến muôn đời. Nhãn quan chính trị của Trần Quang Khải vô cùng sáng suốt. Câu thơ trên có ý nghĩa thời sự mới mẻ đối với chúng ta hiện nay.
Tóm lại, ‘Tụng giá hoàn kinh sư’là bài thơ kiệt tác. Bản dịch của học giả Trần Trọng Kim rất đặc sắc.
Nguồn: | Dàn ý phân tích bài văn Tụng giá hoàn kinh sư | 456 | |
Dàn ý phân tích tác phẩm “Tuyên Ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh
Hướng dẫn
Mở bài:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác:
Tác giả: Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc VN, anh hùng cách mạng đồng thời là nhà văn hóa, hoạt động nghệ thuật lớn. Người đã để lại nhiều tác phẩm văn nghệ trong đó xuất sắc nhất vẫn là mảng văn chính luận giàu suy tư, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng hùng hồn, thuyết phục.
Tác phẩm: Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn tâm huyết của Hồ Chí Minh, hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Người, đồng thời đó cũng là khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc.
Hoàn cảnh sáng tác: 26-08-1945, Người từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, Bác đã soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.
Thân bài:
Giá trị nội dung
a. Nêu nguyên lí chung về quyền tự do, bình đẵng, bác ái của các nước trên thế giới
Hồ Chí Minh trích dẫn tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền Dân quyền của Pháp làm tiền đề cho lí luận tiếp theo”
Ý nghĩa của việc trích dẫn:
+ khẳng định quyền tự do độc lập là của mọi dân tộc chứ không riêng bất cứ quốc gia nào, đó là lẽ phải là chân lí.Xem thêm: Cách làm văn nghị luận lớp 12
+ Dùng cách “gậy ông đập lưng ông” để bác bỏ luận điệu dối trá của thực dân Pháp.
+ Một cách kín đáo về niềm tự hào dân tộc thông qua việc đặt ba nền độc lập của Mỹ và Pháp ngang với nền độc lập của Việt Nam.
+ Đi từ quyền bình đẳng tự do của con người, Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển thành quyền bình đẳng tự do của dân tộc, một đóng góp to lớn với lịch sử tư tưởng nhân loại và phong trào giải phòng dân tộc trên thế giới.
b. Đưa ra những dẫn chứng tố cáo tội ác của Pháp và làm rõ tình hình đất nước
Bác đưa ra những dẫn chứng để phản biện lại từng luận điệu giả dối của chúng:
Pháp rêu rao “khai hóa” Việt Nam: Người kể những tội ác mà Pháp đổ xuống đầu người dân Việt
Pháp rêu rao “bảo hộ” Đông Dương: Người chỉ ra Pháp đã dâng Đông Dương hai lần cho Nhật.
Pháp cho rằng Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng là thuộc địa của chúng thì Bác đã khẳng định chúng ta giành lấy độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp cho rằng mình thuộc phe Đồng minh, Bác đã khẳng định Pháp đã phản bội lại Đồng minh.
Bằng những dẫn chứng về tất cả các phương diện: chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục…Hồ Chí Minh đã vạch trần tội ác, sự giả dối, lố bịch và bản chất thực dân của Pháp.
Khẳng định dân tộc ta là dân tộc gan góc đã đứng về phe Đồng minh chống phát xít. Đồng thời cũng là dân tộc nhân đạo khi đối đãi tử tế với kẻ thua trận, dân tộc ra xứng đáng là dân tộc chính nghĩa, nhân đạo.
Xem thêm: Bình giảng khổ thơ kết thúc bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi sau đây: "Súng nổ rung trời giận dữ, Người lên như nước vỡ bờ. Nước Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy sáng lòa"
c. Lời tuyên bố trước thế giới về nền hòa bình
Việt Nam đã dũng cảm đấu tranh với phát xít, thực dân và chế độ phong kiến, dân tộc ta đã nhân đạo trong cách đối xử với quân bại trận Pháp, tất cả đều là những sự thật mà lịch sử đã ghi nhận => Một dân tộc kiên cường và bản lĩnh như thế chắc chắn sẽ đủ sức mạnh để làm chủ đất nước tự do.
Bản tuyên ngôn khẳng định chủ quyền thuộc về dân tộc Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp.
Kêu gọi toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân, kêu gọi thế giới công nhận quyền tự, đôc lập của chúng ta.
Nêu cao tinh thần quyết tâm bảo vệ nền hòa bình, độc lập của toàn dân Việt Nam.
Giá trị nghệ thuật
Tiêu biểu cho áng văn chính luận đanh thép, cô đọng, súc tích
Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục, kết cấu mạch lạc
Sử dụng ngôn ngữ vừa trang trọng vừa gần gũi có sức gợi cảm và tác động vào tâm tư, tình cảm của người nghe.
Kết bài:
Khẳng định lại giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập đồng thời nêu vị trí của nó trong nền văn học, lịch sử nước nhà
Tuyên ngôn Độc lập vừa có giá trị hiện thực, giá trị pháp lí cũng đồng thời mang giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là môt áng thiên cổ hùng văn của thời hiện đại.Xem thêm: Hãy viết một đoạn văn ngắn (3, 4 câu) kể về một lần em chăm sóc mẹ ốm | Dàn ý phân tích tác phẩm “Tuyên Ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh | 870 | |
Dàn ý suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương
Hướng dẫn
a. Đặt vấn đề: mở bài
– Nhà văn Nguyễn Dữ là một trong những cây bút văn xuôi xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Nguyễn Dữ sống trong giai đoạn chế độ phong kiến bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong, các cuộc chiến tranh phi nghĩa giữa các tập đoàn phong kiến kéo dài liên miên, gây đau khổ cho nhân dân.
– Vốn không đồng tình với chế độ phong kiến bất công, thối nát, ông đã thể hiện kín đáo tình cảm của mình qua tác phẩm Truyền kì mạn lục, gồm hai mươi truyện ngắn, trong đó tiêu biểu nhất là Chuyện người con gái Nam Xương. Nhân vật chính của truyện là Vũ Nương, người phụ nữ đẹp người đẹp nết nhưng phải chịu số phận đầy bi kịch.
b. Triển khai thân bài:
– Theo lời kể của nhà văn, Vũ Nương – nhân vật chính của truyện, là một người con gái thuỳ mị, nết na lại có tư dung tốt đẹp. Và những phẩm hạnh ấy đã được bộc lộ trong những hoàn cảnh khác nhau.
– Trong cuộc sống gia đình, Vũ Nương là người vợ hiền thục. Nàng lấy chồng là Trương Sinh, vốn là một người ít học, lại có tính đa nghi, phòng ngừa quá mức. Vì thế, nàng đã rất khéo léo, giữ cho gia đình luôn được trong ấm, ngoài êm. Ta thấy, Vũ Nương quả là một người vợ hiền, có ý thức giữ gìn hạnh phúc gia đình.
– Đất nước xảy ra nạn binh đao, Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương lại càng bộc lộ rõ hơn phẩm chất tốt đẹp của mình. Lời nói, lời dặn dò trong cảnh tiễn chồng của nàng đã khiến mọi người cảm động: Chàng đi chuyến này, thiếp chằng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chi xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Những lời nói ấy cho ta ta thấy, Vũ Nương là người không ham danh vọng mà luôn khao khát hạnh phúc gia đình. Không những thế, nàng còn hiểu, thông cảm cho nỗi vất vả gian lao của chồng: chỉ e việc quán khó liệu, thế giặc khôn lường, giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao… Thế rồi, nàng bày tỏ nồi nhớ nhung khôn xiết cùa người vợ yêu chồng thủy chung: nhìn trăng soi thành cũ, lại sữa soạn áo rét, già ngiĩời ai xa…
– Khi xa chồng, Vũ Nương luôn làm tròn bổn phận của người vợ hiền, dâu thảo. Nàng sinh con, quán xuyến công việc gia đinh, chăm sóc mẹ chồng đau ốm. Đặc biệt khi người mẹ mất, nàng đã lo ma chay chu đáo như với mẹ đẻ của mình. Qua lời trăng trối của bà mẹ trước lúc lâm nguy, tác giả đã gửi gắm tình cảm của mình đối với nhân vật Vũ Nương, khẳng định công lao, nhân cách của nàng đối với gia đình: Trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chăng phụ con, cũng như con không phụ mẹ.
– Vũ Nương tập trung những phẩm chất cao quý truyền thống cùa người phụ nữ Việt Nam. Nàng xứng đáng được hường cuộc sống hạnh phúc. Thế nhưng thực tế oan nghiệt đã đẩy nàng vào cảnh ngộ bất hạnh, éo le, oan khuất. Nàng vốn dĩ là một người phụ nữ rất mực thuỷ chung, vậy mà bây giờ đây lại bị nghi oan thất tiết. Chỉ vì lời nói vô tình ngây thơ của con trẻ mà Vũ Nương bị chồng ruồng rẫy, hắt hủi, đuổi đi, bị gán cho tội nhục nhã nhất đối với đức hạnh của người phụ nữ. Trương Sinh quả thực đã hồ đồ, cả ghen, không cho vợ được thanh minh. Những lời bênh vực của bà con hàng xóm cùng những lời phân trần giãi bày hết sức thê thảm không cứu được nàng thoát khỏi nỗi nhục nhã, vì mất danh dự. Vũ Nương hết lòng hàn gan hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ bằng những lời than thấu tận trời xanh: Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phan tìmg đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưa hề bén gót.
Xem thêm: Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang xuân
– Thế nhưng, lời lẽ không làm lung lay được thói độc đoán, gia trưởng hồ đồ của người chồng có máu ghen tuông mù quáng. Vũ Nương đã phải đau đón, thất vọng đến tột cùng vì bị đổi xử bất công, vì bất lực không có khả năng bảo vệ danh dự, niềm khát khao hạnh phúc gia đình bị tan vỡ: Nay đã bình rơi trám gãy, mảy tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước giỏ… đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa. Lời nguyền thảm thưong của Vũ Nưcmg không giúp nàng thoát khỏi án oan nghiệt ngã. Là một người phụ nữ có ý thức sâu sắc về phẩm giá, Vũ Nương đã quyết liệt tìm đến cái chết để bảo toàn danh dự chứ không chịu sống nhục. Nàng đã gieo mình xuống sông, kết thúc cuộc đời người bất hạnh.
– Bằng cách xây dựng tình tiết truyện đặc sắc đầy kịch tính, tác giả đã cho ta thấy những cố gắng hết sức nhưng không thành của Vũ Nương, để rồi nàng phải chấp nhận số phận và phải giải thoát bi kịch của cuộc đời mình bằng cái chết oan khuất. Vũ Nưcmg chết đã đẩy câu chuyện lên đến đỉnh điểm của sự việc.
– Khi Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ cũng bằng sự việc hết sức ngẫu nhiên mà họp lí. Đó là khi bé Đản chỉ cho Trương Sinh cái bóng trên tường chính là cha của mình. Điều đó có ý nghĩa tố cáo vô cùng mạnh mẽ đối với chế độ phong kiến, chỉ một cái bóng cũng có thể quyết định số phận một con người, đẩy người phụ nữ nết na bất hạnh vào bi kịch không lối thoát. Ngoài ra, nhà văn còn tố cáo chiến tranh phi nghĩa. Chiến tranh đã đem đến sự chết chóc, tang thương, cha mẹ phải xa con, vợ xa chồng.
– Đọc truyện, ta thấy cái mất mát, cái đau thương của Vũ Nương quá lớn: người mẹ đáng thương phải xa đứa con thơ dại, người vợ hiền hậu phải mãi mãi xa lìa người chồng mà nàng đã nguyện suốt đời thủy chung. Câu chuyện có thể khép lại khi Trương Sinh thấu hiểu mọi việc. Nhưng tác giả thêm thắt vào chi tiết Vũ Nương dưới thủy cung nhằm làm tô đậm hon tính cách và tâm hồn nàng. Dù đã chết, được thần linh chứng giám và sống trong vòng tay ân đức của Linh Phi nhưng nàng vẫn cảm thấy day dứt, đau khổ vì nỗi oan thất tiết. Tuy khao khát hạnh phúc, thương yêu chồng con, thiết tha với cuộc sống trần thế nhưng khi chồng lập đàn giải oan thì nàng vẫn từ chối cuộc sống nơi trần gian vì xã hội đó thiếu cái ân đức không có chỗ cho những người lương thiện dung thân.
– Hình tượng nhân vật Vũ Nương cũng là một hình ảnh tiêu biểu cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia. Họ là những người mẹ, người chị đảm đang, hiếu thảo, chung thủy nhưng lại có số phận nhỏ nhoi, đầy bi kịch thương tâm trong xã hội cũ.
– Trong cuộc sống gia đình, phụ nữ đóng một vai trò rất quan trọng. Họ chính là những người thầy, người mẹ chăm sóc, nuôi dạy con cái một cách tận tình và chu đáo nhất. Người mẹ ấy dạy cho trẻ những tiếng nói bập bẹ đầu tiên trong đời, và nhân cách của trẻ sẽ được hình thành từ đây. Một người thầy tốt luôn tìm những điều hay lẽ phải để dạy dỗ, khuyên răn con cái của mình. Bởi lẽ, khi mới được sinh ra, mỗi một đứa trẻ chỉ như tờ giấy trắng, không có một vết dơ nào quấy bẩn lên nó, mà chính những người mẹ sẽ hình thành nên nhân cách của trẻ. Mẹ là bầu sữa ngọt ngào đối với mỗi người con và dìu dắt nuôi dạy họ cho đến khi trưởng thành…Chính điều này nam giới không thể so sánh và thay thế được. Do đó, một lần nữa, vai trò của người phụ nữ lại càng được coi trọng.
c. Đánh giá kết bài:
– Qua việc xây dựng bi kịch của nhân vật Vũ Nương, Nguyễn Dữ đã bày tỏ thái độ xót xa, lòng thương cảm cùng niềm trân trọng của mình đối với người phụ nữ. Vũ Nương đại diện cho nhũng người phụ nữ nết na nhưng gặp nhiều nỗi bất hạnh trong cuộc sống của xã hội cũ.
– Nhân vật in dấu sâu đậm vào trái tim người đọc, khiến ta mãi day dứt, xót xa, trào dâng niềm thương cảm nghẹn ngào. Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng dư âm về sự bất bình, căm ghét xã hội phong kiến bất lương, vô nhân đạo thì còn mãi. Có lẽ vì thế mà chúng ta càng yêu mến, trân trọng xã hội tốt đẹp mà ninh đang sống ngày hôm nay.
Nguồn: thêm: Phân tích quá trình diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong cảnh đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) | Dàn ý suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương | 1,669 | |
Dàn ý tưởng tượng mình bị mắc lỗi và bị biến thành con mèo trong 3 ngày
Hướng dẫn
Mở bài:
Nguyên nhân em bị biến thành con mèo
nói dối mẹ, vi phạm luật giao thông, xem trộm nhật kí của bạn bè, không vâng thời thầy cô, ghét mèo và thường xuyên đánh mèo.
-> Chẳng hiểu sao tôi lại thích chó và ghét mèo đến thế. Chắc có lẽ vì hồi tôi học lớp một, bị một con mèo hoang cắn chảy máu cả chân nên từ đó tôi rất sợ và ghét bỏ loài vật hay kêu meo meo và thích nhõng nhẽo này. Hôm đó, chú tôi đem một con mèo lông đen tuyền đến gửi nhà tôi, cái con vật đáng ghét ấy đã ăn mất cả túi xúc xích của tôi, tôi đi học về và lấy chân hất mèo ta rất xa, khiến chú ấy va phải tường nhà và kêu đau đớn. Tôi có xót một chút nhưng mặc kệ, không ngờ tối hôm ấy tôi bị biến thành mèo trong suốt ba ngày.
Thân bài:
Tâm trạng sau khi thức dậy và thấy mình đang trong thân xác của một con mèo mun đen
+ Hoang mang, không tin vài mắt mình
+ Lo lắng, hoảng sợ nghĩ mình đang nằm mơ
+ Mọi thứ đều khác lạ khiến tôi muốn khóc òa với mẹ, tôi gọi mẹ nhưng mẹ không trả lời, tôi đến phòng tìm ba mà ba vẫn không nhận ra tôi, tôi cố hết sức thét lên chỉ có những con thằn lằn, chuột và dế là để ý đến.Xem thêm: Kể lại chuyện Cây bút thần theo lời kể của em
Những điều thú vị khi biến thành mèo
+ Sau một hồi quay cuồng trong lo sợ, tôi chấn tỉnh và tìm ra điều thú vị trong thân xác một con mèo
+ Tôi không cần đi học vào buổi sáng, không cần làm bài tập và phải ăn uống đúng giờ, không cần dắt con chó già Lucky ra ngoài chơi vào sáng sớm…
+ Mọi thứ trong mắt tôi trở nên to lớn hơn và đâu đâu cũng mang hình những con cá tươi ngon của mẹ trong tủ lạnh.
+ Tôi có thể leo trèo, phá phách và ăn xúc xích món tôi yêu thích nhất khi còn là con người
+ Tôi trở thành một vị mèo chúa tể khu vực vì thân hình chắc khỏe, nhanh nhẹn lại thêm trí thông minh của con người, đều mà tôi luôn khao khát khi còn đi học.
+ Những con vật như chuột, dán, dế, cả con cún nhà hàng xóm cũng nể sợ tôi.
Những bất lợi, khó khăn
+ được một ngày thoải mái, tôi bỗng nhớ các bạn, muốn được đi học, muốn được ngủ trên chiếc giường ấm của tôi, tôi bắt đầu sợ cảm giác người thân của mình không nhận ra mình.
+ Nếu loài mèo là khắc tinh của lũ chuột thì lũ chó đáng ghét lại là kẻ thù khiến tôi chạy trốn
+ Tôi len lỏi đi tìm thức ăn trong đem tối và gặp con chó già của nhà mình, nó không nhận ra tôi nên cắn tôi rất đau. Tôi chạy đi thật xa và lạc đường, tôi sống lay lắt trong những góc chợ dơ bẩn, chuột dán nhiều và không dám ra ngoài vì sợ chó.Xem thêm: Vẻ đẹp của trang nam nhi thời Trần qua bài thơ Tỏ lòng
+ Tôi bị con người bẫy bằng mồi ngon và suýt chết vì rơi vào tay họ.
+ Bị một đứa bé chạc tuổi tôi dụ thức ăn ngon rồi lại dùng cây đánh tôi.
Hối hận, sợ hãi
Kết bài:
Sau ba ngày biến thành mèo, tôi thấm thía những khó khăn mà lũ mèo phải đối mặt và thấy thương chúng hơn. Tôi nhận ra bài học ý nghĩa cho cuộc sống của mình. | Dàn ý tưởng tượng mình bị mắc lỗi và bị biến thành con mèo trong 3 ngày | 642 | |
Dàn ý tả ông nội của em
Hướng dẫn
Mở bài
– Giới thiệu về ông nội của em:
+ Mở bài trực tiếp: Ông nội của em tên là Nguyễn Xuân Vinh, ở trong nhà ông nội là người yêu thương em nhất.
+ Mở bài gián tiếp: Kỳ nghĩ hè vừa rồi em được ba mẹ cho về quê nội chơi. Ở nhà nội em ai cũng yêu quý em, đặc biệt là ông nội của em rất thương yêu và lo lắng chăm sóc cho em
Thân bài
– Tả dáng vẻ bên ngoài của ông nội: Ông nội em năm nay đã 60 tuổi nhưng trông vẫn còn rất trẻ. Sáng nào ông cũng dẫn em đi tập thể dục ở công viên gần nhà, ông bảo tập thể dục để giữ gìn sức khỏe giúp trẻ hóa cơ thể.
– Tả phần đầu: Tóc của ông nội em đã xuất hiện tóc bạc. Nội bảo ở người già gọi đó là tóc hoa râm nhìn rất đẹp, còn nếu thanh niên thì gọi là nhuộm highlight.
+ Trán và hai bên má của nội đã xuất hiện những nếp nhăn, khi ông nội cười thì có thêm những vết chân chim ở 2 bên mắt.
+ Tả 2 con mắt: Năm nay nội đã già nên ánh mắt của nội không còn tinh lanh nữa mà thay vào đó có màu xám mờ. Nhưng ánh mắt của ông nội rất hiền từ.
– Tả tay chân: Nội em thường tập thể dục nên tuy già nhưng rất khỏe mạnh cứng cáp, nội thường bồng em rồi để lên vai cõng đi chơi khắp xóm.
– Tả tích cách và hoạt động
+ Hàng ngày ông nội thức dậy khá sớm, 4h sáng là nội đã thức dậy pha trà uống nước. Sau đó 5h30 là nội thức em dậy cùng đi tập thể dục.
+ Ông nội rất thích nuôi chim và trồng bonsai. Ở trong nhà ông nuôi nào là Chích chòe, Chào mào, Vẹt… chúng hót cả ngày rất vui. Đặc biệt mỗi lần ông cho mấy chú chim đi tắm và phơi nắng buổi sáng là chúng hót rất nhiều. Trong vườn ông nội trồng rất nhiều hoa đẹp. Đi tập thể dục về là nội cùng em kéo vòi nước đi tưới cây trong vườn.
+ Ông nội của em rất hiền nên hàng xóm ai cũng quý mến ông. Những nhà hàng xóm có việc gì cũng đều mời ông nội của em qua.
+ Mỗi buổi chiều nội thường dẫn em ra bờ sông trước nhà câu cá, sau đó về là nội sẽ nấu canh những con cá câu được cho em ăn. Nên em rất thích được đi câu cá cùng ông.
Kết bài
– Nếu cảm nghĩ về ông nội: Em rất quý ông nội của em, em mong ông luôn khỏe mạnh để chơi cùng với em
– Em sẽ cố gắng học thật giỏi đề hè sang năm ba mẹ tiếp tục cho em về quê chơi với nội.
Nguồn: thêm: Em hãy kể lại một kỷ niệm đẹp và đáng nhớ của mình hồi ở trường tiểu học | Dàn ý tả ông nội của em | 515 | |
Chí Phèo là một nhân vật điển hình cho những người nông dân có cuộc sống nghèo khổ trong xã hội cũ. Cuộc đời Chí đã phải trải qua quá nhiều tấn bi kịch và rồi phải tự kết liễu cuộc đời để tự giải thoát cho mình. Phân tích nhân vật Chí Phèo sẽ giúp các em hiểu rõ được những bi kịch mà Chí phải trải qua.
Trước khi bước vài bài làm phân tích nhân vật Chí Phèo, Kho tàng văn mẫu sẽ hướng dẫn các em lập dàn ý phân tích nhân vật Chí Phèo để thấy được những ý chính cần phải có trong bài.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Chí Phèo
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo.
– Giới thiệu về nhân vật Chí Phèo.
– Chí Phèo đã tái hiện lại được hình ảnh của những người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Họ bị xã hội phong kiến đẩy vào con đường bần cùng hóa.
2. Thân bài phân tích nhân vật Chí Phèo
Chí Phèo là người nông dân lương thiện
– Chí sinh ra đã mồ côi, sống vất vưởng.
– Chí được miêu tả là người hiền như cục đất. Chí đi làm thuê cho nhà bá Kiến nhưng rất chăm chỉ, chịu khó.
– Chí có lòng tự trọng và có mong ước bình dị như bao người khác.
Chí Phèo trở thành một tên lưu manh, một con quỷ dữ của làng Vũ Đại
– Chí bị bá Kiến vu oan và phải ngồi tù.
– Chí bị nhà tù làm cho tha hóa và mất nhân tính.
– Chí trở thành sản phẩm của tình trạng áp bức của nông thôn trước Cách mạng tháng Tám.
Bi kịch là người mà không được là người của Chí
– Phần người trong Chí chỉ thức tỉnh khi Chí gặp Thị Nở.
– Chí khát khao được sống, được làm người lương thiện.
– Khi Thị Nở bỏ Chí lại, Chí đau đớn nhận ra mình bị từ chối quyền làm người.
– Chí giết chết bá Kiến để trả thù rồi tự kết liễu đời mình.
Đánh giá
– Nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện hấp dẫn, xây dựng hình tượng nhân vật độc đáo.Xem thêm: Phân tích nhân vật người lái đò trong Người đò sông Đà của Nguyễn Tuân. So sánh nhân vật người lái đò với nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù) dể thấy chỗ thống nhất và khác biệt trong cách tiếp cận con người của ông trước và sau Cách mạng tháng Tám
– Nội dung: tác phẩm mang cả giá trị hiện thực và nhân đạo. Qua đây vạch trần được tội ác của bọn thực dân phong kiến chỉ ra tầm quan trọng của tình người.
3. Kết luận
– Nêu cảm nghĩ của em về nhân vật Chí Phèo
Bài viết liên quan:
>> Phân tích tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài làm phân tích nhân vật Chí Phèo
Nhà văn Nam Cao là một tác giả hiện thực của văn học Việt Nam. Những sáng tác của ông bao giờ cũng để lại trong lòng người đọc những xúc cảm to lớn về phận người, kiếp người trong xã hội cũ. Nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của ông cũng là một nhân vật khiến nhiều người phải suy ngẫm. Tại sao con người ta lại phải chịu quá nhiều nỗi bất hạnh đến như vậy? Phải chăng ở Chí Phèo hội tụ tất cả những nỗi khổ đau mà người nông dân trước Cách mạng tháng Tám phải gánh chịu?
Vốn dĩ, Chí Phèo là một người nông dân hiền lành và lương thiện. Cuộc đời của Chí lúc đầu cũng đã phải trải qua những đau khổ nhất định chẳng hạn như sinh ra đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ, lớn lên không nơi nương tựa, sống vất vưởng qua ngày. Khi đi làm thuê cho nhà Bá Kiến, Chí vẫn dùng hết sức lực của mình để chăm chỉ làm lụng, hy vọng dành dụm được chút ít sau này lấy vợ. Cũng như bao nhiêu thanh niên khác Chí có ước mơ. Mơ ước của Chí đơn giản thôi, đó là một gia đình ấm êm và hạnh phúc. Nơi ấy có người vợ tần tảo, có tiếng cười của trẻ thơ. Mặc dù nghèo khó nhưng Chí cũng có lòng tự trọng. Chí hiểu tình yêu là gì. Chính vì vậy mà khi bà ba của bá Kiến bắt Chí bóp chân, Chí cảm thấy nhục. Đó là cái nhục của một thanh niên có suy nghĩ, có chính kiến. Nhưng phận làm tôi tớ, Chí không dám cãi lời.Xem thêm: Chép lại chính xác bài thơ “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến. Phân tích vẻ đẹp trong hai câu thơ sau: "Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”
Phân tích nhân vật Chí Phèo
Cũng chính vì cam chịu phận tôi tớ nên Chí cuối cùng đã trở thành một tên lưu manh, một con quỷ dữ bị cả làng Vũ Đại khinh ghét. Vì bị bá Kiến ghen tuông nghi ngờ nên Chí Phèo đã bị vu oan. Chí phải đi ngồi tù trong cái nhà tù thực dân chỉ toàn những kẻ đầu trộm đuôi cướp. Như các cụ xưa đã dạy, gần mực thì đen, Chí sớm bị xã hội tù lao làm cho thay đổi. Cái bản chất lương thiện trong con người của Chí dần biến mất, nhường chỗ cho sự tha hóa cả về nhân hình lẫn nhân tính. Trong cái xã hội đương thời ấy, Chí Phèo là một hiện tượng có tính quy luật. Chí Phèo là sản phẩm của tình trạng đè nén và áp bức của nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Chí ra tù với bộ bộ mặt đầy những vết sẹo. Chí Phèo trở thành tay sai của Bá Kiến. Thật đáng thương thay.
Cuộc đời Chí là một chuỗi những bi kịch và dường như nó sẽ kéo dài mãi không thôi. Khi Thị Nở đến, Thị Nở như đánh thức được phần người bấy lâu nay ngủ quên trong Chí. Chí đã bắt đầu thức tỉnh và lại bắt đầu khao khát có được một cuộc sống lương thiện, khao khát được trở về với cuộc sống đời thường như trước đây, được tiếp tục nuôi lớn ước mơ về một gia đình hạnh phúc. Chi tiết cho người đọc thấy rõ sự thức tỉnh trong con người Chí đó chính là Chí nhận ra được những âm thanh của cuộc sống đời thường, Chí nhận ra là mình cũng đã già rồi.
Những tưởng cuộc đời Chí từ đây sẽ rẽ sang một hướng khác tốt đẹp hơn thì bi kịch một lần nữa ập tới. Đó là khi Thị Nở rời bỏ Chí vì nghe theo lời khuyên của bà cô. Nhân vật bà cô mà Nam Cao xây dựng chính là đại diện cho rào cản xã hội. Tiếng nói của bà cô chính là tiếng nói đại diện cho thành kiến của xã hội đương thời. Một lần nữa, Chí bị rơi vào trạng thái đau đớn đến tuyệt vọng. Vì đã tỉnh, đã nhận ra cuộc đời mình phải trải qua một chuỗi quá nhiều bi kịch và đớn đau, Chí không thể tiếp tục cuộc sống được nữa.Xem thêm: Thuyết minh về những tác hại của thuốc lá đối với đời sống con người
Trong sự bế tắc, đôi chân của Chí tìm đến nhà bá Kiến, tìm đến kẻ đã đẩy mình vào tất cả những chuỗi bi kịch kia. Chí đã giết Bá Kiến để trả thù cho cuộc đời. Và rồi, Chí tự kết liễu mạng sống của chính mình bởi vì lúc này sự sống chỉ khiến Chí cảm thấy đau đớn hơn mà thôi.
Nhà văn Nam Cao đã xây dựng được tình huống truyện rất độc đáo và vô cùng hợp lý. Mỗi một tình huống lại kéo theo một sự thay đổi trong cuộc đời của Chí Phèo. Qua đây, nhà văn cũng khắc họa nhân vật một cách độc đáo. Ở Chí Phèo hội tụ toàn bộ bi kịch của xã hội mà bi kịch lớn nhất chính là bị tước đi quyền làm người. Tác phẩm đã thể hiện được rõ nét giá trị hiện thực cũng như giá trị nhân đạo mới mẻ. Đồng thời, Nam Cao vạch trần được tội ác của bọn thực dân phong kiến. Một điểm nữa, nhà văn cũng đã làm nổi bật được tầm quan trọng của tình người trong cuộc sống.
Nhân vật Chí Phèo đã trở thành nhân vật điển hình cho người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Qua nhân vật và qua tác phẩm này, nhà văn Nam Cao đã khẳng định được tên tuổi của mình trong nền văn học Việt Nam.
Trên đây là bài làm và dàn ý phân tích nhân vật Chí Phèo mà Kho tàng văn mẫu đã biên soạn. Với tài liệu này hy vọng các em có thể tự tin làm bài văn phân tích nhân vật Chí Phèo của riêng mình.
Thu Thủy | Dàn ý và bài làm phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao | 1,572 | |
Nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ là một cô gái xinh đẹp nhưng phải sống kiếp con dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Cuộc đời của Mị phải chịu nhiều bất hạnh, nhiều lần Mị muốn tìm đến cái chết. Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ sẽ giúp các em có cái nhìn tổng quan về nhân vật này.
Trước khi bước vào phân tích nhân vật này, các em cần biết cách lập dàn ý phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ. Dàn ý này là cực kì quan trọng quyết định lớn đến thành công của bài văn.
I. Lập dàn ý phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
1. Mở bài
– Nhà văn Tô Hoài khá thành công với các sáng tác đề tài miền núi.
– Vợ chồng A Phủ được nhà văn sáng tác khi đi thực tế tại Tây Bắc.
– Nhân vật Mị được Tô Hoài miêu tả chi tiết từ ngoại hình cho đến nội tâm bên trong.
2. Thân bài phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
Về ngoại hình
– Mị được miêu tả có ngoại hình xinh đẹp. Với ngoại hình này Mị được nhiều chàng trai để ý và cô cũng xứng đáng có được một cuộc sống hạnh phúc.
Về số phận
– Mị sớm mồ côi mẹ, sống với cha già yếu. Gia đình Mị nợ nần từ lúc cha mẹ Mị lấy nhau đến khi mẹ Mị qua đời vẫn chưa trả hết nợ. Mị đến tuổi cập kê phải đi làm con dâu để trả nợ giúp cha mẹ.
– Những ngày tháng làm dâu nhà thống lí Pá Tra Mị bị đầy ải cả về thể xác lẫn tinh thần.
+ Về thể xác: Mị làm việc như một con trâu, con người, quần quật không ngơi tay. Nếu không vừa ý, Mị sẽ bị đánh đập.
+ Về tinh thần: Mị giống mà như bị giam cầm, nhiều lần muốn tìm đến cái chết rồi lại chấp nhận an phận vì lo cho cha già. Mị lúc nào cũng lầm lũi, không cười, không nói.
Về phẩm chất
– Mị là cô gái có nhiều tài lẻ, đặc biệt là tài thổi sáo.Xem thêm: Phân tích bài ca dao Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng
– Mị trước đây luôn yêu đời, yêu tự do. Mị từng có một mối tình đẹp.
– Mị chăm chỉ lao động, phụng dưỡng cha. Mị biết làm nương ngô và sẵn sàng làm nương ngô để trả nợ cho cha.
– Mị là cô gái có sức sống tiềm tàng.
+ Mị nhiều lần muốn ăn lá ngón để tự tử, kết thúc cuộc sống như địa ngục này.
+ Trong đêm tình mùa xuân, khát vọng tự do và yêu đương một lần nữa trỗi dậy khiến Mị muốn được giải thoát ra ngoài.
Đánh giá
– Tô Hoài đã sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật độc đáo nhằm khắc họa được nhân vật.
– Ngôn ngữ trong tác phẩm sinh động.
– Các chi tiết trong truyện giàu sức gợi.
3. Kết luận
– Nhân vật Mị đại diện cho những con người miền núi sống dưới ách thống trị của phong kiến miền núi nhưng ẩn sâu bên trong là sức sống tiềm tàng, chỉ cần có cơ hội là nó sẽ bùng cháy.
Bài viết liên quan:
>> Phân tích nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ (Có dàn ý chi tiết)
>> Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (Có dàn ý chi tiết)
II. Bài văn phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
Nhà văn Tô Hoài là một cây bút xuất sắc với nhiều tác phẩm ấn tượng. Ông được người đọc biết đến nhiều thông qua Dế mèn phiêu lưu ký và Vợ chồng A Phủ. Tác phẩm Vợ chồng A Phủ chính là kết quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc. Chính vì có sự trải nghiệm thực tế của tác giả nên nội dung câu chuyện chân thực và rất sống động. Đặc biệt trong tác phẩm này, nhân vật Mị được khắc họa rõ nét cả về ngoại hình vẫn nội tâm.
Mị vốn sinh ra trong một gia đình nghèo. Cha mẹ Mị từ ngày cưới nhau, không có tiền nên phải vay mượn của người giàu. Cho đến khi mẹ của Mị qua đời, gia đình Mị vẫn chưa thể trả được hết nợ. Chính vì vậy mà Mị phải đi làm con dâu gạt nợ để trả nợ thay cho cha mẹ. Mị vốn là cô gái có ngoại hình xinh đẹp. Mị còn có tài thổi sáo rất hay. Mị được nhiều chàng trai để ý. Mị có một tình yêu đẹp. Không những vậy, Mị còn biết làm nương ngô. Tất cả những điều ấy cho thấy Mị xứng đáng có được một cuộc sống êm đềm và hạnh phúc. Nhưng nhà nghèo, Mị không có quyền lựa chọn. Mị đã xin cha cho làm nương ngô để trả nợ mà không được. Mị vẫn bị bán cho nhà giàu. Việc làm con dâu cho nhà giàu có không hè khiến Mị được hạnh phúc. Mị vẫn còn đang khao khát tự do và hơn hết, ở nhà thống lí, Mị bị đối xử chẳng khác nào kẻ hầu người hạ, đối xử tàn nhẫn như một con gia súc trong nhà, bị đánh đập, mắng chửi không thương tiếc.Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Mỵ trong tác phẩm ‘Vợ chồng A Phủ’- Văn 12
Phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ
Mở đầu tác phẩm Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài đã miêu tả Mị lầm lũi, không cười, không nói. Những lời miêu tả ấy khiến cho người đọc phải chú ý vào nhân vật này nhiều hơn. Sở dĩ Mị thành ra như vậy cũng là vì cuộc sống không khác địa ngục nơi đây. Nhà có cao, cửa có rộng nhưng tình người hoàn toàn không có. Một cô gái vốn yêu cuộc sống tự do như Mị thì làm sao có thể chịu nổi. Chính bởi vậy mà trong những ngày đầu về làm dâu gạt nợ Mị đã nhiều lần muốn chết. Mị đi tìm lá ngón để tự tử nhưng rồi Mị lại nghĩ nếu Mị chết đi rồi thì nợ chưa trả được, người ta sẽ lại đến làm khổ cha của Mị. Nghĩ thương cha, Mị đã chấp nhận cuộc sống cơ cực nơi nhà thống lí. Mị sống lâu trong cái khổ cũng dần quen. Mị làm việc như một cái máy, hoàn toàn không có hồn. Tuy nhiên, ẩn sâu bên trong con người của Mị vẫn là một người có sức sống tiềm tàng.
Trong đêm tình mùa xuân, những thanh âm và sắc màu cuộc sống như vẫy gọi Mị. Nó khiến cho Mị khao khát được ra ngoài và hòa mình vào với cuộc sống tự do ngoài kia. Mị nhận thức được rằng mình còn trẻ, mình còn muốn được đi chơi, muốn được yêu đương. Trong đầu Mị vang lên tiếng sáo gọi bạn tình. Lần đầu tiên sau chuỗi ngày câm lặng Mị đã hát. Mị tìm đến rượu để quên đi thực tại đau buồn. Mị chìm vào trong những kí ức tươi đẹp của quá khứ. Cứ như vậy, Mị say, Mị quên hết những gì đang diễn ra xung quanh. Trước mắt của Mị chỉ có một Hồng Ngài đang vào xuân, có tiếng sáo, tiếng lũ trẻ đùa vui nghịch ngợm. Đôi chân Mị toan vùng bỏ chạy để thoát khỏi cuộc sống này thì bị A Sử bắt gặp. Mặc cho A Sử chửi bới, Mị không nghe thấy gì hết, tâm trí của Mị còn đang đi lạc trong quá khứ. A Sử trói Mị lại, Mị cũng không thấy đau. Thân xác Mị không đau bằng tinh thần của Mị. Thế cho nên A Sử có thể trói thể xác Mị chứ không trói được tinh thần của Mị. Đoạn văn miêu tả diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân đã thể hiện rõ sức sống tiềm tàng trong con người của Mị.Xem thêm: "Ông già và Biển cả" là một bản anh hùng ca ca ngợi tư thế ngạo nghễ hào hùng của con người trên thế giới này. Hãy phân tích đoạn trích "Đương đầu với đàn cá dữ" để làm nổi bật tinh thần đó
Thông qua cách miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật, Tô Hoài đã khắc họa rõ nét chân dung nhân vật Mị. Người đọc vừa thương lại vừa yêu mến Mị nhiều hơn. Chính sức sống ẩn sâu bên trong Mị đã khiến cho Mị có hành động cởi trói cho A Phủ sau này. Mị đã đại diện cho những con người miền núi xưa kia. Họ phải sống dưới ách áp bức của bọn phong kiến miền núi khiến cho cuộc đời lâm vào cảnh lầm than.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau lập dàn ý và phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ. Trong bài viết của mình các em nên đưa thêm vào nhiều dẫn chứng để cho bài viết được sinh động hơn.
Thu Thủy | Dàn ý và bài làm phân tích nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ | 1,572 | |
Dân gian ta có câu: “Không thầy đố mày làm nên” nhưng đồng thời lại nhắc nhở chúng ta: “Học thầy không tày học bạn”. Em hiểu những câu nói trên như thế nào
Gợi ý
Với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, dân gian Việt Nam rất coi trọng vai trò của người thầy trong sự nghiệp giáo dục. Bởi vậy có câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”. Song dân gian cũng lại có câu “Học thầy không tày học”. Vậy hai câu tục ngữ này có mâu thuẫn với nhậu không? Ta cần hiểu vấn đề này như thế nào?
Kho tàng tục ngữ Việt Nam là phương tiện chuyển tải những kinh nghiệm qúy giá của nhân dân về những vấn đề tự nhiên, xã hội. Do hình thức ngắn gọn, hàm súc nên tục ngữ chỉ đề cập đến những vấn đề cốt lõi, cơ bản mà không mở rộng, bàn luận, nhận xét. Bởi vậy, có khá nhiều cặp tục ngữ luôn tồn tại song song với nhau tưởng như đối lập nhau nhưng thực chất là bổ sung cho nhau về ý nghĩa. Hai câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên” và “Học thầy không tày học” cũng nằm trong số đó.
Câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên” có tính chất tuyệt đối hóa vai trò của người thầy trong việc học tập của con người. Xưa, các phương tiện thông tin đại chúng rất hạn chế, việc đi lại giao lưu cũng không phổ biến. Bởi vậy, người thầy chính là nguồn cung cấp tri thức chủ yếu cho học trò. Thầy dạy trò đọc sách, thầy dạy trò cách cư xử hàng ngày,… không có thầy, trò không biết và không làm được điều gì trong cuộc sống. Vậy là trong việc học tập của học trò hàng ngày, người thầy đóng vại trò chủ đạo.Xem thêm: Ít lâu nay, một số bạn trong lớp em có phần lơ là học tập. Em hãy viết một bài văn để thuyết phục bạn: Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích
Nhưng nếu như câu tục ngữ trên tuyệt đối hóa vai trò của người thầy thì câu sau lại tuyệt đối hóa vai trò của người bạn trong việc học tập: “Học thầy không tày học bạn”. Trong thực tế, ngoài việc học thầy, ta có thể học ở bạn bè. Bạn bè là những người cùng trang lứa với ta, cùng tâm lí, cùng trình độ, nhờ vậy ta có thể học hỏi ở bạn cách học tốt hơn, rút kinh nghiệm từ bạn những điều sai trái. Trong câu tục ngữ này, từ “tày” mang ý nghĩa là “bằng”. Cả câu mang ý nghĩa “Học thầy không bằng học bạn”. Cách nói này chỉ nhằm nhấn mạnh vai trò của việc học bạn chứ không hề phủ nhận vai trò của việc học thầy. Điều đó cũng như cầu tục ngữ trước chỉ nhắm nhấn mạnh vai trò của việc học thầy chứ không phủ nhận vai trò của việc học hỏi ở các đối tượng khác.
Hai câu tục ngữ bổ sung cho nhau nhắc nhở chúng ta: việc học có nhiều cách thức, nhiều phương tiện. Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như ngày nay, ta có thể học từ rất nhiều nơi: thầy cô, cha mẹ, bạn bè, báo chí, sách vở, mạng,… Điều quan trọng là cần biết lựa chọn thông tin chính xác, cập nhật, có ích để tiếp nhận và học hỏi.
Vanmau.edu.vn | Dân gian ta có câu_ “Không thầy đố mày làm nên” nhưng đồng thời lại nhắc nhở chúng ta_ “Học thầy không tày học bạn”. Em hiểu những câu nói trên như thế nào | 608 | |
Dân gian ta có câu: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Em hiểu câu nói đó như thế nào
Gợi ý
Trong cuộc sống hàng ngày, lời chào có một vai trò vô cùng quan trọng. Chẳng vậy mà từ xa xưa, cha ông ta đã nhắc nhở bảo nhau: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Tại sao lời chào lại có ý nghĩa và giá trị lớn như vậy?
Khẳng định “Lời chào cao hơn mâm cỗ” nhằm nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của lời chào. Nhắc đến “mâm cỗ” là nhắc đến sự cao sang, quý giá (trong xã hội xưa, khi có sự kiện quan trọng ông cha ta mới làm cỗ). “Lời chào cao hơn mâm cỗ” mang hàm ý: mâm cỗ đã cao sang, quỷ giá nhưng lời chào còn cao sang, quý giá hơn. Tại sao vậy?
Lời chào là lời chào hỏi nhau khi những người quen thân nhau gặp mặt, thường là người dưới, người nhỏ tuổi cất lời chào trước. Thậm chí, không cần là những người đã thân quen, chỉ cần một hai lần gặp nhau đến tiếp theo gặp lại cũng niềm nở bắt tay chào hỏi. Hơn thế, trong những cuộc gặp gỡ, chuyện trò, bạn bè có thể giới thiệu nhau với nhau, trong lần gặp đầu tiên ấy cũng cần chào hỏi chân tình. Lời chào phải là một câu nói có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ và chừ “chào” rất trang trọng: “Cháu chào bác ạ!”, “Em chào cô ạ”,… Đáp lại, những người trên sẽ mỉm cười và tùy theo mức độ thân sơ họ sẽ nói: “Bác chào cháu”, “Cô chào em”,… hoặc “Chào cháu”, “Chào em”,…Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật An Dương Vương trong câu chuyện cùng tên
Như vậy, lời chào có một ý nghĩa rất quan trọng. Lời chào trước hết thể hiện thái độ lễ phép, tôn kính của người dưới đối với người trên. Nhận được lời chào, có ai không vui vẻ, hạnh phúc khi nhận được tình cảm yêu mến của những người xung quanh dành cho mình?! Thứ nữa, với lời chào đáp lễ, lời chào thế hiện sự tôn trọng của người trên dành cho người dưới. Nhận được lời chào ấy, người con, người cháu, người học trò nào… cũng thấy sung sướng, mãn nguyện. Chẳng những vậy, lời chào trong những cuộc gặp gỡ còn có tác dụng mở đầu cuộc trò chuyện giúp người gần người hơn.
Qua câu tục ngữ trên, dần gian đã khẳng định ý nghĩa quan trọng và giá trị to lớn của lời chào. Hiểu được điều đó, mỗi người cần có ý thức sử dụng lời chào trong những hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống. Lời chào được nói ra phải là lời chào chân thành, niềm nở phản ánh được mức độ kính trọng của người chào dành cho người trên. Muốn được như vậy, không gì hơn là cần rèn cho mình một nhân cách trong sáng, tốt đẹp, bịết lễ phép và tôn trọng những, người xung quanh.
Vanmau.edu.vn | Dân gian ta có câu_ “Lời chào cao hơn mâm cỗ”. Em hiểu câu nói đó như thế nào | 521 | |
Dân gian ta có câu: “Một điều nhịn, chín điều lành”? Hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ gì về vấn đề này
Gợi ý
Nhân dân ta từ xưa đến nay luôn coi trọng hoà khí “Dĩ hoà vi quý”. Vì vậy, trước những sự xích mích, trước những điều bực bội, dân gian thường nhắc nhở nhau: “Một điều nhịn, chín điều lành”.
“Một” và “chín” chỉ là những con số ước lệ, chúng thể hiện quan niệm của dân gian về mối quan hệ giữa tính nhẫn nhịn và sự bình yên: nếu biết nhẫn nhịn một chút thì sẽ có được hoà khí, sự yên bình lâu dài. Ý cả câu khuyên con người nên bình tĩnh, biết nhẫn nhịn, tránh nóng nảy để giũ hoà khí. Ở đây, ta cần hiểu “nhịn” không có nghĩa là thua kém, mà là nhường nhịn, im lặng, lùi một bước; nhịn khi người khác không đủ bình tĩnh, tỉnh táo. Trong cuộc sống, chỉ có kẻ tầm thường, tiểu nhân mới không biết nhường nhịn, hay so đo, chấp vặt. Bạn đang đi ngoài đường, bất chợt có người sấn sổ lại mắng bạn tới tấp vì những lí do bạn không hiểu nổi. Kẻ tầm thường sẽ nóng nảy đối lại, đôi bên to tiếng không ai chịu ai có thể xảy ra xô xát. Người biết nhẫn nhịn sẽ chờ người kia bình tĩnh lại, hỏi đầu đuôi sự việc, tìm ra những nhầm, lẫn để giải quyết. Làm như vậy không những tránh được xô xát mà còn giành được sự tôn trọng, vị nể của người khác. Nhưng “nhịn” cũng không có nghĩa là nhu nhược, hèn nhát, khi cần vẫn phải biết đấu tranh để thắng cái ác, cái phi lí. Trong cơ quan, công sở, là nhân viên biết rõ những hành vi phi pháp, tham ô, nhận hối lộ của cấp trên, sẽ có người im lặng không dám tố cáo. Đó là biểu hiện của sự nhu nhược, hèn nhát. “Nhịn” như vậy chẳng những không lành cho bản thân về lâu dài mà còn để hoạ cho xã hội. Lại có khi, trong cuộc sống, bạn bị một người khác, một thế lực khác khống chế về mặt nào đó chẳng hạn như tống tiền, bạo lực gia đình,… nếu bạn im lặng, không dám tố cáo, đấu tranh thì bạn sẽ phải gánh chịu những hậu quả thật tồi tệ. Tình cảnh đất nước ta trong một thời gian dài lịch sử cũng là một minh chứng sinh động cho điều này. Giặc phương Bắc xâm lược, đô hộ hơn một ngàn năm, thực dân Pháp, đế quốc Mĩ xâm chiếm áp bức, bóc lột,… nếu dân ta cứ nuốt nhục mà không đứng dậy khởi nghĩa, đánh đuổi lũ xâm lãng thì ngày nay hỏi nước ta sẽ đi đến đâu? Vậy là, “Một điều nhịn, chín điều lành” nhưng cần hiểu rõ bản chất đích thực của từ “nhịn” ở đây để tránh những điều đáng tiếc.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp của chị em Thúy KiềuVanmau.edu.vn | Dân gian ta có câu_ “Một điều nhịn, chín điều lành”_ Hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ gì về vấn đề này | 518 | |
Dân gian ta có câu: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Câu nói trên có hoàn toàn phù hợp với mọi tình huống không? Viết bài văn ngắn nêu rõ ý kiến của em
Gợi ý
Dân gian từng đúc kết kinh nghiệm: "Tránh voi chẳng xấu mặt nào". Từ nghĩa đen ý muốn nói voi là loài vật to lớn, tránh đối đầu với chúng để giảm rủi ro, thiệt hại thì cũng chẳng “xấu mặt nào”, không sợ xấu hổ. Câu nói mang hàm ý: Việc nhượng bộ, lùi bước thậm chí cúi đầu trước kẻ mạnh nhằm tránh rủi ro, thiệt hại thì cũng không có gì đáng xấu hổ, mất thế diện.
Xét một cách toàn diện thì ý trên cần có điều phải xem xét thêm.
Trong cuộc sống, có những kẻ mạnh nhưng ngang ngược, hống hách. Với chúng cần phải trừng trị vì lợi ích chung của tập thể, cộng đồng. Chủ nghĩa đế quốc ở thế kỉ XIX, XX có sự hùng mạnh, giàu có về kinh tế nhưng máu của nhân dân lao động đã nhuốm đầy thân thể chúng. Đến nước ta, chúng âm mưu nô dịch đồng bào ta, tàn phá xứ sở ta. Những kẻ mạnh như thế, nếu không trực tiếp đối đầu đánh đuối thì chúng ta không thế đứng lên, suốt đời chỉ làm thân nô lệ.
Người dũng cảm có những lúc cần phải đối mặt với cái ác đế bảo vệ lẽ phải, tỏ rõ dũng khí, thể hiện sức mạnh chính nghĩa. Hàng ngày, trên đường đi, trong chợ, nơi hàng quán,… ta không thể biết có bao nhiêu tên trộm đã và đang lăm le móc túi, cướp giật của người trên đường, người đi chợ,… Có những người trực tiếp nhìn thấy kẻ móc túi làm việc xấu nhưng không dám tố cáo vì sợ trả thù. Nhưng đã có những em bé, những cụ già dũng cảm vạch mặt bọn bất lương. Những việc làm như thê rất cần đế đảm bảo sự an bình của đời sống.Xem thêm: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng... Nuôi lớn đời ta tự buổi nào." (Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận) Còn có những tội ác nguy hiếm hơn, gây thiệt hại lớn đến lợi ích chung của tập thế. Có những kẻ tham ô, có những gã buôn bán ma túy, làm giàu trên thân xác phụ nữ, trẻ em,… Chúng được bao bọc, được che chở bởi nhiều kẻ ác có chức có quyền khác; chúng mạnh. Nhưng vớì chúng càng cần mạnh tay xử lí, kiên quyết đối đầu để bảo vệ lẽ phải, chứng minh sự chiến thắng cùa cái thiện.
Như vậy là sự né tránh không phải khi nào cũng là hành vi ứng xứ phù hợp, cần cân nhắc, xem xét bản chất của vấn đề để quyết định né tránh hay không
Vanmau.edu.vn | Dân gian ta có câu_ “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Câu nói trên có hoàn toàn phù hợp với mọi tình huống không_ Viết bài văn ngắn nêu rõ ý kiến của em | 494 | |
Dân tộc ta vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo. Theo anh (chị), truyền thống ấy có được tiếp nối trong thực tế cuộc sống của xã hội ta hiện nay không
Gợi ý
Tôn sư trọng đạo không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn là một truyền thống văn hóa vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta. Khi nào cuộc sống còn cần thiết, con người còn khát vọng vươn tới chân, thiện, mĩ thì người thầy còn được tôn trọng. Vì thế, dù ở giai đoạn lịch sử nào thì tôn sư trọng đạo vẫn là truyền thống vô cùng tốt đẹp, cần được tiếp tục phát huy và gìn giữ. Đó là yếu tố quan trọng làm nên nền tảng đạo đức của xã hội văn minh.
Nhân dân ta từng có những câu nói vô cùng giản dị mà chứa đựng những ý nghĩa rất sâu sắc về người thầy. Những câu nói ấy vừa tôn vinh người thầy, vừa nhắc nhở con người phải biết sống cho phải đạo làm người. Thầy là người vạch đường chỉ lối cho mỗi người (“Không thầy đố mày làm nên”). Vì thế vị trí của người thầy được đặt ngang hàng với vị trí của cha mẹ (“Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy”), ông cha ta vẫn luôn nhắc nhở con cháu:
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.
Người làm thầy trong bất cứ xã hội nào cũng luôn được tôn trọng (“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”). Bởi vậy, tôn sư trọng đạo không còn là vấn đề quan niệm sống hay quan niệm về cách cư xử mà đã trở thành một phạm trù đạo đức. Thời xưa Pla-tông, A-ri-xtỐt, Khổng Tử,… từ người thầy đã trở thành những vĩ nhân. Ngày nay, người thầy vẫn được xã hội tôn trọng và “nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”. Dù ở phương Đông hay phương Tây, dù mối quan hệ thầy trò có bình đẳng, gần gũi đến đâu thì danh giới thầy trò, vị trí đáng kính của người thầy vẫn không hề bị mai một.Xem thêm: Nêu ý kiến về câu tục ngữ “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”- văn lớp 7 Trên thực tế, vấn đề “tôn sư trọng đạo” ngày nay đã có nhiều điều đáng phải bàn. Các thầy cô giáo dù phải đứng trước bao nhiêu khó khăn của cuộc sống vẫn đang ngày đêm lo lắng, nghiền ngẫm làm sao để truyền thụ cho học sinh những tri thức quý giá nhất. Còn học sinh, bên cạnh những người chăm chỉ ngoan ngoãn, thực hiện đúng đạo làm trò, kính yêu và tôn trọng thầy cô giáo, đã có không ít bạn trót quên đi đạo nghĩa thầy trò. Những học sinh ấy đã vô tình hoặc cố ý vi phạm đạo làm trò, làm đau lòng các thầy cô giáo. Đã có những câu chuyên đau lòng mà chúng ta không muốn nhắc đến như hiện tượng học trò xúc phạm thầy cô giáo, vô lễ với những người đang ngày đêm dạy bảo mình những điều hay lẽ phải, truyền đạt cho mình những tinh hoa tri thức nhân loại. Xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục lên án những học sinh đó.
Tôn sư trọng đạo là một truyền thống văn hóa vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta. Nếu trẻ em là tờ giấy trắng thì người cầm cây bút viết lên những tờ giấy trắng ấy những trang thẳng hàng, rõ nét, rõ chữ nhất chính là thầy cô giáo. Tôn trọng những người giữ vai trò truyền đạt tri thức nhân loại cho thế hệ sau là biểu hiện của tình yêu tri thức, của lòng ham học hỏi, của ý chí và khát vọng vươn lên cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế “tôn sư” không chỉ là vấn đề tôn trọng, kính yêu người làm nghề dạy học mà còn là biểu hiện của tình yêu tri thức, biểu hiện của văn minh, tiến bộ. “Đạo” cũng không chỉ dừng lại ở đạo làm trò, ở những hình thức, thái độ ứng xử với người thầy mà còn là cả vấn đề đạo đức xã hội. Đó là đạo làm người, là đạo học ở đời. “Trọng đạo” cũng là coi trọng sự hiểu biết, coi trọng tinh thần ham học hỏi, đề cao truyền thống hiếu học.Xem thêm: Em hãy nói lời chào hàng ngày với mọi người Để xã hội ngày càng văn minh, con người ngày càng phải chú ý đến chuyện học hành, tiếp thu tri thức. Vì thế, vai trò của người thầy trong xã hội hiện đại đã thay đổi, từ người truyền đạt tri thức đã chuyển thành người dẫn dắt học sinh tìm ra con đường đến với tri thức. Công việc của người thầy ít nhiều thay đổi nhưng vai trò của người thầy thì không thể thay thế. Thầy vẫn là thầy và ngày càng có vị trí quan trọng hơn. Vì vậy, dù xã hội có phát triển đến đâu, xã hội ấy vẫn có những người muốn học và vẫn có những người thực hiện nhiệm vụ dạy bảo người đi sau. Trong cuộc sống ngày nay, khi mà vấn đề học hành ngày càng phức tạp và sự xuống cấp về đạo đức xã hội đang khiến nhiều người có lương tâm, trách nhiệm phải quan tâm, suy nghĩ thì truyền thống tôn sư trọng đạo càng phải tiếp tục được kế thừa và phát huy hơn nữa.
Tôn sư trọng đạo là một truyền thống đạo đức vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta. Đứng trước những hiện tượng đáng suy nghĩ hiện nay về vấn đề đạo đức học đường, chúng ta cần phải có những hoạt động cần thiết để nhắc nhở mỗi người nhìn lại thái độ và cách ứng xử của mình đôi với những người làm thầy trong xã hội. Truyền thống tôn sư trọng đạo cần phải được giữ gìn, phát huy hơn nữa.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí MinhVanmau.edu.vn | Dân tộc ta vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo. Theo anh (chị), truyền thống ấy có được tiếp nối trong thực tế cuộc sống của xã hội ta hiện nay không | 1,051 | |
Dòng sông nói với con đường: “Tôi luôn luôn chảy, còn anh thì cứ đứng yên hoài”. Hãy kể câu chuyện trên
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh
+ Tôi là một dòng sông thấy mình có ích và kiêu hãnh về điều đó.
B. THÂN BÀI:
Dòng sông kể về sự kiêu hãnh và tự phụ của mình đã gây ra hậu quả như thế nào.
1. Đang chán ngán vì buồn thì có người tâm sự, đó là con đường. Thế nhưng ý nghĩ mình phải chiều chuộng, phải dừng lại với đường để trò chuyện làm sông tự ái. Sông từ chối tàn nhẫn.
2. Đường ngơ ngác rất tội nghiệp, không hiểu tại sao thái độ thân thiện của mình lại được đáp ứng như thế.
3. Sông vẫn đi không thèm nghĩ đến đường. Sông gặp sóng nhưng sóng thờ ơ không thèm làm bạn với sông. Thậm chí sóng cưỡi lên mặt sông mà vượt về phía trước.
4. Sông thấy mình cô đơn và bị khinh rẻ, ân hận nhớ lại thái độ của mình với đường lúc nãy.
5. Sông làm bạn lại với đường. Đường hân hoan chào đón tình bạn mà sông dành cho mình.
C. KẾT LUẬN:
Sông rút ra bài học – cần phải kết bạn với mọi người – không nên kiêu căng.
BÀI LÀM
Tôi là một dòng sông, tuy tôi không lớn lắm nhưng cũng có nhiều ghe tàu qua lại. Tôi cảm thấy mình thật có ích và đôi khi lấy làm kiêu hãnh.Xem thêm: Phân tích Nhân vật A phủ và nhân vật Mỵ trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ
Một hôm vắng vẻ hơn mọi hôm, giữa cái nắng cháy da của một ngày oi bức, như thường lệ, tôi vẫn êm ả chảy xuôi ra sông lớn. Không một bóng ghe thuyền đi lại trên dòng, không một đám lục bình trôi lạc trên sông, nhìn cảnh đó mà tôi chán ngán. Bỗng nhiên tôi cảm thấy buồn và muốn tìm một người bạn đường. Chợt có tiếng hỏi: “ Bạn đi đâu giữa trưa nắng thế, sông?”. Tôi lấy làm ngạc nhiên: “Ai hỏi thế?”.
“Tôi đây, tôi là con đường đây mà. Bạn có thể ghé lại, dưới bóng dừa bên sông, nói chuyện với tôi được không?”.
Đang buồn, có bạn để nói chuyện thì thật là vui, lại còn bóng dừa mát rượi kia nữa, ắt hẳn mát lắm, nhưng nếu vậy thì ta sẽ phải lệ thuộc vào nó ư? Tại sao nó không chạy dọc theo để nói chuyện với ta mà bắt ta dừng lại. Không! Không bao giờ! – Tôi nghĩ thế và liền cất tiếng: “Tao không rảnh để nói chuyện với mày đâu. Mày chỉ đứng yên có một chỗ trong khi tao chảy không ngừng, làm sao mày có thể xứng đáng là bạn của tao được”.
Nói rồi, tôi tiếp tục đi trong khi con đường còn đang ngơ ngác và kinh ngạc trước thái độ của tôi. Biết thế, tôi lại chảy uốn lượn trước mặt, không thèm ngoái cổ lại, tỏ vẻ khinh rẻ nó…Xem thêm: Ca dao xưa có bài: "Công cha như núi Thái Sơn ,Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con". Giải thích câu ca dao và lấy những nhân vật thiếu nhi trong văn học để chứng minh rằng: Các em vẫn luôn làm
Chiều nay, nước sông sao đầy quá! Văng vẳng bên sông những tiếng bìm bịp, kêu báo con nước lớn. Nhiều con sóng lạ trong những bộ quần áo đẹp vượt qua mặt tôi, dường như họ ở đâu mới đến. Tôi muốn làm quen để khỏi bị lẻ loi nhưng họ cứ chạy đến và vượt qua mặt tôi. Không ai để ý đến, tôi cảm thấy cô đơn và bị khinh rẻ. Lúc này tôi mới hiểu ra một điều, mình khinh rẻ người này vì họ thua mình ở một điểm gì đó thì cũng có kẻ khác khinh rẻ mình vì mình chưa chắc đã hơn ai. Tôi chợt nghĩ giá như lúc này tôi ở lại bên gốc dừa, đừng khinh rẻ con đường thì giờ đây tôi không bị ai khinh và còn có bạn nữa. Nghĩ thế, tôi vội chạy nhanh đến bên mõm sông nơi cây dừa đứng và cất tiếng gọi con đường: “Bạn đường ơi! Bạn có đây không?”
Đường ra đón tôi. Quả thật chính vì đường cứ đứng yên mãi mà tôi còn có bạn vào phút cuối cùng để tránh nỗi lẻ loi. Nếu đường cũng đi như tôi thì không biết tôi sẽ ra sao nữa?
Nhìn thái độ ân cần, niềm nở của đường mà tôi hổ thẹn, hổ thẹn cho chính tôi vì sao quá nông nổi, chỉ xét người theo hình thức bên ngoài. Sau đó, chúng tôi kết bạn với nhau và kể từ đó, tôi không còn thái độ khinh ai nữa.Xem thêm: Cây tre Việt Nam ngữ văn 6 Trong đời sống chúng ta, kết bạn thì dễ nhưng có được một tình bạn đẹp, chân thành thì quả là rất khó. Chính vì thế chúng ta không nên đối xử tệ bạc với ai cả, có như thế chúng ta sẽ không phải hối hận mà luôn có thêm những người bạn tốt.
Vanmau.edu.vn | Dòng sông nói với con đường_ “Tôi luôn luôn chảy, còn anh thì cứ đứng yên hoài”. Hãy kể câu chuyện trên | 898 | |
Dòng sông Đà mang vẻ đẹp hung bạo dữ dội.
Hướng dẫn
– Hướng chảy của dòng sông gợi cho ta sự độc đáo, bất thường. Chúng thuỷ gai đông tẩu – Đà giang độc bắc lưu (Các dòng sông đều chảy về đông – Chỉ có sông Đà một mình chảy về phương bắc)
– Bờ sông Đà (thượng nguồn) là cảnh tượng rất hiểm trở: “đá dựng vách thành”, chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu…
– Thác dày đặc, trong đó vô cùng độc dữ nham hiểm là 73 cái thác ở phía thượng nguồn. Sự độc dữ của chúng hiện hình ngay qua tên gọi như: thác ô Gà, bãi Thằng Rồ, thác Từu Ông Từu Bà…
– Ngay cát sông Đà cũng là cát dữ: nó đục thủng gan bàn chân lồ rỗ như những vết hà đục thủng đáy thuyền gỗ…
Gió trên sông Đà lại càng đáng sợ; gió cuồn cuộn từng luồng cứ gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt (nợ không có cũng đòi), bằng cách lật ngửa bụng thuyền ra.
– Đáng sợ hơn đó là các hút nước trên mặt sông: nước ở đây ặc ặc lên như rót dầu sôi vào, hễ thuyền bè đi qua vô ý là nó lôi tuột xuống đánh tan xác ở đáy sông.
– Âm thanh tiếng nước sông Đà cũng thật ghê gớm: như là oán trách, như van xin, như khiêu khích, rồi rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa.
– Song khủng khiếp nhất ở Đà giang là trùng vi trạch thuỷ trận: đó là bao đá nổi, đá chìm phối hợp cùng các luồng nước dàn bày thạch trận, ập thành ba phòng tuyến với cả tập đoàn cửa từ đầy những tướng đá, quân nước hung dữ.
Nguồn: thêm: Tuần 9: Chính tả Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà | Dòng sông Đà mang vẻ đẹp hung bạo dữ dội. | 321 | |
Dấu ấn thơ ca dân gian trong bài “Tương tư” của Nguyễn Bính
Gợi ý
Nhắc đến thơ mới, ta thường nghĩ đến những vần thơ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ phương Tây: thơ Xuân Diệu, thơ Chế Lan Viên, thơ Nguyễn Hoàng Chương… không hòa tan mình trong đó, thơ Nguyễn Bính vẫn giữ được những nét “chân quê” giản dị, chất phác nhờ hấp thụ ảnh hưởng từ thơ ca dân gian. Dấu ấn cổ truyền đặc sắc ấy in đấu khá rõ trong thi phẩm “Tương tư”.
Tên bài thơ và cũng là chủ đề của bài thơ: “Tương tư“ là nhớ nhau. Không phải con nhớ mẹ, chị nhớ em, bà nhớ cháu… mà anh nhớ em! Tương tư là nỗi nhớ của tình yêu đôi lứa. Đây là đề tài quen thuộc trong ca dao, dân ca. Nền văn học dân gian còn ghi lại những vần thơ tuyệt bút viết về nỗi nhớ của nam nữ:
“Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?
Buồn trông chềnh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ?”.
Hay
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
“Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?”…
Tiếp thu ca dao, dân của Nguyễn Bính học được giọng điệu mượt mà, thể thơ lục bát đằm thắm thú vị, hình ảnh thơ mộc mạc mà thiết tha… Những điều đó đã tạo nên nét đẹp riêng “chân quê” của bài.“Tương tư”.
Nét tinh tế thiết tha ân tình của thể thơ lục bát dân gian được thi nhân nâng niu trân trọng.Xem thêm: Bàn về chuyện chơi và nghiện game Online“Thôn Đoài/ ngồi nhớ/ thôn Đông
Một ngườỉ/chín nhớ/ mười mong / một người
Nắng mưa/ là bệnh/ của giời
Tương tư/ là bệnh/ của tôi/ yêu nàng”.
Sự tha thiết, nhịp nhàng, lối bắt vần dễ nhớ dễ thuộc của lục bát thật thích hợp với những tình yêu đôi lứa nơi thôn dã.
Chưa hết, những hình ảnh thơ quen thuộc trong thơ ca dân gian đã được Nguyễn Bính học hỏi, vay mượn và sử dụng đầy hiệu quả.
Những “thôn Đoài”, “thôn Đông” thân quen biết mấy với đời sống người nông dân. Những giàn trầu, những hàng cau có ai không nghĩ đến “Sự tích trầu cau” sâu nặng nghĩa tình. Lấy “miếng trầu làm đầu câu chuyện” Nguyễn Bính cũng lấy hình ảnh trầu cau để nói chuyện tương tư:
“Nhà em có một giàn giầu
Nhà anh có một hàng cau liền phòng”
Dân gian lấy trầu cau để nói đến sự hòa hợp lứa đôi, nói đến thủy chung son sắt:
Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân”
“Giầu này giầu tính giầu tình
Giầu loan giầu phượng giầu mình với ta
Giầu này em têm từ tối hôm qua
Giấu thầy giấu mẹ em mang cho chàng..”..
Còn Nguyễn Bính, mượn cớ nhà em có giàn giầu nhà anh có hàng cau (hòa hợp quá đi!) để tiếc nuối “Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này”. Tiếc nuối và cũng là trách móc “Có xa xôi mấy mà tình xa xôi”. Sự liên tưởng của chàng trai thật đáng yêu. Rồi chàng trai dỗi hờn: sao nhà em có giầu nhà anh có cau mà… “Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”. “Lá” ở đây có lẽ cũng là lá trầu. Lá chuyển màu rơi rụng chỉ sự phối pha xa cách của tình cảm cô gái.Xem thêm: Trong truyện ngắn Vi hành, nhân vật chính không có mặt nhưng lại hiện lên sinh động và đầy ấn tượng, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, mang sức tố cáo mạnh mẽ. Đó là nhờ sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Ái Quốc. Hãy phân tích và chứng minh
Sự phôi pha, xa cách ấy vì đâu? Vì “cách trở đò giang?”. Ca dao từng nói:
‘Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”.
Vậy thì đâu phải xa xôi. Nhà mình nhà ta cách nhau có “một đầu đình”. Mà đình làng xưa vốn là nơi để gái trai nên duyên nên phận:
“Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”.
Vậy nên chẳng hiểu vì đâu đôi ta không thành đôi thành lứa. Chàng trai với nỗi “tương tư“ bồn chồn chẳng dứt cứ trở đi trở lại nỗi băn khoăn:
“Biết cho ai hỏi ai người biết cho
Bao giờ bến mới gặp đò?”
Sử dụng những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca dân gian, Nguyễn Bính đã gợi lại những nếp nghĩ, nếp sống mộc mạc ân tình của người nông dân nơi thôn dã. Không chỉ vậy, mượn những hình ảnh đó, nhà thơ còn giúp nhân vật trữ tình của “Tương tư” bộc lộ lòng mình, ấy là nỗi nhớ nhung tha thiết, bồn chồn, khắc khoải.
Lốì ví von trong “Tương tư“ cũng rất gần với dân gian. Nói về tình yêu, dân gian vô cùng tinh tế “nói xa” rồi mới “nói gần”, không bao giờ “nói thẳng như ruột ngựa”. Bày tỏ niềm tiếc nuối vì người thương đã lấy chồng, chàng trai phải đưa đẩy, xa xôi rồi mới bày tỏ nỗi niềm:
“Trèo lên cây bởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã lấy chồng anh tiếc lắm thay”.
“Tương tù’” cũng mượn lối nói bóng bẩy xa xôi ấy:Xem thêm: Phân tích nhân vật Việt trong Những đứa con trong gia đình (Có dàn ý chi tiết)“Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.
Ví von như thế để khẳng định: tình yêu của mình cũng như một quy luật tất yếu của tự nhiên. Trời có nắng có mưa, người có yêu có thương, vậy mới là người!
Hình ảnh “bến” “đò” “hoa khuê các” “bướm giang hồ” cũng vốn là những hình ảnh đầy biểu tượng. Trong tình yêu, người con trai thường được ví với thuyền ra đi, với bướm giang hồ; người con gái chỉ là hoa là bến:
“Thuyền về có nhá bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
Mượn hình ảnh kín ‘đáo ấy, chàng trai trong nỗi tương tư dâng trào đã bày tỏ khát khao:
“Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”
Tình yêu dù sôi nổi bồng bột đến mấy, con người Việt Nam vẫn không mất đi sự tinh tế, kín đáo. Thơ ca đã thể hiện điều ấy qua những hình ảnh ví von rất gợi.
Tiếp thu những nét truyền thống trong thơ ca dân gian, nhưng điều ấy không hề làm thi sĩ “chân quê” trở nên “quê mùa” trước một rừng các nhà thơ mới. Điều đó trước hết khẳng định sức sông tiềm tàng của thơ ca dân gian – tinh hoa của dân tộc bao đời. Đó cũng tạo nên phong cách riêng của Nguyễn Bính trong nền văn học dân tộc.
Vanmau.edu.vn | Dấu ấn thơ ca dân gian trong bài “Tương tư” của Nguyễn Bính | 1,151 | |
Dựa theo bài tập đọc Báo cáo kết quả tháng thi đua Noi gương chú bộ đội, hãy viết lời cho bài báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ trong tháng qua
Gợi ý
Kính thưa cô giáo chủ nhiệm lớp 3A!
Thưa toàn thể các bạn!
Vừa rồi chúng ta đã được nghe báo cáo kết quả học tập, lao động của các bạn tổ 1. 2, 3. Sau đây em xin phép cô chủ nhiệm và các bạn báo cáo kết quả học tập và lao động của tổ 4.
– Về học tập: Trong tháng 12 vừa qua tổ 4 chúng em đã thực hiện tốt kỉ cương nền nếp của nhà trường. Cả tổ không có học sinh vi phạm nội quy, không nghỉ học bừa bãi, không đi học muộn và luôn chuẩn bị bài vở cẩn thận trước khi đến lớp. Để chào mừng ngày Quân đội nhân dân Việt Nam, các bạn tổ em cũng đã thi đua và giành được nhiều bông hoa điểm 10. Bạn Phương Anh tham gia cuộc thi “Em làm toán giỏi” do nhà trường tổ chức đạt giải nhì. Vì vậy tổ em tự xếp loại Tốt.
– Về lao động: Tổ em đã tham gia 2 buổi lao động vệ sinh trường lớp,, bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp. Chúng em còn bắt được hai bạn học sinh lớp 3B vứt rác và bẻ cành cây trong sân trường.
Trên đây là kết quả học tập, lao động của tổ em trong tháng qua. Tổ em xin hứa sẽ tiếp tục phát huy để đạt được nhiều kết quả tốt hơn nữa.Xem thêm: Một con người làm sao có thể nhận thức được chính mình? Đó không phải là việc của tư duy mà là của thực tiễn. Hãy ra sức thực hiện bổn phận của mình, lúc đó bạn lập tức hiểu được giá trị của mình Em xin chân thành cảm ơn cô và các bạn.
Vanmau.edu.vn | Dựa theo bài tập đọc Báo cáo kết quả tháng thi đua Noi gương chú bộ đội, hãy viết lời cho bài báo cáo kết quả học tập, lao động của tổ trong tháng qua | 331 | |
Dựa theo bài “Cuộc họp của chữ viết”, (Tiếng Việt 3, tập 1), em hãy ghi biên bản cuộc họp đó
Gợi ý
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN CUỘC HỌP CỦA CHỮ VIẾT
I. Thời gian, địa điểm
Thời gian: sau khi tan học
Địa điểm: phòng học của lớp
II. Thành phần tham dự
Các chữ cái
Các dấu câu
III. Người điều khiển, thư kí cuộc họp
Người điều khiển: bác Chữ A
Thư kí: bạn Dấu Phẩy
IV. Nội dung
1. Mục đích cuộc họp: họp để tìm cách giúp đỡ em Hoàng.
2. Bác Chữ A cho biết tình hình của Hoàng: hoàn toàn không biết chấm câu. Có đoạn văn em viết thế này: “Chú lính bước vào đầu chú. Đội chiếc mũ sắt dưới chân. Đôi giày da trên trán lấm tấm mồ hôi”.
3. Nguyên nhân dẫn đến tình hình đó:
Theo Dấu Chấm, tình hình đó là do cậu bé chẳng bao giờ để ý đến dấu câu, mỏi tay chỗ nào cậu ta chấm chỗ ấy.
Theo những ý kiến khác, đó là do cậu ta ẩu.
4. Cách giải quyết: mỗi khi em Hoàng định chấm câu, anh Dấu Chấm yêu cầu em ấy đọc lại câu văn một lần nữa.
Cuộc họp kết thúc.
Người điều khiển
Chữ A
Thư kí
Dấu Phẩy
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tuần 11: Chính tả Luật bảo vệ môi trường | Dựa theo bài “Cuộc họp của chữ viết”, (Tiếng Việt 3, tập 1), em hãy ghi biên bản cuộc họp đó | 222 | |
Dựa theo cách tổ chức cuộc họp mà em đã biết, hãy cùng các bạn tập tổ chức một cuộc họp tổ
Gợi ý
Cuộc họp tổ được tiến hành tại lớp 3A, trong thời gian 30 phút. Tham dự cuộc họp gồm tất cả các thành viên trong tổ. Điều khiển cuộc họp là bạn Duy Anh, tổ trưởng.
Bạn Duy Anh phát biểu mở màn:
– Hôm nay chúng ta họp tổ để bàn các công việc: giúp đỡ nhau học tập, chuẩn bị các tiết mục văn nghệ chào mừng ngày 20 – 11 của lớp, trường, trang trí lớp học theo sự phân công của lớp trưởng và việc giữ gìn vệ sinh chung.
Sau khi trao đổi, cả tổ nhất trí nhận xét: Bạn Hạnh hay đi học muộn. Bạn Hòa học yếu vì mải chơi điện tử. Mỗi tổ phải có hai tiết mục tham gia hội diễn nhưng chỉ có bạn Mai đăng kí một tiết mục đơn ca. Còn khá nhiều giấy vụn trong hộc bàn.
Nguyên nhân của tình hình trên một phần do tổ trưởng chưa thường xuyên nhắc nhở mọi người, và một phần do mấy tuần nay chưa có cuộc họp tổ nào để kiểm điểm và phân công cụ thể.
Về cách giải quyết: cần tăng cường ý thức của mỗi tổ viên, bạn tổ trưởng thường xuyên nhắc nhở từng người và cả tổ cần thi đua để đẩy mạnh mọi mặt của tổ, lấy thành tích chào mừng ngày 20 – 11.Xem thêm: Kể về thành phố mà em đang sống Phân công công việc: Bạn Nam hàng ngày ghé qua rủ bạn Hạnh đi học. Bạn Mai đến nhà học cùng bạn Hòa. Các bạn nữ của tổ đăng kí tiết mục hát tốp ca. Nêu ai còn xả rác bừa bãi và để giấy vụn trong hộc bàn sẽ bị trừ điểm thi đua.
Vanmau.edu.vn | Dựa theo cách tổ chức cuộc họp mà em đã biết, hãy cùng các bạn tập tổ chức một cuộc họp tổ | 314 | |
Dựa theo lời kể của thầy (cô) và các tranh vẽ đã cho, hãy kể lại từng đoạn truyện “Cây cỏ nước Nam”
Hướng dẫn
1-Đoạn 1: Ông Nguyễn Tuệ Tĩnh, tức danh y Tuệ Tĩnh, từng đỗ tiến sĩ đệ nhị bảng nhưng không ra làm quan mà ở nhà theo đuổi nghề y. Một hôm, ông dẫn các học trò lên hai ngọn núi Nam Tào và Bắc Đẩu. Dọc đường lên núi là những bụi sâm nam, đinh lăng và cam thảo, ông chỉ vào những bụi cây ấy và nói:
-Ta đưa các con đến đây để nói cho các con biết rõ điều mà ta suy nghĩ nung nấu từ mấy chục năm nay. (tranh 1)
2-Đoạn 2: Rồi ông kể lại cho các học trò của mình nghe câu chuyện ngày xưa: Hồi ấy, giặc Nguyên (còn gọi là giặc Thát) đem quân xâm lược nước ta. Vua quan nhà Trần lo luyện tập võ nghệ chuẩn bị kháng chiến bảo vệ giang sơn bờ cõi của mình (tranh 2). Có một điều làm cho vua quan nhà Trần hết sức lo lắng. Đó là việc nhà Nguyên cấm chở thuốc men vật dụng xuống bán cho người Nam. Để có thuốc chữa bệnh cho binh lính bị thương và đau ốm, vua sai các Thái y tỏa di khắp mọi miền quê học cách chữa bệnh của dân gian bằng cây cỏ bình thường. Từ đó vườn thuốc được lập ở khắp nơi. Núi Nam Tào và Bắc Đẩu là hai ngọn núi dược sơn của các vua Trần xưa (tranh 3).
Xem thêm: Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về “Bệnh vô cảm” trong xã hội hiện nay
Nhờ chủ trương ấy mà nơi nơi đều có những vườn thuốc Nam chuẩn bị cho cuộc kháng chiến (tranh 4). Những vườn thuốc ấy đã giúp ích rất nhiều trong việc chữa trị cho binh lính khi bị thương hoặc đau yếu (tranh 5).
3-Đoạn 3: Kể đến đó, danh y dừng lại một lúc rồi chậm rãi nói:
-Ta càng nghĩ, càng thêm quí yêu từng ngọn cây đọt cỏ mà tổ tiên ta để lại. Ta định nối gót người xưa để từ nay về sau dân ta có thể dùng thuốc Nam để chữa bệnh cho người Nam ta. Đó chính là ý nguyện của ta mà hôm nay ta dẫn các con lên hai ngọn núi này (tranh 6).
* Ý nghĩa của câu chuyện: Câu chuyện đem đến cho chúng ta một lời khuyên: hãy yêu quí thiên nhiên và quí trọng từng ngọn cây đọt cỏ của thảo dược có trên đất nước mình, noi theo người xưa trồng thêm nhiều loại dược thảo, biến chúng thành những vị thuốc hay, chữa bệnh cho mọi người. | Dựa theo lời kể của thầy (cô) và các tranh vẽ đã cho, hãy kể lại từng đoạn truyện “Cây cỏ nước Nam” | 463 | |
Dựa trên đoạn trích cảnh ngày xuân (Truyện Kiều, Nguyễn Du), hãy kể lại cuộc đi chơi xuân của chị em Thúy Kiều
Gợi ý
Nhanh thật! Hôm nay đã là tiết thanh minh rồi. Thời gian cứ trôi đi nhanh như con thoi, thoắt một cái đã qua hai tháng, giờ đã là tháng thứ ba – tháng cuối cùng của mùa xuân.
Chao ôi! Phong cảnh mùa xuân tháng ba thật là đẹp! Chung quanh chỉ toàn màu xanh non của cỏ bao phủ cả mặt đất. Màu xanh ấy dường như trải dài vô tận. Xa tít tận chân trời kia cũng chỉ ngợp một màu xanh đó mà thôi. Điểm lên trên cái nền xanh tươi ấy là màu trắng tinh khôi của hoa lê. Sự kết hợp hài hòa của hai màu sắc tuyệt vời ấy càng làm cho bức tranh phong cảnh mùa xuân thêm phần sinh động, rạng rỡ, đầy sức sống.
Hôm nay là lễ tảo mộ, mọi người khắp nơi đều đổ về đây để chăm sóc phần mộ tô tiên nhà mình. Thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan cũng hòa vào dòng người đi lễ. Thật là một cảnh rộn rã, náo nhiệt. Đủ các tầng lớp xã hội có mặt ở đây, từ các tài tử giai nhân cho đến những người dân bình thường. Người thì ngựa xe, võng lọng theo hầu, người thì bận quần áo sặc sờ, tất cả đã tạo nên một ngày hội tưng bừng đầy màu sắc. Mọi người, kẻ thì rẫy cỏ, người thì đắp lại mộ, tô lại bia, nhộn nhịp. Tảo mộ xong thì cùng nhau đô’t tiền vàng, thoi vàng, tro tiền gặp gió bay tứ tung khắp nơi. Người ta thắp hương nơi phần mộ tô tiên của mình.Xem thêm: Nghị luận xã hội Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận Chiều xuống, khi mặt trời đã ngả về tây, mọi người lũ lượt kéo nhau ra về. Ba chị em nhà Kiều cũng nắm tay nhau thơ thần bước trên con đường đỏ ráng chiều. Phong cảnh sao mà êm dịu, yên bình đến thế, chỉ nghe tiếng chim hót và tiếng suối kêu róc rách đâu đây. Ba chị em yên lặng tận hưởng cám giác thanh bình của buổi chiều tà, lòng nao nao nuôi tiếc ngày hội rộn ràng của mùa xuân. Xa xa, có cây cầu nhỏ bắc ngang qua ghềnh. Một ngày yên bình đã qua…
Vanmau.edu.vn | Dựa trên đoạn trích cảnh ngày xuân (Truyện Kiều, Nguyễn Du), hãy kể lại cuộc đi chơi xuân của chị em Thúy Kiều | 413 | |
Dựa trên đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều, hãy kể lại sự kiện Mã Giám Sinh đến mua Kiều
Gợi ý
Thủy Kiều là một cô gái tài hoa, khuê các, con một gia đình trung lưu ở Bắc Kinh. Nàng sống một cuộc sống vô cùng hạnh phúc bên cạnh cha mẹ và hai em. Nhưng quãng thời gian đó thật ngắn ngủi, gia đình Kiều bị vu oan. của ccải bị vét sạch, cha và em bị tra kháo bằng nhục hình. Mới mười sáu tuổi, Kiều đã phải đi đến một quyết định vô cùng đau xót là bán mình chuộc cha và em, dứt bỏ mối tình đầu say đắm với chàng công tử Kim Trọng.
Kiều đã tìm đến một mụ mối trong vùng và nhờ giúp mình lấy chồng càng nhanh càng tố’t. Sau khi thỏa thuận xong khoản tiền thưởng của mình, mụ mối đã đồng ý dẫn một người đàn ông đến tìm Kiều để hỏi cưới. Người nhà Kiều chờ sẵn ớ cửa đã lễ phép hỏi rằng:
– Chẳng hay quý tính đại danh cua ngài là gì ạ?
Hắn trả lời cộc lốc:
– Mã Giám Sinh.
– Ngài lá người miền nào ạ? Có gần đây không thưa ngài?
– Lâm Thanh, cũng gần thôi.
Chao ôi, cái cách trả lời sao mà khiếm nhã, hắn tự giới thiệu là Mã Giám Sinh ấy vậy mà cung cách trả lời thật không “giám sinh” một chút nào. Mã Giám Sinh nhìn thoáng qua là đã biết hắn đã hơn bốn mươi tuổi, cái tuổi đã quá già đế có thể lấy vợ. Ấy vậy mà trên mặt hắn tuyệt nhiên không có một sợi râu nào, vô cùng "nhẵn nhụi" và "trai lơ". Hôm nay hắn lại còn mặc một bộ quần áo kiêu chú rể nữa chứ. Áo đỏ chót, quần cũng đỏ chót, đầu đội mũ đen, tóc búi gọn ghẽ, lại còn cầm quạt có vẽ tranh sơn thuỷ đê phe phẩy nữa chứ. Lố bịch hết sức. Đi theo hắn l.à một lũ tôi tớ chẳng có tôn ti trật tự gì cả. Hắn nói một câu, bọn chúng nói hai câu cứ loạn cả lên. Khi được mụ mốì dẫn vào trong nhà, Mã Giám Sinh đã nhảy tót lên ghế trên ngồi. Đó là ghế dành cho bậc bề trên, con cháu không được phép tuỳ tiện ngồi lên. Mã đến đây với tư cách con rể, vậy mà lại ngồi tót lên một cách sỗ sàng đến như vậy quả là bất lịch sự. Trong khi hắn ngồi đấy, mắt đảo đi đảo lại thì mụ môi đã giục Kiều ra chào khách. Kiều lúc này đang ớ trong một tầm trạng vô cùng tuyệt vọng và đau khổ. Đang có hai nỗi buồn giày xé tâm hồn nàng. Nàng phải chọn giữa một trong hai điều đó, đối với nàng quả thật là tàn nhẫn. Cuối cùng nàng đả chọn chữ hiếu và bước ra ngoài. Đi một bước là bao nhiêu dòng lệ cúa nàng tuôn rơi. Kiều khóc mà vẫn rất đẹp. Đối với nàng thì việc ra chào khách xem mặt quả là một việc làm vô cùng xấu hố vì nàng là con gái khuê các, xưa nay chưa ra khỏi phòng đế chào như vậy bao giờ. Thấy nàng buồn bã, xấu hổ, mụ mối lo lắm, sợ Mã Giám Sinh không ưa thì Kiều sẽ bị mất giá. Mụ bèn ra sức vén tóc, bắt tay Kiều, chỉ cho Mã Giám Sinh xem tóc nàng, mắt nàng… mà không nhận thấy rằng việc đó làm cho Kiều lại càng buồn túi hơn vì một cô gái con nhà danh giá nay lại trở thành món đồ để người khác đi bán lại, bị coi như một thứ đồ đạc chứ không phải là con người nữa. Nhưng bọn tàn ác bất nhân kia thì quan tâm gì đến việc đấy, chúng chi nghĩ đến tiền, tiền, tiền mà thôi. Mã Giám Sinh đã tận mắt thấy sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Kiều. Nhưng hắn thực chất là một con buôn giả dối và lọc lõi, hắn đến đây với mục đích mua Kiều về làm ca kỹ cho lầu xanh của Tú Bà nên hắn vẫn còn muốn thử xem Kiều có thực sự tài hoa như mụ môi mách báo hay không. Hắn bắt Kiều phải đàn cho hắn nghe, Kiều đã đàn ngay ca khúc Bạc mệnh của mình tự viết với tất cả tâm trạng đau khố của mình. Tiếng nhạc du dương, tha thiết làm rung động lòng người, nhưng Mã Giám Sinh vẫn chưa vừa ý, hắn bắt Kiều phải làm thêm một bài thơ đề vào chiếc quạt giây của hắn. Kiều đã làm đúng yêu cầu, Mã Giám Sinh rất ưng ý và đã đồng ý mua người. Hắn quay sang hỏi mụ mối:Xem thêm: Cảm nghĩ về hình tượng phụ nữ trong bài ca dao Khăn thương nhớ ai – Mua ngọc đến Lam Kiều, sính nghi ta cần chuẩn bị là bao nhiêu?
Lời nói mới thật hoa mĩ làm sao, trái ngược hẳn với những lời hắn đã nói trước kia. Nhưng bản chất con buôn của hắn vẫn bộc lộ rất rõ khi mụ môi ra giá:
– Đây là một tuyệt thế giai nhân đáng giá nghìn vàng, chi vì hoàn cảnh gia đình nên phải bán mình, xin ngài thương xót.
Nhưng Mã Giám Sinh đâu chịu mất nhiều tiền thế, hắn cò kè bớt một thêm hai với mụ mỗì một hồi lâu. Cuối cùng cả hai đồng ý với bốn trăm năm mươi lạng vàng. Một cái giá vô cùng rẻ mạt đối với một con người “sắc đành đòi một tài đành họa hai” là Kiều.
Thế là Kiều đã bị bán đi, cuộc đời này đã rẽ sang một trang mới. Bao nhiêu thư thách, khó khăn, cạm bẫy đang chờ nàng ở phía trước, Ôi! Giá như trên đời này không có những con người bất nhân, coi tiền bạc quí hơn tính mạng con người thì đã không có những cảnh tượng đau xót đến thế, cuộc đời Kiều đã không phải khố như sau này.
Vanmau.edu.vn | Dựa trên đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều, hãy kể lại sự kiện Mã Giám Sinh đến mua Kiều | 1,041 | |
Dựa vào bài Mưa của Trần Đăng Khoa kể lại cơn mưa dào mà em có dịp quan sát
Gợi ý
Trời nóng oi bức đến mười ngày, hôm qua một trận mưa rào vừa ập xuống.
Trời bỗng tối sầm lại, gió thổi ù ù, mây đen kéo đến ùn ùn như ông trời đang mặc áo giáp đen ra trận. Không hiểu từ đâu mối bay ra rợp trời, mối trẻ bay rất cao, cao đến sát mái nhà, ngọn cây. Mối già bay thấp, có con bay là là mặt đất. Mối bay ra rất nhiều tưởng như vơ tay lên là bắt được đến vài con mối. Ngoài vườn, mẹ gà cục cục dẫn đàn con tìm nơi ẩn nấp, những chú gà con như những nắm bông vàng chạy lon ton, thỉnh thoảng lại kêu "chiếp chiếp". Gió ngày càng thổi mạnh, bãi mía trước nhà được cơn gió thổi làm lá mía xào xạc như muôn ngàn thiếu nữ đang múa gươm. Bụi cuốn mù trời, lá khô cuốn theo chiều gió chạm xuống đất nghe xào xạc dồn vào một góc sân như một bàn tay vô hình đã quét lại. Ngoài đầu ngõ, những chú kiến hối hả hành quân về tổ mang theo bao nhiêu là thức ăn dự trữ báo hiệu trước một trận mưa rất to sắp đến. Gió thổi mát ơi là mát. Những cọng cỏ gà rung rinh tai nghe ngóng. Đến cả bụi tre đầu ngõ cũng kẽo kẹt đưa võng, lá tre choẽ xuống như những cô thiếu nữ đang ngồi tần ngần gỡ tóc. Hàng bưởi ven bờ ao đu đưa bế những đứa con đầu tròn trọc lốc.Xem thêm: Kể về kỉ niệm tuổi học trò
Bỗng chớp loé sáng rực, cả bầu trời như có một chiếc bút kỳ lạ đã vẽ lên bầu trời một nét vẽ thật rõ sáng rồi vụt tắt, ông sấm được thể ra oai ghé xuống sân cười khanh khách, có lúc phát ra những tiếng đùng đoàng như mìn phá đá. Cây dừa vốn thường ngày đứng im lặng ở góc vườn nay thả sức sải tay bơi như những vận động viên đang bơi lội. Những chị mùng tơi ở hàng rào cạnh tường lâu nay uốn éo giờ được nhảy múa hả hê.
Lộp bộp, lộp bộp, trời đã mưa. Trẻ em trong xóm réo lên. Mưa ù ừ như xay lúa, mưa sầm sập giọt ngã giọt bay. Nước sủi bọt trắng xoá cả sân. Đất trời mù trắng nước, mưa chéo mặt sân, mùi nước mưa ngai ngái, ngòn ngọt. Mưa rào rào trên mái tôn, mưa bùng nhùng trên các tàu lá chuối, lá khoai. Nước chảy ồ ồ, xối xả. Nước ngập cả sân. Mấy ông cóc cụ nhảy chồm chồm bì bõm trong nước mưa. Nước chảy đục ngầu ngầu,cuồn cuộn dồn về ao, nước mấp mé vườn nhà. Bỗng loé lên một ánh chớp, sấm kêu "ùng" một cái làm trẻ em trong xóm hét lên một tiếng rõ to. Cây lá trong vườn hả hê run rẩy.
Mưa ngớt dần rồi tạnh hẳn, mấy con chim chào mào từ gốc cây nào đó bay ra hót râm ran như đón ông Mặt Trời lại mỉm cười, những tia nắng vàng óng ánh sau những vòm lá bưởi. Bầu trời lại trong xanh và cao như một bàn tay vô hình đã gột rửa sạch những đám mây đen. Tiếng bàn chân chạy lép nhép ngoài đường. Trẻ em trong xóm rủ nhau đi bắt cá rô ngược dòng nước.Xem thêm: Kể lại cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở một nơi nào đó.Trận mưa rào thật là thích đã đem đến cái không khí trong lành, khoan khoái dễ chịu. Cây cối như vụt lớn hẳn lên, sum suê hơn mọi ngày, cái bể nhà em lại đầy ắp nước mưa.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào bài Mưa của Trần Đăng Khoa kể lại cơn mưa dào mà em có dịp quan sát | 650 | |
Dựa vào bài thơ Sa bẫy, em hãy kể lại kế hoạch của bé Mây
Gợi ý
Mấy ngày hôm nay, chẳng hiểu sao trong nhà bé Mây xuất hiện một lũ chuột. Chúng tinh quái phá phách, nghịch ngợm đồ đạc khắp nơi. Mọi người vô cùng bực mình và khó chịu. Phải tốn công lắm, bé Mây mới nghĩ ra một kế.
Thế là chiều hôm ấy, một buổi chiều mát mẻ và dễ chịu, Mây rủ mèo con cùng nhau đặt bẫy chuột. Bé chuẩn bị rất cẩn thận và chu đáo: nào cá nướng thơm lừng, chiếc cạm sắt mới tinh, rồi từ từ để cá vào bẫy.
Đêm hôm đó, nằm trên giường, cơn gió mùa thu dịu mát lùa vào ô cửa sổ. Bện ngoài trăng sáng vằng vặc, xung quanh là trăm ngàn ngôi sao kỳ diệu đang làm sáng cả bầu trời trông như những ánh nến lung linh huyền ảo, bé Mây nằm và suy nghĩ, tưởng tượng. Chắc hẳn giờ này, lũ chuột kia không kìm nén được sự tham lam đã chui vào bẫy của ta đánh chén món cá rồi đây. Bé Mây tự nhủ và lại thì thầm tâm sự với mèo con. Mèo ta thích chí, tán thành ý tưởng của cô chủ. Nó khẽ rung rung bộ ria mép, gật gù tán thưởng. Thế rồi, bé Mây đã chìm sâu vào giấc ngủ với giấc mơ về một lồng đầy chuột mắc bẫy rồi cô cùng người bạn chí thân, Mèo con, đem chúng ra xét tội. Nhất định bọn phá hoại này phải bị trừng trị thích đáng dù chúng có khóc ròng xin tha!Xem thêm: Em hãy kể lại lời tâm sự của cây bàng non bị lũ trẻ bẻ cành lá
Sáng sớm, khi những ánh nắng ban mai rực rỡ chiếu qua chiếc giường nhỏ bé xinh xắn, bé Mây vùng dậy, bừng tỉnh, chạy vội xuống bếp xem tình hình. Ôi thôi! Cái bẫy đã sập, cá cũng hết, chẳng thấy con chuột tinh quái nào mà kẻ sa bẫy bây giờ lại chính là Mèo con. Bé Mây sững sờ và ngõ ngàng nhưng rồi cô chợt hiểu ra rằng cô đã quá ngây thơ. Thì ra nụ cười và sự đồng tình của Mèo con hôm qua đã ẩn chứa một âm mưu của Mèo. Đúng thế, với Mèo còn gì thích hơn cá nướng? Đó là món ăn sở trường của chú ta! Bé Mây cảm thấy rất tiếc cho kế hoạch của mình đã đổ bể nhưng hơn hết, qua chuyện này, cô bé cũng tự rút ra cho mình một kinh nghiệm, một bài học quý giá trong cuộc sống.
Câu chuyện không chỉ của bé Mây mà nó còn là của chúng ta! Vâng, đó là đừng quá thơ ngây, không suy nghĩ chín chắn trước khi làm một việc gì đó.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào bài thơ Sa bẫy, em hãy kể lại kế hoạch của bé Mây | 482 | |
Dựa vào bài thơ “Lượm” của nhà thơ Tố Hữu, em hãy tưởng tượng về một lần đi liên lạc được gặp chú bé Lượm và kể lại lẩn gặp gỡ đó
Gợi ý
“Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghềnh…”.
Hình ảnh nhân vật Lượm trong bài thơ cùng tên của nhà thơ Tố Hữu ám ảnh tôi suốt trên đường đi học về và cho đến tận khuya, khi tôi đăm chiêu học bài. Có lẽ Lượm cũng bằng tuổi tôi (cô giáo tội cũng nói thế) vậy mà sao Lượm anh dũng quá! Nếu tôi cũng Sống trong hoàn cảnh đất nước chiêh tranh, bom đạn, liệu tôi có làm được như Lượm? Trời, giá một lần tôi được gặp anh ấy để thỏa lòng ngưỡng phục!… Tôi đăm đắm nhìn ra phía xa…
Trước mặt tôi là một khung cảnh hoang tàn, đổ nát. Những mái nhà sụp vỡ, những mảng tường tan hoang. Cánh đồng làng đang mùa trổ bông mà ruộng nào ruộng nấy gãy rạp từng mảng, loang lổ những vết cháy đen. Đường quô’c lộ thì nham nhở những hầm hố ổ gà, nhìn hết sức bi thương. Không chỉ vậy, từ xa, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng súng nổ đì đùng. Bất chợt, có một tiếng nói cất lên phía sau tôi:
– Chào bạn! Tại sao bạn không đi tản cư mà lại ngơ ngác ở đây? Bạn có nghe tiếng súng rất gần đó không?Xem thêm: Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ đời sốngTôi giật mình nhìn lại: một cậu bạn trạc tuổi tôi, gương mặt sáng láng, nụ cười tươi tắn, mũ ca lô đội lệch nhìn nghịch ngợm hết sức; trên vai cậu ấy còn đeo một chiếc túi xắc xinh xinh. Nhìn cậu bạn dễ thương, tôi trấn tĩnh lại rồi hỏi:
– Chào bạn! Bạn là ai? Và đây là đâu hả bạn?
Nụ cười lại lấp lánh trên đôi môi của người bạn mới gặp:
– Bạn không biết mình đang ở đâu ư? Bạn đang đứng ở Thừa Thiên Huế. Còn tôi, tên tôi là Lượm.
– Lượm! Có phải anh Lượm làm liên lạc trong một bài thơ của nhà thơ Tố Hữu?
Bạn ấy lắc đầu:
– Mình bằng tuổi bạn đấy, đừng xưng hô như thế. Chắc gia đình bạn tản cư, bạn bị lạc đường mất rồi. Bạn có nhìn thấy cái cây cổ thụ phía xa kia không? Bạn chịu khó đi đến đó hỏi đường các chú cảnh vệ nhé. Mình phải đi bây giờ, mình đang vội lắm!
Lượm toan rảo bước chân đi nhưng tôi phần vì không muôn rời xa người bạn đáng mến mới quen như thế, phần vì tò mò (bom đạn thế này sao bạn ấy không đi tản cư như mình mà định đi đâu?) nên vội níu áo bạn:
– Ây khoan! Cậu đi đâu mà vội thế?
– Mình là liên lạc của Việt Minh! – Cậu bạn tự hào trả lời. Khi nói câu này, mặt cậu ấy còn hơi nghênh lên rất ngộ! – Mình đi làm việc như mọi ngày thôi, đưa thư cho các cán bộ trong tỉnh, trong huyện,…Xem thêm: Bàn về truyện ngắn có ý kiến cho rằng: “Qua một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc của nhân vật, nhà văn muốn đối thoại với bạn đọc một vấn đề nhân sinh”. Hãy từ một truyện ngắn mà anh (chị) thích, bày tỏ quan niệm của mình về ý kiến trênTrờỊ ơi! Thật vậy không? Một cậu bé nhỏ xíu bằng tuổi tôi? Mà dám đi làm liên lạc cho cách mạng?
– Thế… thế cậu có sợ không?
– Ư… Sợ thì cũng có sợ chứ. Tớ mấy lần bị đạn bắn hút chết. Có lần bị thương thật – rồi đấy, nằm mấy ngày liền. Nhưng đất nước có chiến tranh ai cũng phải góp sức mình cho Tổ quốc. Hơn nữa, cứ ở nhà mà nghe tin này, tin nọ của ta, của địch sốt ruột lắm, mình thấy chân tay như thừa cả ra ấy, chỉ muốn góp chút sức mình cùng với mọị người. Mình làm liên lạc, đi lên đồn Mang Gá với các anh các chị trên ấy vui lắm! Thôi chào bạn nhé! Mình đi đây!
Tôi ngỡ ngàng nhìn bóng Lượm thoăn thoắt trên con đường đầy thương tích. Cậu ấy đang chữa lành vết thương cho những con đường đấy! Để tin tức của ta không vì bom bạn mà đứt quãng. Nhìn từ xa, tôi chỉ thấy một dáng hình nhỏ nhắn nhưng lanh lẹ, chiếc xắc lắc lên đập xuống theo nhịp chân sảo của Lượm; nhất là cái mũ ca lô, Lượm đã vào những bờ lúa mà chiếc mũ vẫn nhấp nhô thoắt ẩn thoắt hiện. Nắng đang lên nhẹ rải những ánh vàng trên con đường Lượm đi…
Bỗng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Tôi giật bắn mình, mắt ngỡ ngàng nhìn những tia máu nóng bắn tung lên và dáng Lượm chơi vơi giữa đồng lúa…Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Bạn đến chơi nhà Ngữ văn lớp 7 Tôi khống dám đi tiếp theo dòng suy tưởng của mình. Bừng tỉnh, tôi thấy trời đã khuya lắm, hàng xóm xung quanh đã tắt điện cả rồi. Rất nhiều năm trước, có biết bao anh hùng nhỏ tuổi đã ngã xuống để hôm nay tôi có được những đêm yên bình thế này. Tôi bâng khuâng nhớ về Lượm, nhớ về các anh với niềm cảm phục vô hạn. Tôi đã toan cất sách đi ngủ nhưng lại tiếp tục giở trang học tiếp bài còn đang dang dở…
Vanmau.edu.vn | Dựa vào bài thơ “Lượm” của nhà thơ Tố Hữu, em hãy tưởng tượng về một lần đi liên lạc được gặp chú bé Lượm và kể lại lẩn gặp gỡ đó | 961 | |
Dựa vào bài Vượt thác (trích Quê nội của Võ Quảng) hãy viết một đoạn văn tả dượng Hương Thư đưa thuyền vượt qua thác dữ
Gợi ý
Nước từ trên cao phóng xuống định nuốt chửng con thuyền. Nhưng ở phía dưới dượng Hương Thư nhanh như cắt vừa thả sào, vừa rút sào nhịp nhàng, đều đặn. Con thuyền được giữ thăng bằng vẫn xé ngang dòng nước lao nhanh. Nó chồm lên, sấn tới, hùng dũng hơn cả dòng thác dữ.
Nhưng dượng Hương Thư cũng không chịu thua. Các bắp thịt cuộn lên, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa, dượng ghì mạnh trên ngọn sào để giữ cho con thuyền được an toàn. Lúc ấy, nhìn dượng giống như một pho tượng đồng đúc vững chãi và mạnh mẽ. Quả thật, hình ảnh dượng trụ sào giữ thuyền giữa dòng thác dữ còn khiến tôi liên tưởng đến hình ảnh một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành | Dựa vào bài Vượt thác (trích Quê nội của Võ Quảng) hãy viết một đoạn văn tả dượng Hương Thư đưa thuyền vượt qua thác dữ | 186 | |
Dựa vào các tác phẩm Truyện và Ký, Nhật ký trong tù của Hồ Chi Minh, hãy giải thích và chứng minh ý kiến: “Văn thơ Hồ Chí Minh có một phong cách nghệ thuật hết sức phong phú và đa dạng”
Gợi ý
Sinh thời Hồ Chí Minh không hề có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương để lại cho đời, nhưng thực tế Người đã trở thành một nhà văn, nhà thơ lớn Những sáng tác của Bác lại hết sức phong phú, đa dạng về phong cách nghệ thuật. Không nói toàn bộ sự nghiệp sáng tác văn học của Người, chỉ cần phân tích mấy tác phẩm Truyện và Ký Người viết vào đầu những năm 20 của thế kỷ và tập thơ Ngục trung nhật ký cũng đủ thấy rõ điểu đó
Vì sao lại có hiện tượng dường như một nghịch lý như vậy? Giải thích hiện tượng này có nghĩa là tìm hiểu quy luật sáng tác Văn học độc đáo của Hồ Chí Minh. Có thể nói quan điểm sáng tác nhất quán của Bác là nguyên nhân tạo nên phong cách nghệ thuật hết sức đa dạng, phong phú của thơ văn Hồ Chi Minh. Quan điểm sáng tác ẩy là: coi hành vi sáng tác văn chương trước hết phải phục vụ hết sức hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng, phải có đối tượng và mục tiêu cụ thể thiết thực. Vì vậy trước khi cầm bút, Người luôn luôn tự đặt cho mình các câu hỏi: Viết cho ai (đối tượng)? Viết để làm gì (mục đich)? Viết cái gì? (nội dung) và viết thế nào (hình thức)? Hồ Chí Minh trên bước đường hoạt động của mình, từ Đông sang Tây, từ ngoài nước đến trong nước, tuỳ từng nơi, từng lúc, tuỳ từng tình huống cụ thể, Người đã phải giải quyết bao nhiệm vụ khác nhau, phải liên kết bao bạn bè gần xa, phải đối phó với bao kẻ thù lớn nhỏ sao cho phù hợp với chiến lược và sách lược cách mạng từng thời kỳ. Phục vụ cho những yêu cầu cách mạng cụ thể ấy, nhằm vào những mục tiêu và đối tượng vận động cách mạng cụ thể rất khác nhau, thơ văn cùa Người tất nhiên củng phải hết sức phong phú đa dạng từ nội dung đến hình thức, từ tư tưởng đến phong cách nghệ thuật. có thể coi đó là quan điểm và quy luật sáng tác văn học độc đáo của Hồ Chi Minh. Quan điểm ấy thể hiện rất rõ qua những Truyện Ký và tập thơ Nhật ký trong tù của Người.
Trước hết, tính chất phong phú đa dạng của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh thể hiện ngay ở sự khác biệt hầu như hoàn toàn giữa phong cách viết truyện ký và phong cách thơ Nhật ký trong từ. Nói như Phạm Huy Thông trong bài tựa bản dịch truyện ký Nguyễn Ái Quổc: "Hồ Chủ Tịch đa viết "Nhật ký trong tù" bằng chữ Hán với phong cách Đường, Tống và đã viết những truyện ký bằng tiếng Pháp (…) như một ngòi bút phương Tây sắc sảo, rất điêu luyện, rất Pháp".Xem thêm: Bình giảng một đoạn văn tả cảnh và cảm xúc của nhân vật Mị giữa ngày Tết trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài (đoạn từ “Hồng Ngài năm ây...” đến “... quả pao rơi rồi”) Nói riêng về những tác phẩm truyện ký. Đây là nhừng truyện ngắn và bút ký viết bằng tiếng Pháp ra đời vào đẩu những năm hai mươi của thế kỷ này Như trên đã nói đây là những tác phẩm được viết hàng một ngòi bút phương Tây hiện đại và "rất Pháp" Tất cả đều nhằm tố cáo tội ác của bọn thực dân. tư bản, bọn phong kiến tay sai đối với nhân dân lao động các nước thuộc địa, đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng.
Tuy vậy không truyện nào giống truyện nào, dù là những tác phẩm cũng nhằm vào một đích (chảng hạn truyện Vi hành và truyện Lời than vãn của bà Trưng Trắc cùng lên án tên vua bù nhìn Khài Định).
Trong Vi hành tác già tạo ra một tình huống nhầm lẫn rất thú vị, trong đó nhân vật chinh"Khải Định" không có mặt, mà lại được khác hoạ rất rõ nét. Tác giả dùng hình thức viết thư để có thể dể dàng chuyển cảnh, chuyển giọng một cách linh hoạt và tự nhiên, Ở lời than vẵn của bà Trưng Trắc trí tường tượng lại được phát huy để tạo ra một thế giới rùng rợn, diễn tả cơn ác mộng của Khài Định bị tổ tiên xỉ nhục và ruồng bò. Với tác phẩm Varen và Phan Bội Cháu thì tác già vận dụng tài quan sát và kí hoạ, tạo ra những đoạn tường thuật sắc sảo hệt như quay một cuộn phim tư liệu về hành trinh của Varen, đồng thời khai thác triệt để thủ pháp đối lập để làm nổi bật hai nhân cách: Varen thì bắng nháng, ba hoa, ti tiện, còn Phan Bội Châu thì uy nghi lẫm liệt. Truyện ngắn Pari lại sử dụng ngòi bút phóng sự rất linh hoạt, giọng văn thi đi từ mỉa mai chua chát đến căm giận xót xa. Con người biết mùi hun khói có thể gọi là một truyện viễn tưởng chính trị Còn Đồng tâm nhất trí lại có dáng dấp một truyện ngụ ngôn đậm màu sắc dân gian.v.v…
Nhật ký trong từ cũng là một tác phẩm rất đa dạng về phong cách nghệ thuật Tập thơ cũng tạo nên sự thống nhất hài hoà rất độc đáo của nhiều yếu tố tư tưởng và nghệ thuật tưởng như đổi lập nhau.
Chỉ điểm qua hệ thống đề tài đã thấy như thế. Bên cạnh những đề tài rất thú vị, vốn quen thuộc với thơ ca cổ điển: phong, hoa, tuyết, nguyệt, triệu cảnh, văn cảnh, đãng sơn, ức hữu… là những đề tài rất nôm na, đầy chất văn xuôi như các bài: Điền Đông, Sơ đáo Thiên Bảo ngục, Lại sang, Bào hương cẩu nhục, Hạn chế, Nhân đồ ngã…Xem thêm: Vai trò của Internet trong cuộc sống hôm nay
Đi vào thế giới hình tượng thi thấy bên cạnh một cái tôi trữ tình có phong thái ung dung nhàn tàn, bầu bạn với thiên nhiên tựa như Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Bạch Vân Am, là một cái tôi khao khát tự do, khát khao chiến đấu, lòng như lửa đốt hướng về Tổ quốc, về đồng bào, đồng chí đang ngóng đợi minh.
Thà chết chẳng cam nô lệ mãi,
Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền
Xót mình còn hãm trong tù ngục
Chưa được xông ra giữa trận tiền.
(ở Việt Nam có báo động…)
Nghĩa là bên cạnh một bậc hiền triết của thuở xưa sống thanh thản ở ngoài dòng chảy của thời gian, là một chiến sĩ cách mạng luôn tính đếm từng chút thời khác đi qua một cách oan uổng bên ngoài song sắt nhà lao: "Bốn tháng rồi”, "Tám tháng hao mòn với xích gông”, "Mông chín ta vừa đến Liễu Châu”, "Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng", ”Ngày đi bạn tiễn dến bên sông – hen bạn về khi lúa đỏ đồng”, "Giam lâu ngày không được chuyển”, "Tiếc ngày giờ".v.v…
Ấy là sự thống nhất hài hoà giữa cái cổ điển và cái hiện tại trong một phong cách thơ phong phú độc đáo. Người ta thường nói, nhiều bài thơ trong Nhật ký trong tù có phong cách Đường thi. Nhận xét ấy thực ra chỉ đúng một nửa Phải thấy rằng những bài thơ ấy một mặt "rất Đường", mặt khác lại không hẳn là "Đường". "Đường" ở chỗ khi viết về thiên nhiên thường chỉ dùng vài nét chấm phá, để lại nhiều khoảng trống, cốt ghi lấy linh hồn của cảnh hơn là vẽ hình xác của tạo vật. "Đường" ở thế giới hình tượng tĩnh, có tính phi thời gian, và ở chỗ hình tượng nhân vật trữ tình ung dung tự tại, tâm hồn hoà hợp với thiên nhiên. Nhưng không hẳn là "Đường" vì thế giới nghệ thuật của nhà thơ cách mạng thể hiện một quan niệm khác với người xưa về không gian, thời gian và con người trong quan hệ với tạo vật. Nếu trong thơ xưa, thiên nhiên là chủ thể, con người thường sắm vai ngư, tiêu, canh, mục, ẩn dật giữa chốn thôn dã, lâm tuyền, thì trong thơ Hồ Chi Minh, con người là con người hành động. Con người không ẩn đi mà hiện ra, không phải ẩn sĩ mà là chiến sĩ. Con người sống cao độ với thời gian. Con người là chủ thể:
Đi đường mới biết gian lao
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;Xem thêm: Mở đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử viết: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Đây là lời của ai? Có người cho rằng câu hỏi đó đã được nhà thơ trả lời bằng 11 câu thơ tiếp theo của tác phẩm. Ý kiến anh (chị) như thế nào? Hãy phân tích bài thơ để làm sá Núi cao lên dến tận cùng
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non
(Đi đường)
Sự đa dạng của phong cách Nhật ký trong từ còn liên quan đến tính chất nhật ký của tác phẩm Trong nhà tù Bác ngồi ghi chép những sự thật diễn ra hàng ngày mà Ngươi quan sát đươc Cũng là một cách đế giải trí đồng thời còn có nhu cầu của một con người hết sức năng động, không chịu để cho tâm trí mình được nghi ngơi chăng?
Có hai sự thật người tu cách mạng có thể theo dõi quan sát và ghi chép: một là sự thật khách quan, nghĩa là những điều mắt thấy tai nghe ờ trong nhà tù và trên đường đi đày. Đối với sự thật này, tác già thường dùng lối thơ hướng ngoại là chính, một thứ thơ thiên về bút pháp tự sự – tả thực.
Hoả lò ai cũng có riêng rồi
Nhỏ nhỏ to to mấy cái nồi
Cơm, nước, rau, canh đun với nấu,
Suốt ngày khói lửa mãi không thôi.
(Sinh hoạt trong tù)
Kết hợp những bài thơ này lại, ta có thế hình dung được rất cu thể, chi tiết như xem một cuốn phim tài liệu, bộ mặt của nhà tù và một phần cùa xã hội Trung Quốc Hồi 1942 – 1943.
Nhưng có một loại sự thật khác, ấy là diễn biến tư tưởng và tâm trạng của tác giá khi một mình đối diện với thiên nhiên hay với bản thân mình. Đối với sự thật này, tất nhiên phải dùng lối thơ hướng nội, bút pháp trữ tình, một thứ nhật ký tâm sự, nhật ký tư tưởng. Kết hợp những bài này lại, ta được chiêm ngưỡng một bức chân dung tinh thần tự hoạ rất rõ nét và sinh động của nhà thơ.
Ở loại bài thứ nhất, người ta thấy trong thơ Hồ Chí Minh có nhà báo Nguyễn Ấi Quốc hết sức sắc sảo trong bút pháp ký sự, phóng sự và nghệ thuật mỉa mai châm biếm.
Ở loại bài thứ hai, ta lại thấy trong nhà thơ cách mạng có sự nối tiếp truyền thống thi ca lâu đời của Phương Đông, của dân tộc, từ Lý Bạch, Đỗ Phủ… đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…
Sụ nghiệp thơ văn của Hồ Chí Minh là một khối thống nhất, toàn vẹn, nhưng không đơn điệu. Thống nhất ở lý tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội; thống nhất ở quan điểm sáng tác phục vụ đấu tranh cách mạng, nhưng hết sức phong phú, đa dạng về thể loại và phong cách nghệ thuật. Đó là một hiện tượng văn học lớn và độc đáo; một cây bút có thể gọi là đa phong cách rất đặc biệt trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào các tác phẩm Truyện và Ký, Nhật ký trong tù của Hồ Chi Minh, hãy giải thích và chứng minh ý kiến_ “Văn thơ Hồ Chí Minh có một phong cách nghệ thuật hết sức phong phú và đa dạng” | 2,054 | |
Dựa vào các văn bản Chiếu dời dô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước
Gợi ý
Đối với một quốc gia, nhắc đến những nhà lãnh đạo đất nước là nhắc đến những người đứng đầu bộ máy hành chính nhà nước hay tổ chức quân sự, văn hoá…
Đứng trên cương vị một nhà lãnh đạo, trước hết họ phải là những người có tầm nhìn xa trông rộng, nhận định đúng tình hình đất nước, từ đó xác định đúng nhiệm vụ của cả dân tộc.
Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đều là những nhà lãnh đạo tài ba, uyên bác thông hiểu kim cổ đông tây. Vị vua đầu tiên của triều Lý đã nhắc đến gương chuyển đô của vua Bàn Canh nhà Thương, nhà Chu. Trần Quốc Tuấn lại nêu gương những anh hùng hào kiệt, biết xả thân vì chủ tướng vì đất nước: Do Vu, Dự Nhượng, Kỉ Tín,.. Có thể nói, biết "ôn cố" để "tri tân" là một trong những tố chất không thể thiếu của một nhà lãnh dạo. Và từ việc "nhớ chuyện cũ", các nhà lãnh đạo tài ba đã thể hiện thiên năng "biết chuyện mới, chuyện đời nay" rất tài tình.
Nhà Đinh, Lê "không noi theo dấu cũ Thương Chu" giữ nguyên vị trí kinh đô tại Hoa Lư mà đất Hoa Lư chỉ là chốn núi rừng hiểm trở, khắc nghiệt. Điều đó khiến thời vận đất nước gặp nhiều trắc trở. Lịch sử cũng đã chứng minh điều đó, hai nhà Đinh Lê triều vận ngắn ngủi, nhân dân gặp nhiều khó khăn… Có thể nói, việc phê phán hai triều Đinh, Lê một phần lớn đã thể hiện tầm nhìn lãnh đạo của Lí Công Uẩn. Ông đã nhìn rõ một thực tế quan trọng: đất nước đang bước vào thời bình, Hoa Lư không còn phù hợp với vị thế kinh đô nữa!Xem thêm: Hãy cho biết cảm nghĩ của em về hình ảnh của chú bé giao liên tên Lượm trong bài thơ “Lượm” của nhà thơ Tố Hữu Trần Quốc Tuấn cũng vậy. Từ thực tế của việc giặc Nguyên Mông xâm lược nước ta lần một và thái độ của chúng hiện nay, ông đã thấu rõ nguy cơ của một cuộc chiến chống xâm lược. Sang nước ta, quân Nguyên Mông “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt Tể phụ”, “đi lại nghênh ngang”, bắt dân ta cống nạp khoáng sản, vàng bạc… Vậy rõ ràng, chúng chưa hề thấm thía bài học từ thất bại của cuộc xâm lược lần một và đang mưu mô cuộc chiến tranh ăn cướp lần hai.
Giặc như vậy còn lực lượng quân sĩ ta thì sao? Vị nguyên soái lỗi lạc thêm một lần đau xót khi chứng kiến thực cảnh binh sĩ dưới quyền lơ là mất cảnh giác trước nguy cơ mất nước. Họ “hoặc thích chọi gà, hoặc mê tiếng hát”, chơi cờ… Ông cay đắng chỉ ra một điều tất yếu là khi giặc đến những thú vui ấy chỉ trở thành tai họa “cựa gà trống không đâm thủng áo giáp của giặc”, “tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai”, “mẹo đánh cờ không thể dùng làm mưu lược nhà binh”…
Từ việc nhìn nhận thấu suốt tình hình đất nước, các nhà lãnh đạo anh minh đều xác định rõ nhiệm vụ của quân và dân. Điều quan trọng là họ có những quyết định đúng đắn, những hành động táo bạo để đưa đất nước đến được bến bờ của sự bình yên và phát triển.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu ý kiến của em về việc một bộ phận học sinh hiện nay không tuân thủ việc mặc đồng phục khi đến trường, trong đó có sử dụng câu phủ định Lí Thái Tổ xác định nhiệm vụ hiện tại là cần dời đô khỏi Hoa Lư. Nhưng dời đô đến đâu? "Thành Đại La… là nơi trung tâm trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta chỉ có nới đây là thánh địa”. Từ việc có ý thức sâu sắc ưu thế của thành Đại La đối với việc phát triển đất nước, Lí Thái Tổ đã có quyết định đúng đắn là thiên đô về mảnh đất văn hiến này.
Trần Quốc Tuấn trên cương vị Tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông đã khẳng định ý chí đánh giặc của toàn dân tộc đồng thời khuyến khích, động viên tinh thần chiến đấu của binh sĩ. Ông khuyên quân sĩ phải biết “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”, phải biết ra sức tập luyện để sẵn sàng chiến đấu. Không chỉ vậy, ông còn soạn thảo “Binh thư yếu lược” làm sách lược cho binh sĩ tập luyện, rèn quân.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào các văn bản Chiếu dời dô và Hịch tướng sĩ, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước | 865 | |
Dựa vào câu chuyện “Tấm Cám” đã học, em hãy kể chuyện về con cá Bống
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI:
Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh.
+ Ai đã đọc truyện Tấm Cám chắc không thể quên được con cá Bống.
+ Kể lại việc Tấm có con cá Bống và việc Tấm cho Bống ăn.
B. THÂN BÀI:
Phát triển câu chuyện:
1. Mụ dì ghẻ bảo Tấm đi chăn trâu xa. Tấm nói cho Bống nghe để khỏi chờ đợi.
2. Buồn quá, Bống bơi lên bơi xuống rất bồn chồn vì nhớ Tấm.
3. Nó thoáng thấy hai người đàn bà. Nó vội lặn xuống.
4. Nghe tiếng hát quen thuộc gọi ăn, Bống nghi ngờ.
5. Thấy chiếc yếm đỏ, Bống tò mò lên nhìn.
6. Bị bắt và bóp chết.
C. KẾT LUẬN:
+ Tấm về và nhìn thấy cục máu, khóc thảm thiết.
+ Những lời ai oán của Tấm bên thành giếng.
BÀI LÀM
Ai đã từng nghe kể câu chuyện Tấm Cám chắc hẳn không thể nào quên được chú cá Bống còn sót lại trong giỏ Tấm sau lần đi bắt cá cùng với Cám và chắc cũng không thể quên được câu hát ngọt ngào của Tấm mỗi lúc gọi bạn mình lên ăn.
Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người…
Hôm ấy, Bống rất bồn chồn khi đợi mãi mà không nghe tiếng chị Tấm gọi mình như thường lệ. Chả là lúc sáng chị Tấm nói với Bống rằng hồm nay, chị bị mụ dì ghẻ bảo đưa trâu đi ăn ở cánh đồng xa, cho nên có thể về muộn và Bống đừng có mong đợi nhiều.Xem thêm: Câu tục ngữ Lá lành đùm lá rách gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về truyền thống đạo lí của dân tộc ta? Buồn quá, Bống lần theo thảm rêu xanh mọc theo bờ dựng đứng của thành giếng. Nó bơi từ trên xuống dưới rồi lại thẫn thờ quẫy đuôi, quạt cặp vây nhỏ vào nước mà bơi từ dưới bơi lên. Nghe tiếng động lạ. Hình như có cả đến hai người cùng ra giếng. Bống vội lặn sâu xuống đáy nước, rúc vào cái hốc đá quen thuộc. Và kìa, vọng xuống từ miệng giếng vẫn là bài hát quen thuộc hằng ngày mà Bống được nghe.
Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng…
Giọng hát bị ngắt quãng và sau đó nghe tiếng xì xầm trao đổi ở trên ấy. Bống rất ngạc nhiên khi tiếng hát tiếp theo lại ngọt ngào đường mật và tha thiết.
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.
Lời mời gọi này sao mà quyến rũ thế. Nó đâu gắt gỏng và the thé như lúc đầu. Bống lưỡng lự, chú bơi vòng quanh một vòng đáy nước rồi cố mắt nhìn lên. Lấp loáng bóng hai khuôn mặt phụ nữ, một già, một trẻ. Bóng của họ cứ chao động và hình như cô gái trẻ mặc một cái yếm thắm đỏ chói thì phải. Ôi, cái yếm đỏ mà chị Tấm vẫn luôn ao ước! Bống bị sự tò mò kích thích. Cả đời chưa thấy yếm đỏ bao giờ mà. Quên đi những tính toán suy nghĩ, Bống ngoi lên trong lúc tiếng hát cứ réo rắt và thôi thúc.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đập Đá Ở Côn Lôn của Phan Chu Trinh Vừa chạm mặt nước, Bống đã thấy mình bị nhấc bổng lên trên không. Bống vùng vẫy tuyệt vọng trong một cái vợt. Bống biết mình đã bị lừa và một ý nghĩ thoáng qua rất mau: “Có lẽ mình sẽ chết…”
Mẹ con Cám đã reo lên sung sướng. Đúng là cái giọng the thé và gắt gỏng lúc nãy đang biểu lộ niềm vui: “Mẹ à, lần này thì con Tấm sẽ không còn để mà tâm tình với bạn nó nữa nhé!”. Vừa nói, Cám vừa lấy tay bóp chặt vào thân Bống. Máu trong miệng Bống trào ra. Chúng nó giết Bống trong khi chưa đưa Bống ra khỏi miệng giếng.
Chiều tối, Tấm đi chăn trâu về. Chị chưa kịp đóng then cài chuồng cho trâu, chưa kịp vào nhà lấy cơm cho Bống là đã chạy ào ra giếng. Tấm cất giọng ngân nga tha thiết như dành tất cả tĩnh thương của một người chị cho đứa em côi cút:
Bống bống bang bang…
Mới hát câu đầu mà đã nổi lên mặt giếng một cục máu tím bầm đầy oán hận, Tấm ôm mặt khóc nức nở. Chị đã hiểu ra cơ sự như thế nào. Thế là từ đây thân phận mồ côi của Tấm lại lẻ loi không có ai tâm sự.
Không tin được sự thật, Tấm lại nhìn xuống giếng, cục máu như đặc quánh và đỏ bầm lại hơn. “Bống đã bị giết”, ý nghĩ ấy làm Tấm không chịu nổi. Chị gục đầu ôm lấy thành giếng mà thổn thức nghẹn ngào: “Bống ơi, Bống ơi. Ai đã giết mày? Bống ơi, sao mày nỡ bỏ bạn bè mà ra đi”.Xem thêm: Cảm nghĩ về người mẹ của emVanmau.edu.vn | Dựa vào câu chuyện “Tấm Cám” đã học, em hãy kể chuyện về con cá Bống | 857 | |
Dựa vào câu nói của Lê-nin: Tôi không sợ khó… đề tài: Một học sinh có bản chất tốt, nhưng do một hoàn cảnh nào đó xô đẩy dẫn đến phạm sai lầm nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ
Gợi ý
Đề bài:
Dựa vào câu nói của Lê-nin: Tôi không sợ khó, không sợ khổ, tôi chỉ sợ những phút yếu mềm của lòng tôi. Đối với tôi, chiến thắng bản thân là chiến thắng vẻ vang nhất để xây dựng cốt truyện với đề tài: Một học sinh có bản chất tốt, nhưng do một hoàn cảnh nào đó xô đẩy dẫn đến phạm sai lầm nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ
Bài làm:
Trong cuộc sống, có những khó khăn làm bạn vấp ngã, có những khó khăn tưởng chừng như không, thể vượt qua. Không phải cuộc sống của ai cũng hoàn hảo, không phải con đường của ai cũng bằng phẳng và trải toàn thảm đỏ. Có những con đường khó khăn hơn, mà nơi đó chúng ta phải gặp những gập ghềnh buộc bản thân phải vượt qua. Dễ là khi nói mình sẽ vượt qua, nhưng khó là khi bạn có đang vượt qua điều đó. Như Lê-nin đã từng nói Tôi không sợ khó, không sợ khổ, tôi chỉ sợ những phút yếu mềm của lòng tôi. Đối với tôi, chiến thắng bản thân là chiến thắng vẻ vang nhất. Kiên và Sơn là những người như thế – hai người bạn với sự mạnh mẽ của mình đã vượt qua những thử thách tưởng chừng như không thể vượt qua trong cuộc sống.
Tôi biết Phan Văn Kiên từ khi cậu còn nhỏ. Kiên học với tôi từ khi còn tiểu học. Bẵng đi một thời gian không gặp nhau sau khi ra trường, tôi nghe tin rằng Kiên nghiện. Kiên rất hiền, hiền đến mức nghe tin cậu nghiện ma túy tôi không dám tin. Rồi đến khi lại nghe tin cậu cai nghiện thành công, tôi cũng không mấy tin. Nhưng đó là sự thật.Xem thêm: Triết lí nhân sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn Tôi tìm gặp Kiên, để nghe Kiên kể lại con đường sa ngã của mình. Năm 1995, khi Kiên vừa tốt nghiệp Trung học phổ thông, chưa có việc gì làm nên rơi vào con đường nhàn cư. Rồi bạn bè rủ rê, rồi sau vài lần dùng thử, Kiên "dính" hẳn vào ma túy. Để có tiền thỏa mãn cơn nghiện, Kiên cứ bán dần đồ đạc trong nhà, cho đến khi không còn gì để bán, nhà Kiên rơi vào cảnh khuynh gia bại sản.
Kiên tâm sự rằng "Có lúc thấy mọi người nhìn mình với ánh mắt cảnh giác, tớ cũng thấy xấu hổ lắm. Nhưng mỗi khi lên cơn thì đâu còn biết gì ngoài ma túy. Tớ biết lắm rằng mình là thằng con nghịch tử, nhưng thèm thì phải làm liều…". Rồi Kiên đồng ý cai nghiện. Cai tại nhà, cai ở trại… cũng chẳng ăn thua gì. Nhưng "con mạ trắng" đã bám chặt vào Kiên, không thể dứt bỏ.
Kiên kể rằng, không chỉ có mình cậu, Sơn người bạn học cùng khối của chúng tôi ngày xưa cũng là “cùng hội, cùng thuyền” với Kiên. Sơn là con nghiện "có tiếng". Đến mức trên cái xóm nhỏ nhà tôi bây giờ, nhắc đến Sơn "bộ đội" là nhiều người đã sợ. Nhớ lại thời đen tối, Sơn bảo: Con đường đến với ma túy của các con nghiện hầu như đều giống nhau. Đứa nào cũng thử cho biết, thử rồi là "dính" luôn.Xem thêm: Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu
"Tôi bị nghiện từ năm 1989. Năm 1990 đi bộ đội mà vẫn không cai được. Cứ tưởng xuất ngũ mình sẽ từ bỏ được nó, ai ngờ ra quân càng nghiện hơn. Nhiều khi thấy mình kém cỏi thấy mình là gánh nặng nên nghĩ đến con đường quyên sinh. Khổ lắm, ngửi thấy mùi đó là lại cứ lao vào" Sơn đã tâm sự với tôi rất thật như thế.
Rồi cũng như bao con nghiện khác, đồ đạc nhà Sơn cũng dần dần bị "sơ tán". Để có tiền, cậu ấy lại lao vào con đường trộm cắp, móc túi… Mấy năm trời đi "bụi", hết vào Nam lại ra Bắc, làm đủ trò để có tiền hút chích. Thế là vào tù…
Nhưng rồi cũng đến ngày lương tâm thức tỉnh…
Với Kiên, sau bốn lần cai nghiện không thành, mọi người đã coi cậu như thứ bỏ đi. Năm 2003, bố Kiên ông Phan Văn Vượng ốm nặng, ông ốm không gượng dậỳ nổi vì buồn chuyện của Kiên, ông nói coi như đã mất Kiên, ông còn sống làm gì. Thương cha, tủi hổ. với bản thân, lương tâm thức tỉnh, Kiên tự đi cai nghiện. Và cậu đã thành công chỉ hơn một năm sau đó. Bây giờ Kiên vừa chăm chỉ với nghề rửa xe máy, vừa giỏi giang sửa chữa điện tử. Bà con lối xóm ai cũng khen: Thằng Kiện thành người tốt rồi, vừa hiền lại vừa giỏi.
Kiên tâm sự: "Tớ muốn chuộc lại lỗi lầm của hơn mười năm nghiện ngập. Vì thế mà đã tình nguyện gia nhập nhóm đồng đẳng vừa để giúp đỡ người nghiện hoàn lương, vừa tham gia chăm sóc người có HIV. Nhóm của tớ đã giúp được ba mươi người cai nghiện thành công. Càng nghĩ càng thấy mình phải làm có trách nhiệm làm những việc ích cho đời".Xem thêm: Tôi tên là Oanh Liệt... mới. Dựa theo những lời tâm sự trên, anh (chị) hãy viết một truyện ngắn theo ngôi kể thử nhất kể về số phận và nỗi niềm của một con gà chọi bị bỏ rơi Tô Thanh Sơn cũng vậy. Để cắt được cơn nghiện, cậu đã lấy gia đình làm điểm tựa. Vì thế mà chỉ sau chín tháng, đã cai nghiện thành công. "Khổ nỗi, bạn nghiện không buông tha sau khi mình đã "làm người" – anh nói – không dễ gì giữ được mình nếu không có sự giúp đỡ của gia đình, của bà con lôi xóm".
Từ thành công đó, Sơn đã gia nhập đội tuyên truyền phòng chống ma túy, HIV/AIDS. Khi gặp lại, tôi thấy Sơn cười thật tươi: "Cuộc đời thật không thể ngờ. Đến bỏ đi như tôi mà bây giờ vẫn có thể làm lại. Tôi nghĩ chỉ có một con đường là tự mình phải có nghị lực, tự mình phải có khát vọng làm người thì chắc chắn sẽ thành công".
Thiết nghĩ, hai người bạn của tôi, những người đều đã dính vào con đường ma túy, đã vượt qua được những thử thách cam go nhất của cuộc sống để trở lại làm một con người thực sự. Kiên và Sơn đều cho rằng, hai cậu không sợ khó, không sợ khổ, miễn là cuốì cùng được trở thành một người lương thiện, làm những công việc bình thường vun đắp cho cuộc sống của mình. Như Lê-nin đã từng nói Chiến thẳng bản thân là chiến thắng vẻ vang nhất.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào câu nói của Lê-nin_ Tôi không sợ khó… đề tài_ Một học sinh có bản chất tốt, nhưng do một hoàn cảnh nào đó xô đẩy dẫn đến phạm sai lầm nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ | 1,234 | |
Dựa vào Cây tre Việt Nam của Thép Mới em hãy viết 1 bài văn ngắn trình bày cảm nhận của em về Cây tre Việt Nam
Gợi ý
Tre xanh Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh
Chẳng ai biết cây tre đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ bao giờ, chỉ biết rằng cây tre đã gắn bó với dân tộc Việt Nam từ bao đời nay và nó đã trở thành người bạn thân thiết lâu đời của nhân dân Việt Nam. Cây tre có mặt ở khắp nơi trên đất nước “Tre Đồng Nai, nứa Việt Bác, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi…. đâu đâu cũng có nứa tre làm bạn”. Tre có mấy chục loài khác nhau, nhưng đều mọc từ một mầm măng non mọc thẳng mà thành. Tre không kén đất, vào đâu tre cũng mọc, cũng sinh sôi xanh tốt. Từ lúc còn là một mầm măng tre đã mọc thẳng, lớn lên tre cũng vươn thẳng, vững chắc, dẻo dai. Dáng tre vươn cao mà mộc mạc, màu tre tươi mà nhũn nhặn.
Thế mới biết tre cũng thật khiêm tốn, nhún nhường như chí khí bất khuất của con người Việt Nam vậy. Từ thuở sơ khai, dưới bóng tre xanh, những người dân cày Việt Nam vỡ đất khai hoàng, dựng nhà, cày cấy; dưới bóng tre xanh, nhân dân ta xây dựng và giữ gìn nền văn hoá lâu đời… “giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa”. Cứ thế, tre trở thành một người bạn thân thiết không thể thiếu của nông dân Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày và trong lao động. Những em bé với những que chuyền đánh chắt bằng tre”, những cụ già bên chiếc chiếu tre… tất cả các hình ảnh đó đã trở nên quen thuộc, “tre với người, sống có nhau, chết có nhau, chung thủy” vô cùng. Đến khi người phải đánh giặc bảo vệ quê hương, tre lại trở thành người bạn chiến đấu của con người. Buổi đầu kháng chiến, tre là tất cả, tre là vũ khí. Người lính chỉ cần một chiếc gậy tầm vông trong tay cũng dám xông pha vào giữa đám quân thù. Tre như tiếp thêm lòng dũng cảm cho người, giúp người dựng nên “thành đồng Tổ quốc…”Xem thêm: Kể về một thầy giáo hay cô giáo mà em yêu quýMai đây, trên đất nước ta, sắt thép có nhiều hơn tre nứa thì tre vẫn là người bạn chung thủy, sắt son.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào Cây tre Việt Nam của Thép Mới em hãy viết 1 bài văn ngắn trình bày cảm nhận của em về Cây tre Việt Nam | 447 | |
Dựa vào dàn ý đã lập ở tuần 1, em hãy viết một bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên trên cánh đồng, trên nương rẫy, đường phố)
Hướng dẫn
Quê em là một vùng trung du, đồi núi nối đuôi nhau chạy mãi tít vào chân trời xa… Thỉnh thoảng có một vài thung lũng nhỏ hẹp chạy dài dưới hai chân đồi, tạo thành một cánh đồng nhỏ hẹp. Đó là vùng Thạch Thành quê ngoại em.
Quang cảnh buổi sáng trên cánh đồng thật đẹp phải không các em
Cánh đồng nhỏ hẹp ấy như một dải lụa xanh chạy dài từ xã Thành Minh đến tận đường quốc lộ 1A. “Dải lụa” ấy đã nuôi sống gần như nửa cái huyện vùng trung du này. Dân đông, ruộng ít. Ấy vậy mà cuộc sống ở đây không đến nỗi lam lũ, nghèo đói. Dường như quanh năm vụ nối vụ, mùa nối mùa. Hết màu xanh mơn mơn của cây lúa thời con gái đến thời vàng óng ả của mùa gặt. Hết lúa lại khoai đến ngô, sắn rau màu. Cứ thế… dải đất quí hiếm ấy luôn được nhuộm mới những sắc màu và hương thơm của cuộc sống thanh bình đang từng ngày thay da đổi thịt. Đêm đến, điện bừng sáng cả thôn quê, lũ trẻ chúng em tung tăng vui đùa dưới ánh điện, ca hát nhảy múa dưới sự hướng dẫn, tổ chức của các anh chị đoàn viên thanh niên. Đường làng, ngõ xóm được tôn tạo mở mang cho những chiếc xe hơi, xe honda từ dưới vùng đồng bằng và thị thành lên đây trao đối hàng hóa. Nhịp sống tươi vui của làng bản cứ thế diễn ra sôi động, rộn rịp không khác gì một thị trấn ở vùng xuôi.
Trước mắt em cánh đồng tuy hẹp nhưng rất trù phú và nên thơ. Vào những ngày tháng giêng, tháng hai “dải lụa” nhuộm một màu xanh ngắt. Lúa che kín cả mặt ruộng. Gió xuân từ trên các đồi cao, tuôn về thung lũng tạo nên những đợt sóng lúa đuổi nhau vội vàng, phát ra những âm thanh dịu ngọt. Đây đó, những bóng người ra thăm ruộng, lúc ẩn lúc hiện, làm cho những chú chim đi bắt sâu lúa giật mình, tung vọt lên cao. ơ dọc chân đồi, người ta xẻ ruộng thành những bậc thang đê trồng bắp cải, su hào. Những luông bắp cải tươi tốt đã bắt đầu cuộn lại, có những bắp mới cuôn được một nửa mà đã to bằng phần trên của chiếc mũ côi. Chắc khi cuộn hết, có lẽ phải đến bôn, năm kí hơn. Xuyên qua giữa cánh đồng là tỉnh lộ, nốì từ quốc lộ 1A đến thị trấn Kim Tân – trung tâm của huyện Thạch Thành, những chiếc xe bò đang chở phân ra đồng, bón thúc cho lúa, lăn đều trên mặt đường nhựa cùng với tiếng gõ lộc cộc của những bước chân đều đặn nện xuông mặt đường tạo ra một âm thanh vui nhộn giữa cánh đồng.
Nắng đã lên cao, vậy mà em vẫn tần ngần ngắm mãi dải lụa xanh này không biết chán. Mai đây khi mùa gặt đến, cánh đồng lại rộn rã tiêng hát tiếng cười của những cô thôn nữ “một nắng hai sương” đi thu hoạch lúa. Màu xanh hôm nay, màu xanh của niềm tin, của hi vọng chắc chắn sẽ báo hiệu một mùa gặt bội thu. Niềm vui hạnh phúc đang đến với quê em.
Tham khảo thêm bài làm khác của bạn Đỗ Hữu Hà Nam
Tiếng chim ríu rít, líu lo báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Ông mặt trời từ từ nhô ra khỏi màn sương sớm. Khói bếp nhà ai là là bay trong gió. Đàn gà con liếp chiếp gọi nhau, tíu tít theo chân mẹ ùa vào dòng người đang hỏi hả ra đồng.
Xem thêm: Dân gian ta có câu: “Không thầy đố mày làm nên” nhưng đồng thời lại nhắc nhở chúng ta: “Học thầy không tày học bạn”. Em hiểu những câu nói trên như thế nào
Bầu trời xanh xanh, êm đềm, trong treo. Vừa đi, tôi vừa ríu rit chuyện trò với mẹ, vừa tung tăng chạy theo những cánh bướm đang chặp chờn bay lượn. Chẳng mấy chốc cánh đồng đã hiện ra trước mắt tôi. Chà! Toàn là một màu vàng óng ả. Biển lúa mênh mông xa tít tận chân trời. Từ xa nhìn lại, cả cánh đồng như một tấm thảm vàng trải rộng. Thoang thoảng đâu đây mùi lúa chín. Hương lúa ngọt ngào man mác quyện vào trong gió, phả vào mũi tôi. Bước qua chiếc cầu nhỏ nối giữa dòng kênh, đến gần, cánh đồng hiện ra rõ hơn. Những ruộng lúa vàng mượt mà, óng ả như những dải lụa mềm thướt tha. Những cây lúa nặng trĩu bông sai chíu chít. Những hạt lúa tròn căng đung đưa trước gió. Trời cao xanh vời vợi, mấy đám mây trắng bồng bềnh trôi. Ông mặt trời rạng rỡ toả ánh sáng lung linh làm lấp lánh những giọt sương long lanh còn đọng trên kẽ lá, vương trên những ngọn cỏ xanh rờn. Hương lúa nếp chín thơm ngào ngạt lan toả khắp cánh đồng. Tiếng sáo diều ngân nga, vi vu, nghe thật vui tai. làm bừng lên không khí rộn ràng, êm ả nơi làng quê. Những cánh diều chao lượn trên không như vờn vào mây trắng, như đua nhau cùng chị gió, cùng những cánh chim đang tung cánh giữa trời xanh. Xa xa, thấp thoáng những chiếc nón trắng nhấp nhô giữa mênh mông biển lúa như những chiếc nấm xinh xinh mọc lên giữa cánh đồng. Tôi sung sướng, say sưa và mải miết ngắm nhìn. Dòng kênh cuồn cuộn chảy, mấy chú cá tung tăng bơi lội, quẫy mạnh làm tung bọt nước trắng xoá. Mặt trời đã lên cao, ánh nắng rực rỡ chói chang tràn xuống cánh đồng. Trên con đường mịn màng thơm mùi lúa chín mấy em bé tung tăng dắt trâu về chuồng. Những chú trâu thong thả bước từng bước nặng nề còn mấy chú nghé bụng đã căng tròn quấn quýt chạy theo chân mẹ. Các bác nông dân vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ.
Cả cánh đồng mênh mông bát ngát với những ruộng lúa vàng trĩu bông, những hạt lúa tròn căng hứa hẹn một vụ mùa bội thu, hứa hẹn một cuộc sống ấm no và hạnh phúc, nhà nhà đầy ắp tiếng cười, ”đầy sân thóc vàng”.
Tôi theo mẹ ra về mà lòng tràn đầy vui sướng. Vui vì xóm làng, quê hương thân yêu của tôi không còn nghèo như trước nữa mà sẽ ấm no, sẽ yên vui và hạnh phúc, các bạn nhỏ như tôi sẽ được cắp sách đến trường trên con đường làng thơm mùi lúa chín. Về đến nhà mà mùi hương dịu ngọt ấy vẫn còn quyện mãi trong tôi.
Bài làm 3: Tả cảnh một buổi sáng sớm trên đồng làng
Có lẽ không có gì đẹp hơn cảnh thiên thiên trên đồng làng vào buổi sáng sớm. Không khí thật là trong lành đã dần thấm sâu vào tâm hồn con người nơi vùng quê. Chao ôi! Đẹp tuyệt làm sao.
Đứng từ xa nhìn về phía cánh đồng như vẫn đang chìm trong giấc ngủ đắp một chiếc chăn khổng lồ có màu xanh vậy. Gà bắt đầu gáy, ở phía đông ông mặt trời bắt đầu mọc nhô dần lên. Những giọi sương mai li ti đậu trên cây ở đồng thi nhau tỏa ánh hào quang lấp lánh. Đôi khi có cơn gió thổi qua những ngọn lúa uốn lượn như làn sống trôi lênh đênh giữa cánh đồng rộng lớn. Ở tít phía xa của chân cánh đồng có một ngọn núi rất nhiều cây những chú chim đua nhau hót níu lo như đang hát chào buổi sáng sớm.
Nhìn buổi sớm trên đồng làng thật đẹp em như thể bị nó cuốn lấy tâm hồn nhỏ bé này theo không khí trong lành có cả màu sắc và âm thanh. Màu sắc là màu của cây cối vạn vật cho không khí trong lành còn âm thanh là tiếng chim ca tạo lên bức tranh trữ tình thật đẹp và mĩ lệ.
Khi ông mặt trời lên được một lúc thì những người dân nơi đây bắt đầu ra đồng làm việc. Cánh đồng như vui tươi hẳn lên để đón chào. Thi thoảng có tiếng cười đùa nói chuyện lại càng tạo lên sự sôi động của cuộc sống nơi vùng quê.
Ông mặt trời lên cao ánh nắng chiếu xa hơn đến mọi nơi làm sương bắt đầu tan. Những cơn gió làm đung đưa cây lá không khí thật là mát lành trên bầu trời mây cũng chôi thành từng đám theo hướng gió thật là đẹp.
Cánh đồng lúa bắt đầu chuyển mình khoe những bông trĩu nặng hạt đưa theo gió như một thảm lụa vàng chạy đến cuối chân đồi.
Bên trên cánh đồng là con đường làng nhỏ bé quen thuộc dẫn thẳng ra chợ. Người người cùng nhau đi chợ cười nói nhộn nhịp. Không khí vui tươi của cuộc sống hòa quyện với bức tranh cánh đồng làng quê buổi sáng vừa thanh bình vừa sống động và tràn đầy màu sáng và ánh sáng.
Nhìn bức tranh quê hương sống động này em cảm thấy yêu quê hương nhiều hơn. Tình yêu đó sẽ không bao giờ phai nhạt trong trái tim em. Em hứa sẽ học thật giỏi để mai này lớn lên xây dựng quê hương mình thêm đẹp hơn nữa.
Xem thêm: Viết đoạn văn tả cái gối ôm | Dựa vào dàn ý đã lập ở tuần 1, em hãy viết một bài văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên trên cánh đồng, trên nương rẫy, đường phố) | 1,651 | |
Dựa vào lời kể của thầy (cô) và tranh minh họa, em hãy kể lại toàn bộ câu chuyện “Pa-xtơ và em bé”
Hướng dẫn
1-Đoạn 1: Ngày 6-7-1885 chú bé Giô-dép chín tuổi bị chó dại cắn đã hai ngày. Mẹ của Giô-dép đã đưa cậu từ vùng quê xa xôi lên thủ đô Pa-ri nhờ Pa-xtơ cứu chữa. Cậu bé bị mười bốn vết cắn ở tay vì che mặt khi chó xông đến. Tính mạng của cậu chỉ được tính bằng từng ngày. Nhìn vẻ mặt đau đớn của cậu bé và nỗi lòng của người mẹ, Pa- xtơ vô cùng đau khố khi nghĩ đến một ngày kia cậu bé phát bệnh rồi đau đớn ra đi…
2-Đoạn 2: Đêm đã khuya, vậy mà Pa-xtơ không tài nào chợp mắt được. Vắc-xin chữa bệnh dại ông đả tìm ra nhưng chỉ mới thí nghiệm có kết quả trên loài vật. Còn trên cơ thể người thì chưa. Ông rất muốn cứu cho cậu bé nhưng không thể lấy em làm vật thí nghiệm. Bởi, nếu có tai biên gì thì sao?
3-Đoạn 3: Sáng hôm sau, ông thảo luận với đồng nghiệp và quyết định tiêm cho Giô-dép, hi vọng có thể cứu được em. Và thế rồi, ngay chiều hôm ấy 7-7-1885, ông đã tiêm vắc-xin cho Giô-dép. Những ngày sau, ông tiếp tục tiêm vắc-xin có độc tố tăng dần. Chín ngày trôi qua, đối với ông dằng dặc như chín tháng. Phát tiêm thứ mười với thứ vắc-xin có độc tính rất cao. Đây là phát tiêm quyết định tính mạng của Giô-dép. Bởi vậy mà suốt cả đêm Pa-xtơ đã thức trắng. Sáng ra, ông quyết định tiêm phát thứ mười.
4-Đoạn 4: Sau khi tiêm xong, Pa-xtơ tự tay dắt Giô-dép lên giường, an ủi em.
Thêm bảy ngày nữa chờ đợi làm cho Pa-xtơ tóc càng bạc trắng hơn. Dù chân trái bị bại liệt, Pa-xtơ vẫn thường xuyên chống gậy đến thăm Giô-dép.
5-Đoạn 5: Qua được ngày thứ bảy, cậu bé vần mạnh khỏe, bình yên. Lúc này, ông mới thơ phào nhẹ nhõm. Như vậy ông đã thành công trong việc chữa bệnh dại.
6-Đoạn 6: Sau thành công vang dội ấy, người ta liên tiếp gửi đến phòng thí nghiệm của ông những người bị chó dại cắn. Phòng thí nghiệm của ông trở thành Viện Pa-xtơ – viện chống dại đầu tiên trên thế giới.
Xem thêm: Tả lớp học của em | Dựa vào lời kể của thầy (cô) và tranh minh họa, em hãy kể lại toàn bộ câu chuyện “Pa-xtơ và em bé” | 408 | |
Dựa vào lời kể của thầy (cô), em hãy thuyết minh cho nội dung từng bức tranh minh họa cho câu chuyện Lí Tự Trọng
Hướng dẫn
I-HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1-Bức tranh 2: Lí Tự Trọng sinh ra trong một gia đình yêu nước ở Hà Tĩnh. Anh là một người thông minh, sáng dạ, được tố chức cách mạng cử ra nước ngoài học tập.
2-Bức tranh 2: Trở về nước, Lí Tự Trọng được giao nhiệm vụ chuyển và nhận tài liệu trao đổi với các tổ chức Đảng bạn bè qua đường tàu biển.
3-Bức tranh 3: Trong công việc, anh là một người mưu trí, gan dạ. Mấy lần suýt bị bại lộ, nhờ nhanh trí, anh đã thoát hiểm.
4-Bức tranh 4: Trong một buổi mít tinh, đê cứu đồng chí mình, anh đã nổ súng tiêu diệt tên mật thám rồi bị sa vào tay giặc.
5-Bức tranh 5: Trong ngục bọn giặc tra tấn anh rất dã man nhưng không moi được gì ở anh. Trước tòa án, anh dõng dạc vạch mặt bọn đế quốc và khẳng định lí tưởng cách mạng của mình.
6-Bức tranh 6: Khi ra pháp trường xử bắn, anh không hề nao núng, hiên ngang hát vang bài Quốc tế ca.
II-KỂ LẠI TOÀN BỘ CÂU CHUYỆN
Lí Tự Trọng sinh ra trong một gia đình yêu nước ở Hà Tĩnh. Anh là người thông minh, sáng dạ. Năm 1928, anh gia nhập tổ chức cách mạng và được cử ra nước ngoài học tập.
Xem thêm: Bài văn tả cái trống trường em lớp 5
Trở về nước vào mùa thu năm 1929, anh được tố chức giao nhiệm vụ liên lạc, nhận, chuyến thư từ, tài liệu với các tổ chức Đảng bạn bè qua đường tàu biển. Làm việc ở Sài Gòn, anh đóng vai người nhặt than ở bến cảng, ơ đây, bọn mật thám đông như ruồi, nhưng nhờ nhanh trí, gan dạ, bình tĩnh, anh đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được giao. Có lần, tài liệu quá nhiều, anh phải gói lại vào chiếc màn buộc sau xe. Một tên đội Tây gọi lại đòi khám, anh giả vờ nhảy xuống cởi bọc ra nhưng kì thực là đế buộc lại cho chắc hơn. Tên đội chờ lâu, sốt ruột quăng xe bên vệ đường, lúi húi tự mở bọc. Thừa cơ, anh vồ lấy xe của nó, phóng đi. Lần khác, anh đưa tài liệu từ dưới tàu lên, lính đòi khám. Anh nhảy tùm xuống nước lặn qua gầm tàu trốn thoát.
Đầu năm 1931, trong một cuộc mít tinh, một cán bộ ta đang nói chuyện với công nhân và đồng bào thì tên mật thám Pháp Lơ-grăng ập đến định bắt anh cán bộ. Lí Tự Trọng lập tức nổ súng tiêu diệt tên mật thám cứu nguy cho người cán bộ. Nhưng anh đã bị giặc bắt. Chúng tra tấn anh rất dã man nhưng không moi được tin tức gì ở anh cả. Những người coi ngục rất khâm phục anh, kiêng nể anh. Họ gọi anh là “Ông Nhỏ”.
Trước tòa án, anh dõng dạc vạch mặt bọn thực dân và tuyên truyền cách mạng. Có một luật sư bào chữa cho anh, nói rằng anh chưa đến tuổi thành niên nên hành động và suy nghĩ chưa chín chắn. Anh gạt phắt và lớn tiếng trước tòa:
– Tôi hành động có suy nghĩ. Mọi việc tôi làm đều vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng thanh niên Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là làm cách mạng, không thể có con đường nào khác.
Thực dân Pháp bất chấp dư luận và luật pháp, xử tử anh vào một ngày cuối năm 1931. Trước pháp trường, anh hiên ngang hát vang bài Quốc tế ca. Năm ấy anh vừa tròn 17 tuổi đời.
III-Ý NGHĨA CÂU CHUYỆN
Qua câu chuyện Lí Tự Trọng, em hiểu được anh Trọng là một thanh niên yêu nước, sống có lí tưởng, sẵn sàng quên mình vì đồng đội. Anh là một người anh hùng.
Xem thêm: Chứng minh tinh thần yêu nước của cha ông ta trong lịch sử. Từ đó, em rút ra cho mình những bài học gì? | Dựa vào lời kể của thầy (cô), em hãy thuyết minh cho nội dung từng bức tranh minh họa cho câu chuyện Lí Tự Trọng | 716 | |
Dựa vào những hiểu biết của mình về con người và sáng tác của Nguyễn Tuân, anh (chị) hãy phân tích và miêu tả trên nét lớn cá tính và phong cách nghệ thuật cùa nhà văn
Gợi ý
Nguyễn Tuân bước vào nghề văn dường như là để minh hoạ cho hai câu thơ ngông của Nguyễn Công Trứ:
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.
Cuộc đời có gì nghiêm túc đâu mà phải nghiêm trang đạo mạo: hồi ấy, Nguyễn Tuân coi sống chỉ là một cuộc dong chơi. Có điều thú chơi của ông là chơi tài, chơi nghệ thuật. Thực ra muốn chơi ngông, nhất thiết phải có tài. Bất tài mà chơi ngông, người ta gọi là gì gì đó chứ không gọi là ngông. Vì xét đến cùng, chơi ngông là đứng ở đỉnh cao của tài hoa và trí thức mà trêu ghẹo thiên hạ. Trong cái dòng văn chương chơi ngông nước ta, tính từ thế kỷ XIX về sau, thấy toàn là những bậc kỳ tài: Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà… Nguyễn Tuân có lẽ là người cuối cùng được kể đến trong dòng vãn học này chăng?
Vậy thì văn Nguyễn Tuân là thứ văn chơi, văn đùa, thứ văn cố tình khoe tài, khoe chữ một cách khinh bạc và gai góc để gây sự, trêu ghẹo người ta. Một lối văn suy tôn chính cái tôi ngông ngáo của mình, và trở đi trở lại vẫn chỉ đem cái tôi ấy ra mà "dộc tấu” giữa thiên hạ. Một thứ văn nghênh ngang và lan man, ngòi bút cứ chạy theo dòng cảm nghĩ lông bông, tài tử, với những liên tưởng ngẫu hứng tạt ngang hay cóc nhảy, lắm lúc như muốn đưa người ta vào những bát quái trận đồ… Môt cách chọn lựa đề tài cố tình coi khinh những gì người đời cho là quan trọng và để lên rất cao, thậm chi "’thiêng liêng" hóa những gì người đời cho là tầm thường xoàng xinh, mư cái ăn cái uống. như những thân phận đào nương kép hát "xướng ca vô loai’’ hay những anh đồ kiết xác thất thế cùng đường, ngất ngưởng sống nốt những ngày tàn tạ
Đã chửi văn. chơi tài. thì tất nhiên văn phải ra văn, nghệ thuật phải dúng là nghệ thuật. Đọc Nguyễn Tuân, thấy người xưa nói đúng: văn chương quả có cái ma lực của nó thật. Có những sự vật. những hiện tượng, đối với cây bút khác, có lẽ chẳng có gì đáng nói. đáng viết nhất là viết thành lời đẹp văn hay. Ấy thế mà Nguyễn Tuân đã khai thác được như những đề tài phong phú, mới lạ, và tạo nên được những áng văn đầy sức hấp dẫn. Đấy là một tay bút có thể viết rất nhiều trang rất đỗi tài hoa về một cái đinh sắt rỉ dùng để mắc áo trên tường (Chiếc lư đồng mắt cua), có thể làm cả một cuốn sách về một mái tóc đàn bà (Tóc chị Hoài), có thể ném "lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu" cho một cảnh lái đò vượt thác (Ngươi lái đò sông Đà), vẽ một cây sấu ra hoa, về một cành bàng nẩy lộc (Cây Hà Nội), về các thứ đồng hồ (Tờ hoa) thậm chí về một bát phở (Phở), một hạt cốm (Cốm)… Cái công phu ông bỏ ra để luyện cho mình một cái Văn như thế thật ít ai có được: đọc nhiều, tra cứu nhiều. đi nhiều, xem nhiều, tích luỹ nhiều, ngẫm nghĩ nhiều. Và mỗi lần cầm lấy bút là cân nhắc từng câu từng chữ. Viết xong còn phải đọc đi đọc lại nhiều lần để kiểm nghiệm lại chính cái viết của mình – kiểm nghiệm bằng mắt nhìn, bằng tai nghe chưa đủ, "còn phải ngửi lại, nếm lại cái lời mình viết ra kia (…) có khi lại như chính lòng bàn tay mình phái sờ lại những góc cạnh câu viết của mình" (Về tiếng ta).Xem thêm: Tả con cá sấu
Viết kỹ, viết công phu như thế, tất nhiẻn không thể viết nhanh viết nhiều được. Những điều ông viết ra so với cái vốn sống, vốn văn hoá, vốn chữ nghĩa giàu có của ông. Quả là còn chưa tương xứng. Nhưng cái khó trong việc viết văn, làm văn của Nguyền Tuân còn ở chỗ này: đã viết thì phải độc đáo, phải in đậm cá tính, phong cách riêng của mình trên trang sách. Nghĩa là phải viết cho ra Nguyễn Tuân: mỗi lần đặt một câu. một chữ lên trang giấy trắng, phải làm sao đó có thể nói được dõng dạc với độc giả: đây là văn Nguyễn Tuân, đây là chữ nghĩa của Nguyễn Tuân! Nhưng đọc văn Nguyễn Tuân, phải thấy cái ngông nghênh kiêu bạc chỉ là bề nổi. cũng như chiếc can, cái píp, bộ ria Hoa Kỳ chỉ là cái phong dạng bề ngoài của ông mà thôi. Cai ngông xưa nay bao giờ cũng có cơ sở luân lí vững chắc của nó. Đấy là điểm tựa để kè chơi ngông có thể đặt mình lên trên cái môi trường tầm thường phàm tuc vây bọc quanh mình Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân, cũng như Tản Đà. hay nói đến hai chữ "thiên lương", và ông đánh giá hai tiếng "thi nhân" (người thơ) đẹp hơn, sang hơn danh từ "thi sĩ" (người làm nghề thơ) Ông dứt khoát đối lập cái đẹp với tính vụ lợi tầm thường. Đối với ỏng, nghệ thuật là "một công việc mà cả những con buôn quen sổng đổi chác hàng họ và buôn Tần bán Sở đều gọi là vô ích" (Nhà Nguyễn). Đọc văn Nguyễn Tuân, hãy nhập sâu vào cái phần chìm của các tác phẩm, để thấy cái làm nên linh hồn của những trang viết tài hoa nhất của ông là một tình cảm yêu nước thiết tha, một niềm tự hào dân tộc gắn liền với những giá trị văn hoá cổ truyền của đất nước này mà tổ tiên lưu giữ lại và Nguyễn Tuân đã giúp ta khai thác trong những vần thơ của Nguyễn Du, Tú Xương, Tản Dà, trong những bức tranh tố nữ làng Hồ, những điệu xoè người Thái, trong tiếng hát ả đào miền Bắc, giọng ca lý xứ Huế miền Trung, câu hò đò man mác trên những dòng kênh rạch miền Nam, trong những cảnh sắc nên hoạ nên thơ của non sông gấm vóc, những kiến trúc bình dị mà tài hoa, những thú chơi lan, chơi cúc, chơi hoa thuỷ tiên, chơi chữ đẹp, chơi đèn kéo quân, những cách uống trà, nhắm rượu, những cách thưởng thức cái hương vị độc đáo của hạt cốm mùa thu, bát phở mùa đông, miếng giò lụa, cái bánh chưng ngày Tết v.v… Nguyễn Tuân xứng đáng được gọi là nhà văn của một dân tộc nghìn năm văn hiến thể hiện trong cả những thú chơi tao nhã và nghệ thuật ẩm thực tinh vi…Xem thêm: Kể lại truyện “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân Lòng yêu nước, tinh thẩn dân tộc ấy là cái động lực cơ bản đã đưa Nguyễn Tuân đến với cách mạng, ông trở thành nhà văn – chiến sĩ theo đúng nghĩa của nó. Suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ỏng có mặt ở hầu hết các trận tuyến nóng bỏng nhất: đi nhiều chiến dịch cùng với bộ đội Tây Bắc, Đông Bắc, vào sâu vùng địch hậu Bắc Ninh nằm hầm "bem" với du kích chống càn, tham gia phát động quần chúng giảm tô ở Bắc Giang, vào sông tuyến Vĩnh Linh để đếm từng tấm ván trên cầu Hiền Lương, ngược sông Đà hiểm trở lên thấu tận Than Uyên, Quỳnh Nhai, trở vào tuyến lửa Quảng Bình khi giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc, quay ra Hà Nội và luôn luôn có mặt ở thủ đô với chiếc mũ sắt trên đầu cả khi thằng Mỹ dội bom xuống những nhà máy cầu cống, nhà ga, bênh viện… Một cây bút đúng là nhập cuộc và xông xáo Ông cứ đi và viết, viết rối lại đi. liên tiếp cho ra đời những bài bút kí, tuỳ bút nóng hổi tính thời sự và sát sạt với từng nhiêm vụ chính trị của đất nước máy chục năm qua.
Nhưng Nguyễn Tuân bao giờ cũng nhớ mình là một nhà văn. Có phục vụ chính trị cũng phải phục vụ với tư cách nhà văn. Phải tìm cách chiến đấu có hiệu quà nhất bằng cái văn của mình và bằng sở trường của phong cách mình. Và thường bên cạnh tiíh thời sự, tác phẩm Nguyễn Tuân còn chứa đựng một cái gì khác, nó nói nhiều với ta về mặt mỹ cảm, về cái tài, cái đẹp, cái hào hoa trang nhã của dân tộc mình. Nó nói rằng chúng ta chiến đấu hi sinh không phải chỉ vì miếng cơm manh áo mà còn vì những giá trị mỹ học trên đất nước này. Nó cũng giúp ta hiểu rằng cái tài cái đẹp là của quí hiếm ở đời, nó tinh vi kì diệu lắm nên cũng mong manh lắm. Vì thế biết yêu cái tài, biết quý cái đẹp cũng là một vấn đề đạo đức của con người văn minh tiến bộ.Xem thêm: Nêu suy nghĩ về ý kiến “Thơ phát khởi từ trong lòng người ta” và “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Nguyễn Tuân, ngoài sự nghiệp văn chương, còn để lại nhiều bài học của một nhân cách nghệ sĩ sang và đẹp. Nói như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Tuân là một cái định nghĩa chuẩn mực về người nghệ sĩ. Một cái định nghĩa sống như thế lúc nào cũng rất cần có trong đời sống chúng ta, để những người cầm bút soi vào đấy, có thể hiểu được đích xác thế nào là một tài năng, một tài hoa, thế nào là người có chữ có nghĩa, có nghề có nghiệp, thế nào là tư cách phải có của người viết văn biết tự trọng khi lấy cây bút để nói tiếng nói riêng có trách nhiệm của mình với độc giả, khi giao tiếp ãn nói với người có chức có quyền… Và khi đứng trước những thử thách rất đáng gờm của miếng cơm manh áo, của đồng tiền trong thời buổi còn khó khãn này.
Có được cái nhân cách ấy, xét đến cùng là do ông đã biết quý trọng thật sự, biết tự hào thật sự với cái nghề văn của mình.
Sự có mặt của Nguyễn Tuân trên đời làm ta cảm thấy nghề văn cũng sang trọng lắm chứ! Và những người cầm bút có được một đồng nghiệp như ông cũng cảm thấy mình thật sang trọng.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào những hiểu biết của mình về con người và sáng tác của Nguyễn Tuân, anh (chị) hãy phân tích và miêu tả trên nét lớn cá tính và phong cách nghệ thuật cùa nhà văn | 1,863 | |
Dựa vào nội dung bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ Xuân Quỳnh, em hãy kể sáng tạo bằng văn xuôi câu chuyện đó
Gợi ý
YÊU CẦU
1. Kiểu bài kể chuyện tưởng tượng.
2. Tuy là chuyện tưởng tượng, nhưng không phải tưởng tượng tự do, mà căn cứ vào nội dung bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ Xuân Quỳnh.
3. Nội dung bài thơ có thể tóm tắt ở những điểm chính:
– Trẻ con sinh ra khi trái đất trụi trần, toàn màu đen.
– Mặt trời xuất hiện cho trẻ em nhìn rõ.
– Cỏ cây, hoa lá, chim chóc, xuất hiện.
– Sông, biển, đường hiện ra.
– Lần lượt mẹ, bà, bố sinh ra để chăm sóc, bế bồng, dạy dỗ.
Cuối cùng là nhà trường và thầy giáo sinh ra cho trẻ em được đi học.
4. Khi kể chuyện, không nhất thiết phải theo đúng các chi tiết được thể hiện trong bài thơ “màu xanh biết đầu cờ… cây cao bằng gang tay, lá cỏ bằng sợi tóc…” mà cốt thể hiện được tính chất thần kì của câu chuyện.
BÀI LÀM
Thủa ấy, trong vũ trụ bao la còn chưa hề có một sinh vật nào tồn tại. Trái đất của chúng ta chỉ là môt hành tinh tăm tối và trụi trần. Thế rồi một hôm.
Một hôm thiên đình bèn ban cho trái đất một giống sinh vật mới, để vũ trụ có một nơi hiện diện sự sống. Bà mụ đem đất sét trắng nặn thành những hình thù rất lạ, nhưng đẹp đẽ và xinh xắn vô cùng. Rồi Bà Mụ đem đặt xuồng mặt đất. Đó là những con người – lúc nhỏ còn gọi là “trẻ con”. Những đứa trẻ bò đi khắp nơi, nhưng nơi đâu chúng cũng thấy chỉ toàn là đất đai cằn cỗi, không khí chỉ toàn một màu đen xám xịt. Đôi mắt của chúng sáng lắm nhưng cũng chẳng nhìn thấy gì ngoài không gian đen tối mịt mờ. Trong lúc ấy, trên thiên đình, nữ thần ánh sáng đang mân mê chuỗi kim cương đỏ thắm rực rỡ của mình. Chẳng may, chuỗi kim cương đứt tung, những hạt kim cương rơi xuống không gian bao la của vũ trụ, hạt kim cương lớn đỏ rực lại rơi xuống gần trái đất, hóa thành mặt trời tỏa sáng rực rỡ. Lũ trẻ reo lên vui vẻ: “Hoan hô! Hoan hô! Nhìn được rồi, chúng ta nhìn được rồi!”. Đôi mắt lấp lánh của chúng nhìn quanh trái đất vẫn trần trụi chẳng có một màu sắc gì ngoài màu đen của đất và màu vàng cam chói lọi của mặt trời. Những đứa trẻ ngây thơ, trong trắng bò đi khắp nơi. Tiếng cười của chúng ríu rít vui vẻ khiến những mầm cây xanh mướt của nhú dần lên. Trong thế giới trẻ thơ, những cái cây xanh xanh chỉ bằng sợi tóc. Cây xanh bắt đầu nở ra những bông hoa màu đỏ bé xíu bằng cái cúc áo. Thật là dễ thương! Những lũ trẻ suốt ngày chỉ đùa vui với nhau, chẳng nghe thấy một âm thanh nào khác ngoài tiếng cười. Chúng buồn quá thì chợt một đàn chim họa mi nhỏ bé bay từ đâu đến véo von múa hát cùng lũ trẻ. Tiếng chim vang xa, xa mãi khiến thượng đế trên thiên đàng thích thú, làm rơi cả chiếc khăn bông màu xanh mướt của ngài xuống trái đất. Chiếc khăn bỗng biến thành bầu trời trong xanh vời vợi và những đám mây trắng xốp như những cụm bông. Tiếng hát của chim lại reo vui trong gió. Suối chảy mãi chảy mãi rồi hợp thành một con sông lớn. Nước sông đổ ra biển, tạo thành những đại dương bao la vô tận. Lũ trẻ có thể vui đùa thỏa thích trong làn nuớc trong xanh hay lên những con thuyền đi khắp mọi nơi mọi chốn. Xem thêm: Bình giảng bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan
Trái đất dần dần trở nên tươi đẹp hơn. Lũ trẻ cũng lớn dần, chúng bắt đầu tập đi. Nhưng mặt đất đầy cát sỏi gồ ghề. Chúng cứ bước đi rồi lại vấp ngã. Trời thương tình ban cho trái đất một dải lụa hồng. Dải lụa biến thành con đường mềm mại, nâng đỡ những bước chân chập chững non nớt của trẻ. Những đám mây cụm lại, tạo nên những chiếc áo che nắng cho chúng. Tuy nhiên, lũ trẻ suốt ngày đùa nghịch, vui chơi với nhau đã chán. Đêm đến, chúng ôm nhau ngủ trong bóng tối, cô đơn lạnh lẽo, chúng khao khát có một người yêu thương dậy dỗ chúng, vỗ về chúng trong vòng tay. Lũ trẻ bắt đầu khóc, chúng khóc mãi, khóc to và nức nở. Chẳng ai có thể làm chúng nguôi ngoai, mặt trời tỏa ánh nắng xuống vỗ về, gió đu đưa mơn trớn, nước róc rách reo vui gọi mời, cây tươi xanh, hoa lung linh, chim ríu rít… Tất cả chỉ làm chúng thêm khóc to hơn mà thôi. Tiếng khóc của chúng vang lên phá tan bầu không gian yên tĩnh của thiên đình. Ngọc Hoàng bèn sai Bà Mụ nặn thêm những con người có thể dỗ dành chúng được. Và những người phụ nữ chạy đến, dang cánh tay ấm áp vỗ về, ôm chúng vào lòng, hát ru chúng ngủ. Lũ trẻ thiêm thiếp giấc nồng, nín khóc và thay vào đó là nụ cười hé nở trên môi. Chúng gọi những người ấy là mẹ. Mẹ bảo ban dậy dỗ, chăm sóc chúng. Mẹ có giọng hát ngọt ngào, đôi tay khéo léo, ánh mắt yêu thương. Trong giọng hát của mẹ có chứa bao điều mới mẻ diệu kì như: đầu nguồn cơn mưa, bãi sông cát vắng, vết lấm chưa khô… Lũ trẻ vui vẻ sống bên mẹ, nhưng chúng còn khát khao được nghe về những chuyện thời xưa, thời sau, và chúng lại khóc. Giờ đây, tiếng ru và vòng tay mẹ cũng không còn dỗ dành được chúng. Thế là từ đấy những người bà được Bà Mụ ban xuống trần gian, với tâm hồn yêu thương, ấm áp và trong tim chứa một kho truyện cổ. Lũ trẻ nín khóc, và chúng lại vui vẻ nằm trong vòng tay của bà, để nghe chuyện cổ, nào là truyện Thạch Sanh, truyện Nàng tiên. Bà kể bao nhiêu là truyện, con mắt bà ấm áp nhìn cháu, mái tóc bà bạc trắng hiền từ. Thời gian trôi đi, lũ trẻ khát khao hiểu biết, bao câu hỏi “tại sao” cứ vang lên, khiến mẹ và bà không thể trả lời hết được. Từ đó, người cha xuất hiện để dạy dỗ, bảo ban giảng giải những tìm hiểu của con. Nào là: vì sao biển rộng, con đường dài. Lũ trẻ lại muốn được đi học. Và trường lớp, tất cả như một giấc mơ xuất hiện: bảng đen, phấn trắng, thầy giáo và lũ trẻ đi học. Chúng đã lớn dần trong tình thương yêu của cha mẹ, bà, thầy, cô, bạn bè. Thật là tuyệt vời!Xem thêm: Chia sẽ và cảm nhận bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen Từ ấy, loài Người bắt đầu, phát triển và sinh sống khắp nơi. Thượng đế và Bà Mụ mỉm cười: “Thế là vũ trụ đã có sự sống!”
Vanmau.edu.vn | Dựa vào nội dung bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của nhà thơ Xuân Quỳnh, em hãy kể sáng tạo bằng văn xuôi câu chuyện đó | 1,256 | |
Dựa vào nội dung tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, hãy đóng vai nhân vật cô kĩ sư để kể lại cáu chuyện
Gợi ý
Đó không phải lần đậu tiên tôi rời Hà Nội – quãng đời học sinh, sinh viên của tôi đã ghi dấu bao lần đến với Huế, Quảng Trị, Bắc Kạn, Thái Nguyên,… – nhưng lần này đến Lai Châu, tôi có cảm giác thật lạ. Tôi mới ra trường, đây là chuyến đi nhận công tác của tôi. Bước qua cuộc đời học trò chật hẹp đế bước vào cuộc sống mới khiến tôi không khỏi ngỡ ngàng. Trên chặng đường từ Hà Nội lên Lai Châu, tôi đã được quen biết những con người thuộc những thế hệ khác nhau. Họ đã khiến tôi thấy cuộc sống này rộng lớn và đẹp đẽ biết mấy. Đặc biệt là quãng đường tôi đến Sa Pa. Sa Pa, nghe cái tên người ta đã muốn nghỉ ngơi nhưng ở đó có những con người làm việc hăng say, họ nguyện hi sinh tuổi thanh xuân của mình cho đất nước. Họ để lại ấn tượng đẹp trong lòng tôi cũng như bất kì ai đặt chân lên mảnh đất này.
"Chỉ vài cây số nữa là tới Sa Pa" – bác lái xe nói vậy. Tôi bắt đầu háo hức, tò mò, mắt nhìn xa ngoài cửa kính một cách lặng lẽ mà say mê.
Sau cuộc nói chuyện, giao lưu vui vẻ giữa tôi – bác lái xe – bác hoạ sĩ già thì mọi người bỗng nín bặt, vì cảnh trước mắt bỗng hiện lên đẹp một cách kỳ lạ… Nắng bây giờ bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây. Những cây thông chi cao quá đầu, rung tít trong nắng, những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe…
Giữa lúc đó, bác lái xe cho dừng xe để mọi người nghi ngơi. Riêng với tôi và bác hoạ sĩ, ông quay sang nói một cách bí hiểm: sẽ giới thiệu cho chúng tôi một trong những người "cô độc nhất thế gian". Bác lái xe này thật vui tính khi đặt cho người đó cái tên như vậy. Bác lại còn khẳng định với bác hoạ sĩ – một người say mê nghệ thuật rằng: "Thế nào bác cũng thích vẽ hắn". Không hiếu sao nói đến đây, bác lái xe lại liếc nhìn tôi, khiến cho tôi bất giác đỏ mặt. Cái nhìn đó có lẽ là có hàm ý sâu xa.
Theo lời bác lái xe thì đó là một anh chàng hai mươi bảy tuổi làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m. Khi mới lên nhận việc, chưa quen với không khí toàn rừng và cây ở đây nên anh ta "thèm người" đến mức chắn ngang khúc gỗ ngang đường đế kiếm cớ có người nói chuyện.Xem thêm: Đáng tự hào cho những tấm lòng nhân đạo bao la giữa người với người– Kia, anh ta kia! – Bác lái xe chỉ.
Tôi và ông hoạ sĩ già thực sự xúc động và vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy trước mắt chúng tôi là người con trai tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rờ từ trên sườn núi trước mặt chạy lại chỗ xe đỗ.
Người con trai đưa cho bác lái xe một gói nhỏ – củ tam thất – một thứ cây của vùng núi. Còn bác lái xe thì trao cho anh quyển sách. Hai người nói với nhau điều gì đó, bác lái xe thì rạng rỡ cười còn anh thanh niên kia cũng mưng quýnh. Tôi có cảm giác hành động đó của hai người không đơn thuần chi là tình cảm giữa hai người quen biết mà là tình cảm của những người trong gia đình. Thì ra, vợ bác lái xe mới ốm dậy, anh chàng kia gửi biếu ít tam thất "của nhà trồng được" còn bác. lái xe gửi sách mua giúp anh ta đọc cho đỡ buồn và đỡ nhớ cuộc sống bình thường!
Đứng một lát, bác lái xe dắt tay người thanh niên lại chỗ ông hoạ sĩ và tôi để giới thiệu. Anh mời chúng tôi lên thăm ngôi nhà nơi anh ớ. Sau đó, cùng như bao chàng thanh niên khác anh đỏ mặt, luống cuống rồi xin về nhà trước. Không chỉ riêng tôi, bác hoạ sĩ hay bất kỳ ai cũng sẽ nghĩ ràng anh chạy về trước đế dọn dẹp nhà cứa, hay gấp chăn màn vi… thanh niên mà! Đà vậy lại ớ một mình nên khó tránh khỏi điều khó nói ấy.
Nhưng thật bất ngờ! Tôi nhận thấy vẻ ngạc nhiên của bác hoạ sĩ khi bước lên bậc thang bằng đất thấy người con trai đang hái hoa. Còn tôi chỉ "ồ" lên một tiếng. Sau gần hai ngày, qua ngót bốn trăm cây số đường dài cách xa Hà Nội, đứng trong mây mù ngang tầm với chiếc cầu vồng kia, bỗng nhiên lại gặp hoa dơn, hoa thược dược, vàng, tím, đỏ, hồng phấn, tổ ong… ngay lúc dưới kia là mùa hè, đột ngột và mừng rỡ, quên mất cả e lệ, tôi chạy đến bên người con trai đang cắt hoa. Anh rất tự nhiên như với một người bạn đã quen trao bó hoa đã cắt cho tôi, và cũng rất tự nhiên, tôi đỡ lấy.
– Tôi cắt thêm mấy cành nữa. Rồi cô muốn lấy bao nhiêu nữa, tuỳ ý. Cô cứ cắt một bó rõ to vào. Có thế cắt hết nếu cô thích. Tôi không biết kỷ niệm thế nào cho thật long trọng ngày hôm nay. Bác và cô là đoàn khách thứ hai đến thăm nhà tôi từ Tết, và cô là cô gái thứ nhất từ Hà Nội lên tới nhà tôi từ bốn năm nay.Xem thêm: Tưởng tượng [...]. Hãy viết một bài thuyết minh ngắn (từ 15 đến 20 dòng) để giới thiệu với mọi người về vẻ đẹp của con người và cảnh vật Sa Pa mà người hoạ sĩ đã nhận ra. Bài thuyết minh có sử dụng yếu tố nghị luận và miêu tả (cảnh vật và nội tâm)
Người con trai nói to những điều đáng ra người ta chỉ nghĩ. Cũng là những điều người ta ít nghĩ. Việc ấy làm cho tôi và bác hoạ sĩ cảm động và cuốn hút ngay. Tôi ôm bó hoa vào ngực, bạo dạn nhìn thẳng vào mặt anh. Anh thanh niên bắt gặp cái nhìn đó, phủi vội giọt mồ hôi trên sống mũi, mim cười, hạ giọng hỏi:
– Cũng đoàn viên, phỏng?
– Vâng – Tôi nói.
– Thôi, chấm dứt tiết mục hái hoa – Người con trai bất chợt quyết định – Bác lái xe chỉ cho ba mươi phút thôi. Hết năm phút rồi. Cháu nói qua công việc của cháu, năm phút. Còn hai mươi phút, mời bác và cô vào nhà uống chè, cho cháu nghe chuyện. Cháu thèm nghe chuyện dưới xuôi lắm…
Anh bắt đầu kế về công việc của mình. Rằng công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động địa cầu để dự báo thời tiết. Rồi cả nhưng khó khăn, trở ngại: những đêm mưa bão, bão tuyết, trời nắng, mưa. Nhưng anh vẫn làm việc râ’t nghiêm túc đến từng giờ, từng phút. Bởi có lẽ anh hiếu được công việc của anh quan trọng như thế nào…
Tôi vẫn đứng đó, ôm bó hoa và lắng tai nghe. Anh bỗng dừng lại. Trời! Mười phút sao mà trôi nhanh quá!
– Anh nói nữa đi – Bác hoạ sĩ giục.
– Báo cáo hết! – Người con trai vụt trở lại giọng vui vẻ.
– Còn hai mươi phút nữa thôi. Bác và cô vào nhà. Chè đã ngấm rồi đấy.
Thì giờ ngắn ngủi còn lại thúc giục chính chúng tôi. Chúng tôi bước vào căn nhà ba gian sạch sẽ và gọn gàng.
Bác hoạ sĩ hứa sẽ quay trở lại và kề anh nghe chuyện dưới xuôi.
Bác vừa nhâm nhi chén chè và nghe anh giải thích cụm từ "cô độc nhất thế gian". Rằng còn có người cô độc hơn anh. Đó là anh bạn trên trạm đỉnh Phan xi păng ba trăm một trăm bốn mươi hai mét kia còn một mình hơn anh.
Tôi đang đọc cuốn sách trên bàn của anh và vẫn lắng tai nghe hai bác cháu họ nói chuyện.
Càng nói chuyện với chàng trai bác hoạ sĩ càng có vẻ thích thú. Bác đề nghị vẽ anh. Nhưng anh từ chòi. Bởi theo anh – anh không phải là người đáng đế vẽ. Anh khiêm tốn giới thiệu người khác. Đó là ông kỹ sư ở vườn rau dưới Sa Pa. Nhưng cũng may bằng mấy nét, hoạ sĩ đã ghi xong lần đầu gương mặt của người thanh niên.Xem thêm: Bàn luận về vấn đề sử dụng nước trong sinh hoạt và cuộc sống Người thanh niên này làm tôi và bác hoạ sĩ suy nghĩ nhiều quá.
Những điều cùng nghe cộng với những điều tôi khám phá thấy trên trang sách đang đọc giở làm cho tôi bàng hoàng. Có phải vì ánh sáng trong quyến sách rọi sang làm tôi hiểu thêm về cuộc sông một mình dũng cảm tuyệt vời của người thanh niên, về cái thế giới những con người như anh mà anh kể, về con đường tôi đi tới?
Không phải chỉ vì bó hoa rất to sẽ đi theo tôi trong chuyến thứ nhát ra đời mà vì một bó hoa khác, bó hoa của những háo hức và mơ mộng ngẫu nhiên anh cho thêm tôi. Tôi không muốn những khoảnh khắc này trôi đi vô nghĩa trong đời mình. Tôi mong muôn đế lại điều gì thật ý nghĩa nơi này… Tôi khẽ mở khoá chiếc xắc nhỏ bên mình…
Và thê là chỉ còn năm phút nữa.
Bác hoạ sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Tôi cũng đứng lên đi ra chỗ bác.
– Ô! Cô quên chiếc mùi xoa đây này!
Anh thanh niên vừa vào kêu lên, anh lấy chiếc khăn tay vo tròn cặp giữa cuộn sách tới trả cho tôi. Cái món quà mà tôi cho là một chút cỏn con, dịu dàng nhưng… Tôi cúi đầu ngượng ngùng không nhìn thẳng vào anh nhận lại chiếc khăn và quay đi.
Bác hoạ sĩ và anh lưu luyến rồi hẹn ngày gặp lại. Còn tôi – tôi chìa tay cho anh nắm, cẩn trọng rõ ràng như người ta cho nhau cái gì chứ không phái cái bắt tay. Tôi nhìn anh, cái nhìn như mãi mãi không bao giờ gặp lại.
– Chào anh.
Tói không biết cảm giác lúc đó là gì nữa. Điều cuối cùng anh dành sự quan tàm cho mọi người đó là anh ấn cái làn vào tay bác hoạ sĩ rồi nói là đê cho mọi người ăn trưa.
Chúng tôi ra về, nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực làm cho bó hoa càng rực thêm làm cho tôi cảm thấy mình rực rỡ theo.
Chuyến đi này là một chuyến đi thật khó quên trong đời tôi. Tôi đã gặp được những con người thật đẹp, thật cao cả. Họ làm cho tôi thây yêu đời hơn, thấy tự tin với công việc của mình hơn và anh thanh niên đề’ lại ấn tượng sâu đậm về một thế hệ trẻ như tôi – anh đã cống hiến hết mình cho phong trào ba sẵn sàng. Anh sống bên cái vẻ bề ngoài "lặng lẽ" nhưng bên trong thì rạo rực của vùng đất dấu yêu, thơ mộng này.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào nội dung tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, hãy đóng vai nhân vật cô kĩ sư để kể lại cáu chuyện | 2,008 | |
Dựa vào nội dung đoạn thơ viết về bà trong bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của Xuân Quỳnh, em hãy viết một câu chuyện về bà
Gợi ý
Theo cổ tích ngày xưa kể lại, bà từ một nơi nào đó xuất hiện, thường mang đến cho trẻ thơ biết bao câu chuyện. Bà hiểu biết sâu sắc cuộc sống và ý nghĩa của nó, nên mong muốn truyền dạy lại cho cháu thơ. Trên đời, lẽ dĩ nhiên có nhiều cái cần cho cháu, nên trước hết bà đã mang ánh sáng mắt trời đến cho trẻ. Đó ít ra cũng là những điều mà cổ tích truyền lại.
Buổi tối, trăng huyền ảo trên bầu trời sâu thẳm và sao cũng nhảy múa lung linh. Bà ngồi dưới ánh trăng, trong đôi mắt hiện lên những tia sáng kì lạ. Bà vui hay buồn? Bà lặng lẽ âm thầm không nói mà chỉ vuốt mái đầu của cháu đang khắc khoải đợi chờ hai tiếng “ngày xưa”.
– Bà ơi! Bà kể cho cháu nghe đi, một câu chuyện cổ tích ấy!
– Ờ, ừ…
Bà rất muốn kể, nhưng bà còn nghĩ đã và rồi bà kể:
– Ngày xưa, có một cậu bé nhà nghèo ơi là nghèo, nhưng cậu thương mẹ lắm…
Cháu thiếp đi trong cái giấc mơ về “ngày xưa” ấy. Ôi, bà quả là tuyệt diệu.
Xin cảm ơn bà!
Ấy thế mà hôm qua, lòng bà quặn thắt khi nhìn thấy cháu xua đuổi người ăn mày. Không phải cháu tàn nhẫn, nhưng cháu chưa ý thức được rằng hành động ấy gây ra cho người ăn mày nỗi tủi hận mà khiến bà phải xót xa. Bà ôm cháu vào lòng, bà khóc:
– Cháu ơi, bà thương cháu lắm, nhưng bà không thể để lương tâm cháu dễ bỏ qua. Con người ta cứ ở hiền thì gặp lành, gieo gió ắt gặp bão. Hôm nay nếu cháu làm toàn việc thiện, thì ngày sau, việc tốt, điều may mắn sẽ đến vởi cháu. Cũng như con chim nhỏ kia, khi nó cất tiếng hót, người nghe thấy lâng lâng đễ chịu, còn chính nó cũng rộn ràng một niềm vui trong trẻo.Xem thêm: Viết đoạn văn làm rõ giá trị biểu cảm của thủ pháp điệp ngữ trong văn bản “Sau phút chia li” (trích “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)– Thật thế hả bà?
– Đúng đấy cháu ạ! Cháu đã nghe được chuyện Thạch Sanh – Lý Thông chưa, ở đó cũng gởi gắm bao điều hay lẽ phải. Bà sẽ kể cho cháu nghe nhé.
Cháu mỉm cười, nụ cười hồn nhiên sung sướng: Bà hãy kể thật nhiều chuyện đi. Cháu thích được thấy Lí Thông bị trừng phạt, Thạch Sanh được đền bù.
Cháu đã nhận ra thế nào là thiện ác, là luật “ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ” mà bà đã từng căn dặn.
Bà ôm lấy cháu vuốt ve, tối nay bà sẽ kể cho cháu nghe “Tấm Cám”, cháu sẽ hiểu nhiều hơn nữa. Bà mỉm cười, nụ cười của một người tùng trải, cháu yêu của bà ơi, bà sinh ra là để kể chuyện cho cháu mà, chỉ có cháu của bà thôi!
Có đêm nào nhiều sao hơn đêm nay? Cháu mở to mắt nhìn lên chùm sao tít tắp. Cháu mơ sao đậu xuống vai mình, mơ chim phượng hoàng “ăn một quả, trả cục vàng” đưa cháu đến một hòn đảo lung linh tuyệt đẹp… Đấy, chuyện cổ tích của bà đã chắp cánh bay diệu kì cho cháu. Bà kể, lại giáo dục cháu làm việc tốt. Chắc từ nay, cháu sẽ không bao giờ còn rẻ khinh những người hành khất tội nghiệp.
Trong đời mình, cháu có cảm giác được thực sự đón nhận hạnh phúc ngọt ngào khi tiếng kể chuyện, “ngày xưa” cất lên vỗ về ấm áp. Cháu ghi lòng tạc dạ tiếng “đàn kêu tích tịch tình tang” của Thạch Sanh mà bà truyền lại.Xem thêm: Phân tích đoạn trích Hai Cây Phong
Một ngày hè oi bức, tiếng ve sầu não nùng trên tán phượng kia, cháu còn nhìn xa xăm về phía trước, mường tượng tới tương lai. Ôi, tương lai mới đẹp đẽ, rực rỡ biết nhường nào. Bỗng cháu nhìn thấy một em nhỏ đang ngã ngoài hè, bé khóc nức nở, nước mắt khóc đẫm cả áo. Cháu chạy vội ra đỡ em lên. Nhưng cháu thấy mệt mỏi quá! Cháu có hơn em là bao! Cháu cũng còn nhỏ. Mà em bé lạ thật! Nó cứ ngồi giữa đường để khóc. Khi đỡ được bé dậy, cháu mệt nhoài, thở hổn hển, cháu tưng tức làm sao ấy. Cháu chạy về nhà, khóc với bà. Bà dịu dàng nói:
– Hạnh phúc bao giờ cũng có giá. Cháu có biết những bông hoa ngoài trời không? Có thể chúng đang khóc dưới cái nắng đỏ lửa. Đó cũng là cái giá phải trả khi mang đến cho người vẻ đẹp và mùi thơm hấp dẫn. Nếu như cháu không chăm sóc hoa thì hoa sẽ chết. Bà thiết nghĩ hoa có ý thức được cái chết đâu, nó chỉ cống hiến tất cả những gì đẹp thơm cho đến khi lịm dần trong cơn hấp hối. Còn con người chúng ta, chúng ta biết tất, chúng ta hiểu rõ về cái giá phải trả khi chân lí tốt đẹp có thể mãi hiện diện trong ta, nhưng chúng ta vẫn làm. Chúng ta vẫn làm cháu ạ! Cháu còn nhớ chuyện “Tấm Cám” không? Hãy cho bà biết có đúng là một người tốt như Tấm phải mua lấy điều hay việc thiện bằng cái giá rất cao không?Xem thêm: Dựa vào văn bản “Ý nghĩa văn chương” của Hoài Thanh, hãy viết một đoạn văn nêu lên tác dụng của văn chương đối với đời sống con người, trong đó có sử dụng phép liệt kê tăng tiến (gạch chân dưới những từ ngữ liệt kê ấy) Cứ qua mỗi lần cháu phạm lỗi, bà lại đưa những chàng Thạch Sanh, những cô Tấm… để nâng đỡ cháu. Nhiều đêm cháu tự hỏi: nếu không có bà, liệu cháu có được bồi hồi xúc động với bao bài học quý giá, bao hình ảnh tuyệt với, mê mải lắng nghe như nuốt lấy từng lời như thế không? Ôi! bà của cháu!
Điều hay vẻ đẹp cháu đã tỏ, nhưng cháu vẫn muốn hiểu biết nhiều hơn. Đêm nào, lúc nào cháu cũng mong bà kể chuyện. Và mỗi khi bà kể, cháu lại mở to mắt lắng nghe, chân khẽ đung dựa, còn đôi tay nắm chặt lấy tay bà. Bà kể nữa đi! “Ngày mai bà lại kể nữa nhé!”. Mắt đã dip lại rồi, mà cháu vẫn không quên thì thầm vào tai bà như thế.
Có thể nói lúc cháu chơi, cháu học, bà luôn quanh quẩn đâu đây. Cháu ôm lấy bà thấp thỏm: “Bà ơi, cổ tích có bao giờ hết được không hả bà?” – “Không, chẳng bao giờ hết được cháu ạ! Nó có hàng kho, hàng kho chứa chất trong lòng bà mà cháu!”. Dưới ánh đèn ngủ mờ mờ cháu vẫn nhìn thấy đôi mắt bà vui, vui quá! Bà mỉm cười, phiêu diêu lạ! Kìa hình như nước mắt đang đọng trên đôi má hõm của bà.
Cháu luôn ước mong bà sống mãi! Chẳng những vì thiết tha yêu bà mà còn muốn nghe mãi cổ tích bà kể. Từ khi có bà, cháu ngoan lên nhiều, bà nhỉ? cổ tích kể lại vậy đó, nhưng bà không những có ở cổ tích, mà còn ở đời thật, ở trong tâm hồn cháu. Nếu như cuộc đời thiếu ánh thái dương hẳn sẽ tối tăm buồn bã lắm. Cũng như cháu, cháu rất cần bà soi sáng trong tim.
Vanmau.edu.vn | Dựa vào nội dung đoạn thơ viết về bà trong bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người” của Xuân Quỳnh, em hãy viết một câu chuyện về bà | 1,319 | |
Dựa vào suy ngẫm của nhà văn Nguyễn Tuân về kết thúc truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hãy tưởng tượng và viết tiếp truyện Tắt đèn
Gợi ý
Tôi đã đọc tiểu thuyết Tắt đèn từ khi còn rất bé. Ngày đó, tôi mới chỉ biết xót xa vô cùng trước cảnh ngộ éo le của người phụ nữ nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Truyện kết thúc bằng câu văn đầy u ám: Trời tối đen như mực và như cái tiền đồ của chị. Tôi hiểu rằng Ngô Tất Tố muôn nói chị Dậu đang đi vào hước đường cùng, đi vào ngõ cụt của cuộc đời. Vào thời điểm Tắt đèn được hoàn thiện, chắc hẳn Ngô Tất Tố chưa bắt gặp lí tưởng cách mạng. Đó là lí do vì sao số phận, cuộc đời nhân vật lại được kết thúc như vậy. Chỉ đến khi đọc được những suy ngẫm của nhà văn Nguyễn Tuân về kết thúc truyện Tắt đèn, những thương xót trước đây trong lòng tôi mới được nguôi ngoai đi phần nào: Tôi ngờ câu kết này cũng mới chỉ là cái chấm hết một thiên của truyện dài. Với cái tiền thân ngay thẳng, lành mạnh như vậy, tôi nghĩ rằng chị Dậu thế tất phải có một hậu thân trong các đoàn thể cách mạng; và tôi nhớ như đã có lần nào tôi đã gặp chị Dậu ở một đám đông phá kho thóc Nhật, ở một cuộc cướp chính quyền huyện kỉ Tổng khởi nghĩa; và nếu không thì, chí ít, tôi cũng đã gặp chị vào những ngày địch hậu o ép, chị tải thương hoặc đậy nắp hầm bem cho cán bộ cơ sở. Suy ngẫm đó cứ lẩn khuất trong đầu tôi. Và trong một cơn mờ, tôi thấy chị Dậu trốn khỏi nhà tên quan cụ và gặp một cán bộ cách mạng…
Bốn bề tối đen. Bóng đen đặc quánh và hun hút mãi theo triền đê lộng gió. Có lẽ bầu trời xa xăm kia còn sáng hơn cái hũ nút đang bủa vây chị. Chị đi như chạy. Chị thổn thức nhưng không khóc. Ấy vậy mà nước mắt cứ chan hoà, lẫn với mồ hôi đầm đìa xuống cổ. Hai bầu vú căng đẫy, nhức nhối. Cứ nghĩ đến cảnh mới đây phải đem dâng hai bầu ngực ấy cho lão quan cụ tham sống sợ chết, chị lại thấy ghê tởm vô cùng. Ngậm vào bầu vú thơm lành ấy là cái mồm nhăn nheo, móm mém chứ đâu phải là khuôn miệng xinh xắn, hau háu của con bé con nhà chị. Chắc hẳn giờ này con bé khát sữa đang khóc dữ dội lắm. Thằng Dần sẽ không biết làm thế nào dỗ dành được em đâu. Mà chính nó có khi cũng đang bặm mặt vì đói. Chồng còn đau yếu thế, liệu rằng có trông được hai con?… Nhà đã hết gạo, hết khoai mấy ngày rồi. Bà lão hàng xóm chắc cũng chẳng có đâu mà cho nhà chị vay đỡ nữa. Đầu óc chị cứ quay cuồng bao ý nghĩ lẫn lộn, chồng chéo nhau. Chân đăm đá chân chiêu vấp ngã dúi dụi mấy lần nhưng chị chẳng thấy đau đớn chút nào. Chị đã băng đi hết thôi đê mà không biết.
Trời về đêm, chắc là khuya lắm rồi. Không có lấy một bóng người. Bọn lính tuần sau trận rượu chè tuý luý cả tôi cũng đã đi ngủ. Đoạn đường rẽ vào làng Đông Xá đã hiện ra trước mắt chị đây rồi. Từ đây về nhà chị cũng không còn xa. Đến gần cái miếu hoang đầu làng chị mới nhận ra nó. Lâu nay đói kém, người dân trong làng cũng không lui tới thắp hương cầu tự vào các ngày rằm, mồng một hay lễ Tết. về đến đây, chị Dậu mới ngồi buông người xuống. Sự kìm nén, sức chịu đựng của chị dường như bị phá tung. Bao uất ức dồn nén giờ mới oà lên nức nở. Trước khi về đến nhà, chị muốn trút bỏ hết những oan khổ ở đây. Chị không muốn để chồng và con mình chứng kiến sự yếu đuối trong con người chị. Trong gia đình chị bây giờ, chị phải vững vàng để chèo chống, chịu đựng bao sự o ép của bọn cường quyền. Chị cứ thoả sức khóc và đâu ngờ, phía sau chị, một người từ trong miếu đang bước lại gần. Chị giật mình khi cảm thấy một bàn tay to bè, ấm áp đặt lên vai chị.Xem thêm: Suy nghĩ về hai chữ “nhẫn nhịn”, “nhẫn nhục”– Ai?- Chị hoảng hốt kêu lên.
– Làm gì vậy, tôi la lên bây giờ.
Giọng nói của người đó cất lên. Đó là một người đàn ông:
– Chị bình tĩnh. Tôi là người tốt. Tôi lạc đường đến đây. Chị làm ơn chỉ đường cho tôi lên huyện.
– Đêm hôm, sao ông không xin vào nhà dân mà ngủ nhờ? Sao lại ở đây?
– Tôi về đây muộn quá, ngại vào làng. Với lại tôi không có giấy tờ tuỳ thân, sợ quan làng làm khó nên mới vào đây lánh nhờ.
– Ông có việc gì mà phải lên huyện?
– Tôi cần gặp một người bạn trên đó. Thế chị đi đâu mà về đêm về hôm thế này?
Câu hỏi của người đàn ông làm chị nhớ lại câu chuyện của mình. Chị lại thổn thức. Nhưng nhớ trước mặt mình là người lạ, chị cố kìm cho tiếng khốc không bật ra. Lúc sau, chị mới nói được một câu ngắn ngủn:
– Tôi vừa từ phía huyện về.
Không rõ mặt nhưng đoán biết người đàn bà ngồi cạnh mình chắc hẳn đang chịu oan ức gì đây, nên người đàn ông chủ động khơi chuyện:
– Chắc chị có điều gì khó nói. Ai ép chị điều gì phải không? Sống ở thời này, không cứng rắn, dễ bị người ta bắt nạt, ức hiếp lắm. Tôi đây cũng vậy. Trước cũng là nông dân, “chân chỉ hạt bột”, nhưng hiền lành quá thành ra bị đè đầu cưỡi cổ. Tôi đành phải bỏ làng tha phương cầu thực.
Người đàn ông chờ chị Dậu cho một câu cảm thán, đồng tình nhưng chị vẫn yên lặng. Anh ta đành phải tiếp tục câu chuyện của mình.
Tôi ở làng X, tận tỉnh Y cơ. Chắc chị chưa đến đó bao giờ. Làng tôi chắc cũng như làng chị ở đây, quanh năm người dân đầu tắt mặt tối nhưng chẳng bao giờ có đủ cơm ăn. Tại bọn cường hào.ác bá quanh năm hoành hành. Tôí với nhà tôi về sống với nhau được hai năm. Chúng tôi có một cháu gái. Được cái cháu giống mẹ nên cung xinh xắn lắm!
Kể đến đây, anh nghẹn ngào không nói được nữa. Lúc này chị Dậu mới cất lời:
– Bác sao vậy? Có điều gì khó nói à?
Không, không. Thực ra thì mọi chuyện của gia đình tôi cũng bắt đầu tự cái nhan sắc của mẹ nó. Nhà tôi quí mến tôi thực lòng nên quyết tầm về sống với tôi – một kẻ nghèo hèn, chẳng có gì trong tay ngoài vách nhà tranh dột nát, bỏ mặc bao lễ hỏi linh đình, bao lời dọa dẫm của bọn lí trưởng, cai tổng trong làng. Một tối, tôi đi làm thuê về, thấy bà con hàng xóm đứng đầy trong nhà. Linh cảm thấy điều chẳng lành, tôi xông vào nhà. Tai tôi ù đi vì những lời than thở thương hại của bà con, Và mắt tôi tôi đen lại khi trước mắt mình là cảnh tượng người vợ nằm xõng xoài trên chiếc phản gỗ giữa nhà, môi tím ngắt, mắt khép hờ, dưới cắm lằn lên vết sợi dây thừng, quần áo xộc xệch, tả tơi. Tôi nghe loáng thoáng ai đó nói rằng: “Lúc sẩm tối, tôi thấy hắn lấm ỉét đi vào. Khoảng một giờ sau lại lấm lét mò ra. Mấy tuần nay như thế rồi. Nhưng những lần trước chỉ đá đưa trước sân, trêu ghẹo vài câu rồi lảng về…”. Tôi hiểu ra hết mọi việc. Gần đây tôi cũng nghe vợ phàn nàn rằng tên lí trưởng luôn thừa lúc tôi vắng nhà, đến đòi tòm tem. Vợ tôi không nghe, thậm chí còn bỏ đi, không tiếp lời. Đã nhiều đêm vợ tôi năn nỉ tôi bỏ làng đi nợi khác. Nhưng tôi nghĩ ở đồng đất này quanh năm, chẳng dễ sống hơn là đi nơi khác hay sao. Mình không đồng ý thì kẻ nào dám cưỡng bức… Vợ tôi thở dài, chẳng nói gì nữa. Tôi nghĩ mọi chuyện sẽ chẳng có gì phức tạp cả. Nhưng tôi đâu thể tưởng tượng được nỗi khổ nhục vợ tôi phải chịu đựng mỗi khi chiều xuống. Tôi đâu có nhà để phải nghe những lời dụ dỗ ngon ngọt hay những lời doạ nạt. Tôi vẫn tin vợ và tin rằng tên lí trưởng khốn nạn chẳng dám làm điều gì quá đáng đâu. Nhưng rồi, điều không ngờ đến đã xảy ra… Và có lẽ vợ tôi thấy nhục nhã, thấy không còn xứng đáng với tôi nữa nện đã làm điều dại dột. Bên tai tôi là tiếng khóc thét đòi mẹ của đứa con gái chưa tròn một tuổi. Máu tôi rực lên mặt. Tôi lao vào ôm vợ, khóc nức nở. Trong đầu tôi vang lên tiếng cười đắc thắng của tên lí trưởng khốn nạn. Tôi lao vào chái nhà, lấy con dao, lao mình chạy về phía nhà lí trưởng. Mọi người chạy đuổi theo tôi nhưng không kịp. Tôi đạp tung cổng nhà hắn. Mụ vợ hắn có lẽ quen với cảnh tượng này nên con cớn phỉ báng tôi: “Có vợ không biết giữ, còn oan uổng nỗi gì?”. Tôi lao vào nhà mụ, bất chấp đàn chó dữ bủa vây, nhìn thấy hắn, tôi phi con dao nhưng may đời nhà hắn, con dao cắm chặt vào chiếc ghế gần sát chỗ hắn ngồi… Tôi bị giải lên huyện, bị tuyên phạt án tù. Nhưng tôi trốn được, bỏ đi từ ngày đó không về.Xem thêm: Tả một người thân trong gia đình em lớp 5
– Thế còn con gái bác thì sao?
– Tôi thương con lắm nhưng không biết làm thế nào về đón cháu đi được. Hôm trước, có gặp một chị cùng làng đi buôn trên mạn ngược, chị ấy nói cậu em vợ tôi đã đón cháu về nuôi rồi. Nhưng không có bố mẹ, lúc nào trông cháu cũng buồn rười rượi.
– Thế bác định chui lủi mãi thế này à?
– À không. Cách đây khoảng ba năm, tôi lại bỏ lên miền ngược làm ăn. Ở đó, tôi gặp một chiến sĩ cách mạng. Chị có biết chiến sĩ cách mạng là như thế nào không? Thế này nhé, chị cứ hiểu họ là người tốt, là người chống lại chế độ phong kiến, chống lại ách áp bức, bóc lột của bọn thực dân Pháp. Anh ấy đã nói cho tôi rất nhiều điều mới mẻ, thiết thực. Nếu nghe những điều này, chắc chắn chị sẽ có cảm giác như được bắt gặp chân lí, bắt gặp ánh sáng, lí tưởng của cuộc sống.
– Bác nói vậy thì tôi biết vậy, chứ tôi cũng không hiểu lắm!
– Thế này chị ạ, chị có thấy dân mình quanh năm làm lụng vất vả mà vẫn đỏi khổ không? Chị có thấy sự áp bức, bóc lột của bọn cường hào, địa chủ là vô lí không? Chị có thấy bọn thực dân Pháp, phát xít Nhật cướp nước mình khiến là điều không chấp nhận được không? Chúng ta đang có gì trong tay? Miếng ăn, chị đã được no chưa? Chị có được tự do không hay đang phải chịu cảnh “một cổ đôi tròng”? Mà có phải đâu một mình chị phải chịu đựng cảnh đói? Đâu trên đất nước này cũng thế thôi chị ạ. Tôi đã đi nhiều nơi, chứng kiến nhiều cảnh ngộ còn éo le hơn cảnh ngộ của tôi. Dân không chết vi bị bọn cường quyền làm tình làm tội thì cũng chết vì nạn đói đang hoành hành, ơ xóm ngụ cư ven một thị xã tôi đa đi qua, người chết như ngả rạ, những bóng người đi lại vật vờ xanh xám như những bóng ma, không khí vẩn lên mùi ấm thối của rác ruởỉ và mùi gây của xác người… Chúng ta đang chịu chung một số phận, tại sao không đồng lòng, hiệp sức mà đứng dậy đấu tranh? Các cụ chẳng dậy: Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao là gì? Chị và tôi, và những người như chúng ta, nếu cùng nhau đứng dậy chống lạỉ sự áp bức, bóc lột của bọn chúng, lẽ nào chúng không sợ?
Nghe đến đây, chị Dậu chợt nhớ lại buổi hôm chị đánh nhau với tên cai lệ để bảo vệ chồng. Lúc đó chị cũng thấy mình ghê gớm thật. Nhưng con giun xéo lắm cũng quăn, chị không thể nhẫn nhục chịu đựng bị ức hiếp mãi thế được. Chị thấy phấn chấn hẳn lên. Nước mắt đã khô từ bao giờ. Trong ngực cũng không thấy thổn thức, nức nở như trước nữa. Trong chị xuất hiện một cảm giác gần gũi, thân thuộc với người đàn ông đang ngồi bên cạnh. Cuộc đời anh ta có khác gì cuộc đời chị đấu? Những gì anh ta nói từ bấy đến giờ, chị có thể làm được cơ mà.Xem thêm: Trong chương trình Ngữ văn 8 có rất nhiều tác phẩm văn học thể hiện tình yêu đất nước và niềm tự hào dân tộc. Em hãy viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của bản thân về quê hương đất nước Chừng như để chị suy nghĩ một lúc, người đàn ông lại tiếp:
– Trời cũng gần về sáng rồi. Tôi cũng sắp phải đi. Tôi chỉ muốn nói với chị điều này. Tôi sẽ còn trở lại nơi đây, sẽ gặp lại chị và có lẽ sẽ phải nhờ chị giúp đỡ nhiều nữa. Tôi mong chị suy nghĩ thật kĩ về tất cả những điều tôi đã nói. Bản thân tôi đã trải qua những gì chị đang gặp phải bây giờ. Nhưng tôi may mắn hơn chị vì đã sớm gặp người chiên sĩ cách mạng ấy. Giờ đây, tôi đang cùng anh và những người như anh làm nhiệm vụ của mình. Tôi hi vọng chị sẽ sớm trở thành đồng chí (tức là những người cùng suỹ nghĩ, lí tưởng như chúng tôi ý mà), sẽ cùng chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, góp phần giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đánh đổ chế độ phong kiến để giải phóng cho chính thân phận của chúng ra.
– Nhưng ai là người dẫn đầu những người như các anh?
– Đảng chị ạ. Đảng Cộng sản. Tôi đang phấn đấu để trở thành Đảng viên của Đảng Cộng sản đây. Rồi dần dần chị sẽ hiểu. Giờ chị chỉ đường cho tôi lên huyện nhé! Tối phải làm nhiệm vụ đưa thư. À, chị tên gì nhỉ? Tôi là…
Chỉ đường cho người lạ mặt xông, chị Dậu cũng rảo bước về ngôi nhà lụp xụp của mình. Lúc này, xa xa phía chân trời, có một khoảng mây đã rạng hồng. Một vài nhà đã nổi lửa, khói đùn qua nóc tranh, tản theo chiều gió…
Đúng như lời hứa, người đàn ông lạ mặt đã trở lại làng Đông Xá, đã gặp lại chị Dậu, tất nhiên, với tư cách một người bà con xa, mới tìm về. Nhìn nét mặt tươi tỉnh của vợ chồng chị, mọi người nghĩ rằng tìm được bà con nên anh chị Dậu mới vui như vậy. Một vài người biết chuyện cũng năng đến nhà chị hơn. Họ đến chúc mừng anh chị và hình như cũng đến để lắng nghe những điều mới mẻ mà gần gũi kia.
Những năm tháng sau này, trước ngày Cách mạng tháng Tám nổ ra, làng Đông Xá ngạc nhiên vô cùng khi vợ chồng chị Dậu cùng người bà con của mình thường mang về làng rất nhiều gạo để chia cho dân nghèo. Lúc đó, mọi người mới hiểu rằng, chị Dậu đã giác ngộ cách mạng từ rất lâu rồi. Dân làng Đông Xá kéo đến nhà chị nườm nượp, một phần vì để lĩnh gạo, nhưng phần lớn là để xin chị Dậu cùng đi phá kho thóc Nhật…
Một sáng quang đãng, những làn gió sớm mai dịu nhẹ xua tan đi cái bức bối đêm hè, chị Dậu dẫn một đoàn nông dân lên cướp chính quyền huyện, phá kho thóc chia cho dân nghèo. Nét mặt chị rạng ngời, ấm áp niềm hạnh phúc. Chiều nay về, chị sẽ nấu một nồi cơm trắng tinh, để chị em cái Tí được ăn no. Từ bữa chuộc được cải Tí về, chị đã rảnh rang làm được bao việc mà Đảng giao phó…
Chẳng biết tôi còn mơ màng đến đâu nữa nếu mẹ tôi không đánh thức dậy để chuẩn bị đi học.
Đêm qua con mơ gì mà hò dô inh ỏi vậy?
Tôi quay lại nhìn mẹ, cười tủm tỉm và khe khẽ: “Con mơ chị Dậu đi phá kho thóc Nhật mẹ ạ!”
Vanmau.edu.vn | Dựa vào suy ngẫm của nhà văn Nguyễn Tuân về kết thúc truyện Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hãy tưởng tượng và viết tiếp truyện Tắt đèn | 2,955 | |
Dựa vào tranh vẽ (tr. 62, SGK Tiếng Việt 2, tập 1) hãy kể lại câu chuyện Bút của cô giáo
Gợi ý
Sắp đến giờ viết chính tả, Minh phát hiện ra mình để quên bút ở nhà. Minh quay sang bên cạnh, nói với Hằng:
– Tớ quên bút ở nhà rồi, Hằng cho tớ mượn một chiếc bút nhé!
Nhưng Hằng đáp:
– Tớ cũng chỉ mang mỗi một chiếc bút thôi. Biết làm thế nào bây giờ?
Cô giáo thấy vậy liền hỏi:
– Sao em vẫn chưa viết bài?
Minh giải thích với cô giáo là cậu quên bút và cô giáo đã đưa cho cậu mượn chiếc bút của cô. Minh cảm ơn cô rồi cầm bút về chỗ viết bài. Chiều đến, cô giáo trả bài chính tả và Minh được điểm mười. Tan học, cậu chạy vội về nhà khoe với mẹ:
– Mẹ ơi, con quên mang bút, cô giáo đã cho con mượn bút của cô để viết bài và con được điểm mười mẹ ạ.
Mẹ cậu rất vui nhưng mẹ nói:
– Con trai mẹ giỏi lắm. Nhưng lần sau trước khi đến lớp, con phải chuẩn bị sách vở và đồ dùng đầy đủ đấy nhé.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi: "Sáng mát trong như sáng năm xưa... Những dòng sông đỏ nặng phù sa" | Dựa vào tranh vẽ (tr. 62, SGK Tiếng Việt 2, tập 1) hãy kể lại câu chuyện Bút của cô giáo | 226 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.