text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Cảm nhận của em về bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” (Hạ Trí Chương) Gợi ý Nhà thơ Chế Lan Viên từng có một câu thơ thật hay: “Khi ta ở chí là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Và vì thế, mảnh đất quê hương đã trở thành máu thịt đối với mỗi người con khi xa quê. Với Hạ Tri Chương, có lẽ cũng vậy. Quê hương đã trở thành phần tâm sự băn khoăn, day dứt nhất trong lòng ông trong những tháng ngày dài dặc lên kinh đô Trường An làm quan. Để đến lúc già, ông từ quan trở về quê và viết nên “Hồi hương ngẫu nhiên” làm xúc động lòng người: “Thiếu tiểu li gia lão đại hồi Hương âm vô cải, mấn mao tồi, Nhi đồng tương kiến, bất tương thức, Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai?” Bài thơ được dịch là: "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”. "Trẻ đi, già trở lại nhà Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu Gặp nhau mà chẳng biết nhau Trẻ cười hỏi "Khách từ đâu đến làng". Trong câu "Trẻ đi, già trở lại nhà" đã kể ‘khái quát, ngắn gọn quãng đời xa quê của nhân vật trữ tình. Điều đó cũng lí giải những thay đổi về vóc dắng, tuổi tác của Hạ Tri Chương. Câu thơ có sự đôi về ý rất nhịp nhàng: trẻ – già, đi – trở lại, nghệ thuật đối đã thể hiện cảm xúc nao nao, bồi hồi trước sự trôi đi của thời gian và tuổi tác. Thời gian trôi đi, khiến con người cũng phai bạc theo năm tháng. Nhưng trong cái đổi thay tất yếu, nhân vật trữ tình vẫn giữ được những điều đáng quý: "Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu". Mái tóc đã đổi màu, đã điểm sương nhưng giọng nói của quê hương, tiếng mẹ đẻ thiêng liêng nhà thơ vẫn giữ được vẹn nguyên. Đây là một chi tiết vô cùng cảm động. Bao nhiêu năm tháng sống giữa chốn phồn hoa đô thị xô bồ và hỗn loạn nhưng tiếng nói của quê vẫn “vô cải”. Điều đó chứng tỏ ông luôn ý thức được về nguồn gốc, quê hương xứ sở của mình.Vậy mới biết, thời gian và không gian chỉ có thể làm thay đổi bề ngoài của con người còn phần tâm hồn quý giá nhất nó khó có thể làm đổi thay.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Anh em như thể tay chân…” Tình cảm quê hương của nhà thơ không chỉ thể hiện ở chi tiết “giọng quê không đổi”, mà còn ở thái độ đau xót, ngậm ngùi trước bao thay đổi của quê hương. Trong hai câu thơ: "Gặp nhau mà chẳng biết nhau Trẻ cười hỏi: "Khách từ đâu đến làng" Tác giả đã xây dựng một tình huống bất ngờ. Nhà thơ trở về quê hương trong tâm trạng bồi hồi, xúc động thì bất chợt gặp lũ trẻ trong làng. Chúng nhìn ông và hỏi "Khách từ đâu đến làng". Ô hay! Vậy ông đang là khách trên chính quê hương mình đây ư?! Ông trở về cố hương, không có bạn bè người thân tiếp đón, điều đó hẳn đã gợi một thoáng buồn trong lòng thi nhân về sự hữu hạn của đời người. Nhưng câu hỏi của đám trẻ có lẽ còn gieo vào lòng ông bao phần chua xót. Dẫu biết rằng các cháu nhi đồng hiếu khách nên đã cười hỏi tiếp đón, nhưng các cháu càng niềm nở bao nhiêu thì nồi lòng của nhà thơ càng xót xá bấy nhiêu. Trước sự việc đó, đã gợi cho tác giá sự ngạc nhiên buồn tủi và ngậm ngùi xót xa. Phía sau những lời thơ tường thuật có vẻ vô tư, khách quan ấy là một giọng điệu bi hài thấp thoáng ẩn hiện, điều đó đã làm cho tác giả cảm thấy thất vọng, vì bạn. bè của ông giờ chẳng còn ai, chỉ còn những đứa trẻ ra tiếp đón ông, thật là khác biệt với những điều mà ông suy nghĩ trên đường về quê. Trước kia ông là người ở đây mà giờ lại trở thành khách ở đây, quả thật là thay đổi chỉ trong khoảnh khắc vì thời gian trôi đi thật nhanh.Xem thêm: Tả động Phong Nha Viết về cố hương là một đề tài không mới trong thơ ca cổ điển Trung Quốc song với “Hồi hương ngẫu thư”, "Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê", Hạ Tri Chương đã góp vào thi đề này một niềm suy tưởng mới đầy bất ngờ và xúc động. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về bài thơ “Hồi hương ngẫu thư” (Hạ Trí Chương)
778
Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh Gợi ý Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài ba, Bác Hồ còn là một nhà thơ có tấm lòng rộng mở với thiên nhiên. Như bao thi nhân khác, Bác rất yêu trăng và có những bài thơ tuyệt bút về trăng, trong đó có bài thơ “Rằm tháng Giêng”. Bài thơ chẳng những truyền vào tâm hồn người đọc một tấm lòng yêu thiên nhiên vô bờ mà còn gợi niềm cảm phục, trân trọng tấm lòng hết mình vì dân vì nước của Bác Hồ. “Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. Bài thơ ra đời năm 1947 được viết bằng chữ Hán có tên là “Nguyên Tiêu”, trên đây là bản dịch của nhà thơ Xuân Thủy. Không gian được miêu tả trong bài Rằm tháng riêng là một không gian rộng lớn của trời mây sông nước: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi”. Hai từ “lồng lộng” được đảo lên trước để nhận mạnh cái rộng lớn, trong lành của ánh sáng đêm rằm. Bầu trời, mặt nước, dòng sông như nối liền, trải rộng bởi sắc xuân bát ngát. Câu thơ thứ hai, trong nguyên văn chữ Hán Bác viết: “Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”. Câu thơ khá đặc biệt trong cách tả: cảnh được tả từ gần đến xa, từ thấp lên cao cùng với sự lặp lại tới ba lần chữ xuân khiến cho câu thơ thất ngôn như tràn ngập ánh xuân tươi, sắc xuân, khí xuân như đượm lên cảnh vật.Xem thêm: Kể về kỉ niệm thời thơ ấu của em Câu thơ thứ ba vô tình nói đến hoàn cảnh ngắm trăng và vị trí ngắm trăng của Bác: “Giữa dòng bàn bạc việc quân”. Vậy ra, Bác đang chơi vời giữa dòng sông để bàn việc quân cơ mật. Nhắc đến đây, ta lại trào lên niềm cảm phục về tấm lòng luôn đau đáu vì dân vì nước của Bác. Chẳng những thế, câu thơ còn gợi những ngạc nhiên về tấm lòng của Bác dành cho thiên nhiên: tại sao vào giờ khắc bận rộn bộn bề việc nước như thế, Bác vẫn dành thời gian cho thiên nhiên cảnh vật? Câu thơ cuối bài lại gợi thêm một hình ảnh đẹp đẽ, tươi sáng về đêm trăng: “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. Con thuyền cách mạng đã trở thành con thuyền chở trăng, con thuyền chở ánh sáng. Và như thế cũng có nghĩa con thuyền ấy đang đi về miền sáng, miền của thành công. Câu thơ thể hiện, một cảm quan cách mạng tươi sáng và lạc quan vô cùng. Câu thơ thứ tư cũng gợi nhớ đến câu thơ: Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền trong bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế. Câu cuối của bài Nguyên tiêu và câu thơ này của Trương Kế đều nói về lúc đêm khuya (dạ bán) và đều nói về hình ảnh con thuyền trên sông nước. Tuy vậy, điểm khác là ở chỗ, một bên “người khách” đến thăm tác giả là tiếng chuông chùa (Hàn Sơn), còn bên kia “người khách” ấy chính là trăng xuân chứa chan bát ngát, đượm tình.Xem thêm: Phân tích bài thơ “Mình về mình có nhớ ta…. nói…“Rằm tháng Giêng” được Bác viết trong những năm đầu kháng Pháp vô cùng khó khăn gian khổ. Thế nhưng, ở trong thơ, ta vẫn gặp một chủ thế trữ tình rất yêu thiên nhiên, vẫn ung dưng làm việc, vẫn chan hoà cùng ánh trăng thơ mộng của núi rừng. Người lo lắng cho đất nước nhưng trong tâm hồn, Bác vẫn dành cho thiên nhiên những niềm ưu ái, không vì việc quân bận rộn mà Người đành hờ hững, từ chối vẻ đẹp thiên nhiên. Điều này nói lên phẩm chất lạc quan và phong thái ung dung của Bác. Khép lại trang thơ “Rằm tháng Giêng”, một lần nữa ta thêm bội phần xúc động và cảm phục về tâm hồn vĩ đại Hồ Chí Minh. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh
704
Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh Gợi ý Ánh trăng là một thi đề chưa bao giờ khuất sáng trên trang thơ của các thi nhân đông tây kim cô. Là một người yêu thiên nhiên, Hồ Chí Minh không bao giờ để trăng vắng bóng trên trang thơ của mình. Hơn thế, Bác còn có một bài thơ thật hay về ánh trăng đêm rằm tròn đầy viên mã: bài thơ “Nguyên tiêu”. "Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên Yên ba, thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền". Bài thơ được dịch là: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. Hai câu thơ đầu vẽ nên cảnh đẹp tuyệt vời của đêm nguyên tiêu, vầng trăng mùa xuân vừa đúng độ tròn, xinh tươi, soi sáng khắp không gian. Bầu trời cao rộng, trong trẻo, thoáng đãng. Đất trời quê hương bao la, vô tận hòa vào hơi thở mãnh liệt của mùa xuân. Bầu trời và vầng trăng tưởng như không có giới hạn, dòng sông mùa xuân, màu nước mùa xuân nốì liền với bầu trời xuân: “Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên”. Câu thơ dịch đáng tiếc đã không chuyển tải được cái ý tưởng diệu kì đó của nguyên tác. Ba từ “xuân” liên tiếp nổì nhau vút lên trong một câu thơ mang âm điệu bay bổng, gợi cảm giác trong trẻo, rộng lớn, thảnh thơi, thanh bình, thú vị làm sao! Câu thơ cứ mở ra, mở ra như đến vô cùng, sông xuân – nước xuân – trời xuân, một mùa xuân, khí xuân lồng lộng, bát ngát. Chất liệu câu thơ là chất liệu cổ thi “nguyệt” nhưng tạo nên câu thơ lại là sự sáng tạo đặc biệt tài hoa của người nghệ sĩ. Điều đó đã làm nổi bật cái thần của bức tranh "nguyên tiêu": tươi sáng, rực rỡ, tràn đầy sức sống của vạn vật, con người.Xem thêm: Viết về một thói hư tật xấu mà anh (chị) thấy cần phải phê phán Trong hai câu thơ cuối bài, người đọc còn ngỡ ngàng hơn nữa trước sự hòa quyện tuyệt vời giữa sự cổ điển và hiện đại trong thơ Bác. Hai chữ “yên ba” – khói sóng gợi đến câu thơ Đường nổi tiếng “Yên ba tam nguyệt há Dương Châu”. Và bốn chữ “Dạ bán quy lai” gợi đến câu thơ của Trương Kế: “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”. Hồ Chí Minh đã cố tình mượn câu chữ của cổ nhân để đưa vào đó những nội dung rất mới. Cũng là khói sóng trên sông nhưng người xưa vui với khói sóng tháng ba mờ ảo tĩnh lặng trên đất Dương Châu thì Người say với khói sống giữa dòng sông để “đàm quân sự” bàn việc nước. Người xưa bồi hồi với tiếng chuông chùa nửa đêm thì Người ngây ngất với hình ảnh “nguyệt mãn thuyền” – “trăng ngân đầy thuyền”. Hình ảnh con thuyền cách mạng đã trở thành con thuyền chở trăng, vầng trăng của sự viên mãn, vầng trăng của thành công và thắng lợi. Hình ảnh thơ tươi sáng, chứa đựng cái nhìn lạc quan của Hồ Chí Minh về cuộc cách mạng của toàn dân tộc. Hình ảnh cuối bài thơ mở ra cho ta một cánh cửa kỳ diệu khám phá con người Bác: nơi sâu thẳm mịt mù khối sóng rất đỗi thiêng liêng, bí mật mà đẹp như trong huyền thoại, nơi bàn chuyện hệ trọng sống còn của đất nước, vậy mà Người vẫn đắm say tận hưởng một vầng trăng đẹp, một vầng trăng viên mãn. Ớ đó, cái thực và cái ảo đan xen, hài hòa. Khói sóng hư ảo, vầng trăng lung linh đan xen với cái gấp gáp, hệ trọng của việc quân thần tốc. Đó chính là vẻ đẹp của con người Hồ Chí Minh: vừa mang phong cách, cốt each thi sĩ vừa mang phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ thê hiện tinh thần thời đại, khỏe khoắn, trẻ trung.Xem thêm: Tả cơn mưa mùa xuân Bằng tâm hồn người nghệ sĩ luôn gắn bo với thiên nhiên, yêu đắm say thiên nhiên, bằng tấm lòng luôn đau đáu lo về việc nước kết hợp với tài năng bậc thầy của một ngòi bút tả cảnh, cảm nhận tinh tế, độc đáo và sự sáng tạo trong việc sử dụng chất liệu cổ thi, âm điệu cổ điển nhưng rất mới lạ, giàu sức sông, Hồ Chí Minh đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đầy ấn tượng “Nguyên tiê” – “Rằm tháng Giêng” để lại dấu ấn lâu bền trong lòng người đọc xưa và nay. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” của Hồ Chí Minh
816
Cảm nhận của em về bài thơ “Sa hành đoản ca” của Cao Bá Quát Gợi ý Cao Bá Quát (1809 – 1854) là nhà thơ lỗi lạc của đất nước ta trong nửa đầu thế kỉ XIX. Trước tác của ông còn để lại ngót 1.500 bài thơ chữ Hán, 21 bài văn xuôi và một số bài thơ Nỏm. Thơ văn Cao Bá Quát đã thể hiện tráng chí của một kẻ sĩ hăm hở vào đời, đồng thời nói lên bi kịch của một đấng tài trai không gặp thời, gặp vận. Thời trẻ, ông từng hát: "Ngã dục đăng cao sẩm – Hạo ca kí vân thuỷ" (Ta muốn trèo lên đỉnh cao ngất – Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước). Nhưng trong bài "Sa hành đoản ca", ông lại viết: "Trường sa, trường sa, nại cừ hà! Thản lộ mang mang ý lộ đa". ‘ (Bãi cát, bãi cát, ngao ngán lòng Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng!) J’Sa hành đoản ca" (Bài hát ngắn đi trên bãi cát) chỉ có thế được Cao Bá Quát viết ra khi ông đã nếm trải nhiều cay đắng trên con đường công danh, hoạn lộ? Có thể trên đường từ Huế ra Bắc đi nhận chức Giáo thụ huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, ông mới viết bài thở này(?). "Ca" là một thể loại của thơ cổ; câu thơ dài, ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng và âm điệu, vần điệu. Bài thơ của Cao Bá Quát gồm có 16 câu thơ ngũ ngôn và thất ngôn đan xen vào nhau. "Sa hành đoản ca" nói về một người đang lặn lội trên bãi cát dài, khi tóc đã ngả màu sương, suy ngẫm vé đường đời và cái bả công danh.Xem thêm: Anh (chị) hãy tóm tắt tiểu thuyết "Lão Gô-ri-ô" của Ban - dắc Bốn câu thơ đầu gợi tả bãi cát. Hình ảnh "trường sa" điệp lại trong câu thơ ‘Trường sa phục trường sa" gợi lên bãi cát dài và rộng bao la, mênh mông, kéo dài đến vô tận. Đó là những bãi cát nằm dọc con đường thiên lí thuộc hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị dằng dặc nơi khúc ruột miền Trung. Khách lữ hành đi một bước lại như lùi một bước. Nước mắt lã chã tuôn rơi. Mặt trời đà lặn nhưng người lữ khách vẫn còn đi. Câu thơ ngũ ngôn với điệp ngữ và tương phản đã làm nổi bật sự cực nhọc, mệt mỏi của người đang lầm lụi đi trên bãi cát dài: ‘Trường sa phục trường sa Nhất hộ nhất hồi khước Nhật nhập hành vị dĩ Khách tử lệ giao lạc". (Bãi cát dài, bãi cát dài! Mỗi bước lại như lùi Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi). Tám câu thơ tiếp theo nói lên cái giá phái trả đối với hạng người hám danh lợi. Không học được "phép ngủ kĩ" của Tiên ông Hạ Hầu Ân ngày xưa mà vẫn "cứ trèo non, lội nước mãi" cho khổ! Tự hỏi mình rồi lại tự trách mình: Vì hám danh lợi nên phải "tất tả" ngược xuôi: "Cổ lai danh lợi nhân Bôn tấu lộ đồ trung", (Xưa nay phường danh lợi Bôn tẩu trên đường đời.) Trên đời, ké hám danh lợi khác nào người say rượu. Người say rượu cũng như kẻ hám công danh thì nhiều vô số, còn kẻ tỉnh thì ít. Đó là nguyên nhân mọi bi kịch của người đời: Xem thêm: Trong truyện ngắn Vi hành, nhân vật chính không có mặt nhưng lại hiện lên sinh động và đầy ấn tượng, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, mang sức tố cáo mạnh mẽ. Đó là nhờ sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Ái Quốc. Hãy phân tích và chứng minh"Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu Tình gia thường thiểu, túy giả đồng". Nghệ thuật so sánh giữa "tỉnh giả thiểu" với "uy giả đồng" đã làm nổi bật chất triết lí về sự hám danh lợi của người đời. Nếu Lý Bạch hơn nghìn năm về trước từng cảm nhận: "Hành lộ nan, hành lộ nan! Đa kì lộ, kim an tại?" (Đường đi khó, đường đi khó! Nhiều ngã rẽ giờ đang ở nơi nào?) thì trong "Sa hành đoản ca", Cao Bá Quát cũng viết: "Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây? Bước đường bằng phẳng thì mù mịt, bước đường ghê sợ thì nhiều". Khách lữ hành không chỉ cảm thấy đường đi khó mà còn cảm thấy đường đời lắm ngả, biết đi về đâu, biết chọn hướng nào, nẻo đường nào? Giữa bãi cát dài bao la mênh mông, người lữ khách như bị lạc lối, băn khoăn tự hỏi: "Biết tính sao đây?". Hơn bao giờ hết, lữ khách mới thấm thìa con đường đời, con đường danh lợi "bằng phẳng thì mờ mịt", mà "bước ccường ghê sợ thì nhiều". Cao Bá Quát coi đó là sự trải nghiệm, chiêm nghiệm. Nổi tiếng thần đồng nhưng chỉ dỗ cử nhân; mấy lần thi Hội đều hỏng. Dưới chế độ phong kiến, không phải cứ có tài, có chí là công thành danh toại, có lúc Cao cất lời than: ‘Trượng phu ba mươi tuổi, chẳng nên danh gì!". Mãi đến năm 32 tuổi, ông mới được vua nhà Nguyễn triệu vào kinh bổ làm hành tẩu bộ Lễ – một chức thư lại quèn! Sau đó là những năm tù đày, đi "dương trình hiệu lực" sang đến tận In-đô-nê-xi-a… Câu thơ "Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng" đà dược Cao Bá Quát viết bằng nước mắt, tiếng thở dài và máu.Xem thêm: Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng viết: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương’’ (truyện Lục Vân Tiên). Anh (chị) hiểu ý thơ trên như thế nào? Hãy viết bài văn bàn về “lẽ ghét thương” trong cuộc sống hàng ngày Khép lại bài thơ là khúc ca "đường cùng". Phía Bắc và phía Nam, trước mặt và sau lưng, núi nhấp nhô "muôn trùng", núi lượn sóng "muôn đợt’ả. Cặp câu song hành sinh dựng hình ảnh biểu tượng đã tô đậm cái khó của con đường đời. Lữ khách tự hỏi và khẽ trách mình. Kết thúc bài thơ là một câu hỏi đầy ám ánh: "Nghe ta ca "cùng đồ" một khúc Phía bắc núi Bắc, núi muôn lớp! Phía nam núi Nam, sóng muôn đợt! Sao mình anh còn trơ trên bãi cát?". Người lữ khách đà và đang sống trong tâm trạng buồn cô đơn và mệt mỏi. Biết đi đâu về đâu khi mặt trời đã lặn, lặn từ lâu rồi! Biết tìm hướng nào khi tóc đã ngả màu sương. "Sa hành đoản ca" là lời than của người lữ khách về sự gian truân trên đường đời, về sự mờ mịt ghê sợ của con đường danh lợi. Bài thơ là một bài học, một triết lí về con đường danh lợi và cái giá của khách danh lợi trên mọi nẻo đường gần xa. Hình tượng bãi cát dài và người đi trên bãi cát dài lúc mặt trời đã lặn, nước mắt chảy ra cứ ám ánh mãi hồn người. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về bài thơ “Sa hành đoản ca” của Cao Bá Quát
1,194
Cảm nhận của em về bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ” của Phạm Văn Đồng Hướng dẫn 1. Hai đoạn văn đầu, tác giả khẳng định ‘sự nhất quán’trong nhân cách vĩ đại của Bác hồ: ‘đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn’.Tiếp theo, ông ca ngợi Bác Hồ suốt đời ‘vần giữ nguyên phẩm chất cao quý của một người chiến sĩ cách mạng’.Người đã sống và chiến đấu vì một lí tưởng cao quý: ‘tất cả vì nước vì dân, vì sự nghiệp lớn’.Đao đức của Người 'trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp’.Phần đầu bài văn cho thấy một giọng văn sôi nổi lôi cuốn, trang trọng, lí lẽ đanh thép hùng hồn, ngôn từ chuẩn mực, đĩnh đạc, biểu cảm: ‘Điều rất quan trọng’, ‘đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất’, ‘vô cùng giản dị và khiêm tổn’, ‘rất lạ lùng, rất kỳ diệu’, ‘một cuộc đời sóng gió’, ‘vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quỷ’, ‘tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp’. 2. Đoạn văn thứ ba. Phạm Văn Đồng đã chứng minh một cách sáng tỏ đời sống giản dị của Bác Hồ trên ba phương diện: cách ăn, cách ở, cách làm việc. – Cách ăn của Bác rất giản dị: ‘bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm; ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại được sắp xếp tươm tất’.Tác giả nêu lên bốn chi tiết rất cụ thể để chứng minh cách ăn giản dị của Bác. Phạm Văn Đồng đã từng sang Quảng Cháu dự lớp huấn luyện Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức (1925), đã từng bí mật sang Vân Nam gặp Bác (1940). Và từ những ngày ở chiến khu đến cách mạng tháng Tám và suốt trong những năm dài kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ông đã từng sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ, nên mới có thể nói một cách tí mỉ, cụ thể về cách ăn của Bác như vậy. Đây là một câu văn bình luận rất hay, từ cách ăn, tác giả ca ngợi đạo đức của Bác: ‘Ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ’. – Cách ở của Bác cũng rất giản dị. Tác giả lập luận tương phản giữa tâm hồn và cách ở của Bác; tâm hồn thì ‘lộng gió thời đại’ mà nhà ở của Bác chỉ là nhà sàn ‘vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng’. Nơi ở ‘luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn’ do tự tay Bác trồng và chăm bón. Tác giả đã bình và ca ngợi cách ở giản dị của Bác ‘thanh bạch và tao nhã biết bao’. – Cách làm việc của Bác càng giản dị: ‘Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ việc rất lớn: việc cứu nước, cứu dân đến việc rất nhỏ…’.Phong cách làm việc ấy của Bác thể hiện một tinh thần xả thân, bền vỉ, cần mẫn, chu đáo và rất giản dị. Tác giả nêu lên bốn việc rất nhỏ Bác thường làm đế ca ngợi cách làm việc giản dị, chu đáo của Bác như: ‘trồng cây trong vườn, viết một bức thư cho một đồng chí, nói chuyện với các cháu miền Nam, đi thăm nhà tập thể của công nhân, từ nơi làm việc đến phòng ngủ, nhà ăn’.Là Chủ tịch nước nhưng Bác rất giản dị trong sinh hoạt: ‘việc gì Bác tự làm dược thì không cẩn người giúp’.Số người giúp việc và phục vụ Hồ Chủ tịch có thể đếm trên đầu ngón tay, mỗi người được Bác đặt cho một cái tên mới ‘gộp lại là ý chí chiến đấu và chiến thắng: Trường, Kỳ, Khảng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi!’. 3. Đoạn văn thứ tư, Phạm Văn Đồng bình luận về đời sống của Hồ Chủ tịch. Cách sống giản dị của Bác không phải là ‘sống khắc khổ theo lối nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiển triết ẩn dật’.Đời sống giản dị, thanh bạch của Bác Hồ là một sự hòa hợp tuyệt đẹp, bởi vì Người đã ‘sống sôi nổi, phong phú đời sông và cuộc sống đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần chúng nhàn dân’.Hòa hợp giữa ‘đời sống vật chất giản dị’với ‘đời sống tâm hển, phong phú, với những tư tưởng, tình cảm, những giá trị tinh thần cao dẹp' nhất’.Hai mặt đối lập mà thống nhất ấy, ‘là đời sống thực sự văn minh’, ‘một gương sáng’mà Bác Hồ đã nêu lén trong thế giới ngày nay. Qua đó. ta thấy cách lập luận của tác giả rất chặt chẽ, lời bình luận rất sác sảo. 4. Đoạn văn thứ 5, giải thích và bình luận về cách nói và cách viết giản dị của Bác Hồ. Người nói giản dị, viết giản dị vì Người ‘muốn cho quầnchúng nhân dân hiểu được, nhớ được, làm được’. Những chân lí lớn mà giản dị, là khát vọng về độc lập, tự do, thống nhất, về ấm no hạnh phúc của nhân dân ta nên Bác đã nói lên một cách rất giản dị: ‘Không có gì quý hơn độc lập tự do’, ‘Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi’. Những chân lí giản dị mà sâu sắc đó là ‘'sức mạnh vô. địch’, là ‘chủ nghĩa anh hùng cách mạng’ khi nó đã thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người. Qua đó, tác giả đã chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng của Hồ Chủ tịch rất sâu sắc, cách nói cách viết của Người lại rất giản dị, thấm thía. Văn bản này là một bài văn nghị luận hỗn hợp, tác giả đã kết hợp một cách chặt chẽ giữa ba thao tác giải thích, chứng minh, bình luận về ‘đức tính giản dị của Bác Hồ’trong đời sống sôi nổi, phong phú, và cách nói cách viết rất giản dị về những chân lí lớn, những tư tưởng vĩ đại. Văn bản nghị luận này thể hiện một lối viết đặc sắc, mẫu mực. Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo, dẫn chứng cụ thể, chọn lọc, rất tiêu biểu, lời bình luận sâu sắc, đầy thuyết phục, cách sắp xếp, trình bày lí lẽ, dẫn chứng khúc chiết, sáng tỏ. Giọng văn sôi nổi, tâm huyết, trang trọng, tự hào. Xem thêm: Kể về một lần em mắc lỗi khiến mẹ buồn và nêu những suy nghĩ của em về điều đóQua văn bản này, tác giả đã nâng cao lòng kính yêu và biết ơn Bác Hổ trong tâm hồn mỗi chúng ta. Hơn bao giờ hết, bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ’ là một bài học quý báu đối với tuổi thơ chúng ta cả về tư tưởng, cả về văn chương. BÀI SỐ 149 Phân tích bài ‘Ý nghĩa văn chương’đê cho thấy cách viết tài hoà, độc đáo của Hoài Thanh. Hoài Thanh (1909 – 1982) là cây bút phê bình xuất sắc. Những bài bình thơ của ông rất đặc sắc, tài hoà. Tên tuổi ông trở thành bất tử với tác phẩm ‘Thi nhân Việt Nam’ (1942). Bài ‘Ý nghĩa văn chương’ của Hoài Thanh viết đã trên 60 năm, nhưng ngày nay chúng ta đọc vẫn tìm được nhiều điều thú vị. Hai chữ ‘văn chương’ trong bài này mang nghĩa hẹp, đó là những tác phẩm thơ văn, là vẻ dẹp của câu thơ, lời văn. Chỉ là một bài báo ngắn, nên Hoài Thanh chỉ nói được một số điều, một số ý kiến về ý nghĩa văn chương. Tác giả vào đề bằng một câu chuyện đời xưa kể chuyện một thi sĩ.Ân Độ đã khóc nức nở khi nhìn thấy một con chim bị thương…, tác giả chỉ ra rằng: ‘Tiếng khóc ấy, nhịp đau thương ấy chính là nguồn gốc của thi ca’. Hoài Thanh đã vào đề một cách có duyên, nhẹ nhàng, hấp dẫn. Cách mở bài ấy được gọi là ‘dụ khởi’ (lối mở bằng ví dụ: ‘Hịch tướng sf’ của Trần Quốc Tuấn cũng có cách mở bài như thế). Từ câu chuyện hoang đường ấy, tác giả nêu rõ nguồn gốc của văn chương là gì? – Đó là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muốn loài. Nói một cách khác, hiểu một cách khác: cảm hứng thơ văn là tình thương. Ý nghĩa văn chương là ‘hình dung sự sống, hoặc sáng tạo ra sự sống’. Nguồn gốc của văn chương ‘cũng là giúp cho tình cảm và gợi lòng vị tha’. Hoài Thanh đã có một cách nói riêng, chỉ ra hai chức năng của văn chương là nhận thức và giáo dục. Văn học phản ánh hiện thực, nâng cao nhận thức hiện thực, giúp người đọc ‘hình dung sự sống muôn hình vạn trạng’', văn học còn ‘sáng tạo ra sự sống’,đó là điều kì diệu của thơ văn. Ví dụ, ta đọc những bài thơ như ‘Khoảng trời, hô' bom’ (Lâm Thị Mỹ Dạ), ‘Bài thơ về tiểu đội xe không kính’ (Phạm Tiến Duật)…, ta hình dung được, tái hiện được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta trải qua muôn vàn khó khăn ác liệt, tuổi trẻ Việt Nam rất anh hùng: ‘Không có kính, không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng…’ (Phạm Tiến Duật) Nguồn gốc của văn chương ‘là tình cảm, là lòng vị tha’-, thơ văn đích thực có ‘mãnh lực lạ lùng’ có thể làm cho độc giả vui, buồn, mừng, giận… Đó chính là tính giáo dục của văn chương. Văn chương có tính nhân bản đã góp phần nhân đạo hóa con người. Quan niệm của Hoài Thanh về nguồn gốc, về cồng dụng của văn chương rất tiến bộ, đúng đắn. Ta yêu kính cha mẹ hơn, hiếu thảo hơn khi đọc bài ca dao ‘Công cha như núi Thái Sơn’. Ta thầm nhớ công ơn người trồng cây, gieo hạt, nhờ họ, ta được nếm hương đời,vị đời: ‘Ai ơi bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần’ Văn chương rất kì diệu, thể hiện những ước mơ, khát vọng của con người, ‘gây cho ta những tình cảm ta không có (hoặc sẽ có), luyện những tình cảm ta sẵn có’ như Hoài Thanh đã nói. Thương người, yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, say mê học tập và lao động, sáng tạo, mơ ước vươn tới những chân trời bao la,… những tình cảm ấy là do cuộc sống, do văn chương mà tâm hồn ta được bồi đắp. Vãn chương làm cho cuộc đời thêm đẹp, cuộc sống thêm sắc màu ý vị, phong phú hơn, đẹp đẽ hơn. Đúng như tác giả đã viết: ‘Cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần’. ‘Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân…’ (Vũ Bằng) ‘Khi chén rượu, khi cuộc cờ, Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên’ (‘Truyện Kiều’ -Nguyễn Du) Cuộc đời không thể thiếu văn chương. Văn chương sáng tạo ra cái đẹp, làm cho ta thấy cuộc đời đẹp hơn, đáng yêu hơn. Hoài Thanh đã dùng hình ảnh gợi cảm để diễn tả ý đó: ‘từ khi các thi sĩ ca tụng cảnh núi non, hoa cỏ, núi non, hoa cỏ trông mới đẹp; từ khi có người lấy tiếng chim kêu, tiếng suối chảy làm đề ngâm vịnh, tiếng chim, tiếng suối nghe mới hay’. ‘Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’ (‘Côn Sơn ca’- Nguyễn Trãi) ‘Cũng có lúc chơi nơi dặm khách, Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo’… (‘Khốc Dương Khuê’- Nguyễn Khuyến) ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoà’… (‘Cảnh khuya’- Hồ Chí Minh) Vai trò, vị thế của văn nhân, thi sĩ rất to lớn. Nhân loại, các dân tộc, nếu ‘xóa các thi nhân văn nhân’, nếu ‘xóa hết những dấu vết họ còn lưu lại’ (tác phẩm) thì xã hội và cuộc đời sẽ ‘nghèo nàn’ đến bực nào! Cảm xúc của Hoài Thanh như tràn ra trang giấy. Bàn về ý nghĩa văn chương, Hoài Thanh đã đưa ra những lí lẽ xác đáng về nguồn gốc và công dụng của thơ văn. Giá trị nhân bản và tính nhân văn của văn chương đã được tác giả nêu bật một cách sáng tỏ. Cách viết nhẹ nhàng, biểu cảm, sử dụng hình ảnh có duyên và đậm đà, do đó lý lẽ của Hoài Thanh nêu ra tuy không mới, nhưng đầy sức thuyết phục Nguồn: thêm: Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Khi con tu hú của nhà thơ Tố Hữu
Cảm nhận của em về bài ‘Đức tính giản dị của Bác Hồ” của Phạm Văn Đồng
2,238
Cảm nhận của em về bốn câu thơ cuối bài “Tây tiến” của Quang Dũng: “Tây Tiến người đi không hẹn ước (…) chẳng về xuôi” Gợi ý Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi. Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm. Biết bao thương nhớ khôn nguôi: "Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi". Mùa xuân ấy, khi “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông” (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ đã tiến ra sa trường với lời hẹn ước: “Nhất khứ bất phục hoàn", Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Các anh đã giã biệt quê hương. Những ai còn ai mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bạn bè, đồng đội thân yêu, những ai đó "Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Nhưng quê hương vẫn đời đời ôm ấp bóng hình anh, người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến. Bài thơ đã khép lại mà âm điệu của nó vẫn bồi hồi vang vọng trong tâm hồn ta. Có những bài thơ một thời nhưng cũng có một số bài thơ mãi mãi. Thơ hay không có tuổi cũng như mùa xuân không ngày tháng. Đó là “Đèo Cả" của Hữu Loan, là "Nhớ" của Hồng Nguyên, "Đồng chí"của Chính Hữu, “Tây tiến” của Quang Dũng, và…Xem thêm: Ý nghĩa của câu "Thất bại là mẹ thành công""Tây Tiến" là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Với bút pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa, phong độ hào hùng của nhà thơ – chiến sĩ, Quang Dũng đã khắc chạm vào thời gian, vào thơ ca và lòng người hình ảnh người chiến sĩ vô danh Thăng Long — Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Trước linh hồn người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm hương, nghiêng mình với tình cảm biết ơn và kính phục nhà thơ và những chiến sĩ vinh quang trong đoàn binh Tây Tiến. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về bốn câu thơ cuối bài “Tây tiến” của Quang Dũng_ “Tây Tiến người đi không hẹn ước (…) chẳng về xuôi”
385
Cảm nhận của em về con người Nguyễn Trãi qua đoạn trích bài Côn Sơn ca Gợi ý Đọc Bài ca Côn Sơn, ta không khỏi ngỡ ngàng trước cái ta, Nguyễn Trãi, một cái ta thấm đượm cái tình của tâm hồn thanh cao, trong sáng. Nguyễn Trãi là người suốt đời ôm ấp một lí tưởng cao đẹp: lí tưởng vì dân vì nước. Nỗi niềm dân nước thường trực canh cánh khôn nguôi trong ông: Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông (Thuật hứng – Bài 5) ở với triều Lê, Nguyễn Trãi những mong đem tài năng và trí lực của mình vào việc giúp ích cho nước, cho dân, nhưng sống giữa cảnh bon chen ganh ghét ở triều đình, tài năng của Nguyễn Trãi bị đố kị: trong khi đó nhà vua lại tin theo những lời xúc xiểm, không trọng dụng những người như ông. Mất lòng tin ở triều đình, Nguyễn Trãi đành cáo quan về ở ẩn, tìm về với ba khóm trúc vườn xưa để giữ cho tâm hồn được thanh sạch và cao đạo. Và Côn Sơn, ngọn núi tượng trưng cho khát vọng của Nguyễn Trãi về sự giao hoà giữa con người và vũ trụ, đã trở thành nơi để thi nhân tìm về. Sống ở Côn Sơn, cái ta trữ tình của Nguyễn Trãi được khẳng định: Côn Sơn suối chày rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên taiXem thêm: Trong Người lái đò sông Đà, nhà văn Nguyễn Tuân tự coi mình lả người "đi tìm... tươi vui và bền vừng". Theo anh (chị), chất vàng quý báu của thiên nhiên và của người lao động Tây Bắc đã được nhà văn phát hiện và mô tả như thế nào qua bài tùy bút của mình Côn Sơn có đả rêu phơi Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có trúc bóng râm, Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. (Bài Côn Sơn ca) Trong các sáng tác trữ tình của Nguyễn Trãi, hầu như chủ thể trữ tình không xuất hiện trực danh mà chỉ ẩn đằng sau để kín đáo gửi trao cảm xúc, nỗi niềm: Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén Ngày vắng xem hoa rẽ cây. (Ngôn chí – Bài 10) Cùng lắm mới ngôn xưng là khách: Khách đến, chim mừng, hoa xẩy động Chè tiên, nước kín, nguyệt đeo v (Thuật hứng – Bài 3) Ở Côn Sơn ca thì khác. Nhân vật trữ tình đã xuất hiện với chân dung là cái ta – một cái ta nhàn và một cái ta thi sĩ. Lúc thì ta mơ màng lắng nghe suối chảy, chim hót: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Lúc thì mượn đá để ngồi (Hoàng Phủ Ngọc Tường) ngắm cảnh hoặc đánh cờ một mình: Côn Sơn có đá rêu phơi Ta ngồi trèn đá như ngồi chiếu êm Có lúc thì lại tha thẩn giữa đồi thông, tìm bóng mát nằm thảnh thơi: Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Rồi lại trầm mặc đứng dưới bóng trúc rợp mát màu xanh mà ngâm thơ, vịnh cảnh: Xem thêm: Có lần nằm mơ, em thấy mình ra thăm giàn khoan khai thác dầu khí. Gặp nàng tiên biển hiện lên, nàng cho em biết về cung điện nguy nga dưới biển, về kho dầu mỏ quí báu, nàng hứa sẽ tặng Tổ quốc ta. Tỉnh dậy, em hãy kể lại giấc mơ đó cho em bé em nghe Trong rừng có trúc bóng râm, Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. Thật là lãng mạn và thú vị. Một cái ta thi sĩ ngâm thơ nhàn, lắng nghe mọi rung động tinh tế của thiên nhiên và cảm nhận nó bằng tâm hồn nghệ sĩ (nghe tiếng suối mà như nghe tiếng đàn, ngồi trên đá lại tưởng ngồi chiếu êm). Một cái ta thảnh thơi (dù là trong khoảnh khắc) dạo chơi, ngắm cảnh, nằm dưới bóng râm, ngâm thơ… Dường như Nguyễn Trãi đã quên đi hết mọi ưu phiền. Không còn cảnh bon chen giành giật của chốn cửa quyền nhiều hiểm hóc, lòng người cự hiểm, chỉ có người và cảnh quấn quýt giao hoà với nhau. Với nhân vật ta, cuộc sống ấy thật hạnh phúc và có ý nghĩa. Côn Sơn đã trở thành nhà của nhân vật ta – một ngôi nhà thân thương, ấm áp tình người. Trong cảm quan của nhân vật ta, một thế giới nhân gian rộng mở để tâm hồn thi nhân tìm đến, đón nhận thi nhân trở về với chính mình. Đoạn thơ đã khép lại mà hình ảnh nhân vật ta với tất cả những vẻ đẹp của nhân cách thanh cao và tâm hồn thi sĩ thì cứ sừng sững trước mắt người đọc. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về con người Nguyễn Trãi qua đoạn trích bài Côn Sơn ca
809
Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương. Hướng dẫn Từ lâu người Sài Gòn đã được đánh giá là văn minh thanh lịch, rất thân thiện và có tấm lòng lương thiện. Qua văn bản “Sài Gòn tôi yêu”, tác giả đã cho người đọc, đặc biệt là những ai chưa một lần ghé thăm Sài Gòn, được cảm nhận sâu sắc hơn về nét duyên dáng đáng trân trọng của người Sài thành. Sài Gòn là nơi phát triển mạnh, nơi đây hội tụ con người của khắp mọi miền trên cả nước, nhưng đã hòa hợp, không còn phân biệt nguồn gốc mà chỉ còn là những người con của Sài Gòn. Chỉ một điều miêu tả nhỏ nhoi của tác giả nhưng đã thể hiện những đức tính vô cùng đáng quý của con người, ấy là tinh thần đoàn kết, sự hòa hợp và gắn bó cộng đồng. Những lời lẽ của tác giả đã cho ta cam nhận thấy người Sài Gòn rất tự nhiên, chân thành, cởi mở, mạnh bạo, mà vẫn ý nhị. Gần năm mươi năm sống và gắn bó với con người Sài Gòn, tác giả đã cảm nhận được đầy đủ vẻ đẹp tâm hồn những người con của xứ sở này dù trong đời sống giản dị hàng ngày hay trong những hoàn cảnh thử thách của lịch sử người Sài Gòn vẫn rất mực. Đặc biệt, hình ảnh các cô gái Sài Gòn với trang phục khỏe khoắn, cử chỉ, dáng điệu vừa yểu điệu, ngây thơ vừa nhiệt tình, tươi tắn đã tạo những ấn tượng sâu sắc và trở thành một biểu tượng đẹp đẽ về con người Sài Gòn trong lòng độc giả. Nét đẹp trong tâm hồn cũng như ngoại hình của người Sài Gòn qua ngòi bút của tác giả hiện lên thật đẹp, thật đáng yêu, nó như có một sức mạnh thôi thúc người đọc muốn đến ghé thăm Sài Gòn để hòa nhập vào cảnh, vào nét đẹp của người Sài thành.Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Nguồn:
Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản Sài Gòn tôi yêu của tác giả Minh Hương.
365
Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản “Sài Gòn tôi yêu” (tác giả Minh Hương) Gợi ý Qua văn bản “Sài Gòn tôi yêu”, người đọc đã có những thiện cảm rất lớn với những con người Sài Gòn chân thành, cởi mở. Dân cư Sài Gòn là sự hội tụ của con người ở khắp bốn phương nhưng đã hoà hợp, không còn phân biệt nguồn gốc mà chỉ còn là những người con của Sài Gòn. Điều đó thể hiện những đức tính vô cùng đáng quý của con người, ấy là tinh thần đoàn kết, sự hòa hợp và gắn bó cộng đồng. Không chỉ vậy, người Sài Gòn còn rất tự nhiên, chân thành, cởi mở, mạnh bạo, mà vẫn ý nhị. Gần năm mươi năm sống và gắn bó với con người Sài Gòn, tác giả đã cảm nhận được đầy đủ vẻ đẹp tâm hồn những người ccn của xứ sở này dù trong đời sống giản dị hàng ngày hay trong những hoàn cảnh thử thách của lịch sử người Sài Gòn vẫn rất mực. Đặc biệt, hình ảnh các cô gái Sài Gòn với trang phục khoẻ khoắn, cử chỉ, dáng điệu vừa yêu điệu, ngây thơ vừa nhiệt tình, tươi tắn đã tạo những ấn tượng sâu sắc và trở thành một biếu tượng đẹp đẽ về con người Sài Gòn trong lòng độc giả. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Phân tích bài ca dao Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng
Cảm nhận của em về con người Sài Gòn qua văn bản “Sài Gòn tôi yêu” (tác giả Minh Hương)
251
Cảm nhận của em về câu thơ kết trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu: “Đầu súng trăng treo” Gợi ý Câu thơ cuối tuy đã khép lại tác phẩm nhưng nó mãi là dư âm không bao giờ cạn: Đầu súng trăng treo. Câu thơ vừa thực vừa ảo cho ta nhiều cảm xúc mới mẻ. Khoảng cách giữa bầu trời và mặt đất, giữa con người và thiên nhiên đã được xích lại gần gũi hơn bởi một từ "treo". Đó là sự kết hợp giữa bút pháp tả thực và lãng mạn vừa xa vừa gần. "Đầu súng trăng treo" là hình ảnh tương phản giữa chiến tranh và hoà bình đồng thời cũng là hình ảnh của hiện tại và tương lai. Phải chăng câu thơ là ước muốn, là hi vọng của Chính Hữu – người lính Cụ Hồ về một cuộc sống hoà bình, tươi đẹp? Sau đêm nay, sau giờ phút căng thẳng, lạnh buốt này sẽ là một sớm mai ấm áp với ánh bình minh sáng ngời. Người chiến sĩ, với nhiệm vụ đã thành người thi sĩ với bao cảm hứng dạt dào. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Nêu suy nghĩ về tình mẫu tử trong đoạn trích Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng
Cảm nhận của em về câu thơ kết trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu_ “Đầu súng trăng treo”
207
Cảm nhận của em về hai câu thơ tức cảnh của vua Trần Nhân Tông Hướng dẫn ‘Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu’ …Sau chiến thắng Bạch Đằng, giặc Mông cổ bị quét sạch ra khỏi bờ cõi. Trần Nhân Tông và triều đình đã trọng thể tổ chức lễ hiến tiệp (dâng tù binh lên tổ tiên, ăn mừng thắng trận). Trong đám tù binh Mông cổ có Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp và nhiều tướng lĩnh cao cấp khác, bị trói và giải đến theo đúng nghi lễ và phong tục. Sử sách cũ cho biết, tại lễ hiến tiệp ở Chiêu Lãng năm ấy, chợt nhìn thấy chân ngựa đá (thạch mã) có vết bùn, vua Trần Nhân Tông đã ứng khẩu hai câu thơ tức cảnh bằng chữ Hán: ‘Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu’ Hai câu thơ đối nhau. Ngôn từ trang trọng, trang nghiêm. Ý tưởng tráng lệ, sâu xa. Đúng là khẩu khí của một bậc đế vương anh hùng lưu danh sử sách. Câu thơ dịch cũng khá hay: ‘Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, Non sông nghìn thuở vững âu vàng’ Xã tác, sơn hà là những từ Hán Việt cùng nghĩa, gần nghĩa như giang sơn, sông núi, đất nước, Tổ quốc, cách nồi của chúng ta ngày nay. ‘Lao’có nghĩa là gian lao, vất vả. ‘Điện’có nghĩa là vững yên, vững bền. Kim âu là âu vàng có chạm khắc rồng phượng và trang trí bằng ngọc rất đẹp; Kim âu là biểu tượng, vật tượng trưng tôn quý, linh thiêng của Vương triều, của quốc gia và dân tộc. Có vị giáo sư đã dịch thành ‘chậu vàng’,nghĩa đen thì đúng, nhưng rất thô! Chữ ‘lao’trong câu thơ chữ Hán đã nhân hóa con ngựa đá ở Chiêu Lăng. Lưỡng hồi là hai phen, hai bận; chỉ cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) của Đại Việt đánh thắng quân Mông cổ xâm lược. Để làm nên chiến thắng: ‘Chương Dương cướp giáo giặc – Hàm Tử bắt quân thù’(thơ Trần'Quang Khải), để Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng… mãi mãi sáng ngời sông núi, cả nước Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về nhân vật An Dương Vương trong câu chuyện cùng têncả dân tộc đã đứng lên với lời thề ‘quyết chiến’với ý chí ‘sát Thát’ngùn ngụt đất trời. Để làm nên chiến thắng là do sức mạnh đại đoàn kết dân tộc không kẻ thù nào lay chuyên nổi: ‘Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức’.Để chiến thắng quân xâm lược, vị thống soái quyết xả thân vì sơn hà, xã tắc, ‘dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng’(Hịch tướng sĩ). Để mãi mãi trong thời gian ‘mà nhục quân thù khôn rửa nổi’(Bạch Đằng Giang phú), có biết bao anh hùng quyết giương cao ngọn cờ ‘Phá cường địch, báo hoàng ân’,có hàng ngàn hàng vạn tướng sĩ đã ‘Múa giáo non sông trải mấy thu – Ba quản hùng khí át sao Ngưu’(Thuật hoài). Và để làm nên thắng trận, hình như ngựa đá ở Chiêu Lăng cũng xông pha gươm giáo cùng ba quân, nếm trải nhiều gian lao khó nhọc. Câu thơ ‘Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã’ là một tứ thơ sâu sắc tuyệt hay. Câu thơ còn mang hàm nghĩa: tổ tiên ông cha linh thiêng đã ngầm giúp cháu con làm nên chiến công ‘bình Nguyên’lừng lẫy, bảo toàn núi sông Đại Việt. Câu thơ thứ hai biểu lộ niềm tự hào về sự bền vững đến muôn đời của kim âu, của sơn hà xã tắc. Đó là ý chí tự cường. Đó là niềm tin sáng chói về truyền thống anh hùng của dân tộc. Đó là khát vọng độc lập, hòa bình của nhân dân ta: ‘Sơn hà thiên cổ điện kim âu’. Có thể nói hai câu thơ của vua Trần Nhân Tông đã góp phần tỏa sáng ‘Hào khi Đông A ’.Hơn 700 năm sau, vần thơ tráng lệ ấy vẫn còn làm xúc động lòng người. Nguồn: thêm: Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em
Cảm nhận của em về hai câu thơ Tức cảnh của vua Trần Nhân Tông
712
Cảm nhận của em về khổ thơ sau trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải: “Ta làm con chim hót. Ta làm một nhành hoa. Ta nhập vào hoà ca. Một nốt trầm xao xuyến.” Gợi ý Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến. Ở khổ thơ này đã có sự lặp lại cấu trúc ngữ pháp, bắt gặp những hình ảnh bông hoa, con chim, những tín hiệu mùa xuân ở khổ thứ nhất. Trong muôn ngàn điều ước, tác giả chỉ ước làm một tiếng chim trong muốn ngàn giọng hót để gọi xuân về, một bông hoa trong muôn triệu đoá hoa để tô điếm cho mùa xuân. Những ước muốn giản dị để thành những vật nhỏ bé, nhưng chính những vật nhỏ bé này lại góp phần quan trọng không thể thiếu để tạo nên mùa xuân, tạo nên sắc xuân. Bên cạnh đó, tác giả còn muốn làm một nốt trầm trong bản hoà ca êm ái. Chỉ là một nốt trầm kín đáo, khiêm nhường, chứ không phải là một nốt thanh thánh thót, nổi trội. Lẫn vào trong bản hoà ca, khó nghe và nhận ra những nốt trầm khiêm nhường đó đã tạo nên cái hay của bán nhạc. Tác giả muốn làm một nốt trầm nhưng là nốt trầm xao xuyến, có sức ngân vang, một nôt trầm có ích cho đời. Những ước muôn tưởng như giản dị ấy lại có một ý nghĩa lớn lao đó là phải đóng góp những gì tươi đẹp nhất cho cuộc đời, cho đất nước, dù đó là sự công hiến khiêm nhường, giản dị. Điều đó không chỉ ước muốn cua riêng tác giả mà là của tất cả mọi người, tất cả chúng ta. Thông qua việc chuyển đổi đại từ tôi sang ta, nguyện ước riêng đã trở thành nguyện ước chung. Sau ước nguyện hoà đồng, tác giả đã đi tới khát vọng cô’ng hiên bền bỉ của mình. Trong cảm hứng trữ tình, nhân vật trữ tình bỗng biến thành mùa xuân nho nhỏ, một mùa xuân không chỉ mang ý nghĩa mà là một mùa xuân nhỏ bé, có hình khối hữu hạn nhập vào mùa xuân rộng lớn của đât nước.Xem thêm: Phân tích bài thơ “Việt Bắc” của nhà thơ Tố HữuVanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về khổ thơ sau trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải_ “Ta làm con chim hót. Ta làm một nhành hoa. Ta nhập vào hoà ca. Một nốt trầm xao xuyến.”
398
Cảm nhận của em về ngày đầu tiên đi học Bài làm Đã biết bao năm học trôi qua nhưng ngày mà em nhớ nhất đó chính là ngày đầu tiên đi học. Một ngày để lại trong em rất nhiều cảm xúc và lưu giữ biết bao nhiêu kỷ niệm. Ngày đầu tiên đi học chính là ngày em bước vào lớp một. Ngày mà em mong chờ suốt trong những ngày hè của năm mẫu giáo. Để chuẩn bị cho ngày này bố mẹ đã mua sắm cho em rất nhiều thứ. Mẹ và em đã dành riêng một ngày để mua đồ dùng học tập. Biết bao nhiêu đồ dùng, sách vở mà em chưa bao giờ thấy với nhiều chủng loại khác nhau. Mẹ mua cho em một chiếc cặp sách màu hồng với hình con mèo rất đẹp. Đó là chiếc cặp mà em thấy thích ngay lần đầu tiên. Em rất háo hức mong chờ đến ngày khai trường. Cuối cùng thì cũng đến đêm trước ngày khai trường. Ngay từ buổi chiều tâm trạng em đã rất háo hức đợi đến ngày mai. Em cùng với hai người bạn học cùng trong xóm ngồi ở nhà một bạn để bàn luận về ngày khai trường sẽ diễn ra vào hôm sau. Tất cả đều hồ hởi kể cho nhau nghe những chuẩn bị, tâm trạng và sự hiểu biết của mình về ngôi trường mới, lớp mới sẽ học. Tối đó, trong bữa cơm với gia đình ai nấy đều vui vẻ và sau đó mọi người đều căn dặn em ngày mai đến trường phải nghe lời thầy cô, chăm ngoan, học giỏi.Xem thêm: Cảm nhận về 8 câu cuối đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Cảm nhận của em về ngày đầu tiên đi học Mẹ chính là người chuẩn bị cho em từng chút một, từ việc giặt và là phẳng quần áo mới mà mẹ đã mua, đến việc hướng dẫn em soạn sách vở để mang tới lớp. Cho tới tận lúc em chuẩn bị đi ngủ thì mẹ vẫn chưa ngủ mà kiểm tra lại một lần nữa xem em có quên gì không. Ngày đầu tiên vào lớp một cũng chính là ngày đầu tiên em tự giác thức dậy mà không cần mẹ gọi. Có lẽ do hồi hộp từ hôm trước khiến giấc ngủ của em không sâu và mong trời nhanh sáng. Tự thức dậy và vệ sinh cá nhân sau đó ăn sáng, thay quần áo và đợi mẹ đưa tới trường. Ngay lúc này đây em chỉ muốn có thể tới trường thật nhanh. Ngôi trường cấp một cách nhà em không xa, chỉ khoảng chưa đầy một cây số. Đi dọc theo con đê chạy dài xuyên qua xã em là tới và ngôi trường nằm ngay dưới chân đê. Mẹ đèo em đi học bằng xe đạp, dọc đường em gặp rất nhiều bạn học khác cũng đang được bố mẹ đưa tới trường và những anh chị lớp trên thì mặc đồng phục, khăn quàng đỏ tươi tự đạp xe tới trường. Chẳng mấy chốc ngôi trường đã xuất hiện trước mắt em. Ngày lễ khai trường nên ngôi trường tưng bừng trong sắc màu của cờ và hoa. Những chiếc băng rôn, bảng biểu được treo để chào mừng năm học mới. Đứng từ cổng nhìn vào thấy ngôi trường hai tầng núp dưới bóng những hàng cây cổ thụ, màu sơn vàng nổi bật trên nền xanh của cây cối.Xem thêm: Trong thế giới AIDS, im lặng là chết Chia tay mẹ ở cổng trường, em bước vào ngôi trường mới với biết bao sự bỡ ngỡ. Em đến vị trí tập trung của lớp 1A và được gặp cô giáo chủ nhiệm của lớp em. Cô giáo rất tận tình chỉ dẫn cho chúng em tập trung, xếp hàng và ổn định vị trí để có thể bắt đầu vào buổi khai giảng. Tại đây em được gặp rất nhiều bạn bè, trong đó có những bạn đã học cùng em năm mẫu giáo nhưng cũng có khá nhiều bạn mới. Trên khán đài được tảng trí rất nổi bật với nhiều lẵng hoa. Khi tiếng trống cất lên buổi khai giảng chính thức được bắt đầu. Lắng nghe những lời nhắc nhở của thầy hiệu trưởng, thư chúc mừng năm học mới của bác chủ tịch nước… Tiếp đến là chương trình văn nghệ với những tiết mục được các anh chị lớp trên chuẩn bị rất công phu. Trong đó em ấn tượng nhất đó chính là tiết mục múa nón của các cô giáo trong đó em thấy cả cô giáo chủ nhiệm lớp em. Sau phần lễ khai giảng thì chúng em học một tiết học đầu tiên để mở đầu cho năm học mới. Đó là giờ tiếng Việt do cô giáo chủ nhiệm dạy. Lớp học mới là một phòng học khang trang, được trang trí rất đẹp mắt, phía cuối lớp là tủ đựng đồ dùng cá nhân và những bảng biểu. Trước khi vào tiết học đầu tiên chúng em được làm quen với cô giáo mới, được tự giới thiệu về bản thân mình trước cả lớp và làm quen với nhau, được cô giáo xếp chỗ và bầu ra ban cán sự lớp tạm thời. Em thấy được những khác biệt rất nhiều so với lúc em đi học mẫu giáo và mong muốn có thể nhanh chóng khám phá, làm quen với môi trường học tập mới.Xem thêm: Quan niệm của bạn về hạnh phúc Đối với em ngày đầu tiên đi học là một ngày thú vị và ý nghĩa trong đời. Đó là một kỷ niệm đẹp và đến bây giờ hay mai sau em cũng sẽ không thể nào quên được. Loan Trương
Cảm nhận của em về ngày đầu tiên đi học
975
Cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của nhà văn nữ Lê Minh Khuê (SGK Ngữ văn 9, tập hai – NXB Giáo dục, 2005) Gợi ý Lê Minh Khuê là nhà văn thuộc thế hệ những tác giả bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Với tài năng và sự tìm tòi, khám phá của mình, bà sớm gặt hái được nhiều thành công về mảng đề tài là cuộc sống chiến đấu của những thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn. “Những ngôi sao xa xôi” là một trong những truyện ngắn tiêu biếu của Lê Minh Khuê. Nhân vật chính trong tác phẩm – Phương Định – là nhàn vật giành đượợ nhiều sự yêu mến, cảm phục của người đọc bởi vẻ đẹp ngoại hình, tâm hồn và sự dũng cảm, ngoan cường, bình tĩnh ung dung trước hiểm nguy. Phương Định gây cám tình đầu tiên cho người đọc bởi vẻ trẻ trung, xinh đẹp của một cô gái mới lớn. Cô là người nhạy cảm và luôn quan tâm đến hình thức của mình. Cô tự đánh giá: ’Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tôn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đổi mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, vẻ đẹp ấy của cô đã hấp dẫn bao chàng trai: ”các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi tham tôi”. Điều đó làm Phương Định tự hào nhưng điều đặc biệt là cô chưa dành riêng tình cảm cho ai.Xem thêm: Giới thiệu về một món ăn Việt Nam dàn dã Nhân vật chính của tác phẩm còn khiến người đọc khâm phục bởi sự dũng cảm ngoan cường, bình tĩnh ung dung vượt lên khó khăn nguy hiểm. Phương Định cũng những người bạn cùa mình sống và chiến đấu trên một cao điểm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Chị phải chạy trên cao điểm đánh phá của máy bay địch. Sau mỗi trận bom, chị cùng đồng đội phải lao ra trọng điểm, đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nô và dùng những khôi thuốc nô đặt vào cạnh nó để phá. Đó là công việc mạo hiểm với cái chết luôn gần kề tạo áp lực khiến thần kinh vô cùng căng thằng. Thực hiện công việc đó, Phương Định và đồng đội phải rất binh tĩnh và họ đã thực sự bình tĩnh, ung dung một cách lạ thường. Thậm chí, với họ, công việc ấy đã trỏ thành bình thường: "Công việc của chúng tôi là ngồi đây. Khi có bom nồ thì chạy lên, đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và khi cần thì phá bom”. Mặc dù đã quen với công việc nguy hiếm này, thậm chí một ngày có thể phái phá tới năm quả bom nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách tột độ với thần kinh của Phương Định. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy căng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia cũng đang theo dõi từng động tác cử chỉ của mình để lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: ’Tôi đến gần quả bom… đàng hoàng mà bước tới” ở bên quả bom kề sát với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: Xem thêm: Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo ’Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”. Đặc biệt, Phương Định càng khiến người đọc yêu mến, trân trọng hơn bởi tâm hồn trong sáng, tinh tế. Chị rất giàu tình cảm với đồng chí, đồng đội, quê hương và vô cùng lạc quan yêu đời. Giống như hai người đồng đội trong tố trinh sát, Phương Định yêu mến những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt, cô yêu mến và cảm phục tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng điếm của những con đường vào mặt trận. Phương Định đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về. Chị yêu thương và gắn bó với bạn bè nên có những nhận xét tốt đẹp đầy thiện cam về Nho, phát hiện ra vẻ đẹp dễ thương ”nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn. Chị còn hiểu và đồng cảm sâu sắc với những sở thích và tâm trạng của chị Thao. Phương Định cũng là người con gái có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ thân thương trong một căn buồng nhỏ nằm trên một đường phố yên tĩnh hồi Hà Nội còn thanh bình trước chiến tranh. Những lả niệm ấy luôn sống lại trong cô giữa chiến trường dữ dội. Nó là niềm khao khát làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường.Xem thêm: Trong hội nghị học tốt sắp tới của lớp, em được phân công viết bản tham luận về vấn đề xây dựng phương hướng học tập, rèn luyện của người học sinh. Em hãy viết bản tham luận đó Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử thách hiểm nguy, giáp mặt hàng ngày với cái chết nhưng ở Phương Định không mất đi sự hồn nhiên trong sáng và cả những mơ ước về tương lai: ’’Tôi mê hát” ’’thích nhiều bài”. Phương Định là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn những ngày kháng chiến chống Mĩ. Chị tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy. Họ là những người không tiếc tuổi thanh xuân, hiến dâng trọn vẹn cho Tố quốc những gì quý giá nhất: Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Trong "Những ngôi sao xa xôi", Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực và sinh động tâm lí nhân vật. Tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất tạo thuận lợi cho tác giả miêu tạ thế giới nội tâm qua việc để nhân vật tự sự về mình. Nhân vật Phương Định trong ’’Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê mang những đặc điểm tốt đẹp tiêu biểu cho tâm hồn những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong lên đường chống Mĩ trong những năm tháng vất vả mà hào hùng của dân tộc. Phương Định để lại trong lòng độc giả niềm yêu mến, cảm phục đổì với thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày tháng bom rơi đạn nổ ấy. Và hơn thế, điều đó trở thành động lực đế thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay viết tiếp nét son trong trang sử của thời đại mình. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của nhà văn nữ Lê Minh Khuê (SGK Ngữ văn 9, tập hai – NXB Giáo dục, 2005)
1,222
Đề bài: Cảm nhận của em về nhân vật Tấm trong Tấm Cám Thế giới nhân vật cổ tích thật phong phú, đa dạng. Ngay từ thủa bé thơ, trong tâm trí hồn nhiên của tôi đã đầy những hình ảnh của chàng Sọ Dừa thông minh mà phải đội lốt xấu xí, chàng Thạch Sanh tài ba mà nhân hậu thật thà. Còn có cả hình ảnh của mụ gì ghẻ, của mẹ con nhà Lý Thông gian hiểm, độc ác bên cạnh đó lại có những ông Bụt ông Tiên hiền từ, nhân hậu với phép thuật nhiệm màu và luôn giúp đỡ mọi người. Trong cái thế giới bao la với những con người xấu có, đẹp có, thiện có, ác có ấy hình ảnh của cô Tấm vẫn luôn để lại trong tôi nhiều tình cảm, nhiều suy nghĩ hơn cả: Vừa xót thương, lại vừa yêu mến, cảm phục. Hình ảnh cô Tấm lưu giữ trong tâm trí tôi lúc nào cũng đẹp. Cô Tấm gắn liền với những đồ vật nhỏ bé, giản dị mà vô cùng đáng yêu. Đó là con cá Bống ngoan ngoãn mỗi lần nghe gọi "Bống Bống bang bang" lại quẫy đuôi ngoi lên trong lòng giếng. Là chiếc hài nhỏ xinh đã làm thất vọng bao nhiêu cô gái xem hội nhưng lại giúp nhà vua tìm thấy vợ hiền. Đó còn là quả thị thơm bé nhỏ mà mỗi ngày Tấm chui ra giúp bà lão hàng nước việc nhà và têm những miếng trầu cánh phượng. Miếng trầu ấy là dấu hiệu để nhà vua nhận ra Tấm và đưa Tấm về với hạnh phúc mà Tấm xứng đáng được hưởng. Cô Tấm gắn với những vật nhỏ xinh ấy, hiện lên trong tôi thật đáng yêu. Tấm đáng yêu, đáng phục, đáng quí trọng không chỉ bởi cái đẹp, cái nết na, chăm chỉ. Mà còn bởi tình cảm của Tấm với cá Bống, bởi lòng hiếu thảo của Tấm với cha mẹ. Với Bống, Tấm sẵn sàng nhường phần cơm của mình. Còn khi đã thành Hoàng hậu giàu sang Tấm vẫn không quên ngày giỗ Bố, sẵn sàng trèo cau lấy quả cúng để rồi tạo cơ hội cho mụ gì ghẻ hãm hại. Xem thêm: Giá trị văn chương của Bình ngô đại cáoNhưng càng yêu quý những phẩm chất cao đẹp của Tấm bao nhiêu tôi lại càng xót xa, thương cảm cho cuộc đời cho số phận Tấm bấy nhiêu. Số phận bất công đã để cho cô Tấm nết na hiếu thảo sớm phải sống cảnh mồ côi, sớm phải chịu đựng những đày đoạ hành hạ của cuộc sống "Mẹ ghẻ con chồng". Tấm phải lam lũ vất vả làm mọi công việc nặng nhẹ trong nhà. Ngay cả khi vui chơi hội hè, Tấm cũng phải chịu thua thiệt. Có mỗi duy nhất chú cá Bống nhỏ làm bạn cũng bị cướp mất. Ngay địa vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của gì ghẻ. Tấm lại phải trải qua bao nhiêu kiếp nạn khổ đau rồi mới đươc hạnh phúc. Từng ấy đau khổ, bất hạnh, đày đoạ khiến người ta không thể không xót xa, thương cảm. Nhưng không phải không có những lúc mà cảm giác của tôi là bực dọc, tức tối. Đó là những khi Tấm khóc hu hu mỗi lần gặp nạn. Hình ảnh cô Tấm quá yếu ớt, thụ động ấy đã nhiều lần biến lòng thương cảm xót xa trong tôi thành sự thương hại. May sao cảm giác ấy nhanh chóng qua đi, nhường chỗ cho lòng khâm phục và yêu mến lớn hơn gấp bội. Ấy là khi chứng kiến Tấm sau những đọa đầy đau khổ vươn mình lớn dậy, tự mình đấu tranh, kiên quyết chống lại sự hãm hại của mẹ con Cám. Với sức sống mãnh liệt Tấm đã chiến thắng, đã giành lại hạnh phúc cho mình. Không còn cần Bụt, Tiên nữa. Sự thần kì giờ đây đến từ sức mạnh nội tại, chiến đấu giữ vững hạnh phúc, thực thi công lý báo thù. Tấm trở nên mạnh mẽ, quyết liệt bên cạnh bản tính hiền lành, nhân hậu vốn có của mình. Hình ảnh cô Tấm giúp tôi phần nào thấu hiểu được cuộc trường chinh mà nhân dân lao động đã đi qua trong một phần quá khứ xa xưa của dân tộc. Những kiếp người nhọc nhằn, cơ cực nhưng bao giờ cũng khoẻ khoắn, lành mạnh, cao quí và dồi dào sức sống. Chính họ, trong những năm tháng nghèo nàn nhất của lịch sử đã cho chúng ta thấy được sự giàu có đến vô cùng trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt. Cô Tấm đối với tôi không chỉ là sự hiện diện của một cuộc đời, một tâm hồn cụ thể. Cuộc đời nhiều bất hạnh, khổ đau nhưng cuối cùng đạt đến hạnh phúc của Tấm để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Khiến tôi không khỏi nhiều lần có cái mơ ước được gặp mặt con người xinh đẹp, nết na và nhân hậu của cái thế giới cổ tích diệu kì ấy. Nguồn Edufly Xem thêm: Tình thương là hạnh phúc của con người.
Cảm nhận của em về nhân vật Tấm trong Tấm Cám
889
Cảm nhận của em về nhân vật Đổng Mẫu qua trích đoạn “Đổng Mẫu” từ Hồi III tuồng “Sơn Hậu” Gợi ý "Sơn Hậu" là vở tuồng pho nổi tiếng nhất trong kho tàng nghệ thuật tuồng dân tộc. Vở tuồng này có ba hồi, thường được diễn trong ba đêm liên tiếp. Cuộc đấu tranh giữa hai phe trung thần (Đổng Kim Lân,…) và nghịch tặc (Tạ Thiên Lăng,…) diễn ra vô cùng dữ dội. Lửa cháy rực trời, máu tuôn như suối, tiêng ngựa hí quân reo, tiếng trống trận dội vang như sấm sét… Có biết bao hình tượng kiêu hùng, bi tráng như Khương Linh Tá bị giặc chém rụng đầu vẫn hiên ngang cắp thương, cắm đuốc, phi ngựa; Đổng Mẫu sắp bị bọn phản nghịch thiêu trên giàn lửa vẫn lớn tiếng mắng nhiếc lũ tặc thần, thống thiết khuyên con hãy giữ tròn đạo trung, "hãy phò ân nghiệp chúa". Hình tượng Đổng Mẫu xuất hiện ở Hổi III vở tuồng "Sơn Hậu" đẹp như một tượng đài tráng liệt về bà mẹ trung nghĩa anh hùng. Sau khi Đổng Kim Lân và Khương Linh Tá đưa hai mẹ con thứ phi Phàn Phụng Cơ chạy thoát về Sơn Hậu, bốn anh em Tạ Ôn Đình dùng độc kế "bắt hổ mẹ để cầm tù hổ con’ đã bắt Đổng Mẫu nhằm khuất phục Đổng Kim Lân, hòng dụ dỗ lòi kéo về phe cánh mình. Đoạn tuồng này gồm có hai cánh: Một, cuộc đối mặt giữa Tạ Ôn Đình với Đổng Mẫu: Hai, cuộc đối thoại giữa mẹ con Đổng Mẫu và Đổng Kim Lân. Xung đột giữa trung thần với nghịch tặc, giữa đạo trung với đạo hiếu diễn ra căng thẳng, tạo nên tính kịch quyết liệt; qua đó, tính cách của các vai tuồng được bộc lộ và thể hiện một cách sâu sắc, đầy ám ảnh. Đổng Mẫu là một hình tượng vô cùng lẫm liệt, uy nghi, tiêu biểu cho cốt cách và phẩm chất cao quý của một bà mẹ anh hùng, quyết thủ nghĩa xả thân, coi "chữ trung nặng hơn chữ hiếu".Xem thêm: Phân tích hai câu thơ đầu của bài thơ "Chiều tối” (Hồ Chí Minh): "Quyện điểu qui lâm tầm túc thụ/ Cô vân mạn mạn độ thiên không" (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ/ Chòm mây lơ lửng giữa tầng không) 4. Hổ Bôn, một tì tướng của Tạ Thiên Lăng đã bắt trói Đổng Mẫu đem dâng nộp cho Tạ Ôn Đình. Các lớp tuồng đầy kịch tính lần lượt diễn ra. Tạ Ôn Đình truyền lệnh cởi trói, trải chiếu cho Đổng Mẫu ngồi, sai quân đem bút chỉ (bút và giấy) cho lão bà viết thư để dụ con trai là Đổng Kim Lân mang quân về Tiểu Giang Sơn hàng phục. Hắn bảo: trong thư phải ghi rõ lợi hại; nếu đầu hàng họ Tạ (Tạ Thiên Lãng) thì sẽ có công hầu danh vọng; nếu cứ một lòng gánh vác Tề triều thì mẹ già sẽ bị giết hại. Vấn đề danh vọng và tình mẫu tử đã được đặt ra: "Đầu Tạ thì rạng đeo quyền tước Danh vọng kia chẳng mất công hầu. Bằng chấp nê gánh vác Tề triều Niềm mầu tử ắt là bị hại". Vừa nghe Tạ Ôn Đình nói, Đổng Mẫu vô cùng căm phẫn, "bừng bừng lửa dậy…, sùng sục dầu sôi". Bà gọi Tạ Ôn Đình là mi là "gã’ một cách khinh bỉ; lớn tiếng vạch mặt anh em họ Tạ là bất nghĩa, bất trung: "Ông cha mi hưởng lộc Tề quân Anh em gã cướp ngôi Thiện đế’ Đổng Mẫu coi Tạ Ôn Đình là kẻ "có học", nên bà đã lây sử sách ra dạy bảo, răn đe. Bà đã nhắc lại gương tày liếp của Hoàng Sào, Vương Mãng: đứa "khôi ngụy" thì chết không giữ được thân xác toàn vẹn (chết,chảng toàn thây), đứa "khi quân" thì chết không có đất chôn (tử vô táng địa). Đổng Mẫu tự hào về truyền thống gia đình mình, về con cái mình là người có học thức (hiến nhân xử thế), có khí tiết (minh tiết bảo thân); đâu phải là kẻ bất nhân bất nghĩa mà "theo dâng gian thần", mà "đầu loài sủng nịnh".Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Nhưng lời mắng nhiếc ấy của Đổng Mẫu vừa nêu cao đạo lí trung hiếu, vừa vạch mặt chỉ tên kẻ đang đứng trước mặt bà, kẻ đang khuyến dụ bà là lũ phán nghịch bất nghĩa, bất trung vô cùng ghê tởm! Qua đó. ta cảm phục Đổng Mẫu là một bà mẹ đức độ, một người phụ nữ có học thức sống giữa thời phong kiến loạn lạc. Ngôn ngữ của bà rất biến hóa, lúc thì dân dã dung tục (bay mần chi, tao hỏi, ông cha mi, anh em gã,…), lúc thì dùng điển tích trong sử sách, dùng ngôn ngữ, thành ngữ Hán-Việt (Tề quận, Thiện đế, khởi nguy, khi quân, tứ vô táng địa, hiển nhân, minh tiết, Hoàng Sào, Vương Màng,…) – biểu lộ một nhân cách cao cả, đường hoàng, chính trực, uy vũ bất năng khuất! 5. Đổng Mẫu là một người phụ nữ lẫm liệt, hiên ngang trước kẻ tử thù. sắp bị Tạ Ôn Đình đưa lên giàn hoả thiêu, bà vẫn ung dung vạch trần âm mưu quỷ quyệt của lũ phản nghịch bắt bà để "làm bia đỡ đạn", nhằm lung lạc ý chí bà để bà dụ dỗ Đổng Kim Lân đem quân về đầu hàng anh em họ Tạ. Khí tiết của bà sáng ngời, tư thế của bà lẫm liệt. Bà coi cái chết nhẹ tựa lông hồng quyết hi sinh để bảo toàn danh tiết: "Mẹ dù về chín suối Danh tiết để ngàn thu". Biết Đổng Kim Lân rất thương mẹ, lo mẹ bị giết chết, đạo làm con không giữ tròn được chữ hiếu, bà đã sáng suốt khuyên con. Bà khuyên con phải giữ vững ý chí kiên cường của đấng trượng phu, không được đầu hàng giặc Tạ: "Trượng phu đừng thoái chí – Thoái chí bất trượng phu". Bà khuyên con phải trung quan ái quốc, phải hết lòng vì nước vì vua:Xem thêm: Văn nghị luận: Bình luận về tinh thần lạc quan"Con hãy ngay cùng nước cùng vua. Ấy là thảo với cha với mẹ. Hãy phò an nghiệp chúa. Cho rạng tiết nhân thần". Đạo làm tôi phải lấy chữ trung làm đầu; đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm trọng. Đổng Mẫu tha thiết khuyên con: “Lấy chữ trung, chữ hiếu cho cân. Chữ trung ấy nặng hơn chữ hiếu (đó con)." Lời mẹ dặn mới tha thiết và sâu sắc biết bao. Với Đổng Kim Lân thì bài học mẹ dạy về chí trượng phu, về đạo trung hiếu sẽ không bao giờ có thể quên. Vì thế mà Đổng Kim Lân biết nén đau thương, nêu cao dũng khí, mưu trí tìm mọi cách để cứu mẹ già, quyết tâm "phò Tề’ kiên cường chiến đấu, nếm mật nằm gai, cuối cùng đã tiêu diệt được bọn phán nghịch Tạ Thiên Lăng, phất cao ngọn cờ chiến thắng trên Tiểu Giang Sơn, làm rạng danh bậc trung thân nghía sĩ. Đổng Mẫu đã bị Tạ Ôn Đình coi là "Tân kê tác quái – Thị tử như du" (gà mái làm điều quái gở, coi cái chết như đi chơi), nhưng bà đã quyết noi gương những bậc "tiên thánh" để giữ tròn khí tiết của người mẹ, của người phụ nữ sống trong thời loạn lạc: "Mẹ Diêu Kì với mẹ sầm Bành, Mẹ Từ Thứ, mẹ người Tô Định. Như bốn ấy là gương tiên thánh, Để soi cho những kẻ hậu lai"… Tóm lại, Đổng Mẫu là một hình tượng điển hình về bà mẹ anh hùng. Bà đã hiên ngang đối mặt với bọn loạn thần tặc tử. Bà đà dũng cảm coi thường cái chết. Khí phách của Đổng Mẫu lẫm liệt vô song. Bà đã nêu cao lòng trung nghĩa. Anh hùng Đổng Kim Lân trong vở tuồng "Sơn Hậu" thật hạnh phúc biết bao, tự hào biết bao vì có người mẹ hiền như Đổng Mẫu. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về nhân vật Đổng Mẫu qua trích đoạn “Đổng Mẫu” từ Hồi III tuồng “Sơn Hậu”
1,365
Cảm nhận của em về truyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen Gợi ý An-đec-xen là nhà kể chuyện cổ tích nổi tiếng của thế giới phương Tây. Ngoài việc sưu tầm ông còn sáng tạo. Cô bé bán diêm là một sáng tác độc đáo, một câu chuyện cổ tích về thời hiện đại, thể hiện tài năng kể chuyện bậc thầy của ông. Thời hiện đại ở đây chính là thời đại mà tác giả sống, thời đại mà con người đã biết chế tạo và sử dụng diêm, con người biết đi lại bằng những cỗ xe song mã, biết tổ chức đón giao thừa với những cây thông Nô-en lộng lẫy. Câu chuyện Cô bé bán diêm kể về xã hội ấy, kể lại cái chết thương tâm của một cô bé nghèo khổ. Mở đầu câu chuyện, tác giả giới thiệu một bối cảnh khắc nghiệt và khác thường. Khắc nghiệt bởi vì "trời đã tối hẳn" mà "tuyết rơi" không ngừng, và "rét dữ dội". Khác thường là vì: "Đêm nay là đêm giao thừa" nghĩa là một thời điểm đặc biệt đối với mỗi gia đình và đối với mỗi người. Đêm giao thừa ở đâu cũng vậy, đều là thời điểm mà năm cũ với những buồn vui lẫn lộn lùi vào quá khứ và một năm mới với những hi vọng tràn trề đang chờ đợi mọi người được mở ra. Nhưng đêm giao thừa ở phương Tây rất rét, vì lúc này đang giữa mùa đông. Khắp nơi đầy tuyết phủ, khắp nơi đầy giá lạnh. Ấy thế mà trong cái giá lạnh đó, trong cái đêm giao thừa đó "một em gái nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối”. Em bé đi đâu vậy? Em phải đi bán diêm vì "nếu không bán được ít bao diêm, hay không ai bố thí cho một đồng xu nào" thì "em không thể nào về nhà", bởi lẽ khi đó "nhất định là cha em sẽ đánh em". Bởi vì từ khi "Thần Chết đã đến cướp bà em đi mất, gia sản tiêu tan, và gia đình em đã phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh, nơi em đã sống những ngày đầm ấm, để đến chui rức trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa". Hơn nữa "ở nhà cũng rét thế thôi. Cha con em ở trên gác sát mái nhà, và mặc dầu đã nhét giẻ rách vào các kẽ hở lớn trên vách, gió vẫn thổi rít vào trong nhà". Như vậy em bé bán diêm này là một em bé có hoàn cảnh nghèo khổ. Em bé đáng thương không tên tuổi này giống như kẻ lạc loài, bơ vơ trên mặt đất đầy tuyết phủ. "Em cố kiếm một nơi có nhiều người qua lại. Nhưng trời rét quá, khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em cả". Vì thế "suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh… Em bé đáng thương vẫn bụng đói cật rét lang thang trên đường". Em đi dưới trời mưa tuyết tới mức: "bông tuyết bám đầy trên mái tóc dài xõa thành từng búp trên lưng em, em cũng không để ý" và những người qua đường cũng không ai để ý đến một đứa trẻ đang bị tuyết phủ dần dần. Chắc chắn là em đã đi trong mưa tuyết như vậy rất lâu. Giờ đây em không còn đi được nữa. "Em ngồi nép vào một góc tường, giữa hai ngôi nhà, một cái xây lùi vào chút ít". Đó là một nơi mà ai đi qua cũng phải tránh nhưng cũng buộc mọi người phải chú ý. Em bé ngồi chỗ đó với hy vọng sẽ có người chú ý đến em, sẽ có người mua diêm cho em. Xung quanh em "cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay". Mùi ngỗng quay nhắc em "đêm nay là đêm giao thừa". Mùi ngỗng quay còn nhắc em nhớ tới thời kỳ đầm ấm của gia đình em trước đây. Còn hiện tại em đang ngập chìm trong tuyết lạnh. "Em thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em cảm thấy rét buốt hơn”. "Lúc này đôi bàn tay" của em bé bán diêm tội nghiệp "đã cứng đờ ra". Em bé nghĩ tới việc đánh diêm để "hơ ngón tay". Và "em đánh liều một que". Ngọn lửa bùng lên trong đêm giao thừa giá lạnh, mang lại cho em một niềm vui. "Ngọn lửa lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt". Em bé hơ bàn tay giá lạnh trên ánh lửa nhỏ nhoi của que diêm mà tưởng tượng rằng em đang ngồi trước một cái lò sưởi nơi đó đang "tỏa ra một hơi nóng dịu dàng". Nhưng đây chỉ là một điều mong ước, chỉ là một điều mộng tưởng. Bởi lẽ "em vừa duỗi chân ra sưởi thì lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất". "Em bần thần cả người và chợt nghĩ ra rằng cha em đã giao cho em bán diêm". Thật đáng buồn biết bao vì giữa ước mơ và hiện thực là mệt khoảng cách xa vời. Một cái lò sưởi trong đêm đông giá rét, một mái nhà ấm cũng mãi mãi là ước mơ, là khát vọng của em bé.Xem thêm: Trong truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi có nêu lên một quan niệm: “Chuyện... ta”. Anh (chị) có cho rằng, ... , ông cha cho đến lớp người đi Cùng với cái rét, cái đói cũng hiện về. Que diêm thứ hai "cháy và sáng rực lên". Que diêm cho em thấy: "bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay. Nhưng điều kỳ diệu nhất là ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn, phuốc-sét cắm trên lựng, tiến về phía em bé". Thật hấp dẫn biết bao. Một bữa ăn vừa ngon vừa sang dành cho em bởi vì em đói lắm rồi, song bữa ăn đó cũng chỉ là ước mơ, mộng tưởng. Vì thế khi que diêm vừa tắt thì "thực tế đã thay cho mộng mị. chẳng có bàn ăn thịnh soạn nào cả, chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm". Bên cạnh em giờ đây chỉ có đói và rét, và để chống lại em dùng ánh sáng và hơi ấm của que diêm. Trong ánh sáng ngắn ngủi của que diêm, em tưởng tượng ra những thứ mình cần, em tạo ra thế giới cho riêng em, bởi lẽ gió rét ngăn cản mọi người đến với em, cái đói cũng ngăn cản những người khác đến với em, trước mặt em cũng như sau lưng em chỉ còn lại "những bức tường dày đặc và lạnh lẽo". Những bức tường câm lặng, những bức tường không biết nói do chính con người tạo ra để che chở cho người này và để tạo ra sự cách ngăn với người khác.Xem thêm: Thuyết minh về cặp kính đeo mắt Em bé còn lại một mình trong cái thế giới của em, thế giới đó bị tuyết trắng và đêm đen bao phù. Để xua đi màn đêm và giá rét, "em bé quẹt que diêm thứ ba". "Em thấy hiện ra một cây thông Nôen", "cây này lớn và trang trí lộng lẫy" với "hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi, và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ"… Cây thông Nôen gợi nhớ một truyền thống tặng quà và quan tâm đến trẻ em của phong tục phương Tây, nhưng có lẽ câu chuyện về ông già Nôen cũng chỉ là một huyền thoại xa vời còn trong thực tại em bé bán diêm còn đang ngập chìm trong tuyết lạnh. Em cũng chẳng cần đến những món quà của ông già Tuyết nữa bởi lẽ tuyết và giá rét quanh em đã quá thừa rồi. Que diêm thứ ba cũng tắt. Sự sống của nó cũng quá ngắn ngủi. Nó không xua đi được màn đêm nhưng màn đêm không thắng nổi nó. Que diêm tắt thì tất cả những ngọn nến mà cô bé bán diêm thấy trên cây thông Nôen cũng "bay lên, bay lên mãi rồi biến thành những ngôi sao trên trời". Khi đó em nghĩ tới cái chết, vì bà em, "người hiền hậu độc nhất đối với em" thường nói: "Khi có một vì sao đổi ngôi là có một linh hồn bay lên trời với Thượng đế". Nhưng thật buồn vì bà em đã chết từ lâu. Nhưng cũng chẳng hề gì bởi những người đang sống không ai nghĩ về em, không ai nghĩ đến em thì em đi tìm nguồn an ủi nơi người bà yêu quý. Và thế là em quẹt diêm. "Em thấy rõ ràng là bà em đang cười với em", "em reo lên" và van xin bà "cho cháu đi với", "cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân, cho cháu về với bà. Chắc người không từ chối đâu".Xem thêm: Tả chú cảnh sát giao thông điều khiển xe cộ lưu thông Thật đau đớn xiết bao khi em bé bán diêm bị xã hội bỏ rơi, bỏ quên trong tuyết phủ đã quyết khước từ cuộc sống, quyết tâm tìm về thế giới bên kia. Trong thế giới của những người sống em không có chỗ đứng, không có điều kiện để sống. Bởi lẽ chỉ cần bán được vài bao diêm thôi cũng đủ mang lại cho em cuộc sống, nhưng cả cái thế giới đi xe song mã ấy, cả cái thế giới nấp sau những cánh cửa sổ sáng rực ánh đèn ấy "chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em". Không giao tiếp được với thế giới những người đang sống, em bé bán diêm tìm cách xác lập mối quan hệ giao tiếp với bà em. "Em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao để níu bà em lại". Kết quả là "Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét đau buồn nào đe dọa họ nữa". Em bé đã chết một cách thê lương như vậy trong đêm giao thừa. Cái chết mang trong nó sức mạnh tố cáo xã hội. Cho dù người ta nhìn thấy trong xó tường "một em bé gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười", bên cạnh "một bao diêm đã đốt hết nhẵn" thì những người đang sống cũng không thể nào biết được "những cái kỳ diệu mà em bé đã trông thấy, nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón những niềm vui đầu năm". Bởi vì những người đó ngoài việc sử dụng cái đói, cái rét để tạo sự ngăn cách của họ với em bé thì họ còn xây dựng những bức tường hoặc hữu hình hoặc vô hình để tạo ra sự ngăn cách mới giữa họ và em bé. Họ không có quyền được nhìn thấy, được tận hưởng những gì do mộng tưởng của em tạo ra. Bởi vì em thuộc về một thế giới khác. Cái chết của em bé còn là sự phê phán lối sống ích kỷ, co cụm, chỉ biết mình của thế giới hiện đại. Đó là sự cảm thông sâu sắc của nhà kể chuyện thiên tài Anđecxen. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về truyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen
2,039
Cảm nhận của em về truyện cổ tích thần kì Chử Đồng Tử Hướng dẫn Chử Đồng Tử, một nhân vật dân dã, thần kì của cổ tích sống mãi trong tâm hồn của con ngườiViệt Nam chúng ta. Câu chuyện kể về mối tình yêu tuyệt đẹp của nàng công chúa lá ngọc cành vàng kết duyên với chàng trai mồ côi, nghèo khổ, mò cua bắt ốc ven sông Hồng thủa Hùng Vương xa xưa. Cha con Chử chỉ có một cái khổ. Nghèo đến thế là cùng. Trước lúc nhắm mắt qua đời, người cha dặn con hãy táng trần cha, giữ chiếc khố lại để mặc mà làm ăn nuôi thân. Lời cha trăng trối nhưng con không thể nào làm theo, vì Chử Đồng Tử không nỡ táng cha khi không một mảnh vải che thân. Tình tiết ấy rất cảm động, nói lên tấm lòng chí hiếu của Chử Đồng Tử đối với cha. Con người Việt Nam từ xa xưa đã sống rất đẹp, có thể “nghèo” cơm áo chứ không thể sống “nghèo” nhân nghĩa, tình nghĩa. Tiên Dung, một cái tên đẹp, sinh ra từ chốn lầu son gác tía. Công chúa con vua, tất nhiên rất đẹp, như cái tên đầy kiêu hãnh diễm kiều của nàng. Tiên Dung lại có một tâm hồn rất đẹp, thích du ngoạn để tận hưởng vẻ đẹp hữu tình, kì thú của thiên nhiên xứ sở. Nàng sống khác lạ, không màng chuyện chồng con, mà “chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi” Nếu như “dưới cầu nước chảy trong veo” là nơi kì ngộ của Kim Trọng và Thuý Kiều, mái tây hiên chùa Phổ Cứu là nơi ước hẹn của Thôi – Oanh – Oanh và Trương Quân Thụy (Truyện Tây Sương), những trai tài gái sắc một thời, thì ta cũng có thể nói, bãi cát làng Chử Xá, bên bờ sông Hồng ngày xửa ngày xưa ấy cũng là nơi kì ngộ giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, chàng trai nghèo quê mùa. Bãi cát vàng dân dã như một bài thơ trữ tình đưa mọi tâm hồn của con người Việt Nam trở về với huyền thoạicổ tích. Một mối duyên tình kì lạ đã diễn ra trên bãi cát. Công chúa trinh trắng vây màn tắm mát trên bãi cát, chính nơi chàng trai mò cua bắt ốc, không một chiếc khố che thân, đang vùi mình trong cát. “Nước" như một bà mối diệu kì. Nước đã làm chàng trai mò cua bắt ốc hiện lên trên bãi cát. Như trong mơ, trong mộng tưởng. Nhờ nước mà nàng “biết ” chàng, chàng "biết ” nàng trong dáng vẻ trần thế nguyênsơ. Người đọc từ bao đời nay, mọi giới tính, mọi lứa tuổi không khỏi bối rối trước cái “nút” của truyện cổ tích này. "Nào ai đã một lần dám nói? ” (Phan Thị Thanh Nhàn). Nhưng Tiên Dung, cô gái từng không màng chuyện chồng con, đã đinh ninh, tin tưởng, coi cuộc kì ngộ nơi bãi cát này là “tự trời xe duyên”.Câu nói của Tiên Dung không chỉ làm cho anh con trai họ Chử sửng sốt, mà nhiều chàng trai xưa nay “bàng hoàng ”: Xem thêm: Em hãy bình luận câu tục ngữ “Lửa thử vàng gian nan thử sức.“Thiếp với chàng là tự trời xe duyên việc gìmà từ chối! ” Cuộc hôn nhân của Tiên Dung với Chử Đồng Tử đã làm cho vua cha tức giận là một điều thường tình. Chử Đồng Tử đem sản vật đi đổi hàng hóa rồi lên núi Quỳnh Viên tầm sư học đạo, lúc xuống núi được nhà sư Ngưỡng Quang cho báu vật: một cái gậy và một chiếc nón màu nhiệm. Tình tiết này chẳng có gì xa lạ với nhân dân ta, với những con người từng tắm mình trong thần thoại, cổ tích: đôi hài vạn dặm, quyển sách ước, chiếc chìa khoá vàng, cây đàn thần, niêu cơm Thạch Sanh… Cái nón và chiếc gậy của sư Ngưỡng Quang làm cho truyện cổ tích “Chử Đồng Tử” đậm màu sắc thần kì. "Cái đêm hôm ấy đêm gì… ” (Cung oán ngâm khúc), trên bãi cát, đôi vợ chồng trẻ dùng gậy làm cột, dùng nón làm mái lều che sương. Hai người tựa lưng vào nhau ngắm trăng sao mà hưởng làn gió mát rượi bên bờ sông Hồng… rồi chìm trong giấc điệp. Giữa cảnh khuya, chàng và nàng chợt tỉnh giấc, ngơ ngác trước cung điện nguy nga, cảnh trần thế hay thần tiên? Mộng hay thực? Nhìn giường sập, màn trướng lộng lẫy, nhìn tiểu đồng, thị nữ, quân quan đi lại rộn ràng… Tiên Dung và Đồng Tử chập chờn trong hoan lạc. Cổ tích thần kì hấp dẫn người đời, xưa và nay chính là nhờ những yếu tố kì diệu ấy. Tin “lạ” ấy bay về Triều đình. Vua cha nổi giận. Khi quan quân Triều đình kéo đến bắt tội, thì Chử Đồng Tử và Tiên Dung “bay cả lên trời”. Dấu tích của người – tiên lưu lại cõi trần, cho đến nay vẫn còn đó: bãi Tự Nhiên, đầm Nhất-Dạ (đầm một đêm). Tựa như động Từ Thức, những tên bãi, tên đầm ấy, trải qua hàng ngàn năm vẫn phủ che một lớp sương mờ huyền thoại, làm xúc động lòng người. Truyện cổ tích thần kì “ChửĐồngTử” không chỉ là một bản tình ca mĩ lệ, ca ngợi tình duyên và hạnh phúc lứa đôi mà còn là một khúc tráng ca về lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Làng Chử Xá, bãi Tự Nhiên, đầm Nhất Dạ, công chúa Tiên Dung, chàng mò cua bắt ốc Chử Đồng Tử, v,v… những tên làng, tên đất, tên người ấy… đã tạo cho truyện cổ tích vừa thực vừa huyền ảo, hấp dẫn vô cùng. Truyện cổ tích "Chử Đồng Tử’’ mang ý nghĩa nhân văn như một viên ngọc quý lấp lánh trong kho tàng truyện cổ tích dân gian Việt Nam, nó toả sáng mãi ngàn đời. Nó là một truyện cổ tích thần kì đậm màu sắc truyền thuyết kì diệu. Chử Đồng Tử là người anh hùng văn hóa. Tiên Dung là nàng tiên ở cõi trần. Họ đã trở thành “hất tử” trong những con người bất tử. Nguồn: thêm: Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác
Cảm nhận của em về truyện cổ tích thần kì Chử Đồng Tử
1,074
Cảm nhận của em về tâm trạng của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội Gợi ý Người ta nhắc tới Tản Đà với nhiều ấn tượng sâu đậm: là thi sĩ khởi đầu cho nền thơ lãng mạn, là người chắp viên gạch nối thơ cổ đại với thơ hiện đại. Trong chất lãng mạn đó ẩn chứa tư tưởng, tình cảm và tấm lòng yêu nước sâu sắc của ông. Bài thơ: "Muốn làm thằng Cuội" là một ví dự tiêu biểu. Như ta đã biết – xã hội ông đang sống quá coi trọng đồng tiền và địa vị. Tài năng – sức lao động – tình cảm sâu đậm không đem lại hạnh phúc cho con người. Bao trùm bên trong là nỗi buồn về thực tại. Tản Đà đã bật lên một lời gọi, lời nhắn gửi chị Hằng – người bạn muôn đời của những kẻ cô đơn: Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! Trần thế em nay chán nửa rồi. Mở đầu bài thơ là một lời than thở, một nỗi sầu da diết. Giọng điệu thân thiết pha chút mỉa mai bởi cuộc đời ngột ngạt, bon chen vì công danh dang dở: "Tài cao, phận thấp, chí khí uất". Là thi sĩ nên nỗi buồn đã kết thành nỗi sầu. Đây là thái độ không chấp nhận thực tại, bất hoà thực tại, bất hoà với trần thế. Ông khát khao một cuộc sống đẹp hơn, vượt lên trên cái thấp hèn:Xem thêm: Những khám phá riêng của mỗi bài thơ về đất nước quê hươngCung quế đã ai ngồi đó chửa? Đó là thế giới mà ông mơ ước, là cõi đời trong sáng, tinh khiết, không vướng bẩn, không lo lắng, bon chen. Hai câu thơ là câu hỏi, là lời đề nghị, là lời cầu xin được lên cung trăng, nơi thanh cao, không phải chịu cảnh đời trần thế nhố nhăng tù hãm. Nỗi sầu của Tàn Đà là nỗi sầu của người nô lệ. Bất lực trước thực tại, Tản Đà muốn lẩn trốn vào thiên nhiên bằng mộng tưởng: Có bầu có bạn, can chi tủi Cùng gió cùng mây thế mới vui Thi sĩ lên cung quế có bạn, có bè quên đi nỗi ngán ngẩm, chán nản, và giải toả được nỗi buồn – ông đã "vui" đã "cười" – ông cười tất cả những giành giật, nhố nhăng nơi trần thế, "cười" sung sướng khi thấy cõi trần không ai được như ông, được hưởng cuộc sống thần tiên thoát tục. Hai câu thơ: Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông thấy thế gian cười thật độc đáo và lãng mạn. Rằm tháng tám là khi trăng trong nhất, đẹp nhất và cũng là sáng nhất. Vào lúc tuyệt vời nhất của trăng ấy, nhân vật trữ tình ước muốn cùng chị Hằng; ngồi bên chị Hằng tựa vào nhau mà nhìn xuống trần thế để cười. Câu thơ là đỉnh cao của cái ngông rất phù hợp với tính chất Tản Đà. Ngồi bên cạnh người đẹp, đó đã là một niềm hạnh phúc. Hơn thế nữa thi sĩ còn tự đặt mình lên một địa vị cao để mà cười cợt. Cái ngông này thật hiếm có, đáng yêu, đáng trân trọng ở trong giai đoạn này. Bởi các thi sĩ lãng mạn yêu nước nhưng không đủ dũng khí để chiến đấu – thường tìm đến thiên nhiên hoặc trọn vào mộng tưởng để trốn đời.Xem thêm: Chứng minh văn học của dân tộc luôn ca ngợi những ai biết thương người như thể thương thân và nghiêm khắc phê phán những kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn Cả bài thơ là giấc mộng kỳ thú, là niềm khao khát về cuộc đời đẹp, về một cõi mơ trong sáng, không vướng bận sự đời. Tóm lại, tâm trạng bao trùm cả bài thơ là tâm trạng buồn chán thất vọng với cuộc đời. Đó là thái độ không dung hoà với thực tại, là sự phản kháng gián tiếp với cuộc đời. Thi sĩ khát khao một xã hội tự do, tươi đẹp và trong sạch. Hình ảnh chị Hằng với cung quế, cây đa là những hình ảnh của cõi tiên đầy lãng mạn. Cõi tiên ấy là cả một thế giới mà Tản Đà mong muốn có. Thực ra, sự chán chường và niềm khát khao ấy xuất phát từ lòng yêu nước thầm kín của Tản Đà – nỗi buồn xuất phát từ nỗi nhục của người nô lệ và ước muốn xuất phát từ khát vọng được tự do. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về tâm trạng của Tản Đà qua bài thơ Muốn làm thằng Cuội
768
Cảm nhận của em về văn bản “Bánh trôi nước”, tác giả Hồ Xuân Hương Gợi ý Là người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh sống dưới chế độ phong kiến thời kì suy tàn, mục ruỗng, Hồ Xuân Hương sớm thấu hiểu và đồng cảm với số phận người phụ nữ trong thời đại của mình. Thơ ca của bà một phần lớn đã thể hiện sâu sắc nội đung đó. “Bánh trôi nước” là một bậi thơ hay vừa ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ đồng thời đề cập đến nỗi bất hạnh khổ đau trong cuộc đời họ. “Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Là một bài thơ vịnh vật, mượn hình ảnh bánh trôi nước Hồ Xuân Hương muôn nói đến thân phận và phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam. "Thân em vừa trắng lại vừa tròn" Hồ Xuân Hương đã diễn tả chiếc bánh trôi nước làm bằng bột nếp trắng tinh, dáng bánh tròn xinh xận trông thật đẹp mắt. Hai chữ "thân em" nữ sĩ mượn từ ca dao khiến ta nhớ đến những câu hát của người lao động: "Thân em như miếng cau khô…", "Thân em như giếng giữa đàng…", "Thân em như tấm lụa đào…". Qua đó, câu thơ gợi đến vẻ đẹp của tác giả cũng như của người phụ nữ Việt Nam. Bằng hai tính từ "trắng", "tròn" vẻ đẹp của người phụ nữ càng được miêu tả đậm nét hơn. Nhưng ngược lại, hai tiếng “Thân em” cũng gợi đến những sóng gió, bất hạnh trong đời người phụ nữ,.nó giông như “gió dập sóng dồi”, “hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày”,… Và trong bài thơ này thì đó là:Xem thêm: Kể một câu chuyện về tinh thần dũng cảm…"Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kể nặn…". Trong câu thơ có yếu tố tả thực, khi nấu bánh trôi, viên bánh ban đầu chìm xuống, khi đã chín thì lại nổi lên, ấy là "bảy nổi ba chìm". Bằng ngòi bút điêu luyện, nữ sĩ Xuân Hương diễn tả cách nấu bánh nhưng ẩn trong đó là nói đến số phận long đong, lận đận "bảy nổi ba chìm" của người phụ nữ đứng trước lễ giáo phong kiến. Không chỉ vậy, ba tiếng “với nước non” còn nâng cao vị thế, tầm vóc của người phụ nữ. Họ phải chịu long đong, vất vả như vậy là vì những công việc sánh ngang tầm non nước cao xa. Trong câu thơ tiếp bà đã sử dụng nghệ thuật tương phản trong hai từ "rắn" và "nát" để nói lên một sự thật: bánh ngon hay dở thì phụ thuộc vào “tay kẻ nặn”, còn số phận của người phụ nữ hạnh phúc hay bất hạnh đều tùy thuộc vào kẻ khác “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”… Đó là những nỗi khổ cực của người phụ nữ. Họ không được quyền quyết định số phận của mình. Trong xã hội ngày xưa, phụ nữ chĩ như là một vật dụng, nếu còn giá trị sử dụng thì họ sẽ được coi trọng; ngược lại họ sẽ bị coi rẻ, coi khinh. Nhưng dầu vậy, ở người phụ nữ vẫn toát lên vẻ đẹp của lòng kiên trinh, son sắt:Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ Phò Giá Về Kinh (Tụng giá hoàng kinh sư)"Mà em vẫn giữ tấm lòng son" Cho dù "rắn" hay "nát" thì chiếc bánh trôi nước vẫn giữ được viên đường đỏ thắm trong lòng. Cũng như người phụ nữ Việt Nam, dù cuộc đời mang nhiều đau thương khổ cực nhưng họ vẫn luôn “giữ tấm lòng son”. Chữ “son” mang ý nghĩa sắt son, chung thủy. Đó là tẩm lòng đối với tình đời, tình người trong cuộc sông cua họ. Điều đó càng lảm nâng cao phẩm giá của người phụ nữ. Câu thơ thể hiện một niềm tự hào và biểu lộ khá đậm tính cách nữ sĩ Hồ Xuân Hương, đó là niềm kiêu hãnh, là sự tự tin trước cuộc đời đầy giông bão của bà. Giờ đây xã hội mà ta đang sống là một thế giới hiện đại. Nam nữ đều bình đẳng, ai cũng có quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Người phụ nữ được coi trọng họ có quyền được tham gia các hoạt động xã hội như học tập, văn hóa thê thao, họ ‘được sông bằng chính sức lao động của mình. Từ đó ta đồng cảm hơn với nỗi bất hạnh của người phụ nữ ngày xưa đồng thời cảm phục hơn tấm lòng son sắt của họ trước cuộc đời. Bài thơ khiến người đọc trân trong hơn niềm hạnh phúc ngày hôm nay đang được trao tặng. “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương là một bài thơ độc đáo, lời ít mà các tầng nghĩa đan xen sâu sắc. Bài thơ giống như một lời tuyên ngôn về cuộc đời và phẩm giá của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.Xem thêm: Phân tích văn bản “Côn Sơn ca” (Nguyễn Trãi)Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về văn bản “Bánh trôi nước”, tác giả Hồ Xuân Hương
874
Cảm nhận của em về văn bản “Sau phút chia li” (trích “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) Gợi ý Số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến là đề tài của nhiều tác phẩm văn học trung đại. Mỗi tác phẩm đề cập đến một khía cạnh trong đời sống nhiều sóng gió của họ: “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương là lời người phụ nữ không có quyền làm chủ cuộc đời mình, “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều là lời người phụ – nữ phải chịu kiếp “chồng chung”,… Và văn bản “Sau phút chia li” (trích “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) là nỗi lòng của người phụ nữ sau giây phút chia li tiễn chồng lên đường đi chinh chiến phương xa. "Chinh phụ ngâm khúc" là khúc ngâm về nỗi lòng sầu thương, nhớ nhung với sự mong mỏi, da diết của người vợ có chồng ra trận. Bản nguyên văn chữ Hán là của Đặng Trần Côn, sau được Đoàn Thị Điểm diễn Nôm với thể thơ cổ song thất lục bát. Toàn bài là nỗi nhớ thương ngày một tăng tiến, nâng cao của đôi vợ chồng trẻ, đặc biệt là người vợ – một phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Văn bản “Sau phút chia li” là đoạn trích sau khi người vợ ngậm ngùi tiễn chồng ra miền biên ải, nàng trở về đơn chiếc xót xa. "Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh". Rồi lại:Xem thêm: Mùa xuân là tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Qua lời căn dặn của Bác Hồ, hãy chứng minh rằng trồng cây là hành động ích nước, lợi nhà"Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai". Với nghệ thuật đối giữa các câu thất và sử dụng điệp từ ngữ với những tính từ miêu tả độc đáo, đặc sắc đã toát lên nội dung chính là lên án chiến tranh, đặc biệt là khát vọng hoà bình, được yêu thương của người phụ nữ thời phong kiến. "Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn". Người chồng đã phải chia tay vợ mình để ra chiến trường. Đó là cuộc chia li buồn và cô đơn của cả hai người. Trong “cõi xa mưa gió” của chàng ần chứa bao hiểm nguy, gian nan của hòn tên mũi đạn, của đời sống chốn sa trường. Trong nỗi lòng “buồn cũ chiếu chăn” của thiếp lại đau đớn bao đơn côi phiền muộn, bao khắc khoải đợi chờ. Hai cặp đối “Chàng thì” – “Thiếp thì” ẩn chứa bao chán nản, buồn phiền. Nghĩ đến nhau, họ chỉ còn biết: "Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh" Cái nhìn đăm đắm của người vợ khi tiễn chồng ra mặt trận được thể hiện bằng cụm từ "đoái trông theo". “Đoái” nghĩa là ngoảnh lại, ngoái lại nhưng dùng từ “đoái” còn hàm ẩn được cái đau đớn, mệt mỏi của tâm trạng người vợ. Nhưng càng đoái theo trông ngóng chỉ càng thấy cách xa nghìn trùng, giữa họ “đã cách ngăn” “mây biếc” “núi xanh” “tuôn màu” “trải ngàn” cách trở. Nỗi buồn của người phụ nữ như đã âm thầm lan thấm vào thiên nhiên cảnh vật. Đoàn Thị Điểm đã dùng cảnh vật thiên nhiên để nói lên tâm trạng người phụ nữ khi xa chồng:Xem thêm: Em hãy viết bài văn ngắn tóm tắt giá trị hiện thực và nhân đạo của đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” (trích vở chèo “Quan Âm Thị Kính”)"Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu”. Trong đoạn thơ tiếp, nỗi sầu chia li và lưu luyến chẳng muôn rời của đôi vợ chồng trẻ đã được thể hiện bằng những điển tích cổ, thủ pháp đốì, phép điệp ngữ rất độc đáo. Những địa danh Tiêu Tương, Hàm Dương tác giả mượn trong điển tích Trung Quốc gợi đến sự cách xa, chia lìa: “cách… mấy trùng”. Phép đốì vừa thể hiện tấm lòng sâu nặng dành cho nhau của đôi vợ chồng người chinh phụ vừa như thể hiện sự rời xa nhau từng giờ từng khắc của họ: "Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại” – “Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang”, “Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương” – “Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương”. Đặc biệt, phép điệp ngữ khiến những câu chữ như muốn đan quyện vào nhau chẳng muốn rời: Tiêu Tương – Tiêu Tương, Hàm Dương – Hàm Dương, thấy – thấy, xanh xanh – xanh, ngàn dâu – ngàn dâu. Nét đặc ‘sắc đó đã thể hiện thành công tấm lòng lưu luyến chẳng muôn rời xa nhau của hai vợ chồng nàng. Thể thơ song thất lục bát thiết tha đã góp phần thể hiện tâm trạng u sầu nhung nhớ khôn nguôi trong lòng người chinh phụ. Nhưng dầu thế, đất trời như đang đẩy họ xa nhau hơn. Trong hai câu thơ:Xem thêm: Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong tác phẩm "Số phận con người" của Sô-lô-khốp“Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu” tác giả đã mượn ý câu thành ngữ “Thương hải tang điền” – biển rộng đã biến thành ruộng dâu tít tắp, ý chỉ những dâu bể cuộc đời. Chẳng những vậy, những sắc thái khác nhau của màu xanh được sử dụng trong hai câụ thơ này cũng góp phần diễn tả sâu sắc nỗi lòng người chinh phụ. “Xanh xanh” là màu xanh nhẹ, xanh nhạt. “Xanh ngắt” lại là màu xanh đậm. Từ “xanh xanh” đến “xanh ngắt” là sự tăng tiến, màu xanh thể hiện sự chia li, li biệt; sự tăng tiến đó như thể hiện nỗi buồn ngày càng đậm nét, ngày càng quằn quại xót xa. Bằng một đoạn thơ song thất lục bát ngắn ngủi cùng khá nhiều những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng thành công, tác giả đã thể hiện sâu sắc nỗi lòng của người vợ “sau phút chia li” tiễn chồng đi chirih chiến. Đó là nỗi buồn tê tái, nỗi nhung nhớ vơi đầy, sự lưu luyến khôn nguôi… Và như thế, văn bản “Sau phút chia li” (trích “Chinh phụ ngâm” fcủa Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) đã thể hiện tinh thần nhân đạo rất nhân bân, nhân văn. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về văn bản “Sau phút chia li” (trích “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm)
1,144
Cảm nhận của em về vấn đề kỷ luật trong học đường? Bài làm Trong xã hội hiện đại như ngày nay, học vấn là vô cùng quan trọng đối với con người chúng ta. Mỗi người cần phải chuẩn bị riêng cho mình một hành trang tri thức để bước vào đời. Vì vậy, để ta có thể học tập thật tốt và đạt được kết quả cao cần phụ thuộc vào nhiều yếu tố để quyết định. Và môi trường học đường với kỷ luật chặt chẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hoàn thiện nhân cách của bản thân, đưa ta đến những bến bờ vinh quang rực rỡ. Trước hết, để bàn về vấn đề này, ta cần phải hiểu kỷ luật là gì? Đó là những quy định chung của một cộng đồng hoặc của một tổ chức xã hội yêu cầu mọi người phải tuân theo nhằm tạo ra sự thống nhất hành động để đạt chất lượng, hiệu quả trong công việc. Vậy kỉ luật học đường chính là những nguyên tắc, nội quy, luật lệ được đưa ra trong nhà trường và mọi học sinh cần phải tuân theo, chấp hành một cách nghiêm túc. Ở trường, chúng ta được học vô vàn những điều hay và bổ ích cho tương lai sau này. Song, bên cạnh đó ta cần phải tự rèn luyện cho mình một nhân cách tốt thông qua việc chấp hành kỷ luật. Và thật dễ dàng cho chúng ta để nhận biết được ai là người sống có tổ chức, kỷ luật trong những người xung quanh chúng ta vì người sống có kỷ luật luôn biết lễ phép, vâng lời thầy cô, luôn tôn trọng người khác, tuân thủ và chấp hành những qui định của nhà trường : tác phong gọn gàng, không nói tục chửi bậy, không gây gổ, đánh nhau, không đi trễ, làm việc riêng trong giờ học,…Xem thêm: Ý nghĩa của sự biến hóa của nhân vật Tấm Kỷ luật học đường là nền tảng giúp ta rèn luyện nhân cách và kĩ năng sống, là con đường dẫn ta đến những thành công vang dội. Những học sinh biết chấp hành kỷ luật tốt sẽ được bạn bè yêu mến, kính trọng, được thầy cô thương yêu, quan tâm, giúp đỡ, trở thành tấm gương sáng cho mọi người học tập và noi theo. Tuy nhiên, hiện nay, kỷ luật học đường đang bị xem nhẹ và trong trường học đã xuất hiện nhiều vấn nạn đã và đang làm đau đầu các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo, khiến dư luận xã hội phải nhìn nhận lại, đó chính là : bạo lực học đường, học sinh vô lễ với thầy cô giáo,…làm cho nhân cách bị suy đồi, đạo đức bị hoen ố, gây ra nhiều hậu quả khôn lường,… Nhưng đến nay ở học đường nói riêng và xã hội nói chung vẫn chưa có các biện pháp để xử lí triệt để các vấn nạn trên. Và đây cũng là hồi chuông cảnh báo cho môi trường học đường. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng :" Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó “. Vì vậy, tài và đức luôn phải đi song song với nhau. Và để có được điều này, chúng ta cần phải học tập thật tốt và không quên chấp hành kỷ luật học đường. Là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, mỗi người chúng ta cần phải tuyên truyền, nhắc nhở nhau tuân thủ tốt kỷ luật học đường, dám mạnh dạn phê bình những hành vi sai trái cũng như tuyên dương những hành động tích cực. Gia đình và nhà trường cũng cần có sự kết hợp, hỗ trợ để giúp những học sinh chưa nghiêm chỉnh chấp hành tốt kỷ luật nhận ra sai trái và sửa chữa lỗi lầm của mình.Xem thêm: Cảm nhận của em về ngày 20/11 - Ngày Nhà giáo Việt Nam Bản thân tôi, tôi sẽ cố gắng hết mình để nghiêm túc tuân thủ kỷ luật học đường, luôn biết tự chủ để tránh xa các vấn nạn xã hội và học hỏi không ngừng để sau này trở thành một người có ít cho xã hội. Trong tương lai không xa, tôi tin rằng môi trường học đường sẽ không còn những vấn nạn đáng buồn nữa mà thay vào đó là môi trường thân thiện, tốt đẹp hơn, là nơi đào tạo ra những con người có ích cho đất nước Việt Nam nói chung và cả thế giới nói riêng.
Cảm nhận của em về vấn đề kỷ luật trong học đường
788
Cảm nhận của em về vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông Gợi ý Trong kho tàng văn học thời Lí – Trần, bên cạnh những áng hùng văn lẫm liệt, còn có những bài thơ trữ tình đằm thắm. Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra (Thiên Trường vãn vọng) của Trần Nhân Tông, là một tác phẩm tiêu biểu. Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra là bức tranh thiên nhiên độc đáo và kì thú. Thiên nhiên vốn là đề tài chính trong thi ca xưa nay, thiên nhiên đã khơi nguồn cho bao áng thơ dạt dào tuôn chảy. Đặc biệt đối với các thi nhân xưa, thiên nhiên là một mảng trong tâm hồn họ, là nơi để họ gửi trao bao cảm xúc, nỗi niềm. Vì thế, thơ viết về thiên nhiên thường rất tha thiết. Văn chương thời Lí – Trần đã có không ít những câu thơ thiên nhiên đặc sắc, chẳng hạn như: Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai. (Thiền sư Mãn Giác) Ngay Trần Nhân Tông, trong bài Buổi sớm mùa xuân, cũng viết rất hay về thiên nhiên: Song song đôi bướm trắng Phất phái cánh hoa bay Nhưng phải đến Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra, hồn thơ thiên nhiên của Trần Nhân Tông mới thật sự đằm thắm, mặn nồng. Ta hãy đọc kĩ bài thơ để cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên đó: Xem thêm: Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có dường không Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. Đây là bức tranh một vùng quê thôn dã, nó cũng bình thường như bao vùng quê khác, nhưng trong con mắt của thi nhân, cảnh vật bỗng xiết bao thân thương, trìu mến. Cái nền không gian và thời gian của bức tranh là thôn xóm lúc trời chiều sắp tắt. Khói sương mờ ảo đang bao phủ dần lên thôn xóm. Trong làn khói sương mờ mờ, lãng đãng, bóng chiều trở nên hư ảo chập chờn. Chẳng biết, đây có phải là tiết thu đông không mà trời chiều lại man mác, gợi nhiều cảm xúc đến như vậy. Phải chăng chỉ có những tâm hồn thi nhân tinh tế mới cảm nhận được cái thời khắc giao chuyển giữa ngày và đêm? Sáu trăm năm sau, nữ sinh Thanh Quan cũng có cảm nhận ấy: Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn. Bóng chiều bảng lảng, tưởng như chỉ gợi buồn trong lòng người, nhưng thật bất ngờ: Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. Cảnh vùng quê yên bình và thơ mộng biết bao. Trong bóng chiều chập chờn, hư ảo, mấy đứa trẻ thong dong cưỡi trâu đi dọc theo những con đường làng, tiếng sáo cất lên trầm bổng, ngọt ngào, quyến rũ, mấy cánh cò trắng chao liệng rồi hạ xuống cánh đồng. Tâm hồn thi nhân phơi phới niềm vui. Xem thêm: Cảm nhận bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) Chỉ một vài nét chấm phá tài hoa đã làm nên một kiệt tác. Bức tranh cảnh vật vốn đã đẹp bởi bóng chiều man mác, mờ ảo, bởi những cánh cò trắng, có thêm hình ảnh con người, càng trở nên ấm áp tình người. Một bức tranh thật đẹp, thật có hồn, đậm đà phong vị quê hương đất nước. Dường như thi nhân đã thả hồn mình vào trong cảnh để cảnh thấm đẫm tình. Không có một tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, không có sự gắn bó máu thịt với làng quê, thì không thể viết được những câu thơ như thế. Cảnh ấy, tình ấy, gợi cho ta liên tưởng đến những câu Chinh phụ ngâm nổi tiếng: Trông bến nam bãi che mặt nước Cỏ biếc um, dâu mướt màu xanh, Nhà thôn mấy xóm chông chênh Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm. Có lẽ, đây là sự gặp gỡ của những tâm hồn nghệ sĩ thanh cao, nhân hậu, gắn bó sâu nặng với cuộc đời. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông
705
Cảm nhận của em về đoạn 1 trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh Hướng dẫn Bảy câu trong phần đầu bài thơ mở ra trong lòng em bao cảm xúc man mác. Tiếng gà nhảy ổ: ‘Cục… cục tác cục ta’ của nhà ai bên xóm nhỏ, cất lên; cái âm thanh bình dị ấy trở nên thân thiết, yêu thương đối với người lính trẻ trên đường hành quân ra trận: ‘Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: ‘Cục… cục tác cục ta’. Một giọng thơ nhẹ nhàng, bâng khuâng. Tiếng gà nhảy ổ đã trở thành tiếng quê hương, tiếng hậu phương như chào đón, như vẫy gọi. Ba câu thơ tiếp theo đều bắt đầu bằng chữ ‘nghe’ đã gợi tả niềm xúc động sâu xa của người chiến sĩ. Có một sự chuyển đổi cảm giác tài tình, thú vị: ‘Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ’ Nghe tiếng gà nhảy ổ, người lính trẻ cảm thấy nắng trưa đang ‘xao động’, đang nhảy múa xôn xao trước mắt mình, trông thật vui. Tưởng như có làn gió mát thổi qua tâm hồn mình. Tiếng gà nhảy ổ như có một phép lạ thần kì, đã truyền cho người chiến sĩ bao niềm vui, bao tinh thần và nghị lực mới, như làm dịu bớt cái nắng trưa, như xua tan mọi mệt mỏi, có thêm sức mạnh mới, vượt qua mọi chặng đường chông gai, sẵn sàng dấn thân vào khói lửa. Nghe tiếng gà nhảy ổ: ‘Cục… cục tác cục ta’ người lính trẻ thêm xao xuyến trong lòng, mọi kỉ niệm thân thương một thời thơ ấu được khơi dậy, được đánh thức. Tình hậu phương êm đềm, sâu nặng như dâng lên dào dạt trong lòng người chiến sĩ trên đường ra trận. Thơ là nghệ thuật của ngôn từ. Qua điệp từ ‘nghe’, Xuân Quỳnh nói lên được bao điều tốt đẹp, mở ra bao liên tưởng đáng yêu. Tiếng gà trưa là tiếng gọi của quê nhà, mang nặng tình hâu phương. Nguồn: thêm: Dưới đây... một khổ thơ trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận: "Chỉ... hương". Em hãy viết tiếp khoảng 8 đến 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn theo phép lập luận diễn dịch, trong đó có một câu ghép và một câu có thành phần tình thái
Cảm nhận của em về đoạn 1 trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
403
Cảm nhận của em về đoạn kịch “Thề nguyền“ rút trong kịch “Rô – mê – ô và Giu – li – ét” của kịch tác giả sếch – xpia Gợi ý Sếch-pia (1564 – 1616) là kịch tác gia vĩ đại của nước Anh thời Phục hưng, ông để lại 37 vở hài kịch và bi kịch, phần lớn là những kiệt tác trong kho tàng nghệ thuật nhân loại. Giấc mộng đêm hè, ồ-ten-lô, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Hăm-lớt, Chuyện cổ tích mùa đông, Bão táp… đã lưu giữ trong tâm hồn khán giả những nhân vật – hình tượng tuyệt vời về tình yêu lứa đôi về khát vọng tự do, về lòng nhân ái mênh mông, về niềm tin sáng ngời vào khả năng hướng thiện vươn tới hạnh phúc của con người, nhất là thế hệ trẻ. "Rô-mê-ô và Giu-li-ét" là một trong nhưng kiệt tác của Sếch-xpia được diễn lần đầu tiên vào năm 1595. Vở kịch được xây dựng theo một câu chuyện về mối hận thù truyền kiếp của hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét xảy ra tại Vê-rô-na, nước Ý thời trung cổ. Giu-li-ét và Rô-mê-ô là đôi trai tài gái sắc yêu nhau một cách say đắm, bất chấp mối thù hận dai dẳng giữa hai dòng họ. Cái chết vô cùng thương tâm của đôi tình nhân đã thức tỉnh lương tri khiến hai dòng họ tự nguyện xóa đi mối thù xưa và cùng dựng cho Giu-li-ét và Rô-mê-ô bức tượng bằng vàng nhằm lưu truyền hậu thế về một mối tình chung thuỷ cao đẹp. Chủ đề tình yêu, sức mạnh của tình yêu chiến thắng hận thù đã được thể hiện một cách cảm động qua vở bi kịch này. Cảnh tình tự và thề nguyền là đoạn kịch trích ở Hồi II, cảnh 2 vỡ bi kịch "Rô-mê-ô và Giu-li-ét". 1. Không phái là cảnh "cách nhau một giậu mồng tơi", một giàn thiên lí,… mà nàng và chàng, người thì xuất hiện trên cửa sổ ban công, người thì đứng giữa vườn khuya. Sau buổi dạ hội hóa trang, Rô-mê-ô và Giu-li-ét lại gặp nhau lần thứ hai, khi mà tình yêu như ngọn lửa mới nhen bùng cháy. Gần giống như giai nhân trong tình sử ngày xưa "xâm xăm băng lối vườn khuya một mình", Rô-mê-ô đã mạo hiểm vượt tường cao lọt vào vườn hoa gần phòng ngủ của Giu-li-ét để chờ người yêu. Hành động ấy vô cùng nguy hiểm vì hai dòng họ đang hận thù nhau. Nếu gia nhân của gia đinh Ca-piu-lét bắt gập thì Rô-mê-ô khó lòng mà thoát chết. Nhưng tiếng gọi của trái tim, tiếng gọi của tình yêu đã cho Rô-mê-ô thêm nhiều sức mạnh và lòng dũng cảm như chàng đã nói: "Kẻ chưa hề bị thương thì sợ gì sẹo". Lưỡi kiếm của lũ gia nhân dù có sắc, có nhọn đến đâu, nhưng đối với Rô-mê-ô trong giờ phút thần tiên ấy thì chẳng có nghĩa lí gì, chẳng đáng sợ!. Cảnh tình tự diễn ra trong một không gian nghệ thuật thần tiên thơ mộng, khi "mảnh trăng thiêng liêng đương dát bạc trên những ngọn cây trĩu quả". Khu vườn khuya của gia đình quý tộc tràn ngập ánh trăng long lanh. Giữa khung cảnh thơ mộng ấy, Giu-li-ét xuất hiện. Nàng xinh đẹp như ánh sáng "lóe lên" trên cửa sổ. Rô-mê-ô bị choáng ngợp cảm thấy "nàng Giu-li-ét là mặt trời", là "vừng đông" vô cùng "đẹp tươi". Chàng ngây ngất trước vẻ kiều diễm của người yêu, rồi khẽ thốt lên: "ôi, người mà ta sùng kính, người mà ta yêu dấu!…". . Rô-mê-ô say đắm ngắm nhìn ánh mắt và gò má người yêu. Ánh mắt của nàng "lấp lánh" huyền diệu nguyên là "hai ngôi sao đẹp nhất trên bầu trời có việc phải đi vắng, đã thiết tha nhớ đôi mắt nàng lấp lánh, chờ đêm lúc sao về". Đôi gò má của nàng "đẹp rực rỡ" làm cho các vì tinh tú trên bầu trời "phải hổ ngươi", "như ánh dương làm ánh đèn phải thẹn thùng". Chàng đắm đuối, đê mê và khao khát: "Ước gì ta là chiếc bao tay, để được mơn trớn gò má ấy!". Vẻ đẹp của Giu-li-ét là vẻ đẹp của một mĩ nhân lí tưởng, là,ấnàng tiên", là "sứ giả nhà trời". Giữa đêm khuya, nàng ngự trên đỉnh đầu tình nhân, "nàng tỏa ánh hào quang như một sứ giả nhà trời có cánh đang cưỡi những đám mây lười nhẹ lướt trên không trung".Xem thêm: Phân tích giá trị nhân văn trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn Rô-mê-ô sử dụng nhiều ẩn dụ so sánh, nhân hóa lúc nói để biểu lộ niềm vui sướng hạnh phúc và sự say mê được ngắm nhìn, được chiêm ngưỡng "nàng tiên" của lòng minh. Nhan sắc của Giu-li-ét được cảm nhận với tất cả tâm hồn đắm đuối của một chàng trai hào hoa đa tình. Ngôn ngữ của Rô-mê-ô là một thứ ngôn ngữ trang trọng của tầng lớp quý tộc được cách điệu, nhưng rất hoa mĩ, phong tình. Sếch-xpia vốn là nhà thơ viết rất hay về tình yêu, nên ông đã sử dụng những lời độc thoại của Rô-mê-ô bằng một thứ ngôn ngữ giàu chất thơ. 2. Tiếp theo là cảnh thề nguyền của lứa đôi a. Giu-li-ét cất tiếng thiết tha gọi người yêu: "ôi, Rô-mê-ô, hỡi Rô-mê-ô!". Nàng băn khoăn trách sự trớ trêu của số phận: "Sao chàng lại mang tên đó nhỉ?" Nàng nêu lên điều kiện khi hỏi Rô-mê-ô: "Chàng hãy từ bỏ thân phụ đi, từ bỏ tên họ đi; hoặc nếu không thì chàng hãy thề là chàng yêu em đi, em sẽ không còn là con cháu nhà Ca-piu-lét nữa". Tất cả vì tình yêu mà anh và em hãy từ bỏ gia đình, từ bỏ dòng họ, nghĩa là trút bỏ được mối thâm thù truyền kiếp. Với giu-li-ét thì chỉ tên họ của Rô-mê-ô là "thù địch" của nàng mà thôi. Nàng thiết tha cầu khẩn: "Chàng ơi! Hãy mang tên họ nào khác đi!". Bông hồng nếu mang một tên khác thì "hương thơm vẫn cứ ngọt ngào", cũng như Rô-mê-ô nếu chàng mang tên Rô-mê-ô nữa thì "mười phân chàng cũng vẫn mười phân". Nàng van xin chàng hãy hi sinh vì một tình yêu đẹp: "Rô-mê-ô chàng ơi, chàng hãy từ bỏ tên họ đi. Cái tên kia đâu có phải là xương thịt của chàng, chàng hãy đổi nó lấy tấm thân em". Khi ngọn lửa tình yêu đang bùng cháy tâm hồn, Giu-li-ét cảm thấy băn khoăn, bối rối giữa mối hận thù truyền kiếp của hai dòng họ với mối tình thắm thiết mà nàng đang ôm ấp. Nàng tha thiết van xin người yêu. nàng cầu mong được sống trong hạnh phúc tình yêu. Giọng của nàng nghe thật nồng nàn, dễ thương: "Rô-mê-ô chàng ơi, chàng hãy từ bỏ tên họ đi… chàng hãy đổi nó lấy cả tấm thân em". "Lặng nghe lời nói như ru…", Rô-mê-ô nhẹ nhàng nói với Giu-li-ét: "Chỉ cần được nàng gọi là người yêu, là tôi xin tức thì nhận tên thánh mới…Tình yêu có thể cho thêm sức mạnh và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Rô-mê-ô sãn sàng chấp nhận mọi "cái giá" của tình yêu. Chàng "thù ghét" cái tên của mình, sẵn sàng "xé nát vụn" nó ra bởi vì cái tên ấy là "ké thù của nàng" – nàng tiên yêu quý mà chàng tôn thờ. Vì nàng tiên kiều diễm mà Rô-mê-ô tự phủ định "tôi chẳng phải là Rô-mê-ô mà cũng chẳng thuộc họ Môn-ta-ghiu" nếu nàng "chẳng ưa tên họ đó)". Qua đó, ta thấy vì tình yêu, vì Giu-li-ét mà Rô-mê-ô "từ bỏ tên họ" của mình, mong có thể xóa đi mối hận thù dai dẳng của hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét. Đức hi sinh của Rô-mê-ô thật cao cả. b. Cuộc tự tình của "đôi trẻ” lại chuyển sang một vấn đề mới. Giu-li-ét lo cho tính mạng của người yêu dám cả gan vượt tường cao, nếu bị phát hiện thì "chàng khó lòng thoát chết"’, nếu họ hàng Ca-piu-lét bắt gặp thì "họ giết chàng mất". "Nhờ đôi cánh của tình yêu" mà Rô-mê-ô vượt qua được tường cao. Sức mạnh của ái tình thật là ghê gớm: "Tam tứ núi cũng trèo, ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua", bởi vậy "mấy bức tường đá ngăn sao được ái tình. Mà cái gì tình yêu dám làm là làm được". Rô-mê-ô chỉ cầu mong người yêu nhìn minh bằng "khóe mắt yêu thương" để vượt qua hận thù. Chàng cảm thấy cuộc đời vô nghĩa nếu "thiếu tình nàng", nếu "chẳng được nàng đoái hoài" che chở. Rô-mê-ô cho biết: "Ái tình, ái tình đã xui tôi tìm kiếm. Ái tình đã cho tôi lời khuyên; và tôi đã cho ái tình đôi mắt". Ái tinh đã làm tăng thêm tinh thần dũng cảm để "liều mình", để dấn thân tìm kiếm, như chàng thổ lộ: "Tôi chẳng phải là tay thuỷ thủ, nhưng giá nàng có ở nơi bờ biển xa xăm nhất, thì tôi cũng sẵn sàng liều mình vì báu vật".Xem thêm: Viết một bức thư ngắn (khoảng 10 dòng) cho một người bạn thân nói về ước mơ của em (ước mơ làm bác sĩ thú y) c. Ngây ngất trong men say tình ái, nhất là khi được nghe những lời nói chan chứa yêu thương của Rô-mê-ô, má của Giu-li-ét "ửng đỏ" lên, nàng "muốn vượt vòng lễ giáo". Nàng tin Rô-mê-ô đã dâng hiến cho mình một trái tim yêu thương. Nàng xin người yêu "đừng thề thốt": nàng bộc bạch: "Chàng Môn-ta-ghiu tuấn tú ơi, em yêu chàng say đắm", và "xin chàng hãy tha thứ cho em và đừng vì nổi lòng yếu đuối bị bắt chợt trong đêm tối mà ngờ em là kẻ trăng hoa". Qua đó, ta thấy Giu-li-ét rất trân trọng, chân tình trong mối tình đầu nồng nàn say đắm. Nàng đã thể hiện một nhân cách, một phẩm giá trong sạch của một tiểu thư con cháu của dòng họ quý tộc danh giá. d. Khi nghe Rô-mê-ô nói: "Tôi xin thề có mảnh trăng thiêng liêng kia đang dát bạc trên những ngọn cây trĩu quả", thì Giu-li-ét xin người yêu "đừng lấy trăng kia mà thề thốt", vì vầng trăng nghiêng ngả mà mỗi tháng lại thay đổi đường đi lối về. Nàng sợ tình chàng cũng sẽ như trăng kia thay đổi. Nếu chàng muốn thề thì "hãy đem tấm thân tuấn tú kia ra mà thề; đó là vị thần mà em thờ phụng, và em sẽ tin chàng". Giu-li-ét nói lên niềm sung sướng được gặp người yêu trong đêm nay. Trước khi chào tạm biệt, lui vào nhà, nàng hi vọng "nụ ái tình" sẽ nở thành "một đoá hoa lộng lẫy": nàng cầu cho "sự thanh thản êm đềm của lòng mình cũng sẽ đến với trái tim" người yêu. Thời gian như ngừng trôi. Tình lưu luyến của sợi tơ tình cứ giăng mắc mãi. Rô-mê-ô khẽ thốt lên: "Ôi! Nàng chẳng cho tôi được thỏa nguyện sao?", rồi Rô-mê-ô bày tỏ: "Tôi ước ao được cùng nàng trao lời thề chung thuỷ". Và khi nghe Rô-mê-ô e ngại người yêu lấy lại lời thề thì Giu-li-ét cởi mở lòng mình, tâm hồn mình với tất cả niềm tin của một tinh yêu nồng cháy: "Em chỉ muốn được rộng lòng hào phóng và tặng chàng lần nữa. Thật ra thì điều em ước, em đã nói rồi; lòng em mênh mông, tình em thăm thẳm như biển cả, em tặng chàng thì em lại càng có nhiều, vì cả hai đều vô tận". Trước khi nghe nhũ mầu gọi phải trở vào phòng, Giu-li-ét nhẹ nhàng vỗ về an ủi, "xin chàng hãy giữ lòng chung thuỷ; chàng đợi em một chút, em sẽ trở lại ngay". Đứng một mình giữa vườn khuya, trong khoảnh khắc ấy, Rô-mê-ô sung sướng cảm thấy mình được sống trong một giấc mơ quá êm dịu của đêm thần tiên. e. Giu-li-ét trở ra. Nàng muốn ngỏ với người yêu vài lời. Nếu chàng muốn cùng em "xe tơ kết tóc", "muốn hôn lễ cử hành ngày nào, chỗ nào", thì "lúc đó, em sẽ trao thân gửi phận trong tay chàng và nguyện theo phu quân tới nơi chân trời góc bể’. Nhưng nếu chàng "chẳng định", thì "xin chàng đừng theo đuổi làm gì nữa, để mặc em với nỗi khổ đau". Tiếng nhũ mẫu liên tiếp cất lên gọi tiểu thư. Trước khi tạm biệt lui vào phòng, nghe Rô-mê-ô nói: "Tôi xin thề trước linh hồn…", thì Giu-li-ét chúc người yêu "một đêm tốt lành". Rô-mê-ô cảm thấy cô đơn vì thiếu ánh sáng của nàng…", cảm thấy bơ vơ hơn bao giờ hết.Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo (Có dàn ý chi tiết) Rô-mê-ô quay trở lại khi Giu-li-ét lại xuất hiện ở cửa sổ. Đôi uyên ương lưu luyến không muốn rời nhau. Nghe Giu-li-ét "nhắc đi nhắc lại" tên người yêu mà đã khàn cả giọng thì Rô-mê-ô vô cùng sung sướng như được nghe "một bản đàn êm dịu". Hai người hẹn ước "chín giờ ngày mai", Giu-li-ét sẽ cho người tới gặp Rô-mê-ô để bàn định ngày nào, nơi nào cử hành hôn lễ. Không phải là "Ba thu dồn lại một ngày dài ghê", mà Giu-li-ét lại cảm thấy giây phút đợi chờ thật vô cùng lê thê, đằng đẵng: "Từ giờ đến lúc đó cứ đằng đẵng như hai chục năm trường". Đêm đã tàn, trời sắp sáng nhưng đôi tình nhân cứ lưu luyến, dùng dằng mãi không muốn chia tay. Rô-mê-ô cứ muốn "mãi đứng lại nơi đây". ao ước "được làm con chim" sống trong tình thương và được người yêu "ve vuốt" mãi mãi. Khi Giu-li-ét trở vào, Rô-mê-ô còn lại một mình giữa khu vườn xa lạ, chàng chỉ cầu mong người yêu và bản thân mình được ngủ ngon, được thanh thản, được nghỉ ngơi êm đềm. Hạnh phúc đã ở trong tầm tay, chàng nghĩ là phải đến ngay tu phòng của cha linh hồn để "cầu người giúp đỡ" và ngỏ cùng người nỗi vui sướng tràn trề. 3. Cuộc tình tự và thề nguyền đã được khép lại một cách êm đẹp. Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã dũng cảm và quyết tâm vượt qua mối hận thù truyền kiếp của hai dòng họ, thề nguyền gắn bó chung thuỷ trong một tình yêu thắm thiết nồng nàn. Hai người đã bí mật đính ước tổ chức hôn lễ. Tình yêu chân chính, trong sáng đã cho đôi lứa một sức mạnh to lớn để vươn tới hạnh phúc. Bằng trái tim nhân hậu và cảm hứng nhân văn dào dạt, Sếch-xpia như người cha tinh thần đã nâng đỡ hai tâm hồn Rô-mê-ô và Giu-li-ét xây đắp giấc mộng thần tiên cho một tình yêu sắt son chung thuỷ. Đêm tự tình của đôi lứa diễn ra dưới vầng trăng thiêng liêng dát bạc trên những ngọn cây trĩu quả; tuy không có chén rượu thề nguyền nhưng sự chung thuỷ đã được khẳng định và khắc cốt ghi tâm. Tình trường diễn ra chầm chậm, đầy lưu luyến với bao mộng ảo của một đêm thần tiên. Lời thoại của Rô-mê-ô và Giu-li-ét thấm đẫm chất thơ, chất thơ của tinh người thơm thảo. Tiếng gọi của nhũ mẫu cất lên liên tiếp mấy lần. Hình ảnh của tiểu thư lúc vào lúc ra đã làm cho tính kịch thêm phần hồi hộp, hấp dẫn. "Dưới trăng đôi trẻ đinh ninh thề nguyền" là một trích đoạn kịch đặc sắc, hấp dẫn đã thể hiện ngọn lửa lung linh huyền diệu của một tình yêu tuyệt đẹp. Sếch-xpia đã khẳng định sức mạnh của ái tình, sự kì diệu của đôi cánh tình yêu, và đôi lứa đã trao cho "ái tình đôi mắt tinh tường, nhạy cảm". Cách thể hiện lời thề "Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương" trong vở kịch "Rô-mô-ô và Giu-li-ét" rất sáng tạo và tỏa sáng tinh thần nhân văn. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về đoạn kịch “Thề nguyền“ rút trong kịch “Rô – mê – ô và Giu – li – ét” của kịch tác giả sếch – xpia
2,736
Cảm nhận của em về đoạn thơ: “… Từ hồi về thành phố… đủ cho ta giật mình.” (Ánh trăng – Nguyễn Duy – SGK Ngữ văn 9 tập 1, 2008) Gợi ý Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn thơ: … Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường. Thình lình đèn diện tắt phòng buyn – đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn. Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng, là bể như là sông, là rừng. Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. (Ánh trăng – Nguyễn Duy – SGK Ngữ văn 9 tập 1, 2008) Bài làm: Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bước ra từ cuộc chiến, hồn thơ Nguyễn Duy lại đau đáu, trăn trở với những miền kí ức xa xưa và ân nghĩa trong kháng chiến thuở nào. Bài thơ “Ánh trăng” thể hiện một phần tâm sự như thế của nhà thơ. Đoạn thơ sau đây thể hiện rất rõ điều đó: … Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường. Thình lình đèn diện tắt phòng buyn – đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn. Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng, là bể như là sông, là rừng. Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. (Ánh trăng – Nguyễn Duy – SGK Ngữ văn 9 tập 1, 2008) Bài thơ ra đời khi đất nước đã đi qua những cuộc chiến tranh gian khó. Nhà thơ rời những chiến trường để về với hoà bình, về với ấm êm. Cứ ngỡ rằng cuộc đời từ nay chỉ có phố phường, đèn điện; những năm tháng cũ đã qua rồi, tất cả một đi không trở lại… Từ những năm tháng tuổi thơ bươn trải nhọc nhằn gắn bó với đồng, yới sông rồi với bể cho đến những năm tháng chiến tranh gian khổ sống với rừng, bạo giờ trăng cũng gần gũi, thân thiết. Giữa con người với thiên nhiên, với trăng là mối quan hệ chung sống, quan hệ thâm tình khăng khít. Trăng là người bạn đồng hành trên mỗi bước đường gian lao nên trăng hiện điện như là hình ảnh của quá khứ, là hiện thân của kí ức chan hoà tình nghĩa. Người ta cứ đinh ninh về sự bền chặt của mốì giao tình ấy, nhưng:Xem thêm: Là thư kí của lớp, em hãy viết biên bản sinh hoạt lớp Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường. Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện, cửa gương đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng. Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa hình ảnh vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa trong quá khứ và vầng trăng "như người dưng qua đường" trong hiện tại. Sự đối lập này diễn tả những đổi thay trong tình cảm của con người. Thủa trước, ta hồn nhiên sống với đồng, với sông, với bể, với gian lao "ở rừng", khi ấy trăng chan hoà tình nghĩa, thiên nhiên và con người gần gũi, hoà hợp. Bây giờ, thói quen cuộc sống phương tiện đủ đầy khiến ta không còn thấy trăng là tri kỉ, nghĩa tình nữa. Nhà thơ nói về trăng là để nói thế thái, nhân tình. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại luôn có những bất trắc. Và chính trong những bất trắc ấy, ánh sáng của quá khứ, của ân tình lại bừng tỏ, là lúc người ta nhận thấy giá trị của quá khứ gian lao mà tình nghĩa, thiếu thốn mà đủ đầy: Thình lình đèn diện tắt phòng buyn – đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn. Đây là khổ thơ quan trọng trong câu tứ của toàn bài, là sự chuyển biến có ý nghĩa bước ngoặt của mạch cảm xúc, bộc lộ rõ chủ đề tư tưởng của bài thơ. Không chỉ là sự thay thế đúng lúc của ánh trăng cho ánh điện, ở đây còn là sự thức tỉnh, bừng ngộ về ý nghĩa của những ngày tháng đã qua, của những cái bình dị của cuộc sống, của tự nhiên, là sức sống vượt ra ngoài không gian, thời gian của tri kỉ, nghĩa tình. Các từ "bật tung", "đột ngột" diễn tả trạng thái cảm xúc mạnh mẽ, bất ngờ. Có cái gì như thảng thốt, lo âu trong hình ảnh "vội bật tung cửa sổ", vầng trăng tròn đâu phải khi "đèn điện tắt" mới có? Cũng như những tháng năm quá khứ, vẻ đẹp của đồng, sông, bể, rừng không hề mất đi. Chỉ có điều con người có nhận ra hay không mà thôi. Và thế là trong cái khoảnh khắc "thình lình" đối diện với trăng ấy, ân tình xưa "rưng rưng" sông dậy, thổn thức lòng người:Xem thêm: Giới thiệu về một món ăn độc đáo của địa phương Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng, là bể như là sông, là rừng. “Ngửa mặt lên nhìn mặt” viết như vậy để hai gương mặt – hai người bạn cũ nhìn thẳng vào nhau, để tự hỏi nhau rằng còn nhớ nhau chăng, để những kỉ niệm xưa chợt vụt về trong kí ức, để làm se thắt lòng người vì những vô tình hờ hững của chính mình. Quả có vậy, đôi diện với trăng là đối diện với chính mình, với con người hiện tại và cả với con người trong quá khứ. Vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng. Mặt trăng đối diện với mặt người, mặt trăng cũng là mặt người, là quá khứ đang sáng trong thực tại, trăng là tri kỉ, ân tình xưa,… Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. Vầng trăng đột ngột hiện ra với một vẻ đẹp ám ảnh lòng người. "Trăng cứ tròn vành vạnh”, thời điểm trăng tròn chính là vào ngày rằm hàng tháng. Câu thơ gợi đến vẻ đầy đặn, tròn trịa của vầng trăng và cũng là vẻ sáng tươi hiền dịu của thứ ánh sáng trong lành nhất vũ trụ. Đêm trăng tròn, trăng để khắp không gian tràn đi ánh sáng vàng dịu, sóng sánh như mật ngọt. Trăng như rải bạc trên mặt nước. Trăng như tưới sạch, làm đẹp, làm bóng lên những lùm cây. Trăng làm mặt người hớn hở vui cười. Và nói như nhà văn Nam Cao: trăng làm mọi thứ đẹp lên! Nhưng vẻ “tròn vành vạnh” của vầng trăng còn gợi đến một suy tưởng khác: vầng trăng còn tròn đầy “vành vạnh” nghĩa là trăng vẫn còn trọn vẹn những ân nghĩa xưa với những người lính năm nào. Và điều đáng quý, đáng nghĩ là trăng vẫn tròn ngay cả khi người đã “vô tình”: “Trăng cứ tròn vành vạnh / Kể chi người vô tình". Câu thơ gieo vào lòng người đọc một thoáng giật mình để rồi thấy ăn năn, day dứt. vầng trăng kia cũng giống như bao con người, bao kí ức đẹp đẽ dã đi qua đời ta. Những con người của quá khứ, những kí ức xa xưa… tất thảy vẫn còn nguyên tâ’m lòng thuỷ chung trọn vẹn Còn riêng ta, mới một chút phù hoa, danh lợi mà đã quên đi nhũng ân tình, những thề nguyền thiêng liêng xưa cũ. Và rồi, ta càng thấy day dứt, băn khoăn hơn bởi khoảng lặng mênh mang của vầng trăng tròn cao thượng: "Ánh trăng im phăng phắc / Đủ cho ta giật mình”. Xem thêm: Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà"Ánh trăng im phăng phắc" để ngân mãi những dòng ánh sáng toả đi khắp nhân gian. Điều đó cũng có nghĩa trăng mãi bao dung, hiền từ và độ lượng. Cái đáng sợ là cái im lặng của kí ức. Ta đã quên đi quá khứ, ta đã có lỗi với người xưa để sống một cuộc đời ồn ào, náo nhiệt nhưng tất cả vẫn im lặng dõi theo ta với cái nhìn bao dung, rộng mở. Và chính bởi sự cao thượng ấy đã khiến ta ’’giật mình”. "Giật mình/ để nhận ra sự cao đẹp của người xưa. "Giật mình” để nhận ra phần hờ hững, lãng quên đáng chê trách của mình. "Giật mình” còn để biết nhìn lại mình cho đúng. Tiền tài danh lợi, đó chưa phải là điều quý giá nhát ở đời. phải biết sống có tình, có nghĩa, thuỷ chung trọn vẹn trước sau mới khiến lòng người sạch trong và thanh thản. Không – dùng nhiều thủ pháp nghệ thuật cầu kì, tinh xảo, đoạn thơ của Nguyễn Duy đi vào lòng người bởi sự giản dị của quy luật tình cảm rất con người. Đọc khổ thơ, người đọc thấy thâm thìa triết lí sâu xa mà nhà thơ đã gửi gắm. Phải biết sống đủ đầy, trọn vẹn với những ân tình xưa cũ để chúng ta được sống đủ đầy, thanh thản trong cuộc đời. Bài thơ giống như một câu chuyện riêng, một câu chuyện ân tình giữa người với trăng. Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình tạo nên giọng điệu tâm tình cho cả bài thơ. Nhịp thơ nhịp nhàng theo lời kể tự nhiên của nhân vật trữ tình, nhưng cũng có khi ngân nga, tha thiết hay có khi trầm lắng, suy tư. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về đoạn thơ_ “… Từ hồi về thành phố… đủ cho ta giật mình.” (Ánh trăng – Nguyễn Duy – SGK Ngữ văn 9 tập 1, 2008)
1,622
Cảm nhận của em về đoạn trích cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều, sách Ngữ văn 9, tập một – NXB Giáo dục, 2008) Gợi ý Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ mang những giá trị xã hội sâu sắc mà còn làm say lòng người đọc ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút. Một trong số đó là đoạn trích “Cảnh ngày xuân” (trích Truyện Kiều, sách Ngĩỉ văn 9, tập một – NXB Giáo dục, 2008). Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm. Vào ngày Tết Thanh minh, chị em Thúy Kiều đi tảo mộ. Thiên nhiên và con người ngày xuân hiện lên tươi tắn, xinh đẹp đông vui nhộn nhịp dưới đôi mắt “xanh non biếc rờn” của những chàng trai, cô gái tuổi đôi tám. Bốn câu thơ đầu gợi lên khung cảnh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng: Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Không gian mùa xuân được gợi nên bởi những hình ảnh những cánh én đang bay lượn rập rờn như thoi đưa. Sự mạnh mẽ, khỏe khắn của những nhịp cánh bay cho thấy rằng mùa xuân đang độ viên mãn tròn đầy nhất. Quả có vậy: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” có nghĩa là những ngày xuân tươi đẹp đã qua đi được sáu chục ngày rồi, như vậy bây giờ đang là thời điếm tháng ba. Nền cảnh của bức tranh thiên nhiên được hoạ nên bởi màu xanh non, tươi mát của thảm cỏ trải ra bao la: “Cỏ non xanh tận chân trời”, sắc cỏ tháng ba là sắc xanh non, tơ nõn mềm mượt êm ái. Huống chi cái sắc ấy trải ra “tận chân trời” khiến ta như thấy cả một biển cỏ đang trải ra rập rờn, đẹp mắt. Có lẽ chính hình ảnh gợi cảm ấy đã gợi ý cho Hàn Mặc Tử hơn một thế kỉ sau viết nên câu thơ tuyệt bút này: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. Trên nền xanh tươi, trong trẻo ấy điểm xuyết sắc trắng tinh khôi của vài bông hoa lê. Chỉ là “vài bông” bởi những bông hoa lê đang thì chúm chím chưa muốn nở hết. Hoa như xuân thì người thiếu nữ còn đang e ấp trong ngày xuân. Chữ điểm có tác dụng gợi vẻ sinh động, hài hoà. ở đây, tác giả sử dụng bút pháp hội hoạ phương Đông, đó là bút pháp chấm phá.Xem thêm: Anh (chị) nghĩ gì về thời gian và niềm tin Hai câu thơ tả thiên nhiên ngày xuân của Nguyễn Du có thế khiến ai đó liên tưởng đến hai câu thơ cồ của Trung Quốc: hương thơm của cỏ non, màu xanh mướt của cỏ tiếp nối với màu xanh ngọc của trời, cành lê có điểm một vài bông hoa. Nhưng cảnh trong hai câu thơ này đẹp mà tĩnh tại. Trong khi đó gam màu nền cho bức tranh mùa xuân trong hai câu thơ của Nguyễn Du là thảm cỏ non trải rộng tới tận chân trời. Trên cái màu xanh của cỏ non ấy điểm xuyết một vài bông lê trắng (câu thơ cổ Trung Quốc không nói tới màu sắc của hoa lê), sắc trắng của hoa lê hoà hợp cùng màu xanh non mỡ màng của cỏ chính là nét riêng trong hai câu thơ của Nguyễn Du. Nói gợi được nhiều hơn về xuân: vừa mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống lại vừa khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết. Thiên nhiên trong sáng, tươi tắn và đầy sức sống, con người cũng rộn ràng, nhộn nhịp để góp phần vào những chuyển biến kì diệu của đất trời. Sáu câu thơ tiếp của bài thơ tái hiện phong tục tảo mộ (viếng mộ, sửa sang phần mộ của người thân) và du xuân (hội đạp thanh) trong tiết Thanh minh. Không khí rộn ràng của lễ hội mùa xuân được gợi lên bởi hàng loạt các từ ghép tính từ, danh từ, động từ: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, sắm sửa, dập dìu, gần xa, nô nức. Chúng được đặt cạnh nhau dồn dập gợi nên không khí đông đúc, vui tươi sôi nổi. Đó không chỉ là không khí lễ hội mà còn mang đậm màu sắc tươi tắn, trẻ trung của tuổi trẻ:Xem thêm: Em hãy viết đoạn văn mở bài cho bài viết thuyết minh về cây chuối “Gần xa nô nức yến anh Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm”. Nhưng hội họp rồi hội phải tan. Sau những giây phút sôi nổi, chị em Thúy Kiều phải rời buổi du xuân trở về: Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về. Bước lần theo ngọn tiều khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. Bên cạnh Vẻ thanh thoát, dịu nhẹ của mùa xuân như ở những câu thơ trước, khung cảnh mùa xuân đến đây đã mang một sắc thái khác với bức tranh lễ hội rộn ràng, nhộn nhịp. Cảnh vật toát lên vẻ vương vấn khi cuộc du xuân đã hết. Các từ láy tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ vừa gợi tả sắc thái cảnh vật vừa gợi ra tâm trạng con người. Dường như có cái gì đó đang mơ hồ xâm lấn, cảnh vật đã nhuốm sắc thái vương vấn, man mác của tâm trạng con người, Ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để mượn cảnh vật mà diễn tả những rung động tinh tế trong tâm hồn những người thiếu nữ. Những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ đều là những từ láy có tính giảm nhẹ. “Tà tà” diễn tả bóng chiều đang từ từ nghiêng xuống; “thơ thẩn” lại diễn tả tâm trạng bâng khuâng dịu nhẹ không rõ nguyên nhân (nó gần với nỗi buồn “tôi buồn không hiêu vì sao tôi buồn” của Xuân Diệu sau này) “thanh thanh” vừa có ý nghĩa là sắc xanh nhẹ nhàng vừa có ý nghĩa là thanh thoát, thanh manh; từ “nao nao” trong câu thơ diễn tả thế chảy của dòng nước nhưng đồng thời diễn tá tâm trạng nao nao buồn và từ “nho nhỏ” gợi dáng nhỏ xinh xắn, vừa vặn với cánh với tình. Khung cảnh thiên nhiên cũng theo đó mà nhỏ đi đế phù hợp với tâm trạng con người: “ngọn tiểu khê” – dòng suôi nhỏ, phong cảnh thanh thoát, dịp cầu “nho nhỏ” lại nằm ở “cuối ghềnh” ở phía xa xa,… Cảnh và người như có sự tương liên đê giao hòa trong bầu không khí bâng khuâng, lưu luyến, khe khẽ sầu lay. Có thế mơ hồ cảm nhận được cảnh vật đang tạo ra dự cảm về những sự việc sắp xảy ra.Xem thêm: Hãy trình bày những suy nghĩ của mình về trách nhiệm với biển đảo quê hương qua bài thơ Nguyễn Việt Chiến – Tổ quốc nhìn từ biển Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp lí. Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thế nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc. Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo. Trong đoạn trích, mặc dù chủ yếu là miêu tả cảnh ngày xuân nhưng vẫn thấy sự kết hợp với biểu cảm và tự sự (diễn biến cuộc tảo mộ, du xuân của chị em Thúy Kiều, dự báo sự việc sắp xảy ra). “Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn thơ tả cảnh hay nhất trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Đọc đoạn trích, người đọc không chỉ trầm trồ về bức tranh thiên nhiên trong sáng vô ngần mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong một lễ hội truyền thống đầy ý nghĩa của cha ông: tiết Thanh minh. Và qua đây, Nguyễn Du cũng thể hiện nét tài hòa trong việc dựng lên một bức tranh tả cảnh ngụ tình tinh tế,… Với những điều đó, “Canh ngày xuân” sẽ luôn sống lại trong lòng người yêu thơ vào mỗi dịp đầu năm khi chúa xuân về với đất trời Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của em về đoạn trích cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều, sách Ngữ văn 9, tập một – NXB Giáo dục, 2008)
1,421
Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích Trao Duyên của Nguyễn Du Bài làm Trao Duyên chính là một đoạn trích rất hay và sâu sắc về tình cảm của Thúy Kiều dành cho chàng Kim. Qua đó ta như thấu hiểu sâu sắc hơn bi kịch của tình yêu đẹp mà nhân vật phải trải qua. Chúng ta chắc hẳn đã rất quen thuộc với tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm viết về cuộc đời long đong, lận đận gặp nhiều bất hạnh của nhân vật Thúy Kiều. Đắng cây nhất của người con gái đó là không được ở bên người mình yêu, hơn nữa còn phải tự tay trao tình yêu đó cho người khác. Đó chính là tấn bi kịch mà Thúy Kiều phải chịu đựng vì chuộc cha và em trai mà phải theo Mã Giám Sinh, trao duyên lại cho em gái là Thúy Vân. Bài thơ chính là tình thế trớ trêu của cuộc đời ấy, bốn câu thơ đầu thể hiện tư thế của Kiều khi nhờ cậy em: “Cậy em, em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa Giữa đường đứt gánh tương tư Keo loan chắp mối, tơ thừa mặc em” Ngay đầu đoạn trích đã cho thấy việc mà Thúy Kiều muốn nhờ cậy em là một việc rất quan trọng. Chính Thúy Kiều cũng nhận thức được điều đó, nhận thấy được đây là một điều khó xử nhưng lại cần được sự đồng ý của em nên mới bày ra một tư thế thể hiện sự nghiêm trọng đó là “cậy em”, “lạy rồi sẽ thưa”. Kiều không bảo rằng “nhận lời” mà là “chịu lời” chính là hàm ý bắt người nghe phải tin nghe theo mình và không thể chối từ. Như chúng ta biết thì lạy và thưa là hành động của người bề dưới dành cho người bề trên nhưng Kiều lại là chị. Chỉ một câu “Giữa đường đứt gánh tương tư” đã khái quát cụ thể về tình thế mà Thúy Kiều đang gặp phải. Sau câu nói gợi mở ấy sợ rằng em sẽ từ chối nên Kiều đã kể về tình yêu của mình và sóng gió mà mình đang gặp phải:Xem thêm: Phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu “Kể từ khi gặp chàng Kim Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề Sự đâu sóng gió bất kỳ Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai” Cảm nhận của em về đoạn trích Trao Duyên Khi tình yêu đương lửa nồng nhưng “sóng gió” bất ngờ ập tới, giữa chữ hiếu và chữ tình khiến cho Kiều bắt buộc phải chọn một chữ không thể trọn vẹn đôi đường. Đứng giữa hai con đường ấy Kiều chỉ có thể chọn một và đó là chữ hiếu. Xét trong hoàn cảnh này thì chỉ còn em mới có thể giúp chị chữ tình kia: “Ngày xuân em hãy còn dài Xót tình máu mủ thay lời nước non Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây” Kiều mong rằng tình nghĩa chị em sẽ khiến Vân nhận lời mà bén duyên với chàng Kim. Có như vậy thì dù trải qua chuyện gì, dù cho có “thịt nát xương tan” thì vẫn “ngậm cười chín suối”. Để thêm phần chắc chắn và dứt khoát thì Thúy Kiều đã đưa ra những kỷ vật tình yêu của mình để trao cho em gái: “Chiếc thoa với bức tờ mây Duyên này thì giữ, vật này của chung Mai sau dù có bao giờ Đốt lò hương ấy, so tờ phím này Trông ra ngọn cỏ lá cây Thấy hiu hiu gió thì hay chị vè Hồn còn mang nặng lời thề Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai” Những kỷ vật tượng trưng cho tình yêu giữa Thúy Kiều với Kim Trọng, những lời thề ước thiêng liêng thì nay Thúy Kiều lại phải mang ra để thể hiện thái độ dứt khoát của chính mình, sự khẳng định giữa tình cảm và lý trí thì Kiều đã chọn bên nào. Tâm trạng Kiều chất chưa đầy mâu thuẫn và khi đã có sự dứt khoát thì Kiều đành gửi lời cuối cho Kim Trọng:Xem thêm: Nghị luận xã hội - Trò chơi điện tử “Trăm nghìn gửi lạy tình quân Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi Phận sao phận bạc như vôi Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây” Giống như một lời tiễn biệt với chàng Kim, với mối tình của chính mình. Đồng thời cũng là tiếng than về thân phận mình của Kiều “phận sao phận bạc như vôi”, tiếng lòng của Thúy Kiều khiến cho người đọc không khỏi xót xa, thổn thức. Lạy trăm nghìn cái với người tình quân đã thể hiện lời xin lỗi chân thành nhất, lời tạm biệt đầy xúc động trước khi chia ly. “Nước chảy hoa trôi lỡ làng” chính là tình cảnh lúc này mà Thúy Kiều đang cảm nhận được rõ ràng thực tại khốc liệt và tiếng gọi tha thiết “Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang” như vang vọng mãi. Đoạn trích Trao Duyên trong Truyện Kiều là một trong những đoạn trích ý nghĩa sâu sắc. Nó không chỉ nói lên tình cảnh éo le của Kiều mà còn lột trần bộ mặt thật của xã hội phong kiến đầy bất công đã vùi dập biết bao tình yêu đẹp, biết bao hạnh phúc của bao người. Qua đó ta cũng thấy được tình yêu chân thành và chan chứa đầy nỗi xúc động của nàng Kiều với Kim Trọng. Loan Trương
Cảm nhận của em về đoạn trích Trao Duyên của Nguyễn Du
940
“Lần đầu tiên đứng trên bục giảng Nét phấn rạng ngời trên tấm bảng đen Những dòng chữ chở theo nhiều kiến thức Tiếp cho em – sức mạnh bước vào đời!” Hai tháng trải nghiệm thực tế đã trôi qua, mỗi sinh viên Sư Phạm chúng em đều mang trong mình những cảm xúc riêng. Nhưng giờ tất cả đều có một tâm trạng chung – đó là “một nỗi buồn man mác”. Giờ đây, không được nghe những tiếng nô đùa vui nhộn, những tiếng “ Em chào cô” “ Em chào thầy” của những cô cậu học trò bé bỏng, không còn được hét lên khi học trò mất trật tự, không còn những buổi trông trưa, những bữa cùng ăn cơm với học sinh…..tất cả giờ đây sẽ trở thành kỉ niệm. Tuy nhiên, xen lẫn nỗi buồn là những niềm vui nhen nhói, phải chăng tất cả thấy vui về kết quả thực tập của mình hay vui vì mình đã được làm một người thầy,một người cô theo đúng nghĩa của nó, mặc dù chỉ trong hai tháng qua. Nghĩ lại thật vui, bỗng nhiên tất cả đều thấy yêu cái nghề giáo vô cùng, yêu hơn bao giờ hết, yêu những kiến thức nhỏ bé trong vạn vạn điều chưa biết mà qua những bài giảng mà chúng em truyền thụ cho học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước. Thực tập chính là cơ hội để chúng em được va chạm và trải nghiệm thực tế, là môi trường tốt để chúng em có thể thử sức và rèn nghề. Có đi thực tập, thâm nhập vào thực tế chúng em mới hiểu rõ rằng không phải dễ dàng để có được những bài giảng hay, những giáo án tốt, có trực tiếp làm thì mới biết mình còn rất yếu kém về nhiều mặt, vì thế chúng em tự nhắc nhở mình phải luôn luôn học hỏi và không ngừng phấn đấu để đạt được những gì mình mong muốn. Các em giáo sinh soạn giáo án Ngay từ khi bước chân vào cổng trường THPT Đoan Hùng,chúng em đã cảm nhận được đây là một môi trường giáo dục vô cùng thân thiện. Từ các bác bảo vệ đến các thầy cô giáo cùng các em học sinh đều tạo sự gần gũi, thân thiện, thoải mái khi tiếp xúc với chúng em, giúp chúng em khỏi bỡ ngỡ trước môi trường mới lạ và đó cũng là động lực để chúng em bắt đầu công việc mới một cách tự tin và quyết tâm hơn. Trong thời gian thực tập tại trường, điều làm chúng em xúc động nhất là sự quan tâm sâu sắc của Ban giám hiệu nhà trường,của các thầy cô giáo đến việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi ở tất cả các môn tự nhiên và xã hội. Việc dạy và học của tất cả thầy cô và học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi đã diễn ra suốt mấy tháng liền,đã có lúc cả thầy cô và các em trong đội tuyển đều rất mệt mỏi,căng thẳng,nhưng không hề nản chí – kết quả đem lại cho sự nỗ lực và cố gắng ấy là những giải thưởng xứng đáng trường đã giành được giải nhất cuộc thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Điều đó đã cho thấy sự quan tâm, coi trọng, đầu tư và ưu tiên cho giáo dục rất cao của ban Giám hiệu nhà trường, của các thầy cô nơi đây.Xem thêm: Tả con đường từ nhà đến trườngThực tập là khoảng thời gian mà sinh viên sư phạm như chúng em có những kỷ niệm đáng nhớ nhất, khi được đứng lên bục giảng, và hạnh phúc khi được các em học sinh gọi là thầy cô. Trong suy nghĩ của nhiều người, học sinh đa số là rất hiếu động, tâm hồn trong sáng và có những trò trẻ con làm các thầy cô thực tập phải không khỏi e ngại. Nhưng đó cũng là những kỷ niệm khó quên.Những gương mặt hồn nhiên của các em học sinh gợi cho chúng em hồi tưởng lại những ký ức đẹp về tuồi học trò của mình. Có những em nhà xa, hằng ngày phải đạp xe đạp , nhưng vẫn cố gắng để đến trường đúng giờ, nhiều hôm chậm học thì bị phạt nhưng nhìn các em học sinh mà thương quá. Hằng ngày lên lớp chứng kiến bao nhiêu là trò đùa nghịch của học sinh mà cười ra nước mắt, cái ngây thơ của tuổi thần tiên, trong em không khỏi những băn khoăn.Chúng em là những sinh viên năm cuối đi thực tập sư phạm lần thứ 2, không còn những bỡ ngỡ của kiến tập năm ngoái nữa, không còn run khi đứng trước những ánh mắt ngây thơ cứ nhìn mình chằm chằm với bao nhiêu câu hỏi vu vơ nữa, nhưng trong chúng em cũng không ít những lo lắng. Vì năm nay phải thực hiện giảng dạy nhiều hơn và làm tốt nhiệm vụ sư phạm như một giáo viên thực thụ. Một giáo sinh của trường Đại học Hùng Vương Về thực tập tại trường THPT Đoan Hùng với bao nhiêu là khó khăn, lúc này mới cảm nhận được những lo lắng của thầy cô, những lời dạy trên lớp ngày xưa giờ đây chúng em mới thấy quan trọng thế nào. Những đêm thao thức miệt mài soạn giáo án, lên kế hoạch hoạt động… và bao nhiêu hoạt động của lớp nữa, cứ suy nghĩ mà không dám ngủ. Công tác chủ nhiệm bước đầu cũng gặp nhiều khó khăn, các em học sinh đa số là ngoan, rất đáng yêu nhưng cũng có nhiều trường hợp đáng trách làm buồn lòng thầy cô. Rồi bao nhiêu là lo lắng về chuyên môn, khi đã sửa giáo án mãi mà vẫn chưa hài lòng các giáo viên hướng dẫn, thất vọng khi tiết dạy chưa tốt. Thầy giáo hướng dẫn bảo: “Nhìn thì dễ dạy, mà dạy không dễ các em nhỉ!” Trong lòng có gì đó chùng xuống, niềm tin hụt hẫng đi một tý, nhưng từ những sai sót như thế mà chúng em mới rút ra kinh nghiệm. Và hơn hết ý thức được trách nhiệm của mình phải cố gắng lên lớp thật tốt, mỗi tiết dạy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kiến thức của học sinh. Vì thế, dù lớp có nghịch, có ồn thế nào thì chúng em cũng không được nản chí mà phải cố gắng khắc phục tình hình lớp để hoàn thành tiết dạy thật tốt.Xem thêm: Dạy và học văn đầy nghịch lý Giáo sinh chỉ bảo các em học sinh trong các hoạt động văn nghệ Chúng em đã dần quen với công việc nơi đây, được làm quen với thầy cô giáo, các cô cậu học trò. Chúng em cảm thấy tự tin, thoải mái hơn trong giao tiếp với mọi người. Ở đây chúng em được tìm hiểu về tình hình phát triển của địa phương cũng như nhà trường trong những năm gần đây. Rồi chúng em được tham dự phong trào hội giảng: “Mừng Đảng – Mừng xuân” của nhà trường, sinh viên chúng em được dự giờ, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp dạy học mới tại trường. Tiết hội giảng của thầy cô có ở tất cả các phân môn và khối lớp khác nhau. Mỗi tiết dạy, thầy cô đều thiết kế với các hình thức và phương pháp dạy học thật phong phú. Thông qua hội giảng, chúng em được quan sát, phân tích tiết học, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm từ các thầy cô giáo trong Nhà trường. Chúng em đã tích lũy được cho bản thân nhiều kinh nghiệm quý báu, đó cũng là một trong những hành trang mà chúng em chuẩn bị cho mình khi bước vào nghề sau này. Trong đợt thực tập này chúng em được thử sức mình bằng những tiết tập giảng và thi giảng đầy lý thú và bổ ích. Các bạn đều được đăng kí tiết thi giảng của mình trong mỗi tuần và tham gia dự giờ ở tât cả các môn: toán, anh, địa lí, vật lí, sinh học,….Trước những bài giảng, chúng em được các thầy cô giáo hướng dẫn tận tình, luôn luôn giúp đỡ sinh viên chúng em với thái độ vui vẻ, niềm nở. Sau những tiết tập giảng, các thầy cô giáo đã chia sẻ, rút kinh nghiệm để chúng em áp dụng vào những tiết tập giảng sau được tốt hơn. Những điều đó làm chúng em cảm thấy tự tin và quyết tâm hơn.Xem thêm: Quan niệm của anh (chị) về giá trị nhân đạo trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng mà anh (chị) đã đọc Chụp ảnh cùng lớp chủ nhiệm Rồi thời gian cứ thế trôi đi, tình cảm thầy trò ngày càng gần gũi hơn, các thầy cô thực tập không phải lo từng ly từng tý với lớp chủ nhiệm nữa. Các em học sinh đã có ý thức hơn, đã biết động viên các thầy cô giáo thực tập. Chỉ là những câu nói thế thôi cũng đủ làm thầy,cô thực tập vui lắm rồi, đỡ lo hơn một tý và có động lực cố gắng hơn. Những tiết dạy về sau cũng đã khắc phục được, thầy cô giáo hướng dẫn tỏ ra hài lòng hơn, và những niềm vui cứ lớn dần lên như thế. Bây giờ mới cảm nhận được những điều đáng quý mà chỉ thực tập sư phạm mới có, thấy yêu nghề giáo hơn. Ai đó nói rằng: Là giáo viên, phải hiên ngang như một anh hùng, phải điêu luyện như một nghệ sĩ trên bục giảng, phải cần cù tích lũy thật nhiều kiến thức và phải hòa đồng, khiêm tốn, cầu tiến… hơn bao giờ hết. Khó đấy, nhưng chúng em cũng đã cố gắng vượt qua khá trọn vẹn. Tất cả những gì của chúng em ngày hôm nay chính là kết quả của những nỗ lực hết mình và trên bước đường thành công đó không thể nào thiếu được sự chân thành, nhiệt tình chỉ dạy từ các thầy cô hướng dẫn thực tập. Với tất cả lòng yêu kính, chúng em cũng xin gửi lời tri ân đến Ban giám hiệu nhà trường,toàn thể các thầy cô giáo thân yêu đã tạo điều kiện cho chúng em được có một đợt thực tập ý nghĩa, cảm ơn tất cả sự chân tình, những tâm huyết của thầy cô đã dành cho chúng em. Chúc toàn thể các thầy cô sức khỏe, luôn luôn thành công trong công việc và cuộc sống. Chúc các em học sinh luôn chăm ngoan học giỏi. Giáo sinh: Trương Thu Hằng
Cảm nhận của giáo sinh về thực tập trường THPT
1,818
Cảm nhận của tác giả trong bài thơ Qua Đèo Ngang Gợi ý Ta được biết Qua đèo Ngang được viết trong một chuyến đi, được sáng tác theo kiểu "tức cảnh sinh tình". Thiên nhiên qua con mắt của nữ thi sĩ đẹp nhưng ẩn chứa hoang vắng rợn ngợp, gợi nhớ xa xăm. Bởi thế Qua đèo Ngang còn được mượn để gửi gắm hồn mình, lòng mình, giãi bày nỗi niềm khắc khoải chưa biết tỏ cùng ai. Bởi thế, bà viết: Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia Dừng chân đứng lại, trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta. Bài thơ Qua Đèo Ngang gây nức lòng người đọc qua bao thế kỉ. Ấn tượng không phải bằng lời văn nhẹ nhàng sâu lắng giàu cảm xúc mà còn bởi chính lối nói mà các thi nhân xưa thường dùng: tả cảnh ngụ tình. Đèo Ngang là chặng dừng chân đầu tiên trên đường vào Nam nhận nhiệm vụ. Xa quê hương, gia đình, người thân lòng nữ sĩ không khỏi bâng khuâng. Tín hiệu nghệ thuật đầu tiên người đọc nhận thấy là bóng xế tà. Tới đây mặt trời sắp lặn, hoàng hôn buông xuống, vũ trụ đang chìm dần vào cõi hư vô vắng lặng. Có chăng chỉ còn lại những tia sáng yếu ớt cuối chiều. Từ tà diễn tả một khái niệm sắp tàn lụi, biến mất. Không gian và thời gian gợi nỗi buồn man mác, đặc biệt của người lữ thứ tha hương: Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau Xem thêm: Biểu cảm về loài hoa em yêu lớp 7 hay nhất Buổi chiều mà lại là chiều tà gợi cho người ta thêm nhớ hơn. Nữ sĩ cũng vậy, khoảng thời gian ấy thích hợp nhất cho sự bộc lộ tâm trạng nhớ nhung khắc khoải. Lữ thứ chân bước vội cũng như cánh chim chiều mau cánh tìm chỗ trú ngụ, lũ trẻ chăn trâu gọi bạn hồi thôn. Không chỉ có trong bài thơ này, trong bài Chiều hôm nhớ nhà ta cũng bắt gặp tâm sự đó. Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Ráng chiều gợi tâm trạng nhớ thương. Hoành sơn vốn nổi tiếng hùng vĩ hoang sơ. Trong khung cảnh ấy trước mắt thi nhân có cỏ cây hoa lá chen chúc nhau tìm chút ánh sáng mặt trời. Một mình trên đỉnh núi non hiểm trở lại càng cảm thấy trống vắng. Mặc dù cảnh vật hữu tình: cỏ cây, hoa lá, sông nước, biển khơi… Có lẽ lòng nữ sĩ chợt nhớ, hay nói cho đúng hơn hình ảnh người thân, gia đinh, quê hương chợt hiện về. Đây cũng là lúc bữa cơm chiều đang đón đợi, cả nhà sắp tụ họp bên nhau… Vậy mà giờ đây một mình cất bước nơi đất khách quê người. Đang nao lòng buồn bã, phía xa xa dưới chân đèo xuất hiện hình ảnh: Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Cảnh vật sự sống thật vắng vẻ: mấy bác tiều phu lom khom đốn củi, vài ngôi nhà chợ liêu xiêu. Lối đảo ngữ được vận dụng rất thần tình, hình ảnh này gợi một sự so sánh liên tưởng tới cuộc sống tẻ nhạt, tiêu xơ. Nó khác hẳn chốn kinh kì náo nhiệt đua chen. Nhà thơ đi tìm sự sống, nhưng chốn Đèo Ngang khiến cho lòng Bà đầy thất vọng. Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh tạo nên hình ảnh tiêu điều xơ xác của cuộc sống chốn Đèo Ngang. Xem thêm: Cảm nghĩ về dòng sông quê hương lớp 7 Trong sự vắng lặng ấy xa xa nghe có tiếng kêu đều khoan nhặt man mác nhớ thương của quốc quốc, gia gia. Tương truyền sau khi vua Thục là Lưu Bị bại trận trước Lục Tốn của Đông Ngô, ông chạy về thành Bạch Đế và mất tại đó. Sau khi mất Thục Đế đã hoá thành con chim quốc thể hiện niềm đau xót mất nước. Khung cảnh da diết tiếng chim kêu chiều buồn bã gợi ta nhớ những câu thơ: Đây bốn bề núi núi Hiu hắt vắng tăm người Đèo cao và lũng hẹp Dăm túp lều chơi vơi Tiếng chim quốc, gia gia do chính bà cảm nhận hay là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn nữ sĩ. Đến đây nỗi lòng thi nhân đồng điệu với ông vua Thục muốn níu kéo những kỉ niệm xưa, hoài niệm về một thời dĩ vãng vàng son. Tiếng chim gợi nỗi niềm nhớ nước thương nhà đến nao lòng. Nhớ về gia đình, nhớ về đất nước – phải chăng chính là sự hoài niệm về triều đại nhà Lê mà bà từng sống. Nguyễn Du đã từng nói người buồn cảnh có vui đâu bao giờ trong hoàn cảnh này điều đó hoàn toàn hợp lí. Khép lại bài thơ là cả một tâm trạng, một khối tâm trạng dồn nén: Dừng chân đứng lại, trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta. Nhà thơ có tâm sự u hoài, đứng trước không gian vời vợi bao la: trời, non, nước. Khung cảnh càng rộng lớn thì con người càng bé nhỏ cô đơn. Và như vậy chỉ có ta với ta, mình với mình mà thôi. Ta là cá nhân nữ sĩ – con người của vật chất đối diện với ta – con người của tâm hồn. Xem thêm: Trường em đã tổ chức ngày Nhà giảo Việt Nam 20-11. Em hãy thuật lại buổi lễ ấy Một mình đối diện với không gian cảnh vật, với cuộc sống và để rồi với chính mình. Trong lòng thi nhân chất chứa bao nỗi niềm biết chia sẻ cùng ai? Một mảnh tình riêng trong một khối tình rộng lớn có chăng mình lại nói chuyện với mình. Nỗi buồn được nhân lên gấp bội. Đây là tâm sự của chính tác giả và cũng là tâm sự của những con người xót xa trước thế sự đổi thay, của những thế hệ từng sống với quá khứ, xót xa với thực tại. Có rất nhiều những nhà thơ mượn cảnh để tả tình, nhưng có lẽ thành công nhất là Bà Huyện Thanh Quan. Hình ảnh thơ gần gũi, giàu sức biểu cảm. Điều đáng nói ở đây là bà đã lựa chọn được những tín hiệu nghệ thuật đắt giá để từ đó diễn tả tâm sự của chính mình. Trong bài thơ đã có đầy đủ cả tâm hồn, tình cảm, nỗi lòng nhà thơ gửi gắm vào đó. Lời thơ nghe xúc động bồi hồi làm cho người đọc cũng băn khoăn day dứt. Để tỏ lòng biết ơn đối với nhà thơ đã cho chúng ta những phút giây thật đẹp. Người đời đã đặt một tên làng, tên đường Bà Huyện Thanh Quan để ghi nhớ mãi tài năng cũng như tư tưởng tuyệt vời của thi nhân. Bài thơ mang tâm sự thời thế cuộc đời gây xúc động cho bao độc giả xưa nay. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận của tác giả trong bài thơ Qua Đèo Ngang
1,218
Cảm nhận hình ảnh Thuý Kiều qua đoạn Trao duyên (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) Gợi ý Thúy Kiều, con người của một thời đại đã có ý thức sâu sắc hơn, phong phú hơn về đau khổ cũng như khát vọng của mình, không thể đơn giản chấp nhận chỉ một phương diện nào của hạnh phúc. Ngoài hạnh phúc gia đình, nàng còn sống với khát khao tình yêu tuổi trẻ; ngoài tình thương cha mẹ, hai em, còn tình yêu với chàng Kim. Vì giữa cái tuổi mười sáu, với một nhan sắc khuynh thành, một tài hoa rực rỡ, một trái tim nồng nàn, nàng đã gặp Kim Trọng – chàng trai “phong tư tài mạo tót vời”… Nói một cách khác, Thúy Kiều đã đối diện hạnh phúc. “Kể từ khi gặp chàng Kim” nàng đã sông trong hương vị ngây ngất ngọt ngào của giờ phút “chập chờn cơn tỉnh cơn mê”… Mai sau, trong hạnh phúc của Kim Trọng, nàng không hiện diện, nàng ước nguyện: Mất người còn chút của tin, Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa. Nàng sẽ để lại những kỉ vật thân thiết của một quá vãng tươi đẹp. “Ngày xưa” đối với Kim Trọng mai sau mà cũng là “ngày xưa” đối với Kiều hiện tại: hạnh phúc rực rỡ đột ngột tan thành thảm khốc, những giây phút tươi đẹp mới mẻ đã trở thành ảo ảnh vô cùng xa xôi. Thời gian siêu hiện thực biểu hiện tâm trạng tiếc hận đớn đau sâu sắc trong lòng Thúy Kiều…Xem thêm: Suy nghĩ của em về nhân vật chị Dậu trong đoạn trích Tức nước vỡ bờ Nhưng kỉ vật đâu phải là con người. Kỉ vật không thể giải quyết niềm thương nỗi nhớ. Kiều khao khát trở về gặp mặt người yêu, cho dù ước vọng ấy cũng hết sức mong manh: Mai sau dù có bao giờ, Đốt lò hương ấy, so ta phím này. Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Bản chất hạnh phúc không tồn tại nơi chữ hiếu, chữ nghĩa theo quan niệm phong kiến! Những quan niệm hạnh phúc siêu hình (kỉ vật, kiếp sau sum họp, giọt lệ cảm thông) hoàn toàn không thể xoa dịu khổ đau của người thiếu nữ có trái tim nồng nàn, sôi nổi như Thúy Kiều. Có thể nói, tâm trạng Kiều đứng trước mọi đổ vỡ của hạnh phúc là thể hiện sự đấu tranh giữa những quan niệm hạnh phúc – những quan niệm hạnh phúc của Nho gia, của Phật giáo và những quan niệm hạnh phúc có màu sắc nhân đạo chủ nghĩa. Nói một cách khác, Thúy Kiều đã được giải phóng khỏi những quan niệm siêu hình, tôn giáo về hạnh phúc. Nhân vật của Nguyễn Du là con người được thức tỉnh, dù chỉ để khổ đau. Thúy Kiều là con người của bi kịch. Hạn chế và giá trị của tính cách nhân vật cũng đều bao hàm trong yếu tố đó. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận hình ảnh Thuý Kiều qua đoạn Trao duyên (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
504
Cảm nhận khi đọc bài Một món quà của lúa non: cốm (Thạch Lam) Gợi ý Trong những năm 30 của thế kỉ XX, trên văn đàn Việt Nam xuất hiện một hiện tượng mới lạ của văn học: Thạch Lam. Là thành viên của Tự lực văn đoàn nhưng khác với những người anh của mình, Thạch Lam không khai thác đề tài từ những tình yêu trai gái lãng mạn, mà hướng ngòi bút của mình vào thế giới của những điều bình dị, mộc mạc, gần gũi với cuộc sống con người. Là một cây bút tinh tế, nhạy cảm, vân Thạch Lam đem đến cho người đọc những rung cảm đẹp về cuộc sống và con người. Từ một cây bút sở trường về truyện ngắn, vốn đã nỗi tiếng trên văn đàn bởi những truyện ngắn giàu chất thơ, Thạch Lam đặt chân lên một miền đất mới của văn chương và gặt hái được nhiều thành công vang dội bằng tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường. Tập tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường viết về những nét sinh hoạt, những thứ quà bình dị, những phố phường, cửa hiệu… ở Hà Nội trước năm 1945. Đây là một sáng tác có giá trị rất lớn về văn hóa, phong tục và chứa đựng cả tấm lòng yêu mến quê hương đất nước, những quan niệm cần trân trọng. Một thứ quà của lúa non: cốm là một sáng tác trong tập tùy bút ấy. Cốm là một thứ quà bình thường và phổ biến trong dân dã. Nhưng đã mấy ai như Thạch Lam, lại có con mắt tinh tường và sự cảm nhận sâu sắc đến thế. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Mạch cảm xúc của bài văn bắt đầu từ hương thơm của lá sen, trong làn gió mùa hạ lướt qua vừng sen trên mặt hồ. Hương thơm ấy gợi nhắc đến hương vị của cốm, thứ quà đặc biệt của lúa non. Một cảm giác thật tinh tế. Cảm giác ấy càng tinh tế hơn khí nhà văn mở rộng lòng mình để đón nhận tất cả hương vị nồng nàn và thanh khiết của cánh đồng lúa, của lúa non: Cơn gió mùa hạ lướt qua vừng sen trên mặt hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá, như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết. Các bạn có ngửi thấy khi đi qua những cánh đồng xanh, mà hạt thóc đầu tiên làm trĩu thân lúa non tươi, ngửi thấy cái mùi thơm mát của lúa non không? Trong cái vỏ xanh kín, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ. Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đông lại, bông lúa càng ngày càng cong xuống, nặng vì cái chất quý trong sạch của trời. Một đoạn văn thật hay và thấm đượm cảm xúc trữ tình, gợi lên cho người đọc cái tình quê bâng khuâng, man mác. Cốm là một thứ quà thanh nhã và tinh khiết. Nhưng để có thứ quà ấy, còn nhờ đến bàn tay khéo léo của con người. Ngòi bút Thạch Lam đã khéo dẫn dắt người đọc đến chiêm ngưỡng tài hoa của những người làm cốm. Nhà văn không đi sâu miêu tả công việc làm cốm, mà chỉ lưu ý rằng đó là một nghệ thuật với một loạt cách chế biến, những cách thức làm truyền từ đời này sang đời khác, một sự bí mật trân trọng và khe khắt giữ gìn. Trong cảm xúc của Thạch Lam, hình ảnh những cô gái hàng cốm làng Vòng hiện ra xiết bao thân thương, trìu mến. Xem thêm: Cảm nhận về bài ca dao: "Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" Từ cảm nhận về hương cốm và sự hình thành hạt cốm từ những gì tinh túy của thiên nhiên và sự khéo léo của con người, mạch cảm xúc của Thạch Lam chuyển sang ca ngợi giá trị của cốm: Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam. Một giá trị đặc sắc chứa đựng trong những hạt cốm bình dị, khiêm nhường mà không phải ai cũng nhận thấy. Phải yêu quê hương đất nước, yêu những sản vật của quê hương đất nước nhiều như Thạch Lam mới có thể phát hiện ra cái chân giá trị ấy của cốm. Những dòng bình luận của Thạch Lam về giá trị của việc dùng cốm làm lễ vật sau tết đem đến cho người đọc một cảm nhận mới mẻ, giúp ta hiểu ra được cái ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong tục lệ giản dị này. Một nét đẹp văn hóa cần phải giữ gìn. Chỉ tiếc cho những kẻ không có học, học đòi bắt chước người ngoài. Một sự phê phán nhẹ nhàng mà thấm thía. Ở đoạn cuối cùng của bài tùy bút, Thạch Lam chuyển sang bàn luận về sự thưởng thức cốm. Trong chúng ta mấy ai nghĩ tới việc phải ăn món quà bình dị đó như thế nào? Với Thạch Lam, ăn cốm vốn là thưởng thức những giá trị kết tinh ở đó, vì thế: Ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu cả lại trong hương vị ấy, cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lúa non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc. Xem thêm: Miêu tả một cảnh đẹp mà em đã gặp trong mấy tháng nghỉ hè (có thể là phong cảnh nơi em nghỉ mát, hoặc cánh đồng hay rừng núi quê em) Chao ôi, cảm quan nghệ thuật của Thạch Lam mới tinh nhạy làm sao, khiến ta không thể không ngẫm suy. Bài tùy bút kết thúc bằng một lời đề nghị hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ, chắt chiu mà vuốt ve. Phải nên kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo của người và sự cố sức tiềm tàng và nhẫn nại của thần Lúa. Sự thường thức… sẽ đuợc trang nhã và đẹp đẽ hơn, và cái vui cũng sẽ được tươi sáng hơn nhiều lắm. Một lời đề nghị thật đẹp, thật thiết tha của một ân tình sâu nặng với thứ quà của lúa non. Để biểu đạt ý tưởng và cảm xúc, Thạch Lam rất chú ý tới việc sử dụng những từ ngữ chọn lọc tinh tế, những câu văn giàu nhịp điệu, những hình ảnh giàu chất thơ. Vì thế bài tùy bút trở thành một sáng tác nghệ thuật khá đặc sắc, thấm đượm chất trữ tình. Văn Thạch Lam quả là làm cho tâm hồn người ta phong phú và thanh sạch hơn. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận khi đọc bài Một món quà của lúa non_ cốm (Thạch Lam)
1,211
Cảm nhận khi đọc bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra (Thiên trường vãn vọng) của Trần Nhân Tông Gợi ý Nhắc tới Trần Nhân Tông, người ta nghĩ ngay tới người anh hùng cứu nước, vị vua tài trí lỗi lạc đã cùng quân dân nhà Trần đánh bại quân xâm lược Mông Cổ, làm nên một thời đại anh hùng trong lịch sử dân tộc – thời đại Đông A. Nhắc đến Trần Nhân Tông, người ta cũng nghĩ ngay tới vị tổ của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhà hiền triết của đạo Phật. Trần Nhân Tông không chỉ là người anh hùng cứu nước, vị vua sáng, nhà hiền triết, Trần Nhân Tông còn là một thi sĩ có tâm hồn thanh cao, phóng khoáng và một cái nhìn tinh tế, tao nhã. Trần Nhân Tông đã từng nổi tiếng với những câu thơ rất đỗi hào hùng: Xã tắc hai phen chồn ngựa đá Non sông nghìn thuở vững âu vàng. (Tức sự) Và nhà vua còn làm người đời ngạc nhiên hơn bởi một hồn thơ mang nặng tình quê thắm thiết. Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra (Thiên Trường vãn vọng) là một hồn thơ như thế. Từ Thăng Long về thăm quê cũ Thiên Trường (Nam Định ngày nay), từ trên cung điện ở phủ Thiên Trường, nhà vua phóng tầm mắt ra xa. Một cảnh tượng mở ra trước mắt ông xiết bao trìu mến: Xem thêm: Em hãy tả lại một tiết học Văn Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có dường không Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. (Bản dịch của Ngô Tất Tố) Cảnh buổi chiều ở phủ Thiên Trường là cảnh của một vùng quê trầm lặng, yên bình (Cái yên bình của một cuộc sống thái bình). Trời đã về lúc chiều tối, thôn xóm chìm dần vào làn khói sương lãng đãng, mờ ảo. Có lẽ, đó là vào dịp thu đông. Có bóng chiều, sắc chiều đấy nhưng chỉ man mác, chập chờn, nửa như có, nửa như không. Cái thời điểm giao thời giữa ngày và đêm ở chốn thôn quê gợi lên bao cảm xúc trong lòng người. Nó bâng khuâng, xao xuyến thật khó tả: Trước xóm sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác có đường không. Và vì thế, cuộc sống trở nên thân thương. Chỉ một hình ảnh rất bình thường: những đứa trẻ đang dắt trâu về làng, vừa đi, vừa thổi sáo, cũng khiến nhà vua chú ý và đưa vào trong thơ: Mục đồng sáo vẳng trâu về hết Phải chăng tiếng sáo của bọn trẻ đã đưa nhà vua trở lại cái thời thơ ấu ngây thơ, thoả sức vui đùa? Hay tiếng sáo hồn nhiên, trong trẻo quá khiến lòng ông thư thái lại sau bao nhiêu lo toan trăn trở việc triều chính? Trong lòng vị hoàng đế mang một niềm vui tràn ngập, nó cũng bình dị và trong trẻo như chính cuộc sống ơi đây. Xem thêm: Một nhà văn đã nói: "Trên con đường đi đến thành công, không có vết chân của kẻ lười biếng". Em hiểu nội dung câu nói trên như thế nào Tâm trạng ấy khiến ông thấy cảnh vật càng nên thơ: Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. Trên nền xanh của đồng nội, trong cái mờ ảo của khói sương, điểm xuyến vài cánh cò trắng đang là là hạ xuống. Chao ôi, cánh đồng quê sao mà đẹp thế! Hai câu thơ cuối với bút pháp miêu tả bằng những nét chấm phá, đã vẽ ra trước mắt người đọc cả một vùng quê yên bình và thơ mộng. Con người và cuộc sống ở đây bình dị quá, hồn hậu quá! Bức tranh cảnh vật với những nét chấm phá tài hoa của thi nhân trở nên thật có hồn: có âm thanh ngọt ngào, sâu lắng; có sắc màu tao nhã, sáng trong, có hoạt động nhẹ nhàng êm ả… Một bức tranh thôn dã được cảm nhận bằng một tâm hồn thi nhân tinh tế và nhạy cảm; hơn nữa, bằng tâm hồn của một con người thiết tha yêu làng quê, yêu cuộc sống. ít ai có thể nghĩ được rằng, một vị vua ở tận nơi lầu son gác tía, lại gắn bó máu thịt với quê hương thôn dã như vậy. Vì thế, càng đọc kĩ bài thơ, ta càng hiểu được cái tình quê, tình người lai láng đậm đà trong tâm hồn một bậc vĩ nhân, càng thêm quý trọng và mến phục ông. Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra, thật xứng đáng là một áng thơ hay, tiêu biểu cho bản sắc và tâm hồn Việt Nam. Xem thêm: Em hiểu như thế nào về lời dạy của Bác Hồ dành cho học sinh chúng ta: "Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó"Vanmau.edu.vn
Cảm nhận khi đọc bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra (Thiên trường vãn vọng) của Trần Nhân Tông
837
Cảm nhận khi đọc bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch Gợi ý Có ai đi xa mà chẳng nhớ về quê hương làng xóm. Nơi đã gắn bó máu thịt trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Với Lý Bạch, thi nhân suốt đời chống kiếm lãng du luôn nặng tình với quê hương. Tình cảm ấy thể hiện da diết mãnh liệt, dâng trào, nó được nâng cánh bằng cảm hứng lãng mạn, bay bổng diệu kì qua bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh. Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương Từ xưa đến nay các thi nhân bao giờ cũng mượn cảnh để bày tỏ nỗi niềm tâm sự. Một bức tranh đẹp ập vào mắt ta trước tiên cũng là cảnh và sau đó là tình, là tâm trạng ẩn chứa bên trong. Lý Bạch – "thi tiên" của đời Đường Trung Quốc ngay từ những dòng thơ đầu đã dẫn ta vào một thế giới đầy ảo diệu. Sàng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương Ấn tượng đầu tiên là trăng, trăng ở khắp mọi nơi không chỉ giới hạn nơi đầu giường lữ khách. Đêm khuya thanh tĩnh, bốn bề vắng lặng ta nghe những bước trăng nhẹ nhàng len lỏi phủ khắp không gian. Trăng như dòng suối miên man chảy trong đêm sâu. Trăng dịu mát vuốt ve cảnh vật trong cái tĩnh lặng đến khôn cùng. Trong đêm thâu, không gian bốn bề vắng lặng, không một tiếng gió thổi, một tiếng côn trùng kêu, cũng chẳng có một tiếng chuông chùa ngân buông… chỉ có trăng sáng trải khắp không gian. Ánh trăng gợi cảm giác lâng lâng lạ thường. Ánh trăng giờ đây là chủ thể. Thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp trong sáng nhất. Cuộc sống trở về những nhịp thâm trầm, trút bỏ cái náo động, xô bồ của ban ngày. Trăng đẹp dịu biết bao, trăng tìm đến với con người. Bác Hồ của chúng ta cũng là một lãnh tụ rất yêu trăng: Xem thêm: Phân tích hình tượng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Bác Hồ đành từ chối người bạn tri âm tri kỉ bởi còn bận việc nước. Còn với Lí Bạch người lãng tử trong phút dừng chân nơi quán trọ để trọn lòng mình đến với trăng. Trăng đẹp và thơ mộng quá. Đêm đã sang canh êm đềm thanh tĩnh lúc này chỉ có trăng và nhà thơ. Và rồi không thể hững hờ với vầng trăng đã từng làm bạn từ ngày còn hẹn hò trên núi Nga My. Lý Bạch ngẩng đầu ngắm trăng, trăng gặp thi nhân như hai kẻ tri âm tri kỉ, cảm động không nói lên lời. Trong phút đối diện bất ngờ ấy, sự liên tưởng lãng mạn kèm theo sự hoài nghi diệu kì. Trăng hay là sương mặt đất? Ánh trăng hắt qua song cửa hay là sương khói mông lung? Trăng thực đấy mà sao mờ mờ, ảo ảo khó nắm bắt đến kì lạ. Cái sương khói của ánh trăng làm cho câu thơ ngập trong không khí mơ màng, hư hư thực thực, trăng sáng mà sáng bàng bạc huyền ảo. Trăng ở quanh thi nhân như tầng tầng lớp lớp. Trăng làm cho căn phòng hẹp của thi nhân và mặt đất bao la hoà làm một, và cũng rất tự nhiên: Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đấu nhớ cố hương) Xem thêm: Văn biểu cảm về sự vật, con người - Quê hương trong trái tim mỗi người Đêm nay nhìn trăng sáng nơi quê người, nỗi lòng mãnh liệt, tha thiết trong lòng đứa con xa quê trỗi dậy, day dứt khôn nguôi. Ánh trăng thời trai trẻ năm nào trên núi Nga Mi hiện về. Quá khứ, hiện tại, quê nhà, quê người, thành công, thất bại, hi vọng… đan xen trĩu nặng trong lòng tác giả. Ánh trăng đêm nay sáng quá và nó gợi bao kỉ niệm. Ngẩng đầu nhìn trăng là tư thế hướng ngoại, cúi đầu là nhớ về cố hương (hướng nội). Hai tư thế ngẩng đầu và cúi đầu, hai tâm trạng nhìn và nhớ, hai đối tượng làm trĩu lòng kẻ xa quê. Hai hình ảnh trăng sáng và cố hương đi sóng đôi nhau biểu hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết. Nhớ cố hương là nhớ tới gia đình, người thân, nhớ tới thời thơ ấu với bao mộng tưởng đẹp đẽ. Thế mới biết quê hương là những gì thiêng liêng nhất, một ngôi nhà, một góc phố, một cánh đồng, một dòng sông… Nhà thơ Chế Lan Viên có câu: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn (Tiếng hát con tàu) Tình yêu quê hương đã thành máu, thành hồn. Nó được thể hiện qua những cung bậc của tình cảm. Nỗi nhớ quê hương qua sự khơi gợi của ánh trăng dội về mãnh liệt. Tình yêu quê hương với cả một bức tranh chan chứa ánh trăng làm nền bay cao mãi, xa mãi, ngân vang mãi khúc nhạc lòng của chàng trai trẻ ngày nào trên núi Nga Mi. Câu thơ cuối khép lại nhưng tình nhưng ý còn chưa dứt. Dù chỉ trong hai mươi chữ, nhưng cuối cùng ấn tượng đậm nét trong ta về Lý Bạch là một con người luôn gắn bó với cố hương. Xem thêm: Cảm nhận về hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trong bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Quả thật Lý Bạch với tình yêu quê hương đất nước tha thiết, mãnh liệt được nâng cánh bằng những cảm hứng lãng mạn tuyệt vời. Tĩnh dạ tứ đã hâm nóng những mạch cảm xúc trong ta, ta yêu quý trân trọng và hoà cùng những dòng thơ Lý Bạch chính là làm cho giá trị đích thực của thi ca chuyển tải thế giới nội tâm con người sống mãi với thời gian. Lý Bạch đã góp phần làm cho diện mạo thơ Đường thêm phong phú. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận khi đọc bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lý Bạch
1,056
Cảm nhận khi đọc Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng) Gợi ý Vũ Bằng là một cây bút sở trường về truyện ngắn tùy bút và bút kí. Văn của ông vừa có nét tinh tế, đặc sắc của một cây bút am hiểu tường tận về cuộc sống, vừa có cái đằm thắm, mặn mà của một tâm hồn yêu thương quê hương đất nước tha thiết, nồng nàn. Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt là một sáng tác tiêu biểu cho văn phong Vũ Bằng. Thiên tùy bút Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt mở đầu bằng những cảm xúc rạo rực, ngất ngây của nhà văn trước mùa xuân Bắc Việt. Trong dòng cảm xúc của Vũ Bằng, không khí và cảnh sắc mùa xuân đất Bắc trong những ngày đầu tháng giêng hiện lên thật đẹp – một vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo khó quên. Đó là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng… Chao ôi, cái mùa xuân Bắc Việt, có lẽ là cái không khí và cảnh sắc mùa xuân trước năm 1945 được gợi nhớ lại trong lòng một người con xa quê như Vũ Bằng. Nó gợi ta nhớ đến những câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính: Xem thêm: Qua những tác phẩm đã học và đọc thêm, hãy phát biểu cảm nghĩ của em về người phụ nữ trong thơ trung đại Bữa ấy mưa xuân lất phất bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay (Mưa xuân) Mùa xuân về đem đến bao sự đổi thay kì diệu, làm bừng lên bao sắc xuân, và nhất là trỗi dậy bao sức sống trong lòng người. Nó làm cho người ta muốn phát điên lên, muốn mở cửa đi ra ngoài, muốn có cái thú giang hồ đó đây mà thưởng ngoạn mùa xuân, cảm thấy không cần uống rượu mạnh cũng như lòng mình say sưa. Mùa xuân làm cho nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải chồi ra thành những cái lá nhỏ li ti. Đặc biệt, mùa xuân về làm cho người ta "sống" lại và "thèm khát yêu thương". Mùa xuân về khiến cho không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, lòng người ấm lạ, ấm lùng, và trong lòng thì cảm thấy như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan. Đó là cảm xúc say mê, rạo rực đến ngất ngây của một con người luôn khát khao mong chờ mùa xuân, đón nhận mùa xuân với tất cả tình yêu nồng nhiệt của mình. Giọng văn sôi nổi, tha thiết của Vũ Bằng đã truyền sang người đọc khiến ta hình như cũng thấy rạo rực và ngất ngây. Xem thêm: Em hãy thay mặt En-ri-cô viết một bức thư cho bố nói lên nỗi ân hận vì trót thiếu lễ độ với mẹ kính yêu Một mùa xuân thật đẹp (mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc việt thương mến) được cảm nhận bằng một tâm hồn rất tinh tế và nhạy cảm của Vũ Bằng. Dường như tác giả đã hòa nhập lòng mình vào cảnh, để thấy được cái mưa riêu riêu, gió lành lạnh, cả tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa và cả âm điệu trữ tình sâu lắng, ngọt ngào của câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng. Không chỉ cảm nhận mùa xuân bằng những giác quan quen thuộc, nhà văn còn cảm nhận mùa xuân bằng tất cả những giác quan, những cảm xúc đặc biệt nhất của tâm hồn. Sự cảm nhận ấy được diễn tả bằng những câu văn rất giàu hỉnh ảnh và gợi cảm với một loạt các hình ảnh so sánh liên tưởng đầy ấn tượng: "Thú giang hồ" được cảm nhận êm ái nhớ nhung; nhựa sống trong lòng người càng lên được ví như máu căng trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải chồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh; tình cảm gia đình đầm ấm khiến lòng người vui sướng được nhà văn liên tưởng với cảnh không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan. Xem thêm: Em hãy kể lại và cho biết cảm nghĩ về câu chuyện em thích nhất trong các truyện đọc về danh nhân thế giới Ngòi bút của nhà văn đặc biệt tinh tế khi miêu tả cảnh sắc và không khí mùa xuân từ sau ngày rằm tháng giêng. Con mắt tinh tường của ông đã phát hiện ra những chuyển biến (dù rất là nhỏ) của màu sắc và không khí bầu trời, mặt đất, cây cỏ trong một thời gian ngắn ngủi từ đầu tháng qua rằm: Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh nhưng lại nức một mùi hương man mát; bầu trời không còn đùng đục như màu pha lê mờ, sáng dậy thấy những vệt xanh tươi hiện ra ở chân trời chuyển sang trong trong có những làn sóng hồng rung động như cánh con ve mới lột; trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Cảnh sắc mùa xuân vốn đã đẹp vì mưa riêu riêu, gió lành lạnh, tiếng trống chèo, câu hát huê tình, đến đây càng đẹp hơn. Đến mức chính tác giả cũng phải thốt lên Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – Mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Mùa xuân ấy lắng đọng mãi, ngân nga mãi trong lòng người, để hôm nay, xa quê hương, một nỗi niềm nhớ thương quê hương đến cồn cào, da diết cứ dâng lên hóa thành dòng cảm xúc ngọt ngào tươi mát, đằm thắm, dệt nên thiên tùy bút này. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận khi đọc Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng)
1,065
Cảm nhận khi đọc Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh Gợi ý Xuân Quỳnh (1942 – 1988) nhà thơ nỗi tiếng với những bài thơ biểu lộ một hồn thơ nồng nàn, đằm thắm dào dạt thương yêu như Thuyền và biển, Sóng,… trong đó bài thơ Tiếng gà trưa được viết vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tiếng gà trưa là âm thanh, tiếng gọi của quê hương, gia đình, xóm làng còn in đậm trong lòng người lính ra trận, trở thành hành trang của người lính trẻ. Tiếng gà nhà ai nhảy ổ cục… cục tác cục ta cất lên nơi xóm nhỏ. Tiếng gà là âm thanh rất bình dị, quen thuộc của làng quê bao đời nay. Với người lính âm thanh quen thuộc ấy gây cho anh bao xúc động. Nó làm xao động cái nắng trưa trên đường hành quân. Âm thanh ấy làm cho anh như đang sống lại thời thơ ấu đẹp đẽ của mình, nó như tiếp thêm sức mạnh cho đôi chân anh bớt mỏi, cho lòng anh xúc động dạt dào: Cục… cục tác cục ta Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ Đến đoạn thơ thứ hai, trong hai mươi sáu câu thơ, câu thơ Tiếng gà trưa được nhắc lại ba lần, âm thanh ấy gọi về bao kỉ niệm thân yêu. Xa xa tiếng gà trưa vọng lại, người chiến sĩ nhớ về người bà thân yêu chắt chiu từng quả trứng hồng. Những quả trứng hồng, đàn gà chiu chít đông đúc. Ta như thấy rất nhiều gà, rất nhiều màu sắc và lứa gà: Xem thêm: Chứng minh tinh thần yêu nước của cha ông ta trong lịch sử. Từ đó, em rút ra cho mình những bài học gì?Tiếng gà trưa Ổ rơm hồng những trứng Này con gà mái mơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng. Trong bức tranh gà mà Xuân Quỳnh miêu tả rất đặc biệt, ổ rơm vàng óng lăn lóc những quả trứng hồng, con gà mái mơ có bộ lông đan xen các màu trắng, đen hồng… trứng nó giống hình hoa văn mà người nghệ sĩ tạo hình chấm phá. Ánh vàng rực rỡ của con gà mái vàng, lông óng lên như màu nắng, bà cùng cháu vừa tung những hạt cơm, hạt gạo cho lũ gà ăn, quan sát những chú gà xinh đẹp đang nhặt thóc quanh sân. Cháu cùng bà đếm từng chú gà trong vườn nhà. Tiếng gà trưa cất lên nơi xóm nhỏ, người chiến sĩ nhớ về bà thân yêu. Tuổi thơ sống bên bờ có biết bao kỉ niệm đáng nhớ, tính hiếu kì, tò mò của trẻ thơ quan sát con gà đẻ trứng. RỒI bị bà mắng, sợ mặt bị lang, trong lòng cháu hiện lên lo lắng: Tiếng gà trưa Có tiếng bà vẫn mắng – Gà đẻ mà mày nhìn Rồi sau này lang mặt Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng Cháu còn làm sao quên được hình ảnh tay bà khom soi trứng… bà "tần tảo" "chắt chiu" từng quả trứng hồng cho con gà mái ấp là cháu lại nhớ đến bao nỗi lo của bà khi mùa đông tới: Xem thêm: Trước cái đói nghèo và những cuộc đời bất hạnh vẫn còn trong xã hội nước taKhi gió mùa đông tới Bà lo đàn gà toi Mong trời đừng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới. Đoạn thơ nghe giản dị mà thật gần gũi nhường nào. Những chi tiết tác giả miêu tả gắn bó thân thuộc với quê hương làng xóm, hơn thế nó là những kỉ niệm không bao giờ phai nhạt trong tâm trí trẻ thơ. Nỗi lo của bà thật cảm động xiết bao, đàn gà kia sẽ bị chết nếu như sương muối giá lạnh và cháu bà lại chẳng được may áo mới. Ôi cái quần chéo go, Ống rộng dài quết đất Cái áo cánh trúc bâu Đi qua nghe sột soạt Cháu nhớ mãi sau mỗi lần gà được bán, bà lại ra chợ chọn mua cho cháu yêu bộ quần áo thật đẹp. Tình cảm yêu thương nồng hậu bà luôn dành trọn cho cháu, cho con. Tuổi thơ sống bên bà đây là quãng đời đầy ắp những kỉ niệm khó quên. Lần thứ tư tiếng gà trưa lại cất lên. Tiếng gà gọi về những giấc mơ của người lính trẻ. Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng. Âm thanh xao động của tiếng gà trưa bình dị mà thiêng liêng, nó gợi tình cảm đẹp trong lòng người chiến sĩ hành quân ra trận. Âm thanh ấy như tiếng của quê hương, đất mẹ thân yêu. Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ Trong bài thơ có ba câu thơ rất hay ổ rơm hồng những trứng, giấc ngủ hồng sắc trứng; ổ trứng hồng tuổi thơ. Cả ba câu thơ đều nói về hạnh phúc tuổi thơ, hạnh phúc gia đình làng xóm. Hình ảnh người bà hiện lên trong tâm trí người chiến sĩ hành quân ra trận thật đẹp. Lưu Trọng Lư khi nghe Xao xác gà trưa gáy não nùng đã nhớ về nét cười đen nhánh, màu áo đủ của mẹ hiền đã đi xa. Bằng Việt khi xa quê đã nhớ về quê qua hình ảnh người bà kính yêu. Tiếng tu hú kêu gọi hè về, nhớ bếp lửa ắp iu nồng đượm bà nhen nhóm sớm hôm. Và bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh gợi nhớ về bà qua tiếng gà xao xác ban trưa. Xem thêm: Giới thiệu về một nét văn hoá truyền thống: Dân ca quan họ Bài thơ Tiếng gà trưa là bài thơ hay tha thiết ngọt ngào. Tiếng gà cũng là tiếng gọi thân yêu của bà, của mẹ, của quê hương. Tiếng gọi thân yêu ấy như là niềm tin cho người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương yêu dấu. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận khi đọc Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh
1,024
Cảm nhận khi đọc đoạn trích Sau phút chia li (Trích Chinh phụ ngâm khúc). Hướng dẫn Trong xã hội phong kiến người phụ nữ phải chịu rất nhiều bất hạnh, khổ cực. Người phụ nữ lúc bấy giờ chưa được xã hội công nhận, họ không có quyền quyết định cuộc đời mình, phải phụ thuộc vào người chồng, người cha. Có rất nhiều tác phẩm nói về số phận người phụ nữ trong giai đoạn nay, trong đó phải kể đến đoạn trích Sau phút chia ly trích trong tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn. Đoạn trích bày tỏ nỗi lòng sầu thương, nhớ nhung với sự mong mỏi, da diết của người vợ có chồng ra trận. Bài thơ với thể thơ cổ song thất lục bát. Toàn bài là nỗi nhớ thương ngày một tăng tiến, nâng cao của đôi vợ chồng trẻ, đặc biệt là người vợ – một phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Văn bản “Sau phút chia li” là đoạn trích sau khi người vợ ngậm ngùi tiễn chồng ra miền biên ải, nàng trở về đơn chiếc xót xa. “Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh”. Rồi lại: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối giữa các câu thất và sử dụng điệp từ ngữ với những tính từ miêu tả độc đáo, đặc sắc đã toát lên nội dung chính là lên án chiến tranh, đặc biệt là khát vọng hòa bình, được yêu thương của người phụ nữ thời phong kiến.Xem thêm: Phân tích một đoạn Thơ mà anh (chi) cho là “đậm đà màu sắc dân tộc” trong bài Việt Bắc của Tố Hữu “Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn”. Vì điều kiện đất nước xảy ra chiến tranh người chồng đã phải chia tay người vợ trẻ yêu quý của mình để ra chiến trường. Đó là cuộc chia li buồn và cô đơn của cả hai người. Trong “cõi xa mưa gió” của chàng ẩn chứa bao hiểm nguy, gian nan của hòn tên mũi đạn, của đời sống chốn sa trường. Trong nỗi lòng “buồn cũ chiếu chăn” của thiếp lại đau đớn bao đơn côi phiền muộn, bao khắc khoải đợi chờ. Hai cặp đối “Chàng thì” – “Thiếp thì” ẩn chứa bao chán nản, buồn phiền. Nghĩ đến nhau, họ chỉ còn biết: “Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh”. Khi đã tiễn chồng ra trận, người vợ quay trở về chỉ biết chôn chặt nỗi buồn trong loàng. “Đoái” nghĩa là ngoảnh lại, ngoái lại nhưng dùng từ “đoái” còn hàm ẩn được cái đau đớn, mệt mỏi của tâm trạng người vợ. Nhưng càng đoái theo trông ngóng chỉ càng thấy cách xa nghìn trùng, giữa họ “đã cách ngăn” “mây biếc” “núi xanh” “tuôn màu” “trải ngàn” cách trở. Nỗi buồn của người phụ nữ như đã âm thầm lan thấm vào thiên nhiên cảnh vật. Đoàn Thị Điểm đã dùng cảnh vật thiên nhiên để nói lên tâm trạng người phụ nữ khi xa chồng: “Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sangXem thêm: Kể tóm tắt truyện Tấm Cám theo nhân vật Tấm Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu”. Trong đoạn thơ tiếp, nỗi sầu chia li và lưu luyến chẳng muốn rời của đôi vợ chồng trẻ đã được thể hiện bằng những điển tích cổ, thủ pháp đối, phép điệp ngữ rất độc đáo. Những địa danh Tiêu Tương, Hàm Dương tác giả mượn trong điển tích Trung Quốc gợi đến sự cách xa, chia lìa: “cách… mấy trùng”. Phép đối vừa thể hiện tấm lòng sâu nặng dành cho nhau của đôi vợ chồng người chinh phụ vừa như thể hiện sự rời xa nhau từng giờ từng khắc của họ: “Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại” – “Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang”, “Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương” – “Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương”. Đặc biệt, phép điệp ngữ khiến những câu chữ như muốn đan quyện vào nhau chẳng muốn rời: Tiêu Tương – Tiêu Tương, Hàm Dương – Hàm Dương, thấy – thấy, xanh xanh – xanh, ngàn dâu – ngàn dâu. Nét đặc sắc đó đã thể hiện thành công tấm lòng lưu luyến chẳng muốn rời xa nhau của hai vợ chồng nàng. Thể thơ song thất lục bát thiết tha đã góp phần thể hiện tâm trạng u sầu nhung nhớ khôn nguôi trong lòng người chinh phụ. Nhưng dầu thế, đất trời như đang đẩy họ xa nhau hơn. Trong hai câu thơ: “Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu” Tác giả đã mượn ý câu thành ngữ “Thương hải tang điền” – biển rộng đã biến thành ruộng dâu tít tắp, ý chỉ những dâu bể cuộc đời. Chẳng những vậy, những sắc thái khác nhau của màu xanh được sử dụng trong hai câu thơ này cũng góp phần diễn tả sâu sắc nỗi lòng người chinh phụ. “Xanh xanh” là màu xanh nhẹ, xanh nhạt. “Xanh ngắt” lại là màu xanh đậm. Từ “xanh xanh” đến “xanh ngắt” là sự tăng tiến, màu xanh thể hiện sự chia li, li biệt; sự tăng tiến đó như thể hiện nỗi buồn ngày càng đậm nét, ngày càng quằn quại xót xa.Xem thêm: Bình luận về đức tính siêng năng, cần cù Đoạn trích đã sử dụng thể thơ song thất lục bát ngắn ngủi cùng khá nhiều những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng thành công, tác giả đã thể hiện sâu sắc nỗi lòng của người vợ “sau phút chia li” tiễn chồng đi chinh chiến. Đó là nỗi buồn tê tái, nỗi nhung nhớ vơi đầy, sự lưu luyến khôn nguôi… Và như thế, văn bản “Sau phút chia li” (trích “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm) đã thể hiện tinh thần nhân đạo rất nhân bản, nhân văn. Người phụ nữ trong xã hội cũ phải chịu quá nhiều đắng cay tủi nhục, chỉ có người chồng là chỗ dựa tinh thần rồi cũng phải ra đi, chưa biết khi nào mới gặp lại. Sự ác liệt của chiến tranh làm cho nỗi nhớ chồng của người phụ nữ càng nhân lên gấp bội, bởi giữa cái sông và cái chết của con người trong hoàn cảnh đó là quá mong manh. Nguồn:
Cảm nhận khi đọc đoạn trích Sau phút chia li (Trích Chinh phụ ngâm khúc).
1,137
Cảm nhận những câu hát than thân sau đây: Thân em như tấm lụa đào,… Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân Gợi ý Đề bài: Phân tích điểm chung và nét riêng của những câu hát than thân sau đây: 1. Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. 2. Thân em như củ ấu gai, Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen. Ai ơi, nếm thử mà xem! Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi. 3. Thân em như giếng giữa dàng, Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. Bài làm: Ca dao dân ca – suối nguồn yêu thương ngọt ngào như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam qua bao thế hệ – không chỉ nói đến tình cảm yêu thương quê hương đất nước mà còn thể hiện sâu sắc nỗi đau thân phận của người dân lao động trong xã hội phong kiến. Đặc biệt, nỗi đau đớn, tủi nhục của người phụ nữ đã được khắc họa rõ nét thông qua chùm ca dao bắt đầu bằng mô tip “Thân em”. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nét đặc sắc của ba bài ca dao dưới đây: 1. Thân em như tấm lụa đào, Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. 2. Thân em như củ ấu gai, Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen. Ai ơi, nếm thử mà xem! Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi. 3. Thân em như giếng giữa đàng, Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. Có thể nói đây là ba bài ca dao điển hình cho chùm ca dao than thân của người phụ nữ. Ba bài có những nét giống nhau và những nét riêng hết sức đặc sắc. Để thấy được nét tương đồng của ba bài ca dao, ta cần phải đặt nó vào trong cả một hệ thống. Cả ba bài đều nằm trong chùm ca dao than thân, đó là điểm giống nhau dễ nhận ra nhất. Cả ba bài đều sử dụng một lôi mở đầu quen thuộc là “Thân em” để nói lên số phận bấp bênh, vô định của người phụ nữ trong xã hội xưa. Ba bài ca dao đều thể hiện nỗi đau thân phận của người phụ nữ khi bị phụ thuộc vào kẻ khác, không có quyền quyết định số phận của mình. Tuy ý thức rõ giá trị của bản thân (từ “ruột trong thì trắng”, thơm, “ngọt bùi” của củ ấu gai đến vẻ đẹp xinh tươi, rạng ngời của “tấm lụa đào” và sự mát lành của “giếng giữa đàng”) nhưng người phụ nữ không khỏi ngậm ngùi trước sự bé nhỏ, bị coi thường của mình.Xem thêm: Qua một số tác phẩm văn học dân gian đã được học và đọc thêm, anh (chị) có suy nghĩ gì về tinh thần lạc quan của nhân dân ta Ca dao dân ca là sáng tạo của tập thể nhưng bên cạnh cái chung hay sự tương đồng gần gũi thì mỗi bài lại có nét riêng đặc sắc. Ba bài ca dao tuy đều bắt đầu bằng “Thân em” nhưng mỗi bài lại thể hiện những ý tình khác nhau: Thân em như tấm lụa đào, Phất pha giữa chợ biết vào tay ai. Nhân vật trữ tình ở đây ý thức được vẻ đẹp của mình: “lụa đào” là loại lụa có màu sắc đẹp, sang trọng, quý phái. Nhưng ngay trong sự tự ý thức về giá trị đó cũng hàm chứa nỗi lo lắng cho số phận của mình. Lụa đẹp nếu vào tay người quân tử biết “thương hoa tiếc ngọc” thì sẽ được trân trọng, bền đẹp mãi còn nếu rơi vào tay kẻ phàm phu “vùi hoa dập liễu” thì tấm lụa sẽ không được nâng niu, gìn giữ và sớm muộn cũng sẽ trở thành vật vứt đi. Nỗi băn khoăn đó của người phụ nữ bắt nguồn từ quan niệm trọng nam khinh nữ trong xã hội phong kiến xưa. Ta cũng bắt gặp nhiều câu ca dao có nội dung tương tự câu ca dao trên như: Mình em như cá giữa rào, Kể chài người lưới biết vào tay ai? Hình ảnh con cá vẫy vùng giữa sông nước thật thoải mái! Nó tự do trong “giang sơn” của riêng nó. Nhưng số phận con cá lại do kẻ chài lưới định đoạt. Con cá hiểu điều đó nên lúc nào cũng nơm nớp lo sợ không biết sẽ bị mất tự do khi nào. Đau lòng thay!Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi... Đất Nước có từ ngày đóThân em như của ấu gai, Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen. Ai ơi, nếm thử mà xem! Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi. Nếu cô gái ở bài ca dao thứ nhất có phần tự hào về nhan sắc của mình thì cô gái trong bài ca dao thứ hai lại ý thức được những hạn chế về mặt hình thức của mình thông qua phép so sánh “Thân em như củ ấu gai”. Mặc dù củ ấu gai ăn rất ngọt, bùi, bên trong trắng ngần nhưng thường không được để ý. Đơn giản là bởi vẻ ngoài của nó không mấy ưa nhìn. Người đời không coi trọng củ ấu gai vì nó có vẻ ngoài xấu xí. Người con gái ở đây biết bành thức bên ngoài của mình không được hấp dẫn nhưng cũng ý thức và tự hào về tâm hồn trong trắng, thanh cao của mình. Cô mong người đời đùng chỉ nhìn vào hình dáng bên ngoài mà vội vàng đánh giá con người cô. Bài ca dao là lời tâm tình khiêm nhường với nội dung chủ yếu là nhu cầu muôn được người khác hiểu mình, hiểu được phẩm chất cao đẹp, trong trắng của mình, tương tự như bài ca dao: Em như cây quế giữa rùng, Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay. Khác với hai bài trước, bài ca dao số 3 thể hiện sắc thái than thân rõ ràng hơn cả. Hình ảnh so sánh nổi bật trong bài là giếng nước – một hình ảnh vô cùng quen thuộc với làng quê xưa. Nhưng giếng nước ngọt, nước trong mát lành lại ở “giữa đàng”, nơi mà người qua kẻ lại tấp nập. Và làm sao có thể biết được trong số ấy ai là “người khôn” ai là “kẻ phàm”, mà cho dù có biết được thì “giếng giữa đàng” cũng không thể lựa chọn người dùng nước giếng. Người có lòng thanh nhã thì dùng nước giếng để rửa mặt, kẻ phàm tục lại ngang nhiên lấy nước để rửa chân. Đó là hình ảnh ẩn dụ cho số phận người con gái khi cất bước đi lấy chồng. Nếu may mắn, họ sẽ lấy được người chồng biết yêu thương và sẽ là bất hạnh nếu lấy phải một người chồng không biết yêu thương, trân trọng gíá trị của mình. Nỗi khổ đau hay hạnh phúc của người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng, giông như giá trị của “giếng giữa đàng” không được quyết định bởi chất lượng của nước mà bởi thái độ của người dùng nước.Xem thêm: Kể tóm tắt Truyện An Dương vương và Mị Châu - Trọng Thủy theo nhân vật Trọng Thuỷ Cả ba bài ca dao đều thuộc chùm ca dao than thân nhưng mỗi bài lại có cách thể hiện riêng hết sức đặc sắc. Tất cả đều cho ta thấy phẩm chất, số phận và tâm tư của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận những câu hát than thân sau đây_ Thân em như tấm lụa đào, … Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân
1,288
Cảm nhận những đặc sắc của các bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa Gợi ý HƯỚNG DẪN 1. Ca dao là thể loại trữ tình bằng văn vần, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Chùm sáu bài Ca dao yêu thương, tỉnh nghĩa được học có thể chia thành ba nhóm: nhóm một gồm ba bài đầu, nhóm hai có bài bôn và nhóm ba là hai bài còn lại. Căn cứ để phân chia nhóm bài dựa vào sự tương đồng trong nội dung chính của từng bài và sự giống nhau về nghệ thuật (lối kết cấu, công thức ngôn từ). Nhóm một bộc lộ khát vọng gặp gỡ, yêu thương. Nhóm hai tái hiện nỗi niềm mong nhớ trong tình yêu. Nhóm ba thể hiện nỗi niềm kẻ ở, người đi và nghĩa tình của con người. 2. Khát vọng gặp gỡ, yêu thương trong ba bài ca dao đầu tiên được bộc lộ rất khéo léo, tinh tế bằng cách nói đối đáp quen thuộc trong ca dao: Cô kia đứng ở bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang. Câu thơ đầu bình dị như một lời miêu tả thông thường. Thậm chí cách xưng hô bằng đại từ nhân xưng “cô” còn gợi lên cả sự xa lạ, cách biệt. Mà không xa lạ, cách biệt sao được khi giữa cô và anh là cả một dòng sông ngăn trở. Nhưng đến câu thơ sau, mạch thơ có sự biến chuyển bất ngờ. Đại từ nhân xưng “anh” vang lên gần gũi, thân thiết. Và điều mà chàng trai ở đây muôn ngỏ chính là cái sự bắc cầu vào tình yêu. Hóa ra tất cả lại tùy thuộc vào cô gái, tùy thuộc ở cô có muốn sang sông, có muốn xóa đi sự ngăn cách giữa hai người, có muốn bước lại gần anh không. Còn anh, anh đã nói được điều khó nói “anh ngả cành hồng cho sang”. Đó chính là lời bày tỏ tình yêu đầy tế nhị, duyên dáng. Anh đã bắc được một chiếc cầu thật đẹp để cô bước vào tình yêu. Chiếc cầu ấy là lòng trân trọng, là sự đợi chờ, là khát vọng yêu thương mà chàng trai dành cho cô gái. Vẫn là khát vọng biến những khao khát trong tình yêu thành điều có thật, song chàng trai ngỏ lời một cách táo bạo mà tinh tế thì cô gái chỉ dám mong ước:Xem thêm: Tả một người thợ thủ công đang vẽ hoa văn trên gốmước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Trong lời thầm ước ấy, khoảng cách tình yêu bị rút ngắn thần kì chỉ còn “một gang”. Ớ khoảng cách ấy, cây cầu tình yêu hiện diện thật bất ngờ “cầu dải yếm”. Yếm vốn là vật mang hơi ấm của người con gái, nó gắn liền với người thiếu nữ xưa như một vẻ đẹp nữ tính không thể tách rời. Vì vậy, chiếc cầu dải yếm của cô gái trong bài ca dao không chỉ mềm mại, duyên dáng mà còn chứa chan tình yêu và khát vọng gặp gỡ, kết đôi. Khát vọng ấy càng mãnh liệt hơn trong những ước muốn: ước gì anh hóa ra gương, Để cho em cứ ngày thường em soi. Ước gì anh hóa ra cơi, Để cho em đựng cau tươi trầu vàng. ở đây không còn hình ảnh dòng sông ngăn cách nữa, mà sự thôi thúc trong tình yêu đã khiến chàng trai luôn muốn hiện diện bên cuộc đời cô gái bằng những hình ảnh hóa thân bình dị mà rất đẹp. Anh muốn hóa thành chiếc gương soi để cô thấy được vẻ đẹp, giá trị con người mình trong tình yêu của anh. Anh muốn thành chiếc cơi để cô đựng “cau tươi trầu vàng”, đây là cách nói thể hiện mong ước đi đến một cuộc hôn nhân hạnh phúc của chàng trai. Khép lại ao ước của anh là hình ảnh trầu cau như một cái kết đẹp trong mỗi tình yêu. Hình ảnh ấy vừa cho thấy tình yêu chân thành mà anh dành cho cô, lại vừa cho thấy quan niệm của dân gian về tình yêu. Đó là tình yêu phải đi đến hôn nhân. Như vậy, cả ba bài ca dao trên cùng tô đậm những khát vọng đẹp trong tình yêu của nhân dân ta. Những khát vọng ấy đều gắn liền với bao khao khát chân thành, đắm say, nồng nhiệt; với lòng trân trọng, nâng niu tình yêu và người mình yêu thương. 3. Trong bài ca dao số bôn, các nghệ sĩ dân gian đã mượn hình ảnh chiếc khăn để ẩn dụ cho nỗi nhớ thương người yêu của cô gái:Xem thêm: Giới thiệu khái quát thể thơ Đường luật trong văn học Việt Nam… Đọc Tỏ lòng, anh (chị) rút ra được bài học gì Khăn thương nhớ ai Lo vì một nỗi không yên một bề. Hình thức câu thơ lặp lại “Khăn thương nhớ ai” vừa như một câu tự hỏi lòng mình của cô gái lại vừa như một lời thừa nhận nỗi mong nhớ người yêu đến cồn cào trong lòng của chủ đề trữ tình. Không chỉ vậy, những câu thơ ngắn, kết cấu lặp lại nhằm nhấn mạnh hơn sự dồn dập, chồng chất của nỗi nhớ, của tâm trạng. Thêm vào đó, hàng loạt những trạng thái của “khăn” như “rơi xuống đất”, “vắt lên vai”, “chùi nước mắt” đã trở thành lời ngỏ cho những cung bậc của nỗi nhớ trong lòng cô gái. Một nỗi nhớ cồn cào đến độ khiến cho lòng người chẳng thể ngủ yên. Không chỉ vậy, bằng hình ảnh “đèn”, “mắt” tác giả dân gian tiếp tục tô đậm nỗi nhớ. Nỗi nhớ ấy như ngọn đèn không bao giờ tắt, nó soi sáng tâm hồn cô gái suốt đêm trường. Nỗi nhớ ấy đi vào tâm thức của cô, khiến cô thao thức đêm đêm. Có thể nói, nỗi nhớ đã xâm chiếm trọn vẹn tâm hồn cô gái, để cô nhận ra cô đã yêu thương, đã gắn bó với người cô yêu biết nhường nào. Khép lại bài ca là một cặp lục bát chuẩn. Ẩn trong cặp lục bát này không còn là nỗi nhớ nữa mà là một nỗi lo phiền. Phải chăng cô lo phiền vì sợ sự mong manh của tình yêu, vì sợ chàng trai không đáp lại hay không xứng đáng với tình yêu và nỗi nhớ của mình? Song chính trong nỗi lo phiền ấy ta vẫn đọc được sự đợi chờ, niềm tin tưởng và hi vọng vào tình yêu của cô. 4. Trong hai bài ca dao còn lại (bài 5, 6), các tác giả dân gian đã mượn những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc cây đa, bến nước, con đò để diễn tả tình cảm giữa kẻ ở, người đi. Những ẩn dụ này gắn liền với cuộc sông thôn quê nên mang đến cho ta cảm giác gần gũi, thân thuộc. Ớ đây, cây đa, bến nước là biểu tượng cho kẻ ở, còn con đò là biểu tượng cho người đi. Tuy nhiên, thông điệp ở mỗi bài ca dao lại mỗi khác.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm: "Đất là nơi em đến trường... Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng" Bài ca dao sô’ 5 khẳng định lòng chung thủy, sắt son giữa người đi, kẻ ở. Cây đa cữ, bến đò xưa Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ. Hàng loạt các từ ngữ chỉ thời gian “cũ", “xưa”, chỉ không gian “nắng mưa” được sử dụng để gợi lên cái đằng đẵng của thời gian, cái xa ngái của không gian và bao nỗi chua cay của chia li, chờ đợi. Song vượt lên trên tất cả là lời khẳng định “có nghĩa”I “cũng chờ”. Tình nghĩa sắt son đã chiến thắng được thời gian, không gian, nỗi đắng cay khi xa cách. Sự dăng đốì giữa tình của khách bộ hành và nghĩa của cây đa, bến đò đã trở thành lời ngợi ca đẹp nhất của tình người và tình yêu. Nhưng không phải mọi lời hẹn ước đều thành trăm năm. Đó là những nghịch cảnh trong tình yêu: Trăm năm đành lỗi hẹn hò, Cây đa bến cũ, con đò khác đưa. Vậy là lời hẹn ước trăm năm không thành. Cây đa, bến cũ vẫn còn đầy nhưng người xưa không còn nữa, tất cả giờ chỉ là kỉ niệm. Cái còn càng gợi cái mất khiến nỗi tiếc nhớ, ngậm ngùi càng lúc càng sâu. Song cái đẹp của câu ca dao lại lạ ở chỗ, người xưa dù lỗi hẹn, có khổ đau nhưng không hề trách móc. Phải chăng vì tình đẹp, nghĩa sâu hay còn vì sự bao dung của lòng người? 5. Sáu bài ca dao trên đã vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát và những biến thể của nó. Với kết cấu đối đáp và những mô tip quen thuộc, những câu ca trên đã khám phá và thể hiện vẻ đẹp phong phú trong đời sống tâm hồn con người Việt Nam. Bên cạnh đó, bằng thủ pháp ẩn dụ quen thuộc, những bài ca dao trên đã cho thấy yêu thương, tình nghĩa là một truyền thông tình cảm tô’t đẹp của dân tộc ta. Truyền thông ấy đã được truyền lại cho các thế hệ sau và trở thành một dòng chảy bất tận trong thi ca dân tộc. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận những đặc sắc của các bài Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
1,597
Cảm nhận nội dung và nghệ thuật truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ Gợi ý Gợi ý làm bài 1. Đoạn trích từ “Đốt đền xong…” đến “ngục Cửu U”: nêu những sự việc chính và tính cách của nhân vật Tử Văn. * Đoạn trích có bôn sự việc chính: – Đốt đền xong, Tử Văn về nhà bị ốm sốt. Trong cơn ôm sốt, chàng gặp tên cư sĩ Bách hộ họ Thôi. Tên này dọa nạt mắng nhiếc đòi chàng làm lại đền, đòi kiện chàng trước Diêm Vương để trừng phạt. Tiếp đó là chuyện Thổ công hiện gặp trình bày sự gian ác của tên Bách hộ họ Thôi, khuyên khích Tử Văn cứng cỏi và sẵn sàng cung cấp bằng chứng nếu Diêm Vương yêu cầu. – Đêm, bệnh nặng thêm, Tử Văn bị hai tên quỷ sứ đến bắt xuống âm ti, giải đến trước mặt Diêm Vương để chịu tra khảo, chịu sự phán xử. Chàng bị tên Bách hộ họ Thôi và Diêm Vương luận tội nghiệt ngã. Nhưng nhớ lời Thổ công, Tử Văn cứng cỏi tâu trình, vạch trần tội ác dối trên lừa dưới của tên Bách hộ họ Thôi. – Tên cư sĩ và Tử Văn cãi nhau quyết liệt trước mặt Diêm Vương, không bên nào ép được bên nào, khiến vua cõi Minh ti phân vân khó xử, phải sai người đến đền Tản Viên để lấy bằng chứng do Tử Văn nêu.Xem thêm: Có ý kiến cho rằng “có 3 điều trong cuộc đời mỗi người, nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian, lời nói và cơ hội”. Hãy bình luận ý kiến đó– Có được bằng chứng, vua Diêm Vương xử Tử Văn thắng kiện, Bách hộ họ Thôi hết đường chối cãi tội ác, bị giam ngục Cửu u. * Ngô Tử Văn giải quyết từng sự việc theo một trình tự hợp lí: – Khi gặp tên Bách hộ họ Thôi thì điềm tĩnh, cứng cỏi không hề tỏ ra sợ hãi trước lời dọa nạt của hắn. – Khi gặp Thổ công thì tìm hiểu cặn kẽ câu chuyện trước sau để có kế hoạch ứng đối với kẻ yêu quỷ. – Khi bị áp tải qua cầu đầy quỷ Dạ Xoa thì kêu oan uổng để chúng không thể tùy tiện hạ sát. – Khi đối chất trước tòa thi viện đầy đủ lí lẽ, không chịu lùi một phân. Vì vậy mà Tử Vãn đã thắng một cách đàng hoàng, chính đáng trước phiên xử án của vua Diêm Vương, làm cho chính ông vua ở cõi Minh ti này cũng phải khâm phục và ban thưởng. * Các sự việc xảy ra với Ngô Tử Vân trong một thời gian không lâu: hai ngày. Ngô Tử Văn đã gặp hồn ma Bách hộ họ Thôi, Thổ công, các quỷ sứ cõi Minh ti và vua Diêm Vương. Đó toàn là các nhân vật ở thế giới cõi âm mang tính chất tưởng tượng, hoang đường kì ảo. Mặc dù vậy, câu chuyện đôi chất sinh động như có thực trên cuộc đời và diễn ra trong phạm vi Đại Việt (Lạng Giang, Yên Dũng, Đông Quan, Tản Viên). Điều đó làm tăng giá trị bản địa của truyện.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về số phận người nông dân trong xã hội phong kiến được thể hiện qua những bài ca dao mà em đã được học và đọc thêm– Sự việc Tử Văn tắm gội sạch sẽ, khấn trời rồi mới đốt đền thể hiện tính cách của một kẻ sĩ chính trực. Kẻ sĩ kính trời, giữ trong sạch lòng mình, song không chịu được sự tác oai, tác quái của bọn yêu quỷ. Vì vậy mà trước khi đốt đền, Ngô Tử Văn đã tắm rửa sạch sẽ và khấn trời chứng giám cho hành động chính trực của mình. – Nhân vật Bách hộ họ Thôi từ một kẻ hung hăng hiếu thắng trở thành một kẻ thất bại thảm hại. Khi thấy Tử Văn trả lời cứng cỏi, hắn đã cố xúc xiểm Diêm Vương để mong vua cõi Minh ti tin lời hắn, trị tội Tử Văn. Đến khi hắn thấy Diêm Vương sai người đến núi Tản Viên để lấy chứng thực, hắn bắt đầu run và xin nhẹ tội cho Tử Văn. Nào ngờ Diêm Vương là một quan tòa hết sức nghiêm minh, giữ vững cán cân công lí đã xử hắn tội vu cáo và tội hại dân, đày hắn xuống ngục Cửu u, tỏ lời khâm phục và ban thưởng cho Tử Văn. 2. Qua lời giới thiệu về Tử Văn và nguyên nhân đốt đền, ta hiểu rõ Ngô Tử Văn là một kẻ sĩ chính trực đúng như lời bình của tác giả ở cuối truyện: “Ngô Tử Văn là một chàng áo vải. Vì cứng cỏi mà dám đốt đền tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người. Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng. Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi”. Không có lời bình nào cho Ngô Tử Văn xác đáng hơn lời bình này.Xem thêm: Phân tích bi kịch của Tiểu Thanh và sự đồng cảm của tác giả trước bi kịch đó. Chỉ ra điểm tương đồng giữa bài Đọc Tiểu Thanh kí với đoạn thơ sau trong Truyện Kiều: Rằng: Hồng nhan, ... thế nào3. Truyện kể về cuộc đấu tranh giữa người và tà thần. Đây là cuộc đấu tranh không khoan nhượng, một mất, một còn vì sự chính trực, vì hạnh phúc của nhân dân. Thế lực ma quỷ tà thần chính là những thế lực hắc ám, trong đó có cả thế lực ngoại xâm, thế lực của những kẻ cậy quyền, cậy thế, chà đạp lên công lí và nhân phẩm con người trong thời đại Nguyễn Dữ. 4. Truyện đầy rẫy những yếu tố kì ảo, hoang đường của truyền kì. Ngay cả nhân vật Ngô Tử Văn cũng là một nhân vật truyền kì khi tiếp xúc với thế giới Minh ti, khi làm chức Phán sự cõi Minh ti và khi xuất hiện trong sương mù lần cuối ở phía Tây thành Đông Quan tức Hà Nội ngày nay. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận nội dung và nghệ thuật truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của Nguyễn Dữ
1,060
Cảm nhận thêm một nét đẹp từ Bác Hồ kính yêu qua văn bản: Đức tính giản dị của Bác Hồ (Tác giả Phạm Văn Đồng) Gợi ý Bài văn Đức tính giản dị của Bác Hồ trích từ diễn văn Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại do Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc trong lễ kì niệm 80 năm ngày sinh Chủ lịch Hô Chí Minh (1970). Phạm Văn Đồng là một trong những học trò xuất sắc và là người cộng sự gần gũi suốt mấy chục năm sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ. Các tác phẩm tiêu biểu của ông như: Hồ Chí Minh, hình ảnh của dân tộc (1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại (1970) không chỉ nói về sự nghiệp và lí tưởng cách mạng cao cả mà còn phản ánh trung thực lối sống giản dị và phẩm chất đạo đức tốt đẹp của Bác Hồ. Có thể coi đây là bài văn nghị luận chứng minh mà sức thuyết phục của nó toát lên từ tính cụ thể, chân thực và toàn diện của chứng cứ. Tác giả đã kết hợp giữa chứng minh với nhận xét, giải thích và bình luận để làm nỗi bật đức tính giản dị của Bác Hồ và thể hiện sự thống nhất giữa đức tính ấy với các phẩm chất cao quý khác trong con người Bác. Dựa trên vốn hiểu biết sâu sắc và tình cảm yêu mến, kính phục chân thành đối với lãnh tụ cách mạng tài ba, qua bài văn, tác giả khẳng định giản dị là đức tính nổi bật của Hồ chủ tịch. Bác giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong lời nói và bài viết, ở Bác, sự giản dị kết hợp hài hòa hợp với đời sống tinh thần phong phú, với lí tưởng cách mạng kiên trung. Trong phần mở đầu văn bản, tác giả đã nêu lên nhận xét: Điều rất quan trọng cần phải làm nổi bật là sự nhất quán giữa đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn của Hồ Chủ tịch. Tiếp theo là lời khẳng định thể hiện rõ tình cảm kính yêu và khâm phục của tác giả đối với Bác: Rất lạ lùng, rắt kì diệu là trong 60 năm của một cuộc đời đầy sóng gió diễn ra ở rất nhiều nơi trên thế giới cũng như ở nước ta, Bác Hồ vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quý của một người chiến sĩ cách mạng, tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp. Xem thêm: Tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh được sáng tác trong hoàn cảnh nào? Hãy trình bày ngắn gọn những nội dung chính của tác phẩm này Đức tính giản dị của Bác trong đời sống hằng ngày được tác giả ngợi ca bằng những mĩ từ: trong sáng, thanh bạch, tuyệt đẹp… rất lạ lùng, rất kì diệu… Tính từ thanh bạch thể hiện chính xác nhất đức tính giản dị đó. Nếp sống thanh bạch của Bác Hồ là nếp sống của một vị lãnh tụ cách mạng chân chính, suốt đời cống hiến, hi sinh cho đất nước và dân tộc. Tác giả đã đưa ra những lí lẽ chặt chẽ và dẫn chứng chính xác, cụ thể để chứng minh cho sự giản dị trong tác phong sinh hoạt và trong quan hệ với mọi người của Bác Hồ. Trong tác phong sinh hoạt, sự giản dị của Bác thể hiện ở bữa cơm, đồ dùng, căn nhà, lối sống: Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm, ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại thì được sắp xếp tươm tất. Tác giả đưa ra lời bình luận xác đáng về ý nghĩa sâu xa của những việc Bác làm: ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ. Bác ăn uống hết sức đạm bạc, còn nơi ở thì: Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn có vài ba phòng, và trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao! Sự kết hợp hài hòa giữa chứng minh, bình luận và biểu cảm đã tạo nên tính hiện thực và tính trữ tình cho đoạn văn. Bên cạnh đó, nó cũng thể hiện hiểu biết sâu sắc và tình cảm chân thành của người viết, do vậy mà xúc động lòng người. Nói về sự giản dị của Bác Hồ trong quan hệ với mọi người, tác giả đã nêu ra những dẫn chứng cụ thể để minh họa: Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ việc rất lớn: việc cứu nước, cứu dân đến việc rất nhỏ, trồng cây trong vườn, viết một bức thư cho một đồng chí, nói chuyện với các cháu miền Nam, đi thăm nhà tập thể của công nhân, từ nơi làm việc đến phòng ngủ, nhà ăn… Trong đời sống của mình, việc Bác tự làm được thì không cần người giúp, cho nên bên cạnh Bác người giúp việc và phục vụ có thể đếm trên đầu ngón tay, và Bác đã đặt cho số đồng chí đó những cái tên mà gộp lại là ý chí chiến đấu và chiến thắng: Trường, Kì, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi! Xem thêm: Cho câu chủ đề: “Sách là kho tàng quý báu cất giữ di sản tinh thần nhân loại”. Dựa vào câu chủ đề trên, em hãy viết một đoạn văn phân tích tổng hợp (khoảng 10 câu) Yêu Bác, hiểu Bác nên tác giả đã có những nhận xét, phân tích rất chính xác về cội nguồn và bản chất đức tính giản dị của Bác Hồ. Nhưng chớ hiểu lầm rằng Bác sống khắc khổ theo lối nhà tu hành, thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật. Bác Hồ sống đời sống giản dị, thanh bạch như vậy, bởi vì Người sống sôi nổi, phong phú đời sống và cuộc đấu tranh gian khổ và ác liệt của quần chúng nhân dân. Đời sống vật chất giản dị càng hòa hợp với đời sống tâm hồn phong phú, với những tư tưởng, tình cảm, những giá trị tinh thần cao đẹp nhất. Đó là đời sống thực sự văn minh mà Bác Hồ nêu gương sáng trong thế giới ngày nay. Bác Hồ sống giản dị vì suốt cuộc đời hoạt động cách mạng hơn sáu mươi năm, Người được tôi luyện trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng khỏi xích xiềng nô lệ thực dân của nhân loại và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ xâm lăng đau thương, oanh liệt của dân tộc. Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: Đó là đời sống thực sự văn minh mà Bác Hồ nêu gương sáng trong thế giới ngày nay. Những lời giải thích, bình luận nêu trên hoàn toàn đúng với bản chất của Bác. Lối sống giản dị về vật chất hòa hợp với sự phong phú về tinh thần, tạo thành phẩm chất cao quý tuyệt vời. Nghĩ về Bác, mọi người đều có chung cảm xúc yêu mến và kính phục, đúng như nhà thơ Tố Hữu đã ca ngợi: Như đỉnh non cao tự giấu mình Trong rừng xanh lá ghét hư vinh Mong manh áo vài hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. (Theo chân Bác) Để chứng minh cho sự giản dị trong lời nói và bài viết, tác giả đã dẫn chứng câu nói nổi tiếng của Bác như: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Hoặc: nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi. Đó là những câu nói cô đọng, hàm súc về nội dung ý nghĩa và ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Hầu trời” Bác đã dùng cách nói giản dị để nói về những điều lớn lao vì Bác muốn quần chúng nhân dân hiểu được, nhớ được, làm được. Những lời nói và bài viết của Bác có tác dụng tập hợp, lôi cuốn, cảm hóa lòng người rất lớn. Mọi người đều hiểu và quyết tâm thực hiện bằng được những lời dạy quý báu của Bác Hồ. Những chân lí giản dị mà sâu sắc đó lúc thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Lời bình luận này của tác giả đã đề cao sức mạnh phi thường của những chân lí mà Bác nêu ra dưới hình thức của những câu nói tự nhiên, mộc mạc, giản dị và sâu sắc. Lời Bác đã khơi dậy lòng yêu nước, ý chí cách mạng trong quần chúng nhân dân. Quả là Bác Hồ giản dị mà vĩ đại như chân lí. Giản dị là một đức tính, một phẩm chất nổi bật và nhất quán trong lối sống, sinh hoạt, trong quan hệ với mọi người, trong công việc và cả trong lời nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là điều mà bất kì ai khi được tiếp xúc với Người đều cảm nhận được, nhưng hiểu và đánh giá đúng được phẩm chất ấy ở lãnh tụ Hồ Chí Minh thì không phải dễ dàng. Hình ảnh bộ quần áo nâu, đôi dép lốp cao su… đã gắn với cuộc sống đời thường của Bác. Bác cũng đã thể hiện quan niệm sống giản dị mà rất đỗi thanh cao ấy trong một số bài thơ: Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe Trần mà như thế kém gì tiên. (Sáu mươi tuổi) Sống quen thanh đạm nhẹ người Việc làm ngày rộng tháng dài ung dung. (Sáu mươi tuổi) Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Cháo hẹ, rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang! (Tức cảnh Pác Bó) Văn bản nghị luận Đức tính giản dị của Bác Hồ đã làm cho chúng ta hiểu thêm về phẩm chất tốt đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ cách mạng tài ba, người Cha già kính yêu của dân tộc và nhà văn hóa lớn của nhân loại. (Những Bài làm văn mẫu 7, tập 2) Vanmau.edu.vn
Cảm nhận thêm một nét đẹp từ Bác Hồ kính yêu qua văn bản_ Đức tính giản dị của Bác Hồ (Tác giả Phạm Văn Đồng)
1,836
Cảm nhận truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục – Trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ) Gợi ý Đây là một trong số 20 truyện trong tác phẩm Truyền kì mạn lục viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ (nhà văn Việt Nam thế kỉ XVI). Phụ nữ và nho sĩ là hai loại nhân vật chính của “Truyền kì mạn lục”. Hình tượng đẹp đẽ nhất của loại nho sĩ hành đạo là từ Tử Văn trong truyện Chuyện chức phán sự đền Tản viền, xét trong thể loại truyện truyền kì ở Việt Nam không có nhân vật nào so sánh được và ở các truyện kì Trung Quốc, Triều Tiên đã được chuyển ngữ ra tiếng Việt cũng vậy. Cách giới thiệu nhân vật Tử Văn cũng tương tự cách giới thiệu nhân vật Đại Dị trong chức tư pháp ở điện Thái Hư: “Phùng Đại Dị, tên chính là Kì, một cuồng si ở miền Ngô, Sở, thường cậy tài kiêu ngạo, không tôn kính quỷ thần. Phàm nơi có yêu quái nhờ dựa cỏ cây, làm người đời khiếp hãi thì thế nào chàng cũng ra tay đối địch, tới nơi ắt mắng chửi, làm nhục rồi mới chịu thôi. Có khi còn đốt đèn thờ, dìm tượng nước, dũng cảm không kiêng nể, vì vậy mọi người đều khen có can đảm”. Truyện rất giàu tính kịch qua việc các nhân vật xung đột với nhau gay gắt. Tình thế lúc này đạt đến cao trào. Việc Thổ công đến có tác dụng như mở nút một lớp kịch. Tử Văn hiểu thêm về sự việc, được cổ vũ tinh thần để đấu tranh cho lẽ phải. Câu chuyện được bổ sung bằng chi tiết thấm đậm ý vị triết lí: Khi người còn sống vị tha thì nhất định họ không đơn độc! Giờ đây đối với chàng ngoài tình cảm và ý chí đấu tranh cho lẽ phải còn có thêm nghĩa khí và tình cảm của dân tộc. Vốn là người cương trực, yêu lẽ phải, khi tường tận mọi điều, chàng ngạc nhiên pha chút bất bình vì Thổ công cam tâm “làm một người áo vải nhà quê”. Lời Thổ công như những khái quát đầy cay đắng về nhân tình thế thái đương thời, ẩn sau đó có cả nỗi ngao ngán của Nguyễn Dữ về thời cuộc, điều khiến ông phải từ quan. Câu nói của Tử Văn cho thấy chàng thoáng chút hoang mang: – Hắn có thực là tay hung hãn, có thể gieo vạ cho tôi không? Lời nhân vật tuy ngắn, nhưng cho thấy nhà văn am tường tâm lí con người. Khi Tử Văn đơn độc đối diện với cái ác, chàng không sợ. Nhưng khi biết của đút lót có thể làm tha hóa cả cõi âm, số đông đã đứng về kẻ phi nghĩa, nếu chàng không chút lưỡng lự thì quá phi thường, khó tin.Xem thêm: Viết một đoạn văn ngắn so sánh tính cách nhân vật Trương Phi và Quan Công qua Hồi trống cổ Thành (Trích Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung) Nguyễn Dữ đã hình dung về thế giới quỷ thần từ những kinh nghiệm của cõi người. Ớ đó kẻ gian xảo cũng đánh lộn sòng phải trái, tìm sự che chở của toàn án. Uy lực của hắn khiến Thổ công khiếp sợ đến mức phải “nhân lúc hắn đi vắng, lén đến”. Đối phó với một tượng như vậy Tử Văn phải dựa vào Thổ công và cả hai chủ động dùng mưu mẹo. Xưa nay văn chương viết về thần linh ma quỷ chỉ hấp dẫn khi làm cho người ta qua đó mà hiểu thêm con người bằng một cách nhìn khác, thật sinh động. Đây là điều khiến cho dù con người “khôn” đến mức nào đi nữa thì tác phẩm viết về thế giới siêu thực với trình độ nghệ thuật cao vẫn tồn tại và thực sự có ích. Nó không hề là “mê tín dị đoan” đơn giản như ai đó đánh giá. Tử Văn được xuống âm phủ đôì diện với người có quyền lực cao nhất ở đó. Để nhập được vào cõi ấy, chàng phải tạm chết. Đây là một điểm đặc biệt trong quan niệm về sự sinh tử của con người ở trong truyện truyền kì. Nếu người đọc không chấp nhận theo ước lệ đó, cứ tư duy theo lẽ phải thông thường thì không thấy được cái hay cái đẹp của tác phẩm. Điều đó khiến cho thể loại văn học viết này với một số thể loại của văn học dân gian, nhất là truyện cổ tích thần kì có sự gần gũi. Kẻ gian xảo đã đến trước chàng và đang kêu oan. Hắn đóng kịch giỏi đến mức Diêm Vương – vốn có khả năng thấu hiểu mọi sự, không ai che giấu được điều gì – cũng bị lừa. Những lời quát mắng (cũng có ý nghĩa như những lời tuyên án) của kẻ có quyền lực cao nhất ở âm phủ khiến cho bất cứ ai không trung thực và không cứng cỏi phải run sợ. Mâu thuẫn giữa Tử Văn và hồn ma viên tướng được đẩy lên độ cao. Người đọc hồi hộp vì đối thủ của chàng đã tranh thủ được thế lực có quyền vô biên vô lượng. Tuy nhiên, chàng không đơn thương độc mã vì đã, đang và sẽ được Thổ công hỗ trợ. Cảnh xử kiện này thật sinh động và người đọc thấy không khác mấy cảnh nơi công đường xưa, khác chăng chỉ là một số hình dạng, tên gọi của những đối tượng tham gia vào cuộc tranh tụng. Trước nguy cơ bị lật tẩy và bị Diêm Vương trừng trị, đốì thủ của Tử Văn khôn khéo tìm đường lui: – “Gã kia là một kẻ học trò, thật là ngu hướng, quả đáng tội lắm. Nhưng đã trách mắng như vậy, cũng đủ răn đe rồi. Xin đại vương khoan dung tha cho hắn để tỏ cái đức rộng rãi. Chẳng cần đòi hỏi dây dưa. Nếu thẳng tay trị tội nó, sợ hại đếnXem thêm: Anh (chị) nghĩ gì về thời gian và niềm tinGiọng lưỡi này nghe thật quen, gợi ta nhớ đến những kẻ phi nghĩa có học đến từ phương Bắc, cướp nước ta, giết hại dân ta như Nguyễn Trãi khái quát, mà cứ leo lẻo chiêu bài nhân nghĩa “hưng diệt kế tuyệt” (phục hưng nước bị mất, nối lại dòng vua đã bị diệt). Truyện này nói riêng và Truyền kì mạn lục nói chung cho thấy tinh thần dân tộc của tác giả rất cao, biểu hiện qua việc gắn chuyện ma quỷ với các sự kiện lịch sử, có ý thức nuôi dưỡng những tình cảm dân tộc tốt đẹp. Điều này nhiều học giả Pháp, Nga, Đài Loan đều ghi nhận và cho rằng nó là một giá trị để phân biệt tác phẩm của Nguyễn Dữ với các tác phẩm truyền kì Triều Tiên, Nhật Bản cùng tiếp thụ Tiễn đăng tân thoại. Những sự thực rõ ràng đã làm Diêm Vương tỉnh ngộ, trở lại công minh, có lời lẽ và hành động như người ta ao ước. Lời Diêm Vương chỉnh đốn những kẻ thuộc hạ chẳng khác gì lời đấng minh quân đàn hặc. Đúng là hình tượng Diêm Vương do một nhà nho dù ở ẩn vẫn nặng lòng với chính sự sáng tạo, nên dù thật xa cách về thời gian và không gian vì thuộc hai cõi, mà vẫn tường tận những tệ lậu của chính sự đời Hán, đời Đường! Nguyễn Dữ không có khi nào mê say với cõi siêu thực mà quên đi cõi thực, điều này thấy cả ở sự xử lí những việc lớn liên quan đến chính sự hay chỉ việc nhỏ liên quan đến đời thường. Nhà văn thật hóm khi để Diêm Vương cho Tử Văn hưởng một phần xôi lợn của dân cúng tế. Ta như hình dung thấy cảnh viết đến đây nhà văn mỉm cười hạ bút, vuốt râu, chiêu một ngụm trà thanh khiết tự thưởng cho mình. Nhiều truyện truyền kì tương đồng với truyện dân gian có cách kết thúc có hậu. Tuy nhiên nếu là tác phẩm của nhà văn tài năng thì cạnh những giá trị tượng đồng nhất định có sự khác biệt, truyện này cũng vậy. Kết thúc truyện là nhân vật chính diện sau khi trải qua những thử thách lớn, đã chiến thắng và được phong thưởng, ở truyện dân gian, phần lớn các trường hợp là nhân vật được phần thưởng vật chất để phú quý, thọ, khang, ninh… tóm lại là để hưởng thụ, xứng với đức hạnh, công lao hoặc bù cho thiệt thòi trước đó của họ. Sự khác biệt lớn giữa Tử Văn và Phùng Đại Dị cũng thấy rõ ỡ kết thúc truyện. Phùng hành xử chỉ vì bản thân. Tử Vãn tích cực đấu tranh cho lẽ phải, chàng chưa bao giờ vương vấn hình dung đến kết cục tốt đẹp cho riêng mình. Phần thưởng cho Tử Văn chủ yếu là sự vinh danh qua việc đặt chàng vào một chức vụ cao hợp với tính cách, ở đó chàng sẽ phải nỗ lực đưa tài năng và đức độ vì chính nghĩa. Tác giả đã chọn không chỉ một công việc thích hợp mà còn ở một địa điểm đặc biệt. Với người nam chúng ta xưa nay, đền Tản Viên thuộc số thượng đẳng trong những chôn thiêng. Thần Tản Viên từng giúp vua Hùng chông ngoại xâm. Đây là nơi thờ một trong Tứ Bất Tử. Chi tiết này cũng biểu hiện tình cảm của Nguyễn Dữ đôi với cuộc đời. Ông đang sông trong thời buổi phong kiến suy đồi, đầy nhiễu nhương, đến mức dù chỉ làm chức quan nhỏ (tri huyện) cũng thấy ghê sợ hãi hùng, phải lấy cớ về nuôi mẹ già để xa lánh cõi đời ô trọc. Thế nhưng ông tin rằng đâu đó vẫn còn những đấng bậc cao minh, liêm khiết và cương trực cầm cân nẩy mực để hộ dân, cứu đời. Trong văn chương, không chỉ ở thơ mà ở văn xuôi cũng vậy, ranh giới giữa miêu tả hiện thực và sự tự biểu hiện của nhà văn luôn hòa quyện.Xem thêm: “Hiền... thấp” (Thân Nhân Trung). Từ ý kiến trên, hãy trình bày ý kiến của anh (chị) về việc rèn luyện tài đức và trách nhiệm với quốc gia của mỗi con người. (Yêu cầu viết một bài văn) Tử Văn thuộc nhân vật hiệp sĩ trong truyện truyền kì. Hình tượng này thật đẹp đẽ. Từ chỗ chống cái xấu cái ác như xuất phát từ bản năng, Tử Văn hành xử ngày càng lí trí hơn, ý nghĩa của các hành động của chàng cũng ngày càng được nâng cao. Ca ngợi Tử Văn cũng chính là chúng ta đang ca ngợi Nguyễn Dữ. Nhà văn đã xây dựng thành công một hình tượng con người yêu lẽ phải, cương trực dám xả thân cho niềm tin của mình. Nhà Việt Nam học xuất sắc người Nga N.I. Niculin coi truyện này là “hồi âm của cuộc đấu tranh giải phóng” thật xác đáng. Chính nhân vật Tử Văn đóng vai trò chủ yếu trong việc tạo nên ý niệm đó. Không nên coi đây là truyện kể về cuộc đấu tranh sống còn giữa hai thế lực: một bên là con người (do Ngô Tử Văn đại diện), một bên là thần linh, ma quỷ (Minh Ti, hồn viên Bách hộ họ Thôi…). Toàn bộ 20 truyện của Truyền kì mạn lục cũng không có truyện nào như vậy. Nguyễn Dữ cho rằng ỏ’ các thế giới khác (Thượng giới, thủy cung, âm phủ) cũng đều có những đối tượng đáng yêu hay đáng ghét. Nếu nhà văn nào vạch đôi hai cõi như ý kiến trên nhận định thì tất đã tìm đến thể loại khác. Còn đâu là truyện truyền kì khi phủ định điều căn cốt nhất trong quan niệm của nó về thế giới và con người? Vanmau.edu.vn
Cảm nhận truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục – Trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ)
2,059
Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng… Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.” (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận) Gợi ý Đề bài: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bồng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng. Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long. Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào." (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận) Bài làm: Có ai đó từng cho rằng: một trong những nguồn gốc quan trọng của thơ ca chính là đời sống lao động của nhân dân. Điều đó hẳn đúng với bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận. Bài thơ thực sự cất lên từ nhịp sống lao động hăng say, khoáng đạt của những người dân vùng chài. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp và mối giao hòa giữa con người và thiên nhiên trên cái nền lộng lẫy, tráng lệ của vũ trụ biển cả. Đoạn thơ sau trong bài thơ tiêu biểu cho điều đó: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bồng, Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng. Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe. Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long. Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào." Bài thơ được sáng tác trong chuyến đi công tác của Huy Cận tại vùng mỏ Hòn Gai, Quảng Ninh năm 1958 và được bắt nguồn từ cảm hứng ngợi ca công cuộc xây dựng chú nghĩa xã hội của miền Bắc tự do độc lập. Với ý nghĩa đó, bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" là khúc tráng ca, ca ngợi con người laò động với tinh thần làm chủ và niềm vui, niềm tin trước cuộc sống mới trong những năm đầu xây dựng đất nước.Xem thêm: Soạn bài: Tập đọc Sắc màu em yêu Ba khổ thơ trên nằm giữa bài thơ. Mở đầu bài thơ là hình ảnh hoàng hôn trên biển và những con thuyền đánh cá ra khơi. Người dân chài đến với biên lớn bằng một tinh thần lao động hăng say và tâm hồn khỏe khoắn “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”. Và biển cá bào la giàu có phóng khoáng dang tay đón họ: “Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!”. Những khố thơ trên nối tiếp mạch cảm xúc đó. Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Thuyền có lái, có buồm nhưng lái bằng gió, buồm là buồm trăng. Đoàn thuyền lướt đi trong đêm không phải bằng sức mạnh của con người mà bằng sức mạnh của câu hát hoà cùng sức mạnh của gió, cộng hướng sức mạnh của trăng: Bởi thế mà thuyền như lướt đi, như bay lên. Con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé qua cảm hứng vũ trụ đã trở nên kỳ vĩ, khổng lồ, sánh ngang tầm với vũ trụ. Và trên con thuyền ấy, người như dần hiện lên trong tư thế làm chủ: Ra đậu dặm xa dò bụng biển Dàn đan thế trận lưới vây giăng Đã qua rồi thời con người còn nhỏ bé, đơn độc trước sức mạnh bí ẩn của biển cả. Mang trong mình khí thế của người làm chủ, biển như hẹp lại đề con người "ra đậu dặm xa", "dàn đan thế trận" và "dò bụng biển" để con người tìm tòi, khám phá. Họ đàng hoàng ra những nơi xa để bắt thiên nhiên phục vụ. Họ những dân chài mang theo cả sức trẻ, sức khoẻ, mang theo cả sự tìm tòi, khám phá để tung phá thế giới bí hiểm của thiên nhiên. Việc đánh bắt ấy như một trận chiến mà mỗi người lao động như một chiến sĩ. Hát khi ra khơi, hát cho cuộc hành trình và những người lao động còn hát để ca ngợi sự giàu đẹp của biển cả: Cá nhụ cá chim cùng cá đé Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Các loài cá được kể tên: cá nhụ, cá chim, cá đé, cá song đã nói lên sự phong phú, giàu có của biển. Không chỉ giàu mà biển còn rất đẹp:Xem thêm: Phân tích hình tượng nhân vật Giăng - van - giăng trong đoạn trích “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” (Huy- gô)Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé Dưới ánh trăng, cá song quẫy mặt nước. Thân cá có khoang màu hồng lấp lánh như ánh sáng chuyến động dưới ngọn đuốc. Hình ảnh ấy cũng từng gợi hứng cho nhà thơ Chế Lan Viên viết nên câu thơ kì tài: “Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về”. Có thể nói, với hình ảnh cá song, hai nhà thơ khôrig chỉ gặp nhau ở sức liên tưởng mà còn “cùng chí hướng” ở cảm hứng sáng tác: nghệ thuật bắt nguồn từ hiện thực, từ đời sống lao động của quần chúng nhân dân. Đoạn thơ mang nhiều sắc ánh sáng: ánh sáng đen hồng, lấp lánh của cá song, ánh sáng vàng choé của trăng vỡ trên mặt nước. Những gam sắc ánh sáng hoà cùng bóng tối của màn đêm tạo ra bức tranh sơn mài lóng lánh sắc màu. Trong niềm xúc động, nhà thơ như thấy đâu đây hình ảnh những nàng tiên cá thần kì và do đó, Huy Cận đã viết một câu thơ thật thi vị, hữu tình: “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”. Hình ảnh ấy càng được tôn lên bội phần bởi một liên tương tài tình: Đém thở sao lùa nước Hạ Long Hình ảnh nhân hoá thật độc đáo. Đêm vẫn thư giãn và thủy triều lên xuống tạo ra hơi thở của đêm. Những đốm sao bạt ngàn in trên mặt nước, trôi dạt trên đầu những ngọn sóng triều đập vào bãi cát được ví như: "lùa nước Hạ Long". Sao với nước cũng Xuất hiện và tồn tại trong nhịp thở của đêm. Nối những miền không gian lại với nhau, thiên nhiên như bức tranh sơn mài tráng lệ và kỳ ảo. Tiếng hát theo những người dân chài trong suốt cả cuộc hành trình và giờ đây tiếng hát cất lên là đế gọi cá vào lưới: Ta hát hài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Người dân gọi cá bằng tiếng hát và trăng tạo ra nhịp gõ. Động tác lao động bình thường: gõ nhịp vào mạn thuyền để dồn cá, qua lăng kính cảm xúc bỗng trở nên đẹp đẽ lạ thường. Trăng lên cao dần từng lúc, trăng tan vào nước biến, vỗ vào mạn thuyền làm nhịp hay con thuyền đang lướt dập dềnh bồng bềnh giữa biển khơi như chạm vỡ ánh trăng tạo thành nhịp. Công việc đánh bắt cá từ nặng nhọc bỗng trở nên thi vị lâng mạn. Từ sự giàu đẹp của biển là những suy ngẫm về lòng biển bao dung:Xem thêm: Phân tích nhân vật bé Thu trong truyện ngắn Chiếc lược ngàBiển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào Nhà thơ Huy Cận đã thật tài tình khi so sánh lòng biển với "lòng mẹ". Biển cả dữ dội và bao la và lòng biên thẳm sâu không còn là điều kì bí, đáng sợ. Với nhà thơ, lòng biến mênh mông, rộng rãi đầy cá như tấm lòng mẹ bao dung, độ lượng. Chính lòng biển là lòng mẹ đã "nuôi lớn đời ta tự buổi nào". Câu thơ là khúc tâm tình thiết tha với biển thân yêu, là lời cảm ơn biển, biển vừa bao la mà lại trĩu nặng yêu thương. Bài thơ là sự kết hợp của hai nguồn cảm hứng: cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui, sự hào hứng trong thời kỳ miền Bắc bước vào xây dựng cuộc sống mới và cảm hứng vũ trụ vốn là nét nổi bật trong hồn thơ Huy Cận. Sự gặp gỡ, giao hoà của hai nguồn cảm hứng đó đã tạo nên những hình ảnh rộng lớn, tráng lệ, lung linh như những bức tranh sơn mài của đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung. Ngợi ca vẻ đẹp hùng tráng và thơ mộng của biển khơi, ngợi ca cuộc sống tưng bừng niềm vui xây dựng, bài thơ thực sự là tiếng hát cât lên từ hồn thơ Huy Cận đế dâng tặng cuộc đời. Mang trong mình cả phong vị cố điển nhưng lại rất hiện đại ở những liên tưởng bất ngờ, cảm hứng vũ trụ hoà cùng dòng cảm hứng lãng mạn, bài thơ mở ra một viễn cảnh thật huy hoàng và tràn đầy niềm tin vào một tương lai nhất định nở hoa. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ_ “Thuyền ta lái gió với buồm trăng… Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.” (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận)
1,548
Cảm nhận về 8 câu cuối đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Bài làm Nhắc đến Đặng Trần Côn ta thường nhớ đến ông là một nhà thơ sống vào đầu thế kỉ XVIII, mặt khác tên tuổi của ông còn gắn liền với tác phẩm nổi tiếng “Chinh phụ ngâm” .Trong đó 8 câu cuối của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của toàn bộ tác phẩm qua việc thể hiện khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ trong thời chiến loạn “Lòng này gửi gió Đông có tiện ? Nghìn vàng xin gửi đền non Yên Non Yên dù chẳng tới miền Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa với khôn thấu Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun” Nhớ hình bóng của người chồng , người chinh phụ thỗn thức hướng cái nhìn nội tâm về miền biên ải xa xôi.Nếu như ở khổ trước người chinh phụ càng cảm thấy cô đơn buồn sầu tới bao nhiêu thì ở 8 câu này nỗi nhớ nhung của người chinh phụ lại càng tăng lên bây nhiêu cùng với sự thương nhớ ấy là tâm trạng lo lắng cho số phận của người chồng nơi biên ải . Trạng thái lo lắng của người chinh phụ được tác giả thể hiện như một mạch ngầm dù người chinh phụ không nói ra nhưng ta vẫn cảm nhận được , thể hiện sự tinh tế trong miêu tả nội tâm của tác giảXem thêm: Tiếng khóc của Nguyễn Du trong bài thơ Độc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) Đầu tiên tác giả đã nhân hoá gió đông như một người đưa tin đến non Yên nhằm nhấn mạnh nỗi mong nhớ lo lắng của người chinh phụ về người chồng Lòng này gửi gió đông có tiện ? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Vì quá thương nhớ chồng mà người vợ phải nhún nhường xin hỏi ngọn gió để gửi tin cho chồng mình, phải nói đó là một người đưa tin đặc biệt , đưa một cái tin đặc biệt đó là cái tin về tình cảm yêu thương nhung nhớ của người vợ giành cho người chồng nơi chinh chiến.Ngoài ra cái tin ấy được đưa đến”non Yên”- một vùng hẻo lánh xa xôi nơi người chồng đang xông pha trận mạc ,khốn nguy vô cùng .Qua việc dùng bút pháp nhân hoá , hình ảnh ước lệ “non Yên” , “gió Đông”,câu hỏi tu từ tác giả mở ra không gian mênh mông gợi thêm nỗi trống trãi cô đơn cho cảnh vật từ đó xoáy sâu vào sự nhớ nhung khắc khoải, da diết của người chinh phụ Nỗi nhớ đằng đẳng ấy làm nàng mòn mỏi cuối cùng được nâng lên thành nỗi đau, một nỗi đau vô hình đã dược tác giả tạo hình hài qua 4 câu Non Yên dù chẳng tới miền Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời Trời thăm thẳm xa với khôn thấu Thiếp nhớ chàng đau đáu nào xong Cùng với nỗi nhớ thương mong đợi ,từ “đằng đẵng” gợi cảm giác triền miên liên tục tưởng kéo dài đến vô tận nên được tác giả hình dung bằng sự so sánh với đường lên trời.nỗi nhớ của người chinh phụ đằng dẵng, miệt mài,không thể nguôi ngoai và không thể dùng toán học mà cân đếm được.Nhưng trớ trêu thay khoảng cách giữa nàng và người chồng dường như khó chạm tới dược , sự xa cách nghìn trùng mây .Bằng việc mở rộng không gian ,”trời thăm thẳm xa với khôn thấu”như là lời than thở,ai oán thể hiện sự tuyệt vong của người chinh phụ sau nhiều ngày tháng mòn mỏi đợi tin chồng và chính từ đó nỗi đau xuất hiện, từ “đau đáu” biểu lộ sắc thái tăng tiến,sự dồn nén cảm xúc thành nỗi xót xa đắng cay nối dài bất tận trong lòng người chinh phụXem thêm: Viết một bài văn ngắn với chủ đề: Không thể thiếu tình bạn Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: "Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", người chinh phụ thấy cảnh vật vô hồn, thê lương như tâm trạng của mình lúc bấy giờ Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Đó là mối quan hệ giữa con người và tâm cảnh , người vui thì tâm trạng vui thấm vào cảnh vật nhìn đâu cũng thấy toàn niềm vui chất chứa sự sống.Còn người buồn thì nỗi buồn thấm vào tâm can nên nhìn cảnh vật thấy sầu não ,thê lương.Ỡ đây hình ảnh “cành cây sương đượm”,”tiếng trùng”,”mưa phun” là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi buồn chất chứa sâu lắng của người chinh phụ ,sự mòn héo của cảnh vật hay do lòng người mòn héo mà ra . Tác giả đã sử dụng điêu luyện thể thơ song thất lục bát, phối hợp các hính ảnh ước lệ “non yên”,”gió Đông”,với hình ãnh ẩn dụ “sương đượm”,”mưa phun” ,đặc biệt là sự thành công trong bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật, tả cảnh ngụ tình tác giả đã đưa người đọc qua các cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ trình một cách tự nhiên nhất và thể hiện ước mơ khát vọng chính đáng của họ về tình yêu và hạnh phúc Với cách dùng từ hình ảnh ước lệ ,đoạn thơ đã thể hiện một cách tình tế khát khao về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ .Đồng thời thể hiện sự thương cảm sâu sắc của tác giả với ước mơ chính đáng của người phụ nữ cũng là lời tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa là biểu hiện của cãm hứng nhân văn cho toàn doạn tríchXem thêm: Phân tích đoạn thơ sau đây trích trong bài Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ… Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi
Cảm nhận về 8 câu cuối đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
1,037
Cảm nhận về ba chữ "Ta với Ta" trong 2 bài thơ hay Hướng dẫn Bà Huyện Thanh Quan và Nguyễn Khuyến là hai nhà thơ lớn của dân tộc, đều làm quan dưới triều Nguyễn, nhưng trong hai thời kì, hai thế hệ cách xa nhau khoảng nửa thế kỉ. Bà Huyện Thanh Quan là một nữ tài tử hiếm có trong xã hội phong kiến. Nguyễn Khuyến là một bậc tài danh lừng lẫy: ‘Tam nguyên Yên Đổ’. Hai bài thơ đều viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật; ba chữ ‘ta với ta’đều nằm cuối bài thơ, trong phần kết: ‘Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta’ (‘Qua Đèo Ngang’) ‘Đẩu trò tiếp khách trầu không có, Bác đến chơi đây ta với ta’ (‘Bạn đến chơi nhà’) ‘Qua Đèo Ngang’tả cảnh con đèo lúc chiều tà và nói lên nỗi buồn của khách li hương; ‘Bạn đến chơi 'nhà"thể hiện một tình bạn tri kỉ, chân thành, quý mến. Do đó, về mặt ngôn ngữ tuy giống nhau, nhưng ý nghĩa và sắc thái biểu cảm hoàn toàn khác nhau. Trời tối dần, người lữ khách đứng trên đỉnh Đèo Ngang vô cùng xúc động ‘dừng chân đứng lại’,bồn chồn trông xa, trông gần chỉ thấy ‘trời non nước’vũ trụ bao la mênh mông. Nỗi buồn thương nhớ gia đình quê hương tưởng như tan nát cả tấm lòng (một mảnh tình riêng) càng cảm thấy lẻ loi cô đơn. Ba chữ ‘ta với ta’là tiếng thở dài, tiếng than cực tả nỗi buồn cô đơn của khách li hương khi một mình đứng trên đỉnh Đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn. Ba chữ ‘ta với ta’trong bài thơ Nguyễn Khuyến lại có một ý vị riêng. Đã lâu, bạn già tâm giao mới đến chơi nhà. Vợ con đều đi vắng cả, chợ lại xa. Không có cơm gà cá gỡ gì để đãi bạn. Không có cải, cà, bầu, bí để tiếp khách. Miếng trầu là đầu câu chuyện cũng không có. Mà chỉ có ‘ta với ta’. ‘Ta’là bác, ‘ta’là tôi, ‘ta’là cả bác với tôi, chan hòa trong một tình bạn tri âm tri kỉ, chân tình, kính mến và quý trọng. Ba chữ ‘ta với ta’biểu hiện một tình bạn đẹp của các nhà nho ngày xưa. Qua đó, ta càng thấy rõ phải đặt ngôn ngữ thi ca vào văn cảnh, ngữ cảnh để cảm thụ. Và ta càng thấy rõ cá tính sáng tạo nghệ thuật của các thi sĩ chân tài. Nguồn: thêm: Tâm trạng của em sau khi để xảy ra một chuyện có lỗi với bạn thân.
Cảm nhận về ba chữ _Ta với Ta_ trong 2 bài thơ hay
438
Cảm nhận về bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Hồ Xuân Hương là một trong những nữ thi sĩ tiêu biểu cho phong trào thơ Nôm Việt Nam. Thơ bà luôn chất chứa tâm trạng, niềm cảm thông với thân phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ. Bánh trôi nước là một trong những bài thơ mang ý nghĩa ấy. Người Việt Nam rất gần gũi và quen thuộc với hình ảnh bánh trôi nước – một loại bánh dân dã, bình thường được thấy quanh năm. Nữ sĩ đã dùng hình ảnh hết sức quen thuộc này để nói lên thân phận của người phụ nữ: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” Bà đã không dùng những hình ảnh mĩ miều để miêu tả về người phụ nữ Việt Nam bằng những hình ảnh như “khuôn mặt hình trái xoan”, hay “đôi mày hình lá liễu”, trái lại bà dùng hình tượng “tròn”, “trắng” để cho ta có thể liên tưởng đến một vẻ đẹp mạnh mẽ, xinh xắn, khỏe khoắn. Chỉ trong một câu thơ ngắn bà đã nói hết được vẻ đẹp đáng yêu của người phụ nữ bằng hình ảnh hết sức đời thường và điệp từ “vừa” càng làm tăng thêm vẻ đẹp đáng quý ấy. Đẹp là thế, đáng yêu là thé nhưng cuộc đời họ lênh đênh chìm nổi như chiếc bánh trôi nước trong nồi. “Bảy nổi ba chìm với nước non”Xem thêm: Suy nghĩ về câu nói của Em-mơ-sơn: “Đời người được đo bằng tư tưởng và hành động, chứ không phải bằng thời gian.” Có lẽ tất cả những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội ấy đều phải chịu chung một số phận bất hạnh. Họ phải chìm nổi, long đong, giữa sống gió cuộc đời. Câu thơ nghe như một tiếng than thầm, cam chịu, nhưng cũng phảng phất vẻ cao ngạo của họ. Cái long đong mà người phụ nữ phải gánh chịu không phải chỉ vì gia đình mà với nước non. Có lẽ với mong muốn được công nhận trong xã hội, được cso quyền giống nam nhi mà bà đã mạnh dạn nói lên khả năng giúp dân giúp nước của người phụ nữ. Bởi trong xã hội đó, người phụ nữ không được coi trọng, dù có tài giỏi, có sắc sảo thì họ cũng chỉ là phận nữ nhi, không có quyền quyết định bất cứ một điều gì. “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” Cuộc đời người phụ nữ trong xã hội cũ từ khi mới sinh ra cho đến lúc lìa đời hoàn toàn phụ thuộc. Khi còn nhỏ thì phụ thuộc vào cha mẹ, khi lấy chồng thì phụ thuộc vào chồng, chồng mất thì phụ thuộc vào con cái. Bãy tỏ nỗi lòng của mình, nhà thơ đã chèn vào ý thơ sự phản kháng, sự đấu tranh để dành lấy quyền tự chủ cho mình. Đó là cái ngông thường xuất hiện trong thơ bà. Nếu như trong ca dao, người phụ nữ được ví: “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” chỉ để thể hiện thân phận lênh đênh. Đến với Hồ Xuân Hương, bà cũng bày tỏ được nỗi khổ cực của những thân phận bất hạnh ấy, nhưng bà đã mạnh dạn khẳng định vẻ đẹp vẫn luôn tiềm ẩn trong những mỗi người phụ nữ, dù cuôc đời có vùi dập họ tới đâu.Xem thêm: Ông cha ta xưa kia có câu: “Mãnh hổ nan địch quần hồ”. Em hãy giải thích câu tục ngữ trên “Mà em vẫn giữ tấm lòng son” Dù xã hội không công nhận, không cho họ một chút quyền lợi, có chà đạp vùi dập họ thế nào, người phụ nữ vẫn giữ được sự son sắt, thủy chung cùng những phẩm chất tốt đẹp của mình. Đó là sự khẳng định của bà và đó cũng chính là phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam. Thông qua hình tượng cái bánh trôi nước, Hồ xuân Hương tố cáo cái xã hội phong kiến vùi dập, chà đạp người phụ nữ, nhưng họ vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý. Có lẽ bà là người đầu tiên đã đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn đối với người phụ nữ – sự bình đẳng giới. Một vấn đề mà hiện nay xã hội rất đang quan tâm. Nguồn:
Cảm nhận về bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
747
Cảm nhận về bài ca dao: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi? Gợi ý Đẹp là trăng, gợi cảm là trăng, hữu tình cũng là trăng. Tất cả được biểu đạt một cách hài hoà làm lòng người xốn xang qua câu ca dao: "Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?" Giản dị và dễ hiểu nhưng không vì thế mà hai câu ca dao mất hay. Cái "hay" trước tiên mà ta cảm nhận được là cái đẹp. Cái đẹp trong hai câu ca dao chính là sự hoà quyện tuyệt vời giữa người và cảnh. Trăng đẹp, gàu nước đẫm ánh trăng vàng sóng sánh cũng đẹp và hơn hết là người. Cái đẹp của chàng trai, cô gái đang độ xuân thì tát nước đêm trăng. Thơ mộng và hữu tình. Ta hãy hình dung nhé. Cả cánh đồng bát ngát được tắm ánh trăng. Trên cái nền trăng ấy, cô gái tát nước hẳn là đang độ trăng tròn, gàu nước cô múc cũng ngời ngợi ánh trăng. Thử hỏi lòng ta có thể dửng dưng được? Vậy thì chàng trai đắm say là chuyện tất yếu. Từ sự đắm say cảnh và người ấy, chàng trai không thể cầm được lòng mình, tiếng lòng thành tiếng thơ, thành câu hỏi tu từ: "Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?" Câu thơ vừa tái hiện được vẻ đẹp của trăng, vừa biểu đạt được cảm xúc đang trào dâng trong hồn người, lòng người. Tinh tế và giàu ý tứ câu hỏi của chàng làm cho cô gái tuổi trăng tròn ấy bối rối và rối cả lòng ta nữa. Trả lời sao đây cho phải, cho hay, cho đẹp như người hỏi và trăng? Nhưng hỏi chỉ để mà hỏi, là cớ để bộc lộ cảm xúc mãnh liệt trước vẻ đẹp của người, của trăng mà chàng trai đang được chiêm ngưỡng đó thôi. Và rất có thể, hỏi chỉ để lấy một cái cớ làm quen, mà rút ngắn cái khoảng cách của từ "cô" mà chàng đã dùng rất ý nhị kia. Và hiểu cho cùng, nói trăng là để giãi bày lòng mình. Hỏi "múc ánh trăng vàng đổ đi?" là để được gần người múc trăng hay chính là ngầm nhắc cô gái trăng tròn ấy đừng làm ngơ trước lòng người như đang sóng sánh cùng trăng. Thật khéo léo, thật tình tứ mà vẫn giản dị, dễ thương. Vậy thì cô gái trăng tròn đang múc từng gàu nước đẫm trăng kia, lòng cô hẳn cũng chẳng thể làm ngơ, hồn cũng đang xao xuyến và sóng sánh cùng trăng cùng người?Xem thêm: Bình giảng bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Chỉ hai câu thôi, tác giả dân gian đã vẽ được một bức hoạ cảnh tát nước đêm trăng. Bức hoạ ấy đã làm say lòng người không biết bao nhiêu thế hệ bởi hơi thở nồng nàn của tình yêu cuộc sống đã thổi hồn cho tranh. Bởi chính ta cũng yêu lắm cuộc sống yên ả thanh bình và dịu ngọt như trăng của đất nước, Cũng yêu lắm những con người đẹp và dịu dàng đằm thắm như trăng quê hương vậy. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài ca dao_ Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi_
548
Cảm nhận về bài ca dao: Khăn thương nhớ ai…Lo vì một nỗi không yên một bể… Hướng dẫn Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai. Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề… Bài ca dao thể hiện nỗi nhớ người yêu của một cô gái. Không chỉ nhớ mà còn có lo phiền, phấp phỏng. Chính sự lo phiền, phấp phỏng ấy đã làm cho nỗi nhớ còn thêm chiều sâu, khiến nỗi nhớ có thể làm lay tỉnh toàn bộ nhân cách con người. Ca dao có rất nhiều bài nói về nỗi nhớ người yêu và mỗi bài lại toát lên một vẻ đẹp riêng. Thường thì nỗi nhớ ấy hay được thể hiện hoặc miêu tả một cách trực tiếp, dù các tác giả dân gian đã dùng rất nhiều ví von. Ở bài ca dao này, cách bày tỏ nỗi nhớ có nhiều điểm khác lạ. sắm vai một người đọc ngây thơ, ta sẽ thấy hình như nhân vật trữ tình dồn toàn bộ sự quan tâm cho khăn, cho đèn, cho mắt, tức là cho những đối tượng mà người ấy nhận rõ là chúng đang nhớ một ai đó. "Khăn thương nhớ ai", "Đèn thương nhớ ai", "Mắt thương nhớ ai" – với chừng ấy câu hỏi đặt ra cho những "người bạn" (riêng với khăn, câu hỏi được nhắc tới ba lần), dường như nhân vật trữ tình không còn mối bận tâm nào khác ngoài việc vỗ về, an ủi khăn, đèn, mắt. Nhưng ta chợt nhận ra một sự vô lí: ngoài khăn và đèn là những vật vô tri không thể biết nhớ, ngay cả mắt (người) đâu có phải là một sinh thể độc lập có thể biết tương tư? Vậy là nhân vật trữ tình đang sống trong cõi ảo, đang trò chuyện với những nhân vật ảo. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi con người có tâm sự quá đầy và bị "cầm tù" bởi tâm sự đó. Tâm sự tràn ra ngoại giới, phủ trùm cái bóng của mình lên tất cả, khiến mọi vật bỗng trở nên có hồn và có thể trở thành những đối tượng chuyện trò. Tuy nhiên, lúc này, chuyện trò với khăn, với đèn, với mắt thì cũng chỉ là chuyện trò với chính lòng mình mà thôi. Nói cách khác chuyện trò với ai, về cái gì, trong trường hợp này, cũng chỉ là một sự tự giãi bày. Có thể hình dung: nhật vật trữ tình đang đắm mình trong nỗi nhớ nhung sầu muộn. Mọi cử chỉ bỗng hóa thẫn thờ. Chiếc khăn vắt hờ hững trên vai vô ý rơi xuống đất. Nhân vật trữ tình cúi nhặt và bỗng nhiên nhìn thấy khăn như nhìn thấy chính cõi lòng mình. Khăn ơi, tại sao mày lại rơi xuống đất? Mày đang nhớ thương ai vậy? Những câu hỏi rưng rưng nỗi niềm đã được đặt ra trong trạng thái mộng du của nhân vật trữ tình. Chúng không phản ánh cái gì khác ngoài cõi lòng người hỏi. Nói khăn và đèn được nhân hóa thì cũng đúng. Nhưng có lẽ đúng hơn nếu nói chúng là hình ảnh của nhân vật trữ tình được khúc xạ qua một tấm gương soi đặc biệt. Những động thái của chúng không có ý nghĩa độc lập mà chỉ là sự phản chiếu những cử chỉ và diễn biến tâm lí đa dạng, phức tạp của tác giả bài ca dao. Người ta thường nói ca dao có vẻ đẹp mộc mạc, giản dị. Trong trường hợp này, sự giản dị, mộc mạc vẫn thể hiện (đặc biệt qua hệ thống những hình ảnh gần gũi và qua lời nói "trong suốt", không trang sức), nhưng không vì thế mà cái ảo diệu biến hóa lại không để lại dấu ấn đậm nét. Xem thêm: Đại thi hào Nguyễn Du đã từng tâm sự: Thôn ca sơ học tang ma ngữ (Học được tiếng nói của người trồng dâu, trồng gai). Hãy minh họa bằng các đoạn trích đã học trong Truyện KiềuTuy đi sâu vào chốn u uẩn của cõi lòng, bài ca dao vẫn giữ được tính mạch lạc của cấu trúc. Các hình ảnh khăn, đèn, mắt không hề xuất hiện một cách ngẫu nhiên. Khăn vắt vai, khăn để chùi nước mắt, ngọn đèn thắp chong canh dài, đôi mắt đẫm lệkhông chịu nhắm ngủ – đó đều là những hình ảnh có tính đặc thù mà thơ ca (trong đó có ca dao) thường mượn để thể hiện tâm trạng nhớ nhung, thao thức. Chúng liên kết với nhau một cách chặt chẽ nhằm biểu đạt một chủ đề thống nhất. Giữa chiếc khăn và đôi mắt có mối liên hệ thế nào, chính bài ca dao đã nói rõ. Còn ngọn đèn? Nó cũng có thể được hiểu là một con mắt khác thức thi với mắt người giữa đêm thâu vời vợi. Chẳng phải ngọn đèn vẫn thường làm bạn với ta mỗi khi ta có điều lo nghĩ đó sao? Một điều đáng lưu ý nữa là trình tự xuất hiện của các hình ảnh. Khăn xuất hiện trước rồi đến đèn và sau cùng là mắt. Có một sự dịch chuyển từ xa đến gần của các hình ảnh, từ sự vật bên ngoài đến chính con người tác giả. Nỗi nhớ càng được thổ lộ lại càng nồng nàn – nồng nàn đến mức làm rung lên toàn bộ thế giới tâm hồn của nhân vật trữ tình và xét về hiệu quả thẩm mĩ, nó cũng làm biến chuyển cả nhịp thơ. Sáu dòng thơ đầu dành để tâm sự cùng khăn. Chúng mang nhịp điệu kể lể đều đều, ri rả và có giọng bùi ngùi. Bốn dòng thơ sau được san đôi, dành sự "quan tâm" cho cả đèn và mắt. Nhịp thơ gấp gáp hơn trong một kiểu liệt kê hối hả. Nhân vật trữ tình đã chạm đến đáy tâm sự và niềm thao thức của mình. Trạng thái mộng du dần tan để trả con người về với sự kiểm soát của lí trí. Một giai đoạn của cảm xúc thế là đã qua đi. Hai dòng cuối của bài ca dao là một câu lục bát mênh mang nỗi niềm. Con thuyền thơ, sau lúc tự để mình rơi vào vòng vây của nỗi nhớ chập chùng, đã thoát ra với không gian trầm tư lặng lẽ. Tuy nhiên, không thể bảo rằng nhân vật trữ tình – người chèo lái nó – đã tìm được sự bình yên. Những con sóng ưu phiền khác đang lao xao bủa đến… Nhìn chung, việc thay đổi thể thơ ở đây rất có ý nghĩa. Một mặt nó báo hiệu sự chuyển biến tinh tế trong dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình, mặt khác nó đảm bảo chức năng điều hòa nhịp thở của người diễn xướng, người đọc, không để tiếp diễn sự kể lể có nguy cơ kéo bài ca dao rơi vào tình trạng dài dòng, gây nên cảm giác căng thẳng không cần thiết. Sự bộc lộ trực tiếp tâm trạng dưới hình thức mờ tối, rối rắm của chính tâm trạng đã được thay thế bằng một nhận định khái quát về cái tính chất của tâm trạng đã được thay thế bằng một nhận định khái quát về cái tính chất của tâm trạng. Nhân vật trữ tình hiểu rằng mình đã lo phiền và cũng biết nguyên nhân của nỗi lo phiền ấy. Yêu nhau nhiều nhưng dễ gì đến được với nhau, lấy được nhau. Bao nhiêu chuyện phải bận lòng, bao nhiêu thứ có thể cản trở hạnh phúc. Cô gái nói "Lo vì một nỗi không yên một bề" – chỉ một bề nhưng lại bề bề nỗi lo, bởi bề ấy không thuộc bề (tức là phía) cô gái, mà thuộc về bề cô không thể làm chủ, không thể chi phối được. Bài Khăn thương nhớ ai… ta vừa "đọc" đáng được xem là một trong những bài hay nhất trong kho tàng ca dao dân tộc. Nguồn: thêm: Bài văn về thành công gây xúc động hàng ngàn trái tim
Cảm nhận về bài ca dao_ Khăn thương nhớ ai…Lo vì một nỗi không yên một bể…
1,406
Cảm nhận về bài ca dao: Muối ba năm muối đang còn mặn… Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Hướng dẫn Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Bài ca dao có vẻ đẹp chân mộc, chắc thiệt, thực sự mang bản chất của gừng cay, muối mặn. Hai dòng thơ đầu tiên nói về đặc tính của muối và gừng – những đặc tính mà hầu như con người ta ai cũng biết. Như vậy, giá trị của chúng không phải là cung cấp thông tin, vì những thông tin kia chẳng có gì mới cả. Điều quan trọng là chúng dọn đường cho ta đi tới chỗ cảm nhận được quyết tâm của nhận vật trữ tình: sống có tình, có nghĩa, mãi thủy chung với người yêu – người bạn đời đã cùng mình nếm trải bao buồn vui, sướng khổ. Phải từ hai dòng thơ sau nhìn ngược lên ta mới thực sự thấy hết ý nghĩa của việc tái khẳng định chân lí gừng cay, muối mặn. Một sự khẳng định trong trạng thái trầm tư, mang tính chất của hành động lòng tự dặn lòng. Việc tạo ra một cặp đối xứng gồm: “Muối ba năm muối đang còn mặn" và "Gừng chín tháng gừng hãy còn cay", về bản chất, giống như một hình thức trùng điệp, có tác dụng khắc đậm ý niệm về sự bề lâu. Thông tin quan trọng ở đây dồn tụ vào hai cụm từ đang còn, hãy còn, chứ không phải vào hai từ cay và mặn. Chính ý niệm về sự bền lâu ấy mới quyết định khả năng xứng hợp của hai đối tượng khác nhau là muối và gừng trong lời nói của nhân vật trữ tình. Nó cũng là điểm mấu chốt có thể gắn kết hai nửa của bài ca dao lại với nhau thành một chỉnh thể. Tất nhiên, người đọc ngày nay vẫn muốn tìm thấy một cái gì khác hơn nữa đã đảm bảo tính lô-gích của liên tưởng đi từ chuyện muối, gừng sang chuyện đôi ta. Nếu thấu hiểu những nét đặc thù trong sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam xưa, ta sẽ thấy những đòi hỏi có lí trên được giải tỏa nhẹ nhàng. Muối và gừng không chỉ tồn tại như một thứ gia vị quen thuộc, thậm chí tối cần thiết trong các món ăn mà còn tồn tại như một vị thuốc dân dã cần dùng trong nhiều trường hợp như đau ốm. Chẳng thế mà trong một bài ca dao khác, người xưa từng nói: "Tay nâng chén muối, đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau". Thì ra thế! Nhân vật trữ tình đãtrải qua những ngày được chăm sóc yêu thương bởi tay người bạn đời. Muối và gừng, do vậy, ngoài hương vị vốn có của nó, còn tỏa ra hương vị của tình yêu, tình chồng vợ. Thật hoàn toàn tự nhiên khi nói chuyện muối, gừng, ta có thể nghĩ đến chuyện thủy chung son sắt và ngược lại. Xem thêm: Ông cha ta thường nói: “Có học phải có hạnh”. Em hiểu ý kiến gì về lời dạy trênDòng cuối của bài ca dao nêu một giả định: (dù) có xa nhau… Nếu thực sự hiểu đời, ta hẳn phải biết rằng: trong cuộc sống, hạnh phúc lứa đôi và nhiều thứ hạnh phúc khác luôn chịu những tác động và ngược chiều có tính chất "phá ngang". Tuy đang sống bình yên, người ta vẫn có thể phải nghĩ tới thời gian phía trước với bao thử thách. Nhân vật trữ tình trong bài ca dao này cũng vậy. Anh (hay chị) ấy đã thấy, đã thốt lên (dù) có xa nhau, nhưng ngay lập tức, chính anh (hay chị) lại đã khẳng định: "ba vạn sáu ngàn ngày mới xa". Ba vạn sáu ngàn ngày là một trăm năm – con số ước định chỉ giới hạn một đời người. "Ba vạn sáu ngàn ngày mới xa” nghĩa là đến chết mới xa, cũng có nghĩa là chẳng bao giờ xa cả. Một sự khẳng định không dựa trên cảm xúc bồng bột mà đặt cơ sở trên những trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời! Đây là một trong các lí do chính đã khiến bài ca dao để lại được trong lòng người tiếp nhận, người đọc bao thế hệ những ấn tượng tốt đẹp về tình – nghĩa – Việt Nam. Nguồn:
Cảm nhận về bài ca dao_ Muối ba năm muối đang còn mặn… Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.
779
Cảm nhận về bài ca dao: Thân em như củ ấu gai…Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi Hướng dẫn Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen. Ai ơi, nếm thử mà xem! Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi. Trong cuộc sống, để giúp đời hiểu mình hơn, người ta có khi phải đứng ra tự quảng cáo. Thật là một điều bất đắc dĩ, nhất là đối với một cô gái. Nhưng biết làmsao được, ý thức về phẩm giá và sự tự trọng có khi bắt người ta phải làm vậy! Có thể tưởng tượng ra một hoàn cảnh diễn xướng gần với các dữ kiện được thông báo trong bài ca dao như sau (tất nhiên, bạn hoàn toàn có thể hình dung ra những hoàn cảnh diễn xướng khác): cô gái – nhật vật trữ tình – tác giả đã không gặp nhiều may mắn trong việc thu hút sự chú ý của "đối tác" trong tình yêu, bởi vậy, cô phải cất lời để tự bảo vệ và để mời. Bài ca dao mở đầu với việc nhân vật trữ tình thừa nhận trước người nghe (trong đó có người cô muốn gắn bó) cái thua thiệt hiển nhiên, có tính định mệnh của mình: "Thân em như củ ấu gai". Thật là thẳng thắn, bộc trực! Tương tự thế là sự thẳng thắn, bộc trực trong việc khẳng định cái "chất" của mình ở câu tiếp đó: "Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen". Giọng ngậm ngùi vừa thoáng hiện ở dòng thơ thứ nhất đã nhanh chóng được thay thế bằng giọng tự tin và thậm chí là thách thức, vỏ ngoài đen – đó là một thực tế và tôi đã ý thức được hoàn toàn. Nhưng ruột trong thì trắng lại cũng là một sự thật không thể chối cãi. Anh, hay tất cả mọi người đều đã biết củ ấu gai rồi đấy! Đọc bài ca dao đến đây, hẳn ta đã nhận ra tính chính xác của sự ví von – chính xác theo mục tiêu tác phẩm nhắm đến, đó là thuyết phục ngưòi đời hãy biết nhìn vào thực chất, đừng để bị vẻ ngoài hào nhoáng hay xấu xí đánh lừa. Nếu nhân vật trữ tình ví mình với một đối tượng nào khác, chưa chắc sức thuyết phục đã đạt được mức cao như vậy. Củ ấu gai quá gần gũi với đời sống của người bình dân. Sự kiểm chứng nếu cần thực hiện sẽ chẳng có gì là khó, thậm chí là quá dễ dàng. Đó là chưa kể có sử dụng hình ảnh củ ấu gai thì tác giả mới có thể gieo tiếp được một chữ “nếm” đầy ý vị, thấm đượm trong đó rất nhiều sự đợi chờ – đợi chờ một thái độ, một cử chỉ ân nghĩa, ân tình từ phía những ai kia trong cuộc đời. Xem thêm: Cảm nghĩ của em sau khi đọc bài tựa Trích diễm thi tập của Hoàng Đức LươngCái lí đã được trình bày. Tiếp sau là việc cái tình đòi thổ lộ. "Ai ơi, nếm thử mà xem!" đúng là một tiếng gọi, một lời mời – cứng cỏi, táo bạo mà không kém phần tha thiết. Hậu thuẫn cho nó là niềm tin vào bản thân và cả nỗi khao khát được giao cảm, được yêu thương, được dâng hiến. Câu cuối được thốt ra trung hậu, tình cảm và thấm thìa lạ thường. Ai nỡ quay lưng, ai nỡ "lầm" mãi trước một tiếng nói như thế! Từ chỗ tồn tại như một đối tượng so sánh thuần túy, củ ấu gai bỗng chốc được đồng nhất với chính nhân vật trữ tình, khiến nhân vật trữ tình không ngần ngại dùng tiếng em lần thứ hai ở dòng thơ cuối, bất chấp trước đó "cô" đã dùng từ nếm có vẻ chỉ thích hợp với củ ấu gai thật sự mà thôi. Em đã thành một củ ấu gai nhỏ bé, gần gũi trong tay anh, sao anh không thể có một cử chỉ phải chăng, dịu dàng hơn đối với nó? Một lời than, một tiếng nói khẳng định mình, một bài học về cách thẩm định các giá trị, một nhu cầu và khát vọng yêu đương đã được thể hiện súc tích trong bài ca dao gồm bốn câu ngắn ngủi ấy!. Nguồn:
Cảm nhận về bài ca dao_ Thân em như củ ấu gai…Nếm ra, mới biết rằng em ngọt bùi
740
Cảm nhận về bài ca dao: Trèo lên cây khế nửa ngày…Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. Hướng dẫn Trèo lên cây khế nửa ngày, Ai làm chua xót lòng này, khế ơi! Mặt trăng sánh với mặt trời, Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng. Mình ơi! Có nhớ ta chăng? Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời. Đây là bài ca dao được làm theo "thể hứng". Đừng quá tin có một sự việc là nhân vật trữ tình trèo lên cây khế nửa ngày. Không, không thể có chuyện đó. Ta đã gặp rất nhiều bài ca dao có mấy câu khởi đầu chứa đựng những chi tiết không đâu và phi lí như vậy. Tuy nhiên, nếu quen với đặc điểm thi pháp này, người tiếp nhận chỉ còn lưu tâm đến cái lõi của thông báo nghệ thuật nữa mà thôi. Ở bài ta đang tìm hiểu, cái đáng nói trong hai dòng thơ đầu là mối tương quan giữa cái chua của quả khế và cái chua xót của lòng người. Hình ảnh cây khế, quả khế xuất hiện chỉ để làm vật chất hóa một trạng thái tình cảm mà sự định danh nó phải mượn đến một từ vốn cũng được dùng để định danh cho cái vị đặc trưng của quả khế. Điều đáng nói khác là trong lòng nhân vật trữ tình đang chất chứa tám sự, và tâm sự đó cần phải được giải tỏa, thổ lộ. Thế là bỗng nhiên khế trở thành một đối tượng chuyện trò vô cùng thích hợp, có thể giúp nhân vật trữ tình tự khơi sâu mạch cảm xúc của mình. Cái vô lí của những hình ảnh, chi tiết mở đầu hóa ra cũng không hoàn toàn là vô lí, xét trong cấu trúc tổng thể của bài ca dao. Xem thêm: Soạn bài Đấu tranh vì hoà bìnhAi là người đang thốt lên những lời trong bài ca dao này vậy? Người đó có thể là con trai, cũng có thể là con gái, nhưng khả năng lớn hơn là con gái, bởi thông thường, sự than thở trong chuyện tình cảm hay xuất phát từ nữ giới – đối tượng vẫn chịu nhiều lép vế, thua thiệt và bị động trong cuộc đời. Qua những gì đã được nói ra, đặc biệt qua các từ tạm xác định là then chốt như sánh, nhớ, chờ và qua các hình ảnh dễ gợi lên ấn tượng về sự xa cách trong không gian hay sự cách trở nói chung như sao Hôm, sao Mai, sao Vượt, ta có thể hình dung nhân vật trữ tình đang gặp trắc trở trong đường tình và đang tha thiết nhớ bạn, tha thiết ước mong một sự sum vầy. Lí do của sự cách trở không được nói ra một cách trực tiếp, rõ ràng. Chắc chắn không xuất phát từ phía chủ quan người đang tâm sự, bởi như ta có thể thấy, tình cảm của người này đối với bạn vẫn còn vẹn nguyên, thậm chí còn phát triển nồng nàn hơn qua thời gian. Có lẽ cần phải chú ý nhiều hơn tới từ sánh vốn được dùng tới hai lần trong hai dòng thơ kề nhau. Sánh gợi lên sự xứng hợp, như sự vừa đôi phải lứa, hay nói cách khác là sự đẹp đôi. Mặt trăng và mặt trời, nếu theo một góc nhìn nào đó, thì xứng với nhau quá còn gì! Chẳng thế mà dân gian vẫn hìnhdung chúng như một cặp không hề cọc cạch là ông trăng và bà trời. Sao Hôm và sao Mai nữa, đúng là chúng sánh chằng chằng với nhau, như sự hô ứng nhịp nhàng giữa sáng và chiều, giữa đông và tây trong thời gian và trong không gian. Nhân vật trữ tình đã không ví von một cách tường minh chuyện mình với chuyện trăng sao, trời đất, nhưng ta hiểu trong sâu xa, người đó đã nhìn vấn đề đúng như vậy. Chưa biết việc tự nhìn nhận như thế có chủ quan không, nhưng căn cứ vào những gì mà tình cảm người đó thổ lộ, ta có thể tin vào một sự xứng đôi – một sự xứng đôi dựa trên tình cảm chân thật đáng được trân trọng và bảo vệ. Lại cũng từ đây, người tiếp nhận bài ca dao có thể lờ mờ đoán hiểu ra nguyên cớ vì sao sự xứng đôi đó cứ mãi tồn tại như một mong ước, một cái gì đó không thật, không được hiện thực hóa giữa cõi đòi, khiến nhân vật trữ tình cứ không ngừng khắc khoải và chua xót. Có thể vì cha mẹ, vì thành kiến xã hội, cũng có thể vì một sự nghi ngại hay không dứt khoát từ phía bạn tình mà chuyện kết đôi đã không thành, dù theo sự mách bảo bên trong của nhân vật trữ tình, quan hệ tương xứng giữa hai người tưởng không còn gì phải bàn cãi nữa. Khi thốt lên câu "Mình ơi! Có nhớ ta chăng", nhân vật trữ tình đã quên người bạn tâm sự đầu tiên là cây khếđể chỉ còn biết đến người mình yêu đang ở một chốn nào đó giữa cõi người. Một tiếng kêu kết tụ cả nỗi lo âu, niềm hi vọng, sự nhắc nhở và cả chút trách móc đầy thương yêu, thông cảm. Một tiếng kêu thúc đẩy mối liên tưởng về hình ảnh "sao Vượt chờ trăng giữa trời" làm sáng cả không gian thơ, làm sáng cả một tấm tình thủy chung son sắt. Có cả một câu chuyện dài chứa đựng trong bài ca dao ngắn này. Tâm sự, nỗi niềm được thổ lộ ở đây đạt tới giá trị kết tinh cao độ, có thể khơi lên nhiều suy nghĩ, cảm xúc về phận người và về những bi kịch trong tình yêu đôi lứa. Đọc bài ca dao, ta không thể quên được hình ảnh "sao vượt chờ trăng" – một hình ảnh đã vĩnh cửu hóa cái đẹp của sự kiên tâm đợi chờ trong hi vọng và đau đớn. Nguồn: thêm: Phân tích trích đoạn chèo Xuý Vân giả dại trong vở chèo Kim Nhan
Cảm nhận về bài ca dao_ Trèo lên cây khế nửa ngày…Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.
1,046
Cảm nhận về bài ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” Gợi ý Ca dao dân ca là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng chúng ta từ thuở lọt lòng. Dòng sữa tinh thần ấy lan xa theo hương lúa, cánh cò, trầm bổng ngân nga theo nhịp chèo của con thuyền xuôi ngược, âu yếm thiết tha như lời ru của mẹ… như khúc hát tâm tình quê hương đã thấm sâu vào tâm hồn tuổi thơ mỗi người. Em nhớ mãi lời ru của bà của mẹ: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Lời ca dao tuy giản dị mà ý nghĩa thật lớn lao, nó ca ngợi công lao trời biển của cha mẹ và nhắc nhở đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu. Vẫn là thi pháp thường thấy trong ca dao, các tác giả dân gian dùng cách nói ví von để tạo ra hai hình ảnh cụ thể, song hành với nhau: Công cha đi liền với nghĩa mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ta mượn hình ảnh núi Thái Sơn và nước trong nguồn vô tận để so sánh với công cha nghĩa mẹ: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Xem thêm: Văn mẫu ơi, chào mi! Cha mẹ sinh con ra, nuôi con mau lớn thành người. Tấm lòng cha mẹ dành cho con thật vô tận, nó chỉ có thể sánh với núi sông hùng vĩ trường cửu mà thôi. Công cha lớn lao như núi, cha thức khuya dậy sớm làm lụng vất vả lo cho con có cơm ăn áo mặc, học hành, khôn lớn thành người. Người cha như chỗ dựa tinh thần và vật chất cho con, cha nâng niu ôm ấp chăm chút cho con, ai có thể quên công lao trời biển ấy. Chín tháng mang nặng rồi đẻ đau, mẹ chắt chiu từng giọt sữa ngọt ngào nuôi con khôn lớn. Lúc con khoẻ mạnh cũng như khi ốm đau lòng mẹ giành cho con: như biển Thái Bình dạt dào. Không có cha mẹ làm sao có chúng ta được: con có cha mẹ, không ai ở lỗ nẻ mà lên, tục ngữ đã dạy ta bài học đó. Câu ca dao đã nâng công lao của cha mẹ lên tầm kì vĩ sánh với vũ trụ, đất trời. Những hình ảnh tuy giản dị đơn sơ mà thấm đượm lòng biết ơn vô hạn của con cái với mẹ cha. Công lao trời biển của cha mẹ sao kể hết bằng lời. Trong những dòng trữ tình hàm súc ấy ẩn chứa một chân lí ngàn đời, chân lí ấy phải được chuyển * hoá thành hành động, hành động của lòng biết ơn: Một lòng thờ mẹ kính cha Xem thêm: Tình yêu quê hương đất nước được thể hiện qua các bài thơ: Xa ngắm thác núi Lư (“Xa vọng Lư sơn bộc bố”), “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” (Tĩnh dạ tứ) của Lí Bạch,“Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê” (“Hồi hương ngẫu thư") của Hạ Tri Chương Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Ông cha ta dạy kẻ làm con phải: thờ mẹ kính cha, phải giữ tròn phận sự của kẻ làm con. Đạo làm con phải làm tròn chữ hiếu. Hiếu ở đây là hiếu thuận, hiếu nghĩa, là cư xử làm sao cho kính trọng, yêu thương. Đó cũng là cách sống, cách thức làm người, lẽ sống của con người. Với cha mẹ phải thương yêu ngoan ngoãn, vâng lời, lúc nhỏ thì chăm ngoan học giỏi, lớn lên trở thành người công dân tốt, đứa con hiếu thuận trong gia đình. Phải tuân theo những cách thức ứng xử hợp đạo lí. Hai chữ một lòng thể hiện niềm thuỷ chung, son sắt không thay đổi. Chúng ta được cha mẹ sinh ra để làm một con người, hãy sống cho xứng đáng là con người. Trên thực tế không phải ở mọi lúc, mọi nơi những đứa con giữ trọn đạo hiếu. Có biết bao cảnh con khinh rẻ cha mẹ, thậm chí đối xử tệ bạc với những người đã sinh ra và nuôi dưỡng mình. Những cách sống của những kẻ như vậy phải bị xã hội trừng trị. Bài ca dao đã đánh thức những kẻ đã và đang sống thiếu lương tri, đồng thời cũng như luồng ánh sáng chiếu rọi vào trái tim mỗi chúng ta – những đứa con. Ngày nay chữ hiếu không chỉ dừng ở góc độ gia đình, rộng hơn là hiếu với dân, với nước. Có được như vậy mới nhằm xây dựng một xã hội lành mạnh, đẹp đẽ hơn, mà trước hết phải từ gia đình sống VỚI nhau hiểu thuận, có đạo đức. Xem thêm: Cảm nhận và suy nghĩ của em về đoạn thơ: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng... Nuôi lớn đời ta tự buổi nào." (Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận) Bài ca dao với nghệ thuật so sánh ví von, lời thơ cân xứng hài hoà, hình ảnh giản dị mà hàm xúc, nhằm nói lên tình cảm gia đình sâu sắc. Tính truyền cảm, nội dung giáo dục mạnh mẽ đã làm cho nó sống mãi với chúng ta bao đời nay. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài ca dao_ “Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
926
Cảm nhận về bài ca dao: “Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Gợi ý Trong cuộc sống thường nhật và tâm thức của mỗi người dân Việt, hoa sen giữ một vị trí quan trọng. Ta bắt gặp sen trong những hồ ao, đầm nước, trải suốt từ Bắc vào Nam. Ta bắt gặp hoa sen trong những bình gốm sứ trang trọng nơi phòng khách, sen trên bàn thờ gia tiên, trong chùa cúng phật và không thể không có sen trong những điệu hát dân ca, trong những câu ca dao uyển chuyển, mượt mà. Trong đầm gì đẹp bằng sen đã trở nên thân thuộc tự thuở xưa cho đến bấy giờ: "Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" Ngôn ngữ trong sáng, giản dị, bài ca dao đã đem đến cho người đọc những cảm nhận tinh tế về cây sen, hoa sen. Hình tượng cây sen được miêu tả chính xác, cụ thể, vừa chân thực, sống động vừa giàu ý nghĩa tượng trưng, khái quát. Cảm giác thẩm mĩ, triết lí sâu sắc và vẻ đẹp trời phú của cây sen đã tạo ra vẻ đẹp và chiều sâu của bài ca dao ngắn. Bằng câu hỏi tu từ, "Trong đằm gì đẹp bằng sen…" tác giả đã khéo léo khẳng định, và tuyệt đối hoá vẻ đẹp của cây sen trong đầm. Hỏi đấy, nhưng nào cần đợi câu trả lời bởi cái hàm ý trong câu hỏi ấy đã quá rõ rồi. Trong đầm, chẳng có cây nào đẹp bằng sen đâu? Và như để minh chứng cho sự khẳng định đó, tác giả đem đến cho người đọc những hình ảnh cụ thể về vẻ đẹp của sen: "Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng" Theo trình tự quan sát từ ngoài vào trong rất tự nhiên, hợp lí, bằng sự phối màu hài hoà xanh – trắng – vàng cây sen hiện lên với vẻ đẹp trong sáng, tinh khiết. Đọc những vần thơ ấy, tưởng tượng đến đầm sen ấy, bông sen ấy, lòng ta sao có thể dửng dưng được trước vẻ đẹp trang nhã mà cao sang của sen. Bất chợt, trong ta, như thấy đâu đây hồ sen bát ngát đầu làng, như thấy hương sen thoang thoảng trong buổi tinh sương và bỗng dưng ta muốn hít thật căng lồng ngực cơn gió trong lành đẫm hương sen quê mình. Không nghi ngờ gì nữa, sen đẹp thật. Nhưng để khẳng định, để nhấn mạnh, tác giả tiếp tục miêu tả cây sen ở câu thứ ba: Xem thêm: Tục ngữ có câu: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Nhưng có bạn nói: Nếu không có ý thức học tập thì chắc gì đã có "sàng khôn" nào. Hãy nêu ý kiến của riêng mình và chứng minh cho ý kiến đó Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Tưởng có gì mới lạ, hoá ra, tác giả chỉ nhắc lại câu thơ thứ hai. Nhưng không chỉ là sự nhắc lại đơn thuần. Trình tự miêu tả đã được đảo ngược, chẳng phải từ ngoài vào trong nữa mà từ trong ra ngoài, vẫn là ba gam màu chủ đạo vàng – trắng – xanh ấy thôi nhưng một chút lật ngược rất khéo léo kia đã khiến ta đang trôi trong cảm giác nhẹ nhàng lâng lâng khi thả hồn phiêu du trên hồ sen, trong hương sen phải dừng lại. Nhịp thơ từ nhẹ nhàng khoan thai chuyển sang khẩn trương, dồn dập. Và ta chợt hiểu ra căn nguyên của sự thay đổi đó khi đọc câu thơ cuối cùng: "Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" Cảm nhận một cách tổng thể, khái quát ta sẽ thấy câu đầu và cấu cuối là sự nhận định, đánh giá, liên tưởng về vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của cây sen. Hai câu giữa là sự phản ánh thực thể sống động, hấp dẫn của cây sen, là phần làm nên màu sắc, đường nét cho bức tranh đầm sen. Thiếu hai câu giữa bức tranh đầm sen còn gì hấp dẫn nữa. Và câu thơ cuối cũng chính là cái đích đến của bức tranh cây sen, đích đến của bài ca dao. Nếu câu đầu là lời giới thiệu chung về bức tranh sen, câu hai, ba là bức tranh sen qua màu sắc, đường nét của hội hoạ thì câu thứ tư là linh hồn của bức tranh và cũng là linh hồn của cả bài ca dao. Khép lại nghĩa đen, mở ra nghĩa bóng. Một cách dẫn dắt thần tình của tác giả dân gian. Từ bông sen của thiên nhiên, bông sen của đầm ao làng quê đất Việt, bông sen toả hương ngát suốt dọc mùa hè, bông sen mà ta có thể nhìn thấy màu sắc, ngửi thấy hương thơm, ta đến nghĩ bông sen của biểu tượng. Bông sen biểu tượng cho con người Việt Nam và tâm hồn Việt Nam, trong sáng, thanh tao tựa hương sen buổi sáng, tựa màu sen tinh khiết trong ngần vươn lên giữa bùn lầy. Đọc đến câu thơ này, không ai còn nghĩ nhiều về nghĩa thực của nó nữa. Bời vì ta đã hiểu rằng sen là người, với ý nghĩa sâu xa và triết lí nhân sinh ẩn chứa trong đó. Qua nghệ thuật ẩn dụ, ta ngầm hiểu sen hoá thành người, "bùn" trong hồ sen hoá "bùn" trong cuộc sống, xã hội. Cả cái đầm sen và mùi hôi tanh kia cũng là một ẩn dụ với nhiều hàm nghĩa, tầng nghĩa sâu sắc. Vậy là từ bài ca dao về cây sen, từ việc nói về cây sen, hoa sen tác giả đã phản ánh trung thực sự sống, lẽ sống, tâm hồn và phẩm chất của con người Việt Nam từ ngàn đời nay bằng hình thức cách điệu, rất thi vị nhưng cũng rất sâu sa. Tâm hồn, phẩm chất của con người việt Nam được ví như bông sen trong đầm kia, dù gần bùn hôi tanh thì màu hoa trắng, sắc nhị vàng và hương thơm thanh khiết vẫn vẹn nguyên, không phai nhạt, không đổi thay. Hãy trở về với quá khứ, ta sẽ thấy rõ hơn vẻ đẹp tâm hồn – truyền thống yêu đời ấy của con người Việt Nam. Từ những người lao động nghèo khổ tận cùng của xã hội, cả đời không biết nổi một con chữ, khi tai hoạ giáng xuống đầu, cận kề cái chết vẫn khẩn cầu tha thiết xin được chết trong: Xem thêm: Tả cây bạch đàn"Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con " Đến những nhà nho với vốn tri thức uyên thâm, bỏ lại đằng sau hào quang của công danh và bổng lộc của chốn quan trường khi xã hội mất hết kỉ cương để lui về vui với thú điền viên, vui với tiếng suối rì rầm, vui với việc phát cỏ ương sen. Rồi một chị Dậu dù nghèo túng, dù đang cần từng xu lẻ để nộp sưu vẫn ném cả nắm tiền vào mặt tên quan phủ để giữ gìn phẩm hạnh của người đàn bà. Lão Hạc thà chết để giữ gìn nhân phẩm của một người cha. Và bông sen thơm ngát, bông sen đẹp nhất của dân tộc Việt Nam toả hương ngàn đời vào cuộc sống suốt chiều dài lịch sử, làm rạng danh dân tộc là bông sen vàng xứ Nghệ. Tất cả những con người việt Nam ấy luôn đem câu "giấy rách phải giữ lấy lề" bên mình để làm phương châm sống, để răn mình, giữ mình. Nghèo túng, bần hàn, đôi lúc cả bị dập vùi nữa nhưng họ không để mình bị vướng bùn nhơ, không để cuộc đời vấy mùi bùn hôi tanh. Nối tiếp cha ông xưa, con cháu ngày nay cần phải sống xứng đáng. Xã hội phát triển, cuộc sống hiện đại không ít những cám dỗ khiến con người dễ dàng sa ngã. Xác định cho mình một lí tưởng, một phương châm sống là vô cùng cần thiết với tất cả mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ chúng ta. Hãy nuôi dưỡng tâm hồn, nuôi dưỡng những bông sen quý để mãi mãi trong lòng chúng ta, sen toả hương thơm ngát, để màu sen thanh khiết đồng hành cùng mỗi người và đồng hành cùng dân tộc, xưa, nay và mãi mãi trong tương lai. Xem thêm: Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương (Có dàn ý chi tiết)Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài ca dao_ “Trong đầm gì đẹp bằng sen. Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
1,484
Đề bài: Cảm nhận về bài Cổng trường mở ra “Vào đêm trước ngày khai trường của con, mẹ không ngủ được. Một ngày kia, còn xa lắm, ngày đó con sẽ biết thế nào là không ngủ được. Còn bây giờ giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một li sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo” Đoạn văn ấy cứ mãi khắc sâu trong tôi sau khi đọc xong văn bản “ Cổng trường mở ra” của Lí Lan cùng với bao tâm trạng vui mừng, buồn lo khó tả của người mẹ. Văn bản này được đăng trên báo yêu trẻ số 116, ra ngày 1 tháng 9 năm 2000 tại TP HCM. Đây là một bài bút kí ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm trước ngày chuẩn bị khai giảng của con vào lớp một cùng với vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo đục đối với mỗi chúng ta. Không có sự việc, không có cốt truyện theo một chuỗi nhất định nhưng bài văn này đã khá thu hút người đọc bởi mỗi câu văn dạt dào tình cảm với biết bao niềm tâm sự, hồi tưởng kỉ niệm của người mẹ thương yêu con bằng tấm lòng cao cả. Bài văn này đã đưa mỗi chúng ta đến với những rạo rực tinh thần, bâng khuâng khó tả của kí ức tuổi thơ. Đi sâu vào trong bài ta có thể cảm nhận được từng cảm xúc, câu từ mượt mà với hai luồng tâm trạng trái ngược. Hình ảnh của người con được miêu tả thật ngây thơ, đáng yêu. Gương mặt thanh thoát của con tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo. Mai đã là ngày khai trường, một ngày trọng đại của tuổi thơ cũng như một kỉ niệm đáng nhớ trong cuộc đời, vẫn tâm trạng như trước một chuyến đi xa, người con chỉ háo hức, lo mỗi việc sáng mai sao dậy cho kịp giờ rồi lại chìm vào trong giấc ngủ dễ dàng như ăn một cái kẹo. Tâm trạng ưu tư đó chính là tâm hồn ngây thơ của người con. Tâm trạng ấy phải chăng một phần cũng do tình thương yêu, sự dạy dỗ, chăm sóc của người mẹ. Trong khi người con đang mơ những giấc mơ đẹp thì người mẹ lại trằn trọc, suy nghĩ. Tâm trạng của mẹ như đang ở ngày đầu tiên khai trường của chính mình. Như ngày thường sau khi con đi ngủ, mẹ dọn dẹp nhà cửa, lượm lặt những đồ chơi mà con bày, dàn trận và làm vài việc riêng của mình. Nhưng hôm nay đã làm xong mọi việc mà mẹ vẫn chưa ngủ. Và thực sự mẹ không lo lắng đến mức không ngủ được. Bao nhiêu kí ức của tuổi thơ tràn về, thôi thúc trong mẹ. Mẹ liên tưởng cảm xúc của con với mình cách đây đã mấy chục năm. Mẹ hồi tưởng lại cái ngày mà bà ngoại cùng mẹ tiến tới ngôi trường với nỗi chơi vơi và sự hốt hoảng khi cánh cổng đóng lại. Bà đã dẫn mẹ qua cánh cổng của thế giới kì diệu, cánh cổng mang đậm nét tuổi thơ. Mẹ đã phần nào chập chững bước qua cánh cổng ấy một mình với với ý nghĩ tự lập và tâm trạng vui buồn đan xen. Mẹ cũng tin tưởng, hi vọng rằng con sẽ mạnh mẽ bước đi trên con đường học tập trước mắt và con đuờng đời đầy chông gai của chính con sau này. Những âm thanh cứ văng vẳng bên tai mẹ thật ngọt ngào thân thương: “Hằng năm cứ vào cuối thu, mẹ tôi lại âu yếm dẫn tôi trên con đường dài và hẹp”. Mẹ đã trải qua biết bao ngày khai giảng nhưng ngày khai giảng ngày mai là ngày khiến mẹ bận tâm nhất, bận tâm hơn cả ngày khai giảng đầu tiên của mình. Vì đó là cái ngày mà con bắt đầu phải làm quen, bắt đầu phải tiếp xúc với thế giới lạ lẫm, học cách ứng xử với thầy cô, bạn bè. Cái hay của bài văn là bộc lộ cảm xúc qua kí ức, hồi tưởng. Bên cạnh những từ ghép đằng lập thể hiện tâm trạng nhân vật, nhà văn còn dùng những từ ghép chính phụ để miêu tả sự vật và con người khá rõ nét. Những biện pháp nghệ thuật tu từ còn làm tăng sức gợi hình, gợi cảm để khiến cho người đọc như đang lạc vào thế giới của mẹ. Xem thêm: Cảm nghĩ về thầy cô hay nhấtTất cả những cảm xúc đó mới chỉ là một phần trong ý nghĩa của văn bản. Vai trò to lớn của nhà trường, nền giáo dục đối với mỗi cá nhân là điều rất cần thiết. Trong bài, người mẹ đã cố gửi gắm, tạo cho con những cảm giác thoải mái khi bước vào cánh cổng trường học. Mẹ đã lo cho con đầy đủ hành trang trước ngày khai trường: từ cặp sách, đến quần áo, bút vở. Sau những hồi tưởng và mong ước, người mẹ ấy đã liên tưởng tới một nền văn minh của nước Nhật: “Mẹ nghe nói ở Nhật, ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Tất cả mọi người đều nghỉ làm và đưa con tới trường học, không có ưu tiên nào lớn hơn nền giáo dục. Mỗi sai lầm trong giáo dục đều ảnh hưởng, làm chệch đi hàng dặm cả thế hệ sau này”. Toàn bộ bài văn là tiếng nói nội tâm của người mẹ. Mẹ không trực tiếp nói với con hay với ai, mà mẹ nói với chính mẹ, nói với kí ức, tâm hồn tuổi thơ và cả cảm nhận của mẹ. Đêm nay mẹ không ngủ được, mẹ ngắm nhìn con với những ưu tư, ôn lại những kỉ niệm đẹp đẽ. Cách viết này làm nổi bật được tâm trạng, ý nghĩ, tình cảm của nhân vật. Đó cũng như lời tâm sự nhỏ nhẹ của tác giả đối với bạn đọc một cách tinh tế, thấm thía, lay động, truyền cảm mạnh mẽ tới tư tưởng, suy nghĩ, lập trường của họ. Nói chung thông điệp của tác giả gửi tới mọi người là vai trò của trường học thông qua những kí ức, tâm sự của người mẹ. Mẹ đã được trải qua những năm tháng chập chững của ngày khai trường và cũng đặt niềm hi vọng của mình vào đứa con thơ. Thế giới kì diệu của người mẹ chính là định hướng cho con một con đường đúng đắn, đó chính là con đường học tập. Con đường này là mơ ước của mẹ cũng là mơ ước của biết bao nhiêu người đặt lên con cái mình. Học tập là nghĩa vụ cao cả của tuổi trẻ đối với gia đình, Tổ quốc, chính vì vậy mà chúng ta cần phải hiểu rằng “Bước qua cánh cổng trường học là một thế giới kì diệu sẽ mở ra. Thế giới ấy chính là chân trời của văn hoá, khoa học”. Nguồn Edufly Xem thêm: Cảm nghĩ về đêm trăng trung thu hay nhất
Cảm nhận về bài Cổng trường mở ra
1,250
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Nói đến những nhà thơ nửa đầu thế kỷ XIX không thể không nhắc đến nhà thơ – ông quan thị lang triều Nguyễn: Nguyễn Công Trứ. Đây là mọt nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, một phần nhân vật hăm hở lập công, hết sức đề cao chí làm trai và cách sống rất độc đáo, luôn tự do, phóng túng. Nguyễn Công Trứ được coi là một trong những thi sĩ nổi tiếng nhất đương thời, ông có công lớn trong việc nâng thể hát nói thành thể thi ca có khả năng biểu hiện những tình cảm phong phú và tinh tế. Trong số những bài thơ của Nguyễn Công Trứ sáng tác theo thể hát nói, nức danh hơn cả là bài thơ Bài ca ngất ngưởng. Đây là một tác phẩm được sáng tác sau khi tác giả rời bỏ chốn quan trường về quê nhà sống cuộc đời ẩn dật. Đây cũng là lúc chất ngạo nghễ, ngất ngưởng vốn có của cụ Thượng Trứ được bộc lộ một cách đầy đủ nhất. Dẫu sao, tuy là một nhân vật có bản lĩnh, giàu cá tính, nhưng khi còn đang làm quan, Nguyễn Công Trứ cũng không thể sống một cách tự do, ông vẫn phải tuân thủ những luật lệ của triều đình. Và như lịch sử đã ghi lại, trong nhiều triều đại phong kiến thì triều đại Nguyễn vẫn được coi là một triều đại có những thiết chế hết sức gò bó, phi lí, phi nhân đạo nhất. Bằng Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ đã trình bày một cách thật sinh động, độc đáo bản sơ yếu lí lịch của mình và bao trùm bài thơ, người đọc có thể cảm nhận một lối sống khác người, khác đời của tác giả. Lối sống của ông đối lập với lối sống của tập đoàn, đối lập với những quan niệm chính thống lúc bấy giờ. Trước hết, ngay tiêu đề của bài thơ đã khiến người đọc phải chú ý, phải suy nghĩ. Cái độc đáo của Nguyễn Công Trứ phải chăng được thể hiện ngay trong cách ông đặt tiêu đề của bài thơ: Bài ca ngất ngưởng. Theo cách hiểu thông dụng, ngất ngưởng chỉ thế cao mà không vững, dễ đổ vỡ. Thí dụ: Bình hoa để ngất ngưởng. Ngoài ra, ngất ngưởng còn có nghĩa là chỉ người đi thẳng, không vững, lúc tiến lên phía trước, lúc thì ngả sang phải, lúc ngả sang trái…Đọc kỹ bài thơ, chúng ta có thể nhận thấy tiêu đề của bài thơ này góp phần quan trọng trong việc diễn tả thái độ, tư thế của nhân vật trữ tình – tác giả luôn vươn lên trên thói tục, sống giữa tập đoàn, giữa mọi người mà khác đời, khác người, bất chấp mọi người. Nguyễn Công Trứ thường nói đến chí nam nhi theo tinh thần nho giáo. Trong bài Chí làm trai, nhà thơ khẳng định: Chí làm trai nam, bắc, đông, tây Cho phí sức vẫy vùng trong bốn bể Ở Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ cũng mở đầu bằng một câu chữ Hán có tính chất tuyên ngôn thể hiện cái chí làm trai nói trên: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không là phận sự của ta: Vũ trụ nội mạc phi phận sự Đây chính là điều mà Nguyễn Công Trứ tâm niệm. Chẳng thế mà luôn được ông nhắc đến trong rất nhiều bài thơ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, vũ trụ chức phận nội (việc vũ trụ là phận sự của ta – Gánh trung hiếu), vũ trụ ngã phận sự (Những việc trong vũ trụ là phận sự của ta – luận kẻ sĩ). Theo quan niệm của Nguyễn Công Trứ, đã sinh ra làm đấng tu mi, thì nhất thiết phải có danh gì với núi sông, phải làm những việc lớn lao, phải được ghi vào sử sách. Cái hay của câu thơ mở đầu chính là triết lí sống đúng đắn và tình cảm chân thành của tác giả. Muốn xã hội tiến bộ, mỗi con người phải tự khẳng định mình, phải cố gắng cao nhất làm được một việc gì đó có ích cho đời để có thể tự hào với mọi người. Khát vọng đó, quyết tâm đó là chính đáng, là rất đáng trân trọng; nhất là một khi nó được thể hiện một cách trực tiếp với một thái độ chan thành của nhà thơ. Tiếp đó, Nguyễn Công Trứ tự xưng tên mình, tự khẳng định tài năng của mình: Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng Lâu nay, câu thơ này ít nhất đã có hai cách hiểu. Cách hiểu thứ nhất cho rằng: ông Hi Văn, một con người tài giỏi đã vào vòng cương tỏa của triều đình (như con chim yêu tự do, thích bay trên bầu trời cao rộng, nay bị nhốt vào lồng), và do đó, ông không thể sống ngất ngưởng như mình muốn. Cách hiểu thứ hai: ông Hi Văn là người toàn tài, có thể sánh ngang với trời đất; lồng ở đây được hiểu là trời đất, là vũ trụ, trong quan niệm của người xưa thì đất có hình vuông và trời có hình tròn. Có lẽ cách hiểu thứ hai thuyết phục hơn, nhất quán hơn so với cách hiểu thứ nhất; đặc biệt nếu đặt trong cảm hứng bao trùm bài thơ, cách hiểu này có văn cứ hơn. Vả chăng, nội dung hai câu đầu thường sẽ chi phối toàn bộ bài thơ, mà cảm hứng chủ đạo trong bài thơ này chính là cảm hứng ngạo nghễ, ngất ngưởng chứ không phải là nỗi niềm oán thán về việc mất tự do..Hi Văn là biệt hiệu của Nguyễn Công Trứ. Nói trực tiếp về mình, gọi hiệu mình ra mà nói là cách diễn đạt rất Nguyễn Công Trứ. Trước cụ Thượng Trứ, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương cũng có lần xưng danh: Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi Xem thêm: Viết đoạn văn phân tích ý nghĩa những vật dụng mà Mã Lương (truyện Cây bút thẩn) đã vẽ cho mọi người(Mời trầu) Và tác giả truyện Kiều cũng đã từng xưng hiệu trong một câu thơ ai oán của Độc Tiểu Thanh kí: Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? (Không biết ba trăm năm sau nữa Thiên hạ ai người khóc Tố Như) Nhưng quả thật chưa ai xưng danh rồi sau đó lại dám khẳng định luôn mình là người có tài năng như Nguyễn Công Trứ. Có điều, câu thơ tác giả nói về mình nhưng tựa như nói về người khác, nói một cách tự nhiên, hồn nhiên. Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông, Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng, Lúc bình Tây, cờ đại tướng, Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên Đoạn thơ trên bộc lộ sự tự khẳng định niềm tự hào về tài năng văn võ song toàn của mình. Tuy vậy, cái hay của đoạn thơ trên trước hết xuất phát từ thái độ chân thành, hồn nhiên và sự trung thực của tác giả. Tiểu sử Nguyễn Công Trứ quả đã có ghi: Vào năm 1819, ông đã đỗ thủ khoa kì thi Hương; 7 năm sau, Nguyễn Công Trứ làm tham tán công vụ, đến năm 1831 ông làm Tổng đốc tỉnh Đông (Hải An). Lúc 62 tuổi, ông được cử đi đánh thành Trấn Tây…Tuy là một người xuất thân quan văn, nhưng Nguyễn Công Trứ đã từng chỉ huy đánh tiểu phỉ ở biên giới phía Bắc, đánh giặc ở biên giới Tây Nam, rồi đàn áp các cuộc nổi loạn của nông dân. Sau câu thơ đầu vừa phân tích trên đây là hết sức quan trọng trong tạo nên cái cần thiết để tác giả tự bộc lộ một lối sống ngất ngưởng ở những câu thơ tiếp theo bằng giọng tự trào nhưng rất có duyên thông qua việc ông tự mô tả mình và lối sống của mình: Đô môn giải tổ chi niên. Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng. Kìa núi nọ phau phau mây trắng, Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi. Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì, Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. Đối với những nhà giàu sang quyền quí khi xưa, ngựa là phương tiện giao thông chủ yếu. Đi ngựa là thể hiện sự sang trọng và quyền lực. Nhưng cụ Thượng Trứ lại khác đời: cụ không đi ngựa mà lại đi xe do con bò cái lông vàng kéo, rong chơi khắp chốn. Đã thế, trước cửa xe, cụ để bôn câu thơ trên một tấm mo cau: Xuống ngựa, lên xe, nọ tưởng phàm Lợm mùi giáng chức với thăng quan Điền viên dạo chiếc xe bò cái Sẵn tấm mo che miệng thế gian Quả thật, ở con người Nguyễn Công Trứ có sự tương phản gay gắt. Sự tương phản này tạo nên nét hấp dẫn của tác giả, một tay ngất ngưởng: bò vàng lại đeo đạc ngựa, vôn tay kiếm cung mà lại từ bi, đi chùa mà lại mang theo cả …một đôi dì. Điều ấy khiến cho kẻ hiền lành, thoát bụt cũng cảm thấy nực cười. Vậy, vì sao Nguyễn Công Trứ sống giữa chốn danh lợi bon chen như thế mà vẫn bình thản, thoát khỏi lẽ thường ở đời, nhất là đối với một quan lại triều đình trong chốn hoan lộ vốn bất bằng? Có lẽ vì một lẽ đơn giản ngay trong tiềm thức, trong ý thức sâu xa của mình, ông đã không quan tâm đến cái được, cái mất ở đời. Ta còn nhớ trong ngót ba mươi năm chốn quan trường, có lúc Nguyễn Công Trứ làm đại tướng,có khi chỉ là một anh lính thú ở chốn biên ải. Tuy thế, lúc nào ông cũng bình thản như ngọn gió xuân, mặc cho thiên hạ khen hay chê: Được mất dương dương người tái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong. Và nguyên nhân cốt lõi của thái độ sống này, của cái ngất ngưởng này chính là sự ý thức đầy đủ về cái tôi cá nhân, cá thể của mình, cũng như ý thức về tài năng và phẩm hạnh cùa mình. Câu kết bài thơ, Nguyễn Công Trứ nhấn mạnh thêm một lần nữa cảm hứng ngất ngưởng bằng câu: Trong triều ai ngất ngưởng như ông? Câu nghi vấn nhưng lại chính là câu khẳng định: trên đời này không ai độc đáo, ngạo nghễ, ngất ngưởng bằng thi sĩ Nguyễn Công Trứ. Đặt trong chế độ phong kiến, Bài ca ngất ngưởng có ý nghĩa về nhiều phương diện. Nó ít nhiều báo hiệu sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, cá thể trong hoàn cảnh cái tôi không được thừa nhận. Nó ghi nhận một bước tiến đáng kể trong lịch sử dân tộc theo hướng dân chủ hóa. Ngày nay, lối sống và cách sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ có thể cần được tiếp thu một cách cân nhắc. Tuy nhiên, bài thơ Bài ca ngất ngưởng vẫn có ý nghĩa, trước hết trong việc khích lệ người đọc hãy sống mạnh mẽ, hãy sống có ích để cuộc đời mình ngày một có ý nghĩa, không chấp nhận một cuộc sống tẻ nhật, vô nghĩa. Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích bài thơ Xúc cảnh (Ngóng gió đông) của Nguyễn Đình Chiểu: "Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông... Một trận mưa nhuần rửa núi sông"
Cảm nhận về bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
1,951
Cảm nhận về bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ Gợi ý Đời Đường – Trung Quốc trong khoảng những năm 618 – 907 thi ca nghệ thuật phát triển vô cùng mạnh mẽ và thu được những thành tựu rực rỡ. Với hơn 2.300 thi sĩ và khoảng hơn 48.000 bài, thơ Đường được liệt vào hàng thơ ca ưu tú nhất của nhân loại. Trong số đó không thể không kể đến Đỗ Phủ (712 – 770) nhà thơ giàu lòng yêu nước thương dân, được tôn vinh là "thi thánh". Tính hiện thực và tinh thần nhân đạo là chủ đề xuyên suốt trong thơ. Bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá là một trong những bài thơ như vậy. Bài thơ này được xem là một trong những bài thơ hay nhất trong số 100 bài thơ tiêu biểu của Đỗ Phủ được sáng tác vào những năm cuối đời sống ở Thành Đô. Cùng thời gian đó loạn An Lộc Sơn vẫn chưa dứt, bài thơ lấy gốc sâu xa từ điệu dân ca cổ. Đã có rất nhiều nhà thơ có cách viết thể ca này: Thu Phố ca (Lý Bạch), Trường hận ca (Bạch Cư Dị). Mở đầu bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá như kể lại về trận gió thu. Đây không phải là cơn gió heo may mát lành mà đây là một trận bão tố, cơn lốc vào tháng tám Gió thét già. Tháng tám, thu cao, gió thét già, Cuộn mất ba lớp tranh nhà ta Tranh bay sang sông rải khắp bờ Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa Mảnh thấp quay lộn vào mương sa. Căn nhà lợp tranh yếu ớt bị cơn thu phong lật tung cuộn bay khắp nơi. Có tấm tranh bay rải khắp bờ sông, có tấm bay tận rừng xa, có tấm rơi nơi mương nước… Việc lặp lại từ tranh đến hai, ba lần chứng tỏ trận bão tố rất ghê gớm. Căn nhà được bạn bè giúp đỡ để nương thân qua ngày giờ đây tan theo gió. Ngước nhìn từng tấm tranh bay đi mà lòng xót xa, bất lực. Tiếng thơ như lời than thở, khóc lóc cho cảnh sống khổ cực của thi nhân. Xem thêm: Gần cuối năm học, Ban Giám hiệu cần biết tình hình học tập, sinh hoạt và công tác của lớp trong hai tháng cuối năm. Em hãy thay mặt tập thể lớp viết văn bản gửi lên Ban Giám hiệu Sự đau đớn xót xa được thể hiện sâu sắc hơn ở khổ thơ kế tiếp. Nhà thơ phải chứng kiến sự phá phách căn nhà của mình trong trận bão tố mà nhà thơ gọi là "đạo tặc". Trẻ con thôn nam khinh ta già không sức, Nỡ nhè trước mặt xô cướp giật, Cắp tranh đi tuốt vào luỹ tre Môi khô miệng cháy gào chẳng được Quay về, chống gậy lòng ấm ức. Chiến tranh liên miên, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, loạn lạc. Đạo đức suy đồi đến cùng cực. Lũ trẻ hàng xóm ngang tàng kéo đến cướp tranh nhà Đỗ Phủ. Chúng không còn biết lễ giáo, lễ phép là gì nữa. Chúng khinh nhà thơ "già yếu", bỏ ngoài tai tiếng kêu than Môi khô miệng cháy của tác giả. Vậy là sau thiên tai, gia đình nhà thơ lại gặp nạn "đạo tặc". Trước mắt nhà thơ là lũ quần đồng, hạ lưu, kẻ cướp. Đó chính là sản phẩm của một xã hội đang trên đà xuống dốc. Người người sống với nhau gian tham, xã hội thì đảo điên; tấm lòng nhà thơ đau đớn vô cùng, nhìn cuộc đời, con người trong xã hội mà lòng ấm ức, căm hận biết bao. Muốn gào lên, thét lên mà không nói thành lời. Vậy là căn nhà bị gió phá, lũ đạo tặc phá. Nó làm sao đủ sức chống lại những trận cuồng phong, mưa rét đêm thâu. Trời mưa rả rích đêm thâu mà mái nhà bị gió thu phá nát. Gió lặng, mây đen phủ kín bầu trời, mưa tầm tã suốt đêm thâu, nhà dột không ngủ được. Đoạn thơ nêu lên một hiện thực đau lòng và khốn khổ của nhà thơ trong đêm mưa. Xem thêm: Tại bến Bình Than, Nhà vua đã phán xét như thế nào về Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản và em có đồng tình với lớp phán xét của nhà vua Mền vải lâu năm lạnh tựa sắt Con nằm xấu nết đạp lót nát Đầu giường nhà dột chẳng chừa đâu Dày hạt mưa, mưa mưa chẳng dứt. Tuổi già, sức yếu, bệnh tật… lại phải ngồi dưới mưa, trong thâm tâm Đỗ Phủ thương mình thì ít nhưng thương cho vợ con, gia đình thì nhiều. NỗI đau như dồn nén lại thành một khối, trút một con người bất hạnh, đau khổ gần cả cuộc đời. Nhà thơ như thấy mưa lâu hơn, nhiều hơn, đêm như dài hơn và nỗi buồn thương không dứt. Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê Đêm dài át át sao cho trót? Thật là phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí. Tai hoạ với nhà thơ là một đêm thu trời mưa nhà dột. Thân già, sức yếu ngồi co ro trong mưa rét, nhìn vợ con đang nằm dưới mưa lòng sao không đau quặn. Cái nghèo nó đeo đẳng mãi, chăn cũ lâu năm con đạp rách, nhà dột… Sự cùng cực của một gia đình tàn tạ dưới thời loạn lạc, li tán. Trong đêm mưa rét mất ngủ ấy, nỗi lòng nhà thơ vẫn tin yêu vào cuộc sống, chất nhân văn vẫn đang trào lo cho đời cho dân cho nước. Ước được nhà rộng muôn ngàn gian Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn! Than ôi! bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được! Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Lá Lành Đùm Lá Rách Trong nỗi đau thương phũ phàng của cuộc đời, con người ta rất dễ rơi vào sự khủng hoảng tinh thần. Đôi khi gục đầu cam chịu, than thân trách phận nhưng với Đỗ Phủ thì hoàn toàn khác, ông ngồi trong đêm mưa lạnh cóng, có người sẽ nghĩ rằng ông sẽ ước có mái lều, tấm chăn, bát cơm… cho vợ con và bản thân ông khỏi vất vả. Thật bất ngờ trong niềm mong ước của ông, ước mơ có một ngôi nhà kì vĩ: Muôn ngàn gian vô cùng vững chắc. Ngôi nhà ấy không phải để che cho ông và gia đình mà Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan. Ông thương cho những người nghèo khổ không chỗ trú chân, che nắng che mưa cho dân. Thật là một tấm lòng nhân hậu. Yêu thương bao la Thường xuyên lo cho dân nghèo, than thở đến nóng gan, cháy ruột, dù cuộc đời đầy rẫy những vất vả, loạn lạc. Và vì vậy ông rất đồng cảm cho cảnh ngộ muôn dân tan nát gia đình vì chiến tranh, đói khổ vì nghèo túng, bệnh tật. Đau xót cho dân nước, ước mơ đất nước thái bình, nhân dân no ấm nên ông quên đi cái khổ cực của bản thân. Có thể nói Đỗ Phủ có tình thương lớn của một nhà nho chân chính sống và ứng xử theo phương châm Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ. Qua bài thơ trên ta thấy Đỗ Phủ mang nặng tấm lòng nhân ái bao la của một con người trải qua nhiều bất hạnh giữa thời loạn lạc. Ông mong mỏi và khao khát hạnh phúc cho muôn dân. Bài thơ chất chứa chất nhân văn cao cả của một bậc sĩ nhân quên đi bản thân mình mà lo cho dân cho nước. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ
1,325
Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Gợi ý Đến với thơ của Bà Huyện Thanh Quan chúng ta thưởng thức được những lời thơ trang nhã, mang tính chất cung đình, luôn gợi nỗi buồn man mác. Ngược lại đọc thơ của Bà Hồ Xuân Hương ta lại gặp một phong cách hoàn toàn khác. Giọng điệu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đề tài thơ bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý. Bánh trôi nước là một bài thơ quen thuộc thể hiện rõ phong cách thơ của bà. Đây là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả đã mượn chiếc bánh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn của người con gái thân phận nhỏ bé, bị chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của mình. Toàn bài thơ là một hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và hình ảnh cũng như cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổi, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình. Chính những nhận xét riêng rất mới này, hình tượng thơ đã được xây dựng. Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hoá cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo nên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà: Xem thêm: Cảm nhận của em về đoạn thơ: "... Từ hồi về thành phố... đủ cho ta giật mình." (Ánh trăng - Nguyễn Duy - SGK Ngữ văn 9 tập 1, 2008) Thân em vừa trắng lại vừa tròn. Lẽ ra với vẻ đẹp như thế, nàng phải có cuộc đời sung sướng. Nhưng không, cuộc đời nàng phải long đong, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần, trong cuộc đời rộng lớn: Bảy nổi ba chìm với nước non. Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời, số phận của họ do người khác định đoạt, nàng bị phũ phàng, vùi dập: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Nhưng không, dù đời có phũ phàng, dù trải bao bất hạnh người phụ nữ vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình. Mà em vẫn giữ tấm lòng son Ở đây ta lại thấy được tài năng sáng tạo của nữ sĩ. Ngay trong câu thơ đầu, bà chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm của chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. Thân em lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá mà đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ vừa… lại vừa phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó. Xem thêm: Kể lại chuyện Cây khế bằng lời của người anh Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn. Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tỏ đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy? Từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu Rắn nát mặc dấu tay kẻ nặn người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù… mà em vẫn giữ… chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một "nhãn từ" (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ. Xem thêm: Ý nghĩa câu tục ngữ “Thất bại là mẹ thành công”- văn lớp 7 Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật binh thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Có thể nói Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Đây là lời tự bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ. Nhà thơ đã thay mặt giới phụ nữ cất lên tiếng nói ấy và cũng là lời bà tự khẳng định mình. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
1,176
Cảm nhận về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến Gợi ý Nguyễn Bỉnh Khiêm có một bài thơ Nôm rất hay về tình bạn, bài thơ được ông làm trong dịp nhà bạn có việc vui, ông đến chúc mừng bạn với món quà "mừng nhau một mặt không" bởi vì quà nào cho xứng mối thâm giao? Cái không của Nguyễn Bỉnh Khiêm là không "mặt của" còn lòng người thì có và nhiều. Ấy là sự chân tình và tấm lòng thơm thảo. Ta bắt gặp nét tương đồng giữa thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến trong quan niệm về tình bạn. Chân thành, mộc mạc và vẫn chan chứa tình cảm, Nguyễn Khuyến nói với bạn mình trong bài Bạn đến chơi nhà: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra hoa, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi đây ta với ta Bài thơ đã khơi dậy trong ta niềm xúc động trước tấm chân tình của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Một chút nhẹ nhàng tự nhiên hóm hỉnh được tác giả mở đầu bằng câu thơ: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Câu thơ như một lời chào hồ hởi thân mật vừa bộc lộ nỗi vui bất ngờ vừa tỏ ý trân trọng, quý mến bạn. Đã bấy lâu nay có nghĩa là một thời gian dài, một thời gian nhà thơ không gặp bạn, giờ đây có dịp gặp nhau làm sao mà không xúc động, không vui mừng cho được. Từ lúc cáo quan về vui sống với cảnh điền viên, ông chỉ biết lấy thiên nhiên làm bạn. Trái tim ông gửi trọn cho đất nước quê hương, nên tâm hồn luôn khắc khoải u hoài. Trong những giây phút ấy mà không ai không muốn có một người bạn để tâm sự, để an ủi. Người bạn đó đã đến với ông – Còn nỗi vui mừng nào hơn. Chính nỗi vui mừng, bất chợt mà Nguyễn Khuyến đã thốt ra lời bông đùa với bạn một cách dí dỏm cho thoả lòng trông đợi. Xem thêm: Cảm nghĩ về bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương- văn lớp 7 Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra hoa, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Mới nghe qua, ta thấy dường như nhà thơ tỏ ý làm tiếc rằng đã lâu lắm rồi bạn mới tới nhà vậy mà không có một thứ gì để tiếp, bạn để thiết đãi bạn cả: chợ thì xa, người nhà trẻ con đều đi vắng cả, ao thì sâu mà nước lớn, nên không chài bắt được cá; vườn rộng thênh thang thì khó mà bắt được gà. Đến một cây cải, mớ cà hoặc một quả bầu, một trái mướp cũng không sẵn; thậm chí một miếng trầu để tiếp khách cũng không có. Tác giả đang phân trần, giải thích sự thiếu sót của mình. Thực ra đây chỉ là cách nói cường điệu như vậy mà đã đùa với bạn, vừa tỏ thái độ nhớ mong chờ đợi bấy lâu mà thôi. Và qua những lời trần tình ấy ta cũng hiểu được cuộc sống của tác giả ở làng quê: đạm bạc, giản dị, luôn gắn bó với nông thôn. Nhịp thơ đều đặn 4 – 3 nhẹ nhàng êm ái như một lời thủ thỉ, kèm theo là nụ cười hóm hỉnh, cười vui của tác giả. Đối lập với những cái "không" ấy là cái có thật đáng quý. Bác đến chơi đây ta với ta… Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh người cách mạng Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn Câu thơ bộc lộ thật rõ nét tình cảm chân thành của tác giả đối với bạn. Đó là một tình cảm thiêng liêng cao quý. Quê hương bạn bè ở đây được xây dựng trên cơ sở vững chắc là tình cảm yêu thương chân thật không màng đến vật chất. Bác đến chơi đây không có gì cả, chỉ có ta với ta khiến ta nhớ đến câu kết trong bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan khi đứng trước cảnh đèo ngang hoang vắng cô liêu, đang mang nặng một nỗi u buồn, niềm suy tư khôn cả, không thể tâm sự cùng ai, nên bà tự quay về với lòng mình ta với ta. Còn ta với ta mà nhà thơ Nguyễn Khuyến sử dụng nhằm chỉ nhà thơ với bạn tuy hai mà một, tuy một mà hai, nó gắn quyện chặt vào nhau, không gì chia cắt được. Ở đây chỉ có ta với ta nhưng lại có tất cả. Bởi vì tình bạn giữa ta và ta mới là cao quý, nó không đòi hỏi bất kì một điều kiện vật chất nào cả, thậm chí cả một miếng trầu làm đầu câu chuyện để tiếp bác cũng không. Qua đó ta mới thấy nghệ thuật trào lộng của Nguyễn Khuyến thật là hóm hỉnh nhẹ nhàng mà tế nhị, sâu sắc. Bài thơ thể hiện sự thành công của tác giả trong bút pháp trào phúng. Ngôn ngữ được sử dụng một cách đặc sắc. Tuy là bài thơ Đường với khuôn mẫu bó buộc nhưng lời thơ lại bình dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày. Những sản vật của nông thôn được đưa vào thơ ông thật đậm đà hương vị làng quê. Ngôn ngữ quần chúng kết hợp với âm a (nhà, xa, cá, gà, hoa) thể hiện rõ nét chất phác, thật thà, đôn hậu của một con người. Chính yếu tố âm điệu, nhịp điệu được phối hợp nhịp nhàng tạo ra một mạch thơ liên tục, thanh thoát, tự nhiên như lời nói chuyện tâm tình của nhà thơ với người bạn tri âm tri kỉ của mình. Xem thêm: Em đã học bài ca dao về hoa sen. Từ đó, em hãy tưởng tượng và kể một câu chuyện để ca ngợi hương thơm của hoa sen Đây là một trong những bài thơ hay về tình bạn trong sáng, chân thành, thắm thiết của Nguyễn Khuyến. Bài thơ làm nỗi bật một nét đẹp trong cuộc đời và thơ văn Nguyễn Khuyến, ông xứng đáng là một nhà thơ của làng quê Việt Nam. Tình bạn cao cả tuyệt vời của nhà thơ sẽ là bài học giúp ta tìm và cảm nhận được những tình cảm thiêng liêng đáng quý đó. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến
1,129
Cảm nhận về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Gợi ý Bài thơ Cảnh khuya được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào năm 1947, khi quân và dân ta đang thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc. Sông Lô, Đoan Hùng đã đi vào lịch sử bằng những nét vàng chói lọi đầu tiên của ta trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Bài thơ thể hiện cảm hứng yêu nước mãnh liệt dạt dào ánh sáng và âm thanh. Đó là ánh sáng của trăng Việt Bắc, của lòng yêu nước sâu sắc: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Cùng với các bài thơ Cảnh rừng Việt Bắc, Đi thuyền trên sông Đáy, Cảnh khuya thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu nước sâu sắc của Bác trong một đêm trăng nơi núi rừng Việt Bắc. Hai câu thơ đầu trong bài thơ tả cảnh đêm khuya nơi núi rừng Việt Bắc. Trăng càng về đêm càng sáng. Ánh trăng lan tỏa bao phủ khắp mặt đất. Đêm vắng, tiếng suối nghe càng rõ. Tiếng suối chảy êm đềm nghe rất trong rì rầm từ xa vọng đến. Cảm nhận của Bác thật tinh tế, nghe suối chảy mà cảm nhận được mức độ xanh trong của dòng nước. Tiếng suối trong đêm khuya như tiếng hát xa dịu êm vang vọng, khoan nhặt như nhịp điệu của bài hát trữ tình sâu lắng. Đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh, tiếng suối rì rầm êm ả, vắng lặng trong đêm chiến khu. Tiếng suối và tiếng hát là nét vẽ tinh tế gợi tả núi rừng chiến khu thời máu lửa mang sức sống và hơi ấm của con người: Xem thêm: Phân tích cái hay cái đẹp của bài ca dao Hỡi cô tát nước bên đàngTiếng suối trong như tiếng hát xa Sáu trăm năm trước trong bài thơ Bài ca Côn Sơn ức Trai đã có cảm nhận cực kì tinh tế về dòng suối Côn Sơn: Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Tiếng suối nghe sao mà êm đềm thơ mộng đến thế. Nó như những giọt của cây đàn cầm vang vọng bên tay. Đầu thế kỉ XX Nguyễn Khuyến đã từng viết về dòng suối như sau: Cũng có lúc chơi nơi dặm khách Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo… Mỗi một vần thơ, mỗi một khung cảnh, âm thanh của suối chảy được cảm nhận tinh tế khác nhau. -Sau tiếng suối nghe như tiếng hát xa kia là trăng chiến khu. Ánh trăng chiến khu sao mà sáng và đẹp thế. Tầng cao là trăng, tầng giữa là cỗ thụ, tầng thấp là hoa – hoa rừng hay trăng thả những đốm vàng như hoa nở. Cả núi rừng việt Bắc đang tràn ngập dưới ánh trăng. Ánh trăng bao phủ khắp không trung mát dịu, len lỏi xuyên qua kẽ lá, tán cây, ánh trăng như âu yếm, hòa quyện cùng thiên nhiên cây cỏ. Ánh trăng như xoáy và lồng vào những tán lá. Và trên mặt đất những đóa hoa rừng đang ngậm sương đêm cùng với bóng cổ thụ đan xen trên mặt đất. Đêm thanh, trên không trung dường như chỉ có vầng trăng ngự trị. Đêm vắng, trăng thanh mặt đất cỏ cây như ngừng thở để đón đợi ánh trăng mát lạnh dịu hiền mơn man ôm ấp: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Chữ lồng điệp lại hai lần đã nhân hóa vầng trăng, cổ thụ và hoa. Trăng như người mẹ hiền đang tiếp cho muôn vật dòng sữa ngọt ngào.Trăng trở nên thi vị, trữ tình lãng mạn. Chữ lồng gợi cho ta nhớ đến những câu thơ sau trong Chinh phụ ngâm: Xem thêm: Phân tích đoạn trích Tức Nước Vỡ Bờ của Ngô Tất Tố Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông, Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng… Trong câu có tiểu đối trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa tạo sự cân xứng trong bức tranh về trăng, ngôn ngữ thơ trang trọng, điêu luyện tạo nên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp tràn đầy chất thơ. Cảnh khuya trong sáng, lung linh huyền ảo. Đọc vần thơ ta nghe như có nhạc, có họa, bức tranh cảnh núi rừng Việt Bắc thơ mộng biết bao. Người xưa từng nói thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc quả thật không sai. Đối với Bác trăng đã trở nên tri âm tri kỉ nên làm sao có thể hờ hững trước cảnh đẹp đêm nay. Trong ngục tối bị giam cầm, trước ánh trăng tuyệt đẹp Bác Hồ cũng đã có những vần thơ tuyệt diệu: Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ… (Ngắm trăng) Một thi sĩ với tâm hồn thanh cao đang sống những giây phút thần tiên giữa cảnh khuya chiến khu Việt Bắc. Giữa bức tranh thiên nhiên rộng lớn và hữu tình như vậy, tâm trạng thi sĩ bỗng vút cao thả hồn theo cảnh đẹp đêm trăng bởi đêm nay Bác không ngủ. Trước cảnh đẹp đêm trăng: có suối, có hoa lá, núi ngàn, và cả tâm trạng của Bác. Bác không chỉ xúc động trước cảnh đẹp thiên nhiên mà: Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Nước nhà đang bị giặc xâm lăng giày xéo, biết bao đồng chí đang bị gông cùm xiềng xích. Cuộc đời còn lầm than cơ cực, bao năm Bác bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ lầm than. Nay nước nhà còn đang chìm trong khói lửa đạn bom lòng Bác sao có thể ngủ yên giấc được. Chưa ngủ không hẳn vì cảnh đẹp đêm nay mà chưa ngủ vì nỗi nước nhà. Xem thêm: Tả một chị bán hàng đang làm việc ở cửa hàng bách hóa (hoặc cửa hàng hợp tác xã mua bán) lúc đông khách Nỗi nhớ và lo cho nước nhà làm cho trái tim Bác luôn thổn thức. Bác thức trong đêm khuya trằn trọc băn khoăn không sao ngủ được. Lòng yêu nước sâu sắc mãnh liệt xiết bao. Đã có biết bao đêm Bác Hồ của chúng ta cũng mất ngủ như vậy: Một canh, hai canh, lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh (Không ngủ được) Hình ảnh sao vàng chính là tự do độc lập, niềm thao thức mơ ngày mai ánh hồng soi đất nước hòa bình. Một tâm hồn nghệ sĩ thanh cao lồng trong cốt cách người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Cảm hứng thiên nhiên chan hòa với cảm hứng yêu nước tha thiết của Bác. Bài thơ Cảnh khuya là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt cực hay, là một trong những bài thơ trăng đẹp nhất của Bác. Giữa chốn rừng Việt Bắc tràn ngập ánh trăng, lòng Bác luôn thao thức vì nỗi nước nhà. Đó là nét đẹp riêng của bài thơ, cảm hứng thiên nhiên chan hòa trong lòng yêu nước sâu sắc. Thương dân, lo cho nước, yêu trăng… như dẫn hồn ta vào giấc mộng đẹp. Đọc thơ Bác giúp ta càng biết ơn, yêu kính Bác Hồ hơn. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
1,238
Cảm nhận về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương Gợi ý Hạ Tri Chương một thi sĩ lớn đời Đường, ông sinh (695 – 744) quê ở cối Khê – Chiết Giang – Trung Quốc, ông đậu tiến sĩ năm 36 tuổi, là đại quan của triều Đường, được nhà Vua và quần thất rất trọng vọng. Thơ ông chan chứa lòng yêu quê hương đất nước. Một trong những bài thơ đặc sắc về chủ đề này được người đời truyền tụng là Hồi hương ngẫu thư: Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi Hương âm vô cài, mắn mao tồi Nhi đồng tương kiến, bắt tương thức Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai? Cũng như Lí Bạch, Hạ Tri Chương xa quê từ lúc còn thơ bé. Quê hương với bao kỉ niệm thân thương, gần gũi với tuổi thơ ấu của mỗi người. Có lẽ chẳng mấy ai muốn xa quê, nơi đã gắn bó thành máu, thành hồn. Mở đầu bài thơ bằng thủ pháp tiểu đối đã nêu lên một cảnh ngộ: tác giả phải từ biệt gia đình từ lúc ấu thơ, từ nhỏ không được sống ở quê. Nơi đất khách quê người gợi bao buồn khổ. Rồi đến khi tóc đã pha sương mới có dịp được trở về: Thiếu tiểu li gia, lao đại hồi (Khi đi trẻ, lúc về già) Xa quê từ ngày còn thơ bé, khi trở lại đã già rồi. Thời gian cách biệt không phải là ba năm, mười lăm năm mà hơn nửa thế kỉ, gần một đời người sao lại không thương nhớ? Cảnh ngộ ấy là bi kịch của vị quan đời Đường trên con đường công danh. Cuộc đời đầy sóng gió, con người ta với một lần sinh ra và một lần vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng. Do vậy cuộc sống của họ luôn cố gắng phấn đấu cho được một chút công danh. Với Hạ Tri Chương công danh đã thành đạt nhưng phải li gia, xa quê nhà yêu dấu của mình. Có thể nói rằng đây chính là khối sầu, là một nỗi đau của bất cứ ai lầm vào cảnh ngộ này. Xem thêm: Bình giảng bài ca dao Thuyền ơi có nhớ bến chăng Ra đi từ lúc ấu thơ và khi trở lại Hương âm vô cải, mắn mao tồi (Giọng quê vẫn thế, tóc đã khác bao) ở đây tác giả dùng phép tiểu đối để khẳng định tình cảm của tác giả với quê nhà. Quê hương trở thành máu thịt, tâm hồn đối với mỗi con người. Nó trở thành một phần cuộc đời của mỗi con người. Do vậy suốt một đời xa quê, mái tóc đã điểm sương, nhuốm màu thời gian, gió sương cát bụi phong trần, nhưng hương âm (giọng quê) vẫn không thay đổi. Giọng quê chính là hơi thở, tiếng nói của quê hương. Trong giọng nói ấy mang hơi thở của đất mẹ, của quê cha đất tổ mà dẫu ở phương trời nào cũng không thay đổi. Chi tiết này cho thấy tình cảm của tác giả luôn gắn bó với quê hương, nơi dòng sữa ngọt ngào, tiếng ru, tình thương của mẹ hiền… Chỉ có những kẻ mất gốc thì mới thay đổi giọng quê, mới coi thường tiếng mẹ đẻ. Trong cái biến đổi sương pha mái đầu và cái không đổi giọng quê vẫn thế thể hiện tấm lòng chung thuỷ, sắt son VỚI nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Tình cảm ấy thật đẹp, thật đáng tự hào với Hạ Tri Chương. Hơn nửa thế kỉ làm quen phục vụ triều đình tại Kinh đô Tràng An, đứng trên đỉnh cao danh vọng, sống trong nhung lụa vàng son thế mà tình cố hương trong ông vẫn không thay đổi. Đó là điều đáng kính phục. Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề” Trở về nơi mà gần cả cuộc đời đã xa nó, đương nhiên sẽ gặp những nghịch lí. Nhi đồng tương kiến, bắt tương thức Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai? Khi đi xa nay trở lại nhà đã trở thành khách lạ, khi đi cũng là lũ trẻ bây giờ, lúc này trở lại đã là bác, là ông. Thời gian xa quê đằng đẵng theo năm tháng. Bạn bè tuổi thơ ngày xưa ai còn ai mất? Có lẽ họ cũng đã sương pha mái đầu cả rồi. Ngoảnh lại thời gian, Ôi đã ngót gần hết một đời người. Thời gian trôi đến không ngờ. Trẻ con nhìn lạ không chào Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi? Một câu hỏi hồn nhiên ngây thơ của nhi đồng để lại trong lòng tác giả nỗi buồn man mác bâng khuâng. Tuổi già sức yếu mới trở lại cố hương. Tình yêu quê hương của Hạ Trí Chương đẹp đẽ biết bao. Ta còn nhớ Tố Hữu đã từng viết: Ngày đi, tóc hãy còn xanh Mai về, dù bạc tóc anh, cũng về! (Nước non ngàn dặm) Bài thơ Hồi hương ngẫu thư là một bài thơ hay gợi cho ta nhiều xúc động. Tác giả sử dụng tiểu đối thành công, tạo nên những vần thơ hàm súc, gợi cho người đọc bao liên tưởng về nỗi lòng của khách li hương. Bài thơ là tiếng lòng của Hạ Trí Chương, yêu quê hương tha thiết, thuỷ chung, thấm đẫm trên từng vần thơ. Xem thêm: Bàn luận về câu nói của M. Go-rơ-ki: "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống".Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê của Hạ Tri Chương
947
Cảm nhận về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bài làm Trước thế cuộc đảo điên, không ít người tài ba rời bỏ chốn quan trường lui về ở ẩn, một trong số đó phải kể đến Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không chỉ là một người tài hoa kiệt xuất với những tác phẩm để đời, những lời sấm truyền nổi danh mà còn là người có nhân cách cao thượng. Cũng bởi thế bài thơ “Nhàn” được ông sáng tác khi lui về ẩn cư đã để lại triết lý sâu xa về cuộc đời con người. Từ “Nhàn” đặt cho tiêu đề bài thơ không phải là sự rảnh rỗi, vô công rỗi nghề mà là cái nhàn của tâm thức, của con người lánh xa thế sự hỗn loạn, cái nhàn của người nhìn đời bằng cái nhìn thấu đáo. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm có viết Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Trước hết, tác giả sử dụng điệp từ “một” với nghệ thuật liệt kê các sự vật “mai, cuốc, cần câu.” Đó là những vật dụng quen thuộc gắn với cuộc sống người nhà nông bình dị. Tuy rằng đó là những sự vật gợi nhắc đến công việc nặng nhưng qua ý thơ của thi nhân, nó như trở thành những món đồ để phục vụ cuộc sống bình đạm thường ngày. Cuộc sống của người thi nhân nơi thôn dã như trừ bỏ những thứ ồn ào, phiền loạn của thế giới xung quanh, yên bình với việc cày cấy, câu cá để tận hưởng sự an nhàn của tâm thức. Từ láy “thơ thẩn” xuất hiện đầu câu thứ hai như thả ý thơ vào trạng thái ung dung, tự tại, thoải mái và êm ái của cuộc sống. Khung cảnh yên bình nơi xóm núi hiện ra với sự vật, con người ở đó như một bức tranh cổ phong đẹp đẽ, thoáng đãng và phóng khoáng. Con người nơi ấy “thơ thẩn”, thơ thẩn trước thời cuộc, biến động và yên tâm với thú vui nhàn tản nơi thôn quê. “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”, câu thơ toát lên một sự thanh tao không nhuốm ý niệm của trần thế. Đó cũng là nghệ thuật đối lập đầy độc đáo được sử dụng, trong này người “thơ thẩn” ung dung mặc kệ cuộc sống ngoài kia phù phiếm, xa hoa, chìm đắm trong những hoan vui tầm thường, xa xỉ. Hai câu đề mở ra khung cảnh điền viên ấm cúng, con người nổi bật với thế giới ung dung, lạc quan và thanh thản nơi tâm hồn.Xem thêm: Phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác Tiếp đó, hai câu thực khái quát rõ nét triết lý nhân sinh của thi nhân về cuộc đời về con người Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao Nghệ thuật tiểu đối, đối từ, đối ý, đối câu đã được thi nhân sử dụng tinh tế chỉ trong hai câu thơ “dại – khôn”, “vắng vẻ – lao xao”. Người với ta, hai đại từ xuất hiện ở hai câu thơ phân biệt đã là sự đối lập rõ ràng về tư tưởng. Người với ta khác biệt, cũng như quan niệm sống của hai phía không thể tương đồng. Nơi ta tìm tới là “nơi vắng vẻ” với thú vui điền viên, cuộc sống nhàn tản không tranh đoạt, nơi con người với thiên nhiên hòa cùng một nhịp. Còn nơi người đến là “chốn lao xao”, chốn quan trường tranh đua, cướp giật, của những danh lợi ghen ghét hãm hại lẫn nhau. Lối nói ngược của tác giả đã làm nên tiếng cười của sự châm biếm, mỉa mai, dại mà hóa khôn mà khôn lại thành dại. Khôn đâu mà tìm đến phiền não, khổ sở, suốt ngày đắm chìm trong những toan tính thiệt hơn để rồi nhúng bản thân vào những thói hư tật xấu, tham lam dục vọng không kể xiết, không biết đâu là đủ. Dại gì mà có thể an nhiên tự tại, không cần phiền não, không tính thiệt hơn, gột sạch được bản thân, đắm chìm với thiên nhiên không chút bùn nhơ thế tục. Hai câu thơ nhẹ nhàng mà thấm thía, như sự cảnh tỉnh con người trước những dục vọng của bản thân và lôi cuốn của cuộc đời. Đó còn là sự khẳng định cách sống thanh cao, xa lìa cám dỗ của danh lợi chốn quan trường, là triết lý sống nhàn thực sự mà thi nhân muốn gửi gắm.Xem thêm: Phân tích giá trị nhân dạo của tập thơ “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh Cảm nhận về bài thơ Nhàn Triết lý ấy xuất phát từ sự giác ngộ về cuộc đời, tác giả còn muốn hướng đến cuộc sống hòa nhập với thiên nhiên sống thuận theo trời đất qua hai câu luận Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao. Nhắc tới “măng trúc, giá, sen, ao” người ta sẽ liên tưởng đến cuộc sống nơi thôn quê bình dị êm đềm. Những vật có sẵn, những hình ảnh đã ăn sâu vào cuộc đời của người nông thôn trở nên quen thuộc, là biểu trưng cho một cuộc sống thanh bình của con người. Xuân, hạ, thu, đông bốn mùa luân chuyển, mùa nào thức nấy. Mùa thu ăn măng trúc, mùa đông ăn giá. Cuộc sống “nhàn” yên bình nhẹ nhàng là thuận theo tự nhiên, không đòi hỏi về thức ăn, chốn ở, sinh hoạt hàng ngày. Dù tắm hồ sen hay tắm ao, sự thanh bạch của lòng người cũng không vì thế mà biến mất. Việc hòa nhập với thiên nhiên không chỉ hoàn thiện sự an nhàn trong cuộc sống mà con trong tư tưởng, không mong cầu, vu lợi, không đòi hỏi, sân si. Ý thơ nổi bật sự đồng điệu về tâm thức của con người với thiên nhiên. Bốn mùa tươi đẹp với những thức ăn bình dị là cuộc sống chan hòa với trời đất của con người. Hiếm ai có thể bỏ qua cám dỗ của kinh thành lui về ở ẩn như Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng vì thế mà cuộc sống “nhàn” không phải là thứ ai cũng dễ dàng làm được. Điều đó đã khẳng định nhân cách tuyệt vời của con người đang hướng tới một triết lý sống thanh cao, tự tại. Và rồi thi nhân kết lại hai câu với giọng thơ nhẹ tênh và sảng khoải Rượi đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Mượn điển tích về giấc mộng Nam Kha, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định một triết lý sâu xa về cuộc đời con người. Vạn vật phù phiếm, của cải, vật chất, công danh, quyền quý đều chỉ như một giấc mộng hoàng lương, đẹp đẽ đến mấy, rực rỡ đến mấy có được rồi cũng có lúc chúng phải suy tàn. Cũng như cuộc đời con người khi khi chết rồi không mang được thứ gì theo hết. Trải qua cả cuộc đời, cảm nhận được những được mất mà quan trường, phồn hoa đem lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới có thể có một cái nhìn đầy khách quan về cuộc đời như vậy. Mấy ai thoát được cám dỗ của thế gian mà thấu rõ lẽ đời, giữ được sự thanh khiết thuần túy của mình. Tìm đến cái say để có thể tỉnh lại, đó không chỉ là cái tài của thi nhân mà còn là nghệ thuật đặc sắc khi kết lại bài thơ. Những chiêm nghiệm trong cuộc đời muốn có được phải trải qua rồi ngộ ra, triết lý sống “nhàn” không phải là trốn tránh thế sự mà là sự mong mỏi tìm được lối thoát đúng đắn, sự “nhàn” thật sự trong tâm tưởng của con người.Xem thêm: Cảm nghĩ về hình tượng phụ nữ trong bài ca dao Khăn thương nhớ ai Cả bài thơ toát lên một vẻ đẹp hoàn mỹ trong thế giới của tao nhân mặc khách, triết lý nhân sinh hướng tới việc thoát khỏi vòng luẩn quẩn trong cám dỗ cuộc đời. Tác giả đã vô cùng thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối lập, ngôn từ giản dị nhưng không kém phần tinh tế, nhịp thơ linh hoạt, điển tích điển cố… đã làm nên cái riêng rất hoàn mỹ của bài thơ. Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang theo tư tưởng cá nhân và thế giới quan đầy mới lạ trong hàng loạt những tác phẩm thi ca trung đại hướng đến lòng yêu nước, trung thành… Đó là một hơi thở mới về triết lý sống thanh tao, giản dị trước thời cuộc hỗn loạn, đảo điên. Khép lại bài thơ, dư âm của nó vẫn âm vang đến muôn đời về quan niệm của một bậc đại trí, vinh hoa làm nhiễm bẩn nhân cách chỉ là phù du, phải biết tìm lấy hướng đi đúng giữ lại sự trong sạch cho chính mình. Ngọc Huyền
Cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất
1,539
Cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan Gợi ý Đèo Ngang là một cảnh trí thiên nhiên ngoạn mục, là nơi giáp ranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài suốt hai thế kỉ. Đứng trên đỉnh Đèo Ngang nhìn bốn phía, phía nào cũng để lại ấn tượng mạnh trong lòng người. Đông biển thăm thẳm xanh, sóng từng đợt trắng xoá va vào sườn núi, Tây núi non trùng trùng, Bắc Nam đất đai, sỏi đá một màu đỏ thẫm. Bởi thế, nó đã gợi biết bao cảm xúc, bao thi hứng trong lòng người, hồn người. Bà Huyện Thanh Quan và bài thơ Qua đèo Ngang của bà cũng nằm trong số đó. Bài thơ tả cảnh buổi chiều trên đèo Ngang trước con mắt người lữ khách khi vừa đặt chân tới. Bước tới đèo Ngang bóng xế tà. Thiên nhiên như ùa đến trong tầm mắt tác giả, cảnh sắc tươi tắn, ưa nhìn nhưng sinh vật vã đất đá nương tựa nhau, xen lẫn nhau cũng có vẻ đông đúc. Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Nhưng sau sự cảm nhận đầu tiên, tác giả đã có thì giờ buông tầm mắt ra xa, tìm đến thế giới con người. Lẽ ra thiên nhiên có thêm con người phải sinh động, đẹp đẽ hơn nhưng giờ đây, sự điểm xuyết của người hái củi thưa thớt, quán chợ lơ thơ chỉ khiến cho cảnh vật thêm hiu hắt. Xem thêm: Thầy, cô giáo chủ nhiệm cần biết những công việc tập thể lớp đã làm để giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ và Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Em hãy viết văn bản gửi lên thầy cô để thầy cô được biết những việc làm trên Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Bà Huyện Thanh Quan đã nhìn bao quát toàn cảnh, bà còn cảm nhận về đèo Ngang qua thính giác: tiếng chim quốc, tiếng chim gia gia vọng đến, rơi vào cái vắng vẻ, tĩnh mịch của buổi chiều trên đèo. Khung cảnh thiên nhiên ấy, hoàn cảnh lữ thứ ấy khiến cho tiếng chim gợi liên tưởng đến những từ đồng âm biểu hiện những ý nghĩa, những vấn đề hết sức sâu sắc và lớn lao: nhớ nước và thương nhà. Thương nhà thì đã rõ, Bà Huyện Thanh Quan có một thời được triệu về Huế là chức cung trung giáo tập. Bà vốn người Nghi Tàm, Hà Nội (Bài thơ này có thể làm trong dịp vào cung đó). Một người phụ nữ phải rời nhà đi xa thế, dù là đi làm quan, cũng ngổn ngang biết bao nỗi niềm. Cái tiếng chim gia gia tha thiết gợi biết bao. Nhưng còn cái tiếng khắc khoải của những con chim quốc. Nhiều người cho rằng đó là tâm sự hoà Lê của tác giả. Điều đó không lấy gì làm chắc, bởi lẽ thời bà sống và làm quan đất nước đã chuyển sang nhà Nguyễn đến thập kỉ thứ ba thứ tư rồi. Có điều, như các triều đại phong kiến khác nhà Nguyễn bấy giờ đã bộc lộ những mặt tiêu cực, những chỗ; yếu kém và cả những tội ác. Là một nhà thơ nhạy cảm, bà Huyện Thanh Quan hẳn có những điều buồn phiền, bất như ý về hiện thực xã hội. Cái nỗi đau lòng khi nhớ nước có lẽ chính là như thế, chính là sự nghĩ về hiện tình đất nước đương thời. Xem thêm: Phân tích nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao Và thiên nhiên đã đánh thức lòng tác giả những mối suy tư lớn lao thì thiên nhiên bỗng như lùi xa, trả tác giả trở lại với chính tâm tư mình và chỉ có một mình. Dừng chân đứng lại, trời non nước Một mảnh tình riêng, ta với ta Qua đèo Ngang trước tiên là bài thơ tả cảnh. Cảnh vật hiện ra phong phú dần theo bước chân người đi. Có cảnh sắc: cỏ, cây, hoa, lá, đá, tiều phu bên sườn núi, chợ bên sông, nhà; có âm thanh: tiếng quốc quốc, gia gia khắc khoải dồn dập. Và khi đi lên đến đỉnh núi thì nhà thơ đã nhìn được một cách tổng quát, toàn thể: trời, non nước. Cái mênh mông vô cùng hùng vĩ ấy của thiên nhiên đã làm nhà thơ sững lại: dừng chân đứng lại. Nhưng tả cảnh chỉ là một phần ý nghĩa của bài thơ. Chính là bài thơ đã miêu tả rất rõ diễn biến tình cảm của tác giả khi qua đèo Ngang này. Từ cảm nhận ban đầu, tình cảm của tác giả sâu lắng dần; qua sự tiếp nhận của mắt, của tai, những nỗi niềm tâm sự mỗi lúc một dồn nén để rồi nó chất chứa, cô đọng thành một nỗi buồn, nỗi cô đơn không thể cùng ai chia sẻ. Hình ảnh một con người, lại là một người đàn bà, đứng sững giữa cảnh trời, nước, non cao, trong ánh chiều tà đơn độc biết bao! ở đây có sự tương phản: tương phản giữa thời gian khoảnh khắc (chiều sắp hết) và vũ trụ vô cùng; tương phản giữa không gian và thời gian: tâm trạng cô đơn, nỗi buồn vô hạn, và cả bóng hình nữ sĩ. Xem thêm: Hình ảnh “chú tôi” và “cậu cai” trong ca dao châm biếm Qua đèo Ngang là một bài thơ hay và sẽ bất tử với thời gian. Có lẽ cho đến khi nào con đường Nam Bắc còn đèo Ngang thì những người qua đây nhiều người vẫn còn nhớ đến nữ sĩ và như còn mường tượng ra bức tượng bà đứng cao trội lên trong bóng chiều trên đỉnh đèo. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan
979
Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Qua đèo ngang Trong thơ ca Việt Nam có hai nữ sĩ đã ghi lại tên tuổi vào dòng văn học trung đại, đó là Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Nếu nói thơ của Hồ Xuân Hương sắc sảo, góc cạnh thì thơ của Bà Huyện Thanh Quan lại mang sự trầm lắng, sâu kín, hoài cảm, gửi gắm nỗi niềm vào lời thơ. Phong cách đó của bà đã làm ta cảm nhận sâu sắc về tình cảm bà dành cho quê hương qua bài thơ “Qua Đèo Ngang”. “Bước đến Đèo Ngang, bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta” Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát, giọng thơ nhẹ, trầm lặng mang nét buồn sâu lắng. Nữ sĩ tài danh lần đầu xa nhà, đặt chân đến Đèo Ngang vào một buổi xế chiều, không gian khiến ai nghe cũng cảm giác buồn, gợi nỗi niềm riêng “Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà” Ngay từ đầu, cảnh vật ở Đèo Ngang đã hiện lên dưới ánh nắng chiều sắp tắt, thật hữu tình nhưng vẫn hoang vu, hiu vắng. Đó là khung hiện ra trong con mắt của người xa sứ mang theo vẻ buồn mênh mang. Khoảng khắc “xế tà” xuất hiện như để bộc lộ tâm trạng buồn của một lữ khách cô đơn trước không gian rộng mà heo hút, hoang sơ của Đèo Ngang “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Điệp từ “chen” của tác giả làm cho cây cỏ lá hoa có sức sống mạnh liệt nhưng nơi đây còn hoang sơ, ít dấu chân người. Câu thơ cho em cảm xúc bâng khuâng, niềm mong ước đặt chân đến miền đất xa sôi này. Nơi đã khơi gợi niềm cảm xúc nhớ nhà của nữ sĩ. Khung cảnh ấy bất giác gieo vào lòng người đọc một ấn tượng trống vắng, lạnh lẽo cả không gian lẫn thời gian. Một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng lại đượm buồn. Người phụ nữ sang trọng, đài cát, ăn mặc theo lối xưa đang hướng đôi mắt buồn nhìn cảnh Đèo Ngang trong buổi chiều tà lặng êm. Và khi bước chân lên đỉnh đèo, khung cảnh đã được mở rộng thêm “Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà” Xem thêm: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.Giữa không gian mênh mông, trống trải của Đèo Ngang không phải là không tồn tại sự sống, vẫn có người, có chợ nhưng lại quá thưa thớt. Từ láy “lom khom, lác đác” cùng từ “vài, mấy” gợi vẻ ít ỏi, thưa thớt, cuộc sống ở đây hẳn còn khó khăn, vất vả. Sự tồn tại đó không làm cho không gian trở nên ấm cúng mà trái lại càng tăng thêm vẻ tàn tạ, hiu hắt của cảnh vật mà thôi! Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, đặc sắc nhất là phép đối làm đậm vẻ bâng khuâng, dào dạt trong lòng nhà thơ. Là người phụ nữ đoan trang ở chốn phố phường đông đúc mà giờ lại chứng kiến cảnh tượng trái ngược với khung cảnh hàng ngày được thấy nên cái buồn của cảnh đã bộc lộ cái buồn kết đọng trong lòng bà. Tất cả như hòa quyện cùng với tâm hồn của nhà thơ – một tâm hồn cô đơn, trống vắng vì nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Đến đây, em cảm nhận được một vẻ đẹp hoang sơ, heo hút buồn của Đèo Ngang qua con mắt của nhà thơ. Nữ sĩ đã thành công trong việc mượn cảnh tả tình, bày tỏ nỗi niềm hoài cổ, man mác buồn của mình. Cảnh buồn, người buồn, thậm chí cả những âm thanh vang vọng trong chiều tà cũng làm tăng thêm nỗi buồn da diết trong lòng kẻ xa quê “Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia” Tác giả khéo léo dùng phép chơi chữ “quốc – nước” “gia – nhà”. Âm thanh khắc khoải, da diết của tiếng chim kêu não nuột, nghẹn ngào hay tiếng lòng của nữ sĩ? Cảnh thể hiện kín đáo, nhẹ nhàng mà tha thiết, sâu sắc tình yêu, nỗi nhớ quê hương, gia đình. Nỗi niềm vời vợi nhớ thương của nhà thơ bất chợt bùng lên trong giây lát, để rồi lại trở về với cái vẻ hoang vắng vốn có của đất trời và sự cô đơn đến tuyệt đỉnh của chính nhà thơ làm xúc động lòng người “Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta” Cụm từ “dừng chân đứng lại” là nỗi ngập ngừng lưu luyến khi bước qua “ranh giới hai miền”, là sự đối lập khi đứng giữa đất trời mênh mông, con người trở nên nhỏ bé. Nỗi buồn của con người như cô đặc lại, không người chia sẻ, nỗi buồn được chính nhà thơ chịu đựng một mình. Tác giả đã khiến em nhận ra sự lẻ loi, bé nhỏ, cô đơn của nữ sĩ. Cụm từ “ta với ta” nghe thật cô đơn biết bao, nó diễn tả bà với chính mình, đó là sự cô đơn đến tộc độ, là nỗi buồn sâu thẳm. Nó khác hoàn toàn với “ta với ta” đầm ấm, vui tươi trong “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến. Đọc bài thơ, em đồng cảm với nỗi buồn sâu sắc của tác giả và nhận thấy một điểm đáng trân trọng trong tâm hồn người nữ sĩ tài danh, đó là tình yêu sâu nặng bà dành cho quê hương, đất nước. Bằng cách sử dụng nhiều nghệ thuật, bà Huyện Thanh Quan đã miêu tả cảnh đẹp hoang sơ của đèo Ngang thưở trước, đồng thời thể hiện nỗi cô đơn, nhớ nước thương nhà da diết của chính mình mà có lẽ chỉ có những người xa quê mới cảm nhận hết được. Đây là bài thơ đậm chất trữ tình, được đánh giá cao và thanh công nhất của Bà Huyện Thanh Quan. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc, là tác phẩm hay trong dòng thơ trung đại Việt Nam. Em yêu thích ngòi bút ngôn ngữ rất nực trang nhã của bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ đọng lại trong ta bao cảm xúc buồn mà đáng nhớ. Nó xứng đáng được người đời ghi nhớ và hoài lưu đến tận sau này Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy
Cảm nhận về bài thơ Qua đèo ngang
1,140
Đề bài: Cảm nhận của em sau khi học xong bài thơ Quê hương của Tế Hanh Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông Hai câu thơ mở bài như một lời giới thiệu của tác giả về làng quê miền biển của mình. Nó là một làng quê nằm ăn sát ra biển, bốn bề quanh năm sóng vỗ. Qua hai câu mở bài này, tác giả còn muốn giới thiệu với mọi người về nghề nghiệp chính ở quê mình, đó là nghề ngư nghiệp. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá Hai câu thơ tiếp theo như những dòng nhật kí tâm tình của Tế Hanh, nói về công việc thường nhật xảy ra ở ngôi làng ven biển này. Tiết trời ở đây thật trong lành: bầu trời trong xanh, gió biển nhẹ, bình minh rực rỡ sắc hồng. Lúc đó, những người thanh niên, trai tráng trong làng cùng nhau căng buồm, tiến ra biển cả. Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang Trong hai câu thơ này, tác giả Tế Hanh đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh: “hăng, phăng, vượt” và sử dụng nghệ thuật so sánh “chiếc thuyền nhẹ” với “con tuấn mã”, làm gợi lên vẻ đẹp, sự dũng mãnh của con thuyền. Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió Ở hai câu tiếp theo này, nghệ thuật so sánh lại được sử dụng. “Cánh buồm” được so sánh với “mảnh hồn làng”, thể hiện tình yêu quê hương luôn tiềm tàng trong con người Tế Hanh. Được sử dụng một lần nữa, động từ, tính từ mạnh: “giương, rướn, bao la” đã cho ta thấy một vẻ đẹp kiêu hãnh, đầy tự hào của cánh buồm vi vu trong gió biển. Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ, Xem thêm: Thuyết minh về một nhà văn địa phươngKhắp dân làng tấp nập đón ghe về. “Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe” Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, Khắp thân mình nồng thở vị xa xăm. Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm, Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Tám câu thơ tiếp theo này thể hiện hình ảnh làng chài khi những chiếc thuyền cá trở về sau những ngày chìm trong gió biển. Người dân làng chài vui sướng biết bao khi những người thân của họ đã mang về những thành quả tương xứng. Dân chài lưới mang một màu da thật riêng, có một mùi hương riêng biệt. Cái mùi này chỉ những người yêu quê hương tha thiết, nồng nàn như tác giả Tế Hanh mới có thể cảm nhận được. Chiếc thuyền cũng mệt mỏi sau những ngày đi biển, tựa như con người vậy. Cái chất muối thấm trong thớ vỏ cũng được tác giả cảm nhận bằng cách “nghe”, thật độc đáo! Nay xa cách, lòng tôi luôn tưởng nhớ: Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Khi viết bài thơ này, tác giả đang ở xa quê hương. Vậy mà, ông vẫn luôn nhớ về mảnh đất quê hương yêu dấu của mình. Nhớ màu nước biển xanh, nhớ những con cá bạc, nhớ cánh buồm trắng, nhớ con thuyền đang băng băng rẽ sóng ra khơi. Ông còn nhớ cả cái mùi muối mặn của biển quê nhà. Kết lại, với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ. Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong Hạnh phúc của một tang gia
Cảm nhận về bài thơ Quê hương
681
Đề bài: Cảm nhận của em về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh “Xuân” trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi. “Nguyên tiêu” nằm trong chùm thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh viết trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, tại chiến khu Việt Bắc: “Nguyên tiêu”, “Báo Tiệp”, “Thu dạ”,…Sau chiến thắng Việt Bắc, thu đông năm 1947, sang xuân hè 1948, quân ta lại thắng lớn trên đường số bốn. Niềm vui thắng trận tràn ngập tiền tuyến hậu phương. Trong không khi sôi động và phấn chấn ấy, bài thơ “Nguyên tiêu” của Bác Hồ xuất hiện trên báo “ Cứu quốc” như một đoá hoa xuân ngào ngạt và rực rỡ sắc hương. Xuân Thuỷ đã dịch khá hay bài thơ này. Nguyên tác bằng chữ Hán, viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt: “Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên; Yên ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lại nguyệt mãn thuyền”. Đêm nguyên tiêu trăng sáng ngời trên một không gian bao la. Bài thơ nói lên cảm xúc và niềm vui dào đạt trong tâm hồn lãnh tu đêm nguyên tiêu lịch sử. Hai câu đầu vẽ lên cảnh đẹp tuyệt vời đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời, vầng trăng vừa tròn (nguyệt chính viên). Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì mùa xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng cũng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình. Đất nước quê hương bao la một màu xanh bát ngát. Màu xanh lấp lánh của “xuân giang”. Màu xanh ngọc bích của “xuân thuỷ” tiếp nối với màu xanh thanh thiên của “xuân thiên”. Ba từ “xuân” trong câu thơ thứ hai là những nét vẽ đặc sắc làm nổi bật cái “thần” của cảnh vật sông, nước và bầu trời. “Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên”. (Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân) “Xuân” trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ, là vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả mùa xuân, của sông nước, đất trời vào xuân. Nó thể hiện vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của đất nước ta: trong lửa đạn vẫn dạt dào một sức sống trẻ trung, tiềm tàng. Ngoài giá trị miêu tả cảnh đẹp đêm nguyên tiêu, vần thơ còn biểu hiện tinh tế cảm xúc tự hào, niềm vui sướng mênh mông của một hồn thơ đang rung động giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử, đất nước đang anh dũng kháng chiến. Với Bác Hồ, yêu vẻ đẹp đêm nguyên tiêu, yêu thiên nhiên cũng là yêu đời tha thiết. Bác yêu thiên nhiên nên sông, núi, cỏ cây, hoa lá, tạo vật trong thơ Bác rất hữu tình. Có “Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa”. Có “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” trong niềm vui thắng trận. Bác yêu hoa núi, chim rừng Việt Bắc: “Xem sách, chim rừng vào cửa đậu – Phê văn hoá núi ghé nghiên soi”; yêu ngọn núi, chim rừng báo mùa thu chợt đến… Thiên nhiên trong thơ Hồ chí Minh là một trong những yếu tố tạo nên sắc điệu trữ tình và màu sắc cổ điển. Hai câu thơ cuối nói về dòng sông, khói sóng và con thuyền trăng: “Yêu ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”. Xem thêm: Tả một người bạn thân của emÁnh trăng ngày trước (1942-1943) chiếu vào ngục lạnh nơi đất khách quê người, thì đêm nguyên tiêu này là (1948), trăng lại soi xuống con thuyền trong đó Bác đang “đàm quân sự” (bàn bạc việc quân). Trăng nguyên tiêu là trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm, được nhân dân đón đợi với bao hy vọng, bao tình cảm nồng hậu. Lại nữa, trường hợp thưởng trăng không phải là trường hợp bình thường diễn ra trên sân nhà, ngõ xóm, hay “đăng lâu vọng nguyệt”, … mà là thưởng trăng trên khói sóng, nơi “yên ba thâm xứ” – cõi sâu kín, bí mật trên dòng sông, giữa núi rừng chiến khu bao la! Người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các tao nhân mặc khách ngày xưa, mà còn là con người hành động, người chiến sĩ đánh giặc, vị lãnh tụ đang “bàn bạc việc quân” để lãnh đạo nhân dân kháng chiến, bảo vệ non sông đất nước. Quả thật, đây là một trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự”. “Yên ba” là khói sóng, một thi liệu cổ được Bác vận dụng rất sáng tạo làm hco bài thơ “Nguyên tiêu” mang phong vị Đường thi. Ba chữ đàm quân sự” đã khu biệt thơ Bác với thơ của người xưa, làm cho vần thơ mang màu sắc hiện đại và không khí lịch sử của thời đại. Sau những canh dài bàn bạc việc quân căng thẳng nơi khói sóng sâu kín, trời đã về khuya. Nửa đêm (dạ bán), Bác trở về bến, tâm hồn sảng khoái vô cùng. Con thuyền của vị thống soái, con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng của thi nhân nhẹ bơi trên sông nước mênh mông, chở đầy ánh trăng vàng: “Dạ bán quy lai, nguyệt mãn thuyền”. (Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền). “Nguyệt mãn thuyền” là một hình ảnh rất đẹp và trữ tình, nó làm ta nhớ đến nhưng vần thơ hoa lệ: “Bạn chơi năm ngoái nào đâu tá? Trăng nước như xưa chín với mười”. (Triệu Hỗ – Đường thi) “Thuyền mấy là đông, tây lặng ngắt, Một vầng trăng trong vắt lòng sông…” (Bạch Cư Dị) “Nước biếc non xanh thuyền gối bãi, Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu” (Nguyễn Trãi) .v.v…. Trở lại bài thơ Hồ Chí Minh, ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ trên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng, mang theo bao ánh trăng, hiện lên một thủ lĩnh quân sự giàu hồn thơ đang lãnh đạo quân dân ta kháng chiến để giành lại độc lập, tự do, để giữ mãi những đêm nguyên tiêu trăng đầy trời của đất nước quê hương thanh bình. Hình ảnh con thuyền trăng trong bài thơ này cho thấy tâm hồn Bác giàu tình yêu thiên nhiên, trong kháng chiến gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Qua bài thơ “Nguyên tiêu”, ta có thể nói, trăng nước trong thơ Bác rất đẹp. Chính vầng trăng ấy đã thể hiện phong thái ung dung, tâm hồn thanh cao của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc mang cốt cách nghệ sĩ, nhà hiền triết phương Đông. “Nguyên tiêu” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, man mác phong vị Đường thi. Bài thơ có đầy đủ những yếu tố của bài thơ cổ: một con thuyền, một vầng trăng, có sông xuân, nước xuân, trời xuân, có khói sóng. Điệu thơ thanh nhẹ. Không gian bao la, yên tĩnh… Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ây, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú từ chương, mà chỉ “đàm quân sự”. Bài thơ như một đoá hoa xuân đẹp trong vườn hoa dân tộc, là tinh hoa kết tụ từ tâm hồn, trí tuệ, đạo đức của Hồ Chí Minh. Văn tức là người. Thơ là tấm lòng, là tiếng lòng cộng hưởng từ một người đến với muôn người. Thơ Bác Hồ tuy nói đến “trăng, hoa, tuyết, nguyệt…” nhưng đã phản ánh tâm tư, tình cảm, lẽ sống cao đẹp của Bác. Bác yêu nước, thương dân tha thiết nên Bác càng yêu đêm nguyên tiêu với vầng trăng xuân thơ mộng. Trong kháng chiến gian khổ, Bác đã hướng tới vầng trăng rằm tháng giêng, hướng tới bầu trời xuân với tâm hồn trong sáng và phong thái ung dung. Cuộc đời không thể thiếu vầng trăng. Biết yêu trăng cũng là biết sống đẹp. “Nguyên tiêu” là một bài thơ trăng tuyệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Con thuyền chở đầy ánh trăng cũng là con thuyền kháng chiến đang hướng tới chiến công và niềm vui thắng trận… Nguồn Edufly Xem thêm: Cha ông đã nhắc nhở chúng ta: "Cá không ăn muối cá ươn, Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư". Em hãy giải thích và trình bày suy nghĩ của mình về lời dạy trên?
Cảm nhận về bài thơ Rằm tháng Giêng của Hồ Chí Minh
1,421
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương Bài làm Thơ ca xưa khi nói về thân phận người phụ nữ thì hầu hết là từ những nữ thi sĩ khi có sự đồng cảm giữa thân phận của bản thân với thân phận của những người phụ nữa khác cùng thời trong xã hội. Những lời thơ viết về phụ nữ đã vốn ít, mà viết về người vợ thì càng hiếm hoi hơn. Chính vì thế với nhà thơ Trần Tế Xương hay còn được gọi là Tú Xương thì là một trường hợp đặc biệt. Trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của mình, Tú Xương đã nhắc đến và viết khá nhiều bài về vợ của mình. Một trong số đó chính là bài thơ Thương Vợ: “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không” Vốn là một trong những nhà thơ trào phúng xuất sắc trong thơ ca trung đại Việt Nam nên dù viết về vợ nhưng ông cũng có sự kết hợp giữa trữ tình với trào phúng đậm chất dân gian nhưng cũng rất cảm động. Nhan đề bài thơ đã khái quát tình cảm mà ông Tú dành cho vợ của mình đó chính là sự thương yêu nhưng trong đó cũng hàm chứa nhiều tình cảm khác mà khi người đọc đọc cả bài thơ lên mới thấu hiểu được.Xem thêm: Hãy kể lại một sự việc đã gây cho em những cảm xúc khó quên Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ Mở đầu bài thơ ông đã có sự giới thiệu rất đặc sắc về hoàn cảnh của gia đình cũng như sự vất vả của vợ: “Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng” Công việc của bà Tú chính là buôn bán và công việc này không chỉ trong ngày một ngày hai mà đã rất lâu nay rồi. Điều này được thể hiện qua từ “quanh năm”. Nơi mà bà Tú buôn bán chính là ở “mom sông”. Chúng ta có thể liên tưởng tới một bãi đất trống sát với mép nước và có ba bề tiếp xúc với mặt nước. ta có thể thấy được đó là một nơi rất chênh vênh, nguy hiểm ấy vậy mà bà Tú đã phải ở đó buôn bán quanh năm mặc cho mưa nắng. Ngày nắng đã đành còn những ngày mưa thì đó quả là một nơi rất nguy hiểm, vừa trơn trượt vừa lo lắng nước sông dâng cao. Khi đọc câu thơ thứ nhất này chắc hẳn độc giả sẽ thắc mắc “Tại sao bà Tú lại phải vất vả như vậy?”. Đến câu thơ thứ hai Tú Xương đã lý giải nguyên nhân: “Nuôi đủ năm con với một chồng” Một người phụ nữ nhỏ bé nhưng trên lưng lại là gánh vác cả một gia đình. Đó không phải là một hai người con mà những năm người con. “Một chồng” được tách riêng chứ không nói rằng sáu miệng ăn mà tách đôi. Mọi người có thể hiểu ngay được việc nuôi năm đứa con thì có lẽ còn đơn giản hơn, ít tốn kém hơn một ông chồng. Tế Xương đã nhận ra điều đó và xếp riêng mình chứ không gộp chung với các con.Xem thêm: Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan Đến hai câu thơ tiếp theo nhà thơ đã thể hiện tình thương yêu đối với vợ bằng cách miêu tả thực: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Thơ ca hay trong văn học dân gian thường ví thân phận người lao động với hình ảnh con cò. Tú Xương mượn hình ảnh thân cò để nói về bà Tú, làm nổi bật lên sự vất vả, cực nhọc của bà Tú. Phép đảo ngữ kết hợp với từ láy “lặn lội”, “eo sèo” càng làm cho ta thấu hiểu được sự vất vả, cực nhọc vì kiếm sống không chỉ nuôi bản thân mà còn gánh vác cả gia đình. Hình ảnh người vợ một thân một mình lặn lội nơi quãng vắng, buổi đò đông là những khoảnh khắc đáng thương nhất, cũng đáng ái ngại nhất. Bốn câu thơ đầu là ông Tú nói về hoàn cảnh cũng như nỗi vất vả, gan truân của vợ thì đến hai câu tiếp theo như một lời than thân, trách phận vang lên từ bà Tú: “Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công” Duyên thì chỉ một mà nợ những gấp đôi. Cái duyên âu cũng là số mệnh của cả một kiếp người. Vì là số phận nên đành chấp nhận. “Dám quản công” không chỉ là có ý nghĩ của sự chịu đựng mà còn mang ý khiêm nhường. Có thể thấy được sự hi sinh thầm lặng của người vợ, người mẹ cao cả đến nhường nào. Chính sự than vãn đó, sự thấu hiểu ấy khiến nhà thơ không thể kìm nén, yên lòng được mà thốt lên câu mỉa mai chính bản thân mình:Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Sọ Dừa “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không” Bài thơ Thương Vợ không chỉ là bài thơ mà tác giả bày tỏ tình yêu thương, sự cảm thông với người vợ của mình. Mà bài thơ còn là lời chế giễu, tự cười chính mình khi bản thân ăn ở bạc bẽo, không những không giúp gì được cho vợ con mà còn là kẻ ăn bám, là gánh nặng của vợ. Loan Trương
Cảm nhận về bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương hay nhất
974
Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng Bài làm Chiến tranh để lại những dấu tích đau thương và cay đắng của cả một dân tộc, nhưng nó cũng là bằng chứng cho sứ mệnh đã được gọi tên, cho những người lính đã hóa hồn thiêng để thành bất tử. Hình ảnh người lính trong năm tháng chiến tranh qua đi đã trở thành tượng đài bất diệt, là nhân vật của những tuyệt tác thi ca. Và bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng đã trở thành một trong những tác phẩm nổi bật nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp viết về người lính. Nó đã khắc nên hình tượng bất hủ về người lính Tây Tiến vừa hào hùng bi tráng, vừa mạnh mẽ can trường, vừa lãng mạn tài hoa. Bài thơ Tây Tiến được sáng tác vào năm 1948 khi Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, cũng vì thế mà tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng đã viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, sau đổi thành Tây Tiến. Tác phẩm được in trong tập “Mây đầu ô” (1986) Rời xa nơi gắn bó chiến đấu, Quang Dũng để lại một nỗi nhớ thiết tha trải dọc con đường hành quân, cũng vì thế mà nỗi nhớ lại da diết và trở thành cảm hứng chủ đạo của bài thơ. Ngay từ đầu bài thơ, nỗi nhớ vọng lên trong sự khắc khoải không nguôi. Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. Câu thơ là tiếng gọi âm vang đầy hoài niệm, như muốn níu kéo quá khứ đã qua đi không thể trở lại và giờ chỉ tồn tại trong ký ức. Sông Mã là con sông nơi gắn bó quãng thời gian Quang Dũng còn hoạt động trong binh đoàn Tây Tiến, nó chứng kiến biết bao cuộc chiến tàn khốc, những ngày đóng quân anh em xum vầy. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”, từ "xa rồi" như nhịp sóng lòng dấy lên, bật ra tiếng gọi nhớ nhung “Tây Tiến ơi”. Chỉ có những thứ đã ăn sâu vào tâm thức, trở thành nỗi đau đáu khôn nguôi mới có thể thốt ra tiếng gọi êm ái như vậy. Nỗi nhớ “chơi vơi” giữa rừng núi dường như lan tỏa khắp không gian và thời gian, nhớ về những ngọn núi, rừng cây mà binh đoàn Tây Tiến đã đi qua. Nỗi nhớ tầng tầng lớp lớp bủa vây không gian tạo nên chiều sâu, khiến lòng người hồi tưởng cũng trở nên nặng trĩu. Nỗi nhớ ấy đã được cụ thể hóa bằng những địa điểm, trải nghiệm đầy nguy hiểm cũng đầy mơ mộng trên các vùng đất binh đoàn đã đi qua Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Binh đoàn Tây Tiến đi đến đâu, nơi đó trở thành nỗi nhớ in sâu vào tâm trí. “Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông”. Những cái tên gợi lên đầy trìu mến, trân trọng, nỗi nhớ trải dài khắp chốn. Mỗi địa danh đều gắn liền với những ký ức khó phai. Sương lạnh bủa vây khắp chốn Sài Khao, che lấp binh đoàn khỏi kẻ địch truy lùng. Hoa trong đêm hơi nơi Mường Lát, trông từ xa xa, màn mưa giăng mắc những mái nhà trên Pha Luông… Tất cả đều mang nét thi vị, mềm mại, đa tình và lãng mạn qua cái nhìn của một người lính vốn gan góc can trường. Nhưng cuộc hành quân còn phải vượt qua biết bao nhiêu chông gai. Với những từ láy sử dụng thanh trắc, âm điệu mạnh mẽ “Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút”, sự biến đổi liên tục về độ cao “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” khắc họa con đường của người lính với biết bao gian truân, khó khăn. Những lối đi gập ghềnh, trèo đèo lội suối, những vực sâu hun hút không thể xảy chân… Tất cả những gian lao ấy đều không làm chùn chân người lính Tây Tiến, họ vẫn vững tin tiến về phía trước trong công cuộc kháng chiến trường kỳ. Quang Dũng còn viết một câu thơ đầy dí dỏm nhưng cũng đẹp đẽ vô cùng “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, câu thơ như là tiếng cười hóm hỉnh của những người lính không quản đường hành quân khó khăn. Ngoài chiến trường kia nguy hiểm, chết chóc đến đâu cũng không làm mất đi tinh thần lạc quan của các anh.Xem thêm: Phân tích những cách xử lí nghệ thuật của nhà văn Kim Lân đối với nhân vật người đàn bà vô danh trong truyện ngắn Vợ nhặt Đường đi trở ngại là một chuyện, người lính Tây Tiến còn phải đối mặt với thiên nhiên gai góc, chốn “rừng thiêng nước độc”. Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Thiên nhiên núi rừng như một con thú khổng lồ và nguy hiểm, chốn reo rắc những khiếp sợ không lường. “Thác” chảy xối xả, dữ dội trong khu rừng im vắng, động từ mạnh “gầm thét” như thêm phần ồn ã và đáng sợ của chốn rừng thiêng. Không chỉ vậy, “cọp” là một giống loài ăn thịt, động từ “trêu” như khẳng định sự nguy hiểm đang rình rập không lường, lúc nào cũng chực chờ đe dọa đến tính mạng người lính. Thế nhưng dù nguy hiểm lúc nào cũng bủa vây xung quanh nhưng đối với cái chết người lính Tây Tiến lại có cái nhìn nhẹ tênh không sốt sắng Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Quang Dũng đã vô cùng tinh tế khi sử dụng các từ nói giảm nói tránh “Không bước nữa”, “bỏ quên đời”. Những người lính Tây Tiện phải chịu đựng biết bao gian khổ khó khăn và cái chết đến với các anh chỉ nhẹ tựa lông hồng. Như một cuộc dừng chân không có ngày đứng dậy, câu thơ mang một giọng điệu xót xa, đau thương nhưng vẫn giữ tinh thần lạc quan của người lính, cái chết chỉ là bước chân nghỉ của các anh, là cái quên đời đầy phóng khoáng. Hai câu thơ là cái đẹp hoàn mỹ nhất được Quang Dũng khắc họa khi viết Tây Tiến. Kết lại nỗi nhớ về sông Mã, về nơi hành quân của binh đoàn Tây Tiến, Quang Dũng đã viết hai câu thơ vô cùng đa tình Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Những ngày hành quân mệt nhọc quây quần bên bếp lửa thổi cơm, hình ảnh khói nghi ngút bay đã hằn sâu trong tâm trí người lính. Từ “nhớ” lại lần nữa được lặp lại, “nhớ ôi”, cái nhớ miên man, chìm đắm không dứt, cái nhớ khao khát được trở về với quá khứ. Và thứ gắn liền với tâm trí của vùng đất Mai Châu là hương “thơm nếp xôi”, thức quà giản dị mà ấm cúng. Những chi tiết, hình ảnh được Quang Dũng chọn lọc đều rất tiêu biểu và hấp dẫn. Trong nỗi nhớ miên man, Quang Dũng nhớ đến những ngày tháng vui vẻ ca hát, khi mà những người lính quây quần bên doanh trại nhìn các cô gái Thái, Mường múa hát. Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Cả khổ thơ là sắc màu rực rỡ của của đêm hội trại “hội đuốc hoa”, nhưng bó đuốc phừng phừng lửa sống, như hoa nở trong đêm. Những cô gái Thái dịu dàng, e ấp khoác lên mình váy áo người dân tộc nhảy múa trong tiếng khèn êm dịu. Thời khắc như dừng lại ở khung cảnh bừng bừng sức sống ấy để nhà thơ lần nữa được cảm nhận không khí sôi động ấm ấp của đêm hội khi còn ở binh đoàn Tây Tiến. Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnú trong Rừng xà nu (Có dàn ý chi tiết) Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến Nét đẹp của đêm hội khép lại, có lẽ đó là đêm hội của cuộc tiễn đưa nên mới khắc ghi ấn tượng đậm sâu như vậy trong lòng Quang Dũng. Nỗi nhớ trở về, dường như dài và sâu hơn, lãng mạn và khắc khoải hơn. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa. Những chiều sương khói trên cao nguyên Mộc Châu, ở đây màn sương lại lần nữa xuất hiện trong ký ức của tác giả. Dường như lớp sương giăng mờ ảo về những vùng đất lãng mạn đã mãi mê đắm người lính Tây Tiến. Điệp từ “có thấy”, “có nhớ” tạo nên lớp sóng tầng thương nhớ diết da. “Hồn lau nẻo bến bờ, dáng người trên độc mộc”. Hình ảnh về con người và thiên nhiên vẫn lãng mạn qua con mắt đa tình của người lính Tây Tiến. Sự vật tưởng chừng khoác lên mình cái hồn của non nước, nhớ người, nhớ cảnh, sinh tình. Người trên độc mộc trôi trên dòng nước lũ, nó chông chênh và khó khăn thế nào để có thể điều khiển được con thuyền. Thế nhưng bông hoa đong đưa trong cái hình ảnh mãnh liệt ấy làm nên nét thơ đầy bay bổng và phiêu bồng đưa người vào một cõi đẹp mơ hồ. Trong thơ như vẽ tranh, nét cảnh nhu tình và tuyệt diệu. Quang Dũng như hóa thân thành một nhà họa sĩ tài ba, biến những năm tháng khốc liệt thành câu chuyện ghi lại non nước hữu tình, con người đẹp đẽ. Khép lại những lãng mạn đa tình trong cảnh nhớ mênh mông, Quang Dũng xây nên một tượng đài bất tử với cái ngông, kiêu hùng và bi tráng nhưng không kém sự trầm lắng, thi vị, hào hoa, tài tử của người lính Tây Tiến. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Khổ thơ là cái thật trần trụi và khốc liệt nhất lột tả những vất vả, gian lao mà người lính Tây Tiến đã trải qua. Những cơn sốt rét rừng khiến người lính trở nên tiều tụy, gầy mòn, tóc rụng hết. Nhưng Quang Dũng lại dùng từ “không” chắc nịch với ý khẳng định một phong cách riêng của người lính. Họ cắt tóc vì không muốn nhìn tóc rụng đi từng ngày và cũng muốn thấu hiểu bệnh tật của đồng đội. Cơn sốt rét rừng khiến người lính da mặt tái xanh trông rất đáng sợ và nhà thơ đã lấy hình ảnh đó để làm nên cái oai của người lính Tây Tiến “dữ oai hùm”. Nếu phía trước người lính phải chịu sự sợ hãi trước cảnh cọp dọa trêu ngươi thì bây giờ lại mang phong thái của chúa sơn lâm. Bên cạnh đó, hình ảnh “mắt trừng” cho ta liên tưởng đến một sức mạnh phi thường, oai hùng của người lính trước quân thù. Và các anh luôn mang trong mình trái tim, một giấc mộng công thành danh toại, báo ơn Tổ quốc. Nhưng những người lính Tây Tiến vẫn nhớ về một tà áo đẹp thướt tha, đường xưa phố cũ nơi Hà Nội hoa lệ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, nơi các anh đang hướng về và cố gắng chiến đấu để giữ gìn và bảo vệ.Xem thêm: Màu sắc Nam Bộ trong truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi Đối với các anh, thanh xuân và tình yêu đã giành trọn cho Tổ quốc, dâng hiến và hy sinh không nghĩ đến bản thân, sự ra đi của các anh được Quang Dũng khắc họa tuy xót xa nhưng lại như tiếp lửa cho các cuộc hành quân dài vô cùng mong tới ngày chiến thắng để tìm lại đồng đội. Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Hàng trăm ngàn những chiến sĩ đã hy sinh trên con đường giải phóng dân tộc, trở về với đất mẹ bao dung. Nhưng nỗi xót xa là “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, các anh mất đi, thân xác nằm lại nơi đất khách quê người, lác đác từng chỗ không thể quy tập về với nhau. Trên con đường hành quân, các anh mất nơi nào chôn nơi ấy. Sự hy sinh của những người lính Tây Tiến đã gửi lại cả xuân xanh nơi chiến trường, có người chưa kịp báo tin về với gia đình, có người chưa kịp lấy vợ sinh con. Các anh trẻ lắm, nhưng không ngại gác lại những giấc mơ cá nhân mà hướng đến chiến trường khi tổ quốc lâm nguy. Trên đường đi có gì đâu, mỗi bộ quân phục chỉnh tề mặc khi chiến đấu lẫn khi tử trận. Quang Dũng sử dụng một từ cường điệu hóa “áo bào”. Chỉ có những vị tướng tài ba mới xứng đáng khoác lên áo bào, nhưng những người lính đã hy sinh vì độc lập dân tộc các anh đều đang khoác nó trên người. Thời chiến tranh đi hành quân khắp nơi, lấy đâu ra manh chiếu mà đắp. Áo bào ấy chính là lời an ủi trong ý thơ, rằng các anh đã nằm về đất mẹ trong vinh quang, nên chính quân trang các anh khoác lên là thứ tiễn đưa quý báu nhất. Và “Sông Mã” gầm lên, xuất hiện đầu và cuối bài thơ như minh chứng cho chặng đường những người lính Tây Tiến đã đi, như tiếng gầm tế vong linh và tiễn đưa các anh về với đất mẹ. Từng ý thơ mà Quang Dũng xây dựng đều toát lên một sự bi tráng và hào hùng khôn tả. Kết lại bài thơ, âm vang về nỗi nhớ như một bản lề khép lại quá khứ trong sự luyến tiếc và mong ước quay trở về Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Từ biệt Tây Tiến, đoàn binh Tây Tiến, không biết bao giờ có ngày gặp lại. Đường xa cách biệt, khó lòng đoàn tụ. Dường như không gian và thời gian ở khổ cuối đã bị chia cắt, một nửa muốn về quá khứ, một nửa đành phải giã từ. Quang Dũng để lại những dòng da diết nhất “Hồn về Sầm Nữa chảng về xuôi.”. Mùa xuân ấy, người lính Tây Tiến đã để lại những nhiệt huyết cháy bỏng, sự dũng cảm, hào hùng, để lại những ký ức khó phai mờ trong tâm tưởng mỗi người. Họ lưu giữ điều đẹp nhất ở nơi ấy, như một tấm hồn phiêu linh với đại ngàn, lưu luyến không quên. Khép lại bài thơ, âm hưởng bi tráng, hào hùng và lãng mạn đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc. Quang Dũng quả thực đã vô cùng thành công về đề tài viết về người lính khi sáng tác xong bài thơ Tây Tiến. Dư âm nỗi nhớ vẫn loang loang đâu đây, là tiếng gọi trìu mến của quá khứ, về một thời Tây Tiến oanh liệt. Ngọc Huyền
Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng hay nhất
2,622
Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng Bài làm Chiến tranh để lại những dấu tích đau thương và cay đắng của cả một dân tộc, nhưng nó cũng là bằng chứng cho sứ mệnh đã được gọi tên, cho những người lính đã hóa hồn thiêng để thành bất tử. Hình ảnh người lính trong năm tháng chiến tranh qua đi đã trở thành tượng đài bất diệt, là nhân vật của những tuyệt tác thi ca. Và bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng đã trở thành một trong những tác phẩm nổi bật nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp viết về người lính. Nó đã khắc nên hình tượng bất hủ về người lính Tây Tiến vừa hào hùng bi tráng, vừa mạnh mẽ can trường, vừa lãng mạn tài hoa. Bài thơ Tây Tiến được sáng tác vào năm 1948 khi Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, cũng vì thế mà tại Phù Lưu Chanh, Quang Dũng đã viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, sau đổi thành Tây Tiến. Tác phẩm được in trong tập “Mây đầu ô” (1986) Rời xa nơi gắn bó chiến đấu, Quang Dũng để lại một nỗi nhớ thiết tha trải dọc con đường hành quân, cũng vì thế mà nỗi nhớ lại da diết và trở thành cảm hứng chủ đạo của bài thơ. Ngay từ đầu bài thơ, nỗi nhớ vọng lên trong sự khắc khoải không nguôi. Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. Câu thơ là tiếng gọi âm vang đầy hoài niệm, như muốn níu kéo quá khứ đã qua đi không thể trở lại và giờ chỉ tồn tại trong ký ức. Sông Mã là con sông nơi gắn bó quãng thời gian Quang Dũng còn hoạt động trong binh đoàn Tây Tiến, nó chứng kiến biết bao cuộc chiến tàn khốc, những ngày đóng quân anh em xum vầy. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi”, từ "xa rồi" như nhịp sóng lòng dấy lên, bật ra tiếng gọi nhớ nhung “Tây Tiến ơi”. Chỉ có những thứ đã ăn sâu vào tâm thức, trở thành nỗi đau đáu khôn nguôi mới có thể thốt ra tiếng gọi êm ái như vậy. Nỗi nhớ “chơi vơi” giữa rừng núi dường như lan tỏa khắp không gian và thời gian, nhớ về những ngọn núi, rừng cây mà binh đoàn Tây Tiến đã đi qua. Nỗi nhớ tầng tầng lớp lớp bủa vây không gian tạo nên chiều sâu, khiến lòng người hồi tưởng cũng trở nên nặng trĩu. Nỗi nhớ ấy đã được cụ thể hóa bằng những địa điểm, trải nghiệm đầy nguy hiểm cũng đầy mơ mộng trên các vùng đất binh đoàn đã đi qua Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Binh đoàn Tây Tiến đi đến đâu, nơi đó trở thành nỗi nhớ in sâu vào tâm trí. “Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông”. Những cái tên gợi lên đầy trìu mến, trân trọng, nỗi nhớ trải dài khắp chốn. Mỗi địa danh đều gắn liền với những ký ức khó phai. Sương lạnh bủa vây khắp chốn Sài Khao, che lấp binh đoàn khỏi kẻ địch truy lùng. Hoa trong đêm hơi nơi Mường Lát, trông từ xa xa, màn mưa giăng mắc những mái nhà trên Pha Luông… Tất cả đều mang nét thi vị, mềm mại, đa tình và lãng mạn qua cái nhìn của một người lính vốn gan góc can trường. Nhưng cuộc hành quân còn phải vượt qua biết bao nhiêu chông gai. Với những từ láy sử dụng thanh trắc, âm điệu mạnh mẽ “Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút”, sự biến đổi liên tục về độ cao “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” khắc họa con đường của người lính với biết bao gian truân, khó khăn. Những lối đi gập ghềnh, trèo đèo lội suối, những vực sâu hun hút không thể xảy chân… Tất cả những gian lao ấy đều không làm chùn chân người lính Tây Tiến, họ vẫn vững tin tiến về phía trước trong công cuộc kháng chiến trường kỳ. Quang Dũng còn viết một câu thơ đầy dí dỏm nhưng cũng đẹp đẽ vô cùng “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, câu thơ như là tiếng cười hóm hỉnh của những người lính không quản đường hành quân khó khăn. Ngoài chiến trường kia nguy hiểm, chết chóc đến đâu cũng không làm mất đi tinh thần lạc quan của các anh.Xem thêm: Viết bài văn thuyết minh về tác gia Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều Đường đi trở ngại là một chuyện, người lính Tây Tiến còn phải đối mặt với thiên nhiên gai góc, chốn “rừng thiêng nước độc”. Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Thiên nhiên núi rừng như một con thú khổng lồ và nguy hiểm, chốn reo rắc những khiếp sợ không lường. “Thác” chảy xối xả, dữ dội trong khu rừng im vắng, động từ mạnh “gầm thét” như thêm phần ồn ã và đáng sợ của chốn rừng thiêng. Không chỉ vậy, “cọp” là một giống loài ăn thịt, động từ “trêu” như khẳng định sự nguy hiểm đang rình rập không lường, lúc nào cũng chực chờ đe dọa đến tính mạng người lính. Thế nhưng dù nguy hiểm lúc nào cũng bủa vây xung quanh nhưng đối với cái chết người lính Tây Tiến lại có cái nhìn nhẹ tênh không sốt sắng Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Quang Dũng đã vô cùng tinh tế khi sử dụng các từ nói giảm nói tránh “Không bước nữa”, “bỏ quên đời”. Những người lính Tây Tiện phải chịu đựng biết bao gian khổ khó khăn và cái chết đến với các anh chỉ nhẹ tựa lông hồng. Như một cuộc dừng chân không có ngày đứng dậy, câu thơ mang một giọng điệu xót xa, đau thương nhưng vẫn giữ tinh thần lạc quan của người lính, cái chết chỉ là bước chân nghỉ của các anh, là cái quên đời đầy phóng khoáng. Hai câu thơ là cái đẹp hoàn mỹ nhất được Quang Dũng khắc họa khi viết Tây Tiến. Kết lại nỗi nhớ về sông Mã, về nơi hành quân của binh đoàn Tây Tiến, Quang Dũng đã viết hai câu thơ vô cùng đa tình Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Những ngày hành quân mệt nhọc quây quần bên bếp lửa thổi cơm, hình ảnh khói nghi ngút bay đã hằn sâu trong tâm trí người lính. Từ “nhớ” lại lần nữa được lặp lại, “nhớ ôi”, cái nhớ miên man, chìm đắm không dứt, cái nhớ khao khát được trở về với quá khứ. Và thứ gắn liền với tâm trí của vùng đất Mai Châu là hương “thơm nếp xôi”, thức quà giản dị mà ấm cúng. Những chi tiết, hình ảnh được Quang Dũng chọn lọc đều rất tiêu biểu và hấp dẫn. Trong nỗi nhớ miên man, Quang Dũng nhớ đến những ngày tháng vui vẻ ca hát, khi mà những người lính quây quần bên doanh trại nhìn các cô gái Thái, Mường múa hát. Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Cả khổ thơ là sắc màu rực rỡ của của đêm hội trại “hội đuốc hoa”, nhưng bó đuốc phừng phừng lửa sống, như hoa nở trong đêm. Những cô gái Thái dịu dàng, e ấp khoác lên mình váy áo người dân tộc nhảy múa trong tiếng khèn êm dịu. Thời khắc như dừng lại ở khung cảnh bừng bừng sức sống ấy để nhà thơ lần nữa được cảm nhận không khí sôi động ấm ấp của đêm hội khi còn ở binh đoàn Tây Tiến. Xem thêm: Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến Nét đẹp của đêm hội khép lại, có lẽ đó là đêm hội của cuộc tiễn đưa nên mới khắc ghi ấn tượng đậm sâu như vậy trong lòng Quang Dũng. Nỗi nhớ trở về, dường như dài và sâu hơn, lãng mạn và khắc khoải hơn. Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa. Những chiều sương khói trên cao nguyên Mộc Châu, ở đây màn sương lại lần nữa xuất hiện trong ký ức của tác giả. Dường như lớp sương giăng mờ ảo về những vùng đất lãng mạn đã mãi mê đắm người lính Tây Tiến. Điệp từ “có thấy”, “có nhớ” tạo nên lớp sóng tầng thương nhớ diết da. “Hồn lau nẻo bến bờ, dáng người trên độc mộc”. Hình ảnh về con người và thiên nhiên vẫn lãng mạn qua con mắt đa tình của người lính Tây Tiến. Sự vật tưởng chừng khoác lên mình cái hồn của non nước, nhớ người, nhớ cảnh, sinh tình. Người trên độc mộc trôi trên dòng nước lũ, nó chông chênh và khó khăn thế nào để có thể điều khiển được con thuyền. Thế nhưng bông hoa đong đưa trong cái hình ảnh mãnh liệt ấy làm nên nét thơ đầy bay bổng và phiêu bồng đưa người vào một cõi đẹp mơ hồ. Trong thơ như vẽ tranh, nét cảnh nhu tình và tuyệt diệu. Quang Dũng như hóa thân thành một nhà họa sĩ tài ba, biến những năm tháng khốc liệt thành câu chuyện ghi lại non nước hữu tình, con người đẹp đẽ. Khép lại những lãng mạn đa tình trong cảnh nhớ mênh mông, Quang Dũng xây nên một tượng đài bất tử với cái ngông, kiêu hùng và bi tráng nhưng không kém sự trầm lắng, thi vị, hào hoa, tài tử của người lính Tây Tiến. Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Khổ thơ là cái thật trần trụi và khốc liệt nhất lột tả những vất vả, gian lao mà người lính Tây Tiến đã trải qua. Những cơn sốt rét rừng khiến người lính trở nên tiều tụy, gầy mòn, tóc rụng hết. Nhưng Quang Dũng lại dùng từ “không” chắc nịch với ý khẳng định một phong cách riêng của người lính. Họ cắt tóc vì không muốn nhìn tóc rụng đi từng ngày và cũng muốn thấu hiểu bệnh tật của đồng đội. Cơn sốt rét rừng khiến người lính da mặt tái xanh trông rất đáng sợ và nhà thơ đã lấy hình ảnh đó để làm nên cái oai của người lính Tây Tiến “dữ oai hùm”. Nếu phía trước người lính phải chịu sự sợ hãi trước cảnh cọp dọa trêu ngươi thì bây giờ lại mang phong thái của chúa sơn lâm. Bên cạnh đó, hình ảnh “mắt trừng” cho ta liên tưởng đến một sức mạnh phi thường, oai hùng của người lính trước quân thù. Và các anh luôn mang trong mình trái tim, một giấc mộng công thành danh toại, báo ơn Tổ quốc. Nhưng những người lính Tây Tiến vẫn nhớ về một tà áo đẹp thướt tha, đường xưa phố cũ nơi Hà Nội hoa lệ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, nơi các anh đang hướng về và cố gắng chiến đấu để giữ gìn và bảo vệ.Xem thêm: Phân tích bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên-Văn 12 Đối với các anh, thanh xuân và tình yêu đã giành trọn cho Tổ quốc, dâng hiến và hy sinh không nghĩ đến bản thân, sự ra đi của các anh được Quang Dũng khắc họa tuy xót xa nhưng lại như tiếp lửa cho các cuộc hành quân dài vô cùng mong tới ngày chiến thắng để tìm lại đồng đội. Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Hàng trăm ngàn những chiến sĩ đã hy sinh trên con đường giải phóng dân tộc, trở về với đất mẹ bao dung. Nhưng nỗi xót xa là “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, các anh mất đi, thân xác nằm lại nơi đất khách quê người, lác đác từng chỗ không thể quy tập về với nhau. Trên con đường hành quân, các anh mất nơi nào chôn nơi ấy. Sự hy sinh của những người lính Tây Tiến đã gửi lại cả xuân xanh nơi chiến trường, có người chưa kịp báo tin về với gia đình, có người chưa kịp lấy vợ sinh con. Các anh trẻ lắm, nhưng không ngại gác lại những giấc mơ cá nhân mà hướng đến chiến trường khi tổ quốc lâm nguy. Trên đường đi có gì đâu, mỗi bộ quân phục chỉnh tề mặc khi chiến đấu lẫn khi tử trận. Quang Dũng sử dụng một từ cường điệu hóa “áo bào”. Chỉ có những vị tướng tài ba mới xứng đáng khoác lên áo bào, nhưng những người lính đã hy sinh vì độc lập dân tộc các anh đều đang khoác nó trên người. Thời chiến tranh đi hành quân khắp nơi, lấy đâu ra manh chiếu mà đắp. Áo bào ấy chính là lời an ủi trong ý thơ, rằng các anh đã nằm về đất mẹ trong vinh quang, nên chính quân trang các anh khoác lên là thứ tiễn đưa quý báu nhất. Và “Sông Mã” gầm lên, xuất hiện đầu và cuối bài thơ như minh chứng cho chặng đường những người lính Tây Tiến đã đi, như tiếng gầm tế vong linh và tiễn đưa các anh về với đất mẹ. Từng ý thơ mà Quang Dũng xây dựng đều toát lên một sự bi tráng và hào hùng khôn tả. Kết lại bài thơ, âm vang về nỗi nhớ như một bản lề khép lại quá khứ trong sự luyến tiếc và mong ước quay trở về Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Từ biệt Tây Tiến, đoàn binh Tây Tiến, không biết bao giờ có ngày gặp lại. Đường xa cách biệt, khó lòng đoàn tụ. Dường như không gian và thời gian ở khổ cuối đã bị chia cắt, một nửa muốn về quá khứ, một nửa đành phải giã từ. Quang Dũng để lại những dòng da diết nhất “Hồn về Sầm Nữa chảng về xuôi.”. Mùa xuân ấy, người lính Tây Tiến đã để lại những nhiệt huyết cháy bỏng, sự dũng cảm, hào hùng, để lại những ký ức khó phai mờ trong tâm tưởng mỗi người. Họ lưu giữ điều đẹp nhất ở nơi ấy, như một tấm hồn phiêu linh với đại ngàn, lưu luyến không quên. Khép lại bài thơ, âm hưởng bi tráng, hào hùng và lãng mạn đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc. Quang Dũng quả thực đã vô cùng thành công về đề tài viết về người lính khi sáng tác xong bài thơ Tây Tiến. Dư âm nỗi nhớ vẫn loang loang đâu đây, là tiếng gọi trìu mến của quá khứ, về một thời Tây Tiến oanh liệt. Ngọc Huyền
Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng
2,608
Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão Bài làm Nhắc đến thời Trần, chúng ta vẫn tự hào về ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông. Những chiến tích của các vị danh tướng dệt nên triều đại bất khả chiến bại hào hùng, bất khuất, làm nên hào khí Đông A uy dũng khiến kẻ địch phải khiếp sợ. Không chỉ trên chiến trường đẫm máu, hào khí ấy còn được lưu lại trong thi ca. Đó là bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của danh tướng Phạm Ngũ Lão. Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. (Múa giáo non sông trải mấy thu, Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu. Công danh nam tử con vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.) Tuy chỉ có ít bài thơ được lưu lại đến tận bây giờ nhưng bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ lão đã thật sự chạm đến tim người đọc, để lại những giá trị bất diệt và khắc họa một thời kỳ hào hùng của lịch sử dân tộc. Ngoài đời ông là một vị danh tướng lẫy lừng với lòng yêu nước, là một người có niềm kiêu hãnh và tự tôn dân tộc. Cả trong thi ca ông để lại, trên hết là bài “Tỏ lòng” cũng vậy, bao trùm là hào khí dân tộc, là sức mạnh nuốt trọn địch thù, nhưng bên trong lại là chí khí nam nhi, vùng vẫy dọc ngang trời đất, quyết trả món nợ “tang bồng” với đất nước, sử xanh. Bài thơ Tỏ lòng viết vào thời điểm trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, như tiếng trống quân thôi thúc dồn dập đẩy ý chí và quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm lên mức cao nhất. Ngay từ đầu bài thơ, Phạm Ngũ Lão đã xây dựng một bức tượng đài bất tử về hình ảnh người tráng sĩ với vận mệnh bảo vệ giang sơn, tiêu diệt kẻ thù. Sục sôi trong đó là hào khí Đông A đang hừng hực chảy. Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu (Múa giáo non sông trải mấy thu) Mở đầu bài thơ là hình ảnh người tráng sĩ hiên ngang bệ vệ “Cầm ngang ngọn giáo giữ gìn non sông đã mấy thu.” Đó là hình tượng của một nhân vật phi thường với sức mạnh vĩ đại, sự hùng dũng, hiên ngang, ngạo nghễ ngút trời đứng sừng sững như một pho tượng bảo vệ đất nước. Chỉ với hai từ “hoành sóc”, người tráng sĩ đã trở thành một nhân vật vĩ đại, ngọn giáo nằm hiên ngang từ tầm mắt trông ra như chắn cả sơn hà, khiêu khích bất cứ kẻ địch nào dám xâm phạm lãnh thổ. Ẩn sâu trong đó là tiềm lực của chí khí, sức mạnh, lòng tin cũng như hào khí Đông A đang càng lúc càng lớn mạnh. Phải chăng, đó cũng là ẩn dụ về hình ảnh của chính Phạm Ngũ Lão, vị tướng lĩnh hiên ngang trên chiến trường, từ cái nhìn cá nhân trông ra với tư thế cầm ngang ngọn giáo? Thật tiếc khi mà bản dịch hai từ “hoành sóc” lại thành “múa giáo”. Hai chữ “múa giáo” làm mất đi khí thế oai nghiêm, hùng dũng của người tráng sĩ. “Múa giáo” thiên về hành động, tuy làm cho hình ảnh trở nên linh hoạt nhưng không lột tả được ý nghĩa trang nghiêm, trịnh trọng cũng như cảm giác về một hình tượng anh hùng bất khuất trong bài thơ. Cụm từ “hoành sóc giang sơn” như dựng lên một chiếc trụ trời hiên ngang chống đỡ cả giang sơn. Thật hay khi bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh tuy trang nghiêm, khí thế nhưng cũng không kém phần thi vị. Thường nhắc đến trấn giữ non sông người ta sẽ liên tưởng hình ảnh những đoàn binh lính hùng hậu với áo mũ chỉnh tề. Nhưng trong thơ của Phạm Ngũ Lão, chỉ cần một ngọn giáo đã có thể giữ giang sơn. Đó không phải là sự kiêu ngạo khi xây dựng hình tượng người tráng sĩ trong “Tỏ lòng”, đó là ý thức, trách nhiệm to lớn của cá nhân về việc gìn giữ non sông. Ngọn giáo tuy trông nhỏ bé nhưng có sức nặng của nó, như thể hiện sự tồn vong của đất nước đã trở thành chức trách đè nặng lên vai người tráng sĩ. Và điều đó đã “trải mấy thu” càng khẳng định khí thế và sức mạnh vượt mọi thời gian lẫn không gian, đề cao tinh thần cũng như nâng tầm vóc người anh hùng sánh ngang với vũ trụ. Dù bất kể gian lao, khó khăn, nguy hiểm, hình tượng người tráng sĩ vẫn sừng sững với non sông, bền bỉ và kiêu hãnh cùng lòng tự tôn dân tộc như vậy.Xem thêm: Suy nghĩ gì về quan niệm “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão Người tráng sĩ trong “Tỏ lòng” với cá nhân đơn lẻ đã mang đến khí thế ngút trời, tầm vóc lớn lao qua ngòi bút điêu luyện của Phạm Ngũ Lão thì ắt hẳn đội quân nhà Trần, binh đoàn với hai chữ “Sát Thát” lại càng nổi bật hơn cả. Đặc biệt, trong đó còn là niềm tự hào dân tộc hòa quyện cùng hào khí Đông A thể hiện trong câu thơ “Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” (Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu) Với tinh thần, trí lực, sức mạnh to lớn khôn tả, “ba quân” trong thơ của Phạm Ngũ Lão đã hiện lên chân thực hơn bao giờ hết. Những người lính xăm lên mình chữ “Sát Thát” quyết tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi đất nước, dòng máu sôi sục hào khí Đông A với khí lực như hổ báo, oai linh rừng già, có thế nuốt được cả trâu. Việc sử dụng điển cố trong Thi từ “Giống hổ báo nhỏ tuy chưa thành vằn, đã có sức nuốt được cả trâu” đã tăng tính trang trọng, kỷ luật quân đội được mô tả trong tác phẩm. Nhưng cũng có thể hiểu câu này qua thành ngữ “khí thôn Ngưu Đẩu” (khí mạnh nuốt sao Ngưu, sao Đẩu). Dù hiểu theo cách nào, chúng ta vẫn thấy một sức mạnh khủng khiếp cùng sự gan dạ, kiên cường đem theo một khí thế lấn áp quân địch tiến ra chiến trường. Hàng loạt các thanh bằng được sử dụng trong câu thơ thứ hai đã mang tới sự âm vang cộng hưởng đến vũ trụ, tầm vóc người anh hùng đã lớn lao, nay lại cả một đoàn quân với sức, trí, kiên trung không kém vọng tiếng giết địch oai hùng lên đất trời. Ắt hẳn sức mạnh ấy phải khủng khiếp và kinh hãi thế nào mới nuốt trọn được những vật bất biến như sao Ngưu, Đẩu trên trời. Câu thơ là niềm tự hào khôn kể về tiềm lực quân đội của đất nước cũng như ý chí, vẻ đẹp của người tráng sĩ trên đường bảo vệ đất nước trong thời đại nhà Trần. Cũng bởi qua lịch sử và cả thi ca, một thời hảo hùng vẻ vang những năm kháng chiến chống Nguyên Mông càng trở nên bất tử và vĩnh viễn sôi sục chiến công với những con người kiệt xuất, vĩ đại.Xem thêm: Hãy thể hiện quan điểm của mình trước cuộc vận động nói không với những tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục Nếu như hai câu thơ đầu, khí thế ra trận như vũ bão, hào hùng và rắn rỏi thì hai câu thơ cuối, Phạm Ngũ Lão như để lắng lại cho lời bộc bạch tự đáy lòng về chí làm trai cùng món nợ giang sơn của đấng nam nhi, còn là trách nhiệm với non sông đất nước. Nỗi lòng ấy đầy thiết tha, như một dấu lặng trầm xuống trong bản nhạc kiêu hùng được viết bằng cả tấm lòng. Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu (Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu) Vẻ đẹp của đấng nam nhi không chỉ là tầm vóc, khí thế hiên ngang, anh hùng bất khuất mà hơn cả chính là chí làm trai được để cao trong xã hội phong kiến đương thời. Và chí làm trai ấy trong quan niệm của Phạm Ngũ Lão chính là tiếng thơm, công danh lưu truyền lại muôn đời. Thế nhưng, khi bài thơ viết ra là thời điểm trước cuộc chiến Nguyên – Mông lần thứ hai, trách nhiệm trọng đại lúc bấy giờ là làm sao phải đánh thắng quân địch. Đó là công danh mà Phạm Ngũ lão hướng đến, toàn thể tráng sĩ Đông A hướng đến, đem về thắng lợi to lớn cho dân tộc, lưu danh sử sách muôn đời. Khát vọng ấy vô cùng cao cả và chính đáng, là sự ngưỡng mộ và tin tưởng với người tráng sĩ, anh hùng trong tác phẩm. Nhưng “Nam nhi vị liễu công danh trái”, món nợ công danh chưa thành, như lời cảm thán hổ thẹn với công ơn xã tắc. Món nợ ấy nguyện được trả bằng xương máu, trả bằng hy sinh, trả bằng tự do của dân tộc. Nghĩa vụ ấy không chỉ đơn thuần của cá nhân mà còn cả muôn đấng nam nhi trong trời đất. Ấy là lý tưởng sống cao đẹp nhất mà người làm trai hướng đến thuở bấy giờXem thêm: Hãy tả em trai của em “Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.” (Nguyễn Công Trứ) Và từ “món nợ công danh” ấy, Phạm Ngũ Lão lại thốt ra một chữ “thẹn” trong câu thơ cuối của bài thơ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. “Vũ Hầu” chính là Gia Cát Lượng, một vị quân sư hết sức tài ba và lỗi lạc trong lịch sử Tam Quốc, ông hết lòng phò tá Lưu Bị gây dựng lại cơ đồ nhà Hán. Cái thẹn của Phạm Ngũ Lão, là cái thẹn với một nhân vật vĩ đại trong lịch sử. Gia Cát Lượng để lại tiếng thơm muôn đời về tài trí và cách cầm quân xuất chúng còn Phạm Ngũ Lão cho rằng bản thân chưa làm nên được điều gì to lớn cho tổ quốc, món nợ công danh vẫn chưa vẹn toàn. Cả một đời ngay cả khi viết “Tỏ lòng”, những việc Phạm Ngũ Lão làm được trong công cuộc dựng nước và giữ nước của nhà Trần ông đều cho là không đáng gì. Cũng bởi vậy mà mới thẹn lòng khi nghe “chuyện Vũ Hầu”. Cái thẹn ấy làm nên một nhân cách cao cả, làm nên tấm lòng và phẩm chất của vị tướng tài ba Phạm Ngũ Lão. Là cái thẹn bày tỏ sự quyết tâm trung thành, hết lòng cống hiến, tận tụy với an nguy xã tắc. Nỗi thẹn ấy càng làm đẹp thêm hình ảnh của người tráng sĩ, càng đề cao phẩm giá của con người. Đó còn là nỗi thẹn của một con người với hoài bão lớn lao nhưng vẫn có được sự khiêm tốn, một nhân vật vĩ đại vừa có tâm vừa có đức. Hơn cả, câu thơ còn là lời nhắc nhở, động viên bĩnh sĩ hãy tiến lên, giành lại tự do cho dân tộc, cho xứng với công ơn nước nhà và không hổ thẹn với lòng mình rồi mới nghĩ đến chuyện công danh. Bài thơ “Tỏ lòng” viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, niêm luật chặt chẽ và đã thể hiện được toàn vẹn hào khí Đông A, đan xen với đó là những lý tưởng, khát khao, niềm tự hào dân tộc. Kết lại bài thơ, tư tưởng mà tác giả muốn truyền đến để lại sự sục sôi, kiêu hãnh và vui sướng trong lòng người đọc. Đó không chỉ là vẻ đẹp của người anh hùng tráng sĩ thời chiến tranh loạn lạc mà còn là nỗi lòng, lý tưởng được đền nợ nước, trả thù nhà. Bài thơ đã để lại tiếng vang lớn trong kho tàng thơ thất ngôn của Việt Nam, là một trong những tác phẩm thành công nhất của danh tướng thời Trần Phạm Ngũ Lão. Ngọc Huyền
Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão
2,115
Cảm nhận về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư qua con mắt của Lý Bạch Gợi ý Nhắc đến Lý Bạch là nhắc đến cây đại thụ của nền văn học cổ điển Trung Hoa. Ông sống vào đời Đường (701 – 762), học rộng, tài cao, tính tình phóng khoáng thích ngao du sơn thuỷ. Thơ ông tiêu biểu cho bút pháp lãng mạn, khoáng đạt tự do bay bổng, có lẽ như vậy mà ngọn núi Lư hiện ra như một thắng cảnh tuyệt mỹ trong thơ ông: Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên Dao khan bộc bố quải tiền xuyên Phi lưu trực há tam thiên xích Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên Dịch thơ: Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây (Tương Như dịch) Lý Bạch đi nhiều, biết rộng. Hầu như tất cả các danh lam thắng cảnh trên đất nước Trung Hoa rộng lớn ông đều đặt chân tới. Bài thơ này tuyệt bút tả cảnh thác núi Lư hùng vĩ, tráng lệ qua đó biểu hiện một tình yêu thiên nhiên, yêu núi sông Tổ quốc. Mở đầu bài thơ là cảnh thác núi Lư từ xa nhìn lại: Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên Hương Lô là ngọn núi cao nằm phía tây bắc của dãy Lư sơn, đứng xa quan sát nó giống như một chiếc Lư Hương, làm cái phông nền cho dòng thác. Ngọn Hương Lô như gợi cho người đọc một sự liên tưởng và hình dung: ánh nắng mặt trời lan toả khoác lên dãy núi Lư lớp áo choàng huy hoàng rực rỡ. Giữa khung cảnh ấy nổi lên ngọn Hương Lô, chiếc Lư Hương khổng lồ nghi ngút khói trầm hương màu tím. Đây chính là sự khúc xạ ánh sáng, trên đỉnh núi lúc này như được thắp lên những luồng sáng hàng nghìn ánh màu rực rỡ, lộng lẫy huy hoàng. Hình ảnh núi Hương Lô quan sát từ xa như vừa thực vừa ảo làm hiện lên vẻ đẹp kì lạ của thác núi Lư. Câu thơ như đầy màu sắc, màu trắng của thác, xanh của núi, vàng của nắng và tím của sương khói. Đằng sau câu thơ ta như thấy vị tiên thơ đang trầm ngâm ngắm cảnh, chiêm ngưỡng sự diệu kì này. Xem thêm: Bài văn cảm nghĩ về loài hoa cúc Cảnh Hương Lô thật kì tuyệt, nhưng thu hút và huyền ảo hơn vẫn là ngọn thác: Dao khan bộc bố quải tiền xuyên Phi lưu trực há tam thiên xích Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên Nhan đề là vọng một vị trí quan sát từ xa, nhìn dòng thác, thác nước tuôn trào đổ xuống ầm ầm tựa ngang trời. Dòng thác qua con mắt thi tiên đã biến thành dải lụa trắng xoá mềm mại treo ngang trời. Từ quải được coi như nhãn tự của câu thơ, nó biến cái động thành cái tĩnh, thể hiện rất thực cảm giác khi nhìn thấy dòng thác từ xa. Đỉnh núi khói tía bao phủ, ngang trời, lưng núi dòng sông chảy như dải lụa mềm mại uyển chuyển, bức tranh tráng lệ kì vĩ biết bao: Phi lưu trực há tam thiên xích Đến câu thơ thứ ba này cảnh vật từ tĩnh chuyển sang động. Thế nước chảy như bay (phi lưu) được diễn tả qua hai động từ đi kèm hai trạng từ. Ta hình dung thấy núi cao, nước đổ thẳng xuống như dựng đứng, ba ngàn thước là lối nói khoa trương nhưng người đọc vẫn cảm thấy chân thực. Bằng cảm hứng lãng mạn của mình, sự liên tưởng kì lạ nhà thơ đã thấy: Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên Câu thơ trác tuyệt thể hiện tài năng quan sát và cảm hứng lãng mạn tuyệt vời của thi nhân. Tả thác nước thần tình giữa cái ảo và cái thực, cái hình và cái thần diễn tả được cảm giác kì diệu do hình ảnh thác nước gợi trong tâm khảm nhà thơ. Do vậy nghi thị (ngỡ là) rất thành công. Hồ nghi mà vẫn cho là thật. Từ trên cao ba ngàn thước, thác nước ầm ầm tuôn trào uyển chuyển mạnh mẽ nhưng mềm mại như dải lụa. Hay hơn thế tác giả ngỡ là dòng sông soa tuột khỏi chín tầng mây đang lơ lửng treo ngang trời. Đây là hình ảnh đẹp nhất trong bài thơ, ở đây ngôn ngữ thơ đã chắp cánh cho hồn thơ bay bổng diệu kì. Ngắm dòng thác Lư sơn ngỡ như lạc vào chốn bồng lai ngư phủ.Xem thêm: Có ý kiến cho rằng: “Tha thứ là món quà ta dành cho người khác nhưng tha thứ chính là món quà ta dành cho chính mình”. Từ nhận định trên em hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa sự tha thứ Với tình yêu thiên nhiên say đắm, thi tiên đã dựng lên bức tranh thác nước Lư sơn hoành tráng tuyệt vời. Hơn một thiên niên kỉ trôi qua đã mấy ai được đến núi Lư sơn để ngắm lại dòng thác khi nắng rọi? Quả vậy thác núi Lư làm cho thơ Lý Bạch vĩnh hằng bất tử với thời gian. Bài thơ là một tuyệt tác, nó thể hiện trí tưởng tượng hiếm có, nét thậm xưng tráng lệ, cảm hứng lãng mạn dạt dào. Qua đó ta hiểu rõ một tâm hồn thơ say sưa với cảnh đẹp thiên nhiên đất nước. Biết bao danh lam thắng cảnh đã đi vào thơ ông để mãi mãi muôn đời nhớ đến thi tiên – Lý Bạch. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư qua con mắt của Lý Bạch
952
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu Trong tâm khảm của nhiều người dân Việt Nam, Phan Bội Châu (1867 – 1940) là một nhà yêu nước nồng nàn thiết tha, một nhân vật lịch sử kiết xuất, tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc mấy chục năm đầu thế kỷ XX. Tuy không lấy văn chương làm lẽ sống, nhưng do yêu cầu của cuộc vận động cách mạng, trong hơn nửa thế kỉ cầm bút, Phan Bội Châu sử dụng cả chữ Hán lần chữ Nôm, sáng tác một khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm hàng trăm bài thơ, bài văn và hàng chục cuốn sách bằng nhiều thể loại khác nhau. Và trên thực tế, ông đã trở thành một nghệ sĩ lớn có năng lực biểu hiện phong phú, với tấm lòng sục sôi nhiệt huyết. Chính tấm lòng này đã làm cho thơ văn tuyên truyền cách mạng của Phan Bội Châu có giá trị độc đáo, chinh phục tình cảm của người đọc, khó lẫn với bất kì một áng thơ văn nào khác. Nghiên cứu văn chương Phan Bội Châu, không thể bỏ qua việc tìm hiểu yêu cầu đặc trưng của văn chương tuyên truyền cách mạng. Yêu cầu và cũng là tiêu chuẩn thẩm mĩ của loại văn chương này trước hết là sự nâng cao nhận thức và gây xúc động đối với người đọc. Cái hiểu ở đây phải trên tầm, có thế mới gắn được với tình cảm được. Trên tầm là ở độ khái quát bao trùm và ở độ sâu sắc, tinh vi. Văn chương tuyên truyền mà chỉ đưa đến cho người đọc cái hiểu mà không kèm theo cái cảm thì không gia nhập được vào vương quốc của văn chương. Thứ đó chỉ là văn chính trị đơn thuần. Văn chương tuyên truyền cách mạng của Phan Bội Châu đã đạt được tiêu chuẩn thẩm mĩ như trên một cách xuất sắc, nhất là ở phương diện gây cảm xúc; vì trước hết, nó là tiếng nói tâm huyết nhất, cao cả nhất, sôi trào nhất của thời đại. Câu thơ của Tố Hữu nói rất đúng bản sắc giá trị văn chương Phan Bội Châu: Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng. “Dậy sóng” đây là dậy sóng cảm xúc, sóng huyết tâm. Do phần lớn những sáng tác của Phan Sào Nam xuất phát từ mục đích trực tiếp tuyên truyền cách mạng, khi phân tích thơ văn của ông nên đặc biệt chú ý tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Sau cái chết oanh liệt của Cao Thắng (1893) và Phan Đình Phùng (1896), phong trào Cần Vương đã thất bại. Tuy trên rừng Yên Thế, tiếng súng của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám thỉnh thoảng vẫn vang lên, nhưng thực chất giặc Pháp đã làm chủ tình thế. Dần dần, chúng đặt ách đô hộ lên cả ba kì. Đất nước ta những năm cuối thế kỉ XIX thật là sầu thảm. Câu chuyện bình Tây phục quốc tướng “chỉ là một mớ kí ức tê tái” (Đặng Thái Mai) của người Việt Nam. Nhưng rồi, nhờ truyền thống bất khuất của dân tộc, nhờ ảnh hưởng của “tâm thư” từ nước ngoài…, đến những năm đầu thế kỉ XX, cả một lớp nhà Nho đầy nhiệt huyết đã thức tỉnh với những phong trào Duy tân, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, chống thuế ở Trung kì…Họ tập hợp nhau lại bắt liên lạc với những lực lượng chống Pháp ở trong nước. Nhiều cậu học sinh cắt nghiến nùi tóc bím trên đầu và quyết tâm đoạn tuyệt với lối học cử tử để đi tìm lí tưởng mới. Họ thoát li gia đình và xuất dương, đi Tàu, đi Nhật, đi Xiêm. Tất cả chí hướng của thế hệ trí thức yêu nước đều nhắm vào mục tiêu vĩ đại: “Khôi phục nước nhà”. Trong bối cảnh ấy, năm 1905, Phan Bội Châu cùng với Tiểu La Nguyễn Thành thành lập tổ chức Duy Tân hội, Phan Bội Châu chia tay bè bạn sang Trung Quốc và Nhật Bản tranh thủ sự giúp đỡ của họ đối với phong trào cách mạng trong nước. Vào buổi chia tay, Phan Bội Châu đã sáng tác bài thơ Xuất dương lưu biệt bằng chữ Hán theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Bản dịch in trong sách giáo khoa của Tôn Quang Phiệt, nói chung tương đối sát, tuy vậy, có lẽ một vài từ ở câu thứ hai, và đặc biệt câu thứ tám chưa làm nổi bật tinh thần nguyên bản. Bài xuất dương lưu biệt thể hiện rõ ràng tư thế hào hùng, quyết tâm hăm hở và những ý nghĩ cao cả, mới mẻ của nhà cách mạng Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất ngoại tìm đường cứu nước. Hai câu đề nhà thơ thể hiện một lí tưởng sống, một hi vọng: Là nam nhi thì phải làm được “điều lạ”. “Điều lạ” tức là điều lớn lao, phi thường. Làm trai thì ắt phải chủ động làm những việc có thể xoay chuyển trời đất, không thể để cho trời đất tự chuyển vận “Há để càn khôn tự chuyển dời”. Ý tưởng táo bạo này có lần đã được tác giả nhắc đến: “Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi – Sinh thời thế phải xoay nên thời thế” (Chơi xuân). Thực ra, chi làm trai, khát vọng làm được những việc to lớn vốn được Phan Bội Châu ấp ủ, tâm niệm ngay từ rất sớm. Trong tác phẩm Tự thuật Phan Bội Châu niên biểu, ông kể lại: “Từ lúc bé đọc sách hiểu được ít nhiều nghĩa lí vẫn không thiết gì sống theo thói thường như người xung quanh”, ông rất thích hai câu thơ của nhà thơ Trung Quốc – Viên Mai (116 – 1797): Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch Lập thân tối hạ thị văn chương. (Dịch: Bữa bữa những mong ghi sử sách – Lập thân hèn nhất ấy văn chương). Chí làm trai của Phan Bội Châu đặc biệt được thể hiện rõ vào thập niên đầu của thế kỉ XX khi cụ Phan có điều kiện xuất dương cứu nước. Chí làm trai là một trong số nội dung thường được nhắc đến trong văn học phong kiến: Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu. (Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão) Làm trai dặm ngàn da ngựa, Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Xem thêm: Cảm nhận về nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm dịch) Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông (Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ) Tạm gác quan niệm “nam nữ tôn ti”, nội dung chí làm trai nói trên có những điểm rất đáng trân trọng, giúp cho nhiều người lập nên nhiều công tích vang dội có ích cho xã hội. Nói riêng đối với trường hợp Phan Bội Châu, thực hiện chí nam nhi chính là chủ động tiến hành sự nghiệp cứu nước thoát khỏi ách nô lệ. Trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ, như đã trình bày ở phần trên, việc khẳng định chí nam nhi có ý nghĩa to lớn. Tiếp đến hai câu thực, Phan Bội Châu nhấn mạnh đến vai trò của đấng nam nhi: Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai? Theo quan niệm của người xưa, một đời người là 100 năm; do đó, “giữa khoảng trăm năm” chính là chỉ cuộc sống hiện tại. Còn “ngàn năm sau” là nói đến lịch sử, nói đến tương lai. Câu đầu của phần thực, người dịch chuyển chữ “ngã” thành chữ “tớ”. “Tớ” nói được cái hăm hở, lạc quan, trẻ trung nhưng làm mất đi sự trịnh trọng, đường hoàng, không thật phù hợp với nội dung chung của đoạn thơ: Long trọng tuyên bố về một lẽ sống, một tư thế vào đời của đấng tu mi nam tử. Hơn nữa, câu thơ dịch thanh thoát, đọc êm tai, nhưng lại làm mất đi âm điệu chắc nịch, nói theo lối “đinh đóng cột” của tác giả. Đọc hai câu thơ trên, ban đầu dễ tưởng cách nói cảu cụ Phan có chút ngông nghênh tự phụ, nhưng thực ra cách nói ấy lại phù hợp với việc bộc lộ ý thức sâu sắc về cái “tôi” cá nhân tích cực. Cái “tôi” này chẳng những khẳng định trách nhiệm đối với hiện tại (vận mệnh hôm nay của đất nước), mà còn có nghĩa vụ đối với lịch sử dân tộc, để được lưu danh muôn đời. Như vậy, hai câu thơ ở phần này tiếp tục nhấn mạnh nội dung chí làm trai ở hai câu đề: Chí làm trai thể hiện khát vọng to lớn của tác giả, tự nguyện thực thi nhiệm vụ trọng đại mà lịch sử giao phó cho thế hệ Phan Bội Châu. Ở đây, người đọc có thể nhận thấy cảm hứng táo bạo, tư thế hiên hang, ý thức sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh gian khổ vì sự nghiệp cứu nước của người chiến sĩ trong buổi đầu xuất dương. Ý tưởng này chúng ta có thể thấy rõ hơn ở hai câu luận: Giang sơn tủ hĩ sinh đồ nhuế Hiền thánh hiêu nhiên tụng diệc si. Nghĩa là: Non sông đã chết, sống thỉ nhục, Hiền thánh đã vắng thì đọc sách cũng ngu thôi! Hơn ai hết, Phan Sào Nam thấm thía sâu sắc nỗi nhục nhã của người dân mất nước, và ông có cách nói mới mẻ đầy tâm huyết gây ấn tượng sâu đậm cho người đọc “Non sông đã chết”. Non sông đất nước được ví như con người. Khi chủ quyền đất nước không còn, thì giống như con người đã chết. HÌnh hài vẫn đó, nhưng tâm hồn đã mất. Sống trong một đất nước đã chất, là một nỗi nhục lớn lao. (Có lẽ chính xuất phát từ quan niệm nêu trên nên một số chí sĩ cách mạng thế hệ Phan Bội Châu thường nói đến việc Chiêu hồn nước (Phạm Tất Đắc), Tỉnh quốc hồn ca (Phan Châu Trinh), Kêu hồn nước (Nguyễn Quyền) hi vọng “hồn đi ròi chắc hồn về rày mai”…Trong hoàn cảnh đã nêu làm cho người khác thấy được nỗi nhục, thấm thía nỗi nhục là điều cần thiết. Bởi lẽ, không thấy được nỗi nhục thì sao tính đến chuyện rửa nhục? Phan Bội Châu nói bằng tất cả nhiệt huyết và sự cổ vũ sâu xa. Để rửa nỗi nhục này, mặc dù là người xuất thân từ gia đình nhà Nho, có nhiều gắn bó với đạo Khổng sân Trình, thấm nhuần sâu sắc Kinh, Thư nhưng ông sớm nhận ra sách thánh hiền không còn có ích gì trước bối cảnh của thời đại và của đất nước “Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”. Biết phủ nhận những tín điều, biết tách mình khỏi quá khứ…chứng tỏ một cái nhìn táo bạo, một dự cảm mới mẻ của Phan Bội Châu. Nói về cá nhân mình, nhưng Phan Bội Châu cũng thể hiện được lí tưởng sống, quan niệm nhân sinh sáng suốt của cả một thế hệ, một thời đại. Hai câu kết của bài thơ: Nguyễn trực trường phong Đông hải khứ Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi. Nghĩa là: Muốn vượt bể Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. Hai câu luận bộc lộ cảm hứng khoáng đạt, tư thế hào hùng, đặc biệt là niềm lạc quan – “nét tâm lí vĩ đại” (Đặng Thái Mai) của người ra đi. Tiếc rằng lời dịch câu thơ cuối cùng đã phần nào làm mất đi cái lãng mạn, bay bổng của câu thơ trong nguyên tác “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”, chưa phù hợp với giọng điệu chung của bài thơ. Qua bài Xuất dương lưu biệt, hình ảnh Phan Bội Châu tỏng những năm tháng đầu ra nước ngoài tìm đường cứu nước hiện lên khá đầy đủ. Đây là mọt con người có lòng yêu nước sâu sắc, ý thức sâu sắc về cái “tôi”, có khát vọng làm nên sự nghiệp to lớn, có tư thế hăm hở tự tin, có cái nhìn mới mẻ, táo bạo…Bài thơ là lời tự bạch chân thành, bản thân hình ảnh tác giả – nhân vật trữ tình của bài thơ – có tác dụng động viên khích lệ, tuyên truyền tinh thần cách mạng… Bài thơ này còn tiêu biểu cho bút pháp Phan Bội Châu với khẩu khí của bậc anh hùng. Nguồn Edufly Xem thêm: Con ngưởi sống không thể thiếu bạn
Cảm nhận về bài thơ Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu
2,141
Cảm nhận về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ lớp 11 Bài làm Hàn Mạc Tử là một nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới của nền văn học Việt Nam. Hàn Mạc Tử có một cuộc đời hết sức bất hạnh. Mang trong mình căn bệnh phong , cuộc đời tuy ngắn ngủi bi thương nhưng ông lại là nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ , để lại chặng đường thơ sáng ngời. Hồn thơ của Hà Mạc Tử là hồn thơ phức tạp và đầy bí ẩn . “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ đặc sắc nhất của ông. Bài thơ thể hiện nỗi buồn sự cô đơn trong mối tình xa xăm, vô vọng. Qua đó thấy được tình yêu thiên nhiên, cuộc sống tha thiết của thi sĩ. Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay? Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra… Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà? Đây thôn Vĩ Dạ được sáng tác năm 1938 rút ra từ tập thơ “Đau thương” khi ông phải sống biệt lập với mọi người. Bài thơ bắt nguồn cảm hứng từ mối tình đơn của Hàn Mạc Tử với người con gái tên là Hoàng Thị Kim Cúc. Bài thơ được viết từ cảm xúc khi nhận được tấm ảnh có phong cảnh xứ Huế cùng với lời hỏi thăm sức khỏe của Hoàng Kim Cúc. Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Mở đầu bài thơ alf câu hỏi tu từ với giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết như một lời mời của người con gái xứ Huế. Thực chất đây là lời tự hỏi chính mình thể hiện nỗi băn khoăn day dứt để gợi nhớ về những kỉ niệm những hồi ức đẹp về Vĩ Dạ. Hình ảnh thôn Vĩ Dạ hiện lên trong hoài hiệm của thi nhân rất đẹp với thiên nhiên thôn vĩ xanh tươi đầy sức sống: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Thôn Vĩ nổi tiếng vứi những hàng cau thẳng tắp , xanh tươi đón ánh nắng bình minh từ trên cao rọi xuống thẳng tắp. Đó là một thứ ánh sáng mứi mẻ tinh khôi và thanh sạch. Từ “nắng” được lặp lại 2 lần để diễn tả cảm gaics náo nức, xôn xao của lòng người. Nhớ về thôn Vĩ tâm hồn thi sĩ cũng bừng sáng những cảm xúc đẹp đẽ trong trẻo. Những mảnh vườn thôn Vĩ tươi xanh tràn đầy sức sống đem đến một cảm giác ngỡ ngàng, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh “xanh như ngọc” đ=”xanh mướt” để tô đậm cái sắc xanh của lá non tươi tốt. Lời thơ bang khuâng vừa như hỏi “Vườn ai” vừa như nhớ nhung, tiếc nuối cảnh đeho nhưng cảnh đẹp chỉ là những kí ức , những tưởng tượng và không thể nắm bắt đực và không thể làm chủ được. Hình ảnh của con người như đang hòa quyện với cảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Con người hiện lên với dáng vẻ dịu dàng duyên dáng, phúc hậu, đáng yêu với dáng vẻ ấy đã để lại niềm thương nhớ khôn nguôi dù là xa xôi cách trở nhưng không thể quên. Cảnh và con người thôn Vĩ hiện lên trong mộng tưởng, hoài niệm nhớ nhung đẹp nhưng buồn, thi nhân vừa tiếc nuối vừa đau xót với tất cả những vẻ đẹp ấy bây giờ đã chia lìa. Mặc dù về sự chia li đã đẻ lại những nổi buồn thương day dứt khôn nguôi. Bức tranh thiên nhiên hiện lên thơ mộng đẹp nhưng buồn, mặc cảm về sự chia lìa nên thắm đẫm tâm trạng Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…” Cảnh gió mây sông nước hoa bắt lay vô vùng sinh động nhưng vắn vẻ hiu quạnh buồn lặng lẽ, gợi lên sự chia li, gió mây vốn dĩ hòa quyện với nhau, nhưng ở đây lại đôi ngõ đôi nơi, trở thành 2 thế giới hoang tàn, khác biệt. Thi nhân đã đắm chìm trong cõi mộng để hòa vào cảnh sông nước thơ mộng Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay? Trong câu thơ đã xuất hiện hình ảnh dòng sông con thuyền vốn là những hình ảnh hết sức quen thuộc trong thi ca: Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng: Tre non đủ lá đan sàng nên chăng? Biểu tượng cho tình yêu và sự gắn bó nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử thì đó là con sông trăng, thuyền chở trăng làm cho hình ảnh thơ trở nên lung linh và huyền ảo. Hình ảnh trăng xuất hiện gắn kết với dòng và con thuyền để tìm kiếm sự gắn bó hòa hợp, nó đã trở thành nỗi lo lắng day dứt, chia xa “có kịp tối nay”. Một quãng thời gian ngắn ngủi. không đủ , không kịp cho những ước vọng được chia sẻ, khao khát được gặp gỡ. Đó cũng chính là những dự cảm ngắn ngủi cho cuộc đời, cho thời gian, cho tình yêu và hi vọng đơn hoa kết trái Đến khổ 3, xuất hiện hình ảnh nhạt nhòa: “Mơ khách đường xa, khách đường xa” Tác giả sử dụng điệp từ “khách đường xa” mở ra một khoảng cách xa vời, mênh mông vô định và hình ảnh cũng trở nên mờ dần nhòe dần. Con người xuất hiện trong tâm tưởng của nhà thơ với bao khát vọng mơ tưởng nhưng đó chỉ là những hình ảnh mơ hồ, hư ảo. Nhưng vẫn để lại niềm thương nhớ và những ấn tượng đẹp đẽ. “Áo em trắng quá nhìn không ra” Màu trắng là biểu tượng cho vẻ đep trong trẻo và tinh khôi nhưng ở đây lại trắng quá nhìn không ra. Có nghĩa là vẻ đẹp ấy đã xa xôi đã tuột khỏi tầm tay chỉ để lại những tiếc nuối , day dứt và xót xa. “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” Ở đây là thời gian của hiện tại nó đối lập với quá khứ là khoảng thời gian đã xa và rất xa , như sương khoi làm cho hình ảnh của người xưa chỉ còn là nhân ảnh mờ nhạt, hư ảo. Nhà thơ gửi với người xưa một nỗi lòng: “Ai biết tình ai có đậm đà” Câu hỏi là một câu thơ, hỏi mình, hỏi người , hỏi đời. Câu thơ cũng là lời đáp cho câu mở đầu. Câu thơ là lời gửi tới mọi người để tìm thấy sự đồng điệu thấu hiểu, sẻ chia giữa con người với con người với bao vương vấn. Tóm lại,với xứ Huế thơ mộng, trữ tình và tràn đầy sức sống. Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ chứa đựng tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước. Đồng thời chứa đựng nỗi cô đơn, tuyệt vọng của thi nhân nhưng vẫn khát khao yêu và sống mãnh liệt. Xem thêm: Thành ngữ có câu: “Không thể bẻ đũa cả nắm”. Anh (chị) có suy nghĩ gì? Bàn luận về tình đoàn kết trong xã hội
Cảm nhận về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ lớp 11
1,260
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Cảm nhận thơ trữ tình xét cho cùng là cảm nhận "cái tình" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó. Chính "chất điên" ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử. "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ – một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm mình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ. Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của mình và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thì mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tình vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy? Xem thêm: Hãy tưởng tượng và kể lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật cổ tích mà em yêu thíchTrong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởi mối tình đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ tình lại bị nhà thơ miêu tả vô tình, xa lạ đến như vậy. Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui gì hơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng lòng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Lòng sông buồn, bãi bờ của nó còn sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ tình lại thay đổi: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay” Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tình, lãng mạn. Hình ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân. Như thế mới biết nỗi lòng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. Tình cảm ấy quả thật là tình cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ). Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vật trữ tình trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngoáng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này: “Mơ khách đường xa khách dường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?” Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” – người thôn Vĩ đến với mình, tâm trạng nhân vật trữ tình lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có còn nặng tình với mình không? Và chẳng biết chính mình còn mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong tình yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ tình rơi vào tình trạng ấy và đã bộc bạch lòng mình để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932 – 1945 cũng ở đó. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử để lại trong lòng người đọc những tình cảm sâu lắng. Tác phẩm giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời. Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳng định. Tình cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực do đó nó sẽ ở mãi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Bình đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam. Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu (Có dàn ý chi tiết)
Cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
1,441
Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh Con người ấy hiện lên thật đẹp, thật lẫm liệt, ngang tàng trong bà ithơ Đập đá ở Côn Lôn được viết khi tác giả bị đày ở Côn Đảo.Côn Đảo – nơi trước kia được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, nơi mà thực dân Pháp đã lập nên nhà tù giam cầm những người chiến sĩ yêu nước và cách mạng vcới tất cả những kiểu đày ải, tra tấn con người tàn nhẫn nhất. Chúng quyết tâm làm lung lay, tiêu tan ý chí, lý tưởng của những người tù yêu nước. Chúng nhầm tưởng rằng sẽ dễ dàng khuất phục được lòng yêu nước của những người tù An Nam. Nhưng những con người ấy với dòng máu nóng của hồn Việt, với tinh thần quả cảm, ý chí kiên cường luôn tỏ rõ được thế đứng bất khuất trước kẻ thù. Dù lúc nào họ cũng phải đối mặt với những đày ải, lao động khổ sai nặng nhọc, dã man nhất. Dù phải chống chọi với cái khắc nghiệt giữa nơi đảo xa trơ trọi, giữa biển khơi, giữa cái ngột ngạt nơi nhà tù kìm hãm, bó buộc thể xác con người, những người tù yêu nước như Phan Chu Trinh vẫn luôn dõng dạc thể hiện chính mình trước kẻ thù, trước trời đất: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn Lừng lẫy làm cho lở núi non “Làm trai” – Phan Chu Trinh đầy tự hào khi được là một đấng nam nhi đứng giữa trời đất. Rất kiêu hãnh, người anh hùng đã tự khẳng định mình với tất cả khát vọng mãnh liệt được cống hiến cho đời. Hình ảnh người trai sừng sững đứng giữa đất Côn Lôn, đầu đội trời chân đạp đất, hiên ngang ngẩng mặt trước thiên nhiên rộng lớn làm ta chợt gặp lại một Nguyễn Công Trứ cũng với ý chí ấy: Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông. Tiếp nối với quan niệm truyền thống, Phan Chu Trinh đã thể hiện rõ bản lĩnh của những con người đất Việt anh hùng. Vẻ đẹp hùng tráng của ông còn được thể hiện qua hành động, qua sức mạnh của kẻ làm trai: “Lừng lẫy làm cho lở núi non”., Đấng nam nhi không hề e ngại trước công việc đập đá nặng nề, mệt nhọc mà quyết chí làm cho “lở núi non”, quyết chí thể hiện cái tôi bản lĩnh, cái chí làm trai mong mỏi, khao khát được “lừng lẫy”, vang danh trong trời đất. Người anh hùng ấy với tư thế chủ động vượt lên cả thân phận của người tù để thể hiện chính mình, khẳng định sức mạnh bản thân: Xách búa đánh tan năm bảy đống Ra tay đập bể mấy trăm hòn Đập đá giờ đây không còn là công việc khổ sai, không còn là nỗi ám ảnh nặng nề trong công việc của người tù. Đập đá đối với Phan Chu Trinh bỗng chốc trở thành một cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên. Và hiện ra trong cuộc chiến đấu ấy là tư thế hùng dũng của người anh hùng trong thần thoại, lẫm liệt, phi thường. Vận dụng lối khoa trương trong văn chương truyền thống, việc đập đá thể hiện một sức mạnh ghê gớm “đánh tan năm bảy đống” – “đập bể mấy trăm hòn” với hành động hết sức dứt khoát, nhanh lẹ, nhẹ nhàng “xách búa” – “ra tay”. Hai câu thực đã thật sự làm choáng ngợp trong tâm trí người đọc hình ảnh người tù yêu nước thật đẹp, thật kỳ lạ trong cái tư thế ngạo nghễ hiên ngang giữa vũ trụ đất trời với tất cả lòng ngưỡng mộ và kính phục. Xem thêm: Cảm nghĩ về bài Rằm tháng giêngBên trong con người anh hùng đầy hiên ngang đầy kiêu hãnh, bên trong cái giọng điệu hùng dũng hào sảng là cả một con người son sắt niềm tin, bền gan vững chí, một con người mang đầy tâm trạng trước thời cuộc với giọng điệu lãng mạn: Tháng ngày bao quản thân sành sỏi Mưa nắng càng bền dạ sắt son Đã bước vào con đường cứu nước, giải phóng dân tộc nghĩa là người anh hùng Phan Chu Trinh đã chấp nhận chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, vậy thì sá gì tháng ngày – mưa nắng, sá gì thử thách cuộc đời. Để rồi càng vất vả, càng thử thách thì người anh hùng càng chịu đựng dẻo dai, càng kiên cường bất khuất. Và việc chịu cảnh tù đày, lao động khổ nhọc chỉ làm cho phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cứu nước được khắc hoạ rõ nét hơn mà thôi. Lời khẳng định đầy khí phách, đầy rắn rỏi của người tù khiến ta hiểu thêm, yêu thêm, phục thêm cho một con người xem thường mọi gian lao thử thách và luôn vững niềm tin, vững lòng vững dạ không nguôi đi ý chí chiến đấu của mình. Không phải ai cũng như Phan Chu Trinh, giữa hoàn cảnh đầy khắc nghiệt như vậy mà lại có khẩu khí ngang tàng: Những kẻ vá trời khi lỡ bước Gian nan chi kể việc con con Thần thoại Trung Quốc đã có một bà Nữ Oa đội đá vá trời thì trong công việc cứu nước ngày nay, có những con người gan dạ, anh hùng đã tự nhận, tự khẳng định mình là “những kẻ vá trời” để nói lên chí lớn của bản thân trước những thử thách gian nan trên đường chiến đấu. Phan Chu Trinh đã biến công việc “đập đá” khổ sai trở thành một hình tượng thơ thật đẹp, thật ý nghĩa. Đập đá đối với ông là cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên, còn là công việc gian nan chiến đấu, thực hiện lý tưởng cách mạng, một hành trình đầy chông gai. Tự nhận là những kẻ vá trời còn là thể hiện một chỗ đứng quyền uy, một công việc chính nghĩa để đối chọi với kẻ thù. Và khi sa vào chốn đầy ải tù đày, thì người anh hùng chỉ xem là lúc lỡ bước thường tình, là việc con con thì có gì đáng kể. Người anh hùng đã xem thường hoàn cảnh, không chịu khuất phục trước “gian nan” tầm thường để giữ vững được ý chí, niềm tin, để cất lên câu thơ đầy tự hào mang khẩu khí ngang tàng đáng nể phục. Ta thấy được, cảm nhận được một tâm hồn thật đẹp của người tù yêu nước, một tâm hồ nthanh cao, kiên cường, quyết chí vì công cuộc cách mạng, vì tự do của dân tộc. Vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp của tầm vóc Phan Chu Trinh đã làm nên một hình tượng người anh hùng vừa oai phong lẫm liệt vừa sâu sắc tình cảm. Bài thơ vừa mang cái không khí hào hùng sôi nổi của người chiến sĩ cách mạng, vừa chứa đựng cả một tấm lòng, một tinh thần đẹp đẽ, giàu xúc cảm. Vì vậy mà hình ảnh người tù yêu nước Phan Chu Trinh đã hằn sâu vào tâm trí người đọc tự nhiên, nhẹ nhàng, trong niềm cảm phục khôn nguôi. Đập đá ở Côn Lôn – nói đến chuyện đập đá mà không chỉ là đập đá, nói đến chuyện đày ải cực nhọc mà không thấy chút tiều tụy khổ sở của người tù khổ sai. Bài thơ hiện lên trước mắt ta là một bức chân dung rất thực về ý chí, tinh thần người làm trai không nề hà gian nguy, vất vả, luôn đặt mình lên trên cái ngột ngạt, khổ sở chốn “địa ngục trần gian” để khẳng định một tư thế hiên ngang của người anh hùng Việt Nam. Nguồn Edufly Xem thêm: Soạn bài Nữ tính và nam tính
Cảm nhận về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn
1,330
Cảm nhận về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Hướng dẫn Chính Hữu là một nhà văn mang phong trào thơ mới nhiều. Với ông các tác phẩm về đồng đội tình đồng chí luôn được ông khám phá một nét mới mẻ chân thực về cái đẹp của họ. Không những vậy ông còn nói lên được nhiều nét đẹp ở trong mỗi con người của họ. Với bài thơ Đồng chí, ông đã khái quát được vẻ đẹp hồn nhiên sâu lắng của người chiến sĩ, và vẻ đẹp hết sức chân thực bên đời sống đời thường ở trong rừng sâu. Bên cạnh đó ông còn hóa thân vào các nhân vật để nói lên tư tưởng tình cảm của họ Vào những năm kháng chiến chống Pháp, đất nước ta sục sôi ý chí, quyết tâm đánh giặc. Hoà mình vào khí thế ấy đã có hàng vạn, hàng triệu thanh niên nhập ngũ. Những chiến sĩ dũng cảm, can trường ấy đã trở thành một hình tượng, một đề tài trong thơ ca thời đó. Một trong những bài thơ rất hay về người chiến sĩ, về tình đồng đội là bài Đồng chí của nhà thơ lính Chính Hữu. Bài thơ mở đầu như lời tâm sự của hai người chiến sĩ: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá, Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau, Bằng ngôn ngữ bình dị, vận dụng thành ngữ và cách nói quen thuộc, cùng nghệ thuật sóng đôi, Chính Hữu đã đưa ra hình ảnh rất cụ thể mà có ý nghĩa khái quát về hoàn cảnh xuất thân của những người lính cụ Hồ thời chống Pháp. Họ ra đi từ những miền quê nghèo, vất vả, lam lũ. Chính sự tương đồng về hoàn cảnh đã tạo cơ sở ban đầu cho tình đồng chí. Tình cảm giữa những người chiến sĩ càng gắn bó khi họ cùng chung chí hướng, chung lý tưởng Súng bên súng, đầu sát bên đầu Chỉ với hai hình ảnh cụ thể được hoán dụ, lại sắp xếp theo kiểu sóng đôi, nhà thơ đã diễn tả một cách chân thực tình đồng chí, đồng đội khi họ cùng chung nhiệm vụ trên một chiến hào. Cuộc sống gian khổ của đời lính khiến họ dễ đồng cảm với nhau, trở thành tri âm, tri kỷ của nhau. Hai tiếng "đồng chí” vang lên bình dị mà vô cùng xúc động. Chỉ hai tiếng làm thành một dòng thơ riêng, độc đáo thể hiện cảm xúc lắng đọng đang ngân lên trong lòng mỗi chiến sĩ. Chỉ cần hai tiếng ấy đủ diễn tả tất cả những tình cảm cao đẹp và sâu sắc nhất của người lính. Là tri kỉ, họ hiểu rõ nỗi lòng, tâm sự của nhau: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Chính những đêm giá rét, nằm bên nhau đắp chung tấm chăn trong rừng Việt Bắc, họ đã trao gửi cho nhau những tình cảm, nhưnõg suy nghĩ, những nỗi nhớ gia đình, quê hương. Người chiến sĩ hiểu và thông cảm với nhau hơn bao giờ hết. Vì trong tâm hồn họ, đều có rất nhiều điểm chung: họ đều là những con người quyết tâm ra đi, hi sinh cho làng quê, cho đất nước thân yêu. Đối với họ, những người xuất thân từ nông dân, những người con của đất, thì còn gì quý giá quan trọng hơn là mảnh vườn, là đồng ruộng, là gia đình, là người thân. Vậy mà họ sẵn sàng từ bỏ tất cả. "Mặc kệ " không phải là thái độ thờ ơ, bàng quan, mà là cái "mặc kệ” quyết dứt bỏ, quyết tâm mãnh liệt ra đi để giải phóng cho đất nước mà ta đã từng nghe: Mẹ thà coi như chiếc lá bay Chị thà coi như là hạt bụi Em thà coi như hơi rượu say (Tống biệt hành – Thâm Tâm) Người chiến sĩ sẵn sàng từ bỏ cái riêng để cống hiến cho cái chung. Anh sẵn sàng nhờ bạn cày giúp mảnh vườn, sẵn sàng bỏ lại ngôi nhà, người thân, gia đình, quê hương. Anh ra chiến trường, hiến dâng cho Tổ quốc. Người chiến sĩ ngoài mặt trận nhưng lại biết "gian nhà không” đang "lung lay” trước từng cơn gió, biết "giếng nước gốc đa” vẫn đang nhớ đến mình. Phải là người thật gắn bó, thật thân thiết với quê hương thì mới có thể luôn hướng về quê hương như thế. "Giếng nước gốc đa” là hình ảnh ẩn dụ được tác giả sử dụng rất thành công: đó là nơi dân làng thường tụ tập sau những buổi đồng áng, là nơi trao đổi thông tin, và phải chăng, họ đang nhắc đến anh, người con của qưê hương? Đó còn là nơi hẹn hò,tình tự của những anh nông dân, những cô thôn nữ, gắn liền với những kỷ niệm đẹp của thời thanh xuân. Và khi nhắc đến "giếng nước gốc đa”, phải chăng người chiến sĩ không chỉ nhớ đến làng quê, nhớ người thân, mà còn nhớ đến hồn quê, cả đến những sự vật gắn bó còn đang ở lại quê nhà. Nhớ đến tất cả, hình dung rằng tất cả đang nhớ đến mình, người chiến sĩ càng vững tin hơn ở con đường phía trước, càng mong mỏi hơn về độc lập, càng cầm chắc tay súng để chiến đấu. Trong họ luôn luôn là một suy nghĩ: họ ra đi là vì làng quê, họ vì làng quê mà chiến đấu. Những chiến sĩ biết hi sinh cho cái chung như vậy thật đáng quý biết bao! Người chiến sĩ tự nguyện ra chiến trường, vì thế, họ đủ nghị lực nếm trải bao khó khăn, thử thách: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Xem thêm: Tóm tắt sử thi “Đăm Săn ” Người chiến sĩ đã phải trải qua bao khó khăn vất vả, đau đớn, bệnh tật. Chính Hữu bản thân là một người lính, nên ông đã miêu tả rất thật cái đau đớn của căn bệnh sốt rét. Nhưng đó không phải là gian khổ duy nhất mà người lính phải trải qua. Họ còn phải chịu đựng cái lạnh giá, trong khi quân trang, quân phục lại rất thiếu thốn. Vào thời kỳ cuộc kháng chiến chống Pháp, nước ta thực sự đang rất nghèo nàn, lạc hậu, vũ khí còn rất thô sơ, không đủ để chiến đấu, huống chi là quân trang, quân phục. Bởi vậy mà người lính phải thường xuyên mặc "áo rách”, "quần vá”, "chân không giày”. Vậy mà họ vẫn kiên cường đạp lên tất cả chông gai, vượt qua mưa bom, bão đạn, chiến thắng mọi vũ khí hiện đại nhất của giặc Pháp, đủ thấy được tinh thần chiến đấu của họ cao đến chừng nào. Những hình ảnh mà Chính Hữu mô tả không hề cường điệu hoá. Đó là những hình ảnh hoàn toàn chân thực về cuộc sống chiến đấu của người lính. Nếu như ta biết rằng chỉ một năm trước, chính nhà thơ đã viết về người lính bằng những vần thơ đầy chất lãng mạn: Rách tả tơi rồi đôi hài vạn dặm Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa. (Ngày về) Thì nay, trải qua cuộc sống của người chiến sĩ, hầu như ông và các nhà thơ khác đều hiểu khác, nghĩ khác và viết khác. Viết về người chiến sĩ là viết về hiện thực, mới thực sự làm người đọc xúc động và hiểu hơn, thấm thía hơn về sự khổ cực của người lính: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt. (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu) Người chiến sĩ đều vượt qua mọi khó khăn, gian khổ vì ý chí, nghị lực và chính vì tình đồng chí đã giúp họ đứng dậy, đạp hết chông gai. Nhìn vào đoạn thơ, ta thấy hình ảnh hai người chiến sĩ được lặp đi, lặp lại, lúc thì "Tôi với anh…”, lúc thì "Áo anh…”, lúc thì”Quần tôi…”, họ nói về nhau, soi vào nhau, để nhận ra nhau, nhận ra chính mình. Tình đồng chí đã được Chính Hữu nâng lên thành tình tri kỷ, tình bạn bè thân thuộc. Trong anh có cái của tôi và trong anh tôi tìm được tôi. Để rồi cả hai nhập làm một: "tay nắm lấy bàn tay”. Cái bắt tay thân mật, thắm thiết, siết chặt tình đồng chí keo sơn. Cái bắt tay để truyền cho nhau sức mạnh chiến đấu, truyền cho nhau tình thương yêu, cổ vũ cho nhau vượt qua khó khăn, thử thách. Cái bắt tay âm thầm, lặng lẽ, không cần ồn ào, không cần nói lời hoa mỹ, họ chỉ cần trao nhau hơi ấm từ lòng bàn tay, hơi ấm từ trái tim, vì họ đã hiểu rõ long nhau, vì họ "thương nhau”. Hơi ấm lan toả cả hai người, làm hai người nở một nụ cười, dù là "buốt giá”. Hơi ấm đủ làm xoá đi cái nhợt nhạt, lạnh căm của mùa đông, đủ để sưởi ấm lên tình đồng chí, đồng đội. Kết thúc bài thơ là hình ảnh: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Giữa rừng đêm hoang vu, lạnh lẽo, đầy bất trắc rình rập, họ vững tin đứng cạnh nhau, khoát súng trên vai, đầu súng hướng lên trời, tư thế hiên ngang "chờ giặc tới”.Aùnh trăng đêm, có lẽ là trăng cuối tháng, cứ chếch dần, chếch dần, cho tới khi chạm tới đầu mũi súng, đầu súng như vươn tận lên trời cao. Tác giả đã rất sáng tạo mới viết nên được hình ảnh vừa rất thực, vừa rất lãng mạn, gợi cảm này. Mặt trăng như được cụ thể hoá, trở thành một vật treo trên đầu súng. Biện pháp tương phản càng làm hình ảnh thơ thêm giàu ý nghĩa, Trăng trên trời cao, lơ lửng giữa màn đêm, súng ở dưới đất, đặt trên vai người chiến sĩ, vậy mà ở một góc nhìn đặc biệt, Chính Hữu đã "bắt” được hình ảnh vô cùng độc đáo ấy. Trăng từ muôn đời nay tượng trưng cho cái yên tĩnh, tĩnh lặng, cái thi vị, lãng mạn, còn súng là thứ vũ khí lạnh lùng, nguy hiểm, biểu tượng của chiến tranh,sự tàn phá dữ dội. Thế nhưng khi có bàn tay của Chính Hữu đặt hai hình ảnh ấy lại gần nhau thì chúng lại bổ sung cho nhau, tạo nên một ý nghĩa mới: Súng trong tay kẻ thù mới là vũ khí nguy hiểm, còn súng trong tay hai người đồng đội, người chiến sĩ kia, thì súng là vũ khí để họ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên, bảo vệ ánh trăng thanh bình. Trăng trên trời cao soi sáng đôi bạn, như muốm làm bạn với hai người chiến sĩ, muốn ngợi ca, soi rõ tình đồng đội thiêng liêng, cao đẹp của hai người. Hình ảnh mặt trăng treo trên đầu mũi súng còn cho ta thấy được đời người lính chiến không phải lúc nào cũng chỉ là nguy hiểm, là đối mặt với đạn bom, là sự hy sinh, mà cuộc đời của họ còn bắt gặp được những hình ảnh vô cùng lãng mạn, đẹp đẽ, thi vị, ngay trong không gian và thời gian của chiến tranh. Hình ảnh trăng và súng được Chính Hữu chọn để kết thúc bài thơ, như để xoa dịu đi những khó khăn vất vả của người lính chiến, xoá bớt những gian khó hi sinh của họ và để làm sáng lên tình đồng chí cao đẹp của hai người chiến sĩ giữa rừng khuya. Bài thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bài thơ đã làm sống lại một thời khổ cực của ông cha ta, làm sống lại chiến tranh ác liệt. Bài thơ khơi gợi lại những kỷ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được. Với nhiều hình ảnh chọn lọc, từ ngữ gợi cảm mà lại gần gũi thân thuộc, với biện pháp sóng đô, đối ngữ được sử dụng rất thành công, Chính Hữu đã viết nên một bài ca với những ngôn từ chọn lọc, bình dị mà có sức ngân vang. Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng, như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng, không bao giờ tắt, ngọn lửa tháp sáng đêm đen của chiến tranh. Nguồn: thêm: Chí khí anh hùng qua phép thử của hạnh phúc lứa đôi. Cảm nhận khi đọc đoạn trích Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du).
Cảm nhận về bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
2,210
Cảm nhận về bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu Gợi ý Ngày 2-9-1969, Hồ Chủ tịch tạ thế. Cả một rừng thơ khóc Bác xuất hiện, trong đó bật lên cây đại thụ Tố Hữu với bài thơ “Bác ơi!” Bốn khổ thơ đầu nói cái đau xót tột cùng của thi sĩ trước sự kiện Bác ra đi: Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa… Trời mưa tầm tã cộng với nước mắt hàng triệu người khóc vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã làm cho cả không gian ướt lạnh, đau buồn. Khi Bác đi xa, Tố Hữu đang nằm điếu trị ở bệnh viện. Nghe tin, nhà thơ hoảng hốt chạy về phủ Chủ tịch, nơi nhà sàn của Người: Chiều nay con chạy về thăm Bác Từ “chạy”được dùng rất tài, nói lên sự nóng gan nóng ruột của người con khi nghe tin cha mất. Con lại lần theo lối sỏi quen Đến bên thang gác đứng nhìn lên Chuông ôi, chuông nhỏ còn reo nữa Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn! Ta thấy tác giả rất ý tứ cho nên “đến bên thang gác đứng nhìn lên” mà chưa vào nhà vội. Vì sao vậy? Vì đến thăm một người tạ thế là thăm vợ goá, con côi. Còn Bác không có gia đình thì xử lí như Tố Hữu là rất tinh tế. Nhà Bác hôm nay đã khác xưa rồi: Chuông không còn reo để báo tin với Người có khách đến. Đặc biệt câu thơ: “Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn ”, bị cắt ra làm ba nhịp như muốn diễn tả nỗi nghẹn ngào của Tố Hữu.Xem thêm: Hãy chỉ ra yếu tố thần kì trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và phân tích tác dụng của chúng Nhìn vườn cây Bác từng vun trồng, tác giả bâng khuâng: Trái bưởi kia vàng, ngọt với ai Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài! Hai câu này làm cho một số độc giả thắc mắc: Chẳng lẽ Bác trồng cây chỉ cho một mình Bác thôi ư? Tôi đã có dịp hỏi nhà thơ Xuân Diệu; thi sĩ bảo: Ai lại đi thẩm định văn chương như vậy! Đây chỉ là một cách nói của thi ca để biểu lộ tình thương sâu sắc của con đối với Cha mà thôi. Cha chết không thương Cha hay sao? Nhìn ao cá, nhà thơ bỗng tiếc nuối: Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm Quanh mặt hồ in mây trắng bay… Bác hiện lên trong kí ức đẹp như một ông Tiên trong thần thoại. Đúng! Trong tâm trí nhà thơ cũng như trong tâm trí dân tộc ta, Bác là một “Ông tiên Mác-xít” Sau những ngày bàng hoàng đau xót, nhà thơ bình tâm lại, khắc hoạ hình tượng Bác. Tố Hữu đã viết nhiều bài thơ về Bác nhưng bài này hay hơn cả vì đây là thơ tổng kết một cuộc đời. Hình ảnh bao trùm là: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế”. Đó là một trái tim giàu tình thương: "Ôm cả non sông, mọi kiếp người” Một trái tim thương nước, thương dân bao la, mênh mông. Từ “ôm ”được dùng rất gợi cảm: ôm là nâng niu, che chở, giữ gìn. Thương bao nhiêu thì đau bấy nhiêu: Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau Nỗi đau dân nước, nỗi năm châuXem thêm: Hoài Thanh đã nhận xét về Xuân Diệu trong Thi nhân Việt Nam: đó là một hồn thơ "tha thiết, rạo rực, băn khoăn". Hãy chứng tỏ điều đó qua các bài thơ Vội vàng, Đây mùa thu tới, Thơ duyên của ông Từ đau là lấy lại chữ dùng của Bác trong di chúc. Đau dân nước vì dân nước đang bị đế quốc xâm lược; đau năm châu vì có sự bất hoà trong phong trào cộng sản quốc tế. Chỉ con người vĩ đại mới có nỗi đau đớn lớn lao như thế. Có một câu thơ tuyệt hay nói về cuộc đời của lãnh tụ: Bác sống như trời đất của ta Câu thơ giản dị mà hàm chứa một nội dung sâu sắc: Cuộc đời Bác đã hoà làm một với thiên nhiên, sẽ vĩnh hằng như thiên nhiên. Đó là nguồn gốc tinh thần lạc quan của Người: Bác vui như ánh buổi bình minh Vui mỗi mầm non, trái chín cành Vui tiếng ca chung hoà bốn biển Nâng niu tất cả, chỉ quên mình Vì sao vậy? Vì giải phóng miền Nam là trung tâm của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nhiều người gặp Bác đều kể lại mỗi khi trò chuyện, thế nào Người cũng nhắc đến miền Nam. Trong phòng của Bác có treo bản đồ miền Nam về sự bố trí binh lực của địch. Có lần phát biểu trước Quốc hội, Người nói: “Miền Nam, luôn trong trái tim tôi” Đạo đức của Bác thật cao khiết: Một đời thanh bạch, chẳng vàng son Mong manh áo vải, hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. Bác là vị lãnh tụ kiểu mới; khác với những người ưa sùng bái cá nhân. Vì tâm hồn Bác giàu quá (hồn muôn trượng) nên bề ngoài Bác rất giản dị (mong manh áo vải). Bác không cần tượng đồng vì nhân dân đã đúc cho Người hàng triệu tượng trong tim.Xem thêm: Những cảm nghĩ của anh (chị) về gương mặt người anh hùng thời kì đổi mới qua đoạn văn sau đây: “Nổi bật... ông sẵn sàng."... Trong ba khổ cuối, nhà thơ nói lên cảm nghĩ của nhân dân ta trước sự ra đi của Bác. Trước hết là nhớ lời Dì chúc: Ra đi Bác dặn: “Còn non nước… ” Nghĩa nặng lòng không dám khóc nhiều Câu thơ nhắc lại lời Người: “Còn non còn nước còn người Thằng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Vậy thì thương Bác tức là phải làm theo lời Bác dặn, tập trung sức để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Bác Hồ nay đã nhập vào một thế giới đặc biệt: Mác-Lê nin thế giới Người Hiền Hiền ở đây là hiền minh, hiền triết – tức là những vĩ đức cao cả. Chính những con người đó đã dẫn dắt lịch sử tiến lên không ngừng. Kết thức thi phẩm này, Tố Hữu có một câu thơ rất hay: Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn. Yêu Bác là noi theo tấm gương trong suốt như pha lê của Người; sẽ có sức mạnh tẩy sạch những vết mờ đục trong lòng ta, nâng chúng ta lên tầm cao mới. Chúng ta quyết biến đau thương thành sức mạnh: “Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn”. Bài thơ “Bác ơi” là một điếu vãn bi hùng. Lối thơ thất ngôn tạo nên một nhạc điệu trang trọng, cùng với hình ảnh thơ kì vĩ đã diễn đạt rất tài tình những cảm xúc cao đẹp của toàn thể dân tộc ta trong những ngày quốc tang năm 1969. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu
1,152
Cảm nhận về bài tùy bút ‘Mùa xuân của tôi’ của Vũ Bằng Hướng dẫn … Ông viết tác phẩm này tại Sài Gòn trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, gửi gắm bao nỗi ‘sầu biệt li vơi sáng đẩy chiều’: nhớ vợ con gia đình, nhớ quê hương, nhớ miền Bắc, nhớ Hà Nội… Mỗi tháng ông có một nỗi nhớ, nhớ triền miên, nhớ dằng dặc suốt năm. Tháng giêng và mùa xuân Hà Nội, mùa xuân miền Bắc đối với Vũ Bằng sao nhớ thế. Nỗi nhớ ấy, nỗi buồn đẹp ấy là của khách ‘thiên lí tương tu’. ‘Ai cũng chuộng mùa xuân’và ‘mê luyến mùa xuân’ nên càng ‘trìu mến’ tháng giêng, tháng đầu của mùa xuân. Tinh cảm ấy rất chân tình ‘không có gì lạ 186hết’.Cách so sánh đối chiếu của Vũ Bằng rất phong tình gợi cảm: ‘Ai bảo non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thi mới hết được người mê luyến mùa xuân’.Một cách viết duyên dáng, cảm xúc cứ trào ra qua các điệp ngữ: ‘ai bảo được…’, ‘ai cấm được… ai cấm được… ai cấm được…’.Chữ ‘thương’ được nhắc lại bốn lần, liên kết với chữ ‘yêu’, chữ ‘nhớ’ đầy ấn tượng và rung động. Là một khách tài tử yêu cảnh sắc thiên nhiên ‘yêu sông xanh núi tím’, rất đa tình, yêu nhan sắc giai nhân ‘đôi mày như trăng mới in ngần’, yêu những ‘mộng ước của mình’. Nhưng Vũ Bằng đã tâm sự là mình ‘yêu nhất mùa xuân không phái vì thể. Câu văn như nhún nhảy: ‘tôi yêu… tôi yêu… và tôi cũng xây mộng… những yêu nhất..’. Thoáng gọi một câu thơ Kiều Nguyễn Du, một cách viết tài hoa. Mùa xuân mà Vũ Bằng thương nhớ và yêu nhất là mùa xuân miền Bắc, mùa xuân Hà Nội, nơi có gia đình và vợ con ông, mà ông đã nhiều năm tháng cách biệt. Ông nhớ cái ‘mưa riêu riêu’, cái ‘gió lành lạnh’ của mùa xuân quê hương. Ông thương nhớ những âm thanh mùa xuân miền Bắc: ‘tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng…’. Tình thương nhớ mùa xuân Bắc Việt của Vũ Bằng rất thiết tha nồng nàn cháy bỏng. Ta thấy tâm hồn ông trang trải khắp cảnh sắc và con người, từ xóm thôn đến bầu trời, từ lễ hội mùa xuân đến tiếng trống chèo, đến câu tình ca thôn nữ. Càng yêu cảnh bao nhiêu, tác giả càng yêu sự sống bấy nhiêu! ‘Cái mùa xuân thần thánh’rất diệu kì. Vũ Bằng đã sử dụng hai so sánh để nói lên cái diệu kì ấy: ‘Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cói, nằm im mãi không chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ tí ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh’. Xem thêm: Tả cô giáo (hoặc thầy giáo) đã từng dạy em và để lại cho em nhiều tình cảm tốt đẹpThi sĩ Xuân Diệu đã từng viết: ‘Tháng giêng ngon như một cặp môi gần (…) Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!’ (‘Vội vàng’) Cùng với cảm hứng mùa xuân ấy, Vũ Bằng cho biết, trong ‘cái rét ngọt ngào’ của mùa xuân, ‘tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn…’ và ‘thèm khát yêu thương thực sự’, yêu đồng loại, yêu gia đình. Trong không khí gia đình đoàn tụ êm đềm giữa những ngày xuân, lòng người ‘ấm lạ ấm lùng’, bao niềm vui sướng hạnh phúc tưởng ‘như cố không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan’. San sẻ với bao thương nhớ của Vũ Bằng, ta càng thấy rõ ông yêu mùa xuân, yêu cảnh vật, yêu con người cùa quê hương xứ sở, lại càng yêu sống, yêu đời hơn bao giờ hết. Câu văn xuôi của Vũ Bằng rất giàu biểu cảm và chất thơ trữ tình. Chất thơ lắng dịu ngọt ngào. Ta hãy khẽ đọc và cùng nhau cảm thụ: ‘Đẹp quá đi, mùa xuân ơi- mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến’ Yêu mùa xuân quê hương, nhưng tác giả ‘yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng’. Lúc ấy có biết bao xuân tứ, xuân tình. Bao cảnh sắc vương vấn. Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ thì ‘nức một mùi hương man mác’. Con ong siêng năng bay đi kiếm nhị hoa trên giàn thiên lí. Sau cơn mưa xuân, bầu trời xuân rất đẹp. Buổi sáng sớm thấy ‘những vệt xanh tươi hiện ở trên trời’. Độ tám chín giờ ‘trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột’. Cà om thịt thăn điểm lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào lòng, là hương vị đậm đà bữa cơm giản dị gia đình. Đã mấy ai trong chúng ta được hưởng thụ như Vũ Bằng? Hương vị đậm đà ấy tưởng như được ướp hương xuân. ‘Mùa xuân của tôi’thể hiện phong cách của Vũ Bằng: một lối viết tài hoa, càu chữ mượt mà, lời văn giàu hình ảnh, cảm xúc trong sáng đậm đà, giọng văn nhẹ nhàng, mơn man như làn gió xuân. Với Vũ Bằng, tình yêu mùa xuân, yêu thiên nhiên miền Bắc, yêu mùa xuân Hà Nội rất nồng hậu đắm say; tình yêu ấy gắn bó với bao kỉ niệm, bao nỗi nhớ vơi đầy trong tâm hồn khách xa quê. Trong hoàn cảnh đất nước bị quân thù chia cắt, tác giả nhớ mùa xuân Hà Nội cũng là nỗi nhớ quê hương, nhớ gia đình vợ con đã bao ngày đêm năm tháng cách biệt. Tác giả đã kín đáo gửi qua ‘Thương nhớ mười hai’ một niềm tin sắt son chung thủy về cội nguồn, về ý chí thống nhất đất nước, về Bắc – Nam liền một dải, sum họp một nhà mà không thế lực nào, kẻ thù nào có thể chia cắt được. Nguồn: thêm: Phân tích nhân vật Quan phụ mẫu tong chuyện Sống chết mặc bay
Cảm nhận về bài tùy bút ‘Mùa xuân của tôi’ của Vũ Bằng
1,090
Cảm nhận về bài tùy bút ‘Sài Gòn tôi yêu’ của Minh Hương Hướng dẫn …Trước năm 1945, tác giả đã đến sinh sống ở Sài Gòn, trở thành một cư dân 184 của ‘hòn ngọc Viễn Đông’ mà ông gọi là ‘cái đô thị ngọc ngà’. Nhan đề bài kí đã thể hiện tình yêu thiết tha sâu nặng đối với Sài Gòn – ‘Sài Gòn tôi yêu’. Mấy dòng đầu bài kí, tác giả nói một cách hóm hỉnh qua một số so sánh: ‘Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già’. Sài Gòn 300 tuổi so với cái tuổi 5.000 năm của đất nước ta thì Sài Gòn ‘còn xuân chán’, ‘như một cây tơ đương độ nõn nà…’. Minh Hương thổ lộ tình yêu Sài Gòn trong mọi thời tiết và mọi thời gian. Tác giả ‘yêu nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào’',yêu ‘buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ’',yêu thời tiết trái chứng: ‘trời đang iu iu buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh’.Tác giả yêu đêm khuya ‘thưa thớt tiếng ồn’',yêu những giờ cao điểm, phố phường ‘náo động, dập dìu xe cộ’;yêu làn không khí ‘mát dịu, thanh sạch’vào buổi sáng tinh sương, trên một số con đường nhiều cây xanh. Tinh yêu Sài Gòn của Minh Hương được ông ví với tình cảm của ‘người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa chan nhiều ngang trái’. Sài Gòn rất bao dung và hào phóng ‘bao giờ cũng'dang hai cánh tay mở rộng mà đón nhiều người từ trăm nẻo đất nước kéo đến’. Người Bắc, người Trung, người Nam, người Hoá, người Khơ-me… đã đến ở Sài Gòn, ‘rồi thừa nhận nơi đây là quê quán của mình’. Minh Hương đã đến ở Sài Gòn hơn nửa thế kỉ sao không yêu Sài Gòn, sao không coi Sài Gòn là quê hương thứ hai của mình được? Tác giả yêu Sài Gòn, rồi yêu hơn con người Sài Gòn với bao phẩm chất tốt đẹp, biểu hiện một ‘phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng’.Người Sài Gòn ‘ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi’, ‘rất chơn thành, bộc trực’, ‘ít dàn dựng, tính toán’. Minh Hương đã nêu lên những nét đáng yêu của các cô gái ‘thị thiềng’ Sài Gòn ngày xưa. Tóc ‘buông thõng’ trên vai trên lưng. Đầu đội nón vải trắng rộng vành. Áo bà ba trắng… Quần đen rộng. Hoặc đi giầy bố trắng, hay xăng-đan da, hoặc đi guốc vông trơn trắng nõn, quai da… Rất dễ nhìn, dễ ưa: dáng đi ‘khỏe khoắn, mạnh dạn’; ‘cũng yểu điệu, thướt tha…’, ‘cũng e thẹn, ngượng nghịu..’. Nụ cười ‘thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây’. Cái đẹp của cô gái Sài Gòn ‘thật đơn sơ, đôn hậu’. Xem thêm: Cảm nhận về đoạn trích trong bài Côn Sơn ca của Nguyễn TrãiCách giao thiệp của thiếu nữ Sài Gòn rất duyên dáng. Chào người lớn, các cô ‘cúi đẩu, chắp hai bàn tay lại và xá’. Gập bạn bè thì ‘hơi cúi đầu và mỉm cười; cười ngậm miệng, cười chúm chím, cười mỉm mỉm, cười he hé,…’, tùy mức độ thân quen. Đặc biệt là cặp mắt cô gái Sài Gòn ‘sáng rỡ, nhí nhảnh, đôi lúc lại ánh lên vài tia hóm hỉnh’. Cách giao tiếp của thiếu nữ Sài Gòn có vẻ hơi ‘cổ xưa’ nhưng lại rõ ràng ‘dân chủ’, ‘không khúm núm hay màu mè’, ‘không chút mặc cảm, tự ti’. Nghĩa là họ vẫn giữ được phong cách dân tộc, nhưng không còn mang tư tưởng phong kiến, trái lại rất tân tiến. Có thể nói đoạn văn viết về cô gái Sài Gòn là đặc sắc nhất, vừa tỉ mỉ vừa khái quát, biểu lộ tấm lòng trân trọng, quý mến của Minh Hương. Ta vô cùng thích thú như được thú vị ngắm nghía nhũng bức ảnh chân dung nghệ thuật của các cô gái Sài Gòn trong phòng triển lãm những năm đầu thế kỉ 20.. Tính cách con người Sài Gòn rất đẹp và đáng yêu. Các cô gái, các chàng trai, các giới đồng bào giàu lòng yêu nước, bất khuất, dám xả thân vì chính nghĩa, vì cách mạng và kháng chiến, vì đất nước và nhân dân. Với Minh Hương, tình yêu Sài Gòn gắn liền với tình cảm trân trọng, quý mến, cảm phục những con người Sài Gòn. Phần cuối bài kí, tác giả viết qua một so sánh đáng yêu: ‘Miền Nam là đất lành thì Sài Gòn cũng là một đô thị hiền hòa’. ‘Đất lành chim đậu’ (tục ngữ). Trước kia, Sài Gòn có nhiều chim, nhưng ngày nay rất ít chim. Những kẻ vô trách nhiệm với môi trường sống, đã ‘đang tay bắn giết chim và dơi của thành phố’. Chim chóc thì ‘hiếm hoi dần’, dân số lại gia tăng ‘leo lên hơn năm triệu’. Thoáng một chút băn khoăn? Minh Hương đã tâm sự: ‘yêu Sài Gòn và yêu cả con người ở đây’. Mối tình ấy ‘dai dẳng, bền chặt’. Tác giả ước mong ‘mọi người nhất là các bạn trẻ, đều yêu Sài Gòn như tôi’. Đó là một tiếng nói ‘chơn thành, bộc trực’. Sài Gòn, thành phố 300 tuổi, là Thành Đồng Tổ quốc, là thành phô' mang tên Bác – thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng – ai mà chẳng tự hào, ai mà chẳng mến yêu. Bài kí ‘Sài Gòn tôi yêu’ cho ta nhiều ấn tượng. Giọng văn hóm hỉnh, chơn thành thể hiện một cách viết độc đáo, sắc sảo. Chữ nghĩa, ngôn từ gợi lên sắc thái Sài Gòn rất đậm đà: ‘trời đang ui ui’… ‘các cô gái thị thiêng’, ‘chắp hai bàn tay lại và xá’, v.v… Một vài so sánh khá ý vị, nhất là khi nói về một số nét đẹp của thiếu nữ Sài Gòn: ‘cũng e thẹn, ngượng nghịu như vừng trăng mới ló, còn ngập ngừng giấu nửa vành sau áng mây. Nụ cười thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều ngây thơ’’,… ‘Sài Gòn tôi yêu’là một bài kí duyên dáng có ít nhiều khám phá, tỏa sáng tính nhân văn. Hay đấy. Cần đọc để thưởng thức, để yêu Sài Gòn hơn nữa. Nguồn: thêm: Hãy bình luận ý kiến sau đây: “Tinh thần khoa học phải đi đôi với dũng khí”
Cảm nhận về bài tùy bút ‘Sài Gòn tôi yêu’ của Minh Hương
1,075
Đề bài: Cảm nhận về bài Vội vàng của Xuân Diệu Xuân Diệu là nhà thơ lớn của văn học hiện đại Việt Nam. Ông để lại hàng chục tập thơ với trên dưới 1000 bài thơ thấm thía tình yêu cuộc sống nồng nàn. Một trong số những bài thơ tiêu biểu cho thơ Xuân Diệu là bài Vội vàng in trong tập Thơ thơ-tập thơ được sáng tác trong những năm mười tám đôi mươi của của nhà thơ. Vội vàng là bài thơ thể hiện tình yêu nồng nàn của Xuân Diệu đối với cuộc sống tươi đẹp mà nhà thơ tự thấy phải gấp gáp nhận lấy. Bài thơ Vội vàng được mở đầu bằng bốn dòng thơ ngũ ngôn ngắn gọn, mạnh mẽ như lời tuyên bố về khát vọng của mình: Tôi muốn tắt nắng đi, Cho màu đừng nhạt mất. Tôi muốn buộc gió lại, Cho hương đừng bay đi. Tắt nắng, buộc gió là những điều con người không thể làm được, đó là những khát khao phi lí. Nhưng cái phi lí ấy lại có lí với trái tim của nhà thơ, bởi đó là trái tim đầy khao khát mãnh liệt, muốn sống đến trọn vẹn chữ “sống”, muốn giữ mãi cho mình những hương, những sắc của của cuộc đời. Mà cuộc đời trong cảm nhận của nhà thơ lại đẹp đẽ biết chừng nào, quý giá biết bao nhiêu. Nhà thơ thấy rằng trong cuộc sống, mọi thứ đều kì diệu, mỗi sự vật dù nhỏ bé đến đâu cũng đều dâng hiến cho đời những vẻ đẹp tinh tuý nhất của mình: Của ong bướm này đây tuần tháng mật, Này đây hoa của đồng nội xanh rì, Này đây lá của cành tơ phơ phất, Của yến anh này đây khúc tình si Và này đây ánh sáng chớp hàng mi. Bướm ong thì có tuần tháng mật đầy ngọt ngào, cuốn hút, đồng nội thì có vẻ đẹp của màu xanh mơn mởn và muôn hoa rực rỡ, cành tơ non thì có muôn lá rung rinh, ánh sáng bình minh như cái chớp mi của người đẹp…Những câu thơ có nhịp điệu thật nhanh, thật gấp gáp, sử dụng phép liệt kê, điệp ngữ, rất nhiều tính từ, cách liên tưởng táo bạo, đa tình. Cuộc sống trần gian hiện lên qua đó thật sống động, tươi tốt, đáng yêu, đáng sống, tràn ngập âm thanh, màu sắc tươi sáng, khai mở ra một thiên dường tồn tại chính trên cõi trần này. Với Xuân Diệu, cuộc đời lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, mỗi ngày mới đến là niềm vui cũng gõ cửa ùa vào theo: Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Niềm vui như một vị thần độ lượng, ban phát hạnh phúc cho từng người. Phải nói rằng trong thơ Việt Nam, chưa ai có cách cảm nhận cuộc sống, mùa xuân như cách cảm nhận của Xuân Diệu: Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần Xuân Diệu chẳng lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp khi so sánh với con người như thơ cổ mà lại lấy con người làm chuẩn mực để so sánh với vẻ đẹp của thiên nhiên. Nếu Nguyễn Du so vẻ đẹp của Thuý Vân-Thuý Kiều “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” thì Xuân Diệu lại liên tưởng “ Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Một cách so sánh rất riêng, rất táo bào, đầy tình yêu đời nồng nhiệt rất Xuân Diệu. Ông thấy mùa xuân với bao vẻ đẹp sinh động của nó giống như cặp môi đỏ mọng của thiếu nữ đang kề gần. Cách so sánh này chứa đựng bao rung động tận đáy lòng, vừa có sự khao khát, thèm muốn, háo hức rất thiêng liêng mà cũng rất trần tục. Nhà thơ yêu cuộc sống đến si mê, cháy bỏng! Có một cuộc sống đẹp như thế để sống, có bao hương sắc tuyệt diệu như thế để tận hưởng, con người ta sẽ sung sướng biết bao. Nhưng, tựa như một cung nhạc đang vút cao, đến đâybỗng chùng xuống: Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa. Câu thơ bị ngắt làm hai, niềm vui sướng không được trọn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhận ra rằng điều sung sướng ấy ngắn ngủi biết bao: Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già Xưa nay, người ta chỉ tiếc những kỉ niệm khi nó đã trở thành quá khứ, tiếc xuân khi nó đã không còn. Ở đây, Xuân Diệu với sự nhạy cảm lạ lùng của nhà thơ yêu cuộc sống đến đắm say, ông tiếc mùa xuân ngày khi mùa xuân vẫn còn đang phơi phới. Vì nhà thơ biết rằng thời gian sẽ trôi qua nhanh, mà với những gì quý giá, với những vẻ đẹp, thời gian còn tàn nhẫn trôi nhanh hơn gấp bội, nhanh đến khủng khiép, phũ phàng. Cái non trẻ, thắm tươi rồi sẽ chẳng mấy mà già nua, héo úa. Điều ấy lại ảnh hưởng vô cùng to lớn đến Xuân Diệu: Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Câu thơ đầy cảm giác buồn bã. Nhà thơ phát hiện ra một điều bi thảm cho mình: mùa xuân trôi qua, tuổi trẻ sẽ trôi qua. Mà khi tuổi trẻ đã trôi qua thì cuộc đời nào còn ý nghĩa gì nữa. Bởi quý giá nhất của cuộc đời, dất trời là mùa xuân, quý giá nhất của con người là tuổi trẻ. Con người khao khát vẻ đẹp tồn tại vĩnh cửu, nhưng cuộc đời lại có những quy luật vô cùng chặt chẽ và nghiệt ngã: Xem thêm: Hãy nêu quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí MinhLòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian Thời gian thì vô hồi vô hạn, nhưng đời người thì hữu hạn. Con người trong cái hữu hạn ấy trở nên thật nhỏ bé, tội nghiệp và mong manh. Bao người lí luận rằng xuân đi xuân đến, nhưng với Xuân Diệu, ông chẳng thể tự an ủi mình mà trái lại, càng xót xa hơn: Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại. Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời. Mùa xuân của đất trời đẹp lắm, quý giá lắm, nhưng mùa xuân chỉ quý giá, chỉ đẹp khi con người biết hưởng, được hưởng vẻ đẹp của nó. Khi con người chẳng còn trẻ mà tận hưởng mùa xuân thì xuân cũng mất hết ý nghĩa. Những câu thơ của Xuân Diệu vì thế mà chuyển sang giọng điệu buồn bã: Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi, Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt. Con gió xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa Tất cả đều buồn bã, đều mất hết ý vị, chỉ còn “rớm vị chia phôi”, chỉ biết “than thầm tiễn biệt”, chỉ còn “hờn dỗi phải bay đi”, chỉ “sợ độ phai tàn sắp sửa”. Trong thơ Việt Nam, ít ai có giọng thơ nuối tiếc thời gian, thương tiếc cuộc sống thiết tha dường ấy. Cũng vẫn gió lá hoa như đạon đầu nhưng đoạn trên rạo rực náo nức, đoạn này lại buồn thương ngậm ngùi, xót xa biết bao nhiêu. Nhà thơ kêu lên một cách tuyệt vọng: Chẳng bao giờ! Ôi chẳng bao giờ nữa! Nỗi đau đớn của Xuân Diệu phải sâu sắc lắm, cắt cứa lắm, thấm thía lắm thì mới bộc phát thành tiếng than kêu thống thiết dường ấy. Thời gian cứ mênh mông nhưng mùa xuân và tuổi trẻ của con người cứ ngắn ngủi. Con người chẳng thể làm được gì để biến cái hữu hạn của đời người thành cái vô hạn trường tồn cùng vũ trụ. Chỉ còn mỗi cách, đó là phải hối hả, phải đắm say mãnh liệt hơn, phải vội vàng thâu nhận đến mức độ cao nhất, nhiều nhất những vẻ đẹp nhân gian, những thứ ưúy giá của đời sống, của tuổi trẻ, mùa xuân. Xuân Diệu giục giã: Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đàu mơn mởn, Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng. Những câu thơ mạnh bạo, gấp gáp, giục giã như một dòng suối ào ạt tuôn chảy, tưởng chừng ngôn từ xô đẩy vào nhau, chen lấn nhau để cho kịp mạch cảm xúc đang bừng lên sôi nổi của nhà thơ. Những tiếng “ta muốn” láy đi láy lại mãi như một điệp khúc bất tận để khẳng định niềm khao khát cháy bỏng muốn sống đến tận cùng cảm giác của Xuân Diệu. Một loạt điệp từ được sử dụng theo mức độ tăng dần của khao khát: muốn ôm – muốn riết – muốn say – muốn thâu – muốn cắn thể hiện tam trạng si mê đến cuồng nhiệt. Trong một câu thơ mà có đến ba hư từ “và” chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít, cuống quýt, như muốn cùng lúc dang tay ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tạn cùng của niềm hạnh phúc được sống. Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi Hạnh phúc của sự sống là mùi thơm, ánh sáng, thanh sắc. Tận hưởng cuộc đời chính là có dược cảm nhận về những điều ấy ở độ tràn trề nhất. Xuân Diệu muốn tận hưởng cuộc sống cho đến “no nê”, “chuếnh choáng”, “đã đầy”. Trong niềm cảm hứng ở độ cao nhất, Xuân Diệu nhận ra cuộc đời, mùa xuân như một cái gì quý nhất, trọn vẹn như một trái đời đỏ hồng, chín mọng, thơm ngát, ngọt ngào, để cho nhà thơ tận hưởng trong niềm khao khát cao độ: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi Câu thơ là đỉnh cao của những khao khát sống, của tình yêu sống rạo rực trong con tim nồng cháy của Xuân Diệu. Bài thơ Vội vàng thể hiện tam trạng đắm say bồng bột của một tấm lòng ham sống mãnh liệt. Bài thơ còn thể hiện một quan niệm sống sống gấp gáp vội vàng tận hưởng những hạnh phúc trần thế, một quan niệm sống lành mạnh và tích cực so với đương thời. Bài thơ là một sáng tác tiêu biểu cho phong cách thơ trẻ trung tươi mới của “nhà thơ của tình yêu”, bài thơ rất tự do, hình ảnh giàu sức gợi, giàu nhạc điệu và cách liên tưởng rất hiện đại. Tâm trạng yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt trong tác phẩm khẳng định tư tưởng nhân văn của nhà thơ. Cho đến nay, nội dung thúc giục mọi người sống có nghĩa trong cuộc sống thực tại của bài thơ vẫn còn bao ý nghĩa với thế hệ trẻ. Nguồn Edufly Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ Tấc Đất Tấc Vàng
Cảm nhận về bài Vội vàng của Xuân Diệu
1,882
Đề bài: Cảm nhận về bài Độc tiểu thanh ký Nguyễn Du đến với Tiểu Thanh cũng "định mệnh" như Thuý Kiều đến với Đạm Tiên vậy. Ngày tết Thanh minh mà sao sắc xuân không đến với Đạm Tiên trên nấm cỏ: Sè sè nấm đất bên đường, Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Sắc cỏ vàng úa giữa mùa xuân thật hợp cho cuộc gặp gỡ giữa hai con người có tên trong sổ đoạn trường. Nguyễn Du với Tiểu Thanh không chỉ là sự cách biệt âm dương. Đó còn là sự cách biệt của khoảng cách thời gian vời vợi: ba trăm năm lẻ. Nhưng không phải vì có nhiều khoảng cách mà thiếu đi sự cảm thông. Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du chính là tiếng lòng vượt lên bao khoảng cách để mà cảm thông và thương xót cho một kiếp người. Nguyễn Du gặp gỡ Tiểu Thanh mà sao giống như cuộc gặp trong định mệnh. Đó là cuộc gặp gỡ giữa hai người tài hoa và đầy duyên nợ với văn chương: Tây Hồ cảnh đẹp hoá gò hoang Thổn thức bên song mảnh giấy tàn Cảnh được tả thật hoang tàn. Nguyễn Du nhắc đến một địa danh trong câu thơ thứ nhất: Tây Hồ (Tây Hồ thuộc tỉnh Chiết Giang – Trung Quốc), nơi có núi Cô Sơn, chỗ Tiểu Thanh, một cô gái sắc tài nhưng bất hạnh từng sống. Một sự đổi thay được cảm nhận như là bước đi của lẽ đời dâu bể. Đó là sự đổi thay tuyệt đối từ quá khứ sang hiện tại, từ vườn hoa thành gò hoang và từ có đến không. Từ tẫn trong nguyên bản "hoa uyển tẫn thành khư" gợi sự thay đổi dữ dội, khốc liệt: thay đổi hết, không còn chút dấu vết gì. Hoá ra câu thơ không phải nói lẽ đời dâu bể. Nguyễn Du đang thương cho cái đẹp bị dập vùi. Câu thơ mới chỉ tả cảnh mà đã gợi đến bao nỗi xót xa. Toàn bộ câu chuyện đau thương năm xưa về nàng Tiểu Thanh hiện về. Câu thơ nói chuyện riêng tư nhưng cũng là nỗi lòng nhân thế. Câu thơ thừa đề mới thực là cuộc gặp gỡ của Nguyễn Du: Độc điếu song tiền nhất chỉ thư (Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ) Khi còn sống, Tiểu Thanh có làm một tập thơ (Tiểu Thanh kí) để ghi lại nỗi xót xa, lẻ bóng của mình. Khi nàng tự vẫn, vợ cả đem ra đốt, may còn lại vài bài. Vậy ra cuộc viếng thương Tiểu Thanh không phải diễn ra tại Cô Sơn. Sự tiếc thương của Nguyễn Du đã vượt qua khoảng cách thời gian, không gian (chỉ viếng nàng qua tập sách đốt còn dang dở). Câu thơ tiếp tục khơi vào số phận bất hạnh của Tiểu Thanh. Phần dư cảo của Tiểu Thanh kí phải chăng cũng chính là cuộc đời tan vụn của nàng? Tan vụn nhưng chưa vĩnh viễn mất đi, tan vụn nhưng vẫn còn vương lại để mà tiếp tục giận hờn oán trách. Tiểu Thanh đẹp mà bất hạnh, tài năng mà yểu mệnh. Đó có phải là số mệnh của những kẻ nhan sắc lại tài hoa? Day dứt ấy ám ảnh Nguyễn Du cả một đời: Son phấn có thần chôn vẫn hận, Văn chương không mệnh đốt còn vương. Xem thêm: Bình luận về câu tục ngữ: “Chết trong còn hơn sống đục”Hai câu thơ khái quát lại nỗi oan trái của Tiểu Thanh. Son phấn là nỗi oan của sắc. Văn chương là nỗi oan của tài. Hai vật vô tri được nhân cách hoá để có thần, có mệnh, làm nên cái thần, cái mệnh của Tiểu Thanh. Tập sách kia dẫu có bị đốt đi nhưng cuộc đời Tiểu Thanh vẫn luôn hiển hiện để mà tiếp tục kêu than, đau đớn thay cho những kiếp như mình. Hai câu thơ viết bằng cảm hứng xót xa và ngợi ca cái đẹp, cái tài. Bốn câu thơ sau là hai sự đổi thay về ý. Từ thương một người con gái tài hoa, Nguyễn Du thương cho muôn kiếp tài hoa ; từ thương người, Nguyễn Du ngậm ngùi trong nỗi thương mình. Nỗi oan, nỗi hận của Tiểu Thanh được Nguyễn Du khái quát thành nỗi hờn, nỗi oan của bao kẻ cùng hội cùng thuyền: Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi, Cái án phong lưu khách tự mang. Câu thơ chất chứa bao nỗi hờn kim cổ thành một câu hỏi lớn treo lơ lửng giữa không trung không lời đáp. Tại sao khách má hồng lại gặp nỗi truân chuyên? Tại sao những kẻ tài hoa lại hay yểu mệnh? Câu thơ là nỗi lòng nhân thế, là những nghịch cảnh thường gặp trong cuộc đời: khách phong lưu lại phải oan, phải khổ. Câu hỏi như hướng vào vô vọng, không lời đáp. Nỗi hận, nỗi oan cũng vì thế mà càng nhức nhối. Sau này khi đến thăm chùa Tây Phương, Huy Cận còn nhìn thấy nỗi hờn của thời đại Nguyễn Du hiện trên mặt tượng đầy bế tắc: Một câu hỏi lớn không lời đáp Cho đến bây giờ mặt vẫn chau Hai câu luận còn là một sự nhập thân. Đó là sự nhập thân tự nguyện của Nguyễn Du với những kiếp tài hoa bạc mệnh: "Phong vận kì oan ngã tự cư". Chữ ngã ở đây có nghĩa là "tôi", "ta". Bản dịch, dịch thành "khách" là chưa đạt. Nhưng cũng phải đến hai câu kết, chủ thể trữ tình mới hiện ra rõ nét: Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng? Hai câu cuối lạ, chuyển ý bất ngờ, niêm luật không chú trọng mà không lạc dòng cảm xúc. Ý tứ đến cũng tự nhiên và hợp lí. Từ thương người, Nguyễn Du chuyển mạch đến thương mình. Hai câu thơ kết cấu thành một câu hỏi. Câu hỏi hướng đến những điệu hồn tri âm. Không hỏi quá khứ, không hỏi hiện tại, vì quá khứ và hiện tại đều bế tắc. Câu hỏi hướng đến tương lai. Nguyễn Du cũng không hỏi trời, ông hỏi người vì còn mong ở đời có thể tìm thấy những tri âm. Với nàng Tiểu Thanh, ba trăm năm sau đã có một Nguyễn Du "thổn thức", không biết "với mình" liệu ba trăm năm sau có ai biết đến mà cảm thông? Câu thơ trĩu nặng. Hai từ bất tri (không biết) đầy tủi hổ tưởng có thể buông xuôi. Nhưng câu thơ vẫn là một niềm tin. Nguyễn Du vẫn tin ở nhân tâm của con người. Thơ hoài cổ thường là tiếng khóc dành cho những cố nhân. Thơ Nguyễn Du không hoàn toàn như vậy. Nhớ đến, thương đến cố nhân, tác giả chạnh lòng thương chính bản thân mình và những người nghệ sĩ. Nó chính là khởi nguồn cho cảm hứng nhân văn cao cả của bài thơ. Độc Tiểu Thanh kí còn là sự day dứt cả đời của Nguyễn Du. Đó là niềm day dứt của thi nhân về nỗi bấp bênh của thế thái nhân tình. Niềm day dứt ấy phải vì thế mà ôm trọn sự bế tắc của "thời đại Nguyễn Du". Nguồn Edufly Xem thêm: Phân tích nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
Cảm nhận về bài Độc tiểu thanh ký
1,235
Cảm nhận về bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu Gợi ý Xưa nay mùa thu vẫn được coi là mùa của thi ca. Cảnh thu đẹp nhưng buồn.thơ ca truyền thống hiện đại thường vẫn vẽ cảnh thu như vậy, kể cả thơ Xuân Diệu. Thơ duyên cũng là một bài thơ về cảnh thu nhưng có những nét riêng độc đáo mà vẫn Xuân Diệu: cảnh đẹp mà không buồn, ấy là mùa thu tình yêu, của tuổi trẻ, mùa của tạo vật, của lòng người qua con mắt Xuân Diệu trở thành một "thế giới giao duyên". Thế giới của ‘Thơ duyên – cảnh cũng như người – là thế giới đúng là được nhìn bằng một tâm hồn rất trẻ "lần đầu rung động nỗi thương yêu" ấy là trái tim lần đầu biết yêu, lần đầu khao khát chuyện lứa đôi. Cái nhìn đó là cái nhìn độc đáo "rất Xuân Diệu" của bài thơ. Với nhân quan ấy, nhìn ra thế giới, đâu đâu cũng thấy xôn xao, náo nức một niềm khao khát giao duyên. Một thế giới như thế tất nhiên hết sức tươi trẻ và đầy nhạc, đầy thơ, đầy mộng đẹp. Tất cả như hoà quyện với nhau, cặp đôi, cặp vần với nhau: Ánh chiều hoà thơ với cây cỏ, chim chóc cặp đôi ríu rít, lòng anh cưới lòng em, cánh cò trên ruộng cũng phân vân vì mây biếc trên trời, bông hoa dường như không đồng cảm với nương chiều buông lạnh… Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang DũngBài thơ thể hiện được những cảm nhận hết sức tinh tế của nhà thơ về cảnh vật và lòng người. Hoài Thanh có một nhận xét rất sắc về trường hợp của bài Thơ duyên: ở đây "sự bồng bột của Xuân Diệu có lẽ phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi" (Thi nhân Việt Nam). Đúng vậy, nhà thơ lắng nghe được cái xôn xao, náo nức của cảnh vật và lòng người ẩn kín dưới cái vẻ bề ngoài êm ả, lặng lẽ, dịu dàng của buổi chiều thu – "Ai hay tuy lặng bước thu êm…" Đó là bản hoà âm của mùa thu vang vọng, của tiếng ríu rít, của muôn lá xôn xao khi trời xanh đổ ngọc. Đó là cái tình tứ e ấp của con đường nhỏ với gió xiêu xiêu, của cành hoa lả lả với ánh nắng trở chiều, của cánh cò muốn bay theo làn mây biếc tuy còn ngập ngừng phân vân. Và là cái cảm ứng của loài chim với trời rộng mà lặng lẽ "giang thêm cánh", là cái cảm giác thấm lạnh của hương đồng cỏ nội dưới sương chiều… Và là cái rung động thầm kín của lòng anh với lòngem tuy chỉ ngẫu nhiên đi cùng một đường và chưa hề có băng nhân mối lái… Cảnh thu trong Thơ duyên không buồn như trong thơ truyền thống hay nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu. Nhưng vẫn đúng là cảnh thu. ở đây tâm hồn trong sáng của chàng trai mới biết yêu đã gặp gỡ cái sang trọng của trời thu, sắc thu, tiếng thu. Và niềm khao khát lứa đôi vừa mới chớm nở, náo nức đấy nhưng còn e ấp trong lòng, cũng phù hợp không khí êm dịu của mùa thu. Bước đi của mùa thu là "bước thu âm". Bài thơ mùa thu là "bài thơ dịu". Vì thế anh với em không ồn ào, phải bước êm, bước nhẹ, để lắng nghe cuộc giao duyên thầm kín của lòng mình và vũ trụ khi mùa thu tới. Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh “Mặt trời chân lí chói qua tim” trong bài thơ “Từ ấy” của Tố HữuThơ duyên là một bài thơ rất tiêu biểu của Xuân Diệu, nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu, và rộng hơn, nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời. Nhưng không phải một Xuân Diệu với sự bồng bột, sôi nổi bộc lộ ra bên ngoài, mà một Xuân Diệu lắng vào bên trong để cảm nhận cái xôn xao náo nức của niềm giao cảm thầm kín và êm ái của vũ trụ và lòng người. Ông đã dệt nên một "bài thơ dịu" bằng những sợi tơ giăng mắc giữa lòng mình với lòng người, giữa lòng mình với vũ trụ. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bài “Thơ duyên” của Xuân Diệu
754
Cảm nhận về bức thư của người bố gửi con trai mình Gợi ý Một nhà văn đã viết: "Không có mặt trời thì hoa không nở. Không có người mẹ thì không có anh hùng, không có cả nhà thơ". Và dĩ nhiên không có mẹ cũng không có chúng ta trên cõi đời. Mẹ cho chúng ta sự sống, cho chúng ta tình yêu và lời ru, cho chúng ta cả những bài học đạo đức làm người để rồi "con dù lớn vẫn là con của mẹ. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con (Chế Lan Viên). Vậy mà chúng ta, những đứa con được mẹ cho rất nhiều ấy vẫn nhiều lúc thờ ơ, vô tâm, làm đau lòng mẹ, làm đau lòng tất cả những người yêu thương ta, mong mỏi ta sống tốt mỗi ngày. Lời của một người cha, viết cho con trai minh để nhắc nhở về đạo làm con qua văn bản Mẹ tôi của Ét- môn-đô Đơ A-ml-xi là một bài học sâu sắc giành cho tất cả chúng ta. Dưới dạng một bức thư của người bố gửi cậu con trai En-ri-cô, không dài mà chứa đựng bao nỗi niềm, bao tâm trạng. Ta còn được ở bức thư ấy những bài học thấm thía về gia đình và đặc biệt là thái độ của con cái với cha mẹ. Điều mà tôi, bạn và hầu như bất cứ ai cũng đã có lần chưa đúng. Nhắc lại sự việc khi cô giáo đến thăm, En-ri-cô đã nhỡ thốt ra “ một lời thiếu lễ độ", người cha đã bày tỏ thái độ của mình và qua đó nhắc nhở, giáo dục con về lòng yêu thương, kính trọng người mẹ một đời vì con. Chọn cách bày tỏ trực tiếp tình cảm, cảm xúc, ngay từ phần đầu bức thư, người cha đã viết: "Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa". Tiếp đó ông bày tỏ tâm trạng của mình với con "Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy". Hình ảnh "nhát dao đâm vào tim" giúp ta hình dung một cách rõ ràng, cụ thể nỗi đau đớn của người cha do hành động vô lễ En-ri-cô đem lại. Trong nỗi đau ấy, ẩn chứa cả sự thất vọng, xót xa bởi con trai mình đã không xứng với tình yêu mà nó được đón nhận, không xứng với niềm trông đợi và hy vọng mà người cha đã gửi gắm rất nhiều. Trái tim người cha ấy như rỉ máu. Xem thêm: Bàn về Bình Ngô đại cáo có nhận định: Bình Ngô đại cáo là một áng “thiên cổ hùng văn”. Anh (chị) hãy chứng minh nhận dịnh trên Rồi cố giữ bình tĩnh, ông kể cho En-ri-cô nghe những việc làm, sự hi sinh và tình yêu của mẹ giành cho cậu bé. Qua lời kể của cha, hình ảnh mẹ hiện lên: "cách đây mấy năm, mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hỗn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con… Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau ốm, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con". Ta rưng rưng cảm động khi nghe kể về người mẹ đó. Hết mực yêu thương, quên hạnh phúc của bản thân và cả tính mạng mình cho con, mẹ đáng kính, đáng trọng, đáng khâm phục biết bao. Bất chợt, ta nhớ về mẹ ta. Cũng thao thức như thế mỗi lúc ta ốm đau, cũng hi sinh hạnh phúc và niềm vui của riêng mình như thế vì ta. Và hẳn cũng sẽ hi sinh cả tính mạng mình cho ta nữa, nếu cần. Ta bỗng thấy mình hạnh phúc vì được yêu thương và cũng không thể không nhớ đến những lần có lỗi làm mẹ buồn. Tiếp tục giọng tâm tình ấy, người cha vừa ngợi ca tình yêu của mẹ giành cho En-ri-cô, vừa nói với con rất thấm thía về sự gắn bó ruột thịt, sâu nặng giữa mẹ và cậu bé. Đặc biệt, người cha gỉa định về một ngày mẹ không còn nữa. Cái ngày mà như lời người cha nói: "Trong đời, con có thể trải qua những ngày buồn thảm, nhưng ngày buồm thảm nhất sẽ là ngày con mất mẹ. Khi đã khôn lớn… có thể có lúc con sẽ mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ giang tay đón vào lòng. Dù có lớn khôn, khỏe mạnh thế nào đi chăng nữa, con vẫn tự thấy mình là đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che". Để từ giả định ấy người cha đi đến một quy luật, một chân lí vĩnh hằng: tình mẫu tử thiêng liêng, cao cả và bất diệt. Tình cảm ấy đem cho ta sức mạnh và sự nâng đỡ, chở che. Tình mẫu tử cũng chính là cội nguồn của mọi tình cảm trong ta. Và vẫn bằng những lời lẽ da diết, người cha đã tiếp tục nói với En-ri-cô: "Con sẽ cay đắng khi nhớ lại những lúc con đã làm cho mẹ đau lòng… Lương tâm con sẽ không phút nào yên tĩnh". Người cha ấy còn khẳng định thêm rằng: "Bố rất yêu con, En-ri-cô ạ, nhưng thà rằng, bố không có con còn hơn thấy con bội bạc với mẹ". Lời lẽ nhẹ nhàng nhưng đọc lên ta thấy mình nhói đau. Hẳn đọc những lời này cậu bé En-ri-cô sẽ vô cùng hối hận. Và chúng ta cũng thế, không thể dửng dưng, không thể không nhớ những lần phạm lỗi làm đôi mắt mẹ ta hằn thêm những nếp nhăn. Xem thêm: Ở nông thôn có một thú vui rất được ưa thích, đó là ra đồng bắt dế để về đá chơi. Em hãy kể lại chuyện bắt dế của em với các bạn em Cuối lá thư, vẫn bằng tình yêu tha thiết và những mong mỏi gửi gắm vào En-ri-cô, người bố khuyên con trai phải tự mình làm những việc thiết thực nhất để chuộc lỗi, nhận lỗi và xin mẹ tha thứ. Tế nhị, kín đáo mà hiệu quả của cách răn dạy vẫn rất cao, người cha ấy còn nêu một tấm gương về cách xử thế, cách giáo dục con cái bằng tình cảm, tình yêu thương xuất phát từ sâu thẳm lòng mình. Bởi thế En-ri-cô và cả chúng ta nữa, có thể nào dửng dưng trước lời dạy của cha? Bức thư kết thúc bằng cảm xúc bồi hồi đang dâng trào mãnh liệt của người cha. Và ta, nhận ra thông điệp mà tác giả của những tấm lòng cao cả muốn gửi đến mọi người: "Hãy nhớ, tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó". Thông điệp ấy cũng rất phù hợp với truyền thống đạo lí của con người Việt Nam. Bởi vậy, ta đón nhận lời dạy của người cha giành cho En- ri-cô như đón nhận lời dạy của chính cha mình và thấy mình hạnh phúc vì đã được yêu thương. Thấy mình cũng cần phải biết yêu thương, bắt đầu từ cha mẹ ta. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về bức thư của người bố gửi con trai mình
1,270
Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc qua khổ đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Bài làm Văn chương có khả năng tái hiện vẻ đẹp của cuộc sống đồng thời có thể làm cho nhân cách mỗi con người hoàn thiện hơn. Tác phẩm văn chương cũng là những chuyến đi đưa chúng ta tới nhiều vùng đất mới, giúp ta hiểu biết thêm về vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.” Rồi: “Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.” Mặc dù chưa một lần đặt chân đến đến nhưng văn chương có thể cho ta cảm nhận được phần nào vẻ đẹp của đối tượng được nhắc đến. Nhắc đến Tây Bắc, văn chương không chỉ một lần đưa ta đến với mảnh đất này: ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp bộ tranh tứ bình của rừng núi Tây Bắc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, qua trang thơ Quang Dũng, một lần nữa, bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc tổ quốc lại hiện ra trước mắt độc giả rõ nhất qua đoạn thơ: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây sung ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục bên sung mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Đoạn thơ trên trích từ phần đầu bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng. Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc, ông là một nhà thơ khoác áo lính, đã từng sống và chiến đấu cùng với đơn vị Tây Tiến. Sự nghiệp sáng tác của Quang Dũng tuy khiêm tốn nhưng cũng có những bài thơ đi cùng năm tháng và một trong số đó là bài thơ “Tây Tiến”.Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiêm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lương quân đội Pháp ở thượng Lào cũng như ở miền Tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và cả Sầm Nưa (Lào).Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên như Quang Dũng, chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa được bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, nỗi nhớ Tây đã trào dâng mãnh liệt và từ sự thôi thúc của nỗi nhớ tác giả đã viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, sau đó đổi thành Tây Tiến. Theo tác giả chỉ “Tây Tiến” thôi đã đủ gợi nhớ lắm rồi, vừa cô đọng lại không lộ mạch cảm xúc ngay từ đầu đề.Xem thêm: Cảm nhận của em về bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch Quang Dũng đã kết hợp hoàn hảo bút pháp hiện thực và lãng mạn để vẽ lên bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hiện lên vừa hùng vĩ, dữ dội, hoang sơ lại vừa gần gũi ấm áp chỉ bằng một đoạn thơ. Hai câu thơ đầu của bài thơ là mạch nguồn cảm xúc của cả bài thơ đồng thời cũng là cảm xúc chủ đạo của cả bài thơ: “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.” Cảm xúc bao trùm lên toàn bài thơ đó là nỗi nhớ. Câu thơ mở đầu là một câu cảm thán nhưng dùng để gọi với hô ngữ “ơi”, câu thơ đã trở thành một tiếng gọi thiết tha trìu mến như gọi một người bạn thân. Sông Mã là địa danh gắn liền với bước đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến. Đã không biết bao nhiêu lần những người lính Tây Tiến hành quân qua địa danh này và cũng thật dễ dàng lí giải được tại sao hình ảnh sông Mã xuất hiện ngay trong câu thơ mở đầu, nhắc đến Tây Tiến thì dòng sông Mã hiện lên đầu tiên trong tâm trí nhà thơ. Câu thơ mở đầu là một câu cảm thán nhưng dùng để gọi với hô ngữ “ơi” khiến câu thơ trở thành một tiếng gọi thiết tha trìu mến như gọi một người bạn thân, tác giả gọi Tây Tiến mà đối với tác giả thì bây giờ Tây Tiến đã cách xa nghìn trùng. Khi người ta gọi một đối tương mà đã cách xa phải chăng nỗi nhớ trong lòng đang trào dâng mãnh liệt, không thể kìm nén được nữa đành phải bật lên thành tiếng gọi. Và đến câu thơ thứ hai cảm xúc trong lòng nhà thơ đã được cụ thể hóa với cách sử dụng biện pháp điệp động từ “nhớ”. Biện pháp điệp đã khẳng định nỗi nhớ trong lòng nhà thơ là vô cùng sâu sắc. Hơn nữa tác giả lại khéo léo sử dụng từ láy tượng hình “chơi vơi” để bổ sung ý nghĩa cho động từ “nhớ” xuất hiện lần thứ hai làm cho chúng ta như hình dung thấy , như nhìn thấy nỗi nhớ đang lớn dần, lớn dần và đang muốn hướng đến, tìm về một bến bờ để neo đậu. Nỗi nhớ đã dẫn tác giả về với Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Mai Châu . . . Theo dòng hoài niệm của nhà thơ, bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc hiện ra ban đầu là qua những nét vẽ mờ ảo, ẩn hiện trong sương khói và sau đó là những nét khắc họa cụ thể bằng hình ảnh, đường nét rõ ràng.Xem thêm: Đặc sắc nghệ thuật trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân. Mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ Tây Tiến là mạch cảm xúc của nỗi nỗi nhớ, nổi bật lên trong nỗi nhớ của nhà thơ là hình ảnh bức tranh thiên miền Tây Bắc hiểm trở, gập ghềnh, ẩn chứa những hiểm nguy nhưng cũng hết sức thân thuộc, gần gũi. Bằng cách sử dụng triệt để thủ pháp đối lập kết hợp cách sử dụng từ ngữ khéo léo, tác giả đã giúp ta hình dung được địa hình nơi đây hiểm trở, gập ghềnh với những núi cao, vực sâu, dốc thẳm: “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn Mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” Núi cao chót vót, vực sâu thăm thẳm, trên nền núi cao, vực sâu ấy là hình ảnh những cồn mây, danh từ đơn vị “cồn” giúp ta hình dung giữa mây và người như có khoảng cách rất gần nhau, như có vị trí ngang nhau, nghĩa là người đứng miêu tả đang đứng ở vị trí rất cao, có thể ngang với mây, có thể đi trong mây. Và có lẽ vì thế mà hình ảnh nhân hóa tinh nghịch, táo bạo đã xuất hiện: “súng ngửi trời” , một phép nhân hóa nếu không hiểu rõ thì có thể ai đó sẽ cho rằng nhà thơ nói quá nhưng thực tế điều này hoàn toàn có thể sảy ra khi người chiến sĩ Tây Tiến sống và chiến đấu trên địa hình đồi núi rất cao của miền Tây Bắc. Súng khoác trên vai, mũi súng hướng lên bầu trời như chạm đến đỉnh trời, hình ảnh này làm cho ta hình dung đến một hình ảnh rất đẹp, rất lãng mạn trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu: “Đầu súng trăng treo” hay trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu: “Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”. Hình ảnh này một lần nữa lại khắc sâu ấn tượng về độ cao địa hình đồi núi Tây Bắc. Nếu những hình ảnh trng những câu thơ trên tác giả mở không gian miền Tây Bắc theo chiều cao, sâu thì đến hình ảnh trong câu thơ tiếp theo tác giả lại mở không gian theo chiều rộng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Hình ảnh những ngôi nhà thấp thoáng trong làn mưa vừa mở rộng tầm nhìn, vừa tạo nét thân thuộc gần gũi, những ngôi nhà như bồng bềnh trôi trên làn sương, làn mưa mờ ảo. Ở đây nhà thơ Quang Dũng đã kết hợp khéo léo giữa hai gam màu nóng, lạnh của hội họa để vẽ lên những hình ảnh, nếu ba hình ảnh đầu là gam màu nóng, nó đã làm cho người đọc phải gắng, phải lên gân thì đến hình ảnh thứ tư lại là gam màu lạnh, nó giúp chúng ta lấy lại sự thăng bằng, làm tâm hồn ta trở nên thư thái. Nếu trong ba câu thơ thứ năm, thứ sáu, thứ bẳy chủ yêu tác giả sử dụng thanh trắc kết hợp với những từ láy khó đọc, các câu thơ ngắt nhịp 4/3, mà nhịp bốn chủ yếu diễn tả độ cao, nhịp ba chủ yếu diên tả độ sâu , những câu thơ bị bẻ đôi ở ranh giới của sự cao, sâu đã góp phần khắc họa ấn tượng về độ cao và độ sâu của địa hình nơi đây làm cho độ cao càng cao hơn, độ sâu càng sâu hơn. Thế những đến câu thơ thứ tám nhịp điệu lại dàn trải đều đều theo những thanh bằng, rõ ràng nhịp điệu ấy đã góp phần tô rõ hơn những thân thuộc, những gần gũi, những phẳng lặng của bình yên của thiên nhiên của thiên nhiên nơi đây.Xem thêm: Trình bày vắn tắt quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh trên những điểm chủ yếu và chứng minh rằng sự nghiệp văn học của Người là minh chứng hùng hồn và đẹp đẽ cho quan điểm ấy (chỉ cần chứng minh trên những nét lớn) Đây là đoạn thơ minh chứng rõ ràng nhất cho nhận xét :Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, Quang Dũng không chỉ đơn thuần là một nhà thơ, ông còn là một nhạc sĩ và còn là một họa sĩ. Với tài năng của Quang Dũng chỉ trong một đoạn thơ ngắn tác giả đã giúp ta cảm nhận được hai đặc trưng của thiên nhiên miền Tây Bắc: vừa hung vĩ, dữ dội, hiểm trở nhưng cũng hết sức thân thuộc gần gũi vì miền đất này cũng mang dáng dấp một miền quê hương xứ sở. Một đoạn thơ nhưng có họa, có nhạc, đó là những hình ảnh mang tính chất đối lập cùng sự phối hợp nhịp nhàng thanh điệu với nhạc điệu. Thiên nhiên miền Tây Bắc không chỉ có núi cao, vực sâu mà còn có cọp dữ, thác gầm. Tuy nhiên bên cạnh những dữ dội, những hung bạo, những hiểm trở đó, thiên nhiên Tây Bắc cũng hết sức gần gũi thân thương. Nó vừa là sự thử thách ý chí của người chiến sĩ, vừa là người bạn đồng hành nâng đỡ những bước chân: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục bên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.” Trên nền thiên nhiên ấy , hình ảnh những người chiến sĩ Tây Tiến trong cuộc hành quân được hiện lên với những nét vẽ đơn sơ, giản dị. Môt cuộc hành quân có những mệt mỏi, rã rời và thậm chí đã có cả sự hi sinh. Mặc dù sự hi sinh của những người chiến sĩ đã được Quang Dũng sử dụng biện pháp nói giảm, nói tránh: “Gục bên súng mũ bỏ quên đời” nhưng chúng ta vẫn cảm thấy sự khốc liệt, sự tàn ác của chiến tranh mà những người chiến sĩ đang phải trải qua. Qua dòng hoài niệm của tác giả bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc hiện lên với những nét vẽ sinh động, chân thực, hình ảnh người chiến sĩ được vẽ với những nét vẽ sống động , phải chăng đây là những minh chứng cho nỗi nhớ Tây Tiến của nhà thơ là cực kì sâu sắc.
Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên miền Tây Bắc qua khổ đầu bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
2,136
Cảm nhận về cuộc chạm trán đầy kịch tính giữa Va-ren và Phan Bội Châu trong tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc Gợi ý Trong quãng thời gian sống và hoạt động cách mạng tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc có một số tác phẩm viết bằng tiếng Pháp như: Vi hành, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu… Đó là những tác phẩm thể hiện tính chiến đấu qua ngòi bút văn chương trong đó tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu đăng trên báo Người cùng khổ số 36, 37 vào tháng 9, tháng 10 năm 1925. Trong 3 phần của tác phẩm ta thấy rằng cuộc chạm trán giữa Va-ren và Phan Bội Châu đầy kịch tính, thể hiện ngòi bút châm biếm sắc sảo của Nguyễn Ái Quốc. Tác giả dùng thủ pháp tương phản tạo nên tính chiến đấu sắc bén cho tác phẩm. Va-ren là tên chính khách đã bị đồng bọn đuổi ra khỏi tập đoàn, kẻ đã ruồng bỏ quá khứ, ruồng bỏ lòng tin, ruồng bỏ giai cấp mình còn Phan Bội Châu là bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng. Vì tìm đường cứu nước, cứu dân, cụ Phan bị bọn thực dân kết án "tử hình vắng mặt", đang bị đeo gông và chờ ngày lên máy chém. Hai con người khác hoàn toàn đối lập nhau.Va-ren phải hứa "chăm sóc" vụ Phan Bội Châu. Lúc này nhà yêu nước Phan Bội Châu mới bị bắt giam. Cả nước đang dấy lên một phong trào đấu tranh rộng khắp đòi thả cụ. Xem thêm: "Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân." Bác Hồ muốn khuyên dạy điều gì qua hai dòng thơ này? Vì sao 1 việc trồng cây trong mùa xuân của đất trời lại có thể góp phần làm nên mùa xuân của đất nước Đến Việt Nam hắn đã diễn ra những những trò lố. Tuy không trực tiếp nhìn thấy nhưng bằng con mắt thời cuộc và cảm nhận riêng của mình Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt của tên cáo già giả nhân giả nghĩa. Xuống tàu tên chính khách đâu có để ý đến lời hứa "chăm sóc" cụ Phan Bội Châu mà ngài chỉ muốn chăm sóc đến khi nào yên vị thật xong xuôi ở bên ấy đã. Như vậy ta thấy hắn chỉ lo cho bản thân mình, hứa là "chăm sóc" mà đến Đông Dương hắn còn lo yên vị xong xuôi, tác giả đã gây sự nghi ngờ cho dư luận. Thực tế là cụ Phan vẫn "ngồi tù". Đến Việt Nam hắn vui thú trước những sự dụ dỗ, ấp ủ, tiệc tùng của chính quyền Sài Gòn và Huế. Từ Sài Gòn ra Hà Nội, Va-ren phải dừng lại ở Huế để Hoàng đế Khải Định và triều đinh cài lên ngực áo hắn Nam long bội tinh, cái cao quý nhất của Hoàng triều. Hắn chưa có công trạng gì cho thuộc địa mà đã được ban thưởng của triều đình nhà Huế. Tên toàn quyền vẫn vùi mình vào tiệc tùng, vô tình nuốt lời hứa, trong khi đó cụ Phan vẫn ngồi tù. Và Va-ren đến Hà Nội – cuộc chạm trán giữa một kẻ phản bội Đảng Cộng sản Pháp với một bên là bậc thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng. Điều thú vị sắp diễn ra, tên toàn quyền bắt tay cụ Phan, tay trái thì nâng cái gông to kệch đang xiết chặt Phan Bội Châu trong nhà tù ảm đạm. Hắn tuyên bố tôi đem tự do đến cho ông đây. Xem thêm: Kể lại kỉ niệm sâu sắc đáng nhớ về bà ngoại của em Cuộc mặc cả bắt đầu, y dụ dỗ, y yêu cầu cụ Phan hãy từ bỏ ý chí đấu tranh vì nền độc lập dân tộc, y nêu ra một số tên phản bội để làm gương, và thật nực cười chính y cũng là kẻ phản bội. Trước tôi là đảng viên xã hội đấy, giờ đây tôi làm toàn quyền… Tiếc thay cuộc "mặc cả", "diễn thuyết" của Va-ren rất hùng hồn và không thiếu những lý lẽ đầy tình cảm như trong lúc ông và tôi nắm chặt tay – có thông ngôn rành mạch thế mà cụ Phan cứ dửng dưng. Xét binh tình thì lúc đó cả Phan Bội Châu và Va-ren không hiểu nhau. Cụ Phan làm sao lại hiểu được những lời nói giả dối của một kẻ xấu xa đã phản bội chính giai cấp mình, một kẻ mà ngoài mẽ thì lịch sự, oai phong mà bên trong thì gian xảo, cáo già. Cụ Phan không thể hiểu một kẻ mà với cụ chỉ là một tên cướp nước không hơn không kém. Còn với Va-ren một tên chính khách bẩn thỉu làm sao hiểu được sự cao thượng, vĩ đại của một người đem cả tính mạng của bản thân cho nền độc lập tự do của dân tộc. Hai thái cực đối lập nhau trong cuộc chạm trán nảy lửa với những lời nói, hành động của Va-ren đã bóc trần bộ mặt xảo trá của hắn. Trong cuộc chạm trán ấy, Phan Bội Châu rất chủ động dửng dưng im lặng, mỉm cười một cách kín đáo. Đặc biệt trong phần tái bút, tác giả cho biết một nhân chứng quả quyết rằng Phan Bội Châu đã nhổ vào mặt Va-ren. Hành động này cho thấy thái độ ghê tởm, khinh bỉ của cụ Phan trước tên toàn quyền đang thao thao bất tuyệt lên mặt dạy đời ấy. Vị toàn quyền được triều đình An Nam tôn kính kia đã bị hạ nhục, coi thường.Xem thêm: Cảm nhận bài thơ Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi Người đọc cảm thấy thích thú qua chi tiết này. bằng trí tưởng tượng phong phú tác giả đã vạch trần bộ mặt xảo quyệt, giả nhân giả nghĩa của tên toàn quyền Va-ren trong cuộc chạm trán với cụ Phan. Sự đối lập, tương phản giữa hai con người đầy kịch tính, các chi tiết nghệ thuật làm cho người đọc bật cười, cái cười tán thưởng khâm phục cụ Phan anh hùng thiên sứ và khinh bỉ lên án tên toàn quyền Va-ren. Những trò lố mà hắn làm tại Đông Dương và đặc biệt cuộc chạm trán và mặc cả, dụ dỗ cụ Phan thực sự là những trò lố của trò lố. Nguyễn Ái Quốc viết truyện này không chỉ nhằm mục đích ca ngợi Phan Bội Châu – một người tù lừng tiếng mà còn đòi ân xá cho cụ, đồng thời vạch trần bộ mặt xảo quyệt bẩn thỉu của tên toàn quyền Va-ren nói riêng và lũ thực dân Pháp nói chung. Ngòi bút hiện thực đầy sắc sảo, nó chính lưỡi gươm chống lại kẻ thù xâm lược của Nguyễn Ái Quốc trong những năm sống và hoạt động tại Pháp. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về cuộc chạm trán đầy kịch tính giữa Va-ren và Phan Bội Châu trong tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc
1,223
Cảm nhận về câu ca dao: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. Hướng dẫn Thân phận người phụ nữ trong chế độ phong kiến đã chịu rất nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Đã có nhiều điển hình về sự bất hạnh đó. Một nàng Kiều gian truân, ngậm đắng nuốt cay khóc thầm cho cuộc đời mình. Một Vũ Nương chịu hàm oan phải nuốt nước mắt tìm đến cái chết. Và còn bao nhiêu, bao nhiêu được biết và không biết nữa. Đến nỗi chuyện người phụ nữ bị bạc đãi đã trở thành thông lệ. Còn phụ nữ, họ không có khả năng chống chọi nữa hay là sức phản kháng của họ đã yếu dần, yếu dần cho đến khi lời cáo buộc trở thành một lời than thân buồn tủi: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. Lời than thân đó nghe chứa chan nước mắt và mỏng mảnh như sợi khói tỏa vào không gian, như thân phận người phụ nữ vậy. Ca dao là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian rất phổ biến, đúc kết trong đó nhiều tình cảm và cũng là lời than thân trách phận. Các tác giả dân gian có lẽ đã thấu suốt được nỗi đau đó, thông cảm với thân phận người phụ nữ nên mở đầu ca dao là một lời xưng hô nhỏ nhẹ, mềm mỏng: Thán em. Từ thân gợi nên một cảmgiác nhỏ nhoi, yếu đuối; Người con gái khi tự giới thiệu mình cũng rụt rè, khiêm nhường thốt lên hai tiếng "thân em". Thân phận của người phụ nữ đã được văn học thành văn nhắc đến. Hồ Xuân Hương thì đồng cảm với phận bảy nổi ba chìm của thân em vừa trắng lại vừa tròn. Nguyễn Du thương xót thốt lên: đau đớn thay phận đàn bà và Tú Xương cũng thổn thức khi viết về bà Tú: lặn lội thân cò khi quãng vắng. Còn ca dao lại nói về đời người con gái qua hình ảnh liên tưởng như tấm lụa đào. Biện pháp so sánh ở đây thật nhẹ nhàng và thanh thoát, thấm vào lòng người đọc, người nghe. Tấm lụa đào mang dáng vẻ đẹp, nhẹ nhàng như chính tâm hồn và phẩm chất người phụ nữ, lại là một thứ vật liệu mềm mỏng dùng để may mặc, trang trí thêm cho người hay khung ảnh. Và phải chăng người phụnữ trong cuộc đời cũ cũng vậy, họ là một món đồ trang sức, là chiếc bóng lặng lẽ, âm thầm trước những bất công. Tấm lụa đào là một hình ảnh so sánh thật thanh cao, thật mềm mại nhưng quấn trong đó một nỗi niềm nặng trĩu. Vì thế câu tiếp theo là tất cả tâm trạng đau khổ vắt ra mà thành: Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. Xem thêm: Nét độc đáo trong nghệ thuật viết phóng sự hiện đại của Ngô Tất Tố thể hiện qua "Nghệ thuật băm thịt gà" (Trích Việc làng)Tấm lụa đào lại ở giữa chợ, giữa cảnh xô bồ kẻ bán người mua. Liệu ai có con mắt xanh để biết giá trị của tấm lụa đào. Từ phất phơ không có hướng cố định cũng như hoa trôi man mác biết là về đâu. Bị số phận đưa đẩy đến như vậy mà nữ nhi lại không đủ sức, không thể chủ động định được một hướng đi cho mình để rồi đêm ngày tự hỏi cuộc đời mình sẽ vào tay ai. Một gã Giám Sinh buôn sắc bán hương. Một Trương Sinh đa nghi, ích kỉ hay là một Kim Trọng hào hoa phong nhã? Họ hoàn toàn biết về số phận của mình cũng như mảnh lụa mềm nhẹ kia không biết có được một người tri kỉ chọn lựa hay không? Trong suốt cuộc đời mình, người phụ nữ xưa bị đẩy vào trạng thái thụ động, chỉ quanh quẩn trong nhà và quanh quẩn với việc thờ chồng, thờ cha, theo con. Tấm lụa bay nhè nhẹ trong gió, phó mặc ngọn gió đưa mình đến một bàn tay thô bạo. Bay vào đôi mắt hữu tình, phong nhã. Câu hỏi buông ra biết vào tay ai thật tinh tế và khéo léo, nó tạo cho người đọc một cảm giác xót xa. Cầu hỏi đó có lẽ đã bám suốt cuộc đời người con gái. Toàn bộ câu ca dao là một lời than. Nó được sinh ra từ số phận cam chịu của người phụ nữ thời phong kiến. Không một ai trong số những tác giả vô danh sáng tác câu ca dao trên lại có thể thanh thản khi nghĩ về đứa con tinh thần của mình. Câu ca dao là sản phẩm quá trình đông tụ những giọt nước mắt ngược vào lòng. Từng lời từng chữ trong câu ca toát lên ý ngậm ngùi. Nước mắt đã chảy. Câu ca dao là tiếng lòng của bao nhiêu người, là tiếng than của bao nhiêu thân phận! Với cách so sánh thật linh động và cũng rất gần với đời thường, câu ca dao đã tạo ra một hình ảnh gây nhiều cảm xúc. Tưởng chừng như những đám mây đang quấn lấy cảm xúc của con người, ôm trọn trong lòng nó tâm trạng của những người phụ nữ để rồi dần dần len lỏi vào từng ngóc ngách của tấm lựa đào đang phất phới giữa chợ. Bao nhiêu câu hát than thân của người phụ nữ được sáng tác và lan truyền nhưng câu nào cũng có sự liên hệ, liên tưởng đến những thứ nhỏ bé mỏng manh như: nước, hạt mưa, miếng cau, trái bầu… Vì thế câu ca dao đã lột tả được tâm trạng của hầu hết giới nữ: người thiếu nữ vừa tới tuổi trâm cài lược giắt đã loâu cho số phận của mình. Lo ngại cho hạnh phúc hẩm hiu của mình. Tất cả tạo nên một dòng cảm xúc buồn thương không ngừng chảy từ người này sang người khác, từ đời này sang đời khác vào không gian một tiếng vang vọng mãi. Người phụ nữ thời phong kiến đã chịu nhiều đau khổ, chấp nhận làm đẹp cho những người xung quanh. Số phận của họ như tấm lụa bay trong gió không biết sẽ về đâu. Câu ca dao trong đề là lòi than thân yếu ớt. Phải chăng người phụ nữ xưa cũng từng ao ước: Ví đây đổi phận làm trai được. Những ước muốn đó tồn tại được bao lâu hay là lại phải quay trở về với những câu than thân bất lực? Nguồn: thêm: Bàn về một kĩ năng sống -văn 12
Cảm nhận về câu ca dao_ Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
1,135
Cảm nhận về câu ca dao: Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi. Hướng dẫn Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi. Sinh ra trong một đất nước nhiều sông ngòi, kênh rạch, ca dao Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng theo suy nghĩ, tư duy của con người ở vùng sông nước, trong nội dung cũng như trong hình thức nghệ thuật. Những hình ảnh và chi tiết nghệ thuật có liên quan với sông, cầu, thuyền, bến… xuất hiện khá liên tục trong ca dao của nhiều thời và nhiều vùng khác nhau trong cả nước, từ Bắc chí Nam. Dù trong những lời ca quan họ Bắc Ninh hay trong lời ca hát ví ở Nghệ An, hò Huế, hò giã gạo ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, hoặc trong hò Đồng Tháp, hò cấy Gò Công – Nam Bộ, chúng ta cũng dễ dàng tìm thấy những hình ảnh và chi tiết nghệ thuật nói trên. Ví dụ: Yêu nhau cởi áo cho nhau Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay. Gió bay cầu thấp cầu cao Gió bay cầu nào con chỉ mẹ coi? Qua cầu ghé nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu. Anh vé xẻ ván cho dầy Bắc cầu sông Cái cho thầy mẹ sang. Muốn sang thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy. Ca dao không chỉ nói đến "cầu tre", "cầu ván", "cầu đá", "cầu xây"… là những loại cầu có thực và phổ biến trong cả nước, mà ca dao còn sáng tạo ra cả những loại cầu không có hoặc chưa có trong thực tế như "cầu mồng tơi", "cầu sợi chỉ", "cầu cành hồng", "cầu dải yếm”… Đây là chiếc cầu "bắc" bằng sợi chỉ ở trong ca dao Nam Bộ: Sông cách sông, thủy cách thủy Em xe sợi chỉ, em bắc cây cầu Để cho anh sang mà giảm mối sầu tương tư. Gần nhà mà chẳng sang chơi Để anh bắc ngọn mồng tơi làm cầu. Đôi ta cách một con sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang. Nhưng hay nhất, đẹp nhất, nên thơ và gợi cảm nhất vẫn là chiếc "cầu dải yếm" ở trong câu ca dao từ lâu đã trở thành của chung tất cả mọi miền đất nước: Ước gì sông hẹp một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi. Xem thêm: Kể lại câu chuyện Ếch ngồi đáy giếng và cho biết em đã rút ra bài học gì từ câu chuyện ấy, em sẽ vận dụng những bài học đó vào cuộc sống như thế nàoTừ "hẹp" ở vế thứ nhất, có dị bản ghi thành từ "rộng". Nhưng khi đã có một con số, đồng thời cũng là một hình ảnh xác định, cụ thể "một gang" cũng không làm cho bề ngang của dòng sông thay đổi (nghĩa là ở đây từ "rộng" hay từ "hẹp" đều chỉ có một nghĩa, một nội dung thống nhất, là bề ngang của con sông mà thôi). Người kiến trúc sư vô danh và thiên tài đã thiết kế nên chiếc cầu dải yếm độc đáo này là một cô gái Việt Nam không rõ làng nào, huyện nào, tỉnh nào, nhưng chắc là đã sống cách đây vài thế kỉ. Khi nghĩ ra bản thiết kế này, chắc tác giả đang ở trong độ tuổi mười tám đôi mươi, tình yêu vừa chớm nở, sức tưởng tượng dồi dào phong phú. Chiếc cầu dải yếm không chỉ tồn tại âm thầm trong trí tưởng tượng của tác giả. Nó đã được công bố thành lời trong ca dao mà người đầu tiên được trực tiếp nghe tác giả công bố cũng chính là người yêu của người nữ "kiến trúc sư" thiên tài này. Hay nói đúng hơn, chiếc cầu này được nghĩ ra để "bắc" riêng cho một người "sang chơi". Và nhờ có tình yêu với người ấy mà tác giả mới thiết kế được chiếc cầu tuyệt diệu này. Có lần nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã đặt câu hỏi: "Khi người con gái nói: ước gì sông hẹp một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi. thì là nói thật hay nói đùa". Tôi nghĩ là người con gái ở đây đã nghĩ thật và nói thật, nhưng là cái thật của ước mơ, khát vọng, chứ không hợp với lô-gích thông thường và rất xa thực tế. Thực tế làm gì có loại sông "hẹp một gang" ấy (?). Và nếu đặt vấn đề như vậy thì trong ca dao còn có biết bao nhiêu điều vô lí khác không thể giải thích được. Rồi những chiếc cầu tưởng tượng rất nên thơ khác ở trong ca dao cổ (như cầu "sợi chỉ", cầu "mồng tơi", cầu "cành hồng"…) đều là sản phẩm của sự bông đùa, hài hước hay sao? Không, đó là sản phẩm của tư duy, những hình tượng nghiêm túc bắt nguồn từ những khát vọng yêu đương cháy bỏng, chân thành của con người trong độ tuổi yêu đương. Khi yêu cũng như khi say, con người thường thoát li những điều kiện thực tế và suy nghĩ một cách tự do, hồn nhiên theo khát vọng cháy bỏng của trái tim mình. Do đó khi tỉnh hoặc hết yêu, người ta thường ngạc nhiên, khó hiểu với chính bản thân mình. Đó cũng là một điều dễ hiểu. Nguồn: thêm: Cảm nhận của anh (chị) về ngày đầu tiên bước vào trường THPT
Cảm nhận về câu ca dao_ Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.
917
Cảm nhận về công ơn cha mẹ qua bài ca dao: “Công cha như núi ngất trời. Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông. Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!” Gợi ý Con người Việt Nam vốn xem trọng và đề cao gia đình. Cội nguồn của tình cảm bao giờ cũng bắt đầu từ tình cảm gia đình, tình yêu thương và lòng biết ơn với ông bà, cha mẹ. Điều này được diễn tả phong phú, sâu sắc, tinh tế qua văn học dân gian nói chung và đặc biệt là qua ca dao, dân ca. Bài ca dao sau đây là một trong số bài rất hay về tình cảm gia đình: Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Chân thành, thân mật, ấm áp mà vẫn thiêng liêng, trang trọng, bài ca dao đem đến cho ta khúc dạo nhẹ nhàng, âm điệu thủ thỉ của giai điệu hát ru. Có lẽ đây là lời ru của mẹ giành cho đứa con bé bỏng đang ngủ ngon trong vòng tay yêu thương. Lời ru con đồng thời là lời nhắc nhở con về công lao trời biển của cha mẹ và trách nhiệm, bổn phận của đạo làm con. Cha mẹ những người gần gũi nhất với chúng ta ấy đã cho chúng ta biết bao điều. Trước tiên là cho ta sự sống, cho ta được có mặt trên cuộc đời này. Rồi bằng vòng tay êm ái mẹ nâng niu ta, ru vỗ ta, bằng dòng sữa ngọt lành, mẹ nuôi ta lớn khôn và bằng những lời ru êm dịu mẹ nuôi phần hồn ta, đem đến cho ta những bài học của đạo làm người. Những bài học mà "ta đi trọn kiếp con người" cũng không đi hết. Không chỉ có mẹ, ta còn có vòng tay và bờ vai vững chãi của cha. Vòng tay và bờ vai ấy cho ta điểm tựa để bước vào đời, ta đem theo nó để làm hành trang trong suốt hành trình dài rộng của cuộc sống. Điều thiêng liêng ấy được tác giả dân gian nói thật giản dị. Phép so sánh ngang bằng: Xem thêm: Chứng minh chân lí trong những lời Bác Hồ dạy thanh niên:"Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên" Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông đã làm nổi bật công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Lấy cái trừu tượng (công cha, nghĩa mẹ) để so sánh với những sự vật, hình ảnh cụ thể (núi ngất trời, nước biển Đông), tác giả dân gian không chỉ đem đến cho ta nhận thức về nghĩa mẹ bao la, công cha vời vợi mà còn giúp ta cảm nhận về sự vĩnh hằng bất biến của công cha, nghĩa mẹ. Như núi cao kia, như nước biển kia đã có mặt và tồn tại ngàn đời trên trái đất, công cha, nghĩa mẹ hiện diện quanh ta từ lúc ta được làm người cho đến tận cùng của cõi người. Cách so sánh, ví von rất quen thuộc của ca dao xưa đã đem đến cho ta những nhận thức thật sâu sắc, thật thấm thía. Không chỉ thế ngọn núi cao và biển rộng còn được cụ thể hoá bằng những tính từ chỉ mức độ: núi – ngất trời biển rộng mênh mông. Cụ thể, hài hoà mà vẫn rất gợi cảm, và vì thế nó tác động mạnh vào nhận thức con người. Đỉnh núi cao loà nhoà ẩn hiện trong mấy kia liệu ta có đo nổi như chính công lao của cha làm sao ta kể hết? Biển mênh mông kia như lòng mẹ yêu ta có thể nào vơi cạn? Thật khéo léo và chính xác khi lựa chọn núi cao ngất trời và nước biển mênh mông để so sánh với công lao cha mẹ. Bời chỉ có những hình ảnh cao lớn, không cùng và sự tồn tại đời đời của nó mới xứng đáng để tả và diễn tả được đầy đủ, chính xác công sinh thành, dưỡng dục, thứ công lao không bao giờ tính đến được bằng giá trị vật chất, thứ công lao bất tử qua thời gian, năm tháng. Bằng hình ảnh so sánh xưa mà không cũ, bằng âm điệu ngọt ngào của lời hát ru, tác giả dân gian vừa khẳng định, vừa ca ngợi công lao cha mẹ. Lời ca ngợi không khố khan, nặng giáo huấn mà là tiếng nói của tấm lòng, tình cảm, tiếng nói tâm tình từ trái tim tìm đến với trái tim làm lay động lòng ta. Ngoài cách nói trên, ta còn bắt gặp nhiều bài ca dao khác cũng nội dung tương tự: Xem thêm: Nghị luận xã hội về gian lận trong thi cử Ơn cha nặng lắm ai ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang hay: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Và dù cách nói có chút khác nhau những câu ca dao ấy vẫn đem đến cho chúng ta cảm nhận sâu sắc về công cha, nghĩa mẹ. Tiếp tục dòng tâm tình ấy, tác giả dân gian đi đến cái kết rất tự nhiên nhưng vô cùng thấm thía: Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Cách sử dụng sáng tạo thành ngữ "chín chữ cù lao" để nhắc lại một lần nữa nỗi khó nhọc, vất vả của mẹ cha. Chín chữ ấy là: sính – đẻ, cúc – nâng đỡ, phủ – vuốt ve, súc – bú mớm, trưởng – nuôi lớn, dục – dạy dỗ, cố – trông nom, phục – theo dõi, phúc – giữ gìn. Thử hỏi có ai trong chúng ta không được cha mẹ giành cho những điều ấy, không chỉ góỉ gọn ở con số chín chữ bởi công lao cha mẹ là vô cùng, vô tận. Để rồi từ đó, ta nhận được lời nhắc nhở về thái độ và hành động của mỗi người: "ghi lòng con ơi". Lời nhắc nhở ngắn gọn mà thấm thía sâu sa, chân thành và có sức lay động lòng ta. Tác giả dân gian không nhắc ta phải trả công cho những hi sinh của cha mẹ, trả công cho những gì mà ta được đón nhận. Điều đó là không tưởng bởi trên đời này, chỉ tình cảm là thứ không bao giờ người ta đo đếm và sòng phẳng được với nó. Tình cảm của cha mẹ lại càng vô giá. Bởi vậy chỉ cần ghi lòng thôi nhưng đó là sự tạc ghi trong sâu thẳm tâm hồn không phai nhạt qua thời gian. Xem thêm: Gần cuối năm học, Ban Giám hiệu cần biết tình hình học tập, sinh hoạt và công tác của lớp trong hai tháng cuối năm. Em hãy thay mặt tập thể lớp viết văn bản gửi lên Ban Giám hiệu Giản dị mà sâu sắc. Nhẹ nhàng mà xuyên thấm, bài ca dao gieo vào lòng người cảm giác bâng khuâng, tác động vào trí tuệ người đọc để đi đến những nhận thức sâu sắc. Và dù tác động bằng con đường nào, bài ca dao ấy thực sự đã làm cho ta luôn "ghi lòng" công ơn cha mẹ. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về công ơn cha mẹ qua bài ca dao_ “Công cha như núi ngất trời. Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông. Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!”
1,256
Cảm nhận về giá trị hiện thực và nhân đạo trong bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ Gợi ý Đỗ Phủ là cây đại thụ của nền văn học cổ điển Trung Hoa, ông sống vào giai đoạn cực thịnh, sau đó là suy vong của đời Đường, nên đã chứng kiến tận mắt chiến tranh liên miên, thiên tai địch hoạ, bao cảnh thương tâm, khổ cực của dân chúng dưới chế độ phong kiến đương thời. Tất cả những cảnh ngộ éo le ấy có bản thân nhà thơ và được ghi lại đầy đủ và rõ nét trong hầu hết thơ của ông. Ngoài giá trị hiện thực lịch sử to lớn, thơ ông còn thể hiện cái nhìn yêu thương đối với nhân dân lao động. Bài Bài ca nhà tranh bị gió thu phá đã phản ánh được điều này. Bài thơ này được xếp vào những bài thơ hay nhất của ông. Vào những năm cuối đời sau khi đã nếm trải đủ những tủi cực, đắng cay của cuộc đời bôn ba thiên hạ. ông trở về sống ở Thành Đô, gia cảnh của ông vẫn cực khổ bần hàn, nghèo túng. Được bạn bè giúp đỡ, ông đã có một căn nhà tranh bên cạnh Khe Cán Hoa phía Tây Thành Đô. Căn nhà tranh ấy là đối tượng miêu tả trong sự chống đỡ, vật lộn với trận thu phong. Tháng tám, thu cao, gió thét già, Cuộn mất ba lớp tranh nhà ta Tranh bay sang sông rải khắp bờ Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa Mảnh thấp quay lộn vào mương xa. Đoạn thơ là bức tranh về một trận thu phong vào tháng tám gió thét già. Qua cách kể của tác giả ta hình dung trận gió thu rất mạnh, trong phút chốc những tấm tranh kia bị lật tung bay khắp mọi nơi. Có mảnh tốc bay cao, bay thấp, bay xa, bay gần rải khắp bờ, treo tót ngọn cành cây, quay lộn vào mương… Thật là trớ trêu cho cảnh ngộ của ông già Đỗ Phủ, ngước mắt nhìn theo những tấm tranh bị gió cuốn mà lòng xót xa và bất lực. Vậy là thiên nhiên vô tình cũng chẳng buông tha cho người áo vải bao năm tháng bôn ba mưu sinh giờ đây mới có được ngôi nhà tranh trú mưa trú nắng. Xem thêm: Viêt một bức thư ngắn gửi cho chị họ em ở quê Những năm đó loạn An – Sử vẫn còn rất khốc liệt, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, li tán, chết đói đầy rẫy. Nhà nhà, người người bị ném vào cuộc chiến tranh phi nghĩa. Có những gia đình mà đến hơn một nửa bị chết trong khói lửa sa trường. Van rằng: có ba trai Nghiệp thành đều đi thú Một đứa gửi thư nhắn Hai đứa vừa chết trận Đứa chết đành thôi rồi Đứa còn đâu chắc chắn. (Viên Lại ở Thạch Hào) Có ba trai phải tòng quân, hai đứa chết trận, đứa còn biết sống chết ra sao. Rồi cả bà lão đã gần đất xa trời cũng phải ra chốn Hà Dương. Nghèo khổ, túng bấn cả con dâu không còn quần áo lành lặn. Hiện thực xã hội là như vậy. Một xã hội mà đảo điên, loạn li như vậy thì chắc chắn đạo đức suy đồi xuống cấp nghiêm trọng. Căn nhà đã bị gió thu phá sạch, lũ trẻ thôn Nam nghịch ngợm quá kéo nhau đến cướp tranh đi mất. Nhà thơ già yếu, chân chậm mắt kém làm sao đuổi được. Môi khô, miệng cháy gào chẳng được Quay về, chống gậy lòng ấm ức! Cảnh ngộ cười ra nước mắt, chống gậy quay về ngôi nhà tuềnh toàng mà lòng đau đớn, xót xa. Những bước chân mỏi mệt, đắng cay và bất lực, tràn lên tận cuống họng mà không nói thành lời. Trong lòng tác giả đang oán hận và trách móc, có chăng lũ trẻ tinh nghịch, đói nghèo thất học tràn lan. Lấy ai nuôi dạy chúng khi: Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ, Mờ cõi nhà Vua ý chưa bỏ…! Hay: … Cửa son rượu thịt ôi, Ngoài đường, xuơng chết đuối! Sự trớ trêu trong cảnh ngộ của Đỗ Phủ không chỉ là thu phong tốc mái căn nhà tranh mà về đêm thêm một tai hoạ mới. Mưa thu dầm dề, sùi sụt, dai dẳng kéo dài suốt đêm, kéo theo cái lạnh càng thêm lạnh. Nhà dột lung tung khác chi ở ngoài trời, chăn, mền cũ, bị con quẫy đạp rách. Mãi chưa sáng… mưa mãi không tạnh… làm sao nhà thơ có thể ngủ được, ông trằn trọc suốt đêm trong mệt mỏi, đói rét, lo lắng, buồn rầu, thương vợ, thương con. Xem thêm: Mở đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử viết: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Đây là lời của ai? Có người cho rằng câu hỏi đó đã được nhà thơ trả lời bằng 11 câu thơ tiếp theo của tác phẩm. Ý kiến anh (chị) như thế nào? Hãy phân tích bài thơ để làm sá Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê, Đêm dài ướt át sao cho trót. Đêm dài như dài thêm, ông già cũng chỉ đành cay đắng, ấm ức và bất lực ngồi đếm từng nhịp trống canh. Ta thấy hiện lên trên khuôn mặt nhà thơ sự đau khổ, cay đắng. Một kẻ sĩ có học thức mà công danh thì lận đận, cuộc đời thì long đong, túng bấn khổ cực. Ông trách mình đã chẳng giúp gì cho vợ con và gia đình trong cảnh nghèo khổ ấy. Băn khoăn trăn trở hơn là kẻ sĩ mà chẳng giúp gì được cho đời, chiến tranh liên miên, dân chúng loạn lạc cực khổ. Càng nghĩ ông càng phê phán và lên án chiến tranh, lên án xã hội phong kiến gây bao cảnh đời vất vả như chính gia đình tác giả. Nỗi khổ về vật chất và tinh thần của Đỗ Phủ cũng là cái khổ chung của nhân dân lao động, của các nhà thơ, trí thức đời đó. Sự khốn cùng của gia đình tác giả là chứng tích cho một thời kì lịch sử xã hội Trung Quốc hay đó chính là xã hội thời Đường thu nhỏ lại. Chỉ đơn thuần là nhà bị gió phá, mưa dốt nghèo túng nhưng bài thơ có giá trị hiện thực to lớn, phản ánh nhiều mặt đang nóng bỏng của xã hội Trung Quốc lúc đó. Những nỗi đau của dân đen ông cũng đã từng chứng kiến nếm trải để rồi từ hiện khát vọng hoà bình, dân chúng ấm no: Ước được nhà rộng muôn ngàn gian Xem thêm: Hãy tường thuật lại một tiết Văn mà em thích nhất Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn! Than ôi! bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được! Cùng với giá trị hiện thực sâu sắc của bài thơ, khổ thơ cuối thể hiện sâu sắc khát vọng cao đẹp, ước mơ cao cả, vị tha. Nhà mình thì dột nát, sắp đổ đến nơi, biết bao giờ dựng lại được? Vậy mà ông luôn nghĩ tới tương lai, không hề nghĩ cho mình, gia đình, lại nghĩ đến ngôi nhà chung, to cao, rộng rãi, vững chắc muôn nghìn gian, bất chấp mưa nắng, vững như thạch bàn dành cho muôn nghìn dân đang đói rách, cơ cực bần hàn trú ngụ. Dù đau khổ chất chồng, nhưng không dập tắt được nhân tính, không làm mất được niềm tin, con người không bị hoàn cảnh đè bẹp mà ngạo nghễ vượt lên trên hoàn cảnh. Thương người là nhân, yêu người là ái. Lòng nhân ái của Đỗ Phủ thật cảm động và thiết thực cụ thể. Điều cao cả và đáng kính trọng hơn nữa là ở chỗ mơ ước ấy mang tinh thần vị tha tới mức xả thân vì người khác, ông vui lòng chịu chết cóng, chết rét để có được ngôi nhà trong mơ ấy. Thực tế xưa nay không có ngôi nhà rộng muôn ngàn gian như thế. Khổ thơ được sáng tạo bằng biện pháp tu từ so sánh và thậm xưng để diễn tả ước mơ to lớn và cảm hứng lãn mạn dạt dào, làng sáng bừng lòng nhân ái bao la của một con người từng trải qua bao bất hạnh giữa thời loạn lạc. Vì vậy nhà thơ mong mỏi ai ai cũng được sống cuộc sống yên ấm hạnh phúc. Dù đã qua đi hơn mười hai thế kỉ nhưng bài thơ này vẫn giữ được cho mình chỗ đứng trong trái tim mỗi chúng ta bởi vì giá trị hiện thực và tính nhân đạo bao la luôn toả sáng trong đó. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về giá trị hiện thực và nhân đạo trong bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ
1,493
Cảm nhận về hình ảnh con cò trong một số bài ca dao, dân ca mà em biết Gợi ý Ca dao dân ca Việt Nam nhiều lần nhắc đến con cò, cái cò bay lả bay la, cái cò lặn lội bờ sông… cái cò gần gũi và quen thuộc, hiền lành và chịu khó, gắn với dân cày ta. Cánh cò là hình ảnh quê hương. Đàn cò là hình ảnh thân thuộc của quê ta, sớm sớm chiều chiều cánh cò trắng nổi bật trên nền xanh của ngô, lúa, nương dâu. Cánh cò tô một vẻ đẹp của cảnh làng xóm thanh bình: Con cò bay lả bay la Bay từ cửa phủ, bay ra cánh đồng Non cao, biển rộng, sông dài, đâu đâu trên đất nước ta cũng có hình ảnh con cò thân thuộc. Hình ảnh con cò được nâng lên thành biểu tượng cho những đức tính tốt đẹp của người nông dân như siêng năng, cần mẫn, lam lũ, chịu khó, hiền lành, chất phác… Có được hạt gạo dẻo thơm thì phải một nắng hai sương, đắng cay muôn phần thấm bao mồ hôi. Cuộc sống của họ chẳng khác nào: Con cò đi đón cơn mưa Tối tăm mù mịt ai đưa cò về Cò về đến lũy cò ơi Con mày bỏ đói ai nuôi hỡi cò! Cuộc đời của cò thật sương gió, bầy con nheo nhóc bơ vơ. Con cò vừa chịu thương chịu khó nhưng cuộc đời đầy cám cảnh cò ơi! Người nông dân thức khuya dậy sớm lam lũ trong cảnh: Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Rồi bới đất vặt cỏ mà vẫn lam lũ. Cuộc sống cái cò cũng vậy: Trời mưa quả dưa vẹo vọ Con ốc nằm co Con tôm đánh đáo Con cò kiếm ăn Quả dưa, con ốc, con tôm, con cò là những tạo vật, là cách nói so sánh ví von về những con người trong xã hội cũ. Trong mưa gió hình như quả dưa trở nên biến dạng méo mó vẹo vọ, con ốc nằm co, con tôm gặp mưa bật nhảy lên đánh đáo. Chỉ riêng có cái cò là vẫn chủ động trong công việc của mình là kiếm ăn. Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng hay nhất Cái cò, không hẳn chỉ nói về số phận long đong vất vả mà còn là đại diện cho tầng lớp dân nghèo thấp cổ bé họng quanh năm tần tảo làm ăn. Đôi khi cái cò cũng là nguồn cảm hứng ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu trai gái thắm thiết thủy chung trên ruộng lúa nương dâu, bên giếng nước gốc đa, sân đình những đêm trăng sáng… Nhìn bầy cò chao liệng trên đồng quê, họ hát lên những câu hát giao duyên tình tứ, gửi gắm nỗi nhớ thương niềm mơ ước về hạnh phúc lứa đôi: Một đàn cò trắng bay quanh, Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta Mình nhớ ta như cà nhớ muối Ta nhớ mình như Cuội nhớ trăng Loan nhớ phượng, mình nhớ ta… là những mối tình quê thật đẹp. Họ ước mơ đoàn tụ, sống bên nhau thủy chung son sắc cả cuộc đời. Nhìn bầy cò gần gũi, khăng khít với nhau trong cuộc sống, họ liên tưởng và ước mơ một cuộc sống gia đình hạnh phúc. Cuộc sống của bầy cò cũng hồn nhiên, chất phác, đậm đà chất dân quê như chính những con người lao động vậy. Gặp lúc chiến binh trai tráng trong làng tòng quân đi đánh giặc bảo vệ hòa bình cho quê hương xóm làng. Ra đi bỏ lại sau lưng quê nghèo nương lúa bờ tre thân thuộc. Đặc biệt, trong mỗi gia đình họ bỏ lại vợ trẻ con thơ. Hình ảnh con cò lặn lội, đi xúc tép, lên thác xuống ghềnh tượng trưng cho những cảnh đời lận đận, những đức tính tần tảo, siêng năng, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam xưa và nay. Con cò lặn lội bờ sông Xem thêm: Tường thuật lại một chuyến đi chơi ở cồn Rồng, Bến Tre Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay Ai làm cho bể kia đầy Cho ao kia cạn, cho gầy cò con! Những năm trước Cách mạng tháng Tám, đời sống nhân dân ta vô cùng cực khổ. Sau lũy tre làng là những chị Dậu long đong lận đận trong sự vật lộn với miếng cơm manh áo. Có biết bao nước mắt đã chảy, một đời cò! Họ là những thân cò không hơn không kém, nước mắt nỉ non trên vai gánh nặng quá sức hỏi rằng: cò ơi chịu được hỡi cò? Những tiếng khóc than, ai oán như vọng vào năm tháng?. Nhìn bầy chim hiền lành cùng kiếm ăn trên đồng ruộng: con cò, con vạc, con nông, giữa chúng có một tình bạn cay đắng ngọt bùi cùng san sẻ. Nhìn bầy chim ấy họ như thấy chúng đang trò chuyện với nhau, tâm sự cùng nhau về những ước mơ trong cuộc sống. Chúng là hiện thân cho tình làng nghĩa xóm, tình bè bạn tương thân tương ái. Cái cò, cái vạc, cái nông Ba con cùng béo vặt lông con nào Cuộc sống và số phận của cò trải bao trắc trở, nó không đơn thuần là sự khó khăn vất vả trong sinh nhai, mà với cò tai họa có thể rình rập, hoạn nạn xảy ra thường xuyên: Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mèm lộn cổ xuống ao Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con Tiếng kêu cứu của cò trong đêm sao mà tha thiết thế. Tiếng kêu ấy cũng ai oán như tiếng kêu của những người dân hiền lành lương thiện dưới ách áp bức, bóc lột của bọn cường hào địa chủ. Nhưng điều làm cho ta cảm động là phẩm chất trong sáng cao quý thà chết trong còn hơn sống đục, trong sạch giữa cuộc đời cay đắng. Xem thêm: Giới thiệu một di tích lịch sử văn hoá của thủ đô Hà Nội Cay đắng hơn trong đám tang con cò, cuộc đời hắt hiu nghèo khổ của những người nông dân một thời lam lũ lại hiện ra: Cái cò chết tối hôm qua Có hai hạt gạo với ba đồng tiền Một đồng thuê trống, thuê kèn, Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong. Một đồng mua mớ rau răm, Đem về thái nhỏ thờ vong con cò. Cuộc sống bế tắc, túng bấn tưởng như không bao giờ ngóc đầu lên được. Những tiếng than thờ, những giọt nước mắt trong số phận bi thảm là những cảnh đời, những số phận của người nông dân xưa. Qua những dòng thơ về đám ma cò chính là biểu hiện lẽ sống có tình có nghĩa vẹn tròn sau trước. Ngoài ra còn một số bài ca dao trào phúng mượn hình ảnh con cò để chế giễu những thói hư tật xấu trong nhân dân. Hay ăn quà như: con cò kì, thô bạo như con cò quăm. Những bài ca dao này có tác dụng giáo dục sâu sắc: Cái cò là cái cò quăm Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai Có đánh thì đánh sớm mai, Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm. Con cò trong ca dao dân ca là hình ảnh quen thuộc, nó gắn liền với tâm hồn nhân dân ta. Cái cò đáng yêu, hiền lành in đậm vào mỗi người dân Việt Nam. Đồng xanh như không thể vắng bóng cò bay là bay la rập rờn cũng như cuộc đời không thể thiếu lời ru của bà của mẹ. Từ cánh cò trong ca dao giúp ta thêm yêu cuộc sống của người nông dân chân lấm tay bùn. Tất cả đã gắn bó với chúng ta như máu thịt: Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều. (Nguyễn Đình Thi) Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về hình ảnh con cò trong một số bài ca dao, dân ca mà em biết
1,362
Cảm nhận về hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trong bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Gợi ý Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về im lặng con chim hót Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ Đó là những vần thơ của Tố Hữu viết về giây phút kì diệu, Bác trở về sau ba mươi năm bôn ba nước ngoài tìm đường đi cho dân tộc. Mùa xuân năm 1941 Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Căn cứ địa Việt Bắc được chọn làm thủ đô kháng chiến. Trong chiến dịch Thu Đông 1947 ta thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc. Cùng thời gian này Bác Hồ viết bài thơ Cảnh khuya. Bài thơ tả cảnh núi rừng Việt Bắc trong đêm trăng đẹp và thể hiện ý chí chiến đấu vì dân tộc của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Cảnh rừng việt Bắc được mở ra bằng tiếng suối êm đềm trong mát rì rầm ngày đêm vọng đến. Trong đêm thanh vắng, tiếng suối nghe rõ lắm. Tiếng du dương huyền diệu được tác giả cảm nhận như tiếng hát xa. Đây chính là nét nghệ thuật "lấy động tả tĩnh", chỉ có âm thanh của suối chảy trong đêm mọi vật chìm trong giấc ngủ, trong chiến trường máu lửa mà có tiếng suối chảy êm ái như vậy thật là tuyệt vời làm sao. Tiếng suối không đơn thuần là dòng chảy tự nhiên mà nó mang hơi ấm con người. Khi người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi lui về ở ẩn tại Côn Sơn cũng đã có những cảm nhận rất tinh tế: Xem thêm: Bình giảng bài thơ "Vịnh khoa thi Hương” của Tú XươngCôn Sơn suối chày rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Tiếng suối nghe như tiếng đàn cầm, bản nhạc đưa hồn con người ta vào cõi mông lung, cả hai nhà quân sự, chính trị tuy thời gian sống khác nhau nhưng có những cảm nhận hết sức tinh tế về âm thanh của tiếng suối trong đêm khuya. Sau âm thanh của tiếng suối là ánh trăng chiến khu. Ánh trăng bao phủ khắp không gian, ánh trăng lồng vào cổ thụ, như hòa quyện vào cảnh vật trần gian. Trăng được nhân hóa, được nhắc lại khiến bức tranh, cảnh đẹp đêm trăng lộng lẫy hơn, thơ mộng hơn. Gợi cho ta nhớ đến những câu thơ trong Chinh phụ ngâm: Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông, Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng… Hai vế đối nhau trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa tạo cho cảnh vật sự cân xứng hài hòa. Bức tranh đêm chiến khu thật đẹp đầy chất thơ. Thi sĩ với tâm hồn thanh cao đang tận hưởng những giây phút thần tiên của thiên nhiên. Người nghệ sĩ thổn thức lòng mình trước cảnh đẹp đêm trăng, say sưa ngây ngất: Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Chưa ngủ để ngắm trăng, chưa ngủ để lo nỗi nước nhà. Thơ xưa nói nhiều về trăng các thi nhân thường tìm đến chốn lâm tuyền lánh đục, tránh cuộc đời bụi bặm bon chen nhưng Bác Hồ của chúng ta tìm nơi thiên nhên để sống giữa thiên nhiên, để hoạt động cách mạng – bởi Bác là chiến sĩ cộng sản: Xem thêm: Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của emBàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang (Tức cảnh Pắc Bó) Sống giữa thiên nhiên bao la bát ngát, say đắm trong ánh trăng nhưng chính trong sự say đắm đó vẫn là đàm quân sự lãnh đạo con thuyền cách mạng của nước nhà. Trong bài thơ này có đầy đủ các yếu tố của một bài thơ cổ thi: có suối, có trăng… Nhưng trong cái cổ đó lại có cái chất hiện đại, chất thép – người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Đêm trăng nơi chiến khu Việt Bắc thật là đẹp, ngồi ngắm trăng mà lòng tê tái trước nước nhà còn lầm than nô lệ vì lẽ đó nên người: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Chất thép của người chiến sĩ cộng sản còn được thể hiện khá sâu sắc khi bị giam trong tù ngục: Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ (Ngắm trăng) Người thi sĩ cũng không thể hững hờ trước cảnh đẹp đêm nay, và như vậy ánh trăng đã chủ động tìm đến với thi nhân, vầng trăng dường như biết được và ghi lại tâm trạng băn khoăn thao thức của thi nhân. Tâm trạng đó chính là nỗi nước nhà đang canh cánh bên lòng. Đêm nay nơi núi rừng chiến khu Việt Bắc, vẫn là ánh trăng ấy, ánh trăng vẫn vằng vặc trên bầu trời, nhưng trăng có biết không trời Nam đang lầm than nô lệ muốn thảnh thơi mà thưởng ngoạn trọn vẹn cảnh đẹp đêm nay sao thể yên lòng. Trong lòng người thi sĩ ấy đang chất chứa bao nỗi niềm, nỗi niềm lo cho nước cho dân. Đây chính là chất "thép”, chất chiến sĩ mà Bác Hồ đã từng nhắc đến: Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích và đánh giá những tìm tòi sâu sắc về tư tưởng và những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật của Nam Cao trong truyện ngắn Chí PhèoThơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong Vẻ đẹp người chiến sĩ cộng sản hiện lên trong bài thơ Cảnh khuya thật đẹp, thật ngạo ngữ. Bác Hồ vừa có tâm hồn thi sĩ lại vừa có cốt cách của người chiến sĩ. Bác của chúng ta là như vậy, yêu thiên nhiên, chan hòa với thiên nhiên nhưng cũng yêu nước thương dân tha thiết. Bài thơ là bức tranh tràn ngập ánh tráng nơi núi rừng Việt Bắc – nơi ấy người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về hình ảnh người chiến sĩ cộng sản trong bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
1,084
Cảm nhận về hình ảnh quê hương đất nước qua ca dao, dân ca Gợi ý Hình ảnh quê hương đất nước in dấu đậm đà trong ca dao, dân ca. Đọc ca dao, dân ca, ta cảm thấy tâm hồn nhân dân ôm trọn bóng hình quê hương đất nước. Mỗi vùng quê có một cách nói riêng, cảm nhận riêng về sự giàu đẹp của nơi chôn rau cắt rốn của mình. Đọc những bài ca ấy, chúng ta như vừa được đi tham quan một số danh lam thắng cảnh đặc sắc của đất nước từ Bắc vào Nam. Với nhân dân ta, quê hương là nơi quê cha đất mẹ, là cái nôi thân thiết, yêu thương. Quê hương là mái nhà, luỹ tre, cái ao tắm mát, là sân đình, cây đa, giếng nước, con đò, là cánh đồng xanh, con cò trắng, cánh diều biếc tuổi thơ. Đất nước với quê hương chỉ là một, là cơ đồ ông cha để lại, là núi sông hùng vĩ thiêng liêng. Quê hương đất nước được nói đến trong ca dao, dân ca đã thể hiện biết bao tình cảm yêu thương, tự hào của nhân dân ta từ bao đời nay. Đất nước ta nơi nào cũng đẹp. Cảnh trí non sông như gấm như hoa; sản phẩm phong phú, con người cần cù, thông minh sáng tạo đã xây dựng quê hương đất nước ngày thêm giàu đẹp. Lên ải Bắc đến thăm Chi Lăng, núi trập trùng cao vút tầng mây, nơi Liễu Thăng bỏ mạng. Ta đến thăm thành Lạng, soi mình xuống dòng sông xanh Tam Cờ, thăm chùa Tam Thanh, đến với nàng Tô Thị trong huyền thoại: Xem thêm: Nêu cảm nghĩa của em về bài thơ “Rằm tháng Giêng” (Nguyên Tiêu) của Hồ Chí Minh Ai ơi, đứng lại mà trông Kìa núi Thành Lạng, kìa sông Tam Cờ Đồng Đăng có phố Kì Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh Hai tiếng ai ơi mời gọi vang lên. Chữ "kia", chữ "có" được nhấn đi nhấn lại biểu thị niềm tự hào của bà con xứ Lạng đang say sưa ngắm nhìn và đưa tay chỉ về từng ngọn núi, con sông, ngôi chùa, dấu tích của bức thành cổ… Các tên núi tên sông được nhắc đến, biểu lộ niềm tự hào của nhân dân ta về một chiến công, một vùng đất được coi là linh địa (vùng đất thiêng) gắn liền với một anh hùng dân tộc, với một huyền tích kì diệu: Nhất cao là núi Ba Vì, Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn. Sâu nhất là sông Bạch Đằng, Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan. Cao nhất là núi Lam Sơn Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra. Ai đã từng đến thăm Bắc Cạn, ngồi thuyền độc mộc du ngoạn trên hồ Ba Bể, ngắm thác nước trắng xoá vắt ngang sườn núi, nghe vượn hót trong ánh tà dương, gặp cô nàng áo xanh đi hái măng trở về… Câu ca như mời gọi với bao tình thân thương: Bắc Cạn có suối đãi vàng, Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh. Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội là trái tim của đất nước ta, nơi ngàn năm văn vật. Kinh thành xưa nổi tiếng phồn hoa: Xem thêm: Giải thích câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”- văn lớp 7 Phồn hoa thứ nhất Long Thành Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ Cầu Thê húc, chùa Ngọc Sơn, Tháp Bút, Đài Nghiên, hồ Hoàn Kiếm… mỗi thắng cảnh là một di tích gợi nhớ về cội nguồn hoặc nói lên một nét đẹp của nền văn hiến Đại Việt, để ta yêu quý, tự hào về Kinh thành xưa: Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn. Đài nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai xây dựng nên non nước này? Qua xứ Nghệ vào miền Trung, ta vô cùng tự hào về đất nước đẹp tươi hùng vĩ. Non xanh nước biếc một màu trải dài mở rộng bát ngát như vẫy gọi: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ. Hãy đến với Huế đẹp và thơ, ngắm sông Hương, núi Ngự Bình, nghe giọng hò dịu ngọt, đến chơi hồ Tĩnh Tâm, tham gia lăng tẩm vua chúa nhà Nguyễn, và những ngôi chùa cổ kính, uy nghiêm: Đông Ba, Gia Hội hai cầu Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông. Vượt qua đèo Hải Vân đến thâm khu Năm, đến với Đồng Nai, Nam Bộ mến yêu. Đất nước ta bao la một dải: Hải Vân bát ngát nghìn trùng Hòn Hồng ở đấy là trong Vịnh Hàn, Nhà Bè nước chảy phân hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh. Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm. Xem thêm: Nhà văn Nguyễn Bá Học có nói: "Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Em hiểu câu nói đó như thế nào? Hãy giải thích và chứng minh Ca dao dân ca nói lên bao nỗi nhớ đất nước quê hương. Càng yêu quê hương nhiều thì mỗi khi đi xa lại nhớ quê nhiều lắm. Nhớ Phong Châu là nhớ ngày giỗ Tồ mồng mười tháng ba. Nhớ Đồ Sơn là nhớ lễ hội dân gian Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về. Quê hương sâu nặng nghĩa tình. Anh đi Bình Định thăm cha, Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em. Ca dao nói về tình yêu quê hương đất nước vô cùng phong phú và gợi cảm. Mỗi chốn quê là một bức tranh đẹp nên thơ. Mến thương, tự hào, thương nhớ là những tình cảm sâu nặng của nhân dân ta gửi gắm qua những vần ca dao ngọt ngào sâu lắng về đất nước quê hương. Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết: Quê hương là gì hở mẹ Mà cô giáo dạy phải yêu…? Hình ảnh quê hương đất nước trong ca dao dân ca đã giúp ta hiểu sâu ý thơ trên. Ca dao dân ca như dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn ta. Ta cảm thấy tâm hồn mình lớn lên cùng đất nước quê hương, cùng ca dao dân ca. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về hình ảnh quê hương đất nước qua ca dao, dân ca
1,041
Đề bài: Cảm nhận về hình ảnh Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mơ Tao, Mơ Xây Đoạn trích "Chiến thắng Mtao-Mxây" không khép lại bằng cái chết mà là sự tưng bừng của chiến thắng, sự lớn mạnh của một cộng đồng và uy danh vang dội của người anh hùng Đăm Săn. Người anh hùng sử thi là trọng tâm miêu tả của bức tranh hoành tráng. Tầm vóc lẫn chiến công của chàng trùm lên toàn bộ chiến công, toàn bộ thiên nhiên và xã hội Ê- đê. Trong quan niệm của người dân tộc Ê-đê, cuộc chiến từng đóng vai trò là “bà đỡ lịch sử” khiến cho cộng đồng ngày càng phát triển, ngày càng có cuộc sống ấm no, thịnh vượng. Trong sự phát triển ấy, người anh hùng có vị trí hết sức lớn lao tầm cỡ. Sau mỗi chiến công của người anh hùng là một lễ ăn mừng hoành tráng của cộng đồng để suy tôn, ca ngợi cũng như thể hiện niềm vui về sự no đủ, đông đúc mỗi ngày. Sau chiến thắng oanh liệt trước tù trưởng Mtao-Mxây, Đăm Săn đã trở thành người anh hùng giàu có, hùng mạnh nhất. Tôi tớ theo về “đặc như bầy cà tong”, của cải đưa về “nhiều như ong đi chuyển nước”. Tràn ngập trong niềm vui, Đăm Săn đã cho toàn bộ tộc ăn mừng chiến thắng. Tiếng tuyên bố mở hội dõng dạc vang vọng của chàng khiến cho khắp rừng núi âm vang trong không khí háo hức. Cả cộng đồng người Ê-đê và ngừơi Ê-ga được tái hiện sinh động đầy sức sống. Và sừng sững trong xã hội ấy, là nét đẹp vừa hoành tráng, vừa lãng mạn của người anh hùng Đăm Săn. Nét đẹp được ghi nhận trước tiệc của Đăm Săn trong lễ ăn mừng chính kà nét đẹp về ngoại hình và sức mạnh. Chàng được miêu tả với vẻ đẹp và sức mạnh của một vị thần. Người Ê-đê, Ê-ga ca ngợi Đăm Săn là một dũng tướng chắc chết mười mươi cũng không lùi bước. "Mình quấn chéo một tấm mền chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghêng ngang đủ giáo gươm, đôi mắt long lanh như chim, bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc". Bằng nghệ thuật miêu tả, so sánh gần gũi, cụ thể với nhiều chi tiết hết sức sinh động, kết hợp với nghệ thuật ttì hoãn sử thi và cách nói phóng đại sử thi, người dân Tây Nguyên đã biến người anh hùng của họ thành một vị thần với tất cả sức mạnh hội tụ từ núi rừng, vũ trụ. Sức mạnh của chàng được so sánh với những gì mạnh nhất, đẹp nhất của thiên nhiên. Vốn ngang tàng từ trong bụng mẹ, trải qua bao cuộc chiến, Đăm Săn đã lớn lên và trở thành chiến thần. Chàng có tất cả vẻ đẹp cũng như sức mạnh của thần linh qua trí tưởng tượng bay bổng kì diệu và lòng mến yêu vô hạn của người Tây Nguyên. Không chỉ có sức mạnh dũng mãnh chàng còn có vẻ đẹp lãng mạn: “chàng nằm trên võng, tóc thả trên sàn, hứng tóc chàng ở dưới đất là một cái nong hoa, đầu đội khăn nhiễu, vai mang mũ hoa, chàng ăn không biết no, uống không biết say, trò chuyện không biết chán”. Toát lên từ câu chữ một chàng Đăm Săn hoà đồng vui vẻ. Không hề phân biệt địa vị cao thấp giàu hèn. Đăm Săn là biểu tượng cho hài hoà giữa cái đẹp dữ dội của núi rừng, vũ trụ với cái đẹp êm ả lãng mạn của tâm hồn người Tây Nguyên. Cái đẹp ấy vừa có sự cao cả, kì vĩ của người anh hùng lại vừa có nét kì diệu, đậm đà bản sắc Tây Nguyên. Xem thêm: Bày tỏ thái độ của mình trước những mảnh đời bất hạnh và đói nghèo còn tồn tại trong xã hội ta.Không chỉ hiện lên với vẻ đẹp của sức mạnh và hình thể, Đăm Săn còn hiện lên trong lễ ăn mừng, ở vẻ đẹp của lòng tôn kính tổ tiên, thần linh, lòng hiếu khách, một tâm hồn thuỷ chung, phóng khoáng rộng rãi. Sau chiến thắng, Đăm Săn không quên sai tôi tớ làm lễ cảm tạ tổ tiên và thần linh đã giúp cho chàng chiến thắng, đã giúp bộ tộc của chàng ngày một vững mạnh giàu có. "Ơ các con, ơ các con, hãy đi lấy rượu bắt trâu, rượu năm ché, trâu bảy con để dâng thần, rượu bảy ché, lợn thiến bảy con cầu cho ta được bình yên vô sự, nạn khỏi tai qua, lớn lên như sông nước, cao lên như cây rừng, không còn ai bì kịp”. Cách Đăm Săn sai tôi tớ sắm đồ lễ cúng tế chứng tỏ lòng thành kính sâu sắc với thần linh, tổ tiên của chàng. Nó cũng chính là tiếng nói tín ngưỡng của cả cộng đồng dân tộc Ê đê. Sau khi làm lễ tạ khấn thần linh, tổ tiên Đăm Săn đã mời tất cả anh em, bạn bè, tôi tớ ăn uống: “hỡi anh em trong nhà, hỡi bà con trong làng, xin mời tất cả đến với ta, chúng ta sẽ mở tiệc ăn mừng năm mới…”. Tiếng mời chào sang sảng như chính tấm lòng hào hiệp của chàng Đăm Săn. Chàng đã thiết đãi bạn bè, dân làng bằng những vật chất đầy đủ sang trọng, bằng niềm vui thân ái, khiến cho “cả một vùng nhão ra như nước” vui tới mức “lươn trong hang, giun trong bùn, rắn hổ, rắn mai đều chui lên nằm trên cao sưởi nắng, ếch nhái dưới gầm nhà, kì nhông ngoài bãi thì kêu inh ỏi suốt ngày đêm”. Bạn bè của chàng đông đúc: “Các cô gái đi lại vú đụng vú, các chàng trai đi lại ngực đụng ngực”. Không khí ăn mừng như thế này bây giờ mới có. Bởi bây giờ người Ê đê mới có người thủ lĩnh anh hùng dũng cảm, hào hiệp đến thế. Đó chính là niềm tự hào sâu sắc của người dân Ê đê về vị tù trưởng Đăm Săn. Cách xây dựng hình tượng đẹp đẽ lớn lao của người anh hùng trong không khí đông vui nhộn nhịp, lớn mạnh của cộng đồng là một đặc điểm nổi bật của sử thi Tây Nguyên. Người anh hùng sử thi được toàn thể cộng đồng suy tôn tuyệt đối. Qua người anh hùng ta thấy được sự phát triển, ý chí thống nhất của toàn thể cộng đồng Ê đê – một biểu hiện quan trọng của ý thức dân tộc. Nguồn Edufly Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất
Cảm nhận về hình ảnh Đăm Săn trong đoạn trích Chiến thắng Mơ Tao, Mơ Xây
1,182
Cảm nhận về kè phản bội nhục nhã Va-ren trong truyện ngắn Những trò lố hayVa-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc Gợi ý Nguyễn Ái Quốc là tên dùng chủ yếu trong quãng đời hoạt động cách mạng trước 1945 của Hồ Chí Minh, lãnh tụ cách mạng Việt Nam. Người còn là một nhà văn, nhà thơ lớn. Trong thời kì hoạt động cách mạng ở Pháp, Nguyễn Áí Quốc viết nhiều truyện ngắn, bài báo bằng tiếng Pháp, nhằm vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân, nói lên tình cảnh thống khổ và ca ngợi tinh thần đấu tranh của nhân dân các thuộc địa. Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu được viết nhân dịp Va-ren – một chính khách Pháp, nguyên là đảng viên đảng Xã hội Pháp nhưng đã phản bội lí tưởng của đảng – sang nhận chức toàn quyền ở Đông Dương và hứa sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu. Khí đó, nhà yêu nước Phan Bội Châu mới bị bắt giam và cả nước đã dấy lên phong trào đấu tranh rộng khắp đòi trả tự do cho cụ. Bài viết của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Người cùng khổ, tờ báo bằng tiếng Pháp, do Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí của Người sáng lập, số 36 – 37, ra tháng 9, 10 năm 1925. Hình tượng nhân vật Va-ren ta càng hiểu rõ bộ mặt phản bội nhục nhã và tính cách lừa bịp giả dối của hắn. Bằng trí tường tượng phong phú, tác giả hình dung những trò lố của Va-ren nhân dịp ông ta nhậm chức toàn quyền ở Đông Dưng. Trò lố đầu tiên diễn ra khi Va-ren, một viên chức cao cấp đứng đầu bộ máy cai trị của Pháp tại Đông Dương gồm ba nước việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, bắt đầu đến nhậm chức. Va-ren hứa chăm sóc vụ Phan Bội Châu, khi nào ông ta yên vị thật xong xuôi ở Đông Dương. Lời hứa ấy chỉ là lời hứa suông để làm dịu dư luận, làm dịu không khí đấu tranh đang sôi nổi. Va-ren là một kẻ nham hiểm, xảo quyệt, lời hứa nửa chính thức đó chỉ có được do sức ép của công luận ở Pháp và Đông Dương. Nói khác đi đó là một lời hứa gượng ép, miễn cưỡng và qua câu văn giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền ở Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, tác giả đã tò ý rất hoài nghi việc thực hiện lời hứa này. Nhưng phải còn lâu, vì ông ta mới xuống tàu, mà đừng bể kéo chừng bốn tuần lễ cơ. Trong khi đó, Phan Bội Châu vẫn bị giam trong tù.Xem thêm: Viết đoạn văn nêu rõ vai trò của sách đốì với đời sống con người Tiếp theo, ta chỉ thấy hắn được chăm sóc. Hắn đến Sài Gòn, được tiếp rước hết sức linh đình trong nhiều buổi chiêu đãi đầy rẫy những lời chúc tụng tôn kính nhất. Về ngoại hình, hắn sẽ xuất hiện trước mắt dân Việt Nam thuộc địa với cái mũ hai sừng trên chóp sọ, với cái áo dài đẹp, Với những lời diễn thuyết hùng hồn, với đôi bắp chân bọc ủng, với chiếc ô tô sang trọng chạy giữa hai hàng người khom lưng và cùng rào rào chào hắn: "Lạy quan lớn! Bẩm lạy quan lớn ạ!". Hắn thật là oai vệ, thật là đáng tôn đáng kính! Tuy nhiên, cũng có những người tỏ ý chê bai, căm ghét hắn qua lời nhận xét về gương mặt của hắn: Rậm râu sâu mắt. Đó là tướng mạo của một tên tướng cướp, của một kẻ bất lương. Chỉ ra một nhận xét này thôi, hắn đã hiện nguyên hình là một tên thực dân cướp nước cáo già. Trong khi đó, Phan Bội Châu vẫn nằm tù. Sau những buổi chiêu đãi, những cuộc tiếp rước, những cuộc tuần du, hắn sẽ còn phải đi từ Sài Gòn ra Huế, vào thăm triều đình nhà Nguyễn, ăn yến với vua Khải Định, đón nhận Nam Long bội tinh cao quý do chính bàn tay nhà vua gắn cho. Rồi từ Huế hắn đi ra Hà Nội. Cuộc hành trình này thật chẳng mau lẹ gì. Trong khi hắn dềnh dàng tiến hành những việc đó thì cụ Phan Bội Châu vẫn được "nghỉ ngơi" trong ngục, ý này được nhắc đi nhắc lại ba lần: Phan Bội Châu vẫn bị giam trong tù. Trong khỉ đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù. Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù. Cách viết đối chiếu hai sự việc, hai con người mang ý nghĩa hết sức mỉa mai, nêu bật tâm địa xảo quyệt của Va-ren. Hắn cố kéo dài thời gian giam hãm cụ Phan Bội Châu như thế để uy hiếp tinh thần cụ, để buộc cụ phải giảm bớt ý chí đấu tranh. Và cuối cùng sự nham hiểm, xảo quyệt của hắn đã bộc lộ một cách sâu sắc và rõ nét nhất qua những lời hắn nói với cụ Phan Bội Châu. Thực là tồi tệ, hắn đã tự nhận mình là một kẻ phản bội lại lí tưởng cách mạng của đảng Xã hội Pháp đang đấu tranh cho công bằng, dân chủ và quyền sống tự do của con người, của các dân tộc. Hắn chấp nhận trở thành một tên thực dân, một quan chức cao cấp đại diện cho nước Pháp, sang trống trị nhân dân ta. Hắn đã khoe với cụ Phan Bội Châu một cách trâng tráo: Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cách hiểu của em về câu thành ngữ “Thuốc đắng giã tật""… ông hãy nhìn tôi này, ông Phan Bội Châu! Trước tôi là đảng viên Xã hội đấy, và giờ đây thì tôi làm toàn quyền…!". Tinh quái và lố bịch, hắn biết mình hắn chưa đủ thuyết phục Phan Bội Châu, hắn còn ca ngợi các bạn học của hắn, những kẻ cũng phản bội như hắn và coi đó là những "tấm gương" đáng noi theo: "Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái nhà mà mình đã tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy". Cách chơi chữ rất độc đáo, thể hiện một thái độ khinh bỉ mỉa mai: những kẻ ấy đã đốt cháy những cái minh đã tôn thờ, tức là bỏ lí tưởng cao đẹp mà đã có lúc họ tin tưởng để mà trở lại tôn thờ những cái xấu xa gắn liền với áp bức bất công, với khủng bố, giết chóc, tàn hại con người, xâm chiếm đất nước của người khác. Va-ren còn biểu dương cả những người Việt Nam đã theo Pháp. Tất cả những nét đó đều có tác dụng vạch rõ bản chất phản bội của tên Toàn quyền Va-ren. Thậm chí hắn nói là đem lại tự do đến cho cụ Phan Bội Châu nhưng lại đòi cụ phải cộng tác, phải hợp lực với người Pháp để củng cố nền thống trị của Pháp ở Đông Dương. Hắn đòi cụ phải từ bỏ mọi ý đồ đấu tranh, thôi động viên đồng bào Việt Nam nổi lên chống Pháp. – "Tôi đem tự do đến cho ông đây!" – Va-ren tuyên bố vậy, tay phải giơ ra bắt tay Phan Bội Châu, còn tay trái thì nâng cái gông to kếch đang xiết chặt Phan Bội Châu trong nhà tù ảm đạm. "Nhưng, có đi phải có lại, tôi yêu cầu ông lấy danh dự hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp, hãy cộng tác, hãy hợp lực với nước Pháp…". Hắn đòi cụ dùng uy tín của mình để lôi kéo mọi người theo Pháp. Hắn tỏ ý kính trọng tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hi sinh của cụ Phan Bội Châu nhưng lại đòi hỏi cụ phản bội đầu hàng. Hắn đem miếng bánh vẽ đẹp đẽ hào nhoáng về một xứ Đông Dương thuộc địa để dụ dỗ mua chuộc cụ: Xem thêm: Em hãy kể một câu chuyện theo đề tài tự chọn"Ông Phan Bội Châu, tôi biết rõ tâm hồn cao thượng và cuộc đời đầy hi sinh, nhiều nguy nan của ông, và chính tôi, tôi xin là người đầu tiên, với tư cách là toàn quyền Đông Dương, được bày tỏ tấm lòng rất mực quý trọng ông. Song những ý tưởng hào hiệp nhất phải chăng bao giờ cũng hay nhất?… Chúng ta có thể cùng nhau làm cho nước ông trở thành một quốc gia tân tiến lớn, một xứ tự trị, một nước Pháp ở Châu Á!". Truyện đã vạch rõ bộ mặt thật của Va-ren, một tên chính khách thực dân xảo quyệt, một kẻ phản bội nhục nhã, một con người vô liêm sĩ đáng khinh. Lời lẽ của hắn trâng tráo, dối trá, lừa bịp qua giọng lưỡi ngọt nhạt phỉnh phờ. Đó là những lời lẽ vừa khôn khéo vừa nham hiểm của một tên thực dân cáo già. Thế mà con người ấy lại chiêu dụ Phan BỘI Châu, nhà ái quốc đã suốt đời xả thân vì độc lập cho đất nước! Lấy sự phản bội làm chuẩn mực để ca ngợi những nhân cách xấu xa, do đó tất cả những lời nói của Va-ren lọt vào tai Phan Bội Châu như "nước đỗ lá khoai" nghĩa là nó tuột đi, nó vô nghĩa. Tất cả những thái độ "nhiệt tình, chân thành" của kẻ phản bội đã khiến Phan Bội Châu dửng dưng, hoặc chỉ nhếch đôi ngọn râu mép lên một chút hoặc nhổ vào mặt Va-ren… Miêu tả chân dung Va-ren, Nguyễn Ái Quốc dùng ngòi bút lạnh lùng, hóm hỉnh, thông minh, sắc sảo. Đó là ngòi bút điêu luyện, hiện đại, kết hợp nhất châu Âu sôi nổi và giọng điệu Á Đông thâm trầm. Qua những trò lố vừa phân tích, Va-ren đã bị bóc trần là một tên phản bội nhục nhã, nham hiểm, trơ trẽn mà vẫn thất bại trong âm mưu chiêu dụ Phan Bội Châu đầu hàng. Nhìn rõ sự thâm độc của hắn, ta càng thêm kính phục Phan Bội Châu, bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập xứng đáng được cả dân tộc tôn kính. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về kè phản bội nhục nhã Va-ren trong truyện ngắn Những trò lố hayVa-ren và Phan Bội Châu của Nguyễn Ái Quốc
1,754
Cảm nhận về Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc Lâu) của Thôi Hiệu. Hướng dẫn Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là một bài thơ vịnh cảnh tuyệt tác. Theo Tân Văn Phong đời Nguyên kể lại trong sách Đường Tài tử truyện (Truyện tài tử đời Đường) rằng Lý Bạch lên lầu Hạc vàng định làm thơ, nhưng thấy bài thơ Thôi Hiệu đã qua hay nên không làm nữa mà nói rằng: "Nhân tiền hữu cảnh đạo bất đắc. Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu". (Cảnh bày trước mắt phổ không được, Thôi Hiệu làm thơ tả hết rồi). Câu chuyện này là truyền thuyết hay hư cấu của người sau, cũng chưa chắc là có thực. Nhưng trong thơ Lý Bạch đã có hai bài chịu ảnh hưởng của bài thơ này. Đó là bài Anh vũ châu (bãi Vẹt) và bài "Đăng Kim lăng Phượng Hoàng đài" (Lên lầu Phượng Hoàng ở Kim lăng). Từ đó ta biết giá trị nghệ thuật và ảnh hưởng to lớn của bài thơ này. Nghiêm Vũ, đời Nam Tống, đã nói trong sách "Thương lang thi thoại" là ''Đường nhân thất ngôn luật thi, đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng hạc lâu cư đệ nhất" (Thơ luật bảy chữ đời Đường, phải xếp bài Hoàng hạcLâu của Thôi Hiệu là hàng thứ nhất). Từ đó bài Hoàng hạc lâu càng trở nên nổi tiếng. Lầu Hạc dựng trên mỏm đá Hạc vàng bên sông Trường Giang nên gọi là lầu Hạc vàng. Sách Hoàn Vũ ký ghi là lầu Hạc vàng. Sách Tế hai Chí ghi là Vương Tử An thành tiên đã cưỡi hạc vàng từ trên lầu mà hạ bút, mượn truyền thuyết mà làm thơ. Chuyện ngày xưa tiên cưỡi hạc vàng bay đi là chuyện vu vơ. Nhưng rồi hạc vàng ra đi không còn trở lại để lầu Hạc vàng trống trải bên sông, làm cho câu chuyện lại thành không. Hạc vàng bay đi rồi, năm năm trông lên trời chỉ thấy mây trắng trôi, gây cho ta một nỗi cảm khoái, từ chuyện tiên hạc trên trời nghĩ đến chuyên trên đời. Đó là một nỗi nhớ cảm khoái mà những ai trên lầu trông cảnh mây trời sông nước đời đời vẫn có, đã được ngọn bút tài tình của nhàthơ làm cho hiện rõ, để sống mãi với đời. Người xưa cho rằng: "Văn dĩ khí vi chủ" (thơ lấy hơi làm chính). Đọc bốn câu đầu ta thấy như nhà thơ phóng bút một hơi mà thành. Mạch thơ cuồn cuộn như nước chảy mây tuôn, cuốn hút người đọc một cách tự nhiên. Lặp chữ, trùng ý là điều tối kỵ trong thơ cũ, thế mà nhà thơ đã ba lần dùng lại hai chữ hạc vàng, nhưng mạch thơ dồn dập tự nhiên, làm cho người đọc một hơi đọc hết không cảm thấy sự trùng lặp gượng ép nào. Thơ luật bảy chữ có luật niêm văn chặt chẽ. Nhưng như Tào Tuyết Cần đã mượn lời Lâm Đại Ngọc trong Hồng lâu mộng mà nói: "Nhược thị quả hữu liều kỳ cú, liên bằng trắc hư thực bất đối đô sử đắc đích". (Nếu quả như có câu thơ lạ, thì không cần bằng trắc, hư thực, không đối cũng đều được). Bốn câu đầu của bài thơ quả là đã bất chấp niêm luật và đối của thơ luật. Nhà thơ đã theo nguyên tắc làm thơ trước hết lập ý và không để việc gò chữ mà hại đến ý, cho nên đã viết nên những câu thơ lạ hết sức tài tình ít thấy trong thơ luật. Sách Đường thi biệt tài của Thẩm Đức Tiềm đã xác nhận "ỷ đắc tượng tiên thần hành ngữ ngoại, tung bút tả khứ toại thiên cổ chi kỳ). (Dựng ý trước hình ẩn thần ngoài chữ, phóng bút mà viết nên những câu lạ nghìn đời). Xem thêm: Thuyết minh về truyện Chuyện chức phản sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục - Trích Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ). (Yêu cẩu viết bài văn)Bốn câu đầu, nhà thơ đã phá vỡ khuôn khổ cũ thơ luật một cách tài tình, nhưng cứ thế mà phá vỡ tiếp thì bài thơ không còn là thơ luật nữa, mà trở lại là một bài thơ bảy chữ cổ. Nhung nhà thơ đã kịp thời quay lại với khuôn khổ, để bài thơ không trở lại thể thơ cổ và vẫn là một bài thơ luật mới mẻ và kỳ lạ hết sức tài tình. Bốn câu cuối giữ đúng luật bằng trắc và đối. Nhưng nhìn vào bài thơ ta thấy như bài thơ được chia làm hai nửa, mỗi nửa một thể thống nhất để bài thơ trở thành luật. Nhà thơ đã giữ đúng cấu trúc của bài thơ luật. Bây giờ chúng ta hãy đi sâu vào cấu trúc của bài thơ để hiểu rõ nội dung của bài thơ và nghệ thuật chuyển ý của nhà thơ. Hai câu đầu là hai câu mở đề (Khai, khởi đế) Hạc vàng, người xưa đã cưỡiđi Lầu Hạc vàng trơ lại đất này. Nhà thơ bắt đầu tả lầu Hạc vàng bằng một truyền thuyết, vừa nói về cội nguồn xa xưa của lầu với một sắc thái huyền thoại thần tiên thiêng liêng và sức sống của lầu đã bền bỉ chịu đựng và chiến thắng mọi sự hủy hoại của thời gian mà tồn tại đến bây giờ nhưng với một thực trạng đáng buồn, trống trải cô quạnh. Hai câu ba tư là hai câu thừa, cũng gọi là thực, đi vào mô tả hoặc giải thích đầu đề. Dương Tải đời Nguyên trong sách Thi pháp gia số đã nêu ra một yêu cầu cho hai câu thừa là: "Thủ liên yếu tiếp phá đề (thủ liên) yếu như ly long chi châu, bão nhi bất thoát”. Hai vế này phải tiếp theo ngay hai vế phá đề (hai vế đầu) như rồng đen ngậm ngọc, ngậm chặt không rời. Nhà thơ đã chuyển hai câu ba, tư theo đúng yêu cầu đó, tả những điều trông thấy trên lầu mà không xa rời khung cảnh và không khí của truyền thuyết. Một đi, Hạc vàng không trở lại, Ngàn năm mây trắng vẫn bay bay. Từ truyền thuyết hư vô trở lại với tòa lầu trống trơ, từ tòa lầu trống trơ nhìn lên trời thẳm, nhìn lên hư vô, cánh hạc vàng vẫn là truyền thuyết xa xưa không còn thấy được, nên lại trở về với thực tại, với những vầng mây trắng vẫn nằm trôi hờ hững: Cây in sông tạnh Hán Dương đó Cỏ mịn bãi thơm Anh Vũ đây. Hai câu năm, sáu là hai câu chuyển, cũng có lúc là luận, nhưng ở đây là chuyển tiếp ý thơ, Dương Tải liên tiếp yêu cầu "Dữ tiền liên chi ỷ tương lai yếu biến hóa, như tật lôi, phá sơn, quan giả kinh ngạc" (Phải khác ý với hai vế trên, phải biến hóa, như tiếng sét phá núi làm cho người đọc phải ngạc nhiên). Nhà thơ đột nhiên kéo ta từ cõi mơ tưởng mông lung về với cõi thực, với những sông bãi, cỏ cây, phục sẵn một ý ngầm khơi gợi nỗi nhớ. Mấy chữ "Phương thảo thê thê" là lấy từ bài Chiêu ẩn sĩ trong sở từ "Vương tôn du hê bất quy, xuân thảo sinh hề thê thê". (Chàng đi chơi chừ không về, cỏ xuân mọc chừ mượt mà). Hai câu cuối là câu hợp, thuận theo ý thơ trên mà đưa bài thơ vào kết cục. Ngày hết, quê nhà đâu ấy nhỉ, Trên sông khói sóng não người thay, Cảnh hoàng hôn vốn gợi nỗi nhớ nhà, lại thêm khói sóng mịt mờ dào dạt trên sông làm ai mà chẳng não lòng. Rõ ràng nghệ thuật điêu luyện tài tình đã đưa nhà thơ đến thành công viết nên bài thơ tuyệt tác bậc nhất một thời chói lọi thơ luật Đường, sống mãi với thời gian. Nguồn: thêm: Phân tích bài ca dao “Thân em như hạt mưa rào, Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa”
Cảm nhận về Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc Lâu) của Thôi Hiệu.
1,372
Đề bài: Cảm nhận của em về mùa hè cuối cùng của tuổi áo trắng Cuộc sống luôn luôn có những khoảnh khắc trôi đi không trở lại, có những điều dù níu giữ lại cũng chỉ ở trong tim. Và dường như những khoảnh khắc, những mùa hè xa rồi còn gặp lại nhau khi năm học mới đến. Và có thể thấy có một mùa hè, mùa hè dường như cuối cùng của thời áo trắng mãi mãi đứng đó, không trở lại. Mùa hè năm học lớp 12 khép lại. Và dường như mỗi đứa mỗi nơi, mỗi người lại một con đường đi mới, nhiều khó khăn và thử thách hơn cho bản thân. Có thể nói rằng chính những mùa hè đó còn neo giữ lại bao nhiêu kỉ niệm bao nhiêu buồn vui lẫn lộn. Trong mùa hạ cuối hay người ta vẫn thường nói mùa hạ chia li và mùa hạ hội ngộ ở những chặng đường mới hơn. Chắc hẳn rằng ta như đã thấy được tâm trạng của cô cậu học trò nào học lớp 12 cũng sẽ bồi hồi, cũng chắc chắn sẽ xúc động khi nghĩ đến mùa hè năm nay. Và đây chính là giai đoạn nước rút để chuẩn bị cho hai kì thi căng thẳng là tốt nghiệp và đại học. Dường như mùa hạ như vẫn cứ trôi qua vì thời gian là tuyến tính, và còn đó những tiếng cười, tiếng nói vẫn còn văng vẳng đâu đây nhưng cảm xúc trong mỗi người dừng như đang nghẹn lại. Có thể thấy trong suốt 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, những cô cậu học trò như cứ hồn nhiên vô tư biết bao vì không phải lo lắng hay là những băn khoăn hay nghĩ ngợi quá nhiều ngoài chuyện học tập. Thế nhưng sau mùa hè này, dường như các bạn sẽ phải định hướng con đường đi trong tương lai cho mình. Và dễ nhận thấy con đường đi đó sẽ được quyết định ở năm 12 này một phần, dường như những sự nỗ lực và cố gắng sẽ được đền đáp xứng đáng.Xem thêm: Phân tích tâm trạng và tình cảm của Hoàng cầm thể hiện trong bài thơ “Bên kia sông Đuống" Tuổi học trò là vậy, là mỗi lần tiếng ve kêu lên râm ran trên những tán hoa phượng nở đỏ rực một góc sân kia thì dường như những lũ học trò lại nhao nhao lên vì vui sướng. Có lẽ chúng rất vui vì được nghỉ hè, được thư giãn và vì không phải bận rộn với sách vở, với trang viết đầy những chữ hay với những phép tính hóc búa kia. Nhưng mùa hè năm học lớp 12 thì dường như là mùa hè đầy cảm xúc nhưng lại chưa bao giờ được mong đợi. Bởi vì sau mùa hè cuối cấp thì dường như mỗi thành viên trong gia đình chung của lớp học mỗi người lại có những dự định cho riêng bản thân mình và mùa hè đó lại có sự chia li, có nước mắt, có những lời hẹn áo trắng tinh khôi mãi mãi cũng khó có thể gặp nhau đông đủ như lúc đó. Mùa hè dường như cũng đang đến gần thì thời gian cho hai kì thi cũng không còn xa nữa. Và tưởng chừng những lo âu, hồi hộp như lại được hiện hữu trên từng gương mặt. Và chắc chắc rằng không có ai mong mình phải trải qua mùa hè của năm học lớp 12, bởi rằng đó còn chínhlà mùa hè cuối cùng của thời áo trắng mộng mơ. Trong mỗi cúng ta ai rồi cũng sẽ trưởng thành, và ai ai cũng sẽ phải đối mặt với chia li, đối mặt với rất nhiều thử thách và phải đối mặt với không ít chông gai đang chờ phía trước.Xem thêm: Anh (chị) hãy phân tích và chứng minh Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương mẫu mực của thời đại Và đã có những cô bạn trong buổi lễ tổng kết năm học ở lớp 12 cũng đã ôm mặt khóc rưng rức vì nghĩ đến chặng đường 3 năm học cùng với nhau. Và trong khoảng thời gian chơi đùa cùng nhau, tâm sự cùng nhau. Ấy vậy mà sau mùa hè đầy cảm xúc này và liệu rằng có được học chung dưới một mái trường nữa hay không? Câu hỏi ấy như cứ cắt cứa vào trái tim mong manh và dễ vỡ, để rồi những tiếng nấc cứ thế, cứ thế vang lên nghe chua xót Và dù rằng vẫn biết rằng chia tay nhau, và cho dù mai này mình còn gặp lại ở một con đường mới. và dường như môi trường mới nhưng kỉ niệm còn vương mùi thời gian, vừa mới xảy ra hôm qua sao nỡ bỏ. Và cho dù những ai có mạnh mẽ nhưng cũng sẽ có lúc yếu lòng. Và đã có không ít cậu con trai ta tưởng như cứng rắn kia cũng đã đứng sau gốc cây phượng thân quen, nhìn lần lượt từng chỗ ngồi từng đến. Và cả những đứa bạn từng cốc đầu nhau mỗi giờ ra chơi cũng bật khóc ngon lành. Chắc bởi ai trong mỗi chúng ta cũng biết rằng mùa hè không trở lại, thời gian không trở lại để chúng ta có thể vô tư như thế này nữa. Chúng ta ai ai rồi cũng sẽ phải lớn và cũng phải trưởng thành…Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài "Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên: "Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ. Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương... Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương" Có lẽ rằng dường như những kỉ niệm suốt 3 năm học trên ghế trung học phổ thông sẽ là những điều tươi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người về sau. Và chính vì đó là bước ngoặc, và đó cũng chínhlà những suy nghĩ của một người sắp phải lớn. Tất cả hình ảnh lớp học,thầy cô và bạn bè là tất cả những gì mà chúng ta có được, còn lưu giữ cho đến khi không còn học ở đây nữa. Cho dù có buồn, dù nuối tiếc nhưng cuộc đời là vậy. Và chúng ta hãy biết trân trọng những gì đã qua, để đón nhận những điều chắc sẽ tốt đẹp ở phía trước. Và dường như những gì mà bản thân có được khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông sẽ là hành trang đáng quý nhất trong cuộc đời về sau. Và trong đời ai ai cũng có ột thời học sinh hồn nhiên vô tư là thế, và mùa hè không bao giờ là hết, nhưng lại có những mùa hè là mùa hè cuối cho những cảm xúc, cho những đam mê, mùa hè kết thúc những năm tháng học trò. Quan trọng hơn là bạn phải có những kế hoạch dự định sẵn sàng bước và tương lai sau mùa hè cuối cùng đầu lưu luyến đó. Nguồn: Văn mẫu hay
Cảm nhận về mùa hè cuối cùng của tuổi áo trắng- Văn 12
1,198
Đề bài: Cảm nhận về mùa hè cuối cùng của tà áo trắng. Bài làm Thu, đông, xuân rồi hạ một vòng luẩn quẩn cũng sắp hết một năm học. Nếu như trước đây tôi thường mong mùa hè đến thật nhanh để được đắm mình trong cái nắng gay gắt, để được ngao du cùng đám bạn đi đây đi đó hay chỉ đơn giản là được ở nhà mà không phải đi học. Thế nhưng, năm nay lại khác, điều khác biệt ấy không phải khác vì thời tiết thay đổi, cũng không phải vì một nhân tố nào đấy ngoài môi trường tác động vào khiến cho mùa hè năm nay lại khác với những mùa hè năm trước. Mà mùa hè năm nay sẽ là mùa hè cuối cùng của tà áo trắng, là mùa hè cuối cùng tôi được cắp sách tới trường cùng chúng bạn. Mùa hè cuối cùng cũng là mùa hè đầu tiên mà tôi có cảm nhận rõ nhất về sự chuyển mình chậm rãi mà rất nhanh chóng của chính bản thân mình. Tôi sẽ là ai? Sẽ ở vị trí nào? Sẽ như thế nào? Các bạn tôi ở đâu? Chúng tôi rồi sẽ ra sao? Những câu hỏi muôn thuở mà có lẽ những học sinh cuối cấp đã, đang và sẽ hỏi giống như tôi bây giờ. Một tương lai hoàn toàn không thể biết trước. Tôi chưa từng có ý niệm về mùa hè là cứ đến từ từ, đếm chầm chậm để tôi có nhiều thời gian hơn nữa bên thầy cô, bạn bè. Để tiếng cười chúng tôi có được trong mỗi giờ giảng, trong mỗi buổi tan trường còn kéo dài mãi mãi. Thế nhưng, có ai níu kéo được thời gian, mỗi khoảnh khắc trôi đi là một khoảnh khắc ta không lấy lại được, mỗi kỷ niệm trôi đi là một kỷ niệm đang trở thành quá khứ. Tôi muốn cảm nhận cái nắng gắt gao của mùa hè cháy bỏng, tiếng ve xôn xao đến inh tai mà lẽ ra chúng là những thứ khiến tôi ghét thì tôi lại cảm thấy yêu chúng nhiều hơn. Hướng mặt ra phía mặt trời để hứng nắng, cái nắng gắt gao mà chỉ nhìn một lúc đã chói mắt và mệt mỏi nay lại cảm thấy dễ chịu vô cùng. Có lẽ, tâm lý tiếp nhận khác thì mọi vật xung quanh cũng sẽ khác. Lướt mắt nhanh qua ô cửa kính vào lớp học, chúng bạn tôi mỗi người một cảm xúc, người cặm cụi làm bài, người hí hoáy viết hồ sơ thi đại học, còn một nhóm người thì mải miết nô đùa với những trò vui vẻ nhất của tuổi học trò. Những tiếng cười nói vui đùa trong giờ ra chơi, giọng cô giảng ngọt ngào trong giờ văn học hay những con số cứng nhắc trong giờ toán học. Rồi tâm trạng thấp thỏm, giật mình, không khí trĩu nặng ngồi im như thóc nấu trong 5 phút kiểm tra đầu giờ mà học trò chúng tôi gọi đó là “5 phút thần thánh”. Những thứ đó, đang trôi qua rất nhanh trong tâm trí tôi nhưng lại rất rõ, từng chút một. Xem thêm: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên “Mưa nhẹ nhàng chợt về trên phố em, mưa hiền hòa một chiều qua sân trường em. Mùa hè lắng nghe tiếng hát của tuổi thơ bên những hàng cây xanh theo tháng năm. Phố trẻ lại vì chiều nay có mưa khắp lối về phượng hồng vui trong thơ ngây. Mùa hè đến thoảng trong niềm yêu thương để nụ cười vẫn đã theo em từng ngày…”. Lời bài hát nhẹ nhàng vang lên trong tâm trí tôi lúc này. Một mùa hè có phượng hồng, có ve, có nắng, có cả những cơn mưa rào bất chợt… Lật trang sách cuối cùng, tôi bất chợt nhìn thấy một cánh phượng khô mỏng manh màu nâu nhạt. Là ai đó, muốn lưu giữ mùa hè cuối cùng của thời áo trắng trong trang sách, là muốn lưu lại những kỷ niệm đẹp nhất bên cánh phượng tươi ngày nào. Dòng chữ “tình bạn” còn rõ nét, tôi mỉm cười đó rồi sẽ trở thành những kỷ niệm đẹp đẽ trong tim mỗi con người chúng ta. Tuổi học trò sẽ mãi đẹp nếu trong tim ta luôn giữ mãi, chỉ vài tháng hè nữa thôi, chúng tôi – lũ nhất quỷ nhì mà luôn tạo trò trêu tức thầy cô bạn bè còn được bên nhau. Là mùa hè cuối cùng, là những trang sách gập mở nhiều lần đến nhàu nhĩ, những cảm xúc của thuở mới bắt đầu làm quen còn lạ lẫm nay đã trở nên yên lặng hơn. Cảm xúc của thời gian ngắn ngủi còn lại đã chừng hơn và được dồn nén lại. Ai cũng một lần nghĩ, chỉ còn vài tháng hè ôn thi bên nhau nữa thôi nên sẽ sống trọn giây phút cuối cùng của thời áo trắng. Lời chia tay cuối cùng, chắc chúng bạn sẽ ôm nhau khóc thật lớn rồi biết bao giờ mới gặp lại nhau. Nắng vẫn vàng ươm, ve vẫn kêu gọi và phượng vẫn nở đỏ nơi góc sân trường. Cứ thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, thế hệ sau tiến bộ hơn thế hệ trước, mỗi con người trong một thế hệ lại có những cảm xúc khác nhau. Nhưng điểm chúng họ có được đó là sự nuối tiếc thời gian. Nhưng, có ai nuối tiếc mà giữ lại được, chỉ cảm nhận từ từ, dần dần về những cảm xúc cuối cùng của mùa hè mà thôi. Sẽ là mùa hè cuối cùng vô âu, vô lo về cuộc sống cơm, áo, gạo, tiền mà chỉ quan tâm học cho thật tốt. Vâng, thời khắc của mùa hè, chúng tôi vẫn đang cảm nhận với những gì chân thành nhất của tuổi học trò. Tuổi học trò mang lại cho tôi nhiều cảm xúc, có lẽ nó sẽ là những cảm xúc trong sáng nhất, cảm xúc mộc mạc mà chân thành nhất tôi sẽ trải qua. 12 năm đèn sách, cái gì cũng ở vị trí cuối cùng: năm học cuối, thời học sinh cuối, mùa hè cuối, lần gặp mặt cuối đông đủ lớp nhất. Rồi sau này quay lại, người làm nọ, người làm kia, người có gia đình, người thì chưa… bao nhiêu đó cũng chưa đủ trong một mùa cuối còn bên nhau. Rồi sẽ thành kỷ niệm, sẽ trở thành kỷ niệm đẹp nhất, ngọt ngào nhất, khoảng thời gian hạnh phúc nhất khi nhận ra “chúng ta không còn bên nhau bao lâu nữa nên hãy sống yêu thương và đùm bọc nhau thật nhiều”. Cảm ơn mùa hè cuối cùng vì đã cho chúng tôi nhận thấy những khoảng thời gian có giá trị nhất. Nguồn: Văn mẫu hayXem thêm: Phân tích đoạn 1 bài thơ Tây Tiến, từ đó cho thấy bút pháp lãng mạn của Quang Dũng
Cảm nhận về mùa hè cuối cùng của tà áo trắng – văn lớp 12
1,216
Cảm nhận về một nét đẹp của xứ Huế thân thương qua bài Ca Huế trên sông Hương của tác giả Hà Ánh Minh Gợi ý Trải dài theo dải đất hình chữ s thân yêu, đến nơi nào ta cũng bắt gặp những nét đẹp riêng, làm ngơ ngẩn lòng người. Đồng Đăng với Nàng Tô Thị và phố Kì Lừa làm chàng trai quên cả lời "em" dặn. Xứ Kinh Bắc với những làn điệu quan họ mượt mà tha thiết. Hà Nội ba sáu phố phường xưa với hương cốm vòng dịu dàng lan toả mỗi độ thu về. Sài Gòn với nắng gió và những bông điệp vàng. Nghệ Tĩnh thân thương với câu hò ví dặm, Nam Bộ với những bài cải lương phóng khoáng như hồn người, về với Huế trầm mặc ta có dịp tha thẩn giữa đền đài lăng tẩm của cố đô, ngắm những tà áo dài thướt tha và bóng dáng mềm mại khiến lòng ta "tím" nỗi nhớ thương và nghe những làn điệu dân ca xứ Huế do chính người Huế biểu diễn như một thứ "bùa mê" kéo người ta về với Huế bất cứ khi nào có thể. Bút kí Ca Huế trên sông Hương của tác giả Hà Ánh Minh cho ta cảm nhận rõ hơn những giá trị cao quý và vẻ đẹp của ca Huế. Đọc bài viết của Hà Ánh Minh cho ta cảm giác như đang trôi theo dòng cảm xúc của tác giả, trôi theo những làn điệu du dương, thả hồn cùng các ca công để hiểu tận cùng vẻ đẹp của ca Huế, và tắm hồn mình trong ca Huế, trong ánh trăng trên dòng Hương Giang thơ mộng. Giúp người đọc có những hiểu biết về ca Huế, tác giả đã giới thiệu với người đọc các điệu hò xứ Huế bằng cách khẳng định: "Xứ Huế nổi tiếng với các điệu hò". Để làm sáng tỏ điều mình vừa giới thiệu, tác giả dẫn ra một loạt các điệu hò trong cuộc sống của con người xứ Huế: Hò khi đánh cá, hò lúc cấy cày, gặt hái, hò giã gạo, ru con… cả khi con người về nơi an nghỉ cuối cùng người ta cũng gửi theo điệu hò đưa linh hồn da diết. Những điệu hò ấy được gọi chung là hò Huế. Có giai điệu náo nức nồng hậu tình người, cũng có những giai điệu buồn thương khắc khoải, có giai điệu gần với dân ca Nghệ Tĩnh. Nhưng tất cả những điệu hò ấy đều gặp nhau ở một điểm “thể hiện lòng khao khát, nỗi hoài vọng, chờ mong tha thiết của tấm hồn Huế" và “gửi gắm một ý tình trọn vẹn”. Xem thêm: Soạn bài Phong cảnh đền Hùng Bên cạnh các điệu hò, tác giả còn giới thiệu với chúng ta các điệu lí: Lí con sáo, lí hoài xuân, lí hoài nam.Và nếu các điệu hò mang âm điệu mênh mang, gợi nhớ da diết trong lòng người và lan xa trên dòng Hương Giang khói sương bảng lảng về chiều thì các điệu lí mang âm điệu vui nhộn, thể hiện tình yêu và sự hòa mình của người Huế với thiên nhiên và cuộc sống xung quanh. Bởi thế ta cảm nhận được nét phong phú, đa dạng của ca Huế và thấp thỏm chờ dịp đưọc thưởng thức. Không dừng lại ở việc giới thiệu các làn điệu dân ca và hò xứ Huế, tác giả còn mời gọi ta cùng đến thuyền rồng trên sông Hương lúc thành phố lên đèn, cả không gian mờ đi trong một màu trắng đục, để thưởng thức ca Huế theo đúng cách mà thuở xưa vua chúa thường tận hưởng. Chiếc thuyền rồng đẹp, được trang trí lộng lẫy và sang trọng. Không gian trong thuyền không rộng nhưng cũng vừa cho một sân khấu ca Huế với đủ cả nhạc công, ca công. Điều đặc biệt nhất trong cái sân khấu ấy là người biểu diễn và người nghe không có khoảng cách về không gian, cận kề nhau, thân mật, gần gũi. Bởi thế hồn người, lòng người như cùng hòa vào nhau và hòa vào lời ca Huế “du dương, trầm bổng”, “lúc khoan, lúc nhặt làm nên tiết tấu xao động tận đáy hồn người”. Trong khi thưởng thức ca Huế, tác giả cũng giúp ta kín đáo ngắm nhìn các ca công trẻ, ăn mặc theo đúng nghi lễ. Nam áo the quần thụng, khăn xếp. Nữ áo dài, khăn đóng, trẻ trung, duyên dáng. Nhạc cụ trong khoang thuyền gồm đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, đàn bầu, sáo, cặp sanh, các ngón đàn của nhạc công: ngón nhấn, ngón bấm, ngón chớp… và khi trăng lên, gió dìu dịu mơn man con thuyền bồng bềnh trên dòng sông thấm đẫm ánh trăng ấy hồn ta, lòng ta sẽ thổn thức mà đợi chờ, mà khát khao được nghe ca Huế, mà chẳng thể nào thờ ơ, dửng dưng trước ca Huế được nữa. Xem thêm: Viết đoạn văn miêu tả dòng sông vào mùa nước lũ Hấp dẫn và phong phú, nhiều điệu dân ca làm ngơ ngẩn lòng người ấy được tác giả giới thiệu là “hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, nhã nhạc, trang trọng, uy nghi nên có thần thái của ca nhạc thính phòng, thể hiện theo hai dòng lớn điệu Bắc và điệu Nam, với trên sáu mươi tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc”. Bởi vậy, ca Huế là sự giao hòa không còn giới hạn giữa chất dân gian mộc mạc và chất bác học chau truốt tới độ hoàn mĩ. Và cũng bởi thế, thưởng thức ca Huế trong khung cảnh mộng mơ trên dòng Hương Giang trăng sáng ngời là một thú vui “tao nhã, đầy sức quyến rũ. Cuối cùng, tác giả dẫn ta đi đến lúc “tiếng gà gáy bên làng Thọ Xương, tiếng chuông chùa Thiên Mụ” gọi năm canh. Lúc mà ngọn tháp Phước Duyên và chùa Thiên Mụ dát ánh trăng vàng cũng là lúc “điệu Nam buồn man mác, thương cảm, bi ai, vấn vương” được các ca nhi cất lên gợi tình người, tình đất và gợi trong lòng người cái cảm giác da diết nhớ lúc đã xa để kết thúc đêm ca Huế. Rồi tất cả tình yêu với xứ Huế đến trở về điểm hội tụ cuối cùng, vẻ đẹp của con người xứ Huế được biểu hiện trọn vẹn trong người con gái Huế, thâm trầm, kín đáo mà sâu thẳm đã làm không ít du khách lòng ngẩn ngơ, và cả các thi sĩ trên những trang văn của họ bóng áo tím cứ đi về thấp thoáng. Xem thêm: Giải thích ngắn gọn chín câu tục ngữ sau về con người và xã hội Bài kí đã khép lại, đêm ca Huế đã tàn mà lòng người chưa thôi vấn vương. Cảm ơn tác giả Hà Ánh Minh đã đưa ta về Huế và dòng Hương Giang để được thưởng thức ca Huế, để được nghe lòng mình rạo rực tình yêu quê hương đất nước và để tự hào hơn về Huế, về đất nước thân yêu và những di sản vô giá mà cha ông trao lại. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về một nét đẹp của xứ Huế thân thương qua bài Ca Huế trên sông Hương của tác giả Hà Ánh Minh
1,235
Cảm nhận về một nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam – Lòng yêu nước qua bài: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta Gợi ý Yêu nước là một nét đẹp truyền thống đáng tự hào của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Từ bao đời nay truyền thống ấy được con người Việt Nam và bạn bè thế giới ghi nhận. Một lần nữa, qua văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại giúp ta cảm nhận rõ ràng về truyền thống đó. Mục đích của bài văn nghị luận là nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, một quan điểm nào đó. Với văn bản này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ một chân lí: Dân tộc ta, nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn, là truyền thống quý báu từ bao đời truyền lại. Đây cũng là một văn bản nghị luận được coi là tiêu biểu, mẫu mực của kiểu bài chứng minh. Mở đầu bài văn, Hồ Chủ tịch đưa ra đánh giá khái quá "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta". Và để người đọc, người nghe hiểu vấn đề đó một cách đầy đủ, cụ thể, chính xác, rõ ràng tác giả đã không dùng lí lẽ khô khan mà chọn, đưa ra những dẫn chứng tiêu biểu, đầy sức thuyết phục. Bắt đầu từ những trang lịch sử anh hùng chống giặc ngoại xâm của tổ tiên từ xa xưa khi Bà Trưng đánh quân Nam Hán, Bà Triệu đánh đuổi quân Ngô, Lê Lợi đánh quân Minh, Quang Trung tiêu diệt quân Thanh. Đến kháng chiến chống Pháp, được coi là thời điểm hiện tại khi mà Bác viết trong Báo cáo chính trị trong Đại hội Đảng toàn quốc lần II (năm 1951), Người lại đưa ra rất nhiều những việc làm tiêu biểu của nhân dân ta khắp vùng miền, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, tôn giáo… Để rồi đi đến kết luận "Tất cả đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước". Để các dẫn chứng giàu sức thuyết phục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng thủ pháp liệt kê, lặp cấu trúc cú pháp và đặt nó trong mô hình liên kết từ – đến. Bởi thế, lòng yêu nước của nhân dân ta đã được diễn tả, cảm nhận đầy đủ. Các dẫn chứng đó còn có một tác dụng nữa cũng không kém phần quan trọng là nó khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức, hành động để xứng đáng với tỗ tiên. Điều hết sức cần trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước, khi mà cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc đã bước sang thời kì phản công. Nhẹ nhàng mà sâu sắc, giản dị mà thấm thía, Người đã đem đến một bài học về sự tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước theo dòng chảy của thời gian của mạch nguồn của dân tộc. Đọc đến đây, hẳn mọi người sẽ không thể nào dửng dưng trước điều thiêng liêng ấy nữa, hẳn sẽ phải nghĩ về trách nhiệm, bổn phận của mỗi người với đất nước. Xem thêm: Bình luận câu tục ngữ: “Đi môt ngày đàng học một sàng khôn” Rồi để cụ thể hóa tình yêu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại dùng một hình ảnh so sánh độc đáo "Tinh thần yêu nước cũng như các thứ quý giá. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng, dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm". Độc đáo mà vẫn gần gũi, dễ hiểu. Ý tưởng sâu sắc, mang tầm khái quát cao nhưng lời văn vẫn dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ vận dụng. Bởi thế, ai cũng có thể làm theo lời Bác, thực hành yêu nước trong những công việc cụ thể, hàng ngày như: học tập, lao động… Không dài dòng, cầu kì, chỉ bằng lí lẽ giản dị, dẫn chứng cụ thể, phong phú nhưng văn bản vẫn rất giàu sức thuyết phục, văn bản đã làm sáng tỏ chân lí: Dân tộc ta yêu nước, đó là một truyền thống quý báu. Và điều quan trọng hơn, sâu sắc hơn, qua bài viết của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp ta cảm nhận tình yêu nước nồng nàn nơi Người và cả cuộc đời mình, Người đã sống cho tình yêu ấy. Lịch sử Việt Nam có thêm một dẫn chứng tiêu biểu về lòng yêu nước. Đúng hơn, Người đã ghi thêm vào những trang vàng lịch sử yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc một mốc son chói lọi. Ta không thể không tự hào về truyền thống quý báu đó của dân tộc và nghĩ đến trách nhiệm của mình – một công dân của đất nước thế kỉ XIX. Xem thêm: Có lần nằm mơ, em thấy mình ra thăm giàn khoan khai thác dầu khí. Gặp nàng tiên biển hiện lên, nàng cho em biết về cung điện nguy nga dưới biển, về kho dầu mỏ quí báu, nàng hứa sẽ tặng Tổ quốc ta. Tỉnh dậy, em hãy kể lại giấc mơ đó cho em bé em ngheVanmau.edu.vn
Cảm nhận về một nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam – Lòng yêu nước qua bài_ Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
912
Cảm nhận về người phụ nữ Việt Nam qua hình tượng con cò trong ca dao Gợi ý Con cò bay lả, bay la…, Con cò bay bổng, bay cao. Những câu ca dao bắt đầu bằng con cò đã đi vào tâm hồn con người Việt Nam từ bao đời nay. Con cò thật là gần gũi thân quen với người nông dân. Con cò hình tượng đẹp trong ca dao. Và mỗi khi nhắc đến con cò với những phẩm chất của nó gợi ta liên tưởng đến hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam chịu thương chịu khó, tận tụy suốt đời vì chồng vì con. Người nông dân Việt Nam rất gần gũi và gắn bó với con cò. Họ đã từng xem cò như là bạn. Nhìn đàn cò trắng bay trên cánh đồng bát ngát, lòng người cảm thấy phơi phới lạ thường, quên hết nỗi nhọc nhằn sau một ngày làm việc. Dáng cò mảnh khảnh, thân cò gầy gầy, bộ lông cò trắng muốt. Cò mang một vẻ đẹp thanh thoát làm sao! Nhìn cò đứng bên bờ ruộng rỉa lông, cò chao liệng trên bầu trời lộng gió ta chợt liên tưởng đến dáng vẻ của người phụ nữ. Cũng cái mảnh dẻ ấy, cũng cái thân gầy gầy ấy, ta bắt gặp ở người phụ nữ nông dân Việt Nam, người mẹ, người vợ của nông thôn ngày xưa nét dịu hiền đằm thắm, thanh thoát nhẹ nhàng như thế đấy! Cái cò bay bổng bay cao Bay qua cửa phủ, bay vào Đồng Đăng Thật đẹp làm sao, qua lời ca dao ta mường tượng ra dáng vẻ của cò mang bóng dáng người phụ nữ Việt Nam đáng yêu! Nét nổi bật đáng quý ở con cò là đức tính chịu thương, chịu khó, chăm chỉ, cần cù: Thân cò rất vất vả, lặn lội quanh năm kiếm sống. Trời mưa quả dưa vẹo vọ Con ốc nằm co Con tôm đánh đá Con cò kiếm ăn Đọc lời ca dao ta lại càng thấm thìa. Bài ca dao không chỉ nói lên hình ảnh của người nông dân cần cù chịu đựng gian khổ mà còn thể hiện rõ nỗi khổ nhọc của những người mẹ Việt Nam suốt đời tần tảo. Vì đàn con thơ, mẹ phải đem thân cò kiếm ăn trong mưa bão. Mẹ không thể ngơi nghỉ một ngày nào. Cuộc sống cơ hàn vất vả có bà mẹ nào đành lòng để con đói rét lầm than. Nên mặc cho con ốc nằm co, con tôm đánh đáo thì con cò vẫn phải kiếm ăn. Xem thêm: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh (Có dàn ý chi tiết) Sống cuộc đời nghèo trong những ngày xưa cũ, người nông dân hay lam hay làm có bao giờ được một ngày sung sướng. Trong đó người phụ nữ lại càng vất vả trăm đường. Đọc lời ca dao: Cái cò là cái cò con Mẹ đi xúc tép, để con ở nhà Ta càng cảm nhận được rõ hơn cuộc sống khó khăn thiếu thốn ấy. sống trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công thối nát, người phụ nữ cũng như thân cò nhỏ bé phải đương đầu với bao nỗi đắng cay. Thật tội nghiệp làm sao! Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay Bài ca dao không hẳn nói về người phụ nữ mà là nói lên số phận, nỗi chua xót tủi nhục của người nông dân nghèo thời ấy. Nhưng cái hình ảnh thân cò lên thác xuống ghềnh kia vẫn gợi lên trong ta hình ảnh của người phụ nữ bởi cái lận đận một mình, bởi cái thân cò "đáng thương" ấy! Nỗi khổ nhục kia lại được nâng cao hơn trong cảnh chiến tranh chết chóc. Chiến tranh đã đem lại bao mất mát cho con người. Bao cảnh tang thương chia cắt: Con xa cha, vợ xa chồng. Chiến tranh đã đem lại nỗi đau thương, khốn khổ cho người phụ nữ, thân cò lại phải lận đận lao đao. Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng Xem thêm: Giải thích và bình luận câu tục ngữ hay về lời hứa Ở đây hình ảnh con cò lại được tượng trưng cho người phụ nữ. Người vợ lại phải lặn lội thân cò, gánh gạo đưa chồng trong tiếng khóc nỉ non ai oán. Nhưng rồi họ vẫn cam chịu, vẫn phải chấp nhận sự hi sinh. Một thân một mình vất vả nuôi mẹ, nuôi con cho chồng ra chiến trận. Nếu không có một tấm lòng yêu thương tha thiết, đức tính cần cù, nhẫn nhục hi sinh thì làm sao những người phụ nữ bé nhỏ yếu đuối kia lại có thể đem thân cò của mình mà gánh vác hết nỗi vất vả gian lao. Sống trong xã hội tối tăm đầy cạm bẫy, người phụ nữ bé nhỏ cũng như con cò phải đương đầu với biết bao trở ngại. Nhưng dù cuộc sống có tối tăm thế nào, dù phải gặp hoàn cảnh trái ngang hiểm nghèo đến đâu thì tâm hồn của người phụ nữ vẫn sáng trong, vẫn luôn tinh khiết như con cò trong lời ca dao: Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi! ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Từ hình ảnh con cò lặn lội dưới sông tìm kiếm miếng ăn cho đàn cò con bé bỏng, nhân dân ta đã so sánh ngầm với sự tần tảo đảm đang của người phụ nữ. Đọc đến bài ca dao trước mắt ta như hiện lên hình ảnh những người vợ, người mẹ phải tất tả giữa dòng đời ngược xuôi để lo cho cuộc sống gia đình với đàn con nheo nhóc, kiếm ăn ban ngày không đủ cò phải đi kiếm ăn cả ban đêm. Vì tối trời, cò đậu phải cành mềm cho nên gặp nạn lộn cổ xuống ao. Người mẹ đã gặp nguy hiểm, đã sa chân vào cạm bẫy. Đứng trước hiểm nguy như ngàn cân treo sợi tóc, cái chết đã kề bên, người mẹ ấy chợt nghĩ đến đàn con của mình nên cất lời van xin kêu cứu. Nhưng thật lạ. Một sức mạnh tiềm ẩn trong lòng mẹ chợt trỗi dậy. Bà mẹ cảm nhận rằng mình.không thề chết trong nhục nhã, không thể để đàn con phải xấu hổ vì minh. Con cò mẹ ấy lại cất tiếng van xin một lần nữa. Xem thêm: Cảm nhận của em về đoạn trích cảnh ngày xuân (trích Truyện Kiều, sách Ngữ văn 9, tập một - NXB Giáo dục, 2008) Nhưng không phải xin được sống mà là xin được chết trong sạch. Đọc lời ca dao ta cảm phục vô ngần. Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Ta thấy được phẩm chất đáng quý ở người phụ nữ hiện lên trong bài ca. Xin được chết trong vì sợ phải đau lòng cò con. Tấm lòng ấy thật cao quý làm sao! Trước cái chết vẫn nghĩ đến phẩm giá trong sạch của mình. Một tấm lòng kiên định bất khuất tiềm ẩn tự bao đời nay đã được lưu truyền trong huyết quản của người phụ nữ. Người mẹ ấy không muốn đàn con phải xấu hổ tủi nhục vì mình. Bà mẹ nghèo vất vả không có gì để lại cho con. Có lẽ chỉ có tấm lòng trong sạch thanh cao là gia tài quý nhất để cho đàn con sau này luôn tự hào về mẹ mà sống tốt đẹp hơn. Bài ca dao làm xúc động lòng người. Những lời ca dao ngọt ngào ấy cứ thấm vào lòng mỗi chúng ta. Ta yêu sao những lời ca tiếng hát cùng hình ảnh con cò chịu thương, chịu khó ấy. Càng đọc, càng thấm ta càng thấu hiểu hơn nỗi khó khăn nhọc nhằn của mẹ mình. Người đã vất vả cả đời vì chồng con không một lời than oán. Mẹ ta đã lặn lội thân cò để cho ta được ăn ngon mặc đẹp. Còn thân mẹ, mẹ có kể gì đâu. Ta chợt nhớ đến câu thơ của Tú Xương khi viết về bà Tú: Lặn lội thân cò khi quăng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Vanmau.edu.vn
Cảm nhận về người phụ nữ Việt Nam qua hình tượng con cò trong ca dao
1,429
Đề bài: Cảm nhận của anh chị về hình tượng nhân vật Chí phèo trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao Trước Cách mạng tháng Tám, số phận người nông dân là mối quan tâm hàng đầu của dòng văn học hiện thực phê phán. Ngô Tất Tố có Tắt đèn với chị Dậu, Nguyễn Công Hoan có Bước đường cùng với anh Pha,… Và đặc biệt là Nam Cao với hàng loạt tác phấm xuất sắc về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Trong đó nối lên hình tượng Chí Phèo trong tác phấm cùng tên. Hình tượng nhân vật này đã đế lại trong lòng người đọc nhiều cảm nhận sâu sắc. Chí Phèo là ai? Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã giới thiệu nhân vật của mình một cách độc đáo. Nhà văn đế Chí Phèo hiện lên trong bộ dạng của một kẻ say rượu: “Hắn vừa đi vừa chửi”. Mà hắn chửi mới lạ lùng và ngoa ngoắt làm sao: “Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cả những ai không chửi nhau với hắn”. Không lạ sao được bởi khi chửi người ta thường phải hướng tới một đối tượng cụ thể đằng này hắn hướng tới tất cả cuộc đời này, trời đất này. Lạ lùng hon nữa, đây không phải là lần đầu tiên hắn chửi bỏi “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi”. Vì sao hắn lại đến nông nỗi ấy? Nhân vật của Nam Cao vừa mới xuất hiện đã trở thành một ấn số khiến người đọc tò mò đoán định: con người ấy không tạo được chút cảm tính nào, song lại gieo vào lòng người một niềm xót xa – hắn anh ta phải có nỗi niềm khố đau nào đó mới đến nỗi dùng rượu đế hủy hoại thân xác, những tiếng chửi đời ngoa ngoắt kia cũng nói lên một điều rằng chủ nhân của nó đã bị mất hết niềm tin vào cuộc đời, vào con người trên thế gian này. Người đọc tò mò đọc tiếp trang truyện và quả thực, cuộc đời Chí Phèo hiện lên như một cuốn phim bi thảm. Chí vốn là đứa trẻ bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn, sự ra đời của hắn không được ai mong đợi. Nói trắng ra, hắn là một đứa con hoang, cha hắn không thừa nhận, mẹ hắn bỏ lại hắn ở cái lò gạch hoang mặc cho sống chết. Vậy là chỉ có cái lò gạch hoang là đón đợi hắn mà thôi. Khi Chí xám ngắt trong chiếc váy đụp thì những người nông dân nghèo khố đã nhặt hắn. Ban đầu là một anh đi thả ống lươn. Sau đó là một bà góa mù rồi bác phó cối. Khi bác phó cối chết, Chí Phèo thành đứa trẻ bơ vơ muốn có miếng ăn Chí phải đi hết nhà này đến nhà khác, nghèo khố và bẽ bàng. Đời hắn bọt bèo, lênh đênh, tội nghiệp chẳng khác chi một thử cỏ dại trôi dạt hết góc này đến xó nọ. Âu đó cũng là tình cảnh chung của số phận người nông dân trước cách mạng, đời họ cũng dập dềnh theo những phen phiêu tán li gia. Kẻ đi ở đợ, người buôn thúng bán mẹt nay đây mai đó, cực nhục hon phải tha hương cầu thực ở xứ người. Đen năm mười tám đôi mươi, số phận đưa đấy Chí tới gia đình lí Kiến. Đen cửa nhà giàu tưởng kiếm được bát cơm manh áo ai ngờ lại gặp địa ngục trần gian. Bởi cái con vợ ba “quỉ cái” của lí Kiến cứ bắt hắn bóp chân khêu gợi những chuyện dâm dạt. Hắn vùng vằng: tuy còn trẻ nhưng hắn cũng phân biệt được đâu là tình yêu chân chính đâu là thói dâm dục xấu xa. Sự cám dỗ đó không làm bản chất của Chí bị bôi nhọ. Chí thực sự là chàng trai tự trọng, lương thiện. Suy cho cùng đó là bản chất tốt đẹp của người nông dân xưa, chất phác, thật thà và đầy tự trọng. Đọc đến đây, người đọc khó có thế quên hình ảnh chị Dậu của Ngô Tất Tố cầm nắm giấy bạc ném vào mặt tên quan bỉ ổi, đê tiện. Hay gần gũi hơn là một nhân vật của chính Nam Cao, lão Hạc, lòng tự trọng đã khiến lão từ chối “gần như là hách dịch” mọi sự giúp đỡ của mọi người, và cuối cùng lão đã dùng cái chết để bảo toàn lòng tự trọng cao quý nơi con người mình. Ớ Chí Phèo, bản chất lương thiện ấy bị cái xã hội tăm tối ra sức hủy diệt. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho tên cường hào lí Kiến bắt giam Chí, biến hắn từ một người lương thiện thành con quỉ dữ. Sau bảy, tám năm ở tù về Chí trở thành một con quỉ dữ đáng sợ “cái đầu thì trọc lốc”, "răng cạo trắng hớn", “trông gớm chết”. Trên người hắn xăm đầy những hình thù quái dị – bản chất của hắn năm xưa đã biến mất. Bây giờ hắn là một kẻ ác chỉ biết làm việc ác. Nhà văn đã dùng đến hai lần từ “gớm chết” để bày tỏ sự kinh hãi và cũng là đế khu biệt hắn với nhũng người dân lương thiện trong cái làng này. Sự lưu manh của Chí thể hiện cụ thế ngay trong nhừng hành động thường nhật. Mua rượu không được hắn đốt quán, hắn lấy mảnh chai rạch mặt ăn vạ kêu làng… Hắn càng ác và đáng sợ hon khi rơi vào tay bá Kiến rồi trở thành công cụ đắc lực cho hắn. Chỉ cần bá Kiến quăng cho vài hào hắn có thế đâm chém bất cứ ai, làm tất cả những gì người ta sai. Càng ngày Chí càng trượt dài trên còn đường tội lỗi lưu manh. Ở đây, với đặc điểm này của Chí Phèo, Nam Cao đã có một phát hiện mới trong đời sống người nông Việt Nam trước Cách mạng. Neu chỉ dừng lại ở việc miêu tả đòi sống khốn cùng, quẫn bách, nỗi cực nhục bọt bèo của người nông dân thì đã có Tắt đèn, đã có Bước đường cùng,… Nhưng cái mới của Nam Cao là đã chỉ ra con đường bị lưu manh hóa về bản chất của người nông dân. Họ vốn chất phác, thật thà, lương thiện và đầy tự trọng. Có những người cả cuộc đời không ra khỏi lũy tre làng thì làm sao có thể hại làng hại nước? Song nhà văn bằng ngòi bút sắc sảo, tỉnh táo đã vạch ra thủ phạm của tội ác đứng sau mỗi con quỷ lương tâm của người nông dân. Đó là những thủ đoạn đê tiện của bọn cường hào địa phương kết hợp với chào hà khắc, tàn bạo của chính quyền thực dân. Chính chúng đã tẩy não, đã nhào nặn lại và rồi bôi bẩn những tâm hồn vốn rất mong manh, lương thiện. Sông, cái tốt đẹp thuộc về bản chất xưa kia ở Chí Phèo như một tiềm thức sâu xa, nó giống như mặt trời có thế bị che mờ nhưng sẽ không bao giờ nguội tắt. Sau giấc ngủ dài mê man, nó cựa quậy, động đậy đòi tỉnh giấc. Nó thúc giục Chí Phèo trở thành người lương thiện. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã mở ra một bước ngoặt lớn lao trong cuộc đời Chí Phèo. Thị Nở chẳng khác nào ánh trăng mát lành của đêm ấy. Tình thương của Thị Nở chang khác nào dòng sông lấp lánh dưới ánh trăng gợi biết bao tình. Điều đó đã thức dậy cái bản chất lương thiện trong Chí làm nó sống lại và thực sự sống lại trong kiếp sống con người. Tình thương quả là một thứ biệt dược, nó có thế khôi phục, chữa lành cả những vết thương bị nhiễm trùng nặng nhất. Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở tràn đầy chất thơ. Thị Nở đã làm sống lại trong Chí sự tụ’ ý thức về mình. Chí Phèo sống lại với mong ước “một gia đình nhỏ”, “chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải quanh năm, hai đứa bỏ vốn nuôi con lọn”. Sau bao nhiêu năm, hôm nay Chí lại nghe “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” hay “tiếng những người đi chợ về hỏi nhau: Hôm nay vải mấy xu hả dì?” Nhũng âm thanh ấy hôm nào chả có? Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy bởi hôm nay Chí mới bừng tỉnh, mới thiết tha hướng về cuộc sống. Bát cháo hành Thị Nở đem đến làm Chí cảm động “Mắt ươn ưót nước” và “hắn cười thật hiền”. Rồi hắn muốn hướng về tương lai, một tương lai bình dị: mái ấm gia đình. Nước mắt, lại là nước mắt đàn ông, Nam Cao từng gọi đó là “lăng kính biến hình của vũ trụ”. Ta có cảm giác giọt nước mắt kia, nụ cười thật hiền trên môi Chí kia đã cuốn đi, đã xua tan quá khứ tối tăm, u ám của hắn. Có lẽ chính giọt nước mất và nụ cười ấy của Chí Phèo Thị Nở đã có khi thầm nghĩ: “Có lúc hắn hiền như đất”. Rồi hắn nói với Thị Nở: “Cứ thế này mãi thì thích nhỉ… hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”. Hắn khát khao muốn trở về thế giói người lương thiện: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao, Thị Nở sẽ mở đường cho hắn". Chính những trang văn trên đã làm sáng bừng cho câu chuyện và sáng bừng lên quãng đòi trôi nổi, tăm tối của Chí Phèo. Chưa khi nào từng cử chỉ, hành động, câu nói của anh khiến ta cảm động như thế. Chúng thể hiện một điều rằng: lần đầu tiên trong đời Chí Phèo gặp được lí tưởng, mục đích sống của đời mình. Nó nằm ở nơi người đàn xấu xí cả xã hội chê bai, xa lánh. Ước mơ giản dị, mong manh của hắn có thế làm bất kì ai cũng phải giật mình nhìn lại những gì mình đang có đế nâng niu và thấy trân trọng nó hon. Xem thêm: Em có nhận xét gì về câu nói của Hoài Thanh khi đọc bài Nhớ rừng: Thế Lữ như một vị tướng điều khiển đội quân Việt ngữ với một mệnh lệnh không thể cưỡng lại đượcNhưng bi kịch đời Chí chưa dừng lại ở đó, Thị Nở đã tù’ chối “lời cầu hôn” của hắn bởi bà cô Thị không cho phép cháu bà lấy một thằng “chỉ có độc một cái nghề rạch mặt ăn vạ”. Ta không trách bà cô Thị Nở, đó cũng là cách nhìn của những người trong xã hội đối với Chí Phèo. Tất cả đã coi hắn là con quỉ dữ không ai còn tin hắn, hắn đã bị cả xã hội cự tuyệt. Chí Phèo “ôm mặt khóc rưng rức”. Hắn rơi vào bi kịch tuyệt vọng muốn làm người mà không ai công nhận. Thế là hắn tìm đến rượu “hắn càng uống càng tỉnh” hắn cứ uống cho đến lúc say mềm lại vác dao vừa đi vừa chơi. Hắn giao tiếp với đời bằng tiếng chửi, còn đời trả lời hắn bằng tiếng chó sủa inh ỏi làng nước. Vậy là đã rõ, đời hắn đã đi vào hồi kết, kiếp hắn cũng chỉ là kiếp chó mà thôi. Mồm thì chửi cô cháu nhà Thị Nở nhưng chân thì đưa hắn đến nhà bá Kiến. Đoạn văn được Nam Cao mô tả vô cùng tinh tế và họp lý. Lúc này, Chí Phèo vừa tỉnh lại vừa say, say để lẩm bẩm giết chết “con khọm già” nhà Thị Nở, tỉnh đế đến nhà bá Kiến đi theo thói quen của tiềm thức sâu xa như một tất yếu. Đen nhà bá Kiến Chí Phèo không xin tiền mà đòi “làm người lương thiện”. Rõ ràng, lúc này hắn đã thấm thìa tình trạng tuyệt vọng vô phương cứu chữa của đời mình. Hắn hét lên: “Ai cho tao lương thiện?”. Câu hỏi của Chí Phèo cũng là câu hỏi của thời đại. Chang ai trả lời hắn bởi đó là “Một câu hỏi lớn không lời đáp” đớn đau đến vô cùng. Câu hỏi làm người đọc như lên một niềm cảm thương sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh không biết đi đâu về đâu trong cái xã hội ngục tù tăm tối ấy. Tuyệt vọng, Chí lao vào đâm chết bá Kiến và tự kết thúc cuộc đời mình. Để Chí Phèo chết Nam Cao đã thế hiện được nhiều ý tưởng sâu xa góp phần tạo nên giá trị hiện thực của tác phẩm. Chí Phèo chết đã trở thành một bản án tố cáo xã hội đương thời, một xã hội phi nhân nghĩa đã tước bỏ quyền sống quyền làm người của những người dân lương thiện. Chí chết cũng có nghĩa là anh ấy không chịu quay lại con đường lưu manh, không chịu sống kiếp sống con vật chuyên làm kẻ ác. Anh ấy thà chết chứ không chịu từ bỏ khát vọng hoàn lương. Đó là sự cảm thông và cũng là niềm tin của Nam Cao vào bản chất tốt đẹp của con người. Khi miêu tả bi kịch trong số phận của Chí Phèo, Nam Cao đã đi sâu giải thích những nguyên nhân tạo nên một mạch của bi kịch ấy. Trong đó có nguyên nhân khách quan, xã hội nửa thực dân nửa phong kiến đã đấy con người vào vòng sa ngã. Cũng có nguyên nhân chủ quan bởi bản thân nhũng người nông dân cùng cảnh ngộ lại quay lung vào nhau, phủ nhận nhau, nhìn nhau bằng con mắt đầy định kiến, tiêu biếu là bà cô Thị Nở. Bị xua đuối, đè nén, những người như Chí đến lúc này đã quay lại chống trả (dẫu sự chống trả vô cùng tiêu cực, nhưng họ còn biết làm gì hon?) bằng con đường lưu manh. Hon nữa, Nam Cao còn nhắc đến Năm Thọ, Binh Chức với tư cách là những “vị tiền bối”, họ hàng gần xa với Chí Phèo. Ket thúc tác phẩm, Nam Cao để Thị Nở nhìn nhanh xuống cái bụng và thấp thoáng hình ảnh “cái lò gạch cũ” hiện ra vắng người qua lại. Rất có thể một Chí Phèo con sẽ ra đời để nối nghiệp bố. Hình tượng Chí Phèo được Nam Cao khắc hoạ thành công và khái quát thành quy luật bản chất của xã hội. Vậy muốn chấm dứt bi kịch của Chí Phèo cần phải tiêu diệt xã hội ấy đi. Đây chính là chiều sâu trong ngòi bút Nam Cao trong miêu tả hiện thực xã hội. Hình tượng nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này. Bài làm 2: Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Bản chất của Chí Phèo là một con người lương thiện, luôn khao khát được sống như một người bình thường, muốn sống lương thiện nhưng lại bị xã hội lúc bấy giờ biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Bi kịch này bắt đầu diễn ra trong nội tâm Chí Phèo khi hắn gặp Thị Nở với “bát cháo hành”. Chính tình yêu Chí Phèo – Thị Nở đã đánh thức con người lương thiện của hắn. Hay nói cách khác chính sự xuất hiện của Thị đã cứu Chí Phèo thoát khỏi tấn bi kịch đó dù chỉ là trong phút chốc Chí Phèo là kiệt tác của Nam Cao. Trên cơ sở người thật, việc thật ở quê mình, tác giả đã hư cấu, sang tạo nên bức tranh hiện thực sống động về xã hội nông thôn Việt Nam trước CMT8 với tất cả sự tăm tối, ngột ngạt cùng bao nhiêu bi kịch đau đớn, kinh hoàng… Dù có được đặt tên là Cái lò gạch cũ, Đôi lứa xứng đôi hay Chí Phèo thì tác phẩm ấy vẫn được nhận ra bởi giá trị hiện thực và nhân đạo vô cùng to lớn của nó. Nhân vật chính Chí Phèo là đại diện điển hình cho bi kịch của những người nôn dân bị tha hoá trong xã hội cũ. Nhưng những cảnh ngộ cùng quẫn, bi đát trong cái xã hội ấy đã không thể làm cho những người dân quê khốn khổ như Chí Phèo mất đi niềm khao khát được sống tốt đẹp và lương thiện. Trong con người họ lúc nào cũng luôn âm ỉ một sự phản khánh vô cùng mạnh mẻ. Một chút về Chí Phèo, ta có thể thấy hắn là một đưa con rơi, ra đời trong cái lò gạch cũ, lớn lên bằng tình thương bố thí của những người nghèo. Khi lớn lên làm canh điền trong nhà Bá Kiến lại bị vợ ba Bá Kiến gọi lên “bóp chân”; Bá Kiến sanh long ghen tuông nên đưa đi tù. Thời gian sau, Chí Phèo lại trở thành “con quỷ dữ của làng “Vũ Đại” tác oai tác quái dân lành. Chí Phèo chìm trong cơn say, chỉ có một lần hắn tỉnh thật sự vào một buối sáng (đã được Thị Nở đánh thức). Nhưng rồi tình yêu bị đổ vỡ. Bế tắc, đi tìm lương thiện, hắn giết Bá Kiến rồi tự giết mình. Chí Phèo chết nhưng chưa hết truyện. Thị Nở “nhìn nhanh xuống bụng” và “và thoáng hiện ra cái lò gạch cũ”. Một “Chí Phèo con” sắp ra đời. Cách sắp xếp khá tinh tế độc đáo. Cứ mỗi lần Chí Phèo ngoi lên thì lại bị cuộc đời này đè xuống. Khiến người đọc phải theo dõi liên tục không thể rời được. Hay cho Nam Cao khi xây dựng được một chiều diễn biến tâm lý nhân vật thật xuất sắc. Ta có thể nhận thấy dễ dàng nhất ở đoạn Chí Phèo mở mắt thì trời đã sang… Một lần hắn tỉnh. Những thanh sắc cuộc sống “mặt trời chắc đã cao”, “tiếng chim ríu rít” lại hiện lên mặc dù hắn đang ở trong cái lều ẩm thấp. Lần đầu tiên hắn tỉnh, và cũng là lần đầu tiên hắn có những rung động với trước cuộc sống. Hắn nghe “tiếng cười nói của những người đi chợ”, “nghe tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”. – Rồi những kỉ niệm xưa lại hiện về. Có lần hắn ước ao “một gia đình nho nhỏ. Chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải…mặc dù chỉ là mơ hồ. – Từ đấy hắn cảm thấy buồn cô độc. + Cái diễn biến tâm lí của một con quỷ đang hướng về lương thiện. Trong truyện ngắn Chí Phèo, quá trình bị cự tuyệt quyền làm người thật ra đã bắt đầu từ lâu, diễn ra đồng thời với quá trình bị tha hoá. Tiếng chửi ngay từ đầu tác phẩm đã thể hiện điều đó.Chí cất lên tiếng chửi trời, chửi đời, chửi làng xóm, tất cả mọi người – những kẻ không chửi lại, cả những kẻ đã đẻ ra hắn. Tiếng chửi ấy như là tiếng hát để được giải thoát, vu vơ, ngân ngơ của một thằng say. Vậy mà nó thật trừu tượng mà cụ thể, xa đến gần, có thứ tự và vô cùng văn vẻ. Tiếng chửi là khao khát được giao tiếp với đời dù là hình thức giao tiếp hạ đẳng nhất.nhưng nó lại không được ai đáp lại cả. Nhưng phải từ khi gặp Thị Nở, tức là từ khi Chí Phèo thức tỉnh, bi kịch mới thật sự bắt đầu. Chí Phèo ngạc nhiên,xúc động khi Thị Nở bê bát cháo hành sang cho Chí Phèo. Hương vị cháo hạnh là hương vị của tình yêu chân thành, hạnh phúc giản dị mà to lớn. Rồi liên tiếp, Chí Phèo đều cảm thấy hơi cháo hành thoang thoảng trong mũi. Lần đầu là khi Thị từ chối, hắn nghĩ ngợi một tí, rồi hình như hiểu, hiểu mình đã có quá nhiều tội lỗi, ngẩn người ra để tự hổi làm sao để trở lại làm một con người bình thường?! Lần thứ hai là lần quyết định hành động, hắn uống thật nhiều rượu nhưng càng uống lại càng tình, tình ra lại buồn, lúc đó hơi cháo hành lại thoang thoảng xuất hiện, đó là ý nghĩa biểu trưng, hắn lại nghĩ đến Thị, phân vân giữa việc làm người và một con quỹ, đó chính là ước mơ lương thiện, làm một con người như mọi người! Rồi đến lúc gặp mặt Bá Kiên, những hành động đó mới là tư thế làm người cuối cùng trước khi chết của Chí Phèo. Một Chí Phèo tỉnh đã giết chết 1 Chí Phèo say. Chí Phèo bằng xương, bằng thịt đã chết nhưng còn lại trong lọng người đọc là Chí Phèo đòi quyền sống, đang dõng dạc đòi làm người lương thiện. Như vậy, khi ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí Phèo không bằng lòng sống như trước nữa. Và CP chết trong bi kịch đau đớn, chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống. Đây không thể là hành động lưu manh mà là sự vùng lên tuyệt vọng của người nông dân khi thức tỉnh cuộc sống. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp diễn… Nguồn Edufly Xem thêm: Hãy tưởng tượng và kể lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật cổ tích mà em yêu thích
Cảm nhận về nhân vật Chí phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao
3,821