text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Cảm nghĩ về một người bạn thân của em
Hướng dẫn
Tôi còn nhớ như in cái ngày ấy, ngày tôi theo nội về quê. Phong cảnh miền quê thật là dễ chịu. Từng lối đi, từng bụi chuối, từng gốc tre… tất cả đều chứa chất bao kỉ niệm của tôi và Ái Liên.
Đó là một đứa trẻ miền đồng quê, rất đen, tóc vàng hoe và bù xù, vì vậy người ta vẫn quen gọi nó là Mèo Mun.
Nhà nó cạnh nhà nội tôi, thường thì những đứa trẻ thân nhau qua những trò chơi trẻ nít nên tôi và nó quen thân rất mau. Chỉ có một ngày, cây bưởi hiên nhà là thứ trung tâm của mọi thứ để tôi và nó bày ra các trò chơi: bán tiệm, ru em, đi học… Nhà của Mèo Mun nghèo lắm, lại rất đông người, mẹ ba nó phải làm lụng suốt ngày nên không có thì giờ chăm sóc nó, chính vì vậy mà nó hầu như ở suốt nhà nội tôi, có lúc nội tắm rửa và cho nó ăn cơm. Tôi bằng tuổi với nó nhưng trội hơn nó từ suy nghĩ đến hành động, nhiều lúc có vẻ giống người lớn. Có lần nó bày cho tôi chơi trò kéo xe, tôi vốn có rất nhiều đồ chơi, trong số đó có một chiếc xe ô tô bằng nhựa, còn nó thì không có dẫu một con búp bê. Tôi bảo nó lấy hoa rụng để lên xe rồi kéo. Tôi lấy làm thích trò này, mãi loay hoay kéo qua kéo lại, vô tình quên bẵng con Mèo. Một lúc sau tôi đưa mắt tìm nó. Ô! Nó đâu? Tôi hốt hoảng gọi to: “Mèo… ơi!” Không gian vắng lặng, tôi chạy quanh tìm nó. Thì ra nó ở đây, dưới bụi chuối nhưng sao nó khóc? Tay nó cầm mo cau và dùng sợi dây cô' “xỏ” vào mo cau, nước mắt lưng tròng. Giờ đây nghĩ lại tôi cảm thấy mình vô tâm đến đáng ghét. Thì ra… thì ra… tôi chợt hiểu:
“Bạn lấy xe của mình mà dùng”. Nó ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt đen huyền nháy nháy: “Không, tôi không lấy của bạn đâu, tôi tự làm lấy! Tôi có xe bằng quạt mo nè!”. Tôi quen sung sướng, lại không hiểu nó nhiều, nó nói sao tôi tin vậy, tôi có biết đâu nó đang tủi thân phận vì nghèo, vì không bằng tôi.
Xem thêm: Phân tích những vẻ đẹp khác nhau của các thế hệ người dân Tây Nguyên thời kháng chiến chống Mĩ trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung ThànhTính nó hay nhường nhịn và vị tha, lúc nào tôi giành chơi thì nó bỏ xuống nhìn tôi mà buồn buồn, những lúc ấy tôi lấy làm sung sướng và tự mãn lắm. Thời gian thấm thoát trôi đi, tôi và nó thân thiết với nhau hơn, nhưng có lẽ nó không còn ở mãi trong tâm trí tôi nếu không có chuyện này… Thời gian thăm nội sắp hết, tôi phải về nhà để chuẩn bị đi học và tôi đã lên lớp năm. Mới sáng sớm, tôi vừa thức giấc đã nghe tiếng con Mèo vang vang: “Diễm ơi, qua đây có chuyện vui mình bày cho chơi nè!”. Vừa ngủ dậy, tôi vội lên tiếng, giọng nhừa nhựa: “ừ, bạn đợi mình chút xíu”. Năm phút sau, tôi đã ra đến đầu cầu sang nhà nó, cây cầu là thân một cây mù u cong queo bắc ngang, đôi với người lớn thì chỉ cần năm sáu bước đã qua bờ bên kia, còn đối với tôi, một con bé mười tuổi, lại không quen đi những nơi cầu lắt lẻo như thê' này, nên cứ lẫm chẫm từng bước. Con Mèo đang mải mê bên kia cầu với một đống đất sét, nó đâu thấy tôi: “Bạn liệng cây nứa cho mình nắm, mình qua bển với”. Tôi gọi nó. Nó chỉ chỉ vào cục đất. “Thôi Diễm sang đi, mình mắc làm cái này nè”. Đang háo hức với trò chơi mới, tôi đành liều qua cầu. Một bước… hai bước… ba bước… ùm!
Tôi té! Tất cả không gian quay cuồng, xung quanh tôi chỉ còn màu trắng toát của nước. Trước khi tôi nghe văng vẳng giọng của con Mèo: “Diễm ơi! Trời ơi Diễm…!”. Dường như quá run sợ, tôi không còn nghe thấy gì nữa…
“Diễm tỉnh lại đi con!”
Tôi mở mắt lừ đừ nhìn xung quanh. Mái nhà, cái tủ, ai nằm đây? Trời ơi con Mèo nằm bất động với vẻ mặt xanh xao, mắt nhắm bặt. Tôi hiểu ra rồi, khi tôi té, con Mèo nhảy theo… Tôi chực ngồi dậy nhưng nội không cho, “Con Mèo nhảy theo con nhưng không lội được, hai đứa ngập thở rồi chìm”. Tôi nghe như tim mình đau nhói, tôi khẽ nắm lấy tay con Mèo, bàn tay lạnh ngắt, bất chợt nó cựa quậy và thét lên: “Diễm ơi đừng bỏ mình, tại mình không đưa cây… nên Diễm té… Diễm ơi! Chờ mình với Diễm…”.
Tôi nhắm mắt lại, giọt nước mắt nóng hổi rơi trên gò má, lã chã, tôi siết tay nó, mím chặt môi. Trước mắt tôi hình dung ra cảnh con Mèo lao xuống nước cố gắng kéo tôi. Nước sâu, nó yếu dần… yếu dần… chìm hẳn…
Tôi thiếp đi, khi tỉnh lại thấy không gian trông vắng, có cái gì chát chát mằn mặn ở môi mình. Tôi đưa tay vuốt mặt, bàn tay ươn ướt… Ồ không biết tôi khóc lúc nào ấy nhỉ? Giường bên cạnh, Mèo nằm bất động, tôi hô't hoảng, muô'n la lên nhưng chợt nghe tiếng khọt khẹt, khò khè của Mèo, tôi định thần…
Thì ra Mèo vẫn sống. Tôi mừng khôn xiết!
Nguồn: thêm: Cảm nhận về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu | Cảm nghĩ về một người bạn thân của em | 990 | |
Đề bài: Anh (chị) hãy kể và phát biểu những cảm nghĩ về một tình huống đáng cười mà mình gặp trong cuộc sống.
Lớp 10 B của mình có một bạn được mọi người phong cho biệt danh là “vua nổ" vì cậu ta có thể “nổ” về mọi vấn đề, ở mọi lúc mọi nơi. Dường như không nhận ra được hàm ý mỉa mai, giễu cợt trong cái biệt danh ấy nên Thiên “nổ” không ngớt. Vì thế mới xảy ra một chuyện buồn cười mà tôi sẽ kể cho các bạn nghe. Chuyện là thế này:
Sau khi khai giảng được độ hai tháng thì cô chủ nhiệm tổ chức đi tham quan ở Củ Chi để các thành viên trong lớp có dịp làm quen và gắn bó với nhau hơn. Hôm đó là chủ nhật nên khách tham quan khá đông, có cả mấy tốp du khách nước ngoài. Nhìn các anh chị hướng dẫn viên giới thiệu bằng tiếng Anh về lịch sử của vùng vành đai thép Củ Chỉ với hệ thống địa đạo nổi tiếng, chúng mình thích lắm và mình ao ước giá như có được khả năng nói tiếng Anh lưu loát như vậy thì tốt biết bao! Đương nhiên chỉ là ao ước mà thôi vì trình độ nói và nghe của mình còn ở mức lõrn bõm, tiếng được tiếng chăng.
Chẳng hiểu Thiên nghĩ sao mà tách khỏi lớp, đi theo tốp du khách Anh, trong đó có một cô gái khá xinh. Thiên làm quen bằng mấy câu xã giao thông thường và được cô gái kia vui vẻ đáp lại. Được đà, cậu ta phấn chấn và bắt đầu huyên thuyên, miệng nói, tay quơ ra dấu minh họa. Lạ ở chỗ là Thiên càng nói thì cô bạn gái người Anh kia càng nhún vai, lắc đầu và cứ nhắc đi nhắc lại một câu: “I don’t undarstand!” (Tôi không hiểu!)..Rồi cô gái ấy rảo chân bước theo đoàn lúc đó đã đến gần khu địa đạo.
Giá như Thiên im lặng, nhưng quen thói ba hoa, cậu ta “nổ” vung lên rằng: “Minh giới thiệu địa đạo Củ Chi với du khách người Anh hẳn hoi nhé!". Tùng “ lém” nổi tiếng nói thẳng nói thật và cũng giỏi tiếng Anh nhất lớp bèn hỏi: “What did you tell her about it?” (Bạn đã nói những gì về địa đạo với cô ta?).
Thiên lúng túng hồi lâu, mặt và tai đỏ như ớt chín vì không trả lời được cảu hỏi ấy. Mấy tiếng cười “chọc quê” bật ra nhưng Tùng đã đưa tay lên môi ra hiệu im lặng để Thiên đỡ mắc cỡ. Mình và các bạn nữ cũng ái ngại cho cậu ta. Chắc bữa nay, “vua nổ" được bài học nhớ đời.
Ba hoa là một thói xấu, phải không các bạn. Người xưa đã khuyên: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Thành ngữ cũng có câu: “Thùng rỗng,kêu to”. Càng ngẫm, mình cảng thấy đúng như vậy. Muốn giỏi, thì phải học và học thực sự để nâng cao trình độ của bản thân, chứ không phải để khoe khoang, ra vẻ ta đây hơn người. Trường hợp của Thiên tự nhiên nhắc mình nhớ đến câu ca dao châm biếm:
Thầy dốt mà đọc canh khôn,
Đến lúc đọc dồn, ỉ ả ì a!!!
Xem thêm: Cảm nghĩ về thầy cô giáo của em lớp 7 hay nhất | Cảm nghĩ về một tình huống đáng cười mà mình gặp trong cuộc sống | 579 | |
Cảm nghĩ về ngày đầu tiên bước vào trường THPT
Bài làm
Cũng như bao ngày cuối hè nóng nực khác, bầu trời trong vắt, tiếng ve sầu nỉ non, nhành phượng đỏ mùa cũ vẫn chưa kịp rơi xuống, tôi bước chân vào ngôi trường THPT Việt Đức, chính thức trở thành học sinh cấp 3. Đó là ngày đầu tiên được bước chân vào trường THPT, nơi tôi chọn thi vào để gắn bó ba năm học tập và phát triển.
Mọi người thường hỏi ngày đầu tiên đến trường thế nào, tôi chỉ nghĩ đơn thuần là như Alice lạc vào xứ xở thần tiên, trông cái gì cũng lạ nhưng vô cùng thích thú. Trường cấp 3 của tôi nằm ngay giữa trung tâm thành phố, có bề dày lịch sử và truyền thống khá lâu đời, nó mang một vẻ cổ kính mộng mơ như được trở về Hà Nội những năm 2000 vậy. Việt Đức vẫn giữ hai tòa nhà theo kiểu kiến trúc Pháp thuộc, tường dày sơn vàng cổ kính ấm về mùa đông mát về mùa hạ. Sân trường rất rộng với bề mặt xi măng bằng phẳng, rộng gấp 5 lần diện tích trường cấp 2 cũ của tôi. Từng gốc cây xà cừ mọc xao vút rợp bóng giữa sân che hết màu nắng chói chang trên đỉnh đầu. Sân bóng rổ rộng rãi vừa để chơi bóng vừa làm sân thể dục.
Xung quanh rất đông các bạn học sinh mới, ai nấy đều bỡ ngỡ đi tham quan trường. Có bạn cũ gặp nhau chào hỏi, có bạn mới làm quen nhau. Khung cảnh vô cùng đông vui nhộn nhịp, ai cũng mang một tâm thế mới bước vào chặng đường mới. Bảng thông báo ghi danh sách tên và lớp của từng người được dán trước cổng trường, tôi nhìn theo tên mình đi vào lớp 10D5. Đó là một căn phòng học nằm khuất ở góc hành lang tầng 1, căn phòng bé xinh với tấm bảng và bàn ghế mới toanh, tường mới sơn lại sáng loáng cả đèn cũng đã được thay mới. Khi tôi vào lớp các bạn đều đã có chỗ ngồi và đang bắt chuyện với nhau. Trông đứa nào đứa nấy đều cười tươi lắm, nói chuyện rôm rả nhưng gương mặt trẻ măng từ cấp 2 vẫn chưa biến đổi nhiều. Lớp tôi rất nhiều bạn xinh trai xinh gái, trông ai cũng dễ mến và vui tính.Xem thêm: Bình luận câu tục ngữ Pháp: “Tiền bạc là người đầy tớ trung thành và là người chủ xấu”
Cảm nghĩ về ngày đầu tiên bước vào trường THPT
Tôi ngồi ngay bàn 2, kế bên có một bạn nữ rất hiền và đáng yêu, chúng tôi chào hỏi nhau, bạn ý tên Linh, rất giỏi môn Tiếng Anh và Toán, điềm vào trường khá cao nên chúng tôi ngỏ ý giúp đỡ nhau trong học tập. Mọi người vui vẻ làm thân, trải qua một kỳ thi khốc liệt để có thể đỗ được vào Việt Đức quả thật bạn nào cũng mang một tâm trạng thoải mái nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Một lát sau cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi nhận lớp, khác với sự sợ hãi mơ hồ khi gặp giáo viên, cô giáo chủ nhiệm của tôi có vẻ ngoài nhân hậu, bao dung và dễ gần. Cô búi tóc cao, mặc bộ quần áo trông rất thoải mái. Gương mặt cô bầu bĩnh, cũng đã hằn dấu vết thời gian. Cô tự giới thiệu cô tên là Nguyễn Mai Hạnh, giáo viên dạy Tiếng Anh. Tuy không giỏi môn này nhưng sự dễ chịu và gần gũi toát ra từ cô khiến tôi có thêm động lực học tập. Cô chúc mừng chúng tôi đã trải qua sự khảo sát khắt khe từ kỳ thi cấp 3 để có thể được ngồi chung với nhau ở D5, khóa của chúng tôi là khóa cuối cùng cô làm chủ nhiệm trước khi cô về hưu. Cô trò chuyện với chúng tôi rất lâu, ngoài cửa sổ nắng vàng vọt hắt vào, đó là kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong đời học sinh của tôi. Ngày đầu bước vào trường cấp 3 với một tâm thế sẵn sàng cho cuộc chiến lớn hơn, gặp được thầy cô, bạn mới.Xem thêm: Anh (chị) hãy bàn về các từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” trong giao tiếp, ứng xử
Cô phát cho chúng tôi những tờ phiếu nhỏ, trong đó có mục tên, tuổi, năng khiếu, ước mơ, sở thích. Cô đọc lên rất nhiều tên các bạn biết nhảy múa, đàn hát… Trong đó có một bạn gái nhỏ nhắn muốn được làm lính cứu hỏa. Cô dựa vào những tờ phiếu đó mà bầu chọn lớp trưởng, bí thư, lớp phó… Cô bạn ngồi cạnh tôi được làm lớp trưởng. Ngay buổi gặp mặt đầu tiên, chúng tôi đã có rất nhiều công việc phải làm, chúng tôi lập nhóm lớp để có thể thông báo lịnh trình và hoạt động.
Kết thúc buổi gặp mặt đầu tiên, chúng tôi chào tạm biệt nhau và trở về nhà. Hôm ấy mọi thứ dường như bước sang một trang mới, cùng nhau làm nên những câu chuyện mới, chúng tôi đều rất mong đợi hành trình sau này có thể sánh vai, cố gắng hướng tới tương lai. Thật vui khi được học cùng D5 dưới mái trường THPT Việt Đức. Ngày đầu bước chân vào trường THPT, trường lớp và bạn bè đã để lại trong tôi những ấn tượng khó phai, niềm vui và sự hân hoan chưa bao giờ có.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về ngày đầu tiên bước vào trường THPT hay nhất | 954 | |
Cảm nghĩ về người anh trai, chị gái của em
Hướng dẫn
Chúng ta cảm thấy ấm áp khi có ba mẹ luôn yêu thương chiều chuộng ta nhưng ta càng thấy ấm áp hơn khi trong gia đình nhỏ đó có sự đùm bọc của anh trai và chị gái mình.
Sự thương yêu đùm bọc của người anh trai và chị gái thân thiết làm cho chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn với cuộc sống này. Dân gian có câu "làm anh khó đấy, phải đâu chuyện đùa /với em bé gái, phải người lớn cơ/ khi em bé khóc anh phải dỗ dành, nếu em bé ngã anh nâng dịu dàng.."
Qua câu trên ta có thể thấy sự che chở của người anh trai đối với đứa em gái mình là điều vô tận. Trong cuộc sống ai mà chả có vấp ngã và chúng ta rất cần thiết những người thân ruột thịt của mình ủng hộ mình, quan tâm mình, chia sẻ, động viên mình và họ là những người luôn đứng sau lưng của chúng ta. Để khi chúng ta có vấp thì họ cũng là người biết trước tiên và họ cũng giang rộng vòng tay để nâng bước ta trước những gian lao cuộc sống.
Đối với đứa em gái như em tất nhiên là có những ưu phiền trong cuộc sống và không gì tuyệt vời hơn là khi có chị gái sẽ chia những tâm sự của mình. Chị gái như là chính mình vậy đó? Chị hiểu những suy nghĩ của mình mà bất chợt mình chưa kịp nói ra nhưng chị quan tâm đến từng li từng tí. Có lẽ không ai yêu thương em gái mình bằng chính người anh trai và chị gái trong gia đình. Bạn có thể có rất nhiều mối quan hệ xã hội nhưng bạn đừng quên họ cũng vừa là tình thân của bạn vừa là bạn của bạn.
Xem thêm: Nghị luận xã hội - Lợi ích của việc đọc sáchHọ yêu thương chúng ta như vậy nhưng không nhất thiết họ chiều những gì chúng ta đòi hỏi mới là yêu thương. Anh chị yêu thương chúng ta theo cách riêng của một người anh và một người chị.
Những hành động chúng ta làm họ luôn để ý chính là xuất phát từ tấm lòng yêu đứa em mình vô kể. Họ xem thử việc làm đó có tốt cho đứa em gái của mình không. Họ khắt khe trong mỗi dự định chúng ta làm vì họ không muốn đứa em bé nhỏ của mình bị vấp ngã quá nhiều lần trong cuộc sống. Đôi khi có những lời quát mắng từ họ nhưng chúng ta hiểu rằng những lời quát mắng đó là mong chúng ta trưởng thành hơn, suy nghĩ kĩ càng trước mọi việc định làm.
Thiếu đi người anh trai hay người chị gái trong cuộc sống này như thiếu mất một cánh tay bảo vệ. Một cánh tay đắc lực, một cánh tay dìu dắt vậy.
“anh em như thể chân tay
Rách lành đùm bọc
Dở hay đỡ đầu”
Tóm lại, những ai đang có những người anh người chị kề bên thì hấy trân trọng họ, yêu thương họ theo cách mà bạn có. Đừng vì những cuộc vui với bạn bè ngoài xã hội kia mà chúng ta phớt lờ sự quan tâm với họ.
Tình cảm anh chị em trong nhà là tình cảm mà chúng ta may mắn mới có được, vì thế đừng đánh mất họ với cuồng quay của xã hội.
Nguồn: thêm: Cảm nhận của em về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải | Cảm nghĩ về người anh trai, chị gái của em | 612 | |
Cảm nghĩ về người bà (bà ngoại)
Hướng dẫn
Bà ngoại – Hai tiếng gọi thân thương đã, đang và sẽ theo tôi đi suốt một đời. Dù thời gian có làm nhạt nhòa kí ức cũng không thể nào chạm đến góc nhỏ trái tim tôi – nơi tôi dành trọn tình cảm cho bà dù bà đã đi xa tôi mãi…
Nhắc đến bà ngoại là nhắc đến một miền kí ức tuổi thơ tôi đầy nắng gió. Mẹ tôi kể rằng: hoàn cảnh gia đình lúc sinh tôi rất khó khăn, cha mẹ phải chạy vạy cật lực, làm hết nghề này đến nghề khác, đi hết nơi này đến nơi khác để kiếm từng đồng lo cơm từng bữa. Ngoại đã nhận trông nom tôi để cha mẹ đỡ vướng bận. Từ lúc còn đỏ hỏn trên tay, tôi đã sống cùng bà, được bà bón cho từng giọt sữa, chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ. Có lẽ vì vậy mà ngoại đã chiếm hầu hết kí ức tuổi thơ tôi và để lại trong tôi những dấu ấn sâu sắc.
Ngoại tôi là một người phụ nữ truyền thống, bà có những đường nét rất riêng của phụ nữ Á Đông. Bà ngoại không cao người, gầy và có làn da chi chít những nốt đồi mồi. Mũi của ngoại không cao, mặt của ngoại cũng không trái xoan, trái táo như cái chuẩn đẹp tôi thường nghe, tôi thấy ngoại đẹp một nét đẹp bình dị, nét đẹp của làng quê, của con người lao động. Tóc bà không bạc phơ như bà tiên trong những câu chuyện cổ tích tôi vẫn thường hay đọc mà đen một màu đen nhánh có điểm vài sợi bạc. Đặc biệt nhất, nói đến bà ngoại, chắc chắn tôi không thể không nhắc đến đôi bàn tay kì diệu hình như có thể vì tôi làm được mọi thứ trên đời. Hình ảnh người bà với đôi bàn tay chai sạn, nhăn nhúm do một thời tảo tần hết sống vì con rồi lại lo cho cháu bỗng dưng trở thành hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí tôi ngày ấy và cả bây giờ.Xem thêm: Em đã từng chứng kiến cảnh bão lụt ở quê mình hoặc xem cảnh đó trên truyền hình, hãy viết bài văn miêu tả trận bão lụt khủng khiếp đó
Thời gian cứ lặng lẽ trôi, tôi lớn lên trong tình yêu thương và sự đùm bọc, chở che của ngoại. Nhưng chưa được bao lâu thì tôi phải tạm sống xa người bà đáng kính…Khi cuộc sống mưu sinh đã không còn là gánh nặng, khi nỗi lo cơm áo gạo tiền đã vơi đi phần nào, cha mẹ tôi đã tìm được việc làm ổn định ở thành phố và đón tôi lên đấy. Đêm trước ngày đi, tôi ngủ cùng bà, được bà ôm tôi vào lòng dặn dò đủ thứ: nào là lên trên đó phải nghe lời cha mẹ, cố gắng học hành, nào là không được học đòi chúng bạn ăn chơi trác táng, đi sớm về khuya, nào là phải ăn uống đầy đủ, đi ngủ đúng giờ,…Hằng hà sa số những điều mà ngoại đã dặn tôi trong đêm đó cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in. Lúc tiễn tôi bà đã khóc, bịn rịn vén tóc tôi mà nghẹn ngào: “Đi đường mạnh giỏi nghen con, khi nào nghỉ hè thì về thăm ngoại”…
“Tổ cha mày, đi bao lâu rồi mới về?”. Đó là câu nói cửa miệng của ngoại mỗi khi tôi về thăm. Câu nói bình dân nhưng nghe sao tình nghĩa quá, thi vị quá. Ngoại vẫn cứ hay mắng yêu tôi như thế, rồi xoa đầu, ôm tôi hôn lấy, hôn để như thể sợ người khác sẽ giành mất đứa cháu gái của bà…Ngoại cứ như trẻ lại khi tôi về quê nghỉ hè, ngoại luôn miệng nói cười và tíu tít “khoe” thành tích học của tôi với những người hàng xóm, láng giềng. Những lúc ấy, tôi thấy ánh lên trong mắt ngoại sự tự hào và cả niềm hãnh diện…Điều đó là tôi cảm thấy vui xiết bao!!! Tôi tự nhủ với mình rằng càng phải cố gắng nhiều hơn nữa…Xem thêm: Kể về một kỉ niệm đáng nhớ về tình bạn của em lớp 4
Nhưng mấy ai sống mãi với thời gian? Ngoại đã xa tôi mãi mãi khi tôi vừa lên cấp hai…Tôi như người mất hồn khi hay tin ngoại mất. Ngoại đi thật rồi sao? Không! Ngoại chỉ ngủ thôi, một giấc ngủ dài để nghỉ ngơi sau một đời giông bão. Ngoại đã đi vào cõi vĩnh hằng để trở thành bất tử trong tôi. Không còn ngoại, tôi mất đi một nơi để bám víu, để tìm về sau những buồn vui trong cuộc sống. Rồi mai đây, ai sẽ là người chờ đợi tôi, đỡ nâng tôi trước những va chạm, vấp ngã trong đời? “Ngoại ơi! Sao ngoại vội ra đi khi con chưa thể đền đáp công ơn dưỡng dục, dạy dỗ của ngoại…”.
Dù bà ngoại đã không còn hiện diện bên cạnh tôi nhưng tôi tin chắc rằng, ở đâu đó, ngoại vẫn đang dõi theo từng bước chân tôi. Tôi tự nhủ với mình phải sống thật tốt, học thật giỏi để mãi là niềm tự hào của ngoại. Xin mượn lời một bài hát để nói thay tấm lòng con:“Giờ đây con khôn lớn/ Bà biền biệt trời xa/ Gai đời đâm nhức buốt/ Biết về đâu tìm bà/ Bà ngoại ơi, bà ngoại/ Trọn đời thương nhớ Người/ Trong tâm hồn thơ dại/ Mãi bóng hình ngoại tôi”… | Cảm nghĩ về người bà (bà ngoại) | 956 | |
Cảm nghĩ về người bà kính yêu
Bài làm
Cuộc sống ở thành phố quá bận rộn làm con người cứ mãi xa dần xa dần. Bao nhiêu năm qua đi rồi, tôi vẫn mãi nhớ về bà ngoại, người đã tô vẽ cho tuổi thơ của tôi đầy những màu xanh non của thế giới, đẹp đẽ, rực rỡ và ấm áp vô cùng. Dưới ánh đèn xa hoa của phố thị, tôi cứ mãi hoài niệm về quãng thời gian còn nhỏ được đưa về quê cho bà nuôi nấng. Thời điểm đó đô thị hóa chưa đến gần với nông thôn, cuộc sống làng quê bình đạm và chân chất đến nỗi mà sau này khi lớn lên không có gì thay thế nổi quãng đời tươi đẹp ấy.
Bà tôi khi ấy ngoài 70, gương mặt đã chằng chịt những vết nhăn của thời gian, đôi tay khô sần vĩ thời trẻ làm công việc đồng áng vất vả nuôi các bác và mẹ tôi. Bà hay nhai trầu, đôi môi lúc nào cũng đỏ chót màu nước trầu, răng bà đen và khít lắm. Thời xưa con gái phải nhuộm răng đen mới đẹp, trên người bà không có trang sức, bà bảo đơn giản quen rồi đeo mấy thứ đó vướng víu lắm. Nhưng nếu thấy cái vòng tay hay lắc chân đẹp, bà lại đeo thử rồi mua cho tôi. Có thể bà gói những đồng tiền rất khéo và chặt trong những chiếc khăn tay vì tuổi già nhờ con nhờ cháu không làm gì được nhưng tiền bà giành dụm để mua đồ cho tôi thì bà không tiếc. Kể cả vét đến xu cuối cùng nếu cháu đói bà cũng bằng lòng. Bà cũng chỉ đan lát qua ngày kiếm vài đồng rau cháo phụ giúp các bác bữa cơm. Hồi đó ai cũng nghèo nên bà đỡ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.Xem thêm: Cảm nghĩ về mẹ của em
Bà vẫn hay mặc cái áo cánh màu tím đã sờn hết vải, cái quần đen dài và chít cái khăn đen lên đầu. Chiều chiều bà dắt tôi ra chơi với mấy bạn hàng xóm còn bà thì tranh thủ xem người ta có việc gì nhận làm chút ít kiếm đồng ra đồng vào. Màu ráng chiều trong mắt tôi là hình ảnh cánh đồng lúa chín đòng đòng, đàn chim hình mũi tên bay trên sắc trời vàng đỏ, bà tôi ngồi đan lát ngoài hè, dăm ba đứa trẻ con bắt châu chấu buộc dây, tôi chạy vút giựt cao cánh diều bay. Ngọn gió năm ấy mang mùi hương của cánh đồng vàng ruộm, mùi tinh khiết trong sạch nhất đời. Thi thoảng bà gọi với kêu tôi chạy chậm kẻo ngã, tay bà vẫn thoăn thoát đan lát. Cuộc sống khi ấy với bà thật êm đềm.
Cảm nghĩ về người bà kính yêu
Tôi vẫn nhớ mãi món canh rau ngót nấu thịt và món thịt rang thuở bé bà hay làm cho tôi ăn. Bà không cho mỡ bao giờ, thức ăn đạm bạc nhưng cất cả tuổi thơ tôi. Chỉ có bà mới có thể làm ra vị những món ăn ấy khiến tôi nhớ mãi không nguôi. Còn cả nồi cơm gang nấu có cháy, cái cháy cậy ra thơm phức ăn giòn tan chấm với nước mắm chanh ớt. Về với bà chỉ muốn ăn cơm cháy nồi gang, bà nấu rất khéo, lửa vừa, cháy giòn nhưng không dính vị khét, ngọt thanh.Xem thêm: Viết đoạn văn (6-8 câu) nêu cảm nghĩ của em về Bác Hồ sau khi học bài thơ Đi đường, trong đó có sử dụng 1 câu nghi vấn
Từ khi bà mất, nhìn thấy người ta đốt lửa sưởi ấm trời đông tôi lại nhớ đến căn bếp đen kịt những khói của bà. Những bó rơm to cao chất ở phía tường bên kia thi thoảng bà lại rút xuống cho vào bếp. Cái ấm nước đầy những nhọ nồi, cái kiềng ba chân đã cũ. Tôi ngồi cùng bà đun ấm nước, ánh lửa bếp nóng đỏ mặt. Bà ném mấy củ khoai lang vào nướng, chị họ với tôi ngồi suýt xoa chờ lửa tàn gạt khoai ra. Đưa cho bà một củ to nhất, hai chị em tôi bẻ đôi. Món khoai lang nướng bếp của bà sau này cũng không còn được ăn nữa. Nụ cười khành khạch khi bị bà cù léc, những đêm ôm chặt bà ngủ vì sợ ma cũng chẳng còn nữa rồi.
Tôi rất yêu bà tôi và nhớ thương càng nhiều hơn nữa. Tôi sẽ lớn lên làm một con người tốt, sống thật hạnh phúc vì tôi biết đó là điều bà luôn mong mỏi ở các cháu của mình. Dù giàu sang hay nghèo khó, hãy sống thật tốt và sống thật hạnh phúc như vậy bà mới có thể mỉm cười mãi mãi.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về người bà kính yêu hay nhất | 828 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về người mẹ của em
“Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đang thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
Cứ mỗi lần nghe những câu thơ này của nhà thơ Trần Quốc Minh vang lên, thì em lại chọt nghĩ đến người mẹ thân yêu của em. Em cảm thấy thật bất hạnh cho những ai không có mẹ, bởi vì mẹ là người dành trọn mọi sự thương yêu chăm sóc cho chúng ta. Và mẹ em chính là nguời như vậy đó.
Mẹ năm nay đã gần bốn mươi tuổi nhưng ai cũng nói mẹ già hơn so với tuổi, có lẽ vì gánh nặng cuộc đời chăng? Công việc của mẹ rất giản dị đó chính là làm ruộng. Sở thích của mẹ rất khác với mọi người, đó chính là làm việc. Mẹ có dáng người dong dỏng cao, nước da ngăm đen đã bị rám nắng, mái tóc của mẹ dài ngang lưng đã bị cháy nắng ngoài đồng ruộng, nắng chói để đem lại cho em một cuộc sống ấm no. Khi đi làm mẹ thường búi tóc lên, để lộ ra mấy cộng tóc xoăn trông thật duyên dáng. Đi với mái tóc ấy chính là khuôn mặt hình trái xoan của mẹ. Vầng trán của mẹ cao rộng, có lúc nheo lại lộ vẻ suy tư. Năm tháng, thời gian đã hằn lên khuôn mặt mẹ những nếp nhăn nho nhỏ.
Nhưng thời gian cũng không thể xóa nhòa được nét dịu hiền, phúc hậu trên khuôn mặt ấy. Đôi mắt mẹ đen láy thấm đượm sự bao dung, trìu mến. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn” quả là không sai. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em có thể đoán được những suy nghĩ trong mẹ. Những lúc em làm được việc tốt đôi mắt ấy hạnh phúc như cười. Và cũng từng đỏ hoe khi mỗi lần em làm điều sai trái. Nhìn vào đôi mắt mẹ, em tự trách mình vì đã làm mẹ buồn. Cùng với đôi mắt mẹ là cặp lông mi dài và đôi chân mày lá liễu dày. Mũi mẹ cao cao, cái miệng nho nhỏ, khi cười để lộ hàm răng trắng, đều như hạt bắp.
Xem thêm: Cảm nghĩ về một người bạn thân của em“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
Đúng vậy! nhờ có bàn tay đầy nghị lực của mẹ đã nuôi em khôn lốn đến chừng này. Bàn tay ấy đã bị bao sậm, hằn những vết nứt nẻ. Bao nhiêu vết là bấy nhiêu vất vả gian lao của mẹ. Đôi bàn chân cũng vậy, nó cũng đã bị nứt nẻ. Những khi trời trở lạnh, đôi bàn chân ấy lại đau, nhức khiến mẹ phải ngâm vào nước muối. Đôi vai mẹ gầy gộc đã trở bao nhiêu là mưa nắng. Nhìn tất cả những thứ ấy em cảm thấy yêu mẹ thật nhiều, thật nhiều.
Nhìn bàn tay mẹ chăm sóc từng đám lúa, luống rau, em cảm thấy mẹ yêu cây cỏ đến chừng nào. Mẹ là một người mà không thể thiếu trong gia đình. Hằng ngày, mẹ như một cô tấm với những công việc như nấu ăn, giặt giũ, dọn nhà… thật nhanh nhẹn, gọn gàng. Dù nhà cửa có bề bộn đến mấy, mà nếu được bàn tay siêng năng của mẹ thì sẽ trở nên gọn gàng. Vì lo cho cuộc sống của gia đình mà mẹ chẳng bao giờ rảnh rỗi cả, hết việc nhà rồi lại làm ruộng.
Mẹ là một người luôn dành trọn mọi sự yêu thương và lo toan cho em. Lúc em làm điều gì sai trái, mẹ không la mắng gì đâu mà mẹ dạy em những điều hay lẽ phải, khiến em luôn ghi nhớ trong lòng. Tuy mẹ bận rộn lắm nhưng mẹ vẫn luôn quan tâm tới công việc học hành của em. Lúc em đau ốm, mẹ là bàn tay ấm áp, che chở cho em vượt qua.
Đối với mọi người trong làng xóm, mẹ rất hòa nhã, cởi mở với họ nên ai cũng quý mến mẹ. Trong công việc, mẹ rất nhiệt tình nên mỗi lần đi dặm hay gặt lúa thì ai cũng kêu mẹ đi.
Thế đấy! Người mẹ thân yêu của em là như vậy đó, mẹ là một người rất yêu thương đứa con của mình. Em yêu mẹ lắm! Yêu mẹ rất nhiều. Em tự nhủ rằng sẽ cố gắng học tập thật giỏi để trở thành con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ, mai sau đền đáp công ơn to lớn của mẹ đã bao năm chăm lo cho em từ miếng ăn đến giấc ngủ.
“Mẹ như biển cả mênh mông
Con luôn ghi nhớ công ơn của người”.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Cảm nghĩ về tình bạn hay nhất | Cảm nghĩ về người mẹ của em | 825 | |
Cảm nghĩ về người mẹ thân yêu
Bài làm
Lòng mẹ chính là kỳ quan tuyệt diệu nhất trong vũ trụ, vẻ đẹp tuyệt trần của tạo hóa. Balzac cũng có viết “Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở dưới đáy bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ.” Dù bất kể có phạm lỗi không thể thứ tha, người đầu tiên luôn bao dung che chở bằng tình yêu vô bờ bến chính là mẹ. Mẹ của bất cứ ai, mẹ của tôi, đều có vị trí cao nhất trong lòng con trẻ. Tôi yêu mẹ tôi, một người giàu đức hy sinh, thương con hết mực.
Mẹ tôi là một bác sĩ đa khoa làm ở bệnh viện lớn của tỉnh. Gương mặt mẹ đầy đặn, mái tóc thưa thớt vì hay thức đêm, đôi môi bợt đi vì mệt mỏi nhưng vẫn cố che đi bằng lớp son nhẹ nhàng. Mu bàn tay mẹ nổi những đường gân xanh, giọng mẹ không ấm áp mà cứ khàn đi từng ngày. Tôi thương mẹ, vì tính chất công việc mẹ không thể đẹp đẽ xinh xắn như những người mẹ làm giáo viên, làm công chức. Mẹ tôi làm công việc cứu đời cứu người, mẹ tôi hy sinh tuổi trẻ, nhan sắc để cống hiến cho xã hội. Tôi tự hào vì mẹ tôi.
Có lúc, nửa đêm cả nhà đang ngủ say, cuộc điện thoại đánh thức mẹ dạy thực hiện kíp mổ gấp cho bệnh nhân tai nạn giao thông. Mẹ tôi vội vàng mặc quần áo đi đôi dép lê phóng xe đến bệnh viện. Sáng hôm sau mẹ về cổ áo dính những tia máu đã đặc lại, mẹ chẳng nói được gì cứ thế nằm vật xuống ghế ngủ. Rồi nhiều khi người nhà bệnh nhân nổi nóng vì bệnh viện quá tải, mẹ tôi bị mắng nhiếc bằng những từ ngữ thô tục, mẹ chỉ khóc rồi thôi, vì mẹ nói là người ta không phải mình không hiểu nên chẳng cần tính toán thiệt hơn.Xem thêm: Cảm nghĩ về thầy giáo chủ nhiệm yêu quý của em
Mẹ bận bịu triền miên nhưng lúc nào tôi cần mẹ đều giành ít nhiều thời gian dành cho chúng tôi. Mẹ không có thời gian dạy tôi học, mẹ chỉ kịp đưa đón đến lớp học rồi lại đến bệnh viện. Nhưng tôi luôn cố gắng học tập để mẹ không phải lo nghĩ nhiều. Mỗi khi mẹ cầm bảng điểm của tôi, gương mặt lại giãn ra, xoa dịu những mệt mỏi thường ngày cũng bởi vậy mà tôi càng cần cố gắng hơn. Mẹ tôi vốn nghiêm khắc, mỗi khi cả nhà ăn chung hay đi chơi, đi học tập kiến thức xã hội mẹ đều dạy tôi cẩn thận nếp ăn ở, mọi người đều nhận xét gia đình tôi nề nếp gia phong cũng đều nhờ có mẹ tôi gìn giữ từ sau khi bà nội mất.
Cảm nghĩ về người mẹ thân yêu
Người mẹ lúc nào cũng thoang thoảng mùi khử trùng đặc trưng, nhà cửa qua tay mẹ đều gọn gàng ngăn nắp. Mẹ tôi cũng là một người tâm lý, chiều theo ý thích của bố tôi từng bữa ăn, giấc ngủ, gia đình tôi lúc nào cũng êm ấm hòa thuận hiếm khi nào cãi nhau. Nếu bố có lúc mệt mỏi nóng tính, mẹ tôi đều để đến khi mọi chuyện dịu xuống rồi mới giải thích cặn kẽ đúng sai. Mẹ tôi là một người phụ nữ trầm tính ít nói, ít khi nói lời yêu thương nhưng đối xử với mọi người đều rất đúng mực nhẹ nhàng. Hồi còn sống bà rất thương mẹ tôi, nói là trong số con dâu bà thương mẹ tôi nhất. Mẹ tôi vất vả gây dựng gia đình cùng bố tôi, giúp đỡ các anh em trong nhà vẫn còn khó khăn. Các em các cháu lên thành phố học đều là ở gia đình tôi, mẹ tôi thương như nhau, không phân biệt ai với ai cả. Hàng xóm xung quanh cũng không có ai không hài lòng với gia đình tôi vì mọi chuyện lớn bé xung quanh đối nhân xử thế, ma chay, đám hỏi mẹ tôi đều rất gần gũi tận tình, ai cần nhờ vả gì đều sẵn lòng.Xem thêm: Sự tích ngày mùng 8 tháng 3
Mẹ yêu tôi, bằng tình yêu của trái tim vĩ đại nhất trần đời. Dành tất cả những gì đẹp nhất, đồ ngon, quần áo đẹp, điều kiện học tập và tình yêu thương tốt nhất cho tôi. Mẹ không tiếc gì với tôi, chỉ cần trong tầm tay và không đòi hỏi quá đáng, mẹ đều sẽ đồng ý. Tôi yêu mẹ, bằng tình yêu của sự ngưỡng mộ y đức, bằng sự tự hào những hy sinh mẹ giành cho mọi người và giành cho gia đình tôi, bằng tình cảm của đứa con luôn khao khát được núp trong vòng tay mẹ.
Mitch Albom viết: “Tôi nhận ra rằng chỉ khi bạn nhìn mẹ, bạn mới cảm nhận được tình yêu thuần khiết nhất mà mình từng có.” Bất cứ ai yêu chúng ta đều cần có điều kiện, chỉ có tình mẹ là vô điều kiện. Mẹ yêu tôi bằng tình yêu đẹp nhất thế gian không có thứ gì so sánh được. Tôi chỉ có thể báo đáp mẹ bằng việc học thật tốt, sau này ổn định việc làm để mẹ đỡ vất vả làm việc, đưa mẹ đi du lịch như mẹ vẫn thích… và có thể ở bên mẹ nhiều hơn.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về người mẹ thân yêu hay nhất | 945 | |
Cảm nghĩ về người thân (ông, bà, bà, cha, mẹ, anh, chị, bạn, thầy, cô giáo,…)
Gợi ý
DÀN Ý
Mở bài:
+ Tình cảm của em với những người thân như thế nào?
+ Trong số những người thân đó, em yêu quý nhất là ai?
Thân bài:
+ Những đặc điểm ngoại hình và tính nết nào ở người đó khiến em ấn tượng và có nhiều cảm xúc? Cảm xúc đó như thế nào?
+ Người đó đã gắn bó với em trong cuộc sống như thế nào? (trong học tập, sinh hoạt, khi vui, khi buồn…)
+ Kỉ niệm nào với người đó khiến em nhớ nhất và có cảm xúc nhiều nhất?
Kết bài:
Tình cảm của em với người đó trong hiện tại và mong muốn gì cho người đó trong tương lai?
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Tự lựa chọn một đoạn trích trong truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, em hãy phân tích để làm nổi bật thành công của tác giả trong việc khắc họa nội tâm nhân vật | Cảm nghĩ về người thân (ông, bà, bà, cha, mẹ, anh, chị, bạn, thầy, cô giáo,…) | 165 | |
Cảm nghĩ về người thân yêu nhất của anh chị!
Hướng dẫn
Mở bài:
“Con không cha ăn cơm với cá, con không mẹ lót lá mà nằm”
Câu ca dao xưa vẫn văng vẳng bên tai tôi như lời ru năm xưa. Tôi không có cha, nói đúng hơn là cha tôi bỏ rơi mẹ con tôi từ khi tôi còn là hòn máu trong bụng mẹ, mẹ thì đi thêm bước nữa, tôi sống với bà từ khi còn rất nhỏ, chẳng nhớ năm nào nhưng lúc đó chắc tôi chưa biết chập chững bước đi. Bà ngoại là người bà, người làm cha, làm anh, làm chị cũng là người mẹ thân yêu của cuộc đời tôi.
Thân bài:
So với bà của những đứa bạn tôi, bà tôi còn rất trẻ nên tôi không thể kể bà tóc bạc phơ, chống gậy bước đi như lũ bạn. Bà tôi cũng chẳng hiền như bà tiên, ông bụt chỉ hiện lên khi có người đang gặp khó khăn, mà tôi thì có phải là đứa ngoan ngoãn, hiền lành, chăm chỉ đâu mà được bụt, tiên giúp đỡ. Chỉ có bà, người bà thật sự của tôi mới ở cạnh tôi không chỉ những lúc buồn mà những lúc tôi hạnh phúc, vì một đứa cháu nhiều tật xấu như tôi mà khổ cực. Bà tôi chỉ ngoài 50, ngày xưa bà lấy chồng sớm và sinh ra mẹ tôi. Tóc bà không biết là đen hay bạc vì bà lúc nào cũng trùm chiếc khăn rằn và đội chiếc nón lá lên đầu. Chỉ có gương mặt của một người dãi dầu mưa nắng là hiện ra rõ nhất. Cái tuổi gần 60 bà bảo chẳng còn gì nữa mà gọi là nhan sắc, từ làn da đến đôi mắt đều héo hắt bởi thời gian và những vết chân chim chạy dài, chỉ có nụ cười còn đó, vui tươi và đôn hậu.Xem thêm: Kể lại kỷ niệm quê hương và nêu cảm nghĩ của em
Trong kí ức của tôi, bà không phải hiền lành như một bà tiên vì công việc của bà là buôn bán ở chợ. Người qua kẻ lại ngã giá từng mớ rau, con cá làm sao tránh khỏi to tiếng hay lời dè bỉu. Nhưng chẳng bao giờ mọi người ghét bà. Bà nói chuyện luôn có cái lí của nó, bà hay nói nhưng chẳng bao giờ toan tính hay soi mói bất cứ ai. Tính bà sởi lởi, ruột để ngoài da, thấy điều không phải là bà lên tiếng, thấy người cần giúp đỡ là bà sẵn sàng giúp không ngại chi. Có hôm đang buôn bán, gặp một đứa bé bị lạc cha mẹ vì chợ đông, thế là bà nhờ người trông hộ dắt đứa bé lên công an nhờ giúp đỡ. Bà bảo con nít đứa nào cũng đáng yêu, vô tội, không giúp nó ngay sợ có kẻ xấu lợi dụng bắt cóc thì tội cho nó và gia đình.
Nhà không có đàn ông, ông ngoại tôi mất từ lúc tôi chưa ra đời, các cậu dì người lập gia đình người đi làm xa, ít khi về thăm ngoại. Chỉ có hai bà cháu nên việc nặng nhẹ gì bà cũng làm thay tôi. Bà trồng rau, nuôi cá, mẫu đất nhỏ sau nhà chẳng còn chỗ nào cho cỏ mọc, chỉ toàn là rau muống, rau lang, rau cần…Tôi lớn lên và được đi học, được ăn, được mặc đầy đủ cũng nhờ từng liếp cải, luống rau ấy. Mùa mưa hai bà cháu ra đồng bắt ốc, hái rau đồng, giăng cá…để kiếm thêm tiền mua cho tôi bộ quần áo mới. Ngày xưa, tôi còn nhỏ dạy hay trốn học chạy theo lũ bạn ra đồng chơi đùa. Bà bắt được đánh đòn, tôi không khóc vì đau nhưng bà lại khóc. Bà bảo cuộc đời bà, cuộc đời mẹ vì thất học phải vất vả bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà có dư dả chi, giờ tôi phải cố gắng để có tương lai không phải lao động cực khổ như bà. Lớn lên tôi thấy thương bà nhiều hơn, tôi không còn mong ngày tết đến được quần áo mới, tôi lo sợ bà thêm tuổi nữa bà sẽ già đi còn tôi thì một mình.Xem thêm: Soạn bài: Chuyện người con gái Nam XươngKết bài:
Niềm vui của bà là nhìn tôi được điểm cao, thấy tôi tung tăng cặp sách đến trường và vui đùa cùng các bạn. Bà bảo nếu thấy tôi đỗ đại học, sau này ra trường đi làm sẽ sống thêm với tôi vài chục năm nữa. Vì thế mà làm sao tôi có thể không cố gắng vì bà và vì chính bản thân mình nữa. Nhà chỉ hai bà cháu nhưng tôi luôn cảm thấy ấm áp mỗi khi nghe giọng nói của bà dù đó có là la rầy tôi đi nữa. Tôi không thầy mình thiếu vắng tình thương của cha mẹ, với tôi có bà là có tất cả, tôi yêu bà ngoại của tôi! | Cảm nghĩ về người thân yêu nhất của anh chị! | 856 | |
Cảm nghĩ về người thân: ông bà nội của em
Hướng dẫn
Cuộc sống của tôi gắn biết bao kỉ niệm đẹp đẽ bên ba mẹ, bạn bè,. Và tất nhiên không thể thiếu hai con người mà tôi thương yêu nhất đó là ông bà nội
Tôi hay gọi họ bằng cái tên thân thương ‘Nội ơi’, họ cho tôi hiểu thế nào là hạnh phúc gia đình, thế nào là ấm áp tình thương giữa các thành viên trong một ngôi nhà.
Nội thường dạy hai anh em tôi về cách cư xử giữa những người họ hàng, bà con lối xóm, Nội luôn dạy một lời chào cao hơn mâm cỗ’ hay ‘lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau’.
Ông bà cho tôi hiểu rằng hạnh phúc một gia đình không tự nhiên mà có mà là sự nổ lực của mỗi một thành viên trong căn nhà đó. Ông bà dạy cho tôi lẽ sống ở đời, dạy cho chúng tôi những bài học về đạo lí làm người. Ông bà đã dạy cho tôi sự nhân ái, tấm lòng bao dung giữa nhân loại.
Ông bà nội tôi là những chiến sĩ một thời oanh liệt đó, tay cầm súng vai gánh vác việc gia đình. Tôi tự hào về ông bà lắm. Tôi và anh trai thường được nghe Nội kể về những gian lao, khó khắn, vất vả; sự thiếu thốn trong thời chiến. Nội đã cho chúng tôi hiểu được bài học là cần trân trọng cuộc sống hòa bình này và hằng ngày phải nổ lực với nó. Nội tôi là những anh hùng vĩ đại trong mắt những đứa con, đứa cháu của mình.
Xem thêm: Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về quan niệm sống của Xuân Diệu thể hiện trong hai câu thơ sau: Thà một phút huy hoàng rồi chợt tốiCòn hơn buồn le lói suốt trăm năm.Hằng tuần, vào cuối tuần ba mẹ thường chở hai anh em sang thăm ông bà. Mỗi lần đó chúng tôi hào hứng và vui lắm khi được gặp ông bà. Khi tôi đến lần nào cũng vậy, bà chuẩn bị những món ăn ngon cho anh em tôi; ông lại chặt tre làm thành những cánh diều cho anh em tôi làm trò chơi.
Giờ đây thời gian đã làm cho ông bà già yếu, tôi sợ một ngày không được nhìn thấy những người thân thương của tôi nhưng trong trái tim của tôi hình ảnh của họ ngập tràn lắm. Thời gian có thể lấy đi những gì mà tôi yêu quý. Nhưng thời gian sẽ mãi mãi không bao giờ có thể mang đi hình ảnh của ông bà nội, hình ảnh lung linh trong trái tim tôi như ngọn nến không bao giờ tắt.
Tình yêu của đứa cháu nhỏ dành cho ông bà lớn lắm, sẽ không có ngôn từ nào để tả hết tình yêu tôi dành cho họ. VÌ thế tôi luôn dùng hành động của mình Là hằng ngày chăm ngoan, học giỏi để xứng đáng với những gì mà ông bà đã dạy cho chúng tôi.
Nguồn: | Cảm nghĩ về người thân_ ông bà nội của em | 525 | |
Cảm nghĩ về người ông đáng kính
Bài làm
Khi lớn lên, ký ức tuổi thơ đã trở thành một tấm mạng nhện cứ mắc kẹt trong lòng khiến chúng ta cứ không thôi nhớ tới hình ảnh lúc mà mình vô tư và hạnh phúc nhất. Tuổi thơ của tôi, là bóng dáng của căn nhà cũ kiểu Pháp, ông tôi ngồi ghế đu đưa với bàn cờ tướng ngoài hè. Ấm thuốc bắc ông đun, cái mùi nồng nồng của nó vẫn in sâu trong khứu giác của tôi đến bây giờ mỗi khi nhớ về ông.
Ông tôi là một thầy giáo đã về hưu, khi còn khỏe mạnh ông vẫn mở lớp dạy văn, có một lớp riêng ông mở dành cho những người muốn học chữ Nho. Chữ Nho của ông đẹp lắm, dù tôi học mãi chẳng nhớ được cũng chẳng viết được đẹp như ông nhưng ông vẫn kiên nhẫn nắm tay tôi đặt trên chiếc bút lông thấm mực múa lượn trên tờ giấy mỏng tang. Bà mất sớm, ông tôi gà trống nuôi con, nên từ các bác đến bố tôi đều mang một vẻ gần gũi nhưng không kém phần nghiêm khắc của ông. Bố tôi kể khi còn nhỏ, nấu cơm mà mải chơi không để ý làm cơm khê, bị ông cốc đầu đau lắm. Học bài mà không tới nơi tới chốn là không được ăn cơm. Nhưng có lẽ đến khi tôi ra đời, sự yêu thương chiều chuộng có phần nhỉnh hơn nhiều so với các bác và bố tôi hồi xưa. Chỉ cần bố tôi giận lên, là tôi lại núp ra sau lưng ông rơm rớm nước mắt, ông tôi lại trừng mắt với bố tôi, bố tôi không mắng tôi nữa. Ông chiều, nhưng không chiều hư tôi. Ông vẫn dạy tôi cách ăn uống, ngồi, đi đứng phải đúng mực, không được nói nặng thiếu chừng mực, vô duyên, không được nói dối, lười biếng, ham chơi…Xem thêm: Văn nghị luận: Sống đơn giản chính là hạnh phúc
Khi học bài, ông ngồi kèm không cho tôi ngọ nguậy nghịch ngợm, vì ông dạy văn nên từ bé tôi đã có khiếu văn chương, viết văn, làm thơ đều được coi là có nòi được các thầy cô khen hết mực. Ông đưa tôi đi học trên cái xe đạp đã han rỉ, tiếng xích xe lóc cóc trên con đường đến trường, mùi bánh đùi gà ông hay mua làm bữa ăn chiều khi đi học về cho tôi. Mái tóc ông hoa râm, lúc nào cũng mặc một bộ quần áo màu ghi đi đôi giày vải, tóc chải vào nếp, ông chính là nét đẹp già cội đã bám rễ trong lòng tôi. Ông dạy tôi biết đứng lên khi ngã, không được nản chí, không được sống trong việc đổ lỗi cho thứ này thứ kia, không được lấy những thứ không phải là của mình… Có lần, vì đỡ một bác bị cướp túi xách, ông cũng ngã rạn xương theo. Tôi xót ông, nói với ông sao ông không cẩn thận, ông chỉ cười bảo giúp được ai thì giúp, mình sống không chỉ cho mỗi mình đâu con.
Cảm nghĩ về người ông đáng kính
Ông có biệt tài viết chữ và nấu ăn rất ngon, một bát cháo gà ăn hàng không thể nào so sánh với bát cháo gà ông nấu được. Mùi nó thơm, béo, ngậy cả quả trứng đánh tan trong cháo, mùi hành ngò trong bát cháo nóng hổi. Sau này tôi không tìm được hương vị cháo gà năm xưa nữa, cũng bởi thứ tôi làm không giống, mua ngoài thì khác hẳn rồi. Nhưng tôi hiểu, ông không chỉ có công thức riêng mà còn nấu cả sự cưng chiều và lòng yêu thương tôi trong đó. Cũng bởi sau này cháo gà tôi ăn không có chứa nhiều tình cảm nên hương vị năm ấy mãi mãi không tìm lại được. Tôi vẫn giữ những dòng văn ông ghi trong quyển nhật ký, toàn là viết và vẽ về bà, tôi biết ông nhớ bà nhiều lắm nhưng vì con vì cháu ông phải cố sống thật khỏe mạnh. Sau này gia đình tôi ổn định, tôi lớn rồi, ông nhắm mắt xuôi tay. Ông bảo ông về với bà, bà cô đơn suốt bao nhiêu năm nay rồi. Tôi ngưỡng mộ tình yêu của ông, tình cảm mà giới trẻ ngày nay khó lòng có được. Lúc nằm trên giường bệnh, ông vẫn viết tặng tôi một chữ “Tâm”. Ông bảo “Sống trên đời này con người thứ gì cũng có chỉ thiếu tấm lòng, con hãy giữ cho mình một cái tâm tốt đối xử với mọi người, hãy yêu thương đừng tính toán.”
Xem thêm: Vẻ đẹp của bài ca dao Khăn thương nhớ ai
Ngày ông mất bầu trời buồn lắm, tôi đã phải rời xa người yêu thương tôi nhất trên đời. Nghe theo ông, nhớ lời ông dạy dỗ, chỉ bảo, tôi sẽ hoàn thiện mình, làm một con người có đạo đức, tử tế rồi mới nghĩ đến việc thành công. Học cách bao dung, yêu thương mọi người và sống thật với lòng mình. Tôi luôn nhớ và kính yêu ông, người đã dạy tôi thành người.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về người ông đáng kính hay nhất | 892 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong lặng lẽ Sa Pa
Gấp lại truyện ngắn “Lặng lẽ Sa pa ”của Nguyễn Thành Long lòng ta cứ xao xuyến vấn vương trước vẻ đẹp của những con người,trước những tình cảm chân thành, nồng hậu trong một cuộc sống đầy tin yêu.Dù được miêu tả ít hay nhiều nhân vật nào của “Lặng lẽ Sa pa” cũng hiện lên với nét cao quí đáng khâm phục.Trong đó anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu đã để lại cho chúng ta nhiều ấn tượng khó phai mờ.
Trước tiên anh thanh niên này đẹp ở tấm lòng yêu đời,yêu nghề,ở tinh thần trách nhiệm cao với công việc lắm gian khổ của mình.Trong lời giới thiệu với ông hoạ sỹ già và cô gái,bác lái xe gọi anh là “người cô độc nhất thế gian”.Đã mấy năm nay anh “sống một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m bốn bề chỉ có cỏ cây và mây mù lạnh lẽo”.Công việc hàng ngày của anh là“đo gió,đo mưa,đo chấn động mặt đất”rồi ghi chép,gọi vào máy bộ đàm báo về trung tâm.Nhiều đêm anh phải “đối chọi với gió tuyết và lặng im đáng sợ”.Vậy mà anh rất yêu công việc của mình.
Anh quan niệm:“khi ta làm việc ta với công việc là đôi,sao gọi là một mình được?”Anh hiểu rõ: “Công việc của cháu gian khổ thế đấy,chứ cất nó đi,cháu buồn đến chết mất”.Sống một mình nhưng anh không đơn độc bởi “lúc nào tôi cũng có người để trò chuyện.Nghĩa là có sách ấy mà ”.
Tuy sống trong điều kiện thiếu thốn nhưng người thanh niên ấy vẫn ham mê công việc,biết sắp xếp lo toan cuộc sống riêng ngăn nắp, ổn định.Anh nuôi gà, trồng hoa, đọc sách,thỉnh thoảng anh xuống đường tìm gặp bác lại xe cùng hành khách để trò chuyện cho vơi bớt nỗi nhớ nhà.
Xem thêm: Tả chim đại bàngSống trong hoàn cảnh như thế sẽ có người dần thu mình lại trong nỗi cô đơn.Nhưng anh thanh niên này thật đáng yêu ở nỗi “ thèm người ”,lòng hiếu khách đến nồng nhiệt và sự quan tâm đến người khác một cách chu đáo.Ngay từ những phút gặp gỡ ban đầu,lòng mến khách,nhiệt tình của anh đã gây được thiện cảm tự nhiên đối với người hoạ sỹ già và cô kỹ sư trẻ.Niềm vui được đón khách dào dạt trong anh,toát lên qua nét mặt,cử chỉ:anh biếu bác lái xe củ tam thất,mừng quýnh đón quyển sách bác mua hộ,hồ hởi đón mọi người lên thăm “nhà”,hồn nhiên kể về công việc,đồng nghiệp và cuộc sống của mình nơi Sa pa lặng lẽ.Khó người đọc nào có thể quên,việc làm đầu tiên của anh khi có khách lên thăm nơi ở của mình là:hái một bó hoa rực rỡ sắc màu tặng người con gái lần đầu quen biết.Bó hoa cho cô gái,nước chè cho ông hoạ sỹ già, làn trứng ăn đường cho hai bác cháu…Tất cả không chỉ chứng tỏ đó là người con trai tâm lý mà còn là kỷ niệm của một tấm lòng sốt sắng, tận tình đáng quí.
Công việc vất vả,có những đóng góp quan trọng cho đất nước nhưng người thanh niên hiếu khách và sôi nổi ấy lại rất khiêm tốn.Anh cảm thấy đóng góp của mình bình thường,nhỏ bé so với bao ngừơi khác.Bởi thế anh ngượng ngùng khi ông hoạ sỹ già phác thảo chân dung mình vào cuốn sổ tay.Con người khiêm tốn ấy hào hứng giới thiệu cho ông hoạ sỹ những người khác đáng vẽ hơn mình:“Không,không,bác đừng mất công vẽ cháu,để cháu giới thiệu cho bác những người khác đáng vẽ hơn.”Đó là ông kỹ sư ở vườn rau vượt qua bao vất vả để tạo ra củ su hào ngon hơn,to hơn.Đó là “người cán bộ nghiên cứu sét,11 năm không xa cơ quan lấy một ngày”…Dù còn trẻ tuổi,anh thấm thía cái nghiã,cái tình của mảnh đất Sa pa,thấm thía sự hy sinh lặng thầm của những con người đang ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước.
Bằng một cốt truyện khá nhẹ nhàng,những chi tiết chân thực tinh tế,ngôn ngữ đối thoại sinh động Nguyễn Thành Long đã kể lại một cuộc gặp gỡ tình cờ mà thú vị nơi Sa pa lặng lẽ.Chưa đầy 30 phút tiếp xúc với anh thanh niên,khiến người hoạ sỹ già thêm suy ngẫm về vẻ đẹp cuộc đời mà mình không bao giờ thể hiện hết được và còn làm cô kỹ sư trẻ lòng bao cảm mến bâng khuâng …
Với truyện ngắn này,phải chăng nhà văn muốn khẳng định:Cuộc sống của chúng ta được làm nên từ bao phấn đấu,hy sinh lớn lao và thầm lặng?Những con người cần mẫn,nhiệt thành như anh thanh niên ấy, khiến cuộc sống này thật đáng trân trọng,thật đáng tin yêu.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Em hiểu như thế nào về ý nghĩa bài thơ Tự khuyên mình của Hồ Chủ tịch: "Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân/ Nghĩ mình trong bước gian truân/ Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng" | Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong lặng lẽ Sa Pa | 876 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa
Có những nốt nhạc trầm ngâm đến gần như câm lặng nhưng lại mang đến cho người nghe những ý vị sâu sắc và tạo nên nhiều tiếng vang. Có những con người thầm lặng vô danh nhưng lại được hiểu rất nhiều. Anh thanh niên trẻ bước vào những trang viết trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long với công việc lặng lẽ khiến ta hiểu sâu về anh để quý trọng và yêu mến anh, nhưng đồng thời cũng cho chúng ta những suy nghĩ sâu xa.
Trước hết, đọc tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, người đọc cảm nhận sâu sắc hình ảnh anh thanh niên trẻ say mê lao động, có tinh thần trách nhiệm cao với công việc khiến mỗi chúng ta trân trọng và cảm phục. Từ giã cuộc sống đô thị, nơi xa hoa, lộng lẫy, anh thanh niên trẻ tình nguyện trở về quê hương – mảnh đất Sa Pa, lên đỉnh Yên Sơn lạnh giá làm việc. Anh làm công tác khí tượng thuỷ văn kiêm vật lý địa cầu, quanh năm vắng bóng âm thanh của con người. Chỉ nói về mình vẻn vẹn có năm phút, một cách rất khiêm tốn, anh đã cho chúng ta hiểu hết sự gian khổ của công việc anh làm: Công việc nói chung cũng dễ, chỉ cần chính xác. Gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng. Rét, bác ạ. Ở đây có cả mưa tuyết đấy. Nửa đêm đang nằm trong chăn nghe chuông đồng hồ chỉ muốn tắt đi… Xách đèn ra vườn, gió tuyết và lặng yên ở bên ngoài như chỉ chực đợi mình ra ào ào xô tới. Anh đã không bỏ qua, không chậm trễ một lần nào dẫu ban ngày hay ban đêm, khi gió lớn hay tuyết rơi. Bởi trong anh đã ý thức được công việc của mình rất rành rọt, dứt khoát. Chúng ta thật xác động khi đọc những dòng suy nghĩ của anh:
Mình sinh ra là gì. Mình đẻ ở đâu. Mình vì ai mà làm việc.
Trong dòng suy nghĩ ấy thực chất là ý thức trách nhiệm. Nguyễn Thành Long thật sâu sắc khi đưa dòng suy nghĩ này đặt vào tâm lý của anh, để anh tự khẳng định chính mình. Anh hiểu được rằng mỗi việc làm của anh là một mắt xích quan trọng trong cái chuỗi công việc chung của nhiều người, của mọi người. Thiếu một lượng thông tin chỉ từ cái đài quan sát của anh, biết đâu việc dự báo thời tiết cho cả một huyện, một tỉnh, một vùng, chả vì thế mà kém chính xác đi, hoặc còn tệ hơn sai lệch đi?
Đã bấy lâu nay, công việc của anh là đo gió, đo mưa, đo nắng, ghi chép rồi gọi về máy bộ đàm, báo cáo về trung tâm. Công việc của anh âm thầm lặng lẽ tưởng chừng như cô đơn nhưng anh vẫn khẳng định:
Khi làm việc ta với công việc là đôi, sao lại gọi là một mình được?
Đó là lời tâm sự của anh với ông họa sĩ già. Phải chăng trong lời nói ấy chứa đựng bao nhiêu tình yêu, niềm say mê với công việc. Con người thật sự không cô đơn bởi trong con người với công việc là một. Anh thanh niên – một con người vô danh nhưng thực là một con người với mọi ý nghĩa tốt đẹp của danh từ ấy, bởi anh đã sống với ý thức trách nhiệm đầy đủ của một con người.
Công việc của cháy vất vả thế đấy chứ cất nó đi cháu buồn đến chết mất (lời anh thanh niên với ông họa sĩ già). Thế mới biết công việc đối với anh là quan trọng nhất. Nó là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của anh, là cái đích anh vươn tới bấy lâu nay. Nguyễn Thanh Long đã dùng mấy trang viết để diễn tả niềm say mê công việc của anh? Không! Chỉ vài dòng ngắn ngủi ông đã diễn tả rõ điều đó. Vượt qua tất cả khó khăn anh vẫn cống hiến "một giờ sáng đi ốp". Và để rồi chính anh là người góp phần làm nên chiến thắng, nhờ việc phát hiện ra đám mây khô mà anh đã giúp quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng. Có lẽ sẽ chẳng có ai vui mừng bằng anh, nó (chiến thắng ấy) đã là động lực để anh làm việc.
Phải chăng Nguyễn Thành Long đã khắc họa tên anh bằng cả tâm huyết, bằng cả sự cảm phục, đậm nét. Anh chính là hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam đang say mê lao động xây dựng đất nước, là tấm gương cho mỗi chúng ta học tập, noi theo.
Xem thêm: Tả con gà trống nhà em lớp 4Anh là một con người mà trong lòng luôn rực rỡ một khát vọng: Sống đẹp, sống có ý nghĩa, sống có ích cho đất nước, cho mọi người. Ở anh toát lên một lối sống giản dị yêu đời tâm hồn trong sáng và trái tim giàu tình yêu thương. Có trách nhiệm đối với mọi người, với công việc anh cũng sống trách nhiệm, với chình mình không buông thả. Chính ông họa sĩ cũng đã nghị:
Khách tới bất ngờ, chắc cu cậu chưa kịp quét tước, dọn dẹp, chưa kịp gấp chăn chẳng hạn.
Nhưng không! Cuộc sống của anh thật giản dị, gọn gàng và sạch sẻ. Tất cả thu gọn trong một góc trái gian nhà với chiếc giường con, một chiếc bàn học, một giá sách. Chẳng cần tìm hiểu sâu thêm, chỉ càn dừng ngay trước nơi anh làm việc cũng đủ để ta thêm yêu mến, quý trọng anh. Nếp sống hằng ngày của anh tổ chức có nề nếp: Ăn, ngủ, làm việc và đọc sách. Anh chẳng khác nào một người đang sống giữa xã hội chứ không phải sống một mình cô đơn. Sống như thế không phải là dễ nhưng đó thực sự là sống đẹp. Cái đẹp ấy không bắt nguồn từ ham muốn giả tạo mà bắt nguồn từ bản chất tâm hồn đẹp.
Sống ở vị trí cô độc nhất thế gian, nhưng anh không buồn, không chán nản. Anh vẫn ham học tập, đọc sách, trồng hoa, nuôi gà. Anh lấy nó làm nguồn vui và cũng là để tăng thêm sự hiểu biết.
Thật là đầy ý nghĩa khi tác giả đưa vào truyện ngắn chi tiết về vườn hoa của chàng trai với bao nhiêu hoa lay đơn, thược dược… Đó không chỉ là hoa của thiên nhiên, đó còn là cái gì tốt đẹp nhất của cuộc đời, đó chính là tâm hồn anh. Và chính anh đã hào phóng tặng nó cho mọi người, cho ông họa sĩ, cho cô kĩ sư… Từ chi tiết ấy như toát lên một triết lý sống: hãy sống tốt đẹp, hãy đến với cuộc sống, đến với mọi người bằng tất cả những gì tốt đẹp nhất của mình.
Trong sự cô độc nơi làm việc, tâm hồn anh gần gũi con người biết chừng nào, ấm áp biết chừng nào. Anh luôn khao khát được gặp gỡ với mọi người: Bác lái xe đã xử sự rất đúng khi đặt ra thành lệ việc ngừng xe lại nửa giờ nơi đỉnh núi cao để thoả mãn nguyện vọng của anh, nhưng cũng là để được gặp gỡ và tỏ lòng yêu mến một tâm hồn trong sáng như anh. Anh luôn quan tâm đến mọi người. Anh trao gói tam thất cho bác lái xe rất chu đáo chỉ vì hôm qua bác chẳng bảo bác gái vừa ốm dậy là gì? Thái độ ấy, tình cảm ấy còn được bộc lộ ở sự hiếu khách của anh. Anh đã tiếp đón ông họa sĩ giá và cô gái rất chân thành tự nhiên. Anh chân tình quan tâm đến niềm vui và hạnh phúc của người khác. Anh hồ hởi và thích giao tiếp, anh nói những điều người ta ít nghĩ. Từng giấy phút trò chuyện đối với anh là quý giá biết bao nhiêu. Bởi lúc ấy anh thổ lộ những gì sâu kín trong lòng. Mà chình những lời bộc bạch ấy lại gây ấn tượng cho người đọc.
Ta hãy xem anh khiêm tốn biết bao: Chỉ nói về mình có năm phút trong tổng số ba mươi phút gặp gỡ nhưng anh lại để lại ấn tượng khó quên. Nói về mình đã ít mà cách nói cũng hết sức nhẹ nhàng. Anh cho rằng những gì anh làm đâu có đáng gì so với mọi người khác như bác kỹ sư su hào, anh cán bộ nghiên cứu bản đồ sét mà trong hoàn cảnh tiếp hai người khách xa tới thì anh hoàn toàn có thể khoa trương cường điệu. Nhưng anh đã không làm vậy. Anh từ chối ông họa sĩ vẽ mình và chân thành giới thiệu bao nhiêu người đáng vẽ hơn anh: Ông kĩ sư su hào, anh cán bộ nghiên cứu bản đồ sét…
Chính cuộc sống của anh đã gợi ra một âm vang cho mỗi thế hệ trẻ sau này. Anh là tấm gương tiêu biểu cho hình tượng con người mới Việt Nam đang đi xây dựng đất nước với lối sống đầy tình cảm. Chính điều đó đã tạo cho chúng ta lòng tin yêu vào chế độ mới, cuộc sống mới. Phải chăng anh chính là Mai An Tiêm trong thời đại ngày nay.
Anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một hình tượng điểm hình cho thế hệ trẻ Việt Nam đang xây dựng đất nước. Một con người với lý tưởng cao đẹp: Sống và cống hiến… Anh là tấm gương cho chúng ta học tập, noi theo. Và khúc ca của thanh Hải chợt vọng lại trong lòng chúng ta Một mùa xuân nho nhỏ – Lặng lẽ dâng cho đời…
Nguồn Edufly
Xem thêm: Nghị luận câu Thành công của người này là thất bại của người khác | Cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa | 1,732 | |
Đề bài: Cảm nghĩ của em về nhân vật Lão Hạc và ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao
"Lão Hạc” của Nam Cao ra mắt bạn đọc năm 1943. Câu chuyện về số phận thê thảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh đe doạ của nạn đói và cuộc sống cùng túng đã để lại xúc động sâu xa trong lòng độc giả. Đặc biệt, tác giả đã diễn tả tập trung vào tâm trạng nhân vật chính – lão Hạc – xoay quanh việc bán chó đã giúp ta hiểu thêm tấm lòng của một người cha đáng thương, một con người có nhân cách đáng quý và một sự thực phũ phàng phủ chụp lên những cuộc đời lương thiện.
Con chó – cậu Vàng như cách gọi của lão là hình ảnh kỷ niệm duy nhất của đứa con. Hơn thế, cậu Vàng còn là nguồn an ủi của một ông lão cô đơn. Lão cho cậu ăn trong bát, chia xẻ thức ăn, chăm sóc, trò chuyện với cậu như với một con người. Bởi thế, cái ý định “có lẽ tôi bán con chó đấy” của lão bao lần chần chừ không thực hiện được. Nhưng rồi, cuối cùng cậu Vàng cũng đã được bán đi với giá năm đồng bạc.
Cậu Vàng bị bán đi! Có lẽ đó là quyết định khó khăn nhất đời của lão. Năm đồng bạc Đông Dương kể ra là một món tiền to, nhất là giữa buổi đói deo đói dắt. Nhưng lão bán cậu không phải vì tiền, bởi “gạo thì cứ kém mãi đi” mà một ngày lo “ba hào gạo” thì lão không đủ sức. Cậu Vàng trở thành gánh nặng, nhưng bán cậu rồi lão lại đau khổ dày vò chính mình trong tâm trạng nặng trĩu.
Khoảnh khắc “lão cố làm ra vui vẻ” cũng không giấu được khuôn mặt “cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước”. Nỗi đau đớn cố kìm nén của lão Hạc như cắt nghĩa cho việc làm bất đắc dĩ, khiến ông giáo là người được báo tin cũng không tránh khỏi cảm giác ái ngại cho lão. Ông giáo hiểu được tâm trạng của một con người phải bán đi con vật bầu bạn trung thành của mình. Cảm giác ân hận theo đuổi dày vò lão tạo nên đột biến trên gương mặt: “Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc…”. Những suy nghĩ của một ông lão suốt đời sống lương thiện có thể làm người đọc phải chảy nước mắt theo: “Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó”. Bản chất của một con người lương thiện, tính cách của một người nông dân nghèo khổ mà nhân hậu, tình nghĩa, trung thực và giàu lòng vị tha được bộc lộ đầy đủ trong đoạn văn đầy nước mắt này. Nhưng không chỉ có vậy, lão Hạc còn trải qua những cảm giác chua chát tủi cực của một kiếp người, ý thức về thân phận của một ông lão nghèo khổ, cô đơn cũng từ liên tưởng giữa kiếp người – kiếp chó: “Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn”. Suy cho cùng, việc bán chó cũng xuất phát từ tấm lòng của một người cha thương con và luôn lo lắng cho hạnh phúc, tương lai của con. Tấm lòng ấy đáng được trân trọng! Hiện thực thật nghiệt ngã đã dứt đứa con ra khỏi vòng tay của lão, cái đói cái nghèo lại tiếp tục cướp đi của lão người bạn cậu Vàng. Bản thân lão như bị dứt đi từng mảng sự sống sau những biến cố, dù cho cố “cười gượng” một cách khó khăn nhưng lão dường như đã nhìn thấy trước cái chết của chính mình. Những lời gửi gắm và món tiền trao cho ông giáo giữ hộ sau lúc bán chó có ngờ đâu cũng là những lời trăng trối. Kết cục số phận của lão Hạc là cái chết được báo trước nhưng vẫn khiến mọi người bất ngờ, thương cảm. Quyết định dữ dội tìm đến cái chết bằng bả chó là giải pháp duy nhất đối với lão Hạc, để lão đứng vững trên bờ lương thiện trước vực sâu tha hoá. Kết thúc bi kịch cũng là thật sự chấm dứt những dằn vặt riêng tư của lão Hạc, nhưng để lại bao suy ngẫm về số phận những con người nghèo khổ lương thiện trong xã hội cũ.
Xem thêm: Hình ảnh Thánh Gióng trong truyện “Thánh Gióng” để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho mỗi người Việt Nam. Em hãy phát hiểu cảm nghĩ của mình về người anh hùng ấyXuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật tôi là người bạn, là chỗ dựa tinh thần của Lão Hạc. Những suy nghĩ của nhân vật này giúp người đọc hiểu rõ hơn về con người Lão Hạc. Nhân vật Lão Hạc đẹp, cao quý thực sự thông qua nhân vật tôi.
Cái hay của tác phẩm này chính là ở chỗ tác giả cố tình đánh lừa để ngay cả một người thân thiết, gần gũi với Lão Hạc như ông giáo vẫn có lúc hiểu lầm về lão. Sự thật nhân vật tôi cố hiểu, cố dõi theo mới hiểu hết con người Lão Hạc. Khi nghe Binh Tư cho biết Lão Hạc xin bã chó, ông giáo ngỡ ngàng, chột dạ: “Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có cái ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày lại thêm đáng buồn”. Chi tiết này đẩy tình huống truyện lên đến đỉnh điểm. Nó đánh lừa chuyển ý nghĩ tốt đẹp của ông giáo và người đọc sang một hướng khác: Một con người giàu lòng tự trọng, nhân hậu như Lão Hạc cuối cùng cũng bị cái ăn làm cho tha hoá, biến chất sao? Nếu Lão Hạc như thế thì niềm tin về cuộc đời về ông giáo sẽ sụp đổ, vỡ tan như chồng ly thủy tinh vụn nát.
Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn dữ dội vì ăn bã chó của Lão Hạc, ông giáo mới vỡ oà ra: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn hay vẫn đáng buồn theo một nghĩa khác”. Đến đây truyện đi đến hồi mở nút, để cho tâm tư chất chứa của ông giáo tuôn trào theo dòng mạch suy nghĩ chân thành, sâu sắc về Lão Hạc và người nông dân… “Chao ôi! Đối với những người xung quanh ta, nếu không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dỡ, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương”.
Có lẽ đây là triết lý sống xen lẫn cảm xúc xót xa của Nam Cao. ở đời cần phải có một trái tim biết rung động, chia xẻ, biết yêu thương, bao bọc người khác, cần phải nhìn những người xung quanh mình một cách đầy đủ, phải biết nhìn bằng đôi mắt của tình thương.
Với Nam Cao con người chỉ xứng đáng với danh hiệu con người khi biết đồng cảm với những người xung quanh, biết phát hiện, trân trọng, nâng niu những điều đáng quý, đáng thương. Muốn làm được điều này con người cần biết tự đặt mình vào cảnh ngộ cụ thể của người khác để hiểu đúng, thông cảm thực sự cho họ.
Chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, nhân vật tôi trực tiếp kể lại toàn bộ câu chuyện cho nên ta có cảm giác đây là câu chuyện thật ngoài đời đang ùa vào trang sách. Thông qua nhân vật tôi, Nam Cao đã thể hiện hết Con người bên trong của mình.
Đau đớn, xót xa nhưng không bi lụy mà vẫn tin ở con người. Nam Cao chưa bao giờ khóc vì khốn khó, túng quẫn của bản thân nhưng lại khóc cho tình người, tình đời. Ta khó phân biệt được đâu là giọt nước mắt của Lão Hạc, đâu là giọt nước mắt của ông giáo: Khi rân rân, khi ầng ực nước, khi khóc thầm, khi vỡ oà nức nỡ. Thậm chí nước mắt còn ẩn chứa trong cả nụ cười: Cười đưa đà, cười nhạt, cười và ho sòng sọc, cười như mếu…
Việc tác giả hoá thân vào nhân vật tôi làm cho cách kể linh hoạt, lời kể chuyển dịch trong mọi góc không gian, thời gian, kết hợp giữa kể và tả, hồi tưởng với bộc lộ cảm xúc trữ tình và triết lý sâu sắc…
Truyện ngắn Lão Hạc là tác phẩm của mọi thời, bi kịch của đời thường đã trở thành bi kịch vĩnh cửa. Con người với những gì cao cả, thấp hèn đều có trong tác phẩm. Thông qua nhân vật tôi tác giả đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh: Hãy cứu lấy con người, hãy bảo vệ nhân phẩm con người trong con lũ cuộc đời sẵn sàng xoá bỏ mạng sống và đạo đức. Cho nên chúng ta nên đặt nhân vật tôi ở một vị trí tương xứng hơn khi tìm hiểu tác phẩm.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Quan niệm về hạnh phúc của tuổi trẻ trong thời đại ngày nay | Cảm nghĩ về nhân vật Lão Hạc và ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc | 1,639 | |
Cảm nghĩ về nhân vật tên quan phủ trọng truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn
Gợi ý
Phạm Duy Tốn là cây bút viết truyện ngắn xuất sắc nhất của những năm đầu thế kỷ XX. Trong số những tác phẩm ông để lại, Sống chết mặc hay là truyện ngắn tiêu biểu hơn cả, tác phẩm thể hiện rõ tinh thần nhân đạo thông qua việc lên án thái độ vô trách nhiệm, vô nhân tính không màng đến sự sống chết đối với người nông của giai cấp quan lại trong xã hội cũ. Đọc tác phẩm, người đọc thấy bất bình và căm ghét vô cùng nhân vật tên quan phủ – bậc quan “phụ mẫu” của dân.
Tác phẩm lấy bối cảnh là mùa lũ về trên làng X. giữa đêm đen nông dân cục nhọc chống chọi với mưa lũ đê cứu đê: "Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tà. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng X thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đê thấm lậu rồi, không khéo thì vỡ mát". Tính mạng "con dân" cả vùng đang bị đe dọa nghiêm trọng. "Kẻ thì thuổng, người thì cuốc, người đội đất, kẻ vác tre" "người nào người nấy lướt thướt như chuột lột". Là quan huyện của dân, đáng ra, quan phải sát cánh bên dần cung dân chống đỡ. Hay chí ít ra là phái họp bàn với các chức sắc đê bàn cách đối phó. Nhưng không, khi tất cả dân đen đang hối hả lo cho khúc đê thì quan đang chễm chệ trong đình. "Cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trong mặt đê, nhưng cao mà, vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng chẳng việc gì", trong đình "đèn thắp sáng trưng", "nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ di lại rộn rịp". Giữa cảnh vui vẻ, hoan lạc ấy, quan huyện trở thành trung tâm với phong thái đường bệ, kể cả: quan phụ mẫu "uy nghi chễm chệ ngồi" “Tay trái dựa gói xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên cầm quạt lông chốc chốc sẽ phẩy. Tên đứng khoanh tay trực hầu điếu đóm. Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, tráp đồi mồi, hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng và cơ man những vật dụng quý phái sang trọng khác”. Quan như không hề hay biết đến tình trạng thảm thương của dân chúng. Sự vô trách nhiệm ấy khiến người đọc bất bình và không hiếu tại sao lại có kẻ vô tình đến vậy. Là một người thường vô tâm với cảnh ngộ bi đát của dân chúng đã không đành, huống chi, đây lại là bậc quan dân!Xem thêm: Cảm nghĩ về người thân: ông bà nội của em
Bản chất vô nhân đạo, lối sống "sống chết mặc bay" của tên quan huyện đã dần lộ rõ. Mưa gió và sinh mạng hàng ngàn con người không được quan chú ý bằng một trăm hai mươi lá bài đen đỏ. Không khí trong đình vẫn tĩnh mịch y trang, chỉ đôi khi nghe tiếng quan gọi "điếu mày", tiếng "dạ", tiếng "bốc", "Bát sách! Ăn", "Thất văn… phỗng"… Thú vui bài bạc, ma lực đỏ đen đã làm bọn quan lại đánh mất lương tri, nhân tính. "Nước sông dẫu nguy không bằng nước bài cao thấp", hình ảnh so sánh thể hiện sự táng tận lương tâm của lũ vô lại. Cuối cùng, đê vỡ. Quan đỏ mặt tía tai "đê vỡ rồi thời ông cách cổ chúng mày". Đoạn, lại bình thản quay mặt hỏi thầy đề: "Thầy bốc quân gì thế?". Ván bài "ù to". Quan sung sướng, cười hả hê, đắc chí và cũng chính lúc ấy "nước tràn lênh láng, xoáy.thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết”…
Đến đây, không còn là sự bất bình mà là nỗi căm ghét, oán hận đã trào dâng. Tên quan phụ mẫu quả là kẻ táng tận lương tâm, lòng lang dạ sói. Hắn dường như không còn chút tình người và tính người trong huyết quản.
Xây dựng hình ảnh nhân vật tên quan phụ mẫu, Phạm Duy Tốn muốn tố cáo lực lượng sai nha, chức sắc phong kiến với bản chất ích kỉ, tàn nhẫn đã không có chút trách nhiệm đối với cuộc sống của nhân dân. Bỏ nhân dân trong cảnh “sống chết mặc bay” điêu linh, khôn khổ. Chính điều đó đã làm nên giá trị hiện thực và nhân đạo cho bông hoa đầu mùa của truyện ngắn hiện đại Việt Nam.Xem thêm: Thư (điện) gửi đến Chính phủ và Nhân dân đất nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam vừa chịu thiệt hại về người và tài sản từ trận động đất lớnVanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về nhân vật tên quan phủ trọng truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn | 837 | |
Cảm nghĩ về nẻo đường tuổi thơ qua ca dao
Hướng dẫn
Yêu con đường trăng trong ca dao có nàng thôn nữ tát nước múc cả ánh trăng vàng đổ đi. Yêu con đường quanh quanh dẫn hồn em đến những chân trời xa xôi có “non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Có con đường năm nhớ mười thương dẫn ta tới Đồng Đăng, Kì Lừa thăm nàng Tô Thị… Có con đường dẫn ta trở về cội nguồn mà lòng bồi hồi với khói hương trầm trong ngày giỗ Tổ:
“Dù ai đi ngược vê xuôi,
Nhớ ngày giỗ TỔ mồng mười tháng ba”
Có những con đường xuôi ngược, lắm thác nhiều ghềnh như thử thách chí can trường tuổi trẻ. Ta mở rộng tầm nhìn đất nước quê hương:
“Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh”
Lên rừng hay xuống biển, non nước quẽ ta đâu đâu cũng đẹp như tranh:
“Hải Vân bát ngát ngàn trùng
Hòn Hồng ỏ đấy là trong Vịnh Hàn”
Tình yêu cao cả dạt dào như vậy, nên trong tư duy hình tượng của mình, nhân dân ta đã muốn cùng hóa công xây đắp cho cảnh vật của đất nước ngày thêm tráng lệ:
“Ta vê ta dựng mây lên,
Trời xe mây lại một bên hòn lèn”…
Thật vậy, con đường quê hương đất nước cũng là con đường tuổi thơ. Nẻo đường ca dao như dẫn tâm hồn tuổi thơ chúng ta đi đến mọi chân trời ước vọng.
Nguồn: thêm: Phân tích khổ 1 của bài thơ Tây Tiến | Cảm nghĩ về nẻo đường tuổi thơ qua ca dao | 258 | |
Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ
Bài làm
Chúng ta vẫn thường nhớ đến mẹ qua những câu chuyện thức khuya dậy sớm, tần tảo nuôi con, nhớ đến mẹ bằng lời ru, tiếng hát, bằng hình ảnh người mẹ vò võ chờ con trở về, rơi dòng nước mắt vì con. Nhưng đối với tôi, điều làm tôi nhớ nhất về mẹ chính là nụ cười. Nụ cười của mẹ rất đẹp, rực rỡ hơn mặt trời của bình minh, dịu dàng như vành trăng non trên bầu trời, là ngọn lửa ấm áp trong đêm đông lạnh lẽo. Tôi yêu mẹ, yêu nụ cười của mẹ.
Nụ cười để chỉ trạng thái vui vẻ của một người, nhưng nụ cười của mẹ tôi lại mang ý nghĩa khác nhau. Mẹ cười mỉm thay cho lời động viên, mẹ cười nhẹ nhàng khi thấy được hạnh phúc, mẹ cười giòn tan khi vui sướng, thậm chí còn cả nụ cười buồn của mẹ khi cố gắng làm xoa dịu tâm trạng buồn rầu của tôi. Mẹ tôi cười, lúc nào cũng có nụ cười thường trực trên môi không hẳn là mẹ tôi thích vậy, mà là mẹ muốn nhắc nhở cho tôi rằng cuộc sống lúc nào cũng tràn đầy ý nghĩa và hạnh phúc, thứ chúng ta cần làm là tìm thấy nó và vượt qua mọi chướng ngại.
Khi mẹ cười, đuôi mắt mẹ cong lên, trong ánh mắt như có hàng ngàn hàng vạn vì sao đang tỏa sáng. Đôi môi hồng hào như đóa hoa hé nở lộ ra hàm răng trắng đều đặn, má mẹ có vài lúm đồng tiền thật duyên, khóe miệng dúm lại rất đáng yêu. Nếu có ai hỏi tôi rằng vẻ đẹp tuyệt vời nhất trên thế gian là gì thì tôi chắc chắn rằng đó là nụ cười của mẹ. Như tia nắng ban mai ấm áp, nụ cười của mẹ len lỏi vào trong trái tim của tôi. Dường như tất cả nỗi buồn đau, thất bại và tuyệt vọng trên đời này vốn không thể nào thắng nổi nụ cười của mẹ. Nụ cười ấy vừa như làn nước trong vắt tưới cho cây non mùa hạ lại vừa như chiến binh kiên cường dẹp hết những sợ hãi và đau thương. Nụ cười mẹ biết bao lần vực dậy sự sụp đổ trong lòng tôi những ngày đầu mới lớn trải qua chuyện không vui, là liều thuốc ngọt lành hàn gắn vết thương lòng mà cuộc sống vô tình hay cố ý gây ra cho tôi.Xem thêm: Em hãy thay mặt En-ri-cô viết một bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận của mình vì trót thiếu lễ độ với mẹ kính yêu
Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ
Tôi lớn lên trong nụ cười yêu thương của mẹ. Cảm giác như nụ cười ấy có thể làm băng tan chảy, làm cây cối nở hoa, làm lòng người sống lại. Mẹ dùng lòng tin và sự vui vẻ khiến cuộc sống này bớt đi phần mệt mỏi. Với mọi người mẹ đều dùng nụ cười để chào hỏi. Nhiều lúc bầu trời xung quanh, không khí gia đình nặng nề, chỉ cần nụ cười nhẹ của mẹ là có thể xua tan những nặng trĩu kia rồi. Nụ cười của mẹ như bức tranh đặt trong lồng kính, đặc biệt và duy nhất không phải là ai muốn có cũng được. Vì mẹ hay cười nên lúc nào mẹ cũng trông rất tươi trẻ và hạnh phúc. Người ta có câu, luôn vui vẻ được coi là một loại năng lực. Phải vậy, sự vui vẻ của mẹ không chỉ đem lại nụ cười cho riêng mẹ mà còn cho cả những người xung quanh.
Mother Teresa có viết “Mỗi lần bạn mỉm cười với một người thì đó là một hành động của tình yêu, một món quà cho người đó và là một điều tốt đẹp.” Điều này thật đúng, từ sâu tận đáy lòng, tôi biết mẹ yêu tôi bằng tình yêu sâu đậm nhất, luôn mong mỏi những điều tốt đẹp nhất cho tôi. Có lẽ bởi vậy khi mẹ nở nụ cười với tôi, đó là nụ cười chân thực nhất trần đời. Nụ cười của mẹ làm rực rỡ thế giới của tôi, làm cho tôi khi nghĩ về mẹ lúc nào cũng là hình ảnh tuyệt vời và trọn vẹn nhất. Tôi yêu nụ cười của mẹ, dù thế hệ cách biệt nhưng nụ cười mẹ đã kéo gần khoảng cách giữa tâm hồn chúng tôi. Nụ cười ấy chính là món quà vĩ đại của Thượng Đế, là niềm hạnh phúc vô bờ bến tôi có được trên đời.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về người cha
“Nếu bạn chỉ có duy nhất một nụ cười hãy dành nụ cười đó cho những người bạn yêu thương.” Mẹ đã dành cả cuộc đời để yêu thương và dùng nụ cười để xoa dịu tâm hồn tôi. Tôi cũng sẽ dành tất cả những nụ cười hạnh phúc trong đời này cho mẹ, nói với mẹ rằng tôi yêu mẹ hơn tất cả thế gian.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ hay nhất | 868 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ
Mẹ! Tiếng gọi đầu tiên lúc rời nôi khi còn thơ bé. Mẹ là con đò rẽ nước, xuôi ngược dòng đời, chở gánh nặng qua bao ghềnh thác. Dẫu biết con là gánh nặng của đời mẹ nhưng sao môi kia không ngừng nở nụ cười? Nụ cười ấy đối với tôi là một món quà vô giá, đã tiếp cho tôi thêm niềm tin, sức mạnh và nghị lực để vươn lên trong cuộc sống.
Từ thuở còn thơ, tôi đã có cái may mắn được nhìn thấy nụ cười của mẹ: một nụ cười tràn đầy tình cảm. Đó là niềm hạnh phúc lớn lao nhất trên đời. Thật bất hạnh thay cho bao người không được ngắm nụ cười của mẹ. Đau đớn thay cho những kẻ lại vùi dập, hắt hủi nụ cười ấy. Có ai đó bảo rằng: “Nụ cười làm con người ta được gần nhau hơn”. Vâng, chính nụ cười ấy đã giúp tôi thấu hiểu hết tình thương con vô bờ bến của mẹ, một tình cảm mà không gì có thể mua được. Và nụ cười ấy là cả một vũ trụ bao la mà tôi không khám phá hết được. Nhưng tôi biết nó là sức mạnh dìu tôi đứng dậy mỗi khi vấp ngã, là niềm tin, là lẽ sống của đời tôi.
Nhưng đâu phải lúc nào nụ cười của mẹ cũng giống nhau. Mỗi khi tôi ngoan, mẹ cười, một nụ cười yêu thương, vui vẻ. Nó làm tôi thấy rằng mình đã làm cái gì đó lớn lao cho mẹ. Rồi nụ cười của mẹ động viên, khuyến khích mỗi khi tôi đạt điểm cao. Nụ cười ấy làm cho niềm vui nhân lên gấp bội, làm cho tôi thấy cuộc sống này tươi đẹp biết bao khi có mẹ trên đời. Đôi lúc tôi có chuyện buồn, mẹ vẫn cười nhưng là nụ cười an ủi, vỗ về. Nụ cười ấy như ngọn lửa hồng, sưởi ấm con tim non trẻ đang lo lắng, thổn thức…
Có gì đẹp trên đời hơn thế, khi biết rằng mẹ đang ở bên tôi. Nụ cười mẹ sưởi ấm lòng tôi, đã tiếp thêm cho tôi sức mạnh. Nhưng cũng có lúc vắng nụ cười của mẹ! Và khi ấy, tôi càng nhận ra nụ cười mẹ là một “gia tài” lớn đối với tôi…
Nguồn Edufly
Xem thêm: Thuyết minh về vai trò của rừng với cuộc sống. | Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ | 415 | |
Cảm nghĩ về quê hương của em
Hướng dẫn
Mảnh đất nơi đây cằn cỗi, thời tiết thì nóng bực hoặc lạnh thì lạnh tím da tím thịt. Nhưng không vì thế mà tôi chán ghét mảnh đất nơi đây, ngược lại tôi yêu mảnh đất này vô cùng.
Yêu mảnh đất này là vì nơi đây sinh ra tôi, nuôi tôi khôn lớn bằng những thứ dân giả thường có. Hơi thở, cuộc sống nơi đây nuôi tôi khôn lớn. Tôi có cái ăn là nhờ những cây lúa được trồng chốn này, cái cái học cũng là nhờ những cánh đồng lúa đó vì ba mẹ tôi làm nông để sinh sống và nuôi hai anh em chúng tôi.
Quê tôi dạy cho tôi cách làm người lương thiện, cách nhẫn nại của một con người. Người dân quê tôi họ có ý chí, có ‘sức chịu đựng’ trước những khó khăn thiên nhiên gây ra cho họ.
Họ chỉ biết sống và làm việc; không sân si, toan tính điều gì. Họ sống với cái tâm thánh thiện của mình. Họ không cố chạy những lợi nhuận lớn trước mắt mà bỏ mặc cái ông cha truyền dạy. Có người vẫn theo làm thợ mộc mặc dù phải kì công, tỉ mỉ từng li từng tí; có gia đình từ đời ông bà đến đời con, cháu họ vẫn theo nghề dệt nón;…
Những thảm họa của thiên nhiên không làm họ nhụt chí. Họ vẫn ở đó, vẫn làm việc, vẫn gồng mình chống lại các thiên tai, bão lụt.
Người dân quê tôi sống một cuộc sống rất mực tình cảm. Họ luôn quan tâm nhau giữa gia đình, làng xóm láng giềng với nhau. Khó khăn của một gia đình cũng như khó khăn chung của một tập thể vì thế họ luôn giúp đỡ nhau trong đời sống, công việc.
Tôi yêu những con người ở đây cần cù, siêng năng; chịu thương, chịu khó!
Xem thêm: Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Bác Hồ muốn khuyên dạy chúng ta điều gì qua hai dòng thơ ấy? Vì sao công việc trồng cây trong mùa xuân của đất trời lại có thể góp phần làm nên mùa xuân cho đất nước?Tôi luôn quan niệm rằng: con người thay đổi quê hương chứ quê hương không thay đổi một con người. Vì thế những khó khăn ở quê tôi không làm chúng tôi(những người con, người cháu được sinh ra trên mảnh đất này) cảm thấy bị bất tài trước hoàn cảnh
Là một người con ở quê hương này tôi đã và đang cố gắng học thật chăm ngoan vì biết đâu chính tôi có thể góp một phần vào sự phát triển của quê hương. Như nhà thơ Đỗ Trung Quân từng nói:
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi!
Tôi yêu quê hương tôi!
CẢM NGHĨ VỀ MỘT CẢNH ĐẸP QUÊ EM: CẢNH VẬT NÚI BÀ ĐEN – TÂY NINH
Người ta bảo núi Bà Đen là một thắng cảnh của miền sơn cước Tây Ninh, thật không phải là quá đáng!
Những buổi bình minh, mặt trời còn bẽn lẽn núp sau sườn núi, phong cảnh nhuộm những màu sắc đẹp lạ lùng. Hòn núi tù màu xám xịt đổi ra màu tím sẫm; từ màu tím sẫm đổi ra màu hồng; rồi từ màu hồng lần lần đổi ra màu vàng nhạt. Cho đến lúc mặt trời chễm chệ ngự trị trên chòm mây, ngọn núi mới trở lại màu xanh biếc thường ngày của nó.
Ngoài cảnh rừng sâu và núi cao, núi Bà Đen còn chứa bao nhiêu là kì quan và di tích; nào gót chân Phật trên thạch bàn; nào suối vàng, hang gió; nào điện cổ kính, uy nghi. Đâu đâu củng có thơ đề, phú vịnh của khách thập phương vãng lai.
Nhưng phần đông khách thập phương đến viếng núi là vì họ kính phục uy linh của đức Bà Đen. Tục truyền, ngày xưa, khi chúa Nguyễn ánh còn bôn ba vì Tây Sơn đánh đuổi, một hôm phải dừng chân lánh nạn trên núi. Đức Bà hiển linh cho chúa nằm mộng, chỉ con đường cho chúa thoát thân. Vì nhớ ơn ấy, sau khi thành công, chúa liền sắc phong cho Bà là “Linh Sơn thánh mẫu”.
Chung quanh một danh lam thắng cảnh, người ta thường thêu dệt những chuyện huyền bí để cho người đời sau thêm phần kính phục.
Nguồn: thêm: Tả một chị bán hàng đang làm việc ở cửa hàng bách hóa (hoặc cửa hàng hợp tác xã mua bán) lúc đông khách | Cảm nghĩ về quê hương của em | 772 | |
Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang thu
Gợi ý
Vạn vật đất trời luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với trí tưởng tượng và tình cảm của con người. Và khoảng khắc lòng ta thường hay xao xuyến nhất, ấy là vào lúc giao mùa. Thời khắc ấy mọi vật biến đổi tinh vi không chỉ ở thế giới của thiên nhiên mà còn ở cả thế giới của con người. Ngày bé, tôi luôn háo hức mỗi khi năm mới đến. Nhưng bất chợt một hôm, tôi nhận ra mái tóc cha đã thoáng điểm một vài sợi trắng. Từ đó, tôi hiểu rằng bước đi của thời gian không phải chỉ tính bằng năm. Tôi bắt đầu chú ý hơn đến tháng, đến mùa. Khoảnh khắc chuyển mùa bỗng trở thành một mốc thời gian lắng đọng trong tôi. Tôi yêu và thích những khi trời đất giao mùa, nhất là khi trời chuyển từ mùa hạ sang mùa thu mát mẻ.
Những hạt mưa xuân lất phất bay, những chồi biếc trên cành cây đã điểm hay những cơn mưa ào ào, xôi xả gọi mùa hè… tất cả những đổi thay nhiệm màu của trời đất ấy đều khiến lòng tôi xao động. Và hơn tất cả, thời khắc giao mùa giữa hạ và thu bao giờ cũng làm tôi phấp phỏng đến lạ lùng! Có lẽ bởi tôi yêu mùa thu nhất trong năm, tôi đợi thu về như đợi một người bạn đi xa quay trở lại…Xem thêm: Phân tích truyện cười Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày để làm rõ các đặc trưng của thể loại truyện cười Thu sang thật là dịu nhẹ khi bỗng một ngày ai đó nhận ra, bầu trời dường như trong hơn, cao và xanh hơn. Cái nắng rát bỏng, đổ lửa của mùa hè đã dịu đi nhiều lắm. Bên kia, vài đốm lửa thoắt ẩn hiện giữa nền lá xanh sẫm của những bác phượng già. Có phải phượng đã chắt chiu bao nhiêu gió, bao nhiêu nắng, bao nhiêu mưa của hạ để chưng lọc nên những bông phượng rực đỏ cuối mùa ấy mà tạm biệt hạ và để đón thu sang? Dọc theo hai dãy phố, sắc bằng lăng cũng đã nhạt màu. Nó không còn ngăn ngắt tím đến nao lòng nữa. Con sông trước nhà không còn cuộn lên ngầu đỏ. Dòng sông trở nên dịu dàng, e ấp như cô bé tuổi mười lăm. Tất cả giăng giăng xung quanh ngôi nhà quen thuộc một không khí êm êm, dịu mát, mềm mại, khiến ta mỗi khi thức dậy đều mang một cảm giác bâng khuâng.
Mới mấy hôm trước đây thôi ai cũng ngại ra đường vì nắng gắt, vì những cơn mưa bất chợt ập xuống không báo trước bao giờ, vì sấm chớp thình hình, nhưng hôm nay ta lại thèm được thong dong đạp xe dưới những hàng cây tán rộng. Ta bắt gặp những cô bé, cậu bé ngồi sau lưng mẹ xúng xính, hân hoan. Thì ra bé con đang được mẹ dẫn đi chuẩn bị đồ dùng cho năm học mới. ôi! Cái ngày đầu tiên tôi đi học thoáng vậy mà đã đến cả chục năm. Thời gian trôi qua nhanh quá! Miên man trong dòng ký ức, tôi nghe trong hơi gió thoang thoảng hương hoa sữa chứa kịp nồng, mới chỉ đủ gợi ra những vương vấn dịu êm.Xem thêm: Nêu cảm nghĩ của em về mái trường mà em đang học Thu đến, dường như ai cũng gượng nhẹ hợn. Nhịp sống chùng chình hơn, không còn quá ồn ào, hối hả. Những công sở, những ngôi trường sau lúc tan ca lặng ngắt trầm tư. Những bến đò, những bờ sông, buổi chiều cũng bắt đầu hoang vắng. Trời chiều hơi se lạnh. Phải chăng vì thế mà mọi người chỉ mong sớm quây quần ấm cúng bên bữa cơm chiều. Một thoáng bâng khuâng, tôi nhớ tới lởi cha: thời gian chảy trôi, mọi sự cũng đổi thay, cuộc sống sẽ có thêm ngả rẽ, hãy tự tìm lấy hạnh phúc cho mình, Tôi vẫn băn khoăn “thế nào là hạnh phúc”. Chợt tôi nhìn sang bên kia con phố’, một cụ bà dừng đẩy xe lăn, lấy ra chiếc ghế con, ngồi xuống ngay bên cạnh, ông đang nghiêng đầu về phía bà. Bà giờ quyển sách khá dày, giấy màu nâu xỉn, chậm rãi đọc và ông lim dim mắt lắng nghe. Tôi bỗng hiểu thế nào là hạnh phúc. Hạnh phúc ấy là khi ta được mãi bình yên bên những người yêu quý. Hạnh phúc giản đơn và bình dị thế thôi.
Trời đất chuyển mùa, lòng ta cũng nao nao bao nhiêu cảm xúc. Ta nhớ nhung, nuối tiếc, ta hí hửng, vui tươi… Ta thấy mình mỗi ngày thêm mỗi lớn, thấy mình phải sống sao cho có ý nghĩ hơn với bước đi của nhịp thời gian.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang thu | 852 | |
Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang xuân
Gợi ý
Có một câu thơ khá hay về mùa xuân: Xuân nhẹ bước trên cành non lá mới… của ai nhỉ?… hay là… nhẹ lướt trên chồi non lá biếc… hoặc… mầm xanh lá biếc vẫn thừa sức hay. Câu thơ chứa đầy sắc màu của mùa xuân. Trẻ trung, tươi mát và tràn trề nhựa sống. Của ai nhỉ?… A, của thi sĩ Xuân Diệu, nhà thơ của tình yêu, cảm nhận mùa xuân về trong tiếng xuân nhẹ bước, nhẹ lướt. Mùa xuân về xanh mơn mởn trên cành lộc biếc, mùa xuân về qua tiếng chim hót líu lo. Mùa xuân cây cối đâm chồi nảy lộc, có lẽ vì thế mà người ta bảo mùa xuân là mùa của sức sống, của thiên nhiên, của tình yêu.
Sinh ra và lớn lên ở vùng Tây Bắc, tôi cảm nhận mùa xuân theo một cách hoàn toàn khác, mùa xuân về trên phố núi đẹp lắm, rõ rệt lắm. Mùa xuân là khi hoa đào, hoa mận nở trắng rừng. Mùa xuân, mùa tình yêu, mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa của các lễ hội và mùa của những câu hát giao duyên. Mỗi vùng miền, mỗi dân tộc có những giai điệu, lời hát riêng của mình, đặc biệt nơi rừng núi Tây Bắc, những làn điệu giao duyên của người Tày, Thái, Dao, Mường, H’Mong, Nùng… không chỉ làm đắm say người nghe mà còn là những khám phá thú vị về nét văn hóa bản địa rất đặc sắc.Xem thêm: Bình luận về vai trò của sách đối với đời sống con người Tây Bắc – Mường Tiên, được thiên nhiên ban tặng cho non nước Việt, với những dãy núi chập chùng ẩn hiện trong mây, những thác suối quanh năm tấu khúc nhạc róc rách nhiều cung bậc, hòa cùng tiếng gió thổi qua đại ngàn du dương như hàng vạn cây vĩ cầm hòa điệu, tiếng chim rừng trầm bổng ngân xa như một bản giao hứởng bất tận. Điểm xuyết vào bức tranh sơn thủy kỳ vĩ là những thảm xanh mượt của lúa, ngô trên những thửa ruộng bậc thang, là màu hoa mận trắng, hoa ban phơn phớt hồng và màu váy áo rực rỡ…
Khi mùa xuân đến, vạn vật cùng hoan ca hòa sắc, hòa âm tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp, và như để cho tình người say đắm hơn, ấm áp nồng nàn hơn, khắp các bản, mường Tây Bắc vang lên những điệu hát giao duyên của trai gái người dân tộc Thái, Tày, Dao, Nùng, Mường, H’Mông, Hà Nhì… trong các lễ hội mùa xuân, mà giai điệu như dòng mật ngọt nóng bỏng luồn lách vào mỗi trái tim, rung lên nhịp xôn xang xao động, để rồi trói buộc những đôi tình nhân trong tình yêu hoang sơ, bỏng cháy mãi mãi như mây ngàn, gió núi, như thác cao, suối sâu, như cây lá đại ngàn.
Từ biển lên… Tây Bắc
Hát giao duyên xuân về
Đời cho bao hương sắc
Tình nào chẳng say mê???
Cả một miền rừng Tây Bắc với rất nhiều dân tộc, mỗi dân tộc đều có những bài dân ca giao duyên nói lên tình yêu đôi lứa mang sắc thái riêng độc đáo của dân tộc mình. Mùa xuân, mùa tình yêu, bất kể ai khi lên vùng Tây Bắc, đến các lễ hội dân tộc, không thể không đắm mình vào những điệu hát ấp ủ một tình yêu đẹp, để rồi từ đó là những chuyện tình đâm chồi non, nảy lộc biếc, ra hoa thơm, kết trái ngọt… Và rồi say, say như uống những ly rượu củà miền rừng Tây Bắc, như bừng lên ngọn lửa dam mê khao khát… Mùa xuân, mùa tình yêu, Tầy Bắc và những câu hát giáo duyên cháy lòng ngườiXem thêm: Một nhà văn Nga đã nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà là nơi không có tình thương”. Anh (chị) nghĩ thế nào về câu nói ấy Cứ mỗi khi mùa xuân về, ta lại chợt nhớ đến bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Mùa xuân là mùa của đất trời giao hòa, mùa của hy vọng và ước mơ, mùa của mùa màng no ấm và sum họp… nhưng mùa xuân này tôi mới thực sự cảm nhận hết ý nghĩa của bài thơ, và tôi thêm yêu bài hát này.
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng…
Những giọt nước đã biến thành những giọt xuân làm lay động bao nhiêu tâm hồn thi sĩ. Tôi đã đi qua bao cánh đồng lúa, cảm nhận được nỗi nhọc nhằn của những người nông dân đang oằn mình trên nhưng cánh đồng để làm nên hạt thóc. Niềm vui với những người lính đang cầm súng canh giữ đảo xa, thấu hiểu nỗi nhớ nhà của họ và tôi đã đồng cảm với tác giả của bài hát. Tôi cảm nhận được phần nào cảm xúc, tình yêu da diết với cuộc sống của ông và tôi vô cùng trân trọng sự khiêm tôn giản dị của nhà thơ…
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến…
Giờ đây tôi càng thấy thêm ý nghĩa trong câu nói của nhà thơ Kahil Gibran: Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy – Ta có thêm ngày mới để yêu thương.
Mùa xuân hạnh phúc của tôi đơn giản chỉ là khi gần Tết, cùng mẹ đi sắm đào, sắm quất cho ngày Tết, cùng mẹ đi chợ nấu bữa cơm Tất niên sum họp. Buổi sáng thức dậy, mở cửa phòng, dường như tất cả gió xuân, nắng xuân, hương xuân ùa vào phòng theo cơn gió trong lành, mát dịu. Cầm tay nhau bước trong giao thừa, đón xuân đang về với Tình yêu, Trái Đất này. Mùa xuân về, lòng người, tình người dường như cung rộng mở hơn.Xem thêm: Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hèVanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang xuân | 1,049 | |
Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang đông
Gợi ý
Một sớm mai thức giấc, nghe trong khói sương bước chân vương lạnh giá, nghe trong tiếng hoa đang thiêm thiếp ngủ vùi, bầu trời vẽ lên màu xam xám, Hà Nội miên man đón đông về. Là mùa sương dày đặc của bình minh, là lụa giăng mỏng manh Hồ Tây tím, là tiếng xuýt xoa trong quán nhỏ, vai nép vai nhau giữa phố phường…
Ai đã đợi mùa đông từ khi hạt mưa rươi đầu tiên lất phất, khi ngọn heo may len lén phả hơi sương, khi bắt đầu thương những dáng cây trơ trụi, lá vàng rơi xào xạc bước chân đêm? Hà Nội vào đông sao vội quá, khi ta còn mơ màng giữa những tiếng rao khuya, chợt giật mình vì tiếng gió ù ù tạt qua thành mùa cây trút lá… Mùa đông đất Bắc, gió rét run người như trêu ngươi những tâm hồn lạnh lẽo, cho ai cô đơn phải vội kiếm tìm nhau, mà tựa đầu thì thầm to nhỏ, gió sẽ chẳng còn chút lạnh căm. Ngắm cô gái lẹ tay đưa thoăn thoắt từng mũi len ấm áp nhịp tình, ta mới thấy rằng mùa đông như cái cớ… cho ta đan dệt những yêu thương. Hà Nội mùa đông, lang thang trên phố nhỏ nhìn dòng người hối hả lướt qua. Trai thanh, nữ tú dập dìu trong những sắc màu xanh đỏ, xúng xính áo hoa với với mũ, khăn quàng, mắt ai cũng ánh lên tia hạnh phúc. Cái lạnh giá lùa vào trong áo, lẩn quất kiếm tìm hơi ấm đâu đây, sẽ vô tình khiến ta không vội vã, thả bước thong dong ngắm nghía những dáng hình… Ôi, cái rét ngọt đất trời phương Bắc, sao nhớ nhung, sao thiết tha, sao khiến ai phải, tự giục bước chân tìm nơi quán cũ, khép mình nhấm nháp giọt cà phê. Mới thấy thú sao những câu chuyện xa gần bên chén trà sen nóng hổi, mà mùa đông như loại hương tinh túy của đất trời ướp thêm vào vị ngọt đê mê. Cho ta yêu biết mấy những đêm đông ai với ai dạo cùng trên phố cổ, ngắm đến ngẩn ngơ một tia sáng chẳng thành hình, mặc gió rét ùa vào rát mặt cũng chẳng thể làm băng giá đôi tim quá ấm nồng.Xem thêm: Trong bài Mộí khúc ca xuân 12 - 1977, Tố Hữu đã bày tỏ một quan niệm nhân sinh ý nghĩa: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Hãy giải thích và bình luận Hà Nội đông. Hàng quán nhỏ đủ đầy những món quà thơm phức, sực nức hương mời mọc đến nao lòng. Này ngô nướng, khoai lang, đây hạt dẻ; kia chân gà, bánh khúc, bánh bao chiên… Thôi thì đủ vị đắng cay mặn ngọt của cuộc đời, cho ta thưởng thức Hà Nội đông theo cách khác. Một Hà Nội của mùi hương thơm nức, của những tấm áo khăn ai đó quân quanh mình, của phố lá gầy như nỗi niềm xa vắng, rưng rưng mắt ai trong quán ốc nóng cay xè? Quán ẩm thực, phố ẩm thực. Là Phan Bội Châu, Mai Hắc Đế, Tông Duy Tân, những Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Than, Hàng Điếu… đã tạo nên nét chấm phá tinh kì, ghép lại muôn mảnh hồn Hà Nội… mộc mạc mà thanh cao.
Cái cảm giác một mình bên bếp lửa, tay hơ qua hơ lại lấy chút nồng, liệu có ấm áp bằng giữa đêm đông lạnh giá, ta có một mái đầu nương nhẹ bờ vai? Gửi những ai yêu cô đơn một mình trên phố vắng, hãy hít căng lồng ngực gió đông này, lạnh giá tinh khôi sẽ xóa tan đi niềm u uất. Đông miền Bắc ở nơi phương xa ấy, chắc có ai cồn cào nhớ gió se se, nhớ những chiều lá rơi vàng võ, thèm đến nao lòng Hà Nội hút chiều đông…
Mùa đông nhắc nhở những trái tim yêu về hơi ấm gia đình, bởi trong cái buốt lạnh thấu xương ta mới hiểu, ấm biết bao nhiêu ánh mắt nồng nàn. Đàn sâm cầm đã quay về Hồ Tây rồi đấy, gió đã vi vu lướt qua liễu hồ Gươm, đêm Giáng Sinh cũng đã lại gần, và mùa đông Hà Nội đang ươm trong mình màu xanh sự sống…Xem thêm: Đọc bài thơ Thề non nước của Tản Đà, người thì cho rằng đây là bài thơ viết về tình yêu thắm thiết của nam nữ... ở ngày mai. Theo anh (chị) nên hiểu bài thơ như thế nào và hãy phân tích bài thơ để thuyết minh cách hiểu đóGió đông về
Gió cuốn
lá vàng đến muộn
tạ lồi cùng trời
Mưa đông về
mưa tuôn
tuôn trào xối xả
Mưa đến muộn
tạ lỗi với cỏ cây.
Và con người ta vẫn thế, mùa đông lạnh vẫn tìm về với những gì ấm áp, thân thuộc nhất để cảm thấy ấm lòng. Mùa đông. Con đường vắng. Mưa nhẹ. Gió mơn man. Lá khô la đà buông mình xuống đất… Khi đó, lòng thật bình thản mà không tránh được chút suy tư thầm lặng. Thấy rõ ràng hơn sự thiếu vắng một cái gì đó của riêng mình…
Hà Nội đầu đông. Thèm một bầu trời mưa bụi, nhưng xa quá! Hình ảnh một chiếc áo len trên đường phố trong cái se lạnh của một sớm làm mình da diết nhớ mùa đông. Nhớ một cách mơ hồ cảm giác ấy. Hơi ấm nồng nàn từ chiếc áo len, mùi hương dìu dịu từ chiếc khăn hồng lả lơi trên cổ. Nụ cười nôn nao khẽ chun người vì cái rét thật ngọt đầu mùa.
Sáng đầu đông ra phố, tóc xõa ơ hờ. Góc café bên hồ cùng đôi ba người bạn, nơi những giờ phút trôi đi thật nhẹ nhàng, thân thiết.
Ra đi đâu có nghĩa là từ bỏ. Những lúc nghe lòng trống trải thấy nhớ mùa đông thật nhiều. Lại bỗng thấy lòng cũng như đứa trẻ, chỉ mong đến ngày Tết, để được trở về trong màn mưa xuân li ti xứ Bắc. Được về lại với dư vị chút đông. Về với mẹ. Về để mẹ được ngắm nhìn con gái vẫn xinh ngoan, về với những món ăn mẹ nấu cho bữa cơm gia đình nhỏ. Tôi sẽ đi chợ Tết cùng mẹ, dạo quanh phố phường với mẹ.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi để thấy rõ những cảm hứng vế đất nước của nhà thơ Tôi đã từng nói tôi thích cái cảm giác đi xa trở về. Khi đó, mọi thứ đã từng rất thân quen bỗng trở nên mới mẻ lạ lùng. Thích làm một đứa trẻ chỉ để được bắt "những người lớn" chở đi chợ hoa, đi bao nhiêu lần tôi cũng không từ chối đâu.
Mùa xuân tôi sẽ về. về hâm nóng lại những tình cảm bạn bè. về với chợ hoa ngày giáp Tết. Để thấy cuộc sống thật vui và đẹp đến nồng nàn. Đó cũng là khi ta sống chậm lại như hòa mình vào từng hơi thở của gió, của lá, của hoa, của từng lời nói, ánh mắt cười.
Tôi sẽ về với tách café bên hồ ngồi nhìn lá phượng úa rơi theo gió. Những con đường không có nắng, những hàng cây rụng lá, những góc phố, ngôi nhà trầm mình trong tiết trời ảm đạm đã ngự trị trong trí nhớ tôi. Hình ảnh đó không nơi phồn hoa nào thay thế được…
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang đông | 1,289 | |
Cảm nghĩ về thầy cô giáo của em lớp 7 hay nhất
Hướng dẫn
Tin… tin… tin…”. Âm thanh của tiếng ken xe máy vang lên ngoài cổng trường làm cho chúng em quay nhìn về phía bóng ảo dài màu hồng ngọc. Đó chính là cô Hoa, cô giáo mà em yêu quí nhất.
Em nhớ mãi kỉ niệm ngày đầu tiên cô bước vào lớp! Cả phòng học như sáng hẳn lên nhờ nét đẹp trẻ trung của cô. Với tuổi đời xấp xỉ khoảng hai mươi, cô còn rất trẻ, trẻ như một nữ sinh trung học. Vậy mà các bạn chớ có lầm! Tuy mới bắt đầu vào nghề và trông trẻ như thế nhưng tay nghề của cô rất vững vàng. Có thể nói được rằng nét đẹp trẻ trung của cô được thể hiện rõ nhất qua vóc người nhỏ nhắn, mảnh mai như cây liễu, cây đào… qua dáng điệu đoan trang, đứng đắn, thanh lịch như các chàng trai, cô gái biểu diễn trên sân khấu… và nhất là qua tà áo dài màu xanh ngọc thướt tha, duyên dáng như những nàng tiên. Nhưng ấn tượng nhất vẫn là đôi mắt tròn xoe như hai hạt ngọc. Đôi mắt ấy cũng có lúc rơi những giọt lệ long lanh khi thấy học trò không biết nghe lời dạy bảo. Nhưng thường thì đôi mắt ấy luôn ánh lên niềm tươi vui, trìu mến với nụ cười tươi như hoa nở trên đôi môi hình trái tim, trên cái miệng bé nhỏ với chiếc răng khểnh trông “dễ ghét” vô cùng.
Xem thêm: Hãy kể lại một trận đá bóng giao hữu giữa đội bóng lớp em và một đội bạnEm sẽ không bao giờ quên cô của em chẳng những rất đẹp mà còn có tính tình hiền dịu. Từ khi được học với cô, em chưa hao giờ thấy cô to tiếng hoặc chửi mắng các bạn học sinh. Thường thì cô dùng lời nhỏ nhẹ khuyên răn các bạn sai phạm kỷ luật hay lười biếng học tập. Em còn nhớ rất rõ từng lời dặn dò của cô: “Con đừng phạm lỗi nữa, nghe con!” Âm thanh tiếng “con” sao mà hiền từ, ngọt ngào thảm sâu vào tâm hồn của chúng em. Khi giảng bài, đến bàn ghê cũng ngồi im chăm chú nghe từng giọng nói trầm ấm, diễn cảm của cô. Chỗ nào chúng em chưa hiểu, cô sẵn sàng giảng lại thật cặn kẽ. Khi cô viết bảng, em có cảm tưởng như viên phấn cũng hãnh diện khi được bàn tay xinh xắn của cô nắn nót ghi từng nét chữ khéo léo lên tấm bảng đen. Cô thường đi lên đi xuống trong phòng học, quan sát từng em một để sửa chữa kịp thời những sai sót. Suốt đời em sẽ không bao giờ quên những lần được bàn tay mềm mại, thơm tho của cô giúp cho nét chữ của em viết ngay ngắn, đẹp đẽ….
Em còn nhớ như in buổi dạy thao giảng của cô. Hầu hết giáo viên trong trường và một số giáo viên trong quận đều đến tham dự buổi dạy này. Kể làm sao cho hết được niềm tự hào của toàn thể học sinh lớp chúng em trong ngày ấy! Đạt dược danh hiệu “Giáo viên dạy giỏi”, cô đã mang lại vinh dự cho nhà trường nói chung và cho lớp em nói riêng.
Xúc động nhất là việc cô đến thăm hầu hết các bạn học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Cô chẳng những động viên thăm hỏi mà còn mua sách vở cho các bạn ấy mặc dù tiền lương của cô chẳng đáng là bao. Cử chỉ này càng sáng lên tấm lòng nhân ái của cô mà học sinh chúng em sẽ không bao giờ quên
Mỗi lần nhớ đến cô, em càng hiểu thèm về tấm lòng tận tụy của một giảo viên, tấm lòng nhân ải của người mẹ hiền thứ hai trong đời. Càng hiểu bao nhiêu, em càng tự hứa với mình bấy nhiêu là sẽ cố gắng học tập và yêu quí thầy cô giáo nhiều hcm nữa đúng như ỷ nghĩa của câu ca dao:
“Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy”.
Nguồn: thêm: Bình luận về danh và thực | Cảm nghĩ về thầy cô giáo của em lớp 7 hay nhất | 728 | |
Cảm nghĩ về thầy cô
Bài làm
Biết bao thế hệ học trò đi qua con sông năm tháng cập bến bến bờ tri thức đã trưởng thành nên người. Đó cũng là nhờ ơn những người lái đò cần mẫn không quản nắng mưa sớm tối, không quản con đường trồng người luôn cần cái tâm lớn và đức hy sinh, những thầy cô trong suốt quá trình 12 năm đi học đã hết lòng yêu mến và tận tình dạy dỗ.
Xã hội thành bại, thịnh suy đều do con người mà nên. Chính vì vậy việc giáo dục đạo đức, nhân cách và tri thức đã trở thành vấn đề cấp thiết luôn đúng đắn kể từ khi nhà nước được hình thành. Người thầy đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người. Cũng bởi thế mà “Nghề giáo là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý.”
Khi các em học trò lớn lên, rất nhiều năm sau mới có thể trở lại gặp mặt thầy cô của mình. Còn các thầy cô cứ miệt mài cần mẫn trên giảng đường đưa đón từng lớp từng lớp thế hệ học trò đến rồi đi. Họ sẽ là những người soạn giáo án cả đêm, dùng ngày nghỉ để chấm bài, gõ tài liệu, tìm hiểu và nói chuyện với phụ huynh, quan tâm đến các em có hoàn cảnh đặc biệt. Họ sẽ vui khi thấy học trò của mình đạt thành tích, buồn khi các em gặp khó khăn, sự mất mát trên con đường học vấn, cuộc sống. Nếu như sau này học sinh có cuộc sống tốt, họ sẽ là người cảm thấy thành công và mãn nguyện với cuộc đời.Xem thêm: Tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm, nhân vật chính là cái tôi của nhà văn… Cho nên sự hấp dẫn của tuỳ bút chủ yếu là sự hấp dẫn của cái tôi ấy
Thầy cô giáo, những con người kính nghiệp luôn dành hết tâm sức cho học sinh, hy sinh không đòi hỏi đáp trả, chỉ cần các em nên người. Nhớ đến thầy Văn Như Cương, một nhà giáo dành cả cuộc đời bồi dưỡng những lớp người tài cho đất nước, mục đích đầu tiên và đúng đắn nhất trong sự nghiệp trồng người mà thầy mong mỏi chính là “Các em có thể trở thành người lao động chân chính, những nhà kỹ thuật có chuyên môn giỏi, những người nghiên cứu thành công, những doanh nghiệp tầm cỡ, những nhà lãnh đạo xuất sắc… nhưng trước hết phải là những người tử tế.” Từng bài học của các thầy cô đã nhuốm đậm trải nghiệm của năm tháng, thầy cô là những ngọn đèn dẫn đường chỉ lối cho chúng ta trong đêm đen, là bệ đỡ nâng chúng ta trưởng thành.
Cảm nghĩ về thầy cô
Cả cuộc đời miệt mài trên giảng đường, làm thầy cô giáo nghe rất cao quý nhưng cái giá đánh đổi cũng rất nhiều. Học sinh phạm sai, thời xưa thầy cô được toàn quyền dạy dỗ nhưng thời hiện đại, việc mắng mỏ rèn dũa cũng trở nên khó khăn vì phụ huynh quá bênh con còn tất cả lỗi lầm đều là do thầy cô làm ra. Bên cạnh đó, rất nhiều thầy cô phải đối mặt với các căn bệnh quái ác như ung thư phổi, ung thư vòm họng… vì phải hít bụi phấn cũng như nói quá nhiều. Và nghề giáo cũng chẳng thể làm nghề mưu sinh, có thầy cô phải chạy xe ôm, bán hàng, làm nghề tay trái mới đủ tiền sống qua ngày. Có những thầy cô lặn lội lên tận vùng sâu vùng xa dạy học, điều kiện kinh tế khó khăn, chịu cái đói cái rét chẳng khác gì đồng bào dân tộc, tiền lương chẳng đáng là bao… Nhưng tất cả cái tâm, cái đức với nghề đã níu họ lại với lớp học, với học trò, họ đã cống hiến cho xã hội, đào tạo con trẻ thành người. Chính vì thế mà các thầy cô giáo rất được kính trọng, hàng năm luôn có ngày 20/11 tri ân thầy cô.Xem thêm: Tả một cây mít cổ thụ
Thầy cô giáo hiền lành bao dung học sinh, nghiêm khắc uốn nắn học sinh, cũng là những người bạn tâm tình, san sẻ khi các em mới lớn tâm sinh lý biến đổi. Các thầy cô từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình trưởng thành của học sinh. Những kỷ niệm trên ghế nhà trường, những bài học, cùng nhau vượt qua kỳ thi, sát sao quan tâm đến cá nhân mỗi người. Một học trò có chuyện, cô sốt sắng không nguôi, học sinh vượt qua kỳ thi lớn, thầy là người lo lắng mất ngủ nhất. Dù tính cách mỗi thầy cô mỗi khác, vui buồn thất thường, hiền lành hay nghiêm khắc, điều họ làm luôn là điều tốt nhất cho học sinh.
Những người học trò thành công, trở thành một danh nhân, một vị chủ tịch nước hay tổng bí thư… họ vẫn trở về thăm thầy cô trường cũ. Thứ họ giữ không đơn thuần là kỷ niệm, mà là cái ơn từ những người thầy cô đã dạy họ. Cổ nhân có câu “Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy.”, điều đó đã khẳng định vai trò tuyệt đối của người làm nghề giáo. Ngoài công ơn cha mẹ thân sinh, công ơn từ thầy cô đã dạy mình thành người luôn là điều lớn lao nhất. Vì thế chúng ta hãy cố gắng học tập, lao động, làm một công dân tốt, hãy biết ghi nhớ công ơn thầy cô, tri ân và sau đó là báo đáp.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương
Tất cả mọi người đều có những người thầy, cô của riêng mình, dù trải qua những bài học vui, buồn, hữu ích trong cuộc sống, đã nhận được đừng quên cho đi. Nhiều khi thầy cô chẳng mong gì vinh quang các em đem lại, chỉ mong các em nên người, khi ấy một cái ôm cũng là món quà lớn nhất. Tôn vinh thầy cô giáo, yêu mến, ghi nhớ và tri ân là điều cần thiết mà mỗi chúng ta, những người đã trải qua đời học sinh đều cần làm được.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về thầy cô hay nhất | 1,089 | |
Cảm nghĩ về thầy giáo chủ nhiệm yêu quý của em
Hướng dẫn
Tôi thường có suy nghĩ rằng nếu cô giáo chủ nhiệm thì sẽ quan tâm, lo lắng cho kết quả học tập của các học sinh trong lớp nhiều hơn là một người thầy. Nhưng suy nghĩ đó của tôi đã thay đổi khi tôi lên lớp tám. Người chủ nhiệm lớp tôi lúc đó không ai khác là thầy Trung.
Khi chúng tôi biết sẽ được thầy giáo chủ nhiệm thì toàn bộ học sinh trong lớp đều nghĩ thầy dạy toán hoặc hóa gì đó. Có những suy nghĩ đó là vì nhìn bề ngoài chúng tôi thấy thầy là một người lặng lẽ, với nét mặt lúc nào cũng ‘ nghiêm trọng vấn đề’.
Với chiếc áo sơ mi cùng quần tây và đôi giày trông ra vẻ của một người chuyên dạy những con số. Nhưng không, chúng tôi đều bất ngờ khi thầy giới thiệu thầy là thầy giáo dạy văn. Đó là ấn tượng sâu nhất của chúng tôi ngay thời điểm đó.
Là giáo viên chủ nhiệm, thầy quan tâm chúng tôi rất mực, khác với vẻ ngoài lạnh lùng thường có của thầy. Thầy đã cho tôi và cả lớp một “dấu ấn” của tiết học đầu tiên với thầy. Lời giảng của thầy dường như chứa đựng cả một kho kiến thức, truyền tải chầm chậm vào đầu tôi từ lúc nào.
Sau những giờ dạy là lời hỏi han về lớp, về trò của mình. Từ việc cá nhân đến việc gia đình. Từ việc học cho đến những tiết sinh hoạt, với những bài thuyết trình mà chủ đề thầy đưa ra gần gũi với thực tế cuộc sống của tuổi me xanh, hồn nhiên mơ mộng của chúng tôi.
Những tiết học đầy căng thẳng, mệt mỏi dường như không còn khi đến tiết thầy dạy. Cả lớp tôi từ khi thầy bước vào lớp và khi kết thúc bài học vẫn là một tâm trạng hứng khởi với những gì thầy truyền dạy.
Không chỉ làm tốt ở vai trò dạy, trách nhiệm của người thầy chủ nhiệm mà ở thầy còn có một trái tim tràn đầy yêu thương. Thầy thương sự thiếu thốn của học trò mình, thương cả lớp bị cảm bởi những tiết học nắng mưa thất thường.
Đôi mắt thầy nhìn xa xăm như thấu hiểu mọi điều nơi sâu thẳm trái tim của chúng tôi. Để chúng tôi cảm nhận được sự ấm áp của người thầy thấu hiểu tâm tình học sinh. Đôi khi không phải cái dịu dàng làm ta gần gũi mà chính lòng yêu thương, sự tận tụy và trách nhiệm đã làm nên hình ảnh một người thầy lý tưởng.
Thầy có lẽ là thầy chủ nhiệm mà cả lớp chúng tôi luôn dành một tình cảm đặc biệt. Thầy luôn là tấm gươngcổ vũ cho chúng tôi để chúng tôi có thể học một cách nghiêm túc và siêng năng hơn để biến những ươc mơ của mình thành hiện thực.
Nguồn: thêm: Bàn về bài thơ Thuật hoài của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn nhận định: Nói ngắn gọn, khái quát, bài “Thuật hoài” thể hiện vẻ đẹp của con người và vẻ đẹp của thời đại. Phân tích bài thơ để làm rõ nhân định trên | Cảm nghĩ về thầy giáo chủ nhiệm yêu quý của em | 559 | |
Cảm nghĩ về truyện Vợ chồng A Phủ
Gợi ý
(Tư liệu)
Truyện Vợ chồng A Phủ, tôi viết quãng những năm 1352, 1953. Tới nay, ngót bốn mươi năm đã qua. Thời kỳ ấy, trong khi vùng bộ đội và nhân dân vào chiến dịch Tây Bắc, giải phóng ba tỉnh Sơn La, Lai Châu và Hoàng Liên Sơn bây giờ. Bước đường hình thành câu chuyện cùng với nhân vật, tư tưởng nhân vật cứ thành hình dần, đến khi chiến dịch kết thúc thắng lợi thì tôi cũng đã nghĩ xong và viết luôn. Có nghĩa là câu chuyện Vợ chồng A Phủ tôi đã xây dựng được bằng mắt thấy tai nghe và cảm nghĩ về những con người và sự việc ấy trong cuộc chiến đấu giải phóng quê hương của các dân tộc thiểu số anh em ở biên giới Tây Bắc đất nước.
Đã có nhiều dịp tôi viết và có khi trả lời câu hỏi của bạn đọc như tại sao viết Vợ chồng A Phủ và đã viết Vợ chồng A Phủ như thế nào. Có những câu hỏi ấy, một phần bạn đọc muốn được trao đổi và hiểu biết công việc bếp núc của một sáng tác, nhưng, cũng có một phần bởi bạn đọc biết tôi vốn sinh sống ở đồng bằng, có thể trước khi viết Vợ chồng A Phủ tôi chưa có một hiểu biết gì về các dân tộc ở miền núi, thế thì làm sao và vì lẽ gì tôi đã viết được. Âu cũng là một tò mò của bạn đọc đáng quý cho người viết.
Tôi cũng đã từng viết và trả lời nhiều lần về những vấn đề trên, các bạn có thể tìm đọc thêm ở những bài trao đổi của tôi về kinh nghiệm viết văn, mà ở đây tôi khỏi nói lại nhiều về ngọn nguồn tình cảm của tôi với dân tộc Mông và các dân tộc Tày, Thái, Dao, Mường mà hầu như một cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp tôi đã được ở với các dân tộc anh em ấy cùng với những công tác kháng chiến. Biết bao nhiêu khó khăn cho tôi mà lúc đầu tưởng như không thể vượt qua được, khi mọi việc tìm hiểu chân tơ kẽ tóc, trong cuộc sống chung đụng cùng với những học hỏi cần thiết cho một người cầm bút, như phải am tường gốc gác, phong tục tập quán, cùng với ngôn ngữ và một sức một lòng cùng các dân tộc anh em gánh vác mọi công tác kháng chiến.
Phải có tấm lòng thiết tha cùng với công phu đến như thế, tôi mới dám cầm bút viết truyện Vợ chồng A Phủ và sau này, viết thêm tiểu thuyết Miền Tây và tiểu thuyết Họ Giàng ở Phin Sa.
Riêng ở đây tôi nói tập trung suy nghĩ của tôi về một số vấn đề trong hình thức và nội dung Vợ chồng A Phủ.
Người dân tộc Mông ở trên núi cao, đã bao đời vất vả. Trong nỗi vất vả phải kể đến cái khổ cực cùng kiệt, là số phận người phụ nữ. Không chỉ là đói khát, là ngày đêm đi nương kiếm cái ăn và lúi húi trong bếp từ lúc trời chưa tan sương, mà đời một người con gái dân tộc Mông từ ngày bước chân đi lấy chồng ấy là phải dấn mình vào địa ngục khủng khiếp không thể lời nào tả nổi được. Mê tín và thần quyền mà xã hội thời ấy coi là tuyệt đối thiêng liêng đã bắt người đàn bà ấy bán cho “cái ma” nhà ấy rồi và “cái ma” của nhà ấy không bao giờ cho người đàn bà này ra khỏi cửa nhà nữa. Cả đến những trường hợp dã man đến độ dùng tiền bạc và thế lực, đã “cướp” người đàn bà đem về “trình ma”, thế là người đàn bà cũng bị “cái ma” vô hình trói cả đời trong nhà ấy! Phải suốt đời ở trong nhà ấy! Nếu chẳng may chồng chết thì người ấy phải làm vợ người khác trong nhà, có khi là một người anh chồng già lụ khụ, có khi là một người em chồng còn ở tuổi trẻ con, và nếu chồng lại chết, lại phải ở với người đàn ông khác vẫn trong nhà ấy. Khi Tây Bắc mới giải phóng, tôi đã trông thấy cái cảnh một người đèn ông cưỡi ngựa đi chợ đằng sau một lũ vợ đi theo, có người vợ già đã móm mém, có người vợ còn đương tuổi thanh niên…Xem thêm: Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Anh chị cảm nhận được gì về tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua bài thơ này? Cũng có khi người phụ nữ thoát được cái địa ngục kia. Ấy là có những bố mẹ thương con, dành dụm được tiền, những đồng bạc trắng, đem đến nộp trả cho nhà người chồng đã chết của con gái. Người ta cúng lễ cho
người đàn bà ấy được “cái ma” thả cho ra khỏi nhà. Nhưng mà người đàn bà góa chồng ấy không được về nhà mình đâu. Người đàn bà phải đi đến nhà quan thống lý quyền hành như ông vua cả một vùng. Bố mẹ lại nộp cái lễ “rửa của” cho nhà quan, để quan thống lý nhận cho người đàn bà từ bấy giờ cho đến chết phải ăn ở như đày tớ nhà quan thống lý.
Những người đàn bà dân tộc Mông trong truyện Vợ chồng A Phủ cũng như Mỵ trong truyện ấy, tất cả đều đã trải qua những hãi hùng trên. Bao nhiêu khủng khiếp đã qua đi không bao giờ có thể trở lại nữa, nhưng câu chuyện thương tâm, cái đau đời người vẫn đọng lại mãi qua mọi thế hệ, như một nhắc nhở.
Nhưng điều kỳ diệu là dẫu trong cùng cực đến thế, mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt đói khổ, nhục nhã, Mỵ vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt. Những thương đau như cuộc đời Mỵ, khi truyện Vợ chồng A Phủ chuyển làm thành phim Vợ chồng A Phủ, diễn viên đóng các vai chính trong phim đã được lên khảo sát thực tế các vùng cao huyện Bắc Yên và huyện Trạm Tấu, đã còn được nghe kể lại, tưởng như những khổ ải cũ vẫn còn phảng phất khắp các xó xỉnh rừng núi.Xem thêm: Phân tích tác phẩm Cảnh Khuya của Hồ Chí Minh Mỵ và A Phủ gặp nhau trong một hoàn cảnh thật khốc liệt và éo le. Những số phận con người bên bờ cái chết. Thoạt nghe, có thể tưởng như đấy là những tình cờ của số phận, khi hai con người khốn khổ thoát chết, đã cùng nhau trốn khỏi nơi địa ngục. Nhưng nếu để ý kỹ lại đời Mỵ và đời A Phủ, từng quãng sống của họ, ta có thể thấy như in được hình ảnh bước phát triển của số phận những con người ấy có ý nghĩa hoàn toàn có thể phân tích được. Trong nguy hiểm, nhưng khi có cơ hội và có quyết tâm của con người để chống lại cái số kiếp như trời định sẵn, họ đã vùng lên. Và sức mạnh vùng lên cứ phát triển lên mãi, khi cuộc đời riêng và cuộc sống xã hội mới gặp nhau, đã chiến thắng tù ngục phong kiến. Cuộc kháng chiến của tất cả các dân tộc trên đất nước chống đế quốc và phong kiến đã đưa những con người ấy lên đường chiến đấu bảo vệ hạnh phúc của chính họ và giải phóng quê hương. Sự phát triển của cuộc đời Mỵ và A Phủ có quá trình hài hoà đã hòa hợp như là một tất yếu.
Vẻ đẹp của tuổi trẻ và tình yêu chan chứa, phong phú trên tất cả mọi mặt, từ nụ cười đến tính nết, đến tấm lòng. Nhưng ở một con người đương thoi thóp trong cùng quẫn như Mỵ, trước nhất vẻ đẹp tâm hồn Mỵ thể hiện trong thái độ đối với A Phủ. Thái độ ấy đã được biểu hiện bằng một hành động cực kỳ dũng cảm là cởi trói cho A Phủ. A Phủ đã thoát chết. Làm việc ấy, tức là Mỵ cũng đến với cái chết đương chờ đợi, chẳng khác A Phủ. Nhưng Mỵ đã không chút sợ hãi. Mỵ đã vượt lên được tất cả. Cái biểu hiện cởi trói cho A Phủ chỉ xảy ra trong khoảnh khắc, nhưng khoảnh khắc quyết định và tồn tại đời đời. Vẻ đẹp của một tâm hồn con người, bao giờ cũng vậy, một tấm lòng, một tinh thần vị tha, một hành động không phải chỉ vì mình, đấy mới trở thành những câu chuyện đời đời nhớ mãi cùng với những con người và những lịch sử dân tộc mang giá trị vĩnh cửu.Xem thêm: Nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ” là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh. Hãy chứng minh nhận định ấy? Sự tồn tại của mỗi con người, của mỗi dân tộc trên đất nước mà mỗi trang lịch sử đã chứng minh từ thuở nghìn năm dựng nước, ấy là do lòng nhân hậu và tinh thần xả thân vì nghĩa. Dân tộc Việt Nam đã như thế, tồn tại và phát triển tới ngày nay chính bởi những đức tính trên đã trở thành truyền thống trong mỗi con người qua mọi thời kỳ. Sự nghiệp dựng nước và giữ nước của chúng ta đã được bồi đắp đời này qua đời khác, xưa kia cũng như ngày nay, bằng những hình ảnh đẹp đẽ ấy.
Văn học Việt Nam, truyền thống cũng như hiện đại, chủ nghĩa nhân đạo đã xuyên suốt trong từng tác phẩm. Không phải là một điều tô vẽ và tưởng tượng không căn cứ, mà đây là cuộc sống thực có trong xã hội đã tạo nên tinh thần các tác phẩm chân chính. Trở lại những sự việc cụ thể, như trên đã trình bày, tôi không thể sáng tạo được câu chuyện cùng với các nhân vật như Mỵ và A Phủ. Tôi đã không thể nghĩ ra một tình tiết trước khi được cơ hội sinh sống ở vùng núi ấy và cuộc sống hàng ngày đã giúp tôi khám phá và sáng tạo.
Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam là tấm gương kết tinh sức sống và tinh thần của dân tộc Việt Nam.
TÔ HOÀI (Tác phẩm văn học 1930 – 1945, tập hai, Nxb. Khoa học xã hội, 1991)
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ về truyện Vợ chồng A Phủ | 1,822 | |
Đề bài: Chiếu dời đô – Khát vọng về một đất nước dân tộc, thống nhất, hùng cường và khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh
Trong những áng văn nghị luận trung đại, Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có một vị trí quan trọng. nó là áng văn khởi đầu cho nền văn học thời Lí – Trần. Hơn nữa, nó là áng văn đầu tiên thể hiện khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất, hung cường và khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.
Chiếu dời đô ra đời trong hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt. Tuy không phải là hoàn cảnh giặc thù đang lăm le ngoài biên ải, vận mệnh Tổ quốc lâm nguy như hoàn cảnh ra đời của Hịch tướng sĩ. Cũng không phải không khí tưng bừng rộn rã của cả dân tộc đang ca khúc khải hoàn như hoàn cảnh ra đời của Bình ngô đại cáo. Đây là hoàn cảnh đất nước đã thái bình. Nhưng nền thái bình ấy còn mong manh, nguy cơ giặc giã thôn tính Đại Việt chưa phải là hết. Đây là thời điểm dân tộc ta đã giành được chủ quyền, có núi sông riêng, chế độ riêng, nhưng các triều đại Đinh- Tiền Lê nối tiếp nhau ra đời rồi cũng nhanh chóng tiêu vong. Nhà Lí thành lập. Một trọng trách nặng nề đè nặng trên đôi vai vương triều họ Lí. Làm thế nào để giữ yên giang sơn bờ cõi, bảo tồn được thành quả của cha ông đã giành được? làm thế nào để phát triển đất nước ngày càng hùng cường? Niềm trăn trở ấy đã biến thành quyết định dời đô của Lí Thái Tổ(Lí Công Uẩn), và bài Chiếu đã ra đời. Hơn ai hết, Lí Công Uẩn hiểu rõ lí do phải dời đô cũng như lợi ích của việc dời đô.
Trong lịch sử nhân loại, đã có không ít những lần dời đô. Không xét đâu xa lạ, chỉ riêng một quốc gia cận kề với Đại Việt là Trung Hoa, chỉ ở hai triều đại thôi cũng đã có tới vài lần phải thay đổi kinh đô: Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Việc dời đô của các vị đế vương Thương, Chu ấy phải đâu là những việc làm tùy tiện, theo ý riêng của mình. Đó là những việc làm có suy tính đến sự thiệt hơn, đến sự hưng thịnh, tồn vong của giang sơn, xã tắc, đến hạnh phúc lâu dài của trăm họ, muôn dân. Thật là một việc làm trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân, đáng là tấm gương để đời sau noi theo.
Từ bài học của các đế vương Trung Hoa, đi sâu vào thực tế của Đại Việt, Lí Thái Tổ càng thấy bức xúc, trăn trở: Kinh Đô của Đại Việt đóng ở Hoa Lư, nơi đất hẹp hè thưa, địa thế tuy có hiểm trở nhưng đâu phải là nơi thuận tiện cho việc giao lưu phát triển, làm sao vận nước có thể lâu dài, phong tục có thể phồn vinh như các triều đại Thương, Chu bên Trung Quốc? Và thực tế là số vận của hai nhà Đinh, Lê không được lâu bền, số vận ngắn ngủi và trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi há chẳng phải là điều đang diễn ra đó sao?
Không chỉ bức xúc, trăn trở, nhà vua còn cảm thấy rất đau xót về việc đó. Tình cảm chân thành của ông là khát vọng về đất nước độc lập, thống nhất, hùng cường. Khát vọng ấy biến thành ý chí hành động không thể chuyển dời.
Xem thêm: Hãy trình bày những hiểu biết của anh (chị) về khái niệm chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học (...) ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, dựa trên những điều anh (chị) đã được học và được đọc về các nhà văn Nguyễn Công Hoan, ...Bắt nguồn từ một khát vọng lớn lao, cao cả, với một vị trí mẫn tiệp, với tầm nhìn xa, trông rộng của một bặc thiên tài kiệt xuất, vị đế vương nhà Lí đã tìm được cho dân tộc ta một địa danh lí tưởng để định đô lâu dài. Đó là thành Đại La.( Hà Nội ngay nay). Nhà vua chỉ rõ các bá quan văn võ, cho thần dân cả nước thấy được những lợi thế vô cùng lớn của thành Đại La mà không nơi nào trên quốc gia Đại Việt có được.
Thứ nhất, về vị trí địa lí ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuốn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi.
Thứ hai, vế chính trị, văn hóa thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Đóng đô ở một nơi như thế hỏi làm sao vận nước có thể ngắn ngủi, trăm họ có thể hao tổn, muôn vật có thể không được thích nghi? Chắc chắn là vận nước sẽ được lâu dài, phong tục sẽ được phồn vinh, trăm dân muôn họ sẽ được an hưởng thái bình hạnh phúc. Hỏi có còn mong ước gì hơn? Một khát vọng thật đẹp. Khát vọng của Lí Thái Tổ cũng là khát vọng của những người dân Đại Việt lúc ấy và cả sau này.
Chiếu dời đô đã đánh trúng vào niềm khao khát xây dựng một đất nước độc lập, thống nhất, hùng cườngcuar cả dân tộc nên nó được mọi người nồng nhiệt hưởng ứng. Một kinh đô mới đã ra đời và tồn tại vĩnh viễn.
Chiếu dời đô không chỉ thể hiện một khát vọng lớn, nó còn thể hiện được khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.
Do thế và lực còn yếu, chưa đủ sức để đối phó với nạn ngoại xâm nếu định đô ở đồng bằng, nên hai nhà Đinh, Lê phải chọn Hoa Lư làm kinh đô mong dựa vào địa thế hiểm trở để bảo tồn vương triều, giữ vững chủ quyền. Bởi chưa lớn mạnh nên số vận ngắn ngủi, trăm họk phải hao tổn là lẽ đương nhiên.
Nhưng nay, nhà Lí là sự kế tục sự nghiệp của các triều đại cha anh,có thế đã lớn mạnh hơn. Nhưng dù có lớn mạnh hơnhay chưa thực sự lớn mạnh thì quyết định dời đô của vị Thái Tổ họ Lí cũng đã khẳng định được khí phách anh hùng, dám đương đầu với mọi thử thách, vững tin vào khả năng của mình. Khí phách của vị đế vương đầu tiên của nhà Lí cũng là khí phách của cả một vương triều, của cả một dân tộc đang trên đà lớn mạnh.
Ngày nay, càng đọc kĩ Chiếu dời đô, càng suy ngẫm kĩ về tư tưởng bài Chiếu, ta càng thấy thấm thía sự sang suốt và quyết định đúng đắn của một bậc đế vương hào kiệt, càng thêm biết ơn ông đã đặt nền móng cho sự bền vững, hưng thịnh lâu dài của đất nước, càng thêm cảm phục và quý mến ông.
Nguồn Edufly
Xem thêm: Tóm tắt đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió (trích Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-téc) | Cảm nghĩ về tác phẩm Chiếu dời đô | 1,289 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về tác phẩm Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng dân tộc văn võ toàn tài.Tên tuổi ông gắn liền với Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ và chiến công Bạch Đằng bất tử.
Trần Quốc Tuấn được vua nhà Trần cử giữ chức Tiết chế thống lĩnh lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) đánh thắng quân xâm lược Nguyên- Mông.
Hịch tướng sĩ được Trần Quốc Tuấn viết vào năm 1282 và trước hội nghị quân sự Bình Than của các vương hầu. Đó là một luận văn quân sự nổi tiếng trong lịch sử dân tộc, là lời kêu gọi chiến đấu quyết tâm đánh thắng quân xâm lược để bảo vệ sơn hà xã tắc của ông cha ta hơn bảy trăm năm về trước từng làm sôi sục lòng người. Có ý kiến cho rằng: Hịch tướng sĩ là khúc tráng ca anh hùng sáng ngời hào khí Đông – A.
Đông – A là khái niệm mà các nhà lịch sử dùng để chỉ triều đại nhà Trần(1226-1400), hào khí nghĩa là chí khí hào hùng, chí khí anh hùng. Câu nói trên nhằm ca ngợi Hịch tướng sĩ là bản anh hùng ca sáng ngời chí khí hào hùng, chí khí anh hùng của Đại Việt trong triều đại nhà Trần. Bài hịch đã vạch trần âm mưu xâm lược của giặc Nguyên – Mông, thể hiện lòng căm thù giặc sôi sục, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, sẵn sàng xả thân trên chiến địa để bảo vệ sơn hà xã tắc.Hào khí Đông-A tỏa sáng trong Hịch tướng sĩ chính là lòng yêu nước nồng nàn, khí phách anh hùng lẫm liệt của tướng sĩ nhà Trần và nhân dân ta trong thế kỉ XIII đã ba lần đánh giặc Nguyên – Mông.
Hịch tướng sĩ là một khúc ca, bởi lẽ trước hết Trần Quốc Tuấn đã nêu cao gương sáng các bậc trung thần nghĩa sĩ, những mẫu người lí tưởng của chế độ phong kiến đã xả thân vì lòng trung quân ái quốc. Đó là Kỉ Tín, Do Vũ, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh… đã bỏ mình vì nước, thoát khỏi thói nữ nhi thường tình trở thành vĩ nhân lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ.
Hịch tướng sĩ là bản hùng ca của Đại Việt sáng ngời hào khí Đông- A. Nó thể hiện một tầm nhìn chiến lược, thấy rõ tim gan đen tối, dã tâm của quân giặc phương Bắc, tham lam tàn bạo cực độ, của âm mưu biến nước ta thành quận, huyện của chúng. Sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, coi kinh thành Thăng Long như lãnh địa của chúng. Lòng tham vô đáy, lúc thì chúng thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, lúc thì giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Chúng là cú diều, là dê chó, là hổ đói rất bẩn thỉu, tham lam, độc ác, phải khinh bỉ và căm ghét tận xương tủy, phải tiêu diệt!
Hịch tướng sĩ là tiếng nói căm giận bốc lửa quyết không đội trời chung với luc giặc Nguyên – Mông. Nó là khúc tráng ca chứa chan tinh thần yêu nước, biểu lộ khí phách của anh hùng Trần Quốc Tuấn quyết chiến quyết thắng quân xâm lược, nguyện xả thân trên chiến trường để bảo vệ Tổ quốc Đại Việt:
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ nhận định: “Từ những bài thơ viết trong hoàn cảnh nhà tù dưới chế độ Tưởng Giới Thạch tàn bạo và mục nát toát ra một phong thái ung dung... một tinh thần lạc quan cách mạng không gì lay chuyển nổi”Có thể nói, đây là đoạn văn hay nhất, hùng tráng nhất trong Hịch tướng sĩ thể hiện một cách tuyệt vời hào khí Đông-A.
Hịch tướng sĩ là một áng văn chính luận đanh thép nhất, hùng biện nhất thể hiện chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Đại Việt sáng ngời hào khí Đông- A. Trần Quốc Tuấn đã nói với tướng sĩ đời Trần về nhục và vinh, thắng và bại, mất và còn, sống và chết, khi vận mệnh Tổ quốc lâm nguy. Mất cảnh giác, chỉ biết hưởng lạc như: lấy việc chọi gà làm vui đùa, …, lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển,(…) lo làm giàu mà quên việc nước, ham săn bắn và quên việc binh, chỉ thích rượu ngon,mê tiếng hát,… thì bại vong là tất yếu. Nếu có giặc Mông Cổ tràn sang thì ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào? Bại vong là thảm họa:
Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất, chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn, chẳng những xã tắc tổ tong ta bị giày xéo mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng vị quật lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ không rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận.
Thân làm tướng, kẻ nam nhi trong thời loạn phải biết lo khi nhìn chủ nhục, phải biết thẹn khi thấy nước nhục, phải biết tức khi thấy nước nhục, phải biết tức khi phải hầu quân giặc, phải biết căm khi nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ!
Thân làm tướng phải cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu: huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rũa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Đó là quyrts chiến quyết thắng, là vinh quang.
Hịch tướng sĩ sáng ngời hào khí Đông-A, nó có tác dụng khích lệ, động viên tướng sĩ quyết chiến quyết thắng giặc Nguyên- Mông. Hịch của vị Tiết chế Quốc công như tiếng kèn xung trận vang dội núi sông. Nó đã góp phần không nhỏ tạo nên sức mạnh của đoàn dũng sĩ Sát Thát lập nên bao chiến công oai hùng như Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng Giang,…, Hịch tướng sĩ đã phản chiếu sáng ngời hào khí Đông-A qua những tấm gương đầy khí phách lẫm liệt. Là tiếng nói sắt đá vang lên trong những giờ phút hiểm nghèo: Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chems đầu thần trước đã! Là tư thế lẫm liệt hiên ngang của Trần Bình Trọng: Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Là chí khí anh hùng của Trần Quốc Toản: phá cường địch, báo hoàng ân. Là dũng khí của Phạm Ngũ Lão với đạo quân phụ- tử chi binh trăm trận trăm thắng:
Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân hùng khí át sao ngưu.
(Thuận hoài – Phạm Ngũ Lão)
Tóm lại, Hịch tướng sĩ là tác phẩm lớn nhất, tráng lệ nhất,biểu hiện tinh thần yêu nước của văn học đời Trần. Qua bài hịch, ta càng thêm ngưỡng mộ và biết ơn vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. Hịch tướng sĩ, còn có tác dụng to lớn, sâu sắc bồi dưỡng lòng yêu nước, khí phách anh hùng, tinh thần tự lập tự cường cho thế hệ trẻ Việt Nam..
Nguồn Edufly
Xem thêm: Thuyết minh về con cá chép | Cảm nghĩ về tác phẩm Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn | 1,333 | |
Cảm nghĩ về tình bạn hay nhất
Hướng dẫn
chúng ta thấy rõ một điều nếu tồn tại trong cuộc sống này mà không có các mối quan hệ giữa người với người thì cuộc sống sẽ tẻ nhạt biết bao. Và tất nhiên trong các mối quan hệ cần có để hương vị cuộc sống thêm thú vị ắt hẳn không kể đến tình bạn.
Tình bạn là một thứ gì đó rất ngọt ngào pha chút hờn giận vô cớ. Bắt đầu một mối quan hệ tình bạn ta cảm thấy hào hứng biết bao nhiêu, một mặt ta có thêm người cúng nói chuyện, cùng chia sẽ những vui buồn trong cuộc sống. Mặt khác ta có người hiểu những suy nghĩ của mình nhiều hơn.
Một tình bạn đẹp tất nhiên phải có những cảm xúc giận hờn, bực nhọc. Nhưng sau mỗi cảm xúc đó ta biết được cảm xúc của ta đúng hay sai đối với bạn và cùng nhau tiếp tục nói chuyện để hiểu nhau nhiều hơn.
Cuộc sống sẽ muôn màu hơn khi ta gặp gỡ và kết bạn cùng nhiều bạn bè. Chúng ta có thể bất li bất dịch về lí thuyết: tôi chỉ cần một người bạn thân không cần ai thêm nữa. Nhưng rồi chúng ta đâu biết ngoài đứa bạn thân ra chúng ta cũng có thể gặp những người hiểu tâm tư mình mà.
Mỗi người sinh ra là một cá thể, mỗi người sẽ có một tính cách riêng và nguyên nhân chúng ta sinh ra là để khám phá thế giới này thì tại soa chúng ta không bắt đầu từ việc hiểu hết tính cách những con người kia. Như trong câu nói:
“Tình bạn là một khái niệm khó giải thích. Đó không phải lý thuyết bạn có thể học được ở trường. Thế nhưng nếu chưa hiểu được ý nghĩa của tình bạn, bạn cũng chưa hiểu được ý nghĩa của bất kỳ điều gì khác trong đời.” – Muhammad Ali
Bạn có thể một gương mặt đẹp, có một công việc thành công nhưng bạn không có một tình bạn đẹp thì coi như bạn bất lực và chả có gì ở cuộc sống này. Vẻ đẹp gương mặt ta có thể chăm chút, sự thành công ta có thể nuôi hi vọng nhưng để có hai thứ đó chúng ta không quên cần có những người bạn đồng hành.
Khi chúng ta vấp liệu bản thân có đủ sức để đứng dậy không? Điều đó là có thẻ nhưng vất vả khi đứng dây một mình biết bao, nhưng nếu có một người bạn chân tình khuyên nhủ tìm cách cùng ta khắc phục khó khăn thì tuyệt vời đến bao nhiêu.
TÌnh bạn là một thứ gì đó rất cao quý và tươi đẹp. Vì thế toi khuyên bạn ngay bây giờ đừng ngồi một mình để nhìn cuộc sống này nữa mà hãy đi tìm những người bạn cùng nhau nhìn và chiêm nghiệm về cuộc sống này đi.Bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn đấy!
BÀI VĂN 2
Người ta thường nói đẩy tình bạn ra khỏi mình chẳng khác gì đẩy mặt trời ra khỏi thế giới này câu nói này càng khẳng định rõ sức mạnh của tình bạn là cần thiết trong cuộc sống này đối với mỗi cá nhân
Bạn có thể học giỏi; mua săm được cái này cái kia nhưng bạn không có nổi một tình bạn đẹp thì cuộc sống bạn vô vị biết nhường nào. Tôi rất may mắn vì tìm được một người bạn thân đúng nghĩa.
Xem thêm: Em hãy thay mặt En-ri-cô viết một bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận của mình vì trót thiếu lễ độ với mẹ kính yêuTôi và bạn tôi gặp gỡ nhau, chơi thân với nhau là từ lúc bắt đầu học cấp trung học cơ sở. Sự lóng ngóng của một học sinh từ cấp tiểu học lên học một cấp bậc khác là điều dễ nhận thấy trong mỗi đứa học sinh chúng tôi lúc đó.
Bước vào lớp học lúc đó tôi loay hoay tìm chỗ ngồi cho mình thì đột nhiên có một tiếng gọi “bạn áo xanh ơi, tới đây ngồi cùng tớ nè”. Chúng tôi ngồi cùng bàn nhau từ lúc đó cho tới tận bây giờ, chắc có lẽ vì quá quen với người ngồi bên cnahj mình là bạn nên lúc nào chuyển chỗ ngồi học hai chúng tôi cũng xin phép cô cho chúng tôi được ngồi cạnh nhau.
Cô bạn thân tôi tên Huyền Trang, với mái tóc dài, với làn da trắng và nụ cười vô cùng dễ thương. Tôi thì đối lập với cô bạn tôi; tóc ngắn ngang vai, da ngăm đen và đôi khi cười bị nhận xét cho là vô duyên. Chúng tôi được gọi là ‘cặp bài trùng’ của nhau vì đi đâu cũng đi với nhau, học cùng nhau; chơi cùng nhau;.. Chúng tôi thiết nghĩ nếu không có nhau chắc hẳn buồn lắm.
Huyền Trang giỏi các môn tự nhiên, còn tôi giỏi các môn xã hội vì thế hai đứa luôn giúp đỡ nhau trong học tập, cùng nhau cố gắng và nỗ lực. Tôi quý mến cô bạn thân tôi nhất là cô ấy có một tấm lòng nhân ái:
Huyền Trang làm lớp trưởng trong lớp, những ai muốn hỏi bạn công việc của lớp hay học tập gì bạn đều nhiệt tình trả lời. Bạn thường để ý tới những bạn còn học yếu và sau đó thường quan tâm, hỏi han có cần giúp gì không. Ra đường hay giúp đỡ các cụ già và em nhỏ, luôn quan tâm đến mọi người xung quanh.
Bạn là con người luôn ý thức được hành động của mình. Đi ra đường thấy một bạn ăn bánh, hay hộp sữa gì đấy vứt ra giữa đường thì bạn thường dừng lại một phút nhặt những miếng rác đó và vứt đúng chỗ.
Huyền Trang còn là một người con ngoan, trò giỏi; đôi lúc nhìn Trang mà em thấy mình còn nhiều điểm yếu quá lớn. Tôi và Trang thường chia sẽ những niềm vui, nỗi buồn cùng nhau. Niềm vui khi được điểm cao hay đó là những nỗi buồn phiền khi không làm bài tốt.
“Một trong những hạnh phúc lớn lao nhất trên đời là tình bạn, một trong những hạnh phúc của tình bạn là có người để thổ lộ tâm sự riêng tư”
Đôi lúc tôi hay cãi lời với bố mẹ vì một điều gì đó. Lúc đó tôi lại chia sẽ cùng Trang,Trang rất hiểu tôi. Cô ấy lắng nghe và sau đó khuyên tôi nên như thế này như thế kia. Và sau đó tội biết lỗi của mình và về nhà xin lỗi bố mẹ
Trang là người bạn tuyệt với nhất mà tôi từng gặp, chúng tôi luôn hứa với nhau dù có chuyện gì xảy ra nữa hai đứa luon lắng nghe nhau và bỏ qua đi những giận dỗi dể xây dựng một tình bạn đẹp nhất có thể.
Nguồn: thêm: Kể về một cô giáo mà em yêu quý | Cảm nghĩ về tình bạn hay nhất | 1,193 | |
Đề bài: Cảm nghĩ về tình mẹ qua truyện “Chuối hoa” của Võ Nguyên
Tình mẹ luôn là chủ đề của những tác phẩm văn học bất hủ, những bài hát còn mãi với thời gian, những câu thơ đầy tình yêu thương ấm áp. Bởi vì bản thân người mẹ đã là một điều vĩ đại. Tình mẹ thì bao la, rộng lớn, cao quí nhưng rất giản dị, chân thành. Thầy Võ Nguyên đã viết nên truyên Chuối hoa rất cảm động, thông qua loài cá chuối hoa, thầy đã cho ta thấy lòng yêu thương con vô cùng, sự hy sinh vì con của tình mẫu tử.
Chuối hoa mẹ đã sinh ra đàn cá con trong một điều kiện cực kì khắc nghiệt, trong mùa nắng hạn, khan hiếm thức ăn. Và rồi đàn cá con cũng được ra đời trong tình yêu thương bảo bọc của chuối hoa mẹ. Chuối hoa mẹ vì miếng ăn cho đàn con, đã rong ruổi khắp nơi. Chuối hoa mẹ không hề nghĩ đến miếng ăn cho bản thân, mà chỉ đau lòng khi thấy con mình ngày một gầy gò, ốm yếu. Và vì quá yêu con, chuối hoa mẹ đã quyết định một điều hết sức mạo hiểm, táo bạo: chuối hoa nhảy lên bờ vào trưa nắng để ánh nắng chói chang đốt vào da thịt, da khô dần, đàn kiến từ đâu ùn ùn kéo đến cắn, rỉa. Sau khi đàn kiến phủ đầy mình, chuối hoa lấy hết sức phóng xuống nước, đàn kiến liền nổi lên mặt nước. Đàn cá con có thức ăn, thưởng thức một cách vô tư, mà không hề biết mẹ mình đau đớn đến nhường nào. Chuối hoa mẹ thấy con mình no nê thì cũng vui mừng hớn hở, quên cả cái đau mình đang phải chịu.
Cuộc đời ai cũng có hình bóng người mẹ. Hình bóng ấy chỉ lặng lẽ trong một góc tâm hồn của mỗi người. Nhưng là tất cả. Có đôi lúc, ta cứ nghĩ mẹ là điều hiển nhiên trong cuộc sống này, mẹ là điều tất yếu, là bổn phận, là trách nhiệm lo cho cuộc đời mình. Ít khi có ai thắc mắc, mình là gì mà mẹ lại quan tâm, lo lắng, chăm nom, săn sóc mình đến vậy? Mẹ làm vậy vì điều gì? Làm thế thì mẹ được gì? Dĩ nhiên, mẹ chẳng được gì cả. Mẹ hy sinh tuổi trẻ, hy sinh ước mơ, hy sinh cả những sở thích cá nhân, chỉ vì những điều tốt đẹp nhất cho con mình. Mẹ chỉ nhận lại những nụ cười hạnh phúc, những thành công mà con cái đạt được, mẹ lấy đó làm niềm vui cho cuộc sống mình. Loài chuối hoa, nó chỉ là con vật, nhưng tình mẫu tử vẫn hiện diện rất rõ. Lòng mẹ thật bao la, rộng lớn không một loại thước nào có thể đo được.
Xem thêm: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện KiềuTrời thì vẫn nắng hạn mà thức ăn thì ngày một hiếm nên Chuối hoa mẹ cứ phóng lên bờ để có thức ăn cho đàn con. Nhưng một ngày, vì chậm trễ, chuối hoa đã nằm trong móng vuốt của một con mèo hoang, đàn cá con nhìn lên hốt hoảng. Câu chuyện nhân vật cô giáo kể đến đây phải tạm ngừng do có tiếng nấc của một em học sinh. Thì ra vì ngồi nghe cô giáo kể, em bỗng nhớ tới mẹ em. Và em hỏi một câu khiến cô giáo phải rưng rưng:
“Tại sao cô để cho mèo bắt mẹ Chuối hoa?”
Mẹ bị nạn, mẹ gặp chuyện không may. Bản năng của con là lo lắng cho mẹ, sợ mẹ không bình yên. Vì dường như con cũng biết, nếu thiếu mẹ, cuộc sống của con sẽ trống vắng đến dường nào. Nhưng sự quan tâm, lo lắng chỉ dừng đấy. Con chẳng biết làm gì để giúp mẹ, chẳng biết thế nào để tốt cho mẹ.
Để xoá tan không khí nặng nề trong lớp, cô giáo tìm một cái kết khác cho câu truyện. Cái kết không phải là cái kết có hậu hoàn toàn, nhưng làm giảm đi một phần nào đau thương. Chuối hoa đã thoát khỏi móng vuốt mèo hoang, nhưng chuối hoa cũng không thể tránh khỏi điều tất yếu trong cuộc sống, đó là cái chết. Chết, nhưng chuối hoa đã thành công khi nuôi lớn bầy con, đưa bầy con sang một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Bầy con không muốn đi vì quyến luyến mẹ, vì không dám tự bươn chải một mình…
Đến một lúc nào đó, con cũng vươn đôi cánh mà bay xa mãi, tìm cho mình những chân trời mới. Nhưng quãng trời rộng mẹ trao cho con khi bé, con vẫn mãi mãi không thể nào quên. Một lúc nào đó, khi con thành công trong cuộc sống, hay con vấp ngã sau những lúc làm việc mệt nhoài, con bỗng muốn nằm trong vòng tay mẹ, được mẹ che chở, khuyên răng.
Nhưng lúc ấy, tìm về với mẹ, có còn mẹ chăng?
Vì vậy, khi còn mẹ bên cạnh, ta hãy yêu thương, kính trọng mẹ. Hãy làm tất cả để mẹ vui. Vì cuộc đời của mẹ, chỉ là tương lai của con mình. Thành công cùa cuộc đời mẹ, là những gì con đạt được mai sau. Đừng để mẹ thất vọng. Vì hy vọng mẹ dành cho con là vô bờ. Mẹ luôn tin con, cho dù con gục ngã. Mẹ luôn là chỗ dựa cho con bây giờ cho đến vĩnh cửu. Cho đến khi mẹ rời xa con, mẹ vẫn luôn luôn thế. Tình yêu của mẹ không bao giờ có thể nói hết thành lời.
traitimmauhong24695
(Lớp 10 – chuyên văn THPT Trần Hưng Đạo)
Xem thêm: Em hãy phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du | Cảm nghĩ về tình mẹ | 995 | |
Cảm nghĩ về đêm trăng trung thu
Bài làm
Mẹ tôi thường kể thời xưa, Tết Trung Thu mới là cái Tết to nhất ở Việt Nam, ngày mà gia đình sum vầy hạnh phúc. Thế nhưng dần dần, Tết Nguyên Đán của phương Đông lại dần trở nên quan trọng hơn và Tết Trung Thu trở thành tết của Thiếu nhi, dành cho trẻ con vui chơi và người lớn cũng dần quên bẫng ý nghĩa đoàn viên của nó. Tuy vậy nhưng Tết Trung Thu vẫn luôn để lại trong chúng tôi những dấu ấn khó phai mờ, sự vui vẻ mà đêm trăng Trung Thu mang lại vẫn luôn là điều tuyệt vời nhất.
Ngay từ đầu tháng 8 âm lịch, vầng trăng khuyết cong cong đã tỏa ra quầng sáng vô cùng rực rỡ. Đến ngày 15 âm lịch, trăng trên trời tròn vành vạnh như một vị thần của an lành và hạnh phúc giữa bầu trời đầy sao. Trên nền trời đen lấp lánh những vì sao li ti, vầng trăng như chiếm ưu thế tuyệt đối, trở thành bà hoàng của màn đêm khoác lên mình lớp váy đen chấm sáng quyến rũ. Năm nay trăng rất tròn như vui mừng báo hiệu một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, con người hạnh phúc, ấm no.
Tôi rất thích đến Tết Trung Thu, mỗi lần như vậy tôi đều được mọi người tặng quà, những món đồ chơi thủ công như đèn ông sao, đèn kéo quân, mũ miện, mặt nạ hoặc là tò he, đèn lồng, cái trống đồ chơi, cái đầu lân be bé… Bao nhiêu đồ chơi cũng không đủ, có đồ chơi là đám trẻ trong xóm đều lôi tất cả ra khoe với nhau, xem của ai đẹp hơn, nhiều đồ hơn rồi cùng chạy khắp nơi vui đùa. Tôi vẫn thích nhất cái đèn lồng hình hoa sen mà đựng được nến trong đó, trời tối sang thu hơi lạnh, cái nến cháy vừa ấm vừa sáng soi được khắp nơi, trong màn đêm hoa sen như nở ra rực rỡ. Món quà này là chị gái tôi tặng, còn cả cái đèn cầy nhiều màu làm bằng giấy bóng nữa, hai thứ này là đồ xịn nhất trong xóm của tôi, tôi vui vẻ đi khoe với mọi người.Xem thêm: Cảm nhận cùa em về một bài thơ xuân đặc biệt - Bài Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng) của Hồ Chí Minh
Cảm nghĩ về đêm trăng trung thu
Trong xóm tôi tổ chức Trung thu, phát quà bánh rất ngon, rồi cả tranh mâm cỗ đầy những bim bim, kẹo, sữa, hộp bút, bút chì, tẩy, thước kẻ đủ hình thù. Sau đó còn mâm đầy những hoa quả tỉa cắt hình thỏ ngọc, mặt trăng, chú cuội cắm bên trên là mấy cái đèn ông sao tua rua lấp lánh. Chúng tôi đều tranh nhau mỗi người một món, ai cũng đòi tranh bằng được cái đèn ông sao to nhất. Tuy tổ chức đơn giản nhưng mà chúng tôi rất vui.
Sau đó thì có một đoàn múa lân của các anh thanh niên đi qua xóm, đầu lân nhảy qua nhảy lại dọa chúng tôi, có đứa chạm vào xong cười khanh khách, có đứa nhanh tay túm lấy con mắt nhấp nháy của con lân, có đứa sợ hét lên… Tiếng trống tùng tùng rộn rã, người lớn thì cười nói, trẻ con thì nghịch ngợm. Có đứa bạo hơn ra trêu thằng Bờm, bị cái quạt của thằng Bờm đánh vào mông chạy biến mất. Cả đám nghịch ngợm một hồi rồi mỗi đứa chìa ra gói bim bim, cái kẹo thưởng cho con lân đang vất vả nằm phịch xuống đất. Đứa nào cũng cười thích chí sảng khoái. Đội múa lân rời đi, tiệc trung thu tàn, ai về nhà nấy.
Gia đình tôi bắc ghế ngồi lên trần ngắm trăng, bầu trời lâu lâu có gợn mây lơ thơ khẽ lướt qua vầng trăng to như cái đĩa. Tôi gặm cái bánh nướng hình con lợn ăn thật thoải mái, bố mẹ tôi nắm tay nhau ôm tôi. Dường như tôi đang thấy chú cuội ngồi ngẩn ngơ dưới gốc đa đang ngóng trông xuống trần mải miết nhìn mấy đứa trẻ chúng tôi nghịch ngợm vui đùa. Chú cuội trên đấy có buồn không? Từ xưa khi nhìn lên trên cao thấy ánh trăng, tôi cứ nhớ mãi câu chuyện mẹ kể về chú cuội ngồi tựa gốc đa mong nhớ quê nhà. Không biết đêm nay trăng sáng tròn đoàn viên chú cuội có thể xuống trần không nữa. Gia đình tôi đang vui vẻ ăn bánh, nói chuyện với nhau, đêm trung thu đã gắn kết mọi người lại.Xem thêm: Câu ca dao quen mà lạ: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Đêm trăng trung thu đã để lại trong tôi những niềm vui trẻ con và hạnh phúc khi được ở bên bố mẹ, dù sau này có lớn lên tôi vẫn thích được phá cỗ, xem múa lân rồi trông trăng ăn bánh nướng bánh dẻo. Tôi luôn yêu thích và mong đợi đêm trung thu hàng năm để có thể tận hưởng những khoảnh khắc đẹp nhất, được nghỉ ngơi và thư giãn bên gia đình.
Ngọc Huyền | Cảm nghĩ về đêm trăng trung thu hay nhất | 898 | |
Cảm nghĩ về đôi bàn tay mẹ lớp 7 hay nhất
Hướng dẫn
Không một sự yêu thương, bảo bọc nào có thể lớn hơn vòng tay mẹ. Chính đôi bàn tay nhỏ bé của người phụ nữ ấy đã đổ mồ hôi, đã tần tảo sớm hôm vì các con
Bàn tay mẹ tuy nhỏ bé nhưng đã nuôi lớn đàn con. Một tay mẹ đã bế con từ khi lọt lòng. Đôi bàn tay ấm áp đầy yêu thương ấy đã bế chúng con từ khi còn thơ. Bàn tay ấy dìu dắt chúng con từ những bước đi chập chững đầu tiên khi vào đời. Bàn tay ấy là cả một tình yêu thương bao la.
Đôi bàn tay ấy đã lao động vất vả, đã chai sạn đi vì chúng con. Để có cái ăn, cái học; để lớn lên và trưởng thành như ngày hôm nay là nhờ đôi tay nhỏ bé và hao gầy của người phụ nữ tuyệt vời đó. Mẹ đã lao động, đã làm đủ thứ nghề trên đời chỉ mong cho chúng con có những thứ tuyệt vời nhất trên đời mà mẹ có thể làm được.
Mẹ không ngần ngại đôi bàn tay ấy đau nhức, mỏi mệt mà luôn cố gắng đày đọa đôi bàn tay mẹ chỉ vì chúng con. Không một ngôn từ nào có thể nói hộ những gì mẹ đã làm vì chúng con. Bàn tay ấy luôn hướng về chúng con, luôn giang rộng vòng tay ôm chúng con về để che chở mọi vất vả, gian lao ngoài thế giới kia. Cho dù chúng con làm sai trái với những gì mẹ dạy nhưng bàn tay ấy vẫn luôn ân cần khuyên bảo, nhắn nhủ chúng con lần sau đừng làm như vậy.
Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Mẹ hiền dạy conBàn tay ấy chưa bao giờ vì sự giận dỗi những đứa con mà ra tay đánh; mẹ chỉ dùng những lời khuyên, những cử chỉ ân cần để phân những cái hay, cái lẽ phải cho chúng con hiểu. Mẹ luôn đưa tay về phía trước nâng đỡ những vấp ngã của con để con có động lực, để con kiên cường mà đứng lên trước những bão giông cuộc đời.
Con thầm cảm ơn cuộc đời này đã đưa mẹ đến với chúng con, chúng con luôn tự hào rằng là con của mẹ.
“Bàn tay mẹ bế chúng con
Bàn tay mẹ chăm chúng con
Cớm con ăn từ tay mẹ nấu
Nước con uống từ tay mẹ đun
Trời nóng bức gió từ tay mẹ…”
Chúng con sẽ luôn luôn cố gắng chăm ngoan, luôn cố gắng đứng vững trước cuộc đời này để không phí công sức đôi bàn tay hao gầy ấy đã mỏi mệt, đã làm lụng vất vả Con chỉ biết cảm ơn đôi bàn tay bé nhỏ ấy đã lao tâm, khổ cực nuôi chúng con nên Người.
Con sẽ cố gắng dùng đôi bàn tay của con để làm nhiều điều có ích cho đời, để không làm mẹ thất vọng vì đã chở che, ân cần, bảo bọc trìu mến đôi bàn tay chúng con.
Xem thêm các bài văn biểu cảm về mẹ: Cảm nghĩ về mẹ, Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ
Nguồn: | Cảm nghĩ về đôi bàn tay mẹ lớp 7 hay nhất | 545 | |
Cảm nghĩ, suy nghĩ của anh (chị) khi đứng trước một cánh đồng lúa chín
Gợi ý
Phần thưởng học sinh giỏi mỗi năm của em là những chuyến đi du lịch đến những danh lam thắng cảnh của đất nước. Mỗi bước đi lại thấy non nưởc mình đẹp đẽ, tươi xinh đến lạ. Nhưng cũng càng đi lại càng thấy yêu quê hương ruộng đồng của mình nhiều hơn nữa. Có lẽ chẳng có hình ảnh nào gợi đến sự trù phú, đầm ấm của làng quê hơn một cánh đồng lúa chín.
Với người dân ở đồng bằng Bắc Bộ như quê em, lúa được trồng vào hai vụ hè thu và đông xuân. Như thế cũng có nghĩa là sẽ có hai thời điểm lúa chín trong năm: mùa hè vào tầm tháng tư, tháng năm, mùa thu vào tầm tháng chín, tháng mười. Nhưng em thích nhất cánh đồng lúa chín của vụ đông xuân. Ấy là vào khoảng thời gian rất đẹp, lúa chín như thành quả của một mùa xuân thắng lợi.
Cuối mùa xuân, trời không còn mưa phùn lất phất. Nắng đầu hạ nhẹ nhàng mơn man rải những hạt vàng thúc giục lúa xanh nhanh chín. Nhanh lắm đấy! Tuần trước lúa hãy còn xanh, bác nông dân còn lo đi tháo nước ruộng. Ngoảnh đi ngoảnh lại, cả cánh đồng đã rực lên sắc vàng lạ kì: sắc vàng tươi của nắng trời ban tặng. Có ai chịu khó dậy sớm từ bổn năm giờ sáng, chạy ra cánh đồng để hít thở hương sắc của buổi mai sẽ được hương lúa mơn man mát dịu trên da: lúa đang ướp hương cho những con người lao động cần cù, chăm chỉ. Nhưng những ngày cuối vụ như vậy mau sáng lắm, cũng chỉ có một vài giây phút thư thái thế thôi. Nắng lên rất nhanh để từ trên tầng cao nhìn xuống, cánh đồng giốmg như một chiếc bánh mật vuông vức béo ngậy. Nắng rải một nong tơ đánh thắm lúa vàng. Ấy là món quà mà thiên nhiên cùng tiến cho công sức lao động miệt mài, chăm chỉ của các cô bác nông dân trong suốt một mùa làm. Xem thêm: Bình luận câu ca dao “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Lại gần hơn nữa mới biết hạt nặng trĩu bông làm nghiêng thân cây phủ lấp cả bờ nhìn xa dễ tưởng cả cánh đồng là một ruộng lúa khổng lồ không phân bờ, phân ruộng. Lá lúa nhiều ruộng vẫn còn xanh mà bông đã vàng xuộm lại. Có lẽ thấy bạn bè bên cạnh đã chín cả rồi, hạt sợ còn xanh sẽ lạc lõng quá ư?! Nhưng phần đa lá đã vàng ram ráp giục gọi người nông dân mang về làm rạ. Hạt lúa mẩy tròn đều đặn không phụ công người chăm bón suốt bấy nay. Nhìn sang tứ phía ta như được đứng giữa một biển vàng mênh mang rập rờn sóng dậy. Hương lúa chín cũng xoáy quanh theo hướng gió trong một không gian sóng sánh mật vàng. Tất cả gợi lên một cái gì ngây ngất say mê đến lạ. Chim sẻ, chim sâu gọi nhạu ríu rít sà xuống để rồi đứa chọn bé hạt, đứa chọn thằng sâu, loáng một cái lại vút lên miệng ngậm hạt mồi đập cánh sung sướng. Lúa rì rào cọ cọ vào cổ chân thì thầm ngôn ngữ của đồng quê giục người mang liềm, ôm đai đến đồng gặt hái.
Tôi. biết quê hương đã đổi mới nhiều, những cánh đồng lúa vàng đang và sẽ ít đi để nhường chỗ cho những khu nhà cao tầng hiện đại. Nhưng tôi cũng biết quê hương mình đi lên từ những mùa vàng như thế. Khoảnh khắc êm đềm của làng quê nhè nhẹ thấm vào lòng tôi nhắc nhở mình nhớ đến công sức của mẹ cha, nhớ đến cái đức hay lam hay làm của bà còn cô bác. Hành trang tôi mang theo vào đời sẽ có những mùa vàng long lanh, rập rờn sóng mật của quê hương.Xem thêm: Viết đoạn văn bình luận về quan niệm sống của nhà thơ Xuân Diệu được thể hiện qua đoạn thơ sau: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm... - Hời xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"! (“Vội vàng” - Xuân Diệu)Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩ, suy nghĩ của anh (chị) khi đứng trước một cánh đồng lúa chín | 743 | |
Cảm nghĩa về một người thân yêu nhất của anh (chị)
Gợi ý
Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào… Tình mẹ như núi cao, biển rộng, sông sâu. Mẹ lớn lao mà gần gũi và yêu thương biết mấy. Mẹ khồng chỉ là tuổi thơ với những câu hát ru ngọt ngào êm ả mà mẹ còn là cây cao bóng cả che chở cho suốt cuộc đời bé nhỏ của con. Riêng tôi, mẹ còn là tất cả bởi đời tôi chỉ có mẹ, tất cả những yêu thương cuộc đời dành cho tôi đều được hiện hữu bằng tình cảm của người phủ bóng xuông đời tôi. Với tôi, mẹ là nguồn sông, lẽ sống, là niềm tôn kính, là ước mơ để tôi vươn tới.
Cuộc đời lam lũ, vất vả hằn in lên dáng dấp của mẹ. Không phải ngẫu nhiên tôi nói người thân yêu nhất với tôi chỉ có mẹ. Tôi lớn lên xung quanh chỉ có mẹ và ngôi nhà của mẹ. Vậy thôi, ông bà tôi người còn người mất, nhưng những lúc tôi ốm đau, ngày đầu tiên tôi đi học và vô vàn những ngày trọng đại khác của đời mình đôi mắt non nớt của tôi chỉ in bóng hình gầy gò, xương xương của một mình mẹ. Dáng hình bé nhỏ ấy bao nhiêu năm nay từ ngày tôi con bé xíu cho đến khi trở thành một cô bé lớp 10 dường như vẫn không hề thay đổi. Điều ấy với tôi quan trọng lắm vì ngày bé, mỗi khi mẹ về muộn tôi lại chạy ra đường cái ngóng mẹ về. Khi nào nhìn thấy dáng vẻ quen thuộc của người gò mình trên chiếc xe đạp cũ kĩ chống chọi với cái hun hút của gió mùa đông bắc mặt tôi mới nở nang ra được chút xíu, không còn cau có, lo âu. Giờ đây, mỗi lần đi học về, đạp xe qua cánh đồng làng, thấy dáng mẹ lom khom cày cuốc tôi lại sung sướng nhìn đường sau trước, rẽ ào xe sang đường chạy về phía mẹ đợi người cùng về. Tôi tự hỏi tại sao cái dáng vẻ ấy sau bao năm không hề thay đổi? Cuộc sống gia đình có khác trước nhờ những đổi thay chung của xã hội nhưng so với xóm làng vẫn còn khó khăn, vất vả. Mẹ không trẻ lại trông cũng không mỏi mòn, hao gầy đi bao nhiêu. Đã có lần tôi ngây ngô thắc mắc với mẹ điều ấy. Người cười cười giễu cợt hỏi tôi: Vậy con mong mẹ già đi sao? Đùa tôi một chút rồi mẹ xùc động thủ thỉ với tôi: “Ngày xưa mẹ gầy gò, vất vả vì một mình nuôi con bé. Bây giờ dù cuộc sống vẫn khó khăn, thời gian chuyển dời nhưng mỗị ngày thấy con một lớn một khôn mẹ lại thấy sung sướng, vui vẻ, con chính là liều thuốc hoàn xuân cho mẹ”. Tôi không nói gì, chỉ im lặng rưng rưng và thấy mắt mình nhoè ướt.Xem thêm: Phân tích nhân vật Ngô Tử Văn – bài văn tuyển chọn
Tôi nhớ có một lần, khi ấy tôi học cấp một, bài tập đọc của tôi có tên là Bàn. tay mẹ. Tôi còn nhớ như in những câu văn trong bài tập đọc ấy: Bàn tay mẹ thô ráp, các ngón tay gầy gầy, xương xương. Và cũng mới gần đây thôi, tôi đọc một câu chuyện về cách tuyển nhân viên của một giám đốc. Người giám đốc hỏi ứng viên xem đã bao giờ anh ta rửa chân cho mẹ chưa và đề nghị người ứng viên trở về làm điều ấy rồi hãy đến xin việc. Người ứng viên trở về xin được rửa đôi chân của mẹ và anh ta đã bật khóc khi nhìn thấy đôi chân đen đúa, xương gầy vì bao năm trầy trật với đất đồng, sương gió. Tình yêu thương dành cho những người thân yêu nhất là cơ sở để con người biết yêu thương những điều khác quanh mình, trong đó có công việc. Tôi xúc động vô cùng trước những mẩu chuyện như thế. Và ngay từ những ngày nhỏ tôi đã luôn ngắm nhìn mẹ từ làn da nâu vàng mỗi năm thêm những vết nám sậm màu, mái tóc mỏng đi xơ vàng, đôi tay khô lại xương xương đến đôi bàn chân thâm đen vì nhựa cỏ. Dáng hình người toát lên sự lam lũ, tảo tần và ấp ủ một tình yêu thương khôn nguôi dành cho con cái.
Tôi lớn lên trong tình mẹ dạt dào như thế. Mẹ nói tôi là lẽ sống của mẹ nhưng cũng có một sự thật ngược lại như vậy nữa. Mẹ cũng là lẽ sống của đời tôi. Có một người mẹ như thế, thật đáng trách nếu ai đó không biết cố gắng để vươn lên, để những tình cảm dạt dào của người cứ mỏi mòn không biết đầu là bến bờ mấ dội tràn thâm ướt…Xem thêm: Bình luận về vấn đề giữ gìn vệ sinh Không chỉ yêu thương con cái, đảm đang tháo vát… mà mẹ tôi còn sống rất giàu tình nghĩa với hàng xóm, láng giềng. Điều đó khiến tôi không chỉ cảm động vô bờ về tình mẹ, yêu thương người khôn nguôi mà còn tự hào và khâm phục về mẹ nữa. Cuộc sống vất vả là thế nhưng mẹ luôn lạc quan tươi cười. Tình yêu thương dồn lại cho tôi, cơm áo gạo tiền phải chật vật, vất vả lắm mới gom góp được nhưng chưa bao giờ mẹ chối từ giúp đỡ một ai. Với hàng xóm láng giềng, mẹ tôi sống vui vẻ và hoà hợp rất mực. Tôi biết mẹ có những người hàng xớm tuyệt vời và bản thân người cũng là một người hàng xóm tốt của những người xung quanh. Nửa đêm tối tăm rét mướt, đang nằm trong chăn ấm nhưng nếu hàng xóm có chuyên mẹ sẵn sàng bật dậy sang giúp. Lại nữa, vụ mùa bận rộn, dù việc nhà có “ngập đầu” nhưng nếu có ai nhờ mẹ vẫn tranh thủ làm đồng giúp mọi người…
Mẹ tôi là thế. Bao năm qua không hề thay đổi. Người trở thành một biểu tượng vững vàng của tình yêu thương và nhân cách để tôi yêu thương, khâm phục, tự hào và tôi thờ.
Vanmau.edu.vn | Cảm nghĩa về một người thân yêu nhất của anh (chị) | 1,089 | |
Cảm nhận 12 câu đầu đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du
Bài làm
Cả cuộc đời trải qua biết bao thăng trầm sóng gió, Nguyễn Du đã đúc kết kinh nghiệm quý báu làm nên tiếng vang lớn cho hậu thế qua tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” hay còn gọi là Truyện Kiều. Dưới ngòi bút tài hoa, một xã hội thê lương tàn bạo bị chi phối bởi đồng tiền, đẩy con người đến tận cùng đau khổ được lột tả khéo léo thông qua thân phận người phụ nữ đó là nàng Thúy Kiều. “Trao duyên”, tuy chỉ là đoạn trích ngắn nhưng đã phản ánh những bất hạnh chân thực nhất trong cuộc đời của Thúy Kiều. Đấy là đoạn trích vô cùng ấn tượng và đặc sắc trong toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Du.
Thúy Kiều với Kim Trọng, một mối tình giữa quân tử và giai nhân tưởng đẹp đẽ nhưng cũng chỉ là hoa trong gương, trăng dưới nước. Gia biến ập đến, nàng Kiều phải buộc lòng từ bỏ đoạn duyên thề hẹn chưa kịp “phỉ nguyền” với Kim Trọng để đi lấy Mã Giám Sinh.
Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Vì đạo hiếu, Kiều bán mình chuộc cha thế nhưng nghĩ đến người mình yêu lại không đành lòng để chàng đau đáu ngóng trông, lại đành lòng trao duyên cho Thúy Vân. Đó là nỗi đau thương cắt từng khúc ruột, nỗi đau âm ỉ chua xót trải dọc suốt 12 câu đầu của đoạn trích “Trao duyên”. Mở đầu đoạn, khung cảnh trở nên não nề và trầm lắng khi Thúy Kiều mở lời cậy nhờ Thúy Vân
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Thúy Kiều, trên cương vị một người chị sao có thể cậy nhờ, lạy thưa với em? Xã hội thời xưa rất coi trọng tôn ti nhưng Nguyễn Du lại để Thúy Kiều sử dụng kính ngữ với Thúy Vân, đó là dụng ý vô cùng tài hoa của tác giả. Nguyễn Du sử dụng từ “Cậy” gửi gắm trong đó là sự tin tưởng, trân trọng và cả lòng biết ơn của Thúy Kiều đối với em gái khi gửi gắm lại mối duyên dang dở với Kim Trọng. “Cậy em em có chịu lời”, câu thơ vừa mang ý khẩn thiết cầu xin, nhờ vả trịnh trọng nhưng lại đặt Thúy Vân ở thế khó xử trước thỉnh cầu của người chị, đó như là sự gượng ép, càng khẳng định mối tình thâm của Thúy Kiều với Kim Trọng, không muốn vì chuyện của mình mà phụ lòng chàng Kim. Thúy Kiều hạ thấp vai vế của mình, đứng trên vị trí của người đi nhờ cậy “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. “Lạy” là hành động tôn kính, ghi ân thường chỉ có cha mẹ, thầy giáo mới có thể nhận, nhưng Kiều lạy em gái mình, đó là cái lạy đối với ân nhân. “Lạy rồi thưa”, ngôn ngữ sử dụng vô cùng trang trọng, như cái lễ ràng buộc khiến Vân không thể chối từ.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh
Sau khi sử dụng hàng loạt các hành động, ngôn ngữ trang trọng như vậy, Thúy Kiều mới giãi bày câu chuyện của mình với Thúy Vân, mong rằng em có thể thay chị yêu thương, chăm sóc, chắp tiếp đoạn duyên với Kim Trọng
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Duyên tình đến nửa chừng đứt đoạn, thành ngữ “đứt gánh tương tư” như một lời than cay đắng tưởng niệm mối tình không trọn. Sóng gió đã cướp đi hạnh phúc đáng lẽ thuộc về Kiều, để nàng chơ vơ giữa đoạn đường còn tình cảm, còn nhung nhớ ngập ngụa những khổ đau thống thiết khi phải xa lìa yêu thương. Chữ “tương tư” như tiếng sóng ngầm khắc khoải, day dứt mang theo cả tuyệt vọng. Tác giả còn sử dụng điển tích “keo loan” để mong muốn duyên sau với Thúy Vân sẽ bền chặt, mong rằng Thúy Vân sẽ bằng lòng nhận lấy đoạn duyên này. Thúy Kiều biết, đó là “mối tơ thừa”, là chuyện tình dang dở của mình nên em gái sẽ có phần thiệt thòi nên mới thốt lên từ “mặc”, ý rằng để Vân được tự mình định đoạt.
Gửi duyên cho Vân thế mà nỗi nhớ mong về ngày xưa năm cũ cứ thế mà trỗi dậy trong lòng Kiều, ký ức như một bộ phim tua lại, rõ ràng tràn đầy nhung nhớ giữa bể khổ trần ai.
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Từ “khi” điệp lại đến ba lần, mở ra từng mốc thời gian Thúy Kiều gặp được Kim Trọng, tất cả những kỷ niệm, vui mừng, đính ước, thề hẹn đều rõ ràng đến vậy. “Ngày quạt ước”, “đêm chén thề”, ngày và đêm, không gian và thời gian cứ như tuần hoàn liên tục, đó là khi họ bầu bạn đối thơ, ngắm trăng, uống rượu, trao nhau vật đính ước… Có bao giờ Kiều quên được điều đó, nỗi nhớ ấy như con dao khứa sâu, chỉ có thể lần cuối nhớ lại trong ký ức đẹp nhất, khi Kiều vẫn còn chưa thuộc về Mã Giám Sinh. Chắc gì về sau còn được cảm thấy hạnh phúc khi nhớ lại, có khi nó còn trở thành niềm day dứt, khổ sở và bi thương của nàng Kiều.Xem thêm: Bình luận về ý nghĩa của hình ảnh ngọc trai - giếng nước trong Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
Cảm nhận 12 câu đầu đoạn trích Trao duyên
Tiếp đó, Nguyễn Du khéo léo để Kiều nhắc lại “cơ sự cho nên nỗi này” để mối tình đẹp như hoa mộng của Kiều phải chia xa
Sự đâu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
“Sóng gió” ấy là phong ba ập lên đầu gia đình Kiều, cha và em bị bắt còn Kim Trọng phải về quê chịu tang, hai ngả hai nơi, một bên là hiếu, một bên là tình, thật vô cùng khó xử. Bán mình chuộc cha, phụ tình cảm thủy chung bấy lâu nay mà người thương hết lòng dành cho nàng. Vì tình phụ hiếu, sau này sao có thể ngửa mặt nhìn đời, đối diện với cha mẹ trong nhà, với dòng họ, tổ tiên. Làm thế nào, cũng khó có thể vẹn toàn. “Hai bề vẹn hai” đó là điều khó khăn nhất trong sự nguy ngập với tính mạng của cha và em. Đó mãi là câu hỏi đau đớn xoáy sâu vào lòng Kiều, nàng biết, không có cách nào vẹn cả đôi đường. Nỗi đau ấy đang ngày đêm làm Kiều khổ sở, Kiều như phơi bày ruột gan, bộc bạch tất cả nỗi niềm mong rằng Thúy Vân có thể hiểu lòng chị mà giúp cho tình duyên này không đến mức phải phụ lòng.
Hơn thế, Thúy Kiều còn dùng lý lẽ thích đáng để thuyết phục Vân có thể nhận lời
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Phải, Thúy Vân còn trẻ, năm tháng dài rộng, cho dù tình cảm với Kim Trọng khuyết thiếu có thể bù đắp còn hơn người chị đã rời xa. Từ “Xót” cùng với cụm từ “tình máu mủ” như chạm vào tình cảm huyết thống mà Thúy Vân có với Thúy Kiều, của chị cũng là của em, chúng ta là máu mủ ruột thịt hãy thương lấy nhau. Mong rằng Thúy Vân niệm tình máu mủ yêu thương lo toan bao nhiêu năm mà thay chị gánh vác lời thề “nước non” với Kim Trọng. Lý do Kiều đưa ra vừa hợp lý vừa hợp tình.Xem thêm: Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục
Không những vậy, nỗi lo sợ về cái chết không còn có cơ hội trở lại càng trở thành lý do thuyết phục hơn với Thúy Vân
Chị dù thịt nát xương mòn
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
Việc trả nghĩa trả tình cho Kim Trọng quan trọng hơn cả tính mạng của Kiều. Khi chết, con người trở về với cát bụi, không còn liên quan đến thế gian này nữa nhưng tâm nguyện của họ vẫn còn vang vọng đâu đây. Tâm nguyện của Kiều là mong mỏi em mình nối duyên với chàng Kim, chỉ có vậy nàng mới có thể “ngậm cười chín suối”. Câu thơ như là lời trăn trối của Kiều sợ rằng sau này không thể gặp lại được Kim Trọng. Cũng vì lấy cái chết, lấy tâm nguyện của một kẻ sắp chết nên lời thỉnh cầu càng thêm nặng khiến cho Thúy Vân không thể khước từ.
Tuy rằng lấy tên là “Trao duyên” nhưng đó lại là cái duyên ép uổng mà Thúy Kiều để lại cho em mình, đó là nỗi đau bất đắc dĩ vì chọn đạo hiếu cao hơn tình yêu mà Kiều phải chấp nhận. Xuyên suốt đoạn trích là sự oan ức, thống khổ, không nỡ chia lìa của Thúy Kiều. Cho dù để lại đoạn duyên chắp nối cho em, âu cũng là điều không đành lòng.
Bằng nghệ thuật độc đáo, ngôn từ bậc thầy, giọng thơ đi sâu vào lòng người, Nguyễn Du đã lột tả trọn vẹn nỗi đau và câu chuyện của Thúy Kiều khi gửi gắm mối duyên với Kim Trọng trong 12 câu thơ đầu đoạn trích “Trao duyên” (Đoạn trường tân thanh). Đó còn là tiếng kêu than về một xã hội thối nát, làm cuộc sống của người dân vô tội điêu đứng đồng thời là sự bất bình, lòng thương cảm cho thân phận của người phụ nữ đương thời mỏng manh như bèo nước, chịu nhiều oan trái khổ đau.
Ngọc Huyền | Cảm nhận 12 câu đầu đoạn trích Trao duyên của Nguyễn Du hay nhất | 1,677 | |
Cảm nhận 13 câu thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng
Bài làm
Nhắc đến tên tuổi của nhà thơ Xuân Diệu – ông vua của thơ tình, là hoàng tử của tình yêu. Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới, là nhà thơ bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi thơ ca phương Đông. Là nhà thơ bị ám ảnh bởi bước đi thời gian. Một trong những bài thơ tiêu biểu trong phong cách Xuân Diệu phải kể đến đó là bài thơ “Vội Vàng”, bông hoa đầu mùa đầy hương sắc rạng danh cả một tài thơ thế kỉ, được rút ra từ tập “Thơ Thơ”.Đến với 13 câu thơ đầu, thể hiện rõ ý tưởng vô cùng táo bạo và đầy lãng mạn của nhà thơ. Vì vậy mà Xuân Diệu được mệnh danh là “Ông hoàng thơ tình”
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.
Của ong bướm này đây tuần trăng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Bốn câu thơ mở đầu bài thơ, Xuân Diệu thể hiện ý tưởng vô cùng táo bạo và đầy lãng mạn. Cái tôi, cái khát vọng mãnh liệt “muốn tắt nắng” để gang màu đừng nhạt phai, “muốn buộc gió” để hương sắc đừng bay đi. Ước mơ được đoạt lấy, được nắm lấy quyền uy của vũ trụ. Ngưng đọng thời gian, ngưng đọng không gian, để nhà thơ có thể ngắm nhìn và tận hưởng. Nhà thơ đã lấy cái tôi chủ quan của mình để làm thay đổi được quy luật của tự nhiên. Muốn níu giữ thời gian làm ngưng đọng cả không gian. một ý tưởng táo bạo nhưng đầy lãng mạn. Điệp từ “Tôi muốn” làm nổi bật cái khát vọng mãnh liệt của cuốc ống bởi thiên nhiên mùa xuân đầy tươi đẹp và đầy sức sống.
“Của ong bướm này đây tuần trăng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”
Nghệ thuật được sử dụng trong 6 câu thơ trên là nghệ thuật điệp ngữ “này đây”, mang ý nghĩa là giải thích. Xuân Diệu tìm ra thiên đường ở ngay trên mặt đất, là mùa xuân của cuộc đời, là mùa xuân của sự sinh sôi nảy nở, mùa của cái mới, mùa của mọi vẻ đẹp, mùa của sắc xuân hoa lá. “Của ông bướm” kết hợp với cụm từ “tuần tháng mật” nó thể hiện vẻ đẹp của đôi lứa đang say sưa tình xuân. Hình ảnh “xanh rì” nó đem đến cho chúng ta đó là sức sống trải rộng lên bức tranh thiên nhiên mùa xuân của nhà thơ. Xuân Diệu liên tục sử dụng “này đây” phơi bày những vẻ đẹp của thiên nhiên, chỉ ra những vẻ đẹp của cuộc đời, phô bày những vẻ đầy mang đầy sức sống, nhựa sống mới. Là vẻ đẹp của “chim yến” “chim anh” từng đôi say sưa khúc tình si. Vừa là nghệ thuật liệt kê, vừa là nghệ thuật điệp ngữ, Xuân Diệu nhấn mạnh rằng vẻ đẹp của cuộc đời đó chính là mùa xuân.
“Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa”
Mỗi ngày trôi qua đối với Xuân Diệu là một ngày thực sự vui vẻ, hạnh phúc. Ông trân trọng từng giây từng của cuộc đời.
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Phải là nhà thơ hiểu về nụ hôn, phải là nhà thơ rất phương Tây, phải là nhà thơ rất mới như Xuân Diệu. Ông sử dụng “ngon” chuyển đổi cảm giác, ví một khái niệm thời gian là trìu tượng với một hình ảnh là “một cặp môi gần” . Xuân Diệu vẽ ra vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa xuân, thì ở ngay một câu thơ “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa” lại có hai luồng cảm xúc. Khi cảm nhận và giang cánh tay tận hưởng hết vẽ đẹp cuộc đời, là bức tranh thiên nhiên của mùa xuân, là những gì đẹp nhất của cuộc sống. “Nhưng vội vàng một nửa” đây là hai luồng cảm xúc đối lập nhau. Ngay khi đang sung sướng nhất, đang ở độ tuổi sung mãn nhất vậy mà nhà thơ Xuân Diệu đã biết tiếc nuối mùa xuân. Bài thơ này được viết khi Xuân Diệu còn quá trẻ vậy mà ông đã tiếc nuối tuổi thanh xuân. Một dấu chấm ngắt đôi câu thơ, để khẳng định hai luồng cảm xúc đối lập nhau. Xuân Diệu sung sướng khi tận hưởng tuổi thanh xuân nhưng cũng tiếc nuối vì tuổi thanh xuân không trở lại bao giờ.
“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Không chờ thời gian trôi qua, không chờ đến mùa hạ mới nhớ đến mùa xuân. Không chờ tuổi trẻ trôi qua mới biết tiếc nuối tuổi thanh xuân của mình.
Với nhịp điệu thơ gấp gáp, với bức tranh mùa xuân, với câu từ mới, chất liệu mới, thi liệu mới , với một cái tôi đầy bản lĩnh của Xuân Diệu. Ông đưa ra một lí lẽ một triết lí sống mới mà đến tận ngày hôm nay vẫn khiến cho những yêu văn chương phải thổn thức. Mặc dù Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng thơ tình nhưng ở đây Xuân Diệu lại không viết về tình yêu mà là viết về một lí lẽ sống, một quan niệm sống, một cách nhìn nhận về cuộc sống rất mới mẻ, rất Xuân Diệu. Hãy vội vàng, hãy luôn luôn sống và cháy hết mình với cuộc sống. Hãy luôn luôn sống để không phí phạm một phút một giây nào với cuộc đời này.
Xem thêm: Cảm nghĩ câu nói “Đèn nhà ai nấy rạng”- văn lớp 7 | Cảm nhận 13 câu thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng | 1,042 | |
Đề bài: Cảm nhận bài Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra của Trần Nhân Tông
Bài làm
Trần Nhân Tông là một nhà vua yêu nước, một vị anh hùng để lại nhiều tên tuổi của dân tộc ta. Ông có vai trò lớn, để lại nhiều chiến công trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm Nguyên Mông của nước ta.
Tác phẩm “Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” thể hiện tinh thần yêu nước của tác giả. Bằng ngôn ngữ, mộc mạc giản dị tác giả đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên vô cùng tươi đẹp, thông qua hình ảnh thiên nhiên đó tác giả muốn gửi gắm tình cảm của mình tới quê hương đất nước.
Với cương vị là một người đứng ở nơi cao nhất của đất nước, vua Trần Nhân Tông luôn gắn bó gần gũi với cuộc sống của những người nông dân khốn khó, vì vậy mà trong tác phẩm của mình tác giả thường thể hiện bằng lối viết vô cùng mộc mạc, giản dị gần gũi với người nông dân.
“Thôn tiền, thôn hậu đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên”
Dịch:
“Trước thôn, sau thôn, khí trời mờ nhạt như sương khói
Bóng chiều tà nửa không nửa có”
Thiên Trường chính là quê gốc của nhà vua Trần Nhân Tông, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay. Vì vậy, trong bài thơ này tác giả đã viết về chính quê hương của mình, nơi sinh ra lớn lên của tác giả.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Chấn Vũ canh gà Thọ Xương”
Cảnh vật gợi ra là cảnh chiều tà khi hoàng hôn dần dần buông xuống, khung cảnh hoàng hôn luôn gợi lên trong lòng người những nỗi buồn phiền, sầu muộn, gợi tả cảm giác cô liêu, đơn độc. Không gian bao la mênh mông được bao phủ bởi lớp sương khói mờ ảo.
Hình ảnh thiên nhiên trong thơ của tác giả hiện lên mơ màng, nhưng giản dị gần gũi, những đám sương lúc gần lúc xa, hư hư thực thực khiến tác giả như đang phiêu du vào chốn bồng lai tiên cảnh.
“Mục đồng địch lí ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền”
Dịch:
(Trẻ chăn trâu thổi sáo dẫn trâu về hết
Từng hàng cò trắng bay xuống ruộng)
Trong hai câu thơ này hình ảnh chú bé mục đồng, trẻ chăn trâu gợi cho tác giả những kỷ niệm về tuổi thơ nghèo khó, nhưng vui tươi hồn nhiên. Trong không gian bao la tiếng sáo vi vu, của những em bé chăn trâu, cắt cỏ khiến cho con người cảm thấy da diết nhớ. Tiếng sao chính là âm thanh phát từ tiếng lòng của tác giả. Nó chứa đựng những nỗi buồn xót xa thầm kín không biết tâm sự, dãi bày cùng ai.
Trong hai câu thơ này hình ảnh thiên nhiên và con người như đan xen, giao hòa làm một tạo thành một bức tranh đầy đủ và vô cùng sinh động tạo nên những cảm xúc thân thuộc, gắn bó gần gũi với người đọc, bởi nếu ai xuất phát từ những miền quê thì đều rất quen thuộc với hình ảnh con trâu, tiếng sáo, những đồng cỏ mênh mông xanh mướt vào những buổi chiều tà.Xem thêm: Chứng minh rằng bộ sách Ngữ văn 7 là những cuốn sách hấp dẫn và bổ ích
Như vậy, bài thơ “Đứng ở phủ Thiên Trường trông ra” của tác giả đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên về cảnh đồng quê Việt Nam vô cùng tươi đẹp, vừa con cảnh thiên nhiên hữu tình, có con người, tiếng sáo, có bóng dáng lao động miệt mài…Thể hiện sự tinh tế trong quan sát của nhà thơ Trần Nhân Tông. Đồng thời thể hiện sự nặng tình nghĩa của tác giả với mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình.
Nguồn: Tài liệu văn mẫu | Cảm nhận bài Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra của Trần Nhân Tông- văn lớp 7 | 664 | |
Cảm nhận bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng Sen
Hướng dẫn
Trong kho tàng văn học Việt Nam, ca dao vẫn chiếm vị trí quan trọng. Đó là khúc hát chứa chan tình nghĩa đầy chất thơ, ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn con người đã bộc lộ trọn vẹn trong bài ca dao nổi tiếng như sau:
“Trong đầm gì đẹp bàng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Trong xúc cảm dạt dào, câu ca dao mở đầu nhẹ nhàng:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen”.
Ao, hồ, dầm ở làng quê Việt Nam có rất nhiều loài hoa và cây cỏ khác nhau. Mỗi loài mang vẻ đẹp riêng nhưng không có loài hoa nào so dược với hoa sen. Đây cũng chính là loài hoa em yêu thích nhất. Bằng cách so sánh, ta có thể khẳng định vẻ đẹp của sen trội hơn các loài hoa khác.
“Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”.
Đọc câu thơ, em như thấy dược bông sen từ ngoài vào trong: Lá, bông, chen nhị vàng. Lời thơ giản dị, bộc trực, với từ chỉ màu sắc: “Xanh, trắng, vàng”, khắc họa hình ảnh bông sen pha trộn nhiều màu sắc hài hòa, trong sáng. Miêu tả tỉ mỉ từng chi tiết: lá màu xanh có bông trắng, giữa bông có nhị vàng tô điểm vẻ đẹp. Nét vẽ tả thực nên có màu sắc tươi mát tinh khiết của loài sen. Nhạc điệu của bài ca dang xuôi dòng như một dòng sông êm ả, bỗng trở nên xao động:
“Nhị vàng bông trắng lá xanh”.
Đằng sau vẻ đẹp của loài sen là tấm lòng tự hào ngưỡng mộ say sưa của tác giả khi ngắm nhìn vẻ đẹp từ ngoài vào trong rồi lại từ trong ra ngoài. Người bình dân như muốn thưởng thức muốn tận hưởng vẻ dẹp hài hòa trọn vẹn tuyệt vời của nó. Nếu đảo ngược lại trật tự câu thơ, âm diệu cũng không nhẹ nhàng như câu trước mà càng xao động hơn: Đây là nỗi xúc dộng trước giá trị cao quí của bông sen:
Xem thêm: Hình ảnh con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã được thể hiện sinh động thông qua các nhân vật: ông Hai (Làng - Kim Lân), người thanh niên, ông Sáu và bé Thu (Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng), ba cô gái thanh niên xung phong“Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Thật đáng quý biết bao! Đã là sen thì vẫn giữ được tính chất tinh khiết giữa nơi đầm lầy dơ bẩn và khẳng định bản chất trong sạch tuyệt vời: ở nơi bùn lầy mà vẫn tỏa hương thơm ngào ngạt. Và từ dó em có cảm nghĩ là cả bài ca dao như tỏa hương thơm để ca ngợi hoa và ca ngợi con người vùng thôn dã. Dù sống trong hoàn cảnh nào cũng luôn giữ mình trong sạch, sống thanh cao giống như bài ca dao: “Con cò mà đi ăn đêm”:
“Con cò mà đi ăn đèm
. ;..
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.
Bài ca dao về cây sen và bài ca dao về con cò gợi cho em liên tưởng đến đức tính cao dẹp của con người Việt Nam đang sống giữa cuộc sống đầy phức tạp nhưng luôn luôn giữ cho mình phẩm chất đáng quý. Những cuộc chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng ta, biết bao người nằm xuống, biết bao thế hệ tiếp nối đứng lên nối tiếp, bao nhiêu gian khó nhưng lòng kiên trung không hề đổi thay. Lửa thử vàng gian nan thử sức, mặc dù vẫn còn có những người “gần mực thì đen”, chạy theo danh vọng đồng tiền túi bạc, mất đi phẩm chất cao quý của dân tộc.
Bài ca dao là bức tranh phong cảnh hữu tình, chẳng những bộc lộ vẻ đẹp tuyệt vời của sen mà còn toát lên được giá trị cao quý của nó. Cũng chính là giá trị tuyệt vời của tâm hồn thanh cao của nhân dân ta.
Em tự hứa với lòng mình là sẽ luôn luôn giữ vững phẩm chất tốt dẹp này:
“Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
Nguồn: thêm: Hãy giới thiệu nội dung và trình bày cảm nhận của em về lời dạy của Bác Hồ dành cho thiếu nhi Việt Nam: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không... chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu" | Cảm nhận bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng Sen | 803 | |
Cảm nhận bài thơ Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi
Hướng dẫn
– Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng, nhà quân sự thiên tài, nhà ngoại giao xuất chúng, nhà văn hóa, nhà thơ lỗi lạc. Ông đã để lại cho các thế hệ sau được chiêm ngưỡng những vần thơ kiệt xuất lúc bấy giờ trong đó không thể không nhắc đến bài thơ “Côn Sơn Ca”.
– Côn sơn ca vừa là bài ca thiên nhiên vừa là bài ca tâm trạng. hai ý hòa quyện thống nhất trong cảm xúc của thi nhân. Đoạn trích miêu tả cảnh đẹp thiên nhiên nhưng vẫn thấm nhuần ý vị trữ tình của tâm trạng
– Đoạn mở đầu bài Côn Sơn ca đem đến cho người đọc bao cảm nhận mới mẻ về tâm hồn thi sĩ của Ức Trai. Trong cảm xúc của ông, cảnh trí Côn Sơn hiện ra thật thơ mộng và lãng mạn: có tiếng suối chảy rì rầm, có đá rêu phơi êm ái, có rừng thông mọc rậm, dày, có rừng trúc xanh mát…, vừa có cái hoang dã của thiên nhiên, vừa có hơi ấm của cuộc sống đầy ắp tình người.
“Côn Sơn hữu tuyền,..
..Ngô dĩ vi đạm tịch”
+ Hình ảnh thơ là âm thanh, là màu sắc gắn liền với cảm giác, với tâm hồn nhà thơ bằng những liên tưởng vô cùng thiết tha, đằm thắm:
“Trong ghềnh thông mọc như nêm,…
…Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”.
+ Việc miêu tả rõ nét thiên nhiên côn sơn cho ta thấy được một tấm lòng hiểu và yêu thiên nhiên quê hương biết nhường nào
+ Mấy chục năm trời loạn lạc, li hương, không đêm nào Ông không nằm mộng nhớ quê, nhớ luống cúc vườn cũ:
Xem thêm: Em hãy đọc bài thơ Gọi bạn (Định Hải) rồi kể lại thành bài văn xuôi“Tưởng nhớ vườn nhà ba rặng cúc,
Hồn về đêm vẫn gửi chiêm bao”.
+ Tình yêu thiên nhiên sâu nặng đến mức thi nhân sợ bóng hoa tan mà không dám quét nhà:
Hé cửa, đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên, ngày đợi bóng hoa tan
+ Bức tranh Côn Sơn không chỉ được Nguyễn Trãi cảm nhận qua thị giác, thính giác mà còn cả bằng trái tim thiện nguyện. người đọc cảm nhận cái ‘tâm’ trong sáng và cái tài độc đáo của thi nhân qua bài thơ này
– Côn Sơn cacòn hàm chứa triết lí về cuộc đời của ức Trai. Trước hết Ông nói về giàu sang phú quí, bần tiện, vinh và nhục ở đời
Muôn chung chín vạc làm gì,..
..Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan”.
+ Sự chiêm nghiệm của nhà thơ thấm một nỗi buồn mênh mông, khi tóc đã bạc, chỉ còn biết làm bạn với mây núi, tráng ngàn
+ Gần trọn cuộc đời lo cho dân, cho nước nhưng những năm cuối đời ông phải sống trong cái cảnh ghen ghét, đố kị của đám nịn thần. Vì thế ông trở về với Côn Sơn như con chim sổ lòng trở về với quê mẹ thân thương
+ Bên trong tâm hồn Nguyễn Trãi lúc nào cũng “đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông” lo dân thương nước
– Bài ca Côn Sơn cho ta thấy một sự giao hòa tuyệt vời giữa Nguyễn Trãi với cảnh vật Côn Sơn. Sự giao hòa đó vừa nói lên nhân cách thanh cao, vừa nói lên phẩm chất thi sĩ lớn lao của Nguyễn Trãi
– Nguyễn Trãi làm cho tâm hồn bạn đọc càng thêm xao xuyến, bồi hồi và càng thêm gắn bó với từng mảnh vườn, góc phố quê hương
Nguồn: thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong ‘Chinh phụ ngâm khúc’ | Cảm nhận bài thơ Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi | 614 | |
Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43)
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
VỀ NỘI DUNG.
1. Vẻ đẹp của cảnh ngày hè được gợi tả trong bài thơ
– Bài thơ miêu tả khung cảnh thiên nhiên vào thời điểm cuối cùng của một ngày (lầu tịch dương). Nhưng cảnh không vì thế mà trở nên úa tàn sức sống. Sự sống vẫn như một mạch ngầm từ bên trong, vẫn đang ứa căng, vẫn tràn đầy, vẫn rạo rực muốn phô bày hương sắc và âm thanh. Điều này được thể hiện rất rõ qua việc tác giả sử dụng những động từ mạnh: giương, phun, nhằm diễn tả mạch sống của muôn vật như không thể kìm lại được, cứ tuôn trào ra hết lớp này đến lớp khác.
– Sức sống ấy, mạch sống ấy được cụ thể hóa bằng sự kết hợp, đan cài nhuần nhị, tinh tế giữa đường nét, màu sắc, âm thanh, con người và cảnh vật: màu lục của lá làm nổi bật màu đỏ của hoa thạch lựu, ánh mặt trời buổi chiều như dát vàng lên những tán hòe xanh. Tiếng ve inh ỏi — âm thanh đặc trưng của mùa hè, hòa cùng tiếng lao xao chạ cá – âm thanh đặc trưng của làng chài.
2. Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi
– Yêu thiên nhiên: Qua bức tranh thiên nhiên sinh động và giàu sức sống, chúng ta thấy được sự giao cảm mạnh mẽ nhưng tinh tế của nhà thơ đối với cảnh vật. Thi nhân đã đón nhận cảnh vật với nhiều giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác và cả sự liên tưởng. Tác giả biết hòa màu sắc, âm thanh, đường nét theo quy luật của cái đẹp trong hội họa, trong âm nhạc, làm cho bức tranh thiên nhiên vừa có hồn, vừa gợi tả, vừa sâu lắng.Xem thêm: Trong văn bản Côn sơn ca của Nguyễn Trãi (Ngữ văn 7) tác giả từng ca ngợi "thú lâm tuyền". Niềm vui đó của Nguyễn Trãi có gì giống và khác với Hồ Chí Minh trong bài Tức cảnh Pác Bó– Yêu dời, yêu cuộc sống: Thiên nhiên qua cảm xúc của thi sĩ trở nên sinh động, đáng yêu và đầy sức sống. Và để nắm bắt được vẻ đẹp của muôn vật, tâm hồn nhà thơ phải yêu đời, yêu cuộc sống biết bao. Câu thơ mở đầu của toàn bài đã hé mở cho người đọc hiểu được phần nào tâm thế của tác giả khi thưởng thức cảnh ngày hè, đó là tâm hồn thanh thản, thảnh thơi vào một ngày nhàn rỗi. Cho nên chúng ta có thể lắng nghe được trong thanh âm tiếng ve dắng dỏi, trong tiếng lao xao chợ cá là tiếng nhạc lòng rộn ràng, vui tươi của chính Nguyễn Trãi khi được thưởng ngoạn khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, khi được chứng kiến cảnh sống, sinh hoạt hạnh phúc của muôn dân.
– Yêu nhăn dân, dốt nước: Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên nhưng trên hết vẫn là tấm lòng của ông tha thiết với con người, với dân, với nước. Nhìn cảnh sống của dân, đặc biệt là người lao động – những dân chài lam lũ – được yên vui no đủ, Nguyễn Trãi ước có được chiếc đàn của vua Thuấn để gảy khúc Nam phong ca ngợi cảnh: Dân giàu đủ khắp đòi phương.
VỀ NGHỆ THUẬT.
1. Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, tự nhiên
Đọc bài thơ, chúng ta hầu như không thấy sự ngăn cách bởi hàng rào ngôn ngữ (tuy vẫn có một sô’ từ cổ). Tiếng Việt trong thơ ông cách ta hơn 600 năm rồi mà có câu nghe vẫn mới vẫn hiện đại: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ”. Bên cạnh đó còn là những từ láy nôm na, bình dị mà giàu sắc thái biểu cảm: đùn đùn, lao xao; những động từ quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân: phun, giương.
2. Sử dụng câu thơ lục ngôn trong bài thất ngôn bát cú Đường luậtXem thêm: Phân tích truyện Tấm Cám.– Thơ Nôm Đường luật Nguyễn Trãi thường có sự đan xen câu thơ lục ngôn (sáu chữ) vào bài thơ thất ngôn (bảy chữ). Nhìn chung, những câụ thơ lục ngôn do bớt đi một chữ nên ngắn gọn về hình thức, hàm súc về nội dung, thường cô đọng ý tình của bài thơ.
– Câu kết trong bài thơ Cảnh ngày hè là một câu sáu chữ ngắn gọn, thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài. Đọc bài thơ, chúng ta khám phá ra nhiều phương diện của vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi. Nhưng điểm sáng nhất trong tâm hồn bậc đại thi hào dân tộc vẫn là tình yêu thương nhân dân. Nhà thơ có cả một ngày trường thư thái để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng tấm lòng thì vẫn ở nơi người dân. Nguyễn Trãi mong cho dân được ấm no, hạnh phúc: dân giàu đủ, nhưng đó phải là hạnh phúc cho tất cả mọi người, mọi nơi: khắp đòi phương, đúng như ước nguyện của ông trong Tự thán — bài 10: “Ngoài chưng phận ấy cầu đâu nữa — cầu một: ngồi coi đời thái bình”.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới – bài 43) | 894 | |
Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn trãi.
Hướng dẫn
Cảnh ngày hè là bài thơ đặc trưng nhất cho nội dung và nghệ thuật của Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Bài thơ phác họa lên một bức tranh ngày hè với vẻ đẹp độc đáo, đặc sắc. Thể hiện tâm hồn chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của nhà thơ. Bài thơ bình dị, tự nhiên, câu thơ lục ngôn xen thất ngôn, từ ngữ có sức miêu tả sinh động…
Rất nhiều tác phẩm thể hiện tài năng đa dạng, phong phú của Nguyễn Trãi, trong đó tập thơ chữ Nôm Quốc âm thi tập là tập thơ đáng chú ý. Được sáng tác không liên tục từ thời trẻ, hồi chưa đỗ đạt, lưu lạc cho đến lúc ông làm quan to, công thành danh toại và khi về già bị biếm trích, ở ẩn Côn Sơn… Có thể nói rằng tập thơ mang chứa không biết bao nhiêu nỗi lòng, tâm sự của Nguyễn Trãi. Dẫu vậy, khép lại Quốc âm thi tập nổi bật hơn cả, đó vẫn là một tình yêu nồng đượm tha thiết với thiên nhiên, đất nước thể hiện triết lý sống mà suốt đời tác giả luôn theo đuổi.
Ông luôn coi trọng đến sự ấm no, hạnh phúc của người dân, tâm niệm của ông được thể hiện trog từng câu chữ. Điểm đáng chú ý ở bài thơ trước hết thể hiện sự sáng tạo của tác giả trong việc sử dụng và cách tân thể thơ thất ngôn bát cú Trung Quốc. Việc giữ lại số lượng câu chữ của thể thơ này nhưng xen thơ sáu chữ ở câu một và câu tám thể hiện sự sáng tạo, ý thức trân trọng đối với ngôn ngữ và văn hóa dân tộc,chính là tấm lòng với đất nước, quê hương. Nguyễn Trãi suốt đời đau đáu một hoài bão lớn: làm gì để “yên dân”, người dân lầm than khổ cực được yên vui, an lành, no ấm, hạnh phúc trong “nền thái bình muôn thuở”. Đáng tiếc, quan lộ của Nguyễn Trãi không mấy yên ổn, nên ông không có đủ cơ hội đem tất cả chí hướng và tài năng của mình cống hiến cho nước, cho dân. Khi đã không còn được trọng dụng, đã lui về bầu bạn cùng thiên nhiên trong sạch và tràn đầy sức sống, lòng Nguyễn Trãi vẫn không nguôi hướng về cuộc đời sôi động còn bao nỗi cay đắng, bất công, vẫn thiết tha mong muốn lại được mang tài trí của mình ra giúp đời giúp nướcXem thêm: Chứng minh rằng: Với bài thơ Ông đồ Vũ Đình Liên đã chạm được vào những rung cảm tâm linh của giống nòi nên nó còn tha thiết mãi
Mở đầu, như thường lệ của kết cấu thể thơ thất ngôn bát cú, Nguyễn Trãi giới thiệu tâm cảnh sáng tác của mình:
"Rỗi, hóng mát thuở ngày trường"
Trong cảnh đất nước đang rơi vào cảnh lầm than, mục nát, một vị quan chính trong triều như Nguyễn Trãi lại nhàn hạ, rảnh rỗi đến lạ thường. Rõ ràng với con người ông, bài thơ chắc chắn ra đời trong hoàn cảnh đau đớn nhất của Nguyễn Trãi, hoàn cảnh của một giai đoạn mà Nguyễn Trãi bắt buộc phải cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn. Khác với Nguyễn Du về sau, Nguyễn Trãi là con người sinh ra để hành động. Thế mà lúc này, con người hành động ấy phải nói:
"Rỗi, hóng mát thuở ngày trường… "
Chỉ bằng một câu thơ đơn giản, nhà thơ đã bày tở được tâm trạng bế tắc, một tâm tư trĩu nặng với dân với nước của ông.Thế nhưng nhìn ở khía cạnh tinh thần, Nguyễn Trãi không phải là kẻ bi quan, yếm thế. Nghị lực, niềm tin đã được mài dũa từ thời kì nếm mật, nằm gai đã giúp ông vượt lên hoàn cảnh, số phận. Ông vẫn nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước. Vẻ đẹp của người dân đáng lẽ là sung túc, ấm no hơn nữa trong buổi thái bình. Vẻ đẹp ấy giúp chúng ta khẳng định rằng, ông không chỉ là một nhà quân sự, một bậc khai quốc công thần, ông còn là một nghệ sĩ lớn. Người nghệ sĩ ấy đã vượt lên những nỗi buồn để tái dựng một bức tranh mùa hè đầy màu sắc, đầy những thức vị điển hình. Hình ảnh cây hòe tán rợp trương, hình ảnh lửa lựu lập lòe đơm bông (Kiều). Trong:Xem thêm: Phân tích bài thơ Thương vợ của Tú Xương
"Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ"
Một loài hoa đẹp sen hồng, tiêu biểu của mùa hè, tỏa hương…được chú ý trong tâm trạng phẫn uất của tác giả, tất cả tạo nên một bức tranh mùa hè đầy màu sắc, thể hiện khả năng cảm nhận thấu đáo của người nghệ sĩ khi họa bút. Ở đây, khi họa bút rất nhiều giác quan được vận dụng. Từ thị giác (sắc màu, hình ảnh) đến khứu giác (hương hoa), thính giác (âm thanh):
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương"
Tất cả làm nên một khúc cầm đầy những cung bậc về một mùa hè trong cảm nhận của người nghệ sĩ. Thế nhưng, riêng đối với nhân cách của Nguyễn Trãi, sẽ rất phiến diện khi ta chỉ dừng lại ở đó trong Cảnh tình mùa hè. Vượt lên trên tất cả là tấm lòng thơ vẫn tình đời thiết tha của ông. Cảnh đẹp đã mở ra trong lòng Nguyễn Trãi một nỗi day dứt, một ước vọng:
"Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
Ông coi thiên nhiên, con người là những người bạn, mang lại niềm vui cho ông, nhưng hơn thế ông còn khao khát hành động để giúp đời giúp nước. Niềm khao khát ấy thể hiện ở ước mơ có được cây đàn của vua Thuấn để ca ngợi cảnh thái bình, hay nói đúng hơn, đó là ước mơ: làm sao có được một triều đại thái bình thịnh trị như đời Nghiêu Thuấn để nhân dân muôn nơi được sống trong sung sướng,Xem thêm: Bài học mà anh (chị) rút ra được từ Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy
Ông ao ước tất cả mọi người dân trên đất nước đều có cuộc sống ấm lo hạnh phúc. Nguyễn Trãi không nói tiếp nhưng ta hiểu được nỗi lòng của ông trong chữ lẽ có. Đáng lẽ điều ấy sẽ là hiện thực nếu triều đình nhà Lê bấy giờ cùng một mối đồng tâm. Đằng này, việc tranh giành quyền lợi, ham quyền cố vị, lục đục… của họ đã khiến điều ấy – sự ấm no, sung túc của người dân – còn rất mờ mịt. Cảm động, nhân văn biết bao tấm lòng của Nguyễn Trãi. Tấm lòng nhân dân, dân vi bản (lấy dân làm gốc) ấy canh cánh mãi bên lòng ông, theo đuổi ông trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi lúc. Tấm lòng ấy hiện hữu cả khi Nguyễn Trãi là kẻ thưởng ngoạn thiên nhiên. Đọc hết Cảnh tình mùa hè không nghi ngờ gì nữa khi khẳng định rằng: Nguyễn Trãi không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa, ông còn là một nhân cách lớn của kẻ suốt đời vì dân vì nước.
Nguyễn Trãi đã sống cách chúng ta qua nhiều thế kỉ nhưng những gì ông để lại thì có ý nghĩa cho đến mãi mãi về sau. Qua bài thơ “ Cảnh ngày hè”, tấm lòng của ông đối với dân với nước được bộc lộ thật chân thành và cao cả, ông đúng là một trong những anh hùng vĩ đại của dân tộc.
Nguồn: | Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi. | 1,325 | |
Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè
Gợi ý
Hướng dẫn
Cảnh sắc thiên nhiên ở đây được đón nhận bằng nhiều loại giác quan:
Thị giác: Hòe lục đùn đùn tán rợp giương,
Thạch lựu hiển còn phun thức đỏ.
Thính giác: Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.
Khứu giác: Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.
Cảnh được gợi lên thật sống động như đang hiện ra, đang phát lộ ngay trước mắt người ngắm cảnh. Đó là cảnh cuối mùa hè khi mà những cây hòe màu xanh vẫn chưa thôi sức lớn, tán cứ đùn đùn liên tục giương rộng ra, che rợp thêm, khi mà hoa lựu ngoài hiên vẫn đang mùa còn “phun” màu đỏ độc đáo. Cảnh chợ cá và cảnh ve kêu chiều hè râm ran, náo nhiệt; sáu trăm năm trước, cảnh cuối hè cho đến bây giờ vẫn chưa thay đổi là bao! Dễ gì tìm được bài thơ miêu tả cảnh cuối hè hay hơn, sống động hơn bài thơ Nôm này của Nguyễn Trãi.
– Cuộc sống trong quang cảnh chợ búa thật nhộn nhịp, giàu có, yên vui. Đó là cảnh làng cá bước vào buổi chợ với những mẻ bội thu, cảnh mua bán ồn ào, tấp nập… Không có một dấu hiệu gì của sự trì trệ, lộn xộn, của sự ngặt nghèo, thiếu đói. Đúng là cảnh đời thái bình thịnh trị, rất đáng gảy lên khúc Nam phong thời Ngu, Thuấn.Xem thêm: Anh (chị) hãy thuyết minh về đại thi hào dân tộc Nguyễn Du– Tâm hồn Nguyễn Trãi thảnh thơi, sự thảnh thơi hiếm có giữa những trang thơ Nôm của ông. Nhà thơ vui với cái vui của người lao động, vui chân thật bình dị. Nhà thơ thả hồn mình đón nhận cuộc sông bằng mọi giác quan. Nhà thơ lạc quan với cuộc sống thiên nhiên đang cựa quậy vươn lên đầy sức sống, đang phát triển tràn ngập màu xanh và đầy ắp đời thường no đủ.
– Thơ Nôm Nguyễn Trãi thường cổ kính khó đọc. Nhưng khi chịu khó đọc và hiểu rồi thì yêu xiết bao! Bài Bảo kính cảnh giới này không hề khô khan một chút nào, trái lại, đầy ắp những chi tiết hình ảnh tươi mát. Sáu trăm năm một bông hoa còn tươi đến giờ vẫn đang độ nở “đùn đùn tán rợp giương” trong tâm hồn nhà thơ Nguyễn Trãi, trong lớp trẻ học đường hôm nay.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận bài thơ Cảnh ngày hè | 415 | |
Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài)
Gợi ý
HƯỚNG DẪN
1. Tỏ lòng (Thuật Hoài) gần đồng nghĩa với ngôn chí nên Hồ Nguyên Trừng (1374 – 1446) trong sách Nam Ổng mộng lục đã gọi tên bài thơ này là Thi chí công danh (Bài thơ nói về chí công danh). Ở loại thơ ngôn chí nói chung, thường có sự kết hợp giữa biểu cảm và lập luận (đôi khi mang tính chính luận). Riêng ở bài này, còn có sự kết hợp với yếu tố miêu tả trong hai câu đầu.
Đây là một bài thơ hết sức hàm súc, cô đọng. Muốn tìm hiểu được đúng và sâu ý nghĩa của bài thơ, không chỉ phải đặt nó vào trong bối cảnh của thời điểm lịch sử hừng hực khí thế chuẩn bị chông cuộc xâm lược của quân Mông – Nguyên lần thứ hai mà còn phải đọc kĩ các chú thích, suy ngẫm kĩ về các hình ảnh có tính chất biểu tượng trong bài thơ. Dù chỉ có 4 câu, bài thơ đã thể hiện khá đầy đủ đặc điểm thi pháp của thơ ca trung đại.
2. Về hai câu thơ đầu:
Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
(Hoành sóc giang sơn khớp kỉ thu,
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu)
a) Chữ “sóc” (ngọn giáo) có bản phiên âm là “sáo”. Giáo là vũ khí phổ biến nhất của quân sĩ ngày xưa nên ở đây còn chỉ “khí giới” nói chung (liên hệ với câu thơ đã học của Trần Quang Khải ở Ngữ văn 7: “Đoạt sóc Chương Dương độ” trong bài Phò giá về kinh..).
Câu đầu tiên khắc họa hình ảnh kì vĩ, khí phách hào hùng của người võ tướng, trước hết là của bản thân Phạm Ngũ Lão, song cũng là của cả đội ngũ tướng lĩnh.
Về sức mạnh diễn tả và ý nghĩa biểu cảm của cụm từ “non sông” (giang sơn), cần đọc kĩ lời bình của Giáo sư Đinh Gia Khánh ở phần Kiến thức bổ trợ để thấy nó đã thể hiện được “tầm vóc hoành tráng, tư thế vững chắc” của dân tộc ta lúc bấy giờ như thế nào.
Về ba từ “kháp kỉ thu” (chẵn mấy thu), đã từng có hai cách lĩnh hội và cảm nhận. Có ý kiên cho rằng, “chẵn mấy thu nói về thời gian còn ngắn ngủi”. Ỹ kiến khác lại cho rằng: “kháp kỉ thu” là “nói về một thời gian dài”: thứ nhất, “thu” vốn là cách dùng hoán dụ để chỉ “năm” nhưng trong văn chương lại thường gợi lên một thời gian xa xăm, vời vợi (nghìn thu, thiên thu, ba thu…): thứ hai, chữ “kỉ” (mấy, một số, một vài) vốn chỉ một số lượng hạn chế, nhưng trong văn cảnh, lại có khi gợi lên một số lượng nhiều, vô định (so sánh với chữ kỉ trong câu thơ cuối ở bài Cảm hoài của Đặng Dung: “Kỉ độ long tuyền đái nguyệt ma”). Đặt cụm từ trong văn cảnh cụ thể – vị trí của cụm từ chỉ thời gian này (kháp kỉ thu’) ở ngay sau cụm từ chỉ không gian (giang sơn) – có lẽ cách hiểu thứ hai hợp lí hơn. Hiểu như vậy sẽ thấy hình ảnh của người võ tướng đẹp hơn, hoành tráng hơn. Học sinh có quyền phát biểu cảm nghĩ riêng của mình.Xem thêm: Phân tích tác phẩm: Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn.
b) Câu thứ hai khắc họa hình ảnh, thể hiện khí thế của toàn quân. Ớ thời Xuân Thu (Trung Quốc), chỉ có nước lớn mới được phép thiết lập “tam quân”. Chẳng hạn, ở nước Tần, đặt trung quân, thượng quân, hạ quân, tướng của trung quân làm thông soái; ở nước Sở, đặt trung quân, tả quân, hữu quân, lấy trung quân làm chủ lực. Cho nên, dùng cụm từ “tam quân”, không chỉ thể hiện được khí thế của toàn quân mà còn hàm ý “nước ta không hề nhỏ bé”. Bản thân cụm từ tì hổ (hổ báo) đã chỉ sự dũng mãnh; sự dũng mãnh đó lại được nâng cấp tột bậc nhờ cụm từ “khí thôn ngưu” đứng sau. Xưa nay có hai cách hiểu về cụm từ này. Cách thứ nhất cho “khí thôn ngưu” là “hổ báo, con non tuy chưa có vằn mà đã có khí thế nuốt trâu” (sách giáo khoa); cách thứ hai cho “ngưu” ở đây không có nghĩa là “trâu” mà là sao Ngưu, tức sao Khiên Ngưu hay sao Ngưu Lang và “khí thôn ngưu” là cách nói gọn của “khí thôn Ngưu Đẩu”. Ngưu và Đẩu là hai sao rất sáng trong “nhị thập bát tú”, tượng trưng cho các vì tinh tú nói chung. “Nuốt cả hai sao Ngưu, Đẩu”, cũng là cách nói khoa trương như “khí nuốt trâu” song tất nhiên mạnh mẽ, hoành tráng, kì vĩ hơn rất nhiều. Tiếng Trung Quốc có hàng loạt thành ngữ có cấu trúc và ý nghĩa tương đồng với thành ngữ này: “khí xung Ngưu Đẩu” (khí xông lên sao Ngưu, sao Đẩu), “khí thôn hà sơn” (khí nuốt cả núi sông), “khí thôn hồ hải” (khí nuổt cả biển, hồ), “khí thôn hồng nghê” (khí nuốt cầu vồng)… Không phải ngẫu nhiên mà Đặng Minh Khiêm, nhà thơ thế kỉ XVI đã dùng câu thơ “Ngang giáo nuốt sao Ngưu" để miêu tả hình ảnh Phạm Ngũ Lão.Xem thêm: Từ những hiểu biết về truyện cười, anh (chị) hãy kể lại một câu chuyện đáng cười mà mình đã đọc hoặc đã gặp trong cuộc Chúng tôi cho rằng cách hiểu sau có lí hơn, tuy nhiên học sinh có quyền nêu cách lí giải và cảm thụ riêng của mình, cần lưu ý là hiểu theo cách nào thì đây cũng là lối nói khoa trương mang ý nghĩa biểu tượng và hai ý nghĩa này không hề mâu thuẫn nhau về bản chất.
3. Về hai câu thơ sau:
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
(Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu).
a) Không nên phân tích ý nghĩa từng câu một vì hai câu tạo nên một chỉnh thể. Chủ đề “Xấu hổ khi nghe người ta nói chuyện Vũ hầu” không phải là một cá nhân nào, cũng không phải là bất cứ ai mà chỉ là những kẻ “nam nhi chưa trả được nợ công danh”. Đây là phương thức trữ tình gián tiếp: nhắc nhở tình trạng chưa thực hiện “chí công danh” để tự động viên, đồng thời cũng có tác dụng khích lệ, kích động người khác. Ớ đây, chủ thể trữ tình không chỉ còn là một người nữa mà đã chuyển thành cả “giới”, cả mọi đấng nam nhi. Tuy có hạn chế lịch sử trong sự phân biệt nam nữ nhưng vẫn thể hiện được ý thức trách nhiệm cao độ của cả một thế hệ, một tầng lớp đang đảm nhiệm trọng trách đối với dân tộc trong một thời điểm lịch sử đặc biệt.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về nhan đề bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.b) Vũ hầu tức Gia Cát Lượng, không chỉ tượng trưng cho sự tuyệt đỉnh của trí tuệ (trí tuyệt), là một nhà quân sư đại tài, mà còn là một vị đại thần tận trung với sự nghiệp của nhà Thục Hán. Tuy vì quá lao tâm khổ lực mà ông đã qua đời khi lí tưởng chưa thực hiện và sau đó không lâu, sự nghiệp nhà Thục Hán cũng tiêu tan, song binh pháp Gia Cát Lượng, tấm lòng trung trinh, tinh thần tận tụy của ông vẫn luôn được đời sau ngưỡng mộ, học tập. Kết thúc bài Vịnh hoài cổ tích số 5, Đỗ Phủ đã hết lời ca ngợi công tích của ông: “Gia Cát đại danh thùy vũ trụ” (Danh tiếng lớn lao của Gia Cát bao trùm vũ trụ). Coi công danh, sự nghiệp của Gia Cát Lượng như một mục tiêu vươn tới. Hoài bão, chí hướng của Phạm Ngũ Lão quả thật phi thường.
4. Khát vọng công danh thường là sự thể hiện hoài bão, lí tưởng của nam nhi trong xã hội phong kiến, song nó có phần cao cả và cả phần dung tục. Nó phát huy được phần cao cả khi khát vọng đó gắn liền với ý thức trách nhiệm chính đáng đối với “quân thân” (vua và cha mẹ), với nước, với dân nhưng nó cũng có thể rơi vào chỗ dung tục khi vì đuổi theo những tước vị, lợi lộc mà hăm hở hoặc buộc phải làm những việc xấu xa, phi nghĩa. (Thông qua việc thực hiện bài tập nâng cao, học sinh có thể làm rõ thêm điểm này).
Khát vọng công danh của Phạm Ngũ Lão thể hiện trong bài Tỏ lòng là một khát vọng cao đẹp vì nó gắn liền với khát vọng chiến thắng giặc ngoại xâm. Bởi vậy nó là một biểu hiện đặc thù của lòng yêu nước ở một lớp người đương thời, cũng là biểu tượng của truyền thông yêu nước quý báu của cả dân tộc ta trong trường kì lịch sử.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) | 1,573 | |
Cảm nhận chung của anh (chị) về cuộc sống và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn
Gợi ý
Nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngươi ta luôn nhớ tới câu chuyện ông dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng vua không nghe, ông bèn cáo quan về quê ở ẩn. Câu chuyện này đủ để ta hình dung về một cuộc sống, một nhân cách cao đẹp, sáng ngời. Và nếu đọc thêm bài thơ Nhàn, chúng ta sẽ càng thấu đáo hơn về cuộc sống đó, nhân cách đó.
Cáo quan về quê, tất nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn được hưởng bổng lộc của triều đình nữa. Nhưng không quá nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm dễ dàng hoà nhập với cuộc sống thôn quê đạm bạc được. Đó là lí do khiến không ít người sửng sốt khi đọc những vần thơ sau:
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. (…)
Thu ăn măng trúc, dông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Ngay từ câu thơ đầu tiên, người ta đã có cảm giác đang đứng trước một “lão nông tri điền” với những công cụ lao động: mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để câu cá. Cách đếm rành rọt: Một… một… một cho thấy tất cả sẵn sàng, chu đáo. Đồng thời, nó cũng thể hiện một phong thái ung dung, thư thái, thanh nhàn, có chút gì đó ngông ngạo, ông lão này đang bắt đầu đi làm hay đi chơi? Có lẽ cả hai. Hai chữ thơ thẩn nói trạng thái thảnh thơi của con người “vô sự”, trong lòng không bợn chút cơ mưu, tư dục. Cụm từ dầu ai vui thú nào nói lên ý thức kiên định lối sống đã lựa chọn. Hai câu thơ như đưa ta về với cuộc sống chất phác nguyên sơ của cái thời “tạc tỉnh canh điền” (đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy cơm ăn).Xem thêm: Phân tích bài "Từ ấy" của nhà thơ Tố Hữu: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, Mặt trời chân lý chói qua tim, Hồn tôi là một vườn hoa lá, Rất đậm hương và rộn tiếng chim..."Một mai, một cuốc, một cần câu – ý thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm khiến ta nhớ tới hai câu thơ Nguyễn Trãi trong Thuật hứng (Bài 24):
Ao cạn vớt bèo cấy muỗng
Đìa thanh phát cỏ ương sen.
Rõ ràng có sự tương đồng trong cuộc sống, lối sống của hai con người này. Đó chính là tinh thần nhập thế rất tích cực của các bậc đại ẩn. Thật khó có thể tìm thấy dấu vết của lối sông quan trường cao sang trong những câu thơ như vậy. Chủ động lựa chọn cuộc sống đó nên Bạch Vân cư sĩ sẵn sàng đón nhận cảnh sống đạm bạc:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Sự đạm bạc là ở những thức ăn quê mùa, dân dã như măng trúc, giá đỗ. Các món ãn đạm bạc cây nhà lá vườn này là tự mình lo, là công sức của chính mình. Ăn đã vậy, còn ở, còn sinh hoạt? Cũng tắm hồ, tắm ao như bao người dân quê khác. Chuyện sinh hoạt hằng ngày như chuyện ăn, chuyện tắm tuy đơn sơ, đạm bạc nhưng thích thú ở chỗ mùa nào cũng sẵn, chẳng phải nhọc công tìm kiếm, về mặt tinh thần, cuộc sống như thế cho phép con người được tự do, tự tại, không cần phải luồn cúi, cầu cạnh kẻ khác, không theo đuổi công danh, phú quý, không bị gò bó, ràng buộc vào bất cứ khuôn phép nào. Sau này, trong một bài thơ của mình, Hồ Chí Minh cũng viết:Xem thêm: “Cuộc đời mất đi tình bạn, thế giới mất đi mặt trời” (Cicero)
Sớm ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Thế mới biết vật chất đơn sơ không bao giờ có thể làm cho những nhân cách lớn phải vướng bận, lo toan. Đạm bạc trong cảnh sống của những con người này không đi với khắc khổ. Nó đi với thanh. Cuộc sống thanh cao trong sự trở về với tự nhiên, mùa nào thức ấy. Hai câu thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hoạ một bộ tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt với bôn mùa xuân, hạ, thú, đông; có mùi vị, có hương sắc, không nặng nề, không ảm đạm.
Lựa chọn một cuộc sống thanh đạm, tự nguyện hoà nhập với tự nhiên như thế hẳn phải là người có nhân cách hết sức cao đẹp. Tuyết Giang Phu Tử về với thiên nhiên, sông hoà thuận theo tự nhiên là thoát pa ngoài vòng ganh đua của thói tục, là không bị cuôn hút bởi tiền tài, địa vị, để tâm hồn an nhiên khoáng đạt. Ông đối lập với danh lợi như nước với lửa:
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khổn, người đến chốn lao xao.
Không chỉ trong bài thơ Nhàn này Nguyễn Bỉnh Khiêm mới thể hiện sự đối lập gay gắt đó. Trong một số sáng tác khác, nhà thơ cũng đem lối sống của mình đối lập với việc bon chen, giành giật để mưu danh lợi, phú quý ở thành thị:
Thành thị vốn đua tranh giành giật
(Thơ Nôm, Bài 19)Xem thêm: Em hãy phân tích giá trị biểu cảm củạ hai câu thơ sau: "Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà." (Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan)Ở triều đình thỉ tranh nhau cái danh, ở chợ búa thì giành nhau cái lợi.
(Bi kí quán Trung Tân)
Và chính sự đôi lập ấy đã thể hiện vẻ đẹp sáng ngời trong nhân cách Bạch Vân: coi thường danh lợi.
Nhà thơ đối lập nơi vắng vẻ với chốn xôn xao, đốì lập ta với người. Nơi vắng vẻ là nơi không ai cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh người. Nơi vắng vẻ là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và là nơi thảnh thơi của tâm hồn. Là nơi ta thích thú, được sống thoải mái, an toàn, nơi không phải chốn quan trường, chợ búa, giành giật tư lợi. Người đến chốn lao xao là đến chốn cửa quyền, là đường hoạn lộ. Chốn lao xao, sang trọng thì có ngựa xe tấp nập, kẻ hầu người hạ, thủ đoạn thì có bon chen, luồn lợt, sát phạt. Chốn lao xao là chôn “chợ lợi đường danh” huyên náo, nơi con người chen chúc xô đẩy, giành giật, hãm hại nhau, là nơi nhiều nguy hiểm khôn lường.
Tìm đến sự thanh cao, tìm thấy sự thư thái của tâm hồn, Bạch Vân cư sĩ rất vui. Niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, cứ thanh thản một cách kì lạ. Bài thơ vẻn vẹn tám câu, được viết theo thể luật Đường nhưng cảm xúc không hề bị bó buộc. Người đọc vẫn có cảm nhận rất rõ nét về cuộc sống đạm bạc mà thanh cao, và nhân cách vượt lên trên danh lợi của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận chung của anh (chị) về cuộc sống và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn | 1,213 | |
Cảm nhận các bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
Gợi ý
Hướng dẫn
1. Có thể xếp sáu bài ca dao trong sách giáo khoa thành ba nhóm.
Nhóm 1: Ba bài đầu, gồm lời chàng trai, lời cô gái rồi lại lời chàng trai, có chủ đề trai gái trò chuyện tỏ tình hoặc thổ lộ ước muôn về nhau.
Nhóm 2: Chỉ có bài 4, là tâm trạng lo phiền của cô gái về tình duyên chưa yên của mình.
Nhóm 3: Hai bài cuốỉ, gồm lời chàng trai, lời cô gái về tình và nghĩa, sự thủy chung và sự lỡ dở trong tình yêu.
Cả ba bài ca dao đầu vì thuộc nhóm “ước gì” nên chàng trai và cô gái tha hồ ước. Họ bất chấp hiện thực cuộc sống. Họ dùng những hình ảnh ẩn dụ thậm xưng nên ta gặp ở đây con sông chỉ rộng một gang và cái cầu chỉ là cành hồng, dải yếm. Thực ra, khi sông chỉ rộng có một gang tay thì cầu còn có ý nghĩa gì nữa, vì chàng trai và cô gái đều có thể dễ dàng bước qua. Còn chuyện chàng trai hóa ra gương soi, ra cơi đựng trầu, thì còn gì là chàng trai nữa, vì chàng trai đã thuộc vật sở hữu của cô gái rồi.
Tình cảm của cả chàng trai và cô gái trong ba bài ca dao đầu tiên đều đang bén rễ, đang phát triển. Rất có thể họ sẽ đến với nhau vì những hình ảnh cành hồng, dải yếm, gương soi, cơi trầu quá gần gũi với họ, và đều chỉ về cuộc hôn nhân.Xem thêm: Bài học về nhân cách mà anh (chị) rút ra từ các câu chuyện về Thái phó Tô Hiến Thành và Thái sư Trần Thủ Độ
2. Nhân vật trữ tình trong bài ca dao là một cô gái vì chỉ cô gái mới có cái khăn lúc thì dùng để vắt vai, lúc thì rơi xuống đất. Rồi bên đó là ngọn đèn suốt đêm vì thương nhớ ai mà đèn không tắt. Rồi đến con mắt vì thương nhớ ai mà ngủ chẳng yên. Đến hai câu cuối mới lộ rõ đại từ “em” thì đúng là nỗi lòng của cô gái rồi. Có thể vì một mốì tình trắc trở mà khiến cho cô gái không yên nỗi lòng, suốt đêm trằn trọc. Đúng là một tâm sự rất thật của ai đó đã mắc vào cái lưới yêu đương.
Bài ca dao đã sử dụng thủ pháp trùng điệp, ẩn dụ một cách tài tình. Lúc đầu là lặp lại hình ảnh cái khăn, rồi tiếp đó là hình ảnh ngọn đèn, hình ảnh con mắt. Chỉ đến hai câu cuôì mới là bộc lộ trực diện của cô gái đang yêu. Chất trữ tình ở đây đầy kịch tính, nhiều lớp lang, nhiều đợt cao trào. Bài ca dao đầy cảm xúc hay vì những thủ pháp như thế.
Cây đa, bến nước, con đò, khách bộ hành đều là những hình ảnh biểu tượng, ẩn dụ vốn có trong cuộc sông. Cây đa, bến nước biểu trưng cho những gì bền vững, ít thay đổi, chỉ người con gái, vì con gái ngày xưa ít đi xa nhà. Con đò và khách bộ hành biểu trưng cho những gì dịch chuyển nay đó mai đây, chỉ người con trai, vì con trai thì hay đi làm ăn xa, nay đây mai đó. Nhưng trong cõi thẳm sâu, đó là những ẩn dụ của nỗi lòng. Liệu ai đó có giữ được cõi lòng chung thủy?Xem thêm: Phân tích cấu trúc cân đối của các câu thơ sau và chỉ ra ý nghĩa, vẻ đẹp của chúng: "Ta dại, ...Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao" (Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm) và "Thạch lựu hiên... Dắng dỏi cầm ve, lầu tịch dương." (Cảnh ngày hè - Nguyễn Trãi)Bài 5 là lời của chàng trai trong hình ảnh khách bộ hành. Vì có nghĩa nên khách bộ hành vẫn trở về cây đa cũ, bến đò xưa, mặc mưa, mặc nắng.
Bài 6 là lời nuối tiếc của cô gái vì con đò cũ không về lại bến, nên “con đò khác” đã đưa cô gái đi rồi. Một nỗi buồn thanh tao, man mác.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận các bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa | 722 | |
Cảm nhận cùa em về một bài thơ xuân đặc biệt – Bài Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng) của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Nguyên tiêu là bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh được viết trong thời gian kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc. Sau chiến thắng Việt Bắc, Thu Đông 1947 sang Xuân Hè 1948 quân ta lại thắng lớn trên đường số 4. Niềm vui thắng lợi tràn ngập tiền tuyến, hậu phương. Trong không khí sôi động và phấn chấn ấy bài thơ Nguyên tiêu của Bác Hồ xuất hiện trên báo Cứu quốc như một đóa hoa xuân ngọt ngào rực rỡ sắc hương.
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
Mở đầu bài thơ là cảnh tuyệt vời trong đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời vầng trăng tròn vành vạnh:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
(Rằm xuân lồng lộng trăng soi)
Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì có hơi thở của mùa xuân. Đêm rằm, trăng sáng ánh trăng lồng lộng dát vàng trên nền trời, phủ khắp chốn trần gian, ánh trăng tràn mọi nẻo… Ánh trăng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình lung linh sinh sắc. Đất nước, quê hương bao la một màu xanh bát ngát, màu xanh lấp lánh của xuân giang, dòng sông như được tiếp thêm sức sống mới dưới khí trời mát dịu. Dòng sông trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn, dòng sông xanh xuân thủy và tiếp nối với màu xanh của xuân thiên.
Mùa xuân là mùa của chồi non, sự sống. Xuân phơi phới cỏ ở khắp mọi nơi, xuân của dòng sông, dòng nước, không gian cao rộng của bầu trời. Khí xuân tràn ngập sự sống, ba từ xuân làm nổi bật cái thần của cảnh vật, sông nước và bầu trời: Xem thêm: Cảm nghĩ về người thân (ông, bà, bà, cha, mẹ, anh, chị, bạn, thầy, cô giáo,...)Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên (Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân)
Xuân trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ và vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả màu xanh của sông nước, đất trời vào xuân. Khi vào xuân, con người tạo vật như bừng tỉnh, rạo rực trong cuộc sống mới. Nhà thơ Thanh Hải đã từng cảm nhận mùa xuân của thiên nhiên và đất trời qua những tín hiệu đặc sắc:
Mọc giũa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi! Con chim chiền chiền
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng…
(Mùa xuân nho nhỏ)
Xuân đến, tiếng chim hót vang lừng, giọt mùa xuân long lanh do đất trời ban tặng làm cho sự sống rạo rực hơn và bất tận.
Trong câu thơ của Bác xuân còn gợi tả màu xanh của sông nước, trời đất vào xuân, sức sống mãnh liệt, trẻ trung căng tràn nhựa sống. Niềm vui sướng tự hào phơi phới của Bác đang ngây ngất say sưa giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử – đất nước đang anh dũng kháng chiến.
Với Bác, yêu trăng, yêu xuân chính là yêu cuộc đời. Trái tim mênh mông của người chan hòa với thiên nhiên, sông núi, hoa lá cỏ cây thật hữu tình. Có trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa, trăng vào cửa sổ đòi thơ trong niềm vui thắng trận. Và xem sách chim rừng vào cửa đậu – phê văn hóa núi ghé nghiêng soi. Thiên nhiên trong thơ Bác thật phong phú và chan chứa chất thơ. Xem thêm: Nghị luận xã hội về tình yêu quê hương Đến hai câu thơ cuối, ta thấy cảm nhận về dòng sông, về khói sóng, và con thuyền được nâng lên một mức:
Yên ba thâm sứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
Nhớ ánh trăng ngày nào khi Bác còn bị giam trong ngục lạnh nơi đất khách quê người (1942 – 1943) thì đêm nay – đêm rằm tháng giêng (1948) lại bắt gặp ánh trăng nơi chiến khu Việt Bắc. Con thuyền xuôi mái giữa dòng sông trăng, tựa mạn thuyền người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh đang đàm quân sự. Ánh trăng đêm nay là ánh trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm được nhân dân đón đợi với bao tình cảm nồng hậu. Trăng đêm nay không phải là ánh trăng bình thường trước sân nhà, đầu ngõ. Bác thưởng trăng trên khói sóng, Người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các bậc tao nhân mặc khách ngày xưa mà còn là con người hành động, người chiến sĩ cộng sản đánh giặc. Vị lãnh tụ đang bàn bạc việc quân trên con thuyền nhẹ lướt giữa sông nước trời xuân, đây là trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt, yên ba là khói sóng, thi liệu cổ của Đường thi. Vậy là câu thơ có nét cổ điển và có nét hiện đại, chất hiện đại đó chính là chất thép, chất chiến đấu của người chiến sĩ cộng sản:
Nay ở trong thơ nên có thép – Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Sau quãng thời gian bàn bạc việc quân, đêm đã về khuya, nửa đêm (dạ bán). Con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng trên vời sông nước mênh mông: Xem thêm: Hãy giải thích câu tục ngữ “Thì giờ là vàng hạc”Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền)
Hình ảnh nguyệt mãn thuyền gợi cho chúng ta nhớ đến những vần thơ cổ thi hoa lệ:
Thuyền mấy lá đông, tây lặng ngắt
Một vầng trăng trong vắt lòng sông…
(Bạch Cư Dị)
Nước biếc non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu
(Nguyễn Trãi)
Trở lại bài thơ Nguyên tiêu ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ ẩn hiện sau màn sương khói. Trên chiếc thuyền hình ảnh thi sĩ – chiến sĩ hiện lên thật đẹp đẽ với bàn bạc việc quân trong đêm trăng, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, quyết chiến đấu giành lại độc lập tự do cho dân tộc.
Nguyên tiêu là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, mang phong vị Đường thi. Bài thơ có nét thơ cổ thể: con thuyền, tràng, sóng, xuân, nước xuân, trời xuân, khói sóng… điệu thơ thanh nhẹ. Bài thơ như một đóa hoa xuân, tinh hoa kết tụ tâm hồn trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh. Và bởi thế, gần 40 năm sau khi bài Nguyên tiêu ra đời, thi nhân Việt Nam đã có chung một ngày hội lớn, ngày thơ Việt Nam đúng rằm tháng giêng.
Văn là người, thơ là tấm lòng. Bài thơ này thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước, đồng thời bộc lộ tình yêu nước sâu sắc. cốt cách thi sĩ hòa quyện chất chiến sĩ chất chứa đầy ắp trên chiếc thuyền kháng chiến đang tiến nhanh về bến bờ độc lập tự do.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận cùa em về một bài thơ xuân đặc biệt – Bài Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng) của Hồ Chí Minh | 1,191 | |
Cảm nhận của anh (chị) về bài ca dao: Khăn thương nhớ ai
Gợi ý
Nỗi mong nhớ khao khát gần kề, ước vọng về tương lai hạnh phúc dường như luôn sánh đôi với nhau trong tâm trạng mỗi con người khi đến với tình yêu, đặc biệt là người phụ nữ. Ca dao yêu thương, tình nghĩa Việt Nam có những bài thật sâu sắc da diết về nỗi nhớ yêu đương: “Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ”, “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đông lửa, như ngồi đống than”… Mênh mông là biển thương trời nhớ hiển hiện trong thế giới ngôn từ mộc mạc bình dị. Không thể không nhắc tới một bài ca dao như vậy – Khăn thương nhớ ai.
Nhớ thương trong bài thơ trở nên có cung bậc, sắc điệu qua những biểu tượng nghệ thuật quen thuộc mà gợi cảm. Người con gái mượn chiếc khăn, nhờ ngọn đèn nói hộ tâm trạng mình. Cô cũng gửi vào ánh mắt da diết không lời, để rồi khép lại bài ca dao là những khắc khoải ầu lo về tương lai hạnh phúc. Trong hệ thống biểu tượng ấy, chiếc khăn được nhắc đến đầu tiên. Một chiếc khăn kỉ vật của gặp gỡ đôi lứa chăng? Một chiếc khăn từ đó phải chăng đã là hình bóng người thương gần gũi quấn quýt bên người con gái? Chẳng thế mà đôi lứa xưa khi trao lời gửi ý thường mượn đến hình ảnh chiếc khăn “Gửi khăn, gửi túi, gửi lời / Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa”. Động thái trữ tình của chiếc khăn trong bài ca dao này thật đặc biệt. Nó “thương nhớ ai” mà “rơi xuống đất”, mà “vắt lên vai”? Những vận động trái chiều của khăn trong nghệ thuật phối hợp, hai thanh bằng trắc mở ra một không gian ngập tràn nhung nhớ. Một tâm trạng bôì rốỉ, bồi hồi khiến con người “ra ngẩn vào ngơ” tưởng không còn chủ động trong bước đi, dáng đứng (Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa, như ngồi đống than). Đặc biệt là hình ảnh “Khăn thương nhớ ai/ Khăn chùi nước mắt”, nỗi nhớ sao mà âm thầm, chỉ có khăn chia sẻ bên cạnh. Những giọt nước mắt lặng lẽ, không “đầm đầm như mưa” mà lắng đọng, chất chứa suy tư. “Khăn thương nhớ ai?” đã trở thành điệp khúc da diết của tiếng gọi thương nhớ trong suốt phần đầu của bài ca dao. Theo thể cách vắt dòng, nỗi thương nhớ ở điệp khúc này đã gọi ra, hay là biểu hiện ở mọi động thái phía sau. Chiếc khăn trong nghệ thuật nhân hóa đã thay lời người mang khăn, nâng niu gìn giữ khăn mà thổ lộ nỗi niềm. Kín đáo mà vẫn rất mãnh liệt.Xem thêm: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết)
Nếu như nửa đầu bài ca là nỗi nhớ dâng đầy trong không gian thì hình ảnh ngọn đèn trong đêm không tắt lại khắc họa thêm một chiều thời gian nữa để nỗi nhớ hiển hiện đằng đẵng: “Đèn thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt”. Hình ảnh ấy vẽ ra bóng tối canh chày. Hình ảnh ấy đậm khắc bóng hình một người con gái lặng lẽ thao thức với nỗi nhớ trong đêm. Ánh đèn không tắt là ngọn lửa tình yêu ủ mãi trong tim. Ánh đèn không tắt là dằng dặc chờ đợi tưởng đến độ mỏi mòn đi vì nhung nhớ. “Khăn chùi nước mắt”, “Mà đèn không tắt”, cách bắt vần và việc sử dụng thanh trắc kết nối hai biểu tượng khăn, đèn trong một trạng huống thống nhất. Đôi mắt người nhớ nhung đã thấp thoáng hiện ra từ giọt nước mắt ở những câu thơ trước, đến đây trực tiếp hiện hữu: “Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên”. Cái nét bút “điểm nhãn” của dân gian gói ghém được thật nhiều tâm trạng. Nỗi ưu tư trở nên nặng trĩu. Hiện ra trong cảm nhận của người đọc là ánh mắt nhớ thương trằn trọc trong đêm vắng, một mình một bóng với ngọn đèn khuya. Nỗi nhớ trong tình yêu có sức mạnh chi phối thật lớn. Nỗi nhớ biểu hiện ra bên ngoài nhờ khăn, đèn, rồi lặn vào bên trong qua ánh mắt người nhung nhớ. Nhưng trong cách nói “Mắt ngủ không yên” dường như đã thấp thoáng những da diết khắc khoải đan xen của một sắc diện tâm trạng khác không chỉ còn là nỗi nhớ. Thì đây, những câu kết đã hé mở điều đó với người đọc: “Đêm qua em những lo phiền – lo vì một nỗi không yên một bề”.
Hóa ra không chỉ có nhớ. Còn là phấp phỏng lo phiền “không yên một bề” nữa. Bài ca dao đang từ thể bốn chữ có mạch liên kết “thương nhớ ai” kết nối tất cả các biểu tượng đến đây trải ra mênh mông nhiều chiều và ngổn ngang những nỗi niềm tâm trạng khác nhau. Em – nhân vật trữ tình – cô gái trong bài thơ còn lo phiền, “không yên một bề”. Tâm trạng thì đã rõ qua cách gọi tên. Nhưng “không yên một bề” – “một bề” lo lắng dằng dặc ấy là gì đằng sau sự nhớ thương mãnh liệt kia? Có lẽ đó là cái “một bề” của những phấp phỏng về tương lai hạnh phúc lứa đôi. “Khăn thương nhớ ai?”/ “Đèn thương nhớ ai?”, “Mắt thương nhớ ai?” – nhưng liệu có ai đang thương nhớ đến mất ăn mất ngủ, đêh ngẩn ngơ ngơ ngẩn như mình không? Và từ yêu đương, gửi trao, thương nhớ, đến “Ước gì ta ở một nhà” là cả một khoảng cách vô cùng nằm ở giữa. Thân phận phụ thuộc, khó có thể tự quyết định cuộc đời mình trong xã hội xưa, những ràng buộc khắt khe tỏa chiết tình yêu hạnh phúc tự do, những nỗi lo lắng thể hiện “Thương anh chẳng dám nói ra/ Sợ mẹ bằng đất sợ cha bằng trời”… tất cả đó phải chăng là “một bề” lo lắng trong tâm hồn người con gái?Xem thêm: Qua những lời thơ Thuật hoài (tỏ lòng), anh (chị) thấy hình ảnh trưng nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp như thế nào? Điều đó có ý nghĩa gì với thế hệ trẻ hôm nay và ngày maiTiếng tơ lòng của người dân lao động về yêu thương tình nghĩa đã cất lên như vậy đó. Thương nhớ không lửng lơ. Thương nhớ cứ muốn neo đậu vào khát vọng về một mái ấm sum họp và tình nghĩa muối mặn, gừng cay. Đó là điều làm nên cảm nhận sâu sắc của người đọc về tiếng nói trữ tình trong bài ca. Chiếc khăn, ngọn đèn và đôi mắt thương nhớ, những biểu tượng truyền thông ây cứ thế mà thấm vào tâm hồn Việt Nam, chúng ta còn thấp thoáng nhận ra điều đó trong những tiếng thơ hiện đại: “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh / Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây / Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh / Sưởi ấm lòng chiến sĩ giữa ngàn cây” (Nguyễn Đình Thi)
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về bài ca dao_ Khăn thương nhớ ai | 1,246 | |
Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Hầu trời”
Gợi ý
Trên tạo đàn văn học Việt Nam, Tản Đà xuất hiện như một ngôi sao lạ. Đó là một ngôi sao muốn khẳng định sức toả sáng và rực rỡ của mình trong bầu trời thơ ca đầu thế kỉ XX. Một “cái tôi” phóng khoáng và lãng mạn trong thơ ông đã thổi bùng lên luồng gió mới mẻ trong thi ca. Với bài thơ “Hầu trời”, Tản Đà đã mang đến một nguồn sinh khí mới thổi phồng những ước mơ được vươn lên cao, vươn xạ hơn, thoát khỏi vòng giam hãm nặng nề của chế độ thực dân phong kiến đương thời. Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ tên đề, với một ý tưởng thật đặc biệt: Hầu trời.
Bài thơ mang đến cho người đọc những ấn tượng và cảm nhận đặc biệt thú vị về một ý tưởng hoàn toàn mới lạ và cũng hết sức ngông nghênh. Với tài năng nghệ thuật của mình, Tản Đà đã đưa người đọc vào một cuộc hành trình lên đến… tận trời để tham gia vào một buổi ”đọc văn”có một không hai. Xưa nay, trời vẫn luôn là một lực lượng siêu nhiên, tồn tại bên ngoài con người vậy mà Tản Đà lại viết về câu chuyện lạ lùng ấy trong một cảm giác vừa hư, vừa thực như kích thích sự chú ý của người đọc. Chuyện hầu trời được dẫn dắt bịa mà như thật: Một đêm trăng sáng, thi nhân nằm buồn nhìn trăng mà ngẫm ngợi cho vui, vô tình “làm trời mất ngủ” và vì vậy mà nhà thơ phải “đền” cho trời bằng việc đọc thơ của mình cho trời nghe. Chuyện lên trời ”tày đình” nhưng nghe lại đơn giản và thú vị như chuyện, của những con người dưới hạ giới đến thăm nhau, mà nhà thơ, dù là người dưới trần nhưng không vì thế mà đánh mất đi của mình tư thế ngạo nghễ.
"Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng chơi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Miệng cười mùm mỉn cùng nói rằng:
– ”Trời nghe hạ giới ai ngâm nga
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà
Làm Trời mất ngủ trời đang mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua”
Nhà thơ được đưa lên trời đọc hầu văn với tư thế hoàn toàn bị động nhưng nhờ cái ngông và sự tự tin vào tài năng của mình mà nhanh chóng lấy lại được tư thế chủ động. ”Dạ bẩm lạy Trời, con xin đọc”. Và rồi, tất nhiên, tài năng đó đã chinh phục được nhà Trời. Lẽ ra đã có thể bị trách phạt vì tội làm kinh động đến Trời nhưng mọi thứ lại đảo ngược: Nhà Trời không chỉ không trách phạt ma còn bị lôi cuốn bởi những áng văn của tác giả, vỗ tay tán thưởng nhiệt tình và thậm chí còn ”đặt hàng” để nhà thơ gánh văn lên bán ”chợ Trời”. Dù chỉ là sự miêu tả lại một giấc mơ nhưng những cảnh diễn ra trong giấc mơ ấy ở trên trời thể hiện cái ngông đầy ấn tượng của Tản Đà. Ngông đến mức đi lên trời mà cứ ung dung, thản nhiên và có phần ngạo nghễ, lại dám vẽ ra cảnh trời tiếp đón mình rất ân cần. Thiên đình giờ đây với nhà thơ cũng thân thuộc và gần gũi như hạ giới mà thôi. Đến lúc hầu trời nghe văn của mình thì lại càng ngông. Nhà thơ đã không ngần ngại khoe văn mình, khoe về mình, nhưng đó là một cách khoe khéo léo và đẩy tài năng: Văn hay đến mức làm cho tất cả những người cỏ mặt trên thiên đình từ ông Trời, Hằng Nga, Chức Nữ, Song Thành, Tiểu Ngọc… đều phải công nhận và trầm trồ tán thưởng:Xem thêm: Lập dàn ý qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan”Văn dài hơi tốt ran cung mây
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga,
Chức Nữ cau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay”
Thậm chí nhà thơ còn nhận được những lời khen ngợi trực tiếp từ chính Trời, những lời khen khiến bất cứ ai cũng phải cảm thấy hãnh diện:
Trời lại phê cho: ”Văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít
Nhời văn chau chuốt đẹp như sao băng
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa xa, lạnh như tuyết”
Những lời đánh giá đó cũng có sức mạnh như lời thơ mà Nguyễn Du đã dùng để miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều:
’’Trông như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới xa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”
Mượn “bút phê” của Trời, Tản Đà đã khẳng định cái tôi cá nhân của mình với tư cách là một tài năng xuất chúng, được thừa nhận ở tận cõi linh thiêng, có sức mạnh tối cao. Tài năng như thế hỏi sao những người được nghe không bị cuốn hút. Và văn chương hạ giới chợt biến thành một thứ hàng đắt giá để “Anh gánh lên đây bán chợ Trời”. Bi kịch và nỗi đau đớn bởi sự “ế ẩm” của văn chương nơi hạ giới lại được nhà thơ giải tỏa bằng tiếng cười sảng khoái khi chinh phục được các vị “khách hàng” nơi thiên đình. Bên cạnh những vần thơ ngông nghênh, người ta vẫn cảm nhận được sâu sắc nỗi đau xót trong bi kịch thời đại ”văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Tản Đà không nói nhiều về điều này, ông chỉ kể ra cái khó khăn của mình nhưng qua đó người ta cũng hiểu được một cách sâu sắc những bi kịch chung của những người nghệ sĩ trong thời đại ông. Tác phẩm vì thế ít nhiều cũng nằm trong mạch văn thể hiện tư tưởng thoát li của tác giả. Dường như sự cô đơn, không thể tìm thấy nỗi niềm đồng cảm đã khiến ông không còn cách nào khác là phải tạo ra một thế giới riêng cho mình để trốn đời, tìm mộng. Nhưng ngay cả khi nói về cái trớ trêu trong đời văn của mình thì phong cách ngông nghênh cũng không vì thế mà giảm sút đi phần nào. Tự coi mình là một vị ’’trích tiên” vì tội ngông mà bị đày xuống hạ giới. Là đày nhưng lai để thực hiện một sứ mệnh quan trọng, ”là việc thiên lương của nhân loại / Cho con xuống thuật cùng đời hay”. Đó là sứ mệnh làm cho thiên lương được hưng thịnh ở hạ giới mà tỏng nhiều tác phẩm, Tản Đà vẫn tự nhận là người được Trời trao cho nhiệm vụ (Hai chữ ’’thiên lương” thằng Hiếu nhớ / Dám xin không phụ trời trông mong”. Và chính bởi vì Trời phục tài năng và nhân cách của Tản Đà nên mới giao cho nhà thơ dùng chính tài năng và nhân cách ấy mà chấn hưng lại cái thiên lương đang ngày càng mai một của xã hội thời bấy giờ. Mơ m’à lại là tỉnh. Mượn chuyện mơ để nói được lòng mình cùng với biết bao câu chuyện tỉnh của cuộc đời, quả thực Tản Đà đã rất ngông nghênh và tài tình!Xem thêm: Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện ngắn “Người trong bao” của Sê - khốp Hoài Thanh, trong ”Thi nhân Việt Nam”, đã trân trọng đặt Tản Đà vào vị trí đầu tiên, là con người của hai thế kỉ, có vai trò như chiếc gạch nối của hai nền vàn học trung đại và hiện đại. Đọc ”Hầu trời”, người ta không chỉ bị ấn tượng bởi cái. tôi ngông nghênh trong giấc mơ hầu trời mà còn bởi những dấu vết hiện đại thường xuất hiện trong thơ ông. Bài thơ với thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, không bị ảnh hưởng bởi khuông mẫu, kết cấu nào khiến nguồn cảm xúc được phơi bày một cách tự nhiên và tràn đầy cảm xúc, là lời kể, lời tâm sự của một người về giấc mơ mà mình gặp. Với ngôn ngữ thơ chọn lọc, gợi cảm, không cách điệu, rất gần với đời sống hàng ngày và cách kể chuyện hóm hĩnh, có duyên, lôi cuốn người đọc, tác giả hiện lên trong bài thơ với tư cách người kể chuyện đồng thời là nhân vật chính. Cảm xúc được thể hiện tự do, phóng khoáng và không hề bị gò ép khiên cho Tản Đà đã tìm ra được hướng đi đúng đắn để tự khẳng định mình giữa lúc thơ phú nhà nho đang đi dần tới dấu chấm hết.
”Hầu trời” là một bài thơ hết sức độc đáo. Tác phẩm ấn tượng ngay từ tên đề với ý tưởng lên hầu văn cho trời; ấn tượng với cảnh hầu văn trên trời, với cái tôi ngông nghênh ngạo nghễ, không ngần ngại khẳng định tài năng của mình cũng như lên tiếng về những bi kịch thời đại do xã hội đó tạo nên… Nó làm ta thêm yêu quí và trân trọng một tài năng, một nhân cách Tản Đà – người ”đã dạo những bản nhạc mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kì đang sắp sửa”…Xem thêm: Viết bài nghị luận bày tỏ ý kiến của minh về phương pháp “Học đi đôi với hành"Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Hầu trời” | 1,619 | |
Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận
Gợi ý
Bất kì một ai đã từng đọc thơ Huy Cận có lẽ đều nhận thấy rằng thơ Huy Cận thấm đẫm một nỗi buồn. Nỗi buồn ấy có những sắc thái và màu sắc riêng, là “cái buồn toả ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết tới ngoại cảnh” (Hoài Thanh). Có lẽ vì thế mà thơ Huy Cận thường khắc họa những cảnh lụi tàn, bơ vơ, hoang vắng, chia lìa, dường như nhà thơ “lượm lặt những chút buồn rải rác để sáng tạo nên những vần thơ hư ảo. “Tràng Giang là bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ nhất phong cách nghệ thuật này của nhà thơ Huy Cận."
“Tràng giang” nói riêng cũng như trong thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám nói chung, đúng như nhận xét của Xuân Diệu trong lời tựa viết cho “Lửa thiêng”: “Cảm giác nổi trội nhất của ta là một cảm giác không gian”. Toàn bộ bài thơ “Tràng giang” đều thấm đẫm nỗi buồn. Mỗi khổ thơ thực chất là một sự triển khai khác nhau của nỗi buồn đó thường được tạo nên bằng cách đối lập giữa cái mênh mông cao rộng như vô hạn yới cái nhỏ bé, mong manh. Bài thơ buồn ngay từ tên. đề và trải dài nỗi buồn đến tận những câu thơ cuối cùng. “Tràng giang” chứ không phải là “trường giang”. Nhan đề gợi sự khái quát và trang trọng vừa cổ điển lại vừa thân mật, hiện đại. Nếu như “trường giang” chỉ gợi cho người ta cảm giác về một con sông dài thì “tràng giang”, do âm hưởng vang xa và kéo dài của vần “ang” còn gợi hình ảnh con sông rộng đồng thời mồ ra một dư âm trầm buồn trong lòng người đọc. Bàn tựa đề này cảnh không phải là con sông Hồng nơi nhà thơ đứng nhìn xuống từ bờ Nam bến Chèm nữa mà trở thành cảnh tràng giang khái quát trong không gian và thời gian. Toàn bộ tứ thơ toát lên từ ngay câu mở đầu và tiếp tục được định hướng cảm xúc chủ đạo trong lời đề từ: “Mênh mông trời rộng nhớ sông dài”. Đó là cảm xúc bâng khuâng: nỗi buồn – sầu nhẹ nhàng lan toả mà sâu lắng trước cảnh sông dài trời rộng.
Mở đầu bài thơ là cảnh sông nước mênh mang vô tận:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”
Dòng sông và con người, không gian bao la và tâm trạng cụ thể là tứ thơ thường gặp trong thơ ca cổ điển. Sóng gợn tràng giang và nỗi buồn điệp điệp không dứt hết đợt này đến đợt khác như những lớp sóng nhỏ trào dâng, ơ giữa không gian sông nước ấy nổi bật lên một chiếc thuyền đang xuôi mái chèo. Cảnh sông nước mênh mông rợn ngợp không nói ra cũng cảm thấy mang lại cho con người nỗi buồn. Và nhà thơ đặc tả đó là một nỗi buồn điệp điệp. Cũng giống như sự trải dài của dòng sông, nỗi buồn cũng như kéo dài và ngân vang lên mãi, tiếp nối mãi hết đợt này đến đợt khác. Hai từ láy “điệp điệp”, “song song” mang màu sắc cổ điển gợi âm hưởng thật cổ kính. Như vậy mạch thơ được mở đầu là sự tiếp tục cho tứ thơ và mạch cảm xúc đã được gợi ra ngay ngay từ đầu. Bài thơ ngay từ những câu thơ đầu tiên đã gợi đến cho người đọc nhiều suy tư.Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu“Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
Củi một càng khô lạc mấy dòng”
Vừa là cổ điển nhưng ngay sau đó ta bắt gặp những hình ảnh thơ hết sức hiện đại. “Thuyền về nước lại” là một câu thơ tả thực. Nó gợi ra thực tế đối lập giữa thuyền và nước. Và vì “thuyền về nước lại” nên “sầu trăm ngả”. Con thuyền của hiện thực trôi trên sông gợi ra kiếp người nhỏ bé, cô đơn, với nước chỉ “song song” chứ không gắn bó. Thuyền đi với dòng để chia li với dòng. Từ “buồn” đến “sầu”, từ cái “điệp điệp” đến cái trăm ngả, câu thơ và cảm xúc buồn của nó đã được đẩy lên một cấp độ mới cao hơn. Buồn như vậy bồi sự xuất hiện của cành củi khô “lạc giữa dòng”. Cái bơ vơ lạc lõng trơ trọi của cành củi khô càng được gây ấn tượng mạnh mẽ bởi cách viết đảo ngữ. Không phải “một cành củi khô“ mà là “củi một cành khô“, nó nhấn mạnh thân phận và sô’ phận. Cành củi khô bập bềnh trôi theo sóng gợi nỗi buồn về những kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng cô đơn, càng trở nên cô đơn đáng thương hơn trong cảnh trời rộng sông dài. Khổ thơ vẽ nên cảnh sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Từ con thuyền, con sóng, cành củi khô…, tất cả đều gợi lên một nỗi buồn, nỗi sầu không gian, đều chứa đựng dự cảm hứa hẹn sẽ không có hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia lìa. Trong sự tương quan đối lập giữa không gian tràng gian bao la rợn ngợp và cái nhỏ bé của cõi nhân sinh, cảm giác cô đơn, lẻ loi của con người trước trời đất càng được tô đậm.
Trần Tử Ngang xa cũng đã từng có tâm trạng tương tự:
“Ai người trước đã qua
Ai người sau chưa tới
Ngẫm trời đất vô cùng
Một mình tuôn giọt lệ”.
Huy Cận đã có công gợi lên tâm lí phổ biến của con người trước vũ trụ “vô thuỷ vô chung”. Nhưng nỗi buồn của ông sâu sắc và khắc khoải hơn nhân sinh bởi nó không chỉ là nỗi buồn đơn thuần khơi gợi từ trong cảnh vật mà còn là nỗi buồn trong tâm hồn người thưởng cảnh.
Khổ hai tiếp tục mạch thơ của khổ một đồng thời có thêm những sáng tạo mới làm cho nỗi buồn càng thấm sâu vào cảnh vật:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”.
Theo Huy Cận, từ “đìu hiu” ông học được từ trong “Chinh phụ ngâm”: “Non kì quạnh quẽo trăng treo/ Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy đèo”. Hơn nữa, cụm từ láy lơ thơ”, “đìu hiu” cùng gợi lên sự buồn bã, hiu quạnh, cô đơn. Có thể là chợ chiều đã vãn nên không còn nghe thấy một âm thanh nào nữa. Hoặc cũng có thể là đó là những âm thanh của một buổi chợ chiều đang vãn từ xa vọng lại, thấp thoáng. Nhưng dù là thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ làm cho cảnh vật tăng thêm sự vắng lặng, vì những âm thanh của cuộc sống ở đây hoặc không có, hoặc có một chút thì cũng chỉ nghe thấp thoáng, xa xăm. Đã buồn lại càng buồn hơn. Đứng từ trên bến sông, nhà thơ trải rộng cặp mắt của mình, nhìn lên, nhìn xuống, nhìn xa. “Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ sông dài, trời rộng bến cô liêu”. Hai câu thơ tạo hình đặc sắc. Không gian được mở rộng theo nhiều chiều kích khiến cho nỗi sầu cũng có cơ hội để vươn, trải. Không phải là “cao chót vót” mà là “sâu chót vót”, cái sâu gợi cho người đọc ấn tượng thăm thẳm, hun hút khôn cùng. Dường như, ở đây điểm nhìn từ trên bờ sông đã được di chuyển. Tảc giả lấy cái đối lập của “nắng xuống” chiếu rọi xuống lòng sông để làm nổi bật cái “sâu chót vót” sau đó. Vì nắng xuống nên từ khoảng cách từ dòng sông đến bầu trời được đẩy cao lên mãi. Càng rộng, càng sâu thì cảnh vật càng trở nên vắng lặng, chỉ có sông dài với bờ bến lẻ loi xa vắng (cô liêu). Ta có cảm giác tựa hồ như nỗi buồn thâm vào không gian ba chiều. Con người trở nên nhỏ bé và có phần rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn và không thể không cảm thấy “lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian” (Hoài Thanh).Xem thêm: Cảm nhận khi đọc Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng) Cảnh vật lại tiếp tục tô đậm bằng hàng loạt các chi tiết gợi buồn khác:
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.
Nếu như ở trên, tiếng chợ chiều đang vãn cũng là “đâu có” thì đến đây, khổ thơ tiếp tục phủ nhận tuyệt đối tất cả những gì thuộc về con người. “Bèo dạt mây trôi”, cánh bèo xa nay vẫn thường gợi cho người ta nỗi buồn về sự nổi nênh vô định. Cái “dạt” của nó cho thấy sự vô định, không biết đâu là bờ bến, không biết đi đâu về đâu. Lại là “hàng nối hàng”, nỗi sầu cứ thế nhân lên, ngày càng nhiều, ngày càng chất chồng. Điệp từ “không” láy lại hai lần càng gợi thêm nỗi buồn mênh mông. Toàn cảnh sông nước tuyệt nhiên không có bóng dáng của con người. Tất cả những sợi dây nối giữa con người và sự sống của con người với nhau đều không tồn tại: không một chuyến đò ngang, không một cây cầu. Nghĩa là người đứng trước cảnh kia đang cô độc một cách hoàn toàn và hơn bao giờ hết đang thấm thìa nỗi cô đơn, bơ vơ ấy. Chỉ là “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Có sự xuất hiện của thiên nhiên thôi thì cũng chỉ là “lặng lẽ” bờ bãi tiếp nối tiếp cũng như nỗi buồn, dù lặng lẽ, nhưng đang ngày càng thấm sâu hơn vào trong tâm hồn con người. Ta hiểu rằng, thi sĩ đã dùng tất cả những cái không tồn tại để làm nổi bật Sự cô quạnh, cũng là để khẳng định một thứ khác, chỉ được gợi ra một cách kín đáo nhưng lại trải ra suốt từ đầu đến cuối tác phẩm: là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời. Thái độ phủ nhận thực tại nằm ngay trong kết cấu bài thơ.
Khổ thứ tư mở ra một không gian hùng vĩ, rợn ngợp:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh mỏi bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà".
Khổ thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường mà vẫn giữ được nét riêng biệt của thơ Mới và thể hiện khá rõ nét độc đáo của hồn thơ Huy Cận ở đây, thiên nhiên tuy buồn nhưng vẫn thật tráng lệ. Những đám mây trắng đùn lên trùng điệp ở phía chân trời. Ánh dương phản chiếu khiến nó lấp lánh như được dát bạc. Từ “đùn” lấy lại ý thơ của người xa (Đỗ Phủ – “Mặt đất mây đùn cửa ải xa”) tạo ấn tượng hùng vĩ về thiên nhiên. Nó rất động, như cứ vận động theo hướng phát triển ra mãi, khiến cho ngày càng trở nên hùng vĩ hơn. Và chính vì vậy, cánh chim xuất hiện càng nhỏ bé, lẻ loi: “Chim nghiêng cánh mỏi bóng chiều sa”. Một cánh chim chao trên bầu trời, có lẽ là hiện lên trên chính cái nền của “núi bạc” như kéo đã bóng chiều xuống cùng với nó. Cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà càng làm cho không gian trở nên buồn hơn. Và cùng với tất cả những hình ảnh ở trên, chúng làm nền cho sự xuất hiện của tâm trạng nhân vật trữ tình:Xem thêm: Hãy bình luận ý kiến sau đây: “Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng kh픓Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhở nhà”.
Cái “dợn dợn” mang đến cho người ta cảm giác của cả cái “gai gai” người. Cái dợn sóng, dợn lòng cứ tăng lên mãi theo những con sóng. “Lòng quê” có sẵn trong tâm hồn giờ đây có cơ hội để phơi trải. Ấy là gì? Nhà thơ gọi đó là nỗi buồn của: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Thì ra tâm sự của nhà thơ là vậy. Đó là nỗi buồn nhớ quê hương da diết. Đứng ngay trên quê hương mình, đất nước mình mà vẫn nhớ. Phải chăng đó còn là tâm trạng kín đáo của một người trước thời cuộc và vận mệnh đất nước, dân tộc? Huy Cận nói rằng, lúc ấy ông buồn hơn Thôi Hiệu vì nhà thơ Trung Quốc phải:
“Quê hương khuất hóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”
Có khói sóng kia mới dậy nên nỗi nhớ quê; còn Huy Cận thì chẳng cần có chút “yên ba” nào cũng gợi lên nỗi nhớ nhà. Cách nói phủ định để khẳng định một cách mạnh mẽ hơn. Và cũng có lẽ, nếu như không nói đến chuyện ai buồn hơn ai thì câu thơ cũng mang đến ý thức về thực tại nhiều hơn là tình người.
Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển, có sự kết hợp hài hoà giữa cổ điển và hiện đại. Bài thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt với những thi liệu truyền thông; mang dáng dấp Đường thi ở sự hàm súc cô đọng, tao nhã, và khái quát. Có thể nhận thây rằng, đi hết bài thơ là một nỗi buồn triền miên, vô tận. Là nỗi buồn của thi nhân trước cái mênh mông, rợn ngợp của thiên nhiên, vũ trụ. Là nỗi buồn trước tình đời tình người. Nỗi buồn này như phần nhiều nỗi buồn của các nhà thơ mới, là nỗi buồn của cả một dân tộc, cả một thế hệ thanh niên trí thức những năm tháng mất nước, ngột ngạt, bế tắc. Nó thể hiện những tâm sự yêu nước kín đáo của nhà thơ. Bởi vậy, Đây là cái buồn đẹp, cái buồn của những thanh niên chưa khô hộ, lạnh nhạt, thờ ơ, phó mặc trước cuộc đời. Như những gì Xuân Diệu đã đánh giá: “Tràng giang” là bài thơ dọn đường cho lòng yêu giang san, đất nước.
Đọc “Tràng giang”, ta cảm thông với những tâm sự của Huy Cận mà thêm yêu, thêm quí một tài năng, một tâm hồn
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận | 2,476 | |
1. Cảm nhận của anh (chị) về con người Nguyễn Trãi trong bài thơ Cảnh ngày hè. 2.Nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Cảnh ngày hè. 3. Ý nghĩa tư tưởng chủ đề cúa bài thơ Cảnh ngày hè
Gợi ý
1. Là tiếng nói của tâm hồn thi nhân, thơ ca in bóng nhà thơ vào trong mỗi tác phẩm. Cảnh ngày hè cũng vậy. Tuy tác giả không trực tiếp miêu tả con người mình nhưng chính sự “bày tỏ”, “giải bày” của nhà thơ đã làm hiện lên con người tinh thần, con người cốt cách Nguyễn Trãi. Có thể nhận thấy con người Nguyễn Trãi trong Cảnh ngày hè với những đặc điểm:
Có tình yêu tha thiết với thiên nhiên:
+ Cảm nhận, khám phá, thưởng thức và miêu tả thiên nhiên bằng nhiều giác quan khác nhau: xúc giác (hóng mát), thị giác (miêu tả màu xanh của hòe, đỏ của lựu và hồng của sen), khứu giác (mùi thơm của hoa sen), thính giác (tiếng lao xao của chợ cá, tiếng ve).
+ Nguyễn Trãi cảm nhận, miêu tả thiên nhiên và cuộc sống con người với một sức sống tràn đầy. Điều đó cho thấy một tâm hồn khát sống, yêu đời mãnh liệt và tinh tế, giàu chất nghệ sĩ của thi nhân.
– Có niềm khao khát, ước mong cao đẹp:
+ Đắm mình trong cảnh ngày hè, tác giả mơ ước có cây đàn của vua Thuấn, gảy khúc Nam phong cầu cho “Dân giàu đủ khắp đòi phương”, bộc lộ nỗi niềm sâu kín, thể hiện sự băn khoăn, trăn trở, lo toan cho đời sống nhân dân?Xem thêm: Dựa vào câu thơ: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Hãy bình luận vài nét về nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du.
+ Lấy vua Nghiêu, vua Thuấn làm “Gương báu răn mình”, Nguyễn Trãi đã bộc lộ chí hướng cao cả: khao khát đem tài trí của mình để thực hành tư tưởng nhân nghĩa yêu nước, thương dân.
2. Cảnh ngày hè là bài thơ có giá trị nghệ thuật đặc sắc.
– Sử dụng ngôn ngữ:
+ “Quốc âm” thể hiện được vai trò của nó trong một tác phẩm nghệ thuật, tác giả sử dụng các từ ngữ thuần Việt làm cho ngôn từ bài thơ dung dị, gần gũi, dễ hiểu.
+ Sử dụng các từ láy gợi hình ảnh, sự chuyển vận… như: đùn đùn, lao xao, dắng dỏi… làm cho bức tranh cảnh ngày hè hiện lên sống động, đầy màu sắc.
– Sáng tạo trong việc vận dụng thể loại thơ Đường luật:
+ Câu lục ngôn xen trong bài thơ thất ngôn.
+ Cách ngắt nhịp câu thơ ở câu thơ 3, 4 khác hẳn với lối ngắt nhịp của thơ Đường luật. Cách ngắt nhịp cho thấy sự sáng tạo, nhấn mạnh đến cảnh vật, gây sự chú ý:
Thạch lựu hiên / còn phun thức đỏ Hồng liên trì / đã tiễn mùi hương.
Bố cục bài thơ phân bô’ theo cấu trúc sự cảm nhận của các giác quan: câu 1 (xúc giác), câu 2, 3 (thị giác), câu 4 (thị giác và khứu giác), câu 5, 6 (thính giác), câu 7, 8 (cảm xúc tổng hợp).
3. Cảnh ngày hè thể hiện những rung động trữ tình trước cảnh thiên nhiên ngày hè và khao khát sự no ấm cho muôn dân. Đó là những biểu hiện cụ thể của tư tưởng lớn xuyên suốt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Trãi: tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước thương dân.Xem thêm: Cảm nghĩ về người thân yêu nhất của anh chị!Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về con người Nguyễn Trãi trong bài thơ Cảnh ngày hè. 2.Nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Cảnh ngày hè. 3. Ý nghĩa tư tưởng chủ đề cúa bài thơ Cảnh ngày hè | 605 | |
Cảm nhận của anh (chị) về cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
Hướng dẫn
– Trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, cảnh cho chữ thực sự gây ấn tượng rất mạnh cho người đọc. Có thể nói, tác giả đã dồn bút lực tạo nên một kiểu kết truyện đặc sắc, để lại rất nhiều dư âm. Chỉ với cảnh này, các nhân vật mới thực sự bộc lộ tất cả những gì vốn có của mình. Một Huấn Cao trước đây chỉ được biết đến qua lời truyền tụng viết chữ rất nhanh và rất đẹp, thì giờ đây bàn tay tài hoa ấy sẽ vung bút viết nên những nét chữ vuông vắn, tươi tắn trên tấm lụa trắng còn nguyên vẹn lần hồ trước con mắt cảm phục của những người được vinh hạnh chứng kiến. Một thầy thơ lại trước đây ta ngờ rằng “hẳn không phải là kẻ xấu hay là vô tình", thì lúc này “run run bưng chậu mực” với thái độ khiêm nhường, cung kính, như tự chứng thực phẩm cách trong sạch của mình. Một quản ngục vốn có thiên lương và tấm lòng biệt nhỡn liên tài, trong tình huống này đã không ngần ngại cúi đầu trước khí phách, tài hoa. Rõ ràng, trong cảnh cho chữ, tất cả đều được đẩy đến đỉnh điểm, tột cùng, là sự thăng hoa của mọi vẻ đẹp. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã xem đây là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.
– Muốn lí giải sâu hơn ý nghĩa nghệ thuật của đoạn kết đặc sắc này, trước hết cần hiểu rằng: việc cho chữ được nhà văn miêu tả ở đây là sáng tạo ra một bức tranh chữ (sản phẩm của nghệ thuật thư pháp), cũng có nghĩa là một cái đẹp cao quý được khai sinh. Thử hỏi trên đời này đã có tác phẩm nghệ thuật nào được sáng tạo trong những điều kiện lạ lùng như bức thư pháp được viết đêm nay trong nhà ngục tỉnh Sơn? Hãy xem: không gian dành cho người nghệ sĩ chảng phải là một thư phòng ấm áp, sang trọng như xưa nay vẫn thấy, mà là một buồng giam chật chội, ẩm thấp, hôi hám; tường đầy mạng nhện, nền nhà đầy phân chuột, phân gián. Thời gian là vào ban đêm, nhưng lại là đêm cuối cùng của một tử tù. Ánh sáng soi tỏ căn buồng là một bó đuốc tẩm dầu đỏ rực, khói toả nghi ngút như một đám cháy nhà gọi cảm giác thật dữ dội. Người nghệ sĩ – nhân tố trung tâm quyết định sự ra đời của tác phẩm – là một người tử tù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng", chỉ vài giờ sau sẽ bị giải đến pháp trường. Nội chừng ấy yếu tố cũng đủ thấy cảnh cho chữ là một cảnh thật hiếm có, lạ lùng.
Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Bên kia sông Đuống: Bên kia sông Đuống... Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ– Trong đoạn kết của tác phẩm, người đọc còn được chứng kiến sự thay đổi vị thế kì lạ và ngoạn mục, đảo lộn cả trật tự vốn có của chốn lao tù. Người coi ngục, đại diện của quyền lực nhà nước, thì trở nên nhỏ bé, lặng lẽ phục dịch bên cạnh người tử tù và chắp tay cúi đầu vái nhận lời khuyên bảo của tử tù. Còn người tử tù, kẻ bị tước hết mọi quyền (kể cả quyền sống) thì lại trở nên cao lớn lồng lộng, với quyền uy tối thượng của người nghệ sĩ trong giây phút xuất thần sáng tạo.
– Tuy nhiên, trong khung cảnh trang nghiêm, xúc động này, khoảng cách ấy không phải là bất biến. Khi bức chữ đã được viết xong, khi mùi mực thơm tho tinh khiết toả ngát cả căn buồng, thanh tẩy những gì ô uế, thì trước mát ta không còn kẻ cao người thấp, kẻ sang người hèn. Ba con người, ba mái đầu chụm vào nhau cung kính lặng lẽ ngắm nhìn bức chữ, rưng rưng xúc động trước cái đẹp vừa được sinh thành. Phút tương ngộ diệu kì của những tấm lòng trong thiên hạ, sự giao hoà, toả sáng của tài năng, khí phách và thiên lương, sự thăng hoa của cái đẹp… đó mới thực là điều chưa thấy bao giờ.
– Chiêm ngưỡng cảnh cho chữ đầy ngoạn mục, người đọc còn bị cuốn hút bởi nghệ thuật độc đáo, già dặn của Nguyễn Tuân. Nhà văn có biệt tài trong việc dựng không khí, tạo tình huống, khắc hoạ nhân vật. Chỉ vài nét chấm phá, lập tức một cảnh tượng sáng tạo nghệ thuật thư pháp, đặc trưng của nền văn hoá chữ Hán, hiện ra trước mắt ta thật rõ nét. Đúng như có người đã nhận xét: cảnh cho chữ mang đậm chất điện ảnh bởi Nguyễn Tuân đã biết phát huy tối đa hiệu quả của phép tương phản. Đó là sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng; giữa cái đẹp cao cả của nghệ thuật và chốn lao tù ô uế, phàm tục; giữa người tù thân thể bị gông xiềng mà nhân cách và tinh thần tự do với viên quản ngục có quyền hành mà chảng khác nào chịu án chung thân về mặt tinh thần; giữa con người thiên lương và con người công cụ… Xét trên mọi phương diện, cảnh cho chữ là biểu hiện sâu sắc nhất của cảm hứng lãng mạn của Nguyễn Tuân trong Chữ người tử tù.
Nguồn: Bộ Giáo Dục & Đào Tạo Xem thêm: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương (...) chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên | Cảm nhận của anh (chị) về cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. | 1,000 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ sau trong bài “Thương vợ” của Tú xương: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Gợi ý
Hình ảnh người vợ hiện lên trong hai câu thơ trên là một người phụ nữ đảm đang tần tảo sớm hôm nuôi chồng, nuôi con. Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh, từ ngữ đặc sắc để thể hiện nỗi vất vả của vợ và sự cảm thông của mình đối với sự vất vả của người vợ.
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông’’.
“Quãng vắng” thì đơn chiếc, nguy hiểm; “đò đông” thì sớm sủa, lam lũ. Đã vậy, hai từ “lặn lội”, “eo sèo” lại được đảo lên để khắc sâu vất vả một đời làm vợ. Nơi làm việc của bà Tú cũng ẩn chứa những nguy hiểm khôn lường: "quãng vắng", "mặt nước". Đặc biệt, nhà thơ đã mượn hình ảnh "thân cò" trong ca dao để khắc hoạ sâu thêm dáng vẻ lam lũ tảo tần của vợ. Nhắc đến "thân cò" là nhắc đến những:
"Cái cò lặn lội bờ ao
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”.
Hình ảnh người vợ lặng lẽ làm việc nuôi chồng nuôi con với một đức hy sinh vô cùng lớn lao là hình tượng nổi bật trong bài thơ.
Vanmau.edu.vn
Xem thêm: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hay nhất | Cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ sau trong bài “Thương vợ” của Tú xương_ “Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông” | 240 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng Bê-li-cốp
Gợi ý
Từ những cốt truyện giản dị, tác phẩm của Sê-khốp thường đặt ra rất nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn, ý nghĩa nhân bản sâu xa. Sê-khốp được xem là đại biểu lớn cuối cùng của văn học hiện thực Nga nửa cuối thế kỉ XIX, nhà cách tân thiên tài về thể loại truyện ngắn và kịch nói. Truyện ngắn “Người trong bao” được sáng tác trong thời gian nhà văn dưỡng bệnh ở thành phố I-an-ta. Là câu chuyện cười ra nước mắt của Bê-li-cốp, một kẻ mắc bệnh sợ hãi, sống chết đều thảm hại, “Người trong bao” dựng lại không khí u ám, nặng nề ở Nga cuối thế kỉ XIX, thổi cảm giác ấy vào trong lòng người đọc từ đó nói lên khát khao về một sự thay đổi.
Bằng ngòi bút tài năng của mình, Sê-khốp đã dựng lên hình tượng Bê-li-cốp chân thực, đầy ấn tượng từ dáng vẻ bên ngoài đến tính cách, lối suy nghĩ bên trong. Bức chân dung đó được vẽ bằng những nét vẽ thật rõ, thật kì quái và dần được bổ sung, tô đậm thêm. Với cặp kính đen luôn gắn trên gương mặt nhợt nhạt, bé choắt như mặt chồn, Bê-li-cốp nổi tiếng trước hết ở cách ăn mặc, phục sức kì quái, khác thường. “Hắn ta nổi tiếng về một điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào những khi đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông”. Tất cả đều màu đen và đều nằm trong bao, cho vào bao. “ô hắn cũng để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ây cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô bẻ đứng lên…” Cái hình hài trong bao đó của Bê-li-cốp đã khiến cho tác giả phải chán nản mà thốt lên rằng: “Nói tóm lại, con người hắn lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài”. Con người là tổng hòa của những mốì quan hệ, vật mà có kẻ lại muốn tách mình ra khỏi quy luật ấy, muốn sống tách biệt ra khỏi cuộc sống hiện tại. Khát vọng đó vừa là một điều kỳ dị, cũng vừa là một thái độ sống đáng thương. Ngay cả những ý nghĩ của mình, y cũng cố gắng để giấu vào trong bao. Y không có ý kiến riêng về bất kỳ một vấn đề nào. Nói điều gì cũng viện vào các chỉ thị, thông tư, sợ bị vi phạm vào những chỉ thị, thông tư ấy một cách hết sức máy móc và giáo điều. Tính cách kì quái đó của Bê-li-côp được tác giả đây lên cao hơn nữa với khá nhiều dẫn chứng sinh động trong cuộc sống hàng ngày. “Ớ nhà hắn cũng sống thế thôi: cũng vẫn mặc áo khoác ngoài, đội mũ, đóng cửa, cài then, có đủ sự ngăn cấm và hạn chế, lúc nào cũng sợ nhỡ có chuyện gì xảy ra. Buồng ngủ của Bê-li-cốp chật như cái hộp. Khi nằm ngủ, hắn kéo chăn trùm đầu kín mít..”.. Trong mối quan hệ vài bạn bè, đồng nghiệp, hắn cũng có những thói quen hết sức kì cục và khác người như thế. Những tiếng thở dài và cái thói quen sống của hắn tác động đến những người xung quanh, khiến cho họ cũng đang dần trở thành một “Bê-li-cốp sợ hãi”: sợ nói to, sự chửi tục, sự làm quen, đọc báo, giúp đỡ người nghèo, dạy chữ… Câu nói cửa miệng của Bê-li-cốp là: “Nhỡ có chuyện gì xảy ra…” Cái sự “nhỡ có chuyện gì” ấy góp phần khắc họa tính cách hèn nhát của hắn, nó chi phối đến cả cuộc đời hắn, khiến cho hắn lúc nào cũng sống trong cảm giác sợ hãi. Bê-li-cốp chưa có một phút giây nào dám sống cho chính mình cả. Hắn tìm kiếm sự an toàn cả về thể xác lẫn tâm hồn trong một cái bao lớn để nó có thể trở thành lớp vỏ ngăn, bảo vệ bao bọc cho hắn khỏi những tác động của cuộc sống bên ngoài. Với nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, Sê-khôp đã xây dựng nên một nhân vật có tính cách kì quái mà vẫn chân thực, có ý nghĩa tiêu biểu, và sức khái quát lớn.Xem thêm: Nghị luận xã hội về nghiện facebook Điều đáng nói là Bê-li-cốp lại luôn luôn thỏa mãn, luôn hài lòng với lối sống cổ hủ, lạc hậu và kì quái của mình. Nhận ra sai làm mới là tiền đề cho việc sửa chữa sai làm ấy, đằng này Bê-li-cốp thì không. Hắn cho rằng sống như y mới là đáng sống, làm việc như hắn mới là làm việc, mới là người có trách nhiệm, mới là công dân tốt của nhà nước, là viên chức mẫn cán với cấp trên. Đó là lẽ sống, lối sống, triết lý sống tự nhiên của hắn. Bê-li-cốp tự nguyện, tự giác tuân thủ nghiêm túc và thường xuyên lối sống trong bao. Hắn không hề biết rằng những người xung quanh đang sợ y, chế giễu y, khinh ghét y, thậm chí là ghê tởm. Hắn cũng không biết rằng lối sống đó gây cảm giác ngột ngạt và khó chịu như thế nào đốì với những người xung quanh như thế nào. Cái đáng lưu ý nhất trong tính cách của nhân vật, cái làm cho nhân vật trở nên kỳ quái, cô độc nhất chính là ỏ chỗ ấy. Chính vì kiểu sống và tính cách ấy nên tình yêu muộn mằn với Va-ren-ca, khi y đã ngoài bốn mươi tuổi không thành công cũng là điều dễ hiểu. Sự xuất hiện của chị em Va-ren-ca như một làn gió mới, thổi vào cuộc sống của Bê-li-cốp, thổi vào cuộc sống của những người dân thị trấn vốn đang bị chìm đắm, ảnh hưởng bởi lốì sống kia. Hai chị em họ sống tự nhiên, vui vẻ, sống đúng với con người, với suy nghĩ và tính cách của họ. Và chính vì vậy, Bê-li-côp rất ngạc nhiên và không thể chịu nổi cách sống của chị em cô. Hắn càng ngạc nhiên hoảng hốt vì lại có thể có người vẽ bức tranh châm biếm, chế giễu tình yêu đầu trong sạch và chân thành nhất của y. Và càng không thể hiểu nổi, vì sao để đáp lại thịnh tình (là những lời giáo huấn về lẽ sống mà hắn cho là đúng đắn). Bê-li-cốp chính là một hình tượng nhân vật con người không khát vọng, bản tính ưa sống đơn độc như con ốc, con sên, lúc nào cũng cố thu mình trong vỏ. Hình tượng Bê-li-cốp có sức khái quát cho một kiểu người trong bao, lối sống trong bao, tính cách trong bao. Hình tượng nhân vật này luôn đồng hành, gắn liền với hình tượng chiếc bao với ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Có thể nói, hình tượng cái bao là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của tác giả. Nó có thể bao hàm, và gợi cho người đọc nhiều ý nghĩa. Đó không chỉ là những thứ Bê-li-cốp dùng để bao gói đồ vật, nhưng đó cũng chính là một cái bao lớn để Bê-li-cốp bao gói chính bản thân mình, tạo ra một cái vỏ, cái kén để chui vào đó, tách biệt với cuộc sống và những biến động của cuộc sống bên ngoài. Cái bao đó cũng giống như lối sống, tính cách của Bê-li-côp, Hơn thế nữa, nó còn biểu trưng cho một kiểu người trong bao, lối sống trong bao, một lối sống không chỉ tồn tại ở Nga cuổì thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mà còn mang tính khái quát chung trong mọi thời đại, về những lớp người đang từng ngày, từng giờ sống nhạt nhẽo, thu mình, sống vô nghĩa lý, không niềm tin, niềm vui, không khát vọng về cuộc sống.Xem thêm: Cảm nhận về Nỗi thương mình (Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)
Bê-li-cốp một cách bất ngờ, gây cho mọi người xung quanh không ít sự ngạc nhiên. Cái chết đó không chỉ là một chi tiết nghệ thuật quan trọng mà còn là một biện pháp nghệ thuật Sê-khốp dùng để đẩy tính cách nhân vật lên tới đỉnh cao. Xét về mặt lô-gic, đó là cái chết tất yếu. Bê-li-cốp với tạng người, cách sống như hắn, chết trong sợ hãi như thế là một điều tất yếu. Nhất là việc với cái chết, với việc nằm vĩnh viễn trong quan tài, cuối cùng Bê-li-cốp đã tìm cho mình cái bao tốt nhất, bền vững nhất. Có lẽ đó chính là mong muốn lớn nhất của y. Nhưng điều đáng nói là đằng sau cái chết của Bê-li-côp vẫn còn rất nhiều điều phải bàn. Ban đầu, trước cái chết của Bê-li-cốp, người ta cảm thấy vui mừng, như vừa trút được một gánh nặng, thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Vậy mà chưa được bao lâu, cuộc sống lại diễn ra như cũ, như khi Bê-li-cốp còn sống: nặng nề, mệt nhọc, vô vị, tù túng… Một cách vô hình, lối sống của Bê-ỉi-cốp đã ngấm vào trong người họ, biến họ thành những người cũng đang trên đà như Bê-li-cốp, sống tẻ nhạt, buồn chán, vô vị… Nhà văn đã khái quát ảnh hưởng, tác động dai dẳng, nặng nề của kiểu người Bê-li-cốp, lối sống Bê-li-cốp đã ám ảnh, đầu độc bầu không khí trong sạch, lành mạnh của văn hóa, đạo đức và tiến bộ xã hội đương thời như thế nào. Tình trạng đó nêu ra một vấn đề đáng báo động: Hiện tượng, lối sống, kiểu người Bê-li-cốp còn sống lâu dài như một hiện tượng xã hội mang tính phổ biến rộng rãi, mang tính quy luật trong lịch sử phát triển của loài người. Bê-li-cốp là sự tiếp nối cho hình tượng ‘’con người thừa” ở văn học Nga trước đó, nhân vật được xây dựng trở thành một nhân vật điển hình tiêu biểu cho lối sống vô nghĩa lý, nhạt nhẽo của không ít người trong mọi thời đại. Nhân vật làm ta nhớ đến hàng loạt các kiểu người tương tự thường hay bắt gặp trong các sáng tác của Sê-khốp. Đó là sự thay đổi thái độ từ vồn vã, vui vẻ đến sợ hãi, qụy lụy thảm hại của anh gầy khi gặp lại một người bạn giờ đã trở thành quan chức (Anh béo và anh gầy). Đó là cái chết của một anh viên chức, chết vì sợ hãi, vì một lí do hết sức ngớ ngẩn: vô tình hắt hơi làm bắn nước bọt vào một vị quan chức cao cấp và luôn cho bị ám ảnh bởi lỗi làm của mình, biến cái lỗi vô tình thành cố tình và cuối cùng, tự mình nhận lấy cái chết thảm hại, chết vì sợ hãi (Cái chết của một viên chức). Là cuộc sống và những ước mơ nhỏ nhoi đến đáng thương của ông lý sự (ở nơi đày ải): “ông lý sự luôn miệng khuyên người ta bằng lòng với chính mình, hãy đừng ước mơ cái gì cả và hãy cầu trời sao cho ai cũng được như ta”. Chính cuộc sống nhát sợ, vô nghĩa lý của những kẻ ấy đã làm trì hoãn, đẩy lùi sự phát triển của xã hội. Với tư cách là một bác sĩ, Sê-khôp không những chỉ ra căn bệnh kinh khủng của thời đại mà còn cố gắng cắt nghĩa căn nguyên của căn bệnh ấy. Nhà văn xây dựng kiểu người là nạn nhân của thời đại và của chính bản thân mình. Họ không hẳn là người xấu mà chủ yếu, họ là một thứ nạn nhân của xã hội. Nỗi sợ hãi dần biến họ thành những quái thai của thời đại, sống không ra hồn người. Lên án, phê phán mạnh mẽ kiểu người trong bao, lối sống trong bao và tác hại của nó đốì với hiện tại và tương lai của nước Nga, của toàn nhân loại, Sê-khốp cũng bức thiết lên tiếng cảnh báo và kêu gọi mọi người cần phải thay đổi cuộc sống, cách sống, không thể sống tầm thường, hèn nhát, ích kỷ, vô vị và hủ lậu mãi như thế được.Xem thêm: Hãy tả lại một khúc sông nhỏ chảy qua làng em hoặc em đã được trông thấy ở một làng bên Hình tượng Bê-li-cốp trở thành một hình tượng điển hình cho lối sống trong bao của một bộ phận không nhỏ người dân Nga thế kỷ XIX và cho lối sống vô nghĩa lý vẫn đang tồn tại trong con người nói chung. Đó sẽ mãi là một hình tượng nhân vật có ý nghĩa giáo dục rất lớn đôi với mọi con người, trong mọi thời đại: hãy tránh xa cái bao của sự hèn nhát, vô nghĩa có thể bủa vây và chụp lấy con người bất cứ lúc nào. Hãy sống một cuộc sống có ý nghĩa, với những người xung quanh, với chính bản thân mình.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng Bê-li-cốp | 2,301 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Gợi ý
Ít có nhà văn nào mà hình tượng bóng tối lại đi vào tác phẩm nhiều như Thạch Lam. Có thể đậm nhạt khác nhau, nhưng trong truyện ngắn của ông, từ Nhà mẹ Lê đến Cô hàng xén, Đêm ba mươi tết.. bóng tối ấy đều xuất hiện như những ám ảnh sâu sắc trong người đọc, tiêu biểu nhất là cái bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thành một ấn tượng không thể nào quên.
Đúng vậy, ít có tác phẩm nào hình ảnh đêm tối lại được miêu tả đậm đặc, trở đi trở lại… như một ám ảnh không dứt như trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam: tác phẩm mở đầu bằng những dấu hiệu của một “ngày tàn” và kết thúc bằng một “đêm tịch mịch đầy bóng tôi”, ở trong đó, màu đen, bóng tốì bao trùm và ngự trị tất cả: đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối, tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm đen hơn nữa. Mệt tiếng trông cầm canh ở huyện đánh tung lên một tiếng ngắn, khô khan, không vang động ra xa, rồi cũng chìm ngay vào bóng tôi… Cả đoàn tàu từ Hà Nội mang ánh sáng lướt qua trong phút chốc rồi cũng “đi vào đêm tối”.. Người đọc cảm nhận đây không chỉ là đêm tối của thiên nhiên, của không gian và thời gian, mà còn là bóng tối của cuộc đời, của những kiếp người nơi phố huyện. Một bức tranh thiên nhiên đầy ấn tượng, được vẽ lên bằng những nét bút tinh tế, lại hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Trong cái phông của khung cảnh bóng tối dầy đặc này, là những mảnh đời của những con người sông trong tăm tối. Họ là những con người bình thường, chỉ xuất hiện thoáng qua, hầu như chỉ như một cái bóng, từ hình ảnh mẹ con chị Tí với hàng nước tồi tàn đến một gia đình nhà xẩm sông lê la trên mặt đất, cho đến cả những con người không tên: một vài người bán hàng về muộn, những đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh tìm tòi… Tất cả họ không được Thạch Lam miêu tả chi tiết: nguồn gốc, xuất thân, số phận… nhưng có lẽ nhờ thế mà số phận của họ hiện lên càng thêm bé nhỏ, tội nghiệp, ai cũng sông âm thầm, nhẫn nhục, lam lũ giông như những cái bóng lầm lũi, lặng lẽ trong cái bóng tối bao trùm và ngự trị tất cả phố huyện. Bóng tối ấy bủa vây kín mít khiến cho ngọn đèn leo lét của hàng nước chị Tí “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ” và ánh lửa từ thùng phở bác Siêu cũng chỉ hắt ra một vầng sáng con con. Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh ngọn đèn chị Tí cứ trở đi trở lại đến bảy lần trong mấy trang truyện ngắn như một biểu tượng đầy ám ảnh về những kiếp sống nhỏ nhoi leo lét, vô nghĩa giữa đêm tối mênh mông của cuộc đời. “Ngọn đèn và ánh lửa cuộc đời” ấy thật yếu ớt và tội nghiệp gợi lên niềm xót xa thương cảm trong lòng người đọc trước một cảnh sống mỏi mòn và ngưng đọng. Cảnh phố huyện chiều tối hôm nay cũng giông như hôm qua và sẽ lặp lại trong ngày mai: mẹ con chị Tí lại lễ mễ dọn hàng, bác phở Siêu lại gánh hàng ra và thổi lửa, bác xẩm lại rải chiếu và bày cái thau sắt… Nhịp sông ấy cứ lặp đi lặp lại ngày này sang tháng khác, đơn điệu, uể oải, buồn tẻ. Xem thêm: Bàn về chuyện được - mất của tuổi trẻ từ một trò chơi ảo ảnh
Và càng đau xót, ám ảnh hơn khi cái bóng tối ấy đã len vào con người, hủy hoại cuộc sống con người, làm cho tâm hồn họ bị chai sạn và xơ cứng. Mà con người đó lại là những em bé mới lớn, còn ngây thơ, trong trắng, hồn nhiên. Mở đầu tác phẩm ta bắt gặp hình ảnh Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều xuyên thấm vào tâm hồn ngây thơ của chị” và “chị thấy buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”. Thạch Lam không miêu tả tỉ mỉ đời sông vật chất của Liên, nhà văn chủ yếu đi sâu thể hiện thế giới tinh thần của nhân vật với nỗi buồn man mác, mơ hồ của một cô bé không còn hoàn toàn trẻ con, nhưng cũng chưa phải là người lớn. Tác giả gọi “chị” vì quả Liên là một người chị biết quan tâm săn sóc em, biết đảm đang tảo tần thay mẹ, nhưng tâm hồn Liên thì vẫn còn là tâm hồn trẻ dại với những khao khát hồn nhiên, thơ ngây, bình dị. Một tâm hồn như thế mà “buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn” thì thật thấm thìa biết bao, đáng cho ta suy nghĩ biết bao về cảnh sông lúc bấy giờ nơi phố huyện.
Liên đã nhìn thấy những con người bé nhỏ, tội nghiệp lầm lũi đi vào bóng tối: mẹ con chị Tí bán hàng nước, bác phở Siêu, gia đình bác xẩm và bà cụ Thi điên cười sằng sặc… Cuộc đời Liên cùng đã âm thầm đi vào bóng tôì từ lúc nào, cô đã sống trong cái bóng tối dầy đặc của phô’ huyện từ bao lâu… mà đến nay, “đêm tối đôl với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa”. “Không sợ nó nữa” nghĩa là đã từng sợ. Chỉ mấy từ “không sợ nó nữa” mà gợi ra bao liên tưởng. Hẳn là Liên đã từng sợ cái bóng tối dầy đặc đã từng bao vây những ngày đầu mới dọn về đây. Còn bây giờ Liên đã “quen lắm”. Sống mãi trong bóng tối rồi cũng thành quen, cũng như khổ mãi người ta củng quen dần với nỗi khổ. Có một cái gì tội nghiệp, cam chịu qua hai từ “quen lắm” mà nhà văn dùng ở đây. Người đọc cảm thấy xót xa khi một tâm hồn thơ ngây non trẻ đã bị vùi sâu trong bóng tối của cuộc đời đến mức thành chai sạn. Một câu văn ngắn mà hàm chứa bao ý nghĩa, để lại nhiều dư ba trong lòng độc giả. Xem thêm: Anh (chị) hãy viết đoạn văn bình luận quan niệm của một số bạn mới ít tuổi đã bắt chước hút thuốc: “Thuốc lá có thể có hại, nhưng cũng có thể có mặt lợi nào đó....” Cuối cùng là những con người dường như đã chìm ngập trong cái bóng tối của cuộc đời, không còn biết gì đến ánh sáng nữa như gia đình bác xẩm lê la trên manh chiếu rách và “ngủ gục trong bóng tối tự bao giờ”, như bà cụ Thi lảo đảo đi vào bóng tối và mất hút trong cái bóng tôl ấy. Những người khác còn lại chút ánh sáng thì mong manh, yếu ớt biết bao: ngọn đèn trên chõng hàng nước chị Tí “chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”, ánh lửa từ thùng phở bác Siêu cũng chỉ hắt ra một vầng sáng con con, còn ngọn đòn của “hai đứa trẻ” chỉ là “những hột sáng lưa thưa lọt qua phên nứa”… Bóng tối đã bủa vây mịt mùng, kín mít, ngự trị lên cuộc đời nghèo nàn, tăm tối của những người dân phố huyện…
Hình tượng bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ chính là hiện thực cuộc đời lúc bấy giờ: cuộc đời của những kiếp người nhỏ bé, vô danh, không bao giờ được biết đến ánh sáng và hạnh phúc, cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối, nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện, và nói rộng ra, trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ và đói nghèo. Hình tượng bóng tối là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Thạch Lam. Hình tượng nghệ thuật này, gieo vào lòng ta một niềm xót thương vô hạn đối với những kiếp người vô danh, bất hạnh trước Cách mạng. Và hơn bảy thập kỉ qua, nó vẫn là một ám ảnh sâu sắc không thôi đối với nhiều thế hệ người đọc. Xem thêm: Nghị luận xã hội về hiện tượng nữ sinh ăn mặc sexy – Văn lớp 12Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam | 1,491 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người Lor-ca trong phần đầu bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo
Gợi ý
“Bao giờ tôi chết
Hãy chôn tôi cùng cây đàn ghi ta
Trong cát
Bao giờ tôi chết
Giữa những cây cam
Và cây bạc hà tốt lành
Bao giờ tôi chết
Xin vui lòng chôn tôi
Trong ngọn tiêu phong
Bao giờ tôi chết"
(Ghi nhớ – Lor-ca)
Khi đọc bài thơ sẽ có rất nhiều người cảm thấy quen thuộc nhưng để hiểu hơn về bài thơ cũng như tác giả của nó thì không phải ai cũng có thể ỉàm đừợc. Rồi người đọc đã một lần nữa được gặp lại Lor-ca trong những vần thơ ấn tượng của Thanh Thảo khi ông viết “Đàn ghi-ta của Lor-ca” mà hiểu và trân trọng hơn cuộc đời của người thanh niên có số phận bất hạnh ấy. Bài thơ mở đầu bằng những mảnh kí ức, rời rạc về Lor-ca còn được lưu truyền lại qua chính những sáng tác của ông:
“những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
di lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn.”..
Khổ thơ như một lời tự sự, kể lại về cuộc đời của nhân vật Lor-ca mà nhà thơ là một người “chép sử’ cần mẫn và đầy nhạy cảm. Mỗi chi tiết trong bài thơ đều gợi nhớ đến hình ảnh của Lor-ca, chàng nghệ sĩ, người thanh niên cách mạng có lí tưởng tốt đẹp nhưng số phận thì bất hạnh. Fe-de-ri-co Gar-ci-a Lor-ca là một người Tây Ban Nha. Anh sinh năm 1898, đúng vào. quãng thời gian mà chủ nghĩa phát-xít đang hoành hành. Không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng, anh còn có tài năng âm nhạc và hội hoạ, là con chim hoạ mi của xứ Espagna. Anh sáng tác rất nhiều ngẫu khúc cho ghi-ta và là bậc thiên sứ hát ca cùng cây đàn duyên dáng này. Nhưng cuộc đời chứa đựng nhiều bất công ngang trái. Tình yêu nước và tài năng đang độ phát triển lại bị đày đoạ bởi tội ác dã man của phát xít. Thi thể của ông được người ta tìm thấy trong đống xác 1500 người bị bắn ngày 19/8/1936 trên miệng một vực sâu gần Granada. Khổ thơ cũng như cả bài thơ xuất hiện rất nhiều các chi tiết liên quan đến cuộc đời của Lor-ca mà phần lớn được rút ra từ chính trong những tập thơ của ông. Từ đó ta thấy hiện lên chân thực bức chân dung của một chàng trai xứ Tây Ban Nha. Đầu tiên là tiếng đàn. “Những tiếng đàn bọt nước.”… Câu thơ có sự chuyển đổi cảm giác. Âm thanh không chỉ được nghe thấy bằng tai mà còn được cảm nhận bằng thị giác và cả một linh giác tinh tế, nhạy cảm. Cây đàn luôn đi liền với Lor-ca. Nói đến anh, người ta nhắc đến cây đàn cùng những khúc ca say sưa ca ngợi cuộc sông của anh, và đến ước mơ được chết cùng với cây đàn ghi ta của anh. Cây đàn ghi-ta, cũng giống như đàn Lyre, là biểu tượng của thi ca, khởi phát và giữ nhịp cho thơ ca chứ không đơn giản chỉ là một cây đàn công cụ âm nhạc thông thường. Lorca đã từng có khát khao được cùng nằm xuống với cây đàn của mình để công hiến tận hưởng cho âm nhạc và cho cuộc sông. Vậy mà ở đây lại vang lên những “tiếng đàn bọt nước”. Tiếng đàn đâu chỉ là tiếng đàn nữa mà còn là thứ âm thanh đầy dự càm, đế’ rồi “tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan” ở những câu thơ sau đó. Hình ảnh thơ không chỉ gợi về Lor-ca mà còn là sự hé mở về số phận của chàng. Tiếp sau đó là một loạt những hình ảnh gắn với chàng trai Lor-ca. Khi Lor-ca cầm trên tay cây đàn thơ của mình, chàng như một torero (đấu sĩ): “Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt”, bước vào đấu trường trong cuộc đấu một mất một còn với con – bò – tót – định – mệnh, một “con bò cô đơn với trái tim cao thượng”.Xem thêm: Hãy trình bày những cảm nhận của mình về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong chương “Đất nước” (trích trường ca "Mặt đường khát vọng")
Chàng sẵn sàng chết trước cặp sừng oai dũng của con bò trọng danh dự ấy, với “những vết thương bốc cháy như mặt trời”. Điệp khúc “Li-la li—la li-la” vừa gợi lên âm thanh tiếng đàn của chàng trai tài hoa, nhưng cũng là gắn với một loài hoa rất đẹp đã từng được nhắc đến nhiều trong thi ca: hoa li—la (hoa tử đinh hương). Nó vang lên giống như âm điệu của bài thơ, vừa tha thiết, dìu dặt đấm say lòng người lại vừa đau đớn, xót xa. Trong tiếng đàn ấy, Lor-ca bừớc đi “đi lang thang về miền đơn độc / với vầng trăng chếnh choáng / trên yên ngựa mỏi mòn”. Một lần nữa lại là hàng loạt các hình ảnh của Lor-ca đựợc Thanh Thảo hình dung qua những vần thơ. Con người ấy, đi giữa cuộc đời mà luôn cảm thấy cô đơn. Có Ịẽ đó là do những ám ảnh về cái chết của nhà thơ. Một cái chết được báo trước luôn ám ảnh Lor-ca và chính nó đã trở thành một trong những động lực lớn nhất của thơ ông. Cùng với tình yêu và cái đẹp, chúng hoán đổi cho nhau trong những nỗi ám ảnh lớn. Có lẽ bởi người thanh niên có tâm hồn cao thượng ấy đã sớm nhận ra cái tàn ác của bọn phát xít trong xã hội mà chàng đang sống. Chúng là giống ruồi nhặng, chúng là cái chết mang hình ruồi nhặng, “cái chết đẻ trứng vào vết thượng”. Và có lẽ, cũng chính bởi thế mà anh khát khao khi chết được chôn cùng với cây đàn ghi ta, với niềm đam mê và sự trong sạch của chính mình, để cây đàn rồi cũng sẽ không bị lạc loài trong cái cô đơn ấy. Muôn đời nhà thơ cũng vẫn chỉ là một dáng hình đơn độc, đơn độc trong sự sống của chính mình. Lor-ca chấp nhận và tôn vinh sự chết như đã chấp nhận và tôn vinh tình yêu, cái đẹp vì ông đã thấy trong cái đẹp có sự chết cũng như trong cái chết có tình yêu. Và nhà thơ một mình, lang thang, tìm kiếm giấc mộng về vầng trăng. Ta nhớ đến “Bài ca mộng du” của ông, khi hai người bạn mê man trèo lên lan can cao tít “lan can của vầng trăng – nơi nước gieo vang dội”, họ trèo lên, để lại phía sau những vệt máu, vệt nước mắt, để lại phía sau cuộc đời họ để đi tđi tận cùng khát vọng của mình, tình yêu của mình, cái đẹp của mình và cả cái chết của đời mình. Người bạn kia chỉ có trong tưởng tượng thế nên hành trình của Lor-ca, như những gì Thanh Thảo phát hiện, vẫn chỉ cô độc có một mình. Lor-ca đau khổ, Lor-ca cô độc, Lor-ca luôn dự cảm về cái chết bởi vì dưới bàn tay của bọn phát xít, “cái chết đẻ trứng vào vêt thương” là quá nhiều. Nó song hành với hình ảnh một chàng kị sĩ cô đơn “con ngựa đen, vầng trăng đỏ”, với hình ảnh nàng Di-gan như ngọn lửa xanh, “xanh thân hình, xanh tóc”… Thanh Thảo đã từng viết: “Lor-ca là nhà thơ của những giấc mơ, của những linh cảm nhoi nhói, một nhà thơ có thể biến những ước mơ thành nhịp điệu, có thể biến những linh cảm thành ngổn từ. Lor-ca siêu thực một cách tự nhiên, hiện thực một cách tự nhiên”. Những lời ấy có lẽ là lời lí giải cho tất cả những hình ảnh và tiên cảm thường xuất hiện trong thơ ông.Xem thêm: Trong cuộc đối thoại với Đế Thích, nhân vật Hồn Trương Ba (Vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ) có nói: “Không... cần biết!”. Lởi thoại đó của nhân vật mang ý nghĩa gì? Có thể nói, Thanh Thảo đã vô cùng tài tình khi chỉ bằng một vài câu thơ ngắn gọn mà khái quát được cả về một cuộc đời bất hạnh. Không tìm đâu xa xăm, ông lấy chính những hình ảnh thơ, những nỗi đau, những dự cảm thường xuất hiện trong thơ Lor-ca để xây dựng nên bức chân dung tự hoạ của chính anh. Đó là bức chân dung của một người thanh niên có lí tưởng bị vùi dập dưới bàn tay quân phiệt của bọn phát-xít. Anh có tài năng, anh có niềm đam mê, nhưng thực tế cuộc sông cũng khiến anh luôn ám ảnh bởi những dự cảm không chút sáng sủa. Một số phận bất hạnh, nạn nhân dưới chế độ phầt xít.
Giọt nứớc mắt vầng trăng làm nên phút thăng hoá âm thanh bất diệt “li—la li—la li-la” cứ ngân mãi, hoà quyện cả màu sắc, âm thanh, ánh sáng, sự sống thành một thể thống nhất. Định mệnh – lá bùa trôi vào xoáy nước khép lại cuộc đời người chiến sĩ chống phát-xít kiên cường. Chàng ném trái tim mình vàọ im lặng, nhưng tiếng đàn – hồn thơ vẫn như lan tỏa trên dòng sông cuộc sống vĩnh cửu, mà mỗi giọt âm thanh ấy hoà tan thành sắc li—la tím mãi màu vọng tưởng.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người Lor-ca trong phần đầu bài thơ “Đàn ghi ta của Lor-ca” của Thanh Thảo | 1,637 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc… Sông Mà gầm lên khúc độc hành”. (Quang Dũng – Tây Tiến)
Gợi ý
Đề bài:
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mà gầm lên khúc độc hành".
(Quang Dũng – Tây Tiến)
Bài làm:
Nằm trong mảng đề tài viết về người lính Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp, “Tây Tiến” là bài thơ thành công khi xây dựng được hình ảnh người lính không chỉ mang phẩm chất chung của tất cả những người lính Việt Nam mà còn mang những nét riêng độc đáo. Điểm nổi bật trong bài thơ là hình tượng người lính với vẻ đẹp bi tráng, được khai thác thông qua bút pháp lãng mạn vẻ đẹp này của hình tượng người lính tập trung nhất trong khổ thơ:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mà gầm lên khúc độc hành".
Bài thơ ra đời vào năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, khi Quang Dũng nhớ đến những người đồng đội cũ của mình trong binh đoàn Tây Tiến xưa. Đây là bài thơ viết về một binh đoàn mà phần lớn là thanh niên trí thức Hà Nội. Họ ra đi chiến đấu, mang trong mình nhiệt huyết hừng hực của tuổi hai mươi nhưng tâm hồn cũng chất chứa đầy nét hào hoa lãng mạn của một chàng trai Hà thành, ở những khổ trước, người ta bắt gặp hình ảnh người lính Tây Tiến trong cuộc hành quân vất vả nhưng vẫn đầy lãng mạn, mở rộng hồn mình ra để cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời, sửng sốt trước sự xuất hiện của một “bông hoa về trong đêm hơi”, say đắm trong bức tranh “nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Và cũng chính họ thật tinh nghịch, dí dỏm khi phát hiện ra hình ảnh đầy sức gợi “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Người lính không ít được miêu tả trực tiếp (trừ hình ảnh “anh bạn dãi dầu không bước nữa”) mà chủ yếu hiện lèn qua bức tranh thiên nhiên, trong nét vừa tương đồng vừa đôi lập với thiên nhiên đó. Đến khổ thơ này nhà thơ đã giành cả một đoạn thơ dài chỉ để nói về hình ảnh người chiến sĩ và sự hi sinh đầy bi tráng của họ. Người lính được miêu tả qua những hình ảnh thực, gợi cảm:Xem thêm: Phân tích ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh đàn ghi ta trong bài thơ Đàn ghi tơ của Lor-ca (Thanh Thảo).“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Hình ảnh miêu tả xuất phát từ hiện thực những khó khăn gian khổ mà người lính gặp phải. Đó là thời tiết khắc nghiệt, đói ăn, bệnh tật, sốt rét hoành hành khiến cho hình hài trở nên tiều tuy: “không mọc tóc”, “xanh màu lá”. Nói đến những gian khổ, vất vả nhưng giọng thơ Quang Dũng thật hào hùng, ông gọi binh đoàn Tây Tiến là đoàn binh không mọc tóc. Cả một “đoàn binh” lại mang “oai” của hùm tạo cho người ta cảm giác ở đó dường như đang toát lên sức mạnh lớn lao không thể nào khuất phục được. Sức mạnh đó được bổ sung thêm bằng hình ảnh:
"Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều tham”
Hai hình ảnh, một thực tế, một lãng mạn được đặt cạnh nhau thậm chí còn là cầu nối cho nhau. Ánh mắt trừng “gửi mộng qua biên giới” thể hiện cái uy phong lẫm liệt của họ. Ta tự hỏi tại sao lại là “mắt trừng gửi mộng” mà không phải là ánh mắt nào khác? Phải chăng khoảng cách là quá xa mà người chiến sĩ thì chỉ muốn rút ngắn nó lại trong chốc lát để nhanh được trở về với Hà Nội thân thương? Cũng có thể, nhưng điều quan trọng là thông qua hình tượng ấy, người lính Tây Tiến hiện lên không chỉ anh dũng, hào hùng mà còn đầy chất uy nghiêm và đầy sức mạnh. Ba câu thơ đang miêu tả theo cấp độ có thể nói là tăng tiến về hình ảnh đầy ấn tượng của người lính chợt chùng lại bởi một “dáng kiều thơm” ở mảnh đất quê hương. Chi tiết này thể hiện sự tinh tế của Quang Dũng, nhà thơ miêu tả người lính trong những nét phi thường nhưng vẫn không quên đồng cảm với một giấc mơ bình thường nhất và cũng là lãng mạn nhất: giấc mơ về một dáng kiều thơm. Họ là những chàng trai mười chín, hai mươi tràn đầy nhựa sống, khát khao yêu và khát khao hạnh phúc. Họ có quyền mơ về một bóng hình giai nhân nào đó chứ! Nhiều hơn thế, hình ảnh người con gái còn gắn với mảnh đât Hà thành, nơi người lính đã sinh ra nên có lẽ giấc mơ ấy còn là giấc mơ về gia đình, về quê hương, mảnh đất nơi họ đã sinh ra và gắn bó. Sự thay đổi đột ngột của hình tượng thơ làm cho bài thơ thêm hấp dẫn đồng thời khẳng định nét lãng mạn trong tâm hồn những người lính trẻ. Người lính trẻ hiện lên trong đoạn trích ánh hùng bất khuất trước gian khổ nhưng cũng ngang tàng và đầy nghịch ngợm. Thêm một nét để họ trở nên gần gũi, đáng yêu và đáng quí.Xem thêm: Em hãy phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) thể hiện trong cảnh ngộ từ khi cô bị bắt làm con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra đến khi trốn khỏi Hồng Ngài
Trước đó chỉ bằng hình ảnh “gục lên súng mũ bỏ quên đời”, Quang Dũng đã khiến cho người đọc ngậm ngùi về sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Nhà thơ tránh không dùng đến từ hi sinh mà khắc hoạ người lính Tây Tiến ngã xuống nhưng vẫn trong tư thế bước tiếp khúc quân hành cùng đồng đội. Những câu thơ tiếp theo này lại một lần nữa nhắc đến hi sinh của những người lính trong binh đoàn Tây Tiến:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Bốn câu thơ trước hết dựng lên một thực tế trong cuộc chiến đấu. Người chiến sĩ ra đi là đã xác định trước được những gì mình sẽ phải trải qua:
“Làm cách mạng từ khi tôi biết
Dấn thân vô là chịu tù đày
Là gươm kề cổ, súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa”
Chiến trường khốc liệt không thể mang lại cho người nằm xuống một nơi an nghỉ vĩnh viễn bên cạnh những người thân yêu. Ngã xuống, họ sẽ là một trong những “nấm mồ viễn xứ” trên biên cương, tiếp tục làm công việc ngày đêm canh giữ từng tấc đất thân thương. Không ai không xác định được điều ây. Vậy mà họ vẫn ra đi, vẫn cống hiến. “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Bởi nói như nhà thơ Thanh Thảo:
“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc?
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi
Thì còn chi Tổ quốc?”
Chính bởi xác định được lí tưởng sống cao đẹp ấy mà lớp lớp thanh niên vẫn ngay đêm hát vang khúc quân hành, ra đi bảo vệ quê hương, đất nước. Rồi có những người ngã xuống “giản dị và bình tâm” nhưng cái chết của họ lại mang dáng dấp của một vị anh hùng sử thi. Hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn, người hi sinh không có lấy một mảnh chiếu trưđc khi đưa về với đất. Tấm áo ngày thường vương bụi trường chinh trở thành áo bào đưa cấc anh về với đất mẹ. Cuộc ra đi có sự chứng kiến và tiễn đưa của đất trời. Dòng sông Mã “gầm lên” khúc bi ca độc hành đầy đau đớn xót xa nhưng cũng thật hào hùng.Xem thêm: Nghị luận xã hội về lòng khoan dung Khố thơ sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ có ý nghĩa trong việc khắc hoạ hình tượng người lính. Hình ảnh thơ cụ thể, gần gũi như “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”, “mắt trừng”… kết hợp với sự đối lập, so sánh (quân xanh màu lá), sự chuyển đổi linh hoạt của cảm xúc (Mắt trừng gửi mộng qua biên giới./ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm ), cùng biện pháp nhân hoá (Sông Mã gầm lên khúc độc hành)… làm cho người lính hiện lên chân thực, gần gũi: dữ dội, can trường nhưng cũng rất đa tình, hào hoa
Có thể nói, hình tượng người lính Tây Tiên hiện lên trong đoạn thơ mang vẻ đẹp bi tráng mà không hể bi lụy. Cái bi tráng được thể hiện ở những khó khăn, gian khổ cũng như mất mát, hi sinh mà người lính phải trải qua nhưng tâm hồn và ý chí của con người thì luôn bất khuất, vượt qua và chiến thắng hoàn cảnh. Giữa cái khổ con người vẫn hiện lên thật đẹp. Trong cái chết nhưng vẫn thấm đẫm chất hùng. Nhắc đến đau thương, mất mát nhưng không làm nhụt chí mà chỉ góp phần thể hiện hình tượng người lính, tăng thêm vẻ đẹp hào hùng cho hình tượng đó. Chất bi tráng được kết hợp với cảm hứng lãng mạn và ngợi ca tạo nên hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến mang vẻ đẹp sử thi nhưng vẫn vô cùng gần gũi và thân thuộc.
Đoạn thơ đã thể hiện trọn vẹn hình tượng người lính trong bài thơ, góp phần vào sự thể hiện chủ đề chung của tác phẩm. Hình tượng người lính hiện lên mang vẻ đẹp bi tráng trong cảm hứng lãng mạn và ngợi ca hào sảng. Thành công của đoạn thơ và cả bài thơ đã diễn tả cảm động tình cảm của Quang Dũng dành cho những người đồng đội của mình ở binh đoàn cũ: Binh đoàn Tây Tiến.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau_ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc… Sông Mà gầm lên khúc độc hành”. (Quang Dũng – Tây Tiến) | 1,818 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng Ph. Gar – xi – a Lor – ca được thể hiện qua bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca của Thanh Thảo
Gợi ý
Thanh Thảo là một cây bút luôn nỗ lực để cách tân thơ, kiếm tìm những cách biểu đạt mới. Một mặt, ông tìm kiếm chất người ở những nhân cách thanh cao, bất khuất, những tâm hồn phóng khoáng, yêu tự do. Mặt khác, ông không ngừng tìm tòi thể nghiệm để làm mới hình thức biểu đạt của thơ, ảnh hưởng từ những trường phái thơ tượng trưng, siêu thực trong văn học phương Tây. Tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác đó là bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca, được rút từ tập Khối vuông ru-bích (1985). Bài thơ lấy cảm hứng trực tiếp từ những phút đầy bi phẫn nhất trong cuộc đời Gar-xi-a Lor-ca: Lor-ca là một thiên tài – nhà thơ, nhạc sĩ, nhà viết kịch, nhà hoạt động sân khấu người Tây Ban Nha – đại diện cho tinh thần tự do và khát vọng cách tân nghệ thuật của thế ki XX. ông bị phát xít Phrăng-cô giết trong thời gian đầu của cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha. Cái chết của Lor-ca không chỉ gây chấn động lớn ở Tây Ban Nha mà còn với toàn thế giới, không chỉ lúc bấy giờ mà còn âm vang tới nhiều năm sau. Trong bài thơ này, Thanh Thảo đã tạo dựng được hình tượng bi tráng về người nghệ sĩ chân chính trong môi trường bạo lực thống trị. Có thề nói, bài thơ đã làm sống lại huyền thoại về Gar-xi-a Lor-ca – một con người, một nghệ sĩ, một chiến sĩ của một xứ sở và về chính âm nhạc cùng thi ca.
Mở đầu bài thơ, tác giả đã vẽ nên hình tượng một nhà nghệ sĩ Lor-ca với cây đàn mà tiếng đàn tan ra và long lanh như bọt nước:
Những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
Lor-ca được miêu tả trên cái nền rộng lớn của văn hóa Tây Ban Nha mà biểu tượng là áo choàng đỏ. Nói đến đất nước Tây Ban Nha là người ta nghĩ ngay đến đấu trường với những đấu sĩ trong tấm áo choàng, ở đây, Thanh Thảo nói đến sắc màu đỏ gắt – màu đỏ tạo một ấn tượng thật mạnh mẽ. Lor-ca với cây đàn, tiếng đàn như hòa vào đất nước Tây Ban Nha, không khí đấu trường tạo ra những gì là dữ dội, căng thẳng, không khoan nhượng, một mất một còn. Tác giả dường như đã tạo ra sự tương phản đối lập quyết liệt giữa khát vọng tự do dân chủ với bọn độc tài phát xít Phrăng-cô; giữa những cách tân nghệ thuật và những gì là lối thể hiện khuôn sáo, lạc hậu, già nua.Xem thêm: Bình giảng bài thơ Mới ra tù, tập leo núi (Tân xuất ngục, học đăng sơn) của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trên cái phông nền văn hóa đậm chất Tây Ban Nha ấy là hình ảnh của Lor-ca:
Đi lang thang về miền đơn độc
Với vầng trăng chếnh choáng
Trên yên ngựa mỏi mòn
Hình ảnh vầng trăng từ bao đời nay vẫn là biểu tượng gợi nguồn cảm hứng sáng tạo thi ca; còn hai chữ chếnh choáng lại gợi cho ta cảm nhận về chất men say sáng tạo. Mấy chữ yên ngựa mỏi mòn lại cho thấy hành trình tìm kiếm vô cùng gian khổ của người nghệ sĩ thiên tài Lor-ca. Trên hành trình ấy, Lor-ca đi lang thang về miền đơn độc – câu thơ đã cho thấy đây là con người cô đơn, cô độc nhưng đầy kiêu hãnh đến với cái đẹp, đến với tự do, với những cách tân nghệ thuật. Dù mải miết đi, dù yên ngựa mỏi mòn nhưng với Lor-ca thì đó lại là một cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ. Nhà thơ luôn bồn chồn, phấp phỏng khi phải đối diện với cuộc sống phong phú, bất tận mà vẫn chưa thể tìm ra cách thể hiện tôi ưu, hoàn hảo. Trên hành trình gian nan ấy, thi sĩ luôn có sự thôi thúc mãnh liệt của men say sáng tạo, của khát vọng tự do. Tất cả như đang vẫy gọi Lor-ca đi tới.
Từ thực tế lịch sử của đất nước Tây Ban Nha năm 1936 với hơn một trăm ngàn người bị bọn phát xít giết hại, còn Lor-ca cùng chết dưới viên đạn tàn bạo của quân thù và bị chôn trong nấm mồ tập thể, tác giả đã có những câu thơ mang tính chất khái quát cao khi thể hiện số phận oan khuất của Lor-ca;
Tây Ban Nha
Hát nghêu ngao
Bỗng kinh hoàng
Áo choàng bê bết đỏ
Ở đây, Thanh Thảo đã có cách diễn đạt khác thường: Tây Ban Nha – hát nghêu ngao. Ta như thấy người nghệ sĩ Lor-ca khi đã trở thành ca sĩ cho một đất nước, một dân tộc đang cất tiếng hát đòi tự do dân chủ. Điều đó cũng đúng với Lor-ca – một người vẫn được xem là một nghệ sĩ hát rong thời trung cổ, hay con họa mi của thơ ca Tây Ban Nha. Nhưng ở đây, câu thơ còn mở ra liên tưởng khác, đây là người du ca với tiếng hát, tiếng ca của những sáng tạo nghệ thuật, của những gì là tự do. Như chúng ta đã biết, Lor-ca đã bị bọn phát xít giết hại và Thanh Thảo cũng đã đề cập đến sự kiện bi thảm ấy qua những tương phản đối lập để tạo một kết cục kinh hoàng – đó là tương phản giữa áo choàng đỏ gắt (là hình ảnh chiếc áo choàng của các đấu sĩ Tây Ban Nha ở khổ thơ trước, tạo ra không khí của một đấu trường dữ dội) và giờ đây lại là áo choàng bê bết đỏ (máu đã thấm loang cả chiếc áo choàng). Hình ảnh và sắc màu gây ấn tượng thật dữ dội về tội ác của bọn phát xít khiến Lor-ca kinh hoàng, người Tây Ban Nha kinh hoàng. Tất cả ở trong trạng thái sững sờ, kinh sợ, không thể hiểu được những gì đã diễn ra. Tai họa đã đến bất thình lình và thật khủng khiếp. Những con người đang hướng tới khát vọng dân chủ cũng không tài nào hiểu được bọn phát xít lại sẵn sàng chà đạp lên tất cả một cách phũ phàng, tàn nhẫn và độc ác.Xem thêm: Bình giảng đoạn văn sau trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà" của Nguyễn Tuân: "Thuyền tôi trôi trên sông Đà… nó khắc hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên” Đó là nói đến những người Tây Ban Nha, còn người nghệ sĩ mẫn cảm với cái đẹp càng kinh hoàng khi thấy những thế lực thù địch dám làm tất cả để hủy diệt cái đẹp, cái thiện:
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
Lor-ca đã đi ra pháp trường trong trạng thái mộng du. Lor-ca đang phải đối mặt với một kết cục đau thương, đẫm máu vậy mà tâm trí, tình cảm của Lor-ca như đang hướng đến những cách tân nghệ thuật, bởi khát vọng tự do dân chủ mãnh liệt như những đam mê cuộn trào và chàng chẳng còn để ý, chẳng còn biết đến những gì đang diễn ra, kể cả cái chết đang cận kề. Điều đó đã cho thấy dũng khí của Lor-ca – một con người đã hiến dâng cả tuổi trẻ, cuộc đời cho cuộc đấu tranh giành khát vọng tự do, dân chủ.
Thanh Thảo cảm thông đến tận cùng với Lor-ca, nhà thơ tài hoa của đất nước Tây Ban Nha, nên đã viết nên những dòng thơ thật hay về sự giã biệt của Lor-ca:
Đường chỉ tay đã đứt
Dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
Trên chiếc ghi ta màu bạc
Những câu thơ nói về đường chỉ tay và dòng sông dường như muốn nói đến định mệnh phũ phàng, phận người thì ngắn ngủi còn thế giới thì vô cùng. Nhưng càng hiểu những dòng thơ này với ý nghĩa tạo dựng huyền thoại, ta sẽ thấy nhà thơ thể hiện Lor-ca trong thời khắc về cõi vĩnh hằng, không còn nữa một Lor-ca đi lang thang về miền đơn độc, cũng chẳng còn Lor-ca đi như người mộng du, lòng cháy bỏng những khát khao khi bị điệu vô bãi bắn. Giờ đây, dòng sông đã trở thành ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa thực tại và siêu thoát. Trên dòng sông cuộc đời, thời gian vĩnh cửu, Lor-ca đã đi trên con thuyền huyền thoại – đó là chiếc ghi ta màu bạc. Không còn nữa cây dàn ghi ta màu nâu mà tác giả nhắc đến ở những dòng thơ trên. Màu bạc của đàn ghi ta, có người thấy hư ảo một màu huyền thoại nhưng cũng có thể thấy sắc bạc ấy như sáng lên, ánh lên long lanh, lấp lánh của khát vọng tự do, những cách tân nghệ thuật mà Lor-ca một thời theo đuổi.Xem thêm: Chỉ ra và phân tích giá trị của biện pháp tu từ ngữ âm trong câu thơ sau: "Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/ Đường bạch dương sương trắng nắng tràn" (Tố Hữu) Chàng nghệ sĩ ấy đã bỏ lại cuộc đời, ném lại tình yêu và số phận mình vào xoáy nước của cuộc đời đầy máu và nước mắt để ra đi:
Chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
Vào xoáy nước
Chàng ném trái tim mình
Vào lặng yên bất chợt
Ở giữa ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa thực tại và siêu thoát, Lor¬ca đã giã từ cuộc đời. Tác giả đã thể hiện Lor-ca với hai hành động: ném lá bùa cô gái Di-gan và ném trái tim mình. Hai hành động này đã mờ ra những cảm nghĩ về Lor-ca từ rất nhiều bình diện: Lor-ca đã hiện diện bàng trái tim đầy tình thương yêu nhưng mặt khác ta cũng thấy Lor-ca không còn nuối tiếc cái lá bùa hộ mệnh, chàng đã ném nó vào xoáy nước. Hành động ấy còn mang ý nghĩa tượng trưng: Lor-ca đã biểu hiện thái độ hoàn toàn chủ động trước cái chết. Lor-ca không chỉ thắng được bọn phát xít mà còn chiến thắng cả định mệnh. Phải chăng, hai hành động liên tiếp này của Lor-ca với tất cả sự mạnh mẽ, quyết liệt, còn như cho thấy Lor-ca muốn chấm dứt tất cả hệ lụy trần gian.
Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca thực sự là khúc tưởng niệm rất sâu sắc về thi hào Gar-xi-a Lor-ca. Trong bài thơ, ta thấy hình ảnh một Lor-ca cô đơn đi lang thang về miền đơn độc – đó là một dáng vẻ của một lãng tử, một du ca. Lor-ca hát nghêu ngao, có lúc lại đi như người mộng du với những khát khao cháy bỏng về tự do cùng men say sáng tạo (vầng trăng chếnh choáng). Đồng thời, bài thơ cũng cho người đọc chứng kiến thời đoạn bi thảm nhất của Lor-ca và con người đại diện cho văn hóa, âm nhạc và thi ca của đất nước Tây Ban Nha đã bị bọn phát xít sát hại cùng sự giã từ, giải thoát của Lor-ca.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng Ph. Gar – xi – a Lor – ca được thể hiện qua bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca của Thanh Thảo | 1,940 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”
Gợi ý
Đề bài:
Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau:
"Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuôi đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.
Bài làm:
“Việt Bấc” của Tố Hữu không chỉ là bài ca ân tình thuỷ chung giữa những con người của cách mạng với đồng bào miền núi, Đó còn là khúc hát ngợi ca thiên nhiên và con người nơi mảnh đất xa xôi của Tổ quốc. Hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc được nhà thơ tập trung khắc hoạ ngợi ca trong những dòng thơ tươi đẹp:
"Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhá những hoa cùng người.
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình. Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc. Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc. Cảnh mùa đông có nét ấm áp, rực rỡ, tươi tắn, chứ không phải là sự lạnh lẽo, hắt hiu. Bức tranh đan dệt bởi nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, vàng. Nó không chỉ có nhiều sắc màu mà còn ngập tràn ánh sáng. “Anh” là một từ rất gợi, hé mở sức sống kì diệu của cảnh và người Việt Bắc. Không thấy con người hiện hữu cụ thể mà chỉ qua hình ảnh "dao gài thắt lưng”, bóng dáng của người lao động vẫn hiện lên đầy bình dị, thân thiết. Bức tranh mùa đông đẹp vẻ đẹp ấm áp từ trong lòng cảnh vật, từ trong sức sống lao động của con người.Xem thêm: Soạn bài Tình người với đất
Mùa xuân Việt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ, sắc xanh của rừng, tạo nên nét đẹp tinh khôi, thơ mộng của cảnh. Màu trắng của hoa có khả năng bao chiếm không gian, nhấn mạnh sự thanh khiết của cảnh vật. Hình ảnh con người Việt Bắc hiện lên với vẻ dẹp giản dị trong công việc lao động hàng ngày. Chỉ cần hình ảnh rất nhỏ cũng làm sáng vẻ đẹp cần mẫn, bền bỉ, kiên trì của người lao động trong công việc lao động của họ.
Nếu câu thơ mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì câu thơ mùa hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng Việt Bắc. Tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui. Sự hòa quyện giữa âm thanh và màu sắc đã tạo nên sự độc đáo cho cảnh vật. sắc vàng của rừng phách như muôn tràn ra ngoài, ứa nhựa sống nhờ những tác động rộn ràng của tiếng ve. Câu thơ mùa hạ tưng bừng bởi thanh âm, náo nức bởi màu sắc, nhộn nhịp của cuộc sống lao động. Hình ảnh cô em gái hái măng không gợi nên sự lạc lõng, cô đơn mà hiển hiện người lao động bình dị, làm chủ công việc của mình, đã trở thành điểm nhấn cho bức tranh mùa hạ.
Hình ảnh vầng trăng mùa thu hòa bình mát rượi và tiếng hát ân tình vang ngân của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu. Bức tranh ấy lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi cảm. Khúc hát ân tình vang lên trong tâm hồn thi sĩ, vọng lại từ rừng thu Việt Bắc kháng chiến. Cái đẹp của thiên nhiên hòa quyện với cái đẹp của con người.Xem thêm: Đồng chí (Chính Hữu) và Bài thơ về Tiểu đội xe không kính (PhạmTiến Duật) là hai bài thơ tiêu biểu viết về đề tài người lính cách mạng trong hai thời kỳ chống Pháp và chống Mĩ. So sánh hình ảnh người lính cách mạng ở hai bài thơ này Đặc sắc hơn cả, bức tranh được nhìn bằng tất cả niềm yêu thương, gợi bằng nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả. Từ “nhớ” được lặp nhiều lần, Tố Hữu qua thơ đã dựng lại một bức tranh Việt Bắc giản dị mà thân thuộc tình người. Sự chọn lọc hình ảiih đầy tài nắng, sáng tạo của nhà thơ đã tạo ra một bộ tứ bình độc đáo, hoàn chỉnh. Lời thơ lục bát ngọt ngào, tha thiết làm nỗi nhớ càng thiết tha, sâu nặng.
Viết về cảnh và người Việt Bắc, Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát quen thuộc để thể hiện tình cảm chân thành, thiết tha của mình. Chẳng những vậy, đọạn thơ sử dụng từ ngữ một cách tinh tế; hình ảnh thơ giản dị, gần gũi mà tươi đẹp diễn tả thành công hình tượng thiên nhiên và con ngứời Việt Bắc ân tình, chung thuỷ.
Đoạn thơ nói riêng và bài thơ “Việt Bắc” nói chung đã khắc vào lòng người đọc những hình ảnh đẹp đẽ nhất về cảnh và người Việt Bắc. Đọc bài thơ, không chỉ những con người của cách mạng năm xưa cảm thấy xúc động vô bờ mà cả những con người của thế hệ hôm nay lòng cũng chợt nghiêng nghiêng về một vùng gió ngàn Việt Bắc.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau_ “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” | 973 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh chú bé Va – ni – a trong truyện ngắn Số phận con người (đoạn trích dược học) của Sô – lô – khôp
Gợi ý
M.Sô-lô-khôp là nhà văn Nga nổi tiếng. Năm 1925, tại quê nhà, ông bắt tay viết tiểu thuyết Sông Đông êm đềm và hoàn thành năm 1940. Cuốn tiểu thuyết này đã đưa ông lên đỉnh cao văn chương với Giải thưởng Nô-ben về Văn học năm 1965. Truyện ngắn Số phận con người (1957) đánh dấu bước phát triển mới của văn học Nga: tác phẩm mang lại một cách nhìn toàn diện, chân thực về con người và cuộc sống, về chiến tranh và về số phận con người trong và sau chiến tranh. Ngoài nhân chính của truyện là Xô-cô-lốp thì truyện còn có nhân vật Va-ni-a cũng bị chiến tranh thổi bạt.
Chú bé Va-ni-a chừng năm, sáu tuổi – trong con mắt của An-đrây Xô-cô-lốp thì thằng bé rách bươm xơ mướp. Mặt mũi thì bê bết nước dưa hấu, lem luốc, bụi bặm, bẩn như ma lem, đầu tóc rồi bù, nhưng cặp mắt – cứ như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm! Những chi tiết nghệ thuật được chọn lọc đã bộc lộ cả sự xót thương và lòng yêu mến của Xô-cô-lốp đối với chú bé. Chiến tranh đã cướp đi của em tất cả những người thân (bố chết ở mặt trận, mẹ chết, vì bom khi đi tàu hỏa), em cũng trở thành cô độc giữa cuộc đời, em lang thang, ai cho gì thì ăn nấy và bạ đâu thi ngủ đó. Em chưa thể tự làm để nuôi sống mình và cũng chưa thể ý thức được hết nỗi đau mất cha mẹ mà chiến tranh đã gây ra. Đối với em, chỉ có hai điều là ăn và ngủ. Tuổi của em là tuổi ăn, tuổi lớn nhưng em chẳng có một mái nhà che thân, không có một chiếc giường để ngủ. Hoàn cảnh của em đã cho thấy những nỗi bất hạnh của tuổi thơ không cha mẹ do chiến tranh gây ra.Xem thêm: Màu sắc Nam Bộ trong truyện Những đứa con trong gia đình của tác giả Nguyễn Thi Người lớn không thể không đau lòng khi đứa trẻ bị tước mất sự ngây thơ. Chính Xô-cô-lốp cảm thấy nhói đau trong tim vì tiếng thở dài của bé Va-ni-a:
Một con chim còn non nớt như thế mà đã học thở dài ư? Đấy đâu phải việc của nó? Lo nghĩ, thở dài, buồn bã là những việc của người lớn. Trẻ con phải luôn cười đùa, nhí nhảnh chứ sao lại thở dài? Điều đó đã làm anh hết sức xúc động và đi đến quyết định: Không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được. Mình sẽ nhận nó làm con! Va-ni-a bộc lộ niềm hạnh phúc theo cách của trẻ thơ: hồn nhiên và mãnh liệt. Bé nhảy chồm lên cổ tôi hôn vào má, vào môi, vào trán và như chim chích, nó ríu rít líu lo vang rộn cả buồng lái. Thế là con chim non nớt ấy đã tìm lại được giọng hót của mình trong tình yêu thương Xô-cô-lốp dành cho. Hai trái tim cô đơn lạnh giá bất chợt ấm lên vì.được chụm lại bên nhau. Cả hai đều choáng váng: Nó áp sát vào người tôi, toàn thân cứ run lên như ngọn cỏ trước gió. Còn mắt tôi thì cứ mờ đi, cả người cũng run lên, hai bàn tay lẩy bẩy… Chính lòng nhân ái đã giúp cho trái tim những con người kia không bị chai sạn trước đau khổ mà êm dịu tình người, đã giúp họ vượt qua sự cô đơn.Xem thêm: Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao Sô-cô-lốp đã đưa ra thêm một chi tiết nữa để chứng tỏ sự ngây thơ của bé Va-ni-a. Đấy là chi tiết về chiếc áo bành tô bằng da: Bố ơi, cái áo-bành tô bằng da của bố đâu rồi? Một chi tiết lóe lên trong kí ức của đứa trẻ. Nó nhớ lại chiếc áo bành tô da mà cha đẻ nó từng mặc. Cái chi tiết quan trọng mà chú bé nhớ lại cũng hằn lên trong tâm trí chú như một thắc mắc. Đế giải đáp thắc mắc này thì anh phải đánh trống lảng. Anh cho rằng chưa phải lúc kể cho chú bé biết sự thật cay đắng, chưa nên làm u ám tâm hồn ngây thơ của bé Va-ni-a có cặp mắt xanh như da trời, long lanh như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm. Xô-cô-lốp đã nén nỗi đau riêng để đem lại niềm vui cho chú bé. Giờ đây, anh lại chịu đựng tất cả những gánh nặng mất mát để cho tâm hồn ngây thơ của bé Va-ni-a được thanh thản.
Hoàn cảnh của hai nhân vật thuộc hai lứa tuổi khác nhau bị đặt trong tư thế phải đương đầu với cuộc sống đời thường để phải sống, phải tồn tại, để tiếp tục duy trì sự sống không phải theo kiểu ăn bám hay dựa dẫm vào người khác mà là sống do hai bàn tay, khối óc của họ, bằng năng lực của chính bản thân họ, có tác dụng tố cáo sự tàn khốc và sức mạnh hủy diệt của chiến tranh đế quốc. Cả hai đã bị đặt vào một hoàn cảnh mà trong cuộc đời không một ai muốn gặp phải hoặc vướng vào.Xem thêm: Phân tích nhân vật Phùng trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh ChâuVanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh chú bé Va – ni – a trong truyện ngắn Số phận con người (đoạn trích dược học) của Sô – lô – khôp | 958 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh con đường mòn phân chia ranh Giới hai bên nghĩa địa trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
Gợi ý
Thuốc của Lỗ Tấn gợi một bối cảnh dung dị, trầm lắng và sâu xa: một quán trà, một pháp trường và một bãi tha ma Cảnh tượng nào cũng gây cảm giác buồn buồn, cố hữu. Quán trà của những người vô công rồi nghề thì ngheo nàn, tẻ nhạt. Pháp trường thì toàn những bóng đen lượn lờ dưới ánh đèn dầu khi mờ, khi tỏ. Bãi tha ma thì mộ dày khít như bánh bao nhà giàu trong tiệc mừng thọ, ở giữa có một con đưòrng mòn cố hữu mà nhà văn đã nhắc nhiều lần trong tác phẩm của mình.
Con đường mòn đó là ranh giới phân chia nghĩa địa thành hai phần rõ rệt: bên phải là mộ của người nghèo, bên trái là mộ của nhũng người chết chém Người dân Trung Quốc lúc bấy giờ rất lạc hậu, họ coi làm cách mạng là làm giặc, là trái đạo. Hình ảnh con đường mòn được nhắc nhiều lần trong tác phẩm như một sự ám ảnh về lối sống u mê của người dân đương thời, có thể coi bối cảnh ấy là bức tranh điển hình của nước Trung Hoa thời trung cổ. Tuy nhiên, ám ảnh ấy đã vợi đi phần nào với chi tiết trong truyện: mùa xuân, vào tiết thanh minh, hai bà mẹ đã bước qua con đường mòn cố hữu đến thăm nhau. Đó có thể coi là dấu hiệu tốt lành, hứa hẹn sự giác ngộ của người dân Trung Quốc để con đường mòn không còn là ranh giới ngăn cách mà trở thành con đường chung.Xem thêm: Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh HảiVanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh con đường mòn phân chia ranh Giới hai bên nghĩa địa trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn | 311 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh người cách mạng Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn
Gợi ý
Truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn ra đời vào tháng 5 – 1919 đã mang một hàm nghĩa sâu sắc. Tác phẩm đề cập đến mâu thuẫn của dân tộc, thời đại, khơi dậy nỗi ưu dân, nó đánh trúng vào căn bệnh tinh thần trầm trọng của dân tộc. Thuốc thể hiện tình trạng u mê, tê liệt của quần chúng và bi kịch của người cách mạng tiên phong trong xã hội Trung Quốc đầu thế kỉ XX.
Nhân vật Hạ Du tuy không trực tiếp xuất hiện trong tác phẩm nhưng nhân vật này lại đóng vai trò quan trọng, bởi chính là mắt xích làm nảy sinh toàn bộ mâu thuẫn của câu chuyện cũng như chi phối các sự kiện khác trong tác phẩm. Hạ Du là con nhà bác Tứ chứ con nhà ai, là người cùng làng nên ai cũng biết họ tên, gốc gác,… Khi Hạ Du bị bắt, nằm trong ngục, trước lúc ra pháp trường còn cả gan tuyên truyền cách mạng cho lão Nghĩa mắt cá chép, rủ lão đề lao làm giặc nên đã bị lão ta đánh cho hai cái bạt tai. Những người cách mạng tiên phong như Hạ Du có lí tưởng chống triều đình phong kiến Mãn Thanh, họ sẵn sàng xả thân vì đại nghĩa, hi sinh vì cách mạng, vì sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhưng giữa đông đảo quần chúng u mê, họ chiến đấu một cách đơn độc. Chính vì thế, trong mắt của quần chúng nhân dân, anh là thằng quỷ sứ, là thằng nhãi ranh con, là thằng khốn nạn,… Với bác Cả Khang thì là đáng thương hại, với lão râu hoa râm thì hắn điên thật rồi và với cậu Năm gù thì Hạ Du đúng là một kẻ điên thật rồi. Cái chết của Hạ Du đã mang lại cho một số ít người món hời. May nhất là lão Hoa Thuyên đã mua được thuốc (chiếc bánh bao tẩm máu Hạ Du) để chữa bệnh lao phổi; rồi đến cụ Ba đưa đứa cháu ra đầu thú để được thưởng hai mươi lạng bạc trắng; lão Nghĩa đề lao được cái áo tử tù cởi ra trước khi ra pháp trường; bác Cả Khang thì được mấy đồng bán thuốc cho lão Thuyên,… Ngay cả mẹ Hạ Du cũng không hiểu con, bà kêu là oan con lắm Du ơi! và nguyền rủa chúng nó: Trời còn có mắt, chúng nó giết con thì rồi trời báo hại chúng nó thôi. Quần chúng đều u mê, không hiểu sự nghiệp của những người cách mạng như Hạ Du nên xa lánh, có cái nhìn không đúng đắn, thậm chí sai lệch khiến người cách mạng phải chiến đấu một thân một mình đơn độc, không có sự ủng hộ, đoàn kết, thiếu sức mạnh tập thể. Xem thêm: Thơ phải có tư tưởng, có ý thức, ... Tư tưởng của thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự (Nguyễn Đình Thi - Mấy ý nghĩ về thơ)
Ngôi mộ của Hạ Du được đặt ở nghĩa địa của người chết chém, bên trái con đường mòn. Đây là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho sự nghiệp, sự hi sinh của những người cách mạng như Hạ Du trong thời điểm đó. Anh đã đi trước buổi bình minh, giác ngộ sớm vẫn không được quần chúng nhìn nhận một cách đúng đắn bởi sự u mê, tê liệt của họ. cần phải có một liều thuốc tinh thần chữa bệnh cho dân tộc, căn bệnh quốc dân tính vào lúc này cho người dân Trung Hoa. Trên ngôi mộ Hạ Du, người mẹ già đã rất ngạc nhiên, ngỡ ngàng khi thấy một vòng hoa vô danh với những cánh hoa trắng hoa hồng và hoa không nhiều lắm, xếp thành vòng tròn, không lấy gì làm đẹp, nhưng cũng ngay ngắn. Hình ảnh vòng hoa này cũng mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: mặc dù quần chúng vào thời điểm ấy ở trong trạng thái tê liệt, u mê nhưng không phải tất cả, vẫn có những người hiểu, nhớ đến, tiếc thương, ngưỡng mộ tấm gương người cách mạng tiên phong đã hi sinh vì địa nghĩa. Người dân rồi sẽ thức tỉnh dần, cách mạng rồi sẽ có tiền đồ, có xu thế phát triển.
Tóm lại, Hạ Du là người chiến sĩ cách mạng tiên phong, sẵn sàng hi sinh vì sự nghiệp chống phong kiến, ngay cả khi đã là tử tù vẫn tuyên truyền, vận động cách mạng. Người chiến sĩ ấy đã hi sinh vì lí tưởng, vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc.Xem thêm: Nhà thơ Tố Hữu viết: Ôi! sống đẹp là thế nào hỡi ban? Theo anh (chị) thế nào là sống đẹp? Lấy ví dụ thực tế để chứng minhVanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh người cách mạng Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn | 839 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh ngọc trai – giếng nước
Gợi ý
Hướng dẫn:
Sơ lược cốt truyện, giới thiệu hình ảnh: Ngọc trai là một phan hóa thân của Mị Châu. Giếng nước, nơi có hồn Trọng Thủy hòa cùng trong mối ân hận và sự đau khổ khôn khuây. Lao đầu xuống giếng tự vẫn khi thấy bóng Mị Châu ở nơi ngày xưa hai vợ chồng vui vầy hạnh phúc chứng tỏ con người y là cả khối mâu thuẫn chỉ có thể giải quyết bằng một kết cục bi đát. Y là tội nhân. Y lại cũng là nạn nhân của tham vọng chiến tranh xâm lược. Đó phải chăng là điều y đã thức tỉnh khi tìm đến cái chết?
– Ngọc trai — giếng nước không phải là cặp hình ảnh ca ngợi mối tình thủy chung của “Một đôi kẻ Việt người Tần” (Tản Đà). Bởi bản án của nhân dân rất đỗi công minh. Trong tiếng thét của Rùa Vàng, Mị Châu bị coi là “giặc”. Trong sự phẫn nộ của nhân dân, Trọng Thủy đã phải tự đền tội bằng nỗi hối hận ăn năn. Làm sao có thể ngợi ca những nhân vật đã đưa nhân dân Âu Lạc đến bi kịch dằng dặc mười thế kỉ mất nước?
– Sáng tạo hoàn mĩ này thể hiện thái độ vừa nghiêm khắc vừa bao dung độ lượng của nhân dân. Ngọc trai như là sự ngây thơ trong trắng của Mị Châu. Đem ngọc trai đó rửa với nước giếng, ngọc lại càng sáng hơn. Hình ảnh ngọc trai – giếng nước minh chứng cho sự trong trắng của Mị Châu.Xem thêm: Tả một cuốn từ điểnVanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh ngọc trai – giếng nước | 285 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh quê hương đất nước trong đoạn thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi
Hướng dẫn
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh quê hương đất nước trong hai đoạn thơ sau:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.
Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà.
(Nguyễn Đình Thi – Đất nước)
1. Mở bài
– Giới thiệu về Nguyễn Đình Thi và bài thơ Đất nước.
– Nêụ vấn đề: hai đoạn thơ thể hiện hình ảnh quê hương đất nước đau thương và hào hùng trong chiến tranh.
2. Thân bài
– Phân tích hình ảnh quê hương đất nước trong hai đoạn thơ:
+ Đoạn thơ thứ nhất:
• Hai câu thơ đầu vẽ lên bức tranh quê hương trong chiến tranh vừa có nét chân thực (những chiều hoàng hôn nhìn cánh đồng ngập trong ánh chiều đỏ ối, làng quê bị bao bọc bởi dây thép gai của đồn bốt giặc) vừa mang ý nghĩa biểu tượng (trên nền đỏ của hoàng hôn như màu máu là những hàng dây thép gai chĩa lên như đâm nát trời chiều). Một bức tranh ấn tượng gợi lên thật rõ nét những cảm nhận về nỗi đau thương của làng quê, của đất nước Việt Nam trong chiến tranh và tội ác ghê gớm của kẻ thù.
Xem thêm: Phân tích bài thơ Khuê oán cuả Vương Xương Linh.• Hai câu thơ sau: Nỗi đau của quê hương và niềm căm uất trước tội ác của kẻ thù đã thúc giục bước chân hành quân của người lính: "Những đêm dài hành quân nung nấu". Căm thù giặc là tình cảm thường trực, thôi thúc ý chí và tinh thần chiến đấu của những người lính. Nhưng trong trái tim dạt dào tình cảm của họ vẫn có những khoảnh khấc riêng tư (bồn chồn nhớ mắt người yêu). Hai câu thơ nói nhiều với chúng ta về vẻ đẹp của ý chí và tâm hồn người chiến sĩ, những người con ưu tú của quê hương.
+ Đoạn thơ thứ hai: đoạn thơ kết thúc bài thơ với những câu thơ 6 chữ chắc khoẻ, mạnh mẽ đã tái hiện hình ảnh đất nước Việt Nam trong những giờ phút hào hùng của cuộc kháng chiến. Hai câu thơ đầu là một bức tranh chân thực và hào sảng về chiến dịch lịch sử của đất nước. Các phép tu từ nhân hoá và so sánh có tác dụng gợi tả và biểu cảm rõ nét. Hai câu sau tạc dựng bức tượng đài về đất nước đau thương "từ máu lửa" đã "rũ bùn đứng dậy" và toả ánh hào quang "sáng loà".
– Nhận xét về ý nghĩa và mối quan hệ giữa hai đoạn thơ:
+ Hai đoạn thơ ở những vị trí khác nhau trong bài thơ nhưng là những điểm nhấn trong cảm hứng về quê hương đất nước, gợi lên cả một quá trình chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam.
+ Hai đoạn thơ thể hiện bút pháp nghệ thuật đa dạng, tinh tế, cho thấy nét tài hoa của thơ Nguyễn Đình Thi.
3. Kết bài
Nêu cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về vẻ đẹp của hai đoạn thơ.
Nguồn: thêm: Viết một bức thư ngắn cho một bạn nước ngoài | Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh quê hương đất nước trong đoạn thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi | 579 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh tiếng đàn trong đoạn trích Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo
Hướng dẫn
1. Mở bài
– Giới thiệu về tác giả và tác phẩm: Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca là tiếng nói cảm thương và đầy ngưỡng mộ của Thanh Thảo đối với nhà nghệ sĩ lớn Tây Ban Nha Gar-xi-a Lor-ca. Bằng cả tấm lòng và tài năng của mình, Thanh Thảo đã dựng lên trong bài thơ chân dung Lor-ca – bức chân dung một nghệ sĩ lớn, một nhà cách tân đơn độc với cái chết bi thảm và sự nghiêp dang dở.
– Đoạn trích là những cảm nhận sâu sắc của tác giả về tiếng đàn – tiếng nói của tâm hồn Lor-ca.
2. Thân bài
Hình ảnh tiếng đàn trong đoạn trích được cảm nhận với rất nhiều sắc điệu:
– Tiếng đàn tươi xanh, đầy sức sống, trẻ trung, lãng mạn (tiếng ghi ta nâu – bầu trời cô gái ấy – tiếng ghi ta lá xanh biết mấy). Nghệ thuật chuyển đổi cảm giác đã biến âm thanh tiếng đàn thành những cảm nhận của thị giác, hiển hiện thành sắc màu của tình yêu, sắc màu của sự sống. Những sắc màu của tiếng đàn cũng chính là những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn của người nghệ sĩ.
– Tiếng ghi ta đứt vỡ, nức nở, thương đau (tròn bọt nước vỡ tan, ròng ròng máu chảy). Tiếng đàn mong manh như bọt nước, tiếng đàn rỏ máu như tiếng khóc đau thương. Ởđây nỗi đau được thể hiện, được cụ thể hoá thành nỗi đau da thịt và được cảm nhận bằng rất nhiều giác quan, tạo nên một cảm giác và ấn tượng đặc biệt về bi kịch của người nghệ sĩ. (Có thể liên tưởng đến những câu thơ nói về nỗi đau và sự mất mát, chẳng hạn như: Đứng bên này sông sao nhớ tiếc – Sao xót xa như rụng bàn tay (Hoàng Cầm – Bên kia sông Đuống)…)
– Tiếng đàn để lại dư âm, hiện thân cho sự bất diệt, cho sức sống không thể vùi dập (không ai chôn cất tiếng đàn – tiếng đàn như cỏ mọc hoang). Người nghệ sĩ có thể ngã xuống, nhưng tiếng đàn và khát vọng của anh thì không một sức mạnh nào có thể vùi chôn. Tiếng đàn được so sánh với "cỏ mọc hoang" cho thấy một sức sống, một sức vươn lên mãnh liệt. Những thanh âm bi thương và hào hùng của người nghệ sĩ tài năng Lor-ca sẽ còn mãi như "giọt nước mắt vầng trăng – long lanh trong đáy giếng", soi sáng tâm hồn bao người.
3. Kết bài
– Hình ảnh tiếng đàn trong đoạn trích thể hiện tài năng nghệ thuật của Thanh Thảo, đặc biệt là những sáng tạo trong việc khắc hoạ tiếng đàn với những hình ảnh, ngôn ngữ thơ mang màu sắc hiện đại; sử dụng nhiều yếu tố tượng trưng, siêu thực.
– Sự cảm nhận sâu sắc về tiếng đàn thể hiện tiếng nói tri âm sâu sắc của tác giả đối với tài năng và phẩm chất, nhân cách của người nghệ sĩ chân chính.
Nguồn: thêm: Kể về chú của em và nghề nghiệp của chú | Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh tiếng đàn trong đoạn trích Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo | 550 | |
Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh “Mặt trời chân lí chói qua tim” trong bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu
Gợi ý
Được sáng tác ở Huế tháng 7 năm 1938, “Từ ấy” là bài thơ có một ý nghĩa đặc biệt trong đời thơ của Tố Hữu. “Từ ấy” đánh dấu mốc thời điểm người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Kim Thành trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, trở thành người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi; đánh dấu cuộc hội ngộ vĩ đại giữa lí tưởng cộng sản, tuổi trẻ và thơ. Cuộc hội ngộ kì lạ ấy đã tạo nên chất men say đằm thắm của tình yêu với lí tưởng cách mạng và cuộc đời. Và trước hết là một niềm vui trong trẻo, tin yêu, nhân hậu, niềm vui khi bắt gặp lí tưởng: “Mặt trời chân lí chói qua tim”.
Khổ thơ đầu là khổ thơ diễn tả niềm vui sướng say mê khi gặp lí tưởng của Đảng. Hai câu thơ đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình. “Từ ấy” là cái mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách mạng và đời thơ của Tố Hữu, khi đó nhà thơ mới 18 tuổi. Cánh cửa “từ ấy” trở nên kì diệu, thiêng liêng bởi nó mở ra những điều mới mẻ, lạ lẫm, bất ngờ chưa từng có trước đó. Nó trở thành thời điểm có ý nghĩa khai sinh, bước ngoặt. Và sau “Từ ấy” tất cả mọi thứ đã thay đổi, tươi sáng. “Mặt trời chân lí chói qua tim” là hình ảnh ẩn dụ gắn liền với lí tưởng cách mạng. Chân lí của cách mạng, của đảng, của chủ nghĩa Mác – Lê-nin sáng rực chói lọi, ấm áp, vĩnh viễn, cần thiết như mặt trời, đúng đắn như chân lí đến với một niềm xúc động thành kính thiêng liêng, là hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc. Mặt trời gợi lên nguồn sáng ấm nóng, rực rỡ, bất diệt, đi kèm theo nó là nắng hạ mãnh liệt dồi dào. Nhắc đến nắng hạ và mặt trời người ta thường nghĩ đến những sức mạnh có tác dụng sưởi ấm con người và tâm hồn của họ. Nếu mặt trời của đời thường toả sáng, hơi ấm và sức sống thì Đảng cũng là nguồn sáng diệu kì toả ra những tư tưởng đúng đắn, định hướng con người. Đó là một cách gọi thành kính, ân tình. Ta có thể bắt gặp hình ảnh này trong rất nhiều những bài thơ khác nữa của nhà thơ khi viết về lí tưởng. Lí tưởng cách mạng đến với nhà thơ như một nguồn ánh sáng chói loà xoá tan màn đêm tăm tối, chấm dứt những ngày tháng “không đổi nhưng mà trôi cứ trôi” của người thanh niên trí thức tiểu tư sản. Phút giây bắt gặp lí tưởng trở thành “bừng nắng hạ”, “chói qua tim”. Động từ mạnh “chói” cho thấy ảnh hưởng lớn lao của nguồn sáng chân lí mới đến với nhà thơ: ánh sáng chần lí đã xua tan sương mù trong ý thức người tư sản và mở ra trong họ những chân trời mới. Đây là một hình ảnh ẩn dụ được xây dựng từ những cảm nhận có ánh sáng của hào quang lãng mạn và nhiều mộng tưởng như nhà thơ đã từng tâm sự: “Lòng tôi vui sướng – vô cùng khi cảm thây ánh sáng chủ nghĩa Mác- Lê-nin rọi vào tâm hồn tuổi trẻ của mình. Nhưng lúc đó trong toi phảng phất quan niệm chủ nghĩa cộng sản như một lí tưởng rất đẹp, rất riêng của những con người cao thượng có phẩm chất đặc biệt đứng trên cuộc đời thấp lè tè. Chàng thanh niên như những hiệp sĩ của thời đại mới, hiên ngang giữa sóng gió, súng gươm, và nhất định sẽ chết anh hùng trên đường cách mạng. Phong khí cách mạng lôi cuốn tôi. Nó làm say lòng người”. Tuy nhiên, hình ảnh không vì thế mà mất đi ý nghĩa và vẻ đẹp. Nó mang màu sắc lãng mạn, anh hùng ca để khẳng định một điều có thật và vô cùng có ý nghĩa: sự cảm nhận của người thanh niên trẻ tuổi về cái đẹp của lí tưởng cộng sản và sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Là tiếng reo vui khi đã tìm được chân lí, được lẽ phải của cuộc đời, phù hợp với mình, làm mình xúc động.Xem thêm: Chứng minh rằng: Bảo vệ nguồn nước sạch là bảo vệ cuộc sống con người Châm dứt những ngày:
“Đâu những ngày xưa tôi nhớ tôi
Bâng khuâng đi kiếm, lẽ yêu đời
Vẩn vơ theo mãi dòng quanh quẩn
Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”
Nhà thơ đến với một tương lai mới tươi sáng:
“Rồi một hôm nào tôi thấy tôi
Nhẹ nhàng như con chim cà lơi
Say đồng hương nắng vui ca hát
Trên chín tầng cao bát ngát trời”
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh “Mặt trời chân lí chói qua tim” trong bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu | 858 | |
Cảm nhận của anh (chị) về khổ thơ: “Dữ dội và dịu êm… Sóng tìm ra tận bể” trong Sóng của Xuân Quỳnh
Gợi ý
Cái tiêu đề của bài thơ- đã bao hàm sức gợi. Sóng gắn với những đường nét liên tưởng về trạng thái không bình lặng của mặt nước. Nhưng sóng trong bài thơ của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh biểu hiện cho khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Khát vọng tình yêu và hạnh phúc lứa đôi ấy được kết tinh trong một hệ thống tín hiệu thẩm mĩ của cấu trúc hình tượng nghệ thuật độc đáo.
Bài thơ được mở đầu bằng sự đối cực của những tình huống bất ổn:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
Từng đợt sóng trào lên ngỡ như nhấn chìm, xé nát tất thảy rồi bỗng nhiên chợt lặng, lùi về tít tắp biển xa và để lại vẹn nguyên khoảng trống đến rợn ngợp của nỗi niềm hoài
vọng. Chủ thể trữ tình sau những phút giây rạo rực, dường như chỉ còn sót lại ánh nhìn đau đáu, hướng đến phía nào cũng chạm phải những chiều kích thăm thẳm lòng mình. Một ý nghĩ nào đó bất chợt loé lên, hăm hở, thiết tha và tràn đầy hy vọng, để rồi chẳng bao lâu sau đó, lại đắm chìm trong bời bời trắc ẩn. Hai cặp tiểu đối: Xem thêm: Cảm nhận của bạn về truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
Dữ dội – dịu êm – Ồn ào – lặng lẽ
Vừa là hình thức, vừa nói lên tính chất của những trạng thái xác định. Hơn thế, đó còn là trạng thái khác thường. Không phải những biến thái thiên nhiên quen nhàm, cố hữu nữa, tượng hình và thanh âm của sóng đều để lại những kết tụ dư ba. Cả hai cặp tiểu đối đều mở đầu bằng những động từ mạnh diễn đạt trạng thái tưng bừng mạnh mẽ và kết thúc bằng trạng thái im lìm hụt hẫng. Những biên độ lớn của biến thái bị thu hẹp bất ngờ – điều đó dẫn đến biểu hiện mất thăng bằng nơi trái tim chủ thể. Mọi quen thuộc lặp lại thường ngày bỗng trở nên bất ổn, bỗng tách ra thành những thái cực tương tranh. Sự tương tranh này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến biểu hiện tiếp theo mang tính hệ quả. Chủ thể bỗng bàng hoàng đối diện chính mình, đối diện những mâu thuẫn của lôgíc bên trong, thôi thúc trước nhu cầu khám phá, từ đó nảy sinh khao -khát bứt khỏi những ràng buộc và quy ước thông thường, bứt khỏi giới hạn chật hẹp để vươn ra những chân trời rộng lớn và mới lạ.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về khổ thơ_ “Dữ dội và dịu êm… Sóng tìm ra tận bể” trong Sóng của Xuân Quỳnh | 474 | |
Cảm nhận của anh (chị) về ngày đầu tiên bước vào trường THPT
Hướng dẫn
Mở bài:
Bước qua mỗi giai đoạn của cuộc đời ta đều cảm nhận được những thay đổi ngay chính bản thân mình. Vào một ngày nào đấy, trong những lần nào đấy chúng ta thấy mình lớn hơn và sẵn sàng bước vào một thế giới mới, sẵn sàng cho những dự định tương lai. Đối với tôi cái ngày đầu tiên bước chân vào lớp 10 là một ngày trọng đại. Bởi cái ngày ấy tôi đã không còn là đứa học trò chân trần hay lội đồng bắt cá, đi học trễ và thường xuyên quên bài tập. Tôi đã là một cô nữ sinh áo dài xúng xính cùng biết bao dự định, mơ ước nặng trĩu trên vai. Tôi là học sinh THPT, tôi là một trong biết bao lớp học trò bước qua cánh cổng trường để bước đến tương lai.
Thân bài:
Ngôi trường THPT này không phải quá lạ lẫm đối với tôi dù tôi là đứa học trò nông thôn, trường xã của tôi cách trường THPT gần năm,sáu cây số. Ngôi trường này tôi vẫn hay được mẹ chỉ cho mỗi khi chúng tôi có dịp đi chợ qua hoặc thăm người thân gần đấy. Ngày đó, cánh cổng trường với tôi luôn quá xa và cao, tôi chỉ thấy thấp thoáng bóng các anh chị học sinh qua những tán lá bàng, lá phượng che kín trước sân.
Ngày chúng tôi tốt nghiệp lớp 9, nộp hồ sơ tuyển sinh vào trường tôi không thể tự mình đi vì lúc đó ông tôi mất, tôi phải nhờ người quen. Khi đi thi tuyển, tôi được xếp thi ở một trường cấp hai gần đấy, cái ngày xem kết quả tuyển sinh và đăng kí nhận lớp tôi cũng nhờ cô bạn gần nhà giúp vì tôi bị thủy đậu đau nhức khắp người. Thế là ngày đầu tiên khai giảng, buổi học đầu tiên tôi mới chính thức bước chân vào ngôi trường này. Với tôi ngôi trường THPT đúng thật là mới mẻ, nhiều mong đợi lo lắng.Xem thêm: Phân tích bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu
Ngày ấy, tôi đến thật sớm sau những lần lỡ hẹn với trường, trước đó là một đêm tôi hồi hợp đến mất ngủ và sáng hôm sau chỉ 5 giờ sáng là đã dậy sửa soạn quần áo vì chúng tôi phải đi đò, mất cả tiếng đồng hồ. Cánh cổng trường hôm ấy mở thật lớn, bác bảo vệ mở cả cánh cổng phía sau, cánh cổng này chỉ mở vào ngày khai trường còn những ngày thường lệ thì đóng im ỉm. Tôi như chú nai con lần đầu rời khỏi khu rừng quen thuộc của mình để đến nơi dòng xuối khác, bước những bước chậm chạp và giương đôi mắt lạ lẫm nhìn khắp nơi. Bên trong sân trường khá rộng và những gốc bàng, phượng, bằng lăng tôi đã từng nhìn chúng qua cánh cổng. Những bông hoa phượng đỏ nhạt còn xót lại sau một màu hè, vài hôm nữa chúng sẽ nhường lại cho màu xanh biếc của lá làm thành tán mát rượi cho học trò buổi trưa. Dưới gốc phượng già là một bảng thông tin to tướng để dán những tin tức của trường, chúng tôi thấy tên những học sinh được tuyển vào trường thông báo trước đó. Tôi mò mẫm tìm tên mình dù cô bạn đã xem hộ và đã nhận thay giấy đăng kí lớp học và thời khóa biểu. Cô bạn của tôi vỗ vai tôi và mĩm cười dẫn tôi đi khắp trường. Phía sau dãy phòng học hai lầu là một khoảnh sân nhỏ với những chậu hoa, khóm hoa xinh tươi. Sau này chúng tôi được biết đó là mỗi lớp sẽ có phần đất để trồng và chăm sóc hoa của mình. Bên phải và bên trái sân trường đều có những dãy phòng học khang trang. Nhìn từ cánh cổng trường ra phía sau là dãy phòng thí nghiệm, phòng đọc sách và phòng sinh hoạt ngoài giờ.Xem thêm: Thuyết minh về phong tục cổ truyền ngày tết
Tôi men theo từng lớp học phía sau khoảng đất trống của trường, tôi vui mừng khi bắt gặp cả khu vườn cây xanh tươi, mát mẻ, nơi mà sau này mỗi ngày chúng tôi đều hẹn nhau ra trò chuyện, học bài, chơi đùa…
Các anh chị lớp trước vừa sắp xong bàn ghế trên sân thì tiếng trống bắt đầu buổi chào cờ cũng nổi lên. Tôi hồi hợp nắm tay bạn mình tìm đến hàng ghế ghi tên lớp, tôi được hướng dẫn ngồi phía trước, nơi này tôi có thể thấy rõ nhất từng gương mặt các thầy cô, những người tôi sẽ gắn bó, những người dạy dỗ cho tôi suốt 3 năm học. Không có ai là từng quen biết với tôi nhưng sao tôi không cảm thấy sợ hãi, tôi thấy họ trìu mến và gần gũi làm sao! Nhất là người thầy ngồi phía trước lớp tôi, bạn tôi bảo đó là thầy chủ nhiệm.
Cô MC mời thầy hiệu trưởng lên phát biểu trước học sinh mới, một tràn pháo tay giòn giã chào đón thầy. Thầy hiệu trưởng mới của tôi không có vẽ đáng sợ hay tóc bạc phơ như tôi từng nghĩ. Thầy gầy gầy, tóc điển hoa râm, khuôn mặt phủ lớp bụi phấn và bụi thời gian trong hiền lành, dễ mến. Thầy nói ít nhưng mỗi câu tôi đều ghi nhớ. Không hiểu sao lúc ấy tôi có cảm giác đây là ngôi trường mình sẽ trải qua những ngày tháng vui vẻ và nhiều hi vọng nhất của tuổi trẻ. Từ cô bạn thân bên cạnh mình tới những gương mặt không quen biết phía sau và xung quanh tôi, hay anh bạn vừa lên phát biểu đại diện cho toàn thể học sinh, tôi cảm thấy rồi chúng tôi sẽ thân thiết với nhau, cùng nhau học tập, cùng nhau gắn bó từng kỉ niệm.
Xem thêm: Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện “Vợ chồng A Phủ”
Buổi học đầu tiên của chúng tôi là làm quen với nhau, phân công ban cán sự và học nội quy của trường, nhưng cũng là buổi học khó quên nhất. Tôi cô bé hay thẹn thùng đã dần quen với lớp của mình. Các bạn ai cũng cởi mở, vô tư như từng quen biết. Chúng tôi trò chuyện với nhau và với thầy chủ nhiệm trong suốt buổi sáng hôm ấy. Tôi nghĩ đó là một khởi đầu tốt lành, hứa hẹn những ngày tháng tươi đẹp sắp tới.
Kết bài:
Ngày đầu tiên của tôi khi bước vào ngôi trường THPT là như thế, bao nhiêu cảm xúc khó tả cứ ùa về để lại một khoảnh khắc đáng nhớ trong chúng tôi. Ngôi trường mới là thế giới mới để tôi tự tin bước vào cuộc đời, vì nơi ấy tôi có bạn bè, thầy cô, tôi có những lời dạy bảo chân thành giúp tôi vượt qua khó khăn của học tập để xây dựng ước mơ cho riêng mình. | Cảm nhận của anh (chị) về ngày đầu tiên bước vào trường THPT | 1,215 | |
Cảm nhận của anh (chị) về sự giống nhau và khác nhau giữa nhân vật Tnú (truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành) và nhân vật A Phủ (truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài).
Hướng dẫn
– Tô Hoài và Nguyễn Trung Thành đều là những cây bút văn xuôi tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam sau năm 1945. Nếu Tô Hoài rất sở trường với hiện thực cuộc sống của người dân miền núi Tây Bắc thì Nguyễn Trung Thành lại gắn bó máu thịt với mảnh đất Tây Nguyên trong những năm kháng chiến chống Mĩ. Nếu nói đến Tô Hoài, không thể quên truyện ngắn Vợ chồng A Phủ – một truyện ngắn xuất sắc viết về cuộc sống của những người dân Tây Bắc dưới chế độ phong kiến, thực dân, thì nhắc đến Nguyễn Trung Thành là phải nói đến Rừng xà nu – một “Đất nước đứng lên” của thời đánh Mĩ. Đặt hai nhân vật A Phủ (Vợ chồng A Phủ) và Tnú {Rừng xà nu) bên cạnh nhau, ta sẽ thấy rất nhiều ý nghĩa trong những nét tương đồng và khác biệt giữa họ.
– Sự tương đồng:
+ A Phủ và Tnú tuy được xây dựng trong hai tác phẩm của hai tác giả ở hai thời kì khác nhau, ở hai miền đất khác nhau, nhưng đều là những con người miền núi. Một người thuộc dân tộc Mèo ở vùng Tây Bắc nên thơ (A Phủ), một người thuộc dân tộc Strá ở vùng Tây Nguyên hùng vĩ (Tnú). Cả hai đều mồ côi cha mẹ từ thuở ấu thơ, mang dáng dấp những đứa con côi trong cổ tích. A Phủ và Tnú đều sớm dạn dày, gan góc bởi hoàn cảnh sống đầy thử thách. Có nét gì chung rất dễ nhận ra ở hai con người cách nhau hàng ngàn cây số: đó là sự mạnh mẽ về thể chất và tinh thần. A Phủ đã dám đánh cả con quan, để rồi kiên gan chịu đựng những trận đòn báo thù khủng khiếp. Tnú thì thuở ấu thơ đã dám ra rừng đem gạo nuôi cán bộ, bị bắt, bị chém ngang dọc trên bụng trên lưng vẫn không hé răng khai báo nơi ở của cán bộ, bị đốt mười đầu ngón tay bằng nhựa xà nu vẫn cắn mồi đến bật máu để chịu đựng. Hai người chịu hai kiểu hành hạ, hài kiểu cực hình khác nhau, nhưng ta đều thấy ở họ sự chịu đựng phi thường.
+ Cả A Phủ và Tnú đều là những con người luôn hướng về ánh sáng. Tnú bắt gặp lí tưởng cách mạng được truyền từ anh Quyết, cán bộ của Đảng hoạt động bí mật, Tnú giống như cây xà nu tiếp ánh sáng mặt trời để không ngừng vươn toả lên bầu trời tự do. A Phủ cũng lao khỏi bóng tối ở Hồng Ngài, chạy hàng tháng trời trong rừng để đến Phiềng Sa – khu du kích, rồi sau đó gặp cán bộ, được giác ngộ, trở thành đội trưởng đội du kích. Phẩm chất cách mạng ở những người dân miền núi trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã được hai nhà văn thể hiện rất sinh động.
+ Hai nhân vật ở hai vùng đất khác nhau, thuộc hai tộc người khác nhau, nhưng ta vẫn thấy ở họ có nét nào đó tương đồng trong tính cách. Ngoài sự cứng cỏi, gan góc, A Phủ và Tnú đều rất lặng lẽ, ít nói. Họ thuộc loại nhân vật hành động. Ấn tượng sâu nhất mà người đọc có được về hai nhân vật này là những hành động của họ. Với A Phủ, đó là hành động đánh con quan, hành động đi săn thú rừng, vác cả con bò bị hổ ăn mất một phần, làm bất cứ việc nặng nhọc nào trong nhà thống lí… Nó cho thấy sức mạnh thể chất của một con người. với Tnú, đó là hành động mang gạo ra rừng nuôi cán bộ, đi một mình lên núi cao ba ngày để mang đá trắng về làm phấn học chữ, lấy đá tự đập vào đầu khiến máu chảy ròng ròng khi học chữ không vào, cùng dân làng thức mài vũ khí hằng đêm để chuẩn bị chiến đấu, bóp chết tên đồn trưởng của giặc bằng hai bàn tay thương tích…
– Bên cạnh nhiều điểm tương đồng, A Phủ và Tnú còn có những nét riêng, độc đáo, thể hiện khả năng cá biệt hoá của hai nhà văn. Điều này thể hiện đầy đủ qua số phận riêng của từng nhân vật.
+ Nhân vật A Phủ:
A Phủ hiện ra qua những trang truyện của Tô Hoài là một chàng trai mang trong mình những phẩm chất đáng quý. A Phủ lao động giỏi, có thể đúc lưỡi cày hoặc làm bất cứ việc gì. Thế nhưng, dù giỏi giang như vậy, rốt cuộc A Phủ cũng chỉ an phận làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày. Mặc cho bao nhiêu con gái trong bản ước ao có được A Phủ, chàng trai nghèo này không bao giờ dám mong có được một tổ ấm hạnh phúc gia đình. Một nét nổi bật của A Phủ là sự mạnh mẽ và phóng túng. Không bị trói buộc bởi mặc cảm nghèo hèn, A Phủ vẫn hoà mình vào những cuộc hẹn trong đêm tình mùa xuân như bao nhiêu trai gái trong bản. Cũng bởi tính cách mạnh mẽ, không chấp nhận sự ngang ngược vô lí của kẻ quyền thế, A Phủ dám đánh cả con quan. Có thể đây chỉ là hành động bột phát, tức thời, nhưng nó cũng cho thấy cái sức mạnh thể chất và tinh thần của một con người.
Xem thêm: Phác họa hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Việt BắcCũng vì hành động liều lĩnh ấy mà A Phủ phải chịu đựng biết bao nhiêu đau khổ cả về thể chất lẫn tinh thần. Trước hết là những trận đòn báo thù độc ác. Bọn người nhà thống lí trói A Phủ, đưa về, đánh chửi tàn nhẫn mấy ngày liền, khiến cho mặt mày sưng lên như mặt hổ phù. Không dừng lại ở đó, chúng còn muốn tước đoạt quyền sống của một người tự do bằng cách bắt A Phủ phải nộp một trăm đồng bạc trắng để ăn vạ. Số tiền đó là một đời A Phủ nằm mơ cũng không thấy. Buộc A Phủ vay tiền để nộp vạ, thực chất, thống lí Pá Tra đã sử dụng một thủ đoạn quen thuộc: dùng những đồng tiền nợ để trói buộc số phận con người. Hãy nghe lời tuyên án: "Mày không có trăm bạc thì tao cho mày vay để mày ở nợ. Bao giờ có tiền giả thì cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao. Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”. Với A Phủ, đó là bản án chung thân.
• Đi ở trừ nợ có nghĩa là phải chấp nhận thân phận của kẻ nô lệ trong nhà thống lí Pá Tra. Với sự hỗ trợ của thần quyền, chúng tước đoạt hoàn toàn ý thức về sự tự do tối thiểu của con người. Đã làm kiếp con ở trừ nợ, A Phủ không hề có ý định bỏ trốn, dù đó là việc nằm trong tầm tay. Dường như có sợi dây trói vô hình siết chặt, khiến A Phủ chấp nhận số phận mình như một lẽ đương nhiên.
• Nỗi đau khổ ghê gớm nhất của A Phủ thể hiện qua việc chịu đựng hình phạt của thống lí Pá Tra. Mải đi săn nhím, để hổ bắt mất một con bò, A Phủ bị thống lí Pá Tra áp dụng hình phạt mà hắn quen dùng: trói đứng vào cột cho đến chết. Theo lệnh thống lí, A Phủ lặng lẽ đi lấy cọc, tự tay chôn cọc, lấy dây rồi ngoan ngoãn đứng vào bên cọc để thống lí thực hiện hành động trừng phạt. Không một sự phản kháng, không có sự vùng vằng chống đối. Con người mạnh mẽ, từng dùng cả con quay bằng gỗ ngát đánh vào mặt con quan giờ đây chỉ là một kẻ nô lệ mà sự sống chết hoàn toàn bị định đoạt bởi bàn tay của chủ. Hành động trừng phạt A Phủ không chỉ cho thấy sự tàn bạo của những kẻ thống trị, mà quan trọng hơn, nó thể hiện sâu sắc bi kịch của những con người bị áp bức. Đó không chỉ là nỗi đau về thể xác, mà còn là nỗi thống khổ khôn cùng về tinh thần. Sợi dây trói và thái độ của A Phủ ở đây có tính chất như một biểu tượng. Nó giúp người đọc hiểu rằng: sợi dây trói vật chất thì có thể cắt đứt bằng dao, nhưng sợi dây trói tinh thần thì vô cùng bền chặt. Sợi dây ấy chỉ có thể bị chặt đứt bằng sự giác ngộ về quyền làm người của mỗi cá nhân mà thôi.
+ Nhân vật Tnú:
• Xây dựng nhân vật Tnú trong truyện Rừng xà nu, Nguyễn Trung Thành tô đậm hai nét cơ bản trong tính cách của Tnú: sự gan góc, dũng cảm và đời sống tình cảm phong phú. Thuở ấu thơ, sống trong sự đùm bọc của dân làng, Tnú đã tỏ ra gan góc đến liều lĩnh. Không gì có thể khiến Tnú run sợ. Chính điều đó đã phát triển thành phẩm chất dũng cảm vô song của Tnú lúc trưởng thành. Vượt ngục trở về, Tnú thực hiện ngay hai điều anh Quyết dặn lại trước lúc hi sinh: thay anh làm cán bộ và cất giữ vũ khí để có lúc dùng đến. Làm cán bộ của Đảng và mài vũ khí để cất giữ chẳng khác nào thách thức sự truy diệt của kẻ thù. Với lòng dũng cảm, Tnú đã đối mặt với thử thách ghê gớm này. Ấy là khi anh bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay bằng giẻ tấm nhựa xà nu. Là con người bằng xương bằng thịt, Tnú cũng đau đớn đến cháy ruột cháy gan, nhưng anh không thèm kêu. Anh đã giữ vững dũng khí của một người cách mạng, để người dân Xô Man nhìn vào anh mà hiểu rằng, kẻ thù dù tàn bạo đến đâu cũng không thể dập tắt tinh thần quật cường của họ.
• Con người dũng cảm, cứng cỏi như sắt đá ấy cũng là một người rất giàu tình cảm. Tình cảm phong phú, đẹp đẽ của Tnú được thể hiện trước hết trong quan hệ với Mai. Từ nhỏ, Tnú và Mai đã bên nhau trong lúc vui cũng như lúc buồn, từng cùng nhau mang gạo ra rừng tiếp tế cho cán bộ, từng chụm đầu bên nhau để học những con chữ đầu đời. Vượt ngục trở về, người mà Tnú gặp đầu tiên lại cũng là Mai. Tình yêu trong sáng, thắm thiết giữa đôi trai gái tự do, phóng khoáng của núi rừng Tây Nguyên đã cho kết quả là một gia đình hạnh phúc với đứa con trai đầu lòng. Tình cảm của Tnú đối với Mai và con đã trải qua những thử thách ghê gớm. Đó là lúc Tnú phải chứng kiến cảnh Mai và con bị đánh bằng roi sắt hết sức dã man, để rồi anh phải nhảy xổ ra giữa lũ giặc khi trong tay không một tấc sắt. Đó là đêm về thăm làng, bên bếp lửa xà nu tại nhà cụ Mết, hình ảnh Mai lại hiện lên rõ nét trong tâm trí anh, đến mức, thoạt nhìn thấy Dít, anh ngỡ đó là Mai.
• Tình cảm riêng tư của Tnú hoà quyện đẹp đẽ với tình yêu quê hương. Đi chiến đấu ở chiến trường xa, anh xin về dù chỉ một đêm thôi để được nhìn thấy những khuôn mặt thân thương, để được sống trong không khí ấm áp, để được nghe lại câu chuyện huyền thoại của làng mình.
Như vậy, A Phủ và Tnú, bên cạnh những nét tương đồng, mỗi nhân vật còn có những nét cá biệt, thể hiện tài năng sáng tạo của hai nhà văn. Nhờ đó, nền văn xuôi của chúng ta vừa có sự thống nhất, vừa có sự phong phú.
Nguồn: thêm: Phải chăng “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi" | Cảm nhận của anh (chị) về sự giống nhau và khác nhau giữa nhân vật Tnú (truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành) và nhân vật A Phủ (truyện Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài). | 2,132 | |
Cảm nhận của anh (chị) về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Gợi ý
Thạch Lam thực sự sáng tác chỉ trong khoảng 6 năm, và mất khi mới 32 tuổi. Tuy vậy, ông đã có những đóng góp tích cực đối với nền văn xuôi Việt Nam trên đường: hiện đại hóa. đặc hiệt là ở thể loại truyện ngắn. Nói đến những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, không thể không kể đến tác phẩm Hai đứa trẻ (rút trong tập Nắng trong vườn. NXB Đời Nay. 1938).
Nội dung bao trùm của truyện Hai đứa trẻ là tấm lòng "êm mát và sâu kín" của Thạch Lam đối với con người và quê hương, ở đây, nhà văn vừa thể hiện niềm thương xót đối với những kiếp người nghèo khổ sống lam lũ quẩn quanh trong xã hội cũ; vừa bộc lộ tình cảm gắn bó đối với quê hương đất nước.
Hai đứa trẻ có những nét rất tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn Thạch Lam: yếu tố lãng mạn xen lẫn yếu tố hiện thực, truyện mà không có truyện, câu tứ tựa hồ như một bài thơ… Tất cà thể hiện một tâm trạng mơ Hồ bâng khuâng cùa hai chị em Liên và An khắc khoải chờ đợi một chuyến tàu đêm đi qua, trong không khi tẻ nhạt của phố huyện nghèo nàn, vào một buổi tối mùa hè yên ả.
Đọc truyện Hai đứa trẻ, trước hết, chúng ta có ấn tượng về cuộc sống tàn tạ, tù túng của những kiếp người lam lũ quẩn quang, sống không ánh sáng, không tương lai trong xã hội cũ
Câu chuyện mở đầu bằng những âm thanh và hình ảnh báo hiệu một ngày tàn: "Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều; phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như "hòn than sắp tàn". Thì ra: cái rực rỡ huy hoàng của một ngày đã qua rổi; buổi chiều tà đang đến giờ này chợ cũng đã tàn. Cái đông vui đã mất để lại sự trống vắng hiu quạnh. "Chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ổn ào cũng mất", chỉ còn lại mấy đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh bất cứ cái gì có thể dùng được của những người bán hàng đế lại tất cả đều gợi nên "cái buồn của buổi chiều quê".
Bên cạnh cảnh ngày tàn là những kiếp người tàn. Hàng nước chị Tí vắng khách, tuy chiều nào chị cũng dọn từ chập tối cho đến đêm nhưng "chả kiếm được là bao nhiêu". Bác Sẩm ngồi trên mảnh chiếu, cái thau sắt để trước mặt, "góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng". "Thằng con bò ra đất (…) nhặt những rác bẩn vùi trong cát bên đường" Bà cụ Thi hơi điên lại nghiện rượu, có tiếng cười khanh khách, ghê sợ, sau khi uống một hơi cạn cút rượu ty, "cụ đi lẫn vào bóng tối". Chị em Liên phải thức để "trông một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, dọn từ khi cà nhà bố Hà Nội về quê ở. vì thấy Liên mất việc". Hàng "bán chẳng ãn thua gì", Liên thương mấy đứa trẻ nghèo, nhưng "không có tiền để cho chủng nó". Cành Liên xếp hàng vào hòm. cách hai chị em tính tiền, niềm nuối tiếc cái thời còn ờ Hà Nôi nhiều đêm "được uống những cốc nước lạnh xanh đỏ", cái ý nghĩ phở bác Siêu là món quà xa xỉ không bao giờ chị em Liên có thể mua được… khiến chúng ta có thế hình dung ra gia cánh và mức sống eo hẹp của gia đình Liẻn. Thế mà, có lẽ dẫu sao, gia đình Liên cũng còn có phần khấm khá hơn gia đinh chị Tý và bác Xẩm. vì còn có một gian hàng bé thuê lại của bà lão móm"… Mỗi người một cảnh, nhưng họ đều có chung sự buồn chán, mòn mỏi…Xem thêm: Bàn về chuyện được - mất của tuổi trẻ từ một trò chơi ảo ảnh Khi trời tối hẳn, cà phố huyện dường như thu vào ngọn đèn cùa chị Tý Ngoài ngọn đèn này ra "thứ bóng tối nhẫn nại uất ức đòi thôn quê" (Thế Lữ) làm chủ tất cà. Không phải ngẫu nhiên nhà văn nhắc đi, nhắc lại nhiều lần chi tiết ngọn đèn của chị Tý. Kết thúc tác phẩm, hình ảnh gây ấn tượng day dứt cuối cùng, đi vào giấc ngủ của Liên cũng vẫn là "chiếc đèn con của chị Tý chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ". Phải chăng hình ảnh này chính là biểu tượng của những kiếp người nghèo khổ lam lũ, sống vật vờ leo lét, trong màn đêm của xã hội cũ?
Nhịp sống ở phố huyện này cứ lặp đi lặp lại một cách đơn điệu uể oải. Ngày qua ngày, chiều nào chị Tý "cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm"; bác phở Siêu nhóm lửa, gia đình bác Xẩm chờ khách, người nhà cụ Thừa, cụ Lục đi gọi người đánh tổ tôm. Chị em Liên tính tận hàng rồi cũng ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc bằng và "Ngày nào, cứ chập tối, mẹ Liên lại tạt ra thăm hàng một lần"…
Như vậy "chừng ấy người trong bóng tối" ngày này qua ngày khác sống quẩn quanh tù túng trong cái "ao đời bằng phẳng". Hình ảnh những con người này khiến ta nhớ tới một số câu trong bài thơ Quẩn quanh của Huy Cận:Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu,
Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người.
Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười
Môi nhắc lại chi có ngần ấy chuyện
Tuy thế, họ vẫn hy vọng mơ hồ: "mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ của họ" Chính sự mong đợi mơ hồ này tô đậm thêm tình cảnh tội nghiệp của những nhân vật trong truyện. Họ sống đấy, nhưng đâu biết ngày mai số phận mình sẽ ra sao! Một niềm xót thương da diết của Thạch Lam thể hiện kín đáo ngay trong cách dựng người, dựng cành và ở cái giọng văn đều đều, chậm buổn của ông.
Việc phân tích cành ngày tàn, chợ tàn và những kiếp người tàn trên đây, giúp ta hiểu vì sao Liên và An đêm nào cũng cố thức để chờ chuyến tàu đi qua. Phải chăng hai chị em chờ tàu để bán dược hàng. Không, "Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại, đêm họ chỉ mua bao diêm hay gói thuốc là cùng". Hơn nữa "Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt ", nhưng cô vẫn chưa chịu đi ngủ. Còn "An đã nằm xuống (…) mí mắt sắp sửa rơi xuống", vẫn dặn chị nhớ đánh thức mình dậy, khi tàu đi qua. Hai chị em cố thức chỉ "vì muốn được nhìn chuyến tàu, đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya", vì con tàu đâu chỉ là con tàu. Nó là cả một thế giới khác. "Một thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu". Đối với chị em Liên chuyến tàu là biểu tượng của sự sống giàu sang, náo nhiệt, đầy ánh sáng. Nó gợi kỷ niệm của cái ngày xưa sung sướng của chị em Liên khi thầy chưa mất việc.
Phố huyện rẩm rộ lên chốc lát rồi lại chìm sâu vào bóng đêm yên tĩnh khi con tàu đã đi xa.
Phố huyện lại trở về phố huyện. Hình ảnh ngọn đèn leo lét của chị Tý lại chập chờn trong tâm trạng vật vờ thức ngủ của Liên trước khi ngập hẳn vào "giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối".Xem thêm: Phân tích bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên Hai đứa trẻ đúng là một truyện không có truyện. Tất cả chỉ là tâm trạng của cô bé tên là Liên được diễn tả với một ngòi bút đầy xót thương trân trọng. Đương thời, Thế Lữ cũng đã có nhận xét như thế "‘Sự thật tâm hồn Thạch Lam diễn trong lời văn chương phức tạp nhiều hình, nhiều vẻ, nhưng bao giờ cũng đằm thắm, nhưng nhân hậu, cũng nghẹn ngào một chút lệ thầm kín của tình thương. Nếu Thạch Lam theo một chủ ý nào trong công việc viết văn của anh, thì chú ý ấy diễn ra và gợi lên sự thương xót"
Qua tâm trạng của Liên, phải chăng Thạch Lam còn muốn lay tỉnh những tâm hồn đang chán chường, mòn mỏi lòng khao khát thoát khỏi số phận của mình?
Ngoài ra với ngòi bút vô cùng tinh tế, Thạch Lam còn giúp ta hòa nhập tâm hồn mình vào linh hồn của cảnh vật quê hương:
"Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiêng ếch nhái kêu ran ngoài đồng theo gió nhẹ đưa vào…".
"Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoáng như gió mát…"
"Qua khe lá của cành bằng ngàn sao vẫn lấp lầnh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa rụng xuống với Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu ".
Toàn những cảnh vật, những chi tiết hết sức quen thuôc thường có ở quanh ta. Vậy mà dưới ngòi bút Thạch Lam, chúng trở nẻn gợi cảm biết bao! Và ta hiểu rằng lòng yêu quê hương đất nước của mỗi người Việt Nam chính là được bồi đắp bởi những chi tiết hết sức bình dị này đây.
Truyện Thạch Lam có thể gọi chung là truyện ngắn trữ tình. Khác với phần nhiều truvện ngắn ở thời kỳ này thường lôi cuốn người đọc bởi cốt truyện hấp dẫn, tình tiết mới lạ, (như truyện của Nguyễn Công Hoan chẳng hạn), thì truyện ngắn Thạch Lam lại hấp dẵn người đọc bởi chất thơ trữ tình. Mỗi truyện thường cấu tứ chung quanh một tâm trạng, một suy tưởng âm thầm của nhân vật. Hai đứa trẻ chính là một trong những truyện tiêu biểu của Thạch Lam được viết theo phong cách ấy.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam | 1,789 | |
Cảm nhận của anh (chị) về truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
Gợi ý
Nguyễn Khải tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải, quê nội ở Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi. ông sớm phải lăn lộn, quăng quật vào đời để kiếm sống, nuôi mẹ và nuôi em. Có thể nói, chính những trải nghiệm cay đắng thời niên thiếu đầy éo le, tủi cực khiến cho tính cách cũng như văn chương của ông từ sớm đã có những đặc điểm riêng: đó là sự nhẫn nhịn, khôn ngoan, sắc cạnh, tỉnh táo, là sự già dặn, hiểu người, hiểu đời. Bước sang thời kì đổi mới, cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Khải là một cái nhìn đầy trăn trở, suy nghiệm, cảm nhận hiện thực xô bồ, hối hả, đầy biến động, đổi thay nhưng cũng đầy hương sắc, chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội, lấy việc khám phá con người là trung tâm. Nhà văn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và tiếp nối thế hệ, để rồi cuối cùng bao giờ cũng khẳng định, ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Một người Hà Nội rút từ tập truyện Hà Nội trong mắt tôi (1995) – tác phẩm tiêu biểu cho phong cách sáng tác của nhà văn ở giai đoạn sau này. Tác phẩm đã thể hiện cái nhìn nghệ thuật mới của Nguyễn Khải về cuộc sống và con người; đồng thời, truyện còn phát hiện vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn, tính cách con người Việt Nam qua bao biến động, thăng trầm của đất nước.
Nhân vật trung tâm của truyện ngắn là bà Hiền, một người Hà Nội bình thường. Cũng như những người Hà Nội bình thường khác, bà đã cùng Hà Nội, cùng đất nước trải qua nhiều biến động, thăng trầm nhưng vẫn giữ được cái cốt cách người Hà Nội, cái bản lĩnh văn hóa của người Hà Nội. Bà Hiền là người gốc Hà Nội, có nhan sắc, thông minh, lại sinh ra trong một gia đình gia giáo, có nền nếp và yêu văn chương. Sau năm 1954, gia đình bà chẳng thể di cư vào Nam vì không thể rời xa Hà Nội, không thể sinh cơ lập nghiệp ở một vùng đất khác. Điều đó đã thể hiện tình yêu Hà Nội, sự thiết tha gắn bó với mảnh đất này.
Khi hoà bình lập lại, bà Hiền tỉnh táo và nhận ra niềm vui hơi quá mức và có phần thỏa mãn của con người sau chiến thắng: Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ? Theo bà, chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho kẻ ăn người ở. Bà đã rất thẳng thắn, không giấu giếm quan điểm, thái độ của mình với mọi hiện tượng xung quanh. Bà còn không ngần ngại chỉ ra những nét ấu trĩ trong quan niệm của một thời: gọi anh, gọi cháu là đồng chí – bắt chước ngôn ngữ cách mạng không phải lối, vô duyên của con, của chồng. Bà nhắc phải gọi là anh rồi quay đi khẽ thở dài. Có lẽ, bà buồn vì thời thời chiến tranh đã đi qua nhưng cách ứng xử của những người lính đã ăn quá sâu vào trong nếp sống của người dân, và điều đó nên dần được thay đổi vì đây là thời bình, là thời xây dựng cuộc sống mới,… Bằng sự từng trải và trầm tĩnh, bà Hiền nói đến việc làm ăn chứ không thể mãi say sưa trong chiến thắng, Ở giai đoạn này, mặc dù thời thế đã đổi thay nhưng bà Hiền vẫn giữ vững nếp nhà, vẫn giữ được những nết sinh hoạt truyền thống của một gia đình có văn hóa, có cách sống đẹp, đàng hoàng và sang trọng. Bà dạy từ những việc làm nhỏ nhất về nết ăn nết ở như ngồi vào bàn ăn […] chú ý sửa chữa cách ngồi, cách cầm bát cầm đũa, cách múc canh, cả cách nói chuyện trong bữa ăn đến cái lớn là quan niệm sống, lẽ sống: Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tùy tiện, buông tuồng […] Tao chỉ dạy chúng nó biết tự trọng, biết xấu hổ, còn sau này muốn sống ra sao là tùy. Hóa ra làm người Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa là một trách nhiệm. Trong việc hôn nhân, sinh con, quản lí gia đình và tính chuyện làm ăn thì bà cũng là một người thông minh, sáng suốt và sắc sảo trong cách nghĩ. Thời son trẻ, bà giao du với đủ loại thanh niên con nhà giàu, nghệ sĩ văn nhân, nhưng khi phải làm vợ làm mẹ thì bà lại chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc. Bà không ham danh lợi, sự lựa chọn của cô chứng tỏ cô là người nghiêm túc, không chạy theo những tình cảm viển vông. Lấy chồng xong bà sinh năm đứa con, đến đứa con gái út, bà nói với chồng: Từ nay là chấm dứt chuyện sinh đẻ, bốn mươi tuổi rồi, nếu ông và tôi sống được đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được, khỏi phải sống bám vào anh chị. Đây cũng chính là một quyết định khác người vào thời điểm đó vì thời đó quan niệm Trời sinh voi sinh cỏ. Nhưng điều mà bà Hiền quan tâm ở đây là con cái phải được nuôi dạy chu đáo để chúng có thể sống tự lập được và điều này đã cho chúng ta thấy rõ được tầm nhìn xa trông rộng của bà. Trong việc quản lí gia đình, bà luôn là người chủ động, tự tin và luôn luôn hiểu rõ vai trò của người phụ nữ trong gia đình: Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao. Bà đã nói lên quan điểm về bình đẳng nam nữ và điều đó xuất phát từ thiên chức của người phụ nữ, rất đơn giản và cũng rất tự nhiên. Khi tính đến công việc làm ăn thì bà lại là người có đầu óc rất thực tế, suy tính mọi việc trước sau rất khôn khéo chứ không hề lãng mạn, viển vông: cô đã tính là làm, đã làm là không thèm để ý đến những điều tiếu của thiên hạ. Bà mở cửa hàng bán đồ lưu niệm và tự tay làm ra sản phẩm: Hoa làm rất đẹp, bán rất đắt… chỉ có một mình cô làm, các em thì chạy mua vật liệu… Bà không đồng ý cho mua máy in và thuê thợ làm vì cô muốn góp phần vào việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ để nhanh chóng khôi phục đất nước sau chiến tranh. Điều này xuất phát từ ý tưởng cao đẹp xây dựng một xã hội nhân ái, không có cảnh người bóc lột người, chế độ mới chỉ trân trọng sự lao động sáng tạo của từng người, không chấp nhận hiện tượng ông chủ và kẻ làm thuê,… Bà quả là con người có bản lĩnh, thức thời, khôn ngoan và sắc sảo.Xem thêm: Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong bài kí Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân Bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, bà vô cũng thương con, lo lắng cho con nhưng sẵn sàng cho con ra trận như những thanh niên khác và mình cũng được vui buồn lo âu như những bà mẹ Việt Nam khác: Trước việc đứa con đầu lòng tình nguyện xin đi đánh Mĩ, bà nói: Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó dám đi cũng là tự biết tự trọng. Điều này thể hiện sự dằng xé âm thầm giữa tình yêu con và tình yêu nước, giữa sự lo âu và ý thức về danh dự của một con người. Bà Hiền không muốn con mình gặp nguy hiểm, gian khổ nhưng bà cũng không muốn con mình sống trong đớn hèn và nhục nhã. Bà luôn luôn tôn trọng danh dự của con nên đã cho con đi chiến đấu. Bà không che giấu nỗi đau, không vờ vui vẻ với bà đó là một quyết định khó khăn nhưng hợp lí. Ba năm sau, đứa em theo bước anh, cũng đòi vào chiến trường thì bà đã bày tỏ thái độ của mình: Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó… Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hớm gì. Suy nghĩ bình dị như thế của bà Hiền là suy nghĩ của một người thiết tha yêu nước. Tất cả những suy nghĩ của bà Hiền đều hết sức bình dị song lại thấm đượm đạo lí sâu sắc: một khi con người có lòng tự trọng thì sẽ có lòng yêu nước, sẽ có ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Tình yêu nước của bà được biểu lộ chân thành, tự nhiên, không giả tạo.
Tháng 12 năm 1975, đứa con trai đầu của bà Hiền là Dũng đã trở về. Trong số 660 thanh niên ưu tú của Hà Nội lên đường cùng Dũng ngày ấy, bây giờ còn lại khoảng chừng trên dưới bốn chục, hơn 600 người đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình cho hạnh phúc ngày hôm nay của đất nước. Trong bữa tiệc mừng Dũng trở về, anh đã kể lại câu chuyện của mẹ con Tuất. Cũng như Dũng, Tuất cũng rất yêu Hà Nội, yêu Tổ quốc và cũng rất yêu thương người mẹ của mình. Ngày vào Nam, tàu qua ga Hà Nội, mẹ Tuất làm ở phòng phát thanh ga, Tuất nghe rõ tiếng mẹ mình phát trên loa nhưng anh không thể xuống ga để từ biệt mẹ vì nhiệm vụ chiến đấu tất cả đều phải bí mật, anh phải ghìm sự thương nhớ. Đấy cũng chính là những lời cuối cùng của mẹ mà Tuất nghe thấy vì anh đã hi sinh ở trận đánh vào Xuân Lộc, trước ngày toàn thắng có mấy ngày. Dũng vô cùng thương bạn, vô cùng xót xa và cảm thông với nỗi đau của mẹ Tuất, anh không biết nói thế nào với một bà mẹ có con hi sinh, mà bạn của con mình lại vẫn còn sống, sống đến bây giờ, đến hôm nay. Đó là giá trị nhân bản của cuộc chiến đấu – được tính bằng máu. Không thể vì niềm hân hoan hội ngộ, vinh quang chiến thắng mà lại quên đi những người đã hi sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nguyễn Khải đã khai thác vào một góc khuất của chiến tranh mà trước đó văn học ta chỉ khai thác cái hùng tráng mà chưa nói nhiều về bi kịch của từng gia đình, từng số phận trong chiến tranh. Vào thời điểm ấy, cách nhìn của nhà văn đã có sự chuyển hướng so với văn học giai đoạn trước – đó là hướng đến những cái bình thường,….Có biết bao bà mẹ Hà Nội vô cùng thương con và đầy nghị lực như người mẹ của Tuất, họ đã nén chịu nỗi đau mất con, tiếp tục sống, tiếp tục xây dựng cuộc sống này. Gặp lại bạn chiến đấu của con, người bà run bần bật nhưng không khóc và nói: Nín đi con, nín đi Dũng! Cô biết cả rồi. Cô biết từ mấy tháng nay rồi. Thực ra mẹ Tuất đã biết tất cả nhưng bà đã đã dám chịu để vượt lên nỗi đau của sự mất mát riêng tư, thể hiện vẻ đẹp ngời sáng và cốt cách của người Hà Nội. Có thể nói, tất cả những người Hà Nội ấy đã góp phần tô thắm thêm cốt cách tinh thần người Hà Nội, phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam. Xem thêm: Nghị luận xã hội về kỷ luật học đường Trong thời kì đất nước đổi mới, Hà Nội vẫn yên bình, đẹp đẽ, vững chãi trước bao sóng gió cuộc đời và vẫn giữ được những nét thanh lịch, sang trọng trong cuộc sống hiện đại chính là nhờ những người như bà Hiền. Vì là người yêu Hà Nội, hiểu Hà Nội nên nhân vật tôi rất nhạy cảm với những nét văn hóa Hà Nội được giữ gìn ở người đàn bà bảy mươi tuổi này. Nơi tiếp khách – bộ mặt văn hóa của gia đình bà Hiền là ở cái phòng khách sang trọng, lịch lãm mấy chục năm không hề thay đổi. Đó là nơi lưu giữ những đồ cổ, nhưng chủ của nó vẫn là một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha trộn. Đây chính là một nhận định đánh giá của tác giả về bà Hiền: dù thời gian có trôi qua, Hà Nội có nhiều sự đổi thay nhưng bà Hiền vẫn giữ vẻ đẹp của người Hà Nội, không pha trộn với lối sống mới của Hà Nội hiện đại. Bà hiện lên như một người Hà Nội mẫu mực. Bà là người luôn trân trọng những giá trị văn hóa
của Hà Nội. Bà Hiền đã giữ nếp nhà bất di bất dịch suốt một đời người. Ngay cả khi cơn lốc dữ dội của nền kinh tế thị trường làm xói mòn đi nếp sống của Hà Nội ngàn năm văn hiến thì cùng không thể làm lay chuyển ý thức của những con người luôn tin vào giá trị văn hóa bền vững của Hà Nội. Hàng ngày bà vẫn làm mới những báu vật quý giá bằng thái độ trân trọng, nâng niu, vì thế đồ cổ nhưng thật sang trọng và quý giá trong ngôi nhà ấm áp không khí Hà Nội, nhất là mỗi khi Tết về. Bà Hiền hòa mình vào cảnh sắc Hà Nội trời rét, mưa rây lả lướt chỉ đủ làm ấm áo chứ không làm ướt, bà đang lau chùi cái bát cổ để cắm hoa thủy tiên. Điều đó đã thể hiện cái duyên riêng của Hà Nội, nét quyến rũ của Hà Nội, khiến người xa Hà Nội phải kêu thầm: thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội. Hành động này của bà Hiền thật đẹp, thể hiện sự nâng niu trân trọng những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, bà lau bát thủy tiên như làm sạch đi lớp bụi của thời gian, làm sáng lên lớp men hay những vẻ đẹp, giá trị văn hóa truyền thống? Hành động này đặt trong hoàn cảnh xã hội Hà Nội những năm sau 1975 thật là ý nghĩa, cao đẹp biết bao,… Khi bà Hiền nghe những lời thiếu lịch sự, thiếu văn hóa của người Hà Nội thì bà không bình phẩm mà chỉ lặng lẽ kể câu chuyện cây si mọc ở đền Ngọc Sơn có một phần bộ rễ bật đất chổng ngược lên trời rồi sau đó được thành phố cho máy cẩu tới đặt bên kia bờ quàng dây tời vào thân cây si rồi kéo dần lên, và cuối cùng thì cây si lại sống lại, lại trổ ra lá non. Đấy là bằng chứng cho thấy người Hà Nội hôm nay không chỉ quan trọng vật chất mà còn quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần. Cây si mọc ở đền Ngọc Sơn biểu tượng cho nét cổ kính, linh thiêng của Hà Nội. Cây si cổ thụ có thể bị bão đánh đổ – đó là quy luật khắc nghiệt của tự nhiên, đồng thời đó cũng là quy luật vận động của xã hội: Hà Nội đã trải qua bao biến cố dữ dội trong suốt trường kì kịch sử. Cây si dù bị bật một phần bộ rễ vẫn hồi sinh, lại trổ cành xanh lá là nhờ ý thức bảo vệ của con người. Sức sống của con người Hà Nội cũng vậy. Đây chính là quy luật bất diệt của sự sống. Quy luật này được khẳng định bằng niềm tin của con người: thành phố đã kiên trì cứu sống được cây si. Cây si cũng là một biểu tượng nghệ thuật, một hình ảnh ẩn dụ về vẻ đẹp của Hà Nội: Hà Nội có thể bị tàn phá, nhiễm bệnh nhưng Hà Nội vẫn sẽ là Hà Nội với truyền thống văn hóa được nuôi dưỡng suốt trường kì lịch sử. Xem thêm: Nghị luận về sành điệu Ở phần cuối tác phẩm, Nguyễn Khải đã để cho nhân vật tôi phải thốt lên: Bà già vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như cô phải diệt đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cỏ. Nhưng hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng! Câu nói này của nhân vật tôi thể hiện một tình yêu sâu nặng, một niềm ngưỡng mộ thiết tha đối với văn hóa kinh kì – Hà Nội. Đã có bao lớp người Hà Nội kiến tạo, lưu truyền, bồi đắp cho nét đẹp thủ đô. Hà Nội đang phát triển, giàu sang và hiện đại hơn thì liệu những cái đẹp xưa có được bảo tồn? Trong lời người kể chuyện vừa có niềm lo âu, tiếc nuối lại vừa chan chứa cảm giác tin tưởng, tự hào. Ở đây, tác giả đã gọi bà Hiền là hạt bụi vàng của Hà Nội vì khi nói đến hạt bụi là người ta nghĩ đến một vật rất nhỏ bé, tầm thường, ít ai nhận thấy, chẳng có giá trị gì. Có điều, nếu là hạt bụi vàng thì dù rất nhỏ bé nhưng lại mang giá trị quý báu, bao nhiêu hạt bụi vàng hợp lại thành ánh vàng chói sáng. Bà Hiền là một người Hà Nội bình thường, vô danh, nhưng ở bà thấm sâu những cái tinh hoa trong bản chất người Hà Nội. Những người Hà Nội như bà đã là những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội, tất cả đang bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng. Ánh vàng ấy là phẩm giá người Hà Nội, là cái truyền thống, cốt cách người Hà Nội – Hà Nội linh thiêng và hào hoa, Hà Nội nghìn năm văn hiến.
Một người Hà Nội đã đi sâu vào cuộc đời và tâm hồn một người Hà Nội bình thường để phản ánh hiện thực lịch sử dân tộc trên những chặng đường cách mạng, kháng chiến và xây dựng cuộc sống mới, từ đó nêu bật lên phẩm chất cao đẹp của con người Hà Nội, con người Việt Nam. Cách sống của bà Hiền nhìn chung rất độc đáo, có điều sự độc đáo trở thành giản dị, tự nhiên, là sản phẩm của một ý thức văn hóa chứ không phải cái độc đáo cố ý để diễn, để khoe. Đó là lối sống đẹp, có chiều sâu văn hóa và sự trải nghiệm, chiêm nghiệm; có nguyên tắc chung nhưng không cứng nhắc mà biết dung hòa, uyển chuyển. Qua chân dung bà Hiền, Nguyễn Khải đề xuất một tiêu chuẩn thẩm mĩ mang quan niệm riêng của ông về con người mà ông gọi là một người Hà Nội. Bà Hiền được tô đậm ở bản lĩnh cá nhân, ở nét lịch lãm, sang trọng trong ứng xử, ở ý thức tự trọng. Bà như một biểu tượng của văn hóa Hà Nội – mảnh đất ngàn năm văn hóa. Nguyễn Khải đã đặt nhân vật trong nhiều mối quan hệ như gia đình, bạn bè, dân tộc, môi trường tự nhiên và thời thế,..- để soi ngắm nhân vật từ nhiều chiều, vẻ đẹp của một người Hà Nội toát lên từ điểm nhìn thế sự, hướng tới khẳng định mới mẻ của nhà văn về con người ở góc độ văn hóa.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải | 3,552 | |
Cảm nhận của anh (chị) về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
Hướng dẫn
Cảm nhận của anh (chị) về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn trích sau:
Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân.
Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường.
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương.
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con.
Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em báng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư.
Con nhớ mê! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mêthức một mùa dài.
Con với mêkhông phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ.
Nơi nao qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!
1. Mở bài
– Giới thiệu về Chế Lan Viên và bài thơ Tiếng hát con tàu.
– Giới thiệu nội dung của đoạn trích: thể hiện niềm vui sướng, xúc động của nhân vật trữ tình khi được trở về Tây Bắc, được gặp lại nhân dân.
Xem thêm: Mượn lời Hùng Vương, em hãy kể lại truyền thuyết "Con Rồng cháu Tiên"2. Thân bài
Niềm vui khi trở về Tây Bắc của nhân vật trữ tình thống nhất, hoà quyện với niềm vui khi gặp lại nhân dân càng khơi sâu lòng biết ơn, khát khao gắn bó với nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, có những khổ thơ thiên về diễn tả niềm vui trở về Tây Bắc, có những khổ thơ thiên về diễn tả niềm vui gặp lại nhân dân. Có thể phân tích theo mấy ý chính sau:
– Niềm vui sướng, xúc động khi được trở về Tây Bắc thể hiện trong hai khổ thơ đầu đoạn trích cho thấy vùng đất này không chỉ hào hùng trong kháng chiến (Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng) mà còn gặt hái được nhiều thành quả trong cuộc sống dựng xây (Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất – Nay dạt dào đã chín trái đầu xuân).
Trở về Tây Bắc là trở về với bao kỉ niệm thiêng liêng, là được tắm mình trong nguồn sáng của những chân lí cách mạng và kháng chiến (ôi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa – Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường). Và trở về Tây Bắc là trở về nơi thử thách để trưởng thành trong sự nâng đỡ của bà Mẹ nhân dân, bà Mẹ đất nước.
Cảm xúc bộc lộ rõ qua các hình ảnh và ngôn ngữ, giọng điệu thấm đẫm chất trữ tình (cách xưng gọi thiết tha trìu mến, các thán từ, hô ngữ,…).
– Niềm vui sướng, hạnh phúc khi gặp lại càng khơi sâu lòng biết ơn sâu sắc đối với nhân dân được thể hiện tập trung trong 5 khổ thơ sau:
+ Niềm vui và lòng biết ơn được thể hiện trực tiếp qua hàng loạt hình ảnh so sánh xôn xao sắc màu và cảm xúc: nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng gặp cánh tay đưa.
+ Niềm vui và lòng biết ơn còn được thể hiện gián tiếp qua những gương mặt thân thương, những kỉ niệm ân nghĩa trong kháng chiến gian lao: chiếc áo nâu của người anh du kích, những phong thư của. thằng em liên lạc, những mùa dài săn sóc cưu mang của mế, vắt xôi nuôi quân của em,…).
– Đoạn trích mang đến một quan niệm mới mẻ về nhân dân: nhân dân không còn là khái niệm trừu tượng mà hiện hữu cụ thể qua những gương mặt thân yêu, những kỉ niệm sâu nặng. Cảm xúc trữ tình được thể hiện qua những hình ảnh ẩn dụ, so sánh tài hoa, những vần thơ giàu tính suy tưởng, triết lí mang đậm phong cách Chế Lan Viên.
3. Kết bài
Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về đoạn trích.
Nguồn: thêm: Dựa vào tranh vẽ (tr. 62, SGK Tiếng Việt 2, tập 1) hãy kể lại câu chuyện Bút của cô giáo | Cảm nhận của anh (chị) về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên | 794 | |
Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của dòng sông Hương qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Gợi ý
Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức yêu nước, quê gốc ở Quảng Trị nhưng sống và học tập, hoạt động ở Huế nên tâm hồn thấm đẫm văn hóa Huế. Ông là nhà nhà văn chuyên viết bút kí – một thể loại thể hiện sự phóng túng, bộc lộ được cái tôi của tác giả. Bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường có một diện mạo riêng – vừa giàu trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử rất phong phú, đa dạng. Điều này được thể hiện rõ nét trong bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? (1986). Bài kí đã ca ngợi dòng sông Hương như một biểu tượng của Huế. Tác phẩm gây ấn tượng cho người đọc ngay từ nhan đề của tác phẩm – nhan đề giống như một câu hỏi gợi sự hấp dẫn, cuốn hút, gợi trí tò mò, thể hiện sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của sông Hương.
Trước hết, vẻ đẹp của sông Hương được tác giả phát hiện qua cảnh sắc thiên nhiên, qua sự thay đổi của chính dòng sông. Thật vậy! Ở thượng nguồn, sông Hương hiện lên thật huyền bí, dữ dội, có lúc lại dịu dàng, say đắm. Sông Hương được nhìn từ cội nguồn là dòng chảy có mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn. Trong mối quan hệ này, sông Hương tựa như một bản trường ca của rừng già với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội: khi rầm rộ giữa bóng cây đại ngànf lúc mãnh liệt vượt qua ghềnh thác, khi cuộn xoáy như cơn lốc, lúc lại dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Và như vậy, đây đúng là một dòng sông có vẻ đẹp phóng khoáng và man dại, nhưng bên cạnh đó thì sông Hương cũng rất dịu dàng, thơ mộng và say đắm. Sông Hương ở vùng thượng lưu toát lên vẻ đẹp của một sức sống mãnh liệt, hoang dại và đầy cá tính.
Khi chảy qua rừng già, sông Hương mang vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại; để rồi khi ra khỏi rừng, sông đã thay đổi về tính cách, nó trở nên mềm mại và êm dịu. Sông mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở. Thật ra, cái vẻ đẹp dịu dàng, trí tuệ này của dòng sông đã có cội nguồn ở phần tâm hồn sâu thẳm của nó trong cuộc hành trình gian truân mà nó đã vượt qua. Đoạn văn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố đã bộc lộ nét lịch lãm và tài hoa trong lối hành văn của tác giả. Độc giả khó có thể cưỡng lại một sức hấp dẫn toát lên từ hàng loạt động từ tả dòng chảy sống động của sông Hương qua những địa danh khác nhau của xứ Huế. Giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại, sông Hương là cô gái ngủ mơ màng; nhưng sau khi ra khỏi vùng núi, thì cũng như nàng tiên được đánh thức, dòng sông bỗng bừng lên sức trẻ và niềm khao khát của tuổi thanh xuân trong sự chuyển dòng liên tục, rồi vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Vừa mạnh mẽ dịu dàng, sông Hương có lúc mềm như tấm lụa khi qua Vọng Cảnh, Tam Thai, Lưu Bảo; có khi ánh lên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời phía tây nam thành phố “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”. Màu sắc của sông đã thay đổi theo mỗi thời điểm trong ngày và mang vẻ đẹp trầm mặc khi đi qua bao lăng tẩm, đền đài. Chưa có một dòng sông nào mà màu nước lại thay đổi theo từng thời điểm trong ngày như vậy. Quả thực, sông Hương có được vẻ đẹp bình dị nhưng không tầm thường, trầm mặc nhưng không ủy mị, dịu dàng nhưng vẫn tiềm ẩn khí mạnh của đất đai (Sử thi buồn). Bên cạnh đó, sông Hương còn mang một vẻ đẹp kín đáo trầm mặc khi uốn lượn quanh những rừng thông đặt lăng mộ vua chúa nhà Nguyễn, nó phảng phất vẻ đẹp cổ điển khi qua chùa Thiên Mụ và trở nên vui tươi khi lượn vòng quanh những khóm tre, bụi trúc của thôn Vĩ Dạ nên thơ. Bằng những kiến thức về văn hóa, lịch sử, văn học đã in dấu vào những câu văn nói về những địa danh, những lăng tẩm, tiếng chuông chùa Thiên Mụ về vẻ đẹp trầm mặc mang màu sắc triết lí của sông Hương đoạn ngoại vi thành phố Huế vào câu ca dao: Bốn bề núi phủ mây phong – Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên. Dưới ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường thì vẻ đẹp của sông Hương hiện lên vừa kiều diễm, vừa cổ kính và mang đậm vẻ đẹp của cố đô Huế.Xem thêm: Viết bài văn ngắn nêu suy nghĩ của anh (chị) về “nỗi thẹn” của Phạm Ngũ Lão được thể hiện qua câu thơ Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu (Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu) (Thuật hoài - Tỏ lòng) Hành trình tiếp theo của sông Hương là chảy vào thành phố Huế. Ở chặng đường này, tác giả đã miêu tả sông Hương gặp gỡ Huế như là một cuộc gặp gỡ của hai người yêu nhau, lâu ngày không gặp. Khi đến thành phố Huế, sông Hương như đã tìm thấy chính mình. Nó trở nên vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long, dòng sông kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam – đông bắc, rồi uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến khiến dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu. Ở đoạn này, sông Hương hiện lên e thẹn, ngượng ngùng khi gặp người tình mong đợi và thể hiện sự thuận tình, bằng lòng mà không nói ra. Câu văn viết về dòng sông nhưng không chỉ nói được về dòng sông mà còn nói được về con người – những cô gái Huế dịu dàng, thướt tha, đa tình mà e lệ, kín đáo nhẹ nhàng. Khi đã yêu, họ có ngôn ngữ riêng biểu hiện sự thuận tình mà không nói ra vì e lệ. Một ánh mắt, một nụ cười, một cách cúi đầu,… có thể là tín hiệu của sự thuận tình, đâu phải lúc nào cùng cần nói ra tiếng vâng. Ngoài ra, lưu tốc của sông Hương khi qua thành phố cũng giảm hẳn đi, cơ hồ chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh. Đây cũng là một nét đẹp riêng khác với các dòng sông khác ở nước ta và càng khác với các dòng sông Xen, sông Đa-nuýp, sông Nê-va,… Ở góc độ này, sông Hương chính là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế. Sông Hương chảy chậm, điệu chảy lững lờ vì nó quá yêu thành phố của mình, nó muốn được nhìn ngắm nhiều hơn nữa thành phố thân thương trước khi phải rời xa. Đó là tình cảm của sông Hương với Huế hay chính là tình cảm của nhà văn với sông Hương, với xứ Huế mộng mơ? Có lẽ là cả hai!
Hội ngộ, gắn bó rồi phải chia tay. Sông Hương chia tay với Huế thật bịn rịn, lưu luyến bâng khuâng. Đây là sự lưu luyến bịn rịn của đôi tình nhân: như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh cổ xưa. Cuộc chia tay của dòng sông với thành phố Huế như cuộc chia li lưu luyến của đôi tình nhân, đi chưa nỡ phải vòng quay lại gặp nhau lần cuối. Tác giả gọi đó là nỗi vấn vương, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và ta thấy, trong cảm nhận của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương và Huế chẳng khác nào một cặp tình nhân. Sông Hương vốn đã đẹp, mộng mơ nhưng qua cái nhìn, cách khám phá của tác giả thì con sông đã trở nên có hồn, sống động, tràn trề sức sông đầy lãng mạn tình tứ.Xem thêm: Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi Đó không chỉ đơn thuần là dòng sông của thiên nhiên mà đó còn là dòng sông của văn hóa, dòng sông của thi ca, của âm nhạc. Sông Hương hiện lên như dòng sông âm nhạc khi tác giả miêu tả nó như một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. Theo tác giả, toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh thành trên mặt nước của dòng sông này. Giữa mênh mang sông nước, giữa tĩnh lặng của màn đêm, từng lời ca, tiếng nhạc đã thấm sâu vào hồn người đế lại những dư vị không nguôi. Và hơn thế nữa, nhà văn còn liên tưởng tới câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du tả tiếng đàn trong như tiếng-hạc, làm gợi nhớ làn điệu nhạc Huế Tứ đại cảnh’. Trong như tiếng hạc bay qua – Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. Ông chỉ ra được chất Huế, linh hồn Huế trong thơ Nguyễn Du. Nguyễn Du đã từng làm quan ở Huế, vì thế Hoàng Phủ Ngọc Tường có căn cứ để suy đoán thi hào đã từng nhiều đêm dạo thuyền trên sông Hương, ngắm phiến trăng sầu trên bầu trời Huế và nghe nhạc cổ điển trên sông nước Huế. Tuy nhiên, từ sông Hương đến Truyện Kiều, sự liên tưởng của tác giả chủ yếu là dựa vào những nét tương đồng trong cảnh sắc thiên nhiên. Phải yêu Huế lắm, am hiểu Truyện Kiều lắm thì mới có những liên tưởng sâu sắc đến như vậy.
Dòng Hương Giang còn là đề tài gợi cảm hứng cho các nghệ sĩ để tạo nên một dòng thi ca về nó. Dòng thi ca về sông Hương không bao giờ lặp lại mình bởi mỗi nghệ sĩ đều có khám phá riêng của mình: từ Hương Giang xanh biếc hàng ngày, nó thay màu thực bất ngờ trong thơ Tản Đà: dòng sông trắng – lá cây xanh; từ dòng tha thiết, êm đềm, mơ màng, sông Hương bỗng nhiên hùng tráng như kiếm dựng trời xanh khí phách hào hùng trong thơ Cao Bá Quát; để rồi chuyển thành nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan hay trở thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn trong thơ Tố Hữu,…. Quả thật là sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các thi nhân.
Tiếp tục cuộc hành trình khám phá vẻ đẹp sông Hương, tác giả đem đến cho người đọc vẻ đẹp của dòng sông gắn với lịch sử hào hùng của mảnh đất cố đô. Đó là lần theo thời gian lịch sử, tác giả lùi về quá khứ xa xưa thời các vua Hùng, sông Hương hiện lên là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước. Rồi đến thế kỉ XV, XVI, sông Hương đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam Đại Việt hay vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của anh hùng Nguyễn Huệ; để rồi, trong kháng -chiến chống Pháp, sông Hương chứng kiến những bi thương của phong trào khởi nghĩa cần Vương và lập nên chiến công oanh liệt trong Cách mạng tháng Tám. Trong kháng chiến chống Mĩ, tết Mậu Thân, sông Hương góp sức mình vào chiến dịch này, mong muốn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Như vậy, qua bài bút kí, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn phát hiện ra vẻ đẹp hùng tráng của dòng sông thơ mộng này giữa lòng Trường Sơn, gắn nó với lịch sử dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc. Sông Hương đã mang vẻ đẹp của thiên sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc – sử thi mà trữ tình, hùng ca mà cũng là bản tình ca dịu dàng, tươi mát.Xem thêm: Em hãy viết một bức thư cho bạn ở tỉnh khác để làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốt Và cuối cùng, vẻ đẹp sông Hương còn được biểu hiện trong trí tưởng tượng sáng tạo đầy tài hoa của tác giả. Bằng biện pháp nhân hóa, sông Hương hiện ra tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại với một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Đây là một liên tưởng thú vị và độc đáo. Những cô gái Di-gan thích sống lang thang, tự do và yêu ca hát, nhảy múa, có vẻ đẹp man dại đầy quyến rũ.. Ví sông Hương với những cô gái Di-gan, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khắc sâu vào tâm trí người đọc một ấn tượng mạnh mẽ về vẻ đẹp hoang dại nhưng cũng rất tình tứ của con người. Cũng nhờ ngòi bút tài hoa của tác giả, sông Hương đã trở thành dòng sông bất tử, chảy mãi trong trí nhớ và tình cảm của người đọc. Nhà văn đã soi bóng tâm hồn mình với tình yêu say đắm quê hương xứ sở vào đối tượng miêu tả khiến đối tượng trở nên lung linh, huyền ảo, đa dạng như đời sống tâm hồn con người.
Để miêu tả thành công vẻ đẹp của dòng sông Hương, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã huy động một vốn kiến thức sâu rộng về văn hóa (góc nhìn âm nhạc, hội họa), địa lí (phát hiện vẻ đẹp đa dạng của sông Hương khi chảy qua từng khu vực), lịch sử (dòng sông Hương là nhân chứng, là thành viên tham gia các cuộc kháng chiến),… để khám phá, cảm nhận. Văn phong tao nhã, hướng nội tinh tế, tài hoa. Từ ngữ được tác giả chọn lọc khéo léo, gợi cảm và đã tạo nên những trang viết làm mê đắm lòng người. Những đoạn văn hướng nội tinh tế tài hoa tạo nên những trang viết giàu chất thơ phát hiện được vẻ đẹp đặc trưng, có chiều sâu của sông Hương. Đồng thời, tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn kể, tả với cái nhìn nhân hóa. Bút pháp kể, tả kết hợp nhuần nhuyễn ở đoạn sông đi qua đồng bằng làm nổi bật một Hương Giang đẹp bởi sự chi phối của cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế phong phú mà tài hoa. Cái nhìn nhân hóa đã khiến sông Hương không còn là một sự vật trong thiên nhiên mà đã là một sinh thể có linh hồn, gắn bó thiết tha với con người nơi đây.
Tóm lại, dòng sông Hương như là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của Tạo hóa, một vẻ đẹp rất thơ, khơi nguồn cho cảm hứng thơ ca và gắn liền với nền âm nhạc cổ điển Huế, tạo nên bề dày lịch sử văn hóa của Huế. Ai đã đặt tên cho dòng sông? được đánh giá là bài kí hay nhất thể hiện bản tình ca ca ngợi vẻ đẹp sông Hương, ca ngợi vẻ đẹp Huế, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào về cảnh sắc thiên nhiên của đất nước. Hoàng Phù Ngọc Tường xứng đáng là thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từ điển sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bài bút kí như lời cảm tạ của tác giả với đất mẹ Huế, nơi nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của dòng sông Hương qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường | 2,741 | |
Cảm nhận của anh (chị) về ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và ý nghĩa của chi tiết bức ảnh trong tác phẩm
Hướng dẫn
Với câu hỏi phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, người làm bài cần xác định đó là chiếc thuyền lưới vó xuất hiện buổi sớm trên biển đầy sương hay chiếc thuyền trong bức ảnh mà Phùng chụp được về chính cái cảnh ấy. Xác định được điều này có vai trò quan trọng trong việc nắm bắt những gợi mở từ nhan đề của truyện. Phải giải thích ý nghĩa ù. hai từ “ngoài xa” trong ngữ cảnh này để hiểu chủ ý sâu kín mà tác giả muốn gửi gắm.
Bức ảnh là chi tiết có mặt ở cuối tác phẩm (treo trong phòng làm việc của Phùng, nhiều lần anh ngắm lại và có nhửrtg cảm nhận lạ). Để lí giải ý nghĩa của chi tiết này, cần liên hệ với bối cảnh chụp bức ảnh và trạng thái tâm lí của người nghệ sĩ trong giây phút sáng tạo đó.
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Ý nghĩa nhan đề tác phẩm:
+ Sở dĩ truyện ngắn này của Nguyễn Minh Châu có tên là Chiếc thuyền ngoài xa trước hết bởi có hình ảnh chiếc thuyền xuất hiện trong khung cảnh mà truyện miêu tả. Đó là một buổi sáng tháng bảy ở một vùng biển miền Trung, trên làn sương mờ ảo, xuất hiện một chiếc thuyền lưới vó. Trong mắt của người nghệ sĩ nhiếp ảnh, đó là một cảnh như trong mơ, không mấy khi gặp được. “Ngoài xa” là từ chỉ khoảng cách. Có thể đó là khoảng cách từ người quan sát (Phùng) tới chiếc thuyền trên biển đầy sương kia. Cũng có thể đó là cảm giác xa xôi được tạo nên bởi vẻ đẹp huyền ảo, như thực như mơ.
+ Nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa còn phát lộ ý nghĩa khi gắn với chi tiết bức ảnh ở cuối truyện. Trên tường của phòng làm việc, Phùng vẫn treo bức ảnh mà anh đã chụp được từ cảnh đẹp vừa nói trên đây. Dĩ nhiên, trong bức ảnh đó có hình ảnh chiếc thuyền, và có cảm giác chiếc thuyền ấy rất xa, không chỉ xa về khoảng cách vật lí mà còn xa về khoảng cách tâm lí. Gắn với chi tiết này, phải chăng nhan đề tác phẩm hàm chứa ý nghĩa: nghệ thuật và cuộc sống bao giờ cũng có khoảng cách. Đặc biệt với thứ nghệ thuật chỉ đi tái hiện cái vẻ đẹp bề ngoài, nghệ thuật thi vị hoá thực tại thì khoảng cách đó càng xa vời.
– Ý nghĩa của chi tiết bức ảnh:
Xem thêm: Được tin quê bị bão, bố mẹ về thăm ông bà. Bạn Thu Thủy viết một bức thư ngắn để hỏi thăm+ Chi tiết bức hình xuất hiện ở cuối tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, nhưng ý nghĩa của nó không tách rời bối cảnh mà nó ra đời. Nhận lệnh về vùng biển một tỉnh miền Trung chụp bức ảnh tháng bảy có sương cho một bộ ảnh lịch nghệ thuật, Phùng hăm hở lên đường. Dày công “phục kích” mấy ngày, Phùng đang thất vọng vì không có cảnh nào ưng ý thì bỗng một sáng tinh sương, trên nền sương mờ đục, xuất hiện “một chiếc thuyền lưới vó”, như chấm phá lên nền trời một “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thòi cổ”. Cái cảnh rất “đắt” ấy đã phô ra vẻ đẹp tạo hình “đơn giản” mà “toàn bích”, “toàn thiện”. Nó khơi dậy ý niệm về đạo đức, về cái thiện trong vẻ đẹp nghệ thuật. Đoạn văn miêu tả niềm hạnh phúc của nghệ sĩ Phùng khi anh chụp được bức ảnh tuyệt đẹp là một đoạn văn giàu ý vị, thể hiện sự am hiểu của Nguyễn Minh Châu về một loại hình nghệ thuật. Quả là nghệ thuật nhiếp ảnh nhiều lúc nhờ sự “ăn may” như một cơ hội trời cho. Nhưng sự ăn may chỉ đến với ai nhạy cảm bởi sự trau dồi công phu và bản lĩnh nghệ thuật cao cường. Cái đẹp khách thể chỉ thực sự được phát hiện bởi người nghệ sĩ có “con mắt xanh”. Chi tiết này khiến ta nghĩ đến bức kí hoạ người lính thồ tranh – một tác phẩm để đời mà người hoạ sĩ bất ngờ có được trong truyện ngắn Bức tranh của chính tác giả.
+ Tuy nhiên, lồng trong câu chuyện về một gia đình làng chài khốn khổ, chi tiết bức ảnh khiến ta nghĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Đây không phải là điều mới mẻ gì trong lí luận văn nghệ, nhưng luôn là nỗi day dứt đối với những nghệ sĩ chân chính. Nguyễn Minh Châu là một trong số đó. Ở ông, người đọc đã nhiều lần bắt gặp những suy tư về trách nhiệm của người cầm bút trước sự thật cuộc đời. Viết Chiếc thuyền ngoài xa, thêm một lần nữa nhà văn thể hiện tư tưởng của mình về vấn đề này. Bức ảnh ghi lại vẻ đẹp hài hoà đến mức lí tưởng của chiếc thuyền trong sương sớm và sự thức nhận của người nghệ sĩ về “cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn” bằng nghệ thuật, tương phản bất ngờ với sự tàn bạo, man rợ cũng như nỗi đau khổ tận cùng của những con người bước ra từ chính chiếc thuyền ấy, phải chăng đã nói lên cái khoảng cách muôn thuở giữa nghệ thuật và cuộc sống? Có phải bức ảnh kia đã biểu hiện cái giới hạn tất yếu của một thứ nghệ thuật? Hay cái đẹp cao cả của nghệ thuật có thể đánh thức những cảm xúc thánh thiện của tâm hồn, nhưng nó vẫn cứ xa cách và bất lực trước cái thực tế trụi trần, nham nhở của những kiếp nhân sinh? Hay nghệ thuật dù kì diệu đến đâu cũng khó mà ôm trùm được mọi khía cạnh phức tạp, đa chiều của muôn mặt cuộc đời? Tác phẩm khép lại với cảm xúc của người nghệ sĩ trước sản phẩm sáng tạo của mình, xác nhận sức sống lâu bền của một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, đồng thời cũng xác nhận một sự thật cay đắng: những mảng tối của hiện thực, nỗi bất hạnh của những kiếp người đã vượt ra ngoài sức ôm chứa của mọi khuôn hình nghệ thuật. Sự thật này dĩ nhiên chỉ những nghệ sĩ thực sự dấn thân trong sáng tạo, trung thực, nghiêm khắc với bản thân, đặt cuộc sống cao hơn nghệ thuật, và nhất là luôn ý thức được giới hạn của nghệ thuật mới có thể thấm thìa sâu sắc.
Nguồn: thêm: Con người Nguyễn Khuyến qua "Câu cá mùa thu” | Cảm nhận của anh (chị) về ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và ý nghĩa của chi tiết bức ảnh trong tác phẩm | 1,187 | |
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu
Hướng dẫn
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đannón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
1. Mở bài
– Giới thiệu về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc.
– Giới thiệu vị trí của đoạn thơ: Đoạn thơ là những cảm xúc dạt dào, sâu lắng của người ra đi trước vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc.
2. Thân bài
Đoạn thơ được chia làm hai phần:
– Phần một gồm 2 câu thơ đầu giống như lời mở đầu trong các cuộc hát giao duyên, trong đó người về vừa ướm hỏi người ở lại vừa khẳng định những tình cảm trong lòng mình: nhớ cả "hoa" và "người" – hai hình ảnh này đồng hiện, soi chiếu vào nhau. "Hoa" là thứ đẹp nhất của thiên nhiên, còn "người" là "hoa của đất". "Hoa" và "người" không thể tách rời.
– Phần hai gồm 8 câu chia thành 4 cặp lục bát. Ở mỗi cặp, cứ câu lục tả thiên nhiên thì câu bát tả người. Đây là bức tranh "tứ bình" diễn tả thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bốn mùa bằng những nét đặc trưng nhất của miền đất này.
+ "Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi – Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng": Đây là hình ảnh có tính khái quát, trong đó Việt Bắc hiện lên như một miền quê lặng lẽ. Gam màu cơ bản của bức traríh là màu xanh – một màu xanh mênh mông và trầm tĩnh của rừng già. Trên cái nền xanh ấy là hình ảnh hoa chuối rừng bập bùng cháy như những ngọn lửa, làm sáng cả một góc rừng. Ánh nắng trong câu bát làm cho không khí vốn trầm mặc của nơi này trở nên tươi sáng và lung linh. Trên nền cảnh ấy, con người xuất hiện. Người đứng trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào khiến lưỡi dao trên lưng loé sáng. Hình ảnh đó gợi lên một tư thế vững chãi, tự tin của con người làm chủ núi rừng.
Xem thêm: Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong tác phẩm "Số phận con người" của Sô-lô-khốpTố Hữu cũng đã từng có những câu thơ viết về tư thế ấy:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá nguỵ trang reo với gió đèo…
(Lên Tây Bắc)
+ "Ngày xuân mơ nở trắng rừng – Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang": Nền xanh trầm tĩnh của bức tranh thứ nhất đã nhường chỗ cho nền trắng tinh khiết của hoa mơ rừng, khiến cảnh rừng như bừng sáng. Hình ảnh hoa mơ trắng sau này cũng sẽ xuất hiện trong thơ Tố Hữu ở bài Theo chân Bác:
Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…
Trên nền cảnh ấy hiện ra hình ảnh con người Việt Bắc đang làm việc một cách thầm lặng: chuốt từng sợi giang để đan nón. Hai chữ "chuốt từng" gợi ra dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng và cũng hết sức tài hoa.
+ "Ve kêu rừng phách đổ vàng – Nhớ cô em gái hái măng một mình": Âm thanh của núi rừng đã xuất hiện. Nhạc ve làm cho không khí trở nên xao động. Đây là bức tranh mùa hè, Ve kêu gọi hè đến, hè đến làm cho những rừng phách nở hoa màu vàng. Chữ "đổ" nhấn mạnh sự biến đổi màu sắc nhanh chóng đồng thời diễn tả những trận mưa hoa mỗi khi có một luồng gió ào qua. Trên nền cảnh ấy xuất hiện người lao động: cô gái Việt Bắc đang hái măng một mình. Hình ảnh này cho thấy sự chịu thương, chịu khó của người dân nơi đây.
+ "Rừng thu trăng rọi hoà bình – Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung": Nếu ba bức tranh trên là ngày thì bức tranh này là đêm. Nó vẽ ra cảnh ánh trăng rọi qua vòm lá tạo nên khung cảnh huyền ảo: "Rừng thu trăng rọi hoà bình". Nó khiến ta nhớ đến câu thơ của Hồ Chí Minh: "Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa" (Cảnh khuya). Đây là một khung cảnh trữ tình, cho nên nó gợi nhớ đến hình ảnh con người cất tiếng hát về sự ân tình, thuỷ chung. Chữ "ai" làm cho đoạn thơ trở nên tình tứ hơn. Qua đó, ta cũng thấy được phẩm chất ân nghĩa, thuỷ chung của người Việt Bắc.
Qua đoạn thơ, Tố Hữu đã thể hiện được những gì là đặc trưng nhất của cảnh và người Việt Bắc. Điều thú vị là tất cả đều hiện lên trong điệp khúc nhớ thương và vì thế dường như mọi thứ đều trở nên lung linh, huyền ảo hơn.
3. Kết bài
Nêu cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về đoạn thơ và vẻ đẹp của hồn thơ Tố Hữu.
Nguồn: thêm: Viết một đoạn văn nói về cây mít | Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu | 918 | |
Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau: “không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng”. (“Đàn ghi ta của Lor-ca” – Thanh Thảo)
Gợi ý
Khi viết Đàn ghi ta của Lor-ca, nhà thơ Thanh Thảo đã lấy câu thơ được coi là di chúc của Ph.G.Lor-ca để làm đề từ cho bài thơ của mình: “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Theo dõi câu chuyện Thanh Thảo kể, chúng ta đều được biết ước nguyện của người nghệ sĩ xứ Tây Ban Nha đã không được thực hiện:
“không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng”.
Lor-ca là người nghệ sĩ tài hoa, không chỉ trong thơ ca mà còn ở nhiều lĩnh vực khác như hội hoạ, âm nhạc, sán khấu… Với Lor-ca, nghệ thuật là tình yêu, là lẽ sống. Lor-ca không thể rời xa nghệ thuật, ngay cả khi từ giã cõi đời. Nhưng lời di chúc “khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn” không chỉ thể hiện tình yêu nghệ thuật say đăm, cũng không chỉ hàm chứa lòng yêu quê hương đất nước thiết tha (đàn ghi ta là biểu tượng đặc trưng của Tây Ban Nha). Lor-ca là nhà cách tân nghệ thuật. Ông hiểu nghệ thuật của mình một ngày sẽ ngăn cản hành trình sáng tạo của những người đến sau. Như vậy, lời di chúc của Lor-ca còn có ý nghĩa rất lớn đối với con đường nghệ thuật của các nghệ sĩ phía sau ông. Nhưng điều đau buồn là người ta không hiểu thông điệp tư tưởng Lor-ca đã cất giấu trong lời di chúc. “Không ai chôn cất tiếng đàn” tức là không ai dũng cầm vượt qua cái cũ, thần tượng cũ để làm nên cái mới. Chớ vội hiểu đó là cách nói ngoa dụ với lí giải làm sao có thể chôn cất được tiếng đàn. Tưởng chừng như Thanh Thảo chỉ viết câu thơ với nội dung thông báo đơn thuần. Nhưng thực chất, phải thấu hiểu tâm nguyện của người nghệ sĩ quá cố, phải thấm thìa, đồng cảm sâu sắc với nỗi đau xót của Lor-ca, nhà thơ Việt Nam mđi viết nên câu thơ ấy.Xem thêm: "Kính trọng thầy như kính trọng cha”. Từ lời khuyên trên anh (chị) hãy viết bài văn khoảng 400 chữ bàn về sự kính trọng
Và chính vì người ta không chôn cất tiếng đàn nên nó mới tràn lan như “cỏ mọc hoang”. Cách so sánh của Thanh Thảo giản dị nhưng chứa đựng trong đó bao nồi niềm oan trái của người đã khuất. Với Lor-ca đạo đức của người nghệ sĩ là phải biết lui vào quá khứ để thế hệ sau được tự do làm cái mới. Thanh Thảo hiểu rằng Lor-ca không vui sướng, hạnh phúc khi nghệ thuật của mình vẫn còn án ngữ trên con đường sáng tạo cúa thế hệ sau. Có người cho rằng hình ảnh “cỏ mọc hoang” thể hiện sức sống mãnh liệt không gì huỷ hoại được của cái đẹp, của nghệ thuật. Dù Lor-ca muốn mang theo tiếng đàn mang theo nghệ thuật của mình để nó không cản trở những nghệ sĩ đến sau nhưng sức ảnh hưởng của nghệ thuật Lor-ca tới thế hệ hậu bối là rất lớn.
Đọc Đàn ghi ta của Lor-ca, chúng ta sẽ bắt gặp khá nhiều những câu thơ, những hình ảnh khó hiểu bởi chúng được viết theo lối tượng trưng. Câu thơ “Giọt nước mắt vầng trăng” là một ví dụ. Hiện diện trong lời thơ là hai hình ảnh cụ thể: “giọt nước mắt” và “vầng trăng”. Nhưng chúng có quan hệ với nhau như thế nào? Không hề có một quan hệ từ nào xen vào giữa chúng. Sự súc tích của lời thơ làm người đọc thật khó đoán ra điều Thanh Thảo muốn nói. Ta hãy đọc tiếp câu thơ dưới:Xem thêm: Màu sắc dân tộc thể hiện như thế nào qua cách sử dụng hình ảnh của tác giả trong bài thơ Dọn về làng“Long lanh trong đáy giếng”
Hai hình ảnh giọt nước mắt, vầng trăng được soi chiếu tận một nơi: “đáy giếng” – nơi gợi đến cái chết, số phận nghiệt ngã của Lor-ca? Chúng chuyển nghĩa cho nhau: vầng trăng nơi đáy giếng như giọt nước mắt khổng lồ, giọt nước mắt sáng trong như vầng trăng bất tử. Tất cả đành để bày tỏ nỗi đau xót và tiếc thương trước cái chết hết sức thương tâm của Lorca.
Cách nói của Thanh Thảo khiến người đọc phải suy tư, trăn trở để tìm ra ý nghĩa của nó. Và khi đã ít nhiều cảm nhận được, chúng ta hiểu rằng xuyên suốt đoạn thơ là sự đồng cảm, là tình cảm chân thành mà nhà thơ đành cho người nghệ sĩ mà ông thần tượng.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của anh (chị) về đoạn thơ sau_ “không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng”. (“Đàn ghi ta của Lor-ca” – Thanh Thảo) | 839 | |
Cảm nhận của anh (chị) về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
Hướng dẫn
Cảm nhận của anh (chị) về đất nước qua đoạn thơ sau:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa…"
mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
1. Mở bài
– Giới thiệu về Nguyễn Khoa Điềm và đoạn trích Đất Nước.
– Giới thiệu vị trí và nội dung khái quát của đoạn thơ: nằm ở đầu đoạn trích, trả lời cho câu hỏi: Đất nước có từ bao giờ? Đất nước ở đâu?
2. Thân hài
– Câu thơ mở đầu khẳng định đất nước đã có từ lâu đời. Đất nước có từ trước khi "ta" sinh ra và tồn tại cùng dòng thời gian vô thuỷ vô chung.
– Cảm giác về lịch sử lâu đời của đất nước còn được tô đậm hơn với lời khẳng định: Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa…" mẹ thường hay kể. "Ngày xửa ngày xưa" là câu mở đầu quen thuộc trong truyện cổ tích, thế giới cổ tích là thế giới xa xăm, vô cùng trong tâm thức của con người, vậy mà trong thế giới huyền ảo ấy, đất nước đã hiện hữu.
Xem thêm: Những con người thông thái thực sự cũng tựa như những bông lúa: khi còn lép, chúng vươn cao đầu lên đẩy kiêu ngạo; nhưng khi hạt đã đầy và chắc, chúng bắt đầu khiêm nhường cúi đầu xuống– Những câu thơ tiếp theo: Lịch sử lâu đời của đất nước không được cắt nghĩa bằng sự nối tiếp của các triều đại, các sự kiện, biến cố,… mà được thể hiện qua những chi tiết đời thường, gần gũi, bình dị của cuộc sống nhân dân. Mỗi câu thơ đều chứa đựng một ý, tứ nào đó của ca dao, thành ngữ, tục ngữ; một hình ảnh quen thuộc trong thần thoại, cổ tích; một thói quen của người dân trong cuộc sống hằng ngày;… Những chất liệu của văn hoá dân gian ấy đã tái hiện lịch sử phong tục, nếp sinh hoạt đời thường trong cuộc sống của nhân dân như miếng trầu bây giờ bà ăn, tóc mẹ thì bới sau đầu, ngôi nhà tranh với những cái kèo, cái cột,..:, truyền thống đánh giặc giữ nước với hình ảnh cây tre làng Gióng; văn hoá ứng xử trong nghĩa tình của mẹ cha… Tất cả những hình ảnh bình dị ấy đều khiến người đọc liên tưởng đến một phương diện nào đó của đất nước, đều là sự thể hiện lâu bền nhất những phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá, lịch sử của đất nước, khiến cho cái vĩnh hằng của đất nước luôn tồn tại trong cái hằng ngày của cuộc sống con người; qua đó làm hiện lên một đất nước dung dị, gần gũi, đời thường nhưng rất đáng tự hào.
– Câu thơ kết thúc đoạn cũng là một lời khẳng định: Đất Nước có từ ngày đó… "Ngày đó" thật mơ hồ về thời gian, khiến cho sự ra đời của đất nước càng trở nên xa xăm hơn, dài lâu hơn. Tuy nhiên, câu thơ cũng giúp người đọc nhận ra rằng: đất nước bắt đầu, lớn lên, hình thành và phát triển chính từ những phong tục, tập quán, những truyền thống văn hoá, lịch sử lâu đời.
Qua những cảm nhận có vẻ tản mạn, tuỳ hứng ở đoạn thơ này, nhà thơ đã dẫn người đọc đến một nhận thức giản dị mà sâu sắc, thấm thìa: đất nước có một lịch sử lâu đời; đất nước là những gì gần gũi, thân yêu luôn hiện hữu trong cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Đất nước làm nên hình hài, vóc dáng, làm nên tâm hồn, cốt cách, lối sống, cách nghĩ của con người. Những từ ngữ đã có, có trong, bắt đầu, lớn lên, có từ ngày đó,… không chỉ gợi ra chiều dài thăm thẳm của lịch sử đất nước trong quá trình hình thành và phát triển mà còn đem đến cảm giác đất nước gắn bó với cuộc sống hằng ngày của nhân dân, hoà nhập trong mọi hình hài: lúc là con người, lúc là sự vật; lúc là hữu hình (với cái kèo, cái cột, hạt gạo, miếng trầu), lúc là vô hình (với những nghĩa tình gừng cay muối mặn),…
3. Kết bài
Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về đoạn thơ.
Nguồn: thêm: Viết bài văn nói về các liệt sĩ vô danh trong nghĩa trang Trường Sơn- Văn 12 | Cảm nhận của anh (chị) về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm | 821 | |
Cảm nhận của bạn về truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
Gợi ý
Mới gần đây thôi, cái tên Nguyễn Khải vẫn được nhắc đến thường xuyên nhất với truyện ngắn Mùa lạc – một sáng tác tiêu biểu trong giai đoạn sáng tác trước của nhà văn. Và đến thời điểm này, khi xã hội đã có những bước chuyển đáng kể, tâm điểm của văn học không còn là những vấn đề chính trị lớn lao, mà là những con người bình thường của cuộc sống thường nhật, người ta lại quan tâm nhiều hơn tới Nguyễn Khải với những tác phẩm như Nắng chiều, Đời khổ, Người vợ… Trong số đó, Một người Hà Nội là câu chuyện đáng chú ý hơn cả.
Một người Hà Nội được Nguyễn Khải viết năm 1990. Gần hai mươi năm trôi qua, truyện ngắn vẫn đang tiếp tục khẳng định vị trí của mình. Sức hấp dẫn của câu chuyện khới nguyên từ chính giá trị nội dung mà nó phản ánh.
Nguyễn Khải không trở lại không gian miền Bắc thời kì xây dựng xã hội chủ nghĩa, Bình Trị Thiên máu lửa hay miền Nam những năm chống Mĩ oanh liệt. Đối tượng ngòi bút đặc tả không phải là những con người chính trị, không còn là những cán bộ như Tuy Kiền (Tầm nhìn xa), An (Chủ tịch huyện) hay những con người đang ngây ngất trong xã hội mới như Đào (Mùa lạc), Tấm (Đứa con nuôi), Thoa (Một cặp vợ chồng), người cha (Bố con)… Nguyễn Khải quan tâm đến những người già, những người “lạc thời”, that bại, đơn độc như người mẹ (Mẹ và các con), ông già tội nghiệp (Hai ông già ở Đồng Tháp Mười), lão ãn mày (Ông và cháu)… Nhà văn đi sâu khám phá con người đời thương, cố gắng phát hiện ở họ những gì thực sự làm nên bản lĩnh, giá trị cá nhân. “Từ chồ bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp của con người chính trị, con người lịch sử, ông dần chuyển niềm say mê sang vẻ đẹp nhân bản của con người khiêm nhường về phận vị nhưng biêt tự trọng, và dù hoàn cảnh nào cũng không chịu đánh mất niềm khát khao tự hoàn thiện” (Nguyễn Thị Bình). Cô Hiền trong Một người Hà Nội là nhân vật yêu thích nhất của Nguyễn Khải giai đoạn sau. Qua cuộc đời con người này, chúng ta có thể cảm nhận được lối sống, bản lĩnh văn hoá của một người Hà Nội sắc sảo, nhạy bén, luôn thích ứng với mọi hoàn cảnh mà vẫn giữ được phẩm giá của mình.
Trong câu chuyện Một người Hà Nội, qua cái nhìn của nhân vật xưng tôi – cháu họ của nhân vật chính, nhà văn đã dần dần dẫn dắt người đọc đi từ thái độ có phần dè chừng đến sự cảm phục, ngưỡng mộ hoàn toàn cô Hiền.Xem thêm: Cách làm bài văn Nghị luận xã hội đạt điểm tối đa Nguyễn Khải để nhân vật xuất hiện trong một “bầu không khí tư sản” với ngôi nhà to rộng, từ cách ăn mặc đến nói năng đều kiểu cách, đều có quy tắc, nhưng cuối cùng chúng ta phải thừa nhận đó là một lối sống chuẩn mực, có thể nói là mẫu mực, sang trọng mà không khác vời bởi nó luôn gắn với nếp nhà. Phong thái lịch thiệp của cô Hiền được tác giả lí giải từ cội nguồn gia phong. Nguồn gốc sâu bền như vậy đã dưỡng thành nên một nhân cách cao đẹp cho xã hội. Điều đáng chú ý nhất ở nhân vật này là lòng tự trọng, sự sắc sảo hơn người và bản lĩnh vững vàng trước bao biến động của cuộc sống. Vì tự trọng nên không bao giờ cô làm mình nhếch nhác. Ngày còn trẻ, cô biết “cạo răng trắng và uốn tóc, mặc quần áo đồng màu, hoặc đen hết, hoặc trắng hết. Còn nữ trang đã biết dùng đồ ngọc, bạch kim và hạt xoàn”.. Vì tự trọng nên cô ý thức rất rõ trách nhiệm công dân của mình đối với đất nước. Khi Tổ quốc lâm nguy, là một người mẹ, thẳng thắn thừa nhận sự “đau đớn” và thái độ không khuyến khích của mình nhưng cô Hiền không hề ngăn cản các con ra trận. “Tao cũng muôn dược sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả hoặc chết cả, vui lẻ thì có hay hớm gì”.- chỉ một câu nói này cũng đủ để chúng ta cảm nhận được bao nhiêu nét đáng yêu, đáng trọng từ con người đó. Một trái tim biết san sẻ yêu thương, một đức hi sinh cao cả, một thái độ thẳng thắn chân thành, một cá tính đặc biệt… đó là những gì ta có thể tạm gọi tên ngay đây.
Đất nước độc lập, không ngủ quên trong chiến thắng của dân tộc, người phụ nữ ấy nhanh nhẹn bắt tay vào công việc. Nhận thức được những hạn chế của thời đại và một số thiệt thòi vì thành phần giai cấp mình, cô Hiền đã lựa chọn một công việc không giàu nhưng cũng giúp gia đình đủ ăn, đó là nghề làm hoa giấy. Theo lí giải của cô, làm nghề này vừa nhàn lại vừa không phải lo sợ gì. Cô biết mình “chưa đủ tiêu chuẩn” để đi học tập cải tạo nhưng vẫn tỉnh táo khuyên chồng không nên làm ông chủ trong chế độ này. Đôi khi những suy nghĩ của nhân vật có phần cực đoan, nhưng phải đặt vào hoàn cảnh bâ’y giờ, chúng ta mới hiểu được sự hoang mang của những con người như cô Hiền. Phải có một bản lĩnh vững vàng, nhân vật của Nguyễn Khải mới có những ứng xử vẹn toàn như vậy. Hoàn cảnh nào cũng không thay đổi được con người này. Tất nhiên, trong câu chuyện của mình, Nguyễn Khái ít nói đến những nét tính cách thủ cựu. Nhà vãn chủ yếu xây dựng chân dung một người phụ nữ Hà Nội với nhiều nét đáng quí trong nhân cách con người. Nhân vật cô Hiền trước bao biến động của thời đại vẫn nguyên vẹn trong mình một phong thái, một cốt cách Tràng An không hề pha tạp.Xem thêm: Phân tích ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn ghi ta trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor - ca của Thanh Thảo Với con cháu, bà Hiền luôn uốn nắn, giáo dục để chúng không trở thành những người Hà Nội xấu xí. Hình ảnh bà cụ Hiền ngoài bảy mươi tuổi tỉ mẩn lau chùi những chiếc bát bày thủy tiên vừa khiến ta xúc động lạ vừa làm ta ngậm ngùi. Như có một thời vàng son đang lưu lại nhưng cũng như có một cái gì quí báu lăm đang rời xa cõi này. Bà Hiền có thể chưa là một người Hà Nội điển hình nhưng cũng đã là một tinh thần Hà Nội độc đáo.
Lựa chọn trung tâm của câu chuyện là một nhân vật giữa cuộc đời thường nhật, Nguyễn Khải đã chủ động phất hiện ở cô Hiền những vẻ đẹp rất bình dị nhưng mang đậm dấu ấn văn hoá. Từ nhân vật chính của truyện, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp giản dị, chân thực của những con người bình thường giữa bộn bề đời sống. Từ đây, ta cảm nhận được thái độ ngợi ca, ngưỡng mộ tác giả dành cho những con người nhỏ bé nhưng mang vẻ đẹp tâm hồn tuyệt mĩ. Tài năng, tâm huyết của Nguyễn Khải cũng được kết đọng từ chính những phát hiện và thể nghiệm tuyệt vời đó.
Một người Hà Nội không chỉ hấp dẫn chúng ta bởi vẻ đẹp của những giá trị nhân văn sâu sắc mà còn cuốn hút người đọc bởi những giá trị nghệ thuật độc đáo. Đọc Một người Hà Nội, chúng ta được cùng Nguyễn Khải chiêm nghiệm thêm nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong truyện ngắn này, vấn đề được tác giả triết luận là mối quan hệ của con người với thời thế và sự tồn tại của con người với những giá trị văn hoá, nhân văn. Có khi nhà văn để cho nhân vật tự triết luận: “Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được”., nhưng cũng có khi nhà văn tự ngẫm nghĩ: “Một người như cô tôi phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng”.. Những đoạn văn như thế khiến mạch truyện lắng lại, người đọc phải dừng đọc và cùng tác giả cảm nhận. Vậy nên, truyện kết thúc rồi mà những vấn đề tác giả gieo vào người đọc nhiều khi không thể giải quyết. Sức sống của tác phẩm nhiều khi được tiềm tàng trong chính điều đó. Nhưng nếu quá sa đà vào triết luận, câu chuyện sẽ trở nên nặng nề. Một người Hà Nội đã tránh được những điều đó.Xem thêm: Giới thiệu về nhà thơ Nguyễn Gia Thiều Vẻ đẹp của Một người Hà Nội còn nằm ở nghệ thuật trần thuật hấp dẫn. Giọng kể, giọng văn Nguyễn Khải vừa trải đời, vừa tự nhiên, dân dã, vừa nặng trĩu suy tư, vừa giàu chất khái quát, triết lí, vừa đậm tính đa thanh. Miêu tả về cách ăn uống của gia đình nhân vật tôi, Nguyễn Khải dùng một chất giọng buông tuồng, hài hước, dí dỏm: “Gia đình tôi thì ăn uống bình dân hơn vợ chồng con cái ngồi súm sít quanh cái mâm nhôm, thức ăn có khi múc ra đĩa, có khi cứ để nguyên trong nồi, nồi lớn đặt giữa mâm, nồi nhỏ đặt cạnh mâm, cứ việc sục muôi vào, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát con mắng cái, nhồm nhoàm, hả hê, không cần phải theo bó một quy tắc nàọ cả”.. Những câu vãn như thế đã cân lại cảm giác nặng nề của những đoạn triết luận sở trường của Nguyễn Khải.
Một người Hà Nội là truyện ngắn có cách xây dựng nhân vật như một biệt lệ không theo khuôn mẫu ở gia đình trước 1978. Với nhân vật cô Hiền, Nguyễn Khải đã cho bạn đọc được chiêm ngưỡng một con người nổi bật từ bản lĩnh cá nhân. Đây là một sự sáng tạo trong hình tượng nghệ thuật trong sáng tác Nguyễn Khải sau 1978.
Từ những nét khái quát nhất về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật, có thể kết luận, Một người Hà Nội là truyện ngấn hay, gắn với nhiều phát hiện độc đáo của nhà văn. Truyện tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải giai đoạn sau 1978.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của bạn về truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải | 1,875 | |
Cảm nhận của em khi đọc đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm dịch)
Gợi ý
Trong văn chương từ khúc Việt Nam, Chinh phụ ngâm khúc nổi lên như một viên kim cương óng ánh sắc màu. Cả bản nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn và bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm đều là những kiệt tác nghệ thuật bất hủ.
Chinh phụ ngâm khúc ra đời vào đầu thế kỉ XVIII, cái thời mà chiến tranh loạn lạc kéo dài dẫn đến bao cảnh chia li bi thương sâu thiết:
Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tuung mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
(Sau phút chia li – Trích Chinh phụ ngâm khúc)
Mười hai câu song thất lục bát với giọng điệu lâm li, vừa bùi ngùi xót xa cho chính mình, vừa VỜI vợi nỗi sầu nhớ thương, đọc xong rồi cứ ám ảnh mãi. Người chinh phu và người chinh phụ còn trẻ tuổi, đang trong tình VỢ chồng gắn bó yêu thương bỗng vì đâu mà ra nông nỗi: Xem thêm: Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Chàng thì đi – Thiếp thì về, hai hình ảnh tương phản nhau như chính sự ngăn cách nghiệt ngã. Dường như người vợ cũng cảm nhận thấm thìa điều đó. Và nỗi sầu đã nhuốm cả không gian:
Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.
Ngàn núi xanh đã chia Cách họ mà tấm lòng nhớ thương vẫn cứ đau đáu dõi về nhau:
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Từ Chốn Hàm Dương – Bến Tiêu Dương đến khói Tiêu Tương – Cây Hàm Dương thì sự xa cách đã lên đến mấy trùng, cũng như nỗi sầu đã dâng lên trùng trùng lớp lớp trong lòng người chinh phụ:
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Càng dõi trông theo chồng, ước mong gặp mặt càng trở nên vô vọng. Còn đâu bóng dáng của người chồng thân yêu? Chỉ còn những ngàn dâu xanh xanh trải dài tít tắp đến tận chân trời như nỗi bi thương vô vọng không biết đến tận bao giờ:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Câu nghi vấn như một nốt nhấn làm hằn sâu nỗi sầu chất chứa trong lòng người chinh phụ một khối sầu càng lắc càng đầy. Cả một khối sầu nặng trĩu trong lòng người vợ trẻ tội nghiệp và đè nặng tâm can người đọc. Trong câu thơ dường như có cả tiếng nấc nghẹn ngào uất ức của người vợ. Vì đâu mà dẫn đến nỗi sầu nghịch chướng, oái ăm này? Vì đâu mà người chinh phu phải đi vào cõi xa mưa gió, còn người chinh phụ trở về buồng cũ chiếu chăn vò võ một mình? Chiến tranh thật là tàn nhẫn. Xem thêm: Lập dàn bài và phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Nhà thơ không chỉ nhận thấy, mà còn nghe thấy cả tiếng lòng sâu thẳm của người vợ trẻ và thể hiện nó một cách chân thực qua những sáng tạo nghệ thuật tài hoa và điêu luyện. Chưa bao giờ có trong văn học việt Nam, nỗi sầu chia li và tiếng lòng của người phụ nữ lại được thể hiện một cách sâu đậm đến thế.
Mười hai câu song thất lục bát trở thành tiếng nói chung cho cảnh biệt li của tất cả những cặp vợ chồng (Hoàng Xuân Hãn) và In dấu ấn trong tiềm thức của tất cả những ai yêu văn chương cổ điển Việt Nam.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em khi đọc đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm dịch) | 711 | |
Cảm nhận của em khi đọc đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió (tiểu thuyết Đôn-ki-hô-tê của Xéc-van-téc)
Gợi ý
Đánh nhau với cối xay gió là một chiến công đặc biệt của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê tài ba xứ Mantra. Hiệp sĩ này là nhân vật chính do nhà văn Tây Ban Nha Xec-van-tex sáng tạo ra trong cuốn tiểu thuyết cùng tên. Đôn Ki- hô-tê vốn là một nhà quý tộc nghèo, tuổi đời ngót nghét năm mươi, suốt ngày chỉ lấy sách vở làm bạn bè và làm thú vui tiêu khiển. Nhưng sách vở mà nhà quý tộc đọc lại là truyện kiếm hiệp phiêu lưu, là các truyện hiệp sĩ mà phần lớn là bịa đặt chứ không có thật. Nhà quý tộc bị mê hoặc bởi thế giới các hiệp sĩ và các chiến công của họ đã quyết tâm bỏ nhà ra đi làm hiệp sĩ, sống cuộc đời lang thang nay đây mai đó. Mục đích ra đi của Đôn Ki-hô-tê là diệt trừ cái ác và lập lại công bằng, cứu nghèo cứu khổ. Đắm mình trong thế giới hiệp sĩ, Đôn Ki-hô-tê cũng chìm đắm trong thế giới hoang tưởng. Vì thế trên mọi nẻo đường ông đi ở đâu ông cũng thấy những tên khổng lồ những con yêu tinh… đang hoành hành gây tội ác. Những tên khổng lồ, những con quái vật đều gắn liền với trí tưởng tượng của Đôn Ki- hô-tê. Trên con đường đi tìm lẽ công bằng ở đời, Đôn Ki-hô-tê còn có một người giám mã rất đỗi trung thành và rất đúng hình mẫu sách vở mà ông đã đọc, đó là người nông dân Xantrô Panxa tốt bụng, hay ăn vô lo và cũng rất yêu đời. Họ cùng đi với nhau trên mọi nẻo đường đất nước, cùng chung hoạn nạn, cùng sẻ chia mọi nỗi buồn.
Ở đây những tên khổng lồ xuất hiện trên con đường thực hiện công lý của nhà hiệp sĩ là những cối xay gió, tới "ba bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng", chúng dường như hiện ra đột ngột, bất ngờ và nhanh chóng tạo ra một hoang tưởng trong đầu óc của nhà hiệp sĩ cao lênh khênh mà lại gầy còm một cách thảm hại đang ngất nghểu trên lưng con chiến mã Rôxinantê cũng gầy còm tới mức chỉ còn da bọc xương. Luôn luôn mơ ước lập được các chiến công như các hiệp sĩ thời xưa cho nên Đôn Ki-hô-tê thấy rằng đây là một dịp tốt: "Vận may dun dủi khiến cho sự nghiệp của chúng ta đẹp quá sự mong muốn. Này, anh bạn Xantrô Panxa, anh có trông thấy mấy chục tên khổng lồ kia không? Để ta xông ra kết liễu đời chúng; với những chiến lợi phẩm thu được chúng ta sẽ trở nên giàu sang phú quý…". Một cánh đồng mênh mông, những chiếc cối xay gió sừng sững quả là một bối cảnh nên thơ cho trí tưởng tượng hoang tưởng, điên rồ của nhà hiệp sĩ. Tuy nhiên người giám mã của chàng thì lại không hoang tưởng chút nào. Vì thế khi nghe chủ nhân nói tới những tên khổng lồ anh ta hỏi ngay: "Những tên không lồ nào cơ?" – một câu hỏi cơ hồ như anh ta ở trên trời rơi xuống chứ không phải là giám mã luôn luôn đi kèm sát bên hiệp sĩ mà mình phải phò tá. Đôn Ki-hô-tê chỉ ngay cho anh ta thấy: "Những tên mà anh nhìn thấy ở trước mắt kia kìa. Cánh tay chúng rất dài, có cái tới gần hai dặm". Đầu óc thực tiễn của Xantrô nhận ra ngay sự nhầm lẫn của ông chủ. Anh ta thấy sự cần thiết phải giải thích cho ông chủ: "xin ngài coi chừng. Cái mà ngài tưởng là người khổng lồ chỉ là những chiếc cối xay gió, còn cái vật trông giống cánh tay là những cánh quạt, khi có gió sẽ quay tròn làm chuyển cối đá bên trong".
Ở đây có một điểm tương đồng: Đôn Ki-hô-tê nhìn những chiếc cánh quạt như là những cánh tay, còn Xantrô cũng cho là "giống cánh tay". Nhưng sự tương đồng này sẽ bị khúc xạ bởi hai đầu óc khác nhau: một thì hoang tưởng, một thì tỉnh táo, để rồi làm bật ra một tiếng cười hóm hỉnh nhẹ nhàng. Nhà hiệp sĩ thấy rằng cần phải chứng minh cho người giám mã không hiểu biết gì về những chuyện phiêu lưu bằng một sự khẳng định chắc chắn: "Quả là anh chẳng hiểu gì những chuyện phiêu lưu mạo hiểm. Đó chính là những tên khổng lồ. Nếu anh sợ thì hãy mau mau lánh ra xa mà cầu kinh trong lúc ta đương đầu với chúng trong một cuộc giao tranh gay go và chênh lệch". Sự "chênh lệch" thì đã quá rõ, còn "phiêu lưu" thì cũng dễ nhận ra, "gay go" thì khỏi phải nói. Trước hết Đôn Ki-hô-tê chủ động chấp nhận trận đấu không cân sức bằng cách "thúc con Rôxinantê xông lên", "chẳng thèm để ý" đến mọi lời khuyên can. Giữa cái bối cảnh hùng vĩ và nên thơ ấy và trước những đối thủ câm lặng, nhà hiệp sĩ tài ba đưa ra lời tuyên chiến của mình bằng cách "thét lớn": "Lũ súc sinh kia không được chạy trốn! Có ta là hiệp sĩ một thương một mã đến đọ sức với bọn ngươi đây". Bọn khổng lồ cũng không vừa, chúng cũng ra tay đối phó: "một cơn gió nhẹ làm quay những cánh quạt". Và thế là nhà hiệp sĩ lên tiếng khẳng định sức mạnh tài ba của mình: "Dù cho bọn ngươi có vung nhiều cánh tay hơn cả khổng lồ Bri-a-rê-ô, các ngươi cũng sẽ phải đền tội".
Nhưng đây còn là cuộc chiến sĩ giữa chiến diệt yêu quái và lũ yêu quái, nên thể thức cũng có những cái khác thường. Đó là theo truyền thông hiệp sĩ, khi vào trận chiến các hiệp sĩ đều hường lời cầu nguyện của mình về tình nương mà mình tôn thờ. Không trái với phong tục, Đôn Ki-hô-tê cũng cầu cứu nàng Đuyn-xi-nê-a, xin nàng hãy giúp cho trong cơn nguy biến này. Cũng vẫn nói thêm rằng nàng Đuyn-xi-nê-a người mà trái tim của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê tôn thờ chỉ là một sản phẩm hoang tưởng của đầu óc mụ mị bởi ảnh hưởng của các tiểu thuyết mà nhà quý tộc kia đã đọc trong mấy chục năm qua. Khi cầu nguyện như vậy thì dường như sức mạnh được nhân đôi, lòng dũng cảm cũng được tăng lên gấp bội, khi đó "Đôn Ki-hô-tê vừa lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo, thúc con Rôxinantê phi thẳng tới chiếc cối xay gió gần nhất". Hình ảnh người hiệp sĩ mới đẹp làm sao, hình ảnh đó toát ra một phẩm chất anh hùng lẫm liệt, một dáng dấp oai phong. Hình ảnh đó sẽ trở lên tuyệt vời nếu những tên khổng lồ, những con yêu tinh kia là thực. Còn ở đây chỉ là những chiếc cối xay gió bình thường thực tới mức hai năm rõ mười, cho nên hình ảnh ấy trở nên buồn cười như chính những gì đã xảy ra: "Đúng lúc chàng đâm mũi giáo vào cánh quạt cối xay, gió nổi lên dữ dội, cánh quạt quay tít khiến ngọn giáo gãy tan tành, cả người lẫn ngựa ngã chổng kềnh ra đất". Mọi cái hoang tưởng đều biến đi, chỉ còn Đôn Ki-hô-tê "nằm không cựa quậy sau cái ngã như trời giáng". Cuộc chiến cũng kết thúc.Xem thêm: Hình ảnh người mẹ trong bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
Trận chiến đấu diễn ra rất bài bản, tuần tự nhưng diễn biến thì rất chóng vánh, chỉ trong chớp mắt, tới mức giám mã "Xantrô Panxa thúc lừa tới cứu" thì cũng không kịp: chủ nhân của anh ta đã bị thất bại. Anh ta chỉ còn biết cách kêu trời và lên án những câu chuyện hoang tưởng. Cách lập luận của Xantrô càng thực tế hơn bao giờ hết: "Tôi đã chẳng bảo ngài phải coi chừng việc làm của mình rồi đấy ư? Rằng đó chỉ là những chiếc cối xay gió thôi ư? Ai mà chả biết thế, trừ kẻ nào đầu óc cũng quay cuồng như cối xay vậy". Anh ta lo cho chủ nhân, buồn cho sự đau đớn của chủ nhân, còn anh ta cũng chẳng hề quan tâm tới việc thắng thua, bởi lẽ đánh nhau với cối xay gió chỉ là việc rồ dại. Chủ nhân của anh ta, hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê trứ danh cho dù đau đớn, cho dù thất bại thì vẫn đang chìm đắm trong trò chơi hiệp sĩ hoang tưởng. Chàng chỉ cho giám mã của mình biết: "Thôi im đi, anh bạn Xantrô. Phải biết rằng cái nghề cung kiếm này hơn các nghề khác ở chỗ luôn luôn biến chuyển. Đúng là lão pháp sư Phơ-re-xtôn trước đây đã đánh cắp thư phòng và sách vở của ta, bây giờ lại biến những tên khổng lồ này thành những chiếc cối xay gió để tước mất của ta phần vinh quang chiến thắng. Hắn thâm thù ta như vậy đó. Nhưng rồi pháp thuật của hắn cũng sẽ bị thanh kiếm lợi hại của ta khuất phục thôi". Những hư cấu từ các tiểu thuyết hiệp sĩ đã đọc luôn luôn ám ảnh Đôn Ki-hô-tê. Do đó vinh quang đáng lẽ thuộc về anh thì lại bị một gã pháp sư có nhiều pháp thuật hơn tước đoạt mất, vì thế anh lại cùng người giám mã của mình đi tìm những cuộc phiêu lưu mới.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về cô bé bán diêm trong tác phẩm cùng tên của nhà văn An-đéc-xen Nỗi buồn lớn nhất của anh là trên đường đi anh không còn giáo nữa. Anh nhớ tới hiệp sĩ Đi-ê-gô Pêrex đê Vagax trong một cuốn sách. Trong một trấn chiến đấu hiệp sĩ này đã bị gẫy gươm nhưng chàng không nao núng, chàng đã nhổ một cây sồi làm vũ khí và đã giết được không biết bao nhiêu là giặc. Đôn Ki-hô-tê kể lại chuyện đó với người giám mã của mình và hứa với Xantrô là sẽ noi gương người hiệp sĩ kia. Song cú ngã như trời giáng ban nãy đang làm cho anh "vẹo vọ" đi và cho dù vậy thì anh cũng chẳng dám kêu đau vì theo luật giang hồ các hiệp sĩ "có bị thương cũng không được rên rỉ, dù xổ cả ruột ra ngoài". Một tiếng cười hóm hỉnh lại bật ra khi Xantrô đưa ra ý kiến so sánh: "Riêng phần tôi, chỉ cần bị gai dâm là tôi kêu đau ngay, trừ phi người ta cấm cả giám mã của hiệp sĩ giang hồ kêu". Sự hóm hỉnh ở đây góp phần thể hiện sự tương phản giữa hai tính cách: một bên hoang tưởng còn bên kia rất thực tế, một bên điên rồ, một bên rất tỉnh táo. Đây cũng là lần đầu tiên Xantrô bỏ nhà ra đi làm giám mã cho một hiệp sĩ và đây cũng là lần đầu tiên anh ta chứng kiến vị hiệp sĩ của mình ra trận không phải tả xung hữu đột, như múa như bay giữa trận tiền mà "ngã như trời giáng". Tuy nhiên Xantrô rất quý ông chủ vì ông ta cho phép anh được ăn, được ngủ thoải mái. Vừa đi, anh ta "vừa ăn một cách khoái trá", vừa "nghiêng bầu rượu tu một hơi ngonlành" khiến Xantrô "cảm thấy cái nghề đi tìm kiếm chuyện phiêu lưu này tuy có nguy hiểm song cũng không đến nỗi vất vả". Như vậy tính chất thực tiễn lại xuất hiện: làm hiệp sĩ lang thang trở thành một cái nghề có thể kiếm sống được.Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Có dàn ý chi tiết) Một ngày được khép lại cùng giấc ngủ nặng nề đang kéo đến với Xantrô. Còn hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê thì lại tiếp tục bắt chước các trang hiệp sĩ khác từng thức đêm thức hôm để nhớ tới tình nương sau khi đã "bẻ một cành khô, rút cái mũi sắt ở cái cán gẫy lắp vào làm thành một ngọn giáo mới". Chàng hiệp sĩ không ngủ để mà nghĩ tới nàng Đuyn-xi-nê-a, cho dù trong trận chiến đấu chống lại lũ khổng lồ có hình thù là những chiếc cối xay gió kia nàng đã không tỏ ra hào hiệp giúp chàng, nàng cũng lại thờ ơ với cả cú "ngã như trời giáng" của chàng nữa. Cho dù vậy, là một hiệp sĩ chân chính Đôn Ki-hô-tê luôn tỏ ra trung thành với tình nương của mình mà biểu hiện độc đáo nhất là không ăn không ngủ, bởi vì chàng "nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi". Tiếng cười nhẹ nhàng vừa giễu cợt vừa trêu chọc đã làm cho nhân vật trở nên sống động.
Cho dù những hành động trong thực tế mang tính điên rồ ảo tưởng song lý tưởng vị tha mà Đôn Ki-hô-tê theo đuổi lại rất đáng trân trọng, bởi lẽ anh là người hiệp sĩ chân chính đi tìm tự do, khi Tây Ban Nha tự do bị bóp nghẹt, quyền sống bị chà đạp; ở đó bọn khổng lồ, bọn yêu tinh có mặt khắp nơi, hoành hành mọi nẻo; ở đó cái ác đang tồn tại và vì vậy cũng cần tới những hiệp sĩ chân chính để phò nguy cứu khổ, để tiêu diệt cái ác. Sự kết hợp giữa hai thầy trò Đôn Ki-hô-tê cũng là một sự kết hợp độc đáo, bởi lẽ ở đây vừa có sự huyễn hoặc lại vừa có sự tỉnh táo mà các nét này lại được phân bố ở cả hai người. Nếu thực hiện một phép lựa chọn theo kiểu tước bỏ những nét tiêu cực ở cả hai nhân vật và kết hợp chúng lại, ta sẽ có một nhân vật hoàn chỉnh đạt tới mức độ lý tưởng. Đó là nhân vật của ước mơ, của khát vọng của những người dân lương thiện ở Tây Ban Nha trong thời kỳ Phục Hưng.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em khi đọc đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió (tiểu thuyết Đôn-ki-hô-tê của Xéc-van-téc) | 2,442 | |
Cảm nhận của em khi đọc “Những ngày đẩu của nước Việt Nam mới” trích hồi kí “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Gợi ý
"Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những hồi kí cách mạng đặc sắc nhất, độc đáo nhất. Những sự kiện chính trị, những mẩu chuyện lịch sử… được tác giả kể lại, bình luận và đánh giá đã thể hiện tầm vóc vĩ đại của nhân dân ta, của Đảng ta và Bác Hồ trong những năm đầu nhà nước công nông bị bao vây bởi thù trong giặc ngoài. Cuốn hồi kí đã thể hiện bản lĩnh chính trị kiên cường, nhân cách văn hóa của một vị tướng tài ba khi tái hiện những năm tháng không thể nào quên ấy. Tác phẩm này được tác giả viết từ mùa xuân năm 1970 và hoàn thành vào mùa xuân năm 1972.
1. “Những ngày đầu của nước Việt Nam mới” trích ở chương XII, phần thứ nhất cuốn hồi kí “Những năm tháng không thể nào quên”. Đoạn đầu, tác giả dùng phép so sánh để nhận diện và đánh giá một chặng đường lịch sử 25 năm (1945-1970) của đất nước ta, dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hổ Chủ tịch.
Đã rất xa, cái ngày mà nước Việt Nam chúng ta chưa có tên trên bản đồ thể giới. Tổ quốc ta có mấy ngàn năm lịch sử cùng với hai nước láng giềng Căm-pu-chia, Lào “mang một cái tên mơ hồ” do bọn thực dân đặt ra: Ấn-độ-chi-na thuộc Pháp.
Cũng đã xa rồi, cái ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn là “một hòn đảo tự do” hiện lên giữa "những lớp sóng cồn trên biển cả mênh mông” của chủ nghĩa tư bản ở miền Đông Nam châu Á, khi mà "anh em bè bạn còn chưa mấy ai nhận ra ta”,…
Ngày nay (năm 1970) thời kì làm mưa làm gió của chủ nghĩa đế quốc đã qua. Mỗi hành động kẻ cướp của chúng trên bán đảo Đông Dương đều “không tránh khỏi bị trừng phạt”; mỗi tội ác của chúng gây ra tại đây đều “động tới lương tri, tình cảm” của hàng trăm triệu con người trên trái đất; mọi cách tô son trát phấn của chủ nghĩa thực dân đối với bọn ngụy quyền tay sai "đều hoài công, vô ích”.
Tiếp đó, tác giả nêu lên một số sự kiện lịch sử như sự ra đời của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam lập tức được sự hân hoan chào đón của cả loài người tiến bộ từ lâu. Sự thành lập Chính phủ kết dân tộc Căm- pu-chỉa được hàng chục nước gần xa công nhận, để chỉ ra hiện thực cách mạng vô cùng tươi sáng, lạc quan "ngày nay”.Tác giả nhắc lại "bóng ma trong dĩ vãng” của mấy trăm vạn quân Quốc dân đảng Trung Hoa, "những ngày tàn” của Tưởng Giới Thạch trên đảo Đài Loan để chỉ ra sự thay đổi lớn lao của thế và lực cách mạng mà “ta thật khó hình dung lại những giờ phút hiểm nghèo khi gần hai chục vạn quân Tưởng từ mấy ngả ập vào miền Bắc”.Xem thêm: “Thơ là thơ, nhưng đồng thời là hoạ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng" (Sóng Hồng). Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào. Hãy làm sáng tỏ điều đó qua một số bài thơ đã học trong sách Ngữ văn 12 nâng cao, tập một Tác giả trang hồi kí đã mở ra trước mắt chúng ta một bức tranh về chặng đường lịch sử cách mạng Việt Nam. Những tương phản so sánh được nêu lên đầy ấn tượng, tạo ra cảm hứng lạc quan, tin tưởng, tự hào trong lòng độc giả mỗi chúng ta.
2. Đoạn thứ hai, tác giả nhắc lại muôn vàn khó khăn mà cách mạng và nhân dân ta phải trả qua trong những ngày đầu, Đảng ta mới mười lăm tuổi đã giành được chính quyền, đã đem lại mùa xuân trên dải đất ông cha để lại, nhưng tin vui đó “chưa xa báo cho bạn bè xa gần một cách trọn vẹn". Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới sinh“nằm giữa bốn hề hùm sói" phải mưu trí, dũng cảm đấu tranh để “sống còn” phải tìm dùng những phương pháp đau đớn “để cứu vãn tình thế”.
Về chính trị còn quá nhiều khó khăn, Tuy đã qua thời kì “ẩn náu, né tránh, về sống giữa đồng bào ” nhưng mọi hoạt động của Đảng “vẫn tiến hành theo phương thức bí mật"; những cán bộ của Đảng "chưa ra làm việc công khai”; hầu hết các đảng viên đều công tác "dưới danh nghĩa những cán bộ Việt Minh”, thế mà, "kẻ thù vẫn nhận ra ta". Chính quyền cách mạng được thành lập nhiều ngày “vẫn chưa được nước nào công nhận". Bọn tướng lĩnh Tưởng Giới Thạch coi chính quyền của ta là chính quyền "chỉ tồn tại trên thực tế", không phải là một chính quyền “tồn tại về pháp lí”.
Tinh hình kinh tế hết sức khó khăn: ruộng đất bỏ hoang, nạn hạn hán, lụt lội kéo dài, một số nhà máy Nhật trao trả chưa thể cho chạy được, hàng hóa khan hiếm, việc buôn bán với nước ngoài đình trệ.
Về tài chính, ta chưa phát hành được tiền Việt Nam; kho bạc giành được chỉ có một triệu bạc rách; Ngân hàng Đông Dương “luôn gây rối loạn về mặt tiền tệ”; bọn Tưởng tung rất nhiều tiền Quan kim, làm cho tài chính và việc buôn bán của ta "càng nguy ngập”.
Đời sống của nhân dân ta rất thấp và khó khăn: không có công ăn việc làm, nhiều nơi đồng bào phải ăn cháo, lác đác có người chết đói, dịch tả phát sinh; quân Tưởng lại đem thêm vào dịch chấy rận.
Cuộc xâm lăng của giặc Pháp "nổ ra rất sớm” tại Nam Bộ làm cho tất cả mọi khó khăn của đất nước và dân tộc "thêm trầm trọng”, làm cho vận mệnh Tổ quốc ta đã có lúc như "ngàn cân treo sợi tóc”.
Có lúc người đọc chúng ta ngày nay, sau hơn nửa thế ki cảm thấy nghẹt thở khi đọc đoạn hồi kí trên đây. Đó là một thời kì vô cùng khó khăn mà “con thuyền cách mạng đang luồn những mỏm đá ghềnh để lướt tới”. Tác giả đã truyền cho thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau biết được một cách cụ thể về những khó khăn hiểm nghèo mà Bác Hồ, và cha anh chúng ta phải gánh chịu, phải đối phó vượt qua để “sống còn”.Xem thêm: Bình giảng đoạn "Con sóng dưới lòng sâu… cả trong mơ còn thức" trong bài Sóng của Xuân Quỳnh
3. Đoạn thứ ba nói về sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ để chiến thắng mọi khó khăn, thử thách.
Cách mạng đã giành được chính quyển, dù “mới bắt tay làm lần đầu ”, nhưng tình hình đó "đỡ khác trước". Ta phải "củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng" đó là vấn đề cấp bách.
Từ thượng tuần tháng Chín (năm 1945), Chính phủ lâm thời ban hành nhiều sắc lệnh, nghị định.
Tác giả đã kể lại những việc làm to lớn của chính quyền cách mạng trong những ngày tháng khó khăn ấy. Giải tán hệ thống quan lại cũ, đập tan hoàn toàn bộ máy chính quyền của thực dân, phong kiến, quyết định sẽ mở tổng tuyển cử trong cả nước để bầu ra Quốc dân đại hội (Quốc hội), ra sắc lệnh tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, tất cả do "chính dân lựa chọn, trực tiếp bầu ra”. Nhờ đó mà chính quyền nhân dân được “củng cố vững chắc ở cơ sở”, khối đoàn kết của toàn dân được "mở rộng", thực hiện "công nông chuyên chính”.
Bản dự án Hiến pháp đầu tiên được công bố để toàn dân đóng góp ý kiến vào Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25%; xóa bò tất cả các món nợ lâu đời ở nông thôn; ban hành chế độ ngày làm tám giờ; công nhân có quyền theo học các lớp huấn luyện quân sự, v.v…
Sắc lệnh đặt ra Bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam. Việc học chữ quốc ngữ trở thành bắt buộc và không mất tiền.
Thuế thân và nhiều thứ thuê vô lí do chính quyền thực dân đặt ra trước đây “đều bị bãi bỏ”.
Ngày 4 tháng Chín, Chính phú lập Quỹ độc lập và tổ chức Tuần lễ vàng. Có biết bao nghĩa cử cao quý cảm động. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được hai mươi triệu đồng và ba trăm bảy mươi ki-lô vàng.
Qua đó, ta thấy sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Bác Hồ, nhiệt tình cách mạng và tinh thần yêu nước của nhân dân ta được khơi dậy, tạo nên một sức mạnh phi thường. Đặc biệt, cách mạng đã mang lại quyền tự do dân chủ, quyền công dân cho cả dân tộc. Hơn bao giờ hết, cách mạng và chính quyền cách mạng là của dân, do dân và vì dân.
4. Đoạn thứ tư, tác giả nói về vai trò của Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng và của dân tộc. Viết thư gửi Uỷ ban nhân dân ở các tỉnh, huyện và làng, Người nhắc: "Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng là đầy tớ của dân”. Người kêu gọi: "Diệt giặc dói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Người nói: Phải “dựa vào lực lượng cùa dân, tinh thần của dân" để mưu cầu “hạnh phúc cho dân”, để đem lại "một niềm hạnh phúc trọn vẹn" cho dân. Đại tướng cho biết: “Hạnh phúc cho dân” là "lí tưởng của Người là "tấm lòng của Nguời”. Hạnh phúc cho dân là mục tiêu cao cả và thiêng liêng mà chính quyền cách mạng phải phấn đấu, bởi lẽ như Người đã nói: "Nước độc lập mà dân không được hạnh phúc thì độc lập cũng không cỏ nghĩa lí gì”. Xem thêm: Phân tích đoạn thơ: "Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối... - Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?” (Nhớ rừng - Thế Lữ)Trong bài báo Tự phê bình, Người chỉ ra bốn khuyết điểm của chính quyến cách mạng, rồi Người chân thành nói: "Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại chúng ta”.
Tác giả hồi kí đã phân tích và bình luận mối quan hệ tốt đẹp giữa Nhà nước và chính quyền cách mạng với nhân dân. Nhân dân lao động “đã nhận thấy rõ Nhà nước hôm nay đúng là Nhà nước của mình"; Nhà nước “đang hằng ngày, hằng giờ bảo vệ quyền lợi và mang lại hạnh phúc cho nhân dân”. Và nhân dân tin tưởng "Những gì hiện nay nó chưa làm được, thì nhất định nó sẽ làm được trong tương lai”.
Kết thúc chương XII, Đại tướng đã dành những lời tốt đẹp nhất nói về tấm lòng của nhân dân đối với vị lãnh tụ kính yêu: "Đồng bào đã nhận thấy ở Bác Hồ, hình ảnh tượng trưng cao đẹp nhất của dân, của nước, của cách mạng, của chính quyền mới, chế độ mới”.
5. Hồi kí thường mang đậm dấu ấn cá nhân; người viết hồi kí thường sử dụng phương thức biểu đạt tự sự để kể lại những gi mình đã tham dự, đã sống và hành động, những tâm sự, tình cảm của mình trong quá khứ. Do đó, hồi kí phải hết sức chân thực.
Hồi kí “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mang đậm dấu ấn dân tộc và chính quyền cách mạng. Tác giả đã sử dụng các phương thức hồi tưởng, tự sự kết hợp với phân tích, bình luận, đánh giá các sự kiện cách mạng và lịch sử. Chủ thể trữ tình trong bản hồi kí của Đại tướng là dân ta, Đảng ta, Bác Hồ; thấp thoáng mới thấy nhân vật trữ tình “tôi” xuất hiện. Màu sắc kí sự, biên niên sử là nét riêng, màu sác riêng làm nên tính độc đáo "Những năm tháng không thể nào quên”.
Niềm tự hào về Đảng ta, nhân dân ta, lòng yêu kính và biết ơn Bác Hồ vĩ đại là những tình cảm đẹp nhất, sâu sắc nhất tỏa sáng trên từng trang hồi kí. Sự trầm tĩnh và khiêm tốn của tác giả là nét đẹp tâm hồn của vị tướng tài ba – tác giả "Những năm tháng không thể nào quên”, làm người đọc gần xa thêm phần ngưỡng mộ.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em khi đọc “Những ngày đẩu của nước Việt Nam mới” trích hồi kí “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp | 2,215 | |
Cảm nhận của em sau khi đọc bài phóng sự “Nghệ thuật băm thịt gà” trích trong “Việc làng” của Ngô Tất Tố
Gợi ý
Câu chuyện đó tác giả kể lại vào thời xưa, dưới thời Pháp thuộc. Chuyện mà Ngô Tất Tố được chứng kiến là bữa cỗ chứa hàng xóm, diễn ra trong một ngày mưa tại nhà Lăng Vân, một người bạn cố tri của tác giả. Cảnh thềm mưa "ướt rờm rợp". mọi người kéo đến ăn cỗ. nhận phần "bàn chân đất lấm bê bê".
Tác giả đã khéo léo tạo nên những tình huống đầy kịch tính làm nổi bật cái sân khấu hài với bao chi tiết, gợi lên nhiều ngạc nhiên, làm cho người đọc phải "tò mò" theo dõi bữa cỗ "chứa hàng xóm". Tiếng người "khậm khoạc", tiếng gà đập cánh "phành phạch" và kêu "quang quác" giữa đêm khuya. Cảnh người ăn cỗ kéo đến chia phần mỗi lúc một đông, "già có, trẻ có, đứng bóng có"; mấy "ông tỉ nhau" cũng không thể vắng mặt.
Sân khấu hài được tác giả vén màn lên dần, mỗi lúc hiện ra một cảnh "lạ mắt". Thằng Mới – mõ làng – nghệ sĩ băm thịt gà xuất hiện. Hắn đội mâm cỗ đi trong mưa đến trong "tiếng thét" của một ông già. Mâm cỗ chỉ là một con gà "ước chừng một người ăn cỗ mới hết", một mâm xôi "độ bốn đấu gạo nếp", và hai chai rượu "đầy ăm ắp". Chắc là còn có nhiều mâm cỗ khác nữa, ê hề sỏ lợn, thịt trâu, thịt bò nữa sắp đưa đến!
Cảnh thằng Mới đếm người "kiến tại" đến ăn cỗ "chứa hàng xóm", chi tiết "người đàn anh" nhẩm tính, ra lệnh đã đẩy tình huống hài lên đỉnh điểm: "Vậy thì làm hai mươi ba cỗ, tám cỗ kiến tại, một cỗ chứa, một cỗ cho mày, còn mười ba cỗ chia phần". Mõ làng thằng Mới "một mình một chiếu" thảnh thơi ngồi thật là sung sướng! Tác giả ngạc nhiên, người đọc hơn nửa thế kỉ nay ngạc nhiên, và tự hỏi: "Một con gà và bấy nhiêu xôi mà làm đến mấy chục cỗ, thì làm ra làm sao?… "Xem thêm: Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão hay nhất Phần thứ ba bài phóng sự, tác giả vừa tả vừa kể một cách hóm hỉnh thằng Mới trổ tài băm thịt gà. Sân khấu hài hé mở. Nghệ sĩ Mới ung dung bước lên với bao đạo cụ, nào là hai thúng đĩa bát, một con dao, một cái thớt, một liền nước mắm và hai chồng mâm. Thằng mõ thật tài ba, khi hắn chia xôi, hắn "tính lẩm bẩm giây lát" rồi đặt con dao lên mâm cỗ xôi "xắn một chiều làm sáu, một chiều làm bốn". Thật công bằng, hắn "lấy một miếng xôi véo ra từng tí để phụ vào các miếng kia". Tác giả đã quan sát và miêu tả thật tỉ mí, làm nổi bật nghệ thuật chia phần xôi của thằng mõ.
Thằng Mới mỗi lúc một trổ tài. Hắn đòi thay thớt. Hắn cho biết "dao cùn thớt trũng thì thịt sẽ bong hết da!". Khi đã có chiếc thớt gỗ nghiến "đỏ đòng đọc", hắn sờ ngón tay thử dao có bén không. Đúng là một nghệ sĩ kì tài, chỉ một bộ lòng gà mà thằng Mới chia đều được mười đĩa, "tuy chỉ một dúm con con, nhưng trong mười đĩa, không đĩa nào thiến một thứ nào".
Sau khi nghe lệnh truyền của mấy "ông đàn anh": "sọ gà pha năm, phao gà pha bốn", chúng ta lo cho thằng Mới sẽ mần răng được. Thật là "lo bò trắng răng!". Thằng mõ đã cắt cái sỏ làm hai mảnh, chặt mảnh mỏ dưới làm đôi, mánh mỏ trên làm ba, "tất cả năm miếng, miếng nào cũng có dính một tí mỏ". Còn chiếc phao gà "miếng nào cũng có đầu bầu, đầu nhọn, chẳng khác nào một cái chũm cau chẻ tư". Dân gian có câu: ‘Thiệt miếng sỏ gà bằng mất cha sào mộng", thằng Mới phải trổ tài, nếu sơ suất sẽ bị các "ông đàn anh" đánh nát đít!Xem thêm: Một lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại Cảnh thằng Mới băm thịt gà như làm xiếc. Hắn cắt riêng hai cái tỏi gà, hắn chỉ chém hai nhát, tức thì con gà bị tách làm hai mảnh đều nhau, mảnh nào cũng có một nửa xương sống. Tay cầm con dao phay, hắn băm lia lịa, không nhát nào cao, không nhát nào thấp, mười nhát như một… ‘Tiếng dao công cốc đụng vào mạt thớt, nhịp nhàng như tiếng mõ của phường chèo, không lác nào mau, cũng không có lúc nào thưa. Mỗi tiếng cốc là mỗi miếng thịt gà băng ra. Miếng nào như miếng ấy, đứt suốt từ xương đến da, không còn dính nhau mảy may". Chà, thằng Mới thiện nghệ quá! Đúng nó là một thằng mõ – nghệ sĩ!
Ngô Tất Tố tả miếng thịt gà do thằng Mới băm ra mới ưa nhìn và ngon làm sao, mới đẹp làm sao! "Không dập, không nút, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm. Nếu để trước môi mà thổi có thể bay được mười thước".
Đoạn văn tả cảnh băm thịt gà của thằng mõ là đoạn hay nhất, hấp dẫn nhất, thể hiện tài quan sát, lối ví von so sánh tài tình của tác giả. Cử chi, động tác băm thịt gà của thằng Mới, hình ảnh miếng thịt gà "không dập, không nát, không bong da, nó giống như tập cánh con bươm bướm", chỉ mới nhìn, mới nghe tả mà người đọc đã ứa nước miếng, cảm thấy thơm thơm quyện lấy mũi rồi. 92 miếng thịt gà không thiếu không thừa một miếng nào. Hình ảnh thằng Mới móc túi lấy nắm tăm, mỗi miếng thịt gà được hắn xâu cho một cái tăm vào giữa, rồi đem cắm vào mâm xôi. ‘Thịt vừa hết, xôi cũng khớp".Xem thêm: Tả cảnh khu phố (xóm làng) em Con người là sản phẩm của xã hội. Thằng Mới là sản phẩm của cái làng xôi thịt ngày xưa. Mõ là loại đầu chày đít thớt. Lăng Vân gọi Mới là "ông". Cuối tác phẩm, Ngô Tất Tố viết một cách hóm hỉnh: ‘Tôi chín lắm. Và tôi muốn dâng cho ông Mới ấy lên chức nghệ sĩ".
Nhân vật trong truyện ‘Tư cách mõ" của Nam Cao vừa đáng thương, vừa đáng khinh. Nhưng nhân vật Mới trong phóng sự "Nghệ thuật băm thịt gà" của Ngô Tất Tố lại để lại cho ta ít nhiều cảm thông. Tục ngữ có câu: "Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp". Miếng sỏ, miếng phao câu, miếng thịt gà do thằng mõ băm ra cho ta hiểu sâu thêm câu nói truyền khẩu ấy. Hủ tục thật đáng sợ!
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em sau khi đọc bài phóng sự “Nghệ thuật băm thịt gà” trích trong “Việc làng” của Ngô Tất Tố | 1,191 | |
Cảm nhận của em sau khi đọc bài Thái sư Trần Thủ Độ trích Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên.
Hướng dẫn
Bài “Thái sư Trần Thủ Độ ” là một bài bình phẩm nhân vật lịch sử rất đặc sắc của Ngô Sĩ Liên trong "Đại Việt sử kí toàn thư”. Nhân cách cao đẹp của Trần Thủ Độ để lại bao ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn của con người Việt Nam hơn 700 năm qua.
Mấy dòng đầu ghi rõ ngày, tháng, năm xảy ra sự kiện: Giáp Tí, năm thứ 7 (1264, năm thứ 7 niên hiệu Thiên Longdời vua Trần Thánh Tông), mùa xuân, tháng giêng, Trần Thủ Độ mất thọ 71 tuổi, ông được vua truy tặng "Thượng phụ Thái sưTrung Vũ đại vương”. Thượng phụ: cha vua; Thái sư: thầy của vua; Thượng phụ Thái sư là danh hiệu, tước hiệu cao quý tột bậc của thời phong kiến.
Đoạn văn thứ hai đánh giá phẩm chất, công lao, uy quyền của Trần Thủ Độ:
– Không có học vấn nhưng tài lược hơn người.
– Từng làm quan dưới thời Lí được mọi người suy tôn.
– Nhờ mưu trí của Trần Thủ Độ mà họ Trần giành được ngôi báu từ tay nhà Lí: “Thái Tông lấy được thiên hạ”.
– Uy quyền của ông “hơn cả vua ” cho nên nhà nước phải nhờ cậy.
Đoạn văn thể hiện một lối viết tinh chắc, vừa nêu bật sự kiện vừa biểu lộ khen, chê, đánh giá.
Phần thứ hai nêu 4 sự việc rất điển hình để khẳng định và ca ngợi nhân cách trungthực, cươngtrực và lòngchí công của Trần Thủ Độ. Sự kiện nào cũng đầy kịch tính.
– Vị quan đàn hặc về việc "Trần Thủ Độ quyên hơn cả vua…”, ta cứ ngỡ người ấy sẽ bị Trần Thủ Độ báo thù và chém đầu. Nhưng ông ta đã chí rõ: ''Đúng như lời ngườiấy nói”, rồi ông còn thưởng tiền lụa cho anh ta. Vì anh ta là người trung trực, dám nói lên một sự thực, dám dũng cảm đàn hặc trước mặt vua về sự lộngquyền " của vị Thái sư. Câu nói và hành động của vị Thái sư thể hiện một nhân cách lớn: trungthực coi trọngsự thực, đánh giá cao công của người đàn hặc.
– Sự việc thứ hai là người quân hiệu không cho Linh Từ quốc mẫu (vợ Trần Thủ Độ) ngồi kiệu đi qua chỗ thềm cấm. Khi vợ khóc và nói là bị bọn quân kiệu“khinh nhờn ”, Trần Thủ Độ giận, sai đi bắt. Anh ta chắc là mình phải chết. Nhưng sau khi nghe anh ta đem sự thực trả lời điều "vặn hỏi ” của mình, Thái sư đã hết lời khen: “Ngươi ở chức thấp mà biết giữ phép như thế, ta còn trách gìnữa?”. Rồi ông lấy tiền vàng lụa thưởng cho người quân hiệu. Sự việc đó cho thấy Trần Thủ Độ là một người trung thực, cương trực, giữ gìn và tôn trọng các luật lệ chung của phép nước. Cách hành xử ấy rất đáng làm gương cho những người quyền quý trong xã hội, cho các quan trong triều..
Xem thêm: Phân tích bài thơ Độc tiểu thanh ký của Nguyễn Du– Sự việc thứ ba thật bất ngờ và thú vị. Một người xin được làm câu đương, được vợ quan Thái sư xin cho, anh ta chắc mẩm sự chạy chọt của mình chắc trăm phần trăm! Nhưng khi nghe Trần Thủ Độ nói là "phải chặt một ngón chân ” thì anh ta "kêu van xin thôi", hồi lâu mới được tha. Tưởng xin làm câu đương để có một chút danh phận giữa chốn đình trung mà kiếm chút, ai ngờ chuốc lấy tai hoạ! Câu chuyện diễn ra như một màn bi hài kịch. Cách chúng ta hơn bảy thế kỉ, Trần Thủ Độ là người kiên quyết nhất chống tiêu cực: chống chạy chức, chạy quyền. Sau vụ xin làm câu đương của người nọ, "từ đấy khôngaidám đến nhà (quốc mẫu) thăm riêng nữa
Có lẽ nhân chuyện này mà dân gian mới có lời vè:
"Câu dương ăn nhặn gì đâu,
Ngón chân bị chặt thì đau vô cùng!”
Câu đươngmà giải nghĩa là: chức quan nhỏ, lo liệu công việc trongthôn xã – là không đúng. Câu đương người chức dịch trong làng, giữ việc bắt bớ giảitống (chú thích của "Đại Việt sử kí toàn thư” – in lần thứ hai.
– Sự việc thứ tư cho thấy Trần Thủ Độ rất chí công, đặt quyền lợi triều đình, quốc gia lên trên hết. Vua Thái Tông muốn cho An Quốc làm tướng (Tể tướng), nhưng Thái sư đã nói:
“An Quốc là anh thần, nếu là người hiền thì thần xin nghỉ việc, còn như cho thần là hiền như An Quốc thì khôngnên cử An Quốc. Nếu anh em cùng là tướng (Tể tướng) thì việc trongtriều đình sẽ ra sao?
Tình anh em là trọng nhưng chuyện đại sự quốc gia còn trọng hơn. Người hiền (có đức độ tài năng hơn người) là tiêu chuẩn được giao phó trọng trách của nhà nước. Các chuyện tiêu cực tùm lum của ta hiện nay là do chưa thật sự coi trọng người hiền. Câu nói của Trần Thủ Độ đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Phần thứ ba là lời bình tổng quát về nhân vật lịch sử Trần Thủ Độ. Ý nào cũng đúng đắn và sâu sắc.
– Thái sư là một con người tận trung với nước, tận hiếu với dân, với sự nghiệp đế vương của họ Trần "phàm côngviệc khôngviệc gìlà khôngđể ý”.
– Công lao của ông vô cùng to lớn "giúp nên nghiệp vương, giữđược tiếng tốt cho đến chết”. Ông đã có tài mưu lược tìm ra mọi cách để giành ngôi báu từ tay nhà Lí qua tay nhà Trần. Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ nhất, ông là trụ cột của Triều đình và quốc gia Đại Việt. Câu nói nổi tiếng của ông mãi mãi là khí phách của người anh hùng, biểu tượng cho hào khí Đông A: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin Bệ hạ đừnglo! ” Lòng yêu nước, tính trung thực, cương trực, và đức chí công của ông vằng vặc ánh sao băng, được hậu thế ngưỡng mộ.
– Khi ông còn sống đã được lập sinh từ. Vua Trần Thái Tông có làm bài văn bia ngợi ca công đức to lớn của vị Thái sư.
Thật vậy, Trần Thủ Độ là người có vai trò to lớn, quyết định đối với sự nghiệp vương triều nhà Trần. Ngô Sĩ Liên đã dành những lời tốt đẹp nhất, những sự kiện lịch sử hùng hồn nhất làm sống dậy công đức vô cùng to lớn của vị Thái sư. Bài bình sử này có giá trị và ý nghĩa như một tượng đài kì vĩ.
Nguồn: thêm: Thi hào Goethe cho rằng: “Dù vua chúa hay dân cày, kẻ nào tìm thấy sự bình an trong gia đình, kẻ ấy là người sung sướng nhất”. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về câu nói trên | Cảm nhận của em sau khi đọc bài Thái sư Trần Thủ Độ trích Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên. | 1,205 | |
Cảm nhận của em sau khi đọc “Nhà cầm quyền khôi phục uy quyền” trích trong tác phẩm “Những người khốn khổ” của Huy – gô
Gợi ý
1. “Nhà cầm quyền khôi phục uy quyền ” trích trong tác phẩm “Những người khốn khổ” của Vích-to Huy-gô (1802 – 1885), nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà soạn kịch vĩ đại thuộc chủ nghĩa lãng mạn văn học Pháp trong thế kỉ XIX.
Đọc “Nhà cầm quyền khôi phục uy quyền ”, nhân vật Gia-ve để lại cho ta bao nỗi hãi hùng. Qua cái nhìn, sự nghe thấy và ý nghĩ, cảm xúc của Phăng-tin, tác giả đã khắc hoạ tên mật thám này bằng những nét vẽ vô cùng sâu sắc, đầy ấn tượng.
Khi Phăng-tin đang nằm trên giường bệnh, xung quanh có ông Ma-đơ-len và bà xơ, đó là những người nương tựa tinh thần của người đàn bà khốn khổ này, thì Gia-ve xuất hiện bất ngờ. Phăng-tin tưởng là hắn đến bắt chị nên chị đã “kêu lên hãi hùng”:Cái mặt hắn “gớm ghiếc”. Điệu bộ hắn “man rợ và điên cuồng”. Tiếng của hắn “không còn là tiếng người nói mà là tiếng thú gầm ”. Cặp mắt của hắn nhìn “như cái móc sắt ”, thật kinh khủng, bởi vì cái nhìn ấy cách đây hai tháng đã “đi thấu vào đến tận xương tủy chị ”.
Phăng-tin sợ hãi “rùng mình ” khi tên hung thần tiến vào giữa phòng và “hét lén ”: “Mày có đi không? ”. Chị cảm thấy “cả thế giới đang tiêu tan ” khi tên mật thám nắm lấy cổ áo ông thị trưởng; và ông thị trưởng cúi đầu. Khi Phăng-tin kêu cứu ông thị trưởng thì Gia-ve “phá cười lên ”, cái cười ghê tởm phô ra tất cả hai hàm răng. Tiếng cười ấy là tiếng gầm gừ của một chó điên, của một con thú dữ sắp vồ mồi! Thật lạnh lùng và ghê sợ khi ta nghe “nhà cầm quyền khôi phục uy quyền” khẳng định: “Ở đây làm gì còn có ông thị trưởng nữa! ”. Xem thêm: Truyền thuyết Thánh Gióng lớp 6 Khi Giăng Van-giăng muốn “cầu xin” Gia-ve “một điều” thì hắn bảo phải gọi hắn là “ông thanh tra” và “phải nói to”. Giăng Van-giăng xin Gia-ve “thư cho ba ngày” để đi tìm đứa con cho người đàn bà đáng thương đang nằm trên giường bệnh, thì hắn kêu lên: “Mày nói giỡn! Chà chà! Tao không ngờ mày lại ngốc thế!… Mày bảo là để đi tìm đứa con cho con đĩ kia! Á {)!… ”. Khi Phăng-tin “run lên bần bật” cất tiếng kêu thương gọi Cô-dét, gọi bà xơ, gọi ông thị trưởng, thi Gia-ve như một con thú dữ bị trúng thương, hắn “giậm chân ”, hắn nhìn Phăng-tin “trừng trừng hắn “túm một túm lấy cổ áo và ca-vát” của Giăng Van-giăng, hắn thô lỗ gọi chị Phăng-tin là “con đĩ”, là “đồ khỉ”, hắn ra lệnh bắt chị phải “câm họng?. Với hắn thì không thể nào để tồn tại những nghịch cảnh nơi “cái xử chó đểu ”, mà phải “thay đổi hết ”, không thể để nghịch cảnh “bọn tù khổ sai làm ông nọ bà kia, còn lũ gái điếm được chạy chữa như những bà hoàng!”. Dưới con mắt Gia-ve thì không thể có cái tên ông Ma-dơ-len, không có ông thị trướng nào cả, mà “chỉ có một tên kẻ cắp, một tên kẻ cướp, một tên tù khổ sai là Giăng Van-giăng” mà hắn đã bắt được. Nhà cầm quyền khôi phục uy quyền là thế!
Lời nói, cử chỉ, hành động của tên hung thần Gia-ve đã làm cho Phăng-tin vô cùng kinh sợ, “chị thốt ra tiếng rên ”, răng đánh vào nhau “cầm cập ”,,âchị bỗng ngã vật xuồng gối, đầu đập vào thành giường rồi ngoẹo xuống ngực, miệng há hốc, hai mắt mở to và lờ đờ”… tắt thở.
Tác giả đã mô tả một cách chi tiết cái chết của Phãng-tin để vạch trần bộ mặt độc ác, tàn nhẫn của con người thú tên mật thám, tên thanh tra Gia-ve.
Trước phản ứng của Giăng Van-giăng như cậy bàn tay của Gia-ve đang túm lấy cổ áo mình, nghiêm nghị cánh cáo tội ác của hắn,ệđã giết chết " một người đàn bà tội nghiệp, thì hắn “phát khùng hét lên và hăm doạ”. Nhưng trước hành động của ông thị trưởng "giật gãy trong chớp mắt chiếc giường cũ nát", "cầm lăm lăm cái thanh giường trong tay và nhìn Gia-ve trừng trừng",thì tên hung thần cũng biết sợ, hắn "lùi ra phía cửa ". Đúng là Gia-ve "run sợ",hắn sợ bị người tù khổ sai đập chết. Xem thêm: Em hãy tưởng tượng và viết lại câu chuyện tâm tình mà Đất muốn nói với người Cái chết bất đắc kì tử của Phăng-tin, phản ứng quyết liệt của Giăng Van-giăng, sự run sợ của Gia-ve là tình huống đầy kịch tính, vừa bi thương, vừa hài hước, mang ít nhiều ý vị triết lí: những kẻ mất tính người, độc ác như thú dữ lại là những kẻ nhát gan nhất và sợ chết nhất! Đúng là Gia-ve sợ chết! Thật là hài hước và mỉa mai: nhà cầm quyền đang hung hăng khôi phục uy quyền thì bất ngờ bị tước mất uy quyền!
Hình ảnh Gia-ve "tay nắm lấy đầu can, lưng tựa vào khung cửa, mắt không rời Giăng Van-giăng "khác nào một con chó dữ bị đánh cụp đuôi vẫn không buông mồi!
2. Sau khi hạ uy thế Gia-ve, Giăng Van-giăng đã dành tất cả tâm hồn mình cho người đàn bà khốn khổ vừa mới chết. Ông "tì khuỷu tay lên thành giường’’,ông "đỡ lấy trán " bằng bàn tay, ông ngắm Phăng-tin nằm dài không nhúc nhích. Một nỗi thương xót khôn tả, biểu lộ trong nét mặt và dáng điệu của ông. Ông yên lặng ngồi trước thi thể người đàn bà xấu số. Một lúc sau, trong trạng thái "mơ màng", ông "cúi ghé lại gần và thì thầm bên tai Phăng-tin ". Những tiếng thì thầm ấy là những lời xót thương.
Cảnh tình cảm động ấy đã được bà xơ Xem-pli-xơ chứng kiến. Và sau này bà thường kể lại rằng ‘Lúc Giăng Van-giăng thì thầm bên tai Phăng-tin, bà trông thấy rõ ràng một nụ cười không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt và trong đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng của chị khi đi vào còi chết". Xem thêm: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em về đoạn trích "Cha con nghĩa nặng” trong tác phẩm cùng tên của Hồ Biểu Chánh Tình thương của Giăng Van-giăng thật mênh mông và bao la. Cử chi của ông thật trang trọng, thành kính và đầy thương xót. Ông "lấy hai tay nâng đầu Phăng-tin lên đặt ngay ngắn giữa gối như một người mẹ sửa sang cho con ". Giăng Van-giăng thắt lại dây rút cổ áo, vén gọn mớ tóc rồi vuốt mắt cho chị. Cử chi xót thương và tấm lòng nhân ái của Giăng Van-giăng đã làm cho gương mặt Phăng-tin "như sáng rỡ lên một cách lạ thường ”.
Huy-gô viết: "Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại".Phải chăng bầu ánh sáng vĩ đại ấy là tình nhân ái bao la, mênh mông của đồng loại, của những người tù khổ sai như Ciiãng Van-giăng trong cuộc đời.
Cái cử chí cuối cùng của Giăng Van-giăng đối với người đàn bà xấu số, tội nghiệp thật vô cùng cảm động. Ông đã quỳ xuống trước hai bàn tay buông thõng ngoài giường của Phăng-tin, "nhẹ nhàng nâng lên và đặt vào đấy một nụ hôn ". Ta khẽ hỏi: Đà mấy ai trong cõi đời xưa nay có cách ứng xử đầy tinh thương như người tù khổ sai này?
Câu chuyện được kể trong "Nhà cầm quyền khôi phục uy quyền " cho thấy bút pháp tự sự đặc sắc của Huy-gô. Các nhà văn của trào lưu lãng mạn, cũng như Huy-gô, sử dụng biện pháp tương phản và phóng đại một cách tài tình khi miêu tả nhân vật và biểu hiện sự vật. Gia-ve và Giăng Van-giăng là hai bức hoạ tương phản và phóng đại đầy ấn tượng làm nổi bật ánh sáng và bóng tối, lòng nhân ái và sự độc ác, tình
người và bản năng thú dữ. Những so sánh, những ẩn dụ được tác giả sử dụng sắc nét, tài tình. Nhân vật Giăng Van-giăng và cái chết của Phăng-tin đã làm cho trang văn của Huy-gô dào dạt cảm hứng nhân văn, chứa chan tinh thần nhân đạo.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em sau khi đọc “Nhà cầm quyền khôi phục uy quyền” trích trong tác phẩm “Những người khốn khổ” của Huy – gô | 1,465 | |
Đề bài: Cảm nhận của anh chị trước những chuyển biến của trời đất lúc sang thu.
Mấy hôm nay, tiết trời địu hẳn. Cái không khí oi bức, ngột ngạt của mùa hạ đã bị ngọn gió mát lạnh buổi đầu thu xua đi. Tiếng ve ngân ra rả trong các vòm cây giờ đây cũng đã im bặt. sắc đỏ nồng nàn của hoa phượng chỉ còn đọng lại trong nỗi nhớ. Trong đầm sen đã tàn, nhường chỗ cho những bông súng tím, những bông trang hổng dập dờn trên mặt nước xanh. Thoảng trong làn gió heo may se se là hương ổi chín – một mùi hương đặc biệt gắn liền với tuổi thơ nơi thôn dã, gợi lên bao kỉ niệm thân thương, sương lam như làn khói mỏng manh vấn vít la đà quanh những rặng cây, lũy tre đầu ngõ. Không khí yên tĩnh lạ lủng. Chỉ có tiếng gió lao xao se sẽ trong vòm lá. Tôi hít căng lồng ngực hương vị quen thuộc của quê hương và trong kí ức sống dậy bao kỉ niệm đẹp đẽ của thời thơ ấu. Lòng tôi chợt dậy lên cảm xúc bổi hồi, xạo xuyến: Hình như thu đã về!
Ngoài xa kia, sông Hồng sau mùa lũ không còn sục sôi sóng đỏ, cuồn cuộn chảy như trong những ngày mưa lũ. Màu nước trong hơn, mặt sông êm ả, lấp lánh ánh nắng mai. Dòng sông đã trở nên hiền hòa, thong thả trôi xuôi. Những chuyến đò chở đầy khách chậm chạp sang ngang. Tiếng cười, tiếng nói xôn xào hòa cùng tiếng sóng nhè nhẹ róc rách vỗ bờ, tạo nên âm thanh quen thuộc của cuộc sống bình yên.
Tôi ngước mắt nhìn lên bầu trời trong xanh, cao vời vợi, mây trắng lãng đãng trôi về tận phương nào. Những cánh chim nhỏ nhoi dường như cũng vội vã hơn trong cuộc hành trình vạn dặm. Bất chợt, tôi có cảm giác là có đảm mây mùa hạ. Vắt nửa mình sang thu. Bao phủ lên khung cảnh thiên nhiên là không khí êm đềm, thơ mộng.
Thu đã sang nhưng dấu ấn của mùa hạ chưa phải là đã hết. Sắc nắng vàng như mật vẫn trải đầy mặt đất và kết tụ trong màu vàng hoa cúc nở rộ khắp nơi nơi, làm say đắm lòng người. Không gian như bao la hơn và màu trời càng trở nên xanh thắm. Những cơn mưa ào ạt vơi dần, nhường chỗ cho mưa thu nhẹ nhàng, mát mè. Sấm cũng bớt nổ bất ngờ trên hàng cây đứng tuổi mọc ở gò đất cao đầu làng, làm tiêu cho những chuyến đò cập bến và những người con xa lâu ngày trở về, biết đường tìm lại quê nhà.
Lắng mình quan sát những biến chuyển của trời đất lúc thu sang, tôi cảm thấy bâng khuâng, xao xuyến, Thiên nhiên thơ mộng làm nảy sinh thi hứng trong lòng thi sĩ và mang lại sự nhẹ nhàng, thanh thản cho tâm hổn của mỗi chúng ta.
Xem thêm: Phân tích áng thiên cổ hùng văn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. | Cảm nhận của em trước những chuyển biến của trời đất lúc sang thu | 532 | |
Cảm nhận của em về bài ca dao nước non lận đận một mình
Hướng dẫn
“Nước non lận đận một minh,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”
Một tiếng than thân đầy lệ và nhiều ai oán. Thân cò và cò con là ẩn dụ nói về thân phận người phụ nữ nông dân và con cái họ. Hai thế hệ, hai kiếp người đau khổ. Người đàn bà nhà quê sống lẻ loi cô đơn “một mình”, làm ăn “lận đận” vất vả giữa cuộc đời. Có khác nào “thân cò”, lúc thì “ăn đêm”, lúc thì “đi đón cơn mưa tối tăm mù mịt”, lúc thì ‘Tên thác xuống ghềnh”. Thành ngữ “lên thác xuống ghềnh” chỉ sự khó khăn vất vả. Cuộc đời “lận đận một mình”, ‘Tên thác xuống ghềnh” của “thân cò” đâu chi ngày một ngày hai mà đã “bấy nay” trải qua bao năm tháng giữa chốn “nước non” mênh mòng:
“Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay”.
Lời ai oán của “thân cò”, của người mẹ đau khổ cất lên như thấm đầy lệ:
“Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?”
“Bể đầy”, “ao cạn”là hai biểu tượng nói về cảnh ngang trái, loạn lạc. “Ai” là đại từ nhân xưng phiếm chỉ. “Ai làm” là lời ám chỉ, tố cáo bọn thống trị đã gây ra cảnh ngang trái, loạn lạc, làm cho nhân dân đau khổ điêu linh, “cho gầy cò con”.Đời mẹ đã ‘Tận đận”, đời con càng đói rét, bị bóc lột đau thương.
Chữ “cho” được điệp lại ba lần: “ai làm cho…, cho ao kia cạn, cho gầy cò con” như tiếng nấc, như lời nguyền đay nghiến lên án tội ác bọn vua quan thống trị. Các tính từ: “đầy”, “cạn”, “gầy” bổ sung ý nghĩa, nội dung cho nhau, làm cho giọng điệu tiếng hát thân thân càng trở nên não nùng, ám ảnh.
Nguồn: thêm: Phân tích tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà | Cảm nhận của em về bài ca dao Nước non lận đận một mình | 347 | |
Cảm nhận của em về bài ca dao: Rủ nhau lên núi đốt than. Chồng mang đòn gánh vợ mang quang giành. Củi than nhem nhuốc với tình. Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên
Gợi ý
Tình cảm vợ chồng, lòng chung thuỷ keo sơn gắn bó là một đề tài lớn trong ca dao dân ca. Ca ngợi điều đó đồng thời ca dao cũng phê phán thói ăn ở phụ bạc, có mới nới cũ, quên những cơ cực bần hàn. Bài ca dao gợi lên một hình ảnh đầy lam lũ và nhắn nhủ mọi người chớ quên.
Rủ nhau lên núi đốt than
Chồng mang đòn gánh vợ mang quang giành
Củi than nhem nhuốc với tình
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên.
Công việc của hai vợ chồng là đốt than. Đây là công việc rất nặng nhọc. Trước hết, là chặt củi, nhặt củi, đốt lấy than đem bán. Gian khổ vất vả nhưng hai vợ chồng biết chung lòng hợp sức cùng gánh vác. Không phải chỉ có chồng hay vợ lên rừng đốt than mà rủ nhau. Họ cùng nhau lên rừng lao động, chẳng ai bảo ai mỗi người một thứ: Chồng mang đòn gánh vợ mang quang giành. Họ có chung một mục đích, một công việc và chung cả tấm lòng nữa. Dẫu cho vất vả gian lao bao nhiêu thì họ vẫn:
Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn
Hay:
Trên đồng cạn dưới đồng sâuXem thêm: Tả cây Đào dịp Tết đến Xuân về Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa
Hạnh phúc lớn của một gia đình là vợ chồng hiểu nhau, thương nhau và sống cho nhau. Cũng không ít những đôi vợ chồng trong cuộc sống gặp lúc túng quẫn hay sinh ra mâu thuẫn thậm chí đổ cho số phận hẩm hiu, thiếu sự đoàn kết thống nhất và kết cục là sự đổ vỡ trong quan hệ.
Ở đây, hạnh phúc đơn sơ trong công việc lem luốc mà đáng quý biết bao: Củi than nhem nhuốc với tình ở trên ta mới chỉ thấy những công cụ phục vụ cho việc lao động đến đây ta càng rõ hơn: đốt than, củi than nhem nhuốc nhưng là nhem nhuốc với tình. Sự đồng tâm hiệp lực nhất trí của cả hai vợ chồng dồn vào công việc. Càng vất vả càng gian lao thì sự gắn bó càng cao càng lớn:
Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người
Càng vất vả tình cảm càng gắn bó, chồng dù nghèo, dù xấu vẫn là chồng em. Vợ chồng cùng chung sướng khổ, cùng nắng cùng mưa, kỉ niệm ấy sao có thể quên được. Cũng như than kia có nhuốc nhem, thì tình vợ chồng chúng mình càng son sắt trước sau. Rõ ràng từ trong vất vả con người càng gắn bó. Lời nhắn nhủ dồn hết vào câu cuối:
Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên
Lời đá vàng là lời ước hẹn son sắt thuỷ chung. Vàng đá là vật thể rắn, câu ca dao mang ý nghĩa khẳng định tình cảm vợ chồng bền vững không bao giờ phai nhạt. Mình là hai người nhưng cũng là cách gọi xưa của vợ chồng. Dù vất vả đắng cay xin chớ quên lời vàng đá. Đó chính là hạnh phúc cuộc đời và đó cũng chính là đạo lí truyền thống xưa nay. Xem thêm: Sắc đẹp làm vui mắt, sự dịu hiền thu hút lòng người Rủ nhau xuống biển mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi! chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau
Ca dao dân ca đề cập đến tất cả các mối quan hệ trong tình cảm của con người. Nhưng nổi bật nhất là tình cảm gia đình – mà sâu sắc nhất là vợ chồng. Vợ chồng sống với nhau phải yêu thương kính trọng nhau, sự thuỷ chung là thước đo quan hệ vợ chồng. Dường như ở họ tình cảm dành cho nhau là vô bờ. Cho nên khi một trong hai người mà phụ bạc:
Khi xưa anh bủng anh beo
Tay bưng đĩa muối lại đèo miếng chanh
Bây giờ anh mạnh anh lành
Anh theo duyên mới anh đành phụ tôi
Lời phê phán nhẹ nhàng mà thấm thía hướng người ta đến một lối sống tình nghĩa là ngọt bùi cay đắng có nhau.
Tóm lại bài ca dao ca ngợi tình cảm thuỷ chung son sắt của vợ chồng. Trong cuộc sống muôn vàn khó khăn điều mà người ta phải giữ gìn là tình cảm cha con, anh em, vợ chồng… Có được như vậy thì cuộc sống gia đình mới tốt đẹp, hạnh phúc.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em về bài ca dao_ Rủ nhau lên núi đốt than. Chồng mang đòn gánh vợ mang quang giành. Củi than nhem nhuốc với tình. Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên | 788 | |
Cảm nhận của em về bài ca dao: Thuyền ơi có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Hướng dẫn
Tâm hồn phụ nữ Việt Nam sáng trong như viên ngọc đã chiếu sáng trong dòng chảy lịch sử, đã in đậm trong thơ ca dân tộc bao đời nay. Trong “Trường ca mặt đường khát vọng ” nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có viết:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho
Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái…”
Tình cảm cao đẹp ấy của người đàn bà nước Nam đã được nói lên thật hay, thật cảm động trong ca dao dân ca dân tộc. Bài ca dao:
“Thuyền ơi có nhớ bến chăng,
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền ”
đã neo giữ trong tâm hồn hàng triệu con người Việt Nam xưa nay.
Có thể coi đây là một bài thơ tình dân gian kiệt tác. Thuyền và bến là 2 hình ảnh ẩn dụ – nhân hoá giao kết, giao hoà bằng những tình cảm sâu nặng. Thuyền nhớ bến, bến đợi thuyền, khăng khăng mãi trong lòng, không bao giờcó thể đổi thay, phai nhạt. Thuyền và bến tượng trưng cho tình nghĩa sắt son, chung thuỷ của lứa đôi trong cuộc đời.
Câu cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ làm cho giọng thơ ngân vang bồi hồi tha thiết:
“Thuyền ơi có nhớ hến chăng”
Chữ “ơi" và chữ “chăng” đã hoà thanh tạo nên nhạc điệu du dương, réo rắt ấy. Tiếng gọi"thuyền ơi’’ xao xuyến vang lên, lan xa trong không gian, thấm sâu tỏarộngtrongtâm hồn người. Câu hỏi tiếp theo “có nhớ bến chăng” đầy ắp nỗi thươngnhớ của đôi lứa ởhai phía chân trời. Sóng cứ vỗ, nước mải miết trôi, bến mồ côi phủ mờ sương khói thời gian. Thuyền đi xa từ dạo ấy, nay đang lênh đênh trên dòng sông nào, ngọn thác nào, góc bể chân trời nào xa lắc? Thuyền đi mãi đi mãi chưa về. Thuyền ơi có nhớ bến chăng”, câu ca cất lên như một lời than tự thương mình và thương người thấm đầy lệ.
Ẩn dụ thuyền nhớ bến, bến nhớ thuyền mang tình người, tình vợ chồng trong cảnh ngộ li biệt đầy bi kịch. Thuyền “có nhớ bến chăng”, còn bến thì vẫn nhớ, vẫn thương thuyền đang lênh đênh nơi chốn nào, và biết bao giờ mới trở lại? Cũng như thuyền và bến, vợ – chồng có gắn bó với nhau, có yêu thương nhau tha thiết sâu nặng thì mới có nỗi thương nhớ da diết ấy.
Dòng nước chảy xuôi là vô tận. Dòng chảy thời gian là vô cùng. Con thuyền lênh đênh không bến. Bến mồ côi, bến đợi, bến hẹn phủ mờ sương khói tháng năm. Thuyền xa bến, thuyến nhớ bến cũng như chồng xa vợ, vợ chồng thương nhớ nhau, đó là bi kịch biệt li trong cõi nhân gian xưa nay.
Hai thanh trắc “một dạ ” làm cho giọng thơ trĩu xuống như một nỗi niềm cứ thấm sâu vào hồn người:
“Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền ”
Xem thêm: Hóa thân thành con gà chọi để kể về cuộc đời mìnhBến và thuyền nằm ở hai vị trí đầu, cuối câu ca, cấu trúc ấy mang ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc gợi tả một không gian cách biệt xa xăm, một thời gian li biệt dằng dặc. “Khăng khăng" nghĩa là đinh ninh không đổi thay. "Một dạ khăng khăng đợi thuyền ” là một lời thề nguyền đã khắc sâu vào lòng, đã “khắc cốt ghi tâm ”, đinh ninh son sắt, không bao giờ phai nhạt, đổi thay! Thuyền vẫn đi xa, đi xa mãi chưa trở về, bến vẫn mong, bến vẫn đợi, bến vẫn “một dạ khăngkhăng đợi thuyền”
Câu ca “Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền ” đã thể hiện một cách sâu sắc nỗi nhớ thương đợi chờ, tấm lòng son sắt thuỷ chung của người vợ hiền đối với người chồng thân yêu đi mãi chưa về. Câu ca còn biểu lộ niềm tin và hi vọng vào một ngày mai, thuyền sẽ trở lại bến, bến sẽ gặp lại thuyền, vợ chồng sẽ được đoàn tụ yên vui hạnh phúc.
Trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, đất nước ta chìm trong loạn lạc và nội chiến kéo dài. Hàng triệu trai tráng phải ra trận, dãi thây trên chiến địa. Khắp nơi diễn ra cảnh li biệt buồn thương:
“Cái cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non ”
Biết bao người phụ nữ, nhan sắc, tuổi trẻ mỏi mòn trong những năm tháng chờ đợi. Họ sống trong cô đơn lạnh lẽo, nỗi thương nhớ chồng chất, lòng dạ héo hon:
“Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời,
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…
("Chinh phụ ngâm")
Bài ca dao này chỉ có thể ra đời trong bối cảnh lịch sử và xã hội ấy. Nó đã phản ánh bi kịch gia đình và thời đại, nỗi đau buồn thương nhớ, đợi chờ của lứa đôi. Nó đã ca ngợi tình nghĩa thuỷ chung son sắt của người phụ nữ Việt Nam.
Ca dao dân ca Việt Nam có nhiều bài lấy hình tượng “thuyền– bến” để nói về tình thương nỗi nhớ trong biệt li xa cách:
“Thuyền đi để bến đợi chờ,
Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau.
Chẳng nên tình trước nghĩa sau,
Bến này dãi bóng trăng thâu đợi thuyền”
Bài ca dao “Thuyền ơi cónhớ bến chăng ” là tiếng đồng vọng của lòng người vào thời gian năm tháng. Nó giàu giá trị nhân bản phản ánh một thời li loạn và bị kịch cuộc đời. Với giai điệu ngọt ngào thiết tha, nó ca ngợi tấm lòng đôn hậu, tình nghĩa thuỷ chung của những người vợ, người mẹ trong xã hội. Thuyền và bến là hình tượng nghệ thuậtmang vẻ đẹp nhân văn, thể hiện một cách độc đáo cảm hứng nhân đạo về tình thương nỗi nhớ, khát vọng được sống trong sum họp yên vui hạnh phúc của lứa đôi. Nó mãi mãi là bài học vô giá về tình nghĩa thuỷ chung và lòng biết ơn những người mẹ, người chị, người vợ quê ta.
Cái hay cái đẹp của bài ca là tính hàm súc, tính truyền cảm, và tính tượng hình. Bài ca dao này có văn bản ghi như sau:
“Thuyền về có nhớ bến chăng,
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Hai chữ "thuyền về” đã làm cho bài ca trở nên nhạt nhẽo và vô nghĩa.
Nguồn: thêm: Khái quát những cảm nhận của anh (chị) về bức tranh mùa thu trong bài thơ "Câu cá mùa thu" của Nguyễn Khuyến | Cảm nhận của em về bài ca dao_ Thuyền ơi có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền | 1,135 | |
Cảm nhận của em về bài Cổng trường mở ra của Lý Lan
Hướng dẫn
“Ngày mai con vào lớp Một”,con đã “lớn lên” nhiều lắm. Mọi thứ đồ chơi như chiếc xe thiết giáp, những chú rô-bốt nhựa, đoàn quân thú,… trước đây con thường bày ra khắp nơi trong nhà, nhưng chiều nay, con đã giúp mẹ, “hăng hái tranh với mẹ dọn dẹp đồ chơi” sau khi nghe mẹ nói: “Ngày mai đi học, con là cậu học sinh cấp Một rồi”. Cậu con trai lên 7 đã “lớn lên” về mặt tâm hồn qua tiếng nói yêu thương và lời khích lệ của mẹ hiền. Đêm nay, tuy con “háo hức” như trước đây “vào đêm trước ngày sắp di chơi xa”, con cũng ý thức được “ngày mai thức dậy cho kịp giờ”, nhưng rồi con đã nằm ngủ một cách ngon lành “dễ dàng như uống một li sữa, ăn một cái kẹo”. Mẹ hiền âu yếm nhìn con thơ nằm ngủ với bao xúc động và tràn ngập thương yêu: “Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo”. Có thể nói đó là những giây phút hạnh phúc nhất cùa người mẹ, hạnh phúc của tình mẫu tử.
Trong lúc con nằm ngủ ngon lành thì người mẹ lại “không ngủ được”. Suốt ngày mẹ “không tập trung được vào việc gì cả”. Tối đến, sau khi buông mùng ém góc, đắp mén cho con nằm ngủ, rồi người mẹ “bổng không biết làm gì nữa”. Đó là cảm xúc nôn nao, hồi hộp, xao xuyến. Khi đã lên giường nằm, người mẹ vẫn “trằn trọc”. Trằn trọc không phải vì mẹ lo lắng. “Mẹ tin là con sẽ không bỡ ngỡ trong ngày đầu năm học” vì ba năm về trước, hồi mới lên ba, con đã vào lớp mẫu giáo, giờ đây tuần lễ trước ngày khai giảng, “con đã làm quen với bạn bè và cô giáo mới, đã tập xếp hàng, tập đi, tập dứng để chuẩn bị cho buổi lễ khai trường long trọng này”.
“Mẹ tin đứa con của mẹ… lớn rồi”.Sự chuẩn bị cho con trước ngày khai trường, mẹ đã “chuẩn bị rất chu đáo”. Chẳng còn điều gì lo lắng nữa, nhưng mẹ “vẫn không ngủ được”. Mẹ xúc động nhớ lại bao kỷ niệm sâu sắc thời ấu thơ của mẹ. Tiếng đọc bài trầm bổng của mẹ, của các bạn nhỏ ngày xưa, đêmnay lại vang lên bên tai mẹ: “Hằng năm, cứ vào cuối thu… Mẹ tôi âu yếm nắm lẩy bàn tay tôi, dấn đi trên con đường làng dài và hẹp”… Mẹ lại muốn “khắc sâu… ghi vào lòng con” về cái ngày: “hôm nay tôi đi học”. Với mẹ, ấn tượng về ngày khai trường đầu tiên ấy “rất sâu đậm”. Mẹ nhớ mãi “sự nôn nao, hồi hộp” khi cùng bà ngoại đi tới gần ngôi trường, “nỗi chơi vơi hốt hoảng” khi cổng trường đóng lại, mà bà ngoại đứng ngoài cánh cổng…
Lý Lan đã rất “sống” với kỷ niệm tuổi thơ về ngày khai trường đầu tiên khi vào lớp Một. Nhớ bà ngoại, tình thương con, nỗi niềm về thời thơ ấu,… những cảm xúc mãnh liệt ấy, thiết tha ấy cứ “rạo rực”, cứ “bâng khuâng”, cứ “xao xuyến” mãi trong lòng. Tâm trạng đẹp ấy về tình mẫu – tử được tác giả diễn tả một cách nhẹ nhàng, tinh tế mà thấm thía.
Xem thêm: Cảm nghĩ câu nói “Đèn nhà ai nấy rạng”- văn lớp 7
Phần tiếp theo, Lý Lan lại chuyển qua một nét suy tư của người mẹ về ngày khai trường ở Nhật “là ngày lễ của toàn xã hội”. Người lớn nghỉ việc để đưa con đến trường, các quan chức vào buổi sáng đều chia nhau đi dự lễ khai giảng ở khắp các trường lớn nhỏ; đường phố được dọn quang đãng và trang trí tươi vui. Ở Nhật, giáo dục là quan trọng hàng đầu, các quan chức Nhà nước bằng hành động muốn cam kết rằng “không có ưu tiền nào lớn hơn ưu tiên giáo dục thế hệ trẻ cho tương lai”. Chính sách về giáo dục được Nhà nước “điều chỉnh kịp thời”, vì ai cũng cảm thấy sâu sắc rằng “mỗi sai lầm trong giáo dục sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ mai sau, và sai lầm một li có thể đưa thế hệ ấy đi chệch cả hàng dặm sau này”. Ở đây, sự suy nghĩ miên man của người mẹ về ngày khai trường ở Nhật… đã thể hiện ước mơ của người mẹ muốn đứa con yêu của mình được hưởng một nền giáo dục tiến bộ nhất, các trẻ em được chăm sóc giáo dục với tất cả tình thương của xã hội và đất nước.
Phần cuối, Lý Lan nói lên tâm trạng và ý nghĩ về ngày mai của mẹ. Ngày mai là ngày khai trường lớp Một của con. Mẹ sẽ đưa con đến trường. Mẹ cầm tay con và dắt qua cánh cổng, rồi buông tay ra… Cử chỉ ấy vừa yêu thương, chăm sóc, vừa tin cậy, tin tưởng.
“Đi đi con, hãy can đảm lên, thếgiới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”.Đây là câu văn hay nhất trong bài “cổng trường mở ra”. Mẹ tin tưởng và khích lệ con “can đảm lẽn” đi lẽn phía trước cùng bạn bè lứa tuổi. Như con chim non ra ràng, rời tổ chuyền cành sẽ tung cánh bay vào bầu trời bao la, đứa con của mẹ cũng vậy, “bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”. Từ mái ấm gia đình, tuổi thơ được cắp sách đi học, đến' với mái trường thân yêu. Lớp học mới, trường mới, bạn bè mới, thầy giáo mới, cô giáo mới. Tuổi thơ được học hành, được chăm sóc giáo dục sẽ từng ngày “lớn lên”, mở mang trí tuệ, trưởng thành về nhân cách, học vấn, bước dần vào đời. Trường học là thế giới kì diệu tuổi thơ. Mọi nhân tài xưa nay, hầu hết được vun trồng trong thế giới kỳ diệu đó.
Con vào lớp Một, với mẹ, đứa con khác nào một người chiến sĩ can đảm lên đường ra trận. Tình thương con gắn liền với niềm hi vọng bao la của mẹ hiền với đứa con thơ. Vì thế, chúng ta phải phấn đấu trở thành con ngoan trò giỏi…
Tóm lại, bài “cổng trường mỏ ra” đã chỉ rõ ngày khai trường để vào học lớp Một là ngày có dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm hồn tuổi thơ, trong tâm hồn mỗi con người. Qua việc diễn tả biến thái tâm trạng “không ngủ được”, Lý Lan đã thể hiện một cách xúc động tình mẹ thương con, niềm hi vọng về tương lai học hành tốt đẹp của con.
Học tập là nghĩa vụ cao cả của tuổi trẻ đối với gia đình và Tổ quốc,vì thế chúng ta phải ý thức một cách sâu sắc rằng: “Bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”.Thế giới kì diệu ấy là cả một chân trời văn hóa, khoa học bao la…
Nguồn: thêm: Giới thiệu về món ăn dân tộc | Cảm nhận của em về bài Cổng trường mở ra của Lý Lan | 1,248 | |
Cảm nhận của em về bài thơ Con cò của Chế Lan Viên
Gợi ý
Chế Lan Viên là một nhà thơ tài năng của nền văn học Việt Nam. ông có một phong cách nghệ thuật rõ nét, độc đáo đó là những suy tưởng, triết lý đậm chất trí tuệ và tính hiện đại. Đặc biệt, nhà thơ còn có nhiều sáng tạo trong nghệ thuật xây dựng hình ảnh thơ: hình ảnh thơ đa dạng, phong phú, kết hợp giữa thực và ảo. “Con cò” là một bài thơ như thế.
Con cò – hình tượng thơ xuyên suốt bài thơ và cũng là tên tác phẩm được khai thác từ trong ca dao truyền thống. Hình ảnh này xuất hiện rất phổ biến trong ca dao và dùng với nhiều ý nghĩa. Đó là hình ảnh người nông dân chân lấm tay bùn, vất vả cực nhọc; là người phụ nữ cần cù, lam lũ nhưng tất cả đều giàu đức hi sinh. Trong bài thơ này, nhà thơ vận dụng hình tượng ấy để làm biểu trưng cho tấm lòng người mẹ và những lời hát ru.
Bài thơ có bố cục ba phần ba đoạn với những nội dung được gắn với nhau bằng một lôgic khá mạch lạc: Hình ảnh con cò qua những lời ru bắt đầu đến với tuổi thơ ấu; Hình ảnh con cò đi vào tiềm thức của tuổi thơ, trở nên gần gũi và sẽ theo cùng con người trên mọi chặng của cuộc đời; từ hình ảnh con cò, suy ngẫm và triết lý về ý nghĩa của lời ru và lòng mẹ đối với cuộc đời mồi người.
Xuyên suốt bài thơ, hình tượng con cò được bổ sung biến đổi trong mối quan hệ với cuộc đời con người, từ thơ bé đến trưởng thành và suốt cả đời người.
Mớ đầu bài thơ, hình ảnh con cò được gợi ra liên tiếp từ những câu ca dao dùng làm lời hát ru. Ớ đây tác giả chỉ lấy vài chữ trong mỗi câu ca dao nhằm gợi nhớ những câu ca dao ấy. Những câu ca dao được gợi lại đã thể hiện ít nhiều sự phong phú trong ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò trong ca dao. Câu "con cổ cổng Phủ con cò Đồng Đăng" gợi tả không gian và khung cảnh quen thuộc của cuộc sống ngày xưa từ làng quê đến phố xá.Xem thêm: Nhận xét... sách Văn học 9, tập 2, NXB Giáo dục 1998 có viết: "Hình... nhất"... Qua việc phân tích vẻ đẹp hình thức của bài thơ sau, em hãy bày tỏ cách hiểu của em về vấn đề trên? Ánh trăng - Nguyễn Duy - [...] Hình ảnh con cò gợi vẻ nhịp nhàng, thong thả, bình yên của cuộc sống vốn ít biến động thời xưa. Câu ca dao “con cò mà đi ăn đêm” hình ảnh con cò lại tượng trưng cho những con người cụ thể là người mẹ, người phụ nữ nhọc nhằn vất vả, lặn lội kiếm sống…
Qua lời ru của mẹ, hình ảnh con cò đến với tâm hồn ấu thơ một cách vô thức. Đây chính là sự khởi đầu con đường đi vào thế giới tâm hồn của con người qua lời ru, của ca dao, dân cạ.
Con trẻ chưa hiểu nội dung, ý nghĩa của bài ca dao nhưng chúng được vỗ về trong âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời ru. Chúng được đón nhận bằng trực giác tình yêu và sự che chở của người mẹ. Và khép lại đoạn thơ là hình ảnh thanh bình của cuộc sống.
Sau những năm tháng nằm nôi, cánh cò trở thành người bạn đồng hành của tuổi thơ:
“Cò trắng đến làm quen
Cò đứng ở quanh nơi
Rồi cò vào trong tổ
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ
Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi”
Đến tuổi tới trường:
“Con theo cò đi học
Cánh trắng cò hay theo gót đôi chân”.
Và khi con trưởng thành:
"Cánh cò trẩng lại hay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn..”.
Con cò từ trong lời ru đã đi vào tiềm thức của tuổi thơ trở nên gần gũi, thân thiết và theo con người đi suốt cuộc đời. Từ trong ca dao, cánh cò đã được tiếp tục sự sống của nó trong tâm thức con người. Hình ảnh ấy được xây dựng bằng sự liên tưởng như được bay ra từ trong ca dao để sống trong lòng con người, theo cùng và nâng đỡ con người trong từng chặng đường. Hình ảnh con cò gợi ý nghĩa biếu tượng về lòng mẹ, về sự dìu dắt, nâng đỡ dịu dàng và bền bỉ của người mẹ.Xem thêm: Nghị luận xã hội về cái khó bó cái khôn Đến phần thứ ba của bài thơ, hình ảnh cánh cò đã được đồng nhất với hình ảnh người mẹ. Tấm lòng của mẹ như cánh cò lúc nào cũng ở gần bên con trong suốt cuộc đời:
"Dù ở gần con
Dù ở xa con
Lên rừng xuống bể
Cò sẽ tìm con
Cò mãi yêu con"
Từ đây, nhà thơ khẳng định một quy luật của tình cảm có ý nghĩa bền vững, rộng lớn và sâu sắc: tình mẫu tử.
"Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con"
Câu thơ đi từ cảm xúc đến liên tưởng để khái quát thành những triết lý. Dù ở đâu, bên mẹ hay đến phương trời khác, dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì con vẫn được mẹ hết lòng thương yêu, che chở.
“Một con cò thôi
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi”
Lời ru cũng là khúc hát yêu thương. Sự hoá thân của người mẹ vào cánh cò mang nhiều ý nghĩa sâu xa, kết tụ những hi sinh, gian khổ, nhọc nhằn để những lời yêu thương càng trở nên sâu sắc, đằm thắm. Câu thơ cuối là một hình ảnh rất đẹp. Cánh cò vỗ qua nôi như dáng mẹ đang nghiêng xuóng chở che, đang nói với con những lời tha thiết của lòng mẹ.
Bài thơ sử dụng thể thơ tự do nhưng cũng có câu mang dáng dấp của thể thơ 8 chữ. Thế thơ tự do giúp tác giả khả năng thể hiện cảm xúc một cách linh hoạt, dễ dàng biến đổi. Các đoạn thơ được bắt đầu bằng câu thơ ngắn, có cấu trúc giống nhau, nhiều chỗ lặp lại hoàn toàn gợi âm điệu lời ru. Đặc biệt, giọng thơ gợi được âm hưởng của lời ru nhưng không phải là một lời ru thực sự. Đó còn là giọng suy ngẫm triết lý. Nó làm cho bài thơ không cuốn người ta vào hẳn điệu ru êm ái đều đặn mà hướng vào sự suy ngẫm, phát hiện.Xem thêm: Bài viết số 7 lớp 10 Không chỉ vậy, trong bài thơ này, Chế Lan Viên vẫn chứng tỏ được sức sáng tạo trong việc tạo ra những hình ảnh nghệ thuật giàu sức gợi. Đó là việc vận dụng sáng tạo hình ảnh con cò trong ca dao. Hình ảnh con cò là nơi xuất phát, là điểm tựa cho những liên tưởng tưởng tượng hình ảnh của tác giả. Chế Lan Viên đã chứng minh rằng hình ảnh biểu tượng dù gần gũi, quen thuộc đến đâu vẫn có khả năng hàm chứa những ý nghĩa mới, có giá trị biểu cảm.
“Con cò” của Chế Lan Viên là một bài thơ độc đáo. Viết về một đề tài không mới: tình mầu tử; chọn những thi liệu đã thành truyền thống: hình ảnh con cò và âm điệu lời ru; song, bằng sức sáng tạo và tài năng nghệ thuật, Chế Lan Viên đã đế lại cho văn học một tứ thơ lạ và đầy suy tưởng sâu sắc. Đọc “Con cò”, ta như thấy trong mình ăm ắp những yêu thướng mà cả cuộc đời của mẹ đã dành trọn cho mình.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em về bài thơ Con cò của Chế Lan Viên | 1,341 | |
Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Cảnh Ngày Hè của nhà thơ Nguyễn Trãi
Bài làm
Nguyễn Trãi không chỉ được biết đến là một vị anh hùng của dân tộc mà còn là một nhà thơ lớn. Một thi nhân trải qua biết bao thăng trầm của cuộc sống. Chính vì thế mà những sáng tác của ông đều gắn liền với cuộc đời mình. Bài thơ Cảnh Ngày Hè chính là một bài thơ được sáng tác khi ông về Côn Sơn ở ẩn. Qua đó bộc bạch những tâm sự khi bị vua nghi kị, tình yêu quê hương, yêu thiên nhiên cùng với nỗi niềm tâm sự canh cánh trong lòng.
Bài thơ mở đầu bằng cách giới thiệu hoàn cảnh mà tác giả đang sống, đang hưởng thụ một cách bất đắc dĩ:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường”
Một con người luôn nhiệt huyết với sự nghiệp của đất nước, lo lắng cho cuộc sống của nhân dân và luôn đắm chìm vào công việc nay lại phải từ bỏ tất cả để nhàn nhã hóng mát. Tuy nhiên đó không phải là điều mà Nguyễn Trãi mong mỏi lúc này. Ông muốn tiếp tục được cống hiến. Câu thơ không hề toát lên sự vui vẻ khi được hưởng thanh nhàn mà mang theo đầy rẫy những tâm sự của nhà thơ. “Thuở ngày trường”, nghĩa là rảnh rỗi hóng mát cả một ngày dài không có việc gì để làm. Câu thơ như trở nên kéo dài hơn với từ “trường” và cho người đọc cảm giác giống như một sự thở dài chứ không có nhiều vui sướng. Đặt vào hoàn cảnh lúc bấy giờ khi mà xã hội thì ngày càng suy yếu mà một người vốn sục sôi nguyện vọng, ý chí của ông lại bị triều đình vui lấp nên đành từ quan về ở ẩn. Ngày dài hóng mát ấy vốn chẳng phải ước vọng của ông, nên dù cho ngồi hóng mát nhưng ông cũng không được thanh thản, nghỉ ngơi thực sự.Xem thêm: Soạn bài Sửa chữa lỗi dùng từ
Đối lập với sự tù túng trong tâm hồn của ông chính là cảnh sắc thiên nhiên mùa hè tươi đẹp. Nguyễn Trãi đã tạm gác những muộn phiền để chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên:
“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Cảm nhận của em về bài thơ Cảnh Ngày Hè
Cảnh vật nổi bật bởi cây hòe với sắc lục “rợp giương”, trải rộng cả một không gian. Không gian có sức sống mạnh mẽ của cảnh vật bởi động từ “đùn đùn”. Tầm nhìn của nhà thơ càng ngày càng mở rộng ra, dần dần đưa mắt ra xa và thấy được sắc đỏ của thạch lựu và sắc hồng của những bông sen trông hồ. Tiếp tục là những động từ “phun”, “tiễn”. Không gian rộng mở với tràn ngập những sắc màu của những loài hoa tượng trưng cho màu hè. Không chỉ vậy mà ở đó còn có mùi hương thơm ngát của hồ sen. “Tiễn mùi hương” không phải mùi hương sắp hết mà là lan tỏa từ hồ sen rộng ra xung quanh đó. Cảnh vật trải dần từ gần ra xa cho thấy sức bao quát và gợi tả tinh tế của nhà thơ. Không chỉ thấy cảnh sắc đẹp, mùi hương thơm mà nhà thơ còn cảm nhận cả bằng thính giác đó là lắng nghe những âm thanh của thiên nhiên:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Những âm thanh được lắng nghe từ xa tới gần. Đó là âm thanh về sự sống của con người đến của tự nhiên. “Chợ” chính là một nơi tập trung dân cư sinh hoạt và nó cho biết cuộc sống hiện tại của nhân dân. Khi chợ đông đúc, nhiều hàng hóa nghĩa là cuộc sống của nhân dân ấm no, thái bình, thịnh trị. Chính từ “lao xao” đã cho thấy cuộc sống thái bình của những người dân chài, khung cảnh đông đúc nhưng lại không quá ồn ào và lại ở xa nên không làm mất đi sự yên tĩnh, hưởng thụ của tác giả. Âm thanh ấy như tạo nên mối liên kết giữa nhà thơ với nhân dân, khiến ông dù ở ẩn nhưng vẫn không tách rời hoàn toàn với quần chúng nhân dân. Song song với sự “lao xao” ấy chính là hình ảnh “lầu tịch dương” đang bao trùm bởi tiếng ve. “Lầu tịch dương”, một âm thanh quen thuộc của mùa hè.Xem thêm: Từ một số bài ca dao than thân đã học hoặc đã đọc, hãy phát biểu cảm nghĩ của anh (chị) về số phận người phụ nữ trong xã hội cũ
Thiên nhiên đã đem lại cho ông thêm niềm mãnh liệt về yêu thiên nhiên, yêu sự sống của con người. Ông càng thêm thưởng thức niềm vui cuộc sống thanh bình nhưng cũng không quên những nỗi riêng tư, sầu muộn, những canh cánh trong lòng vì dân vì nước:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Nguyễn Trãi đã sử dụng điển tích “Ngu cầm” để nói lên khát vọng của ông. Ngu cầm thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng trong lịch sử vì là những vị minh quân, đất nước thanh bình, thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn gảy lên để ca ngợi sự thanh bình, giàu đủ của nhân dân. Chính vì thế Nguyễn Trãi như muốn mượn hình ảnh ấy để ca ngợi sự ấm no của nhân dân hiện tại. Bên cạnh đó còn bày tỏ ước vọng thể hiện tinh thân nhân đạo cao cả đó chính là không chỉ muốn dân mình no đủ mà còn mong muốn cho cả nhân dân ở khắp mọi nơi.
Bài thơ Cảnh Ngày Hè đã cho ta thấy được những nỗi niềm tâm sự của nhà thơ Nguyễn Trãi. Qua đó còn làm nổi bật lên tình yêu quê hương đất nước, khát vọng lý tưởng cao cả của ông dù cho ông đang ở ẩn hay vẫn tại trốn quan trường.
Loan Trương | Cảm nhận của em về bài thơ Cảnh Ngày Hè của nhà thơ Nguyễn Trãi hay nhất | 1,040 | |
Cảm nhận của em về bài thơ Nam quốc sơn hà
Hướng dẫn
Bài thơ được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Giọng thơ đanh thép hùng hồn. Đây là bài thơ dịch:
‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ!’
Bài thơ đã khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt, căm thù lên án hành động xâm lược của giặc Tống, thể hiện tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta.
Hai câu thơ đầu tuyên bố về chủ quyền của Đại Việt:
‘Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư’
Tác giả khẳng định núi sông nước Nam là đất nước ta, bờ cõi của ta, một nước có chủ quyền do Nam đế trị vì. Phương Bắc có Bắc đế thì phương Nam cũng có Nam đế. Hai chữ Nam đế biểu hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Nam đế tượng trưng cho quyền lực và quyền lợi của nhàn dân ta, một dân tộc có nền văn hiến rực rỡ lâu đời, một quốc gia có nền độc lập bền vững. Đó là sự thật lịch sử hiển nhiên. Không những thế, cương giới của Đại Việt, lãnh thổ, biên cương của Đại Việt đã được ghi rành rành trên sách trời. Hai chữ ‘thiên thư’ (sách trời) biểu thị một niềm tin thiêng liêng về núi sông nước Nam, về chủ quyền bất khả xâm phạm của Đại Việt:
‘Núi sông Nam Việt vua Nam ỏ,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở’
Câu thơ thứ ba căm thù lên án giặc Tống xâm lược:
Xem thêm: Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm kết thúc bằng bốn câu: “Người đi? ừ nhỉ... người đi thực…”."Chiếc lá bay", "hạt bụi", "hơi rượu say" trong ba câu cuối là để chỉ ai? Từ đó, anh (chị) cảm nhận được gì về tâm trạng của người ra đi trong bài thơ?‘Như hù nghịch lổ lai xâm phạm?’
(Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?)
Hai chữ ‘cớ ¿'ức/Xnhư hà) là tiếng để hỏi, cũng là kết tội Quách Quỳ đem quân sang xâm lược nước ta, giết người, cướp của, âm mưu biến Đại Việt thành quận huyện của Thiên triều. Hành động ăn cướp của lũ giặc dữ man rợ là phi nghĩa, là làm trái ‘sách trời’. Giọng thơ vừa căm thù vừa khinh bỉ. Một lối nói hàm súc đanh thép.
Câu cuối bài thơ sáng ngời một niềm tin. Quân giặc phi nghĩa nhất định thất bại nhục nhã. Quân và dân ta có sức mạnh chính nghĩa, có tinh thần quyết chiến bảo vệ sông núi nước Nam nhất định chiến thắng:
‘Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư’
(Chúng mày nhất định phải tan vỡ)
Ba chữ ‘thủ bại hư’ (chuốc lấy thất bại) đặt cuối bài thơ đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đanh thép và hùng hồn. Chiến thắng sông Cầu – Như Nguyệt năn 1076 là sự minh chứng hùng hồn câu kết bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’. Quách Quỳ và lũ tướng tá Thiên triều phải tháo chạy, hàng vạn giặc phơi xác trên chiến trường. Sông Cầu – Như Nguyệt đã đi vào lịch sử dân tộc bằng chiến công chói lọi.
‘Nam quốc sơn hà’là khúc tráng ca anh hùng. Nó cho thấy tài thao lược của Lí Thường Kiệt đã dùng thơ ‘Thần’ để đánh giặc. ‘Nam quốc sơn hà’ mang ý nghĩa lịch sử như bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt. Tinh cảm yêu nước và niềm tự hào dân tộc từ bài thơ đã thấm sâu vào tâm hồn mỗi chúng ta.
Nguồn: thêm: Nỗi ưu tư về một chữ “nhàn”- Đọc bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. | Cảm nhận của em về bài thơ Nam quốc sơn hà | 642 | |
Cảm nhận của em về bài thơ Nói với con của Y Phương. Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về trách nhiệm của người làm con
Gợi ý
Ca dao từng có câu: “Công cha như núi Thái Sơn”. Có phải vì vậy mà người cha luôn khao khát những đứa con có được sự vững vàng, rắn rỏi mạnh mẽ trên đường đời. Qua bài thơ Nói với con của Y Phương, người đọc nhận thấy tình cảm và mong ước của một người cha như vậy dành cho con, một thứ tình cảm nồng ấm và thiêng liêng, giản dị. Bài thơ đồng thời cũng gợi cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về trách nhiệm của người làm con.
Mượn lời một người cha nói với con, bài thơ gợi về cội nguồn của mỗi con người, đồng thời bộc lộ niềm tự hào trước sức sống mạnh mẽ, bền bỉ của quê hương mình. Nhà thơ đã mở rộng từ tình cảm gia đình đến tình cảm quê hương, từ những kỷ niệm gần gũi, thiết tha mà nâng lên thành lẽ sống.
Mở đầu bài thơ bằng những hình ảnh cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt. Từng bước đi, từng tiếng nói tiếng cười của con được cha mẹ mừng vui đón nhận:
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười.
Những câu thơ có cách diễn đạt thật độc đáo đã cho thấy tình yêu thương của cha mẹ đối với con. Con lớn lên hàng ngày trong tình yêu thương ấy, trong sự nâng niu, mong chờ của cha mẹ.
Không chỉ có tình yêu thương của cha mẹ, thời gian trôi qua, con trưởng thành trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương. Đó là cuộc sống của những "người đồng mình", rất cần cù và tươi vui:Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn kết bài cho bài viết thuyết minh về cây lúa Việt Nam“Người đồng mình thương lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa, vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ nhớ mãi về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trong đời”.
Những từ ngữ giàu sắc thái biêu hiện: cài nan hoa, ken câu hát,… đã miêu tả cụ thể cuộc sống ấy đồng thời thể hiện tình cảm gắn bó, quấn quýt của con người quê hương. Rừng núi quê hương thơ mộng và trữ tình cũng là một trong những yếu tố nuôi con khôn lớn, nâng đỡ tâm hồn con. Thiên nhiên với những sông, suối, ghềnh, thác… đã nuôi dưỡng con người cả về tâm hồn và lối sống: "Rừng cho hoa, con đường cho những tấm lòng". Cách gọi “người đồng mình” đặc biệt gần gũi, thân thiết và gắn bó như gợi niềm ruột thịt yêu thương.
Không chỉ gợi cho con về nguồn sinh dưỡng, cha còn nói với con về những đức tính cao đẹp của "người đồng mình". Đó là lòng yêu lao động, hăng say lao động với cả tấm lòng. Đó là sức sống bền bỉ, mạnh mẽ, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn.
Dùng những từ ngữ rất mạnh mẽ như "cao", "xa", "lớn", tác giả muôn nhấn mạnh cuộc sống khoáng đạt, mạnh mẽ của những "người đồng mình". Dù khó khăn, đói nghèo còn nhiều nhưng họ không nhụt chí, ý chí của họ vẫn rất vững chắc, kiên cường:
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thỉ là phong tục.
Những "người đồng mình" vượt qua vất vả để bám trụ lấy quê hương. Bằng cuộc sống lao động không mệt mỏi, họ xây dựng quê hương với những truyền thống cao đẹp. Những "người đồng mình" mộc mạc, thẳng thắn nhưng giàu chí khí, niềm tin… Người cha đã kể với con về quê hương với cảm xúc rất tự hào.Xem thêm: Giải thích bài ca dao “Cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư” Tình cảm của người cha dành cho con rất thiết tha, trìu mến. Tình cảm này bộc lộ tự nhiên, chân thực qua những lời nhắn gửi của cha cho con. Người cha muốn con sống phải có nghĩa tình, thuỷ chung với quê hương, biết chấp nhận những khó khăn, vất vả đế có thể:
s
Người cha mong cho con mình sống ngay thẳng, trong sạch, sống với ý chí, niềm tin để vững vàng vượt qua mọi thử thách khó khăn. Người cha mong cho con sống phải luôn tin vào khả năng của mình, tin tưởng vào bản thân. Có như vậy, con mới có thể thành công, mới không thua kém ai cả. Người cha đã nói với con bằng tất cả lòng yêu thương của mình, nói với con những điều từ đáy lòng mình. Điều lớn nhất người cha đã truyền dạy cho con chính là niềm tự tin vào bản thân và lòng tự hào với sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, với truyền thống của quê hương.
Qua những lời người cha nói với con, có thể thấy tình cảm của người cha đốì với con thật trìu mến, thiết tha và tin tưởng. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn nói với con chính là niềm tự hào với sức sống mạnh mẽ bền bỉ của quê hương và niềm tin khi bước vào đời.
Bài thơ đã gợi cho người đọc những niềm cảm động sâu xa và những suy nghĩ sâu sắc. Thì ra, đằng sau những lặng lẽ, thâm trầm của cha là biết bao yêu thương, biết bao mong mỏi, biết bao hi vọng, biết bao đợi chờ… Con lớn lên như hòm nay không chỉ nhờ vào cơm ăn và áo mặc mà còn mang nặng ân tình của những lời dạy dỗ ân cần thâm thìa. Quả là:Xem thêm: Nghị luận xã hội - Hạnh phúc là đấu tranh (C. Mác)“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Vậy thì, là người làm con, con xin nguyện:
“Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Chẳng những vậy, con sẽ bước theo những bước chân vững chắc mà cha để lại – trên con đường cha bước đến đỉnh Thái Sơn – nguyện “sống như sông như suối”, nguyện ngẩng cao đầu “lên đường” mà không “thô sơ da thịt”. Và trên con đường ấy, con sẽ mang theo hình ảnh quê hương để tiếp tục nối tiếp cha anh “tự đục đá kê cao quê hương” thân thiết của mình…
Bài thơ có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật, tuy nhiên, độc đáo nhất và đặc sắc nhất là cách thế hiện, diễn tả tình cảm. Những tư ngữ, hình ảnh trong bài rất mộc mạc nhưng đồng thời cũng rất giàu hình ảnh gợi tả, vừa cụ thể vừa có sức khái quát cao.
Bài thơ nhắc nhở chúng ta về tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương, của dân tộc. Qua lời nói với con, ta phần nào hiểu rõ hơn, cảm nhận sâu sắc hơn những tình cảm của người cha dành cho con. Những bài học mà người cha trong bài thơ Nói với con có lẽ là những bài học mà bất kỳ người cha nào cũng muôn dạy cho con mình. Và những bài học giản dị, mộc mạc đó có lẽ sẽ theo con suốt trên chặng đường đời, bài học của cha – bài học đầy ý nghĩa sâu sắc.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em về bài thơ Nói với con của Y Phương. Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về trách nhiệm của người làm con | 1,313 | |
Cảm nhận của em về bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch
Gợi ý
Tình yêu quê hương đất nước luôn là đề tài đau đáu trong lòng các nhà thơ trong mỗi khắc xa quê. Và “thi tiên” Lí Bạch đã có một “Tĩnh dạ tứ” thật hay đế làm giàu, làm đẹp thêm cho thi đề này:
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.
Bài thơ được dịch là “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”:
Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đẩu nhớ cố hương.
Bài thơ thực ra không phải là một áng Đường thi. Lí Bạch viết bài thơ không theo những niêm luật thông thường của thơ Đường luật mà viết phóng túng theo cảm xúc riêng tư của mình. Cuộc đời của Lí Bạch là cuộc đời của một đấng tài hoa mà bạc mệnh. Dẫu tài năng xuất chúng nhưng cuộc đời ông cũng bao phen chìm nổi. Khi sáng tác bài thơ này, ông đang sống trên đất khách quê người với biết bao gian khố và nỗi nhớ quê hương không bao giờ nguôi ngoai.
Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương.
"Trăng” là người bạn của thi nhân muôn đời. Nhắc đến trăng là nhắc đến trăng thanh gió mát bạn bè túi rượu bầu thơ ngâm vịnh. Nhưng nhắc đến trăng còn là nhắc đến mảnh trăng quê hiền hòa, êm dịu và như thế nhắc đến trăng là nhắc đến quê hương. Câu thơ đầu trong bài thơ nhắc đến trăng nhưng không rõ trong bài thơ này, trăng gợi lên điều gì trong lòng tác giá? Chỉ biết rằng, trăng, đã đánh thức người trong đêm thanh tĩnh. Thấy trăng rọi sáng ở đầu giường là khi ông đang nằm trên giường trằn trọc không ngủ. Nhân vật trữ tình rất có thể là chưa ngủ, hoặc ngủ rồi nhưng tỉnh dậy và không ngủ được nữa. Trong trạng thái mơ màng ấy mới có cái sự nghi ngờ rất đẹp (trăng sáng mà ngỡ là sương). Như thế dù không trực tiếp tả người, câu thơ vẫn gợi lên được trạng thái và tình cảm của con người. Nằm trên giường mà thao thức không ngủ được, ánh sáng của trăng mà ngờ mặt đất phủ sương trời đã sáng nên thức giấc. Ấy ắt là tâm trạng luôn chập chờn, khắc khoải, trăn trở, thao thức của kẻ li hương. Trong tâm hồn ấy luôn có điều gì đau đáu, dày vò. Câu "ngỡ mặt đất phủ sương" vừa trực tiếp tả tâm trạng bâng khuâng, bồi hồi lại vừa gián tiếp tả cử chỉ của người ngồi trên giường đang nhìn vào xa xôi, mông lung, như tìm kiếm một thứ gì đó mà đối với tác giả nó rất gần gũi, thân thương, nhớ đất, nhớ người nhớ cả quê hương.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi dầu nhớ cố hương
Đến hai câu cuối thì nỗi nhớ quê trào lên bội phần, cử chỉ hành động cũng thêm bôi rối trằn trọc, trăn trở. Cảnh vật và tình cảm tâm trạng đan xen, kết hợp như đang hòa quyện nhau không thể nào tách bạch. Trong cái đêm yên tĩnh ấy, trăng rất sáng, rất trong, rất đẹp nhưng lòng người không thè vui với trăng được mà ngược lại, dù ngẩng hay cúi đầu thì nỗi nhớ quê day dứt, vẫn tồn tại, vẫn khắc khoải trong lòng tác giả. Cảnh vui, cảnh đẹp nhưng người nhớ, người sầu thì có cảnh cũng chỉ làm sầu thêm thôi.
Bài thơ được làm theo hình thức cồ thể ngũ ngôn tuyệt cú. Hình thức thể hiện tự do rất có hiệu quả khi diễn đạt mạch cảm xúc tự nhiên. Tuy thế, tác giả cũng đã sử dụng phép đối rất đắc địa ở hai câu cuối: Ngẩng đầu / Cúi đầu, nhìn trăng sáng / nhớ cố hương. Nguyên tác cho thấy đây là cặp đối rất chỉnh, về mặt từ loại: động từ / động từ (cử đầu / đê đầu, vọng / tư), tính từ / tính từ (minh / cố), danh từ / danh từ (nguyệt / hương). Cặp đối tạo thành sự sóng đôi: Cảnh / tình (trăng / quê hương). Sự sóng đôi này chính là cấu tứ của bài thơ. Cảnh gợi tình, trăng gợi nhớ quê hương, rồi đến lúc con người chìm đắm trong nỗi nhớ, trăng thấm đẫm vào hồn. Cái cúi đầu như lặng lẽ, như buổn tủi…Xem thêm: Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản “Sài Gòn tôi yêu” (tác giả Minh Hương)Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch với những từ ngữ giản dị mà tinh luyện đã thế hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thìa tình quê hương của một người sống xa nhà trong đêm trăng thanh tĩnh.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em về bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch | 839 | |
Cảm nhận của em về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải
Hướng dẫn
Thượng tướng Trần Quang Khải là anh hùng – thi sĩ lỗi lạc cùa đời Trần. Ong lập được nhiều chiến công hiển hách trong cuộc kháng chiến lẩn thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (1288) đánh thắng giặc Nguyên Mông. Ông là tác giả tập thơ ‘Lạc đạo’ bằng chữ Hán, hiện chỉ còn lại 11 bài.
Mùa hè năm 1285, quân ta đánh thắng giòn giã trên phòng tuyến sông Hồng, Thoát Hoan đại bại, thành Thăng Long được giải phóng. Trên đường cùng đại quân rước xa giá vua trở lại Kinh thành, Trần Quang Khải viết bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt ‘Tụng giá hoàn kinh sư’ này. Đây là bài thơ dịch:
‘Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu’.
1. Hai câu thơ đầu cấu trúc bình đối, nhắc lại hai chiến công liên tiếp vang dội của quân ta: trận Hàm Tử quan và trận Chương Dương độ. Hàng vạn giặc bị bắt sống và bị giết. Ô Mã Nhi thoát chết, chạy trốn ra biển. Toa Đô bị chém cụt đầu. Quân ta chiếm được nhiều chiến thuyền, khí giới và lương thảo của giặc. Hai chữ
‘đoạt sáo’và ‘cầm Hồ’ đứng đầu câu thơ gợi tả hai cú đánh sấm sét vô cùng mạnh mẽ và liên tiếp giáng xuống đầu quân xâm lược. Lần đầu tiên trong thơ ca dân tộc, Trần Quang Khải đã đưa địa danh lịch sử vào thơ để ca ngợi ‘hào khó Đông – A’,ca ngợi chí khí anh hùng của Đại Việt. Thượng tướng Trần Quang Khải, tướng quân Trần Nhật Duật đã chỉ huy hai trận đánh lớn này. Câu thơ hàm súc, cảm xúc dồn nén, khí văn hùng tráng mạnh mẽ biểu thị tinh thần ‘Sát Thát’ của tướng sĩ và niềm tự hào vô cùng to lớn của nhân dân ta thời Trần:
‘Đoạt sáo Chương Dương độ,
Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc" của Tố Hữu: "Ta về mình có nhớ ta,(...) Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”Cầm Hồ Hàm Tử quan’ ị Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù)
Trên đà chiến thắng, quân ta quét sạch giặc Nguyên – Mông ra khỏi Kinh thành Thăng Long. Ngày 6 tháng 6 năm Ất Dậu, tức là ngày 9 tháng 7 năm 1285, Thượng tướng Trần Quang Khải cùng đoàn quán thắng trận rước xa giá vua Trần trở lại Kinh thành trong cảnh hoang tàn đổ nát.
2. Từ âm điệu anh hùng ca, giọng thơ trở nên tâm tình ở hai câu cuối Trước đống tro tàn của quê hương đất nước, một nhiệm vụ mới rất nặng nề được đặt ra cho mọi người:
‘Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san’ (Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu)
Từ vua đến vương hầu, từ tướng sĩ đến toàn dân, ai cũng phải ‘tu trí lực’, đồng lòng gắng sức đem tài năng, công sức, của cải để tái thiết đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, làm cho giang san ta, đất nước ta được độc lập, thái bình bền vững đến muôn đời, mãi mãi. Nghĩa vụ công dân được đặt ra một cách nghiêm trang, nhẹ nhàng và thấm thía. Câu thơ không có chủ ngữ (chủ ngữ ẩn), nhưng ai cũng cảm thấy mình đang được nhà thơ nhắc đến. Ngòi bút của tác giả rất thâm hậu. Tư tưởng ‘tu trí lực’mà Trần Quang Khải nêu lên từ thế kỉ 13 thế mà hơn 700 năm sau, mỗi công dân Việt Nam vẫn thấy mới mẻ, lay động.
3. ‘Tụng giá hoàn kinh sư’mang ý nghĩa và giá trị lịch sử như một kí sự chiến trường của thời đại anh hùng ba lần đánh thắng giặc Nguyên – Mông, đồng thời nêu lên sự nghiệp tái thiết, phục hưng đất nước. Câu thơ ‘Vạn cổ thử giang san’ biểu thị cao độ niềm tin tưởng mãnh liệt vào tiền đồ tươi sáng của đất nước và dân tộc. Hàm súc, anh hùng ca, trữ tình là vẻ đẹp ‘Tụng giá hoàn kinh sư’,những vần thơ ‘sâu xalýthú’làm rung động hồn người.
Nguồn: thêm: Một vài nét về tác giả, dịch giả, về nội dung và giá trị tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc | Cảm nhận của em về bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải | 741 | |
Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu
Bài làm
Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu và đạt được nhiều thành tựu trong phong trào thơ ca cách mạng. Sự nghiệp thơ ca của ông gắn liền với bước trưởng thành từ một chàng thanh niên yêu nước đến người chiếc sĩ cách mạng. Bài thơ Việt Bắc được xem là đỉnh cao thơ ca Tố Hữu và cũng là một trong những bài thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp.
Việt Bắc được sáng tác vào hoàn cảnh sau khi cách mạng ở miền Bắc giành được thắng lợi lớn đó là trận Điện Biên Phủ năm 1954. Sau thắng lợi đó thì những người kháng chiến rời căn cứ ở Việt Bắc để trở về miền xuôi để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Tố Hữu viết bài thơ này chính là lời chia tay dành cho những đồng bào miền núi. Đồng thời cũng là lời gợi nhớ lại những tháng ngày gian khổ với biết bao kỉ niệm ở nơ đây. Qua đó ta thấy được nghĩa tình thắm thiết của bộ đội cụ hồ với đồng bào, với Việt Bắc, với Đảng. Xuyên suốt bài thơ với ba nội dung thứ nhất là tình quân dân thắm thiết, thứ hai là cuộc kháng chiến hào hùng, gian khổ và cuối cùng chính là cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.
Ngay mở đầu của bài thơ ta đã thấy được tình cảm của con người Việt Bắc rất đẹp. Mượn lối hát đối đáp Tố Hữu đã khiến người đọc cảm nhận được nỗi nhớ thiết tha, tình cảm sâu sắc giữa người ở lại với người ra đi:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”
Hay:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh”
Tình cảm ấy không phải ngày một ngày hai mà là cả “mười lăm năm” dài đằng đẵng gắn bó với nhau. Đó là khoảng thời gian dài với rất nhiều kỷ niệm với nhau. Từ việc chia nhau từng củ khoai, củ sắn lùi. Những câu thơ chân thực tái hiện lại cuộc sống sinh hoạt và kháng chiến của quân và dân ta. Đó là thứ tình cảm gắn bó không gì có thể chia cắt được.Xem thêm: Cảm nhận của em khi đọc “Những ngày đẩu của nước Việt Nam mới” trích hồi kí “Những năm tháng không thể nào quên” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Cảm nhận của em về bài thơ Việt Bắc
Việt Bắc là một khúc tình ca để ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại và ca ngợi những con người tham gia kháng chiến. Sau những gì nói về con người Việt Bắc, về tình quân dân thì nhà thơ đã khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên. Tươi đẹp nhất, đặc sắc nhất chính là những dòng thơ về bức tranh tứ bình:
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Mùa xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Với nghệ thuật chấm phá cổ điển nhà thơ Tố Hữu đã cho người đọc thấy được bức tranh về bốn mùa được thu gọn trong bốn cặp thơ lục bát. Giữa thiên nhiên với con người có sự hài hòa, hòa hợp đến bất ngờ tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh. Khi mùa đông đến, khi mà người ta thường cảm thấy lạnh lẽo, hiu hắt thì tại núi rừng Việt Bắc không hề đem lại cảm giác ấy mà là một không khí vui tươi, rực rỡ hơn với những bông hoa chuối đỏ tươi nổi bật trên nền xanh và xám của rừng núi. Mùa đông tuy có nắng yếu ớt nhưng cũng đủ làm bừng sáng của núi rừng, xua tan không khí lạnh lẽo và khiến cho mùa đông trở nên ấm áp hơn. Giữa khung cảnh đẹp ấy là những cánh tay khỏe khoắn đang hăng say lao động. Đó là những người dân đi núi, đi rừng với chiếc dao giắt ở thắt lưng. Đến mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất trong năm thì núi rừng Việt Bắc lại hiện lên thật dịu dàng với sắc trắng của rừng mơ. Mùa hạ với sắc vàng của rừng phách. Trong tất cả những bức tranh của các mùa ấy thì dù thiên nhiên tươi đẹp đến mấy thì cũng chỉ là nền làm nổi bật lên bức tranh lao động của mọi người. Đẹp đẽ nhất có lẽ chính là những đêm trăng vào mùa thu, những đêm thanh bình với tiếng hát “ân tình thủy chung” văng vẳng rừng núi.Xem thêm: Tuổi trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bên cạnh những nét khắc họa thiên nhiên tươi đẹp thì người đọc còn đặc biệt ấn tượng đến những lời thơ ghi dấu những chiến công của cuộc chiến từ những tháng ngày chiến đấu gian khổ, thiếu thốn. Từ đó viết lên một khúc ca hùng tráng về cuộc kháng chiến, về những con người tham gia kháng chiến:
“Những dường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất nung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
Cuộc kháng chiến chống Pháp là cuộc kháng chiến toàn dân, huy động các tầng lớp nhân dân tham gia. Nổi bật nhất chính là bộ đội cụ Hồ. Trong cuộc chiến thì những cuộc hành quân di chuyển từ nơi này đến nơi khác và Tố Hữu đã cho thấy hình ảnh hào hùng của đoàn quân ấy. Hai từ láy “điệp điệp”, “trùng trùng” mang sức gợi tả về một đoàn quân không chỉ đông đúc mà còn có sức mạnh lớn lao, phi thường. Hình ảnh “ánh sao đầu súng” là một nét phác họa vừa chân thực lại vừa lãng mạn. Góp phần vào cuộc kháng chiến, vào chiến thắng của dân tộc không thể thiếu đó chính là những người dân công. Xuất thân từ những người nông dân lao động mang lý tưởng cách mạng và ý chí quyết tâm đánh thắng quân thù. Họ là những người sinh ra và trưởng thành từ làng quê, từ những cánh đồng. Họ đến với kháng chiến bằng cả tình yêu quê hưng đất nước cao đẹp nhất, bất chấp những hi sinh gian khổ. Chính những lý tưởng cao đẹp đó, những sức mạnh và niềm tin ấy đã đem lại chiến thắng cho dân tộc:Xem thêm: Từ bài thơ về chim non tập bay của Apollinaire, là một người trẻ tuổi, anh (chị) có suy nghĩ gì?
“Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng”
Cuối cùng khi kết thúc bài thơ thì tác giả đem lại hình ảnh về đất nước ngày mai tươi sáng. Tố Hữu đã khẳng định niềm tin vững chắc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ:
“Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng lên cộng hòa
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”
Bài thơ Việt Bắc quả thực là một tuyệt tác về tình yêu quê hương đất nước, về tình quân dân trong thời kỳ kháng chiến chống pháp. Việt Bắc sẽ mãi vang lên là một khúc tình ca, hùng ca có ý nghĩa ca ngợi tinh thần yêu nước, đoàn kết một lòng cho thời đại ngày nay hay sau này.
Loan Trương | Cảm nhận của em về bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu hay nhất | 1,341 | |
Cảm nhận của em về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư (“Vọng Lư sơn bộc bố”) của Lí Bạch
Gợi ý
Lí Bạch là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đời Đường (Trung Quốc). Ông từng được mệnh danh là “thi tiên” bởi những vần thơ đẹp đẽ, kì vĩ. Và người đọc có lẽ đã bắt gặp cái “thần” của chất “tiên” trcng thơ ông khi đọc bài thơ Xa ngắm thác núi Lư tức “Xa vọng Lư sơn bộc bố”’.
Nguyên văn chữ Hán của bài thơ là:
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dao khan bộc bổ quải tiền xuyên
Phi Ịưu trực há tam thiên xích
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiển
Nghĩa là:
Nắng rọi Hường Lô khói tía bay
Xa trông dòng thác trước sông này
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
Nắng rọi lên đỉnh núi chiếu lên làn hơi nước buổi sớm mai khiến sương khói ánh lên một màu tía bao phủ lấy dòng thác. Nguyên vãn chứ Hán “tử yên” có nghĩa là khói tím. Câu thơ vẽ nên một khung cảnh lung linh huyền ảo phảng phát màu huyền bí chôn thần tiên. Trong cái mơ màng của khói sương và màu sắc hiện lên hình ảnh một dòng thác mạnh mẽ, dữ dội:
“Dao khan bộc bổ quải tiền xuyên
Phi lưu trực há tam thiên xích”.
Nhà thơ dùng từ "quải" nghĩa là "treo" tạo nên một câu thơ đầy sức gợi: Dòng thác đổ từ trên xuống như tấm vải treo rủ từ trên xuống mềm mại và thật quyến rũ lòng người. Câu thơ lấy cái tĩnh của từ “quai” để tả cái động cùa dòng nước “phi lưu trực há” thật độc đáo. Từ “phi” có nghĩa là bay rất nhanh, râ’t mạnh. Dòng nước lao nhanh như bay từ trên xuống tung bụi nước trắng xóa: “bay thẳng xuống ba nghìn thước”. Vậy ra, dải lụa được “treo” giữa mây trời kia không hề mong manh, yếu đuôi chút nào. Ẩn sâu trong vẻ mềm mại ấy là một sự dữ dội đến kinh ngạc. Đến đây tác giả có cảm giác dòng thác là dải Ngân Hà tuột khỏi mây. Ngân Hà là dòng sông của trời, dòng sông sao tuyệt mĩ, nơi ấy tỉ tỉ ngôi sao đua nhau lấp lánh sáng! Điều mà tác giả “nghi thị” ngỡ là vô lí nhưng lại không hẳn vậy. Thác núi Lư bắt nguồn từ đỉnh Hương Lô sương khói thần tiên, vậy ngọn thác là đâu không thể thấy rõ, chỉ biết nó tuôn ra từ những áng khói tím mơ màng kì bí. Đỉnh Hương Lô là nơi “treo” giữ cái dòng thác lạ lùng ấy, nó có vẻ mềm mại của một dải lụa nhưng lại có cái dữ dội, phóng khoáng mang linh hồn của chốn đại ngàn rừng núi. Từ đỉnh núi, thác “bay thẳng xuống ba nghìn thước”. Lí Bạch đã dùng lối nói phóng đại để nhấn mạnh vẻ đẹp cua dòng thác. Vậy thì, điều mà nhà thơ “nghi thị” ngỡ rằng đó là dòng sông Ngân tuột khỏi mây mà rơi xuống hẳn cũng có lí lắm chứ! Ngôn ngữ cua “thi tiên” quả là điêu luyện.Xem thêm: Bình giảng bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử văn 11Bằng tâm hồn hào phóng tự do, lòng yêu thiên nhiên và sự sáng tạo tuyệt vời, “thi tiên” Lí Bạch đã vẽ nên bức tranh cảnh dòng thác ở núi Hương Lô thật hùng vĩ và tuyệt đẹp!
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư (“Vọng Lư sơn bộc bố”) của Lí Bạch | 591 | |
Cảm nhận của em về bài thơ Đánh đu của Hồ Xuân Hương
Hướng dẫn
‘Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông.
Trai du gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá,
Cọc nhổ đi rồi, lố bỏ không!’
…Trong các lễ hội làng quê, đặc biệt trong dịp Tết mừng xuân, trò chơi đánh đu của trai gái diễn ra tưng bừng náo nhiệt nhất. Hai câu đề thể hiện một cái nhìn thú vị trước cột đu và một tiếng khen thầm buột ra, khi nhà thơ đi qua bãi chơi đu đầu làng, cuối xóm:
‘Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông’
Hai chữ ‘khéo khéo’ làm cho lời thơ, tình thơ trở nên đậm đà. Ai đã ‘khéo khéo trồng’ cây đu, ai đã nghĩ ra trò chơi đu mà vui thế: ‘Người thì lên đánh, ke' ngồi trông’. Tâm hồn nữ sĩ hòa nhập với niềm vui của trai gái đang chơi đu, mà nghĩ về một trò chơi, một mĩ tục dân gian lâu đời rất đáng tự hào. Các động từ ‘lên
đánh’và ‘ngồi trông’ hô ứng nhau, gợi tả không khí chơi đu vừa nhịp nhàng vừa vui nhộn, tập nập.
Đánh đu có cảnh đánh đơn nam, đơn nữ, có cảnh đánh đôi nữ, đôi nam, lại có cảnh nam nữ cùng đánh đôi. Hai câu thực tả cảnh đánh đôi nam, nữ. Hình ảnh ‘trai du’ và ‘gái uốn’ gợi tả động tác rất mềm dẻo, uyển chuyển, Tư thế ‘khom khom cật’ rất mạnh mẽ, hào hứng. Động tác ‘ngửa ngửa lòng’ gợi lên một dáng bay nhẹ nhàng, thích thú. Trong cái tài đã có cái tình của trai gái lúc đánh đu. Cảnh đánh đu rất đẹp như đang diễn ra trước mắt chúng ta một sức xuân phơi phới. Gối hạc và lưng ong là hai ẩn dụ đặc tả vẻ đẹp thanh tân của trai gái làng quê trên cánh đu đang tung bay trong gió xuân:
Xem thêm: Dựa vào câu nói của Lê-nin: Tôi không sợ khó... đề tài: Một học sinh có bản chất tốt, nhưng do một hoàn cảnh nào đó xô đẩy dẫn đến phạm sai lầm nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ
‘Trai du gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng’
Cánh đu mỗi lúc lại tung bay cao hơn, nhịp nhàng hơn, ‘kẻ ngồi trông’ cảm thấy không nhìn rõ khuôn mặt, dáng hình của đôi trai gái đang đánh đu nữa. Chỉ còn nhìn thấy ‘Bốn mảnh quẩn hồng bay phấp phới’. Chỉ còn biết dõi theo và tấm tắc ‘Hai hàng chân ngọc duỗi song song’. Cảnh châm lấm tay bùn, màu quần thâm áo nâu đời thường đã biến mất. Trong hội xuân, trẽn cánh đu chỉ có ‘quần hồng bay phấp phới’ và chỉ còn có ‘chân ngọc duỗi song song’. Đó là sắc xuân, nét xuân và dáng xuân của làng quê trong lễ hội. Và đó cũng là vẻ đẹp trẻ trung, yêu đời của đất nước và con người, của lễ hội mùa xuân và nền văn hóa dân gian Việt Nam giàu đẹp.
Mùa xuân đẹp mãi với dáng xuân, sắc xuân tung bay:
‘Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song’
Xuân tàn, hội tan, biết bao tiếc nuối bàng khuâng trong lòng người. Nhìn bãi đu sau ngày hội tan mà ngẩn ngơ, luyến tiếc:
‘Chơi xuân đã biết xuân chăng tá,
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!’
Có yêu đời, yêu cái đẹp trong cuộc đời, trong lễ hội mùa xuân, nữ sĩ mới có niềm luyến tiếc, ngẩn ngơ ấy.
Mùa xuân trôi qua. Và bao giờ mùa xuân trở lại?
‘Đánh đu’cho thấy tính sáng tạo trong thi ca của ‘Bà chúa thơ Nôm’. Ngôn từ nhất khí, liền mạch. Giọng thơ hồn nhiên, hóm hỉnh. Một cách nhìn sắc sảo, yêu đời. Một cách cảm rất tài hoa đầy tính nhân văn.
Bài thơ ‘Đánh đu’âã làm sống lại trong lòng ta một nét đẹp lễ hội dân gian mùa xuân đáng yêu vô cùng.
Nguồn: thêm: Phân tích giá trị của những biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau: “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. (“Qua Đèo Ngang” - Bà Huyện Thanh Quan) | Cảm nhận của em về bài thơ Đánh đu của Hồ Xuân Hương | 744 | |
Cảm nhận của em về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương
Gợi ý
Là người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh sống dưới chế độ phong kiến thời kì suy tàn, mục ruỗng, Hồ Xuân Hương sớm thấu hiểu và đồng cảm với số phận người phụ nữ trong thời đại của mình. Thơ ca của bà một phần lớn đã thể hiện sâu sắc nội dung đó. “Bánh trôi nước” là một bài thơ hay vừa ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ đồng thời đề cập đến nỗi bất hạnh khổ đau trong cuộc đời họ.
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.
Là một bài thơ vịnh vật, mượn hình ảnh bánh viên trôi nước Hồ Xuân Hương muốn nói đến thân phận và phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam.
"Thân em vừa trắng lại vừa tròn"
Hồ Xuân Hương đã diễn tả chiếc bánh trôi nước làm bằng bột nếp trắng tinh, dáng bánh tròn xinh xắn trông thật đẹp mắt. Hai chữ "thân em" nữ sĩ mượn từ ca dao khiến ta nhớ đến những câu hát của người lao động: "Thân em như miếng cau khô…", "Thân em như giếng giữa đàng…", "Thân em như tấm lụa đào…". Qua đó, câu thơ gợi đến vẻ đẹp của tác giả cũng như của người phụ nữ Việt Nam. Bằng hai tính từ "trắng", "tròn" vẻ đẹp của người phụ nữ càng được miêu tả đậm nét hơn. Nhưng ngược lại, hai tiếng “Thân em” cũng gợi đến những sóng gió, bất hạnh trong đời người phụ nữ, đó giống như “gió dập sóng dồi”, “hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”,… Và trong bài thơ này thì đó là:Xem thêm: Giải thích câu "Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau"…"Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn…".
Trong câu thơ có yếu tố tả thực, khi nấu bánh trôi, viên bánh ban đầu chìm xuống, khi đã chín thì lại nổi lên, ấy là "bảy nổi ba chìm". Bằng ngòi bút điêu luyện, nữ sĩ Xuân Hương diễn tả cách nấu bánh nhưng ẩn trong đó là nói đến số phận long đong, lận đận "bảy nổi ba chìm" của người phụ nữ đứng trước lễ giáo phong kiến. Không chỉ vậy, ba tiếng “với nước non” còn nâng cao vị thế, tầm vóc của người phụ nữ. Họ phải chịu long đong, vất vả như vậy là vì những công việc sánh ngang tầm non nước cao xa. Trong câu thơ tiếp bà đã sử dụng nghệ thuật tương phản trong hai từ "rắn" và "nát" để nói lên một sự thật: bánh ngon hay dở thì phụ thuộc vào “tay kẻ nặn”, còn số phận của người phụ nữ hạnh phúc hay bất hạnh đều tùy thuộc vào kẻ khác “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”… Đó là những nỗi khổ cực của người phụ nữ, Họ không được quyền quyết định số phận của mình. Trong xã hội ngày xưa, phụ nữ chỉ như là một vật dụng, nếu còn giá trị sử dụng thì họ sẽ được coi trọng; ngược lại họ sẽ bị coi rẻ, coi khinh.
Nhưng dầu vậy, ở người phụ nữ vẫn toát lên vẻ đẹp của lòng kiên trinh, son sắt: "Mà em vẫn giữ tấm lòng son".Cho dù "rắn" hay "nát" thì chiếc bánh trôi nước vẫn giữ được viên đường đỏ thắm trong lòng. Cũng như người phụ nữ Việt Nam, dù cuộc đời mang nhiều đau thương khổ cực nhưng họ vẫn luôn “giữ tấm lòng son”. Chữ “son” mang ý nghĩa sắt son chung thủy. Đó là tấm lòng đối với tình đời, tình người trong cuộc sống của họ. Điều đó càng làm nâng cao phẩm giá của người phụ nữ. Câu thơ thể hiện một niềm tự hào và biểu lộ khá đậm tính cách nữ sĩ Hồ Xuân Hương, đó là niềm kiêu hãnh, là sự tự tin trước cuộc đời đầy giông bão của bà.Xem thêm: Bình luận câu cách ngôn “Thất bại là mẹ thành công" Giờ đây xã hội mà ta đang sống là một thế giới hiện đại. Nam nữ đều bình đẳng, ai cũng có quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Người phụ nữ được coi trọng. Họ có quyền được tham gia các hoạt động xã hội như học tập, văn hóa thể thao, họ được sống bằng chính sức lao động của mình. Từ đó ta đồng cảm hơn với nỗi bất hạnh của người phụ nữ ngày xưa, đồng thời cảm phục hơn tấm lòng son sắt của họ trước cuộc đời. Bài thơ khiến người đọc trân trọng hơn niềm hạnh phúc ngày hôm nay đang được trao tặng.
“Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương là một bài thơ độc đáo, lời ít mà các tầng nghĩa đan xen sâu sắc. Bài thơ giống như một lời tuyên ngôn về cuộc đời và phẩm giá của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương | 872 | |
Cảm nhận của em về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh
Gợi ý
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của dân tộc. Nhưng bên cạnh đó, Người còn là một nhà thơ tài năng rất nhạy cảm với cái đẹp của thiên nhiên đất trời. Sau những giây phút căng thẳng bởi việc quân cơ, Bác vẫn hòa mình vào vẻ đẹp êm dịu, trong sáng của thiên nhiên. Bài thơ “Cảnh khuya” là một trong những bài thơ nói lên điều đó.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà".
Bài thơ ra đời trong những năm tháng đầu tiên vô cùng khó khăn củạ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Khi đó, cơ quan Trung ương của Chính phủ đã chuyển lên Việt Bắc. Tại đây, Bác cùng các đồng chí trong Bộ chỉ huy cuộc kháng chiến của dân tộc ngày đêm bàn việc nước. Bài thơ mở ra bằng hình ảnh của “cảnh khuya” khiến người đọc không mấy ngạc nhiên: phải khi việc nước đã tạm ngưng, Bác Hồ mới có những giây phút thư thái cùng cảnh rừng, cảnh núi.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh núi rừng trong đêm khuya thanh vắng với âm thanh trong trẻo của tiếng suối từ xa đều đều vọng lại: "tiếng suối trong như tiếng hát xa". Phép so sánh ấn tượng: tiếng suối là âm thanh của thiên nhiên, lạnh lẽo, mơ hồ nay được được so sánh với “tiếng hát” của con người nhờ vậy mà trở nên gần gũi, ấm áp. Âm tiết mở "xa" khiến câu thơ có độ ngân vang vô tận và lắng đọng vào nơi sâu nhất của hồn người. Nhưng cũng chính từ “xa”, “tiếng hát xa” khiến người đọc có cảm giác âm thanh ấy như vọng lại từ cõi nào mơ hồ và xa xăm; phải thật lắng tâm mới nghe thấy được, Dường như tất cả mọi âm thanh khác đều lắng chìm để nổi bật tiếng suối róc rách, văng vẳng như một cung đàn. Tiếng suối làm cho đêm rừng vốn tĩnh lặng lại càng thêm sâu lắng, trong trẻo. Trong cái khung cảnh ấy đã hiện lên với một hình ảnh tuyệt đẹp "trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa". Trăng, hoa cồ thụ đan cài, quấn quýt vào nhau tạo cho cảnh vật trở nên sinh động, hữu tình và vô cùng ấm áp. Người đọc cảm nhận được rằng: bức tranh đó chính là một trái tim nghệ sĩ đang hòa mình say đắm với thiên nhiên. Phải thật sự yêu thiên nhiên và biết cảm nhận cái đẹp của thiên nhiên thì người nghệ sĩ mới có thể miêu tả được bức tranh mang đậm hồn người đến vậy.Xem thêm: Last »
Nhưng Hồ Chí Minh như nhà thơ Minh Huệ đã từng viết:
“Đêm nay Bác ngồi đó
Đêm nay Bác không ngủ
Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh”.
Vì là Hồ Chí Minh nên Người “không ngủ” bởi:
“Bác thương đoàn dân công
Đêm nay ngủ ngoài rừng
Rải lá cây làm chiếu
Manh áo phủ làm chăn
Trời thì mưa lâm thâm
Làm sao cho khỏi rét”.
Và trong cái đêm Người thức cùng “Cảnh khuya” cũng vậy:
"Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nha"
Bác đã cảm nhận được vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên để rồi thốt lên một lời ca ngợi thật chân thành: "Cảnh khuya như vẽ". Cái hồn của tạo vật đã tác động mạnh đến trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ làm cho Bác ở trong trạng thái chưa ngủ. Ngủ sao được trước cảnh đẹp thế này! Bác yêu thièn nhiên, yêu cái đẹp nhưng Người không chỉ thức vì thiên nhiên mà còn thức vì “nỗi nước nhà” còn đang chồng chất, băn khoăn: đất nước đang trong những năm đầu kháng chiến khó khăn và gian lao tột bậc. Câu cuối của bài đã mở ra một khía cạnh, một chiều sâu mới của tâm trạng "chưa ngú vì lo nỗi nước nhà". Cái ẩn của bài thơ chính là ở đây, từ "nỗi" đã nói lên tất cả đó chính là "nỗi nước mhà", nỗi niềm canh cánh suốt cả cuộc đời Bác. Thật xúc động; trước một tâm hồn, một trái tim vĩ đại của một con người mà suốt cuộc đời luôn thao thức, trở trăn cả trong mơ lẫn trong thực.Xem thêm: Phân tích chứng minh tính dân tộc trong thơ Tố Hữu – văn 12 Từ "chưa ngủ" được lặp tới hai lần như một bản lề khép mở hai tâm trạng: Chưa ngủ vì cảnh đẹp của thiên nhiên và vì nỗi lòng canh cánh lo việc nước. Trong nỗi lo dằng dặc về đất nước, Bác Hồ thao thức và bạt gặp canh đẹp thiên nhiên lừa mình đắm say trong cái huyền ảo của đất trời, nhưng chưa được lâu thì Bác lại trở về với nỗi lòng lo dân, lo nước. Tâm trạng đó của Bác Hồ khiến cho ta vừa cảm phục, vừa xúc động trước cái đẹp sậu sắc và toàn diện của thiên nhiên hòa quyện giữa tâm hồn của một người nghệ sĩ – một nhà chính trị.
Cánh khuya là một bài thơ tả cảnh núi rừng Việt Bắc, nhưng trong đó lại ẩn chứa tâm hồn, con người của Bác, một tâm hồn thi sĩ bên trong một người làm cách mạng rất lạc quan và vững lòng tin chiến thắng.
Vanmau.edu.vn | Cảm nhận của em về bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Chí Minh | 952 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.