text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ rằm tháng giêng lớp 7 Hướng dẫn Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta, đồng thời là một nhà thơ xuất sắc của nền văn học cách mạng. Bác đã sáng tác bài thơ “Rằm tháng giêng” ở Việt Bắc, trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến đầy khó khăn gian khổ chống thực dân Pháp. Bằng ngòi bút trữ tình chứa chan tình cảm, nhà thơ đã gây xúc động cho người đọc, người nghe bằng những câu thơ miêu tả cảnh đẹp đêm trăng, đồng thời thể hiện tình yêu thiên nhiên gắn liền với lòng yêu nước sâu nặng một cách sinh động như sau: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân, Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.” Bức tranh thiên nhiên thơ mộng trong bài thơ được bắt đầu bằng hình ảnh: “Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân, ” Câu thơ như gợi cho em lòng yêu thích cảnh đẹp thiên nhiên ở Việt Bắc: khung cảnh bầu trời cao rộng, trong trẻo, nổi bật trên bầu trời ấy là vầng trăng tròn đầy, toả sáng xuống khắp trời đất trong đêm rằm tháng giêng. Từ “xuân” được lặp đi lặp lại đã nhấn mạnh sự diễn tả vẻ đẹp và sức sống mùa xuân đang tràn ngập cả đất trời vào một đêm trăng. Hình ảnh này gợi cho em nhớ tới câu thơ tương tự của Bác khi vẽ cảnh đẹp này: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.” “Giữa dòng bàn bạc việc quân, Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.” Đọc đến đây, lòng em bỗng dâng lên niềm cảm phục, kính yêu đối với Bác. Mặc dù phải ngày đêm lo nghĩ việc nước, nhiều đêm không ngủ, nhưng không phải vì thế mà tâm hồn Người quên rung cảm trước vẻ đẹp của một đêm trăng rừng, một tiếng suôi trong chảy nghe như “tiếng hát xa”, hay cảnh trời nước bao la dưới ánh trăng rằm tháng giêng. Câu thơ thể hiện sự bình tĩnh, chủ động, lạc quan ở vị lãnh tụ. Phong thái ấy toát ra từ những rung cảm tinh tế và dồi dào trước thiên nhiên, đất nước. Phong thái ung dung, lạc quan còn thể hiện ở hình ảnh con thuyền của vị lãnh tụ và các đồng chí sau lúc bàn bạc việc quân trở về, lướt đi phơi phới, chở đầy ánh trăng giữa không gian của cảnh trời nước bao la dường như cũng ngập tràn ánh trăng. Phong thái ấy được toát ra từ giọng thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại, khoẻ khoắn, trẻ trung. Đọc xong bài thơ với niềm cảm xúc dạt dào, em rất khâm phục lãnh tụ Hồ chí Minh vì qua bài “Rằm tháng giêng”, nhà thơ đã để lại cho đời những câu thơ tuy đơn sơ, giản dị nhưng giàu tình ý, giàu tính nghệ thuật độc đáo của thơ hiện đại nhưng rất đậm màu sắc cổ điển. Em càng khâm phục hơn nữa khi nhà thơ đã làm rung động người đọc, người nghe về hình ảnh của Bác, một nhà thơ có tâm hồn nghệ sĩ hoà hợp thống nhất với cốt cách của người chiến sĩ, vị lãnh tụ.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Rằm tháng giêng lớp 7
562
Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt. Bài làm Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tương truyền, Lí Thường Kiệt sáng tác bài thơ này trong một trận quân ta chiến đấu chông quân Tống xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba mà còn là một nhà thơ nổi tiếng. Cuối năm 1076, mấy chục vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết cầm đầu sang cướp nước ta. Quân ta dưới quyền chỉ huy của Lí Thường Kiệt đã chiến đấu dũng cảm, chặn chân chúng lại ở phòng tuyến bên sông Như Nguyệt. Truyền thuyết kể rằng một đêm nọ, quân sĩ nghe văng vẳng trong đền thờ Trương Hông và Trương Hát (hai tướng quân của Triệu Quang Phục đã hi sinh vì nước) có tiếng ngâm bài thơ này. Điều đó ý nói thần linh và tổ tiên phù hộ cho quân ta. Bài thơ đã góp phần khích lệ binh sĩ quyết tâm đánh tan quân giặc, buộc chúng phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077. Từ trước đến nay, người ta thường cho rằng vị tướng Lí Thường Kiệt làm bài thơ này với mục đích động viên khí thế binh sĩ của mình. Tất nhiên là thế, nhưng câu thứ tư (Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm) lại rõ ràng là lời cảnh cáo quân giặc. Thì ra đối tượng nghe thơ không chỉ là quân ta mà còn là quân địch. Chính vì thế mà bài thơ được coi là một văn bản địch vận nhằm lung lay ý chí chiến đấu của đối phương. Tác giả khẳng định: Chủ quyền độc lập của nước Nam là một chân lí không gì có thể bác bỏ được. Dân tộc Việt bao đời nay đã kiên cường chiến đấu để giữ vững bờ cõi, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng ấy.Bài thơ Sông núi nước Nam thể hiện niềm tin tưởng và tự hào vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kì kẻ thù hung bạo nào dám xâm phạm đến đất nước này. Vì thế mà nó có sức mạnh kì diệu cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta, làm khiếp vía kinh hồn quân xâm lược và góp phần tạo nên chiến thắng vinh quang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ sự khẳng định dứt khoát, mãnh liệt như dao chém cột. Bài thơ lưu lại từ xưa không có tựa đề. Các sách thường lấy mấy từ Nam quốc sơn hà trong câu đầu làm tựa đề cho bài thơ. (Dịch là Sông núi nước Nam): Vằng vặc sách trời chìa xứ sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây! Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Câu thứ nhất nêu lên chân lí: Sông núi Nam Việt vua Nam ở. Lẽ ra phải nói là dân Nam ở thì đúng hơn nhưng thời bấy giờ, vua đại diện cho quốc gia, dân tộc. Chân lí ấy thật đơn sơ, hiển nhiên nhưng nhân dân tã phải gian khổ đấu tranh bao đời chống ngoại xâm mới giành lại được. Từ khi nước nhà có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Việt đã nhiều lần khẳng định chân lí ấy bằng sức mạnh quân sự của mình. Lũ giặc phương Bắc quen thói hống hách, trịch thượng, luôn nuôi tham vọng cướp nước nên chúng khăng khăng không chấp nhận. Ý nghĩa câu thơ không dừng lại ở đó. Tác giả xứng danh là nước Nam với chủ ý gạt bỏ thái độ khinh miệt coi nước ta là quận huyện tồn tại trong đầu óc lũ cướp nước bấy lâu nay. Đặt nước mình (Nam quốc) ngang hàng với (Bắc quốc). Xưng vua Nam (Nam đế) cũng là bác bỏ thái độ ngông nghênh của bọn vua chúa phương Bắc hay tự xứng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu và gọi họ là vương. Các từ nước Nam, vua Nam vang lên đầy kiêu hãnh, thể hiện thái độ tự hào, tự tôn cùng tư thế hiên ngang làm chủ đất nước của dân tộc Việt. Đó không phải là lời nói suông. Chiến dịch tấn công ào ạt của quân ta vào căn cứ của quân cướp nước mấy tháng trước đó là một bằng chứng hùng hồn. Do đó, chân lí nói trên càng có cơ sở thực tế vững chắc. Ngày ấy, triều đình nhà Tống lấy cớ ta dám quấy nhiễu vùng biên ải nên phải dấy binh hỏi tội. Đầu năm 1076, quân ta đã tiêu diệt các căn cứ lương thảo, vũ khí, quân đội… chuẩn bị cho cuộc xâm lược của chúng ngay bên đất chúng. Cho nên chủ tướng họ Lí nhắc lại chân lí này để quân dân nước Nam đang chiến đấu nắm chắc thêm lưỡi gươm giết giặc, mặt khác để vạch trần bộ mặt phi nghĩa của quân thù và đánh mạnh vào tinh thần chúng. Câu thứ hai: Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) khẳng định chủ quyền của nước Nam đã được ghi rõ trên sách trời. Sách trời đã chia cho vua Nam có riêng bờ cõi. Câu thơ thứ ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? (Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?) là câu hỏi đối với binh tướng giặc. Chủ quyền độc lập của nước Nam không chỉ là chuyện của con người mà còn là chuyện vằng vặc (rõ ràng, minh bạch) trên sách trời, không thể chối cãi, ai cũng phải biết, phải tôn trọng. Vậy cớ sao quân giặc kia lại dám xâm phạm tới? Câu hỏi thể hiện thái độ vừa ngạc nhiên vừa khinh bỉ của tác giả. Ngạc nhiên tại sao tướng sĩ của một nước tự xưng là thiên triều mà lại dám phạm tới lệnh trời? Khinh bỉ vì coi chúng là nghịch lỗ, tức lũ giặc cướp ngỗ ngược, ngang tàng. Gọi chúng là nghịch lỗ tức là tác giả đã đặt dân tộc Việt vào tư thế chủ nhà và tin rằng mình có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền độc lập. Tác giả tăng cường sức khẳng định cho chân lí hiển nhiên đã nêu ở trên bằng nghệ thuật đối lập giữa cái phi nghĩa của lũ giặc dữ với cái chính nghĩa của nước Nam và sự phân chia minh bạch ở sách trời. Câu thứ tư: Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng mày nhất định phải tan vỡ), ý thơ vẫn tiếp tục thể hiện thái độ khinh bỉ quân giặc và niềm tin sắt đá vào chiến thắng tất yếu của quân ta. Ở trên, tác giả gọi quân xâm lược là giặc, là nghịch lỗ thì đến câu này, ông gọi đích danh như có chúng trước mặt: chúng mày. Cách xưng hô không khác gì người trên với kẻ dưới nhưng không hàm ý thân mật, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo chúng: nhất định phải tan vỡ. Y như là sự việc đã sắp đặt trước, chỉ chờ kết quả. Kết quả sẽ ra sao? Đó là chúng mày không chỉ thua, mà thua to và thất bại thảm hại. Mười vạn quân giặc do hai tướng giỏi chỉ huy, quân ta dâu phải dễ đánh bại nhưng, vì hành động của chúng phi nghĩa nên tất yếu chúng sẽ bại vong. Ngoài ý cảnh cáo giặc, câu thơ còn thể hiện niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh quân dân ta trên dưới đồng lòng và một niềm tự hào cao vút. Một lần nữa, chân lí về chủ quyền độc lập rất thuận lòng người, hợp ý trời của nước Nam đã được tác giả khẳng định bằng tạt cả sức mạnh của lòng yêu nước, căm thù giặc. Bài Thơ thần ra đời trong một hoàn cảnh cụ thể và nhằm vào một mục đích cụ thể. Cuộc đối đầu giữa quân ta và quân địch trước phòng tuyến sông Như Nguyệt đang ở thế gạy go ác liệt. Để tăng thêm sức mạnh cho quân ta và đánh một đòn chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ ấy đã vang lên đúng lúc và được lan truyền nhanh chóng. Có thể tưởng tượng rằng lúc ấy quân dân ta như được hun đúc trong ánh lửa thiêng, máu sôi lên và khí thế giết giặc ngùn ngụt ngất trời. Tính chất chân lí của bài thơ có giá trị vĩnh hằng bởi nó khẳng định chủ quyền độc lập của nước Nam là bất khả xâm phạm. Tác dụng to lớn, mạnh mẽ của bài thơ không chỉ bó hẹp trong hoàn cảnh lúc bấy giờ mà còn kéo dài vô tận. Hơn mười một thế kỉ, quân xâm lược phương Bắc cố tình thôn tính nước ta nhưng dân tộc ta đã đồng lòng đứng lên chiến đấu đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi để bảo vệ chủ quyền ấy. Chỉ bằng bốn câu thơ ngắn gọn, Lí Thường Kiệt đã khẳng định một cách đanh thép chân lí độc lập tự do, đồng thời lên án tính chất phi nghĩa của hành động xâm lược cùng sự bại vong tất yếu của kẻ dám ngang ngược xâm phạm chân lí đó. Việc khẳng định lại chủ quyền độc lập của dân tộc ta để đánh tan ý chí xâm lược của bọn cướp nước trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc chiến đấu ác liệt là hết sức cần thiết. Vì lẽ đó mà từ trước tới nay, có nhiều ý kiến cho rằng Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt là bản tuyên ngôn độc lập thành văn thứ nhất của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt
1,676
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt Hướng dẫn Nếu nhắc đến trận đánh oai hùng trên sông Như Nguyệt (sông Cầu ở Bắc Ninh) thì ai cũng nhớ đến vị tướng tài ba Lý Thường Kiệt. Nhắc đến ông thì không ai có thể không nhắc đến chiến công hiển hách của ông năm 1077 thắng quân Tống. Trận đánh đã đưa ông vào sử sách lưu truyền ngàn đời với bài thơ tuyệt tác làm nức lòng người đọc, người nghe, đó là bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Bài thơ đã khích lệ tinh thần chiến đấu của binh lính, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, ý chí kiên định đánh đuổi giặc ngoại xâm. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đã truyền tải tấm lòng của tác giả một cách chân thật nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.” Dịch thơ: “Sông núi nước Nam, vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở.” Đêm thiêng liêng trên dòng sông Như Nguyệt chợt vang lên lời thơ Thần làm cho tinh thần ba quân, tướng sĩ hứng khởi vì tự hào là con Rồng cháu Tiên, luôn có Thần giúp đỡ. Trong khi đó lời truyền cũng làm cho bọn giặc kinh sợ vỡ mật, mất hết tinh thần chiến đấu. Ớ trong bài thơ này có một điều đặc biệt là trong bản phiên âm từ tiếng Hán, Lý Thường Kiệt đã dùng chữ “dế” để chỉ vua nước ta, coi vua Nam ngang hàng với vua phương Bắc. Đây là sự tự tôn dân tộc mạnh mẽ, mãnh liệt: khẳng định nước Nam là của vua Nam. Thời xưa, với quan niệm phong kiến quân chủ, nước là của vua nên trung thành với vua là trung thành với đất nước “Trung quân, ái quốc”. Ví như mười tám dời vua Hùng thay nhau dựng nước và giữ nước bình yên cho bờ cõi. Thời kì đó đã xuất hiện Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân. Rồi đến Thục Phán đánh đuổi giặc Tần xưng An Dương Vương. Đến ngườị phụ nữ chân yếu tay mềm cũng vùng lên đánh giặc như Trưng Nữ Vương đánh đuổi quân Hán hay Bà Triệu lãnh đạo nghĩa quân đánh phá quân Ngô. Rồi từ đó nước nam ta dần dần khởi sắc với các đời vua uy nghiêm, lẫm liệt: Mai Hắc Đế (Mai Thúc Loan), Lý Nam Đế (Lý Bí), Bố Cái Đại Vương (Phùng Hưng), họ Khúc, triều Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê,… Luôn sát cánh bên các vị vua còn có các danh tướng lẫy lừng như Lý thường Kiệt,… Nhờ có những vị vua anh minh, những vị tướng tài ba đã dẫn dắt đất nước được thái bình thịnh trị. Để từ đó nổi lên những chiến công vang dội đem lại nền độc lập cho đất nước. Lời tuyên bố của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” cũng cùng quan điểm non nước Việt Nam ta đã được hoạch định từ ngàn xưa giống như câu thơ “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”, qua bao nhiêu thử thách đã hình thành một Việt Nam gấm hoa, thấm đậrn tình đoàn kết dân tộc. Càng ý thức chủ quyền đất nước, càng yêu nước nồng nàn bao nhiêu, nhân dân ta càng căm thù giặc bấy nhiêu. Điều này được thể hiện rõ nét qua hai câu thơ cuối như sau: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư.” Dịch thơ: “Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ.” Kết cục cho bi kịch của việc cướp nước là bọn xâm lược sẽ bị trả đòn trên sông Như Nguyệt. Tiếng ngâm thơ vang vọng hai bên bờ sông áp đảo tinh thần ngạo mạn của bọn xâm lăng. Đồng thời giúp quân ta tăng thêm ngọn lửa hận thù sôi sục lũ giặc Tống cướp nước, tăng thêm quyết tâm vùng lên giành lại non sông, dánh cho lũ giặc tan tành từ đó giữ vững độc lập, khẳng định chủ quyền đất nước. Với những khổ đau mà giặc phương Bắc gây ra thì một trận đánh hào hùng sẽ mau chóng lấy lại niềm hứng khởi cho toàn dân cùng cất tiếng hoà chung ca khúc khải hoàn, chiến thắng. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” đã giúp chúng ta ghi nhớ lịch sử hào hùng của dân tộc, để ta tự hào về cội nguồn của mình, luôn nhớ chủ quyền đất nước là của chúng ta, những người con mang nòi giống “con Rồng cháu Tiên”, trong người chảy dòng máu “Lạc Hồng”. Bài thơ cũng bồi dưỡng tinh thần quyết tâm chống giặc, bảo vệ đất nước, khơi gợi niềm tự hào dân tộc, yêu đất nước cho người đọc, người nghe. Đề cập đến tuyên ngôn độc lập của nước ta thì bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được xem là bản đầu tiên cùng với “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là bản thứ hai và tiếp đến là “Bản tuyên ngôn độc lập” được Bác Hồ đọc vào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Tất cả đã làm cho nhân dân ta vỡ oà niềm hân hoan, hạnh phúc vì mở ra một trang sử mới. Đây là trang sử của sức mạnh niềm tin vào lẽ phải, chính nghĩa, sức mạnh của tình đoàn kết dân tộc thể hiện qua quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, giữ vững chủ quyền đất nước trước các âm mưu xâm lược của bọn cướp nước. BÀI LÀM 2 Mở bài – Đặt vấn đề: Đất nước Việt là sản phẩm của ‘ Con rồng, Cháu tiên’ ; là sự khai sinh của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tiếng nói của những người con, người cháu của đất nước đó được vang ca mấy nghìn năm. Họ đã sống, đã lao động để bảo vệ cái nôi nơi họ sinh ra – Nhưng rồì bọn quân xâm lược phong kiến phương bắc với tư tưởng bá quyền nước lớn hiển nhiên qua xâm lăng muốn biến dân tộc ta thành dân nô lệ của chúng. Và rồi chúng ta không khoan nhường một giây phút nào nữa, lên tiếng bảo vệ chủ quyền thiêng liêng đất nước! Và bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên ra đời: “Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. Thân bài – Triển khai: Bài thơ là lời tuyên bố về chủ quyền của đất nước và khẳng định không một thế lực nào được phép xâm phạm vào quyền độc lập ấy.( được thể hiện rõ qua 2 câu thơ đầu ) + Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là chân lí độc lập bất hủ! “nam quốc sơn hà nam đế cư” + Ý thức tự tôn dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ qua hai từ Nam quốc và Nam đế đầy ẩn ý. Nước nam là của vua và dân nam, không một ai có thể chối cãi nó được ví như hình ảnh mẹ sinh ra con thì con chính là con của mẹ, không thể là con của một ai khác và không ai có quyền cướp con khỏi bàn tay mẹ. + Hiểu và nhận thức được chủ quyền trị vì của dân tộc đất nước của những người dân nước Việt. Thái độ ấy là tư thế của một dân tộc dám kiêu hãnh đứng thẳng làm người, giơ một quả đấm thép giáng thẳng vào bộ mặt kiêu căng ngạo mạn của bọn phong kiến Trung Quốc coi nước khác chỉ là chư hầu của chúng, coi dân tộc khác chỉ là nô lệ của chúng +Lãnh thổ ấy được minh chứng là của con dân việt không chỉ qua việc họ đã xây dựng nên đất nước ấy mà còn có tiền đề đó là “sách trời” đã chia nó từ bấy lâu nay + Ý chí đó được làm rõ qua câu hỏi tu từ “- cớ sao lũ giặc qua xâm phạm”. Đó là một biểu hiện giận dỗi đầy phẫn uất của tác giả, đó cũng là thái độ của con dân việt với lũ cướp nước +Tinh thần bảo vệ tổ quốc được nuôi dưỡng từ sâu trong trái tim của mỗi một người con dân việt khi ý thức rõ lũ phong kiến ngạo mạn, cướp đi cuộc sống bình dị của một đất nước yêu tự do, yêu hòa bình ấy + Câu thơ còn thể hiện thái độ không khoan nhượng, không nhún nhường trước những hành động bạo tàn đó, thể hiện được chí khí, bạo tàn của một người dân yêu nước +Lý Thường Kiệt còn lên tiếng cảnh báo trước những hành vi vô phép tắc của tụi xâm lăng “chúng bây sẽ bị đánh cho tơi bời” sẽ là một kết cục ê chề, thê thảm của chúng. + Thực tế lịch sử đã chứng minh hùng hồn cho câu thơ của Lí Thường Kiệt. Sông cầu và bến đò Như Nguyệt là mồ chôn hàng vạn lũ giặc phương Bắc. Trước sự giáng trả sấm sét của quân ta, Quách Quỳ phải tháo chạy, thất bại nhục nhục nhã. Chiến thắng Sông cầu – Như Nguyệt là một trong những trang sử vàng chói lọi của Đại Việt – Khẳng định tinh thần yêu nước: + Chiến thắng với quân địch là minh chứng cho một sự thật rõ ràng là quân và dân ta có tấm lòng hướng về tổ quốc, đặt vị trí quốc gia lên hàng đầu + Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước. + Đó là tinh thần đoàn kết dân tộc để trừng trị bọn tội đồ cướp nước, bán nước Kết bài – Đánh giá:Tóm lại, bài thơ ‘Nam Quốc sơn hà’ được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước đại việt: + Nói về ranh giới chủ quyền quốc gia với những lời lẽ xác đáng, khoa học + Được mọi con dân việt nam lưu truyền trong xã hội, trong lịch sử, từ thế hệ này sang thế hệ khác + Giá trị bài thơ gắn với thiên thời- địa lợi- nhân hòa phù hợp với lịch sử nước ta lúc bấy giờ – Bài thơ là khúc anh hùng ca của dân tộc, là tiếng nói đầy quyền uy đối với kẻ thù xâm lược – Bài thơ xứng đáng là áng thơ văn bất hủ
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông Núi Nước Nam của Lý Thường Kiệt
1,773
Đề bài: Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam Bài Làm Trong những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của ông cha ta, có rất nhiều những trận đánh lớn, được ghi vào sổ sách. Những trận đánh mà khiến quân giặc khiếp đảm, và là nỗi lo lớn khi bất kỳ một dân tộc nào muốn xâm chiếm Đại Việt. Trong những trận đấu đó, không chỉ có những trận đánh quyết liệt mà còn có những trận đấu bằng tinh thần. Một trong những ‘trận đánh lớn’ đó đã được vang lên vào buổi chiều hôm đó. Đó chính là bài thơ “Sông Núi nước Nam”. Bài thơ như một lời khẳng định chắc chắn của quân và dân ta trước ý định xâm chiếm của kẻ thù. Bài thơ được tương truyền là do tướng quân Lý Thường Kiệt sáng tác. Trong một trận đánh lớn, khi cả hai bên đều đã thấm mệt, từ một ngôi miếu nhỏ của quân ta vọng lên một 4 câu thơ đầy hào hùng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên phận định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.” Chỉ vỏn vẹn trong bốn câu thơ, nhưng khi nghe xong thì tinh thần của quân giặc đã bị hồn bay phách lạc, không đánh mà chạy. Đó như một lời khẳng định chắc chắn chiến thắng sẽ luôn thuộc về ta, sẽ không bao giờ có thể thay đổi được. Đất nước của nước Nam là mảnh đất đã có vua cai trị, lãnh đạo. Chứ không phải là một mảnh đất ‘vô chủ” mà những người khác có thể sang tự ý xâm chiếm. Một mảnh đất có vua nước Nam, có người dân nước Nam thì cớ gì lại để cho người khác chiếm lấy? “Tiệt nhiên phận định tại thiên thư” Nếu như câu thơ thứ nhất như để khẳng định chủ quyền của đất nước, của quốc gia, dân tộc thì câu thơ thứ hai như một lời nói: nước đã có chủ thì những người sống tại đất nước đó nên sống và cai trị đất nước đó thật tốt chứ không nên tranh giành hay xâm chiếm đất nước của người khác. Không ai xâm chiếm đất nước của nhau. Mọi người chỉ có thể nên giúp đỡ nhau chứ không nên tranh giành, để gây ra chiến tranh. Chiến tranh làm cho cuộc sống của con người ta trở nên khổ cực, gây nên đau khổ và chia ly. “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” Đất có chủ, nhưng hà cớ gì mà lũ giặc các ngươi lại sang bên nước ta xâm chiếm đất nước. Không phải do thiếu đất hay thiếu chỗ ở mà các ngươi sang xâm chiếm nước ta. Vậy nguyên nhân chỉ do là muốn bành trướng? muốn mở rộng lãnh thổ mà lũ giặc các ngươi mới sang xâm chiếm đất nước của chúng ta? Vậy thì như lời tướng quân Lý Thường Kiệt đã nói: “Chúng bay sẽ bị đánh cho tơi bời”. Bất cứ một lý do nào, bất cứ một hành động xâm chiếm đất nước nào của chúng sẽ bị những người con dân đất Việt đánh cho tơi bời. Bởi vì đó là tình yêu quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc. Là tinh thần bất khuất không thể nào có thể chịu thua và khuất phục trước quân giặc. Bất kỳ hành động nào động đến đất nước, đến con dân đất Việt đều sẽ phải trả giá. Không phải vì cái tôi cá nhân mà ngược lại đó là tinh thần chiến đấu quật cường, sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng nằm xuống để có thể bảo vệ vững chắc được độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ của sông núi nước Nam.
Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Sông Núi Nước Nam
650
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Tiếng Gà Trưa của Xuân Quỳnh Bài làm Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là nhà thơ nữ xuất sắc nhất của nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh thường hướng vể những hình ảnh, những sự việc bình dị, gần gũi trong đời sống thường nhật trong gia đình, tình yêu, tình mẹ con, bà cháu,… Bài thơ Tiếng gà trưa là một bài thơ như thế. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh cả nước chống dế quốc Mĩ xâm lược. Như nhiều tác phẩm đương thời, thơ Xuân Quỳnh hướng vào chủ đề bao trùm của cả nền văn học bấy giờ là lòng yêu quê hương, đất nước và cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn dân, trước hết là của những người cầm súng. Do đó, tuy bài thơ có nhiều kỉ niệm riêng của bản thân nhà thơ, nhưng hình tượng nhân vật trữ tình lại là người chiến sĩ đang trên đường hành quân, ra tiên tuyến. Cái tôi riêng của người nghệ sĩ và cái ta chung của cả thế hệ, cả dân tộc hoà hợp tự nhiên, hồn nhiên, toả ra những cảm hứng vừa thân thương, gần gũi vừa cao cả thiêng liêng, lay động lòng người. Đây là tác phẩm viết theo thể thơ tự do, trừ cụm từ Tiếng gà trưa ba tiếng, còn lại, mỗi câu thơ gồm năm âm tiết, nối nhau, mở đầu và kết thúc theo ý tưởng và cảm xúc của nhà thơ. Ta có thể coi bài Tiếng gà trưa là thơ ngũ ngôn, một thể thơ gốc Việt Nam, bắt nguồn từ thể hát dặm Nghệ Tĩnh và vè dân gian. Bài thơ, vì thế, có giọng điệu kể chuyện tâm tình, nhẹ nhàng, thủ thỉ, tự sự, miêu tả và biểu cảm xen nhau. Trong bài thơ, cụm từ ba âm tiết Tiếng gà trưa điệp lại bốn lần ở đầu mỗi khổ thơ. Mỗi lần cất lên, câu thơ ấy gợi một hình ảnh, hoặc sự việc trong kỉ niệm tuổi thơ của chính tác giả và của nhân vật trữ tình – người chiến sĩ đang hành quân. Điệp ngữ Tiếng gà trưa như dòng nhạc chủ âm vừa kết nối các đoạn thơ vừa điểm nhịp cho từng cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Dựa vào mạch cảm xúc và diệp ngữ ấy, chúng ta có thể hiểu và suy ngẫm về bài thơ theo ba đoạn: Tiếng gà cất lên trên đường hành quân – đoạn một (khổ một, bảy câu đầu) ; Tiếng gà gọi về tuổi thơ – đoạn hai (khổ hai, ba, bốn, năm, sáu – hai mươi sáu câu tiếp theo) ; Tiếng gà giục giã tinh thần chiến đấu – đoạn ba (hai khổ thơ cuối). Đoạn một: Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: “Cục… cục tác cục ta” Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ Người chiến sĩ chống Mĩ cứu nước – đoàn quân ra tiền tuyến, trong đó có nhà thơ – kể một sự việc bình thường mà thú vị. Trên đường hành quân, lúc lạm nghỉ ở một xóm nhỏ bên đường, chiến sĩ ta bỗng nghe tiếng gà nhảy ổ vang lên Cục… cục tác, cục ta. Câu thơ ghi âm tiếng gà kêu nghe rất đỗi thân thương, gần gũi. Tiếp sau đó, điệp từ nghe nối nhau, nhắc lại ba lần như những dư ba kì diệu của tiếng gà. Tiếng gà làm xao động, làm dịu bớt cái nắng trưa gay gắt, xua tan những mệt mỏi nơi người chiến sĩ và … đánh thức những kì niệm xa xưa, gợi về tuổi thơ, đưa các anh, các chị sống lại những năm tháng hồn nhiên, tươi đẹp nhất của đời người. Bài thơ Tiếng gà trưa ra đời trong những ngày cả nước chống Mĩ sôi động và quyết liệt. Đoạn mở đầu này kể về một sự việc đời thường, thơ mộng, góp phần làm dịu bớt không khí nóng bức của chiến tranh, mở ra một không gian và thời gian thanh binh sâu lắng giúp cho những người lính, những bạn đọc thuở ấy cũng như chúng ta ngày nay được chút thời gian yên tĩnh trong cõi lòng để lắng sâu suy cám. Sau tiếng gà nhảy ổ ở hiện tại, sang đoạn hai, tiếng gà gọi về những kỉ niệm tuổi thơ. Ba khổ thơ, hai mươi sáu câu nối nhau cùng với Tiếng gà trưa điệp lại những ngày thơ bé với biết bao kỉ niệm đẹp đẽ, thân thương: Tiếng gà trưa Ổ rơm hồng những trứng Này con gà mái tơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng. Tiếng gà trưa – Gà đẻ mà mậy nhìn Rồi sau này lang mặt! Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Dành từng quả chắt chiu Cho con gà mái ấp Qua thơ, chúng ta được cùng người chiến sĩ ấy sống những ngày tháng thật là dịu êm trong tình yêu thương của người bà, và… câu chuyện về những con gà cũng rất đáng yêu. Nào là hình hài màu sắc của mấy chị “Gà mái mơ, khắp mình hoa đốm trắng”, “Gà mái vàng, lông óng như màu nắng”. Nào là chuyện nhìn gà đẻ, bị bà mắng yêu. Nào là hình ảnh bà soi trứng, theo dõi quá trình gà ấp với bàn tay khum khum, với tấm lòng chắt chiu, nâng đỡ từng sự sống nhỏ nhoi trong từng quả trứng. Rồi chuyện bà: Mong trời đừng sương muối Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áo cánh trúc bâu Đi qua nghe sột soạt… Càng về cuối, kỉ niệm tuổi thơ càng da diết cảm dộng. Qua những dòng thơ êm nhẹ, thánh thót như những nốt nhạc trong veo, hình ảnh người bà Việt Nam hiện lên đẹp như một bà tiên vậy. Bà dành tất cả sức lực và tình thương yêu cho đứa cháu nhỏ. Bà đã tần tảo, chắt chiu chăm sóc, nâng đỡ từng quả trứng, từng chú gà con, như chắt chiu, nâng đỡ những ước mơ hạnh phúc đơn sơ, nhỏ bé của đứa cháu yêu. Hình ảnh đứa cháu được mặc bộ quần áo mới do công lao nuôi gà của bà ban tặng, hồn nhiên, ngây thơ làm sao. Chí là “cái quần chéo go”, “cái áo cánh trúc bâu” (những loại vải rẻ tiền, mà ngày nay ít người dùng) nhưng đứa cháu – chắc là một cô gái – đã vô cùng cảm động, sung sướng. Đấy đâu chỉ là bộ quần áo dài rộng, cựa quậy một tí là bật ra tiếng sột soạt, mà là biết bao hạnh phúc, biết bao tấm lòng bà đã dành cho cháu. Hình ảnh và tâm trạng người thiếu niên – những chiến sĩ chống Mỹ thuở ấu thơ – được khắc hoạ chân thực, mang bản chất nông dân, bản sắc Việt Nam, thật là đáng trân trọng. Đó là những con người giản dị, được lớn lên trong tình thương yêu, nâng đỡ của quê hương, của những người ruột thịt. Được hưởng hạnh phúc ấy, họ thực sự cảm động và mãi nhớ ơn quê hương, ông bà, cha mẹ. Riêng với nữ sĩ Xuân Quỳnh, có lẽ mối tình sâu nặng và ân nghĩa nhất là tình bà cháu. Nếu không nhớ thương, biết ơn bà, làm sao mà viết được những câu thơ, ghi lại được những kỉ niệm đẹp như thế. Thơ với đời, hiện tại và quá khứ cứ đan xen, gắn bó hài hoà, tự nhiên, hồn nhiên, trong veo như nắng trưa và gió mát ngày hè vậy. Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ. Từ những kỉ niệm tuổi thơ thấm đẫm tình bà cháu, cảm hứng thơ mớ rộng hướng tới tình yêu đất nước, nhắc nhở, giục giã những chiến sĩ – trong đó có nhà thơ Xuân Quỳnh – hãy chắc tay súng tiến lên chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ gia đình, làng xóm quê hương và nền Độc lập, Tự do của Tổ quốc. Tóm lại, bài thơ Tiếng gà trưa viết về một loại âm thanh quen thuộc, bình dị trên quê hương, đất nước ta, nhưng đã thể hiện những suy nghĩ rất sâu sắc, những cảm xúc thật cao đẹp của nữ sĩ Xuân Quỳnh. “Tiếng gà trưa” đã gọi về những kỉ niệm của tuổi thơ thơ mộng và tình bà cháu đậm đà thắm thiết. Những tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tình yêu nước và nhắc nhà chúng ta tinh thần, trách nhiệm đối với đất nước. Bài thơ viết theo thể thơ năm tiếng có cách diễn đạt chân thành, tự nhiên vừa miêu tả biểu cảm, vừa tự sự biểu cảm bằng nhiều hình ảnh, ngôn ngữ bình dị, lay động lòng người.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Tiếng Gà Trưa của Xuân Quỳnh
1,531
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư của Lý Bạch Hướng dẫn Hương Lô là một đỉnh núi ở tây bắc núi Lư, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đỉnh núi cao, khói mây bao phủ, xa nhìn như một lư hương khổng lồ, nên đặt là Hương Lô. Ngắm nhìn thác núi Lư đổ nước trắng xoá từ núi xuống, xúc cảm trước cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ, Lý Bạch đã sáng tác bài Vọng Lư Sơn bộc bố (Xa ngắm thác núi Lư). Bài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn chỉ có 28 chữ nhưng đã dựng lên trước mắt người dọc một bức tranh toàn cảnh về núi Lư và thác núi Lư. Bức tranh được tô vẽ rộng lớn, với những màu sắc và đường nét rõ ràng, cụ thể vừa ở độ xa vừa ở thế gần, vừa ở chiều cao vừa ở độ thấp. “Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên, Dao khan bộc bố quải tiền xuyên. Phi lưu trúc há tam thiên xích, Nghi thị Ngân Hà lạc cửu tliièn.” Dịch thơ: “Nắng rọi Hương Lô khói tía bay, Xa trông dòng thác trước sông này. Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây”. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt Lý Bạch là khung cảnh và thế đứng uy nghi của núi Lư. Không tả núi Lư cao mà người đọc thấy được bề thế, độ cao của núi. Vách núi rộng lớn như bức tường đá khổng lồ dựng đứng trước mặt. Ánh nắng mặt trời ban ngày phản chiếu (nhật chiếu) đỉnh núi, vách núi Lư (Hương Lô). Đá núi nhiều màu bắt nhiệt nhanh và giảm nhiệt chậm. Khi ánh nắng niặt trời có nhiệt độ cao toả xuống núi tự nhiên thiêu đốt dá núi, làm cho đá nóng rực và bốc ra những làn khói màu tía (sinh tử yên). Các miêu tả của tác giả độc đáo, vượt qua cách miêu tả thiên nhiên núi non thông thường là tả đỉnh núi cao có mây trăng bao phủ. ơ đây, Lý Bạch chỉ tập trung miêu tả những chi tiết nổi bật, gây ấn tượng nhất cho người đọc. Ngay tữ câu đầu, nhà thơ thể hiện được hình dung, tưởng tượng phong phú của mình. Nhìn mặt trời phản chiếu vào núi và từ núi bốc ra những đám khói màu hồng nhạt, giống như một lò hương nghi ngút khói. Màu sắc mà nhà thơ tả ở dây vừa rõ ràng vừa kì lạ. Hình ảnh mặt trời, ngọn núi, màu khói tía được xêp đặt bằng những từ’ngữ giản đơn, dễ hiểu và tự nhiên, thể hiện con mắt nhìn và óc quàn sát thiên nhiên tinh tế, sắc sảo của Lý Bạch. Nươc bay thắng xuống ba nghìn thước,” Không dừng lại ở khung cảnh núi non, tiến thêm một bước, nhà thơ tả cảnh thác nước và dòng sông. Nếu như câu thơ trên là tả “sơn” thì câu thơ tiếp theo, ông tả “thủy”. Trong câu thơ thứ nhất, Lý Bạch không nói rõ vị trí đứng của mình ở đâu khi tả hình thể núi Lư thì ở câu thơ thứ hai, tác giả đã đứng từ xa (dao khan) để tả cảnh hùng vĩ, mạnh mẽ và đầy uy lực của thác nước chảy từ núi Lư. Thác nước trắng xoá, chảy thẳng từ đỉnh núi cao xuống như treo trước dòng sông (quải tiền xuyên). Nước thác từ độ núi cao ba nghìn thước (tam thiên xích) chảy mạnh, đổ nước ào ào như bay thẳng từ đỉnh núi xuống (phi lưu trực há). Chỉ một câu thơ bảy chữ, nhà thơ đã diễn tả sự quy mô, khổng lồ và tốc độ đổ nước ghê gớm của thác núi Lư. “Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.” Thác nước núi Lư trắng xoá, lấp lánh, Lý Bạch ngỡ ngàng tưởng tượng như dải Ngân Hà với hàng triệu vì sao lấp lánh, kéo dài, rực sáng trên bầu trời cao. Vì thác nước núi Lư chảy từ độ cao ngang lưng trời tuôn nước xuống nên nhà thơ liên tưởng, so sánh với một dòng sông lớn, như dải Ngân Hà trên bầu trời cao. Cách so sánh vừa độc đáo vừa hợp lí làm cho người đọc rất đỗi bất ngờ, thú vị. Chi tiết “dải Ngân Hà tuột khỏi mây” tức là tuột khỏi bầu trời, từ bỏ bầu trời để rơi xuống mặt đất. Trần gian mà Lý Bạch miêu tả là một chi tiết vừa hư vừa thực, đầy sáng tạo, phù hợp với bút pháp lãng mạn của tác giả. Đặc điểm nghệ thuật nổi bật của bài thơ là tác giả sử dụng ngôn ngữ tinh luyện, chính xác và giàu hình ảnh. Trong mỗi câu thơ, Lý Bạch dùng một “thi nhãn”.(mắt thơ) để miêu tả. “Thi nhãn” ở đây là những dộng từ: “sinh” (phát ra- câu 1), “quải” (treo – câu 2). Hai động từ “phi lưu” (bay, chảy) diễn tả tốc độ mạnh mẽ, ghê gớm của dòng thác. Hai tính từ nối tiếp (thẳng xuống) gọn, dứt khoát, miêu tả tư thế thiên nhiên của thác núi Lưu. Nếu sự bất ngờ, đột biến của từ ngữ được thể hiện ở ba câu thơ trên thì đến câu thơ cuối, động từ “lạc” (rơi tuột) được tác giả tài tình, khéo léo, làm bật nổi nội dung của toàn bộ bài thơ. Thác núi Lư từ trạng thái “treo” (quải), “bay chảy” (phi lưu) và cuối cùng Lý Bạch có cảm giác nó như một dải Ngân Hà từ bầu trời “rơi tuột” (trực há) xuống trần gian. Hình ảnh thác nước núi Lư như “dải Ngân Hà tuột khỏi mây” làm người đọc liên tưởng đến hình ảnh “sông Hoàng chảy vỡ núi Côn Lôn” (Công vô độ hải), “sông Hoàng sợi tơ từ trời xuống” (Tây nhạc vân đài ca tống dan khâu) và “sông Hoàng từ trên trời rơi xuống” (Bài tặng Bùi thập Tứ). Bức tranh thiên nhiên vẽ thác núi Lư Được Lý Bạch miêu tả đầy đủ, vừa khéo, vừa tình. Tả thác nước mà có núi sông, ánh nắng mặt trời, dải ngân hà, trời cao, mây trắng,… Bài thơ không có từ ngữ nào nói đến con người, nhưng người đọc lại hình dung ra dược con người, một con người nhỏ bé bị bao trùm, bị thu hút trước cảnh thiên nhiên rộng lớn. Hình bóng con người đứng từ xa ngắm nhìn thác núi Lư, bị ngỡ ngàng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, bị bất ngờ trước sức mạnh tự nhiên của thác núi Lư chính là Lý Bạch. Một con người lãng mạn, với tâm hồn phóng khoáng mới có được bút pháp miêu tả tưởng tượng, phong phú khác thường như thế. Dưới ngòi bút tài tình của nhà thơ, con người dù có lớn lao, khả năng to lớn đến đâu cũng cảm thấy nhỏ bé, thấp kém trước thiên nhiên rộng lớn, uy nghi.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Xa ngắm thác núi Lư của Lý Bạch
1,181
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Đi đường là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 30 trong “Nhật kí trong tù”. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải lui giải tới qua nhiều nhà lao trên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trải qua cay đắng thử thách nặng nề, Người gửi gắm bao suy nghĩ, cảm xúc của mình vào bài thơ Đi đường này. Bài được tác giả Nam Trân dịch thành thơ: Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Tác giả mượn chuyến đi đường để nêu lên cảm nhận đường đời vô cùng khó khăn, gian khổ: phải có quyết tâm cao, nghị lực phi thường mới chiến thắng thử thách, mới giành được thắng lợi vẻ vang. Câu thơ thứ nhất trong bài nói lên một kinh nghiệm, một chiêm nghiệm trong cuộc sống, đó là chuyện đi đường và nỗi khó khăn của chuyện đi đường. Đối với nhà thơ, con đường được nói tới không chỉ là con đường đang đi mà là con đường cách mạng. Con đường đó vô cùng nguy hiểm, là gươm kề tận cổ, súng kề tai. Hình ảnh con đường được miêu tả bằng điệp từ trập trùng đã làm nổi bật với bao gian khổ. Trong câu thơ có chữ cao đã nói lên những khó khăn trên con đường mà Bác miêu tả trong bài thơ. Hai câu thơ đầu về mặt văn chương ngữ nghĩa không có gì mới. Việc đi đường gặp khó khăn thường xuất hiện trong các áng văn cổ. Tuy nhiên, trong thơ Hồ Chí Minh nó được thể hiện một cách sâu sắc và có tính chiêm nghiệm, nó cho thấy một trải nghiệm của con người bao nhiêu năm trên đường bôn ba cứu nước. Con đường mà người chiến sĩ ấy vượt qua đâu chỉ có núi cao mà còn đầy phong ba bão táp, trên những đại dương bao la hay miền sa mạc cát trắng. Hai câu thơ cuối kết thúc theo quan hệ điều kiện – nhân quả. Khi đã chiếm được đỉnh cao chót vót thì muôn dặm nước non thu vào trong tầm mắt: Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Muốn vượt qua các dãy núi để lên được trên đỉnh thì phải có quyết tâm và nghị lực lớn, chỉ có vậy mới giành được thắng lợi cuối cùng. Câu thơ hàm chứa bài học quyết tâm vượt khó, nêu cao ý chí và nghị lực trong cuộc sống để giành thắng lợi. Bài học này là bổ ích cho tất cả mọi người. Tags:Văn 8
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh – Đề và văn mẫu 8
473
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Đi đường là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 30 trong “Nhật kí trong tù”. Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải lui giải tới qua nhiều nhà lao trên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trải qua cay đắng thử tháchnặng nề, Người gửi gắm bao suy nghĩ, cảm xúc của mình vào bài thơ Đi đường này. Bài được tác giả Nam Trân dịch thành thơ: Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Tác giả mượn chuyến đi đường để nêu lên cảm nhận đường đời vô cùng khó khăn, gian khổ: phải có quyết tâm cao, nghị lực phi thường mới chiến thắng thử thách, mới giành được thắng lợi vẻ vang. Câu thơ thứ nhất trong bài nói lên một kinh nghiệm, một chiêm nghiệm trong cuộc sống, đó là chuyện đi đường và nỗi khó khăn của chuyện đi đường. Đối với nhà thơ, con đường được nói tới không chỉ là con đường đang đi mà là con đường cách mạng. Con đường đó vô cùng nguy hiểm, là gươm kề tận cổ, súng kề tai. Hình ảnh con đường được miêu tả bằng điệp từ trập trùng đã làm nổi bật với bao gian khổ. Trong câu thơ có chữ cao đã nói lên những khó khăn trên con đường mà Bác miêu tả trong bài thơ. Hai câu thơ đầu về mặt văn chương ngữ nghĩa không có gì mới. Việc đi đường gặp khó khăn thường xuất hiện trong các áng văn cổ. Tuy nhiên, trong thơ Hồ Chí Minh nó được thể hiện một cách sâu sắc và có tính chiêm nghiệm, nó cho thấy một trải nghiệm của con người bao nhiêu năm trên đường bôn ba cứu nước. Con đường mà người chiến sĩ ấy vượt qua đâu chỉ có núi cao mà còn đầy phong ba bão táp, trên những đại dương bao la hay miền sa mạc cát trắng. Hai câu thơ cuối kết thúc theo quan hệ điều kiện – nhân quả. Khi đã chiếm được đỉnh cao chót vót thì muôn dặm nước non thu vào trong tầm mắt: Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Muốn vượt qua các dãy núi để lên được trên đỉnh thì phải có quyết tâm và nghị lực lớn, chỉ có vậy mới giành được thắng lợi cuối cùng. Câu thơ hàm chứa bài học quyết tâm vượt khó, nêu cao ý chí và nghị lực trong cuộc sống để giành thắng lợi. Bài học này là bổ ích cho tất cả mọi người. LUYỆN TẬP Đề 1. Trình bày hoàn cảnh ra đời và nội dung chính trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh. Đề 2. Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh. Đề 3. Tính triết lí được thể hiện như thế nào trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh? Đề 5. Cảm nhận về tính triết lí trong bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh.
Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh
531
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài tùy bút Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng. Bài làm Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng (1913 – 1984) sinh tại Hà Nội, là nhà văn và nhà báo bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Ông có sở trường về truyện ngắn, tùy bút, bút kí. Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn vừa viết văn, làm báo, vừa hoạt động cách mạng. Bài văn này trích từ thiên tùy bút Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt in trong tập Thương nhớ mười hai. Tác phẩm được viết trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, tác giả phải sống trong vùng kiểm soát của Mỹ – ngụy, xa cách quê hương đất Bắc, Nhà văn đã gửi vào trang sách nỗi niềm thương nhớ quê hương, gia đình tha thiết và lòng mong mỏi đất nước hòa bình, thống nhất. Điều đó thể hiện qua hoài niệm về cảnh sắc thiên nhiên và phong vị cuộc sống hằng ngày của Thủ đô Hà Nội với vẻ đẹp mang đậm bản sắc văn hóa tinh tế của một vùng và cũng là của chung đất nước. Nói đến tình yêu nồng nàn của mình đối với mùa xuân, tác giả mượn quy luật để khẳng định: Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì Lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân. Giọng văn du dương, trầm bổng, giàu chất thơ của Vũ Bằng đã đưa chúng ta vào thế giới hồi ức miên man, dạt dào cảm xúc. Thế giới ấy là một phần không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của kẻ tha hương. Nhà văn nhắc đi nhắc lại như lời tỏ tình thiết tha, say đắm: Mùa xuân của tôi… mùa xuân thần thánh của tôi… Điều đó chứng tỏ tình yêu mùa xuân đã thấm sâu vào tâm hồn, vào máu thịt của người con đất Bắc. Để nhấn mạnh sức sống và sự cuốn hút kì lạ của mùa xuân, tác giả đã dùng cách nói cường điệu ; cường điệu mà vẫn rất tự nhiên: Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người cứ căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh. Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn… Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa… Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Không khí ấm áp mùa xuân còn hiện lên trong khung cảnh gia đình ngày Tết với bàn thờ, đèn nến, hương trầm… và tình cảm cha con, vợ chồng, anh em quấn quýt, sum vầy. Viết về những cảnh này, giọng điệu của tác giả vừa sôi nổi nhiệt thành, vừa da diết lắng sâu. Điều đó đã tạo nên âm hưởng trữ tình và sức truyền cảm mạnh mẽ của đoạn văn. Cuối bài văn, tác giả tập trung miêu tả những nét riêng của trời đất, thiên nhiên vào thời điểm từ sau ngày rằm tháng giêng Âm lịch. Khả năng quan sát sắc sảo và cảm nhận tinh tế của tác giả được thể hiện qua những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu và những từ ngữ trau chuốt, chọn lọc: … Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu Giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác. Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lý, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sóng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột.
Phát biểu cảm nghĩ về bài tùy bút Mùa xuân của tôi của Vũ Bằng
821
Phát biểu cảm nghĩ về bài văn Mẹ tôi của nhà văn Ét-môn-đô dờ A-mi-xi. Bài làm Ét môn-đô dơ A-mi-xi là nhà văn, nhà báo và nhà thơ người Ý. Tấm lòng (Những tấm lòng cao cả) là tác phẩm nổi tiếng của ông đã đưa ông ra phạm vi toàn thế giới, tác phẩm là sự phản ánh giai đoạn thiếu nhi của 2 người con trai ông, tác phẩm đã để lại cho tôi một cảm xúc khó diễn tả, thực sự ấn tượng với cách viết của ông. Trong đó đoạn trích “Mẹ tôi” là đoạn để lại cho tôi nhiều cảm xúc nhất, đọng lại sâu sắc nhất trong tâm trí. “Mẹ tôi” nói về tình mẫu tử thiêng liêng. Vì đứa con trai không hiểu chuyện, không hiểu về tình yêu mẹ dành cho nó mà khiến mẹ phải đau lòng nên người cha đã phải kìm nén sự tức giận và viết cho người con trai một tâm thư, mong người con có thể giác ngộ và cầu xin sự tha thứ từ người mẹ. Người con trai tên là En-ri-cô, trong một lần cô giáo đến thăm, En-ri-cô nhỡ thốt ra một lời thiéu lễ độ với mẹ. Và người cha đã nhìn thấy toàn bộ điều đáng xấu hổ ấy, cố gắng kìm nén lại sự giận dữ. “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”, lời đầu tiên của ông là lời răn đe nghiêm khắc đối với En-ri-cô. Ông đã thực sự tức giận con trai khi có hành động thiếu suy nghĩ như thế. Đến lời sau dường như ông đã cố nén lại gọi con trai một cách nhẹ nhàng, thân thương “ En-ri-cô của bố ạ”,”Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy”, đến đây không còn là sự tức giận nữa mà là sự đau đớn, sự bất lực của một người cha khi thấy đứa con của mình trở nên hư đốn và không thể dạy dỗ, trái tim của ông thực sự đang rỉ máu. Nhưng ông cố gắng giữ bình tĩnh để giảng giải cho En-ri-cô đi đúng hướng, học được điều hay lẽ phải. “Hãy nghĩ kỹ điều này, En-ri-cô ạ: Trong đời con có thể trải qua những ngày buồn thảm, nhưng ngày buồn thảm nhất sẽ là ngày con mất mẹ”. Sau đó, người cha đã phải phân tích cho con hiểu được rằng không ai có thể thay thế được người mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng mình nên người. Ông nghiêm khắc cảnh tỉnh con trai: “Có thể có lúc con sẽ mong ước tha thiết được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay ra đón vào lòng. Dù có lớn khôn, khoẻ mạnh thế nào đi chăng nữa, con vẫn sẽ tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che. Con sẽ cay đắng khi nhớ lại những lúc làm mẹ đau lòng… Con sẽ không thể sống thanh than, nếu đã làm cho mẹ buồn phiền. Dù có hối hận, có cầu xin linh hồn mẹ tha thứ… tất cả sẽ chỉ vô ích mà thôi. Lương tâm con sẽ không phút nào yên tĩnh. Hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình”. Hơn cả vậy, ông còn khẳng định thậm chí là nói cực đoan với cậu con trai: “Bố rất yêu con, En-ri-cô ạ, con là niềm hi vọng tha thiết nhất đời của bố, nhưng thà rằng bố không có con, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ”. Câu nói cảnh tỉnh con trai xuất phát từ tình yêu, lòng mong muốn đứa con mau chóng trưởng thành của người cha. Lời nói nhẹ nhàng, không hề quát tháo, măng mỏ nhưng nghe như đau xuyên thấu cả tâm can: “Con hãy nhớ rằng, tình yêu thương kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình thương yêu đó…” “Mẹ tôi” kết thúc trong lời cuối của người cha mà khiến cho chính chúng ta cũng trăn trở: “Thôi, trong một thời gian con đừng hôn bố, bố sẽ không thể vui lòng đáp trả lại cái hôn của con được”, có nghĩa là người cha còn chưa thể dễ dàng tha thứ được vì cậu con trai đã phạm đến khía cạnh quan trọng của đạo làm con. Bởi bổn phận, trách nhiệm và lòng hiếu thảo của con cái đối với bố mẹ là thước đo nhân phẩm, phẩm chất đạo đức của con người. Có lẽ, tôi cũng đồng cảm giác như En-ri-cô vì bao lần làm mẹ buồn phiền, làm mẹ lo lắng… Đọc tác phẩm, chính bản thân mình cũng tỉnh ngộ và cảm thấy hối lỗi vì nhiều chuyện trong quá khứ. Tôi sẽ cố gắng thật nhiều để bù đắp cho cha mẹ, để cha mẹ có thể tự hào và không cần băn khoăn, suy nghĩ về tôi. Tôi trân trọng từng giây phút hạnh phúc bên gia đình và cảm thấy thật biết ơn khi được ở bên bố mẹ bởi: “Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ-Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”.
Phát biểu cảm nghĩ về bài văn Mẹ tôi của nhà văn Ét-môn-đô dờ A-mi-xi
896
Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát châm biếm Bài làm Trong kho tàng – dân ca Việt Nam, cùng với những bài ca về tình cảm gia đình, những bài ca tình yêu quê hương đất nước, con người, những tiếng hát than thân, mảng ca dao châm biếm chiếm một số lượng đáng kể. Những câu hát châm biếm đã thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam. Qua các hình thức ẩn dụ, tượng trưng, biện pháp nói ngược vù phóng đại, v.v. những câu hát châm biếm đã phơi bày các sự việc mâu thuẫn, ngược đời, phê phán những thói hư, tật xấu, những hạng người và hiện tượng đáng cười, đáng chê trách trong cuộc sống. Nói khác đi, ca dao châm biếm là vũ khí tinh thần sắc bén của nhân dân ta. Trong số hàng trăm, hàng ngàn câu ca dao châm biếm, bốn bài trong văn bản Những câu hát châm biếm và ba bài đọc thêm mà học sinh lớp 7 được học có lẽ là tiêu biểu nhất. Trước hết, chúng ta thử điểm mặt xem đối tượng nhân dân ta châm biếm, chê trách là hạng người nào, là hiện tượng gì? Đó là “chú tôi” – một chàng trai làng – nào đó, là một ông thầy bói, là một “cậu cai” (trong bài học chính). Đó là một ông thầy cúng luôn tay gõ chập cheng, là “con mèo” – một loại quan chức, địa chủ trong làng. Đó còn là ông “quan tướng” (trong phần đọc thêm), về hiện tượng xã hội, ca dao châm biếm tập trung nói tới việc ma chay trong làng (bài 3, văn bản chính), hoặc cưới hỏi, lễ bái ở đình chùa… Tất cả những chân dung con người ấy điển hình cho loại người vô công rồi nghề, loại người chức sắc, quan lại từ nhỏ đến lớn, loại người chuyên nghề mê tín dị đoan,… Họ lười biếng, bê tha, gian dối, tàn ác, sách nhiễu nhân dân, gây ra biết bao hiện tượng tiêu cực trong xóm ngoài làng, gieo biết bao đau khổ cho nhân dân. Họ thật đáng cười, đáng chê trách và lên án. Trước hết là cái anh chàng “chú tồi” mà tác giả bài ca muốn giới thiệu với “cô yếm đào” xinh đẹp, trẻ trung. “Chú” lười biếng và lắm thói hư, tật xấu. “Chú” nghiện rượu (hay tửu, hay tăm), nghiện chè (hay nước chè đặc), thường ngủ muộn, thích nằm dài mong nhiều “ngày mưa”, ước đêm kéo dài (thừa trống canh) để không phải ra đồng cày ruộng. Tác giả bài ca đã sử dụng điệp từ (“hay” nhắc lại bốn lần, “ngày” hai lần, “ước” hai lần, “đêm” hai lần) gợi cảm giác kéo dài, quanh quẩn, rất bức bối, khó chịu. Đồng thời, lối chơi chữ, nói ngược (hay tửu, hay tăm, hay nước chè đặc,…) bên ngoài có vẻ như khen ông chú tài giỏi, nhưng thực ra là để giễu cợt, chê trách. Lời nhẹ nhàng, đùa vui hóm hỉnh nhưng ý nghĩa phê phán khá sâu cay. Tiếp sau chân dung “chú tôi” là chân dung ông thầy bói và “cậu cai”. Ở bài thứ hai, tác giả nhại lời thầy bói, ghi âm nguyên văn những lời phán của thầy trước một cô gái mê tín. Thầy đoán về những điều gì và phán thế nào? Toàn là những điều quan trọng mà cô “đệ tử” ước ao điều tốt lành, điều mới mẻ. Nhưng thầy phán toàn là những lời vô nghĩa, những điều vốn nó như thế, hiển nhiên chẳng cần bói toán, suy đoán gì cả. “Số cô chẳng giàu thì nghèo – Ngày ba mươi tết thịt treo trong nhà…”, đấy là thầy đoán về “tài lộc” của cô gái. Còn về “gia cảnh”, về “nhân duyên” thì… “cô có mẹ, mẹ là đàn bà, có cha, cha là đàn ông, cô sẽ có chồng, có chồng sẽ có con, con gái hoặc con trai”… Rõ ràng cái nhà ông thầy bói này chỉ ba hoa, mồm mép, nói những điều ai cũng biết. Tục ngữ ta có câu “thầy bói nói mò”. Ông thầy bói này không chí “nói mò” mà nói lăng nhăng, vô vị, thật đáng cười. Đáng cười hơn nữa là giọng nói của thầy. Tác giả dân gian đã sử dụng nghệ thuật “nói nước đôi”, nói phóng đại, càng nói càng vô vị, vô nghĩa. Rõ ràng, bài ca dao đã phê phán những ke hành nghề mê tín dị doan, lừa bịp lòng tin của người khác để kiếm tiền. Đồng thời, bài ca cũng giễu cợt, phê phán những người ít hiểu biết, thiếu niềm tin cuộc sống, tìm đến sự bói toán, lễ bái vu vơ, phản khoa học, nhiều khi thêm lo nghĩ không cần thiết “Bói ra ma, quét nhà ra rác”. Cha ông ta từng nhắc nhở như thế. Phê phán ông thầy bói, bài ca dao đồng thời cảnh tỉnh chúng ta. Còn “cậu cai” – trong bài thứ tư – thì có gì đáng phê phán và cách phê phán thế nào? Chân dung “cậu cai” được vẽ bằng hai nét đối chọi nhau. Hằng ngày cậu ăn mặc khá sang trọng, nào “nón dấu lông gà”, nào “ngón tay đeo nhẫn”. Nhưng khi có công việc, cần sự sang trọng, cần uy quyền thì “Áo ngắn đi mượn, quần dài di thuê”, nghĩa là cậu chẳng có của cải, tài năng đích thực gì. Đó là một thân phận rởm, uy quyền rởm mà thôi! Tác giả dân gian đã dùng nghệ thuật đối lập (bên ngoài oai vệ bên trong tầm thường) kết hợp với cường điệu (ba năm một chuyến sai, áo mượn, quần thuê) để hạ bệ “cậu cai”, cũng có nghĩa là châm biếm, phê phán tầng lớp thống trị xưa. Chúng lố lăng, bắng nhắng, nhưng bản chất thì rất tầm thường, quyền hành thảm hại đến nực cười…
Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát châm biếm
1,021
Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người Bài làm Nếu ca dao – dân ca về tình cảm gia đình thường là những bài hát ru, thì ca dao – dân ca về tình yêu quê hương, đất nước, con người thường là những bài hát đối đáp, những khúc ca ngẫu hứng tự nhiên cất lên trong sinh hoạt cộng đồng, trong lễ hội, khi ngoạn cảnh, lúc đứng ngắm đồng ruộng quê hương,… Chùm ca dao Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người (Ngữ văn 7, tập một) có lẽ là những bài ca tiêu biểu. Điều thú vị là chỉ bốn bài ca ngắn gọn mà chúng ta nghe được nhiều giọng điệu khác nhau, nhìn ngắm, thưởng thức được nhiểu địa danh, nhiều phong cảnh kì thú khác nhau. Ở bài ca dao thứ nhất, chàng trai, cô gái hỏi – đáp về những địa danh mang những đặc điểm nổi bật. Thành Hà Nội năm cửa, sông Lục Đầu sáu khúc chảy êm đềm, nước sông Thương bên đục bên trong, núi Tản Viên, đền Sòng, thành tiên ở Lạng Sơn… Chàng trai hỏi, cô gái đáp, hỏi đáp rất hài hoà, ăn ý. Đây là một hình thức ca hát dân gian thường xuất hiện trong những lễ hội, hội mùa xuân, hội mùa thu ở nhiều vùng quê Việt Nam: hội hát xoan Phú Thọ, hội Lim Bắc Ninh, hát phường vải Nghệ – Tĩnh, hát ví ghẹo, giao duyên ở đồng bằng Bắc Bộ, ở miền Trung và nhiều tỉnh Nam Bộ,… Qua hát đối đáp, đồi bên nam, nữ (có thể là chàng trai cô gái, cũng có thể là cụ ông, cụ bà,…) thử tài nhau về kiến thức lịch sử, địa lí, văn hoá, cũng là để chia sẻ với nhau tình yêu nam nữ, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước. Lắng nghe lời hỏi, đáp của hai nhân vật trữ tình trong bài ca ơ đâu năm cửa nàng ơi… chúng ta thấy hiện lên nhiều địa danh từ thủ đô Hà Nội đến Hải Dương, Bắc Giang, vào Thanh Hoá, rồi ngược Lạng Sơn. Mỗi vùng có một nét đẹp riêng, hợp thành một bức tranh non nước Việt Nam thơ mộng, giàu truyền thống văn hoá. Không trực tiếp nói ra, nhưng cả nsười hỏi lẫn người đáp đều biểu hiện tình yêu, niềm tự hào vể quê hương, Tổ quốc mình. Bài ca còn kéo dài hơn nữa. Chẳng hạn, chàng trai hỏi tiếp: Ở đâu có chín từng mây Ở đâu lắm nước, ở đâu nhiều vàng? Chùa nào mủ lại ở hang Ở đâu lắm gỗ thì nàng biết không?… Cô gái đáp: Trên trời có chín từng mây Dưới sông lắm nước, núi nay nhiều vàng Trên rừng lắm gỗ, hỡi chàng biết không… Như vậy, chàng trai, cô gái trong cuộc hát giao duyên này nói riêng, nhân dân lao động Việt Nam ta nói chung không chỉ say đắm, mến yêu, tự hào về giang sơn Việt Nam cẩm tú mà còn tỏ ra là những người lịch lãm, hào hoa, tế nhị và giàu hiểu biết, thật đáng noi theo. Tiếp sau những cuộc hát đối đáp là những chuyến du lịch. Một nhóm người, hoặc cả đoàn người đông vui chung niềm khao khát được thưởng thức cảnh đẹp ở đất kinh kì, ở xứ Huế cố đô “rủ nhau”, gọi nhau… Cảnh ở kinh kì thật phong phú, có hồ (Kiếm Hồ), có cầu (Thê Húc), có đền (Ngọc Sơn), có đài, có tháp, cảnh thiên tạo hài hoà với cảnh nhân tạo, nét đẹp tự nhiên hài hoà với nét đẹp lịch sử, văn hoá. Còn ở Huế, cảnh mới thơ mộng làm sao, đường quanh quanh uốn lượn hài hoà với “non xanh”, “nước biếc”, sơn thuỷ hữu tình. Với cảnh ở Hà Nội, tác giả dân gian không tả mà chỉ kể, theo kiểu liệt kê, các chi tiết cảnh nối nhau thật phong phú, đa dạng. Còn với Huế, cảnh được miêu tả theo kiểu chấm phá lướt qua: đường, núi, nước. Mỗi đối tượng được nhấn mạnh bằng một tính từ gợi hình. Đường thì “quanh quanh”, núi thì “xanh”, nước (sông Hương) thì “biếc”. Thêm nữa, từ láy hoàn toàn “quanh quanh” và phép so sánh “như tranh hoạ đồ” khiến cho xứ Huế càng… mộng và… thơ. Thăm Hà Nội kinh kì, rồi vô xứ Huế cố đô, chúng ta được ngắm cảnh, được thăm viếng những di tích lịch sử, văn hoá, lòng càng thêm yêu Tổ quốc tươi đẹp, trí càng thêm rộng mờ và lắng sâu, ghi nhớ công ơn người xưa đã tôn tạo và giữ gìn “bức tranh hoạ đồ” quý giá. Bài ca dao thứ tư, thú vị thay, giọng ca, lời ca phóng khoáng linh hoạt, cảnh thiên nhiên và nhân vật trữ tình hoà hợp, đậm chất đồng quê, khác hẳn hai bài trước: Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát, Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông. Thân em như chẽn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai. Về bố cục, bài ca dao này gồm hai phần vừa độc lập vừa gắn bó với nhau. Hai câu đầu tả cảnh đồng lúa trong buổi bình minh. Hai câu sau miêu tả dáng hình cô thôn nữ đẹp đẽ, thơ mộng như đồng lúa, như những chẽn lúa… về giọng điệu, đây là loại bài ca tự do, ngôn ngữ được nới rộng theo đối tượng miêu tả và tâm trạng nhân vật trữ tình. Hai câu đầu, mỗi câu kéo dài mười hai tiếng. Câu thứ ba không phái sáu tiếng mà là bảy tiếng. Chỉ câu bốn mới trở lại tám tiếng bắt vần với câu ba giống thể thơ lục bát. Đây là bài ca dao lục bát biến thể, một thể thơ khá phố biến trong kho tàng ca dao Việt Nam. Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người Nếu hiểu theo cách thứ nhất – lời chàng trai – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao tỏ tình, ví ghẹo. Ví dụ: Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Hoặc: Ai đi đâu đấy hỡi ai Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm. Mở đầu các bài ca này thường là tiếng gọi, rồi tiếp sau là một câu hỏi ỡm ờ, dưa duyên. Hoặc nếu không thì cũng là những lời ca ngợi khéo léo để làm đẹp lòng người mình đang hướng tới. Ví dụ: Trúc xinh trúc mọc đầu đình Em xinh, em đứng một mình cũng xinh. Nếu hiểu theo cách hai – lời cô gái – thì bài ca này thuộc nhóm ca dao mượn cảnh ngụ tình, trước thiên nhiên và cuộc sống, con người giãi bày tâm sự. Ví dụ: Một ngày hai buổi cơm đèn Còn gì má phấn, răng đen, hỡi chàng. Hoặc: – Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. – Thân em như hạt mưa sa… Suy ngẫm trên cơ sở văn bản, cả nội dung, cảm hứng lẫn giọng diệu, ngôn từ, có lẽ hiểu bài ca dao “Đứng bên ni đồng…” theo cách hai là sát hợp hơn. Đây là lời cô thôn nữ trước đồng ruộng quê hương, vừa ca ngợi cảnh đẹp cánh đồng vừa tự ngắm rồi dự cảm về thân phận mình. Nếu là lời chàng trai, e rằng không sát, vì không ai tỏ tình lại nói với đối tượng bằng từ “thân em” nghe không duyên dáng, thiếu tế nhị. Những bài ca dao trên có giọng điệu khác nhau nhưng mang vẻ đẹp nghệ thuật và nội dung, ý nghĩa thật phong phú. Điều chúng ta ghi nhớ nhất là: Những câu hát về quê hương, đất nước, con người thường gợi nhiều hơn tả, nhắc đến tên núi, tên sông, tên vùng đất với những nét đặc sắc vê hình thể, cánh trí, lịch sử, văn hoá của từng địa danh. Đằng sau những câu hỏi, lời đáp, lời mời, lời nhắn gửi và các bức tranh phong cảnh luôn là tình yên chân chất, tinh tế và niềm tự hào đối với quê hương, đất nước, con người…
Phát biểu cảm nghĩ về ca dao dân ca Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người
1,401
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao: “Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần”. Bài làm Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng nhất trong đời sống con người. Vì thế trong kho tàng văn học dân gian đã có biết bao tiếng hát, lời ru, câu chuyện… khuyên nhủ mọi người hãy xây dựng tình cảm gia đình đầm ấm, thuận hòa. Một trong những lời khuyên được lưu truyền rộng rãi là: Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần. Câu ca dao đã dùng hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi để lời khuyên dễ đi vào lòng người. Ai chẳng biết tay, chân là những bộ phận trên cùng một cơ thể con người. Tuy mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ khăng khít, bổ sung, hỗ trợ cha nhau. Anh em trong gia đình cũng vậy. Tuy mỗi người là một cá nhân riêng biệt nhưng đều cùng cha mẹ sinh ra, cùng chơi, cùng học, cùng lớn lên dưới một mái nhà. Vì thế, quan hệ anh em là quan hệ gắn bó máu thịt với nhau. Vậy anh em phải cư xử với nhau thế nào cho đúng? Người xưa khuyên nhủ: Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần. Anh em ruột thịt phải thương yêu, giúp đỡ nhau trên mỗi bước đường đời. Đùm bọc có nghĩa lằ giúp đỡ, che chở, chia sẻ cho nhau mọi nỗi buồn vui, mọi điều sướng khổ với tất cả tình cảm thương mến chân thành. Câu ca dao đưa ra một cách cư xử hợp tình hợp lí trong quan hệ anh em. Đây cũng là một chuẩn mực đạo đức để đánh giá phẩm chất con người. Đùm bọc, đỡ đần còn là trách nhiệm mỗi người anh, người em trong gia đình. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về tình anh em thắm thiết qua Sự tích trầu cau. Hai anh em sinh đôi họ Cao mồ côi cha mẹ, dắt nhau đên học ở nhà thầy đồ họ Lưu. Thấy họ nhường nhau bát cháo duy nhất, cô con gái thầy đồ cảm động và tình nguyện làm vợ người anh. Thế rồi chỉ vì một sự hiểu lầm mà người em xấu hổ phải ra đi Người anh ân hận bỏ nhà đi tìm em… Tình anh em sâu nặng đã khiến trời đất cảm động, biến anh thành cây cau, em thành hòn đá, mãi mãi bên nhau trong tục ăn trầu của người Việt. Bên cạnh việc ca ngợi tình anh em thắm thiết trong truyện Trầu cau, nhân dân ta cũng lên án người anh tham lam độc ác trong truyện Cây khế và dành cho hắn kết cục bi thảm là phải bỏ xác dưới đáy biển sâu.
Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao Anh em như thể tay chân…
486
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau,Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” Bài làm Gia đình là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người, là chiếc nôi đầu tiên khi một đứa trẻ chào đời, hình thành nhân cách cho con người. Một gia đình luôn sum vầy hạnh phúc, cha mẹ luôn sống đúng chuẩn mực xã hội, đạo đức sẽ hình thành cho đứa trẻ những nhân cách tốt. Chính vì vậy, khi người con gái tới tuổi phải đi lấy chồng, được gả về một nơi xa xôi khiến cho người con gái nhớ quê nhà, ngày đêm trông ngóng về quê hương, với nỗi nhớ khôn nguôi về gia đình, về những người thân yêu của mình Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều. Hai câu ca dao thể hiện sự đau xót, nỗi niềm của cô gái khi nhìn về quê hương của mình. Nhìn về nơi có gia đình thân thương với những tình cảm thân thương, sự gắn bó vô cùng thiêng liêng, sâu sắc. Điệp từ “chiều chiều” được lặp đi lặp lại, thể hiện một việc vô cùng quen thuộc, như một thói quen, thường trực nỗi nhớ nhung trong lòng người con gái xa quê, làm cho người đọc cảm thấy nhớ nhung ngậm ngùi cho thân phận của người con xa quê. Chiều tà là cảnh hoàng hôn, buông xuống bóng tối bao phủ khiến cho người nỗi buồn trong lòng người càng dâng lên da diết, khiến cho con người càng cảm thấy thê lương, tâm trạng nhớ nhà, nhớ người thân càng trở nên quay quắt, da diết vô cùng. Quê mẹ là nơi cô gái sinh ra lớn lên với những kỷ niệm ngọt ngào bên người thân. Biết bao kỷ niệm vui buồn sớm tối. Những kỷ niệm gia đình quây quần bên nhau, khiến cô gái vô cùng buồn phiền, nhớ nhung Bài ca dao thể hiện tình cảm ruột thịt giữa con cái và cha mẹ là tình cảm thiêng liêng sâu sắc không gì có thể sánh được, người con gái khi lớn lên phải gả tới nơi xa xôi nhớ nhung thương nhớ mẹ cha ở quê nhà. Giọng tâm tình đầy thương nhớ, lời thơ vô cùng dịu dàng sâu lắng khiến người đọc cảm thông với những tình cảm của người con gái xa nhà. Nỗi nhớ da diết chất chứa trong lòng người con gái khiến người con gái ruột đau như cắt. Tình cảm tha thiết nỗi nhớ quê hương là tình cảm mà bất cứ người con nào xa quê thường có. Nó thể hiện tình cảm thiêng liêng gia đình ruột thịt gắn bó với nhau không gì chia lìa được.
Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao Chiều chiều ra đứng ngõ sau,Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều!
462
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao:Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. Hướng dẫn Người phụ nữ xưa phải chịu rất nhiều bất hạnh trong cuộc sống. Họ không có quyền quyết định cho cuộc sống của mình mà phải phụ thuộc vào người chồng người cha. Có rất nhiều câu ca dao tục ngữ nói về thân phận người phụ nữ lúc bấy giờ, trong đó nổi bật là câu ca dao: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.” Câu ca dao là lời giãi bày tâm sự của một người phụ nữ vì hoàn cảnh mà phải lấy chồng xa. Do ảnh hưởng của những quan niệm phong kiến, người phụ nữ lúc bấy giờ chưa được quyền bình đẳng, phải hứng chịu những đau đớn trong cuộc đời. Việc lấy chồng là việc hệ trọng của đời người nhưng người phụ nữ thời đó phải chấp nhận cảnh cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, thậm chí phải lấy chồng lấy vợ từ khi lên năm lên ba. Sống trong nhà chồng người con gái đi lấy chồng xa thường phải chịu nhiều nỗi tủi hờn, đau khổ. Những lúc tủi phận, những lúc nhớ nhà nàng chỉ còn biết thui thủi ôm nỗi buồn mà “trông về quê mẹ”. Câu ca dao diễn tả tâm trạng người phụ nữ vào buổi chiều. Đó là thời điểm cuối ngày thường gợi nhiều suy nghĩ và thường gợi những nỗi buồn vương vất. Dân gian dùng từ láy Chiều chiều cho ta biết rằng không phải một buổi chiều mà chiều nào cũng vậy, khi thời gian bước vào cái giây khắc của ngày tàn, người phụ nữ lại “đứng ra ngõ sau” để “trông về quê mẹ” mà “ruột đau chín chiều”. Bước vào chiều tà không gian đã nhập nhoạng tối, người phụ nữ lại chọn địa điểm “ngõ sau” rất kín đáo để tự mình đối diện với lòng mình. “Ngõ sau” chẳng những gợi đến thân phận hèn mọn của phận dâu tôi mà kết hợp với thời gian chiều tối nó còn tạo ra một góc riêng cho người phụ nữ tội nghiệp ấy: một cái góc vừa tối vừa hẹp. Trong khung cảnh ảm đạm, hình ảnh người phụ nữ cô đơn thui thủi một mình càng nhỏ bé, đáng thương hơn nữa. Nàng lặng lẽ “Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Nhắc đến “mẹ” là nhắc đến điểm tựa tâm hồn của người con. Nhắc đến “quê mẹ” là nhắc đến những yêu thương, những đồng cảm, những sẻ chia làm ấm lòng người. Đặc biệt, từ “trông” không chỉ có nghĩa là nhìn mà còn có ý nghĩa là trông ngóng. Người phụ nữ “trông về quê mẹ” còn là đang khao khát những tình cảm ấm nồng, còn đang mong ngóng ngày trở về quê mẹ với những người thân yêu nhất của mình. Trong hoàn cảnh bèo dạt mây trôi nơi đất khách quê người, nàng trông về nơi ấy mà ruột đau chín chiều. Chín chiều là “chín bề”, là “nhiều bề”. Nỗi đau “chín chiều” là nỗi đau quặn thắt không nói nên lời, nó âm ỉ, nó dai dẳng làm mòn làm héo con người. Cách sử dụng từ ngữ có kết cấu vòng tròn đối xứng chiều chiều – chín chiều đã góp phần gợi tả bi kịch đời người phụ nữ: họ chẳng bao giờ thoát khỏi cái vòng trong khổ đau định mệnh. Tình cảnh và tâm trạng của người phụ nữ ấy vì thế mà càng nặng nề, đau xót hơn. Chỉ có hai câu thơ ngắn gọn nhưng chất chứa nhiều ý nghĩa sâu xa, câu ca dao đã lột tả được hết tâm trạng của người phụ nữ khi phải đi lấy chồng xa, tủi phận cô đơn, nhớ quê nhà, nhớ mẹ, bởi ở nơi đó không có chỗ nào là chỗ dựa cho người con gái bất hạnh ấy. Câu ca dao như một lời tố cáo cái xã hội phong kiến thối nát, đẩy người phụ nữ mềm yếu xuống bước đường cùng của cuộc sống.
Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao_ Chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
703
Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao: “Ngó lên nuột lạt mái nhà Bao nhiêu nuột lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” Bài làm “Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống đạo lý cơ bản của dân tộc Việt Nam. Là biểu hiện của lòng hiếu nghĩa, người dân vẫn còn phong tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ… Hay trong giân dan cũng lưu truyền rất nhiều câu ca dao thể hiện tình cảm với ông bà tổ tiên, trong đó đặc biệt phải kể đến bài ca dao: “Ngó lên nuột lạt mái nhà Bao nhiêu nuột lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” Trong câu ca dao ta có thể cảm nhận ra rõ ràng sự tinh tế của người xưa khi đem so sánh tình cảm của mình đối với gia đình mà đặc biệt ở đây là “ông bà” với những chiếc lạt để làm lên mái nhà. Ngày xưa, người ta thường lấy lạt chẻ bằng tre để buộc những mái gianh và để hoàn thành được những mái nhà như vậy cần rất nhiều nuột lạt, số nuột lạt ấy nhiều đến không thể đếm được. Chính vì thế mà tác giả không sử dụng một con số cụ thể nào mà sử dụng từ phiếm chỉ “bao nhiêu”, “bấy nhiêu” để thể hiện tình cảm lớn lao không từ ngữ nào diễn tả được hay mang ra “cân đo đong đếm” được. Qua cách thể hiện tình cảm của con cái đối với ông bà, cha mẹ; câu ca dao cũng nói lên đạo nghĩa về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam, đây là một truyền thống tốt đẹp đã được gìn giữ và phát huy qua bao nhiêu thế hệ. Ở đây, hành động “ngó lên” còn thể hiện sự thành kính, thành khẩn khi ngước lên,hướng về với lòng biết ơn đối với lớp người đi trước-những con người đã tạo nên sự bình yên, hạnh ohusc của dân tộc. Nhịp thơ chậm, âm điệu ngậm ngùi càng thể hiện rõ lòng thành kính ấy. Bài ca dao ngắn gọn nhưng đã gói ghém được tất cả ý nghĩa, ý tình sâu sắc mà thấm thía của con cháu dành cho ông bà, cha mẹ. Qua đó, nhắn nhủ với thế hệ sau hãy tôn trọng và giữ gìn những thành quả chúng ta đang có, sống ý nghĩa và bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, bởi lòng biết ơn là nền tảng của đạo làm người.
Phát biểu cảm nghĩ về câu ca dao_ Ngó lên nuột lạt mái nhà…
414
Phát biểu cảm nghĩ về cây bằng lăng Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về cây bằng lăng Nếu chúng ta chịu khó để ý sẽ nhận ra mùa nào cũng có hoa nở. Không phải chỉ mùa xuân mới có. Mùa xuân chỉ hơn một chút. Mùa xuân nhiều hoa nở hơn các mùa khác. Ai nói mơ hồ chỉ có hoa nở mùa xuân là không đúng. Hoa phượng, hoa ô môi đỏ rực suốt mùa hạ. Hoa bằng lăng báo tin mùa xuân đã hết, bắt đầu những ngày trời nắng. Cây bằng lăng buông từng chuỗi hoa. Tôi thích màu tím hoa bằng lăng. Cây bằng lăng non, cao cao, phất phơ một túm lá. Rồi mà xem, cây bằng lăng phố ta sắp sùm sòa ra. Khi mùa hạ tới, cây chi chít những chùm hoa tím. Con ong, con tò vò, con ve sầu, con cánh quít, cả đàn bướm nhung nhăng kia, tha hồ nhởn nhơ vào đây. Cây bằng lăng phố ta đẹp đến thế đấy. Nhưng, bằng lăng phố tôi còn non chưa có hoa và bây giờ bằng lăng chưa có chạc vững để chúng tôi trèo lên. Vẫn có thể chơi với bằng lăng được chứ. Phải tìm ra trò chơi với bằng lăng. Ai có nhớ trò kéo co hai đứa ngoằng cánh tay vào nhau, rồi kéo. Đứa thua thì cánh tay xõa ra. Đấy, chúng tôi đã nghĩ được cách thử sức với cây bằng lăng đương lớn bổng lên. Xem các cậu ấy có khỏe không. Vui với nhau mà. Thế là, cứ đi đâu về qua cây bằng lăng, chúng tôi lại xúm nhau vít cây xuống, vít thật mạnh, bắt chỏm ngọn cây uốn dẻo xuống tận mặt đất. Rồi buông cho cây vút lên, vù một cái, như cánh nỏ bật. Khỏe đấy, hoan hô bằng lăng! Khốn khổ, cây bằng lăng nào chúng tôi cũng chơi thử sức thế. Suốt ngày, có khi cả buổi tối, những cây bằng lăng cứ bị bắt buộc vi vút lên. Chẳng mấy hôm mà những cây bằng lăng đều phờ phạc, lử khử. Cây nào cũng bị lỏng gốc. Cây lắc lư, lảo đảo, chóng mặt héo lá. Mùa xuân tới rồi. Ngoài kia đương mưa phùn. Vòm trời âm u. Cả đến mảnh trời trên đầu tường cũng không nhìn thấy. Không phải tại sương mù ngoài hồ tỏa vào. Đây là mưa bụi, hạt mưa từng làn lăng quáng li ti đậu trên áo trên tóc. Phủi nhẹ một cái, rơi đâu mất. Mưa dây mưa rợ, mưa phơi phới như rắc phân mù mịt. Mưa phùn đem mùa xuân đến. Mưa phùn khiến những chân mạ gieo muộn này xanh lá mạ. Dây khoai, dây cà chua rườm rà xanh rợ các trảng ruộng cao. Mầm cây sao, cây nhội, cây bày hai bên đường nảy lộc. Mỗi hôm trông thấy mỗi khác. Những cây bằng lăng trơ trụi, lẻo khẻo, thiểu não như cái cọc cắm. Thế mà mưa phùn đã làm cho các đầu cành bằng lăng nhú mầm. Mưa bụi đọng lại, thành những bọng nước bọc trắng ngần như thủy tinh. Trên cành ngang, những hạt mưa thành dây chuỗi hạt trai lóng lánh, ở búi cỏ dưới gốc, ô mạng nhện bám mưa bụi, như được choàng mảng voan trắng.
Phát biểu cảm nghĩ về cây bằng lăng
551
Phát biểu cảm nghĩ về cô giáo chủ nhiệm của lớp em Hướng dẫn Chắc mỗi người trong chúng ta đều có một người thầy giáo, cô giáo để yêu quý, kính phục. Tôi cũng vậy, người cô giáo đã và đang để lại trong tôi nhiều sự yêu mến và kính phục nhất là cô giáo chủ nhiệm, không ai khác đó chính là cô giáo Thanh Hà-cô giáo chủ nhiệm lớp tôi. Cô đến với chúng tôi thật dịu dàng, ân cần từ đầu năm lớp 6. Tôi vẫn nhớ như in dáng vể của cô khi bước lớp, giọng nói ấm áp: “Cô sẽ là chủ nhiệm lớp chúng ta” đã làm cho chúng tôi cảm thấy ấm lòng và đỡ xa lạ trong môi trường mới mẻ này. Cô Hà là cô giáo chủ nhiệm một cô giáo vất vả hơn các cô giáo khác. Đối với chúng tôi cô là người mẹ hiền thứ hai của mình, cô luôn lo lắng, quan tâm đến những đứa con- những đứa học trò bé bỏng của mình. Chẳng phải chúng tôi sinh tuổi hổ (chúa sơn lâm) hay không mà đứa nào đứa nấy cũng nghịch ngợm mất trật tự kinh khủng. Có vẻ như đứa nào cũng muốn khẳng định tiếng gầm dũng mãnh của mình nên nói chuyện như chợ vỡ làm cô phải nhức đầu vì kỉ luật của lớp. Cô cũng gần 50 tuổi rồi – ở độ tuổi này cũng đâu còn khỏe mạnh gì nữa, vậy mà ngày nào cũng như ngày nào cô cũng đều lên lớp dù có tiết hay không có tiết để theo dõi tình hình của lớp. Để rồi khi lớp có bạn đi học muộn, có bạn chưa học bài hay bị ghi sổ đầu bài thì cô rất là lo lắng, cô lo lắng vì một phần là ảnh hưởng đến thi đua của lớp nhưng quan trọng hơn cả là ảnh hưởng đến sếp loại hạnh kiểm cuối năm của các bạn. Cô lo lắng, cô buồn, và có lúc cô giận cô mắng cả lớp làm tôi thấy sợ nhưng rồi lại thấy thương cô nhiều hơn. Nhiều bạn bảo cô khó tính và ghê gớm, cô rất nghiêm khắc với học sinh nhưng các bạn đâu biết những lúc đó cô buồn như thế nào! Các bạn cứ tưởng chỉ ảnh hưởng đến thi đua của lớp nhưng cáo ai biết rằng đằng sau đó là cô đang xấu hổ như thế nào khi lớp mình chủ nhiệm bị các cô giáo khác phê bình. Có lần cô nói với cả lớp tôi cũng thấy xấu hổ thay cô. Lớp chúng tôi rất nghịch và lười thế mà cô luôn sẵn lòng vì lớp. Lớp hư cô muốn đưa ra các hình phạt nhưng cô thương học sinh nên những hình phạt của cô tưởng là nặng nhưng hóa ra là nhẹ, nhưng cũng vì sự nhân nhượng và lòng độ lượng của cô đã khiến lớp tôi hiểu ra và tất cả đều cố gắng hơn để đưa lớp đi lên. Không chỉ có thế mà tôi lại càng yêu quí cô hơn qua những tiết học của cô. Cô là một giáo viên ngữ văn giỏi. Cô truyền cho chúng tôi những bài học bổ ích, những bài văn hay lí thú, những kiến thức nâng cao đặc biệt hay. Có lẽ tình thương học trò càng làm tôi yêu quí cô hơn và càng kính trọng cô nhiều hơn. Cô cho bài tập về nhà rõ một núi như vậy nhưng hôm sau cô tạo cơ hội cho các bạn trung bình làm bài dễ còn các bạn khá giỏi thì làm bài khó hơn một chút. Có thể giờ văn của cô hơi nặng nhọc một chút, nó không được vui vẻ như giờ anh, giờ toán nhưng với tôi nó thật nhiều ý nghĩa. Có thể cô Hà chưa phải là một cô giáo chủ nhiệm tâm lí nhất nhưng tôi chỉ dám chắc một điều rằng không cô giáo nào thương yêu học sinh của mình nhiều như cô. Cô ơi chúng em hứa sẽ ngoan hơn, sẽ biết hiểu cô hơn để cô bớt lo lắng để cô được vui vẻ, sao cho sau này khi nhắc đến chúng em cô sẽ cảm thấy và tự hào. Và chúng em cũng vậy sau này chắc ai cũng cảm thấy tự hào khi có một người mẹ thứ 2 của mình như cô.
Phát biểu cảm nghĩ về cô giáo chủ nhiệm của lớp em
751
Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông quê hương em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông quê hương em “Quê hương là còn đò nhỏ, êm đềm khua nước ven sông”. Tuổi thơ chúng ta ai mà chẳng gắn liền với dòng sông quê hương. Bao bài hát bao lời thơ đã gửi gắm tình cảm từ con sông ấy. Dòng sông quê hương – dòng sông của tuổi thơ, dòng sông ấp ủ tôi trong tình yêu thương, dòng sông đỏ màu phù sa, đỏ màu lúa chín, đỏ màu yêu thương. Phải chăng con sông này không chỉ bồi đắp từ phù sa mà còn bồi đắp lên từ tình yêu thương tha thiết? Văng vẳng bên sông tiếng ru ầu ơ, tiếng hò đò, tiếng mái chèo khua nước, và cũng văng vẳng bên sông tiếng trái tim, tiếng yêu thương nhẹ nhàng mà đằm thắm kì lạ! Còn nói được gì đây khi nghe thấy, cảm nhận thấy câu hát quan họ mượt mà, trữ tình vào một đêm trăng thanh ở bến sông? Đêm trăng thanh, đêm trăng vũ hội của dòng sông. Cùng dòng sông ấy, buổi sáng thì trong trẻo, mát lành, buổi chiều hoàng hôn đã ngự trị thì hồng rực lên, sáng ánh lửa còn khi trăng đã chui ra khỏi cái vỏ ngày thì dòng sông lại lấp lánh trong bộ xiêm áo của nàng lọ lem, sáng và đẹp đến lạ kì! Lắng nghe, bạn còn nghe thấy cả tiếng vĩ cầm du dương, réo rắt, lúc trầm, lúc bổng vang lên từ đáy sông. Đó chính là lúc sông đang hát đấy, sông đang hát lên khúc tình ca, sông đang hát lên, hát về cuộc đời của mình, hát về quê hương. Chỉ thế thôi, chỉ đơn giản là tiếng nước chảy thôi nhưng sao mà nặng tình đến thế, lòng người phải chăng cũng rung động trước thứ tình cảm ấy? Dòng sông ấy nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ của tôi, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón tôi vào trong làn nước mát lành. Tuổi thơ tôi tắm mát trong dòng sông yêu thương. Dòng sông ấy chứa đựng bao tình yêu thương của dân làng tôi, một tình yêu đơn sơ, giản dị mà thật cao quý. Tình yêu này vun đắp cho một tình yêu còn thiêng liêng và cao cả hơn, đó là tình yêu quê hương, đất nước, yêu xóm làng thân thuộc, để rồi từ nơi này bao người con đã ra đi không trở về nhưng tôi biết trong trái tim của họ vẫn in hình con sông yêu thương, dòng máu trong người họ chảy ra, mang màu con sông yêu thương vì chính họ cũng đã từng tắm trong dòng sông này. Sao quên được những ngày nắng hạn, dòng sông cạn nước, trong đêm thanh tôi nghe thấy tiếng khóc than ai oán của con sông, sao mà thương đến thế. Và cũng sao quên được những ngày mùa bội thu, mọi người cũng vui mà dòng sông cũng vui, tôi biết nó đang nghĩ gì, nó đang rất vui cùng dân làng. Con sông ấy cùng như một con người biết yêu thương, biết giận hờn, lúc vui lúc buồn. Tôi yêu dòng sông xiết bao.
Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông quê hương em
550
Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông tuổi thơ quê hương em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông tuổi thơ quê hương em Quê em là một ngôi làng nhỏ nằm ven sông Hồng, nhìn từ xa dòng sông như dải lụa mềm mại ôm trọn lấy ngôi làng. Con sông quê em đã trở thành kỉ niệm khó quên đối với những người con được sinh ra và lớn lên bên dòng sông thơ mộng này. Tuổi thơ em gắn bó với dòng sông ấy, dòng sông đã cho em biết bao nhiêu kỉ niệm êm đẹp. Buổi sáng vừa thức dậy, em đã nghe thấy âm thanh rộn rã của chiếc thuyền nhỏ đang trao đổi mua bán trên bến sông. Những âm thanh đó đã trở nên quen thuộc và gần gũi đối với người dân nơi đây. Vào thời điểm này, trên bến sông thường tấp nập hơn, họ đi mua cá tôm của những người dân xóm chài đánh bắt. Dòng sông vào buổi sáng thường cho ta cảm giác bình yên. Những con sóng nhỏ xô vào bờ ì oạp. Gió thổi dìu dịu trên triền đê khiến cho không gian càng trở nôn trong trẻo và thoáng đãng hơn. Gần trưa, mặt sông trở nên sáng bừng bởi những tia nắng chiếu xuống mặt nước, màu nước sông lúc này trở nên lấp lánh hơn. Hai bên bờ sông những hàng cây đung đưa theo gió. Buổi trưa nắng đã lên cao, mặt sông như trải rộng hơn và yên lặng hơn và có điểu gì gì đó như lao xao hơn. Trên bến, từng chiếc thuyền cần mẫn đưa khách qua sông. Buổi chiều thuyền ghe tấp nập qua lại, vang vang tiếng nói cười. Đối với lũ trẻ con chúng em, dòng sông còn là nơi để cả bọn gặp gỡ và chơi đùa thoả thích. Vào những chiều hè, khi ông mặt trời chiếu những tia nắng dìu dịu trên mặt sông cũng là lúc chúng em rủ nhau ra sông chơi. Mùa hè, nước ở gần bờ không sâu lắm, tắm lại mát. Bọn em chỉ cần bơi một lát là đến bãi bồi. Đó là khoảng đất trống rất rộng, tha hồ cho cả bọn chơi đùa. Từng tốp trẻ con nô đùa ầm ĩ, át cả tiếng sóng ì oạp vỗ bờ. Cát dưới chân chúng em mịn màng như nhung. Phía tây mặt trời đỏ rực, chiếu những tia nắng cuối cùng xuống dòng sông như một bức tranh lửa. Gió từ sông thổi lên mát rượi. Lũ trẻ con chúng em mang bóng ra đá, tiếng reo hò náo động cả bãi sông. Chán đá bóng chúng em lại rủ nhau tắm. Tất cả thi nhau lặn ngụp. Dòng sông hiền hòa êm ả trôi như bàn tay mẹ nhẹ nhàng vỗ về. Có những ngày mưa, nước dâng lên cao ngập lút bãi bồi. Dòng sông đỏ ngầu oàm oạp vỗ thân đê. Những cành củi to nhỏ lặng lẽ trôi; rồi bỗng nhiên bị lôi tuột vào một cái xoáy nhỏ, cả bọn thấy thế lại reo hò ầm ĩ. Thế rồi chỉ mấy ngày sau, nước rút, dòng sông lại trở về như xưa: hiền hòa, nhẫn nại và lẳng lặng trôi.
Phát biểu cảm nghĩ về dòng sông tuổi thơ quê hương em
545
Phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em văn 7 Ai cũng mơ ước có một nơi để nghỉ ngơi, thư giãn sau những giây phút căng thẳng trong cuộc sống. Nhà tôi có một nơi như vậy, đó chính là khu vườn nhỏ phía sau nhà. Khu vườn không to lắm và đã có từ rất lâu rồi. Tôi yêu cái vẻ rêu phong cổ kính lại xen lẫn với vẻ tươi sáng, trẻ trung bởi các loại cây tạo nên cho khu vườn. Khu vườn nhà em được bao bởi một hàng rào nhỏ thật xinh xắn mà cũng thật chắc chắn. Trong vườn, tôi trồng rất nhiều loài hoa và cây ăn quả. Rồi theo tháng năm, hoa hồng, hoa cúc, hoa lan thi màu nở rộ trong khu vườn bé nhỏ, rồi cùng với cây dưa leo, mỗi hoa, mỗi màu đã tạo nên một bức tranh đầy sức sống muôn màu, nhưng lại không hề lòe loẹt, lộn xộn mà điểm xuyết nét hài hòa, thanh nhã của thiên nhiên làm cho tôi không thể không say mê và thán phục. Rồi đến các cây ăn quả, cây nào cũng cao, cũng to và tươi mát. Trừ những thân cây sần sùi, màu nâu tẻ nhạt và lạnh lẽo, các cây khi đứng cạnh nhau lại tạo ra một sắc thái vô cùng thân thiện và trìu mến, lại thoáng chút yên tĩnh cho chúng ta cảm giác thật thoải mái và gần gũi với thiên nhiên, những vòm cây xanh mướt sẽ là những chiếc lá chắn tuyệt vời, che chở cho chúng ta khỏi những giây phút căng thẳng ngoài cuộc sống. Tôi yêu sao cái vẻ đẹp muôn hình, muôn vẻ đó. Buổi sáng, khi ánh bình minh lên, khu vườn toát lên một vẻ trẻ trung, tươi mát với những trái cam, trái táo mọng và đầy sức sống. Và khi buổi chiều xuống, cái màu xanh của lá hơi rũ xuống như an ủi, vồ vé cho tôi khỏi buồn nhớ. Vào buổi tối, khu vườn trầm xuống, hòa nhập với vẻ thanh tĩnh bên ngoài. Tôi còn nhớ mãi, ngày xưa, khu vườn này khô cằn, chỉ có một vài đốm hoa nhưng sau bao nỗ lực chăm sóc của ông cháu tôi nó đã trở thành một khu vườn vừa đẹp, vừa tươi sáng, vừa hữu ích. Khu vườn là nơi mà tôi đã được rèn luyện tính chịu khó, yêu thiên nhiên và cũng là nơi mà tôi nghỉ ngơi, thư giãn, là nơi mà tâm hồn tôi được nuôi dưỡng. Nhờ tình yêu tràn đầy với khu vườn mà tôi đã coi khu vườn là một phần của cuộc sống. Mất khu vườn là tôi mất hết lý trí. Khu vườn đối với tôi là những gì thân thương nhất, gần gũi là nơi tôi không thể quên. Làm sao không yêu được một khu vườn như thế.
Phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em văn 7
496
Đề bài: Khu vườn là nơi gắn liền với tuổi thơ của em. Em hãy nêu cảm nghĩ của mình về khu vườn đó. Bài làm Khu vườn – nơi những loài hoa nở rộ và thi nhau đua sắc nhưng đối với tôi, khu vườn không chỉ có thế, nó ẩn chứa ý nghĩa sâu sắc gắn liền với tuổi thơ tôi. Ngày bé, thứ mà trẻ con thích nhất là những món đồ chơi đủ màu sắc, kích cỡ những thứ mà tôi thích thú nhất lại là khu vườn, một khu vườn nhỏ bé nhưng chứa bao nhiêu kỷ niệm về người mà tôi yêu quý nhất, bà nội tôi. Ai chả muốn có một khu vườn trong nhà, có những bông hoa rực rỡ, tôi cũng vậy từ ngày bé tôi luôn ước mong có một khu vườn nhỏ. Tôi yêu những loài hoa, tôi yêu cái cảm giác xung quanh mình là cây cỏ, là hương thơm. Khi bà nội tôi ở quê lên bà đã đem cho tôi nhiều cây hoa và đặt ở trước khoảng sân trước nhà. Từ khi ấy, tôi có một khu vườn như ước mơ. Thật hạnh phúc khi nhà mình có một khu vườn. Sáng sáng, mỗi khi thức dậy, tôi đều đứng ra cửa hít thở không khí trong lành và mùi thơm thoang thoảng từ những đóa hoa. Khung cảnh như một bức tranh thật đẹp, có màu sắc, có hương thơm và có cả âm thanh từ những tiếng chim hót ríu rít. Từ ngày bà nội lên, tôi rất vui vì bà đã đem lại cho tôi điều mà tôi mong từ lâu. Tôi yêu quý khu vườn không chỉ vì nó là ước mong của tôi mà đó cũng là món quà, là tấm lòng của bà cho tôi. Tôi chăm sóc từng cành cây, từng bông hoa thật chu đáo, hàng ngày tôi và bà đều tưới nước, bắt sâu, bà còn tỉa nhiều cây thành hình con đại bàng, con nai.. Vì thế mà khu vườn càng thêm rực rỡ. Dưới ánh nắng vàng, khu vườn làm cả nhà tôi như sáng lên cùng cây cỏ. Cứ rảnh rỗi, bà lại kể cho tôi nghe về nguồn gốc của từng loại cây. Từ khi có khu vườn, tôi như thêm vui vẻ, nó như người bạn thân thiết của tôi, như chiếc cầu vô hình nối tình cảm của tôi bà càng thêm sâu đậm. Nhiều khi nằm một mình trong khu vườn nhỏ vuông vắn, tôi lại cảm thấy thoải mái kỳ lạ, có chuyện gì vui hay buồn, tôi đều như có một người bạn ở bên cùng chia sẻ, cùng nói chuyện với tôi làm tôi bớt căng thẳng hay buồn bực. Bây giờ bà đã về nhưng thỉnh thoảng bà vẫn gửi cho tôi những cây hoa đẹp và dặn dò tôi chăm sóc chúng cẩn thận. Nhìn khu vườn, tôi lại nhớ đến bà, nó như thay bà nói chuyện, tâm tình cùng tôi. Giờ đây, từng chiếc lá, từng cánh hoa đều thật sự gắn bó với tôi, cứ như thế, nó như đã là một phần cuộc sống của tôi. Một khu vườn nhỏ bé nhưng ý nghĩa của nó iại thật sâu sắc. Những cành cây, bông hoa tưởng như một vật vô tri vô giác nhưng lại là một con người khích lệ tinh thần tôi mỗi khi gặp khó khăn. Mỗi bông hoa nở như một nụ cười trìu mến của bà với tôi làm trái tim tôi thêm một lần xao xuyến. Làm sao không yêu cho được một khu vườn như thế, một kỷ niệm thơ ấu còn mãi trong tôi.
Phát biểu cảm nghĩ về khu vườn nhà em
614
Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơmà anh (chị) yêu thích. Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ mà anh (chị) yêu thích. Bài mẫu 1: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ… – Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương) Sự sáng tạo của nữ sĩ khá độc đáo. Bà lựa chọn chi tiết không nhiều nhưng lại nói được nhiều. Hai từ thân em được đặt trước chiếc bánh, chiếc bánh được nhân hoá, đó chính là lời tự sự của người phụ nữ. Nét nghệ thuật này gợi cho trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ hiện lên rõ nét hơn. Bài làm Nếu như Bà Huyện Thanh Quan với những lời thơ trang nhã, nhẹ nhàng, mang chút cung đình buồn thương man mác. Thì thơ Hồ Xuân Hương có phong cách hoàn toàn khác. Giọng thơ rắn rỏi, mạnh mẽ, đề tài bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý mà chua cay chứa nỗi niềm phẫn uất phản kháng xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ như vậy: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả mượn chiếc bánh trôi để thế hiện vẻ đẹp hình thể và tâm hồn của người con gái có thân phận nhỏ nhoi, chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ trọn phẩm giá của mình. Toàn bộ bài thơ là hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Với khả năng quan sát và liên tưởng kỳ lạ, chất liệu dân gian là chiếc bánh trôi nước – loại bánh dân gian xưa cho là tinh khiết thường dùng vào việc cúng tế, nhà thơ đã phát hiện ra những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi bình thường với hình ảnh người phụ nữ. Cả hai đều có vẻ bề ngoài rất đẹp (trắng, tròn), có phẩm giá cao quý (tấm lòng son) tương đồng cuộc sống (chìm, nổi), số phận phụ thuộc (rắn nát tuỳ thuộc tay kẻ nặn). Với những từ ngữ đa nghĩa bài thơ tạo nên một trường liên tưởng cho người đọc. Do vậy nhà thơ tả thực mà lại mang ý nghĩa tượng trưng. Nói cái bánh trôi mà thành chuyện con người – người phụ nữ. Người con gái hình thể đẹp, da trắng nõn nà, thân hình căng tràn nhựa sống, tâm hồn nhân hậu hiền hoà. Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bẩy nổi ba chìm với nước non Với vẻ đẹp hình thể như vậy đáng lẽ phải có cuộc sống sung sướng hạnh phúc nhưng cuộc đời con người, đặc biệt là người phụ nữ thì phải chịu bao đắng cay, vất vả. Được cha mẹ sinh ra để làm người, nhưng người phụ nữ không làm chủ được mình, cuộc đời họ do người khác định đoạt. Nàng Vũ Nương thuỳ mị nết na, đức hạnh thuỷ chung, chồng ra trận nàng ở nhà một thân một mình nuôi mẹ già, con thơ. Nàng đã làm tròn bổn phận của một người con, người vợ, người mẹ trong gia đình. Vậy mà do sự đa nghi ghen tuông quá mức, nàng bị chồng nghi cho là thất tiết. Nàng đã phải lấy cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình. Câu chuyện mang đến cho chúng ta một thông điệp: trong xã hội ấy người tốt như nàng không được sống hạnh phúc. Cùng như vậy cuộc đời của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến luôn bị xã hội nhào nặn xô đẩy: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son Dù cuộc đời có phũ phàng, bất hạnh họ vẫn giữ vẹn phẩm giá, tâm hồn cao đẹp của mình. Sự sáng tạo của nữ sĩ khá độc đáo. Bà lựa chọn chi tiết không nhiều nhưng lại nói được nhiều. Hai từ thân em được đặt trước chiếc bánh, chiếc bánh được nhân hoá, đó chính là lời tự sự của người phụ nữ. Nét nghệ thuật này gợi cho trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ hiện lên rõ nét hơn. Từ thoáng chút hài lòng giọng thơ chuyển hẳn sang than oán về số phận hẩm hiu. Hồ Xuân Hương đã đảo lại thành ngữ quen thuộc ba chìm bảy nổi thành bảy nổi ba chìm đối lập với vừa trắng lại vừa tròn tạo sự bất ngờ và tô đậm sự bất hạnh của người phụ nữ. Đến đây ta không còn thấy giọng thơ than vãn cam chịu: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn. Cuộc đời họ, họ không làm chủ được bản thân mà phụ thuộc hoàn toàn vào tay kẻ khác. Thế nhưng: Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Không những sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và bốn là đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ bảo vệ phẩm chất trong sáng trong tâm hồn con người. Từ vẫn thể hiện sự khằng định, quả quyết vượt trên số phận để giữ tấm lòng son. Người phụ nữ đã ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm giá của mình. Dẫu cho cuộc đời cay đắng, nhào nặn, xô đẩy thì giá trị đáng kính của họ luôn luôn là điều sống còn đối với họ. Trong xã hội với ý thức hệ nho giáo hà khắc như vậy, quan niệm tam tòng tứ đức, nam tôn nữ ti đã ăn sâu vào ý thức con người. Nói được như Hồ Xuân Hương thật đáng khâm phục, trân trọng. Bài thơ chỉ có bốn câu, đề tài bình dị nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo cho viên bánh trôi nước mang vẻ đẹp sáng ngời của viên ngọc lấp lánh nhiều màu. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng, ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và giá trị nhân phẩm của mình. Quả thật bài thơ của Hồ Xuân Hương có giá trị hiện thực và xã hội sâu sắc. Đây là tiếng nói chung của người phụ nữ đối với sự bất công của xã hội xưa và khẳng định phẩm giá của bản thân. Nhà thơ đã đại diện cho những số phận bất hạnh cất lên tiếng nói của chính họ và của thời đại. Bài thơ thể hiện khẩu khí của bà chúa thơ nôm. Bài mẫu 2: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ… – Truyện Kiều (Nguyễn Du) Sự sáng tạo của nữ sĩ khá độc đáo. Bà lựa chọn chi tiết không nhiều nhưng lại nói được nhiều. Hai từ thân em được đặt trước chiếc bánh, chiếc bánh được nhân hoá, đó chính là lời tự sự của người phụ nữ. Nét nghệ thuật này gợi cho trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ hiện lên rõ nét hơn. Bài làm Tôi say mê Kiều bởi ở Kiều tôi thấy Nguyễn Du, một Nguyễn Du của tài và tình, một nguyễn Du có tình yêu tha thiết với dân tộc và tấm lòng nhân hậu đầy cảm thông đối với những kiếp người bất hạnh. Mà bất hạnh nhất trong xã hội xưa là người phụ nữ, những con người hồng nhan bạc phận. Tôi muốn nói về sự kính trọng của tôi đối với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Cả dân tộc ta đã kính trọng ông nhưng tôi vẫn muốn thể hiện những tình cảm của mình đối với người thi nhân đa tài mà đa đoan ấy. Điều đầu tiên khiến tôi yêu quý và kính trọng Nguyễn Du chính là tình cảm của ông dành cho con người. Ông là con người có tấm lòng nhân hậu. Có lẽ, đây chính là yếu tố quan trong để ông có được những tác phẩm văn học chứa đựng những giá trị nhân đạo sâu sắc. Người thi nhân đa đoan, viên quan đại thần dòng dõi của triều Lê ấy không biết đã bao lần “Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”. Chính ông đã tự nhận ra rằng, người thi nhân bất hạnh bởi thi nhân luôn là người tự vận nỗi đau, nỗi bất hạnh của người khác vào mình (Phong vận kì oan ngã tự cư). Lòng nhân hậu khiến ông luôn rất nhạy cảm với nỗi đau khổ của người khác, vì thế những thi phẩm của ông luôn đầm đìa nước mắt: nước mắt của nàng Kiều, nước mắt của người ca nữ đất Long Thành và của nàng Tiểu Thanh. Họ đều là những con người tài hoa, tài sắc song toàn mà mệnh bạc. Nhà thơ đồng cảm và đau nỗi đau của những người ấy không đơn giản chỉ là sự cảm thông của con người đối với con người. Nỗi đau của Nguyễn Du còn là sự nuối tiếc, xót xa trước sự ra đi của những tài năng. “Cái tốt đẹp thì khó bền”, “hoa thường hay héo cỏ thường tươi”, đó là quy luật của cuộc đời. Sự vô tình của con người trước nỗi đau, trước giá trị của cái đẹp cũng là lẽ thường. Biết vậy Nguyễn Du vẫn luôn trăn trở day dứt: Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? “Tấm lòng thơ vẫn tình đời thiết tha” (Tố Hữu) chính là điều khiến ông luôn được người đời trân trọng. Điều thứ hai khiến tôi say mê Nguyễn Du chính là bởi tài năng. Nguyễn Du yêu Tiếng Việt nên ông đã sử dụng thành công và làm Tiếng Việt phong phú thêm bao nhiêu. Bao nhiêu năm nay chúng ta đọc và say mê Truyện Kiều một phần bởi cái giọng điệu lục bát dễ đọc, dễ thuộc, dễ nghe. Nguyễn Du đã gửi gắm ở Truyện Kiều một tình yêu lớn đối với tiếng nói và thể thơ dân tộc. Ông dùng những từ ngữ, những cách diễn đạt gần gũi với tiếng nói của nhân dân. Dân dã mà vẫn thật hay, vẫn uyên bác và giàu chất nghệ thuật. Ví như những bức tranh bốn mùa của ông: Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Tiếng Việt đẹp hơn, giàu âm thanh, hình ảnh và sắc điệu hơn bởi khả năng sáng tạo của ông. Truyện Kiều đã đưa thể hiện một cách phong phú nhất khả năng biểu hiện của Tiếng Việt và khả năng biểu cảm của thể thơ lục bát. Có biết bao nhiêu lí do để ta trân trọng đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, và lí do lớn nhất, chính đáng nhất chính là nhân cách cao đẹp của ông, kết quả của sự kết hợp hài hoà giữa tài và tình Nguyễn Du. Bài mẫu 3: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ… – Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) Giữa màu xanh yên bình của dòng sông xuân, sắc tím biếc cuả bông hoa không hề lạc lõng, chông chênh. Nó bám chắc vào lòng sông như một sợi dây vô hình làm nên sức sống. Trên cái nền màu dịu êm của “sông xanh” và “hoa tím biếc”, tiếng hót trong vắt của con chim chiền chiện vút cao, ngân vang đến bất tận đến trời xanh… Bài làm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải là một bài thơ trong trẻo, thiết tha. Nó là phần tinh tuý nhất của một con người luôn khát khao cống hiến, khát khao sống có ý nghĩa. Nó là tiếng lòng của nhà thơ và cũng là của tất cả những ai ham mê cái cuộc sống trần gian rất đẹp đẽ này. Mùa xuân nho nhỏ ra đời khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Chắc hẳn, vào những ngày cuối cùng ấy, sau những chiêm nghiệm về cuộc sống với tất cả tình yêu, Thanh Hải muốn tiếp tục cất lên tiếng hót của “con chim chiền chiện” để góp nên một “mùa xuân nho nhỏ” cho cuộc đời, cho con người và cho đất nước yêu thương. Với thể thơ 5 chữ, với cách ngắt nhịp nhanh, gọn mà vẫn có độ dư ba, bài thơ đã dâng lên trong lòng tôi cảm giác rộn ràng, náo nức. Những gam màu trong trẻo, những hình ảnh đẹp, tươi sáng và đầy sức sống trong mỗi câu thơ cứ thấm dần vào trái tim tuổi trẻ của tôi. Mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước được nhà thơ cảm nhận trong sự căng đầy của nhựa sống, trong nhịp sống đang hối hả và trong sự tươi non mơn mởn của những hi vọng vào tương lai. Giữa màu xanh yên bình của dòng sông xuân, sắc tím biếc cuả bông hoa không hề lạc lõng, chông chênh. Nó bám chắc vào lòng sông như một sợi dây vô hình làm nên sức sống. Trên cái nền màu dịu êm của “sông xanh” và “hoa tím biếc”, tiếng hót trong vắt của con chim chiền chiện vút cao, ngân vang đến bất tận đến trời xanh. Từng tiếng, từng tiếng chim trong veo hay tiếng nhịp thở của khí xuân hoà vào trời đất, vang vọng vào trong lòng người như những “giọt tâm hồn” sáng long lanh. Tiếng hót ấy khiến ta không thể dửng dưng mà khiến ta phải thốt lên tiếng gọi rủ về cái khát khao muốn nắm bắt, muốn “đưa tay hứng”. Không tách mình khỏi khí xuân của thiên nhiên, đất nước trong công cuộc chuyển mình đi lên cũng rộn ràng, hối hả. Sức sống của đất nước không chung chung, trừu tượng mà nó biểu hiện ra ở “sức xuân” của mỗi con người. Mùa xuân trên lưng lính, lộc xuân trong tay người nông dân. Mỗi bước đi của người gieo thêm một chồi biếc, một mầm non. Và cứ thế, sức xuân của đất nước lại dâng lên như những lớp sóng xôn xao. Đất nước phấn chấn, hứng khởi trong một nhịp thở mới, hối hả khẩn trương. Niềm tin mới của dân tộc được chắp cánh từ truyền thống bốn nghìn năm dựng nước. Thế nên, dẫu biết có những vất vả và gian lao nhưng cả nước “vẫn đi lên phía trước” với một quyết tâm không mệt mỏi. Những câu thơ của Thanh Hải đầy ắp hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Nó tạo nên một không khí sôi nổi, háo hức, phơi phới vui tươi. Nó là một bức tranh tươi sáng sắc màu, là một bản nhạc rộn ràng tiết tấu trong trẻo, ngân nga và gợi cảm. Điều đặc biệt là: bức tranh thiên nhiên, bức tranh đất nước đầy sức sống ấy đã được nhà thơ cảm nhận khi ông đang ở vào cái giây khắc sắp lìa đời. Trên giường bệnh, nhà thơ vẫn mở rộng hồn mình, lắng nghe và đón nhận tất cả những thanh âm xao động của cuộc sống ngoài kia. Ông vẫn lắng nghe từng bước đi rất khẽ của đời. Bốn bức tường của phòng bệnh không thể ngăn cách cuộc đời với nhà thơ, những cơn đau của bệnh tật không làm giảm ý chí, bầu nhiệt huyết và niềm tha thiết yêu đời trong trái tim của người nghệ sĩ. Cái nghị lực phi thường ấy đáng để ta phải nâng niu và trân trọng xiết bao. Bài thơ khép lại trọn vẹn trong tâm hồn và sự say sưa của người đọc bằng một ước nguyện thật chân thành và mãnh liệt biết bao. Nó thực là một khát khao đang bùng cháy: muốn được làm một nhành hoa như bông hoa tím biếc kia, muốn làm con chim hót vang trời những giọt long lanh như con chim chiền chiện. Cái khát khao không hề gợi một chút gì về hình ảnh khổ đau của một con người đang chết. Nó giống cái mãnh liệt và rạo rực của một sức thanh xuân đang tràn trề nhựa sống và khát khao cống hiến cho đời. Nhiều người đã từng đồng ý với tôi rằng: những người trẻ tuổi đọc Mùa xuân nho nhỏ có thể tìm ra lý tưởng sống cho mình, còn với những người đã dâng cả tuổi thanh xuân cho đất nước thì vẫn thấy mình còn có thể làm được nhiều hơn. Mùa xuân nho nhỏ quả đã không chỉ là niềm say mê của riêng tôi. Nó xứng đáng là một bài thơ hay trong tủ sách quý của muôn người. Bài mẫu 4: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ… – Tĩnh dạ tứ (Lí Bạch) Bức tranh được phác họa trong bài thơ là cảnh đêm trăng thanh tĩnh. Nỗi cô đơn trên đất khách quê người khiến cho Lí Bạch trằn trọc, thao thức, không sao ngủ được. Ông muốn chia sẻ tâm sự với vầng trăng – người bạn không lời nhưng gắn bó với ông suốt đời và được ông coi là tri âm, tri kỉ. Bài làm Lí Bạch là nhà thơ nổi tiếng của thơ ca lãng mạn cổ điển Trung Hoa. Nhắc tới ông, người đời thường nhớ đến những vần thơ trữ tình bay bổng có vẻ đẹp lạ kì. Có thể nói, thơ Lí Bạch tràn ngập ánh trăng. Thuở nhỏ, Lí Bạch thường lên núi Nga Mi để ngắm trăng cho rõ. Vì thế hình ảnh Trăng nửa vành thu trên đỉnh Nga Mi đã in sâu vào tâm khảm nhà thơ, trở thành một trong những biểu tượng của quê hương Tứ Xuyên mà nhà thơ thương nhớ suốt cuộc đời. Ở tuổi 25, Lí Bạch đã xa quê và xa mĩa, nhưng hình bóng quê hương luôn in đạm trong tâm khảm ông. Vì thế mà trên bước đường lữ thứ tha phương, mỗi lần ngắm trăng sáng là ông lại chạnh lòng nhớ quê và chỉ biết gửi gắm tâm sự vào những vần thơ. Bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh được Lí Bạch sáng tác trong một hoàn cảnh như vậy. Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương Chủ đề của bài thơ là trông trăng nhớ quê (vọng nguyệt hoài hương). Đây là chủ đề quen thuộc trong thơ cổ, không chỉ ở Trung Quốc mà cả ở Việt Nam, song cách thể hiện của Lí Bạch thật độc đáo. Với những từ ngữ đơn giản mà chắt lọc, bài thơ đã thể hiện tình cảm tha thiết với quê hương của nhà thơ. Bức tranh được phác họa trong bài thơ là cảnh đêm trăng thanh tĩnh. Nỗi cô đơn trên đất khách quê người khiến cho Lí Bạch trằn trọc, thao thức, không sao ngủ được. Ông muốn chia sẻ tâm sự với vầng trăng – người bạn không lời nhưng gắn bó với ông suốt đời và được ông coi là tri âm, tri kỉ. Kể từ độ cất bước ra đi, suốt mấy cục năm trường, Lí Bạch làm sao nhớ nổi bao nhiêu lần mình ngắm trăng?! Trăng lung linh rải ánh vàng, ánh bạc trên sông hồ. Trăng buồn tê tái nơi quan ải. Trăng nhạt nhòa, huyền ảo trên mặt đất mênh mông… Đã có lần, thi sĩ uống rượu dưới trăng: Cất chén mời trăng sáng, Ta với bóng là ba. Đêm nay, trên đất khách, ánh trăng rọi sáng vào tận đầu giường như tìm đến với bạn tri âm, như muốn chia sẻ cho vơi bớt nỗi cô đơn đang vây phủ tâm hồn thi sĩ: “Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương” (Sàng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương) Đây là bài thơ tứ tuyệt tường đối dễ hiểu. Song đơn giản, dễ hiểu không có nghĩa là hời hợt, nông cạn. Ngôn ngữ thơ ca bao giờ cũng chọn lọc và tinh luyện. Trong hai câu thơ đầu, ta đã thấy thấp thoáng bóng dáng nhân vật trữ tình. Ánh trăng dù đẹp đẽ và tràn ngập nơi nơi nhưng vẫn chỉ là đối tượng để thi sĩ cảm nhận. Đêm khuya trăng sáng, nhà thơ trằn trọc không ngủ hoặc cũng có thể là đã ngủ rồi chợt tỉnh dậy và không ngủ lại được. Để tả trạng thái mơ màng ấy thì dùng chữ nghi (ngỡ là) và chữ sương là hợp lí. Ánh trăng trắng đục giống như sương là điều có thật mà trước Lí Bạch mấy trăm năm, nhà thơ Tiêu Cương đã viết: Dạ nguyệt tự thu sương (Trăng đêm giống như sương thu). Chi tiết trăng rọi sáng đầu giường là thực; còn ngỡ mặt đất phủ sương là ảo. Nhà thơ nhìn ánh trăng mà ngỡ là sương bởi ánh trăng được nhìn qua làn nước mắt nhớ thương, sầu muộn đang rướm quanh mi. Nỗi cô đơn tột đỉnh đang thấm lạnh cả tâm tình khiến sương dâng trong hồn, sương giăng trước mắt. Đọc hai câu thơ này, ta hiểu đằng sau từng chữ là cảm xúc bâng khuâng, da diết đang trỗi dậy trong lòng thi sĩ. Trong thơ cổ có một biểu tượng truyền thống là trăng. Vầng trăng tròn tượng trưng cho sự viên mãn đoàn tụ. Cho nên trăng càng sáng, càng tròn thì kẻ xa quê lại càng nhớ quê. Hình ảnh vầng trăng cô đơn trên vầng trời thăm thẳm trong đêm khuya thanh tĩnh thường gợi nên nỗi sầu xa xứ. Ánh trăng thu bàng bạc trong đêm lạnh lại càng khêu gợi tâm trạng buồn thương. Đêm khuya, thi sĩ trằn trọc không sao ngủ được. Mở mắt thấy ánh trăng rọi sáng đầu giường, mừng như gặp lại cố nhân sau bao ngày xa cách. Nhưng mới nhìn thấy ánh tẳng bàng bạc như phủ sương trên mặt đất chứ chưa thấy trăng, nhà thơ cố tìm bằng được vầng trăng quen thuộc: “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương” (Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương) Chỉ có ba chữ tả tình trực tiếp: tư cố hương, còn lại đều tả cảnh, tả người: cử đầu, vọng minh nguyệt, đê đầu. Ngay trong tả cảnh, tình người vẫn thể hiện rất rõ. Nỗi nhớ quê hương đã được thể hiện qua hành động. Khi thấy vầng trăng cũng đơn côi, lạnh lẽo như mình, một nỗi ngậm ngùi, chua xót bất chợt dâng lên trong lòng, thi sĩ cúi đầu tưởng nhớ quê hương. Cái dáng ngồi bất động, chìm đắm trong suy tư ấy cho thấy tình cảm quê hương của nhà thơ sâu nặng biết chừng nào! Với bài thơ Tĩnh dạ tư, nếu chỉ nói tác giả “xúc cảnh sinh tình” thì khong đủ. “Tình” ở đây vừa là nhân, vừa là quả: Lí Bạch nhớ quê, thao thức nhìn trăng sáng. Nhìn trăng sáng lại càng nhớ quê! Vọng minh nguyệt, tư cố hương thật ra chỉ là sự diễn đạt cụ thể hơn thành ngữ vọng nguyệt hoài hương dùng đã sáo mòn trong văn thơ cổ. Sáng tạo của Lí Bạch là đã đưa thêm vào hai cụm từ đối nhau: cử đầu và đê đầu, để thể hiện cách vọng minh nguyệt và tư cố hương của mình. Những hành động ấy đều chất chứa tâm tư. Hai câu thơ sau đối ý, đối thanh thật chỉnh. Nhà thơ đã sáng tạo trên cơ sở một câu dân ca quen thuộc: Ngưỡng đầu khán minh nguyệt (Ngẩng đầu nhìn trăng sáng), chỉ thay từ ngưỡng bằng từ cử, từ khán bằng từ vọng. Câu thơ của Lí Bạch là: Cử đầu vọng minh nguyệt. Cũng vẫn giống nhau ở tư thế ngẩng đầu nhìn trăng sáng nhưng cái nhìn trong câu dân ca mang tính khách quan, còn cái nhìn trong thơ Lí Bạch lại đậm tính chủ quan. (Khán: nhìn, ý nghĩa trung hòa. Vọng: nhìn xa, ý nghĩa biểu cảm). Vọng minh nguyệt là cố nhìn ra xa để thấy cho rõ vầng trăng sáng. Tình cảm thiết tha của nhà thơ gửi gắm cả trong từ vọng ấy và chỉ trong khoảnh khắc, cái tư thế Ngẩng đầu nhìn trăng sáng đã chuyển thành Cúi đầu nhớ cố hương. Hai tư thế đối lập nhua nhưng cùng thể hiện một tâm trạng. Niềm vui trước đêm trăng sáng có thể là dạt dào vô tận nhưng nỗi nhớ cố hương cũng day dứt khôn nguôi! Ánh trăng sáng đêm nay là tác nhân gợi nhớ đến vầng tẳng xưa trên quê cũ thuở nào. Quả là nỗi nhớ quê huwong thiết tha, khắc khoải… luôn ám ảnh trong lòng Lí Bạch. Câu thơ cuối mở ra một thế giời mênh mang và phức tạp của tâm trạng. Có bao điều mà nhà thơ muốn gửi gắm vào hai chữ cố hương. Cố hương là quê cũ, là dĩ vãng đầy áp kỉ niệm của tuổi hoa niên. Cố hương là mảnh đất chôn nhua cắt rốn, là nơi có những người thân yêu nhất của ta đang sống hoặc dã gửi nắm xương tàn. Đối với kẻ tha phương, cố hương là một cái gì đó rất đỗi thiêng liêng mà mỗi khi nhắc tới lại cảm thấy trĩu nặng trong lòng, trĩu nặng cả mái đầu đã pha sương sau nửa đời lênh đênh, lưu lạc. Bố cục bài thơ hết sức chặt chẽ, thể hiện tài năng của nhà thơ. Hai câu đầu diễn đạt ý: Ngỡ anh trăng đầu giường là sương phủ trên mặt đất. Nghi là động từ liên kết ý của hai dòng thơ. Ngoài ra các động từ khác (cử, vọng, đê, tư) đều đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc liên kết các câu trong bài. Giữa các động từ có quan hệ chặt chẽ: Nghi (thị địa thượng sương) – Cử (đầu) – vọng (minh nguyệt) – Đê (đầu) – tư (cố hương). Trong bốn câu thơ, tuy các chủ ngữ đều bị lược bỏ nhưng nguười đọc vẫn có thể nhận ra chủ thể trữ tình là tác giả. Điều đó tạo nên tính thống nhất, liền mạch trong cảm xúc thơ. Về mặt ngữ pháp, có thể xem đây là một hình thức câu thu gọn. Trong thơ, việc lược bỏ chủ ngữ – đặc biệt là đại từ xưng hô ngôi thứ nhất làm cho sức cộng hưởng của thơ tăng lên rất nhiều. Ở Tĩnh dạ tư, ta có thể hiểu chủ thể trữ tình là Lí Bạch, nhưng cũng có thể là bất cứ ai khác. Trong điều kiện xã hội tương tự, ở những tình huống tương tự, với quan niệm sống và vốn văn hóa tương tự thì đều có thể xuất hiện cảm nghĩ tương tự. Đó chính là tính chất điển hình của cảm xúc trong thơ trữ tình. Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Tĩnh dạ tư giản dị, tự nhiên, âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Tài thơ Lí Bạch là “tuyệt diệu ở chỗ đạm bạc”. Hay như nhận xét của Hồ Ứng Lân, một nhà phê bình đời Minh: Thuận miệng nói ra mà thành tho, tuyệt không có dụng ý dụng công, song không có chỗ nào là không tinh xảo. Qua bài thơ này, Lí Bạch đã bộc lộ nỗi nhớ quê hương da diêt. Tình cảm chân thực và sâu đậm ấy thực sự đã gây xúc động cho người đọc, truyền đến chúng ta nỗi thổn thức, bâng khuâng khó tả. Tình cảm quê hương ngày nay mặc dù đã mang những nét mới của thời đại song những bài thơ trữ tình xuất sắc về quê hương của các nhà thơ trong quá khứ vẫn tạo được sự cộng hưởng sâu xa, vẫn có tác dụng thiết thực trong việc bồi dưỡng, xây dựng nhân cách con người. Trương Minh Phi, một nhà phê bình thơ Đường đã nhận xét bài thơ này như sau: “Trong loại thơ nhìn trăng mà thổ lộ tâm tình nhớ quê, bài có khuôn khổ nhỏ nhất, ngôn từ đơn giản tinh khiết nhất là Tĩnh dạ tư của Lí Bạch, song bài có ma lực lớn nhất, được truyền tụng rộng rãi nhất cũng là bài Tĩnh dạ tư ấy”. Khép lại bài thơ là hình ảnh bé nhỏ của nữ sĩ trước mặt là “trời non nước” vô tình như mở rộng ra đến vô tận. Chính vì vậy, bà cảm thấy cô đơn, quạnh quẽ, đành quay về với chính mình, đối diện với chính mình “ta với ta”. Hai chữ “ta” nhưng vẫn chỉ có “một mảnh tình riêng” nghĩa là vẫn chỉ có một người. Điều này đủ thể hiện nỗi cô đơn cùng cực của nữ sĩ khi ấy. Bài làm Trên một trăm năm mươi năm trước, có thể trong dịp vào Huế nhận chức Cung trung giáo tập, chức nữ quan dạy học cho các cung nữ, Bà Huyện Thanh Quan đã sáng tác bài Qua Đèo Ngang, một bài thơ hay, một bức tranh tâm trạng “nhớ nước”, “thương nhà” độc đáo. Bốn câu đầu bài thơ tả cảnh: Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sống chợ mấy nhà. Tác giả đến Đèo Ngang vào lúc chiều tà bóng xế, cảnh đẹp nhưng buồn. Ởđây, cỏ cây hoa lá chen chúc, xô bồ. Lốiđiệp từ (chen), điệp vần (lá, đá, hoa) gợi nét hỗn độn, hoang vu của một vùng núi non hiểm trở. Bà đưa mắt nhìn xuống dưới núi, bên sống. Bóng dáng con người thấp thoáng nhỏ bé, thưa thớt lác đác, lom khom, tiều vài chú, chợ mấy nhà. Cảnh vật ấy đủ để nhà thơ cảm nhận một cách sâu lắng cái buồn vắng quạnh hiu của một chiều tà ở miền sơn cước. Bốn câu sau bài thơ mượn cảnh tả tình, nói lên tâm sự của tác giả trước cảnh ấy. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riềng ta với ta. Lúc chiều tà trên đèo vắng, tiếng cuốc kêu khắc khoải, tiếng đa đa vô hồi thắt quặn trong lòng nhà thơ càng gợi thêm nỗi niềm vời vợi nhớ thương. Bà nhớ nhà, nhớ quê, nhớ một thời vàng son nào đó đã qua trong một nỗi niềm cô quạnh buồn thương man mác của tâm hồn. Khép lại bài thơ là hình ảnh bé nhỏ của nữ sĩ trước mặt là “trời non nước” vô tình như mở rộng ra đến vô tận. Chính vì vậy, bà cảm thấy cô đơn, quạnh quẽ, đành quay về với chính mình, đối diện với chính mình “ta với ta”. Hai chữ “ta” nhưng vẫn chỉ có “một mảnh tình riêng” nghĩa là vẫn chỉ có một người. Điều này đủ thể hiện nỗi cô đơn cùng cực của nữ sĩ khi ấy. Về mặt nghệ thuật, Qua Đèo Ngang thuộc thể thất ngôn bát cú Đường luật, một thể thơ vốn kiểu cách, sang trọng. Thế nhưng với ngòi bút tài hoa điêu luyện của tác giả, bài thơ có ngôn ngữ giản dị, trong sáng này đã trở nên gần gũi, thân thuộc với tất cả mọi người. Bài thơ khiến ta thêm yêu đất nước với bao cảnh đẹp tình sâu và thêm trân trọng những hồn thơ rung động diệu kì trước những bức tranh non sống gấm vóc. Bài mẫu 6: Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơ… – Sang Thu (Hữu Thỉnh) Có lẽ khi con người ta trải qua tuổi bồng bột, đến một lúc nào đó cần bình thản nhìn lại và nhẹ nhàng cảm nhận chúng. Khi mà người ta đã đi qua những ngày tháng gian khổ, dường như cuộc đời cũng chẳng thể đánh gục họ được nữa, nó khiến con người tĩnh lặng hơn, sâu sắc và nhiều tâm sự hơn. Bài làm “Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?” Dường như mùa thu luôn là nguồn thi hứng để các nhà thơ viết nên từng vần thơ đẹp đẽ. Từ những chiếc lá vàng, đến những ngọn gió mát lành và ánh nắng ấm áp, mùa thu hiện lên trong khung cảnh dịu êm và lãng mạn. Trong đó, có một bài thơ mà tôi vô cùng ấn tượng, một bài thơ đã tái hiện đầy tinh tế khung cảnh đất trời lúc sang thu vô cùng gần gũi, giản dị, đó là bài thơ “Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh. “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se” Các nhà thơ thường miêu tả mùa thu với lá vàng rụng ngoài sân, sắc vàng dịu êm mà cũng buồn sầu. Riêng với “Sang thu”, tác giả cảm nhận mùa thu rất riêng, rất mới, bằng sự rung động tinh tế. Hương ổi thoang thoảng trong gió, nhà thơ đã thật nhạy cảm, khéo léo để có thể nhận ra được mùi hương rất đỗi nhẹ nhàng như vậy. Cụm từ “bỗng nhận ra” đã diễn tả trạng thái ngỡ ngàng của tác giả khi phát hiện mùa thu đã chạm ngõ chỉ với “hương ổi”, mùi hương đồng nội thân quen, gợi nên những cảm xúc khó tả. Mùi hương ổi ấy đã “phả” vào trong “gió se” đầu mùa thu dịu nhẹ, se sắt. Động từ “phả” đã diễn tả sự quyện chặt vào, sự gắn kết giữa hương ổi và làn gió đầu mùa. Chỉ qua hai câu thơ đầu, Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc một cảm nhận mới về mùa thu, về sự chuyển mùa tinh tế nhất, về nhưng điều bình dị ở xung quanh chúng ta. “Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về” Sương thu đã được nhân hóa; hai chữ “chùng chình” diễn tả bước đi chầm chậm của mùa thu, khiến ta cảm nhận được khung cảnh sương bao trùm đầu ngõ. Sương thu đến không vội vàng, mà lại mơ hồ và châm rãi. Tác giả phải thốt lên “hình như”, là chưa chắc chắn, là phỏng đoán, nhưng thật ra trong thâm tâm nhà thơ, dường như ông biết rằng mùa thu đã đến rồi. Từ cảm nhận của các giác quan, cảm xúc của tác giả về mùa thu dần hòa vào cảnh vật chung quanh: “Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu.” Nước mùa thu dâng lên theo mùa, sự dâng lên ấy có gì đó gợn sóng, uyển chuyển. Những cánh chim trời cũng “vội vã” bay. Đất trời khi giao mùa dường như gấp gáp hơn, chuyển động hơn. Mùa thu lúc này hiện ra trong cảm nhận của nhà thơ mang hình thái rõ ràng, bởi nhà thơ đã nhận ra rằng mùa thu về. Đám mây mùa hạ được tác giả miêu tả vô cùng độc đáo, diễn tả quá trình chuyển mình của nhà thơ một cách nhẹ nhàng. Nhà thơ Hữu Thỉnh từng tâm sự: “Khi tôi viết bài thơ này tôi đã liên tưởng đến những đám mây mùa Hạ. Đó là những đám mây tràn trọn vẹn vào mùa Thu. Thế nhưng có gì ngăn cảm xúc của tôi lại theo chiều hướng đấy… Mây mùa Hạ thường chứa nhiều màu sắc, thậm chí đầy giông bão tựa hồ những ước mơ khao khát của tuổi trẻ. Những ước mơ khao khát ấy thường lấy đi rất nhiều sức lực của tuổi trẻ. Tuy nhiên giữa mơ và thực là hai thế giới luôn đối lập nhau và chẳng phải ước mơ nào cũng trở thành hiện thực.” Đến với khổ thơ cuối, nhà thơ đã chiêm nghiệm mùa thu bằng cái nhìn của một đời người: “Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dần cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi” “Nắng”, “mưa” và “sấm” là những hiện tượng tự nhiên, thế nhưng ở đây nhà thơ không chỉ miêu tả cảnh thu, mà còn thể hiện cái nhìn về cuộc đời và con người. Tác giả đã mượn hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” để nói lớp người từng trải, đã đi qua những gian khổ khó khăn, cũng như mùa thu vậy; mùa thu cũng là mùa của độ tuổi xế chiều. Có lẽ khi con người ta trải qua tuổi bồng bột, đến một lúc nào đó cần bình thản nhìn lại và nhẹ nhàng cảm nhận chúng. Khi mà người ta đã đi qua những ngày tháng gian khổ, dường như cuộc đời cũng chẳng thể đánh gục họ được nữa, nó khiến con người tĩnh lặng hơn, sâu sắc và nhiều tâm sự hơn. Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh là một bài thơ gần gũi, quen thuộc. Nó không chỉ miêu tả cảnh đất trời lúc sang thu, mà với em, bài thơ còn là tâm sự của một người từng trải, một người đã đi qua những ngày tháng khó khăn. Qua bài thơ này, em không chỉ cảm nhận được thiên nhiên lúc giao mùa, mà còn học được bài học về cuộc đời, về con người.
Phát biểu cảm nghĩ về một bài thơmà anh (chị) yêu thích.
6,218
Phát biểu cảm nghĩ về một con vật nuôi em yêu Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về một con vật nuôi em yêu Đã bao giờ bạn tự ngồi suy ngẫm xem trong tâm trí mình đang hiện lên hình ảnh của ai không? Chắc chắn là ai cũng đã từng làm thế. Nhưng các bạn biết không, lúc này đây trong tâm trí tôi tràn ngập hình ảnh về một chú mèo. Một chú mèo đã gắn bó với cả tuổi thơ tôi mà giờ đây tôi phải xa cách. “Meo meo meo, rửa mặt như mèo, xấu xấu lắm chẳng được mẹ yêu…”. Đó là bài hát đầu tiên mà tôi đã được học. Mẹ đã dạy tôi bài hát đó vì mẹ nghĩ rồi mai đây đứa con gái bé bỏng của mẹ sẽ biết chăm sóc cho những con vật đáng yêu và sẽ hát bài hát này cho chúng nghe. Từ lúc tôi còn nằm trong chiếc nôi hồi bé, chú mèo ấy đã quanh quẩn bên cạnh tôi, nó nhảy qua nhảy lại làm tôi vui mắt. Lúc ấy có lẽ tôi còn chưa biết đến tình cảm bạn bè mà chỉ coi nó như một chứ hề con luôn đến biểu diễn tiết mục của mình cho tôi xem. Vắng nó, đôi mắt tôi chìm xuống buồn bã, tôi không ăn, không uống mà chỉ khóc. Rồi cho đến lúc tôi biết đi biết chạy, nó cùng chơi đuổi bắt. Đã bao lần tôi giả vờ ngã để mèo lại gần và tôi sẽ ôm nó trong vòng tay của mình. Lúc đó tôi như muốn nói rằng: “Tớ yêu bạn lắm, mèo ạ!”. Chú mèo ấy – người bạn tuổi thơ của tôi – đã làm tôi thêm hiểu sự cao đẹp của.
Phát biểu cảm nghĩ về một con vật nuôi em yêu
296
Phát biểu cảm nghĩ về một loài hoa em yêu văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về một loài hoa em yêu văn 7 Vườn nhà em trồng rất nhiều hoa đẹp, nhưng em yêu quý nhất là những cây hoa cúc. Hoa cúc vừa đẹp, vừa thoang thoảng hương thơm lại mang nhiều ý nghĩa. Bà em nói: Ngày xưa có một cô bé đi xin thuốc về chữa bệnh cho mẹ. Cô được ông Tiên cho một bông hoa và bảo rằng bông hoa có bao nhiêu cánh thì mẹ em sẽ sống được ngần ấy tuổi. Trên đường về nhà cô bé đã đem những cánh hoa cúc ấy mà xé nhỏ ra để mong ước mẹ em được sống ở trên đời nhiều hơn nữa. Đó chính là câu chuyện về sự ra đời của bông hoa cúc. Câu chuyện mà bà em kể làm cho em thêm yêu hoa cúc. Hoa cúc thân mềm và phỗng. Cũng tuỳ loại mà thân hoa to nhỏ khác nhau. Lá của hoa cúc sần sùi uốn lượn chứ không mượt mà như lá hoa hồng. Nói cung nhìn vẻ bề ngoài thì hoa cúc rất tầm thường và có khi còn không hay mắt nữa. Thế nhưng ẩn sau cái thân hình giản dị ấy lại là vẻ đẹp thầm kín sâu xa. Hoa cúc đẹp nhất ở sức sống của mình. Cúc thường nở rộ vào lúc đầu thu và có khi kéo dài đến vài ba tháng. Lá hoa cúc, thân hoa cúc và cả những bông hoa nữa đều rất vững bền. Người ta có thể mua những đóa hoa về cắm và nếu chăm chút cẩn thận đến bình hoa, lại thường xuyên thay nước cắm thì hoa có thể nở đến hơn nửa tháng mới tàn. Vì thế nhiều người yêu hoa cúc vì nó là loài hoa mà vẻ đẹp chung thủy nhất. Em yêu hoa cúc vì hoa có nhiều cách đan xen khéo léo vào nhau trông vô cùng thích mắt. Hương hoa cúc thoang thoảng và dịu nhẹ. Nó làm cho người ta cảm thấy khoan khoái và đôi khi hình như còn giảm bớt lo âu. Mùa nào cũng vậy, bao giờ bà em cũng chọn khá nhiều những bông hoa cúc mãn khai để làm trà hoa cúc. Em không biết bà đã chế biến thế nào, thế nhưng nhấm một chút nước trà em thấy nó rất thơm, một mùi thơm rất đặc trưng và rất lạ. Chủ nhật nào cũng vậy, em theo mẹ đi bán những bông hoa cúc. Chợ hoa rực rỡ đủ sắc màu thế nhưng cái sắc vàng của cúc thì vô cùng dễ nhận ra. Bây giờ bên cạnh những bông cúc đại đóa (bông cúc lớn) màu vàng, nhà em còn trồng và bán những giống cúc đủ loại khác nhau: trắng, phớt hồng hay tím mát. Người ta mua hoa cúc cũng với nhiều mục đích. Người thì dùng để cắm, người thì mang đến những đám tang. Em không hiểu lắm nhưng mẹ em giải thích: hoa cúc tượng trưng cho sự yêu thương, cho sự thành công và những hoa cúc vàng còn tượng trưng cho quyền lực. Gạt đi tất cả những ý nghĩa rối rắm kia, em cứ thế lớn lên và yêu những bông hoa cúc một cách chân thành. Hoa cúc không kiêu sa. Nó đẹp giản dị và sâu lắng. Phải chăng vì thế mà nó cứ gắn bó tự nhiên với những năm tháng tuổi thơ êm đềm và hạnh phúc của em.
Phát biểu cảm nghĩ về một loài hoa em yêu văn 7
596
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát châm biếm và phát biểu cảm nghĩ của mình về những câu hát ấy. Bài làm Trong ca dao – dân ca, ngoài những câu hát yêu thương, tình nghĩa, những câu hát than thân… còn nhiều câu hát mang nội dung hài hước, châm biếm nhằm phơi bày các hiện tượng ngược đời, phê phán những thói hư tật xấu, những hạng người và hiện tượng đáng cười trong xã hội. Dưới đây là những bài được phổ biến rộng rãi trong dân gian: 1. Cái cò lặn lội bờ ao, Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng? Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa. Ngày thì ước những ngày mưa, Đèm thì ước những đêm thừa trống canh. 2. Số cô chẳng giàu thì nghèo Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà Số cô có mẹ có mẹ có cha Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông. Số cô có vợ có chồng, Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai. 3- Con cò chết rũ trên cây, Cò con mở lịch xem ngày làm ma. Cà cuống uống rượu la đà, Chim ri ríu rít bò ra lấy phần, Chào mào thì đánh trống quân, Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao. 4. Cậu cai nón dấu lông gà, Ngón tay đeo nhẫn gọi là cậu cai. Ba năm được một chuyến sai, Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê Bài thứ nhất là lời giới thiệu, quảng cáo về nhân vật chú tôi. Chân dung của người chú là bức biếm họa được vẽ toàn bằng những nét giễu cợt, mỉa mai. Hai câu mở đầu: Cái cò lặn lội bờ ao, Hỡi cô yểm đào lấy chú tôi chăng làm nhiệm vụ bắt vần và chuẩn bị cho việc giới thiệu nhân vật. Cô yếm đào là hình ảnh tương phản với hình ảnh của nhân vật chú tôi. Chiếc yếm đào tượng trưng cho những cô gái nông thôn trẻ, đẹp. Xứng đáng lấy cô yếm đào phải là chàng trai chăm chỉ, giỏi giang chứ không thể là người có nhiều thói hư tật xấu. Cái cò giới thiệu về chú của mình với cái giọng cố làm ra vẻ phô trương, trịnh trọng: Chú tôi hay tửu hay tăm, Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa. Ý nghĩa phê phán, chỉ trích nằm cả ở từ hay. Theo cách hiểu dân gian thì hay có nghĩa là tài giỏi, nhưng trong văn cảnh này thì nó có nghĩa ngược lại. Tưởng hay lam hay làm, ai dè lại hay rượu hay chè đến mức nghiện ngập, bê tha. Ý mỉa mai của từ hay còn hàm chứa ở tầng nghĩa sâu hơn nữa. Tuổi thanh niên sức dài vai rộng mà không lo chí thú làm ăn, lại chấp nhận sống đời tầm gửi thì quả là chẳng đáng mặt làm trai. Người xưa có câu: Làm trai cho đáng nên trai, xuống Đông Đông tĩnh, lên Đoài Đoài yên… để khẳng định khí phách nam nhi. Bên cạnh đó cũng có câu: Đời người ngắn một gang tay, Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang với nội dung phê phán những kẻ siêng ăn nhác làm. Nhân vật chú tôi trong bài ca dao trên là loại người như thế.
Phát biểu cảm nghĩ về một số bài ca dao châm biếm trong xã hội phong kiến
544
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát than thân và phát biểu cảm nghĩ của mình về những câu hát ấy. Bài làm Ca dao, dân ca là tấm gương phản ánh đời sống tâm hồn phong phú của nhân dân lao động. Nó không chỉ thể hiện tình cảm gắn bó thiết tha đối với quê hương, đất nước… mà còn là tiếng thở than về số phận bất hạnh và những cảnh ngộ khổ cực, đắng cay. Những câu hát than thân ngoài ý nghĩa than thân trách phận còn có ý nghĩa, phản kháng, tố cáo sự thối nát, bất công của xã hội phong kiến đương thời. Điều đó được thể hiện chân thực và sinh động qua hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ đa dạng, phong phú. Ba câu hát sau đây là những ví dụ tiêu biểu: 1. Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn, cho gầy cò con? 2. Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe. 3. Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi, biết tấp vào đâu? Cả ba câu hát đều sử dụng thể thơ lục bát cổ truyền với âm hưởng ngậm ngùi, thương cảm, cùng với những hình ảnh so sánh hoặc ẩn dụ thường thấy trong ca dao để diễn tả thân phận bé mọn của lớp người nghèo khổ trong xã hội cũ (con cò, con tằm, con kiến, trái bần…). Mở đầu mỗi câu thường là những cụm từ như Thương thay… Thân em như… và nội dung ý nghĩa được thể hiện dưới hình thức câu hỏi tu từ. Câu 1: Trong ca dao xưa, người nông dân thường mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời và thân phận bé mọn của mình, bởi họ tìm thấy những nét tương đồng ở loài chim quen thuộc ấy. Bức tranh phong cảnh nông thôn Việt Nam không thể thiếu những cánh cò lặn lội kiếm ăn trên cánh đồng, lạch nước. Cò gần gũi bên người nông dân lúc cày bừa, cấy hái vất vả. Cò giang cánh nối đuôi nhau bay về tổ lúc hoàng hôn… Con cò đã trở thành người bạn để người nông dân chia sẻ tâm tình: Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Nghệ thuật tương phản tài tình trong câu ca dao trên đã làm nổi bật hình ảnh đáng thương của con cò. Giữa trời nước mênh mông, cò lủi thủi, đơn côi, lầm lũi kiếm ăn. Thân cò vốn đã bé nhỏ lại càng thêm bé nhỏ. Đã vậy mà cò vẫn phải lên thác, xuống ghềnh, đương đầu với bao nỗi éo le ngang trái. Câu ca dao như một tiếng thở dài não nề, như một lời trách móc, oán than trước nghịch cảnh của cuộc đời. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn cho gầy cò con? Cò đã cam chịu số kiếp hẩm hiu, thế nhưng nó vẫn không được sống yên ổn trong cảnh bần hàn mà vẫn bị một ai đó, một thế lực nào đó đẩy vào cảnh bể đầy, ao cạn trớ trêu. Phải chăng đó chính là giai cấp thống trị trong xã hội cũ luôn muốn dồn người bị trị vào bước đường cùng?! Cao hơn ý nghĩa một câu hát than thân, bài ca dao trên chứa đựng thái độ phản kháng và tố cáo xã hội đương thời. Hình ảnh con cò ở đây tượng trưng cho thân phận long đong, khốn khổ của người nông dân nghèo vì sưu cao, thuế nặng, vì nạn phu phen, tạp dịch liên miên, vì sự bóc lột đến tận xương tủy của giai cấp thống trị. Vẫn theo mạch liên tưởng giống như ở bài ca dao thứ nhất, bài ca dao thứ hai là một ẩn dụ so sánh giữa thân phận của người nông dân với những loài vật bé nhỏ, tầm thường như con tằm, con kiến: Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kều ra máu có người nào nghe. Đây là câu hát nói về những số phận vất vả, bất hạnh. Điệp từ Thương thay được lặp lại bốn lần, biểu hiện sự thương cảm, xót xa vô hạn. Thương thay là thương cho thân phận mình và thân phận của những người cùng cảnh ngộ. Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ là thương cho những người lao động nghèo khổ suốt đời bị kẻ khác bòn rút sức lực, công lao. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi là thương cho nỗi khổ chung của những thân phận nhỏ nhoi, suốt đời xuôi ngược vất vả làm lụng mà vẫn cơ cực, nghèo khó. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi là thương cho những cuộc đời phiêu bạt, lận đận để kiếm sống qua ngày. Thương tháy con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe là thương cho những thân phận thấp cổ bé họng, suốt đời ôm nỗi khổ đau oan trái, không được ánh sáng công lí nào soi tỏ. Trong ca dao, người xưa có thói quen khi nhìn nhận sự vật thường hay liên hệ đến cảnh ngộ của mình, vận vào thân phận mình. Họ đồng cảm với những con vật bé nhỏ, tội nghiệp (con sâu, cái kiến, con cò, con vạc, con hạc giữa trời, con hạc đầu đình, con cuốc kêu sương, con cuốc kêu ra máu,…) bởi cho rằng chúng cũng có số kiếp, thân phận khốn khổ như mình. Những hình ảnh có tính chất ẩn dụ trong các câu hát kết hợp với bút pháp miêu tả chân thực khiến cho những nỗi thương tâm gây xúc động thấm thía. Tằm ăn lá dâu, nhả ra tơ để cho con người lấy tơ dệt thành lụa, lĩnh, gấm, vóc… những mặt hàng may mặc quý giá phục vụ cho tầng lớp thượng lưu giàu có. Đã là kiếp tằm thì chỉ ăn lá dâu, thứ lá tầm thường mọc nơi đồng ruộng, bãi sông. Mà con tằm Bé nhỏ kia ăn được là bao?! Mượn hình ảnh ấy Ị người lao động ngụ ý nói đến sự bóc lột quá đáng của giai cấp thống trị đối với họ. Công sức họ bỏ ra quá nhiều mà hưởng thụ dường như chẳng có. Điều ấy dẫn đến kiếp sống nhọc nhằn, nghèo đói kéo dài, tưởng như không thể tìm ra lối thoát. Câu hát: Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi diễn tả sự chia li bất đắc dĩ giữa người đi xa với những người thân yêu, với mảnh đất chôn nhau cắt rốn để tha phương cầu thực, để trốn thuế trốn sưu. Con đường mưu sinh trước mặt quá đỗi gập ghềnh, nguy hiểm. Người gạt nước mắt ra đi, biền biệt bóng chim tăm cá, như hạc lánh đường mây, như chim bay mỏi cánh, biết đến bao giờ được trở lại cố hương, sum vầy cha con, chồng vợ?! Kẻ ở nhà đỏ mắt thấp thỏm lo lắng, đợi trông. Trong vô vàn nỗi khổ của kiếp người, có nỗi khổ nào bằng sinh li, tử biệt? Cách mở đầu mỗi câu đều bằng từ cảm thán (Thương thay… Thương thay…) tạo ra âm điệu ngậm ngùi, mang đậm nỗi sầu thương thân, thương phận. Khe khẽ ngâm nga, ta sẽ thấy bài ca dao trên giống như một tiếng thở dài hờn tủi và tuyệt vọng. Bài ca dao thứ ba phản ánh thân phận khốn khổ của người phụ nữ nông thôn trong xã hội cũ. Hình ảnh so sánh trong bài có nét đặc biệt mang tính chất địa phương của một vùng sông nước miền Nam. Tên gọi của trái bần gợi sự liên tưởng đến thân phận người nghèo. Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh trái bần, trái mụ u, trái sầu riêng thường gợi đến những cuộc đời đầy đau khổ, đắng cay. Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia có khác gì trái bần nhỏ bé liên tiếp bị gió dập sóng dồi. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào hoàn cảnh, không có quyền tự mình quyết định cuộc đời. Xã hội phong kiến luôn muôn nhấn chìm họ, phủ nhận vai trò của họ. Tóm lại, cả ba bài ca dao trên đều xoay quanh nội dung than thân trách phận. Cuộc đời của người nông dân nghèo khổ xưa là một bể khổ mênh mông không bờ không bến. Hiện thực thì tăm tối, tương lai thì mù mịt, họ chẳng biết đi về đâu. Điều đó chỉ châm dứt từ khi có ánh sáng Cách mạng của Đảng soi đường dẫn lối, giải phóng nông dân ra khỏi xiềng xích áp bức của giai cấp phong kiến thông trị kéo dài bao thế kỉ. Ngày nay, cuộc sống buồn đau, cơ cực đã lùi vào dĩ vãng. Tuy vậy, đọc những bài ca dao trên, chúng ta càng hiểu, càng thương hom ông bà, cha mẹ đã phải chịu kiếp đói nghèo trong rơm rạ của một quá khứ chưa xa.
Phát biểu cảm nghĩ về một số bài ca dao về chủ đề than thân trách phận
1,628
Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát về chủ đề tình cảm gia đình và phát biểu cảm nghĩ về những câu hát ấy. Bài làm I. DÀN Ý 1, Mở bài: – Những câu hát về chủ đề tình cảm gia đình khá phổ biến trong ca dao – dân ca. – Một sô câu tiêu biểu thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người lao động. 2. Thân bài: Câu 1: Công cha như núi Thái Sơn … ghi lòng con ơi! – Khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ nhắc nhở con cái phải có bổn phận đáp đền chữ hiếu, bởi hiếu nghĩa là gốc của đạo làm người. – Nghệ thuật so sánh có tính chất ước lệ: Công cha với núi cao,nghĩa mẹ với biển rộng nhấn mạnh ý đó. – Âm hưởng nhịp nhàng, du dương, thích hợp làm bài hát ru con, chứa đựng lời khuyên nhủ chí tình về đạo làm người. Câu 2: Chiều chiều … ruột đau chín chiều. – Là tâm trạng thương nhớ gia đình, quê hương của người con gái lấy chồng xa xứ. – Thời gian: chiều chiều không gian: ngõ sau, phù hợp với tâm trạng nhân vật đang day dứt, khắc khoải, tủi thân, tủi phận một mình nơi đất khách, không biết chia sẻ cùng ai. – Cách mở đầu thường thấy trong ca dao (Chiều chiều lại nhớ chiều chiều, Nhớ người áo đỏ khăn điều vắt vai; Chiều chiều ra đứng bờ ao, Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ…), được dùng để thể hiện nỗi buồn không nguôi đè nặng lên số phận người phụ nữ dưới thời phong kiến. Câu 3: Ngó lên nuộc lạt mái nhà … bấy nhiêu! – Thể hiện lòng biết ơn chân thành, tha thiết của con cháu đối với ông bà, cha mẹ đã khuất. – Nghệ thuật so sánh: bao nhiêu … bấy nhiêu. Hình ảnh so sánh: nuộc lạt mái nhà vừa cụ thể, quen thuộc, vừa có ý nghĩa ẩn dụ, nhấn mạnh tình thương yêu, kính trọng và biết ơn vô cùng sâu sắc. Câu 4: Anh em nào phải người xa … hai thân vui vầy. – Là lời khuyên nhủ anh em ruột thịt phải thương yêu, đoàn kết, chia sẻ vui buồn, sống chết với nhau. – Anh em thuận hòa là nhà có phúc. Đây cũng chính là cách báo hiếu thiết thực nhất đối với cha mẹ. – Hình ảnh so sánh: như thể tay chân thể hiện sự gắn bó khăng khít không rời. 3. Kết bài – Ca dao trữ tình nảy sinh và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tình cảm phong phú của người lao động. II. BÀI LÀM Những câu hát về chủ đề tình cảm gia đình chiếm khối lượng khá lớn trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam, thể hiện đời sống tinh thần đẹp đẽ, phong phú của người lao động. Dưới đây là một số câu tiêu biểu nhất: 1. Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! 2. Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. 3. Ngó lên nuộc lạt mái nhà, Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu. 4. Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy. Nội dung những câu hát này thường là lời khuyên bảo của ông bà, cha mẹ với con cháu hoặc là sự bày tỏ lòng hiếu kính của các thế hệ sau đối với ông bà, cha mẹ. Nghệ thuật chung là dùng các hình ảnh so sánh, ẩn dụ quen thuộc trong ca dao. Câu thứ nhất khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục to lớn của cha mẹ đối với con cái và nhắc nhở bổn phận, trách nhiệm của con cái là báo đền chữ hiếu: Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Đây là lời hát ru của bà, của mẹ trên cánh võng đong đưa giữa trưa hè nóng bức hay trong những đêm đông giá rét. Âm điệu của lời ca giống như lời tâm tình thủ thỉ, thiết tha, sâu lắng. Lời ru thường gắn liền với những quan hệ tình cảm gia đình và xã hội. Trên đời này, không có bài hát ru nào mà mối quan hệ giữa người nghe và người hát lại gần gũi, ấm áp, thiêng liêng như ở bài này. Để khẳng định công cha, nghĩa mẹ, ca dao thường lấy những hình ảnh lớn lao, vĩnh hằng của thiên nhiên để so sánh. Trong văn chương phương Đông, vai trò của người cha thường được ví với trời, với núi; vai trò người mẹ ví với đất hoặc với biển trong các cặp biểu tượng truyền thống (cha – trời, mẹ – đất, cha – núi, mẹ – biển). Những hình ảnh ước lệ đẹp đẽ ấy lại được miêu tả bổ sung bằng những định ngữ chỉ mức độ (núi ngất trời – núi cao, biển rộng mênh mông). Bởi vì chỉ có những hình ảnh lớn lao, kì vĩ ấy mới diễn tả nổi công ơn của cha mẹ. Núi ngất trời, biển rộng mênh mông không thể nào đo được, cũng như công cha, nghĩa, mẹ đối với các con kể sao cho xiết! Công cha sánh đôi với nghĩa mẹ cũng là cách nói đối xứng truyền thống trong ca dao – dân ca. Nhờ nghệ thuật so sánh tài tình mà lối giáo huấn khô khan về chữ hiểu đã biến thành lời ru ngọt ngào, êm ái. Vì thế mà khái niệm trừu tượng về công cha, nghĩa mẹ cũng trở nên cụ thể, sinh động và thấm thía hơn. Câu hát thứ hai là tâm sự của người con gái lấy chồng xa quê. Trong ca dao, dân ca, không gian ngõ sau và bến sông thường gắn liền với tâm trạng của những phụ nữ có cảnh ngộ như vậy: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều. Đó là tâm trạng buồn nhớ da diết, xót xa, thường xuất hiện vào lúc chiều buông. Cảnh chiều hay gợi buồn, gợi nhớ, bởi nó là thời điểm của sự đoàn tụ (chim bay về tổ, con người trở về nhà sau một ngày làm việc mệt nhọc). Vậy mà người con gái lấy chồng xa xứ phải thui thủi một mình nơi đất khách quê người. Ngõ sau là nơi vắng lặng, vào thời điểm ngày tàn đêm đến lại càng vắng lặng. Không gian ấy gợi người đọc nghĩ đến cảnh ngộ cô đơn và thân phận đau khổ của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến gia trưởng. Bao nhiêu tủi hờn dồn nén, chất chứa trong lòng mà họ không biết chia sẻ cùng ai. Người con gái xa nhà nhớ mẹ, nhớ quê… và xót xa, day dứt vì chẳng thể trọn đạo làm con là đỡ đần cha già mẹ yếu lúc ốm đau, cơ nhỡ. Bên cạnh đó có cả nỗi nhớ về một thời con gái đã qua cùng nỗi ngậm ngùi thân gái dặm trường, phải chia tay cha mẹ, anh em, khăn gói thẹo chồng. Câu hát thứ ba thể hiện lòng biết ơn tổ tiên, ông bà của các con, các cháu. Cái hay trong câu hát này là ở cách diễn tả tình cảm. Động từ Ngó lên bộc lộ thái độ trân trọng, tôn kính. Hình ảnh nuộc lạt mái nhà gợi nên mức độ không thể đo đếm cụ thể của lòng biết ơn cùng sự gắn kết bền chặt của tình cảm huyết thống. Bên cạnh đó, nó còn khẳng định công lao to lớn của tổ tiên, ông bà trong việc gây dựng nên gia đình, họ tộc. Cặp quan hệ từ chỉ mức độ tăng tiến (bao nhiêu… bấy nhiêu) nhấn mạnh thêm ý đó. Câu hát thứ tư có thể là lời của cha mẹ khuyên nhủ các con hoặc là lời của anh em ruột thịt tâm sự với nhau: Anh em nào phải người xa, Cung chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.. Quan hệ anh em khác hẳn với quan hệ của người xa (người dưng) bởi vì nó có nhiều cái chung, cái cùng rất thiêng liêng: Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Anh em là bát máu sẻ đôi, vui buồn, sướng khổ có nhau dưới một mái nhà. Quan hệ anh em được ví như thể tay chân biểu hiện sự gắn bó máu thịt, khăng khít không rời. Câu hát trên là lời khuyên nhủ anh em phải trên thuận dưới hòa, trên kính dưới nhường, phải biết nương tựa, giúp đỡ nhau để cha mẹ vui lòng. Đó cũng là cách báo đền chữ hiếu thiết thực nhất, cụ thể nhất đối với cha mẹ: Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy. Cả bốn câu hát trên đều sử dụng thể thơ lục bát với âm điệu tâm tình, nhắn nhủ và các hình ảnh so sánh quen thuộc (tất nhiên mỗi bài có những hình ảnh độc đáo riêng). Ca dao, dân ca là tiếng hát cất lên từ trái tim chất chứa bao nỗi buồn vui, sướng khổ của con người. Thơ ca dân gian nảy sinh và phát triển là để đáp ứng nhu cầu bộc lộ tình cảm ấy. Do đó, nó sẽ còn sống mãi, ngân vang mãi trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
Phát biểu cảm nghĩ về một số câu ca dao về chủ đề gia đình
1,619
Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học mà anh (chị) yêu thích Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học mà anh (chị) yêu thích Bài mẫu 1: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học…. – “gió lạnh đầu mùa” – Thạch Lam Dù Thạch Lam viết rất nhiều đề tài, nhưng chủ yếu ông vẫn dành nhiều sự ưu ái cho phụ nữ và trẻ nhỏ. Trẻ em trong văn chương của ông có nhiều gương mặt, nhiều hoàn cảnh, nhiều cách cư xử khác nhau nhưng lúc nào cũng thật đáng yêu, đáng mến với những cảm xúc quá đỗi trong trẻo, non tơ, ngọt ngào. Bài làm: Thạch Lam được biết đến như là một cây bút có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của thể loại văn xuôi trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Truyện ngắn Thạch Lam không hấp dẫn bạn đọc bằng những chi tiết xung đột gay cấn, mà gây xúc động độc giả một phong cách giản dị, trong trẻo và giàu cảm xúc. Đối với tôi, tác phẩm gợi nên những xúc cảm mãnh liệt nhất chính là truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam. Dù Thạch Lam viết rất nhiều đề tài, nhưng chủ yếu ông vẫn dành nhiều sự ưu ái cho phụ nữ và trẻ nhỏ. Trẻ em trong văn chương của ông có nhiều gương mặt, nhiều hoàn cảnh, nhiều cách cư xử khác nhau nhưng lúc nào cũng thật đáng yêu, đáng mến với những cảm xúc quá đỗi trong trẻo, non tơ, ngọt ngào. Truyện “Gió lạnh đầu mùa” mở đầu vào một buổi sáng khi thức dậy, Sơn bỗng thấy cái rét mướt tràn ngập khắp đất trời. “Mùa đông đột nhiên đến, không báo trước” khiến cái sân đất trước nhà Sơn khô trắng, gió lạnh thổi vi vu như muốn “rót” cái buốt giá vào da thịt con người. Sau khi đã ấm áp trong hai chiếc áo rét cùng chiếc áo áo vải thâm dài mặc phủ bên ngoài, Sơn rủ chị Lan ra ngoài chợ chơi. Nơi đây có những đứa trẻ con nhà nghèo đang chờ nó ra để chơi đánh khăn, đánh đáo. Lũ trẻ vẫn tập trung ở cuối chợ, nô nghịch như mọi khi, chỉ có điều trong mắt Sơn hôm nay những thằng Cúc, con Xuân, con Tý, con Túc: “Môi chúng nó tím lại, và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hàm răng đập vào nhau”. Thê thảm nhất trong đám trẻ con nhà nghèo là cái Hiên. “Con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay”. Tuy rách rưới nhưng đó lại là chiếc áo duy nhất của Hiên để chống lại mùa đông giá rét. Nhà nó nghèo, mẹ nó chỉ có nghề mò cua, bắt ốc thì làm gì có tiền may áo ấm. Sơn thầm nghĩ vậy và thế là trong đầu đứa trẻ thơ ngây bỗng thoáng qua một ý nghĩ tốt đẹp và nhân văn biết bao. Không chút lưỡng lự Sơn bàn với chị Lan về nhà lấy chiếc áo bông cũ vốn là kỷ vật của đứa em gái đã mất cho Hiên: “Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ, chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo. Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui”… Tác giả đã vẽ nên trong tác phẩm hai mảnh đời đối lập, đó là Sơn – một đứa trẻ may mắn khi được thức dậy trong cái chăn ấm áp, được sưởi tay trong hỏa lò, được mẹ và chị chăm sóc kỹ lưỡng, khi lo cho từng “chén chè nóng ấp vào mặt, vào má cho ấm”. Sơn có đến những hai chiếc áo rét cực dày, “một cái áo vệ sinh màu nâu sẫm và một cái áo dạ khâu chỉ đỏ”, tuy đã mặc từ năm ngoái, năm kia nhưng khi cầm chúng giơ lên Sơn vẫn “thấy mát lạnh cả tay”. Trong khi đó, những đứa trẻ kia vì nghèo khó phải vẫn phải đem da thịt trần trụi trong “bộ quần áo nâu bạc, đã rách vá nhiều chỗ” căng sức chống chọi với giá rét. Những chiếc áo rét năm ngoái, năm kia tưởng chừng như xưa cũ với Sơn nay lại là một niềm mơ ước, một món hàng xa xỉ với lũ trẻ. Chúng bỏ dở những trò chơi con trẻ, chỉ để được ngắm, được sờ và được ao ước, mộng tưởng về những chiếc áo của Sơn. Tình yêu thương của Sơn đã xua tan đi mùa đông lạnh giá, những tưởng câu truyện kết thúc ở đó. Nhưng một ngày, mẹ cái Hiên đã đem cái áo bông đến trả cho bà mẹ của chị em Sơn và nói: “Tôi về thấy cháu nó mặc cái áo bông, tôi hỏi ngay. Nó bảo của cậu Sơn cho nó. Tôi biết cậu ở đây đùa, nên tôi phải vội vàng đem lại đây trả mợ…” Hành động này giúp ta cảm nhận được sự tự trọng của mẹ Sơn, tuy nghèo nhưng vẫn giữ cho mình một tâm hồn đẹp đẽ. Còn đối với mẹ của Sơn thì cái áo bông cũ là di vật thiêng liêng. Và rồi, mẹ của Sơn cho mẹ cái Hiên vay năm hào bạc để mua áo rét cho con như một cách giúp đỡ nhưng không hề có ý khinh thường người mẹ nghèo. Cuối cùng, mẹ của Sơn âu yếm ôm con vào lòng và bảo: “Hai con tôi quý quá, dám tự do lấy áo đem cho người ta không sợ mẹ mắng ư?” Lời trách móc này lại là lời trách yêu, và có gì đó tự hào lẫn yêu thương trong lời nói của người mẹ: Tự hào vì con mình đã có một tấm lòng thật đẹp đẽ. Dù viết về cái nghèo, cái đói, cái khổ cùng quẫn, văn chương Thạch Lam vẫn thật đẹp. Giữa những sự khổ đau, giữa những tầng lớp xã hội khác nhau, vẫn luôn có những con người tốt bụng xóa mờ đi khoảng cách đó, tạo nên tình thương giữa người với người, sưởi ấm trong mùa đông lạnh giá. Bài mẫu 2: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học… -“Những tấm lòng cao cả” – Edmondo De Amicis Những nhân vật trong tác phẩm đi vào lòng người đọc với những nét tính cách riêng biệt, họ đại diện cho những mảnh đời trong cuộc sống hiện thực ngoài kia, nơi cái tốt, cái xấu đan xen vào nhau, nơi những khó khăn gian khổ dạy cho ta những bài học về cách làm người. Những nhân vật ấy thể hiện nét tính cách của mình thông qua những sự kiện với các nút thắt, mâu thuẫn, nhưng rồi, mọi thứ được giải quyết bằng tình người, bằng những tâm hồn trong sáng, đẹp đẽ. Bài làm: Nếu tác giả J. K. Rowling đã đưa ta đến với thế giới phù thủy đầy huyền ảo với những chiếc chổi bay, những câu thần chú mầu nhiệm trong tác phẩm Harry Potter, thì nhà văn người Ý Edmondo De Amicis lại đưa ta đến với những dòng nhật ký của Enrico Bottini, một cậu học trò 10 tuổi học tiểu học ở Ý. Enrico đã kể lại những sự kiện trong cuộc sống của cậu bằng một văn phong giản dị và trong sáng, thấm đẫm tình người, từ đó, giúp tôi nhận ra những bài học sâu sắc trong cuộc sống, nhận ra những điều mình cần thay đổi trên hành trình trưởng thành của bản thân. Trong cuốn nhật ký của mình, Enrico đã ghi lại những bức thư của bố, mẹ, những truyện đọc hằng tháng, những kỉ niệm sâu sắc, cảm động về thầy cô giáo, bạn bè, những mảnh đời bất hạnh, đáng thương mà cậu tình cờ chứng kiến… Cốt truyện diễn ra theo thứ tự thời gian xuyên suốt năm lớp 3 của Enrico. Ở đó Enrico đã được tiếp xúc với những cậu bé đủ mọi tính cách như Garone là một người bạn to lớn, hào hiệp, luôn giúp đỡ mọi người, bênh vực kẻ yếu; De Rossi là một chú bé rất thông minh, luôn dẫn đầu lớp nhưng không hề kiêu căng; trong khi đó Votini lại luôn đố kị với De Rossi. “Từ biệt” là trang nhật kí cuối cùng ghi lại cảnh thầy giáo đọc danh sách những học sinh được lên lớp. Cảnh từ biệt thầy, cô giáo, từ biệt bạn bè và ngôi trường tuổi thơ được nói đến thật xúc động. Enrico ôm hôn các bạn. Bố cậu nhìn ngôi trường, giọng run run nói: “Vậy thì xin từ biệt!”. Mẹ cậu cũng nhắc lại: “Xin từ biệt!”. Còn Enrico thì quá xúc động, không thể nói lên được một lời, cậu đã 12 tuổi. Qua những trang nhật ký của mình, không chỉ Enrico học được nhiều điều, mà độc giả cũng nhận ra được rất nhiều bài học trong cuộc sống. Những khi Enrico phạm một sai lầm nào đó, bố mẹ cậu không trách mắng, mà lại viết một bức thư nhắn nhủ, giải thích để con mình có thể tự nhận ra những lỗi lầm. Chẳng hạn bố Enrico đã viết bức thư động viên cậu học tập, nói cho cậu biết cậu đã may mắn thế nào khi được đến trường, bức thư cảnh cáo của bố khi cậu trả lời thiếu lễ độ với mẹ, ông nghiêm khắc viết: “Thà rằng bố phải thấy con chết đi, còn hơn là thấy con bội bạc với mẹ con…”, hay bài học mẹ hiền từ của cậu dạy khi thấy cậu thờ ơ với người nghèo khó. Không chỉ dừng lại ở đó, tác phẩm còn kể về bài học về sự quả cảm quên mình của cậu bé lớp hai Robetti liều mình cứu một em bé ở lớp vỡ lòng thoát chết, cậu đã bị xe đè lên nát bàn chân nhưng khi vừa tỉnh dậy chỉ hỏi một câu“ cặp sách của cháu đâu rồi? ” Hay như chuyện các em nữ sinh đã cùng nhau gom tiền và hoa để giúp đỡ cậu bé nạo ống khói nghèo khổ, đáng thương khi cậu trót làm rơi toàn bộ số tiền mà phải vất vả lắm cậu mới kiếm được. Trường học đối với Enrico là một thế giới thu nhỏ, nơi cuộc sống của bạn bè xung quanh hiện ra như những bài học trên đường đời. Đó là Coretti vác củi từ năm giờ sáng, vào lớp ngủ thiếp đi, thầy Pecboni để đến hết giờ mới đánh thức dậy, rồi ôm đầu cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu và nói. “Thầy không mắng đâu. Thầy biết là trước khi đến lớp con đã phải làm lụng nhiều.” Những người bạn như Precossi, Crossi, Coretti thì sinh ra trong gia đình nghèo nhưng luôn cố gắng vươn lên trong học tập và lao động. Ngoài ra còn có những nhân vật có tính cách đặc biệt như Stacdi lầm lì, ít nói, thậm chí bố cậu đã nói với thầy phải rất kiên nhẫn vì con ông "đầu đất", vậy mà cuối cùng Stacdi trở thành một trong những học sinh giỏi nhất lớp; lại còn có tên Franti hư đốn luôn bắt nạt các bạn khác, thậm chí hỗn cả với thầy. Tuyến nhân vật người lớn cũng được xây dựng ở nhiều tính cách như thầy chủ nhiệm thì không bao giờ cười nhưng rất thương yêu học sinh, thầy Coatti dạy lớp 2 thì rất vui tính, bố mẹ Enrico thì luôn chăm sóc con hết mực, dạy cho con nhiều bài học qua những lá thư, trong khi đó bố Precossi thì luôn say rượu và đánh đập con, phải đến khi cậu bé nhận huy chương xuất sắc của lớp ông mới tỉnh ngộ,… Các thầy cô trong tác phẩm đã nuôi dưỡng những đứa trẻ của mình bằng tất cả tình yêu thương, lòng yêu nghề, và học sinh cũng không quên những gì mà thầy cô đã hi sinh để dạy dỗ cho mình. Như trong ngày phát phần thưởng, ông bồi thẩm kết thúc buổi lễ, nhắc học sinh: “Ra khỏi đây các cháu không được quên gửi một cái chào và một lời cám ơn đến những người đã vì các cháu mà không quản bao mệt nhọc, những ngươi đã hiến tất cả sức mạnh của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các cháu, những người sống chết vì các cháu, và họ đây này” Rồi ông chỉ tay về phía các cô giáo, thầy giáo. Những nhân vật trong tác phẩm đi vào lòng người đọc với những nét tính cách riêng biệt, họ đại diện cho những mảnh đời trong cuộc sống hiện thực ngoài kia, nơi cái tốt, cái xấu đan xen vào nhau, nơi những khó khăn gian khổ dạy cho ta những bài học về cách làm người. Những nhân vật ấy thể hiện nét tính cách của mình thông qua những sự kiện với các nút thắt, mâu thuẫn, nhưng rồi, mọi thứ được giải quyết bằng tình người, bằng những tâm hồn trong sáng, đẹp đẽ. Không phải lúc nào cuộc sống cũng là màu hồng, nhưng trên hết, ta phải giữ cho bản thân trong sạch giữa cuộc đời, phải biết yêu thương bạn bè, cha mẹ, thầy cô, những người thân quen, những người lạ ngoài kia, và yêu thương chính bản thân mình. Bài 3: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học…. – “lão hạc” – Nam Cao Lão Hạc chết. Cái chết của lão Hạc là cái chết cùng đường, tuy bi thương nhưng sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nông dân. Nó khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Bài làm: Chúng ta đã từng học qua những truyện ngắn như Lão Hạc, Tắt đèn và chắc không mấy ai trong số chúng ta lại không trầm trồ thán phục tài năng nghệ thuật của Nam Cao hay Ngô Tất Tố. Với riêng tôi, dù đã đọc đi đọc lại truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao rất nhiều lần nhưng dường như lần nào tôi cũng lại tìm thấy thêm được một vài điều lý thú. Nó cuốn hút tôi, lay động tôi, khi thì gợi trong tôi sự căm thù, khi lại gọi về chan chứa những yêu thương. Lão Hạc là sản phẩm của một tấm lòng nhân đạo cao cả. Nó là tình yêu thương, là sự ngợi ca, trân trọng người lao động của Nam Cao. Giống như Ngô Tất Tố cùng nhiều nhà văn thời đó, Nam Cao đã dựng lên hình ảnh người nông dân Việt Nam trước Cách mạng với những phẩm chất đáng quý, đáng yêu: chăm chỉ, cần cù, giàu tình yêu thương và giàu đức hy sinh.Trước cách mạng, Nam Cao say sưa khám phá cuộc sống và tính cách của người nông dân. Trong các tác phẩm của ông, môi trường và hoàn cảnh sống của nhân vật chính thường gắn liền với cái nghèo, cái đói, với miếng ăn và với các định kiến xã hội đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ vào cách nhìn của con người ở nông thôn. Lão Hạc cũng vậy, suốt đời sống trong cảnh nghèo và cái đói. Lão đã dành hầu như cả đời mình để nuôi con mà chưa bao giờ nghĩ đến mình. Lão thương con vô bờ bến: thương khi con không lấy được vợ vì nhà ta nghèo quá, thương con phải bỏ làng, bỏ xứ mà đi để ôm mộng làm giàu giữa chốn hang hùm miệng sói. Và đọc truyện ta còn thấy lão đau khổ biết nhường nào khi phải bán đi cậu Vàng, kỷ vật duy nhất của đứa con trai. Không bán, lão biết lấy gì nuôi nó sống. Cuộc sống ngày thêm một khó khăn. Rồi cuối cùng, đến cái thân lão, lão cũng không giữ được. Lão ăn củ chuối, ăn sung luộc. Nhưng lão nghĩ, lão “không nên” sống nữa. Sống thêm, nhất định lão sẽ tiêu hết số tiền dành dụm cho đứa con mình. Vậy là, thật đớn đau thay! Lão Hạc đã phải tự “sắp xếp” cái chết cho mình. Cuộc sống của nông dân ta trước cách mạng ngột ngạt đến không thở được. Nhìn cái hiện thực ấy, ta đau đớn, xót xa. Ta cũng căm ghét vô cùng bọn địa chủ, bọn thực dân gian ác. Lão Hạc chết. Cái chết của lão Hạc là cái chết cùng đường, tuy bi thương nhưng sáng bừng phẩm chất cao đẹp của người nông dân. Nó khiến ta vừa cảm thương vừa nể phục một nhân cách giàu tự trọng. Lão chết nhưng đã quyết giữ cho được mảnh vườn, chết mà không muốn làm luỵ phiền hàng xóm. Đọc Lão Hạc ta thấy đâu phải chỉ mình lão khổ. Những hạng người như Binh Tư, một kẻ do cái nghèo mà bị tha hoá thành một tên trộm cắp. Đó là ông giáo, một người trí thức đầy hiểu biết nhưng cũng không thoát ra khỏi áp lực của cảnh vợ con rách áo, đói cơm. Cái nghèo khiến ông giáo đã phải rứt ruột bán đi từng cuốn sách vô giá của mình. Nhưng cái thứ ấy bán đi thì được mấy bữa cơm? Vậy ra ở trong truyện tất cả đã đều là lão Hạc. Lão Hạc phải oằn mình mà chết trước thử hỏi những người kia có thể cầm cự được bao lâu? Lão Hạc cho ta một cái nhìn về quá khứ để mà trân trọng nhiều hơn cuộc sống hôm nay. Nó cũng dạy ta, cuộc sống là một cuộc đấu tranh không phải chỉ đơn giản là để sinh tồn mà còn là một cuộc đấu tranh để bảo toàn nhân cách. Bài mẫu 4: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học….- “Bến quê” – Nguyễn Minh Châu Mỗi con người đều có một bến quê trong lòng mình, nhưng không phải ai cũng nhận ra nó quý trọng và thiêng liêng để mà giữ gìn trân trọng khi còn đủ sức. Nhĩ nuối tiếc khi anh nhận ra cái bến quê ấy hấp dẫn với anh biết nhường nào và anh đã gửi gắm cả niềm khao khát ấy vào đứa con trai. Bài làm: Trong những tác phẩm văn học đã được học ở cấp hai, truyện ngắn “Bến quê” của nhà văn Nguyễn Minh Châu (chương trình lớp 9) để lại trong tôi một ấn tượng rất mạnh mẽ. Tôi chưa đến tuổi của anh Nhĩ để thấm thía đủ cái triết lí sâu sắc mà nhà văn gửi gắm ở niềm kao khát hướng ra bên quê phía bên kia sông, nhưng tôi đã phần nào cảm nhận được nỗi niềm nuối tiếc của anh khi anh nằm trên giường bệnh đếm những ngày còn lại của cuộc đời mình. Thói thường người đời vẫn coi thường hiện tại, mải mê đuổi theo những hư danh phía trước mà không nhận ra những giá trị đích thực của những gì mình đang có. Nhà văn Nguyễn Minh Châu qua Bến quê đã muốn nói với mọi người triết lí sâu xa ấy. Là nhà văn luôn có những phát hiện mới mẻ về những điều quen thuộc và giản dị của cuộc sống, ông đã phát hiện ra những nỗi băn khoăn, day dứt, nuối tiếc của con người khi đứng trước nhưng gì đã qua. Anh Nhĩ đã từng đi rất nhiều nơi, cả cuộc đời anh chạy theo danh vọng mà anh quên mất cái bến quê trước cửa nhà. Anh không có thời gian để ý đến nó. Khi nằm trên giường bệnh, không còn khả năng đi lại, anh mới nhận ra rằng cái bến quê ấy hấp dẫn biết bao nhiêu. Anhbừng ngộ ra rằng anh đã chạy theo hư danh mà bỏ qua mất một điều quan trọng và vô cùng quý giá với mình. Anh ân hận vì cả cuộc đời anh mới chỉ sang cái bến sông ấy có hai lần, và một lần là ngày cưới của anh. Mỗi con người đều có một bến quê trong lòng mình, nhưng không phải ai cũng nhận ra nó quý trọng và thiêng liêng để mà giữ gìn trân trọng khi còn đủ sức. Nhĩ nuối tiếc khi anh nhận ra cái bến quê ấy hấp dẫn với anh biết nhường nào và anh đã gửi gắm cả niềm khao khát ấy vào đứa con trai. Anh nhờ nó đi đò sang sông để mua cho anh bất cứ thứ gì phía bên sông ấy. Nhưng thằng bé, cũng như anh khi còn trẻ, không thể nhận ra những tâm sự của cha. Nó lại mải chơi nên bị lỡ chuyến đò ngang cuối cùng trong ngày. Thằng bé không vội vã bởi nó còn quá nhiều thời gian để sống, bởi với nó cái bến sông ấy cũng rất bình thường. Thằng bé sẽ lại giống như cha và như tất cả mọi người, không thể nhận ra sự đáng quý và đáng trân trọng của những gì đang trong tầm tay. Một người bệnh nặng, không còn khả năng đi lại, ngắm cái bến sông qua khung cửa sổ, khó khăn nhích từng tí một trên giường để được ngắm cái bến sông. Và nuối tiếc vì mình đã vô tình với quê hương, với những điều bình dị và vô cùng quý giá. Cốt truyện chỉ đơn giản vậy thôi nhưng chứa đựng cả một vấn đề nhân sinh rất lớn. Điều nhà văn nói đến trong tác phẩm này cũng không phải là hoàn toàn mới: Phải biết trân trọng những gì mình đang có và đã có, không nên quá mải mê với những hư danh mà quên mất gí trị của hiện tại. Văn học đã từng nói về điều này. Những Nguyễn Minh Châu đã có một cách thể hiện thật giản dị và sâu sắc. Bến quê là câu chuyện về sự bừng ngộ của một con người ở những ngày cuối cùng củacuộc đời. Vì thế sự bừng ngộ ấy òn có ý nghĩa như một sự thức tỉnh đối với những ai đang sống, hăm hở để tiến đến tương lai và còn tiếp tục bỏ lại phía sau những điều nuối tiếc. Cuộc sống không thể không có những tiếc nuối. Song nếu để mình phải nuối tiếc quá nhiều hoặc nuối tiếcnhững điều thiêng liêng nhất mà mình trót đánh mất nghĩa là đã bỏ phí một quãng đời quý giá.
Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học mà anh (chị) yêu thích
3,839
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về một đoạn văn mà em thích nhất trong bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân Bài làm Bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân là một tác phẩm đặc sắc mà ở đó đoạn tả mặt trời mọc trên biển đã gây cho em sự thích thú, ham mê và trí tưởng tượng sâu sắc nhất. Cảnh mặt trời mọc trên biển là một bức tranh rất đẹp và đầy chất thơ. Đây là đoạn văn miêu tả đẹp nhất của bài kí. Như một “sản phẩm quí”, vẻ đẹp của thiên nhiên như dâng sẵn, đón chờ, nhưng không phải ai cũng có thể cảm nhận được vẻ đẹp ấy một cách đầy đủ và tinh tế. Chính vì thế mà ngắm nhìn bình minh Cô Tô đối với Nguyễn Tuân không phải là một thú vui hưởng thụ, dễ dãi, thụ động mà là cả một cuộc đi tìm cái đẹp một cách công phu, đầy sự khám phá, sáng tạo. Như một nghệ sĩ đi săn lùng cái đẹp, Nguyễn Tuân đã dậy từ canh tư, lúc còn tôi đất, cô đi mãi trên đầu đá sư, ra thấu đầu mủi đảo. Và ngồi đó rình mặt trời lên. Người đọc cảm mến tác giả về lòng yêu quí, tôn thờ “cái đẹp” và cảm phục, thích thú vì công phu tìm kiếm cái đẹp của người nghệ sĩ, hồi hộp cùng tác giả chờ đón cái “đẹp” xuất hiện. Rạng đông được tác giả miêu tả trong một câu rất súc tích và giàu sức gợi cảm. Chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây, hết bụi- Cảnh rất thực mà đẹp thần tiên, trong trẻo, tinh khiết. Nguyễn Tuân đã khéo léo, tinh tế tạo ra cái “phông”, cái nền cho vầng dương hiện trên mặt biển: Mặt trời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh và phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Hình ảnh so sánh mà tác giả đã dùng ở đây thật là đặc sắc, vừa rất thực mà cũng rất mơ, rất kì ảo. “Thực” là vì qua làn hơi nước của mặt biển, mắt thường có thể nhìn rõ hình dáng “tròn trĩnh” của vầng thái dương. Mặt trời lúc ấy dịu êm, chưa chói loá, chưa làm nhức mắt, khiến cho người ta có thể ngắm nhìn và có cảm giác vầng mặt trời hiền hoà phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Hình ảnh so sánh “rất mơ” rất kì ảo vì nó là kết quả của óc quan sát, nhận xét tinh tế và kết hợp với trí tưởng tượng phong phú, táo bạo của tác giả. Không dừng ở đó, óc quan sát sắc sảo, tâm hồn tinh tế, kết hợp với trí tưởng tượng phong phú, táo bạo của Nguyễn Tuân đã biện những lời văn miêu tả của ông thành một bức tranh sơn mài tráng lệ. Sự am hiểu của tác giả về hội hoạ tăng thêm hiệu lực cho ngòi bút miêu tả, đoạn văn giàu chất tạo hình và màu sắc khiến nó sáng rực lên, đẹp một vẻ đẹp kì ảo mà lại rất thực. Người đọc chưa hết sững sờ trước hình ảnh so sánh mặt trời tròn trĩnh, phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn, thì lại sững sờ trước một vẻ đẹp kì ảo khác: Quả trứng hồng hào, thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc, đường kính mâm rộng bâng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng. Ba tính từ đặt liên tiếp cạnh nhau (hồng hào, thăm thẳm, đường bệ) có tác dụng tả màu sắc, trạng thái, hình dáng mặt trời làm cho nó nổi bật lên trên cái mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hửng hồng. Màu hồng và màu ánh bạc là hai màu sắc có sức gợi cảm của tranh sơn mài, cũng là hai màu sắc chủ đạo của bức tranh này. Vẻ đẹp của mặt trời mọc trên biển Cô Tô quả là tặng vật vô giá của thiên nhiên ban cho người lao động suốt đời gắn bó với biển cả. Y như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Câu văn đẹp, một vẻ đẹp cổ điển, mẫu mực. Hình ảnh so sánh vầng mặt trời và bầu trời trên biển Cô Tô như một mâm lễ phẩm tiến ra từ trong bình minh… là một hình ảnh hết sức trang trọng, uy nghi, lộng lẫy và giàu chất nhân bản vì nó hướng tới “Con người”, vì “Con người”, kính trọng người lao động. Ta như có cảm giác thiên nhiên vĩ đại đang tự đẹp lên vì “Con người”, đang cung kính dâng lễ phẩm trong buổi lễ mừng thọ tất cả những người chài lưới trên muôn thuở biển Đông. Và cùng lúc, chúng ta đón nhận mâm lễ phẩm của Nguyễn Tuân, một mâm lễ phẩm sang trọng, ông dâng cho muôn thuở văn chương: những trang viết tài hoa, huy hoàng của ông! Đến đây, người đọc cảm phục Nguyễn Tuân vì tài văn chương mà cũng vô cùng kính trọng cái “tâm” rất đẹp của ông. Cái “Tâm” rất đẹp của Nguyễn Tuân luôn hướng về người dân lao động của đất nước mình. Bức tranh bình minh trên biển Cô Tô sẽ giảm đi rất nhiều vẻ đẹp nếu như nhà văn không điểm vào đó mấy cánh chim không khi nào thiếu vắng trên biển. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái chất bạc nén. Một con Hải âu bay ngang là là nhịp cánh. Đôi nét chấm phá cuối cùng đã hoàn tất bức tranh, làm cho bức tranh sống động, đầy chất thơ. Đây là những cánh chim xưa thường chấp chới, sáng lên trong những áng thơ cổ điển. Trong đoạn văn này, những cánh chim biển nhỏ nhoi có tác dụng rất lớn: nó thổi hồn thơ vào văn xuôi. Phải chăng đó là nét tài hoa của ngòi bút văn chương Nguyễn Tuân. Em chưa một lần được ngắm cảnh bình minh ở biển. Nhờ đoạn kí của Nguyễn Tuân đã giúp em chiêm ngưỡng, thưởng thức vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và kì diệu của mặt trời mọc trên biển Cô Tô. Cảm ơn nhà văn với trí sáng tạo đã khám phá, đã “vẽ” lên trong văn chương vẻ đẹp của Cô Tô, giúp ta thêm yêu vùng đảo xa xôi này. Cảm ơn Nguyễn Tuân đã dạy ta cả cách đến với “Cái đẹp”.
Phát biểu cảm nghĩ về một đoạn văn mà em thích nhất trong bài kí Cô Tô của Nguyễn Tuân
1,157
Phát biểu cảm tưởng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh Hướng dẫn lập dàn ý – Mở bài: Giới thiệu về ngôi trường: ở đâu, tên gọi, em học ở đó lúc nào? Tình cảm đối với ngôi trường. – Thân bài: Sơ lược tiểu sử ngôi trường: có từ bao giờ, tên gọi. Miêu tả ngôi trường: dãy lầu, phòng học, cây cối xung quanh. Công việc chăm sóc và bảo vệ ngôi trường. Phát biểu cảm nghĩ về ngôi trường – Kết bài. Cảm xúc về ngôi trường Lời tự hóa của bản thân với ngôi trường.
Phát biểu cảm nghĩ về ngôi trường
88
Phát biểu cảm nghĩ về người bà kính yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người bà kính yêu của em Đã là con người ai chẳng yêu gia đình mình, yêu cái hương khế ngọt tuổi thơ rải dọc theo triền sông nhỏ, yêu cái vẫy đuôi xoắn tít của chú cún, yêu tất cả những gì được thấy là hay ho qua con mắt thời trẻ nhỏ, một thời thơ dại và ngây ngô. Là một lẽ tất nhiên, trẻ con yêu mẹ, yêu cha, những người gắn bó cả đời với chúng. Tuổi thơ tôi gắn bó nhất với bà ngoại. Tôi yêu nhất bà ngoại của tôi. Tầm tôi hai, ba tuổi tôi cứ nghĩ bà cụ nào cũng hiền và đẹp như bà tôi. Bởi một lẽ, hình ảnh bà gần như choán hết tâm trí tôi, bà lo cho tôi mọi thứ, lúc nào bà cũng ở bên tôi, đưa tôi vào thế giới diệu kỳ chuyện cổ. Bà tôi vẫn đẹp, một cái đẹp hiền hòa, dịu dàng. Những lọn tóc dày của bà hàng ngày tôi vẫn miệt mài tết thành bím. Và khi soi mình trong gương bà chỉ cười trừ. Tôi yêu bà, yêu hương hoa bưởi tinh khiết vấn vương trong mái tóc, yêu đêm trăng bà bày cách ngồi đan rổ, yêu buổi trưa nắng theo bà ra đồng. Dáng người cao cao, đôi bàn tay nhăn nheo mà ấm áp, như truyền làn hơi ấm vào tâm hồn tôi, như chắt lọc những giọt nước tinh khiết nhất chảy vào tâm trí, từ cái thế giới ngoài khoảng sân, góc vườn nhà mình. Trước cái thế giới bao la mà tôi sẽ xòe cánh bay vào đó, bà như một tấm khiên mỏng manh đánh bật những điều xấu xa và đưa tôi đi đúng hướng, là một người hoa tiêu vững vàng rắn rỏi lại đầu óc tôi hướng về cái thiện. Bà còn là nhiều điều quý giá nữa mà tạo hóa ban tặng cho tôi. Như một chân lý của cuộc đời, bà, vị thần ánh sáng của tôi, sẽ mãi mãi giữ một vị trí quan tọng trong tim đứa cháu hiếu thảo này. Bà ơi! Có lời nào để cháu nói hết được nỗi tiếc thương bà…
Phát biểu cảm nghĩ về người bà kính yêu của em
381
Phát biểu cảm nghĩ về người bố kính yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người bố kính yêu của em Bố – sao tiếng gọi lại tha thiết, thân thương đến vậy? Người bố, đó là người đã sinh thành ra chúng ta, đã nuôi dưỡng chúng ta. Bố là mái ấm che chở, bảo vệ cho chúng ta, là trụ cột vững chắc trong gia đình. Em cũng có một người bố mẫu mực. Dáng bố trông thật to cao và em cũng rất hãnh diện vì cái dáng đó của bố đối với bạn bè. Bố là một người rất yêu thương em. Có một câu chuyện mà em còn nhớ mãi. Chả là thế này, ngày xưa, nhà em nghèo lắm. Tết đến, cả gia đình em ra phố chơi xuân như mọi gia đình khác. Thấy con người ta, tay đứa nào cũng cầm quà do bố mẹ tặng mà con mình lại không có. Bố thương em quá, nghĩ em tủi thân liền bỏ ngay chiếc áo mới được cho để đi đổi lấy tiền mua quà cho em vui. Khi nhận được món quà ấy, em cảm thấy rất vui mừng, hạnh phúc. Nhưng sau đó, em lại thấy chạnh lòng thương bố, vì em mà bố đã đánh đổi cả cái áo quý giá nhất cho em để em được hạnh phúc. Em cảm thấy rất xấu hổ vì đã có nhiều lần không nghe lời như không làm bài tập, cãi lại lời bố mẹ. Bố luôn luôn hướng đến cái tốt cho em, tránh điều xấu xa cho con mình. Chỉ một biểu hiện bất bình thường nhất thôi là: trong bữa ăn, bố chỉ toàn gắp thức ăn sang bát em và mẹ mà chẳng bao giờ cho mình. Những gì tốt đẹp là bố mình dành cho em hết. Bố thương em nên rất lo đến tương lai học hành của em. Bố không bao giờ tiếc một thứ gì để cho em được học. Đối với em, bố cho rằng chẳng có nhiệm vụ nào khác ngoài ăn học. Tuy nhiên, bố không chỉ cho em học mà còn nhắc nhở em cả về thể thao nữa. Nghĩ là làm, thế là trong thời gian biểu của em có thêm một hoạt động nữa, đó là vào sáng sớm, cả hai bố con cùng dậy đi chạy bộ quanh hồ. Cũng có khi, vào buổi chiều, nếu rỗi, em có thể theo bố đi tập cử tạ. Nhờ thế mà em cũng có một sức khỏe, thể lực khá tốt. Bố có lúc còn dạy em đánh ghi ta nữa. Nhìn những ngón tay điêu luyện lướt trên dây đàn, em cảm thấy quá thán phục và cảm ơn ông trời đã ban cho em một người bố rất tốt và tâm lý với em. “Công cha như núi Thái Sơn” hay ” Công cha như núi ngất trời” Giờ, bố em đã đi công tác xa được gần một tháng. Em nhớ bố quá. sắp tết rồi, thời tiết sẽ lạnh lắm. Bố ơi, bố phải mặc nhiều áo ấm đấy nhé! Bố phải giữ sức khỏe đấy, nếu không sẽ bị cảm. Bố có biết thiếu bố, con cảm thấy buồn và cô đơn đến thế nào không? Con chỉ mong sao, bố sẽ quay trở về ngay lập tức để con sẽ ôm chầm lấy bố để chỉ nói một câu, một câu thôi. Đó là: Con yêu bố!
Phát biểu cảm nghĩ về người bố kính yêu của em
578
Phát biểu cảm nghĩ về người cha kính yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người cha kính yêu của em Từ khi lọt lòng, không ai là không được nghe tiếng ầu ơ của mẹ ru con, của bà ru cháu. Vì vậy, những đứa trẻ được tình yêu của mẹ bao bọc thì đều yêu thương mẹ. Nhưng tôi thì khác, cho dù bố không chăm sóc tôi được như mẹ nhưng tôi vẫn yêu bố hơn. Trong gia đinh, người cha luôn là ngọn núi cao ngất, là chỗ dựa vững chắc cho đứa con, là điểm tựa mỗi khi con gặp sóng gió. Không ai là không tự hào khi có một người cha như vậy phải không? Tôi càng hiểu rõ tình cảm ấy vào một ngày mẹ tôi đi công tác xa nhà. Sáng hôm đi học, bố dặn tôi nhớ mang theo áo mưa. Tôi chợt nghĩ. Trời nắng thế thì sao có thể mưa được nên tôi vội chạy đến trường mặc kệ lời gọi của bố tôi. Chỉ một lúc sau, mây đen ùn ùn kéo tới, ngồi trong lớp mà tôi thấy nao nao, nhớ lại lời nhắc nhở của bố mà tôi thấy ân hận. Trời cứ mưa, mưa rả rích một lúc rồi lại ào ào mưa như thác. Những tiếng sấm rền vang khiến cho tôi nghĩ đến cảnh phải ở trường một mình. Tôi ước gì lúc đó mình nghe lời bố thì sao đến thế này. Tan học, tôi chạy thẳng về nhà mặc cho trời vẫn cứ mưa như trút. Đến tối, người tôi nóng ran, tôi thiếp đi trong cơn lo sợ. Trong đầu tôi vẫn in rõ hình ảnh buổi sáng hôm ấy. Bố tôi nhẹ nhàng đắp khăn lên trán tôi rồi dặn dò tôi. Tôi tự cảm thấy ân hận vì việc làm buổi sáng. Bàn tay bố thô ráp nhẹ nhàng, an ủi tôi. Lúc ấy, tôi mới hiểu được tình cha con thiêng liêng đến thế nào? Trông ngoài thì bố lạnh lùng lắm nhưng trong tim bố luôn cháy lên một tình yêu vô bờ bến đối với con. Hay cứ yêu thương bố như vậy bởi vì những tình cảm của cha con và cả một cuộc sống âm thầm lặng lẽ, chỉ cho mà không nhận. Bố chính là một món quà vô cùng quý giá mà thượng đế ban tặng cho chúng ta đó.
Phát biểu cảm nghĩ về người cha kính yêu của em
407
Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ của em văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ của em văn 7 Mỗi người từ khi sinh ra đến khi lớn lên đều được sống trong vòng tay yêu thương của ông, bà, cha mẹ… trong đó, mẹ là người đã mang nặng đẻ đau để sinh ra ta, là người luôn luôn lo lắng, chăm sóc, yêu thương ta hết mực, Tôi cũng như mọi người, công có một người mẹ như thế. Người mẹ nào cũng yêu thương con mình, và cũng không có người con nào lai không yêu mến, kính trọng người mẹ đã sinh ra mình. Tôi rất kính yêu người mẹ của mình – người đã sinh ra tôi, cho tôi một cuộc sống hạnh phúc. Khi còn đi học mẫu giáo, ngày nào mẹ cũng đưa tôi đi học, trước khi tôi vào lớp, mẹ luôn chúc tôi được điểm cao, đừng để cô giáo phải nhắc. Lúc đi học về, tôi luôn khoe với mẹ những điểm tốt. Và thật vui sướng khi tôi được nhìn thấy nụ cười rạng rỡ trên môi mẹ. Những lúc như thế, tôi lại thầm nghĩ: phải luôn luôn đạt điểm tốt để được nhìn thấy mẹ cười. Cho đến bây giờ, khi đã là một học sinh cấp hai, tôi vẫn luôn phấn đấu như thế. Những lúc tôi bị ốm, mẹ lúc nào cũng ở bên tôi, chăm sóc cho tôi, động viên tôi mau khỏi ốm. Ánh mắt mẹ tràn đầy hy vọng, tin tưởng. Chỉ một ánh mắt, một vòng tay của mẹ cũng có thể cho tôi sức mạnh để vươn lên. Đối với tôi, mẹ thật là quan trọng. Mẹ là nguồn động viên, là chỗ dựa lớn nhất cho tôi, không có mẹ cũng sẽ không có tôi. Mẹ là người quan trọng nhất đối với ta. Chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng người mẹ của mình.
Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ của em văn 7
324
Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ thân yêu của em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ thân yêu của em Đã biết bao bài thơ, bài văn nói về mẹ, nói về những tình cảm thân thiết nhất của mẹ dành cho con. Ôi! Mẹ kính yêu của con. Không có một nhà văn nào, lời bài hát nào có thể sánh được tình cảm của mẹ. Nếu có một ông Tiên hiện ra và ban cho con một điều ước, con sẽ ước rằng: “Mẹ sẽ sống mãi mãi trên cõi đời này, luôn đi với con và sát cánh mãi mãi bên con”. Giá như điều đó trở thành sự thật, dù có phải chờ đợi thật lâu thì con vẫn hy vọng mong ước đổ sẽ trở thành sự thật. Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào. Con không biết hết được những câu thơ, bài hát nói về mẹ, nhưng con vẫn hiểu rằng, mẹ là tất cả. Tình mẹ được so sánh với Biển Thái Bình, nhưng trong tâm trí mỗi người, mẹ còn hom cả biển Thái Bình rộng lớn, bao la, ngút ngàn ấy. Con yêu mẹ nhiêu lắm, nhiều hơn cả chân trời vô tận không biết đâu là bến bờ. Và tình cảm của con sẽ không bao giờ thay đổi, mãi mãi và mãi mãi. Mẹ tần tảo nuôi con từng ngày từng giờ. Nhớ dáng hôm nào mẹ lặng lẽ đưa theo con ra chợ bán rau, rồi đến tối mịt mới đưa con về nhà. Hay cả những lần mẹ chơi với con vui vẻ, sung sướng biết nhường nào, giờ đây chỉ còn là ký ức. Khi con đã lớn khôn, con đã hiểu được trong niềm vui sướng ấy, mẹ có biết bao nhiêu nhọc nhằn, vất vả hằn trên vầng trán cao cao. Và mẹ đã kìm nén nước mất để cho con được nở nụ cười ngây thơ, tinh nghịch như bao đứa trẻ khác. Mẹ đã che chở cho con đến khi trưởng thành, nuôi con lớn khôn để mong một ngày, con sẽ có ích cho xã hội. Mẹ ơi! Ngày đó không còn xa nữa đâu! Con hứa sẽ không phụ công sinh dưỡng của mẹ. Con hiểu mỗi bước đi của con đểu khắc ghi những tình cảm thiết tha, êm đềm của mẹ.
Phát biểu cảm nghĩ về người mẹ thân yêu của em
404
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa pa” Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa pa” Bài làm Tác phẩm “Lặng lẽ Sa pa” được nhà văn Nguyễn Trung Thành viết trong một chuyến đi thực tế lên Sa pa công tác. Với giọng nhân văn nhẹ nhàng, sâu sắc tác giả Nguyễn Thành Trung đã mang tới cho người đọc một cái nhìn mới về những con người nơi đây. Những con người sống lặng lẽ, âm thầm cống hiến cho công việc và lý tưởng của mình. Những nhân vật trong truyện ngắn dù được miêu tả ít hay nhiều, chi tiết hay thoáng qua thì đều hiện lên vô cùng cao quý, với tinh thần nhân văn đáng khâm phục. Câu chuyện xoay quanh nhân vật anh thanh niên. Một chàng trai trẻ không rõ tên tuổi, không có quê quán chỉ biết anh làm nghề khí tượng thủy văn. Công việc của anh là: đo nắng, đo mưa, đo gió mây, giông bão… để đưa ra dự đoán chính xác nhất cho người dân biết trước để phòng tránh. Anh thanh niên được tác giả phác họa lên với tấm lòng yêu đời, yêu nghề, anh có tinh thần trách nhiệm vô cùng cao với nghề nghiệp của mình. Công việc của anh gian khổ, vất vả, có chút nhàm chán và tẻ nhạt, khi mỗi ngày anh phải dậy từ một giờ sáng đi lên đỉnh núi Yên Sơn để làm việc. Những đêm mùa đông đường mưa tuyết trơn trượt nhưng mà anh vẫn lặng lẽ làm việc của mình một cách cần mẫn không hề cảm thấy vất vả. Bởi với anh thanh niên công việc chính là nguồn sống, là niềm vui của cuộc đời anh “Công việc vất vả vậy nhưng rời xa nó cháu thấy nhớ lắm”. Những lời tâm sự chân thành của anh thanh niên với mọi người khi nói về công việc của mình khiến nhiều người phải xúc động, ngưỡng mộ cho một tấm lòng cao thượng cống hiến vì công việc của anh. Sống một mình, nhưng anh thanh niên đã tạo cho mình một cuộc sống vô cùng gọn gàng ngăn nắp, đầy trách nhiệm với công việc và cuộc sống. Ngoài giờ làm việc, anh còn nhờ bác lái xe mua giúp những quyển sách để bổ sung thêm kiến thức còn thiếu xót. Ngoài ra, anh còn nuôi thêm con gà để có trứng ăn, trồng thêm luống rau, những luống rau anh chăm sóc tốt nên quanh năm xanh tốt chẳng bao giờ thiếu cái ăn. Thông qua những chi tiết nho nhỏ đó nhưng tác giả Nguyễn Trung Thành đã phác họa lên hình ảnh anh thanh niên vô cùng đáng yêu, một con người sống đẹp, có lý tưởng sống mãnh liệt. Anh luôn muốn sống hết mình cho mỗi công việc mình làm, muốn đóng góp sức lực của mình cho xây dựng đất nước. Anh không chỉ biết sống hết mình với công việc, với tuổi trẻ của mình, mà anh thanh niên còn là người có tấm lòng ấm áp biết quan tâm tới người khác. Anh mang tặng cho cô kỹ sư những bông hoa, cho bác lái xe những gói trà, rồi bác họa sĩ những món quà mà anh tự trồng được…thể hiện sự quan tâm, thương yêu người khác của một con người có trái tim đa cảm ấm áp. Sống một mình trên núi cao nhưng anh không thu mình lại, sống âm thầm cô đơn, xa lánh mọi người, mà người lại anh thanh niên là người có tấm lòng hiếu khách biết quan tâm tới người khác. Chính vì đặc tính này mà anh được mọi người yêu quý, trân trọng. Lần đầu tiên gặp có kỹ sư trẻ nhưng chính sự hiếu khách, lòng nhiệt tình của anh đã làm cho người khác cảm thấy vô cùng quý mến, có tình cảm đặc biệt với chàng trai đáng mến này. Khi anh mời cô kỹ sư trẻ và bác họa sĩ già lên thăm nhà mình trong ánh mắt anh toát lên sự yêu mến, thân thiện. Anh mừng quýnh khi đón từ tay bác lái xe những quyển sách nhờ bác mua hộ, rồi phấn khởi mời mọi người lên thăm cơ ngơi của mình. Anh thanh niên hồn nhiên, yêu đời kể cho mọi người nghe về công việc thầm lặng, của mình ở vùng đất Sa pa này với tấm lòng yêu mến, xen lẫn tự hào về công việc nhỏ bé của mình nhưng nó mang lại lợi ích cho mọi người. Công việc anh đang làm tuy có vất vả nhưng đó là một công việc vô cùng có ý nghĩa và anh yêu mến công việc của mình. Anh làm việc bằng cả tấm lòng thành kính, sự nhiệt huyết của tuổi trẻ, chứ không làm miễn cưỡng cho xong. Tác giả Nguyễn Trung Thành đã có lối viết vô cùng nhẹ nhàng nhưng chân thực tinh tế, ngôn ngữ trong những cuộc hội thoại vô cùng sinh động khiến người đọc bị thu hút vào câu chuyện này một cách từ từ nhẹ nhàng nhưng vô cùng lôi cuốn hấp dẫn không muốn thoát ra. Thông qua tác phẩm Nguyễn Trung Thanh muốn khẳng định một chân lý sống đó là những con người yêu công việc, có nhiệt huyết, có hoài bão sống, thì dù ở thời nào cũng đáng quý và đáng trân trọng. Những con người cần mẫn, nhiệt tình như anh thanh niên trong câu chuyện thật sự là những tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Tình cảm của anh với công việc là việc làm đáng trân trọng. Nó tựa như những bông hoa tươi thắm tỏa hương thơm cho đời.
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa pa”
974
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thu trong truyện Chiếc lược ngà Bài làm Thời chống Mĩ, nhà thơ Tố Hữu có viết: Tuất gươm không chịu sống quỳ, Tuổi xanh chẳng tiếc, sá chi bạc đầu. Lóp cha trước, lóp con sau, Đã thành đồng chí, chung câu quân hành". ("Tiếng hát sang xuân" – 1965) Vần thơ ấy gợi nhớ trong lòng ta thế hệ trẻ Việt Nam anh hùng thời đánh Mĩ. Hình ảnh nhân vật Thu – nữ giao liên trong truyện "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng đã cho ta nhiều ngưỡng mộ. Qua nhân vật ông già, Nguyễn Quang Sáng đã dành cho cô Thu, giao liên bao tình cảm quý mến và trân trọng. Ông cảm thông với cái ương bướng "cứng đầu" của em bé, chỉ vì vết sẹo chiến tranh trên gương mặt người lính từ mặt trận trở về mà một tiếng "ba" cũng không chịu gọi. Hình ảnh bé Thu "hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cá vết thẹo dài trên má của ba", cùng với cử chỉ "dang cả hai chân rồi câu chặt ba nó", không chịu cho ba nó lên đường đi xa, mãi mãi là hình ảnh rất cảm động cảa hai cha-con giữa thời máu lửa. Giây phút giã biệt ấy đã trở thành vĩnh biệt. Nỗi buồn đau từ câu chuyện đã cứa một nhát dao ứa máu và tê tái vào lòng người bấy nay! Năm anh Sáu đi bộ đội, bé Thu mới lên 1 tuổi. Năm hai cha con gặp lại nhau. Thu gần 9 tuổi. Năm 1958, ông già Sáu hi sinh, con gái ông mới 13 tuổi. Năm 16 tuổi cô mới nhận được chiếc lược ngà của cha cô gửi lại, cô đã trở thành một nữ chiến sĩ giao liên "rất thông minh, mựu trí". Cô Thu giao liên có bao phẩm chất anh hùng. Lọt vào ổ phục kích giặc, cô vẫn mưu trí đánh lừa chúng, thoát hiểm. Cô có tài phân biệt từ rất xa "thằng nào là thằng Mỹ, thằng nào là ngụy” bằng "cái mũi rất thính" của mình. Chuyến công tác đưa đoàn cán bộ từ trạm M.G đến trạm L.A, giữa đường gặp bọn biệt kích, cô đã ở lại chặn địch. Sáng hôm sau, cô xuất hiện ở binh trạm "quần áo bùn đất bê bết và đầm ướt", vừa bước ra khỏi chỗ nguy hiểm mà gương mặt "cứ phơi phới" lạ thường! Cặp mắt "trong sáng, nước da rám nắng, đôi tai đeo bông tòn teng, vừa duyên dáng, vừa hồn nhiên… đó là đứa con gái của ông Sáu. Chúng ta xúc động cảm thấy cô chiến sĩ giao liên đang đi tiếp con đừơng chiến đấu gian khổ, vô cùng oanh liệt, vẻ vang của cha anh. Tình tiết cô giao liên gặp lại ông già, đồng đội của ba mình và nhận chiếc lược ngà nói lên vật kí thác thiêng liêng đã tìm đến đúng địa chỉ. Nhận được kỉ vật bố gửi lại, cô Thu "đôi mắt tròn to hơn… xúc động đến thẩn thờ". Tuy biết ba mình đã hi sinh, nhưng xem dòng chữ: "Yêu nhớ tặng Thu con của ba", cô cảm thấy được gặp lại bóng hình người cha thân yêu. Gần 10 năm đã trôi qua. Cô Thu đã khóc "hai giọt lệ sắp rơi xuống bỗng vỡ ra tràn đầy qua đôi mắt". Tình đồng đội, tình đồng chí chiến đấu thủy chung đã giúp cho chiếc lược ngà đến tay cô giao liên. Và những giọt nước mắt của cô Thu là giọt khóc về tình phụ – tử sâu nặng. Cảnh giã biệt giữa ông già và cô giao liên diễn ra trên một không gian nghệ thuật đầy ấn tượng. Những đợt sóng lúa xanh nối nhau rập rờn như chạy đến "vỗ về" chân cô giao liên. Từ rừng dừa bị chất độc hóa học, cọng tàu dừa khô như những chiếc gươm khổng lồ, những "đọt non vừa mới đâm lên, xa trông như một rừng gươm.. ". Đó là chất thơ trong văn xuôi của Nguyễn Quang Sáng. Cảnh sắc ấy mang hàm nghĩa: Thế trận nhân dân là một rừng cây, một rừng người: lớp người trước ngã, lớp người sau tiếp bước tiến lên "như một rừng gươm" dào dạt sức sống trẻ trung và dũng mãnh. Nhân vật Thu, nữ chiến sĩ giao liên đã tô đậm chủ đề của tác phẩm “Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng. Qua đó, ta càng thấm thía sự nối tiếp của các thế hệ Việt Nam anh hùng đã làm cho dáng đứng Việt Nam thêm hào hùng, tráng lệ.
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Thu trong truyện Chiếc lược ngà
784
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ của em về dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học (Thanh Tịnh). Bài làm Truyện ngắn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh in trong tập Quê mẹ, xuất bản năm 1941. Đây là dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” – tức là tác giả, về những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường ba mươi năm về trước. Dòng cảm xúc được thể hiện theo trình tự thời gian. Tâm trạng nhân vật phát triển song song cùng với các sự kiện đáng nhớ của ngày đầu tiên đi học. Từ cảnh cậu bé được mẹ âu yếm dắt tay dẫn đi trên con đường tới trường, đến cảnh cậu say mê nhìn ngắm ngôi trường; cảnh hồi hộp nghe thầy gọi tên, lo lắng khi phải rời tay mẹ để cùng các bạn vào lớp nhận chỗ của mình và học giờ học đầu tiên. Sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp tự sự, miêu tả và cảm xúc chân thành đã tạo nên tính trữ tình đậm đà của thiên tự truyện. Tác nhân gợi nhớ là khung cảnh thiên nhiên. Mùa thu thường đẹp và buồn. Cảnh vật đã khơi gợi dòng hồi tưởng. Những chuyển biến của đất trời làm cho tác giả nhớ về dĩ vãng xa xôi. Tác giả kể rằng hằng năm cứ đến cuối thu, khi lá vàng rơi và nhìn thấy mấy em nhỏ rụt rè nấp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường thì nhà văn lại nhớ ngày đầu tiên đi học của mình. Sau mấy chục năm, tác giả – là cậu bé ngày xưa vẫn nhớ như in: Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học được tạo nên từ cảm xúc trong sáng, hồn nhiên và bút pháp nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế của nhà văn. Bằng câu chuyện của mình, Thanh Tịnh đã nói thay tất cả chúng ta cái cảm giác kì diệu của buổi học đầu tiên đã trở thành kỉ niệm đẹp đẽ, để lại ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời mỗi người. Một hồi trống vang lên giòn giã. Phụ huynh trao con cho các thầy cô giáo để nhận vào lớp Một. Em không khóc nhưng hai mắt đỏ hoe. Một nỗi xúc động khó tả dâng lên trong lòng. Em bịn rịn rời tay mẹ, cùng các bạn xếp hàng vào lớp. Tiếng trống khai giảng hôm ấy có cái gì đó rất đặc biệt. Dường như nó vẫn đang vang vọng trong tâm tưởng em lúc này. Tiếng trống vang vang, trầm ấm lạ lùng. Nó gợi cho em một niềm tự hào và phấn khích mà sau này em mới hiểu rằng, sau tiếng trống ấy là bước ngoặt của cuộc đời em. Từ đó, em bắt đầu một quãng đời học sinh trong sáng tuyệt vời. Trong kí ức mỗi con người, những kỉ niệm vui buồn của tuổi học trò thường được lưu giữ bền lâu hơn cả, nhất là ấn tượng về ngày đầu tiên đi học. Thanh Tịnh bồi hồi nhớ về ngày ấy và tâm hồn ông vẫn rung động thiết tha như thuở nào. Bằng ngòi bút giàu chất thơ, tác giả đã diễn tả dòng cảm xúc này bằng nghệ thuật tự sự xen miêu tả và biểu cảm với những rung động tinh tế. Bài văn đã gieo vào lòng người đọc một nỗi niềm bâng khuâng khó tả. Chính vì vậy mà nó đã sống mãi trong trái tim bao thế hệ bạn đọc hơn nửa thế kỉ qua.
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Tôi trong truyện ngắn Tôi đi học
642
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Đôn Ki-hô-tê trong cảnh đánh nhau với cối xay gió Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Đôn Ki-hô-tê trong cảnh đánh nhau với cối xay gió Đôn Ki-hô-tê của Xéc-van-téc (1547-1616) là một kiệt tác văn chương của thời đại Phục hưng. Tác phẩm đã ghi lại bao chiến tích của người hùng Đôn Ki-hô-tê mà đỉnh cao là cuộc phiêu lưu đánh nhau với cối xay gió. Sự ngông cuồng của hiệp sĩ Đôn Ki-hô-tê là đỉnh cao của sự mê muội. Sau trận đánh nhau với bọn lái buôn, vì họ không công nhận công nương Đuyn-xi-nê-a là đẹp nhất trần gian, Đôn Ki-hô-tê bị nện một trận nhừ tử, bị bắt đưa về làng một thời gian, giờ đây lão ta lại ra đi với mộng chiến công. Lần này có thêm quan giám mã Xan-chô Pan-xa theo hầu. Trận đánh diễn ra vào lúc ban trưa. Từ xa nhìn thấy bốn chục cối xay gió giữa đồng, hiệp sĩ xứ Man-tra reo lên vì vận may đã tới. Quân địch là ba bốn chục tên khổng lồ ghê gớm, mỗi tên có cánh tay dài tới gần hai dặm. Lão quyết tiêu diệt lũ khổng lồ yêu quái này, trước là để thu chiến lợi phẩm mà trở nên giàu sang, sau nữa là để quét sạch lũ xấu xa này khỏi trái đất và để phụng sự Chúa! Mặc dù đã nhìn gà hóa cáo, nhưng mục tiêu chiến đấu của Đôn Ki- hô-tê không kém phần thiêng liêng! Giám mã đã hết lời can ngăn nhưng lão ta bỏ ngoài tai hết. Lão nạt giám mã: Nếu anh sợ thì hãy lánh ra xa mà cầu kinh…. Với sát khí đằng dằng, lão già hiệp sĩ thét lớn: chớ có chạy trốn, lũ hèn mạt nhát gan kia, bởi duy nhất chỉ có một hiệp sĩ tấn công bọn mi đây. Lão vung giáo, cảnh cáo: Dù cho bọn người có vung nhiều cánh tay hơn cả gã khổng lồ Bri- a-rê-ô các ngươi cũng sắp phải đền tội. Trước khi xung trận, lão ta không quên cầu cứu nàng tình nhân Đuyn xi-nê-a phù hộ cho trong cơn nguy biến này!. Mê muội và ngông cuồng, lão lấy khiên che kín thân, tay lăm lăm ngọn giáo thúc con Rô-xi-nan-tê phi thẳng tới chiếc cối xay gió gần nhất. Lão dâm thẳng mũi giáo vào cánh quạt cối xay. Tưởng là tên khổng lồ sẽ máu đổ xương tan. Ai ngờ, gió nổi lên, cối xay gió quay tít, ngọn giáo lão hiệp sĩ gãy tan tành. Trên chiến địa cả ngựa và người ngã văng ra xa. Lúc giám mã thúc lừa tới cứu thì đã thấy chủ tướng nằm không cựa quậy. Cảnh đánh nhau với cối xay gió thật hóm hỉnh, hài hước. Nghệ thuật dựng cảnh và kể chuyện tài tình đã tái hiện một trận đánh thời trung cổ. Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động của Đôn Ki-hô-tê cho thấy sự ngông cuồng và mụ mẫm đã lên tới cực độ! Nhà văn Xec-van-tex đã sử dụng thủ pháp đối lập tương phản, phóng đại, trào lộng rất thành công để châm biếm các hiệp sĩ Tây Ban Nha thời Trung cổ đã quá lỗi thời. Đằng sau nụ cười chế giễu là sự hóm hỉnh đề cao tình yêu tự do, công lí, lòng yêu đời… mang tính nhân văn.
Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Đôn Ki-hô-tê trong cảnh đánh nhau với cối xay gió
575
Phát biểu cảm nghĩ về những ngày đầu tiên bước vào trường THPT Hướng dẫn Dàn ý: Mở bài: Giới thiệu khái quát về những ngày đầu tiên bước vào trường THPT. Thân bài: Đối với bản thân: – Hồi hộp, lo âu xen lẫn niềm kiêu hãnh, tự ào – Háo hức, chờ đợi – Cảm thấy mình lớn hơn, trưởng thành hơn nhất là đối với bạn nữ trong trang phục áo dài – … Đối với môi trường học tập mới: – Không khí nhộn nhịp, náo nức – Ngôi trường mới khang trang, sạch sẽ – Không khi mùa thu trong lành, mát mẻ – Thầy cô giáo thân thiện, nhiệt tình – Bạn bè với nhiều tính cách khác nhau – Quang cảnh trường lớp xanh, sạch đẹp, nhiều cây xanh… – Không khí lớp học nghiêm trang – Kiến thức mới, khó… Kết bài: Khái quát lại cảm xúc, suy nghĩ và những lời tự nhủ với lòng mình: phải cố gắng trong học tập.
Phát biểu cảm nghĩ về những ngày đầu tiên bước vào trường THPT
150
Phát biểu cảm nghĩ về số phận người nông dân trong xã hội phong kiến qua những bài ca dao. Hướng dẫn Ca dao Việt Nam là kho tàng văn học vô giá, ngoài nội dung thể hiện tình yêu quê hương đất nước, tình cảm gia đình… ca dao Việt Nam còn bộc lộ niềm đồng cảm sâu sắc với số phận bất hạnh của người nông dân trong xã hội phong kiến. Qua những bài ca dao đó, chúng ta cảm nhận được sự thống khổ mà người nông dân trong xã hội lúc bấy giờ phải gánh chịu, đồng thời còn cảm nhận được sự tố cáo của người dân về chế độ thối nát tàn bạo, coi thường mạng sống của dân. Người nông dân là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất trong các tầng lớp xã hội. Họ chỉ biết lam lũ một nắng hai sương, làm việc quần quật suốt ngày không ngừng ngỉ, thân phận người nông dân hèn mọn, bé nhỏ biết bao, như thân cái cò, cái kiến, con rùa, con hạc… “Nước non lận đận một mình Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay”. Con cò trong câu ca dao mang hình ảnh của người nông dân cô đơn, cùng cực. Cuộc đời vất vả của con cò được diễn tả bằng hình ảnh đối lập: một mình lận đận giữa nước non, lên thác xuống ghềnh, vượt qua những nơi khó khăn, nguy hiểm. một mình thân cò bé nhỏ mà phải đương đầu với những khó khăn quá lớn. Việc vất vả đó kéo dài: “bấy nay” chứ không phải một ngày hai ngày. Những hình ảnh đối lập, những nơi nguy hiểm, những ao, thác, ghềnh, biển cho thấy con cò đã phải trải nhiều nơi chốn, nhiều cảnh huống, chỉ một mình nó thui thủi, vất vả đến mức gầy mòn. Cuộc đời lân đận được diễn tả khá sinh động, ấn tượng. – “Thương thay thân phận con rùa Xuống sông đội đá lên chùa đội bia”. – “Thương thay thân phận con tằm Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ Thương thay lũ kiến li ti Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi Thương thay hạc lánh đường mây Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi Thương thay con cuốc giữa trời Dầu kêu ra máu có người nào nghe”. Mọi loại vật được ví von đều chung một nỗi khổ và đều cần phải được đồng cảm, thương xót. Có một nhóm bài ca dao bắt đầu bằng cụm từ “Thương thay”. Mỗi lần “thương thay” là nhắc đến một con vật với một cảnh ngộ khác nhau nhưng lại cùng chung thân phận người nông dân vất vả, lam lũ. Điều đó tô đậm nỗi thương cảm, xót xa cho cuộc sống khổ sở nhiều bề của người lao động. Những nỗi thương thân của người nông dân thể hiện qua các hình ảnh ẩn dụ độc đáo. Thương con rùa “xuống thương sông đội đá lên chùa đội bia” là thương người nông dân với cuộc đời luẩn quẩn của thân phận tôi đòi. Thương con tằm là thương cho thân phận bị bòn rút sức lực phục vụ kẻ khác. Thương lũ kiến tí ti là thương cho thân phận bé nhỏ suốt đời phải làm lụng kiếm miếng ăn. Thương cho con hạc là thương cho cuộc đời phiêu bạt, khốn khó, mỏi mệt không có tương lai (biết ngày nào thôi). Thương cho con cuốc là thương thân phận thấp bé, dù có than thở đến kiệt sức thì cũng không có người động lòng, thương xót… Nỗi thương xót như muốn kéo dài triền miên qua hình ảnh của những con vật bé nhỏ, tội nghiệp. Mỗi con vật, mỗi nỗi khổ, mỗi cảnh ngộ đáng thương khác nhau làm nên nỗi khổ nhiều bề của thân phận người lao động. “Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn cho gầy cò con?” Sử dụng đại từ phiếm chỉ “Ai”, bài ca dao đã hướng mũi tên công kích đến xã hội phong kiến suy tàn đã đày đọa thân phận bé nhỏ của những người nông dân. Xã hội đó đã làm nên chuyện bể dầy, ao cạn, cho cuộc đời biến đổi bể dâu khiến thân cò thêm lận đận, thêm gầy mòn. Câu hỏi tu từ đã gián tiếp tố cáo xã hội phong kiến bất công đó. Yêu thương và căm hờn là hai dòng cảm xúc khôn nguôi khi đọc những bài ca dao viết về thân phận người nông dân trong xã hội phong kiến. Đọc ca dao để cảm xúc của mỗi chúng ta được sống với tấm lòng của ông cha ta từ ngàn năm trước. Đọc ca dao để mỗi chúng ta biết sống có ích cho ngày hôm nay.
Phát biểu cảm nghĩ về số phận người nông dân trong xã hội phong kiến qua những bài ca dao.
798
Phát biểu cảm nghĩ về truyện Cuộc chia tay của những con búp bê Bài làm Truyện ngắn “ Cuộc chia tay của những con búp bê” của tác giả Khánh Hoài kể về cuộc chia tay đau đớn và đầy cảm động của hai anh em trong truyện. Em cảm thấy rất xúc động thương cảm trước cảnh chia tay của hai anh em khi phải chia búp bê và khi chia tay cả mái trường, thầy cô. Hai nhân vật chính trong truyện chính và Thành và Thủy. Cha mẹ của Thành và Thủy li hôn, hai anh em buộc phải chia tay nhau. Cả Thành và Thủy đều không muốn điều này. Trước đêm chia tay Thành và nghe đến tiếng nức nở,tức tưởi của em. Thành chỉ dám cắn chặt môi để khỏi bật lên tiếng khcó to, mà nước mắt cứ tuôn. Trước đó phải nói, hai anh em Thành và Thủy rất thương nhau. Thủy từng mang kim chỉ ra để vá áo cho anh. Do hồi đó, anh đi chơi đá bóng bị xoạc một miếng áo rất to, sợ mẹ mắng nên thủy để vá áo. Từng mũi kim thoặc thoắt của em mà Thành cảm nhận được. Chiều nào Thành cũng đón em cùng nắm tay và trò truyện rất vui vẻ. Vậy mà giờ đây, hai anh em phải chia tay nhau. Đến lúc phải chia những con búp bê. Thành thương em nên để lại hết đồ chơi cho em từ bộ túi lơ khơ, bàn cá ngựa, những con ốc biển và bộ chỉ màu. Nhưng Thủy không quan tam điều đó. Nhưng khi thấy Thành chia hai con Vệ Sĩ và Em Nhỏ thi Thủy đã giận dữ vì em không muốn chia rẽ chúng. Thủy để lại con Vệ Sĩ cho anh để canh giấc ngủ. Nhưng rồi cuối cùng, hai anh em quyết định để lại chúng khi nhìn thấy chúng quàng lên vai nhau. Chắc là Thủy muốn hai con búp bê này không phải xa nhau giống như hai anh em vậy. Khi Thành dẫn em đến trường chia tay cô gái và các bạn. Cô giáo đã sửng sốt khi nhìn thấy Thủy đứng ngoài lớp. Cả lớp ai cũng thương em khi biết đến hoàn cảnh của Thủy. Cô Tâm tặng Thủy quyển vở và cây bút màu có nắp vàng. Nhưng Thủy không dám nhận vì em sẽ cùng mẹ bán hoa quả ở chợ. Có lẽ em không được đi học như những bạn cùng trang nứa. Lúc nào, khi nghe đến vậy ai cũng xúc động, cô giáo Tâm nước mắt giàn giụa. Rồi hai anh em phải chia tay nhau Thủy như người mất hồn. Mặt tái xanh. Em khóc nức nở nắm lên tay Thành và dặn dò anh. Câu chuyện nói đến tình cảm của hai anh em Thành và Thủy để cho chúng ta thấy tình cảm anh em ruột thịt trong gia đình vô cùng thiêng liêng.Sự chia tay của những con búp bê ngây thơ, vô tội cũng giống như Thành và Thủy. Nhưng rồi Thủy vẫn quyết định để lại hai con búp bê để chúng không phải xa nhau như hai anh em.Câu chuyện để lại cho chúng ta bao suy nghĩ về vai trò của người lớn, lỗi lầm của người lớn mà để những đứa trẻ phải gánh chịu. Câu chuyện để lại cho người đọc nhiều cảm xúc lớn lao để tình cảm gia đình nhất là tình cảm anh em.Truyện nhắc nhở chúng ta cần biết nâng niu, quý trọng hạnh phúc gia đình. Nó là mái ấm của mỗi chúng ta.
Phát biểu cảm nghĩ về truyện Cuộc chia tay của những con búp bê
609
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài Bài làm Trong xã hội hiện nay, nhiều trẻ em đang bị bạo hành, không có một mái ấm gia đình đúng nghĩa. Không được đảm bảo quyền lợi của mình. Chính vì vậy, tác phẩm ” Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài là một câu chuyện vô cùng cảm động, là tiếng chuông cảnh tỉnh người lớn, khi đối xử với trẻ nhỏ Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật Thành và Thủy hai em rất yêu thương và che chở cho nhau từ khi còn thơ bé. Họ có nhiều kỷ niệm chung gắn bó với nhau hồi lớp năm khi áo Thành bị rách Thủy đã đem kim chỉ ra sân khâu vá cho Thành. Một biểu hiện giản dị, những thể hiện tình cảm gắn bó của hai anh em. Đi học đi chơi hai anh em cũng đều có nhau. Nhưng rồi sóng gió gia đình xảy ra, bố mẹ ly hôn, hai em mỗi người một nơi. Sự đau khổ hằn lên khuôn mặt của hai đứa trẻ vô tội. Thủy thì chỉ biết khóc nức nở, trong khi đó anh trai Thanh thì cắn chặt môi để tiếng khóc nén lại trong lòng không bật lên thành tiếng. Những giọt nước mắt khi cha mẹ chia lìa đôi ngả, anh em ly tán, tan nát Tác giả đã dùng những lời lẽ chân thành của mình để miêu tả cuộc chia ly ấy, khiến cho người đọc không khỏi nghẹn ngào, xúc động vì những tình cảm chân thành, mộc mạc mà trẻ thơ dành cho nhau. Nhưng rồi cô bé lại sợ không có vệ sĩ thì không có người canh gác cho anh ngủ. Điều này thể hiện tình cảm của Thủy dành cho anh trai mình vô cùng sâu sắc, một cô em gái nhỏ giàu tình cảm luôn lo lắng cho những người thân yêu của mình. Nghĩ thế nên Thủy quyết định để lại hết hai con búp bê lại cho Thành anh trai của mình. Hai con búp bê mãi mãi sẽ không phải rời xa nhau như Thủy và Thành. Hành động này của cô bé khiến người đọc vô cùng cảm động, cảm thấy em dường như lớn hơn tuổi thực của mình biết suy nghĩ vô cùng sâu sắc, thấu tình đạt lý, biết hy sinh chịu thiệt thòi cho người mình yêu thương. Cuộc chia tay của Thủy với mái trường, thầy cô, bạn bè thân thiết, cũng khiến cho người đọc không ngăn được dòng lệ của mình, khi cô bé nói “Mẹ em sẽ sắm cho em một thúng hoa quả để ra chợ ngồi bán”. Câu nói của Thủy khiến cô giáo bàng hoàng, mặt tái đi vì đau đớn. Một cô bé đang tuổi ăn tuổi chơi nhưng từ nay không được tới trường, đánh mất tuổi thơ vui vẻ để bước vào cuộc sống, mưu sinh vất vả Qua tác phẩm của mình tác giả muốn gửi gắm tới những người lớn hãy biết sống tích cực hơn đừng để trẻ con phải gánh chịu những hậu quả do gia đình ly tán. Bởi trong bất kỳ cuộc chia ly nào thì trẻ nhỏ luôn là người gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Cuộc chia tay của những con búp bê” của Khánh Hoài
560
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao Bài làm Nhà văn Nam Cao là một nhà văn hiện thực nổi tiếng của nền văn học Việt Nam. Ông có nhiều tác phẩm vô cùng nổi tiếng gây được tiếng vang, có sức lay động lớn tới nền văn học nước nhà. Trong đó truyện ngắn “Lão Hạc” thể hiện nỗi thống khổ của người nông dân trong cảnh nghèo khổ, túng quẫn, bị chà đạp bức bách tới đường cùng, không có lối thoát. Thông qua tác phẩm “Lão Hạc” nhà văn Nam Cao muốn tố cáo tội ác của chế độ cũ. Một xã hội đã xô đẩy con người tới đường cùng. Nhân vật lão Hạc là một người nông dân nghèo khổ suốt đời sống trong cảnh nghèo đói. Lão Hạc góa vợ từ sớm, chỉ có một người con trai duy nhất làm nguồn vui, niềm an ủi của đời mình. Lão thương con vô bờ bến, nhưng hoàn cảnh nghèo quá khiến con lão phải bỏ làng đi vào đồn điền cao su lập nghiệp. Con trai lão bỏ xứ ra đi ôm giấc mộng làm giàu giữa một vùng đất nổi tiếng là khắc nghiệt, bóc lột sức người tới tận xương tủy. Trước khi đi con trai lão có mua về một con chó. Nó chính là người bạn thân thiết duy nhất của lão Hạc trong cuộc sống cô đơn buồn tủi của mình. Cuộc sống ngày càng khó khăn, lão ăn gì con chó ăn đó. Lão sắp sửa không nuôi nổi nó nữa rồi. Lão thì có thể ăn củ khoai, của chuối, sung luộc. Nhưng, chú chó thì không thể, nó không thể sống lay lắt, qua ngày như ông lão được. Chính vì vậy lão nghĩ tốt nhất lão không nên sống nữa, nên để lại số tiền mà lão dành dụm được cho đứa con trai duy nhất của mình.Một lý do nữa khiến lão phải tự tử đó chính là vì lão muốn giữ lại mảnh vườn của mình cho con trai lão. Mảnh vườn này chính là tài sản duy nhất của lão có thể cho con trai của mình, chờ khi nó lấy vợ thì còn có chỗ mà ở. Còn có mảnh đất cắm rùi nhưng, mảnh đất ấy cũng đang có nguy cơ bị chiếm mất khi mà gia đình lão Bá Kiến đang nhăm nhe chiếm mảnh vườn của lão. Nhiều lần lão Bá Kiến cho người làm sang muốn mua lại mảnh vườn. Nhưng lão Hạc không bá, nên lão Bá Kiến đang âm mưu cướp không mảnh vườn của lão Hạc. Nghĩ vậy, nên lão Hạc đã tự sắp xếp cho mình một cái chết, một cuộc ra đi gặp ông bà tổ tiên, tự giải thoát cho cuộc đời mình. Cuộc sống của những người nông dân nước ta trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám thật là đau xót biết bao, người nông dân phải chịu một cổ hai ba tầng lớp bóc lột. Lão Hạc chết. Nhưng cái chết của lão lại làm cho tác phẩm của Nam Cao trở nên bừng sáng, bởi tinh thần nhân văn cao cả của con người. Nó khiến cho người ta vừa cảm thương vừa nể phục lòng tự trọng của một ông lão nông dân nghèo khổ. Lão chết nhưng vẫn quyết giữ được mảnh vườn cho con trai mình, bởi tình thương con vô bờ bến. Lão chất nhưng không muốn làm phiền lụy tới mọi người, tới bà con làng xóm. Một người đàn ông có lòng tự trọng, tự tôn. Cái chết của lão Hạc muốn tố cáo tội ác của chế độ phong kiến thực dân. Đọc tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao khiến người đọc vô cùng nghẹn ngào xúc động, người ta không chỉ cảm nhận được sự đau khổ của một mình lão Hạc, mà còn cảm nhận được cả sự bần cùng của cả một xã hội, những con người như Binh Tư vì nghèo khó quá mà trở nên hèn người, biến chất, chứ thực chất những người này đều đáng thương cả. Đó là hình ảnh ông giáo có học thức, có đức độ hiểu biết nhưng lại loay hoay không tìm ra giải pháp cứu thoát cuộc đời mình khỏi áp bức bóc lột, khỏi nỗi lo cơm áo gạo tiền, tất cả những nhân vật trong tác phẩm “Lão Hạc” đều vô cùng đáng thương. Tất cả những số phận, những kiếp người đều đang phải ngụp lặn trong bể khổ, chịu cảnh lầm than nô lệ, chịu cảnh áp bức bóc lột vô cùng tàn nhẫn. Thông qua sự tinh tế, lòng nhân văn sâu sắc của mình tác giả Nam Cao đã viết lên một câu chuyện vô cùng cảm động về số phận người nông dân nghèo khổ. Thông qua tác phẩm của mình nhà văn Nam Cao muốn nói lên cái nhìn nhân sinh quan vô sâu sắc của tác giả. Thảo Nguyên
Phát biểu cảm nghĩ về truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao
835
Phát biểu cảm nghĩ về tuổi thơ văn 7 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về tuổi thơ văn 7 Tuổi thơ – đó là quãng thời gian đẹp nhất trong tâm hồn mỗi con người. Trong ai cũng vậy, ai mà chẳng có cổ những kỉ niệm vui, buồn thời thơ dại. Tôi cũng có rất nhiều kỉ niệm thời còn bé và có lẽ đáng nhớ nhất đối với tôi đó là lần đầu tiên bước vào lớp một,.. Buổi tối trước hôm khai giảng, tôi háo hức chờ đợi và sửa soạn mọi thứ. Lúc đó, tôi chỉ muốn thời gian qua nhanh để đến ngày mai, tôi sẽ gặp bạn mới, được học trường mới, thày cô giáo mới. Tôi liền chạy khắp xóm khoe với lũ bạn là ngày mai tôi vào lớp một. Sáng hôm sau, tự nhiên tôi cảm thấy hơi run và sợ. Mẹ bảo: “Ai cũng vậy con ạ” Lúc mẹ đưa tôi đi học, tôi liền bật khóc. Đây là là lần đầu tiên trong đời tôi khóc to đến vậy, và tôi cũng không hiểu vì sao mà tôi lại khóc…Vâng đó chỉ là một kỉ niệm hồi còn bé của tôi thôi… Vui buồn tuổi thơ đi cũng bước qua một thời thơ dại mới nên người. Tuổi thơ chứa trong nó là bao kỉ niệm vui hay buồn. Những kỉ niệm tuổi thơ như một ít nước đựng trong một chiếc cốc. Và chiếc cốc đó chính là tâm hồn của mỗi con người. Nếu chúng ta biết cách giữ lấy chút nước trong chiếc cốc đó thì chút nước đo sẽ chẳng bao giờ bay hơi. Còn nếu như ta không tìm cách giữ nước lại, nó sẽ bay hơi. Và lúc đó, chúng ta sẽ chằng bao giờ lấy lại được đâu! Tuổi thơ và những kỉ niệm sẽ là cái nôi giúp ta bước những bước đầu tiên trong đời. Nó sẽ giúp ta mọi lúc, mọi nơi. Nếu chúng ta có gặp khó khăn, luôn bi quan thì sẽ chẳng làm được việc gì. Còn nếu chúng ta luôn nghĩ đến nó, nó sẽ giúp chúng ta tìm ra cách giải quyết. Tuổi thơ và những kỉ niệm như một con thuyền bồng bềnh trên mặt nước. Nếu chúng ta biết điều chỉnh dòng nước, luôn để ý đến nó, nó sẽ ở ngay bên cạnh chủng ta. Những kỉ niệm vui buồn là một động lực thúc đẩy ta đi tới thành công trong mọi lĩnh vực của đời sống. Con đường chúng ta đây, ai cũng có kỉ niệm tuổi thơ. Vì vậy, chúng ta hãy biết giữ gìn và trân trọng nó vì nó sẽ là bạn đường tin cậy cho mỗi con người. Trong đời mình, ai mà chẳng vấp ngã. Những kỉ niệm vui buồn tuổi thơ sẽ nâng ta dậy. Nó sẽ là cái chân thứ ba cho mỗi con người, nó sẽ giúp ta đứng vững hơn trên bậc thang vào đời.
Phát biểu cảm nghĩ về tuổi thơ văn 7
496
Phát biểu cảm nghĩ về tác giả Nguyễn Du- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về tác giả Nguyễn Du- Văn lớp 10 Bài làm Tác giả Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc Việt Nam, ông đã có nhiều tác phẩm hay, kinh điển tạo được tiếng vang lớn trong nền thi ca Việt Nam. Trong đó Truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du là một tác phẩm lớn, một kiệt tác có một không hai dù hàng trăm sau vẫn được bạn đọc đánh giá cao. Khi còn sống Nguyễn Du không chỉ được kính trọng bởi ông vừa có tài vừa là người có phẩm chất nhân cách vô cùng tốt đẹp. Một tâm hồn cao quý đáng để người ta ngưỡng mộ. Nguyễn Du đã để lại trong lòng bạn đọc nhiều ấn tượng sâu đậm về nhân cách và tài năng của mình. Sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ vào năm 11 tuổi. Nguyên Du đã có một tuổi thơ cơ cực phải lưu lạc nhiều nơi. Khi lớn lên ông đã làm quan cho triều Lê rồi lấy vợ. Nhưng chẳng may, triều đình nhà Lê bị triều Nguyễn lật đổ Nguyễn Du cáo bệnh về quê ở ẩn cùng gia đình ở quê vợ. Nhưng chẳng may vài năm sau vợ ông qua đời. Nguyễn Du lại về quê cha mình sống. Nể phục tài văn chương nhân phẩm của Nguyễn Du triều đình nhà Nguyễn mời ông ra làm qua, nể tình ông nhận lời nhưng trong lòng vẫn muốn trung thành với triều Lê. Rồi ông được triều Nguyễn cử đi sứ ở bên Trung Quốc ở đây ông đã nghe câu chuyện của nàng Vương Thúy Kiều cảm động về câu chuyện của người con gái tài sắc mà phải rơi cảnh đời khó khăn, bể dâu trăm chiều nên tác giả đã sáng tác Truyện Kiều. Truyện Kiều thể hiện tài văn chương bậc thầy của Nguyễn Du trong cách sử dụng ngôn ngữ, rồi nghệ thuật tả cảnh ngụ tình ẩn ý, thể hiện tài hoa của ông không ai sánh được. Truyện Kiều chính là tác phẩm làm nên tên tuổi của Nguyễn Du, cứ nhắc tới Nguyễn Du người ta sẽ nghĩ tới Truyện Kiều. Truyện Kiều kể về cô gái tài sắc vẹn toàn, có nhân cách nhân phẩm cao quý nhưng gặp hoàn cảnh gia đình tai biến, để cứu cha và em trai cô đã bán mình chuộc cha ra khỏi chốn lao tù. Cũng từ đây cuộc đời Thúy Kiều đã gặp nhiều trắc trở nhiều lần bị những người đàn ông lừa tình, rồi bán vào chốn lầu xanh nhơ nhuốc, khiến cô chịu đời tủi nhục mua vui cho người khác. Nhiều lần Thúy Kiều đã tìm cách tự tử nhưng không thành công bởi số cô chưa chết được cô vẫn nợ trần gian cần trả nên thường được nhà sư Giác Duyên cứu. Thể hiện giá trị nhân văn, nhân đạo một cách sâu sắc của tác giả với những người chịu nhiều éo le trong cuộc sống. Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến rẻ mạt, bởi xã hội xưa chỉ trọng nam khinh nữ. Tác giả Nguyễn Du là người có trái tim nhân hậu thể hiện tình thương người bao la của ông đây là yếu tố làm nên sự thành công của tác phẩm Truyện Kiều. Tạo nên tiếng vang của tác phẩm dù nó được sáng tác hàng trăm năm trước. Nguyễn Du thực sự là một tác giả lớn của nền thi ca Việt Nam. Đọc tác phẩm của ông người ta thêm hiểu về hoàn cảnh sống của thời kỳ phong kiến, hiểu được tấm lòng trung chinh của một con người có nhân cách cao quý.
Phát biểu cảm nghĩ về tác giả Nguyễn Du- Văn lớp 10
630
Phát biểu cảm nghĩ về vùng đất quê hương em Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về vùng đất quê hương em Hải Phòng – một thành phố cảng trung dũng, quyết thắng, một thành phố có nhiều cảnh đẹp, một nơi có những con người hiền lành, chất phác, dịu dàng – là nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Hải Phòng là đô thị loại một nằm ở phía đông bắc Việt Nam giáp với biển Đông. Vì vậy ở đây có rất nhiều cảng, cũng chính vì thế mà người ta gọi đây là thành phố cảng. Thời tiết ờ đây mang một thứ gì đó rất riêng biệt của miền Bắc mà chỉ miền Bắc mới có. Nếu bạn đã từng đến thăm Hải Phòng thì tôi đoán chắc rằng bạn sẽ tận hưởng được thời tiết đó. Cái nắng gay gắt, chói chang của mùa hè, những cơn mưa rào chợt đến rồi lại chợt đi, bầu trời trong xanh không một gợn mây. Trái với thời tiết của mùa hè là mùa đông. Mùa đông có lá rụng, có cái rét căm căm đến cắt da cắt thịt, cái nắng yếu ớt trên bầu trời phủ đầy sương. Ở trên đất này, mọi người đều thân thiện, hiền lành, chất phác. Nếu bạn siêng năng, chịu khó thì những người nơi đây luôn dang rộng đôi tay đón chào và bạn sẽ trở thành một công dân của thành phố cảng. Cảnh vật nơi đây thật đẹp với những ngọn đuốc khổng lồ thắp sáng cả thành phố. Mùa hè, nếu dạo theo hai bên đường bạn còn được nghe thấy tiếng ve râm ran, tiếng chim líu lo trong vòm lá và đặc biệt mắt bạn sẽ ngợp trong màu đỏ của hoa phượng. Chính vì vậy Hải Phòng còn được gọi là thành phố hoa phượng đỏ. Nếu trong những ngày hè chói chang, nóng nực mà được đi du lịch ở đảo Cát Bà thì quả là tuyệt, ở đấy có những hàng cây xanh, có đường uốn theo sườn núi, có rừng quốc gia với nhiều động vật quý hiếm, có làn nước biển trong xanh với bãi cát vàng óng lấp lánh trong nắng. Hải Phòng không chỉ nổi tiếng bởi Cát Bà mà còn có khu du lịch Đồ Sơn. Đồ Sơn nổi tiếng về rừng thông reo vi vu trong gió, những tòa nhà biệt thự cao tầng, hàng dừa tán rộng… Hàng năm Đồ Sơn còn tổ chức lễ hội chọi trâu thu hút nhiều người từ mọi miền Tổ quốc Dù ai buôn đâu bán đâu Mồng chín tháng tám chọi trâu mà về Dù ai buôn bán trăm nghề Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu Tôi yêu thành phố Hải Phòng, yêu màu hoa phượng vĩ trong nắng sớm. Tôi sẽ học tập tốt để xây dựng thành phố quê hương.
Phát biểu cảm nghĩ về vùng đất quê hương em
478
Phát biểu cảm nghĩ về văn bản Cổng trường mở ra của Lý Lan Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ về văn bản Cổng trường mở ra của Lý Lan Người ta không dễ gì quên những kỷ niệm sâu sắc của tuổi thơ, nhất là kỷ niệm của ngày đầu tiên bước vào lớp một. Chính vì thế mà khi đọc những dòng tâm tình nhỏ nhẹ và sâu lắng trong văn bản “Cổng trường mở ra”, chúng ta bỗng thấy bồi hồi xúc động và nhớ lại cái ngày đầu tiên đi học đáng nhớ, đáng yêu. Cổng trường mở ra của Lý Lan là một bài ký giàu tình cảm. Nó làm cho người đọc xúc động thiết tha trước tấm lòng thương yêu sâu nặng của người mẹ đối với đứa con yêu bé bỏng của mình. Ngày con đi học, “con háo hức đến nỗi lên giường mà không sao nằm yên được”. Ngày hôm trước con bỗng gọn gàng hơn, ngăn nắp và người lớn hơn. Thế nhưng đâu chỉ có con háo hức, lòng mẹ cũng trằn trọc, hồi hộp, nôn nao. Suốt đêm hôm trước, mẹ không ngủ được. Mẹ thức, “mẹ đắp mền cho con, buông màn, ém góc cẩn thận, rồi bỗng không biết làm gì nữa”. Mọi ngày mẹ còn dọn dẹp nhưng hôm nay mẹ không phải làm việc đó vì con đã làm rồi. Thế là mẹ cũng đi nằm nhưng nằm đấy mà không sao ngủ được. Mẹ phấp phỏng như chính mẹ đang đón chờ “buổi lễ khai trường long trọng ngày mai”. Thế nhưng mẹ cũng không hoàn toàn lo lắng vì “Mẹ tin đứa con của mẹ lớn rồi. Mẹ tin vào sự chuẩn bị chu đáo của con”. Mẹ bồi hồi là vì điều khác, vì cứ nhắm mắt lại là tai mẹ lại vẳng nghe tiếng đọc bài trầm bổng đưa mẹ về những kỷ niệm ngày xưa và thế là mẹ lại sống về ngày trước. Lối dẫn dắt của tác giả Lý Lan quả là sắc sảo và hấp dẫn. Từ sự chuẩn bị cho buổi đi học đầu tiên của trẻ thơ, tác giả gợi về cả những kỷ niệm trong lòng của người lớn. Ồ! Hóa ra cái kỷ niệm về buổi đầu tiên bước vào lớp một ở trong tâm hồn của ai cũng trong trẻo, thánh thiện và bền vững như nhau. Tác giả kể tiếp: “Cái ấn tượng khắc sâu mãi mãi trong lòng một con người về cái ngày “hôm nay tôi đi học” ấy, mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con. Câu văn là một ước muốn về sự nối truyền cảm xúc. Mẹ mong cho con “một ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại, lòng con lại rạo rực những cảm xúc xao xuyến, bâng khuâng”. Bài văn là những mảng tâm trạng nhiều màu sắc xen kẽ kết nối với nhau. Nó rất nhuần nhị nhẹ nhàng và khơi gợi. Nó không chỉ nói đến cảm xúc của mẹ đối với con mà nói đến vai trò to lớn của nhà trường đối với cuộc sống của mỗi con người. Những dòng cảm xúc của con và mẹ lay động rất mạnh trái tim yêu thương của mỗi chúng ta. Nó như là một luồng gió mát thổi lên những rụng động ngọt ngào – những rung động về tuổi thơ và mái trường mà bấy lâu vẫn phong kín trong những tâm hồn giàu cảm xúc.
Phát biểu cảm nghĩ về văn bản Cổng trường mở ra của Lý Lan
586
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về ông Sáu trong truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng Bài làm "Chiếc lược ngà" là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha con và nỗi đau trong chiến tranh do quân giặc gieo rắc thời chống Mĩ. Ông Sáu là một trong những nhân vật thể hiện sâu sắc chủ đề ấy. Ông Sáu, một nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia 2 cuộc kháng chiến (đánh Pháp và đánh Mĩ), và đã anh dũng hi sinh. Ra đi dánh giặc từ nãm 1946 mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, ông mới được về thăm quê một vài ngày. Ngày đi bộ đội, đứa con gái bé bỏng thân yêu của ông mới lên một tuổi, ngày về thì con đã 8, 9 tuổi. Cái khao khát của một người lính sau những năm dài vào sinh ra tử được trở lại quê hương, được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi "ba" một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là bi kịch thời chiến tranh. Lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một cuộc chiến đấu mới. Ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ "nhận ra" ba mình và kêu thét lên: ''Ba… ba”. Ông ôm con, lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con. Ông Sáu đã ra đi với nỗi nhớ thương vợ con không thể nào kể xiết. Bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Vết thẹo dài trên má phải – vết thương chiến tranh – đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé bỏng không nhận ra bóng dáng người cha nữa! Ông đã ra đi, mang theo hình ảnh vợ con. Với lời hứa mang về cho con gái chiếc lược cùng với nỗi ân hận day dứt "sao mình lại đánh con" cứ giày vò ông mãi. Nỗi đau, nỗi nhớ thương và mất mát… do quân giặc gây ra đã làm cho ông Sáu, cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp mọi miền đất nước ta không bao giờ nguôi! Sự hi sinh của thế hệ đi trước để làm nên độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình là vô giá. Sau năm 1954, ông Sáu không tập kết ra Bắc, ông nhận nhiệm vụ mới ở lại miền Nam "nằm vùng" hoạt động bí mật. Trong những ngày ở rừng, ở cứ bị giặc ruồng bỏ triền miên. Thiếu gạo phải ăn bắp, gian khổ và nguy hiểm. Cái chết bủa vây cuộc chiến đấu thầm lặng. Ông Sáu vẫn không nguôi nhớ vợ con. Ông đã biến vỏ đạn 20 li của giặc Mĩ thành chiếc cưa nhỏ, đã tỉ mỉ, kiên nhẫn và khéo léo như một người thợ bạc chế tác khúc ngà voi thành một chiếc lược ngà xinh xắn có khắc dòng chữ:Yêu nhớ tặng Thu con của ba. Chiếc lược ngà với dòng chữ ấy mang theo bao tình cảm sâu nặng của người cha đối với đứa còn bé bỏng. Tình thương con của ông Sáu thật vô cùng tha thiết. Điều đó cho thấy, ông Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta hi sinh chiến đấu vì đất nước và dân tộc, vì hạnh phúc gia đình, vì tình vợ chồng, tình cha con. Chiếc lược ngà như một vật kí thác thiêng liêng của người lính về tình phụ – tử sâu nặng mà bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được. Chính vì thế, khi bị trúng đạn máy bay Mĩ bắn vào ngực, lúc hấp hối, ông "đưa tay vào túi, móc cây lược" đưa cho bạn, nhìn bạn hồi lâu rồi tắt thở… Ông Sáu đã hi sinh trong những ngày đen tối và gian khổ. Ngôi mộ ông là "ngôi mộ bằng giữa rừng sâu!". Nhưng chỉ có "tình cha con là khôngthể chết được!". Hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong truyện "Chiếc lược ngà" sâu nặng về tình cha – con. Chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu là người lính của một thế hệ anh hùng đi trước mở đường đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh. Truyện "Chiếc lược ngà" và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do các thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học "uống nước nhớ nguồn" càng thêm thấm thía.
Phát biểu cảm nghĩ về ông Sáu trong truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
805
ĐỀ BÀI: Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong vở chèo Quan Âm Thị Kính Bài làm Quan âm thị kính là một vở chèo cổ nổi tiếng của sân khấu chèo. Nó mang lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc về nỗi oa hại chồng và cái án hoang thai là hai cái nứt chính ở vở chèo. Qua đó tác giả dân gian phản ánh bi kịch trong thân phận của người phụ nữ nghèo khổ thời phong kiến. Bên cạnh đó vở chèo còn có dụng ý đề cao về phẩm chất cao quý của người phụ nữ và lên án cái xấu, cái ác ở trong xã hội phong kiến xưa. Trích nỗi oan hại chồng là phần cốt lõi ở trong phần mở đầu của vở chèo. Thị kính là một nàng dâu ngoan hiền nết na, thùy mị nhưng lại bị Sfng bà nanh ác đổ oan cho tội giết chồng, gia đình nhà chồng đã gây nên mâu thuẫn cho kính cùng nỗi oan chồng chất, hạnh phúc từ đó cũng tan vỡ và đuổi khỏi nhà chồng, chứng kiến cảnh người cha thân yêu bị sỉ nhục. Mâu thuẫn giữa sùng bà và thị kính về hình thức đó là xung đột trực tiếp giữa mẹ chồng nàng dâu nhưng bản chất là kẻ thống trị và người bị trị. Nói lên thân phận thấp kém của người phụ nữ nghèo trong quan hệ gia đình và hôn nhân phong kiến. Dùng bà thái độ rất hung hăng và tàn nhìn, khi đó Kính chỉ biết khóc lóc van xin nhưng bà lại dúi đầu thị Kính ngã xuống rồi bắt ngửa mặt lên để nghe mụ chửi chứ một mực không cho phân bua thanh minh gì. Mụ trút cho Thị Kính đủ tội mà không cần biết sự tình. Mụ xỉ vả, đuổi Thị Kính ra khỏi nhà không chỉ vì lí do cho rằng Thị Kính giết chồng mà Thị Kính còn là loại đàn bà hư đốn, tâm địa xấu xa; là con nhà thấp hèn không xứng với nhà mụ: “ Giống nhà bà đây giống phượng giống công Còn tuồng bay mèo mả gà đồng lẳng lơ Nhà bà đây cao môn lệnh tộc Trứng rồng lại nở ra rồng Liu điu lại nở ra dòng liu điu Đồng nát thì về Cầu Nôm Con gái nỏ mồm về ở với cha…” Khi bị ép tội giết chồng thì Thị Kính đã có những lời lẽ nhẫn nhục. Kêu oan 5 lần bảy lượt đều không được chấp nhận, người chồng thì một mực nghe theo mẹ đã không đứng về phía cô và còn hèn nhát. Lần thứ nhất, nàng kêu oan với mẹ chồng: Giời ơi Ị Mẹ ơi, oan cho con lắm, mẹ ơi! Lần thứ hai, vẫn với mẹ chồng: Oan cho con lắm mẹ ơi! Lần thứ ba, kêu oan với chồng: Oan thiếp lắm chàng ơi! Lần thứ tư, một lần nữa, lại kêu oan, van xin mẹ chồng: Mẹ xét tình cho con, oan con lắm mẹ ơi! Lần cuối cùng thị Kính kêu oan với Mãng ông thì nàng mới nhận được sự cảm thông nhưng đó là sự cảm thông đau khổ và bất lực tới cùng. Mãng ông đã nói trong nước mắt: “Con ơi! Dù oan dù nhẫn chẳng oan Xa xôi cha biết nỗi con nhường nào!” Kết cục là tình vợ chồng kết thúc, tan vỡ còn nàng thì bị đuổi ra khỏi nhà chồng. Cuối cùng chỉ còn lại hai cha con thị kính lẻ loi đơn độc đến tột cùng. Cảnh hai cha con ôm nhau than khóc chính là hình ảnh về người nghèo khổ chịu oan ức hoàn toàn bất lực trước sự việc đó. “Thương ôi! Bấy lâu nay sắt cầm tịnh hảo Bỗng ai làm chăn gối lẻ loi”. Một bên là kỉ niệm hai vợ chồng đã từng có khoảng thời gian hạnh phúc bên nhau còn một bên là khoảnh khắc chớp nhoáng của sự tan vỡ. Lời thoại gợi lên rất rõ hình ảnh một người con gái bị hàm oan đang vô cùng đau khổ và bơ vơ trước cuộc đời vô định. Thị Kính đột ngột bị đẩy vào tình thế éo le: Biết đi đâu? về đâu bây giờ? Đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến tránh sao khỏi cảnh Lênh đênh chiếc bách giữa dòng. Kết thúc đoạn trích là thị Kính đã lạy cha rồi nói lên nguyện vọng của mình là bước vào cửa phật tu hành. Vờ chào quan âm thị Kính nói chung và đoạn trích nỗi oan hại chồng nói riêng chính là một vở diễn và trích đoạn chèo tiêu biểu ở trên sân khấu chèo truyền thống, thể hiện một cách chân thực nhất về cuộc sống bế tắc, bị thảm của số phận con người đồng thời con ca ngợi về phẩm chất tốt đẹp, cao quý của người phụ nữ ở trong xã hội của phong kiến xưa.
Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong vở chèo Quan Âm Thị Kính
828
Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng Bài làm Trong kho tàng văn hoá truyền thống Việt Nam, chèo là một loại hình quan trọng và độc đáo. Chèo tổng hợp trong nó cả văn học, vũ đạo, hội hoạ, ca nhạc, diễn xướng,… dân gian. Trong kịch, mục sân khấu chèo, Quan Âm Thị Kính là vở diễn nổi tiếng, được phổ biến rộng rãi trên mọi miền Tổ quốc, được nhiều nước trên thế giới ca ngợi. Vỡ diễn này tiêu biểu cho sân khấu chèo về: tích truyện, kịch tính, nhân vật, các làn điệu dân ca, các điệu dân vũ,… Trong Quan Âm Thị Kính, đoạn Nỗi oan hại chồng giúp chúng ta hiểu những nét dặc sắc của cả tác phẩm, nhất là về mặt kịch bản văn học. Nỗi oan hại chồng là bi kịch đầu tiên của cuộc đời Thị Kính – nhân vật chính của vở chèo. Đoạn trích diễn tả cụ thể, sinh động tình cảnh bi thảm, bế tắc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa. Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng Đoạn trích Nỗi oan hại chồng có năm nhân vật: Thiện Sĩ, Thị Kính, Sùng ông, Sùng bà, Mãng ông. Các nhân vật đều tham gia vào quá trình tạo nên xung đột kịch. Câu chuyện được kể theo ba tình huống (còn gọi là ba cảnh) chính: 1. Vợ chồng Thiện Sĩ và Thị Kính chung hường hạnh phúc gia đình. Chồng đọc sách, vợ khâu vá, chăm sóc chồng (Từ đầu đến chi tiết Thiện Sĩ choàng dậy, hốt hoảng nắm lấy dao kêu lên). 2. Sùng bà vu oan giáng hoạ cho Thị Kính, đánh đuổi nàng dâu. Thị Kính kêu oan, nhưng không được. Xung đột nổ ra, mỗi lúc một căng thẳng, không thể dung hoà (Từ chi tiết Thiện Sĩ kêu “Hỡi cha! Hỡi mẹ!…” đến chi tiết Sùng bà dúi tay đáy Thị Kính ngã, có tiếng Sùng ông nói từ ngoài cửa). 3. Đoạn còn lại: Cha con Thị Kính than thở về nổi oan. Cha dắt con về. Thị Kính không về nhà, mà quyết định xuống tóc đi tu để “cầu Phật chứng minh” cho oan tình của mình. Xung đột kịch lên đỉnh điểm và cách giải quyết xung đột. Đoạn trích vừa mang tính kịch (biến diễn các xung đột) vừa tự sự, kể chuyện. Tất cả các chi tiết, tình huống xoay quanh mâu thuẫn giữa hai gia đình, tiêu biểu cho hai tầng lớp, hai giai cấp giàu và nghèo trong xã hội xưa. Trong đó nổi bật và tập trung vào xung đột giữa hai nhân vật: Sùng bà và Thị Kính. Do đó, tìm hiểu và suy ngẫm về đoạn trích Nỗi oan hại chồng chúng ta có thể kết hợp xung đột kịch và những dặc điểm số phận, tính cách của hai nhân vật chính ấy. Sùng bà dại diện cho tầng lớp địa chủ phong kiến, là một con người tàn nhẫn, thô bạo trong hành động ; ngoa ngoắt, hợm hĩnh, vu khống trong lời nói, ý nghĩ. Vừa nghe con trai kêu ”thấy dao kia kề cổ”, không cần hỏi han, tra xét cụ thể, Sùng bà đã buộc tội cho Thị Kính là “mày định giết con bà à”, rồi tiếp sau, dồn dập bao nhiêu lời cáo buộc, vu khống trắng trợn. Nào là “Mày trót say hoa đắm nguyệt”, nào là “Gái say trai lập chí giết chồng”. Chao ôi, toàn là những tội tày đình mà người mẹ chồng ấy đã suy đoán hồ đồ, để cố tình buộc tội con dâu, gieo xuống số phận Thị Kính một cái án, một nỗi oan thê thảm. Từ những ý nghĩ lạnh lùng, vô căn cứ đó, Sùng bà đã đối xử với Thị Kính bằng những cử chỉ, hành động rất tàn nhẫn, thô bạo. Mụ “dúi đầu Thị Kính xuống”, rồi “bắt Thị Kính ngửa mặt lên”. Không cho Thị Kính phân bua, giải thích, mụ lấp liếm vừa nói vừa hát bằng một giọng diệu cay độc, khinh ghét. Cuối cùng, mụ “dúi tay, đẩy Thị Kính ngã khuỵu xuống”, rồi bỏ vào nhà. Người mẹ chồng ấy đã đuổi con dâu một cách tàn nhẫn. Trong lời nói, điệu hát, Sùng bà liên tục đay nghiến, nhiếc mắng Thị Kính. Dường như mỗi lần mụ cất lời, Thị Kính lại thêm một tội. Đặc biệt là khi nói, Sùng bà luôn cố ý so sánh, đối chiếu để phân biệt đẳng cấp giữa hai gia đình: Giống nhà bà đây giống phượng giống công. Mày là con nhà cua Ốc. Nhà bà đây cao môn lệnh tộc. Tuồng bay mèo ma, gà đồng. Trứng rồng lại nở ra rồng. Các tác giả dân gian ngày xưa đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ thật sinh động. Lời nói, bài ca của người mẹ chồng ấy đã dựng nên một loạt hình ảnh tạo vật trái ngược nhau, tô đậm thêm sự đối lập, tính xung đột của câu chuyện. Lời lẽ của mụ Sùng thật phong phú, đa dạng, nhưng đều tập trung ở một tư tưởng: sự phân biệt “cao – thấp”, “giàu – nghèo”. Trong lời lẽ ấy vừa chứa đựng thói kiêu căng của tầng lớp địa chủ phong kiến vừa bộc lộ quan hệ đối lập mẹ chồng, nàng dâu vốn là quan hệ căng thẳng trong xã hội xưa, những kẻ giàu có thuộc tầng lớp địa chủ phong kiến luôn luôn khinh rẻ những người thuộc tầng lớp lao động, nghèo khó. Thị Kính tuy có đủ đức hạnh như lễ giáo phong kiến quy định nhưng vẫn không được Sùng bà chấp nhận bởi vì nàng không thuộc nguồn gốc “con nhà giống phượng, giống công”. Mâu thuẫn giữa Sùng bà (và cả gia đình) với Thị Kính (kể cả Mãng ông) tuy chí là mâu thuẫn trong hôn nhân, gia đình nhưng có ý nghĩa phản ánh mâu thuẫn giai cấp trong xã hội phong kiến. Nhân vật Sùng bà chỉ ra trò, xuất hiện trong một lớp kịch, một tình huống truyện nhưng rất tiêu biểu cho một loại vai trong chèo cổ: vai mụ ác. Ở nhân vật này tập trung cao độ tính cách của kẻ hợm của, khoe dòng giống, tàn nhẫn, độc đoán, cả vú lấp miệng em. Lúc nào mụ Sùng cũng lấy mình làm chuẩn để tỏ rõ phép nhà. Mụ là kẻ tạo ra “luật lệ” trong gia đình, chỉ huy tất cả, bắt tất cả từ chồng, đến con trai và con dâu phải theo ý mình, phải nể sợ, tôn trọng lời nói và hành động của mình. Trong đoạn chèo Nỗi oan hại chồng, nhân vật Sùng bà hiện lên thật sống động, gây cho người đọc, người xem cảm xúc ghê sợ, khinh ghét, cần phải phê phán. Đối lập với nhân vật Sùng bà là nhân vật Thị Kính. Thị Kính thuộc loại nhân vật nữ chính trong chèo. Nàng đại diện cho người phụ nữ lao động, những người dân bình thường, lương thiện. Cảnh ngộ của nàng thật thảm thương. Năm lần Thị Kính kêu oan. Trong năm lần ấy thì bốn lần tiếng kêu oan hướng về mẹ chồng và chồng: “Giời ơi! Mẹ ơi, oan con lắm mẹ ơi”, “Oan cho con lắm mẹ ơi”… “Oan thiếp lắm chàng ơi”… “Mẹ xét tình cho con, oan con lắm mẹ ơi!”. Thị Kính kêu oan với mẹ chồng, nhưng vô ích. Đối với Sùng bà, những lời ấy như đổ thêm dầu vào lửa, càng làm bùng lên ngọn lửa khinh ghét, càng nối dài thêm những lời đay nghiến vô lí, tức tối. Thị Kính càng kêu oan, nỗi oan càng dày thêm. Còn với Thiện Sĩ thì… đó là một người chồng đớn hèn, bạc nhược. Thiện Sĩ hoàn toàn bỏ mặc người vợ đã từng yêu thương, chăm chút gắn bó với mình, bỏ mặc nàng cho mẹ hành hạ. Trong cảnh ngộ thê thảm của Thị Kính, Thiện Sĩ là một người… thừa. Khi Thị Kính cầu cứu chồng “Oan thiếp lắm chàng ơi”, Thiện Sĩ vẫn im lặng như vô cảm, thật đáng trách. Xem chèo hoặc đọc kịch bản đến tình huống này, không ai không xúc động. Xúc động vì tức giận mẹ con Thiện Sĩ và xúc động vì xót thương Thị Kính. Nàng là người vợ hiền dâu thảo, chăm chỉ và thương yêu chồng đến như thế mà bị hàm oan, bị hắt hủi. Chỉ đến lần cuối cùng, lần thứ năm, kêu oan với cha (Mãng ông), người đàn bà bất hạnh ấy mới nhận được sự cảm thông. Nhưng đó là sự cảm thông đau khổ và bất lực. Càng đến cuối, xung đột của lớp kịch, cảnh ngộ của Thị Kính càng thê thảm. Nàng bị đuổi ra khỏi nhà chồng. Trước khi ra khỏi nhà, nàng còn cố níu lại chút kỉ niệm hạnh phúc ngắn ngủi với chồng. Đi theo cha được vài bước, nàng quay vào nhìn từ cái kỉ sách, thúng khâu, rồi cầm lấy chiếc áo đang khâu dở bóp chặt trong tay, thở than một mình: Những từ chỉ thời gian “bấy lâu” và “bỗng”, những hình ảnh tạo vật “sắt cầm tịnh hảo”, “chăn gối lẻ loi” đối lập với nhau, xung đột nhau cùng cất lên tiếng than thống thiết về sự tan vỡ hạnh phúc lứa đôi, dự cảm về một ngày mai đơn độc. Từ lời than, Thị Kính hờn trách: Trách lòng ai nỡ phụ lòng Đang tay nỡ bẻ phím đồng làm dôi… Tuy là lời “trách ai” đấy, nhưng chỉ là những lời “tự bạch”, tự giãi bày, than thở mà thôi. Nói khác đi, câu hát cuối cùng đó của Thị Kính – nạn nhân trong vụ “án oan” này – chỉ có ý nghĩa nhấn mạnh thêm cảnh ngộ đau khổ của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa. Trước cảnh ngộ đau khổ ấy, Thị Kính đã làm gì? Nếu là người phụ nữ khác, hẳn sẽ có suy nghi khác và ứng xử khác. Nhưng, Thị Kính lại buông xuôi, chỉ đành ngửa mặt than với trời, mong “Nhật nguyệt rạng soi – Thấu tình chăng nhẽ”. Sau đó, nàng tạm biệt gia đình, cha mẹ, xuống tóc, giả trai vào chùa đi tu. Hành động này của Thị Kính có mặt tích cực là ước muốn được sống nơi trong sạch để tỏ rõ người đoan chính, nhưng mặt tiêu cực là nàng đổ tại số phận và tìm cách giải thoát bằng sự khổ hạnh, tu tâm, nhẫn nhục, chịu đựng. Cả sau này, khi bị hàm oan trong vụ án hoang thai của Thị Mầu, Kính Tâm – cuộc đời thứ hai của người đàn bà bất hạnh, Thị Kính – vẫn buông xuôi, nhẫn nhục đợi chờ “Nhật nguyệt rạng soi”. So với một vài nhân vật phụ nữ khác trong truyện cổ tích như nàng Tiên Dung (truyện Chữ Đồng Tử), cô Tấm (truyện Tấm Cám), hoặc trong các vở chèo như Thị Phương (chèo Trương Viên), Thị Kính chưa có đủ bản lĩnh vượt trên hoàn cảnh, chưa có nghị lực cứng cỏi đứng lên chống lại những oan trái bất còng trong xã hội bấy giờ. Nàng là người phụ nữ nêu tấm gương đoan chính, lương thiện, nhẫn nhục để tu tâm tích đức. Tóm lại, vở chèo Quan Âm Thị Kính nói chung, đoạn trích Nỗi oan hại chồng nói riêng là vở diễn và trích đoạn chèo tiêu biểu của sân khâu chèo truyền thống, một loại hình văn hoá, văn học dân gian đặc sắc của Việt Nam. Vở chèo và trích đoạn này thể hiện được những phẩm chất tốt đẹp cùng nỗi oan bi thảm, bế tắc của người phụ nữ và những đối lập giai cấp thông qua xung đột hôn nhân, gia đình trong xã hội phong kiến ngày xưa…
Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Nỗi oan hại chồng
2,013
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Sau phút chia li (trích Chinh phụ ngâm khúc) của Đặng Trần Côn Bài làm Chinh phụ ngâm khúc hay còn gọi là Chinh phụ ngâm có nghĩa là khúc ngâm về nỗi lòng sầu thương, nhớ nhung của người vợ trẻ có chồng ra trận, được Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục (còn gọi là làng Mọc) nay thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội, sáng tác vào khoảng thời gian từ 1741 – 1742. Thời kì này, chế độ phong kiến đang lâm vào tình trạng rối ren, suy thoái. Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra khắp nơi. Triều đình ra sức đàn áp, gây nên cảnh nổi da xáo thịt, nhân dân đau khổ, đất nước rối loạn, kinh thành náo động. Trước hoàn cảnh đó, trái tim đa cảm của nhà thơ quặn thắt bởi nỗi đau sinh li tử biệt. Ông đã dùng ngòi bút để bày tỏ sự thông cảm và xót thương chân thành, làm rung động lòng người. Chinh phụ ngâm khúc nguyên bản được viết bằng chữ Hán, sau đó được nhiều người dịch Nôm. Bản diễn Nôm trong sách Ngữ văn 7 từng được xem là của Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), một phụ nữ tài sắc, người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, sống cùng thời với Đặng Trần Côn. Nhưng lại có ý kiến cho là của nhà nho Phan Huy Ích. Cả nguyên tác và bản diễn Nôm đều được đánh giá là kiệt tác trong lịch sử văn học Việt Nam. Nội dung khúc ngâm là tiếng nói ai oán đối với chiến tranh của người chinh phụ, nhưng chung quy chỉ có sầu với nhớ và hết nhớ lại sầu. Nghệ thuật độc đáo của khúc ngâm là miêu tả rất tinh tế diễn biến phức tạp của tâm trạng nhân vật mà không hề lặp lại một cách đơn điệu, nhàm chán. Đoạn trích sau đây phản ánh diễn biến tâm trạng của người vợ trẻ trong phút chia li. Đây là đoạn hay nhất, thể hiện tập trung nhất tài năng miêu tả nội tâm nhân vật của nhà thơ: Chàng thì đi cõi xa mưa gió, Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn: Đoái trông theo đã cách ngăn, Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh. Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại, Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang. Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng. Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, Thay xanh xanh những mấy ngàn dâu. Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?… Đoạn trích gồm ba khổ, có thể chia làm ba phần. Phần một tả tâm trạng của người vợ trẻ sau phút chia li. Phần hai tả nỗi nhớ thương sầu muộn ở mức độ cao hơn. Phần ba tả nỗi nhớ thương lên đến cực điểm, không thể nào nguôi. Bốn câu thơ đầu thể hiện tâm trạng chơi vơi, buồn bã của người vợ trẻ qua nghệ thuật đối rất chỉnh: Chàng thì đi cõi xa mưa gió, Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn. Đoái trông theo đã cách ngăn, Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh. Chàng thì đi thiếp thì về, hai người hai ngả ngược chiều nhau, mỗi lúc mỗi xa. Thực trạng cuộc chia li đã diễn ra. Chàng thì đi vào cõi xa mưa gió, thiếp thì về với cảnh phòng không chiếc bóng, vò võ năm canh. Bao nhiêu gian truân, vất vả, thậm chí hiểm nguy đối với người ra đi chứa đựng trong mấy từ cõi xa mưa gió rất giàu khả năng gợi tả. Có cái gì đó thật chông chênh, khó lường. Mưa gió trên con đường thiên lí mịt mù phải chăng cũng là mưa gió trong lòng cả kẻ ở lẫn người đi?! Không thể đoán định được những gì đang chờ đợi khách chinh phu ở phía trước, nhưng điều dễ nhận biết là công danh thì hão huyền còn chết chóc lại là hiện thực, một hiện thực nghiệt ngã phũ phàng, khó bề tránh khỏi. Người đi đã khổ, kẻ ở cũng chẳng sung sướng gì. Rồi đây, khi thiếp trở về buồng cữ chiếu chăn vẫn vương vân hơi ấm nồng nàn của tình chồng vợ thì tình cảnh ấy như trêu ngươi, như xoáy vào nỗi đau li biệt đang rớm máu trong lòng chinh phụ. Kể từ đây, nàng sẽ vò võ cô đơn suốt những tháng năm xa cách đầy lo lắng, đợi chờ và hi vọng. Nỗi sầu sinh li tràn ngập cõi lòng người ở lại và dường như thấm cả sang đất trời, cây cỏ. Bóng dáng người đi đã nhạt nhòa, khuất lấp. Cố dõi mắt đoái trông thì cũng chỉ thấy mây biếc, núi xanh trải dài vô tận như nỗi buồn không thể nguôi ngoai. Cách ngăn đã là sự thật khắc nghiệt và nỗi sầu chia li tưởng như đã phủ lên màu biếc của mây, màu xanh của núi. Hình ảnh mây biếc, núi xanh trập trùng có tính ước lệ thường thấy trong thơ cổ đã được cảm xúc chân thành của người trong cuộc làm cho sống động, tự nhiên. Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại, Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang. Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương, Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng. Tác giả vẫn khai thác triệt đế thế mạnh của nghệ thuật đối trong những câu thơ bảy chữ: Chốn Hàm Dương >< Bến Tiêu Tương, chàng còn ngoảnh lại >< thiếp hãy trông sang. Kết hợp với cách sử dụng điệp từ, điệp ngữ và đảo ngữ rất uyển chuyển ở cặp câu lục bát: Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương, Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng. Tạo thành một cấu trúc khép kín, gợi tình cảm tha thiết, quyến luyến không rời. Trong mấy câu thơ trên tuy có cả con người cùng cảnh vật và tướng như rất thật, nhưng thực ra đây chỉ là bức tranh tâm cảnh. Nhà thơ mượn cảnh để nói đến sự xa xôi, trở ngại về mặt địa lí và thể hiện tâm trạng nhớ nhung, khắc khoải đang chất chứa trong lòng nhân vật. Đồng thời cũng gửi gắm vào đó thái độ bất bình trước cảnh đau lòng: những đôi lứa trẻ trung đang đầm ấm sum vầy bên nhau, chỉ vì chiến tranh mà phải chia li và biết đâu lại là chia li mãi mãi. Hạnh phúc gia đình của họ liệu có vẹn toàn sau bao ngày binh lửa?! Nỗi bất bình trên chính là tiếng nói gián tiếp lên án chiến tranh phi nghĩa của riêng tác giả và của chung nhân dân ta thời bấy giờ. Nếu ở khổ thơ trên, tác giả mới nói đến sự cách ngăn thì đến khổ này, sự cách ngăn đó đã là mấy trùng thăm thẳm. Có điều, sự chia li đã diễn ra trong khi tình cảm, tâm hồn vẫn gắn bó khăng khít. Nhà thơ không chỉ nói đến nỗi sầu chia li mà còn nói đến sự đời oái oăm, nghịch chướng: đôi vợ chồng trẻ muốn gắn bó mà không dược gắn bó, không muốn chia li mà lại phải chia li. Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. Ngàn dâu xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? Khổ thơ cuối tiếp tục dùng phép đối, điệp ngữ, điệp ý (cùng trông, cùng chẳng thấy, ngàn dâu, ngàn dâu, xanh ngắt…) để gợi tả nỗi sầu thương tột độ trong lòng chinh phụ. Lối ngắt nhịp linh hoạt trong từng câu thơ: Cùng trồng lại / mà cùng chẳng thấy, Thấy xanh xanh / những mấy ngàn dâu, Ngàn dâu / xanh ngắt một màu, Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? đã góp phần bộc lộ rõ hơn nỗi khắc khoải, xót xa đang vò xé tâm can người đi, kẻ ở. Vẫn là những động thái ban đầu: người ở lại dõi theo, người ra đi ngoảnh lại để kéo dài thêm cảm giác còn được gần nhau, để in sâu thêm hình ảnh của nhau trong tâm khảm… Nhưng giờ đây, sự xa cách chẳng thể lấy Cây Hàm Dương, Bến Tiêu Tương… để mà ước tính được nữa, cho nên mọi cố gắng đều vô vọng. Bóng người đi đã mất hút vào ngàn dâu xanh ngắt. Trớ trêu thay, cái màu xanh vốn tượng trưng cho sức sống và hi vọng trong tình cảnh này chỉ gợi nên một không gian thăm thẳm mênh mông, thấm đẫm môi sầu li biệt. Câu thơ cuối cùng: Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? không có ý so sánh mà chỉ nhấn mạnh nỗi sầu thương tột độ trong lòng chinh phụ. Đành gửi vào gió, vào mây nỗi nhớ niềm thương khó giãi bày cho hết cửa mình. Qua đoạn trích trên đây, chúng ta có thể thấy được phần nào nỗi sầu chia li của người chinh phụ lúc tiễn chồng ra trận và tấm lòng đầy tình nhân ái của tác giả. Tác phẩm vừa có ý nghĩa tố cáo chiến tranh phi nghĩa, vừa thể hiện nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi. Chinh phụ ngâm khúc được đánh giá là tác phẩm có nghệ thuật sử dụng điệp từ, điệp ngữ vào loại điêu luyện nhất trong lịch sử thơ ca Việt Nam từ trước tới nay.
Phát biểu cảm nghĩ về đoạn trích Sau phút chia li của Đặng Trần Côn
1,570
Phát biểu cảm nghĩ: Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần Hướng dẫn Phát biểu cảm nghĩ: Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng nhất trong đời sống con người.Đã có biết bao tiếng hát, lời ru, câu chuyện… khuyên nhủ mọi người hãy xây dựng tình cảm gia đình đầm ấm, thuận hòa. Và một trong những lời khuyên được lưu truyền rộng rãi là: “Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần.” Câu ca dao đã dùng hình ảnh so sánh cụ thể, gần gũi để lời khuyên dễ đi vào lòng người. Chân và tay là những bộ phận trên cùng một cơ thể con người. Mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng giữa chúng luôn có mối quan hệ khăng khít, bổ sung, hỗ trợ cha nhau. Điều đó cũng giống như anh em trong gia đình cũng vậy. Dù mỗi người là một cá nhân riêng biệt nhưng đều cùng cha mẹ sinh ra, cùng chơi, cùng học, cùng lớn lên dưới một mái nhà. Vậy nên quan hệ anh em là quan hệ gắn bó máu thịt với nhau. Vậy anh em phải cư xử với nhau thế nào cho đúng? ” Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần. Anh em ruột thịt phải thương yêu, giúp đỡ nhau trên mỗi bước đường đời.” Đùm bọc có nghĩa lằ giúp đỡ, che chở, chia sẻ cho nhau mọi nỗi buồn vui, mọi điều sướng khổ với tất cả tình cảm thương mến chân thành. Câu ca dao đưa ra một cách cư xử hợp tình hợp lí trong quan hệ anh em. Đây cũng là một chuẩn mực đạo đức để đánh giá phẩm chất con người. Đùm bọc, đỡ đần còn là trách nhiệm mỗi người anh, người em trong gia đình. Trong dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về tình anh em thắm thiết qua Sự tích trầu cau. Hai anh em sinh đôi họ Cao mồ côi cha mẹ, dắt nhau đên học ở nhà thầy đồ họ Lưu. Thấy họ nhường nhau bát cháo duy nhất, cô con gái thầy đồ cảm động và tình nguyện làm vợ người anh.Chỉ vì một sự hiểu lầm mà người em xấu hổ phải ra đi Người anh ân hận bỏ nhà đi tìm em… Tình anh em sâu nặng đã khiến trời đất cảm động, biến anh thành cây cau, em thành hòn đá, mãi mãi bên nhau trong tục ăn trầu của người Việt. Bên cạnh việc ca ngợi tình anh em thắm thiết trong truyện Trầu cau, nhân dân ta cũng lên án người anh tham lam độc ác trong truyện Cây khế và dành cho hắn kết cục bi thảm là phải bỏ xác dưới đáy biển sâu.
Phát biểu cảm nghĩ_ Anh em như thể tay chân, Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần
483
Phát biểu cảm ngĩ của em về hạnh phúc được sống giữa tình yêu của mọi người Hướng dẫn Phát biểu cảm ngĩ của em về hạnh phúc được sống giữa tình yêu của mọi người Trong cuộc đời mỗi con người, niềm hạnh phúc lớn nhất là được sống trong tình yêu thương chăm sóc của cha mẹ, tình cảm chân thành, mộc mạc của bạn bè. Đó là những tình cảm thiêng liêng của mỗi con người không có gì có thể thay thế được. Từ khi cất tiếng khóc chào đời, em đã được mẹ cha, người thân chăm sóc từng miếng ăn từng giấc ngủ, đến khi chập chững những bước đi đầu tiên thì cha mẹ cũng là những người dìu bước em đi, nâng em dậy mỗi khi em vấp ngã. Khi em ốm đau cha mẹ là người lo lắng cho em nhất, mẹ có thể thức cả đêm chăm sóc em, bón cho em từng thìa cháo, khuôn mặt mẹ đầy lo âu, những lúc đó mẹ có thể hi sinh tất cả để em được hạnh phúc. Nghĩa mẹ công cha đối với chúng ta vô cùng lớn lao: “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”, và ca dao của Việt Nam cũng có câu: Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao hiển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi Hay: Ơn cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang Và em cũng hiểu rằng: chính vì em mà mẹ cha vất vả, ngày đêm làm việc kiếm tiền đổ nuôi em ăn học, em càng khôn lớn thì cha mẹ mỏi lúc lại già hơn: Cây khô chưa dễ mọc chồi Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta Non xanh bao tuổi mà già Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu. Câu ca dao trên là một lời nhắc nhở chúng ta về công lao của mẹ cha đối với con cái và câu ca dao còn muốn nói đến một thực tế là cha mẹ không thể ở với chúng ta suốt đời, rồi một ngày nào đó lớn lên em phải xa bố mẹ hoặc đến lúc cha mẹ già khuất núi. Trong cuộc đời của mỗi con người, mọi thứ đều có thể thay thế trừ cha và mẹ. Cho nên bất hạnh lớn nhất của chúng ta là khi mất mẹ mất cha: “Trong đời, con có thể trải qua những ngày buồn thảm nhất, nhưng ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Song đó là quy luật tự nhiên không ai có thể tránh được điều đó. Vậy nên theo em nghĩ những ngày được sống trong vòng tay của mẹ của cha, chúng ta cần yêu thương, kính trọng và là người con hiếu thảo biết vâng lời cha mẹ. Đặc biệt phải học tập thật tốt để cha mẹ vui lòng. Mỗi khi buồn em lại có thể đến chia sẻ với người bạn thân của mình nhờ đó nỗi buồn của em như vơi đi một nửa. Ngày ngày đi học em và bạn lại cùng nhau đi chung trên một con đường có bạn con đường đi như ngắn hơn bởi tiếng cười luôn nở trên môi hai đứa. Chúng em còn thường xuyên đến nhà nhau để học nhóm, có những bài toán khó cả hai đứa cùng bạn bạc và đưa ra cách giải quyết hay nhất, hợp lí nhất. Có những người ban tốt em cảm thấy tự tin và vui vẻ hơn rất nhiều.
Phát biểu cảm ngĩ của em về hạnh phúc được sống giữa tình yêu của mọi người
625
Phát biểu cảm nhận về lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn Hướng dẫn Nếu được sống những ngày tháng sôi sục năm 1284 — 1285 mà đọc Hịch tướng sĩ, hẳn không ai cầm được nước mắt. Kết thúc bài hịch, Trần Quốc Tuấn giãi bày: Ta viết bài hịch này để các ngươi biết bụng ta. Phải chăng ông mong muốn người đọc, người nghe không chỉ thức tỉnh bởi những lí lẽ chặt chẽ, sắc bén mà còn thấm thìa, xúc động bởi tấm lòng người chủ soái đang bồi hồi lo lắng từng giờ từng phút cho vận mệnh sống còn của cả non sông Đại Việt. Ngày ấy, văn chương nghị luận chưa hoàn toàn tách khỏi lịch sử, triết học, chính trị (văn — sử — triết bất phân); văn nghị luận chưa tách khỏi văn tự sự, trữ tình. Thuyết phục bằng trí tuệ, lí lẽ, lập luận….bằng hình ảnh, sinh động và xúc cảm chân thành, mãnh liệt. Có đoạn văn nhói lên đau đớn, xót xa, có đoạn ngùn ngụt căm hờn, lời văn nghẹn ngào, sôi sục. Mỗi chữ như một lời thề thiêng liêng, một quyết tâm sắc nhọn. Đối với tì tướng, trái tim lớn ấy lại nhân hậu vô cùng. Sự quan tâm, chăm sóc của ông thật là tỉ mỉ, cụ thể, kịp thời, từng việc, từng người, nơi này, nơi kia, lúc này, lúc khác… như cha con, anh em ruột thịt một nhà. Khi phê phán, trách móc, chế giễu, sỉ nhục tướng sĩ dưới quyền khá nặng nề, vẫn thấy tấm lòng từ ái, độ lượng, bao dung và tầm nhìn xa rộng của Đại vương. Đặc biệt, ông luôn gắn mình với tướng sĩ: ta cùng các ngươi, chẳng những thân ta…mà các ngươi…cùng sống chết, cùng đau xót biết chừng nào, cùng vui cười… cao hơn tất cả cái sống, cái chết của mỗi người là khôi đoàn kết toàn quân, toàn dân mà Hưng Đạo vương là người có công đầu xây đắp. Đó chính là sức mạnh tinh thần quan trọng nhất để quân dân nhà Trần quyết đánh và quyết thắng.
Phát biểu cảm nhận về lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn
358
Phát biểu cảm tưởng về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê Bài làm a. Mở bài Đêm hôm ấy trăng sáng đến lại, đáng lẽ đã phải ngôi vào bàn học bài từ lúc nãy, nhưng vì thấy trăng đẹp quá em ráng ngồi lại ngắm trăng thêm chút nữa… Bài ngày mai rất nhiều em nhìn trăng luyến tiếc rồi bước vào nhà, học môn sử xong, em lấy bài môn văn ra soạn, bât ngờ và thú vị thay đó là “Tính dạ tứ” của Lí Bạch. Em đọc liền một hơi: Sàng tiền minh nguyệt quang Nghĩ thị địa thượng sương Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương. Phát biểu cảm tưởng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh b. Thân bài. Trước mắt em hiện lên hình ảnh thi nhân Lí Bạch đang nằm nghỉ trong thư phòng trằn trọc thao thức, rồi bất ngờ nhận ra ánh trăng đang chiếu sáng ở đầu giường giật mình, thảng thốt: “Ánh trăng ư?”. Sàng tiền minh nguyệt quang Thi nhân ngồi dậy đi ra phía cửa sổ, sững sờ cả một không gian tràn ngập ánh trăng, ánh trăng bao la huyền hoặc: Nghi thị địa thượng sương Sương hay trăng? Thi nhân thoáng chút nghi ngờ thị giác của mình. Ánh trăng như những sợi khói, như làn sương mỏng lãng đãng mơ hồ. Có lẽ cả hai, sương và trăng cùng hòa quyện vào nhau thật hư ảo. Nhà thơ nhìn lên bầu trời kiểm chứng: Cử đầu vọng minh nguyệt Đây không phải là cái nhìn bình thường, mà sự tha thiết đắm đuối – Trên bầu trời trăng thu vằng vặc, trăng càng sáng càng gợi nên nỗi niềm cô đơn trong lòng người xa quê. Nỗi nhớ tràn ngập con tim để rồi thi nhân: Đê đầu tư cố hương Cái đê đầu chất chứa bao nỗi niềm tâm sự suy tư, quê hương nghìn trùng vời vợi luôn là sự khắc khoải trong lòng người, có phải nhà thơ Lí Bạch đang nhờ vầng trăng vằng vặc kia chuyển nỗi nhớ của mình về quê nhà? Khép lại bài thơ là hình ảnh một con người ngồi bên cửa sổ, trong không gian tràn ngập ánh trăng của một đêm khuya tĩnh mịch cúi đầu trầm tư. Bài thơ chỉ có 20 chữ. Hai mươi chữ đối với chúng ta nhiều khi chưa thành một đoạn văn, nhưng với hai mươi chữ của Lí Bạch đã trở thành một bài thơ tuyệt vời, với bao tâm sự… Và đâu chỉ là thơ mà còn là một bức tranh nữa chứ, bức tranh ấy có cả cảnh: bầu trời, vầng trăng và một con người đang trong tâm trạng suy tư. c. Kết bài. Bài đã soạn xong và bài thơ đã được nằm trong trái tim nhưng em chưa gấp sách vội, thẫn thờ ngồi trên bàn, bởi tình cảm quê hương được thể hiện một cách nhẹ nhàng thấm thía qua bài thơ đã làm cho em xúc động. Em cũng là người xa quê. Ngoài kia trăng vẫn sáng…
Phát biểu cảm tưởng bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
506
Phát biểu cảm tưởng về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê Dàn ý a. Mở bài Giới thiệu tác phẩm: Hạ Tri Chương làm quan thời nhà Đường, ông sống biền biệt xa quê 50 năm, tới năm 86 tuổi mới trở về quê. Bài thơ này ra đời lúc ông mới đặt chân trở về quê nhà. Hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm: Nghe thầy cô giáo giảng, mình tự soạn bài hoặc ngày trở về thăm quê. Phát biểu cảm tưởng về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê b. Thân bài. Những cảm xúc suy nghĩ trong bài thơ gợi lên: Cảm nghĩ về thời điểm ra đi và trở về của nhà thơ. Giữa các không đổi và cái thay đổi của nhà thơ – > tình cảm của người xa quê. Cảnh ngộ bi kịch của nhà thơ bị gọi là khách ngay trên quê hương mình trong ngày đầu tiên trở về. Cảm thương cho hoàn cảnh của nhà thơ. c. Kết bài Thông cảm với những người xa quê. Nỗi nhớ quê hương của chính bản thân do bài thơ gợi lên.
Phát biểu cảm tưởng về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê
183
Phát biểu suy nghĩ của em về niềm vui, nổi buồn tuổi thơ hoặc tình cảm với một món đồ chơi Hướng dẫn Bây giờ, trời đang xuân, tôi khép lại những trang sácíi văn đã để lại trong lòng nhiều suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc. Trong đó tôi thích nhất những trang viết bài “Cổng trường mở ra” của Lý Lan gợi nhớ niềm vui của những ngày đầu tiên đi học, và bài “Cuộc chia tay của những con búp bê” cũng đong lai nỗi buồn thời thơ ấu. Ngày xưa, tôi cũng như mọi người khác, cũng có một ngày đầu tiên đi học. Và những kỉ niệm của ngày ấy vẫn luôn theo tôi cho đến tận bây giờ. Lần đầu đọc bài “Cổng trường mở ra”, bao nhiêu kỉ niệm trong lòng bỗng sống dậy. Nhớ quá! Hồi tôi vào lớp một, tôi cũng đi trên “con đường làng dài và hẹp”… một mình bước đến trường, không ai dắt tay cả, khác hẳn với đám bạn bè bên cạnh, đơn giản vì ba mẹ tôi không ở đây, không thể đưa tôi đến trường được, dơn giản vậy thôi… Ây thế mà lại gây cho tôi một nỗi buồn tủi thân khi nhìn thấy những đứa trẻ khác được mẹ âu yếm dắt tay đến trường, còn tôi chỉ một mình lủi thủi đơn độc, bị nhấn chìm trong đại dương hạnh phúc của người khác. Tuy nhiên, đọc bài văn của Lí Lan, tôi bỗng hiểu thêm ngày khai trường là ngày lễ của toàn xã hội. Người lớn đưa trẻ con đến trường, đường phố dược dọn sạch sẽ và trang trí tươi vui vì ai cũng biết rằng sai lầm trong giáo dục sẽ ảnh hưởng đến cả một thế hệ mai sau, và sai lầm một li có thể đưa thế hệ ấy đi chệch cả hàng dặm sau này. Khép lại những kỉ niệm của ngày đầu tiên đi học, mở ra những cảm xúc mới về trang sách viết bài “Cuộc chia tay của những con búp bê”. Thật tội nghiệp cho tuổi thơ của hai anh em rất thương nhau mà phải chia lìa vì cha mẹ li dị. Người mẹ đã bắt hai anh em phải chia đồ chơi trước lúc chia tay. Nhưng không gì có thể chia cắt được tình cảm trong sáng, hồn nhiên, vô tư của trẻ thơ vì cuối cùng con búp bê Em Nhỏ và con Vệ Sĩ cũng đứng bên cạnh nhau. Tuy nhiên cuộc chia tay đau đớn và đầy cảm động của hai em bé trong truyện khiến người đọc thấm thìa rằng “Tổ ấm gia đình là vô cùng quan trọng và quí giá. Mọi người hãy cố gắng trân trọng và giữ gìn. Không nên vì bất cứ lý do gì mà làm tổn hại đến tình cảm thiêng liêng ấy.” Nói đến những con búp bê*, tôi lại nhớ đến những dồ chơi thuở nhỏ. Có em bé nào mà lại không ham thích đồ chơi. Con trai thì thích những hòn bi, trái banh,… còn con gái thì thích những con búp bê xinh đẹp,… Đến Tết Trung thu thì những đèn lồng hình con bướm, con rồng,.. lung linh, nhảy múa theo những bước chân trẻ em. Mong rằng xã hội sẽ quan tâm đến thiếu nhi nhiều hơn bằng những đồ chơi mang tính giáo dục chứ không phải là những đồ chơi súng đạn, dao kiếm, làm cho trẻ em nhiễm tính hung bạo, tàn ác.
Phát biểu suy nghĩ của em về niềm vui, nổi buồn tuổi thơ hoặc tình cảm với một món đồ chơi
593
Đề bài: Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình". Bài làm Học tập là một nhu cầu, một hoạt động không thể thiếu được của con người từ xưa đến nay. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, quan niệm về việc học của con người cũng có nhiều thay đổi để tiếp cận chân lí, tiến dần đến bản chất của việc học. Trong thời đại ngày nay, UNESCO đã đề xướng mục đích của học tập như sau: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. "Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình" Mục đích của học tập đã được UNESCO tổng kết trong bốn nội dung rõ ràng, đầy đủ, đúng đắn và khoa học: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khắng định mình”. Biết, làm, chung sống, tự khẳng định mình nói lên như bốn mục đích mà việc học ngày nay phải hướng tới, là bốn trụ cột vững chắc cho việc học trong thời đại hiện nay. Biết bao giờ cũng là mục đích đầu tiên của việc học, trước đây đã thế, bây giờ càng phải thế, vì tri thức của nhân loại càng ngày càng phong phú mà hiểu biết của con người thì có hạn. Đây là khâu thu nhận kiến thức của con người, là trụ cột đầu tiên làm cơ sở cho ba trụ cột tiếp theo của việc học. Mạnh Tử nói: “Không lên núi cao sao biết cái lo nghiêng ngã, không xuống vực sâu sao biết cái lo đắm đuối, không ra bể lớn sao biết cái gì lo sóng gió”. Học để biết chính là như vậy. Nhưng không phải biết chỉ để biết, để thành một kiểu “nhà thông thái” đọc thiên kinh vạn quyến theo quan niệm học cũ trước đây, mà trong thời đại ngày nay, tiêu chí quan trọng là học để làm, để thực hành, vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Biết và làm là hai mặt không thể thiếu trong việc học của con người ngày nay, nó gắn bó hữu cơ và tương hỗ với nhau: biết để làm, và làm để nâng cái biết lên một tầm cao hơn, vững chắc hơn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Học để hành, hành để học”. Nhấn mạnh đến yêu cầu làm bằng việc tách nó ra, để nó đứng ở vị trí thứ hai ngay sau yêu cầu biết là đúng, là phù hợp với việc học của con người ngày nay: con người hành động, con người sáng tạo. Yêu cầu thứ ba là học để chung sống – một mục đích rất mới mẻ mang dấu ấn thời đại sâu sắc. Con người ngày nay không còn sống riêng biệt theo kiểu “tự cung tự cấp”, “ta về ta tắm ao ta” mà đã hòa nhập trong xu thế toàn cầu hóa để hiểu biết nhau đến với nhau, học tập và giúp đỡ lẫn nhau… Chung sống trở thành một nhu cầu tự nhiên, một yêu cầu phải có, một kĩ năng, phẩm chất của con người trong thời hiện nay, nó phải được đưa vào như một mục đích hẳn hoi của việc học tập, có vai trò và vị trí như các mục đích khác. Khái niệm chung sống ở đây cần được hiểu theo nghĩa “tinh thần” của nó là cách sống, xu thế sống của thời đại. Trong mục đích học để chung sống thì kĩ năng chung sống của con người trong thế kỉ XXI là rất quan trọng. Cuối cùng là học để tự khẳng định mình. Đây là yêu cầu của việc hoàn thiện nhân cách trong học tập, cũng là kết quả và thước đo trong việc học của mỗi người. Tự khẳng định mình là cái đích phải đạt được của con người ngày nay trong học tập: đó là lúc con người đã từng bước hoàn thiện nhân cách cùa mình, có đủ năng lực và phẩm chất để chung sống với mọi người và góp phần xây dựng cho dân tộc cũng như cộng đồng nhân loại. Nếu học tập mà không tự khẳng định được mình thì coi như việc học không đạt kết quả. Bốn mục đích của việc học do UNESCO đề xướng vừa đúng đắn, khoa học, lại mới mẻ và mang dấu ấn thời đại sâu sắc. Cách sắp xếp trình tự các mục đích cũng rất lô-gích, hợp lí: biết -> làm -> chung sống -> tự khẳng định mình. Lôgic là ở chỗ: có biết thì mới làm được, biết và làm là điều kiện để chung sống, và trên cơ sở biết, làm, chung sống thì mới khẳng định được mình. Tuy đề xướng thành bốn mục đích cụ thể của việc học, nhưng bốn mục đích đó lại có thể quy về hai mặt, hai yêu cầu cơ bản của việc học: “Học để biết” là yêu cầu tiếp thu kiến thức; “học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” là yêu cầu thực hành, vận dụng kiến thức, từng bước hoàn thiện nhân cách của người học. Đó là những tư tưởng đúng đắn, mới mẻ và tiến bộ về việc học của con người trong thời đại ngày nay.
Phát biểu ý kiến về mục đích học tập “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”
927
Phân loại rác trước khi đổ là một việc làm tốt. Hãy kể lại việc làm đó Gợi ý Túi nilông là một “nhân tố” quan trọng tạo nên sự ô nhiễm môi trường. Mỗi ngày mẹ đi chợ là mỗi ngày mẹ mang về nhà không biết bao nhiêu loại túi: túi to, túi nhỏ, túi trắng, túi xanh, túi vàng, túi họng… đựng biết bao nhiêu là đồ. Công việc tiếp theo của em là cất đồ và nhặt những chiếc túi nilông cuộn chúng lại với nhau thành một túi riêng, chờ các cô lao công đên hót rác thì đem ra đổ vào thùng.
Phân loại rác trước khi đổ là một việc làm tốt. Hãy kể lại việc làm đó
106
Phân tich tâm trạng của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ Hướng dẫn Phân tich tâm trạng của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ Chẳng phải tự nhiên mà văn học lại đã có một thời được mệnh danh là bách khoa toàn thư. Nó được mệnh danh như thế bởi mỗi một tác phẩm văn chương ra đời đều chứa đựng những tâm tư tình cảm của cá nhân tác giả nói riêng và những tình cảm của tất cả mọi người trong cuộc sống nói chung. Có một nhà khoa học đã nói rằng: “Bi kịch của con người chúng ta là thừa tri thức mà lại thiếu tâm hồn” vậy nên văn học ra đời giống như một vị cứu tinh cứu vớt con người ra khỏi bi kịch ấy. Trong nền văn học nước nhà, Hoàng Cầm gửi niềm yêu quê hương đất nước với tâm trạng đau xót khi quê hương bị giặc xéo giày trong bài thơ Bên kia sống Đuống còn Hàn Mạc Tử cũng gủi gắm tâm trạng của mình trong bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ. Bài thơ đây thôn Vĩ Dạ quả thật đã truyền tải hết tâm trạng của Hàn Mạc Tử. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ một phần đã nói lên tâm trạng của nhà thơ ấy. Khi ấy Hàn Mạc Tử đã mắc phải căn bệnh phong không có thuốc chữa, ông đang sống ở trại phong Tuy Hòa. Đó là một nơi chỉ có những người bệnh, chỉ có bốn bức tường vôi trắng ngăn cản cách li ông với thế giới bên ngoài. Đối với một con người nhiệt huyết yêu cuộc sống mà giờ đây lại bị giam lỏng trong bốn bức tường kia, điều đó chẳng khác nào cướp đi sự sống của ông. Khoảng thời gian này Hàn Mạc Tử phải sống cô đơn, sống cầm cự, sống chờ ngày trở về với cát bụi, với ông bà tổ tiên, sống với bệnh tật. Thế rồi Hoàng Thị Kim Cúc một người con gái mà Hàn Mạc Tử đã từng yêu gửi cho ông một bức thư với nhan đề “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Câu hỏi ấy khiến cho Hàn Mạc Tử thấy xót xa trong lòng, hoàn cảnh hiện giờ và những nỗi niềm xưa cũ đã khiến cho nhà thơ bật lên những tiếng thơ đầy tâm trạng. Đó là tâm trạng nhớ thương về người và cảnh xứ Huế, nhớ tình cảm của hai người. Ở đó ta còn thấy được sự hối hận của nhà thơ khi cứ nhút nhát không bày tỏ tình cảm của mình với người con gái mang tên Kim Cúc ấy. Và như thế bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã ra đời. Nhan đề bài thơ cũng phần nào gửi gắm những nỗi nhớ của nhà thơ về con người và cảnh vật xứ Huế. Địa danh Vĩ Dạ là nơi mà Hàn Mạc Tử đã từng công tác ở đó và cũng chính địa danh ấy là dệt lên mối tơ duyên trong lòng nhà thơ với người con gái Hoàng thị Kim Cúc. Hai người sớm có tình cảm với nhau thế nhưng bản thân của nhà thơ lại là một chàng trai nhút nhát cho nên không một lần nào bày tỏ tình cảm của mình với người con gái xứ Huế ấy. Từ “đây” cứ như là mời gọi như là giới thiệu cho tất cả bạn đọc về nơi mà tình cảm của ông được lưu giữ. Tóm lại qua nhan đề tác phẩm tác giả như muốn giới thiệu về mảnh đất và con người xứ Huế. Những hình ảnh về mảnh đất cũng như con người nơi đây sẽ mãi luôn in sâu vào tâm trí của nhà thơ Hàn Mạc Tử. “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.” Câu thơ đầu hay cũng chính là câu hỏi mà Hoàng Cúc đã gửi cho Hàn Mạc Tử. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ lại lấy câu hỏi ấy làm câu thơ mở đầu cho bài thơ cuả mình mà bởi vi câu hỏi ấy đã ám ảnh nhà thơ rất nhiều. Câu thơ ấy là một câu hỏi nhưng cũng chính là câu trách hờn tại sao người anh ấy lại không về thăm người con gái Hoàng Cúc. Dù là hỏi hay trách cớ thì Hàn Mạc Tử vẫn cảm thấy nhớ cảnh nhớ người Vĩ Dạ cho nên ông đặt câu hỏi thành câu thơ mở đầu. Ông như tự vấn chính bản thân mình tại sao không về chơi thôn Vĩ. Một sự độc thoại diễn ra trong tâm trí ông. Thế rồi những câu thơ sau đã vẽ lên bức tranh về cảnh vât và con người xứ Huế. Cảnh vật Thôn Vĩ hiện lên với hình ảnh nắng hàng cau. Những dãy cau xứ Huế cao thẳng vươn dài ra đón ánh nắng mặt trời. Cái nắng ở đây không phải cái nắng trưa hè gay gắt mà cái nắng ấy là nắng mới, nắng bình minh nắng tinh khôi. Qua câu thơ chúng ta như cảm nhận được sự tinh khôi trong trẻo nhẹ nhàng của cảnh vật nơi đây, từng ánh nắng như chiếu xuyên qua từng đọt cau kẽ lá. Vườn ai xanh mướt như ngọc cũng là một hình ảnh thiên nhiên trong trẻo nhẹ nhàng. Vườn ai là vườn của Hoàng Cúc hay chỉ là đại từ chỉ bâng quơ, dù hiểu thế nào thì đó cũng là mảnh vườn xứ Huế. Thật hay cho sự miêu tả màu xanh của cây cối nơi đây, Hàn Mạc Tử không miêu tả cây xanh như màu xanh vốn có của nó mà là “mướt như ngọc”. Cái tính từ “mướt” kia như lột tả được hết tất cả sự sống sinh sôi nảy nở của cây cối nơi đây. Màu xanh cây cối mà lại trong sáng như ngọc vậy. Tóm lại thì cảnh vật hiện lên mang vẻ đẹp nhẹ nhàng tinh khôi thanh khiết giống như một chốn tiên cảnh vậy. Còn con người thì sao? Hàn Mạc Tử không đi miêu tả hình dáng người con gái Huế với chiếc áo dài và chiếc nón mà chỉ nhấn vào khuôn mặt họ. Con người xứ Huế hiện lên với nét đẹp phúc hậu qua hình ảnh “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Nếu như khổ thơ đầu nhà thơ nói về cảnh và người xứ Huế thanh khiết, trong trẻo và gửi gắm tâm trạng thương nhớ xót xa của mình thì sang khổ thơ thứ hai Hàn Mạc Tử tiếp tục nói về cảnh những lại mà một tâm trạng bi kịch đau thương: “Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay… Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó, Có chở trăng về kịp tối nay?” Thường thì người ta hay nói gió thối mây bay thế mà ở đây nhà thơ lại nói gió theo lối gió mây đường mây. Điều đó thể hiện sự chia ly cách trở. Phải chăng nhà thơ muốn nói đến hoàn cảnh của mình và người con gái Hoàng cúc. Huế ban sáng thì trong sáng tinh khôi như thế còn về đêm thì lại mang đầy tâm trạng, cảnh vật vẫn nhẹ nhàng như thế nhưng lại gợi lên nét buồn thâm chí là bi kịch. Dòng nước lặng lẽ như buồn thiu, hoa bắp bên sông chỉ khẽ lay động, con thuyền đậu bến sông trăng đó. Và kết thúc bài thơ với khổ thơ cuối Hàn Mạc Tử dành những lời thơ thương yêu của mình cho người con gái mà mình thương yêu. Tâm trạng mà nhà thơ gửi gắm đó là sự tiếc nuối muộn màng cho những yêu thương bấy lâu nay không dám nói ra: “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra… Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà?” Hàn Mạc Tử mơ về người con gái mà mình thương yêu, điều đó thể hiện tình cảm mà nhà thơ dành cho Hoàng Cúc rất lớn, bởi chỉ có thể yêu thương lắm thì mới mơ cũng nhớ đến. Thế nhưng tác giả không nói là người yêu hay người thương mà nói là “khách đường xa”. Hai từ khách đường xa được điệp lại giống như tiếng gọi tha thiết của nhà thơ dành cho người con gái ấy. Dẫu biết yêu thương nhau nhưng giờ đây khi Hoàng Cúc gửi tấm bưu thiếp cho ông thì cũng chính là một người khách, người bạn mà thôi. Trong cõi mộng mị mọi thứ đều trở nên mông lung nhạt nhòa hay là do sự nhạt nhòa của hiện thực. Hàn Mạc Tử thể hiện bi kịch của mình trong hai câu thơ đó. Hoàn cảnh sống đã khiến cho ông trở nên khó khăn và cuộc sống là những chuỗi ngày nhạt nhòa. Câu hỏi biết tình ai có đậm đà phải chăng nhà thơ muốn hỏi Hoàng Cúc có tình cảm với mình không hay chính là nhà thơ đang tự thể hiện tình cảm của mình đậm đà như thế nào. Tóm lại qua bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ nhà thơ không đơn thuần đi tả cảnh của những vườn xanh, hàng cau, sông trăng hay khuôn mặt của người Vĩ Dạ mà chất chứa sau những hình ảnh ấy là tâm trạng của nhà thơ. Tâm trạng thương nhớ, xót xa, đau buồn bi kịch và tiếc nuối. Có lẽ sau khi đọc được bài thơ này Hoàng Cúc sẽ phần nào hiểu được tình cảm của Hàn Mạc Tử dành cho mình nhưng cũng quá muộn và chỉ biết trân trọng nhớ thương người đã cũ mà thôi.
Phân tich tâm trạng của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ
1,653
Phân tich vẻ đẹp của trăng trong 2 bài thơ Nguyên Tiêu và Cảnh Khuya Hướng dẫn ‘Cảnh khuya’và ‘Nguyên tiêu’ là hai bài thơ kiệt tác của nhà thơ Hồ Chí Minh. Cả hai bài đều viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, nhưng ngôn từ khác nhau. ‘Cảnh khuya’ viết bằng tiếng Việt; ‘Nguyên tiêu’ viết bằng chữ Hán. Không gian nghệ thuật của hai bài thơ là thiên nhiên núi rừng Việt Bắc, nhưng thời điểm sáng tác, thời gian nghệ thuật lại khác nhau. ‘Cảnh khuya’ viết vào mùa thu 1947, khi giặc Pháp đang tấn công lên Việt Bắc. Còn ‘Nguyên tiêu’ được viết vào đầu xuân 1948, khi chiến dịch Việt Bắc đã chiến thắng vang dội. Cả hai bài đều nói đến trăng; cảnh trăng trong mỗi bài thơ lại có những nét đẹp riêng, sắc thái biểu cảm riêng. Cảnh trăng trong bài ‘Cảnh khuya’ là cảnh trăng thu. Có suối chảy rì rầm trong rừng khuya từ xa vọng đến nghe rất ‘trong’, ‘như tiếng hát xa’ êm đềm, ngọt ngào. Trăng sáng lung linh. Ánh trâng ‘lồng’ vào cổ thụ và hoa ngàn. Cảnh trăng thơ mộng, huyền diệu mang vẻ đẹp cổ điển, rất hữu tình thi vị: ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa’ Trăng đã làm đẹp thêm cảnh sắc núi rừng chiến khu, đem đến bao xúc động, khiến nhà thơ khẽ thốt lên trong lòng: ‘Cảnh khuya như vẽ…’. Cảnh trăng trong bài ‘Nguyên tiêu’ là cảnh trăng xuân, trăng trong đêm rằm tháng giêng, trăng vừa tròn (nguyệt chính viên). Vũ Bằng trong ‘Thương nhớ mười hai’ đã nói về trăng tháng giêng ở miền Bắc: ‘Trời sáng lung linh như ngọc’, ‘cái trăng tháng giêng, non như người con gái mơn mởn đào tơ ‘, ‘ánh trăng ấy không vàng mà trắng như sữa, trong như nước ôn tuyền’. Trăng trong bài thơ của Bác làm cho sông xuân, nước xuân, trời xuân trở nên bát ngát bao la, vừa đẹp vừa dạt dào sức sống. Ba chữ ‘xuân’ trong câu thơ thứ 2 làm cho cảnh trăng đất nước trở nên tráng lệ, tinh khôi: ‘Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên’. Câu thơ thứ 4, vầng trăng rằm tháng giêng lại được nói đến. Con thuyền của lãnh tụ để ‘bàn bạc việc quân’ giữa nơi khói sóng đã trở thành con thuyền của thi nhân lúc trở về bến lúc nửa đêm. Con thuyền đã chở đầy ánh trăng: ‘Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền’ Trăng trong hai bài thơ của Bác là trăng sáng, trăng tròn. Cảnh trăng nào cũng hữu tình thơ mộng. Tuy có sắc thái biểu cảm khác nhau, nhưng tất cả đều nói lên tình yêu trăng, tình yêu thiên nhiên chan hòa với tình yêu quê hương đất nước. Cảnh trăng là một nét đẹp trong hồn thơ Hồ Chí minh: ung dung, lạc quan, yêu đời.
Phân tich vẻ đẹp của trăng trong 2 bài thơ Nguyên Tiêu và Cảnh Khuya
494
Phân tích -bình giảng bài Trong lòng mẹ – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Những ngày thơ ấu (viết năm 1938, Nhà xuất bản Đời nay in lần đầu năm 1940) là một tác phẩm xuất sắc của nhà văn Nguyên Hồng. Đó là một tập hồi kí ghi lại những năm tháng tuổi thơ rất ít niềm vui nhưng nhiều cay đắng của tác giả, thể hiện một cách chân thật những “rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” (Thạch Lam). Hồi kí Những ngày thơ ấu gồm 9 chương, Trong lòng mẹ là chương IV của tác phẩm. Nhân vật chính của chương này là bé Hồng. Bé Hồng bị đặt trong tình huống hết sức tội nghiệp: bố mất, mẹ đi bước nữa và bị gia đình nhà chồng ruồng rẫy. Bé Hồng phải sống nhờ họ hàng và bị hắt hủi tàn nhẫn. Em thương mẹ, nhớ mẹ vô cùng mà phải xa mẹ, đồng thời thường xuyên phải nghe những lời nói xấu về mẹ. Ta hiểu vì sao em vô cùng sung sướng khi mẹ trở về. Trong chương sách này, nhà văn đã tập trung làm nổi bật tình cảm xót thương, yêu quý sâu sắc của bé Hồng đối với người mẹ nhân từ, tần tảo mà cuộc đời đầy bất hạnh. Tình cảm ấy trước hết được thể hiện qua tâm trạng của bé Hồng khi nói chuyện với bà cô. Diễn biến tâm trạng của bé Hồng được miêu tả thật sinh động. Lúc đầu bé Hồng định nghe lời bà cô vào Thanh Hóa thăm mẹ. Nhưng khi nhận ra “ý nghĩa cay độc” trong giọng nói và trên nét mặt “khi cười rất kịch”, đầy giả dối của bà cô, bé Hồng lẳng lặng “cúi đầu không đáp”. Cử chỉ “im lặng, cúi đầu xuống đất” của bé Hồng lại được miêu tả lặp lại một lần nữa khi bà cô tiếp tục giục giã em vào Thanh Hóa thăm mẹ, vì mẹ em dạo này “phát tài lắm”. Bà cô đưa tin mẹ bé Hồng có con khi chưa hết tang chồng, lại nghèo túng khốn khổ nơi đất khách quê người, thấy người quen lại tránh mặt để lăng nhục bé Hồng và gieo rắc vào đầu óc em sự “hoài nghi”, khinh miệt và ruồng rẫy mẹ”. Những lời cay độc của bà cô như những con dao nứa cứa vào tâm hồn thơ dại của đứa trẻ. Bé Hồng từ chỗ nhẫn nhục, “im lặng, cúi đầu” đến lúc không sao nén nổi nỗi đau đớn tủi nhục đã bật lên tiếng khóc, nước mắt “ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ”. Và một thứ tình cảm phức tạp, vừa thương yêu, vừa căm tức nảy sinh trong tâm hồn ngây thơ của bé Hồng, khiến em “cười dài trong tiếng khóc”. Vậy là, dù có tinh ma, độc địa đến đâu, bà cô bé Hồng cũng không thể chia rẽ được tình cảm giữa em với người mẹ: “Nhưng đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến… Mặc dầu non một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một lá thư, nhắn người thăm tôi lấy một lần và gửi cho tôi lấy một đồng quà”. Tâm địa xấu xa của bà cô chỉ làm khơi sâu thêm tình cảm thương yêu mẹ của bé Hồng và thổi bùng lên trong em sự căm ghét sâu sắc những kẻ đối xử tàn nhẫn với mẹ em. Có thể nói, chương Trong lòng mẹ là lời khẳng định chân thành đầy cảm động sự bất diệt của tình mẫu tử. Tình cảm thiêng liêng muôn đời ấy không một thế lực nào có thể tàn phá nổi. Để diễn tả những rung cảm sâu xa và niềm hạnh phúc lớn lao của bé Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ, tác giả đã miêu tả rất cụ thể những cảm giác của em khi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ, “đầu ngả vào cánh tay mẹ”. Em còn cảm nhận được cả mùi quần áo quen thuộc của mẹ và “những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra (…) thơm tho lạ thường”. Vừa trực tiếp miêu tả những cảm giác cụ thể của bé Hồng, tác giả vừa diễn tả những ý nghĩ của em bình luận về niềm hạnh phúc tuyệt vời của mình: “phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một sự êm dịu vô cùng”. Trong những giây phút say sưa và “rạo rực” ấy, bé Hồng không còn nghĩ gì, nhớ gì khác nữa kể cả những câu âu yếm mẹ con với nhau và những lời cay độc của bà cô trước đó. Tất cả tâm trí của em đều dồn cho sự tận hưởng tình mẹ. Đối với em, niềm sung sướng và hạnh phúc nhất trên đời là được sống trong lòng mẹ.
Phân tích -bình giảng bài Trong lòng mẹ – Đề và văn mẫu 8
875
Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài Trao duyên Hướng dẫn Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài Trao duyên Nguyễn Du, một đại thi hào của dân tộc Việt Nam, ông sinh năm 1766 mất năm 1820, tên chữ là Tố Như. Quê ông ở Hà Tĩnh, ông được sinh ra trông một gia đình phong kiến quý tộc. Sống trong giai đoạn đồng tiền làm băng hoài đạo đức, đầy biến động, Nguyễn Du chứng kiến được rất nhiều cảnh đời bất công, cũng như sự thối nát của xã hội bấy giờ. Và ông có sự cảm thông sâu sắc đối với người phụ nữ bất hạnh. Nguyễn Du đã viết ra nhiều tác phẩm văn học để nói thay cho tấm lòng đầy ai oán, cho số phận bạc mệnh đáng thương của người phụ nữ. Trong đó có bài “Trao Duyên”, là một bài thơ trong tuyệt tác “Truyện Kiều”, một bài thơ bi cảm được thể hiện qua từng câu, từng chữ, nó mang đến một nổi xúc động khôn nguôi cho người đọc. “Trao Duyên” nói về một bi kịch dan dở trong tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng. Bài thơ đã khắc họa một nổi đau mà khó ai có thể thấu hiểu cua Thúy Kiều, qua bài thơ chúng ta cũng thấy được một giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện một niệm khát khao có được hạnh phúc của con người. Nổi bật nhất trong bài thơ Trao Duyên chính là đoạn thơ: “Cậy em, em có chịu lời, Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa. Giữa đường đứt gánh tương tư, Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em. Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề. Sự đâu sòng gió bất kỳ, Hiều tình khôn lẽ hai bề vẹn hai? Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.” Sau đó, Thúy Kiều bắt đầu giải bày lí do cho những hành động trước đó. “ Giữa đường đứt gánh tương tư/ Keo loan chấp nối tơ thừa mặc em”. Câu thơ là sự giải bày cho em biết là cuộc tình của chị bây giờ đành dang dở “đứt gánh tương tư”. Cuộc tình của Kiều vừa mới chớm nở nhưng không thể đơm hoa kết trái bởi sóng gió đang ập đến. Kiều đau khổ, sót xa nhưng không thể làm khác được, đành trao lại mối duyên này cho em. Nàng đã mượn điển tích “keo loan” để nói lên ý định muốn Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Nàng cảm thấy có lỗi, cảm thấy ray rứt vô cùng đối với em, vì cảm thấy như mình ép duyên, buộc em phải nhận, nhưng vẫn giao phó “ tơ thừa” để “mặc” Thúy Vân quyết định. Mặc dù đã trao duyên cho em, nhưng dường như mối tơ duyên vẫn đè nặng trong lòng Thúy Kiều. Những kỉ niệm ngọt ngào như ùa về trong lòng, nàng đành bày tỏ tâm sự cùng em. “Kể từ khi gặp chàng Kim Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.” Câu thơ đã liệt kê ra những kỉ niệm của Thúy Kiều và Kim Trọng, kỉ niệm cùng quạt ước, cùng nâng chén rượu thề nguyện, chúng ta dễ dàng nhìn thấy một cảnh tượng vô cùng sống động đang diễn ra của đôi uyên ương. Đẹp biết mấy. Từ “khi” được lập lại ba lần gợi cho ta cảm nhận một tình cảm sâu nặng, nhưng xót xa và dày xé tâm can nàng cũng như người đọc. Nguyên nhân tại đâu mà dẫn đến cơ sự này. “Sự đâu song gió bất kì, Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.” Quá khứ tươi đẹp là thế, nhưng hiện tại của nàng, từ khi chàng Kim về chịu tang, bao sóng gió ập đến, đứng giữa chữ hiếu và tình nàng phải làm sao đây. Hoàn cảnh trái ngang, cha và em mắc oan bị bắt, nàng phải bán thân mình mới cứu được họ, nhưng người nàng yêu, một lòng vì nàng, lời thề nguyện mới hôm nào chưa kịp nguội. Cả một con tim đang chảy máu, đau đớn, day dứt, quằn quại. Nhìn cảnh cha và em bị tra tấn, đòn roi, là một người con có hiếu, nàng đành hi sinh tình yêu để làm trọn phận con, để báo đáp công ơn. Nàng nói cho em hiểu nổi đau của mình, mong em hiểu và chấp nhận lời yêu cầu ngang trái đó. Nàng sợ em mình không đồng ý, đã cố gắng dùng mọi lí lẻ để thuyết phục em. Xót tình máu mủ thay lời nước non. Chị dù thịt nát xương mòn Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây. Nàng dùng tình máu mủ, nàng dùng đến cái chết để thuyết phục. Nguyễn Du đã dùng các thành ngữ để giúp nàng Kiều thể hiện sự quyết tâm thuyết phục em chấp nhận yêu cầu. Tình nghĩa của chàng Kim rất quan trọng, dù nàng có phải thịt nát xương mòn thì nàng cũng chấp nhận, chỉ mong sao Vân giúp nàng nối duyên với Kim Trọng. Dù xuống suối vàng nàng vẫn ngậm cười, vẫn cảm thấy hạnh phúc, mãn nguyện. Chính cách viện dẫn đến tình máu mủ và cái chết ấy đã khiến Vân không thể chối từ. Có thể nói đây là cách duy nhất để vẹn lý, vẹn tình.Đây cũng có thể là một lời trăn trối của nàng, mà ắt hẳn cả chúng ta cũng không thể nào nhẫn tâm từ chối yêu cầu ngạt lý đó. Nghe những lời xót xa đó, hẳn sẽ khiến nàng Vân càng thêm yêu quý chị mình. Thể thơ lục bát đã giúp cho Nguyễn Du dễ dàng khắc họa tâm trạng dằn vặt, sự đớn đau khi phải hi sinh chữ tình để vẹn tròn chữ hiếu của Thúy Kiều. Nàng đã được ông tô vẽ lên thật đẹp đẽ trong lòng người đọc. Một cô gái quá mong manh nhưng rất mạnh mẽ. Trao duyên đã cho chúng ta thấy được một cảnh đời đầy bi kịch, một số phận nghiệt ngã đến xé lòng của nàng Kiều. Nhờ sự trải nghiệm và cái nhìn sâu sắc cùng khả năng sử dụng từ điêu luyện của Nguyễn Du đã khiến cho nội tâm của nhân vật như được khắc họa rõ nét nhất, từ nổi đau đến tâm hồn của Kiều như đang trải dài qua từng câu chữ. Khiến người đọc mãi không thể thôi xót thương.
Phân tích 12 câu thơ đầu trong bài Trao duyên
1,102
Phân tích 13 câu thơ đầu bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu Hướng dẫn Phân tích 13 câu thơ đầu bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu Xuân đến, xuân đi, xuân lại về. Hoa tàn rồi hoa lại nở… Nhưng quy luật tuần hòan ấy chỉ đúng với với cỏ cây, với đất trời chứ không thể làm đời người trẻ lại khi đã già nua. Bởi thế, Xuân Diệu – “một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới nhất của các nhà thơ mới” với tinh thần yêu cuộc sống thiết tha, mãnh liệt đã phải vội vàng cất lên những khát khao chảy bỏng của lòng mình: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.” (Trích “Vội vàng” – Xuân Diệu) 13 câu thơ trên được trích từ bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu thể hiện niềm khắc khoải, băn khoăn khi cuộc sống cứ dần trôi mà không quay trở lại. Đúng như cái tên, nhà thơ “vội vàng” sống, “vội vàng” hưởng thụ, và cũng “vội vàng” tiếc nuối khi không thể níu giữ được thời gian. Từng câu từng chữ tưởng chừng như nằm bất động trên trang giấy nhưng lại ẩn chứa biết bao nhiêu cảm xúc của hồn thơ Xuân Diệu. Ông táo bạo, chẳng ngại ngần khi thể hiện những ước muốn trái ngược của mình: “tắt nắng”, “buộc gió” “cho màu đừng nhạt mất”, “cho hương đừng bay đi”. Càng hiểu rõ quy luật tuần hoàn của tự nhiên, ông càng khắc khoải, băn khoăn. Với cách nói trực tiếp “tôi muốn”, nhà thơ đã thể hiện cái tôi nhỏ bé của mình giữa cả thế giới thiên nhiên bao la. Ông không những muốn chạy đua với thời gian mà còn muốn chạy vượt cả thời gian, muốn phá tan cả quy luật vĩnh hằng của tự nhiên. Biết điều đó là không thể làm được, nên Xuân Diệu lại vội vàng thưởng thức những nhựa sống đang tràn trề trước mắt: ong bướm, hoa cỏ, yến anh… Ông không muốn bỏ xót bất kỳ một thứ gì vì tuổi xuân sẽ nhanh chóng qua đi mặc cho lòng người tiếc nuối. Với điệp từ “này đây”, dường như Xuân Diệu muốn hòa mình một cách trọn vẹn nhất vào thiên nhiên, muốn ôm cả đất trời để ngấu nghiến, để thưởng thức như một món ăn khoái khẩu ngon lành. Đặc biệt, khi dòng cảm xúc mãnh liệt lên đến cao trào, ta bắt gặp một hình ảnh rất độc đáo, mới lạ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” “Tháng giêng” là thời gian, là cái vô hình nhưng dưới ngòi bút tài ba của Xuân Diệu, cái vô hình ấy lại được so sánh với cái cụ thể: “cặp môi”. Tác giả đã cố tình nhấn mạnh “cặp môi gần” với tính từ “ngon” khiến người đọc liên tưởng đến sự thiết tha, mặn nồng, trẻ trung của tình yêu đôi lứa. Qua đó thể hiện tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên cũng đang cháy bỏng trong trái tim nhà thơ. Càng yêu bao nhiêu, nhà thơ lại càng lo sợ, cuống quýt bấy nhiêu: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Lại một lần nữa, ông muốn chạy trước thời gian, muốn sống không bỏ xót một phút giây nào. Nhịp thơ bỗng dưng bị ngắt quãng nửa chừng như niềm khắc khoải đang nấc lên từng tiếng trong lòng ông. Ông sẽ “không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Bài thơ chưa khép lại nhưng chỉ qua 13 câu đầu thôi cũng đủ để thấy trái tim nhà thơ yêu cuộc sống mạnh liệt đến nhường nào. Qua mỗi hình ảnh, mỗi câu thơ độc đáo cùng dòng cảm xúc dạt dào tuôn chảy, người đọc cũng như đang được mời gọi hãy sống và tận hưởng, hãy cố gắng làm tất cả những gì mình muốn làm và có thể làm để không phí hoài tuổi xuân.
Phân tích 13 câu thơ đầu bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu
730
Đề bài: Phân tích 13 câu thơ đầu bài Vội vàng của Xuân Diệu Bài làm Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại, Cho hương đừng bay đi. Của ong bướm này đây tuần tháng mật, Này đây hoa của đồng nội xanh rì, Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si, Và này đây ánh sáng chớp hàng mi. Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Tôi sung sướng. Xúc cảm vội vàng dường như đã được thể hiện ở khổ đầu tiên của bài thơ: khổ thơ năm chữ duy nhất trong bài thơ mà phần lớn là những câu thơ tám chữ. Thể loại thơ tám chữ gợi cho ta nghĩ đến cách nói vốn có của ca trù và cách sử dụng của Xuân Diệu cùng thể hiện một nét mới của thơ mới. Còn cách đặt những câu thơ ngắn trong trường hợp này làm nên giọng điệu gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một con người đang tràn đầy cảm xúc. Mặt khác, Xuân Diệu đã đặt ở đầu tiên những câu lẻ hai chữ “ tôi muốn ”, và chủ đề trữ tình lập tức xuất hiện. Nhà thơ thể hiện cái tôi công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thách thức, đi ngược lại với thơ ca trung đại, nơi rất ít dám thể hiện cái Tôi. Cách nhà thơ công nhiên khiêu khích thẩm mĩ thơ của thời đại trước, chính là để thể hiện cái tôi trong một khao khát lớn lao, cái tôi muốn đoạt quyền tạo hoá để làm những việc mà chỉ tạo hoá mới làm được như “ tắt nắng đi “ và “buộc gió lại “. Nhưng trong cách diễn đạt của nhà thơ thì “tắt nắng” và “buộc gió” không phải là ý muốn cuối cùng, vì những câu chẵn của khổ thơ đều bắt đầu bằng một chữ “cho”. Cho màu đừng nhạt mất, …… Cho hương đừng bay đi. Khát vọng ngông cuồng kia cũng xuất phát từ mong muốn giữ lại cái đẹp đẽ cho sự sống. Những câu thơ gợi cảm giác lo âu rằng cái đẹp sẽ giảm hương sắc đi, màu nắng sẽ bớt rực rỡ nếu nắng cứ toả, và làn hương kia sẽ bớt nồng nàn nếu gió cứ bay. Nhưng mong muốn càng trở nên thiết tha hơn khi nhà thơ dùng đến hai lần chữ “đừng” – chứa đựng một nguyện vọng thiết tha. Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên nỗi ham sống đến vô biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật. Câu thơ thứ năm đang từ nhịp điệu gấp gáp của những dòng năm chữ, thì đột ngột đổ tràn ra trong những dòng tám chữ. Một sự chuyển đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân tuyệt diệu. Trong bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây” rải ra khắp các dòng thơ, vừa trùng điệp vừa biến hoá. Những câu thơ gợi hình dung về một con người đang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đó không chỉ là một bức tranh xuân, xuân sắc, xuân tình mà còn là cách để tác giả nói đến cái mê đắm về một mùa xuân của tuổi trẻ, của tình yêu. Vì vậy, không có một loài vật nào khác ngoài “ong bướm, yến anh”, bởi nó gợi ra vẻ lả lơi, tình tứ,và “bướm lả ong lơi “ gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Bên cạnh đó, chữ “của” trở đi trở lại cùng với “này đây” như một cặp không thể tách rời. Đó là cách để Xuân Diệu biểu hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn quýt lấy nhau, là của nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và sức sống. “ Hoa “ nở trên nền “ xanh rì “ của đồng nội bao la, “lá ” của “ cành tơ ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Cảm giác non tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phơ phất ” ở sau. Và như thế, cuộc sống hiện ra trong hình ảnh của một vườn địa đàng, trong xúc cảm của một niềm vui trần thế. Giá trị nhân văn của những câu thơ và cả bài thơ chính là ở đó. Nếu như bốn câu thơ trên có vẻ như đã cân xứng, hoàn chỉnh rồi, thì câu thơ thứ chín xuất hiện bằng ba chữ “ và này đây ”, như thể một người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn dừng lại, trong cảm xúc đầy tiếc nuối muốn giăng bày cho hết niềm vui được sống. Nhưng đây không còn là những hình sắc cụ thể như “lá, hoa, ong bướm “ mà trừu tượng hơn là ánh sáng, niềm vui, thời gian – những vật thể không hữu hình. Đó cũng là cách để nhà thơ bộc lộ quan điểm thẩm mĩ mới mẻ và thú vị. Thiên nhiên đã thôi không còn là chuẩn mực của vẻ đẹp trong quan niệm của Xuân Diệu. Vẻ đẹp của thiên nhiên chỉ được coi là đẹp khi mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Ánh sáng đẹp vì gợi ra liên tưởng về “hàng mi” của một đôi mắt đẹp. Niềm vui đẹp vì gợi ra liên tưởng về một vị thần, đại diện cho con người. Và xúc cảm thẩm mĩ được nâng lên trong câu thơ về tháng giêng, gợi nên vẻ đẹp của sự táo bạo, cuồng nhiệt, làm người đọc thơ phải sửng sốt. Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Mùa xuân hiện ra trong sức gợi cảm kì lạ bởi một vẻ đẹp như đang đợi chờ, đang sẵn sàng dâng hiến. Vì thế, mùa xuân như sinh ra cho con người tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người, làm nên một khía cạnh khác nữa của tinh thần nhân văn của bài thơ. Ở đó, cái quí giá, đẹp đẽ nhất của con người lại là chính con người. Vì vậy, con người là thực thể cao nhất, chứ không phải là thiên nhiên, là tôn giáo hay một chuẩn mực đạo đức nào. Con người trong câu thơ này đã được tôn lên làm chuẩn mực thẩm mĩ, làm cho người đọc ngạc nhiên, sửng sốt. Tác giả đưa ra ý niệm về một tháng trẻ trung nhất của một mùa trẻ trung nhất trong năm: “ tháng giêng “. Nhưng sự bất ngờ lại đến từ chữ thứ ba – “ngon”, điều mà ít ai có thể ngờ. Và càng không ai có thể nghĩ rằng tác giả lại so sánh với “cặp môi gần”. Nhưng có được sự so sánh ấy thì thời gian trừu tượng mới trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc của một tâm hồn đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu. Hình ảnh so sánh ấy như một người đang đợi chờ, sẵn sàng dâng hiến cho tình yêu. Và hẳn phải có một tình yêu thật nồng nàn với cuộc đời thì tác giả mới tạo ra được một hình ảnh lạ kì đến thế. “Tôi sung sướng” Những tiếng tất yếu được thốt lên sau tất cả những gì viết ở trên. Nhưng sau ba chữ ấy lại là một dấu chấm ở giữa câu, khiến cho niềm sung sướng ấy như bị ngắt lại, chặn lại giữa chừng để trở thành một niềm vui dở dang, không trọn vẹn. Bởi sau dấu chấm là một chữ “ nhưng “ dự báo một cảm xúc hoàn toàn mới lạ. Cái ám ảnh của sự vội vàng xuất hiện ở nửa sau. Nhà thơ dường như không thể tận hưởng hết được mùa xuân vì cái cảm giác hoài xuân ngay khi mùa xuân chưa hết. Và cảm xúc của nhà thơ đã đi sang một phía ngược lại, xuất hiện một phản đề: Nhưng vội vàng một nửa. Ai đã được nghe hai câu đầu của sự phản đề cũng đều có ấn tượng sâu sắc. Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già. Sự mới mẻ, táo bạo, sự phát hiện lớn nhất của hai câu thơ lại được nằm ở hai chữ tưởng như rất bình thường “ nghĩa là “, khiến cho câu thơ mang dáng dấp của một đẳng thức nghệ thuật. Tác giả đã mạnh bạo đặt một dấu bằng ở hai vế tưởng như trái ngược nhau:“đang tới” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Cách nói đầy ấn tượng như thế làm nên sự trôi mau vô cùng của thời gian. Điều ấy càng có ý nghĩa với một người mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được thể hiện với đẳng thức thứ ba: Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.
Phân tích 13 câu thơ đầu bài Vội vàng của Xuân Diệu
1,569
Phân tích 13 câu thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu Hướng dẫn Phân tích 13 câu thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu Bài làm Xuân đến, xuân đi, xuân lại về. Hoa tàn rồi hoa lại nở… Nhưng quy luật tuần hòan ấy chỉ đúng với với cỏ cây, với đất trời chứ không thể làm đời người trẻ lại khi đã già nua. Bởi thế, Xuân Diệu – “một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới nhất của các nhà thơ mới” với tinh thần yêu cuộc sống thiết tha, mãnh liệt đã phải vội vàng cất lên những khát khao chảy bỏngcủa lòng mình: “Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất; Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi. Của ong bướm này đây tuần tháng mật; Này đây hoa của đồng nội xanh rì; Này đây lá của cành tơ phơ phất; Của yến anh này đây khúc tình si. Và này đây ánh sáng chớp hàng mi; Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần; Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.” (Trích “Vội vàng” – Xuân Diệu) 13 câu thơ trên được trích từ bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu thể hiện niềm khắc khoải, băn khoăn khi cuộc sống cứdần trôi mà không quay trở lại. Đúng như cái tên, nhà thơ “vội vàng” sống, “vội vàng” hưởng thụ, và cũng “vội vàng” tiếc nuối khi không thể níu giữ được thời gian. Từng câu từng chữ tưởng chừng như nằm bất động trên trang giấy nhưng lại ẩn chứa biết bao nhiêu cảm xúc của hồn thơ Xuân Diệu. Ông táo bạo, chẳng ngại ngần khi thể hiện những ước muốntrái ngược của mình: “tắt nắng”, “buộc gió” “cho màu đừng nhạt mất”, “cho hương đừng bay đi”. Càng hiểu rõ quy luật tuần hoàn của tự nhiên, ông càng khắc khoải, băn khoăn. Với cách nói trực tiếp “tôi muốn”, nhà thơ đã thể hiện cái tôi nhỏ bé của mình giữa cả thế giới thiên nhiên bao la. Ông không những muốn chạy đua với thời gian mà còn muốn chạy vượt cả thời gian, muốn phá tan cả quy luật vĩnh hằng của tự nhiên. Biết điều đó là không thể làm được, nên Xuân Diệu lại vội vàng thưởng thức những nhựa sống đang tràn trề trước mắt: ong bướm, hoa cỏ, yến anh…Ông không muốn bỏ xót bất kỳ một thứ gì vì tuổi xuân sẽ nhanh chóng qua đi mặc cho lòng người tiếc nuối. Với điệp từ “này đây”, dường như Xuân Diệu muốn hòa mình một cách trọn vẹn nhất vào thiên nhiên, muốn ôm cả đất trời để ngấu nghiến, để thưởng thức như một món ăn khoái khẩu ngon lành. Đặc biệt, khi dòng cảm xúc mãnh liệt lên đến cao trào, ta bắt gặp một hình ảnh rất độc đáo, mới lạ: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” “Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa: Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân” Lại một lần nữa, ông muốn chạy trước thời gian, muốn sống không bỏ xót một phút giây nào. Nhịp thơ bỗng dưng bị ngắt quãng nửa chừng như niềm khắc khoải đang nấc lên từng tiếng trong lòng ông. Ông sẽ “không chờ nắng hạ mới hoài xuân”. Bài thơ chưa khép lại nhưng chỉ qua 13 câu đầu thôi cũng đủ để thấy trái tim nhà thơ yêu cuộc sống mạnh liệt đến nhường nào.Qua mỗi hình ảnh, mỗi câu thơ độc đáo cùng dòng cảm xúc dạt dào tuôn chảy, người đọc cũng như đang được mời gọi hãy sống và tận hưởng, hãy cố gắng làm tất cả những gì mình muốn làm và có thể làm để không phí hoài tuổi xuân.
Phân tích 13 câu thơ đầu trong bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu
638
Phân tích 13 câu đầu bài thơ vội vàng Hướng dẫn Phân tích 13 câu đầu bài thơ vội vàng Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu, dù đó là tình yêu gì đi chăng nữa thì nó vẫn ngọt ngào đầy xúc cảm. Ông còn được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới. Những sáng tác,những bài thơ của ông đem đến cho người đọc một sự yêu đời, niềm vui về cuộc sống và một niềm khao khát cuộc sống đến mãnh liệt cùng với đó là một hồn thơ mới lạ,mang đến cho độc giả cái nhìn mới mẻ. Trong số đó, tiêu biểu có bài thơ Vội vàng là một trong những bài thơ hay thê hiện tư tưởng đáng quý đó của tác giả, và 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên cho người đọc. Những tư tưởng triết lí cũng thế mà được gửi gắm chân thành tự nhiên. Để mang niềm yêu cuộc sống đến trào dâng, nhà thơ luôn có cảm xúc vội vàng trước cuộc sống ngắn ngủi. Mọi thứ trên đời mang vị ngọt tới nhưng chỉ một lần rồi thôi,ta đâu có đủ thời gian cho những quả ngọt đó được nếm một lần nữa. Không vội vàng, không chạy tới để ôm trọn những gì đang có thì làm sao mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ năm chữ duy nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như một hơi thở hối hả của một con người đang tràn đầy cảm xúc. Đại từ mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở đầu tiên là tôi, chứ không phải “ta” hay chúng ta và cùng với đó là động từ “ muốn”- “ tôi muốn. Nhà thơ đang thể hiện cái tôi công khai, ngang nhiên không lẩn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thách thức, đi ngược lại với thơ ca trung đại, rất ít dám thể hiện cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chinh là một điểm mới của nhà thơ trong nền văn thơ hiện lúc bấy giờ.qua đó thể hiện khát khao mãnh liệt về cuộc sống Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Yêu cuộc sống này cho nên mọi thứ tác giả muốn làm đó có thể là tắt nắng đi, buộc gió lại. Những từ “ tắt” buộc” được sử dụng cho những điều hữu hình cầm nắm được vậy mà tác giả lại dùng cho những sự vật không bao giờ chúng ta có thể làm được. Ta có thể thấy màu vàng của nắng, cảm nhận được hơi ấm từ nó, gió có thể thổi qua, táp vào mặt,mương man da thịt, có thể thấy gió đung đưa bên những cành liễu.. nhưng chẳng bao giờ cầm được nắng nắm được gió. Một điều tưởng chừng như vô lí đó nhưng lại trở thành khát khoa của tác giả. Những thứ đó để làm gì: “ để hương đời đừng nhạt đi, để màu sắc cuộc sống vẫn nguyên vẹn, không úa tàn”Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên nỗi ham sống đến vô biên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật cả trong nhịp của câu thơ, thể hiện ở chỗ câu thơ đang năm chữ bỗng chuyển xuống 8 chữ. Đây là một chuyển đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt ta bức tranh xuân tuyệt diệu. Bốn dòng thơ ấy đầy ắp những tiếng “này đây, vừa trùng điệp vừa biến hoá. Những câu thơ gợi ra một con người đang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đó không chỉ là một bức tranh xuân, còn là cách để tác giả nói đến cái mê đắm về một mùa xuân của tuổi trẻ, của tình yêu. Vì vậy, “ong bướm, yến anh”được nhắc tới đây, bởi nó gợi ra vẻ lả lơi, tình tứ,và “bướm lả ong lơi “ gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi tình nhân và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Bên cạnh đó, chữ “của” trở đi trở lại được tác giả sử dụng cùng với “này đây” như một cặp không thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấn quýt lấy nhau, là của nhau không thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và sức sống tròn trịa có đôi có cặp.những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “ Hoa “ nở trên nền “ xanh rì “ của đồng nội bao la, “lá ” của “ cành tơ ” đầy sức trẻ và nhựa sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn ấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phơ phất ” ở sau. Cuộc sống hiện ra trong hình ảnh của một vườn địa đàng, trong xúc cảm của một niềm vui trần thế. Tháng giêng ngon như một cặp môi gần. Hình ảnh so sánh thật thú vị và đầy bất ngờ, thời gian đẹp nhất của mùa xuân lại được coi như một cặp môi gần,vừa mang đến sự đam mê, sự lôi cuốn mà còn là sự say đi. Dưới con mắt của kẻ si tình, mùa xuân hiện ra thật đẹp, thật gợi cảm. Nó còn được tác giả đi liền với từ “ ngon” mặc dù không ăn được, không chạm được nhưng lại “ ngon. Mùa xuân như sinh ra cho con người tận hưởng, cho hạnh phúc đến với con người, thời gian trừu tượng mới trở nên gần gũi, do vậy mùa xuân hiện lên trong cảm xúc của một tâm hồn đang thèm khát tận hưởng. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu. “Tôi sung sướng” Nhưng vội vàng một nửa. Và rồi ở những câu tiếp theo, tác giả nêu ra tại sao lại sung sướng nhưng lại vội vàng: Xuân đương đến nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già. Cái mới của bài thơ và cả quan niệm của Xuân Diệu trong bài thơ được thấy rõ và phát hiện. Tưởng chừng nó giống như một qyi luật bình thường ai cũng biết nhưng đặt trong trường hợp này,nó lại là cả một quá trình chiêm nghiệm và nhận thức.Tác giả đã để hai vế tưởng như trái ngược nhau lại trở thành ngang hàng:“đang tới” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Đây là cách nói đầy ấn tượng tạo nên sự trôi mau gấp rút vô cùng của thời gian. Điều này càng có ý nghĩa với một người mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được thể hiện với đẳng thức thứ ba,vừa có cảm giác sợ hãi,lại tiếc nuối nhưng cũng có cảm giác như hối thúc phải sống sao cho không phí hoài tuổi trẻ, bởi xuân hết thì tôi cũng không còn nữa.. Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất. Bằng những nét vẽ vô cùng sống động, độc đáo,Xuân Diệu đã tái hiện lại khung cảnh hết sức lãng mạn, một thiên đường dưới mặt đất. Dưới con mắt tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng cuộc sống ấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vàng để tận hưởng hết niềm vui và hạnh phúc của cuộc sống. Qua đây tác giả cũng thể hiện và gửi gắm tư tưởng lạc quan yêu đời mà tác giả đã tạo ra cho thế hệ trẻ, cần phải sống,đam mê hết mình để cống hiến cho tuổi trẻ. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích 13 câu đầu bài thơ vội vàng
1,331
Phân tích 2 câu thơ đầu bài Cảnh khuya Lớp 7 Hướng dẫn “Cảnh khuya” là một bài thơ nổi tiếng của Hồ Chí Minh thường được sử dụng để làm đề thi giữa kỳ hoặc cuối kỳ, trong đó đặc sắc hơn cả là hai câu thơ đầu. Mời các em tham khảo bài văn phân tích 2 câu thơ đầu bài Cảnh khuya dưới đây ngay nhé. Phân tích 2 câu thơ đầu bài Cảnh khuya Chỉ với hai câu đầu bài thơ “Cảnh khuya”, Bác Hồ đã vẽ lên một khung cảnh thiên nhiên núi rừng hoang sơ vô cùng tĩnh lặng, nhưng đẹp mộng mơ: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” Đọc câu thơ đầu tiên, ta thấy được sự tài tình của Bác thông qua lối so sánh độc đáo. “Tiếng suối” được ví von như “tiếng hát xa”, đặc biệt hơn đó là tiếng suối được cảm nhận bằng thính giác, gợi cho ta một cảm giác đó là con suối này rất trong trẻo, tươi mát. Lối so sánh giữa thiên nhiên (tiếng suối) với con người (qua tiếng hát) tạo một cảm giác gần gũi, tâm hồn của nhà thơ như hòa chung nhịp với cảnh vật núi rừng Tây Bắc. Chúng ta có thể thấy được nét tương đồng với khung cảnh mà Nguyễn Trãi đã vẽ ra trong bài thơ “Bài ca Côn Sơn”: “Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” Tiếng suối được Nguyễn Trãi ví với “tiếng đàn cầm” cũng gần gũi, quen thuộc không kém so với tiếng hát. Tuy nhiên đọc câu thơ của Hồ Chí Minh, dường như, khung cảnh được vẽ ra một cách mộc mạc hơn, nên thơ hơn, hòa quyện với tâm hồn lãng mạn, phong thái ung dung, lạc quan của thi sĩ. Trong khi đang mải mê lắng nghe tiếng suối trong văng vẳng từ đằng xa thì Bác bất giác nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời từ khung cảnh đêm trăng chiếu xuống mặt đất ngay cạnh mình. “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” Nếu như ở câu trước, Bác vẽ ra khung cảnh núi rừng hoang sơ, mơ hồ bằng âm thanh của tiếng suối thì ở câu thơ này, một “bức tranh thực” được hiện ra rõ nét. Đó là hình ảnh của ánh “trăng” sáng và cây “cổ thụ”, chúng không xuất hiện trong thơ một cách đơn điệu mà được tác giả cảm nhận với vẻ đẹp riêng, “lồng” vào nhau một cách tinh tế, nhẹ nhàng. Cảnh vật thiên nhiên bỗng trở nên gần gũi, quấn quýt đan xen vào nhau, tạo ra một bức tranh hoàn mỹ, ánh trăng sáng “lồng” vào tán cây cổ thụ để từ đó, cây cổ thụ in hình những bông “hoa” vô hình trên mặt đất. Bức tranh đầy đủ tầng lớp, màu sắc được Bác tô điểm và nhấn nhá theo riêng của Người nhưng đã thể hiện được sự cảm nhận tinh tế của một thi sĩ yêu nước đang trong tâm trạng bộn bề những lo âu nhưng trước cái ảnh đẹp của thiên nhiên vẫn không thể làm ngơ. Chỉ với hai câu thơ đầu của bài thơ “Cảnh khuya”, Bác Hồ đã cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp hoang sơ, gần gũi của cảnh vật thiên nhiên và vẻ đẹp trong tâm hồn người thi sĩ. Một vẻ đẹp tinh tế từ những rung cảm tự nhiên trong cảm xúc, có lẽ Người đang chất chứa một nỗi niềm đó là mong cho Đất nước được hòa bình, tự do để có thể thảnh thơi ngắm trăng, lắng nghe suối và cảm nhận những vẻ đẹp tự nhiên vốn có trong cuộc sống. Các em vừa tham khảo bài văn phân tích 2 câu thơ đầu bài Cảnh khuya của Hồ Chí Minh tại Bogvan.info. Hi vọng nó sẽ giúp các em hiểu rõ hơn về bài thơ rất hay này.
Phân tích 2 câu thơ đầu bài Cảnh khuya Lớp 7
660
Đề bài: Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Bài làm Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại. “Ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lý tởng cộng sản”. Tập thơ “Việt Bắc”, là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu hàng đầu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” được coi là kết tinh sở trờng nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu. Đó là khúc hát ân tình của ngời kháng chiến đối với quê hương, đất nước với nhân dân cách mạng được thể hiện bằng một nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại mà cốt lõi là truyền thống ân nghĩa đạo lý thủy chung của dân tộc. Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Được coi là người sinh ra để thơ hoá những vấn đề chính trị, thơ Tố Hữu luôn bám sát các sự kiện cách mạng. Men theo năm tháng những bài thơ của Tố Hữu, ta có thể tái hiện lại những chặng đường hào hùng của cách mạng Việt Nam. Thơ ông quả là “cuốn biên niên sử bằng thơ” như có nhà nghiên cứu đã đánh giá. “Việt Bắc” không phải là ngoại lệ. Tháng 7/1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoà bình được lập lại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, một trang sử mới mở ra cho đất nước. Tháng 10/1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ căn cứ địa về thủ đô. Trong thời điểm lịch sử ấy, bài thơ “Việt Bắc” đã ra đời. “Việt Bắc” không còn là tình cảm riêng của Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho tình cảm của người kháng chiến miền xuôi đối với chiến khu cách mạng, với đất nước, với nhân dân. Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách “Tâm tình hoá, là một đặc trng của lối thơ trữ tình chính trị Tố Hữu. 20 câu thơ đầu tiên của “Việt Bắc” thể hiện rất rõ đặc trưng nghệ thuật này. Đoạn thơ mở đầu bằng những câu thơ ngọt ngào: Mình về mình có nhớ ta Mời năm năm ấy thiết tha mặn nồng. Câu thơ mở ra cảnh giã biệt, một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ cảm xúc trữ tình dạt dào. Cảnh giã biệt vẫn quen thuộc trong thơ ca dân gian và cổ điển truyền thống đã được Tố Hữu khéo vận dụng để diễn tả tâm trạng mang tính thời đại. Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng, Chính phủ với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một đôi trai gái: người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng. Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi, cuộc chia tay đầy bịn rịn lưu luyến giữa những người đã từng gắn bó sâu nặng dài lâu: “Mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng” được Tố Hữu thể hiện bằng một thể thơ giàu tính dân tộc. Thể lục bát, cách kết cấu đối đáp, sử dụng đại từ nhân xưng “Mình”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian, có khả năng “biểu hiện một cách thuận tiện, phù hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt” “Rung lên cái sợi tơ lòng chung của những tấm lòng Việt”. Tất cả những yếu tố đó đã diễn tả thật xúc động tình cảm quyến luyến thiết tha trong một cuộc chia tay đặc biệt: chưa xa đã nhớ, để chia mà không xa, cách mà không biệt. Mình về mình có nhớ ta” đã là chuyện chung thuỷ, riêng tư. Nhưng đến: “Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn” thì không còn là chuyện của tình yêu lứa đôi mà đã là chuyện ân nghĩa thủy chung của đạo lý dân tộc. Câu thơ lục bát điệp hai lần từ “mình” nghe như lối tâm tình thương mến mà day dứt. Băn khoăn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay là ân tình thủy chung. Cái độc đáo ở chỗ: một câu hỏi về thời gian, một câu hỏi về không gian. Chỉ một khổ thơ đã gói gọn một thời cách mạng, một trời cách mạng. Tác giả đã chọn tình yêu một đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc với “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” Từ thuở cách mạng còn trứng nước đến khi trưởng thành vững vàng đó là điểm nhìn nghệ thuật rất Tố Hữu- người thi sĩ luôn khơi nguồn cảm hứng từ những sự kiện lớn của cách mạng. Tiếp theo câu hỏi của ngời ở là tiếng lòng của người đi: Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay Người đi đã nghe câu hỏi, lòng tràn đầy bâng khuâng “bồn chồn” một tình cảm thương nhớ “thiết tha”. Tâm trạng lúc chia tay được diễn tả thật đắt qua sự luyến láy của ngôn từ và cả ở nhạc điệu của câu thơ: Hai câu đầu là nhịp 2/2 hối hoàn của lục bát đến đây đã vặn mình chuyển điệu 3/3: “Áo chàm đưa/ buổi phân ly Cầm tay nhau/ biết nói gì / hôm nay” Cái xao xuyến bồi hồi của lòng người đã cồn cào nổi sóng trên câu thơ thể hiện cách thần tình chút ngập ngừng chứa chan tình thương mến, tạo ra một khoảng lặng đầy biểu cảm để chuỗi câu hỏi tiếp theo vang lên dồn dập, tha thiết hơn. Mười hai câu lục bát còn lại là lời của người ở, cấu tạo bằng sáu câu hỏi như khơi sâu vào kỷ niệm. Mỗi câu hỏi đều gợi lại những gì tiêu biểu nhất của Việt Bắc qua những hình ảnh chọn lọc gợi cảm: Mưa nguồn, suối lũ, mây mù, Những hình ảnh chọn lọc vừa chân thực vừa thơ mộng; “Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” Những câu thơ có khả năng diễn biến những khái niệm trừu tợng thành hình ảnh đầy cảm giác sống động cụ thể “mối thù nặng vai”. Nghệ thuật nhân hoá cũng tạo nên sự sống động cho hình ảnh thơ: “Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già” Tình cảm của ngời ở đối với ngời đi xem ra đợc thể hiện sâu kín hơn cả trong câu thơ này, chỉ 14 chữ mà chứa đựng biết bao quyến luyến nhớ thương: Người đi rồi cả một miền rừng trở nên hoang vắng, trám không người nhặt, măng không ai hái, cả núi rừng cũng mong nhớ đến thẫn thờ. Như một thông lệ trong cuộc chia tay giữa những người thân thiết, người ta thường đẩy thời gian về quá khứ để chưa xa đã nhớ, chưa biệt đã thương. Để trên nền xúc cảm này, dòng hồi tởng những kỉ niệm thân thương ùa về mãnh liệt. “Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” Nhìn thoáng qua, tổ chức các câu thơ đều lặp lại ở phép láy đầu 6 câu: Mình đi, mình về. “Đi”, “Về” vốn ngợc chiều trái hướng, song ở đây lại đồng nhất một phương. Phải chăng niềm tin giản dị mà rất thực của cả người đi và người ở đã thổi vào câu chữ, làm nên chút choáng ngợp bối rối của ngôn từ, thể hiện mạch ngầm văn bản trong chiều sâu thơ ca: Ra đi để hẹn về. Việt Bắc đã trở thành quê hương thứ hai của ngời cán bộ kháng chiến. Những kỷ niệm được gợi nhớ đều là những kỷ niệm của cuộc sống chung, tình cán bộ với nhân dân chia ngọt sẻ bùi, chung gian lao, chung mối thù Nếu không khéo rất dễ sa vào cái gọi là “liệt kê kỉ niệm” câu thơ sẽ trôi tuột đi, không thể lưu đọng lại trong lòng người đọc. Cái làm nên chất thơ của bài “Việt Bắc” cũng như của đoạn thơ này chính là nhạc điệu. Chính nhạc điệu đã làm cho các kỷ niệm trở nên ngân nga, trầm bổng réo rắt, thấm sâu vào tâm tư. Những yếu tố làm nên chất nhạc kỳ diệu ấy không chỉ ở những câu lục bát rất chuẩn về thanh luật mà còn ở nghệ thuật tiểu đối được sử dụng với tần số cao trong các câu thơ. Nó không chỉ có khả năng biểu đạt rất xúc động nỗi lòng sâu kín bồi hồi của người đi kẻ ở, mà còn tạo ra sự tương xứng về cấu trúc, vẻ đẹp nhịp nhàng của ngôn từ. Mưa nguồn suối lũ / những mây cùng mù Miếng cơm / mối thù Trám / măng Hắt / son Nhớ / mình Tân / đa Những hình ảnh thơ đã thực sự cất lên chất thơ nhờ nhạc điệu đầy quyến luyến, trầm bổng, ngân nga qua những câu thơ sóng đôi lối đối xứng tiểu đối, nó mang vẻ đẹp cổ điển uyên bác. Đặc biệt câu hỏi cuối đoạn thơ có thể tách riêng ra bởi sự thâm thúy, hàm súc: “Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa” Đại từ “mình”, “ta” vốn được sử dụng trong đối đáp thơ ca dân gian nay được Tố Hữu sử dụng đầy biến ảo: Khi mình là Ta, khi “ta” là “mình”, cái ngầm ý hai ta là một đã rõ. Nhng ở đây một câu lục mà tới ba lần lặp lại chữ mình: “Mình đi, mình có” là chỉ ngời về, “nhớ mình” là chỉ người ở. Câu hỏi đầy ý nhị mà sâu kín: Mình quên “ta” cũng là quên chính “mình” đó. Cũng như ở phần sau, Tố Hữu lại nhấn theo lối bồi thấn trong câu thơ trả lời khẳng định sắt son. “Mình đi mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” Nhà thơ đã khai thác rất đắt chữ “Mình” trong tiếng Việt. “Mình” vừa là bản thân vừa là ta, “Mình” cũng là ngời thân thiết có thể xem như chính mình vậy. Đại từ nhân xưng được sử dụng vừa thống nhất vừa biến hoá khiến “Việt Bắc” cất lên như tiếng lòng đồng vọng bản hoà âm tâm hồn của kẻ ở người đi. Sự đổi chỗ trong tổ chức câu thơ: “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được viết thành: “Tân trào Hồng Thái mái đình cây đa” chứng tỏ tên riêng và danh từ chung đều đã đồng nhất hoàn toàn về ý nghĩa -Việt Bắc quê hương cách mạng. Nỗi nhớ về chiến khu Việt Bắc “Tân Trào, Hồng Thái”, đã chuyển hoá thành nỗi nhớ quê hương “Mái đình cây đa” những hình ảnh đã đi vào tâm thức người Việt từ ngàn đời. “Trong thơ Tố Hữu, cái riêng, cái chung như không còn ranh giới, cái cũ cái mới lồng vào nhau, (Nguyễn Văn Hạnh) mà đây là một trờng hợp điển hình. “Việt Bắc” là bài ca tâm tình, ngọt ngào đằm thắm rất tiêu biểu cho hồn thơ, cho phong cách thơ của Tố Hữu. Vẫn là tiếng nói của tình cảm tình yêu nhưng là tình yêu đối với quê hương đất nước, đối với cách mạng đối với nhân dân. Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp Tố Hữu tâm sự rằng: “mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Và đã nói về đất nước về nhân dân như nói về người mình yêu”. Cho nên tình yêu biến thành tình nghĩa “Việt Bắc” đã trở thành tiếng hát ân tình chung của những người kháng chiến, của cả dân tộc trong một thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ. Có thể khẳng định rằng đoạn thơ trên là những câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc”.
Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
2,039
Đề bài: Phân tích 4 câu thơ miêu tả Thuý Vân trong Truyện Kiều Bài làm Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da. (Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”) Bốn câu thơ-28 chữ mà giống như 28 viên ngọc bằng ngôn ngữ toả sáng lấp lánh trong cả trang thơ.Vừa chiêm ngưỡng dáng hình mảnh dẻ thanh tao và tâm hồn trắng trong như tuyết của hai người con gái đầu lòng nhà ông bà Vương viên ngoại, người đọc chợt sững sờ tr¬ước bức chân dung giai nhân được hé lộ bằng những đ¬ường nét đầu tiên: Vân xem trang trọng khác vời Dòng thơ giới thiệu khái quát đủ để người đọc cảm nhận vẻ đẹp cao sang, quí phái của Thuý Vân,để rồi liền sau đó,như một nhà nhiếp ảnh tài ba,Nguyễn Du hướng ống kính của mình vào từng đường nét cụ thể trên gương mặt của người con gái: Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang. Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài hoa về bức chân dung giai nhân, từng đường nét dường như đều là một kì công của tạo hoá,gương mặt tròn đầy,tươi sáng dịu hiền như ánh trăng,đôi mày dài thanh thoát,miệng cười tươi thắm như hoa,tiếng nói trong như ngọc,mái tóc đen,mềm,óng ả hơn mây,làn da trắng mịn màng hơn tuyết…Tả về nàng, Nguyễn Du phải tìm đến báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời mới lột tả hết vẻ yêu kiều của người con gái ấy. Vẫn là bút pháp ước lệ với những hình t¬ượng quen thuộc nhưng khi tả Vân ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn lúc tả Kiều.Cụ thể trong thủ pháp liệt kê:khuôn mặt,đôi mày,làn da,mái tóc…Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ để làm nổi bật vẻ đẹp riêng của đối t¬ượng:“đoan trang”,“nở nang”,“đầy đặn”.Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ,nhân hoá đều nhằm thể hiện vẻ đẹp trung thực, phúc hậu mà quí phái của người thiếu nữ.Điều kì diệu ở đoạn thơ này là Nguyễn Du đã miêu tả chân dung Thuý Vân là chân dung mang tính cách,số phận.Vẻ đẹp của nàng hoà hợp,êm đềm với xung quanh,được thiên nhiên yêu thương,nhường nhịn:“mây thua”;“tuyết nh¬ường”nên nàng sẽ có một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ, êm ấm và một tương lai tươi sáng đón chờ. Đoạn thơ khép lại sau khi đã hoàn thiện trong tâm khảm bạn đọc hình ảnh một nàng Thuý Vân sắc nước hương trời bằng ngôn ngữ thơ tinh luyện, những nét vẽ có thần,hàm xúc, gợi cảm,các biện pháp tu từ được vận dụng tài tình.Hàm ẩn đằng sau bức chân dung mĩ nhân là cả một tấm lòng quí mến trân trọng,ngợi ca con người mà đặc biệt là người phụ nữ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Đọc đoạn thơ,tìm hiểu kĩ về đoạn thơ, càng kính phục Nguyễn Du em càng trân trọng sự tinh tế trong ngôn ngữ Tiếng Việt.Bất giác em mong muốn được thay vài chữ trong câu thơ lúc sinh thời của đại thi hào dân tộc để diễn tả những suy nghĩ của mình: “Nhiều trăm năm lẻ về sau nữa Thiên hạ mãi còn nhớ Tố Như”
Phân tích 4 câu thơ miêu tả Thuý Vân trong Truyện Kiều
562
Đề bài: Phân tích 4 khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Bài làm Từ nơi em gửi đến nơi anh Những đòan quân trùng trùng ra trận Như tình yêu nối lời vô tận Đông Trường Sơn, nối tây Trường Sơn… “Những đoàn quân trùng trùng ra trận" được nhà thơ Phạm Tiến Duật nói đến trong bài thơ Trường Sơn đông, Trường Sơn tây và hàng ngàn, hàng vạn thanh niên, thanh nữ Việt Nam ào ào ra trận với khí thế “ xẻ dọc Trường Son đi cứu nước” thời chống Mỹ, trong đó có những tiểu đội xe không kính trên con đường mòn Hồ Chí Minh. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính" được Phạm Tiến Duật viết năm 1969, hơn 40 năm sau người đọc vẫn cảm thấy hừng hực không khí chiến trường và khí thế ra trận của những chiến sĩ trong binh đoàn vận tải quân sự. Đây là bốn khổ thơ đầu. Giọng thơ mạnh mẽ hùng hồn vang lên như một tráng ca anh hùng. “Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi". Hai cầu đầu như một lời hỏi – đáp rất hồn nhiên của người lính. Chiếc xe vận tải vốn có kính nhưng trong bom đạn “kính vỡ đi rồi”. Các điệp ngữ: “không có.. không phải… không có”, “bom giật, bom rung" đã làm cho âm điệu thơ hùng tráng gợi tả không khí ác liệt chiến trường. Vần thơ đã làm hiện lên những chiếc xe vận tải quân sự mang đầy thương tích chiến tranh, và hình ảnh người chiến sĩ can trường, dày dạn kinh nghiêm trong khói lửa, Một tư thế chiến đấu rất đẹp: " Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất. nhìn trời, nhìn thẳng” Cái ngồi “ung dung" đàng hoàng làm chủ tình thế. Một cái nhìn khoáng đạt bao la giữa chiến trường: “Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Nhịp thơ 2/2/2 với điệp từ '‘nhìn’’ đã thể hiện tuyệt đẹp một tư thế chiến đấu rất đĩnh đạc hào hùng của người lính trẻ trong mưa bom bão đạn của giặc Mỹ. Khổ thơ thứ hai mở ra một không gian rộng lớn, những cung đường chiến lược phía trưóc. “Nhìn thấy gió…", “nhìn thấy con đường…", rồi “nhìn thấy sao trời…” các điệp ngữ ấy có giá trị gợi tả tiểu đội xe không kính, nối đuôi nhau hành quân ra chiến trường. Xe không kính, xe phóng băng băng, nên “gió vào xoa mắt đắng”. Chữ "đắng” chuyển đổi cảm giác, một cách viết tài hoa. Sao trời và cánh chim mà người chiến sĩ “thấy" tưởng “như sa vào buồng lái" đã diễn tả thật hay tốc độ phi thường của tiểu đội xe không kính ra trận trong mọi thời gian đêm ngày, trên mọi địa hình gian khổ: Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái Sau gió “xoa mắt đắng” là bụi. Bốn chữ “ừ thì có bụi” như một tiếng “mặc kệ” cất lên, biểu thị một thái độ sẵn sàng chấp nhận. Bụi làm cho những mái tóc xanh trở thành “ tóc trắng như người già”. "Mặt lấm” cũng chẳng cần vội rửa. Cách hút thuốc “phì phèo", tiếng “cười ha ha” là những chi tiết nghệ thuật hóm hỉnh thể hiện tinh thần lạc quan, hồn nhiên, yêu đời của tiểu đội xe không kính: Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già, Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Tiểu đội xe không kính đã xông pha trong cảnh “bom giật bom rung”, đã nếm trải nhiều gió bụi, vô cùng gian khổ, các anh còn hành quân trong mưa. Hai câu thơ nối tiếp xuất hiện như tiếng nói của người lính coi thường mọi thử thách: – Không có kính, ừ thì có bụi, – Không có kính, ừ thì ướt áo. Mưa rừng dữ dội, vả lại xe không kính, gian khổ không thể nào kể xiết: “Mưa tuôn, mưu xối như ngoài trời". Trong gian khổ các anh vẫn hiên ngang xông tới chi viện cho chiến trường miền Nam phía trước: Không có kính, ừ thì ướt áo, Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. Con người và thời đại được nói đến trong đoạn thơ trên là những chiến sĩ lái xe can trường và dũng cảm, lạc quan và yêu đời, trẻ trung và hồn nhiên trong gian khổ và nguy hiểm trên con đường chiến lược Trường Sơn thời đánh Mỹ. Tiểu đội xe không kính tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng của tuổi trẻ Việt Nam trong chống Mỹ cứu nước. Đoạn thơ trên đây hội tụ bao vẻ đẹp nghệ thuật. Câu thơ mang màu sắc văn xuôi thể hiện “chất lính” thời máu lửa. Các điệp từ, điệp ngữ, các hình ảnh về chiếc xe không kính, về tư thế lái xe, về cái nhìn, mái tóc, nụ cười,… đã diễn tả thật đẹp chí khí anh hùng của tiểu đội xe không kính, đồng thời làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, hào hùng mang âm điệu anh hùng ca. Bom, gió, bụi, mưa được nhà thơ nói đến đã diễn tả đầy ấn tượng về sư gian khổ, ác liệt của chiến trường. Trên cái nền ấy, hình tượng tiểu đội xe không kính sừng sững hiện lên trong tầm vóc những anh hùng cho ta nhiều ngưỡng mộ.
Phân tích 4 khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
960
Phân tích 6 câu thơ đầu bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn răm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Em hiểu thế nào là Tức nước vỡ bờ? Tiêu đề của đoạn trích này được đặt như vậy có hợp lí không? Bài làm Bài thơ có mười câu, đã dành sáu câu cho đoạn thứ nhất: Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không... Đây là cảnh mùa hè tiêu biểu ở các làng quê. Nhưng bức tranh hiện thực ấy được mở ra bằng hai lớp: lắng nghe và hồi tưởng, hiện tại và quá khứ, cái đang tới và cái đã qua. Cái hôm nay – cái bây giờ mà nhà thơ đang nghe là tiếng tu hú, một sự lắng nghe bất chợt sau một thời gian bị xiềng xích trong tù (“Khi con tu hú gọi bầy”). Cái cảm giác đột nhiên ấy – sở dĩ là đột nhiên, vì nó xuất hiện trong một khối cảnh không gian đặc biệt: hiếm khi có âm thanh cuộc sống vọng vào. Cảm giác này phải chăng giống với tâm trạng của tác giả Nhật ký trong tù khi nghe tiếng sáo (“Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu”). Nó lạ lẫm và khơi gợi vô cùng. Tu hú gọi bầy là mùa hè đã đến. Nhưng nó đến như thế nào thì tác giả không nhìn thấy. Vốn sống, sự gắn bó với mọi làng quê đã được huy động để thay vào. Lấp đầy cái khoảng trống bị vây bọc bởi bốn bức tường xà lim lạnh lẽo là sự tưởng tượng của nhà thơ mà người đọc không cảm thấy có một chút gì khiên cưỡng, gò ép. Mạch thơ vẫn hết sức tự nhiên như không có một sự lắp ghép cố tình nào. Hãy đọc lại: Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần. Hai câu thơ, và rồi bốn câu tiếp như một tác động dây chuyền: cứ tiếng chim xuất hiện là mùa màng, cây trái đến theo. Sự hô – ứng ấy bao đời vẫn thế bởi đó là quy luật của tự nhiên. Tiếng chim gọi bầy mà cũng là tiếng chim gọi mùa chính là vì thế. Nó lập tức xôn xao. Nó va đụng vào lòng người nao nức lắm. cần chú ý hai trạng thái chín của lúa và ngọt của cây: đang chín, ngọt dần. Nếu thay vào đã chín, ngọt rồi, câu thơ sẽ khác, sẽ ở vào thế tĩnh, đông cứng lại ngay. Còn ở đây tả chim mà như nó đang bay, tả hoa mà như nó chớm nở, nó mỉm cười thì ấy là cái động của thơ, của họa. Cái động ấy ở đây là do tài của nhà thơ, nhưng cũng là do tình của nhà thơ thân mến nó. Nghe một tiếng chim kêu mà thấy mạch sống của cây, của lúa sinh sôi, đang rạo rực thân cành thì chỉ có thể ở những con người yêu thương cuộc đời, yêu thương sự sống đến mức thắt lòng. Từ đó mà tưởng tượng nảy sinh. Ay là chưa nói đến Ưu thế uyển chuyển, nhịp nhàng, giàu khả năng diễn đạt tâm tình của thơ lục bát. Thơ lục bát vừa có hình thức cố định lại vô cùng biến hóa. Chẳng hạn, trong bốn câu thơ đầu, nếu lấy tiêu chí giác quan mà nhìn vào kết cấu thì ta thấy mỗi cặp câu 6/8 có đủ cả thính giác và thị giác, từng đôi một, tạo cảm giác âm thanh giục giã mùa màng bước vào ngày hội: Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Nếu bốn câu thơ đầu là bốn câu thơ đẹp, nó nói được cái ríu rít của mùa hè, của cây trái xum xuê thì hai câu sau tưởng như không ăn nhập gì với không khí ấy bởi nó nói đến những con diều sáo, một sắc trời xanh. Nguyễn Trãi xưa vì mừng thấy dân khắp nơi “giàu đủ” mà nghĩ đến cây đàn của vua Thuấn. Cây đàn với bát cơm, tấm áo trên một phương diện nào đó là khá xa nhau, nhưng thực thì chúng lại rất gần nhau, ở cảnh thanh bình, hạnh phúc. Vậy thì hai câu “Trời xanh càng rộng càng cao = Đôi con diều sáo lộn nhào từng không” phải chăng là những âm thanh vút cao lên từ một giai điệu bè trầm là bốn câu trước đó. Để cắt nghĩa vì sao bức tranh nông thôn hiện ra trong thơ rất thực và rất đẹp, ta nghĩ đến hai điều: bản thân cảnh nông thôn, nhất là vào dịp mùa màng là rất đẹp, nó gợi cái ấm, cái no của người cày cuốc một nắng hai sương. Song điều thứ hai, trong trường hợp bài thơ này, mới là quan trọng: nhà thơ chiến sĩ bị giam cầm vi yêu nó, đang mơ thấy nó, thấy nó như đang ở tầm tay. Yêu nó, không được gần mà nhớ đã đành (đã bao lần ở trong tù, người thanh niên ấy đã nhớ người, nhớ đồng?), cái chính thức: bức tranh ấy là bức tranh tự do, thứ tự do vừa lớn lao vừa bình dị như một chân lí đơn sơ. Để vừa miêu tả (ngoại cảnh) vừa diễn tả (tâm cảnh, tâm trạng), với một độ hấp dẫn đến xúc động lòng người, Tổ Hữu đã huy động cả thành tựu của thơ dân gian (thể lục bát của ca dao), cả thành tựu của Thơ mới. Riêng về hinh ảnh của Thơ mới, thành công của Tố Hữu ở đây trước hết là biết phát huy mạnh mẽ cái tôi nội cảm, cái tôi của cảm xúc dồi dào, của sức tưởng tượng phong phú. Sáu câu đầu giống như một đời sống bên trong của nó. Ngay câu thơ đầu thôi, cái nguyên cớ, cái nguồn cơn để từ đó cảm xúc trào dâng như một giây phút “chạnh lòng” (tên một bài thơ của Thế Lữ). Một âm thanh nhỏ của cuộc đời mấy ai để ý mà với Tố Hữu, tiếng “gọi bầy” ấy có sức gợi rất lớn, sức gợi tức thời. Sự nhạy cảm ở đây là của thơ nói chung, trước hết là của thơ mới. Đọc Khi con tu hú, ta có cảm giác vừa là ca dao, vừa không phải là ca dao chính bởi sự kết hợp của hai thành tựu vừa nêu.
Phân tích 6 câu thơ đầu bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu
1,153
Phân tích 8 câu thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương Gợi ý a. Hai câu đề “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn” câu thơ hiện lên bối cảnh không gian và thời gian + “Đêm khuya” khoảng thời gian tĩnh mịch nhất trong ngày, với người phụ nữ có chồng, lẽ ra đang say giấc nồng bên chồng con nhưng nhân vật trữ tình lại đối diện với chính mình. Đêm khuya cũng là thời gian làm người ta hồi tưởng lại quá khứ, suy nghĩ về tương lai và chợt nhận ra mình ở chính hiện tại. + “văng vẳng”, đây là âm thanh của trống canh dồn gõ nhịp thời gian, nó như khơi gợi, thôi thúc từng bước đi của thời gian thật vội vã, thật nhanh chóng, tuổi xuân cũng theo đó mà trôi qua, tình yêu hạnh phúc của người con gái cũng qua đi. Tiếng trống canh văng vẳng càng làm cho tâm trạng người phụ nữ cô đơn thêm rối bời. Câu thơ “trơ cái hồng nhan với nước non” khắc sâu nỗi cô đơn, bẽ bàng, tủi hổ của người phụ nữ cho duyên số của mình. + Từ trơ được đảo lên đầu câu để nhấn mạnh sự cô đơn, trơ trọi theo đó là sự tủi hổ, bẽ bàng. “cái” là chỉ từ đi kèm với những vật dụng như cái ghế, cái bàn…ở đây nó lại đi kèm với từ chỉ vẻ đẹp của người phụ nữ “hồng nhan” điều đó cho thấy thân phận người phụ nữ đáng được trân trọng lại bị rẻ rúng, mỉa mai. Câu thơ không nhắc đến hai chữ “ bạc phận” nhưng ta vẫn thấm nỗi bạc phận của kiếp hồng nhan. + Không giống với người phụ nữ chỉ biết than thân trách phận, HXH cho thấy được sự mạnh mẽ và bản lĩnh ở ngay từ “trơ”, ngoài thể hiện sự trơ trọi, cô đơn, “trơ” còn là lời thách thức của tác giả với cuộc đời, với tạo hóa. b. Hai câu thực “chén rượu hương đưa say lại tỉnh” câu thơ gợi lên hình ảnh người phụ nữ lẻ loi trong đêm khuya, chỉ có chén rượu là tri kỉ. + khi đối diện với nỗi đau, nhất là sự cô đơn, con người thường mượn rượu để giải sầu, nhưng rượu càng cay thì sầu càng sầu. Người phụ nữ muốn mình say để quên những phiền muộn dù chỉ trong giây phút, nhưng càng uống càng tỉnh, rượu không đưa người lên cung mây mà làm người thêm bẽ bàng cho hiện thực. + “say lại tỉnh” là cái vòng luẩn quẩn của tạo hóa, tình duyên của nữ sĩ cũng trở thành trò đùa, đắng cay, chua chát. “vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” câu thơ tả cảnh nhưng gợi tình vì chính cảnh và tình là một. Câu thơ chứa đựng nghịch lý “vầng trăng bóng xế” trăng đã già nhưng “khuyết chưa tròn” trăng già lẽ đương nhiên đã qua thời kì viên mãn nhưng ở đây vầng trăng lại chưa một lần tròn đầy. Tuổi thanh xuân của nhà thơ cũng thế, tuổi xuân cứ qua đi mà nhân duyên còn chưa trọn vẹn. Lời thơ là nỗi ê chế, chán chường trong sâu thẳm tâm hồn nữ sĩ. “xiên ngang mặt đất rêu từng đám/đâm toạc chân mây đá mấy hòn” thiên nhiên trong hai câu luận mang tính cách mạnh mẽ của con người, đó là niềm phẫn uất muốn bức phá, muốn đạp đổ để được tự do. + “xiên ngang mặt đất” , “đam toạc chân mây” là hành động mạnh mẽ của những sinh vật tưởng chừng thấp bé, im lặng, cam chịu như rêu và đá. + Hai động từ “xiên, đâm” được đảo lên đầu để khẳng định thái độ phẫn uất không chấp nhận cam chịu của những thân phận thấp bé mà người phụ nữ chính là đối tượng được nói đến. + Không dừng lại ở sự phẫn uất, hai câu thơ còn là thái độ phản kháng của một tân hồn đầy sức sống mãnh liệt nhưng luôn chịu đựng sự bất công của cuộc đời. d. Hai câu kết “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ mảnh tình san sẻ tí con con” thể hiện sự chán chường khi một lần nữa trở lại cùng nghịch cảnh. + “Ngán” tậm trạng chán chường đến tột độ, ngán ngẩm cho cuộc đời bất công và tạo hóa trớ trêu buộc má hồng vào vòng luẩn quẩn của hôn nhân. + “xuân” mang hai ý nghĩa, thứ nhất chỉ mùa xuân của trời đất, thứ hai chỉ tuổi trẻ, tuổi thanh xuân của người phụ nữ. Mùa xuân đất trời đi rồi lại đến, tan rồi lại hiệp nhưng mùa xuân của con người qua đi bao giờ trở lại “còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”. Chính vì thế thi sĩ đau lại càng đau, tiếc lại càng tiếc. Hai từ “lại” trong câu thơ cũng mang hai nghĩa khác nhau. Lại thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, lại thứ hai là sự trở lại. Sự trở lại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Mảnh tình – san sẻ – tí – con con: dùng biện pháp tăng tiến, mảnh tình vốn đã chẳng nhiều lại còn đi san sẻ để lại ít ỏi “tí” cuối cùng chỉ được “con con”, thật sự đáng thương tội nghiệp. Câu thơ nói riêng và bài thơ nói chung là tiếng lòng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, tuổi xuân thì ngắn ngủi nhưng họ phải phó mặt cho tạo hóa xoay vần, chẳng được hạnh phúc trọn vẹn dù “cố đấm ăn xôi”.
Phân tích 8 câu thơ Tự Tình II của Hồ Xuân Hương
951
Phân tích 8 câu thơ đầu trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Hướng dẫn Phân tích 8 câu thơ đầu trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Bàn về thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật trong thơ Thơ Tố Hữu thể hiện tính dân tộc rất đậm đà”. Lại có ý kiến cho rằng: “Thơ Tố Hữu mang màu sắc trữ tình – chính trị”. Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ sau đây làm sáng tỏ hai ý kiến trên. Chí Bằng (Quà tặng Văn học) – Mình về mình có nhớ ta? Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không? Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn. – Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… (Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2011, tr.109) BÀI LÀM 1. Giới thiệu − Tác giả: Tố Hữu, một nhà thơ lớn, một nhà cách mạng lớn. Ông là “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam”. Sự nghiệp thơ ca của ông gắn liền với sự nghiệp cách mạng, phản ánh những chặng đường đầy gian lao nhưng cũng rất hào hùng. Thơ ông đậm chất trữ tính – chính trị (tức là nói về chính trị nhưng lại rất trữ tình, đi sâu vào hồn người chữ không hề khô khan), giọng thơ tâm tình ngọt ngào mà tha thiết và thơ ông cũng rất đậm đà tính dân tộc. − Tác phẩm: Việt Bắc là tác phẩm xuất sắc, tiêu biểu cho phong cách thơ của Tố Hữu. Bài thơ được sáng tác vào tháng 10 – 1954, trong hoàn cảnh chia ly tiễn biệt giữa quân và dân tại căn cứ địa Việt Bắc sau kháng chiến chống Pháp. − Trích dẫn ý kiến và đoạn thơ: Bàn về thơ Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật trong thơ Thơ Tố Hữu thể hiện tính dân tộc rất đậm đà”. Lại có ý kiến cho rằng: “Thơ Tố Hữu mang màu sắc trữ tình – chính trị”. Trích dẫn thơ. 2. Giải thích: − “Tính dân tộc” là một phạm trù mĩ học. + Tính dân tộc được biểu hiện ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Đề tài là những sự kiện xảy ra trong lịch sử dân tộc, những hiện tượng chính trị của dân tộc; chủ đề ca ngợi lòng yêu nước, khẳng định ý thức, tinh thần dân tộc; nhân vật là những con người điển hình, biểu hiện tập trung tâm lí, tính cách của cả một dân tộc,… đó chính là những yếu tố nội dung in đậm tính dân tộc trong một tác phẩm văn học. Tác phẩm ấy còn phải biểu hiện được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và cách tân, dân tộc và hiện đại khi sử dụng linh hoạt những yếu tố hình thức như thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh… − “Màu sắc trữ tình – chính trị”: + Thơ Tố Hữu đúng là thơ chính trị, bởi đề tài trong thơ Tố Hữu là những vấn đề chính trị, hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn và niềm vui lớn của Đảng, dân tộc, cách mạng. + Nhưng thơ Tố Hữu cũng rất đỗi trữ tình. Tố Hữu đã đưa thơ trữ tình chính trị lên đến đỉnh cao. Có được điều ấy là nhờ những vấn đề chính trị trong thơ Tố Hữu đã được thực sự chuyển hóa thành những vấn đề của tình cảm, cảm xúc rất mực tự nhiên, chân thành, đằm thắm với một giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, giọng của tình thương mến. 3. Phân tích đoạn thơ làm sáng tỏ hai ý kiến − “Nghệ thuật trong thơ Thơ Tố Hữu thể hiện tính dân tộc rất đậm đà”: + Thể hiện qua đoạn thơ thể hiện ở việc vận dụng sáng tạo thể thơ lục bát quen thuộc trong ca dao, dân ca của dân tộc tạo nên nhịp điệu nhịp nhàng, giọng điệu tha thiết: “Mình về mình có nhớ ta/Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng/Mình về mình có nhớ không/Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. Tất cả gợi nhớ đến những câu dao, dân ca về tình yêu đôi lứa. + Tính dân tộc còn thể hiện ở việc thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn qua câu thơ “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”. + Đại từ phiếm chỉ “ai” quen thuộc trong ca dao được sử dụng trong câu “- Tiếng ai tha thiết bên cồn” gợi bao nỗi niềm xao xuyến, lưu luyến của người đi. + Hình ảnh ẩn dụ “Áo chàm” trong câu thơ “Áo chàm đưa buổi phân ly” là trang phục quen thuộc của đồng bào Việt Bắc. Chiêc “Áo chàm” không chỉ gợi nhớ đồng bào Việt Bắc mà còn gợi nhớ bao nghĩa tình, gắn bó giữa bộ đội và đồng bào nơi đây. − “Thơ Tố Hữu mang màu sắc trữ tình – chính trị”: + Đoạn trích trên đây đề cập đến sự kiện lịch sử là cuộc chia tay giữa những người kháng chiến với nhân dân Việt Bắc tháng 10 năm 1954, cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng ân tình cách mạng, niềm biết ơn sâu sắc với Đảng, Bác Hồ, căn cứ địa cách mạng, nhân dân trong suốt “mười lăm năm” gắn bó. + Đồng thời, cuộc chia tay trọng đại giữa người đi – kẻ ở diễn ra đầy lưu luyến, bịn rịn sau “mười lăm năm” gắn bó. Cán bộ về xuôi, đồn bào Việt Bắc, kẻ ở, người đi đã xưng hô một cách mộc mạc, giản dị thân thiết; “ta – mình”. Cách xưng hô như vậy thắm thiết yêu thương gợi nhớ những khúc hát ca dao của đôi lứa. Cuộc chia tay lớn mang ý nghĩa lịch sử trọng đại bỗng ùa về trong dáng dấp của cuộc biệt li giữa những đôi lứa yêu nhau. Âm điệu thơ, lời thơ vừa xao xuyến, bâng khuâng vừa da diết khắc khoải. Bao kỉ niệm, nghĩa tình suốt mười lăm năm gắn bó ghim lại trong mấy chữ tha thiết, mặn nồng. Hàng loạt điệp từ, điệp cấu trúc đan kết vào nhau khiến điệu thơ da diết, quyến luyến, hằn sâu một nỗi nhớ thương. Đặc biệt là từ nhớ điệp lại bốn lần. Đáp lại lời nhắn nhủ tha thiết của đồng bào chiến khu là sự im lặng lắng nghe của đồng bào miền xuôi. Im lặng mà cõi lòng bồi hồi xúc động: “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Người ở lại gợi nhắc niệm tha thiết, mặn nồng, người ra đi lắng nghe được “Tiếng ai tha thiết bên cồn”. Kẻ ở, người đi thực sự tâm đầu, ý hợp, trái tim có lẽ đã hòa chung một nhịp nên mới có sự hiểu thấu đồng điệu như vậy. Câu thơ tám chữ ngắt nhịp 4/4 chia hai vế cân xứng. Một vế bộc lộ nội tâm, một vế bộc lộ dáng vẻ. Tất cả cùng chung cảm xúc lưu luyến nhớ thương. Hình ảnh đổng bào Việt Bắc trong buổi chia li hiện lên qua cái nhìn của cán bộ kháng chiến thật giản dị, gần gũi với màu áo tràm thân thương. Màu áo tràm ấy ghi dấu truyền thống nghĩa tình thủy chung của đồng bào chiến khu. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” gợi cảnh chia tay đầy xúc động. Đồng bào và cán bộ, kẻ ở người đi, tay trong tay trao hơi ấm, yêu thương, quyến luyến, bịn rịn không nỡ, buông rời. Có khác nào nỗi biệt li của những lứa đôi yêu nhau thắm thiết. − Hai ý kiến trên tuy nhận xét về hai phương diện khác nhau: Ý kiến đầu nhận xét về nghệ thuật biểu biệu trong thơ Tố Hữu, ý kiến sau nhận xét về phong cách thơ trữ tình – chính trị trong thơ ông. Nhưng cả hai ý kiến lại nhận xét chính xác về nghệ thuật biểu hiện cũng như phong cách thơ của Tố Hữu. − Không những vậy, hai ý kiến còn bổ sung cho nhau giúp người đọc hiểu hơn về nghệ thuật biểu hiện và phong cách thơ thể hiện trong thơ Tố Hữu cũng như về đoạn trích Việt Bắc. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích 8 câu thơ đầu trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu.
1,425
Phân tích Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác Hướng dẫn Phân tích Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác Như chúng ta đã biết Các Mác và Ăng Ghen là hai nhân vật nổi tiếng của thời đại hai nhà triết học uyên bác mà đã để lại cho chúng ta những di sản về tư tưởng vô cùng quí giá. Những gì mà hai ông đã để lại trở thành bài học và lí tưởng nền tảng cho đấu tranh cách mạng. Đặc biệt chúng ta có thể thấy được nhiều cống hiến sự tận tụy của Các Mác qua bài điếu văn của Ăng Ghen đã dành cho ông. Đó là 3 cống hiến vĩ đại củaCác Mác Đây là bài điếu văn mà Ăng Ghen đã đọc trước mộ của Các Mác nhằm ngợi ca những cống hiến vĩ đại mà ông đã để lại cho hậu thế. Thời khắc mà Ăng Ghen đứng trước mộ của Các MÁc để đưa tiễn một con người đáng kính về cõi vĩnh hằng vào buổi chiều lúc ba giờ kém mười lăm phút ngày 14/3/1883. Sau thời khắc ấy mọi thứ quay về voi cát bụi con người đáng kính ấy Các Mác- mãi đi về với cõi vĩnh hằng. Đó là phút giây đưa tiễn một con người đầy tài năng tâm huyết cho xã hội và cho thời đại. Có thể nói đó là một sự mất mát quá lớn quá đau buồn. Miêu tả về không gian của buổi đưa tiễn Các Mác thì không gian ấy với chiếc ghế bành Các Mác vẫn đang như trong trạng thái rất bình thản. Nó không khác gì những căn phòng bình thường khác. Sự ra đi của Cac Mác thật nhẹ nhàng sự ra đi ấy trong một căn phòng rất đỗi bình dị như một cơn gió thoáng nhẹ qua. Mọi thứ như chưa sẵn sàng cho sự ra đi ấy bởi vì tác giả viết “để Các Mác ở lại một mình vẻn vẹn chỉ có hai phút, chúng tôi đã thấy ông ngủ thiếp đi thanh thản trên chiếc ghế bành – nhưng đó là một giấc ngủ ngàn thu” Dường như chưa thể ai tin được đó lại là một sự ra đi mãi mãi, nỗi chua xót dâng lên. Sự mất mát quá lớn của Nhân loại và để thể hiện điều đó Ăng Ghen đã sử dụng kết cấu trùng điệp Nhắc tới Các Mác chúng ta không thể không nhắc tới những đóng góp cảu ông cho nhân loại cho lịch sử cho khoa học và cách mạng. Ba cống hiến mà ông đã để lại cho nhân loại đó chính là. Thứ nhất Các Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người qua các thời kì lịch sử. hơn thế nữa chúng ta biết bản chất của quy luật ấy là cơ sở hạ tầng quyết định. Một điều thật giản dị nhưng không phải ai cũng biết đó là con người trước hết phải có cái ăn uống quân áo, chỗ ở sau đó mới có thể làm chính tri, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo. Thứ hai Các Mác đã tìm tìm ra phương thức hoạt động riêng củaphương thức sản xuất hiện nay và xã hội tư sản mà nó đẻ ra. Chúng ta gọi đó là giá trị thặng dư. Thứ ba Các Mác có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, biến các lý thuyết cách mạng khoa học thành hành động cách mạng. Những cống hiến của Các Mác đã trở thành lịch sử và trở thành một người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ với công cuộc giải phóng giai cấp vô sản hiện đại. Bên cạnh đó ông còn cho ra đời hội liên hiệp công nhân quốc tế. Ông chính là một nhà tư tưởng tiên phong.. Quả thực với những đóng góp to lớn của Các Mác và sự mất mát quá lớn về sự ra đi của nhân loại Ăng Ghen đã cũng từ đó làm nổi bật hình ảnh của một con người là một nhà tư tưởng với những đóng góp vô cùng lớn lao. Sự ra đi của ông đã khiến cho thế giới phải rơi lệ tiếc nuối.
Phân tích Ba cống hiến vĩ đại của Các-Mác
713
Đề bài: Phân tích ba khổ thơ cuối trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật Bài làm … Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua của kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Từ mái trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phạm Tiến Duật bước vào đời lính chiến đấu và hoạt động trên con đường chiến lược Trường Sơn những năm tháng đánh Mỹ ác liệt nhất. Lửa khói chiến trường, chủ nghĩa anh hùng Việt Nam, những cô gái thanh niên xung phong, những chiến sĩ lái xe dũng cảm… in dấu chói lọi, kỳ vĩ như những tượng đài trong thơ Phạm Tiến Duật. Bài thơ về tiểu đội xe không kính tiêu biểu cho hồn thơ Phạm Tiến Duật trong Vầng trăng – quầng lửa những bài ca chiến trận thấm đẫm màu sắc lãng mạn. Đây là đoạn cuối bài thơ ghi lại cảnh trú quân dã chiến của tiểu đội xe không kính, ca ngợi tình đồng đội và lý tưởng chiến đấu cao cả của những chiến sĩ lái xe trên con đường mòn Hồ Chí Minh: … Những chiếc xe từ trong bom rơi ……………………………….. Chỉ cần trong xe có một trái tim Sau những tháng ngày chiến dịch chở vũ khí lương thực… chi viện cho tiền phương, vượt qua hàng nghìn hàng vạn cây số trong mưa bom bão đạn, tiểu đội xe không kính “đã về đây… Một cái bắt tay thắm tình bè bạn, tình đồng chí: Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Cũng là cái nắm tay, cái bắt tay của người lính, nhưng mỗi thời một khác. Anh vệ quốc quân trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp: Miệng cười buốt giá Thương nhau tay nắm lấy bằn tay. (Đồng chí – Chính Hữu, 1948) Anh giải phóng quân trên đường chiến dịch, gặp bè bạn đồng đội "bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Tình thương yêu đồng chí đồng đội là bản chất, là sức mạnh của người lính không hề thay đổi. Từ cái “nắm lấy bàn tay” đến cái “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi" là một quá trình trưởng thành và hiện đại của quân đội ta trong chiến tranh giải phóng dân tộc và đất nước. Cuộc trú quân dã chiến của tiểu đội xe không kính ngắn ngủi mà thắm tình đồng chí, tình đồng đội. Chỉ bằng ba chi tiết nhưng rất điển hình: "bếp Hoàng Cầm”, “chung bát đũa", “ võng mắc chông chênh", đời lính vốn giản dị, bình dị mà lại rất sang trọng. Giữa chiến trường đầy bom đạn mà họ vẫn đàng hoàng: “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời". Giữa trời là giữa thanh thiên bạch nhật. Bữa cơm dã chiến chỉ có một bát canh rau rừng, có lương khô… thế mà rất đậm đà: “Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Một chữ “chung” rất hay gợi tả gia tài người lính, tấm lòng, tình cảm của người lính. Tiểu đội xe không kính đã trở thành một tiểu gia đình chan chứa tình thương. “ Thơ là nữ hoàng nghệ thuật”, có người đã nói như vậy. Nếu thế thì ngôn từ là chiếc áo của nữ hoàng. Hai chữ “nghĩa là” chỉ dùng để "đưa đẩy ”nhưng dưới ngòi bút của những tài thơ đích thực thì nó trở nên óng ánh, duyên dáng. Với Xuân Diệu, mùa xuân tuổi trẻ thật đẹp, thật đáng yêu, một đi không trở lại Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất… (Vội vàng – 1938) Với Tố Hữu, người thanh niên cộng sản quyết chiến đấu và hy sinh vì một lý tưởng cách mạng cao đẹp thì hận, nhục, tranh đấu là lẽ sống thiêng liêng: Tôi chưa chết nghĩa là chưa hết hận Nghĩa là chưa hết nhục của muôn đời Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi Còn trừ diệt cả một loài thú độc! (Tâm tư trong tù – 1939) Với Phạm Tiến Duật, tình đồng đội cũng là tình anh em ruột thịt, vô cùng thân thiết: Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy. Có yêu thơ mới tìm đến thơ. Tìm đến thơ, một phần là tìm đến ngôn từ chữ nghĩa. Thơ đâu là chuyện “nhai câu nhá chữ'”(chữ dùng của Cao Bá Quát). Thi sĩ có thực tài mới có thể thổi hồn vào ngôn từ. Chỉ qua hai chữ “nghĩa là", ta đã thấy nhà thơ trẻ rất xứng đáng với các thi sĩ đàn anh. Cảnh đoàn viên tri kỷ: “võng mắc chông chênh đường xe chạy". Sau một bữa cơm thân mật, một vài câu chuyện thân tình lúc nằm võng, những người lính trẻ lại lên đường. Tiền phương vẫy gọi: Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Điệp ngữ “lại đi" diễn tả nhịp bước hành quân, những cung đường, những chặng đường tiến quân lên phía trước của tiểu đội xe không kính. Hình ảnh "trời xanh thêm" là một nét vẽ rất tài hoa mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc: lạc quan, yêu đời, chứa chan hy vọng. Là hy vọng, là chiến công đang đón chờ. Đây là một đoạn thơ thể hiện sinh hoạt vật chất và tinh thần người lính thời đánh Mỹ, rất độc đáo mà ta ít gặp trong thơ thời ấy: Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Khổ cuối bài thơ nói lên suy nghĩ của tác giả về tiểu đội xe không kính. Chiếc xe đầy thương tích, chiến tích. Không kính, không đèn, không mui xe, thùng xe bị xước. Chiếc xe vận tải quân sự mang tầm vóc những anh hùng lẫm liệt vô danh. ''Không” mà lại “có", có “một trái tim" của người lính. Trái tim rực lửa, sẵn sàng hy sinh, chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc: Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước: Chi cần trong xe có một trái tim. Các điệp ngữ “không có", các từ ngữ tương ứng: “vẫn… chỉ cần có…” đã làm cho giọng thơ, ý thơ trở nên mạnh mẽ, hào hùng. Quyết tâm chiến đấu và chí khí anh hùng của người lính không có bom đạn nào của quân thù có thể làm lay chuyển được. “Trái tim” trong thơ Phạm Tiến Duật là một hình ảnh hoán dụ, tuy không mới mẻ nhưng đầy ý vị. Đoạn thơ trên đây thể hiện rất thực, rất hay cách sống, cách nghĩ, cách cảm của những người chiến sĩ lái xe trên con đường mòn Hồ Chí Minh thời đánh Mỹ. Tình đồng đội, tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường vì sự nghiệp giải phóng miền Nam của người lính tỏa sáng vần thơ. Ngôn từ, hình ảnh, vần thơ, giọng thơ… đều mang chất lính, thể hiện một hồn thơ trẻ trung phơi phới, tài hoa, anh hùng. Đoạn thơ trên đây là một tiếng ca của khúc tráng ca Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
Phân tích ba khổ thơ cuối trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
1,283
Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong Đời thừa- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong Đời thừa- Văn lớp 12 Bài làm Nhà văn Nam Cao là một nhà văn có nhiều tác phẩm để đời gây được tiếng vang lớn cho nền văn học nước ngoài. Những tác phẩm của ông đều gắn liền với số phận người nông dân lao động và những nhà trí thức tiểu tư sản. Tác phẩm “Đời thừa” kể về sự đấu tranh trong nội tâm gay gắt của nhà văn Hộ một người có tâm với nghề, nhưng lại phải sống một cuộc sống day dứt khi một bên là cuộc sống hiện thực cần cơm áo gạo tiền, cần tiền mua thuốc, mua sữa cho con. Với một bên là những giá trị nhân văn cao đẹp, hướng tới cuộc sống chân thiện mỹ cao cả. Nhân vật Hộ là một nhà văn có ý thức sâu sắc về cuộc sống. Anh luôn muốn cuộc sống của mình phải có ý nghĩa lớn lao, lý tưởng sống cao đẹp, tạo ra những tác phẩm để đời gây được tiếng vang lớn, tạo ra những tác phẩm được cả xã hội công nhận. Ngày còn độc thân Hộ viết rất thận trọng anh chỉ viết vừa đủ hoặc thậm chí là tằn tiện kiếm chút tiền mưu sinh qua ngày mà thôi, chứ không chạy theo đồng tiền. Không đặt mục đích kiếm tiền từ nghề viết lách. Anh không muốn sống một cuộc sống không có ý nghĩa, tạo ra những tác phẩm rẻ tiền mà người đọc chỉ đọc một lần là quên luôn. Những tác phẩm yêu đương ngôn tình xa rời thực tế, vẽ lên những ảo mộng cho con người. Trong khi cuộc sống thật ngoài đời vô cùng kham khổ, khó nhọc Hộ là người có tâm, và có tài, Hộ mê say văn chương tới mức coi văn chương chính là nguồn sống, là không khí cơm ăn nước uống của mình hàng ngày. Anh tự hào rằng mình là nhà văn có tâm hồn nhạy cảm, không có niềm vui nào bằng việc đọc một bài văn hay. Nó sướng lắm, sướng hơn cả việc chúng ta ăn một món ăn ngon hay mặc một bộ quần áo đẹp. Lý tưởng sống đó của Hộ cho người đọc biết về tính cách của anh. Hộ là người sống lương thiện tốt bụng, có những cái nhìn nhân văn khác với người phàm phu tục tử bình thường. Nhưng cuộc sống của Hộ lại rơi vào tình trạng bi kịch từ khi Hộ gặp Từ một cô gái đáng thương bị người yêu quất ngựa truy phong sau khi tặng cô một cái bào thai trong bụng. Thương cho hoàn cảnh của Từ nên Hộ đã cưới cô làm vợ, nhận con cô làm con mình. Nhưng từ khi trói đời mình vào cuộc hôn nhân này Hộ đã thay đổi rất nhiều. Đứa con ngày vừa kịp ra đời lại đến đứa con khác. Cuộc sống thì cái gì cũng cần đến tiến khiến cho ngòi bút của Hộ phải uốn cong mình đi để viết ra những câu văn sai sự thật. Những câu văn mà chính anh cảm thấy xấu hổ khi đọc lại bài viết của mình, anh chỉ muốn xé đi quăng nó vào sọt rác. Mỗi lần đọc thấy tên mình dưới bài viết bừa anh chỉ muốn độn thổ vì xấu hổ. Hộ tự chửi mình là đồ khốn nạn, vô lương tâm, là người đã hỏng sống đời thừa, vô dụng Bi kịch nội tâm của Hộ vô cùng đau đớn khi phải sống giữa cuộc sống đời thường cái gì cũng cần tiền với một bên là khát khao văn chương, lý tưởng sống cao đẹp. Nhiều lúc Hộ chỉ muốn biến mất muốn vứt bỏ hết tất cả để lại được như xưa khi chưa lập gia đình chưa khoác lên người những gánh nặng của việc làm chồng, làm cha. Nhưng rồi Hộ không làm được anh không nỡ bỏ người đàn bà khốn khổ kia và những đứa con thơ dại của mình. Trong cuộc sống đời thường Hộ cũng rơi vào bi kịch. Hộ là người ghét cảnh đàn ông vũ phu quát nạt vợ con, nhưng mỗi lúc chán đời uống rượu say anh thường nói nhảm anh mắng chửi vợ con, khiến cho những đứa trẻ lấm lét nhìn ba. Từ cũng sợ anh sợ những lúc anh say xỉn về quát nạt mình. Nhưng khi tình rượu Hộ lại cảm thấy hối hận vô cùng. Anh xin lỗi vợ, hôn hít các con… Nhưng rồi anh lại uống say lại như vậy, bi kịch của Hộ nối tiếp ngày này qua ngày khác không chấm dứt. Truyện ngắn Đời thừa có tính chất tự sự của Nam Cao, làm nổi bật lên tư tưởng sống cái nhìn nhân sinh quan của tác giả trước thời cuộc.
Phân tích bi kịch của nhân vật Hộ trong Đời thừa- Văn lớp 12
832
Phân tích bi kịch tinh thần của Hộ trong đời thừa qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo mới mẻ của tác giả. Hướng dẫn Phân tích bi kịch tinh thần của Hộ trong đời thừa qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo mới mẻ của tác giả. Nam cao là một nhà văn xuất sắc ở nền văn học nước ta. Ông không chỉ thành công khi viết về những cuộc đời lưu manh tha hóa, viết về người nông dân mà ông còn thành công trong việc viết về bi kịch của người trí thức. Tiêu biểu cho những bi kịch của những người trí thức thì chúng ta được biết đến với nhân vật Hộ trong tác phẩm nổi tiếng “đời thừa” của Nam Cao. Có thể nói rằng cuộc sống bi kịch này của anh chính là bi kịch của những người trong xã hội tri thức lúc bấy giờ. Qua bi kịch ấy nhà văn đã thể hiện được tư tưởng nhân đạo mới mẻ của mình. Hộ là một anh nhà văn,luôn coi trọng tình thương là trên hết. Cả cuộc đời của anh chỉ mong viết được một tác phẩm thôi nhưng tác phẩm ấy phải đạt được giải nô ben nhưng cuộc sống đâu được như anh muốn, chính bản thân anh đã phải phá vỡ quy tắc đó, đẩy anh vào bi kịch tinh thần. Trước hết là về bi kịch văn chương. Trước khi lấy Từ thì nhà văn coi cơm áo gạo tiền chỉ là một chuyện phụ, anh chỉ chú tâm vào nghề viết lách và hộ cũng quan niêm rằng một tác phẩm có gái tri thực sự là phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Thế nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng như mình mong muốn, bởi từ khi có người vợ đặt chân vào cuộc đời của anh thì không hề đơn giản như anh nghĩ, gánh nặng về cơm áo gạo tiền đã đè nặng lên đôi vai của anh. Anh không thể viết được một tác phẩm mà anh còn phải viết nhiều hơn thế để lấy tiền chữa bệnh cho con mình, rồi còn phải lo cho vợ và mẹ già. Từ đây bi kịch tinh thần đã giằng xé lấy anh. Trong anh giờ đây có hai con người, một là con người của văn chương và một là con người của tình thương. Vì cuộc sống mà anh đành viết những văn chương giống như hồ giấy lãng khiến cho người ta đọc rồi lại lãng quên nó. Nhiều lúc anh đọc bài văn của mình trên báo mà thấy xấu hổ, anh còn cho mình là kẻ khốn nạn. Với anh nghệ thuật là cái lẽ sống nhưng giờ đây anh lại phải chà đạp lên nó thì thật là đau xót biết bao nhiêu, đúng là bi kịch của cuộc đời anh. Trước khi đến với Từ thì Hộ là người luôn trọng tình thương, và cũng chính vì thế mà anh đã giang tay cứu vớt cuộc đời của cô. Cô là người con gái nhẹ lòng cho nên đã tin một người đàn ông,bị lừa cho có thai rồi nó bỏ chạy không chịu trách nhiệm. Từ một thân một mình với người mẹ già mù lòa. Anh nặng tình kia cho nên đã không ngần ngại cứu vớt cuộc đời Từ, quyết định che chở cho Từ và nhận con từ là con của mình. Điều thúc đẩy Hộ lao vào làm việc đó là tình thương nơi con người anh. Giờ đây anh không chỉ rơi vào bi kịch văn chương mà anh còn rơi vào cả bi kịch của tình thương. Nếu như trước kia quan điểm của anh tình thương là trên hết thì bây giờ anh lại quay sang chà đẹp lên chính những tình thương ấy. Bởi rơi vào bi kịch văn chương nghệ thuật cho nên anh đã lao vào uống rượu, mỗi lần uống rượu xong thì anh lại trở thành một kẻ vũ phu đánh đập vợ con của mình. Nỗi đau của anh không gì có thể trút giận và diễm nhiên anh đưa vợ mình ra để đánh. Người vợ tội nghiệp kia cũng chỉ biết cắn răng hứng chịu tất cả bởi cô biết chính anh là người cứu cô và cũng chính cô là nguyên nhân khiến cho anh trở nên như vậy. Ở đây chúng ta thấy Hộ là một người coi trọng văn chương, coi trọng tình thương nhưng anh lại đi ngược lại, lại chà đạp lên những gì mình đặt ra. Qua đó chúng ta có thể thấy được rằng nhà văn Nam Cao đã thể hiện được tư tưởng mới mẻ của mình. Ông có sự đồng cảm thương xót cho số phận cuộc đời của những người trí thức lúc bấy giờ.Không những vậy,qua tác phẩm này nhà văn còn thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn của những con người yêu văn chương nghệ thuật và có tình yêu thương con người. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bi kịch tinh thần của Hộ trong đời thừa qua đó làm rõ tư tưởng nhân đạo mới mẻ của tác giả.
849
Đề bài: Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong Đời thừa Bài làm Bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong Đời thừa là bi kịch của một nhà văn – một trí thức giữa “cơn dâu bể” của cuộc đời, giữa một xã hội “chó đểu” (Vũ Trọng Phụng) – Nhà văn ấy giữ được phẩm giá của mình, ý thức được “thiên chức” cao cả của mình vậy mà đành bó tay bất lực. Có thể nói, bi kịch đầu tiên trong tấn bi kịch tinh thần của cuộc đời Hộ là bi kịch về những giấc mộng văn chương. Hộ đã đặt văn chương lên trên hết: Văn chương dường như chính là khát vọng lớn nhất của đời anh. Anh muốn trở thành nhà văn chân chính – nhà văn viết “mở hồn đón lấy những vang vọng của đời”. Anh mơ ước đến một ngày anh sẽ viết được một tác phẩm lớn chung cho cả loài người. “Nó đề cập đến những vấn đề bức xúc của cả xã hội của cả nhân loại. Nó nói được những cái lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn vừa phấn khởi, nó ca tụng lòng thương tình bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn.” Và nhất định anh sẽ giật giải Nobel! Đó là cuốn tiểu thuyết vĩ đại trong đời viết văn của anh. Nó sẽ làm rạng danh cho anh, cho nền văn học nước nhà. Đó quả là ước mơ chính đáng! Không phải người nghệ sĩ nào cũng khao khát như vậy khi bước vào con đường văn chương đầy khổ ải. Nhà văn phải biết xây ước mơ đẹp, và khát vọng của Hộ là khát vọng mạnh mẽ nhất và đẹp nhất. Hộ xác định đúng con đường cho mình – xác định tư tưởng cho mình. Anh không sa vào những mơ mộng về nghệ thuật – nghệ thuật là “ánh trăng huyền ảo” (như Điền tron Trăng sáng). Anh thấy ánh trăng của nghệ thuật biết “làm đẹp cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa”. Quan điểm của anh đúng đắn lắm! Tư tưởng của anh tiến bộ lắm! Thế nhưng, trong sáng tác của mình anh đã viết những gì? Anh đã cho ra đời những sáng tác như thế nào? Anh không hướng nghệ thuật vào “thứ văn chương của bọn nhàn rỗi”; anh không biết để cho những cô gái áo xanh, áo đỏ tha thướt đọc, nhưng anh viết những gì từ khi anh bắt tay vào sáng tác? Chao ôi! Anh đã viết những bài mà thậm chí khi đọc thấy tên của mình dưới bài viết, anh phải “đỏ mặt” xấu hổ. Anh giận dữ với chính anh. Anh khinh ghét những tác phẩm chỉ biết “gợi những tình cảm rất nhẹ rất nông bằng một thứ văn quá ư bằng phẳng dễ dãi” của chính mình. Dường như anh hoảng hốt, anh ngạc nhiên trước những bài viết của mình mới ra đời. Anh dằn vặt ghê gớm. Anh muốn nhưng có phải bao giờ ý muốn cũng thành viện thực đâu! Và đó chính là cái bi kịch của anh – bi kịch của một đời viết văn – bi kịch của người hiểu mình biết mình phải làm gì và đành lựa bút theo những điều mình chẳng hề muốn. Tôi cảm thấy cái đau đớn khủng khiếp tự chốn sâu thẳm của tâm hồn anh. Một cái gì đó bỗng chốc sụp đổ trong anh. Đấy chính là sự sụp đổ của một khát vọng đẹp và chân chính. Anh phải ẩu như thế, bôi bác như thế cũng chính là vì những ràng buộc của “áo cơm”. Chao ôi! Giá như anh đựơc bay nhảy với những giấc mơ ấy! Nhưng “cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu). Anh còn vợ và một đàn con nhỏ. Kiếp người với bao toan tính bộn bè níu kéo anh, không cho anh bay lên cùng giấc mộng của đời trai trẻ. Chính nỗi lo về tiền bạc đã buộc anh phải viết những bài trái với lương tâm và trách nhiệm. Trong đầu anh luôn quay cuồng với những tính toán về giá cả sinh hoạt, về bữa ăn hằng hàng… thì đâu còn chỗ cho văn chương nữa. Anh phải viết thật nhanh, thật nhiều để người vợ, đàn con và chính anh khỏi chết đói. Giá như anh cứ bỏ dứt cái mộng văn chương thì chắc đời anh chẳng khốn đốn đến thế! Nhưng anh cần nghĩ tới tác phẩm của anh – các tác phẩm cho toàn nhân loại nên anh lại càng đau đớn! Nước mắt anh không chảy nhưng đớn đau thì chồng chất tập trung hơn. Chao ôi! “Đau đớn thay cho những kiếp sống muốn cất cánh bay cao nhưng lại bị áo cơm ghì sát đất” (Sống mòn). Đó chính là bi kịch của cuộc đời viết văn của anh – bi kịch của những giấc mộng văn chương chính là ở chỗ đó! Và tưởng như giấc mộng văn chương ấy chính là điều day dứt trong anh mãi không thôi. Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm con người thì Nam Cao mới viết được những dòng đầy cảm xúc như thế! Dường như những day dứt trong cuộc đời ông – cuộc đời văn sĩ khổ ải – đã nhập vào những suy tư của Hộ, đã nhập vào tấn bi kịch tinh thần của Hộ. Có người nói, Hộ chính là hình ảnh của nhà văn Nam Cao thời kì trước Cách mạng. Tôi không hoàn toàn nghĩ thế. Nam Cao đã có thể bị cơm áo ghì chặt nhưng Nam Cao hơn hẳn Hộ; ông đã biết vượt lên trên những lo toan ấy để biến giấc mơ thành hiện thực. Ông đã viết những lời văn hay nhất, đẹp nhất về cuộc đời những kiếp lầm than và chắc chắn Nam Cao không phải đỏ mặt khi thấy tên mình sau những tác phẩm như Chí Phèo, Đời thừa… Bởi chính đó là giấc mơ văn chương nẩy nở. Có thể tự tin mà nói rằng với Đời thừa, Nam Cao đã bộc lộ được tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của mình khi viết những dòng bi kịch về Hộ. Kinh nghiệm và vốn sống đã cho ông viết những điều có sức rung động, lay chuyển lòng người đến thế! Đó chính là nhờ tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của nhà văn Nam Cao. Nhân đạo ở sự ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ, nhân đạo ở sự cảm thông sâu sắc với ngừoi tri thức… Và viết lên được những dòng như thé cũng là nhờ cái nhân đạo “mới mẻ” độc đáo của Nam Cao. Qua bi kịch tinh thần đầu tiên này của Hộ, Nam Cao đã bộc lộ được sự cảm thông, trân trọng bao kiếp người lao khổ trong cuộc đời này. Và phải chăng tư tưởng ấy đã kế thừa được của cha ông lòng nhân đạo truyền thống. Nhà văn không “phản ánh để phản ánh” mà sau những câu chữ tưởng như lãnh đạm, thờ ơ chính là một trái tim nhiệt thành, sôi nổi – một trái tim của tình nghĩa. Bi kịch đầu tiên của cuộc đời nhà văn Hộ và đó cũng là nguyên nhân cho bi kịch thứ hai – bi kịch của một con người. Giấc mộng văn chương sụp đổ qua những bài viết ẩu. Thế nhưng Hộ vẫn còn chút an ủi. Đó chính là cuộc sống, sự tồn tại của vợ con anh. Anh chưa thực hiện đuợc khát vọng của mình – anh chưa viết được cuốn tiểu thuyết của đời anh, nhưng anh nuôi đủ vợ con. Anh đã kéo dài đươc sự tồn tại của gia đình mình. Và đó có thể goi là việc làm hữu ích. Đó cũng là cái an ủi cho cái “đời thừa” của một nhà văn. Thế cũng đáng an ủi lắm chứ! Vì anh là người đặt “tình thương” lên hàng đầu, lẽ sống của anh là tình thương. Tình thương là trên hết. Chính trong lời khẳng định về tác phẩm trong tương lai của mình, anh đã nói: tác phẩm có giá trị là tác phẩm “ca tụng lòng tương, tình bác ái, sự công bình”. Trong văn chương, anh muốn ca ngợi tình thương và trong cuộc đời thực, tình thương là tất cả. Chính vì lẽ sống tình thương của mình, anh đã đón Từ, giúp Từ thoát khỏi những tủi nhục khi một mình trơ trọi với đứa con không cha. Những giọt nước mắt của Từ và của bà mẹ già của Từ đã khiến anh xúc động. Họ muốn khóc cho đến khi “bao nhiêu xương thịt cứ tan ra thành nước mắt” nhưng gặp anh, tình thương của anh đã toả rạng đến giúp họ thoát khỏi những đớn đau. Một người dám bỏ cái đời bay nhảy của tuổi xanh để nuôi nấng vợ con chẳng là người dũng cảm lắm sao! Chính tình thương – lẽ sống tình thương đã khiến anh làm việc ấy. Anh cao đẹp quá! Đời anh không phải là “đời thừa” với gia đình nho nhỏ của anh. Anh đau khổ vì tên anh cứ “lu mờ dần sau những tên khác mới xuất hiện rực rỡ” nhưng với Từ và đàn con – anh là biểu tượng sáng chói của tình thương. Tình thương ấy là rất đáng trân trọng. Trong một xã hội rác rưởi “chó đểu” như thế, thành động của anh chẳng là một hành động tốt đẹp hiếm hoi hay sao? Thế nhưng, anh cũng chẳng giữ đựơc trọn vẹn cái lẽ sống cao quý ấy của mình nữa. Quả là một sai lầm khi anh kết luận: nguyên nhân trực tiếp cho sự sụp đổ các giấc mộng văn chương chính là vợ anh và đàn con nheo nhóc kia. Anh cạn nghĩ quá! Đó không phải hoàn toàn là lỗi của vợ con anh. Thất vọng trong văn chương, buồn chán trong không khí gia đình đã khiến nah tìm niềm vui trong men rượu. Anh muốn quên, quên đi tất cả. Anh không say trong men tình ái, trong khúc nhạc đong đưa… mà sau khủng khiếp trong men rượu. Chính anh cũng không hiểu tại sao anh về được đến nhà. Anh chỉ biết anh đã tỉnh dậy trên giường nhà mình khi tay chân rã rời. Men rượu “chết tiệt” ấy chính là cái trực tiếp làm cho bi kịch trong anh xuất hiện. Rượt đã khiến anh trở thành kẻ vô học, rượu đánh đồng loạt những người xấu, người tốt, kẻ giàu, người nghèo trong những cơn say. Khi say, ai cũng như ai hết! Men rượu của anh không giúp anh có được cái tình của Chí Phèo giúp hắn hướng về cái “thiên lương”. Men rượu đã khiến anh trở thành một kẻ tiểu nhân vô học. Anh đã vi phạm lẽ sống tình thương của mình. Anh đã đánh vợ chon anh như một kẻ vũ phu. Vâng, chính lúc đó anh là kẻ vũ phu. Anh đã đánh đập vợ, người vợ hiền lành tận tuỵ của mình không biết bao nhiêu lần nữa mà kể. Anh chỉ mặt Từ mà quát mắng: – “Cả con mẹ mày nữa cũng đáng vật chết”. Anh đã làm tất cả, tất cả trong say. Sao mà tai hại quá! Anh đã vi phạm lẽ sống của mình, vi phạm cái tốt đẹp – cái phần “người” vô cùng cao đẹp tưởng còn được an ủi bởi anh đã giữ trong lẽ sống tình thương của mình. Ai ngờ, cuộc sống vẫn không cho phép anh thực hiện điều đó. Thế mà nay, chính cái lẽ sống ấy anh cũng chà đạp nốt. Anh – cuộc sống đời anh quả là “đời thừa”. Bi kịch đầu tiên là bi kịch của những giấc mộng văn chương nên cái “thừa” còn không quá nhiều đau đớn như bi kịch này, bi kịch mà kết cục là cái “thừa” ấy của anh đã được được thể hiện đầy đủ. Anh đã động đến phần cao quý nhất. Đó là bi kịch tinh thần của một con người mà đau đớn hơn, đó lại là con người ý thức được phẩm giá nhân cách của mình nhiều nhất. Ở bi kịch trước, cái mặc cảm tội lỗi trong anh rất lớn vì anh là một nhà văn. Nếu Chí Phèo chỉ gieo rắc tội lỗi của hắn cho dân làng Vũ Đại, anh giáo Thứ chỉ truyền thụ sự chán nản lên đầu học sinh thì anh – anh gieo những “tình cảm rất nhẹ, rất nông” những tình cảm qua ư tầm thường ấy vào bao nhiêu độc giả. Sự nhiễm hại ấy lớn hơn. Dù thế bi kịch thứ hai này – bi kịch của một người mặc cảm tội lỗi còn lớn hơn nhiều.Với tư cách của một nhà văn anh đã gây ảnh hưởng đến người đọc từ những bài văn viết lấy lợi nhuận. Với tư cách của một con người, anh đã gây ra những điều ghê gớm hơn. Xã hội này đã quá nhiều, quá thừa những cái xấu. Anh cố giữ tốt đẹp trong mình thế mà anh cũng phá hỏng nốt. Mặc cảm này quá lớn và không hề có gì để an ủi được. Lẽ sống tình thương là cái được anh đề cao nhất mà anh còn vi phạm thì chẳng còn gì nữa cả. Bi kịch này của anh, lớn hơn gấp bội bi kịch kia bởi lẽ sống tình thương, chỗ dựa của bao giá trị nhân phẩm khác sụp đổ. Bi kịch này khủng khiếp và hoàn toàn không có lối thoát và dường như nó bao trùm thành bi kịch của cả đời anh – một “đời thừa”. Anh đổ lỗi tất cả cho gia đình, nhưng tất cả là tại anh. Tuy vậy cũng cần nói thêm rằng, bi kịch ấy có nguyên nhân sâu xa chính từ xã hội đương thời. Chính xã hội ấy đã đẩy anh phải lo “cơm áo gạo tiền”. Nỗi lo sinh kế đã khiến anh phải từ bỏ giấc mộng văn chương. Và chính những thất vọng ấy đã khiến anh chà đạp lên lẽ sống tình thương của mình. Nguyên nhân ấy có lẽ anh không hiểu được – nguyên nhân của xã hội thực dân nửa phong kiến – nguyên nhân mà ngày ấy người ta đã nhận ra. Anh chưa tìm được lối thoát cho sự bế tắc. Đó là cái bế tắc của thời đại mà anh đang sống. Nhưng đó phải chăng là nét hạn chế trong tư tưởng nhân đạo của Nam Cao? Ông đã biết đề cao những khát vọng đẹp của người trí thức, đã biết thông cảm với những nổi khổ của họ nhưng chưa đề ra được lối thoát cho họ. Nhưng những “tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo” ấy đã là đáng quý, đáng trân trọng biết bao! Độc đáo, mới mẻ chính là ở lòng thương người – tình người nồng đượm bao la đằng sau lối viết văn tưởng như dửng dưng lãnh đạm. Ngày nay cuộc đời đã được đổi thay. Lớp văn sĩ đã thoát khỏi dù là một phần những nỗi lo “cơm áo” không còn những bi kịch tinh thần như Hộ nữa. Nhà văn ngày nay được ưu đãi hơn. Chúng ta không thể quên thời kỳ mà người trí thức văn nghệ sĩ mang những bi kịch tinh thần.Tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo của Nam Cao đã khiến cho nhân vật dù qua bao thăng trầm vẫn đứng vững với tư cách một con người chân chính.
Phân tích bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong Đời thừa
2,671
Phân tích bi kịch tinh thần trong tác phẩm Đời Thừa của Nam Cao Hướng dẫn Nam Cao đã phải quay quắt trong những đói nghèo cơ cực, Nam Cao đã phải day dứt trong những nỗi trở trăn vì cuộc đời quá lạnh lùng bạc ác, Nam Cao đã phải chua xót đắng cay vì những kiếp người bất hạnh bị bóc lột chèn ép, bị dần đẩy đến cùng đường tuyệt vọng. Nam Cao hiểu hơn ai hết tất cả những nỗi bi kịch tinh thần giằng xé của một người nghệ sỹ chân chính trước hiện thực tàn nhẫn đến xót xa đau đem, để rồi tạo nên những tác phẩm ý nghĩa thấm đậm đầy tư duy sâu sắc như Đời thừa. Đời thừachính là bức chân dung tâm trạng đầy dằn vặt khắc khoải, bức chân dung chân thực nhất về trí thức tiểu tư sản trong những tháng ngày xã hội đảo điên tăm tối. Đời thừalà một cuộc sống thừa, sống mà không sống, sống chỉ là một sự tồn tại vô nghĩa, sống không lý tưởng, không hoài bão cũng chẳng khao khát ước mơ. Đời thừađã dựng lên được cả tấm bi kịch tinh thần của người trí thức. Bi kịch đau đớn của một nhà văn và bi kịch xót xa của một con người chân chính. Qua nhân vật Hộ, nhà văn đã bộc lộ được sự đối lập nghiệt ngã giữa ước mơ, khát vọng tình thương với hiện thực xấu xa và tù túng, đã bộc lộ được sự bế tắc bất lực của những người trí thức ý thức sâu sắc nỗi đau của mình mà không thể nào thoát ra được, buộc phải chấp nhận cuộc sống của một đời thừa. Hộ – linh hồn của tácphẩm được mô tả từ những dòng đầu tiên là một kẻ mê văn đến lạ kỳ, là một nhà văn có tài, đầy lý tưởng và hoài bão. “Đầu hắn mang hoài bão lớn, hắn khinh những sự tủn mùn về vật chất, hắn say mê lý tưởng, coi nghệ thuật là tất cả”, dường như đối với Hộ, văn chương không chỉ là sở thích, không chỉ là nghề nghiệp mà còn là lý tưởng, là niềm đammê, là khát vọng sống, là tất cảcuộc đời. Hộ ý thức được rất rõ trách nhiệm của mình đối với văn chương, Hộ mơ ước về một tác phẩm lớn đoạt giải Nôben. Hộ đặt ra yêu cầu cho nghệ thuật chân chính. Một tác phẩm có giá trị phải làm được một điều gì đó lớn lao, vừa đau đớn vừa phấn khởi, nó ca tụng tình yêu thương, sự công bằng, nó làm cho người gần người hon. Hộ viết văn, Hộ hoà vào văn chương bằng tất cả trái tim, bằng tất cả tâm hồn, tất cả bầu nhiệt huyết nóng bỏng hăng say và tất cả con người ngập tràn khát khao, hoài bão. Nhưng khi bước ra cuộc đời, khi đã có gia đình, có vợ con, khi phải đối chọi lại những cơ cực đói nghèo của cuộc sống tù túng “cơm áo ghì sát đất”, những lý tưởng khát vọng cao cả đẹp đẽ của Hộ bỗng sụp đổ, bỗng dưng vỡ vụn ra thành trăn ngàn mối lo toan xót xa đau đớn và nghiệt ngã. Hộ buộc phải ép mình viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau khi đọc, “hắn phải cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng, để rồi mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn lấy tên mình hắn lại đỏ mặt lên, cau mày, nghiến răng vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn”. Hộ đã phải dằn vặt giằng xé trong những nỗi đắng cay vì lẽsống tê hệt và ước mơ tan vỡ. Cuộc đời Hộ bỗng trở lên tù túng, ngột ngạt, không lối thoát, thứ văn chương cao quý Hộ khát khao giờ bỗng trở lên thấp hèn vô giá trị. Điều đau đớn nhất chính là Hộ đã ý thức rất sâu sắc về nỗi đau xót bất lực của mình, Hộ tự rủa mình là đê tiện nhưng không thể nào tìm ra lối thoát, không thể nào tìm ra một tia sáng giữa cuộc sống tăm tối quay cuồng những lo toan, để rồi chỉ biết chấp nhận, để rồi chỉ biết ngậm ngùi khắc khoải trong bế tắc và tuyệt vọng khôn nguôi. Nguyên nhân của những bế tắc, bất lực và đau xót trong Hộ, kẻ gây ra những bi kịch triền miên cho cuộc đời Hộ phải chăng chính là xã hội ngột ngạt tù túng xấu xa, xã hội đã bóp nghẹt những mơ ước và khát vọng của con người, xã hội đã buộc con ngườij}hải chấp nhận một cuộc đời thừa, chấp nhận một cuộc sống mòn mỏi không còn tia hy vọng. Mỗi lời mỗi chữ đều thấm đẫm một nỗi đau thương cảm xót xa cho số phận con người, mỗi câu mỗi dòng đều ẩn chứa những lời tố cáo lên án gay gắt xã hội đảo điên tăm tối tước đoạt của con người những khát vọng mơ ước và yêu thương. Lý tưởng hoài bão vềvăn chương sụp đổ, khát vọng cao cả đẹp đẽ lớn lao bỗng nhiên tan vỡ, Hộ chỉ còn lại một gia đình. Hộ chỉ còn người vợ liền và những đứa con thơ để tin tưởng, yêu thương và chia sẻ. Hộ tự nguyện làm tất cảvì cái gia đình nhỏ nhoi ấy, Hộ từ bỏ, hy sinh cả giấc mơ thiêng liêng của mình vì cái gia đình thân yêu ấy. Hộ chỉ còn biết lấy tất cả tình thương của mình để bao bọc và che chở cho các con dù đói nghèo cơ cực. Nhưng rồi chính Hộ lại là người giẫm đạp lên cái gia đình ấy, lên cái lẽsống tình thương suốt cảcuộc đời ấy, Hộ lại day dứt triền miên trong bi kịch. Với Hộ, tình thương là lẽsống, Hộ là con người của tình thương, lấy tình thương mà Hộ đối xử vói tất cả mọi người. Giữa lúc Từ đang bơ vơ đau đớn vì bị lừa gạt, đang muốn chết vì nhục nhã tủi hờn, Hộ đã đưa vòng tay ra che chở cho Từ. Hộ nhận Từ làm vợ, nhận nuôi mẹ già con dại cho Từ. Đối vói Từ, Hộ chính là người yêu thương nhất, là nơi nương tựa vững chắc cho cảcuộc đời. Gặp Từ, Hộ đã tìm được một gia đình nhỏ bé nhưng hạnh phúc, tràn ngập yêu thương. Hộluôn đề cao triết lý tình thương của mình “kẻ mạnh phải là kẻ giúp đỡ người khác trên nỗi đau của mình”. Trong văn chương, Hộ cũng quan niệm văn chương chân chính thì phải ca tụng tình yêu thương, giữ được tình yêu thương cho đời mình cũng chính là giữ được lẽsống tình thương cho văn mình vậy. Nhưng rồi, những lo toan bực dọc của cuộc sống đời thường, những sự sụp đổ đau xót khi đối diện với hiện thực cuộc sống đã dồn đẩy Hộ, đã buộc Hộ phải vi phạm lẽsống tình thương, buộc Hộ trở thành con người tàn nhẫn ích kỷ. Quan niệm sống của Hộ đã thay đổi “phải biết ác, phải biết tàn nhẫn cho đểsống cho mạnh mẽ”. Hộ đã tìm lại “khí phách” của mình bằng cách giẫm đạp lên người khác. Hộ đánh chửi xua đuổi vợ con trong những cơn say sầu não: “Ngày mai… mình có biết không?… Chỉ ngày mai thôi! Là tôi đuổi tất cả mẹ con mình ra khỏi cái nhà này, chúng nó chỉ biết ăn với hét, cả con mẹ nữa, con mẹ là mình ấy… cũng đáng vật một nhát cho chết cả! Chúng nó chỉ biết ăn rồi ngồi ôm con như nhện ôm khư khư bọc trứng, không chịu làm thêm việc gì cho có tiền. Chỉ khổ thằng này thôi… chỉ khổ thằng này thôi! ” Bằng những lời lẽ cay nghiệt, đay nghiến, Hộ đã trở thành một kẻ bủn xỉn, tẹp nhẹp và đê tiện, Hộ đã bị tha hoá trong chính lý tưởng và nhân cách của mình. Sự vi phạm lẽsống tình thương đã biến Hộ trở thành một kẻvô đạo đức, mất nhân cách. Hộ cũng ý thức được điều ấy. Hộ cũng ý thức được sự tha hoá đê tiện thấp hèn ấy, nhưng Hộ không sao thoát ra nổi, Hộ chỉ còn biết đau đớn thốt lên: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã hổng đút rồi”. Hộ chỉ còn biết luẩn quẩn trong cái vòng tròn tỉnh, say, say, tỉnh. Hộuống say để quên, để tránh khổ đau thựctại, nhưng rồi say lại phải tỉnh, càng tỉnh thì rồi đau càng lớn hơn. Vòng tròn tỉnh, say, say, tỉnh càng lặp đi lặp lại nhiều lần thì nỗi đau trong tâm hồn Hộ càng trở nên sâu thẳm đến xót xa khôn cùng. Bi kịch tình thương của Hộ biểu hiện cao nhất chính ở những giọt nước mắt kết chuyện. Hộ đã gục lên ngực Từ mà khóc nức nở sau cơn say. Tiếng khóc ấy chính là sự thức tỉnh, tiếng khóc ấy chính là sự ân hận hối lỗi đến tận cùng. Những giọt nước mắt như giúp Hộ trút bớt đi những gánh nặng, những giằng xé, những đau đớn, như giúp nâng đỡ tâm hồn Hộ trong đấy cùng sâu thẳm của bi kịch và tuyệt vọng. Những tiếng văn chính là những lời tố cáo gay gắt nhất xã hội xấu xa làm tha hoá con người, làm cho con người lương thiện trở thành bất lương, từ tốt đẹp, cao cả trở lên đê tiện, thấp hèn. Hộ muốn nâng cao giá trịcuộc sống của mình nhưng cứ phải sống trong khó nghèo khổsở, Hộ muốn sống đẹp, sống để yêu thương thì cứ phải sống trong sự dằn vặt và chà đạp lên chính nơi yêu thương nhất cuộc đời mình. Xã hội đã chà đạp lèn số phận con người nghệ sỹ, dồn đẩy họ vào bước đường cùng. Đời thừathực sự là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nam Cao về người trí thức tiểu tư sản. Bằng ngòi bút phân tích tâm lý tinh tế, điêu luyện và sắc sảo, Nam Cao đã nhập thân vào nhân vật, đã đi đến tận cùng tâm hổn nhân vật để nói lên những suy tư, những trăn trở, những giằng xé khắc khoải nội tâm sâu thẳm nhất. Đời thừavới những nỗi bi kịch dằn vặt của con người trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ sẽ còn mãi mãi làm cho người đọc phải nhức nhối, phải căm uất cái xã hội lạnh lùng tàn nhẫn, phải khóc thương cho những cảnh đời bất hạnh, những kiếp người mòn mỏi khổ đau. Nguồn:
Phân tích bi kịch tinh thần trong tác phẩm Đời Thừa của Nam Cao
1,842
Phân tích biểu tượng đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Hướng dẫn Phân tích biểu tượng đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu Sau tác phẩm Ngày về, Chính Hữu tiếp tục sở trường viết về người lính trong kháng chiến, đó cũng là đề tài rất mới mẻ của văn học Cách mạng. Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu đánh dấu sự thành công của ông khi viết về đề tài này. Bài thơ, tác giả không dùng nhiều nghệ thuật, ngôn ngữ giản dị như những người dân mặc áo lính nhưng những hình ảnh thơ đẹp là điều bất cứ một người đọc nào cũng nhận thấy trong bài thơ của ông. Đặc biệt là hình ảnh cuối bài thơ “Đầu súng trăng treo”. Cả bài thơ được sáng tác với bút pháp hiện thực, hình ảnh những anh lính cụ Hồ thực, những gian khổ trong chiến tranh thực, tình cảm đồng chí đồng đội thực và những đêm phục kích chờ giặc tới cũng là thực: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Những người lính được giới thiệu trong bài thơ là những người gắn bó với ruộng nương, với “ gian nhà không”, nhưng họ “mặc kệ” như một lẽ quyết tâm sẵn sang rời bỏ tất cả để đi dẹp giặc. Người lính khi ra trận, họ hiểu nhau đến từng khúc ruột, họ chia sẻ tất cả những khó khăn “ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Họ chiến đấu bên cạnh nhau với tình cảm thiết tha mặn nồng nhất, cái “nắm tay” đến đúng lúc đủ để họ xóa đi hết những gian khổ: Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá chân không giày. Tất cả những lý do đó đủ để Chính Hữu kết thúc bài thơ với ba câu thơ ngắn gọn nhưng chất chứa biểu tượng của người lính. Họ phục kích trong những đêm “sương muối” độc và lạnh, nó độc và lạnh hơn khi “áo rách”, “chân không giày”, nhưng hơi ấm từ tình đồng đội đã sưởi ấm chính bản thân người lính. Tâm thế sẵn sang “chờ giặc tới” là do “đứng cạnh bên nhau”, gắn bó khăng khít, chia sẻ những cực nhọc trong chiến trường. Những câu thơ không cho thấy khói bụi chiến tranh nhưng lại cho ta thấy sự khốc liệt do cảnh khắc nghiệt mà hoàn cảnh đem lại. Sau những câu thơ dài như tự sự ấy, câu kết bài thơ “Đầu súng trăng treo” chỉ có bốn tiếng làm cho nhịp thơ đang dàn trải bỗng thay đổi đột ngột, dồn nén, chắc gọn, gây được sự chú ý cao nơi người đọc. Từ “ treo” tạo nên quan hệ bất ngờ nối liền mặt đất với không gian bát ngát. Đó có lẽ là chất thơ bay bổng nhất trong bài thơ. Có người đã liên tưởng “trăng” tượng trưng cho sự yên bình, chất nghệ sĩ, thi sĩ. “súng” tượng trung cho sự chiến đấu, khốc liệt và hiện thực chiến tranh, bởi vậy biểu tượng của người lính là chiến đấu cho cuộc sống hòa bình. Nhưng Chính Hữu có lần tâm sự: “Trong chiến dịch nhiều đêm có trăng. Đi phục kích trong đêm, trước mắt tôi có ba nhận vật: khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật ấy hòa quyện với nhau tạo ra hình ảnh “Đầu súng trăng treo””. “ Đầu súng trăng treo” là một hình ảnh thơ đẹp và độc đáo, xứng đáng để khép lại một tác phẩm thơ thành công của Chính Hữu.
Phân tích biểu tượng đầu súng trăng treo trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
617
Phân tích bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân Hướng dẫn Phân tích bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân Khi viết về bà cụ Tứ, nhà văn Kim Lân không có những nét hài hước như vợ chồng Tràng, mà ngòi bút thể hiện sự kính trọng tuổi già, thương cảm với nỗi đau đè nặng suốt cuộc đời dằng dặc của bà cụ. Đặc biệt nhà văn đi sâu phân tích tâm lý, tâm trạng và tấm lòng vô cùng đáng quý, đáng trọng của bà mẹ đối với những đứa con. Nhà văn Kim Lân rất tinh tế trong việc quan sát và miêu tả tâm lý nhân vật. Bà cụ Tứ khi đã thấu hiểu cơ sự của con, bà không sao giấu nổi nỗi buồn lo cho con và xót xa, ai oán cho số kiếp của mình bởi tại cuộc đời quá nghèo khổ. Cơ sự xảy ra thế này làm sao có thể oán trách con, bà khẽ thở dài. Từ chỗ xót thương con trai, chuyển sang thương xót người đàn bà. Lòng người mẹ nghèo nhân hậu, giàu lòng vị tha ấy thấu hiểu ngay cảnh ngộ của người con gái xa lạ bỗng trở thành con dâu của mình, bà nghĩ: “Người ta gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình”, “Mà con mình mới lấy được vợ..Thôi thì bổn phận làm mẹ, bà đã chẳng lo được cho con..May ra mà qua khỏi cái giai đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó”. Bà nhìn nàng dâu mới nhẹ nhàng nói: “Ừ! Thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, nghe sao mà mộc mạc, ấm lòng đến thế. Tràng thở phào nhẹ nhõm. Kim Lân đã thể hiện cái thần thái của một tấm lòng vị tha, cao quý mà rất đỗi giản dị của người mẹ. Bà đã đem lại danh dự cho nàng dâu, công nhận chức phận dâu con trong nhà. Bà dặn dò nàng dâu “Nhà ta nghèo con ạ! Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn”. Đón dâu về trong bữa ăn ngày đói thật thảm hại, chỉ có bát cháo loãng, cháo cám, ít rau chuối thái rối và đĩa muối nhưng bà toàn nói những chuyện vui, đầy đủ, sung sướng sau này, đem lại cho các con niềm tin vào cuộc sống ngày mai, mặc dù tiếng trống thúc thuế vẫn thôi thúc ngoài đình; không khí ảm đạm, chết chóc vẫn bao trùm không gian cuộc sống. Người mẹ không ao ước cho mình mà luôn sống vì con, cho con, hy vọng cho lớp con cháu mai sau. Vì thế niềm tin hy vọng không bị tàn héo theo sự nghèo đói, theo tuổi tác. Con dâu về nhà thêm người, thêm của, bà thấy trong lòng đổi thay. Trong bức tranh xã hội xám ngắt ấy, bà cụ và người con trai của bà là điểm sáng tươi đẹp nhất của đạo lí làm người.
Phân tích bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân
519
Phân tích bà cụ Tứ trong Vợ Nhặt Hướng dẫn Phân tích bà cụ Tứ trong Vợ Nhặt Đoạn trích vợ nhặt của Kim Lân đã thành đề tài bàn luận không chỉ của tác giả mà còn của nhiều độc giả đón đọc. Thành công của tác phẩm không dừng lại ở việc khắc họa hiện thực xã hội đói nghèo và thiếu thốn, người chết như ngả rạ, khắp nơi bao trùm bởi không khí tang thương mà còn là vẽ ra những mảnh đời, những câu chuyện bình dị nhưng vô cùng ý nghĩa. Bên cạnh Tràng- nhân vật chính của câu chuyện, còn có chị vợ và bà cụ Tứ, mẹ của Tràng. Tuy xuất hiện ít hơn nhưng nhân vật bà cụ Tứ để lại nhiều ấn tượng và sự thương cảm trong lòng người đọc. Qua miêu tả của Kim Lân, bà cụ Tứ là một bà cụ tuổi đã già, những cử chỉ của bà chứng tỏ bà là người bắt đầu bước sang tuổi già yếu, mắt kèm nhèm, vì hoàn cảnh đói nghèo thiếu thốn cho nên bà có khuôn mặt bủng beo, u ám, bước đi chậm rãi. Những hành động của bà không còn nhanh nhẹn mà chậm rãi và từ từ, như sợ mình không thể làm được mọi thứ một cách nhanh gọn như thời còn trẻ. Nhưng dáng vẻ đó của bà cụ Tứ thay đổi khi bà lần đầu nhìn thấy Tràng- đứa con trai tội nghiệp, vì đói nghèo, khổ ải mà không lấy được vợ, không gây dựng được hanh phúc gia đình. Như lời bà nói thì đến cái thân mình còn lo chưa nổi nữa là lo đèo bòng. Nhưng số kiếp, duyên số đã vồ lấy nhau thì có muốn tránh cũng không được, mắt bà cụ hấp háy như thể xác minh lại điều mình thấy đã đúng chưa hay chỉ là do tuổi già. Người phụ nữ ngồi trên giường, tay vin vào áo, vừa e thẹn rồi lại cất tiếng chào u. Bà cụ Tứ dù sống trong kiếp sống nghèo khổ nhưng không thể phủ nhận rằng, ở bà vẫn tồn tại một nỗi niềm và tình yêu thương vô bờ bến mà bà đã dành cho con của mình. Từ bây giờ đứa con dâu kia cũng trở thành con một nhà. Hoàn cảnh thiếu thốn nhưng không có gì là không làm được. Từ hai bàn tay có thể làm được nhiều điều hơn nữa, không chỉ dừng lại ở việc, lôi nhau về, rồi cuối cùng chịu số phận kiếp nạn đói nghèo mãi được. Bà rơi nước mắt vừa mừng vừa tủi cho bọn chúng- đứa con trai và con dâu tội nghiệp của bà. Khóc vì cuối cùng con traii bà cũng lấy được vợ, nhưng khóc vì tương lai đói nghèo, cái đói còn đeo đuổi những con người này tới bao giờ. Bà rồi mai này già yếu bà không lo,nhưng còn những đứa con, không biết cái đói sẽ khiến bà đi tới đâu về đâu. Dù sống trong hoàn cảnh nào nhưng bà cụ Tứ vẫn lạc quan niềm tin yêu vào cuộc đời, và tương lai của hai đứa con của bà. Niềm vui nho nhỏ của một người mẹ già yếu chính là thấy những đứa con của mình no ấm hạnh phúc. Bạn muốn thay đổi diện mạo cuộc sống, muốn mọi thứ trở nên sạch sẽ và tinh tươm, không còn tù mù như trước nữa. Dặn dò những đứa con của mình, bà cũng mong muốn chúng bắt đầu cuộc sống và bước sang một trang mới. cuộc sống của dâu mới không được danh chính ngôn thuận cưới về, không có mâm bàn mời bà con lối xóm, nhưng chắc chắn một điều rằng, từ nay trở đi bạn có thêm một đứa con. Sáng sớm tinh mơ mọi thứ được dọn dẹp sạch sẽ, bụi quang rậm cũng được phát bỏ. Một chi tiết được tác giả gây dựng khiến độc giả vừa ngậm ngùi thương xót chính là hình ảnh mà bà cụ Tứ lễ mễ bưng một nồi nghi ngút. Bữa cơm đón dâu mới theo lời bà cụ nói là “ chè “ nhưng thực chất chỉ là cám. Miếng cám đến mặn chát và đắng ngắt khiến cho cô con dâu nghẹn ứ, mặt xám lại, không ai nói với ai một lời. Nhưng thông qua lời nói của bà, cách bà gọi đây là chè khiến cho cuộc sống nghèo khổ bớt nhạt nhẽo. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích bà cụ Tứ trong Vợ Nhặt
767
Đề bài: Phân tích bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Bài làm Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếu Hoàng Cầm là nỗi nhớ của ta khi ngang qua “Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh”; nếu Hoài Vũ mãi là nhà thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chở phù sa, thì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã song hành cùng sông Hương đi vào trái tim người đọc với “Ai đã đặt tên cho dòng sông?.”…Có một huyền thoại vọng về từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: Vì yêu quý con sông xinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước xanh thắm ấy mãi mãi thơm tho. Phân tích bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường Phải chăng đó là cách lý giải tên của Hương Giang – con sông gắn liền với Huế, gắn liền với tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được viết năm 1981, khi tác giả đã sống bên bờ sông Hương, sống trong lòng Huế hơn 40 năm trời, tình yêu máu thịt đối với quê hương cứ lớn lên từng ngày và nó hiện hữu ở mọi thời gian, mọi không gian. Khi tác giả ngồi đọc truyện Kiều giữa mùa thu, trong một khu vườn xưa cổ, nơi có những loài hoa đang nở, trái cây đang chín, yên tĩnh và khoáng đạt – khu vườn tọa lạc trên vùng đất mà Nguyễn Du từng sống nên thiên nhiên của “mảnh đất Kinh- xưa” đã in bóng trong thơ Nguyễn, ngược lại sông Hương và Huế đã gợi cho tác giả hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng: Kim- Kiều. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một dòng chảy nào đáng yêu đến thế, sông Hương đến với Huế qua cái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mang hình ảnh một cô gái mỹ miều đến với tình yêu. Hãy ngắm nhìn nàng trước khi gặp Huế, đó là “một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại” “bản lĩnh và gan dạ” có một tâm hồn “ tự do và trong sáng”, đó là hình ảnh “ bản trường ca của rừng già” rầm rộ và mãnh liệt nhưng cũng có lúc “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, nàng đã chế ngự sức mạnh bản năng của mình để đến lúc ra khỏi rừng già sẽ trở nên dịu dàng và trí tuệ. Để đến với Huế, sông Hương phải băng qua một hành trình, phải chuyển dòng liên tục, như một cuộc kiếm tìm thiết tha và rạo rực, vô vàn địa danh mà dòng nước ấy đã trôi qua Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán, Thiên Mụ… người con gái Di-gan ấy đã đột ngột uốn mình theo một đường cong thật mềm nhưng “vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, để sắc nước trở nên xanh thẳm”, nàng vẫn còn mang một vẻ buồn trầm mặc như triết lý, như cổ thi… cho đến khi gặp được tiếng chuông Thiên Mụ, nghe âm thanh bát ngát tiếng gà, từ ấy sông Hương rạng rỡ như nắng mới, nàng uốn một cánh cung thật nhẹ, đến khi giáp mặt với thành phố, đường cong ấy làm cho nàng “mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”- Cái phút ban đầu để đến với “người tình” của sông Hương như thế đấy! Nàng đã tự làm mới mình để hiến tặng những gì đẹp nhất cho người yêu. Sông Hương – dòng sông thuộc về một thành phố duy nhất – đã rời cuộc sống hoang dã của rừng để đến với Huế và chỉ Huế mà thôi, nàng như “sông Xen của Paris, sông Ðanuýp của Buđapet…” chảy trong lòng thành phố yêu quý của mình nhưng khác ở chỗ nàng đẹp một cách huyền hồ như đang che khuôn mặt diễm kiều bằng tấm voan sương khói, nàng trôi lặng lẽ với nghìn ánh hoa đăng vào hội rằm tháng 7 bồng bềnh chao nhẹ trên mặt nước như vương vấn một nỗi lòng. Tôi chợt nhớ đến một câu nói “có những dòng tình cảm, rất sâu nên rất đỗi lặng lờ”, dòng chảy êm đềm của sông Hương hay chính là tình yêu sâu lắng mà nàng dâng tặng cho thành phố Huế? Vẻ đẹp của sông Hương còn là vẻ đẹp của một nền văn hóa, vẻ đẹp của người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya,toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh sôi trên mặt sông này và hơn thế khắp lưu vực sông còn vang vọng những điệu hò dân dã, những điệu hò thấm đẫm tấm chung tình, thấm đẫm lời thề của sông Hương trước phút chia tay với Huế mà trôi về biển cả. Nhưng chẳng phải bao giờ sông Hương cũng là người con gái đằm thắm,dịu dàng, mềm mại trong lòng Huế, đã có một thời sông Hương “mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam” của Tổ quốc, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, “dòng sông của thời gian ngân vang”, của lịch sử viết giữa màu cỏ xanh, lá biếc… Sông Hương được nhìn như một người con gái đến với tình yêu, dâng tặng những vẻ đẹp mà mình có được cho người yêu, đắm mình trong tình yêu để khám phá và hoàn thiện bản thân. Từ một dòng sông hoang dại, bí ẩn, nàng đã trở thành một sông Hương rất mực dịu dàng, rất mực tài hoa, rất mực kiên cường, rất mực hy sinh… Cho nên, từ khi có được sông Hương, Huế – chàng Kim của nàng- cũng có nhiều thay đổi. Từ hoang sơ với “cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” hay kiêu hãnh âm u với những lăng tẩm đền đài đồ sộ, đã hóa thành vẻ đẹp cổ kính mà thơ mộng, khiến người con của Huế dù đến Pari, Buđapét hay Leningrad vẫn đau đáu nhớ về một thành phố với nguyên dạng đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Huế càng lung linh hơn khi sông Hương chở trong lòng Huế những nét đặc thù của hội Hoa đăng, của ca Huế, man mác tiếng rơi của những mái chèo khuya. Có sông Hương, Huế trở thành biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng, Huế chiến đấu oanh liệt bảo về biên giới phía Nam của Đại Việt, Huế là kinh thành của người anh hùng Nguyễn Huệ, Huế cùng sông Hương đi vào Cách mạng tháng 8 bằng những chiến công rung chuyển. Huế đã cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc trong cuộc trường chinh máu lửa bên cạnh sông Hương – dòng sông của sử thi đã tự hiến đời mình làm một chiến công. Tình yêu của sông Hương và Huế – một tình yêu lãng mạn và âm vang sức sống, một tình yêu như một cuộc tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, bản hợp xướng diệu kỳ giữa thi ca và âm nhạc. Tình yêu ấy được vun đắp bởi ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, đứa con thân yêu của Huế, yêu Huế, yêu sông Hương, nhìn ngắm sông Hương khi gần kề để phát hiện ra dòng sông ấy “đang đổi sắc không ngừng dưới ánh nắng và mùi hương của hoa trái trong vườn”, lúc xa xôi gần nửa vòng trái đất, nhìn Nê va để sông Hương tìm về trong niềm nhớ. Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp của con người, những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa lái thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đã hi sinh, những Nguyễn Du, những bà huyện Thanh Quan, những Tố Hữu…đã viết thơ trên dòng chảy long lanh in bóng mây trời. Cũng như tình yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình. Tuy nhiên, vì sông Hương là hóa thân của huyền thoại nên câu hỏi bâng khuâng của một người Hà Nội khi lặng lẽ ngắm nhìn dòng nước: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” vẫn là một câu hỏi lửng lơ chưa có lời giải đáp, câu hỏi đã thành tên cho một thiên bút ký tuyệt vời…
Phân tích bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường
1,490
Phân tích bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác Hướng dẫn Phân tích bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác Bài làm Như chúng ta đã biết Các Mác và Ăng Ghen là hai nhân vật nổi tiếng của thời đại hai nhà triết học uyên bác mà đã để lại cho chúng ta những di sản về tư tưởng vô cùng quí giá. Những gì mà hai ông đã để lại trở thành bài học và lí tưởng nền tảng cho đấu tranh cách mạng. Đặc biệt chúng ta có thể thấy được nhiều cống hiến sự tận tụy của Các Mác qua bài điếu văn của Ăng Ghen đã dành cho ông. Đó là 3 cống hiến vĩ đại của Các Mác. Đây là bìa điếu văn mà Ăng Ghen đã đọc trước mộ của Các Mác nhằm ngợi ca những cống hiến vĩ đại mà ông đã để lại cho hậu thế. Thời khắc mà Ăng Ghen đứng trước mộ của Các Mác để đưa tiễn một con người đáng kính về cõi vĩnh hắng vào buổi chiều lúc ba giờ kém mười lăm phút ngày 14/3/1883. Sau thời khắc ấy mọi thứ quay về voi cát bụi con người đáng kính ấy Các Mác- mãi đi về với cõi vĩnh hằng. Đó là phút giây đưa tiễn một con người đầy tài năng tâm huyết cho xã hội và cho thời đại, có thể nói đó là một sự mất mát quá lớn quá đau. Nhắc tới Các Mác chúng ta không thể không nhắc tới những đóng góp của ông cho nhân loại cho lịch sử cho khoa học và cách mạng. Ba cống hiến mà ông đã để lại cho nhân loại đó chính là. Thứ nhất Các Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người qua các thời kì lịch sử. hơn thế nữa chúng ta biết bản chất của quy luật ấy là cơ sở hạ tầng quyết định. Một điều thật giản dị nhưng không phải ai cũng biết đó là con người trước hết phải có cái ăn uống quân áo, chỗ ở sau đó mới có thể làm chính tri, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo. Thứ hai Các Mác đã tìm tìm ra phương thức hoạt động riêng của phương thức sản xuất hiện nay và xã hội tư sản mà nó đẻ ra. Chúng ta gọi đó là giá trị thặng dư. Những cống hiến của Các Mác đã trở thành lịch sử và trở thành một người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ với công cuộc giải phóng giai cấp vô sản hiện đại. Bên cạnh đó ông còn cho ra đời hội liên hiệp công nhân quốc tế. Ông chính là một nhà tư tưởng tiên phong.. Quả thực với những đóng góp to lớn của Các Mác và sự mất mát quá lớn về sự ra đi của nhân loại Ăng Ghen đã cũng từ đó làm nổi bật hình ảnh của một con người là một nhà tư tưởng với những đóng góp vô cùng lớn lao. Sự ra đi của ông đã khiến cho thế giới phải rơi lệ tiếc nuối.
Phân tích bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác
530
Đề bài: Phân tích bài Bài ca chúc Tết thanh niên của Phan Bội Châu Bài làm Trong những năm bị an trí ở Huế, thỉnh thoảng, Phan Bội Châu vẫn được bè bạn và bà con thân thuộc lui tới thăm viếng. Đặc biệt lớp thanh niên thành thị vẫn còn kì vọng ở cụ khá nhiều. Cụ Phan cũng rất có ý thức quan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ, bằng nhiều cách khắc nhau; trong đó tiêu biểu nhất có lẽ phải kể đến Bài ca chúc Tết thanh niên. Thông qua lời tâm sự chân thành, bằng Bài ca chúc Tết thanh niên, Phan Bội Châu thiết tha kêu gọi thế hệ trẻ hãy từ bỏ lối sống tầm thường, quyết tâm tu dưỡng để đi theo con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Mở đầu tác phẩm là ba tiếng gọi gấp gáp, giục giã: “Dậy! Dậy! Dậy'". Cách mớ đầu độc đáo này làm cho người đọc bị cuốn hút. Nhiều người bình giảng tác phẩm này vẫn chưa thống nhất tiếng gọi kia là của ai. Đọc đến câu thứ hai, ta có thể hiểu đây chính là tiếng gà gáy đánh thức mọi người: Dậy! Dậy! Dậy! Bên án một tiếng gà vừa gáy. Có thể tạm hình dung như thế này chăng: bên bàn để sách (án) nhà thơ thao thức băn khoăn vì nghiệp lớn chưa thành, bỗng nghe tiếng gà gáy đánh thức cá những người còn đang trong giấc ngủ. Trời đã sáng, chim chóc trên cây cât tiếng líu lo, chào mừng một ngày mới, náo nức niềm vui và chan hòa sức sống. Những điều đáng nói là tiếng gà và tiếng chim kia đâu có phai là tiếng gà. tiếng chim binh thường. Tiếng gà giục giã thôi thúc. Tiếng chim “chào mừng” Như vậy, những âm thanh đã được “nghe” qua tâm trạng hi vọng, mong chờ vào thời cơ mới và vào thế hệ mới. Đây chính là tâm trạng của một con người trong hoàn cảnh nghiệt ngã bị kẻ thù bao vây, tìm mọi cách cắt đứt với thực tế đấu tranh của dân tộc, nhưng con người đó vẫn gắn bó với cuộc sống, tin tưởng ở thế hệ trẻ tương lai của đất nước. Lời thơ thật mạnh mẽ, rắn rỏi, phấn chấn! Như vậy, tiếng thúc giục “Dậy! Dậy! Dậy!” cũng có thể hiểu chính là lời kêu gọi tâm huyết của Phan Bội Châu. Cách diễn đạt này người đọc có thế nhận thấy ở một vài tác phẩm khác của họ Phan. Chẳng hạn như trong Trùng Quang tâm sử, ông đã viết: “Non sông như cũ, thành quách y nguyên! Chủ nhân là ai? Quốc dân ơi! Đồng bào ơi! Dậy! Dậy! Dậy!”. Trước cảnh tượng “tân vận hội” sắp mở ra đó, nhà cách mạng cảm thấy chạnh buồn: khác với giọng điệu vui tươi ở phần trên, những câu thơ ở đây nhịp chậm lại như nặng trĩu ưu tư, phiền muộn. Tác giả nói về mình bằng những dòng thật chân thành, khiến người đọc xúc động sâu xa: Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng? Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng, Hai mươi năm lẻ, đã từng chua với xót Trời đất may còn thân sống sót, Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh. “Xuân” ở đây vừa có thể hiểu là xuân của đất trời, vừa có thể là để chỉ thế hệ thanh niên của đất nước. Trong càu “Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chúng thì “xuân” thê hệ thanh niên đã trở thành những người bạn tri âm tri kỉ của nhà thơ. Vì là tri âm tri kỉ, nên nhà thơ bộc bạch hết nỗi niềm tâm sự. “Xuân” có hiểu nỗi đau của một người hơn hai mươi năm bôn ba (1905-1925) là “khách không nhà trong bốn biển”, nhưng rốt cuộc “trăm thất bại không một thành công?”. Trong nỗi đau này đúng là có cả cái “thẹn”, cái “buồn”, và cái “tủi”, lẫn sự chua xót, đắng cay. Đây là nỗi đau đớn của một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Đau vì sự nghiệp cách mạng không thành. Đau vì hoài bão cứu nước, cứu dân không thực hiện được. Câu thơ 9 chữ được cắt đều thành ba nhịp đối nhau, mỗi trạng thái tình cảm lại kèm theo một hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, khắc họa rõ nét nỗi đau có tầm vóc núi sông, tầm vóc thời đại (Thẹn cùng sông / buồn cùng núi / tủi cùng trăng”). Nỗi đau của Phan Sào Nam có phần cũng giống như nỗi đau của người anh hùng Đặng Dung ở thế kỉ XV, khi “thù nước chưa xong đầu đã hạc”. Nhưng nó khác xa so với nỗi đau trong một số tác phẩm trốn văn đàn công khai đương thời, như Giọt lệ thu, hay Linh Phương kí. Con người có nỗi đau này sau mấy chục năm dài bôn ba tung hoành, đến nay, cuộc sống chỉ còn ngắn ngủi, không thể tính bằng năm mà chỉ tính bằng tháng, bàng ngày (“tháng ngày”) và chỉ mỗi một cách làm dịu người đi (“khuây khỏa”) nỗi lòng nói trên bằng cách trông chờ vào sự thức tỉnh của thế hệ trẻ (“lũ đầu xanh”). Ở đây, ta còn bắt gặp cái nhìn sáng suốt của Phan Bội Châu. Ông ý thức được vai trò lịch sử của mình đã chấm dứt, ông nghiêm khắc chân thành tự đánh giá bản thân. Hiểu được người không để, hiểu bản thân mình thật sự là một việc khó khăn gấp bội. Ở điểm này Phan Sào Nam cũng xứng đáng là một bậc vĩ nhân. Thái độ chân thành, tha thiết của tác giả khiến người đọc xúc động, tạo nên sức mạnh trong lời kêu gọi của ông ở phía cuối bài ca. Giờ đây, mang nỗi đau nói trên, “ông già Bến Ngự”, hướng toàn bộ tình cảm vào thế hệ thanh niên: Thưa các cô, các cậu, lại các anh. Bao nhiêu sự trân trọng quí mến gởi vào một chữ “thưa!”. Lúc này, nhà thơ đã tròn 60 tuổi, đã là một nhân vật lịch sử nổi tiếng nhưng vẫn xưng hô với “lũ đầu xanh” bằng giọng “thưa”. Một chữ “thưa” đủ sức làm người đọc cảm động. Điều ấy không chỉ phản ánh đức khiêm nhường của họ Phan, mà quan trọng hơn nó thể hiện tấm lòng thiết tha cứu nước. Đối với người chiến sĩ này, bất kể già, trẻ, gái, trai; sang hay hèn… ai có tinh thần vì sự nghiệp lớn ông đều có thái độ trân trọng, thậm chí tôn thờ. Đọc câu thơ: “Thưa các cô…” ta không khỏi nhớ tới lần Phan Bội Châu đã “ngàn vạn lạy” các chú tập binh để họ qua về với nhân dân, với đất nước {Việt Nam vong quốc sử). Vả lại, cách xứng hộ trịnh trọng nêu trên chính là sự chuấn bị tạo không khí thích đáng để trình bày những vấn đề trọng đại tiếp sau. Như vậy, họ Phan đã tìm được ngôn ngữ và giọng điệu phù hợp nhất để diễn đạt ý tưởng của mình. Lời chúc Tết của Phan Bội Châu khác hẳn những lời chúc Tết thường gặp. Trước hết, ông khẳng định: “Đời đã mới, ngày càng thêm đổi mới”. “Đời đã mới” chính là cơ hội mới, vận mệnh mới của dân tộc, của đất nước. Lúc nào con người cũng cần phải đổi mới. Nhưng vì có cơ hội mới, nên con người “càng” phải đổi mới nhiều hơn, nhanh chóng hơn. Sự đổi mới nói trên thể hiện ở việc cùng nhau đoàn kết giành chủ quyền đất nước, do cha chúng ta để lại: Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn. Đây là một công việc lớn lao nặng nề nên phải khéo léo (“Đi cho êm), phải kiên trì dũng cảm, khó khăn không lùi bước (“đứng cho vững, trụ cho gan”). Và đặc biệt là phải đoàn kết “xúm vai vào”, phải “liên hiệp lại”. Qua lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, qua kinh nghiệm hoạt động cách mạng của chính bản thân, Phan Bội Châu rất chú trọng đến yếu tố đoàn kết. Ngay từ 1905, trong một bức Thư gửi người trong nước khuyên nhân dân giúp tiền cho học sinh đi học ngoại quốc, ông đã khẳng định “Tình đoàn kết có thể vá trời”… “Hễ người đông thì xong công việc, đồng tâm thì sức sẽ khỏe; góp nhiều mảnh da lại đế may áo cừu, góp nhiều cây lại để chông nhà. Muôn búa vào rừng, cây to cũng ngã; xe cát suốt ngày, biển sâu cũng lấp”. Nói cho công bằng, nội dung trên đâu phải là chuyện hoàn toàn mới mẻ, nhưng nó vẫn hấp dẫn được người dọc không những do cách nói nhiệt huyết, mà còn bởi chính cuộc đời hoạt động cách mạng gian truân của người anh hùng họ Phan. Sau khi xác định phương hướng hành động chung, Phan Bội Châu khích lệ những “ai hữu chí” (tức là những ai nhận thấy “Tân vận hội”, quyết tầm phấn đấu rèn luyện “xốc vác cựu giang sơn”). Đầu tiên là sự “gắng gỏi” trong cuộc sống thường nhật để bỏ thói quen đã lỗi thời: Cởi lốt xưa mà tu dưỡng tinh thần. Không nên quá sa vào những đòi hỏi thường nhật: Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn. Cách nói của họ Phan khá cụ thể, đầy đủ, các chi tiết nêu ra quen thuộc với mọi người, nhưng lại không vụn vặt, nhàm chán. Vấn đề này được trình bày thật lôgic: thiếu những “gắng gỏi” hàng ngày, sao có thể làm được những việc phi thường: Đúc gan sát để dời non lấp bể, Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ. Hai câu thơ trên phác họa được hình ảnh kì vĩ của con người sống có chí khí lớn lao, bên gan phấn đấu vì sự nghiệp lớn lao của dân tộc. Câu “Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ” là một sáng tạo độc đáo của tác giả, diễn tả rất hay tinh thần cảm tử, thái độ quyết tâm cùng nhiệt huyết (“máu nóng”) theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng để tẩy rửa vết nhục nhã phải làm dân một nước nô lệ. Y tẩy rửa này trước đây Nguyễn Đình Chiểu đã có lần nói đến trong bài Xúc cảnh: “Chừng nào Thánh đế ân soi thấu – Một trận mưa nhuần rửa núi sông”. Tuy nội dung có phần giống nhau, nhưng rõ ràng cách nói của họ Phan gây ấn tượng, sâu đậm hơn, mạnh mẽ hơn. Hai câu thơ nói trên cho người đọc hiểu thêm khí phách của “ông già Bến Ngự”. Cho dù bị kẻ thù kiềru tỏa, họ Phan vẫn công khai thể hiện lập trường “không đội trời chung với quân giặc”. Hơn nữa, trong hoàn cảnh thực dân Pháp ra sức xuyên tạc làm tiêu ma ý chí cứu nước của dân tộc, khi không ít thanh niên còn đương “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước” (Tố Hữu)…, ta càng thấm thía ý nghĩa to lớn của những lời kêu gọi trên đây. Kết thúc Bài ca chúc Tết thanh niên tác giả mượn một câu trong kinh điển nhà Nho để tô đậm thêm nội dung đã trình bày ở trên: Năm mới đến, thanh niên cần có tư tưởng mới, cách sống mới: Chữ rằng: “Nhật nhật tân, hựu nhật tân”… Tóm lại, tuy còn một số hình ảnh ngôn ngữ có phần đã cũ, nhưng Bài ca chúc Tết thanh niên vẫn là một thành công tiêu biểu cho bút pháp tuyên truyền cách mạng của Phan Bội Châu. Đây chính là lời kêu gọi thanh niên lên đường cứu nước chân thành tha thiết của “ông già Bến Ngự”.
Phân tích bài Bài ca chúc Tết thanh niên của Phan Bội Châu
1,997
Đề bài: Phân tích bài Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ Bài làm Khi đã nghỉ hưu ở quê nhà. Nguyễn Công Trứ viết Bài ca ngất ngưởng thể hiện phong cách sống của ông. Đây là triết lí sống trong suốt cuộc đời, khi còn là một thư sinh, khi xuất chính hay lúc đã về hưu của ông. “Ngất ngưởng” là từ tượng hình có giá trị biểu đạt, diễn tả ở một vị trí cao chênh vênh, không ổn định liên hệ vào con người là một lối sống khác người: ngông nghênh, thách thức với mọi người, vượt thế tục bình thường! Mở đầu là câu thơ chữ Hán thể hiện lí tưởng nhà Nho: Phận sự của kẻ sĩ là phải coi việc gánh vác trong vũ trụ là bổn phận của mình. Nhà thơ tự xưng minh là ông – ông Hi Văn – đã lần lượt làm các việc: thi đỗ Thủ khoa, khi làm Tham Tán Quân vụ Bộ hình, khi làm Tổng Đốc An Hải, lúc làm Đại Tướng Bình Tây, lúc làm Phu Doãn Thừa Thiên, nhưng ông không ở lâu chức vụ nào vì luôn luôn bị giáng chức. Sự nghiệp như thế thật không hổ thẹn với chí lớn kẻ làm trai: Mặc dầu trên đường công danh có những lúc thăng trầm, nhưng cuối cùng ông cũng được ở phẩm tước khá cao dù cái xã hội ấy ông gọi là cái “lồng”. Cuộc đời lập nghiệp công danh kéo dài từ năm 1820 đến năm 1848, ông đã tự chứng tỏ cái tài song toàn về văn võ một cách hiển hách lừng danh, đến nỗi ông không che giấu khi tự thuật về mình: Một tay ngất ngưởng trên hoạn lộ: Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng! Sau khi làm xong phận sự, ông không ngần ngại cởi trả áo mão triều đình cáo lão về hưu. Quãng đời sau cùng của đời Nguyễn Công Trứ là quãng đời không màng danh lợi, hoàn toàn hưởng nhàn theo sở thích cá nhân. Với một tâm hồn tự do và một cuộc sống độc lập, ông đã tha hồ ngất ngưởng cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa tiêu dao đây đó khi chùa, khi núi, lại đèo theo đủng đỉnh một đôi dì. Cách hưởng nhàn hành lạc của ông ở đây thật đến quá quắt, mà có lẽ khôi hài lập dị của một trang nam tử có một thị hiếu riêng, đến nỗi: Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng! Lối hưởng lạc này có một sinh khí và một tính chái riêng đó là lối hưởng lạc nhập tục theo chiều phóng khoáng cá nhân, không giống một ai, không Tiên không Phật cũng không tục, nhưng vẫn trọn nghĩa vua tôi: Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng Không Phật, không Tiên, không vướng tục Hường nhàn hành lạc chỉ là thời lò sau cùng của ông khi làm xong phận sự. Ông muốn mọi người hiểu rằng cuộc đời là trung nghĩa. Biết bao lần lên bổng xuống trầm trên hoạn lộ, vì ganh ghét, vì vu cáo, thế mà vẫn giữ vững đức trung quân, ái quốc không hề có một ý tưởng bất mãn. Bởi vậy khi về hưu vui thú tuổi già, ông sống với một cõi lòng yên vui bình thản, trên không lỗi với vua, dưới không mất lòng dân chúng. Cho nên khi Tiền Hải, Kim Sơn, lúc chống gậy đến chọn triều đình nghị quốc quân đại sự. Năm Tự Đức thứ 12, ông nghe tin liên quân Pháp, Tây Ban Nha tấn công cửa bể Đà Nẵng, không quản ngại thân già, ông chống gậy đến chốn triều đình dâng sớ lên vua xin cầm quân chống giặc. Nhưng vua không cho vì thấy ông đã quá già nua tuổi tác. Tự xét hiểu mình như thế, nên ông kiêu hãnh ghi nhận về mình: Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung Trong triều ai ngất ngưởng như ông! Phải chăng đó là lối sống mang cái “chí khí” “ngất ngưởng”. Chẳng những ông không hề sợ ai chê cười mà còn đầy lòng tự hào về cái "đạo sống ngất ngưởng” đó. Tóm tắt lại có bốn cái "ngất, ngưởng” nổi bật trong đời ông: – Gồm thao lược đã liên tay ngất ngưởng! – Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng!' – Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng! – Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Phân tích bài Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ
747
Đề bài: Phân tích – Bình luận bài Bài toán dân số của Thái An Bài làm Quá khứ với hiện tại, hôm qua và hôm nay nằm trông sự phát triển liên tục của thời gian, có sự kế thừa và nâng cấp. Đó là quy luật khách quan để tồn tại của con người. Bởi thế, nếu phủ nhận quá khứ, thì đó là một sai lầm tai hại. Tuy nhiên, chiếc cầu nối giữa hôm nay với hôm qua có hai hình thức: hoặc là những hồn ma (Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, Truyện Kiều của Nguyễn Du…) hoặc là lời tiên tri của các nhà thông thái. Nếu hình thức thứ nhất nặng về nhận thức cảm tính như một ám ảnh mơ hồ thì hình thức thứ hai lí tính hơn, khách quan hơn, nó gần như một quy luật. Bởi thế, cách tiếp nhận nó cũng không giống nhau. Ở hình thức thứ nhất, đó là giao tiếp tức thời dưới dạng giấc mơ, còn hình thức thứ hai lại tự con người phát hiện dưới dạng những văn bán ngầm có khi từ những vật vô tri, có khi từ ý nghĩa ngụ ngôn của những câu chuyện kể. Sự trùng hợp ngẫu nhiên từ những vật vô tri hay những câu chuyện kể ấy, phải thông qua những trải nghiệm, hoặc những thao tác tư duy rất hiện đại của con người mới phát hiện ra đó là chân lí vĩnh hằng. Cảm nhận của tác giả bài văn chính là từ góc nhìn không ngờ, bất chợt ấy. Tâm trạng nửa tin nửa ngờ ở đây là có thật. Bởi làm sao câu chuyện dân số của hôm nay (vài chục năm nay) lai có liên quan đến một câu chuyện kén rể của hàng “dâm báy ngàn năm về trước”? “Tôi không tin…”, “ai mà tin”…, một cách nói ngập ngừng khi con người ta đến gần một vầng hào quang trí tuệ. Câu chuyện làm cho tác giả bài văn “sáng mắt ra” không khác câu chuyện ngày xưa Cri-xtốp Cô-lông tìm ra châu Mỹ không phải là không có căn cứ. Chỉ có điều căn cứ ấy không từ những mệnh đề lí thuyết trừu tượng của tư duy. Sự liên tưởng, do vậy thật là lí thú. Lập luận thật bất ngờ và giàu sức thuyết phục, vé cơ bản là hai câu chuyện có một cấu trúc vận động giống nhau và kèm theo sau đó là những tư liệu tham khảo để người đọc tự hoàn thành công đoạn cuối cùng: Biến khả năng thành hiện thực. Hiện thực ấy lại là một hậu quả khôn lường. a) Ở câu chuyện thứ nhất: để làm rể nhà thông thái, các chàng trai phải có một tiềm lực khổng lồ đủ số thóc rải vào 64 ô trên bàn cờ tướng. Yêu cầu đó tưởng như chẳng có gì là khó, “ai cũng tưởng có gì mà không đủ”, nhưng rốt cục, ai cũng ngớ người ra (để rải đủ 64 ô, chàng trai trúng tuyển phải có đủ một lượng thóc phú kín bề mặt trái đất). Đúng là câu đố của một “nhà thông thái”! Nhưng vấn đề có tính chất toán học kia chẳng có ý nghĩa bao nhiêu nếu nó không liên tưởng đến một bài toán khác, bài toán vể dân số của loài người. b) Bài toán về dân số của loài người vừa giống lại vừa khác câu chuyện kén rể của người xưa. Điểm giống nhau là tốc độ gia tăng của cấp số nhân có công bội là 2, còn sự khác nhau là ở chiều hướng của sự gia tăng ấy, ở câu chuyện thứ nhất: càng tăng nhanh càng tốt, còn ở câu chuyện thứ hai: càng chậm càng hay. Vấn đề là ở chỗ: cả hai cái đích trên đây đều khó. Bài toán vể dân số loài người không dễ hơn việc được làm rể nhà thông thái bởi tính chất lưỡng phân, bởi mâu thuẫn khó dung hoà giữa tốc độ phát triển tự nhiên và ý chí con người kìm nén nó. Dường như, do phát triển theo khuynh hướng tự nhiên và đã có kiềm chế, dân số loài người từ một cặp vợ chồng (một chàng A-đam, một nàng Ê-va – theo Kinh Thánh), đến năm 1995 đã lên tới 5,63 tỉ người, nghĩa là đã đạt đến ô thứ 30 trên bàn cờ tướng. Đó là hiểm hoạ. Ây là chưa kể nguy cơ bùng nổ dân số có thể diễn ra bất cứ lúc nào, nhất là với các nước chậm phát triển ở hai khu vực châu Á và châu Phi. Từ 3,7 con đến 2 con cho mỗi cặp vợ chồng Việt Nam là một chỉ tiêu phấn đấu đã “rất khó khăn”. Ở các nước châu Phi, từ 5,8 con đến 2 con, khó khăn càng trở nên gấp bội. Đất chật, người đông, tự nó sẽ huỷ diệt. Khi đất dành cho mỗi con người chỉ còn là diện tích một hạt thóc (ô thứ 64 trên bàn cờ tướng), trái đất chác sẽ nổ tung mà ngòi nổ chính là sự gia tăng dân số mà con người không tự kiềm chế được. Đừng để xảy ra thảm hoạ, đó là lời cảnh báo cho cả loài người, không loại trừ một ai. Nó nghiêm khắc và răn đe như một định mệnh. 3. Về bản chất, đây là một bài văn nghị luận. Nhưng cách thuyết phục của nó không thiên về lí thuyết, lập luận cũng đơn giản nhẹ nhàng nhưng sức cảm hoá của bài văn lại không nhỏ. Từ những con số khách quan im lặng – có khi từ ngàn năm, lần đầu tiên nó dược đánh thức để nói với chúng ta những điều hộ trọng về sự còn mất của chính chúng ta, vấn đề “tồn tại hay không tồn tại” như bi kịch Ham-lét của Sếch-xpia thời Phục hưng đặt ra trong một hoàn cảnh khác, về một vấn để khác cũng quan trọng không kém về con người và sự sống của con người với quy mô toàn nhân loại.
Phân tích bài Bài toán dân số của Thái An
1,044
Đề bài: Phân tích Bài Bàn luận về phép học (Luận học pháp) của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. Bài làm Trong lịch sử nước ta, giới học thuật có đủ căn cứ để xếp bốn nhân vật vào hàng Phu tử, đó là Chu Văn An (1292-1370), Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Võ Trường Toản (1720-1792) và Nguyễn Thiếp (1723-1804). Trong bốn bậc phu tử đó, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, sống thời Quang Trung – Nguyễn Huệ bách chiến bách thắng. La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp sinh ngày 24-9-1723, mất ngày 6-2-1804, quê làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông đỗ Hương giải (1743) ra làm quan huấn đạo, tri phủ ít lâu thì cáo về, ở ẩn trên núi Thiên Nhẫn, đọc sách, nghiên cứu lý học. Ông nổi tiếng là người đạo hạnh thanh cao, có trình độ uyên bác. Cả nước hâm mộ tôn ông là bậc thầy. Ông cũng là con người cao sĩ, sống ẩn dật. Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp. Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba bốn lần, ông mới nhận lời giúp. Bàn luận về phép học là đoạn văn trích từ bài tấu của Nguyễn Thiếgửi vua Quang Trung vào tháng 8 – 1791. Vua Quang Trung từng mời Nguyễn Thiếp ra hợp tác với triệu Tây Sơn nhưng vì nhiều lý do nên ông chưa nhận lời. Ngày 10/7/1791, vua lại viết chiếu thư mời Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân hội kiến vì có nhiều điều bài nghị. Lần này ông lòng vào Phú Xuân và dựa bàn quốc sự. Nhân lúc này, ông làm bài tấu bàn về 3 việc mà bậc quân vương nên biết. Một là về quân đức: Mong bậc đế vương một lòng tu đức, lấy sự học vấn mà tăng thêm tài sản, bởi sự học mà có đức, hai là bài về dan tộc (lòng dân). Khẳng định “Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yếu”, Ba là bàn về học pháp (phép học). Văn bản Bàn luận về phép học chính là nội dung thứ ba của bài tấu. Phần mở đầu, Nguyễn Thiếp nêu mục đích chân chính của việc học. Tác giả sử dụng câu châm ngôn vừa dễ hiểu vừa tăng thêm sức mạnh thuyết phục: ‘Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Nhưng đạo ấy là gì? Ấy là cái đích của sự học vậy. Theo tác giả thì “Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người”. Đạo dạy người ta về những mối quan hệ: hẹp thì với bản thân, trong gia đình, rộng ra là ngoài xã hội. Mối quan hệ ấy trong khuôn khổ của xã hội phong kiến không nằm ngoài khái niệm “tam cương”, “ngũ thường” quen thuộc. Tóm lại, học trước hết là học đạo làm người, học để “lập đức” cho mình, để “lập công” nghĩa là phải cống hiến tài năng cho xã hội. Đó là nền tảng của “chính học”, là cơ sở của một quốc gia nước mạnh dân giàu, xã hội thái bình, thịnh trị. Cách nhìn của tác giả đoạn văn có tầm chiến lược dài lâu vì nó đụng đến sự an nguy của xã tắc (tức đất nước). Sau khi xác định mục đích của việc học, tác giả soi vào thực tế đương thời để phê phán những biểu hiện lệch lạc, sai trái trong việc học. Đó là “lối học hình thức hòng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương, ngũ thường”. Vậy thế nào là lối học hình thức hòng cầu danh lợi? Đó là lối học theo kiểu tầm chương trích cú, thuộc lòng từng câu từng chữ mà không hiểu kĩ về nội dung, học theo kiểu hữu danh vô thực. Học chỉ để đi thi, để ra làm quan, được trọng vọng, nhàn nhã và thu nhiều bổng lộc… Tác hại của lối học lệch lạc, sai trái đó là làm cho “chúa trọng nịnh thần”, người trên, kẻ dưới đếu thích sự chạy chọt, luồn cúi, không có thực chất, dẫn đến cảnh “nước mất, nhà tan”. Ngày nay, chúng ta gọi lối học đó là học vẹt, học để đối phó, thực chất chẳng tiếp thu được bao nhiêu Kiến thức. Thuộc bài là yếu tố rất cần trong học tập nhưng điều cốt yếu là phải hiểu nội dung, bản chất của vấn đề, từ đó có cách suy nghĩ, cách cảm nhận, sáng tạo riêng. Sau khi phê phán những biểu hiện tiêu cực trong nhận thức về việc học, Nguyễn Thiếp đã nêu ra quan điểm và phương pháp học tập đúng đắn. Việc học phải được phổ biến rộng khắp: mở thêm trường, mở rộng thành phần người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học: “Cúi xin từ nay ban chiếu thư cho thầy trò trường học của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều, đều tùy đâu tiện đấy mà đi học”. Nguyễn Thiếp quả là một bậc hiền tài có tầm nhìn xa trông rộng. Quan điểm hết sức tiến bộ của ông tuy nêu ra cách đây đã hai thế kỉ nhưng nó rất gần gũi với chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chúng ta đang áp dụng ý tưởng sáng suốt của ông vào thực tế giáo dục. Theo Nguyễn Thiếp, việc học phải được bắt đầu từ những kiến thức có tính chất nền tảng. Và ông đưa ra các phương pháp học cụ thể. Phương pháp thứ nhất, học tuần tự tiến lên, từ thấp đến cao: “Phép dạy, nhất định theo Chu Tử. Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử”. Phương pháp thứ hai, đó là học rộng, nghĩ sâu biết tóm lược những điều cơ bản, cốt yếu nhất. Với phương pháp này, Nguyễn Thiếp hướng dẫn người học một cách học đúng đắn, dễ nhớ kiến thức. Chúng ta thường mắc bệnh học nhiều, học tràn lan, nhưng cuối cùng lại không ghi nhớ được gì cả vì không biết nghĩ cho sâu, tóm cho gọn. Có như thế này thì người học mới có thể ghi nhớ được kiến thức của mình lâu và khoa học. “Mong các cháu cổ gắng Thi đua học và hành Tuổi nhỏ làm việc nhỏ Tuỳ theo sức của mình Để tham gia kháng chiến Để gìn giữ hoà bình”… Ở phần cuối văn bản tiên sinh đã khẳng định tầm quan trọng của đạo học, ý nghĩa to lớn của đạo học: “Đạo học thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”. Đúng là việc học góp phần đào tạo nhân tài, mở mang dân trí, góp phần xây dựng đất nước thịnh trị. Chiến lược “trồng người” được tiên sinh nói lên thật sáng tỏ. Tóm lại, bằng lời tấu rất thẳng thắn và chân thành, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã nêu lên mục đích chân chính của việc học và thực trạng tiêu cực của việc học đang hiện hành cùng các phương pháp học tập đúng đắn. Những bài học mà Nguyễn Thiếp mang lại không chỉ có giá trị đối với đất nước trong xã hội phong kiến mà còn bổ íc đối với tất cả chúng ta trong mọi thời đại.
Phân Tích Bài Bàn Luận Về Phép Học (Luận Học Pháp) Của Nguyễn Thiếp
1,299
Đề bài: Phân tích bài Bàn luận về phép học của La Sơn Phù Tử Nguyễn Thiếp. Bài làm Nguyễn Thiếp (1723 – 1804) tên chữ là Khải Xuyên, hiệu là Lạp Phong Cư Sĩ, được người đương thời gọi một cách kính trọng là La Sơn Phu Tử, quê ở làng Mật Thôn, xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, ông là người “thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu”, từng đỗ đạt và ra làm quan dưới triều Lê, nhưng sau đó vì bất bình nên cáo quan về nhà dạy học. Sau khi lên ngôi vua, Nguyễn Huệ mấy lần viết thư, tha thiết mời Nguyễn Thiếp ra hợp tác với triều Tây Sơn nhưng vì nhiều lí do, ông chưa nhận lời. Ngày 10 tháng 7 niên hiệu Quang Trung năm thứ tư (1791), nhà vua lại viết chiếu thư mời Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân hội kiến vì quốc sự có nhiều điều cần bàn nghị. Lần này, La Sơn Phu Tử bằng lòng, ông làm bài tấu nêu ý kiến của mình về ba việc lớn mà bậc quân vương nên làm. Một là bàn về Quân đức (đạo đức của vua): Mong bậc đế vương một lòng tu đức lấy sự học vấn mà tăng thêm tài, bởi sự học mà có đức. Hai là bàn về Dân tâm (lòng dân): Dân là gốc, gốc vững, nước mới yên. Ba là bàn về Học pháp (phép học). Đoạn trích này là phần thứ ba của bài tấu, nội dung bàn luận về phương pháp học tập. Qua bài tấu dâng lên vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp bày tỏ sự quan tâm và chủ kiến của mình về việc chấn chỉnh sự nghiệp giáo dục của quốc gia. Trước hết, chúng ta nên hiểu sơ qua về thể loại tấu. Tấu là một loại văn bản của quan lại hoặc của thần dân trình lên vua chúa để trình bày một ý kiến, đề nghị nào đó có liên quan đến chính sách cai trị hoặc các vấn đề quan trọng của triều đình, quốc gia. Cùng dạng với loại văn bản này còn có nghị, biểu, khải, sớ… Tấu có thể được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, theo hình thức văn xuôi hay văn biền ngẫu. Ở bài tấu này, Nguyễn Thiếp trình bày quan điểm về phép học qua hai luận cứ: Bàn về mục đích của việc học và tác dụng của phép học. Trong phần mở đầu, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp nêu mục đích quan trọng của việc học bằng cách so sánh việc dạy người cũng giống như việc mài đá thành ngọc: Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo. Ông khẳng định chỉ có học tập thì con người mới trở nên hoàn thiện, tốt đẹp. Học tập là một quy luật tất yếu trong cuộc sống. Kẻ đi học là học luân thường đạo lí để làm người. Vậy đạo là gì? Tác giả giải thích: Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người. Kẻ đi học là học điều ấy. Đạo học ngày trước lấy mục đích rèn luyện đạo đức nhân cách là chính. Đó là đạo tam cương (tức là học để hiểu và giữ đúng quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng); đạo ngũ thường (tức là học để hiểu và để sống theo năm đức tính của con người: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Nói cụ thể ra thì lẽ đối xử chính là mối quan hệ giao tiếp giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng. Chính vì thế, Nguyễn Thiếp nhấn mạnh rằng tất cả những điều cần thiết trong cuộc sống đều phải học. Con người không được giáo dục cũng giống như ngọc không mài không sáng: Ngọc bất trắc, bất thành khí. Quan điểm ấy đề cao mục đích giáo dục đạo đức của việc học. Khẩu hiệu Tiên học lễ, hậu học văn trong nhà trường hôm nay cũng là sự tiếp nối và phát huy mục đích ấy. Điểm cần bổ sung thêm là việc học không chỉ rèn luyện đạo đức mà còn rèn luyện năng lực trí tuệ để con người có sức mạnh xây dựng, cải tạo xã hội trên mọi lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khoa học kĩ thuật… Tác giả lấy mục đích cao cả của việc học để soi chiếu vào thực tế; từ đó phê phán những biểu hiện lệch lạc, sai trái trong đường lối giáo dục đương thời đã gây ra những tác hại to lớn cho quốc gia, dân tộc: Nước Việt ta, từ khi lập quốc đến giờ, nền chính học đã bị thất truyền. Người ta đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương, ngũ thường. Chúa tầm thường, thần nịnh hót. Nước mất, nhà tan đều do những điều tệ hại ấy. Vậy thế nào là lối học hình thức hòng cầu danh lợi? Đó là lối học theo kiểu tầm chương trích cú, thuộc lòng từng câu từng chữ mà không hiểu kĩ về nội dung, học theo kiểu hữu danh vô thực. Học chỉ để đi thi, để ra làm quan, được trọng vọng, nhàn nhã và thu nhiều bổng lộc… Những kẻ học hành như vậy, nếu có ra làm quan thì cũng chĩ là những viên quan dốt nát, hỏi làm sao có thể lo đời giúp nước? Tác hại của lối học lệch lạc, sai trái đó gây tác hại nghiêm trọng và lâu dài vì những kẻ bất tài thường hay xu nịnh, luồn lọt để được thăng quan tiến chức, dần dần trở thành lũ sâu mọt, chỉ biết vinh thân phì gia mà quên đi lợi ích chung của đất nước, dân tộc. Ngày nay, chúng ta gọi lối học đó là học vẹt, học để đối phó, thực chất chẳng tiếp thu được bao nhiêu Kiến thức. Thuộc bài là yếu tố rất cần trong học tập nhưng điều cốt yếu là phải hiểu nội dung, bản chất của vấn đề, từ đó có cách suy nghĩ, cách cảm nhận, sáng tạo riêng. Sau khi phê phán những biểu hiện tiêu cực trong nhận thức về việc học, Nguyễn Thiếp đã nêu ra quan điểm và phương pháp học tập đúng đắn. Theo ông, trước tiên việc học phải được phổ biến rộng rãi. Triều đình nên cho dựng thêm trường lớp ở khắp nơi, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người học tập: Cúi xin từ nay ban chiếu thư cho thầy trò trường học của phủ, huyện, các trường tư, con cháu các nhà văn võ, thuộc lại ở các trấn cựu triều, đều tùy đâu tiện đấy mà đi học. Nguyễn Thiếp quả là một bậc hiền tài có tầm nhìn xa trông rộng. Quan điểm hết sức tiến bộ của ông tuy nêu ra cách đây đã hai thế kỉ nhưng nó rất gần gũi với chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chúng ta đang áp dụng ý tưởng sáng suốt của ông vào thực tế giáo dục. Theo Nguyễn Thiếp, việc học phải được bắt đầu từ những kiến thức có tính chất nền tảng. Học từ dễ đến khó. Khi học bài, người học phải biết tóm tắt nội dung để dễ nhớ, dễ thuộc, bây giờ ta gọi là làm dàn bài và củng cố kiến thức: Phép dạy, nhất định theo Chu Tử. Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm. Mục đích của việc học là để trở thành người có đức, có tài, góp phần hữu ích vào sự nghiệp hưng thịnh đất nước. Muốn học tốt thì phải có phương pháp. Sự học cần phải nâng cao, mở rộng không ngừng, cho nên người học phải biết cách học sao cho có hiệu quả; đặc biệt là học phải đi đôi với hành. Phương pháp học tập đúng đắn là tuần tự học từ thấp đến cao. Học rộng, nghĩ sâu, rồi tóm lược gọn những điều cơ bản, cốt yếu nhất, rồi ghi nhớ và theo điều học mà làm. Như vậy học không chỉ để cho biết mà chủ yếu là để làm theo cho tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Học để hành, học với hành phải đi đôi: Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Vậy học là gì? Hành là gì? Học là hoạt động tiếp thu tri thức của nhân loại đã được đúc kết qua mấy ngàn năm lịch sử. Chúng ta học ở trường qua sự truyền thụ của thầy cô; học ở bạn bè; tự học qua sách vở và thực tế đời sống. Học để làm giàu tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết về nhiều mặt để có thể làm chủ bản thân, làm chủ công việc, góp phần hữu ích vào việc xây dựng sự nghiệp riêng và sự nghiệp chung. Hành là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế công việc hằng ngày. Ví dụ như người thầy thuốc đem những kiến thức tiếp thu được trong suốt quá trình học tập sáu, bảy năm trời ở trường Đại học để chữa bệnh cho nhân dân. Những kiến trúc sư, kĩ sư xây dựng thiết kế và thi công bao công trình như nhà máy, bệnh viện, trường học, công viên… để phục vụ đời sống con người. Người công nhân trong xưởng máy vận dụng lí thuyết và kinh nghiệm để cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. Người nông dân áp dụng hiểu biết khoa học vào trồng trọt chăn nuôi để có được những vụ mùa bội thu trên đồng ruộng. Đó là hành. Nguyễn Thiếp khẳng định: Học để hành, có nghĩa là học để làm cho tốt. Thực tế cho thấy có học có hơn. Ông cha chúng ta ngày xưa đã dạy: Bất học, bất tri lí. (Không học thì không biết đâu là lẽ phải). Có học mọi công việc sẽ đạt hiệu quả cao hơn, tốt hơn. Nếu được học những lí thuyết cao siêu mà không biết đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học ấy chỉ tốn thời gian, công sức, tiền bạc mà chẳng đem lại kết quả gì. Ngược lại, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Nếu ta chỉ làm việc theo thói quen, theo kinh nghiệm mà không có lí thuyết soi sáng thì công việc sẽ tiến triển rất chậm và chất lượng không cao. Cách làm việc đơn thuần ấy chỉ thích hợp với những công việc chân tay giản đơn, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp đòi hỏi khoa học, kĩ thuật thì cung cách ấy đã quá lỗi thời. Cho nên muốn đạt hiệu quả tốt trong công việc, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên ngành và sau đó, trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng bằng mọi cách. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời đại. Cuối cùng, Nguyễn Thiếp khẳng định tác dụng to lớn và lâu dài của việc học: Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, nhà nước nhờ thế mà vững yên. Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người. Xin chớ bỏ qua. Đạo học thành thì người tốt nhiều; người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị. Phương pháp học tập tốt sẽ là cơ sở để đào tạo ra người tài đức. Nhiều người có tài có đức sẽ góp phần không nhỏ vào việc hưng thịnh đất nước. Phép học chân chính mà thành công thì sẽ không còn lối học hình thức hòng cầu danh lợi cá nhân, không còn hiện tượng chúa tầm thường, thần nịnh hót. Nhiều người học giỏi lại có đạo đức tốt, đỗ đạt làm quan sẽ làm cho triều đình ngay ngắn, xã hội trong sạch. Việc cai trị quốc gia của nhà vua sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn, nước nhà sẽ vững vàng, bình ổn. Nếu nói theo cách hiểu hôm nay của chúng ta thì đạo học chân chính sẽ có sức mạnh cải tạo con người, cải tạo xã hội, thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo hướng tích cực. Đằng sau các lí lẽ bàn về tác dụng cửa phép học, Nguyễn Thiếp đã đề cao tác dụng của phương pháp học tập đúng đắn, tin tưởng ở sự phục hưng của sự nghiệp giáo dục chân chính, kì vọng về tương lai tươi sáng của đất nước. Ý kiến của Nguyễn Thiếp trùng hợp với ý kiến của nhà bác học Lê Quý Đôn: Nhân tài là nguyên khí quốc gia. Đất nước nhiều nhân tài thì chế độ vững mạnh, quốc gia hưng thịnh. Nguyễn Thiếp nêu rõ mục đích, tác dụng của việc học là để làm người, học để nâng cao hiểu biết và làm việc ngày một tốt hơn; đóng góp được nhiều hơn cho đất nước. Nếu mọi người hiểu được điều đó thì sẽ nhận ra tác hại ghê gớm của lối học hình thức hòng cầu danh lợi. Nội dung bài Bàn luận về phép học tất nhiên chịu ảnh hưởng của quan điểm giáo dục Nho giáo, song điều chính yếu mà tác giả muốn nhấn mạnh là mục đích, tác dụng của việc học tập chân chính cũng như phương pháp học tập đúng đắn khoa học. Những ý kiến mà Nguyễn Thiếp nêu ra có nhiều điểm tiến bộ, đáng để cho hậu thế noi theo.
Phân tích bài Bàn luận về phép học của La Sơn Phù Tử Nguyễn Thiếp
2,334
Đề bài: Phân tích – Bình luận đoạn trích Bàn luận về phép học (trích Luận học pháp) của Nguyễn Thiếp. Bài làm Như ta biết Bàn luận về phép học (Luận học pháp) chí là một đoạn trích trong một bài tấu đề cập đến nhiều vấn đề trong phép chấn hưng trị nước mà Nguyễn Thiếp gửi lên vua Quang Trung vào tháng 8 năm 1791. Vì chỉ là một yếu tố trong hệ thống, Bàn luận về phép học chỉ có ý nghĩa độc lập tương đối khi đặt vào chỉnh thể mà thôi. Tuy vậy, do cách suy nghĩ đúng đắn, do cách lập luận chặt chẽ, lời văn không trọng sự hoa mĩ khoa trương mà cụ thể xác thực, trích đoạn vẫn thể hiện được tư tưởng lớn về mục đích của con đường học vấn. Từ đó mà có một phép học thích hợp: khoa học và thiết thực dẫn đến những tài năng, có ích cho việc tu thân, góp phần tích cực vào sự hưng thịnh nước nhà. Tư tưởng lớn ấy thể hiện trong một đoạn văn nghị luận, tuy dung lượng lời nói không dài, nhưng vẫn triệt để tuân theo những nguyên tắc cơ bản của văn nghị luận. 1. Trong phần nêu vấn đề về sự học, tác giả không bàn đến việc vì sao phải học (nguyên tắc) mà nhấn vào một khía cạnh: học để làm gì? (mục đích). Là bởi vì: “Ngọc không mài không thành đồ vật; người không học không biết rõ đạo”. Nhưng đạo ấy là gì? Ấy là cái đích của sự học vậy. Theo tác giả thì “Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người”. Đạo dạy người ta về những mối quan hệ: hẹp thì với bản thân, trong gia đình, rộng ra là ngoài xã hội. Mối quan hệ ấy trong khuôn khổ của xã hội phong kiến không nằm ngoài khái niệm “tam cương”, “ngũ thường” quen thuộc. Tóm lại, học trước hết là học đạo làm người, học để “lập đức” cho mình, để “lập công” nghĩa là phải cống hiến tài năng cho xã hội. Đó là nền tảng của “chính học”, là cơ sở của một quốc gia nước mạnh dân giàu, xã hội thái bình, thịnh trị. Cách nhìn của tác giả đoạn văn có tầm chiến lược dài lâu vì nó đụng đến sự an nguy của xã tắc (tức đất nước). 2. Trong phần giải quyết vấn đề, tác giả nêu lên hai luận điểm lớn để một mặt phê phán lối học sai mục đích hiện thời và một mặt khôi phục lại lối học chân chính mà nguyên tắc và mục tiêu xã hội dã xác định từ xưa. b) Ở luận điểm thứ hai: phải khôi phục lại mục đích của nền “chính học”, tác giả không nhắc lại mục đích của việc học nữa, vì nó đã được xác định từ đầu. Đây là hiện tượng chìm đi của quan điểm trong lập luận. Vì vậy, nếu người đọc vô tình sẽ có cảm giác như là hẫng hụt, thấy thiếu đi một cái gì lẽ ra phải có. Thay cho việc nhắc lại mục đích chân chính của việc học (vì không cần phải nhắc lại lần thứ hai), tác giả càn đến việc chấn hưng trên cơ sở ấy. Sự việc chấn hưng to lớn và cấp thiết được nhìn từ hai cấp độ: chiều rộng và chiều sâu. Về chiều rộng: cần mở mang thêm nhiều trường lớp, bằng nhiều hình thức, ở khắp mọi nơi, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người đi học. Quan điểm mà nay gọi là xã hội hoá giáo dục có hai cái lợi (mà tác giả không nói rõ ra): một là nâng cao được dân trí và hai là lựa chọn được nhân tài. Đó là cái nén của “chính học”.
Phân tích bài Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp
655
Đề bài: Phân tích bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm và nói lên cảm nghĩ Gợi ý Bài Bàn về đọc sách của học giả Chu Quang Tiềm, văn bản này in trong cuốn Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách. Tác giả đã nêu lên 3 luận điểm cơ bản: mục đích của việc đọc sách, cái khó của việc đọc sách, phương pháp đọc sách. Hai đoạn văn đầu nói về mục đích của việc đọc sách: "Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách rốt cuộc là một con đường quan trọng của học vấn". Học vấn là vốn kiến thức tích lũy được; người có học vấn là người giàu chữ nghĩa, học rộng, biết nhiều, cái vốn trí tuệ giàu có để làm ăn, để thi thố, để hiến dâng và phục vụ. Có nhiều cách để có học vấn, nhưng Chu Quang Tiềm đã khẳng định "đọc sách rốt cuộc là một con đường quan trọng của học vấn". Sách là gì? Sách là "kho tàng quý báu của di sản tinh thần nhân loại" đã được "ghi chép mà lưu truyền lại". Sách là "những cột mốc trên con đường tiến hóa học thuật". Ví dụ, từ thơ ca dân gian mà có thơ quốc âm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, v.v… Tại sao phải đọc sách? Để xây dựng nên một sự nghiệp lẫy lừng có thi sĩ đời Đường đã "đọc thơ phú vạn quyển" Ức Trai bác học Lê Quý Đôn đã suốt đời "mắt không rời trang sách, tay không rời cuốn sách",… Chu Quang Tiềm có một cách nói khá hay về mục đích của việc đọc sách. Đọc sách để “ làm điểm xuất phát" để vươn lên, tiến lên từ văn hóa học thuật. Không biết đọc sách có nghĩa là "xóa bỏ hết" thành tựu văn hóa của quá khứ, chẳng khác nào "đi giật lùi, làm kẻ lạc hậu". Đọc sách là để kế thừa tri thức nhân loại. Đọc sách là dể "trả món nợ chung” là để "ôn lại" những thành tựu, những kinh nghiệm, tư tưởng của nhân loại trong mấy nghìn năm. Đọc sách là để "thu nhận" và "hưởng thụ" những kiến thức, lời dạy của người xưa, để tự vũ trang cho mình một tầm cao trí tuệ, một bề dày học vấn, có thế "làm cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, đi phát hiện thế giới mới". Cái khó của việc đọc sách là luận điểm thứ hai mà tác giả nói đến trong đoạn văn thứ 3 bài Bàn về đọc sách. Sách ngày một nhiều, đầy ắp trong các cửa hàng, chất cao trong các thư viện, vì thế người đọc sách thường đứng trước 2 cái khó (cái hại). "Một là sách nhiều khiến người ta không chuyên sâu". Ngũ thư, ngũ kinh), họ đã "miệng đọc, tâm ghi, nghiền ngẫm đến thuộc lòng thấm vào xương tủy biến thành một nguồn động lực tinh thần, củ đời dùng mãi không cũ”. Chu Quang Tiềm châm biếm một "học giả trẻ" khoe đọc hàng vạn cuốn sách; cách đọc "liếc qua" tuy nhiều mà "lưu tâm" thì rất ít, "hư danh nông cạn" khác nào "ăn sống nuốt tươi"… Thứ hai, sách nhiều dễ khiến người đọc lạc hướng. Trước hàng biển sách, hàng núi sách, nhiều người vì "tham nhiều mà không vì thực chất", không phân biệt được "những tác phẩm ai bàn đích thực" với những "cuốn sách vô thưởng vô phạt", học vấn chẳng được nâng cao, tâm hồn chẳng được bồi đắp, trái lại chỉ "lãng phí thời gian và sức lực". Tác giả đưa ra một so sánh, với chuyện đọc sách, làm học vấn chỉ "đá bên đông, đấm bên tây", "tự tiêu hao lực lượng", mà không biết "đánh vào thành trì kiên cố, đánh bại quân địch tinh nhuệ, chiếm cứ mặt trận xung yếu". Qua đó, ta càng thấy rõ, đọc sách để làm học vấn, đọc sách để tự học thật không dễ. Ba đoạn văn cuối bài, tác giả nêu lên phương pháp đọc sách. "Đọc sách không cần nhiều, quan trọng nhất là phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ". Chỉ đọc "lướt qua" 10 quyển sách thì không bằng "đọc mười lần" một quyển sách. Đọc 10 quyển sách "không quan trọng’" thì chẳng bằng đọc 1 quyển sách “ thật sự có giá trị". Một câu thơ của cổ nhân được nhắc lại rất ý vị, thấm thía: Sách cũ trăm lần xem chẳng chán, Thuộc lòng, ngẫm kĩ một mình hay. Đọc nhiều chưa hẳn là "vinh dự", đọc ít cũng không phải là "xấu hổ". Phải "đọc kĩ", tập thành nếp "suy nghĩ sâu sa, tích lũy, tưởng tượng tự do đến mức làm đổi thay khí chất'!. Chu Quang Tiềm đưa ra so sánh "kẻ trọc phú khoe của" để châm biếm những kẻ "đọc nhiều mà không chịu nghĩ sâu", thể hiện "phẩm chất tầm thường, thấp kém". Sách đọc có thể chia thành mấy loại, một loại là thường thức, một loại đọc để làm học vấn chuyên sâu. Loại sách thường thức thì ai cũng phải biết. Các bài học ở trung học và năm đầu đại học, nếu người học chăm chỉ học tập "thì cũng đủ dùng". Đọc thuộc giáo trình "chẳng có lợi gì ", mỗi môn cần phải "chọn kĩ từ 3 đến 5 quyển xem cho kĩ". Nếu thiếu lựa chọn hoặc đọc qua loa thì người đọc sách sẽ "không thu nhận được lợi ích thực sự". Sách thường thức "không chỉ cần cho công dân thế giới hiện tại" mà đối với các nhà học giả chuyên môn "cũng không thế thiếu được". Phải chuyên sâu, uyên bác. Trên đời không có học vấn nào là cô lập, không có liên hệ kế cận, vì thế trong quá trình học tập, nghiên cứu "không thể tách rời". Các bộ môn, các chuyên ngành như: Văn, Sử, Triết, Ngoại giao, Quân sự, Chính trị… đều có "quan hệ" đến nhau. Nếu không biết đến các học vấn liên quan thì "trốn như con chuột chui vào sừng trâu, càng chui sâu càng hẹp, không tìm ra lối thoát". Tác giả nêu lên phương châm trong học vấn: "không biết thông thì không thể chuyên. không biết rộng thì không thế nắm gọn phải biết rộng rồi sau mới nắm chắc. Người có thành tựu lớn trong một lĩnh vực học vấn nào "đều phải có cơ sở sâu sa của nhiều môn học vấn khác". Đó là chuyên sâu và uyên bác trong học vấn. Vấn đề Bàn về đọc sách không có gì là mới. Đã có nhiều nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ… nói về đọc sách và kinh nghiệm đọc sách. Nhưng cách viết nhẹ nhàng, lí lẽ xác đáng, cách lập luận chặt chẽ của Chu Quang Tiềm có sức thuyết phục sâu sắc. Biết cách đọc sách để xây dựng học vấn là những ý kiến gợi mở cách đọc sách, cách tự học, cách suy nghĩ cho mỗi chúng ta. Đó là bài học, là lời khuyên chí lí, chân thành. Một nét đặc sắc trong hài Bàn về đọc sách là tác giả đã sử dụng khá hóm hỉnh một số so sánh khi nói về phương pháp đọc sách, làm cho lí lẽ thêm phần gợi cảm, thấm thía.
Phân tích bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm và nói lên cảm nghĩ
1,264
Phân tích bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm Hướng dẫn Đề bài: Phân tích bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm. Làm người, muốn mau trưởng thành thì phải thường xuyên học tập, rèn luyện, tu dưỡng. Đối với tuổi trẻ chúng ta, học tập là nhiệm vụ hàng đầu, có tầm quan trọng đặc biệt. Có học tập chăm chỉ, thường xuyên, mới có học vấn, có kiến thức, từ đó mà rèn luyện trí tuệ, tâm hồn, đạo đức để tiến bộ. Để có học vấn, chúng ta cắp sách tới trường, tiếp thu lời thầy cô giảng dạy, trao đổi với bạn bè. Để có học vấn, chúng ta lắng nghe và suy ngẫm những điều cha mẹ, ông bà, anh, chị em trong gia đình dạy bảo, góp ý. Và chúng ta cũng có thể tích luỹ vốn kiến thức trong quá trình giao tiếp xã hội. Trước mặt chúng ta, bao nhiêu con đường mở ra, đưa chúng ta tới kho tàng trí tuệ, giúp chúng ta nâng cao học vấn. Trong những con đường ấy, có một con đường… Nó im lặng, vắng vẻ, âm thầm, không bóng người, không tiếng nói, nhưng nó lại chứa đầy ánh sáng, ngân vang những âm thanh để soi sáng cho ta, giục giã, dẫn dắt chúng ta. Con đường đó là… đọc sách. Đối với con người nói chung, tuổi trẻ nói riêng, việc đọc sách có một ý nghĩa, tác dụng đặc biệt. Đọc sách là con đường quan trọng của học vấn. Muốn hiểu thấu công việc mang tính trí tuệ – văn hoá này, chúng ta hãy tìm đọc và suy ngẫm những ý kiến của nhà mĩ học Trung Hoa Chu Quang Tiềm trong bài chính luận đặc sắc Bàn về đọc sách. Bài viết khá dài, bao gồm bảy đoạn với những lí lẽ phong phú, sâu sắc, kết hợp những hình ảnh so sánh, liên tưởng sinh động hấp dẫn, dễ hiểu. Ta có thể chia văn bản ấy thành ba phần: Phần 1 (từ đầu đến "…bàn chưa hết"): Tác giả nêu vấn đề mình sẽ "kiến giải" – bàn về việc đọc sách. Phần 2 (từ "Học vấn…." đến "… phát hiện thế giới mới"): Tác giả phân tích ý nghĩa, tác dụng của việc đọc sách. Phần 3 (từ "Lịch sử càng tiến lên…" đến hết): Tác giả hướng dẫn vài cách đọc sách. Xem xét bố cục, nội dung và cách thể hiện, ta thấy đây là một văn bản chính luận – nghị luận về một vấn đề xã hội – khá sáng tỏ, mạch lạc, chặt chẽ. Phần 1 là đặt vấn đề, phần 2, 3 giải quyết vấn để, không có phần kết thúc vấn đề, do đây là bài trích, chứ không phải một văn bản trọn vẹn. Đọc văn bản này, chúng ta hiểu và suy ngẫm thú vị nhất là hai phần cuối của đoạn trích. 1.Sách là kho tàng quý báu, di sản tinh thần, những cột mốc trên con đường tiến hoá của nhân loại Về giá trị của sách và ý nghĩa, tác dụng trong việc đọc sách, nhà mĩ học viết như thế. Và ông nhấn mạnh: "Nếu chúng ta mong tiến lên từ văn hoá, học thuật của giai đoạn này, thì nhất định phải lấy thành quả nhân loại đã đạt được trong quá khứ làm điểm xuất phát". Điều đó nghĩa là việc đọc sách giúp chúng ta khám phá và sử dụng kho tàng tinh thần của nhân loại, từ những thành tựu – những hiểu biết, những việc làm và cách làm để thúc đẩy cuộc sống tiến lên – chúng ta "xuất phát", chúng ta đi tiếp con đường nhân loại đã đi, đã đạt tới từng "cột mốc", từng chặng, từng chặng, ngắn, dài khác nhau. Chu tiên sinh còn nhấn mạnh thêm: "Đọc sách là muốn trả món nợ đối với thành quả nhân loại trong quá khứ…". Điều đó nghĩa là thế nào? Phải chăng mỗi quyển sách, trăm ngàn quyển sách thuộc các môn khoa học, văn học, nghệ thuật đã tích tụ kinh nghiệm và tư tưởng của cha ông hàng nghìn nãm để tặng lại cho chúng ta – những người thuộc thế hệ sau – biết bao điều quý báu, bao lời dạy thiết thực? Đọc sách, lắng nghe và làm theo những lời dạy đó, thế hệ trẻ ngày nay sẽ làm vừa lòng thế hệ đi trước, đáp lại thịnh tình của cha ông, giải toả giúp cha ông những trăn trở, những khao khát thể hiện trong sách. Đọc sách, làm theo lời dạy, rút kinh nghiệm theo những điều nhân loại đã đúc kết để nối tiếp con đường nhân loại đang đi chính là cách mà những người được hưởng thụ di sản tinh thần nhân loại đền ơn, đáp nghĩa thế hệ đi trước. Cũng có thể nói đó là "trả món nợ" cho quá khứ. Tóm lại, đọc sách có ý nghĩa và tác dụng vô cùng to lớn. Đó là cách chuẩn bị thiết thực, chủ động, hiệu quả để mỗi chúng ta "làm được cuộc trường chinh vạn dặm trên con đường học vấn, nhằm phát hiện thế giới mới". Chu Quang Tiềm sơ kết về ý nghĩa, tác dụng của việc đọc sách bằng một hình ảnh ví ngầm "làm được cuộc trường chinh vạn dặm" thật thú vị. Việc đọc sách nhằm nâng cao nhận thức, bồi bổ trí tuệ, phát triển tâm hồn, tình cảm, rèn giũa hành động,… để lớn lên về tinh thần, trưởng thành trong cuộc sống của mỗi người chúng ta vốn là một ý niệm trừu tượng, trở nên cụ thể, dễ hiểu, lôi cuốn, hấp dẫn biết bao! 2.Đọc sách như thế nào là tốt nhất? Theo Chu Quang Tiềm, muốn đọc sách đạt hiệu quả cao, chúng ta cần: a)Tránh "hai cái hại": Một là đọc không sâu, đọc "liếc qua" thì rất nhiều, nhưng lưu tâm thì rất ít. Học sinh Trung học cơ sở thường hay đọc sách kiểu" cưỡi ngựa xem hoa". Cầm cuốn truyện, hay tập sách về khoa học, nhiều bạn đưa mắt, lướt qua trang này, trang khác, hình vẽ này tiếp hình vẽ khác, xem nhân vật này ra sao, xấu đẹp thế nào, gặp ai, "đánh đấm" hay trêu chọc, tán tỉnh ai, nhằm thoả trí tò mò, chứ không chú ý tới lời văn, câu thơ, sự việc, hình ảnh… nhất là ý nghĩa sâu xa, ý tưởng thâm thuý của câu chuyện, của tập sách. Có một số bạn lại chỉ háo hức, ham mê xem loại "tranh truyện", khoái chí với các pha "đùng đoàng", những hình vẽ kì quặc, lạ mắt. Các bạn ấy, một ngày ngốn hàng chục cuốn sách, đến mức mắt hoa, óc mệt, chẳng thu lượm được điều gì bổ ích. Khi đọc sách giáo khoa, xem vào bài tập thì… trí tuệ mịt mờ, chẳng hiểu gì. Kiểu đọc sách ấy là kiểu "ăn không tiêu", dễ sinh "đau dạ dày", đúng như Chu Quang Tiềm cảnh báo. Thứ hai, tác giả cảnh báo: đó là bệnh "đọc lạc hướng", thiếu lựa chọn sách, gặp sách nào đọc sách ấy mà không tìm những cuốn sách bổ sung, phụ trợ và nâng cao học vấn mình đang cần tiếp nhận, trao đổi. Cách đọc sách ấy, ông Chu ví như người chiến sĩ đánh trận không tìm đúng mục tiêu, "chỉ đá bên đông, đấm bên tây", hậu quả là "tự tiêu hao lực lượng". Rất nhiều bạn học sinh chúng ta – nhất là các học sinh ở thành phố – đã bị cuốn vào lối đọc này. Nào truyện tranh, báo cười, tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết tâm lí, lại cả thơ tình yêu, cả những hỏi đáp về chuyện nọ, chuyện kia và… thậm chí có bạn tìm đọc một số sách bói toán nữa,… Đọc sách kiểu ấy thì không chỉ tự tiêu hao lực lượng mà có khi lại bị những quyển sách có nội dung xấu, nội dung không phù hợp… đánh gục. Người xưa từng nói: "Đa thư loạn mục" (đọc nhiều sách thì rối mắt). Lời cảnh báo của ông Chu tuy chỉ là một cách so sánh nhẹ nhàng đủ gợi cho chúng ta liên hệ tới biết bao thực tế nặng nề, khiến chúng ta giật mình, lo sợ. b)Theo "hai điều lợi": Ở phần cuối văn bản, ông Chu gợi ý và hướng dẫn chúng ta nên theo một vài cách đọc sách hữu ích. Một là "đọc sách không cốt lấy nhiều, quan trỏng nhất là phải chọn cho tinh, đọc cho kĩ". Với học sinh, có lẽ chúng ta nên lựa chọn những sách nào – bao gồm cả sách văn học, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật, tin học, ngoại ngữ, y học, đời sống – sát hợp lứa tuổi, trình độ và yêu cầu học vấn của từng lớp, từng cấp học. Trong quá trình đọc mỗi cuốn sách, ta biết "Đọc – Hiểu – Suy ngẫm" ở từng bài, từng chương, thậm chí ở từng từ ngữ, câu, từng sự việc, hình ảnh. Có vậy mới thu lượm được phần tinh tuý, cảm nhận được tư tưởng, tình cảm của người viết sách gửi cho ta. Sách cũ trăm lần xem chẳng chán Thuộc lòng, ngâm nghĩ một mình hay. Ông Chu đã tóm tắt lợi ích của việc đọc sách đúng đắn – đọc kĩ, đọc sâu – bằng hai câu thơ thú vị. Đúng là "Đọc ít mà đọc kĩ, thì sẽ tập thành nếp suy nghĩ sâu xa, trầm ngâm tích luỹ, tưởng tượng tự do đến mức làm đổi thay khí chất". Đọc ít, đọc kĩ có tác dụng lớn lao như vậy. Còn biết bao cách đọc ít, đọc kĩ với biết bao tác dụng khác nữa mà mỗi người đọc sách có ý thức, chủ động, nhằm một mục đích đúng đắn có thể tự tìm ra được. Cách thứ hai của việc đọc sách chủ động, hữu ích mà ông Chu Quang Tiềm gợi ý: Phải biết lựa chọn sách. Theo ông Chu, nên chia sách làm hai loại: loại chuyên sâu và loại thưởng thức. Chúng ta hiểu điều đó thế nào? Loại sách "chuyên sâu" là sách đi sâu vào những chuyên ngành khoa học, kĩ thuật, sách văn học tập trung vào một chủ đề, có chung thể loại. Với học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, sách "chuyên sâu" chính là những cuốn sách giáo khoa của các bộ môn khoa học tự nhiên (sách Toán, Lí, Hoá, Sinh, Kĩ thuật), bộ môn khoa học xã hội nhân văn (sách Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Ngoại ngữ) và một vài tác phẩm tham khảo, ngoại khoá phục vụ cho nội khoá. Còn loại "sách thường thức", đối với học sinh chúng ta là những cuốn bàn về cuộc sống, những tờ báo, tạp chí thông tin và hướng dẫn chúng ta về thời trang, về cách ứng xử và biết bao điều khác trong cuộc sống ở gia đình, trong nhà trường, ngoài xã hội,… Tuỳ hoàn cảnh, tuỳ năng lực mỗi người mà phối hợp, lựa chọn hai loại sách "chuyên sâu" và "thường thức". Đối với học sinh lớp cuối cấp Trung học cơ sở, có lẽ chúng ta nên tập trung ưu tiên đọc loại sách có ích nhất, loại "chuyên sâu" của học sinh Trung học cơ sở. Từ đó mà mở rộng tầm nhìn, đọc thêm một số sách thông thường. Đó là một cách "học tập chăm chỉ", một cách đọc sách khoa học nhất, đúng như ông Chu nhắc nhở "không biết rộng thì không thể chuyên, không thông thái thì không thể nắm gọn". Bàn về việc đọc sách là điều thật thú vị. Biết bao nhiêu nhà khoa học, bao nhiêu danh nhân cổ kim, trong nước, trên thế giới từng có nhiều lời vàng ngọc khuyên dạy chúng ta. Cụ Nguyễn Trãi đã từng nói: "Đọc sách thì thông đòi nghĩa sách" và cụ Nguyễn Binh Khiêm cũng viết: Khôn nghề cờ bạc là khôn dại Dại chốn văn chương, ấy dại khôn. Đọc bài Bàn về đọc sách của ông Chu Quang Tiềm, chúng ta hiểu rằng: Đọc sách là một con đường quan trọng để tích luỹ, nâng cao học vấn. Cần kết hợp giữa đọc rộng và đọc sâu, giữa loại sách thường thức và loại sách chuyên môn. Việc đọc sách phải có kế hoạch, có mục đích kiên định, chứ không thể tuỳ hứng và phải vừa đọc, vừa nghiền ngẫm kĩ. Tác giả đã trình bày những ý kiến xác đáng ấy bằng bài viết có lí lẽ chặt chẽ, có dẫn chứng và những ví von, so sánh rất sinh động. Trong thời đại văn hoá, các phương tiện nghe nhìn đang bùng nổ hiện nay, việc đọc sách dối với học sinh là biểu hiện của một phong cách văn hoá kiên định, bản lĩnh, vô cùng bố ích mà mỗi chúng ta không thể thờ ơ, không thể coi thường.
Phân tích bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm
2,211
Phân tích bài Bảo kính cảnh giới 43 của Nguyễn Trãi Hướng dẫn Phân tích bài Bảo kính cảnh giới 43 của Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi không chỉ biết đến với tác phẩm nổi tiếng, một áng thiên cổ hùng văn bình ngô đại cáo mà còn được biết đến vơi những bài thơ thiên nhiên và con người như Côn Sơn Ca, Cây Chuối… một trong những tác phẩm thiên nhiên và con người ấy còn phải kể đến bài thơ bảo kính cảnh giới 43 của ông. Đó là bài thơ cảnh ngày hè với những thiên nhiên con người và tâm trạng của Nguyễn Trãi. Trong những bài thơ về tình yêu thiên nhiên CÔn Sơn chính là nơi dừng chân của Nguyễn Trải trong những ngày tháng buồn bã mệt mỏi nơi quan trường. Sự ung dung nhàn hạ ấy được thể hiện trong câu thơ đầu tiên: Rồi hóng mát thuở ngày trường Câu thơ như mở ra những ngày tháng thảnh thơi, hóng mát những ngày dài, những hình ảnh dài của những ngày tháng ấy dần được mở ra ở những câu sau. Những ngày tháng ấy là những ngày tháng an nhàn khi gác lại chuyện chính sự sang một bên, khiến cho không chỉ tâm hồn mà thể xác cũng rất nhàn hạ. cuộc sống với ông chỉ cần thế mùa hè đến ông không cảm nhận thấy cái nóng của đát trời mà ông chỉ cảm nhận được gió mát. Thiên nhiên nơi chốn quê hương chính là nguồn cảm hứng vô tân cho tác giả. àm cho ông cảm thây vui vẻ phần nào trong cuộc sống ở quê. Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” Đây là những câu thơ đặc tả những cảnh đẹp mùa hè nơi chốn quê hương ông, là hương sắc mùa hè rất sinh động và hấp dẫn. hình ảnh của mùa hè hiển ra với những gam màu nóng:màu đỏ của hoa hòe, màu lựu đỏ, màu hồng của cánh sen và chúng được kết hợp với những động từ mạnh như “ đùn đùn”, “ phun”, “ tiễn” cho thấy một bức tranh quê hương với màu sắc và hương vị đặc trưng và sự sinh sôi nảy nở manh mẽ trong mùa hè. Bức họa đồn quê hiện ra với biết bao nhiêu màu sắc bao nhiêu thay đổi đẹp đẽ, và đó còn là sự sinh trưởng mạnh mẽ của hoa cỏ cây cối. nó mang tới cho chúng ta những cảm giác thật yên bình, không những thế ta còn cảm nhận được cái hương vị của mùa hè qua động từ “tiễn”. KHông những thế mùa hè còn mang đến cho tác giả những những phiên chợ những làng ngư phủ. Cuộc sống thôn dã hiện ra với vẻ tấp nập hiếm có của con người nơi đây. Chính chợ phản ánh cuộc sống của con người có no đủ, giàu có hay không “Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương” Cuộc sống thật sự náo nhiệt, những phiên chợ của những ngư dân vùng biển, hình ảnh ảnh những con người lao động hiện lên thật đẹp với phiên chợ vui vẻ của những lưới cá bội thu. Dân giàu đủ khắp đòi phương”. Cất lên một khúc đàn của cây đàn vua Ngu Thuấn mang lại cho nhân dân cuộc sống âm no hạnh phúc. MƯợn được hình ảnh vua Ngu Thuấn cây cầm ấy để làm cho nhân dân ta giàu mạnh khắp phương. Dù đã trở về với cuộc sống nơi thôn dã nhưng ông luôn luô giữ tình yêu thương và lòng mong mỏi một cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân tram họ. Bài thơ là những dòng chảy cảm xúc về thiên nhiên cũng như nối khát khao mong mỏi và tấm lòng yêu nước nồng nhiệt của Nguyễn Trãi. Bìa thơ tuy ngắn nhưng để lại cho người đọc nhiều ấn tượng mạnh. Kết thúc bài thơ là tinh thần nhân nghĩa cao cả và tình yêu nhân dân vô bờ bến của ông Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài Bảo kính cảnh giới 43 của Nguyễn Trãi
686
Phân tích bài ca dao Anh em nào phải người xa Hướng dẫn “Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” Hai câu cuối là lời khuyên bảo anh em, chị em về cách sống, cách đối xử trong gia đình sao choleó tình nghĩa^ “Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy” Tục ngữ có câu: “Anh em như chân với tay”. Chân với tay. là hai bộ phận gắn bó của con người. Con người hoàn chỉnh không thể thiếu tay hoặc chân. Cũng như anh em ruột thịt phải biết yêu nhau, thương nhau, gắn bó đỡ đần nhau “như thê’ tay chân”. Anh em phải sống hòa thuận, nghĩa là đoàn kết, đùm bọc, nhường nhịn nhau, anh thương em, em kính trọng anh. Anh em ruột thịt có biết “yêu nhau”, có “hòa thuận” thì cha mẹ mới “vui vầy” sống yên vui hạnh phúc. Các động từ: “yêu nhau” và “hòa thuận” nói lên cách sống, cách cư xử đầy tình nghĩa tốt đẹp của anh em, chị em trong gia đình.
Phân tích bài ca dao Anh em nào phải người xa
183
Phân tích bài ca dao Chiều chiêu ra đứng ngõ sau Hướng dẫn Nó gắn bó với tâm hồn nhân dân ta từ bao đời nay. Trong đó, những bài ca dao nói về tình cảm gia đình sao mà hồn hậu, thắm thiết thế. Tinh cha, nghĩa mẹ, tình yêu thương anh chị em, tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng, v.v… trong nhiều câu ca dao “sống” với ta như một kỉ niệm đẹp không bao giờ quên. Bài ca dao nói về tình thương nỗi nhớ của người con gái đối với mẹ già là một ví dụ làm cho em cảm động: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” Thơ lục bát vốn nhịp nhàng, êm đềm. Hai câu ca dao này, cũng vậy, nhịp hai cân đối hài hòa, với chín thanh bằng quá bán, với ba tiếng “chiều chiều… chiều” đứng ở đầu và cuối câu,… đã tạo nên nhạc điệu, giai điệu nhè nhẹ, buồn thương. Điệu tâm hồn của câu ca dao là vô cùng đặc sắc, nó quyện lấy tâm hồn người đọc người nghe. Sức hấp dần trước hết ở giọng điệu tâm tinh. ‘ 1. Câu thứ nhất vừa có tính thời gian (chiều chiều) vừa có tính khống gian (ngõ sau, quê mẹ). Buổi chiều tà, nhất là lúc hoàng hôn, ngày tàn, màn đêm dần buông xuống, là thời điểm gợi nhớ, gợi sầu man mác cho những người tha hương. “Song 22 sa vò võ phương trời – Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” (Truyện Kiều), “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Huy Cận). Bài ca dao cũng nói vể buổi chiều, không chỉ một buổi chiểu mà là nhiều buổi chiều rồi: “Chiều chiều..”. Sự việc cứ diễn ra, cứ lặp đi lặp lại “ra đứng ngõ sau”… “Ngõ sau” là nơi vắng vẻ. Câu ca dao gợi lên một chút tâm tình cô đơn. Câu ca dao không nói ai “ra đứng ngõ sau”, ai “trông về quê mẹ…”, nhân vật trữ tình không được giới thiệu cụ thể vẻ dáng hình, diện mạo… nhưng người đọc, người nghe xưa nay tinh lắm, vẫn cảm nhận được đó là cô gái xa quê hương, xa gia đình… (đi lấy chổng xa?). Nhớ lắm, nỗi nhớ vơi đầy, nên chiều nào cũng như chiều nào, nàng một mình “ra đứng ngõ sau”, lúc hoàng hôn để nhìn về quê mẹ phía chân trời xa: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau”… 2.Càng trông về quê mẹ, người con càng thấy lẻ loi nơi quê người, nỗi thương nhớ da diết khôn nguôi: “Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều” Quê mẹ khuất sau lũy tre xanh. Có cây đa, bến nước, sân đình. Có con đò nhỏ và dòng sông xanh uốn quanh. Có cánh đồng “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” ngào ngạt bốn mùa hương lúa. Có bà con chất phác, hiền lành và lam lũ sớm hôm. Có ngôi nhà gianh bé nhỏ thân yêu, nơi người con gái sinh ra và lớn lèn với bao kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ, của thời con gái. “Năm gian nhà cỏ thấp le te…” (Nguyễn Khuyến). Quê mẹ là nơi anh chị em ruột thịt quây quần xung quanh mâm cơm dẻo thơm có“canh rau muống… cà dầm tương”. Quê mẹ giờ đây có người mẹ già tóc bạc phơ đang tựa cửa thương nhớ đứa con gái đi xa… Ca dao nói ít, tả ít mà gợi nhiều bởi đó là “cây đàn muôn điệu” của dân gian. Chỉ là hai chữ “quê mẹ” thôi mà đã đem đến cho người đọc một trường liên tưởng chứa chan tình cố hương. Người con “trông về quê mẹ”, càng trông càng nhớ day dứt, tha thiết, nhớ khôn nguôi. Bốn tiếng “ruột đau chín chiều” diễn tả cực hay nỗi nhớ đó. Nhà thơ dân gian không sử dụng một bổ ngữ, một trạng ngữ mà lại dùng số từ “chín chiều” để biểu lộ tâm trạng, thật là độc đáo. Tục ngữ, thành ngữ có “năm nhớ mười thương” thì ở câu ca dao này lại có “ruột đau chín chiều”. Buổi chiểu nào cũng thấy nhớ thương, đau đớn. Đứng trông về chiều hướng nào, người con tha hương cũng buồn đau tê tái, nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ người thân thương dâng lên, càng thấy cô đơn vô cùng. Và chỉ một âm thanh đồng quê cũng gợi lên bao tình thương nỗi nhớ, nhớ mẹ hiền khôn nguôi: “Vẳng nghe chim vịt kêu chiều, Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiu ruột đau” Tinh mẹ con, tình yêu quê hương được nói đến trong bài ca dao trên đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn mõi chúng ta. Tình thương nỗi nhớ gắn liền với tấm lòng biết ơn của người con gái đi xa đối với mẹ già. Giọng điệu tâm tình, sâu lắng dàn trải khắp vần thơ, một nỗi buồn đẹp khơi dậy trong lòng người đọc bao liên tưởng về quê hương yêu dấu, về tuổi thơ. Có thể nói đây là một trong những bài ca dao trữ tình hay nhất, một đóa hoa đồng nội tươi thắm mãi với thời gian và con người quê ta.
Phân tích bài ca dao Chiều chiêu ra đứng ngõ sau
885
Phân tích bài ca dao cày đồng đang buổi ban trưa Hướng dẫn sương một nắng”,ca ngợi đức tính cần cù, kiên nhẫn của người dân cày quê ta. Hình ảnh người trai cày sao mà đáng yêu thế: “Cày dồng đang buổi ban trưa, Mồ hôithánhthót như mưa ruộng cày. Ai ơi, bưng bát cơm đẩy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”. Hai cầu đầu miêu tả cảnh cày đồng. Câu ca dao gợi lên trước mắt chúng ta người nông dân đang lội bùn, tay cầm cày, theo sau con trâu, dưới ánh nắng “ban trưa” chang chang mùa hạ. Người và con trâu phải làm việc vô cùng vất vả. Mồ hôi tuôn ra như mưa. Từ tượng thanh “thánh thót” gợi tả mồ hôi rơi xuống từng giọt… từng giọt liên tiếp, gieo vào không gian âm thanh “thánh thót”. “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” là hình ảnh so sánh thậm xưng gợi tả công việc cày đồng vất vả, cực nhọc không thể nói hết. “Mưa” làm cho lúa xanh tươi, cũng như “mồ hôi” đổ xuống luống cày làm cho đất đai thêm màu mỡ. Nghệ thuật ví von “mổ hôi” với “mưa” thật là sáng tạo, làm cho người đọc, người nghe thấm thía, cảm thông với bao cực nhọc của nhà nông. Thật vậy, họ đã đổ biết bao mồ hôi, công sức vào luống cày, sá bừa, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, để làm ra bông lúa, củ khoai nuôi sống xã hội. Vần ca dao đã vẽ lên một hình ảnh tuyệt đẹp về người nông dân trên cánh đồng quê hương. Đó là những con người khỏe mạnh dẻo dai, cần mẫn và chm khó: Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” Hai tiếng cảm thán “ai ơi!” vang lên một cách tha thiết, đã tạo nên âm điệu êm ái, ngọt ngào. Nhà thơ dân gian nhắn gửi mọi người gần xa một tình cảm đẹp. Mỗi khi “bưng bát cơm đầy”, chúng ta cần ghi nhớ công ơn khó nhọc của người nông dân đã cuốc bẫm cày sâu, sản xuất lúa gạo cho nhân dân no ấm. Câu thơ sâu lắng, thấm thía: “Ai ơi, bưng bát cơm đầy, Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” Câu cuối bài ca dao được tạo nên bằng nghệ thuật tương phản đặc sắc. Câu 8 chia thành hai vế tiểu đối cân xứng. Tính từ “dẻo thơm” đối chọi với tính từ “đắng cay”, “một hạt” đối lập với “muôn phần”, làm nổi bật sức lao động sáng tạo của nhà nông. Câu ca dao đã nâng nhận thức và cảm xúc cho mọi người về giá trị của bông lúa, hạt gạo, bát cơm dẻo thơm mà ta được hưởng thụ hàng ngày thật là đáng quý vô ngần. Cho nên, nhân dân ta mới gọi hạt gạo là “hạt vàng”, “hạt ngọc” là thế! Cũng như phần lớn ca dao, dân ca, bài “Cày đồng đang buổi ban trưa…” được viết bằng thê’ thơ lục bát quen thuộc. Giọng thơ nhẹ nhàng thấm thía. Ngôn từ chọn lọc tinh tế, vừa giàu sức biểu hiện vừa đậm đà sắc thái biểu cảm: thánh thót, dẻo thơm, đắng cay, bát cơm đầy,… Các biện pháp tu từ: ví von so sánh, tương phản đối lập được vận dụng sáng tạo, viết nên những vần thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu. tộc qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Chính họ là những con người: “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy – Đi trả thù mà không sợ dài lâu”(Nguyễn Khoa Điềm). Đức tính cần mẫn, dẻo dai của nhà nông đã làm nên những mùa vàng quê ta, đem đến sự ấm no cho xã hội. Mọi gia đình có bát cơm dẻo thơm, đất nước có nhiều lương thực xuất khẩu là nhờ vào công sức nhà nông. Yêu kính và biết ơn nhà nông, em nguyện khắc sâu vào tâm hồn lời nhắn gọi tha thiết: “Ai ơi, bưng bát cơm đầy, Nhớ công hôm sớm, cấy cày cho chăng!”
Phân tích bài ca dao Cày đồng đang buổi ban trưa
682
Phân tích bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn Bài làm Ca dao dân ca luôn đem lại những cảm giác vô cùng ngọt ngào đối với người đọc cũng như người nghe, những câu ca dao mang theo hương lúa mới, mang theo tình người thắm đậm trong từng câu chữ, nhịp điệu trầm bổng như cánh sáo diều, mà đặc biệt hơn cả là câu ca thể hiện tình cảm gia đình, một thứ tình cảm không thể thiếu trong mỗi người. Đặc biệt trong số những bài ca dao dân ca thể hiện hoàn hảo tình cảm đó. Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Lời ca dao nghe giản dị mà thật thiết tha, những ý nghĩa to lớn chứa đựng trong từng câu chữ càng làm cho bài ca dao hay hơn bao giờ hết, câu ca nhắc nhở đạo làm con phải biết đặt chữ hiếu lên hàng đầu, câu ca dao ca ngợi công lao biển trời của cha, mẹ, những người làm con nên thấu hiểu điều đó, cần biết người đã ban cho mình sự sống, nuôi dưỡng khó khăn, dạy dỗ vất vả để ta có thể nên người. Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Tấm lòng người cha, người mẹ là bao la vô bờ bến. Công cha lớn lao như núi, người trụ cột của gia đình, luôn vất vả lo từng bữa ăn, từng chiếc áo mặc cho ta, người thức khuya dậy sớm, bươn chải giữa dòng đời tấp nập để vun đắp cho gia đình, người là chỗ dựa cho con cái mỗi khi vấp ngã, người là động lực để người con cất từng bước đi đầu tiên tiến về phía cha. Công lao đó được sánh ngay với những ngọn núi cao vời vợi đứng chắc chắn mạnh mẽ giữa trời cao, rồi khi bên cạnh ta ngoài cha còn có mẹ, người có công cưu mang chín tháng mười ngày, mạng nặng đẻ đau sinh ta ra trong đau đớn khó nhọc, rồi người mẹ đó vẫn âm thầm theo dõi người con lớn khôn mỗi ngày, bế bồng chăm sóc, dạy dỗ ta từng tiếng bập bẹ đầu tiên trong cuộc đời này, những đêm sốt cao người bên cạnh ta chính là người mẹ, dòng sữa mẹ ấm áp ngọt ngào nuôi ta lớn từng ngày, tình nghĩa đó được sánh với dòng suối nguồn chảy ra, dòng nước trong xanh ngọt ngào vô cùng. Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Khi đã nhắc đến ơn sinh thành dưỡng dục của người cha, người mẹ, câu ca dao cũng đưa ra được trách nhiệm về đạo làm con của mỗi người, đạo làm công phải luôn thờ kính cha mẹ, mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh, dù cho có sinh ra trong hoàn cảnh như thế nào đi chăng nữa cũng không bao giờ được trách cha mẹ mình, bởi vì họ đã ban cho ta sự sống trên cõi đời này và điều đó là vô giá không gì có thể đánh đổi được. Để xứng đáng với đạo làm con thì cần biết làm tròn chữ hiếu, vậy chữ hiếu như nào là tròn, đơn giản một người làm con phải biết cách cư xử với cha, mẹ, phải biết hết mực kính trọng, yêu thương, biết cách lắng nghe những gì cha, mẹ dạy, san sẻ gánh nặng công việc vừa với sức, với tuổi của mình, đó cũng là cách sống, cách làm người từ xa xưa cho tới nay, điều đó là thuận theo lẽ tự nhiên mọi người sinh ra đều cần phải biết. Bài ca dao cũng như bao bài ca dao khác cùng chủ đề, vô cùng nhẹ nhàng, hài hòa mà đong đầy cảm xúc, chân lí. Bài ca dao đã mang tính giáo dục sâu sắc từ bao đời nay mà sẽ còn lưu truyền mãi về sau.
Phân tích bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn
685