text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Một nhà văn có nói: Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người. Em hãy giải thích nội dung câu nói đó.
Hướng dẫn
I. DÀN Ý
1. Mở bài:
– Nhận xét khái quát về vai trò quan trọng của sách trong đời sống của con người.
– Trích dẫn câu nói.
2. Thân bài:
a) Giải thích ý nghĩa câu nói:
* Sách là gì?
+ Là kho tàng tri thức:
– Về thế giới tự nhiên.
– Về đời sống con người.
– Về kinh nghiệm sản xuất.
+ Là sản phẩm tinh thần:
– Sản phẩm của nền văn minh nhân loại.
– Kết quả của quá trình lao động trí tuệ lâu dài.
– Hàng hóa có giá trị đặc biệt.
+ Là người bạn tâm tình gần gũi:
– Giúp ta hiểu điều hay lẽ phải trong đời.
– Làm cho cuộc sống tinh thần thêm phong phú.
* Tại sao Sách là ngọn dèn sáng bất diệt của trí tuệ con người:
+ Sách giúp ta hiểu biết về mọi lĩnh vực:
– Khoa học tự nhiên.
– Khoa học xã hội
+ Sách giúp ta vượt khoảng cách của không gian, thời gian:
– Hiểu quá khứ, hiện tại, tương lai.
– Hiểu tình hình trong nước, ngoài nước.
b) Bình luận về tác dụng của sách:
+ Sách tốt:
– Mở mang trí óc, nâng cao tầm hiểu biết.
– Giúp con người khám phá giá trị của bản thân.
– Chắp cánh cho ước mơ và khát vọng sáng tạo.
+ Sách xấu:
– Tuyên truyền lối sống ích kĩ, thực dụng.
– Gieo rắc những tư tưởng, tình cảm tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cách.
c) Thái độ đối với việc đọc sách:
– Tạo thói quen và duy trì hứng thú đọc sách lâu dài.
– Cần chọn sách tốt để đọc.
– Phê phán và lên án những cuốn sách có nội dung xấu.
3.Kết bài:
– Mỗi người phải biết nói lời đúng, nói lời hay.
II. BÀI LÀM
Đã từ lâu, sách là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Sách là kho tàng lưu giữ khối kiến thức khổng lồ của nhân loại được tích luỹ qua mấy ngàn năm. Sách là chiếc chìa khóa vàng mở cửa tòa lâu đài tráng lệ chứa đựng vô vàn điều kì diệu. Nhận định về giá trị to lớn của sách, một nhà văn có nói: “Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”. Câu nói đó có ý nghĩa như một chân lí khẳng định vai trò quan trọng của sách, đồng thời là lời khuyên mọi người nên tạo cho mình thói quen đọc sách.
Vậy sách là gì mà lại có ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc sống của con người như vậy?
Có thể nói sách là một trong những điều kì diệu nhất mà nhân loại đã sáng tạo ra. Từ hàng nghìn năm trước, khi chưa có chữ viết, chưa có giấy bút thì con người đã nghĩ đến tác dụng của sách và đã có những hình thức đầu tiên của sách, ởTrung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp, la Mã… những mẫu tự cổ, những hình vẽ có tính quy ước được khắc trên xương thú, mai rùa, trên vách đá hoặc những văn ban cổ được ghi chép trên thẻ tre, trên da dê thuộc…
Trong cuộc sống, nếu như không có sách để cung cấp những kiến thức mới lạ và đểgiải trí sau những giờ phút học tập và làm việc căng thẳng thì chúng ta sẽ ra sao? Quả là nhờ có sách mà tầm hiểu biết của chúng ta ngày càng được mở rộng, nâng cao. Những cuốn sách nhỏ bé mang đến cho chúng ta bao điều lớn lao, mới mẻ và thú vị.
Đến với sách, chúng ta không chỉ biết được những việc xảy ra hàng ngày trên khắp thế giới mà còn biết được cả những sự kiện đã xảy ra từ thời xa xưa của lịch sử loài người. Sách còn là hướng dẫn viên tận tình, năng động, sẵn sàng đưa ta du lịch khắp nơi, đến với những danh lam thắng cảnh, những kì quan nổi tiếng.
Rõ ràng, tác dụng của sách là vô cùng to lớn. Ngày nay, người ta vẫn thích thú tìm hiểu những trang sách cố đã có tự ngàn xưa, những hình vẽ bí hiểm trên vách hang động thời tiền sử, những mẫu tự lạ lùng trên các tấm da cừu, những chữ tượng hình trên các thẻ tre… Nhờ có sách làm cầu nối giao lưu mà các dân tộc trên thế giới xích lại gần nhau.
Truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích giúp ta hình dung được cuộc sống, tinh thần, vật chất của người xưa. Sách lịch sử giúp ta hiểu được những giai đoạn lịch sử thăng trầm của một dân tộc, một đất nước. Sách khoa học kĩ thuật đúc kết kinh nghiệm sản xuất và ghi lại những thành tựu trong mọi lĩnh vực… Sách văn học nghệ thuật giúp ta hiểu biết về những niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những ước mơ và khát vọng ngàn đời của con người.
Sách còn giúp người đọc phát hiện và hiểu rõ mình hơn trong mối quan hệ với cộng đồng. Sách khơi dậy những điều tốt đẹp và mở rộng trước mặt ta một chân trời tươi sáng.
Sách còn dạy cho ta biết được bao nhiêu điều hay lẽ phải trong cuộc đời, giúp ta ngày một hoàn thiện hơn về nhân phẩm, đạo đức. Sách không những giúp ta mở mang kiến thức, mở rộng tầm nhìn mà còn mang lại nguồn hạnh phức, sự thanh thản cho tâm hồn. Sách vừa là người bạn thân thiết mang lại niềm tin yêu đến cho ta, vừa là người thầy uyên bác, tận tình luôn bên cạnh chúng ta.
Sách được viết ra không chỉ để cho mọi người đọc mà còn thểhiện ý tưởng, gửi gắm tâm sự của người cầm bút. Khi sáng tác, tác giả đặt ra mục đích viết cho ai? Viết đểlàm gì? Viết như thế nào? Các tác giả có thể viết về nhiều đề tài khác nhau trong cuộc sống, cũng có khi cùng một đề tài nhưng cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề của từng tác giả lại khác nhau.
Từ khi sách trở thành hàng hóa thông dụng và phổbiến trên thị trường thì một số ít người làm công việc xuất bản in sách với mục đích lớn nhất là để kiếm lợi nhuận tối đa. Chính vì họ chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt nên họ sẵn sàng xuất bản và truyền bá những cuốn sách mang nội dung xấu, không phù hợp với ý nghĩa cao đẹp vốn cócủa sách. Hiện nay, đang lưu hành rất nhiều loại sách không rõ xuất xứ, nguồn gốc và không phải bất cứ loại nào cũng là bạn hiền, bạn tốt của mọi người. Vì thế, khi tìm đọc, chúng ta cần phân biệt sách tốt và sách xấu.
Thếnào là sách tốt? Đó là những cuốn sách phản ánh đúng các quyluật của tự nhiên và đời sống xã hội, giúp con người hiểu rõ giá trị của mình, từ đó có ý thức về nghĩa vụ của bản thân đối với cộng đồng. Nó tiếp thêm sinh lực, làm cho con người thêm tự tin, tự hào, có lí tưởng, mục đích sống tốt đẹp, có quyết tâm phấn đấu trong học tập và làm việc để cuộc sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Sau khi đọc một quyển sách hay, tâm hồn ta trở nên phong phú và trong sáng hơn, biết sống nhân ái, biết vươn tới cái đẹp trong cuộc đời.
Còn thế nào là sách xấu? Đó là những cuốn sách có nội dung tiêu cực, đầu độc tâm hồn tuổi trẻ, biến thanh thiếu niên thành những kẻ xấu xa, ích kỉ; hoặc là những cuốn sách xuyên tạc hiện thực đời sống, đưa đến cho người đọc những kiến thức sai lệch về thế giới xung quanh, gây thù hằn và ngờ vực giữa các dân tộc, đề cao bạo lực và chiến tranh, kích động những bản năng thấp hèn của con người.
Những cuốn sách như thể không thể “thắp sáng trí tuệ” của con người mà ngược lại làm cho nhận thức lệch lạc, tình cảm khô cằn, nhân cách suy thoái.
Đọc sách vừa là cách tự học, tự bồi dưỡng kiến thức, vừa là hình thức giải trí lành mạnh. Từ trước đến nay, có không ít những cuốn sách không chỉ khai sáng cho một người, trăm người, triệu người… mà cho cả nhân loại. Những trang sách của Brunô, Galilê về trái đất và thái đương hệ đã mở ra cho loài người một thời kì mới trên con đường chinh phục vũ trụ.
Đọc tiểu thuyết Bandắc, ta hiểu ma lực ghê gớm của đồng tiền trong xã hội tư bản châu Âu thế kỉ trước. Đọc thơ Tago, thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, ta hiểu đời sống tinh thần phong phú của con người phương Đông. Đọc thơ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát… ta hiểu xưa kia cha ông ta từng đau khổ và mơ ước những gì. Đọc thơ của Hồ Chí Minh, ta hiểu cái dũng, cái trí, cái nhân của người chiến sĩ cách mạng đẹp đẽ biết nhường nào. Có thể kết luận rằng lợi ích của sách là vô cùng lớn lao. Đúng với nhận xét: “Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người”.
Hàng ngàn năm qua, con người đã sáng tạo ra sách và ham mê đọc sách. Xưa kia, sốngười biết chữ rất hạn chế cho nên đọc sách chỉ là đặc quyền của một số ít người. Ngày nay, thú đọc sách là của tất cả mọi người. Trong thời đại khoa học phát triển mạnh mẽ, mặc dù có rất nhiều phương tiện học tập và giải trí hiện đại như tivi, trò chơi điện tử, phim ảnh, băng đĩa các loại… nhưng không gì có thể thay thế được vai trò của sách. Sách vẫn tiếp tục phát huy khả năng kì diệu của nó. Ta thử hình dung một thế giới không có sách thì sẽ ra sao? Điều đương nhiên là không có sách, nền văn minh nhân loại sẽ dần dần tàn lụi. | Một nhà văn có nói_ Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ con người. Em hãy giải thích nội dung câu nói đó. | 1,736 | |
Một nén hương tưởng niệm (Về bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên) – Bình giảng Ngữ Văn 8
Hướng dẫn
Một nén hương tưởng niệm
Cảnh tàn tạ của Nho học một thời mà ông đồ là nhân chứng tiều tuỵ cuối cùng của nó tạo nên niềm thương cảm sâu xa không chỉ đối với một lớp độc giả khi bài thơ xuất hiện. Cái khắc khoải, cái day dứt không nguôi ấy còn mãi về sau bởi vì nói đến Nho học là nói đến một nền văn hoá du nhập vào nước ta không dưới một ngàn năm. Nó gắn bó với biết mấy buồn vui, nó đắp bồi nên bao mối quan hệ, nó tạo ra lẽ sống con người,… ấy là một nền văn minh truyền giữ từ đời này qua đời khác. Trước những biến thiên của lịch sử, trước xu hướng Âu hoá, một nền kinh tế khác, một nền yăn hoá khác đang tiến vào làm rạn nứt và đổ vỡ những gì trước đó tưởng như trường cửu, mãi mãi không thể đổi thay. Nén hương tưởng niệm mà bài thơ thắp lên hướng về không chỉ một con người, mà còn một thế hệ, một nền văn hoá văn minh, một thời đại đã không còn trước quy luật tiến lên của lịch sử. Cái hay của bài thơ không chỉ ở ý nghĩa xã hội (độ rộng) vừa nêu, mà còn ở hình tượng (độ sâu) của nó. Bài thơ vừa tả cảnh vừa ngụ tình. Sự đan xen vốn là thuộc tính của nghệ thuật thơ ca ấy xuyên suốt bài thơ một cách vô cùng nhất quán, cả hai ý nghĩa nội dung lại chứa đựng trong một hình thức thể loại, một ngôn ngữ, một kết cấu thật là độc đáo.
Để hiểu đúng bài thơ, không thể không đi vào kết cấu, một kết cấu không chỉ giản đơn là đối lập xưa và nay, quá khứ với hiện tại. Ấy là kết cấu nổi, kết cấu một tầng. Nếu như thế chỉ cần so sánh như có người đã so sánh: bài thơ mở đầu là “Mỗi năm hoa đào nở – Lại thấy ông đồ già”, và kết thúc là “Năm nay đào lại nở – Không thấy ông đồ xưa”. Và từ đó mà chỉ ra rằng: đó là kiểu kết cấu đầu cuối tương ứng, chặt chẽ để làm nổi bật chủ đề. Nhưng thực ra, đằng sau cái kết cấu tổng thể có tính chất khái quát vừa nêu, còn có một cái gì ở bên trong nó. Như mối liên hệ giữa quá khứ với quá khứ, một quá khứ xa với một quá khứ gần giữa hai khổ đầu (1, 2) với hai khổ tiếp theo (3, 4). Và ngay trong phạm trù thời gian không thuộc thời hiện tại đã diễn ra một đối lập rồi. Hình tượng ông đồ ngay trong quá khứ đã ở vào hai đối cực: được chào đón, tiếp nhận và bị lãng quên, bỏ rơi. Vậy khai thác kết cấu bài thơ thế nào cho đúng? Phải chăng nên dựa hẳn vào dòng chảy thời gian mà bóc vào ba lớp, mà mỗi lớp ấy đều đánh dấu bằng khái niệm “năm” vì thế mỗi năm, đào ngày Tết chỉ có một lần. Đó cũng là ba nấc:
– Mỗi năm hoa đào nở…
– Nhưng mỗi năm mỗi vắng…
– Năm nay đào lại nở…
Ba nấc thang không phải lên cao mà là hạ dần xuống thấp ấy gắn với ba cảnh. Cảnh ấy có tình, được diễn tả một cách vừa đặc trưng vừa dồn nén tạo được những ấn tượng riêng cho mỗi bức tranh.
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Một chữ lại nhịp nàng, ấm áp. Ông đồ trở thành một đường nét không thể thiếu được của mùa xuân. Cứ hoa đào nở là người xuất hiện như ông già Nô-en trước đêm trừ tịch phương Tây. Hai màu đỏ, màu đỏ của hoa, màu đỏ trên giấy của người cho chữ đều nổi bật lên giữa một cái nền nhộn nhịp tưng bừng của phố xá, kẻ lại người qua đông đúc. Hai màu đỏ ấy là trung tâm tạo nên một không gian màu hồng cho các vùng kẻ chợ. Những bâu thơ bằng ngôn ngữ kể, tả xinh xắn gọn gàng không ôm đồm mà khêu gợi ấy phải chăng là rất thích hợp với một tâm trạng người viết thoáng chút xốn xang. Thật tự hào cho một mĩ tục được bảo tồn, những tinh hoa đang được ngưỡng mộ. Cũng vinh dự thay cho một tài năng thư pháp được tôn vinh. Hoa đào ở khổ một đã nhường chỗ cho hoa tay trong khổ hai chính là niềm vinh dự ấy:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Khổ thơ mang chất kí sự, chỉ ghi chép những gì nhìn thấy như thiên kí sự Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp mà vẫn say đắm lòng người, ấy cũng bởi cái tình của người viết. Giữa nhà thơ và ông đồ có một mối tương giao, tri kỉ.
Hai hình tượng ấy khó tách bạch phân chia, phải chăng họ là những người cùng hội, cùng thuyền, những người đồng điệu?
Chính vì là đồng điệu mà nhà thơ có một linh cảm không vui khi cơn gió đã đổi chiều, đổi chiều mà không hiểu vì sao mới thành ngơ ngác:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Một chữ nhưng đặt ở đầu câu nói lên một sự thật, cũng nói lên một tâm trạng. Sự thật ấy là mọi cái đã khác xưa, tâm trạng ấy là bất ngờ, sửng sốt. Đọc kĩ khổ thơ thứ ba, ta mới nhận ra một xu thế khó lòng đảo ngược để tất cả trở về vị trí ban đầu (khổ 1). Đông (“Bên phố đông người qua”) đã thành vắng (“Nhưng mỗi năm mỗi vắng“). Đến đã thành đi. Những con người quen thuộc ngày nào nay đã trở nên xa lạ. Có lẽ vẫn là những con người ấy, nhưng trong lòng họ không còn bóng dáng ông đồ. Giữa họ và ông đã diễn ra cảnh đồng sàng dị mộng. Giữa biển người mênh mông đó, ông như một hòn đảo cô đơn. Một câu hỏi nghi vấn có từ nghi vấn, có dấu chấm hỏi ở cuối câu không có lời đáp, không có hồi âm như tan loãng vào không gian hun hút thì đấy là tâm trạng xót xa, ngao ngán đâu còn của người ngoài cuộc nữa. Phải nhập thân vào hình tượng ông đồ đến mức nào mới viết được hai câu thơ, trong đó, cái thực và cái ảo xen nhau:
Giấy đỏ buồn không thắm ;
Mực đọng trong nghiên sầu…
Buồn, sầu vốn là tâm trạng con người, nhưng ở đây lại dùng cho giấy, cho nghiên. Câu thơ có vẻ không thực ấy hoá ra thành thực biết chừng nào! Ở đây cái buồn, cái sầu của ông đồ đã thấm vào giấy, vào nghiên. Đúng là “Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ?” (Nguyễn Du). Nhưng cảíih là nói chung còn giấy, mực vốn gắn với máu thịt với ông đồ, có nó ông mới khẳng định được tài hoa, mà bây giờ cũng buồn bã thế kia. Nó chính là cái tủi. Giấy đỏ đã không còn đỏ, mực đã đọng thành keo. Thật ngán ngẩm cho một thời cái đẹp đã lên ngôi naỳ không còn nữa. Bản thân ông, chữ thánh hiền của ông, nền vãn hoá mà lối chữ tượng hình đó gìn giữ cho mai sau nào có ra gì? Biết là như thế, nhưng vì sao “Ông đồ vẫn ngồi đấy”? Câu thơ không chịu lùi bước ấy vừa như một phương châm của khí tiết không chịu thất bại trước hoàn cảnh cũng vừa như những gắng gượng cuối cùng, đã đuối sức lắm thay! Lặng lẽ, khiêm nhường, đơn côi, lạc bước. Có ông mà cũng như không có ông. Thực thì, ông đã lùi đến cái chõ không thể lùi thêm để nhường chỗ cho kẻ qua người lại vô tình, cho lá vàng, mưa bụi:
Qua đường không ai hay,
Lá vàng rơi trên giấy ;
Ngoài giời mưa bụi bay.
Sự phủ nhận đối với ông đồ cứ tới tấp, cứ lớp lớp tầng tầng như thế, nhưng lại làm ra vẻ vô tình. Thì ra sự lạnh nhạt, dửng dưng cũng có ý nghĩa như sự giết chết con người bằng cách riêng của nó. “Chết đuối người trên cạn mà chơi” (Cung oán ngâm khúc).
Như thế là con sóng thời gian đã hai lần chứng kiến sự lên ngôi và thoái vị của Nho học ngàn năm. Nó tung hô và xô đẩy những phên dậu cuối cùng không hề thương tiếc. Vẫn là những câu thơ ngũ ngôn không đẽo gọt cầu kì mà thâm trầm ở bề sâu của nó. Vẫn là giọng thơ mang dáng dấp khách quan tả, kể mà không giấu nổi ngậm ngùi. Riêng các hệ thống chi tiết quan trọng làm nền cho bài thơ thì không ngừng biến hoá. Ở hệ thống sắc màu của giấy đỏ thì từ màu sắc thấm tươi (khổ 1) đã không còn thắm nữa (khổ 3), rồi không còn màu, chỉ còn giấy (khổ 4), thay cho giấy đỏ chỉ còn lá vàng (Lá vàng rơi trên giấy) tàn héo rụng rơi. Cũng là quy luật nghiệt ngã này trong hệ thống người thuê viết, ta nhận thấy: Sự vồ vập, ngưỡng mộ (khổ 1 và 2) đến chỗ xa lạ (khổ 3) và quên lãng (khổ 4). Hệ thống các chi tiết này tuy khác nhau, nhưng lộ trình của nó, lô gích của nó thì y hệt như nhau: hợp rồi tan, vui đến buồn, tốt tươi để tàn héo. Riêng hình tượng trung tâm, hình tượng ông đồ không nằm ngoài quy trình ấy, nhưng vì là hình tượng trung tâm, cần tập trung vào khổ cuối:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Nlĩữnẹ người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Để hiểu được sự vắng mặt vừa đột ngột vừa không đột ngột của ông đồ, cần đặt hình tượng này trong tổng thể cả bài, trong tiến trình từ có thành không (có ở bốn khổ đầu và không ở khổ cuối). Nó đột ngột ở chỗ: trong cảnh Tết đến xuân về, chưa bao giờ vắng mặt ông đồ, còn giờ đây khi bài thơ kết thúc, không thấy ông đồ đâu. Không những vắng mặt mà địa chỉ của ông cũng không còn.
Trong cuộc đời làm thơ, Vũ Đình Liên viết không nhiều, và các bài thơ không nhiều ấy khơi nguồn từ “lòng thương người và tính hoài cổ” (Hoài Thanh). Ông đồ đã hội tụ được cả hai mạch cảm hứng ấy, nó đã là một tinh hoa.
Niềm u uất không nguôi | Một nén hương tưởng niệm (Về bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên) – Bình giảng Ngữ Văn 8 | 1,849 | |
Một nét đẹp văn hóa của xứ Huế – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Qua những áng văn chương, chúng ta đã được thưởng thức biết bao nét đẹp của nhiều vùng đất nước. Ở miền Bắc, tiêu biểu là Hà Nội, có cốm Vòng thơm dẻo, có mùa xuân dịu dàng… Ở miền Nam, tiêu biểu có Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh – cảnh ngọc ngà, người nhân hậu… Còn ở miền Trung, vùng đất ờ giữa thân hình Tổ quốc Việt Nam – cố đô Huế thì sao? Nhiều nghệ sĩ xưa và nay từng gọi Huế là vùng đất mộng và thơ. Một trong những chất mộng và thơ ấy của Huế là kho tàng nhũng bài ca dao – dân ca, là những cuộc biểu diễn và thưởng thức ca nhạc Huế trên sông Hương vào những đêm trăng trong, gió mát. Đấy là một nét đẹp văn hoá của xứ Huế. Đọc bài bút kí Ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh, chúng ta sẽ được tham dự, thưởng thức một sinh hoạt đậm màu sắc văn hoá độc đáo của vùng đất miền Trung ruột thịt ấy.
Vì là bút kí – một thể văn xuôi trữ tình – nên bài văn không có bố cục chặt chẽ. Ngôn từ, hình ảnh cứ tự nhiên buông thả, trôi theo dòng suy nghĩ, cảm xúc của người viết. Đọc văn, chúng ta cũng có cảm giác được trôi theo ý, tình của tác giả, để cùng tác giả suy nghĩ, rung động trong tiếng nhạc, lời ca xứ Huế, trôi trên sông nước Hương Giang, trôi trong ánh trăng thanh, hơi gió mát…
“Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò…”. Tác giả Hà Ánh Minh nhận xét như thế. Và đã điểm qua một số làn điệu dân ca Huế với những đặc điểm nổi bật đáng ghi nhớ: chèo cạn, bài thai, hò đưa linh buồn bã. Hò giã gạo, ru em, giã vôi, giã điệp, bài chòi, bài tiệm, nàng vung náo nức nồng hậu tình người. Hò lơ, hò ô, xay lúa, hò nện thì gần gũi với dân ca Nghệ Tĩnh. Ngoài ra còn có các điệu lí như lí con sáo, lí hoài xuân, lí hoài nam,… Tuy mỗi làn điệu mang âm sắc, tiết tấu khác nhau, nhưng dường như dân ca xứ Huế đều giống nhau là: “Thể hiện lòng khao khát, nỗi mong chờ hoài vọng thiết tha của tâm hồn Huế”. Tâm hồn ấy như thế nào? Phải chăng đó là tình yêu quê hương, đất nước, là tình người nhân hậu thuỷ chung, là những khát vọng về cuộc sống luôn được ấm no, hạnh phúc,… hoà trong tâm hồn Việt Nam ở mọi miền đất nước?
Buổi diễn xướng bắt đầu. Cả không gian, ánh trăng, mặt nước, lòng người cùng bùng lên bởi những âm thanh của các loại nhạc khí hoà họp với giọng ca diu dặt, uyển chuyển của các ca công. Những bản nhạc có mang những cái tên độc đáo: “lưu thuỷ, kim tiền, xuân phong, long hổ…” ngân lên dưới các ngón,đàn tài hoa, trau chuốt “nhấn, mổ, vỗ, vả, ngón bấm, day, chóp, búng, ngón phi, ngón rãi…”. Tiếng’ đàn khoan nhật làm xao động tận đáy hồn người. Nhũng lời ca cũng ngân lên hoà trong thanh sắc của tiếng đàn, nhịp phách. Khúc điệu Nam – Nam ai, Nam bình, quả phụ, nam xuân, tương tư khúc, hành vân nghe buồn man mác, thương cảm, bi ai, vương vấn. Khúc tứ đại cảnh mang âm hưởng điệu Bắc pha điệu Nam không buồn không vui mà lâng lâng biết bao nỗi niềm. Tất cả, âm thanh, lời hát, ánh trăng, sóng nước, tâm hồn người nghệ sĩ và người thưởng thức hoà quyện với nhau khi sôi nổi, tươi vui, lúc bâng khuâng, tiếc thương, ai oán, khi thong thả, trang trọng, lúc dồn dập, thiết tha gợi lên tình người, tình đất nước, trai hiền, gái lịch,… Nhà văn Hà Ánh Minh thật tinh tế, đắm say khi vừa miêu tả phong cảnh, vừa ghi âm các bản nhạc, lời ca, vừa suy ngẫm, nhận diện tên các tác phẩm dân gian đặc sắc xứ Huế. Hoà trong cảm nhận, nghĩ suy ấy của tác giả, chung ta hiểu thêm nhiều điệu thức, bài ca độc đáo của Huế mộng và thơ.
Xem lại bài bình giảng Cuộc chạm chán giữa kẻ phản bội và bậc anh hùng | Một nét đẹp văn hóa của xứ Huế – Bình giảng văn 7 | 756 | |
Một phương diện để nhớ và noi gương Bác Hồ vĩ đại – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Chúng ta, nhất là thanh thiếu niên Việt Nam từng được nghe nhiều người kể chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh — Bác Hồ kính yêu của dân tộc, về những kỉ niệm được gặp Bác Hồ, được làm việc bên Bác, học tập ở Bác biết bao điều bổ ích. Một trong những người được gần gũi và hiểu Hồ Chủ tịch nhất là Phạm Văn Đồng, nguyên Thủ tướng chính phủ nước Việt Nam trong nhiều năm. Phạm Văn Đồng là người học trò xuất sắc, là cộng sự gần gũi của Hồ Chí Minh. Suốt mấy chục năm liền, ông được sống và làm việc bên cạnh Bác Hồ. Vì vậy, ông đã viết nhiều bài và sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sự hiểu biết tường tận và lòng kính yêu chân thành, thắm thiết của mình. Bài Đức tính giản dị của Bác Hồ là một trong số văn bản ấy. Văn bản trong sách giáo khoa là đoạn trích từ bài diễn văn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc trong lễ kỉ niệm tám mươi năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19 – 5 – 1970). Học văn bản này, chúng ta có thêm một phương diện nữa để nhớ và noi gương Bác Hồ vĩ đại.
Đây là văn bản thuộc thể văn nghị luận chứng minh, xen kẽ đôi đoạn giải thích, bình luận. Vấn đề mà tác giả nghị luận là: Đức tính giản dị của Bác Hồ được biểu hiện trong cách ăn ở, sinh hoạt, cách ứng xử và trong lời nói, bài viết.
Vì là đoạn trích, nên văn bản này không đầy đủ ba phần trong bố cục thông thường của bài nghị luận. Bài chỉ có hai phần:
Mở bài (từ đầu đến “… thanh bạch, tuyệt đẹp”) sự nhất quán giữa cuộc đời cách mạng và phong cách sống giản dị, thanh bạch ở Bác Hồ.
Thân bài (đoạn còn lại) chứng minh sự giản dị của Bác Hồ trong phong cách sống, trong lời nói, bài viết.
Bài văn lập luận sáng tỏ, rành mạch, liên kết với nhau rất chặt chẽ. Tác giả sử dụng các lí lẽ và dẫn chứng, dùng thao tác chúng minh, giải thích, bình luận (chứng minh là chính) một cách hài hoà, tự nhiên, đầy thuyết phục. Theo sự dẫn dắt ấy, chúng ta hiểu và suy ngẫm, rút ra được nhiều bài học bổ ích, vừa nhớ vừa thêm kính yêu Bác.
Ngay ở phần đầu trong luận đề, tác giả đã nêu một nét đặc trưng tiêu biểu trong nhân cách vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “nhất quán giữa đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống bình thường vô cùng giản dị và khiêm tốn”. Câu văn gồm hai vế đối lập, bổ sung cho nhau: “đời hoạt động lay trời chuyển đất” và “đời sống bình thường vô cùng giản dị…”. Điều đó giúp chúng ta hiểu rằng Bác Hồ vừa là bậc vĩ nhân, lỗi lạc, phi thường vừa là người bình thường, rất gần gũi, thân thương đối với mọi người. Điều đó xua tan quan điểm của một vài người muốn thần thánh hoá Bác, coi Bác là siêu nhân huyền thoại xa vời, chỉ để thờ phụng mà không chịu tìm hiểu, học tập. Nhấn mạnh thêm nét đặc trung về “sự nhất quán” trong cuộc đời và phong cách sống của Bác, tác giả giải thích: “trong 60 năm của một cuộc đời đầy sóng gió…, Bác Hồ vẫn giữ nguyên phẩm chất cao quý của một người chiến sĩ cách mạng, tất cả vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, trong sáng, thanh bạch…”. Phẩm chất vừa vĩ đại vừa giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng về nhân dân, gắn bó với hạnh phúc nhân dân. Sự trong sáng, thanh bạch của Bác vừa bắt nguồn từ nhân dân vừa bổ sung, góp phần nâng cao cuộc đời và phẩm giá làm người trong sáng, thanh bạch của nhân dân. Luận đề và cách lập luận của Phạm Văn Đồng ngắn gọn mà sâu sắc biết bao. Đức tính giản dị của Bác Hồ được toả sáng ở từng từ, từng câu văn trong cách lập luận ấy.
Trước hết, tác giả nêu ra và giải quyết luận điểm một: Đời sống của Bác Hồ giản dị. Dẫn chứng ngắn gọn, bằng lời văn kể chuyện nhỏ nhẹ: “Bữa cơm chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hột cơm, ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại thì được sắp xếp tươm tất… Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng … luôn lộng gió và ánh sáng… Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ việc rất lớn… đến việc rất nhỏ… việc gì Bác tự làm được thì không cần người giúp…”. Xen giữa những lời kể, những dẫn chứng, tác giả bình luận, đánh giá cũng bằng lời văn nhỏ nhẹ mà thấm thìa. Chẳng hạn về cách ăn uống của Bác, tác giả viết: “ở việc làm nhỏ đó, chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ”. Nhận xét căn nhà, phong cách sinh hoạt của Bác, tác giả viết: “Một đợi sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao!”. Nhấn thêm một bước nữa, tác giả giải thích cội nguồn, đối chiếu đức tính giản dị của Bác bằng vài ba lí lẽ dễ hiểu mà sâu sắc. Bác sống giản dị không phải là theo lối sống khắc khổ của các nhà tu hành, cũng không phải kiểu nhà hiền triết ẩn dật. Sống giản dị về đời sống vật chất bởi vì Bác Hồ có đời sống tinh thần phong phú. Đó là cuộc sống cách mạng vì một lí tưởng cao đẹp. Đọc văn của Phạm Văn Đồng, chúng ta nhớ lại chính Bác Hồ cũng tự kể về cuộc sống của mình trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó… mà Người làm ở Việt Bắc năm 1941:
Sáng ra bờ suối tối vào hang,
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng,
Băn đá chông chênh dich sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
Sự giản dị về vật chất, càng làm nổi bật sự phong phú về đời sống tinh thần khiến cho Bác luôn sống vui, sống khoẻ như Bác tự nhận xét “Sống quen thanh đạm nhẹ người – Việc làm tháng rộng ngày dài ung dung” (Sáu mươi ba tuổi) và như nhà thơ Tố Hữu ca ngợi: “Mong manh áo vải hồn muôn trượng…” Theo chân Bác). Có thể nói, phong cách sống giản dị của Bác Hồ “là đời sống thực sự văn minh, nêu gương sáng cho thế giới ngày nay”. Đoạn văn được sơ kết bằng câu văn như thế, vừa có giá trị khái quát, nhấn mạnh luận điểm, vừa rút ra bài học thiết thực của tác giả. Từ đó chuyển tới bạn đọc chúng ta ngày nay lời thông điệp tâm huyết: Hãy tìm hiểu, hãy suy ngẫm về đức tính giản dị trong cách sống của Bác Hồ, để nhớ Bác, biết ơn, kính trọng và mãi mãi noi gương Bác. Văn nghị luận vốn chỉ biểu ý, ít biểu cảm. Nhưng trong những lời văn ấy vẫn toát ra tình cảm của người viết làm lay động tình cảm người đọc.
“Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong tác phong, Hồ Chủ tịch cũng rất giản dị trong lời nói và bài viết”. Câu văn chuyển ý rất tự nhiên, từ luận điểm một vào luận điểm hai. Chứng minh ý này, tác giả lập luận theo kiểu nhân – quả. Phạm Văn Đồng nêu “Vì muốn quần chúng hiểu được, nhớ được, làm được”, rồi đưa ra hai dẫn chứng lời nói bài viết giản dị của Bác: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” ; Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí ấy không bao giờ thay đổi. Hai câu văn trên được trích từ những văn kiện quan trọng mà Hồ Chí Minh đã viết, đã đọc trước nhân dân cả nước. Câu thứ nhất, Bác viết, rồi đọc trong thời kì chống Mĩ cứu nước sôi động, năm 1967. Câu thứ hai, Bác phát biểu giữa những ngày căng thẳng, nóng bỏng đầu năm 1946. Chúng ta cũng có thể dẫn ra nhiều bài thơ, câu văn, bài văn, lời nói giản dị mà sâu sắc của Bác. Chẳng hạn lời Bác hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không” trong giờ phút đọc Tuyên ngôn Độc lập, những bài thơ Bác viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những câu văn của Bác trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, v.v. Nhiều câu nói, lời văn của Bác tuy giản dị nhưng chứa đựng nội dung sâu sắc như những chân lí. Vì vậy, khái quát, đánh giá ý nghĩa và hiệu quả của chúng, Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Những chân lí giản dị mà sâu sắc đó lúc thâm nhập vào quả tim và bộ óc của hàng triệu con người đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng”. Câu văn bình luận ấy vừa ngợi ca hiệu quả, tác dụng của những bài viết, những tư tưởng của Bác Hồ, vừa sơ kết, khái quát luận điểm hai trong áng văn nghị luận.
Qua văn bản Đức tính giản dị của Bác Hổ, chúng ta hiểu rằng: cùng với nhiều phẩm chất cao quý khác, giản dị là đức tính nổi bật ở Bác Hồ. Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, Bác Hồ cũng giản dị trong lời nói và bài viết. Ớ Bác Hồ, đời sống vật chất giản dị hoà hợp với đời sống tinh thần phong phú, với tư tưởng và tình cảm cao đẹp. Viết bài văn này, tác giả không chỉ trình bày những điều mình biết về Bác Hồ mà còn biểu hiện biết bao tình cảm kính yêu, trân trọng Bác, những bài học đạo đức cao đẹp mà mình đã tiếp nhận từ tấm gương sáng ngời Hồ Chí Minh. Do đó, đọc bài văn này, chúng ta đựợc thêm một phương diện nữa để hiểu Bác, nhớ Bác và noi gương Bác Hồ vĩ đại.
Xem lại bài bình giảng Tiếng Việt giàu và đẹp | Một phương diện để nhớ và noi gương Bác Hồ vĩ đại – Bình giảng văn 7 | 1,820 | |
Một số bài cảm thụ các đoạn văn đoạn thơ hay ngoài chương trình – Cảm thụ văn học lớp 4
Hướng dẫn
Cảm thụ văn học lớp 4
Một số bài cảm thụ các đoạn văn đoạn thơ hay ngoài chương trình
Bài 1: Đoạn thơ
“Nhà anh có một cây hồng
Qua son nhún nhảy đèn lồng cành tơ
Cây hồng như thực như mơ
Khách qua đường những ngẩn ngơ ghé nhìn”
“Cây Hồng” – Tố Hữu
Em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả trong đoạn thơ trên. Với cách miêu tả ấy, nhà thơ giúp em cảm nhận được hình ảnh cây hồng như thế nào?.
Gợi ý:
+ Nghệ thuật:
dùng hình ảnh gợi tả. “Nhún nhẩy” “ngẩn ngơ”
So sánh: “Quả son” – “Đèn lồng”
+ Nội dung:
Miêu tả vẻ đẹp rực rỡ quyến rũ của cây hồng vào mùa quả chín.
Bài 2: Đoạn thơ
“Vui sao khi chớm vào hè
Xôn xao tiếng sẻ, tiếng ve báo mùa
Rộn ràng là một cơn mưa
Trên đồng bông lúa cũng vừa uốn câu”
“Mùa xuân – mùa hè” Trần Đăng Khoa
Đoạn thơ trên miêu tả cảnh gì?
Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ.
Gợi ý:
+ Nghệ thuật: đảo ngữ – dùng từ gợi tả
“Xôn xao – tiếng sẻ, tiếng ve”
“Rộn ràng là một cơn mưa”.
+ Nội dung: Đoạn thơ miêu tả khung cảnh tươi đẹp sống động của quê hương khi chớm vào hè.
Bài 3:
“Quê em đồng lúa nương dâu
Bên dòng sông nhỏ nhịp cầu bắc ngang
Dừa xanh toả mát đường làng
Ngân nga giọng hát, rộn ràng tiếng thoi”.
“Quê em” Nguyên Hồ
Gợi ý:
+ Nghệ thuật:
– Liệt kê các sự vật, “đồng lúa” nương dâu, dòng sông, cây cầu, dừa…
– Đảo ngữ
“Ngân nga giọng hát
“Rộn ràng tiếng thoi”
+ Nghệ thuật so sánh và liệt kê các sự vật được sử dụng khéo léo gợi cảnh đẹp gần gũi, giản dị mà nên thơ và cuộc sống sinh hoạt sôi nổi vui tươi của quê hương.
+ Đoạn thơ thể hiện tình yêu, sự gắn bó của nhà thơ đối với cảnh vật quê hương.
+ Cảm xúc của bản thân: yêu thích cảnh vật quê hương gắn bó với quê hương.
Bài 4:
“Bên này là núi uy nghiêm
Bên kia là cánh đồng liền chân mây
Xóm làng xanh mát bóng cây
Sông xa trắng cánh, buồm bay lưng trời”
“Quê em” Trần Đăng Khoa
Cảnh quê hương hiện lên trong bài thơ trên đẹp như thế nào? Nêu cảm nhận của em khi đọc bài thơ trên.
Gợi ý: Cần nêu được
+ Nghệ thuật:
– Dùng hình ảnh gợi tả núi “uy nghiêm” ; cánh đồng “liền chây mây” “xanh mát”.
– Đảo ngữ: “Xanh mát bóng cây”, “Trắng cánh buồm”
→ Nội dung: Cảnh quê hương đẹp, thơ mộng, thanh bình, yên ả, sơn thuỷ hữu tình – thể hiện tình cảm, sự gắn bó, tự hào của tác giả với quê hương.
Bài 5: Em hãy nêu cảm nhận của mình khi đọc bài thơ sau:
Sau làn mưa bụi tháng ba
Luỹ tre xém đỏ như là lửa thiêu
Nền trời rừng rực sáng treo
Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay.
(“Tháng ba” – Trần Đăng Khoa)
Gợi ý: Nghệ thuật dùng hình ảnh gợi tả luỹ tre “xém đỏ” nền trời “rừng rực”
+ So sánh: “Cỏ cây xem đỏ như là lửa thiêu
+ Liên tưởng: Hình ảnh ngựa Thánh Gióng
+ Nội dung: Cảnh sắc tươi đẹp, huy hoàng tráng lệ của quê hương vào tháng ba.
Bài 6:
“Mùa xuân hoa nở đẹp tươi
Bướm con, bướm mẹ ra chơi hoa hồng
Bướm mẹ hút mật đầu bông
Bướm con đùa với nụ hồng đỏ tươi”.
“Mùa xuân – mùa hè” – Trần Đăng Khoa
Nêu cảm nhận của con khi đọc đoạn thơ trên?.
Gợi ý: Cần nêu được
+ Nghệ thuật dùng từ gợi tả “đẹp tươi” “đỏ tươi”, nhân hoá: “ra chơi” “đùa” → Cảnh đẹp tươi tắn, sống động của vườn hoa mùa xuân.
Bài 7:
Lên thăm nhà Bác hôm nay
Trắng ngần hoa huệ hương bay dịu hiền
Tưởng trong truyện cổ, cảnh tiên
Nhà sàn mát mẻ kề bên mặt hồ”
“Lên thăm nhà Bác” Hằng Phương
Cảnh nhà Bác qua cảm nhận của nhà thơ có những nét đẹp gì? Em hãy trình bày rõ.
“Chiếc nhẫn bằng thép” – Pantôpxki
Nội dung chính của đoạn văn trên là gì? Nghệ thuật nào đã làm nổi bật cái hay cái đẹp của đoạn văn?
Gợi ý: Cần nêu được
+ Nghệ thuật nhân hoá: “liếc, dạo, bước”
So sánh “Mùa xuân … như bà chủ trẻ tuổi”
+ Nội dung: Vẻ đẹp của cảnh giao mùa của nước Nga xinh đẹp.
»Tải về file word tại đây
– Chủ điểm: Có chí thì nên – Cảm thụ văn học lớp 4
– Chủ điểm: Vẻ đẹp muôn màu – Cảm thụ văn học lớp 4
Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4 | Một số bài cảm thụ các đoạn văn đoạn thơ hay ngoài chương trình – Cảm thụ văn học lớp 4 | 785 | |
Một số vấn đề chung – Cảm thụ văn học lớp 4
Hướng dẫn
Một số vấn đề chung – Cảm thụ văn học lớp 4
I. Thế nào là cảm thụ văn học:
Cảm thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện bài văn, bài thơ) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ… thậm chí là một từ ngữ có giá trị trong câu văn thơ). Nói cách khác cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một đoạn văn, một đoạn thơ, một câu chuyện ta không những phải hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng, nhập thân với những gì đã học…
II. Yêu cầu của cảm thụ ở tiểu học:
1. Học sinh cảm nhận được cái hay cái đẹp của văn (thơ) thông qua nội dung, nghệ thuật.
2. Nắm bắt được tư tưởng chủ đạo của tác giả.
3. Biết bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của bản thân.
4. Biết viết thành một đoạn văn cảm thụ sinh động ở mức độ đơn giản phù hợp với lứa tuổi tiểu học.
III. Đối tượng của cảm thụ văn học ở Tiểu học
– Các bài văn, bài thơ, mẩu chuyện ngắn đặc sắc, có giá trị trong chương trình Tập đọc lớp 4.
– Các đoạn văn, đoạn thư hay ngoài chương trình có nội dung nói về tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình, Bác Hồ hay phản ánh nét sinh hoạt độc đáo của một vùng (miền) trên đất nước.
IV. Các dạng bài tập cảm thụ cơ bản ở Tiểu học
Dạng 1: Bài tập phát hiện hình ảnh và tái hiện vẻ đẹp của hình ảnh.
Dạng 2: Bài tập phát hiện các biện pháp nghệ thuật nêu giá trị của nghệ thuật.
Dạng 4: Bài tập tìm hiểu nội dung và nêu cảm nhận chung.
Dạng 5: Bài tập cảm thụ hình tượng nhân vật (chỉ yêu cầu cảm thụ một nét tính cách đặc trưng hay một đặc điểm tiêu biểu của nhân vật ở mức độ đơn giản).
V/ Một số biện pháp nghệ thuật cơ bản thường dùng ở Tiểu học
Để giúp học sinh làm bài tập cảm thụ văn học đạt kết quả cao, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm chắc một số những biện pháp nghệ thuật thường dùng trong các bài văn, bài thơ ở tiểu học, bởi đây chính là chìa khóa giúp các em chủ động mở ra các lớp nghĩa sâu xa ẩn sau từng câu chữ của đoạn văn, đoạn thơ
1. Nghệ thuật so sánh
a. Định nghĩa: So sánh là cách đối chiếu hai đối tượng khác loại không đồng nhất nhau hoàn toàn mà chỉ giống nhau một nét nào đó về màu sắc, hình dáng, ngữ nghĩa…
b. Tác dụng: Phép so sánh trong văn học có tác dụng tạo ra cảm giác mới mẻ, giúp sự vật được miêu tả trở nên cụ thể, sống động…
c. Cách nhận biết: Trong câu văn có sử dụng nghệ thuật so sánh thường có các từ: là, như, bằng, tựa như… và dấu hai chấm (:) dấu gạch ngang (-).
d. Bài tập vận dụng:
+ Nghệ thuật nào được sử dụng trong câu ca dao sau:
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
+ Con cảm nhận được gì về tình cảm bà cháu được thể hiện qua phép so sánh sau:
“Bà như quả ngọt chín rồi
Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng”
“Quả ngọt cuối mùa” Võ Thanh An
2. Nghệ thuật nhân hoá
a- Định nghĩa: Nhân hoá là cách gọi hoặc tả đồ vật, loài vật, cây cối… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người (hoặc nói cách khác là gắn cho những hoạt động đồ vật, loài vật, cây cối… tình cảm, trạng thái như con người).
Tác dụng: Nghệ thuật so sánh giúp cho thế giới loài vật, đồ vật, cây cối… trở nên gần gũi, sinh động, hấp dẫn, biểu thị được những tình cảm, suy nghĩ của con người.
Bài tập ứng dụng:
+ Trong câu văn sau, những sự vật nào được nhân hoá “Từ đó, lão Miệng, bác Tai, cậu Chân, cậu Tay lại sống thân mật với nhau, mỗi người một việc không ai tị ai cả”.
+ Chỉ ra và nêu tác dụng của nghệ thuật nhân hoá trong đoạn thơ sau:
“Bé ngủ ngon quá
Đẫy cả giấc trưa
Cái võng thương bé
Thức hoài đưa đưa”.
Ngoài hai biện pháp nghệ thuật cơ bản trên giáo viên có thể cung cấp cho học sinh các biện pháp nghệ thuật: Đảo ngữ, điệp từ, dùng hình ảnh gợi tả, gợi cảm, dùng hình ảnh đối lập…
VI/ Phương pháp làm 1 bài tập cảm thụ:
Để làm tốt một bài tập cảm thụ văn học, người giáo viên cần hướng dẫn để các em thực hiện đầy đủ từng bước các việc sau đây:
a- Đọc kỹ đề bài, xác định rõ yêu cầu của bài tập (phải trả lời được điều gì? cần nêu bật ý gì?…).
b- Đọc và tìm hiểu đoạn văn (đoạn thơ ; mẩu chuyện) được nêu trong đề bài: (cần dựa vào yêu cầu cụ thể của từng bài tập để tìm hiểu)
Thông thường để tìm hiểu một đoạn văn thơ cần hướng dẫn học sinh đọc kỹ đoạn trích, xác định được nội dung chính của đoạn trích thông qua một số câu hỏi gợi ý.
Tác giả viết bài (đoạn) văn (thơ) nhằm diễn tả gì?
– Đoạn thơ (văn) gợi cho em suy nghĩ cảm xúc gì?.
Viết đoạn văn cảm thụ hướng vào yêu cầu của đề:
– Đoạn văn có thể bắt đầu bằng một câu “mở đoạn” để dẫn dắt người đọc hoặc trả lời thẳng vào câu hỏi chính, tiếp đó cần nêu rõ các ý theo yêu cầu của đề (các hình ảnh, từ ngữ, chi tiết… làm toát nội dung.. thân đoạn ; cuối cùng có thể kết đoạn bằng một câu ngắn gọn để gợi lại nội dung cảm thụ.
Với từng dạng bài cụ thể có thể trình bày theo các bước cơ bản sau:
* Dạng bài phát hiện hình ảnh thường có các bước sau:
+ Phát hiện, nêu ra các hình ảnh.
+ Tái hiện vẻ đẹp, nêu ý nghĩa của hình ảnh thông qua nghệ thuật.
+ Nêu bật được tư tưởng, tình cảm của tác giả.
+ Cảm xúc của bản thân.
* Dạng bài cảm thụ hình tượng nhân vật
1. Nêu các chi tiết về:
2. Nêu bật tính cách, phẩm chất… của nhân vật.
3. Tư tưởng chủ đạo, ý nghĩa sâu xa của mẩu chuyện, của tác giả được thể hiện qua nhân vật.
4. Cảm xúc của bản thân
* Với các dạng bài còn lại gồm 4 bước sau:
+ Phát hiện nghệ thuật
+ Chỉ ra nội dung
+ Nêu tư tưởng, tình cảm của tác giả0
+ Cảm xúc của bản thân.
»Tải về file word tại đây.
– Chủ điểm: Măng mọc thẳng – Cảm thụ văn học lớp 4
– Chủ điểm: Thương người như thể thương thân – Cảm thụ văn học lớp 4
Tags:Đáp án Tiếng Việt 4 · Giáo Án Tiếng Việt 4 · Kiểm tra Tiếng Việt 4 · Tiếng Việt 4 | Một số vấn đề chung – Cảm thụ văn học lớp 4 | 1,210 | |
Một trong những chủ đề lớn của thời trung đại Việt Nam là phản ánh lòng yêu nước, em hãy chứng minh lời nói trên
Hướng dẫn
Em hãy chứng minh một trong những chủ đề lớn của thời trung đại Việt Nam là phản ánh lòng yêu nước
mời các bạn tham khảo bài văn mẫu với đề bài: Một trong những chủ đề lớn của thời trung đại Việt Nam là phản ánh lòng yêu nước, dựa vào những bài thơ trung đại Việt Nam đã được học em hãy chứng minh lời nói trên. Đây là đề bài nằm trong chương trình Ngữ văn lớp 11.
Phân tích cảm hứng yêu nước trong bài Phú sông Bạch Đằng
Qua bài văn Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, em có cảm nhận gì về tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Văn học trung đại Việt Nam trải qua mười hai thế kỉ từ thế kỉ Xuân Hương đến hết thế kỉ XIX. Đây là thời kì dân tộc ta đã thoát khỏi ách thống trị nặng nề của phong kiến phương Bắc hơn một ngàn năm.Nền văn học trung đại Việt Nam gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dântộc. Về nội dung văn học thời kỳ này mang hai đặc điểm lớn đó là: Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo.
Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo thực ra không hoàn toàn tách biệt nhau. Bởi yêu nước cũng là phương diện cơ bản của nhân đạo.Tuy vậy cảm hứng nhân đạo cũng có những đặc điểm riêng. Nó bao gồm những nguyên tắc đạo lí làm người, những thái độ đối xử tốt lành trong các mối quan hệ giữa con người với nhau, những khát vọng sống, khát vọng về hạnh phúc. Đó còn là tấm lòng cảm thương cho mọi kiếp người đau khổ,đặc biệt là với trẻ em, với phụ nữ và những người lương thiện bị hãm hại, những người hồng nhan mà bạc mệnh, những người tài hoa mà lận đận…Những nội dung nhân đạo đó đã được thể hiện ởtrong toàn bộ văn học trung đại, những biểu hiện tập trung nhất là ở trong các tác phẩm văn học nửa sau thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, đặc biệt là trong những tác phẩm thơ.
Trong thơ trung đại Việt Nam có thể kể ra rất nhiều những tác phẩm mang nội dung nhân đạo như:Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của NguyễnGia Thiều, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu,…
Trong Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đó là tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với tư tưởngyêu nước và độc lập tự do của Tổ quốc:
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Nhà nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Trước hết đó là tấm lòng cảm thông của tác giả dành cho những con người nhỏ bé bất hạnh trong xã hội đã bị bọn giặc ngoại xâm đàn áp dã man:
Nướng dân đen lên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Ở Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyền Gia Thiều đó là việc lên án chế độ phong kiến chà đạp lên quyền sống cảu người phụ nữ, lên những số phận tài hoa. Xã hội đó đã tướcđoạt đi những quyền sống thiêng liêng mà lẽ ra con người phải có. Đặc biệt các tác giả nói lên tiếng nói bênh vực người phụ nữ những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.
Không chỉ lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người mà các tác giả còn cất lên tiếngnói nhân đạo phản đối những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi biết bao nhiêu cảnh sống yênvui, chia lìa bao nhiêu đôi lứa. Qua lời của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm – ĐặngTrần Côn muốn lên án cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa đó là nỗi nhớ người chồng nơi chiến trường gian khổ.
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Gà eo éc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Nỗi sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Những cuộc chiến tranh này thực chất chỉ là việc tranh quyền đoạt lợi của các tập đoàn phong kiếnvà phủ lên nó là một bầu trời đầy tang thương. Thế lực đồng tiền cũng đã phủ mờ đi những néttruyền thống tốt đẹp của xã hội đó là với trường hợp nàng Kiều. Trong xã hội trung đại, thế lực đồngtiền cũng rất đáng lên án vì nó đã vùi lấp và nhấn chìm đi biết bao những con người tài hoa, những con người có khát vọng hoài bão lớn muốn đem sức lực nhỏ bé của mình cống hiến cho sự nghiệpcủa dân tộc.
Nhìn chung cảm hứng nhân đạo trong thơ trung đại chủ yếu được thể hiện qua những nét chủ yếu sau:
Trước hết đó là tiếng nói của tác giả, đó là tình cảm của tác giả dành cho những con người nhỏ béchịu nhiều thệit thòi trong xã hội qua đó mà đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho họ, có được tìnhcảm như vậy, các tác giả thơ thời kì này mới viết được những dòng thơ, trang thơ xúc động đến nhưthế.
Thơ trung đại còn thể hiện ở tiếng nói bênh vực giữa con người với con người, đề cao tình bạn, tìnhanh em, tình cha con, thể hiện mong muốn được sống trong hòa bình.
Thơ trung đại đã thể hiện bước đi vững chắc của mình trong hơn mười thế kỉ, đó là sự tiếp nối bướcđi của nền văn học dân gian. Tuy văn học dân gian thời kì này vẫn phát triển nhưng dấu ấn khôngcòn như trước. Thơ trung đại đã thể hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó là chủ nghĩa yêunước và tinh thần nhân đạo qua đó mà làm tiền đề cho sự phát triển văn học các thời kì tiếp theo. | Một trong những chủ đề lớn của thời trung đại Việt Nam là phản ánh lòng yêu nước, em hãy chứng minh lời nói trên | 1,054 | |
Một trong năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên chúng ta là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Thế nào là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm?
Hướng dẫn
Một trong năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên chúng ta là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Thế nào là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm? Tại sao thiếu niên chúng ta cần rèn luyện đức tính khiêm tốn, thật thà, dũng cảm? Để rèn luyện đức tính đó, chúng ta phải làm gì?
Bài làm
Trước bàn học của em có treo bức ảnh Bác Hồ quàng khăn đỏ cho một bạn thiếu niên, kèm theo năm điều Bác dạy. Hằng ngày em thường ngắm nhìn bức ảnh và suy nghĩ về năm điều Bác dạy đó. Điều thứ năm trong năm điều Bác dạy chính là “khiêm tốn, thật thà, dũng cảm”. Đểthực hiện lời dạy của Bác, ta cần hiểu rõ thế nào là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.
Theo em hiểu, khiêm tốn là không khoe khoang, không tự đề cao mình mà coi thường người khác. Khiêm tốn là phải luôn nghiêm khắc với bản thân, thấy những mặt chưa tốt của mình để rèn luyện, khắc phục, đồng thời luôn có ý thức học hỏi bạn hè và những người xung quanh. Thật thà là không gian dối trong khi làm việc cũng như trong quan hệ với mọi người. Thật thà còn có nghĩa là luôn nói đúng sự thực, ngay thẳng ở mọi nơi, mọi lúc. Còn gan dạ không sợ gian khổ, nguy hiểm là dũng cảm. Như vậy khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những đức tính quý báu của con người.
Nhưng tại sao đội viên thiếu niên chúng ta cần rèn luyện ba đức tính ấy? Trước tiên vì đó là những đức tính rất cần thiết đôi với thiếu niên chúng ta. Có khiêm tốn, thật thà chúng ta mới được mọi người quý mến, tin yêu, mới mau chóng tiến bộ. Trong việc học tập, công tác và rèn luyện, chúng ta gặp biết bao khó khăn, không có tinh thần dũng cảm làm sao có thể hoàn thành được các nhiệm vụ đó. Không những thế, các đức tính trên còn là cơ sở để khi lớn lên chúng ta rèn luyện những phẩm chất đạo đức cao hơn như lòng trung thành, tinh thần tận tụy, hi sinh vì đất nước và nhân dân, tác phong gần gũi và học hỏi quần chúng. Đọc truyện các anh hùng liệt sĩ cách mạng, các gương “người tốt, việc tốt”, em thấy các anh hùng liệt sĩ, các bạn “cháu ngoan Bác Hồ” và rất nhiều tấm gương khác đều là những con người khiêm tôn, thật thà, dũng cảm. Anh Kim Đồng đã dũng cảm hi sinh để bảo vệ tài liệu và cán bộ cách mạng. Anh Vừ A Dính khi bị giặc bắt đã không chịu khai báo mà còn lập mưu lừa được giặc. Các anh Kpa Kơ-lơng, Nguyễn Bá Ngọc cũng đều là những tấm gương tiêu biểu cho lòng dũng cảm của thiếu niên trong cuộc kháng chiến chông Mĩ cứu nước. Gần gũi với chúng ta hơn còn có rất nhiều người là những học sinh giỏi đãtừng đoạt được nhiều giải thưởng trong các cuộc thi học sinh giỏi các cấp, song vẫn khiêm tôn học tập các bạn. Rồi còn biết bao bạn luôn nêu gương thật thà, trung thực trong cuộc sống hằng ngày.
Thế hệ chúng em không có may mắn được Bác trực tiếp dạy bảo, chăm sóc, nhưng những điều Bác dạy vẫn rất in đậm trong tâm trí em. Nghĩ tới công lao trời biển của Bác, nghĩ đến tấm lòng yêu thương vô hạn mà Bác đã giành cho các thế hệ, em luôn thầm hứa sẽ xứng đáng là cháu ngoan của Bác trong mỗi công việc hàng ngày, cố gắng rèn luyện theo năm điều Bác dạy. | Một trong năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên chúng ta là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm. Thế nào là khiêm tốn, thật thà, dũng cảm_ | 663 | |
Một trận đánh kì quặc (Về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió, trích tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-tét) – Bình giảng Ngữ Văn 8
Hướng dẫn
Một trận đánh kì quặc
Tính đến những năm đầu thế kỉ XXI này, cuốn tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của nhà văn vĩ đại nước Tây Ban Nha Xéc-van-tét (1547 – 1616) đã sống trên ba trăm năm và chắc còn sống lâu hơn nữa. Bởi vì, qua tác phẩm của mình, Xéc-van-tét đã phản ánh và đặt ra những vấn đề lớn lao của một giai đoạn biến đổi quan trọng của lịch sử nước Tây Ban Nha và nhiều nước trên thế giới: chuyển tiếp từ xã hội phong kiến trung cổ lạc hậu sang xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển về mọi mặt. Đọc Đôn Ki-hô-tê, người đọc hiểu rõ: “Tác giả chế giễu tàn dư của lí tưởng hiệp sĩ phiêu lưu, phê phán chế độ phong kiến… phê phán chế độ tư bản thời kì tích luỹ ban đầu… Mặc dù lỗi thời, gàn dở, hình tượng Đôn Ki-hô-tê vẫn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc: yêu quý tự do, bình đẳng, ghét thói xa hoa, ăn bám, trọng danh dự, đạo nghĩa”[1]. Qua những dòng văn rất sinh động, hóm hỉnh, trào lộng mà thâm thuý, Xéc-van-tét đưa chúng ta phiêu lưu hàng vạn dặm trên khắp nước Tây Ban Nha thơ mộng, chứng kiến nhiều việc làm vừa hào hiệp vừa gàn dở, khám phá được nhiều ý nghĩ lúc cao thượng, khi thấp hèn của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê và giám mã Xan-chô Pan-xa. Một trong những việc làm, cũng là một cuộc phiêu lưu của họ là việc Đôn Ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió, một trận đánh kì quặc làm nổi bật lên tính cách của cả hai người.
Đi vào đoạn trích trong sách Ngữ văn 8, chúng ta có thể hình dung câu chuyện gồm ba phần với năm sự việc tiêu biểu. Mỗi phần mang một cái tên cụ thể, chẳng hạn như sau:
Phần một (từ đầu đến: “… và không cân sức“), có thể mang tên “Những cối xay gió hay là những tên khổng lồ ghê gớm“. Phần này có sự việc: Thầy trò nhà hiệp sĩ tranh cãi, nhận định về kẻ thù.
Phần hai (từ câu: “Nói rồi, Đôn Ki-hô-tê thúc con ngựa…” đến “… bị toạc nửa vai”), có thể mang tên “Một trận giao chiến không cân sức”. Phần này gồm hai sự việc. Một là: Đôn Ki-hô-tê thất bại, giáo gãy, người và ngựa ngã vãng ra. Hai là: thầy trò hiệp sĩ dìu nhau đứng dậy trong hai tâm trạng khác nhau.
Phần cuối (đoạn còn lại), có tên là “Tiếp tục cuộc phiêu lưu”. Phần này cũng gồm hai sự việc. Một là: Xan-chô ăn uống no say, trong khi Đôn Ki-hô-tê vẫn thản nhiên dấn bước. Hai là: Đôn Ki-hô-tê trằn trọc không ngủ, còn Xan-chô đánh một giấc ngon lành.
Từ dòng đầu cho đến chữ cuối của đoạn tiểu thuyết, nhất là qua năm sự việc chính nói trên, chân dung hai nhân vật – nhà hiệp sĩ xứ Man-cha Đôn Ki-hô-tê và bác giám mã Xan-chô Pan-xa – hiện lên mỗi lúc một rõ nét, rất cụ thể, sinh động, từ ngoại hình, trí tuệ, ước muốn đến hành động và quan niệm về cuộc sống. Chúng ta hãy lần lượt quan sát và suy ngẫm về từng người.
1. Hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê
Chúng ta có thể gọi nhân vật này kèm theo các đại từ “ngài hiệp sĩ”, “nhà hiệp sĩ”, “lão hiệp sĩ”, hoặc “chàng hiệp sĩ”,… bởi vì Đôn Ki-hô-tê hiện lên lúc thật trang nghiêm, đáng kính, khi lại gàn dở, đáng cười, vừa già nua, lại vừa trai trẻ. Đọc tác phẩm và đoạn trích này, chúng ta hình dung một chàng hiệp sĩ tuổi trạc năm mươi, gầy gò, cao lênh khênh. Cưỡi trên lưng con ngựa còm có cái tên mĩ miều Rô-xi-nan-tê, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ sắt, vai vác giáo dài, toàn những thứ han rỉ của tổ tiên để lại, rồi đem đánh bóng,… Đôn Ki-hô-tê hiên ngang tiến bước với mục đích tốt đẹp là tiễu trừ quân gian ác, giúp đỡ người lương thiện. Trí óc Đôn Ki-hô-tê đầy hoang tưởng, có lúc mê muội. Nhìn thấy những chiếc cối xay gió, lão nghĩ là bọn khổng lồ gian ác, sau đó cho rằng đấy là phép thuật của phù thuỷ Phơ-re-xtôn. Với động cơ trong sáng, hồn nhiên – tiêu diệt lũ tàn ác, trừ hại cho dân – Đôn Ki-hô-tê đã dũng cảm xông vào đánh “lũ quỷ khổng lồ” (thực ra là những chiếc cối xay gió), mặc dù chàng biết rằng đây là “cuộc giao tranh điên cuồng và không cân sức”. Đơn thương độc mã, hiệp sĩ bỏ mặc lời can ngăn của Xan-chô, phóng ngựa, vừa quát mắng lũ quỷ khổng lồ, vừa tâm niệm nguyện cầu người tình lí tưởng – nàng Đuyn-xi-nê-a xinh đẹp – giúp mình trong lúc nguy nan. Trong giây phút tiến công kẻ thù ấy, hình ảnh chàng hiệp sĩ sáng chói lên, đẹp như một anh hùng, rất đáng kính phục. Nhưng, suy nghĩ tỉnh táo một chút, người đọc lại bật cười. Bởi vì mục đích và hành động của Đôn Ki-hô-tê là đúng đắn, tốt đẹp, nhưng đối tượng hướng tới của chàng lại không phải là lũ quỷ khổng lồ gian ác mà chỉ là những chiếc cối xay gió hiền lành vô tội. Bởi vì đầu óc chàng đầy những hoang tưởng. Cho nên cái động cơ tốt đẹp, cái hành động dũng cảm kia của Đôn Ki-hô-tê trở thành hão huyền, mang tính phá phách. Còn bản thân hiệp sĩ thì thất bại một cách đau đớn, “ngọn giáo gãy tan tành, người và ngựa ngã văng ra”. Nhìn thấy hình ảnh Đôn Ki-hô-tê “nằm không cựa quậy”, bác giám mã sợ quá và chắc cũng thương quá, đã phải “lạy Chúa”, kêu trời. Còn chúng ta, đọc đến chi tiết này, cũng vừa thương vừa… không nén được tiếng cười. Song, xin bạn đọc chớ đùa cợt. Trong thời khắc nguy nan sạu cuộc chiến đấu, thầy trò chàng hiệp sĩ lại tiếp tục tranh cãi một cách rất nghiêm chỉnh. Nghe Xan-chô có ý phê mình là “đầu óc quay cuồng như cối xay gió”, hiệp sĩ mắng lại: “Thôi im đi! Chuyện chinh chiến thường biến hoá khôn lường… Ta cho rằng chính lão pháp sư Phơ-re-xtôn biến những tên khổng lồ kia thành cối xay gió để tước đi của ta niềm vinh quang đánh bại chúng… nhưng rồi lão sẽ không thể nào đối chọi được thanh kiếm lợi hại của ta”. Ý nghĩ và những lời lập luận của hiệp sĩ kể ra cũng sáng suốt và chặt chẽ đấy chứ! Bị quật ngã đau đến lịm người như thố mà không một tiếng rên rỉ, xuýt xoa, trái lại vẫn cháy bỏng một niềm tin, một quyết tâm hành động vì nghĩa lớn. Một bản lĩnh làm người như thế đáng khâm phục biết bao! Chỉ có điều, cái bản lĩnh làm người ấy của Đôn Ki-hô-tê không bắt nguộn từ thực tế cuộc sống mà nó từ trong những cuốn sách hiệp sĩ cổ xưa mà lão đã ngốn ngấu đọc, rồi làm theo. Do đó, sau trận chiến thất bại ê chề, Đôn Ki-hô-tê vẫn chưa chịu tỉnh táo để rút ra bài học. Trái lại, lão vẫn tiếp tục cuộc phiêu lưu, tiếp tục những suy nghĩ lãng mạn, hoang tưởng. Lão tâm sự với Xan-chô: “Ta không kêu đau vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương thế.nào cũng không được rên rỉ, dù xổ cả gan ruột ra ngoài”. Thế là tấm gương những hiệp sĩ trong sách vở sống dậy, giục giã, khích lệ lão. Trong khi giám mã Xan-chô ăn uống thì ngài hiệp sĩ “thấy chưa cần ăn”, vì… hình như đang mải nghĩ tới những cuộc chiến đấu sắp tới. Cho tới đêm hôm ấy, chúng ta cũng không thấy hiệp sĩ ăn uống gì. Ngài bẻ một cành cây khô “rút cái mũi sắt ở chiếc cán gãy lắp vào làm thành ngọn giáo”. Đêm ấy, Đôn Ki-hô-tê không ngủ để dành thời gian nghĩ tới nàng Đuyn-xi-nê-a, đúng như hiệp sĩ trong sách, thức trắng nhiều đêm ròng ở trong rừng hoặc nơi hoang mạc nhớ tới tình nương của mình. Suy nghĩ và mộng mơ bay bổng đến nỗi, Đôn Ki-hô-tê không thèm để ý tới giám mã Xan-chô đang đánh một giấc ngon lành. Cho tới sáng hôm sau, hiệp sĩ cũng không muốn ăn sáng, vì “chàng nghĩ đến người yêu cũng đủ no rồi”… Có thể nói, dưới ngòi bút sinh động, vừa nghiêm chỉnh vừa bỡn cợt, trào lộng của Xéc-van-tét, hình ảnh hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê hiện lên là một con người đầy mộng mơ, ảo tưởng. Lão mang những khát vọng đẹp, hành động dũng cảm, bản lĩnh kiên cường,… nhưng lại có những nhẩm lẫn trong suy nghĩ, gàn dở trong việc làm chỉ vì lão bị ảnh hưởng quá nặng nề bởi những trang sách cũ kĩ, lỗi thời. Do đó, tìm hiểu về những mặt trái ngược của tính cách Đôn Ki-hô-tê, chúng ta vừa buồn cười và mến yêu, vừa cảm thấy đáng trách mà lại đáng thương..
2. Giám mã Xan-chô Pan-xa
Đó là một bác nông dân béo lùn, nhận làm giám mã cho Đôn Ki-hô-tê với hi vọng sau này, chủ công thành danh toại, bác sẽ được làm thống đốc, cai trị vài hòn đảo, được sống cuộc đời giàu sang, phú quý. Giám mã Xan-chô đủng đỉnh cưỡi lừa đi theo chủ, lúc nào cũng mang theo bầu rượu và cái túi hai ngăn đựng đầy thức ăn ngon. Trước khi vào trận đánh kì quặc, Xan-chô đã nhìn thấy rõ kẻ thù của hiệp sĩ là những chiếc cối xay gió. Bác giải thích rất rõ ràng rành mạch: “cái vật trông giống cánh tay là những cánh quạt, khi có gió thổi, chúng sẽ quay tròn làm chuyển động cối đá bên trong”. Đến lúc cố hét to để ngăn ông chủ cuồng si lao lên phía trước đánh nhau với cối xay gió không được, bác nông dân ấy bỏ mặc chủ. Thái độ này vừa đúng, vừa không đúng. Đúng là vì bác biết rõ phía trước Đôn Ki-hô-tê không có tên khổng lồ độc ác nào mà chỉ là một hàng dài những chiếc cối xay gió đứng hiên ngang đợi gió thổi là quay tít những cánh quạt khổng lồ. Đúng, là vì bác ta biết rằng hành động của chủ là gàn dở, điên cuồng chắc chắn sẽ thất bại. Nhưng sai, vì bác không thực sự quyết tâm bằng hành động và sức vóc khoẻ mạnh của mình xông lên để ngăn cản chủ, hay chí ít cũng giúp đỡ để ông chủ không bị thua một cách thảm hại đến mức “giáo gãy, ngựa và người ngã lăn ra”. Hay là lúc ấy bác cũng hoảng loạn mà tưởng rằng đó là những tên quỷ khổng lồ nguy hiểm thật, để rồi bỏ mặc cho chủ giao chiến? Phải chăng, bác nông dân chỉ quen ăn no vác nặng này nhút nhát, sợ hãi (nếu không nói là hèn nhát)? Sau trận đánh, Xan-chô tỏ ra là một giám mã tận tuỵ. Bác ta vừa xuýt xoa thương chủ, vừa cố giải thích một lần nữa để thức tỉnh ông chủ về cái hành động kì quặc bắt nguồn từ những “đầu óc quay cuồng như cối xay”. Về việc này, giám mã Xan-chô thật đáng yêu. Bác đã hết lòng phục vụ ông chủ, Miệng cầu Chúa phù hộ cho chủ tỉnh ngộ và sẽ giành thắng lợi sau này, bác ta vừa nâng Đôn Ki-hô-tê dậy, rồi đỡ cho ông chủ ngồi ngay ngắn trên lưng con chiến mã gầy còm. Đến những phút tiếp tục cuộc phiên lưu sau trận đánh, giám mã Xan-chô tiếp tục nhiệm vụ theo hầu bên chủ. Tâm sự với hiệp sĩ, bác tỏ ra là người rất chân thành cởi mở. Bác nói: “Chúa hiểu thấu cho tôi là tôi có yên lòng không nếu thấy ngài rên la khi bị cái gì làm cho đau đớn… Còn tôi, xin thưa với ngài rằng chỉ cần hơi đau một chút là tôi rên rỉ ngay”. Như vậy, Xan-chô là người tốt nết, biết thương người khác, tận tuỵ với chủ đấy chứ! Song, có lẽ thương người thì ít mà bác ta… thương mình nhiều hơn. Do đó, sau khi xin phép hiệp sĩ bằng vài lời qua quýt, Xan-chô thản nhiên lấy rượu và thức ăn ra đánh chén đến no say, chẳng nhớ gì đến những lời hứa hẹn của chủ, và cảm thấy cái nghề phiêu lưu này “cũng chẳng vất vả gì mà lại thoải mái nữa là khác”. Thế rồi, sau khi ních chặt cái dạ dày toàn rượu thịt, đến tối hôm ấy, trong khi ông chủ trằn trọc thao thức thì giám mã, người hầu cận thân tín kia “ngủ một mạch”, cho đến sáng hôm sau, vừa tỉnh dậy đã vớ ngay bầu rượu… để “buồn rầu vì trên quãng đường này khó kiếm đâu ra rượu để đổ vào cho đầy”. Quan tâm tới những nhu cầu vật chất hằng ngày như việc ăn, ngủ là chuyện bình thường. Nhưng hình như giám mã Xan-chô quá chú trọng đến hai việc này, nhiều lúc quên hết, kể cả ông chủ mà mình có nhiệm vụ hầu hạ, chăm sóc thì thật tầm thường và đáng chê trách! Như vậy, cũng bằng ngòi bút sinh động, hóm hỉnh, nhà văn Xéc-van-tét đã khắc hoạ nhân vật giám mã Xan-chô với những nét ngoại hình và tính cách trái ngược hẳn với Đôn Ki-hô-tê. Nếu Đôn Ki-hô-tê biểu tượng cho loại người hoang tưởng, lãng mạn, thì Xan-chô là hình ảnh của những người tỉnh táo, thực tế đến mức thực dụng, tầm thường. | Một trận đánh kì quặc (Về đoạn trích Đánh nhau với cối xay gió, trích tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-tét) – Bình giảng Ngữ Văn 8 | 2,385 | |
Một tấm gương vượt lên số phận: Nick vujic-nghị luận
Hướng dẫn
Nick vujic – thiên thần bé nhỏ
Không phải sinh ra là trở thành người hoàn hảo. Cũng không phải cứ cố gắng là sẽ thành công. Nhưng nếu mỗi chúng ta luôn hướng đến sự hoàn hảo thì trước sau cũng sẽ trở nên hoàn hảo. Mỗi chúng ta luôn cố gắng thành công thì sớm muộn gì cũng sẽ đạt đến thành công. Cuộc sống không thiên vị riêng ai. Nhưng đôi khi, nhìn thấy những mảnh đời bất hạnh trong cuộc đời này ta lại hoài nghi điều đó. Điều căn bản nhất không phải là thành công hay trở nên giàu có. Cuộc sống ý nghĩa là cuộc sống hữu ích, sống mãnh liệt và truyền được động lực cho người khác.
Câu chuyện của Nick Vujicic không phải là câu chuyện cổ tích thời hiện đại. Bởi trong đó, không hề có phép mầu được tạo nên bởi ông bụt, bà tiên. Phép mầu duy nhất là tình yêu cuộc sống cùng khát vọng vươn lên mãnh liệt của chính Nick Vujicic.
Ngày 4 tháng 12 năm 1982, tại thành phố Brisbane nước Úc, cậu bé Nick Vujicic đã cất tiếng khóc chào đời. Nhưng tất cả những gì thượng đế ban tặng cho anh chỉ là một hình thể khiếm khuyết không tay không chân. Bố mẹ Nick đã vô cùng đau khổ. Họ đã cầu xin thượng đế cho họ được thấu hiểu điều này.
Nick cũng là học sinh khuyết tật đầu tiên được đi học ở một ngôi trường chính thống. Ở trường học, cậu bị bạn bè chế giễu. Nick rơi vào tình trạng trầm cảm tồi tệ. Có lúc, anh có ý định tự tử để kết thúc nỗi ám ảnh này. Anh chỉ còn biết cầu xin ở chúa với sức mạnh toàn năng có thể mang lại cho anh nguồn sức mạnh. Nhưng anh hoàn toàn tuyệt vọng trước cuộc đời vốn luôn dành cho anh nhiều điều bất bình thường.
Sự sáng sủa trong tinh thần và tình yêu từ gia đình đã giúp Nick Vujicic vượt qua được những suy nghĩ tối tăm nhất. Anh đã tập sống như một người bình thường mặc dù không có chân tay. Thật không thể nói hết những vất vả trong luyện tập mà Nick đã trải qua. Anh luyện tập thành thạo tất cả những kĩ năng bình thường mà một người bình thường rất dễ dàng thực hiện được. Với anh, đó là một thử thách khốc liệt. Anh đã luyện tập cần mẫn ngày đêm. Nhiều lúc đau đớn cũng không làm Nick chán nản. Ở anh có một ý chí kiên định đến phi thường. Đó là ý chí của một con người muốn cưỡng lại quy luật của tạo hóa.
Không chịu đầu hàng số phận, Nick tiếp tục trở lại trường học. Năm 21 tuổi, Nick tốt nghiệp đại học ngành kế toán và bắt đầu lập kế hoạch tài chính. Với sự giúp đỡ của các tổ chức, Nick trở thành nhà diễn thuyết truyền động lực và chu du diễn thuyết khắp thế giới.
Chủ yếu anh nói chuyện với giới trẻ, những người đang tìm nguồn sức mạnh hỗ trợ để sẵn sàng cho một hành trình đi đến thành công. Họ đã chăm chú nghe anh nói. Và họ đã khóc khi nghe kể về cuộc đời anh. Họ không khóc để cảm thương anh. Vì họ biết anh không cần điều đó. Họ đã khóc vì lòng cảm phục. Họ khóc vì mến mộ. Trong đó, có cả sự xấu hổ khi họ, những con người lành lặn đã chưa làm được điều gì đáng giá.
Tháng 5 năm 2013, Nick Vujicic đã đến với Việt Nam. Từ lâu, Nick đã được nghe nói đến Việt Nam, một đất nước bình với những con người hồn hậu luôn có khát vọng vươn cao, vượt lên trên nghịch cảnh. Anh nghĩ anh sẽ tìm thấy một động lực lớn khi đến với đất nước này. Anh đã diễn thuyết tại 4 địa điểm và tham gia tất cả 7 sự kiện. Những cuộc nói chuyện của Nick đã diễn ra rất thành công.
Giới trẻ Việt Nam đã được gặp gỡ Nick Vujicic. Họ đã lắng nghe anh nói và tìm thấy được sự đồng cảm to lớn. Và Nick cũng đã nhận được sức mạnh cỗ vũ từ một dân tộc kiên cường, bất khuất, không bao giờ chịu đầu hàng số phận như dân tộc Việt Nam.
Nick-vujicic đã vượt qua biết bao khó khăn về vật chất lẫn tinh thần để tồn tại. Thượng đế đã không công bằng với từ lúc họ mới chào đời. Nhưng không vì vậy mà anh oán trách Người. Trái lại, anh không quan tâm đến điều đó và ngày đêm đi tìm lẽ sống cho chính cuộc đời mình. Nick Vujicic đã đem đến cho chúng ta một cảm hứng dạt dào, một niềm tin thánh thiện rằng hãy luôn cố gắng vươn lên dù bạn xuất phát ở điểm nào trong cuộc sống. Hãy tin tưởng vì nhất định một ngày nào đó bạn sẽ đạt đến thành công như Nick đã từng làm.
Không một ai khác ngoài bạn có thể làm cho bạn trở nên vĩ đại. | Một tấm gương vượt lên số phận_ Nick vujic-nghị luận | 891 | |
Một tấm lòng thương con sâu nặng (Về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao) – Bình giảng Ngữ Văn 8
Hướng dẫn
Một tấm lòng thương con sâu nặng
Trong đội ngũ nhà văn hiện đại Việt Nam, Nam Cao được coi là một nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng. Ông hi sinh năm 1951 trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc đó, ông mới 36 tuổi. Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng Nam Cao đã để lại cho đời nhiều áng văn có sức sống lâu bền. Tác phẩm của Nam Cao – những truyện ngắn, truyện dài – thấm đẫm giá trị hiện thực và nhân đạo. Đó là những trang viết chân thực, vô cùng sâu sắc về người nông dân nghèo đói bị vùi dập và người trí thức cùng phẫn phải sống mòn mỏi, bế tắc trong xã hội cũ. Đọc truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, chúng ta bắt gặp cả hai kiểu nhân vật đó: lão Hạc và ông giáo. Ông giáo là người kể chuyện, lão Hạc là nhân vật chính của câu chuyện, cả hai người đó đều đáng cảm thông và đáng trân trọng, nhất là lão Hạc. Lão Hạc – ông cụ lão nông ấy – đã phải trải qua hai cái chết trong cuộc đời mòn mỏi bế tắc, nhưng có một tấm lòng thương con vô cùng sâu nặng.
Đọc phần trước đoạn trích trong sách Ngữ văn 5, chúng ta biết cảnh ngộ của lão Hạc thật bi thảm. Nhà nghèo, vợ chết, hai cha con lão Hạc sống lay lắt, rau cháo qua ngày. Một ngày nọ, người con trai của lão phẫn chí vì không có tiền cưới vợ, bỏ đi làm phu đồn điền cao su biền biệt, một năm nay chẳng có tin tức gì. Lão Hạc thui thủi sống cô quạnh một mình với con chó Vàng, kỉ vật người con trai để lại. Lão gọi con chó là “cậu Vàng”, coi con vật như người thân trong nhà. Vắng nhà đi kiếm ăn thì thôi, hễ về tới nhà là ông lão lại trò chuyện tâm tình, chia sẻ mọi nỗi vui buồn với “cậu Vàng”. Nhiều khi lão gọi Vàng là con, là… cháu, xưng ông cứ y như là hai ông cháu vậy. Đối với lão Hạc, con chó là niềm vui, là nguồn hạnh phúc đơn sơ mà thiết thực giúp lão sống trong đói nghèo để đợi người con trai trở về xây dựng hạnh phúc lứa đôi và hạnh phúc gia đình cho lão được sống bên con, bên cháu, vui vầy như bao người bình thường khác. Nhưng sự túng quẫn ngày càng đe doạ lão. Sau trận ốm nặng kéo dài, lão yếu người đi ghê lắm. Đồng tiền bấy lâu nay dành dụm cạn dần. Lão không có việc làm. Rồi một cơn bão ập đến, phá sạch sành sanh hoa màu trong vườn. Giá gạo thì cứ cao mãi lên. Vì thế, lão Hạc lấy tiền đâu để nuôi “cậu Vàng”? Kể ra trong nhà cũng còn ít tiền để dành cho đứa con trai, nhưng lão không muốn tiêu lẹm vào đấy. Mà cho “cậu Vàng” ăn ít, thì “cậu” gầy đi, tội nghiệp. Ông lão nông nghèo khổ ấy cứ băn khoăn day dứt mãi, cuối cùng dằn lòng quyết định bán “cậu Vàng”, rồi đến nhà ông giáo cậy nhờ một việc quan trọng.
Đọc phần trích trong sách Ngữ văn 8, cũng là phần đặc sắc nhất của thiên truyện, chúng ta cảm nhận rõ hai sự việc lớn của cuộc đời lão Hạc: việc bán “cậu Vàng” và việc tìm đến cái chết. Hai sự việc ấy tuy khác nhau nhưng đều toát lên một ý nghĩa chung về tấm lòng người cha thương con mênh mông, sâu nặng.
Bán con chó Vàng, lão Hạc đối mặt với cái chết thứ nhất. Vì sao lão Hạc phải bán “cậu Vàng”? Như phần trên ta đã biết, nếu để con chó lại nuôi thì lão Hạc phải tiêu lẹm vào số tiền dành dụm cho người con đang xa nhà. Điều đó lão không muốn, tuyệt đối không muốn. Đối với lão Hạc, số tiền và mảnh vườn dành cho con thiêng liêng như một báu vật mà hằng ngày lão chỉ biết hết lòng bảo vệ chứ không bao giờ dám xâm phạm. Việc quyết định bán con chó Vàng bắt nguồn từ tấm lòng thương con sâu sắc của một người cha nhân hậu và giàu lòng tự trọng.
Nhưng Nam Cao không dừng lại ở đó. Nhà văn tiếp tục lay động chúng ta bằng một sự việc tiếp sau dữ dội hơn, thống thiết hơn. Đó là việc lão Hạc tìm đến cái chết. Với cái chết lần thứ hai này, tấm lòng người lão nông thương con mênh mông, sâu nặng ấy mãi mãi toả sáng. Tìm hiểu về sự việc này, chúng ta thử hoá thân vào nhân vật ông giáo để lắng nghe lời lão Hạc nói và chứng kiến công việc ông lão làm. Sau những lời đắng cay về việc bán chó, lẩo Hạc rề rà, nhỏ nhẹ mà tha thiết, chân thành giãi bày hoàn cảnh của mình để nhờ ông giáo giúp cho hai việc. Việc thứ nhất: gửi ba sào vườn, khi anh con trai lão trở về thì ông giáo giao lại để anh có đất ở, có vốn mà sinh nhai. Việc thứ hai: gửi ba mươi đồng bạc (hai mươi nhăm đồng tích cóp tằn tiện hơn một năm trời và năm đồng vừa bán chó) để khi ông lão chết, nhờ hàng xóm chi tiêu cho việc ma chay… Những điều lão Hạc thu xếp, nhờ cậy ông giáo thật là chu đáo. Nghĩ đến con, ông cụ luôn mong ước con được sống yên ổn, hạnh phúc. Nghĩ về mình cụ luôn luôn tự trọng, không muốn phiền luỵ ai. Khi nghe lão Hạc trình bày, ông giáo bật cười bảo: “Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khoẻ lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn…”. Ông giáo không thể biết.được rõ ý nghĩa việc lão Hạc nhờ cậy. Còn chúng ta, đọc truyện, nhận rõ ông cụ lão nông đó đã chuẩn bị cho cái chết của mình thật là bình tĩnh, chủ động, tự nguyện, tự giác. Thực ra lão đã âm thầm chuẩn bị cho cái chết của mình từ khi bán “cậu Vàng”, đúng như lời lão nói với ông giáo: “Tôi đã liệu đâu vào đấy… Thế nào rồi cũng xong”. Như vậy, trong tình cảnh đói khổ, túng quẫn, lão Hạc đã định liệu cho “cậu Vàng” – con vật thân thương nhất – và bản thân mình một sự giải thoát. Với con chó thì hoá kiếp cho “để thành kiếp người”. Còn với mình, lão chết để thành kiếp gì? Thật mịt mờ, bế tắc. Nhà văn Nam Cao cứ nhẹ nhàng dẫn dắt câu chuyện theo lời kể của ông giáo, đưa người đọc chúng ta từ sự việc này sang sự việc khác đầy hấp dẫn, bất ngờ. Sau khi nghe lời lão Hạc nói rằng: “Tôi đã liệu đâu vào đấy”, ông giáo đã cảm động bởi cách lo toan chu đáo, tấm lòng thành thực, vừa thương con, vừa tự trọng của lão Hạc thì được nghe Binh Tư kể việc lão Hạc xin bả chó… Ông giáo đã thốt lên: “Hỡi ôi! Lão Hạc”. Người đọc cũng ngỡ ngàng, sửng sốt, tưởng rằng lão Hạc sẽ làm một việc xấu xa, đáng buồn như việc Binh Tư thường làm: đánh bả chó, rồi thịt chó uống rượu. Vẻ đẹp của hình tượng lão Hạc bỗng mờ đi, như cuộc sống lúc bấy giờ “cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn”. Câu chuyện tưởng chừng ngoặt sang hướng khác. Những dòng chữ lời văn như ngưng đọng lại, căng thẳng, hồi hộp!
Cùng với nhân vật lão Hạc, chúng ta bắt gặp nhân vật ông giáo (có thể coi là tác giả). Nhờ ông giáo, nhờ nhà văn kể chũyện, chúng ta càng thấm thìa hơn cuộc đời đau khổ của lão Hạc. Khi ông giáo nghĩ “Cuộc đời đáng buồn, nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”, chúng ta hiểu rằng Nam Cao rất xót xa, cãm giận cái xã hội tối tăm ngột ngạt bấy giờ. Xã hội ấy đã đẩy những người có nhân cách cao đẹp như lão Hạc vào tình cảnh đói nghèo, bế tắc, phải chết thảm thương. Khi ông giáo than thở: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn đở… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn không bao giờ ta thương…”, chúng ta càng thấu hiểu suy nghĩ sâu sắc, mang tính triết lí và tình thương bao la đậm chất nhân văn của Nam Cao. Và chúng ta cũng rút ra được bài học thiết thực về cách nhìn, cách ứng xử mà các nhà nghiên cứu gọi là “vấn đề đôi mắt”…
Tóm lại, truyện ngắn Lão Hạc đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương và phẩm chất cao quý của người nông dân cùng khổ trong cuộc đời cũ. Cuộc đời ấy là xã hội thực dân nửa phong kiến ở nước ta, giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 mà “hạnh phúc chỉ là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”[1]. Lão Hạc, vì tình thương con sâu nặng đã chấp nhận những giá lạnh cuộc đời để nhường chút hơi ấm của tấm chăn hạnh phúc cho người con xa nhà. Cũng qua câu chuyện về lão Hạc, nhà văn Nam Cao thể hiện lòng thương yêu, thái độ trân trọng đối với những con người bất hạnh mà biết sống cao thượng. Tác phẩm này cho thấy tài năng của nhà văn qua nghệ thuật xây dựng tình huống truyện ; kể các sự việc, khắc hoạ nhân vật sinh động, có chiều sâu tâm lí, cách kể linh hoạt, hấp dẫn, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên mà trĩu nặng những cảm xúc và suy nghĩ lắng sâu.
[1] Trích truyện ngắn Mua nhà của Nam Cao. | Một tấm lòng thương con sâu nặng (Về truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao) – Bình giảng Ngữ Văn 8 | 1,738 | |
Một tầm nhìn xa rộng (Về bài Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn) – Bình giảng Ngữ Văn 8
Hướng dẫn
Một tầm nhìn xa rộng
Chiếu, chế, hịch, cáo nói chung là những văn bản hành chính, công vụ, thường là những mệnh lệnh hoặc lời kêu gọi, thông báo từ trên ban xuống. Tác giả của nó, hoặc người ở vào tư thế phát ngôn phải là bậc vua chúa hoặc chủ tướng công bố một đường lối, chủ trương mà những thần dân hoặc tướng sĩ dưới quyền phải hết lòng thực hiện hoặc tường trình một sự kiện lịch sử nổi bật để mọi người cùng nghe. Tuy nội dung đề cập đến những vấn đề rất rộng nhưng cái đích phải đạt tới là sự thống nhất có tính chất toàn dân. Còn phương tiện, cách thức trình bày, nó phải là một bài văn nghị luận, phải dựa vào lí lẽ, lập luận để thuyết phục trăm họ, muôn dân. Với những văn bản nói trên, trong tình hình văn sử bất phân (văn nghệ và học thuật là nhữne khái niệm thể loại chưa phải đã rạch ròi), cho đến nay nhìn lại không thể trước tác nào cũng gọi là văn chương. Hoặc chỉ có giá trị văn chương đến một mức nào đó, nhưng văn bản lại gắn liền với một sự kiện lịch sử lớn lao chẳng hạn thì cũng không nên nhất loạt bỏ qua. Chiếu dời đô nằm trong tình hình ấy, nhưng đầy chất văn chương, nhất là văn xuôi trong chặng đường lập quốc. Nó cũng là khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. Sức thuyết phục của nó là ở chỗ tuy là tiếng nói của một người nhưng hội tụ tấm lòng của hàng triệu người, của toàn dân tộc. Để có thể đi vào lòng người còn phải có lí lẽ, có lập luận, cách trình bày sao cho mạch lạc, rõ ràng. Tính hùng biện muốn được phát huy phải gắn với tính trữ tình nhàm tạo được sự tri ân, cảm hoá.
Ưu điểm nổi bật của Chiếu dời đô là sự tập trung cao độ vào nội dung cần bàn: Vì sao việc thay đổi kinh đô “không thể dời đổi”? Trong việc thay đổi ấy chỉ một nơi có thể định đô, đó là “Nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời“. Trên tinh thần ấy, lập luận không thừa một ý, diễn đạt không lãng phí một câu, nội dung và hình thức gần với một thứ văn bia vô cùn? hàm súc. Đây cũng là một thứ mẫu mực cho bút pháp cổ vãn.
Toàn bộ bài văn hình thành hai luận điểm lớn:
1. Việc thay đổi kinh đô đối với triều đại nhà Lí là một tất yếu khách quan
Bắt chước người xưa mà không nệ cổ, ấy là một cách nghĩ phóng khoáng, canh tân. Sự lựa chọn nên hay không nên, lập luận của tác giả dựa vào thực tế xưa và nay. Sự đối lập giữa hai cách hành động, hai cách nghĩ khác nhau, tự nó bật lên chân lí: xưa không hẳn đã là cổ hủ, nay tuy là mới, nhưng chưa hẳn đã thức thời. Vậy xưa và nay, chẳng cần phân biệt, cứ đúng mà làm “nếu thấy thuận tiện thì thay đổi“. Lấy cái đúng của hôm nay mà soi vào quá khứ, Lí Công Uẩn đã bắt gặp cách nghĩ của người xưa. Kế tục truyền thống, phát huy truyền thống cần có một sự sáng suốt sàng lọc, đó là một phương châm, phương hướng nên làm. Tất cả những sự nên hay không nên, lập luận diễn ra ba bước: hành động dời đô hay “đóng yên đô thành” một chỗ, mục đích của việc dời đô và kết quả của việc dời đô. Xưa, nhà Thương, đến đời vua thứ mười bảy (Bàn Canh) có đến năm lần dời đô. Tiếp nối nhà Thương, đến Chu Thành Vương cũng làm như thế tính đến ba lần. Những quyết định táo bạo ấy phải đâu là hiếm hoi, chỉ làm trong mông muội? Mục đích và kết quả của việc dời đô ấy đã rất nhỡn tiền, mắt thấy tai nghe, không ai không công nhận. Vì đã được thừa nhận, tác giả chỉ nhắc qua “Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”. Không tán thành cách làm “Không noi theo dấu cũ của Thương, Chu” của hai nhà Đinh, Lê, lập luận có tính chất phê phán chỉ cồn hai bước của tư duy được nhấn mạnh nhiều hơn. Cái lỗi của hai nhà Đinh, Lê có đến bốn điều cần phủ nhận là “lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yến đô thành ở nơi đây”. Sức thuyết phục của lối văn tranh luận không phải ở sự dài lời. Bốn vế đầu của câu văn như những mũi tên trí tuệ bắn ra nhằm vào một cái đích: ấy là sự lẽ ra phải đổi thay của hai nhà Đinh, Lê trong hiện tại. Hậu quả của nó, thông qua phép đối, dưới hình thức biền văn, sự hô ứng thật muôn lần sáng tỏ được thể nghiệm tức thời bằng bốn vế tiếp theo đầy thuyết phục “khỉến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”.
2. Thành Đại La là một nơi định đô lí tưởng
Ngay khi nhìn ngắm vào hai tấm gương phải trái khác nhau, tác giả đã lộ rõ ý mình: không thể không thay đổi cách nghĩ, cách làm. Nhưng tỏ ra tinh tế, khiêm nhường, tác giả chỉ giãi bày cách cảm: “Trẫm rất đau xót về việc đó“, tuy vậy không phải không ngầm ý quyết đoán, một quyết đoán không gì cưỡng được vì nó hợp với mệnh trời: “không thể không dời đổi”. Phủ định một điều? phủ định chính là sự khẳng định. Ấy là chân lí của tư duy.
Ý tưởng của nhà vua trong việc định đô ở Đại La thuyết phục người nghe ở cả hai yếu tố: lí lẽ và tình cảm, nội dung và hình thức diễn đạt, trình bày về lí lẽ, lợi thế của Đại La được trình bày rất kĩ lưỡng với một số lượng câu không ít, nó như nốt nhấn của bài văn. Bốn câu văn đầy trọng lượng này lại được nhân lên gấp đôi bởi mỗi câu có đến hai vế, mỗi vế lại có sức tác động riêng bổ sung cho nhau, thật là tầng tầng lớp lớp. Nội dung của đoạn văn dựa vào thuyết phong thuỷ mà phát hiện ra vẻ đẹp muôn mặt của Đại La: nào là vị thế địa lí, vị thế văn hoá, đầu mối giao lưu, điều kiện dân cư và sự tốt tươi cho muôn vật. Đại La như một viên ngọc, nếu có ánh sáng của nhận thức soi vào, nó lấp lánh lên bao điều ngưỡng mộ. Tinh cảm của người viết dù không muốn lộ ra vẫn ngập tràn trong tiết tấu, nhịp điệu, trong từng chữ, từng câu “lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu” như thế. Yêu mến Đại La là xuất phát từ ý đồ “mưu toan nghiệp lớn“, là một tầm nhìn xa rộng đến mai sau, vì lợi ích của muôn dân trăm họ. Nội dung đầy chất trí tuệ và tâm hồn ấy được diễn tả bằng hình thức biền văn chuẩn mực. Hình thức này đã góp phần không nhỏ vào hiệu quả của đoạn vãn. Thử nêu một ví dụ về phép đối, chẳng hạn, đối ý, đối lời, đối thanh, đối nhịp. Ở đây, tác giả đã khá dụng công, ví dụ: ngay ở câu đầu hai vế: “Ở vào nơi trung tâm trời đất ; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi“, mỗi vế có bảy chữ, bằng trắc thay nhau thật du dương trầm bổng. Ây là chưa nói xen giữa những câu dài là những câu ngắn có tác dụng bắc cầu cho câu dài tiếp nối cái mạch vãn đầy hứng khởi trào dâng. Chẳng hạn như câu: “Địa thế rộng mà bằng ; đất đai cao mà thoáng“, sau đó tiết tấu dãn ra: “Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt ; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi“. Để sơ kết, cũng là để nhấn mạnh về vị thế tuyệt vời của thế đất Đại La, tác giả sử dụng nhịp văn dồn dập với những cách tôn vinh không đơn điệu: đã là nơi “thắng địa”, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương” còn là “nơi kinh đô bậc nhất“,… Lập luận và lí lẽ đến mức ấy thì câu kết của bài dù chỉ là bỏ ngỏ (“Các khanh nghĩ thế nào?”) tưởng như chưa có hồi âm, nhưng thực ra thì đáp số đã nằm ngay trong đó. | Một tầm nhìn xa rộng (Về bài Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn) – Bình giảng Ngữ Văn 8 | 1,525 | |
Một vài nét về tác giả, dịch giả, về nội dung và giá trị tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc
Hướng dẫn
Ví dụ:
‘VỊ kiều đầu, thanh thủy câu,
Thanh thủy biên, thanh thủy đồ.
Tống quân xứ hề, tám du du,
Quân đăng đồ hề, thiếp hận bất như câu.
Quân lâm lưu hề, thiếp hận bất như châu’…
Dịch thơ:
‘Ngòi đầu nước trong như lọc,
Dường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền’…
Dịch giả:
Hiện nay có 3, 4 bản dịch thơ ‘Chinh phụ ngâm khúc’.
Bản dịch 408 câu thơ song thất lục bát rất được phổ biến, nhiều người cho là của bà Đoàn Thị Điểm, người cùng thời với ông Đặng Trần Côn.
Đoàn Thị Điểm quê ở làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà là một phụ nữ nổi tiếng: ‘đẹp người, đẹp nết, giỏi văn chương’, là vợ thứ của tiến sĩ Nguyễn Kiều, danh sĩ Bắc Hà thời Lê – Trịnh. Ngoài bản dịch ‘Chinh phụ ngâm
khúc’,nữ sĩ còn để lại tác phẩm ‘Truyền kì tân phả’ bằng chữ Hán.
Nội dung.,
‘Chinh phụ ngâm khúc’thể hiện nỗi thương nhớ, trông mong đợi chờ, nỗi buồn cô đơn, vất vả, dài dằng dặc của người vợ trẻ có chồng đi chinh chiến miền xa, đồng thời nói lên cảnh gian truân, nguy hiểm của người chồng trên chiến địa.
Bản dịch ‘Chinh phụ ngâm khúc’ là một kiệt tác của nền văn thơ cổ điển Việt Nam.
– Nó có giá trị nhân đạo sâu sắc, nói lên tình thương đối với những chinh phụ, những khách chinh phụ trong thời loạn lạc: nguy hiểmchếtchóc, lo buồn có đơn; cảm thông với nỗi khát khao về hạnh phúc lứa đôi, về ước mơ sum họp gia đình. ‘Chinh phụ ngâm ‘ còn là tiếng nói lên án chiến tranh thời phong kiến.
Về mặt nghệ thuật ‘Chinh phụ ngâm khúc’ đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Về thể thơ song thất lục bát là đỉnh cao chưa có tác phẩm nào sánh được. Nhạc điệu du dương, ngôn ngữ trong sáng gợi cảm, hình tượng mĩ lệ, cách diễn tả tâm trạng tinh tế, sâu sắc, các thủ pháp nghệ thuật được sử dụng cực kì điêu luyện. Nhiều câu thơ, đoạn thơ đã in sâu trong tâm trí hàng triệu con người. Ví dụ: ‘Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ỷ thiếp, ai sầu hơn ai?’
hay:
‘Ôm yên, gối trống đã mòn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh’ hay:
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong!
Cảnh buồn, người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun’… | Một vài nét về tác giả, dịch giả, về nội dung và giá trị tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc | 442 | |
Một vùng non nước hùng vĩ, hoang sơ – Bình giảng văn 7
Hướng dẫn
Cùng với các nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm…, Bà Huyện Thanh Quan đã góp phần làm vinh dự cho nền văn học trung đại Việt Nam chúng ta. Bà Huyện Thanh Quan sáng tác không nhiều, nhưng là một tài danh hiếm có. Tác phẩm của bà hiện còn lại sáu bài thơ Đường luật, trong đó có bài Qua Đèo Ngang nổi tiếng và rất quen thuộc với bạn đọc:
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bêu sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Bài thơ được viết bằng chữ Nôm, thuộc thể Đường luật thất ngôn bát cú (mỗi càu bảy tiếng, mỗi bài tám câu) với thanh điệu, vần điệu, bố cục, đối xứng rất hài hoà, tự nhiên, đúng niêm luật, đọc lên nghe xuôi tai, rất dễ thuộc, dễ nhớ. Lướt qua một lần từ câu chữ mở đầu đến kết thúc, chúng ta nhận rõ bài thơ đẹp như một bức tranh vẽ lại một vùng non nước miền Trung đất Việt hùng vĩ, mà hoang sơ, gợi cảm.
Câu mở đầu cho ta biết cảnh Đèo Ngang hiện lên vào lúc xế tà, nắng nhạt. Cảnh vật gồm: cỏ, cây, hoa, lá, dãy núi, con sông, cái chợ, mấy túp nhà, vài chú tiều. Đường nét, màu sắc, chi tiết thưa thoáng, nhẹ nhàng, thanh đạm. Nét vẽ của nhà thơ chấm phá từ gần đến xa. Hoà với đường nét, văng vẳng vọng lại mấy âm thanh, tiếng kêu “nhớ nước” của chim cuốc, tiếng than “nhớ nhà” (muốn tìm về tổ) của chim đa đa. Trong nghệ thuật kết cấu thơ, tác giả thật khéo dùng câu đối xứng “Lom khom dưới núi tiều vài chú” đối xứng với “Lác đác bên sông chợ mấy nhà”, đường nét đối xứng với đường nét, hình ảnh cuộc sống con người đối xứng với nhau. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” đối xứng với “Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, âm thanh, loài vật đối xứng với nhau, hài hoà, cân đối. Trong nghệ thuật dùng từ, tác giả chọn những từ láy lom khom, lác đác, các từ tượng thanh quốc quốc, gia gia gợi hình, gợi cảm, tác động vào sự suy ngẫm, liên tưởng của người đọc. Thêm nữa, trong cấu trúc câu, xuất hiện phép đảo ngữ tài tình. Ở câu ba, động từ lom khom đảo lên trước danh từ tiều vài chú, xuống câu bốn, tính từ lác đác đảo lên trước danh từ chợ mấy nhà. Nhờ đó, ấn tượng về dáng hình vất vả của người tiều phu, sự thưa thớt, quạnh hiu của lều chợ được nhấn mạnh như nét đậm trong bức tranh… Có thể nói, sáu câu thơ đầu là bức tranh phong cảnh thiên nhiên ở Đèo Ngang, núi đèo bát ngát, thấp thoáng có sự sống con người, nhưng còn hoang sơ. Cảnh được nhìn vào lúc chiều tà, tác giả đang trong cảnh ngộ phải xa nhà, mang tâm trạng cô đơn, nên không gợi nên cảm giác vui, đẹp mà buồn và vắng lặng. Từ cảnh, toát ra tình cảm con người. Mỗi câu thơ đều có ý nghĩa biểu cảm, trĩu nặng hồn người. Đọc thơ, chúng ta hiểu tâm trạng Bà Huyện Thanh Quan: buồn, cô đơn, hoài cổ. Tiếng chim quốc nhớ nước, tiếng chim đa đa (đọc trệch thành gia gia) thương nhà cũng chính là tiếng lòng thiết tha, da diết của tác giả nhớ gia đình, nhớ quá khứ của đất nước. Hai từ quốc quốc và gia gia vừa tả thực, nói về hai loại chim, vừa ẩn dụ, gợi liên tưởng tới quốc – gia, Tổ quốc và gia đình, nước và nhà đã và đang cất lên tiếng kêu, tiếng gọi tha thiết khiến lòng người không thể thờ ơ.
Đến hai câu thơ cuối:
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
thì “lòng người”, tâm trạng Bà Huyện Thanh Quan được giãi bày trực tiếp. Đến đây, ngòi bút tả cảnh ngụ tình chuyển sang ngòi bút tâm trạng, thơ hướng nội, tâm tình. Đối mặt trước cảnh trời, non, nước bao la, hùng vĩ, nhà thơ cảm thấy mình như nhỏ bé hẳn lại, nỗi nhớ nhà, thương nước càng thêm da diết, thẳm sâu.
Vậy mà không có ai, không tìm được ai để san sẻ, tâm tình, đành ta với ta, “Một mình mình biết, một mình mình hay” (Nguyễn Du – Truyện Kiều). Ở đây lại xuất hiện một đối lập nữa. Cảnh trời, non, nước, rộng lớn đối lập với một mảnh tình riêng nhỏ hẹp. Cảnh càng rộng lớn, hùng vĩ bao nhiêu thì mảnh tình riêng càng nặng nề, khép kín bấy nhiêu. Cụm từ ta với ta bộc lộ nỗi cô đơn gần như tuyệt đối của tác giả. Nhưng đây không phải là nỗi cô đơn tiêu cực, bi luỵ mà là tấm lòng đau đáu, thiết tha của nữ sĩ Thanh Quan đối với đất nước, đối với gia đình, đáng cảm thông và trân trọng.
Đọc Qua Đèo Ngang, chúng ta cảm nhận, bài thơ trang nhã, rất tiêu biểu cho thơ Đường luật của Bà Huyện Thanh Quan. Đèo Ngang hiện lên với cảnh thiên nhiên bát ngát, hùng vĩ, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn heo hút, hoang sơ, đủ gợi lên trong tâm hồn tác giả một nỗi nhớ nước, thương nhà, một nỗi buồn cô quạnh, não nề. | Một vùng non nước hùng vĩ, hoang sơ – Bình giảng văn 7 | 970 | |
Một vùng non nước Quảng Bình – Bài Động Phong Nha Ngữ Văn 6
Hướng dẫn
Một vùng non nước Quảng Bình
Bài Động Phong Nha Ngữ Văn 6
Để được công nhận là di sản thế giới, Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng có hai tiêu chí: thứ nhất là điển hình về lịch sử hình thành vỏ trái đất và những đặc điểm địa chất, thứ hai là đặc trưng cho tính đa dạng sinh học và các loài bị đe doạ. Thuyết minh về điểm tham quan du lịch này, tác giả đã chọn một kiểu bài giống như một bài bút kí du lịch, một thứ ghi chép có tên sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung Bộ. Đối tượng phục vụ của nó không dành riêng cho các nhà khoa học mà là rộng rãi cho mọi khách tham quan. Bài viết gồm hai phần lớn: giới thiệu động Phong Nha và sự đánh giá về nó như một “kì quan đệ nhất động” của đoàn thám hiểm Hội địa lí Hoàng gia Anh, và sức hút của nó với nhiều người.
1.Bài viết bắt đầu giới thiệu vị trí của thắng cảnh (nằm trong một quần thể hang động thuộc khối núi đá vôi Kẻ Bàng ở miền tây Quảng Bình), và con đường đi đến rất dễ dàng bằng hai cách: đường thuỷ và đường bộ. Nơi gặp nhau của hai con đường thuỷ và bộ ấy là cái bến sông Son với một lưu ý nhỏ mà thú vị: tên sông là sông Son – tên của màu môi con gái, nhưng nước sông lại là màu mắt: xanh thẳm và rất trong. Cảnh hai bên bờ thơ mộng, sơn thuỷ hữu tình với những khối núi đá vôi trùng điệp, xen lẫn với những xóm làng, bãi mía, nương ngô,…
Phần chủ yếu tiếp theo, tác giả giới thiệu một cấu trúc hang động hài hoà: Động khô và Động nước, vẻ kì thú của Động khô là ở chỗ: tuy ở vào độ cao 200 m nhưng đó lại là dấu vết của một con sông ngầm, một con sông như bến bờ tiền sử xa xôi mà sự “hoá thạch” của nó là một cung điện nguy nga với “những vòm đá trắng vân nhũ và vô số cột đá màu xanh ngọc bích óng ánh” vẫn còn. Có lẽ sự sống bền bỉ hơn lại chính là Động nước. Cầm đuốc, cầm đèn mà đi vào Động nước, cảm quan của khách du lịch có khác gì đang bước vào một chốn Bồng Lai. Sự nguy nga tới mức tráng lệ, vàng son cùng với những mê lộ, mê cung càng hấp dẫn trí tò mò của những kẻ phàm trần. Động chính của Phong Nha không chỉ có mười bốn buồng, mà sức hấp dẫn là càng đi sâu vào, kiến trúc hang động mở ra với độ rộng, độ cao như sự sắp xếp tự nhiên của lòng mến khách. Và, điểm dừng của động chính sau khi lướt qua mười bốn hang động bên ngoài là một vùng bí mật chỉ dành cho những nhà thám hiểm với đầy đủ lòng can đảm và các thiết bị cần thiết mà thôi. Đó là cái khoảng trống vẫy gọi con người, cả hai loại: tỉnh táo và mơ mộng. Phong Nha phía sâu bên trong của nó còn trùng điệp lớp tầng, một kho tàng chưa mở hết. Nào là các dòng sông ngầm dưới khối núi đá vôi, nào là khu rừng nguyên sinh 40000 héc ta cất giữ bao nhiêu huyền bí! Dẫu sao bút pháp trên đây vẫn chủ yếu là cách ghi chép của nhà khoa học. Cách diễn tả một tâm hồn thơ thực sự chỉ bắt đầu khi tác giả viết bài xem mình như một lãng tử ngồi trên thuyền đi xem động Phong Nha. Vẻ đẹp “lộng lẫy”, “kì ảo” của thắng cảnh như bừng thức dậy, hoà trộn mọi thứ màu sắc, ánh sáng, đường nét, âm thanh, hình ảnh như thực như mơ. Gần gũi nhất là hình khối con gà, con cóc, mâm xôi, cái khánh. Còn huyền bí xa xôi là hình các tiên ông đang ngồi đánh cờ có lẽ từ hàng ngàn năm về trước. Đột ngột, man mác một tứ thơ lại là đây đó từ trên vách động rủ xuống xanh biếc những nhánh phong lan. Đi suốt chiều dài hơn một nghìn mét ở phần ngoài của động Phong Nha, người hướng dẫn viên du lịch phải chăng đã đồng cảm giác với khách tham quan hay những rung động tâm hồn tự nó tìm ra một cách diễn tả tươi tắn, nguyên sơ. Đó là cảm giác “như lạc vào một thế giới khác lạ – thế giới của tiên cảnh”. Ở đó mọi giác quan không còn như thực nữa: “Một tiếng nước gõ long tong, một tiếng nói trong hang động đều có âm vang riêng, khác nào tiếng đàn, tiếng chuông nơi cảnh chùa, đất Bụt”. | Một vùng non nước Quảng Bình – Bài Động Phong Nha Ngữ Văn 6 | 850 | |
Một vấn đề xã hội mà em quan tâm – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8
Hướng dẫn
Một vấn đề xã hội mà em quan tâm
Bài làm
Bạn đang hạnh phúc bên gia đình phải không? Chắc hẳn là vậy rồi. Bởi bận được đi học, được ăn ngon, mặc đẹp hoặc nếu nhà bạn không được khá giả thì ít nhất, bạn còn được cha mẹ yêu thương, được hưởng sự chăm sóc của các thành viên trong gia đình. Bạn có biết rằng bạn rất may mắn không? Bạn có biết rằng ngoài xã hội còn có rất nhiều trẻ em không được may mắn như bạn, phải lang thang tự thân kiếm sống không?
Bạn hãy dành chút thời gian, thử một lần tới các địa điểm như gầm cầu, khu nhà ổ chuột hay các bến ga, bến tàu, bạn sẽ được thấy những số phận bất hạnh mà những đứa trẻ phải chịu đựng. Chao ôi! Thương làm sao một thằng nhỏ mới lớn, năm tuổi đã phải cầm xấp vé số đi rao khắp các đường phố. Nghe tiếng nó rao, tiếng nó chào hàng mời khách, tiếng nó năn nỉ người đi đường mua hàng rồi cả tiếng quát tháo của mấy ông đại gia mà thấy nao lòng. Thằng nhỏ thật kiên trì, nó vẫn tiếp tục công việc, vẫn tiếp tục đi hết phố này đến phố nọ, vào hết quán ăn này đến quán ăn nọ, mặc người ta xua đuổi, mặc người ta chửi bới, sỉ nhục. Khuôn mặt nó nhem nhuốc, trông già trước tuổi. Có vẻ thằng nhỏ đã quen với công việc này rồi và điều đó khiến người ta suy nghĩ: “Bố mẹ thằng nhỏ đâu mà để nó phải bán vé số rong kiếm sống như thế?”.
Một công việc khác mà bạn có thể thấy rất nhiều trên đường, đó là đánh giày và người làm công việc đó không ai khác cũng chính là những đứa trẻ. Chắc bạn cũng để ý, trẻ đánh giày không chỉ có con trai mà còn có cả con gái. Bọn trẻ đi khắp phố, có đứa còn đi chân đất hết ngày này qua ngày nọ, nơi này đến nơi nọ để đánh giày cho khách. Hôm nào hên thì gặp được khách dễ tính, còn hôm nào không may mắn thì đến một ông khách khó tính cũng chẳng có. Bữa đói, bữa no, cuộc đời thật bất hạnh, thương lắm sao! Vậy mà chúng còn bị hắt hủi, chửi bới. Khuôn mặt chúng gầy gò, xanh xao, quần áo bẩn thỉu, đen đúa, bàn tay dính đầy xi, nhem nhuốc. Thỉnh thoảng chúng còn bị khách đá vào tay, vào chân, có ông cồn chê giày bẩn và không trả tiền. Làm việc vất vả ngày đêm như vậy thật chẳng công bằng với những đứa trẻ, chẳng những thế chúng còn không đủ ăn khi số tiền kiếm được quá ít ỏi.
Chắc hẳn bạn rất bực mình, thậm chí là tức điên lên khi bị bọn trẻ ăn cắp đồ đúng không? Bạn đã bao giờ nghĩ tại sao chúng lại như vậy chưa? Chúng cũng chỉ vì kiếm miếng cơm manh áo mà thôi. Có thể từ nhỏ đã không được dạy dỗ nên chúng mới làm cái nghề thất đức này. Chắc chúng cũng chẳng thích thú gì cái việc ngày ngày nấp ở gầm cầu, ngõ vắng để ăn cắp ăn trộm. Nếu may ra chúng không bị bắt và dùng số tiền kiếm được để ăn uống, còn nếu bị bắt chúng có thể bị đánh, bị bắt giam và cuộc đời tự do đến đây là hết….Chúng luôn sống trong lo sợ và điều đó quá sức chịu đựng của những đứa trẻ.
Khổ cực như vậy nhưng chúng vẫn bị mọi người khinh miệt, bởi bọn trẻ đó không có học thức, không được dạy dỗ, chẳng làm được việc gì ra hồn. Một số người nghĩ rằng những đứa trẻ bẩn thỉu, lang thang ngoài đường kia là những vết nhơ của thành phố hoa lệ, hiện đại này. Họ đã nhầm, họ đâu biết rằng chúng là những đứa trẻ kiên cường nhất, giỏi chịu đựng nhất. Chúng cũng có ước mơ, ước được đi học như các bạn khác, ước được ăn những món ăn ngon, mặc những bộ quần áo đẹp, ước không phải lo chỗ ngủ mỗi đêm và hơn hết, chúng ước mơ một mái ấm gia đình.
Hoàng Thị Thu Trang
(Trường PTDL Lương Thế Vinh)
>> Xem thêm Về bộ phim, bài hát, cuốn truyện gợi đến một hiện tượng xã hội mà em quan tâm tại đây.
Tags:Bài văn hay lớp 8 · Một vấn đề xã hội mà em quan tâm | Một vấn đề xã hội mà em quan tâm – Văn nghị luận – Bài văn hay lớp 8 | 799 | |
Một vấp ngã thấm thía- Bài học đường đời đầu tiên Ngữ Văn 6
Hướng dẫn
Phân tích “Bài học đường đời đầu tiên” Ngữ Văn 6 trích “Dế Mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài.
Bài học đường đời đầu tiên Ngữ Văn 6
1. Ở tầng nghĩa thứ nhất của văn bản, thông qua phương thức miêu tả và kể chuyện, ta nhận ra bức chân dung mà Dế Mèn tự họa. Đó là một phác thảo thành công về “một chàng dế thanh niên cường tráng” trong hai bối cảnh và hai mối quan hệ khác nhau: trong nhà và ngoài ngõ, với mình và với người. Mạch văn do đó mà liên tục theo hướng mở rộng dần ra. Quả như câu tục ngữ: “Ở nhà nhất mẹ nhì con – Ra đường lắm kẻ còn giòn hơn ta”.
– Trong cái thế giới riêng nhỏ bé của mình, Dế Mèn là chúa tể. Vẻ “cường tráng” toàn thân thẫm đẫm vào các chi tiết bộ phận. Tất cả đều ăn ý, hài hòa, ánh lên vẻ đẹp, sức hấp dẫn của một chàng dế thanh niên mới lớn. Nói đến sức mạnh của loài dế, trước hết phải kể đến bộ vuốt ở chân và bộ răng trên miệng. Cả hai, ở Dế Mèn đã vô cùng “lợi hại”, chỉ cần một động tác “co cẳng lên” là lập tức “Những ngọn cỏ gẫy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua”, còn hai cái răng đen nhánh có thể sánh ngang với “hai lưỡi liềm máy làm việc”. Những ấn tượng thị giác vừa nêu được bổ sung bằng ấn tượng thính giác tạo ra được nội lực đáng gờm. Cái đạp của Dế Mèn là cái “đạp phanh phách” đầy khí thế, còn “hai lưỡi liềm máy” hoạt động lúc nào cũng có tiếng “ngoàm ngoạp” âm vang, đe doạ. Dế Mèn có đủ, sự sang trọng ở bộ cánh “cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi” (chứ không “ngắn hủn hoẳn” đến buồn cười như trước đó), sự đáng nể ở bộ râu “hùng dũng”. Riêng bộ râu của Dế Mèn là một điểm nhấn làm bừng sáng lên một vẻ đẹp hoàn mĩ, tuyệt vời (được tô đậm đến ba câu văn chứ không phải là một chi tiết đồng hạng ngang bằng với các bộ phận cơ thể khác). Cũng cần phải nói thêm, trong những nét miêu tả ngoại hình ấy, có những chi tiết tưởng như chỉ thoáng qua nhưng không thể thiếu, hơn nữa còn gây ấn tượng trong tâm trí người đọc. Ví dụ cái đầu “to ra và nổi từng tảng, rất bướng” của Dế Mèn. Thấp thoáng ở đây một lực sĩ toàn năng oai vệ sắp bước lên võ đài tỉ thí. Cuối cùng, sức mạnh của Dế Mèn đâu chỉ là câu chuyện vu vơ. Chú đã tìm phép thử nhưng dường như không có phản ứng ngược chiều. Dù có “cà khịa”, có “to tiếng” với “tất cả mọi bà con trong xóm”, nhưng không ai đáp lại, không một người nào “dám ho he”.
– Toàn bộ vẻ đẹp của Dế Mèn không chỉ được bộc lộ bằng hệ thống những chi tiết, đường nét khách quan. Nó còn gắn liền với vai trò chủ quan của người kể. Người kể chuyện không ở ngôi thứ ba mà là ngôi thứ nhất, ở vị trí này, Dế Mèn đã soi gương và ngắm mình trong đó. Yếu tố miêu tả đã kết hợp làm một với yếu tố trữ tình. Sức thuyết phục đối với người đọc không chỉ ở bề nổi mà còn ở chiều sâu. “Tôi” kể chuyện về “tôi” với bao nhiêu tâm trạng, nỗi niềm trong đó. Ngay ở những chi tiết hình thể, đâu phải là vô tình, tác giả hoá thân vào nhân vật mà sung sướng đến sững sờ khi nhận ra đôi càng “mẫm bóng”, những’ cái vuốt “nhọn hoắt” ở chân, đầu từng tảng to ra “rất bướng”. Không hài lòng, hơn nữa không hãnh diện với cặp râu thì làm sao Dế Mèn cứ chốc chốc lại đưa cả hai chân lên vuốt nó, mà cách vuốt “trịnh trọng và khoan thai” rất kiểu cách, điệu đà. Nếu lấy tiêu chí “con nhà võ” mà tự đánh giá, Dế Mèn thật mãn nguyện khi có được ưu thế vượt trội bẩm sinh, tự cho mình là “tay ghê gớm, có thể sắp đứng đầu thiên hạ rồi”. Có thể xốc nổi, nhưng cứ hồn nhiên như thế, Dế Mèn say sưa với bao nhiêu mơn trớn ngọt ngào.
2. Ở tầng nghĩa thứ hai của văn bản, thông qua hai lớp thời gian, một Dế Mèn hôm nay (đã trưởng thành thực sự) nhìn và kể lại một Dế Mèn hôm qua với bao nhiêu xốc nổi, dại khờ.
Chúng ta có thể hình dung trọn vẹn con đường “phiêu lưu” của nhân vật mà trích đoạn trên đây mới chỉ là bước khởi đầu. Tính chất hồi kí của tác phẩm hiện lên rất rõ. Nói đến hồi kí là nói đến cảnh, đến người thông qua miêu tả và kể chuyện nhưng gắn với hoài niệm, những kỉ niệm riêng trong quá khứ. Vì vậy, những chấn động tình cảm có điều kiện gia tăng với người kể, và chia sẻ được với người nghe, cả hai trở thành những tri âm, đồng điệu. Biểu hiện của tính chất hồi kí ở đây là lối văn hai giọng: giọng của hôm nay nhớ về quá khứ, còn những dòng viết về quá khứ lại cứ như hiện ra trước mắt, của hôm nay (hiện tại của quá khứ). Chất giọng của hôm nay là một thứ tư duy phán xét như tiếng nói của vị quan tòa nghiêm khắc cần minh bạch đúng sai nhưng cũng có sự bao dung, tha thứ cho những dại dột ấu trĩ một thời. Hai chất giọng này xen kẽ vào nhau tạo thành thứ bè đôi – phong cách riêng của Dế Mèn phiêu lưu kí nhằm điều chỉnh quá trình hướng thiện của nhân vật trung tâm đi vào quỹ đạo. Trước hết, nó đính chính lại những ngộ nhận ngây thơ mà Dế Mèn một thời cứ đinh ninh nó là như thế. Chẳng hạn việc gây sự vô cớ với bà con trong xóm mà không ai lên tiếng. Sau này tỉnh táo hơn, từng trải hơn, Dế Mèn mới hiểu được thế nào là sự im lặng. Thì ra toàn là chỗ quen thuộc cả, “không nói, có lẽ họ nể hơn là sợ. Nhưng tôi lại tưởng thế là không ai dám ho he. Ấy vậy, tôi cho là tôi giỏi…”. Lên mặt mắng Dế Choắt là kẻ “ặn xổi, ở thì” nhưng sự thật không phải như vậy (thật ra chỉ vì ốm đau luôn, Dế Choắt không thể nào làm được). Cao hơn sự điều chỉnh trên đây, Dế Mèn đã tìm thấy nguyên nhân của sự “tự đắc”, ấy là tính ích kỉ, cá nhân của bản thân mình lúc đó: “Ngẫm ra thì tôi chỉ nói lấy sướng miệng tôi. Còn Dế Choắt than thở thế nào, tôi cũng không để tai. Hồi ấy, tôi có tính tự đắc…”. Dám thẳng thắn như thế vì Dế Mèn là kẻ biết mình, khoác lác thế thôi (như với chị Cốc), nhưng y là một kẻ “miệng hùm gan sứa”, chẳng thế mà khi biết Dế Choắt bị chị Cốc giáng cho những đòn chí tử, tuy đã nằm tận đáy cái hang kiên cố của mình rồi, Dế Mèn vẫn khiếp đảm “nằm im thin thít”, đợi chị Cốc bay đi rồi mới dám “mon men bò lên”. Toàn bộ sự việc trêu chọc chị Cốc, bắt nạt Dế Choắt đã được khái quát lại và để từ đó một bài học về nhân sinh, về đạo lí rút ra thấm thía: “Chao ôi, có biết đâu rằng: hung hăng, hống hách láo chỉ tổ đem thân mà trả nợ cho những cử chỉ ngu dại của mình thôi…”. Câu văn này mà đặt vào một kết cấu hình thức bên ngoài thì nó như một sự chuyển ý. Nhưng nếu đặt nó vào phong cách Tô Hoài thì lại là giọng văn hồi kí có tính chất đúc kết rất cao. Nó làm sáng lên tất cả chân dung một Dế Mèn còn nhiều thiếu sót mà câu chuyện tiếp nối là một sự minh họa theo quan hệ “hô – ứng” mà thôi. Tuy có nặng lời phê phán, lối văn hai giọng cũng phát hiện ra những mầm mống tốt đẹp của Dế Mèn, một tính cách không hề giản đơn, một phía. Với Dế Choắt, Dế Mèn tỏ ra tuyệt tình nhưng thực ra Mèn cũng biết thương người. Trong cái đám sếu, vạc, cốc, le,… cãi nhau inh ỏi bốn góc đầm nước trắng mênh mông có khi chỉ tranh nhau một mồi tép, Dế Mèn rưng rưng thương cảm với “những anh Cò gầy vêu vao ngày ngày bì bõm lội bùn tím cả chân mà vẫn hếch mỏ, chẳng được miếng nào”. Vừa hắt hủi Dế Choắt “Đào tổ nông thì cho chết! “, Dế Mèn đã biết trầm tư: “Khổ quá, những kẻ yếu đuối, vật lộn cật lực thế mà cũng không sống nổi”. Tính cách Dế Mèn là như thế! Đủ tất cả hay, dở, đúng, sai. Cần phải học, học theo kiểu “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” hơn nữa mới trở nên một Dế Mèn chân chính. | Một vấp ngã thấm thía- Bài học đường đời đầu tiên Ngữ Văn 6 | 1,614 | |
Một đêm giữa tháng trăng sáng vằng vặc. Hãy tả lại đêm trăng đó
Gợi ý
DÀN Ý
MỞ BÀI
Mỗi lần giữa tháng trăng sáng vằng vặc. Em dành thời gian để ngắm trăng.
THÂN BÀI
– Trời vừa tối:
+ Bóng đêm bao trùm cảnh vật.
+ Những ngôi nhà lên đèn.
+ Trăng từ từ lên cao.
– Trời tối hẳn:
+ Không gian trong vắt.
+ Cảnh vật trang nghiêm chờ trăng lên đỉnh trời.
– Trong đêm:
+ Càng lên cao trăng càng sáng.
+ Lá xanh ngời.
+ Nước ao lóng lánh, cá đớp bóng trăng, gợn sóng phản chiếu ánh sáng.
+ Tiếng côn trùng vui sướng ca ngợi trăng và sau đó im bặt để mải mê ngắm trăng.
– Khuya:
+ Gió hiu hiu.
+ Trăng lung linh trên bãi cỏ mượt lóng lánh sương.
+ Hoa nhài nhả hương. Dế Mèn lại ca hát.
+ Mọi vật sống động hơn, gây nhiều ảo giác (như có một con trăn trườn mình, như có một nàng tiên xuống trần chơi…)
+ Trăng vuốt tóc em như tình thương của mẹ.
– Gần sáng:
Trăng nhỏ dần như vẫn tràn ánh sáng.
KẾT BÀI
+ Những đêm trăng sáng đã cho hồn em ngọt ngào và thêm yêu quê hương.
+ Em hứa sẽ không bao giờ quên cảm tạ quê hương, cảm tạ ánh trăng đã cho em nhiều kỉ niệm trong lành.
BÀI LÀM
Mỗi lần giữa tháng trăng tròn, em đều dành ra ít thời gian buổi tối để ngắm trăng ở vườn nhà.
Bây giờ màn đêm đang từ từ bao trùm cảnh vật. Trong xóm, lác đác vài ngôi nhà đã lên đèn. Ngoài kia, trên bầu trời trong vắt, mặt trăng đang từ từ lên cao, rồi treo lơ lửng trên ngọn tre đầu làng. Xung quanh, muôn triệu vì sao đang lấp lánh. Không gian trong vắt, im lặng như tờ, tất cả nghiêm trang để đón rước mặt trăng đĩnh đạc lên ngự ở đỉnh trời.
Trăng càng lên cao càng tỏa sáng vằng vặc. Làn ánh sáng dịu mát trải trên mặt đất, đáp nhẹ trên những tán lá cây xanh ngời. Làn nước dưới ao lóng lánh chao mình và nghe rất khẽ một tiếng quẫy đuôi của một con cá nhỏ giỡn trăng. Gợn sóng đã làm cho ánh trăng hắt chiếu làm ánh sáng mơ hồ lên tàn cây rậm bên bờ khẽ rung rinh. Tiếng côn trùng nhập lại thành từng bè như mơn man một niềm vui sướng được tắm gội ánh trăng thanh. Trăng càng lên cao, càng tỏ ngời, tiếng ri rả giờ đây dường như im bặt. Mọi vật nín thở chiêm ngưỡng vầng tinh tú.
Gió nhẹ hiu hiu thổi, ánh trăng lọt qua kẽ lá lung linh những giọt ánh sáng đủ hình đủ dạng trải lên bãi cỏ mượt mà làm ánh lên những hạt sương đêm. Trăng ươm hương trên hoa nhài ngan ngát, quyện vào tiếng đàn vui tai của chú Dế Mèn. Cây cối trong vườn xào xạc đón ánh trăng.
Đứng giữa bầu không gian thoáng đãng, tràn ngập trăng, lòng em trở nên thanh thản lạ. Lúc nào ánh sáng hiền dịu ấy cũng ve vuốt mái tóc em, em đi đâu trăng cũng dõi đi theo tựa như mẹ em vậy.
Trời càng khuya, trăng càng nhỏ dần và nghiêng về phía bên trời kia. Có phải chăng trăng đã cho thế gian ánh sáng một cách hào phóng mà trở nên như vậy. Càng nhìn trăng em lại thấy trăng đẹp hơn lên, sáng hơn ra.
Yêu quê hương, em yêu ánh trăng sáng. Em đã lớn lên trong lòng quê hương êm ái ngọt ngào. Và tựa như em lớn lên cũng là nhờ thứ ánh sáng mát mẻ, êm ái và ngọt ngào của những đêm trăng rằm như đêm nay vậy. | Một đêm giữa tháng trăng sáng vằng vặc. Hãy tả lại đêm trăng đó | 623 | |
Một đêm trăng sáng, bà kể chuyện đời xưa cho mọi người nghe. Em hãy kể lại kỉ niệm về cảnh gia đình ấm cúng đó
Gợi ý
DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG
A. MỞ BÀI
(Giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh)
+ Đêm trăng tuyệt diệu.
+ Trăng và gió tạo nên cảm giác dễ chịu. Trăng soi vào gia đình đầm ấm.
B. THÂN BÀI
(Phần phát triển câu chuyện)
– Mỗi người trong gia đình vừa ăn xong cơm tối, đều nghỉ ngơi. Bà nhai trầu và nằm võng.
– Nội đố chị em tôi cái gì trên mặt trăng. Chúng tôi đoán khác nhau. Nội trả lời đó là chú Cuội..
– Nội kể chuyện “Chú Cuội cung trăng”.
– Ba chăm chú nghe quên cả hút thuốc. Mẹ ngồi bên cũng im lặng.
– Câu chuyện hấp dẫn và cuốn hút.
– Sau khi nghe kể, chị em tôi ra sân để kiểm tra sự thật. Em tôi nhìn thấy chú Cuội, còn tôi thì không thấy.
C. KẾT BÀI
+ Trăng sáng hơn soi vào chiếc võng bà nằm. Bà tôi như một bà tiên cổ tích.
+ Tôi nguyện ước bà mãi không già để kể tiếp cho chúng tôi những câu chuyện như vậy.
BÀI LÀM
Hôm nay là một đêm trăng rằm tuyệt diệu. Gió từ biển thổi lên mát lạnh, ánh trăng đeo bám vào những chiếc lá ánh ngời ngoài vườn va vào nhau nghe lao xao, lao xao. Tôi mở tung tất cả những cánh cửa sổ. Cùng với gió, trăng tha hồ tràn vào nhà soi những khoảng không gian tối trở nên rực rỡ.
Bà tôi nói rằng: “Thế các cháu chưa hề nghe câu chuyện “Chú Cuội cung trăng” ư?”. Thằng em tôi nhanh nhảu: Chưa, chưa nội ơi. Nội kể cho chị em cháu nghe đi. Ở trên ấy mà cũng có người hả nội?.
9. Ừ, để thong thả nội nhớ lại rồi nội kể cho nghe. Còn việc câu chuyện này có thật hay không thì nội không dám chắc. Nội cũng được nghe bà cố của các con kể lại mà thôi.
Nội tôi bỏm bẻm nhai xong miếng trầu, rồi bắt đầu kể. Cái miệng móm của bà trông hiền từ và dễ thương làm sao ấy. Nội như một bà tiên hiền hậu vậy. Giọng kể của bà thật là hấp dẫn, chúng tôi cũng bị cuốn hút theo. Điếu thuốc trên tay ba tôi cũng không còn lập lòe nữa. Chắc ba cùng đang theo dõi câu chuyện say mê không kém chúng tôi. Mọi vật đều im lặng, chúng tôi như chơi vơi lạc vào một thuở xa xôi nào. Chúng tôi hết đến với cánh rừng nơi Cuội đi đốn củi, rồi lại thấy Cuội cùng cây đa bay lên cung trăng chị Hằng…
Thật là một niềm hạnh phúc dễ chịu. Mẹ tôi đã ngồi bên tôi tự lúc nào. Cả nhà ngồi nghe nội kể một cách say mê. Câu chuyện hấp dẫn thật đấy, nhưng với tôi, cái không khí giản dị và ấm cúng của gia đình nó lặng lẽ âm thầm gieo vào lòng tôi một niềm vui trọn vẹn…
– Em nhìn thấy rồi, chị Hà ơi… Tuấn đang đứng ngoài sân nói vọng vào – Chị coi kìa, chú Cuội đang đi lại bên gốc đa kia kìa. Ồ chú ăn mặc sao mà lạ quá. Chú đang ngồi nơi tảng đá, lưng tựa vào gốc đa mà nhìn em, có nhìn thấy không chị Hà?…
Tôi cố nhìn nhưng không thấy như vậy. Trăng vẫn ngời ngợi, trăng vẫn tuôn ánh sáng xuống trần gian. Và kìa, trăng đã soi rõ chiếc võng nội đang nằm. Tóc nội trắng phau đầm đìa ánh trăng. Chúng tôi nhìn nội, nội mỉm cười và lấy tay trỏ vào miệng móm của mình. Nội muốn nói với hai chị em tôi là nội không nói chuyện được vì bận nhai trầu.
Ôi, những kỉ niệm giản dị và ấm cúng như vậy sẽ luôn luôn theo tôi đi trong cuộc đời. Tôi thầm nguyện ước nội tôi sẽ ở mãi với chúng tôi, và nội tôi đừng có già thêm nữa. Để những đêm như đêm nay, nội bỏm bẻm nhai trầu và kể cho chúng tôi những câu chuyện ngày xưa tuyệt diệu. | Một đêm trăng sáng, bà kể chuyện đời xưa cho mọi người nghe. Em hãy kể lại kỉ niệm về cảnh gia đình ấm cúng đó | 707 | |
Mở đầu bài thơ là “ngục trung”, kết thúc là “thi gia”. Chi tiết này nói lên điều gì?
Hướng dẫn
“Ngục trung” là trong hoàn cảnh tù đày. Lẽ thường, “ngục trung” phải gắn với “tù nhân” nhưng kết thúc bài thơ người đọc lại bắt gặp hình ảnh của “thi nhân”. Một “thi nhân” ngay trong hoàn cảnh ngục tù. Đây chính là nét độc đáo khác thường của bài thơ. Có ngục tù nhưng dường như không có tù nhân. Điều này cho thấy bản lĩnh của Hồ Chí Minh: luôn đứng cao hơn hoàn cảnh. Ngục tù có thể giam cầm thần thể Bác, song tâm hồn Bác thì luôn tự do tuyệt đối. Ý thơ này còn được lặp lại ở một bài thơ khác của Người trong Nhật kí trong tù: “Ngục trung lưu trú tự do nhân” (Còn lại trong tù khách tự do). | Mở đầu bài thơ là “ngục trung”, kết thúc là “thi gia”. Chi tiết này nói lên điều gì_ | 149 | |
À ơi… Những buổi chiều quê yên tĩnh và thanh bình, bỗng một lời ru cất lên. Giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của khúc hát ru khiến lòng người xốn xang, bồi hồi.
Hạnh phúc làm sao cho một đứa trẻ nằm ngủ ngon giấc trong nôi, tai vẫn văng vẳng những lời ru âu yếm của bà, của mẹ, êm đềm đưa nhẹ vành nôi. Rồi nó lớn dần theo năm tháng, lời ru cũng đầy lên trong một góc sâu thẳm của tâm hồn, để rồi mai này nó như dòng suối ngọt ngào tưới mát tâm hồn mỗi khi va vấp, buồn đau.
Thưở đất nước còn nhọc nhằn, đau thương, những lời ru cũng buồn:
À ơi… Gió đưa cây cái về trời – Rau răm ở lại chịu đời đắng cay.
À ơi… Gánh cực mà đổ lên non – Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo.
Trong những lời ru ấy chất chứa bao tủi hờn, sầu thương, ai oán, nghe thật cay đắng, xót xa!
Nhưng rồi những năm tháng ấy qua đi, cuộc đời đã đổi thay, những lời ru buồn cũng ít dần đi (nếu có cất lên cũng chỉ là để nhắc nhở về một thời với bao số phận khổ đau, thiệt thòi, mà đánh thức và nuôi dưỡng niềm thương cảm và những mong ước đẹp hơn).
Song, cuộc sống dù hiện đại thế nào đi chăng nữa cũng không thể thay thế những lời ru xưa bằng những bài ca hiện đại (mà những bài tân nhạc này làm sao có thể trở thành giai điệu hát ru). Vì thế, vẫn những câu hát ru quen thuộc thuở nào lại cất lên bên cánh võng nhẹ tay đưa.
À ơi…Con cò đậu cọc bờ ao – Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua.
À ơi… Con cò chết rũ trên cây – Cò con mở sách xem ngày làm ma – Cà cuống uống rượu la đà – Chim ri ríu rít bay ra chia phần
À ơi… Cái kiến mà leo bờ rào – Leo phải cành cộc leo vào leo ra – Con kiến mà leo cành đa – Leo phải cành cộc leo ra leo vào.
À ơi…Con cá mày ở dưới ao – Tao tát nuớc vào mày sống dược chăng?
Những lời ru như thế nhiều lắm. Mỗi lời ru dẫn dắt tâm hồn ta vào một miền nhớ thương, trăn trở, ưu phiền khác nhau, nuôi dưỡng tâm hồn ta, để ta sống đẹp hơn giữa cuộc đời.
Tôi còn nhớ trong vô vàn những lời ru trầm ấm thiết tha của bà tôi ru tôi thưở ấu thơ, chẳng biết tại sao tôi cứ bị ám ảnh mãi về lời hát ru bài Con cò mà đi ăn đêm:
À ơi…
Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con
À ơi…
Trong lời ru của bà, tôi thấy hiện lên một con cò ướt đẫm, run rẩy. Nó đáng thương và tội nghiệp làm sao! Con cò thật bất hạnh! Một mình nó bươn chải để kiếm sống, nuôi con. Cả ngày khó nhọc lắm cũng chả kiếm đủ ăn. Nó phải bỏ đàn con bé bỏng ở nhà, lần trong đêm tối mịt mù để kiếm thêm vài con tép. Giông tố ở đâu mà kéo đến nhiều thế! Khốn nạn cho con cò yếu đuối, giông tố cuộc đời đã hất nó lộn cổ xuống ao. Tai hoạ quá bất ngờ và cũng quá thảm thương. Con cò cố vùng vẫy. Hình như càng vùng vẫy nó càng có nguy cơ bị nhấn chìm. Nó kêu cứu một cách tuyệt vọng. Tiếng kêu của con cò thảm thiết quá. Chẳng hiểu nó có được vớt lên không? Mà cò được vớt lên thì càng khủng khiếp hơn. Người ta muốn giết thịt nó. Chao ôi, trong lúc đau đớn vì tuyệt vọng, nó đề nghị được xáo bằng nước trong. Để làm gì không biết? Lúc bấy giờ còn bé quá tôi làm saohiểu nổi! Sau này lớn lên, nghe bà giảng giải, rồi được học bài ca dao đó, tôi mới hiểu về lời đề nghị ấy. Thì ra con cò muốn được chết một cách đàng hoàng (mà ông cha ta quen gọi là “chết trong”), được rửa sạch nỗi oan, tiếng xấu để khỏi đau lòng lũ con nó. Đáng kính làm sao một tấm lòng và một nhân cách! Cách xử thế, ứng xử ở đời được ông cha ta gửi gắm kín đáo vào những lời ca để “ru” lại các thế hệ sau. Nó thật sâu sắc và thấm thía.
Bao nhiêu lời ru xưa là bấy nhiêu cái tình, cái nghĩa của ông cha ta gửi vào trong đó, để truyền lại cho cháu con.
Bao nhiêu lời ru xưa là bấy nhiêu lời nhắc nhở chúng ta về cách đối nhân xử thế đầy tinh thần nhân bản.
Bao nhiêu lời ru xưa là bấy nhiêu những ước mong, khát vọng về con người, về cuộc đời của ông cha mà chúng ta cần trân trọng.
Đáng quý làm sao những người bà, người mẹ nhân hậu, bao dung của bao thế hệ đã “nuôi sống” những lời ru ấy đến tận hôm nay.
Nhịp sống hiện đại xâm nhập khắp nơi. Những lời ru xưa hình như cũng vắng bóng dần. Nghĩ đến điều đó lòng xiết bao đau buồn! Bao giờ những lời ru xưa lại nhiều lên?
Chao ôi, thương nhớ đến nao lòng những lời ru ấy! | Nghĩ về những lời ru xưa | 940 | |
Nghĩa của từ –Ôn tập môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6
Hướng dẫn
Nghĩa của từ – Ôn tập môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6
1. Từ đồng nghĩa
-Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau.
– Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thể thay thế cho nhau trong lời nói. M: hổ, cọp, hùm,…
– Có những từ đồng nghĩa không hoàn toàn. Khi dùng những từ ngữ này, cần phải cân nhắc để lựa chọn cho đúng.
M: + ăn, xơi, chén,… (biểu thị những thái độ, tình cảm khác nhau đối với người đối thoại hoặc điều được nói đến).
+ mang, khiêng, vác,… (biểu thị những cách thức hành động khác nhau).
Bài tập 1. Tìm những dòng chỉ gồm các từ đồng nghĩa.
a) buồn, sầu, tủi
b) vui, mừng, lo
c) nhiều, đông, đầy
d) êm đềm, êm à, êm dịu
Bài tập 2. Điền vào chỗ trống một trong các từ ghi trong ngoặc đơn (nhiều, đầy, đông).
a) Tranh phố Hà Nội của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái được……………. người yêu thích,
b) Hôm nay là Chủ nhật, Viện Bảo tàng rất ……………khách tham quan.
c) Vào cuối hè, đầu thu, những trái sấu chín rơi…………… hè phố Hà Nội, lăn tròn theo những bước chân.
d) Đến với Viện Bảo tàng Mĩ thuật Hà Nội, người xem được chiêm ngưỡng…………… hiện vật gốc, hiện vật phục chế và những phiên bản nghệ thuật.
Bài tập 3. Chọn từ thích hợp nào trong ngoặc đơn để điền vào chỗ trống trong câu? (êm âm, êm đềm, dịu êm)
b) Tôi đã ngủ say trong chăn đệm……………
c) Ngọn khói lam chiều gợi vẻ…………… của cuộc sống nơi làng quê.
Bài tập 4. Nối từ ở ô chữ bên trái với lời giải nghĩa ở ô chữ bên phải.
Bài tập 5. Sắp xếp các từ dưới đây thành hai nhóm từ đồng nghĩa. Đặt tên cho mỗi nhóm từ đồng nghĩa.
lạnh nhạt, lạnh lùng, lạnh lẽo, lạnh buốt,
giá lạnh, ghẻ lạnh, rét buốt, giá rét
2.Từ trái nghĩa
– Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau.
– Đặt các từ trái nghĩa bên cạnh nhau có tác dụng làm nổi bật những sự vật, sự việc, hoạt động, trạng thái,… đối lập nhau.
M: đất – trời, mua – bán, thức – ngủ, tốt – xấu,…
Bài tập 1. Thành ngữ, tục ngữ nào dưới đây chứa từ trái nghĩa? Đó là những từ nào?
a) Ở hiền gặp lành.
b) Cao chạy xa bay.
c) Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
d) Chết trong còn hơn sống đục.
Bài tập 2.
a) Nối ô chữ bên trái với ô chữ thích hợp bên phải để được các thành ngữ, tục ngữ.
Lành ít
người khóc.
Kẻ cười
dữ nhiều.
Nguồn đục
ngoài êm,
Trong ấm
dòng cũng đục.
b) Câu nào có chứa các từ trái nghĩa? Đó là những từ nào?
Bài tập 3. Tìm các cặp từ trái nghĩa trong số những từ cho dưới đây: sướng, đói, bé, nặng, khổ, may, nhiều, ít, no, rủi, lớn, nhẹ
Bài tập 4. Tim từ trái nghĩa với mỗi từ sau:
a) khiêm tốn -…….
b) tiết kiệm -……….
c) cẩn thận -……………
d) nhọc nhằn -……………
Bài tập 5. Đặt 2 câu có chứa các từ trái nghĩa.
3. Từ đồng âm
Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa. M: câu (cá), câu (văn); (hòn) đá, đá (bóng); đồng (lúa), (tượng) đồng,…
– Dùng từ đồng âm để chơi chữ là dựa vào hiện tượng đồng âm, tạo ra những câu nói có nhiều nghĩa, gây những bất ngờ thú vị cho người đọc, người nghe.
Bài tập 1. Hãy tìm từ đồng âm với mỗi từ cho dưới đây. Đặt câu để phân biệt nghĩa của các từ đồng âm tìm được.
M: roi
– Chùm roi đã chín đỏ.
– Khỉ cầm roi quất lia lịa vào lưng voi, quát: “Đi nhanh lên!”.
a) bầy
b) bàn
c) vây
d) và
e) đỗ
g) đông
Bài tập 2. Hãy tìm từ đồng âm trong những câu sau:
a) Bác bác trứng, tôi tôi vôi.
b) Ruồi đậu mâm xôi đậu
Kiến bò đĩa thịt bò.
c) Bún chả ngon.
d) Hổ mang bò lên núi.
e) Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.
g) Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
Bài tập 3. Cách chơi chữ trong câu dưới đây có gì khác với cách chơi chữ trong các câu ở bài tập 2?
a) Lên phố mía gặp cô hàng mật, cám tay kẹo* lại hàng đường.
b) Bà đồ Giang đi võng đòn tre, đến khóm trúc thỏ dài hi hóp.
Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hoặc một số nghĩa chuyển. Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau.
Bài tập 1. Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ đứng trong mỗi câu ở cột A. A B
(1) Bé đứng mẹ ngoài cổng.
a) ở vào trạng thái ngùng chuyển động / dừng lại.
(2) Trên đường đi chợ, bà tôi đứng lại hỏi han mấy người quen,
b) ở tư thế thân thẳng, chân đạt lên một nền.
(3) Công nhân đứng máy 8 tiếng một ngày.
c) Có vị trí thẳng góc với một đất.
(4) Trước mặt là vách núi thẳng đứng như bức tường.
d) Điều khiển ở tư thế đứng.
Bài tập 2. Trong những từ in đậm dưới đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ nào là từ nhiều nghĩa?
a) Biển:
– Chiều nay biển lặng sóng.
– Một biển nguời đi xem biểu diễn nhạc Rock.
– Tấm biển quảng cáo trang trí rất bắt mắt,
b) Tra:
– Mọi người lên nương tra ngô cho kịp vụ mùa,
– Bà tra muối vào canh rất vừa.
– Hà đang tra từ điển.
Bài tập 3. Đặt 3 câu để làm rõ một số nghĩa của mỗi từ nhiều nghĩa sau đây:
a) ăn
b) mang
c) đi
>>Xem đáp án bài tập tại đây.
Tags:Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Nghĩa của từ · Tiếng Việt 5 | Nghĩa của từ –Ôn tập môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 | 983 | |
Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Thi qua truyện Những đứa con trong gia đình
Hướng dẫn
Câu chuyện kể về gia đình này được tác giả Nguyễn Thi trần thuật thông qua những hồi tưởng, suy nghĩ và cảm nhận của Việt – một chiến sĩ giải phóng trẻ tuổi, bị lạc một mình nằm ở lại chiến trường.
Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình được trầ thuật chủ yếu qua giọng hồi tưởng của nhân vật Việt khi lâm vào một hoàn cảnh đặc biệt: bị thương nặng một mình nằm lại chiến trường. Kết cấu của truyện ngắn được triển khai theo diễn biến của trí nhớ, của dòng hồi tưởng của Việt, khi đứt khi nối. Sau những lần ngất đi rồi tỉnh lại.
Cách thức trần thuật như thế đã đem đến cho tác phẩm màu sắc trữ tình đậm đà, tự nhiên, sống động; Đồng thời cũng tạo điều kiện cho nhà văn có thể nhập tâm vào thế giới nội tâm của nhân vật để dẫn dắt câu chuyện. Diễn biến câu chuyện vì thế cũng hết sức linh hoạt, không phụ thuộc vào trật tự thời gian tự nhiên. Tác giả có thể xáo trộn không gian với thời gian, từ những chi tiết ngẫu nhiên của hiện thực chiến trường mà gợi ra những hồi tưởng đến quá khứ, khi gần khi xa, từ chuyện này sang chuyện khác hết sức tự nhiên của nhân vật.
Chẳng hạn, lúc Việt tỉnh dậy lần 2, trời đã: “lất phất mưa”; Việt cảm thấy “hơi gió lạnh đang lùa trên má” và nghe thấy tiếng “ếch nhái kêu dậy lên” ( Điều cần lưu ý là do hai mắt bị thương nên Việt không nhìn thấy gì hết, mọi cảnh vật xung quanh anh chỉ có thể cảm nhận bằng giác quan khác: thính giác, xúc giác,…)
Kết cấu truyện:
Không theo trình tự diến biến của thời gian, câu chuyện bắt đầu từ việc Việt bị thương, nằm lại ở chiến trường, và sau đó là những hồi tưởng nhớ về quê hương, tuổi thơ với những kĩ niệm sâu sắc,… tiếp đó lại trở lại cảnh hiện tại,…
Mạch truyện kể của nhà văn cũng không liền mạch, khi đứt khi nối (phù hợp với trajg thái khi ngất khi tỉnh của nhân vật Việt).
Dòng hồi tưởng tiếp theo của Việt lại bắt đầu khi Việt choàng dậy, nghe thấy tiếng trực thăng phành phạch bay từng đàn trên đầu và tiếng súng nổ từng đoạn ở phía xa. Việt nhận ra lúc này đã là ban ngày vì ngửi thấy mùi nắng và nghe “tiếng chim cu rừng gù gù đâu đây”. Tiếng chim gợi nhớ đến chiếc ná thun hồi ở nhà, Việt thường xách đi bắn những con cu cổ đeo những chấm xanh đỏ, óng ánh như cườm. Thế rồi chiếc ná thun lại dẫn Việt trở về với những kĩ niệm về người Mẹ giàu lòng vị tha, hết lòng vì chồng con, cuộc đời chồng chất những khổ đau bất hạnh mà rất đổi hiên ngang bất khuất.
Nhận xét:
Câu chuyện kể không liền mạch: lúc hiện tại, lúc là quá khứ, lúc là chuyện xảy ra ở chiến trường, khi lại là những kĩ niệm ở quê nhà,… Lối kể chuyện này phù hợp với tình thế và trạng thái mà nhân vật Việt đang phải trải qua (bị thương, hai mắt không nhìn thấy gì, một mình nằm lại ở chiến trường, khi ngất, khi tỉnh,…)
Trong truyện ngắn, tác giả Nguyễn Thi đã sử dụng những chi tiết có tính gợi
Dạng đề thường gặp:
1. Những đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
2. Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai nhân vật Việt và Chiến trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
3. Giải thích và chứng minh câu nói của chú Năm về sự tiếp nối truyền thống của gia đình qua hình ảnh ví von của dòng sông | Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Thi qua truyện Những đứa con trong gia đình | 676 | |
Nghệ thuật miêu tả phong tục sinh hoạt trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
Gợi ý
Miêu tả phong tục sinh hoạt là sở trường của nhà văn Tô Hoài. Thế mạnh này giúp cho nhà văn thổi được cái hồn của sự sống sinh động vào câu chuyện, để người đọc hình dung về nhân vật, sự việc như nó vốn thế trong đời sống, nhất là những nhân vật và sự việc mang màu sắc cá thể hoá. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ thể hiện rất rõ điều này.
Những chi tiết miêu tả đan xen, hoà quyện trong lời kể. Có khi, chỉ một vài điểm nhấn tác giả đã phác ra được cái nét rất riêng của đối tượng, chẳng hạn khi tả không khí ngày xuân của Hồng Ngài: Hồng Ngài năm ấy ăn Tết giữa lúc gió thổi vào cỏ gừng vàng ửng, gió và rét rất dữ dội; Nhưng trong các làng Mèo đó, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ. Bắt đầu khơi gợi và tạo tình huống như thế, * để rồi ở những trang viết tiếp sau nhà văn đã để cho một người phụ nữ Mèo đỏ quanh năm lầm lũi như con rùa trong xó cửa bừng lên niềm khát khao sống, khát khao hạnh phúc trong một đêm tình mùa xuân nơi miền cao đầy ấn tượng.
Tô Hoài cũng tỏ ra rất am hiểu phong tục và khả năng quan sát, dựng cảnh sắc sảo ở cảnh xử kiện tại nhà thống lí Pá Tra. Dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn, hủ tục, lề lối, sự tàn bạo, dã man của thế lực phong kiến miền núi đã được lột tả hết sức sinh động: Cứ mỗi đợt bọn chức việc hút thuốc phiện xong, A Phủ lại phải ra quỳ giữa nhà, lại bị người xô đến đánh. Mặt A Phủ xưng lên, mũi và đuôi mắt dập chảy máu. Người thì đánh, người thì quỳ lạy, kể lể, chửi bới. Xong một lượt đánh, kể, chửi, lại hút. Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn qua các lỗ cửa sổ. Rồi Pá Tra lợi ngóc cổ lên, vuốt tóc, gọi A Phủ… Cứ như thế, suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút. […J Ngoài nhà vẫn rên lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kéo dài, giữa tiếng người khóc, tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch. Phải thấm thía cảnh sống đau đớn, tủi nhục như thế ta mới cảm nhận hết được sức mạnh cởi trói tựa như bản năng sinh tồn mãnh liệt của những thân phận bị chà đạp. | Nghệ thuật miêu tả phong tục sinh hoạt trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài | 465 | |
Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Hướng dẫn
Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
KHi nhắc tới Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân người ta ắt hẳn không thể quên được hình tượng của HUấn Cao và hình ảnh cho chữ của ông trong ngục tù u tối. Hình ảnh ấy như hiện lên làm sáng cả một vùng và đồng thơi nổi bật lên đó những ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Tác phẩm ấy đã đi vào sự chú ý của độc giả và cả những nhà phê bình văn học Có thể nói những gì mà tác phẩm mang lại không chỉ dừng lại ở cốt truyện hay tình huống mà chính là đặc sắc nghệ thuật mà không phải ai cũng làm được và chạm tới được
ĐÚng như những nhà phê bình văn học đã cho thấy nôi dung hấp dẫn không thể kéo người đọc nhớ và ghi nhận những đóng góp của tác phẩm đó mà phải kể tới những nét nghệ tuật đặc sắc. Và một trong những nghệ thuật nổi bật lên đó chính là cách mà Nguyên Tuân sử dụng mảng sáng tối trong tác phẩm của mình. Hay nói cách khác đó chính là cách sử dụng ánh sáng và bóng tối ở trong tác phẩm văn học của ông. Nó mang tới cho người đọc những cái nhìn mới lại và những cái đặc sắc cho tác phẩm về triết lí nhân văn
Có thể nói Nguyễn Tuân và Thạch Lam là hai nhà văn đa tài của nền văn học Việt Nam. CHưa nói tới nội dung và cốt truyện của những tác phẩm, Thạch Lam và Nguyễn Tuân luôn để lại dấu ấn cho người đọc người nghe thông qua những nghệ thuật đặc sắc trong đó có nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù
Trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân thì thứ ánh sáng đầu tiên hiện lên trong căn phòng ngục tù là ánh sáng của ngọn đuốc. Thứ ánh sáng hiếm hoi ấy lại có thể chiếu sáng cho con người Huấn Cao cho chữ cho biên quản ngục và chỉ có một ngon đuốc duy nhất để chiếu sáng gian phòng ấy
Nguyễn Tuân đã chọn cách Lấy ánh sáng để làm lấn át đi không gian vốn dĩ ẩm thấp tăm tối của ngục tù. Để át đi không gian tăm tối đầy phân chuột ấy nhưng hình ảnh cho chữ lại được nổi bật lên với những đường nét vừa giản dị lại hết sức thiêng liêng.Nguyễn Tuân như muốn thứ ánh sáng ấy chính là cái cớ để muốn con người bật ra khỏi“bản nhạc xô bồ” của cuộc sống kia.
Ánh sáng ấy cũng tạo điều kiện để tháo nút cho những mảng sáng tối trong con người của viên quản ngục. Hình ảnh và nghệ thuật ánh sáng và bóng tối của Nguyễn Tuân cũng phần nào góp phần vào sự thành công vào công cuộc lay chuyên và thức tỉnh thiên lương trong sáng của Huấn Cao dành cho viên quản ngục. Qua đây ta cũng thấy được không chỉ có ánh sáng của bó đuốc là hiện hữu mà còn là thứ ánh sáng của tâm hồn của thiên lương luôn soi tận những tấm lòng của người đời.
Còn đối với Hai đứa trẻ của Thạch Lam. Ông như thổi một làn gió mới cho người cảm thụ văn chương. Trong tác phẩm nghệ thuật sử dụng ánh sáng bóng tối cũng được ông sử dụng một cách triệt để
Chúng ta có thể thấy được ánh sáng và bóng tối có sự chuyển động bắt đầu từ hình ảnh phiên chợ tàn ở chốn phố huyện khi mà có tàu chạy qua. Phiên chợ tàn cũng lúc là những hình ảnh mờ nhòa và đáng thương biết bao nhiêu. Xuất hiện qua đó là hình ảnh khi lũ trẻ nhà nghèo nhặt nhạnh những thứ còn sót lại trên chợ và không gian bắt đầu chuyển tối
Ánh sáng trong tác phẩm như được chắp nhặt từng chút một chút một để tạo nên nguồn sáng cho người dân phố huyện:hạt sáng, khe sáng, quầng sáng, bầu tròi hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh Bên cạnh đó ánh sáng đó còn được cóp nhặt từ ánh sáng từ ngọn đèn Liên ngọn đèn chị Tý. Bên cạnh đó một thứ ánh sáng mới lạ đó chính là ánh sáng của đoàn tàu mà mọi người đêu mong chờ để nhìn thấy thứ ánh sáng ấy ánh sáng của một vùng xa xôi trên khắp mọi miền đất nước.
Cả hai tác phẩm hai tác giả khác nhau sử dụng nghệ thuật ánh sáng bóng tối mang lại cho người đọc những liên tưởng và ý nghĩa khác nhau. Mỗi tác phẩm mang tới cho người đọc những ý nghĩa riêng biệt tuy nhiên cũng không thể phủ nhận chính nghệ thuật này góp phần vào sự thành công của hai thiên truyện.
Nguồn: Bài văn hay | Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Hai đứa trẻ (Thạch Lam) | 879 | |
Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
Hướng dẫn
Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
Khi nhắc tới Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân người ta ắt hẳn không thể quên được hình tượng của Haấn Cao và hình ảnh cho chữ của ông trong ngục tù u tối. HÌnh ảnh ấy như hiện lên làm sáng cả một vùng và đồng thơi nổi bật lên đó những ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Tác phẩm ấy đã đi vào sự chú ý của độc giả và cả những nhà phê bình văn học Có thể nói những gì mà tác phẩm mang lại không chỉ dừng lại ở cốt truyện hay tình huống mà chính là đặc sắc nghệ thuật mà không phải ai cũng làm được và chạm tới được
ĐÚng như những nhà phê bình văn học đã cho thấy nôi dung hấp dẫn không thể kéo người đọc nhớ và ghi nhận những đóng góp của tác phẩm đó mà phải kể tới những nét nghệ tuật đặc sắc. Và một trong những nghệ thuật nổi bật lên đó chính là cách mà Nguyên Tuân sử dụng mảng sáng tối trong tác phẩm của mình. Hay nói cách khác đó chính là cách sử dụng ánh sáng và bóng tối ở trong tác phẩm văn học của ông. Nó mang tới cho người đọc những cái nhìn mới lại và những cái đặc sắc cho tác phẩm về triết lí nhân văn
Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối đặc biệt rất thành công ở chỗ mà tác gải áp dụng nó vào trong tình huống khi Huấn Cao cho viên quản ngục Chữ mà theo viên quản ngục nó như vật báu nếu có chữ của Huấn Cao để treo trong nhà. Trong khoảnh khắc ngục tối đó hình ảnh đó như được xem là một cảnh tượng chưa từng xảy ra trước đó
Thứ ánh sáng đầu tiên hiện lên trong căn phòng ngục tù là ánh sáng của ngọn đuốc và chỉ có một ngon đuốc duy nhất để chiếu sáng gian phòng ấy. Vậy mà chính thứ ánh sáng hiếm hoi ấy lại có thể chiếu sáng cho con người Huấn Cao cho chữ cho biên quản ngục
Lấy ánh sáng để làm lấn át đi không gian vốn dĩ ẩm thấp tăm tối của ngục tù. Ánh sáng ngọn đuốc chính là ánh sáng của sự cao thượng và ánh sáng của vẻ đẹp thiên lương của tâm hồn cùng nhịp đập. Giữa không gian tăm tối đầy phân chuột ấy nhưng hình ảnh cho chữ lại được nổi bật lên với những đường nét vừa giản dị lại hết sức thiêng liêng như vậy. Hóa ra chính những giây phút mà không chỉ có ngọn đuốc xóa tan đi màn đêm tối tăm ở chốn lao tù mà hành động nhân văn đó lại góp phần khiến cho tất cả mọi thứ trở nên đẹp đẽ bao nhiêu là lúc mà Nguyễn Tuân muốn con người bật ra khỏi“bản nhạc xô bồ” của cuộc sống kia.
Nguồn: Bài văn hay | Nghệ thuật sử dụng ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) | 533 | |
Nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia
Hướng dẫn
Phân tích nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia
Nhằm giúp các em học sinh học tốt Ngữ văn 11 cũng như nắm bắt chi tiết nội dung cũng như thủ pháp nghệ thuật đặc sắc, tiêu biểu về đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng thì VnDoc gửi tới các em tài liệu Nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia.
Đề bài: Nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng
Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực trào phúng bậc thầy của văn học Việt Nam hiện đại. Ông được mệnh danh là ông vua phóng sự đất Bắc với lối miêu tả chân thật tới tàn ác, trào phúng tới chua xót. Hạnh phúc của một tang gia là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông. Bằng nghệ thuật trào phúng ông đã khắc họa bức tranh lố bịch về cuộc sống của những người con trong một tác phẩm.
Nghệ thuật trào phúng là nghệ thuật gây cười nhằm đả kích, mỉa mai, châm biếm những hiện tượng xấu xa trong đời sống. Nó được biểu hiện qua tình huống, chân dung các nhân vật biếm họa, nghệ thuật phóng đại, ngôn ngữ, giọng điệu đầy tính mỉa mai.
Hạnh phúc của một tang gia tạo nên sự mâu thuẫn bởi nhắc đến tang gia là nhắc đến gia đình có người mất. Lẽ ra, không khí bao trùm phải là sự ảm đạm, nỗi buồn thương trước sự ra đi của người đã khuất, nhưng ở đây, tác giả lại sử dụng từ hạnh phúc. Hạnh phúc mang một ý nghĩa vui vẻ, sung sướng, là thỏa nguyện được nỗi mong muốn bấy lâu nay chính vì thế mà nó ngụ ý đầy mỉa mai, trách móc. Chính nhan đề đã lột tả tính châm biếm, mỉa mai của một gia đình trước sự ra đi của một ai đó.
Nghệ thuật trào phúng trong “Hạnh phúc của một tang gia”
Niềm vui ấy được thể hiện qua những nhân vật biếm họa của câu chuyện.
Cụ cố Hồng – con trai trưởng của người quá cố. “Cụ mơ màng đến lúc mặc đồ xô gai chống gậy ho khạc, mếu máo để cụ được phô trương với thiên hạ về gia đình đại phúc con cháu trưởng thành”. Đấy là niềm hạnh phúc riêng của cụ cố Hồng, con trai trưởng mong muốn được mặc đồ xô gai khi đáng lẽ ông phải là người không muốn nhất, ông phải là người đau buồn nhất nhưng lại trong trạng thái mơ màng đến kỳ lạ. Bản thân cụ hiểu “trên thông thiên văn dưới tường địa lý” nhưng thực chất lại là một con người không biết một cái gì. Cụ có dịp thỏa mãn lợi ích cá nhân, được mặc sức mà hút thuốc phiện, quát tháo mọi người và người ta đếm đến 1872 câu “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Rồi nỗi lo lắng làm sao để tổ chức cho đứa con gái đám cưới nhanh chóng cho đỡ tốn kém của nhà, để che đậy cái xấu xa, hư hỏng của gia đình danh giá.
Cô Tuyết – một cô gái lẳng lơ nhưng luôn cố gắng tỏ vẻ mình là người trinh tiết. Cái chết của cụ cố là dịp để cô chứng minh với thiên hạ rằng mình chưa đánh mất chữ trinh. Cô diện những bộ trang phục ngây thơ đến lố bịch nhất, lả lơi với những vị quan khách tới dự đám tang của cụ cố Tổ. Cô cố gắng đưa mắt nhìn trong đám người tới viếng mà không thấy bạn trai đâu cả, nên cô giận, cô buồn mang vẻ mặt “buồn lãng mạn” khiến ai cũng nghĩ rằng đứa cháu gái thương ông tới chà xát con tim.
Cậu Tú Tân và ông Phán mọc sừng tiêu biểu cho chân dung biếm họa lúc hạ huyệt. Tú Tân vui mừng, hả hê với chiếc máy ảnh nên bắt bẻ mọi người đứng trước cảnh hạ huyệt phải gục đầu, chống gậy, cong lưng… chẳng khác nào một bộ phim có người đạo diễn khó tính để lưu lại cảnh đau buồn giả dối nhất từ trước tới nay. Còn ông Phán mọc sừng thì khóc đến oặt cả người đi mãi không thôi. Tiếng khóc tưởng chua xót vang lên những thanh âm của sự giả dối: “Hứt… hứt… hứt…”, một sự lố bịch quá rõ với mục đích dúi tiền cho Xuân Tóc đỏ như một sự liên minh, trao đổi thanh toán một cách sòng phẳng.
Bằng tài năng của mình, Vũ Trọng Phụng đã khắc họa nên một bức tranh phản diện về xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Một gia đình với những đại diện tiêu biểu nhất, với mặt trái xấu xa nhất, giả tạo nhất đã được khắc họa. Tác phẩm để lại tiếng vang lớn trong lòng người đọc bởi các tình tiết khiến người ta phải nghĩ suy. | Nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia | 857 | |
Nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
Hướng dẫn
Nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
Được biết đến là cây bút trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam, với đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”, ta bắt gặp hàng loạt các yếu tố trào phúng từ lời văn, giọng điệu đến mâu thuẫn, nhân vật…mọi tình tiết, chi tiết đều nhằm bóc trần những lố lăng trong một tang gia tràn trề hạnh phúc.
Nghệ thuật trào phúng được xây dựng ở đây là nghệ thuật gây cười trong những mâu thuẫn đáng cười cả ở nội dung lẫn hình thức khi tác giả bóc trần sự vật hiện tượng, để bản chất của nó phơi bày ra cho bàn dân thiên hạ được biết.
Vũ Trọng Phụng đã thu cả cái xã hội lúc bấy giờ vào trong tác phẩm của ông. Trong một đám tang, lẽ thường tình người ta ắt phải buồn bã, đau khổ thì ở đây, trong cái tang gia này là cả một hạnh phúc lớn, mọi người đều vui vẻ. Cái mâu thuẫn ấy được khuếch đại, khoa trương lên để phê phán xã hội chạy theo vật chất.
Minh chứng cho nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia”, là bút pháp kể và tả niềm vui của từng người, từng thành viên trong gia đình. Cả đại gia đình ấy đang vui vẻ vì đã phải chờ đợi và hy vọng cho cái chết đến với cụ cố tổ và hôm nay đã trở thành hiện thực.
Mâu thuẫn trào phúng không chỉ được thể hiện ở tâm trạng chờ mong cụ tổ chết mà còn ở không khí, hình thức tổ chức tang lễ. Vũ Trọng Phụng đã vẽ lên trước mắt ta một bức tranh chướng tai gai mắt: Ấy là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu. Quả là cái thời buổi nhố nhăng đã làm người ta quen với sự lừa dối và thích cái sự lừa dối, xảo trá và bịp bợm ấy.
Đây cũng là dịp để cô Tuyết ngây thơ được mặc bộ y phục ngây thơ là cái áo voan mỏng với vẻ mặt buồn lãng mạn đúng mốt; là dịp cụ cố Hồng được mặc đồ xô gai, chống gậy lụ khụ, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ phải chỉ trỏ ràng: úi giời, trai lớn đã già đến thế kia kìa. Để ông Phán mọc sừng oặt người khóc mãi không thôi: Hứt! Hứt! Là dịp Xuân tóc đỏ được dúi cho tờ bạc năm đồng. Và tiệm may Âu hóa được dịp lăng xê những mốt tran gphucj cho những ai đang tang thương được chút ít hạnh phúc và cậu tú Tân thì mứng điên lên vì được chụp ảnh.
Với giọng kể dửng dưng, giễu cợt, ngôn ngữ hài hước, biếm họa chân dung, nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng có sức mạnh ghê góm. Ông bóc trần cho người đọc thấy sự xấu xa, bịp bợm chạy theo lối sống Tây hóa… trong “Hạnh phúc của một tang gia” như đánh một đòn vào xã hội thượng lưu tiểu tư sản thành thị lúc ấy. | Nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia | 563 | |
Nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
Hướng dẫn
-Thể thơ ngũ ngôn (năm chữ): đây là thể thơ linh hoạt có khả năng biểu hiện phong phú, rất thích hợp với việc thể hiện tâm trạng và diễn tả những tâm tình cảm xúc sâu lắng. Trong bài thơ, thể thơ này được sử dụng và khai thác đạt hiệu quả nghệ thuật: bài thơ ngũ ngôn bình dị, cô đọng mà đầy gợi cảm. Toàn bài thơ có giọng điệu chủ âm là trầm lắng, ngậm ngùi. Giọng thơ này rất phù hợp trong việc thể hiện tâm tư, cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ của con người đặc biệt là trước tình cảnh đáng thương của những lớp đang tàn lụi như ông đồ.
-Kết cấu bài thơ giản dị mà chặt chẽ:
+ Kết cấu đầu cuối tương ứng, mở đầu bài thơ là Mỗi năm hoa đào nở – Lại thấy ông đồ già, kết thúc bài thơ là Năm nay hoa đào lại nở – Không thấy ông đồ xưa. Kết cấu này chặt chẽ, làm nổi bật chủ đề của bài thơ. Tứ thơ “cảnh cũ người đâu” trong thơ cổ được sử dụng gợi một sự thương cảm sâu sắc.
+ Bài thơ có một kết cấu tương phản độc đáo: cùng diễn tả hình ảnh ông đồ vào thời điểm mùa xuân, ngồi viết thuê bên hè phố nhưng đã thể hiện hai cảnh tượng đối lập – hình ảnh ông đồ thời vàng son và hình ảnh ông đồ thời tàn lụi. Kết cấu tương phản này thể hiện sâu sắc tình cảnh đáng thương của ông đồ. Qua đó, nhà thơ thể hiện tâm tư của chính mình về thời thế và con người.
-Ngôn ngữ thơ trong sáng, bình dị đồng thời cô đọng, có sức gợi lớn trong lòng người {vẫn ngồi đấy – không ai hay, người muôn năm cũ – hồn ở đâu,…).
-Biện pháp nhân hóa được sử dụng rất thành công: Giấy đỏ buồn không thắm / Mực đọng trong nghiên sầu giấy, mực không được động đến nên buồn, nên sầu, chúng cũng có tâm hồn, có cảm xúc như con người).
-Hình ảnh thơ giản dị nhưng hàm súc, không mới mẻ nhưng gợi cảm: Lá vàng rơi trên giấy / Ngoài giời mưa bụi bay. Hình ảnh lá vàng có một sức gợi lớn. Lá vàng rơi gợi sự tàn tạ, cảm giác buồn. Giữa mùa xuân mà tác giả lại cảm nhận lá vàng rơi. Đó là sự cảm nhận từ trong tâm hồn về một sự tàn tạ, sự kết thúc của một kiếp người tàn. Hình ảnh mưa bụi bay nhẹ nhưng ảm đạm lòng người.
Đây là những câu thơ mượn cảnh ngụ tình và ý tại ngôn ngoại. Tất cả cảnh vật ấy để thể hiện tâm trạng buồn của con người.
– Hình thức nghệ thuật bài thơ rất bình dị nhưng có một sức truyền cảm nghệ thuật lớn để cho nội dung, cảm xúc của bài thơ có sức sống bền bỉ lâu dài trong lòng người đọc. | Nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên | 522 | |
Đề bài: Nghệ thuật đặc sắc truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi của cây bút trẻ Tạ Duy Anh
Bài làm
Truyện Bức tranh của em gái tôi không dài (chỉ hơn hai trang sách), nhưng cũng đủ để cho ta thấy tài năng của tác giả qua cách kể chuyện và xây dựng hệ thống nhân vật.Tạ Duy Anh là một cây bút trẻ xuất hiện trong văn học thời kì đổi mới, đã có những truyện ngắn gây được sự chú ý của bạn đọc bởi nghệ thuật đặc sắc và phong cách riêng biệt, độc đáo của mình. Trong đó có tác phẩm Bức tranh cửa em gái tôi. Truyện đã đạt được giải nhì (giải cao nhất) trong cuộc thi viết Tương lai vẫy gọi do báo Thiếu niên Tiền phong phát động.
Trước hết phải kể đến phương thức kể chuyện. Tạ Duy Anh đã lựa chọn ngôi kể chuyện là ngôi thứ nhất. Truyện được kể bằng lời kể của nhân vật nguời anh. Lựa chọn như vậy giúp cho việc miêu tả tâm trạng của nhân vật sinh động hơn, có nghĩa là lời kể tự nhiên hơn và bộc lộ tâm trạng kín đáo, sâu sắc hơn. Theo cách kể này thì diễn biến tâm trạng, sự biến đổi về cách nhìn của người anh đối với cô em gái, và cả vẻ đẹp của người em gái sẽ được thể hiện một cách tự nhiên. Qua người anh, ta thấy được sự thức tỉnh của cậu ta, lại vừa thấy rõ vẻ đẹp của cô em gái. Nhờ vậy mà chủ đề tác phẩm càng được bộc lộ sâu sắc. Bài học về sự tự đánh giá, tự nhận thức càng thấm thìa hơn với người anh.
Người đọc đánh giá rất cao nghệ thuật xây dựng hệ thống nhân vật qua diễn biến tâm trạng và thái độ của người anh và cô em gái. Nhờ vậy, truyện đã dẫn dắt ta từ tình huống bất ngờ này đến những bất ngờ khác, liên tiếp từ đầu cho đến khi kết thúc.
Diễn biến tâm trạng của người anh được xây dựng bằng chính lời kể của nhân vật. Tâm trạng đó được thay đối qua diễn biến của câu chuyện: thoạt đầu, khi thấy em gái vẽ và mày mò tự chế thuốc vẽ; khi tài năng hội hoạ của cô em gái được phát hiện; và ở cuối truyện, khi đứng trước bức tranh được giải nhất của em gái mình.
Thoạt đầu là thái độ coi thường việc làm của Kiều Phương. Khi thấy em gái vẽ và mày mò tự chế tạo màu vẽ, người anh chỉ coi đó là những trò nghịch ngợm của trẻ con và nhìn bằng cái nhìn kẻ cả, không cần để ý đến “Mèo con” đã vẽ những gì. Cách nhìn ấy được thể hiện qua giọng kể của người anh: tôi quen gọi nó là Mèo bởi vì mặt nó luôn bị chính nó bôi bẩn. “Mèo” luôn bị nhắc nhở vì hay lục lọi các đồ vật trong nhà: Này, em không để chúng nó yên được à? Khi phát hiện được cô em nhào bột vẽ, người anh buông một câu: Thảo nào các đít xoong chảo bị nó cạo trắng cả. Quả thật, thái độ của những người làm anh trong một gia đình thường coi em gái mình là như vậy!
Khi tài năng hội hoạ của người em được phát hiện thì tâm trạng của người anh cũng bị biến đổi. Do tình cờ mà chú Tiến Lê phát hiện ra năng khiếu hội họa của người em. Sáu bức tranh của người em làm cho bố, mẹ và mọi người đều ngạc nhiên, vui mừng, sung sướng. Duy có người anh lại cảm thấy buồn, buồn vì cảm thấy mình bất tài và cho rằng vì lí do đó mà mình bị đẩy ra ngoài, bị cả nhà lãng quên. Sống với tâm trạng như vậy, người anh không thể thân với em gái như trước nữa, rồi đối xử với em gái không công bằng chỉ cần một lỗi nhỏ ở nó là tôi gắt um lên. Tâm lí măc cảm, tự ti đã khiến người anh những lúc ngồi bên bàn học chỉ muốn gục xuống khóc. Thậm chí vẻ mặt ngộ nghĩnh của em gái trước kia bây giờ làm cho người anh vô cùng khó chịu, cảm thấy như mình đang bị “chọc tức”. Đây là một kiểu tâm lí dễ gặp ở mọi người, nhất là ở tuổi thiếu niên, đó là lòng tự ái và mặc cảm tự ti khi thấy người khác có tài năng nổi bật. Phải là người am hiểu tâm lí trẻ em lắm, tác giả mới đưa ra một tình huống thay đổi tâm lí của người anh hấp dẫn và tạo được kịch tính cho truyện hay đến như vậy!
Một tình huống quan trọng hơn nữa đã tạo nên điểm nút của diễn biến tâm trạng nhân vật người anh là ở cuối truyện. Đó là một loạt các bất ngờ liên tiếp đến với người anh, khi cậu ta đứng trước bức tranh được tặng giải nhất của người em. Điều bất ngờ trước tiên là bức tranh lại vẽ chính cậu. Hơn thế nữa, điều cậu không thể ngờ được còn là hình ảnh mình qua cái nhìn của người em gái: Trong tranh, một chú bé đang ngồi nhìn ra cửa sổ, nơi bầu trời trong xanh. Mặt chú bé như toả ra một thứ ánh sáng rất lạ. Toát lên từ cặp mất, tư thế ngồi của chú không chỉ suy tư mà còn rất mơ mộng nữa! Trong phút chốc, tâm trạng của cậu đã đi từ ngạc nhiên đến hãnh diện rồi xấu hổ. Ngạc nhiên vì bức tranh lại chính là cậu, bức tranh ấy hoàn toàn bất ngờ với cậu. Còn hãnh diện thì cũng dễ hiểu vì cậu thấy mình hiện ra với những đường nét đẹp trong bức tranh của cô em gái. Nếu Tạ Duy Anh để tâm trạng của người anh kết thúc tại đây thì truyện chẳng có gì phải bàn nữa. Nhưng điều quan trọng hơn mà tác giả đã khơi dậy được là người anh đã không dừng lại ở sự hãnh diện thoả mãn, mà đó là tâm trạng xấu hổ. Trạng thái xấu hổ của cậu đã “cởi nút” cho kịch tính của truyện. Và đấy cũng chính là lúc nhân vật tự thức tỉnh để hoàn thiện nhân cách của mình. Dưới mắt em tôi, tôi hoàn hảo đến thế kia ư? Một câu bỏ lửng có dụng ý nghệ thuật của tác giả. Vạy mà dưới mắt tôi thì… để người đọc tự hình dung ra trạng thái dằn vặt, sự thức tỉnh của nhân vật. Nhưng cũng phảng phất đâu đó lời nhắc rất “khẽ”: mỗi người hãy tự nhìn lại chính mình.
Nhân vật Kiều Phương – cô em gái – được tác giả xây dựng rất nhẹ nhàng qua các phương diện: ngoại hình (nét mặt), cử chỉ và hành động (tò mò, hiếu động, mê vẽ tranh), qua thái độ và quan hệ với người anh chứ không phải trải qua sự căng thẳng về tâm trạng như người anh. Cái đặc sắc ở đây là tác giả đã để cho vẻ đẹp của cô em gái được hiện ra dần dần qua con mắt nhìn và lời kể của người anh, ngày càng đẹp cho đến cuối truyện thì vẻ đẹp ấy đọng lại một cách sâu sắc trong lòng người anh và gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc: một cô gái có tài năng và được đánh giá cao nhưng Kiều Phương vẫn không hề mất đi sự hồn nhiên, trong sáng của tuổi thơ và nhất là vẫn dành cho anh trai những tình cảm thật tốt đẹp, thể hiện ở bức tranh “Anh trai tôi”. Soi vào bức tranh ấy, cũng chính là soi vào tâm hồn trong sáng, nhân hậu của em gái, nhân vật người anh đã tự nhìn rõ hơn về mình để vượt lên những hạn chế của lòng tự ái và tự ti.
Bức tranh của em gái tôi là một câu chuyện rất đời thường, tưởng chừng như không có chất văn. Nhưng bằng tài năng sáng tạo nghệ thuật, Tạ Duy Anh đã thành công trong việc khắc hoạ tính cách các nhân vật trong truyện bằng chính lời kể rất thật và xúc động của người anh. Không cần phải “lên gân” mà tác phẩm đã gợi ra những điều sâu sắc về mối quan hệ, thái độ, cách ứng xử giữa người này với người khác trong cuộc sống hàng ngày. Tác phẩm đã để lại nhiều dư vị cho người đọc. | Nghệ thuật đặc sắc truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi của cây bút trẻ Tạ Duy Anh | 1,481 | |
Nghị luân xã hội về vấn nạn Game online trong học đường
Hướng dẫn
Nghị luân xã hội về vấn nạn Game online trong học đường
Gợi ý
Nhu cầu dùng Internet đang ngày một gia tăng cho thấy càng ngày càng nhiều người có nhu cầu thu thập thông tin cũng như giải trí. Hiện nay, học sinh sử dụng mạng vào việc học là lớn do chịu nhiều áp lực về học tập. Từ đó dẫn đến việc các bạn chơi Game online để giải trí tuy nhiên giờ đây nó đã trở thành một vấn nạn học đường đáng quan tâm.
Game online ban đầu vốn là để cho mọi người được giải tỏa căng thẳng sau khi học tập và làm việc mệt mỏi. Tuy nhiên, do Game online có sức hút mạnh, đặc biệt là mới giới trẻ, dẫn đến việc một bộ phận không nhỏ số lượng học sinh bị sa đà vào các trò chơi vô bổ: đua xe, đánh nhau, bắn tỉa, … Những trò chơi đó đang dần dần chiếm lĩnh phần lớn thời gian của các bạn, nên giờ đây hầu như không còn mấy ai biết đến những thú vui khi chơi đá banh, chọi gà, …
Xuất phát vốn là để đem lại lợi ích cho con người, tuy nhiên hiện nay Game online lại đang đem lại nhiều tác hại. Những quán net mọc xung quanh các trường đã tạo “điều kiện” để học sinh tiếp cận và lao vào thú vui vô bổ. Các bạn có thể mải chơi đến quên ăn, quên ngủ. Không đảm bảo cân bằng giờ giấc sinh hoạt thường ngày, các bạn dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, vì vậy thường hay ngủ gật trên lớp, không tiếp thu được bài giảng của thầy cô. Rồi khi ề nhà, vì mải chơi game mà các bạn cũng không làm bài tập, dẫn đến việc học hành sa sút, ảnh hưởng đến kết quả học tập. Không chỉ vậy, để có tiền chơi ở các quán net, nhiều bạn còn nói dối để xin tiền bố mẹ, thậm chí là ăn trộm tiền của gia đình, bạn bè xung quanh. Game online đã dần dần huy hoại sức khỏe, kiến thức và cả đạo đức của chính bạn. | Nghị luân xã hội về vấn nạn Game online trong học đường | 381 | |
Nghị luận bàn về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác trên cơ sở truyện cổ Tấm Cám- Văn lớp 11
Hướng dẫn
Nghị luận bàn về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác trên cơ sở truyện cổ Tấm Cám- Văn lớp 11
Bài làm
Truyện cổ tích Việt Nam là một kho tàng phong phú chứa đựng những bài học về sự cần thiết và bổ ích cho cuộc sống của con người. Tổ tiên chúng ta muốn gửi tới con cháu mình những gửi gắm và trong mỗi câu chuyện của mình những bài học về đạo đức làm người, về cái thiện và cái ác.
Truyện cổ tích Tấm Cám thể hiện một thế giới đa dạng ở trong đó chứa đựng cái thiện và cái ác, cái cao sang và cả cái thấp hèn cùng tồn tại, nhiều khi cái ác đã chiến thắng cái thiện. Nhưng trong mỗi câu chuyện đều chứa đựng niềm tin và tương lai về sự tốt đẹp trong cuộc sống. Chân lý luôn thuộc về cái thiện, và cái thiện sẽ luôn chiến thắng cái ác. Đó là sự chiến thắng chính đáng cần có của cái thiện.
Cái thiện là đức tính quý báu tốt đẹp là những đạo đức chuẩn mực mà con người cần phải giữ gìn, nhân rộng ra với tất cả mọi người. Còn điều ác, điều xấu xa cần phải được loại bỏ ra khỏi ngoài xã hội, để cho cuộc sống của con người tốt đẹp.
Trong cuộc sống hàng ngày những biểu hiện của cái thiện và cái ác vô cùng dễ dàng để nhận biết. Như việc chúng ta muốn thấy một học sinh muốn đạt kết quả học tập cao thì phải chăm ngoan học giỏi, nỗ lực hết mình trong việc học tập thì mới có thể đạt thành tích cao như mong muốn. Những học sinh ngoan học giỏi thì thường là người có lẽ phép, hiếu lễ với cha mẹ.
Ngược lại những bạn học sinh mà lười học, thì thường dễ bị những cám dỗ, sa ngã bởi thói hư tật xấu, hay làm cha mẹ buồn lòng, gian dối trong học tập, như quay cóp nhìn bài bạn…
Truyện tấm cám gồm gồm hai nhân vật chính chia thành hai loại người khác nhau phân biệt vô cùng rõ ràng. Trong đó, Tấm đại diện cho sự thân thiện, tốt bụng, hiền lành chịu thương chịu khó là người có đủ mọi đức tính tốt đẹp, nhưng lại không được hưởng hạnh phúc. Cám là một nhân vật ngược lại cô gái này mưu mô xảo quyệt, đa mưu nhiều quỷ kế đa đoan, lười lao động nhưng lại được bà mẹ của mình bao bọc che chở nên càng trở nên độc ác hơn.
Mẹ con nhà Cám là những nhân vật đại diện cho người lười nhác, xấu tính, tham lam, ích kỷ chỉ mong mình sung sướng còn không bận tâm tới sống chết của người khác. Họ luôn tìm cách chèn ép người tốt là Tấm.
Những người tốt thì luôn gặp may mắn được mọi người thương yêu giúp đỡ khi khó khăn hoạn nạn. Chính vì vậy, Tấm đã được một thế lực siêu nhiên chính là ông Bụt luôn hiện lên giúp đỡ cô vươn lên trong cuộc sống.
Xét sâu xa hơn thì mẹ con nhà Cám chính là tầng lớp bóc lột, những người ác trong xã hội. Còn nhân vật Tấm chính là đại diện cho tầng lớp nhân dân bị bóc lột trong giai cấp cũ. Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám chính là mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, giữa tầng lớp bị bóc lột và giai cấp đi bóc lột người khác.
Trong cuộc sống Tấm chịu nhiều thiệt thòi bị mẹ con nhà Cám luôn tìm cách hãm hại. ngay cả khi Tấm đã có sức mạnh của riêng mình đó là trở thành vợ vua thành Hoàng Hậu cao quý,thì bản tính hiền lành của Tấm vẫn luôn tồn tại.
Sau khi bị dồn tới chỗ chết, bị thiệt mạng oan ức Tấm được đầu thai kiếp khác. Lúc này ý chí trả thù phản kháng lại mới tồn tại trong đầu Tấm. Cô hóa thân thành con chim vàng anh rồi ngày ngày tìm cách không cho Cám lại gần chồng mình. Cám bực mình với chú chim Vàng Anh bèn giết chim làm thịt.
Lông chim hóa thành hai cây xoan đào, linh hồn Tấm nằm trong hai cây xoan đào đó ngày ngày Tâm che chở bóng mát cho chồng, khiến cho nhà vua rất yêu mến thường mắc võng ngủ trưa ở đây. Cám ghen tị nên đã chặt xoan làm khung dệt vải.
Nhưng mỗi lần Cám ngồi vào dệt thì khung cửi lại kêu lên những tiếng kêu ai oán. Cám sợ quá đốt khung cửi thành tro. Nhưng chẳng bao lâu tại chỗ đổ tro của khung cửi lại mọc lên một cây thị.Trên cây thị chỉ có duy nhất một quả vừa to vừa thơm. Một bà cụ bán nước đi qua thấy mùi quả thị thơm quá bèn nói
“Thị ơi thị rơi bị bà. Bà về bà ngửi chứ bà không ăn” sau câu nói ngay lập tức quả thị rơi vào bị của bà cụ bán nước. Rồi từ đó, mỗi lần bà cụ đi làm về để thấy có cơm canh ngon đang chờ mình. Nhà cửa thì luôn sạch sẽ mát mẻ, gọn gàng. Bà cụ lạ lắm không biết có ai tốt bụng đã làm giúp mình những việc này, nên bà đã rình xem. Và phát hiện có một cô gái từ trong quả thị chui ra giúp bà mỗi lần bà đi làm ra khỏi nhà.
Rồi một hôm nhà vua đi tuần tra đi qua nhà bà cụ bán nước mới ghé vào nghỉ chân. Ở đây vua đã nhìn thấy miếng trầu têm cánh phượng rất đẹp rất giống với trầu mà Tấm từng têm khi còn ở hoàng cung. Chính vì vậy, nhà vua đã hỏi bà cụ rằng “Trầu này là bà têm phải không ạ?
Bà cụ bán nước cười đáp “Không phải lão mà là con gái lão” Nhà vua ngạc nhiên lắm xin phép bà cụ kêu con gái ra cho mình gặp mặt. Lúc này Tấm đi ra, nhà vua nhận ra ngay đó là vợ mình. Hai vợ chồng gặp nhau mừng rỡ, nhà vua đón Tấm về cũng sống hạnh phúc.
Còn hai mẹ con nhà Cám sau khi thấy mưu kế giết Tấm không thành nên đã đổi giọng lấy lòng Tấm. Khi Tấm quay về cung Cám tới gặp và hỏi Tấm sao chị đẹp thế?
Tấm muốn cho Cám chịu hậu quả về tội ác của mình nên đáp chị đã tắm bằng nước sôi nên mới đẹp vậy. Cám tưởng thật liền thực hiện theo và chết tươi. Sau khi Cám chết thì bà mẹ Cám cũng buồn rầu mà chết theo.
Trong truyện cổ tích người tốt luôn chiến thắng thể hiện ước mơ khát vọng công lý của người xưa rằng cái thiện luôn thắng cái ác, cái ác sẽ phải chịu sự trừng phạt đích đáng.
Nó là những mong muốn chính đáng của tầng lớp bị bóc lột áp bức trong xã hội họ mong muốn có thế lực siêu nhiên nào đó giúp đỡ họ khiến chân lý luôn chiến thắng. Đó là giấc mơ cũng là niềm tin của con người trong xã hội. | Nghị luận bàn về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác trên cơ sở truyện cổ Tấm Cám- Văn lớp 11 | 1,258 | |
Nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm Học đi đôi với hành
Hướng dẫn
Nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm Học đi đôi với hành
Bài làm
Chúng ta đều biết rằng, việc học rất quan trọng đối với tất cả mọi người. Ai cũng đều phải học tập không ngừng, vì những điều tốt đẹp hơn trong tương lai. Nhưng học thế nào cho đúng cách thì không phải ai cũng biết. Có câu: Học đi đôi với hành. Đó là một cách học rất đúng và được khuyên nhủ từ bao đời nay.
Vậy học thế nào là học đi đôi với hành? Hành có nghĩa là làm. Học đi đôi với hành có nghĩa học tập phải luôn gắn liền với việc làm, với thực hành, trải nghiệm thực tế cuộc sống. Những gì đã được học ở nhà trường, ở trong sách vở phải được gắn liền với thực tế cuộc sống. Việc học đi đôi với hành sẽ giúp cho học sinh rút ra được những bài học sâu sắc, cải thiện kỹ năng chủ động, sáng tạo, hiểu sâu hơn được cốt lõi của những vấn đề đã được học trên ghế nhà trường.
Học đi đôi với hành trước tiên là chúng ta phải thực hành trên các bài học ở trường lớp. Chúng ta có thể thực hành trong phòng thí nghiệm với những môn học khó như hóa học, vật lý… còn với những môn học có không gian mở hơn như ngành nông nghiệp, ta lại có thể thực hành ở ngoài vườn trường, hoặc trên chính những ruộng lúa bao la rộng lớn. Cùng với đó, những môn học khác chúng ta cần vận dụng lý thuyết vào để rèn luyện, làm thật nhiều bài tập để trở nên nhuần nhuyễn hơn với bài học đó. Đó chính là học đi đôi với hành.
Ai đó từng nói, học mà không đi đôi với hành thì chỉ là học vẹt, chỉ là học lý thuyết suông mà thôi. Học như vậy sớm muộn gì cũng sẽ trở thành những con mọt sách, thông thuộc lý thuyết nhưng khi bước vào cuộc sống, cần phải xử lý vấn đề thì lại không làm được, trở thành những “ thầy bói xem voi” trong xã hội hiện đại. Đây cũng chính là vấn đề đáng lưu tâm của nền giáo dục nước ta hiện nay. Khi mà nhà trường vẫn đang chú trọng việc dạy lý thuyết chứ chưa quan tâm đến việc thực hành. Bên cạnh đó, học sinh cũng chỉ chú tâm học những bài lý thuyết qua sách vở, để đạt được điểm số, thành tích cao trong học tập trên những trang giấy, nhưng kiến thức thực sự để các em thực hành thì lại không có. Điều này dẫn đến tình trạng rất nhiều học sinh hiện nay khi ra trường, với tấm bằng đại học cùng bảng điểm rất đẹp trên tay nhưng khi đi xin việc vẫn không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Đó là bởi vì các em không có kỹ năng thực tế, cùng với những kiến thức của các em chưa được thử thách, rèn luyện nên không thể đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Từ đó, dẫn đến tình trạng một thế hệ trẻ của đất nước đang bị lãng phí khả năng, bởi không phải họ không có năng lực, nhưng do được đào tạo sai cách nên vô tình đã trở thành những con người có văn mà không có võ, không thể áp dụng vào thực tế cuộc sống.
Bên cạnh đó, tự bản thân các em học sinh cũng cần chủ động học tập, cùng với áp dụng lý thuyết vào thực hành, nâng cao kiến thức của bản thân để trở thành người có nền tảng tri thức vững chắc, phục vụ cho bản thân các em và cho gia đình, xã hội. | Nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm Học đi đôi với hành | 666 | |
Nghị luận Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lí trí (Mac-ket)
Hướng dẫn
“Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lí trí”
Bài làm 1:
Mở bài:
Chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển và sự phát triển này đang tăng nhanh với tốc độ chóng mặt. Từ khoa học kĩ thuật đến đời sống con người, tất cả đều được cải thiện để ngày một hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, đằng sau mặt lợi ích ấy lại tồn tại rất nhiều bí mật khủng khiếp. Sự phát triển này cũng đã giúp cho mặt quân sự tối tân và hiện đại hơn. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta đang chung sống với hàng ngàn loại vũ khí đang tìm ẩn đâu đó chờ ngày phát nổ, và trái đất này đang đứng trước nguy cơ bị phá hủy vào một ngày nào đó. Mác-két đã từng nói: “Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lý trí”, đó cũng là câu nói để lại cho em rất nhiều ấn tượng sâu sắc.
Thân bài:
“Như một quả bom nổ chậm” sự phát triển vượt mức cho phép của vũ khí đang là mối nguy lo cho xã hội. Trong số đó, vũ khí hạt nhân đang nhận được sự đầu tư từ nhiều quốc gia trên thế giới. Có sức công phá mạnh nhất so với những loại vũ khí khác hiện tại, năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch hạt nhân và phản ứng hợp hạch gây ra. Nếu như thuốc nổ từng làm cho chúng ta hoảng sợ, thì vũ khí hạt nhân còn kinh khủng hơn thế. Nó có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ và đủ để phá hủy cả một thành phố. Và đã có 2 quả bom hạt nhân được thả xuống ở chiến tranh thế giới lần thứ hai, gây thiệt hại về người và của lên con số hàng triệu, nó cũng phần nào dấy lên chấn động trên cả thế giới. Đó là quả bom được ném xuống ở thành phố Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6 tháng 8 năm 1945. Ba ngày sau đó, cũng ở Nhật thêm một quả bom nữa ở thành phố Nagasaki đã cướp đi tính mạng của hàng ngàn người. Vào lúc đó, chỉ mới là những bước đầu tiên trong sự nghiệp phát triển vũ khí hạt nhân. Hiện nay, Mĩ và Nga là những nước đang dẫn đầu trong việc nghiên cứu về vấn đề trên.
Vì mức độ nguy hiểm của loại vũ khí chết người này, cả thế giới đã và đang dống lên hồi chuông cảnh tỉnh những con người với suy nghĩ ích kỉ muốn chứng tỏ sức mạnh của bản thân. Không trừ trẻ em, tất cả mọi người đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ, xuất hiện từ sự ngu muội, thiếu ý thức của chính phủ về đại dịch hạt nhân và hậu quả của nó.
Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương trình để cứu trợ về y tế, cải thiện điều kiện cuộc sống của 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới. Nhưng dự án này đã không được thực hiện vì mức độ tốn kém của nó lên đến 100 tỷ đô la. Nhưng số tiền này lại được bỏ ra cho 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ. Chỉ cần 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đã đủ để bảo vệ cho hơn 1 tỷ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em ở Châu Phi. Hay đơn giản hơn, 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xóa nạn mù chữ trên toàn thế giới. Sự vô lý mà chẳng ai nhìn được là: số tiền ta bỏ ra để hủy diệt sự sống này lớn gấp hàng trăm nghìn lần số tiền chi cho mục đích phát triển sự sống. Tiền để giết người thì có, nhưng để cứu người thì không. Đúng là nực cười.
Thiên nhiên và xã hội phải cần mẫn chắt chiu qua hàng kỉ địa chất mới có được sự thăng hoa của cuộc sống. Mất 189 triệu năm bông hồng mới có thể nở chỉ để làm đẹp cho sự sống. Cần hàng chục triệu năm con người mới tiến hóa thành hình dạng như hiện tại và mang trong mình một khối óc có thể khám phá ra rất nhiều điều hữu ích, chỉ với khởi đầu là loài vượn người cổ. Thế nhưng, chỉ cần bấm một chiếc nút nhỏ để kích nổ toàn bộ chỗ bom trên thế giới, tất cả sẽ bị hủy diệt. Nó xóa bỏ toàn bộ quá trình tiến hóa của tự nhiên và xã hội, đưa loài người trở về con số không vô nghĩa của buổi ban đầu. Không chỉ thế, thế cân bằng của hệ mặt trời và bốn hành tinh nữa sẽ bị phá hủy. Chạy đua vũ trang về hạt nhân, nghĩa là con người đang tự đào huyệt để chôn mình.
Là một cư dân đang sống chung ở hành tinh xanh này, chẳng lẽ chúng ta phải ngồi yên nhìn trái đất bị bắn phá. Chưa bao giờ là quá muộn để sữa chữa lại lỗi lầm, phải chăng đã đến chúng ta nên có trách nhiệm về vận mệnh của hành tinh này? Để những người đã hi sinh trong cuộc thử nghiệm bom hạt nhân không là vô nghĩa, mất mát về mặt tinh thần và vật chất có lẽ rất lớn, chúng ta không thể lặng im như không gì xảy ra được. Đừng nghĩ đây là việc của riêng ai, bởi lẽ nếu cả thế giới này ai cũng bảo “đó không phải là chuyện tôi nên quan tâm” thì đó đồng nghĩa với việc hàng tỉ cư dân đang sống một cuộc sống với sự lo lắng rằng bao giờ mình sẽ chết.
Kết bài:
Chiến tranh đi qua nhưng dấu tích của nó vẫn còn đó, như góp phần vào việc bảo vệ thế giới khỏi chiến tranh hạt nhân. Hãy đứng lên bảo vệ trái đất này, vì bạn, và cũng vì sự yên bình của thế hệ con cháu mai sau.
Bài làm 2:
Mở bài:
Chiến tranh đã gây cho nhân loại trên toàn thế giới nhiều hậu quả nặng nề. Chiến tranh khiến toàn thế giới thiệt hại và mất mát rất nhiều. Nhân dân Việt Nam đã chịu biết bao đau thương bởi bom đạn của lòng tham và sự tàn bạo của kẻ thù. Ở thời điểm ấy, còn có những con người mang khao khát một ngày hòa bình, yên vui bên những người yêu thương của mình cũng như câu nói của nhà văn yêu nước Mác-két: “Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí”.
Thân bài:
Vũ trang là một lực lượng chứa nhiều vũ khí hạng nặng kể cả con người cũng là vũ trang trong thời kì chiến tranh. Những vũ khí hạng nặng như: tên lửa hạt nhân, đại bác, bom nguyên tử, chất phóng xạ,… Chạy đua vũ trang là một việc xử lý và chuẩn bị quân khí để ra chiến trường trong lúc chiến tranh sắp xảy ra.
Lí trí là thứ điều khiển suy nghĩ và hành động của con người. Con người làm việc xấu hay tốt đều được hoạt động bởi lí trí. Đi ngược lại với lí trí là diễn tả một hành động sai so với những suy nghĩ, mong muốn hay nói đúng hơn là ước muốn của ai đó. Và việc tiếp tay cho chiến tranh và làm bùng nổ chiến tranh là hành động làm ngược lại với lí trí.
Đấy chỉ là một ví dụ cho một “con người” với đầy tinh thần hiếu chiến nhỏ nhoi như Mỹ. Cả một quá địa cầu, cả một Trái Đất màu xanh sẽ đi về đâu mà chẳng ai hay biết. Các lĩnh vực cung cấp cho cuộc sống hiện nay còn khốn khó huống chi là ngày ấy. Nào là lĩnh vực kinh tế, y tế, giáo dục, cuộc sống nhân dân,…. Trong ấy nổi bật là sự khốn khó của những người dân. Nạn mù chữ xuất hiệu rất nhiều ngay thời điểm chiến tranh ở toàn cầu. Những nơi chiến tranh cũng có, những nơi chịu ảnh hưởng của chiến tranh cũng có. Còn về vấn đề thực phẩm thì thôi, hiếm khi thấy một bát cháo huống chi là bát cơm. Chi phí nào mà trả cho nỗi một bát cháo vào thời kì chiến tranh. Đế ngay nay, nguy cơ chiến tranh vẫn tìm tàn nhưng lại bị ràn buột bởi những thứ hiệp ước.
Không những nhân dân trên toàn thế giới mà còn có ở một vùng đất dân dị như Việt Nam cũng phải chịu ảnh hưởng. Vì chiến tranh, mà ta đã có những bài hát bất hủ bởi những con người đam mê âm nhạc tài ba thời ấy. Những bài hát đều mang một thôbg điệp và chỉ một thông điệp duy nhất là ” hòa bình”. Nổi bật trong số đó nhất là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với bài hát như: Hòa bình là cơm áo, Đồng Dao,… Cả một người nhạc chỉ biết đam mê và loay hoay với những nốt trầm bỗng lên xuống mà cũng biết ” hòa bình” là gì và khao khát nó biết bao.
Chính vì những khao khát hòa bình ấy cũng đã để lại những bài hát hay của những nhc sĩ tài ba và cũng mang bên mình một trái ấm áp. Ngoài những bài hát, còn có những bài thơ phê phán và kêu gọi sự hòa bìbh ở Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung. Ví dụ như nhà thơ Tố Hữu ca ngơi hình ảnh người mẹ và phê phán cái cảnh chiến tranh loạn lạc ấy với bài thơ ” Bầm ơi”. Trong sự chạy đua lực lượng vũ trang con người lúc ấy phải hy sinh cả một đời tuổi tre cho sự hòa bình của toàn dâ tộc ta. Ôi! Nó thiêng liêng biết bao.
Từ những dụng cụ sinh hoạt đến những vũ khí hạng nặng ngày xưa cũng được nhà nước ta để lại và không đem vứt đi. Nó là một thứ đánh giá cột mốc rất quan trọng của nhân dân ta. Đánh dâu sự hi sinh rất anh dũng, những địa danh đó vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay như: Dinh Độc Lập, Địa Đạo Củ Chi, … thể hiện cuộc sống của binh lính và bộ đội ta ngày xưa rất rõ ràng qua những địa danh hào hùng ấy.
Bên cạnh những điều tốt đẹp ấy, ta còn những thứ xấu trong sử sách mà khiến người đời phải lấy làm gương. Những kẻ phản quốc, vì ham cái lợi trước mắt mà từ bỏ một quê hương, nguồn cội trước. Bán thông tin mật của nước ta cho những kẻ hiếu chiến ngoài kia. Những kẻ ấy thật đáng chê trách. Bên cạnh đó đáng chê trách là những con người hiếu chiến và yêu thích sự chiến tranh Lí trí không cho phép con người chúng ta đi theo những việc xấu, những việc ủng hộ chiến tranh chỉ vì lợi ích riêng.
Chạy đua vũ trang khiến con người ta phải hi sinh rất nhiều. Con người không phải trở thành công cụ cho công việc chạy đua vũ trang lúc ấy. Điều ấy là không nên, con người là để giúp ích cho đời không phải là để làm công cụ, xin mọi người hãy đi theo lí trí và phản đối việc chiến tranh và lấy con người vào việc chạy đua vũ trang.
Những hình ảnh thiêng liêng mãi ở trong lòng người. Nhân dân Việt Nam đã là một phần giúp nhân loại toàn cầu và thoát khỏi chiến tranh. Điều đó chứng tỏ rằng người Việt Nam giàu lòng yêu nước và bất khuất trước kẻ thù xam lược. Xin hãy dừng lại việc chạy đua vũ trang. Hãy cho nhân loại được làm đúng với lí trí của họ.
Kết bài:
Chiến tranh là quy luật của xã hội. nhưng nó xuất phát từ lòng tham và sự tàn bạo của con người. Những gì xuất phát từ bản thân con người có thể được dừng lại bởi lí trí và tình yêu thương nhân loại. Không có cuộc chiến tranh nào mang lại hạnh phúc dù nó là chính nghĩa hay phi nghĩa. Ngày nay, chạy đua vũ trang là tự là di ngược lại với lí trí, ngược lại với tiến bộ và bản chất chân thiện của con người. Dù bất cứ lí do gì, khi con người tạo ra những thứ để hủy diệt đời sống con người đều là tội ác. | Nghị luận Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lí trí (Mac-ket) | 2,168 | |
Đề bài: Nghị luận chất độc màu da cam
Bài làm
Chất độc màu da cam mà Đế quốc Mỹ đã rải xuống các cánh rừng Miền Nam thời chiến tranh đã tạo nên nỗi kinh hoàng cho thế hệ sau của những người đã từng sống ở những khu vực đó.Những đứa trẻ vô tôi, tật nguyền,dị dạng,vừa chào đời đã phải lìa đời hoặc nếu sống được thì sức khoẻ,trí tuệ thậm chí cả hình hài đều không bình thường…Những sinh linh quái dị và vô tội ấy trở thành nỗi ám ảnh,đau đớn đến tê tái của người thân, gia đình và của toàn xã hội.
Nguyên nhân nào dẫn đến thảm hoạ ấy?Chính là do sự vô nhân đạo của giới cầm quyền ở một đất nước đã từng tuyên bố về quyền con người trước toàn thế giới.Để thực hiện âm mưu xâm lược của mình,đế quốc Mỹ đã không từ một thủ đoạn nào kể cả việc vi phạm quyền làm người của những trẻ thơ vô tội.Những bọc nước,cục thịt,quái thai hoặc những sinh thể điên dại,vô tri vô giác do chất độc màu da cam không chỉ khiến cho gia đình đau đớn về tinh thần,khốn khổ về vật chất mà còn là gánh nặng cho toàn xã hội…Những vết thương không mảnh đạn mà đeo bám dai dẳng mãi mãi không lành.Đó chính là tội ác tày trời mà chiến tranh đã gây ra.
Trước tình hình đó nhiều chương trình ủng hộ những nạn nhân chất độc màu da cam đã được tổ chức.Biết bao người đã khóc thương cho những số phận bất hạnh,biết bao chữ ký đã được thu thập để ủng hộ cuộc đấu tranh đòi bồi thường cho các nạn nhân chiến tranh.Ngày đầu tiên Mỹ rải chất độc chết người này xuống Việt Nam: 10-8-1961 đã trở thành ngày “Vì nạn nhân chất độc màu da cam”.Cả nước Việt Nam đã lập quĩ giúp đỡ các nạn nhân khốn khổ.Đó là việc làm cần thiết để giúp đỡ họ phần nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau.Nhiều em bé tật nguyền,côi cút đã được chăm sóc,nhiều tổ chức chính quyền,doanh nghiệp,cá nhân đã xây dựng nhà tình nghĩa,tặng xe lăn,tiền, quà,thăm hỏi và giúp đỡ các nạn nhân.Nhiều nhóm tình nguyện viên được thành lập để làm việc tại các trung tâm bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam…Dẫu biết rằng tất cả những giúp đỡ đó không thể bù đắp được những mất mát đau đớn của họ song đó thực sự là hành động đền ơn đáp nghĩa, phù hợp với truyền thống“tương thân tương ái”,“uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam ta.
Việt Nam đã cố gắng để xoa dịu nỗi đau chiến tranh,song“ơn phải trả,oán phải đền”.Chính phủ Mỹ và 37 công ty hoá chất đã cung cấp chất độc này cho quân đội Mỹ cũng phải chịu trách nhiệm về sự vô nhân đạo của mình.
Nỗi đau của những nạn nhân da cam là một nỗi ám ảnh dai dẳng,việc giúp đỡ họ cần phải làm thường xuyên và liên tục.Bởi vậy mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này, tích cực học tập, phấn đấu xây dựng xã hội tốt đẹp mà ở đó mọi người đều được đảm bảo quyền sống và quyền hạnh phúc. | Nghị luận chất độc màu da cam | 563 | |
Nghị luận cuộc sống có trách nhiệm với bản thân và sống vị kỉ
Hướng dẫn
Suy nghĩ về cuộc sống có trách nhiệm với bản thân và sống vị kỉ
Sống có trách nhiệm là gì?
Trách nhiệm là phần việc được giao cho, phải đảm bảo làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả. Trách nhiệm cũng là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo là đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu hậu quả. Sống có trách nhiệm là lối sống tốt, luôn hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Có trách nhiệm với bản thân là luôn quan tâm và thực hiện tốt những yêu cầu của bản thân về mọi mặt, cả thể chất, trí tuệ, tâm hồn và nhân cách.
Sống vị kỉ là gì
Vị kỉ là chỉ biết chăm lo đến lợi ích của cá nhân mình, đặt trên lợi ích người khác, của xã hội. Sống vị kỉ là sống ích kỉ, chỉ lo cho bản thân, thờ ơ với thế giưới xung quanh.
So sánh hai lối sống:
– Giống nhau: có trách nhiệm với bản thân và vị kỉ đều là lối sống vì thân mình.
– Khác nhau:
+ Sống vị kỉ chỉ biết có cá nhân mình, không hề quan tâm đến người khác. Đó là biểu hiện của lối sống cá nhân, ích kỉ.
+ Sống có trách nhiệm với bản thân là biết quan tâm đến mình cũng như quan tâm đến người khác; thực chất đó là lối sống tích cực có ý thức về cá nhân mình.
– Người sống vị kỉ luôn nghĩ về mình, hay so đo, tính toán thiệt hơn với người khác, luôn tìm mọi cách, kể cả thủ đoạn để đạt được điều mình mong muốn. Họ chỉ mong nhận sự giúp đỡ từ bên ngoài nhưng không muốn giúp đỡ người khác. Họ sẽ không được người khác yêu mến và dẫn đến sẽ trở thành đơn độc, sống bi quan, chán nản.
– Người sống có trách nhiệm với bản thân sẽ được mọi người trân trọng và yêu quý vì:
+ Luôn nổ lực học tập, bồi dưỡng để nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân.
+ Luôn quyết tâm thực hiện hoài bão, ước mơ của mình.
+ Ý thức được các giá trị đáng quý của bản thân để phát huy và nhận ra những nhược điểm để khắc phục, biết giữ mình, noi theo điều tốt, tránh xa những tệ nạn, không sa vào thói xấu.
+ Luôn chú ý rèn luyện sức khỏe, quan tâm đến những nhu cầu về vật chất (ăn mặc, phương tiện sống), sống văn minh, lịch sự trong trang phục, lời nói…
+ Luôn nuôi dưỡng cho mảnh đất tâm hồn thêm phong phú, đẹp đẽ.
+ Trong giao tiếp luôn giữ mối quan hệ thân thiện và tốt đẹp với mọi người; do vậy, sống có trách nhiệm với bản thân cũng có trách nhiệm với gia đình, xã hội,mọi người xung quanh.
– Phấn đấu sống có trách nhiệm với bản thân, làm cho bản thân ngày một tốt hơn về mọi mặt: biết sống trọn vẹn, sống hết mình.
– Dành nhiều thời gian để làm những việc có ích cho tương lai, không rời xa mục tiêu và ước mơ đã đặt ra cho cuộc đời mình.
– Không than văn, trách cứ, chán nản, hằn học với cuộc sống để rồi buông thả bản thân, bị cám dỗ, xao nhăng, phân tâm.
– Lên án lối sống vị kỉ: rèn luyện lối sống vì mọi người để xưng đáng với những điều cuộc sống ban tặng cho mình mỗi ngày. | Nghị luận cuộc sống có trách nhiệm với bản thân và sống vị kỉ | 613 | |
Đề bài: Nghị luận câu nói “Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
Bài làm
Trong cuộc sống của con người lao động chính là việc để tạo ra của cải vật chất duy trì đời sống của con người, phục vụ những nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần. Nhờ sức mạnh to lớn của đôi bàn tay con người mà xã hội của chúng ta ngày càng phát triển tốt đẹp hơn.
Chính vì vậy, người xưa mới có câu “Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”
Con người muốn phát triển tồn tại thì cần phải lao động chăm chỉ, miệt mài. Những giọt mồ hôi của con người đổ xuống mới có thể biến những vật vô tri như đất đá, thành những vật hữu ích như lúa, ngô, khoai, sắn…phục vụ cho lợi ích của con người.
Bàn tay là một bộ phận vô cùng quan trọng trên cơ thể con người. Trí óc giúp con người tư duy sáng tạo, nhờ bàn tay và khối óc con người mới có thể tồn tại trong xã hội một cách vững vàng, tạo ra chỗ đứng và vị trí của mình trong cộng đồng người.
Câu nói này nhằm khuyên nhủ con người phải biết chăm chỉ lao động, suy nghĩ bởi trên đời này không có gì là miễn phí cả, cũng giống như câu nói “Có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ mang phần đến cho” thì câu nói “Bàn tay ta làm nên tất cả có sức người sỏi đá cũng thành cơm” nhằm củng cố cho câu nói trên.
Những con người muốn thành công, muốn có chỗ đứng trong xã hội thì cần phải học tập chăm chỉ, lao động cần cù miệt mài để tạo nên nguồn vật chất cho gia đình, xã hội có như thế con người mới có thể sống sót tồn tại mà không làm ảnh hưởng tới người xung quanh. Được mọi người xung quanh tôn trọng yêu mến.
Ngoài ra, những đồng tiền do chính sức lao động trí tuệ của mình làm ra bao giờ cũng đáng trân trọng hơn khi tiêu những đồng tiền mà người khác mang đến, dù ít hay nhiều thì tự lực cánh sinh để tồn tại cũng sẽ đáng quý hơn là sống như cây tầm gửi neo đậu vào người khác, đến một lúc nào đó, khi cây mẹ chết đi thì cây tầm gửi cũng không thể tồn tại được trên đời.
Những đồng tiền, lúa gạo do chính mình làm ra khi chúng ta tiêu hoặc sử dụng cũng cảm thấy trân trọng hơn rất nhiều, không dễ gì tiêu pha phóng tay bởi con người làm ra của cải vật chất không hề dễ chút nào.
Câu nói trên của cha ông ta là hoàn toàn đúng đắn, nó đúc kết và trải nghiệm qua nhiều thế hệ sống. Chính vì vậy chúng ta hôm nay cần phải cố gắng noi theo nghiêm túc. Với những học sinh thì cần chăm chỉ học tập tích lũy kinh nghiệm để sau này có thể đóng góp công sức trí tuệ mình tạo ra nhiều của cải vật chất cho gia đình xã hội.
Chúng ta cần phải kiên quyết, phê phán những người lười biếng, không chịu lao động suốt ngày sống bám vào người khác, làm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Những con người này cần được giáo dục, tuyên truyền lối sống tích cực, tạo cho họ những công ăn việc làm phù hợp, kích thích tình yêu lao động trong con người họ, cảm hóa họ để họ hòa nhập với cộng đồng.
Mỗi chúng ta ngay từ khi còn nhỏ cần rèn luyện tu dưỡng bản thân để sau này lớn lên trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, không nên học những thói hư tật xấu, không đi theo những bạn bè lêu lổng học thói ăn chơi, sống trụy lạc, ham hưởng thụ lười lao động. | Nghị luận câu nói Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm | 684 | |
Nghị luận câu nói Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được, đó là thời gian, lời nói và cơ hội
Hướng dẫn
Nghị luận câu nói Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được, đó là thời gian, lời nói và cơ hội
Trong guồng quay của cuộc sống, của dòng đời, chúng ta thường hay mất đi những thứ gì đó mà khi nó đã qua đi thì cũng không thể nào có thể lấy lại được. Cuộc sống vốn dĩ nó thực sự nghiệt ngã rồi. Sự vô hạn ở trong vòng quay của trái đất đối lập với cái hữu hạn của một đời của con người, chính vì vậy cho nên nhiều cái mất đi mà chúng ta không thể nào có thể lấy lại được và có một câu nói lại cho rằng: “Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được, đó là thời gian, lời nói và cơ hội” điều đó có phải như vậy không chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu nhé!.
Câu nói trên có ý nghĩa như thế nào và chúng muốn hướng tới cái gì? Câu nói trên muốn nói về sự trôi chảy của thời gian khiến cho con người chúng ta không nắm bắt được thì sẽ cảm thấy hối tiếc về những điều đã làm ở trong quá khứ. Thật đúng như vậy, mỗi người chúng ta chỉ thấy luyến tiếc khi mọi chuyện đã qua mà không có sự tính toán kĩ lưỡng hay là có sự cân nhắc trong mọi việc trước khi đưa ra quyết định. Và thời gian cứ thế trôi đi mang theo cơ hội, lời nói trong cuộc sống mà chúng ta không lấy lại được, chính vì thế chúng ta nên cẩn trọng hơn với ba điều đó.
Không những vậy, câu nói này còn chỉ cho chúng ta thấy một sự thật hiển nhiên, một chân lí đúng đắn đó là hãy biết nắm bắt thời cơ và tận dụng mọi thời gian của mình để cho nó không trôi qua một cách lãng phí để ngày sau không phải hối hận hay là luyến tiếc về nó.
Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về thời gian, đó là sự tuần hoàn chảy trôi từ ngày này hết sang ngày khác một cách vô tình và nó cũng chẳng bao giờ chờ đợi ai. Những người không biết trân trọng và đánh mất nó thì sẽ không bao giờ có thể lấy lại được. Bởi vì nó cứ trôi đi vô tình như vậy.
Giống như nhà thơ Hồ Xuân Hương đã từng nói về sự nghiệt ngã của dòng thời gian, nó lặng lẽ mang đi những tuổi trẻ mặc dù cho chưa tìm được một tình yêu thực sự:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
Chính vì thế mà người ta thường có câu nói rằng” thời gian là vàng là bạc”. Nó thực sự quan trọng đối với mỗi con người. Thời gian sẽ trôi nhanh nếu như chúng ta cứ đứng dậm chân một chỗ mà không chịu tiếp bước thì sẽ bị lãng phí khoảng thời gian đó, có hỗi hận cũng không kịp nữa.
Cuối cùng là cơ hội, cơ hội là một yếu tố không thể thiếu được cho một con người và nó rất quan trọng cho mọi dân tộc. Có tài, có đầu óc vẫn chưa đủ mà chúng ta còn phải biết để nắm bắt mọi cơ hội, phải biết chớp lấy thời cơ bởi nếu như chúng ta không biết cách nắm bắt thì sẽ không mang tới những lợi ích cho dù có tài năng như thế nào đi chăng nữa. Cơ hội là một thứ rất dễ mất đi nếu như chúng ta không biết nắm bắt nó kịp thời thì không thể có nó lần hai cho chúng ta.
Như vậy, qua đó chúng ta có thể thấy được rằng, thời gian, lời nói và cơ hội chính là ba yếu tố nếu như chúng ta đánh mất đi thì không thể nào mà lấy lại được nữa. Chính vì thế chúng ta hãy biết sống như thế nào để trân trọng ba điều ấy để khi qua đi rồi chúng ta nhìn lại không còn hối tiếc. | Nghị luận câu nói Có ba điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được, đó là thời gian, lời nói và cơ hội | 736 | |
Đề bài: Nghị luận câu nói “Học ăn, học nói, học gói, học mở”
Bài làm
Lời nói chính là ngôn ngữ phương tiện trao đổi để con người giao lưu, hiểu được tâm tư tình cảm của nhau. Trong cuộc sống của con người từ lúc sinh ra cho tới khi trưởng thành, già nua và chết đi, mỗi thời kỳ chúng ta đều phải học tập rất nhiều thứ khác nhau trong cuộc sống, bất kỳ cái gì cũng phải học
Câu tục ngữ “Học ăn, học nói, học gói, học mở” thể hiện sự cần thiết phải học tập trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống con người.
Câu nói có ý khuyên nhủ con người hãy cư xử nói năng cho thấu tình đạt lý, “lời nói chẳng mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày, con người thường xuyên phải sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý kiến, thái độ sống của mình. Nếu chúng ta không biết lựa chọn ngôn ngữ thích hợp với ngữ cảnh thì sẽ làm người đối diện tỏ vẻ khó chịu, mất thiện cảm với chúng ta, khiến cho chúng ta mất điểm trước mắt họ.
Thái độ giao tiếp, ngôn ngữ cử chỉ, sẽ nói lên trình độ văn hóa, phong cách sống của một con người cho chúng ta một cái nhìn tổng quan nhất về con người đó. Một người ăn nói dịu dàng, nho nhã sẽ gây được thiện cảm hơn với người thường xuyên nói tục chửi bậy, gây phản cảm với người xung quanh.
Việc chúng ta phải lựa lời để nói, là một việc làm liên tục lâu dài trải qua nhiều thời gian, chứ không phải có thể học trong một ngày, hai ngày là thành công. Việc học của con người là vô tận học cho tới lúc già, lúc chết cũng vẫn phải học, bởi cuộc sống của con người không ai là hoàn hảo cả, ai cũng có những khuyết điểm sai lầm của riêng mình.
Chính vì vậy để không làm gì phải lăn tăn, hối hận suy nghĩ về sau, người xưa mới nói câu “Học ăn, học nói, học gói, học mở”
Ý nghĩa của câu nói này là bất kỳ việc gì con người ta cũng đều phải học, từ những việc đơn giản nhất như việc ăn cũng phải học. Ăn trông nồi, ngồi trông hướng thể hiện việc ăn uống có văn hóa, biết ứng xử đúng lễ nghĩa. Trước khi ăn vào nhìn trước ngó sau xem có ai lớn tuổi hơn thì mời người đó, thể hiện việc lễ nghĩa.
Học gói, học mở thể hiện sự quan trong trong giao tiếp dù tặng quà hay nhận quà chúng ta cũng phải thể hiện thái độ trân trọng thành kính, không phải muốn làm gì thì làm theo ý của chúng ta. Câu nói này thể hiện việc cần phải học tất cả mọi thứ trong cuộc sống từ những cái dễ nhất, tới cái khó hơn…
Trong hoàn cảnh nào thì câu tục ngữ “Học ăn, học nói, học gói, học mở” đều đúng trên mọi phương diện, nó là tình cảm là lời nhắn nhủ của ông cha ta tới con cháu của mình, làm gì cũng cần nhìn trước ngó sau, cần học tập để có thể ứng xử cho đúng mực. | Nghị luận câu nói Học ăn, học nói, học gói, học mở | 568 | |
Nghị luận câu nói Người kiếm tìm hạnh phúc, thành công trên cao mà quên mất nó đang hiện hữu ngay dưới chân mình.
Bài viết văn của bạn Thu Vân đến từ Hà Nội gửi đến ban biên tập website.
Bài làm
Chúng ta sinh ra, được hưởng lợi mọi đặc quyền của mẹ tạo hóa ban tặng, được chiêm ngưỡng những vẻ đẹp kì thú trải dài trên trái đất hay là ngắm nhìn những thanh cảnh yên bình của làng quê đất mẹ. Rồi ta sẽ lại ước mơ, sẽ lại khao khát được cống hiến, được tìm thấy hạnh phúc của riêng mình, sống trong hương vị ngọt ngào ấy. Giữa thế giới nhân sinh, hạnh phúc vốn dĩ luôn ở mọi nơi, có thể ngay bên cạnh cũng có thể ở tận tít chân trời xa , quan trọng ở chỗ con người phải làm chủ được mình, khôn ngoan, không bỏ lỡ hay lãng phí cơ hội nào. Sự thực thì hằng ngày vẫn còn những người luôn luôn kiếm tìm điều gì đó cao sang xa vời ở trên cao và quên mất dưới chân mình cũng đang đâm hoa kết trái, có lẽ đây chính là bài học đắt giá mà tôi có thể rút ra từ bức tranh này
Nhìn vào hình ảnh ấy, tôi biết rằng mỗi chúng ta sẽ có những cảm nhận riêng, cách nhìn và cách nghĩ đối lập nhau, nó phụ thuộc hoàn toàn vào lí trí cũng như trái tim của mỗi cá thể riêng biệt. Đối với riêng bản thân tôi, trong vô vàn câu hỏi nó gây ra cho tôi có lẽ câu trả lời lớn nhất mà tôi muốn nhắc tới vẫn là việc kiếm tìm hạnh phúc hay hành công. Người đàn ông ấy đang vừa đứng trước một cây táo rất cao và đồng thời là ngồi phía trên một gốc cây đang sinh sôi, nảy nở quả trái. Ông ta cứ mãi ngước nhìn, mãi nghĩ rằng quả táo mà mình đang kiếm tìm sẽ ở trên cành cây cao vút kia, dẫu là nó đang héo mòn đi từng ngày mà chẳng hề hay biết dưới chân đang hiện ra một trái rất đẹp, rất mọng nước. Nếu đơn thuần chỉ là vậy thì bức tranh này cũng thật tẻ nhạt. Nhưng không, hình ảnh cây cao lớn kia chính là ẩn dụ cho nhũng thành công ở nơi vô cùng xa xôi, nhạt nhòa và khó lòng thành hiện thực. Còn gốc cây thấp bé kia chính là những điều cận kề bên mình, ngay phía dưới gốc cây mà dường như chính ta đã bị bỏ lỡ từ bao giờ. Trái táo kia chính là thành quả, là sự hạnh phúc mà chúng ta luôn khát khao có được. Cuộc sống vốn dĩ éo le đến vậy, nó năm ở chỗ lí trí và cách suy nghĩ của mỗi người, ai mà chẳng muốn vui vẻ, chẳng muốn cuộc đời của riêng mình sẽ thật ngọt ngào, nhưng tiếc thay ta lại đang bỏ phí đi cơ hội của mình, cơ hội ngay sát cạnh bên mà chạy theo những thứ chỉ mãi mãi không thuộc về mình và bản thân sẽ không thể có được. Đó thực sự là điều rất đáng tiếc cho con người, nếu như thực tế một chút, để ý và quan sát một chút thì có lẽ sự ấu trĩ ấy đã không xuất hiện. Bức tranh ấy có thể khác với những câu châm ngôn, câu ca dao tục ngữ nhưng người tạo nên nó có lẽ cũng đã hi vọng rất nhiều ở ta, ở người tiếp nhận nó, để cuộc sống mỗi lúc lại thêm một phần diệu kì
Người kiếm tìm hạnh phúc, thành công trên cao mà quên mất nó đang hiện hữu ngay dưới chân mình
Vậy câu hỏi được đặt ra là tại sao con người lại thường có xu thế tìm kiếm thành công quả ngọt trên cao, ngoài tầm vớ mà quên mất ngay phía dưới châm mình thôi, những bông hoa cũng đã bắt đầu khoe sắc? Bản tính của con người là luôn thích sự khám phá, tìm kiếm mọi thứ ở nơi xa vời tầm tay của bản thân. Đó không hẳn là điều xấu mà chỉ thực sự trở nên xấu xa khi bạn quên mất vị trí và mọi thứ diễn ra xung quanh mình. Mọi thứ nếu đạt đến độ quá sẽ chẳng bao giờ là điều tốt cả, mà đặc biệt nó lại đóng vai trò quan trọng với cuộc đời ta như sự thành công. Khi mải mê tìm kiếm ở nơi xa, dần dần bạn sẽ bị cuốn vào vòng xoáy của nó, đánh mất mình của hiện tại, phớt lờ những điều đang ở ngay cạnh bản thân. Giống như câu nói “Kẻ dại dột tìm kiếm hạnh phúc ở nơi xa, người khôn ngoan vun đắp nó ngay dưới chân mình”. Hoặc là bạn sẽ dễ dàng rơi vào hố sâu của tuyệt vọng, khổ đau, hoặc là bạn sẽ không còn chút niềm tin nào sót lại trên hành trình dài đằng đẵng hướng tới cuộc đời viên mãn, hoặc là bạn quên mất mình đang cố gắng vì điều gì, ước mơ của mình đang ở đâu, chỉ biết tới danh vọng, tiền tài, của cải, sự vị kỉ đôi khi sẽ đứng lên thống trị cảm xúc và hành động trong chính bạn. Đi tìm nơi xa xôi khiến ta dễ dàng mất cân bằng, rơi vào thế giới ảo, một thế giới mường tượng hơn cả, thậm chí là làm hại chính mình. Nơi xa xôi ấy có thể mang lại hạnh phúc cho một ai đó những chưa hẳn nó đã thuộc về bạn, bông hoa ấy tuy đẹp, đầy quyến rũ nhưng chưa chắc người đoạt lấy nó sẽ là bạn, người đang đứng trước mặt bạn có thể vô cung tốt nhưng có thể dẫu cho bạn nỗ lực đến mấy cũng sẽ không thuộc về mình. Cuộc sống thì luôn cấu thành từ những điều nhỏ nhoi, biển cả hình thành từ những đợt sóng vỗ, cơn mưa hình hành từ hàng vạn giọt nước, ấy là quy luật không thể phủ nhận. Tôi có một người bạn, anh ta luôn nghĩ tới những thứ quá vĩ đại, không cần thiết mà quên mất hiện tại anh ta cần cố gắng ra sao đến cuối cùng đành chấp nhận lấy thất bại đắng cay. Suy cho cùng thứ ta cần vẫn mãi chỉ sống trong tâm tưởng, còn thứ đáng lẽ ra đã nằm trong tay thì lại để vụt mất như hạt cát nhỏ bé bay khỏi đôi bàn tay bạn giữa bầu trời lộng gió. Và phải chăng giá như người đàn ông trong bức tranh ấy có thể quay đầu lại, nhìn xuống phía dưới chân mình thì đã chẳng phải chờ đợi quả trái ông ta mong muốn lâu đến vậy
Khi ta thực sự sống vì hiện tại, trân trọng tất thảy hạnh phúc xung quanh mình thì điều gì sẽ xảy đến, tôi tin bạn sẽ cảm thấy vô cùng tuyệt vời đấy. Mọi thứ sẽ nằm trong tầm kiểm soát của bạn, bạn trở nên cứng cáp và mạnh mẽ hơn, hiểu được điều gì đang diễn ra và chính mình cần làm gì ngay bây giờ. Thử nghĩ xem, phút chốc trên con đường vội vã đi làm, bạn dừng xe lại, ngắm nhìn những bông hoa bên vệ đường bỗng thấy lòng an yên và nhẹ nhàng hẳn đi. Người ta đang chạy theo sự lấp lánh khó cưỡng của đồng iền còn bạn thì vẫn tiếp tục nỗ lực cố gắng, gặt hái thành công để rồi hạnh phúc của bạn trở nên mĩ mãn hơn, đáng quý hơn gấp trăm lần. Bước đi thong dong mà bỗng dừng lại bên gánh hang rong của cụ bà, gửi đến họ chút ít lòng thành, hạnh phúc như thế luôn nằm sát bên bạn đấy thôi, liệu bạn có nhận ra. Có thể trong tâm tưởng của bạn hạnh phúc ở hiện tại không đủ cuốn hút bằng hạnh phúc nơi xa xôi nhưng nhớ cho rằng, điều gì càng khó đoạt lấy, khi cham tới được rồi sẽ càng vui sướng hơn cả. Khi này đây, bạn lại quay về là chính mình, lại tiếp tục nỗ lực hơn ngày hôm qua, lại vươn lên, tràn trề nhựa sống như bông hoa ọc lên từ mảnh đất khô cằn sỏi đá, đáng tự hào biết bao nhiêu. Dựa trên sự tỉnh táo, thông suốt của bản thân, mọi quyết định sẽ trở nên chính xác và ý nghĩa hơn cả. Chấp nhận sự thất bại ở hiện tại, sự khó khăn của vùng quê miền núi, Hà Ánh Phượng vẫn luôn nỗ lực tìm kiêm hạnh phúc cố gắng từng ngày để rồi cô trở thành giáo viên của một lớp học tiếng anh xuyên lục địa, đưa thư sngoon ngữ ấy tới với bao trẻ em nghèo. Hay là thay vì chọn cuộc sống xa hoa, giàu có đầy mơ mộng như bao người thì cầu thủ nổi tiếng của nước pháp Kante vẫn lựa chọn sống đầy giản dị, hạnh phúc toát lên từ chính nụ cười của anh, từ chính những khó khăn, vất vả mà anh đã phải trải qua trong quá khứ tại nơi vùng quê vô cùng nghèo nàn. Họ là vậy đấy, hạnh phúc cao quý hay nơi xa xôi chưa chắc đã thực sự quý giái như những gì đang diễn ra ngay canh mình, bỏ lỡ cơ hội một lần thì bạn có thể mãi sxe chẳng tìm thấy lại được
Đành rằng giữa việc tìm kiếm hạnh phúc trên cao và ngay dưới chân mình có môi quan hệ vô cùng mật thiết, như Hồ Chí Minh – Người đã lựa chọn đi lên con tàu rời bến cảng nhà Rồng, khát khao tìm ra con đường cứu nước ở noi đất khách quê người, một ước vọng lúc bấy giờ là xa xôi vô cùng nhưng cuối cùng Bác đã rất thành công với sự lựa chọn ấy trở thành nhà vị lãnh tụ vĩ đại của cả một dân tộc, nhưng sẽ có mấy ai được như Người cha già ấy. Đa phần, ta thường ước mơ quá viễn vông, không phù hợp với thực tế và sức lực của bản thân, tahy vì vậy, hãy trân quý thành công bên cạnh bạn, thứ mà thượng đế đã bao dung ban phát cho chúng ta. Chạy theo những thứ xa xôi không khác gì tự đi vào ngõ cụt, đường ra chẳng thấy và quay lại cũng chẳng còn cơ hội nào nữa
Một bức tranh, một bài văn và vô vàn bài học tôi muốn gửi tới các bạn, chỉ mong rằng bạn sẽ tìm thấy đáp án của mình trên từng câu chữ của tôi, sẽ hiểu ra cuộc sống vốn dĩ rất giản đơn mà thiêng liêng biết bao, hạnh phúc vốn dĩ luôn kề sát bên chúng ta ấy mà. Phía trước hãy cứ dũng cảm bước đi, gặt hái thật nhiều thành công mà nhất định không được bỏ lỡ đấy nhé!! | Nghị luận câu nói Người kiếm tìm hạnh phúc, thành công trên cao mà quên mất nó đang hiện hữu ngay dưới chân mình | 1,898 | |
Nghị luận câu nói “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”- Văn lớp 9
Hướng dẫn
Nghị luận câu nói “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”- Văn lớp 9
Bài làm
Câu tục ngữ “Gần mực thì đen gần đèn thì sáng” thể hiện quan điểm sống của ông cha ta thời xưa muốn mượn hình ảnh những sự vật sự việc có liên quan tới đời sống con người để nói lên thái độ sống của mình.
Gần mực thì đen? Bởi mực là loại thường được người xưa dùng trong viết lách, loại mực tài dùng với bút lông mỗi lần viết phải đổ nước và mài mực. Sau đó, chấm lên bút lông viết nét đậm nét thanh vô cùng tinh tế. Tuy nhiên, loại mực này rất bền nếu chẳng may bị dính vào quần áo hoặc tay chân thì rất khó để rửa sạch.
Bên cạnh đó ý nghĩa của từ “mực” trong câu tục ngữ này còn thể hiện sự xấu xa, những điều không tốt. Những thói hư tật xấu trong xã hội. Nếu chúng ta mà bị nó dính vào người, ở gần nó thì sẽ bị dính bẩn bị lây nhiễm những thói xấu, khiến cho thanh danh, và tương lai của chúng ta khó mà rửa sạch được.
Gần đèn thì sáng? Thời xưa ông bà ta chưa có điện, bóng cao áp như bây giờ mà thường sử dụng đèn dầu cháy bằng bấc, khi con người muốn có thật nhiều ánh sáng để đọc sách hoặc thêu thùa may vá thường phải ngồi gần đèn vì xung quanh ánh đèn sẽ sáng hơn những nơi khác, khiến cho con người nhìn rõ mọi vật hơn.
Người xưa đã vô cùng tinh tế khi sử dụng hai vật tương phản nhau là mực và đen để nói lên hai điều đối lập trong cuộc sống đó chính là điều tốt đẹp và điều xấu xa.
Câu nói này nhằm nhắc nhở con cháu chúng ta hôm nay cần phải biết chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở. Bởi trong cuộc sống nếu chúng ta biết lựa chọn bạn tốt, chơi với những người tốt, những người lương thiện thì sẽ có điều kiện học hỏi những điều tốt đẹp từ những người đó. Chúng ta có thể trở nên tốt đẹp hơn.
Ngược lại, nếu chúng ta không biết mà chơi với những bạn xấu, những người không có ý chí suốt ngày chỉ chơi bời lêu lổng phá làng, phá xóm, làm đau lòng thầy cô cha mẹ, thì rồi chúng ta cũng sẽ nhiễm những thói hư tật xấu của những người này, và trở thành những con người hư hỏng, đánh mất tương lai tốt đẹp của mình.
Câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” được ông cha ta ngày xưa đúc kết lên từ những kinh nghiệm cuộc sống. Nó thể hiện mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh mình.
Nếu con người được sống trong một môi trường lành mạnh nhiều điều tích cực thì con người sẽ được học hỏi những điều tốt đẹp, phát huy được sở trường của mình. Còn nếu con người sống trong môi trường toàn những điều xấu con người đó sẽ trì trệ và trở nên xấu tính hơn.
Chính vì vậy, muốn hình thành nhân cách tốt cho trẻ thì chính cha mẹ phải là người làm gương cho con cái trước tiên. Một gia đình luôn hòa thuận yêu thương nhau thì con cái nhất định sẽ hiếu thảo, lễ nghĩa, biết kính trên nhường dưới.
Trong một tập thể lớp cũng vậy, nếu cả lớp tiên tiến, xuất sắc cùng nhau đoàn kết, chia sẻ những kinh nghiệm học tập tốt, cùng giúp đỡ những bạn còn yếu kém vươn lên bằng cả tấm lòng thì nhất định tập thể ấy sẽ vững mạnh.
Tuy nhiên, trong cuộc sống cũng có nhiều người có bản lĩnh vững vàng không dễ bị lôi kéo vào những điều xấu xa, dù họ sống trong một môi trường bùn lầy hôi tanh nhưng những người đó như những bông hoa sen thơm ngát “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” đó chính là những con người vô cùng bản lĩnh.
Nhiều người sinh ra trong gia đình không hạnh phúc cha mẹ không hòa thuận, nhưng bản thân những người con trong gia đình đó, lại rất nỗ lực vượt khó để có thể thành công, có một tương lai rộng mở hơn.
Câu tục ngữ “Gần mực thì đen gần đèn thì sáng” muốn khuyên nhủ chúng ta phải biết lựa chọn môi trường sống, lựa chọn bạn tốt để chơi tránh xa những thói hư tật xấu, những điều không hay trong xã hội để trở thành con người có ích, đóng góp sức mình cho xã hội. | Nghị luận câu nói “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”- Văn lớp 9 | 809 | |
Nghị luận câu nói:Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó
Hướng dẫn
Nghị luận câu nói:Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó
Trong cuộc sống của chúng ta có biết bao nhiêu câu nói hay mang nhiều ý nghĩa về triết lí con người và những thứ xung quanh chúng ta. Có câu đã từng nói rằng: “ Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó”. Câu nói ấy muốn nói lên vị trí của con người trong cuộc đời rộng lớn như thế này.
Vậy thì qua câu nói trên nếu như chúng ta hiểu một cách sâu sắc thì câu nói trên nhằm nhấn mạnh điều gì? Chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu. Đó là sự so sánh đối lập giữa đời người và con người. Nếu như đời người là một hạt nước nhỏ thì đời người lại là một đại dương rộng lớn. ý nghĩa của câu nói này đó chính là nói cái nhiều để chỉ cái ít, lấy cái mênh mông để chỉ cái nhỏ bé vô hạn.
Mỗi người chúng ta đều phải trải qua một cuộc đời nhưng nó không là vô hạn mà nó chỉ mang tính chất hữu hạn, giống như một hạt nước nhỏ mà thôi. Chúng ta được sinh ra và lớn lên nhưng chúng ta không thể sống mãi được, chúng ta có thể già đi và chết, hay là sinh lão bệnh tử, chết bất đắc kì tử mà không ai hay, chính vì thế khi còn sống hãy sống như thế nào cho có ý nghĩa.
Nếu như bạn là một đại dương hay nói cách khác bạn được sống một đời người thì cuộc đời bạn sẽ ra sao. Nếu như vậy thì chẳng phải là bạn có đủ khoảng thời gian để có thể cống hiến hay sao. Khi đó thì bạn chính là trung tâm của vũ trụ thì liệu bạn có thể phó mặc mọi thứ,bạn có thể trốn tránh được trách nhiệm của mình hay không? Nếu như bạn buông xuôi thì thực sự bạn là một kẻ hèn nhát,yếu đuối và thậm chí là bạn cũng không còn có khả năng để có thể kiểm soát được những việc khác nữa.
Hay là khi bạn làm những việc có ích thì đó cũng là việc làm cho mọi người nhắc đến bạn. Bạn tuy sống ít nhưng nếu như bạn mất đi thì ai cũng nhớ tên bạn bởi bạn làm những việc khiến cho người người nhớ mãi. Như vậy, dù chỉ là một hạt nước nhỏ thôi thì cũng đã đủ quan trọng với bạn.
Nói chung thì trong cuộc sống không mấy ai được sống trọn vẹn một đời người 100 ăm cả nhưng cho dù bạn sống ít hay nhiều thế nào đi chăng nữa, nếu như bạn có công thì mọi người sẽ nhớ đến bạn. Cái sống đó là sống có lương tâm, có tinh thần cho mọi người chứ không phải là sống về thể xác, như vậy thì cuộc đời chẳng còn gì là ý nghĩa nữa.
Nguồn: Bài văn hay | Nghị luận câu nói_Nếu đời người là một đại dương bao la thì con người chỉ là một hạt nước nhỏ trong đại dương bao la đó | 563 | |
Đề bài: Nghị luận câu tục ngữ "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn"
Bài làm
Trong cuộc sống hàng ngày,để đánh giá một đồ vật,một con người đạt mức độ chính xác,chúng ta nên dựa trên nguyên tắc hay cách thức nào? Đây cũng là vấn đề xưa nay được nhiều người quan tâm. Cha ông cũng từng có ý kiến hướng dẫn việc ấy trong câu tục ngữ:
“Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.
Ta nên hiểu câu này như thế nào và đánh giá nó ra sao? Phải chăng đây chính là kinh nghiệm quý báu mà ông cha của chúng ta từ nghìn xưa đã để lại cho con cháu suy ngẫm và học hỏi.
Câu tục ngữ dùng hai sự vật “gỗ” và “nước sơn” để làm một phép so sánh.”Gỗ” là chất liệu để làm đồ dùng như tủ,giường,bàn,ghế…Còn “nước sơn” là chất liệu để quét lên lớp bên ngoài cho các đồ dùng ấy thêm đẹp thêm bền.Nhiều người chỉ chú ý đến lớp nước sơn bóng nhoáng bề ngoài mà đã mua phải một đồ dùng bằng gỗ xấu hoặc gỗ mọt.Ông cha ta với kinh nghiệm sống của mình đã kết luận là: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.
Đó là hiểu theo nghĩa đen.Còn nghĩa bóng của câu tục ngữ thì rộng hơn rất nhiều.Nó bao hàm một lời khuyên về cách nhìn nhận,đánh giá một sự vật,một con người đừng nên để cái vỏ hình thức hào nhoáng bên ngoài mê hoặc mà phải coi trọng cái thực chất bên trong.Ngoài ra,câu này còn bao hàm một lời khuyên về cách sống;hãy sống chân thật bằng thực chất của mình,chân thành trong cách đối nhân xử thế,đừng ba hoa,khoác lác lòe đời bằng cái vỏ hình thức giả tạo,”chớ khéo đem cái mã bề ngoài để che đậy cái sơ sài bên trong”.
Như mọi câu tục ngữ khác,câu tục ngữ này cũng là đúc rút kinh nghiệm của cha ông chúng ta,trải qua biết bao thế hệ,với bao thành bại,nên hư,vấp váp mới đúc rút thành chân lí: ”Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.Khi nhìn nhận đánh giá một sự vật,ta phải thấy rằng giữa hình thức bên ngoài và nội dung bên trong,không phải lúc nào cũng thống nhất mà thông thường thì những sự vật có thực chất kém cỏi lạ thường một hình thức lôi cuốn hấp dẫn.Một vật dụng như chiếc tủ,chiếc giường,chiếc bàn bằng gỗ tạp lại được sơn phết,tô điểm với nước sơn bóng nhoáng,màu mè.Mỗi kẻ vô tài thường làm ra vẻ lịch duyệt,hiểu biết.Những kẻ “miệng nam mô bụng một bồ dao găm” vẫn tồn tại phổ biến trong xã hội.Do đó,trong tiếp xúc thường ngày với mọi sự vật,mọi con người phải chú trọng vào chất lượng bên trong của sự vật,vào vẻ đẹp tâm hồn của con người chớ đừng vì bóng sắc hấp dẫn bên ngoài mà quên đi cái mục ruỗng,thối nát,xấu xa và vô vị bên trong.Bởi vì nghĩ cho kĩ,suy cho cùng,nếu chân giá trị của vật dụng là chất gốc thì chân giá trị của con người chính là đạo đức tài năng và trí tuệ.
Nhưng cũng không thể chỉ xem trọng nội dung mà lãng quên đi mặt hình thức.Một vật dụng,một món hàng đã có chất lượng tốt,gỗ tốt gỗ quý lại có bao bì,hay nước sơn xinh xắn tô điểm,trang trí đẹp đẽ thì giá trị vật dụng ấy,món hàng ấy càng được nâng thêm.Hình thức bên ngoài như thế đã góp phần làm tăng thêm cho giá trị bên trong.Một cái tủ,một chiếc bàn làm bằng gỗ đỏ hay bằng lăng mà lại còn được sơn bóng nhoáng hẳn sẽ vừa ý vừa lòng người mua.Một con người cũng vậy,có học vấn,đạo đức lại nói năng lịch sự thanh nhã,ăn mặc gọn gàng,sạch đẹp dễ làm ta thêm quý trọng hơn hẳn người tuy cũng có tài năng,đạo đức nhưng ăn nói thô lỗ,cộc cằn,áo quần xốc xếch.Đúng là cái đẹp lí tưởng phải là hài hòa giữa nội dung và hình thức.
Vậy để đánh giá và nhận xét một vật dụng,một con người,chúng ta dựa trên cơ sở cả nội dung lẫn hình thức.Hai mặt này kết hợp và bổ sung cho nhau làm nên giá trị của vật dụng ấy,con người ấy,trong đó nội dung giữ vai trò quyết định.Khi đánh giá,ta cần coi trọng chất lượng của sự vật cũng như đạo đức,tài năng trí tuệ của con người.
Tóm lại,”tốt gỗ hơn tốt nước sơn” không những chỉ giúp ta một phương châm đúng đắn trong việc nhìn nhận,đánh giá,chọn lọc ở đời mà còn giúp ta một phương châm trong cách đối nhân xử thế.Không nên dựa dẫm vào cái hình thức bề ngoài vay mượn,không phải của mình để vênh vang tự phụ với mọi người rồi không chịu tu dưỡng rèn luyện.Cũng đừng nên quá chú trọng hình thức bên ngoài,trang điểm mặt này,chưng diện quần áo mà quên đi cái chân giá trị của con người là đạo đức,trí tuệ và tài năng.Bài học mà câu tục ngữ này dạy ta thật là đúng đắn và sâu sắc. | Nghị luận câu tục ngữ “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” | 858 | |
Nghị luận giải thích câu tục ngữ Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Hướng dẫn
Trong cuộc sống, con người phải biết chọn lựa lời nói sao cho đạt hiệu quả cao nhất trong giao tiếp và ứng xử. Chính vì vậy, mọi người thường khuyên bảo nhau:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Lời nói là một công cụ dùng để giao tiếp và ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với con người. Do đó, khi nói ta cần phải biết “lựa lời mà nói” sao cho hay, cho đẹp.
Trước hết, “lựa lời mà nói” có tác dụng lôi cuốn, cảm hóa được người nghe, làm cho người nghe biết rung động và kính nể người nói. Bác Hồ là người luôn đạt được những thành công lớn trong vấn đề này. Ngày 02-9-1945, lúc đang đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình, Bác có nói một câu thế hiện sự quan tâm sâu sắc: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” đã làm cho hàng triệu trái tim xúc động mãnh liệt. Rõ ràng tình cảm của Người trong lời nói ấy quá da diết; không gì có thể so sánh được. Còn khi nhắc đến miền Nam ruột thịt, Bác nói trong nỗi xúc động nghẹn ngào: “Miền Nam trong trái tim tôi”. Những câu nói của người cho đến tận bây giờ, nhân dân Việt Nam không thể nào quên. Đối với thanh niên, học sinh, Bác nói nhiều câu như lời dạy của một nhà giáo dục yêu trẻ, yêu nghề:
Chỉ sợ lòng không bển.
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên.
hay: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.”
Đối với giới tri thức nghiên cứu khoa học, nhiều người phải xa quê hương sinh sống và làm việc tại nước ngoài, bằng lời nói của mình, Bác đã cảm hóa được tâm hồn họ, khiến họ nghe theo Bác về quê hương Việt Nam thân yêu để phục vụ. Tiến sĩ Nông học Lương Định Của hay Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là những điển hình. Nói chung, dù ở bất kì thời điểm nào, lời nói của Bác Hồ cũng luôn làm “vừa lòng” người nghe.
Ngược lại, trong xã hội, có không ít con người không biết liệu lời mà nói dẫn đến nhiều tác hại cho bản thân và mọi người. Đó là những lời nói thô tục, thiếu văn hóa, thiếu thiện chí nhằm thỏa mãn ý thích cá nhân hoặc nói mà thiếu suy nghĩ.
Ngoài ra còn có những lời phát ngôn không phù hợp với đôi tượng tiếp nhận như: ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, trẻ em và những đối tượng khác. Chẳng hạn như đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, người nói cần phải tỏ thái độ kính trọng, nể nang, lễ phép, khiêm tốn.
Những lời nói không đẹp bao giờ cũng mang lại những hậu quả nặng nề. Chỉ vì một lời nói mà người đang giữ chức vụ quan trọng có thể cho bị thôi việc sớm. Chỉ vì một lời nói mà dẫn đến tan nhà, nát cửa, con xa cha, vợ xa chồng. Chỉ vì một lời nói mà người này trở thành kẻ thù của người kia.
Câu ca dao trên đây đã đặt một nền tảng vững chắc cho việc thực hiện mục đích giao tiếp và ứng xử trong một xã hội văn minh. Do đó, chúng ta phải học tập thật giỏi, tăng cường rèn luyện đạo đức thật tốt đế trở thành một con người vừa có trình độ văn hóa cao, vừa có một phong cách giao tiếp văn minh, lịch sự. | Nghị luận giải thích câu tục ngữ Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau | 643 | |
Nghị luận Hãy sống thật ý nghĩa, đừng bao giờ để sự tồn tại của bản thân trở nên vô nghĩa
Bài viết văn của bạn Minh Tùng đến từ Thanh Hoá gửi đến ban biên tập website.
Bài làm
Những vệt nắng bên hiên nhà đang cố gắng len lỏi qua từng khẽ lá chiếu lung linh trên từng vạt lúa, những bông hoa cúc vàng đang cố vươn mình sau trận giông bão hay là những nụ cười có phần thấm mệt của người dân cày, tất cả vẻ đẹp giữa đời thường ấy làm tôi thật quyến luyến biết bao. Họ trân trọng cuộc sống, họ cố gắng cống hiến chút sức lực nhỏ bé cho nhân thế mà không chút ái ngại, chần chừ. Người ta vẫn hay nói cuộc sống này vô cùng ngắn ngủi, chúng ta hết mình một chút chắc chắn sẽ bình yên quả là không sai. Nhưng kì thực, cuộc sống đâu phải ai cũng vậy, cũng hiểu được giá trị của chính mình mà hiến dâng tuổi xuân giống như câu nói :
Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
Có con người sống mà như qua đời
Bạn biết không? Sau một trận mưa lũ, tưởng chừng nó đã cuốn trôi tất cả ấy vậy mà cây cối, muôn thú vẫn có thể sinh sôi, phát triển, lại tiếp tục hót vang, đung đưa giữa trời xanh. Tôi gọi đó là nghị lực sống, khao khát sống hết mình. Giống như cánh rừng ấy, dẫu biết nó đã chết, đã héo úa, tàn phai nhưng tất cả những gì nó đã để lại trong đời vẫn còn sống mãi trong tôi, vẫn xanh ngát như thuở ban đầu. Cách nói này kết hợp với vế thứ hai như ẩn dụ cho hai con người đối lập nhau trong xã hội. Đối lập về cách sống, cách nghĩ, cách vươn mình khỏi chông gai. Một bên là sống có ý nghĩa thiết thực, tỏa ngát hương thơm tận mãi đời sau, một bên là vô cảm, ích kỉ, phớt lờ tất cả mọi thứ diễn ra xung quanh mình. Một bên là in đậm dấu nét trong trái tim những người ở lại, một bên là dù có còn sống nhưng nó đơn thuần chỉ là sự tồn tại, cô độc giữa đám đông, giữa chính thế giới của mình. Thử hỏi liệu đó co phải cuộc sống mà chúng ta mong ước và khát khao hay không. Hai trạng thái đối lập ấy đương nhiên sẽ mang lại hai số phận, hai cuộc đời khác nhau, là minh chứng rõ nét nhất cho việc khi chúng ta biết đến hai chữ ý nghĩa giữa cuộc đời. Mong rằng ở chặng đường phía trước, khi còn rất nhiều cánh cổng chờ đón ta phía trước, bạn sẽ không bỏ cuộc, se nỗ lực cống hiến, sống cho đi, vì tương lai, vì những sinh mệnh nhỏ nhoi khác, để dẫu cho đến lúc rời xa thế giới vẫn sẽ mãi mãi thắm đượm hồng tươi, như chính cánh rừng kia ấy.Có lẽ đấy cũng chính là thông điệp nhân văn mà Nguyễn trọng tạo muốn gửi tới bạn đọc, những người thưởng thức các trang văn. Bút viết tài hoa ấy cùng với sự trải đời đã cho tôi thấm nhuần biết bao nhiêu giá trị sâu sắc.
Hãy sống thật ý nghĩa, đừng bao giờ để sự tồn tại của bản thân trở nên vô nghĩa
Vậy có câu hỏi được đặt ra là tại sao chúng ta lại cần đến việc sống đẹp, sống có ích đến thế? Và nếu lựa chọn cách sống yếu đuối vô cảm hơn, ta sẽ bị chôn vùi? Đã bao lần tôi ước mình co thể là những cô, những bác sĩ đang ngày ngày đối diện với tử thần mang tên dịch bệnh, để san sẻ giúp họ ít khó khăn, đã bao lần tôi ước có thể bắt tóm gọn lại những kẻ vô tâm, vô nhân đạo nhẫn tâm bỏ rơi đứa trẻ vừa mới chào đời trước cổng chùa giữa đêm đông buốt giá và cũng có bao lần tôi muốn mình có thể cống hiến thật nhiều hơn nữa. Đơn giản bởi bản thân tôi luôn nghĩ rằng đó là nhiệm vụ mà ông trời đã giao phó cho tôi ngay khi tôi vừa hé mắt, đón ảnh sáng đầu tiên của thế giới. Sống đẹp giúp tôi cảm thấy hạnh phúc, an yên, để tôi nhận ra ngoài giông bão thì cuộc đời cũng lắm điều kì diệu. Sống đẹp giúp tôi trở thành mộ con người có giá trị với xã hội và toàn cầu như những nhà thiện nguyện, như tỉ phú bill gates đã giành hơn 50% tiền lương để gửi vào quỹ từ thiện. Sống đẹp làm tôi biết yêu thương nhiều hơn, biết yêu nụ cười của mẹ, bàn tay sần sùi của cha và kể cả từng giọt mồ hôi của bác lao công bên vệ đường. Nó giúp chính tôi trưởng thành hơn, là phiên bản hoàn thiện nhất của mình, hiểu được thời niên thiếu sôi nổi như thế là để con người ước mơ, dám làm , dám mạo hiểm, trở thành kĩ sư tâm hồn cứu rỗi thế giới hay trái tim đơn côi của những đứa trẻ. Chúng ta phải thừa nhận sự mong manh của linh hồn và ngắn ngủi của sinh mệnh để từ đó mà cố gắng hơn nữa, để đến cuối cùng sẽ chẳng phải lắc đầu khi nhìn lại. Một nhà thơ như Hàn Mặc Tử, người mà các nhạc sĩ sẵn sàng giành cho ông một bài hát sau khi ông tạm biệt trần thế vì căn bệnh khó chữa. Ông đã giã từ trần gian nhưng những gì ông để lại là cả một kho tàng thơ văn, một nỗi niềm sầu man mác, thức tỉnh lương tri bao thế hệ. Hay như nhạc sĩ Trần Lập, anh đã phải nói lời từ biệt với cuộc đời quá sớm, từ khi còn rất trẻ, ấy thế mà đến giờ phút này, trong trai tim ta anh vẫn luôn như đóa hồng rực cháy sáng mãi, âm nhạc của anh sẽ như nốt ngân của cuộc đời. Tất thảy những điều ấy chẳng phải là lí do để tôi, bạn và tất cả chúng ta sống đẹp, sống với những cảm xúc chân thật nhất và sự tràn trề nhiệt huyết trong lồng ngực hay sao. Tôi tin rằng khi bạn sống một cách thực sự có ý nghĩa, bạn sẽ không để lãng phí thời gian của mình, dồn toàn tâm toàn lực cho những điều diệu kì, thế giới nội tâm sxe chửng còn cô đơn , heo hút mà bù lại ấy là sự hạnh phúc, hạnh phúc vì được sinh ra, vì được dâng hiến. Khi sống đẹp, ta bỗng chợt nhận ra con đường mình đang đi thật đáng quý biết bao, dầu rằng từng con sóng đang dập dìu sóng vỗ hay nước mắt lăn trào trên hàng mi. Cuộc đời còn gì hơn thế
Ngược lại khi bạn lựa chọn cho mình lối sống như đã không còn tồn tại trong ánh mắt của người khác, ích kỉ, hẹp hòi hơn thì thực sự đó là sai lầm vô cùng lớn. Hoặc là đơn độc như loài cây xương rồng giữa sa mac, hoặc là yếu đuối, chìm vào bóng đêm của mộng cảnh, hoặc là đánh mất niềm tin vào những món quà mà thượng đế ban tặng và hoặc là sẽ mãi mãi thất bại, không chỉ thất bại ở công việc, đời sống nội tâm mà còn là các mối quan hệ xã hội. Chúng ta sống như thế chẳng khác nào tự đẩy mình vào lối đi không có chỗ thoát, phía trước chính là bức tường lớn, chúng ta đánh mất bản thân như thế để rồi nhận lại đâu đơn thuần là bao ánh mắt dèm pha, gục ngã, thậm chí là một dấu chấm hết cho cuộc đời. Có thể bạn vẫn còn ở đó, ở ngay trước mặt tất cả những ai đã và đang yêu thương bạn nhưng giường như nó sẽ trở nên vô nghĩa, hình bóng ấy như đnag dần chết đi,lu mờ trong tâm tưởng của đồng loại . ở xã hội này, không phải chỉ riêng bạn là có thể sống, sống an nhàn và vui vẻ, những người xung quanh, mọi sự vật sự việc đều có vai rò vô cùng quan trọng, chỉ khi đánh mất rồi ta mới hiểu ra kết cục đớn đau thế nào “ sống mà như qua đời” chính là vậy đấy. Tủi nhục, thất vọng, mệt mỏi, và thậm chí còn lựa chọn cách kết thúc cuộc đời, bỏ phí đi tinh hoa vạn vật. Publilius Syrus đã từng nói “Hãy sống qua mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng ta sống.” Ngay cả một nhà văn latinh từ hàng tẳm thế kỉ trước công nguyên đã có cái nhìn sâu sắc đến thế thì tại sao chúng ta lại không thể.
Khi thế giới đang ngày càng phát triển, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các trang thiết bị máy móc, con người dần thu mình lại, sống trong một thế giới ảo, ít giao tiếp, ít hi sinh và chỉ nghĩ đến việc hưởng thụ, đặc biệt nó diễn ra rất nhiều ở giới trẻ, một lối sống đầy sự tiêu cực. Đó là những điều đáng lưu tâm và để cho ta phê phán và lên án một cách mạnh mẽ. Tôi sẽ chẳng thể ép buộc các bạn làm bất cứ một điều gì, và hơn nữa chúng ta đều không có quyền để lựa chọn nơi mà mình sinh ra, màu da mang trên người nhưng ta có quyền làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, đáng tự hào hơn, ta có quyền tự vẽ nên cho mình một bức tranh cuộc đời sống động, đầy màu sắc, bỏi duy nhất một điều nó thuộc về chỉ riêng ta mà thôi.
Hôm nay, ngày mai, rồi mai sau nữa, thời gian vẫn cứ trôi đi như vòng tuần hoàn của nó, không mảy may dừng lại, chúng ta hãy cứ tiếp tục là con ong chăm chỉ hay những chú lĩnh chì dũng cảm, để làm ngát hương thơm cho mạch nguồn dạt dào của cuộc sống. Và rồi dẫu cho có đến lúc phải dùng lại, tan biến vào hư vô vẫn sẽ mỉm cười mãn nguyện mà chẳng tiếc nuối điều chi. Hãy sống để “ khi anh sinh ra mọi người khóc anh cười còn khi anh chết đi mọi người khóc còn anh cười”. Nhớ lấy điều hôm nay nhé!! | Nghị luận Hãy sống thật ý nghĩa, đừng bao giờ để sự tồn tại của bản thân trở nên vô nghĩa | 1,814 | |
Nghị luận lòng trung thực
Hướng dẫn
Sống trung thực là sống đúng với đạo đức con người
Mở bài:
Để thành công trong học tập và cuộc sống, con người cần rèn luyện cho mình nhiều đức tính tốt đẹp. Một trong những đức tính cần phải có đó là đức tính trung thực.
Thân bài:
Trung thực là gì?
Trung thực là tôn trọng sự thật, tôn trọng chan lí lẽ phải. trung thực còn là luôn sống ngay thẳng, thật thà và dám dũng cảm nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm.
Biểu hiện của lòng trung thực:
Người có đức tính trung thực luôn tôn trọng sự thật và lẽ phải. Họ không gian dối trong lời nói và hành động. Lúc nào họ cũng biết tuân thủ các nguyên tác, chuẩn mực, đạo lí ở đời.
Người có đức tính trung thực luôn sống hòa đồng với mọi người xung quanh và thường giúp đỡ người khác. Không bao giờ họ thù ghét hay nghi kị người khác.
Người có đức tính trung thực dũng cảm chống lại cái xấu, sự gian dối trong cuộc sống để bảo vệ người yếu đuối.
Học sinh cần làm gì để rèn luyện tính trung thực?
Để có tính trung thực, trước hết học sinh không ngừng phấn đấu trong học tập. Luôn có ý thức rèn luyện đạo đức, nhân cách, nhân phẩm trở thành người hữu ích cho xã hội.
Không gian dối trong học tập và không lừa dối người khác. Siêng năng, nhiệt tình trong công việc chung của trường học, lớp học. Sống hòa đồng, gắn kết với bạn bè, thầy cô.
Trong cuộc sống, vẫn còn có nhiều người không có đức tính trung thực. Họ thường hay nói dối và lừa dối người khác để trốn tránh trách nhiệm cuarm ình trong công việc hoặc mưu lợi cho riêng mình. những người như thế thật đáng chê trách.
Bài học:
Học sinh cần phải rèn luyện đức tính trung thực và thực hành đức tính ấy trong học tập và trong đời sống.
Thiếu đức tính trung thực học sinh không thể trở thành người tốt được.
Kết bài:
Trung thực là vể dẹp đầu tiên và quý báu trong kho tàng phẩm chất con người. Có được đức tính trung thực, chúng ta sẽ được mọi người kính trọng, yêu mến và giúp đỡ để thành công trong cuộc sống này. | Nghị luận lòng trung thực | 391 | |
Nghị luận lòng tự trọng: Phải chăng tự trọng là hạt giống để phát triển nhân cách?
Hướng dẫn
Lòng tự trọng
Mở bài:
Một người có nhân cách tốt đẹp phải là người có lòng tự trọng. Lòng tự trọng là một loại tài sản quý giá mà bất kì ai trong chúng ta cũng phải nỗ lực giữ gìn. Chúng ta có thể đánh mất mọi thứ từ tiền tài đến địa vị nhưng không thể để mất đi lòng tự trọng. Bởi thế, có người phát biểu rằng: Phải chăng tự trọng là hạt giống để phát triển nhân cách?
Thân bài:
Tự trọng là gì?
Tự trọng là coi trọng, giữa gìn phẩm cách, danh dự của mình. Tự trọng còn là tư cách và giá trị của bản thân, trong cách sống cách làm việc, trong mối, quan hệ mọi người. (Nghị luận về lòng tự trọng)
Người có lòng tự trọng là người như thế nào?
Người có lòng tự trọng luôn suy nghĩ, nhận thức đúng đắn, trung thực về bản thân và về những con người xung quanh, biết phân biệt đúng sai, phải trái cái gì nên làm và cái gì không nên làm. Dù trong bất cứ hoàn cánh nào, dù khó khan thiếu thốn đến đâu, người có lòng tự trong vẫn luôn giữ nếp sống trong sạch, thanh cao, không vì chút quyền lợi vật chất mà bán rẻ lương tâm, danh dự.
Hạt giống là mầm sống dùng để trồng. Có thể hiểu hạt giống là cơ sở ban đầu, là nền móng để phát triển.
Câu nói trên khẳng định ý nghĩa của lòng tự trọng đối với mọi thành công trong cuộc sống này. Nó chính là những mầm sống, những cở sở đầu tiên của mọi giá trị hiện hữu.
* Vai trò của lòng tự trọng trong việc phát triển nhân cách của con người và trong cuộc sống xã hội:
Lòng tự trọng là cơ sơ để tạo nên nhứng đức tính khác của con người:
* Trong lối sống của bản thân:
Người tự trong luôn sống có lí tưởng, luôn có khả năng nhận xét, đánh giá mình một cách đúng đắn. Họ biết rõ đâu là didemr mạnh, điểm yếu của mình đồng thời cũng thừa nhận giá trị bản thân mà không cần điều kiện khách quan, do vậy họ tự tin có ý thức tự lập và có khả năng đứng vững trên đôi chân của mình.
* Trong công việc:
Lòng tự trọng sẽ làm cho học sinh chăm chỉ học hành, nghiêm túc trong thi cử, biết tôn trọng thầy cô. Lòng tự trọng sẽ làm cho con người sống không tranh giành, không chen lấn, không xu nịnh, ăn đua, không làm ăn gian dối, không chạy theo thành tíc, từ đó tạo nên tính trung thực, thẳng thắng, liêm chính, chí công vô tư.
Người tự trọng sẽ làm việc nhiệt tình, luôn tìm tòi sáng tạo để thực hiện tốt nhiệm vụ, do đó làm việc sẽ có hiệu quả cao, đóng góp thiết thực trong cuộc sống.
Trong lãnh đạo, tự trọng được thể hiện trong sự kiên trì và nhất quán, trong nỗ nực giữ lời hứa của mình: do đó, sẽ tạo nên niềm tin, là chất kết dính các mối quan hệ giữa người với người.
* Trong mối quan hệ với mọi người:
Lòng tự trọng sẽ khiến ta luôn tôn trọng người khác đối sử tử tế và quan tâm tới mọi người, không đòi hỏi cho riêng mình, cũng từ đó ta sẽ có lòng vị tha nhân hậu.
Lòng tự trọng sẽ không cho phép con người sống ý lại, nhờ vả hèn nhát, từ đó mà con người tích cực chủ động trong cuộc sống, dung cảm đối đầu với những khó khan thử thách.
Có lòng tự trọng ta sẽ có ý thức tôn trọng phát luật, tôn trọng nội quy tôn trọng những quy định chung của xã hội, của cuộc sống, ngĩa là ta sẽ có ý thức tổ chức kỉ luật cao.
Lúc đất nước lâm nguy, người tự trọng sẽ không sống trên sự hi sinh của người khác, và do đó họ sẵn sằng hi sinh sương máu mình để thực hiện nghĩa vụ của người công dân đối với đất nước.
Như vậy lòng tự trọng chính là cơ sở để tạo nên những đức tính khác của con người.
Vai trò, ý nghĩa quan trọng của lòng tự trọng trong cuộc sống.
Lòng tự trọng là cốt lõi đạo đức muôn thửa của con người, dù trong thời đại nào, với bất cứ chế độ chính trị nào, với chuận mực đạo đức của giai đoạn nào, lòng tự trọng cũng được đề cao. Chỉ có ý thức và lòng tự trọng mới nâng chúng ta lên trên những nhỏ nhen của cuộc sống và những bão táp của số phận.
Thiếu lòng tự trọng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng: Luôn thấy cô đơn, lo lắng, căng thẳng, dễ gặp rắc rối với bạn bè cúng như trong mối quan hệ khác; giảm sức học và hiệu quả làm việc, dễ thất bại và tệ nhất mặc cảm với bản thân, tinh thần sa sút, thậm trí coshanhf vi gây hại đến cả bản thân mình.
Lòng tự trọng được đặt cao hơn giá trị khác của một người, cũng là yếu tố quan trọng mà nếu thiếu nó xã hội không thể tồn tại tốt đẹp.
Phê phán những kẻ đánh mất lòng tự trọng, những kẻ quá tự tôn kiêu, tự mãn tự ti.
Tự tôn, tự mãn, tự kiêu đều là tự đề cao mình quá mức, từ đó sinh ra tư tưởng về mình, dấn đến lối sống phách lối, hợm mình khoe khoang, loáng làm mọi người xa lánh.Khi tự hài lòng rằng mình đã đạt được mục đích, con người sẽ hết nhiệt tình, hết sức phấn đấu, bỏ bê học hành, chẳng màn thách thức, cuộc sống sẽ dừng lại, sẽ bị lạc hậu, là dấu hiệu của sự thất bại.
Liên hệ bản thân và nêu phương hướng hành động:
Xác định lòng tự trọng là giá trị quan trọng nhất trong cuộc sống. Cương quyết không làm điều gì tổn hại đến thanh danh; không bị khuất phục trước cường quyền, bạo lực; không bị mua chuộc bởi tền tài, danh vọng.
Luôn có ý thức rèn luyện để chở thành người tự trọng bằng cách học hỏi và làm theo những người có nhân cách lớn, những người chính trực, dũng cảm, quyết đoán, kiên định.
Kết bài:
Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào lòng tự trọng của bạn cũng được công nhận hoặc đề cao. Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn nếu bạn chỉ là một người bình thường. Điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó trước khi có những thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của mình lên (Bill Gates). | Nghị luận lòng tự trọng_ Phải chăng tự trọng là hạt giống để phát triển nhân cách_ | 1,173 | |
Nghị luận lối sống giản dị
Hướng dẫn
Cần xây dựng một lối sống giản dị trong thời đại ngày nay
Mở bài:
Dân tộc ta từ xưa đến nay luôn đề cao đức tính giản dị của con người. Nó không những là một phẩm chất cao quý mà còn là lối sống, lối ứng xử in đậm trong văn hóa của người Việt.
Thân bài:
Giản dị là gì?
Giản dị là một lối sống không trọng vật chất của con người. Giản dị biểu hiện ở lối sống đơn giản, không cầu kì, xa hoa, không phô trương hay lãng phí của cải vật chất. Giản dị còn thể hiện ở tinh thần yêu chuộng cuộc sống bình dị, gần gũi với thiên nhiên. Giản dị còn biểu hiện ở lời ăn tiếng nói hiền hòa, điềm đạm, có tình, có nghĩa của con người.
Biểu hiện của lối sống giản dị trong cuộc sống
Người giản dị thường xây dựng một cuộc sống kín đáo, hiền hòa. Họ thích ở làng quê hơn ở phố. Người giản dị cũng yêu thích những cái gì nhỏ nhắn, mộc mạc, đơn sơ. Họ không thích cầu kì một chác hình thức hay lãng phí một cách không cần thiết.
Người giản dị không những giản dị trong cách xây dựng không gian sống. Họ còn giản dị cả trong lời nói, ăn mặc, công việc và ứng xử.
Người giản dị thường ăn nói điềm đạm, ứng xử lịch sự, nhã nhặn. Họ ít khi có lời gắt gỏng hay xung đột với ai. Họ lấy nghĩa tình làm nguyên tắc ứng xử của mình. Những bất đồng ít khi trở thành xung đột, dĩ hòa vi quý.
Một người giản dị thường không khoa trương, không dùng lời lẽ xa hoa, bóng bẩy. Lời nới của họ đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, truyền đạt đúng và đầy đủ thông tin mà họ muốn nói.
Trong ăn mặc, họ ít khi cầu kì. Cuộc sống giản đơn như đồng quê cây cỏ. Ăn uống đối với họ cũng hết sức đạm bạc. Họ cũng không thích những bộ trang phục lòe loạt, kiểu cách. Trang phục của họ thường rất bình dị, hòa hợp với hoàn cảnh xung quanh.
Trong công việc, họ cầu tiến nhưng không quá tham vọng. Họ sẵn sàng đối đầu với khó khăn thử thách để hoàn thành tốt công việc. Ít khi nào ta thấy họ bỏ cuộc hay chấp nhận thất bại một cách dễ dàng.
Sự giản dị không chỉ thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày, từ cách ăn mặc, lời nói, cử chỉ, hành động, trong công việc, trong giao tiếp mà còn cả ngay từ trong suy nghĩ. Nhiều khi sự giản dị thể hiện ngay trong việc con người sống với những gì vốn có của mình, không hoa mĩ, lòe loẹt, chạy theo phong trào, chạy theo mốt, Giản dị ở đây có thể hiểu như là lối sống chân phương vậy.
Đối với mọi người xung quanh, họ hết sức niềm nở, thân ái. Bởi người sống giản dị rất quý trọng tình nghĩa. Một người biết suy nghĩ những điều giản dị sẽ biết phải làm gì để có được điều đó, biết cách sống gần gũi với những người xung quanh. Đối với họ, sự hòa hợp của bản thân với xung quanh quan trọng hơn là nổi bậc.
Người có tính giản dị thường sống tiết kiệm, sử dụng đồng tiền có mục đích đúng đắn. Họ nhìn nhận sự việc đúng mức, không quan trọng hóa vấn đề. Đó là tất cả những đặc điểm nổi bật mà bạn có thể tìm thấy ở một con người giản dị thật sự. Bởi thế mà từ xưa, giản dị luôn là lối sống của các bậc hiền nhân.
Nhưng sự giản dị không thể gò ép, giả dối. Giản dị phải bắt nguồn từ một sự chân thành và những biểu hiện cũng hết sức chân thành,.Không thể sống giản dị một cách gượng ép, khiên cưỡng. Trước sau gì những người xung quanh cũng sẽ nhận ra điều đó. Giản dị có thể thuộc về bản tính sẵn có. Nhưng phần nhiều là do quá trình rèn luyện trong cuộc sống để có được.
Giản dị không chỉ là một cách sống, nó còn là một quan niệm sống. Từ xưa, lối sống “thanh bần lạc đạo” vốn được thực hành như một triết lí sống của con người. Nguyễn Bỉnh Khiêm xa rời vinh hoa quan trường về mở trường dạy học bên dòng sông Tuyết Giang (sông Hàn), sống an bần đến cuối đời. Nguyễn Khuyến cũng rời chốn phồn hoa về ẩn cư tại quê nhà, vui thú điền viên. Lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng là một tám gương sáng ngời về lối sống giản dị, đáng để chúng ta kính trọng, học tập và làm theo.
Tại sao sống phải biết giản dị?
Sống giản dị là một lối sống hết sức lành mạnh và tích. Một lối sống không trọng vật chất, thích những điều đơn giản sẽ mang lại cho con người sự trong sạch trong tinh thần.
Lối sống giản dị mang lại cho con người một cuộc sống thanh bình, êm ả. Con người không bị ràng buộc bởi những tiện nghi. Tinh thần lúc nào cũng an nhàn, thoải mái.
Tính giản dị rất cần thiết trong cuộc sống. Tính giản dị khiến ta tiết kiệm thời gian, không mất thời gian vào các việc vô bổ mà cầu kì.
Tính giản dị khiến mọi người xung quanh tôn trọng ta. Sống giản dị giúp biết cách biết cách ứng xử hiền hòa trước cuộc sống. Ta trở nên gần gũi, chan hòa với cuộc sống, với mọi người xung quanh mình. Người có lối sống giản dị luôn được người khác yêu mến và kính trọng.
Phải làm gì để hình thành và rèn luyện lối sống giản dị?
Mục đích cuối cùng của quá trình học tập và lao động là tạo ra của cải và có được hạnh phúc. trong đó, được sống hạnh phúc là cái con người luôn khao khát có được. Muốn xây dựng và rèn luyện lối sống giản dị, trước hết phải hướng đến những giá trị chân thực ấy trong cuộc sống.
Biết quý trọng tình nghĩa, quý trọng những người xung quanh mình. Vật chất làm đẹp không gian sống nhưng chính tình cảm thân thiện, mến yêu mới làm đẹp con người.
Phải có nghị lực lớn mới dám sống cuộc sống giản dị, đơn sơ. Bởi con người luôn bị lôi cuốn bởi vật chất. Tâm lí xã hội cũng lấy vật chất làm thước đo giá trị cuộc sống con người. Vượt lên trên tâm lí ấy ta mới có đủ dũng khí để sống cuộc sống đúng nghĩa.
Quan trọng hơn tất cả, muốn hình thành và xây dựng lối sống giản dị trong cuộc sống này, con người phải có một tâm hồn cao đẹp, một trí tuệ uyên bác, một nghị lực mạnh mẽ để vượt lên trên mọi cám dỗ của cuộc đời, không tham cao sang, quyền quý, trọng tình cảm, thiết tha với các giá trị truyền thống của dân tộc mới có thể có được một lối sống giản dị đích thực.
Các bậc hiền nhân luôn sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên là cuộc sống nhằm để di dưỡng và thanh lọc tinh thần.
Phê phán những người có lối sống xa hoa, lãng phí:
Trong cuộc sống tiện nghi, nhiều người chỉ biết quý trọng vật chất xa hoa mà quên tình bạc nghĩa. Họ coi giá trị vật chất là trên hết, bất chấp đạo lí, sẵn sàng chà đạp lên tình người để có được nó. Có nhiều người khác lại phô trương, khoe mẽ quá mức hoặc xa hoa lãng phí của cải một cách không cần thiết. Những người như thế thật đáng chê trách.
Bài học:
Sống giản dị mang lại cho con người thư thái trong tinh thần. Đủ nghị lực để vượt lên trên vật chất, đạt đến lối sống thanh cao, giản dị thể hiện vẻ đẹp cao quý của con người. Tuy nhiên, không nên khắt khe, hay xem thường giá trị của vật chất.
Kết luận:
Sống giản dị là sống như cha ông ta đã từng sống. Đó không phải là cách ứng xử của con người khi nghèo khổ mà đó là cách sống cao cả, nhằm hướng đến xây dựng một lối sống thắm đượm nghĩa tình, thể hiện sự quý trọng của con người đối với vật chất và sức lao động con người. | Nghị luận lối sống giản dị | 1,437 | |
Nghị luận Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh
Hướng dẫn
Nghị luận Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh
Hoài Thanh được biết tới là một nhà phê bình văn học nổi tiếng trong nền văn học Việt nam. Và Một thời đại trong thi ca chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu ghi lại những phê bình bình phẩm của ông đối với những tác phẩm và thành tựu của thơ mới. Tác phẩm để lại cho người đọc nhiều ấn tượng với lối nói vừa sâu sắc lại đầy chất thơ của ông
Nói về thơ mới tác giả đã đưa ra những dẫn chứng lí lẻ để xác đinh nhưng gì thuộc về thơ mới hay nói cách khác đó chính là tinh thần thơ mới.Và để làm được điều đó thì người phê bình phải biết so sánh giữa các tác phẩm với nhau nhằm làm nổi bật những luận điểm xác đáng và như hoài Thanh đã nêu “ Hôm nay đã được phơi khai thừ hôm qua trong cái mới vẫn còn rơi rớt lại cái cũ”.
Điều tiêu biểu nhất trong thơ mới mà khiến nó đánh dấu sự phát triển mới của Thơ Mới chính là cái tôi cá nhân. Đó là sư khác nhau giữa cái tôi và cái ta
Thơ cũ thiên về cái ta khi mà nhân vật trữ tình không dám nói lên cái tôi cá nhân và hầu như là nói đến cái ta chung ấy. Hoài Thanh dựa vào không chỉ văn học mà còn có lối sống của con người để nhận định rằng:
Trái ngược lại thơ Mới hình ảnh tiêu biểu chính là cái tôi cá nhân nghĩa là mọi vấn đề mọi hành động đều liên quan tới cá nhân. “Trên đại thể trên tất cả tinh thần thời nay hay tinh thần Thơ Mới gồm lại trong chữ “tôi” – ý thức cá nhân của mỗi người và khi thơ mới xuất hiện nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ sở này” con người trong thơ Mới như Xuân Diệu đã thể thấy được một tâm hồn ham sống một con người ham sắc tuổi trẻ và nhựa sống và con người ấy chưa bào giờ quên rằng chính bản thân mình muốn điều đó.
Sự tiếp cân cái tôi lúc ban đầu còn bỡ ngỡ nhưng suy cho cùng thì bầy giờ cái tôi đó bắt đầu tìm được hướng đi cho bản thân đã dần lớn mạnh và có chỗ đứng khẳng định vi thế của mình
Và có một điều giống như thơ cũ trong Thơ Mới các thi nhân như chìm đắm trong cái tôi ấy nên đã rơi vào bi kịch cô đơn. Xuân Diệu vẫn nhắc đến những cái cô đơn, lạnh lẽo trong thơ mình.
“ Ta hãy thoát lên tiên cùng Thế lữ, ta cùng phươu lưu trong trường tình của Lê Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mạc Tử, ta đắm say cùng Xuân Diệu nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng lại tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ, ta ngẩn ngơ trở về hồn ta cùng Huy Cận”.
Qua những lời nhận xét đáng quí của Hoài Thanh chúng ta có thể thấy được bước chuyển mình từ thơ cũ sang thơ Mới. Ở đó cái ta của thơ cũ đã chuyển thành cái Tôi cá nhân. Và chất chứa trong thơ Mới cũng không thể thiếu được những vấn đề nội hàm khiến cho những thi sĩ từ cái hạn chế của bản thân mà tạo nên bản sắc riêng cho chính bản thân mình.
Nguồn: Bài văn hay | Nghị luận Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh | 613 | |
Đề bài: Nghị luận những con người không chịu thua số phận
Bài làm
Trước hết ta phải hiểu thế nào là “không chịu thua số phận”?Đó là những con người không chấp nhận mình mãi là người tàn phế,vô dụng,không học tập, không đóng góp gì cho xã hội.
Không mấy người Việt Nam không biết đến anh Nguyễn Ngọc Ký bị liệt cả hai tay đã kiên trì luyện tập biến đôi chân thành đôi bàn tay kỳ diệu viết những dòng chữ đẹp,học tập trở thành nhà giáo,nhà thơ. Anh Trần Văn Thước bị tai nạn lao động liệt toàn thân.Không gục ngã trước số phận anh can đảm tự học và đã trở thành nhà văn. Không thể nói hết những gian nan,những giọt nước mắt đau khổ của họ trong những ngày tự mình vượt qua bệnh tật để khẳng định giá trị của mình, để chứng tỏ bản thân tàn nhưng không phế.Vào năm 2005 cả nước biết đến một Nguyễn Công Hùng (xã Nghi Diên,huyện Nghi Lộc,Nghệ An ).Từ khi sinh ra đã mắc chứng bại liệt. Anh còn bị căn bệnh viêm phổi hành hạ làm cho sức khoẻ suy kiệt.Vậy mà anh đã không gục ngã.Chàng trai 23 tuổi bại liệt,chân tay teo tóp, trọng lượng chỉ 12kg và gần như mất hoàn toàn khả năng vận động đã trở thành một chuyên gia tin học và được tôn vinh là Hiệp sỹ công nghệ thông tin năm 2005 vì những đóng góp không vụ lợi của mình cho cộng đồng.Tháng 5 -2005 anh được trung tâm sách kỷ lụcViệt Nam đưa vào “Danh mục kỷ lục Việt Nam ”về người khuyết tật bị bại liệt toàn thân đầu tiên làm giám đốc cơ sở đào tạo tin học và ngoại ngữ nhân đạo…
Điều gì khiến những con người tật nguyền ấy có thể vượt qua bệnh tật và khẳng định được bản thân mình?Họ đã tạo dựng cuộc sống từ muôn vàn khó khăn,gian khổ, thử thách bằng sự kiên trì,nhẫn nại và quyết tâm chiến thắng số phận của mình.Họ đã không mất đi niềm tin yêu vào cuộc sống,không gục ngã trước những đau đớn,họ dũng cảm,tự tin đứng lên để sống bằng nghị lực,ý chí,khát vọng và sức sống tinh thần mạnh mẽ của họ.Song bên cạnh đó còn có những nguyên nhân khác.Đó chính là sự động viên, khích lệ,giúp đỡ của bạn bè,của người thân,là khát khao không muốn người thân của mình đau khổ,thất vọng và còn nhờ dòng máu kiên cường và truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Những con người vượt lên số phận đứng lên bằng nghị lực,khát vọng và ý chí của mình khiến em vô cùng khâm phục.Chính những tấm gương về họ đã xây đắp những ước mơ,hoài bão trong em, dạy em phải biết vượt qua những khó khăn trong cuộc sống để thực hiện những khát khao của mình.
Những người không chịu thua số phận,những con người tàn mà không phế thực sự là những tấm gương cho lứa tuổi học sinh chúng em,khích lệ bản thân mỗi người cố gắng phấn đấu học tập,rèn luyện để trở thành những con người có ích cho xã hội. | Nghị luận những con người không chịu thua số phận | 540 | |
Đề bài: Nghị luận suy nghĩ về Bác Hồ
Bài làm
Trước hết ta thấy Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại,anh hùng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.Bác là người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận cứu nước đầy gian khổ, lãnh đạo dân ta tới chiến thắng,khai sáng nền độc lập tự do ở đất nước Việt Nam.Người bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường đi và tương lai cho đất nước,giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.Người đã dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi đói nghèo,đi lên xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp.Tư tưởng của Người có giá trị vô cùng to lớn đối với Cách Mạng Việt Nam,nhân dân Việt Nam.Người đã hy sinh cả cuộc đời vì nền độc lập tự do của dân tộc,Người yêu nước thương dân sâu sắc,bởi vậy triệu triệungười dân Việt Nam đều là con cháu của Người.Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước nhưng cách đối xử của Bác đối với cá nhân từng người vô cùng thân mật và gần gũi:
“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người.”
(Tố Hữu )
Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam lại có một vị lãnh tụ giản dị và gần gũi với mọi người như thế:Sống trong ngôi nhà sàn nhỏ,ăn những món ăn dân dã, mặc áo bà ba nâu và tư trang chỉ là một chiếc rương nhỏ và mấy bộ quần áo bạc màu …Có lẽ bởi vậy mà với người Việt Nam, Bác Hồ không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là vị lãnh tụ vĩ đại được mọi người dân Việt Nam kính yêu và ngưỡng vọng.
Bác Hồ còn được biết đến ở cương vị một danh nhân văn hoá thế giới.Bác dã từng là chủ bút tờ báo “Người cùng khổ ”ở Pháp, đã từng viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”gây tiếng vang lớn.Người còn là nhà văn,nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam với những tập truyện ký bằng tiếng Pháp,“Tuyên ngôn độc lập”và“ Nhật ký trong tù”cùng rất nhiều những vần thơ khác nữa…Bác Hồ đã từng đi khắp các châu lục trên thế giới,thông thạo nhiều thứ tiếng,am hiểu nền văn hoá của nhiều dân tộc.Bác đã rèn giũa và tạo dựng cho mình một phong cách riêng, kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại,thanh cao và giản dị,giữa tinh hoa văn hoá nhân loại và tinh hoa văn hoá Việt Nam.
Mặc dù Bác đã đi xa nhưng trong lòng mọi người dân Việt Nam Bác vẫn là người đẹp nhất:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.
Càng tìm hiểu về cuộc đời vĩ đại và cao đẹp của Bác,em càng kính yêu và tự hào về Bác hơn.Điều đó khơi dậy trong em mong muốn học tập, phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện để trở thành con người có ích cho xã hội.
Bác là tinh hoa khí phách của dân tộc,cuộc đời của Bác là một tấm gương sáng. Bởi vậy mà chúng ta cần “Sống, chiến đấu,lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại ”. | Nghị luận suy nghĩ về Bác Hồ | 554 | |
Nghị luận sách vở là người thầy vĩ đại
Hướng dẫn
Từ khi có văn minh, sách không ngừng biến đổi từ thế kỉ này đến thế kỉ khác. Trải qua những năm tháng sách càng phát triển hơn với những họa tiết màu sắc tân tiến. Với những trang viết, những bài học bổ ích, khiến người đọc càng thêm thích thú và chú ý đến sách hơn và nâng tầm quan trọng của sách với con người. Bởi thế, tục ngữ có câu:“Sách là ngọn đèn bất diệt của trí tuệ con người”.
Trải qua nhiều năm lịch sử con người lại càng gắn bó với sách và coi sách như người bạn thân thiết không thể thiếu trong cuộc sống. Có thể nói sách giúp biết về những đất nước trên thế giới, hiểu biết những phong tục tập quán, cuộc sống của con người ở khắp mọi nơi. Do thời gian và các tiết học không có thể đủ triền tải được những cuộc sống của họ và các phong tục hay các di tích lịch sử nên thường thì thầy cô chỉ có thể truyền tải được 50% bài học đang dạy và không thể tiếp thu được nhiều kiến thức bên ngoài cho học sinh. Vì thế chúng ta nên tìm hiểu một chút gì về cuộc sống của nước khác hoặc xem trên các báo, giúp phát triển trí tuệ một cách toàn diện.
Sách có rất nhiều loại đa dạng và chúng ta phải biết chọn lọc đọc những điều bỏ ích cho học tập chứ đừng học những điều bạo lực hay nhưng chuyện nhảm nhí nhé. Ví dụ: sách Lịch sử sẽ bao quát những phát kiến của các nhà thám hiển và các bậc anh hùng, ông cha đã xây dựng đất nước như thế nào? Sách địal í sẽ giúp bạn hiểu biết về thieenn nhiên, phong cảnh, địa hình, địa chất của đất nước và thế giới. Sách văn học sẽ giụp bạn khám phá những cảm xúc mãnh liệt ẩn sâu trong tâm hồn mình, làm bạn biết trân trọng cuộc sống và yêu thương con người nhiều hơn. Mỗi quyển sách ý nghĩa giúp tâm hồn ta dần lớn lên.
Bạn thử nghỉ xem nếu không có sách, con người sẽ sống cuộc sống nhàm chán này như thế nào. Tri thức sẽ dần bị lãng quên. Trẻ em khi sinh ra sẽ không ai biết nhân loại đã làm ra những thành công tưởng rằng không thành công, xã hội sẽ đi lùi phát triển, không còn hiểu biết mà ngược lại với sự thông minh và phát triển. Sách là ngọn đèn sáng bất diệt của trí tuệ. Đừng để ngọn đèn đó phải tắt chỉ vì sự lười biếng hoặc thờ ơ của bạn đối với sách.
Đọc sách phải biết chọn lọc. Cái nào tốt bổ ích thì đọc. Cái gì không tốt thì nhất quyết không đọc. Hãy đọc những quyển sách tốt và bổ ích giúp tư duy bạn phát triển và sau này làm những việc tốt cho xã hội. Sách là người bạn trung thành của con người là lúc bạn biết giữ gìn và trân trọng. Khi bạn viết chọn lọc và sưu tầm tiềm tòi những sách bổ ích, có ích và loại bỏ sách không bổ ích có nội dung không tốt, xem sách như người bạn rất cần thiết cho con người.
Sách vẫn mãi phát triển và trường tồn khi bạn nhận ra những gì tốt và xấu chứ không phải một nắng một chiều mà nhận ra đâu. Sách vẫn sẽ là người bạn thân thiết của con người trong việc tìm kiếm tri thức và tư duy nắm được những điều đó sau này bạn sẽ giải thoát được cho xã hội và bạn cho sau này. | Nghị luận sách vở là người thầy vĩ đại | 640 | |
Nghị luận tinh thần vượt lên chính mình trong cuộc sống
Hướng dẫn
Chiến thắng nghịch cảnh là chiến thắng vĩ đại
Mở bài:
Cuộc sống luôn đặt ra cho chúng ta những trở ngại để vượt qua. Mỗi khi vượt lên một khó khăn nào đó, ta được nhận về một thành quả nhất định. Không có thành công nào đến với ta mọt cách dễ dàng. Càng khó khăn, cần phải quyết tâm cao hơn để tồn tại.
Thân bài:
Vượt lên chính mình nghĩa là gì?
Vượt lên chính mình là vượt qua những giới hạn của bản thân trên nhiều góc độ, khách quan cũng như chủ quan. Vượt lên số phận là nghị lực vượt qua nghèo khổ, bệnh tật, những khó khăn, nghịch cảnh, thử thách, những đau buồn trong cuộc sống.
Vượt lên trên chính mình là chiến thắng những ham muốn cá nhân: ham chơi, ham danh lợi, đắm chìm trong tình yêu…;chiến thắng những tật xấu của bản thân: ích kỉ, ghen tị, thù hận, kiêu căng, tự ti, mặc cảm, lo âu, sợ sệt, nóng nảy…Vượt qua những hạn chế về trí tuệ, về năng lực của bản thân: thiếu tự tin, ít nói, vụng về trong giao tiếp…
Cần phải là gì để có đủ nghị lực vượt qua chính mình?
Cuộc sống luôn đặt ra cho chúng ta những khó khăn thử thách. Bởi thế để có nghị lực và niềm tin vượt qua chính mình ta cần phỉ có tầm nhìn xa, có hoài bão lớn, có chí hướng cao đẹp, quyết tâm mạnh mẽ, có nghị lực phi thường để thực hiện những gì mình thích, hoàn thành ước mơ của mình. Luôn kiên trì,nhẫn nại để theo đuổi và đạt bằng được những mục tiêu trong cuộc sống, biết biến những điều không may thành một động lực mạnh mẽ, dũng cảm vượt lên tất cả để làm được những gì mà trước đó không ai tin là có thể làm được.
Có tinh thần lạc quan, luôn tin tưởng ở tương lai. Sau những thất bại và mỗi lần vấp ngã biết đứng lên vững vàng hơn, mạnh mẽ hơn, tự tin hơn để cảm nhận và khám phá cuộc sống, tiếp tục thực hiện ước mơ và sẵn sàng đương đầu với thử thách mới. Biết biến những sai lầm thành một cơ hội mới mẻ, biết rút ra những bài học, những kinh nghiệm vô giá để khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn của mình.
Không quá tự ti, mặc cảm, hay phủ nhận những yếu kém, sai lầm của bản thân mà phải dũng cảm nhìn nhận để hạn chế, khắc phục tiến tới chiến thắng nó.
Một khi ta vượt qua được chính mình ta sẽ hoàn toàn làm chủ bản thân, làm chủ sự nghiệp và các giá trị tốt đẹp trng cuộc sống. Người vượt qua được những hạn chế của bản thân sẽ đạt được nhiều thành tựu, đem lại niềm vui, hạnh phúc cho bản thân, gia đình và cho xã hội, ược mọi người kính trọng, tin yêu và giúp đỡ.
Trong cuộc sống vẫn còn có rất nhiều người sống hèn nhát, yếu đuối, ngại khó và sớm đầu hàng số phận, chấp nhận một cuộc sống nhỏ bé. Họ luôn tự ti mặc cảm, không dám tin vào bản thân mình. Sống như thế sẽ trở thành gánh nặng có gia đình, cho xã hội. Những người như thế thật đáng chê trách.
Học tập những tấm gương vượt khó. Nhìn lại những hạn chế của bản thân và quyết tâm vượt lên trên những hạn chế đó để đạt được những mục tiêu đề ra. Đó là sống có nghị lực, sống mạnh mẽ và hữa ích. Chiến thắng bản thân là chiến thắng hiển hách nhất.
Kết bài: | Nghị luận tinh thần vượt lên chính mình trong cuộc sống | 631 | |
Nghị luận Tinh thần đoàn kết
Hướng dẫn
Sau khi đọc xong, em thấy bài rất hay, cũng như các bạn trên thì nó khá dài.
-Hết gòi ahihi | Nghị luận Tinh thần đoàn kết | 26 | |
Nghị luận Tuổi trẻ là tương lai của đất nước
Bài viết văn của bạn Minh Hạnh đến từ Hà Nội gửi đến ban biên tập website.
Bài làm
“Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tâp
Mai sau cháu giúp nước non nhà.”
Những dòng thơ Bác Hồ viết dành cho thanh thiếu niên that giản dị nhưng ẩn chứa biết tình yêu của Người .Tuy là một vị lãnh tụ với bộn bề công việc cách mạng, việc nước, viếc dân nhưng Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thế hệ trẻ chúng ta.Bở lẽ, đối với Người : “Tuổi trẻ là tương lai của đất nước .”
“Tuổi trẻ tựa một cơn mưa rào , tuy bị cảm những vẫn muốn tắm lại lần hai”, đối với những ai đã từng được ‘con mưa’của tưổi trẻ ghé thăm , hẳn phải mang cho mình biết bao sự luyến tiếc về quẳng thời gian xuân sắc ấy. Vậy tuổi trẻ là gì mà khiến cho ta phải thực sự nuối tiếc như vậy ?T uổi trẻ hôm nay là tôi, là bạn, là những anh chị đang có mặt trên giảng đường Đại học, đang hoạt động bằng cả tâm huyết để cống hiến sức trẻ với những đam mê cùng lòng nhiệt tình bốc lửa. Tuổi trẻ tốt thì xã hội tốt, còn xã hội tốt sẽ tạo điều kiện cho tầng lớp trẻ phát triển toàn diện, sinh ra những người con có ích cho đất nước, đó là điều tất yếu, hiển nhiên mà ai cũng biết.T uổi trẻ – tuổi tràn đầy nhiệt huyết – chứa đầy khoảng khắc đẹp có thể qua đi nhưng sẽ không bao giờ trở lại được.Tuổi trẻ chính là quẳng thời gian mà chúng ta tràn trề sinh lực, trí tuệ , ôm cho mình nhiều hoài bão và tham vọng nhất.Nó tựa như ‘ trạm dừng chân’ giữa đại lộ cuộc đời để ta chuyển bị kỹ lưỡng những hành trang cho ta hòa nhập vào cuộc sống, sẵn sàng cho sự phát triển trong hành trình giữ gìn và dựng xây Tổ Quốc.Trong quẵng thời gian này , con người chúng ta dường như được ‘lột xác’ , không phải là việc ‘thay da đổi thịt’ bình thường , những suy nghĩ cũng như tính cách ta sẽ được chín chắn hơn do ta phải va chạm với những gian nan của cuộc sống ,vì thế nó được coi là cánh cửa dẫn đến sự trường thành.
Nghị luận Tuổi trẻ là tương lai của đất nước
Tương lai đất nước là gì ? Tại sao tuổi trẻ lại chính là tương lai của đất nước mà không phải là những lứa tuổi khác? Trước tiên , ta cần hiểu ‘Tương lai của đất nước’ là gì. Đó chính là cuộc sống sau này của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và hiện tại chính là ‘nền móng’ cho tương lai,hiện tại của đất nước ta ra sao thì đó là hình ảnh của đất nước ta của sau này.Hiện tại của đất nước ta là các thế hệ trẻ đang phấn đấu học hành, tích cực rèn luyện, thì trong tương lai không ca, các thế hệ trẻ ấy sẽ mang đất nước đến một tầm cao mới, vậy nên chúng ta có câu: “ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, thế hệ trẻ luôn song hành cùng với tương lai của đất nước như một luật nhân quả khó thể tách rời.Nhưng sao chỉ trẻ em mới là tương lai đất nước, sao không phải là người lớn mới là tương lai ? Chúng ta cần hiểu đơn giản rằng, một vị vua già không thể giao phó đất nước cho một người cùng tuổi để cai trị đất nước, ông sẽ chỉ trao cho hoàng tử trẻ xứng đáng nhất, bởi lẽ chàng trai trẻ ấy sẽ dám bứt phá, dám lăn xả , dám đương đầu với những thử thách để đưa đất nước nên một tầm khác, cao hơn và tươi mới hơn. Và trong mỗi suy nghĩ của thế hệ trẻ-những tấm chiếu chưa từng trải , sự bứt khá luôn tạo ra một thế lực quá ư cuốn hút lôi kéo ta dấn thân vào, bất chấp kết quả có tồi tệ ra sao. Không những thế , theo quy luật tự nhiên của cuộc sống , sự nối tiếp giữa các thế hệ đi trước và sau như một ‘cuộc truyền đuốc trường kỳ’, khi thế hệ đi trước đã hoàn thành công cuộc và nhiệm vụ của mình, ngọn lửa rực đỏ ấy sẽ được truyền đến thế hệ sau rồi tiếp sau nữa,.. cho đến khi mang đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu như ược nguyện của Bác Hồ.Đó chính là nhiệm vụ của mỗi chúng ta.
Tuổi trẻ chúng ta đã đóng góp gì cho Tổ Quốc Việt Nam ? Những năm tháng trường kì xây dựng đất nước của các vua Hùng hay đến ngàn năm bị các nước đế quốc xâm lược , tuổi trẻ luôn là ‘ngôi sao sáng’ trong mọi hoạt động vì Tổ Quốc.Ta nhỡ đến người con gái Võ Thi Sáu kiên cường bất khuất , nguyện một lòng cho Tổ Quốc quyết sinh. Tuy ra đi ở tuổi 19 tươi đẹp, nhưng trong mỗi trái tim của triệu người dân đất Việt , chị vẫn luôn sống mãi , vần luôn là nữ du kích dũng cảm của dân tộc.Hoạt động cách mạng từ những năm tháng 14 tuổi , đến năm 17 , chị đã bị bọn Pháp bắt về giam giữ tại ngục tù Bà RỊa .Nơi đây chúng tra tấn chị hết sức dã man để khai thác thông tin của đất nước ,nhưng với tinh thần quả cảm cùng sự kiên cường, chị vẫn giữ nguyên ý chí của nữ anh hùng Việt Nam. Trong 2 năm quyết không cho bọn Pháp một chút thông tin tối mật nào của đất nước , chị đã bị đày ra Côn Đảo xử bắn.Trong ánh nắng mùa xuân nhẹ nhàng, nữ anh hùng Võ Thị Sáu đã hy sinh một cách lạc quan khiến nhiều người phải kinh ngạc mà thán phục , trên người cô gái ấy vẫn vương mùi bồ kết , mái tóc đen nhánh được chị cài bông hoa bưởi trong trắng như thể , đôi với chị ,cái chết chỉ là một chuyên đi xa xôi bí ẩn ,một cuộc dạo chơi đến một thế giới khác.Chính sự hy sinh anh dũng ấy đã truyền cảm hứng đến biết bao thế hệ trẻ chúng ta rằng: “Chết đi vì đất nước là một cái chết vinh quang.”Những năm tháng chiến tranh ấy , thanh niên đất nước đã dâng hiến cả tuổi trẻ cho Tổ Quốc thì đến khi đất nước hòa bình, thế hệ trẻ chúng ta phải biết cùng nhau giữ gìn và phát huy truyền thông tốt đẹp của dân tộc.Do có rất nhiều ới lợi thế năng động, sáng tạo, giàu nhiệt huyết, không ngại ngần khó khăn, tuổi trẻ là lớp người có khả năng học tập, tiếp nhận trình độ khoa học công nghệ kĩ thuật tiên tiến của các nước trên thế giới và vận dụng hiệu quả vào tình hình thực tiễn đất nước. Nhiều thanh niên Việt Nam đã không ngại khó khăn, ngày đêm ra sức học tập, sáng tạo và thành công rực rỡ trên con đường khởi nghiệp làm giàu..Thế hệ trẻ chúng ta đã khẳng định mình trong việc giao lưu quốc tế , xuất hiện sớm những nhà ngoại giao trẻ , những nhà kinh doạnh thành công . Chúng ta biết làm ra những điều vài chục năm trước tưởng chừng chỉ là hư ảo, khó có thể thành hiện thực như : công nghệ điện tử, công nghê thông tin, … chúng ta đã đưa tên tuổi Việt Nam đến với bạn bè năm châu qua những cuộc thi quốc tế như:Thi Olympic Quốc tế, cuộc thi hoa hậu ,… Không những thế, tuổi trẻ còn là lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước. Hằng năm, lớp lớp thanh niên đã và đang hăng hái lên đường nhập ngũ, đi thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng ca cả đối với Tổ Quốc. Như Bác Hồ từng có câu nói: “Đâu cần thì thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, tuổi trẻ ngày nay luôn tham gia vào các phong trào tình nguyện, đem sức trẻ dẻo dai giúp đỡ nhân dân các vùng khó khăn, thiên tai, bão lũ… Màu áo xanh thắm của đoàn thanh niên tình nguyện từ bao năm qua đã trở nên quen thuộc với người dân nghèo khó trên khắp mọi miền đất nước. Thật tự hào thế hệ trẻ chúng ta làm sao!
“Ẩn chứ trong trẻ nhỏ là vận mệnh của tương lai” câu nói của nhà giáo dục Maria Montessori đã một lần nữa khẳng định sự quan trọng của thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước.Nhận thức được điều đó chúng ta cần phải nỗ lực từng ngày để hoàn thiện bản thân sao cho thật tốt đẹp , thật hữu ích để mang Tổ Quốc ngàỳ càng giàu mạnh hơn | Nghị luận Tuổi trẻ là tương lai của đất nước | 1,572 | |
Nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái
Hướng dẫn
Bài tập làm văn nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái bao gồm dàn ý nghị luận về lòng nhân ái và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh làm tốt bài văn nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái.
Dàn ý nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái
1. Mở bài – Nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái
Giới thiêu vấn đề cần nghị luận: lòng nhân ái, tình yêu thương con người
2. Thân bài – Nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái
Giải thích: nhân ái nghĩa là tình yêu thương giữa người với người
Một số biểu hiện của lòng nhân ái:
Dân tộc ta có truyền thống lá lành đùm lá rách: giúp đỡ người khuyết tật, đồng bào gặp thiên tai, lũ lụt…
Bác Hồ
Mẹ Teresa
Ý nghĩa của lòng nhân ái:
Giúp người với người gần nhau hơn
Cuộc sống hạnh phúc, xã hội phát triển
Phê phán: những người không có lòng nhân ái
Mỗi cá nhân cần thể hiện lòng nhân ái bằng cách giúp đỡ những người xung quanh
3. Kết bài – Nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái
Khẳng định lại vấn đề và liên hệ bản thân
Bài văn mẫu nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái
Nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái – Bài 1
“Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người với người sống để yêu nhau”
Hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu như muốn nhắc nhở chúng ta rằng: cần có lòng yêu thương để cuộc sống này tốt đẹp hơn. Lòng nhân ái, yêu thương lẫn nhau là một tình cảm tốt đẹp, một truyền thống ngàn đời của dân tộc ta từ xưa đến nay. Lòng nhân ái không phải cái gì cao xa, trìu tượng hay khó hiểu mà chính là cách chúng ta đối xử với nhau hằng ngày.
Trước tiên, chúng ta cần hiểu: nhân ái là gì? Nhân nghĩa là người, còn ái nghĩa là yêu. Nhân ái chính là tình yêu thương giữa người với người. Lòng nhân ái có thể chỉ biểu hiện qua một lời nói ấm áp dành cho nhau, một cái ôm thật chặt khi yếu đuối, một cử chỉ cao đẹp lúc cuộc sống lâm vào khó khăn. Tình cảm ấy xuất phát từ trái tim chân thành của mỗi người, không cưỡng cầu, ép buộc. Bởi khi trao đi yêu thương, thứ chúng ta nhận được chính là tình yêu thương và sự thanh thản từ trong tâm hồn.
Trong bức thư Einstein gửi con gái, ông cho rằng tình yêu là thứ lực vô hình nhưng mạnh mẽ nhất. Quả thật như vậy, tình yêu thương, lòng nhân ái là sợi dây gắn kết trái tim con người, giúp ta cảm nhận được sụ ấm áp, quan tâm sẻ chia. Được che chở bởi lòng nhân ái, ta có thể đối mặt và vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất của cuộc sống. Lòng nhân ái cũng là yếu tố cốt lõi để tạo nên một cuộc sống hạnh phúc, một xã hội phát triển.
Mỗi chúng ta hoàn toàn có thể lan tỏa lòng nhân ái bằng những việc làm rất nhỏ hằng ngày. Đó có thể chỉ là một cử chỉ ân cần, sự quan tâm đối với những mảnh đời bất hạnh trong cuộc sống hàng ngày. Bằng cách đó, chúng ta đang góp sức mình để làm cho xã hội tốt đẹp hơn.
“Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Hãy để gió thổi đi lòng nhân ái xuất phát từ trái tim, và bạn sẽ thấy cuộc sống này chẳng còn khổ đau hay oán hận gì nữa.
Nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái – Bài 2
Từ xưa đến nay tình yêu thương giữa người với người luôn là truyền thống mà mỗi chúng ta cần phải phát huy. Đó là một trong những tình cảm tốt đẹp, gắn két những trái tim lại với nhau, giúp cho xã hội ngày càng vững mạnh hơn. Nói cách khác những tình cảm mà chúng ta trao đi cho nhau đó chính là lòng nhân ái.
Lòng nhân ái là gì? Chúng ta có thể cắt nghĩa từng từ để hiểu được ý nghĩa của nó. Nhân chính là người. Ái là yêu thương. Nhân ái chính là tình yêu thương giữa người với người. Đó là cách mà chúng ta trao đi yêu thương đối với người khác. Tình cảm đó xuất phát từ trái tim mỗi người, không ép buộc, không cưỡng cầu, không đòi hỏi phải nhận lại những gì. Bởi rằng đối với nhiều người thì khi trao đi yêu thương họ thấy bản than được thanh thản và yên lòng.
Lòng nhân ái không phải là những điều gì quá xa xôi. Nó tồn tại ngay trong chính cuộc sống của mỗi người. Từng biểu hiện của chúng ta dành cho nhau, cử chỉ, lời nói, hành động hay chỉ là cảm xúc dành cho nhau. Dù nó giản dị nhưng cũng đã khiến cho trái tim nhau trở nên ấm áp hơn bao nhiêu.
Mỗi cá nhân tồn tại trong xã hội chính là một cá thể tạo nên sự thống nhất cũng chính là một móc xích kết nối với nhau để tạo nên một chỉnh thể. Không ai là sống tách biệt ra khỏi xã hội. Mỗi người cần phải có trách nhiệm và thái độ sống tích cực để cùng xây dựng và phát triển xã hội này.
Đất nước ta đã phải trải qua bao nhiêu biến cố, mất mát và đau thương. Để có được sự thái bình, thịnh vượng như hôm nay chẳng phải cần rất nhiều tấm lòng nhân ái, cần rất nhiều sự sẻ chia cũng như yêu thương nhau hay sao. Sức mạnh để chiến thắng kẻ thù đôi khi không phải là sức mạnh của vũ khí, mà là sức mạnh của đoàn kết, tương than tương ái không khất phục trước kẻ thù.
Hằng năm trên mảnh đất miền Trung phải hứng chịu biết bao nhiêu trận bão lũ. Nhân dân miền trung phải gồng mình hứng chịu những mất mát, đau thương đó. Không ai hiểu, chỉ mình họ mới biết được nỗi đau mà mình phải trải qua.
Để đồng hành với những nỗi đau đó cũng như nhằm gánh vác những thương tổn mà thiên nhiên gây ra, nhiều tổ chức và quỹ từ thiện đã tiếp tế lương thực cũng như động viên tinh thần để họ sớm ổn định lại cuộc sống.
Xung quanh chúng ta còn rất nhiều mảnh đời bất hạnh, nghèo khó. Họ cần sự san sẻ, giúp đỡ bằng hành động chứ không phải bằng lời nói.
Lòng nhân ái của chúng ta sẽ giúp đỡ được rất nhiều người, rất nhiều mảnh đởi ở ngoài kia. Dù chỉ là những hành động hết sức nhỏ bé nhưng đó là niềm đọng viên và an ủi lớn đối với họ.
Tuy nhiên trong xã hôi vẫn còn tồn tại những người chỉ biết sống chi riêng mình, không biết giúp đỡ nhiều người xung quanh. Làm việc gì cũng chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mình.
Lòng nhân ái, tinh thần yêu thương san sẻ nhau trong cuộc sống là một điều rất cần thiết để bản thân chúng ta sống tốt và hoàn thiện mình từng ngày hơn.
Trên đây là bài tập làm văn nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình! | Nghị luận tư tưởng đạo lí về lòng nhân ái | 1,287 | |
Nghị luận tầm quan trọng của làm việc có kế hoạch
Hướng dẫn
Làm việc có kế hoạch
Mọi may mắn là yếu tố không lặp lại và nằm ngoài khả năng dự đoán của con người. Không có kế hoạch thì không có thành công. Bởi thế, làm việc có kế hoạch là một điều rất cần thiết trong cuộc sống con người. Mỗi cá nhân muốn làm tốt công việc của mình nhất định phải vạch ra cho mình kế hoạch rõ ràng, cụ thể, khoa học và khả thi.
Kế hoạch cá nhân là bản dự kiến nội dung, là cách thức hành động và phân bố thời gian để hoàn thành một công việc nhất định nào đó. Kế hoạch cá nhan sẽ là định hướng để cá nhân hướng đến là theo và điều chỉnh nếu cần thiết. Có thể hình dung kế hoạch cs nhân giống như con đường dãn bạn đến một địa điểm nào đó mà bạn cần đến.
Lập một kế hoạch cá nhân có tầm quan trọng quyết định đối với thành công của cá nhân ấy trong công việc. Trước hết, kế hoạch cá nhân giúp chúng ta hình dung trước các công việc cần làm, phân phối thời gian hợp lí để tránh bị động, bỏ quên, bỏ sót các công việc cần làm. Trong mỗi kế hoạch cá nhân, mọi dự định, dự kiến về công việc đã dduwwocj xác định. Ngoài ra, ở mỗi kế haochj cá nhân cần vạch rõ những rủi ro, sai lầm có thể có giúp ta làm tốt công việc, tránh được thất bại.
Làm việc có kế hoạch giúp ta tự tin, chủ động, tỉnh táo trong công việc, đạt đến hiệu quả cao nhất. Khoogn chỉ vậy, khi làm việc với một kế hoạchcụ thể còn giúp ta tiết kiệm được công sức, tránh được những tổn thất không đáng có. Người làm việc có kế hoạch luôn hoàn thành tốt công việc, tạo được động lực, niềm tin tưởng ở người khác.
Muốn làm việc có kế hoạch thì phải xây dựng kế hoạch. Trước hết phải xác định yêu cầu, nội dung và quỹ thời gian của công việc cần tiến hành. Khi đã xác định rõ ràng, ta tiến hành xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của bản thân và công việc cần làm.
Một kế hoạch cá nhân cần phải có nội dung công việc, cách thức thực hiện và thời gian thực hiện. Nếu cần, bạn cũng có thể dự kiến mức đọ hoàn thành của công việc hoặc những phát sinh hay rủi ro có thể có để chủ động hơn khi tiến hành công việc.
Thành công không đến từ cách bạn nghĩ mà đến từ cách bạn tiến hành. Làm việc có kế hoạch là cách làm việc thông minh, đòi hỏi sự kiên trì và niềm tin ở bạn. | Nghị luận tầm quan trọng của làm việc có kế hoạch | 487 | |
Đề bài: Nghị luận uống nước nhớ nguồn
Bài làm
Trước hết ta phải hiểu nội dung câu tục ngữ là như thế nào.“Uống nước ”chính là sự hưởng thụ những thành quả vật chất và tinh thần ;“Nhớ nguồn ”là sự tri ân,giữ gìn phát huy những thành quả của người làm ra chúng.Như vậy cả câu tục ngữ là lời khuyên,lời dạy bảo chúng ta phải biết ơn thế hệ cha anh và phát huy những thành quả của họ.
Thật vậy,thành quả không tự nhiên mà có.Đất nước hoà bình mà chúng ta sống hôm nay được đổi bằng sinh mạng của biết bao người ngã xuống.Bởi vậy ta không được phép quên tổ tiên,nòi giống và những người đã chiến đấu, hy sinh bảo vệ quê hương. Cha mẹ,ông bà người thân đã sinh ra ta,nuôi dưỡng ta khôn lớn, thầy cô dạy dỗ ta học hành trở nên người có ích cho xã hội…Tất cả đều là “nguồn”để ta phải nhớ,phải tri ân.
Lòng biết ơn là cở sở của đạo làm người.Một xã hội chỉ thực sự tốt đẹp khi được xây dựng vững vàng trên nền tảng đạo lý.Trên khắp đất nước Việt Nam lòng biết ơn thể hiện ở việc xây dựng các đền,miếu,chùa chiền phụng thờ, tôn vinh các bậc anh hùng có công với nước.Trong mỗi gia đình,bàn thờ tổ tiên được đặt ở nơi trang trọng.Nhiều năm nay, cả nước dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với những thương binh,liệt sĩ,bà mẹ Việt Nam anh hùng và những gia đình có công với cách mạng…Đến bất kỳ nơi nào cũng có thể tìm thấy những biểu hiện sinh động phong phú của đạo lý “uống nước nhớ nguồn ”trên đất nước ta.
Nhớ nguồn không chỉ là biết ơn, giữ gìn,bảo vệ thành quả đã có mà bản thân mỗi người cần cố gắng cống hiến, bổ sung thêm những thành quả mới cho “nguồn nước” dân tộc luôn tràn đầy và bất diệt.Có như vậy mới phát huy được tinh hoa truyền thống tốt đẹp của tổ tiên, làm cho xã hội ngày một phát triển.Đó mới là nhớ nguồn một cách thiết thực.Ở lứa tuổi học sinh, chúng ta chưa làm ra của cải vất chất, tinh thần cho xã hội, do đó hãy bày tỏ lòng biết ơn chân thành với cha mẹ, thầy cô bằng lời nói, việc làm cụ thể của mình:phấn đấu học tập,rèn luyện và tu dưỡng thành con ngoan,trò giỏi để trở thành những công dân có ích cho xã hội sau này.
Câu tục ngữ không chỉ là lời khuyên dạy,nó còn là lời nhắc nhở sâu sắc, thấm thía đối với những kẻ vô ơn,“khỏi vòng cong đuôi”,“qua cầu rút ván”,“khỏi rên quên thầy”…Mạch nguồn trong trẻo của truyền thồng ân nghĩa thuỷ chung sẽ có một ngày làm cho những trái tim lầm đường thức tỉnh!
Lòng biết ơn thực sự là một nét truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc song nó không tự nhiên mà có.Nó là kết quả của quá trình rèn luyện, tu dưỡng lâu dài của con người.Có lẽ bởi vậy mà tự thủơ ấu thơ, lời ru thấm đượm ân tình của bà của mẹ đã gieo mầm ân nghĩa:
“Công cha nghĩa mẹ ơn thầy
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao…” | Nghị luận uống nước nhớ nguồn | 558 | |
Nghị luận vô cảm và biểu hiện của bệnh vô cảm trong xã hội ngày nay
Hướng dẫn
Vô cảm – Căn bệnh trầm kha của thời đại công nghệ
Mở bài:
Vô cảm là một hiện tượng vốn rất phổ biến ở các quốc gia trên thế giới. Không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,… cũng đang đối diện với những thách thức do hiện tượng xã hội này gây ra. Không chỉ là một thái độ sống, căn bệnh vô cảm đã trở thành một hội chứng trong xã hôi.
Thân bài:
Vô cảm là gì?
Vô cảm hiểu đơn giản là không có (vô) tình cảm, cảm xúc (cảm). Vô cảm là không có tình cảm, cảm xúc, dửng dưng trước những sự việc, hiện tương xảy ra xung quanh mình. Bệnh vô cảm được hiểu là một trạng thái tinh thần mà ở đó, con người không nảy sinh những cảm xúc đối với những sự vật, sự việc diễn ra xung quanh mình, những nỗi buồn, nỗi đau, sự mất mát, thiệt thòi của con người. Có thể gọi vô cảm là một hội chứng thần kinh có tính lây lan mạnh.
Người sống vô cảm là người có lối sống lạnh lùng, ích kỉ, thiếu cởi mở và không quan tâm đến mọi vấn đề của xã hội, đất nước. Người sống vô cảm thường vô tâm trước nỗi đau thương mất mát của người khác, thậm chí họ còn không quan tâm đến bản thân và gia đình.
Biểu hiện và của căn bệnh và lối sống vô cảm:
Xét về tính lịch sử, vô cảm vốn xuất hiện cùng với các đặc điểm tâm lí con người ngay từ thuở mới xuất hiện. Lúc bạn đầu, chỉ là những hiện tượng đơn lẻ, không mang tính quy luật. Ngày nay, vô cảm đã trở thành một hội chứng phổ biến trong đời sống xã hội. Từ tính vô cảm của một vài cá nhân làm xuất hiện lối sông vô cảm trong xã hội như một sự biện minh thiển cận cho trách nhiệm và nghĩa vụ đối với xã hội của một lớp người.
Bởi thế, việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với gia đình, xã hội và đất nước cũng có nhiều hạn chế. Một số người không xem trọng việc xây dựng và duy trì hạnh phúc gia đình bền lâu. Nhiều người không muốn lập gia đình, họ chọn lối sống độc thân. Cuộc sống gia đình đối với họ chỉ là một trải nghiệm trong cuộc đời người mà thôi.
Người sống vô cảm thường thờ ơ, bàng quan trước cái xấu, cái ác, không phân biệt lẽ đúng, sai; không chống lại hoặc tố cáo những hành vi sai trái, tàn bạo. Ta vẫn thường thấy trong xã hội có một vài người dù chứng kiến những những hành vi phạm pháp của người khác nhưng thay vì tố cáo hay hỗ trợ cơ quan chức năng xử lí, đem lại công bằng cho xã hội thì họ tìm cách lẫn tránh hoặc chối bỏ.
Có rất nhiều người không chịu ra làm chứng khi có mặt trong hiện trường các vụ án. Họ sợ phải khai báo, sợ bị đối tượng thù ghét mà bất chấp cả lương tâm. Thậm chí nhiều người còn bị mua chuộc, đứng về phía cái xấu, cái ác hãm hại người vô tôi. Đó là những hành vi vô cảm, vô đạo đức, cần phải lên án, trừng trị trong xã hội.
Sống vô cảm là dửng dưng, lạnh lùng trước nỗi đau thương, mất mát của người khác, không dám đấu tranh chống kẻ mạnh, bảo vệ kẻ yếu. Nhiều vụ cướp đoạt tài sản xảy trắng trợn ra trên đường phố. Nhiều người đi đường đã không hề can thiệp dù đang ở rất gần. Họ sợ bị liên lụy, chọn cách an toàn là thượng sách dù nạn nhân mất tài sản, bị thương, hoặc thiệt mạng.
Cho nên, kẻ xấu càng trở nên ngang ngược hơn, ra tay tàn bạo hơn dẫn đến biết bao vụ việc thương tâm cũng chỉ bởi sự vô cảm của con người. Hay khi xảy ra một vụ tai nạn giao thông trên đường phố, người bị nạn bị thương nặng, có rất nhiều người dửng dưng đi qua, rất nhiều người vì tò mò mà dừng lại, ít ai nhiệt tình tham gia hỗ trợ cứu người nhanh chống giải quyết ùn tắt.
Kẻ vô cảm là kẻ chọn lối sống thực dụng, lấy lợi ích của bản thân làm mục tiêu mà chà đạp lên nhân cách, nhân phẩm đạo đức; bất chấp tình nghĩa và luật pháp. Họ vì lợi ích của bản thân mà có thể dùng mọi thủ đoạn đê hèn để đoạt lấy lợi ích, bất chấp tất cả, thậm chí là thách thức luật pháp.
Trong thời gian vừa qua, báo chí liên tục đưa tin về những vụ việc người dân nhân cơ hội xe tải bị nạn mà trộm cắp hàng hoá trên xe, mặc kên tài xế thảm thiết van xin. Ta vẫn thường thấy trên báo chí những vụ án mạng thương tâm, khủng khiếp, kẻ sát nhân sát hại cả những người thân của mình với những lí do vô cớ. Hành vi phạm tội giết người thời đại nào cũng có nhưng hiện nay những vụ thảm sát trở nên phổ biến hơn. Hiện tượng con người suy thoái đạo đức, nhân cách, trở nên độc ác, tàn bạo đang ở mức báo động khẩn cấp hơn bao giờ hết.
Đám tiệc, hội họp chỉ là cớ để được ăn nhậu, chè chén chứ không phải là để gặp gỡ thân thương, thấm tình đậm nghĩa nữa. Thậm chí, nhiều vụ xung đột gây ra thương vong trong hội tiệc cũng bởi do sự thiếu vắng tình người.
Lối sống vô cảm của con người đã khiến cho nền đạo đức xã hội bị suy thoái nghiêm trọng. Những giá trị chuẩn mực vốn có từ ngàn đời nay không còn được tôn trọng. Con người vì lợi ích mà bất chấp luật pháp, bất chấp lương tâm. Cái ác, cái xấu, cái tàn nhẫn thường xuyên xuất hiện trong đời sống và nhanh chóng trở thành một hiện tượng hiển nhiên, được nhìn nhận như một quy luật trước sự thơ ơ, vô cảm của con người.
Kết bài:
Trước tất cả những biểu hiện nghiêm trọng ấy, xã hội Việt Nam đang đứng trước những thử thách to lớn là làm thế nào để phục dựng và duy trì những giá trị đạo đức tốt đẹp vốn có của dân tộc ta, đồng thời giải quyết các vấn đề tâm lí do thời đại đặt ra để duy trì và phát triển xã hội tốt đẹp? Làm thế nào để lấy lại tôn nghiêm của hệ thống pháp luật và nền tảng đạo đức xã hội, xây dựng cuộc sống lành mạnh và tiến bộ hơn? | Nghị luận vô cảm và biểu hiện của bệnh vô cảm trong xã hội ngày nay | 1,176 | |
Nghị luận văn học bàn về ý kiến ” Người lái đò Sông Đà ” của Nguyễn Tuân
Hướng dẫn
Đề bài: Về nhân vật ông lái đò trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa”. Ý kiến khác thì nhấn mạnh: “Ông lái đò là một người lao động bình thường”.
Từ cảm nhận về nhân vật ông lái đò, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên?
GỢI Ý
MỞ BÀI
Nêu vấn đề nghị luận
THÂN BÀI
=========Vài nét về tác giả, tác phẩm:
“Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa” (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một “huyền sử” – huyền sử của một người ưa lối chơi “độc tấu”.
+ “Người lái đò sông Đà” được coi là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc nhất trong “Tùy bút Sông Đà”. Với khao khát truy tìm “chất vàng mười của tâm hồn vùng Tây Bắc” – “thứ vàng mười đã được thử lửa” (Đi mở đường), Nguyễn Tuân đã viết lên bài ca cuộc sống của con người và thiên nhiên Tây Bắc với nhiều nét độc sáng mới lạ.
+ Nhận xét về người lái đò sông Đà có hai ý kến như sau: ( trích dẫn hai ý kiến)
=====Giải thích ý kiến:
Ý kiến “Ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa” và “Ông lái đò là một người lao động bình thường”.
+ Người nghệ sĩ tài hoa là những người có rung động tâm hồn mãnh liệt trước mọi vui buồn của đời sống và có khả năng thể hiện những rung động ấy bằng những phương tiện nghệ thuật đặc thù. Ở ý kiến trên, người nghệ sĩ tài hoa được hiểu là người đạt tới trình độ điêu luyện trong nghề nghiệp và có đời sống tâm hồn đậm chất nghệ sĩ.
+ Người lao động bình thường là người lao động thầm lặng, vô danh, không tên tuổi giống như bao người lao động khác trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Khẳng định 2 ý kiến trên bổ sung cho nhau, làm hoàn thiện chân dung, tính cách người lái đò sông Đà.
======Chứng minh – bình luận ý kiến:
+++++++++Ông lái đò – một nghệ sĩ tài hoa:
– Ông lái đò có tính cách phóng khoáng, thích đối mặt với thử thách, mạo hiểm, gian nguy.
– Ông nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá như một nghệ sĩ điêu luyện, cao cường.
– Cuộc băng ghềnh, vượt thác ngoạn mục đã khẳng định vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một “tay lái ra hoa”:
+ Vòng vây thứ nhất, sông Đà bày ra nhiều cạm bẫy. Ông lái đò bị sóng thác đánh miếng đòn độc hiểm. Nhưng bằng tinh thần dũng cảm, ông đã tỉnh táo chỉ huy sáu mái chèo, chiến thắng trùng vi thạch trận đầy nguy hiểm.
+ Vòng vây thứ hai, sông Đà đã thay đổi chiến thuật. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông, thần đá, xác định đúng cửa sinh và chiến thắng thằng đá tướng đứng chiến ở cửa giữa.
+ Vòng vây thứ ba, sông Đà tiếp tục thay đổi chiến thuật, bên phải bên trái đều là cửa tử. Ông lái đò phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa. Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hoi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được.Thế là hết thác.
+++++++++++Ông cũng là một người lao động bình thường:
– Ông lái đò sinh ra bên bờ sông Đà và gắn bó với nghề sông nước như bao người lái đò khác nơi thượng nguồn sông Đà khuất nẻo.
– Đời sống tâm hồn giản dị: không nói nhiều về chiến công; dù đi đâu cũng luôn nhớ về nương ruộng, bản mường.
=======Nghệ thuật thể hiện:
Ngôn ngữ phong phú, sáng tạo, hài hoa, kết hợp kể với tả nhuần nhuyễn và đặc sắc, nghệ thuật khắc họa nhân vật độc đáo, sáng tạo.
Bút pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng độc đáo, thú vị; vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật góp phần miêu tả cuộc chiến hào hùng và khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật.
======== Đánh giá:
Qua cảm nhận hình tượng ông lái đò, có thể thấy, ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa trên sông nước, đồng thời, cũng là một người lao động giản dị bình thường. Vẻ đẹp của ông lái đò tiêu biểu cho vẻ đẹp của người dân lao động vùng Tây Bắc tổ quốc.
Hai ý kiến trên không đối lập mà bổ sung cho nhau đem đến một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về nhân vật.
KẾT BÀI
Kết thúc vấn đề. | Nghị luận văn học bàn về ý kiến ” Người lái đò Sông Đà ” của Nguyễn Tuân | 809 | |
Nghị luận văn học hay nhất – Ngữ Văn 9
Hướng dẫn
Bài nghị luận văn học hay nhất
Đề bài:Tư chọn một tác phẩm yêu thích nhất và viết về tác phẩm đó.
1. Yêu cầu
– Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm.
– Vấn đề cần bàn luận là nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm mà mình
– Cần có luận điểm rõ ràng, luận cứ đầy đủ và lập luận rành mạch (Vì sao mình yêu thích tác phẩm đó? Về nội dung, nghệ thuật, tác phẩm có gì đặc biệt? Điều gì khiến cho tác phẩm hấp dẫn? Nhà văn nhắn gửi gì đến bạn đọc?,…)
– Cần trình bày được những suy nghĩ riêng của mình khi cảm nhận tác phẩm.
2. Gợi ý
– Đọc kĩ tác phẩm mình chọn.
– Cần làm rõ nội dung của tác phẩm và nét đặc sắc về nghệ thuật.
– Những điều làm nên sự hấp dẫn của tác phẩm.
– Suy nghĩ, cảm xúc riêng của người viết về tác phẩm.
– Cần kết hợp phân tích, cảm nhận, bình luận với biểu cảm.
3. Lập dàn ý (dàn ý chung)
a. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và tác giả yêu thích.
b. Thân bài
– Ấn tượng chung khi tiếp xúc với tác phẩm.
– Những nội dung quan trọng của tác phẩm (Điều gì là mới mẻ? Bản thân rung động nhất vì điều gì? Ý nghĩa của những điều mà tác giả gửi tới bạn đọc?)
– Điều gì nổi bật và ấn tượng nhất trong nghệ thuật trình bầy của tác giả.
– Suy nghĩ của mình về vấn đề được nêu trong tác phẩm.
c. Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của tác phẩm với bản thân và với người đọc nói chung.
4. Bài làm minh hoạ
Bài 1: Viết về tác phẩm “Nhật kí Đặng Thùy Trâm”
Quá khứ chiến tranh đã không còn trên quê hương Việt Nam. Đất nước đã hoà bình, không còn tiếng súng, không còn bom đạn và những mất mát hi sinh của biết bao đồng bào yêu nước. Tuy nhiên, những trang sử hào hùng trước đây, những người anh hùng đã cống hiến xương máu cho dân tộc ngày ấy không hề bị lãng quên. Cuộc đời tên tuổi và lí tưởng của họ vẫn còn mãi với quê hương và trong lòng thế hệ trẻ hôm nay. Tôi đã được nghe được đọc rất nhiều câu chuyện về họ, những người chiễn sĩ dũng cảm, những đứa con thân yêu của dân tộc và có lẽ tác phẩm để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất là cuốn Nhật kí Đặng Thuỷ Trâm. Đây không phải là một tác phẩm văn học nhưng lại chứa “những yếu tố nhân văn đầy bí mật” đủ để trở thành một cuốn sách còn mãi với lịch sử dân tộc.
Sự thành công của cuốn sách có được nằm ở chính nội dung của cuốn nhật kí. Nhật kí là những trang ghi chép lại các cảm nhận của người viết về cuộc sống hằng ngày, về mọi người xung quanh. Bởi vậy sự đáng trân trọng của cuốn nhật kí được tạo nên bởi chính sự đáng trân trọng của bản thân người viết. Nhật kí Đặng Thuỷ Trâm cũng không phải là ngoại lệ. Cuốn nhật kí đã ghi lại những tình cảm, những nỗi nhớ thương, những yêu ghét, giận hờn, những trăn trở, lo lắng, những lời tự dằn vặt trách móc, những bi quan và cả những hi vọng thầm kín trong tâm hồn người con gái. Có thể hiểu đây là một người bạn chia sẻ mọi suy nghĩ, buồn vui, cũng có thể hiểu đây là nửa trái tim còn lại của người bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm. Nó nói lên một cách hoàn hảo thế giới nội tâm của người viết, nó là những cảm xúc mà thực tế không thể nói hết, là những đau buồn chưa có ai cùng chia sẻ hoặc không thể chia sẻ được. Bằng cuốn nhật kí này, bác sĩ Trâm đã chia sẻ, đã thổ lộ hết những suy nghĩ của mình với tất cả những cảm xúc trong sáng, chân thành dành cho tình yêu, tình bạn, tình chị em, cho tấm lòng với người bệnh của một bác sĩ tận tụy, cho quê hương và cho cách mạng. Hiểu về tâm hồn bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm, ta như hiểu thểm về những người thanh niên, thế hệ trẻ trong hoàn cảnh khói lửà trước đây và cầng thấm thìa: “So với lớp thanh niên ngày nay, người thanh niên của gần bốn chục năm trước có một cách sống khác, một cách sống không lắm chiều cạnh phong phú, không tự do nhiều vẻ, nhưng lại trong sáng thánh thiện đến kì lạ”. Tác phẩm không chỉ làm sống dậy một quãng thời gian lịch sử gian khổ của đất nước mà còn cho ta thấy nổi bật lên trong cuộc sống vất vả ấy lúc nào cũng tồn tại những con người như Đặng Thuỳ Trâm, luôn sống đẹp, sống có ích, luôn khát khao tự do, độc lập, khát khao hoà bình với lí tưởng cao đẹp của cách mạng.
Nhật kí Đặng Thuỷ Trâm đã đem lại nhiều rung cảm sâu sắc trong trái tim người đọc. Gấp cuốn sách lại, ta không thể không xúc động, không thể vô cảm trước những trang viết dạt dào yêu thương ấy. Những trang nhật kí đã thấm đẫm nước mắt đau thương mà vẫn rực lên ngọn lửa ý chí khát khao hướng về hoà bình, hướng về cách mạng. Trước một người con gái như bác sĩ Trâm, ta vừa yêu mến vừa kính phục. Yêu sao cái trong sáng, thánh thiện, cái mến thương nồng thắm trong từng câu chữ, dù cách viết đã ngày càng trưởng thành nhưng vẫn còn nhiều ngây thơ; mơ mộng của tuổi con gái. Phục sao cái ý chí sắt son bền vững, cái hi vọng tin tưởng vào tương lai không hề lay động, cái quyết tâm gắn bó với nghề, sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời cho ước mơ hoà bình của cả dân tộc. Cô đã luôn phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng, sự gắn bó với cách mạng là biểu hiện của tình yêu nước nồng nàn, đằm thắm. Khi cô còn chưa chính thức được công nhận là một Đảng viên, chúng ta vẫn thấy được ở con người ấy những suy nghĩ của một người cộng sản chân chính: “Khi đã giác ngộ quyền lợi của giai cấp Đảng thì suốt đời Thùy sẽ gắn bó với sự nghiệp ấy! Thuỳ sẽ đau xót khi sự nghiệp ấy bị tổn thương, Thuỳ sẽ sướng vui khi sự nghiệp ấy lớn mạnh.”. Trân trọng làm sao trái tim đa sầu đa cảm mà nồng nhiệt cháy bỏng mong muốn dâng hiến cho đời của cô. Cô đã tìm thấy cái đẹp nhất, cái đáng quý cao cả nhất của cách mạng: “Cách mạng đã rèn đúc nên những con người cao đẹp, gắn họ thành một khối bền vững và gắn bó hơn bất cứ một vật gì trên đời này. Sống trong gia đình cách mạng có gì vinh dự hơn đâu”. Trong rất nhiều trang viết, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã nói lên nỗi nhớ thương da diết của mình về gia đình, về miền Bắc thân yêu. Dù thế nào, xa nhà vẫn là nỗi buồn không thể xoa dịu của một người con gái, dẫu biết mọi người luôn lo lắng, luôn hết lòng yêu thương mình, cô vẫn hiểu rõ trách nhiệm của một người cách mạng là phải biết hi sinh vì sự nghiệp chung. “Có thể mình sẽ gặp địch và cũng có thể mình sẽ ngã xuống, trong tay xách thuốc còn nắm chặt và người ta cũng sẽ thương tiếc người con gái đã hi sinh vì cách mạng khi giữa tuổi đời còn xanh ngát ước mơ“. Cô đã hi sinh đúng như những gì cô đã sống và tin tưởng, khép lại một cuộc đời đẹp đẽ nhưng còn đầy lưu luyến. Nó để lại cho ta bao suy nghĩ, bao nỗi xúc động.
Trong câu chuyện, chúng ta đã cảm nhận được không khí chiến đấu của chiến trường ác liệt nhưng không có trang viết nào miêu tả về một cuộc chiến thực sự. Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm suốt cuộc đời chưa hề cầm súng chiến đấu trước đó nhưng lại ra đi với khẩu súng trên tay. Cô đã một mình chiến đấu với 120 lính Mĩ để bảo vệ các bạn của mình. Mà có lẽ không thể gọi là chiến đấu vì cuộc chiến này quá không cân sức, đây đúng hơn là sự hi sinh của người con gái dũng cảm. Nếu có thể, chúng ta hăy thử tưởng tượng về những giây phút cuối cùng của cô, những điều đã chúừig minh “bác sĩ Đặng đã chết đúng như chị sống, hoàn toàn vị tha, hoàn toàn dâng hiến“.
Nghĩ về sự ra đi của người nữ chiến sĩ can đảm, ta nhớ lại những suy nghĩ của cô với cha mình trước đó mà xúc động nghẹn ngào: “Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hi sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm. Vậy mà người ta vẫn bền gan chiến đấu. Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống, chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc. Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đầu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc. Dĩ nhiên con cũng cay đắng vì không được sống tiếp cuộc sống hạnh phúc mà mọi người trong đó có con đã đổ máu xương để giành lại.- Nhưng có gì đầu, hàng triệu người như con đã ngã xuống mà chưa hề được hưởng trọn một ngày hạnh phúc. Cho nên có ân hận gì đâu!”.
Nhạt kí Đặng Thuỷ Trâm đã để lại trong ta những cảm xúc đẹp đỗ. Như dòng nhiệt huyết, ríhư tình yêu. thương nồng ấm của cô, “giờ đây, hặy để cho ngọn lửa trong nhật kí Đặng Thuỳ Trâm cháy mãi”.
(Khúc Mai Thương, lớp 9A1, Trường THCS Ngô Sĩ Liên,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Nhận xét
Nhật kí Đặng Thuỷ Trâm đang là một hiện tượng trong đời sống văn học của chúng ta. Người làm bài với sự cảm phục, ngưỡng mộ trước tấm gương của bác sĩ Trâm, bạn đã đọc và nhấn mạnh những gì mình cảm nhận được là sâu sắc nhất, xúc động nhất của cuốn rihật kí. Mỗi người đọc cảm nhận tác phẩm theo một cách riêng của mình. Cùng với bạn đọc cả nước, Khúc Mai Thương góp vào sự cảm nhận chung, theo cách của một cô học trò lớp 9, người đang tập làm văn nghị luận.
Bài 2: Bài viết cảm nhận về cuốn sách “Mãi mãi tuổi hai mươi”
Chiến tranh – khi sự sống cái chết gần nhau trong gang tấc, liệu tâm hồn con người có còn lãng mạng, có còn bay bổng? Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc – chàng trai đoạt giải Nhất học sinh giỏi văn miền Bắc niên học 1969 – 1970 đã trả lời câu hổi ấy bằng một cuốn nhật kí đầy ắp hơi thở văn chương.
Nguyễn Văn Thạc nhập ngũ ngày 6 – 9 – 1971, là khoảng thời gian cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ bước vào giai đoạn mới và đang vô cùng gay go ác liệt. Anh viết trang nhật kí đầu tiên ngày 2 – 10 – 1971, hồi tưởng lại lúc cắp sách lên giảng đường, nhớ buổi lễ tiễn những sinh viên nhập ngũ (trong đó có anh) ở giảng đường Trường Đại học Tổng hợp… Nuối tiếc quãng đời êm đềm, thanh bình ấy là điều khó tránh khỏi, nhưng nuối tiếc không làm cho người thanh niên này trở nên mềm lòng, yếu đuối. Anh hăng hái, lạc quan tham gia quân đội: “28 ngày trong quân ngũ mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được nhiều ngày có ý nghĩa”. Như hết thảy mọi sinh viên khác trên đẩt nước, anh hoàn toàn ý thức được việc tạm gác học tập sang một bên để xung phong ra tiền tuyến: “Học bao lâu mà đã làm được gì đầu… Chỉ còm cõi vì trang sách, gầy xác vì mộng mị hão huyền… Sách vở ư? Ước mơ ư? Nào còn nghĩa lí gì khi nước mất nhà tan”.
Bước vào chiến trận mà anh lại luôn tự nhủ một cách hào hứng, phấn khởi rằng: “Xe ơi, lao nhanh hơn cho ta chóng tới gia đình lớn. Nơi ta gửi gắm cả thời thanh xuân của mình”. Điều đó chính là tinh thần của chủ nghĩa anh hùng cách mạnh đã được người thanh niên ấy ìí tưởng hoá bằng một cảm xúc lãng mạng bay bổng. Ai trong chúng ta, những thanh thiếu niên thế hệ sau làm sao không cảm phục cho được?
Đọc đoạn nhật kí này, ta thấy Nguyễn Văn Thạc đang viết về cuộc chiến anh sắp sửa phải đối mặt bằng những dòng chữ giàu chất thơ: “Trên mũ là ngôi sao Ta lặng ngắm ngôi sao […]. Bây giờ, ta đọc trong ngôi sao ấy ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu… Ta như thấy trong màu kì diệu ấy có cả hồng cầu của trái tim ta”. Đúng là anh chiến sĩ Hà Thành gan dạ, quả cảm nhưng tâm hồn phảng phất sự bay bổng hào hoa non trẻ:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
(Quang Dũng, Tây Tiến)
Nguyễn Văn Thạc đã gửi vào cuốn nhật kí biết bao cảm xúc văn chương tha thiết, dạt dào. Điều đặc biệt kì lạ là không khí văn chương được anh đan xen vào lí tưởng chiến đấu, lí tưởng bảo vệ Tổ quốc tự nhiên đến không ngờ: “Mẹ ta nghèo, rau cháo nuôi ta, đau khổ bốn nghìn năm… Để bây giờ ta lớn. Phải lớn lên, phải to ra cho kịp tầm cao của lịch sử. Cánh tay này sẽ bóp nghẹt cổ quân thù”. Từ một khung cảnh bình thường, anh nhìn thấu trong đó nỗi đau của cả dân tộc và diễn đạt nó bằng ngôn ngữ đằm sâu, trữ tình: “Đêm,đầy sao […] như lòng mẹ […]. Hồ nước trong kì lạ. Sao mẹ kể những cái hồ ấy là nước mắt? Đau khổ nghìn năm, những tròng mắt nào đã đầm đìa để tích tụ thành hồ…”
Chiến tranh! Bom đạn của kẻ thù có thể khiến mặt đất khô cằn song không thể làm tầm hồn con người héo úa. Nếu Nguyễn Văn Thạc còn sống và một ai đó hổi: “Điều gì đã tiếp thêm sức mạnh cho anh khi nhập ngũ?” thì hẳn anh sẽ trả lời: “Tình yêu”. Bên cạnh,tình yêu đất nước, yêu gia đình bè bạn… Anh luôn dành một phần quan trọng trong tim cho tình yêu đôi lứa. Nhật kí của anh thường xuyên nhắc đến người bạn gái của mình: “Như Anh bé nhỏ yêu dấu đêm nay ở đâu. Thương… thật nhiều mà không biết nói sao, làm sao cả”, “Lại đi trên đường Nguyễn Ái Quốc. Thú vị vô cùng, chỉ thiếu Như Anh. Nhưng không sao, hạnh phúc bắt đầu từ chỗ biết nhau…”... Từ chỗ mong nhớ người yêu, anh bỗng cảm thấy gần gũi, bao dung với những cảnh hò hẹn riêng tư: “… Đừng bấm đèn trêu họ, cứ để họ nói chuyện… Anh con trai sắp xa người bạn của mình. Cô ta lại về trường học tiếp”
Nhật kí Nguyễn Văn Thạc là minh chứng sống động về tâm lí người lính trẻ: có phút gian khổ tưởng như đã làm họ xao lòng “Khát quá nhưng chỉ có nước ao […]. Dường rihư cấp trên cố ý tạo ra tình huống này – “Rèn”. Chao ôi cái chữ đáng ghét thế”, song ngay lập tức anh tự động viên, khích lệ chính mình “Không có quyền tụt. Không có quyền rời bỏ hàng ngũ”, “Chủ yếu là nghị lực, căn bản là nghị lực”… Vì đang viết nhật kì nên những dòng cảm xúc, suy tư của anh hoàn toàn chân thực, xuất phát tự đáy lòng. Không bao giờ giấu giếm khoảnh khắc “xao động” trong quân ngũ, bởi thế anh “cảm thấy hổ thẹn”, “thèm khát sống trọn vẹn cuộc đời cho Đảng, cho giai cấp”. Anh thường nhắc đến nhân vật Pa-ven của tiểu thuyết nổi tiếng Thép đã tôi thế đấy (Pa-ven có ảnh hưởng rất lớn tới phần đông thanh niên thời bấy giờ. Cuốn Thép đã tôi thế đấy của Ot-xtơ-rốp-xki trở thành cuốn sách gối đầu giường của thanh niên Việt Nam bao thế hệ trước đây): Kiêu hãnh thay người cộng sản Xô viết ấy […]. Ba năm của thời 20, anh đã sống say sưa, sống gấp gáp và mạnh mẽ. Cưỡi trên lưng con ngựa cụt tai trong lữ đoàn Bu-đi-ô-ni anh đã đi khắp miền đất nước. Cuộc sống của anh là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời”.
Nhật kí Nguyễn Văn Thạc xứng đáng trở thành cuốn tư liệu “sống” về những người lính trẻ bằng xương bằng thịt, họ cũng biết yêu, biết giận, biết khóc cười, cũng có khuyết điểm… Anh không lí tưởng hoá hình ảnh anh bộ đội: “Khi đó mới biết đơn vị trước ở đây làm mất uy tín ghê quá. Ba phần tư số xoong quân dụng bị mất, rồi quân trang, quân dụng mất lung tung. Tệ quá… Phải gấp rút khôi phục lại uy tín của quân đội”.
Nhưng trên hết, Nguyễn Văn Thạc đã viết nên một cuốn nhật – kí – văn – học độc đáo hiếm thấy. Đứng trước những sự kiện diễn ra hằng ngày của cuộc sống sinh hoạt và chiến đấu, anh thường liên tưởng đến thơ Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, hoặc minh hoạ bằng thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Trần Đăng Khoa,… Thậm chí Nguyễn Văn Thạc GÒn cẩn thân ghi chép những câu hò lục bát:
Tiếng ơi như tiếng cô nàng của anh.
Dù đã trở thành lính binh nhì, tâm hồn Nguyễn Văn Thạc vẫn còn nồng nàn một ngọn lửa văn chương, phơi phới một ngọn lửa lãng mạn, mộng mơ. Chất văn tồn tại tự nhiên như hơi thở phập phồng nơi lồng ngực anh, dòng máu chảy rần rật nơi huyết quản anh. Trong chiến tranh, nó không hề bị dập tắt mà ngược lại, hoà quyện vào và làm tôn lên cái lí tưỗng cộng sản, mục đích phấn đấu của anh. Cuốn nhật kí đã kết hợp được hai yếu tố trữ tình với cách mạng, chứng tỏ liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc luôn ý thức về việc cân bằng giữa lí trí và con tim!
Nếu đối chiếu nhật kí Nguyễn Văn Thạc với các chức năng văn học thì ngoài giá trị thẩm mĩ, tư tưởng, nó còn hàm chứa ý nghĩa giáo dục. Đó là sự đánh giá của độc giả, còn anh Thạc – anh không viết để nhằm “lên lớp” ai cả, anh dành riêng cho mình:
“Ai đấy khi nắm tay người bạn thân yêu của mình, khi cánh buồm xanh đi về, cánh cửa trời rộng mở, chớ quên dưới chân mình là […] hòn đất đượm mồ hôi, thấm máu bao thế hệ, mà cuộc sống của họ đã xa xôi.
Ai đấy, khi khoác vai người bạn yêu quý… chỉ cho bạn kia là ngôi sao Hôm, sao Mai… Chớ quên rằng có buổi sáng nào, sao Mai mang màu đổ, màu máu và màu lửa. Chớ quên rằng, để đêm trăng có những ngôi sao tình tự […] có những trái tim đầy khát vọng phải xếp vào ba lô mọi ước mơ hiển dịu nhất, mọi tương lai cá nhân quen thuộc nhất. Mà đánh giặc…
Văn đây… Thơ đây… Ai bảo nhật kí thời chiến không thể trở thành một tác phẩm văn học đằm thắm, thiết tha? Và cả cuộc đời anh Thạc, sự hi sinh của anh nữ‘a cũng là một trang văn đẹp trong “cuốn sách” trường kì kháng chiến của toàn dân tộc.
Chúng ta đang nói về Mãi mãi tuổi hai mười – quyển nhật kí kì lạ của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, người lính đã linh cảm chính xác về thời khắc lịch sử 30 – 4 – 1975…
(Lê Thị Thu Ngọc, lớp 91, Trường THCS Ngô Sĩ Liên,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Nhận xét ‘
Bài viết ià một thành công đáng ghi nhận. Bạn đã đọc và rút ra hai điều lớn có ý nghĩa khái quát của cuốn nhật kí là chất trữ tình và cách mạng. Những chi tiết, những dòng nhật kí xúc động nhất đã được bạn nêu ra và bình giá. Bạn thuyết phục người đọc rằng anh Thạc đã viết nhật kí cho cá nhân chân thực, nhưng đã tạo ra một tác phẩm đằm thắm, thiết tha. Các yếu tố liên tưởng, tưởng tượng, cộng với xúc cảm chân thành đã làm cho bài văn nghị luận của bạn thành công.
Bài 3: Cảm nhận về truyện Lẵng quả thông
Pau-tốp-xki đã từng viết về tác phẩm Cánh buồm đỏ thắm của A. Grin, rằng đó là “một bản trường ca khẳng định sức mạnh tinh thần con người, như trong suốt dưới những tia nắng mặt trời buổi sáng ; nó được chiếu rọi từ đầu đến cuối bằng tình yêu cuộc sống và niềm tin rằng con người trong lúc mãnh liệt hướng về hạnh phúc có thể tự mình tạo nên những điều kì diệu”. Nhưng ông không biết rằng những nhận xét rất mực tinh tế ấy còn có thể dành chơ những thiên truyện ngắn của ông – những thiên truyện như là tập hợp của tình yêu thương và lòng nhân ái. Chính trang văn ấy đã làm rung động trái tim hàng triệu người đọc trong gần năm thế kỉ đã qua.
Khó có thể tôn vinh riêng một truyện ngắn nào của Pau-tốp-xki, truyện nào là hay nhất, tuyệt diệu nhất. Riêng tôi, một truyện ngắn Lẵng quả thông đã làm rung động tâm hồn tôi bằng một rung động sâu xa nhất, những ấn tượng về nó rất khó phai nhạt.
Cũng thật tình cờ, trong một bài giảng về văn xuôi trữ tình Nga, cô giáo tôi đã đọc mấy câu thơ của nhà thơ Bằng Việt:
Những trang sách đi suốt đời vẫn nhớ
Những đám mây ngủ sắc ngủ trong đầu
“Lẵng quả thông” với suối nhạc nhiệm màu
Hoặc:
“Chuyến xe đêm” thẫn thờ mê đắm
Mùi cỏ dại trên cánh dồng xa thẳm
Một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa…
Nghe cô đọc, tôi thấy say mê với những dòng thơ tràn đầy cảm xúc đó và cố gắng tìm tòi để được đọc. Tôi đã tìm được bài thơ Nghĩ về Pau-tốp-xki trong tập thơ Bằng Việt. Và sau đó lồ tìm đọc truyện ngắn của nhà văn lãng mạn nổi tiếng này… Đây là truyện ngắn đầu tiên đưa tôi tới thế giới văn chương của Pau-tốp-xki, lần đầu làm quen với cái giản dị, mộc mạc, trong sáng của thứ văn xuôi đầy chất thơ này. Nhưng rõ ràng, mỗi lần đọc Lẵng quả thông, trong tôi lại dâng lên niềm xúc cảm ngọt ngào, lòng tôi lại ngân nga tiếng hát.
Truyện được in trong cuốn Tuyển tập Pau-tốp-xki của Nhà xuất bản Văn học Mat-xcơ-va, xuất bản năm 1957. Đó là một câu chuyện cảm động về nhạc sĩ Ê-đua Gri-gơ và cô bé con ông gác rừng Đa-nhi Pê-đéc-xen.
Trong khu rừng ven biển tràn mùi muối, nhiều quả thông, người nhạc sĩ vĩ đại đã hứa với cô bé có đôi mắt xanh rằng ông sẽ tặng cô một món quà đặc biệt khi nào cô mười tám tuổi. Và ông đã làm thật. Ông đã viết nên một bản nhạc trong đó tôn vinh cái đẹp vô cùng của lòng trinh trắng, hạnh phúc, nét tuyệt diệu của thiên nhiên quê hương cô. Mười năm sau, một sự tình cờ đã giúp cô gái mười tám tuổi Đa-nhi Pê-đéc-xen nghe được bản nhạc dành riêng tặng mình. Khi hiểu hết được sự thiêng liêng, cao quý và vẻ đẹp diệu kì trong đó, cô bật khóc vì xúc động, rồi lại cười. Cười vì cô thấy cuộc đời đẹp biết bao và hạnh phúc luôn tràn ngập khắp mọi nơi.
Tôi luôn tưởng tượng rằng Pau-tốp-xki sáng tác truyện ngắn này khi đang lang thang trong những khu rừhg gần thành phố Béc-ghen. Không phải vô cớ mà nhà nghiên cứu Phan Hồng Giang đã nhận xét: Pau-tốp-xki đã run rây đón nhận từng ưẻ đẹp li ti nhất để rồi trả lại cho chúng ta chính vẻ đẹp ấy với sắc màu, hương vị tươi nguyên. Thiên nhiên trong truyện Lẵng quả thông hiện lên thật đến nỗi dường như ta có thể cảm thấy bằng các giác quan. Ta thấy ánh bàng bạc của sương mù, mậu xanh của rêu, những tiếng,vang trên các ngọn núi, hương nấm và tiếng lá rì rào. cảnh sắc mùa thu hiện ra trong một màu vàng lấp lánh, kì diệu vô cùng. Ta hãy nghe nhà văn viết: Nếu như ta có thể lấy hết đồng và vàng trên trái đất đem đánh thành muôn vàn lá cây rất mực tinh xảo thì những chiếc lá đó cũng chỉ có thể làm thành một phần rất nhỏ bộ quần áo mà mùa thu đang trải trên những ngọn núi kia mà thôi. Đó là những nhận xét của một con người yêu thu, nhận ra nhiều điều về cái mùa tuyệt vời mà có thể ai đó trong chúng ta đã vô tình bỏ qua.
Pau-tốp-xki viết: “Người giàu tưởng tượng có thể nghe thấy giữa những bức tường trắng ở đây nhiều điều kì diệu”. Những nốt trầm hùng vang lên trong “tiếng gầm thét của Bắc Băng Dương”, những nốt cung bậc cao vang lên trong “tiếng gió rú rít kể câu chuyện cổ tích cổ xưa” rồi những nốt son, la ngân nga êm dịu khi “đứa bé gái ru con búp bê bằng vải vụn”.
Ta không thể nghe được bản nhạc tuyệt diệu mà nhạc sĩ Ê-đua Gri-gơ đã dành tặng cho cô bé Đa-nhi Pê-đéc-xen nhưng lại tưởng tượng ra nó qua trang văn Pau- tốp-xki. Trong lúc này đây, ta như đạng đứng bên ngoài cửa sổ căn nhà người nhạc sĩ, lắng nghe tiếng dương cầm “những phím đàn đen và trắng” lướt nhanh dưới ngón tay chắc nịch. Nhạc vang lên như dông tố rồi lặng đi. Trọng phút ấy “chỉ có một sợi dây đàn nhỏ bé là còn rung mãi như thể nàng Lọ Lem bị các chị mắng mỏ đang than khóc“. Tiếng rung ngân nga êm dịu cho đến khi tắt hẳn. Ta thấy tuyết rơi như đang trôi theo dòng suối nhạc, ta thấy tiếng lanh lảnh của chiếc thuyền bằng pha lê đang va vào nhau và nàng Lọ Lem mỉm cười. Trong dòng nhạc như mang âm thanh tiếng lòng của nhà nhạc sĩ đại tài người Áo thầm thì “Cháu là mặt trời, cháu như làn sóng dịu êm, như buổi sáng tươi mát. Cháu là hạnh phúc, cháu là ánh lấp Iánh bình minh”. Và người nhạc sĩ thầm ước mong: “Cầu Chúa ban phước lành cho mọi uột xung quanh cháu, cho tất cả những gì chạm tới cháu uà những gì cháu chạm tới”. Những chữ cái bộng biến thành nốt nhạc và cứ thế tuôn trào theo phím đàn. Nó khiến lũ chim bối rối, làm xúc động con tim người cho đến cả những con côn trùng bé xíu.
Ta tự hỏi: những ý nghĩ của nhạc sĩ sẽ gửi qua phím đàn, Đa-nhi có nghe thấy không? Cô đã nghe thấy.gì, đã cảm thấy gì? “Một tiếng tù và mục đồng rúc lên trong buổi sáng tinh sương” – một nốt cào vang lên như mời gọi. Rồi điệu nhạc du dương lớn dần. Những nốt trầm “như một luồng gió” mạnh mẽ, và nốt thấp hơn “cất mình lên cao”. Đa-nhi nghe thấy tiếng nói của quê hương trên những ngọn núi, trong tiếng sóng rì rào. Nốt trong vắt, leng keng như “tiếng quả chuông nhỏ” tiếng của “đàn chim nhào lộn trên không” và cao hơn nữa, tiếng “trẻ hú gọi nhau trong rừng”. Rồi chậm chạp như tiếng sủi bọt con tàu rồi bất ngờ cao lên khi “gió reo cơ trên cánh buồm” ca ngợi tự do và hạnh phúc.
Luồng không khí âm nhạc thổi tới khắp nơi, tràn ngập bầu trời, vạch mây mù để lộ ra những vì sao lấp lánh. Và Đa-nhi nghe thấy tiếng nói thân thương nãy giờ ẩn kín trong nốt nhạc: “Dù ai có nói uới cháu những gì đi nữa thì cháu hãỵ cứ tin rằng cuộc đời thật là kì diệu uà tuyệt đẹp”, đột nhiên âm thanh ngân nga và da diết: “Cháu là hạnh phúc. Cháu là ánh lấp lánh của bình minh”. Đa-nhi thấy mình như bay theo dòng nhạc đang cuồn cuộn chảy trôi tới một xứ sở diệu kì, nơi chỉ có ánh sáng và hạnh phúc, nơi tràn ngập tình yêu, nơi không có đau khổ nào làm ta nhỏ lệ. Nốt trầm bổng bay nhanh hơn như một đám mây huyền diệu, nâng bổng cô lên cao mãi …
Có ai đó đã nói rằng: “Nghệ thuật đem lại cho con người những gì đẹp nhất”. Cho dù là văn, thơ hay nhạc, hoạ đều đúng theo câu nói ấy. Bản giao hưởng của nhạc sĩ Gri-gơ đã đem lại cho cô bé Đa-nhi niềm tin vào cuộc đời vẫn còn những điều kì diệu.
Bản nhạc “chỉ cho cô thấy cái tuỵệt mĩ mà con người thì phải sống bằng cái tuyệt mĩ ấy”. Vào cuối truyện, Đa-nhi đã thốt lên trước biển cả mênh mông: “Đời ơi hay nghe đây! Ta yêu Người”. Ta có thể tin chắc rằng cô sẽ được hạnh phúc, bởi vì: “Con người trong giây phút mãnh liệt hướng về hạnh phúc có thể tự mình làm nên những điều kì diệu”.
Cho dù giờ đây Pau-tốp-xki đã xa chúng ta, nhưng những truyện ngắn của ông vẫn sông mai tronq lòng người đọc. Ta lại nhớ lại ý thơ của nhà văn Bằng Việt : “Lẵng quả thông’’ trong suối nhạc diệu kì. Suối nhạc ấy sẽ còn tuôn trào, sẽ còn được chúng ta yêu mến như một áng văn bất hủ.
(Lưu Hoài An, lớp 9A9, Trường THCS Ngô Sĩ Liên,
Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội)
Nhận xét
Một bài văn nghị luận về tác phẩm văn học nhưng thấm đẫm cảm xúc của người viết. Có cảm giác như bạn làm bài biểu cảm về tác phẩm Lẵng quả thông. Người viết đã phân tích, đã bàn luận về tác phẩm ở góc độ một người thưởng thức, một người say mê Lẵng quả thông. Bạn đã đọc tác phẩm không chỉ bằng mắt, mà bằng cả trí tưởng, tượng, liên tưởng mạnh mẽ: “Thiên nhiên trong truyện Lẵng quả thông hiện lên thật đến nỗi dường như ta có thể cảm thấy bằng các giác quan. Ta thấy ánh bàng bạc của sương mù, màu xanh của rêu, những tiếng vang trên các ngọn núi, hương nấm và tiếng lá rì rào. cảnh sắc mùa thu hiện ra trong một màu vàng lấp lánh, kì diệu vô cùng. Ta hãy nghe nhà văn viết: “Nếu như ta có thể lấy hểt đồng và vàng trên trái đất đem đánh thành muôn vàn ìá cây rất mực tinh xảo thì những chiếc lá đó cũng chỉ có thể làm một phần rất nhỏ bộ quần áo mà mùa thu đang trải trên những ngọn núi kia mà thôi.”. Đó là nhữhg nhận xét của một con người yêu thu, nhận ra nhiều điều về cái mùa tuyệt vời mà có thể ai đó trong chúng ta đã vô tình bổ qua”.
Kết hợp với thơ Bằng Việt, nhận xét của chính Pau-tốp-xki, đánh giá của Phan Hồng Giang, bạn đã làm cho bài văn nghị luận có thêm những căn cứ xác đáng. Sự say mê và hứng thú của bạn đã truyền-xúc động sang cho người đọc. Và có lẽ có thể còn có thể góp ý về sự rành mạch của luận điểm, luận cứ, nhưng viết về tác phẩm cụ thể như bạn là một lối viết độc đáo. Rất đáng khen. | Nghị luận văn học hay nhất – Ngữ Văn 9 | 5,524 | |
Nghị luận văn học là nhân học – M.Gorki
Hướng dẫn
Cốt lõi của văn học vì con người mà lên tiếng bênh vực
Mở bài:
Mối quan giữa văn học và nhân học không phải bỗng nhiên mà thành. Trong quá trình tạo dựng sự nối kết hai lĩnh vực cũng đã có không ít những bất đồng về quan điểm. Ngay trong khái niệm nhân học, theo nghĩa hẹp nhất, là khoa học về con người. Quan niệm ấy đã kéo theo một lịch sử lâu dài nhiều hoạt động và lĩnh vực liên quan. Ngay từ buổi sơ khai, văn học đã không thể tách rời khỏi nhân học. Nó hình thành nên bản chất cốt lõi của văn học ngày nay.
Thân bài:
Văn học là gì?
Văn học là khoa học về cái đẹp (văn) trong cuộc sống, được biểu đạt bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu hình tượng. Cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua bình diện ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn học có tính hình tượng, được sắp xếp theo một tổ chức nhất định để ngôn từ phát huy giá trị của nó. Đồng thời nó có tính chuẩn mực cao (hàm súc và cô đọng, đa nghĩa, biểu cảm).
Văn học biểu đạt nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn bộ của con người trước cuộc sống. Những vấn đề nhân sinh cũng được đặt ra ở trong đó.
Nhân học là gì?
Nhân học là một lĩnh vực nhận thức khoa học, trong đó nghiên cứu các vấn đề nền tảng của tồn tại con người trong môi trường tự nhiên và nghệ thuật. Theo nghĩa chung nhất “Nhân học” là khoa học về con người.
“Văn học là nhân học”nghĩa là gì?
Thông qua các tác phẩm, văn học phản ánh toàn diện đời sống tinh thần, vật chất và các quy luật vận động của xã hội loài người. Theo câu nói của M.Gorki thì “nhân học” ở đây trọng tâm tập trung phản ánh tính xã hội của con người, tức lòng nhân ái của con người.
Như vậy, “Văn học là nhân học” có thể hiểu văn học đã phản ánh, đề cao tình yêu thương con người trong mỗi tác phẩm văn chương. Văn học lấy con người làm đối tượng phản ánh và hướng đến phục vụ đời sống con người.
Tại sao “Văn học” có thể là “nhân học”?
Lúc ban đầu, văn học chỉ là một hình thức nghệ thuật ghi lại những suy nghĩ, cảm nhận và rung động của con người về hiệu thực cuộc sống. Trải qua thời gian, văn học trở thành phương tiện giúp con người phản ánh sâu sắc đời sống hiện thực, đời sống tinh thần và là công cụ dùng để đấu tranh cho lẽ phải, sự công bình. Thế nhưng, chức năng này không phải nhà văn nào cũng tôn trọng và vận dụng.
Đó là phát hiện mới mà lại không mới, được tinh kết trong một câu nói ngắn gọn mà không ngắn gọn. Đối với những người chỉ coi văn chương là một thứ phù phiếm thì câu nói ấy gần như vô nghĩa lí. Triết lí ấy cũng không có gì đáng phải suy nghĩ. Nhưng ở đây, M.Gorki thực sự đã đặt ra một mệnh đề đòi hỏi chúng ta phải suy ngẫm.
Cũng như hội họa, ca nhạc, điêu khắc… trước hết văn học là một bộ môn nghệ thuật. Văn học tuân thủ các nguyên tắc của một bộ môn nghệ thuật ngôn ngữ với kết cấu phức tạp và chặt chẽ của nó. Nó mang đậm đặc trung của bộ môn nghệ thuật. Bởi thế, nó hướng đến chức năng giải trí, làm thỏa mãn nhu cầu cảm nghiệm của con người.
Nhưng đối với văn học đích thực, nó vượt lên trên điều đó khi tồn tại và phát triển. Đối tượng chủ đạo của văn học là con người và hiện thực cuộc sống. Hai đối tượng ấy được soi chiếu qua mọi góc độ trong sự tương quan phức tạp, đa chiều.
Nói văn học là nhân học là một nhận định hoàn toàn đúng đắn và giàu tính nhân văn. Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn phải nhận thức con người và đời sống con người. Văn học nói lên những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của con người trong chiều sâu tâm hồn với sự đa dạng, phong phú.
Đọc những bài ca dao bình dị trong kho tàng văn học dân tộc ta hiểu rõ đời sống tâm tư, tình cảm của những người lao động nghèo khó mà nghĩa tình, khát khao cuộc sống yên bình, tươi đẹp. Những bài ca dao ngắn ngủi, mềm mại đâu chỉ là một hình thức nghệ thuật đơn thuần mà chứa trong nó là cả một thế giới được lưu giữ cẩn thận và bền lâu.
Qua hình ảnh chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố ta hiểu người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám luôn khao khát có một cuộc sống yên bình trong cuộc sống vốn đầy rẫy sự bất công. Đối với họ, nghèo khổ không thực sự đáng sợ. Cái đáng sợ hơn đó là tai họa có thể giáng xuống đầu họ bất cứ lúc nào mà họ thì hoàn toàn không có khả năng phòng bị hay phản kháng. Ta cũng hiểu ra ý nghĩa của cái nhan đề Tắt đèn, vừa tinh tế vừa đầy cảm thương của nhà văn đối với số phận con người.
Chỉ đến lúc nào đó văn học mới là văn học đích thực khi văn học. Nó thể hiện được sự khám phá và sáng tạo. Nó hình thành những kiến giải hay và đẹp về con người và đời sống con người. Với văn học, chất liệu đầu tiên để cấu thành tác phẩm là ngôn từ. Nhưng yếu tố cuối cùng quyết định sự sống còn của tác phẩm lại không phải là ngôn từ. Đó chính là hình tượng nhân vật. Nhân vật văn học không ai khác chính là những con người trong cuộc sống. Trở thành đối tượng phản ánh của văn học, con người hiện ra sinh động, chân thực trong mỗi tác phẩm. Tất cả chứa đựng tính nhân học của văn học.
Đọc tác phẩm ta nhận ra mình qua mỗi nhân vật ở từng ngóc ngách nội tâm, từng biểu hiện tình cảm, hiểu đúng hơn và nhiều hơn về cái thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn vốn bị cái bề ngoài bao phủ. Và chính cái “thế giới tinh thần phong phú và bí ẩn” ấy thể hiện rõ nhất cái “nhân học” của văn chương.
Qua nhân vật Thúy Kiều cho ta thấy được sự vận động tinh thần của nàng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Lúc vui tười, hạnh phúc. Lúc lại khổ đau, tủi nhục đến vô hạn. Lúc bế tắc, tuyệt vọng cùng cực. Chính điều đó khiến ta biết cảm thông, chia sẻ và đồng cảm với thân phận và cuộc đời khổ nhục của nàng. Và từ đó càng căm ghét hơn cái xã hội bất nhân tàn bạo đã chà đạp lên nhân cách nhân phẩm con người; tước đoạt quyền sống, quyền làm người của những con người nhỏ bé trong xã hôi.
Chính văn học đã phát hiện và tôn vinh những phẩm chất quý báu ở con người vốn bị cuộc đời trần trụi che phủ. Sự thấu nhận từ thực tế đôi khi bị sai lệch nhưng trong tác phẩm, người đọc có thể bình tĩnh thấu suốt điều đó một cách rõ ràng.
Nhờ tác phẩm Chí Phèo mà ta biết rằng trong chính những kẻ xấu xí nhất trần gian, trái tim cũng biết rung động vì yêu. Qua nhân vật AQ ta mới biết rằng trong cuộc đời cũng có lắm kẻ có phép thắng lợi tinh thần một cách đáng thương. Văn học đã cho ta cái nhìn thấu suốt vào đời sống con người mà không một nghệ thuật nào làm được. Văn học tìm kiếm, phát hiện và ngợi ca những điểm sáng ở họ, vốn từ lâu đã bị cuộc đời che phủ.
Không còn nghi ngờ gì nữa, sản phẩm tạo ra trong quá trình tương tác đó chính là “nhân học” – tình yêu thương con người và cuộc sống. Kể cả kết quả sau cùng của nó cũng vì con người mà tồn tai.
Văn học còn là sự thể hiện tinh tế tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng, quan điểm và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn đối với con người và cuộc sống. Mỗi trang văn, mỗi bài thơ (đích thực) dù nói về gì, đề tài gì rộng lớn hay bé nhỏ đều thể hiện lòng yêu, sự ghét của tác giả. Tác phẩm thể hiện một quan điểm nhân sinh hoặc lên án cái ác, hoặc ca ngợi tình yêu, đưa tới sự hướng thiện, cái cao cả, cái đẹp của thiên nhiên và con người.
“Văn học là nhân học” là một ẩn ý súc tích như bản chất của văn học. Văn học là khoa học về con người. Không phải là cái con người sinh học với đầy đủ chân, tay, mắt, mũi, tim, gan…mà đó là những con người với cuộc sống tinh thần phong phú và đa dạng của họ. Tư tưởng ấy không chỉ là lí thuyết suông mà nó biến thành hành động, trở thành động lực thúc đẩy hành động.
Học văn là để hiểu sâu hơn tâm hồn con người. Đồng thời cũng là để học cách làm người. Phải chăng đó chính là điều Gorki muốn nói với chúng ta – những người đã phần nào đặt chân vào ngưỡng cửa văn học?
Kết bài:
Đến với văn chương là bước vào thế giới của tình người. Tác phẩm chính là điểm gặp gỡ đầu tiên giữa nhà văn và đọc giả thông qua thế giới nhân vật sinh đông, phong phú. Để văn học là nhân học thì cả nhà văn và người đọc đều phải “kết dính” trong tình yêu thương con người vô hạn và vĩnh hằng. | Nghị luận văn học là nhân học – M.Gorki | 1,729 | |
Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm – văn lớp 12
Hướng dẫn
Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm – văn lớp 12
Bài làm
Tấm Cám là câu truyện cổ tích dân gian quen thuộc đối với mọi thế hệ người Việt Nam. Ngay từ khi còn nhỏ, mọi đứa trẻ đều từng được bà và mẹ kể cho nghe câu truyện về cuộc đời nàng Tấm xinh đẹp, dịu hiền và đầy đáng thương. Tuy có nhiều dị bản nhưng nội dung cơ bản của cốt truyện không khác biệt nhiều giữa các dị bản, trừ phần kết truyện. Câu truyện kết thúc bằng sự trả thù khá tàn nhẫn của Tấm được lưu truyền với nội dung khác nhau song dù là hình thức trả thù nào cũng không tránh khỏi sự ghê rợn và gây tranh cãi cho người đọc.
Nhân vật chính của câu truyện là Tấm – một cô gái hiền lành, đảm đang nhưng số phận không yên ả. Bố mất sớm, Tấm ở với mẹ kế và Cám. Dù khoong một lần phản kháng hay cãi lại yêu cầu quá quắt của hai mẹ con Cám nhưng chuỗi ngày tháng sống cùng một ngôi nhà với hai mẹ con dì ghẻ là sự cơ cực, đau khổ và bị chửi bới thậm tệ mà Tấm phải trải qua. Không còn bất cứ quyền lời nào của con người, Tấm trở thành nô lệ cho hai mẹ con. Dưới sự bóc lột và đối xử thậm tệ mà hai người dành cho Tấm, ta chỉ thấy một sự im lặng và cam chịu đến đáng sợ. Tấm không dám phản đối hay đấu tranh cho quyền lợi của mình. Những người xung quanh cũng không lên tiếng để bảo vệ cô. Điều này cho thấy sự bất công và đầy nghịch lí đang tồn tại trong xã hội ấy. Đó là xã hội “thắng làm vua, thua làm giặc”, là xã hội của kẻ mạnh, có quyền, có tiền.
“Kẽo cà kẽo kẹt
Lấy chung chồng chị
Chị khoét mắt ra”.
Chính thời điểm này, Tấm đã thể hiện sự vùng dậy của mình. Dù mới chỉ dừng lại ở lời nói, câu đe dọa nhưng có thể thấy, đến đây, ở Tấm có sự chuyển biến rõ rệt. Không một ai biết liệu Tấm sẽ khiến hai mẹ con Cám trả giá ra sao nhưng ít nhất, nó cũng là một điều dự đoán tương lai – khi Tấm trở về trừng phạt tội ác mà hai người kia gây ra cho Tấm. Hơn nữa, lần hóa kiếp thành quả thị cũng hoàn toàn khác so với những lẫn trước. Tấm không còn xuất hiện ở gần hoàng cung hay nơi ở của Cám và mẹ kế nữa để đảm bảo cho sự an toàn của chính mình. Tấm đã biết bảo vệ bản thân trước sự ác độc không còn tính người của bà mẹ kế cùng con gái.
Sau nhiều lần bị hãm hại cùng sự lặng câm hứng chịu mọi thứ, Tấm trở về và đòi lại tất cả. Tấm đã từng rộng lượng, đã từng rất vị tha nhưng sự đuổi cùng giết tận của hai mẹ con dì ghẻ đã đi quá xa sức chịu đựng của một con người. Và Tấm đã dùng hình thức dã man để trừng phạt hai kẻ bất nhân bất nghĩa: lừa Cám tắm nước sôi, dùng xác Cám làm mắm cho dì để bà bị sốc mà chết. Nhiều người cho rằng hành động này đã xóa bỏ hoàn toàn hình ảnh một cô gái hiền dịu, nhẹ nhàng, trở thành một người độc ác nhưng để xét về hoàn cảnh thực tế, ta sẽ thấy một góc nhìn nhận khác. Có áp bứ thì có đấu tranh, Tấm giết hai mẹ con Cám nhưng ngược lại, hai người họ đâu chỉ giết Tấm chỉ một lần? Gieo nhân nào thì gặt quả đấy, hai người đó đã gieo nên nghiệt ác quá lớn nên hậu quả họ gánh lấy cũng cần tương đương với tội ác họ gây nên. Hơn nữa, với tư tưởng làm người cần biết đấu tranh cho hạnh phúc chính đáng của mình, đồng thời luôn đấu tranh diệt trừ cái xấu cho xã hội thêm tốt đến, nhân dân để cho tự bản thân Tấm trừng trị thích đáng những kẻ đáng bị trừng phạt. Bởi nếu để chúng sống, Tấm sẽ lại bị giết hại một lần nữa. Không phải trởi đất trừng trị, ở đây là những người bị áp bức đích trừng trị kẻ hãm hại mình để bảo vệ quyền sống chính đáng của bản thân. Điều này là hoàn toàn hợp lí. | Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm – văn lớp 12 | 792 | |
Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm
Hướng dẫn
Đề bài: Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm – văn lớp 12.
Bài làm
Cái kết của câu chuyện Tấm Cám luôn gây nhiều tranh cãi đối với dư luận xã hội. Bởi từ một con người mẫu mực như Tấm lại có cách trả thù tàn bạo, độc ác như vậy. Hành động trả thù của Tấm là đúng hay sai, có chứng tỏ rằng sau bao nhiêu sóng gió cô đã trên nên ích kỉ, độc ác hay không? Hành động này có khiến cho bạn có suy nghĩ khác về nhân vật Tấm hiền lành không?
Nhân vật Tấm được khắc họa là cô gái hiền lành, xinh đẹp, chăm chỉ, giỏi giang ở với dì ghẻ và Cám. Cuộc sống của Tấm là chuỗi ngày cay đắng, bị ghẻ lạnh, bóc lột, chửi bới thậm tệ. Nhiều bất công đến với Tấm nhưng cô vẫn câm lặng, nín nhịn, chịu đựng vì gì ghẻ là người cay nghiệt, luôn muốn hành hạ Tấm cho hả giận. Trong gia đình này, Tấm như một người thừa, nói đúng hơn là nô lệ cho hai mẹ con Cám. Cuộc sống ấy hỏi rằng có xứng đáng với cô gái hiền lành, chăm chỉ như Tấm không? Xã hội có lên án hành động và thái độ cư xử của hai mẹ con Cám không. Bởi rằng xã hội phong kiến lúc đó nhiều bất công và nước mắt, kẻ mạnh thì thắng, kẻ yếu thì chỉ mãi không ngóc đầu lên được.
Tấm sau nhiều lần hóa kiếp thành chim vàng anh, cây xoan, khung cửi, quả thị đều bị mẹ con Cám tìm mọi cách để “giết” đến cùng. Khi còn sống và khi đã chết, hộ đều không tha cho Tấm. Hỏi rằng có hành động nào tàn bạo hơn thế nữa không.
Bởi vậy, chúng ta có thể khẳng định được răng hành động trả thù của Tấm là nhân quả cho những gì mà mẹ con Cám đã gieo rắc, đã làm với Tấm trước đây. Cái ác là bản chất, nếu nó tồn tài thì còn khủng khiếp hơn gấp trăm vạn lần. Sự phẫn nỗ của Tấm đã dồn nén ở cách trả thù. Họ đã ép Tấm phải ra tay như vậy. Không hề quá đáng chút nào.
Tấm trải qua bao nhiêu biến cố đã thực sự gan dạ, dũng cảm, thực sự nhận ra được rằng không nên nhẹ dạ cả tin. Cái ác nếu không tiêu diệt thì sẽ vẫn luôn tồn tại ở đó, không hề biến mất. Bởi thế hành động trả thù bằng cách dội nước sôi vào Cám, chặt đầu, làm thành mắm gửi cho gì ghẻ hoàn toàn không có gì sai. Mọi thứ khi đã đi quá giới hạn thì không còn con đường nào khác là tiêt diệt, là trừ khử. Khát vọng muôn đời của mỗi con người chính là vươn lên những gia trị tốt đẹp nhất, và Tấm cũng vậy, cô muốn chính tay mình trừ khử cái ác, không để lại một mầm mống để nảy nở.
Thực ra trong hành động của Tấm đã có chút nhân đạo. Tấm chỉ giết mỗi Cám, còn mụ gì ghẻ thì Tấm không giết. Có thể nói đây là sự trừng phạt cực lỳ lớn dành cho gì ghẻ. Nhớ lại cách trả thù của ông trời trong truyện Thạch Sanh, mẹ con Lý Thông bị ông trời trừng trị. Nhưng ở đây, không phải ông trời trừng trị mà do chính những người đã từng bị áp bức trừng trị. Đây là sự chuyển biến mới và ý thức mới của con người. Chính tay người bị hãm hãi trừng trị người hãm hại là một điều hợp lý. Bởi vậy Tấm không có gì là sai.
Như vậy, có thể nói hành động trả thù của Tấm là hành động đáng làm và đáng khen, không hề đáng trách. Con người luôn cần phải biết mạnh mẽ hơn sau nhiều biến cố. | Nghị luận văn học về hành động trả thù của Tấm | 683 | |
Nghị luận văn học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc
Hướng dẫn
Nghị luận văn học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc
Bài làm
Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã bộc lộ rõ được tâm trạng cô đơn, lẻ loi của người vợ nhớ chồng ra trận trinh chiến và thể hiện rõ được nghệ thuật miêu tả tâm trạng của hai tác giả Đặng – Đoàn, trong đó không thể không nhắc đến nghệ thuật diễn Nôm đặc sắc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Bức tâm tình người chinh phụ trong đoạn trích này thể hiện rõ nỗi nhớ mong chồng, khao khát một cuộc sống gia đình bình dị, yên ấm và ước mong một ngày vợ chồng đoàn tụ.
Trong toàn bộ tác phẩm chinh phụ ngâm tâm tình người phụ nữ được tác giả diễn tả đặc sắc tinh tế đó là tâm tình người chinh phụ nhớ mong chồng khao khát cuộc sống gia đình bình dị, ước mong về ngày đoàn tụ vợ chồng. Đó là khát vọng của biết bao người phụ nữ trong xã hội đang phải sống trong cảnh loạn lạc, chiến tranh liên miên. Đoạn trích ” Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” cho ta thấy rõ tâm trạng người phụ nữ thông qua nghệ thuật miêu tả tâm trạng bậc thầy của tác giả Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm.
Tình cảnh nổi bật của người phụ nữ nói chung, chinh phụ nói riêng đó là: Cô đơn, chống vắng, lẻ loi. Người chinh phụ xuất hiện như có như không, như tỉnh, như thức trong từng bước đi từng động tác trong mối quan hệ không gian và thời gian.
” Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”
Trong những câu thơ đầu hình ảnh quan trọng được tô đậm nhấm mạnh trở đi trở lại là tấm rèm và bóng đèn, người chinh phụ ngồi rèm thưa mà trông ra ngoài đợi tin chồng nhưng chẳng thấy đâu, cuộc sống nơi trong rèm, ngoài rèm hiên vắng chính là cuộc sống nơi phòng khêu. Là sự bó buộc, trói buộc trong một không gian chật hẹp, tù đọng mà người chinh phụ phải chịu đựng đó cũng là sự trói buộc của xã hội của tất cả người phụ nữ trong xã hội Nam quyền xưa.
Dưới hình thức câu hỏi tu từ nhưng lại nhấn mạnh khoảng thời gian đêm khuya đèn sáng làm tôn thêm vẻ vắng lặng cô đơn người chinh phụ. Hình ảnh đèn và bóng người trong câu thơ gợi ta nhớ hình ảnh Vũ Nương trong chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ. Nhưng nếu như bóng nàng Vũ Nương trên tường mỗi khi đêm về là đối tượng để nàng trò truyện với con để gắn kết tình cha con của bé Đân thì hình ảnh bóng người khá thương trong câu thơ càng tô đậm tình cảm đau khổ người chinh phụ một mình đối diện với chính mình. Hai cuộc đời hai số phận nhưng họ đều chung cảnh ngộ trông ngóng người chồng đi đánh trận từ đó thấy rằng thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia hiện lên đáng thương, đáng sẻ chia họ như mất hết sức sống, đã bị vật hóa tựa như tàn đèn cháy để kết lại đầu, bấc. Bây giờ họ chỉ là bóng người là hiện thân kiếp hoa đèn tàn lụi.
Ngay cảnh vật và sự sống bên ngoài cũng nhuốm vẻ tai thương chập chờn bất định không dễ nắm bắt với ” Tiếng gà eo óc gáy xương năm trống” rồi ” hè phất phơ rả bóng bốn bên thời gian trôi đi người chinh phụ không chỉ chờ đợi ngóng chông ban ngày, ngay cả đêm khuya nàng vẫn nhớ nung sâu muội.
” Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Trong sự chờ đợi người chinh phụ thấy một khoảng thời gian nhắn một khắc, một giờ mà dài như một năm mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang những từ láy đằng đắng rải rác tạo âm điệu buồn thương, ngàn xa như tiếng thở dài người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng nếu người thiếu phụ TQ. Trong ” Nỗi oán người phòng khuê” bước lên lầu để ngóng chồng, trang điểm, nhìn màu dương liễu hối hận để chồng đi, thì người chinh phụ trong chinh phụ ngâm đã tìm đến những việc làm để vơi đi nỗi nhớ chồng, hương gượng đốt, gương nguội soi…nàng còn rơi vào cảnh bi thảm hơn người thiếu phụ TQ. Khi mà nàng mang tìm được sự thanh thản nhưng kết quả Hồn đà mê man, lệ chứa chan, gượng gảy đàn những lo sợ… rõ ràng vì nhớ thương mong ngóng chồng mà khiến người chinh phụ thêm sót xa lo lắng, tâm trạng ấy cứ đan xen đeo bám nàng. Khiến nàng càng đau khổ, vô vọng.
” Lòng này gửi gió đông có tiện?
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”
Câu hỏi tu từ kết hợp cử chỉ trân trọng đã thể hiện tình cảm thiêng liêng trong lòng người chinh phụ, hình ảnh ước lệ: Non yên địa danh Trung Quốc. Kết hợp từ ngữ: Cò tiến, nghìn vàng, xin. Khiến cách biểu đạt trang trọng cổ kính và thể hiện sự nhún mình, năn nỉ người chinh phụ nhưng câu thơ sau đó lại như phủ nhận ước vọng của nàng.
” Non Yên dù chẳng tới miền” để rồi nàng lại trở về với nỗi nhớ và nỗi nhớ ấy tràn ra cả không gian rộng lớn nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời trong hình ảnh khoa trương có cả thời gian thường nhớ đằng đẵng có cả không gian chia li rộng lớn mà chỉ kích thước vũ trụ đường lên bằng trời mới sánh kịp nhưng thời gian đằng đẵng, không gian xa cách vô tận chính là đã khắc họa sâu hơn nỗi cô đơn trong lòng người chinh phụ.
“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.”.
Mỗi từ ngữ trong câu thơ đều thấm đẫm tâm trạng người chinh phụ thăm thẳm gợi độ sâu, cao nỗi nhớ và nó còn ngầm ý oán trách từ đau đáu như thể hiện sự dõi nhìn tập chung cao độ cùng nỗi đau, thèm khát trong trái tim yêu thương của người chinh phụ. Những từ láy thuần việt được vận dụng linh hoạt tài tình đã thể hiện tài năng tác giả trong việc hiện thực hóa cung bậc trạng thái cảm xúc người chinh phụ.
” Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”.
Câu thơ gợi chúng ta nhớ đến một câu ” Người buồn cảnh đeo sầu. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tác giả chinh phụ ngâm đã nói lên hiện tượng cụ thể nỗi lòng hoàn toàn phơi bày ra ngoài cảnh vật. Cành cây sương đượm đã buốt giá, tiếng trùng đã ảo não lại còn mưa phun càng thêm giá buốt. Âm thanh một cõi lòng hòa âm thanh cảnh vật tâm trạng và tình cảnh người chinh phụ đã lẩn khuất trong hình ảnh âm điệu thiên nhiên, sao động lòng người.
Trên phương diện nghệ thuật thể thơ song thất lục bát với kiểu kết hợp hai câu bảy chữ kiểu đường thi cảm xúc đăng đối và câu thơ lục bát truyền thốn giàu âm điệu gợi cảm, gợi hình đã tạo nhịp điệu buồn thương man mát nỗi dài không riết trong tâm trạng người chinh phụ sự kết hợp hình ảnh từ ngữ mang tính biểu tượng đường thi với từ ngữ thuần việt giàu sắc thái biểu cảm tạo nét độc đáo cho thơ chung, chinh phụ ngâm riêng.
Đoạn trích là tiếng kêu thương người phụ nữ chờ chồng nhớ thương người chồng trinh chiến phương xa, tình cảnh lẻ loi đó được chiếu ứng trong cảnh chờ đợi thời gian đằng đẵng, không gian trống vắng bủa vây bốn bề cuộc sống vô vị mất sinh khí ở đó người phụ nữ sống trong cô đơn mất niềm tin, vui sống và không có trên hệ gắn bó cuộc đời rộng lớn đó chính là tình cảm người phụ nữ một thời qua đó tác giả tố cáo những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người trai ra trận và bao nhiêu người chinh phụ tựa cửa đợi chồng. Mặt khác tác phẩm còn lên tiếng nói đòi quyền sống hạnh phúc lứa đôi người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế. Đó chính là giá trị hiện thực nhân đạo mà tác phẩm thể hiện thành công. | Nghị luận văn học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc | 1,488 | |
Nghị luận văn học về đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” của Nguyễn Du- Văn lớp 9
Hướng dẫn
Nghị luận văn học về đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” của Nguyễn Du- Văn lớp 9
Bài làm
Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa thế giới. Ông cũng là một nhà thơ tên tuổi lẫy lừng ở Việt Nam. Nhắc tới Nguyễn Du người ta sẽ nghĩ ngay tới tác phẩm kinh điển của ông đó chính là Truyện Kiều.
Trích đoạn “Chị em Thúy Kiều” nằm ở phần đầu tiên của tác phẩm. Trong đó, tác giả đã vẽ lên hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân với hình thức mười phân vẹn mười.
Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Bốn câu thơ khiến cho người đọc gợi mở về hình ảnh hai chị em vô cùng xinh đẹp, thể hiện là những người có học thức con nhà gia giáo có cốt cánh, nhân phẩm.
Tác giả Nguyễn Du đã ví von hai cô gái xinh đẹp với mai và tuyết thể hiện vẻ đẹp tinh khôi, thanh mai của hai cô gái kiều diễm đang tuổi xuân xanh, đầy mộng ước.
Trong những vần thơ tiếp theo thể hiện sự tinh tế trong phong cách, vẽ lên vẻ đẹp của Thúy Vân:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Trong bốn câu thơ này Nguyễn Du thể hiện vẻ đẹp của Thúy Vân vô cùng đoan trang, một vẻ đẹp tròn đầy, thể hiện một tương lai hạnh phúc, viên mãn của cô gái này.
Vẻ đẹp của Thúy Vân khiến người đọc cảm thấy mê đắm, và tưởng tượng được tương lai tốt đẹp của Thúy Vân thể hiện cô là người có tấm lòng chung thủy mặn mà, hiền hậu đoan trang.
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Tác giả Nguyễn Du đã vô cùng tinh tế khi mà dùng Thúy Vân để làm đòn bẩy làm toát lên vẻ đẹp của Thúy Kiều. Chỉ bằng một chữ “hơn” người đọc có thể cảm nhận được rằng Thúy Vân đã đẹp lắm rồi, nhưng Thúy Kiều lại còn đẹp hơn rất nhiều, như vậy là đủ thấy vẻ đẹp của Thúy Kiều diễm lệ tới mức nào.
Cô mang một đôi mắt trong xanh như nước của mùa thu vừa mơ mộng vừa thanh mảnh, lông mày như một đường núi non vô cùng hiền hòa. Thúy Kiều sở hữu vẻ đẹp mà liễu hờn kém xanh. Một vẻ đẹp làm cho người khác, hoa cỏ phải nổi giận, dự báo một tương lai không vui vẻ hạnh phúc của Thúy Kiều.
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha mùi thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung Thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Trong những câu thơ này tác giả Nguyễn Du tập trung vào miêu tả tài năng của Thúy Kiều thể hiện cô là người vô cùng tài năng, nếu cô là người thứ hai thì trên đời không có ai là thứ nhất. Một người con gái tài sắc vẹn toàn đáng lẽ ra phải có một cuộc sống hạnh phúc viên mãn. Nhưng những nét đẹp và tài năng của Thúy Kiều lại dự báo cô sẽ có một tương lai gian nan, lận đận.
Trích đoạn “Chị em Thúy Kiều” là một trích đoạn hay độc đáo thể hiện vẻ đẹp và tài năng của hai chị em Thúy Kiều. Đồng thời cũng thể hiện tài năng của Nguyễn Du trong việc sử dụng từ ngữ. | Nghị luận văn học về đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” của Nguyễn Du- Văn lớp 9 | 643 | |
Nghị luận vấn đề tình hình trật tự an toàn giao thông nước ta hiện nay
Hướng dẫn
Giữ gìn trật tự an toàn giao thông là trách nhiệm của toàn xã hội
Mở bài:
Cùng với quá trình tăng trưởng của nền kinh tế là sự phát triển ồ ạt của các phương tiện giao thông khiến cho vấn đề trật tự an toàn giao thông nước ta ngày càng trở nên phức tạp, nảy sinh nhiều vấn đề nan giải. Không những số lượng tai nạn giao thông ngày càng tăng cao mà vấn đề ùn tắt giao thông, ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn ở các đô thị lớn, hệ thống đường xá xuống cấp ngày càng trở nên trầm trọng.
Thân bài:
Giao thông là hoạt động di chuyển, đi lại của con người cùng phương tiện giao thông diễn ra trên đường. Sự kết nối của các con đường từ nơi ở, nơi làm việc và các địa điểm khác tạo thành hệ thống giao thông rộng lớn, kết nối các vùng miền trên đất nước và thế giới.
An toàn giao thông là gì?
An toàn giao thông là tình trạng đi lại được yên ổn, không ai vi phạm trật tự đi đường, không có tai nạn sảy ra, không có thiệt hại về người và của. Có nhiều yếu tố thiết lập nên trận tự an toàn giao thông: đường sá, phương tiện giao thông, luật giao thông, ý thức giao thông, bộ máy quản lí giao thông… Trong đó, ý thức của người tham gia giao thông đogns vai trò quyết định, thiết lập an toàn giao thông trên đường.
Thực trạng vấn đề an toàn giao thông ở nước ta hiện nay:
Tình trạng giao thông ở nước ta mất an toàn nghiêm trong, không chỉ có ở đường bộ mà cả đường sắt, đường thủy, đường hàng không. Hàng loạt các vụ tai nạn (tai nạn đường bộ, tai nạn đường thủy, tai nạn hàng không) sảy ra trong thời gian vừa qua là hồi chuông cảnh tỉnh chúng ta về ý thức giao thông đúng đắn và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng phương tiện và các hoạt động quản lí giao thông đồng bộ trên toàn đất nước.
Tai nạn giao thông quá nhiều, phổ biến nhất hiện nay là tai nạn giao thông đường bộ, thường xảy ra với ô tô và xe gắn máy. Tai nạn có thể xảy ra với bất cứ ai, với bất cứ phương tiện nào và ở đâu. Tai nạn không chỉ đến với những người sử dụng giao thông mà với cả những người đi bộ trên vỉa hè, đang làm việc trên đường, thậm chí cả trong nhà cũng bị xe đâm vào.
Ở những thành phố lớn, nạn ùn tắc kẹt xảy ra hàng ngày vào những giờ cao điểm; ở nông thôn; cùng sâu vùng xa đi lại khó khan nguy hiểm.
Tại hội nghị an toàn giao thông toàn quốc ngày 28-12-2010, ông Thân Văn Thanh – chánh văn phòng Ủy ban An toàn giao thông quốc gia – cho biết từ đầu năm đến nay cả nước xảy ra gần 15.000 vụ tai nạn giao thông, làm chết trên 11.000 người, bị thương hơn 10.500 người. Đến năm 2016 (tính từ 16-12-2015 đến 15-12-2016), cả nước xảy ra 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người, làm bị thương 19.280 người. Tuy có giảm được số người chết nhưng số lượng các vụ tai nạn giao thông ngày càng tăng, gây mất trật tự an toàn giao thông và tổn hại nền kinh tế đất nước.
Gây thiệt hại lớn về con người. Người tử vong hầu hết ở lứa tuổi lao động, có nhiều trọng trách đối với gia đình. Người sống thì đau đớn, thương tật, tàn phế, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Không chỉ ở bản thân người bị tai nạn mà còn gây thương tâm cho người thân và hậu quả nặng nề cho cả cộng đồng xã hội.
Gây thiệt hại về của cải, chi phí điều trị và cơ sở vật chất nghiêm trọng. Ttheo ước tính của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) được công bố tại hội thảo về kiếm chế tai nạn giao thông do Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế tổ chức thì Việt Nam thiệt hại 885 triệu USD/ năm vì tai nạ giao thông. Đó là chưa kể chi phí y tế trung bình 4 triệu/người bị tai nạn giao thông.
Tai nạn giao thông gây ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Kinh tế chậm phát triển, chi phí giao thông lớn, nhất là phương tiện giao thong cá nhân; môi trường đầy khói bụi, tiếng ồn ào do phương tiện giao thông cơ giới gây nên ngày càng trầm trọng…
Tai nạn giao thông ẩnh hướng đến tâm lí con người. Người đi đường cảm thấy lo sợ, cảm thấy bất an, mệt mỏi mỗi khi tham gia giao thông trên đường.
Hiện tượng ùn tắt, chen lấn trên đường phố trong mỗi giờ cao điểm khiến cho tình hình an toàn giao thông hết sức gay gắt.
Nguyên nhân đẫn đến tình hình giao thông không an toàn như ngày nay:
Nguyên nhân dễ thấy nhất là ý thức chất hành luật giao thông đường bộ người dân còn hạn chế: tranh giành đường, phóng nhanh vượt ẩu, đua xe lạng lách, uống rượu bia, chở quá số người, người điều khiển phương tiện chưa đủ tuổi, không có bằng lái, không đội mũ bảo hiểm.
Hệ thống giao thông đường bộ ở nước ta xuống cấp nghiêm trọng, đường nhỏ hẹp, chắp vá. Hệ thống đảm bảo an toàn như sơn vạch con lươn, biển báo…phân bố vẫn còn thiếu hợp lý, không đồng bộ đã gay cản trở hoặc tai nạn giao thông.
Lô cốt dựng lên để cải tại đường sá, ống nước, dây điện ngầm choán diện tích mặt đường gây ách tắc giao thông nghiêm trọng. Sau khi tái lập mặt đường, chất lượng kém khiến mặt đường bị lún, sụt…gây nhiều tai nạn thương tâm.
Số lượng xe ô tô, xe máy khiến các con đường trở nên quá tải, tiềm ẩn những nguy cơ tai nạn có thế xảy ra bất cứ lúc nào.
Chất lượng phương tiện tham gia giao thông không đảm bảo tiêu chuẩn kĩ thuật, an toàn khi vận hành, xe cũ kĩ, máy móc rệu rã nhưng được tân trang, thay đổi kết cấu của xe khiến xe gặp sự cố khi xảy ra tình huống bất thường, gây ra tai nạn.
Ở vùng nông thôn, nguồn nguy hiểm cao độ vẫn là xe công nông “3 không” không đèn, không còi, không phanh; xe máy nhập lậu tràn lan không biển số; người điều khiển không bằng lái…trong thành phố các loại xe thồ chở hàng hóa cồng kềnh, lấn chiếm đường…Vẫn còn không ít.
Một nguyên nhân khác cần phải kể đến đó là sự quản lí lỏng lẻo, yếu kém của các cơ quan chức năng, hiện tượng tiêu cực một số cá nhân, tập thể liên quan đến trách nhiệm được giao vẫn còn. Tình trạng mua bán bằng lái xe còn khá phổ biến, nhiều trường hợp vi phạm bị phát hiện nhưng xử phạt chưa hợp lí, thiếu tính răn đê, chưa thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.
Trong đó đặc biệt nghiêm trọng là hiện tượng một số cán bộ, nhân viên thoái hóa, biến chất ở những trạm kiểm định, trạm cân xe, trạm kiểm soát đã nhận hối lộ, thực hiện không đúng chức năng, nhiệm vụ được giao khiến cho tình trạng xe thiếu an toàn, xe chở hàng quá tải, xe chạy quá tốc độ vẫn nghênh ngang trên đường, tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn cao.
Giải pháp khác phục vấn đề tai nạn giao thông hiện nay:
Trước hết, mỗi người dân đều phải nâng cao ý thức, chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông khi tham gia giao thông trên đường. Nếu mỗi cá nhân đều có ý thức giao thông đúng với quy định, nghiêm túc điều khiển phương tiện trên đường, đảm bảo tốc độ và chấp hành chỉ dẫn thì se làm giảm đáng kể số vụ tai nạn.
Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ cho tất cả các tầng lớp nhân dân, trước hết là đưa vào chương trình chính khóa trong trường học xây dựng ý thức giao thông an toàn ngay từ lứa tuổi học sinh. Giao thông không những là ý thức, trách nhiệm mà còn là văn hóa ứng xử của mỗi con người.
Cơ quan có trách nhiệm nên có quy hoach thống nhất để xây dựng cơ sở hạ tầng đạt tiêu chuẩn về giao thông, giải quyết đồng bộ quy hoạch đường bộ nâng cấp, làm mới các công trình giao thông. Cũng cần phải rà soát các quy định cụ thể về phân luồng, phân tuyến, đặt báo hiệu cho phép hoặc cấm các loại xe lưu thông vào những giờ nhất định, tăng cường lực lượng giám sát, hướng dẫn, điều khiển bảo đảm an toàn giao thông, để có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn.
Thường xuyên tăng cường kiểm định các phương tiện tham gia giao thông, phải kiên quyết loại bỏ các phương tiện không đủ điều kiện lưu hành. Thiết lập lại hệ thống đánh giá trong công tác đào tạo lái xe, cấp bằng; cần kiểm tra lại trình độ của lái xe đối với những người điều khiển phương tiện đi lại phải thực sự đảm bảo tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp và tình trạng sức khỏe.
Phê phán những người không có ý thức giữa gin trật tự và an toàn giao thông
Tính mệnh con người là rất quý. mỗi con người là một mắt xích có liên hệ bền chặt đối với gia đình và xã hội. Bởi thế khi đừng để những sai lầm trong công tác quản lí và tham gia giao thông tước đoạt mệnh sống của họ. Có nhiều người xem thường tính mạng con người, bất chấp hiểm nguy gây ra tai nạn thương tâm cho người khác. Có nhiều cán bộ vì tiền mà bất chấp đạo đức nghề nghiệp, làm sai quy định dẫn đến những hậu quả nặng nề. Những người như thế thật đáng chê trách và xử phạt thật nghiêm.
Bài học và nhận thức:
Học tập nghiêm túc luật giao thông đường bộ ở trường lớp và tích cực tuyên truyền luật giao thong với những người thân và bạn bè.
Chấp hành nghiêm chỉnh quy định về luật giao thông: Không lạng lách đánh võng trên đường đi, không đi xe máy khi chưa có bằng lái, không vượt đèn đỏ, đi đúng phần đường, dừng đỗ đúng quy định, khi rẽ ngang hoặc dừng phải quan sát cẩn thận và có tín hiệu báo hiệu cho người sau biết, đi chậm và cẩn thận quan sát khi qua ngã tư…Đi bộ trên đường đúng quy định, tham gia giúp đỡ người già yếu, người tàn tật và trẻ em qua đường đúng quy định.
Tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền xung kích về an toàn giao thông để góp phần phổ biến luật giao thông đến tất cả mọi người, tham gia các hoạt đồng tình nguyện, đảm bảo an toàn giao thong… Tích cực tham gia phương tiện giao thông công cộng, hạn chế đi xe gắn máy.
Kết bài:
Tai nạn giao thông luôn là vấn nạn của mỗi quốc gia. Toàn thế giới đang liên kết lại để giải quyết và hạn chế thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra, từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Bởi thế, mỗi cá nhân phải ý thức rõ ràng trách nhiệm của mình mỗi khi tham gia giao thông trên đường để đảm bảo an toàn cho bản thân và cho người khác, góp phần xây dựng văn hóa giao thông đất nước. Đặc biệt là thế hệ tuổi trẻ phải có trách nhiệm tích cực làm hạn chế tai nạn giao thông và xây dựng một ý thức văn hóa giao thông lành mạnh và an toàn hơn. | Nghị luận vấn đề tình hình trật tự an toàn giao thông nước ta hiện nay | 2,075 | |
Nghị luận vấn đề ý thức học tập của học sinh hiện nay
Hướng dẫn
Chỉ cần hệ thống giáo dục Việt Nam giống như Phần Lan, chẳng ai ghét học cả =))) | Nghị luận vấn đề ý thức học tập của học sinh hiện nay | 31 | |
Nghị luận vấn đề đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay
Hướng dẫn
Giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo dục
Mở bài:
Có thể nói đạo đức, tác phong chuẩn mực, nghiêm túc là vẻ đẹp đầu tiên của học sinh trong nhà trường và ngoài xã hội. Thế nhưng ngày nay, nhiều học có dấu hiệu suy thoái nghiêm trọng về đạo đức, tác phong. Họ có hành vi thiếu nghiêm túc, có tính chất nổi loạn khi vào lớp học. Hiện tượng bạo lực học đường và số tội phạm ở lứa tuổi học sinh ngày càng tăng cao. Đó là hiện tượng đáng báo động về đạo đức của học sinh ở các trường học hiện nay.
Thân bài:
Đạo đức, tác phong là gì?
Đạo đức là các chuẩn mực về hành vi ứng xử được con người quy ước thành nguyên tắc giao tiếp trong xã hội. Đạo đức được biểu hiện qua hành động, lối sống và vẻ đẹp tâm hồn của con người.
Tác phong là là hành vi ứng xử của con người trong công việc và trong giao tiếp xã hội. Tác phong là lề lối, cách thức, phong thái đã trở thành nề nếp ổn định của con người. Vẻ đẹp ấy được thể hiện trong tất cả các hoạt động như học tập, làm việc, lối sống tạo nên nét riêng biệt của từng cá nhân.
Hiện trạng vấn đề đạo đức, tác phong của học sinh trong nhà trường hiện nay
Đạo đức tác phong học sinh ngày nay rơi vào đà suy thoái trầm trọng. Có thể thấy học sinh ngày nay không còn biết lễ độ như trước đây. Họ trở nên ngang bướng, vô lễ, không còn biết tôn trọng bạn bè, giáo viên, người lớn tuổi.
Nhiều học sinh thường hay nói tục, chửi thề, sử dụng ngôn ngữ tùy tiện trong giao tiếp. Nhiều học sinh lại có lối ăn mặc kiểu cách lạ lùng, đua đòi lối sống thời thượng. Họ thích làm nổi bậc mình một cách lố bịch, kịch cỡm bằng những hành vi phản cảm, vô văn hóa. Có thể kể như xăm hình, ngôn phong thái quá, nhuộm tóc nhiều màu, cắt tóc kiểu gangster,…
Không những thế, họ còn có thái độ đầy khiêu khích trước cuộc sống. Họ sống bất cần, không tôn trọng đạo lí. Tỏ ra khinh thường xung quanh, thách thức luật pháp.
Ngày càng có nhiều học sinh đánh nhau gây mấy trật tự, bạo lực học đường tăng cao. Hầu hết những vụ gây gỗ, bạo lực của học sinh xuất phát từ những lí do không đâu. Có thể kể như nhìn đểu, thấy ghét, cãi nhau trên mạng, khiêu khích, ghen tuông, bị xúi giục, thích làm anh chị,…
Trong tình trang đó, tác phong khi vào lớp học của nhiều học sinh thiếu chuẩn mực, không đúng quy định nhà trường. Nhiều học sinh nam còn để tóc dài quá tai hoặc cắt quá ngắn. Nhiều trường hợp khác thích nhuộm tóc nhiều màu, quần áo sộc xệch, mang dép không quai,… Học sinh nữ không chịu buộc tóc, hay son môi khi vào lớp học. Trang phục tùy tiện không đúng quy định như áo dài vắt tà ngang, mang túi xách đi học,…
Nguyên nhân và hậu quả vấn đề đạo đức, tác phong học sinh bị suy thoái nghiêm trọng hiện nay
Trước tác động của sóng toàn cầu hóa, giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là lứa tuổi học sinh chịu ảnh hưởng to lớn. Một mặt, nó có tác động tích cực đến việc làm thay đổi lối sống khép kín, cam chịu, phụ thuộc, ỉ lại vốn có của người Việt Nam. Con người chuyển sang một lối sống cởi mở, năng động, tự lập, dám chịu trách nhiệm, phù hợp với xu thế thời đại. Tác phong làm việc và học tập cũng hoàn toàn thay đổi.
Tuy nhiên, cũng chính việc tiếp thu lối sống mới đó một cách thiếu định hướng (tiếp thu cả mặt tiêu cực của nó) mà dẫn đến việc xa rời lối sống theo chuẩn mực đạo đức dân tộc. Rất nhiều học sinh vì thế mà xem thường việc học tập. Họ chạy theo lối sống đua đòi, thực dụng tầm thường mang tính thụ hưởng. Họ lười biếng hoặc bỏ bê việc học hoặc học một cách đối phó, khiên cưỡng. Từ đó, không những kết quả học tập yếu kém, chất lượng đào tạo sụt giảm mà đạo đức cũng suy thoái nghiêm trọng.
Các công nghệ thông tin hiện đại đang truyền bá khắp thế giới lối sống sùng bái cá nhân, vị kỷ, ăn chơi xa hoa, lãng phí, sống truỵ lạc, thác loạn, ưa dùng bạo lực… Lối sống đó đang phần nào tác động đến một bộ phận tuổi trẻ. Đặc biệt là những học sinh sống ở các khu đô thị lớn. Học sinh bị kích động bởi việc tiếp xúc với những trang mạng có tính bạo lực qua mạng Internet. Nhiều học sinh đã có những hành động mang tính bạo lực, hung hãn, gây nên những hậu quả đau lòng. Hiện tượng bạo lực học đường bởi thế không ngừng gia tăng trong các năm qua.
Tâm lý sùng hàng ngoại và kiểu thời trang táo bạo đang xâm nhập khá mạnh vào đời sống người Việt Nam. Học sinh với tính tò mò, hiếu kì đã bắt chước một cách kịch cỡm, đáng cười. Không những thế, những kiểu thời trang thiếu tế nhị, phản cảm còn xuất hiện ngay trong trường học.
Cũng không thể trách học sinh, những con người còn thiếu bản lĩnh, chưa trưởng thành về nhân cách. Chính sự giao thoa về văn hóa đã phá vỡ các chuẩn mực vốn đã ăn sâu vào cội rễ văn hóa dân tộc. Chính sự tràn ngập của hàng hóa của nền sản xuất lớn đã tạo ra cho con người nhiều lựa chọn hơn. Từ đó tạo ra khả năng về sự tha hóa trong nhân cách, đạo đức con người.
Văn hóa tiêu cực từ nước ngoài đã tác động tiêu cực tới đời sống tinh thần, văn hóa của một bộ phận nhân dân. Ảnh hưởng của lối sống thực dụng đã làm xuất hiện tâm lý “chạy theo đồng tiền”, coi tiền là trên hết. Con người không cần biết đến đạo lý phải trái, đánh mất nhân cách và nhân tính. Không ít trường hợp vì tiền và danh lợi mà chà đạp lên tình người. Tình nghĩa gia đình suy giảm. Quan hệ thầy trò không còn gắn kết nữa. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy án đã trở nên khá phổ biến.
Lối sống thực dụng, vị kỷ đang dẫn đến thái độ bàng quan, thờ ơ của nhiều học sinh. Điều đó làm cho mối dây liên kết giữa cá nhân và tập thể không bền chặt. Mối liên kết giữa học sinh và trường học trở nên lỏng lẻo. Một bộ phận giáo viên suy thoái đạo đức, nhân cách. Chính họ đã nêu gương xấu cho nhiều học sinh. Học sinh không còn tin tưởng vào giáo viên, trường học. Những bài học đạo đức bị xem à giáo điều vô nghĩa. Từ đó, học sinh không chấp hành nội quy, thích làm ý mình, tỏ ra khiêu khích hơn.
Nền giáo dục đang có khuynh hướng “thương mại hóa” cao. Những biểu hiện như dạy thêm, học thêm tràn lan, mua bằng, bán điểm, lạm thu,… càng làm cho học sinh chán nản. Chất lượng đào tạo và tuyển dụng cán bộ giáo viên còn nhiều bất cập. Chất lượng giáo dục trong nhà trường suy giảm nghiêm trọng. Điều này góp phần làm môi trường sư phạm xuống cấp. Đạo lý thầy trò suy thoái. Lối sống thiếu hoài bão, lý tưởng xuất hiện trong một bộ phận học sinh, sinh viên, giáo viên.
Chương trình giáo dục nặng nề, thiên về lý thuyết hơn thực hành. Điều đó, khiến học sinh càng học càng thấy khó, càng học càng thấy chán. Chế độ thi cử gây nhiều áp lực. Lại thêm tâm lí chạy đua thành tích trong học tập, khiến cho học sinh không còn hứng thú học tập. Học sinh cũng không say mê nghiên cứu hay sáng tạo. Học là để thi, để lên lớp, lấy bằng cấp mà thôi. Kéo theo đó, học sinh cũng không ý thức rèn luyện đạo đức, tác phong của bản thân. Xem đó chỉ là hình thức giao tiếp nhằm làm hài lòng người khác chứ không phải là văn hóa ứng xử.
Giải pháp giáo dục đạo đức, tác phong cho học sinh hiện nay
Trước hết, xã hội cần xác định những giá trị đạo đức cho con người trong thời đại mới. Những chuẩn ấy phải rõ ràng, chuẩn mực và tiến bộ, phù hợp với thời đại.
Nền giáo dục phải tích cực thay đổi và bắt kịp với thời đại công nghệ. Chương trình giáo dục không nặng về lý thuyết. Lấy thực hành để giáo dục kĩ năng con người, tạo nhiều hứng thú cho học sinh. Khi học sinh thích học, thấy việc học dễ dàng hơn sẽ ứng xử tốt hơn.
Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ giáo dục tri thức cùng với giáo dục nhân cách cho học sinh. Chương trình không cần nhiều nhưng phải hết sức sâu sắc, gần gũi, dễ tiếp thu và vận dụng.
Xây dựng môi trường học tập thân thiện, tiến bộ và giàu tình yêu thương. Lấy trật tự, kỉ cương, tình thương, trách nhiệm làm nguyên tắc quản lí giáo dục.
Mỗi thầy cô giáo phải là một tấm gương sáng cho học sinh học tập và làm theo. Cần quyết liệt loại bỏ những cán bộ giáo viên suy thoái nhân cách, yếu kém năng lực ra khỏi hệ thống. Khuyến khích cán bộ giáo viên cống hiến sức mình vì sự tiến bộ của ngành giáo dục, vì sự nghiệp giáo dục đất nước. Phát hiện và nâng đỡ những giáo viên có tài năng để họ có điều kiện cống hiến sức mình.
Một người thầy giỏi sẽ tạo ra nhiều thế hệ học trò giỏi. Một người thầy mẫu mực sẽ tạo ra nhiều thế hệ con người mẫu mực. Bởi thế, William A. Warrd đã nói rằng: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng”.
Gia đình và xã hội phải chung tay cùng nhà trường giáo dục nhân cách, đạo đức, tác phong cho học sinh. Xã hội phải nghiêm khắc với những hành vi lệch chuẩn, đi ngược với thuần phong mỹ tục dân tộc. Xã hội cũng cần quyết liệt lên án những hành vi vô văn hóa, dung tục của giới trẻ. Tinh thần tập thể, cộng đồng chính là sức mạnh có thể điều hướng mọi hành vi sai lầm của con người theo hướng tích cực.
Mỗi bậc cha mẹ phải là một tấm gương sáng về đạo đức và tác phong ứng xử. Bởi vì, con cái chịu ảnh hưởng và rèn luyện theo nếp sống gia đình. Văn hóa gia đình có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành, phát triển nhân cách của con người.
Kết luận:
Như vậy, có thể thấy, ở học sinh hiện nay có sự xa rời những chuẩn mực đạo đức truyền thống. Những chuẩn mực vẫn còn giá trị trong xã hội hiện đại đã không được duy trì. Một khi những chuẩn mực đó không được giữ vững như là định hướng trong họat động của con người thì sự suy thoái là điều không tránh khỏi.
Vì vậy, giữ vững đạo đức, văn hóa cho học sinh là trách nhiệm của toàn xã hội. Xây dựng đời sống lành mạnh, văn minh, tiến bộ là trách nhiệm của mỗi con người. Mỗi học sinh nên ý thức rằng rèn luyện đạo đức trong sáng, lành mạnh nghĩa là tiến bộ. Sống tốt đẹp và thành công nghĩa là yêu nước. Có làm được như vậy, mới tin tưởng rằng thế hệ học sinh hôm nay là tương lai của đất nước. Học sinh đủ sức đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm sau như Bác Hồ đã kì vọng. | Nghị luận vấn đề đạo đức, tác phong của học sinh hiện nay | 2,084 | |
Nghị luận về bạo lực học đường trong học sinh hiện nay
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
Nạn bạo lực học đường đang là một trong những vấn đề nóng bỏng, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng trong thời gian gần đây.
2. Thân bài
a. Giải thích
– Bạo lực học đường là việc gây tổn hại giữa các học sinh; sinh viên giữa giáo viên và học sinh trong môi trường học tập.
– Bạo lực học đường xảy ra dưới nhiều hình thức: lăng mạ; xúc phạm; cố ý gây thương tích; chế giễu;…
b.Thực trạng
– Vấn đề bạo lực học đường đang là vấn đề báo động, cấp thiết trong môi trường giáo dục.
– Nạn bạo lực học đường xảy ra nhiều ở nữ sinh
– Độ tuổi chủ yếu là từ 15-18 tuổi
– Mâu thuẫn phát sinh chỉ vì những xích mích nhỏ.
– Một vài vụ việc tiêu biểu
c. Hậu quả
– Bạo lực học đường để lại nhiều hậu quả nguy hiểm, khôn lường:
+ Suy đồi đạo đức; nhân cách cá nhân
+ Gây thiệt hại về sức khỏe thậm chí là tính mạng con người
+ Gây tổn hại đến nhân phẩm; danh dự con người
+ Cá nhân có thể sẽ đối diện với sự trừng phạt của pháp luật khi còn quá trẻ=> ảnh hưởng đến tương lai, sự nghiệp về sau.
+ Gây mất trật tự an toàn an ninh xã hội
+ Đi ngược lại với lí tưởng giáo dục: “Tiên học lễ, hậu học văn”
+ Gây tâm lí hoang mang cho các bậc phụ huynh và các bạn khác
+ Ảnh hưởng đến giảng dạy; truyền thụ kiến thức
d. Nguyên nhân
+ Tâm sinh lý mới lớn: thích thể hiện; bồng bột; thiếu suy nghĩ
+ Sự quản lí lòng lẻo từ phía nhà trường
+ Gia đình chưa quan tâm sát sao
+ Cá nhân chưa định hướng đúng; hiểu rõ về cách thức giáo dục => ức chế trong quá trình giảng dạy => mâu thuẫn
+ Bị kẻ xấu lôi kéo dụ dỗ
+ Thiên về học các môn cứng như Toán văn anh còn các môn về xây dựng bản thân và kĩ năng sống chưa được tích cực.
e. Giải pháp
+ Bản thân cá nhân: trau dôi; xác định đúng đắn mục tiêu học tập, đến trường
+ Giư vững quan điểm
+ Gia đình nhà trường nên chú ý quan tâm sát sao hơn; nắm bắt và giải quyết kịp thời tâm sinh lý các em
+ Gần gũi hơn qua các buổi teambuilding; cắm trại; worrkshop; sinh hoạt chia sẻ
+ Môn học GDCD nên được chú trọng và đầu tư giảng dạy hơn.
f. Liên hệ bản thân
+ Lễ phép với thầy cô
+ Chan hòa với bạn bè
+ Tích cực học tập; rèn luyện thật tốt để trở thành con ngoan trò giỏi; thành tấm gương tốt và có ích cho cộng đồng.
3. Kết bài
– Nạn bạo lực học đường là một vấn nạn tiêu cực.
– Chúng ta hãy cùng nhau chung tay để đẩy lùi vấn nạn đáng sợ này, trở cho con trẻ một môi trường giáo dục lành mạnh và phát triển.
Bài làm
Xã hội ngày càng phát triển, thế hệ trẻ ngày càng được đầu tư phát triển từ sinh hoạt, đi lại, vui chơi; giải trí cho đến học tập. Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu cho một quốc gia phát triển. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư có giá trị và lâu bền. Môi trường giáo dục hiện nay được canh tân với nhiều cải cách; nhiều đầu tư trang thiết bị phục vụ tối ưu. Thế nhưng liệu rằng cứ đầu tư là sẽ phát triển đi lên hay không? Đây là một câu hỏi làm tiêu tốn không biết bao nhiêu giấy mực của các chuyên gia. Bởi chất lượng của giáo dục không chỉ phụ thuộc vào cơ sở vật chất mà còn phụ thuộc vào nguồn nhân lực. Những năm vừa qua, dư luận báo chí không khỏi lùm xùm dấy lên những vụ nữ sinh đánh nhau, cởi đồ; giáo viên mầm non ngược đãi trẻ;.. Người ta gọi chung nó là Bạo lực học đường. Nạn bạo lực học đường đã và đang trở thành vấn đề nóng bỏng, thu hút được nhiều sự quan tâm của cộng đồng
Vậy Bạo lực học đường là gì mà lại có sức ảnh hưởng lớn đến thế? Bạo lực học đường là việc sử dụng những hành vi hung tính; ngang ngược; sai trái gây tổn hại đến người khác; bao lực học đường xảy ra giữa các học sinh; sinh viên giữa giáo viên và học sinh trong môi trường học tập. Bạo lực học đường bao gồm bạo lực về tinh thần và bạo lực về thể chất được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như: đánh đập; lăng mạ; xúc phạm; cố ý gây thương tích; chế giễu;…
Vấn đề bạo lực học đường đang là chiếc đèn đỏ báo động dấy lên hồi chuông cấp thiết trong môi trường giáo dục. Theo số liệu thống kê mới nhất từ Bộ Giáo dục và đào tạo thì trong một năm học, trên toàn quốc có đến hơn1.600 vụ việc học sinh đánh nhau, tương đương trung bình là 5 vụ/ngày và cứ trên 5200 học sinh lại có một em đánh nhau. Đáng lo ngại hơn, nạn bạo lực học đường xảy ra chủ yếu ở phái yếu- nữ giới và độ tuổi chủ yếu là lứa tuổi mới lớn, là từ 15-18 tuổi. Cũng theo như tiến trình điều tra, xét hỏi, các vụ bạo lực đa số phát sinh chỉ từ những xích mích nhỏ như: kiêu; điệu; ngứa mắt; hay đôi co tình cảm,..
Trên các trang báo đài luôn cập nhật đưa tin khá nhiều về các vụ bạo lực học đường xảy ra trên địa bàn. Ta chắc hẳn còn nhớ đến vụ cô giáo tại trường Tiểu học xã Phìn Ngan; huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã nổi nóng, dùng tay tát liên tiếp đến tím mắt một em học sinh chỉ vì viết sai lỗi chính tả. Hay phẫn nỗ, ngán ngẩm khi nhắc tới vụ án hai nữ sinh lớp 9 trường THCS Quỳnh Long cầm dép tát liên tiếp vào mặt 2 bạn nữ khác rồi sau đó lai hả hê quay video tung lên mạng để tự cao dằn mặt hồi đầu năm 2017 vừa qua. Nói đến đây chắc hẳn đã không ít tiếng thở dài; nỗi lòng thổn thức đáng chiêm nghiệm cho vấn nạn sâu cay này.
Nạn bạo lực học đường là một vấn nạn đáng lo ngại trong xã hội nhân loại bởi nó gây ra nhiều hậu họa nguy hiểm, khôn lường. Dù bạo lực diễn ra dưới hình thức nào thể hiện ra sao thì nó cũng gây ra những tổn hại đến con người. Đó có thể là tổn hại về nhân thân: danh dự; uy tín bị xâm phạm cũng có thể là những tổn hại về sức khỏe và thậm chí còn trả giá bằng cả tính mạng con người. Quan hệ nhân thân và tính mạng, sức khỏe con người là những khách thể được luật hình sự bảo vệ. Bởi vậy khi đến một chừng mực nhất định, chủ thể của nạn bạo lực học đường có thể sẽ phải đối diện với sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật hình sự- chế tài nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tương lai, sự nghiệp sau này của các bạn trẻ. Không chỉ gây sức đè lên cá nhân, nạn bạo lực học đường còn là hòn đá tảng chắn ngang sự phát triển của xã hội. Bởi lẽ chính những vụ bạo lực học đường đã và đang gây rối trật tự công cộng; làm mất ổn định an ninh, an toàn xã hội; kỉ cương bị lung lay. Nạn bạo lực học đường là con sâu đục khoét môi trường giáo dục; đi ngược lại với lý tưởng cao đẹp của ông cha ta: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Chức năng chính của thầy cô là giảng dạy là cung cấp kiến thức ấy vậy mà giờ đây lại còn phải đi giải quyết những vụ bạo lực thì liệu rằng chát lượng giáo dục, thời gian giáo dục cũng như tâm huyết liệu có còn được bảo đảm? Và cuối cùng nạn bạo lực học đường còn mang đến tâm lý hoang mang, e ngại cho các bậc phụ huynh và các bạn đồng trang lứa khác khi mỗi ngày cắp sách đến trường lại ngoài việc lo học hành lại phải lo cả đến vấn đề an toàn. Quá nhiều câu hỏi, quá nhiều vấn đề nan giải được đặt ra…
Muốn chữa được bệnh thì trước hết phải bắt được bệnh. Để tìm ra hướng giải quyết cho những hậu họa đã đề cập chúng ta hãy cũng đi tìm hiểu nguyên nhân của vấn nạn bạo lực học đường. Bạo lực học đường có nguồn gốc từ đâu? Do cá nhân hay còn có nhân tố tác động? Về mặt chủ quan ta có thể thấy rằng, nạn bạo lực học đường xảy ra chủ yếu ở lứa tuổi mới lớn. Lúc này tâm sinh thay đổi; có những diễn biến phức tạp, con người thương thích thể hiện, thích ra oai với bạn bè. Ở lứa tuổi này, khả năng suy nghĩ chín chắn; hành động cẩn thận; tỉ mỉ còn rất hạn chế; cái tôi cá nhân thường lớn và thường mang tính chất áp đặt; khiên cưỡng. Về mặt khách quan có thể kể đến các nhân tố tác động đến như: gia đình; trường lớp; xã hội. Gia đình là nơi gần gũi nhất với con thế nhưng lại không ít các gia đình bố mẹ chỉ lo đi kiếm tiền mà bỏ bê con cái; không quan tâm đến tâm tư của con; thời gian biểu và bạn bè của con. Khi đến lớp nhà trường lại không quản lí hết được các em học sinh; thường chú trọng đến các môn chính như Văn; Toán; Lí; Hóa;..mà không theo dõi được sát sao từng em; chú trọng giáo dục nhân cách và kĩ năng sống cho các em trẻ. Ra ngoài xã hội với tâm lí non nớt, các em lại bị những lời ngon tiếng ngọt của kẻ xấu dụ dỗ, lôi kéo; kích động. Cộng hưởng những nguyên nhân trên con đường dẫn đến bạo lực học đường là vô cùng gần. Chỉ một chút xích mích; chỉ vì cái nhìn; chỉ vì câu nói cũng có thể châm ngòi cho chiến tranh.
Bạo lực học đường còn xảy ra giữa giáo viên với học sinh. Trường hợp này là ít nhưng cũng không thể không nói đến. Do áp lực nghề nghiệp; do học sinh còn chống đối; không chịu tiếp thu; do tính cách mà một số thầy cô đã có những cách cư xử không phù hợp với học trò của mình. Những trường hợp này nên được xử lí kỷ luật nghiêm khắc để làm trong sạch nền giáo dục nước nhà.
Vấn nạn bạo lực học đường nên được đẩy mạnh giải quyết triệt để và nhanh chóng. Đối với bản thân mỗi cá nhân, mỗi học sinh đầu tiên chúng ta phải xác định đúng đắn mục tiêu và phương pháp học tập, đến trường đến lớp là để trau dồi tri thức và rèn luyện đạo đức; là lễ phép với thầy cô; chan hòa với bạn bè. Chúng ta hãy luôn giữ vững quan điểm; lập trường đúng đắn; để tránh bị kẻ xấu kích động; lôi kéo dụ dỗ. Nên tránh xa những chuyện tình cảm nhăng nhít mà tập trung chính cho công việc tích lũy kiến thức. Để đẩy lùi vấn nạn này cũng cần phải có sự tương giao tích cực của gia đình và nhà trường. Mỗi bậc cha mẹ; mỗi thầy cô nên chú ý quan tâm sát sao đến tâm sinh lý của các em; nắm bắt và giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh, chuyện to hóa nhỏ; chuyện nhỏ hóa thành không. Nhà trường cũng kết hợp với hội phụ huynh, với các tổ chức chuyên ngành để thiết lập các buổi vui chơi teambuilding; các buổi hội thảo; chia sẻ củng cố kĩ năng sống; đạo đức, nhân cách và lối sống tốt đẹp cho các em học sinh.
Nạn bạo lực học đường đang là cây gậy chắn ngang sự phát triển của thế hệ trẻ; sự đi lên của đất nước. Mỗi chúng ta hãy cũng nhau chung tay, cùng nhau hành động để đẩy lùi vấn nạn này; để trả lại cho những mầm non tương lai của đất nước một môi trường giáo dục lành mạnh, phát triển toàn diện. | Nghị luận về bạo lực học đường trong học sinh hiện nay | 2,158 | |
Nghị luận về bệnh thành tích trong học tập
Hướng dẫn
1 Mở bài:
Giới thiệu về bệnh thành tích, một căn bệnh gây nguy hại cho xã hội đang ngày càng lan rộng.
2. Thân bài:
– Thành tích là gì? (là kết quả tốt đẹp đạt nhờ sự nỗ lực). Vai trò của thành tích (tác dụng tích cực).
– Bệnh thành tích là gì? (Làm việc mà không quan tâm đến thực tê, không suy nghĩ về hậu quả lâu dài chỉ chăm chú đến vẻ bề ngoài, đến việc đạt được những chỉ tiêu một cách khiên cường).
– Tác hại của bệnh thành tích:
+ Gây ra sự đôi lập giữa hình thức và thực tế, vấn đề bản chất không được quan tâm mà chủ yêu tập trung vào “bề nổi”.
+ Là nguồn gốc của những sai trái, gian lận trong kiểm tra, đánh giá tiêp tay cho tham nhũng, quan liêu.
– Nguyên nhân của bệnh thành tích:
+ Tật xấu “con gà tức nhau tiếng gáy”, đốt cháy giai đoạn muôn có thành tích ngay.
+ Sự quan lí thiếu sát sao của các cấp lãnh đạo, hình thức trong quản lí chỉ quan tâm đến văn bản, báo cáo.
– Giải pháp:
+ Cần chú ý đến hậu quả lâu dài, tránh “ăn xổi ở thì”.
+ Các cấp lãnh đạo phải sát sao, thực tế hơn, điều chỉnh quản lí.
3. Kết bài:
Khẳng định tầm quan trọng của việc khắc phục bệnh thành tích. Đó là công việc của toàn xã hội.
Bài làm tham khảo 1 Nghị luận về bệnh thành tích trong học tập
Trong thực tế, ai cũng thích, cũng mong muốn được khen ngợi, được ghi nhận, được thành danh. Có người vì thế mà nỗ lực phấn đấu để biến đổi về chất. Song đáng buồn lại có những người muốn rút ngắn con đường bước đến vinh quang mà tin xổi ở thì, không chăm lo cho thực tế chỉ cố tô vẽ bề ngoài để được khen được thưởng. Đáng buồn hơn, chúng ngày càng phổ biến và trở thành một căn bệnh xã hội.
Bệnh thành tích. Thực chất, thành tích là kết quả được đánh giá tốt do nỗ lực mà đạt được. Như vậy, thành tích là nhóm để biểu dương, nêu gương những kết quả thực tế tốt đẹp. Điều đó động viên cố gắng của người được nêu gương, thúc đẩy họ tiếp tục cố gắng. Mặt khác thành tích của người này còn là “cú hích” cho người khác cùng “chạy đua” để tiếp tục đi lên. Rõ ràng, thành tích là điều tốt đẹp và nó cũng mang lại những điều tương tự cho cuộc sống. Tuy nhiên, khi đặt trước từ “thành tích” một chữ “bệnh” – bệnh thành tích thì vấn đề đã khác. Bởi từ “bệnh” không gợi đến điều gì tốt đẹp. “Bệnh thành tích” là thói a dua, là chỉ chăm lo đến vẻ bề ngoài nhằm được tuyên dương khen thưởng nhưng thực chất bên trong vấn đề không đạt mong muốn. Nói khác đi, bệnh thành tích là tên gọi của sự không phù hợp giữa hình thức và bản chất: hình thức rất hào nhoáng, sáng bóng, lẫy lừng nhưng bản chất thì xuống cấp, gỉ sét, cong vênh. Bệnh thành tích đã tồn tại từ lâu trong đời sống xã hội, đục sâu lan rộng vào nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Trong giáo dục, bệnh thành tích còn được gọi là bệnh hình thức. Có những trường vì thành tích mà luôn cố gắng tập trung luyện “gà” – luyện học sinh giỏi, tạo mọi điều kiện để các em có thời gian tập trung học môn mình thi nhằm đạt kết quả cao mang vinh dự cho trường. Hay trong mỗi kỳ thi tốt nghiệp, có những trường huy động giáo viên cùng làm với học sinh rồi ném bài cho các em. Trong các cơ quan, công ty, nhà máy,… bệnh thành tích nằm ở những bản báo cáo được mài cho nhẵn viết cho đẹp. Trong thực tế người ta không màng đến chất lượng, chỉ chạy theo số lượng để đạt chỉ tiêu. Họ chỉ sung sướng khi nghe đến những con số 100%, 99%,… Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT những năm trước, trường nào chỉ đạt 95%, 96% là đã lo lắng căng thẳng rồi. Nhưng một hai năm trở lại đây khi công tác kiểm tra, giám sát được thắt chặt hơn, trung bình cả nước chỉ đỗ khoảng 60% – 70%. Rõ ràng kết quả xa nhau, nó phản ánh thực tế chất lượng giáo dục trong một thời gian dài bị o bế, làm nhiễu. Rõ ràng, bệnh thành tích sẽ để lại hậu quả vô cùng tai hại. Trước hết, nó khiến mỗi cá nhân tổ chức không hiểu rõ về thực lực của mình, tự mãn về thành tích, không có xu hướng vận động phát triển. Bệnh thành tích do đó tiếp tục “được” duy trì, phát triển. Dần dần nó sẽ ăn sâu, đeo bám vào tư tưởng, lối sống cách thức làm việc của xã hội, làm cho chất lượng thực bị bỏ bê, xuống dốc, chỉ có cái vẻ bề ngoài là hào nhoáng, đẹp đẽ. Nó thực chẳng khác nào một trái bí đỏ bị thối rữa bên trong. Dân gian ta nhắc nhở nhau tốt gỗ hơn tốt nước sơn vì sơn có thể tróc nhưng gỗ không được phép mục, gỗ mục sẽ làm sụp đổ cả một hệ thống quan trọng.
Nhưng bệnh thành tích đã làm đảo lộn truyền thống đạo lý ấy và mỗi hệ thống xã hội đang có nguy cơ lung lay, suy sụp vì chất gỗ bên trong đang mối mọt dần. Bệnh thành tích gây hại cho mọi ngành nghề, lĩnh vực. Và hậu quả dễ thấy nhất, tai hại nhất thể hiện ở ngành giáo dục. Có những trường lớp, vì thành tích mà cho học sinh lên lớp hàng loạt, bất chấp kết quả thực tế. Hậu quả là hàng trăm học sinh ngồi nhầm lớp, nhầm trường. Có em đã học lớp 7 mà chưa đọc thông viết thạo! Cũng vì thành tích mà các thầy cô “cấy điểm” cho học sinh giỏi ở những môn các em không thi học sinh giỏi, giúp các em tập trung ôn luyện cho thi cử. Và hàng trăm học sinh sa vào tình cảnh đạt giải học sinh giỏi quốc gia nhưng trượt tốt nghiệp, trượt đại học… Hậu quả trực tiếp học sinh là người gánh chịu. Nhưng hậu quả lâu dài là tương lai đất nước phải chấp nhận sự thui chột về đạo đức, tài năng của nhiều thế hệ. Bệnh thành tích có căn nguyên sâu xa từ một thói xấu của con người: thói ghen ăn tức ở, “con gà tức nhau tiếng gáy”. Thấy cá nhân, đơn vị khác được nêu gương, cá nhân đơn vị mình cũng muốn được như vậy. Song, thay vì tập trung nâng cao chất lượng họ lại đốt cháy giai đoạn, đánh bóng hình thức để được tuyên dương. Nhưng công bằng mà đánh giá, bệnh cũng có nguyên nhân từ những sai lầm trong công tác quản lý tổ chức của nhiều cấp, ngành: trọng giấy tờ, hình thức, không gần gũi sâu sát thực tế và chỉ tiêu hoá, kế hoạch hóa cao độ mọi vấn đề thi đua. Bởi vậy, các tổ chức, cá nhân chỉ cốt lo sao cho bản báo cáo, cuốn sổ của mình được sạch sẽ đẹp đẽ. Rồi lo sao để chỉ tiêu kế hoạch trên giao ta “trăm phần trăm” hoàn thành. Rõ ràng, để xảy ra căn bệnh ấy lỗi thuộc về tất cả chúng ta. Nhận rõ hậu quả của bệnh thành tích, xã hội cần đẩy mạnh công cuộc loại trừ nó. Các nhà lãnh đạo cần kiểm tra, giám sát sát sao hơn hoạt động của các tổ chức cá nhân trực thuộc, đồng thời điều chỉnh hệ thống, cơ chế quản lý tổ chức. Các cơ quan đoàn thể vì tương lai bản thân xóa bỏ bệnhhình thức để đi vào chất lượng thực tế. Chỉ khi nào làm được điều đó, xã hội ta mới thực sự trong sạch và đi lên.
Thành tích đã trở thành thứ mà nhiều người theo đuổi, có những người theo đuổi nó bằng đam mê bằng trái tim nhưng cũng có những người bất chấp làm mọi thứ để có thành tích cho riêng bản thân mình. Nhiều người vẫn quen gọi nó là bệnh thành tích mà đang từng ngày, từng giờ gây ra những tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội. Không chỉ xuất hiện ở một lĩnh vực của cuộc sống mà hầu hết các mặt của đời sống xã hội.
Thành tích vốn là một thứ mà ngươi ta dùng để tuyên dương những người có đóng góp cho xã hội hoặc những con người đạt được kết quả tốt trong quá trình thi đua, nhưng đâu đó nó lại trở thành một con dao hai lưỡi gây ra những hậu quả nặng nề, cản trở rất nhiều tới quá trình phát triển của đất nước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhiều người có thể bất chấp mọi hành vi thủ đoạn để có được thành tích để được tuyên dương hời hợt mà thực chất họ có thể không đạt được. Nó dần dần trở thành một căn bệnh mà ngày càng đi sâu và lan truyền tới cuộc sống của toàn xã hội.
Nguyên nhân sâu xa của “Bệnh thành tích” chính là thói xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ mà từ ngày xưa, người lao động đã chê cười và phê phán. Trong xã hội, không ít người thực sự chẳng có gì tốt đẹp mà lại thích bịa đặt ra cái hay cái đẹp… để tự dối mình, lừa người. Rồi cấp dưới muốn được khen thưởng, được thăng chức thì phải nghĩ cách lừa dối cấp trên bằng những “thành tích” chỉ mang tính tượng trưng chứ cụ thể nó không mang lai một kết quả tốt đẹp mà chúng ta vẫn thường thấy.
Bệnh thành tích thường nảy sinh ở những người không có thực tài nhưng lại thích được người khác tán dương và tìm mọi cách đánh bóng tên tuổi để thỏa mãn thói háo danh, để không bị “thua chị kém em”. Trong xã hội hiện nay, khi mọi thứ càng phát triển thì “bệnh thành tích” lây lan càng nhanh, càng rộng. Đồng tiền có ma lực kì diệu có thể lôi kéo con người có thể bỏ qua lòng tự trọng của bản thân bằng mọi giá có được thành tích và nhận những khoản tiền thưởng mà lẽ ra họ không xứng đáng được nhận.
Chúng ta có thể thấy bệnh thành tích lan rộng ở mọi mặt của đời sống chẳng hạn như trong giáo dục, hiện tượng ngồi nhầm lớp vẫn diễn ra nhiều, tỉ lệ học sinh khá giỏi được tăng lên một mức không tưởng, còn có những thứ mà nhà trường chạy theo ví dụ như cơ sở vật chất hay số lượng học sinh yếu kém thật sự không được tiết lộ vì sợ ảnh hưởng tới uy tín của trường. Chính vì thế khi sự thật được phơi bày con số đưa ra là cả một vấn đề đáng lo ngại, gây ảnh hưởng xấu và cả việc đánh giá tinh hình chung để thay đổi hướng đào tạo cũng như phương pháp. Bệnh thành tích dẫn tới những hành vi trái với đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật. Nếu hiện tượng tiêu cực này không sớm chấm dứt thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu tới việc đào tạo nhân tài cho đất nước mai sau. Nói “Không với tiêu cực” hiện đang là khẩu hiệu, là mục tiêu phấn đấu của ngành giáo dục. Tính khả thi của nó đến đâu còn phụ thuộc vào quyết tâm của tất cả mọi người để có được một nền giáo dục nghiêm túc và chất lượng cao.
Không những xảy ra ở giáo dục mà một điều đáng buồn về xây dựng kinh tế, số hộ nghèo vì phục vụ cho việc nói dối để có thành tích mà cũng trở thành một điều đáng buồn. Tỉ lệ hô nghèo cao chứng tỏ bệnh thành tích chỉ mang lại những giá trị ảo cho những người hoang tưởng tới những điều tốt đẹp mà họ đang tưởng tượng. Trong lĩnh vực công nghiệp, nhiều xí nghiệp, nhà máy quốc doanh làm ăn “lời giả lỗ thật”, năm nào Nhà nước cũng phải bù lỗ rất nhiều nhưng Ban Giám đốc vẫn cố tình “bịa” ra thành tích để được thăng quan tiến chức. “Bệnh thành tích” trong lĩnh vực giao thông, hàng chục cây cầu, mấy chục con đường, hàng trăm công trình tầm cỡ quốc gia … được xây dựng cho kịp tiến độ nhưng không đạt yêu cầu về mặt chất lượng, gây lãng phí rất lớn về công sức và tiền bạc của Nhà nước.
“Bệnh thành tích” gây ra những tác hại khôn lường, cản trở quá trình phát triển của đất nước. Thí dụ như một tập thể hay một cá nhân khi đã nhiễm “bệnh thành tích” thì chỉ có thể làm ra những sản phẩm kém chất lượng mà thôi. Bởi cái họ theo đuổi chỉ mang mác thành tích chứ không phải là chất lượng. “Bệnh thành tích” còn dẫn đến sự thoái hóa nhân cách, khiến con người trở nên thiếu trung thực, dối trá, thích sống bằng ảo tưởng.
Để đẩy lùi bệnh thành tích trong xã hội hiện nay cần có những biện pháp tích cực và triệt để nhằm đẩy lùi và chữa dứt điểm căn bệnh này. Muốn làm được điều đó, các cấp các ngành phải đồng bộ ra tay, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra để kịp thời phát hiện những thành tích “ảo” và những “chuyên gia tạo thành tích ảo”. Không những thế phải đưa ra hình phạt thích đáng đối với những kẻ cố tình sai phạm, dẫn tới thiệt hại to lớn cho xã hội thì Nhà nước. Mặt khác, cần nâng cao biện pháp giáo dục, tuyên truyền thường xuyên để nâng cao nhận thức của mọi người về hậu quả của căn bệnh này.
Chính vì những thiệt hại mà Bệnh thành tích gây ra,chúng ta phải nhận thức được rằng “bệnh thành tích” là một hiện tượng tiêu cực gây ra nhiều tác hại ghê gớm khôn lường. Cho nên trong hoàn cảnh đất nước ta đã mở cửa giao lưu và hội nhập với toàn thế giới, mỗi công dân phải có thái độ nghiêm túc và trung thực trước mọi vấn đề của bản thân, của cuộc sống và xã hội; thấy được mặt mạnh để phát huy, mặt yếu để khắc phục. Xã hội sẽ phát triển vững mạnh hơn nếu có những người vươn lên từ chính mình và tạo ra những thứ kì diệu.
Bài làm tham khảo 2 Nghị luận về bệnh thành tích trong học tập
Từ một phẩm chất tốt trở thành… bệnh
Thành tích là kết quả có thể đánh giá được của nỗ lực con người. Kết quả không chỉ là một lợi ích vật chất hay tinh thần cá nhân, tuy rằng phần lớn yếu tố tạo nên động lực khiến con người phải nỗ lực nhiều hơn, tốt hơn để thành tích chính là lợi ích cho mình. Nhưng con người vẫn có thể làm hết mình vì lợi ích chung, lợi ích của xã hội, của đất nước.
Theo định nghĩa đó, nỗ lực đạt thành tích của một cá nhân hay một tập thể là một phẩm chất đạo đức tốt, đáng biểu đương và nhân rộng. Hãy tưởng tượng một xã hội mà trong đó mọi thành viên đều nỗ lực để đạt những thành tích cao hơn trên các lĩnh vực hoạt động: thể thao, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, sản xuất, thương mại, công nghệ… vì lợi ích cho mình và cho cả cộng đồng. Xã hội đó chắc chắn tiến bộ, nền kinh tế nước đó chắc chắn phát triển dân nước đó chắc chắn giàu có, quốc gia đó chắc chắn cường thịnh.
Nhưng đến khi nào thì những nỗ lực đạt thành tích, một phẩm chất tốt cần thiết của mỗi thành viên trong xã hội, lại trở thành một bệnh, mà ngày chúng ta gọi tên nó là bệnh thành tích? Suy cho cùng, nếu diễn dịch bằng thuật ngữ thông thường, sự khác nhau căn bản giữa thành tích và bệnh thành tích chỉ là sự khác nhau giữa hàng thật và hàng giả, hàng nhái. Và yếu tố then chốt làm nên sự khác biệt đó chính là sự có mặt hay không của lòng trung thực.
Điều lo ngại chung hiện nay là căn bệnh thành tích đang lan tràn trong ngành giáo dục của nước ta. Không phải chỉ lây nhiễm cho một bộ phận những người công tác trong ngành mà còn cho nhiều gia đình trong xã hội. Ông Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo, người được kỳ vọng rất nhiều trong công tác chấn hưng nền giáo dục nước nhà, đã nhận xét rằng không chỉ “các thầy cô, các trường ham muốn thành tích bằng kết quả thi cử cao" mà "hàng chục triệu phụ huynh và học sinh chính là đồng tác giả của bệnh thành tích".
Tuy nhiên, muốn khắc phục căn bệnh nguy hiểm này, có nhiều vấn đề được phân tích thêm và làm sáng tỏ. Tại sao các trường và các thầy cô ham muốn kết quả thi cao? Phải chăng vì kết quả cao đó – dù là kết quả không phản ánh đúng thực chất – là tiêu chí được Sở hay Bộ sử dụng để đánh giá thành tích điều hành và giảng dạy của ban giám hiệu, các thầy cô? Phải chăng với thành tích được đánh giá cao theo cách đó, chắc chắn ban giám hiệu và thầy cô sẽ có lợi là nâng lương, khen thưởng và tiếp tục "sự nghiệp” nhân lên căn bệnh thành tích? Và nếu tất cả các trường trên cả nước đều có những kết quả xuất sắc tương tự, phải chăng Bộ Giáo dục và đào tạo sẽ được đánh giá là có thành tích tốt trong công tác điều hành giáo dục trên cả nước? Tại sao các phụ huynh muốn con em có điểm cao hơn thực chất. Ở đây cũng cần có hai cách nhìn: thực chất và tác dụng. Xét về thực chất, không có phụ huynh học sinh nào muốn con em mình là học "giả". Họ là những người đã bỏ ra tiền thật, công sức thật, thời gian thật và hy vọng thật về một tương lai tốt đẹp thật của con em mình. Không có lý do gì họ lại mong muốn nhận được một môn hàng giả. Tuy nhiên, đứng trên điểm thực dụng, họ sẵn sàng làm mọi cách, kể cả những cách tệ hại nhất chúng ta đã được biết để con em họ qua được các kỳ thi, có một tấm bằng. Như vậy, suy cho cùng, phụ huynh học sinh và học sinh chính là nạn nhân của bệnh thành tích hơn là "đồng tác giả”. Khi sự lây nhiễm của bệnh thành tích đã thành phổ biến, làm gì có ai được miễn dịch? Cuối cùng, không có ai khác là xã hội phải gánh chịu rủi ro và chi phí cao hơn. Một sự lãng phí nghiêm trọng về thời gian và tiền bạc, hậu quả của bệnh thành tích. Khi nguồn nhân lực thiết yếu cho sự phát triển kinh tế bị méo mó nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, các doanh nghiệp đành phải chấp nhận "hàng giả" lẫn lộn với "hàng thật” và phải thêm ngân sách để đào tạo và đào tạo lại sau khi tuyển dụng, bệnh thành tích là hậu quả của chủ nghĩa hình thức và chính nó là mẹ đẻ của bệnh sao chép, học thuộc lòng. Với bệnh thành tích, các phương pháp đánh giá, kiểm tra kết quả học tập trở nên dày đặc, nặng nề, phức tạp nhưng mang tính chất rập khuôn, không có chỗ dành cho sự sáng tạo của người. Hơn nữa, hàng rào thì có quá nhiều và tập trung càng làm nặng thêm tinh thần học tủ, học rập khuôn, sao chép của học sinh.
Chúng ta đều nhận thức rõ ráng, một xã hội muốn phát triển tiến bộ phải có nhiều nhân tài, mà nhân tài phải là người thực học, được tiếp thu những kiên thức và các phẩm chất đạo đức tinh hoa của nhân loại và của dân tộc thông qua hệ thống giáo dục của cộng đồng. Giáo dục chính là xuất phát điểm, là nơi sản sinh ra nguồn năng lực cho sự cường thịnh của một nước, một cộng đồng dân tộc. Một nền giáo dục tốt và thành thục sẽ tạo nên những con ngươi đạt những thành tích tốt và trung thục. Những thành tích tốt và trung thực sẽ tạo nên những bước tiến mạnh mẽ cho cộng đồng dân tộc trên con đường phát triển.
Đất nước chúng ta đang tiến bước trên con đưòng đổi mới, mở cứa, hội nhập và tranh đua với thế giới để giành lấy một vị trí xứng đáng trên hành. Đất nước này có cường thịnh hay không tùy thuộc vào việc nền giáo dục của chúng ta có đổi mới để có thể sản sinh ra những nhân tài thực học hay không. Trên tiến trình đối mới giáo dục bệnh thành tích phải được xóa bỏ. Đó không phải là một việc quá khó, nhưng chắc chắn cũng không dễ dàng.
Nguồn: | Nghị luận về bệnh thành tích trong học tập | 3,704 | |
Nghị luận về cách đọc sách hiệu quả
Hướng dẫn
Mở bài
Sách là kho tàng của kiến thức của nhân loại. Vì thế ta cần phải đọc sách để có thể mở mang tư duy và khả năng sáng tạo cũng như học hỏi được những kinh nghiệm của người khác và nó cũng có thể giúp ta mở rộng thêm tâm hồn của mình để có thể cảm thông nhiều cho người khác.
Thân bài:
Muốn có được tri thức có trong sách nhất định phải có phương pháp đọc sách hiệu quả. Theo tôi, đọc sách là một việc làm rất cần có kế hoạch. Bởi có nhiều người mặt dù mỗi ngày đều đọc sách nhưng họ không thể nào cảm nhận được những gì tác giả muốn gửi đến cho mình. Ngược lại, có nhiều người mặc dù không đọc sách nhiều nhưng mỗi lần đọc là họ đều có thể cảm nhận được những thông điệp mà tác giả muốn gửi đến một cách sâu sắc và có thể vận dụng nó trong cuộc sống của họ.
Đọc sách theo kế hoạch vẫn chưa đủ giúp ta tích lũy tri thức một cách chắc chắn. Các thể loại sách trên thế giới hiện nay là nhiều vô số kể. Tôi chỉ có thể kể tên ra một vài thể loại sách mà tôi cho rằng có ích cho chúng ta. Ví dụ như: Sách khoa học giúp cho ta hiểu hơn về thế giới xung quanh, sách văn học có chỉ ra cho ta thấy những vẻ đẹp bấy lâu nay đã ẩn chứa trong chúng ta và các thể loại sách dạy làm người giúp cho ta biết làm thế nào để sống đúng, sống đẹp.
Đối với nhiều người, mỗi địa điểm đọc sách lại cho ta một cung bậc cảm xúc khác nhau khi đọc sách. Nhưng đối với tôi, tất cả mọi địa điểm đều như nhau. Chỉ cần bạn có hứng thú đọc sách thì trong bất kì môi trường nào bạn cũng có thể tạo cho mình một sự tập trung cần thiết cho việc đọc sách của bạn.
Cách bạn đọc sách sẽ quyết định hiệu quả của việc đọc. Mỗi lần tôi đọc sách, tôi không chỉ nhìn vào những con chữ và đọc theo nó. Mà tôi lúc nào cũng cố gắng hóa thân vào chính nhân vật trong câu chuyện mà tôi đang đọc cũng như tự tạo dựng nên một bối cảnh trong tí tưởng tượng của mình để có thề thấu hiểu được nội dugn câu chuyện cũng như những thông điệp mà tác giả muốn gửi đến cho chúng ta.
Ví dụ khi đọc truyện “Tôi là Beto” của tác giả Nguyễn Nhật Ánh, các đọc giả sẽ có thể hiểu rõ hơn về đời sống nội tâm của các chú cún con trong nhà của mình khi tác giả đã khéo léo dựng lên những tình huống vô cùng thú vị nhưng cũng vô cùng thân thuộc với chúng ta. Qua câu chuyện này, Nguyễn Nhật Ánh mặc dù không hề có định hướng giáo dục, ông cũng không phát đi những thông điệp nào cả, mà nó cứ thấm vào lòng trẻ thơ một cách tự nhiên không thể nào từ chối được.
Ta có thể nói Nguyễn Nhật Ánh là một người lớn nhưng lại có tâm hồn như một đứa trẻ, Những câu chuyện thường ngày cứ thế trôi, nhưng khi nhìn lại những người đã từng sống trong khoảnh khắc ấy sao nhớ quá.
Cái tài của Nguyễn Nhật Ánh là viết như một học sinh đang viết nhật ký vậy. Mặc dù thế, ông vẫn làm cho những độc gải trẻ tuổi khâm phục vì dường như ông đang “đi guốc” trong bụng họ vậy. Còn đối với những đọc giả trưởng thành thì họ như đang được quay về với tuổi thơ của mình và sống trong đó một lần nữa vậy.
Kết bài: | Nghị luận về cách đọc sách hiệu quả | 658 | |
Nghị luận về cách ứng xử
Hướng dẫn
Nghị luận về cách ứng xử
Mỗi con người khi sinh ra và lớn lên, không những học trao dồi thêm kiến thức mà còn phải biết học tập, rèn luyện đạo đức của bản thân, cũng giống như ông cha ta đã có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Cũng chính bởi vậy mà cách ứng xử của con người đặc biệt là ngay khi ngồi trên ghế nhà trường, chính bản thân mỗi chúng ta cũng phải tiếp tục học tập, rèn luyện về cách ứng xử của mình. Không chỉ đối với gia đình, nhà trường mà còn phải đối với toàn xã hội.
Để có thể hiểu rõ được thế nào là ứng xử, làm thế nào để có thể ứng xử tốt thì ta hãy cùng tìm hiểu: ứng xử là gì? Ứng xử là cách thể hiện thái độ, hành vi hay chính là sự giao tiếp, xử sự giữa con người với con người. Thông qua đó, tình cảm, khả năng biểu đạt và sự thiết lập mối quan hệ giữa mọi người được hình thành. Ứng xử không chỉ là cách đối đáp với người lớn tuổi hơn mình mà còn là cách đối đáp với người cùng tuổi hay ngay cả đối với trẻ em.
Một dẫn chứng về cách ứng xử. Đối với một người già nhờ bạn giúp đỡ, dù bạn đang rất bận nhưng có rất nhiều cách để ứng xử giúp cho họ cảm thấy hài lòng. Thay vì một câu nói: “Cháu đang bận lắm” thì bạn có thể nói: “Cháu có thể giúp gì cho bà và giờ cháu hơi bận một tí, cháu có thể đi tìm người khác giúp bà được chứ ạ”. Họ sẽ cảm thấy rất hài lòng và vui vẻ nhận lời, thay vì câu nói cụt lủn, họ sẽ không giận bạn, nhưng họ sẽ cảm thấy phiền lòng trước sự dửng dung của bạn. Đã bao giờ bạn thử đặt ngược địa vị lại, nếu đó là ông, là bà bạn đi ra đường mà ai cũng như bạn, thì ông bà sẽ như thế nào? Hay khi bạn đi mua hàng, dù đó là quan hệ giữa người mua – người bán, nhưng khi mua một món đồ, một lời nói cảm ơn cũng sẽ làm họ ấm lòng. Một cách cư xử nhẹ nhàng, có văn hóa, cho dù nó không đem lại lợi ích kinh tế cho họ, nhưng nó lại là một thứ giá trị tinh thần, làm con người ta cảm thấy ấm lòng hơn.
Đã bao giờ bạn tự hỏi, những người ăn xin sẽ nghĩ như thế nào, nếu bạn “vứt tiền” vào giỏ cho họ chưa? Sẽ rất khó để bạn tưởng tượng được, họ phải đến bước đường cùng, họ không còn sự lựa chọn nào nữa, thì họ mới làm thế. Họ không bắt ép bạn cho tiền, thậm chí những gói đồ ăn thừa, những bộ quần áo cũng của bạn cũng giúp họ cảm thấy được bao bọc nhiều hơn. Thay vì “vứt tiền” bạn hãy đặt những đồng tiền dù ít nhưng có ý nghĩa vào tay cho họ. Họ đáng được trân trọng, yêu thương thay vì cho rằng: đã đi ăn xin thì không cần lòng tự trọng.
Có ai nói với bạn rằng, cách cư xử của bạn một phần do bố mẹ chỉ dạy không? Điều đó là chắc chắn có, họ sẽ nói rằng: bố mẹ không chỉ cho bạn. Chính vì vậy, nếu bạn không muốn ai nói về bố mẹ mình thì hãy tự mình rèn luyện, luyện tập thường xuyên cách/thái độ ứng xử của mình với mọi người. Với trẻ em, bạn hãy làm tấm gương phản chiếu giúp các em noi theo. Với người lớn, bạn hãy trao dồi thêm các kỹ năng từ họ và hãy cư xử như một người được học tập và rèn luyện để có cách ứng xử cho phù hợp.
Vậy, nguyên nhân của việc rất nhiều người trẻ tuổi nhưng cần phải chấn chỉnh về cách ứng xử là do đâu? Là do các bạn không ý thức được tầm quan trọng của việc ứng xử, là do bạn thờ ơ, vô cảm với mọi điều bình thường nhưng đầy ý nghĩa ở xung quanh; là do bạn được sinh ra trong trong điều kiện vật chất tốt mà bạn không biết đến những đối với bạn là vô nghĩa nhưng đối với họ thì thực sự có ý nghĩa.
Chính vì vậy, cần phải dạy và chấn chỉnh về cách ứng xử của học sinh với mọi người ngay từ những ngày bước chân vào lớp 1. Nhưng không nên đổ hết trách nhiệm cho nhà trường mà thay vào đó, sự giáo dục, chỉ bảo cho các em học sinh là điều rất cần thiết tại chính gia đình các em. Làm thế làm đó để những đạo lý truyền thống có ý nghĩa của dân tộc ta trường tồn mãi mãi với thời gian và ngày càng phát triển vững mạnh hơn nữa.
Nguồn: Bài văn hay | Nghị luận về cách ứng xử | 863 | |
Đề bài: Nghị luận về câu ca dao "Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn"
Bài làm
Từ ngàn đời xưa, ông cha ta đã đúc kết được bao nhiêu kinh ngiệm trong thực tế cuộc sống xã hội cũng như trong lao động sản xuất. Những kinh nghiệm quý báu đố đã được đưa vào kho tàng ca dao, tục ngữ. Câu ca dao:“ Ta về ta tắm ao ta/Dù ttrong dù đục ao nhà vẫn hơn” đã cho chúng ta một lời khuyên sâu sắc về tinh thần độc lập tự chủ, tâm trạng yêu quý những cái của ta, do ta làm chủ không phụ thuộc vào người khác…
” Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”
Câu ca dao đã dùng hình ảnh gần gũi, dể hiểu như lời nói hằng ngày của người nông dân: Hãy về tắm ao nhà mình dù nước có trong hay vẫn đục hơn nơi khác. Qua hình ảnh thơ này tác giả dân gian muốn khuyên mọi người: Con người ai cũng có gia đình, xã hội, môi trường sống của mình ; phải biết trân trọng môi trường sống của mình, dùng những cái vốn có của mình hơn là đi nhờ vả, sử dụng của người khác. Câu ca dao muốn dề cao ý thức độc lập, không phụ thuộc vào người khác. Những gì thuộc về quyền làm chủ của ta ta nên quý trọng và sử dụng nó.
Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Với nội dung trên, câu ca dao vừa có mặt đúng, vừa có mặt còn hạn chế. Trước tiên ta hãy bàn về mặt đúng của vấn đề. ” Ao ta” thuộc quyền sở hữu của ta, ta có thể tắm thoải mái, tự do không e dè khi phải tắm nhờ ao của người khác.
Trong cuộc sống cũng vậy,sử dụng những gì của mình vẫn thích hơn là đi mượn của người khác.. Mặt khác nhà mình có ao thì mình tắm, xã hội mình có sản phẩm thì mình dùng ; đi sử dụng của người khác trong khi mình cũng có thứ đó là hành động thiếu tôn trọng xã hội mình, coi thường chính bản thâm mình. Ấy là chưa kể đến việc almf cho “ao nhà” bẩn đi vì khônbg được sử dụng, tu sửa.
Trong hoàn cảnh mở cửa hiện nay, hàng ngoại ngập tràn, canh tranh với hàng nội, các cấp cũng đã nêu câu ca dao trên để động viên nhân dân dùng hàng nội. Theo em, đây là một chủ trương đúng đắn, vì ta dùng hàng của ta tức là ta trân trọng danh dự của chính ta, quý trọng sức lao động của bản thân. Nếu được tiêu thụ nhiều, hàng hóa sẽ được sản xuất nhiều và do đó ngày càng được cải tiến tốt hơn lên. Nhờ đó “ ao nhà” ngầy càng sạch, nền kinh tế của nước nhà ngày càng phát triển.
Đối với những người con xa quê hương, xa tổ quốc, nội dung câu ca dao trên càng có ý nghĩa sâu sắc. Sống trên đất nước người, họ có thể có cuộc sống vật chất khá hơn trên quê hương mình. Nhưng nước người vẫn là “ao” của người khác. Làm sao họ có thể thích ứng hoàn toàn với phong tục tập quán, vớia cách sống, cách sinh hoạt của miền đất lạ. Làm sao họ có thể tìm được hồn quê hương dù là trong khoảnh khắc ở những con người xa lạ. “ Ta về ta tắm ao ta”, nhiều Việt kiều xa quê hương nhưng tâm hồn luôn hướng về tổ quốc. nhiều người đã trở về sống với mãnh đất thương yêu để tìm nguồn an ủi, sự cảm thông và sự gắn bó máu thịtnơi chôn nhau cát rốn.Rõ ràng câu ca dao đã là lời khuyên chân thành, lời chỉ bảo đúng đắn cho mỗi người Việt chúng ta.
Tuy nhiên nội dung của câu ca dao vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Như hần trên đã bàn, câu ca dao khuyên ta phải tắm ao ta, phải sử dụng những cái của ta và lời khuyên đó là đúng là hợp đạo lí. Nhưng câu ca dao lại nêu: “ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” thì thật là chưa thỏa đáng. Nếu “ ao nhà” ta đục, xã hội ta trì trệ, lạc hậu thì làm sao có thể “vẫn hơn” được. Chẳng nhẽ ta cứ an phận tắm nước ao đục, cứ an phận ssống trong xã hội nghèo nàn, lạc hậu mãi hay sao?
Ta không nên bảo thủ, không nên bằng lòng với cuộc sống nghèo nàn lạc hậu, càng không nên coc tâm lí tự cao mù quáng cho rằng cái gì của mình cũng nhất, cái gì của ta thì hơn tất cả mọi người. Hiện nay trong xã hội không ít người còn quan niệm lạc hậu như vậy. Thậm chí có người còn cho rằng ta phải sống trong cái xã hội xủa ta với tất cả các hiện trạng “ trong” “ đục” vốn có của nó, vì sống như thế mới không lai căn, sống như thế mới là dân tộc.
Không phải phân tích nhiều ta cũng thấy quan niệm đó là bảo thủ, vô trách nhiệm đối với xã hội, đói với chính mình. Quan niệm đó sẽ làm xã hội trì trệ, cuộc ssống nghèo nàn. Trở lại với cuộc vận động dùng hàng nôị hóa hiện nay. Nếu ta lại vận động nhân dân dùng hàng nội với khẩu hiệu: “ Dù tốt dù xấu cũng là hàng của ta”, vẫn hơn hàng ngoại thì cuộc vận động sẽ hoàn toàn thất bại, sẽ không lôi kéo được đông đảo quần chúng. Vì trong thời buổi hàng hóa tràn ngập thị trường. Không ai dại gì đi dùng hàng xấu, hàng đắt dù những thứ ấy là của ta đi chăng nữa. Rõ ràng quan niệm “ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Không còn phù hợp với thực tiễn với xã hội ngày nay, càng không phù hợp với đường lối mở cửa,đổi mới để phát triển không ngừng của chúng ta nữa.
Vậy chúng ta phải nhận thức vấn đề này như thế nào cho đúng, cho phù hợp? Chúng ta không chấp nhận quan niệm an phận” dù trong dù đục” vẫn cứ tắm ao nhà, không có nghĩa là tâ đồng tình với thái độ lẫn tránh, bỏ đi sống ở nơi khác khi quê nhà còn nghèo nàn lạc hậu. Nhận thức đúng đắn nhất hiện nay là phải tôn trọng, sử dụng cái của ta với thái độ “ Khơi trong gạn đục” Như một đồng chí lãnh đạo Đảng ta trước đây đã nói:
“ Ta về ta tắm ao ta
Khơi trong gạn đục ao nhà vẫn hơn” | Nghị luận về câu ca dao “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” | 1,166 | |
Nghị luận về câu nói của triết gia Tuân Tử
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói của triết gia Tuân Tử
Gợi ý dàn bài
Mở bài:
Con người là tổng hòa trong các mối quan hệ. Những mối quan hệ không hề đơn giản, đòi hỏi con người phải suy nghĩ, nhận thức và đối nhân xử thế như thế nào để tránh mắc sai lầm. Triết gia Tuân Tử từng đúc kết về cách nhìn nhận con người trong đối nhân xử thế: “Người khen ta mà khen đúng là bạn ta; người chê ta mà chê đúng là thầy ta; người xu nịnh ta là kẻ thù của ta”
Thân bài:
Người khen ta mà khen đúng là bạn ta
– Những lời khen đúng có ý nghĩa to lớn đối với con người và cuộc sống. Nó có tác dụng động viên, khích lệ được người khen tiếp tục hành động đúng đắn, tốt đẹp; nó đem đến niềm vui, hạnh phúc cho người khen.
– Nhưng để khen đúng, người đưa ra lời khen phải là người hiểu biết về mình, về người. Người khen đúng là người đáng để ta tin cậy, chia sẻ suy nghĩ vì với người đó chắc chắn ta sẽ đón nhận được những lời góp ý chân tình, giúp ta sống tốt. Bởi thế người khen ta mà khen đúng là bạn ta.
Người chê ta mà chê đúng là thầy ta
– Chê đúng là nhận xét, đánh giá đúng với bản chất của con người, sự việc, hiện tượng. Và cuộc sống thường nhiều lời khen ít lời chê, khen thường dễ, chê bai lại khó. Vì chê bai lại không khéo rất dễ mất lòng, phật ý, có thể biến bạn thành thù.
– Người dám chê ta là người có lập trường, bản lĩnh, có tầm hiểu biết rộng. Sống thẳng thắn, chân thành, luôn mong muốn người khác tiến bộ, dám chấp nhận những tình huống xấu nhất do lời chê của mình đem lại
– Người chê đúng đáng để ta học tập, noi theo, người đó là bậc thầy của ta, bất kể tuổi tác, địa vị.
Người xu nịnh ta là kẻ thù của ta
– Lời xu nịnh thường đem đến cho ta niềm vui và sự ảo tưởng, có khi làm ta mù quáng, ru ngủ ta trong vinh quang giả tạo, khích lệ, tâng bốc ta tiếp tục những việc làm mà không có lợi.
– Người có thói quen xu nịnh là người sống giả dối, không thật lòng có khi còn có những mưu mô, toan tính. Kẻ đó khi cần thì không tiếc lời xu nịnh để đạt mục đích, nhưng nếu không đạt sẽ sẵn sàng trở mặt, hoặc khi ta gặp hoạn nạn sẽ sẵn sàng “giậu đổ bình leo” hay “cao chạy xa bay”.
– Người xu nịnh ta là kẻ hại ta, thường đem tai họa đến cho ta. “Cái lưỡi của kẻ nịnh hót chẳng kém gì một bàn tay giết người”.
Kết bài:
Câu nói thể hiện cách nhìn nhận sâu sắc về cuộc sống và con người, đúc rút kinh nghiệm, định hướng cho mỗi chúng ta trong cách nhìn nhận, đánh giá con người và đối nhân xử thế. Đó cũng chính là lời khuyên cho mọi người: muốn nhận biết thầy, bạn và kẻ thù phải có tầm hiểu biết, có con mắt tinh đời để chọn bạn mà chơi, chọn thầy mà học, phải khôn khéo tỉnh táo trước thái độ và những lời xu nịnh của người đời, phân biệt tốt xấu, đúng sai; sống phải có quan điểm, lập trường
Viết bài văn thể hiện suy ngkĩ của em về ý nghĩ của những lời động viên trong cuộc sống | Nghị luận về câu nói của triết gia Tuân Tử | 618 | |
Đề bài: Chứng minh và giải thích ý kiến: Ai cũng biết tàn phá rừng là tự thắt cổ mình, vì đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái.
Bài làm
Khi rừng không còn tồn tại trên trái đất, trái đất sẽ khô cứng và lạnh lẽo biết nhường nào! Khi ấy, con người sẽ chết dần chết mòn khi đối diện với những tòa nhà đồ sộ nhưng không có sự sống. Dẫu cho lúc đó có vàng bạc chất đống, con người cũng sẽ tiếc nuối những ngày tháng tươi đẹp đã qua, những ngày tháng mà cuộc sống gắn liền với màu xanh tươi, môi trường trong lành.
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiện nay, tình trạng phá rừng đang ở mức độ báo động đỏ. Hiện nay vẫn còn những kẻ phá rừng một cách vô ý thức, mặc dù rằng họ biết phá rừng là sai, nhưng cái sai đó ở mức độ như thế nào thì có lẽ họ chưa rõ. Thật ra, cái sai ấy rất nghiêm trọng. Họ có biết đâu rằng tàn phá rừng là sự thắt cổ mình vì sự tàn phá ấy chính là sự tàn phá môi trường sinh thái.
Ai cũng biết tàn phá rừng là tự thắt cổ mình, vì đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái
Rừng từ xưa đến nay luôn luôn là người bạn tốt, trung thành, tận tụy phục vụ cho con người và không có gì nguy hiểm hơn khi mất rừng.
Rừng luôn luôn gắn liền với sinh hoạt con người. Vì xung quanh ta, bao giờ cũng tồn tại sự có mặt của rừng. Vì xung quanh ta, từ một căn biệt thự nguy nga cho đến một cây thước, đôi đũa bạn cầm trên tay đều là của rừng. Rừng còn là kho thuốc vô tận mà thiên nhiên ban phát cho con người.
Không những thế, rừng còn là một nhà máy lọc không khí tối tân nhất mà không một nhà máy nào trên thế giới sánh kịp. Rừng trao đổi dưỡng khí cho con người, cho chúng ta kho thuốc quý. Rừng chống sa mạc hóa, cản sự xói mòn đất. Rừng còn là nơi giải trí lí tưởng cho con người.
Thật không thể nào kể hết ích lợi của rừng với con người. Thế nhưng, con người đã trả công cho rừng bằng hành động tàn phá rừng một cách thô bạo. Tại sao chúng ta không thể nghĩ đến những nguy hiểm, tác hại khi mất rừng?
Khi rừng không còn tồn tại trên trái đất, trái đất sẽ khô cứng và lạnh lẽo biết nhường nào! Khi ấy, con người sẽ chết dần chết mòn khi đối diện với những tòa nhà đồ sộ nhưng không có sự sống. Dẫu cho lúc đó có vàng bạc chất đống, con người cũng sẽ tiếc nuối những ngày tháng tươi đẹp đã qua, những ngày tháng mà cuộc sống gắn liền với màu xanh tươi, môi trường trong lành. Đến lúc ấy, sa mạc hóa sẽ diễn ra khắp nơi. Những tác hại mà trước kia ta không để ý tới, giờ đây trở thành thảm nạn, hạn hán khắp nơi, lũ lụt xảy ra liên tiếp. Thêm nữa là thú rừng không còn nơi sinh sống sẽ tràn xuống đồng bằng gây biết bao nhiêu tai họa. Nhân loại sẽ kiệt quệ với bầu không khí ô nhiễm nghiêm trọng. Con người sẽ chỉ còn chia nhau từng hớp không khí trong lành mà tiếc nuối, xót xa.. Rõ ràng việc đốt rừng kéo theo nhiều hậu quả không lường được: nhiệt độ trái đất thêm nóng, bụi khói phủ nhiều nước. Từ đó những chứng bệnh trầm trọng phát sinh. Đúng là con người – có thể vô tình hoặc vì lợi ích cục bộ, trước mắt mà tàn phá rừng, đốt rừng – sẽ tự thắt cổ mình. Sai lầm ấy phải trả giá rất đắt, cho chính bản thân người phá rừng và cho cả cộng đồng. Ấy thế mà tốc độ tiêu diệt rừng càng nhanh trên phạm vi thế giới, cảnh cháy rừng khủng khiếp ở Inđônêxia, ở Cà Mau… vừa qua là một bằng chứng hiển nhiên, tác động xấu đến nhiều nước trong vùng Đông Nam Á. Chẳng mấy chốc, rừng xanh biến mất! Biết bao cây quý, thú hiếm sẽ tuyệt chủng! Lẽ nào ta tự thắt cổ mình? Lẽ nào vì lợi nhỏ mà bỏ ích lớn. Hãy dừng cưa, dừng rìu hạ những cây cổ thụ phải hàng trăm năm mới có được. Hãy thận trọng khi cầm mồi lửa giữa rừng. Hãy trồng thêm cây, gây thêm rừng hay vì diệt cây rừng bừa bãi. Giữ lấy rừng, không phải cho hiện tại, mà cho các thế hệ tương lai nữa. Thực tế đã chứng minh rằng muốn có một cánh rừng, phải cần nhiều năm. Trong khi đó, phá hoại một khu rừng chỉ cần một thời gian ngắn. Điều đó buộc lương tâm mọi người phải thức tỉnh và hành động. Hội nghị thượng đỉnh quốc tế tại Braxin chỉ để bàn về một vấn đề duy nhất cấp bách: nạn phá rừng và việc bảo vệ rừng. Liên Hiệp Quốc cũng đã phát động, tuyên truyền việc giữ những cánh rừng. Ở một số nước, hàng ngàn người xuống đường biểu tình đòi bảo vệ rừng như bảo vệ sự sống còn của hành tinh này. Ở nước ta, rừng nguyên sinh Cúc Phương, rừng Nam Cát Tiên, rừng Tràm Chim…. là những khu rừng rất quý. Nhà nước đã có pháp lệnh bảo vệ rừng nhưng đó đây cây xanh vẫn bị hạ, rừng vẫn bị cháy vì một số kẻ muốn mau giàu bằng cách bất chính. Phải chăng những cơn lũ lụt ở Lai Châu, ở đồng băng sông Cửu Long, và gần đây nhất là ở các tỉnh miền Trung… cũng do phần quan trọng là rừng đã và đang bị phá, bị mất dạng, cần kiên quyết hơn với những hành động tàn phá rừng.
Dù sống ở thành thị, xa rừng, nhưng chúng ta vẫn phải quan tâm tới rừng. Rừng vô cùng cần thiết đôi với cuộc sống con người mà phá rừng tức là tự chui đầu vào thòng lọng và siết cổ mình. | Nghị luận về câu nói “Ai cũng biết tàn phá rừng là tự thắt cổ mình, vì đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái” | 1,063 | |
Đề bài: Bạn nghĩ như thế nào khi nhà triết học Hi Lạp Dê-nông (346-264 trước Công nguyên) nói với một người bẻm mép: “Chúng ta có hai tai và một mồm để nghe nhiều hơn và nói ít hơn".
Bài làm
Ai cũng có mồm để ăn nói, có tai để nghe. Nói như thế nào, nghe như thế nào, là cả một nghệ thuật sống trong giao tiếp hằng ngày, trong ứng xử giữa người với người trong cộng đồng.
Câu nói của nhà triết học Hi Lạp Dê-nông (346-264 trước Công nguyèn) với một người bẻm mép là một lời khuyên sâu sắc để chúng ta ghi lòng và suy nghĩ: “Chúng ta có hai tai và một mồm để nghe nhiều hơn và nói ít hơn”.
Câu nói trên đây của Dê-nông hướng tới kẻ bẻm mép. Kẻ bém mép còn gọi là kẻ trém mép, nhừng kẻ nói hay mà ít làm, không chịu làm. Hai chữ “chúng ta” trong câu nói cùa Dê-nông như một lời tâm sự, một điều chiêm nghiệm nên không làm mất lòng đối với người đang đối thoại, dù đó là kẻ bẻm mép. Dê- nông đã từ một hiện thực cụ thể hiển nhiên là “chúng ta có hai tai và một mồm” để rút ra một bài học, một chân lí, một lời khuyên giản dị mà sâu sắc: Ai cũng nên nghe nhiều hơn và nói ít hơn.
Chúng ta có hai tai và một mồm để nghe nhiều hơn và nói ít hơn
Tại sao trong giao tiếp cần nghe nhiều hơn và nói ít hơn? Kẻ bẻm mép thường ăn nói ba hoa, khoe mẽ; nói đủ chuyện trên trời dưới đất. Ăn nói khoe khoang là bản tính của kẻ bẻm mép. Lúc giao tiếp, lúc đối thoại với bất cứ ai, kẻ bẻm mép bao giờ cũng vậy, ăn nói huyên thuyên, hết đưa xa cái lí lẽ này, lời bình phẩm nọ, tung ra mọi tin tức thông báo, rồi nhận xét, đánh giá. Anh ta cũng có hai tai đấy, nhưng không biết lắng nghe mà chỉ huyên thuyên khoe biết, khoe tài, khoe giỏi. Anh ta có biết đâu, nhưng người đang nghe anh ta nói khó chịu và coi thường anh ta.
Trong giao tiếp cần nghe nhiều hơn, nói ít hơn. Nói là để biểu đạt tình cảm, tư tưởng, nhận thức, sự hiểu biết của mình. Phải biết làm chủ bản thân mình nên phải nói ít. Biết mười nói một, làm nhiều nói ít là người khôn. Tục ngữ có câu:
– Người khôn nói ít làm nhiều,
Không như người dại lắm điều rởm tai.
– Khôn ngoan chẳng lọ nói nhiều,
Người khôn mới nói nửa điều cũng khôn.
Nói ít nghe nhiều lúc giao tiếp là thể hiện sự khiêm nhường, lịch sự, đức tính chín chắn. Ngay cả lúc tranh luận, bàn cãi bất cứ về chuyện gì, ta cũng phải làm chủ thái độ, làm chủ ngôn ngữ, đừng cướp lời, đừng đỏ mặt tía tai, đừng vừa nói, vừa vung tay! Nói ít nghe nhiều thì mới học được điều hay, điều tốt đẹp. Ông bà, cha mẹ thường dạy bảo con cháu: "Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Học ăn, nói, gói, mở, để ứng xứ, để giao tiếp, để tu dưỡng nhân cách, đạo đức, trình độ học vấn của mỗi người. Trong giao tiếp, bất cứ ai cũng vậy, nên nói ít nghe nhiều, phải suy nghĩ chín chắn rồi mới nói. Nghe nhiều, nói ít mới đúng là người có nhân cách văn hóa.
Đó đây trong nhà trường, ở đường phô, trên báo chí;.. ta thường bắt gặp những kẻ đa sự, nói nhiều. Có kẻ nói nhiều đã trở thành bệnh lí, cố tật. Kẻ bẻm mép có biết đâu bị thiên hạ cười chê. Nói dài, nói dai, nói dại: Đất xấu trồng cây khẳng khiu / Những người thô tục nói điều phàm phu – những lời châm biếm ấy của dân gian hình như những kẻ bẻm mép chưa bao giờ được nghe, chưa hao giờ được nghĩ tới.
Trong xã hội mới, trong nền kinh tế trí thức, bài học nghe nhiều, nói ít vẫn rất thiết thực và bổ ích đối với thế hệ trẻ chúng ta. Học cho rộng, suy cho kĩ, nghĩ cho sâu mới là con người mới. Nói và làm phải đi đôi với nhau, cổ nhân đã từng lưu ý: “Ngôn quá kì hành, bất khả trọng dụng”, nghĩa là nói nhiều hơn làm, không dùng việc lớn được. Ngày nay, việc lớn là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì không thể dùng được những kẻ bẻm mép nói nhiều hơn làm.
Sau hơn hai nghìn năm, câu nói trên đây của nhà triết học Hi Lạp Dê-nông vẫn còn nguyên giá trị. Nghe nhiều hơn và nói ít hơn là một lời khuyên đẹp, một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc, thấm thìa. Nói ít, nghe nhiều, làm giỏi là thước đo giá trị và nhân phẩm. Nhắc lại câu nói của Dê-nông, làm theo câu nói của Dê-nông là để sống đẹp. | Nghị luận về câu nói “Chúng ta có hai tai và một mồm để nghe nhiều hơn và nói ít hơn” | 862 | |
Đề bài: Một số bạn học sinh lớp 12 hiện nay cho rằng: "Chỉ có vào đại học thì cuộc đời mới có tương lai". Bạn hãy cho biết ý kiến về vấn đề đó.
Bài làm
Mười hai năm đèn sách vất vả, không ai là không mơ ước được bước vào cổng trường đại học. Được vào trường đại học mà mình yêu thích là nguyện vọng hết sức chính đáng của mỗi thanh niên, học sinh chúng ta, vì đó là môi trường học tập lí tưởng, nơi trang bị cho chúng ta những tri thức cơ bản, hiện đại để sau khi ra trường có khả năng thích ứng với các điều kiện công tác khác nhau. Không ai phủ nhận vai trò của trường đại học trong việc tạo dựng tương lai cho mỗi con người. Nhưng nếu cho rằng: “Chỉ có vào đại học thì cuộc đời mới có tương lai” thì lại không đúng. Sai lầm của câu nói chinh là đã tuyệt đối hóa việc học ở đại học, coi đó là cứu cánh duy nhất cho cuộc đời của mỗi con người. Ai không vào được đại học thì cuộc đời sẽ bỏ đi. tương lai sẽ mờ mịt. Có đúng như vậy không? Hoàn toàn không phải. Học đại học là cần, nhưng đó không phải là con đường duy nhất cho việc học của mỗi người.
Chỉ có vào đại học thì cuộc đời mới có tương lai?
Thời đại ngày nay đã mở ra cho con người nhiều con đường học tập khác nhau, nhiều cách học tập sáng tạo, có hiệu quả và thực tế đã chứng minh điều đó. Để lập thân, rất cần học tập sáng tạo, có hiệu quả và thực tế đã chứng minh điều đó. Đê lập thân, rất cần học vấn nhưng đó không phải là yếu tố duy nhất mà còn có nhiều yếu tố khác quan trọng và có tính chất và có tính chất quyết định hơn, như ý chí, nghị lực, sự năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm… thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước đã có không ít người không qua trường đại học mà vẫn có phát minh sáng chế rất đáng ngợi ca.
Như vậy, “vào đại học” chỉ là một yếu tố, đúng hơn là một điều kiện để giúp con người lập than. Không nên “thần thánh hóa" việc vào đại học như một “phép màu nhiệm” để có được tương lai. Học đại học mà không có các yếu tố khác trên đây thì cuộc đời chắc gì đã tốt đẹp? Thành ra, yếu tố quyết định nhất để tạo ra tương lai lại chính là con người chứ không phải trường đại học. Câu nói trên đây, ngược lại, cho việc “vào đại học” là yếu tố quyết định, đã thể hiện một quan niệm học và lập thân theo kiểu cũ không phù hợp với thời đại ngày nay.
Đọc Thêm
ĐẠI HỌC KHÔNG PHẢI LÀ CON ĐƯỜNG DUY NHẤT
Ngày nay, xã hội cần nhiều người có trình độ cao được đào tạo bài bản ở các trường đại học để phát triển đất nước nhưng cũng rất cần nhiều người thành thạo chuyên môn, tay nghề vững chắc được đào tạo ở các trường chuyên nghiệp trở thành người lao động có trình độ tiên tiến. Tạo áp lực tâm lí phải có bằng đại học sẽ vô tình đầy các bạn trẻ vào vòng quay hình thức để không ít người thất vọng và có thể căng thẳng đảo điên vì cứ trượt dài trên bậc thang không bao giờ tới. Xin hãy đề cao những người thành đạt với xuất phát điểm không phải với bằng đại học, xin hãy tôn vinh những người công nhân lành nghề thứ thiệt đang miệt mài lao động để sống vui và góp sức mình phát triển đất nước.
Trong gia đình, cha mẹ nào cũng muốn con mình thành đạt và làm mình nở mặt nở mày, nhiều người không cần biết sức học của con và nhất mực yêu cầu con phải vào được đại học. Nhiều bạn trẻ không chịu nổi sự căng thẳng vì nhiệm vụ “bất khả thi” nên đã buông thả, mặc kệ hoặc có những hành vi thiếu kiềm chế để lại sự hối hận không bao giờ nguôi cho người lớn. Nếu không bắt đầu từ thực tế, từ khả năng, từ thực lực của con, người lớn có thể vô tình tạo áp lực không đáng có nhiều khi khủng khiếp làm các bạn trẻ quay cuồng, mất hết sáng tạo, không đủ tự tin và có lúc tuyệt vọng khi giấc mơ đại học không thành sự thật.
Ai cũng có ước mơ, ai cũng mong thành đạt nhưng vào được đại học không phải là con đường duy nhất để thành công, không phải là hình thức duy nhất để khẳng định giá trị, không phải là mục tiêu duy nhất của con người. Xã hội, gia đình và chính bản thân mình khòng chấp nhận các giá trị ảo, không quá đề cao tính hình thức của vấn đề thì nhận thức sẽ thay đổi, áp lực sẽ bớt và hiển nhiên những hành vi manh động, thủ ác trong nhà trường chắc sẽ bớt dần theo năm tháng. | Nghị luận về câu nói “Chỉ có vào đại học thì cuộc đời mới có tương lai” | 897 | |
Đề bài: Anh chị hãy trình bày ý kiến của mình về câu nói sau đây của Virgile "Cái gì cũng nhàm chán cả trừ học hỏi".
Bài làm
Trong cuộc sống của chúng ta có những điều cứ lặp đi lặp lại hàng ngày thật nhàm chán, nhưng cũng có những điều luôn thay đổi, luôn mới mẻ làm cho chúng ta luôn thích thú. Một trong những vấn đề đó là việc học hỏi.
Trong cuộc sống của chúng ta có những điều cứ lặp đi lặp lại hàng ngày thật nhàm chán, nhưng cũng có những điều luôn thay đổi, luôn mới mẻ làm cho chúng ta luôn thích thú. Một trong những vấn đề đó là việc học hỏi. Chính vì thế mà Virgile đã có một câu nói khá nổi tiếng sau đây: “Cái gì cũng nhàm chán cả trừ học hỏi".
Câu nói trên của Virgile thật chí lí, làm vỡ ra nhiều điều mới lạ mà bình thường chúng ta không nhận ra được. Trước tiên ta phải hiểu được những gì xảy ra hàng ngày, cứ lặp đi lặp lại như những chiếc kim đồng hồ, từ ngày này qua ngày khác, không có gì thay đổi làm cho chúng ta có cảm giác nhàm chán. Những việc như ăn, ngủ, vệ sinh, làm một công việc cố định nào đó trong một dây chuyền sản xuất. Những người thầy, người cô lên lớp qua năm này tới năm khác cũng dạy đi dạy lại những bài in trong sách giáo khoa cũng không tránh khỏi cảm giác nhàm chán. Những người giàu sang dư tiền, dư của, ăn rồi đi du lịch hết nước này đến nước khác ban đầu thì rất thích thú vì được tận mắt chứng kiến nhiều cảnh đẹp, nhiều kỳ quan của thế giới, nhưng rồi dần dần cái cảm giác thích thú cũng mất dần đi và cuối cùng thì cái cảm giác nhàm chán ấy lại đến. Một miếng ăn ngon đến mấv mà cứ ăn đi ăn lại nhiều lần thì chúng ta cũng thấy ngán…
Cái gì cũng nhàm chán cả trừ học hỏi
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng cái gì cứ lặp đi lặp lại nhiều lần thì ta khó tránh khỏi cảm giác nhàm chán. Và Virgile đã khẳng định với chúng ta một việc không bao giờ cảm thấy nhàm chán đó là việc học hỏi: “Cái gì cũng nhàm chán cả trừ học hỏi”. Do đâu mà Virgile đã khẳng định như thế?
Như chúng ta biết kho tàng tri thức của nhân loại thì bao la, vô tận mà chúng ta không baơ giờ biết hết được. Kho tàng ấy được thể hiện ở nhiều phạm trù khác nhau như: văn chương, nghệ thuật, triết học, địa lí, lịch sử, toán học, vật lí học, sinh học, thiên văn học… Hơn nữa ở mỗi phạm trù ấy lại rất đa dạng, phong phú, ví dụ như ở lĩnh vực văn chương nghệ thuật thì có văn chương thời cổ đại, văn chương thời trung đại, văn chương thời cận và hiện đại của nhiều nước trên thế giới; về lĩnh vực nghệ thuật thì ngoài văn chương thì ta còn có âm nhạc, hội họa, điêu khắc, điện ảnh… Bể học mênh mông mà thời gian và sức lực con người có hạn, làm sao ta có thể nắm được hết tri thức của nhân loại. Càng học hỏi chúng ta càng khám phá và nhận biến những điều thật mới mẻ luôn làm chúngta say mê, thích thú, không hề có cảm giác nhàm chán. Đi vào kho tang tri thức của nhân loại ta như đi vào một vườn hoa bất tận đầy màu sắc và hương thơm, làm cho chúng ta đi từ sự ngạc nhiên này đến sự ngạc nhiên khác và chúng ta càng nhận thấy rõ: Cái gì cũng nhàm chán cả trừ học hỏi.
Tóm lại, câu nói trên của Virgile là một chân lí, nó giúp chúng ta ý thức hơn về việc học hỏi để luôn tìm kiếm và khám phá những điều mới lạ để ngày càng nâng cao vốn hiểu biết của mình và tránh đi những cảm giác nhàm chán trong cuộc sống hằng ngày. | Nghị luận về câu nói “Cái gì cũng nhàm chán cả trừ học hỏi” | 715 | |
Đề bài: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đối cả thế giới ” (N.Mandela). Anh (chị) hãy trình bày ý kiến của mình về câu nói trên.
Bài làm
Từ xưa đến nay, sự phát triển của xã hội, của con người về mọi mặt từ vật chất đến tinh thần, đều không thể thiếu vai trò của giáo dục. Giáo dục đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên.
Từ xưa đến nay, sự phát triển của xã hội, của con người về mọi mặt từ vật chất đến tinh thần, đều không thể thiếu vai trò của giáo dục. Giáo dục đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy xã hội tiến lên. Chính vì vậy mà N.Mandela có một câu nói khá nổi tiếng: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới".
Câu nói trên của N.Mandela là một chân lí. Để thấy rõ chân lí này, trước tiên la phải hiểu giáo dục bao gồm những phạm trù nào? Vì sao giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới?
Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đối cả thế giới
Giáo dục là môt lĩnh vực vô cùng rộng lớn bao gồm giáo dục nhân cách làm người, làm cho con người chúng ta nhận thức được cái đúng, cái sai, cái thiện, cái ác, cái chính, cái tà để từ đó chúng ta sống một cuộc sống thật sự có ý nghĩa, hợp với đạo lí làm người, góp phần làm cho cuộc sống xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Ví dụ như tổ tiên ta ngày trước đã giáo dục con cháu truyền thống yêu nước qua truyện Thánh Gióng, qua những áng thơ văn bất hủ như Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi…, giáo dục niềm tự hào về nguồn gốc cao quý của dân tộc bằng truyện Con rồng cháu tiên, giáo dục tinh thần đoàn kết, yêu thương nhau giữa những người dân trong một nước trong những câu ca dao, tục ngữ như:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Chính nhờ sự giáo dục này mà dân tộc ta đã giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước, đánh thắng những kẻ thù xâm lược, giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử từ xưa đến nay và cả đến mai sau. Bên cạnh giáo dục truyền thông yêu nước, ông cha ta còn dạy cho ta đạo lí làm người, dạy ta phải biết hiếu thảo với cha mẹ để giữ trọn đạo làm người:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
(Ca dao)
Bên cạnh đó, ông cha ta còn dạy bảo chúng ta phải biết “tôn sư trọng đạo", phải ghi nhớ công ơn thầy cô, “một chữ cũng thầy, hai chữ cũng thầy", cha mẹ muốn con mình hay chữ thì phải biết kính yêu thầy cô:
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy
Chính nhờ sự giáo dục đó mà xã hội Việt Nam có một nền tảng đạo lí khá chắc chắn, sâu đậm.
Giáo dục còn mang lại cho con người biết bao tri thức về các ngành nghệ thuật và khoa học. Không có giáo dục thì làm sao con người chúng ta có được những ngành nghệ thuật (văn chương, âm nhạc, hội họa, điêu khắc…) và những ngành khoa học (toán học, hóa học, vật lí học, y học, sinh học, thiên văn học, dịa chất học…) phát triển như ngày hôm nay được. Giáo dục là cái máy cái đẻ ra những cái máy con. Sự phát minh ra dòng điện, bóng đèn điện, vô tuyến truyền thanh, vô tuyến truyền hình, máy vi tính… không phải đã làm thay đổi thế giới đây ư? Nó đã làm cho cuộc sống của chúng ta văn minh hơn, chúng ta lao động được nhẹ nhàng hơn, những con người trên trái đất gần nhau hơn. Sự phát triển của y học đã làm cho những bệnh nan y ngày trước như bệnh lao phổi, bệnh đậu mùa… ngày nay không còn đáng lo nữa. Sự phát triển của ngành sinh học như công nghệ cấy ghép, lai tạo giống, biến đổi gen đã tạo ra biết bao nhiêu loại cây trồng có năng suất cao gấp bao nhiêu lần ngày trước, đem lại nhiều lương thực, thực phẩm cho xã hội, làm cho cuộc sống của con người nông dân ngày càng no ấm hơn. Tất cả những sự biến đổi của thế giới ấy đều từ giáo dục mà ra.
Hơn nữa, cũng nhờ có giáo đục mà chúng ta ngày hôm nay mới hiểu được văn chương, nghệ thuật, lịch sử, địa lí, văn học, kinh tế, chính trị… của các nước trên thế giới để chúng ta học tập được cái hay, cái đẹp của họ nhằm được phục vụ cho đất nước, làm cho đất nước ngày càng thêm giàu, thêm đẹp hơn.
Tóm lại, câu nói của N.Mandela là một chân lí, đúng là: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng làm thay đổi cả thế giới". Nếu không có giáo dục thì làm sao chúng ta có được một nền văn minh, làm sao chúng ta được những giáo sư, bác sĩ, kĩ sư, những nhà khoa học ngày đêm nghiên cứu, tìm tòi để phát minh ra những cái mới để phục vụ con người. Chúng ta thử tưởng tượng một xã hội không có giáo dục thì xã hội ấy sẽ đi về đâu? Chắc có lẽ xã hội ấy sẽ đắm chìm trong bóng đêm u tối, con người trong xã hội sẽ sống mãi trong lầm than cơ cực, đói nghèo, lạc hậu. | Nghị luận về câu nói “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đối cả thế giới” | 1,052 | |
Đề bài: Trình bày quan niệm về nội dung câu ngạn ngữ: Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi.
Bài làm
Câu ngạn ngữ Tây phương trên thật đã cho ta một bài học quý giá về nghề nghiệp. Nó khuyên ta nên tiêu diệt đầu óc hủ bại, đầy rẫy thành kiến sai lầm về nghề nghiệp.
Sống trong cảnh gia đình đầy đủ, xa hẳn mọi điều lo lắng khổ cực, chúng ta dễ khinh thường những người lao động, hàng ngày phải lam lũ với nghề nghiệp. Chúng ta lại thường sẵn có thành kiến sai lầm, phân biệt nghề cao quý với nghề ti tiện, trọng nghề trí thức, khinh nghề chân tay. Để cảnh báo thái độ đó, phương Tây có câu ngạn ngữ:
''Không có nghề nào là hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi"
Thật ra có nghề nào là nghề hèn kém không? Để trả lời chúng ta đưa vài ví dụ. Đây là bác phu xe, mặt mũi đen đũi, áo quần lôi thôi, lấy chiếc xe ba bánh làm kế sinh nhai. Ta liệt bác vào hạng tầm thường và nghề bác là nghề hèn kém. Còn đây là bác công nhân quét đường, mỗi đêm và sáng, bác làm vệ sinh thành phố, đến cửa từng nhà, hốt để lên xe nhửng đống rác thối tha, đầy ruồi nhặng, có người nhìn bác bằng cặp mắt khinh rẻ.
Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi
Bác phu xe ấy mỗi lần gò lưng đạp xe chở khách, nhận được một món tiền nho nhỏ, mang về nuôi sống gia đình, bác đổi bát mồ hôi lấy bát cơm. Đồng tiền tuy ít ỏi nhưng bác kiếm ra trong sạch. Bác công nhân quét đường cũng vậy. Bác chịu cực khổ, ngày ngày làm bạn với những đống rác bẩn thỉu tanh hôi. Thế rồi, tháng đến, bác vui mừng đưa tay đón lấy đồng tiền lương nhỏ mọn đủ sống qua ngày. Nghề của bác thật là lương thiện. Cả hai người – và còn biết bao nhiêu người khác nữa – đều giúp ích cho xã hội một phần không nhỏ. Người thì chuyên chở giúp ta trên quãng đường xa, dưới nắng mưa không ngại. Người thi chịu dơ dáy thân mình để bảo vệ sức khỏe cho bao người khác.
Như thế thì sao có thể gọi nghề của họ là “hèn” được? Nghề của họ, tưởng là tầm thường mà thực ra có ích cũng chẳng khác gì nghề nghiệp của những người tri thức. Mà đã có ích thì là cao quý rồi.
Hơn nữa, những người ấy đều đã đặt hết cả lương tâm, trí óc, cũng như sức khỏe của họ để làm đầy đủ bổn phận mà cuộc đời đã dành cho họ. Ngoài ra họ còn là những người biết tự trọng, biết đem sức lao động mà trả nợ áo cơm, giúp ích xã hội, để sống xứng đáng với danh nghĩa “làm người” của họ. Như thế chẳng đáng cho ta cảm phục hay sao? Có phải người ta đã nông nổi mà xét đoán nghề nghiệp của họ một cách nhầm lẫn không?
Như vậy, ta phải công nhận rằng chẳng có nghề nào là hèn cả, mà chỉ có người hèn thôi, và đó chính là ké bĩu môi chê lao động chần tay là nghề hèn kém. Vậy thế nào là người hèn? Đó là những người lười biếng, không nhận thức được bổn phận của họ là phải làm việc cho xã hội. Họ đã cướp công của xã hội, đã lừa cơm, cướp áo của lớp người cần lao kia. Người hèn là những hạng người thiếu lương tâm, thiếu trách nhiệm, làm việc chiếu lệ cho xong, không xứng đáng với đồng tiền mà họ nhận. Người hèn là những người làm dân thì phản nước, làm trò thì phản thầy, chơi bạn thì phản bạn. Nói tóm lại những hạng lọc lừa, tham vàng bò ngãi, hình người lòng thú, dưới muôn hình vạn trạng, là những ăn cắp của công để ăn chơi thỏa thích, lãng phí tiền bạc của nhân dân. Từ “hèn” chỉ dành cho những con người ấy.
Câu ngạn ngữ Tây phương trên thật đã cho ta một bài học quý giá về nghề nghiệp. Nó khuyên ta nên tiêu diệt đầu óc hủ bại, đầy rẫy thành kiến sai lầm về nghề nghiệp. Nên nhớ ràng những nghề đã giúp ích cho xã hội đều là đáng trân trọng, đều là đáng quý. Vậy ta phải coi trọng sức cần lao của mọi lớp người lao động, cũng như trí thức. Đó là con đường duy nhất đưa ta đến một xã hội bình đẳng, bác ái và tiến bộ. | Nghị luận về câu nói “Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi” | 808 | |
Đề bài: "Không phải nghề nghiệp làm danh giá cho con người, mà chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp" (Pa-xtư}. Từ lời khuyên của nhà khoa học, hãy bàn luận về vấn đề chọn ngành nghề của học sinh lớp 12 khi sắp ra trường.
Bài làm
Mười hai năm đèn sách, sắp ra trường, ai mà chẳng mong chọn được một nghề nghiệp cho cuộc đời minh như ông cha ta vẫn thường nói “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.
Nhưng chọn ngành nghề như thế nào? Hãy nghe lời khuyên của nhà khoa học Pa-xtơ: ‘'Không phải nghề nghiệp làm danh giá cho con người, mà chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp”. Đúng như vậy. Nghề nghiệp chỉ là công việc của mỗi con người trong xã hội, còn danh giá là giá trị của con người đó đối với xã hội. Cho nên bản thân nghề nghiệp không thể làm nên danh giá cho con người. Không thể nói người thầy giáo danh giá hơn người thầy thuốc hay người công nhân danh giá hơn người nông dân… bởi nghề nào trong xã hội cũng đều cao quý, đều cần thiết. Nhưng ngược lại, “chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp” – đây mới là nghề nghiệp của mình thì lúc ấy xã hội mới thấy được giá trị của nó và nghề ấy mới có danh giá. Thử hỏi, nếu những người thầy giáo không hết lòng vì thế hệ trẻ của đất nước thì làm sao được nhân dân tôn vinh là “kĩ sư của tâm hồn”; những người thầy thuốc không yêu thương cứu chữa người bệnh thì cũng không thể được vinh danh là “lương y như từ mầu?” Giá trị của nghề dạy học và nghề chữa bệnh chỉ được tạo nên từ chính những người thầy giáo và những người thầy thuốc là như vậy. Và những nghề khác cũng như thế. Vì vậy, yếu tố quyết định ở đây là con người chứ không phải nghề nghiệp.
Không phải nghề nghiệp làm danh giá cho con người, mà chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp
Trên ý nghĩa đó, câu nói của Pa-xtơ gợi cho ta điều gì trong việc chọn ngành nghề khi sắp ra trường? Trước hết, nếu "nghề nghiệp không làm danh giá cho con người” thì có cần phải chạy theo các nghề “thời thượng” trong xã hội, chẳng hạn như kinh tế, tài chính, ngân hàng, công nghệ thông tin, y dược, bách khoa..? Một sự “chạy theo” như thế có hợp lí không? Đối với các bạn yêu thích và có năng lực về các ngành nghề đó thì không sao, nhưng đối với các bạn chỉ “chạy theo” vì cảm tính, vì phong trào thi cần suy nghĩ lại, bởi tiêu chí quan trọng nhất để chọn ngành nghề là phù hợp với bản thân mình chứ không phải chọn ngành nghề để có “danh giá!” Danh giá ở đây là danh giá cho chính minh, nhưng bản thân “nghề nghiệp không làm danh giá cho con người” thì một sự “chạy theo” như thế chỉ là ảo tưởng, làm sao có danh giá thực được? Vả lại, nếu ai cũng chạy theo những ngành nghề đó, thì những ngành nghề khác sẽ thế nào? Ở đây còn có vấn đề nhu cầu của đất nước, yêu cầu của sự nghiệp cách mạng nữa. Chúng ta sống trong cộng đồng dân tộc chứ đâu phải chỉ sống riêng một mình, vì vậy cũng phải có trách nhiệm với dân tộc trong việc chọn ngành nghề. Sau nữa, muốn “con người làm danh giá cho nghề nghiệp” như Pa-xtơ nói, thì phải chọn ngành nghề như thế nào để tự bản thân mình có thể làm cho nghề nghiệp ấy trở nên danh giá? Câu trả lời thật rõ ràng và tất yếu: cần phải chọn ngành nghề phù hợp với bản thân mình (sở thích, đam mê, năng lực…) thì mới có thể phát huy hết nhiệt tình và năng lực để làm cho nghề đó trở nên tốt dẹp, có danh giá, được xã hội thừa nhận, tôn vinh. Và một khi đã góp phần làm cho nghề nghiệp có danh giá thì cũng tức là góp phần làm cho đất nước giàu mạnh, đem lại lợi ích cho xã hội, cho dân tộc. Chữ “danh giá” trong câu nói của Pa-xtơ cần được hiểu theo nghĩa rộng như vậy. Cho nên nếu chọn nghề không phù hợp với bản thân mình, thì khó phát huy năng lực, dễ sinh chán nản, mặc cảm tự ti, vừa không “làm danh giá cho nghề nghiệp” lại chẳng đóng góp được bao nhiêu cho đất nước. Thực tiễn cuộc sống không hiếm những trường hợp chọn nghề chạy theo hư danh như thế và đã để lại những bài học đau xót, thâm thía cho lớp trẻ chúng ta khi bước vào đời.
Chọn ngành nghề là nguyện vọng và quyền lợi riêng của mỗi người. Nhưng cần chọn sao cho phù hợp với bản thân mình đồng thời kết hợp với nhu cầu của đất nước để có thể phát huy khả năng của mình, làm danh giá cho nghề nghiệp và phục vụ cho dân tộc. Trong việc này, cần luôn nhớ rằng danh giá là do chính con người tạo ra cho mình và làm nên danh giá cho nghề nghiệp mà mình đã chọn. Mọi sự chạy theo hư danh, không chú ý đến thực chất trong việc chọn ngành nghề đều đem lại những hậu quả không tốt, có khi gây hại đến cả cuộc đời. | Nghị luận về câu nói “Không phải nghề nghiệp làm danh giá cho con người, mà chính con người làm danh giá cho nghề nghiệp” | 951 | |
Đề bài: Anh (chị) hãy bình luận ý kiến sau đây của Lão Tử "Kẻ biết người là người khôn, kẻ biết mình là người sáng".
Bài làm
Câu nói ấy của Lão Tử giúp chúng ta biết nhìn người, nhìn mình để hiểu người, hiểu mình để mà sống một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Ông cha ta thường nói “Ăn thì dễ, ở thì khó”. Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày của chúng la “ăn” thì chỉ là một vấn đề đơn giản, chỉ giải quyết sự đòi hỏi của bao tử, còn mối quan hệ của chúng ta với những người xung quanh trong xã hội để chúng ta sống mới là vấn đề quan trọng, phức tạp. Chính vì vậy mà nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc đã nói: "Kẻ biết người là người khôn, kẻ biết mình là người sáng".
Kẻ biết người là người khôn, kẻ biết mình là người sáng
Câu nói trên của Lão Tử có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, là bài học rất cần thiết trong cuộc đời chúng ta. Trước tiên ta phải biết vì sao Lão Tử bảo: "Kể biết người là người khôn” sở dĩ “Kẻ biết người là người khôn” vì ta có hiểu rõ người dó, biết được tâm tính, sở thích, cách sống của người đó thì ta mới có cách quan hệ thích hợp, để thu phục đựợc người đó và ta không bạo giờ bị người đó qua mặt ta trong bất kì công việc gì, nghĩa là ta không bao giờ bị người đó lừa gạt. Ví dụ, chúng ta biết được người chúng ta quan hệ là một con người có tâm hồn cao thượng, nhân đức, có quan điểm sống đúng đắn thì chúng ta yên tâm và học tập ở ngựời đó được nhiều điều tốt đẹp. Ngược lại chúng ta biết một người có tâm địa ác độc, bản chất gian xảo, có cách sống không đúng đắn thì ta nên tránh xa người ấy, đề phòng mọi hành động của người ấy. Quả đúng là “Kẻ biết người là người khôn”.
Điều thứ hai mà ta cần hiểu rõ ở đây là: “Kẻ biết mình là người sáng”. Kẻ biết mình là kẻ hiểu rất rõ về chính mình, biết mình có được nhữnu năng lực gì, có thể làm được những việc gì phù hợp với năng lực của mình, hoàn cảnh của mình thì mới thành công được. Ví dụ mình biết mình có năng khiếu về văn chương, rất say mê văn chương thì mình chọn thi vào đại học khối C như vậy thì xác suất mình đậu vào đại học rất cao,thực hiện được mơ ước và hoài bão của mình. Hay một bạn nào đó có năng khiếu về toán, lý, hóa, sinh,… là học sinh giỏi của những bộ môn này thì bạn dễ thi đậu vào các trường như Bách khoa, Kinh tế, Y dược, Sư phạm (các ngành thuộc khoa học tự nhiên), Khoa học tự nhiên, Ngân hàng… bạn nào có năng khiếu về văn, lý và vẽ thì bạn ấy đễ thi đậu vào ngành kiến trúc. Ngược lại có nhiều bạn không hiểu rõ được năng lực của mình mà mơ cao thì những bạn ấy không bao giờ thành đạt được, những ước mơ của những bạn ấy sẽ trở thành ảo tưởng. Đúng là “Kẻ biết mình là người sáng”.
Tóm lại, câu nói “Kẻ biết người là người khôn, kẻ biết mình là người sáng” là một chân lí, là một bài học sâu sắc cho chúng ta trong cuộc sống. Câu nói ấy của Lão Tử giúp chúng ta biết nhìn người, nhìn mình để hiểu người, hiểu mình để mà sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. | Nghị luận về câu nói “Kẻ biết người là người khôn, kẻ biết mình là người sáng” | 635 | |
Đề bài: Nghị luận về câu nói "Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo"
Bài làm
Lao động là những hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất và tinh thần cho bản thân và cho xã hội. Những hoạt động đó đã góp phần nâng cánh những ước mơ, những mong ước thiết tha về những điều tốt đẹp trong tương lai. Như vậy, lao động là đôi cánh những ước mơ bay cao, bay xa, đưa con người đến những thành công mới, khám phá những điều bất ngờ, thú vị.
M Gooriki đã khẳng định sâu sắc vai trò của lao động đối với mỗi người, đối với toàn xã hội. Lao động là một cách để chúng ta khẳng định mình, vươn tới những đỉnh cao của trí tuệ, tri thức. Mỗi chúng ta đều có những ước mơ lớn lao hay những gì thân thuộc đều là cả một quá tình phấn đấu, vươn lên. Không ngừng suy nghĩ và làm việc, chúng ta mới có thể góp phần xây dựng và phát hiện nó.
Thực tế, trong lao động nhiều người đã thấy khó khăn, mệt mỏi, mong muốn giản đơn của họ là sáng tạo ra một cái gì đó giúp họ đỡ vất vả. Nhứng ước mơ đó được xây dựng từ trong lao động và cũng được chính lao động nâng cánh cho ước mơ bay cao, bay xa. Phải lao động, nổ lực hết mình chúng ta mới có thể thực hiện được ước mơ đó.
Đó là hình ảnh của bạn học sinh Đỗ Bằng Định- Học sinh trương THPT Phạm Ngũ Lão- Đông Anh- Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình làm nông với hai vụ lúa chính và một vụ màu, phải thường xuyên lao động giúp gia đình. Nhận ra sự khó khăn trong việc tách vỏ hạt đậu của bà con nông dân, Định đã nuôi ước mơ chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt để giúp bà con nông dân đỡ vất vả. Sau một thời gian dài nghiên cứu và tìm tòi, Định đã chế tạo thành công chiếc máy tách vỏ hạt đậu. Tuy chỉ mới ở dạng mô hình nhưng cậu học sinh này tin rằng trong tương lai, cậu có thể nhân rộng ra chiếc máy để giúp đỡ mọi người.
Không chỉ Định mà hiện nay ở nước ta có rất nhiều người đã nuôi ước mơ và nâng cánh ước mơ từ lao động mà đặc biệt là thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước với những sự sáng tạo và cống hiến hết mình. Những sáng tạo của thế hệ trẻ đó, có lẽ, đều bắt nguồn từ lao động. Phải hiểu được những gì mình và mọi người cần trong xã hội thì chúng ta mới có thể chủ động sáng tạo, phát huy được khả năng của mình.
Và trong những lúc lao động ấy, được cống hiến là niềm vui của mỗi người. Lao động không mệt mỏi còn giúp chúng ta vơi đi những nổi buồn, nỗu đau trong cuộc sống. Làm việc hết mình suy nghĩ hết mình, sáng tạo làm cho chúng ta vui hơn khi mình có thể sáng chế, tìm tòi ra những cái mới. Chính từ lao động, chăm chỉ làm việc mà cuộc sống của chúng ta dần được cải thiện. Những thành quả lao động góp phần rất lớn vào cuộc sống vật chất và tinh thần của mỗi người. Và khi mà cuộc sống của chúng ta phát triển thì xã hội cung đi lên, phát triển mạnh mẽ, hội nhập ra toàn thế giới.
Như vậy, ý kiến của M Goocki là hoàn toàn đúng. Mỗi chúng ta đều phải tích cực lao động, lao động không ngừng, phát huy những khả năng sẵn có của bản thân. Đồng thời chúng ta cần phải tích cực học tập, tìm tòi và phát triển cái mới. Cần tích cực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo ra những phương thức mới, kĩ thuật mới.
Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta phải có thái độ tích cực, tự giác, nghiêm túc, ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật, có tính tự giác, kỉ luật cao trong lao động để có được những thành quả lớn nhất.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều người không chịu lao động, chỉ biết ỉ lại, sống dựa dẵm vào sức lao dộng của người khác: suốt ngày chỉ biết chơi bời, không chịu làm việc. Hay là hiện nay có rất nhiều bạn trẻ tuy lao động nhưng lại không biết cách sáng tạo ra những phương pháp mới, chỉ biết làm theo những cái cũ không còn thích hợp với điều kiện và yêu cầu lao động hiện nay. Mỗi người chúng ta, trước hết là phải lao động và sáng tạo và tìm tòi những cái mới, đồng thời cũng nhắc nhở, động viên những người xung quanh lao động sáng tạo để có kết quả tốt nhất.
Như vậy, có lao động chúng ta mới có điều kiện phát huy khả năng của bản thân, nâng cánh cho những ước mơ bay cao, bay xa. Lao động còn giúp cho cuộc sống và xã hội thêm phát triển, vì vạy mà chúng ta cần phải tích cực hơn trong lao động để có điều kiện vươn cao, bay xa hơn, đi đến những tầm cao mới. | Nghị luận về câu nói “Lao động là đôi cánh của ước mơ, là cội nguồn của niềm vui và sáng tạo” | 929 | |
Đề bài: Tuân Tử nói: Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy. Em nghĩ gì về câu nói trên?
Bài làm
Tuân Tử, còn gọi là Tuân Huống (313-235 trước Công nguyên), nhà triết học, nhà văn lỗi lạc thời Chiến quốc. Ông khuyên phải tích đức, khuyến thiện và được dạy dỗ mới nên người.
Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta…
Ồng nói về người thầy, người bạn, kẻ thù trong mối quan hệ xã hội, trong sự giáo dục và giáo dường tâm trí, tâm đức rất hay. Câu nói của ông vẫn được người đời truyền tụng như một cách ngôn, một lời giáo huấn:
“Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ chính là kẻ thù của ta vậy”.
Tại sao người chê ta mà chê phải là thầy của ta? Dám chê người là trung thực, thẳng thắn. Chê phải lại càng quý, càng phục. Ta có lầm lỗi, có khuyết điểm, nhược điểm mà được người khác chê, chê phải mới đáng quý, khác nào một con bệnh được uống thuốc do một danh y đem cho. Người có trí tuệ hơn người, có tâm đức cao cả mới nhìn thấy khiếm khuyết của đồng loại, thành thật chê, chê phải, chê đúng. Người đó thật đáng kính, đáng tôn thờ, đúng là thầy của ta. Thầy vì hơn ta một cái đầu về tâm hiểu biết. Thầy vì thương người mà bảo bạn, khuyên nhủ. Thói thường “trung ngôn nghịch nhỉ”. Phải có một tấm lòng mới dám đem điều hay lẽ phải để chê người. Chê phải chi cầu mong con người đó trở nên tốt đẹp, hoàn thiện về nhân cách, tiến bộ về học vấn.
Ông bà ta vẫn thường nhắc nhở con cháu:
Mật ngọt thì ruồi chết tươi
Những nơi cay đắng là nơi thật thà
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Bởi vậy, người chê ta mà chê phải là thầy của ta. Phải đội ơn và bái phục con người đó.
Bạn là người như thế nào? Tuân Tử đã chỉ rõ: “Người khen ta mà khen phải là bạn ta”. Ai mà chẳng có mặt tốt đẹp, việc làm tốt đẹp. Ai mà chẳng muốn được khen. Đó là tâm lí chung của nhiều người khen mà khen đúng là đánh giá đúng bản chất của sự việc, của sự vật, của con người. Khen đúng mực, khen vô tư. Những lời khen phải như luồng gió mát lành thổi qua tâm hồn, có tác dụng nâng đỡ tinh thần, phát huy tính tích cực của mỗi con người. Khen đúng, khen phải là lời vàng ngọc quý báu, làm cho người tốt, tốt thêm, việc tốt đẹp ngày một nhiều thêm. Như ta đã thấy tác dụng to lớn của việc nêu gương người tốt việc tốt.
Có hiểu ta, có quý ta mới khen phải, mới dành cho ta những lời khích lệ, động viên. Trong trường học, trong gia đình, ngoài xã hội, mỗi chúng ta cần được sự quan tâm, sự đánh giá đúng mức, cần nhận được những lời khen phải. Thật đúng như Tuân Tử đã nói: “Người khen ta mà khen phải là bạn ta”.
Tại sao những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy? Những kẻ vuốt ve, nịnh bợ là kẻ xấu. Lời nói của họ là một thứ quà để lấy lòng, làm vừa lòng người ta. Loại người này có thủ thuật dùng những lời nói ngon ngọt để mơn trớn, để làm “phổng mũi” người ta! Vuốt, ve, nịnh bợ là để dụ dỗ, mơn trớn, mua chuộc và cầu lợi. Sống gần gũi những kẻ vuốt ve, nịnh bợ, nếu không có bản lĩnh sẽ bị sa ngã. Nịnh thần làm sụp đổ ngai vàng. Có gì cứng như đá, có gì mềm như nước; thê mà “nước chảy đá mòn”. Những lời vuốt ve, nịnh bợ còn mạnh hơn nữa, còn sắc hơn dao có thể mài mòn nhân cách, có thể giết chết bất cứ ai, có thể hủy hoại tâm hồn, làm băng hoại lối sống. Những kẻ vuốt ve, nịnh bợ còn là đầu mối, nguyên nhân của sự mất đoàn kết.
Trong truyện cười dân gian có truyện Thối thật nhằm châm biếm kẻ nịnh bợ trong xã hội. Mật ngọt chết ruồi, đó là bài học. Bởi vậy, ta phải tránh xa những kẻ nịnh bợ, phải ghi nhớ vào lòng lời nói của Tuân Tử: “Những kẻ vuốt ve, ninh bợ ta, chính là kẻ thù của ta vậy”.
Câu nói của Tuân Tử là một lời khuyên đẹp. Ông đã nêu lên một phương châm sống giàu ý nghĩa; nêu lên tiêu chí đúng đắn về cách nhận diện người thầy, người bạn, kẻ thù.
Chọn thầy để học và hành đạo (đạo làm người). Chọn bạn (bạn tốt) để thêm sức mạnh trong cuộc đời. Nhận diện kẻ thù, bọn xu nịnh đổ gạt chúng ra khỏi tâm trí, để tâm hồn trong sạch, sống thảnh thơi. | Nghị luận về câu nói “Người chê ta mà chê phải là thầy của ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy” | 892 | |
Nghị luận về câu nói “Thương người như thương thân”-Văn lớp 11
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói “Thương người như thương thân”-Văn lớp 11
Bài làm
Trong kho tàng ca dao dân ca của nước ta có rất nhiều câu nói thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái thể hiện tình cảm giữa con người với nhau trong cộng đồng với nhau. Như “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Hay là “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Tinh thần tương thân, tương ái, thương người như thể thương thân chính là đạo lý làm người tốt đẹp của ông cha ta đã để lại cho con cháu ngày nay.
Qua những câu nói của mình ông cha ta muốn khuyên nhủ con cháu phải biết quan tâm tới những số phận hoàn cảnh khó khăn hơn mình trong cuộc sống. Thể hiện tình cảm giữa con người với nhau cần có sự bác ái.
Thông qua những câu tục ngữ, ca dao này cũng thể hiện tinh thần đoàn kết biết thương người, chia sẻ những khó khăn với những con người thiếu may mắn trong cuộc sống.
Thương người như thể thương thân thể hiện tình cảm nhân ái giữa người với người trong xã hội với nhau. Nó thể hiện sự chia sẻ giúp đỡ giữa những trái tim nhân hậu với nhau. Nó thể hiện tinh thần lá lành đùm lá rách của dân tộc ta.
Tinh thần này thể hiện tấm lòng thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều của ông cha ta thường khuyên nhủ con cháu.
Câu nói này thể hiện tinh thần bao la tình thương người mênh mông, thương người như thương chính bản thân mình, thể hiện sự cao thượng của tình người bao la. Tình thường giữa con người với con người trong cộng đồng là tình cảm vô cùng cao quý. Thể hiện lòng thương người như thể thương thân sâu sắc.
Trong một bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có viết rằng “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi“.
Điều này thể hiện sự nhân hậu, tình thương người luôn thường trực trong mỗi trái tim chúng ta, nó chỉ chờ cơ hội để bộc phát ra ngoài trở thành hành động có ý nghĩa mà thôi.
Tình thương người không có giới hạn. Nó vượt qua mọi không gian và thời gian. Nhiều người nước ngoài nhưng khi đến Việt Nam nhìn thấy hoàn cảnh của những em bé mồ côi đáng thương đã không ngại ngần tìm cách giúp đỡ, nhận làm con nuôi, trở thành mạnh thường quân che chở cho em bé mồ côi cho tới khi trưởng thành.
Thương người như thể thương thân là một đức tính tốt đẹp của con người, nó thể hiện tấm lòng bao la lương thiện của con người. Chính vì vậy, khi chúng ta có thể giúp đỡ người khác thì nên giúp đỡ, không nên thờ ơ với những nỗi đau của người xung quanh mình. | Nghị luận về câu nói “Thương người như thương thân”-Văn lớp 11 | 534 | |
Nghị luận về câu nói: Hãy đi về phía mặt trời bóng tối sẽ ngã dần sau lưng bạn
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói: Hãy đi về phía mặt trời bóng tối sẽ ngã dần sau lưng bạn
Có bao giờ đi trên một con đường đầy nắng và bạn chú ý rằng cái bóng của mình luôn ngả về phía sau lưng bạn. Và có bao giờ bạn đi ngược lại với ánh sáng chân lí của mặt trời bạn lại thấy khoảng tối mà bóng bạn đang dẫn lối đi của mình? ĐÚng thế khi chúng ta bước đi, dù là đi đâu hãy bước tới với những điều mới mẻ thì bóng tối luôn ngã về phía sau nhường lại bước đường cho những người muốn chinh phục.
Tôi đã gặp rất nhiều người cứ cho là họ hay gặp xui xẻo đi nhưng tôi thấy họ đạt được nhiều điều rất nể phục. Họ là những người không khéo léo, trí thông minh chưa hẳn đã vượt trội hơn người khác nhưng sự quyết tâm của họ thì quả là đáng gờm. với niềm đam mê cháy bỏng của mình những người đang tìm đến với thành công của họ trải qua biết bao nhiêu khó khăn vất vả và hơn thế nữa con người cũng không bao giờ để ý xem là họ đang làm gì đi hết bao nhiêu chặng đường vượt qua bao nhiêu chướng ngại vật. Điều họ quan tâm là cho đến cùng họ phải làm gì để đạt được những điều mà họ mong muốn.
Tôi có quen một cô bạn mất gốc tiếng anh nhưng lại có ước mơ đi du lịch khắp châu âu. Mỗi khi cô ấy nói với chúng tôi niềm hứng thú của cô ấy thì chúng tôi đều dập ngay ý định của cô bởi vì một chữ tiếng anh bẻ đôi cô cũng không biết. Nhưng cuối cùng cô cho chúng tôi thấy rằng, không gì là không thể. Sáu tháng rèn luyện miệt mà đã khiến cho cô có vốn kiến thức khá phong phú về văn hóa và có khả năng tự tin giao tiếp tốt với người nước ngoài. Bên cạnh đó cô còn tìm việc làm thêm và chăm chỉ kiếm được số tiền để thực hiện chuyến đi của mình.
Đấy cuộc đời không ai biết trước được điều gì nhưng cái chúng ta cần tin chính là bản năng và lòng quyết tâm của chính mình. KHông gì là không thể luôn là câu nói cỗ vũ và thôi thúc chúng ta tìm tới với đam mê và ước mơ của mình. Khó khăn chỉ là một bước đệm để chúng ta có thể nếm được vị thành công một cách ngọt ngào hơn. Đừng để những bước đi nhụt chí cản trở con đường đi của bạn, hãy đi về phía mặt trời rực rỡ chắc chắn bóng tối sẽ lùi sau lưng bạn mà thôi. Vòng nguyệt quế luôn dành cho kẻ chiến thắng. Hãy tin vào bảo thân, bạn sẽ thấy bạn có một trái tim cháy bỏng biết yêu và biết xóa đi nỗi hận thù và hừng hực khí thế quyết tâm. | Nghị luận về câu nói_ Hãy đi về phía mặt trời bóng tối sẽ ngã dần sau lưng bạn | 536 | |
Nghị luận về câu nói: Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói: Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả
Cuộc sống vốn không bao giờ hoàn hảo cũng giống như bất công bằng chính là công bằng. COn người luôn tìm đến sự hoàn thiện và hoàn thiện ngay chính bản thân mình trong cuộc sống đầy rấy khó khăn và cam go này. Yêu thương, công việc, dung hòa mọi thứ là điều không dễ và điều đó lại khiến con người dễ sa vào lỗi lầm. Nếu có ai đó trên thế giới này nói rằng họ chưa bao giờ mắc phải một sai lầm nào thì họ đnag nói dối hoặc cũng chưa bao giờ biết sự thật của những điều họ đang làm- cần tới sự đánh đổi. Sai lầm luôn đến và xảy ra, con người không cần tìm kiếm mà chỉ cần trải nghiệm.
Cuộc sống luôn là phép thử khiến cho những người thông minh nhất cũng phải căng đầu để đối đáp với đời. Những người cho mình chưa bao giờ mắc phải lỗi lầm có nghĩa là họ chưa bao giờ phải làm gì hoặc không làm gì. Và ngay khi họ không làm gì cũng là một lỗi lầm, lỗi của họ không biết hưởng thụ nếm trải và xem cuộc đời này có bao nhiêu điều tươi đẹp và thú vị chờ đón. Con người có từng khờ dại mới biết mình cần phải mạnh mẽ đứng lên tới mức.
Lỗi lầm là cách con người trưởng thành hơn. Khi va chạm với những khó khăn thử thách trong cuộc sống con người trưởng thành hơn và sống có trách nhiệm hơn bao giờ hết. Những con người biết sống và yêu thương với bản thân mình cần phải trải nghiệm và mang tới cho bản thân mình những điều tươi đẹp nhất. Chỉ có biết những điều tồi tệ nhất con người mới biết phấn đấu và tìm cho mình những thứ tốt đẹp. Lỗi lầm là cách con người hoàn thiện bản thân mình và hướng tới một tương lai tươi đẹp hơn.
Những người chưa bao giờ mắc phải lỗi lầm chỉ có chưa làm gì cả hoặc không biết quý trọng những giây phút cuộc sống. Nếu biết lỗi lầm đó con người đáng được tha thứ và được tạo ra cơ hội để tiếp tục sửa đổi những sai lầm và tạo ra những điều tốt đẹp cho bản thân.
Con người chứ không phải thần thánh hay máy móc để có thể làm việc theo lập trình. Và nếu như vậy họ cũng phải đánh đổi tức là làm việc và chẳng có tình cảm. Những gì chúng ta đang làm chỉ là phép thử vậy nên hãy cố gắng làm và thử để có những điều tuyệt đẹp nhất. Sống chỉ có một lần, đâu phải chỉ có tồn tại mà là cảm nhận và sống đúng chất là một con người. Chuyện sai lầm hãy gạt sang một bên và nhớ tới những trải nghiệm đáng quý nhất, nếu có sai, hãy làm lại, nó chỉ là phép thử. | Nghị luận về câu nói_ Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả | 552 | |
Nghị luận về câu nói: Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói: Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc
Người xưa đã có câu: ” Một lần mất tín vạn lần mất tin”, bởi vậy chữ tín trong cuộc sống lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng và lớn lao. Nó không chỉ đánh giá con người và danh dự nhân phẩm của người ấy mà còn đánh giá được năng suất cũng như chất lượng công việc mà người ấy làm. Chữ tín không phải thể hiện ở lời nói ” một câu hứa” xong rồi bỏ đấy mà là thể hiện ở cả hành động và sự quyết tâm hoàn thành công việc.
Chữ tín không chỉ là lời hứa đầu môi. Trong công việc cũng như cuộc sống hàng ngày chúng ta có biết bao nhiêu điều phải làm bao nhiêu thứ phải trải qua và hơn hết chúng ta hiểu lời hứa là một điều mà chúng ta phải làm trong cuộc sống của mình. Những lời nói tưởng chừng như đơn giản trong cuộc sống hàng ngày kia lại có một ảnh hưởng rất lớn tới tính cách và hành động của chúng ta. Môt lần chúng ta hứa chúng ta không làm được nhưng tới hai lần ba lần, lời hứa đó lại không có giá trị và không ai hiểu được chúng ta đang muốn làm gì. Không ai tin tưởng nghĩa là cô độc.
Chữ tín đi với lòng trách nhiệm. Trách nhiệm và sư quyết tâm hoàn thành công việc và những điều mà mình đã hứa từ trước. Bởi là người có trách nhiệm nên bạn sẽ không bao giờ muốn những người bên cạnh mình phiền lòng và buồn bã hoặc bực tức với những hành động thiếu sự quyết đoán và quyết tâm của mình. Những công việc trở nên nhàm chán những dự định lại trở nên thiếu động lực và người ta sẽ ” thiếu niềm tin vào những hành động và lời nói của chính bản thân chúng ta”
Thiếu chữ tín tức là thờ ơ là bàng quang và không quan tâm tới kết quả công việc ra sao. Những người làm được việc lớn họ bỏ ra thời gian và công sức thì họ nhận lại được những gì xứng đáng với sự nỗ lực đó. đi song song với hành động quyết đoán và mong muốn một kết quả như ý muốn con người phải đặt chữ tín lên hàng đầu.
Ông bà xưa đã dạy quả là không sai, sự cố gắng bên bỉ trong một con người đầy sự quyết tâm sẽ không thiếu những nét đẹp của sự bền bỉ và đạt được những kết quả như ý muốn. nếu cuộc sống này luôn luôn có những người theo đuổi bằng được đam mê và những điều mình đã đặt ra thì cũng có những con người vì quá yêu chiều bản thân mà làm mât đi chính thứ quý giá của mình- chữ tín. Bằng lòng nhiệt huyết và đầy trách nhiệm hãy cho người khác thấy sức mạnh của bạn trỗi dậy như thế nào và hãy thực hiện nó thật tốt. | Nghị luận về câu nói_ Người không có chữ tín, chẳng làm chi nên việc | 542 | |
Nghị luận về câu nói: Nếu hoa không tỏa hương thì cũng chỉ là một loài cỏ
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói: Nếu hoa không tỏa hương thì cũng chỉ là một loài cỏ
Nếu hoa không tỏa hương thì cũng chỉ là một loài cỏ. Nếu tất cả màu đều chỉ tô ra được màu trắng hoặc đen người ta cũng coi nó như sỏi đá, và nếu con người sống chỉ để tồn tại ngày này qua tháng khác thì người ta gọi đó là sống mòn. Chắc nói tới đây mọi người sẽ nghĩ ngay truyện ngắn nổi tiếng của Nam Cao, nhân vật trong cuốn truyên ấy cũng đã ước mơ hoài bão về một con người một tương lai như thế nào cho bản thân mình ấy vậy mà cuối cùng lại bị dìm xuống bởi cơm áo gạo tiền. Dẫu sao đã là hoa thì phải tỏa hương, đã là màu thì phải vẽ nên bảy sắc cầu vồng và đã là người thì phải sống cho trọng đạo và thỏa chí đam mê.
Đã có nhiều người bình thường, có một cuộc sống an nhàn nhưng luôn than trách rằng tại sao cuộc đời lại quá bất công với họ. Tại sao họ sinh ra không phải trong một gia đình dnah giá giàu có, hay tại sao họ lại không được đẹp như thế này sang như thế kia. Đúng chẳng bao giờ con người hài lòng với chính bản thân mình và cũng không bao giờ họ tin họ có thể thay đổi những điều đó. Tôi chẳng biết chẳng nghe nhưng tôi chỉ thấy một điều “ Cuộc đời này vốn dĩ rất công bằng, ông trời có lấy đi của người này thứ gì thì ngay lập tức bù lại cho họ một thứ gì đó khác, và hãy coi đó là may mắn”. CHúng ta có quyền ngang nhau có thời gian như nhau nhưng cách mọi người sử dụng thời gian của mình lại hoàn toàn khác. Có người sử dụng cho ngủ, có người lại cho nghiện cứu khoa học hay cũng có người vùi đầu và cuộc chơi bất tận. Và như đã thấy mỗi niềm tiêu khiển đó cho ra một kết quả, xấu đẹp hay tồi tệ tùy thuộc vào cách bạn đối đãi với cuộc đời và bản thân mình.
Khi con người sử dụng thời gian của mình vào những việc có ích như trồng cây thì sẽ cho ra hoa kết trái, đọc sách sẽ cho con người tri thức và vốn hiểu biết. Và hơn nữa nếu con người dành thời gian cho đam mê thực thụ của họ họ sẽ hạnh phúc biết bao khi đón nhận thành quả của mình. Cái giá của đam mê rất đắt trải qua biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt và cả máu. Chúng ta có thể thấy những con người khuyết tật trong thế vân hội, ta hỏi liệu làm sao mà họ lại có thể làm được như vậy? Câu trả lời nằm ở đam mê và sự quyết tâm. Những con người khuyết tật nhưng lại để lại nhiều bài học sâu sắc cho những người bình thường.
Sống không đơn giản chỉ là sự tồn tạ đơn điệu ngày này qua ngày khác mà là cả một sự kết hợp nhào nặn một cách phóng khoáng và không ngừng nghỉ của bộ óc sáng tạo và cả nhiệt huyết của con tim.
Nguồn: Bài văn hay | Nghị luận về câu nói_ Nếu hoa không tỏa hương thì cũng chỉ là một loài cỏ | 584 | |
Nghị luận về câu nói: Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói: Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn
Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn.
GIống như cây cao bóng cả thì tỏa bóng mát cho muôn loài thì vợ chồng đồng lòng cũng tạo nên quả ngọt trong đời sống gia đình.Không ai có thể tránh được những điều không may mắn trong cuộc sống và cũng không ai nghĩ con đường đời luôn bằng phẳng, nhưng huận vợ thuận chồng thì không ai có thể chia rẽ và làm cho bạn thất bại được. Người ta bảo vợ chồng là cái duyên nhưng sống với nhau cả đời là vì nghĩa và vì trách nhiệm nữa. Những cho dù nói như thế nào nói theo kiểu ra sao thì thuận vợ thuận chồng thì công việc khó khăn có chồng chất tới đâu vẫn không hề nản chí.
Thuận vợ thuận chồng là như thế nào? Thuận vợ thuận chồng nghĩa là vợ chồng luôn hòa hợp trong cuộc sống gia đình, người này ngã thì người kia nâng không bao giờ mà hai người đi hai hướng khác nhau hoặc sinh ra cãi vã mà làm hỏng chuyện lớn. không những là trong công việc mà còn trong đời sống đối nội đối ngoại và đối nhân xử thế. Với gia đình, người chồng là trụ cột thì người vợ là người giữ lửa luôn thắp sáng ngọn đèn ngọn lửa tình yêu trong gia đình và giữ cho hạnh phúc gia đình luôn đằm thắm êm ấm.
Thuận vợ thuận chồng chủ yếu thể hiện trong giải quyết công việc đời sống hằng ngày. CUộc sống đầy rấy những cạm bẫy mà một khi rơi vào lưới bẫy khó mà dứt ra được. Con người có thể phạm phải sai lầm, có người thì gây ra một chút hậu quả rồi biết đường quay về với gia đình của mình còn một số thì lại gây hậu quả vô cùng nặng nề không những cho bản thân mình mà còn là cho người thân bạn bè. Những lúc như vậy, người ngay bên cạnh để giúp đỡ để lôi ta khỏi khó khăn trong cuộc sống chỉ có vợ chồng mà thôi. Bởi vợ chồng dù có xảy ra chuyện gì đi chăng nữa thì vẫn phải sống và sống vì con cái và yên ấm trong gia đình.
Thuận vợ thuận chồng còn được thể hiện xuyên suốt qua những công việc làm ăn. Để mọi thứ hòa hợp và đạt kết quả tốt nhất người vợ hay người chống trước khi làm một việc gì cũng cần phải hỏi ý kiến lẫn nhau và cần lời khuyên từ phía còn lại. Có như thế thì cuộc sống vợ chồng mới viên mãn, sóng gió nào có thể ngăn được họ làm giàu và thành đạt.
Dẫu vậy trong cuộc sống cũng không thiếu những đôi vợ chồng không thể hòa hợp hoặc chuyện vợ chồng cả đời lại dựa trên thỏa thuận hoặc quá nhanh chóng cho nên sau khi chung sống cùng nhau họ không thể hòa hợp dẫn tới hậu quả đáng buồn: li hôn. Những hệ quả mà nó mang lại còn hơn thế, người ta sợ đổ vỡ nhiều hơn, con cái chia lìa gia đình li tán, Cho nên mỗi người hãy biết chọn lựa thông minh để tìm được người bạn đời phù hợp nhất | Nghị luận về câu nói_ Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn | 583 | |
Nghị luận về câu nói: Thành công là một cuộc hành trình, không phải là đích đến
Hướng dẫn
Nghị luận về câu nói: Thành công là một cuộc hành trình, không phải là đích đến
Hẳn có nhiều người đặt ra thành công là gì và làm sao để đạt được thành công. Cũng có nhiều người thắc mắc tại sao may mắn lại không mỉm cười với chính mình mà luôn tìm tới những người khác? Cũng như mọi người tôi cũng có niềm đam mê với vẽ tranh và làm đồ handmade nhưng trước đây tôi bao giờ nghĩ tôi lại có thể tự hào và vui vẻ hạnh phúc với niềm đam mê của bản thân. Cho tới bây giờ trải qua hành trình luôn tự cố gắng tôi nhận ra niềm vui sẽ tới khi biết trân trọng những khoảnh khắc mình tìm tới với thành công.
Thành công ban đầu của tôi chính là tin vào bản thân mình. Những gì tôi đang có giống như chỉ có trong giấc mơ vậy. Khi tôi tỉnh dậy tôi không thể tin nổi mình có thể làm được những điều đó. Tôi có thể bắt đầu công việc đều đặn mà trước đây tôi chưa từng thử mỗi sáng, tôi dậy lúc 5h và kết thúc công việc vào lúc 11h đêm và có khi là 2 3 h sáng. Nhưng những điều như thế không hề khiến tôi nản lòng khi mà những khách hàng của tôi vui mừng chào đón sự có mặt của tác phẩm handmade hay những bức vẽ được phối màu kì công. Niềm vui của mọi người chính là liều thuốc tinh thần lớn nhất đối với tôi mỗi khi hoàn thành công viêc. Tôi tin vào chính bản thân mình, tin vào những thứ mà tôi có thể nỗ lực cố gắng hàng ngày từ việc dậy sớm, đọc sách và tìm hiểu những điều lí thú. Tất cả đều dựa vào nỗ lực và hành trình dài chứ không phải một sớm một chiều.
Thành công kế tiếp của tôi chính là hiểu được mình muốn gì. Hiểu được bản thân luôn là điều khó chứ không hề dễ dàng như chúng ta vẫn từng nghĩ. Vì chúng ta muốn bước tới thành công phải hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của mình để khắc phục. Những điều mà chúng ta tin là không thể sẽ trở thành có thể khi chúng ta có đủ sức thuyết phục óc tin tưởng của mình điều đó hoàn toàn có thể.
Thành công của tôi là nhận ra để có được thành công chúng ta phải đánh đổi. thời gian tuổi trẻ sức lực và cả những thử thách khiến cho con người luôn phải lo lắng liệu rằng mình đã đủ nhiệt để tiếp đón những thử thách của cuộc đời. Những con người thành công chắc hẳn đã phải trải qua nhiều thử thách của cuộc đời để trở nên trưởng thành chín chắn và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Thành công là nhận ra mình vẫn còn nhiều bước đường và cái đích mà cần phải đạt được. Như chúng ta thấy không phải ai cũng hiểu được thành công là nhiều cái đích mà nhiều người đã tưởng chừng đạt được. Họ ngủ vùi trên chiến thắng và khi trận càn quét tới thứ họ nhận được là thất bại bởi họ không lường trước được mọi thứ. Vậy ngay từ bây giờ hãy chuẩn bị hành trang thời gian sức lực và nhiệt huyết để đối mặt với những cam go kế tiếp, thành công nhất định sẽ tìm tới bạn. | Nghị luận về câu nói_ Thành công là một cuộc hành trình, không phải là đích đến | 611 | |
Nghị luận về câu nói: “Tôi và người khác” – Ngữ Văn 12
Hướng dẫn
Nghị luận về câu tôi và người khác
Đề bài:
Tôi và người khác.
Với nhan đề đó, anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ)
Hướng dẫn làm bài
Đây là một đề bài mở, yêu cầu viết một bài văn nghị luận xã hội từ nhan đề đã cho. Tôi trong mối quan hệ với người khác thể hiện ở các khía cạnh: cái riêng, cái bản ngã là một giá trị; từ nhận thức đó, hình thành một thái độ đúng, thấu hiểu, đồng cảm, tôn trọng sự khác biệt của nhau; có tinh thần cộng tác với nhau trong công việc. Phải trình bày chủ kiến của mình bằng lí lẽ và dẫn chứng phù hợp.
Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:
– Sinh ra trên đời, mỗi người có đặc điểm thể chất, tâm lí, tính cách, sở thích, sở trường riêng biệt. “Điểm giống nhau nhất giữa mọi người trên trái đất này là không ai giống ai cả” – một triết gia đã nói như thế. Mỗi người là một cá thể, có giá trị riêng, không hoà lẫn vào người khác. Vì thế, trước hết, mỗi người phải ý thức sâu sắc về cái tôi của mình, sống là phải thể hiện đầy đủ bản sắc của cá nhân, phải phát huy đến tận độ những năng lực bản thân. Bi kịch thuộc về những ai không dám sống là mình. Những con người như thế, thường chỉ náu mình sau người khác, không bao giờ dám đàng hoàng trình diện con người cá nhân của mình trước cộng đồng, xã hội cũng như không bao giờ dám chịu trách nhiệm về bản thân.
– Thời đại ngày nay, con người rất cần hợp tác vói nhau trong công việc. Biết tạo lập nhóm, phối hợp với nhau để giải quyết những công việc mà bản thân mỗi cá nhân không thể làm được là một kĩ năng mềm được đặc biệt chú trọng. Làm việc theo nhóm, bản lĩnh cá nhân và cách xử lí mối quan hệ với người khác sẽ được thử thách. Không có cái riêng của từng cá nhân thì không thể có sức mạnh của nhóm, ngược lại, khuyếch đại cái tôi cá nhân, lấn át người khác, thì dễ dẫn đến sự tan vỡ. Đảm bảo hài hoà mối quan hệ giữa tôi và người khác là yếu tố quan trọng hàng đầu để hoạt động nhóm có hiệu quả. | Nghị luận về câu nói_ “Tôi và người khác” – Ngữ Văn 12 | 428 | |
Nghị luận về câu Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình
Hướng dẫn
Nghị luận về câu Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình
Ai đó nói rằng, khi quay ngược trái tim mình lên, trái tim sẽ có hình ngọn lửa. Liệu có phải đó là ngọn lửa của tình yêu thương, của tình người ấm áp?
Tôi cũng từng nghe người ta nói rằng, tuổi trẻ mang trái tim và tình yêu đầy nhiệt huyết, có thể cống hiến hết mình cho tình yêu và lý tưởng. Nhưng phải chăng chính vì trái tim nhiệt huyết ấy mải mê chạy theo những đam mê hoài bão mà quên mất ngọn lửa yêu thương?
Tôi đã từng chứng kiến cảnh một bà già mù lòa dắt theo một đứa bé nhỏ đi ăn xin trong trời mưa gió lạnh căm căm, không một manh áo ấm. Nhưng đi đến đâu người ta cũng xua đuổi.
Người bán hàng sợ “dông”, sợ hôi, sợ bẩn, sợ cả một ngày bị bà già “ám vía” mà không bán được hàng. Người qua lại thì muốn đi thật nhanh, tránh động phải bà lão kẻo bẩn những bộ cánh đắt tiền. Họ thì thầm: “Thời nay người giả ăn mày không hiếm. Thóc đâu mà đãi gà rừng”…
Một đám đông xúm lại trên đường quây quanh anh thanh niên bị ngã nằm xõng xoài trên đường, máu bê bết, ánh mắt như cầu cứu van xin. Nhưng không ai để tâm. Họ tụ tập lại đây không gì hơn ngoài sự hiếu kỳ.
Tôi đã từng chứng kiến một em bé gái mặt nhễ nhãi mồ hôi giữa trưa nắng hè đến từng cổng trường đại học cầu xin sự ban ơn của các anh chị sinh viên để có thêm chút tiền viện phí cho bố. Em tin rằng các anh chị sinh viên, với trái tim thanh niên đầy tình yêu và nhiệt huyết có thể phần nào giảm nỗi đau đang cào cấu người bố nằm chờ chết trong bệnh viện. Nhưng mọi người đứng đó nghe em trình bày rồi lại lắc đầu bỏ đi. “Lừa đảo bây giờ đâu có thiếu!”.
Một anh chàng sinh viên nọ gọi điện về cho mẹ nói đang bận thi khi được biết mẹ ốm. Sự thật là anh ta “bận” dự lễ sinh nhật của người yêu. Thoáng chút ăn năn nhưng lại tặc lưỡi cho qua: “Mẹ thì có thể một năm về thăm vài lần nhưng sinh nhật người yêu chỉ có một”. Chẳng mấy bạn trẻ quên sinh nhật của người yêu, nhưng ai nhớ được ngày sinh của người mang cho mình sự sống? | Nghị luận về câu Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình | 442 | |
Nghị luận về câu tục ngữ Gần mực thì đen gần đèn thì sáng
Hướng dẫn
Nghị luận về câu tục ngữ Gần mực thì đen gần đèn thì sáng
BÀI LÀM
Môi trường sống là điều trực tiếp ảnh hướng tới con người và cách chúng ta tiếp thu mọi thứ xung quanh. Chúng ta phải cảm thấy may mắn nếu chúng ta được sống trong một môi trường với nhiều người tốt. Nhưng cũng thật đáng tiếc khi chúng ta kết bạn giao hữu với những người chưa thực sự là người tốt hay người có thói quen tốt người có một góc nhìn về cuộc sống tốt. Chính vì vậy ông cha ta mới có câu là:
“Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
Đây là một câu nói mang tính so sánh và mang ý nghĩa nói bóng gió và khuyên răn con người. Mực vốn dĩ chỉ những thứ tối màu và không có lấy một chút ánh sáng. Còn đèn chính là nguồn sáng để soi tỏ mọi thứ, cũng là thứ có màu sắc sáng rỏ khiến chúng ta có thể dễ dàng phát hiện ra.
Ở đây mực còn để chỉ những người chưa tốt, là những người có thể cso thói quen hay hành vi chưa tích cực. và chúng ta khi kết giao bằng hữu với những người như vậy thì chúng ta cũng có thể bị lây bởi tính cách và lối sống đó. Nếu bạn bè của chúng ta là những người buông thả và lười nhác thì cuối cùng chúng ta cũng trở nên ỉ lại và chỉ muốn ăn không muốn làm. CHúng ta chỉ muốn hưởng thụ mà quên đi phần cống hiến. trong học tập, gặp một người bạn ham chơi không chịu học hỏi thì chúng ta cũng sẽ suốt ngày la cà quán xa và không chú tâm học hành.
Đèn chỉ môi trường sống tố có giáo dục có văn hóa. Là môi trường mà những người xung quanh là những người chúng ta có thể học tập và noi theo. Sống và làm việc với những người này chúng ta sẽ tạo dựng cho mình một lối sống tích cực, luôn luôn không ngừng cố gắng để trau dồi và thử thách bản thân vượt qua khó khăn. Bởi ở những người tốt những môi trường tốt luôn tồn tại những thứ khiến cho chúng ta tích cực.
Những người xấu giống như những hạt sạn mà chúng ta cần thay đổi cũng như chuyển hóa họ. CHúng ta cần phải biết phân biệt và giúp đỡ những con người như vậy thoát ra khỏi những cái xấu cái chưa tốt của xã hội để họ có thể đóng góp một phần công sức của họ cho xã hội.
Mọi thứ đều có hai mặt và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu chúng ta gần mực mà chúng ta là một ngọn đèn sáng thì chắc chắn với sức nóng của ngọn đèn dần dần sẽ chuyển hóa được những con người có lối sống chưa tích cực. Ngược lại chúng ta cũng phải biết bảo vệ bản thân thông qua những hành động những con người và môi trường khiến cho bản thân đi xuống và tiêu cực hơn. | Nghị luận về câu tục ngữ Gần mực thì đen gần đèn thì sáng | 544 | |
Đề bài: Anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận trình bày ý kiến của mình về ý nghĩa của câu tục ngữ "Hợp quần gây sức mạnh".
Bài làm
Câu tục ngữ đẹp như một bông hoa nảy nở trên môi trường lao động năm xưa. Trải qua bao thế hệ, bao tháng năm, ý nghĩa câu tục ngữ càng thêm sắc tỏa hương chứa đựng nhiều điều đẹp đẽ.
Rừng núi dang tay nối lại biển xa, ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà…”
Khúc nhạc anh hùng, mạnh mẽ ngân vang, gieo vào lòng em những hân hoan, rộn rã. Em chợt nhận ra trái tim mình đang chan chứa niềm tin vào tình đoàn kết: “Hợp quần gây sức mạnh”
Câu tục ngữ đẹp như một bông hoa nảy nở trên môi trường lao động năm xưa. Trải qua bao thế hệ, bao tháng năm, ý nghĩa câu tục ngữ càng thêm sắc tỏa hương chứa đựng nhiều điều đẹp đẽ.
Hợp quần gây sức mạnh
“Hợp quần gây sức mạnh" – câu tục ngữ chỉ có năm từ mà ý nghĩa vô cùng sâu sắc đó. Đó là lời khẳng định mạnh mẽ, chắc chắn của nhân dân Việt Nam về tác dụng và giá trị của tình đoàn kết. Sự quần tụ gắn bó giữa nhiều người sẽ biến sự yếu đuối, cô thế của mỗi cá nhân thành sức mạnh vô biên của cả cộng đồng. Tại sao sức mạnh lại nảy sinh từ sự đoàn kết? Đó là vì tình đoàn kết góp nhiều sức lực, nhiều khối óc, nhiều bàn tay làm thành một khối óc, một sức mạnh duy nhất, sức mạnh ấy lớn hơn rất nhiều lần sức mạnh của mỗi cá nhân. Sức mạnh ấy như con thuyền vững chãi, sẵn sàng lướt qua những giông tố, những bão táp thử thách trong cuộc sống.
Thật vậy, trải qua bao thăng trầm lịch sử, bao trở ngại chông gai, người Việt Nam vẫn chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược, vẫn xây dựng cho mình một đất nước ngày càng “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn ” lừ nền tảng của tình dân tộc, nương tựa lẫn nhau.
Làm sao ta có thể quên được sự gắn bó, đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong kháng chiên chống giặc Minh mà bài cáo Bình Ngô, áng “thiên cổ hùng văn” bất hủ đã nêu rõ:
“Nhân dân bốn cõi một nhà. dựng cần trúc ngọn cờ phất phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử,hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.
(Nguyễn Trãi)
Ngọn cờ đại nghĩa phất phới tung bày, chén rượu thề hòa nước sông cũng hóa ngọt ngào vì từ “tướng sĩ” đến “nhân dân", ai ai cũng góp sức chung lưng đánh tan quân Minh xâm lược. Với tinh thần đoàn kết, gắn bó sâu sắc ấy, dân tộc ta đã đẩy lùi bước chân xâm lược tàn bạo của giặc Minh cũng như bao kẻ thù hùng mạnh, từ thuở Hai Bà Trưng cưỡi voi đánh quân Mông Nguyên tàn bạo… Có thể nói, những chiến thắng vẻ vang nghìn đời lưu danh sử sách ấy sẽ không thể nào có được nếu nhân dân ta không đồng lòng đánh đuổi giặc ngoại xâm. Như một làn sóng diệu kỳ, tinh thần đoàn kểt lại trỗi dậy mãnh liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và chống Pháp. Bác Hồ kính yêu đã từng nói:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công thành công, đại thành công".
Lời khẳng định của Bác thật kiên quyết. Sự đoàn kết, gắn bó càng chặt chẽ, sự thành công càng lo lớn, vẻ vang. Giá trị của tinh thần đoàn kết có thể ví như núi cao, như biển rộng, không có sức mạnh nào kỳ diệu hơn! Thực tế lịch sử đã viết lên những dòng minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của linh thần đoàn kết. Khi kẻ thù nổ súng tàn phá quê hượng, từ cụ già đến trẻ em, ai ai cũng sôi sục hờn căm và một lòng chống trả. Cậu bé Lê Văn Tám đã biến mình thành bó đuốc đốt kho xăng Pháp, cậu bé Kim Đồng đi giao liên rồi những anh hộ đội đi hành quân "điệp điệp trùng trùng'", người mẹ trẻ út Tịch quyết tâm: “còn cái lai quần cũng đánh…” và nhiều, nhiều lắm. Ta thắng Pháp, thắng Mỹ vẻ vang là nhờ tinh thần đoàn kết, gắn bó thắm thiết của những người con đất Việt yêu quê hương, yêu dân tộc mình. Tình đoàn kết đã làm nên sự sống vĩ đại cuốn trôi bao kẻ thù xâm lược, xâm lấn nước Việt mến yêu. Sức mạnh của cả dân tộc quả thật đã bắt nguồn từ tinh thần đoàn kếi.
Nếu trong chiến đấu, tinh đoàn kết tạo nên những chiến thắng vẻ vang thì trong lao động, sự gắn bó góp sức chung lưng đã và đang tạo nên nhiều thành quả lớn. Ngày xưa, những người nông dân đã nô nức:
Rủ nhau đi cấy lấy công
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu
Trên đồng cạn.,dưới đồng sâu
Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Cả gia đình từ vợ,từ chồng đến cả con trâu. Tất cả đều cần cù trên đồng ruộng, luống cày. Sức vợ. sức chồng, sức con trâu bừa tạo nên một sức mạnh to lớn, sức mạnh ấy đã phủ lúa xanh đồng, phù khoai xanh rẫy, biến buổi "khó nhọc" thành ngày “phong lưu”. Tác dụng của sự gắn bó cùng nhau góp sức trên ruộng cày mới to lớn và đẹp làm sao! Ngày nay từ miền thượng đến dải trung du, đến đồng bằng, miền biển, nhân dân ta đang chung tay góp sức xây dựng bao công trình to lớn. Nhìn một thác nước cuồn cuộn tuôn chảy, ta không thể nào tin tưởng vào sức lực của một cá nhân có thể ngăn thác, đắp sông. Thế mà, nhiều khối óc, nhiều bàn tay đã hợp lại. ngăn thác xâỵ dựng công trình thủy điện Hòa Bình, Trị An., góp phần làm quê hương đẹp giàu. Những nhà máy, những cánh đồng, những nương rẫy, tất cả đều được tạo nên từ nền tảng của tình đoàn kết, gắn bó của những con người lao động cần cù.
“Bài ca cây lúa" có câu: “Những chàng trai đang lái máy cày và bao cô gái đang ngồi máy kéo”
Những chàng trai, những cô gái, nhiều đôi tay khéo léo, chăm chỉ đang tạo nên sức mạnh kỳ diệu của tinh thần tập thể gây dựng cánh đồng quê hương ngày thêm trù phú, tốt tươi. Quả thật, tinh thần đoàn kết trong lao động đã tạo nên sức mạnh vô cùng lớn lao!
Tinh thần đoàn kết trong lao động và trong chiến đấu là tinh thần bắt nguồn từ những công việc đòi hỏi sự góp sức của nhiều cá nhân trong cuộc sống hằng ngày. Dân gian thường" khuyên nhủ nhau:
“Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
"Một cây" lẻ loi, đơn độc chẳng làm nên điều gì lo lớn. Thế mà khi “ba cây chụm lại" thì mỗi cây đơn lẻ trong "ba cây ấy" đã góp sức mạnh tạo nên “hòn núi cao”. "Hòn núi cao" chính là kết quả, là sự mạnh mẽ, lớn lao nảy sinh từ tình cảm gắn bó, chung lưng góp sức.
Bác Hồ cũng viết bài thơ:
"Hòn đá to, hòn đá nặng
Một người nhấc
Nhấc không đặng
Hòn đá nặng
Hòn đá to
Nhiều người nhấc nhấc lên đặng. ”
Rõ ràng, khi nhiều đôi tay cùng góp sức thì hòn đá dù nặng, dù to đến mức nào cũng đều nhường sức mạnh cho sự đoàn kêt của nhiều nsười. “Hòn đá to,
hòn đá nặng” hay khó khăn, thử thách to lớn, tất cả đều bị khuất phục bởi tinh thần đoàn kết.
Giá trị của câu tục ngữ “Hợp quần gây sức mạnh" không những đúng trong ngày hôm qua mà còn tỏa sáng đến ngày hôm nay. Dân tộc ta, con người Việt Nam ta không ngừng đoàn kết để xây dựng quê hương đất nước.
Bài học về sức mạnh to lớn của tinh thần đoàn kết đã giúp em sông tốt hơn với bạn bè, với người dân trong một nước. Đoàn kết, đó là sức mạnh to lớn vô cùng! | Nghị luận về câu tục ngữ “Hợp quần gây sức mạnh” | 1,401 | |
Đề bài: Nghị luận về câu tục ngữ "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn"
Bài làm
Xã hội loài người phát triển được như ngày nay là nhờ quá trình tìm hiểu, nhận thức, tích lũy và không ngừng nâng cao tri thức của tất cả các dân tộc trên thế giới. Tri thức rất cần thiết đối với con người.Muốn có tri thức thì phải học hỏi. Học trong sách vở,học từ thực tế cuộc sống. Ông cha ta xưa kia đã nhận thức rất đúng đắn về sự cần thiết của việc mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết đối với mỗi người nên đã khuyên nhủ, động viên con cháu: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.
Xã hội Việt Nam trước đây là xã hội phong kiến còn nhiều bảo thủ, lạc hậu. Người dân quanh năm suốt tháng chỉ quanh quẩn trong lũy tre xanh, ranh giới của cộng đồng làng xã. Có người suốt đời chẳng bước ra khỏi cổng làng. Số người được đi xa để ăn học hoặc làm việc rất hiếm hoi. Vì vậy mà trình độ hiểu biết của mọi người nói chung rất thấp và khó mà mở rộng hoặc nâng cao lên được.
Tuy vậy, trong sự ràng buộc của tư tưởng bảo thủ,lạc hậu,vẫn lóe lên những tia sáng nhận thức về sự cần thiết phải học hỏi để nâng cao hiểu biết. ”Đi một ngày đàng,học một sàng khôn”. Chỉ cần “đi một ngày đàng” (ý nói thời gian ít ỏi và quãng đường không xa là bao so với nơi ta sinh sống) thì ta đã học được “một sàng khôn”. Đây là hình ảnh cụ thể, gần gũi được dùng để thể hiện một khái niệm trừu tượng là sự hiểu biết của con người. Nếu chịu khó đi xa thì ta sẽ học được nhiều bài học bổ ích trong cuộc đời, bởi trên khắp các nẻo đường đất nước, nơi nào cũng có vô vàn những điều hay, điều lạ.
Để động viên tinh thần học hỏi của con cháu,ông cha xưa đã có những câu ca dao nội dung tương tự như câu tục ngữ trên: “Làm trai cho đáng nên trai – Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng” ; ”Làm trai đi đó đi đây – Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Điều đó chứng tỏ ông cha ta đã nhận thức được việc đi xa để học hỏi là điều quan trọng, cần thiết và đáng khuyến khích.
Trình độ hiểu biết tạo điều kiện cho ta làm việc tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn, giúp ích cho gia đình, xã hội được nhiều hơn. Hiểu biết càng nhiều, con người càng có cách xử thế đúng đắn trong quan hệ gia đình và xã hội.
Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, việc học tập để mở mang nhận thức và hiểu biết của mỗi người càng trở nên cấp bách. Muốn xóa bỏ tình trạng lạc hậu, muốn rút ngắn sự cách biệt giữa nước ta và các nước phát triển trên thế giới, chúng ta chỉ có một con đường là học: “Học, học nữa, học mãi” như lời Lenin đã dạy. Vấn đề đặt ra là phải học những điều hay, lẽ phải, những điều thiết thực, bổ ích cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Không nên học theo điều dở, điều xấu, có hại đến bản thân, gia đình và xã hội.
Hiện nay, việc đi đó đi đây không còn là chuyện hiếm có như ngày xưa. Ai cũng có quyền tự do đi lạ, học hành, kể cả ra nước ngoài. Học hỏi bằng con đường tham quan, du lịch; học hỏi bằng con đường du học… Nhưng mục đích cuối cùng vẫn là để tiếp thu những kinh nghiệm, những kiến thức khoa học mới mẻ, tiên tiến của nhân loại, nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển Việt Nam thành một đất nước giàu mạnh mà vẫn giữ được bản sắc và truyền thống dân tộc.
Học hỏi không phải là chuyện ngày một,ngày hai mà là chuyện của cả đời người. ”Học ở trường,học trong sách vở,học lẫn nhau và học ở cuộc sống”. Việc nâng cao hiểu biết là rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi người. Vì vậy chúng ta phải có mục đích và phương pháp học tập đúng đắn để đạt được hiệu quả cao. Có tri thức, chúng ta mới làm chủ được bản thân, mới đóng góp hữu ích cho gia đình, xã hội. ”Học vấn làm đẹp con người” – đó cũng là điều ông cha muốn nhắn gửi đến chúng ta. Câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” là lời khuyên quý báu của người xưa; đến nay nó vẫn là bài học quý báu đối với tuổi trẻ trên con đường tạo dựng sự nghiệp. | Nghị luận về câu tục ngữ “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” | 824 | |
Đề bài: Anh (chị) hãy vận dụng kiến thức trong lịch sử, trong cuộc sống hàng ngày để khẳng định chân lí của câu tục ngữ "Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết"
Bài làm
Thêm một lần nữa, giá trị, ý nghĩa của câu tục ngữ "Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết" luôn được xác nhận. Nó sẽ mãi là một kinh nghiệm quý báu không chỉ cho công cuộc đấu tranh, bảo vệ đất nước mà còn là kinh nghiệm sống vô cùng hữu ích đối với mỗi con người chúng ta.
Một bề dày lịch sử với những cuộc chiến tranh khốc liệt, với những khó khăn không tránh được khi dựng nước, với những con người chân chất luôn có nhau đã làm cho Việt Nam tuy nhỏ bé vẫn tồn tại, vẫn phát triển. Dải đất mang dáng hình tia chớp (ý thơ Trần Mạnh Hảo) thân thương của chúng ta đã tích lũy cho mình biết bao kinh nghiệm xương máu trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quôc. Và đặc biệt trong những kinh nghiệm đó tinh thần đoàn kết đã nổi lên trên tất cả. Nó đã được thể hiện qua câu tục ngữ rất hàm súc:
“Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”
Thực tế, lịch sử và ngay cả văn học đã cùng quyện chặt vào nhau để chứng minh, để chứng tỏ các kinh nghiệm kia rất thực, rất đúng, rất cần thiết cho con người hôm nay và mãi mãi. Trở về với lịch sử, hòa mình vào xã hội hôm nay, lắng lòng trong những tác phẩm, ta sẽ thâý, ta sẽ tỏ.
Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết
Kinh nghiệm “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” đã được thể hiện rất súc tích. Nói đến đoàn kết, ai trong chúng ta cũng hình dung ra được một sự lớn mạnh, đông đảo, một sự đồng lòng, đồng chí của một tập thể, của một cộng đồng. Nhưng khi nói đến chia rẽ, sẽ thấy ngay sự rời rạc, thiếu hẳn đi mối dây liên lạc, thiếu mất đi sức mạnh hùng hậu và sẽ không có sự vượt qua tất cả để sống.
Và rất gần đây, với sự quyết tâm thắt chặt sợi dây đoàn kết, thêm một lần nữa đã đưa ta thoát khỏi nanh vuốt của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ. Nhân dân dù trên núi cao hay miền xuôi, từ nơi thôn quê hẻo lánh cho đến thành thị, bằng cách thức của mình đã hòa hợp với nhau, cùng chung một ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã cùng nhau đánh đuổi quân xâm lược. Chúng ta làm sao quên được những điều đó. Tiếng hát hôm nao: “Dậy mà đi, dậy mà đi’’ với sự quyết tâm vùng lên, quyết thắng và nỗi thông cảm sâu sắc “bao nhiêu năm qua dân ta sống không nhà, bao nhiêu năm qua dân ta chết xa nhà…” đã liên kết dân tộc ta lại. Thế cũng quá đủ để minh chứng “Đoàn kết là sống".
Không chỉ trong quá khứ oai hùng, đẫm máu, ngày nay giá trị của đoàn kết vẫn còn tồn tại, giữ nguyên vai trò trong lòng đất nước. Khó khăn dày đặc bao phủ la, với hết sức mình, Đảng và nhàn dân đã ra sức quyết vượt lên và hiện nay Việt Nam đổi mới đã có một chỗ đứng vững chãi trong thế giới này. Giả sử nêu không có sự tâm đầu ý hợp thì làm sao có thể tồn lại một Việt Nam, mộtViệt Nam lẫy lừng được chứ? Nếu không có sự hòa hợp thì chia rẽ sẽ xuất hiện và nhanh chóng nó sẽ đánh gục tất cả. Thế đó, đoàn kết luôn là một vũ khí sắt thép nhất mà không có gì địch lại được.
Văn học đã tái hiện lại sức mạnh kì diệu của:
“…Gươm mài đá. đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông cũng cạn… ”
(Cáo Bình Ngô – Nguyễn Trãi)
Một sức mạnh do đoàn kết mà ra. Một sức mạnh vô cùng to lớn như đá, núi phải mòn, nước sông không bao giờ hết cũng phải cạn đi. Sức mạnh của quân dân được ví, đươc so sánh thật lớn lao biết chừng nào.
Truyện Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, truyện "’Tuổi thơ dữ dội” của Phùng Quân, và biết bao nhiêu câu chuyện khác đã giúp cho ta thấy sự thông cảm, sự giúp đỡ, hi sinh xuất phát từ tinh thần đoàn kết có một chỗ đứng vững chắc như thế nào. Từ người già đã kiệt sức, từ những em bé vẫn còn rất nhỏ lẫn thanh niên nam nữ, tất cả đều tham gia kháng chiến, đều chia ngọt sẽ bùi, cùng yêu thương nhau thật nhiều. Ôi! Thật đẹp biết bao trong bất kì trang nào của hai câu chuyện cũng đều mang dáng dấp của tình quân dân, của tinh thần đoàn kết. Chính nó đã đi xuyên suốt tác phẩm làm nền tảng cho sự thành công tốt đẹp. Chín mươi người làng Kông Hoa lần quyết tâm đi theo anh Núp đánh Pháp và phải đói muối, đói cơm. “Em sẽ đi kháng chiến để đánh đuổi giặc ra khỏi đất nước”. Đó là lời nói của cậu bé Mừng – nhân vật chính của "Tuổi thơ dữ dội”. Cậu bé biết căm, biết tức đã hòa mình vào vòng suy nghĩ chung để cùng góp phần hình thành sợi dây liên kết giữa người và người. Thật hay, thật đẹp làm sao!
Trong chúng ta nào ai có thể quên đi câu chuyện bó đũa năm nào ê a đọc trên môi. Với một bó đũa gồm nhiều cây đũa hợp lại, khó có thể bẻ gãy được. Ngược lại, với từng cây đũa, chúng la sẽ rất dễ dàng bẻ gãy được tất cả. Lực liên kết mất đi, thì trước sau từng cá thể sẽ dần không còn tồn tại, tất cả cũng theo đó mà biến mất. Người cha trong câu chuyện đã dùng lí lẽ này để nói với những người con trai của mình, mong họ hãy gắn bó, hãy yêu thương nhau nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Với câu chuyện này chúng ta có thể hiểu thêm “Đoàn kết thì sống,chia rẽ thì chết”. Không chỉ trong chiến đấu trong công cuộc bảo vệ đất nước mới có sự hiện diện của đoàn kết mà ngay trong cuộc sống hàng ngày, ngay trong gia đình, xã hội, nhà trường. Anh em đoàn kết sẽ giúp cho gia đình hòa thuận, bạn bè đoàn kết sẽ giúp cho lớp học thêm sinh động, thêm đẹp tình bạn hơn, sẽ đưa lớp học tiến bộ hơn, con người trong xã hội đoàn kết, hợp ý sẽ giúp xã hội lớn hớn, con người đẹp hơn về mọi mặt. Có thế, cuộc sống mới muôn màu, muôn vẻ và phát triển hơn. Tinh thần đoàn kết được ứng dụng trong mọi mặt. Trong mọi hoàn cảnh không gian và thời gian, không có sức mạnh tổng hợp nhiều người, nhiều vùng thì làm sao có thể tạo dựng những công trình lớn như hủy diện Sông Đà, dầu khí Vũng Tàu để đất nước ta tồn tại trong thời hiện đại gắn bó của tập thể, của cộng đồng. Ông cha ta chỉ với cặp từ đối lập đó đã khéo léo dẫn ta đi đến kết luận có đoàn kết thì sẽ dẫn đến tồn lại, sự phát triển, và ngược lại không tồn tại tính tập thể thì cũng sẽ không phát triển, từ không phát triển sẽ dẫn đến cái chết, sẽ tự đánh mất, tự hủy hoại mình. Cũng chính từ đó. một lời khẳng định mạnh mẽ vang lên đoàn kết thì sống vì đoàn kết tạo sức mạnh không gì có thể cản trở được, có đoàn kết thì ta sẽ vượt mọi trở ngại thử thách. Đoàn kết là tất cả, tất cả và nào có ai biết bao con người đã ngã xuống.
Quay lại với quá khứ, với buổi đầu dựng nước, một cổ Loa Thành với những thiết kế độc đáo, một An Dương Vương đã lãnh đạo Âu lạc đánh tan quân của một Triệu Đà hung hăng đầy mưu đồ. Thế đó. thành cổ Loa vẫn chưa đủ kiên cố vô địch, một Âu Lạc so ra vẫn còn yếu nhưng vẫn tạo ra đưực một bản sắc riêng, vẫn tạo cho mình chiến thắng nhờ sự đồng lòng, nhờ sự liên kết bền bỉ, nhờ lực lượng quần chúng đông đảo quyết cùng nhau xây thành, giữ nước. Khi không đồng lòng nữa thì nhà tan, nước mất. Tiến bước thêm, ta sẽ thấy Hai Bà Trưng, Bà Triệu cùng toàn dân, thanh niên trai tráng cùng phụ nữ yếu mềm sánh bước chống trả lại những áp bức của phong kiến phương Bắc thống trị. Đâu đâu ta cũng thấy tập thể cũng thấy tinh thần đoàn kết hiện diện cả. Cũng chính thế nền độc lập nước Việt ta một lần nữa được xác lập bởi Ngô Quyền và chiến công lẫy lừng trên sông Bạch Đằng in bóng hàng trăm cột gỗ vót nhọn đầu cắm đầy sông. Hàng trăm cọc gỗ không tài nào một người có thể làm được, đóng đựơc mà phải có nhiều người hợp nhau lại để làm. Như vậy. chiến tích mới được thành lập, đất nước mới thoát nạn xâm lăng.
Không chỉ có thế, mội đội quân Mông Nguyên hùng mạnh, vó ngựa đã in đậm cả một châu Âu, hùng vĩ, đã đặt ách thống trị lên nhiều vùng đất châu Á nhưng lại khuất phục trước sức mạnh đoàn kết của nước Nam nhỏ bé. Một ngày mới đã bắt đầu với biết bao điều mới lạ. Thêm một lần nữa, giá trị, ý nghĩa của câu tục ngữ "Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết" luôn được xác nhận. Nó sẽ mãi là một kinh nghiệm quý báu không chỉ cho công cuộc đấu tranh, bảo vệ đất nước mà còn là kinh nghiệm sống vô cùng hữu ích đối với mỗi con người chúng ta. Riêng em, em nghĩ rằng mình sẽ gắng hòa hợp, đoàn kết hơn với bạn bè, với cuộc sống để có thể “sống”, sống vững vàng, sống đúng nghĩa là một con người. Không những như vậy, với tinh thần đoàn kết, em sẽ cùng mọi người tạo nên sự sống, tạo nên sự thành công không chỉ cho riêng mình mà cho xã hội. Em tin tưởng hoàn toàn vào:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công ” | Nghị luận về câu tục ngữ “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” | 1,810 | |
Nghị luận về câu tục ngữ: Thương người như thương thân
Hướng dẫn
Nghị luận về câu tục ngữ: Thương người như thương thân
Từ xa xưa tới nay, ông bà ta đã để lại nhiều câu ca dao tục ngữ có ý nghĩa với mục đích khuyên răn con cháu những điều hay lẽ phải trong cuộc sống hằng ngày. Cũng nói lên tình thương giữa con người với con người, cha ông ta có câu thương người như thể thương thân”. Vậy câu tục ngữ đó có ý nghĩa như thế nào?
Thương người là hành động mang tình thương, sự đồng cảm, nhân ái tới với người khác. Nó còn thể hiện sự giúp đỡ tương thân tương ái giữa những con người với nhau. Nó cũng giống như câu lá lành đùm lá rách. Còn thương thân đó chính là thương bản thân mình. Chúng ta thường nghĩ tới những cái tốt cho bản thân mình thì cũng nên nghĩ tới những điều tốt cho những người khác. Đó chính là ý mà ông cha ta muốn khuyên ta vậy.
Trong học tập cũng thế, bản thân mình luôn mong muốn điểm cao và muốn có kết quả học tập thực sự xuất sắc cho nên ta thường hay học tập chăm chỉ, tìm ra phương pháp học tập tốt, có bài nào không biết thì mong người khác giúp. Vậy thì người khác cũng như thế cho nên trong học tập khi mình không biết hỏi bạn còn khi bạn không biết thì hỏi mình, mình trả lời là mình thương bạn. Còn ngược lại nếu như chỉ vì ích kỉ của bản thân mà giấu diếm thì mình đã lợi dụng và ích kỉ không muốn cho ai bằng mình cả.
Hay trong cuộc sống của một dân tộc, chúng ta biết được trong cuộc sống thường nhật có những người sống khổ sở phải ở bên đường, ngủ ở gầm cầu cao tốc. Lúc đó ta động lòng, đó chính là biểu hiện của việc thương người như thể thương thân. Cái này cũng giống như tương thân tương ái nhưng các bạn cứ hãy thử nghĩ mà xem nếu mình cũng ở hoàn cảnh khó khăn như họ thì chúng ta cũng sẽ cần tình thương của mọi người. Khi giúp đỡ không nghĩ tới vụ lợi hay mong được báo đáp mới là tình thương người thực sự.
Tình thương người như thương chính bản thân mình không có giới hạn. Nó vượt qua mọi khoảng cách về không gian lẫn thời gian. Nó không chỉ là tình thương giữa nhưng con người cùng đất nước mà nó còn là tình thương giữa các dân tộc với nhau. Chẳng vì thế mà Bác Hồ của chúng ta đã bôn ba sang nước xâm lược khác để hiểu rõ nỗi khổ cực của nhân dân bên đó cũng như bên mình
Qua đây,chúng ta có thể thấy được ông cha ta đã để lại cho chúng ta một bài học vô cùng quý quá về đạo đức của con người. Có thể nói thương người như thể thương thân chính là cơ sở để xuất phát quyết định tới hành động giúp đỡ của mỗi người. Từ đó cũng có thể xác định được một con người có tâm đức hay không. Chúng ta hãy cố gắng bồi đắp tâm hồn mình để giúp đỡ người khác và tránh xa thói xấu ích kỉ. | Nghị luận về câu tục ngữ_ Thương người như thương thân | 574 | |
Nghị luận về danh và thực
Hướng dẫn
Đề bài:Nghị luận về danh và thực – văn lớp 12
Danh và thực là vấn đề muôn thuở trong xã hội, được bàn luận và đề cập trong rất nhiều cuộc hop, hội thảo. Trên thực tế đề tài này chưa bao giờ hết nóng bởi rằng nạn “hữu danh vô thực”, vì danh mà lu mờ nhân cách chưa bao giờ được giải quyết triệt để. Danh và thực hiện lên với những đường nét vô hình mà hữu hình khiến con người ta không thể nắm bắt được.
Từ xưa đến nay, danh luôn đi liền với thực, không hề tách rời nhau, chúng cứ bám riết lấy nhau mà tồn tại. Trong thời kỳ phong kiến thì vấn đề danh và thực dường như hiển hiện một cách lố lăng, lộ liễu và đầy bất công. Đặc biệt là những ông quan phong kiến dung tiền để mua chức quyền địa vị, dùng tiền để “mua” nhân phẩm của một con người. Nguyễn Khuyến từng có một bài thơ nổi tiếng về vấn đề danh và thực rất sâu sắc và ý nghĩa “Tiến sĩ giấy”. Ông đã mượn hình ảnh những đồ chơi của trẻ em để nói về những ông có chức có quyền nhưng thực ra ông đang châm biếm mỉa mai đầu óc của những ông đó không có gì, rỗng tuếch như đầu một đứa trẻ
Danh chính là quyền, địa vị, danh lợi mà một con người có được khiến người khác ngưỡng mộ, khâm phục. Những chức danh và vị thế xã hội mà họ mang trong xã hội giúp họ có một chỗ đứng và sự ưu ái riêng.
Cái thực lực đó nếu là quá trình không ngừng nghỉ của bản thân, không nhờ cậy ai, không tranh giành, luồn cúi để đạt được thành quả thì cái danh ấy là cái danh đáng trân trọng, khen ngợi. Tuy nhiên mặt trái của danh và thực khiến con người ta mù quáng, quên hết và bất chấp hết. Chính vì mặt tiêu cực ấy đã khiến cho bản thân mỗi con người cũng như xã hội không bao giờ biết tự mình đứng lên, chỉ chìm đắm trong cái “ảo” vô biên, vô tận.
Hiện tường “hữu danh vô thực” trong xã hội đang trở thành vấn nạn cần được giải quyết triệt để thì mới có thể giúp cho cuộc sống này được thanh bạch và sáng trong hơn. Sức hút của danh lợi, của đồng tiền đầy ma lực khiến cho bản thân con người lao vào ngõ cụt, đường cùng của cái xấu. Đồng tiền quan trọng nhưng nếu coi nó quá cần có thể làm mù quáng nhân cách một con người.
Khi xã hội ngày càng phát triển, cái danh lợi phù phiếm trước mắt có thể “mua chuộc” một con người, và nguy hại hơn nữa là cả một đời người. Hệ quả của những kẻ chỉ biết chạy theo cái danh hão và không biết đâu là đúng đâu là sai thì thực sự lầm đường lạc lối là chuyện không thể tránh khỏi.
Trong các trường học thì danh và thực diễn biến rất phức tạp, đó chính là hiện tượng “bệnh thành tích” tràn lan trong mọi ngóc ngách của trường học. Học sinh, phụ huynh và cả giáo viên vì một chữ “thành tích” to đùng ấy mà bất chấp hết. Phụ huynh “làm hư” giáo viên, chính giáo viên lại “làm hư” học sinh như một vòng tuần hoàn khép kín. Cuối cùng những học sinh yếu kém bị bệnh thành tích làm cho lu mờ, chỉ cần nghĩ bố mẹ mình có tiền là có thể có bằng này, cấp nọ, lớp này lớp kia. Cuối cùng hại cả một đời học sinh khi xã hội này cần những người có kiên thức, có học vấn sâu rộng chứ không cần những kẻ có bằng cấp nhưng để cho “vui”, cho “có” như vậy. Thực trạng này rất đáng buồn.
Trong các lĩnh vực khác có rất nhiều ông này, bà nọ, mang chức danh tiến sĩ, giáo sư, thạc sĩ nhưng đó chỉ là cái danh mà họ dùng tiền để mua, dùng tiền để đổi lấy một chức danh rồi “ra oai”. Kỳ thực rất đáng buồn và đáng thất vọng cho những điều tiêu cực như thế này.
Sự thành công, cái danh không dễ dàng để có được. Mỗi con người nên trân trọng những gì mà bản thân mình đã cố gắng để có được. Như thế là họ đang trân trọng chính nhân cách của bản thân cũng như trân trọng cái mà xã hội có thể mang lại cho chính bạn.
Danh và thực, những điều khiến chúng ta cần phải suy nghĩ rất nhiều để có thể trở thành những con người chân chính, không bị cái danh ảo mua chuộc, không bị đồng tiền làm lu mờ mắt. Hãy dùng chính thực lực của bản thân mình để đạt được cái mà mình mong muốn. | Nghị luận về danh và thực | 845 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.