text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Phân tích bài ca dao sau "Anh em như thể tay chân. Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần" Bài làm Tình cảm gia đình là một trong những tình cảm đẹp đẽ nhất của con người Việt Nam, tình cảm ấy được thể hiện đằm thắm ngọt ngào trong ca dao dân ca. Bên cạnh những bài ca ca ngợi công cha nghĩa mẹ, đạo làm con, tình cảm vợ chồng… còn có nhiều bài đặc sắc nói đến tình cảm anh em trong gia đình. Câu ca dao dưới đây là bài học về đạo lý làm người: Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần Trong ca dao dân ca, lối nói so sánh ví von được sử dụng khá hiệu quả. Chân và tay là những bộ phận quan trọng trên cơ thể con người không thể thiếu được, không thể tách rời nhau. Thiếu chân hoặc tay mọi cử chỉ hành động của con người bị hạn chế. Chân với tay phối hợp với các bộ phận khác tạo nên sự hoàn chỉnh cho vẻ đẹp của con người kế cả hình thể lẫn tinh thần. Cách nói so sánh rất hay, lấy cái cụ thể để nói cái trừu tượng, lấy chân tay để nói tình cảm thân thiết gắn bó giữa anh em trong gia đình, trong dòng họ. Anh em cùng được sinh ra trong một gia đình, cùng cha mẹ và được nuôi dưỡng trong một tổ ấm. Anh em sống và lớn lên tình cảm gắn bó ruột thịt, họ cũng chung huyết hệ, bên nhau từ thuở ấu thơ đến lúc về già. Gia đình, gia tộc của con người Việt Nam xưa nay mang tính truyền thống bền vững trong cộng đồng làng xã ngàn năm. Nó phát triển qua quan hệ tình nghĩa giọt máu đào hơn ao nước lã, máu chảy ruột mềm. Tình cảm ấy thể hiện sâu sắc trong lễ, tết, ma chay, cưới hỏi… Từ mối quan hệ gia đình, nhân dân ta nói đến nghĩa vụ của anh em đối với nhau, nghĩa vụ ấy phải được thể hiện bằng hành động cụ thể: Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần Đùm bọc, đỡ đần là thể hiện tình yêu thương nhau. Câu ca dao có hai vế đối nhau, mỗi vế là những cảnh đời khác nhau, số phận khác nhau. Trong anh và em có thể có kẻ giàu người nghèo, kẻ sang người hèn… Nhưng dẫu thế nào anh em vẫn phải đùm bọc yêu thương nhau. Yêu thương là phải biết giúp nhau lúc hoạn nạn, khó khăn là: lá lành đùm lá rách, – hành động theo tình yêu thương. Khi lớn lên, lập gia đình mỗi người có một hoàn cảnh riêng. Lúc khoẻ cũng như lúc ốm đau bệnh tật, tối lửa tắt đèn có nhau, phải nương tựa vào nhau. Có được như vậy thì mới không khỏi môi hở răng lạnh,. Đó là đạo lý nghĩa tình huynh đệ. Bao năm tháng đã trôi qua chúng ta vẫn cảm thấy tiếng nói ấy vẫn vọng về từ cha ông: Anh em nào phải người xa Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân Yêu nhau như thể tay chân Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy Lòng hiếu thảo, tình cảm gia đình, anh em được xây dựng trên những quy ước của lễ giáo và sự ràng buộc về nghĩa vụ và trách nhiệm. Lúc nhỏ cha mẹ bận việc cấy cày, anh ru em ngủ, cõng em đi chơi. Yêu nhau từ thuở trong nôi Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru Trong những cảnh đời côi cút, anh còn thay cha mẹ nuôi dạy em khôn lớn trưởng thành. Lòng hiếu thảo hoà quyện với tình huynh đệ Hiếu lễ là kính trọng cha mẹ và yêu thương hoà thuận với anh em. Anh yêu thương em, nhường nhịn cho em, em kính trọng ngoan ngoãn vâng lời. Đó là đạo lí, nền nếp gia phong. Trong gia đình anh em có coi nhau như thể tay chân thì ra ngoài xã hội mới thương người như thể thương thân. Nếu như bất hoà trong tình cảm anh em thì chẳng những tình cảm anh em sứt mẻ mà xã hội cười chê: Tưởng rằng chị ngã em nâng Ai ngờ chị ngã, em bưng miệng cười Làng xã Việt Nam xưa nay vẫn tồn tại những dòng họ. Vai trò của ông trưởng tộc rất lớn, tình huynh đệ được đề cao và được coi trọng. Ngày giỗ tổ là ngày thể hiện sự gắn bó:tình anh em và tưởng nhớ cội nguồn. Gia đình là tế bào, nền tảng của xã hội. Từ tình thương anh em trong gia đình rộng ra: Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng Tóm lại bài ca dao mãi mãi là bài học về tình nghĩa anh em trong gia đình, thân thiết thuỷ chung. Tình cảm ấy phải được coi là máu thịt, có như vậy mới mong gìn giữ những đạo lý truyền thống của ông cha răn dạy chúng ta.
Phân tích bài ca dao sau “Anh em như thể tay chân. Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”
852
Đề bài: Phân tích bài ca dao sau: "Khăn thương nhớ ai…Lo vì một nỗi không yên một bề…" Bài làm “Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai. Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ khóng yên. Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề…” Khăn thương nhớ ai…Lo vì một nỗi không yên một bề… Bài ca nằm trong hệ thống ca dao về đề tài thương nhớ, một cung bậc trong ca dao tình yêu của người bình dân Việt Nam. Bài ca diễn tả nỗi nhớ niềm thương của một cô gái. Nhớ thương da diết, nhớ đến thao thức, cồn cào gan ruột mà không dễ bộc lộ. Cô phải hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi cả mắt mình. Những câu hỏi không có câu trả lời càng nén chặt nỗi thương nhớ, để cuối cùng trào ra trong nỗi lo âu cho hanh phúc: Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề. Cái khăn được hỏi đến đầu tiên và được hỏi nhiều nhất, đến 6 câu thơ: Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai. Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Cái khăn hường là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người yêu (Gửi khăn, gửi áo, gửi lời – Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa). Sáu câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng, láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu các câu thơ và láy lại ba lần câu “khăn thương nhớ ai” như một điệp khúc bất tận, thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết. Dường như mỗi lần hỏi là nỗi nhớ lại trào dâng thêm. Cái khăn, tự nó không biết “thương nhớ” không biết “rơi xuống”, “vắt lên”, “chùi nước tnắt”, nhưng những hình ảnh vận động mang cảm xúc người đă làm hiện lên hình ảnh con người với tâm trạng ngổn ngang niềm thương nhớ cùng nỗi lo âu. Nhớ đến ngơ ngẩn, nỗi nhớ tỏa theo nhiều hướng của không gian “khăn rơi xuống đất” rồi lại “khăn vắt lên. Vai”, cuôì cùng thu lại trong cảnh khóc thầm “khăn chùi nước mắt”. Nỗi nhớ trong 6 câu trên lan tỏa vào không gian, đến 4 câu tiếp lại xuyên suốt theo thời gian. Nỗi nhớ ban ngày kéo dài sang cả ban đêm: Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Vẫn là điệp khúc “thương nhớ cũ", nhưng nỗi nhớ đã chuyển từ “khăn” sang “đèn”. Hình ảnh ngọn đèn gợi ra đêm khuya vò võ canh tàn, và cái đốm lửa đang cháy kia phải chăng là hình ảnh của nỗi nhớ cháy rực trong lòng cô gái? Ngọn đèn mãi không chịu tắt, nỗi nhớ cứ da diết khôn nguôi. Cũng như chiếc khăn, ngọn đèn đã giúp cô gái thổ lộ nỗi lòng. Nhưng dù gợi cảm bao nhiêu, thì chiếc khăn và ngọn đèn cũng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hóa. Nỗi lòng của cô gái buộc phải bật ra trong cách nói trực tiếp: Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. Thương nhớ đến không ngủ được, cứ trằn trọc thao thức là cách biểu lộ quen thuộc trong ca dao: Đêm nằm lưng chẳng tới giường. Trông cho mau sáng ra đường gặp anh. Tuy nhiên, cũng là một tâm trạng ấy, nhưng trong bài ca này, hình ảnh đôi mắt có sức gợi cảm sâu xa hơn nhiều. “Mắt ngủ không yên” tạo nên một đối xứng rất đẹp với “đèn không tắt” ở trên, gợi lên một cảnh tượng rất thực: cô gái giữa đêm khuya một mình đốì diện với ngọn đèn mà nhớ người thương. Vì “mắt ngủ không yên” nên “đèn không tắt”. Nói đèn cũng chỉ là để nói người thôi. Ngọn đèn soi chiếu vào đôi mắt, càng thấy nỗi nhớ thương vời vợi khôn nguôi. Mười câu thơ là 5 câu hỏi không có lời đáp. Điệp khúc “thương nhớ ai” trở đi trở lại như xoáy vào một nỗi niềm khắc khoải, da diết. Năm lần từ “thương nhớ” và năm lần từ “ai” xuất hiện. Bản thân từ “ai” xuât hiện. Bản thán từ “ai” mang ý phiếm chỉ, gợi lên một nỗi nhớ thương sâu thẳm mênh mông, không giới hạn. Từ “ai” là phiếm chỉ, không xác định cá thể đối tượng, nhưng người nghe hoàn toàn hiểu được “ai” ấy là ai. Hỏi không có trả lời, nhưng thực ra cầu trả lời đã nằm trong giọng điệu khắc khoải, da diết kia. Không cần nói rõ, nhưng nỗi nhớ người yêu đã được bộc lộ một cách kín đáo mà gợi cảm, sâu sắc, mãnh liệt. Cách gieo vần của bài ca cũng rất đặc sắc: Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai. Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. Vần chân và vần lưng xen kẽ nhau, vần bằng và vần trắc luân phiên nhau, tất cả tạo nên một âm điệu luyến láy liên hoàn khiến cho nỗi nhớ thương của cô gái vừa như nén lại, vừa như kéo dài ra đến mênh mông vô tận theo cả không gian và thời gian. Tưởng chừng nỗi nhớ ấy sẽ không có kết thúc… Nhưng bài ca phải có điểm dừng. Khi cô gái không hỏi nữa thì niềm thương nhớ trào ra thành nỗi lo phiền. Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề… Từ nhịp thơ bốn chữ dồn dập, liên tiếp, lời ca chuyển sang nhịp thơ lục bát, nhẹ nhàng hơn nhưng cũng xao xuyến hơn, giãi bày niềm lo âu của cô gái trước hạnh phúc lứa đôi. Không phải ngẫu nhiên mà chữ “lo” được nhắc đến hai lần. Nhớ thương người yêu và lo lắng cho duyên phận của mình “không yên một bề”, tâm trạng của cô gái mang ý nghĩa phổ biến cho người phụ nữ trong cuộc đời xưa: yêu tha thiết nhưug luôn lo sợ cho hạnh phúc bấp bênh. Bài ca khá tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với sự lặp lại trong cách diễn tả tâm trạng, cách dùng những hình ảnh biểu tượng, lối nhân hóa để tăng thêm sức sống cho hình ảnh, cách gieo vần linh hoạt, cách cấu tạo truyền thống kết hợp những câu thơ bốn chữ với hai câu lục bát cuối cùng… Qua nỗi thương nhớ và niềm lo âu được diễn tả trong bài ca, ta nhận ra tiếng hát yêu thương và khao khát yêu thương của người bình dân xưa.
Phân tích bài ca dao sau_ “Khăn thương nhớ ai…Lo vì một nỗi không yên một bề…”
1,123
Đề bài: Phân tích bài ca dao sau: "Muối ba năm muối đang còn mặn…Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa" Bài làm "Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mớ Bài ca nói về tình nghĩa lứa đôi mặn nồng, tình nghĩa vợ chồng gắn bó thủy chung. Ca dao thường mở đầu theo thể hứng: bắt đầu từ một sự vật, sự việc nào đó rồi mới nói đến ý chính. Nhiều khi sự vật mở đầu và ý chính không có liên quan gì với nhau: Con chim đỏ đỏ Cái mỏ nó xanh Nó kêu người ở trong làng, Đừng ham lãnh lụa, phụ phùng vải bô. Nhưng cũng có khi sự vật mở đầu và ý chính có liên quan với nhau. Bài ca này thuộc trường hợp sau: mở đầu bằng muối – gừng để nói đến tình nghĩa của con người. Muối – gừng đã đi vào ca dao khá nhiều: Tay bưng đĩa muối chấm gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau. Muối và gừng, đó là những sự vật vô cùng quen thuộc trong đời sống dân dã, bình dị và nghèo khó. Người bình dân dùng hình ảnh muối và gừng để nói đến tình nghĩa một cách kín đáo mà chân thực, sâu sắc. Muôi để càng lâu năm càng mặn, gừng để càng già càng cay. Người bình dân mong muốn tình nghĩa cũng đậm đà, lâu bền như vị mặn của muối, vị cay của gừng. Hai câu đầu nói gián tiếp, hai câu sau dùng cách nói trực tiếp: Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa củng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Hai tiếng “đôi ta" thật gần gũi, thân thiết. Cụm từ “nghĩa nặng tình dày” nói về nghĩa tình sâu nặng một cách thấm thía. Với người bình dân, tình bao giờ cũng đi với nghĩa. Nghĩa là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Tình càng dày thì nghĩa càng nặng. Người bình dân xem nghĩa trọng hơn tinh. Thậm chí có khi không bao giờ phai nhạt. Gừng chín tháng, muối ba năm, nhưng tình nghĩa của con người là trọn đời trọn kiếp. “Ba vạn sáu nghìn ngày” là một trăm năm, là cả đời người. Nghĩa tình gắn bó với nhau suốt đời suốt kiếp như thế mới thật là sâu đậm. Nói xa nhau mà đến một trăm năm sau mới chịu xa tức là không bao giờ xa nhau, không bao giờ quên nhau. Bài ca thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người lao động: gắn bó, thủy chung trong tình nghĩa vợ chồng, trong tình yêu đôi lứa.
Phân tích bài ca dao sau_ “Muối ba năm muối đang còn mặn…Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”
459
Đề bài: Phân tích bài ca dao sau: "Trèo lên cây khế nửa ngày…Ta như sao vượt chờ Trăng giữa trời" Bài làm Trèo lên cây khế nửa ngày, Ai làm chua xót lòng này, khế ơi! Mặt trăng sánh với mặt trời. Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng. Mình đi có nhớ ta chăng? Ta như sao vượt chờ Trăng giữa trời. Bài ca là lời của chàng trai đang yêu. Bài ca theo thể hứng, câu đầu chỉ có tác dụng đưa đẩy bắt vần: Trèo lên cây khế nửa ngày. Có nhiều câu ca dao giống như thế. Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Trèo lên cây bưởi hái hoa, Người ta hái hết đôi ta bẻ cành. Trèo lên cây gạo cao cao, Bước xuống vườn đào hái nụ tầm xuân. Trèo lên cây khế nửa ngày…Ta như sao vượt chờ Trăng giữa trời Trèo lên cây khế là bình thường, nhưng ở trên cây khế đến “nửa ngày” thì thật là vô lí. Nhưng chính cái vô lí ấy mới diễn đạt đúng trạng thái tâm hồn của chàng trai: chua xót đến ngơ ngẩn. “Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!”, câu đầu đã mở lối cho lời tâm sự bật ra ở câu thứ hai. Nỗi chua xót trong lòng chàng trai vì “ai” đó, chỉ biết ngỏ cùng cây khế. Vì đâu mà chua xót? Những câu hát còn lại cho ta hiểu được chàng trai chua xót vi sự cách trở trong tình yêu của anh với một người con gái. Trong bài ca có những cặp hình ảnh “mặt trăng” và “mặt trời”; “sao Hôm” và “sao Mai”, “sao Vượt” và “trăng”. Đó đều là những ẩn dụ lấy từ thiên nhiên để chỉ sự cách trở của đôi lứa, của “ta” và “mình”. Cũng như ngày với đêm, “mặt trời” có bao giờ gặp được “mặt trăng”, còn “sao Hôm” thì mãi xa cách “sao Mai”. Sao vượt và “tràng” đều là hình ảnh của bầu trời đêm nhưng cũng chẳng bao giờ gặp nhau được: sao Vượt lên đến đỉnh bầu trời thì trăng mới bắt đầu mọc. Càng xa cách lại càng nhớ thương vời vợi, nỗi thương nhớ của chàng trai bật ra thành câu hỏi da diết: “Mình ơi! Có nhớ ta chăng?”. Những câu hỏi như thế xuất hiện khá nhiều trong ca dao tình yêu: Mình về, có nhớ ta chăng, Ta về, ta nhớ hàm răng mình cười. Cách xưng hô “ta” và “mình” thật gần gũi và nồng nàn yêu thương. Yêu nhau là thế, mà tại sao phải cách trở để lòng người yêu nhau phải “chua xót”: “Ai làm chua xót lòng này, khể ơi!”. Câu hỏi “Ai làm…?” mang tính phiếm chỉ nhưng người đọc dễ dàng hiểu được nguyên nhân của tâm trạng chàng trai. Còn gì khác hơn, nếu không phải là lễ giáo phong kiến trong cuộc đời xưa với bao nhiêu sự ràng buộc khe khắt đã làm cho nhiều đôi lứa phải đau khổ vì yêu nhau mà không đến được với nhau. Bài ca thể hiện chân thực và cảm động một tâm trạng phổ biến trong tình yêu của người bình dân xưa: chua xót, tủi buồn cho tình duyên trắc trở; đồng thời bài ca cũng man mác một giọng điệu than thở, tủi hờn cho thân phận.
Phân tích bài ca dao sau_ “Trèo lên cây khế nửa ngày…Ta như sao vượt chờ Trăng giữa trời”
559
Đề bài: Phân tích bài ca dao sau: "Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi" Bài làm Bài ca là lời của cô gái, bày tỏ một ước mơ trong tình yêu đôi lứa. Chỉ có hai câu lục bát mà đủ diễn tả một tình yêu thiết tha, mãnh liệt. Bài ca mở đầu bằng hình ảnh con sông. Con sông cách trở lứa đôi nên em và chàng khó gặp gỡ. Nhưng có hề gì, “yêu nhau mấy núi sông cũng trèo”- Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua"! Tuy nhiên, “lội” cũng là một sự khó khăn rồi: nếu “bắc cầu” thì lứa đôi gặp gỡ sẽ dễ dàng hơn. Cho nên cô gái “ước gì sông rộng một gang”. Sông mà rộng chỉ một gang, cách nói cường điệu tạo nên một sự vô lí thú vị. Vô lí cho nên mới phải “ước”. Sự vô lí trong điều mơ ước diễn tả điều có lí của tình yêu. Sông chỉ một gang thì cô gái mới có thể “bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”. Cây cẩu – dải yếm là một hình tượng đặc sắc của bài ca. Cây cầu là một trong những mô-típ nghệ thuật quen thuộc và đặc sắc của ca dao, gắn chặt với đời sống tình cảm phong phú, mãnh liệt nhưng cũng hết sức tế nhị, duyên dáng của người bình dân Việt Nam. Mô-típ này xuất phát từ cuộc sống dân dã của người bình dân. Làng quê Việt Nam nơi nào mà chẳng có sông rạch, chẳng có một chiếc cầu. cầu là phương tiện giao thông, cầu cũng là không gian trữ tình, là nơi gặp gỡ, hò hẹn của trai gái. cầu đi vào ca dao,, trở thành biểu tượng của tình yêu, ước mơ của tình yêu. Người bình dân thổ lộ tình yêu của mình trong hình ảnh những chiếc cầu bắc qua sông. Không phải là cầu tre, cầu gỗ, những chiếc cầu này độc đáo hơn nhiều. Khi thì là cành hồng. Hai ta cách một con sông, Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang. Khi thì là cành trầm: Cách nhau có một con đầm, Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang. Cành trầm lá dọc lá ngang, Đố người bên ấy bước sang cành trầm. Lạ hơn nữa là cái cầu – mồng tơi: Gần đây mà chẳng sang chơi, Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu. Sợ rằng chàng chả đi cầu, Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em. Đến bài ca này, cái cầu – dải yếm lại càng lạ hơn nữa. Đây mới đúng là cái cầu của người con gái chủ động bắc cho người mình yêu, nó vượt qua mọi sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến ngày xưa. Nó táo bạo, mãnh liệt, và cũng thật trữ tình, ý nhị, bởi nó là cái dải yếm, cái vật mềm mại luôn quấn quýt bên thân hình người con gái, trở thành biểu tượng riêng của người con gái. Người con gái muốn dùng cái vật thân thiết, gần gũi nhất của mình để bắc cầu mời mọc người mình yêu. Cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi còn là những cái bên ngoài, còn dải yếm là cái bên trong. Cho nên cái cầu – dải yểm mới thật chân tình, táo bạo, và trở thành cái cầu tình yêu đẹp nhất trong ca dao. Cái dải yếm bình thường đi vào bài ca bỗng trở thành đầy chất thơ của tình yêu. Bài ca giãi bày ước mơ tha thiết và mãnh liệt của người con gái trong tình yêu, qua đó thể hiện vẻ đẹp tình yêu của người lao động: bình dị, mãnh liệt nhưng cũng hết sức tế nhị, duyên dáng.
Phân tích bài ca dao sau_ “Ước gì sông rộng một gang, Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi”
629
Phân tích bài ca dao Tháng chạp là tháng trồng khoai Hướng dẫn “Tháng chạp là tháng trồng khoai, Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà. Tháng ba càyvỡ ruộng ra, Tháng tư làm mạ, mưa sa đẩy đồng. Ai ơi cũng vợ cũng chổng, Chồng cày vợ cấy, trong lòng vui thay! Tháng năm gặt hái đã xong, Nhờ trời một mầu năm nong thóc đẩy. Nám nong đầy em xay em giã, Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo. Sang năm lúa tốt tiền nhiều, Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng. Đói no có thiếp có chàng, Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình” Bài ca dao gồm có 14 câu viết theo thể thơ lục bát có xen vào một khổ thơ song thất lục bát. Hai lần tác giả chuyển đổi vần thơ (câu 6-7 và câu 12-13), nhưng người đọc vẫn cảm thấy giọng điệu liền mạch, tự nhiên và truyền cảm. Hình ảnh người phụ nữ nông dân được nói đến trong bài ca dao rất dễ mến. Đó là một người vợ còn khá trẻ, rất đảm đang tháo vát, bàn tính công việc làm ăn với chồng, ước mơ được sống một cuộc đời ấm no, hạnh phúc. Sáu câu đầu của bài ca dao liệt kê một số công việc đồng áng theo thời vụ. Từ tháng chạp năm trước đến tháng 5 năm sau, mỗi tháng là một công việc đúng mùa vụ. Ta thấy người vợ trẻ này nắm chắc nông lịch và công việc ruộng đồng, thời tiết. Chị đang bàn với chồng về việc trồng khoai, trồng đậu, trồng cà. Các chữ “tháng”, chữ “trồng” được điệp lại ba, bốn lần đã làm cho vần điệu, âm điệu của bài ca phong phú, uyển chuyển, nhịp nhàng như giọng nói dịu dàng của người phu nữ nhà quê hay lam hay làm: “Tháng chạp là tháng trồng khoai, Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà” Công việc trồng trọt cứ diễn ra tuần tự theo ngày tháng. Một nếp sống dân dã cần cù. Cuối năm, đầu năm, công việc trồng hoa màu cứ nối tiếp diễn ra khắp mọi miền quê đất nước. Tháng chạp khô ráo thì trồng khoai; khoai vừa bén rễ, đón xuân về mà xanh mướt đồng làng, tốt tươi nhiều củ. Mùa xuân đã bao đời nay là mùa sản xuất, là ngày hội xuống đồng của bà con dân cày Việt Nam. Giêng hai, thời tiết ấm áp, người nông dân đã đem công sức mồ hôi gieo trồng cày cấy, đem lại màu xanh biêng biếc, ngọt ngào cho đồng quê. Chứ không phải, không thể: “Tháng giêng là tháng ăn chơi, (Ca dao) Tiếp theo người vợ trẻ nhắc nhở, bàn bạc với chồng hai công việc quan trọng trong tháng 3, tháng 4 là cày vỡ và gieo mạ trước khi “mưa sa đầy đồng”. Cày vỡ có nơi còn gọi là cày bở để xếp ải đón nắng mới đầu hè, một kinh nghiệm sản xuất quý báu láu đời của nhà nông quê ta, để làm cho đất đai tơi xốp, màu mỡ. Gieo mạ phải đúng thời vụ, phải tránh mưa rào. Gieo mạ gặp mưa rào “mưa sa đầy đồng” xem như mất trắng. Nắm chắc thời tiết, thời vụ để sản xuất, để gieo trồng, cấy hái ‘ là một kinh nghiệm quý báu được nhà nông đúc kết đã bao đời nay. Người vợ trẻ này thật giỏi giang: “Tháng ba cày vỡ ruộng ra, Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng” Niềm hạnh phúc gia đình là cảnh vợ chồng cùng làm ăn bên nhau “chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa” trên đổng cạn dưới đồng sâu. Đây cũng là nhịp sống lao động sản xuất tấp nập, vui vẻ, thuận hòa của xóm làng, cùa mỗi gia đình khắp chốn quê: “Ai ai cũng vợ cũng chồng, Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay!” Cách dùng từ sóng đôi là một nét nghệ thuật đặc sắc thể hiện trong bài ca này. Các từ sóng đôi như: “cũng vợ cũng chồng”, “chồng cày vợ cấy” đã gợi tả một nhịp sống lao động hài hòa, quấn quýt của những cặp vợ chồng nhà quê đang sống trong niềm vui lao động, thuận hòa, hạnh phúc. Câu cảm thán với bốn tiếng “trong lòng vui thay!” cất lên diễn tả bao vui sướng dào dạt. Hai câu ca dao này nói lên được ba niềm vui bình dị của người dân cày Việt Nam: niềm vui trong lao động sản xuất, niêm vui làm ăn của vợ chồng, niềm vui của mỗi gia đình khắp làng quê. Tấm lòng của người nhà quê mới hồn hậu biết bao! Những con người chân lấm tay bùn làm ra hạt gạo dẻo thơm, củ khoai, hạt đậu ngọt bùi nuôi sống xã hội mới có niềm vui đẹp như vậy. Một văn bản khác ghi: “Nhà nhà vợ vợ chồng chồng, Đi làm ngoài đồng, sá kể sớm trưa” Qua đó, ta dễ dàng cảm thấy sắc thái biểu cảm giữa “sá kể sớm trưa” và “trong lòng vui thay!”. Ba tháng trông cây không bằng một ngày trông quả. Vui sướng biết bao khi đón một vụ chiêm bội thu: “Tháng năm gặt hái đã xong, Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy” “Nhờ trời”hay “ơn trời” là cách nghĩ, cách cảm phác thực của người nhà quê xưa nay. “ơn trời mưa nắng phải thì” mà được mùa, xóm thôn no ấm. “Nhờ trời” mưa thuận gió hòa mà đồng điền tốt tươi: “Nhờ trời hạ kế sang đông, Làm nghê cày cấy, vun trổng tôt tươi” “Một mẫu năm nong thóc đầy”cũng như “Một nong tằm là năm nong kén”, là cách tính, cách nói ước lệ của bà con nông dân ngày xưa khi được mùa lúa, mùa tằm. Khổ thơ song thất lục bát xuất hiện làm cho giọng thơ thay đổi hẳn. Giọng thơ vui, điệu thơ hối hả đã thể hiện thật hay những lo toan về cách làm ăn, những niềm vui tỏa rộng trong lòng của một người vợ đảm đang, hiền thảo rất đáng quý trọng: “Năm nong đầy/ em xay em giã, Trấu ủ phân / cám bã nuôi heo. Sang năm/ lúa tốt/ tiên nhiều, Em dem đóng thuế ỉ đóng sưu cho chồng” Một cách làm ăn chu đáo siêng năng: “em xay em giã”. Một nếp sống căn cơ, cần kiệm: “Trấu ủ phân, cám bã nuôi heo”. Niềm tự hào của người đàn bà nhà quê ngày xưa là có cuộc sống dư dật “lúa tốt tiền nhiều” để trang trải công nợ, sưu thuế cho chồng. Như thế mới mát mặt, mới hãnh diện với chị em trong làng ngoài xã. Câu “Em đem đóng thuế, đống sưu cho chồng” là một tín hiệu cho biết bài ca dao này ra đời trên miền Bắc nước ta trước cách mạng tháng Tám. Sưu thuế dã man “món nợ nhà nước” ấy là nỗi lo đầy ám ảnh của hàng triệu người phụ nữ nhà quê (như chị Dậu) trong thời Pháp thuộc. Vì thế “lúa tốt tiền nhiều”, được mùa là ước mơ hạnh phúc bao đời của nhà nông quê ta. Hai câu cuối là linh hổn, là điểm sáng của bài ca dao này: “Đói no có thiếp có chàng, Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình” Ngôn từ đã cách điệu hóa, trang trọng hóa: thiếp – chàng, chung đỉnh, giàu sang. Câu ca dao đã nói lên thật ý vị ước mơ hạnh phúc của người phụ nữ ngày xưa là được sống và làm ăn trong cảnh vợ chồng yên ấm thủy chung. Chung đỉnh là hai vật dụng thời cổ tượng trưng cho sự giàu sang phú quý. Nhà thơ dân gian đã có một cách nói tương phản, so sánh rất hay. Tương phản về hai cuộc sống vật chất: “đói no” với “chung đỉnh giàu sang”. Tương phản về hai cảnh đời tinh thần: “Có thiếp có chàng” với “một mình” (cô đơn, lẻ loi). Một cách so sánh khẳng định “còn hơn”. Hai câu kết đã thể hiện một quan niệm về hạnh phúc gia đình mộc mạc, bình dị của nhân dân lao động xưa nay. Ca dao dân ca là điệu tâm hồn của người dân cày Việt Nam từ bao đời nay. Bài ca dao “Tháng chạp là tháng trồng khoai” là điệu ru, tiếng hát đồng quê thể hiện ý vị đời sống lao động, đời sống tâm hồn phác thực, đôn hậu của người phụ nữ nông dân đảm đang, tháo vát, thủy chung trong tình yêu và hạnh phúc gia đình. Nó không phải là một bài ca về nông lịch. Phép liệt kê và nghệ thuật dùng từ ngữ sóng đôi đã tạo nên vẻ đẹp riêng của bài ca dao này.
Phân tích bài ca dao Tháng chạp là tháng trồng khoai
1,462
Phân tích bài ca dao thân em như tấm lụa đào Hướng dẫn Phân tích bài ca dao thân em như tấm lụa đào Việt Nam ngày trước với chế độ phong kiến cổ hủ, “trọng nam khinh nữ” trở thành định kiến khó có thể lay chuyển nổi. Chính vì thế mà số phận người phụ nữ trong xã hội ấy rất đau khổ và bi thương. Thân phận người phụ nữ đã đi vào văn học dân gian xưa qua những bài ca dao quen thuộc trong đó có bài cao dao với bao lời than thân tủi nhục: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai Ca dao xưa là hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính tập thể rất phổ biến, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của con người trong xã hội phong kiến với nhiều lễ giáo. Chính những phong tục cổ hủ và lễ giáo phong kiến ấy đã đè ép biết bao nhiều số phận người phụ nữ, khiến họ bất hạnh, bị dồn vào đường cùng., Bài ca dao trên mở đầu với mô tuýp “thân em” quen thuộc. Nghe hai từ “thân em” thật đỗi dịu dàng khiến ta liên tưởng đến người con gái nhỏ bé, yếu ớt. “Em” chứ không phải “tôi”, “cô”, xưng “em” ta cảm nhận được sự nhún nhường yếu đuối của người phụ nữ. Lời than thân nghe mà chan chứa nước mắt nhẹ bẫng trong không gian mà nặng trĩu trong lòng người. Với biện pháp so sánh “thân em” với “tấm lụa đào”, câu ca dao đã ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ. Tấm lụa đào là một mảnh vải lụa mỏng manh, mềm mại nhẹ nhàng dùng để may những chiếc áo, như chính người phụ nữ thời xưa. Họ mang vẻ đẹp tâm hồn cao quý nhưng chỉ là cái bóng lặng lẽ, thậm chí là vô hình, cứ vậy mà sống với đầy rẫy những bất công bởi nền tảng phong kiến cố hữu. Tấm lụa đào tuy đẹp đẽ là thế nhưng cuối cùng chúng chỉ là những thứ được bày bán ở chợ đông người: Không gian ở đây là nơi chợ đông đúc, xô bồ với đủ thể loại người kẻ mua, người bán với các loại mặt hàng khác nhau đa dạng phong phú thì đâu đó “tấm lụa đào” đẹp đẽ mỏng manh đang bay “phất phới”. Một từ láy diễn tả hết thảy hoàn cảnh người phụ nữ đang phải đối mặt. Họ trở thành đồ trang trí được bày bán giữa chợ, làm thứ để người ta tùy ý nâng lên đặt xuống, hay tuy ý bay trong gió sương. Liệu có ai giữa nơi đông kịt ấy nhận ra giá trị của tấm lụa đào, hay nó cứ mãi phất phơ trước gió, mất định hướng mặc cho đẩy đưa giữa giông gió “hoa trôi mang mác biết là về đâu”.Những người phụ nữ yếu mềm ấy làm sao đủ sức, chủ động đối mặt với khó khăn,cũng không định hướng nổi cho cuộc đời mình rồi sẽ ra sao. Câu hỏi tu từ vang lên không chỉ để hỏi mà đó là tiếng kêu, tiếng than da diết đầy bi ai. Chẳng thế đoán định nổi tương lai họ sẽ gặp một càng Kim Trọng thư sinh phong nhã hay gặp kẻ như Mã Giám Sinh lừa lọc gian xảo, một Trương Sinh ích kỉ hẹp hòi. Cứ hoài nghi tương lai khiến người phụ nữ ngày ngày sống trong hy vọng rồi lại lo lắng canh cánh một nỗi sợ trong lòng. Họ hoàn toàn thụ động, trở thành những “kẻ yếu” trong xã hội cũ như Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh vậy. Không còn khả năng chống lại hay phản kháng, phó mặc số phận cho đời rồi chìm mình vào những nỗi khổ đau bất hạnh không lối thoát. Câu hỏi như tiếng vọng bi ai, vang mãi đến thời đại sau này, khiến ta thương cảm xót xa trước sự cam chịu của người phụ nữ, những giọt nước mắt chảy vào trong đúc kết lại thành bài ca dao lưu giữ muôn đời.
Phân tích bài ca dao thân em như tấm lụa đào
704
Phân tích bài ca dao thương thay thân phận con tằm Hướng dẫn “Con tằm”và “lũ kiến” là hai ẩn dụ nói về những thân phận “nhỏ bé” sống âm thầm dưới đáy xã hội cũ. Thật đáng “thương thay”, thương xót cho những kiếp người phải làm đầu tắt mặt tối mà chẳng được ăn, được hưởng một tí gì! Khác nào một kiếp tằm, một kiếp kiến! “Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiểm ăn được mấy phải đi tìm mồi” Kiếp tằm “phải nằm nhả tơ”,kiếp kiến “phải đì tìm mồi”,nhưng “kiếm ăn được mấy”.Điệp ngữ “kiếm ăn được mấy”cất lên hai lần đã tố cáo và phản kháng xã hội cũ bất công, kẻ thì “ngồi mát hưởng bát vàng”, “kẻ ăn không hết, người lấn không ra”. Hạc, chim, con cuốc,là ba ẩn dụ nói về những thân phận, số phận nếm trải nhiều bi kịch cuộc đời. “Hạc” muốn tìm đến mọi chân trời, muốn “lánh đường mây” để thỏa chí tự do, phiêu bạt. “Chim” muốn bay cao, bay xa, tung hoành giữa bầu trời, nhưng chỉ “mỏi cánh” mà thôi. Đó là những cuộc đời phiêu bạt, những cố gắng vô vọng của người lao động trong xã hội cũ, thật “thương thay” thật đáng thương! “Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi” Thân phận con cuốc càng đáng “thương thay”! Nó đã “kêu ra máu” giữa trời mà “cố người nào nghe”, nào có được cảm thông, được san sẻ. “Con cuốc” trong văn cảnh này biểu hiện cho nỗi oan trái, cho nỗi đau khổ của nhân dân lao động không được lẽ công bằng nào soi tỏ. Càng kêu máu càng chảy, càng đau khổ tuyệt vọng: Dầu kêu ra máu cố người nào nghe” Ngoài cách sử dụng điệp ngữ và ẩn dụ, những câu hát than thân này còn được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ: “kiếm ăn được mấy”, “biết ngày nào thôi”, “có người nào nghe”. Giá trị phản kháng và tố cáo càng trở nên sâu sắc, mạnh mẽ.
Phân tích bài ca dao Thương thay thân phận con tằm
356
Phân tích bài ca dao Trâu ơi ta bảo trâu này Hướng dẫn “Trâu ơi, ta bảo trâu này, Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta. Cấy cày vốn nghiệp nông gia, Ta đây trâu đấy ai mà quản công. Bao giờ cây lúa còn bông, Thì cồn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn” Đây là lời an ủi, vỗ về của người nông dân với tất cả tấm lòng yêu thương, quý mến và biết ơn sâu sắc đối với con trâu của gia đình mình. Mở đầu bài ca dao là tiếng gọi trâu trìu mến. Hai tiếng cảm thán “Trâu ơi” vang, lên tha thiết ngọt ngào. Mối quan hệ giữa người với trâu là “bạn bè”, bình đẳng và cảm thông. Công việc đồng áng tuy vất vả, nhưng vốn cần cù nên người nông dân không ngại những công việc chân lấm tay bùn mà còn phấn khởi làm ăn. Đã yêu lao động, yêu quý nghề nông, nên đối với công cụ sản xuất, đối với con trâu, người nông dân cũng biểu lộ tất cả sự chăm sóc, trìu mến của họ. Con trâu là cánh tay đắc lực của nhà nông, đồng cam cộng khổ với nhau, tin cậy “trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”. Nếu thay chữ “với” bằng chữ “cho” (trâu cày cho ta) thì mối quan hệ thân tình sẽ bị phá vỡ, đâu còn nữa! Trâu với người cùng chung chịu gian truân, thức khuya dậy sớm một nắng hai sương. “Lao xao gà gáy rạng ngày, Vai vác cái cày tay dắt con trâu…”; “Trên đồng cạn dưới đồng sâu, Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Và những buổi cày đồng dưới ánh nắng chang chang mùa hạ, trâu với người “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”. “Trâu cày với ta” động viên, vỗ về, tin cậy. Con trâu đa được thuần dưỡng, trở thành vật nuôi trong gia đình, đứng đầu hàng lục súc. Con trâu là tài sản quý giá. “Con trâu là đầu cơ nghiệp”.Trâu đã giúp nhà nông cấy cày làm nên những hạt gạo trắng thơm, những mùa vàng bát ngát “ta đây trâu đấy, ai mà quản cóng”.Như một câu ca đã lưu truyền: “Cánh đổng ta năm đôi ba vụ. Trâu với người vất vả quanh năm” Vất vả quanh năm như thế, nhưng người với trâu chia sẻ ngọt bùi, luôn luôn bên nhau “ta đây trâu đấy”nên chẳng bao giờ “ai mà quản công”.Người chăm sóc nuôi nấng trâu. Trâu giúp người cày bừa. Tình bạn, tình thương đã được hình thành qua mấy nghìn năm dằng dặc. Hai càu cuối, như một lời nguyên, rất chân thành cảm động, chứa chan tình nghĩa thủy chung: . “Bao giờ cây lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn” Ý thơ đăng đối: lúa còn thì cò còn, người được hạnh phúc, ấm no thì trâu cũng được no ấm. Người và trâu cùng trường tồn bên nhau. Cấu trúc vần thơ “Bao giờ còn… thì còn…”, ý thơ được nhấn mạnh, lời thề nguyền trở nên sắt đá. Chân lí cuộc sống và chân lí nghệ thuật hòa quyện trong một lời thề nguyền đẹp. Có tâm hồn chất phác, hồn hậu, có tinh nghĩa thủy chung mới có cách ứng xử đẹp như vậy. Bài ca dao chứa chan tình nghĩa. Nó phản ánh tấm lòng đôn hậu, hiền lành và chất phác của người dân cày Việt Nam. Trên đồng ruộng quê ta đã mấy ngàn năn chưa bao giờ vắng bóng con trâu. Có thể một ngày mai tươi đẹp ca hát, nền nông nghiệp Việt Nam được cơ giới hóa, nhưng con trâu vẫn có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế, trong tâm hồn nhân dân ta.
Phân tích bài ca dao Trâu ơi ta bảo trâu này
628
Phân tích bài ca dao đường vô xứ Huế quanh quanh Hướng dẫn Bài ca dao ba câu lục bát, dừng lại ở câu lục, một hiện tượng độc đáo, ít thấy trong thơ ca dân gian: “Đường vô xứ Huế quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. Ai vô xứ Huế thì vô…” Có nhiều người cho rằng bài ca dao này nói về cảnh đẹp xứ Huế. Chưa đầy đủ. Không gian địa lí và không gian nghệ thuật được nói trong bài ca dao rộng lớn hơn nhiều. Câu thứ nhất nói về “đường vô xứ Huê”, đó là con đường rất dài phải qua chí ít sáu tỉnh miền Trung (từ Bắc đi vào): Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Hai chữ “quanh quanh” gợi tả sự uốn lượn, khúc khuỷu, hiểm trở, gập ghềnh xa xôi. Ngày xưa vô Huế phải vượt qua “Hoành Sơn nhất đái” (một dải Hoành Sơn), phải vượt qua bao sông suối, núi đèo; sông Mã, sông Lam, sông La, sông Gianh, sông Thạch Hãn… đến sông Hương núi Ngự. Phải qua núi Hồng Lĩnh, đèo Ngang, lũy Thầy, truông Nhà Hồ, phá Tam Giang… Hồng Sơn cao ngất mấy tầng, Đò Cài mấy trượng là lòng bấy nhiêu! (Nguyễn Du) “Yêu em anh cũng muốn vô, Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” (Ca dao) Câu thứ hai nêu lên một ấn tượng khái quát về cảnh sắc thiên nhiên trên “đường vô xứ Huê”. “Non xanh nước biếc” vừa là thành ngữ vừa là hình ảnh rất đẹp, có màu “xanh” bất tận của non, có màu “biếc” mê hồn của nước. Đó là cảnh sông núi tráng lệ, hùng vĩ, hữu tình, nên thơ… “Non xanh nước biếc” ấy lại được so sánh “như tranh họa đồ” gợi lên trong lòng người niềm tự hào về giang sơn gấm vóc, về què hương đất nước kì thú, xinh đẹp, mến yêu. … “Ai đi vô nơi đây Xin dừng chân xứ Nghệ Ai đi ra nơi này Xin chân dừng xứ Nghệ. Nghe câu hò ví giặm Càng lắng lại càng sâu Như sông La chảy chậm Đọng bao thuở vui sầu” (“Gởi bạn người Nghệ Tĩnh”) Bài ca dao “Đường vô xứ Huế quanh quanh” đích thực là một viên ngọc trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam. Nó là bài ca về tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương đất nước. Hình tượng mĩ lệ, vần điệu nhạc điệu du dương. Ba chữ “vớ“ rất mộc mạc đậm đà. vần chân, vần lưng, điệp thanh phối hợp hài hòa: “quanh quanh – xanh – tranh”, “vô – dồ – vô – vô“, gợi lên sự ân cần tha thiết. “Ai” là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, nhưng người đọc, dù quê hương ở đâu vẫn cảm thấy mình đang được mời gọi.
Phân tích bài ca dao Đường vô xứ Huế quanh quanh
472
Phân tích bài ca dao Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng Hướng dẫn Ca dao dân ca Việt Nam vô cùng phong phú và sâu sốc, đằm thắm và mượt mà biết bao! Nó là tiếng hát tâm tình nơi bờ xôi ruộng mật, lưu truyền trong dângian, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta từ bao đời nay. Có những khúc hát ru chứa chan tình yêu thương, ngọt ngào, tha thiết. Có bài ca nói về đất nước quê hương, với nương dâu, ruộng lúa, với hình ảnh người dân quê hiền hậu, cần cù hay lam hay làm đáng yêu. Cánh cò “bay lả bay la”, đầm sen “lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”. Có tiếng “nghé ọ” và con trâu hiển lành gặm cỏ trên đồng xanh, có cô thôn nữ tát nước “múc ánh trăng vàng đổ đi”,… Tất cả như đem đến cho lòng người gần xa bao niềm thương nỗi nhớ… Đọc ca dao dân ca, sao mà ta thấy thích thú lạ về câu hát nói về cánh đồng lúa quê hương và hình ảnh cô thôn nữ đứng giữa đồng quê một sớm mai hồng rạng rỡ: “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh móng bát ngát, Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông. Thản em như chẽn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”. 1. Ca dao thường được diễn đạt bằng thể thơ lục bát. Nhưng ở bài này, nhà thơ dân gian đã sử dụng thơ lục bát biến thể, mở rộng câu thơ thành 12, 13 từ rất độc đáo. Cô thôn nữ không vịnh cảnh đề thơ, mà chỉ nói lên những ý nghĩ, cảm xúc hồn nhiên, tự nhiên của lòng mình khi vác cuốc ra thăm đồng sung sướng ngắm nhìn cánh đồng thân thuộc, thẳng cánh cò bay của làng mình: “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng, mênh mông bát ngát, “Ngó”gần nghĩa với nhìn, trông, ngắm… Từ “ngó” trong vàn cảnh này gợi tả một tư thế say sưa ngắm nhìn, một cách quan sát kĩ càng, một lối nói dân dã mộc mạc, bình dị mà đậm đà. Cô thôn nữ “đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng” rồi lại “đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng”, dù quan sát ở vị trí nào, góc độ nào, cô cũng cảm thấy sung sướng tự hào trước sự “mênh mông bát ngát… bát ngát mênh mông” của cánh đồng quê hương. Hai chữ “bên ni” và “bên tê” vốn là ngôn ngữ miền Trung (tiếng địa phương Nghệ Tĩnh) dùng để trỏ vị trí bên này, bên kia, được đứa vào bài ca dao gợi lên tính chất mộc mạc, chất phác của một tình quê hồn hậu. Nghệ thuật đảo từ ngữ “mênh mông bát ngát” rồi lại “bát ngát mênh mông” thể hiện một bút pháp điêu luyện trong việc miêu tả cánh đồng làng quê rộng bao la bát ngát một màu xanh, xa trông hút tầm mắt chẳng thấy đâu là bến bờ. Có yêu quê hương tha thiết, mới có cái nhìn đẹp, cách nói say mê đậm đà thế! Hai câu đầu bài ca dao dược cấu trúc đăng đối song hành, làm hiện lên trước mắt chúng ta một cảnh đẹp: cánh đồng bao la, trù phú của quê nhà, rất thân thuộc với mỗi con người Việt Nam chúng ta như nhà thơ Hoàng Cầm đã viết: “Xanh xanh bãi mía hờ dâu Ngô khoai biêng biếc (…) Quê hương ta lúa nếp thơm nồng”… (“Bên kia sông Đuống”) Bằng tấm lòng yêu mến tự hào nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mảnh đất thương yêu thân thiết mà từ bao đời nay tổ tiên ông bà con cháu, từ thế hệ này qua thế hệ khác đã đem mồ hôi, xương máu để bồi đắp và gìn giữ, nên nhà thơ dân gian mới có thể viết được những lời ca mộc mạc mà đằm thắm nghĩa tình, làm xao xuyến lòng ta như vậy! Trên cái nền xanh của cánh đồng, trong hương thơm ngào ngạt của lúa đòng đòng, dưới ánh hồng bình minh rực rỡ, trong làn gió mát rượi, ta thấy hiện lên bức chân dung cô thôn nữ thật đáng yêu vô cùng: “Thân em như chẽn lúa đòng đòng, Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai”. “Phất phơ”nghĩa là nhẹ nhàng đung đưa, uốn lượn… Chẽn lúa đòng đòng “phất phơ” bay nhẹ trước làn gió trên đồng nội vào một buổi sớm mai hồng thơ mộng. Thiếu nữ hân hoan sung sướng thấy hồn mình phơi phới hướng về một ngày mai hạnh phúc như “chẽn lúa đòng đòng” đang “phất phơ” dưới ánh bình minh. “Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng” Và nhà thơ Đoàn Văn Cừ trong bài “Chợ tết” cũng đã viết: “Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa, Tia nắng tía nhảy hoài trong ruộng lúa” Qua đó, ta càng thấy rõ tính chính xác, tính hình tượng, tính biểu cảm là những đặc trưng cơ bản nhất tạo nên giá trị nghệ thuật của ngôn từ thơ ca. Bài ca dao “Đứng bên ni đồng…” là một bài ca dao trữ tình đặc sắc đã ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước qua hình ảnh cánh đồng lúa bát ngát mênh mông va vẻ đẹp duyên dáng, tươi trẻ, cần mẫn và yêu đời của nàng thiếu nữ làng quê Việt Nam. Bài ca dao được sáng tạo nên bằng bút pháp nghệ thuật độc đáo. Cách dùng từ chính xác, gợi cảm. Biện pháp tu từ so sánh, phép song hành đối xứng, cách đảo từ ngữ và sử dụng tiếng địa phương đã làm cho ý tưởng, lời ca đậm đà, ý vị. Có thể coi nó là một “viên ngọc quý” trong kho tàng thơ ca dân gian Việt Nam. Học bài ca dao này, ta thấy tâm hồn mình thêm gắn bó, yêu thương quê hương đất nước, biết quý trọng và biết ơn những người nông dân vất vả dãi nắng dầm mưa để làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm
Phân tích bài ca dao Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng
1,034
Phân tích bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”- Văn lớp 10 Bài làm Ca dao tục ngữ là một kho tàng vô cùng phong phú thể hiện đời sống nội tâm của người dân lao động của nước ta từ thời xa xưa. Nó chính là nỗi niềm, là nơi gửi gắm tâm tư tình cảm của người dân ta thời xưa. Bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà” thể hiện tình cảm của người con trai khi đi xa nhớ về người yêu ở quê hương, nhớ về người vợ hiền tần tảo, nhớ về những món ăn giản dị nhưng thấm đẫm tình nghĩa vợ chồng. Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao Bài ca dao này có nhiều ý kiến trái chiều, người thì cho rằng đây là lời tỏ tình của một chàng trai sắp đi xa quê hương của mình. Nên trước khi đi anh chàng mới đánh liều tỏ tình với cô gái mà mình thầm thương trộm nhớ đã lâu. Mỗi câu ca dao thể hiện cho tâm tư tình cảm của người con trai. Nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng, đây là lời tâm sự của một người chồng, một người yêu khi đã rời xa quê hương và nhớ về nơi mình sinh ra, lớn lên, nơi có người phụ nữ thân thương của cuộc đời mình. Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương. Người con trai đi xa nhớ về quê hương thân yêu của mình. Anh ta liền nhớ tới những món ăn giản dị, thể hiện bản sắc của quê hương anh. Ai đã từng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam thì sẽ thấy món canh rau muống chua, ăn với cà pháo, chấm tương thì ngon như thế nào. Một món ăn giản dị thể hiện sự mộc mạc chân thành, nghèo khó của vùng quê không có cao lương mỹ vị, không thịt cá hải sản, nhưng lại khiến cho người con trai không thể nào quên. Bởi món ăn đó chính là kỷ niệm ngọt ngào, về tuổi thơ lam lũ nghèo khổ. Nó đã ăn sâu vào tiềm thức của người con trai. Dù người con trai này có đi đâu, ở đâu thì những món ăn quê hương dân tộc vẫn luôn là ngon nhất không sơn hào hải vị nào sánh bằng. Người con trai chỉ nhớ những cái bình dị, gần gũi của tuổi thơ, thể hiện một tâm hồn mộc mạc, giản dị, chung thủy sắc son trước sau như một của người đàn ông khi đi xa quê hương xa người phụ nữ của mình. Nhớ ai dãi nắng dầm sương, Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao. Điệp từ “Nhớ ai” được người xưa sử dụng như nhấn mạnh nỗi nhớ trong lòng của người đàn ông khi xa xứ. Nó là tấm chân tình của người con trai dành cho người con gái mà mình đang yêu thương, Hình ảnh người con gái tần tảo, sớm khuya mưa nắng, lam lũ vất vả lại khiến người con trai cảm thấy nhớ thương, đau lòng hơn là hình ảnh một cô gái xinh đẹp thanh khiết như băng thanh ngọc nữ. Người con trai không nhớ cô gái yêu kiều, thục nữ lá ngọc cành vàng không ai với tới được. Mà anh nhớ người con gái lam lũ tần tảo nắng mưa của mình. Điều này cho người đọc cảm nhận anh là người vô cùng chung thủy trước sau như một chỉ yêu sự giản dị, mộc mạc mà không hề hướng tới sự hòa nhoáng bên ngoài. Anh chỉ yêu tâm hồn thánh thiện bên trong người con gái mà thôi. Hình ảnh cô gái tát nước, cảnh lao động miệt mài là hình ảnh người con trai vô cùng xúc động. Nó làm cho chàng trai say đắm không thể nào quên.
Phân tích bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà. Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”- Văn lớp 10
694
Đề bài: Phân tích bài ca dao "Công cha như núi Thái Sơn…mới là đạo con" Bài làm Ca dao dân ca là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng chúng ta từ thuở lọt lòng. Dòng sữa tinh thần ấy lan xa theo hương lúa, cánh cò, trầm bổng ngân nga theo nhịp chèo của con thuyền xuôi ngược, âu yếm thiết tha như lời ru của mẹ… như khúc hát tâm tình quê hương đã thấm sâu vào tâm hồn tuổi thơ mỗi người. Em nhớ mãi lời ru của bà của mẹ: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Lời ca dao tuy giản dị mà ý nghĩa thật lớn lao, nó ca ngợi công lao trời biển của cha mẹ và nhắc nhở đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu. Vẫn là thi pháp thường thấy trong ca dao, các tác giả dân gian dùng cách nói ví von để tạo ra hai hình ảnh cụ thể, song hành với nhau: Công cha đi liền với nghĩa mẹ. Không phải ngẫu nhiên mà cha ông ta mượn hình ảnh núi Thái Sơn và nước trong nguồn vô tận để so sánh với công lao nghĩa mẹ: Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Cha mẹ sinh con ra, nuôi con mau lớn thành người. Tấm lòng cha mẹ dành cho con thật vô tận, nó chỉ có thể sánh với núi sông hùng vĩ trường cửu mà thôi. Công cha lớn lao như núi, cha thức khuya dậy sớm làm lụng vất vả lo cho con có cơm ăn áo mặc, học hành, khôn lớn thành người. Người cha như chỗ dựa tinh thần và vật chất cho con, cha nâng niu ôm ấp chăm chút cho con, ai có thể quên công lao trời biển ấy. Chín tháng mang nặng rồi đẻ đau, mẹ chắt chiu từng giọt sữa ngọt ngào nuôi con khôn lớn. Lúc con khoẻ mạnh cũng như khi ốm đau lòng mẹ giành cho con: như biển Thái Bình dạt dào. Không có cha mẹ làm sao có chúng ta được: con có cha mẹ, không ai ở lỗ nẻ mà lên, tục ngữ đã dạy ta bài học đó. Câu ca dao đã nâng công lao của cha mẹ lên tầm kỳ vĩ sánh với vũ trụ, đất trời. Những hình ảnh tuy giản dị đơn sơ mà thấm đượm lòng biết ơn vô hạn của con cái với mẹ cha. Công lao trời biển của cha mẹ sao kể hết bằng lời. Trong những dòng trữ tình hàm súc ấy ẩn chứa một chân lí ngàn đời, chân lí ấy phải được chuyển hoá thành hành động, hành động của lòng biết ơn: Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Ông cha ta dạy kẻ làm con phải: thờ mẹ kính cha phải giữ tròn phận sự của kẻ làm con. Đạo làm con phải làm tròn chữ hiếu. Hiếu ở đây là hiếu thuận, hiếu nghĩa, là cư xử làm sao cho kính trọng, yêu thương. Đó cũng là cách sống, cách thức làm người, lẽ sống của con người. Với cha mẹ phải thương yêu ngoan ngoãn vâng lời, lúc nhỏ thì chăm ngoan học giỏi, lớn lên trở thành người công dân tốt, đứa con hiếu thuận trong gia đình. Phải tuân theo những cách thức ứng xử hợp đạo lý. Hai chữ một lòng thế hiện niềm thuỷ chung, son sắt không thay đổi. Luật gia đình của chúng ta ngày nay quy định bậc con cái phải có nghĩa vụ kính trọng cha mẹ, săn sóc cha mẹ khi già yếu chính là kế tục truyền thống tốt đẹp muôn đời của dân tộc ta uống nước nhớ nguồn. Những kẻ đi ngược lại đạo lý ấy thì sẽ không bao giờ tốt với ai hết, và dĩ nhiên kẻ ấy không bao giờ trở thành một công dân tốt cho xã hội. Những kẻ ấy nếu sống ở trên đời sẽ là những ung nhọt bệnh hoạn của gia đình, xã hội mà chúng ta thường gọi là bất nhân bất nghĩa. Chúng ta được cha mẹ sinh ra để làm một con người, hãy sống cho xứng đáng là con người. Trên thực tế không phải ở mọi lúc, mọi nơi những đứa con giữ tròn đạo hiếu. Có biết bao cảnh con khinh rẻ cha mẹ, thậm chí đối xử tệ bạc với những người đă sinh ra và nuôi dưỡng mình. Những cách sống của những kẻ như vậy phải bị xã hội trừng trị. Bài ca dao đã đánh thức những kẻ đã và đang sống thiếu lương tri, đồng thời cũng như luồng ánh sáng chiếu rọi vào trái tim mỗi chúng ta – những đứa con. Ngày nay chữ hiếu không chỉ dừng ở góc độ gia đình, rộng hơn là hiếu với dân, với nước. Có được như vậy mới nhằm xây dựng một xã hội lành mạnh, đẹp đẽ hơn, mà trước hết phải từ gia đình sống với nhau hiếu thuận có đạo đức. Bài ca dao trên cũng như phần lớn các bài ca dao khác với nghệ thuận so sánh ví von, lời thơ cân xứng hài hoà, hình ảnh giản dị mà hàm xúc… đã nhằm nói lên được tình cảm gia đình sâu sắc. Tính truyền cảm, nội dung giáo dục mạnh mẽ đã làm cho nó sống mãi với chúng ta bao đời nay.
Phân tích bài ca dao “Công cha như núi Thái Sơn…mới là đạo con”
932
Phân tích bài ca dao “Thân em như dải lụa đào. Phất phơ trước gió biết vào tay ai”- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích bài ca dao “Thân em như dải lụa đào. Phất phơ trước gió biết vào tay ai”- Văn lớp 10 Bài làm Thân phận của người phụ nữ sống trong chế độ phong kiến thời xưa thường phải chịu nhiều thiệt thòi bất hạnh. Họ thường bị khoác lên mình những thuần phong mỹ tục, những phong tục cổ hủ lạc hậu, gò ép bản thân làm theo ý kiến người khác, phục tùng tuân lệnh mà không hề có cơ hội phản kháng. Ngay đến hạnh phúc của bản thân mình, việc dựng vợ gả chồng quyết định tình cảm cũng không có cơ hội lựa chọn mà phải tuân theo lời cha mẹ sắp xếp. Trong lịch sử đã chứng minh có nhiều người phụ nữ xưa, có tài, có sắc nhưng cuộc đời lại chịu nhiều bất hạnh, phải làm kỹ nữ mua vui hoặc làm vợ lẽ, làm thê thiếp cho những người có chức quyền có tiền bạc. Cuộc sống cơ cực tủi nhục, bị ghẻ lạnh, bị chèn ép dẫn tới cái chết như nàng Thúy Kiều, nàng Tiểu Thanh, Đạm Tiên… Thúy Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn, được sinh ra trong gia đình lễ nghĩa có học thức nhưng lại phải trải qua kiếp hồng nhan đa truân, long đong mười hai bến nước, phải năm lần bảy lượt rơi vào chốn lầu xanh ăn chơi, nơi mua vui cho kẻ khác. Cuộc đời nàng bị rất nhiều kẻ lừa dối hãm hại. Nàng cũng phải làm vợ lẽ, là người hầu kẻ hạ cho người ta. Sống cuộc sống buồn tủi đúng như người xưa đã từng nói rằng: Thân em như hạt mưa sa Hạt rơi giếng ngọc, hạt ra ruộng cày Thân em nhưng giếng giữa làng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân Số phận của những người phụ nữ tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, vào cha mẹ, vào người mai mối, người chồng tương lai. Họ không được quyền quyết định hạnh phúc lứa đôi. Luôn phải nghe theo những quy tắc nhất định như “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Nếu ở nhà thì phải nghe lời cha mẹ, lớn lên lấy chồng phải nghe lời chồng, chẳng may chồng qua đời thì phải nghe theo lời con. Như vậy, cuộc sống của người phụ nữ lúc nào thì được sống cho mình, có lẽ tới lúc chết họ cũng chẳng thể nào sống theo ý mình được. Chính vì vậy những người phụ nữ mới ví von mình rằng: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai. Những câu ca dao như lời than thở, oán hận chứa chan nước mắt của những người con gái đang tuổi xuân thì, chưa từng một lần biết tới tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Họ phải sống trong một xã hội trọng nam khinh nữ, nên mọi sự dự định cho tương lai hạnh phúc của mình đều phải do người trên quyết định. Câu ca dao thể hiện sự hoang mang của người con gái trước tương lai của mình, không biết sẽ rơi vào tay ai, vào chốn nhung lụa giàu sang, hay vào địa ngục trần gian, vào vũng trâu đằm cũng phải chịu đắng cay mà sống hết kiếp người. Ca dao thời xưa chính là một nét văn hóa của người la động Việt Nam trong thời kỳ phong kiến. Nó chính là những tâm tư tình cảm của người dân gửi gắm vào trong đó. Nó thể hiện ước mơ, nỗi lòng của con người muốn được bộc lộ ý nguyện ước mong của mình. Những người phụ nữ thời xưa luôn chịu mọi sự trói buộc của lễ giáo hà khắc, sống cảnh tam tòng tứ đức, thờ chồng yêu con. Mọi việc trong gia đình dù lớn hay nhỏ cũng phải tuân theo lời người chồng, người cha trong gia đình, người phụ nữ không có quyền lên tiếng. Hai từ “Thân em” đã thể hiện sự nhỏ bé yếu đuối của những số phận người con gái, phụ nữ trong hoàn cảnh éo le của chế độ. Người xưa cũng vô cùng tinh tế khi sử dụng nghệ thuật so sánh, độc đáo để ví von người phụ nữ với tấm lụa đào làm tăng vẻ mong manh yếu đuối của thân phận người phụ nữ lên.
Phân tích bài ca dao “Thân em như dải lụa đào. Phất phơ trước gió biết vào tay ai”- Văn lớp 10
752
Phân tích bài ca dao: Làng ta phong cảnh hữu tình Hướng dẫn Phân tích bài ca dao: Làng ta phong cảnh hữu tình Ca dao dân ca là những giá trị văn hóa tinh thần đẹp của nước ta, nó được người đọc tiếp nhận một cách vô thức giống như lời ru của mẹ. Rồi từ đó in sâu vào tâm hồn con người Việt Nam. Có những bài ca dao nói về tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình và rộng hơn hết là nói về tình yêu quê hương đất nước da diết. Tiêu biểu là bài ca dao: “Làng ta phong cảnh hữu tình, Dân cư giang khúc như hình con long. Nhờ trời hạ kế sang đông, Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi. Vụ năm cho đến vụ mười, Trong làng kẻ gái người trai đua nghề. Trời ra: gắng; trời lặn: về. Ngày ngày, tháng tháng nghiệp nghề truân chuyên…” Như chúng ta đã biết đất nước ta cong cong hình chữ S ở một vị trí trung tâm ở khu vực Đông Nam Á đồng thời có khí hậu và đất đai rất có lợi cho việc trồng lúa nước. Do đó đất nước ta có nền nông nghiệp lúa nước rất lâu đời. Hàng năm nước ta sản xuất ra rất nhiều thóc gạo để phục vụ cho cuộc sống và nước ta là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai của thế giới. Từ đó làm cho cuộc sống của người dân được trở nên ấm no và hạnh phúc hơn. Thiên nhiên nước ta trù phú và địa thế nhân hòa khí hậu mát mẻ tạo nên những hình ảnh đẹp của quê hương. Như những cánh đồng xanh bát ngát hương lúa non, những cánh cò bay lả dập dờn, những cánh diều tuổi thơ,.. Khiến con người Việt Nam mãi không quên được những hình ảnh đẹp này của quê hương đất nước. “Làng ta phong cảnh hữu tình Dân ca giang khúc như hình con long” Đây là một miền quê với phong cảnh hữu tình mang đậm chất dân quê sâu sắc. Hai tiếng “làng ơi” nghe sao mà thân thương đến thế, chẳng biết tự bao giờ hình ảnh đó mãi in sâu vào tâm trí mỗi con người Việt Nam. Những bến nước, sân đình, cây đa,…những hình ảnh mộc mạc, giản dị mà gần gũi khiến ai cũng mãi nhớ đến nó và dù có đi xa rồi thì đã là người dân Việt Nam họ vẫn mãi không quên những hình ảnh này. Phong cảnh làng ta đẹp đẽ và nên thơ bởi nơi đây là nơi chôn rau cắt rốn, nơi tâm hồn gắn liền với gia đình, bạn bè, những kỉ niệm tuổi thơ và đồng thời nơi đây là nơi tình yêu bắt đầu. Chúng ta đều trải qua những vui buồn, những nỗi nhớ da diết và những ước mơ ở đây nên bản thân mỗi chúng ta đã gắn bó một cách vô cảm và không thể chia lìa với “làng ta”. Như vậy mới chỉ qua hai câu đầu mà ta đã thấy được tình yêu sâu sắc mà tác giả gửi gắm đến quê hương của chính mình. Tác giả không nói nhiều nhưng ta cũng dần nghĩ ra những vẻ đẹp bình dị mà chốn thôn quê thường có. Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi” Đối với một người nông dân quanh năm suốt tháng giao trồng thì họ luôn mong thời tiết mưa thuận gió hòa để vụ mùa được phát triển và đem lại năng suất cao để phục vụ cho chính cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của chính gia đình mình. Hai chữ “nhờ trời” là mong ước đơn giản nhỏ nhoi của những con người nông dân chân lấm tay bùn nhưng cực kì chất phát. Ta thấy được điều ước ấy thật là đẹp trong cuộc sống thuần nông giống bài: “ Người ta đi cấy lấy công Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời trông đất trông mây Trông mưa trong nắng trông ngày, trông đêm.” Hai câu ca dao tiếp theo là miêu tả cuộc sống lao động chốn làng quê: “Vụ năm cho đến vụ mười, Trong làng kẻ gái, người trai đua nghề…” Như vậy ta thấy được nhân dân ta từ xưa đến nay kể cả con gái hay con trai đều rất chăm chỉ lao động. Tuy cuộc sống nông dân tay lấm tay bùn vất vả mệt nhọc nhưng họ vẫn luôn cố gắng và vui vẻ làm việc. Họ rất hăng say cùng nhau sản xuất để làm ra những bát cơm dẻo, những bát canh ngon để phục vụ cho cuộc sống không chỉ riêng họ mà cả những người xung quanh. “Vụ năm – vụ mười, kẻ gái – người trai, trời ra – trời lặn, gắng – về” thể hiện nhịp sống của người nông dân từ bao đời nay. Ngày ngày, tháng tháng, nghiệp nghề truân chuyên” Nhịp sống ấy đã trở thành một thói quen khiến người nông dân cứ theo thế mà làm quanh năm suốt tháng không biết mệt mỏi. Bởi họ rất lạc quan cùng nhau làm muộn việc. như những lần họ cùng nhau cấy một cánh đồng từ trên xuống dưới đồng họ trò chuyện vui cười đến khi mặt trời lên cao đỉnh đầu họ vẫn hăng say làm việc và quên cả thời gian. Như vậy ta thấy được cuộc sống tuy có đôi chút vất vả nhưng tràn đầy niềm vui. Qua bài ca dao này ta thấy được phong cảnh quê hương nước ta thật đẹp đẽ và nên thơ. Đặc biệt là khung cảnh làng quê ôi sao mà bình dị và thân thương đến thế. Nó như một bản nhạc không lời nhẹ nhàng du dương đi vào sâu trong tâm hồn con người Việt Nam một cách vô thức. Vì thế mà dù xã hội có phát triển đất nước có đổi thay thì những hình ảnh làng quê mộc mạc ấy sẽ vẫn mãi khắc sâu vào những trang sách và tâm hồn con người Việt Nam.
Phân tích bài ca dao_ Làng ta phong cảnh hữu tình
1,012
Phân tích Bài ca ngất ngưởng Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích Bài ca ngất ngưởng lớp 11 của Nguyễn Công Trứ bao gồm dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích Bài ca ngất ngưởng hay nhất. Dàn ý phân tích Bài ca ngất ngưởng 1. Mở bài – Giới thiệu về Nguyễn Công Trứ. – Giới thiệu về Bài ca ngất ngưởng – một bài thơ hay. 2. Thân bài – Phân tích bài thơ theo bố cục – Chú ý ở mỗi phần cần làm nổi bật nội dung chính, tư tưởng của tác giả là gì? Nội dung, tư tưởng đó mới mẻ, tiến bộ ở chỗ nào? (ý thức trách nhiệm cá nhân đối với cuộc đời, ý thức được giá trị bản thân; sống phóng khoáng, tự do tự tại; lòng yêu nước tư tưởng trung quân ái quốc…) – Song song với nội dung tư tưởng, ở mỗi phần cũng cần làm rõ các biện pháp nghệ thuật. (Biện pháp gì? Tác dụng?) – Tổng kết về giá trị khái quát, nổi bật nhất của tác phẩm (Nội dung, nghệ thuật) 3. Kết bài – Khẳng định thành công và giá trị tác phẩm: thể hiện quan điểm sống mới mẻ, tiến bộ; lòng yêu nước sâu sắc. – Khẳng định vị trí tác giả trong nền Văn học dân tộc. Bài văn mẫu phân tích Bài ca ngất ngưởng Phân tích Bài ca ngất ngưởng – bài 1 Từ xa xưa đến nay, thơ trước hết là tấm gương phản chiếu tâm hồn và tình cảm của chính nhà thơ. Không những thế, qua thơ người đọc còn thấy rất rõ cốt cách và phong độ của mỗi thi nhân. Ai đó đã nói: Văn là người. Điều đó thật đúng với những nhà văn, nhà thơ lớn. Ở họ văn với người là một, con người trong văn chương và con người ngoài đời tuy không hẳn đồng nhất, nhưng rất thống nhất. Nguyễn Công Trứ thuộc những nhà văn như thế. Cho nên, qua Bài ca ngất ngưởng ta có thể hình dung rất rõ chân dung một Nguyễn Công Trứ tự họa. Bao trùm lên toàn bộ bài ca là hình tượng một con người “ngất ngưởng”. Nhưng đó không phải là cái ngất ngưởng của một người gàn dở, tự hợm mình và hợm đời, mà lài cái ngất ngưởng của một con người đầy tự tin và đầy tự tin và đầy bản lĩnh. Con người ấy ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính mình. Cái ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải là kiểu sống ngất ngưởng thông thường mà là một lối sống độc đáo, một vẻ đẹp ngang tàng, phóng túng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Chẳng thế mà ngay từ câu đầu của bài ca, Nguyễn Công Trứ đã coi: mọi việc trong trời đất chẳng có việc nào không phải nhận sự của ông “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”. Câu thơ toàn là âm Hán, vang lên trang trọng, thiêng liêng, biểu lộ một thái độ đầy tự tin, kiêu hãnh và một ý thức rất sâu sắc về trách nhiệm của chính mình. Không phải ngẫu nhiên mà khi đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ chúng ta thấy rất nhiều lần ông nhắc tói “Chí nam nhi”, “Chí làm trai”, “Chí tang bồng”, “Phận sự làm trai”, “Nợ nam nhi”, “Nợ tang bồng”… Phải chăng đó chính là lẽ sống nhập thế tích cực của một nhà nho chân chính. Trong bài thơ này thái độ tự tin, kiêu hãnh ấy lại được thể hiện bằng một giọng diệu “ngất ngưởng”, “ngang tàng”. Cứ xem cách xưng hô ở câu thơ thứ hai, Nguyễn Công Trứ tự gọi mình là “Ông Hi Văn”, tự giới thiệu chính mình là người có tài lớn và coi việc ra làm quan như “đã vào lồng”, ta cũng đủ thấy rõ thái độ người viết vừa như trang nghiêm lại vừa như “u mua”, hài hước. Thái độ ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ không phải chỉ lúc làm quan đương chức “Khi Thủ khoa, khi Tham tá, khii Tổng đốc Đông”. Hoặc: “Lúc Bình Tây, cờ Đại tướng; có khi về Phủ doãn Thừa Thiên” mà sau khi về hưu, không làm quan nữa, thái độ ấy càng thêm đậm nét, tính cách “ngất ngưởng” càng thêm ổn định. Phải chăng khi đã thoát ra khỏi chốn quan trường, khi đã “tháo cũi, sổ lồng”, không chịu một sự ràng buộc nào nên ông càng trở nên “ngất ngưởng”. Ông ngất ngưởng trong cung cách sống. Một cách sống có vẻ khác người, ngược đời: Người đời thường cưỡi ngựa, Nguyễn Công Trứ cưỡi bò, đeo nhạc ngựa và thung dung trong tư thế: “Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gói tiên theo đủng đỉnh một đôi dì Bụt cũng bật cười ông ngất ngưởng” Không chỉ mình cung cách sống, thái độ ngất ngưởng của ông còn thể hiện rất rõ trong quan niệm được mất và sự lạc quan, bình thản trước cuộc đời: “Được mất dương dương người Tái thượng Khen chề phơi phới ngọn đông phong”. Cũng giống như chuyện ông già biên ải mất ngựa (Tái ông thất mã), Nguyễn Công Trứ quan niệm được mất là lẽ thường tình; ở đời may rủi hay sướng khổ đều như nhau, vì thế không có gì phải vội vàng hốt hoảng. Cũng như khen chê là chuyện bình thường, có gì mà phải bi quan sầu muộn, hãy phơi phới như ngọn đông phong; hãy “quảng gánh lo đi mà vui sống” (Lâm Ngữ Đường). “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng Không Phật, không Tiên, không vương tục”. Trong xã hội phong kiến, một xã hội đầy những khuôn mẫu, lễ nghi và nhiều luật lệ hết sức chặt chẽ, hà khắc, quan niệm và cách sống ngất ngưởng, “ngông nghênh” kiểu Nguyễn Công Trứ như trên quả là một sự thách thức, một sự “chòng ghẹo” cuộc đời. Thực ra thái độ và cách sống ấy của ông được bắt nguồn từ một bản lĩnh và một ý thức muốn khẳng định cái cá nhân độc đáo của mình. Dường như ông muốn chống lại sự vùi dập và bóp nghẹt cái tôi cá nhân của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Mặt khác, quan niệm và cách sống ấy cũng bắt nguồn từ sự tự ý thức rất rõ về tài năng và phẩm giá của chính bản thân mình. Chẳng thế mà ông tự ví mình với bao danh tướng từ đời Hán đến đời Tống của Trung Hoa: “Chẳng Thái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú”. Chẳng thế mà ông đau đáu một tấm lòng trước sau thủy chung như nhất: “Nghĩa vua tôi cho trọn vẹn sơ chung”. Câu thơ rưng rưng một niềm cảm động và vang lên như một lời thề son sắt. Sinh ra và lớn lên vào buổi giao thời cuối Lê đầu Nguyễn, ông đỗ đạt và làm quan vào thời kỳ mà nhà Nguyễn mới thống nhất đất nước, chấm dứt nội chiến, củng cố quân quyền và phục hưng nho học. Hoàn cảnh lịch sử ấy là cơ sở tinh thần cho cả một tầng lớp nho sĩ đang hăm hở bước vào một triều đại mới với một lẽ sống mới, cố gắng vươn lên trong một vận hội mới để khẳng định mình. Chính Nguyễn Công Trứ từng tự nhủ: “Đã sinh ra ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông” Ông tâm niệm và đã làm được hơn thế. Tên tuổi của ông đã được non sông ghi nhận. Hình bóng và phong cách của Nguyễn Công Trứ vẫn còn in đậm trong mỗi trang thơ của chính ông. Kết thúc bài ca, Nguyễn Công Trứ viết: “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Câu thơ buông lấp lửng: vừa như hỏi vừa như khẳng định; vừa như tự hào, ngợi ca, vừa tự giễu mình một cách thấm thìa; vừa như là lời tự bạch của ông, lại vừa như một nhận xét bình giá của người đời… Đúng như câu thơ và cả bài thơ cũng “ngất ngưởng” như ông vậy. Cái vẻ đẹp ngất ngưởng từ bài ca và cuộc đời Nguyễn Công Trứ đã trở thành một cách sống, một mẫu hình in đậm trong hàng loạt nhà nho tài tử sau này. Ta như còn gặp lại hình bóng và cốt cách ấy của ông ở một Tú Xương, một Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu và phần nào ở nhà văn Nguyễn Tuân ngày nay. Phân tích Bài ca ngất ngưởng – bài 2 Nguyễn Công Trứ (1778 – 1859) là một ông quan lớn văn võ toàn tài dưới triều Nguyễn. Nhắc đến ông người ta nhớ đến công lao khai khẩn đất hoang, lấn biển, lập nên hai xã Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình). Người ta cũng không quên một nhà thơ với những vần thơ đầy khẩu khí của một bậc chính nhân quân tử về chí nam nhi phụng sự đất nước, về cái tôi ngất ngưởng của một con người hiểu rõ về mình, về xã hội mà mình đang sống. Nếu như Chí anh hùng tràn đầy khí phách của người tuổi trẻ, thì Bài ca ngất ngưởng, được viết lúc ông đã thành danh, là bài thơ tổng kết về cuộc đời và khẳng định cái tôi (bản ngã) của cụ Thượng Trứ. Để làm rõ được cái tôi ngất ngưởng của mình, nhà thơ đã chọn thể hát nói bằng chữ Nôm – một thể thơ tài tử của dân tộc tương đối tự do, viết ra không phải để đọc mà để ngâm nga, hát xướng. Người thể hiện có thể theo đà cảm xúc mà luyến láy cho phù hợp. Bài thơ vì vậy mà đầy âm sắc, nhạc điệu. Nếu tính cả nhan đề, bài thơ có đến năm lần dùng từ “ngất ngưởng”, được đặt ở cuối mỗi đoạn như nốt nhấn của bài ca. Đây là cái dáng vẻ của một tinh thần ngạo nghễ, tự coi mình, hơn người, trên thiên hạ. Đây cũng là tư thế chung của toàn bài. Mở bài ta bắt gặp sự khác đời trong cách tự giới thiệu về mình: Vũ trụ nội mạc phi phận sự. Câu thơ chữ Hán tạm dịch là: Phàm những việc trong trời đất này không có việc gì không phải là phận sự của ta – Tiếp theo tác giả dùng một loạt từ Hán – Việt cùng thủ pháp liệt kê, kể cụ thể những chức tước danh phận của mình: Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông…/ Lúc bình Tây, cờ đại tướng/ Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên… Nhịp thơ trầm bổng nhấn nhá của lối ca trù nghe thật êm đềm nhẹ nhàng như mặt sông mùa xuân. Một sự khẳng định tài năng kiệt xuất của mình thật khéo mà cũng thật kiêu ngạo khác đời. Nguyễn Công Trứ dám nói thẳng không hề né tránh. Ngay cả cách đưa biệt hiệu “ông Hi Văn” vào bài cũng chẳng giống ai. Hi Văn – chữ Hán có nghĩa là nhà văn hiếm. Tự gọi mình một cách trang trọng là ông và nhận mình như vậy thì chỉ có ông. Nguvễn Công Trứ đã phá vỡ tính phi ngã của thi pháp trung đại, không chịu ép mình vào cái ta chung của cộng đồng, xã hội. (Ở câu cuối ta thấy ông còn tự tách mình ra, đối lập mình với cả tầng lớp phong kiến). Tất nhiên ông có cái thế của một bậc đại nhân quân tử để viết như vậy. Nhưng nói được như ông ở thơ văn trung đại không nhiều. Nếu có chăng, trước đó có Nguyễn Trãi với một tình yêu lãng mạn ở Cây chuối, Phạm Thái đau đớn xót xa đến tuyệt vọng trước cái chết của người yêu trong Văn tế Trương Quỳnh Như. Gần nhất có cách xưng danh khắng định mình của Hồ Xuân Hương (Này của Xuân Hương mới quệt rồi – Mời trầu), hay Nguyễn Du (Thiên hạ ai người khóc Tố Như – Độc Tiểu Thanh kí). Các nhà văn ấy vẫn còn nhún nhường, khép nép hoặc còn bóng gió, chung chung. Cái ngất ngưởng còn ở lối sống, cách sống khác đời. Nguyễn Công Trứ là người biết sống. Khi trai trẻ, hoạt động hăng hái hết mình theo quan niệm nhập thế hành đạo tích cực của nho gia, Trở về già thì sống nhàn hạ hưởng lạc. Một trong những thú vui của ông là nghe hát ả đào (còn gọi là ca trù). Người ta lên xe xuống ngựa xênh xang thì cụ Thượng Trứ ngao du sơn thủy, thưởng lãm chùa chiền cùng các cô đầu bằng xe bò. Mà là bò cái vàng với cái mo cau che sau đuôi. Cụ giải thích: Để che miệng thế gian: Điển viên dạo chiếc xe bò cái Sẵn chiếc mo che miệng thế gian Sự ngông ngạo này chính ông đã nhận xét: Bụt cũng nực cười… Nguyễn Công Trứ đã vượt ra khỏi lẽ sống được tầm thường ở đời: Được mất dương dương người tái thượng Khen che phơi phới ngọn đông phong Khi cơ, khi tửu, khi cắc khi tùng Không phật, không tiên, không vướng tục Như trên đã nói, Nguyễn Công Trứ tự tách mình ra khỏi cái trật tự xã hội nhố nhăng, ô uế, bẩn thỉu, nhiều kẻ vỗ ngực là quân tử nhưng thực chất chỉ là hạng cây vông: Tuổi tác càng già càng xốp xáp/ Ruột gan không có, có gai chông (Vịnh cây vông). Ngông ngạo nhưng ở hai bài này Nguyễn Công Trứ không rơi vào tình thế bi quan bế tắc hay phá phách bất cần đời như một số nhà văn lãng mạn sau này. Mục đích sống của ông rất rõ ràng: Phò vua giúp nước: Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung Hay như có lần đối lại ý của một nhà sư ông hóm hỉnh nêu: Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ Không quân thần phụ tử đếch nên người. Nói khác đi, sự ngất ngưởng của ông ta là để nhằm lật tung cái trật tự xã hội phong kiến đương thời tưởng như yên ả bằng phẳng nhưng thực chất thối nát, mục ruỗng đến cùng cực. Ông không muốn mình bị “đồng hóa” cùng hội cùng thuyền với lũ tham quan vô lại. Vì vậy tiếng cười tự trào của Nguyễn Khuyến có ngạo nghễ nhưng không ngoa ngôn, lộng ngữ, vừa cụ thể lại vừa có tính biểu tượng, vừa có chút trào phúng lại vừa mang tính triết lý, thể hiện quan niệm sống của nhà thơ. Thơ văn Nguyễn Công Trứ vốn phóng khoáng ngang tàng như bản chất con người ông. Bài ca ngất ngưởng là một trong những bài thơ hay được nhiều người nhắc đến với sự tán thưởng thích thú. Một phần bởi bài thơ giàu tính nhạc, nhưng phần lớn bởi bản lĩnh vững vàng cứng cỏi của con người tài năng xuất chúng này. Nguyễn Công Trứ đã thổi một luồng sinh khí mới lạ cho văn chương đương đại, đưa yếu tố cá nhân, cái tôi cần được giãi bày vào trực tiếp trong văn chương. Đó cũng là một trong những bước đệm quan trọng để văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX có những bước chuyến mình vượt bậc, bước qua cái ta, giải phóng yếu tố cá nhân, cho văn chương Việt Nam tiến kịp nền thơ ca nói riêng và văn học nghệ thuật hiện đại thế giới nói chung. Phân tích Bài ca ngất ngưởng – bài 3 Khi đã nghỉ hưu ở quê nhà, Nguyễn Công Trứ viết “Bài ca ngất ngưởng” thể hiện phong cách sống của ông. Đây là triết lí sống trong suốt cuộc đời, khi còn là một thư sinh, khi xuất chính hay lúc đã về hưu của ông. “Ngất ngưởng” là từ tượng hình có giá trị biểu đạt, diễn tả ở một vị trí cao chênh vênh, không ổn định liên hệ vào con người là một lối sống khác người: ngông nghênh, thách thức với mọi người, vượt lên thế tục bình thường! Mở đầu là câu thơ chữ Hán thể hiện lí tưởng nhà Nho: Phận sự của kẻ sĩ là phải coi việc gánh vác trong vũ trụ là bổn phận của mình. Nhà thơ tự xưng mình là ông – Ông Hi Văn – lần lượt làm các việc: thi đỗ thủ khoa, khi làm Tham tán Quân vụ Bộ hình, khi làm Tổng Đốc An Hải, lúc làm Đại Tướng Bình Tây, lúc làm Phủ doãn Thừa Thiên, nhưng ông không ở lâu chức vụ nào vì luôn luôn bị giáng chức. Sự nghiệp như thế thật không hổ thẹn với chí lớn kẻ làm trai. Mặc dầu trên đường công danh có những lúc thăng trầm, nhưng cuối cùng ông cũng được ở phẩm tước khá cao dù cái xã hội ấy, ông gọi là cái “lồng”. Cuộc đời lập nghiệp công danh kéo dài từ năm 1820-1848, ông đã tự chứng minh cái tài song toàn về văn võ một cách hiển hách lừng danh, đến nỗi ông không che giấu khi tự thuật về mình. Một tay ngất ngưởng trên hoan lộ: “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng!”. Sau khi làm xong phận sự, ông không ngần ngại cởi trả áo mão triều đình cáo lão về hưu. Quãng đời sau cùng của đời Nguyễn Công Trứ là quãng đời không màng danh lợi, hoàn toàn hưởng nhàn theo sở thích cá nhân. Với một tâm hồn tự do và một cuộc sống độc lập, ông đã tha hồ ngất ngưởng cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa tiêu dao đây đó khi chùa, khi núi, lại đèo theo đủng đỉnh một đôi dì. Cách hưởng nhàn hành lạc của ông ở đây thật đến quá quắt, mà có lẽ khôi hài lập dị của một trang nam tử có một thị hiếu riêng, đến nỗi: “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng!” Lối hưởng lạc này có một sinh khí và một tính chất riêng, đó là lối hưởng lạc nhập tục theo chiều phóng khoáng cá nhân, không giống một ai, không Tiên không Phật cũng không tục, nhưng vần trọn nghĩa vua tôi: “Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng. Không Phật, không Tiên, không vướng tục”. Hưởng nhà hành lạc chỉ là thời kì sau cùng của ông khi làm xong phận sự. Ông muốn mọi người hiểu rằng cuộc đời là trung nghĩa. Biết bao lần lên bổng xuống trầm trên hoan lộ, vì ganh ghét, vì vu cáo, thế mà vẫn giữ vững đức trung quân, ái quốc không hề có một ý tưởng bất mãn. Bởi vậy khi về hưu vui thú tuổi già, ông sống với một cõi lòng yên vui bình thán, trên không lỗi với vua, dưới không mất lòng dân chúng. Cho nên khi Tiền Hải, Kim Sơn, lúc chống gậy đến chốn triều đình nghị quốc quân đại sự. Năm Tự Đửc thứ 12 ông nghe tin liên quân Pháp, Tây Ban Nha tấn công cửa bể Đà Nẵng, không quản ngại thân già, ông chống gậy đến chốn triều đình dâng sớ kêu vua xin Cầm quân chống giặc. Nhưng vua không cho, vì thây ông đã quá già nua tuổi tác. Tự xét hiểu mình như thế, nên ông kiêu hãnh ghi phận về mình: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú, Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung, Trong triều ai ngất ngưởng như ông”. Phải chăng đó là lối sống mang cái “chí kh픓ngất ngưởng”. Chẳng những ông không hề sợ ai chê cười mà còn đầy lòng tự hào về cái “đạo sống ngất ngưởng” đó. Tóm tắt lại có bốn cái “ngất ngưởng” làm nổi bật trong đời ông. Trên đây là bài tập làm văn phân tích Bài ca ngất ngưởng, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích Bài ca ngất ngưởng
3,374
Phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát Hướng dẫn Phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát Chúng ta biết đến Cao Bá Quát như là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Việt Nam, ông không chỉ là người nổi tiếng học giỏi mà còn có biệt tài viết chữ đẹp nhưng lại gặp nhiều khó khăn trắc trở trong con đường công danh. Ông có nhiều đóng góp lớn cho nền văn học Việt Nam,đặc biệt qua một số bài thơ tiêu biểu ta cũng thấy được hồn thơ cũng như tâm niệm của tác giả gửi gắm qua những vấn thơ. Bài ca ngắn đi trên bãi cát” là một trong số đó, với ẩn ý bãi cát trải dài đó, hay chính con đường công danh mà nhiều người lúc bấy giờ theo đuổi nhưng mờ mịt, đầy thử thách Bài thơ được viết khi tác giả có dịp đi qua miền trung, bất chợt thấy những bãi cát đã nảy lên ý tưởng, cảm xúc dâng trào khiến tác giả không cầm lòng được. Mở đầu bài thơ “ Bài ca ngắn đi trên bãi cát là hình ảnh người đi khó nhọc trên bãi cát: “Bãi cát lại bãi cát dài, Đi một bước như lùi một bước.” Những hình ảnh tả thực hiện ra, đó là hình ảnh về những bãi cát nối tiếp nhau, không biết điểm kết thúc, cứ thế miên man. Từ lại” được tác giả sử dụng như càng thêm sự vô tận của những bãi cát. Chỉ thấy một màu cát trăng, với cái nắng cà còn tạo ra nhiều viễn cảnh mà con người ta có thể tưởng tượng nếu đứng trong hoàn cảnh đó. Câu thơ thứ hai lại càng làm độc giả như chứng kiến những bước chân của chính mình trên bãi cát đó vậy. biện pháp so sánh đã được tác giả sử dụng thật hợp lí ở đây, “ đi một bước như lùi một bước”,bãi cát đó con người cất công đi nhưng càng khó khăn càng mệt nhọc bấy nhiêu. Rồi dù trời đã tối, nhưng lữ khách vẫn đi, nước mắt rơi chính là những nhọc nhằn chứ thể kiềm lại được. Hình ảnh con người lúc đó thật kẻ loi, cô đơn và cũng thật nhỏ bé. Lữ khách trên đường nước mắt rơi” Bãi cát đó hay chính con đường công danh dù mờ mịt nhưng nhiều người vẫn bị cuốn vào đó, bất lực trước những điều mà mình không thể chống cự lại được, nên Cao Bá quát chỉ biết trách bản thân, hay chính ông đang lấy cái cớ để tâm trí thoải mái hơn. “Không học được tiên ông phép ngủ, Trèo non, lội suối, giận khôn vơi! Xưa nay, phường danh lợi, Tất tả trên đường đời. Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người?” Nhà thơ chỉ tiếc rằng bản thân mình không thể học được phép ngủ của tiên ông, cứ sống mà mặc kệ mọi danh lợi,sống một cuộc sống thanh cao, bỏ qua mọi oán hận của thế gian. Dẫu biết con đường công danh là gian nan, là phải “tất tả” ở nơi phường danh lợi, thế nhưng ông một mực vẫn cứ dấn thân vào, càng đi vào, càng thấy hoang mang, không biết lối ra cũng chẳng thể dừng lại. Vất vả chính là vì chạy theo công danh,phải cố bước, nó như hơi men, cuốn con người vào đó, cho nên” người say vô số,tỉnh bao người?”. Nhà thơ tỉnh, nhưng rồi tỉnh nhưng vẫn với nỗi băn khoăn không biết con đường này có nên đi tiếp hay không? Những câu thơ lần nữa lại vang lên như một lời than thở Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt, Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít? Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng” Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùng, Phía nam núi Nam, sóng dào dạt Anh đứng làm chi trên bãi cát?” Người lữ khách trên bãi cát vô tận đó loay hoay, cô độc, chỉ biết hỏi nơi bãi cát vô tri xem phải làm sao với con đường khó khăn này. Đường bằng thì mờ mịt, mà đường gập ghềnh ghê sợ cũng còn nhiều,con đường nào cũng nhiều cạm bẫy. Đường công danh cũng vậy, biết bao chông gai, cạm bẫy luôn rình rập con người ta. Làm thế nào để được sống như mình muốn,bước đi thỏa nguyện trên con đường ấy đây? Một cảm giác tuyệt vọng, bất lực trào dâng trong lòng người khách độc hành, chỉ biết cất lên khúc hát “đường cùng” để bày tỏ tâm trạng. Lữ khách chỉ biết nhìn về bốn bề, nhưng xung quanh người chỉ thấy sóng, thấy núi, chưa có một con đường nào để người lữ khách có thể bước đi cả. Dẫu biết không có một lối đi không một định hướng ràng nhưng làm sao có thể bước tiếp trên một hướng đi mù mịt như vậy? Bãi cát ấy, hay chính con đường mà bao người dấn thân vào ấy, mờ mịt thế,câu thơ cuối như dự báo một điều sẽ xảy ra, đó chính là chắc chắn tác giả sẽ chọn cho mình một hướng đi riêng, chứ mãi mãi như thế cũng không có cách giải quyết. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích Bài ca ngắn đi trên bãi cát
884
Đề bài: Phân tích – Bình luận bài Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn Bài làm Chiếu, chế, hịch, cáo nói chung là những văn bản hành chính, công vụ, thường là những mệnh lệnh hoặc lời kêu gọi, thông báo từ trên ban xuống. Tác giả của nó, hoặc người ở vào tư thế phát ngôn phải là bậc vua chúa hoặc chủ tướng công bố một đường lối, chủ trương mà nhữne thần dân hoặc tướng sĩ dưới quyền phải hết lòng thực hiện hoặc tường trình một sự kiện lịch sử nổi bật để mọi người cùng nghe. Tuy nội dung đề cập đến những vấn đề rất rộng nhưng cái đích phải đạt tới là sự thống nhất có tính chất toàn dân. Còn phương tiện, cách thức trình bày, nó phải là một bài văn nghị luận, phải dựa vào lí lẽ, lập luận để thuyết phục trăm họ, muôn dân. Với những văn bản nói trên, trong tình hình văn sử bất phân (văn nghệ và học thuật là những khái niệm thể loại chưa phải đã rạch ròi), chơ đến nay nhìn lại không thể trước tác nào cũng gọi là văn chương. Hoặc chỉ có giá trị văn chương đến một mức nào đó, nhưng vãn bản lại gắn liền với một sự kiện lịch sử lớn lao chẳng hạn thì cũng không nên nhất loạt bỏ qua. Chiếu dời đô nằm trong tình hình ấy, nhưng đầy chất văn chương, nhất là văn xuôi trong chặng đường lập quốc. Nó cũng là khí phách của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. Sức thuyết phục của nó là ở chỗ tuy là tiếng nói của một người nhưng hội tụ tấm lòng của hàng triệu người, của toàn dân tộc. Để có thể đi.vào lòng người còn phải có lí lẽ, có lập luận, cách trình bày sao cho mạch lạc, rõ ràng. Tính hùng biện muốn được phát huy phải gắn với tính trữ tình nhằm tạo được sự tri ân, cảm hoá. Ưu điểm nổi bật của Chiếu dời đô là sự tập trung cao độ vào nội dung cần bàn: Vì sao việc thay đổi kinh đô “không thể dời đổi”? Trong việc thay đổi ấy chỉ một nơi có thể định đô, đó là “Nơi kinh đô bậc nhất của đê vương muôn đời”. Trên tinh thần ấy, lập luận không thừa một ý, diễn đạt không lãng phí một câu, nội dung và hình thức gần với một thứ văn bia vô cùng hàm súc. Đây cũng là một thứ mẫu mực cho bút pháp cổ văn. Toàn bộ bài văn hình thành hai luận điểm lớn: 1. Việc thay đổi kinh đô đối với triều đại nhà Lí là một tất yếu khách quan: Bắt chước người xưa mà không nệ cổ, ấy là một cách nghĩ phóng khoáng, canh tân. Sự lựa chọn nên hay không nên, lập luận của tác giả dựa vào thực tế xưa và nay. Sự đối lập giữa hai cách hành động, hai cách nghĩ khác nhau, tự nó bật lên chân lí: xưa không hẳn đã là cổ hủ, nay tuy là mới, nhưng chưa hẳn đã thức thời. Vậy xưa và nay, chẳng cần phân biệt, cứ đúng mà làm “nếu thấy thuận tiện thì thay đổi”. Lấy cái đúng của hôm nay mà soi vào quá khứ, Lí Công uẩn đã bắt gặp cách nghĩ của người xưa. Kế tục truyền thống, phát huy truyền thống cần có một sự sáng suốt sàng lọc, đó là một phương châm, phương hướng nên làm. Tất cả những sự nên hay không nên, lập luận diễn ra ba bước: hành động dời đô hay “đóng yên đô thành” một chỗ, mục đích của việc dời đô và kết quả của việc dời đô. Xưa, nhà Thương, đến đời vua thứ mười bảy (Bàn Canh) có đến năm lần dời đô. Tiếp nối nhà Thương, đến Chu Thành Vương cũng làm như thế tính đến ba lần. Những quyết định táo bạo ấy phải đâu là hiếm hoi, chỉ làm trone muôn một? Mục đích và kết quả của việc dời đô ấy đã rất nhỡn tiền, mắt thấy tai nghe, không ai không công nhận. Vì đã được thừa nhận, tác giả chỉ nhắc qua “Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh”. Không tán thành cách làm “Không noi theo dấu cũ của Thương, Chu” của hai nhà Đinh, Lê, lập luận có tính chất phê phán chỉ còn hai bước của tư duy được nhấn mạnh nhiều hơn. Cái lỗi của hai nhà Đinh, Lê có đến bốn điều cần phủ nhận là “lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây”. Sức thuyết phục của lối văn tranh luận không phải ở sự dài lời. Bốn vế đầu của câu văn như những mũi tên trí tuệ bắn ra nhằm vào một cái đích: ấy là sự lẽ ra phải đổi thay của hai nhà Đinh, Lê trong hiện tại. Hậu quả của nó, thông qua phép đối, dưới hình thức biển văn, sự hô ứng thật muôn lần sáng tỏ được thể nghiệm tức thời bằng bốn vế tiếp theo đầy thuyết phục “khiến cho triều đại không được lâu bẽn, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi”. Phân tích bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn 2. Thành Đại La là một nơi định đô lí tưởng: Ngay khi nhìn ngắm vào hai tấm gương phải trái khác nhau, tác giả đã lộ rõ ý mình: không thể không thay đổi cách nghĩ, cách làm. Nhưng tỏ ra tinh tế, khiêm nhường, tác giả chỉ giãi bày cách cảm: “Trẫm rất đau xót về việc đó”, tuy vậy không phái không ngầm ý quyết đoán, một quyết đoán không gì cưỡng được vì nó hợp với mệnh trời: “không thể không dời đổi”. Phủ định một điều phủ định chính là sự khẳng định. Ây là chân lí của tư duy. Ý tưởng của nhà vua trong việc định đô ở Đại La thuyết phục người nghe ở cả hai yếu tố: lí lẽ và tình cảm, nội dung và hình thức diễn đạt, trình bày về lí lẽ, lợi thế của Đại La được trình bày rất kĩ lưỡng với một số lượng câu không ít, nó như nốt nhấn của bài văn. Bốn câu văn đầy trọng lượng này lại được nhân lên gấp đôi bởi mỗi câu có đến hai vế, mỗi vế lại có sức tác động riêng bổ sung cho nhau, thật là tầng tầng lớp lớp. Nội dung của đoạn văn dựa vào thuyết phong thuỷ mà phát hiện ra vẻ đẹp muôn mặt của Đại La: nào là vị thế địa lí, vị thế văn hoá, đầu mối giao lưu, điều kiện dân cư và sự tốt tươi cho muôn vật. Đại La như một viên ngọc, nếu có ánh sáng của nhận thức soi vào, nó lấp lánh lên bao điều ngưỡng mộ. Tình cảm của người viết dù không muốn lộ ra vẫn ngập tràn trong tiết tấu, nhịp điệu, trong từng chữ, từng câu “lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu” như thế. Yêu mến Đại La là xuất phát từ ý đồ “mưu toan nghiệp lớn”, là một tầm nhìn xa rộng đến mai sau, vì lợi ích của muôn dân trăm họ. Nội dung đầy chất trí tuệ và tâm hồn ấy được diễn tả bằng hình thức biền văn chuẩn mực. Hình thức này đã góp phần không nhỏ vào hiệu quả của đoạn văn. Thử nêu một ví dụ về phép đối, chảng hạn, đối ý, đối lời, đối thanh, đối nhịp. Ở đây, tác giả đã khá dụng công, ví dụ: ngay ở câu đầu hai vế: “Ở vào nơi trung tâm trời đất ; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, mỗi vế có bảy chữ, bằng trắc thay nhau thật du dương trầm bổng. Ấy là chưa nói xen giữa những câu dài là những câu ngắn có tác dụng bắc cầu cho câu dài tiếp nối cái mạch văn đầy hứng khởi trào dâng. Chẳng hạn như câu: “Địa thế rộng mà bằng ; đất đai cao mà thoáng”, sau đó tiết tấu dãn ra: “Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt ; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”. Để sơ kết, cũng là để nhấn mạnh về ưu thế tuyệt vời của thế đất Đại La, tác giả sử dụng nhịp văn dồn dập với những cách tôn vinh không đơn điệu: đã là nơi “thắng địa”, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương” còn là “nơi kinh đô bậc nhất”,… Lập luận và lí lẽ đến mức ấy thì câu kết của bài dù chỉ là bỏ ngỏ (“Các khanh nghĩ thế nào?”) tưởng như chưa có hồi âm, nhưng thực ra thì đáp số đã nằm ngay trong đó.
Phân tích bài Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn
1,524
Đề bài: Phân tích bài Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan Bài làm Ai đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn: "Sông sa vò võ phương trời, Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng". Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XIX: "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn. Gác mái, ngư ông về viễn phố, Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu sương sa khách bước dồn. Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?". Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có giá trị tạo hình đặc sắc: ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn: "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn". Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự – như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết: "Trời tây bảng lảng bóng vàng" (Truyện Kiều) Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh Quan. Đối với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc (tù và) cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng" lại. Chiều dài (tiếng ốc), chiều cao (tiếng trống đồn trên chòi cao) của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng (bảng lảng) vừa có âm thanh (tiếng ốc, trống đồn) tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã: "Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn, Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn " Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách… thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay mỏi"… Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ (người thì có: ngư, tiều; cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có: phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều…) nhưng với tài sáng tạo vô song: chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang nhã. Vì thế cảnh vật trở nên gần gũi, thân thuộc với mọi con người Việt Nam. Cảnh vật mang hồn người đậm đà bản sắc dân tộc. Chiều tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố (bến xa) với tâm trạng của một "ngư ông" – ông chài nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế nhàn của ngư ông đang sống ở miền quê, đã thoát vòng danh lợi: "Gác mái, ngư ông về viễn phố". Cùng lúc đó, lũ trẻ đưa trâu về chuồng, trở lại "cô thôn", cử chỉ "gõ sừng" của mục đồng thật hồn nhiên, vô tư, yêu đời. "Gõ sừng mục tử lại cô thôn". Đó là hai nét vẽ về con người, hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng thân thuộc đáng yêu. Hai câu luận tiếp theo mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người lữ khách ưên nẻo đường tha hương nghìn dặm. Trời sắp tối. Ngàn mái xào xạc trong "gió cuốn"; gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mù mịt dặm liễu. Và trên con đường sương gió ấy, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đôi, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa ”gió cuốn" và "sương sa", đang sống trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ: "Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi, Dặm liễu, sương sa khách bước dồn". Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết đưực những câu thơ rất thực miêu tả cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương hay đến thế! Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp: "Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ". Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chưowng Đài" và "lữ thứ" trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn” là nóng lạnh, "nỗi hàn ôn" là nỗi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết: "Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ, Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?". "Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí – thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán Việt (bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố…) tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng,… Bài làm 2 Trong làng thơ Việt Nam, có những nữ sĩ để lại cho thơ ca ciàn tộc những dấu ấn đẹp. Nếu thơ Hồ Xuân Hương tài ba, ngạo mạn thì thơ bà Huyện Thanh Quan lại trang nhã, trữ tình và duyên dáng. Đọc thơ bà, ta thấy nỗi buồn man mác, tâm trạng hoài cổ thật thanh cao đượm sự cô đơn, trống vắng. Một trong những bài thơ đó là tác phẩm Chiều hôm nhớ nhà. Tìm hiểu bài thơ ta sẽ thấy tài thơ điêu luyện của Bà: Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ở hai câu đề, khoảng thời gian là trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn. Ánh sáng vẫn còn dó, nhưng chỉ còn là ánh lờ mờ của ngày tàn và đêm sắp tới. Câu thơ chỉ giới thiệu thời gian mà người đọc như cảm thấy cả không gian một vùng quê rộng lớn. Trước thiên nhiên ấy, giữa trời và đất, có một cái gì đó tràn ngập con người nhạy cảm. Buổi chiều là thời gian dễ buồn nhất và đó cũng là khoảng thời gian thường xuất hiện trong thơ của bà Huyện Thanh Quan. Con người trong cuộc sống hỗn độn, ồn ào vẫn có một lúc nào đó trở về với cái bình yên muôn thuở của thiên nhiên, về với chính lòng mình. Và lúc này chính là khoảnh khắc đó của nữ sĩ. Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn Âm thanh từ xa vẳng đến như thúc giục, nhưng vẫn có cái trầm lặng trong đó báo hiệu cho mọi người: ngày sắp hết. Ta như gặp một nét thân quen, man mác của câu ca dao: Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều. Tâm trạng của tác giả đã phần nào được ngầm hiểu trong cách lựa chọn thời gian, không khí và thanh âm. Trong cảnh chiều, trong tiếng gọi tàn ngày đó, con người hiện ra: Gác mái, ngư ông về viễn phố Gõ sừng, mục tử lại cô thôn. Câu thơ với nhịp 2/5 làm cho ta có cảm giác hoạt động con người đang giảm dần, đang đi tới kết thúc. Phép đối rất chuẩn cùng với những từ Hán Việt đã góp phần tạo nên vẻ trang nhã, cổ kính của hai câu thơ gợi tả này. Trước cảnh thiên nhiên to lớn, con người thật nhỏ, yếu thế và có phần đơn độc. Đó cũng là đặc điểm của thơ Thanh Quan. Gặp cảnh và người ở đây ta không thể không liên tưởng đến cảnh và người. Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Trong Qua đèo Ngang của cùng tác giả, cảnh và người đều vậy: lặng lẽ, đượm buồn. Ta có cảm giác nhà thơ cũng đang lặng lẽ, thẩn thờ. Và con đường trước mắt bà thì sao, hai câu luận đã vẽ ra khung cảnh: Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn Khoảng đường trước mắt như vô tận. Chim bay mỏi mà chưa tới nơi, khách bước dồn mà chưa tới chốn. Con đường đi hay con đường đời đang dàn trải? Phép đối từng cặp hình ảnh ngàn mây dặm liễu, gió cuốn – sương sa, chim bay mỏi – khách bước dồn làm ý thêm nhấn mạnh. Những từ ngữ bước dồn, bay mỏi cho thấy tâm trạng chán chường, mỏi mệt của nhà thơ. Tâm trạng ấy tất dẫn đến hai câu thơ kết thúc: Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn Không có ai để tâm sự, trời đất thì bao la, vắng lặng, trống trải, khiến tác giả quay về với nội tâm, với lòng buồn sẵn có của mình. Câu thơ cuối, vừa như một câu cảm, vừa như một câu hỏi. Ta đã từng bắt gặp những câu thơ tài ba đó trong thơ bà: Dừng chân dứng lại, trời non nước Một mảnh tình riêng, ta với ta (Qua đèo Ngang) Và Cảnh đấy, người đây luống đoạn trường (Thăng Long hoài cổ) Qua đó, ta càng hiểu được nỗi niềm tâm sự của tác giả. Mang tiếng nói của tầng lớp quý tộc phong kiến đang trên đường suy thoái, thơ Thanh Quan biểu hiện một khía cạnh tư tưởng của văn chương thế kỷ 18 – 19, phản ánh tâm tư của lớp nho sĩ chán nản bế tắc. Tiếng thơ đó cũng biểu hiện tâm trạng hoài cổ, thiết tha nhớ nhà Lê đã suy vi. Phải chăng đó cũng là tâm tình của tập đoàn phong kiến đã hết thời vàng son, hết vai trò lịch sử? Đặt bài thơ của nữ sĩ vào bối cảnh lịch sử như thế, ta có biểu hiện sâu thêm cái buồn trong lòng bà: cái buồn thời đại. Thơ bà buồn, nhưng không vì thế mà mất vẻ đẹp gợi cảm. Trái lại, nhờ vậy càng tăng thêm phần đặc sắc. Thơ bà đẹp một cách trầm lặng như chính tâm hồn bà. Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan mãi mãi đưa đến cho chúng ta những cảm xúc chân thành, đậm đà trước nét buồn thanh tao, đưa đến những suy nghĩa sâu xa hơn về con người và xã hội. Một bài thơ đóng lại nhưng còn mở ra, tạo nên một dư âm trong lòng người đọc.
Phân tích bài Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan
2,091
Đề bài: Phân tích bài Chiều xuân của Anh Thơ Bài làm Nhắc đến nhà thơ Anh Thơ người độc giả lại nhớ về hình ảnh một nữ thi sĩ tiêu biểu của phong trào thơ Việt Nam hiện đại. Tuổi thơ êm đềm đã từng gắn liền với đồng ruộng cánh cò quê hương sớm chiều mưa hay nắng, chính điều này là nền tảng khơi nguồn cho dòng suối cảm xúc thơ trong bà với phong cách thơ bình dị mà sâu sắc qua từng câu chữ, qua bao hình ảnh của cảnh sắc nông thôn quê hương nhẹ nhàng được gợi tả một cách khéo léo.Càng ấn tượng hơn khi bà đến với thơ ca như con đường giải thoát khỏi cuộc đời tù túng, buồn tẻ và tự khẳng định giá trị người phụ nữ trong xã hội đương thời.Tập thơ “bức tranh quê” đầu tiên ra đời chan chứa những gì mộc mạc và dung dị, đặc biệt qua bài thơ “chiều xuân”, một bức tranh về cảnh mây trời tắt nắng trong sắc xuân tươi đẹp. Những cơn mưa xuân đặc trưng nơi miền Bắc là những cơn mưa bụi li ti rơi nhẹ tắm mát cho chồi non ngọn cỏ thêm xanh tươi, mưa xuất hiện trong dòng thơ đầu tiên rất đỗi lặng lẽ trên bến đò vắng, cảnh vật thoáng buồn và chút tĩnh lặng, se thêm cái lạnh của tâm hồn bằng sự trống trải: “Mưa bụi êm êm trên bến vắng, Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi” Từng giọt mưa mãi rơi hững hờ và “êm êm” trước mắt nhà thơ. Từ láy gợi tả hình ảnh những giọt mưa rơi nhẹ điểm xuyết cho khung cảnh, không ồn ào vồn vã hay nặng hạt mà có chút gì như chầm chậm theo từng khoảnh khắc thời gian.Bến sông thì thưa khách đi đò chiều, vắng mênh mông, không gian rộng hơn và sự trống trải lan tỏa vào tâm hồn.Con đò nhỏ sau một ngày làm việc chở khách ngược xuôi trên dòng sông quê hương bây giờ nằm đấy và lắng vào phút giây nghỉ ngơi, mạn đò lung lay theo sóng nhỏ, vô tình trôi bềnh bồng theo nước sông. Như thế đấy ta có cảm giác nhịp mưa rơi nhịp sóng vỗ nhẹ nhịp đò trôi hòa theo nhau tạo nên bức tranh giản dị nhưng sâu lắng bao cảm xúc. Ánh mắt nhà thơ chuyển hướng và cũng bắt gặp sự yên tĩnh đang bao trùm: “Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời” Quán tranh được nhà thơ nhân hóa qua động từ “đứng”. Không chỉ là “đứng” mà là “đứng im lìm” và “trong vắng lặng”, từ láy nối tiếp động từ như nhân thêm sự trống vắng không chỉ riêng bến sông gây hiệu ứng mạnh trong khổ thơ.Nơi quán tranh này là trung tâm của hoang vắng và xơ xác khi ngày sắp kết thúc. Hoa tím rụng “tơi bời” vào những phút cuối của ngày dài. Dường như không chỉ con người mệt mỏi mà vạn vật cũng rã rời, trút bỏ tàn dư cuối cùng.Thời gian thì cứ mỗi phút trôi qua mang theo sự rộn ràng hối hả của ban ngày và thay thế là chiếc áo khá buồn tẻ vì cô đơn và vắng lặng khắp nơi.Khổ thơ thứ hai hiện lên bằng những hình ảnh được thu gọn vào tầm mắt nhà thơ: “Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ, Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ” Đường đê rộng đôi bờ chạy dài và mơn mởn bao ngọn cỏ xanh tươi, màu sắc của câu thơ chính là màu “biếc” của cỏ. Ngòi bút nhà thơ tạo những nét chấm phá màu sắc khá đẹp, cảnh thoáng buồn của khổ một bây giờ như được dung hòa lại bằng chính màu sắc của sự sống dù chỉ là ngọn cỏ. Đến đây không gian bớt đi màu tàn phai nhường chỗ cho màu biếc rạng rỡ, cái tĩnh lặng cũng tan dần theo tiếng vỗ cánh của đàn chim sáo đen đang sà xuống.Chúng vô tư như những đứa trẻ nghịch trên đồng qua cách miêu tả tinh tế “mổ vu vơ”. Không phải “mổ vu vơ” mà thực ra chúng đang mổ những con mồi bé nhỏ nhưng trong mắt nhà thơ hình ảnh đó khá là dễ thương và mang cảm giác thanh bình hạnh phúc vì cuộc sống tự do và khoáng đạt. Không dừng lại bấy nhiêu đó, hình ảnh tiếp theo mang lại cho độc giả cái nhìn hơi ngỡ ngàng vì những điều bình dị mà không bao nhiêu người cảm nhận được: “Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió, Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa” Gió lướt qua thổi mát khung cảnh và không ít lần làm nghiêng nghiêng cánh bướm, khả năng dùng từ láy khá là phong phú “rập rờn”,nhà thơ miêu tả cái cách chú bướm nhỏ muốn bay nhưng không sao vựơt qua sức ép của cơn gió nên đôi cánh kia cứ mãi chao đi chao lại theo làn gió thổi. Động từ “trôi” càng tô đậm thêm hình ảnh cánh bướm nhỏ bị cơn gió kia hững hờ mang đi. Từng đợt gió đến rồi đi và tiếp tục thổi cho cánh bướm mãi “rập rờn” chao nghiêng.Thấp hơn cánh bướm là những chú trâu bò đang từ tốn nhai cỏ non một cách “thong thả”, chậm rãi như tận hưởng hạnh phúc.Mưa vẫn còn rơi và vương hạt mưa lên ngọn cỏ cho ta cảm giác trâu bò đang thưởng thức chính “mưa”. Nhịp thơ không nhanh mà theo nhịp hoạt động của muôn vật. Đây là khoảng thời gian mọi thứ trở nên lắng đọng và chầm chậm trôi xua đi mỏi mệt dần tan biến.Đến khổ thơ cuối cùng của bài thơ, không gian mở rộng khắp phía và làm hoàn chỉnh bức tranh “chiều xuân” thơ mộng của thi sĩ Anh thơ: “Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng, Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra, Làm giật mình một cô nàng yếm thắm Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.” Quê hương tươi đẹp bởi những cánh đồng xanh rì ngọn lúa rung rinh xào xạc theo đợt gió thổi về, còn thấm đẫm những giọt mưa bụi lất phất. Lũ cò con lông trắng là hình ảnh gắn liền với ruộng đồng, với bầu trời thôn quê, với cơn gió mát chiều về, nghịch ngợm bay ra vội vàng hối hả làm xao động cả góc trời, chúng tung cánh tự do phiêu lãng và vô tình làm giật mình một cô gái nông thôn đang cần mẫn làm việc bởi âm thanh bay lên của những đôi cánh. Cô gái trong câu thơ vẫn chăm chỉ làm nốt những công việc cuối cùng của ngày sắp tàn và cũng là những gì hiện lên trước mắt nhà thơ sau chót. Khung cảnh thanh bình tràn đầy sức sống, hoạt động của muôn vật đã xây dựng nên nhịp sống vui tươi nơi đây dù thời gian trôi gần hết ngày. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, khéo léo dùng ngòi bút của mình vẽ nên những hình ảnh bình dị nhưng thật ấm áp và chan chứa vẻ đẹp cuộc sống, bên cạnh đó theo dòng thơ mạch cảm xúc của người đọc được dâng lên và nhờ đó ta cảm nhận sâu nhất tình cảm cảm xúc của nhà thơ, đây chính là thành công khẳng định giá trị của bài thơ. Đôi lúc nhịp thơ chầm chậm nhẹ nhàng sâu lắng đôi lúc lại mang đến cảm giác rộn ràng và vui vẻ, cả bài thơ như bài nhạc muôn giai điệu phong phú làm rung động trái tim suy nghĩ của người đọc bài thơ. Tấm lòng yêu thơ ca và yêu những gì thân thuộc giản dị của quê hương cùng tài năng là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên thành công của bài thơ “Chiều xuân”.
Phân tích bài Chiều xuân của Anh Thơ
1,344
Phân tích bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Vũ Khoan Hướng dẫn Đề bài: Phân tích – Bình luận về bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Vũ Khoan. Mỗi người Việt Nam – nhất là thế hệ trẻ chúng ta – đã được sống những giây phút thiêng liêng của cái tết năm 2001. Đó là thời điểm chuyển tiếp từ thế kỉ XX vào thế kỉ XXI. Bước vào thế kí mới, đất trời như đổi khác hơn, con người cũng bồi hồi, xao động mong muốn được đổi khác, lớn lên, tiến bộ hơn để sống hạnh phúc hơn. Vậy chúng ta phải suy nghĩ thế nào, phải làm việc, học tập, ứng xử ra sao? Biết bao băn khoăn, day dứt, bao câu hỏi đặt ra, đòi ta phải trả lời. Một trong những ý kiến giúp chúng ta giải bài toán đặc biệt, trước hết là bài toán về nhận thức tư tưởng, bài toán về cách sống ấy, nằm trong một văn bản nghị luận ngắn gọn mà sâu sắc: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của ông Vũ Khoan. Bài nghị luận dược bố cục rành mạch, chặt chẽ với nhiều lí lẽ sâu sắc, nhiều dẫn chứng cụ thể, sinh động. 1.Lớp trẻ cần nhận ra cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam Mở đầu bài viết, tác giả đã đặt vấn đề trực tiếp, rõ ràng như vậy. "Cái mạnh, cái yếu" của người Việt Nam mà tác giả nói tới là những ưu điểm, những hạn chế trong phẩm chất, nhân cách bản thân mỗi con người. Đây là khởi nguồn của mọi thành công, hay thất bại trong cuộc sống. Khi bước vào thế kỉ mới, thiên niên kỉ mới, mỗi người phải chuẩn bị cho mình biết bao việc, trong đó hàng đầu, có tính quyết định chính là nhận ra ưu điểm, nhược điểm của chính mình. Vấn đề mà ông Vũ Khoan đặt ra và nhắc nhở tuổi trẻ chúng ta thật thẳng thắn và cần thiết. 2.Cái mạnh – cái yếu, những cặp dối lập đang tồn tại trong chúng ta a) Trước hết, tác giả giải thích lí do và ý nghĩa việc chuẩn bị hành trang – nhận ra ưu điểm và nhược điểm – trong nhân cách bản thân mỗi người: "Chúng ta đã chứng kiến sự phát triển như huyền thoại của khoa học và công nghệ… dưới tác dộng của những tiến bộ về khoa học và công nghệ, sự giao thoa, hội nhập giữa các nền kinh tế chắc chắn sẽ sâu rộng hơn nhiều". Như vậy, việc bồi đắp trí tuệ, trau dồi đạo đức, nhân cách của mỗi người tuổi trẻ chúng ta là một đòi hỏi khách quan có tính thời đại, tính lịch sử. Nó không đơn thuần là những khái niệm tinh thần chủ quan, trừu tượng mà là sự đòi hỏi khách quan, cụ thể của cuộc sống cả đất nước và mỗi con người. Tại sao? Ông Vũ Khoan chỉ rõ: nước ta phải cùng một lúc giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu ; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ; tiếp cận ngay với kinh tế tri thức. Trong ba nhiệm vụ đó, có lẽ nhiệm vụ "tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức" là một đòi hỏi bức bách, một sứ mệnh thiêng liêng, vẻ vang nhất đối với tuổi trẻ chúng ta. b) Tiếp sau – phần chính của bài viết – tác giả thẳng thắn chỉ ra những "điểm mạnh và điểm yếu", những ưu điểm và hạn chế, thiếu sót trong phẩm chất con người Việt Nam chúng ta. Thứ nhất: Chúng ta thông minh, nhạy bén với cái mới, nhưng kiến thức cơ bản không vững chắc, khả năng thực hành bị hạn chế. Thứ hai: Chúng ta cần cù sáng tạo, nhưng trong cần cù, chúng ta thiếu đức tính tỉ mỉ, nhất là chưa có thói quen tôn trọng những quy định nghiêm ngặt của công việc là cường độ khẩn trương. Chúng ta có khả năng sáng tạo, nhưng chỉ loay hoay "cải tiến", làm tắt, chứ không coi trọng quy trình công nghệ. Thứ ba: Nhân dân ta có truyền thống đùm bọc, đoàn kết với nhau trong công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Nhưng trong công việc làm ăn, trong kinh tế thì lại phạm vào thói xấu "trâu buộc ghét trâu ăn", kèn cựa, ganh tị với nhau. Thứ tư: Bản tính thích ứng – một tính tốt nữa của chúng ta – sẽ giúp nhân dân ta mau chóng hội nhập với thế giới. Nhưng trong "hội nhập" đã xuất hiện vài thói xấu như "thái độ kì thị", "sùng ngoại", "khôn vặt",… không giữ chữ "tín", gây tác hại khôn lường… Chắc rằng, vị cán bộ cao cấp, nhà ngoại giao, người hoạt động giàu kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực của đất nước ta – ông Vũ Khoan – còn muốn nêu lên nhiều nữa "cái mạnh", "cái yếu" của người Việt Nam. Nhưng bốn cặp đối lập như trên, cũng đủ giúp chúng ta hiểu ra biết bao điều bổ ích. Điều bổ ích nhất là, tác giả đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách, thói quen ấy một cách cụ thể, sâu sắc. Mỗi ưu điểm cũng như thiếu sót đều có nguyên nhân, dều có tác dụng, hoặc hạn chế khi đất nước và dân tộc bước vào thế kỉ mới, hội nhập với nền kinh tế trí thức. Chúng có quan hệ biện chứng, thúc đẩy, hoặc hạn chế công cuộc xây dựng đất nước trong thời đại ngày nay. Qua lịch sử, qua nhiều tác phẩm văn chương và thực tế cuộc sống, chúng ta nhận thấy những phát hiện, những lời khẳng định và phê phán của ông Vũ Khoan là hoàn toàn chính xác. Khi viết, ông đã dẫn chứng nhiều ví dụ sinh động, vận dụng nhiều ca dao, tục ngữ, thành ngữ quen thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ: "nước đến chân mới nhảy", "liệu cơm gắp mắm", "nhiễu điều phủ lấy giá gương", "trâu buộc ghét trâu ăn", "bóc ngắn cắn dài",… những cụm từ ấy điểm xuyết trong bài văn không chỉ giúp cho lí lẽ được mềm mại, mà còn đánh thức người đọc những tri thức cơ bản về lịch sử, về văn chương, đầy tính thuyết phục. Với học sinh chúng ta, sự phát hiện của ông Vũ Khoan về những lỗ hổng trong kiến thức cơ bản do chạy theo những môn học "thời thượng", bệnh "học chay, học vẹt" là những lời phê phán, nhắc nhở thiết thực. Còn các phát hiện khác qua những cặp đối lập "cái mạnh", "cái yếu" của nhân cách Việt Nam biểu hiện trong lối sống, trong khoa học và các hoạt động kinh tế, chính trị, ngoại giao,… cũng đều là những lời nhắn gửi cần thiết đối với học sinh. Bởi vì, đó là những hành trang để chúng ta chuẩn bị vào đời, chuẩn bị làm một công dân Viêt Nam bước vào thế kỉ mới. 3.Muốn sánh vai các cường quốc năm châu Phần cuối bài viết, ông Vũ Khoan nhấn mạnh thêm lí do và ý nghĩa viộc nhận ra điểm mạnh, điểm yếu trong mỗi con người. Nghĩa là phải biết "lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu". Tác giả dùng cụm từ muốn "sánh vai cùng các cường quốc năm châu" như có ý nhắc chúng ta nhớ lại lời Hồ Chí Minh trong bức thư gửi học sinh nhân năm học mỏ đầu khi đất nước được độc lập, dân tộc được tự do. Người cho rằng: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Viêt Nam có bước tới đài vinh quang để. sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em". Lời Hồ Chí Minh nói cách đây nửa thế kỉ, nay lại đồng vọng trong tâm hồn chúng ta, được ông Vũ Khoan nhấn mạnh để hướng chúng ta vào nhiệm vụ cụ thể: hãy học tập tốt, hãy phát huy những ưu điểm, vứt bỏ những khuyết điểm trong tính cách, thói quen, nếp sống, công việc để vươn tới phía trước. Mỗi người chuẩn bị thật tốt những hành trang trí tuệ, tâm hồn, năng lực như thế, chắc chắn đất nước ta, dân tộc ta sẽ "bước tới đài vinh quang đe sánh vai với các cường quốc năm châu" trong thế kỉ mới, thiên niên kỉ mới. Tóm lại, qua văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, chúng ta hiểu rằng: Để chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, thế hệ trẻ Việt Nam cần nhìn rõ cái mạnh và cái yếu của con người Việt Nam để rèn cho mình những đức tính và thói quen tốt. Thế mạnh của người Việt Nam là thông minh, nhạy bén với cái mới, cần cù sáng tạo, đoàn kết, đùm bọc nhau trong thời kì chống ngoại xâm. Bên cạnh đó cũng có nhiều điểm yếu cần khắc phục: thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành, thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, thiếu tính cộng đồng trong làm ăn. Bước vào thế kỉ mới, để đưa nước ta tiến lên, chúng ta cần phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu, hình thành những thói quen tốt ngay từ những việc nhỏ. Bài nghị luận chính trị xã hội được viết một cách giản dị, sâu sắc với những lí lẽ rành mạch, những dẫn chứng cụ thể, sinh động, ngôn từ vừa hiện dại, vừa đậm đà chất dân tộc, rất dễ hiểu, đầy tính thuyết phục. Ấy là những lời giải tường minh, khúc chiết cho một bài toán về trí tuệ, tâm hồn đối với chúng ta.
Phân tích bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Vũ Khoan
1,688
Phân tích bài Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten Hướng dẫn Đề bài: Phân tích – Bình luận về bài Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten của H. Ten. Trước hai con vật: cừu và sói, có thể có hai cách nhìn khác nhau: cái nhìn của khoa học và cái nhìn của văn chương, dù cả hai đều đúng. Viết vể hai cách nhìn ấy, H. Ten có một thao tác tư duy cơ bản: thao tác so sánh, một phương pháp suy luận: phương pháp quy nạp. Cả hai yếu tố về tư duy và phương pháp tạo nên một phong cách phê bình mà ta thường gọi là nghị luận văn chương tuy giản dị nhưng sinh động và đầy sức thuyết phục. Từ một bài viết không dài, chúng ta dễ dàng nhận ra những đặc điểm của sáng tác văn chương và nghị luận văn chương (còn gọi là phê bình văn chương). 1.Về sáng tác văn chương. Để hiểu được đặc điểm của sáng tác văn chương, H. Ten đã sử dụng thao tác tư duy so sánh, đối chiếu hai cách nhìn khác nhau về cùng một đối tượng. Cũng chỉ là con cừu và con sói đó thôi mà có đến hai cách miêu tả, một thiên về lí tính, một thiên về cảm tính. Cách nhìn lí tính nặng về quan sát khách quan, từ đó rút ra những đặc điểm riêng chỉ loài sói và cừu mới có. Còn cách nhìn cảm tính có phần chủ quan, từ những rung động thầm kín bên trong mà nhìn ra con vật với những buồn vui thân phận của con người. Có thể nói khác đi và gọn hơn: cách nhìn của khoa học là cái nhìn phân loại (con vật này khác con vật kia), còn cách nhìn của văn chương là cách nhìn nhân văn (có sự cảm thông giữa con người với con vật). Hai cách nhìn ấy không hoàn toàn giống nhau. a) Với con cừu, Buy-phông, nhà sinh học nổi tiếng đã phát hiện ra những đặc trưng có tính chất phân loại: ưa lối sống bầy đàn, trí tuệ chậm chạp đến đần độn, không có khả năng thích ứng với xung quanh (môi trường sống), phản ứng bản năng theo lối bắt chước. Ý thức tự vệ dường như mọi loại động vật đều có, nhưng với loài cừu thì không… Từ những đặc điểm được miêu tả như trên, người ta dễ dàng gọi tên được giống loài của nó, một giống loài chỉ quen được chăn dắt, hoàn toàn phụ thuộc và bị động ở sự chăn dắt đó mà thôi. Khác với cái nhìn của nhà khoa học, La Phông-ten, một nhà thơ có một cái nhìn khác: cừu là một loài vật buồn rầu và tốt bụng. Hơn thế nữa, nổi bật hơn, giống với con người, cừu có tình mẫu tử. Chỉ có điều, tình mẫu tử ở đây vừa giống con người, vừa khác con người. Giống con người ở sự phân biệt con nó với đám đông, còn khác con người là ở chỗ nó không quan tâm đến hoàn cảnh xung quanh với thái độ thờ ơ, cam chịu. Chỉ với một câu văn miêu tả mà người đọc có thể xúc động thấm thìa đến nao lòng: "Thật cảm động thấy con cừu mẹ chạy tới khi nghe tiếng kêu rên của con nó, nhận ra con trong cả đám đông cừu kia, rồi đứng yên trên nền đất lạnh và bùn lầy, vẻ nhẫn nhục, mắt nhìn lơ đãng phía trước, cho đến khi con đã bú xong". Đó là câu văn đụng đến lòng trắc ẩn ở con người. b) Với con sói, hai cách nhìn cũng rất khác nhau. Vẫn là cách nhìn của một nhà khoa học, Buy-phông có công là đã phát hiện ra những đặc điểm giống loài của nó: có khả năng tự vệ nhưng thích sống cô đơn (về bản chất, nó rất khác con người), từ hình dáng bên ngoài đến tính cách bên trong có một cái gì thật là dáng ghét: lấm lét, hoang dã, tiếng hú, mùi hôi… Còn với tư cách một nhà thơ, La Phông-ten cảm nhận được một cái gì thật đáng thương ở nó. Những cái đáng thương này kết hợp với những cái đáng ghét tạo nên một nghịch lí oái oăm đầy mâu thuẫn ớ một loài vật là "bạo chúa của cừu". Đành rằng sói là một loài trộm cướp, nhưng là những tên trộm cướp "khốn khổ và bất hạnh", một gã vô lại luôn luôn đói dài và luôn luôn bị ăn đòn… Cái nhìn của nhà thơ là một cái nhìn thương cảm. Làm sao mà không mủi lòng khi con sói hiện ra với bộ mặt lấm lét, cơ thể gầy giơ xương, luôn bị truy đuổi, một loài vật hoang dã vừa là thủ phạm lại vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn cùng? Vậy nguyên tắc lí luận có thể rút ra từ hai cách nhìn trên đây là gì? Nếu khoa học phát hiện ra những đặc điểm sinh học có tính chất bản năng, lấy phẩm chất người và lợi ích đối với con người làm tiêu chí để nhìn nhận loài vật nói riêng (và sinh vật nói chung) thì sáng tác văn chương từ những rung động của con người mà xây dựng, tạo ra những hình tượng về loài vật. Chính vì vậy, hình tượng trong sáng tác văn chương luôn mang tính đa nghĩa nhờ vào những tư tưởng không đơn điệu, một chiều. Sự sinh động, hàm súc cũng từ đó mà ra. 2.Về nghị luận văn chương. Có thể xem đây là một bài nghị luận văn chương mẫu mực. Trước hết, xét về mặt kết cấu, bài văn chia làm hai phần. Ở phần thứ nhất, đó là cách nhìn khác nhau của khoa học và văn chương về cùng đối tượng: sói và cừu. Còn ở phẩn thứ hai: cái nhìn nhân bản của vãn chương làm đa dạng và phong phú hơn cho cái nhìn của những nhà khoa học. Về kết cấu, như thế là rất chặt chẽ theo phương pháp quy nạp, từ cụ thể đến khái quát, từ hiện tượng đến quy luật. Trong một bài văn, để đảm bảo tính nguyên khối, không thể không nói đến vai trò của việc chuyển ý, chuyển đoạn. Nhưng chuyển ý, chuyển đoạn nếu thực hiện máy móc thì hiệu quả không cao. Muốn vậy, nó phải sinh động, không cứng nhắc, máy móc. Ở đây H. Ten đã có một nhịp điệu ngôn từ uyển chuyển. Viết về con cừu, tác giả nêu ý kiến của Buy-phồng trước, La Phông-ten sau, còn khi viết về con sói, tác giả đã đảo ngược vị trí của nhà khoa học và nhà thi sĩ cho nhau. Mạch ý của đoạn văn do đó không những không mất đi sự liên tục mà ngược lại, nó được nhấn mạnh và tạo hứng thú cho người đọc, người nghe. Sau khi viết về cái nhìn của nhà thơ về con cừu đáng thương, câu chuyển ý về con sói thật tài tình: "Còn chó sói, bạo chúa của cừu, trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten, cũng đáng thương chẳng kém". Còn cách trình bày luận điểm, khi miêu tả từng con vật, tác giả H. Ten dùng biện pháp đối lập và nâng cấp, chỉ có điều biện pháp đối lập trong văn nghị luận thường nhằm mục đích bác bỏ, còn ở trong bài văn đang phân tích, nó làm nhiệm vụ điều chỉnh, bổ sung. Chẳng hạn, khi viết về cái nhìn của Buy-phông, H. Ten viết: "Mọi chuyện ấy đều đúng, nhưng các con vật đó còn thân thương và tốt bụng nữa". Còn cách nâng cấp cũng rất tự nhiên, chẳng hạn nói về tính cách của loài sói: "Chó sói thù ghét mọi sự kết bè kết bạn, thậm chí ngay cả với đồng loại chó sói của nó", về ngôn ngữ, để diễn đạt một chân lí, ngôn ngữ của bài văn trong sáng giản dị, không có một câu nào rơi vào tình trạng hoa mĩ, cầu kì. Do đó sức thuyết phục của nó khá cao. Những khái niệm sách vở phức tạp nặng nề đã trở nên dễ hiểu. Tuy vậy, đạt đến sự dễ hiểu này, người viết đã suy ngẫm về vấn đề cần viết rất sâu và rất lâu. Không chỉ thế, do yêu cầu của mỗi đơn vị (luận điểm) của bài văn khác nhau, ngôn ngữ cũng không giống nhau. Ví dụ những câu cuối cùng nhằm thâu tóm, đúc kết ý tướng của toàn bài, ngôn ngữ không còn là tường thuật, miêu tả, nó phải là một sự "đóng đinh" trong nhận thức của người đọc, người nghe. Trong trường hợp này, sự so sánh phải mang dến những ấn tượng không thể nào quên về đặc điểm của sáng tạo văn chương: "Ông để cho Buy-phông dựng một vở bi kịch về sự độc ác, còn ông (La Phỏng-ten) dựng một vở hài kịch về sự ngu ngốc". Nghị luận văn chương tuy là một thể loại nghiên cứu, phê bình nhưng đối tượng của kiểu bài rất rộng. Ở trường hợp bài văn này, nó là một vấn đề lí luận có sức khái quát cao. Tuy nhiên, trình bày sáng tỏ, rõ ràng như thế bằng bố cục, cách chứng minh, một giọng điệu gần gũi, nhẹ nhàng như thế, tác giả đã thành công. Bài văn đã là một mẫu mực.
Phân tích bài Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten
1,629
Đề bài: Phân tích bài Chơi xuân của Phan Bội Châu Bài làm Học giỏi, thi đỗ đầu xứ rồi đỗ đầu kì thi hương, Phan Bội Châu (1867- 1940) không chọn cho mình con đường công danh để có thể yên thân sung sướng, mà lại chọn con đường cứu nước đầy gai chông nguy hiểm, ông đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho phong trào cứu nước trong hơn hai mươi năm mở đầu thế kỉ XX này. Thơ văn Phan Bội Châu là thơ văn yêu nước, cứu nước, thể hiện sinh động ý chí cao đẹp của ông. Bài thơ Chơi xuân của ông là một thí dụ. Bài thơ này không biết được Phan Bội Châu sáng tác cụ thể vào năm nào, nhưng căn cứ vào nội dung, ta có thế đoán rằng ông đã viết nó vào khoảng trước năm 1905, ít lâu trước khi bắt đầu cuộc đời bôn ba ở nước ngoài. Phân tích bài Chơi xuân của Phan Bội Châu Đặt cho bài thơ nhan đề là Chơi xuân, hẳn nhà thơ đang liên tưởng đến cái việc chơi xuân mà thiên hạ thường quen đến lúc bấy giờ. Chơi xuân, ừ thì xưa nay người ta vẫn chơi xuân mỗi khi mùa xuân lại đến. Nhưng mỗi thời có một hoàn cảnh, vì thế mà có những cách chơi xuân khác thau. Bây giờ, nước đã mất, nhà đã tan, nhân dân đau khổ vì giặc Pháp con người ta cần chơi xuân như thế nào mới thật đúng là chơi xuân? Mở đầu bài thơ, nhà thơ viết: Quân bất kiến: Nam Xuân tự cổ đa danh sĩ Đã chơi xuân đừng quản nghĩ chi chi Khi ngâm nga xáo lộn cổ kim đi Tùa tám cõi ném về trong một túi. Sư dụng thể hát nói, những câu thơ mở đầu của Phan Bội Chảu đọc lên thật mạnh mẽ phóng khoáng, bay bổng, say sưa. Ông nói: Bạn há chăng thấy, quê hương mình tư xưa đến nay vốn là đất sản sinh nhiều người tài năng sắc sảo. Đặc điếm chung của con người ấy là, khi đã chơi thì chơi đên nơi đến chốn, chơi đến nồng nhiệt đắm say, không lo ngại, không sợ hãi điều gì. Chơi như thế mới gọi là chơi chứ! Đã chơi là phải say, say đến mức, khi ngâm nga để nói lên ý chí của mình, có thể xáo lộn cả cổ kim, có thể thu tóm ý chí cả thiên hạ trong tám cõi vào trong một túi thơ của mình. Ý thơ thật hào hùng, từ ngữ thật mạnh mẽ nào: “xáo lộn cổ kim đi”, nào “tùa tám cõi” lại còn “ném về trong mội túi". Chuyện cổ kim, việc đời trong tám cõi, trước con mắt nhà thơ, trở thành những cái gì hoàn toàn cụ thể, bé nhỏ, rất nhẹ, để cho người ta có thể “xáo lộn”, có thể tùa” tức lùa), “ném”… theo ý riêng của mình. Vậy cái ý chí của Phan Bội Châu là thế nào? Điều mà nhà thơ thích ngâm nga” ở đây là thế nào? Sau bốn câu thơ theo tiết tấu tự do phóng túng, đến đây, Phan Bội Châu chuyển sang tiết tấu thất ngôn Đường luật khiến cho hai câu thơ bỗng lắng xuống, trang trọng: Thơ rằng Nước non Hồng Lạc còn đây mãi Mặt mũi anh hùng há chịu ri? Có thể nói đây chính tứ thơ trung tâm của bài thơ, chỗ phát xuất cảm hứng chung của bài thơ. Trong hai câu, có hai điều được đặt trong thế đối xứng: nước non Hồng Lạc – mặt mũi anh hùng. Như vậy, cái chí của nhà thơ là cái chí hướng đến một lí tưởng anh hùng, và nội dung của cái chí anh hùng ấy chính là “nước non Hồng Lạc”. Trong hai câu thơ chứa đựng lẽ sống của một đời người: Phải sống vì đất nước, và để sống vì đất nước, phải biết sống anh hùng. Hai câu thơ; một câu khẳng định, một câu nghi vấn. Khẳng định sự tồn tại của “nước non Hồng Lạc” là “còn đây mãi”, câu nghi vấn là cả một lời thách thức đối với “mặt mũi anh hùng há chịu ri?”. Câu hỏi thật ra là một lời khẳng định mạnh mẽ không thể chịu ri", không thể cam chịu mãi như thế này được. Người đọc ngày đó có thể hiểu ngay Phan Bội Châu muốn nói gì trong hai tiếng “chịu ri” ấy: “chịu ri” tức là cam chịu như thế này, cam chịu mất nước, cam chịu làm người mất nước, cam chịu làm kẻ nô lê, là tên cu li” cho bọn thực dân Pháp, như hồi sau này có lấn Phan Bội Châu nói ra một cách cay đắng: Cu-li quốc hề, cu-li quân Cu-li thần hề, cu-li dân. Bước vào thế kỉ XX, khi mà những cuộc Cần Vương kháng chiến chống Pháp về căn bản đã chấm dứt, thực,dân tưởng đã có thể yên tâm khai thác Việt Nam như một thuộc địa béo bở, hai câu thơ trên của Phan Bội Châu là sự thức tỉnh của một lớp người Việt Nam mới, báo hiệu một thời kì cứu nước mới. Quyết không thể “chịu ri”, nhà thơ trình bày rõ hơn về quan niệm sống của mình: Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi Sinh thời thế phải, xoay nên thời thế Phùng xuân hội may ra ừ cũng dễ Nắm địa cầu vừa mót tí con con! Nhà thơ cho rằng chính đất nước tạo ra con người, đặt ra yêu cầu mà kẻ làm trai phải hoàn thành. Bức chân dung của kẻ làm trai (mặt nam nhi) là do đất nước tạo nên (giang sơn còn tô vẽ). Vì vậy mà con người sinh ra trong hoàn cảnh nào thì phải đáp ứng cho được những yêu cầu mà đất nước đặt ra trong hoàn cảnh ấy. Câu thơ của Phan Bội Châu nêu lên một nguyên tắc sống thật rõ ràng: Sinh thời thế phải xoay nên thời thế Một từ “xoay” thật đầy ý chí. Ngày xưa có người từng nói: Gặp thời thế, thế thời phải thế. Câu nói tuy đầy bất mãn nhưng cũng đầy cam chịu. Trái hẳn với thái độ này, Phan Bội Châu yêu cầu phải vượt lên hoàn cảnh, làm chủ hoàn cảnh, tạo ra hoàn cảnh mới, “xoay nên thời thế mới”. Ta hiểu: Thời thế mà Phan Bội Châu muốn “xoay nên” ở đây không là gì khác, chính là thoát khỏi cảnh mất nước, thoát khỏi gông cùm nô lệ của bọn cướp nước. Cuộc chơi, cách chơi xuân của Phan Bội Châu hóa ra chính là như thế. Ông còn cho rằng lúc này đúng là lúc “phừng xuân hội”, gặp hội mùa xuân, tức là đúng lúc “chơi xuân”. Đây đúng là lúc cho người ta làm nên sự nghiệp lớn "nắm địa cầu vừa một tí con con”. Đã khẳng định được mục đích cuộc “chơi xuân” của mình, Phan Bội Châu dành cho đoạn cuối của bài thơ những dòng thơ nói lên thái độ dấn thân của mình trong cuộc chơi xuân ấy. Đó là bốn dòng thơ lục bát nghe thật phấn chấn, tin tưởng, êm ái, nhịp nhàng: Đạp toang hai cánh càn khôn, Đem xuân về lại trong non nước nhà! Hai vai gánh vác sơn hà, Đã chơi chơi nốt, ối chà chà xuân! Đạp toang hai cánh càn khôn tức là mở toang cửa trời đất, bước vào giữa trời đất để chơi xuân. Cách chơi xuân của chàng trai họ Phan lúc này thật hào hùng làm sao, mới lạ làm sao. Nhưng chơi xuân, Phan Bội Châu không tìm mùa xuân cho riêng mình, mà là đế “Đem xuân về lại cho non nước nhà”. Vì thế, chơi xuân chính là “Hai vai gánhvác sơn hà, là nhận nhiệm vụ với đất nước quê hương. Câu thơ kết thúc vừa quả quyết vừa sảng khoái: Đỡ chơi, chơi nốt, ối chà chà xuân! Quả thật hiếm có những càu thơ nói đến việc lớn trong đời mà lại nói lên một cách nhẹ nhàng thích thú như vậy. Phan Bội Châu có lần có câu thơ: Làm trai phải lạ ở trên đời: (Sinh ui nam tử yếu hi kì) Chơi xuân như Phan Bội Châu trong bài thơ Chơi xuân thật đúng là “lạ ở trên đời”. Phan Bội Châu “lạ” ở chỗ đã vượt lên những vui thú tầm thường mà người đời thường ham muốn để tìm đến niềm vui bằng một cuộc sống đẹp, cỏ ích cho nước, cho dân. Quả thật, bước vào cuộc “chơi xuân", ông đã thân vào biết bao gian lao khổ ải. Hàng mấy chục năm trời, cho đến lúc phải đứng trước tòa đại hình của Pháp cũng không hề sợ hãi, hối tiếc. Nói đến Phan Bội Châu là nói đến một nhân cách lớn, một người anh hùng dân tộc: đọc bài thơ Chơi xuân không chỉ là đọc một bài thơ, mà còn để hiểu và kính yêu thêm một tâm hồn, một nhân cách.
Phân tích bài Chơi xuân của Phan Bội Châu
1,518
Phân tích bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trãi. Hướng dẫn Phân tích bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi được xem là một nhà văn lớn trên nền trời Việt Nam, ông đã có nhiều đóng góp rất to lớn cho thơ ca, đặc biệt trong đó nổi bật lên là tác phẩm bài thơ côn sơn ca,là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng. Có lẽ Nguyễn Trãi đã viết bài thơ này trong thời gian ông cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn để giữ cho tâm hồn trong sạch, thanh cao của mình. Đầu bài thơ chúng ta đã thấy tác giả vẽ ra một bức tranh thiên nhiên thật đẹp đẽ và hùng vĩ với tiếng thác chảy rì rầm, hình ảnh Côn Sơn hiện ra trước mắt chúng ta thật thơ mộng và lãng mạn với tiếng suối chảy, có đá rêu phong, có rừng thông mọc rậm, có rừng trúc xanh mát. Đó chính là sự hoang dã của thiên nhiên. Ngôi nhà thiên nhiên ấy thật đặc biệt với suối như tiếng đàn, rêu là chiếu, bóng râm là giường. Và trong ngôi nhà ấy ông để cho tâm hồn mình giao hòa với cảnh vật và vẽ lại nó bằng ngọn bút tài hoa của mình: Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Với tác giả thì tiếng vang động như vang vọng bên tai, chúng ta như cảm nhận được rằng tác giả đã cảm nhận được tác giả đã hòa mình vào thiên nhiên thơ mộng hữu tình đó,nó làm cho tam hòn của tác giả bay bổng, thanh thản trước những cảnh tượng đẹp đến nỗi nếu ai gặp chắc chắn cũng phải thốt lên. Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta năm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. Về đi sao chẳng sớm toan Khi Nguyễn Trãi về ở ẩn nhưng tâm trạng vẫn đang lo lắng cho mối an nguy của đất nước,chính vì thế cho nên tác giả muốn tìm đến những nơi vắng vể không vướng bụi trần,nơi đó chỉ có thiên nhiên cây cỏ,có tiếng suối reo cùng bóng trúc tỏa bóng râm mát và hưởng thụ một cuộc sống không có bụi trần. Sự chiêm nghiệm của nhà thơ đang thấm một nỗi buồn, khi tóc đã bạc chỉ biết làm bạn với mây múi, gió trăng: “Láng giềng một áng mây bạc, Khách khứa hai ngàn núi xanh”. Những nỗi lo toan của Nguyễn Trãi về thanh danh khi về ở ẩn “Núi gò đài các đó đây Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh” Triết lí về cuộc đời của Nguyễn Trãi là mang cả một nỗi buồn sâu thẳm lan rộng trong tâm hồn nhà thơ. Từ những chiêm nghiệm về lịch sử của phong kiến,về những thăng trầm cuộc đời, về những nhục vinh từng nếm trải thì ông đã cảm thông cho số kiếp của con người. Chính cái nhìn và suy ngẫm ấy đã mang tính nhân bản sâu sắc cao. Bi kịch Nguyễn Trãi là bi kịch của kẻ sĩ trong xã hội Phong Kiến, bi kịch của lịch sử. Chính vì vậy mà ông đã viết: Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn”. Bài ca Côn Sơn là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp qua con mắt của nhà thơ, qua đó nói lên tâm sự của tác giả đối với vận mệnh của đất nước mình.
Phân tích bài Côn Sơn Ca của Nguyễn Trãi.
585
Phân tích bài Cảm hoài của Đặng Dung Hướng dẫn Phân tích bài Cảm hoài của Đặng Dung Dân tộc Việt Nam có truyền thống bề dày lịch sử, trong suốt chiều dài của quá trình dựng nước và giữ nước dân tôc ta đã trải qua bao thăng trầm biến cố. Và mỗi lần có giặc ngoại xâm tinh thần yêu nước lại dâng cao. Các tác phẩm thơ văn viết về lòng yêu nước là bao trùm hơn cả. Thường khi nhắc đến thơ ca ta thường nghĩ đến những nhà nho, văn nhân là lực lượng chính sáng tác thơ văn nhưng trong lịch sử có nhiều danh tướng vô cùng tài ba khi đánh giặc và khi cầm bút họ là thi nhân. Tiêu biểu như bài “Sông núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt, hay tướng Trần Quang Khải có “Tụng giá hoàn kinh sư” và thuật hoài của Phạm Ngũ Lão. Nếu những tác phẩm trên đều ca ngợi sức mạnh ca ngợi triều đại và lòng tự hào trước những chiến thắng lừng lẫy thì “ cảm hoài” của Đặng Dung được coi là bài thơ bi hùng nhất trong nền văn thơ cổ điển Việt Nam. Đặng Dung là bậc anh hùng hào kiệt lừng lẫy ở thời Hậu Trần, bài “cảm hoài” có lẽ được Đặng Dung viết vào thời điểm trước khi bị giặc Minh bắt. Thời gian này do thua trận ông phải sống lẩn lút trong rừng, biết đã lỡ thời vận cơ hội phục quốc, đánh đuổi chống giặc ngoại xâm dần tiêu tan ông đã bày tỏ nỗi lòng qua “cảm hoài” đó là sự bi tráng của người anh hùng chí lớn nhưng thất cơ lỡ vận. Bài thơ mở đầu với câu thơ: “Thế sự du du nại lão hà” Đây là tiếng lòng của Đặng Dung, tiếng lòng đau đớn trước cảnh nước mất nhà tan. Cuối thế kỉ XIV nhà Trần suy vong Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần lập ra nhà Hồ, triều mới không được lòng dân, nhà Minh nhân cơ hội sang xâm lược nước ta. Cha con Hồ Quý Ly thất bại bị bắt về Trung Quốc nước ta bị giặc chiếm đóng, dân chúng chìm trong tang tóc đau thương. Tội ác của giặc Minh ghê tởm, đất trời cũng phải phẫn nộ Nguyễn Trãi đã ghi lại bằng những lời tố cáo đanh thép trong bình ngô đại cáo: Bọn gian tà bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” Giặc Minh hung tàn gây ra bao tội ác trời không dung đất không tha câu thơ đầu như một tiếng than về nỗi lòng bất lực trước thời cuộc. Người anh hùng thất thế, việc lớn chưa thành nước mất nhà tan: “việc đời dằng dặc, mà ta đã già rồi biết làm sao đây?”. Trong lòng tác giả dâng trào cảm xúc khó tả, là một con người luôn có ý thức trách nhiệm với đất nước, nhân dân nên Đặng Dung lúc nào cũng mang trong mình khát khao cống hiến nhưng thời gian thoi đưa, nhắm mắt mở mắt đời người được mấy thủa. Người anh hùng có chí lớn, tài giỏi nhưng tránh sao được quy luật của tự nhiên: “Sinh, lão, bệnh, tử” cay đắng bất lực trước thực tại phũ phàng, ông đành thu hết tâm tư vào một cuộc say ca: Vô cùng thiên địa nhập hàm ca Ý tưởng hoài bão thôi đành thu vào một khúc ca say để cố quên đi hiện thực cay đắng. Nhưng sự quên đi trong cuộc ca say đó cũng vô ích bởi người anh hùng sao có thể thu chí lớn, một con người trách nhiệm như Đặng Dung sao có thể nhắm mắt làm ngơ bỏ mặc thế sự. Hai câu thơ tiếp theo nói về việc đời xưa nay thành bại chung quy là tại trời, đã nêu bật lên sự đối lập giữa “gặp thời và thất thế” đối với người anh hùng như một quy luật lịch sử cay đắng không thể thay đổi: Thời lai đồ điếu thành công dị Vận khứ anh hùng ẩm hận đa Tức là: “Gặp thời anh hàng thịt, kẻ câu cá cũng làm nên công trạng Lỡ vận bậc anh hùng cũng phải nuốt hận nhiều” Cha con Đặng Dung đều là những anh hùng hào kiệt nhưng họ lại là những anh hùng lỡ vận nên đành bất lực lỡ dở sự nghiệp lớn lao. Trong lịch sử biết bao người xuất thân bần hàn nhưng gặp thời thì kẻ “bán thịt, bán cá” cũng đạt được thành công còn ông xuất thân con nhà danh tướng nhưng lỡ thời vận thì dù có tài giỏi cũng khó làm nên việc lớn. Đặng Dung cảm nhận được vận nước đang vô cùng ảm đạm, Thất bại là điều khó tránh khỏi nên nỗi lòng ông nặng trĩu buồn đau bất lực để phải “ẩm hận” tức là uống hận, nuốt hận, đã thể hiện sự tột cùng căm phẫn vì bọn cuồng Minh tàn ác giày xéo muôn dân. Uất hận vì xa cơ lỡ vận chẳng thể cống hiến giành lại giang sơn đang oằn mình với bao nỗi đau. Tuy “vận” của mình đã “khứ” nhưng Đặng Dung vẫn mong có cơ hội xoay vần để quyết sống mái với giặc một phen: Tẩy binh vô lộ vãng thiên hà” Lòng Đặng Dung luôn “phò chúa”, đem tài giúp chúa, xoay chuyển mong lật lại thế cờ giành lại non sông và ông có một ý tưởng thật táo bạo thể hiện tột cùng lòng yêu nước. Ta choáng ngợp trước hình ảnh thơ: “Muốn kéo sông Ngân xuống để rửa giáp binh” ông muốn tẩy binh để dốc toàn sức lực dù biết sẽ là một cuộc chiến tranh khốc liệt, rất nhiều máu sẽ đổ, nhiều sinh mạng sẽ tan biến. nhưng với tấm lòng yêu nước, ông sẵn sàng làm điều đó vì chỉ có như vậy mới có thể đánh đuổi giặc xâm lược, nền hòa bình thực sự bắt buộc phải đổi lại bằng xương máu hi sinh. Nhưng “thiên hà” con sông của vũ trụ với muôn vàn tinh tú kia ở quá xa trên bầu trời xa thẳm mãi là ước muốn chẳng thể thực hiện. Trong cuộc đời chiến đấu Đặng Dung không một giây phút nào quên đi nợ nước thù nhà ông luôn một lòng muốn tìm ra con đường để giành lại giang sơn, giành lại hòa bình độc lập cho dân tộc. Mong ước lớn lao là vậy nhưng thực tại cay đắng biết chừng nào khi mà: Quốc thù vị báo đầu tiên bạch “Quốc thù” còn đó tông miếu tổ tiên bị quật phá, con dân lầm than, đâu đâu cũng là cảnh đầu rơi máu chảy sinh linh ai oán. Còn gì buồn hơn cho người anh hùng một lòng vì dân vì nước nhưng sự nghiệp đành dang dở, chí lớn chưa thành mà thời gian thoi đưa, con tạo xoay vần tuổi xanh qua đi tuổi già đã tới. Bao hoài bão còn chưa thực hiện người anh hùng đành bất lực câu thơ đã lột tả nỗi lòng Đặng Dung sao mà chua xót ai oán. Những tưởng bài thơ khép lại trong tiếng thở dài bất lực tuyệt vọng thì câu thơ cuối: Dù tuổi già đầu bạc vận thời đã qua và nếu thất bại nhưng người nghĩa sĩ Đặng Dung không có điều gì phải hổ thẹn, người anh hùng vẫn sẽ mài gươm báu chiến đấu đến giây phút cuối cùng như lưỡi gươm báu ánh lên dưới trăng sáng sẽ không bao giờ tắt, ý chí sắt đá người anh hùng Đặng Dung vẫn hiên ngang đến giây phút cuối đời. Cuộc khởi nghĩa thất bại ông bị bắt nhưng không chịu nhục mà khom lưng uốn gối trước giặc người anh hùng mài gươm dưới nguyệt đã trầm mình tự vẫn giữ trọn khí tiết. Đặc sắc của bài thơ “cảm hoài” là ở nghệ thuật thơ điêu luyện, hình ảnh thơ liên tưởng sâu rộng kì vĩ đã khắc họa hình tượng nhân vật trữ tình rất đặc sắc vừa bi phẫn nhưng không hề tuyệt vọng buông xuôi. Nhà Hồ thất bại, đất nước rơi vào cảnh nô lệ lầm than hơn hai mươi năm, người anh hùng Đặng Dung tuy lỡ vận vẫn đời đời hiên ngang. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí Gặp thời một tốt cũng thành công” Ta không thể lấy sự thành bại để luận anh hùng mà chính khí phách cùng lý tưởng cao đẹp mới là bản chất của anh hùng và Đặng Dung chính là một người anh hùng trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Bài thơ “cảm hoài” là một nỗi buồn lớn, là tiếng kêu bi phẫn dù bất lực trước thời cuộc nhưng thể hiện lòng yêu nước thiết tha của người anh hùng mãi trường tồn cùng non sông đất nước. Tiếng lòng đau đớn, xót xa của Đặng Dung được gửi gắm qua cảm hoài xứng đáng là một kiệt tác đến muôn đời sau.
Phân tích bài Cảm hoài của Đặng Dung
1,544
Phân tích bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi Hướng dẫn Phân tích bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi Nguyễn Trãi – một nhân vật lịch sử nổi tiếng được nhiều người nhắc đến với vai trò vừa là một vị quan thanh liêm, đạo đức, có nhân cách cao đẹp, vừa là một nhà thơ tài hoa với nhiều tác phẩm để đời. Thơ ông thường thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, yêu thiên nhiên, gắn bó thiết tha với thiên nhiên. Và một trong những bài thơ thể hiện dòng tư tưởng ấy chính là tác phẩm “Cảnh ngày hè” (bài số 43 trong “Bảo kính cảnh giới”). Nếu như Xuân Diệu cũng từng ngập tràn trong cảnh sắc của mùa xuân đang mơn mởn tuôn trào sức sống qua bài thơ “Vội vàng”, thì ở đây Nguyễn Trãi cũng hòa mình vào thiên nhiên đang rực rỡ khoe sắc giữa mùa hè: “Rồi hóng mát thuở ngày trường, Hòe lục đùn đùn tán rợp giương, Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Nhịp điệu từng vần thơ như tiếng reo lên hối hả của Nguyễn Trãi trước một “mâm cỗ” đầy đặn của thiên nhiên. Trong đó có hòe lục, có thạch lựu, có hồng liên trì. Điều đặc biệt là tất cả đang trỗi dậy một cách mạnh mẽ và mãnh liệt đến nỗi tác giả phải sử dụng những động từ rất mạnh: “đùn đùn”, “phun” và sau cùng là “tiễn”. Những từ ngữ ấy cho thấy thiên nhiên đang dồi dào sức sống, và dường như mọi thứ đang tuôn trào từ trong thân cây mà không có bất kỳ một vật cản nào. Giống như tình yêu thiên nhiên đang sôi sục trong lòng tác giả, tuôn trào ra khỏi đầu cây bút và viết lên thành những vần thơ độc đáo này. Phải là người yêu thiên nhiên lắm, và gắn bó tha thiết với thiên nhiên mới có thể có được những cảm nhận tuyệt vời như vậy. “Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương” Cảnh dân làng thu về những mẻ cá đang lao xao buôn bán, trao đổi với nhau, trông thật nhộn nhịp, vui mắt. Cảnh ấy rất yên bình, chân quê và chất phác, gợi lên một cuộc sống giản dị mà êm ấm. Cộng thêm tiếng ve kêu gọi hè càng làm cho không gian buổi chợ thêm náo nhiệt. Nhưng đằng sau những cảnh ấy lại là nỗi lòng của tác giả khi ông nhắc đến “Ngu cầm”. Theo thần thoại Trung Quốc kể rằng hai triều vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai triều đại lí tưởng, xã hội thanh bình, nhân dân hạnh phúc. Riêng vua Ngu Thuấn có khúc hát Nam phong, trong đó có câu: Nam phong chi thì hề khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề (Gió nam thuận thì có thể làm cho dân ta thêm nhiều của). Ngu cầm là đàn của vua Ngu Thuấn. Ý cả câu là: Hãy để cho ta có đàn của vua Thuấn để đàn một khúc Nam phong. Chẳng phải vô tình Nguyễn Trãi nhắc đến hai triều đại thần thoại của Trung Quốc, mà đó chính là nỗi niềm mong ước của chính ông. Ông mong rằng đất nước mình cũng được hòa bình, thịnh trị, ấm êm và hạnh phúc. Một lý tưởng rất cao đẹp thể hiện nhân cách cao cả của nhà thơ. Cũng như Phạm Ngũ Lão từng hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ hầu. Cả hai vị quan đều sống rất anh minh và luôn ấp ủ nỗi niềm mong mỏi về một non sông giàu đẹp, một đất nước hòa bình, êm ấm. “Dân giàu đủ khắp đòi phương” Cuộc đời ông vì sống thanh liêm, vì luôn yêu nước, thương dân nên đã không ít lần lận đận, gian truân vì âm mưu của những kẻ phản nghịch. Nhưng trong lòng của vị quan hiền tài ấy vẫn chưa bao giờ bị lung lay, chưa một lần nào ông thay lòng đổi dạ để thoát thân khỏi những tai ương. Ngược lại, càng khó khăn càng khổ cực bao nhiêu, Nguyễn Trãi lại càng quyết tâm bấy nhiêu. Ông luôn hướng lòng mình đến những điều tốt đẹp, ông sẵn sàng hi sinh cả bản thân mình cho nhân dân chứ không bao giờ lấy dân để chuộc lợi cho mình. Một vị quan như vậy rất đáng được tôn kính và nể trọng. Nhưng chốn quan trường luôn là vậy, luôn đầy rẫy những hiểm nguy, những gian tà xảo trá, khiến cho người thanh liêm như Nguyễn Trãi gặp phải không ít những tai ương. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, tấm lòng trong sạch và tình yêu ca cả, thiêng liêng của ông dành cho nhân dân, cho đất nước và cho thiên nhiên vẫn luôn còn mãi, luôn được thế hệ sau trân trọng và noi theo. Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp… chính là hai trong số nhiều người đã tiếp bước thực hiện niềm mong mỏi của các thế hệ đi trước về việc xây dựng một đất nước hòa bình, hạnh phúc. Còn ngày nay, cũng không ít những bạn trẻ đang ngày ngày cố gắng học hành để xây dựng tương lai vững chắc, góp phần vào việc làm giàu đẹp cho đất nước.
Phân tích bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
915
Phân tích bài Cảnh ngày hè Hướng dẫn Phân tích bài Cảnh ngày hè Bài làm Nguyễn Trãi – một nhân vật lịch sử nổi tiếng được nhiều người nhắc đến với vai trò vừa là một vị quan thanh liêm, đạo đức, có nhân cách cao đẹp, vừa là một nhà thơ tài hoa với nhiều tác phẩm để đời. Thơ ông thường thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân, yêu thiên nhiên, gắn bó thiết tha với thiên nhiên. Và một trong những bài thơ thể hiện dòng tư tưởng ấy chính là tác phẩm “Cảnh ngày hè” (bài số 43 trong “Bảo kính cảnh giới”). Nếu như Xuân Diệu cũng từng ngập tràn trong cảnh sắc của mùa xuân đang mơn mởn tuôn trào sức sống qua bài thơ “Vội vàng”, thì ở đây Nguyễn Trãi cũng hòa mình vào thiên nhiên đang rực rỡ khoe sắc giữa mùa hè: “Rồi hóng mát thuở ngày trường, Hòe lục đùn đùn tán rợp giương, Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Nhịp điệu từng vần thơ như tiếng reo lên hối hả của Nguyễn Trãi trước một “mâm cỗ” đầy đặn của thiên nhiên. Trong đó có hòe lục, có thạch lựu, có hồng liên trì. Điều đặc biệt là tất cả đang trỗi dậy một cách mạnh mẽ và mãnh liệt đến nỗi tác giả phải sử dụng những động từ rất mạnh: “đùn đùn”, “phun” và sau cùng là “tiễn”. Những từ ngữ ấy cho thấy thiên nhiên đang dồi dào sức sống, và dường như mọi thứ đang tuôn trào từ trong thân cây mà không có bất kỳ một vật cản nào. Giống như tình yêu thiên nhiên đang sôi sục trong lòng tác giả, tuôn trào ra khỏi đầu cây bút và viết lên thành những vần thơ độc đáo này. Phải là người yêu thiên nhiên lắm, và gắn bó tha thiết với thiên nhiên mới có thể có được những cảm nhận tuyệt vời như vậy. “Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương” Cảnh dân làng thu về những mẻ cá đang lao xao buôn bán, trao đổi với nhau, trông thật nhộn nhịp, vui mắt. Cảnh ấy rất yên bình, chân quê và chất phác, gợi lên một cuộc sống giản dị mà êm ấm. Cộng thêm tiếng ve kêu gọi hè càng làm cho không gian buổi chợ thêm náo nhiệt. Nhưng đằng sau những cảnh ấy lại là nỗi lòng của tác giả khi ông nhắc đến “Ngu cầm”. Theo thần thoại Trung Quốc kể rằng hai triều vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai triều đại lí tưởng, xã hội thanh bình, nhân dân hạnh phúc. Riêng vua Ngu Thuấn có khúc hát Nam phong, trong đó có câu: Nam phong chi thì hề khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề (Gió nam thuận thì có thể làm cho dân ta thêm nhiều của). Ngu cầm là đàn của vua Ngu Thuấn. Ý cả câu là: Hãy để cho ta có đàn của vua Thuấn để đàn một khúc Nam phong. Chẳng phải vô tình Nguyễn Trãi nhắc đến hai triều đại thần thoại của Trung Quốc, mà đó chính là nỗi niềm mong ước của chính ông. Ông mong rằng đất nước mình cũng được hòa bình, thịnh trị, ấm êm và hạnh phúc. Một lý tưởng rất cao đẹp thể hiện nhân cách cao cả của nhà thơ. Cũng như Phạm Ngũ Lão từng hổ thẹn khi nghe chuyện Vũ hầu. Cả hai vị quan đều sống rất anh minh và luôn ấp ủ nỗi niềm mong mỏi về một non sông giàu đẹp, một đất nước hòa bình, êm ấm. “Dân giàu đủ khắp đòi phương” Cuộc đời ông vì sống thanh liêm, vì luôn yêu nước, thương dân nên đã không ít lần lận đận, gian truân vì âm mưu của những kẻ phản nghịch. Nhưng trong lòng của vị quan hiền tài ấy vẫn chưa bao giờ bị lung lay, chưa một lần nào ông thay lòng đổi dạ để thoát thân khỏi những tai ương. Ngược lại, càng khó khăn càng khổ cực bao nhiêu, Nguyễn Trãi lại càng quyết tâm bấy nhiêu. Ông luôn hướng lòng mình đến những điều tốt đẹp, ông sẵn sàng hi sinh cả bản thân mình cho nhân dân chứ không bao giờ lấy dân để chuộc lợi cho mình. Một vị quan như vậy rất đáng được tôn kính và nể trọng. Nhưng chốn quan trường luôn là vậy, luôn đầy rẫy những hiểm nguy, những gian tà xảo trá, khiến cho người thanh liêm như Nguyễn Trãi gặp phải không ít những tai ương. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, tấm lòng trong sạch và tình yêu ca cả, thiêng liêng của ông dành cho nhân dân, cho đất nước và cho thiên nhiên vẫn luôn còn mãi, luôn được thế hệ sau trân trọng và noi theo. Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp… chính là hai trong số nhiều người đã tiếp bước thực hiện niềm mong mỏi của các thế hệ đi trước về việc xây dựng một đất nước hòa bình, hạnh phúc. Còn ngày nay, cũng không ít những bạn trẻ đang ngày ngày cố gắng học hành để xây dựng tương lai vững chắc, góp phần vào việc làm giàu đẹp cho đất nước. Nguồn: Tài liệu trực tuyến
Phân tích bài Cảnh ngày hè
914
Phân tích bài Hoàng hạc lâu của Thôi Diệu Hướng dẫn Phân tích bài Hoàng hạc lâu của Thôi Diệu Thôi Diệu là một nhà thơ lớn của dân tộc, ông là người tài giỏi trên lĩnh vực văn thơ tuy những tác phẩm của ông không nhiều nhưng tác phẩm nào ông viết cũng đánh dấu sự lớn mạnh của thơ Đường. trong đó tiêu biểu là bài thơ: hoàng Hạc Lâu. Hoàng hạc Lâu là một bài thơ hay nhưng hơi nhuộm màu buồn bởi từng câu từng câu từng chữ trong bài đều có nhịp chậm rãi nhẹ nhàng, da diết vào lòng người. Đồng thời bài thơ Hoàng Hạc Lâu muốn gửi gắm người đọc về tâm sự thầm kín về nhân tình thế thái và sự được mất ở trong cuộc đời. Hạc vàng ai cưỡi đi đâu Mà nay Hoàng Hạc riêng lâu còn trơ Mở đầu bài thơ tác giả đã gợi ra cảnh man mát buồn. Tác giả mượn “Hạc vàng” trong thuyết của Phí Văn Vi. Hoàng Hạc Lâu là một danh lam thắng cảnh ở ở Trung Quốc. ở nơi đây sương khói mờ nhân ảo tương truyền Phí Văn Phi tu tiên đắc đạo hay cưỡi hạc vàng về đây ngao du.Như vậy qua câu đầu ta thấy tác giả ý muốn gửi gắm những trang lịch sử đến người đọc về truyền thuyết nơi đây. Trước chói chang, hào hùng như vậy mà nay tác giả lại nói “còn trơ” thể hiện sự hoang sơ và lạc lõng. Tác giả thật hay đã sử dụng biện pháp đối lập trước và sau để người đọc thấy rõ hơn sự khác biệt trước và sau. Trước đẹp đẽ đến mấy thì giờ hoang tàn cũng vậy. câu thơ thật buồn và nhịp thơ thật da diết não nề. Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay Hai câu thơ này tác giả như muốn nói về quá khứ và hiện tại. “Hạc vàng” là biểu trưng cho quá khứ khi hạc vàng bay mấy thì nơi đây chẳng còn có ý nghĩa gì và trở nên hoang sơ và tàn tạ. “Mây trắng” là sự biểu trưng cho hiện tại. Theo tác giả chốn bồng lai tiên cảnh ngày xưa nay hoang vu chỉ còn mây trắng vẫn bay đi bay lại. Tác giả hoài niệm lại những kỉ niệm đã qua và thấy tiếc nuối xót xa mặc dù thời gian trôi đi rất lâu rồi chuyện cũng đã cũ nhưng mỗi khi nhắc lại tác giả vẫn cảm thấy xót xa. Từ đây ta thấy được tâm trạng của nhà thơ rất buồn. Trong lòng chất chứa một tâm sự lớn đang đè nặng chất chứa đầy trong trái tim của mình. Hán Dương sông tạnh cây bày Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non. Thường thì người ta nói: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Vì thế Hán Dương và Anh Vũ là những địa danh đẹp ở Hoàng Hạc Lâu cùng với thiên nhiên cỏ non sông lặng trước đẹp là vậy mà bây giờ cũng cô liêu và hoang vu khiến con người càng thêm buồn. Đây là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình rất đặc biệt của Thôi Hiệu. Tác giả đứng một mình trên lầu cao lúc trời đã xế chiều và rồi bóng Lầu Hoàng Hạc bắt đầu mờ dần. Nhưng tác giả vẫn cứ đứng mãi nhìn mãi, nhìn mãi ra xung quanh như để tìm kiếm một thứ gì rất đặc biệt quan trọng. Thứ mà tác giả đang muốn tìm đó chính là quê hương của mình: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị? ”. Câu hỏi tu từ thật xao xuyến xót xa khiến người đọc cũng thấy xót xa cho tác giả. Trên sông khói song cho buồn lòng ai Hoàng hôn đã xuống rồi mà sao mãi tác giả vẫn chưa nhìn thấy quê hương mình đâu. Mà đâu đó “ trên sông khói trắng” ý chỉ con sông nước lúc này đã phủ đầy sương khói tạo nên sự huyền ảo và buồn nhẹ nhàng. Một nỗi buồn cứ dai giẳng mãi trong tâm trí của nhà thơ, nhà thơ nhớ quê hương nhưng không biết phải làm như thế nào. Trong khi bản thân vẫn muốn cố tìm hình bóng quê hương của mình. Hình ảnh ấy đã được tái tạo, được nhập thân vào hồn thơ dân tộc ta, làm nên vẻ đẹp phong vị Đường thi cổ kính, hoa lệ: “Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (“Tràng Giang” – Huy Cận) Hay: “Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng.” (Thâm Tâm) Như vậy qua bài thơ Hoàng Hạc Lâu ta thấy được tâm sự thầm kín của tác giả. Thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương của ông. Những vần thơ ông viết ra đã đưa người đọc biết được những cảm xúc thật của chính mình. Đồng thời tác giả đã khiến cho thơ Đường Trung Hoa có một bước tiến mới trong phong cách sáng tác với những đột phá khác thường.
Phân tích bài Hoàng hạc lâu của Thôi Diệu
850
Phân tích bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn Bài làm Triều đại nhà Trần là mốc vàng son của lịch sử Việt Nam. Thời kì ấy không chỉ có các vị vua anh minh mà còn có những vị tướng lĩnh tài ba góp phần làm nên những chiến thắng lịch sử. Trong đó có Trần Quốc Tuấn vị tướng tài ba giúp nhân dân đánh thắng quân Mông – Nguyên xâm lược. Không chỉ là một nhà quân sự giỏi mà Trần Quốc Tuấn cũng giỏi văn chương. “Hịch tướng sĩ” là tác phẩm thể hiện cái tài ấy của ông “Hịch tướng sĩ” được viết trước khi cuộc chiến kháng Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai diễn ra. Từ đó bài Hịch kêu gọi, cổ vũ động viên các tướng sĩ, quân lính chung sức đồng lòng chống giặc đồng thời chăm chỉ đọc “Binh thư yếu lược”. Mở đầu bài Hịch, Trần Quốc Tuấn nêu các gương sáng trong lịch sử. “Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc.” Có người làm tướng, có người làm quan nhỏ nhưng tất cả sẵn sàng chết vì vua, vì chủ, vì đất nước, không sợ hiểm nguy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Qua đó tác giả muốn khích lệ tinh thần, lòng trung quân ái quốc của các tướng sĩ. Bày tỏ nỗi niềm căm phẫn kẻ thù đồng thời bài Hịch cũng chỉ ra, phê phán thái độ và hành động sai trái của các tướng sĩ, để từ đó chỉ ra những việc nên làm. Chỉ ra những hành động tầm thường, thiếu trách nhiệm của tướng sĩ: “Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm” bằng giọng điệu mỉa mai có phần khiển trách. Vì hậu quả sẽ dẫn đến nước mất nhà tan. Qua đó Trần Quốc Tuấn muốn phê phán nghiêm khắc lối sống cầu an hưởng lạc, thờ ơ vô trách nhiệm của tướng sĩ. Qua bài “Hịch tướng sĩ”, người đọc thấy cảm phục và trân trọng Quốc Công Tiết Chế Trần Quốc Tuấn khi không chỉ là nhà quân sự tài giỏi mà còn yêu thương, lo lắng, quan tâm tới tướng sĩ thứ bậc thấp hơn để từ đó thấy được tình yêu đất nước to lớn trong ông.
Phân tích bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
525
Phân tích bài Khuê oán của Vương Xương Linh Hướng dẫn Phân tích bài Khuê oán của Vương Xương Linh Vương Xương Linh, tự là Thiếu Bá; là nhà thơ Trung Quốc thời Thịnh Đường. Ông làm nhiều thơ hay, được người đời gọi là Thi thiên tử, là Thi gia phu tử Vương Giang Ninh. Ông có nhiều tác phẩm kiệt xuất trong đó nổi tiếng nhất là tác phẩm “Khuê Oán”. Phiên âm chữ Hán: Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu, Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu. Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, Hối giao phu tố mịch phong hầu. Dịch thơ tiếng Việt: Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu, Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu. Đầu đường chợt thấy màu dương liễu, Hối để Chàng đi kiếm tước hầu. (Nguyễn Khắc Phi dịch) Mở đầu bài thơ tác giả đã giới thiệu cho người đọc thấy được hình ảnh của một người phụ nữ rất xinh đẹp thuộc dòng dõi quý tộc. Hiện người phụ nữ này có một người chồng đang chiến đấu nơi phương xa. Vì lẽ sinh ra trong nhung gấm lụa là nên người phụ nữ này không hiểu được những đau thương của chiến tranh. Chính điều đó mà tác giả viết người phụ nữ này rất là hồn nhiên và vô lo vô nghĩ vẫn còn trau chuốt làm đẹp cho bản thân của mình. “Thiếu phụ phòng khuê chẳng biết sầu, Ngày xuân chải chuốt, bước lên lầu.” Vậy mà ông trời như đang trêu đùa với lòng người, mùa xuân là sự tươi đẹp của hạnh phúc lứa đôi còn người phụ nữ này lại phòng khuê chiếc bóng một mình. Mặc dù vô tư hồn nhiên đến vậy nhưng ắt hẳn tâm trạng của người phụ nữ có chồng ở phương xa cũng buồn và nhớ thương như những người phụ nữ khác. Đầu đường chợt thấy màu dương liễu, Hối để chàng đi kiếm tước hầu. Màu dương liễu xanh mơn mởn biểu trưng cho tuổi trẻ đầy tình yêu và sức sống. Theo tục lệ thì lúc chia tay tiễn người yêu ra chiến trường người phụ nữ phải tặng người đàn ông một nhành dương liễu để mong đến ngày đoàn tụ. Người phụ nữ ngồi thẫn thờ nhìn về phía xa xăm mà tự nhủ với bản thân không biết chồng mình đang ở chốn nào? Sống chết ra sao rồi? Cảnh ấy mà gợi tình, tâm trạng của người phụ nữ pha lẫn những nhớ thương và nuối tiếc. Người phụ nữ tiếc rằng mình sao lúc đó không giữ chồng ở lại mà cứ để chồng đi như vậy. Đồng thời qua đây tác giả muốn nói lên hạnh phúc mỏng manh của đôi lứa khi đất nước gặp chiến tranh loạn lạc. Thương yêu đến mấy cũng phải cách xa. Mà khi đi ra chiến trường nào ai biết ngày trở về. Cuộc sống thật trớ trêu cứ ngỡ tưởng được hạnh phúc bên nhau vậy mà giờ đây chỉ còn mình người phụ nữ cô đơn lẻ loi suốt ngày ngóng trông chồng trở về. Tác giả thật độc đáo và tinh tế chỉ với bốn câu thơ thất ngôn tứ tuyệt mà đã bao hàm hết nội dung súc tích, ngôn ngữ giàu sức gợi. thể hiện tình yêu hòa quyện giữa cảnh và người để người đọc dễ cảm nhận được ý thơ sâu sắc. Qua bài thơ này ta thấy rõ được nỗi buồn, cô đơn của người người phụ nữ có chồng đi tòng quân. Ngày ngày người phụ nữ chỉ mong ước chồng trở về để gia đình đoàn tụ. Đồng thời tác giả cũng nên án tố cáo chiến tranh khiến gia đình, hạnh phúc lứa đôi bị chia xa.
Phân tích bài Khuê oán của Vương Xương Linh
617
Đề bài: Phân tích bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến Bài làm Trong nền thơ hơn một nghìn năm của dân tộc Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Khuyến có một vị trí thật vẻ vang. Ông là nhà thơ của những bài thơ Việt Nam đích thực, những bài thơ mà ở đó, những tình cảm đẹp đẽ của con người Việt Nam được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ Việt Nam thuần khiết, giản dị và đẹp đẽ. Trong những bài thơ ấy, cần phải nói tên một bài thơ không mấy ai không biết: bài Khóc Dương Khuê. Xét cho cùng, tình bạn giữa hai người Nguyễn Khuyến và Dương Khuê vốn không phải là một tình bạn thật hoàn toàn như ý. Tuy đỗ cử nhân cùng khoa thi với Nguyễn Khuyến, rồi đỗ tiến sĩ, cùng làm quan cho triều Nguyễn, nhưng sau năm 1884, năm đất nước thật sự mất vào tay thực dân Pháp, Dương Khuê lại không có được cái chí như Nguyễn Khuyến. Không cáo quan về làng, Dương Khuê tiếp tục làm quan cho triều đình tay sai thực dân cho đến tận lúc qua đời ở tuổi 64 (1902). Tuy vậy, nói thế là để nhìn rõ hết mọi chuyện. Người Việt Nam ta vẫn có câu: nghĩa tử là nghĩa tận. Cái chết đột ngột của Dương Khuê đã thật sự li: một nỗi đau cho Nguyễn Khuyến. Lúc ấy, quên hết mọi điều, ông chỉ còn biết một điều duy nhất: ông đã mất một người bạn thân, mất một nguồn tình cảm quí giá không thế lấy gì thay thế được. Lúc ấy, tự đáy lòng, từ nột tình bạn mà hình như chính ông cũng không thể đo lường hết chiều sâu, Nguyễn Khuyến đã chợt kêu lên những tiếng kêu thảng thốt: Bác Dương thôi đã, thôi rồi, Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta. Hầu như không có một chút vãn chương chữ nghĩa nào trong hai dòng thơ trên, đặc biệt là dòng thơ thứ nhất. Chỉ có nỗi đau, nỗi đau chân thành, trọn vẹn, tự mình thể hiện ra thành lời. Hai tiếng “thôi” dân dã và tự nhiên, cứ như bật lên từ lời nói của một người dân quê bình dị nào đó. Đặt câu thơ này vào trong hoàn cảnh xã hội mà sự “cao nhã“ luôn luôn được coi là một yêu cầu hàng đầu của văn chương, ta càng thấy ở đây sự chân được nhà thơ coi trọng đến chừng nào. Nói đến cái chết, ông không dám động đến từ “chết”. Trời đất cao dày ơi lẽ nào chuyện ấy đã đến thật rồi sao? “Thôi đã… thôi rồi”! Thế là hết! Thật thế rồi! Một kẻ quyền quí ngày xưa khi lỡ tay làm rơi mất viên ngọc lưu li độc nhất vô nhị trong thiên hạ, có lẽ cũng chỉ kêu lên đau đớn đến như thế là cùng. Không đau nỗi đau thật, làm sao có thể khóc một tiếng khóc thật như thế được. Có điều là, với nỗi đau, Nguyễn Khuyến không thét lên, tiếng khóc của ng là khóc với mình, khóc cho tự mình nghe, tiếng khóc lắng vào lòng. Tâm hồn vốn giản dị, ông chúa ghét sự ồn ào. Lúc này ông muốn ngồi một mình, đối diện với bạn, cùng nhắc lại tình bạn, cùng bạn ôn lại những gì đã từng có giữa hai người. Đã có bao nhiêu là kỉ niệm. Từ những ngày tường đã rất xa xôi: Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước, Những sớm hôm tôi bác cùng nhau, Kính yêu từ trước đến sau, Trong khi gặp gỡ biết đâu duyên trời Đó là kỉ niệm khi hai người vừa mới lần đầu gặp nhau trong khoa thi Hương và cùng thi đỗ. Nguyễn Khuyến quê ở Bình Lục, Hà Nam, Dương Khuê quê ở Vân Đình, Hà Đông, hai người vốn chẳng quen biết gì nhau. Thế mà, cứ như duyên trời định sẵn, tình bạn đã bắt đầu gắn bó từ đây. Chữ nghĩa của Nguyễn Khuyến sao mà bình dị đến thế, nôm na, thân mật đến thế! Nào là “lúc sớm hôm”, rồi là "tôi bác", với những “cùng nhau”… Nhà thơ cũng xác định cái nhìn đầu tiên của mình về người bạn: đó là lòng kính yêu trọn vẹn, “kính yêu từ trước đến sau". Cùng với giọng kể lể chân thành như thế, nhà thơ nhắc lại với bạn về những kỉ niệm khác: Cũng có lúc chơi nơi dặm khách, Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo, Có khi từng gác cheo leo, Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang. Kỉ niệm giừa đôi bạn như thế quả là rất nhiều, rất đậm. Họ đã từng cùng trải qua những giờ phút thú vị, chứng tỏ họ là những người bạn ý hợp tâm đầu, có tâm hồn biết thưởng thức và chia sẻ những niềm vui thanh cao của kẻ tao nhân mặc khách. Nhắc lại những kỉ niệm đó, tâm hồn nhà thư như còn rung cảm vì tiếng suối “róc rách lưng đèo” nơi “dặm khách” xa xôi. Nhà thơ như cùng đang sống lại với những cảm giác thích thú “nơi từng gác cheo leo”, lắng nghe tiếng đàn, tiếng hát của các đào nương. Có người sẽ hỏi: nhà thơ Nguyễn Khuyến mà cũng đi hát ả đào sao? Thi có gì đâu mà nhà thơ không đi hát ả đào! Hát ả đào là một thú vui trong xá hội phong kiến. Có lúc thú vui này bị người ta lợi dụng (thì trên đời thiếu gì điều tốt đẹp bị người ta lợi dụng). Tuy vậy, đối với đa số nhà Nho, đó lại là nơi để thưởng thức cái đẹp của lời ca, tiếng hát, tiếng đàn, cũng là nơi di dưỡng tâm hồn sau những tháng ngày gò mình trong khuôn khổ của chốn công danh, vốn được sáng tác để cho các đào nương hát lên đó sao? Nguyễn Khuyến không có những bài thơ như vậy, nhưng rõ ràng là ông đã không thể quên “thứ vui con hát”, bởi đó là thú vui được “lựa chiều cầm xoang”, trải lòng mình theo tiếng đàn, tiếng hát. Là đôi bạn đến với nhau, thân nhau vì lòng mến mộ lẫn nhau, tình bạn giữa Nguyễn Khuyến và Dương Khuê thật là chỗ tri âm tri kỉ, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”: Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp, Chén quỳnh tương ăm áp bầu xuân, Có khi bàn soạn câu văn, Biết bao đông bích, điển phần trước sau. Nói về việc cùng bạn uống rượu mà nhà thơ dùng từ "nháp”, lại “cùng nháp” thì thật chính xác và tinh tế, bởi đây là việc uống rượu của người “uống cho vui”, chứ không phải kiểu uống của các bợm rượu. Nhà thơ có lần đã tự nói về khả năng uống rượu của mình: Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy Độ năm ba chén đã say nhè. (Thu ẩm) Chén các cụ dùng uống rượu ngày xưa là loại chén rất nhỏ, thường được gọi là “chén hạt mít”. Nói “nhấp” tức là uống từng hớp nhỏ, như chỉ vừa chạm môi vào, vừa uống vừa ngẫm nghĩ, vừa uống vừa thưởng thức cái vị đậm, cái mùi thơm của rượu. Rượu uống chỉ như thế nhưng lại “ăm áp bầu xuân”. Bầu xuân này là bầu rượu và cũng là “bầu thơ“, bầu rượu đầy cho bầu thơ càng thêm lai láng. Hai tiếng “ăm ắp” mà nhà thơ dành cho bầu xuân” thật gợi cảm và sảng khoái. ‘‘Người thanh cái tiếng cũng thanh”, đến cách chơi cũng cho ta biết được bản chất con người, không phải bất kì ai cũng có được cái “rượu ngon cùng nhấp” ấy, nhất là cái căm nhận “ăm áp bầu xuân” ấy. Thật là những ngày vui. Nhưng cũng có những ngày buồn, rất buồn. Đó là những ngày nước mất. Là nhà Nho, cùng phụng sự cho một triều đại, đôi bạn cùng chung chia sẻ nỗi đau của thời đại mình: Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn Phận đấu thăng chẳng dám than trời Bác già, tôi cũng già rồi Biết thôi thôi thế thì thôi mới là! Những câu thơ của Nguyễn Khuyến đọc lên nghe thật buồn bã, ngao ngán. Nói “buổi dương cửu” để chỉ thời kì loạn lạc khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhà thơ coi đó như là một vận hạn mà đất nước và con người phải trải qua. Không làm gì được trước vận hạn ấy, nhà thơ chỉ còn một cách lựa chọn là rời bỏ công danh, chẳng còn dám tham cái lộc trời “thăng đấu” của kẻ làm quan. Nhà thơ nói như một kẻ an phận mà nghe ra thật đau đớn. Ông cảm thấy mình bất lực, cảm thấy mình đã già. Đặc biệt câu thơ cuối đoạn, có đến ba từ "thôi” trùng diệp, khác nghĩa nhau mà như cùng một nghĩa, bổ sung cho nhau, tạo ra ấn tượng về một tâm trạng cam chịu thật nặng nề: Biết thôi- thôi – thế thì thôi. Đúng là tâm trạng của nhà thơ khi cáo quan về làng và cho đến cả những năm sau này: đau buồn trước cảnh nước mất nhưng không có thể làm gì cho đất nước ngoài việc từ quan để khỏi làm việc cho kẻ thù. Qua 16 dòng thơ, Nguyễn Khuyến đã nhắc lại một cách cô đọng và đầy đủ về mối quan hệ bạn bè giữa đôi bạn Nguyễn Khuyến – Dương Khuê, đặc hiệt là độ sâu, độ bền của tình bạn đó. Những kỉ niệm đã được nhà thơ nói tới mọt cách giản dị nhưng đầy trân trọng. Nhắc lại những kỉ niệm ấy, ôn lại và ngẫm nghĩ về tình bạn ấy, nhà thơ cảm thấy nỗi đau mà mình phải chịu hôm nay thật là một điều vô lí. Ông chưa bao giờ hình dung ra sự mất mát có thể xảy đến vào lúc này. Nhà thơ nhớ lại: Muốn đi lại tuổi già thêm nhác Trước ba năm gặp bác một lần Cầm tay hỏi hết xa gần Mừng rằng bác hãy tinh thần chưa can. Xét về rnặt văn chương, bốn dòng thơ trên không phải là những câu thơ thật mới lạ sắc sảo, bởi những câu thơ ấy sao mà nôm na bình thường, nào la “tuổi già thèm nhác”, rồi lại “hỏi hết xa gần”, với lại “tinh thần chưa can”, cứ như lời lẽ cua một ông lão quê mùa nào đó ở vùng đất Hà Nam. Thì đúng vậv, Nguyễn Khuyến có làm văn chương đâu, ông chỉ bộc lộ nỗi niềm của mình! Nhà thơ còn tự mình lí sự với mình: Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác Tôi lại đau trước bác mấy ngày Làm sao bác vội về ngay Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời! Chỉ khi người ta đau đớn thật lòng, người ta mới có kiểu lí sự như vậy. Như thế có khác gì nói rằng: tại sao bác lại chết trước tôi nhỉ? Người chêt trước lẽ ra phải là tôi chứ? Chính từ những lí sự này, mấy tiếng cuối cùng của đoạn thơ nổi lên thật chân thành và ai oán: Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời! Trước nỗi đau dã là sự thật, nhà thơ đành chấp nhận nồi đau và càng thấy điều này là thật vô lí: Ai chẳng biết chán đời là phải Vội vàng chi đã mải lên tiên Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua. Cái chết là một quy luật không ai có thể phủ nhận được. Tuy vậy, trong trường hợp này, Nguyễn Khuyến vẫn tìm thấy sự vô lí: cái chết của người bạn đã đến một cách vội vã quá, nó cướp mất của ông một người bạn hiền và như thế, cũng cướp mất của ông tất cả mọi niềm vui. Câu thơ của ông nói về trường hợp riêng của mình, nghe thật giản dị mà vang lên nhơ một chân lí về tình bạn đích thực ở đời: Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua Trong hai dòng thơ, từ “không” xuất hiện đến năm lần như những cái lắc đầu buồn bã. Không còn bạn, không còn thiết uống rượu, bởi không còn người để chia sẻ vị ngon của rượu. Không còn bạn, khóng còn hứng thú làm thơ, bởi vì sao? Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa? Lắc đầu bằng những tiếng “không”, đến đây nhà thơ tiếp tục lắc đầu bằng những câu hỏi. Hỏi cũng là để nói “không”. Thơ viết ra mà không có người thưởng thúức được, cảm thông được, thì còn viết làm gì? Âm “iết” láy đi láy lại trong hai dòng thơ,rồi hai tiếng “ai”, hai tiếng “đưa” trung điệp (đưa ai – ai biết – mà đưa” cứ mở ra, khép lại, rồi lại mở ra, như một nỗi day dứt khôn nguôi. Nhà thơ nghĩ đến những mối tình bạn mà sách vở xưa kia đã từng ca ngợi, coi nhơ tuyệt đỉnh của tình bạn: Trần Phồn đời Hậu Hán sau khi bạn ra về thì treo giường lên, không để cho ai ngồi vào cái giường chỉ dành riêng để tiếp bạn; Bá Nha sau khi Chung Tử Kì chết thì quyết bỏ không chơi đàn bởi thấy không còn ai hiểu được tiếng đàn. Ông thay mối tình giữa ông với Dương Khuê chính là một tình bạn như thế; sự mất mát của ông sau cái chết của Dương Khuê đúng là sự mất mát như thế: Giường kia treo cũng hững hờ Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn Có thể lấy gì để bù đắp vào sự mất mát này không? Nhà thơ đã khẳng định rằng không. Chỉ còn một cách, như người ta vẫn thưừng làm, là tìm cho mình một cách an ủi. Rằng người chết không còn có thể sống lại được, rằng nước mắt xót thương cũng sẽ chàng giúp được gì… Nguyễn Khuyến muốn dùng cái lẽ thường ấy của đời sống để tự an ủi mình: Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương Nhà thơ còn tự khuyên bảo mình: Tuổi già hạt lệ như sương Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan! Nhà thơ khuyên mình không nên khóc, bởi tuổi già còn ít nước mắt lắm, chỉ như những hạt sương mong manh thôi, làm sao có thể ép cho nước mắt tuôn chảy thành hai hàng chứa chan được. Nhưng nói như thế là nói lí. Tự nhà thơ vẫn hiểu rằng không thể “lấy nhớ làm thương” được, và càng hiểu ràng hai hàng nước mắt chứa chan của ông lúc này đâu phải do ông “ép lấy”. Mỗi chữ trong thơ ông đều đẫm đầy nước mắt, những hạt lệ từ một nỗi đau lớn, từ một tình bạn lớn. Có thể khẳng định rằng trong thơ Việt Nam đã có rất nhiều bài thơ hay thể hiện tình cảm đẹp đẽ chân thành, nhưng cả cho đến nay, chưa có bài thơ nào nói về tình bạn có thể sánh bằng bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Cái hay ấy trước hết xuất phát từ một tình bạn đẹp và chân thành của một tâm hồn cao thượng. Cái hay ấy còn là cái hay của một nghệ thuật diễn đạt, một ngôn ngữ diễn đạt gian dị, tự nhiên,đầy tính dân tộc, hoàn toàn phù hợp với nội dung tình cảm mà bài thơ cần diễn đạt.
Phân tích bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến
2,621
Phân tích bài Phong cách Hồ Chí Minh của Lê Anh Trà Hướng dẫn Kể chuyện Hồ Chí Minh, đọc thơ văn của Người và thơ văn viết về Người ở đất nước ta, đối với mỗi người Việt Nam, dường như đã trở thành một nếp sống, một thói quen văn hoá thú vị đáng tự hào. Ở sách Ngữ văn 7, chúng ta đã được học bài Đức tính giản dị của Bác Hồ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng – một chiến sĩ cách mạng, một nhà văn hoá lớn, từng được sống làm việc nhiều năm bên Người. Giờ đây, mở đầu sách Ngữ văn 9, chúng ta lại được học một văn bản nữa của Lê Anh Trà – một nhà khoa học thuộc thế hệ con cháu Hồ Chí Minh. Lần theo từ ngữ, câu văn, bắt đầu từ nhan đề đến dòng cuối cùng của văn bản, chúng ta lại được cùng nhau khám phá "Chuyện Bác Hồ", thú vị và bổ ích biết bao. Hình tượng nổi bật hiện lên từ bài Phong cách Hồ Chí Minh phải chăng là một nhân cách Việt Nam hài hoà vẻ đẹp của nền vãn hoá Việt Nam mang truyền thống lâu đời với nển văn hoá thế giới hiện đại? Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết là ở vốn tri thức văn hoá nhân loại mà Người đã tích luỹ được. Ông Lê Anh Trà kể: "Trên những con tàu vượt trùng dương, Người đã ghé lại nhiều hải cảng, đã thăm các nước châu Phi, châu Á, châu Mĩ,… đã từng sống dài ngày ở Pháp, ở Anh…". Hổ Chí Minh đã từng đi khắp năm châu bốn biển, lao động kiếm sống và học tập khắp mọi nơi trên trái đất, tiếp xúc với đủ mọi dân tộc, mọi chủng tộc của các màu da vàng, đen, trắng, đỏ… nhờ đó, "Người nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga,…". Đi nhiều, tiếp xúc nhiều, biết nhiều ngoại ngữ, đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ để mở mang hiểu biết, thu lượm tri thức. Dường như Hồ Chí Minh đã thấu hiểu quy luật ấy nên "Đến đâu Người cũng học hỏi, tìm hiểu vãn hoá, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm". Học hỏi, tìm hiểu để tiếp thu những cái hay, cái đẹp, đồng thời Người biết "phê phán những tiêu cực". Cách đi, cách sống và cách học tập như vậy thật đúng đắn, mang tính khoa học cao. Người đã kể một kỉ niệm trong thời kì tìm hiểu, học tập về lí tưởng cách mạng của mình rằng: "Tôi tham gia Đảng xã hội Pháp… Còn như Đảng là gì…, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là gì, thì tôi chưa hiểu… Tôi dự rất nhiều các cuộc họp một tuẩn hai hoặc ba lần. Tôi chăm chú nghe những người phát biểu ý kiến. Lúc đầu, tôi không hiểu được hết. Tại sao người ta bàn cãi hăng như vậy?… Điều mà tôi muốn biết hơn cả là… vậy thì cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa? Trong một cuộc họp, tôi đã nêu câu hỏi ấy lên… Và một đồng chí đã đưa cho tôi đọc Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa… Trong Luận cương ấy, có những chữ chính trị khó hiểu. Nhưng cứ đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính. Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động,… Trước kia, trong các cuộc họp chi bộ tôi chỉ ngồi nghe người ta nói ; tôi cảm thấy người nào cũng có lí cả, tôi không phân biệt được ai đúng và ai sai. Nhưng từ đó tôi cũng xông vào những cuộc tranh luận. Tôi tham gia thảo luận sôi nổi… Không chỉ tham gia các cuộc họp của chi bộ tôi mà thôi, tôi còn đến những chi bộ khác để bênh vực lập trường "của tôi"… Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lí luận Mác – Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ…". Tuy câu chuyện chỉ là một trong muôn vàn kỉ niệm của cuộc đời cách mạng Hồ Chí Minh nhưng vẫn đủ cho chúng ta thấu hiểu một phong cách sống và học tập năng động, hết mình vì cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, dân tộc mình và tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Nhờ đi nhiều nơi, hăng hái tích cực, thường xuyên tìm tòi, học hỏi, tranh luận, sống sôi nổi, hết mình, vừa nghiên cứu lí luận, vừa làm công tác thực tế, Người đã tích luỹ được một vốn tri thức sâu rộng. Sau vài ba sự việc được kể tóm tắt, nhằm gợi cho người đọc liên tưởng và suy ngẫm về tầm hiểu biết và cách tích luỹ vốn tri thức, tác giả Lê Anh Trà bình luận: "điều kì lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hoá dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách rất yiệt Nam, một lối sống rất bình dị… đồng thời rất mới, rất hiện đại". Đi nhiều nơi, học hỏi, tiếp thu mọi cái đẹp, cái hay của nhiều nền văn hoá thế giới không phải chỉ để cho riêng mình mà đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc mình, dân tộc mình, đó là cách sống của Hồ Chí Minh. Chính vì biết cống hiến tất cả cho một lí tưởng cao đẹp như thế, nên Hồ Chí Minh đã trở thành một người Việt Nam đẹp nhất, tiêu biểu nhất của thời đại, một nhân cách Việt Nam mang truyền thống phương Đông, đồng thời rất mới, rất hiện đại. Tiếp đến đoạn văn thứ hai, tác giả Lê Anh Trà kể về cuộc sống hằng ngày cua Hô Chí Minh. Những câu chuyện cụ thế, những từ ngữ, câu văn giàu hình ảnh, điểm vài lời nhận xét, so sánh ý nhị dẫn dắt người đọc vào thâm nơi ăn, chốn ở của Người như vào một bảo tàng vừa bình dị vừa thiêng liêng. Này đây là chiếc nhà sàn bằng gỗ, bên cạnh chiếc ao đã trở thành "cung điện" của vị Chủ tịch nước. Chiếc nhà sàn chí vẻn vẹn vài phòng với những đổ đạc đơn sơ để ăn ngú, tiếp khách, vừa để họp Bộ Chính trị bàn về vấn để sinh tử của triệu triệu con người. Căn nhà sàn ấy tuy giản dị đơn sơ, nhưng luôn "lộng gió và ánh sáng", bởi vì chủ nhân của nó là "Một tâm hồn lộng gió thời đại". Căn nhà Người ở chẳng kém gì "cung điện" trong truyện thần thoại hay trong cổ tích! Tiếp đó là những trang phục, những vật dụng hằng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như của các chiến sĩ Trường Sơn…". Ngỡ như tất cả những áo quần, trang phục tinh tuý nhất, tiêu biểu nhất ở mọi miền của đất nước, của dân tộc trong mọi công việc, lao động, chiến đấu đã được gạn lọc, lựa chọn về đây hợp thành trang phục của Người. Bộ trang phục ấy thật giản dị mà thanh cao thần kì biết mấy. Những bữa ăn, món ăn hằng ngày của Người: "cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa". Một vị Chủ tịch nước nhưng chỉ ăn, chỉ "hưởng thụ" như thế. Cá, rau, dưa, cà, cháo hoa… đó là những sản vật vừa thân quen, vừa tinh tuý của đất Việt tự ngàn năm xưa chắt lọc lại. "Anh đi anh nhớ quê nhà – Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương". Bài ca dao ấy luôn nhắc chúng ta nhớ những vật phẩm, thức ăn giản dị mà thân thương, đậm hương sắc quê nhà. Người thường dùng những món ăn đạm bạc như thế. Cách ăn uống đơn sơ, đạm bạc ấy cũng là một cách sống khoa học, tạo cho con người một thể chất lành mạnh, khoẻ khoắn. Chính Người, trong kháng chiến chống thực dân Pháp từng viết bài thơ nói về tuổi thọ, cách sống đẹp đẽ ấy như sau: Chưa năm mươi đã kêu già Sáu ba, mình nghĩ vẫn là đương trai Sống quen thanh đạm nhẹ người Việc làm tháng rộng, ngày dài ung dung. Tuy tác giả Lê Anh Trà kể ngắn gọn vể cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của Hồ Chí Minh nhưng chúng ta ngẫm ra được rất nhiều điều bổ ích, lớn lao. Chúng ta dễ dàng đồng tình với những ý kiến bình luận của tác giả, để thấm thìa sâu sắc hơn nữa về cách sống, phong cách Hồ Chí Minh. "Tôi dám chắc không có một vị lãnh tụ, một vị tổng thống, hay một vị vua hiền nào ngày trước lại sống đến mức giản dị và tiết chế như vậy. Bất giác ta nghĩ đến các vị hiền triết ngày xưa…". Đấy là cách so sánh, đối chiếu, liên tưởng chính xác, giúp cho bạn đọc mở rộng, khơi sâu trí tuộ và tâm hổn. Từ cách sống của Hồ Chí Minh, chúng ta nghĩ tới nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới, những nguyên thủ quốc gia, những vị tổng thống lừng danh về sự giàu có, sang trọng. Chúng ta nhớ lại cuộc đời các hiền triết phương Đông từng sống thanh cao giản dị. Và, nhờ câu chữ trong văn của Lê Anh Trà, chúng ta như thấy Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai danh nhân văn hoá của dân tộc hiện về. Thơ của của các cụ cũng theo đó hiện về: Thu ăn măng trúc, đông ân giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao… (Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm) Như vậy, nếp sống thanh đạm của Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở chúng ta suy ngẫm vể tính hiện đại, tầm cỡ thế giới và tính truyền thống, màu sắc dân tộc. Nói cách khác, phong cách Hồ Chí Minh vừa kế thừa truyền thống dân tộc, vừa nâng cao, hoà hợp và vượt lên trên mọi ham muốn tầm thường của con người thời đại. Cách sống như vậy không phải là lập dị, khác thường mà là sự tích tụ những gì tinh tuý nhất của nhiều phương trời, nhiều thời đại, nhiều phong cách. Tác giả Lê Anh Trà khẳng định: "đây là lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác". Rõ ràng, cách sống của Hồ Chí Minh đã nêu một kinh nghiệm – như quy luật muôn đời – "Sống quen thanh đạm nhẹ người", một cách sống đẹp, giản dị mà cao thượng vô cùng. Trong bài Bác ơi!, nhà thơ Tố Hữu viết: Bác sống như trời đất của ta. Đọc bài Phong cách Hồ Chí Minh của nhà khoa học Lê Anh Trà, chúng ta hiểu rõ hơn, hiểu sâu thêm những đặc điểm tạo nên phong cách, cách sống của Người: Đó là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, vĩ đại mà bình dị. Càng hiểu Hồ Chí Minh, chúng ta càng thêm tự hào, kính yêu Người, tự nguyện học tập theo gương Hồ Chí Minh. Và chúng ta tin rằng tấm gương Hồ Chí Minh – tấm gương nhân cách Việt Nam – sẽ muôn đời toả sáng.
Phân tích bài Phong cách Hồ Chí Minh của Lê Anh Trà
2,018
Đề bài: Phân tích bài phóng sự Góc chiếu giữa đình của Ngô Tất Tố Bài làm Ngô Tất Tố (1893 – 1954) ngoài các công trình nghiên cứu, dịch thuật, tiểu thuyết (Tắt đèn, Lều chõng) còn để lại hai tập phóng sự viết về nông thôn Việt Nam trước năm 1945: "Tập án cái đình" và “'Việc làng". "Việc làng" gồm có 16 bài phóng sự; "Góc chiếu giữa đình" là bài số VI của tác phẩm. Qua chuyện ông Lũy tổ chức lễ ăn khao vì mua được cái chức lí cựu mà trở thành khánh kiệt, nợ nần, tác giả đã châm biếm hủ tục nơi "cái làng xôi thịt" ngày xưa, chỉ mặt vạch tên bọn chức dịch là đầu trò của mọi hủ tục, tệ nạn ấy. Vợ chồng ông Lũy thật đáng thương. Có bao nhiêu đức tính tốt đẹp của người dân cày lam lũ, tính nết "thật thà, chăm chỉ", cần cù tiết kiệm làm ăn. Suốt một thời gian dài mười lăm năm, chồng làm nghề cày thuê, vợ chuyện đi ở vú sữa. Nhờ thế mà ông bà đã đưa nhà mình "lên đến bậc có máu mặt", có cái lưng vốn kha khá "có gần mẫu ruộng và nửa con trâu". Khi đã ngoài năm mươi tuổi, ông cũng không được khoẻ, bà thì đã hết sữa nên đã "tự hưu trí" để cùng trông nom nhà cửa ruộng nương. Nhờ trời mấy năm được mùa liên tiếp, thóc lúa đủ ăn từ vụ nọ đến vụ kia, trong chuồng lúc nào cũng có lợn lớn. Vợ chồng ông Lũy thật chẳng mong gì hơn thế "trong các hạnh phúc của loài người" mà mình đã cầm tay! Tác giả thuở ấy chỉ là một nho sinh đến ở trọ gần nhà ông Lũy thế mà trong lễ ăn khao, ông đã sai người nhà mời đến ba lần. Khi được mừng một đồng bạc, ông Lũy "ra ý không thích" vì ông chỉ muốn mua đôi liễn nhờ nhà nho "viết chữ vào cho". Chi tiết ấy đã thể hiện ông Lũy là một con người rất tình nghĩa "thật thà chăm chỉ". Trong tập thơ "Dòng nước ngược" xuất bản trong thời Pháp thuộc, Tú Mỡ châm biếm viết: "Phá đình đi! Phá đình đi! Còn đình hủ tục còn đi hại nhiều!" Trong bài phóng sự “ Góc chiếu giữa đình", Ngô Tất Tố cũng đã viết: "… nếu như làng ổng không có cái đình". Đó là cái đình làng Đ.Tr. nơi quê hương bản quán của ông Lũy. Thật ra cái đình chẳng có cái tội tình gì, nó chẳng phải là "thủ phạm" gây ra mọi đau khổ cho vợ chồng ông Lũy sau này. Trên đất nước ta, từ Bắc vào Nam, nhiều làng xã có cái đình rất to, rất đẹp, được xây dựng đã mấy trăm năm, là niềm tự hào chính đáng của bao thế hệ dân làng như ở Đình Bảng (Bắc Ninh), Đường Lâm (Sơn Tây), Ngũ Xã (Hà Nội), Thổ Tang (Phúc Yên), v.v… Ngô Tất Tố đã vạch mặt chỉ tên bọn lí dịch làng Đ.Tr. là những kẻ đã bày vẽ ra bao thứ lệ làng, đã duy trì mọi hủ lục trong "cái làng xôi thịt". Mọi cuộc mua bán chức tước như lí trưởng, phó lí, lí lân, lí cựu, ông xã, ông nhiêu… đều do chúng làm đầu trò. Cái tôn ti trật tự ngôi thứ trên mảnh chiếu đình trung như chiếu phẩm hàm, chiếu chức dịch, chiếu bạch đinh, cái tâm lí "một miếng giữa làng hơn sàng xó bếp", v.v… cũng do chúng cài đặt, duy trì! Những người nông dân chân lấm tay bùn chất phác, dốt nát như vợ chồng ông Lũy đã trở thành nạn nhân của những cái trò ấy, của những hủ tục "mua danh bán tước" và ăn khao theo lệ làng ấy! Ông Lũy như con cò hiền lành lâm nạn, bị sập bẫy của bọn lí dịch làng Đ.Tr. giương lên. Vốn biết ông Lũy "rất lấy làm bất mãn" về thân phận bạch đinh đầu chày đít thớt thấp hèn của mình, chúng đã gọi ông ra giữa đình bán cho ông cái chức lí cựu lấy một trăm bạc chi tiêu vào công việc tu bổ ngôi đình bị dột mấy chỗ. Khi ông Lũy phân vân về cái của "không tăn mù cựu" sẽ không được ai quý trọng thì họ "nói rất bùi tai": chỉ mất trăm bạc mà được ngồi ngang hàng với lí trưởng, phó lí, với các chức dịch trong làng, được "ăn biếu ăn xén"… Khi nghe chồng bàn có nên mua chức lí cựu hay không, thì vợ ông "cũng muốn được làm bà Cựu, nên cũng khuyên ông cố lo". Ngô Tất Tô đã phản ánh rất chân thật cái tâm lí hám danh phận của người nhà quê. Bị đè đầu cưỡi cổ, bị nhấn chìm trong vòng tăm tối u mê bởi chính sách ngu dân của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, nên số đông trong bọn họ ai cũng muốn "có chút danh phận" được làm ông nọ, bà kia, dù chỉ là “ ông Cựu", "bà Cựu" như vợ chồng ông Luỹ! "Chốn đình trung ngất nghểu rung đùi Cũng má lợn cũng đầu gà mấy ai được?" Mua được chức "lí cựu" rồi lại còn phải tổ chức ăn khao. "Vô vọng bất thành quan!" đã trở thành điều nhắc nhở. Ông Luỹ muốn hoãn đến tháng mười có lúa gạo đỡ phải vay mượn nhưng bọn hương lí không nghe, vì "để lâu không tiện dân làng đã vậy còn qủy thần". Vợ ông thì chỉ muốn tổ chức ăn theo “ cho đủ lệ", không mời khách khứa nào cả! Với ông Luỹ thì "cái áo còn lo được, huống chi cái dải" nên tổ chức ăn khao phải làm "thật linh đình", không thể "xử cách nhom nhem được". Vì ông đã "làm bậc lí cựu" trong làng rồi cơ mà! Đâu phải hạng bạch đinh "bố cu bố đĩ" nữa! Cỗ bàn linh đình, chè chén lu bù… đã trở thành một thói quen, một hủ tục ở chốn hương ẩm. Được cái cửu phẩm, ăn khao. Chạy được triện đồng lí trưởng, chánh tổng, ăn khao. Nghị Quế, nghị Lại, nghị Hách… đã ăn khao thì lí Toét, lí cựu, cậu cai, tuỳ phái, v.v… cũng ăn khao. Ăn khao để dân làng và bà con hả dạ, để thành hoàng, quỷ thần chứng giám cho! Vợ chồng ông Luỹ như bị cuốn vào mê hồn trận. Nhà tranh bốn gian một chái sao chứa được hàng trăm khách? Phải dựng rạp số người kéo đến"giúp đáp" thật đông. Thôi thì "Mẹ nào con ấy, chị nào em nấy, người ta kéo vào từng lũ". Phải giết con lợn bảy yến, dọn năm chục cỗ, chỉ ăn một lượt trong buổi chiều là hết! Sáng hôm sau lại mổ tiếp ba con lợn nữa: hai con để họ hàng ăn cơm uống rượu, một con để đem lễ thờ, rồi biếu dân làng. Còn khách hàng tổng, các lão và lư văn, hết toán nọ đến toán kia lũ lượt kéo đến, phải giết thêm "vài ba con nữa" mới đủ! Ông "Cựu mời" không thể xử cách "nhom nhem" được. Mang tiếng chết! Một quang cảnh bày ra giữa thanh thiên bạch nhật đến hai, ba ngày. Tiếng lợn kêu eng éc. Bát đĩa mâm nồi la liệt bày ra khắp mật đất từ cổng trở vào. Trong rạp lúc nào cũng đông nghịt những người. Có ba bàn tổ tôm và bốn bàn thuốc phiện đủ mặt bọn kì dịch. Ông Luỹ lúc thì "tất bật", lúc thì "lơi lả" chào mời khách khứa. Có lẽ ông "lí Cựu" vô cùng sung sướng khi được đứng trên đỉnh cao danh vọng! Tác giả “Việc làng" hạ một câu: "Cuộc linh đình còn mãi đến sáng hôm sau". Đó là cả một nỗi niềm thương cảm của tác giả đối với vợ chồng ông Lũy. Năm ngày sau cuộc ăn khao, tác giả gặp bà cựu cắp nón đi ra cổng làng, với một dáng điệu không vui. Bà Lũy còn đâu sữa nữa nên phải đi làm vú già! Cái cơ ngơi chắt bóp suốt mười lăm năm trời đã tan biến. Cái giá mua chức lí cựu và cuộc ăn khao đâu có rẻ: "gần mẫu ruộng và nửa con trâu đã bán hểt cả, lại còn nợ thêm hơn bảy chục đồng". "Góc chiếu giữa đình" là một bài phóng sự đặc sắc. Sự việc được kể lại một cách chi tiết, cụ thể, sinh động. Cuộc mua bán cái chức lí cựu, cuộc ăn khao được miêu tả chân thực, khiến độc giả cảm thấy như mình được mục kích, được tham dự. Ngô Tất Tố đã để lại sự việc và con người trong cuộc châm biếm hủ tục, vạch mặt chỉ tên bọn chức dịch trong cái làng "xôi thịt" ngày xưa chính là bọn đầu trò chủ mưu dùng quỷ thần trong cuộc mua bán rượu chè nhậu nhẹt, tổ tôm, thuốc phiện. Hủ tục và bọn lí dịch đã xô đẩy bao người dân lương thiện vào vòng tù tội, khuynh gia bại sản, sa cơ, tha phương cầu thực thật thương tâm. Phóng sự "Góc chiếu giữa đình" giàu giá trị tố cáo hiện thực. Hủ tục nơi làng xã là một mảng đen tối, tù đọng của cái xã hội thực dân nửa phong kiến mà tác giả muốn bày tỏ: hãy xoá bỏ đi! Sống trong xã hội mới, nếp sống văn hoá mới, đọc việc làng chúng ta xúc động trước những lời tâm huyết và vốn sống vô cùng phong phú của Ngô Tất Tố".
Phân tích bài phóng sự Góc chiếu giữa đình của Ngô Tất Tố
1,639
Đề bài: Phân tích bài Sông núi nước Nam. (Ngữ văn 7) Bài làm Cùng với tinh thần nhân đạo thì yêu nước là chủ đề lớn của nền văn học Việt Nam. Nam quốc sơn hà là một trong những áng văn chương kiệt tác của văn học thời Lí – Trần. Nó là tác phẩm kết tinh được hào khí thời đại, cảm xúc của muôn trái tim, vì thế, nó tiêu biểu cho tinh thần độc lập, khí phách anh hùng và khát vọng lớn lao của dân tộc trong buổi đầu xây dựng một quốc gia phong kiến độc lập. Bài thơ để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc. Sông núi nước Nam là một bài thơ chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Nguyên tắc như sau: Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Dịch thành: Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng bay nhất định phải tan vỡ. (Theo Lê Thước – Nam Trân dịch) Nam Quốc Sơn Hà – Lý Thường Kiệt Tương truyền rằng, trong cuộc kháng chiến chống Tống đời nhà Lí, một đêm tối trên phòng tuyến Như Nguyệt, từ trong đền thờ hai thần Trương Hồng và Trương Hát (hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt), bài thơ đã ngân vang lên (Vì thế người ta gọi bài thơ này là thơ thần). Nhưng dù là do thần linh hay con người đọc lên thì bài thơ vẫn là khát vọng và khí phách Đại Việt. Nam quốc sơn hà Nam đế cư Câu thơ 7 tiếng tạo thành hai vế đối xứng nhau nhịp nhàng: Nam quốc sơn hà – Nam đế cư. Đặc biệt, cách dùng chữ của tác giả bài thư thể hiện rất “đắt” ý tưởng và cảm xúc thơ. Hai từ Nam quốc và Nam đế có thể coi là nhãn tự (mắt thần) của câu thơ và của cả bài thơ. Trong tư tưởng của bọn cầm quyền phong kiến Trung Quốc xưa nay-chỉ có Bắc đế, chứ không thế có Nam đế hoàng đế Trung Hoa là vị hoàng đế duy nhất của thiên hạ, thay trời trị vì thiên hạ. Trở lại với nội dung tư tưởng bao hàm qua ngôn từ của câu thơ. Nam quốc không chỉ có nghĩa là nước Nam, mà Nam quốc còn là vị thế của nước Nam ta, đất nước ấy dù nhỏ bé nhưng tồn tại độc lập, sánh vai ngang hàng với một cường quốc lớn ở phương Bắc như Trung Quốc. Hơn nữa, đất nước ấy lại có chủ quyền, có một vị hoàng đế (Nam đế). Vị hoàng đế nước Nam cũng có uy quyền không kém gì các hoàng đế Trung Hoa, cũng là một bậc đế vương, do đấng tối cao phong tước, chia cho quyền cai quản một vùng đất riêng mà lập nên giang sơn xã tắc của mình: Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là sự thật hiển nhiên. Không ai có quyền phủ định? Bởi sự phân định núi sông, bờ cõi đâu phải là ý muốn chủ quan của một người hay một số người, mà do “Trời” định đoạt. Bản đồ ranh giới lãnh thổ của các quốc gia đã in dấu ấn trong sách trời: Ai có thể thay đổi được? Tác giả bài thơ đã đưa ra những lí lẽ thật xác đáng. Qua cách lập luận, nổi lên một quan niệm, một chân lí thiêng liêng và cao cả: chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt. Vẫn những lí lẽ đanh thép ấy, tác giả khẳng định tiếp: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Thật là một khí phách kiên cường! Thay mặt cả dân tộc, nhà thơ đã lớn tiếng cảnh cáo bọn giặc xâm lược: Chúng bay phạm vào bờ cõi này, tức là chúng bay đã phạm vào sách trời; mà phạm vào sách trời, tức là làm trái với đạo lí trở thành kẻ đại nghịch vô đạo (nghịch lỗ), lẽ nào Trời đất dung tha. Mặt khác chúng bay phạm vào bờ cõi này tức là phạm vào chủ quyền thiêng liêng của một dân tộc, nhất là dân tộc đó lại là một dân tộc có bản lĩnh kiên cường, có ý chí độc lập mạnh mẽ, vậy thì, sự thất bại sẽ là điều không thể tránh khỏi, thậm chí còn bị đánh cho tơi bời thủ bại hư.
Phân tích bài Sông núi nước Nam
791
Đề bài: Phân tích bài Thu hứng của Đỗ Phủ để thấy cảnh và tình của tác phẩm Bài làm Thu hứng (bài số 1) của Đỗ Phủ là một bài thơ tiêu biểu, hết sức thâm thúy, hàm súc, kín đáo. Trong bài thơ tâm và cảnh, thi và họa, động và tĩnh, trộn lẫn, lắm lúc khó lòng phân biệt. Có thể tạm chia bài thơ làm hai phần với bốn câu đầu là Cảnh thu và bốn câu sau là Nỗi lòng nhà thơ. Cách phân chia như vậy phù hợp về lô-gích hình thức nhưng chưa thực xâm nhập vào chiều sâu quan hệ biện chứng giữa hai phần cùa bài thơ. Chúng ta biết rằng đặc trưng của thơ cổ nói chung, thơ Đường nói riêng là cái nhìn đồng nhất con người và vũ trụ (“Thiên nhân tương đồng”). Cái “tôi” (tiểu ngã) chỉ là một phần của cái “ta” vũ trụ (đại ngã). Do đó, các nhà thơ cổ nói “cảnh” cũng là đế nói “tâm”, nói “tâm” thường thông qua vẽ “cảnh”. Các nhà thơ Trung Hoa xưa thường nhắc đến mối quan hệ này. Đó là “Tâm nhập vào cảnh” (Vương Xương Linh) “Lòng nhập vào cảnh” “Tình dĩ cảnh hội” (Yên Hoàng Đạo) “Tình bất gặp cảnh”, “Cảnh dĩ tình hợp”, “Tình dĩ cảnh sinh” (Vương Phu Phi). Ngay bốn câu đầu, qua những nét bút chấm phá về cảnh đã toát lên góc nhìn đầy tâm trạng của nhà thơ. Chỉ có điều, cảnh ở đây dường như được vẽ ra bằng những nét bút có phần rõ ràng, “khách quan” hơn so với bốn câu thơ sau. Bài thơ có thời gian: mùa thu; có (lịa điểm: Vu Sơn, Vu Giáp (thuộc thượng sông Trường Giang, vùng Quý Châu thuộc tình Tứ Xuyên). Cảnh ở đây cũng có phần được cá biệt hóa với màu sắc hùng vĩ, độc đáo: núi non hiểm trở, sóng bọt lưng trời, mây sa mặt đất. Cảnh vật hiện lên dần như trên một đoạn phim lướt vội. Ong kính hắt đầu từ rặng phong tiêu điều vói sương móc trắng xóa (Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm), (chữ “lác đác” trong bài dịch chưa thật sát với nghĩa nguyên tác), đến cảnh núi Vu và kèm vu hiu hắt, dần đến những đợt sóng bọt lên lưng trời giữa dòng sông rồi đứng lại ở những dám mây sa sẩm giáp mặt đất nơi cửa ải. Bốn câu thơ cũng làm ta nhớ đến những bức tranh thủy mặc với lối vẽ chấm phá tài tình. Cảnh vật hiện lên trong cái “thần”, cái “hồn” của nó. Nhưng sau bức tranh kia đã ấn giấu bao nhiêu tâm trạng. Tâm trạng áy trưởc hết thể hiện ở sự lựa chọn cảnh vật. Nhà thơ xưa không đặt nhiệm vụ khám phá đối tượng mình quan sát (dù bên trong hay bên ngoài) mà chi là sắp xếp, tỉa tót nó cho phù hợp với sự cảm nhận duy lí. Thơ cổ không phân biệt rạch ròi chủ thể và khách thể. Ngay nét chấm phá đầu tiên “Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm” đã mở ra hướng lựa chọn. Cảnh tượng móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng phong làm ta nhớ đến những rừng phong, cây phong khác trong thơ cổ. Cây phong trong thơ Đường như gắn với nỗi buồn, với chia li. Trong Tì bà hành (Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu), trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có “Rừng phong thu dã nhuốm màu quan san” đều hiu hắt trong raắt nàng Kiều. Những nét vẽ cảnh tiếp theo dường như càng tô đậm thêm cái nét hoang vắng, hiu hắt, buồn bã trong tâm hồn nhà thơ. Đành rằng cảnh vật ở đây cũng có nét hùng vĩ nhưng nét hùng vĩ không lấn át được vẻ buồn, tàn tạ, không làm tan cái buồn, hiu hát tràn từ núi đến rừng. Hai câu tiếp theo đối nhau về ý và lời, tạo nên cảnh đối nghịch trong bức tranh “Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng – Tái thượng phong vân tiếp địa âm” (Lưng trời sóng rợn lòng sông thám – Mặt đất mây đùn cửa ải xa) cho ta những ấn tượng trái ngược: Cảnh vừa dữ dội, hoành tráng lại vừa bức bối, bị vây hãm không thoát ra được. Đúng là bức “tâm cảnh” trong con mắt một kẻ xa quê, nhớ quê, lòng buồn trĩu nặng, đồng thời cũng bứt rứt, bức bối, không yên khi nhìn về quê nhà và trông ra thế sự. Kim Thánh Thân thật có lí khi bình rằng: “ngước mắt nhìn sông chì thấy sóng vọt ngất trời, mà đăm đăm trông lên ải, chỉ thây gió mây mịt mờ liền đất. Thực đúng đau tức, bi thương, khiến cho người ta lòng hết khí tuyệt”. Bốn câu sau, tác giả tiếp tục phát triển cảm xúc của mình. Ở đây thê hiện nỗi lòng trực tiếp hơn, cụ thể hơn nhưng vẫn thâm trầm, kín đáo. Cái nhìn duy lí đã trừu tượng hóa những sự vật cụ thể. Tác giả nói đến hoa cúc, đến con thuyền nhưng chúng là “tâm” hay là “cảnh”, thật lòng lòng phản biệt. “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ” (Khóm cúc nở hoa hai lần: những giọt lệ ngày trước) và “Cô chu nhất hệ cố viên tâm” (Con thuyền lẻ loi buột chặt tâm lòng nhớ vườn củ), ở đấy lời ít ý nhiều, không rõ hoa cúc nhỏ lệ hay thi nhân nhỏ lệ bên khóm cúc, không hiểu dây buộc thuyền hay dây thắt lòng người. Hồ Sĩ Hiệp cho rằng những câu thơ này có thể hiểu theo hai cách: “Cúc đã nở hoa hai lần và đã hai lần làm chảy dòng lệ cũ” hoặc có thể hiểu “Nhìn cúc nở mà tưởng như cúc đã nhỏ lệ”. Dù hiểu cách nào thì cũng thấy rằng ở đây “cánh” đã nhòa vào “tâm”, đã “hội” vào “tâm”. Tác giả đã đồng nhất: tình và cảnh, hiện tại và quá khứ (giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ quá khứ), sự vật và con người (sợi dây cụ thể và sợi dày lòng). So sánh với hoàn cảnh nhà thơ có thề’ hiểu Đỗ Phủ từ khi rời thành đô đến Quý Châu đã được hai năm, trải qua hai mùa thu. Dòng “lệ cũ” của nhà thơ không chỉ “tuôn” ra một lần mà đá nhiều lần rồi. Và đúng như có người nhận xét trong thơ ông già Thiếu Lăng đã lão hóa chốn thanh khốc, cảm thời hoa tiền lệ… Hai câu thơ kết của bài thơ này thật độc đáo, mở ra nhiều ý nghĩa. Trong thơ Đường, hai câu kết thường là tỏ lòng, nêu trực tiếp cảm xúc nhưng đây tác giả lại hướng nó về cảnh khách quan bên ngoài. Nhưng ờ đoạn đầu, cảnh khách quan là “tĩnh” thì ở đày lại “động”. Cảnh rộn ràng hơn trong không khí “rộn ràng dao thước để may áo rét’’ và âm thanh tiếng chày đập áo dồn dập về chiều trên thành Bạch Đế. Nhịp thơ dường như cũng nhanh hơn, gấp hơn. Thế nhưng, đó chỉ là ngoại cảnh, tấm lòng nhà thơ thì.chưa chắc đã có đổi thay. Bởi góc nhìn của nhà thơ vẫn là cái nhìn trong ánh chiều hắt hiu. Tiếng đập áo buổi chiều trên thành Bạch cao ấy (Thành Bạch chày vang bóng ác tà) dễ đưa người ta đến những liên tưởng buồn. Nó dường như cùng hòa vào “gam” nhạc buồn của tiếng đập áo đêm trăng của người chinh phụ nhớ chồng trong Đảo y thiên của Lí Bạch (Chiếc áo đêm trường đập bóng trăng), hay tiếng chày đập áo của người phụ nữ trong mùa thu trong thơ Bạch Cư Dị(Thu đến nhớ chồng đập lụa, gió trăng não lắm đá chày ơi) Tiếng chày ấy đang báo hiệu một mùa đông đến gần, mùa đông với một ( thiếu cơm, thiếu áo, không nhà, ở nhờ trên đất khách và tấm lòng thì luôn nặng trĩu nỗi lo và nỗi nhớ. Như vậy, trên cái nền của cảnh thu với rừng thu, khí thu, hoa thu, tiếng thu, nhà thơ đã hòa vào đó tâm trạng của chủ thể trữ tình, một tâm trạng đượm buồn, da diết, sầu thương, khắc khoải trong tình quê nặng và nỗi âu lo kín đáo về thế sự.
Phân tích bài Thu hứng của Đỗ Phủ để thấy cảnh và tình của tác phẩm
1,432
Đề bài: Phân tích bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến Bài làm Nguyễn Khuỵến nổi tiếng với chùm thơ ba bài viết về mùa thu Thu vịnh, Thuđiếu, Thu ẩm. Có lẽ Nguyễn Khuyến đã viết theo lối “chùm ba” của Đỗ Phủ – đại thi hào Trung Quốc này nổi tiếng với “Tam biệt”, “Tam lại”…). Theo nhận xét của Xuân Diệu thì trong ba bài thơ mùa thu của Nguyễn Khuyên, bài thơ Thu vịnh mang cái hồn cua cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Thu vịnh mang cái thần của cảnh mùa thu xứ Bắc và cả tâm sự u uẩn của thi nhân: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao. Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tảng khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Bức tranh vẽ mùa thu được tác giả phác họa với không gian thoáng đãng. Nến trời chấm phá một nét nhẹ, mềm của cảnh trúc: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Mùa thu của xứ Bắc có bầu trời cao xanh trong đã hiện lên trong thơ Nguyễn Khuyến là “trời thu xanh ngắt”. Màu sắc ấy là màu của trời thu mà cũng là cái tình tha thiết của thi nhân đối với mùa thu, đối với quê hương lang cảnh. Không gian mở ra thăm thẳm “mấy tầng cao”, một cần trúc (trúc chứ không phải là tre) vươn lên trên nền trời thu “xanh ngắt”. Nét cong mềm của “cần trúc” vươn lên một cách thanh cao, không ủy mị như rặng liễu đìu hiu buông xuống trong thơ mùa thu của Xuân Diệu. Từ láy “lơ phơ” gợi tả vẻ thưa thớt của những lá trúc lay động bởi gió heo may mùa thu. Từ láy "hát hiu” gợi được sự rung động của cành trúc, hay là sự rung động của tâm hồn thi nhân trước cảnh thu, trời thu đượm buồn? Phân tích bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến Bức tranh mùa thu trong Thu vịnh cứ được thêm hòa sắc mới, đường nét, hình ảnh mới: Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào Hình ảnh mùa thu được pha thêm màu “nước biếc", thêm một sắc xanh tha thiết nữa, màu của áo thu trong xanh, với “khói phủ” nhạt nhòa. “Khói” dãy gợi nhứ “khói sóng" trong thơ Thối Hiệu “Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai. Cảnh đêm thu thật là huyền diệu. Lại thêm có trăng. Thi nhân mở ra đón trăng “Song thưa để mặc bóng trăng vào". Trong đêm thu thanh tĩnh, trăng là người bạn tri kỉ của thi nhân. Có ánh trăng thu, bức tranh mùa thu trong thơ thêm sáng. Mọi vật trong đêm thu được pha thêm ánh trăng huyền ảo, mộng mơ. Cảnh thu thêm huyền hoặc, từ màu hoa cho đến tiếng chim: Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào? Hoa mùa thu không đổi, không có sắc màu vì khói phủ nhạt nhòa hay nhà thơ mất hết ý niệm về thời gian? “Mấy chùm trước giậu" làm sao biết được đó là hoa gì, màu sắc như thế nào. Chỉ biết đó là “hoa năm ngoái”. Tứ thơ của Nguyễn Khuyến còn trừu tượng hơn, ở đây chẳng có hoa đào, hoa cúc gì cả. Hình ảnh “hoa năm ngoái” thể hiện thời gian ngưng đọng, tâm trạng bất biến của thi nhân. Câu thơ thể hiện một nỗi buồn man mác. Âm thanh mùa thu là một tiếng ngỗng trời xa lạ “ngỗng nước nào”. Tiếng ngỗng trời lạnh cả không gian mùa thu đã làm thổn thức nỗi lòng của thi nhân. Đêm thu huyền diệu dã gợi cảm hứng cho nhà thơ. Thi hứng cũng chợt đến trong nỗi niềm u uẩn của thi nhân: Nhân hứng cũng vừa toan cất bút. Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào. Trước cảnh thu huyền diệu, nhà thơ đã bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của mình. Theo quan điểm của Nguyễn Khuyến mà cũng là quan điểm của các nhà thơ chân chính, thơ gắn liền với nhân cách, nhân cách lớn thì thơ lớn. Rung động trước mùa thu, cất bút định làm thơ, Nguyễn Khuyến cảm thấy “thẹn với ông Đào”. Ông Đào ở đây tức là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh), một nhà thơ nổi tiếng ở Trung Quốc thời Lục Triều. Ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan, rồi chán ghét cảnh quan trường thối nát đã treo ấn từ quan, lui về ẩn dật và có bài Qui khứ lai từ rất nổi tiếng. Sao cụ Nguyễn lại “thẹn” với ông Đào? Thái độ này chưa từng thấy đối với các thi nhân cổ kim. về khoa bảng, ông Đào đỗ tiến sĩ, cụ Nguyễn cũng đỗ tiến sĩ, cụ Nguyỗn lại còn có Tam Nguyên, người đời gọi cụ là Tam Nguyên Yên Đổ. Về tài học, thơ của Nguyễn Khuyến kém gì thơ Đào Uyên Minh? Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ cổ điển lớn nhất của nước nhà được Xuân Diệu phong là “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam" và hết lời ngợi ca. Có lẽ cụ Nguyễn “thẹn với ông Đào'' là về khí tiết. Cụ Nguyễn thiếu cái dũng khí của ông Đào, người đã tư quan một cách dứt khoat, trở thành một nhân vật lừng danh về khí tiết trong giới quan trường Trung Hoa. Còn Nguyễn Khuyến thì lúng túng khi ra làm quan (thời đó ra làm quan tránh sao khỏi là tay sai của giặc Pháp) và lừng khừng khi đồng cảm cùa người đời. Đã về ẩn dật rồi, cụ Nguyễn vẫn còn chưa nguôi ân hận về những năm tham gia guồng máy chính quyền thối nát tàn bạo thời bấy giờ. Câu thơ của một tấm lòng chân thực là nỗi niỏm u uẩn của một nhân cách lớn, của một nhà thơ lớn. Thu vịnh là một bài thơ hay viết về mùa thu cua Nguyễn Khuyến. Bức tranh mùa thu với màu sắc thanh đạm, đường nét uyển chuyển, không gian cao rộng, cảnh vật huyền ảo dưới ánh nắng trắng trong thể hiện nỗi lòng tha thiết của nhà thơ đối với quê hương đất nước. Nhân vẻ đẹp của đêm thu. Nhà thơ cũng bộc bạch tâm sự sâu kín, chân thật của mình hết sức cảm động. Thiên nhiên mùa thu của quê hương làng cảnh Việt Nam, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến đẹp một cách thanh cao, gợi cảm, hồn hậu, khiến chúng ta càng thêm yêu, thêm quí quê hương đất nước của mình.
Phân tích bài Thu vịnh của Nguyễn Khuyến
1,144
Phân tích bài Thuật hoài (Tỏ lòng) để thấy nỗi lòng yêu nước thiết tha của Phạm Ngũ lão Hướng dẫn Nỗi lòng yêu nước thiết tha của vị dũng tướng Phạm Ngũ Lão Phạm Ngũ Lão là một trong những danh tướng lập nhiều chiến công hiển hách nhất của nhà Trần. Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Tiếc là hiện nay tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ lòng) và Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương). Tỏ lòng là bài thơ ngắn gọn, đạt đến độ súc tích cao, khắc họa đậm nét vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lý tưởng, có nhân cách cao cả cùng khí thế hào hùng của thời đại. Phiên âm: Thuật hoài Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. Dịch nghĩa: Tỏ lòng Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu, Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng át cả sao Ngưu Thân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh, Thì luống thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu. Bản dịch thơ: Tỏ lòng Múa giáo non sông trải mấy thu Ba quân hùng khí át sao Ngưu Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. (Bùi Văn Nguyên dịch) Mở đầu bài thơ, tác giả đã dựng lên bức tượng đài của người anh hùng với tư thế hiên ngang, tầm vc lớn lao, kì vĩ ngang tầm vũ trụ: Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu (Múa giáo non sông trải mấy thu Ba quân hùng khí át sao Ngưu) Con người ấy bao năm sừng sững với đất trời, tư thế như lấn át cả không gian bao la. Hình ảnh ba quân cũng được xây dựng tương xứng với tư thế của người dũng tướng. Khí thế ba quân như muốn nuốt sao ngưu, vang dạy trời đất. Hai câu thơ vẽ ra trước mắt người đọc một đội quân hùng mạnh, khí thế ngút trời xanh, sẵn sàng tiêu diệt mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ giang sơn bờ cõi. Dù đã dẹp yên giặc dữ, đất nước đã vẹn toàn, muôn dân no ấm, khắp nơi ca vang bài ca thái bình thịnh trị ca ngợi công đức của các bậc thánh minh thế nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn chưa thể yên lòng: Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. (Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu) Phạm ngũ Lão cho rằng chiến công của mình vẫn chưa xứng đáng với cuộc đời làm trai. Ông muốn được làm nên nhiều kì tích hơn nữa. Thế nên, mỗi khi nghe chuyện kể về Gia Cát Tiên sinh (một mưu sĩ, một nhà quân sự tài ba thời Tam Quốc) ông cảm thấy hổ thẹn vì chưa bằng. Đó là nỗi thẹn cao quý của một vị dũng tướng đã hết lòng vì nước vì dân nguyện đem tinh thần và sức lực phụng sự cho đất nước. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão là nỗi thẹn của một người khát khao được cống hiến, được chiến đấu nhưng hiện tại không còn có cơ hội nào. Ước mơ trở nên vĩ đại hơn càng làm cho ông trở nên phi thường. Hình ảnh Phạm Ngũ Lão khẳng định mạnh mẽ tư tưởng sống của người nam nhi xưa, luôn khao khát lập công danh, làm rạng rỡ nước nhà, gia tộc. Nói về nợ công danh, Nguyễn Công Trứ có lần bày tỏ: “Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc. Nợ tang bồng vay trả, trả vay. Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây, Cho phỉ sức vẩy vùng trong bốn bể”. Làm nên công trạng hiển hách không những là lợi ích mà còn là bổn phận của người làm trai đối với đất nước. Đã là nam nhi mà không có danh gì, sống nhu nhược, bất tài thì quả là một nỗi nhục lớn: Phải có danh gì với núi sông”. Nhiều lúc, Nguyễn Công Trứ đã đi vào chỗ quyết liệt như lời thề sinh tử: “Không công danh thà nát với cỏ cây”. Như vậy, có thể thấy, công danh là một khái niệm có hàm nghĩa khá rộng, đó là những cống hiến xứng đáng được ghi nhận của con người đối với giang sơn, đất nước, đối với con người. Nó cũng không có biên kiến hay giwois hạn nào cả. Bởi thế, Phạm Ngũ Lão lúc nào cũng muốn có được nhiề chiến công hơn nữa, quyết đêm toàn bộ tinh thần và sức lực mình dâng hiến cho cược đời. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là nỗi thẹn chung của các tướng sĩ, lúc nào cũng muốn lập công để lại tiếng thơm muôn đời. Ý chí ấy chính là ý chí của thời đại Đông A, một thời kì rực rỡ và hào hùng bậc nhất trong lịch sử dân tộc ta. Bài thơ kết thúc trong tư thế cao vời, con người to lớn mà khí thế cũng vút tận mây cao. Ngôn ngữ ngắn gọn, súc tích nhưng bút pháp có tính hoành tráng, đạt đến sắc màu sử thi, thể hiện kì vĩ tư thế con người chiến thắng mang tâm vóc ngang tầm vũ trụ. Đó cũng là một khúc ca đầy tự hào vang vọng giữa đất trời cho đến nghìn thu.
Phân tích bài Thuật hoài (Tỏ lòng) để thấy nỗi lòng yêu nước thiết tha của Phạm Ngũ lão
932
Phân tích bài Thuế Máu của Nguyễn Ái Quốc Hướng dẫn Mục này viết cụ thể hơn về việc những người dân bản xứ đã đóng thuế máu như thế nào. Tác giả viết: “Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi…” Đây cũng là thủ pháp mà tác giả đã sử dụng nhiều lần trong nhiều tác phẩm khác nhau, về ý nghĩa, nó tạo ra cảm giác về sự khách quan: không phải tôi cố ý tìm hiểu để lẽn án các quan cai trị nhà ta. Đây là tin tức hoàn toàn tình cờ, do một người hạn đưa đến, nó chính xác hay không thì tuỳ các vị hãy tự tìm hiểu lấy… Những người Pháp vốn ưa sự hài hước, đọc đến đoạn này thì hẳn phải bật cười: cái anh nhà báo này láu lỉnh thật. Thử đọc xem anh ta viết như thế nào… Và như thế, tác phẩm đã được bạn đọc tiếp nhận một cách thoải mái. Đằng sau cái giọng diệu hài hước, vui vui ấy là một vấn đề cũng khá hấp dẫn: chế độ lính tình nguyện, hệ quả của chương trình lùng bắt “những vật liệu biết nói”. Đây là những từ ngữ của các quan cai trị ám chỉ những người dân bản xứ bị buộc phải đi làm lính đánh thuê và chương trình lùng bắt họ cho kì được. Thật mỉa mai khi đặt hai cụm từ đó gần nhau. “Chế độ lính tình nguyện”, cái tên đẹp đẽ, dầy vẻ cống hiến đó là cách nói mà chính quyền thực dân dùng để loè dư luận tiến bộ. Nhưng khi nói với nhau, chúng không ngần ngại gọi những người bản xứ ấy là “những vật liệu biết nói”, tức là họ không hề được coi là những con người, chỉ là những vật liệu đặc biệt phục vụ cho chiến tranh mà thôi. Bằng chứng là loại vật liệu này “đã không đưa lại kết quả tương xứng với chi phí rất lớn về chuyên chở và bảo quản”. Đọc lên đủ thấy các quan cai trị “phụ mẫu chi dân” coi trọng những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của mình đến mức nào. Đó là ở “mẫu quốc”, còn ở các xứ thuộc địa, những người trai tráng đã “tình nguyện” đóng thuế máu như thế nào? Tác giả đã không ngần ngại vạch ra sự thật: không có một cuộc vận động tuyên truyền nào về cái gọi là “tình nguyện” cả. Các viên công sứ chỉ cần ra lệnh cho quan lại dưới quyền, hạn ngày nộp, hạn số lượng, không cần biết cấp dưới sẽ huy động bằng cách nào, cũng không cần biết điều gì sẽ xảy ra với những người dân nghèo sau cuộc “tình nguyện” này. Các quan chẳng lo gì không đủ số, bởi đây là cơ hội tuyệt diệu để các quan lại địa phương kiếm chác trên xương máu chính đồng bào của mình. “Thoạt tiên, chúng tóm những người khoẻ mạnh, nghèo khổ…”. Điều này có vô số cái lợi: những người nghèo khổ thì làm gì có tiền mà chạy chọt, vậy là dĩ nhiên phải chấp nhận con đường duy nhất: đi lính tình nguyện. Mà những người nghèo khổ trong xã hội lúc bấy giờ thì có vô vàn. Các quan lại địa phương không lo gì chuyện không đủ quân số’ để có dịp tâng công với quan thầy, bởi thế nên ai cũng trở nên mẫn cán. Lo xong về số quân, bắt đầu đến việc kiếm chác. Chúng nhắm những nhà có của, bắt họ chọn một trong hai con đường: hoặc là đi làm lính tình nguyện, hoặc là xi tiền ra. Chẳng ai muốn con em mình đi làm bia đỡ đạn, vậy nên trừ những người nghèo khổ không thể đút lót, số còn lại cũng đành đưa tiền cho chúng để thoát nạn. Vậy là “chế độ lính tình nguyện” không chỉ đỡ cho mẫu quốc bao nhiêu xương máu mà còn giúp cho quan lại địa phương có được một dịp làm giàu. Người chịu thiệt duy nhất chỉ là những đám dân đen. Họ không những phải chịu SƯU cao thuế nặng mà còn bị hai tầng áp bức, bóc lột. Tác giả không bình luận thêm một câu nào nhưng trước hiện thực ấy, ai cũng có thể thấy những người dân bản xứ cùng cực đến mức nào bỏi “chế độ lính tình nguyện” này. Một điểm đáng lưu ý trong mục này là khi nói về các quan lại địa phương, tác giả chỉ sử dụng một đại từ duy nhất: chúng. Đây là cách tác giả bày tỏ trực tiếp thái độ phẫn nộ của mình. Không thể nói hết sự độc ác, tàn bạo của chế độ thực dân nhưng dù sao những tên quan lại thực dân ấy cũng là những kẻ khác máu tanh lòng. Còn đối với những kẻ vô lương tâm, làm giàu trên chính xương máu của đồng bào mình thì chỉ có thể gọi bằng một đại từ duy nhất để trút lên đầu chúng tất cả sự căm giận, ghê tởm. Tiếp theo, tác giả lại chĩa mũi tấn công vào đám quan lại thực dân. Ai cũng thừa biết rằng cái gọi là “tình nguyện” ấy chỉ là giả tạo, vậy mà với giọng lưỡi điêu trá, chúng vẫn không ngượng mồm khi tuôn ra những lời phỉnh phờ: “các ban đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại…”. Điều này có thể không có nghĩa gì với những người bị buộc phải đi lính nhưng với giọng điệu như vậy, chúng có thể che giấu được sự thật trước nhân dân Pháp, trước công luận tiến bộ toàn bộ thế giới. Một lần nữa, Người lại phải dùng lập luận để đập tan luận điệu bịp bợm này. Chỉ qua một đoạn miêu tả cách đối xử của thực dân Pháp đối với “lính tình nguyện”, Người đã giúp công luận nhận thức dược sự thật. Phân tích bài Thuế máu trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc: Bản án chế độ thực dân Pháp của lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Pa-ri năm 1925 và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1946. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục có tựa đề Gửi thanh niên Việt Nam, nội dung tố cáo và kết án tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đồng thời phản ánh tình cảnh tủi nhục khốn cùng của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới. Từ đó, bước đầu tác giả vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn để các dân tộc tự giải phóng, giành quyền độc lập. Sự ra đời của Bản án chế độ thực dân Pháp đã giáng một đòn tiến công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân ngay tại sào huyệt của chúng và chỉ ra con đường cách mạng cùng tương lai tươi sáng cho các dân tộc bị áp bức. Đầu thế kỉ XX, một số nước lớn ở châu Âu thi nhau xâm chiếm thuộc địa ở nhiều nơi trên thế giới để vơ vệt của cải và nhân lực. Chính sách cai trị của chế độ thực dân rất hà khắc, dã man nên cuộc sống nhân dân thuộc địa vô cùng cực khổ. Làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi dâng lên ngày càng mạnh mẽ. Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) mà Nguyễn Ái Quốc mỉa mai gọi là cuộc chiến tranh vui tươi thực chất là cuộc xung đột ác liệt giữa các đế quốc để tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi. Nó đẩy nhân dân lao động ở các nước tư bản và dân chúng nghèo khổ ở thuộc địa vào lò lửa chiến tranh thảm khốc. Bản án chế độ thực dận Pháp là tác phẩm được Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian và công sức để hoàn thành. Mỗi chương của tác phẩm viết về một chủ đề và tất cả hợp thành bản cáo trạng phong phú, đanh thép về tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân, về cuộc sống khốn cùng của người dân các xứ thuộc địa. Với thiên phóng sự điều tra này, lần đầu tiên trên thế giới, chế độ thực dân bị lên án một cách toàn diện, cụ thể, chính xác và có hệ thống. Bản án chế độ thực dân Pháp thể hiện lòng căm thù mãnh liệt những thế lực thống trị tàn bạo, đồng thời bày tỏ tình yêu thương thắm thiết những kiếp người nô lệ nghèo khổ, phản ánh ý chí chiến đấu giành độc lập, tự do cho các dân tộc thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc. Đồng thời tác phẩm cũng thể hiện tài năng văn chương của tác giả qua nghệ thuật trào phúng, đả kích sắc sảo. Thuế máu là chương đầu tiên của Bản án chế độ thực dân Pháp, ở chương này, tác giả tập trung vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa và các thủ đoạn tàn bạo của thực dân Pháp trong việc dùng người dân thuộc địa làm vật hi sinh trong các cuộc chiến tranh thảm khốc để mang lại quyền lợi cho nước Pháp. Lợi dụng xương máu của những con người nghèo khổ để làm giàu, đó là một trong những tội ác ghê tởm nhất của chủ nghĩa thực dân. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất xấu xa ấy bằng những lập luận chặt chẽ và tư liệu phong phú, xác thực, nhiều hình ảnh giàu giá trị biểu cảm. Giọng điệu chung của bài văn là vừa kết án đanh thép vừa mỉa mai chua chát, vừa thông cảm, xót thương. Cái tên Thuế máu bao hàm nhiều ý nghĩa. Nó gợi lên số phận bi thảm của người dân thuộc địa, đồng thời biểu lộ thái độ căm phẫn trước tội ác ghê tởm của chính quyền thực dân. Người dân thuộc địa phải gánh chịu nhiều thứ thuế bất công, vô lí, song có lẽ một trong những thứ thuế tàn ác, dã man nhất là thứ thuế thu bằng xương máu và tính mạng của họ. Trình tự và cách đặt tên các phần trong chương Thuế máu cũng hàm ý bóc trần các chính sách lừa bịp để bóc lột người dân thuộc địa đến tận xương tủy của chính quyền thực dân cai trị. Từ Chiến tranh và người bản xứ đến Chế độ lính tình nguyện rồi Kết quả của sự hi sinh, qua các phần tiếp nối nhau như thế, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước phơi bày bản chất “ăn thịt người” của bè lũ thực dân. Phần một: Chiến tranh và người bản xứ. Ở phần này, tác giả nêu bật sự đối lập trong thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm: trước khi xảy ra chiến tranh và khi chiến tranh vừa bùng nổ. Trước chiến tranh, người dân thuộc địa bị bọn thực dân cai trị coi là giống người hạ đẳng, ngang hàng với súc vật: … họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-nam-mít" bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, bọn thực dân cần lính, cần người tham gia chiến tranh thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền" của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”. Tác giả đưa ra hai thái độ trái ngược hoàn toàn ấy nhằm tố cáo thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền thực dân trong việc biến dân thuộc địa thành vật hi sinh. Luận điệu bịp bợm trơ trẽn của chúng được Nguyễn Ái Quốc nhắc lại với dụng ý châm biếm và đả kích sâu cay. Số phận bi thảm của người dân thuộc địa trong cuộc chiến tranh phi nghĩa được tác giả miêu tả rất cụ thể: … họ phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu. Tác giả đã kể ra bao cái chết thảm thương của người lính thuộc địa trên khắp các chiến trường miền Nam nước Pháp bằng giọng văn trào lộng nhưng chất chứa cảm xúc xót xa, ngậm ngùi: Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng… Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ… Nhiều người dân thuộc địa tuy không phải ra trận nhưng ở hậu phương, họ bị bắt buộc làm công việc rất nguy hiểm là chế tạo vũ khí phục vụ chiến tranh: Làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn “bô-sơ”, nhưng lại nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối của người Pháp; Họ cũng hứng chịu bệnh tật và những cái chết đau đớn, vì những kẻ khốn khổ ấy cũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy. Tác giả đã nêu ra một con số khủng khiếp về số người bản xứ đã bỏ mình trôn đất Pháp trong mấy năm chiến tranh thế giới thứ nhất: Tổng cộng cố bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa. Phần hai: Chế độ lính tình nguyện. Ở phần này, tác giả vạch trần các mánh khóe và thủ đoạn bắt lính của bọn thực dân. Có thật là người dân thuộc địa tình nguyện hiến dâng xương máu cho “nước mẹ Đại Pháp” như lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền hay không? Tác giả kể rằng: Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khóa, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915 – 1916 tới nay, lại còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa. Những biến cố trong mấy năm gần đây là cái cớ để kẻ thù tiến hành những cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương. Những người bị bắt đều bị nhốt vào trại lính với đủ thứ tên: lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp, lính thợ không chuyên nghiệp,… Bọn thực dân coi lính thuộc địa không phải là người mà chỉ là thứ vật liệu biết nói. Cách gọi đó tự nó đã có tác dụng tố cáo mạnh mẽ bản chất dối trá, lừa bịp và dã man của chính quyền thực dân. Những viên công sứ Pháp (đứng đầu một tỉnh) cùng bọn quan lại dưới quyền tiến hành vây bắt và cưỡng bức người dân phải đi lính, lợi dụng chuyện bắt lính để dọa nạt, xoay xở kiếm tiền đối với những nhà giàu: Thoạt tiên, chúng tóm những người khỏe mạnh, nghèo khổ những người này chỉ chịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu được. Sau đó, chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: “đi lính tình nguyện, hoặc xì tiền ra”. Chúng sẵn sàng trói, xích, nhốt người ta như nhốt súc vật và đàn áp dã man nếu như dám chống đối. Tác giả đã kể ra sự thực phũ phàng là người dân thuộc địa chỉ có hai con đường: hoặc trốn tránh hoặc phải xì tiền ra. Thậm chí họ còn tìm cách tự làm cho mình nhiễm phải những căn bệnh nặng nhất để khỏi phải đi lính. Trong khi làm những điều độc ác như đã kể trên, chính quyền thực dân vẫn không ngừng rêu rao về tinh thần tình nguyện đầu quân của người dân thuộc địa. Lời tuyên bố trịnh trọng của phủ toàn quyền Đông Dường chỉ làm bộc lộ rõ thêm thủ đoạn lừa bịp trơ trẽn ấy: Ấy thế mà trong một bản bố cáo với những người bị bắt lính, phủ toàn quyền Đông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những lính sẽ còn sống sót và truy tặng những người sẽ hi sinh “cho tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng: “Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”. Tác giả mỉa mai chua chát luận điệu dối trá ấy bằng những câu hỏi tu từ: Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hòa và nhiều nơi khác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập" và “không ngần ngại”? Trong phần Chế độ lính tình nguyện, tác giả đã đưa ra hàng loạt dẫn chứng thực tố đối lập hoàn toàn với luận điệu bịp bợm của bọn thực dân cầm quyền để lột trần bản chất tham lam và tàn bạo của chúng trong chính sách cai trị đối với người dân thuộc địa. Phần ba: Kết quả của sự hi sinh. Kết quả sự hi sinh của người lính thuộc địa trong các cuộc chiến tranh và cách đối xử của chính quyền thực dân sau khi đã bóc lột xương máu họ đã được tác giả miêu tả bằng những hình ảnh, chỉ tiết tiêu biểu có sức tố cáo rất lớn: Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyển nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nê-gơ-rô" lẫn người “An nam-mít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”. Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỉ niệm đủ thứ,… trước khi đưa họ đến Mác-xây xuống tàu về nước đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao? về đến xứ sở, chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng một bài diễn văn yêu nước: “Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!”đó sao? Mỉa mai thay, khi chiến tranh vừa chấm dứt thì các lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền cũng tự dưng im bặt (!) Những người lính từng được tâng bốc bằng bao lời lẽ hoa mĩ thì bây giờ mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu" như trước đây. Đối với người dân thuộc địa, sự hi sinh cho chính nghĩa và công lí như lời rêu rao đối trá của lũ thực dân chẳng hề mang lại lợi ích gì cho họ bởi chế độ bản xứ là chế độ không hề biết đến chính nghĩa và công lí. Bộ mặt tráo trở của chính quyền thực dân bộc lộ trắng trợn qua những hành động vô nhân đạo: tước đoạt hết của cải mà người lính thuộc địa mua sắm được, đánh đập họ vô cớ, đối xử với họ thô bỉ như đối với súc vật. Sau chiến tranh, người dân thuộc địa trở về vị trí hèn hạ ban đầu: Thế là những “cựu binh" – đúng hơn là cái xác còn lại – sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lí nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một,chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lí cả. Ba phần của chương Thuế máu được sắp xếp theo trình tự thời gian trước, trong và sau khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 – 1918. Với cách sắp xếp này, bộ mặt giả nhân giả nghĩa và bản chất độc ác của chính quyền thực dân Pháp xung quanh việc bóc lột xương máu được phơi bày toàn diện, triệt để. Mặt khác, thân phận thảm thương của người dân nô lệ các xứ thuộc địa cũng được phản ánh một cách chân thực và sinh động. Nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc thể hiện chủ yếu qua hệ thống hình ảnh chọn lọc, tiêu biểu, những từ ngữ giàu khả năng gợi tả, gợi cảm và chất chứa sức mạnh tố cáo tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân. Ngôn ngữ tác phẩm mang màu sắc trào phúng rất rõ nét. Những từ mỉa mai như; “con yêu", “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”, “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế”, “lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”, "vật liệu biết nói…” vừa phơi bày bản chất dã man của chủ nghĩa thực dân, vừa tô đậm số phận bi thảm của người dân thuộc địa. Tác giả sử dụng rất thành công nghệ thuật gậy ông đập lưng ông bằng cách nhắc lại những mĩ từ, danh hiệu hào nhoáng mà chính quyền thực dân khoác cho người lính thuộc địa để bóc trần bản chất lừa bịp vô liêm sỉ của chúng. Tác giả dùng liên tiếp các câu hỏi tu từ để phơi bày sự thật trái ngược với lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền. Các câu chuyện, các sự kiện, con số được nêu ra đều lấy từ thực tế nên không thể chối cãi. Để tăng tính thuyết phục của lí lẽ, khi cần, tác giả còn dẫn ra ý kiến của người khác hay của chính đối tượng bị đả kích. Từ hệ thống hình ảnh và giọng điệu chung của tác phẩm, người đọc nhận ra thái độ yêu ghét rõ ràng của tác giả: căm phẫn chính quyền thực dân tàn ác và xót xa thương cảm cho thân phận người dân nô lệ của các nước thuộc địa bị bóc lột đến cả xương máu, tính mạng. Đoạn trích Thuế máu của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã giúp người đọc hiểu được bản chất độc ác, dã man và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chính quyền thực dân Pháp qua việc dùng người dân các xứ thuộc địa làm vật hi sinh để bảo vệ quyền lợi của chúng trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm cũng chứng minh Nguyễn Ái Quốc là một cây bút chính luận xuất sắc trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX. Đề bài: Thuế máu là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ái Quốc trong khi đang hoạt động cách mạng tại Pháp. Anh chị hãy viết bài văn Phân tích văn bản thuế máu để thấy được tội ác của bọn thực dân đối với nhân dân ta. Nguyễn Ái Quốc là một vị lãnh tụ vĩ đại một người cha già của dân tộc. Người là một nhà cách mạng sáng lập ra đảng cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc Việt Nam. Là một người tài hoa, có tài văn chương, Nguyễn Ái Quốc đã dùng ngòi bút của mình, dùng văn chương để làm vũ khí chiến đấu. Nhưng tác phẩm đó đã để lại ấn tương sâu sắc trong lòng người đọc và đánh những đon mạnh vào bọn đế quốc tay sai. Trong số những tác phẩm đó được bạn bè thế giới biết đến nhiều phải kể đến tác phẩm “Thuế máu”. Tác phẩm được người viết khi đang hoạt đông cách mạng tại Pháp và là một đòn chí mạng đối với bọn đế quốc thực dân. Tác phẩm đã vạch rõ bộ mặt thật sự của quan cai trị Pháp đối với người bản xứ, chính quyền thuộc địa đã biến người dân thuộc địa thành vật hi sinh để phục vụ lợi ích trong các cuộc chiến tranh tàn khốc Tên tác phẩm là “Thuế máu” tạo lên cảm giác của các cuộc chiến tranh các cuộc tàn sát đẫm máu. Trong tác phẩm này đây chính là máu của những người dân thuộc địa bị bọn đế quốc thực dân, bị bọn tay sai áp bức bóc lột đến tận sương tủy. Đồng thời nhan đề tác phẩm cũng thể hiện thái độ tức giận, căm phẫn của tác giả khi chứng kiến dân tộc mình bị đối xử tàn nhẫn. Trong đoạn đầu của tác phẩm tác giả đã so sánh thái độ của quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa tại hai thời điểm trước khi có chiến tranh và sau khi chiến tranh xảy ra. Trước khi chiến tranh xảy thì bị bị coi là giống người hạ đẳng, những người da đen bẩn thỉu đây là những cái tên chúng gọi người Việt Nam chúng ta một cách khinh miệt coi thường khi đó họ chỉ là những nô lệ cho tầng lớp thống trị bấy giờ. Bọn người cai trị luôn cho rằng tộc người da trắng là tộc người cao quý vì vậy chúng luôn cho rằng những tộc người khác là thấp hèn và luôn tạo ra một khoảng cách để phân biệt đối xử. Người dân thuộc địa “giỏi lắm cũng chỉ biết kéo xe và ăn đòn của quân cai trị nhà ta”Giong nói đầy mỉa mai cho thấy thái độ khinh bỉ coi dân ta như súc vậy của bọn thực dân Pháp. Khi chiến tranh “vui tươi” xảy ra, chữ vui tươi được tác giả sử dụng để châm biếm cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất các nước đế quốc tranh giành quyền lợi. Khi đó số phận của người dân thuộc địa được thay đổi đến không ngờ. Họ được đề cao trọng vọng và được các quan phụ mẫu, quan toàn quyền lớn bè coi là “con yên” “bạn hiền”, thậm chí còn được đề bạt lân chức danh “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”. Đối với chức danh đó đánh nhẽ ra họ phải được nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa, nhưng thực chất cuộc sống của họ không hề được nâng cao mà lạ ngược lại. Như vậy đối với họ chức danh ấy vốn cũng chỉ là hữu danh vô thực không có một chút đặc quyền gì hết Với gọng điệu mỉa mai khi chỉ ra sự tương phản đã châm biếm sự thâm độc giả dối của chế độ thực dân Dưới ách áp bức đó của bọn thực dân, số phận người dân thuộc địa rất bi thảm và đã được nhà văn miêu tả hết sức cụ thể bằng ngòi bút tài hoa của mình. Họ không được hưởng tí nào về quyền lợi đã thế họ còn phải đột ngột xa lìa vợ con, quê hương, phải làm việc cật lực trong những kho thuốc súng ghê tởm khạc ra từng tiếng phổi, họ phơi thây trên các chiến trương châu Âu, xuống tận đáy biển bảo vệ tổ quốc của loài thủy quái, bỏ xác ở những vùng miền hoang vu ở Ban-căng, lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế. Kết quả là tám vạn người không bao giờ thấy mặt trời trên quê hương mình nữa. Nghe đến đấy la tự hỏi tại sao, bọn thực dân rốt cuộc có quyền gì mà lại có thể quyết đinh sống chết của hàng vạn người dân vô tội như thế?Những người dân bản xứ rốt cuộc cũng chỉ là vật hi sinh cho bạn cai trị thực dân. Đó chính là kiếp khổ đau của thân phận những người nô lệ. Tác giả đã vạch trần bộ mặt bỉ ổi của chủ nghĩa thực dân phản ánh số phận thảm thương của người dân thuộc địa Sau đó tác giả đã chỉ ra thủ đoạn mánh khóe của những bọn thực dân. Bọn thực dân tiến hành những cuộc lùng soát lớn trên toàn cõi đông dương và đủ các ngón xoay sở tinh vi nhất để đòi tiền. Chúng tìm đến những người khỏe mạnh những người này có thân cô thế cô chỉ chịu chết chứ không kêu cứu vào đâu được. Còn đối với những con cái nhà giàu thì họ ép cho một là đi lính hai là xì tiền ra. Đối với những người bị bắt đi lính thì một là họ bỏ trốn hai là tự làm cho mình nhiễm phải những căn bệnh nặng để không phải đi bởi đi lính đối với họ còn đáng sợ hơn cả bệnh tật. Khi đó để giả thích cho vấn đè này thì giọng điệu của chính phủ toàn quyền cũng rất bịp bợm. Chúng dùng sự hứa hẹn để lừa phỉnh người lính như ban phẩm hàm cho người sống sót truy tặng cho người hi sinh hay dùng những lời lẽ tán dương như “các bạn đã tấp nập đầu quân đã không ngần ngại rời bỏ quê hương”. Tất cả chỉ là những lời nói bịp bợm lừa phỉnh khi mà thực tế chúng xích trói bắt nhốt và đương nhiên bạo động nổ ra. Đây chính là những lời lừa dối mị dân. Tác giả mỉa mai những luận điện chua chát ấy bằng những câu hỏi tu từ đầy sức thuyết phục “Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính như thế tại sao có cảnh tốp thì bị xích tay điều về tỉnh tốp thì trước khi bị đưa xuống tàu bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn có cả lính gác canh lưỡi lê tuốt trần đạn lên nòng sẵn. Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn ở Biên Hòa và nhiều nơi khác nữa phải chăng là những cuộc biểu tình của sốt sắng đầu quân và không ngần ngại”. Bác đã lột trần bản chất tham lam và bạo tàn của chúng đối với người dân thuộc địa. Lập luận của Bác khiến cho toàn quyền Đông Dương cứng họng không thể trả lời. Kết quả sự hi sinh của người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh là vô cùng đau thương được nhà văn miêu tả bằng những lời lẽ đầy sắc cạnh “Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi thì những lời tuyên bố tình tứ của ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im lặng như cao phép lạ và cả người Nê-gô-rô lẫn người An-nam-mit mặc nhiên trở lại giống người bẩn thỉu” hay để ghi nhớ công lao của người An nam chẳng phải người ta đã lột hết quần áo của họ từ chiếc đồng hồ, bộ đồ mới toanh mà họ bỏ tiền túi mua hay là những vật kỉ niệm đủ thứ.. trước khi đưa họ đến Mác –xây xuống tàu về nước đó sao?Chẳng phải người ta đã giao cho họ bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao?Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xép lợn dưới hầm tàu ẩm ướt không giương nằm không ánh sáng thiếu không khí đó sao?Về đến xứ sở chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nông nhiệt bằng một bài diễn văn yêu nước “Các anh đã bảo vệ tổ quốc. Bây giờ chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!đó sao?”. Như vây với lập luận phản bác mâu thuẫn trào phúng câu hỏi tu từ điệp từ đã cho thấy những hành động vô nhân đạo tráo trở tàn nhẫn của bọn tay sai đối với nhân dân ta. Chính quyền thực dân đối xử với những người lính trở về như đối xử với súc vật với người có tội chứ không phải là đối xử với người có công đổ máu cho họ. Cách đối xử ấy là tráo trở đê hèn của một nước luôn vỗ ngực nói mình là mẫu quốc Với tư liệu phong phú xác thực giàu hình ảnh giá trị biểu cảm giọng điệu đanh thép ngòi bút trào phúng sắc sảo châm biếm mỉa mai làm tác phẩm như một lời tố cáo đanh thép nhất đối với chính quyền Pháp thuộc là đòn tấn công quyết liệt đối với chủ nghĩa thực dân. Đoạn trích cũng cho người đọc thấy được bộ mặt tàn ác nhẫn tâm cuồng thú của bọn thực dân khi dùng những người dân thuộc địa vô tội làm vật hi sinh cho chúng đồng thời cũng nói lên thân phận thảm hại nô lệ của những người dân An Nam. Bên cạnh đó tác phẩm cũng cho ta thấy tấm lòng thương cảm của Bác đối với thân phận những người dân và cũng khẳng định tài hoa khéo léo trong việc hành văn của Bác.
Phân tích bài Thuế Máu của Nguyễn Ái Quốc
5,867
Đề bài: Phân tích bài Thuế máu trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc Bài làm Bản án chế độ thực dân Pháp của lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Pa-ri năm 1925 và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1946. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục có tựa đề Gửi thanh niên Việt Nam, nội dung tố cáo và kết án tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đồng thời phản ánh tình cảnh tủi nhục khốn cùng của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới. Từ đó, bước đầu tác giả vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn để các dân tộc tự giải phóng, giành quyền độc lập. Sự ra đời của Bản án chế độ thực dân Pháp đã giáng một đòn tiến công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân ngay tại sào huyệt của chúng và chỉ ra con đường cách mạng cùng tương lai tươi sáng cho các dân tộc bị áp bức. Đầu thế kỉ XX, một số nước lớn ở châu Âu thi nhau xâm chiếm thuộc địa ở nhiều nơi trên thế giới để vơ vệt của cải và nhân lực. Chính sách cai trị của chế độ thực dân rất hà khắc, dã man nên cuộc sống nhân dân thuộc địa vô cùng cực khổ. Làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi dâng lên ngày càng mạnh mẽ. Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) mà Nguyễn Ái Quốc mỉa mai gọi là cuộc chiến tranh vui tươi thực chất là cuộc xung đột ác liệt giữa các đế quốc để tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi. Nó đẩy nhân dân lao động ở các nước tư bản và dân chúng nghèo khổ ở thuộc địa vào lò lửa chiến tranh thảm khốc. Bản án chế độ thực dận Pháp là tác phẩm được Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian và công sức để hoàn thành. Mỗi chương của tác phẩm viết về một chủ đề và tất cả hợp thành bản cáo trạng phong phú, đanh thép về tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân, về cuộc sống khốn cùng của người dân các xứ thuộc địa. Với thiên phóng sự điều tra này, lần đầu tiên trên thế giới, chế độ thực dân bị lên án một cách toàn diện, cụ thể, chính xác và có hệ thống. Bản án chế độ thực dân Pháp thể hiện lòng căm thù mãnh liệt những thế lực thống trị tàn bạo, đồng thời bày tỏ tình yêu thương thắm thiết những kiếp người nô lệ nghèo khổ, phản ánh ý chí chiến đấu giành độc lập, tự do cho các dân tộc thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc. Đồng thời tác phẩm cũng thể hiện tài năng văn chương của tác giả qua nghệ thuật trào phúng, đả kích sắc sảo. Thuế máu là chương đầu tiên của Bản án chế độ thực dân Pháp, ở chương này, tác giả tập trung vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa và các thủ đoạn tàn bạo của thực dân Pháp trong việc dùng người dân thuộc địa làm vật hi sinh trong các cuộc chiến tranh thảm khốc để mang lại quyền lợi cho nước Pháp. Lợi dụng xương máu của những con người nghèo khổ để làm giàu, đó là một trong những tội ác ghê tởm nhất của chủ nghĩa thực dân. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất xấu xa ấy bằng những lập luận chặt chẽ và tư liệu phong phú, xác thực, nhiều hình ảnh giàu giá trị biểu cảm. Giọng điệu chung của bài văn là vừa kết án đanh thép vừa mỉa mai chua chát, vừa thông cảm, xót thương. Cái tên Thuế máu bao hàm nhiều ý nghĩa. Nó gợi lên số phận bi thảm của người dân thuộc địa, đồng thời biểu lộ thái độ căm phẫn trước tội ác ghê tởm của chính quyền thực dân. Người dân thuộc địa phải gánh chịu nhiều thứ thuế bất công, vô lí, song có lẽ một trong những thứ thuế tàn ác, dã man nhất là thứ thuế thu bằng xương máu và tính mạng của họ. Trình tự và cách đặt tên các phần trong chương Thuế máu cũng hàm ý bóc trần các chính sách lừa bịp để bóc lột người dân thuộc địa đến tận xương tủy của chính quyền thực dân cai trị. Từ Chiến tranh và người bản xứ đến Chế độ lính tình nguyện rồi Kết quả của sự hi sinh, qua các phần tiếp nối nhau như thế, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước phơi bày bản chất “ăn thịt người” của bè lũ thực dân. Ở phần này, tác giả nêu bật sự đối lập trong thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm: trước khi xảy ra chiến tranh và khi chiến tranh vừa bùng nổ. Trước chiến tranh, người dân thuộc địa bị bọn thực dân cai trị coi là giống người hạ đẳng, ngang hàng với súc vật: … họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-nam-mít” bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, bọn thực dân cần lính, cần người tham gia chiến tranh thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”. Tác giả đưa ra hai thái độ trái ngược hoàn toàn ấy nhằm tố cáo thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền thực dân trong việc biến dân thuộc địa thành vật hi sinh. Luận điệu bịp bợm trơ trẽn của chúng được Nguyễn Ái Quốc nhắc lại với dụng ý châm biếm và đả kích sâu cay. Số phận bi thảm của người dân thuộc địa trong cuộc chiến tranh phi nghĩa được tác giả miêu tả rất cụ thể: … họ phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu. Tác giả đã kể ra bao cái chết thảm thương của người lính thuộc địa trên khắp các chiến trường miền Nam nước Pháp bằng giọng văn trào lộng nhưng chất chứa cảm xúc xót xa, ngậm ngùi: Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng… Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ… Nhiều người dân thuộc địa tuy không phải ra trận nhưng ở hậu phương, họ bị bắt buộc làm công việc rất nguy hiểm là chế tạo vũ khí phục vụ chiến tranh: Làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn “bô-sơ”, nhưng lại nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối của người Pháp; Họ cũng hứng chịu bệnh tật và những cái chết đau đớn, vì những kẻ khốn khổ ấy cũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy. Tác giả đã nêu ra một con số khủng khiếp về số người bản xứ đã bỏ mình trôn đất Pháp trong mấy năm chiến tranh thế giới thứ nhất: Tổng cộng cố bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa. Phần hai: Chế độ lính tình nguyện. Ở phần này, tác giả vạch trần các mánh khóe và thủ đoạn bắt lính của bọn thực dân. Có thật là người dân thuộc địa tình nguyện hiến dâng xương máu cho “nước mẹ Đại Pháp” như lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền hay không? Tác giả kể rằng: Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khóa, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915 – 1916 tới nay, lại còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa. Những biến cố trong mấy năm gần đây là cái cớ để kẻ thù tiến hành những cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương. Những người bị bắt đều bị nhốt vào trại lính với đủ thứ tên: lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp, lính thợ không chuyên nghiệp,… Bọn thực dân coi lính thuộc địa không phải là người mà chỉ là thứ vật liệu biết nói. Cách gọi đó tự nó đã có tác dụng tố cáo mạnh mẽ bản chất dối trá, lừa bịp và dã man của chính quyền thực dân. Những viên công sứ Pháp (đứng đầu một tỉnh) cùng bọn quan lại dưới quyền tiến hành vây bắt và cưỡng bức người dân phải đi lính, lợi dụng chuyện bắt lính để dọa nạt, xoay xở kiếm tiền đối với những nhà giàu: Chúng sẵn sàng trói, xích, nhốt người ta như nhốt súc vật và đàn áp dã man nếu như dám chống đối. Tác giả đã kể ra sự thực phũ phàng là người dân thuộc địa chỉ có hai con đường: hoặc trốn tránh hoặc phải xì tiền ra. Thậm chí họ còn tìm cách tự làm cho mình nhiễm phải những căn bệnh nặng nhất để khỏi phải đi lính. Trong khi làm những điều độc ác như đã kể trên, chính quyền thực dân vẫn không ngừng rêu rao về tinh thần tình nguyện đầu quân của người dân thuộc địa. Lời tuyên bố trịnh trọng của phủ toàn quyền Đông Dường chỉ làm bộc lộ rõ thêm thủ đoạn lừa bịp trơ trẽn ấy: Ấy thế mà trong một bản bố cáo với những người bị bắt lính, phủ toàn quyền Đông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những lính sẽ còn sống sót và truy tặng những người sẽ hi sinh “cho tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng: “Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”. Tác giả mỉa mai chua chát luận điệu dối trá ấy bằng những câu hỏi tu từ: Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hòa và nhiều nơi khác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập” và “không ngần ngại”? Trong phần Chế độ lính tình nguyện, tác giả đã đưa ra hàng loạt dẫn chứng thực tố đối lập hoàn toàn với luận điệu bịp bợm của bọn thực dân cầm quyền để lột trần bản chất tham lam và tàn bạo của chúng trong chính sách cai trị đối với người dân thuộc địa. Phần ba: Kết quả của sự hi sinh. Kết quả sự hi sinh của người lính thuộc địa trong các cuộc chiến tranh và cách đối xử của chính quyền thực dân sau khi đã bóc lột xương máu họ đã được tác giả miêu tả bằng những hình ảnh, chỉ tiết tiêu biểu có sức tố cáo rất lớn: Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyển nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nê-gơ-rô” lẫn người “An nam-mít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”. Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỉ niệm đủ thứ,… trước khi đưa họ đến Mác-xây xuống tàu về nước đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao? về đến xứ sở, chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng một bài diễn văn yêu nước: “Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!”đó sao? Đối với người dân thuộc địa, sự hi sinh cho chính nghĩa và công lí như lời rêu rao đối trá của lũ thực dân chẳng hề mang lại lợi ích gì cho họ bởi chế độ bản xứ là chế độ không hề biết đến chính nghĩa và công lí. Bộ mặt tráo trở của chính quyền thực dân bộc lộ trắng trợn qua những hành động vô nhân đạo: tước đoạt hết của cải mà người lính thuộc địa mua sắm được, đánh đập họ vô cớ, đối xử với họ thô bỉ như đối với súc vật. Sau chiến tranh, người dân thuộc địa trở về vị trí hèn hạ ban đầu: Thế là những “cựu binh” – đúng hơn là cái xác còn lại – sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lí nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một,chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lí cả. Ba phần của chương Thuế máu được sắp xếp theo trình tự thời gian trước, trong và sau khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 – 1918. Với cách sắp xếp này, bộ mặt giả nhân giả nghĩa và bản chất độc ác của chính quyền thực dân Pháp xung quanh việc bóc lột xương máu được phơi bày toàn diện, triệt để. Mặt khác, thân phận thảm thương của người dân nô lệ các xứ thuộc địa cũng được phản ánh một cách chân thực và sinh động. Nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc thể hiện chủ yếu qua hệ thống hình ảnh chọn lọc, tiêu biểu, những từ ngữ giàu khả năng gợi tả, gợi cảm và chất chứa sức mạnh tố cáo tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân. Ngôn ngữ tác phẩm mang màu sắc trào phúng rất rõ nét. Những từ mỉa mai như; “con yêu”, “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”, “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế”, “lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”, “vật liệu biết nói…” vừa phơi bày bản chất dã man của chủ nghĩa thực dân, vừa tô đậm số phận bi thảm của người dân thuộc địa. Tác giả sử dụng rất thành công nghệ thuật gậy ông đập lưng ông bằng cách nhắc lại những mĩ từ, danh hiệu hào nhoáng mà chính quyền thực dân khoác cho người lính thuộc địa để bóc trần bản chất lừa bịp vô liêm sỉ của chúng. Tác giả dùng liên tiếp các câu hỏi tu từ để phơi bày sự thật trái ngược với lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền. Các câu chuyện, các sự kiện, con số được nêu ra đều lấy từ thực tế nên không thể chối cãi. Để tăng tính thuyết phục của lí lẽ, khi cần, tác giả còn dẫn ra ý kiến của người khác hay của chính đối tượng bị đả kích. Từ hệ thống hình ảnh và giọng điệu chung của tác phẩm, người đọc nhận ra thái độ yêu ghét rõ ràng của tác giả: căm phẫn chính quyền thực dân tàn ác và xót xa thương cảm cho thân phận người dân nô lệ của các nước thuộc địa bị bóc lột đến cả xương máu, tính mạng. Đoạn trích Thuế máu của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã giúp người đọc hiểu được bản chất độc ác, dã man và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chính quyền thực dân Pháp qua việc dùng người dân các xứ thuộc địa làm vật hi sinh để bảo vệ quyền lợi của chúng trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm cũng chứng minh Nguyễn Ái Quốc là một cây bút chính luận xuất sắc trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Phân tích bài Thuế máu trích Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc
2,965
Phân tích bài Thái phó Tô Hiến Thành Hướng dẫn Phân tích bài Thái phó Tô Hiến Thành Bài làm Trong mỗi thời đại lịch sử nào của dân tộc đều có những anh hùng với những phẩm chất cá nhân nổi bật và được mọi người kính trọng. Những người họ đều được mọi người nể phục và đưa vào trang sử sách. Và Tô Hiến Thành cũng không ngoại lệ. Và ông đã được đưa vào trong tác phẩm lịch sử Thái phó Tô Hiến Thành trích Đại Việt sử kí – ghi chép lịch sử nước ta từ thời Triệu Đà đến thời Lý Chiêu Hoàng. Thái phó Tô Hiến Thành là vị quan có nhân cách lớn, luôn vì nước vì dân. Bài Thái phó Tô Hiến Thành gồm hai sự kiện trọng đại tác động đến bước đi của lịch sử nước ta thời Lý đó là việc tôn lập nhà vua và việc chọn người tài đức để giữ thay chức Tể tướng. Đoạn trích này chủ yếu nói về tác giả Tô Hiến Thành – Một đại thần của triều đình nhà Lí có tài năng và nhân cách hơn người. Ở trong sự kiện thứ nhất thì tác giả đã khắc họa tính cách của Tô Hiến Thành bằng việc kết hợp giữa lời nói và việc làm của ông. Ở sự kiện thứ hai thì tác giả đã chủ yếu kể về những lời nói của ông trước khi mất. Với sự kiện đầu tiên diễn ra năm 1175 thời Lý, vua Lí Anh Tông mất, thế tử Long Cán lên ngôi khi mới hai tuổi, sau này lấy tên hiệu là vua Lí Cao Tông. Theo bản di chúc của nhà vua Lý Anh Tông, thì Tô Hiến Thành đang là Tể tướng phải đứng ra phụ chính cho ấu chúa.Chính vì thế Tô Hiến Thành là người quyết định trong việc nối ngôi của Long Cán. Còn Thái hậu họ Đỗ là mẹ của Long Cán và Long Sưởng muốn lập Long Sưởng – anh của Long Cán và phế Long Cán vì trước đây Long Sưởng đã được lập làm Thái tử nhưng vì mắc lỗi nên bị phế chức.Từ đây những mâu thuẫn gay gắt bắt đầu nảy sinh từ đó. Nhưng chính sự phức tạp ấy của triều đình đã làm nổi bật được lòng trung thành tuyệt đối và những nhân cách cứng cỏi của Tô Hiến Thành. Tiếp theo, Thái hậu đã dùng những miếng mồi danh vọng và phú quý nhất để trực tiếp dụ dỗ bằng được Tô Hiến Thành. Lời của Thái hậu vừa có vẻ ca ngợi ông, vừa đánh trúng tâm lí của người lớn tuổi.Bước tiếp theo này cũng thất bại, Thái hậu liều lĩnh bất chấp tất cả triệu Long Sưởng lên và lập làm vua. Qua các thủ đoạn của Thái hậu đã làm để dụ dỗ Tô Hiến Thành ta có thể thấy Thái Hậu là một người rất nham hiểu, có thể bất chấp làm mọi việc sai trái để thực hiện được mục đích của mình. Trong sự kiện thứ 2 về việc tuyển chọn người có tài đức để giữ chức vụ Tể tướng. Bằng tài đức của mình Tô Hiến Thành lựa chon người phù hợp cho chức vun Tể tướng một cách đặc sắc chi tiết. Về lí, thì chức Tham tri chính sự sẽ to hơn chức Gián nghị đại phu, nghĩa là Vũ Tán Đường chức cao hơn Trần Trung Tá. Về tình, thì Vũ Tán Đường rất gần gũi, gắn bó và có ân tình sâu đậm với Tô Hiến Thành hơn Trần Trung Tá: khi Tô Hiến Thành ngã bệnh, chỉ có Tham tri chính sự Vũ Tán Đường đã ngày đêm hầu hạ bên cạnh. Quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận bịu nhiều việc, không lúc nào rảnh rang để đến thăm. Thái hậu nói với Tô Hiến Thành rằng:” nếu có mệnh hề nào, ai thay ông”. Cứ tưởng rằng người thay ông là Vũ Tán Đường nhưng thật bất ngờ với câu trả lời của ông “chỉ có Trung Tá mà thôi”. Trước sự ngạc nhiên ngỡ ngàng của thái hậu Hiến Thành nói rõ:” Thái hậu hỏi người thay thần, nên thần nói tới Trung Tá; nếu hỏi người hầu hạ phụng dưỡng thần thì phi Tán Đường còn ai nữa”. Thái hậu nhắc lại những ân tình mà Tán Đường đã làm cho ôn nhưng ông đã thể hiện rõ quan điểm của mình. Từ đó ta thấy ong là người phân biệt rạch ròi, ân tình cũng không thể đáng đổi người tài được. Bằng lối viết sử biên niên viết theo trình tự thời gian nhưng vẫn khắc họa được tính cách nhân vật và thông quá những tình huống giàu kịch tính đó ta thấy một vẻ đẹp lớn lao của Tô Hiến Thành. Một nhân vật đã trải qua 800 năm thời gian nhưng vẫn để lại tiếng thơm cùng nhân phẩm cao quý của mình mãi đến bây giờ và còn mai sau nữa. Các thế hệ sau dù không biết mặt ông nhưng không bao giờ thôi sự ngưỡng mộ trong lòng về vị thái phó với nhân cách lớn lao đó.
Phân tích bài Thái phó Tô Hiến Thành
878
Đề bài: Phân tích bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 Bài làm Năm 1970, một tổ chức bảo vệ môi trường của Mĩ đã chọn ngày 22 tháng 4 hằng năm là Ngày Trái Đất. Hiểu rõ mục đích tốt đẹp của nó, cho đến nay đã có hơn 140 nước tham gia. Thông tin về Ngày Trái Đất là văn bản được soạn thào dựa trên nội dung bức thông điệp của 13 cơ quan và tổ chức phi chính phủ phát đi vào ngày 22 tháng 4 năm 2000, nhân dịp lần đầu tiên Việt Nam tham gia phong trào này với chủ đề cụ thể là: Một ngày không dùng bao bì ni lông. Bố cục văn bản gồm ba đoạn: Đoạn 1: Từ đầu… đến Một ngày không dùng bao bì ni lông: Hoàn cảnh ra đời của bản thông điệp. Đoạn 2: Tiếp theo… đến ô nhiễm nghiêm trọng đối với mồi trường: Phân tích tác hại của việc sử dụng bao ni lông và nêu ra một số giải pháp cho vấn đề sử dụng bao ni lông. Đoạn 3: Phần còn lại: Lời nhắc nhở, kêu gọi mọi người hãy cùng nhau bảo vệ môi trường sống trong sạch. Trái đất hiện nay đang bị chính con người hủy hoại một cách có ý thức và vô ỷ thức vì kém hiểu biết. Đao bì ni lông chi là một hiện tượng nhỏ có liên quan đến vấn đề lớn là bảo vệ môi trường thiên nhiên, liên quan đến việc giữ gìn Trái Đất, ngôi nhà chung của nhân loại. Nguyên nhân cơ bản khiến cho việc sử dụng bao bì ni lông có thể gây nguy hại đối với môi trường chính là đặc tính không phân hủy của pla-xtic. Pla-xtic còn gọi là chất dẻo hay nguyên liệu tổng hợp. Túi ni lông được sản xuất từ hạt PE (polyetylen), pp (polypropylen) và nhựa tái chế. Đặc tính của nó là không phân hủy trong môi trường tự nhiên. Nếu không bị thiêu hủy, nó có thể tổn tại mãi mãi. Tính chất bền vững đó đã gây ra hàng loại tác hại nối tiếp nhau trong nhiều lĩnh vực: Bao bì ni lồng bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt ở các đồ thị về mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi nuốt phải. Đặc biệt bao bì ni lông màu đựng thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm do chứa các kim loại như chì, ca-đi-mi gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi. Nguy hiểm nhất là khi các bao bì ni lông thải bỏ bị đốt, các khí độc thải ra đặc biệt là chất đi-ô-xin có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn ra màu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, gây rối loạn chức năng, gây ung thư và các dị tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh. Hiện nay, mỗi ngày người tiêu dùng sử dụng và thải bỏ hàng triệu bao bì ni lông. Chi một phần nhỏ được thu gom, còn phần lớn bị vứt bừa bãi khắp ndi, nhất là trên đường phố, sông ngòi, trong các công viên và cả ở những di tích, thắng cảnh nổi tiếng… gây ô nhiễm môi trường, làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp của thiên nhiên và đời sống. Có ba cách xử lí loại rác tai hại này, đó là: chôn lấp, đốt và tái chế nhưng đều gặp phải những khó khăn không nhỏ. Việc chôn lấp chiếm mất nhiều diện tích đất trồng trọt, đồng thời làm cho nguồn nước mạch bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Túi ni lông qua sử dụng đã là rác thải nhưng nó thường được tận dụng gói các loại rác thải hữu cơ khác. Rác đựng trong túi ni lông buộc kín sẽ khó phân hủy và sinh ra các chất khí độc hại. Phương pháp đốt rác thải rất tốn kém nên chưa phổ biến lắm ở nước ta. Việc đốt rác ni lông sẽ sinh ra các khí độc cực kì nguy hiểm, gây choáng ngất, khó thở, rối loạn chức năng hô hấp, thần kinh, tim mạch, thậm chí dẫn đến căn bệnh ung thư. Việc thu gom bao ni lông nhằm để tái chế cũng gặp nhiều khó khăn vì không đem lại lợi ích đáng kể, đã vậy lại gây ô nhiễm môi trường theo kiểu khác. Tóm lại, việc sử dụng bao bì ni lông là một vấn đề nan giải không chi VỚI Việt Nam mà cả thế giới. Trong khi chưa cổ giải pháp tối ưu thì chỉ có thể khuyến Vì vậy chúng ta cần phải: Thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông, cùng nhau giảm thiểu chất thải ni lông bằng cách giặt phơi khô để dùng lại. Không sử dụng bao bì ni lông khi không cần thiết. Sử dụng các túi đựng không phải bằng ni lông mà bằng giấy, lá, nhất là khi dùng để gói thực phẩm. Nói những hiểu biết của mình về tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông cho gia đình, bạn bè và mọi người trong cộng đồng để cùng nhau tìm ra giải pháp cho vấn đề sử dụng bao bì ni lông trước khi thải bỏ bao bì ni lông bởi mức gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với mồi trường. Kết thúc bài viết, tác giả kêu gọi: Mọi người hãy cùng nhau quan tâm tới Trái Đất hơn nữa! Hãy bảo vệ Trải Đất, ngôi nhà chung của chúng ta trước những nguy cơ gây ồ nhiễm môi trường đang gia tăng. Hây cùng nhau hành động: “MỘT NGÀY KHÔNG DÙNG BAO BÌ NI LÔNG ” Văn bản này được thể hiện bằng hình thức nghị luận chặt chẽ, khoa học, với tựa đề đầy tính thời sự: Thòng tin về Ngày Trái Đất năm 2000. Những lời giải thích đơn giản, rõ ràng, dễ Hiểu về tác hại của việc dùng bao bì ni lông đã ttiúc đẩy mọi người quan tâm tới những việc cần làm ngay để cải thiện môi trường sống, bảo vệ Trái Đất, ngôi nhà chung của chúng ta.
Phân tích bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000
1,069
Đề bài: Phân tích bài thơ Bài ca chúc Tết thanh niên của Phan Bội Châu Bài làm Trong tâm hồn và thơ văn, Phan Bội Châu đã dành cho thế hệ trẻ Việt Nam nhiều mến yêu, trân trọng: "Ôi! Đáng kính thay thanh niên! Đáng sợ thay thanh niên! Nếu ai nói rằng: Thanh niên lay trời, trời phải rung Thanh niên xoay đất, đất phải chuyển, cũng không phải là quá đáng vậy!". (Khóc thanh niên) Trong số 800 bài thơ và mấy chục bài phú, bài văn tế của Phan Bội Châu để lại, người đọc tìm thấy biết bao lời tốt đẹp và cảm động của nhà chí sĩ nói với thanh niên. Tiêu biểu nhất là bài thơ "Bài ca chúc Tết thanh niên". Đầu xuân 1927, học sinh trường Quốc học và trường Nhà dòng Huế đến mừng thọ Phan Bội Châu. Trong lời đáp từ của nhà chí sĩ, có bài thơ "Bài ca chúc Tết thanh niên". Báo "Tân thế kỉ" số ra ngày 3-2-1927 đã giới thiệu toàn văn bài thơ. Viết theo thể hát nói đôi khổ, giọng thơ vừa bồi hồi tha thiết, vừa mạnh mẽ hùng hổn, bài ca đã động viên và khích lệ thanh niên lên đường cứu nước. Mở đầu bài thơ, ba tiếng: "Dậy! Dậy! Dậy!" là lời lay gọi thức tỉnh một số đông thanh niên đang ngủ mê trong đêm trường nô lệ. Cách nói ấy, ta bắt gặp khá nhiều trong thơ văn yêu nước đầu thế kỉ XX: "Than ôi! Bách Việt hà san, Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa. Hồn mê mẩn, tính chưa chưa tính Anh em ta phải tính sao đây?". ("Đề tỉnh quốc dân ca”) "Hãy tính dậy đi! Hãy đứng lên đi, gương mày mở mặt để rửa nhục cho sông núi". (Tân Việt Nam’ – Phan Bội Châu) "Một tiếng gà vừa gáy, một tiếng hót của chim báo sáng, mừng xuân về,… âm thanh ấy mang ý nghĩa tượng trưng dự báo một thời kì mới, một bình minh mới, một mùa xuân mới sắp đến với dân tộc. Giọng thơ xôn xao, chào mừng: "Bên án một tiếng gà vừa gáy, Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng". Gà vừa gáy "một tiếng", đêm dày chưa tan. Nhà thơ thao thức sống trong tâm trạng: "thẹn, buồn, tủi"…, không chỉ là "chua xót" mà là đã "từng chua với xót”. Nỗi cay đắng và chua xót tích tụ trong lòng bấy lâu nay; không chỉ một hai ngày mà là kéo dài nhiều năm tháng, từ ngày xuất dương dấy lên phong trào Đông du (1905) đến ngày bị giặc bắt (1925) và cho đến Tết năm 1927, đúng là đã "hai mươi năm lẻ”: "Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng? Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng, Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót". Nhà chí sĩ tâm sự, đối thoại với "xuân", với "sông", với "núi", với "trăng" – những đối tượng ấy, là hồn thiêng đất nước. Một giọng thơ tha thiết. Đó là những lời tâm huyết, là "cái đồ tàn của con đỗ quyên" khắc khoải suốt đêm ngày. Đó không chỉ là nỗi đau, nỗi tủi, nỗi thẹn, sự chua xót của một người, mà còn là tâm trạng chung của cả một thế hệ, của cả một dân tộc đã và đang phải làm ngựa trâu cho giặc, cho thực dân Pháp. Hai câu tiếp theo cũng là tâm sự của một tấm lòng thao thức. Năm 1925, Phan Bội Châu bị giặc Pháp bắt cóc ở Thượng Hải, đưa về Hà Nội kết án tử hình. Nhân dân ta, đặc biệt là thanh niên, học sinh khắp toàn quốc đã sôi sục đấu tranh, làm thất bại âm mứu đen tối và tàn ác của thực dân Pháp. Không giết được Phan Bội Châu, giặc Pháp đã đưa Cụ về giam lỏng ở Huế và Cụ đã trở thành "Ông già Bến Ngự". Vì thế, Phan Bội Châu mới nói: "Trời đất may còn thân sống sót Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh”. Trong cảnh thân tù bị giam lỏng, nhà chí sĩ vẫn không hao giờ quên thanh niên, vẫn gửi gắm vào thế hệ trẻ Việt Nam nhiều tin tưởng và hi vọng. Lời chúc Tết cũng là lời kêu gọi thanh niên. Thanh niên phải "đổi mới". Hai chữ "đổi mới" trong bài thơ mang một nội dung yêu nước sâu sắc. Trước hết, thanh niên phải: "Đời đã mới, người càng nên đổi mới Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội Xúm vui vào xốc vác cựu giang san Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan, Dây thành bại quyết ghe phen liên hiệp lại". Tân vận hội là vận hội mới. Lúc bấy giờ (1927) phong trào đấu tranh chống thực dân, đòi độc lập đang dâng lên sôi sục, mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, nhất là ở Ấn Độ, Miến Điện, Trung Quốc… Thanh niên phải biết nhìn xa, nhìn rộng, "mở mắt" đón lấy thời cơ, đón lấy tân vận hội, đứng lên đồng tâm nhất trí "liên hiệp lại", để cứu nước, cứu nhà: "Xúm vai vào xốc vác cựu giang san". Đất nước bị ngoại bang thống trị, thế là "non sông đã chết", hồn nước bơ vơ sầu tủi: "Hồn ơi! về với giang sơn" (Ái quốc). Còn đâu nữa "Cựu giang san", còn đâu nữa giang sơn cũ, Tổ quốc bao đời. Đổi mới cách nhìn, đổi mới tư tưởng, nâng cao lòng yêu nước. Có như thế, thanh niên mới có thể "xốc vác cựu giang san ", phục hưng đất nước – một đất nước giàu đẹp, một dân tộc có truyền thông anh hùng, bất khuất chống ngoại xâm. Thanh niên phải có sức mạnh, có khí chí kiên cường. Chí khí ấy, sức mạnh ấy, theo nhà chí sĩ là phải "đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan", nghĩa là phải tự lực tự cường. Phan Bội Châu có một cách nói đầy ấn tượng và khích lệ làm bùng cháy lên ngọn lửa yêu nước trong tâm hồn thanh niên. Nói rằng văn thơ Phan Bội Châu là thơ văn tuyên truyền cách mạng, là lời tâm huyết sục sôi lòng yêu nước…, đọc "Bài ca chúc Tết thanh niên", chúng ta cảm nhận sáng tỏ nhận xét ấy. Sự đổi mới của thanh niên phải thể hiện sâu sắc ở mặt tâm hồn, và bằng hành động rất cụ thể: "Ai hữu chí từ nay xin gắng hỏi: Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần, Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn, Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ". Muốn làm được như thế, theo Phan Bội Châu, phải có hai điều kiện: Một là hữu chí, nghĩa là chí khí bất khuất, yêu nước; hai là phải gắng gỏi, phải quyết tâm phấn đấu. Nhà chí sĩ đã hướng vào bộ phận tiên tiến nhất, lỗi lạc nhất trong thanh niên thời bấy giờ. Cụ khuyên họ không nên, không được chìm đắm, đam mê vào con đường hưởng lạc. Chơi, mặc, ăn… là nhu cầu của thanh niên, nhưng không được đam mê, "đừng ham", biến thành dục vọng tầm thường, quá đáng. Phải từ bỏ cách học tập cũ kĩ, lạc hậu, khoa cử hư đanh mà tu dưỡng lấy tinh thần yêu nước, tự cường. Biết nhục vì cả dân tộc đang phải làm nô lệ cho ngoại bang: "Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu" (Đề tính quốc dân ca). Biết đau đớn chua xót vì nước mất, nhân dân lầm than. Trong bài thơ "Xuất dương lưu biệt", Phan Bội Châu đã phủ định lối học "cử tử" lỗi thời: "Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si". (Non sông đã chết, sống chỉ nhục Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi). Đó là quan điểm rất tiến bộ, một lời dạy rất sâu sắc đối với thanh niên về mục đích học tập. Học vì hư danh, học để sống trong thân phận nô lệ thì học cũng vô nghĩa. Lời tâm huyết của Phan Bội Châu trong bài thơ này là lời kêu gọi thanh niên đem tài trí (óc) và lòng quả cảm để đập tan xích xiềng nô lệ, ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp (đánh tan sắt lửa). Phải đem xương máu để giành lại độc lập, tự do. Một cách nói mạnh mẽ, hùng hồn. Hình tượng dữ dội, đầy ấn tượng có giá trị khích lệ lòng yêu nước và tinh thần cách mạng: " Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa, Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ!" Một người, một số ít người không thể cứu nước được. Mà phải nhiều thế hệ thanh niên, triệu triệu người, cả dân tộc mới có thể "xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ" được! Có biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì tự do. Biết bao con người ưu tú của dân tộc đã gan góc hi sinh chiến đấu, đã "xối máu nóng'' trong suốt 80 năm trời để đất nước nở hoa độc lập, kết quả tự do như ngày nay. Qua những vần thơ chúc Tết thanh niên này, ta càng thấy rõ "Phan Bội Châu lúc nào cũng chủ trương dùng bạo lực cách mạng để đấu tranh giành độc lập, tự do để giải phóng dân tộc". Đó là chủ trương rất đúng đắn. Thơ là tấm lòng. Là sự nung nấu tâm hồn, chí khí. Là khúc tráng ca giục giã lên đường. Nhà chí sĩ với khát vọng tự do đã động viên thanh niên, những con người "hữu chí” lên đường xả thân cho đất nước thân yêu. Câu cuối bài hát nói nhà chí sĩ nhắc lại câu cổ ngữ trong sách "Đại học", rút ngắn lại thành: "Nhật nhật tân, hựu nhật tân” (ngày một mới, lại ngày một mới) để khẳng định một chân lí, một bài học, dấy lên trong lòng thanh niên một luồng sinh khí, một tinh thần dân tộc, chỉ ra một tân vận hội đang đến với thanh niên. "Bài ca chúc Tết thanh niên" đưực viết thành thể thơ hát nói phá cách tạo nên màu sắc thời đại và lịch sử. Mở đầu bằng ba tiếng: "Dậy! Dậy! Dậy". Câu kết ngoài 6 từ như luật quy định, tác giả đưa vào 2 tiếng: ''Chữ rằng…" âm hưởng; chủ đạo của bài thơ là hùng tráng, mạnh mẽ. Nó không chỉ là bài ca yêu nước chống xâm lăng mà còn mang tính dự báo thần tình. Năm 1927, nhà chí sĩ viết "Mở mắt thấy rõ rằng tân vận hội…" – và chỉ ba năm sau, Đảng Cộng sản Việt nam ra đời, liền giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc. Bài thơ có tính giáo dục lòng yêu nước và động viên tinh thần cách mạng sục sôi đối với thanh niên Đương thời không ít thanh niên ưu tú của dân tộc đã ra đi cứu nước và sau đó trở thành nhà cách mạng lỗi lạc từ ảnh hưởng của bài ca này. Có bài thơ một thời những cũng có bài thơ muôn đời. Phan Bội Châu viết bài thơ cho thế hệ mất nước trước đây, thế nhưng ngày nay, đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, thế hệ thanh niên chúng ta vẫn tìm thấy trong bài ca bao tư tưởngtình cảm tốt đẹp. Nghĩa là biến sức mạnh của lòng yêu nước để "Xúm vai vào xốc vác cựu giang san" hướng về một ngày mai đẹp vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, vì một xã hội văn minh. Phan Bội Châu mãi là tấm gương chói lọi về lòng yêu nước, là "bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được hai mươi triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng" (Nguyễn Ái Quốc). Thơ văn của Phan Bội Châu góp phần tạo nên sức mạnh thanh niên, sức mạnh Việt Nam: "Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi…"
Phân tích bài thơ Bài ca chúc Tết thanh niên của Phan Bội Châu
2,027
Đề bài: Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng Bài làm Huỳnh Thúc Kháng (1875-1947) đậu tiến sĩ dưới triều Nguyễn, không làm quan. Văn chương lỗi lạc, khí tiết sáng ngời, giàu lòng yêu nước thương dân, suốt đời hi sinh phân đấu cho độc lập, tự do của dân tộc. Cụ là một trong những người cầm đầu phong trào Duy Tân tự cường đầu thế kỉ ở Trung Kì. Năm 1908 bị thực dân Pháp kết án "trảm giam hậu", sau đổi thành án tù chung thân, đày đi Côn Đảo. Hơn 13 năm trời bị đoạ đày nơi địa ngục trần gian, năm 1921, Cụ mới dành được tự do. Cụ trở lại Huế, làm Nghị trưởng Viện dân biểu Trung Kì, rồi làm chủ bút báo "Tiếng Dân" tiếng tăm lẫy lừng trong cả nước. Cách mạng tháng Tám thành công, theo lời mời của Hồ Chủ tịch, cụ Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, có lúc giữ quyền chủ tịch nước. Năm 1947, đi kinh lí miền Trung, Cụ tạ thế tại Quảng Ngãi, thọ 72 tuổi. Huỳnh Thúc Kháng là một nhà thơ yêu nước. Cụ đã để lại nhiều thơ chữ Nôm và chữ Hán. Năm 1908, trước lúc chia tay các chiến hữu trong tù, bị đày ra Côn Đảo, Cụ viết bài thơ "Bài ca lưu biệt". Bài thơ được viết theo thể hát nói, có một số câu thơ chữ Hán tạo nên phong cách trang trọng hào hùng. Hai câu đầu song hành, đối xứng nêu lên một nhân xét về quy luật của tự nhiên và cuộc đời: "Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết Người ở đời đâu khỏi tiết gian nan". Trăng tròn rồi lại khuyết – một ý thơ bắt nguồn theo quan niệm "thiên địa tuần hoàn" nghĩa là trời đất xoay vần, hết vòng này lại chuyển qua vòng khác. Cũng như cuộc sống của mỗi người hết "an" lại đến "nguy". Sông có khúc người có lúc, cho nên bất cứ ai, đâu có thể thoát khỏi vòng gian nan, vất vả, nguy hiểm. Trăng "khuyết" cũng như con người gặp "tiết gian nan" là chuyện tất yếu, chuyện bình thường. Hai câu thơ thể hiện một cái nhìn sáng suốt, bình tĩnh trước tai hoạ cuộc đời. Hai câu tiếp theo nói lên cách ứng xử của đấng trượng phu trước mọi biến cố, mọi thử thách: "Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi an Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn". Đấng trượng phu là người tài giỏi, có khí phách trong xã hội phong kiến. Hai câu chữ Hán có nghĩa là: Đấng trượng phu gặp bất kì cảnh ngộ nào cũng xử trí được. Luôn luôn chủ động, làm chủ hoàn cảnh, làm chủ tình thế an, nguy, hoạn nạn trên đường đời. Gặp cảnh hoạn nạn sẽ xử trí theo cảnh hoạn nạn, quyết không chịu bó tay, đầu hàng trước hoạn nạn, thử thách. Hai câu thơ chữ Hán xuất hiện đầy sáng tạo, làm nổi bật ý chí vững vàng, một tư thế hiên ngang, đàng hoàng của kẻ sĩ chân chính trước mọi thử thách ác liệt. Có đặt câu thơ vào hoàn cảnh cụ thể mới thấy bản lĩnh phi thường cỉa nhà chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Kháng. Mới ngày nào bị kết án "trảm giam hậu" nay lại bị đày ra Côn Đảo với cái án "khổ sai chung thân", nhưng nào có hề gì, bởi lẽ "tổ hoạn nạn hành hồ hoạn nạn" Có thể nói, màu sắc cổ điển, cốt cách chiến sĩ được thể hiện tuyệt đẹp qua khổ thơ đầu bài hát nói này. Khổ giữa sáng lên một niềm tin và tự hào về con đường cách mạng của mình đang đi, về đức tài của người chiến sĩ yêu nước: "Tiến lộ định tri thiên hữu nhãn – Thâm tiêu do hứa mộng hoàn gia" – Con đường trước mặt, biết chắc trời còn soi xét đến. Con đường phía trước còn đầy chông gai, bị tù đày, nhưng là con đường sáng, con đường của sự nghiệp chính nghĩa, thì trời sẽ soi xét cho, thế nào mình cũng được trở về nhà, sum họp với gia đình. Tin vào trời có mắt là một cách nói, cách nghĩ, cách cảm của dân gian; tin vào việc làm của mình là theo lẽ phải, theo đúng đạo lí, đó là niềm tin chính nghĩa: "Bấy nhiêu năm cũng vẫn chưa già, Nọ núi Ấn, này sóng Đà Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt". Với cái án khổ sai chung thân mà lại nói "Bấy nhiêu năm cũng vẫn chưa già, cách nói ấy là một sự thách thức, bất khuất ngạo nghễ. Núi Ân Sơn còn gọi là núi Chúa hay núi Mỏ Diều, sông Đà tức là sông Cẩm Lệ, là hai cảnh đẹp của Quảng Nam – Đà Nẵng, quê hương thân yêu của nhà thơ. Sông, núi ấy gắn bó biết bao thương yêu đợi chờ. Huỳnh Thúc Kháng vững vào một ngày mai không xa sẽ trở lại nơi quê cha đất tổ, đem tài năng để góp phần "thêu dệt" điểm tô, quê hương được phục hưng và cường thịnh. Trong niềm tin có cả một tình yêu sâu nặng. Trong tự hào có cả một tấm lòng chung thuỷ gắn bó với quê hương. Chữ "ta" vang lên đĩnh đạc, tự hào, thể hiện cái hùng tâm của kẻ sĩ chân chính: "Non sông ấy còn chờ ta thêu dệt". Khổ dôi của bài hát nói này, nói về "tụ” và "tán", nói về "họa" và "phúc" ở đời: "Kìa tụ tán chẳng qua là tiểu biệt Ngựa Tái Ông hoạ phúc biết về đâu?" Câu trên là một phủ định để khẳng định. "Tụ" là hợp lại, "tán" là tản ra. "Tụ, tán" là gặp gỡ, chia li. Sau phong trào Duy Tân tự cường, nhiều chiến sĩ yêu nước bị bắt, bị cầm tù, cùng chung xà lim, ngục tối, thế là tụ, nay mai người bị đày ra Côn Đảo, người bị giam hãm khắp các nhà tù đó đây, thế là "tán", nhưng chỉ là tiểu biệt" mà thôi, nghĩa là chia li nhất thời. Ý thơ tương phản đối lập giữa “tụ, tán" với "tiểu biệt" đã biểu lộ một cách nhìn, một cách sống rất tỉnh táo, lạc quan trong đại họa, trong gian nan. Câu dưới sử dụng điển tích "Thất mã Tái Ông" cấu trúc câu thơ dưới hình thức câu hỏi tu từ cũng thể hiện một niềm tin chói sáng: bị tù đày chưa hẳn "hoa" hay đó là "phúc" để người chiến sĩ yêu nước thử thách can trường, lòng dạ trung thành sắt son với nước, với dân! Một ý thơ đẹp, được diễn tả rằng vần thơ hàm súc, giàu âm điệu, đúng là câu ca của “Bài ca lưu biệt". Ba câu thơ tiếp theo cũng nói lên một tâm thế rất đẹp: dù con tạo (tạo hoá) có cơ cầu, có sắp xếp đi thế nào nữa, thì đến đâu, ở đâu cũng là quê hương, cũng nước non nhà. Chỉ biết rằng trong cuộc sống trăm năm, cần có ta: "Một mai kia, con tạo khéo cơ cầu Thảy bốn biển cũng trong bầu trời đất cả Ư bách niên trung tu hữu ngã". Câu thứ hai nhiều bản chép sai. Không phải là "trong vòng trời đất cả" mà là "trong bầu trời đất cả". "Bầu trời" cũng gần nghĩa như "vòng trời" có điều chữ “bầu" thì mới vần với chữ "cầu" ở trên. "Vần" là một trong những yếu tố hàng đầu của tính nhạc trong thơ, nhất là thơ hát nói. Câu thơ chữ Hán: " Ư bách niên trung tu hữu ngã” ta đã từng bắt gặp trong bài thơ "Xuất dương lưu biệt" của Phan Bội Châu; điều đó cho thấy tâm hồn hai nhà cách mạng vĩ đại gặp nhau trong một tư tưởng vĩ đại, cùng khẳng định vai trò của nhà nho chân chính trước mệnh lịch sử. Trong cuộc đời, cuộc sống một trăm năm cần có ta. Câu thơ vang lên như một tuyên ngôn, đĩnh đạc, hùng hồn. Các chí sĩ cách mạng đầu thế kỉ XX như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… đã sống và hành động đẹp như thế! Ba câu thơ trong khổ xếp biểu hiện khí tiết của đấng trượng phu trong hoạn nạn: "Dẫu đến lúc núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả, Tấm lòng vàng, tạc đá vẫn chưa mòn, Trăng kia khuyết đó lại tròn”. Hình tượng thơ được đặt trong thế tương phản: "Dẫu… vẫn…". "Núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả" tượng trưng cho những biến cố dữ dội ấy cũng chẳng hề gì! vẫn trong sáng như "vàng", vẫn cứng rắn như "đá", dù có tạc đi, đập đi cũng chẳng mòn, chẳng tan nát, biến dạng. Khí tiết ấy, tinh thần bất khuất ấy là của một lớp nhà nho chân chính đầu thế kỉ. Họ đã để lại ba bài học lớn cho con cháu mai sau: "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất". Với họ thì cường quyền, bạo lực, khổ ải chốn lao tù chẳng đáng sợ: "Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu?". Phan Bội Châu (Cảm tác trong nhà ngục Quảng Đông) "Gian nan xin độ khách anh hùng" (Cám cảnh Côn Lôn – Phan Châu Trinh) Nếu mở đầu bài hát nói là câu "Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết" thì câu keo cuối bài lại là hình ảnh "Trăng kia khuyết đó lại tròn" như một niềm tin, một hi vọng dào dạt tinh thần lạc quan tin tưởng. Trăng khuyết sẽ tròn, hết bi cực thì đến thái lai. Bị tù đầy rồi sẽ giành được tự do. Niềm tin chói lọi, vẫn thơ như ánh trăng rằm tỏa sáng trời đêm. Tin ở bản thân mình, tin ở con đường cách mạng, cứu dân cứu nước, tin ở sức mạnh chính nghĩa của dân tộc. Bài thơ của cụ Huỳnh tuy có nói đến "lưu biệt", đến chia tay nhau, nhưng nó xứng đáng là một bài ca, một tráng khúc của thời đại. "Bài ca lưu biệt" đã được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân miền Trung thời Pháp thuộc. Nó xứng đáng là một bông hoa tươi thắm trong vườn thơ ca yêu nước và cách mạng Việt Nam ở thế kỉ XX này. Một giọng thơ hùng tráng. Một khí phách hiên ngang. Một tinh thần lạc quan bất khuất. Trong tù làm gì có điều kiện để trau chuốt văn thơ, nhưng từ câu thơ chữ Hán đến điển tích, từ chuyện tụ tán, họa phúc ở đời… đến chuyện "núi sụp, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả…", thơ liền mạch, nhất khí, đúng là xuất khẩu thành chương. Hình ảnh nhà chí sĩ hiện lên qua bài thơ thật cao đẹp, đã để lại cho người đọc, đặc biệt là thanh niên niềm kính phục sâu xa: "Đấng trượng phu tuỳ ngộ nhi an, Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn".
Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng
1,880
Đề bài: Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát Bài làm Cao Bá Quát là một trong những nhà thơ nối tiếng sống trong một xã hội coi trọng người Nam hơn người Bắc. Chính điều này đã gây nên nhiều điều bất bình xảy ra trong nhà Nguyễn. Ông là người có bản lĩnh, có cá tính trong cuộc sống thời ấy. Bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát có thể được tác giả làm trong khi đi thi Hội, là thời điểm ông rất muốn thi thố tài năng, thực hiện ý chí của mình. Nó biểu lộ sự chán ghét cũa một người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống. Bãi cát lại bãi cát dài, Đi một bước như lùi một bước Mặt trời đã lặn, chưa dừng được, Lữ khách trên đường nước mắt rơi. Không học được tiên ông phép ngủ, Trèo non, lội suối, giận khôn vơi! Xưa nay, phường danh lợi, Tất tả trẽn đường đời. Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người? Bãi cát dài, bãi cát dài ơi! Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt, Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít? Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”, Plúa bắc núi Bắc, núi muôn trùng, Phía nam núi Nam, sóng dào dạt. Anh đứng làm chi trên bãi cát? Mới vào bài thơ ta thấy cụm từ “bãi cát” được lặp lại hai lần: “Bãi cát lại bãi cát dài". Bãi cát ớ đây là hình ảnh được tác giả tả thực gợi lên một không gian khó khăn, dài thăm thẳm. Thông thường chúng ta đi trên cát rất khó, không giống như đi trên đường đất bình thường, chân bước tới cứ bị trượt về sau. Trên bãi cát ấy là một con đường rộng lớn, mờ mịt, rất khó mà xác định phương hướng như đứng ớ bên này nhìn qua bên kia chân trời. Đó không chỉ là ruột con đường thực, mà là con đường hiểu theo nghĩa tượng trưng cho một con đường xa xôi, mờ mịt. Để tìm được chân lí, tìm được cái đích thực sự có ý nghĩa cho cuộc đời thì con người phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ đầy thử thách. Trên bãi cát ấy có hình ảnh một con người (tác giả), người đi trên bãi cát. Một con người nhỏ bé, lẻ loi, cô độc đi trên một bãi cát rộng, dài bao la, quanh quanh hình ảnh con người ấy. Bước chân của người đi cát rất khó khăn, như giậm chân tại chỗ “Đi một bước như lùi một bước”. Ta thấy được nỗi chán nản, bất mãn của tác giả khi thấy mình hành hạ thân xác để theo đuổi con đường công danh. “Bãi cát lại bãi cát dài, Đi một bước như lùi một bước Mặt trời đã lặn, chưa dừng được, Lữ khách trên đường nước mắt rơi.“ Người đi trên bài cát ở đây lòng ai oán vì con đường công danh của mình mãi chưa tới đích, không đành lòng làm một kẻ “ngủ quên” để có cớ mà rời bỏ đường di. Không học được tiên ông phép ngủ, Trèo non, lội suối, giận khôn vơi! Xưa nay, phường danh lợi, Tất cả trên dường đời. Đầu gió hơi men thơm quán rượu, Người say vô số, tỉnh bao người? Tác giả còn nói đến sự cám dỗ của công danh đối với người đời. Nhận định mang tính khái quát về những kẻ ham danh lợi đều phải chạy ngược chạy xuôi, hình ảnh đó được tác giả minh hoạ bằng những hình ảnh thực tế của cuộc sống là ở đâu có quán rượu ngon người nhậu đều đổ xô đến, có được máy ai tỉnh táo để thoát ra khỏi sự cám dỗ của rượu. Từ đó tác giả cũng muốn liên tường đến người đọc vấn đề danh lợi cũng là một thứ rượu dễ làm thay đổi lòng người. Ông khinh bỉ những phường danh lợi tầm thường kia, nhưng cũng nhận ra sự cô độc của mình. Phải chăng, con đường mà ông dấn thân vào, lí tưởng mà ông đeo đuổi, chỉ là điều vô ích, chẳng ai thèm để ý, quan tâm. Ông không có người ủng hộ, đồng hành. Niềm xúc động ấy đã đưa tác giả trở về với hiện thực. Điều này chuẩn bị cho kết luận của ông đó là cần phải thoát ra khỏi cơn say danh lợi vô nghĩa. Nếu đi tiếp thì rất có thể ông cũng chỉ là một trong phường danh lợi mà ông từng khinh miệt, phê phán. Nhưng nếu dừng lại, ông cũng không biết mình sẽ đi đâu. về đâu. Có cả một khối mâu thuẫn đang đè nặng lên tâm hồn của tác giả lúc này. Sự dằn vặt ấy là sự nuối tiếc vì đường đau khổ, mờ mịt nhưng lại quá đẹp đè, cao sang. Thôi thì đành đứng chôn chân trên bãi cát vậy. Người đi trên cát bỗng nhiên dừng lại. Bãi cát dài, bãi cát dài ơi! Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt, Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít? Hãy nghe ta hút khúc “đường cùng”, Phía bắc núi Bắc, núi muốn trùng, Phía nam núi Nam, sóng dào dạt. Anh đứng làm chi trên bãi cát? Nỗi băn khoăn choáng váng lấp đầy tâm hồn. Và lần đầu tiẽn, người đã phân vân tự hỏi, vậy là thế nào, có nên đi tiếp, hay từ bỏ nó “Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt". Nếu đi tiếp, cũng không biết phải đi như thế nào. Bởi vì, “Đường bằng thì mờ mịt – Đường ghê sợ thì nhiều!” vì thế, có lẽ đã đến bước đường cùng? Nỗi bế tắc và tuyệt vọng phù trùm lên cả người đi, cả bãi cát dài. Người đi chỉ còn có thể cất lên tiếng hát về con đường cùng của mình, về sự tuyệt vọng của mình. Tóm lại bài thơ “Bài ca ngắn đi trên cát" được thể hiện theo cách đa chiều. Khi thì được miêu tả như một khách thể, khi thì lại như một người đối thoại. Thậm chí tác giả còn cho ẩn chủ thể. Mục đích là nhằm có những tâm trạng khác nhau, thái độ khi đứng trước những hoàn cảnh khác nhau. Nó biểu lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường danh lợi và niềm khao khát thay đổi cuộc sống.
Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát
1,084
Phân tích bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ Hướng dẫn Sau bao nhiêu năm vất vả, lận đận, cơm không có ăn, áo không có mặc và nhà không có ở, năm 760 (lúc này 48 tuổi), được bạn bè giúp đỡ, Đỗ Phủ dựng tạm được một mái nhà lợp bằng cỏ ở bên một bờ khe phía tây Thành Đô, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Sau thời gian chạy loạn, nay có túp lều che tạm, Đỗ Phủ và cả gia đình rất phấn khởi. Âm cúng dưới mái nhà cỏ chưa được bao lâu, thì mùa thu năm sau, qua một trận gió to, mái nhà của ông bị tốc sạch, không còn có nơi nương tựa. Xót xa trước cảnh tượng này, ông đã làm bài thơ “Mao ốc vị thu phong sở phá ca” “Tháng tám, thu cao, gió thét già, Cuộn mất ha lớp tranh nhà ta. Tranh bay sang sông rải khắp bờ, Mảnh cao treo tót ngọn rừng xa, Mảnh thấp quay lộn vào mương sa.” Mở đầu bài thơ, Đỗ Phủ giới thiệu thời gian là vào tháng tám, đang bước vào mùa thu. Tháng tám, mùa thu, đặc điểm nổi bật nhất của thời tiết lúc này là bầu trời cao và gió thổi rất lớn. Gió thổi làm tốc hết lớp nhà cỏ của ông. Bằng biện pháp kể và tả, nhà thơ đã dựng dậy trước mắt người đọc bức tranh về nhà tốc mái rất cụ thể và sinh động. Bốn câu thơ đầu, tác giả hoàn toàn dùng bút pháp miêu tả. Chỉ thông qua từ ngữ, ông nêu bật những trận cuồng phong, cảnh nhà tốc mái, cảnh mái tranh gió cuốn bay đi khắp nơi. Cái “bay rải khắp ven sông”, “cái “mắc cành cao”, cái “giữa dòng”. Cách tả của nhà thơ rất gọn, cô đọng nhưng gây rất nhiều ấn tượng cho người đọc. Những câu thơ tả của ông không khác gì những thước phim chân thực về gió thổi nhà tốc mái. “Trẻ con thôn nam khinh ta già không sức, Nỡ nhè trước mặt xô cướp giật, Cắp tranh đi tuốt vào lũy tre Môi khô miệng cháy gào chẳng được, Quay về, chống gậy lòng ấm ức!” Từ việc nhà tốc mái dẫn đến nhiều cảnh đời đau khổ, xót xa. Lợi dụng gió thổi tốc mái, trẻ con nghèo khổ, hàng xóm ngỗ ngược khi thấy Đỗ Phủ già yếu mà chạy đến cướp tranh mang về. Tác giả đành bất lực đứng nhìn lũ trẻ con cướp giật từng cọng tranh. Mặc dù ông cố sức quát tháo “khản tiếng, rát hầu” nhưng cũng không giữ lại được những cọng tranh đã mất vào tay lũ trẻ. “Giây lát, gió lặng, mây tối mực, Trời thu mịt mịt đêm đen đặc. Mền vải lâu năm lạnh tựa sắt, Con nằm xấu nết đạp lót nát Đầu giường nhà dột chẳng chừa đâu Dày hạt mưa, mưa, mưa chẳng dứt. Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê Đêm dài ướt át sao cho trót?” Chốc lát gió yên, mây đen kịt. Trời thu mờ mịt, tối sập rồi. Đó là những câu thơ tác giả tả cảnh trời sắp mưa. Ban ngày thì gió thổi tốc mái. Đêm đến thì mưa đổ nước xuống mái nhà dột. Hết cảnh khổ nhà tốc mái, gia đình ông lại chịu cảnh nhà dột suốt đêm. Cảnh rét, với cái chăn đã rách nát, cảnh nhà dột ướt không sao nhắm mắt được… Tất cả đều được nhà thơ kể bằng những câu thơ ngắn gọn, súc tích, xúc động lòng người. Nghệ thuật dựng cảnh ở đoạn thơ này thật tài tình. Đỗ Phủ vừa kể vừa tả. Tác giả khéo lựa chọn những chi tiết cụ thể và rất gợi hình: mây đen kịt, chăn vải lâu năm lạnh hơn sắt, con thơ nằm hỗn đạp rách toang đều là những chi tiết thực, gây ấn tượng cho người đọc. Cảnh đêm rét, trời mưa, nhà dột, nhà thơ ngồi suốt đêm không ngủ được với bao cơ cực, tủi nhục, ê chề, đau đớn của một thiên tài có thể là gây nhiều xúc động nhất. Ớ dây, hình ảnh của một con người suốt đời nghèo khổ và tật bệnh lại hiện lên, làm xoáy gan, chảy ruột bao nhiêu người. Giá trị của bài thơ chính là từ nỗi đau của riêng một người, nỗi bất hạnh của một gia đình, đại quần chúng nhân dân thời Đường lúc bấy giờ. Vấn đề lớn nhất được đặt ra bức thiết và nhức nhối trong bài thơ này là tình trạng nghèo khổ, cơ cực đến mức tủi nhục của nhân dân, trong đó có người trí thức, người nghệ sĩ. Một con người vĩ đại như Đỗ Phủ, xuất thân từ gia đình quan lại, tôn thờ đạo Nho, làm quan suốt mấy dời, thơ phú bậc nhất thiên hạ và được hưởng đặc quyền dặc lợi của xã hội phong kiến thế mà nhà không có ở, hoặc có chăng cũng chỉ là túp lều tranh tạm bợ, chỉ cần một trận gió cũng “bốc sạch không”. Một con người được mệnh danh là “Thi thánh” để cho dời hơn 1400 bài “Thi sử” thế mà đêm mưa dột, không có chỗ nằm, không có chăn mà đắp. “Ước được nhà rộng muôn ngàn gian, Che khắp thiên hạ kể sĩ nghèo đều hân hoan, Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bàn!” Nhà ở và cớm áo là những điều mà Đỗ Phủ hằng mong ước. Sống trong những điều kiện khốn khổ không còn là con người, nhưng nhà thơ vẫn nêu cao tính người, tình người, giữ được bản chất tốt đẹp của con người. Bài thơ chẳng những mang giá trị hiện thực lớn mà còn chứa đựng giá trị nhân đạo cao cả. Đầu bài thơ, Đỗ Phủ nêu hoàn cảnh bi đát của mình do thiên nhiên và xã hội gây nên thì phần cuối bài thơ, ông có quyền đề cập đến yêu cầu và ước muốn của cá nhân. Đó chính là lô-gích của sự việc. Nhưng đằng này, nhà thơ không giải quyết như thế. Cuối bài thơ, tác giả không đề cập đến “cái tôi” cá nhân mà nói đến “cái ta” tất cả. Từ một mái tranh nhà tốc mái, ướt dột, không đủ che thân, nhà thơ ước mơ đến “ngàn vạn ngôi nhà rộng. Ngôi nhà ấy không phải cho riêng mình Đỗ Phủ mà là để “che khắp thế gian, dân rét mừng”. Ước mơ của nhà thơ thật lớn lao, cao đẹp! Ong ước mơ cho toàn nhân loại, nhất là những người đói rét đều có nhà cao, cửa rộng để họ thoát khỏi cảnh cơ hàn. Toà nhà Đỗ Phủ mơ ước chẳng những nhiều, rộng rãi, vô số “ngàn vạn gian” mà nó phải là những ngôi nhà cao ngất, chắc chắn “vững như núi, gió mưa chẳng chuyển”. Ước mơ của ông thật là thực tế, cụ thể, nhưng cũng đầy tính chất lãng mạn của một nhà thơ. Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!” Hai câu cuối bài thơ là hai câu chân thành, xúc động phát ra từ trái tim yêu thương con người của Đỗ Phủ. Giá trị nhân đạo cao cả của tác giả cũng được thể hiện ở hai câu thơ này. Mơ ước, niềm tin và hy vọng được diễn tả bằng thơ ca: “Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt?”. Đó là lời cảm thán, tự hỏi của Đỗ Phủ. Có thể ông tự hỏi mình đồng thời tự vấn xã hội. Ông vừa tin mà vừa không tin. Nhưng dù hiện thực hay không hiện thực thì ước mơ của Đỗ Phủ vẫn là chính đáng, cao đẹp, phù hợp với ước mơ của nhân dân nghèo khổ thời nhà Đường. Khi nhìn thấy ngôi nhà to lớn sừng sững trước mắt và dân nghèo khổ có nơi an cư thì dù cho túp lều của ông bị đổ và bản thân bị chết rét, ông vẫn cam lòng. Đây chính là một hình tượng đẹp đẽ của toàn bài. Từ bút pháp hiện thực ở phần đầu, nhà thơ chuyển sang bút pháp lãng mạn ở phần cuối. Vì vậy, bài thơ này có thể được coi là bài thơ tiêu biểu kết hợp hai phương pháp nghệ thuật phổ biến của thơ Đỗ Phủ. Lòng thương mình và thương người của Đỗ Phủ thể hiện rất rõ ở trong bài thơ này. Ngôn ngữ bài thơ giản dị, dễ hiểu. Hình tượng thơ đẹp đẽ, gợi cảm. Hình tượng nhân vật dược tác giả miêu tả rất sinh động, gây xúc dộng người đọc. Yếu tố hiện thực và lãng mạn kết hợp rất hài hoà. “Cái Tôi” cá nhân và “cái Ta” rộng lứn được nhà thơ diễn tả khéo léo qua từng câu thơ, ý thơ. Điểm đặc sắc của bài thơ là từ nỗi khổ “gió thu tốc nhà” của mình, Đỗ Phủ đã liên tưởng đến bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình cũng có nỗi khổ đó. Bài thơ này là một ước mơ vĩ đại bắt nguồn từ thực tế của nhà thơ.
Phân tích bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ
1,544
Đề bài: Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Bài làm Chúng ta đang được sống trong một thế giới tràn đầy hạnh phúc,một thế giới có sự bình đẳng về chủng tộc về mọi tầng lớp dân tộc. Mà trong ta có ai biết được trong xã hội xa xưa người phụ nữ phải chịu đựng một quan niệm cổ hữu sai trái ”trọng nam khinh nữ”. Sống trong hoàn cảnh đó,cũng mang trong mình số phận người phụ nữ Hồ Xuân Hương đã viết nên tác phẩm “Bánh trôi nước”. Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầ tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son” Chỉ có những chiếc bánh trôi nước mộc mạc giản đơn thế thôi mà tác giả Hồ Xuân Hương đã làm nên một bài thơ nói lên sự chịu đựng, gánh lấy quan niệm sai trái trọng nam khinh nữ của người phụ nữ lúc bấy giờ. Bài thơ chỉ có những vốn từ đơn giản thân thuộc mà chất chứa biết bao nhiêu tình cảm. “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” Tác giả đã sử dụng mô típ ca dao quen thuộc “Thân em” để ngưởi phụ nữ có thể hóa thân vào những chiếc bánh trôi nước dân dã đáng yêu. Hàm chứa bên trong vẫn là ca ngợi vè đẹp của người phụ nữ biến họ thành những đóa hoa xinh đẹp, lộng lẫy và thắm tươi nhất của cuộc đời. Làm cho cuộc sống này thêm tươi đẹp thêm màu sắc. “Bảy nổi ba chìm với nước non” Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” được vận dụng tài tình nhằm gợi tả số phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến xưa. Để bày tỏ nỗi xúc động thương cảm của bà Hồ Xuân Hương đứng trước số phận lênh đênh chìm nổi chẳng biết đi về đâu của người phụ nữ. Chỉ mặc cho số phận định đoạt. Tôi tự hỏi:”Một người phụ nữ đẹp đến mà vì lẽ gì phải chịu đựng cuộc đời như vậy, chẳng lúc nào được sống trong cuộc sống vui vẻ hạnh phúc?” Tại sao những người đàn ông to lớn khỏe mạnh như thế mà không chịu những số phận khổ cực mà bắt những phụ nữ nhỏ bé kia phải gánh lấy chứ? “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” Tác giả sử dụng một biện pháp kinh tế:đảo ngữ. Nó lên người phụ nữ phải sống lê thuộc. “Tại gia tòng phụ, xuất giá tỏng phu, phu tử tòng tử”. Lúc ở nhà thì phụ thuộc vào cha, cha bảo gì làm nấy chằng giám làm trái. Khi lập gia thất thì phải cung phụng cho chồng, cũng chẳng giám làm sai. Lúc chồng mất sống phận của mình phải nương nhờ vào con của mình. Trên cuộc đời này làm gỉ có quan niệm vô lí đến thế! Vậy biết bao giờ họ mới có được cuộc sống riêng tự lâp cho chính bản thân mình. Họ phải đau khổ biết bao để chịu đựng những thứ đao lí như thế “Mà em vẫn giữ tấm lòng son Giọng thơ tự hào quả quyết biểu thị thái độ kiên trì, bền vững. “Tấm lòng son” tượng trưng cho phẩm chất sắc son thủy chung, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam đối với chồng con, Với mọi người tuy bị cuộc sống phụ thuộc, đối xử không công bằng trong cuộc đời. Câu thơ thể hiện niềm tự hào và biểu lộ khá đậm tính cách của Hồ Xuân Hương: cảm thương cho người phụ nữ, căm phẫn đối với người chồng. Bài thơ nói về người phụ nữ Việt Nam thời xưa qua hình ảnh bánh trôi nước – một món ăn dân tộc bằng một thứ ngôn ngữ bình dị, dân gian. Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đã được Việt hóa hoàn toàn. Thơ hàm súc đa nghĩa giàu bàn sắc Xuân Hương. Bài thơ biểu lộ niềm thông cảm và tự hào đối với số phận, thân phận và của người phụ nữ Việt Nam nó có gái trị nhân bản đặc sắc. Nữ sĩ viết với tất cả lòng yêu mến, tự hào bản sắc nền văn hóa Việt. Bài làm 2 Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài vịnh độc đáo: vịnh một món ăn dân tộc, dân gian. Thiếu một bàn tay, một tâm hồn phụ nữ dân dã như bà thì có lẽ cái bánh trôi nước chưa đi vào được văn học. Trước hết, bài thơ vịnh của Hồ Xuân Hương rất tài tình: Thân em vừa trắng, lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Đây là lời tự giới thiệu của bánh: từ hình dáng, cấu tạo và cách chế tạo. Bánh trôi làm bằng bột nếp, nhào nước cho nhuyễn, rồi nặn thành hình tròn như quả táo, bọc lấy nhân bằng đường đen, nước sôi thì bỏ vào luộc, khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột làm bánh phải khéo tay thì bánh mới đẹp, nếu vụng thì bánh có thể bị rắn hay bị nhão. Nhưng dù thế nào thì bánh vẫn phải có nhân. Thiếu nhân, bánh sẽ rất nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên đúng là bánh trôi nước, không sai một li. Hình ảnh trong bài thơ là bánh trôi nước. Nhưng bài thơ đâu phải là tác phẩm quảng cáo cho một món ăn dân tộc. Thơ vịnh chỉ thực sự có ý nghĩa khi có sự gửi gắm tình cảm, tư tưởng của nhà thơ. Bài thơ của Hồ Xuân Hương, vì thế, còn là lời tự bộc bạch của một tấm lòng phụ nữ. Ta có thể nói nhà thơ mượn lời cái bánh trôi để nói lên thân phận và tấm lòng người phụ nữ. Bánh trôi là một hình ảnh gợi hứng, một ẩn dụ. Thân em vừa trắng, lại vừa tròn Thân trắng vừa tả cái bánh bằng bột trắng, vừa tả tấm thân trắng đẹp, phẩm hạnh trong trắng. Tròn vừa có nghĩa là em được phú cho cái hình dáng tròn, lại vừa có nghĩa là em làm tròn mọi bổn phận của em. Bảy nổi ba chìm với nước non Bảy nổi ba chìm là thành ngữ chỉ sự trôi nổi, lênh đênh của số phận giữa cuộc đời. Nước non là sông, biển, núi, non, chỉ hoàn cảnh sống, suy rộng ra là đời, cuộc đời con người. Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Đây là hình ảnh may rủi mà đời người phụ nữ rơi vào. Trong xã hội cũ trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đều do người đàn ông định đoạt. Cho nên người con gái trong ca dao cảm nhận: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? Thân em như thể cánh bèo Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi Những câu ca dao thể hiện một ý thức an phận, cam chịu. Cái duy nhất họ làm chủ được là tấm lòng mình: Mà em vẫn giữ tấm lòng son Người phụ nữ vẫn giữ niềm thuỷ chung, son sắt, bất biến với mối tình. Một lời nói thể hiện niềm tự hào kín đáo về phẩm chất thuỷ chung của người phụ nữ. Tuy nhiên, cả bài thơ vẫn thấm đượm nỗi cảm thương cho thân phận. Thân trắng, phận tròn mà phải chịu cảnh ba chìm bảy nổi, không làm chủ được mình. Bài làm 3 Đến với thơ của Bà Huyện Thanh Quan chúng ta thưởng thức được những lời thơ trang nhã, mang tính chất cung đình, luôn gợi nỗi buồn man mác. Ngược lại học thơ của Bà Hồ Xuân Hương ta lại gặp một phong cách hoàn toàn khác. Giọng điệu thơ mạnh mẽ, rắn rỏi, đề tài thơ bình thường dân dã, ý thơ sâu sắc thâm thuý, chua cay, chất chứa nỗi niềm phẫn uất, đả kích xã hội đương thời. Bánh trôi nước là một bài thơ quen thuộc thể hiện rõ phong cách thơ của bà. Đây là bài thơ trữ tình đặc sắc. Tác giả đã mượn chiếc tránh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể và tâm hồn của người con gái thân phận nhỏ bé, bị chìm nổi, phụ thuộc mà vẫn giữ gìn trọn vẹn phẩm giá của mình. Toàn bài thơ là một hình ảnh nhân hoá tượng trưng. Nhờ tài quan sát, nhờ khả năng liên tưởng kì lạ, Hồ Xuân Hương đã phát hiện được những nét tương đồng giữa chiếc bánh trôi nước tầm thường và hình ảnh cũng như cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cả hai đều có vẻ bề ngoài đẹp (trắng, tròn) có tâm hồn cao quý (tấm lòng son), cuộc sống chìm, nổỉ, lênh đênh (trong nồi nước sôi luộc bánh cũng như trong cuộc đời), không làm chủ được số phận của mình. Chính những nhận xét riêng rất mới này, hình tượng thơ đã được xây dựng. Nhà thơ ngay từ những từ đầu tiên đã nhân hoá cái bánh trôi, gắn liền những chi tiết tả thực với những từ ngữ đa nghĩa tạo lên một trường liên tưởng rộng rãi cho người đọc. Do đó, bài thơ tả thực mà hàm nghĩa tượng trưng, nói về cái bánh trôi với đầy đủ đặc điểm của nó mà thành chuyện người phụ nữ chìm nổi trong cuộc đời. Người con gái ở đây có hình thể thật đẹp, da trắng nõn nà, thân hình đầy đặn, xinh xắn, có tâm hồn thật trong trắng nhân hậu hiền hoà: Thân em vừa trắng lại vừa tròn. Lẽ ra với vẻ đẹp như thế, nàng phải có cuộc đời sung sướng. Nhưng không, cuộc đời nàng phải long đong, vất vả, phiêu dạt, chìm nổi không chỉ một lần, trong cuộc đời rộng lớn: Bảy nổi ba chìm ưới nước non. Người phụ nữ không làm chủ được cuộc đời, sô phận của họ do người khác định đoạt, nàng bị phũ phàng, vùi dập: Rắn nát mặc dầu tay kể nặn Nhưng không, dù đời có phũ phàng, dù trải bao bất hạnh người phụ nữ vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình. Mà em vẫn giữ tấm lòng son ơ đây ta lại thấy được tài năng sáng tạo của nữ sĩ. Ngay trong câu thơ đầu, bà chọn chi tiết không nhiều nhưng chọn kĩ và tả đúng với đặc điểm cua chiếc bánh và tác giả chỉ cần đặt trước những từ miêu tả ấy hai từ thân em. Câu thơ lại sinh động hẳn lên. Thân em lời xưng hô của cái bánh được nhân hoá mà đó cũng chính là lời của người phụ nữ tự giới thiệu. Nhờ hai từ này, trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh và hình ảnh người phụ nữ đẹp hiện ra trong tâm trí mọi người. Cặp quan hệ từ vừa… lại vừa phụ trợ cho tứ thơ khiến giọng thơ hàm chứa một ý thức và một chút hài lòng kiêu hãnh về vẻ đẹp hình thể đó. Thế nhưng sang câu thứ hai giọng thơ đột ngột chuyển hẳn. Từ thoáng chút hài lòng, tự hào chuyển sang than vãn về số phận hẩm hiu. Đảo lại một thành ngữ quen thuộc (ba chìm bảy nổi), nhà thơ đã tạo nên cách nói mới, nhấn mạnh hơn vào sự long đong. Thành ngữ này đi liền với hình ảnh vừa trắng vừa tròn tạo ra sự đối lập bất ngờ càng tô đậm nỗi bất hạnh của người phụ nữ. Cụm từ với nước non đi kèm theo hình ảnh bảy nổi ba chìm như một lời oán trách: Tại sao xã hội bất công lại vùi dập cuộc đời người phụ nữ như vậy? Và từ giọng than vãn lời thơ lại chuyển sang giọng ngậm ngùi cam chịu Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn người phụ nữ không làm chủ được cuộc dời mình mà phụ thuộc vào tay kẻ khác. Nhưng đến câu cuối cùng giọng thơ, ý thơ đột ngột chuyển lại Mà em vẫn giữ tấm lòng son. ơ đây kết cấu đối lập được tác giả khai thác triệt để. Đó là sự đối lập giữa thái độ người phụ nữ trong câu ba và câu bốn, đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng trong tâm hồn con người. Sự đối lập này tràn ra cả ngôn từ Mặc dù… mà em vẫn giữ… chỉ quan hệ đối lập nhưng do đặt vị trí đầu câu lại được tăng cường thêm của từ vẫn khiến cho ý nghĩa đối lập càng thêm sắc, mạnh. Từ mà là một "nhãn từ" (chữ hay nhất trong câu thơ) nói lên một cách dõng dạc và dứt khoát sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ tấm lòng son. ở đây người phụ nữ dám đối lập tấm lòng son với tất cả sóng gió, bảy nổi ba chìm của cuộc đời. Đó là người phụ nữ có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất của mình. Đó là lời khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ. Bài thơ vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đề tài lại là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút thần diệu, Hồ Xuân Hương đã tạo nhiều vẻ. Bài thơ chứa đựng một luồng ánh sáng ý thức về xã hội bất công vùi dập người phụ nữ và ý thức về giá trị, phẩm giá của người phụ nữ chân chính, của con người luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Tóm lại, có thể nói Bánh trôi nước là bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Đây là tiếng nói của người phụ nữ tự bộc bạch mình, là lời oán ghét sự bất công đối với người phụ nữ đồng thời cũng là lời khẳng định giá trị tâm hồn của họ. Nhà thơ đã thay mặt giới phụ nữ cất lên tiêng nói ấy cũng là lời bà tự khẳng định mình.
Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương
2,388
Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của nhà thơ Hồ Xuân Hương Bài làm Phong cách thơ của Hồ Xuân Hương là một phong cách thơ rất riêng, hoàn toàn khác. Thơ của bà mang một giọng điệu mạnh mẽ và rắn rỏi, các đề tài thơ thường rất dân giã nhưng lại mang những ý nghĩa sâu sắc, thâm thúy và chua cay, nó chất chứa những nỗi niềm phẫn uất và đả kích vào chế độ xã hội đương thời. Bài thơ “Bánh trôi nước” là một trong những tác phẩm đã thể hiện rõ phong cách thơ đó của Hồ Xuân Hương. Đây là một bài thơ trữ tình đặc sắc, tác giả đã rất tinh tế và khéo léo, mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp nhan sắc và tâm hồn của người con gái. Đồng thời còn thể hiện thân phận nhỏ bé, chìm nổi nhưng vẫn giữ trọn được phẩm giá của mình. Bài thơ nói về các bánh trôi với đầy đủ các đặc điểm của nó đã trở thành chuyện của người con gái chìm nổi trong cuộc đời. Đó là một cô giá đương độ xuân thì, hình dáng đầy đặn, da trắng nõn nà, xinh đẹp lại có tâm hồn trong trắng nhân hậu và hiền hòa “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” Đáng ra, với vẻ đẹp nhan sắc và tâm hồn như vậy, nàng phải được sống một cuộc sống sung sướng. Nhưng không, ngược lại nàng còn phải long đong, lận đận, vất vả và chìm nổi trong cuộc đời rộng lớn bao la: “Bảy nổi ba chìm với nước non” Người phụ nữ ấy tuy có nhan sắc, có tâm hồn cao đẹp nhưng vì hoàn cảnh xã hội mà họ không được làm chủ cuộc đời mình, số phận của họ sinh ra là do người khác định đoạt, cuộc sống đầy rẫy những phũ phàng và bị vùi dập không thương tiếc: “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” Tuy nhiên dù cuộc đời có cay nghiệt, khó khăn và phũ phàng đến mấy, trải qua nhiều bất hạnh như thế nào thì người phụ nữ vần luôn cố gắng giữ trọn vẹn phẩm giá và tâm hồn cao đẹp của mình: Mà em vẫn giữ tấm lòng son” Câu thơ trên mang sự đối lập giữa thái độ cam chịu và thái độ quả quyết bảo vệ phần trong sáng của người phụ nữ. Từ “Mà” được nói lên một cách dứt khoát, thể hiện sự kiên trì cố gắng đến cùng để giữ “tấm lòng son”. Điều đó đã chứng tỏ người phụ nữ của Hồ Xuân Hương có ý thức rất rõ về cuộc sống và phẩm chất cao đẹp của mình, đồng thời cho thấy tác giả đã khẳng định giá trị đáng kính của người phụ nữ. Bài thơ tuy chỉ vỏn vẹn bốn câu thơ, với đề tài là sự vật bình thường nhưng dưới ngòi bút và tài năng của Hồ Xuân Hương, chiếc bánh trôi nước đã được hóa thân thật thần kì. Bài thơ là một nhận thức vầ xã hội bất công, vùi dập phụ nữ và ý thức về giá trị, phấm giá con người. Một người phụ nữ chân chính luôn giữ tấm lòng son dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Có thể nói, bài thơ “Bánh trôi nước” là một bài thơ trữ tình đặc sắc của Hồ Xuân Hương, cho đến ngày nay bài thơ còn vang vọng mãi và còn được phổ nhạc thành bài hát. Thật đáng để ca ngợi bởi bài thơ là tiếng nói của những người phụ nữ đang bộc bạch mình, khẳng định giá trị tâm hồn của họ.
Phân tích bài thơ Bánh trôi nước của nhà thơ Hồ Xuân Hương
621
Đề bài: Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm Gợi ý ĐẶT VẤN ĐỀ Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người Mỗi một con người ai cũng có một quê hương. Và Hoàng Cầm cũng vậy, mảnh đất ăn sâu vào máu thịt ông là miền đất Kinh Bắc bên kia sông Đuống. Nhớ về quê hương là nhớ về những gì sâu nặng nhất trong tâm hồn và trong đáy sâu của cảm xúc đó nhà thơ cho ra đời “Bên kia sông Đuống” Bài thơ ra đời khi quê hương Kinh Bắc của ông rơi vào tay giặc Pháp. Nỗi đau xót khi nghe tin quê hương ngập chìm khói lửa chiến tranh trĩu nặng tâm hồn ông.Đứng bên này Sông Đuống, mảnh đất tự do, hướng về quê hương bên kia Sông Đuống, mảnh đất bị giặc chiếm đóng với bao nỗi niềm và xót xa trong tâm trạng. Một dòng sông mà giờ đây đôi bờ cách biệt. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Dòng thơ đầu tiên mở ra tác phẩm là một tiếng gọi cất lên từ sâu thẳm trái tim đau đớn của nhà thơ, đồng thời cũng là một lời an ủi: Em ơi buồn làm chi Anh đưa em về sông Đuống Ngày xưa cát trắng phẳng lì “Em” ở đây là một nhân vật phiếm chỉ. Tuy nhiên, có phần chắc chắn đó là một cô gái cùng quê bên kia sông Đuống với nhà thơ. Trong thơ Hoàng Cầm ta thường gặp một nhân vật em như vậy, bởi đó là cái cớ để nhà thơ bộc lộ xúc cảm của mình một cách chân thành nhất. Và lời an ủi đưa em về sông Đuống thực chất chỉ diến ra trong hoài niệm của nhà thơ. Trong niềm hoài niệm đó, hình ảnh trung tâm là con sông quê hương với bờ cát trắng phẳng lì chảy từ quá khứ xa xôi về hiện tại, hiện lên trong tâm trí nhà thơ như một dòng sáng lấp lánh và trù phú hai bên bờ những mầu xanh bạt ngàn của những bãi mía, nương dâu: Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì Dáng nằm nghiêng nghiêng của dòng sông Đuống là một phát hiện, một sáng tạo độc đáo của Hoàng Cầm. Cảm xúc mãnh liệt cùng trí tưởng tượng phong phú đã giúp nhà thơ sáng tạo ra một hình ảnh thơ độc đáo đầy ấn tượng, làm xáo trộn cả không gian và thời gian, ám ảnh hoài tâm trí người đọc. Từ bên này, nhà thơ đau đáu hướng cặp mắt về bên kia sông Đuống. Đoạn thơ kết thúc bằng một hình ảnh diến tả nỗi đau “Sao xót xa như rụng bàn tay”..Hoàng Cầm đã mượn nỗi đau của thể xác để diến tả, thể hiện một cách một cách cụ thể nỗi đau về tinh thần. Phải là người coi quê hương là máu thịt của mình mới có tình cảm mãnh liệt đến như vậy. Có thể nói, tâm trạng ở đây đã đạt đến độ điển hình. Cảm hứng chủ đạo trong đoạn thứ nhất là nỗi đau, sự nuối tiếc, xót xa, căm giận trước cảnh tượng quê hương thanh bình, đông vui, tươi đẹp bị giặc chiếm đóng. Từ cảm xúc về nỗi đau đó, quê hương Kinh Bắc dần dần hiện lên trong kí ức nhà thơ. Vùng quê Kinh Bắc, trong hoài niệm, được gợi lên bởi hương lúa nếp thơm nồng – biểu tượng của cuộc sống ấm no, và tranh Đông Hồ – biểu tượng của đời sống tinh thần lành mạnh. Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Vẻ đẹp quê hương bừng sáng lên rồi bị ngập chìm trong khói lửa chiến tranh. Nhà thơ miêu tả thật xúc động những cảnh tan tác chia lìa của quê hương khi quân giặc tới: ngùn ngụt lửa hung tàn, ruộng khô, nhà cháy, con người chia li, cả loài vật cũng thành ra tan tác: Mẹ con đàn lợn âm dương Chia lìa đôi ngả Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã Bây giờ tan tác về đâu Ở đây cái ảo đã hòa nhập cùng cái thực. Mượn hình ảnh trong tranh để diễn tả cảnh tượng thật ngoài đời, nhà thơ đã lay động sâu xa tình cảm của những con người vốn gắn bó máu thịt với truyền thống văn hóa hàng ngàn đời của quê hương Kinh Bắc Không chỉ có vậy, hình ảnh quê hương Kinh Bắc còn được gợi lên với những đền chùa cổ kính, những hội hè đình đám thể hiện khát vọng một cuộc sống hạnh phúc, bình yên của nhân dân. Vậy mà giấc mộng bình yên mấy trăm năm ấy giờ đây tan vỡ. Những nàng môi cắn chỉ quết trầu Những cụ già phơ phơ tóc trắng Những em sột soạt quần nâu Bây giờ đi đâu về đâu Những con người mang một phần linh hồn của quê hương xứ sở ấy giờ đây trở nên bơ vơ, tan tác. Cũng không còn nữa những hội hè đông vui, nhôn nhịp. Chỉ còn tiếng chuông chùa văng vẳng từ thuở bình yên xa xưa vọng về càng làm tăng thêm sự hoang vắng của quê hương như tiếng thở than nuối tiếc một thời yên ấm. Vùng quê Kinh Bắc còn được gợi lên bằng cảnh lao động nhộn nhịp, buôn bán đông vui, sầm uất. Trong tâm trí nhà thơ, hình ảnh những cô gái Kinh Bắc dăng tơ dệt lụa, buôn bán tảo tần hiện lên với những nét xinh tươi, dịu dàng, duyên dáng và biết bao tình tứ. Ai về bên kia sông Đuống Có nhớ từng khuôn mặt búp sen Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu tỏa nắng Nhưng giờ đây cũng tan tác chia lìa, không biết đi đâu,về đâu. Trong niềm tiếc thương không nguôi những người, những cảnh vật của quê hương, Hoàng Cầm đã dành tình cảm sau nặng nhất cho người mẹ già và em nhỏ. Người mẹ già nua, còm cõi vốn đã vất vả trong thời bình lại càng khốn khổ hơn khi quân giặc tới. Kinh Bắc vốn là đất lành giờ đây bỗng hóa thành đất dữ. Chẳng những con người không sống được yên ổn mà cả những cánh cò cũng táo tác, hốt hoảng không chốn nương thân. Có con cò trắng bay vùn vụt Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu Mẹ ta lòng đói dạ sầu Đường trơn mưa lạnh mái đầu bạc phơ Hình ảnh cánh cò lồng vào hình ảnh người mẹ, nhưng không phải là cánh cò bay lả bay la của thời bình nữa mà là cánh cò hốt hoảng chạy trốn đạn bom, soi bóng trên lưng người mẹ run rẩy, bước thấp bước cao trên đường trơn mưa lạnh. Số phận tội nghiệp của những đứa trẻ trong chiến tranh được Hoàng Cầm gợi lên trong cảnh đói khát cùng với sự đe dọa của đạn bom. Cả ban ngày lẫn ban đêm, cả khi thức lẫn khi ngủ, cái chết luôn rình rập, đe dọa chúng. Lòng uất hận, căm thù của nhà thơ bùng lên dữ dội. Câu thơ Hoàng Cầm đến đây thét lên phẫn nộ: Đã có đất này chép tội Chúng ta không biết ngươi hờn Phần còn lại của bài thơ diễn tả cảnh bộ đội trở về và nhân dân vùng lên đấu tranh tấn công một cách chủ động vào kẻ thù. Giọng thơ chuyển từ nhớ tiếc, xót thương sang uất hận, căm thù. Lời cảm thán, niềm hoài niệm ở đầu bài thơ đã trở thành lời hứa hẹn, niềm hi vọng ở đoạn kết. Một khung cảnh mùa xuân tràn trề niềm vui và ánh sáng lại trở về với vùng quê Kinh Bắc. Cô gái Kinh Bắc lại hiện ra với nụ cười tươi tắn giữa không khí tưng bừng của ngày hội. Em đi trẩy hội non sông Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ. Bên kia sông Đuống là những dòng tình cảm mãnh liệt nhất, chân thành và trong sáng nhất mà Hoàng Cầm đã dành cho quê hươngyêu dấu của mình, và qua đó đánh thức trong mỗi chúng ta tình yêu quê hương đất nước. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng cao cả và gắn bó như chính lời bài hát của nhạc sĩ Giáp Văn Thạch.
Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
1,420
Phân tích bài thơ Bình ngô đại cáo của tác giả Nguyễn Trãi -Văn mẫu lớp 10 tuyển chọn Hướng dẫn Đề bài: Bình Ngô đại cáo được Nguyễn Trãi viết theo lệnh của vua Lê Lợi nhằm tổng kết cuộc kháng chiến chống Minh vĩ đại. Anh chị hãy phân tích bài thơ Bình ngô đại cáo để thấy được những đặc sắc về nội dung của tác phẩm này. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi và tác phẩm “Đại cáo Bình Ngô”: Nguyễn Trãi đã theo lệnh của Lê Lợi, viết “Đại cáo Bình Ngô”, nhằm tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại và báo cáo cho toàn dân được biết 2. Thân bài Nguyễn Trãi nêu ra đạo lí nhân nghĩa: Nguyễn Trãi đã đưa vào tư tưởng nhân nghĩa từ chính thực tiễn của lịch sử Tác giả tố cáo tội ác man rợ của giặc Minh: cả đất nước chỗ nào thịt da cũng rướm máu, khắp trời vang lên tiếng căm phẫn, oán than Nêu lên vai trò và phẩm chất của vị chủ tướng Lê Lợi: Lê Lợi có lòng căm thù giặc sâu sắc 3. Kết bài Ý nghĩa của bài cáo: Như vậy qua bài “Đại cáo bình Ngô” chúng ta đã nhận thức được những sức mạnh làm nên chiến thắng thần thánh của nghĩa quân Lam Sơn. II. Bài tham khảo Cuộc kháng chiến chống giặc Minh của quân ta đã hoàn toàn thắng lợi, tiêu diệt mười lăm vạn tinh binh của giặc Minh, đồng thời đã chấm dứt hơn hai mươi năm thảm khốc dưới ách đô hộ và mở ra một kỉ nguyên mới, hòa bình lâu dài cho dân tộc. Nguyễn Trãi đã theo lệnh của Lê Lợi, viết “Đại cáo Bình Ngô”, nhằm tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại và báo cáo cho toàn dân được biết. Đây được coi là “bản tuyên ngôn độc lập tứ hai” sau “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, cũng xứng đáng là “thiên cổ hùng văn” trong lịch sử văn chương của nước ta. Mở đầu bài cáo là đạo lí nhân nghĩa được xây dựng trên nền tảng tư tưởng thần dân mà Nguyễn Trãi rất coi trọng: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Nguyễn Trãi đã đưa vào tư tưởng nhân nghĩa từ chính thực tiễn của lịch sử, theo ông yên dân là phải trừ bạo để cho dân sống yên lành và hạnh phúc trong một đất nước độc lập, hòa bình. Tư tưởng nhân nghĩa đã không còn hạn hẹp trong phạm vi đạo đức mà trở thành một lí tưởng xã hội, đường lối chính trị lấy dân làm gốc, chính vì thế phải quan tâm và chăm lo cho dân trước tiên. Đồng thời tác giả gắn nhân nghĩa với sự nghiệp chống quân xâm lược, phân định rạch ròi rằng ta là chính nghĩa còn quân xâm lược là phi nghĩa. Tiếp theo, Nguyễn Trãi đã thể hiện lòng tự hào và tự tôn dân tộc về một đất nước có nền văn hiến lâu đời: “Như nước Đại Việt ta từ trước… Song hào kiệt đời nào cũng có”. Tác giả đã khẳng định sự thật lịch sử rằng Đại Việt là một đất nước có ranh giới rõ ràng, đã tồn tại song song với các quốc gia phương Bắc từ lâu đời. Các phong tục cũng khác hẳn so với phương Bắc, các triều đại vua xứng đế, hùng cứ ở một phương chứ không phải là chư hầu. Với truyền thống văn hiến từ ngàn năm cùng với hào kiệt mà đời nào cũng có đã khẳng định nước Đại Việt là quốc gia có chủ quyền, độc lập và tự do, khẳng định chủ quyền đó là một chân lí tất nhiên, không có bạo lực nào xâm phạm nôi. Tác giả đã đưa ra chứng cứ để chứng minh đạo lí nhân nghĩa ấy như: “Lưu Cung tham công nên thất bại… Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”. Tác giả đã thông qua những chứng cứ, nhấn mạnh rằng những thế lực phi nghĩa ắt phải tiêu vong, khẳng định chiến thắng chỉ thuộc về bên đấu tranh cho chính nghĩa. Đây là một cách lập luận thật hùng hồn và sắc sảo. Hiện lên trong bài cáo là thảm cảnh của dân tộc Đại Việt dưới ách đô hộ của giặc Minh, cả đất nước chỗ nào thịt da cũng rướm máu, khắp trời vang lên tiếng căm phẫn, oán than. Tác giả Nguyễn Trãi đã viết nên một bản cáo trạng đầy đanh thép, vừa kết tội bọn bán nước vừa tố cáo quân cướp nước. Tác giả đã vạch trần âm mưu xâm lược rồi lên án chủ trương cai trị thâm độc và cuối cùng tố cáo mạnh mẽ hành động và tội ác của giặc Minh: “Nhân họ Hồ chính sự phiền hà… Bọn gian tà bán nước cầu vinh”. Tác giả cho thấy âm mưa của giặc Minh đã có từ lâu đời, từ “nhân” có nghĩa là nhân dịp, “thừa cơ” đã phơi bày được luận điệu giả tạo, giả nhân giả nghĩa của chúng. “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Hai hình ảnh rất ấn tượng là “nướng dân đen và “vùi con đỏ” đã vừa diễn tả cụ thể tội ác man rợ kiểu trung cổ của lũ giặc, lại vừa như khắc vào bia căm thù để muôn đời người dân nước Việt không quên quân xâm lược bạo tàn. Người dân Đại Việt đã sống trong tình cảnh bi đát đến cùng cực, cái chết chờ đợi họ trong rừng, dưới biển. Ngược lại, hình ảnh kẻ thù xâm lược hung hãn, man rợ đã khắc họa bộ mặt quỷ khát máu của quân xâm lược: “Dối lừa dân đủ muôn nghìn kế… Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khôn cùng”. Cuối cùng là hình ảnh của vị lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn – Lê Lợi và những khó khăn trong buổi đầu lập nghiệp. Trong hình tượng của Lê Lợi có sự thống nhất hài hòa giữa một con người bình thường và một thủ lĩnh nghĩa quân. Lê Lợi có lòng căm thù giặc sâu sắc, quyết tâm cao độ thực hiện lí tưởng đánh đuổi giặc ngoại xâm ra khỏi đất nước: “Ngẫm thù lớn há đội trời chung… Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hổi”. Qua chính hình tượng của vị chủ tướng Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã nói lên tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Nghĩa quân có muôn vàn khó khăn, nhưng nhờ tướng sĩ một lòng phụ tử mà cuộc khởi nghĩa đã vượt qua những khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh, phản công và thắng lợi. Như vậy qua bài “Đại cáo bình Ngô” chúng ta đã nhận thức được những sức mạnh làm nên chiến thắng thần thánh của nghĩa quân Lam Sơn năm ấy. Thứ nhất là sức mạnh của tu tưởng nhân nghĩa, ý thức tự tôn dân tộc và mục đích chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, văn hiến nghìn đời của Đại Việt. Thứ hai chính là tài trí mưu lược, phẩm chất anh hùng của tướng Lê Lợi, một lòng vì nước vì dân, tự nguyện đặt vận mệnh của dân tộc lên đôi vai mình. Theo
Phân tích bài thơ Bình ngô đại cáo của tác giả Nguyễn Trãi -Văn mẫu lớp 10 tuyển chọn
1,229
Đề bài: Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguvễn Khuyến Bài làm Ca dao dân ca có nhiều câu rất hay nói về tình bạn, một tình cảm thiêng liêng đáng quý. Nguyễn Khuyến một vị quan về ở ẩn mang nỗi cô đơn u hoài sống hiu quạnh nơi nông thôn đã có những vần thơ với cảm xúc dạt dào khi gặp lại bạn cũ. Chúng ta hãy lắng nghe những cảm xúc ấy: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi dây, ta với ta. Bài thơ khơi dậy trong ta niềm xúc động trước tấm lòng chân tình của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Mở đầu bài thơ là một lời chào, lời chào rất đỗi tự nhiên, hóm hỉnh: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Câu thơ như lời chào thân mật hồ hởi của Nguyễn Khuyến khi có bạn tới thăm. Đã bấy lâu nay là biểu hiện một khoảng thời gian khá dài nhà thơ không gặp bạn, giờ đây có dịp gặp lại nhau lòng không khỏi vui mừng khôn xiết. Từ lúc từ quan về ở ẩn, suốt ngày chỉ núi láng giềng, chim bầu bạn (Nguyễn Trãi), lấy ai mà tâm sự giãi bày nỗi lòng mình. Những lúc như vậy tác giả luôn muốn có người tâm giao để trò chuyện. Người bạn đó đã đến với ông, có vui mừng nào hơn. Chính vì nỗi vui mừng ấy trong lòng tác giả bật ra lời chào thể hiện niềm vui bâ't ngờ thú vị: Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Mới nghe ta như thấy rằng nhà thơ như tỏ ý lấy làm tiếc về việc bạn mới đến thăm mà chẳng có gì để tiếp bạn. Đây chính là cách nói cường điệu hoá, thi vị hoá cuộc sống vật chất trong gia đình Nguyễn Khuyến. Nói như vậy là đang đùa với bạn, trong lời nói ấy mang nụ cười ý vị vừa tỏ thái độ “mong chờ” những dịp bạn đến thăm như thế này. Hay chính trong lời phân trần ấy bộc lộ sự bất ngờ thăm hỏi của bạn. Hoàn cảnh sống của tác giả nơi miền quê kiểng rất đạm bạc, thanh bạch, giản dị gắn bó với làng xóm quê hương. Nhịp thơ đều đặn 4-3 nhẹ nhàng êm ái như một lời thủ thỉ, kèm theo là nụ cười bông đùa vui tươi của nhà thơ. Trong rất nhiều bài thơ Nguyễn Khuyến đã từng thể hiện sâu sắc tình cảm với bạn bè, bằng hữu: Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải, không tiền không mua Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa? Giường kia, treo những hững hờ Đàn kia, gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn (Khóc Dương Khuê) Với Nguyễn Khuyến và Dương Khuê qua đoạn thơ trên ta thấy rằng tình bạn của họ thật gắn bó bao nhiêu. Chén rượu kia sẽ ngọt ngào nếu hai người cùng đối, ẩm, dạo đàn, bình thơ… Cũng chỉ có hai người. Thiếu một trong hai thì “Giường kia, treo những hững hờ – Đàn kia, gảy củng ngẩn nga tiếng đàn”. Không chỉ tình bạn của Nguyễn Khuyến trong bài thơ này mà trong dân gian chúng ta còn xúc động trước tình bằng hữu của Lưu Bình — Dương Lễ. Tình cảm của Nguyễn Khuyến và bạn mình không phân biệt tuổi tác, hoàn cảnh, ở họ sự nối kết là niềm cảm thông chia sẻ cùng nhau. Bác đến chơi đây, ta với ta Câu thơ bộ lộ rõ nét tình cảm chân thành của Nguyễn Khuyến với bạn. Đó là tình cảm thiêng liêng và cao quý, những nghi thức xã giao dần bị bóc còn lại là tình bằng hữu thâm giao. Quan hệ bạn bè ở đây được xây dựng trên nền tảng của tình cảm. Bác đến chơi đây – không có mọi giá trị vật chất chỉ có ta với ta. Đại từ ta được sử dụng rất độc đáo, ta là nhân xưng, và cũng là bác và tôi, là hai chúng ta. Tôi và bác đã quá hiểu nhau rồi. Hoàn cảnh của tôi bác biết, tôi sống thế nào bác hay. Những điều tôi nói ra với bác chẳng qua là bày tỏ nỗi niềm tâm can. Cả hai người không ai đặt vấn đề vật chất, mà ở họ đều có quan điểm coi thường vật chất, đề cao tình cảm. Cũng là ta với ta nhưng trong bài thơ Qua Đèo Ngang thì đó chính là sự đối diện, bắt gặp tâm trạng của tác giả Thanh Quan với chính mình. Còn ta với ta ở đây là nói về hai người họ gắn bó không gì chia cắt được. Tình bạn giữa họ mới cao quý đẹp đẽ làm sao. Ta thấv rằng nghệ thuật trào lộng của Nguyễn Khuyến thật hóm hỉnh, nhẹ nhàng tinh tế. Bài thơ thể hiện khá thành công nghệ thuật trào phúng, ngôn ngữ được sử dụng một cách đặc sắc. Tuy là một bài thơ Đường với khuôn mẫu bó buộc nhưng lại rất bình dị như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Những sản vật đồng quê được đưa vào thơ rất tự nhiên, sự kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ làm cho bài thơ đặc sắc thân mật như chính tình cảm của họ vậy. Dẫu cho Nguyễn Khuyến đã đi xa, nhưng tình bạn của họ thể hiện trong bài thơ thật cảm động biết bao. Bài thơ đã gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ về tình cảm của con người trong cuộc sống, tình bạn bè, đồng chí, anh em… Bài làm 2 Sống trong ngọc đá kim cương Không bằng sống giữa tình thương bạn bè Câu ca dao đã nêu bật được một tình cảm thiêng liêng đáng quý – Tình bạn chân thành thắm thiết. Nguyễn Khuyến, một vị quan về ở ẩn mang nỗi cô đơn u hoài, sống hiu quạnh nơi nông thôn, cũng cảm xúc dạt dào khi gặp lại bạn cũ. Ta hãy lắng nghe tiếng nói chân thành mộc mạc của nhà thơ khi nói với bạn: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra hoa, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có Bác đến chơi đây ta với ta Bài thơ đã khơi dậy trong ta niềm xúc động trước tấm chân tình của nhà thơ Nguyễn Khuyếnẵ Một chút nhẹ nhàng tự nhiên hóm hỉnh được tác giả mở đầu bằng câu thơ: Đã bấy lâu nay, bác tới nhà Câu thơ như một lời chào hồ hởi thân mật vừa bộc lộ nỗi vui bất ngờ vừa tỏ ý trân trọng, quý mến bạn. Đã bấy lâu nay có nghĩa là một thời gian dài, một thời gian nhà thơ không gặp bạn, giờ đây có dịp gặp nhau làm sao mà không xúc động, không vui mừng cho được. Từ lúc cáo quan về vui sống với cảnh điền viên, ông chỉ biết lấy thiên nhiên làm bạn. Trái tim ông gửi trọn cho đất nước quê hương, nên tâm hồn luôn khắc khoải u hoài. Trong những giây phút ấy mà không ai không muốn có một người bạn để tâm sự, để an ủi. Người bạn đó đã đến với ông – Còn nỗi vui mừng nào hơn. Chính nỗi vui mừng, bất chợt mà Nguyễn Khuyên đã thốt ra lời bông đùa với bạn một cách dí dỏm cho thoả lòng trông đợi. Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả, khôn chài cá Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà Cải chửa ra cây, cà mới nụ Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa Đầu trò tiếp khách, trầu không có. Mới nghe qua, ta thấy dường như nhà thơ tỏ ý làm tiếc rằng đã lâu lắm rồi bạn mới tới nhà vậy mà không có một thứ gì để tiếp, bạn để thết đãi bạn cả: chợ thì xa, người nhà trẻ con đều đi vắng cả, ao thì sâu mà nước lớn, nên không chài bắt được cá; vườn rộng thênh thang thì khó mà bắt được gà. Đến một cây cải, mớ cà hoặc một quả bầu, một trái mướp cũng không sẵn; thậm chí một miếng trầu để tiếp khách cũng không có. Tác giả đang phân trần, giải thích sự thiếu sót của mình. Thực ra đây chỉ là cách nói cường điệu như vậy mà đã đùa với bạn, vừa tỏ thái độ nhớ mong chờ đợi bấy lâu mà thôi. Và qua những lời trần tình ấy ta cũng hiểu được cuộc sống của tác giả ở làng quê: đạm bạc, giản dị, luôn gắn bó với nông thôn. Nhịp thơ đều đặn 4-3 nhẹ nhàng êm ái như một lời thủ thỉ, kèm theo là nụ cười hóm hỉnh, cười vui của tác giả. Đối lập với những cái "không" ấy là cái có thật đáng quý. Bác đến chơi đây, ta với ta… Câu thơ bộc lộ thật rõ nét tình cảm chân thành của tác giả đối với bạn. Đó là một tình cảm thiêng liêng cao quý. Quan hệ bạn bè ở đây được xây dựng trên cơ sở vững chắc là tình cảm yêu thương chân thật không màng đến vật chất. Bác đến chơi đây không có gì cả, chỉ có ta với ta khiến ta nhớ đến câu kết trong bài Qua đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan khi đứng trước cảnh đèo ngang hoang vắng cô liêu, đang mang nặng một nỗi u buồn, niềm suy tư khôn cả, không thể tâm sự cùng ai, nên bà tự quay về với lòng mình “ta với ta”. Còn “ ta với ta” mà nhà thơ Nguyễn Khuyến sử dụng nhằm chỉ nhà thơ và người bạn tuy hai mà một, tuy một mà hai, nó gắn bó quyện chặt vào nhau, không gì chia cắt được. Ở đây chỉ có ta với ta nhưng lại có tất cả. Bởi vì tình bạn giữa ta với ta mới là cao quý, nó không đòi hỏi bất kì một điều kiện vật chất nào cả, thậm chí cả một miếng trầu làm đầu câu chuyện để tiếp bác cũng không. Qua đó ta mới thấy nghệ thuật trào lộng của Nguyễn Khuyến thật là hóm hỉnh nhẹ nhàng mà tế nhị sâu sắc. Bài thơ thể hiện sự thành công của tác giả trong bút pháp trào phúng. Ngôn ngữ được sử dụng một cách đặc sắc. Tuy là bài thơ Đường với khuôn mẫu bó buộc nhưng lời thơ lại bình dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày. Những sản vật của nông thôn được đưa vào thơ ông thật đậm đà hương vị làng quê. Ngôn ngữ quần chúng kết hợp với âm a (nhà, xa, cá, gà, hoa, ta) thể hiện rõ nét chất phác thật thà đôn hậu của một con người. Chính yếu tố âm điệu, nhịp điệu bài thơ phối hợp nhịp nhàng tạo ra một mạch thơ liên tục, thanh thoát, tự nhiên như lời nói chuyện tâm tình của nhà thơ với người bạn tri âm tri kỷ của mình. Đây là một trong những bài thơ hay về tình bạn trong sáng chân thành thắm thiết của Nguyễn Khuyến. Bài thơ làm nổi bật một nét đẹp trong cuộc đời và thơ văn Nguyễn Khuyến. Ông xứng đáng là một nhà thơ của làng quê Việt Nam. Tình bạn cao cả tuyệt vời của nhà thơ sẽ là bài học giúp ta tìm và cảm nhận được những tình cảm thiêng liêng đáng quý đó.
Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguvễn Khuyến
2,019
Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Đã bấy lâu nay bác tới nhà, Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa. Ao sâu nước cả khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoà. Đầu trò tiếp khách, trầu không có, Bác đến chơi đây ta với ta. Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là nhà thơ Nôm kiệt xuất của dân tộc. Ong để lại nhiều bài thơ nói về tình bạn: bạn cùng quê, bạn đồng học, bạn đồng khoa… ‘Ai lên thăm hỏi bác Châu Cẩu Lụt lội năm nay bác ỏ đâu…’ (Lụt hỏi thăm bạn) ‘Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…’ (Khóc Dương Khuê) Châu Cầu, Dương Khuê là hai bạn đồng khoa của Nguyễn Khuyên. Bài ‘Bạn đến chơi nhà’ là một trong những bài thơ Nôm đặc sắc của ông, nói lên một tình bạn đẹp. Câu nhập để rất tự nhiên, như một lời nói mộc mạc của nhà thơ sau bao tháng ngày mới gặp lại bạn. Lời chào vồn vã, biểu lộ niềm vui mừng khôn xiết: ‘Đã bấy lâu nay bác tới nhà’ Chữ ‘bác’ gợi lên thái độ niềm nở, thân mật và kính trọng của nhà thơ đối với bạn tri âm, một cách xưng hô thân tình. Đằng sau câu thơ – lời chào hỏi – có thể là những giọt lệ ứa ra ở khoẻ mắt đôi bạn già. ‘Đã bấy lâu nay’là bao năm tháng? Tính thời gian không được xác định cụ thể, nhưng chắc chắn là đã khá lâu, vì sức yếu tuổi già… nên xiết bao đợi chờ, mong nhớ. Bộ phận trạng ngữ chỉ thời gian được đặt lên đầu câu thơ diễn tả sự xa cách nhớ mong, làm nổi bật ý thơ: niềm xúc động và niềm vui sướng vô hạn khi gặp lại bạn. Trong bài thơ ‘Khóc Dương Khuê’, có một chi tiết giúp ta cảm nhận được một phần nào cái hay, cái tình ẩn chứa trong câu nhập đề: ‘Muốn đi lại tuổi già thêm nhác, Trước ba năm gặp bác một lần, Cầm tay hỏi hết xa gần Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can’ Chữ ‘bác’ được nói đến trong bài thơ ‘Bạn đến chơi nhà’ là bạn chí thân, ở xa, lâu ngày mới gặp nên Nguyễn Khuyến rất mừng và cảm động. Nguyễn Khuyến sau khi cáo quan, lui về sống bình dị ở chốn vườn Bùi quê cũ, với ‘năm gian nhà cỏ thấp te le’, với một cơ ngơi: ‘Chín sào tư thổ là nơi ở, Một bó tàn thư ấy nghiệp nhà’ (Ngày xuân dạy các con -1) Phần thực và luận, tính hệ thống của ngôn ngữ thơ rất chặt chẽ, nhất quán ở một cách nói, một lối biểu cảm: Có tất cả mà cũng chẳng có gì để đãi bạn thân! Có ao và cá, có vườn và gà, có cà và cải, có mướp và bầu, nhưng… Bức tranh vườn Bùi thân thuộc hiện lên sống động, vui tươi. Một nếp sống thôn dã chất phác, cần cù, bình dị đáng yêu. Một cuộc đời thanh bạch, ấm áp cây đời và tình người rất đáng tự hào. Chúng ta như cảm thấy Nguyễn Khuyến đang dắt tay bạn ra thăm vườn cây ao cá, tận hưởng thú vui dân dã của một ông quan về quê à ẩn. Phép đối hợp cách, chặt chẽ: cảnh với cảnh, thượng hạ, trắc – bằng phân minh, tạo nên một giọng thơ nhẹ nhàng, vui tươi, lời thơ cân xứng, hòa hợp như cảnh vườn tược xinh xắn, hữu tình: ‘‘Ao sâu nước cả, khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà’ Các tính từ (sâu, cả, rộng, thưa), các trạng từ chỉ tình trạng (khôn, khó), các trạng từ chỉ sự tiếp diễn của hành động (chửa, mới, vừa, đường) hô hứng, bổ trợ cho nhau, được sử dụng thần tình, khéo léo, dung dị và tự nhiên. Những từ ngữ ấy được đặt bên cạnh những chi tiết miêu tả chấm phá đã làm hiện lên khung cảnh vườn tược, cây cối đang đơm hoa kết trái, ẩn chứa một sức sống tiềm tàng, gần gũi và mến yêu: ‘Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoà’ Dân gian có câu: ‘Khách đến chơi nhà không gà cũng vịt’. Qua các câu thơ trên, ta thấy Nguyễn Khuyến đang giãi bày với bạn: trong nhà ngoài vườn có bao nhiêu thứ, nhưng thực ra chẳng có gì để thết bạn, đãi bạn vì tất cả mọi thứ, mọi thức chưa đến lúc, đến thời’! Câu thơ thứ bảy tiếp nối và mở rộng ý thơ trên, khẳng định luôn cái ‘không có’: ‘Đẩu trò tiếp khách trầu không có’ Phải chăng cái nghèo của cụ Tam Nguyên Yên Đổ đã đến’mức ấy ư? ‘vẻ chi một mớ trầu cay’ (ca dao). Nhà thơ đã thậm xưng hóa cái nghèo, thi vị hóa cái nghèo. Một ông quan to triều Nguyễn về quê ở ẩn, với một cơ ngơi ‘chín sào tư thổ là nơi ở’ thì không thể ‘miếng trầu là đầu câu chuyện’ để tiếp bạn cũng ‘không có’. Đây là một lời thơ hóm hỉnh, pha chút tự trào vui vui, để bày tỏ một cuốc sống thanh bạch, một tâm hồn thanh cao của một nhà nho khước từ lương bổng của thực dân Pháp, lui về sống bình dị giữa xóm làng quê hương. Câu kết là một sự ‘bùng nổ’ về ý và tình. Tiếp bạn chẳng cần có mâm cao, cỗ đầy, cao lương mĩ vị, cơm gà cá gỡ, mà chỉ có một tấm lòng, một tình bạn chân thành, thắm thiết: ‘Bác đến chơi đây, ta với ta’ Lần thứ hai, chữ ‘bác’ đã xuất hiện trong bài thơ, thể hiện một sự trìu mến, kính trọng. Bác đã không quản tuổi già sức yếu, không quản đường sá xa xôi đến thăm tôi, còn gì quý hóa bằng! Tinh bạn là trên hết. Không một thứ vật chất nào có thể thay thế được tình bạn tri âm tri kỉ. Mọi cái đều ‘không có’ nhưng lại ‘có’: tình bằng hữu thân thiết. Chữ ‘ta’ là đại từ nhân xưng, trong bài thơ này là ‘tôi’, là ‘bác’, là ‘hai chúng ta’, không có gì cách bức nữa. Cụm từ ‘ta với ta’ biểu lộ một niềm vui trọn vẹn, tràn đầy và lắng đọng trong tâm hồn, tỏa rộng trong không gian và thời gian. Với cụm từ ‘ta với ta’ trong câu thơ ‘Một mảnh tình riêng ta với ta’ của Bà Huyện Thanh Quan là nỗi buồn cô đơn của khách li hương khi đứng trên đỉnh Đèo Ngang lúc hoàng hôn, còn ở đây, trong câu thơ của Nguyễn Khuyến lại ấm áp tình đời và sâu nặng tình bạn. Qua đó, ta cảm nhận được phân nào tính cá thể hóa của ngôn ngữ và sắc điệu trữ tình tạo nên giá trị văn chương trong những bài thơ cổ. ‘Từ trước bàng vàng nhà sẵn có, Chẳng qua trong bác với ngoài tôi’ (‘Gửi bác Châu cầu’) ‘Đến thăm bác, bác đang đau ốm, Vừa thấy tôi bác nhổm dậy ngay. Bác bệnh tật, tôi yếu gầy, Giao du rồi biết sau này ra sao?’ (‘Gửí thăm quan Thượng thư họ Dương’) Bài thơ ‘Bạn đến chơi nhà’ viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, niêm, bằng trắc và đối chặt chẽ, hợp cách. Ngôn ngữ thuần nôm, không có một từ Hán – Việt nào, đọc lên nghe thanh thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên. Ta có cảm giác như Nguyền Khuyến xuất khẩu thành chương. Đặc biệt bố cục bài thơ không theo quy cách: đề, thực, luận, kết – mà lại cấu trúc theo: (1+6+1) câu đầu nói lên niềm vui khi bạn đến; 6 câu giữa hóm hỉnh, cười vui không có gì để tiếp bạn; câu cuối chỉ có tình bạn đẹp mà thôi! Bài thơ nôm khó quên này cho thấy một hồn thơ đẹp, một tình bằng hữu thâm giao, chân tình, một tấm lòng hồn hậu, đẹp đẽ. Tình bạn của Nguyễn Khuyến trong sáng, thanh bạch, đối lập với nhân tình thế thái ‘Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử – Hết cơm hết rượu hết ông tôi’ mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kịch liệt lên án. Hai nhà thơ sống cách nhau mấy trăm năm mà có chung một tâm hồn lớn: nhân hậu, thủy chung, thanh bạch. Tâm hồn đó, tấm lòng đó của tiền nhân đối với thế thái nhân tình ngày nay vẫn xứng đáng là tấm gương sáng để mọi người soi chung. Nguyễn Khuyến không những là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam mà còn là nhà thơ của tình bạn trong sáng, thủy chung và cao đẹp rất đáng yêu, đáng kính.
Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến
1,478
Đề bài: Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà – Nguyễn Khuyến Bài làm Khi nhắc đến thơ Nguyễn Khuyến, người ta thường nhớ tới một giọng văn, một tư tưởng buồn, bởi thơ của ông luôn mang mác một mỗi buồn trước thực trạng xã hội lúc bấy giờ. Nhưng khi đọc bài thơ Bạn đến chơi nhà của ông, thì những suy nghĩ, những tư tưởng trước đây phải chăng đã bị tan biến bởi: cái dí dỏm, cái hồn nhiên chính là những gì mà ông đã làm sáng tỏ trong bài thơ này. Bạn đến chơi nhà chính là điều mà tác giả muốn được bộc bạch, được chia sẻ về tình bạn keo sơn, gắn bó, bỏ qua những thứ tầm thường, bỏ qua sự nghèo đói, thiếu thốn để con người ta trở nên thân thiết và quý mến nhau nhiều hơn, để con người ta có thể thấy yêu thêm tình bạn thiêng liêng, mà gắn bó, keo sơn ấy. Câu mở đầu của bài thơ phải chăng như một lời mời gọi, lời chào thân tình của tác giả với một người bạn lâu ngày mới gặp lại: Đã bấy lâu nay bác tới chơi nhà Càng về già, con người ta càng trở nên an nhàn, những người bạn của mình thì lại ít khi gặp, nên đôi khi người già thường khao khát những cuộc trò chuyện tâm tình và gạt bỏ đi sự cô đơn, lạnh lẽo. Bởi vậy, niềm vui khi có bạn đến chơi nhà của tác giả lại càng trở nên mãnh liệt hơn. Cách xưng hô của tác giả khi gọi bạn bẳng bác như thể hiện sự gắn bó, thân thiết không thể tách rời giữa chủ nhà và khách tới chơi nhà. Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa Ao sâu nước cả khôn chài cá, Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà. Cải chửa ra cây, cà mới nụ, Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa. Tác giả đã rất khéo léo để ám chỉ rằng, bạn đến chơi nhà là quý hóa lắm rồi, nhưng do sự thiếu thốn và không chuẩn bị kịp thời của gia chủ nên không thể tiếp bạn một bữa cơm đầy đủ được. Vậy thì nếu đã không thể tiếp bạn với một bữa cơm tươm tất thì ta hãy lấy miếng trầu, chén nước để trò chuyện. Nhưng trầu cũng hết, vậy trong ý thơ đó, người đọc dễ dàng nhận thấy sự bối rối, lúng túng của tác giả khi đặt trong tình huống trớ trêu đó. Là một vị đại quan trong triều đình, đáng ra không bao giờ bảo lo lắng, bối rối về những thứ vật chất tầm thường này, thế mà khi trở thành một ông già thôn quê, những thứ đó trở nên thật đáng lo nghĩ. Nhưng không, dù có thiếu thốn về vật chất thật đấy, những trong tác giả vẫn đong đầy niềm vui, niềm hạnh phúc. Bạn ta biết ta nghèo, biết gia đình ta còn nhiều thiếu thốn, nhưng vẫn đến thăm ta, vẫn nhớ đến ta, thế thì còn gì bằng nữa, đó chính là điều quý giá nhất. Cả khách và chủ đều quên đi những thứ vật chất tầm thường, những thứ khiến con người ta trở nên mù quáng, không, tình bạn ở đây đã vượt qua cả không gian và thời gian. Tình bạn đã ấy đã vượt lên những nghi thức tiếp đãi bình thường, bỏ qua sự câu nệ hình thức để những người bạn tri kỷ có thể gặp được nhau, chia sẻ với nhau đế có thể thỏa nỗi khao khát nhớ mong này. Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng một từ ngữ “ta với ta” như để ám chỉ rằng, tình bạn của tác giả với người bạn hiền là tình cảm gắn bó, keo sơn không dễ gì mà bỏ được.. Bạn và nhà thơ ngồi bên nhau thủ thỉ tâm tình, hai người hòa thành một. Quả là không gì có thể đánh đổi được tình bạn Thủy chung giữa hai ta.
Phân tích bài thơ Bạn đến chơi nhà
680
Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt ngữ văn 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt ngữ văn 9 Bếp lửa là bài thơ đầu tay của Bằng Việt, bài thơ được sáng tác khi nhà thơ đang học trường luật tại Nga. Những ký ức khi tác giả còn ở với bà dội về từ hình ảnh “bếp lửa”. Bài thơ không đơn thần nói về tình bà cháu cao cả mà thẳm sâu trong đó ta thấy được hình ảnh người phụ nữ Việt Nam âm thầm, lặng lẽ đầy xúc động. Tình cảm bà cháu trong bài thơ là tình cảm có thực, được cất lên từ những ký ức của người cháu bên bà. Đó là thứ tình cảm đẹp như trong cổ tích. Những câu thơ đầu tiên với hình ảnh bếp lửa: chơi vơi, ấm iu là những hình ảnh khơi dòng cảm xúc để tác giả nhớ về những năm tháng sống bên bà: Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc, ngựa gầy Kỷ niệm về thời thơ ấu rất xa, đó là thời cả nước chung những nỗi khó khăn, vất vả. Hình ảnh của những tháng năm chống Mĩ gian khổ được khắc họa qua “đói mòn đói mỏi”… khó khăn kéo dài đến mỏi mòn, kiệt sức. Từ những ký ức tuổi thơ khi ngồi bên bếp lửa “khói hun nhèm mắt chau”, từ trong mịt mờ của tuổi nhi đồng khi đất nước có chiến tranh, tác giả nhớ về bà: ………………………………………… Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa Tám năm ròng, con số không lớn nhưng kéo dài, ròn rã nặng nề. Bà nhóm lửa hàng ngày. Bố và ẹm công tác xa, tình cảm nuôi lớn cháu chính là tình cảm được sống bên bà. Người cháu nhớ lại hình ảnh bà là nhớ lại những “câu chuyện ở Huế” bà từng kể, nhớ “ bà dạy cháu làm bà chăm cháu học”… Đó là một người bà cần mẫn chăm sóc tỉ mỉ đứa cháu thay mẹ cha, thứ tình cảm đó không hề đơn giản. Một cuộc sống khó nhọc và hiểm nguy trong chiến tranh là cuộc sống chung của nhân dân ta trong những năm chống Mĩ. Nên hình ảnh bà chịu thương, chịu khó, lo lắng dạy bảo cháu là hình ảnh chung của người bà, người mẹ trong chiến tranh. Người phụ nữ trong bài thơ được nhắc đến với sự cao cả, bằng kỷ niệm ùa về trong ký ức chau. Lời của bà từ khi cháu còn nhỏ vẫn vang lại theo dòng cảm xúc: Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày có đi xa chớ kể này kể nọ Cứ bảo ở nhà vẫn được bình yên Câu nói của bà là lời dặn dò cẩn trọng với cháu, bà hiểu cháu và hiểu nỗi lòng của những người con đang chiến đấu ở nơi xa. Trong khi bị giặc đốt làng “cháy tàn cháy rụi”, cuộc sống của hai bà cháu dường như khó khăn hơn rất nhiều. Nhưng bà không hề than vãn, không hề bực bội, ngược lại với những cảm xúc ấy là sự bình yên, vững vàng trong tâm trí. Sự căn dặn cháu lại tạo nên phẩm chất đôn hậu ở bà- Một con người cam chịu hi sinh, một hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi… Hình ảnh bà là người phụ nữ tần tảo, nắng mưa, miệt mài qua từng năm tháng. Sự thầm lặng được minh chứng bằng thời gian “ mấy chục năm rồi” như vậy. Bà làm những công việc sưởi ấm lên tình cảm cho người cháu, giúp cho cháu cảm nhận được hết sự yêu thương, chia sẻ, những tâm tình… công việc của bà là thiên chức của những người phụ nữ. Sự “thiêng liêng” mà người cháu cảm nhận được là do có người phụ nữ như bà hàng ngày lo toan và nhóm lên từ bếp lửa. Bài thơ là tình cảm bà cháu, những kỷ niệm bên bà được vọng lại khi người cháu đã đi xa, chứng kiến “ khói trăm tàu”, “ niềm vui trăm ngả”. Hình ảnh người bà là hình ảnh sâu đậm trong bài thơ, là những ngợi ca về người phụ nữ thầm lặng trong những cuộc chiến đấu và trong cả cuộc đời. Vì vậy mà Bằng Việt có được một bài thơ hết sức thành công như Bếp lửa.
Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt ngữ văn 9
784
Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt Hướng dẫn Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt Bài làm Hẳn ai cũng có một quá khứ bên người thân, gia đình. Trong thời kỳ đất nước chống giặc ngoại xâm, biết bao người đã rời khỏi gia đình để nhập ngũ, dốc sức vì đất nước. Nhà thơ Bằng Việt cũng có một tuổi thơ mà bố mẹ ông đều đi đánh giặc. Một mình sống với bà nhưng ông không hề cảm thấy cô đơn mà còn rất tự hào và vui sướng vì được sống bên bà. Ông đã sáng tác nên bài thơ “Bếp lửa” để nói lên tình cảm của ông giành cho bà cũng như khẳng định rằng bếp lửa không chỉ làm ấm tình cảm bà cháu mà còn sưởi ấm một đời người. “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm. Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” Ngay ba câu thơ đầu, điệp ngữ “một bếp lửa” đã đi liền với các từ láy chờn vờn, ấp iu… gợi cho ta cái cảm giác ấm áp với tình cảm chứa chan. Và ngay lập tức, hình ảnh người bà đã hiện lên. Ở đây, bà không hiện lên như một bà tiên mà hiện lên trong trái tim của người cháu nhớ về người bà gian nan. Từ hồi ức dần dần trở về dưới những dòng thơ của tác giả: “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” Trong tình cảnh nạn đói của đất nước, gia đình tác giả cũng không phải là ngoại lệ. Bố ông còn con ngựa để đi đánh xe là may mắn lắm. Nhưng cái không khí nghèo túng của toàn xã hội đã bao phủ tất cả. Gần hai mươi năm sau, khói vẫn làm cay mắt tác giả. Cái “cay” này không phải là cái “cay” do củi ướt, củi tươi mà cái cay đắng cuả những kỉ niệm đói khổ của nhiều người, trong đó có hai bà cháu tác giả. “Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế” “Cháu cùng bà nhóm lửa”, nhóm lên ngọn lửa củasự sống và của tìng yêu bà cháy bỏng của một cậu bé hồn nhiên, trong trắng như một trang giấy.Chính hình ảnh bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Đó là tiếng chim tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu như giục giã lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái đói, và dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: “Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe rồi đấy!”. Từ “tu hú” được điệp lại ba lấn làm cho âm điệu cấu thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác giả.Tiếng “tu hú” lúc mơ hà, lúc văng vẳng từ nững cánh đồng xa lâng lâng lòng người cháu xa xứ. Tiiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơ, rộng hơn trong cái không gian xa thẳng của nỗi nhớ thương. “Mẹ cùng cha công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa!” Qua đoạn thơ này ta thấy hiện lên một căn nhà quạnh quẽ giữa đồng, chỉ hẩm hút có một già một trẻ. Đứa trẻ thì “ăn chưa no, lo chưa tới”, còn bà thì ốm yếu hom hem. Bà phải xoay sở nuôi thân mình và nuôi cả cháu. Vậy mà bà còn “bảo cháu làm, chăm cháu học” bên cạnh cái bếp lửa. Hình ảnh bếp lửa ở đây không ghi dấu đắng cay nữa mà đó là hình ảnh của một căn nhà ấm áp, nương náu để hai bà cháu sinh sống. Trong tám năm ấy, đất nước có chiến tranh, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố mẹ phải đi công tác, cháu vì thế phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng dường như đối với đứa cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ.? cùng bà, ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Và trong cái khói bếp chập chờn, mờ mờ ảo ảo ấy, người bà như một bà tiên hiện ra trong câu truyện cổ huyền ảo của cháu. Nếu như đối với mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì đoiá với Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là cách chim, là một cành hoa của riêng ông. Cho nên, tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối với ông. Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho cháu những chữ cái, những phép tính đầu tiên. Không chỉ thế, bà còn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người. Nững bài học đó sẽ là hành trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thất sự một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu be ùbỏng. Cho nên khi bây giờ nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ người cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùng bà chia sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế,… Nhà thơ bổng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?”. Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ ngươi. Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ “bà”, “cháu” đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lấn gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó, quấn quýt không rời. “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở vế lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lếu tranh Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh: “Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày viết thư chớ kể này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt ngèo, nghị lứccủa bà càng bền vững, tấm lòng ủa bà càng mênh mông. Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù, nhẫn nại và giàu đức hi sinh. Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay đã khong còn, bà dù có đau khổ thế nào cũng không dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bong của mình lo buồn. Bà cứng rắn, dắt cháu vượt qua mọi khó khăn, bà không đứa con đang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà. Điều đó ta có thể thấy rõ qua lới dặn của bà: “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ. “Cứ bảo nhà vẫn đươc bình yên!”. Lới dăn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình. Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lòng để yên lòng người nơi tiền tuyến. Hình ảnh người bà không chỉ còn là người bà của riêng cháu mà còn là một biểu tượng rõ nét cho nhữnh người phụ nữa Việt Nam giàu đức hi sinh, thương con qúy cháu. Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn, một ngọn lửa: “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”. Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn lửa của tình yên thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng si sáng cho con đường đứa cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu. Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thớ muốn gửi tới bạn đọc, qua đó cũng là những bài học sâu sắc từ công việc nhỏ, lửa tưởng chừng đơn giản: “ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm” Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng đượm” đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như một lần nữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu. “Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi” Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩ tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống vơi nhau, những năm tháng mà hai bà cháu mình cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì. “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” “Nồi xôi gạo mới sẻ chung vui” của bà hay là lời răng dạy cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ. “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”. Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đấy đủ về vật chất mà còn là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp, thêm huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim nhân hậu, người bà kì diệu đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị nhưng có một sức mạnh kì diệu tứ trái tim, ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh: “Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng.” Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà.Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như tình cảm dâng trào lớp lớp sóng vỗ vào bãi biển xanh thẳm lòng bà. Người bà đã là, đang là và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ở bất kì phương trời nào. Bà đã trờ thành một người không thể thiếu trong trái tim cháu. Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, nhà thơ Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về bà: “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Xa vòng tay chăm chút cuả bà để đến vơí chân trơì mới, chính tình cảm cuả hai bà chaú đã sưởi ấm lòng tác giả trong cái muà đông lạnh giá cuả nước Nga. Đứa cháu nhỏ cuả bà ngàu xưa giờ đã trưởng thành nhưng trong lòng vần luôn đinh ninh nhớ về góc bếp, nới nắng mưa hai bà cháu có nhau. Đưá cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ cuả đưá chaú đã được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó. Qua bài thơ, bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lửa hồng và dáng người bà lặng lẽ ngồi bên. Bếp lửa là hình ảnh đẹp nhằm gợi tả sự ấm áp của gia đình đối với mỗi người. Bài thơ “Bếp lửa” sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc nhờ sức truyền cảm sâu sắc cuả nó. Bài thơ đã khơi dậy trong lòng chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, với những người đã tô màu lên tuổi thơ trong sáng cuả ta.TÌNH NGƯỜI TRONG BẾP LỬACó lẽ khi nhắc về quá khứ, nhất là những thời điểm đẹp đẽ, người ta vẫn thường kể nhiều hơn. Với “Bếp lửa” nhà thơ Bằng Việt thực đã dắt dẫn người đọc vào sâu trong mạch kể, mạch hồi tưởng của ông. Hồi ức đẹp một đi không trở lại của tuổi thơ được tái hiện không phải bằng một trí nhớ lan man, chắp vá. Trái lại, ở sâu trong tiềm thức của tác giả, hình ảnh “Bếp lửa” và “người bà” lúc nào cũng tỏ sáng lạ kì – trở thành một điểm đi về trong cõi nhớ. Dòng suy tưởng và hoài niệm của người cháu xa quê nhà có lẽ đều được khởi nguồn từ những hình ảnh đầy giản dị mà thân thương, ấm áp vô cùng. Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hum nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay. Cái “nỗi nhớ về bếp lửa” được nói trực tiếp song không vì thế mà giảm đi phần sâu lắng, tinh tế. Hình ảnh “Bếp lửa” gợi nhớ bằng nhiều giác quan bằng trí tưởng tượng. Thị giác (chờn vờn sương sớm), cảm giác (ấp iu nồng đượm) và khướu giác (sống mũi còn cay) rồi xúc giác (hun nhèm mắt cháu). Tác giả hướng mọi giác quan để quay về sống lại kỉ niệm trong trí tưởng tượng. Dường như không còn cảm giác khoảng cách của thời gian ở đây nữa, mọi hình ảnh gắn với bếp lửa đã tái hiện chân thật, rõ ràng từ một thời kí ức xa xôi! Hình ảnh bếp lửa còn gắn với người bà đầy thân thương. Tuy không trực tiếp nói ra song người đọc hình dung được công việc của người bà: “nhóm bếp”. Tuổi thơ của cháu gắn với bếp lửa, với mùi khói cay nhèm và cũng gắn chặt với bà. Phải chăng hình ảnh: “Một bếp lửa ấp iu nồng đượm” chính là hoá thân của tình cảm bà dành cho cháu. Vì vậy có lẽ tìm về với bếp lửa quê nhà cũng chính là tìm về tuổi thơ sống bên bà dành cho cháu. Sự tương đồng đẹp đẽ ấy dễ thường mấy ai nhận ra. Chỉ có Bằng Việt với khoảng cách thời gian đầu đời trong sáng được gắn bó bên bà mới có thể “cảm” sâu sắc đến thế, cái tưởng chừng quá bình dị, mộc mạc. Đắm mình trong dòng hồi ức tươi mát của tác giả, chúng ta muốn tìm đến với những tình thương yêu nồng hậu như thế. “Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế… Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Cái ấm áp của “Bếp lửa” và “tình người” trong sự tương đồng, ta đã biết. Đằng sau đó dường như còn có một sự tương đồng nữa. Bếp lửa và người bà đều là những gì gắn bó, thân thương nhất với kỉ niệm của cháu. Nếu “Bếp lửa củi rơm” gắn với cảm nhận “mùi khói”, với kỉ niệm “khói hun nhèm mắt cháu”, với dư vị “sống mũi còn cay” thì người bà gắn với tuổi thơ cháu vừa như một người biết chăm sóc, vừa như một người bạn lớn. Những kí ức như ùa vào trong tâm tưởng cháu. Đó là từ năm: “lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói”, lại cả những năm “đói mòn đói mỏi”, những lúc bà hay kể chuyện những ngày ở Huế những khi “giặc đốt nhà cháy tàn, cháy trụi”… Từ lúc nào tuổi thơ nhỏ bé của cháu đã được truyền hơi ấm từ bếp lửa, từ bà! Một điều không thể ngẫu nhiên là: mỗi khi nhắc về bếp lửa thì lại thấy xuất hiện người bà và mỗi khi xuất hiện người bà lại thấy công việc của bà xoay quanh bếp lửa. Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc. Không nói mà tình cảm vẫn dạt dào, không hô hào, bồng bột mà người ta vẫn không thể làm ngơ trước sự chân thành. Đó có lẽ là những gì Bằng Việt đã làm khi dựng lên hình ảnh song song mà hoà hợp với nhau giữa “Bếp lửa” và “người bà”. Trong kỉ niệm, trong cảm xúc của mỗi nỗi nhớ, lí trí đã nhường chỗ cho tình cảm và cái rõ ràng, minh bạch đã nhoè đi để được thêm những cái mơ màng, chập chờn của hồi ức. Hình ảnh bà và bếp lửa qua tâm trạng ấy đã đồng nhất, hoà quyện với nhau. Tuy một mà hai tuy hai mà một để chỉ còn hiện lên trong tâm tưởng người cháu của một cái gì thật ấp iu, nồng đượm. Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ xét cho kĩ thì chính là điểm gợi hứng, là cầu nối để đứa cháu phương xa ngàn dặm gửi tình thương nỗi nhớ về bà, về quê hương. Nhưng qua dòng hồi tưởng nhẹ nhàng tươi mát của cháu, bếp lửa của củi rơm kia cũng không còn là bếp lửa bình thường như cái nhìn trước đó. Nó trở thành một hình ảnh cứ trở đi trở lại trong bài thơ, trong tâm trí người cháu và không lần nào cái bếp lửa bình dị ấy không gắn với hình ảnh người bà tảo tần, đầy thân thương. Và vì lẽ đó mà người ta có cảm giác bếp lửa kia chính là tình cảm của người bà đôn hậu. Nếu có một bếp lửa quê nhà vẫn “chờn vờn sương sớm” thì cũng có một ngọn lửa tình bà “ấp iu nồng đượm”. Có lúc hai thứ lửa ấy cùng tách ra, lại có khi hợp cùng nhau. Khi tách ra nó gợi về những kỉ niệm: kỉ niệm về bếp lửa củi rơm (“khói hun nhèm mắt cháu”, “sống mũi còn cay”) kỉ niệm về bếp lửa tình bà (“Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế”, “bà dạy cháu làm bà chăm cháu học”) Nhưng khi đã hoà hợp với nhau nó trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, kì lạ biết bao trong cái bình dị. Sống mũi còn cay là thực của ngày xưa ngồi cạnh bếp lửa, bên bà và là thực của hôm nay (và chắc là mãi mãi) của tình bà cháu. Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới xẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm hồn tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng liêng – Bếp lửa”. Trong cái hoà quyện tuyệt vời, người ta thấy cái nóng cái đượm của bếp lửa củi rơm cũng như cái nồng cái ấm áp của bếp lửa lòng người. “Bếp lửa” kì lạ, thiêng liêng ấy nhóm “khoai sắn ngọt bùi”, “nồi xôi gạo mới” cũng dành nhóm cả “niềm yêu thương”, “tâm tình tuổi thơ”. Thực là diệu kì. Tại sao nói đoạn thơ trên là một trong những đoạn hay nhất của bài thơ, câu trả lời có lẽ nằm ở cái tình ấm lửa trong đó mà lúc nào cũng được ấp ủ. “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”. Tình cảm của bà rõ ràng đã được tượng trưng hoá với “ngọn lửa”. Nếu nói “Bếp lửa” e chưa thật trúng, còn nói “ngọn lửa” thì người ta cảm thấy cái linh hồn, tình cảm đã nằm ngay ở đó. Ngọn lửa ấy phải chăng là tâm huyết, nhiệt huyết (chứa niềm tin dai dẳng) phải chăng là tình yêu (lòng bà luôn ủ sẵn). Từ “Bếp lửa” đến “ngọn lửa” có lẽ là hành trình từ cái đơn sơ giản dị đến những cái thiêng liêng cao cả, từ cái thực đến cái linh hồn. Một lần nữa hình ảnh “Bếp lửa” hay “ngọn lửa” đã tiếp tục tôn cao lên tấm lòng chân chất, tình thương giản dị sâu sắc mà đôn hậu của bà. Có thể chấp nhận được chăng khi ta hình dung “Bếp lửa” trong kí ức tuổi thơ của tác giả chính là hiện hữu của một tình yêu nồng nàn, đượm đà bà dành cho cháu? Cái chính là bà lúc nào cũng ấp ủ một ngọn lửa vô hình song “dai dẳng”, “thiêng liêng” để lúc nào cũng vậy hễ nhắc tới “Bếp lửa” thì tác giả và người đọc luôn cảm thấy có bà trong đó. Chẳng phải vô tình mà trong suốt bài thơ, hình ảnh “Bếp lửa” cứ ám ảnh tâm trí Bằng Việt như vậy. Không dưới mười lần tác giả nhắc tới hình ảnh đó và lần nào cũng kèm theo sự xuất hiện của bà. Tác giả đang làm cái công việc của người đi so sánh, thí dụ giá trị hai vẻ đẹp “Bếp lửa” và “người bà” chăng? Không hẳn như vậy! Đọc kĩ lại ta thấy Bằng Việt đã làm một mĩ từ pháp có hiệu quả cao nhất: ẩn dụ. Hình ảnh bếp lửa là ẩn dụ của ngọn lửa nồng hậu nơi người bà, và tình cảm người bà chính là ẩn dụ ngọn lửa – một thứ tình yêu cao cả nhất. Ta đã biết “người bà” và “Bếp lửa” là hai giá trị chẳng thể nào tách rời trong hồi ức của tác giả thì lẽ nào tác giả lại đi làm công việc trái ngược nhau: phân tích hai hình ảnh để so sánh? “Bếp lửa” tượng trưng cho cái đơn sơ, khiêm nhường. Đã bao giờ chúng ta nghĩ về bếp lửa nhà mình như thế này chưa: nó giản dị, đơn sơ (chỉ vài que củi, một ôm rơm, một cái kiềng là thành một bếp lửa). Nó cũng thật khép nép khi thu mình vào trong góc bếp chật chội. Nhưng bếp lửa cũng là một cái gì đó rất ấm áp nồng đượm (những ngày đông lạnh thấu da thấu thịt). Người bà cũng vậy: thật chân chất, mộc mạc, dân dã, quê kiểng song ẩn chứa tình yêu vô bờ, tha thiết, chan chứa. Qua con mắt nhà thơ, bếp lửa và bà bình dị, cao quí, thiêng liêng. Lấy hình ảnh của bếp lửa để nói về tình cảm của bà dành cho mình, thiết tưởng Bằng Việt phải nặng lòng với bà, với quê hương lắm. Một đứa con xa quê hương, một đứa cháu xa bà luôn luôn thường trực trong nỗi nhớ về “Bếp lửa” – về tình yêu ấm nồng tưởng như cái lạnh cái cô đơn ở quê người cũng đôi chút vợi đi vậy. Nhưng nhớ về cái “Bếp lửa” phải chăng cũng đồng nghĩa với việc nhớ quê nhà, nhớ về bà đồng nghĩa với việc nhớ về tổ ấm gia đình với niềm vui sum họp. “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu Có lửa trăm nhà. Niềm vui trăm ngã Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…” Trong tình cảm của bà có tình cảm của đất nước, tác giả nhớ đến tình bà cũng là nhớ đến đất nước quê hương. Có người từng nói: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc” Nói như vậy có nghĩa là tình cảm của bà trở nên lòng yêu Tổ quốc là một ẩn dụ của tình cảm của đất nước dành cho những người xa quê. Hành trình từ “Bếp lửa” đến “Bếp lửa” là hành trình của giọt nước hoà vào suối và đổ ra sông… Càng ngày càng thiêng liêng, cao cả. “Bếp lửa” là một dòng hồi tưởng “chờn vờn”, “nồng đượm”, rực sáng mãi không thôi trong lòng những người dù chỉ đến với nó một lần. Làm sao chúng ta sống lại tuổi ấu thơ cảm động bên người bà yêu dấu với tình thương bao la, sâu đậm ở một miền quê còn nhiều đau khổ. Một ngọn lửa mãnh liệt như vậy liệu có bao giờ vụt tắt được chăng?
Phân tích bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt
4,175
Phân tích bài thơ Bếp Lửa lớp 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Bếp Lửa lớp 9 Bài làm Bằng Việt sinh năm 1941, là một nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Năm 1963, Bằng Việt sáng tác bài thơ Bếp Lửa, một bài thơ có nhiều đặc sắc về giá trị nghệ thuật và nội dung. Đặc biệt có giá trị về mặt nội dung bài thơ, gợi lại những kỉ niệm về người bà tình cảm bà cháu sâu sắc, thấm thía. Bài thơ đã để lại nhiều cảm xúc đối với người đọc. “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” Mở đầu bài thơ là sự hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa và tấm lòng cháu thương bà. Theo dòng hồi tưởng của tác giả, bếp lửa chờn vờn sương sớm là hình ảnh gần gữi quen thuộc trong mỗi gia đình từ bao đời. Từ láy chờn vờn giúp ta hình dung nàn sương sớm đang bay nhè nhẹ quanh bếp lửa, vừa gợi cái mờ nhạt của hình ảnh kí ức theo thời gian. Ấp ui là một sự sáng tạo của nhà thơ trẻ, gợi đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng tri chút và rất đúng với việc nhóm lửa cụ thể. Đồng thời cách nói ẩn dụ biết mấy nắng mưa gợi ra phần nào cuộc đời vất vả, lo toan của bà. Vậy từ hình ảnh bếp lửa liên tưởng đến người nhóm lửa, nhóm bếp – đến lỗi nhớ tình thương với bà. Vậy là kỉ niệm đã sống dậy từ tình cảm cháu nhớ thương bà và cuộc sống của hai bà cháu đầy khó khăn, gian khổ: “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” Kỉ niệm thời thơ bé khi lên bốn tuổi kỉ niệm một thời đen tối, đói khổ. Thành ngữ ” Đói mòn đói mỏi” phản ảnh tuổi thơ có bóng đen ghê rợn của nạn đói 1945 có mối lo giặc tàn phá xóm làng. Bao nhiêu kỉ niệm xưa được nhớ lại trong đó có một ấn tượng về khói bếp. Nhà thơ đã chọn chi tiết thật đặc sắc: Mùi khói, khói hun vừa miêu tả chân thực cuộc sống tươi thơ. Vừa biểu hiện thấm thía những tình cảm lúc da diết bâng khuâng, xót xa thương mếm, lời thơ nghĩ lại đến giờ sống mũi còn còn cay. Nhấn mạnh dòng kỉ niệm, xoay sâu trong tiềm thức, lay mạnh cả thể xác con người. Hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa và mùi khói cùng hình ảnh bà hiện ra trong nỗi nhớ thương ngậm ngùi. Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế” Đoạn thơ tiếp theo gợi nhắc một vài kỉ niệm sâu sắc về bà trong suốt thời gian ” 8 năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa ” bếp lửa quê hương – bếp lửa của tình bà cháu lại gợi lên một liên tưởng khác, sự xuất hiện của tiếng chim tu hú. Tiếng chim quen thuộc khi vào hè, một điều gì da diết lắm khiến lòng người chỗi dạy những hoài niệm nhớ mong. Đó là hình ảnh của bà, người bà đáng kính đáng yêu suốt những năm dài khó nhọc đã chăm sóc dạy dỗ cháu lên người, lời thơ gồm hai vế tiểu đối cân xứng, nhịp thơ êm ái hài hòa các từ ngữ bà bảo, bà dạy, bà chawm diễn tả một cách sâu sắc, tấm lòng đôn hậu, tình thương bao la, sự chăm chút của bà với cháu. Bà thức khuya dạy sớm nhóm lửa làm cho tâm hồn thơ bé của cháu sống trong cảnh xa cha mẹ trở lên ấm áp. Âm thanh tiếng chim tu hú với hình ảnh bà kết hợp hài hòa được diễn tả với nghệ thuật cảm thán, câu hỏi tu từ đã khắc sâu nỗi nhớ thương da diết của cháu với bà. Tác giả khéo lựa chọn hai hình ảnh: Bếp lửa và âm thanh tiếng chim tu hú để nói lên lòng kính yêu sự thương nhớ và biết ơn bà. “Mẹ cùng cha bận công tác không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học. Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố, Mày có viết thư chớ kể này kể nọ, Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”. Miên man theo dòng cảm xúc hồi tưởng hình ảnh bà càng hiện lên rõ nét cụ thể với những phẩm chất cao quí. Sống trong những năm dài chiến tranh khi giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi, được sự đỡ đần của bà con hàng xóm, hai bà cháu dựng lại túp lều tranh nhưng bà vẫn bình tĩnh vững lòng đinh ninh… Làm tròn nghĩa vụ hậu phương để người đi xa công tác được yên lòng. Lời dặn trực tiếp của bà khi cháu viết thư cho bố không chỉ giúp người đọc hình dung rõ ràng, giọng nói tình cảm suy nghĩ của bà mà còn sáng lên phẩm chất của người bà, người mẹ Việt Nam yêu nước đầy lòng kiên trì, nhóm lửa, giữ lửa. “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng… ” Bếp lửa được bà nhem lên không chỉ bằng nguyên bên ngoài mà còn chính được nhem lên từ trong lòng bà – Ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương niềm tin bởi vậy từ bếp lửa, gợi đến ngọn lửa với ý nghĩa trùi tượng khái quát. ” Rồi sớm…dai dẳng”. Như thế hình ảnh bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa, ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp. Đồng thời với nghệ thuật sử dụng điệp ngữ (rồi sớm, rồi chiều) bà ủ sẵn một ngọn lửa thể hiện niềm tự hào, lòng biết ơn bà đối với đức hi sinh tần tảo bền bỉ của người bà kính yêu. “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi, Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui, Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ… Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa! ” Những suy nghĩ của cháu về bà và việc bà nhóm lửa trong suốt cuộc đời trải qua ” bao nắng mưa mấy chục năm rồi” bà nhóm lửa không chỉ bằng đôi bàn tay gầy guộc mà bằng cả tấm lòng đôn hậu ” Ấp lai lồng độm… của bà với cháu và mọi người. Điệp từ nhóm cùng câu thơ cảm thán khắc sâu hình ảnh người bà tiêu biểu cho những phẩm chất cao quí của người phụ nữ Việt Nam, tần tảo, nhẫn lại đầy yêu thương. Bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui sự sống, niềm yêu thương chăm chút dành cho con cháu và mọi người chính vì thế mà nhà thơ cảm nhận được trong hình ảnh bếp lửa bình dị gần gũi thân thuộc sự kì diệu thiêng liêng: ” Ôi! kì lạ và thiêng liêng bếp lửa. Bếp lửa thật giản dị, bình thường và phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam, nhưng bếp lửa cũng thật cao quý, kì diệu, thiêng liêng vì nó luôn gắn liền với bà – người giữ lửa tạo lên tuổi thơ ấu của cháu… Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…” Dù ở đâu, làm gì bây giờ và mãi mãi người cháu không thể quên bà và bếp lửa. Khói trăm tàu lửa, thăm nhà sẽ nhắc nhở cháu luôn nhớ về cội nguồn quá khứ dù đó là những ngày vất vả gian lao. Câu thơ kết trở về thời hiện tại. Nhà thơ lại muốn hỏi bà, nhắc bà việc nhóm báo để nói cái ý không bao giờ quên quá khứ, không bao giờ quên được hình ảnh bà, của một thời thơ ấu nghèo khổ gian nan và ấm áp nghĩa tình. Như vậy, hình ảnh trung tâm mở đầu khơi nguồn mạch cảm xúc của nhà thơ đã được khép lại bằng chính hình ảnh đấy. Tóm lại, Bài thơ ” Bếp lửa” đã khơi dậy cho mỗi chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với quê hương, gia đình và xã hội. Càng đọc, càng suy ngẫm thấm thía từng lời thơ của Bằng Việt ta lại càng hiểu thế nào là nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, nhớ hình ảnh quen thuộc gắn liền với bếp lửa. Qua bài thơ, tác giả muốn gửi gắm cho các thế hệ chúng ta cần phải nhớ về cội nguồn, nhớ về những nơi đã sinh ra ta khôn lớn, nhớ về những hình ảnh thiêng liêng bên bếp lửa để giúp cho cuộc sống của chúng ta trở lên ý nghĩa hơn.
Phân tích bài thơ Bếp Lửa lớp 9
1,623
Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh Bài làm Bài Chiều tối có lẽ hé mở cho ta nhìn thấy một thoáng ước mơ thầm kín về một mái nhà ấm, một chỗ dừng chân trên con đường dài muôn dặm… Chiều tối là bài thơ thứ ba mươi mốt trong tập Nhật kí trong tù, ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên đường bị giải đi qua hết nhà lao này đến nhà lao khác. Trên con đường khổ ải ấy, một chiều kia, Người chợt nhận thấy cánh chim chiều. Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Câu thơ không giản đơn chỉ ghi lại cảnh vật mà còn bộc lộ mối tình cảm của nhà thơ. Làm sao biết rõ được là chim đang mỏi, và làm sao nói chắc được mục đích của chim là về rừng tìm chốn ngủ, như thể ở trong lòng chim mà ra? Câu thơ chỉ là tín hiệu cho thấy là trời đã chiều, mọi vật hoạt động ban ngày đã mỏi mệt, đã đến lúc tìm chốn nghỉ ngơi. Câu thơ tương phản với hình ảnh chòm mây cô đơn ở dưới. Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không. Câu thơ dịch tuy đẹp nhưng ý thơ có phần nhẹ hơn so với nguyên tắc chữ Hán. Nó bỏ mất chữ cô trong cô vân, nghĩa là chòm mây cô đơn, trơ trọi rất có ý nghĩa. Hai từ trôi nhẹ cũng không lột tả được ý của mấy chữ mạn mạn độ. Bởi vìđộ là hoạt động nhằm đi từ bờ này sang bộ kia, ví như độ thuyền đi từ thuyền sang sông, độ nhật ở cho qua ngày, độ thiên không là chuyển dịch từ chân trời này sang chân trời kia, con đường của mây mới xa vời và vô hạn biết chừng nào! Còn mạn mạn là dáng vẻ trì hoãn, chậm chạp. Chòm mây cô đơn đi từ chân trời này sang chân trời kia, mà lại còn chậm chạp, trì hoãn nữa thì không biết bao giờ mới tới nơi? Và hiển nhiên khi trời tối nó vẫn còn lửng lơ bay giữa tầng không là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi trên đường xa vạn dặm, chưa biết đây là điểm dừng! Trong hình ảnh ấy hẳn còn gửi gắm tình cảm thương mình cô đơn sốt ruột và khao khát có một mái nhà. Chỉ hai câu thơ mà vừa tả cảnh, vừa tả người, tả tình người. Đó là cái hàm súc, dư ba của thơ cổ điển. Nếu hai dòng đầu đã nói tới chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn chưa biết dừng nơi nào, thì hai câu thơ của bài thơ sau hiện diện một chốn ngủ của con người: Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng. Trong bản dịch, người dịch đã đưa vào chữ tối lộ liễu trong khi thi pháp thơ cổ chỉ muốn người đọc tự cảm thấy chiều tối phủ xuống mà không cần một sự thông báo trực tiếp nào. Điều đó làm lộ tứ thơ. Nhưng đó là cái khó của người dịch. Điều đáng chú ý là một cảnh lao động gia đình, rất đỗi bình thường, dân dã: Cô em xóm núi xay ngô hạt, ngô hạt xay xong, bếp đã hồng. Cô em, bếp lửa tượng trưng cho cảnh gia đình. Ngô hạt xay xong, bếp đỏ hồng lại, tượng trưng cho công việc và nghỉ ngơi. Một không khí ấm cúng đối với người lữ thứ. Điều đáng chú ý thứ hai là trong nguyên tác chữ hồng là ấm, nóng chứ không phải là màu đỏ, càng chứng tỏ điều nhà thơ nghĩ đến là sức ấm nóng, chứ không phải là ánh sáng hồng. Bếp lạnh, tro tàn là tượng trưng cho sự cô quạnh, lẻ loi. Điều đáng chú ý thứ ba là nhà thơ đứng ở núi như thế, y như thể đứng gần gũi bên cạnh. Lại nữa, nhà thơ phải đứng rất lâu mới thấy được cảnh thời gian trôi trong câu: Cô em xóm núi xay ngô hạt – Ngô hạt xay xong bếp đã hồng. Đây chỉ là bài thơ trên đường. Vậy, đó chỉ là cảnh tưởng tượng trong tâm tưởng, trước xóm núi bên đường, xuất hiện như là biểu trưng của mái ấm gia đình, nơi đoàn tụ của những người thân thuộc. Cái này tuy không sáng bừng lên màu hồng lạc quan của cách mạng như ai đó hiểu, cũng vẫn ấm áp tình người, làm cho nỗi lòng người đi vơi bớt nỗi cô đơn, tĩnh mịch. Cùng với hình ảnh ấy, một ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình thấp thoáng đâu đó. Nếu ta chú ý tới bài thơ trước bài này là bài Đi đường: Đi đường mới biết gian lao Núi cao rồi lại núi cao trập trùng. Một con đường vô tận, và bài sau đó là bài Đêm ngủ ở Long Tuyền, Đôi ngựa ngày đi chẳng nghỉ chân, món Gà năm vị: tối thường ăn; thừa cỏ rét, rệp xông vào đánh, oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần. Thì ta sẽ thấy sự xuất hiện của khung cảnh gia đình kia là rất dễ hiểu. Nó chứng tỏ trái tim của nhà cách mạng vẫn đập theo những nhịp của con người bình thường gần gũi với mọi người. Nghệ thuật của bài thơ là một nghệ thuật gián tiếp cổ điển, nói cảnh để nói tình. Hình ảnh trong thơ cũng là tâm cảnh. Nếu chỉ phân tích nó như một bức tranh hiện thực đơn giản, chắc chắn ta sẽ rời xa thế giới nội tâm phong phú của nhà thơ.
Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ chí Minh
966
Phân tích bài thơ Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh Hướng dẫn Phân tích bài thơ Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh Bài làm: Nguyên văn chữ Hán: Mộ Quyện điều qui lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mạn độ thiên không Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng (Theo Thơ Hồ Chí Minh – NXB Giáo dục – 1986) Hoàng hôn (Bác có bài thơ nhan đề như thế) là buổi chiều, Mộ là chiều tối. Chiều tối trên con đường bị giải đi từ nhà lao này sang nhà lao khác. Bản dịch khá sát trừ một chỗ, “Sơn thôn thiếu nữ” nghĩa là “thiếu nữ xóm núi” dịch là “cô em xóm núi” mà chúng ta sẽ đề cập ở sau. Bài thơ tức cảnh “chiều tối” trên đường bị giải đi. Chỉ có cảnh được quan sát, không nói tới mình. Đặt trong hoàn cảnh Nhật kí trong tù ra đời, ta mới biết là thơ làm trên đường bị giải đi của Bác, một người tù. Nếu không, hẳn không ai biết tác giả đã “thành thơ” trong hoàn cảnh nào. Nhật kí trong tù có nhiều bài thơ như thế bởi về mặt tinh thần, Bác không xem mình là tù nhân, bị tù đày. Phương châm này đã được nêu lên từ đầu: “Thân thể ở trong lao ; Tinh thần ở ngoài lao”.Vì vậy không phải trong Chiều tối, trong nhiều bài khác, Bác cũng không phải là “hình ảnh một người tù” bằng xương, bằng thịt. Dù giải đi từ “Gà gáy một lần đêm chửa tan” hay “Năm mươi ba cây số một ngày ; áo mũ dầm mưa ướt hết giày” hoặc qua “Núi cao rồi lại núi cao trập trùng”. ở đây cũng thế. Chiều tối mà vẫn trên đường đi, nhưng nhìn phong cảnh dọc đường Bác vẫn vui, vẫn với con mắt, tấm lòng ấm áp, vẫn nên thơ. Nhìn xung quanh “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”, nhìn lên trời cao “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” và nhìn về phía xa trong xóm nhỏ của một vùng núi nào đó ở quê người đất khách bị lưu đày “cô em xóm núi xay ngô tối…”. Bốn câu thơ tả cảnh, thì hai câu thơ đầu còn thuộc về chiều, nghĩa là còn nhìn được cảnh vật bằng chính nó. Hai câu thơ sau thuộc về tối, nghĩa là Bác vẫn phải đi, tối xuống dần, đến lúc cảnh vật chỉ có thể nhìn khi nó phát sáng, có ánh sáng. Trước hết nhìn thấy lò than rực đỏ thấy cô thiếu nữ xay ngô, nghe tiếng cối xay ngô. Cảnh trước vắng lặng, thoáng nhẹ, ấm áp. Cảnh sau sinh động, rực sáng. Cảnh trước có cái đẹp của chiều rộng, của không gian rộng. Cảnh sau thu vào một điểm, điểm sáng và làm sáng lên cả bài thơ. Trái với cái không gian, thời gian thực của chiều dần dần tối. Nghĩa là ngoại cảnh thì tối dần mà thơ thì bừng sáng. Hai câu thơ đầu còn thoảng một nỗi buồn khi nhìn cảnh vật. Chim đã có chỗ trú ngụ, mây được tự do nhởn nhơ, vô tư, mà người thì còn phải lặn lội trên đường, không được tự do và bị dày vò bởi bao nỗi băn khoăn, lo nghĩ. Nhưng cũng chỉ một thoáng tư lự, cảnh vật trong mắt nhìn của Bác vẫn không “âm u”, “không sắc màu” như có người cảm nhận. Hai câu thơ sau ghi lại cảnh “cô em xóm núi xay ngo tối” nhưng chính vì thấy “lò than đỏ” mà Bác rũ bỏ hết chút thoáng tư lự vừa đến. Cái màu đỏ được Bác cảm nhận thật nhạy bén nên qua “màu đỏ” ấy người ta có thể nghĩ thêm nhiều điều. Bài thơ viết về chiều tối nhưng người đọc thấy sáng. ấy là do tác giả của nó – Bác – nhìn chiều tối bằng ánh sáng của tâm hồn, nhãn quan của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại.
Phân tích bài thơ Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh
683
Phân tích bài thơ Chiều Tối – Hồ Chí Minh Hướng dẫn Mở bài: Tập thơ Nhật kí trong tù được viết trong khoảng thời gian Bác bị giam cầm ở nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch, từ 8/1942 – 9/1943. Trong 13 tháng bị giam cầm, Bác đã phải trải qua nhiều lần chuyển lao. Nhiều lần, Người phải bước đi trong đêm tối mưa gió, giá rét và phải chịu đựng bao cảnh ốm đau,… Chính vì thế mà trong tập thơ Nhật kí trong tù có cả một mảng thơ viết về cảnh đi đường, chuyển lao. Bài thơ Chiều tối là bài thơ tiêu biểu cho chủ đề ấy. Thân bài: Bài thơ Chiều tối được Bác sáng tác vào cuối mùa thu (1942), trên con đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Đó là vào một buổi chiều tối, dù đã phải trải qua một ngày vất vả nhưng Bác vẫn tiếp tục bị bọn lính áp giải trên đường. Đêm đến, Bác thường phải nghỉ trong nhà giam chật hẹp, bẩn thỉu và tư thế khổ ải, tay bị xích, chân bị cùm. Nói cách khác, ở thời điểm chiều tối ấy, những đầy đọa ban ngày vẫn chưa qua và những đầy đọa ban đêm sắp đến. Vậy mà ở đây, trong bài thơ của Bác tuyệt nhiên không có một chữ, một chi tiết nào nói về cảnh tù đày. Ở đó chỉ có một thiên nhiên bát ngát, cao trong, thanh bình êm ả; chỉ có một hồn thơ thư thái, ung dung, say mê hướng về sự sống, hướng về phía ánh sáng và hạnh phúc trong lao động của con người. Trước hết, cảnh chiều tối hiện ra qua những nét vẽ chấm phá bằng bút pháp cổ điển của Đường thi: một cánh chim mỏi mệt bay về rừng, một chòm mây đơn độc trôi nhẹ về phía trời xa. Trong khung cảnh ấy, tuy không miêu tả âm thanh mà nghe thật vắng vẻ quạnh hiu, tuy không có màu sắc mà thấy thật thâm u, huyền bí: Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mạn độ thiên không (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không) Hình ảnh cánh chim, chòm mây rất quen thuộc trong thơ ca cổ điển khi viết về cảnh hoàng hôn, chiều tà. Mặc dù, lúc viết bài thơ này, Bác rất mệt mỏi sau khi trải qua một chặng đường dài, chưa kịp nghỉ ngơi. Thế nhưng cảm xúc của Bác vẫn hết sức thanh thản, ung dung và đôi mắt của Người vẫn hướng lên bầu trời cao, vẫn dõi theo cánh chim và chòm mây trên bầu trời xa. Trong câu thơ ít nhiều cũng thể hiện tâm trạng nỗi buồn của Bác: cánh chim, chòm mây hướng về nơi trú ngụ còn con người không biết đi đâu về đâu! Lạc hà dữ cô lộ tề phi Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc (Thôi Hộ) (Cánh chim bay cùng ráng chiều Mặt nước hồ thu cùng với trời cao một màu) Nguyễn Du nhìn thấy sự mệt mỏi trong cánh chim trong buổi chiều rệu rã: “Chim hôm thoi thóp về rừng” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) Sau này, trong bài thơ Tràng Giang, Huy Cận cũng viết: “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều xa” Như vậy, cánh chim chiều vừa mang ý nghĩa không gian vừa mang ý nghĩa thời gian. Trong thơ của Bác cũng vậy chỉ khác đây không chỉ đơn thuần là “cánh chim bay” mà là “cánh chim mỏi”. Bác nhìn theo cánh chim bay về rừng không chỉ với cái nhìn thường thức đơn thuần mà còn gửi vào đó sự lưu luyến trìên mến của một tấm lòng yêu thương vô hạn đối với biểu hiện nhỏ nhoi của sự sống. Dường như qua cánh chim nhỏ nhoi ấy, Bác đã cảm nhận ở đó có cái gì gần gũi tương đồng. Suốt một ngày bay đi kiếm ăn vất vả, cánh chim trở về rừng tìm cây trú ngụ qua đêm để sáng mai tiếp tục nhịp tuần hoàn của cuộc sống. Và người tù cũng vậy, cũng mệt mỏi sau một ngày vất vả cất bước trên đường trường. Câu thơ có biết bao sự hòa hợp, cảm thông giữa tâm hồn nhà thơ với cảnh vật thiên nhiên, đất trời. Không gian được mở rộng thêm bằng hình ảnh “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Trong nguyên văn chữ Hán, câu thơ đẹp như một bức tranh Đường thi: “Cô vân mạn mạn độ thiên không”. Chòm mây lẻ loi, lửng lờ trôi qua lưng trời, chưa biết đi đâu trong khi hoàng hôn đang dần buông xuống. Bản dịch thơ đã phần nào làm mất đi vẻ đơn độc và nhịp trôi chầm chậm của đám mây qua những chữ “cô vân”, “mạn mạn”. Đọc đến đây, chúng ta không khỏi liên tưởng đến câu thơ của Thôi Hiệu: “Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” (Hoàng Hạc Lâu) Hay ý thơ của Nguyễn Khuyến: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu Điếu) Nhưng trong thơ của Bác, đó không phải là áng mây trắng ngàn năm phiêu diêu giữa bầu trời mênh mang gợi sự vĩnh hằng, bất biến. Đó cũng không phải tầng mây lơ lửng giữa trời thu xanh ngắt gợi bao nổi nhớ khắc khoải mơ hồ của con người giữa cõi hư không; mà đây chỉ là một chòm mây rất quen thuộc trên bầu trời. Nó gợi tả rất nhiều về cái cao rộng, trong trẻo, êm ả của một chiều thu miền sơn cước. Với chòm mây ấy, không gian như ngừng trôi. Đáng chú ý hơn phải có một tâm hồn thật êm ả, thư thải mới có thể dõi theo một chòm mây thong thả, lơ lửng giữa bầu trời bao la. Không gian tiếp tục chuyển động. Bóng tối nhanh chóng bao trùm cảnh vật nhưng kì lạ thay, từ bản xa, ánh lửa hồng của sự sống xóa tan đêm tối, dẫn hướng người “lữ khách” tìm về nơi trú ngụ: Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng (Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng). Trong nguyên văn chữ Hán của Bác không hề có một chữ “tối” nào. Thế nhưng người đọc vẫn có thể cảm nhận cảnh chiều tối nhờ hình ảnh bếp lửa hồng. Ở cuối câu ba có chữ “ma bao túc” được lặp lại “bao túc ma hoàn” ở câu bốn gợi lên vòng quay của chiếc cối xay ngô. Hình tượng cô gái xoay ngô hiện lên với vẻ đẹp khỏe khoắn, trẻ trung, sống động. Từ bút pháp tượng trưng, Bác chuyển hướng sang tả thực, chuyển hướng cảm xúc từ buồn đến vui, từ bóng tối ra ánh sáng: “Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng”. Hình ảnh thơ mang những nét đời thường nhưng chính cái đời thường ấy đã làm cho bài thơ mang đầy đủ vẻ hiện đại. Đồng thời làm cho hình ảnh con người nổi bật lên như là trung tâm của phong cảnh thiên nhiên. Đến đây, bài thơ từ bức tranh thiên nhiên chuyển sang bức tranh đời sống, từ trời mây chim muôn chuyển sang con người mà lại là con người lao động. Đây là xu hướng vận động của cấu trúc bài thơ. Thực ra, trong những bài thơ vịnh cảnh chiều hôm nổi tiếng thời xưa cũng thấp thoáng bóng dáng con người: Lác đác bên sông chợ mấy nhà”. (Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan) Nhưng ở đó, có con người và thiếu vắng sự sống. Hình ảnh con người chỉ làm tôn thêm cái hùng vĩ, hoang vắng của đất trời, thiên nhiên. Còn ở đây, trong bài thơ của Bác, hình ảnh cô gái xay ngô toát ra vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động và cảnh lao động bình dị ấy càng đáng quý biết bao, đáng trân trọng biết bao giữa chốn núi rừng heo hút. Nó đưa lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui và hạnh phúc trong lao động của con người. Những chữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được lấy âm vắt dòng “bao túc ma hoàn” ở đầu câu bốn đã tạo ra sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như diễn tả cái vòng quay không dứt của tác động xay ngô. Đến đây, không gian rộng lớn ban đầu cũng dần thu hẹp lại. Từ cảnh trời mây bao là đến cảnh xay ngô. Cuối cùng là cảnh bếp lửa hồng. Hình ảnh bếp lửa “rực hồng” tức là hồng lên so với trước. Điều này chứng tỏ trời đã tối rồi. Vậy là một buổi chiều êm ả đã kết thúc, để nhường cho chỗ đêm tối nhưng không phải là đêm tối lạnh lẽo âm u mà là đêm tối ấm áo bừng sáng bởi ngọn lửa hồng. Nếu cả bài thơ Chiều tối là một bức tranh thì cái chấm lửa đỏ mà người nghệ sĩ tài hoa chấm phá lên đó đã mang lại thần sắc cho toàn cảnh. Hình ảnh thiên nhiên lúc nào cũng tràn đầy sức sống. Nó làm tăng thêm niềm vui và sức mạnh cho con người đang cất bước vạn dặm đường xa. Kết luận Bài thơ cho ta thấy cảm quan thiên nhiên ở Bác Hồ thực chất là cảm quan nhân đạo. Cảm quan đầy sức sống bởi vì có cái gì thật nâng niu, trìu mến trong cái nhìn của Bác khi dõi theo một “cánh chim mỏi” và chòm mây đơn độc mà tự do trên bầu trời bao la. Đặc biệt, với hình ảnh đơn sơ của cô gái xay ngô bên bếp lửa hồng, trung tâm cảm hứng của bài thơ lại là con người – con người lao động và ngọn lửa hồng đầy sức sống. Chính vì thế, tuy bài thơ viết về cảnh chiều tối nhưng lại thắp sáng lên trong lòng người đọc một ngọn lửa hồng ấm áp của niềm tin yêu cuộc đời.
Phân tích bài thơ Chiều Tối – Hồ Chí Minh
1,690
Phân tích bài thơ chiều tối Hướng dẫn Ban biên tập hy vọng những bài văn đạt điểm cao dưới đây sẽ là nguồn thông tin tham khảo quý giá để các bạn có thể làm tốt đề bài của mình. Chúc các bạn đạt điểm cao khi lam bài phân tích bài thơ chiều tối của chủ tịch Hồ Chí Minh. Phân tích bài thơ chiều tối bài mẫu 1: Ông Phạm Văn Đồng trong bài viết Hồ Chủ tịch – hình ảnh của dân tộc có nói đại ý: Hồ Chủ tịch là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm mà Người mới đi làm cách mạng. Trong thế giới tình cảm bao la của Người dành cho nhân dân, cho các cháu nhỏ, cho bầu bạn gần xa, hẳn có một chỗ dành cho tình cảm gia đình. Bài Chiều tối có lẽ hé mở cho ta nhìn thấy một thoáng ước mơ thầm kín về một mái nhà ấm, một chỗ dừng chân trên con đường dài muôn dặm. Chiều tối là bài thơ thứ 31 trong tập Nhật kí trong tù, ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên đường bị giải đi qua hết nhà lao này đến nhà lao khác. Trên con đường khổ ải ấy, một chiều kia, Người chợt nhận thấy cánh chim chiều: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Câu thơ không giản đơn chỉ ghi lại cảnh vật mà còn bộc lộ mối tình cảm của nhà thơ. Làm sao biết rõ được là chim đang mỏi, và làm sao nói chắc được mục đích của chim và về rừng tìm chốn ngủ, như thể ở trong lồng chim mà ra? Câu thơ chỉ là tín hiệu cho thấy là trời đã chiều, mọi vật hoạt động ban ngày đã mỏi mệt, đã đến lúc tìm chốn nghỉ ngơi, câu thơ tương phản với hình ảnh chùm mây cô đơn ở dưới: Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không Câu thơ dịch tuy đẹp nhưng ý thơ có phần nhẹ hơn so với nguyên tác chữ Hán. Nó bỏ mất chữ “cô” trong “cô vân”, nghĩa là chòm mây cô đơn, trơ trọi, rất có ý nghĩa. Hai từ “trôi nhẹ” cũng không lột tả được ý của mấy chữ “mạn mạn độ”. Bởi vì “độ” là hoạt động nhằm đi từ bờ này sang bờ kia, ví như “độ thuyền” đi thuyền sang sông, “độ nhật” ở cho qua ngày. “Độ thiên không” là chuyển dịch từ chân trời này sang chân trời kia, con đường của mây mới xa vời vô hạn biết chừng nào! Còn “mạn mạn” là dáng vẻ trì hoãn, chậm chạp. Chòm mây cô đơn đi từ chân trời này sang chân trời kia; mà lại còn chậm chạp, trì hoãn nữa, thì biết bao giờ mới tới nơi? Và hiển nhiên khi trời tối nó vẫn còn lửng lơ bay giữa bầu trời! Chòm mây cô đơn trôi chậm rãi giữa tầng không là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải trên đường xa vạn dặm, chưa biết đâu là điểm dừng! Trong hình ảnh ấy hẳn còn gửi gắm tình cảm thương mình cô đơn, sốt ruột và khao khát có một mái nhà. Chỉ hai câu thơ mà vừa tả cảnh vật, vừa tả người, tả tình người. Đó là cái hàm súc, dư ba của thơ cổ điển. Nếu hai dòng đầu đã nói tới chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn chưa biết dừng nơi nào, thì hai dòng sau của bài thơ hiện diện một chốn ngủ của con người. Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết, lò than đã rực hồng. Trong bản dịch, người dịch đã đưa vào chữ “tối” lộ liễu, trong khi thi pháp thơ cổ chỉ muốn người dọc tự cảm thấy chiều tối phủ xuống mà không cần một sự thông báo trực tiếp nào. Điều đó làm lộ tứ thơ, nhưng đó là cái khó của người dịch. Điều đáng chú ý là một cảnh lao động gia đình, rất đỗi bình thường, dân dã: cô em xóm núi xay ngô hạt, ngô hạt xay xong, bếp đã hồng. Cô em, bếp lửa tượng trưng cho cảnh gia đình. Ngô hạt xay xong, bếp đỏ hồng, lại tượng trưng cho công việc và nghĩ ngơi. Một không khí ấm cúng đối với người lữ thứ. Điều đáng chú ý thứ hai là trong nguyên tác chữ “hồng” là ấm, nóng chứ không phải là màu đỏ, càng chứng tỏ điều nhà thơ nghĩ đến là sức ấm nóng, chứ không phải ánh sáng hồng. Bếp lạnh, tro tàn là tượng trưng cho sự cô quạnh, lẻ loi. Điều đáng chú ý thứ ba là nhà thơ đứng ở núi như thế, y như thể đứng gần gũi bên cạnh. Lại nữa nhà thơ phải đứng rất lâu mới thấy được cảnh thời gian trôi trong câu: Cô em xóm núi xay ngô hạt, Ngô hạt xay xong bếp đã hồng? Đây chỉ là bài thơ trên đường. Vậy đó chỉ là cảnh tưởng tượng trong tâm tưởng, trước xóm núi bên đường, xuất hiện như là biểu trưng của mái ấm gia đình, nơi đoàn tụ của những người thân thuộc. Cái kết này tuy không sáng bừng lên màu hồng lạc quan cách mạng như ai đó hiểu, cũng vẫn ấm áp tình người, làm cho nỗi lòng người đi vơi bớt nỗi cô đơn, tịch mịch. Cùng với hình ảnh ấy một ước mơ thầm kín về mái ấm gia đình thấp thoáng đâu đó. Nếu ta chú ý tới bài thơ trước bài này là bài Đi đường: “Đi đường mới biết gian lao, Núi cao rồi lại núi cao chập chùng” – một con đường vô tận; và bài sau đó là bài Đêm ngủ ở Long Tuyền: “Đôi ngựa ngày đi chẳng nghỉ chân, Món “gà năm vị”: tối thường ăn; Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh, Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần”; thì ta sẽ thấy sự xuất hiện khung cảnh gia đình kia là rất dễ hiểu. Nó chứng tỏ trái tim của nhà cách mạng vẫn đập theo những nhịp của con người bình thường, gần gũi với mọi người. Phân tích bài thơ chiều tối bài mẫu 2: Chiều tối" là bài thơ ra đời trong khoảng thời gian đầu khi bác ở trong tù. Cũng trong thời gian đầu ấy, đã có nhiều bài thơ Bác ghi lại ảnh "trên đường"chuyển lao ("Năm mươi ba cây số một ngày_Áo mũ đầm mưa sách hết ngày")_Mới đến nhà lao Thiên Bảo) và bài này cũng nằm trong mạch các bài thơ "Đi đường"ấy. Bài thơ thể hiện một phong cách nghệ thuật nhất quán là sự thống nhất trong đa dạng của tập "Nhật kí trong tù".Đó chính là sự vận động của hình tượng thơ, trong thơ Bác bao giờ cũng từ bóng tồi hướng ra ánh sáng, từ lạnh lẽo đến ấm áp, từ nỗi buồn đến niềm vui. Điều này cũng được thể hiện rõ trong bài thơ "Chiều tối ". Trong bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng xa lạ có gì như thoáng buồn ẩn chứa những liên tưởng mơ hồ: Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây lơ lửng giữa tầng không ) Câu thơ mang màu sắc của cổ thi bởi bút pháp miêu tả chấm phá và những thi liệu quen thuộc cửa thơ cổ xưa. Không nói đến thời gian chính xác nhưng hình ảnh "cánh chim"đủ sức diễn tả không gian còn mang ý nghĩa thời gian. Hai câu đầu diễn tả cảnh vật trong một buổi chiều tối. Hình ảnh cánh chim và đám mây vừa giàu chất minh hoạ vừa nhớ đến tứ thơ quen thuộc của thi ca cổ điển. Sự mệt mỏi của cánh chim sự cô đơn của đám mây chiều là cảnh vật được nhìn qua tâm trạng của người tù tha phương. Trong lúc mệt mỏi ấy người tù vẫn dành cho thiên nhiên một tình yêu lớn, người đã vẽ lên bức tranh đẹp và đậm chất cổ điển. Đó là biểu tượng của một buổi chiều tà, một chiều thu êm ả nhưng cảnh vật thoáng vẻ buồn, mệt mỏi và đơn chiếc. Cảnh ấy có sự hài hoà với lòng người. Rõ ràng đó chính là sự đồng điệu giữa thiên nhiên và tâm trạng con người được thể hiện khá đậm nét. Song hình tượng thơ không dừng lại ở đó mà có sự vận động rất độc đáo. Từ một bức tranh thiên nhên, lời thơ đã chuyển sang một bức tranh sinh hoạt bình dị. Thời gian từ chiều muộn đã chuyển sang chiều tối. Cảm xúc của con người không còn thoáng buồn nữa mà đã thấy vui. Không gian cũng bừng sáng lên màu đỏ "rực hồng" của lò than: Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng. Hình ảnh cô gái xay ngô tối trở thành hình ảnh trung tâm của bài thơ, toát lên vẻ trẻ trung, khoẻ mạnh sống động. Vẻ đẹp của bức tranh thể hiện ở hình ảnh người lao động. Tâm hồn Hồ Chí Minh luôn hướng về tương lai, về nơi có ánh sáng ấm áp của sự sống.Câu thơ mang đậm sắc thái hiện đại. Tác giả sử dụng thành công cấu trúc lặp liên hoàn:"Ma bao túc","bao túc ma" hành động xay ngô lặp đi lặp lại diễn tả vòng tuần hoàn của cối xay ngô. Ở đó người ta nhận ra nhịp điệu trôi chảy của thời gian nhưng kì diệu chính là ở chỗ nhịp điệu của thời gian hoà vào nhịp điệu trong cuộc sống. Buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đêm tối, song đêm tối không lẽo âm u mà bừng sáng bằng ngọn lửa hồng. Từ hai câu đầu đến hai câu cuối của bài thơ "Chiều tối" là sự vận động của tứ thơ từ nỗi buồn sang niềm lạc quan, từ bóng tối ra ánh sáng. Hai câu trên cảnh buồn và lòng cũng không vui. Cảnh ấy, tình ấy thể hiện ở hính ảnh cánh chim mỏi mệt về rừng và chòm mây cô đơn chầm chậm trôi qua lưng trời. Hai câu thơ lại là một niềm vui thể hiện ở hình ảnh ánh lửa hồng bỗng rực sáng lên.Ánh lửa hồng là niền vui của con người làm tan đi cái cô đơn, mệt mỏi tàn lụi của buổi chiều nơi núi rừng hiu quạch. Dó cũng chính là nét cổ điển nhưng vẫn khá hiện đại của bài thơ. Sự vận động của hình tượng thơ từ thiên nhiên quạch vắng đến con ngýời lao động, đến sự sống đến ánh sáng và tương lai được thể hiện hết sức tự nhiên, giàu cảm xúc. Sự vận động này trong tư tưởng Hồ Chí Minh nằm xuyên suốt trong các bài thơ của tập "Nhật kí trong tù". Bài thơ kết lại bằng chữ "hồng "chính là nhãn tự của bài thơ thu được cả linh hồn sức sống của toàn bài. Cả bức tranh bừng sáng bởi chữ"hồng"đó. Nó thể hiện niềm tin tưởng ý chí, nghị lực kiên cường của người tù cộng sản Hồ Chí Minh. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh của ngọn lửa hồng mang lại cho người đọc cảm giác ấm áp và niềm vui. Ngọn lửa của sự sống vẫn còn lung linh tươi sáng và sưởi ấm mãi muôn đời. Bài thơ vừa mang phong vị cổ điển vừa có phẩm chất hiện đại, dào dạt cảm xúc của thi nhân trước thiên nhiên và những con người lao động bình dị mà cao đẹp. Cảnh chiều tà vùng sơn cước trong cái nhìn của người tù trên đường lưu đày sự chuyển đổi của thời gian, cảnh vật ….đã làm cho bừc tranh "chiều tối"không kết thúc với bóng đêm u tối, với cái buốt lạnh của núi rừng mà ấm sáng bởi ngọn lửa hồng -ngọn lửa của một trái tim, mọt tấm lòng yêu sự sống, yêu đời, yêu đát nước và lòng thương người vô hạn. Phân tích bài thơ chiều tối bài mẫu 3: 1: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, luận đề Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc. Bên cạnh sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người cũng để lại một sự nghiệp văn học đa dạng, phong phú. Nhật ký trong tù là tập thơ viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh trong thời kỳ Người bị giam giữ ở nhà lao của bọn Tưởng Giới Thạch từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Tập thơ chẳng những cung cấp cho ta những hiểu biết về chế độ lao tù khắc nghiệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch, mà quan trọng hơn còn giúp ta hiểu rõ vẻ đẹp tâm hồn của chính bản thân người đã sáng tạo ra nó, nhà cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh. Có thể thấy rõ điều đó qua hai bài Chiều tối (Mộ) và Giải đi sớm (Tảo giải) trong tập thơ. Cả hai bài thơ Bác đều viết trong gông cùm xiềng xích, trên đường chuyển lao đầy cực nhọc, khổ ải. Ý 2: Những biểu hiện cụ thể: Là nhật ký, tác phẩm còn là tập thơ trữ tình nên thiên về việc bộc lộ thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của người sáng tạo. Đó là lòng nhân ái bao la, là tình yêu cuộc sống sâu nặng, là tâm hồn của con người có sự tự do tinh thần tuyệt đối, là cốt cách vững vàng… a. Lòng nhân ái bao la, tình yêu cuộc sống sâu nặng – Yêu thiên nhiên, tạo vật. Qua hai bài thơ, hình ảnh thiên nhiên luôn chiếm vị trí nổi bật. Bác nâng niu từng biểu hiện của sự sống: “cánh chim”, “đám mây”… Có ai ngờ, thiên nhiên lại hiện lên đẹp và sáng đến thế trong bài thơ Bác bị giải đi vào lúc nửa đêm. – Quan tâm tới con người. Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không quên nghĩ tới con người. Hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối với Bác là vẻ đẹp của cuộc sống bình dị. Ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng reo vui với nó (dẫn chứng). b. Một tâm hồn tự do, không tù ngục, xích xiềng nào giam giữ nổi. Gặp cảnh bình minh trên đường đi chuyển lao, lòng Bác tràn ngập niềm hân hoan (dẫn chứng). c. Một tâm hồn có tinh thần “thép” vượt qua những đọa đày về thể xác, mọi thử thách khốc liệt về tinh thần. – Qua hình ảnh “quyện điểu” và “cô vân”, ta bắt gặp thoáng buồn, thoáng cô đơn rất người của Bác. Nhưng trước ngọn lửa hồng Bác quên đi việc mình chưa được dừng chân trên con đường đày ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trên trang thơ, xua tan cái lạnh lẽo, cô đơn của lòng người và cảnh vật. Ngọn lửa hồng trở thành vẻ đẹp tinh thần của nhà cách mạng. – Giá rét căm căm từng đợt, quất ngược sự giá buốt vào mặt nhưng Bác không để cái khắc nghiệt của thiên nhiên chế ngự mình. Câu thơ đọc lên nghe rắn rỏi lạ thường: “Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng – Nghênh diện thu phong trận trận hàn”. d. Một tâm hồn lạc quan, tin tưởng – Cả hai bài thơ kết thúc bằng hình ảnh ngọn lửa hồng và cảnh bình minh mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan. Lời thơ ám dụ vời vợi lòng tin. e. Một hồn thơ phong phú – Thi hứng đã đến với Người trong những giờ phút nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời, ngay cả trong lúc đối với người bình thường, cảm xúc thơ dễ bị triệt tiêu nhất hoặc không cất lên nổi: “Người đi thi hứng bỗng thêm nồng”. Cốt cách thi nhân ở Bác thể hiện ở niềm rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào. – Niềm rung động ấy được thể hiện bằng những vần thơ vừa cổ kính, vừa hiện đại của một tâm hồn nghệ sĩ mang cốt cách phương Đông. Hồn thơ Hồ Chí Minh bắt rễ rất sâu vào truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông. Phân tích bài thơ chiều tối bài mẫu 4: Bị bắt ở Túc Vinh, Bác Hồ bị đưa đến nhà giam huyện Tĩnh Tây. Sau 42 ngày đêm bị hành hạ khốn khổ ở đây mà không được xét xử gì, đúng ngày “song thập” – quốc khánh nước Trung Hoa thời Quốc dân đảng – Bác bị chúng giải đi Thiên Bảo. Trong chặng đường từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo, Bác làm 5 bài thơ, 5 lần ghi nhật kí. Qua những dòng “nhật kí” – thơ đó, có thể hình dung khá cụ thể tình cảnh của Người trong chuyến đi này. Bài thứ nhất Tầu lộ (Đi đường) cho biết đây là đường núi cheo leo vất vả, cứ đi qua hết dãy núi này lại tiếp những dãy núi khác. Vậy mà mỗi ngày Bác phải đi đến năm chục cây số “trèo núi qua truông”, “dầm mưa dãi nắng” như Trần Dân Tiên đã kể. Tối đến, dừng lại trong nhà giam xã nào đó thì cái đêm “nghỉ ngơi” sau một ngày hành trình gian khổ ấy mới hảm hại. Cái “đêm ngủ ở Long Tuyền” hai chân Bác bị cùm chéo lại còn bị rét, rệp “giáp kích” suốt đêm. Đêm đầu tiên đến Thiên Bảo cũng khổ không kém. Sau một ngày đi bộ năm mươi ba cây số “áo mũ dầm mưa rách hết giày” đến nơi nghỉ thì cái nhà lao tương đối lớn mà Bác phải đi mấy ngày trời mới tới này không có được một chỗ ngủ yên cho người tù và Người đã phải “Ngồi trên hố xí đợi ngày mai”! Mộ (chiều tối) là bai thơ thứ ba trong chùm thơ 5 bài sáng tác trong chặng đường Bác bị giải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo. Khác những bài kia, Mộ không kể chi những nỗi dọc đường mà là một bài thơ tức cảnh, một bức tranh chấm phá về thiên nhiên Bác gặp trên đường đi: nhan đề bài thơ đã thuyết minh thời điểm sáng tác, cái thời điểm nhà thơ cảm nhận thế giới xung quanh, nảy ra thi hứng. Đó là lúc “chiều tối”, đã suốt ngày “tay bị trói”, “cổ đeo xích”, bị giải đi “qua núi qua truông”…mà vẫn chưa được nghỉ. Và khi nghỉ đêm thì chắc chắn cũng tay trói chân cùm trong xà lim, trên rạ bẩn với muỗi rệp…Tức là, ở thời điểm “Chiều tối” ấy, những đày đọa ban ngày cũng chưa qua và những đày đọa ban đêm sắp tới. I.Phân tích: Bài thơ tứ tuyệt, như tên gọi, là một bức tranh vẽ cảnh chiều tối, một cảnh tối vùng núi. Bố cục bài thơ cũng là bố cục bức tranh, một bố cục có tính chất cổ điển: hai câu đầu là mấy nét chấm phá dựng nên bức phông lớn làm nền cho cảnh chiều, hai câu sau là những nét đậm nổi bật lên trên bình diện thứ nhất, là trung tâm của bức tranh. 1.Hai câu đầu: Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không. Trong thơ, trong tranh xưa, và nói chung, trong thế giới thẩm mĩ cổ điển phương Đông, hình ảnh cánh chim bay về rừng đã ít nhiều có ý nghĩa biểu tượng, ước lệ diễn tả cảnh chiều. “Phi yến thu tâm”, “quyện điểu quy lâm”, những nhóm từ ấy thường gặp trong thơ chữ Hán. “Chim bay về núi tối rồi” (Ca dao), “Chim hôm thoi thóp về rừng” (Truyện Kiều), “Ngàn mây gió cuốn chim bay mỏi” (Bà Huyện Thanh Quan)…và bao nhiêu nữa, những câu thơ tiếng Việt xưa có cánh chim chiều. Dường như không có nét vờn vẽ mấy cánh chim xa xa, bức tranh chưa rõ là cảnh chiều. Thi sĩ Huy Cận, với cái nhìn rất thi sĩ cảm thấy bóng chiều tà như sa xuống từ cánh chim bay xa dần về phía chân trời và đã viết một câu thơ thật hay: Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Bài thơ của Bác Hồ mở đầu bằng cánh chim lấy từ thế giới nghệ thuật cổ điển phương Đông đó và chỉ với câu đầu, cái phong vị, cái không khí cổ thi đã khá rõ. Câu thứ hai “Cô vân mạn mạn độ thiên không” được dịch thành thơ: “Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”. Như vậy là bỏ đi chữ “cô” không dịch, còn hai chữ điệp âm mạn mạn thì dịch là nhẹ. Về chữ “cô”, trong tiếng Việt, từ gốc Hán này thường kết hợp với một tiếng khác thành một từ mới mà ý nghĩa “lẻ loi cô độc” có phần đậm hơn vì nó đứng trong hệ thống từ vựng Hán ngữ: cô độc, cô đơn, cô quả, cô quạnh, thân cô thế cô…Do đó, “cô vân” chỉ dịch là “chòm mây” theo chúng tôi là hợp lí. Không nên làm đậm thêm ý lẻ loi cô độc của chữ “cô” vốn không có gì đậm trong câu thơ chữ Hán của Bác. Đáng tiếc ít nhiều chăng là ở chỗ này, “cô” là chữ được sử dụng đậm đặc trong thơ Đường và mang dấu ấn thơ Đường rất rõ, bỏ đi sẽ không khỏi làm nhạt đi chút sắc màu Đường của bài thơ. Bỏ đi hai chữ láy âm “mạn mạn” cũng có cái thiệt thòi ấy. “Mạn mạn” là một trong rất ít những từ láy âm đặc biệt thường xuất hiện với mật độ cao trong thơ Đường, cũng như du du, xứ xứ, mang mang…và mỗi từ ấy có một sắc thái ý nghĩa riêng chỉ có trong thơ Đường. Cho nên, có nhà nghiên cứu bảo rằng, chúng năm trong hệ từ vựng khép kín của Đường thi (Đọc Ngục trung nhật kí – Học tập phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhữ Thành). Thỉnh thoảng ta gặp du du, mạn mạn…trong thơ chữ Hán của Bác Hồ và đó là một dấu hiệu rõ rệt của chất Đường thi trong thơ của Bác. Câu thơ dịch không thể giữ lại được những từ ngữ có giá trị đánh dấu ấy cử thơ Đường khiến cho màu sắc Đường ít nhiều giảm đi trong bản dịch, song điều đó khó tránh được trong việc dịch thơ. Một đặc điểm quan trọng trong cấu trúc nghệ thuật thơ Đường mà nhà nghiên cứu gọi là mã nghệ thuật của nó là “quy sự vật ra thành một quan hệ xây dựng trên sự thống nhất lại bằng tư duy nhìn hiện tượng xét bên ngoài, về mặt giác quan, là mâu thuẫn” (thi (Đọc Ngục trung nhật kí – Học tập phong cách ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhữ Thành). Cho nên, thi nhân đời Đường thường lấy động tả tĩnh, lấy chậm tả nhanh, dùng điểm vễ diện, mượn sáng nói tối…Điều đó không chỉ thuộc về biện pháp thể hiện, bút pháp nghệ thuật mà còn như là thuộc về phương thức nghệ thuật, về tư duy thẩm mĩ, có cơ sở tiến triết học, lịch sử, xã hội của nó. Nói thơ Bác nhiều bài có dáng dấp thơ Đường, trước hết là ở chỗ này mà câu thơ đang nói đây là một biểu hiện rõ nhất. Bác cảm nghe cái không gian bao la yên tĩnh của cảnh chiều muộn nơi rừng núi diễn tả cái bao la yên tĩnh đó bằng hình ảnh chòm mây mọt mình đang chầm chậm trôi lờ lững ngang qua bầu trời. Bầu trời chiều phải thoáng đãng, cao rộng, phải trong trẻo và yên tĩnh đến thế nào thì mới làm nổi bật lên hình ảnh chòm mây lẻ loi lưng trời, và mới thấy được nó đang trôi chầm chậm (mạn mạn) ngang qua (độ) bầu không mênh mông như vậy. Không gian mênh mông vô tận, thời gian như dừng lại, lắng xuống. Phải có một tâm hồn êm ả thư thái như thế nào mới có thể theo dõi một chòm mây trôi lơ lửng thong thả giữa bầu trời như vậy. Chính những chữ “cô”, “mạn mạn” và bút pháp mượn điểm vẽ diện, lấy cái cực nhỏ diễn tả cái bao la, dùng cái di động thể hiện cái yên tĩnh làm cho câu thơ Bác trở nên rất Đường. Đường trong cấu trúc nghệ thuật, trong cả từ ngữ, chi tiết, hình tượng, âm điệu, tức là trong từng yếu tố. Do đó, chúng tôi chưa thấy có căn cứ để đồng ý với ý kiến cho rằng chỉ có “cấu trúc nghệ thuật của Bác lại rất Đường” (Nhữ Thành). Nhất là ý kiến đó không thật phù hợp với nhiều bài thơ, nhiều câu thơ của Bác, trong đó có những câu đang nói ở đây, đều đậm đặc những “yếu tố” Đường, đồng thời cũng rất tiêu biểu cho “cấu trúc thơ Đường”, mặc dì khi dịch ra câu thơ tiếng Việt chất Đường đã bị nhạt đi ít nhiều. Hai câu đầu bài Mộ rất cổ điển, đất Đường thi. Một cảnh trời chiều thật thi vị, vừa cổ kính, vừa quen thuộc, thân thiết.Liệu tình cảm thiên nhiên, sự giao hòa với tạo vật của Bác còn cần phải chứng minh? Đó cũng là một ýếu tố tinh thần truyền thống kết tinh vững bền trong tâm hồn người chiến sĩ cách mạng của thời đại. Song trong thẳm sâu tâm hồn, hồn thơ Hồ Chí Minh, đâu phải chỉ có tầm hồn nghệ sỹ cổ điển. Trong tranh xưa vẽ cảnh chiều – tranh bằng tranh và tranh bằng thơ – cánh chim thường chỉ là một nét vẽ thuần túy có ý nghĩa thẩm mĩ, một nét nên thơ, nên họa cần thiết thêm vào để gợi cảnh chiều, thế thôi. Cũng có khi nhìn kĩ, đọc kĩ, có thể thấy cái hồn, cái thần toát lên từ nhiều nét chấm phá sơ sài và gợi cảm trong bức tranh không gian rộng lớn đó: cảm giác về sự xa xăm, phiêu bạt, chia lìa… Hoàng Trung Thông khi thưởng thức một cách tâm đắc bài thơ Chiều tối của Bác Hồ, đã liên tưởng đến một bài thơ của Liễu Tông Nguyên đời Đường mà hai câu đầu là: Thiên sơn điểu phi tuyệt Vạn kính nhân tông diệt Dịch nghĩa: Nghìn non bóng chim bay đã tắt Muôn nẻo, dấu người mất Bài Độc tọa Kính Đình sơn của Lí Bạch cũng có hai câu trên là: Chúng điểu cao phi tận Cô vân độc khứ nhàn Dịch nghĩa Bầy chim cao bay hết Chòm mây một mình trôi Cả hai bài thơ đều là những nét chấm phá cổ điển gợi cảnh không gian bao la, với những cánh chim cao bay. Lí Bạch confcos chòm mây trôi nhàn nhã một mình lưng trời, cũng như trong bài thơ của Bác. Song, có phải những cánh chim trong hai bài cổ thi trên đây đều bay mãi vào chốn xa xăm, vô tận vô cùng. Đường bay của chúng là vô tận: càng bay càng mất hút trong cõi tuyệt mù của bầu trời mênh mông. Hai câu thơ của Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên đều kết thúc bằng tận hoặc tuyệt. Thi nhân xưa nhìn theo cánh chim bay mất hút và như đã cảm nghe cái mênh mang vô tận vô cùng của trởi đất “Thiên địa chi du du” (Thơ Trần Tử Ngang)… Trở lại câu thơ Bác Hồ: “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ”. Cánh chim ở đây không chỉ là mấy nét vờn vẽ của một họa sĩ: dường như Bác không nhìn theo cánh chim bay về hướng rừng chỉ với cái nhìn thưởng thức thẩm mĩ của một người nghệ sĩ, mà nhiều hơn là với đôi mắt lưu luyến, trừu mến của một tấm lòng yêu thương, cảm thông đối với một biểu hiện của sự sống. Đây là những con chim có sự sống, có sinh hoạt nhịp nhàng hàng ngày của chúng. Chúng không “cao phi tận”, “phi tuyệt”, bay vào chốn vô cùng vô hạn để biến mất trong cõi hư không siêu hình, mà là những cánh chim “về rừng tìm chốn ngủ”, sau một ngày “lao động” chuyên cần mệt mỏi, ngủ để sáng hôm sau lại tiếp tục nhịp sống tuần tự của đời chim. Câu thơ 7 chữ mà có tới 4 động từ, trạng từ diễn tả hoạt động, trạng thái sinh hoạt của sinh mệnh chim (quyện, qui, tầm, túc). Đường bay, hoạt động bay ấy có mục tiêu cụ thể gần gũi: về rừng tìm cây để ngủ trong đêm. Câu thơ của Bác đã đưa cánh chim từ cõi hư không phảng phất ý vị siêu hình trở về với thế giới hiện thực sự sống hàng ngày, bình thường giản dị song bất diệt trên trái đất này. Bác Hồ đã nhận xét có tính chất phê phán: “Cổ thi thiên ái nhiên tuyệt mĩ – Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp”. Song chính Bác là người có tấm lòng, có mối giao hòa đặc biệt với thiên nhiên. Dường như Bác sinh ra để làm chuyện hòa hợp với suối rừng, sống ở căn nhà sàn mây vách gió, giữa tiếng chim rừng, bông hoa núi…Có điều, lắm khi lòng yêu thiên nhiên đặc biệt đó không phải chỉ vì thiên nhiên đẹp, mà còn có gì nữa thật sâu xa. Nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định kể lại:Có lần anh định bẻ một cành lá để khỏi vướng ống kính, Bác vội ngăn lại: Bác thương cành lá. Khu nhà sàn trong phủ Chủ tịch có cây bụt mọc bị bệnh lá vàng đang lụi chết, Bác thương cái cây, Bác tự tìm cách chữa cho nó và cây đã xanh trở lại. Đàn cá rô trong ao vườn Bác thường ríu rít rộn ràng mỗi khi Bác ra với chúng, vì: “hàng ngày Bác vẫn gọi rô luôn”…Xuân Diệu đã nhận xét sâu sắc: “Sự yêu thương của Bác đã thành tấm lòng tạo hóa: Bác sống như trời đất của ta”. Tình cảm thiên nhiên của Bác Hồ, trong chiều sâu chính là lòng yêu thương sự sống Nguồn:
Phân tích bài thơ Chiều tối
5,159
Đề bài: Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu Bài làm 1 “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, Một bàn cờ thế phút sa tay Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ đàn chim dáo dát bay. Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây. Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng, Nỡ để dân đen mắc nạn này?” Đừng nói đến cảnh dân chạy giặc vội, mà trước hết hãy chú ý đến “tiếng súng Tây" rộ lên vào thời điểm tan chợ. Nghĩa là trước lúc súng nổ, chợ búa vẫn họp bình thường. Cuộc sống hoàn toàn thanh bình yên ổn. Lúc tan chợ là lúc bắt đầu sự sum họp của gia đình. Những đứa em ngóng anh chị, con cái đợi cha mẹ, cháu chắt đợi ông bà, cảnh hạnh phúc đầm ấm đơn sơ sẽ diễn ra ở mọi nhà với những món quà giản dị của chợ vùng quê: củ khoai, tấm bánh đúc ngô, dăm ba gióng mía, mấy nắm bỏng rang trộn mật… Cả nhà sẽ xúm quanh mâm cơm thanh đạm có bát canh chua, khúc cá kho, hay giản dị hơn chỉ có “râu tôm nấu với ruột bầu"… Tiếng súng Tây nổ đúng vào lúc đó, bất ngờ, đột ngột, dữ dội vô cùng. Súng Tây thời ấy nổ ghê gớm lắm: “súng giặc đất rền". Nghe tiếng súng thì bọn giặc đã ở ngay bên cạnh. “Vừa nghe” thế mà cả bàn cờ thế đã hỏng “phút sa tay”. Thất bại ập đến nhanh quá. Thời gian ngắn ngủi càng tăng thêm tính chất đột ngột, bất ngờ, căng thẳng của tình thế. Và vì thế, thay cho cảnh sum họp đầm ấm là cảnh tượng lộn xộn sẻ nghé tan đàn: “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ đàn chim dáo dát bay." Súng vừa nổ, giặc đã ập đến. Người lớn còn chưa kịp đi chợ về hoặc còn đang ở ngoài đồng. Cho nên hốt hoảng lũ trẻ dắt díu nhau chạy lơ xơ. Đặt chữ “lơ xơ" lên trước chữ “chạy" là rất gợi tả. Dường như ta chỉ nhìn thấy sự rã rời, hốt hoảng sắp kiệt sức của những em bé, rồi sau mới biết là các em chạy. Hình ảnh so sánh đàn chim mất ổ dáo dát với lũ trẻ bỏ nhà chạy lơ xơ thật là đặc sắc. Nhưng cũng phải thấy thêm rằng khi giặc đến, chẳng những con người khốn khổ mà chim muông cũng không được yên ổn. Giặc đến làm đau cả sông núi, đau cả chim muông, đau cỏ cây. Tả chạy giặc, một cuộc chạy vội vã, đột ngột không hề được chuẩn bị, chỉ có tả lũ trẻ và bầy chim là rất thành công. Xa hơn cảnh tượng sống động, bối rít hốt hoảng, lộn xộn của lũ trẻ và bầy chim là sự mất mát, thiệt hại của cả 1 vùng quê rộng lớn: “Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây. ” Của cải bị mất mát, nhà cửa bị thiêu cháy, con cái lạc cha mẹ, và chắc là sẽ không tránh khỏi sự chết chóc đau thương: “Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều. Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.” Giặc đến gieo bao tội ác lên đầu nhân dân, trước hết là những người dân lành, dân đen "cui cút làm ăn toan lo nghèo khó" trong ấp trong làng. Nguyễn Đình Chiểu cũng phải chạy giặc và ông thấu hiểu sâu sắc những cảnh đó. Ông cất lên tiếng hỏi và cũng là lời trách móc phê phán những người có chức, có quyền, có trách nhiệm của triều đình: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng, Nỡ để dân đen mắc nạn này?" Không phải chỉ là một câu hỏi gay gắt và lời phê phán nghiêm khắc những trang dẹp loạn của triều đình. Hình như câu thơ còn là một tiếng khóc nghẹn tràn đầy nước mắt của con người mù lòa hết lòng yêu nước thương dân mà không thể làm gì cho dân trong cơn loạn lạc. Bài làm 2 Có những tác phẩm văn chương bất tử khi nó trở thành chứng nhân lịch sử, nó gắn liền với nỗi vui, buồn của một dân tộc. Bài thơ “Chạy giặc" là một bài thơ mang ý nghĩa như vậy. Năm 1859, thực dân Pháp tấn công thành Gia Định. Trước họa xâm lăng, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài thơ “Chạy giặc”. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, phản ánh nỗi đau thương của dân tộc, căm thù lên án tội ác quân Pháp xâm lược và thể hiện lòng thương xót nhân dân: “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, …………………………….. Nỡ để dân đen mắc nạn này?" Hai câu đề nói lên một cục diện bi thảm của đất nước ta hồi bấy giờ. Giặc Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định. Trận đánh diễn ra như “một bàn cờ thế" phút chốc thay đổi bất ngờ “phút sa tay". Thành Gia Định thất thủ, Đồng Nai, Bến Nghé rơi vào tay giặc, vần thơ cất lên như một lời than: “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, Một bàn cờ thế phút sa tay. ” Các từ ngữ: "vừa nghe tiếng súng Tây", “phút sa tay" làm nổi bật thời gian, sự việc diễn ra bất ngờ, nhanh chóng và nói lên nỗi kinh hoàng của nhà thơ, của nhân dân khi thành Gia Định bị giặc Tây nổ súng đánh chiếm. "Một bàn cờ thế” là một ẩn dụ, cách nói ước lệ, hàm súc về một cục diện chiến trường, một tình thế chiến tranh hồi ấy ( 1859). Hai câu thực 3,4 tả cảnh chạy loạn, chạy giặc trong nổi kinh hoàng của nhân dân. Các từ ngữ: “bỏ nhà", “lơ xơ chạy”, “mất ổ”, “dáo dát bay" đặc tả sự tan nát, hoảng sợ, hãi hùng. Nhà thơ lấy thế giới con người là “ lũ trẻ", lấy thế giới thiên nhiên là “đàn chim", hai hình ảnh ấy điển hình cho nỗi đau thương của nhân dân trước thảm họa đất nước quê hương bị xâm lược: “Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ đàn chim dáo dát bay. ” Phép đảo ngữ đặt vị ngữ trước chủ ngữ để nhân ý các chữ “bỏ nhà" và “mất ổ" tạo nên nỗi ám ảnh bi thương về cảnh chạy giặc của dân lành. Hai câu luận 5,6 đối nhau làm hiện lên hai cảnh tang thương điêu tàn nơi Bến Nghé và Đồng Nai. Gần 200 năm về trước, Bến Nghé đã là cảnh đô hội, sầm uất, trên bến dưới thuyền buôn bán tấp nập. Đồng Nai là vựa lúa miền Nam. Thế mà chỉ trong chốc lát đã bị giặc Pháp bắn giết, đốt phá, cướp bóc rất dã man. Tài sản của nhân dân ta bị chúng cướp phá sạch sành sanh “tan bọt nước”. Nhà cửa, phố phường, làng xóm của đồng bào ta bị quân xâm lược đốt tan hoang. Lửa khói ngút trời, bao phủ một vùng rộng lớn “nhuốm màu mây”. Nhà thơ tả ít mà gợi nhiều. Chỉ bằng hai hình ảnh so sánh rất chọn lọc: "của tiền tan bọt nước”, “tranh ngói nhuốm màu mây" đã căm thù lên tội ác tày trời của quân xâm lược. Nỗi đau đớn và căm thù chứa đầy vần thơ: "Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây. ” Tội ác quân giặc không thể nào kể xiết! Nhà thơ tưởng như cất lời than uất hận trước tội ác ghê tởm của giặc Pháp: “Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, làm cho bốn phía mây đen; Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu một phường con đỏ ” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Sau khi hạ thành Gia Định, giặc Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì. Cả một vùng rộng lớn của đất nước ta chìm trong máu lửa. Phan Văn Trị, người bạn thân của Nguyễn Đình Chiểu đã căm giận viết khi nghe tiếng kèn giặc: "Tò te kèn thổi tiếng năm ba, Nghe lọt vào tai dạ xót xa. Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói, Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa… ” (“Cảm tác’) Hai câu kết, cảm xúc nghẹn lại bỗng trào lên, biểu lộ một tâm trạng đau đớn, lo âu. Lo âu cho tính mạng và tài sản của nhân dân ta đang bị giặc Pháp bắn giết, cướp phá dã man. Lo âu cho vận mệnh đen tối của đất nước. Câu hỏi tu từ thể hiện tình thương xót nhân dân đau khổ trước họa xâm lăng: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng, Nỡ để dân đen mắc nạn này?” “Chạy giặc” là bài ca yêu nước thể hiện sâu sắc lòng căm thù giặc Pháp và nói lên tình thương xót nhân dân trước họa xâm lăng. Những cảnh mà nhà thơ nghe thấy (tiếng súng Tây), nhìn thấy, cảm thấy (lũ trẻ lơ xơ chạy, đàn chim dáo dát bay, của tiền tan bọt nước, tranh ngói nhuốm màu mây) là những chi tiết nghệ thuật rất hiện thực mang giá trị lịch sử sâu sắc. Bài thơ “Chạy giặc” là một chứng tích về tội ác giặc Pháp trong những ngày tháng đầu chúng xâm lược đất nước ta. Ngôn ngữ hàm súc, nghiêm trang, chứa chan tình cảm, bài thơ thể hiện tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu. Nó cho thấy tính mẫn cảm chính trị của nhà thơ yêu nước “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Với ông, “thơ là súng là gươm". (“Đọc thơ Đồ Chiểu" – Lê Anh Xuân).
Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu
1,627
Đề bài: Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên Bài làm Chế Lan Viên viết bài thơ "Con cò” vào năm 1962, in trong tập "Hoa ngày thường, chim báo bão (1967). Bài "Con cò" mang âm điệu đồng dao nhịp thơ và giọng thơ thấm vào hồn ca dao, dân ca một cách đằm thắm, nhẹ nhàng. 51 câu thơ tự do, câu ngắn nhất 2 chữ, câu dài nhất 8 chữ, đan xen, kết chuỗi thành lời ru ngân nga ngọt ngào, biểu hiện tình thương và ước mơ của người mẹ hiền đối với con thơ 1. Đoạn 1, người mẹ hiền bế con thơ trên tay, cất lời ru bài "Con cò" bay lả bay la… "Con cò mà đi ăn đêm…”. Nhìn con thơ "Con còn bế trên tay – Con chưa biết con cò", mà lòng mẹ dào dạt tình thương. Mẹ thương con cò trong ca dao lận đận: mẹ dành cho con bao chăm chút yêu thương. Con được sống yên vui hạnh phúc trong lòng mẹ: "Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn, Con có mẹ,con chơi rồi lại ngủ Mẹ đã dành cho con thơ tất cả. Cánh tay dịu hiền của mẹ. Lời ru câu hát êm đềm của mẹ. Dòng sữa ngọt ngào của mẹ. Những hoán dụ nghệ thuật ấy đã hình tượng tình mẫu tử bao la. Nhịp thơ cũng là nhịp võng, nhịp cánh nôi nhẹ đưa, vỗ về: "Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên! Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng! Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân! Con chưa biết con cò, con vạc. Con chưa biết những cành mềm mẹ hát Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân". Điệp ngữ "ngủ yên”, "con chưa biết" và "con cò" láy đi láy lại nhiều lần làm cho giọng thơ trở nên đầm ấm, ngọt ngào, thiết tha dìu dịu chan chứa hạnh phúc yêu thương. 2. Đoạn 2, mẹ ru con ngủ yên, ngủ ngon: " Ngủ yên! Ngũ yên! Ngủ yên!". Ngắm nhìn con thơ mà lòng mẹ dào dạt mong ước. Con sẽ lớn khôn, con đến trường đi học: "Con khôn lớn, con theo cò đi học, Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân". Mai sau lớn lên con sẽ làm thi sĩ. Cuộc đời con nhiều sáng tạo, mải miết chuyên cần "bay hoài không nghỉ". Hình ảnh cánh cò trắng bay… thể hiện ước mơ đẹp của mẹ hiền về cuộc đời tương lai của con. Con sẽ nối chí cha. Một câu hỏi, khẽ thốt lên trong lòng mẹ hiền: "Lớn lên, lớn lên, lớn lên… Con làm gì? Con làm thi sĩ! Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ Trước hiên nhà Và trong hơi mát câu văn"… 3. Đoạn thơ cuối, tiếng ru con, tiếng hát của mẹ hiền cất lên dìu dặt, mênh mang. Mẹ nghĩ về cuộc đời của con mai sau, và tình thương yêu của mẹ. "Dù ở gần con Dù ở xa con Lên rừng xuống bể, Cò sẽ tìm con Cò mãi yêu con Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con". Chữ "dù", chữ "vẫn" được điệp lại, ý thơ được khẳng định, tình mẫu tử bền chặt, sắt son. Có gì cao hơn núi, có gì sâu hơn biển, và có gì bao la bằng lòng mẹ thương con. Phần cuối, lời thơ thấm đượm chất triết lí trữ tình. Nghĩ về con cò trong ca dao, nghĩ về cuộc đời con mai sau, người mẹ nghĩ về thân phận, số phận những con cò nhỏ bé, đáng thương, trong cuộc đời: "À ơi! Một con cò thôi, Con cò mẹ hát Cũng là cuộc đời Vỗ cánh qua nôi. Phải chăng người mẹ hiền đang bâng khuâng về câu hát: "Có xáo thì xáo nước trong – Đừng xáo nước đục đau lòng cò con" Chết trong còn hơn sống đục, ấy là ý vị "cuộc đời" đáng thương, đáng trọng xưa nay. Bài thơ "Con cò" là một bài thơ có đề tài nhỏ nhưng mang ý nghĩa sâu sắc: ca ngợi tình mẫu tử bao la và những ước mơ về con thơ của mẹ hiền, nói lên tình thương cuộc đời. Rất nhân hậu và nhân tình.
Phân tích bài thơ Con cò của Chế Lan Viên
692
Phân tích bài thơ Cáo bệnh bảo mọi người của Mãn Giác Thiền Sư Hướng dẫn Phân tích bài thơ Cáo bệnh bảo mọi người của Mãn Giác Thiền Sư Trong Phật giáo, trước khi lìa bỏ cuộc đời thì các thiền sư thường làm một bài thi kệ, đây là những triết lí mà thiền sư giác ngộ được trong cuộc đời, đồng thời đó cũng là những lời giáo huấn cho chúng đệ tử. Bài thơ “Cáo tật thị chúng” được Mãn Giác Thiền sư sáng tác khi thiền sư đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ đã thể hiện được nhiều triết lí sâu sắc trong cuộc đời. Trong những câu thơ đầu tiên, Mãn Giác thiền sư đã gợi ra trạng thái của những bông hoa khi tàn tàn – nở: “Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai” Dịch: (Xuân qua trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cười) Trong hai câu thơ đầu tiên này chúng ta cảm nhận được sự độc đáo trong cách thể hiện.Bởi chúng ta thường nhắc đến những cái đẹp, những giây phút huy hoàng trước khi nói về sự tàn úa, phôi pha bởi đây là một tâm lí thông thường ở con người, trong chúng ta ai cũng thích những cái đẹp đẽ, hoàn thiện mà không ai muốn nói đến sự phôi pha, chia lìa. Ở trong hai câu thơ này, Mãn Giác Thiền sư đã nói về sự tàn úa của những bông hoa trước khi nói về sự tươi đẹp, bung nở của những bông hhoa. Hai câu thơ đã thể hiện được quy luật của tự nhiên: Xuân đi trăm hoa sẽ tàn úa, phôi pha theo, xuân đến mang đến sự sống cho trăm hoa. Tác giả đã lựa chọn cách nói trái ngược như để nhắn nhủ đến mọi người: xuân đến rồi cũng sẽ đi, đây là quy luật của tự nhiên không thể thay đổi, do vậy con người cần giữ cho mình tâm thế bình thản để đối mặt với nhiều biến động trong cuộc sống. Trong thơ của Xuân Diệu ta cũng bắt gặp quan niệm về sự chảy trôi tuần hoàn của vũ trụ: Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già” Trở lại với bài thơ, ta có thể thấy con người luôn bị xoay vần bởi những nhịp vận động của cuộc sống, trong cuộc đời của mỗi người có biết bao đổi thay, chính những đổi thay của ngoại cảnh ấy làm cho con người đắm chìm trong nó mà đôi khi quên mất cả bản thân mình. “ Sự nhục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai” Dịch: Việc đời ruổi qua trước mắt Tuổi già hiện đến từ trên mái đầu Con người luôn chạy theo những nhịp vận động không ngừng của cuộc sống mà vô tình quên mất chính mình, để khi quay đầu lại thì tuổi già đã đến. Mãn Giác thiền sư như muốn truyền đạt một triết lí: Cần ngừng lại những cuộc rong ruổi theo những danh vọng phù phiếm mà nên lo cho chính bản thân của mình, rèn luyện để có thể sống đạo đức, tình nghĩa hơn. Không nên đợi tuổi già đến mới lo việc học đạo bởi khi về già đầu óc không còn được minh mẫn, nhanh nhạy như khi còn trẻ nữa, cũng như “không có một tinh thần mạnh mẽ trong một thân thể suy nhược”. Khi về già mới cố gắng thì khó có thể đạt được những mục đích mà mình để ra, dù có quyết tâm nhưng lực bất tòng tâm. “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Dịch: (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một nhành mai) Có thể có nhiều người sẽ thấy ngỡ ngàng, khó hiểu vì xuân đã tàn mà mai chưa tàn. Ở đây, Mãn Giác thiền sư đã sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những triết lí phật giáo đầy sâu sắc. Đây có lẽ không phải là hình ảnh trong thực tế mà nó được dùng để nói về sự giác ngộ, bởi với những người ngộ đạo,đã giác ngộ được những chân lí trong cuộc đời thì có thể cảm nhận được cái đẹp,cái vô hình mà bằng nhận thức khách quan khó có thể thấy được. Hai câu thơ cuối của bài thơ, thiền sư như muốn nhắn nhủ đến chúng đệ tử: không nên lo sợ đến việc sinh tử trong đời, chỉ sợ mỗi người chưa thực sự giác ngộ để nhận thực được hành động và tâm tính của mình.Hãy sống làm sao để những lời nói,hành động đều có thể mang đến niềm vui,hạnh phúc cho bản thân,cho người khác. Như vậy, bài thơ Cáo tật thị chúng bên cạnh miêu tả những quy luật của tự niên, thiền sư Mãn Giác đã nhắn nhủ nhiều triết lí sâu sắc trong cuộc sống, mang đến cho độc giả nhiều bài học về cuộc đời, về sự sống thực tại.
Phân tích bài thơ Cáo bệnh bảo mọi người của Mãn Giác Thiền Sư
820
Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích bài thơ Câu cá mùa thu lớp 11 của Nguyễn Khuyến bao gồm dàn ý phân tích bài thơ Câu cá mùa thu và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích bài thơ Câu cá mùa thu hay nhất. Dàn ý phân tích bài thơ Câu cá mùa thu 1. Mở bài Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, ông là nhà thơ của quê hương, những sáng tác mà ông viết lên đậm chất vùng quê Nam Bộ, trong đó bài thơ Thu Điếu là một trong những bài thơ như thế. 2. Thân bài + Thu Điếu là bài thơ hay viết về mùa thu của đất nước, trong bài viết này tác giả đã nói lên những cung bậc, cảm xúc của mùa thu đất nước, ở đó có nhiều cảnh vật, thiên nhiên và con người. + Thu Điếu là tác phẩm nói về cảnh sắc thiên nhiên của vùng quê Bắc Bộ ở đó con người đang say trong những cảnh sắc của thiên nhiên đất trời. + Thu Điếu là bài thơ mang lại bức tranh thu trong trẻo, ở đó có nhiều vẻ thanh sơ, nhẹ nhàng và mang nhiều đặc điểm của vùng nông thôn vùng núi Bắc Bộ, với những hình ảnh của bóng trăng, làn ao, nhà cỏ, le te, sự lấp lánh của thiên nhiên… + Vẻ đẹp của mùa thu còn được miêu tả tinh tế qua những gam màu sắc gợi lại nhiều cảm xúc cho con người, với bầu trời trong xanh, cao và trở nên rất rộng, nó mang những đặc điểm riêng của vùng xứ Bắc. + Vẻ đẹp thanh sơ, tạo nên bức tranh nhẹ nhàng, sự dịu nhẹ cùng với không gian thiên nhiên nhẹ nhàng, tinh tế, đem đến sự hấp dẫn cho con người, với không gian nhẹ nhàng, bầu trời trong xanh, mùa thu đang đẹp mơ mộng trước con mắt của người thi sĩ. + Hơn nữa những đường nét, hình khối cũng mang những điểm nét nhẹ nhàng, những đặc điểm, cùng với tầng mây trôi nhè nhẹ gợi lại cho người đọc những xúc cảm sâu sắc, tinh tế. + Với sự hài hòa, giản dị, ở đó bức tranh thiên nhiên đẹp tuyệt diệu, cùng với sự chuyển động của không gian, thời gian, ở đó cảnh vật u buồn làm cho tâm trạng của con người cũng mang đôi nét buồn, xa vắng, con người như đang chìm vào không gian thiên nhiên nhè nhẹ, mang những nỗi buồn của mùa thu. + Mùa thu của thiên nhiên đất trời tạo nên bức tranh tinh tế, ới nàn mây gợi tý, ao lặng, ở đó người thi sĩ đang ngồi câu. + Qua cách miêu tả uyển chuyển, cách xây dựng tinh tế, tác giả đem đến cho người đọc những xúc cảm sâu sắc, cảnh vật trở nên nhẹ nhàng, con người nơi đây cũng đang mang tâm trạng cùng với không gian, nhẹ nhàng và vô cùng cuốn hút. 1. Kết luận Với cách miêu tả tinh tế, đường nét hình khối xuất hiện trong tác phẩm cũng ngày càng thể hiện những điểm sáng mới cho tác phẩm, bài thơ để lại cho người đọc một bức tranh thiên nhiên đẹp, cùng với tâm trạng của con người. Bài văn mẫu phân tích bài thơ Câu cá mùa thu Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 1 Thu điếu nằm trong chùm thơ thu gồm ba bài nức danh nhất về thơ Nôm cùa Nguyễn Khuyến. Bài thơ nói lên một nét thu đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn, buồn của một nhà Nho nặng tình với quê hương đất nước. Thu điếu cũng như Thu ẩm, Thu vịnh chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết vào thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà (1884) Hai câu thơ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo – Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu nước trong veo có thể nhìn được rong rêu tận đáy, tỏa ra khí thu lạnh lẽo như bao trùm không gian. Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi nên mới lạnh lẽo như vậy. Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền câu bé tẻo teo tự bao giờ. Một chiếc gợi tả sự cô đơn của thuyền câu. Bé tẻo teo nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi ra sự hun hút của cảnh vật (trong veo – bé tẻo teo). Đó là một nét thu đẹp và êm đềm. Hai câu thực (Sóng nước theo làn hơi gợn tí – Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo) tả không gian hai chiều. Màu sắc hòa hợp, có sóng biếc với lá vàng. Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn hơi gợn tí. Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thu, tô đậm cái nhìn thấy và cái nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trong dùng từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng hơi gợn tí phối cảnh với độ bay xoay xoay khẽ đưa vèo của chiếc lá thu. Chữ vèo là một nhân tự mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc. Ông thổ lộ một đời thơ mới có được một câu vừa ý: vèo trông lá rụng đầy sân (cảm thu, tiễn thu). Bức tranh thu được mở rộng dần ra qua hai câu thơ: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Bầu trời thu xanh ngắt thăm thẳm, bao la. Áng mây, tầng mây (trắng hay hồng?) lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm, tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con đường làng đi về các ngõ xóm: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Vắng teo nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng. Ngõ trúc trong thơ Tam nguyên Yên Đổ lúc nào cũng gợi tả một tình quê nhiều bâng khuâng, man mác: Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy Thuyền ai khách đợi bến đâu đây? (Nhớ núi Đọi) Ngõ trúc và tầng mây cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc cùa làng quê. Thi sĩ như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm vào cảnh vật. Đến hai câu kết thì bức tranh thu mới xuất hiện một đối tượng khác: Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Thu điếu nghĩa là mùa thu câu cá. Sáu câu đầu mới chỉ có cảnh vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc.. Mãi đến phần kết mới xuất hiện người câu cá. Một tư thế nhàn: tựa gối ôm cần. Một sự đợi chờ: lâu chẳng được. Một cái chợt tỉnh khi mơ hồ nghe cá đâu đớp động dưới chân bèo. Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu. Người đọc nghĩ về một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy nghìn năm về trước. Chỉ có một tiếng cá đớp động sau tiếng lá thu đưa vèo, đó là tiếng thu của làng quê xưa. Âm thanh ấy hòa quyện với một tiếng trên không ngỗng nước nào, như đưa hồn ta về với mùa thu quê hương. Người câu cá đang sống trong một tâm trạng cô đơn và lặng lẽ buồn. Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao đáng trọng. Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi cái diệu xanh trong Thu điếu. Có xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo.. và chỉ có một màu vàng của chiếc lá thu đưa vèo. Cảnh đẹp êm đềm, tĩnh lặng mà man mác buồn. Một tâm thế an nhàn và thanh cao gắn bó với mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết. Mỗi nét thu là một sắc thu, tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết, vần thơ: veo – teo – vèo – teo – bèo, phép đối tạo nên sự hài hòa cân xứng, điệu thơ nhẹ nhàng bâng khuâng… cho thấy một bút pháp nghệ thuật vô cùng điêu luyện, hồn nhiên – đúng là xuất khẩu thành chương. Thu điếu là một bài thơ thu, tả cảnh ngụ tình tuyệt bút. Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 2 Nguyễn Khuyến là một trong những bậc túc nho tài năng có cốt cách thanh cao, có tấm lòng yêu nước, thương nhân dân nhưng lại bất lực trước thời cuộc loạn lạc. Ông còn được mệnh danh là nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam. Nhắc đến Nguyễn Khuyến hẳn chúng ta sẽ không quên được bài thơ Thu điếu (câu cá mùa thu) Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo Tầng mây lơ lững, trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo Bài thơ nắm trong chum thơ thu của Nguyễn Khuyễn 3 bài, Thu Vịnh, Thu điếu, Thu ẩm. Các bài thơ này đều được tác giả sáng tác khi đã về ở ẩn tại quê nhà. Tác phẩm được viết bằng chữ nôm với thể thơ thất ngôn bát cú đường luật có bố cục gồm 4 phần: đề, thực, luận kết. Ngay từ đầu bài thơ chúng ta đã thấy được không gian quen thuộc của một buổi câu cá: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Không gian được mở hai bởi hai hình ảnh là “ao thu” và “thuyền câu, đó là những hình ảnh rất thân thuộc đối với nhân dân vùng quên Bác bộ. Đó là ao chứ không phảo sông, hồ. Chính vì thế cho nên xuất hiện một chiếc thuyền câu bé tẻo teo, xuất hiện giữa cái ao ấy. Hình ảnh đối lập nhau nhưng không khiến cho không gian trở nên lạc long. Có lẽ khung cảnh này là cuối thu nên không khí ao thu đã nhuốm màu hơi lạnh. Từ láy lạnh lẽo diễn tả thời tiết se lạnh. Từ láy “lạnh lẽo đã diễn tả một không khí se lạnh vừa diễn tả cái tĩnh lặng của mùa thu. Cả mặt nước tĩnh lặng khiến cho làn nước mùa thi vốn đã trong nay lại càng trong hơn. Tác giả đã dùng từ “trong veo” để diễn tả các trong ấy. Nước đã trong lại còn không một gợn song khiến cho người ngồi trên thuyền cũng cảm nhận được một không gian vô cùng yên tĩnh. Ngồi trên thuyền có thể ngắm được rong rêu và cả bầu trời in vào dưới đấy sông. Cảnh thu thật đẹp, thật trong trẻ, thanh sơ, hai câu thơ mà tác giả đã sử dụng đến 4 tiếng có vần eo, không chỉ có tác dụng miêu tả về không khí lạnh lẽo, không gian rất eo hẹp, thanh sơ. Như vậy ngay từ những nét vẽ đầu tiên người đẹp chúng ta đã nhìn thấy được cảm giác cô đơn trong lòng người. Như vậy ngay từ những nét đầu tiên chúng ta đã cảm nhận được sự rung cảm của tâm hồn, thi sĩ trước những cản đẹp mùa thu. Đến với hai câu thơ tiếp tiếp theo, các bạn sẽ tiếp tục vẽ được những cảnh mùa thu vô cùng tươi đẹp. “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” Tác giả đã vận dụng tài tình nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Tả cái động “hơi gợn tý” của làn sóng và khẽ đưa vèo của lá vàng rơi khắc họa nên cái tĩnh lặng của mùa thu làng quê Việt Nam xưa. Mặc dù không gian có tĩnh lặng thì khi chúng ta mới có thể nghe thấy những âm thanh rất nhỏ ấy. Không chỉ miêu tả cái tĩnh lặng mà hai câu thơ còn làm nổi bật được vẻ trong trẻo nên thơ của mùa thu. Sóng ở đây là sóng biếc của làn hơi nước trong ánh lên một màu xanh ngọc bích thật diệu kỳ. Điểm xuyết cho bức tranh ấy là một chiếc lá vàng rơi. Cũng như các nhà thơ khác thì mùa của Nguyễn Khuyến cũng gắn liến với chiếc lá vàng, nhưng có một điểm khác biệt là lá vàng trong thơ Nguyễn Khuyến chỉ điểm xuyết len lỏi giữa màu màu xanh của nước mà thôi…. Nhà thơ không lấy màu vàng làm sắc màu chủ đạo mà lấy, và nó cũng không mang sắc màu héo úa của thời gian. Nó mang một màu đặc trưng cho mùa Thu Việt Nam. Nhà thơ Xuân Diệu cũng là từng nhận định “Cái thú vị của bài “Thu điếu” là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…” đọc hai câu thơ này người đọc sẽ bất ngờ bởi chữ “vèo” được dùng trong câu thơ. Không biết sau này Tản Đà có ảnh hưởng của Nguyễn Khuyến hay không nhưng cũng đã dùng chữ vèo trong câu thơ “Vèo trông lá rụng đầy sân”. Hai câu thơ tả thực là bức tranh trong trẻo tĩnh lặng nên thơ, qua đó người đọc cảm nhận được tình yêu thiên, đất nước từ tận sâu trong lòng tác giả. Hai câu thơ tiếp theo không gian của bức tranh được mở rộng cả về chiều cao và chiều sâu: “Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co, khách vắng teo” Trên cao, trên bầu trời cao rộng thoáng đãng, xanh ngắt với những áng mây lơ lững giữa tầng không. Cái màu xanh ngắt là nét đặc trưng đặc biệt của bầu trời thu quê hương có cụ Tam Nguyên Yên Đổ, bởi vậy mà bài thơ nào ở trong chum thơ thu ấy cũng có màu xanh. “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao”. (Thu vịnh) “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt”. (Thu ẩm) Trên nền trời xanh là những âng mây lơ lửng. Từ láy này diễn tả những áng mây dường như không trôi theo làn gió, đồng thời gợi ra làn gió. Từ quanh co không chỉ diễn tả những con ngõ nhỏ sâu hun hút mà còn gợi cho người đọc liên tưởng dến những suy nghĩ không thông thoát của con người. Đằng sau bức trang phong cảnh ấy chúng ta cũng cảm nhận được tâm hồn tha thiết với thiên nhiên. “Tựa gối buông cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo” Con người hiện ra tư thế nhàn nhã “tựa gối ôm cần”, “Buông “ cần chứ không phải là ôm cần, nó diễn tả được một tư thế thong thả thả lỏng cần câu, ngồi câu mà không chú ý đến đến việc câu cá. Chốn quan trường khiến cho ông chướng tai mắt cho nên ông tìm về chốn quê nhà để có thú vui điền viên. Thế nhưng, có lẽ Nguyễn Khuyến không thể làm được. Đi câu mà chẳng chú ý đến việc câu, tâm trí ông phải chăng cứ miên man trong những suy nghĩ không nguôi về non sông. Tiếng cá đớp mồi dưới chân bèo rất khẽ và nhẹ lại là tiếng ở đâu đó vọng lại thế mà vẫn đủ sức làm ông giật mình. Ở đây hình ảnh người đi câu cá mang đậm dáng dấp cả những ngư tiều canh mục đời xưa. Họ đều là những con người muốn lánh đục tìm trong, chờ đợi thời tế, những nhà nho yêu nước mà bất lực trước thời cuộc. Bài thu điếu thực sự là bài thơ điển hình cho cả mùa thu của làng cảnh Việt Nam. Qua bài thơ, chúng ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước và tâm trạng bất lực trước thời thế của tác giả. Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 3 Trong nền thơ ca dân tộc có nhiều bài thơ tuyệt hay nói về mùa thu. Riêng Nguyễn Khuyến đã có chùm thơ ba bài: “Thu vịnh”, “Thu ẩm” và “Thu điếu”. Bài thơ nào cũng hay cũng đẹp cho thấy một tình quê dào dạt. Riêng bài “Thu điếu”, nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. “Thu điếu” là bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc: Cảnh đẹp mùa thu quê hương, tình yêu thiên nhiên, yêu mùa thu dẹp gắn liền với tình yêu quê hương tha thiết. “Thu điếu” được viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Cảnh thu, trời thu xinh đẹp của làng quê Việt Nam như hiện lên trong dáng vẻ và màu sắc tuyệt vời dưới ngọn bút thần tình của Nguyễn Khuyến. Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu. Nước ao “trong veo” tỏa hơi thu “lạnh lẽo”. Sưong khói mùa thu như bao trùm cảnh vật. Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo”. Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ – “bé tẻo teo”. Cái ao thuyền câu là hình ảnh rung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà. Theo Xuân diệu cho biết vùng đất đồng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam có cơ man nào là ao, nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà “bé tẻo teo”: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Các từ ngữ: “lạnh lẽo, trong veo, bé tẻo teo” gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về. Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”. Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy. Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện: “lá vàng” với “sóng biếc”, tốc độ “vèo” của lá bay tương ứng với mức độ “tí” của gợn sóng. Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ngợi ca chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến. Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới có được câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu”: “vèo trông lá rụng đầy sân”. Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả. Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời “xanh ngắt” với “những tầng mây lơ lửng” trôi theo chiều giớ nhẹ. Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt”: “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” (Thu vịnh) “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” (Thu ẩm) “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” (Thu điếu) “Xanh ngắt” là xanh mà có chiều sâu. Trời thu không mây (xám) mà xanh ngắt, thăm thẳm. Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá. Thế rồi ông lơ đãng đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê. Hình như bà con dân làng đã ra đồng hết. Xóm thôn vắng lặng. Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại: “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt. Người câu cá như đang chìm trong giấc mộng mùa thu. Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “ngõ trúc quanh co” hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh,… có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác nhưng rất gần gũi, thân thiết với mọi con người Việt Nam. Phong cảnh thiên nhiên của mùa thu quê hương sao đáng yêu thế! Cái ý vị của bài “Thu điếu” là hai câu kết: “Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. “Tựa gối ôm cần” là tư thế của người câu cá, cũng là một tâm thế nhàn, thoát vòng danh lợi. Cái âm thanh “cá đâu đớp động”, nhất là từ “đầu” gợi lên sự mơ hồ, xa vắng và chợt tỉnh. Người câu cá ở đây chính là nhà thơ, một ông quan to triều Nguyễn, yêu nước thương dân nhưng bất lực trước thời cuộc, không cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp đã cáo bệnh, từ quan. Đằng sau câu chữ hiện lên một nhà nho thanh sạch trốn đời đi ở ấn. Đang ôm cần câu cá nhưng tâm hồn nhà thơ như đang đắm chìm trong giấc mộng mùa thu, bỗng chợt tỉnh trở về thực tại khi “cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Cho nên cảnh vật ao thu, trời thu êm đềm, vắng lặng như chính nỗi lòng của nhà thơ vậy: buồn cô đơn và trống vắng. Âm thanh tiếng cá “đớp động dưới chân bèo” đã làm nổi bật khung cảnh tịch mịch của chiếc ao thu. Cảnh vật như luôn luôn quấn quýt với tình người. Thiên nhiên đối với Nguyễn Khuyến như một bầu bạn tri kỷ. Ông đã trang trải tình cảm, gửi gắm tâm hồn, tìm lời an ủi ở thiên nhiên, ở sắc vàng của lá thu, ở màu “xanh ngắt” của bầu trời thu, ở làn “sóng biếc” trên mặt ao thu “lạnh lẽo”… Thật vậy, bài thơ “Câu cá mùa thu” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Cảnh sắc mùa thu quê hương được miêu tả bằng những gam màu đậm nhạt, nhưng nét vẽ xa gần, tinh tế gợi cảm. Âm thanh của tiếng lá rơi đưa “vèo” trong làn gió thu, tiếng cá “đớp động” chân bèo – đó là tiếng thu dân dã, thân thuộc của đồng quê đã khơi gợi trong lòng chúng ta bao hoài niệm đẹp về quê hương đất nước. Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần “eo” đi vào bài thơ rất tự nhiên thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc; âm hưởng của những vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo – bé tẻo teo – đưa vèo – vắng teo – chân bèo. Thi sĩ Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu xanh vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi…” Thơ là sự cách điệu tâm hồn. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên mùa thu, yêu cảnh sắc đồng quê với tất cả tình quê nồng hậu. Ông là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam. Đọc “Thu điếu”, “Thu ẩm”, “Thu vịnh”, chúng ta yêu thêm mùa thu quê hương, yêu thêm xóm thôn đồng nội, đất nước. Với Nguyễn Khuyến, tả mùa thu, yêu mùa thu đẹp cũng là yêu quê hương đất nước. Nguyễn Khuyến là nhà thơ kiệt xuất đã chiếm một địa vị vẻ vang trong nền thơ ca cổ điển Việt Nam. Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 4 Mùa thu vốn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Thu thường mang đến cho thi sĩ một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Dường như không ai vô tình mà không nói đến cảnh thu, tình thu khi đã là thi sĩ! Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùa thu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” (Thu vịnh), với cái nước “trong veo” của ao cá (Thu điếu), và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” ( Thu ẩm). Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu có viết: “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”? Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênh mông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được: “ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu: ao chuôm là đặc điểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn Khuyến: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Câu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh, nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữa thu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thế mà thật bất ngờ: Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnh thiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếc thuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thân mật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao: “lẽo”, “veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồi hình ảnh: Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Càng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cái lạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàng khẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếc lá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quan sát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong không gian, rơi xuống mặt hồ yên tĩnh. Quả là phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thật sâu sắc thì Nguyễn Khuyến mới có thể cảm nhận được những âm thanh tinh tế, tưởng chừng như chẳng ai để ý đến như thế! Như trên đã nói: mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng vần “eo” nhưng tác giả không bị giới hạn mà đã mở rộng không gian theo chiều cao, tạo nên sự khoáng đạt, rộng rãi cho cảnh vật: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những áng mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà “lơ lửng”. Trước đây Nguyễn Du đã từng viết về mùa thu với: Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng Nay Nguyễn Khuyến cũng thế. Mở ra không gian rộng, cảm hứng Nguyễn Khuyến lại trở về với khung cảnh làng quê quen thuộc cũng vẫn hình ảnh tre truc, vẫn bầu trời thu ngày nào, vẫn ngõ xóm quanh co…tất cả đều thân thương vè nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam. Chỉ đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta mới thấy được những nét quê tĩnh lặng, êm ả như vậy. Trời sang thu, không khí giá lạnh, đường làng cũng vắng vẻ. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” không bóng người qua lại. Sau này Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu tới cũng đã bắt đựơc những nét điển hình đó của sông nước ở vùng quê, khi trời đã bắt đầu bước vào những ngày giá lạnh: Những luồng run rẩy rung rinh lá… … Đã nghe rét mướt luồn trong gió Đã vắng người sang những chuyến đò Cùng với: Cành biếc run run chân ý nhi (Thu) Thế rồi trong cái không khí se lạnh đó của thôn quê, những tưởng sẽ không có bóng dáng của con người, ấy vậy mà thật bất ngờ đối với người đọc: Tựa gối buông cần, lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Hai câu thơ kết thúc đã góp phần bộc lộ đôi nét về chân dung tác giả. Tôi nhớ không lầm dường như đã có tài liệu cho rằng: “tựa gối, ôm cần lâu chẳng được”, “ôm” chứ không phải là “buông”. Theo Việt Nam tự điển thì “buông” hay hơn, phù hợp với tính cách của nhà thơ hơn. Trong những ngày từ quan lui về ở ẩn, mùa thu câu cá, đó là thú vui của nhà thơ nơi làng quê để tiêu khiển trong công việc, để hoà mình vào thiên nhiên, mà quên đi những bận lòng với nước non, cho tâm hồn thanh thản. “Buông”: thả lỏng, đi câu không cốt để kiếm cái ăn (hiểu theo đúng nghĩa của nó), mà để giải trí, cho nên “ôm” không phù hợp với hoàn cảnh. Từ “buông” mang đến cho câu thơ hiệu quả nghệ thuật cao hơn. Tóm lại, qua Thu điếu, ta phần nào thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với cuộc sống: chỉ có những ao nhỏ, những “ngõ trúc quanh co”, màu xanh của bầu trời, cũng đã làm say đắm lòng người. Thì ra mùa thu ở thôn quâ chẳng có gì là xa lạ, mùa thu ở thôn quê chính là cái hồn của cuộc sống, cái duyên của nông thôn. Câu cuối này là thú vị nhất, vừa gợi được cảm giác, vừa biểu hiện đựơc cuộc sống ngây thơ nhất với sự việc sử dụng những âm thanh rất trong trẻo có tính chất vang ngân của những cặp vần, đã chiếm được cảm tình của độc giả, đã đọc qua một lần thì khó mà quên được. Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu – bài 5 Thu vốn là đề tài quen thuộc trong kho tàng thơ ca Việt Nam. Nếu như trong văn học hiện đại, ta có thể bắt gặp “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu hay “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh thì khi quay trở về thời kì trung đại, “Câu cá mùa thu” của Nguyễn Khuyến như một nét mực hoàn thiện bức tranh mùa thu rực rỡ nhưng man mác một nỗi buồn. Tam nguyên yên đỗ Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, là một nhà thơ nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam. Thơ văn của ông vừa mang màu sắc trào phúng, lại có bài nhuốm đậm vẻ đẹp trữ tình. Dù là bằng gam màu nào thì thơ văn của ông vẫn toát lên một nét rất riêng, làm say đắm biết bao thế hệ yêu nghệ thuật. “Thu điếu” hay “Câu cá mùa thu” là bài thơ Nôm nổi tiếng, thuộc chùm thơ thu gồm ba bài của Nguyễn Khuyến là “Thu điếu”, “Thu ẩm” và “Thu vịnh”. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh mùa thu trong và tĩnh, gần gũi với hình ảnh mùa thu thường thấy ở lảng quê Bắc Bộ: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.” Hai câu thơ, mười bốn từ nhưng các từ chứa vần “eo” đã chiếm một số lượng đáng kể, khi đọc lên ta có cảm giác không gian như co cụm lại, luồng khí thì lạnh lẽo và yên tĩnh đến lạ thường. Mùa thu đã đến qua những dấu hiệu của cảnh vật. Nước trong ao lạnh lẽo, mặt nước thì tĩnh lặng và trong xanh đến mức có thể thấy dưới đáy ao có những gì. Những tưởng trong không gian vắng lặng, tĩnh mịch đến mức u ám, ảm đạm thì một hình ảnh mới xuất hiện, xua tan đi vẻ hoang sơ tĩnh lặng: một chiếc thuyền câu bé nhỏ giữa mặt nước trong veo. Chiếc thuyền “tẻo teo” ấy trông thật xinh xắn, tuy bé nhỏ nhưng nó giúp cho không gian nơi đây thêm phần ấm cúng hơn, bởi trên chiếc thuyền, ắt hẳn có bóng dáng con người xuất hiện… Không dừng lại ở đó, bức tranh thu còn được tác giả mở rộng hơn về chiều kích không gian: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.” Không gian tuy mở rộng với nhiều cảnh vật hơn nhưng sự tĩnh lặng của mùa thu vẫn không hề xoay chuyển. Mặt nước vẫn yên tĩnh đến lạ, chỉ có chút “gợn tí” bởi một cơn gió đầu thu. Cuốn mình theo cơn gió se se lạnh ấy là một chiếc “lá vàng…khẽ đưa vèo”. Nghệ thuật đối lập được sử dụng triệt để trong câu thơ này, giữa cái “khẽ” giữa chiếc lá rơi nhẹ nhàng với từ “vèo” đặc tả cho tốc độ rơi nhanh, một chiếc lá rơi rụng không thể nào xua tan đi cái sự tĩnh mịch vốn có của mùa thu nơi đây. Những cảnh vật dưới mặt đất đã được đặc tả, tác giả tiếp tục hướng cái nhìn của mình lên khung trời rộng lớn bên trên, mở ra một không gian thoáng đãng: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.” Bầu trời xanh ngắt là một vẻ đẹp không thể nhầm lẫn của mùa thu. Trên không gian cao vút xanh trong ấy là những “tầng mây lơ lửng” tạo cảm giác bềnh bồng, nhẹ nhàng, có chút gì đó cô đơn, hiu quạnh khi trong không gian rộng lớn như vậy mà chỉ có một phần mây lẻ loi giữa trời. Chiều cao đã được mở rộng, không gian đã trở nên quang đãng, Nguyễn Khuyến lại xoay tầm mắt trở về mặt đất thân thuộc. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” người qua lại. Không gian quả thật là yên mịch quá đỗi… Thế rồi, trong cái không khí se se lạnh bởi mùa thu ấy, hình ảnh con người cuối cùng cũng đã xuất hiện: “Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo.” Hai câu thơ cuối cùng này đã góp phần bộc lộ chân dung của tác giả. Trong những ngày cáo quan về ở ẩn, nhà thơ đã chọn cho mình một chiếc cần câu mà tạm quên đi việc dân, việc nước. Thế nhưng ông không thể nào chú tâm vào việc đi câu mà chỉ chú ý tới cảnh vật xung quanh, có lẽ trong thâm tâm ông, ông chỉ muốn có một không gian yên tĩnh để suy nghĩ về sự đời. Người câu cá như đang hòa làm một với thiên nhiên, như đang cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời xô bồ, tấp nập. Mùa thu qua “Câu cá mùa thu” dù rất tĩnh lặng, hiu hắt và có phần ảm đạm nhưng đâu đó vẫn mang những vẻ đẹp đặc trưng, rực rỡ đến lạ thường. Qua đó ta có thể thấy được tình yêu của nguyễn Khuyến đối với cảnh thu và một lòng nồng nàn hướng về đất nước không thể nào bị xóa mờ. Trên đây là bài tập làm văn phân tích bài thơ Câu cá mùa thu, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu
6,264
Phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi để thấy được tình yêu thiên nhiên mãnh liệt của người thi sĩ Bài làm Từ xưa đến nay thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng bất tận của những thi sĩ. Họ tìm đến thiên nhiên như để tìm thấy sự thanh thản, bình yên trong tâm hồn. Với Nguyễn Trãi tình yêu thiên nhiên được thể hiện một cách sâu sắc và mãnh liệt qua bài thơ “ Bài ca Côn Sơn”. Mở đầu bài thơ, bức tranh thiên nhiên hiện lên thật sống động với âm thanh của tiếng suối chảy: “Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” Ở đây nhà thơ sử dụng một hình ảnh so sánh đặc biệt tiếng suối với tiếng đàn cầm. Tiếng suối ấy chảy một cách êm đềm khiến tác giả liên tưởng đến tiếng đàn cầm du dương bên tai. Dường như thi nhân đang đắm chìm vào thiên nhiên, thả hồn vào mình vào từng tiếng suối. Có vẻ như tiếng suối mang một âm thanh đặc biệt đã làm lay động tâm hồn người nghệ sĩ để rồi năm trăm năm sau, người chiến sĩ thi sĩ tài hoa Hồ Chí Minh cũng có cảm nhận: “ Tiếng suối trong như tiếng hát xa”. Đó phải chăng là sự đồng điệu trong tâm hồn người nghệ sĩ? Bức tranh thiên nhiên còn hiện lên với hình ảnh hết sức chân thực đó là phiến đá nhưng dưới sự cảm nhận tinh tế của người nghệ sĩ, phiến đá ấy mang một vẻ đẹp lãng mạn: “Côn Sơn có đá rêu phơi Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm” Màu xanh rêu của đá gợi lên sự cổ kính. Sự tinh tế trong cảm nhận của Nguyễn Du đã khiến cho phiến đá – một vật vô tri, cứng rắn trở thành mặt chiếu mềm mại, dịu êm. Qua đó người đọc cũng thấy được sự giao hòa với thiên nhiên của người thi sĩ. Nhà thơ như đắm mình vào thiên nhiên, thả hồn mình vào khung cảnh núi rừng nên thơ, yên bình: “Trong ghềnh thông mọc như nêm Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm Trong rừng có bóng trúc râm Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn” Một màu xanh bát ngát của những hàng thông rì rào trong gió. Hình ảnh so sánh “thông mọc như nêm” gợi ra khung cảnh núi rừng Côn Sơn là những hàng thông nối tiếp nhau, nhiều vô kể. Phải chăng chính sự dày đặc của những hàng thông khóm trúc là nơi che chở cho tâm hồn thi sĩ tránh khỏi những bụi trần? Nhà thơ được nằm dưới bóng râm mát rượi của khóm trúc xanh để “ ngâm thơ nhàn”, quên đi những ưu toan, phiền muộn. Hòa mình vào thiên nhiên nhà thơ như tìm thấy những sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn. Qua ngòi bút miêu tả của Nguyễn Trãi bức tranh thiên nhiên Côn Sơn hiện lên thật đẹp, trong lành và bình yên. Những hình ảnh so sánh kết hợp với nhịp thơ đa dạng làm cho bức tranh thiên nhiên ấy trở nên vui tươi, tràn đầy sức sống. Phải là người yêu thiên nhiên lắm thì tác giả mới có thể viết lên những vần thơ đẹp đến vậy! “Bài ca Côn Sơn” của Nguyễn Trãi là một bài thơ hay và đặc sắc. Bằng tình yêu thiên nhiên tha thiết, mãnh liệt người thi sĩ đã khắc họa nên một bức tranh Côn Sơn gần gũi và bình yên đến lạ thường. Con người và thiên nhiên hòa quyện với nhau bắt nguồn từ nhân cách thanh cao và tâm hồn thi sĩ của chính Ức Trai.
Phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi để thấy được tình yêu thiên nhiên mãnh liệt của người thi sĩ
624
Đề bài: Phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi Bài làm Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai. Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta năm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn. Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi. Muôn chung chín vạc làm gì, Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi. Đồng, Nguyên để tiếng trên đời, Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan. Lại kia trên núi Thú San, Di, Tề nhịn đói chẳng màng thóc Chu. Hai đàng khó sánh hiền ngu, Đêu làm cho thoả được như ý mình. Trăm năm trong cuộc nhân sinh, Người như cây cỏ thân hình nát tan. Hết ưu lạc đến bi hoan, Tôt tươi khô héo tuần hoàn đổi thay, Núi gò đài các đó đây, Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh. Sào, Do bằng có tái sinh, Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn. (Bản dịch trong sách “Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi) Trong các bản dịch “Côn Sơn ca” thì bản dịch này là thanh thoát hơn, thể hiện được hồn thơ Nguyễn Trãi đã nhiều năm ở ẩn tại động Thanh Hư thuộc Côn Sơn. Thời thơ ấu, Nguyễn Trãi từng sống với mẹ và ông ngoại tại đấy. Nguyễn Trãi đã xem Côn Sơn là “quê cũ” của mình. Trong “Ức Trai thi tập” và “Quốc âm thi tập”, ông có nhiều bài thơ Côn Sơn với bao tình thương mến, thắm thiết. Bao nhiêu lần nhờ hồn mộng mà tìm làng cũ: “Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý” (Về Côn Sơn làm trong thuyền). Làng quê mới qua, như thấy chiêm bao đến: “Hương lý tài qua như mộng đáo” (Sau loạn đến Côn Sơn cảm tác). “Quê cũ nhà ta thiếu của nào? Rau trong nội, cá trong ao. Cảnh thanh dường ấy về chăng nghỉ. Lẩn thẩn làm chi áng mận đào?” (“Mạn thuật” – 13) “Côn Sơn ca” là bài ca giao cảm với thiên nhiên, cũng là bài ca tâm trạng thời thế, triết lý về cuộc đời. Phần đầu nói về vẻ đẹp lâm tuyền của Côn Sơn bằng bốn cảnh: Suối, đá, thông và trúc. Trong nguyên tác chữ Hán, tác giả viết bằng thơ bốn chữ và thơ năm chữ, nhằm miêu tả vẻ đẹp Côn Sơn tầng tầng lớp lớp xuất hiện: “Côn Sơn hữu tuyền, Kỳ thanh linh linh nhiên Ngô dĩ vi cầm huyền Côn Sơn hữu thạch Vũ tẩy đài phô bích Ngô dĩ vi đạm tịch…” Cảnh đẹp thứ nhất là suối Côn Sơn, tiếng nước chảy róc rách như tiếng đàn cầm. Cảnh đẹp thứ hai là đá, mưa sạch rêu biếc như chiếu êm. Cảnh đẹp thứ ba là rừng thông, tán lá như những chiếc lọng rủ bóng đáng yêu gắn bó với tâm hồn nhà thơ. Suối, đá, trúc, thông là nơi nương tựa, nâng đỡ tâm hồn, là đối tượng để thi nhân cùng với thiên nhiên giao hòa giao cảm, để “Ta cho là đàn cầm”, để “Ta cho là đệm chiếu”, để “Ta nghỉ ngơi” trong rừng thông, để “Ta ngâm nga” bên rừng trúc. Hình ảnh thơ là âm thanh, là màu sắc găn liền với cảm giác, với tâm hồn nhà thơ bằng những liên tưởng vô cùng thiết tha, đằm thắm: “Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trong rừng có bóng trúc râm, Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn”. Gắn bó, chan hoà với suối, đá, thông, trúc Côn Sơn, chính là biểu lộ tấm lòng của Nguyễn Trãi đối với quê cũ yêu thương. Mấy chục năm trời loạn lạc, ly hương, không đêm nào ông không nằm mộng nhớ quê nhớ luống cúc vười cũ: “Tưởng nhớ vườn nhà ba rặng cúc, Hồn về đêm vẫn gửi chiêm bao” (“Ngày thu ngẫu nhiên làm”- Thơ dịch) Quê cũ với tùng, với đá, với mai… biết bao thương nhớ bồi hồi: “Thạch bạn tùng phong có thắng tưởng Giản biên mai ảnh phụ thanh ngâm”. (Tùng reo bậc đá ai nghe đấy? Mai chiếu bên khe thú vịnh đâu?) Giọng thơ trầm hẳn xuống: Nguyễn Trãi đang vui thú say sưa lắng nghe tiếng suối róc rách, đang say mê ngắm nhìn rêu đá, thông rủ bóng, trúc xanh mát, rồi trầm ngâm tự nói với mình, tự nhắc nhở mình: “Về đi sao chẳng sớm toan Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” Câu thơ chữ Hán nghĩa là: Hỡi người sao không về đi, nửa đời người giam buộc mình mãi trong cát bụi làm chi? Bốn chữ “Bất quy khứ lai” lấy cảm hứng từ bài “Quy khứ lai từ” của Đào Tiềm một danh sĩ cao khiết đời Tấn bên Trung Quốc đã coi thường danh lợi không chịu khom lưng uốn gối vì mấy đấu gạo lương bổng, đã treo ấn từ quan, trở về vườn cũ, cày ruộng, ương cúc, thảnh thơi với tháng ngày. Nguyễn Trãi làm quan, tài năng không được thi thố, bị bọn quyền thần, nịnh thần chèn ép. Có lúc ông tự than: “Dưới công danh đeo khổ nhục” (“Ngôn chí” -2), hoặc: “Được thua phú quý dầu thiên mệnh – Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn” (“Mạn thuật”-5). Người anh hùng thuở “Bình Ngô” đã từng “Viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời” thế mà giờ đây tự trách mình “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?”, điều đó cho thấy Nguyễn Trãi đang sống những ngày tháng đầy bi kịch. Đó là tâm trạng thời thế. Năm 1429, Lê Thái Tổ đã sát hại Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, hai đại công thần; còn Nguyễn Trãi cũng đã bị hạ ngục. Sau đó tuy được tha nhưng chỉ là một cô thần “thanh chức”. Nguyễn Trãi đã nhiều năm sống trong tâm trạng muốn trở về Côn Sơn làm bạn với cỏ hoa chốn lâm tuyền: “Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế, Ắt đã trong bằng nước ở bầu”. Nguyễn Trãi có lúc tự dặn mình: “Vườn quỳnh dù có chim hót – Cõi trần có trúc đứng ngăn”. Nhưng trước áp lực của bọn nịnh thần, ông phải lui về Côn Sơn. Mấy năm sau Lê Thái Tôn lại xuống chiếu vời Nguyễn Trãira làm quan. Trong biểu tạ ân, ông hả hê nói: “Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng”; ông tự cho mình là con ngựa già “còn kham rong ruổi”. là cây thông qua năm rét mà “còn dạn tuyết sương”. Chẳng bao lâu sau đó, Nguyễn Trãi đã về hẳn Côn Sơn… Cuộc đời Nguyễn Trãi đã phản ánh tâm trạng đầy bi kịch giằng xé, đúng như ông đã viết trong “Côn Sơn ca”: ”Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?” Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực qúa, thanh liêm qúa…” (Phạm Văn Đồng), và đó là nguồn gốc sâu xa bi kịch vô cùng đau thương của người anh hùng thuở “bình Ngô”. “Côn Sơn ca” còn hàm chứa triết lý về cuộc đời của Ức Trai. Trước hết ông nói về giàu sang phú quí, bần tiện, vinh và nhục ở đời. Đổng Trác đời Đông Hán, Nguyên Tải đời Đường chức trọng quyền cao, phú quí đến cực độ, cuối cùng chết trong ô nhục, để lại tiếng dơ muôn đời: “Muôn chung chín vạc làm gì, Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi. Đổng, Nguyên để tiếng trên đời, Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan”. Tác giả nhắc lại cách ứng xử và cái chết của Bá Di, Thúc Tề đời Ân, Chu, từ đó suy ngẫm về “hiền ngu” ở đời, chung qui chỉ là “đều làm cho thoả được như ý mình”. Kiếp người khác nào “cây cỏ”, đời người một trăm năm, mừng, buồn, lo, vui, cái nọ đi, cái kia đến, tốt tươi rồi khô héo, tuần hoàn nối tiếp nhau trong vòng một trăm năm hữu hạn. Sự chiêm nghiệm của nhà thơ thấm một nỗi buồn mênh mông, khi tóc đã bạc, chỉ còn biết làm bạn với mấy núi, trăng ngàn: “Láng giềng một áng mây bạc, Khách khứa hai ngàn núi xanh”. Ý nghĩa cuộc đời là gì? Nguyễn Trãi mang màu sắc bi quan chưa hẳn đã sai? Đời người “Trăm năm còn có gì đâu? – Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”(“Cung oán ngâm khúc”). Với Nguyễn Trãi lúc này thì chết là hết. Sự phủ định đầy ngao ngán: “Núi gò đài các đó đây Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh”. Nguyễn Trãi viết “Côn Sơn ca” trước bao lâu vụ án Lệ chi viên xảy ra? Tâm trạng thời thế, triết lý về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca là cả một nỗi buồn thấm sâu, toả rộng trong tâm hồn nhà thơ. Từ những chiêm nghiệm lịch sử phong kiến Việt Nam, nhất là ba triều đại Trần, Hồ, Lê, về cuộc đời ông ngoại (tướng công Trần Nguyên Đán), về cha mình (Nguyễn Phi Khanh), về những thăng trầm, vinh nhục, ngọt bùi cay đắng của đời mình, nên Ức Trai mới có suy ngẫm ấy. Về một phương diện khác, triết lý về cuộc đời của Nguyễn Trãi thể hiện sự cảm thông cho số kiếp của con người. Cái nhìn ấy, sự suy ngẫm ấy mang tính nhân bản sâu sắc. Bi kịch của Nguyễn Trãi là bi kịchcủa kẻ sĩ trong xã hội phong kiến, cũng là bi kịch lịch sử “Anh hùng di hận kỷ thiên niên”)(“Quan hải”). Hai câu kết như một lời thiết tha nhắn gọi: “Sao, Do bằng có tái sinh, Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn”. Sao Phủ và Hứa Do hai cao sĩ đời vua Nghiêu trong lịch sử truyền kỳ Trung Quốc không màng công danh, chỉ thích sống cuộc đời ẩn sĩ, coi trọng thanh cao, chan hoà với núi cao rừng thẳm. Nguyễn Trãi một mặt cảm thông, kính trọng tấm gương sáng của hai Người Hiền xa xưa, mặt khác tự hào biểu lộ niềm tự hào về tâm thế của mình: trở về Côn Sơn là để thoát vòng danh lợi, được chan hòa với suối rừng thiên nhiên, sống cuộc đời nhàn hạ, thanh cao. Đó là âm điệu trữ tình, là nội dung tư tưởng tình cảm của “Khúc hát bên ghềnh Côn Sơn” vậy. Nếu Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo…là khúc ca thắng trận của người anh hùng thì thơ Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập là tấm lòng, là tâm thế của Ức Trai. “Côn Sơn ca” là bài hát về suối, đá, thông, trúc, là tình yêu quê hương, là những suy ngẫm buồn lo về cuộc đời, về kiếp ngươi hữu hạn trong dòng chảy vô hạn của thời gian. Cảnh sắc thiên nhiên Côn Sơn đã trở thành tâm hồn của Ức Trai. Triết lý về cuộc đời mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai bài ca thật ra không có gì mới. “Thân cát bụi lại trở về cát bụi” (Kinh Thánh) “Sinh tồn hoa ốc xứ – Linh lạc qui sơn khưu (Sống ở nhà lộng lẫy, chết lại về núi gò – Tào Thực, đời Hán). “Xử thế nhược đại mộng- Hồ vị lao kỳ sinh?”(Sống ở đời như giấc mộng lớn – Tội chi vất vả đời mình – Lý Bạch … có điều, qua “Côn sơn ca”, ta thấy hồn thơ của Ức Trai rất đẹp. Nguyễn Trãi tự hào cuộc đời mình thanh cao, thương cuộc đời mình đầy bi kịch thương đời người cát bụi. Chất triết lý “Côn Sơn ca” giàu tính nhân văn để lại dấu ấn đậm đà trong lòng ta…
Phân tích bài thơ Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi
1,958
Phân tích bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung Hướng dẫn Phân tích bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung Đặng Dung là một danh tướng dưới thời Hậu Trần, khi còn trẻ ông đã lập được rất nhiều chiến công trong cuộc đấu tranh chống giặc Minh. Về sau Đặng Dung bị giắc bắt, không chịu khuất phục trước kẻ thù, trên đường đi ông đã nhảy xuống sông để tự vẫn. Bài thơ Cảm hoài là bài thơ tiêu biểu của ông viết về những tâm sự của bản thân về khát vọng lập công và sự day dứt trong thực tại. Mở đầu bài thơ, tác giả Đặng Dung đã gợi mở khung cảnh đất nước ta vào những năm 1407 – 1409 khi quân Minh kéo vào nước ta: “Thế sự du du nại lão hà Vô cùng thiên địa nhập hàm ca” (Dịch: Việc đời bối rỗi tuổi già vay Trời đất vô cùng một cuộc say Trước thế sự rối loạn, giặc Minh tràn vào Đại Việt với âm mưu xâm lược thâm độc, tác giả Đặng Hoài đã thể hiện niềm đau xót khôn nguôi qua tiếng than đầy bất lực, thế sự căng thẳng, người anh hùng sôi sục khát khao lập công, cứu nước nhưng tuổi già đến, ước nguyện chẳng thể nào thực hiện được. Đây thực sự là một bi kịch đầy đau khổ đối với một người anh hùng như Đặng Dung. “Vô cùng thiên địa nhập hòa ca” thể hiện được thái độ của nhà thơ trước tình thế đảo điên của thời cuộc. Câu thơ thứ nhất và thứ hai tuy có sự đối lập về ý nghĩa nhưng đều góp phần thể hiện được tâm trạng của nhà thơ. Vận khứ anh hùng ẩm hận đa” ( Dịch: Bần tiện gặp thời lên cũng dễ, Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay ) “Đồ điếu” chỉ người mổ thịt và người câu cá. Câu thơ có ý nghĩa, nếu như gặp thời thì những người câu cá cũng có thể đạt được thành công dễ dàng, câu thơ cũng gợi cho chúng ta liên tưởng đến một nhân vật trong lịch sử Trung Hoa, đó là Phàn Khoái, từng làm nghề bán thịt chó, Hàn Tín thuở hang vi cũng từng câu cá nhưng cuối cùng đi theo Lưu Bang và lập nên được sự nghiệp lớn. Đối với những người thất thế thì lại phải chịu nhiều ẩn hận. Đây là nỗi đau của người anh hùng thất thế khi thời thế đổi xoay. “ Trí chủ hữu hoài phù địa trục Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà” (Dịch: Vai khiêng trái đất mong phò chúa, Giáp gột sông trời khó vạch mây. ) Hai câu luận lại hướng đến hình tượng mang tính kì vĩ, tráng lệ. Trong cuộc đời của mình, Đặng Dung luôn đặt trách nhiệm với đất nước lên trên hết, ông không quản những gian khó mà xông pha trận mạc, phò vua, cứu nước. Những hình ảnh “phù địa trục”, “vãn thiên hà” là những hình ảnh mang tính kì vĩ, lớn lao, thể hiện được khát vọng của người anh hùng trong thời loạn. Hai câu thơ cuối đối nhau tạo nên giọng điệu hào sảng đầy ấn tượng. Kỉ độ Long Tuyền đới nguyệt ma” (Dịch: Thù trả chưa xong đầu đã bạc, Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.) Hai câu thơ cuối đã gợi ra hình ảnh của người anh hùng mài gươm dưới ánh trăng sáng, trải qua nhiều năm tháng thì mái đầu cũng đã bạc dần, câu thơ gợi ra màu sắc hào hùng, bi tráng. Tuy tuổi đã già nhưng việc nước chưa hoàn thành nên nhà thơ vẫn nặng trĩu những trăn trở, suy tư. “Long Tuyền” ở đây là thanh gươm báu dùng để giết giặc, lập công, mang lại độc lập, hòa bình cho dân tộc. Hai câu thơ cuối của bài Cảm hoài được coi là hai câu thơ đẹp nhất, thể hiện rõ nét hào khí Đông A dưới thời nhà Trần. Qua bài thơ ta có thể thấy được Đặng Dung là một người anh hùng luôn nặng lòng với nước,với dân, bài thơ thấm được được tình yêu nước, sự day dứt, đau khổ của người anh hùng lỡ bước. Nguyễn Trãi trong bài thơ Quan Hải cũng đã gặp gỡ với tư tưởng của Đặng Dung: “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật Anh hùng di hận kỉ thiên niên” Dịch: Họa phúc có manh mối, đâu phải một ngày Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau” Như vậy, ta có thể thấy Cảm hoài là bài ca về tình yêu nước đầy bi tráng của người anh hùng cả đời dâng hiến công sức cho dân cho nước.
Phân tích bài thơ Cảm hoài của Đặng Dung
775
Đề bài: Phân tích bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu Bài làm Cuối thế kỷ XIX, khi các phong trào đấu tranh chống Pháp lần lượt bị thất bại, đất nước chìm ngập trong đau thương. Bước sang đầu thế kỷ XX, hưởng ứng luồng gió mới từ phương Tây thổi tới, những con người yêu nước, quyết chí dành tự do cho dân tộc lại náo nức bước vào một cuộc đấu tranh mới, theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Phan Bội Châu xuất thân nho học song lại là người sớm có tinh thần tiên tiến, bắt nhịp với thời đại mới. Cái chí khí "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" (giàu sang không thể làm cho mê đắm, nghèo khó không thể làm cho thay lòng đổi dạ, uy vũ không thể làm cho khuất phục) của một nho gia đã biến thành bản lĩnh vững vàng, thành cốt cách anh hùng trước cơn tai biến nguy nan của một chí sĩ cách mạng. Ngày 19-1-1914, Phan Bội Châu bị bắt giam vào ngục Quảng Đông. Trước đó, thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt đối với ông. Bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông nằm trong Ngục trung thư – một huyết tâm thư tuyệt mệnh. Ngay từ đêm đầu tiên vào ngục Phan đã làm hai bài thơ Nôm (Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông là một trong hai bài ấy): "Làm xong hai bài thơ tôi ngâm nga lớn tiếng rồi cả cười, vang động cả bốn vành, hầu như không biết thân mình đang bị nhốt trong ngục". Xem ra, tù ngục cũng chẳng mảy may khiến bậc trượng phu nao núng. Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Hai câu vào bài thể hiện ngay khẩu khí của bậc anh hùng: "Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù". Nhân vật trữ tình hiện ra với một phong thái đường hoàng, tự tin đến ngang tàng, ngạo mạn. Giọng đùa vui, tự trào làm tan biến đi cảm giác của một người tù, chỉ thấy một tư thế cao ngạo, xem thường hiểm nguy, cổ nhân nói: Trí hơn vạn người gọi là "anh", trí hơn nghìn người gọi là "tuấn", trí hơn trăm người gọi là "hào", trí hơn mười người gọi là "kiệt". Kẻ tài trí hơn người, phong thái ung dung, đường hoàng (phong lưu) đang ngân nga tỏ chí. Hai từ vẫn trong câu thơ đầu mang đậm tính khẩu ngữ. Một sự việc nghiêm trọng (tù) được nói đến bằng một thái độ cười, cợt, xem thường. Bị giam hãm trong tù ngục (lại là tử tù!) mà cứ như khách tài tử tạm dừng chân trên chặng đường dài dặc. Hoàn cảnh dù có đổi thay, tai biến có thể đến bất cứ lúc hào nhưng chí khí thì chẳng khi nào dời đổi. Hai câu tiếp, giọng thơ chợt chuyển: Đã khách không nhà trong bốn biển, Lại người có tội giữa năm châu Tác giả tự nghiệm về thân thế của mình. Một cuộc đời bôn ba đầy sóng gió. Phan Bội Châu từng phiêu bạt khắp nơi (khi Trung Quốc, khi thì Nhật Bàn, Thái Lan). Trên hành trình lưu lạc ấy ông đã phải trải qua biết bao cay đắng, cực khổ. Chỉ vì hết lòng muốn tìm đường cứu nước, chỉ vì yêu đất nước, dân tộc mình mà người chí sĩ bị xem như một tội nhân, bị truy nã khắp nơi. Phiêu bạt, lênh đênh, chẳng được yên ổn bao giờ, con người ấy cất tiếng than cho mình cũng là đau cho nỗi đau chung của một đất nước đang mất chủ quyền. Tiếng thở dài ấy là của bậc anh hùng. Cái buồn ấy là cái buồn của một người tù yêu nước, của một nhân cách phi thường. Một phút ngẫm ngợi về mình để rồi lại sang sảng ca lên âm giai lãng mạn: Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế Mở miệng cười tan cuộc oán thù. Kinh tế – kinh bang tế thế, người chí sĩ chẳng lúc nào thôi ôm ấp hoài bão trị nước cứu đời. Đây là con đường Phan đã chọn, nguyện dấn thân, vẫn là cái khẩu khí hơn người, tiếng "cười" của một người tù sao mà khoáng đạt đến thế. Đến độ ta chỉ còn thấy âm hưởng hào hùng bao trùm tất cả, lấn át tất cả như cánh buồm thênh thênh lướt sóng đại dương. Lối nói khoa trương đã được sử dụng để biểu đạt cái chí lớn lao, khát vọng xoay chuyển càn khôn. Như trong bài thơ Chơi xuân, Phan viết: Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ, Nắm địa cầu vừa một tí con con. Đạp toang hai cánh càn khôn, Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà… Hai liên giữa câu 3 – 4 và câu 5-6 của bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông đã tuân thủ khuôn mẫu của một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường trong đối ý, đối lời. Sự đăng đối, hài hòa ở những câu thơ này góp phần tạo ra ấn tượng về cái vững vàng. Các cặp từ đối: bốn biển – năm châu, bủa tay – mở miệng, bồ kinh tế – cuộc oán thù khiến cho tầm vóc của người chi sĩ trở nên phi thường phù hợp với âm hưởng chủ đạo của bài thơ. Bản lĩnh và tư thế khác người của người anh hùng yêu nước được khẳng định dứt khoát trong hai câu thơ kết bài: Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp, Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu! Con người ấy còn sống là còn tranh đấu đến cùng cho lý tưởng chính nghĩa của mình. Hai chữ còn ngắt ra, điệp lại càng tăng thêm sắc thái mạnh mẽ, dứt khoát cho câu thơ. Ý chí thép sẽ chiến thắng hiểm nguy. Cả bài thơ toát lên một tinh thần bất khuất, một tư thế vững vàng của bậc trượng phu trong cơn sóng gió. Truyền thống yêu nước, chí khí anh dũng của dân tộc đang tiếp tục mạch chảy bất tận trong tâm huyết chí sĩ Phan Bội Châu. Hình ảnh người anh hùng đã tạc vào lịch sử như một minh chứng cho tinh thần yêu nước, xả thân vì lý tưởng chính nghĩa.
Phân tích bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông của Phan Bội Châu
1,078
Phân tích bài thơ cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ Hướng dẫn Cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ Mở bài: Đỗ Phủ là nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc. Ông được vinh danh là danh nhân văn hoá thế giới, mệnh danh là Thi Thánh, một trong ba đỉnh cao của Đường thi. Hiện kho tàng thi ca của Đỗ Phủ còn khoảng 1.500 bài. Sáng tác của Đỗ Phủ là bức tranh hiện thực sinh động, chân thực về xã hội Trung Quốc thời Vãn Đường. Mỗi bài thơ là sự đồng cảm sâu sắc với nỗi khỏ đau của nhân dân, chứa chan tình yêu nước và tinh thần nhân đạo được chuyển tải trong một giọng thơ trầm uất, nghẹn ngào, chan chứa tình đời và tình người. Thu hứng (Cảm xúc mùa thu) là bài thơ tiêu biểu của Đỗ Phủ. Thân bài: Đỗ Phủ xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và thơ ca lâu đời. Sống trong thời kì đất nước loạn lạc, đời sống nhân dân lầm than cơ cực, có chí lớn phò vua giúp nước nhưng không thành. Điều đó, ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp công danh và nội dung sáng tác thơ văn của Đỗ Phủ: Thu hứng Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm. Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm. Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm Dịch thơ: Cảm xúc mùa thu Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn non hiu hắt, khí thu loà. Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà. Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước, Thành Bạch, chầy vang bóng ác tà. 1. Cảnh thu ở Quỳ Châu (4 câu đầu): Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm. (Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn non hiu hắt, khí thu loà). – Hình ảnh “phong thụ lâm” ->báo hiệu thu đã về – “Điêu thương”: cảnh rừng phong tiêu điều -> Cảnh rừng phong xác xơ, lạnh lẽo – Hình ảnh: Vu Sơn, Vu Giáp: núi non hùng vĩ, trùng điệp + “khí tiêu sâm”: khí thu hiu hắt, âm u, lạnh lẽo -> Cảnh núi non hùng vĩ, không khí thu tiêu điều Bức tranh thiên nhiên mùa thu được miêu tả với cảnh đẹp rực rỡ, tráng lệ. Cảnh tiêu điều, nhuốm màu li biệt, mang tâm trạng của tác giả. Núi non hùng vĩ nhưng ảm đạm, nhạt nhòa trong hơi thu. Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm. (Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa ải xa) – Nước mùa: thu nổi sóng lên tận trời – Mây thu: sà tận đất – Nước mùa:thu nổi sóng lên tận trời ->Đối lập, động từ mạnh -> Cảnh thu hùng vĩ,có phần dữ dội, các sự vật như muốn hoán đổi, đảo lộn thiên nhiên. → Nỗi niềm thương nhớ lo âu đối với mọi người và vừa xót xa cho chính bản thân mình. Cảnh tượng hoành tráng, dữ dội, âm u, mờ mịt. Cảnh vật thể hiện rõ phong cách của Đỗ Phủ giai đoạn cuối đời: trầm uất, bi tráng. Bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng tâm cảnh, núi non trùng điệp mà hiu hắt, cảnh sôi động mà nhạt nhoà→ nỗi buồn thu. Trong cảnh ấy vẫn ngậm ngùi tình của người viết. Cảnh mùa thu có phần điêu linh, dữ dội như báo trước một điều chẳng lành. =>Bằng những nét chấm phá, tả cảnh ngụ tình, tác giả đã vẽ nên bức tranh mùa thu ở Quỳ Châu hùng vĩ, bí hiểm, âm u nhưng chan chứa tình người. 2. Nỗi lòng của nhà thơ (4 câu sau) Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. (Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà). – Phép đối: đối từ, đối ý và đối thanh + Cúc: hoa của mùa thu + Con thuyền: tượng trưng cho cuộc đời nổi trôi, phiêu bạt→ chở tâm tình mong được trở về quê hương – Lưỡng khai (hai lần nở) – tha nhật lệ (giọt sương/ nước mắt tuôn) -> Khóc cho đất nước điêu tàn, khóc cho nhân dân lầm than, cơ cực, khóc vì xa quê – Cô chu: tả thực, tượng trưng -> con thuyền chở gia đình Đỗ Phủ đi lánh nạn/ Cuộc sống lênh đênh, chìm nổi, cô đơn. – hệ (buộc) + cố viên tâm (nỗi lòng nhớ quê nhà) – lưỡng (hai) → số nhiều – nhất (một) → duy nhất → Nỗi lòng nhớ quê da diết của Đỗ Phủ → lòng yêu nước của ông. – Tiếp tục phát triển những cảm xúc của thi nhân. Nỗi lòng được bộc lộ trực tiếp hơn. Tác giả đồng nhất nhiều sự vật và hiện tượng: Tình – cảnh; hiện tại- quá khứ; sự vật – con người. + “Khóm cúc …cũ”: có thể hiểu khóm cúc đã nở hoa 2 lần và cả 2 lần đều làm chảy dòng lệ cũ, hay nhìn cúc nở hoa mà tưởng chừng như cúc ứa lệ. Cảnh đã hòa vào tâm, không biết cúc ứa lệ hay thi nhân ứa lệ? một khóm cúc nở hoa đã hai lần cũng là hai năm xa nhà, xa quê làm sao không thương nhớ không rơi lệ + “Tha nhật lệ” – nước mắt ngày cũ: Đỗ Phủ không chỉ khóc một lần mà đã nhiều lần ứa lệ, cuộc đời ông thường chan hòa nước mắt vì loạn li + “Cô chu”- con thuyền lẻ loi cô độc đang neo đậu nơi quê người đang cột chặt tấm lòng của người lữ khách tha phương “Con thuyền”: Hình ảnh thực, con thuyền đã chở Đỗ Phủ; Hình ảnh ẩn dụ: cuộc đời Đỗ Phủ cũng như con thuyền lẻ loi cô độc phiêu dạt giữa dòng đời “Buộc”: buộc con thuyền lại vì loạn lạc, buộc cả tấm lòng nhớ quê hương ở lại. Thời gian lưu lạc được tính bằng màu cúc nở hoa, tình cảm đau thương được đo bằng số lần nhỏ lệ. Và có sự thay đổi tầm nhìn: xa đến gần. Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đế thành cao cấp mộ châm. (Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước, Thành Bạch, chầy vang bóng ác tà – Thời gian: mộ (buổi chiều) – Không gian: Bạch Đế thành cao – Âm thanh: thôi đao xích, cấp mộ châm ( rộn ràng, tiếng dao thước may áo, tiếng chày dồn dập)→ cuộc sống sinh hoạt của cư dân -> Bút pháp tả cảnh ngụ tình làm tăng thêm nỗi nhớ quê, nhớ nhà, người thân, da diết hơn. =>tâm sự yêu nước,thương đời và cũng chính là nỗi lòng riêng tư của nhà thơ. Ở hai câu cuối tác giả tả cảnh nơi thành Bạch Đế rộn ràng,không khí nhộn nhịp, mọi người nô nức may áo chuẩn bị chống rét. Âm thanh đập vải đầy gợi cảm. Những âm thanh rộn rã không làm ấm lòng người lữ khách trái lại càng làm cho khách tha hương thêm não lòng. Với Đỗ Phủ mùa thu chỉ buồn bã hiu hắt nhưng mùa đông còn đáng sợ hơn: một kẻ không nhà cửa, áo ấm. => Tiếng chày đập vải: âm thanh thường nhậy báo hiệu mỗi độ thu về, điểm nhấn vào chỗ sâu thẳm của lòng người: nỗi đau khao khát về một mái ấm gia đình. Kết bài: Qua bài thơ ta thấy cảnh thu gắn với mùa thu: rừng thu điêu thương, khí thu hiu hắt, hoa thu nhỏ lệ.Cảnh đời cũng không tách rời mùa thu: nỗi đau xót, cô đơn, nỗi nhớ quê da diết trong hoàn cảnh loạn li. Tình thu đẫm lệ và tình đời dâng trào cảm xúc. Bài thơ Thu hứng (Cảm xúc màu thu) thể hiện nỗi buồn riêng thấm thía và tâm sự chứa chan lòng yêu nước thương đời của tác giả.
Phân tích bài thơ cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ
1,335
Phân tích bài thơ Cảm xúc mùa thu để thấy được cảnh và tình trong thơ Đỗ Phủ Hướng dẫn Cảm xúc mùa thu là bức tranh mùa thu hiu hắt, thấm đượm nỗi buồn hòa quyện với bức tranh tâm trạng với nỗi lòng cô đơn, da diết của người con xa quê. Phân tích bài thơ “Cảm xúc mùa thu”để thấy được cảnh và tình trong thơ Đỗ Phủ. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích bài thơ Cảm xúc mùa thu 1. Mở bài Giới thiệu về tác giả Đỗ Phủ và tác phẩm “Cảm xúc mùa thu”: – Đỗ Phủ là một trong những nhà thơ lớn của nền văn học đời Đường, được mệnh danh là “Thi thánh”. Ông đã để lại khoảng 1400 bài thơ, trong đó “Thu hứng” (“Cảm xúc mùa thu”) là một trong những thi phẩm xứng tầm kiệt tác thể hiện rõ tài năng của tác giả. – Thông qua bài thơ này, chúng ta thấy được sự thay đổi của tầm nhìn giữa các câu thơ, phù hợp với sự vận động từ cảnh đến tình của tứ thơ, từ đó cho thấy mạch chuyển biến và thống nhất giữa cảnh và tình trong bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ sau của tác phẩm. 2. Thân bài – Bài thơ được chia thành hai phần nhưng vẫn có sự thống nhất: + Bốn câu thơ đầu vẽ nên bức tranh cảnh mùa thu hiu hắt, thấm đẫm nỗi buồn. + Bốn câu thơ sau thiên về tả tình, đó là nỗi nhớ quê hương và nỗi lòng người thi nhân. + Xuyên suốt bài thơ, bức tranh thiên nhiên và bức tranh tâm trạng vẫn quyện hòa và thống nhất: trong “cảnh” có “tình”, và “tình” bắt nguồn từ “cảnh”. – Ở bốn câu thơ đầu, tác giả đã vẽ nên bức tranh mùa thu ảm đạm, hiu hắt pha chút dữ dội, sầu thẳm, hoang vu, tuy nhiên chúng ta vẫn thấy được chút “tình” của người thi nhân ẩn sau bức tranh đó: + Bức tranh mùa thu hiện lên: “ngọc thu” là cách nói ẩn dụ miêu tả hạt móc long lanh như hạt ngọc làm héo hon, điêu tàn núi Vu, kẽm Vu hiu hắt nhòe mờ trong “khí thu lòa”. Những làn sóng cuồn cuộn vọt lên đến tận lưng trời cùng hình ảnh mây từng lớp từng lớp đùn lên, sa sầm giáp mặt đất nơi cửa ải → sự đối xứng giữa sóng và mây: sóng hướng lên cao, mây sà xuống đất để lại ấn tượng về sự dữ dôi, mạnh mẽ. + Bức tranh tâm trạng ẩn sau bức tranh thiên nhiên thể hiện thông qua những thi liệu, hình ảnh thơ mà tác giả đã chọn lựa: “rừng phong” là một hình ảnh ước lệ, không chỉ là biểu tượng cho mùa thu mà còn là hình ảnh ẩn dụ cho những ý niệm về nỗi buồn, về sự chia li. Sự xuất hiện của sóng cuồn cuộn và mây đùn lên trong mối quan hệ đối xứng tạo nên một cảnh tượng dữ dội nhưng lại tô đậm thêm vẻ sầu thẳm, hoang vu. – Ở bốn câu thơ tiếp theo, “tình” không còn được bộc lộ một cách kín đáo mà được thể hiện trực tiếp và lấn át “cảnh”. + Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ” (Khóm cúc nở hoa hai lần: những giọt lệ ngày trước) gợi nên hoài niệm về mùa thu trước: hai lần nhìn hoa cúc nở, tưởng chừng như cúc đã nhỏ lệ. gợi ra hình ảnh nhà thơ ngắm nhìn khóm cúc làm chảy dòng lệ của người thi nhân- dòng lệ hiện tại cũng là dòng lệ trong quá khứ. + “Cô chu nhất hệ cố viên tâm” (Con thuyền lẻ loi buột chặt tâm lòng nhớ vườn cũ) thể hiện rõ nồi buồn li hương cùng nỗi nhớ quê nhà luôn khắc khoải. + Không khí “may áo rét” và âm thanh tiếng chày đập vải vang lên dồn dập không hề gợi nên sự rộn ràng tươi vui mà càng tô đậm thêm nỗi buồn, nỗi sầu trong tâm hồn thi nhân. + Trong những câu thơ thiên về “tình” này, chúng ta vẫn thấy được sự đồng nhất giữa “tình” và “cảnh”: giữa hiện tại và quá khứ: “Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ”- giọt lệ hiện tại cũng là giọt lệ quá khứ, giữa sự vật và con người qua hình ảnh con thuyền cô đơn buộc chặt mối tình đối với quê hương. 3. Kết bài Ý nghĩa của “tình” và “cảnh” được thể hiện trong bài “Thu hứng”: – Mối quan hệ giữa “tình” và “cảnh” trong bài thơ phù hợp với đặc trưng của thơ ca trung đại nói chung và văn học đời Đường nói riêng. Đó là quan niệm “Thiên nhân tương đồng” thể hiện sự đồng nhất giữa con người và thiên nhiên, vũ trụ. – Mối quan hệ đó thể hiện rõ tư duy trong tứ thơ Đường: “Thơ Đường là thơ của các mối quan hệ”. Theo
Phân tích bài thơ Cảm xúc mùa thu để thấy được cảnh và tình trong thơ Đỗ Phủ
832
Đề bài: Phân tích bài thơ Cảnh chiều hôm – Vãn cảnh của Hồ Chí Minh Dàn ý 1. Hai câu thơ đầu – Câu thơ thứ nhất là một thi tứ quen thuộc trong thơ cổ: hoa nở rồi lại tàn theo quy luật tự nhiên. Câu thơ gợi ra một dự cảm về sinh mệnh mỏng manh của loài hoa hồng: nở ra, rơi rụng, rồi tàn lụi. Đến câu thơ thứ hai mới thực sự bộc lộ ý tưởng mà Bác muốn gửi gắm: "Hoa khai, hoa tạ lưỡng vô tình” (Hoa nở, hoa tàn, hai sự đó đều vô tình). Vân đề cần xác định là chủ thể của “vô tình” là ai? Có lẽ nên hiểu theo cách: Chỉ có tạo hóa, hiểu như một quy luật của tự nhiên lạnh lẽo vô tình với sự tàn sự nở của bông hoa. Vậy là có một kiếp hoa uổng phí. Nó là hiện thân của cái Đẹp, được Ịuyền tồn tại mãi trên cõi đời này. Nhưng cái Đẹp mỏng manh ấy làm sao có thể chiến thắng được quy luật của tự nhiên. Mặt khác, bông hoa tàn, nở khung cảnh chiều hôm. Giữa sự tàn, nở của hoa với thời gian trôi, cả hai đồi tình, lạnh lẽo. Chắc chắn câu thơ ẩn chứa một tâm trạng bồn chồn, sốt ruột của Bác khi thời giờ cứ trôi đi một cách uổng phí trong tù. Phân tích bài thơ Cảnh chiều hôm – Vãn cảnh của Hồ Chí Minh 2. Hai câu thơ sau – Trong cảnh chiều hôm ấy, bông hoa nở rồi tàn nhưng cái phần tinh tinh tuý nhất là mùi hương của nó đã chủ động đi tìm người tri kỉ: bay thấu trong ngục để tìm đến người tù. – Nhưng hương hoa tìm đến người tù để “tố bất bình” – kể với người tù nổi bất bình của mình. Nhưng là bất hình về cái gì? Bông hoa tìm đến người để giải toả nỗi ấm ức về kiếp phận mong manh của mình. Không phải ngạc nhiên mà nó tìm đến người tù Hồ Chí Minh, bởi vì người tù ấy mang một tim nghệ sĩ sẽ hiểu và thấy được giá trị của cái Đẹp, lắng nghe và cảm thông được trước kiếp phận của bông hoa. Có lẽ loài hoa ấy hiểu được thiên chức người nghệ sĩ: sáng tạo để bất tử hoá cái Đẹp. Tạo hoá vô tình mà huỷ diệt cái Đẹp, thì nghệ sĩ bằng tài năng và tâm lòng đã lại phục sinh cái Đẹp.
Phân tích bài thơ Cảnh chiều hôm – Vãn cảnh của Hồ Chí Minh
429
Đề bài: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh Bài làm Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng thiên tài của dân tộc nhưng đồng thời, Người cũng là một nhà thơ sánh vai cùng những thi nhân của Đông Tây kim cổ. Trong những năm tháng chiến đấu chống Pháp gian khổ của dân tộc, bên cạnh những chủ trương, chiến lược đánh đuổi giặc tài tình, Người còn có những vần thơ khiến lòng người rung động. “Cảnh khuya” là một thi phẩm trong số ấy: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Bài thơ ra đời giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta đang hồi gay go, quyết liệt: năm 1947. Trên chiến khu Việt Bắc, sau những giờ phút mỏi mệt, trong cảnh đêm của núi rừng, Người bồi hồi xúc động trước cảnh đêm khuya êm ái. Điều đầu tiên Bác cảm nhận được nơi thiên nhiên hoang sơ là tiếng suối róc rách tuôn theo dòng chảy: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Lối so sánh của Bác thật kì lạ! Tiếng suối vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng nghe tiếng suối Người cảm nhận được độ “trong” của dòng chảy. Dòng suối ấy hẳn rất ngọt lành, trong mát, đó hẳn cũng là thứ quà riêng mà thiên nhiên núi rừng ban tặng riêng cho những người chiến sĩ trên đường hành quân xa xôi mệt mỏi. Chẳng những vậy, tiếng suối trong nhưng là “trong như tiếng hát xa”. “Tiếng hát xa” là thứ âm thanh rất đặc biệt. Đó phải là tiếng hát rất cao để có sức lan toả mạnh mẽ, để từ xa con người vẫn có thể cảm nhận được. Đó cũng là tiếng hát vang lên trong thời khắc yên lặng bởi nếu không, nó sẽ bị lẫn vào biết bao âm thanh phức tạp của sự sống, liệu từ xa, con người còn có thể cảm nhận được? Điều thú vị trong câu thơ của Bác Hồ là một âm thanh của tự nhiên được so sánh với tiếng hát của con người. Điều đó thể hiện cảm hứng nhân vãn sâu sắc trong những vần thơ của Bác. Cảnh đêm khuya hẳn trong trẻo, tĩnh lặng đến nhường nào Người mới có thế lắng nghe được tiếng suối long lanh ấy. Điều này không khó hiểu bởi không gian núi rừng thường được bao phủ bởi nhịều âm thanh phong phú: tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng cây rừng xao xác tiếng muông thú gọi bầy… Trong bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc”, Bác đã từng viết: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”. Vậy thì có lẽ, đây là chút yên ả hiếm hoi của thiên nhiên núi rừng vào thời khắc đêm khuya. Thiên nhiên yên tĩnh nhưng cũng là tâm hồn con người yên tĩnh, thanh thản hoà mình vào vẻ đẹp của tự nhiên. Thiên nhiên vào giây phút ấy thật hữu tình biết mấy: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Hai từ "lồng" cùng nằm trong một câu thơ tạo những ấn tượng rất đặc biệt. "Lồng" là dộng từ chỉ việc các vật nằm vào trong một cách thặt khớp để tạo thành một chỉnh thể. Câu thơ hữu tình như một bức tranh duyên: ánh trăng mênh mông toả sáng bao trùm lên cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ lại dịu dàng phủ mình lên những nhành hoa. Bác dùng từ "lồng" rất "đắt", nó trở thành "nhãn tự" cho câu thơ. Chỉ với một từ ấy, cảnh vật như đang giao hoà, nương dựa vào nhau một cách duyên dáng, đáng yêu. Đôi mắt người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh thật hữu tình, bác ái. Cảnh khuya sống động, có hồn bao nhiêu càng chứng tỏ một điều: người thưởng cảnh đang xa rời giấc ngủ yên bình thường nhật. Bởi vậy nên: Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Cảnh khuya trong trẻo, tĩnh lặng càng làm nổi bật hình ảnh Bác Hồ thao thức không yên trong đêm vắng. Người hoà mình vào thiên nhiên để cất tiếng thơ ngợi ca thiên nhiên núi rừng song đó chỉ là giây phút phiêu du vào mây gió còn tâm hồn người thực sự đang gửi gắm ở một chân trời khác: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà Câu thơ vang lên như một sự bừng tỉnh cho người đọc. Ta cứ ngỡ Bác đang thảnh thơi thương cảnh chơi trăng nhưng kì thực tấm lòng người vẫn đau đáu cho nỗi niềm non nước. Bác "chưa ngủ" vì một lẽ rất Hồ Chí Minh: “vì lo nỗi nước nhà”. Nói vậy bởi Bác đã có nhiều đêm không ngủ, nhiều đêm trở trăn vì cuộc kháng chiến của dân tộc: “Một canh, hai canh, lại ba canh Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”. Vậy là, dù có tạm để lòng mình hướng đến cảnh vật xung quanh (một lời hỏi thăm người bạn muôn đời của thi nhân kim cổ) tâm hồn Bác vẫn luôn dành trọn tâm tình cho non sông, dân tộc. Và nói như nhà thơ Minh Huệ: “Đêm nay Bác ngồi đó Đêm nay Bác không ngủ Vì một lẽ thường tình Bác là Hồ Chí Minh” Bài thơ khép lại với bao dư âm mênh mang lan toả. Đã hơn một lần chúng ta xúc động trước tấm lòng cao cả, bác ái của Bác Hồ nhưng mỗi lần đọc lại “Cảnh khuya” ta lại bồi hồi với những tâm tình của một người mà cả cuộc đời chưa bao giờ nghỉ ngơi, chưa bao giờ an mình trong giấc ngủ.
Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh
973
Phân tích bài thơ Cảnh khuya của tác giả Hồ Chí Minh Hướng dẫn Mời các bạn theo dõi một bài phân tích Cảnh khuya của Hồ Chí Minh, tư liệu có ích với phụ huynh & học sinh. “Cảnh khuya” nằm trong số những bài thơ trữ tình đặc sắc, bài thơ viết vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra vô cùng ác liệt, Bác Hồ đã viết bài thơ “Cảnh khuya” trong hoàn cảnh đó. Cảnh khuya “Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa. Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. 1947 Hồ Chí Minh Bài thơ miêu tả cảnh khuya núi rừng một đêm trăng, nói lên những suy tư lo lắng của Bác Hồ đối với vận mệnh của dân tộc. Hai câu đầu làm hiện lên trước mắt người đọc một bức tranh sơn thủy về cảnh suối rừng, trăng ngàn Việt Bắc. Nhà thơ thao thức lắng nghe tiếng suối chảy rì rầm, êm nhẹ và trong trẻo từ rừng sâu vọng đến: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” Suối là vẻ đẹp chốn lâm quyền, vẻ đẹp rừng già Việt Bắc. Bác lấy tiếng suối so sánh với tiếng hát, là khúc nhạc rừng ví với tiếng hát xa, êm ái, ngọt ngào của con người, làm cho cảnh khuya chiến khu trở nên gần gũi, mang hơi ấm cuộc đời. Câu thơ làm ta liên tưởng đến tiếng suối trong bài “Côn Sơn ca” của Ức Trai hơn 600 năm về trước: Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai…” Hai hồn thơ trở nên gần gũi, thân thiết. Nguyễn Trãi đã về Côn Sơn “quê cũ” để xa lánh bụi trần, danh lợi, lấy suối đá thông trúc làm bầu bạn. Bác Hồ cũng đến chốn lâm tuyền Việt Bắc, xây dựng chiến khu đánh Pháp. Suối trở thành bài ca câu hát nâng đỡ tâm hồn Bác trong những năm dài kháng chiến gian khổ. Tả suối, nghệ thuật của Bác thật điêu luyện: Lấy cái động (tiếng suối chảy) để miêu tả cái tĩnh (Cảnh khuya) làm nổi bật sự thanh vắng, tĩnh lặng của chiến khu một đêm trăng. Càng về khuya, núi rừng như chìm trong vắng lặng mênh mông. Bác “chưa ngủ” nên mới nghe rõ âm thanh rì rầm suối chảy. Câu thứ hai tả trăng ngàn: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” Hai vế tiểu đối gợi lên cảnh đẹp hài hòa của cảnh vật thiên nhiên. Trăng được nhân hóa, rất thơ mộng “lồng” vào cổ thụ, bóng cổ thụ lại “lồng” vào hoa. Cảnh thiên nhiên trở nên hữu tình, huyền ảo. Chữ “lồng” được láy hai lần, chất thơ trữ tình mang hồn người, quyến rũ. Ánh trăng trải khắp núi rừng, dát vàng xuống rừng cây, “lồng” và trùm lên cổ thụ. Cảnh rừng có tầng cao, tầng thấp, có mảnh sáng, mảnh mờ. Nét vẽ tinh tế, gam màu nhẹ và tươi mát, sự phối sắc tài tình, mĩ cảm, hấp dẫn. Hai câu thơ 3, 4 trong bài thơ tứ tuyệt được thi pháp cổ gọi là hai câu “chuyển” và “hợp”. Cấu trúc bài thơ rất đặc biệt. Hai chữ “chưa ngủ” nằm ở cuối câu, chuyển lên vị trí đầu câu, đó gọi là nghệ thuật liên hoàn làm cho thơ liền mạch, ý thơ phát triển mở rộng: “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Chưa ngủ vì thi nhân xúc động trước cảnh khuya “như vẽ”. Chưa ngủ, thao thức, bồi hồi vì “lo nỗi nước nhà”. Nhà nước đang bị giặc Pháp xâm lăng, con thuyền kháng chiến đang băng qua ghềnh thác thì vị “thuyền trưởng” chưa thể ngủ ngon giấc được! Nguyễn Trãi đã từng thao thức vì đại nghĩa: “Còn một tấc lòng âu việc nước Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung” (Quốc âm thi tập) Bác Hồ cũng thao thức: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Cùng mang trong tâm hồn một tình yêu lớn đối với đất nước và nhân dân, thơ của bác chứa chan tình yêu nước. Có thể nói, câu thơ bình dị, sáng tỏ như một chân lý, để lại ấn tượng sâu sắc. “Cảnh khuya” bài thơ tứ tuyệt làm đẹp nền thơ ca kháng chiến. Câu thơ giàu hình tượng và truyền cảm. Cảnh và tình hòa hợp, vừa cổ kính, vừa hiện đại. Tình yêu nước thiết tha, tình yêu thiên nhiên trong sáng là cốt cách vẻ đẹp của bài thơ.
Phân tích bài thơ Cảnh khuya của tác giả Hồ Chí Minh
750
Đề bài: Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi Bài làm Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả. Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế. “Rồi hóng mát thuở ngày trường” Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là “Rỗi hóng mát thuở ngày trường”. Nhưng “rỗi” hay “rồi” cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi “Ngày trường” lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài”. Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành “hóng mát” cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa. Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên. “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hòa lớn lên nhanh, tán cây tỏa rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời… Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. “Chợ” là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh… lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi. “Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương”. “Dân giàu đủ”, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ. Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no. Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm “cuồn cuộn nước triều Đông”. Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng ức Trai vẫn canh cánh “một tấc lòng ưu ái cũ”. Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhàn dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu.
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
884
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè mới nhất Bài làm Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng dành những lời trân trọng nhất “Nguyễn Trãi là người đầu đội trời Việt Nam, chân đạp đất Việt Nam, tâm hồn lộng gió thời đại…”. Điều đó là chẳng hề nói quá với những đóng góp quan trọng của bậc đại tài Nguyễn Trãi đối với dân tộc ta. Nguyễn Trãi – một bậc anh hùng lớn, một nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc, trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã để lại cho lớp lớp thế hệ sau một kho tàng văn chương vĩ đại, đặc sắc. “Cảnh ngày hè” (Bảo kính cảnh giới – bài 43) là một trong số đó , bài thơ là những quan sát tinh tế nhất của tác giả về khung cảnh thiên nhiên, đất trời vào mùa rực rỡ nhất. Nhưng ẩn đằng sau đó ta vẫn thấy được tấm lòng yêu nước, thương dân, ước vọng cao đẹp của nhà thơ. Ngay từ những câu thơ đầu tiên, tác giả đã dẫn chúng ta đến với một bức tranh thiên nhiên rực rỡ, tràn trề sự sống của mùa hè, đến với một không khí náo nhiệt, rộn ràng của cuộc sống thường nhật vẫn đang tiếp diễn Rồi, hóng mát thuở ngày trường Chữ “rồi” tách riêng thành một nhịp thể hiện cảm nhận của tác giả về tình cảnh của mình. “Rồi” là từ cổ, cổ nghĩa là nhàn nhã, không vướng bận điều gì. Cuộc đời Nguyễn Trãi thường không mấy lúc được thảnh thơi. Đây là lúc ông được sống ung dung, được thỏa ước nguyện hòa mình với thiên nhiên mà ông hằng yêu mến. “Ngày trường” là ngày dài. Đây là cảm giác tâm lý về thời gian của người đang sống trong cảnh nhàn rỗi, thấy ngày dường như dài ra. Với con người ưa suy nghĩ, hành động như Nguyễn Trãi thì cảm giác ấy càng rõ hơn bao giờ hết. Giữa lúc xây dựng lội non sông sau chiến tranh, việc dân việc nước bời bời mà ông bị bắt buộc phải hóng mát hết ngày này qua ngày khác thì quả là trớ trêu. Bởi vậy, ông rơi vào cảnh thân nhàn mà tâm bất nhàn. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa. “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương” Chỉ vài nét bút phác họa mà bức tranh quê đã hiện lên tươi khỏe, hài hoà. Cây trước sân, cây trong ao đều ở trạng thái tràn đầy sức sống, đua nhau vươn lên khoe sắc, tỏa hương. Cây hòe với tán lá xanh um xoè rộng, trong khi cây lựu nở đầy những bông hoa đỏ thắm và sen hồng đã nức mùi hương. Sức sống trong cây đang đùn đùn dâng lên cành, lên lá, lên hoa. Cây tỏa bóng rợp xuống mặt sân, tỏa luôn bóng mát vào hồn thi sĩ. Các từ đùn đùn (dồn dập tuôn ra), giương (tỏa rộng ra), phun, tiễn (ngát, nức) gợi tả sức sống căng đầy chất chứa bên trong sự vật, tạo nên những hình ảnh mới lạ, ấn tượng. Ở đây ta bắt gặp cảnh sắc thiên nhiên căng tràn sức sống cho thấy rằng lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc đời của nhà thơ rất mãnh liệt, đồng thời còn có ham muốn được cống hiến công sức của mình cho đời này thêm đẹp. Đời người anh hùng cũng đã vơi nhưng giống như hàng tùng bách dày dạn tuyết sương nên sức sống vẫn chảy mạnh trong huyết quản. Thức đỏ (màu đỏ) của hoa lựu phải chăng là thức đỏ của tấm lòng sắt son với dân với nước? Mùi hương thơm ngát của sen có phải là lý tưởng chẳng bao giờ phai nhạt của Nguyễn Trãi suốt đời phấn đấu vì đất nước thanh bình, vì nhân dân hạnh phúc? Phải chăng chính nhà thơ đã mở rộng tâm hồn mình để cảm nhận cuộc sống, để phát hiện ra cái thế giới bên trong đang tuôn tràn của thiên nhiên, và cái vận động không ngừng trong tự nhiên. Nhưng trong thi của Nguyễn Trãi không chỉ có họa, có hương mà còn có cả những thanh âm muôn vẻ của cuộc sống thường nhật. Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương Thiên nhiên không hề u ám, trầm lặng khi nắng chiều buông mà trái lại, rất rộn rã và sôi động. Nhà thơ đã đưa vào bức tranh của mình những hình ảnh vô cùng quen thuộc, gần gũi nhưng lại không đi theo khuôn sáo, lối mòn nào. Hai từ láy “lao xao”, dắng dỏi được đảo lên đầu mỗi câu thơ làm bật lên cái âm thanh sôi động, náo nhiệt, xóa tan không khí quạnh hiu . “Chợ” là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh… lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã . Tiếng ve inh ỏi – một thứ âm thanh không xa lạ với mùa hè được ví như một cung đàn mùa hạ tấu lên một cách rộn ràng hòa chung với bản đàn rạo rực, hối hả của nhịp sống căng tràn trong thiên nhiên. Lời thơ như diễn tả một cuộc sống đang sinh sôi, tiếp diễn ngay cả khi ngày sắp tàn, một khung cảnh thật êm đềm và thanh bình nơi làng quê. Tác giả đã cảm nhận về bức tranh thiên nhiên cuộc sống ngày hè với nhiều giác quan khác nhau thị giác , thính giác …và cả sự liên tuỏng vuằ chân thực vuằ sinh động rất gợi cảm .Điều đó chứng tỏ tác giả có 1 sự giao cảm mạnh mẽ và tinh tế với thiên nhiên và cuộc sống con nguời Thi nhân như đang náo nức muốn hòa cùng niềm vui sự sống với một tâm hồn thiết tha yêu thiên nhiên để rồi từ đó thổi bùng lên khát vọng bấy lâu nay của một con người luôn hết lòng vì đất nước.Sống giữa vòng tay bình yên của mẹ thiên nhiên, giữa cuộc sống “vô ưu vô tư” nhưng chưa giây phút nào Nguyễn Trãi quên đi bổn phận của mình: Dân giàu đủ khắp đòi phương Dân giàu đủ”, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Nhà thơ đã mượn hình ảnh “Ngu cầm” là cây đàn của vua Nghiêu vua Thuấn. Đó là một điển cố quen thuộc của Trung Hoa kể về thời đại Nghiêu Thuấn – những ông vua nhân từ đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Hằng ngày vua Nghiêu Thuấn thường đem đàn ra gảy khúc nam phong ngợi ca cảnh thái bình trên xứ sở này. Qua đó, nhà thơ bộc lộ mong muốn có được cây đàn đó đến với cuộc sống của nhân dân, để ca ngợi khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp và cuộc sống vui tươi trên quê hương ông, niềm vui sướng, hạnh phúc của tác giả khi được sống hòa hợp cùng thôn quê. Bài thơ kết lại với ước mơ được thấy cảnh thanh bình, ấm no trên đất nước của Nguyễn Trãi. Dù trong hoàn cảnh nào, ông vẫn luôn nặng lòng với nhân dân, đất nước. Như vậy qua ngòi bút miêu tả tài tình ,hệ thống ngôn từ giản dị tinh tế xen lẫn chữ Hán và điển tích , sử dụng từ láy độc đáo bài thơ “Cảnh ngày hè” Nguyễn Trãi đã vẽ lên một bức tranh ngày hè sôi động, nhiều màu sắc, đồng thời qua đó ta còn thấy thấp thoáng bóng dáng một tâm hồn luôn đau đáu khao khát dành cho nước cho dân. Bài thơ để lại cho người đọc những ấn tượng sâu lắng nhất về cuộc sống và tâm tư đáng trân trọng của Ức Trai. Vân Trang – CTV Văn học của
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè mới nhất
1,399
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi lớp 10 bao gồm dàn ý phân tích bài thơ Cảnh ngày hè và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích bài thơ Cảnh ngày hè hay nhất. Dàn ý phân tích bài thơ Cảnh ngày hè 1. Mở bài – Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Trãi một nhà thơ, nhà văn tài năng kiệt xuất của dân tộc, ông đã có nhiều đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà Cảnh ngày hè một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp và tấm lòng yêu nước thương dân của tác giả. 2. Thân bài – Bức tranh cảnh ngày hè nổi lên với bức tranh thiên nhiên ngày hè rực rỡ: Cây hòe có sức sống mãnh liệt giờ tán là xanh che phủ cả khoảng không gian Sắc đỏ của cây thạch lựu tô đậm thêm cho khung cảnh ngày hè Hương hoa sen tỏa ngát bay theo làn gió -> Cảnh vật ngày hè tươi tắn tràn đầy sức sống – Nghệ thuật ngôn từ được sử dụng: Từ láy: đùn đùn, lao xao, dắng dỏi…-> Cảnh ngày hè xôn xao, náo nức, không khí rất nhộn nhịp Động từ: rợp, đùn, tiễn đưa khiến cho người đọc thấy được cảm giác sức sống trỗi dậy của cảnh vật mùa hè Nhà thơ nhìn những tán là xanh cây hòe, màu đỏ rực của thạch lựu, tiếng ve kêu ran cả khoảng không gian và hình ảnh người dân làng chài mỗi sớm thức dậy và bóng người kéo lưới buổi chiều ta.– Nhà thơ đã cảm nhận cái tinh tế, thú vị của ngày hè qua thị giác và thính giác: Ngày hè cảm nhận qua thính giác khi nhà thơ thấy được hương sen thoảng theo gió -> Tâm hồn nhà thơ Nguyễn Trãi được hòa vào thiên nhiên, nói lên được tác giả là người rất yêu đời, yêu cuộc sống. – Tình yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi: Phong thái ung dung tự tại của nhà thơ khi về ở ẩn không muốn vướng bận đến chuyện quan trường. Những trong thâm tâm ông luôn nghĩ về dân, lo cho dân, lo cho nước, ông luôn khao khát nhân dân được hưởng một cuộc sống thái bình, no đủ. Ca ngợi các đời vua ngự trị anh minh mang đến cuộc sống hạnh phúc, ấm no 3.Kết bài Nhấn mạnh lại tình yêu thiên nhiên của tác giả đồng ca ngợi đức tính tốt đẹp của bậc thi nhân dù xin cáo quan về ở ẩn nhưng vẫn một lòng lo cho sự nghiệp chung đất nước. Bài văn mẫu phân tích bài thơ Cảnh ngày hè Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè – bài 1 Trong những ngày từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã viết nhiều bài thơ đặc sắc, trong số đó có bài số 43 trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới. Bài thơ là bức tranh phong cảnh mùa hè độc đáo nhưng thấp thoáng là niềm tâm sự của tác giả. Câu thơ đầu tiên, ta đọc lên thoáng qua sao có vẻ an nhàn, êm đềm, thanh thoát đến thế. “Rồi hóng mát thuở ngày trường” Câu thơ hiện lên hình ảnh của nhà thơ Nguyễn Trãi, ông đang ngồi dưới bóng cây nhàn nhã như hóng mát thật sự. Việc quân, việc nước chắc đã xong xuôi ông mới trở về với cuộc sống đơn sơ, giản dị, mộc mạc mà chan hòa, gần gũi với thiên nhiên. Một số sách dịch là “Rỗi hóng mát thuở ngày trường”. Nhưng “rỗi” hay “rồi” cũng đều gây sự chú ý cho người đọc. Rảnh rỗi, sự việc còn đều xong xuôi, đã qua rồi “Ngày trường” lại làm tăng sự chú ý. Cả câu thơ không còn đơn giản là hình ảnh của Nguyễn Trãi ngồi hóng mát mà nó lại toát lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhàn rỗi ta hóng mát cả một ngày dài”. Một xã hội đã bị suy yếu, nguyện vọng, ý chí của tác giả đã bị vùi lấp, không còn gì nữa, ông đành phải rời bỏ, từ quan để về ở ẩn, phải dành “hóng mát” cả ngày trường để vơi đi một tâm sự, một gánh nặng đang đè lên vai mình. Cả câu thơ thấp thoáng một tâm sự thầm kín, không còn là sự nhẹ nhàng thanh thản nữa. Về với thiên nhiên, ông lại có cơ hội gần gũi với thiên nhiên hơn. Ông vui thú, say mê với vẻ đẹp của thiên nhiên. “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Cảnh mùa hè qua tâm hồn, tình cảm của ông bừng bừng sức sống. Cây hòe lớn lên nhanh, tán cây tỏa rộng che rợp mặt đất như một tấm trướng rộng căng ra giữa trời với cành lá xanh tươi. Những cây thạch lựu còn phun thức đỏ, ao sen tỏa hương, màu hồng của những cánh hoa điểm tô sắc thắm. Qua lăng kính của Nguyễn Trãi, sức sống vẫn bừng bừng, tràn đầy, cuộc đời là một vườn hoa, một khu vườn thiên nhiên muôn màu muôn vẻ. Cảnh vật như cổ tích có lẽ bởi nó được nhìn bằng con mắt của một thi sĩ đa cảm, giàu lòng ham sống với đời… Qua cảnh mùa hè, tình cảm của Nguyễn Trãi cũng thể hiện một cách sâu sắc: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. “Chợ” là hình ảnh của sự thái bình trong tâm thức của người Việt. Chợ đông vui thì nước thái bình, thịnh trị, dân giàu đủ ấm no: chợ tan rã thì dễ gợi hình ảnh đất nước có biến, có loạn, có giặc giã, có chiến tranh, đao binh… lại thêm tiếng ve kêu lúc chiều tà gợi lên cuộc sống nơi thôn dã. Chính những màu sắc nơi thôn dã này làm cho tình cảm ông thêm đậm đà sâu sắc và gợi lại ý tưởng mà ông đang đeo đuổi. “Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương”. “Dân giàu đủ”, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” khảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ. Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói, dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no. Bài thơ này đã làm rõ nỗi niềm tâm sự của Nguyễn Trãi trong thời gian ở Côn Sơn với tấm lòng yêu nước thương dân vẫn ngày đêm “cuồn cuộn nước triều Đông”. Ông yêu thiên nhiên cây cỏ say đắm. Và có lẽ chính thiên nhiên đã cứu Nguyễn Trãi thoát khỏi những phút giây bi quan của cuộc đời mình. Dù sống với cuộc sống thiên nhiên nhưng Ức Trai vẫn canh cánh “một tấc lòng ưu ái cũ”. Nguyễn Trãi vẫn không quên lí tưởng nhân dân, lí tưởng nhân nghĩa, lí tưởng: mong cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng oán than, đau sầu. Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè – bài 2 Nguyễn Trãi là vị anh hùng tên tuổi lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Tài năng kiệt xuất của ông không chĩ được khẳng định trong lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao mà còn được khẳng định qua sự nghiệp văn chương đồ sộ với những đóng góp lớn lao cho nền văn học nước nhà. Lí tưởng mà Nguyễn Trãi ôm ấp lá giúp vua làm cho đất nước thái bình, nhân dân thịnh vượng. Lí tưởng cao đẹp ấy là nguồn động viên mạnh mẽ khiến ông vượt qua mọi thử thách, gian nan trên đường đời. Lúc được nhà vua tin dùng cũng như khi thất sủng, nỗi niềm lo nước, thương dân luôn canh cánh bên lòng ông. Giông bão cuộc đời không thể dập tắt nổi ngọn lửa nhiệt tình trong tâm hồn người chí sĩ tài đức vẹn toàn ấy. Bài thơ Cảnh ngày hè được sáng tác vào thời gian Nguyễn Trãi về nghỉ ở Côn Sơn. Ông tạm thời xa lánh chốn kinh đô tấp nập ngựa xe và chốn cửa quyền hiểm hóc để về với thiên nhiên trong trẻo, an lành nơi thôn dã, bầu bạn cùng dân cày cuốc, cùng mây nước, chim muông, hoa cỏ hữu tình. Trong những tháng ngày dài nhàn nhã “bất đắc dĩ ấy, nhà thơ có lúc thấy vui trước cảnh vật mùa hè tưng bừng sức sống và kín đáo gửi vào những vần thơ tả cảnh một thoáng khát vọng mong cho dân giàu, nước mạnh. Bài thơ phản ánh tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước. Bài thơ mở đầu bẵng câu lục ngôn nêu rõ hoàn cảnh của nhà thơ lúc đó: Rỗi / hóng mát / thuở ngày trường. Lẽ ra câu thơ phải bảy chữ mới đúng là thể thất ngôn bát cú quen thuộc, song Nguyễn Trãi đã lược đi một chữ. Đây cũng là một cách tân táo bạo, mới mẻ trong thơ Nôm nước ta thuở ấy. Nhịp thơ 1/2/3, chậm rãi phản ánh tư thế ung dung, tự tại vốn có của tác giả. Chữ Rỗi tách riêng thành một nhịp thể hiện cảm nhận của tác giả về tình cảnh của mình. Rỗi là từ cổ, cổ nghĩa là nhàn nhã, không vướng bận điều gì. Cuộc đời Nguyễn Trãi thường không mấy lúc được thảnh thơi. Đây là lúc ông được sống ung dung, được thỏa ước nguyện hòa mình với thiên nhiên mà ông hằng yêu mến. Không có việc gì quan trọng, cần kíp để làm cả, chỉ có mỗi “việc” là hóng mát. Ngày trường là ngày dài. Đây là cảm giác tâm lí về thời gian của người đang sống trong cảnh nhàn rỗi, thấy ngày dường như dài ra. Với con người ưa suy nghĩ, hành động như Nguyễn Trãi thì cảm giác ấy càng rõ hơn bao giờ hết. Giữa lúc xây dựng lội non sông sau chiến tranh, việc dân việc nước bời bời mà ông bị bắt buộc phải hóng mát hết ngày này qua ngày khác thì quả là trớ trêu, Bởi vậy, ông rơi vào cảnh thân nhàn mà tâm bất nhàn. Đằng sau câu thơ trên dường như thấp thoáng một nụ cười chua chát của Nguyễn Trãi trước tình cảnh trớ trêu ấy. Chỉ có vẻ đẹp hồn nhiên, vô tư của cảnh vật mới có thể tạm xua đi những áng mây buồn vướng vít trong tâm hồn ông. Ông mở lòng đón nhận thiên nhiên và thấy vui trước cảnh: Hòe lục đùn đùn tản rợp giương. Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Chi vài nét bút phác họa mà bức tranh quê đã hiện lên tươi khỏe, hài hoà. Cây trước sân, cây trong ao đều ở trạng thái tràn đầy sức sống, đua nhau vươn lên khoe sắc, tỏa hương. Cây hòe với tán lá xanh um xoè rộng, trong khi cây lựu nở đầy những bông hoa đỏ thắm và sen hồng đã nức mùi hương. Sức sống trong cây đang đùn đùn dâng lên cành, lên lá, lên hoa. Cây tỏa bóng rợp xuống mặt sân, tỏa luôn bóng mát vào hồn thi sĩ. Ba câu thơ nổi đến ba loại cây: hòe, lựu, sen nhưng chẳng lẽ tác giả chỉ nói đến cây? Dường như có cả con người lồng trong đó, hết sức kín đáo. Các từ đùn đùn, (dồn dập tuôn ra) giương (toả rộng ra), phun, tiễn (ngát, nức) gợi tả sức sống căng đầy chất chứa bên trong sự vật, tạo nên những hình ảnh mới lạ, ấn tượng. Câu thơ thứ hai ngắt nhịp 4/3. Hai câu thơ tiếp theo đổi nhịp thành 3/4, tạo thêm cho cảnh vật vẻ sinh động, rộn ràng. Giữa cảnh với người có nét tương đồng nào chăng? Đời người anh hùng cũng đã vơi nhưng giống như hàng tùng bách dày dạn tuyết sương nên sức sống vẫn chảy mạnh trong huyết quản. Thức đỏ (màu đỏ) của hoa lựu phải chăng là thức đỏ của tấm lòng sắt son với dân với nước?! Mùi hương thơm ngát của sen có phải là lí tưởng chẳng bao giờ phai nhạt của Nguyễn Trãi suốt đời phấn đấu vì đất nước thanh bình, vì nhân dân hạnh phúc?! Rõ ràng ở đây, cảnh và người có những nét tương đồng và đều đẹp đẽ, hài hòa. Ở bốn câu thơ trên, nhà thơ mới nhắc đến màu sắc, hương thơm, cây cỏ; ở hai câu thơ tiếp theo còn có thêm mùi vị, âm thanh, hình ảnh con người và cảnh vật: Lao xao chợ cá làng ngư phủ, Dắng hỏi cầm ve lầu tịch dương. Từ tượng thanh Lao xao đặt trước hình ảnh chợ cá làm nổi bật không khí nhộn nhịp của làng ngư phủ. Lao xao tiếng trao qua đổi lại, ồn ã tiếng nói tiếng cười. Tất cả đều là hơi hướng của cuộc sống lao động cần cù, chân chất. Những âm thanh lao xao ấy hòa vào tiếng ve kêu dắng đỏi bất thần nổi lên trong chiều tà, báo hiệu chấm dứt một ngày hè nơi thôn dã. Tiếng ve lúc chiều tà thường gợi buồn, nhưng với nhà thợ lúc này, nó trở thành tiếng đàn rộn rã khiến tâm trạng nhà thơ cũng náo nức hẳn lên. Cỏ cậy, hoa lá, con người đẩy sức sống khơi dậy trong lòng nhà thơ cảm xúc nhẹ nhàng, sâu lắng và những suy nghĩ chân thành, tâm huyết nhất. Đó là tình yêu cuộc sống, yêu con người và trách nhiệm đối với dân với nước. Nguyễn Trãi luôn tâm niệm lấy dân làm gốc (dân vi bản, dân vi quý) cho nên trước thiên nhiên tươi xanh, trước những con người cần cù, lam lũ, lòng ông lại dấy lên khát vọng mãnh liệt: Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương. Ông ước gì lúc này có được trong tay cây đàn của vua Thuấn, đàn một tiếng để nổi lên niềm mong mỏi lớn nhất của mình là dân chúng khắp nơi đều được giàu có, no đủ. Ẩn giấu đằng sau lời ước mong ấy là sự trách móc nhẹ nhàng mà nghiêm khắc bọn quyền thần tham bạo ở triều đình đương thời không còn nghĩ đến dân, đến nước. Theo ông, với cảnh nước non tươi đẹp cùng nhân dân chất phác, siêng năng, cuộc sống lẽ ra phải được trở lại ấm no, hạnh phúc từ lâu. Vậy là dẫu hòa hợp đến hết mình với thiên nhiên, Nguyễn Trãi vẫn không nguôi nỗi niềm dân nước, ông tìm thấy ở thiên nhiên cỏ hoa xinh tươi kia một nguồn thi hứng, nguồn động viên, an ủi và khích lệ đáng quý đối với bản thân. Điều đó góp phần tạo nên cốt cách của Nguyễn Trãi, bậc trượng phu – chính nhân quân tử – hiên ngang như cây tùng, cây bách trước giông bão cuộc đời. Cảnh ngày hè là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trãi về hình thức thơ. Câu thất ngôn xen lục ngôn, các vế đối rất Chỉnh, cách sử dụng từ láy rất tài tình. Để tăng sức biểu hiện của các tính từ và động từ, tác giả đem chúng đặt ở đầu câu. Đây là bài thơ tả cảnh ngày hè tràn đầy sức sống. Bài thơ không chỉ miêu tả cảnh sắc đặc trưng của mùa hè, mà còn là “tức cảnh sinh tình”. Cảnh ở đây thể hiện niềm vui sống, háo hức, tươi tắn, trẻ trung của tâm hồn nhà thơ Và niềm ao ước của Nguyễn Trãi về hạnh phúc cho dân chúng muôn phương. Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè – bài 3 Rồi hóng mát thuở ngày trường Hoè lục đùn đùn tán rợp gương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương.” Bài thơ 8 câu 57 chữ gồm một bức tranh cảnh ngày hè – 6 câu đầu và một lời bình, suy ngẫm từ bức tranh ấy – 2 câu cuối. Trong bức tranh đậm màu, nền trời chiều ráng đỏ, một ngôi lầu vắng lặng, cây hoè cổ thụ ngoài sân tán xanh thẫm, che rợp, bên hiên nhà cây thạch lựu sắc đỏ. Vài ba chú ve trên các cành cây. Ao sen hồng và xa xa là làng chài đang họp chợ. Có một người ngồi trên lầu trâm ngâm. Xem tranh, trước hết ta thấy một tư thế của con nguời ngồi đó. Câu mở đầu “hóng mát” – ngoạn cảnh nhàn nhã, thảnh thơi. Nên nhớ, đây là bức tranh thơ của vị tướng cầm quân từng xông pha trận mạc một thời, từng “đau lòng nhức óc” vì vận nước từng cùng Lê Lợi “dựng cầu trúc ngọn cờ phấp phới”, và sau này sắm vai ẩn sĩ mà tấm lòng vì dân nước không lúc nào yên “Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng”. Đặt trong nỗi truân chuyên của cuộc đời Nguyễn Trãi, mới thấy quí cái giây phút ngắn ngủi hiếm hoi này, mới thấy cái tư thế ung dung thưởng ngoạn kia là sự hưởng thụ chân chính. Sau tư thế ấy, thấy cả cái không khí yên bình của cả một làng quê, đất nước vừa qua cơn binh lửa. Con người này có ánh mắt tinh tế, say mê. Người ngắm cảnh có đôi mắt rất sành: 3 loại cây, 3 dáng vẻ, không trùng lặp. Tả cây, mà lộ ra khuôn mặt của mùa hè. Cây hoè: tán xanh xum xuê, toả rộng – sức sống vươn cao. Thạch lựu: sắc đỏ – rực rỡ của tố chất khoẻ mạnh. Sen hồng: đậm hương – tâm hồn nồng hậu, thanh cao. Ba loại cây, ba dáng vẻ, ba màu sắc nữa (xanh, đỏ, hồng) đều có hồn. Ngôn ngữ của thơ thay cho chất liệu màu của họa là lời nói sống động của đời thường. Chữ “đùn đùn” khiến ta cảm nhận được sự sống đang nảy nở mạnh mẽ, trông thấy được bằng mắt thường. Chữ “phun” còn lạ hơn. Không tả hoa đỏ, mà cảm nhận cây lựu đang phun, đang tuôn ra sắc đỏ. Sen hồng cố đậm hương. Con ve kia cũng gắng hết sức trong những tiếng kêu cuối cùng. Chợ ở làng chài đang náo nhiệt nên vọng xa lao xao… Chỉ là Bức tranh phong cảnh ư? Không phải! Đấy là Bức tranh đời. Ở đó tạo vật và con người đều dang sống hết sức mình, sống rất nhiệt tâm, băng mình trong trường tranh đấu sống. Ta bất ngờ nhận ra điều kì lạ. Con người hoạ sĩ trong thi nhân Nguyễn Trãi thế kỉ XV ở Việt Nam có gì rất gần gũi đại danh hoạ Hà Lan thế kỉ XIX, Vanh-xăng-Van-gốc. Không phải ở những sắc màu được sử dụng, mà ở cách diễn tả nó. Van-gốc vẽ đồng lúa ta cứ ngỡ cánh đồng bốc cháy. Hàng cây bên đường cũng quằn quại vệt lửa. Van-gốc đốt cháy mình trong tranh. Nguyễn Trãi đốt cháy mình trong thơ. Chữ “đùn đùn”, “phun”, “tiễn”, “lao xao”, “dắng dỏi” là lửa sống rừng rực trong lòng Ức Trai mặc cho do thời thế ông đang phải lui về quy ẩn “Rồi, hóng mát thuở ngày trường”. Trong bức tranh này, thính giác nhậy bén đã giúp Nguyễn Trãi “vẽ” cảnh bằng nhạc. Xa xa, chợ cá không rõ hình, song âm thanh “lao sao” chở hồn đến cho người đọc cái rộn ràng nhộn nhịp, náo nhiệt của cuộc sống thanh bình. Nếu “lao sao” là khúc hoà tấu của đời sống dân sinh, thì “dắng dỏi cầm ve” tấu lên âm thanh của cây đàn độc huyền, ngân lên thiết tha cuối chiều, vấn vương nét quí tộc, lầu cao đơn độc. Hai phong điệu dân dã và quí tộc hoà hợp, bởi chất keo dính của đời thường, đậm đà hơi thở sống. Cho nên vẽ bức tranh này đâu chỉ là chuyện của giác quan chuyên nghiệp họa sĩ hay thi sĩ mà là năng lực, phẩm chất của tâm hồn – tâm hồn tinh tế, đằm thắm của một con người hết mực yêu đời, say mê cuộc sống. Bức tranh Cảnh ngày hè có một lời bình – một suy ngẫm đứng riêng, độc lập. Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương Mạch thơ từ hướng ngoại sang hướng nội. Từ miêu tả sang biểu cảm, khách thể sang chủ thể. Nguyễn Trãi đã trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mình trong hai câu thơ kết. Ấy là một giấc mơ, và cả một học thuyết nhân sinh ấp ủ bật ra thành lời. Giấc mơ, đó là giấc mơ Nghiêu Thuấn. Giấc mơ ngàn đời của những con người Phương Đông sống trong thời trung đại. Mong sao có một bậc vua hiền để được yên ổn ấm no hạnh phúc. Trước hơn bốn trăm năm, thời Tiền Lê, Pháp Thuận đã phát biểu “Vận nước như mây cuốn / Trời Nam mở thái bình / Vô vi trên điện các / Xứ xứ dứt đao binh”. Vận nước có rối ren thế nào cũng mong hai chữ thái bình, nhà vua đừng làm điều gì nhiễu nhương thì khắp nơi đều hết nạn binh đao. Sau mấy mươi năm, vị vua hiền minh Lê Thánh Tông cố sức mình cũng chỉ để thỏa lòng mong muốn: Nhà nam nhà bắc đều có mặt Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình. Bây giờ đây, ưu tư thế cuộc, nhìn đời – từ cỏ cây, vạn vật đến sinh linh vui sống như thế, Nguyễn Trãi lại khắc khoải khát vọng muôn năm này. Mong trị quốc, bình thiên hạ sao cho dân giàu nước mạnh là giấc mơ của một bậc đại nhân. Nếu giấc mơ kia là của bậc đại nhân, thì cái lõi tư tưởng của giấc mơ là của bậc đại trí. Đó là tư tưởng “thân dân” (dĩ dân vi bản) từng được vạch rõ trong Bình Ngô Đại Cáo – “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Đó là tư tưởng lớn. Với Nguyễn Trãi, tư tưởng ấy từng sôi sục trong hành động, khắc khoải trong tâm tưởng, rát bỏng trong thi ca. Cả bài thơ 8 chữ, đến tận dòng cuối cùng, chữ “dân” mới bật ra, song chính là cái nền tư tưởng, tình cảm của tác giả, cái hồn của bài thơ. Là sợi chỉ dỏ xâu chuỗi cả 8 câu thơ lại. Cảnh ngày hè (Gương báu răn mình số 43) không định giáo huấn chung. Trước đời sống đang dâng trào, yên lành thế, Nguyễn Trãi tự răn mình, phải làm sao cho cuộc sống này trở thành mãi mãi và chỉ khắc khoải một nỗi “tiên ưu” ấy mà thôi. Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè – bài 4 Đặt cho bài Bảo kính cảnh giới số 43, trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, cái tựa Cảnh ngày hè kể cũng phải. Phần lớn thơ thuộc chùm Bảo kính cảnh giới vẫn nghiêng về những gương báu tự răn mình, đúng như chủ đề chung của cả chùm. Trong khi đó, bài 43 này, dù không phải không có cái ý răn mình, nhưng lại nghiêng nhiều về tức cảnh. Toàn thi phẩm là tâm tình nồng hậu của ức Trai trước cảnh tượng hưng thịnh của ngày hè. Dù được viết cách nay đã hơn sáu thế kỉ, nhiều ngôn từ đã trở nên xưa xa đối với người hiện đại, thậm chí kèm theo luôn phải có cả một bản chú thích lê thê đến gần 20 mục, nhưng Cảnh ngày hè vẫn dư sức vượt qua khoảng cách thời gian dằng dặc, vượt qua rào cản ngôn ngữ rậm rịt để đến được với người đọc bây giờ. Điều gì đã khiến cho bài thơ có được sức sống này? Sự tài hoa của ngòi bút chăng? vẻ tinh tế của tâm hồn chăng? Tầm vóc lớn lao của một tâm lòng chàng? Có lẽ không riêng một yếu tố nào, mà là sự kết tinh của tất cả thành một chỉnh thể thi ca sống động, một kiến trúc ngôn từ cô đúc dư vang. Cảnh ngày hè trước hết là một cảnh tượng rực rỡ và rộn rã. Nếu tuân theo nguyên lí “thi trung hữu họa”, người đọc hoàn toàn có thể cảm thụ thi phẩm như một bức tranh. Một bức tranh được vẽ bằng ngôn từ. Một bức tranh nghiêng về gam màu nóng, theo lối phân loại của hội họa. Thật là gam màu đặc trưng của ngày hè. Hai câu đề, với những nét bút đầu tiên, đã đưa ngay cái không khí hè đến với người đọc: “Rồi hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” Ngày hè hiện ra với một tâm thế, một thời gian, một không gian khá ăn nhập với nhau. Ba chữ Rồi hóng mát đã gợi ra hình ảnh một ức Trai trong dịp nhàn rỗi hiếm hoi nào đó đang hóng mát ngày hè. Nhưng ba chữ thuỷ ngày trường mới giàu sức gợi hơn. Ngày mà dài thì đúng là đã tóm được cai chênh lệch đêm ngắn, ngày dài khá đặc trưng của mùa hè. Nhưng có phải chỉ là chuyện thời lượng đơn thuần không? Hình như còn là chuyện tâm lí nữa. Khoảng thời gian nào mà lại có thể khiến một con người vốn ham gánh vác việc xã tắc giang sơn này cảm nhận là “thuở ngày trường?” Thời ông đang làm rường cột bận bịu với chính sự giữa cung đình của một vị quan đầu triều ư? Không thể. Khi ấy, người say sưa hành sự khó mà cảm nhận về “ngày trường”. Vì thế, chữ “ngày trường” gợi ra những ngày nhàn cư mà chẳng thật thanh nhàn bên ngoài chính cuộc của ức Trai chăng? Mà đâu chỉ hiện trong nghĩa của chữ, tâm thế ấy như còn ẩn trong âm vang của lời. Chẳng phải thế sao? Câu khai mở đã gây một cảm giác lạ đối với người quen đọc thơ thất ngôn bát cú. Có một cái gì đó như là giao thoa của những cảm giác trái chiều: ngắn mà lại dài, mau mà lại khoan. Sao thế nhỉ? Có phải vì đó là một câu phá cách: lời chỉ có sáu tiếng (lục ngôn), tiết tấu chỉ có hai (3/3). Cả chuỗi lời thì ngắn, mỗi tiết tấu lại dài. Số nhịp thì dồn lại, mỗi nhịp lại trải ra. Sự co giãn này có hiệu quả gì đây? Hãy lắng nghe âm vang của nó: “Rồi hóng mát/ thuở ngày trường” Chẳng phải nó tao ra một ngữ điệu khá khác biệt, chứa đựng những tình điệu dường như cũng trái chiều: vừa hối thúc lại vừa thong dong? Thong dong mà hối thúc, nhàn cư mà bận tâm, chẳng phải là cái tâm thế thường trực ỏ ức Trai hay sao? Có lẽ sẽ không ngoa khi nói rằng chính tâm thê này đã ngầm tìm kiếm cho nó kiểu câu trúc ngôn từ như thế trong câu khai mở! Người nghiên cứu hiện đại có thể gọi đó là sự tham gia sáng tạo của vô thức chăng? Kết hợp câu đề thứ hai với câu thực ta sẽ thấy một thiên nhiên dồi dào sức sống được hiện lên qua sắc độ rực rỡ của thảo mộc hoa lá: “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên tri đã tiễn mùi hương” Trật tự không gian trải từ cao xuống thấp, điểm nhìn của thi sĩ cũng di chuyển từ tầng không qua hiên nhà rồi xuống ao sen. Ở tầng nào của thiên nhiên, sức sống bên trong cũng như đang trào ra. Các tạo vật thiên nhiên không chịu tĩnh. Chúng động. Màu xanh lục lá hòe thì “đùn đùn” như cuộn lên từng khôi biếc, tán hòe thì “rợp giương” như cử lọng giương ô. Màu đỏ hoa lựu không lặng lẽ tô son điểm sắc, cũng không lập lòe dậy lên vài đốm lửa, mà nhất loạt phun trào thức đỏ, tựa pháo hoa hừng sáng cả hiên nhà. Từ dưới ao, hoa sen cũng hưởng ứng bằng sắc hồng chín ửng cùng mùi hương dậy lên bay tỏa không gian. Mật độ dậy của các động thái “đùn đùn”, “rợp giương”, “phun”, “tiễn”… đã tạo nên một sự sôi động đằng sau mỗi loài thảo mộc tưởng chừng tĩnh lại. Như thế, động thái mạnh lại được cộng hưởng bởi độ gắt của gam màu, tất cả làm dậy lên sức sống của thiên nhiên đang kì toàn thịnh. Chưa hết. Chúng ta còn thấy Nguyễn Trãi tinh tế hơn nhiều. Thi sĩ đã bắt được một nhịp vận hành vô hình hối thúc, xô đẩy tạo vật nữa. Chỉ cần chú ý một chút thôi sẽ thấy điều này: thảo mộc thì tiếp nối liên tục từ cao xuống thấp, động thái thì liên tiếp từ trong ra ngoài, lá – hoa – hương thì tiếp ứng nhau, nhất là cái nhịp độ khẩn trương: Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương. Loài này đang thì loài kia đã, hô ứng nhau, chen bước nhau gợi ra được không khí các tạo vật đang đua tranh phô sắc, khoe hương. Có lẽ cần dừng đôi chút về câu chữ ở đây. Trước hết, là chữ. Hiện có hai bản ghi khác nhau về câu thơ Hồng liên trì đã … mùi hươmg và do đó có hai cách hiểu khác. Một bản ghép là “tin”, nghĩa là hết mùi hương, diễn tả vẻ suy. Một bản chép là “tiễn”, nghĩa là đưa tỏa mùi hương, diễn tả vẻ thịnh. Đi liền với chữ, là cú pháp. Cặp quan hệ từ “còn”… “đã” trong cặp câu thực biểu hiện quan hệ cú pháp nào? Không ít người chỉ thây chúng biểu đạt quan hệ suy giảm: “đang còn”… “dã hét”. Từ đó đã dẫn tới việc hiểu nghĩa của chúng là Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/ Hồng tiên tri đã tin (hết) mùi hương. Hiểu thế có phù hợp không?. Để làm sáng tỏ, ngoài những căn cứ về văn tự Nôm, có lẽ cần phải có thêm căn cứ về văn bản thơ và các quy luật nghệ thuật nữa. Trong nghệ thuật, có quy luật: tiểu tiết phục tùng tổng thể chi phối tiểu tiết. Cảm hứng chung của thi phẩm là về sự sung mãn toàn thịnh của ngày hè. Cho nên các hình ảnh (cả thiên nhiên lẫn đời sông) tạo nên tổng thể ở đây cũng phải nhất quán, mỗi chi tiết đều phải góp mình làm nổi bật cái thịnh. Xem thế, chữ “tin” ít có lí. Nó nói cái suy. Tổng thể nói thịnh, tiểu tiết sao lại nói suy? Rõ ràng, “tin” sẽ lạc điệu, phá vỡ hệ thống. Trái lại, chữ “tiễn” nói cái thịnh, mới cộng hưởng được với vẻ toàn thịnh ấy. về quan hệ cú pháp cũng thế. Cặp phó từ “còn”… “đã”… đâu chỉ nói về loại quan hệ suy giảm: “đang còn”… “đã hết”, mà nó còn dùng để chỉ loại quan hệ tăng tiến: “đang còn”… “đã thêm”. Trong tổng thể này, quan hệ phải là tăng tiến thì mới àn nhập. Bởi vậy, nghĩa của hai câu thơ chỉ có thể là: Thạch lựu hiện còn phun thức đỏ/Hồng liên trì đã tiễn (đưa/tỏa) mùi hương. Hương sen, sắc lựu tiếp ứng nhau, chen đua nhau cùng hợp nên vẻ toàn thịnh của ngày hè. Ăn nhập với thiên nhiên rực rỡ là một đời sông rộn rã. Theo đó, bức tranh ngày hè toàn thịnh vốn đã đầy màu sắc giờ lại tràn ngập cả âm thanh: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương” Nghĩ cũng thú vị, chợ là một hình ảnh vô cùng điển hình của cuộc sống này. Lúc đương đông buổi chợ là hình ảnh vui của một cuộc sống sầm uất đi lên. Còn khi chợ tan là hình ảnh rã đám của một cuộc sống đương đi xuống. Chỉ cần nhìn vào diện mạo chợ, cũng có thể thấy được âm vang của đời sống. Âm thanh “lao xao” từ chợ cá làng ngư phủ đã nói lên vẻ sầm uất của cuộc đời xung quanh. Cả hình ảnh bóng tịch dương nữa. Nắng tắt, bóng tối dâng lên vây phủ bốn bề, âm thanh sinh hoạt cũng dần dần thưa thớt. Lúc tịch dương thì dù đó là miền sơn cước hay chốn chương đài, cũng đều khó tránh khỏi không khí quạnh hiu cô tịch. Nhưng không khí ấy ở đây đã bị xua tan bởi nhạc ve. Tiếng ve gióng giả inh ỏi như một bản đàn làm cho hoàng hôn cũng trở nên náo nhiệt. Phải là một tâm hồn mở, một điệu hồn náo nức thì mới có thể nghe tiếng ve inh ỏi thành tiếng đàn cầm ve như thế. Từ làng ngư phủ xa xa của dân nghèo lớp dưới, đến lầu son gác tía của người lớp trên, chỗ nào cũng rộn rã vui tươi. Cái nhìn khái quát đã thâu tóm được toàn, cảnh cuộc sống trong đôi nét bút tài hoa.Trước, vẽ thiên nhiên thì từ cao xuống thấp, giờ, vẽ đời sống lại trải từ thấp đến cao, từ xa lại gần. Lối viết đảo ngược cú pháp, đặt những âm thanh lao xao và dắng dỏi lên đầu mỗi câu khác nào như tạo nên những điểm nhấn. Ta ngỡ như người viết đang muốn phổ vào không gian cả một dàn âm thanh rộn rã. Cảnh hưng thịnh của ngày hè, nhờ thế, mà càng trở nên phồn thịnh hơn. Nếu chỉ dừng lại ở cảnh không thôi, cũng đã phần nào thấy được lòng người vẽ cảnh. Phải, cảnh tượng ấy đâu chỉ nói với ta về sự tinh tế cùa một tâm hồn, đó còn là sự phấn chấn của một tấm lòng thiết tha với đời sống. Nhưng ta có hồn, đó còn là sự phấn chấn của một tấm lòng thiết tha với đời sống. Nhưng ta có dịp dược hiểu về tấm lòng ấy trực tiếp hơn qua chính lời ước ao bộc trực của thi sĩ: “Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương” Giá chỉ có cây đàn của vua Thuấn, ta sẽ gảy khúc Nam Phong cầu cho dân giàu đủ khắp muôn phương. Cặp câu kết này hé mở cho chúng ta về chí của Ức Trai. Người dám mang trong mình ước nguyện kia phải là ai vậy? Một thi sĩ đơn thuần thôi sao? Một công thần khanh tướng thôi sao? Những kẻ ấy dám mơ đến việc cầm trong tay cây đàn của một quân vương sao? Không. Trong đời, về phận vị, Nguyễn Trãi là một công hầu. Nhưng trong thơ, trong cái thế giới của những khát vọng riêng tư nhất, ông đã bộc lộ khát khao lớn ngang tầm với những bậc quân vương vốn là thần tượng của lịch sử. Điều này có gì là không chính đáng đâu. Và, đó là khát khao tầm cỡ Nghiêu Thuấn. Thêm nữa, Nguyễn Trãi muôn gảy đàn chỉ để ca ngợi cuộc sống phong túc hiện thời thôi sao? Không. Dù cảnh tượng bày ra nhỡn tiền kìa quả là hưng thịnh. Nhưng nó vẫn chưa khiến ông thỏa nguyện. Ông muốn cầm cây đàn vua Thuấn gảy khúc Nam phong để cầu mong cho dân tình phong túc hơn nữa. Ông mong muốn có một cuộc sống thực sự thái bình. Đó là khát khao sâu kín và cháy bỏng suốt một đời Nguyễn Trãi. Vì nó ông đã phải trả giá bằng cả sinh mạng và tôn tộc của mình. Chẳng thế mà ông cần phải đúc nó vào trong một câu lục ngôn, một câu đột nhiên ngấn lại, như để ghim sâu điều đau đáu của cõi lòng. Thì đó là khát khao Nghiêu Thuấn của một con người suốt đời “âu việc nước” chứ sao! Và, Cảnh ngày hè như thế, chẳng phải là sự hòa điệu tuyệt vời giữa tâm hồn và nét bút của một đấng tài hoa với tấm lòng của một bậc minh vương lương tướng ư? Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè – bài 5 Nguyễn Trãi là một nhà thơ kiệt xuất của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Ông để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị lớn. Nếu như “Bình Ngô đại cáo” của ông mang đầy nhiệt huyết, lòng tự tôn dân tộc thì bài thơ “Cảnh ngày hè” là một bức tranh về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi. Mở đầu bài thơ “Cảnh ngày hè” là sáu câu thơ miêu tả cảnh ngày hè: “Rồi hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương Lao xao chợ cá làng Ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương” Tác giả đã đón nhận cảnh ngày hè trong tư thế ung dung, thoải mái khi ở ẩn, lúc nhà vua không còn trọng dụng tới nữa. Bức tranh cảnh ngày hè được tác giả vẽ lên thật rực rỡ và tươi đẹp với nhiều màu sắc. Đó là màu xanh của cây hòe, màu đỏ của hoa lựu, màu hồng của hoa sen, màu vàng lung linh của ánh nắng chiều. Tất cả hòa quyện lại với nhau. Tạo nên cảnh vật đặc trưng của mùa hè. Không chỉ cảm nhận bằng thị giác, tác giả còn cảm nhận cảnh vật bằng thính giác và khướu giác. Ông thấy mùi hương của ao sen, thấy âm thanh “lao xao” của làng chài, “dắng dỏi” của tiếng ve. Bức tranh cảnh ngày hè đã trở nên sinh động hơn, đặc sắc hơn với âm thanh và mùi vị. Mặc dù khung cảnh mà tác giả miêu tả là cuối ngày, khi mặt trời lặn nhưng mọi vật vẫn tràn đầy sức sống với những từ ngữ “đùn đùn”, “giương”, “phun”, “tiễn”, “lao xao”, “dắng dỏi”. Những từ ngữ đó cũng góp phần thể hiện những điều trong lòng tác giả – ước mong được cống hiến cho nhân dân, cho đất nước. Nhiệt huyết đó như muốn phun ra, trào ra và lan tỏa đi khắp nơi. Trong sáu câu thơ này, tác giả đã thay đổi, không đi theo tính quy phạm của văn học phong kiến nữa. Ông miêu tả cảnh ngày hè với những sự vật vô cùng gần gũi với cuộc sống hằng ngày. Hai câu cuối của bài thơ đã được tác giả gửi gắm trọn vẹn tâm tư và suy nghĩ: “Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương” Tuy tác giả đón nhận cảnh ngày hè với tư thế ung dung trong một ngày nhàn rỗi nhưng ông vẫn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Cảm nhận cảnh ngày hè nhưng tác giả vẫn quan tâm tới cuộc sống của nhân dân. Thế nên ông nghe thấy âm thanh tấp nập, lao xao của làng chài. Ông quan tâm tới nhân dân, lo cho dân cho nước. Chính vì vậy, ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn. Với cây đàn đó, Nguyễn Trãi có thể mang tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước. Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật có chen hai câu thơ lục ngôn. Tuy vậy, nhà thơ lại không tuân theo bố cục: Đề – Thực – Luận – Kết của thể thơ Đường luật. Chính vì thế, bài thơ mang nét đặc sắc riêng của một nhà thơ kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Không chỉ thế, bài thơ còn có hình ảnh hoa lựu khiến ta liên tưởng tới hai câu thơ của Nguyễn Du: “Đầu tường hoa lựu lập lòe đơm bông” Câu thơ của Nguyễn Du mang đậm chất tạo hình nhưng câu thơ của Nguyễn Trãi lại thể hiện được cá tính về nhiệt huyết của mình. Điều đó cho thấy rõ hơn tài năng của Nguyễn Trãi về thơ văn. Bài thơ “Cảnh ngày hè” đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi. Ông là người yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Nhưng trên hết, ông là một người vừa có tài, vừa có tâm bởi ông luôn lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Ông muốn cống hiến nhiệt huyết của mình để nhân dân hạnh phúc, ấm no, đất nước giàu mạnh. Tư tưởng của Nguyễn Trãi như một bài học gửi gắm cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, ước mong cống hiến cho đất nước. Trên đây là bài tập làm văn phân tích bài thơ Cảnh ngày hè, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích bài thơ Cảnh ngày hè
7,136
Phân tích bài thơ của chủ Hồ Chí MInh để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người Hướng dẫn Lưu ý: 1- Các tác phẩm (của Bác) mà em đã được học đã đọc là những tác phẩm nào? – ‘Nhật kí trong tù’, (‘Không ngủ được’, ‘Ngắm trăng’, ‘Đi đường’, ‘Ôm nặng’, ‘Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh’).Thơ tiếng Việt và thơ chữ Hán khác: ‘Tức cảnh Pắc-Bó’, ‘Cảnh khuya’, ‘Rằm tháng giêng’. 2- Vẻ đẹp tâm hồn phong phú cao cả của nhà thơ Hồ Chí Minh là: – Tinh yêu nước. – Tình thương người. – Tình yêu thiên nhiên. 3- Kiểu phân tích – chứng minh văn học. Có một tên người đẹp nhất: ‘Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ’. Có một bài ca đẹp nhất, bài ca: ‘Ái Quốc’. Có một hồn thơ đẹp nhất, hồn thơ Hồ Chí Minh. Người anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh còn là nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỉ 20. Trong khoảng 300 bài thơ Người để lại, thơ chữ Hán cũng như thơ tiếng Việt, ta cảm thấy vẻ đẹp tâm hồn phong phú cao cả của một cốt cách chiến sĩ – thi sĩ. Thơ của Bác Hồ là những bài ca, khúc hát đằm thắm, ngọt ngào, chứa chan tình yêu nước, tình thương người và tình yêu thiên nhiên. 1. Thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh là những bài ca yêu nước. Bác đi tìm đường cứu nước ‘Những đất tự do, những trời nô lệ’,… Lúc nào Bác cũng sống trong tâm trạng: ‘Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước’ (Chế Lan Viên). ‘Nhật kí trong tù’ có bài thơ ‘Không ngủ được’’, bài thơ là tiếng lòng nhớ nước thiết tha. Nằm 168 ‘Canh bốn canh năm vừa chợp mắt, Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh’ BỊ đày đọa tù đày nơi xa xứ, rồi bị ốm nặng. Hai lần đau khổ đối với tù nhân. Đau khổ vì ốm nặng. Càng đau khổ hơn vì trước cảnh lầm than của dân tộc. Bài thơ ‘Ôm nặng’ thể hiện bi kịch của một chiến sĩ cách mạng giàu lòng yêu nước: ‘ ‘Ngoại cảm’ trời Hoa cơn nóng lạnh, ‘Nội thương’ đất Việt cảnh lầm than. Ở tù mắc bệnh càng đau khổ. Đáng khóc mà ta cứ hát tràn!’ Những năm tháng kháng chiến chống Pháp, Bác sống và hoạt động tại chiến khu Việt Bắc. Đêm đêm người thao thức lo lắng cho vận mệnh của Tổ quốc trong khói lửa, sự nghiệp kháng chiến ‘việc quân việc nước’ đè nặng lên đôi vai: ‘Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nổi nước nhà’ (Cảnh khuya) * ‘Lòng riêng riêng những bàn hoàn, Lo sao khôi phục giang san Tiên Rồng’ (Đi thuyền trên sông Đáy) 2. Tinh yêu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng sâu sắc, mãnh liệt, phong phú và cao cả biết bao. Tinh cảm ấy đã làm phát triển tình thương người trong lòng Bác. ‘Tự do cho đất nước tôi! Tự do cho dồng bào tôi’ là mục tiêu phấn đấu suốt đời của Bác. Lòng nhân ái của Bác bao la. Trong tù phải nếm trải bao cay đắng, bị cùm trói, muỗi rệp, phải sống đọa đày trong đói rét,… thế mà Bác vẫn hướng tình thương tới đồng loại. Bác gọi mọi tù nhân là ‘nạn hữu’, người bạn cùng chung hoạn nạn. Bác thương một em bé Trung Hoa cất tiếng khóc trong ngục tối: Cha trốn không đi lính nước nhà, Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi, Phải theo mẹ đến ở nhà pha’ (Cháu bé trong ngục Tân Dương) Bác thương một người bạn tù da bọc xương chết nằm co quắp trong ngục lạnh. Bác nghĩ tới công sức vất vả của những phu phen ‘dãi nắng dầm mưa’ đã làm nên những con đường. Bài thơ ‘Người bạn tù thổi sáo’ cảm động nhất, biểu lộ một tình thương mênh mông. Người thì nhớ nước nhớ quê. Người bạn tù thì nhớ quê nhớ vợ. Người khuê phụ ngóng đợi người chồng đi tù mãi chưa về. Tiếng sáo buồn kết đọng lại ba tâm trạng buồn thương ấy: ‘Bổng nghe trong ngục sáo vi vu, Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu, Muôn dặm quan hù khôn xiết nỗi, Lên lầu ai đó ngóng trông nhau’ 3. Tình yêu thiên nhiên là một vẻ đẹp tâm hồn phong phú của hồn thơ Hồ Chí Minh. Bác có nhiều vần thơ trăng đẹp. Trong tù, không có rượu có hoa, Bác vẫn say mè thưởng trăng. Một tư thế ngắm trăng rất ung dung, thanh cao- ‘Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ’ (Ngắm trăng) Trong kháng chiến chống Pháp, Bác ngắm trăng ‘Rằm tháng giêng’, ngắm cảnh sông nước, bầu trời mùa xuân: ‘Rằm xuân lồng lộng trăng soi, Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân’ Suối rừng, trăng, hoa, cổ thụ… hội tụ trong thơ Bác với bao tình yêu thương dào dạt: yêu chiến khu, yêu thiên nhiên tạo vật: Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa’ (Cảnh khuya) ‘Văn là người’.Thơ Bác là tâm hồn, trí tuệ, đạo đức, tình cảm của Bác. Lòng yêu nước, tình thương người, tình yêu thiên nhiên hội tụ và tỏa sáng trong tâm hồn Bác, trong thơ Bác. Vì thế, thơ Bác nuôi dưỡng tâm hồn ta bao cảm xúc nhân văn.
Phân tích bài thơ của chủ Hồ Chí MInh để thấy được vẻ đẹp tâm hồn của người
888
Đề bài: Phân tích bài thơ Cửa ải Quỷ Môn Quan của thi hào Nguyễn Du Bài làm Nguyễn Du (1765 – 1820) là nhà thơ thiên tài của dân tộc, niềm tự hào vô cùng lớn lao của nhân dân ta. Ngoài kiệt tác Truyện Kiều và Văn chiêu hồn bằng thơ Nôm, thi hào còn để lại 3 tập thơ chữ Hán có giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc: Nam trung tạp ngâm, Thanh Hiên thi tập và Bắc hành tạp lục. Bác hành tạp lục – tập thơ đi sứ của Nguyễn Du. Nó mở ra trước mắt người đọc một thế giới bao la, xa lạ, những tên đất tên người, những nẻo đường phương bắc xa xôi, “những nẻo đường trông thấy'” nơi quê người mà Nguyễn Du đã đi qua, đã nhìn thấy và xúc động. Có đọc Bắc hành tạp lục ta mới cảm nhận hết hồn thơ Nguyễn Du với cảm hứng nhân văn và tinh thần dân tộc cao đẹp. Quỷ Môn Quan rút trong Bắc hành tạp lục là một trong những bài thơ tuyệt tác của Nguyễn Du. Bài thơ mở ra một không khí trang nghiêm, một sắc thái cảm xúc mới lạ ít thấy trong thơ chữ Hán Nguyễn Du: cảm xúc về một vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở, nơi phên giậu của đất nước, đã chôn vùi bao quân tướng của thiên triều từng sang xâm lược nước ta. Viết về ải “Quỷ Môn Quan", Nguyễn Du có hai bài thơ: Quỷ Môn đạo trung và Quỷ Môn Quan. Cửa ải Quỷ Môn Quan thuộc Chi Lăng, tính Lạng Sơn, ở đó có núi đầu ma, đầu quỷ nên có tên là núi Hàm Quỷ, còn gọi là Quỷ Môn Quan. Núi cao dựng thành đường hẹp uốn lượn, dốc thăm thẳm, bãi lầy chia cắt, từng là then khoá cửa ngõ phía bắc. Quỷ Môn Quan từng là bãi chiến trường đẫm máu khốc liệt. “Ngày 18 trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế! Ngày 20, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu” (Bình Ngô đại cáo). Đó là vào năm 1427. Người phương Bắc đến nay vẫn lưu truyền câu ca kinh hãi: “Quỷ Môn Quan, thập nhẫn khứ, cửu bất hoàn” – Cửa ải Quỷ Môn, mười người qua, chín người (bỏ xác) không về! Quỷ Môn Quan – bài thơ thất ngôn bát cú bằng chữ Hán, đây là bản dịch thơ. Dịch núi giăng giăng cao tựa mây ………………………………………. Công cán khen gì tướng Hán hay. Bài thơ như một trang ký sự viếng chiến trường xưa. Câu đầu là một nét vẽ hoành tráng về Quỷ Môn Quan: núi dựng thành cao vút, liên tiếp tận mây xanh. Vừa có núi có mây. Núi trập trùng, liên tiếp cao vút (liên phong cao sáp). Trời xanh làm hiện lên dãy núi cao hùng vĩ. Câu thơ thứ nhất miêu tả bằng trực giác; câu thơ thứ hai đi sâu vào suy ngẫm: Nam Bắc chia ranh giới ở chỗ này! Câu thơ tự hào khẳng định cõi bờ Tổ quốc thiêng liêng: Dịch núi giăng giăng cao tựa mây, Cửa chia Nam Bắc chính là đây. Ba chữ “tựu thử phân" là một tứ thư mang tính truyền thống. Lý Thường Kiệt đã viết trong Nam quốc sơn hà. “ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” (Vằng văc sách trời chia xứ sở). Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã tuyên bố: “ Như nước Đại Việt ta từ trước… Núi sông bờ cõi đã chia". Vua Quang Trung trên đường tiến binh thần tốc đánh quân Thanh từng nói với tướng sĩ: “ Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phưong Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị (…) Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài… " (Hoàng Lê nhất thống chí) – Nguyễn Du đã kế thừa người xưa để nói lên niềm tự tôn dân tộc khi đứng trước Quỷ Môn Quan hùng vĩ. Giọng thơ trở nên trầm mặc, vần. Thơ hàm chứa chất suy tưởng nói lên cái nghịch lý, cái cực kỳ vô lý trong xã hội và lịch sử. Quỷ Môn Quan là đất hiếm sinh tử (sinh tử địa) thế mà vô số người vẫn phải lại qua (vô số khứ nhân lai). Hai chữ "khả liên" (thương cho, hoặc là khá thương thay) diễn tả niềm xót thương của nhà thơ đối với bao người đã phải bỏ mạng nơi cửa ải hiểm trở này: Tử sinh có tiếng nơi nguy thế Qua lại bao người, chuyện xót thay! Vần thơ thể hiện một tấm lòng nhân đạo mênh mông. Mộng bành trướng xâm lăng của bọn vua chúa phương Bắc đã xô đẩy vô số binh sĩ, tướng tá của chúng phải giãi thây khắp Quỷ Môn Quan! Đó là chiều sâu trữ tình – cảm hứng lịch sử của bài thơ. Như ta đã biết, Quỷ Môn Quan là “đất chết'”của lũ giặc phương Bắc! Nơi đây, năm 981, Lê Hoàn đại phá giặc Tống; năm 1285, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát chết lúc chạy qua cửa ải; năm 1427, An Viễn hầu Liễu Thăng bị liêu diệt, hàng vạn giặc bị đánh tơi bời! Quỷ Môn Quan đúng là “sinh tử địa". Hai câu trong phần luận nói rõ núi Đầu quỷ, núi Hàm quỷ này là “sinh tử địa" như thế nào? Câu thơ chữ Hán với bốn nét vẽ gợi tả không khí thê lương, thảm đạm và rùng rợn của chiến trường xưa: Tắc đồ tùng măng tàng xà hổ Bố dã yên lam tụ quỷ thần. Thật là hiểm trở “bụi gai lấp đầy đường” thật là mịt mờ, hoang vắng và ghê sợ "khí độc đầy đồng”. Cái hiện tại đang rình rập "rắn hổ ẩn nấp”. Cái kinh dị ẩn hiện "Quỷ thần nhóm họp”. Bằng trực giác, bằng cảm giác và bằng tưởng tượng, nhà thơ đã tái hiện cảnh tượng chiến trường xưa vô cùng hiểm trở và khủng khiếp. Cái mất đi và cái hiển hiện, cõi âm và cõi dương, thú dữ và quỷ không đầu được đặc tả làm ta nhớ lại điều mà Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáơ. “Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường – Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước". Câu thơ dịch đã lột tả được phần nào ý thơ và nghệ thuật đối của nguyên tác: Bụi rậm đầy đường, hùm rắn núp, Khói mây khắp chốn, quỷ ma đầy. Hai câu kết biểu lộ cách nhìn độc đáo, đầy tinh thần nhân đạo của nhà thơ đối với binh lính chết chóc thảm thương trong những cuộc xâm lược từ phương Bắc tới. Gió lạnh như có thổi xương trắng phơi khắp cửa ải – gió lạnh thổi xương trắng (hàn phong xuy bạch cốt) là một hình ảnh làm xúc động lòng người. Hàng vạn sinh mạng của binh lính Trung Hoa phải trả giá một cách vô nghĩa để thực hiện mộng xâm lăng bành trướng của bọn vua chúa Thiên triều. Nếu “ Đằng giang tự cổ huyết do hồng” thì Quỷ Môn Quan cho đến nay vẫn ào ào suốt đêm ngày “hàn phong xuy bạch cốt”. Câu thơ của Nguyễn Du rất gần gũi với vần thơ “Chinh phụ ngâm'' của Đặng Trần Côn qua bản dịch thơ của Đòan Thị Điểm (?): Hồn sĩ từ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi, Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn… ” Câu thơ cuối bài mang giá trị tố cáo và châm biếm sâu sắc. Nhà thơ nghe gió lạnh thổi, nhìn bãi chiến trường xưa đầy “xương trắng” chất đống mà cất tiếng hỏi: "Kỳ công của tướng quân nhà Hán có gì đáng khen”.Hỏi mà không trả lời. Nói “có gì đáng khen" là cách nói, lối nói phản ngữ.; nói mỉa, để lên án và chế giễu Hán tướng quân là Mã Viện, năm 42 đã mang quân sang xâm lược nước ta, dìm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào biển máu. Chính hắn đã dựng cột đồng trụ với lời hăm dọa hiểm độc: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt. Nguyễn Du có một số bài thơ viết về Mã Viện, trong đó có những câu đầy khinh bỉ: Những tưởng cột đồng lòe gái Việt, Chẳng dè xe ngọc lụy đàn con, Đài Mây tên họ sao không để? Cùng tế phương Nam, chết vẫn bòn. (Miếu Mã Phục Ba ở Giáp Thành) Câu thơ “Công cán khen gì Hán tướng hay” xuất hiện sau hình ảnh "gió lạnh phơi xương trắng” mang giá trị tố cáo sâu sắc tội ác lũ xâm lăng xưa và nay đối với đất nước ta. Bài thơ viếng chiến trường không chỉ hàm chứa tinh thần nhân đạo mà còn nêu lên bài học lịch sử đối với lũ giặc phương Bắc. Tóm lại, cảm hứng lịch sử được diễn tả bằng phương thức trữ tình tạo nên những vần thơ chứa chan tinh thần nhân đạo. Hay nhất của bài thơ là bốn câu trong phần luận và phần kết. Giọng thơ từ u uất xót thương chuyển thành châm biếm mỉa mai. Quỷ Môn Quan không chỉ có núi cao vút lên tận mây xanh, là nơi rắn hổ ẩn nấp, nơi quỷ thần nhóm họp mà còn có những gò, những đống xương trắng ù ù gió lạnh thổi suốt đêm ngày. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ hình tượng với sự suy ngẫm, liên tưởng và bình giá đã tạo nên cốt cách bài thơ. Nguyễn Du đã đứng trên tinh thần dân tộc để nói về Quỷ Môn Quan, nơi cửa ải hiểm yếu, từng là mồ chôn lũ xâm lược. Quỷ Môn Quan là mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc đem đến cho ta biết bao yêu mến, tự hào.
Phân tích bài thơ Cửa ải Quỷ Môn Quan của thi hào Nguyễn Du
1,665
Đề bài: Phân tích bài Thơ duyên của thi sĩ Xuân Diệu Bài làm Xuân Diệu đã viết về mùa xuân với tất cả sự say đắm, nồng nàn: … "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần… … Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi"… Thi sĩ cũng đã đến với mùa thu trong bâng khuâng, man mác. Viết về mùa thu, Xuân Diệu có một lối nói riêng đầy thi vị, tứ thơ mới mẻ, cảm nhận tinh tế nhẹ nhàng cái hồn thu của đất trời, quê hương xứ sở. "Thơ duyên" là một bài thơ thu độc đáo nhận diện cảnh thu, tình thu qua tâm hồn thơ mộng của một chàng trai đa tình và tài hoa lãng mạn. "Thơ duyên" – một thi đề rất thơ. Cái "duyên" được thi sĩ nói đến là sự tương giao nhiệm mầu của vũ trụ, thiên nhiên và con người, trước hết là những chàng trai, cô gái "hồn xanh như ngọc bích". Một buổi chiều thu tuyệt đẹp – "chiều mộng" – êm ái, nhẹ nhàng như ru, tạo vật như đang "hóa thơ trên nhánh duyên". Nhành cây mềm mại đung đưa duyên dáng theo làn gió thu nhẹ giữa sương khói tà dương. "Con gió xinh thì thào trong lá biếc" ("Vội vàng"), cả một trời thu "nơi nơi động tiếng huyền". Tiếng nhạc, tiếng đàn du dương, dịu ngọt như ru hồn người vào cõi mộng. Tiếng gió hoà điệu với tiếng chim ríu rít. Trên ngọn me "cặp chim" vừa chuyền cành vừa hót, biết bao âu yếm và yêu thương. Cây me cũng như cây sấu là hình ảnh thân thuộc của đường phố cổ Hà Nội. Ta như được sống lại phố cũ yêu thương của đất Tràng An hơn nửa thế kỉ trước. Đã từng biết "khúc nhạc thơm"; "khúc nhạc hường", giờ đây ta lại được thưởng thức "tiếng huyền" của buổi "chiều mộng": "Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên, Cây me ríu rít cặp chim chuyền Đồ trời xanh ngọc qua muôn lá Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền". Cảnh thu có gió reo, chim hót. Còn có trời thu xanh trong, đẹp như ngọc; tất cả màu xanh ấy của trời thu như "đổ" xuống, như tràn qua muôn lá, cỏ cây ánh ngời lên sắc ngọc với trời thu, sắc ngọc ấy ai có thể quên? Sau này, thi sĩ Hàn Mặc Tử cũng viết trong bài "Đây thôn Vĩ Dạ”: "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"… Màu ngọc của lá cũng là sắc thu làm nên cái hồn thu. Khổ một nói đến gió, cây và cặp chim chuyền – cảnh vật hòa hợp tương giao, gắn bó; cái "duyên” ấy được cảm nhận qua tâm hồn một thi sĩ hào hoa, đa tình. Khổ hai nói về con đường và trái tim "rung động nỗi thương yêu". "Nhỏ nhỏ"… “ xiêu xiêu"… "lả lả" – bây nhiêu nét vẽ tinh tế hiện lên trên một gam màu vàng nhạt của ngày thu tàn "nắng trở chiều". Hồn thu của bức tranh quê gợi một nỗi buồn đẹp. "Buổi ấy", trái tim "ta" xao xuyến, "rung động" một tình thu. Thi sĩ đi giữa đất trời, lắng nghe tiếng đập nhẹ của con tim, tâm hồn rộng mở giao hòa đi vạn vật, với con người, một thiếu nữ đang nhẹ bước trên đường: "Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu, Lả lả cành hoang nắng trở chiều. Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thương yêu". "Em" và "anh" cùng dạo bước trên đường. "Em" bước đi "điềm nhiên", trông tự nhiên, hồn nhiên, duyên dáng. Anh cũng đang say sưa ngắm cảnh đất trời, bước chân "lững đững" – thong thả, ung dung. Cuộc ngẫu gặp của đôi lứa thanh tân, tưởng "vô tâm" mà hình như đã có cái "duyên" trời sắp sẵn. Chẳng hò hẹn gì mà nhiều bâng khuâng! "Em bước điềm nhiên không vướng chân Anh đi lững đững chẳng theo gần". Cặp câu song hành bình đối nhiều ý vị "Anh với em" đẹp như một cặp vần trong "bài thơ dịu". Cặp vần ấy ngân lên "rung động nỗi thương yêu". Một so sánh độc đáo nói lên cái "duyên" lứa đôi: "Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu, Anh với em như một cặp vần". Cảnh vốn đẹp, giờ thêm người đẹp, sự giao hòa, giao cảm càng muôn phần tăng lên, sắc thu trong sáng, tình thu thanh khiết mơ màng. Bức tranh thu được dệt thêu bằng cái duyên của sự sống và một tình yêu rạo rực, xôn xao. Đúng như nhà văn Hoài Thanh đã nhận xét: "Xuân Diệu say đắm cảnh trời… khi vui, khi buồn đều nồng nàn, da diết…” Khổ bốn nói về cảnh thu trên một không gian rộng và lạnh. Một áng mây chiều và một cánh cò thân thuộc của đồng quê. Không phải là mây xám. Cũng không phải "Mây trắng nghìn năm bay chơi vơi" ("Lầu Hoàng Hạc" – Thôi Hiệu). Mà là mây biếc, mây tuyệt đẹp. Hai chữ "về đâu" đầy gợi cảm. Hỏi mây hay hỏi nàng thiếu nữ? Cảnh vừa thực vừa mộng, nhiều man mác, bâng khuâng. Câu thơ "Con cò trên ruộng cánh phân vân" là một sáng tạo rất độc đáo của Xuân Diệu. Hình tượng thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong vị Đường thi và thơ mới. "Từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới" (Hoài Thanh). Hình ảnh "cánh phân vân" đặc tả dáng cò đang lững lờ đôi cánh, không biết nên bay cao hay bay thấp, bay gần hay bay xa, bay lên hay đậu xuống… Chiều thu tàn, bầu trời như trải rộng thêm ra. Cảm nhận ấy được diễn tả qua hai câu thơ tuyệt bút: "Chim nghe trời rộng giang thêm cánh, Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần". Lấy cái hữu hạn, cô đơn, bé nhỏ (cánh chim) để diễn tả cái vô hạn, mênh mông (bầu trời) là một nét vẽ tài hoa. "Chim nghe…” – sự chuyển đổi cảm giác đầy thi vị. Cánh chim nhỏ nhoi, bay miết, in dáng trên nền trời chiều bao la. Hoàng hôn buông xuống, sương thu chớm lạnh. Hoa khép cánh dần… Thời gian nhẹ nhàng trôi "bước thu êm". Tâm hồn thi nhân dào dạt tình thương mến. Chan hòa cùng đất trời, tạo vật. Mọi tâm hồn sẽ tự tìm đến với nhau và "thắm lại" (Xuân Hương), cần chi băng nhân? Nhà thơ khe khẽ reo lên: "Lòng anh thôi đã cưới lòng em". Phải chăng ý câu thơ này: "Anh đã phải lòng em" như có người đã hiểu? "Thơ duyên" đã tồn tại hơn nửa thế kỉ mà vẫn "duyên" vẫn đẹp. Bởi lẽ cảnh thu tuyệt đẹp, thơ mộng. Tình thu trong sáng, bâng khuâng. Từ chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến đến "Thơ duyên", hơn bao giờ hết, ta cảm nhận sâu sắc rằng, "Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới”. Chim đã có đôi, có cặp rồi, cho nên "Lòng anh thôi đã cưới lòng em" vậy. Duyên đôi lứa cũng là duvên bạn bầy. "Thơ duyên" là một bài thơ tình của Xuân Diệu. Trong tuyển tập "100 bài thơ tình", "Thơ duyên" mang vẻ đẹp một "hoa khôi" sáng giá.
Phân tích bài Thơ duyên của thi sĩ Xuân Diệu
1,246
Phân tích bài thơ duyên của Xuân Diệu Hướng dẫn Phan tich bai tho duyen cua Xuan Dieu – Đề bài: Giữa những bài thơ buồn của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, hiện lên một “Thơ duyên” hồn nhiên, tươi mát, yêu đời. Vì sao Xuân Diệu lại đặt tên bài thơ là “Thơ duyên”? Phân tích bài thơ Duyên của Xuân Diệu đề làm sáng tỏ ý kiến trên. Yêu cầu: Giải thích đúng tên bài thơ. Phân tích tác phẩm để làm rõ ý: Thơ duyên là một bài thơ “hồn nhiên, tươi mát, yêu đời”. Bài làm: Xuân Diệu là một hồn thơ mãnh liệt, sôi nổi, khống bao giờ để lòng khép kín, luôn rộng mở với đất trời, với cuộc đời. Đó là một tâm hồn đam mê sống, đam mê yêu, khát khao được hòa hợp với đời, với tạo vật và với con người. Giữa những bài thơ buồn cùa Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, hiện lên sáng chói một “Thơ duyên”.(Trích trong tập “Thơ thơ” – 1938) hổn nhiên, tươi mát, yêu đời và thề hiện được niềm giao cảm mãnh liệt ấy. Bài thơ có nhan đề là “Thơ duyên” – “Thơ duyên” chứ không hẳn là thơ tình vì tình yêu trong thơ Xuân Diệu bao giờ cũng đắm say, vội vàng, sôi nổi: “Trời ơi! Ta muốn uống hồn em”. Hoặc: “Làm sao sống được mà không yêu Không nhớ, không thương một kẻ nào” Còn ở bài thơ này, tuy có “anh” và có “em” nhưng chỉ là ”vô tâm”, đó đâu phải là tình yêu nhưng lại có duyên. “Duyên” ở đây có nghĩa là sự giao hòa, là tương giao màu nhiệm của vũ trụ, của cỏ cây và của con người. Đối với nhà thơ, giao cảm với cuộc đời là niềm hạnh phúc tuyệt diệu mà con người được ban tặng trong cuộc sống trần thế này. “Thơ duyên” viết về cảnh thu dưới con mắt của một chàng trai vừa mới lớn “lần đầu rung động nỗi thương yêu”, tâm hồn đang tràn ngập yêu thương, đôi mắt “xanh non” ấy nhìn đấu cũng thấy sức sống hiện lên, bao trùm khắp cõi đời duới mọi hình thức, đâu đâu cũng thấy thắm đượm tình yêu thương đằm thắm, tươi tắn và hồn nhiên tất cẳ như có duyên với nhau tự thuở nào. Cảnh và tình trong bài thơ thật đẹp, một chiều thu thơ mộng, trong mát thật duyên dáng – tất cả như cổ sự giao hòa nhịp nhàng và có duyên nợ với nhau: Cây me ríu rít cộp chim chuyền Đổ trời xanh ngọc qua muốn lá Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền” Một sự hòa hợp tuyệt diệu: Một buổi chiều mộng mơ, bầu trời trong xanh và như có gió nhọ nhàng dung dưa, những cành cây mềm mại, có vẻ yếu đuối nhưng rất có duyên. Từng cặp chim ríu rít chuyền trên những cành me, chúng quấn quýt bên nhau có đôi, có cặp trong yêu thương đầm ấm, vui tươi. Thu đến, khắp nợỉ nhộn nhịp, rộn rã, không gian như vang tiếng khúc nhạc của đất trời. Chiều thu đó, không tàn tạ mà duyên dáng, không kiêu sa lộng lẫy mà quen thuộc, giản dị, dịu dàng và rát gợi cảm. Ánh sáng đổ tràn xanh như ngọc lấp lánh qua muôn ngàn lá. Không khí ở đây không lạnh như mùa đông, không nồng như mùa hạ khiến tâm hồn con người sáng khoái, dễ chịu. Trước Cách mạng tháng Tám, thật hiếm có một chiều thu trong sáng, tươi tấn như thế trong thơ Xuân Diệu mà chỉ có sự mông lung, xa xăm và buồn vắng: “Êm êm chiều ngẩn ngơ chiểu Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn” (“Chiểu” – Xuân Diệu) Chiều “Thơ duyên” không vẩn một chút u sầu, ngược lại rất vui tươi, hổn nhiên, trẻ trung và yêu đời. Con đường mùa thu xinh xinh, nhò nhắn và gió hiện ra có ảnh, có hình cùng sóng đôi với nhau. Cành lá và nắng hiện lên như sự huyền diệu của đất trời, tất cả đi vào cõi “thương yêu” của nhà thơ tình yêu: “Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trỏ chiều Buổi ấy lòng ta nghe ỷ bạn Lẩn đẩu rung động nỗi thương yêu Con đường, cành lá và cà nắng gió của đất trời đều ỉà những hình ảnh có hồn, có tâm trạng. Mùa thu ở đây có vui, có xôn xao, nhưng không ồn ào, náo động mà rất hồn nhiên, dịu dàng, êm ái. Cảnh vật như tạo cho con người một cảm giác lâng lâng, thích thú, vui tươi và rất dễ chịu. Phải chăng, đó là nét yêu đời rất dáng quý trong “Thơ duyên”. Cảnh vật, trong mối giao hòa với nhau và con người cũng vậy. “Anh” và “em” nào có quen biết nhau, nhưng tự nhiên cứ đi sóng đôi với nhau ‘như một cập vần”, không hẹn mà nên trong suốt bài thơ: “Em bước điểm nhiên không vướng chân Anh đi lững đững chẳng theo gần Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu Anh với em như một cập vần” Nhà thơ đi giữa đất trời mà như đi giừa chốn dịu êm – đi giữa một bài thơ dịu”, không ồn ã, chỉ “lững đững”, chỉ chầm chậm để có thế lắng nghe những bước đi rất nhẹ, rất khẽ và cùng rất lâng lẽ cùa mùa thu. Và có lẽ, nhà thơ cũng đang nghe nơi lòng mình niềm cảm thông với vạn vật và nỗi khát khao yêu thương, khát khao được cởi mở, được chia sẻ với đời, với mọi người – nhất là với cô em nào kia ngẫu nhiên đang bước trên đường. Họ đi như cách xa nhau: Em thì “điềm nhiên”, còn anh thì “lững đững” và cà hai đều “vô tâm”, nhưng hình như cà hai muốn xích lại gần nhau. Bởi lẽ trong hai bóng “điềm nhiên” và “lững đững” ấy đều như có một chủ định muốn hòa hợp cùng nhau. Tất cà đều sóng đôi, gắn quyện, tất cả như một bức thư tình, với giai điệu nhịp nhàng, êm dịu – một bài thơ của tình yêu cuộc sống trong cảnh vật đã hòa với nhau, người với người, anh” và “em” cùng ăn nhập với nhau như “một cập vần”. Với một tâm hổn nghệ sĩ khát khao, giao cảm với đời, yêu đời đến thiết tha, mặn nồng, điều đó đã giúp cho Xuân Diệu khám phá được những nét tinh túy của thiên nhiên, con người để đọng lại trong cuộc đời những vần thơ súc tích, hồn nhiên, tươi vui đến như vậy. Cảnh vật trong “Thơ duyên” rất vui tươi huyền diệu, chẳng khác gì mùa xuân vì lòng người vui thì cành cùng vui nên Xuân Diệu đã có “Xuân không mùa”, xuân như có cả trong năm. xuân từ trong lòng mà tòa ra đất trời: “Một ít nắng, vài ba sương mỏng thăm Máy cành xanh, dăm bảy sắc yêu yêu Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.” (Xuân không mùa – Xuân Diệu) Mùa xuân thường là biểu tượng của cái đẹp, sự tươi tắn, trong trẻo. Còn thu, Xuân Diệu đã nhận ra cái vẻ đẹp, cái êm à vốn có cùa nó bằng con mắt trẻ trung, hồn nhiên cùa mình. Chiều thu trong “Thơ duyên.” có cao, có thanh, có trong xanh, có cả sự nhộn nhịp, ríu rít cùa tinh yêu đời, của tình yêu cuộc sống. Vả khi nói đến con người, nói đến “anh” và ‘ em“ thì tám hồn của nhà thơ đồ rung lên một cách nồng nàn, say đắm: “Ai hay tuy lặng bước thu êm Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm Trồng thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy Lòng anh thôi đã cưới lòng em” “Anh” và “em” dẫu rằng chưa hề quen biết nhau, chưa có một lời mai mối nào vẫn cứ cần một sự kết đôi, vẫn cháy khát một sự gắn quyện, hòa hợp, vẫn nghe ra một tâm hồn đồng điệu, có lẽ là “phải lòng nhau”. Nhà thơ như lắng nghe được bước đi dịu nhẹ cùa mùa thu. Và tình người ờ đây cũng dịu nhẹ như cái dịu nhẹ của mùa thu vậy, thẳm sâu trong đó là xôn xao một niềm khao khát Tóm lại, thơ Xuân Diệu là rung động và từ những rung động như nhặt được của đời đã chất chứa một nguồn sống dồi dảo, rạo rực và ngân vang. Đọc “Thơ duyẽn”, ta tháy một Xuân Diệu hồn nhiên, vui tươi, dạt dào niềm yêu say cuộc sống, khát khao giao cảm vơi thiên nhiên, tạo hóa. Vẻ đẹp cùa cảnh chiều thu êm ả, trong trẻo, tươi mát trong bài thơ hiện ra trước măt chụng ta như giúp ta hiểu được giá trị của cuộc sống và phải biết yêu thương quí trọng những cái gì mả cuộc đời ban tăng cho mỗi chúng ta
Phân tích bài thơ duyên của Xuân Diệu
1,504
Đề bài: Phân tích bài thơ Dương phụ hành của Cao Bá Quát Bài làm Sau khi được định tội, triều đình tạm tha cho Cao Bá Quát và cho đi xuất dương hiệu lực trong phái đoàn do Đào Phú Trí là trưởng đoàn, Trần Tú Dĩnh là phó đoàn. Ở triều Nguyễn, đối với một người có thể sử dụng mà không may mắc tội thì nhà vua thường tạm tha và phân phối đi đến một đồn quân nào đó phục dịch để chuộc tội. Đó là hình thức “quân tiền hiệu lực”. Hoặc khi có một phái bộ nào xuất dương đi giao thiệp với nước ngoài thì những phạm nhân ấy cũng được đi theo phục dịch để lấy công chuộc tội gọi là "dương trình hiệu lực”, Cao Bá Quát cũng được xử trí theo những “đặc ân”đó. Ngồi trên thuyền, giữa trùng dương rộng lớn, ông lại cảm thấy trong lòng đầy hào hứng, hùng khí lại ngùn ngụt như xưa: Gió Bắc đưa thuyền qua muôn trùng biển cả, Ta ngâm câu thơ dưới cánh buồm mát dịu, Có ai thử đem câu thơ kinh người của chàng Tiểu Tạ. Mà đề lên khắp cái núi ở chân trời kia! Khi cánh buồm lộng gió đi vào trời nước bao la, ông tự hỏi: “Có ai học được nét vẽ của Tôn Vị ngày xưa để thử vẽ cái cảnh hùng vĩ này của một chàng ngâm thơ trên đầu ngọn sóng!”. Ông ví mình như con hạc bị ốm, con chim hồng bị đau, đã bao lâu không con hi vọng, nên lại chắp cánh bay trên đường bay rộng lớn của chim bằng. Giận cho mình bao lâu chỉ làm một tài tử khốn cùng trong bút mực, anh trượng phu tầm thường giữa núi mây! Ra nước ngoài, tầm con mắt ngài thêm mở rộng. “Cuộc ngoạn du, mới biết cá lớn nghìn dặm. Kiến thức hẹp hòi, khác nào nhìn con báo qua một hiếc ống chỉ thấy nó có một vằn". Ông nghĩ tới lối học từ chương, thái độ đóng cửa không chịu tìm hiểu nước ngoài thật là nguy hiểm. Ý nghĩ này cọn được nêu lên trong bài ông đề cập Yên Đài Anh Ngữ của Bùi Ngọc Quỹ. Ông này đã đi sứ nước ngoài học được nhiều điều mới lạ. Cao tự trách mình: “Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt giũa câu văn, lải nhải nhai từng câu từng chữ. Có khác gì con sâu đo, muốn đo cả trời đất”. Phái đoàn của ông đi Inđônêxia và Campuchia mục đích chủ yếu là đem đường bán cho nước ngoài để mua sắm những hàng xa xỉ cho triều đình. Ra nước ngoài, ông đã thấy đời sống của người Tây phương, lại thấy cảnh người da đen kéo xe cho người da trắng, ông cũng phần nào nhận thức được sự phát triển của các Tây phương và nguy cơ bị xâm lược của các nước Á Đông. Lòng yêu nước được kích thích, ông càng nhìn rõ hơn sự nhu nhược và bất lực của triều đình, tin tưởng vào sức mạnh phản kháng của nhân dân trước nạn ngoại xâm”. Trở lại bài thơ Dương phụ hành, Cao Bá Quát như cầm bút viết ngay một cảnh tượng về cuộc sống của người phụ nữ Tây phương lướt qua con mắt quan sát của nhà thơ. Đây là một cuộc sống đối lập với người phụ nữ Việt Nam: Giữa cái thùy mị, kín đáo với cái nũng nịu phô trương từ cách ăn mặc đến cử chỉ: Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu Và, nhiều khi họ có cái nhìn tò mò đối với người lạ rồi bình phẩm, bàn tán – một thói xấu, một cử chỉ đến khó chịu: Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói Kéo áo rầm rì nói với nhau… Ta hiểu người đàn bà Tây dương “níu áo chồng” ròi nói những gì đó với nhau, ẩn sau câu thơ là sự căm ghét của nhà thơ đối với lối sống đó. Tiếp đó, Cao Bá Quát miêu tả bằng những lời thơ mộc mạc nhưng nói lên đầy đủ lối sống khác lạ, phè phỡn, no đầy của họ: Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay Gió bể, đêm sương thổi lạnh thay… Tay cầm cốc sữa mà “hững hờ” không muốn uống, cảnh tượng này đối lập với con người trong bài thơ “Giữa đường gặp người đói” – lời thơ như tiếng kêu xé lòng: Một con người thất thểu Áo rách nón tả tơi… … Ngày hai cố chiếc tráp Ngày ba nhịn đói dài… Cảnh tiếp theo đối lập ngay với chính tâm trạng của nhà thơ: Uốn éo đòi chồng năng đỡ dậy Biết đâu nỗi khách biệt li này… Nghĩa là ở đây thì “bà đầm" uốn éo với chồng, nằm xuống được nhưng khi ngồi dậy phải có chồng nâng! Trong khi đó thì chính nhà thơ đang ở trong cảnh biệt li! Thông qua bài thơ ta thấy Cao Bá Quát có cái nhìn sắc sảo, tinh tế, nhạy cảm bắt nguồn từ tình cảm tha thiết gắn bó với quê hương, nhớ thương người thân, không chịu được những nghịch cảnh, trớ trêu dầu trên quê hương hay những nơi khác lạ! Như vậy ở bài thơ này, nhà thơ vừa nhìn thấy cái khác lạ trong đời thường, lại vừa thấm thía với bản thân mình.
Phân tích bài thơ Dương phụ hành của Cao Bá Quát
902
Đề bài: Phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn Bài làm Bài thơ được viết sau chiến thắng giải phóng biên giới, một chiến thắng có ý nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Pháp: mở thông chiến khu với các nước xã hội chủ nghĩa. Song bài thơ không đi vào ý nghĩa chính trị ấy. Ở đây, bài thơ nói về ý nghĩa giải phóng đối với cuộc đời của bà con người dân tộc. Ý nghĩa toát ra từ bài thơ qua bút pháp kể chuyện, miêu tả. Tác giả không dùng bút pháp chính luận. Nét đặc sắc đầu tiên là giọng kể: chất phác, sinh động, cụ thể. Mở đầu là một Hình ảnh tiêu biểu của chiến thắng được đặc tả chân thật và độc đáo: Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đông như kiến, súng đầy như củi. Suốt bài vẫn giữ nguyên được cách kể và cách nghĩ ấy. Các chi tiết đời sông vị hồn nhiên, tự nhiên và rất đậm dấu ấn cách tư duy cụ thể của bà con dân tộc ít người. Ngày chiến thắng như ngày hội nên “người đông như kiến” Cách ví ấy là phổ cập. Nhưng “súng đầy như củi” cách ví này là đặc thù của con dân tộc miền núi, ở kề với rừng, nơi củi rất quen thuộc trong đời sống. Người quen dùng bếp ga chắc không có cách ví von này. Phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn Bố cục bài thơ sát với kiểu tư duy của người dân thường. Sau tiếng reo là sự ai những cay cực khi giặc chiếm đóng và cuối cùng là quang cảnh sinh hoạt của bây giờ, của giải phóng. Người đọc, ngay cả người ít học miền rừng, ách bố cục này tiếp nhận bài thơ sẽ rất dễ dàng. Đặc điểm nổi bật của bài thơ này là cách diễn tả các chi tiết. Cảnh chạy giặc: quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy, rồi đường đi lại vắt bám, rồi gió bão sấm sét, cây đổ, cay đắng đủ mùi… Rồi cảnh giặc càn: nó đốt, nó vét, mẹ địu em, bà bị loà mắt… Diễn biến tình cảm của người con trước cái chết bi thương và anh dũng của người cha.Tác giả mượn lời người con kể chuyện cũng là giãi bày nổi lòng (tự sự kết với trữ tình): Mẹ ngồi khóc con cúi đầu cũng khóc Sợ Tây nghe, mẹ dỗ “nín ”, con im Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng Con cởi áo liệm thân cho bố Người chết thảm, người sống cũng thảm, cảnh sống cùng cực đau đớn đã lên cao trào dâng sôi sục. Giải phóng đã thành một yêu cầu bức xúc của mỗi người dân. Đánh giặc là đòi hỏi tất yếu của cuộc sống cực khổ ấy. Bài thơ có nhiều chi tiết và hay nhất là những chi tiết ở đoạn cuối – quang cảnh dọn về làng và cảnh sinh hoạt ở bản làng sau ngày giải phóng: Người nói cỏ lay trong rừng rậm Cuốc đất dọn cỏ mẹ khuyên con Đường cái kêu vang tiếng ô tô Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá. Khung cảnh lam làm no ấm… Từng nét từng nét hiện dần lên. Tác giả vẫn không bình luận hay ca ngợi lộ liễu. Ông cứ tả. Tả thoáng mà đủ. Mỗi mặt cuộc sống chỉ nói bằng một nét, rất gợi: Người nói cỏ lay là cảnh ruộng rẫy, khói bếp bay trên mái nhà lá là cảnh thanh bình no ấm. Tiếng ô tô, tiếng cười con trẻ cho thấy cái đông vui ríu rít của bản làng… Có những chi tiết rất sắc sảo gợi được thần thái núi rừng và nếp sống đồng bào, hơn thế còn có ý vị thiết tha Hổ không dám đến đẻ con trong vườn chuối Quả trong vườn không lo tự chín, tự rụng. Giải phóng đã đồng nghĩa với sự trở về tất yếu của quy luật đời sống: vật nào vào chỗ ấy, quả chín do tay người. Kể chuyện mà vẫn bộc lộ được cảm xúc cá thể. Chi tiết nhiều mà không rậm, trái lại mỗi chi tiết như một nét khắc: cụ thể nhưng khái quát. Đây không chỉ là kết quả một quan sát công phu, mà là kết quả của sự từng trải. Tác giả sống với các chi tiết đó, thấm thía về nó. Chất thơ ở đây là chất của đời sống. Bài thơ, do vậy cho thây một nét đặc sắc của thơ kháng chiến chống Pháp: miêu tả hiện thực rộng lớn và nỗi riêng tư của tác giả hoà đồng vào hiện thực đó.
Phân tích bài thơ Dọn về làng của Nông Quốc Chấn
803
Đề bài: Phân tích bài thơ Ghét chuột để cho thấy tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với nhân dân và thái độ đối với bọn tham quan ô lại trong xã hội cũ. Bài làm Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là nhà triết học vĩ đại, nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỷ XVI, học vấn uyên bác, đạo đức cao khiết, tài năng lỗi lạc, như cây đại thụ tỏa bóng mát cả một thời đại. Tuy sống giữa một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nội chiến kéo dài, nhân dân đắm chìm trong lầm than, cực khổ, nhưng ông vẫn giữ trọn nhân cách, trở thành ông thầy vĩ đại, xứng đáng với danh hiệu Tuyết Giang Phu Tử. Ông là nhà thơ giàu tình thương yêu nhân dân. Thơ của ông đã phản ánh và lên án những bất công, thối nát của xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ. Bài thơ Ghét chuột được viết bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn trường thiên, rút trong tập Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngô Lập Chi đã dịch bài thơ ra tiếng Việt, theo đúng nguyên điệu. Bài thơ mang dáng dấp một thiên ngụ ngôn. Nhà thơ đứng về phía nhân dân lầm than mà căm giận và khinh bỉ bọn quan lại gian tham, độc ác trong xã hội phong kiến mục nát. Yêu, ghét dứt khoái, rõ ràng trên cơ sở yêu thương nhân dân là nét nổi bật trong tư tưởng nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đoạn đầu bài thơ, ngôn ngữ trang trọng, mang màu sắc giáo huấn, phản ánh tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Con người phải được dạy dỗ, biết làm ăn, sống vì một đạo lý cao đẹp: Ôi! Xưa bậc thánh nhân Dạy dân trồng ngũ cốc Cha mẹ được phụng thờ Vợ con được săn sóc. Nhà thơ ngụ ý nhắc nhở mọi người phải biết sống lương thiện, không được làm điều ác, trái lương tâm. “Ấm no đều muốn được" là niềm khao khát và ước mong của mọi người. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” ấy được diễn đạt một cách trang nghiêm, sâu sắc qua 6 câu thơ đầu, cho thấy tâm hồn và cốt cách cao cả của thi nhân. Mười câu thơ tiếp theo nói về “lũ chuột lớn bất nhân". Nghệ thuật phúng dụ được vận dụng sắc sảo đã vẽ lên bộ mặt gớm ghiếc của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội thối nát thời bấy giờ. Chúng là lũ “bất nhân" phá hoại mùa màng, "gặm khoét” lương thực, làm cho ruộng đồng xác xơ, kho đụn “kiệt gạo thóc". Tội ác của lũ chuột tày trời: Chuột lớn sao bất nhân Gặm khoét thật thảm độc Đồng ruộng trơ rơm khô Kho đụn kiệt gạo thóc. Con người thế là hết đường sinh sống. Còn gì nữa để phụng dưỡng cha mẹ và săn sóc vợ con? Hai lần nhà thơ giận dữ hỏi tội lũ bất lương, tàn ác: "Chuột lớn sao bất nhân?”.. “Sao dám khinh mạng dân?' Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng dâng sớ xin chém lũ nịnh thần hại dân hại nước. Vì thế, thái độ quyết liệt của ông đối với lũ “chuột lớn” là điều dễ hiểu. Người đọc gần năm thế kỉ qua vô cùng thán phục thái độ căm giận và khinh bỉ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với bọn tham quan ô lại. Lũ "chuột lớn” đã gieo rắc bao tai họa khủng khiếp cho nhân dân. Hai câu thơ được viết theo thủ pháp “bình đối” gợi ra trước mắt nhân gian cuộc sống bi thảm của người dân cày lam lũ, đói rét: Khó nhọc nông phu than Đói gầy nông phụ khóc. Tiếng “than khóc” của nhà nông vang dậy đất trời. Bằng cả tấm lòng nhân ái bao la, Nguyễn Bỉnh Khiêm đau cho nỗi đau của dân lành. Ông mãi mãi sống trong niềm kính phục của nhân dân ta. Thấp thoáng, ẩn hiện trong những vần thơ là hình ảnh ghê tởm của “lũ chuột bốn chân" và “bầy chuột hai chân”. Nói đến chuột là phải nói đến hang, lỗ của chúng. Nói đến chuột là phải nói đến thái độ của nhân dân. Và nhà thơ đã viết: Rình mò dưới lỗ hang, Thần dân đều căm tức "Lỗ hang” là dịch thoát hai chữ “thành, xã”. “Thành”là nơi quốc cấm, bất khả xâm phạm. “Xã’’là nơi thờ cúng tôn nghiêm, ai dám đào bới? “Lỗ hang” (thành, xã) trong câu thơ là biểu tượng ám chỉ bọn vua chúa, quan lại bề trên, chỗ dựa của bọn tham quan, ô lại. Lũ “chuột lớn" ấy ra sức đục khoét dân lành mà không ai dám động đến chúng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có cái nhìn phê phán sắc bén chỉ ra nguyên nhân sâu xa gây ra mọi tội ác trong xã hội thối nát. Giá trị tố cáo hiện thực của bài thơ Ghét chuột càng trở nên mạnh mẽ. Sáu câu thơ cuối bài biểu lộ trực tiếp thái độ yêu ghét của nhà thơ. Ông nguyền rủa lũ “chuột lớn” tất sẽ bị người xé xác, phanh thây làm mồi cho diều quạ. Ý thơ hàm súc như dồn nén tất cả sự giận dữ, căm ghét: Quấy nhiễu mất lòng người Tất bị người xé xác Thây phơi khắp thị thành Thịt quạ diều rỉa bóc! Tội ác bị trừng phạt! Tai hoạ được diệt trừ! Đó là niềm tin cùa nhà thơ về sức mạnh nhân dân và đạo lý ở đời. Nếu như trong thế kỷ XV, Ức Trai đã từng cầu mong "dân giàu đủ khắp đòi phương” giữa một nền thái bình bền vững, thì ởđây, Trạng Trình cũng chỉ có một ước muốn “lớp dân tàn” đang bị đói rét đau thương được sống một cuộc đời yên vui, hạnh phúc, an cư lạc nghiệp: Khiến cho lớp dân tàn Cùng an hưởng hạnh phúc. Cảm phục biết bao tấm lòng ưu ái mênh mông của Bạch Vân cư sĩ. Ghét chuột là một bài thơ độc đáo ở đề tài, sắc bén ở thủ pháp nghệ thuật phúng dụ: mượn con chuột bốn chân để vạch mặt bọn quan lại tham ô gây ra bao tội ác trong xã hội, sống xa hoa trên máu và nước mắt nhân dân. Điều đáng quý nhất, đáng khâm phục nhất là tình thương yêu và lòng căm giận một cách sâu sắc manh mẽ của tác giả. Nội dung tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo là giá trị lớn của bài thơ. Bài thơ Gliét chuột ra đời ngót 500 năm mà vẫn nóng bỏng tình yêu ghét, giàu tính chiến đấu, vẫn mang ý nghĩa thời sự lớn lao. Tư tưởng “an dân của Trạng Trình mãi mãi rực sáng “ như nhật trung thiên” (như mật trời trong bầu trời). Tình thương dân và lo đời của nhà thơ quê hương mãi mãi dào dạt như dòng sông Tuyết Giang vậy.
Phân tích bài thơ Ghét chuột của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1,172
Đề bài: Phân tích bài thơ Ghét chuột để cho thấy tấm lòng của Nguyễn Bình Khiêm đối với nhân dân và thái độ đối với bọn tham quan ô lại trong xã hội cũ Bài làm Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là nhà triết học vĩ đại, nhà thơ lớn của đất nước ta trong thế kỉ XVI. Học vấn uyên bác, dạo đức cao khiết, tài năng lỗi lạc, như cây đại thụ to hóng mát cả một thời đại. Tuy sống giữa một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nội chiến kéo dài, nhân dán đắm chìm trong lầm than, cực khổ. nhưng ông vẫn giữ trọn nhân cách, trở thành ông thầy vĩ đại, xứng đáng với danh hiệu Tuyết Giang phu tử. Ông là nhà thơ giàu tình thương yêu nhân dân. Thơ của ông đã phản ánh và lên án những bất công, thối nát của xã hội phong kiến Việt Nam thời bấy giờ. Bài thơ “Ghét chuột'' được viết bằng chữ Hán, theo thể ngũ ngôn trường thiên, rút trong tập “Bach Vân Am thi tập" của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ngô Lập Chi đã dịch bài thơ ra tiếng Việt, theo đúng nguyên điệu. Bài thơ mang dáng dấp một thiên ngụ ngôn. Nhà thơ đứng về phía nhân dân lầm than mà căm giận và khinh bỉ bọn quan lại gian tham, độc ác trong xã hội phong kiến mục nát. Yêu, ghét dứt khoát, rõ ràng trên cơ sở yêu thương nhân dân là nét nổi bật trong tư tưởng nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đoạn đầu bài thơ, ngôn ngữ trang trọng, mang màu sặc giáo huấn, phản ánh tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Con người phải được dạy dỗ, biết làm ăn, sống vì một đạo lý cao đẹp: “Ôi! xưa bậc thánh nhãn Dậy dân trồng ngũ cốc Cha mẹ được phụng thờ Vợ con được săn sóc”. Nhà thơ ngụ ý nhắc nhở mọi người phải biết sống lương thiện, không được làm điều ác, trái lương tâm. "Ấm no đều muốn được" là niềm khao khát và ước mong của mọi người. Tư tưởng "lấy dân làm gốc" ấy được diễn đạt một cách trang nghiêm, sáu sắc qua 6 câu thơ đầu, cho thấy tâm hồn và cốt cách cao cả của thi nhân. Mười câu thơ tiếp theo nói về “lũ chuột lớn bất nhân”. Nghệ thuật phúng dụ được vận dụng sắc sảo đã vạch trần bộ mặt gớm ghiếc của lũ chuột bốn chân và bầy chuột hai chân trong xã hội thói nát thời bấy giờ. Chúng là lũ "bất nhân” phá hoại mùa màng, "gậm khoét" lương thực, làm cho ruộng đồng xác xơ, kho đụn "kiệt gạo thóc". Tội ác của lũ chuột tày trời: “Chuột lớn sao bất nhân Gậm khoét thật thảm độc Đồng ruộng trơ rơm khô Kho đụn kiệt gạo thóc.” Con người thế là hết đường sinh sống. Còn gì nữa để phụng dưỡng cha mẹ và săn sóc vợ con? Hai lần nhà thơ giận dữ hỏi tội lũ bất lương, tàn ác: “Chuột lớn sao bất nhân?". "Sao dám khinh mạng dân?" Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng dâng sớ xin chém lũ nịnh thần hại dân hại nước. Vì thế, thái độ quyết liệt của ông đối với lũ "chuột lớn" là điều dễ hiểu. Người đọc gần năm thế kỷ qua vô cùng thán phục thái độ căm giận và khinh bỉ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với bọn tham quan ô lại. Lũ “chuột lớn" đã gieo rắc bao tai hoạ khủng khiếp cho nhân dân. Hai câu thơ được viết theo thủ pháp "bình đối", gợi ra trước mắt nhân gian cuộc sống bi thảm của người dân cày lam lũ, đối rét: "Khó nhọc nông phu than Đói gầy nông phụ khóc" Tiếng "than khóc" của nhà nông vang dậy đất trời. Bằng cả tấm lòng nhân ái bao la. Nguyễn Bỉnh Khiêm đau cho nỗi đau của dân lành. Ông mãi mãi sống trong niềm kính phục của nhân dân ta. Thấp thoáng, ẩn hiện trong những vần thơ là hình ảnh ghê tởm của “lũ chuột bốn chân” và “bầy chuột hai chân”. Nói đến chuột là phải nói đến hang, tổ của chúng. Nói đến chuột là phải nói đến thái độ của nhân dân. Và nhà thơ đã viết: “Rình mò dưới lỗ hang Thần dân đều căm tức”. “Lỗ hang" là dịch thoát hai chữ "thành, xã". "Thành" là nơi quốc cấm, bất khả xâm phạm. “Xã" là nơi thờ cúng tôn nghiêm, ai dám đào bới? "Lỗ hang” (Thành, xã) trong câu thơ là biểu tượng ám chỉ bọn vua chúa, quan lại bề trên, chỗ dựa của bọn tham quan, vô lại. Lũ “chuột lớn" ấy ra sức đục khoét dân lành mà không ai dám động đến chúng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có cái nhìn phê phán sắc bén chỉ ra nguyên nhân sâu xa gây ra mọi tội ác trong xã hội thối nát. Giá trị tố cáo hiện thực của bài thơ “Ghét chuột” càng trở nên mạnh mẽ. Sáu câu thơ cuối bài biểu lộ trực tiếp thái độ yêu ghét của nhà thơ. Ông nguyền rùa lũ “chuột lớn" tất sẽ bị người xé xác, phanh thây làm mồi cho diều quạ. Ý thơ hàm súc như dồn nén tất cả sự giận dữ, căm ghét: “Quấy nhiễu mất long người Tất bị người xé xác Thây phơi khắp thị thành Thịt quạ diều rỉa bóc”. Tội ác bị trừng phạt! Tai hoạ được diệt trừ! Đó là niềm tin của nhà thơ về sức mạnh nhân dân và đạo lý ớ đời. Nếu như trong thế kỉ XV. Ức Trai đã từng cầu mong "dân gian đủ khắp đòi phương" giữa một nền thái bình bền vững, thì ở đây. Trạng Trình cũng chỉ có một ước muốn "lớp dân tàn" đang bị đói rét đau thương được sống một cuộc đời yên vui, hạnh phúc an cư lạc nghiệp: "Khiến cho lớp dân tàn Cùng an hưởng hạnh phúc" Cảm phục biết bao tấm tòng ưu ái mênh mông của Bạch Vân cư sĩ. "Ghét chuột" là mội bài thơ độc đáo ở đề tài, sắc bén ở thủ pháp nghệ thuật phúng dụ: mượn con chuột bốn chân để vạch mặt bọn quan lại tham ô gây ra bao tội ác trong xã hội, sống xa hoa trên máu và nước mắt nhân dân. Điều đáng quý nhất, đáng khâm phục nhất là tình thương yêu và lòng căm giận một cách sâu sắc mạnh mẽ cùa tác giả. Nội dung tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo là giá trị lớn của bài thơ. Bài thơ "Ghét chuột" ra đời ngót 500 năm mà vẫn nóng bỏng tình yêu ghét, giàu tính chiến đấu, văn mang ý nghĩa thời sự lớn lao. Tư tưởng “an dân" của Trạng Trình mãi mãi rực sáng “như nhật trung thiên” (như mặt trời trong bầu trời). Tình thương dân và lo đời của nhà thơ quê hương mãi mãi dào dạt như dòng sông Tuyết Giang vậy.
Phân tích bài thơ Ghét chuột để cho thấy tấm lòng của Nguyễn Bình Khiêm đối với nhân dân và thái độ đối với bọn tham quan ô lại trong xã hội cũ
1,179
Phân tích bài thơ Giải đi sớm của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Phân tích bài thơ Giải đi sớm của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mỗi khi nhắc tới Người chúng ta không thể không nhắc tới tinh thần thép có trong máu của một người cộng sản một người đã trải qua nhiều gian truân đày ải của tù khổ sai. Không những là một người chiến sĩ Người còn là một thi sĩ một nhà thơ mang lại cho nền văn học Việt Nam nhiều đóng góp đặc biệt là tập “NHật Kí trong tù”. Tập thơ ghi lại nhiều khoảnh khắc và tâm trạng của người tù đặc biệt là bài thơ Giải đi sớm Mở đầu bài thơ chính là hình ảnh cho chuẩn bị giải đi sang chốn lao tù khác mà người bị giải ở đây không ai khác chính là Hồ Chí Minh. Người là nhân vật trữ tình ở trong bài thơ này cũng là người khơi dậy những cảm hứng sáng tạo dù tronh mọi hoàn cảnh nào “Nhất thứ kê đề dạ vị lan Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng Nghênh diện thu phong trận trận hàn. ” (Gà gáy một lần đêm chửa tan, Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn; Người đi cất bước trên đường thẳm, Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn. ) Bài thơ không chỉ có cảnh lao tù bức bí mà còn có cả hình ảnh thiên nhiên ở trong đó. Bao giờ cũng thế chẳng bao giờ Người quên hình ảnh thiên nhiên lồng ghép chúng và làm vơi bớt đi những nỗi lo toan đang đè nặng lên vai HÌnh ảnh chòm sao ánh trăng kia quả thật là một hình ảnh đẹp đó là hình ảnh của chòm sao như nâng ánh nguyệt lên tới tận non ngàn, tít trên đỉnh núi. Thơ của Người luôn thế luôn có một người bạn tri kỉ chính là ánh trăng và ánh trăng đó luôn soi sáng con đường cách mạng của người cũng như là một người bạn tâm giao mỗi khi hoàn cảnh lại xuất hiện Là một người yêu thiên nhiên cho nên con người ấy chưa bao giờ quên được hình ảnh và vẻ đẹp thiên nhiên mỗi khi đặt bút sáng tác hay ghi lại những gì đã thấy đã chứng kiến và có cả đã trải qua. Tuy nhiên đàng sau vẻ đẹp thiên nhiên ấy chính là sự khó khăn khổ ải của một người tù khổ sai mà bắt buộc họ phải chịu đựng và trải qua. “Người đi cất bước trên đường thẳm, Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn. ” Con đương mà Người phải đi qua chính là con đường thẳm con đường mà con người ta không biết được điểm dừng của nó không biết được đường xa thăm thẳm thì đâu là chỗ dừng chân Những tưởng những khó khăn ấy khiến cho tâm hồn và thể xác con người ta nao núng. Nhưng không Người lại đem tâm hồn của mình giao hòa với thiên nhiên khiến cho hành trình ấy trở nên nhẹ nhàng hơn “Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng U ám tàn dư tảo nhất không Noãn khí bao la toàn vũ trụ Hành nhân thi hứng hốt gia nồng. ” (Phương đông màu trắng chuyển sang hồng, Bóng tối đến tàn, quét sạch không; Hơi ấm bao la trùm vũ trụ, Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng. ) Đây quả là bốn câu thơ tâm điểm của bài thơ lại thấy hình ảnh đặc trưng sự sử dụng áng sáng và bóng tối trong bài thơ của mình. Đó không phải là sự chuyển động ngày một tối dần như của Hai đứa trẻ – Thạch Lam mà là ánh sáng của bình minh hơi nóng của nó dường như đang lan tỏa tới mọi vật xung quanh xóa ta đi mọi đêm tối Có thể khẳng định rằng đây là một cảnh vô cùng đẹp, bình minh trong thơ Bác cũng đẹp không kém gì hoàng hôn. Dường như thời gian đồng điệu cùng sự vận động của thân thể cũng như tâm hồn con người. Chính vì thế mà dù đường có dài như thế nào đi nữa thì Người vẫn bật lên những câu thơ hay và tâm hồn bỗng như nhẹ tựa mây. Không một chút Bởi một tâm hồn yêu thiên nhiên một con người luôn nhìn thấu tận những điều tốt đẹp và tin vào những điều tốt đẹp đó nên chưa bao giờ những khó khăn vất vả có thể đánh gục được tinh thần thép của Người.Bài thơ là một chuỗi tâm trạng ở đó chúng ta cũng như chứng kiến được hình ảnh của người tù trên đường giải lao sớm nhưng cũng không thể thiếu được là tinh thần lạc quan của NGười….
Phân tích bài thơ Giải đi sớm của Hồ Chí Minh
811
Đề bài: Phân tích bài thơ Giải đi sớm – Tảo giải của Hồ Chí Minh Dàn ý 1. Khổ thơ đầu a. Hai câu thơ đầu Hai câu thơ đầu chỉ thời điểm gà gáy lần đầu, là thời điểm đã sang ngày mới, nhưng còn lâu mới sáng, lúc này đang còn rất sớm. “Chòm sao theo trăng hiện lên núi thu” nói tiếp về thời điểm trời sớm, chỉ có trăng sao. Câu thơ đầy ánh sáng, trăng sao như bầu bạn đồng hành cùng với người tù. Đây là một câu thơ tả thực. Trăng sao vốn là người bạn tri âm tri ki và rất quen thuộc trong thơ Bác. Ngay ở 2 câu thơ đầu đã thấy tâm hồn Bác luôn hướng về thiên nhiên bằng một cái nhìn trìu mến, thiết tha. Phân tích bài thơ Giải đi sớm – Tảo giải của Hồ Chí Minh b. Hai câu thơ tiếp Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng Nghênh diện thu phong trận trận hàn – Câu thơ mang âm hưởng chắc nịch, trầm hùng, khoẻ khoắn do sự điệp lại ở hai chữ chinh và trận. – Câu thơ bộc lộ cái cảm giác người tù vừa mới bắt đầu đi mà đã thấy đường xa (Người đi xa đã ở trên con đường xa). – Hình ảnh từng cơn gió thu lạnh buốt quất vào mặt đày đoạ người đi đường Khổ thơ nói về cảnh trời khuya, đường xa, gió lạnh. Tuy không nhấn vào việc bị giải đi, nhưng hình ảnh người tù hiện lên vừa gan góc chịu đựng, vượt lên hoàn cảnh, vừa như tìm thấy sự hoà hợp giữa tâm hồn với thiên nhiên trong nghịch cảnh này. 2. Khổ thơ cuối Từ chỗ trời chưa sáng, còn rất sớm tới chỗ trời rạng đông: màu trắng đã chuyển thành màu hồng, những rơi rớt của bóng đêm sớm hết sạch, ở đây có: sự thay đổi đột ngột, mau lẹ, chỉ sự bừng sáng. Bao trùm là hơi ấm và ánh sáng khí lạnh đã hết. Người bỗng cảm thấy tâm hồn thoải mái, náo nức. Cũng chính vì thế, nhân vật trữ tình ở trên kia được gọi là chinh nhân giờ đây thành hành nhân cho phù hợp với tâm trạng thư thái ở khung cảnh bình minh này. Câu thơ “Hành nhân thi hứng hốt gia nồng” nói lên một điều: Người đang bị giải kia cảm thấy mình như không phải đang bị giải đi đến nơi tù ngục mà là: mở lòng đi đón bình minh. Người tù bỗng chốc đã trở thành nhà thơ từ lúc nao, trong lòng tràn trề thi hứng. Hình tượng thơ vận động từ bóng đêm tới hừng đông, từ lạnh lẽo tới ấm một sớm mai bao la hùng vĩ tạo nên niềm hứng khởi lạc quan trước một ngày mới. Hình tượng bình minh: niềm tin vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc – vốn là một cảm hứng khá nhấtquán trong thơ Bác. Bài thơ không nói chuyện bị đoạ đày, không nói chuyện bị giải đi sớm thế nào, mà chủ yếu là mở ra bức tranh về buổi sớm mai. Tự do nội tâm, niềm ung dung tự tại, tinh thần lạc quan, sự chủ động trong mọi hoàn cảnh là đẹp trong tâm hồn Bác để vượt lên mọi thử thách của cảnh lao tù. Đó là vẻ đẹp của người chiến sĩ – nghệ sĩ Hồ Chí Minh.
Phân tích bài thơ Giải đi sớm – Tảo giải của Hồ Chí Minh
571
Phân tích bài thơ Hai Chữ Nước Nhà của Trần Tuấn Khải: Hướng dẫn Đoạn thơ có khá nhiều từ Hán-Việt. Học sinh nên đọc thật kỹ phần chú thích trước khi đọc lại để hiểu nghĩa của từng câu. Học sinh cũng cần đọc lại những trang sử đời nhà Hồ-Hậu Trần lệ thuộc nhà Minh (1400-1413) để có thể dựa vào đó mà hiểu ý nghĩa của từng câu thơ. – Khung cảnh“Chốn ải Bắc-Cõi trời Nam” lúc ấy như thế nào? (4 câu đầu) – Người cha mang tâm sự gì? Đang ở trong hoàn cảnh nào? Có thương con không? (các câu 5-6-8). – Người có nói gì không khỉ theo bước tiễn cha (câu 7) *Giữa bối cảnh đau thương uất nghẹn ấy,“lời cha khuyên” ắt hẳn có giá trị thức tĩnh và thúc giục con trai “lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước – Người cha đã gợi cho con điều gì về đất nước, dân tộc?(4 câu đầu cửa đoạn 2) – Người cha đã than với con về tội ác của quân Minh, đó là những tội ác gì? (8 câu kế tiếp) – Hãy cho biết nỗi lo của người cha?(8 câu cuối của đoạn 2) – Giữa sự xâm lược nước ta của quân Minh và quân Pháp có sự khác biệt về thời gian, bối cảnh lịch sử, nhưng về bản chất thì không khác nhau. I.Trần Tuấn Khải người Nam Định. Bút hiệu Á Nam nổi tiếng từ những năm 20 của thế kỷ XX, nhất là hai bài hát mang tựa đề Anh Khóa, sau đó là những bài thơ được viết bằng thứ ngôn ngữ chân chất theo các thể thơ thuần Việt như lục bát, song thất lục bát. Là một nhà thơ giàu tình cảm, sống gắn bó với nỗi buồn vui của con người. Ông buồn về thói đời đen bạc, buồn về những nỗi biệt ly, buồn về thế sựthăngtrầm… về tình đời thì ông lấy luân lý làm trọng, về thế sự thăng trầm thì ông tìm kiếm đề tài ở lịch sử để kín đáo bộc lộ nỗi đau mất nước nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước của đồng bào mà những vần thơ Hai chữ nước nhà là một ví dụ. Mượn chuyện Nguyễn Phi Khanh bị quàn Minh bắt giải về Trung Quốc dặn dò con trai (Nguyễn Trãi) hãy về lo việc trả thù cho cha, rửa hận cho nước, Trần Tuấn Khải đã gửi gắm tâm sự yêu nước của mình. Trông con tầm tã châu rơi Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Tám câu thơ song thất lục bát có nhịp điệu, tiết tấu chậm, từng cặp câu bảy chữ đôi lời đối ý thấm đậm nỗi buồn của cha con trong giờ phút biệt ly. Cả hai cha con đềư khóc. Không khóc làm sao được khi cả hai đều biết rằng ngày đi thì có còn ngày về thì không. Nhưng người cha tin con mình đúng là trang nam nhi. Nhìn con khóc nghẹn không nói được câu gì, ông đã gợi lại và nhắc con ‘‘nhớ lấy” rằng: Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định, Mấy ngàn năm suy thịnh đổi thay, Giờ Nam riêng một cỗi này, Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì! Nguyễn Phi Khanh đã gợi lại thủy tổ của dân Việt thuộc họ Hồng Bàng và Lạc Long Quân. Từ thuở Bồ ký đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều dinh nước ta Đại nam quốc sử diễn ca Đến Đại cồ Việt thời nhà Đinh. Tới năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt. Như thế, non sông Việt đã có từ trước, chưa kể thời đại Hùng Vương trị vì nước Văn Lang, Âu Lạc. Mười mấy thế kỷ về trước, cốt lỗi đã được dựng lên cả về phần xác lần phần hồn, cả về vật chất lẫn phi vật chất trong bôn câu thơ khái quát nhưng rất cơ bản. Những “anh hùng hiệp nữ” như các vua Hùng, hai Bà Trứng, Bà Triệu, Đinh Bộ Lĩnh, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,… đều được truyền tụng như những tấm gương sáng ngời mang tâm hồn Việt. • Bốn phương khói lửa bừng bừng, Xiết bao thảm họa xương rừng máu sông! Nơi đô thị thành tung quách vỡ, Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con. Cảnh quân Minh xâm lược được miêu tả thật khủng khiếp dù không đi sâu vào từng chi tiết. Chúng tha hồ đốt, và giết không nương tay. Nghệ thuật láy từ, sử dụng các từ mạnh như “bừng bừng, tung, vỡ, bỏ, lìa”. Khiến người đọc cảm nhận không thứ gì còn nguyên vẹn, kể cả con người. Thành quách, nhà cửa, vợ con trong cảnh đổ nát hoang tàn, nhất là thảm họa diệt chửng ở cụm từ so sánh “xương rừng máu sông”. Cảnh tượng khủng khiếp hãi hùng do quân cuồng Minh gây ra không chỉ tạo nên mối uất hận trong mỗi người dân Đại Việt thời bây giờ mà còn “Ngậm ngùi đất khóc giời than” nữa. Mối uất hận ấy phải trả, tội tày đình ấy phải bị trừng trị. Nhưng làm sao đây? Cha xót phận tuổi già sức yếu, Lỡ sa cơ đành chịu bó tay, Và sự tha thiết ấy chính là: Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Còn hơn sự tha thiết, đó là chuyển giao trọng trách thiêng liêng nhất là giữ cho được: Bắc Nam bờ cõi phân mao Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây… Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải làm bài thơ này lúc chính phủ Pháp thời bấy giờ (1924) đang ra sức củng cố chế độ thực dân. Mượn chuyện Nguyễn Phi Khanh dặn dò con trai là Nguyễn Trãi “giang sơn gánh vác” là cụ muốn kín đáo gửi gắm tâm sự yêu nước của mình vào tầng lớp thanh niên thời bấy giờ. Luật bằng trắc tạo nên nhịp điệu, tiết tấu, còn vần thì tạo sự hòa âm giữa các câu thơ. Với những đặc điểm ấy, thể loại thơ song thất lục bát phù hợp với những bi kịch giữa cuộc đời, những lời tâm sự thương khóc, oán hờn kẻ đã gieo tai vạ cho mình. Những tác phẩm như Chinh phụ ngâm (đã học ở lớp 7), Cung oán ngâm khúc, Tự tình khúc, Khóc Dương Khuê,… đều là những tác phẩm nổi tiếng. Và thế kỷ XX có thêm Hai chữ nước nhà của Á Nam Trần Khải làm kho tàng thơ văn song thất lục bát của dân tộc càng phong phú và giá trị thêm lên. tag: hai chu nuoc nha, soan bai hai chu nuoc nha, phan tich bai tho hai chu nuoc nha, soan bai bai tho hai chu nuoc nha, giao an giang bai hai chu nuoc nha.
Phân tích bài thơ Hai Chữ Nước Nhà của Trần Tuấn Khải_
1,132
Đề bài: Phân tích – Bình luận bài thơ Hai chữ nước nhà của Á Nam Trần Tuấn Khải Bài làm Tuy sinh sau Tản Đà sáu năm, nhưng Trần Tuấn Khải vẫn được coi là nhà thơ lãng mạn cùng thời với Tản Đà. Nếu Tản Đà có những ước mơ thoát tục vươn lên chốn bồng lai, thì thi sĩ họ Trần có bút danh Á Nam lại thường trốn tránh thực tại, thả hồn về với quá khứ, nhất là những trang lịch sử quá khứ hào hùng của dân tộc. Qua những câu chuyện, những nhân vật lịch sử, Trần Tuấn Khải gửi gắm lòng yêu nước, thương dân một cách thiết tha mà kín đáo. Nhà thơ Xuân Diộu nhận xét: “Các đề tài của lịch sử nước nhà giúp cho Á Nam cái cớ và cái chất để phóng túng ngòi bút, mở rộng tâm tình và cũng kích động đồng bào, bởi người Việt Nam ta rất yêu nước, động đến lịch sử là rung động dây đàn yêu nước, thương nòi của mọi lòng người”. Tác phẩm Hai chữ nước nhà là tiếng nói yêu nước của nhà thơ, cũng là những lời “kích động” tấm lòng yêu nước thương nòi của nhân dân ta lúc bấy giờ. Mượn đề tài lịch sử thời quân Minh xâm lược nước ta, hoá thân vào nhân vật Phi Khanh (“Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu”), nhà thơ yêu nước Trần Tuấn Khải muốn thức tỉnh nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX hãy đứng lên đánh đuổi ngoại xâm, cứu Tổ quốc. Nghĩa trực tiếp của bài thơ – nhất là của đoạn đầu 36 dòng thơ song thất lục bát – là lời cha dặn con, nhưng ý nghĩa chính, cảm hứng bao trùm là tiếng hịch của non sông đất nước truyền ra, thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí quật cường, cứu nước của tuổi trẻ Việt Nam. Tiếng hịch ấy vang lên từ hơn tám mươi năm trước mà ngày nay đọc lại, chúng ta vẫn xúc động. Tám câu thơ mở đầu vẽ lại khung cảnh hai cha con Phi Khanh – Nguyễn Trãi trò chuyện và nỗi lòng sầu tủi của mỗi người: Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm, Cõi giời Nam gió thảm đìu hiu. Bốn bề hổ thét chim kêu, Đoái nom phong cảnh như khêu bất bình. Hạt máu nóng thấm quanh hồn nước, Chút thân tàn lần hước dặm khơi, Trông con tầm tã châu rơi, Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên. Cuộc chia li diễn ra nơi biên cương thật heo hút, ảm đạm. Trông lên Bắc, phía Trung Quốc, chi thấy mây sầu. Nhìn về Nam, quê hương đất Việt chỉ nghe tiếng gió dìu hiu. Xung quanh bốn bề rừng núi là tiếng hổ thét, chim kêu,… Đây là điểm giáp ranh hai nước Việt – Trung. Đối với cuộc ra đi không có ngày trở lại của Phi Khanh, thì đây là điểm cuối cùng để rồi vĩnh biệt Tổ quốc, quê hương. Tâm trạng ấy đã phủ lên cảnh vật một màu tang tóc thê lương và cánh vạt ấy lại càng như giục cơn sầu trong lòng người. Ngôn ngữ và giọng điệu thơ thấm một nỗi buồn và rất gợi cảm. Nhà thơ đã hoá thân vào tâm trạng Phi Khanh, miêu tả ngoại cảnh thời kì Phi Khanh – Nguyền Trãi sống, nhưng vẫn gợi cho người đọc không khí thời đại những năm hai mươi đầu thế kỉ XX u ám, sầu thương. Ngôn ngữ thơ tuy có chút cũ kĩ, ước lệ vẫn tạo được không khí cho toàn bài, nhất là nó có ý nghĩa tạo nền cho tâm trạng hai cha con trong cuộc biệt li. Bốn câu tiếp ngay sau đó rớm máu và đẫm lệ. Cha thì uất nghẹn, hòn máu nóng thấm quanh hồn nước ; con thì sụt sùi, tầm tã châu rơi. Hoàn cảnh ấy thật éo le. Cha bị bắt sang Tàu, không ngày trở lại. Con muốn đi theo, phụng dưỡng cha già cho tròn đạo hiếu. Cha rất hiểu lòng con. Nhưng chữ trung lớn hơn chữ hiếu nên cha dằn lòng khuyên con trở lại để lo việc nước. Câu chuyện lịch sử kì diệu, thiêng liêng dó, người dân Việt Nam ai cũng biết và cũng đã từng được nhiều văn nghệ sĩ kể lại, nay được Trần Tuấn Khái nhấn mạnh thêm. Cho nên dù trong ngôn từ có “máu” hoà với “châu rơi”, lời cha dặn vẫn rất chân thành và thiêng liêng, không chút sáo mòn, ước lệ. Nói khác đi, đây là lời trăng trối, lòi huyết lệ của tình cha con, cũng lạ lời non sông đất nước. Câu cuối của đoạn thơ: “Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên” rất mộc mạc mà nghe nhói tận trong tim. Nó truyền cám, lay mạnh trái tim người đọc chúng ta. Nhưng có lẽ của cuộc đời và lòng người như thế được thể hiện bằng thể thơ song thất lục bát – một thể thơ vừa gân guốc, trang trọng, vừa mềm dịu, thiết tha – thường dùng làm những khúc ngâm, những trường ca trữ tình. Trong văn học trung đại Việt Nam, chúng ta đã được đọc Chinh phụ ngâm khúc nổi tiếng theo bản dịch chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm. Giờ đây, đọc khúc ngâm mở đầu Hai chữ nước nhà này của Trần Tuấn Khái, ta như gặp lại những âm điệu của Chinh phụ ngâm khúc vừa tự sự, vừa miêu tả trữ tình, biểu ý và biểu cảm khá hài hoà. Bốn phương khối lửa hừng bừng, Xiết hao thảm hoạ xương rừng máu sông! Nơi đô thi thành tung quách vỡ, Chốn nhân gian bỏ vợ lìa con, Làm cho xiêu tán hao mòn, Lạ gì khác giong dễ còn thương đâu!… Về nghĩa gốc, doạn thơ miêu tả “vận nước” ta khi bị “quân Minh thừa hội xâm lãng”. Nhưng người đọc cảm nhận rõ đây chính là hình ảnh quê hương, Tổ quốc Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và sự suy dồi bạc nhược của triều Nguyễn lúc bấy giờ. Những hình ảnh đặc tả khói lửa hững hừng, thành tung quách vỡ kết hợp với những hình ảnh ẩn dụ xương rừng, máu sông và những chi tiết khái quát bỏ vợ lìa con, xiêu tán hao mòn,… nối tiếp nhau hiện lên. Tác giả dã nhập vai nhủn vật Phi Khanh – một nạn nhân vong quốc đang đi vào cõi chết – vừa miêu tả hiện tình đất nước vừa lên án tội ác kẻ thù. Cho nên, lời thơ vừa tả thực vừa trĩu nặng những cám xúc chân thành, xót thương và căm. giận. Chắc rằng, người đọc những năm hai mươi của thế kỉ XX cũng là những nạn nhân vong quốc đã dỗ dàng dồng cảm với nhà thơ khi đối chiếu ngôn ngữ hình ảnh thơ với thực tế cuộc sống, đất nước ta lúc bấy giờ. Hơn nữa, sau những dòng thơ cực tả như thế, tác giả trực tiếp bày tỏ cảm xúc bàng những lời cảm thán, những tiếng nói từ gan ruột mà thốt lên: Thâm vong quốc kể sao xiết kể, Trông cơ đồ nhường xé tâm can, Ngậm ngùi đất khóc giời than, Thương tâm nòi giống lầm than nỗi này! Khói Nùng Lĩnh như xây khối uất, Sóng Hồng Giang nhường vật cơn sầu, Con ơi! Càng nói càng đau, Lấy ai tế độ đàn sau đó mà?… Trừ hai tiếng “con ơi” là lời của Phi Khanh gọi Nguyễn Trãi, còn lại, tất cả chính là lời của nhà thơ, hơn nữa, đây là lời của non nước nhắn gửi quốc dân đồng bào. Vì thế, tác giả đã sử dụng nhiều hình ảnh lớn lao, kì vĩ: đất khóc, giời than, Khói Nùng Lĩnh xây khối uất, Sóng Hồng Giang nhường vật cơn sầu,… Nỗi đau mất nước, mất tự do như lên đến tột đỉnh, kết lại thành những cơn đau xé tâm can, những khối đau cuồn cuộn mịt mờ như sương khói phủ tối núi non, những dòng đau cuồn cuộn, vật vã như sóng nước sông Hồng. Nhà thơ đã sử dụng nhiều từ ngữ khoa trương, nhiều ẩn dụ đặc sắc rất sát hợp những cung bậc cảm xúc vừa đau đớn xót xa vừa căm hờn cháy bỏng. Chẳng rõ, khi viết những dòng thơ này, Á Nam có nghe tiếng đồng vọng của những lời trong Hịch tướng sĩ, nhất là những câu trong Bình Ngô đại cáo ngày xưa: Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội, Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất dung tha, Ai bào thần nhân chịu được? Dù thế nào thì đây vẫn là những tiếng hịch truyền, những lời bố cáo của một tủm hồn yêu nước thiết tha mong muốn thức tỉnh nhân dân, đồng bào nhận rõ hiện tình đất nước để có những suy nghĩ, những hành động đúng đắn, kịp thời đứng lên cứu nước. Lời kêu gọi cứu nước tập trung ở tám dòng thơ cuối: Cha xót phận tuổi già sức yếu, Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây… Trở lại với câu chuyện Phi Khanh – Nguyễn Trãi, chúng ta thấu hiểu cảnh ngộ và nỗi lòng của người cha đau đớn. Có lẽ, đau cho thân phận của riêng mình thì ít, mà đau cho vận nước đang cơn bĩ cực thì nhiều, nên Phi Khanh đành “bó tay”, chấp nhận “thân lươn bao quản lấm đầu” để gửi gắm tất cả khát vọng và niềm tin vào con trai, vào thế hệ trẻ bấy giờ: Giang sơn gánh vác sau này cậy con. Con nên nhớ tổ tông khi trước, Đã từng phen vì nước gian lao, Bắc Nam bờ cõi phân mao, Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây… Lời Phi Khanh dạy con, hay chính là những tâm sự của Trần Tuấn Khải muốn gửi tới các bạn đọc đương thời? Nghe giọng điệu bên ngoài thì rõ ràng đây là lời cha dạy con. Các từ ngữ cậy con, con nên nhớ… vang lên trang trọng, tha thiết. Song suy ngẫm vào nội dung bên trong của “lời dạy”, ta hiểu rằng đây cũng là lời tâm sự sâu kín của chàng thi sĩ trẻ Trần Tuấn Khải. Bởi vì, tác phẩm Hai chữ nước nhà này được viết năm 1926, lúc nhà thơ 31 tuổi, hẳn chưa dám lên tiếng dạy ai, kêu gọi ai. Nói khác đi, chàng thi sĩ lãng mạn đã hoá thân vào nhún vật lịch sử để giãi bày tâm sự, khát vọng của chính mình. Thấm thìa cảnh ngộ của Phi Khanh và chắc cũng đồng cảm với nỗi niềm Nguyễn Trãi ngày xưa, nhà thơ đã suy ngẫm về lịch sử dân tộc rồi giãi bày khát vọng của chính mình bằng những lời tâm huyết nhất: “Con nên nhớ tổ tông khi trước…”. Người thanh niên yêu nước Á Nam “Nghĩ lời ông Phi Khanh…” hay đang mượn lời lịch sử tự dặn mình, để chia sẻ với thế hệ của mình? Ngọn cờ độc lập máu đào còn đây… Hình ảnh “ngọn cờ độc lập” in “máu đào” của cha ông được khẳng định rằng “còn dây” mang nhiều nghĩa. Nó vừa nhắc thế hệ con cháu ngày nay niềm tự hào vể truyền thống anh hùng dân tộc, vừa giục giã, khích lệ hành động. Đối chiếu với mấy lời Phi Khanh mở đầu cuộc chia tay “Con ơi, con nhớ lấy lời cha khuyên”, ta nhận rõ hơn ý nghĩa đoạn thơ cuối này. Đó vùa là lời của cha ông dặn lại con cháu, cũng là lời hịch của lịch sử, của đất nước vọng về, là lời tâm sự của nhà thơ muốn chia sẻ những khát vọng và niềm tin tới thế hệ trẻ, tới nhân dân lúc bấy giờ. Ngày nay, đọc lại những dòng thơ này, chúng ta làm sao không đồng cảm với nhà thơ những khát vọng, niềm tin cao đẹp ấy? Hình ảnh “ngọn cờ độc lập” tuy kết thúc đoạn trích nhưng lại nhắc ta nhớ tới mấy dòng thơ phần đầu khá ấn tượng: Giời Nam riêng một cỗi này, Anh hùng hiệp nữ xưa nay kém gì! “Người Việt Nam ta rất yêu nước, động đến lịch sử là rung động dây đàn yêu nước thương nòi của mọi lòng người…”. Nhà thơ Xuân Diệu từng nêu lên một nét truyền thống tốt đẹp như thế trong tâm hồn Việt Nam chúng ta. Từ những dòng đầu nối kết với mấy dòng cuối, khúc ca Hai chữ nước nhà của Trần Tuấn Khải đã rung dộng “dây đàn yêu nước” trong lòng bạn đọc một thời và truyền tới chúng ta ngày nay như thế đó. Có thể nói, Hai chữ nước nhà là bài thơ nổi tiếng của Trần Tuấn Khải. Nhà thơ mượn một câu chuyện lịch sử đặc biệt, có sức gợi cảm lớn là cuộc chia tay giữa hai cha con Phi Khanh – Nguyễn Trãi trong bối cảnh nước mất nhà tan để bộc lộ cảm xúc của mình và khích lệ lòng yêu nước, ý chí cứu nước của đồng bào. Đoạn đầu 36 dòng thơ tiêu biểu cho nội dung và nét đặc sắc nghệ thuật của cả tác phẩm. Đó là lời cha dặn con, hay cũng chính là tiếng hịch truyền cứu nước chân thành thống thiết. Tinh cảm sâu đậm, mãnh liệt đối với nước nhà, sự lựa chọn thể tho thích hợp và giọng điệu trữ tình của tác giá đã tạo nên những giá trị ấy của bài thơ…
Phân tích bài thơ Hai chữ nước nhà của Á Nam Trần Tuấn Khải
2,311
Đề bài: Phân tích bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch Dàn ý 1. Mở bài. Lí Bạch (701 – 762) là một trong ba nhà thơ cự phách đời Đường, Ông được người đời ca ngợi là “Thi tiên”, để lại hơn một nghìn bài thơ tuyệt tác. Là một kiếm khách – thi sĩ, ông coi thường danh lợi, thích ngao du sơn thủy, cầu tiên phỏng đạo. Trăng, rượu, hoa, cảnh núi sông tráng lệ, tình bằng hữu, tình quê hương lòng khao khát; tự do… chứa chan trong những vần thơ lãng mạn tràn đầy hùng tâm tráng chí. Ông từng làm quan khoảng ba năm ở kinh đô Tràng An nhưng sau đó vứt bỏ áo mũ, với thanh gươm túi thơ lại lên đường. “Vọng Lư Sơn bộc bố”, “Hành lộ nan”, “Tĩnh dạ tứ”, “Hoàng Hạc lâu tông Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”, “Tảo phát Bạch Đế thành”., là những bài thơ nổi tiếng của “Thi tiên” cho thấy một hồn thơ tuyệt đẹp. Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” ghi lại một kỉ niệm sâu sắc tại lầu Hoàng Hạc, Lí Bạch tiễn Manh Hạo Nhiên đi về Quảng Lăng, qua đó nên tình lưu luyến, thương nhớ bạn. 2. Phân tích. a. Cách đưa tiễn. Nơi Lí Bạch đưa tiễn bạn lên đường đi xa về phía tây là lầu Hoàng Hạc, một thắng cảnh thuộc Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Lầu Hoàng Hạc gắn liền với huyền thoại Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên, thường cưỡi hạc vàng bay về đây. Bạn là Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) một nhà thơ nổi tiếng, bạn vong niên của Lí Bạch; một kẻ sĩ hào hiệp hào hoa, phóng khoáng, ưa ngao du, rất tâm đầu ý hợp với Lí Bạch. Hai chữ “cố nhân" (bạn cũ, người xưa) trong câu đầu nói lên mối quan hệ sâu sắc, lâu bền về tình bạn đẹp giữa hai nhà thơ. Đó là bạn tao nhân mặc khách: “Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu”. (Bạn từ lầu Hạc lên đường) Câu thơ dịch rất hay và thanh thoát, nhưng chữ “tây” chưa dịch được để nói lên hướng đi của bạn. Chữ “bạn” chưa lột tả hết ý và cảm xúc của từ “cố nhân”. Trong thơ cổ, mỗi lần từ “cố nhân” xuất hiện, gợi tả bao tình nghĩa làm rung động hồn người: “Dạng chu tầm thủy tiện Nhân phỏng cố nhân cư”. (Thuật dòng đủng đỉnh thuyền bơi Cố nhân gần đó, qua chơi thăm nhà). (Mạnh Hạo Nhiên) Câu hai phát triển và hoàn thiện câu thơ thứ nhất, nói rõ thời gian bạn lên đường và nơi bạn sẽ đến. Mạnh Hạo Nhiên lên đường vào một ngày tháng ba (tam nguyệt) mùa hoa khói (yên hoa), xuôi về nơi phồn hoa đô hội, Dương Châu – một trong những đô thị đẹp nổi tiếng thời Đường: “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng) Chữ “há” có bản phiên âm là “hạ”, dược Ngô Tất Tố dịch thành “xuôi dòng”, thật là sáng tạo. “Yên hoa” là một thi liệu, một ẩn dụ giàu chất thơ mà ta gặp nhiều trong Đường thi. Câu thơ không chỉ xác định thời gian và không gian đi, đến mà còn diễn tà nỗi niềm của kẻ ở người đi. Lầu Hoàng Hạc và Dương Châu cách xa hàng nghìn dặm như hiện lên qua vần thơ. Đằng sau hai địa danh mà nhà thơ nói đến là cả một nỗi niềm, một không gian trống vắng vô bờ, một trời thương nhớ biệt li của đôi bạn tri âm. Có một bản dịch khác đọc lên nghe rất thú vị: “Bạn từ lầu hạc ra đi Dương Châu hoa khói giữa kì tháng ba” (Nhữ Thành) Có thể nói trong hai câu “khai thừa”, yếu tố tự sự chỉ là bề nổi của câu chữ: nỗi niềm của một tâm sự thầm kín mới là tầng sâu hàm ẩn. Nơi “thi hội tao nhân” cũng là nơi li biệt, đó là Hoàng Hạc lâu. Lí Bạch đứng trên lẩu cao hay trên một cao điểm nào đó trên bến sông, dõi theo chiếc thuyền đưa Mạnh Hạo Nhiên đến chân trời xa? Cấu trúc không gian hai điểm mút “Cận – viễn” là một thủ pháp trong hội họa, ta thường bắt gặp trong Đường thi, trong các bức họa cổ Trung Hoa. Lí Bạch đã vận dụng thành công thủ pháp ấy tạo nên điểm nối giữa câu 1, 2 với câu 3, 4 thành một chỉnh thể nghệ thuật hoàn hảo. b. Tình lưu luyến mến thương. Hai câu cuối là linh hồn của bài thơ, giãi bày những tình cảm sâu sắc, đẹp đẽ, cảm động của Lí Bạch đối với Mạnh Hạo Nhiên. Ẩn hiện sau ba hình ảnh được miêu tả trực tiếp: dòng sông, cánh buồm, bầu trời là hình ảnh của Lí Bạch đứng mãi nhìn hoài con thuyền đưa bạn cũ đi xa.. Cánh buồm đơn côi, lẻ loi (cô phàm) xa dần, mờ dần (viễn ảnh) rồi mất hút vào trời xanh, vào cuối chân trời xa (bích không tận). Hay tấm lòng “thi tiên” vói bao ái ngại, lưu luyến, nhớ thương… như những con sóng gối lên nhau, đưa tiễn con thuyền của bạn, mất hút dần, mờ dần trên dòng sông Trường Giang? “Con sông sẽ trở nên rộng bao la khi cái hữu hạn của nó đồng nhất với cái vô hạn của bầu trời. Chiếc thuyền buồm lẻ loi chở Mạnh Hạo Nhiên đã ta n biến trong dòng sông bao la đó mang đi tình bạn của Lí Bạch. Dòng sông càng rộng, chiếc thuyền buồm càng nhỏ mất hút vào khoảng không gian vô tận. Rõ ràng, sau khi tiễn bạn lên đường, Lí Bạch dừng lại khá lâu dõi mắt nhìn theo chiếc thuyền buồm lẻ loi đến tận chân trời xa tít. Lí Bạch mượn cái khung cảnh thiên nhiên sau buổi tiễn đưa để nói lên tình cảm nhớ bạn da diết. Lí Bạch tả về cái buồn của sự li biệt, nhưng vẫn giữ được phong cách phóng khoáng khi ông miêu tả cái hùng vĩ của thiên nhiên” (Trần Xuân Đề). “Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu” (Bóng buồm đã khuất bầu không Trông theo chỉ thây dòng sông bên trời). Bạch được diễn tả bằng hai chữ “duy kiến” – chỉ nhìn thấy. Ta đã biết Lá Bạch sống trong thời thịnh Đường. Lúc bấy giờ kinh tế phát triển mạnh, thương nghiệp mở mang, nhiều đô thị sầm uất mọc lên: Tràng An, Dương Châu, Thành Đô… Trên con sông Trường Giang suốt đêm ngày thuyền bè ngược xuôi như mắc cửi. Thế mà trong muôn ngàn cánh buồm ở trên sông. Lí Bạch “duy kiến” chiếc “cô phàm” của bạn, nhìn mãi cho đến lúc nó mất hút trong “bầu trời xanh biếc”. Chỉ sống với một tình bạn tri âm, thắm thiết thi mới có cái nhìn “duy kiến” ấy. Mặc dầu chưa dịch được hai chữ “cô” (cô phàm), “bích” (bích không tận) nhưng Ngô Tất Tố đã lột tả được “điệu Đường”, “hồn Đường” của nguyên tác, đọc lên rất thấm thía về nỗi buồn thương, lưu luyến bạn của nhà thơ Lí Bạch. 3. Kết luận Bài thơ “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” là một trong những tuyệt tác về thơ thất ngôn tứ tuyệt của Lí Bạch. Vừa cụ thể vừa phổ quát cho muôn đời về nỗi buồn tống biệt và ức hữu. Cấu trúc không gian xa – gần (cận – viễn), lấy ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm, ngôn ngữ trang nhã, gợi cảm, hàm xúc… đó là những yếu tố nghệ thuật tạo nên vẻ đẹp văn chương và cốt cách của bài thơ này. Bài thơ đã phản ánh một tâm hồn đẹp, một tình bạn của Lí Bạch, cũng là cùa những tao nhân mặc khách đời Đường. Ngô Tất Tố dịch giả bài thơ này đã tấm tắc khen: “Tất cả có 28 chữ, đủ cả chỗ ở, nơi đi, ngày đi, cảnh đi và tấm lòng quyến luyến bè bạn. Thật là một kiệt tác”.
Phân tích bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch
1,384
Đề bài: Phân tích bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh Bài làm Có lẽ danh lam thắng cảnh nào cũng sẵn sàng ban tặng cho con người muôn vàn tứ thơ. Nhưng không phải danh thắng nào cũng được đền bù xứng đáng. Có biết bao cảnh trí thần tiên chẳng cần đợi thơ ca tôn vinh – tự nó đã làm một bài thơ tuyệt mĩ. Ở những trường hợp như thế phải chăng thơ ca đã trở nên bất lực? Nhưng cũng có những thắng cảnh vốn đã mĩ lệ, lại được soi mình vào thơ thì càng quyến rũ bội phần. Khi ấy, cảnh thì dâng hiến cho thơ hào phóng, còn thờ dường như cũng trả xong món nự của mình. Trường hợp phong cảnh Hương Tích với Chu Mạnh Trinh chẳng phải là như thế sao? Hương Sơn được vào hàng “Nam thiên đệ nhất động”. Còn Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh cũng đáng là một áng thơ long lanh như gấm dệt. Có thể gọi là “Hương Sơn đệ nhất thi” được chứ sao? Thơ ca và thắng cảnh đâu phải lúc nào cũng được đẹp duyên như thế! Phải nói ngay rằng âm nhạc đã góp phần tạo nên vẻ đẹp quyến rũ của bài thơ này. Bình thường, bài thơ chân chính nào cũng có một nền nhạc riêng của nó, cho dù nó được viết lối tự do hay theo cách luật. Nhưng khi một thi sĩ lại chủ động viết theo thể hát nói, thì rõ ràng nhạc điệu (gồm cả của âm nhạc lân của ngôn ngữ) càng muốn giành lấy địa vị tiên phong. Có thế thấy khá rõ lời thơ chập chờn, chấp chới bay trong nhịp điệu, còn nhạc điệu như đang đìu từng lời thơ bay lượn trong cái thế giới trong lành, thanh tịnh của chốn Hương Sơn. Tất cả cứ lâng lâng chơi vơi, cứ khoan hòa dìu dặt như cái nhịp chèo, nhịp bước của du khách càng ngày càng nhập sâu vào lòng cảnh trí thanh vắng, mơ màng, vừa trần gian, vừa thoát tục. Nếu như đang nghe lời thơ được hát ngâm theo thế thức ca trù, với lối ngàn rung, buông bắt, với tiếng đàn, tiếng phách, tiếng trống điểm nhịp rất riêng thì tất cả giọng ngất ngây, khoan khoái của một tâm hồn đang ân thưởng cái “Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay” càng có dịp tràn ra đầy đủ. Vâng, chọn hát nói để phô bày những cảm xúc Hương Sơn của mình, dường như hồn thơ của Chu Mạnh Trinh đã gửi mình đúng chỗ. Vậy là thơ và nhạc đã được Hương Tích xe duyên nên thi phẩm này. Chẳng phải đây cũng là một nét duyên nữa của Hương Sơn phong cảnh ca đó ư? Nếu người nghệ sĩ cảm nhận danh thắng Hương Sơn cũng như Bồng Lai hay Thiên Thai, Từ Thức…, thì xem như chưa bắt được cái “thần” cùa chốn này. Những nơi kia là cảnh tiên, là chốn mộng mơ tình tứ, hứa hẹn những mối phong tình lãng mạn. Còn Hương Sơn khác! Hương Sơn là cảnh bụt, là nơi du khách tìm đến văn cảnh nhưng cũng để hành hương. Con người đến đây để thưởng ngoạn một danh lam, nhưng cũng là một dịp dọn lòng khỏi những tục lụy để mà thanh lọc tâm hồn, thanh thản tâm linh. Vì thế, thắng cảnh Hương Sơn thơ mộng mà linh thiêng, quyến rũ mà thanh tịnh, mĩ lệ nhưng bàng bạc vị thiền. Thi nhân có nhận ra điều đó, mới là thấm canh Hương Sơn. Hồn thơ phải dồi dào sự đắm say nhưng cũng không thể thiếu thành kính. Có như thế mới đồng điệu được với Hương Sơn. Và may thay, Hương Sơn phong cảnh ca của Trúc Vân Chu Mạnh Trinh đã thu được vào từng lời thơ cái hồn riêng của cảnh. Bài thơ mở đầu bằng một câu thơ ngắn với bốn tiếng Bầu trời cảnh bụt Toàn bài đều viết bằng những câu dài với 7 hoặc 8 tiếng. Duy có câu mở đầu này là ngắn đặc biệt. Cái hình thức kia đâu phải ngẫu nhiên. Câu thơ vẽ không gian, nhưng vang lên như một vỡ lẽ kì thú của chốn nước non này: Đây là thế giới của cảnh bụt. Câu thơ bốn tiếng khác nào như mỡ ra một cổng trời, một miền non nước, một thế giới, mà ở trên trán v,m cổng ấy khắc bốn chữ giới thiệu du khách về cái xứ sở sắp bước vào. Kia là thuộc về cảnh bụt. Nó không phải là đất Phật như Tây Trúc, nhưng canh sắc ở đây đều thuộc về bụt, đều ngấm vị thiền. Và bốn tiếng ấy dường như cũng đã xác định chủ âm của bài thơ. Bắt đầu từ đây ngòi bút của Chu Mạnh Trinh sẽ chuyển động theo cảm hứng ấyvà làm sống dậy từng nét thanh tú của danh lam, vừa đem lại vi thiền cho thắng cảnh. Toàn bộ bài thơ được kết cấu theo các lớp cảnh cứ dần dần mở ra cùng với bước chân của du khách, thì ở lớp cảnh nào thi hứng của Chu Mạnh Trinh, cũng được khơi từ hai nguồn ấy. Đây là cái nhìn lướt bao quát: Kìa non non, nước nước, mây mây, Cảnh non nước đã được điệp trùng, luyến láy theo cái lối đặc trưng của ca trù, khiến cho cảnh non nước, mây trời vừa có được vẻ quấn quýt lại vừa trái dài như vô tận. Giọng điệu thơ có cái vẻ náo nức, ngất ngây của người dược thỏa lòng ao ước, lại cũng nghiêm trang chứ không hẳn là đong đưa tình tứ. Câu chữ như thế thật tài hoa và cũng thật tự nhiên! Phần lớn những nơi được xem là danh thắng đều là chốn sơn thủy hữu tình, có núi non, có rừng suối, với những chim bay, cá lượn. Hương Sơn cũng thế! Nhưng Hương Sơn là cảnh bụt, cho nên: Thỏ thể rừng mai chim cúng trái, Lửng lơ khe Yến có nghe kinh Thoảng bên tai một tiếng chày kình, Khách tang hải giật mình trong giấc mộng. Chim ở đây dường như đã quên mình là chim, cá ở đây đã quên mình là cá. Tự bao giờ chúng đã thành những tín đồ. Có phái bầu không khí bao trùm lên Hương Sơn là không khí thiền – vị thiền tan vào rừng mơ, vị thiền đã hòa vào suối Yến mà chim cá ở đây nhiễm vào minh Phật tinh? Hay sống trong cảnh bụt, ngay đến chim, cá cũng thanh lọc, cùng được khơi dậy cái cốt cách bụt kia chăng? Du khách từ cái thế giới đầy biến động vào đây dường như cũng bừng ngộ, nghĩa là cũng nhập vào làm một với cảnh bụt chốn này. Tiếng chim “thỏ thẻ“, dáng cá “lửng lư” và giờ đây là “tiếng chày kình”… Những âm thanh, dáng diệu ấy tạo nên cái bầu không khí rất Hương Sơn. Chim cúng trái, cá nghe kinh, con người đi vào cảnh thảng thốt với tiếng chày kình… Tất cả đều cời bò hệ lụy trần gian, đang hòa nhập vào không khí linh thiêng. Tại khoảnh khắc ấy cả chim, cả cá, cả người đều dường như đang thoát tục. Làm sao Chu Mạnh Trinh có thể viết được như thế? Cái sinh khí Hương Sơn vô hình là thế, vậy mà thi nhàn đã thấy nó hiện hình trong tất cả, hòa nhập vào tất cả, hòa tan trong tất cả! Có lẽ chỉ với những hình ảnh như thế thôi, cái thần thái của Hương Sơn đã nhập vào thơ rồi! Thế rồi, thi sĩ cứ say sưa thưởng ngoạn cảnh Hương Sơn như một tạo tác nguy nga, mĩ lệ của tạo hóa bày ra sống động dưới trời Nam bằng lối kể điểm danh những địa đanh nổi tiếng của Hương Sơn: Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Vũng Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh Những từ “này” để trỏ liên tiếp gợi sự phong phú, gợi thê liên hoàn, lại gợi được cả cái cảm xúc được ân thưởng thỏa thuê. Cảnh sắc thật giàu có, đủ cả suối, chùa, am, động… tất cả cứ như bày đặt ra theo bước du khách. Chu Mạnh Trinh lại kết hợp cả lối tạo hình với những nét vừa mĩ lệ vừa hư huyền, với những màu vừa lộng lẫy vừa cách điệu, với những mảnh vừa trầm tĩnh vừa biến ảo. Trong dăm ba câu mà ta thấy được con mắt tạo hình của thi sĩ lúc ngây ngất ngước lên, khi mải mê nhìn xuống, vừa nắm bát cái bóng nguyệt lồng trong thăm thẳm tầng hang, đã đuổi theo những thang mây lượn cùng vách núi: Nhác trông lên ai khéo họa hình, Đá ngũ sắc Long lanh như gấm dệt. Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt. Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây. Với những câu thơ này, du khách đường như đã đặt những bước chân cuối cùng vào chốn Hương Sơn. Tuy nhiên, thú Hương Sơn chưa phải đã hết. Nếu như tiếng chày kình động tiếng chuông Hương Sơn mới đánh thức người khách tang hải trong cái giấc mộng lớn của cuộc đời, thì đến đây cuộc hành hương mới kết thúc. Ấy là cái khoảnh khắc thi nhân quên mình là thi sĩ để mà sống trong phút giây cái nỗi niềm Phật tử: Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật, Cửa từ bi công đức, xiết là bao Kẻ vãn cảnh đã cởi bỏ lốt tục lấm bụi trần ai để tâm hồn chan hòa với chốn này. Vẻ đẹp của thắng cảnh, vị thiền của danh lam đã hòa nhập kẻ vãn cảnh với người hành hương trong cái trạng thái tâm linh thanh cao và yên tịnh ấy. Sức quyến rũ cuối cùng của Hương Sơn dường như ở đấy! Share Facebook Twitter Pinterest Phân tích bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh. Hướng dẫn Phân tích bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh. DÀN Ý CHI TIẾT I Mở bài Hương Sơn là dãy núi ớ huyện Mĩ Đức, tỉnh Hà Tây. Trên núi là quần thể những suối, chùa, am, động, trong đó có chùa Hương thờ Phật Bà Quan Thế Âm. Tương truyền, khi chúa Trịnh Sâm đến nơi đây đã khắc vào vách đá cửa động Hương Tích dòng chữ “Nam thiên đệ nhất động”, nghĩa là động đẹp nhất trời Nam. Với vẻ đẹp của một danh lam thắng cảnh, động Hương Sơn đã trở thành nguồn thi hứng cho biết bao thi nhân. Dương Lâm có Chơi chùa Hương, Tản Đà có Động Hương Sơn, Nguyễn Nhược Pháp có Chùa Hương… Riêng Chu Mạnh Trinh (1862 – 1905) có tới ba bài: Hương Sơn phong cảnh ca, Hương Sơn nhật trình và Hương Sơn hành trình. Cả ba bài thơ đều được sáng tác khi ông tham gia vẽ kiểu và trùng tu lại chùa Thiên Trù. Trong ba tác phẩm viết về Hương Sơn của ông, bài Hương Sơn phong cảnh ca có giá trị nhất. II. Thân bài 1. Thể loại, bố cục: – Nếu Hương Sơn nhật trình và Hương Sơn hành trình được viết theo thể lục bát thì bài Hương Sơn phong cánh ca được viết theo thể hát nói. – Thông thường một bài hát nói gồm 11 câu chia làm 3 khổ, riêng bài thơ này có tới 19 câu, gọi là dôi khổ. Theo cuốn Nhà thơ Chu Mạnh Trinh của Lê Văn Ba, bài thơ còn có mở đầu là hai cặp câu lục bát: Lên chùa chân bước khoan khoan Khi nam mô Phật, khi tang tang tình. Thuyền nan một lá xinh xinh, Non non, nước nước, mình mình, ta ta… – Bài thơ được kết cấu theo thế hát nói song người đọc cùng dễ dàng nhận ra diễn biến tâm trạng của thi nhân thể hiện trong tác phẩm, đi từ ấn tượng chung về cảnh Hương Sơn đến tả thực cảnh đẹp và cuối cùng là những suy nghĩ về giang sơn đất nước. Bầu trời cánh Bụt. Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay. Kìa non non, nước nước, mây mây, “Đệ nhất động” hỏi là đây có phải? – Bầu trời cánh Bụt, bốn từ đã gợi cho người đọc cảm giác đến một nơi thần tiên thoát tục, không gian mênh mông thanh khiết. – Hương Sơn đẹp còn bởi khung cảnh hùng vĩ của núi non trùng điệp. Nhịp 2/2 và điệp từ non non, nước nước, mây mây, như bày ra một quần thể núi non sông nước hang động trập trùng, vốn là nét độc đáo của nơi này. – Giọng điệu câu thơ thể hiện vẻ ngạc nhiên thích thú, niềm sung sướng thỏa mãn khi được đến một nơi nổi tiếng: Thủ Hương Sơn ao ước bấy lâu nay. “Đệ nhất động” hỏi lờ đây có phải? Câu hỏi và cách nhắc lại lời người xưa để khẳng định một lần nữa vẻ đẹp của Hương Sơn. – Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã mang đến cho người đọc niềm thú vị trước một nơi vừa thanh cao mang màu sắc tôn giáo, vừa là một thắng cảnh đẹp của đất nước. Người ngắm cảnh không chỉ là tín đồ hành hương mà còn là du khách yêu cảnh thiên nhiên, yêu đất nước, một thi nhân dào dạt cảm xúc. Bốn câu thơ đầu giới thiệu về cảnh và người vừa tự nhiên vừa khéo léo. 3. Khổ giữa (12 câu): – Ở khổ giữa, nhà thơ tả thực cảnh theo hành trình bước chân du khách. Bắt đầu từ bến Đục, con đò dọc đưa khách xuôi theo khe Yến. Hai bên bờ suối là rừng mai trải dài. Trong thiên kí sự của cô bé mười lăm tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã tả cảnh khe Yến rừng mai thật hữu tình: Thuyền đi, bến Đục qua. Thẹn thùng em không nói: Nam mô A di đà Réo rắt suối đưa quanh, Ven bờ, ngọn núi xanh, Dịp cầu xa nhỏ nhỏ: Cảnh đẹp gần như tranh. Còn Chu Mạnh Trinh lại cảm nhận cảnh vật ở không khí thanh khiết không nhuốm bụi trần: Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái, Lững lờ khe Yến cá nghe kinh. Vẳng bên tai một tiếng chày kình, Khách tang hải giật mình trong giấc mộng. Tang hải là từ vốn để chỉ sự đổi thay của cuộc đời, hoặc chỉ cõi đời trần tục biến đổi vô thường. Vì thế, nghe tiếng chày kình, khách tang hải giật mình trong giấc mộng có thể hiểu, người khách đến đây, trong không khí thần tiên thoát tục, bỗng thấy tâm hồn được thanh lọc, nhận ra cuộc đời đầy dâu bể đa đoan, nhận ra cuộc đời là một giấc mộng phù du. Cảnh đẹp Hương Sơn, vì thế càng giàu ý nghĩa. – Càng vào sâu, càng lên cao khách càng ngạc nhiên trước vẻ đẹp hùng vĩ của cảnh: Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng, Này hang Phật Tích, này động Tuyết Quynh. Điệp từ này, cách liệt kê các địa danh giúp người đọc hình dung ngay vẻ đẹp của một quần thể có cao thấp, có suối, chùa, hang, động, có thiên tạo lẫn nhân tạo. Nhà thơ không cần tả nhiều, chỉ tên gọi cũng đã tạo cho người đọc những tưởng tượng, liên tưởng phong phú, gợi cảm. – Riêng đối với hang động ở Hương Sơn, nhà thơ không chỉ nêu tên mà dừng lại tả cụ thể, tỉ mỉ trong bốn câu: Nhác trông lên ai khéo họa hình, Đá ngủ sác long lanh như gấm dệt Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt, Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây Đại từ “ai” được dùng ở đây diễn tả sự kinh ngạc trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên. Theo dân gian, trong hang động có hai ngả, đường lên trời và đường xuống âm phủ. Câu thơ tả thực mà vẫn lãng mạn với màu sắc, đường nét, ánh sáng và cảm giác huyền ảo, bồng bềnh như tiên cảnh. Cách dùng từ láy long lanh, thăm thẳm, gập ghềnh; cách đảo ngữ thăm thẳm một hang, gập ghềnh mấy lối; hình ảnh so sánh lồng bóng nguyệt, uốn thang mây cho thấy tài nghệ điêu luyện của nhà thơ. Chừng giang sơn còn đợi ai đây, Hay tạo hóa khéo ra tay xếp đặt. Giang sơn, trước hết là muốn nói đến cảnh Hương Sơn, là thiên nhiên tươi đẹp, sâu xa hơn là nói đến đất nước đang cần đến tấm lòng của con người. Câu thơ bày tỏ tình yêu nước thầm kín của nhà nho Chu Mạnh Trinh. 4. Khổ xếp (3 câu cuối): Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật, Cửa từ bi công đức biết là bao! Càng trông phong cảnh càng yêu. – Với hệ thống từ ngữ của đạo Phật, kết thúc bài thơ tác giả đưa ta trở về không khí thần tiên thoát tục của cảnh Hương Sơn, mang lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc. – Câu thơ cuối là tâm trạng của nhân vật trữ tình. Ở đây ta không chỉ tìm thấy một nhà thơ sống phóng khoáng lãng tử, thoát ly hiện thực mà còn là một kẻ sĩ nặng lòng với đất nước. III. Kết luận – Chu Mạnh Trinh là nhà thơ lớn ở cuối thế kỉ XIX, nổi tiếng tài hoa, giỏi cả cầm kì thi họa, nhất là nghệ thuật kiến trúc. Chuyện kể lại, quan án Chu làm quan mà chẳng mấy để tâm đến xét xử, chỉ thích rong chơi đến cảnh đẹp của đất nước. Con người và tài năng ấy đã in dấu khá rõ trong bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca. Nguồn: Tài liệu văn học
Phân tích bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh
2,977
Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà văn học 11 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà văn học 11 Quy luật chung của những nhà thơ là dùng thơ văn để nói lên tâm trạng của mình trước cuộc đời. Thơ vui cũng có nhưng thơ buồn thì nhiều hơn. Và có lẽ đó chính là quy luật dùng thơ giải sầu của thi sĩ. Nhà thơ Tản Đà cũng thế. “Nhưng khác với mọi người, Tản Đà là người đầu tiên, là người thứ nhất có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái tôi” (Xuân Diệu). Cái tôi ấy được thể hiện rất rõ qua bài thơ Hầu Trời của Tản Đà. Cái hay của bài thơ là Tản Đà đã thể hiện được cái ngông nghênh, phóng túng và khát khao thể hiện chính mình. Bài thơ rất dài thể hiện sự phóng khoáng và tung hoành của Tản Đà. Mỗi phần thơ mang đến những nội dung ý nghĩa nhất định mà trong đó đoạn thơ đầu có chức năng đi giới thiệu câu chuyện nhà thơ gặp được tiên và trời: “Đêm qua chẳng biết có hay không, Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng. Thật hồn! Thật phách! Thật thân thế! Thật được lên tiên – sướng lạ lùng. …….. Ghế bành như tuyết vân như mây Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy.” Tác giả kể lại câu chuyện nằm mơ được gặp tiên trời. Nhà thơ không biết có phải mơ không những thật sự thì vẫn là người đấy việc đấy. Khi ấy nhà thơ không ngủ được cho nên dậy pha nước uống trà ngồi ngâm thơ trong tư thế vắt chân ung dung tự tại. Ngâm hết thơ thì lại chơi trăng cho nên tiếng thơ kia động đến trời. Trời đang ngủ thì không ngủ được nên mắng sai hai cô tiên xuống trần xem ai. Văn có hay thì lên đọc trời nghe thử. Trước cảnh tượng như thế Tản Đà không hề sợ hãi bị trách mắng mà ung dung mỉm cười khi hôm nay lại được gặp tiên trời. Vậy nên ông quyết định lên trời một phen. Lên đến nơi Tản Đà được chào đón và đối xử rất nhiệt tình. Trời sai đem ghế cho ông ngồi để ngâm thơ. Qua đây ta thấy được nghệ thuật trong cách mở đầu câu chuyện của Tản Đà. Cách giới thiệu ấy đã gợi cho người đọc một tứ thơ lãng mạn nhưng cảm xúc là có thực. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được hết cái “hồn cốt” trong cõi mộng. Mộng mà như tỉnh, hư mà như thực. Không những thế ở ngay khổ thơ này chúng ta đã cảm nhận được cái tôi cá nhân đầy lãng mạn, bay bổng pha lẫn nét “ngông” trong phong cách thơ văn của thi nhân. Sang đến phần thơ thứ hai nhà thơ đọc những thi phẩm của mình cho trời và chư tiên cùng nghe. Được đón tiếp như một vị khách quý, các trư tiên đều có mặt cùng trời để nghe thơ văn Tản Đà cho nên nhà thơ cũng không ngần ngại không sơ sệt mà đọc lên những vần thơ của mình. Tản Đà đọc thơ và giới thiệu thơ mình với trạng thái ung dung đĩnh đạc. Ông vô cùng tự tin với tài năng sáng tác của mình: “Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc Trời sai pha nước để nhấp giọng. Truyền cho “văn sĩ đọc văn nghe!” – “Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc”. Đọc hết văn vần lại văn xuôi Hết văn thuyết lý lại văn chơi Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.” Tản Đà được pha trà để nhấp giọng rồi sau đó đọc cho tất cả các văn sĩ cùng nghe. Nhà thơ ung dung đọc trong niềm hứng khởi. Có bao nhiêu văn Tản Đà đọc hết. Từ văn vần đền văn xuôi từ văn thuyết lý đến văn chơi. Nhà thơ cảm thấy thích thú lắm, thêm những chén trà trời thì lại càng tốt hơi. Nhà thơ như đang khoe ra cái tài năng phong phú của mình. Ông không ấn định mình trong một loại hình mà ông có thể làm rất nhiều loại văn. Trước những bài văn của Tản Đà trời và các trư tiên đều trầm trồ khen ngợi: “Văn dài hơi tốt ra cung mây! Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chúc Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng Đọc xong mỗi bài cũng vỗ tay.” Văn thơ của Tản Đà khiến cho trời cùng trư tiên tán thưởng khen ngợi. Trời khen văn dài hơi tốt, trư tiên ai nấy đều có những thái độ hành động tán thưởng khen ngợi. Tâm thì như nở dạ còn Cơ lè lưỡi, Hằng Nga Chức Nữ trau đôi mày. Với những thái đọ ấy chúng ta có thể thấy được sự hưởng ứng của mọi người. Điều đó đồng nghĩa với việc thơ văn Tản Đà có sức lay chuyển cả trời đất. Tiện đó nhà thơ mới giới thiệu những bộ văn thơ của mình đã được in ấn: “- “Bẩm con không dám man cửa Trời Những áng văn con in cả rồi Hai quyển “Khối tìng” văn thuyết lý Hai “Khối tình” con làvăn chơi “Thần tiền”, “Giấc mộng” văn tiểu thuyết “Đài gương”, “Lên sáu” văn vị đời Quyển “Đàn bà Tàu” lối văn dịch Đến quyển “Lên tám” nay là mười Nhờ Trời văn con còn bán được Chử biết con in ra mấy mươi? Văn đã giàu thay, lại lắm lối Trời nghe Trời cũng bật buồn cười! Chư tiên ao ước tranh nhau dặn: – “Anh gánh lên đây bán chợ Trời!” Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít! Nhời văn chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! Êm như gió thoảng! Tinh như sương! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết! Chẳng hay văn sĩ tên họ gì? Người ở phương nào, ta chưa biết”.” Những bộ sách được nhà thơ giới thiệu đến, trời lại phê cho những lời vàng ngọc ngọt tai. Chư tiên thì bảo anh mang lên trời, trời bán cho. Điều đó một lần nữa lại chứng tỏ cái tôi tài năng của Tản Đà, ông không ngại khi khen tài năng của mình. Nhời văn của ông đẹp như sao băng, khí văn mạnh như mây chuyển, êm như gió, tinh như sương. Hàng loạt các hình ảnh so sánh cho thấy được thơ văn Tản Đà vừa mang sư hào hùng vừa mang được cả sự nhẹ nhàng êm ả. Trời lại băn khoăn tên gọi của văn sĩ là gì?. “- “Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á Châu và Địa cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”. Nghe xong Trời ngợ một lúc lâu Sai bảo thiên tào lấy sổ xét. Thiên tào tra sổ xét vừa xong Đệ sổ lên trình Thượng đế trông – “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông”. Nhà thơ tự giới thiệu về bản thân tên họ cũng như quê quán của mình. Điều đó giúp nhà thơ khẳng định tên tuổi trong sự nghiệp văn chương của mình. Thi nhân nói về hoàn cảnh khó khăn của mình. Qua đó ta thấy được cuộc sống nghèo khổ của nhân dân, túng thiếu của những bậc văn nhân hạ giới. Văn chương của họ rẻ như bèo. Thân phần văn sĩ bị khinh thường rẻ rúng, chính vì thế mà nhà thơ muốn tìm lên tận trời để tìm tri âm tri kỉ. Ở đây nhà thơ đã nói lên hiện thực xã hội lúc bấy giờ. Trời sai việc cho nhà thơ cách nói ấy nhằm nói lên trách nhiệm của bậc văn sĩ trong thiên hạ.Đó là việc giữ thiên lương của nhân loại. Phải chăng đó chính là trách nhiệm cao cả của nhà văn?. Nói xong thì cảnh tượng chia tay diễn ra, chư tiên cùng với trời chia tay nhà thơ trong tiếc nuối mà rơi hai hàng lệ. Canh đêm tan đi và sáng trở lại trong sự khoan khoái của con người. nhà thơ muốn lên trời lần nữa. Qua đây ta thấy được cái tôi ngông nghênh của nhà thơ cũng như tài năng văn chương của ông. Ta thấu hiểu tấm lòng của những người làm nghiệp văn chương. Và chức năng rất lớn của văn chương từ trước cho đến nay là tải đạo. Đồng thời qua ta càng thêm yêu thêm quý con người của Tản Đà khi trong buổi giao thời ấy dám nói lên những suy nghĩ và khẳng định cái tôi cá nhân của mình.
Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà văn học 11
1,459
Đề bài: Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà Bài làm Tản Đà được coi là “người nằm vắt mình qua hai thế kỉ”, là gạch nối giữa thơ mới và thơ cũ, là người đặt nền móng cho thơ mới. Những đánh giá ấy đã xác nhận vị trí quan trọng của Tản Đà đối với văn học Việt Nam giai đoạn giao thời. Ông là đại diện tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn này, giai đoạn văn học dân tộc có những bước chuyển mình, bắt đầu cho giai đoạn hiện đại hoá mau lẹ. Hầu trời là một bài thơ có rất nhiều điểm mới. Bài thơ thể hiện đậm nét cá tính sáng tác của Tản Đà. Mạch thơ được triển khai theo lôgíc một câu chuyện với các chi tiết cụ thể, rành mạch, khiến cho bài thơ hấp dẫn và có sức thuyết phục: nằm một mình, buồn nên dậy đun nước uống rồi ngâm văn, động đến Trời, tiên xuống hỏi rồi đưa lên gặp Trời, Trời cùng chư tiên đón tiếp long trọng, mời đọc thơ, giới thiệu về mình rồi đọc thơ và giãi bày cảnh ngộ cùng Trời, Trời giải thích, khen ngợi rồi cho đưa về trần giới. Nhà thơ đã chọn một cách rất độc đáo để thể hiện tâm sự của mình. Chuyện hầu Trời bằng tưởng tượng đã giúp nhà thơ khẳng định tài năng của bản thân và bộc lộ quan niệm mới mẻ của ông về nghề văn, đồng thời thể hiện ý thức của cái Tôi cá nhân đầy cá tính của mình. Nhà thơ đã mở đầu câu chuyện của mình bằng một giọng điệu rất hấp dẫn, bịa mà rất tự nhiên, hóm hỉnh: Đêm qua chẳng biết có hay không, … Thật được lên tiên sướng lạ lùng. Lí do được Trời mời lên hầu cũng thật đời thường và dễ tin: Nằm buồn dậy đun nước uống, rồi ngâm thơ, chơi trăng. Và “Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” đã làm Trời mất ngủ. Thế là được lên Trời. Cuộc hội kiến với Trời và chư tiên được kể lại chi tiết, hồn nhiên, nghe tự nhiên như thật. Tác giả đã chọn lối kể chuyện nôm na của dân gian để tái hiện câu chuyện hầu Trời. Nhà thơ tưởng tượng tình huống gặp Trời để giới thiệu về mình. Giới thiệu rõ, chính xác tên tuổi, quê hương, đất nước, nghề nghiệp, kể tên các tác phẩm của mình. Nhà thơ đã chọn tình huống độc đáo: gặp Trời, ngâm thơ cho Trời cùng chư tiên nghe, qua đó khẳng định tài năng của mình. Khẳng định một cách rất tự nhiên: Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi. Văn dài, hơi tốt ran cung mây!… Tự khen tài của mình nhưng lại chọn hình thức để Trời cùng chư tiên khen ngợi. Đây là một kiểu ngông đáng yêu. Sau khi giới thiệu các tác phẩm, có phân chia rõ ràng thành từng loại theo quan điểm của bản thân (văn thuyết lí, văn chơi, văn tiểu thuyết, văn vị đời và lối văn dịch) thì đưa ra nhận xét, cùng với những nhận xét của Trời “Văn đã giàu thay, lại lắm lối” (đa dạng về thể loại, giọng điệu). Nhà thơ lại còn mượn lời của Trời để khẳng định tài năng của bản thân: Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít!… Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!” Nhà thơ đã hiên ngang khẳng định cái Tôi của mình, gắn liền với tên tuổi thật của mình. Đó là thái độ ngông của người có tài và biết trân trọng, khẳng định tài năng của mình. Trong thời đại của Tản Đà, đất nước đang mất chủ quyền, tự giới thiệu như còn là biểu hiện của sự tự hào, tự tôn dân tộc. Hóm hỉnh hơn, nhà thơ còn khẳng định cả phong cách ngông của mình:  “Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông.” Qua cuộc đối thoại tưởng tượng với Trời, nhà thơ còn khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm cao cả của mình nói riêng và của người nghệ sĩ nói chung là lo việc “thiên lương” của nhân loại: Trời rằng: “Không phải là Trời đày, Trời định sai con một việc này Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay.” Tạo tình huống tưởng tượng này để an ủi mình, đồng thời cũng là để nói lên ý nghĩa cao quý của văn chương, của nhà văn. Cũng nhân đây, nhà thơ giãi bày tâm sự của mình về nghề văn. Tản Đà được coi là người đặt nền móng cho thơ Mới, không chỉ bởi thơ ông mang hơi thở hiện đại của thời đại với cái Tôi cá nhân sừng sững giữa trang văn mà còn vì ông là nhà thơ đầu tiên “mang văn chương ra bán phố phường”, coi nghề văn là nghề kiếm sống. Khi giãi bày cảnh ngộ với Trời, nhà thơ đã kể lể rất chi tiết về nghề làm văn kiếm sống này. Tản Đà cũng đã dùng lời Trời để tự an ủi mình. Với Hầu Trời, Tản Đà đã mang đến cho văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX một không khí mới. Dưới hình thức một bài thơ  câu chuyện tưởng tượng vui và đầy hào hứng, nhà thơ đã khẳng định cái Tôi cá nhân của người nghệ sĩ. Nhà thơ vừa tự tin khẳng định tài năng của mình vừa nói lên quan điểm làm văn chương, đó là viết văn để phục vụ thiên lương. Viết văn hay làm cho đời đẹp hơn là nhiệm vụ trời đã trao cho người nghệ sĩ. Sáng tạo độc đáo về mặt nghệ thuật của Tản Đà là đã đưa ngôn ngữ đời thường nôm na, dễ hiểu, dung dị mà vẫn rất gợi cảm vào thơ ca. Ngôn ngữ thơ ở Hầu Trời đã có sự xâm nhập của giọng điệu văn xuôi và ngôn ngữ bình dân. Không quá câu nệ vào vần luật nên mạch cảm xúc được phát triển rất tự nhiên và cái Tôi cá nhân đã thoả sức bộc lộ và thể hiện mình. Điểm độc đáo và thành công của bài thơ còn thể hiện ở chỗ tạo ra cái cớ là tình huống hầu Trời để tự khẳng định tài năng và quan niệm của mình. Đó là một kiểu ngông rất nghệ sĩ, vui vẻ và đáng yêu. Bài thơ cũng đã phác hoạ một chân dung thi sĩ Tản Đà với phong cách ngông độc đáo, đó là cái ngông của một nhà nho tài tử ở thời kì mà ý thức cá nhân bắt đầu được trân trọng và khẳng định.
Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà
1,143
Phân tích bài thơ hầu trời Hướng dẫn Phân tích bài thơ hầu trời Tản Đà (1889 – 1939) là người có lối sống và sự nghiệp văn chương mang dấu ấn “người của hai thế kỉ”. Vào những năm 20 của thế kỉ XX, Tản Đà nổi được ví như một ngôi sao sáng trên thi đàn thơ văn Việt Nam,ông có những tác phẩm tiêu biểu như: “Thơ Tản Đà” (1925); “Giấc mộng lớn” (tự truyện – 1928); “Còn chơi” (thơ và văn xuôi – 1921)…hồn thơ Tản Đà thể hiện “cái tôi” lãng mạn, bay bổng vừa phóng khoáng lại vừa cảm thương. Hầu trời là một trong số bài thơ tiêu biểu trong tập “còn chơi” thể hiện rõ nét nhất tâm hồn phóng khoáng, đôi khi là nét ngông, và cũng góp phần khẳng định giá trị bản thân trước cuộc đời của Tản Đà. Cách vào đề của “ Hầu trời” cũng rất độc đáo, gây ấn tượng người đọc với cách vào đề, dẫn dắt độc giả vào thế giới thơ một cách cuốn hút. Bằng những câu thơ, thủ thỉ tâm tình như đang kể cho độc giả một câu chuyện như vừa mới xảy ra vậy, câu chuyện đó bắt đầu từ một giấc mơ, nhưng tác giả lại không thể biết được đó là thật hay mộng, thực hay ảo. Sự đối lập được nêu ra khi bốn từ “ thật được sử dụng trong 2 câu, chứng tả tác giả không hề mơ mộng mà nó thực chất là một giấc mơ, thế tại sao lại có sự mâu thuẫn như vậy. Nhưng dẫu sao thì nó vẫn mang lại cảm xúc thích thú vui sướng cho chính tác giả “Đêm qua chẳng biết có hay không Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể Thật được lên tiên – sướng lạ lung” Ở những khổ thơ tiếp theo, tác giả kể về lí do được lên “hầu trời” của mình, với những câu thơ đầy tính thuyết phục, với ngòi bút của mình, Tản Đà vẽ ra một câu chuyện như vừa mới xảy ra đây thôi: “Nguyên lúc canh ba nằm một mình Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh Nằm buồn, ngồi dậy đun ấm nước …. …. Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy Ghế bành như tuyết vân như mây Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy”. Không gian thời gian của câu chuyện mặc dù là của một giấc mơ nhưng lại rất rõ ràng, tác giả giải thích lí do của buổi “hầu trời” là do “tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ. Trời bèn sai tiên nữ xuống gọi thi sĩ lên đọc văn cho Trời nghe. Lí do của buổi “hầu trời” mà tác giả đưa ra như một khẳng định rằng: Cái may mắn được lên hầu trời do những phút cao hứng trong thơ văn của nhà thơ. Câu chuyện của buổi “hầu trời” diễn ra rất tự nhiên và hợp lí, như chính tác giả vừa mới trở về từ chốn đó vậy:”Theo lệnh của Trời, thi sĩ đọc văn và ngâm văn của mình cho Trời và các chư tiên nghe. “Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc”. Với niềm phấn khích và đầy hứng khởi của mình, sự say sưa trong giọng đọc thơ, cũng ẩn ý cho niềm say mê trong văn chương đã khiến cho tác giả rất tự tin, thể hienj niềm khát khao và đam mê của chính bản thân mình. Và qua những câu thơ, người ta cũng thấy được tài năng của ông khi biết được nhiều thể loại: “Đọc hết văn vần sang văn xuôi Hết văn thuyết lí lại văn chơi Đương cơn đắc ý đọc đã thích Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi”. Mọi người sau khi được Tản Đà đọc thơ,lây làm rất thích thú, ai cũng bộc lộ sự hân hoan tán thưởng, kể cả ông trời cũng phải buông ra những lời tán dương mà mới nghe cũng thấy sung sướng hạnh phúc. Thái độ của người nghe được thể hiện ở nét mặt, cử chỉ, điệu bộ: “Tâm như nở dạ”; “Cơ lè lưỡi”; “Hằng Nga, Chức nữ chau đôi mày”; “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng” và khi hết mỗi bài thì tất cả cùng đồng loạt vỗ tay. Thi sĩ còn kể ra hàng loạt các tập thơ của mình như: “Khối tình”, “Đài gương”, “Lên sáu”…Nhận được sự ngưỡng mộ, thi sĩ được các chư tiên dặn: “Anh gánh lên đây bán chợ trời”. Đoạn thơ tiếp theo thể hiện rõ ý thức về “cái tôi” cá nhân của tác giả rất cao: “Trời lại phê cho: “văn thật tuyệt! Văn trần được thế chắc có ít Nhời văn chau chuốt đẹp như sao băng! Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! Êm như gió thoảng, tinh như sương! Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!” Những câu thơ góp phần thể hiện “Cái tôi” phóng khoáng,tác giả đã cố ý mượn lời của Trời để ca ngợi thơ văn của mình. Nó không những chứng tỏ Tản Đà rất có ý thức về tài năng văn chương vượt trội của bản thân mà còn như khẳng định chính Tản Đà là người khơi nguồn cho một cuộc cách mạng về thơ ca, đúng với cái tên “người của hai thế kỉ” mà Hoài Thanh đã gọi. Cái hay, cái đẹp trong thơ ca của Tản Đà được tác giả đem so sánh với vẻ đẹp tuyệt vời của các hiện tượng, sự vật trong vũ trụ như: sao băng, mây, gió, sương, tuyết…, qua đây cũng thấy được thái độ của tác giả tỏ ra rất tự hào, kiêu hãnh về tài năng văn chương của mình. Theo yêu cầu của Trời, thi sĩ tự xưng tên tuổi và thân thế: “ – Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn Quê ở Á châu về địa cầu Sông Đà núi Tản nước Nam Việt” Trời ngờ ngợ một lúc lâu rồi sai Thiên tào kiểm tra lại. Thiên tào tra sổ rồi bẩm báo: “ – Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông”. “- Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó Trần gian thước đất cũng không có … Trời lại sai con việc nặng quá Biết làm có được mà dám theo” Khi được trời hỏi, sau một hồi đối đáp thì cũng lộ ra một điều rằng, vốn dĩ Tản Đà ở hạ giưới chỉ vì tội ngông. Đoạn thơ tái hiện bức tranh hiện thực được vẽ bằng bút pháp tả chân thực, tỉ mỉ và rất cụ thể, phản ánhđời sống cùng cực của tầng lớp văn nghệ sĩ một cách chính xác và tình hình lộn xộn của thị trường văn chương thời ấy. Cảm xúc ở đoạn thơ khi thi sĩ đọc thơ cho Trời nghe hứng khởi bao nhiêu thì đoạn này lại càng thể hiện tâm trạng ngậm ngùi, chua xót bấy nhiêu. Giấc mơ “hầu trời” như sự biểu hiện khát khao được thể hiện tài năng của thi sĩ. Dường như Trời cũng thấu hiểu được tình cảnh của thi sĩ nên khuyên nhủ: Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết Thôi con cứ về mà làm ăn Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết” Những lời khuyên của trời dù ngắn ngủi nhưng lại vô cùng có giá trị, cuộc chia tay tiễn biệt giữa trời các chư tiên và tác giả cứ quyến luyến “Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi Trông xuống trần gian vạn dặm khơi Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống Theo đường không khí về trần ai” Mặc dù đã tỉnh khỏi giấc mộng nhưng vẫn lấy làm hối tiếc khi một năm có bao nhiêu ngày nhưng may mắn chỉ có 1 đêm để hầu trời. Điều này càng chứng tỏ, lòng khát khao muốn dùng thơ văn và niềm đam mê của mình để ai ai cũng biết tới, và những ai trân trọng nó “Một năm ba trăm sáu mươi đêm Sao được mỗi đếm lên hầu Trời”. Từ một câu chuyện dường như không có thật, “hầu trời” đã phản ánh khá rõ tính cách của Tản Đà, ông đã mạnh dạn tự biểu hiện “cái tôi” cá nhân, một “cái tôi” ngông, phóng túng. qua đó tác giả cũng ý thức rất rõ về tài năng, dám công khai cái tài văn chương hơn người của mình. Bài thơ “Hầu trời” là một bài thơ hay và độc đáo, tiêu biểu cho tính chất giao thời giữa cái mới và cái cũ trong nghệ thuật thơ Tản Đà, một trong những tác phẩm tiêu biểu cho cả hồn thơ Tản Đà và cả phong trào thơ mới. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ hầu trời
1,452
Đề bài: Em hãy dựa vào bản phiên âm, bản dịch nghĩa và bản dịch thơ Văn học 9 để phân tích bài thơ Hữu cảm của Nguyễn Bình Khiêm Bài làm Ra đời sau Nguyễn Trãi hơn một trăm năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kế thừa được những truyền thống văn học tốt đẹp của nhà yêu nước vĩ đại ấy, mặt khác lại phản ánh tâm trạng của cả một tầng lớp trí thức dân tộc phải sống trong buổi suy vi, loạn lạc của chế độ phong kiến. Sống gần suốt thế kỉ thứ XVI (1491-1585). Đỗ trạng nguyên, học vấn uyên thâm, đức trọng, tài cao, có uy vọng lớn đối với cả một thời đại. Quán Trung Tân, Am Bạch Vân, “Bạch Vân Quốc ngữ thi tập ” và “Bạch Vân Am thi tập"… là những di sản tinh thần vô cùng cao đẹp của Trạng Trình để lại cho đất nước, quê hương. Ông được nhân dân thời bấy giờ coi như ông thầy của cả một thời đại và tôn là Tuyết Giang phu tử. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm còn lại trên dưới nghìn bài vừa bằng chữ Hán, vừa bằng chữ Nôm. Thơ ông hàm chứa tình yêu nước thương dân, thâm trầm tính triết lí. giàu giá trị tố cáo hiện thực lên án chiến tranh phi nghĩa và thói đời đen bạc. "Hữu cảm" (Có cảm xúc) là bài thơ chữ Hán trong tập “Bạch Vân Am thi tập". Bài thơ xuất hiện trong lúc các phe phái phong kiến (Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn), đánh giết lẫn nhau để tranh giành quyền vị, gây ra bao cảnh đau thương chết chóc cho dân lành! "Hữu cảm" đã thể hiện một niềm ưu ái sâu nặng với đời và dân tộc. Hai câu đầu giọng thơ đầy căm giận lên án lũ “nghịch tặc” đã hoành hành ngang ngược, xâm phạm vào cả kinh đó. Chiến tranh bùng nổ, nội chiến bùng nổ, đất nước bị rơi vào thảm họa, nhân dân ta tan tác điêu linh. Trước biến cố ấy nhà vua và triều đình trải qua thử thách nặng nề: "Chúa lo, thần nhục" là bi kịch của một triều đại phong kiến. Nhà thơ chia sẻ với họ, ông thốt lên: “Vua tôi lo lắng xiết bao tình!" Bốn câu thơ trong phần thực và luận. Nguyễn Bỉnh Khiêm phe phán gay gắt chiến tranh phong kiến và biểu lộ tấm lòng thương yêu nhân dân. Ông đã đứng trên lập trường nhân dân. Vì sự sống và hạnh phúc của nhân dận mà lên án các tập đoàn phong kiến đã đánh nhau, giành giật nhau quyền vị. Hai câu 3. 4 nói lên niềm mong đợi của dân trong cảnh loạn lạc. Họ cầu mong người đến cứu sổng. Từ câu cổ ngữ, mội văn liệu: "Hề ngã hậu, hậu lai kỳ tổ", ông rút ngắn lại thành hai chữ “hề tổ”, để biểu dạt ý nguyện dân lành thời loạn lạc: “Chờ vua ta đến, vua ta đến sẽ cứu ta”. Nỗi chờ đợi của nhân dân không phải là ngày một ngày hai mà đã uất kết từ lâu lắm rồi. Nội chiến diễn ra triền miên trong nhiều thập kỷ của thế kỉ XVI. "Diếu phạt" nghĩa là dấy quân trừng phạt kẻ có tội. Đó là hành động chính nghĩa được nhân dân ta hưởng ứng, ca ngợi. Hành động "Điếu phạt" ấy tựa như trận mưa gặp thời. "Trận mưa gặp thời” làm cho cỏ cây tươi tốt, lòng người nở hoa, thời tiết mát mẻ. Dấy quân đánh kẻ có tội để cứu vãn "đế kinh", để vãn hồi hoà bình. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vận dụng văn liệu cổ Trung Hoa để nói lên ý nguyện nhân dân buổi loạn lạc một cách hàm súc: “Hề tô cửu uất thương sinh vọng Điếu phạt thùy hung thời vũ binh (Mong mưa, chan chứa long dân vọng Trừ bạo, tưng bừng đạo nghĩa binh) Hai câu 5, 6 nói về lòng dân, tình dân. Cả một vùng rộng lớn, bốn biển, trời cao. Khắp cả nước, đông đảo nhân dân theo về, hướng về người đã cứu vớt họ, mang lại hạnh phúc hoà bình cho họ. “Nhật trùng minh” (trời lại sáng) là một hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho cảnh đất nước thanh bình. Câu thơ chữ Hán cũng như câu thơ dịch vang lên một giọng điệu rộn rịp. vui tươi: “Bốn bể vui theo người đạo đức, Khắp nơi lại thấv cảnh thanh bình” Điều đó cho ta thấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất thương dận, thấu hiểu nỗi đau thương của nhân dân trong nội chiến bao nhiêu lại đồng cảm với lòng khát khao được sống yên vui, hạnh phúc trong hoà bình của họ bấy nhiêu! Có không ít bài thơ của Trạng Trình cho thấy ông đứng về phía nhân dân để lên án chiến tranh phi nghĩa. Cả đất nước là bãi chiến trường: "Khắp nơi chỗ nào cũng máu chảy thành sông, xương chất như núi." (“Ngụ ý”-thơ chữ Hán) Niềm thương xót nhân dân điêu linh gắn liền với thái độ căm ghét những kẻ tham tàn, dã man đã gây ra nội chiến: "Rất đáng ghét việc can qua đầy dẫy nước mắt. Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn Khốn đốn trôi giạt, bồng bế nhau đi, thương thay không nơi yên thân" (“Hữu cảm” – thơ chữ Hán) Trở lại hai câu kết của bài thơ "Cứ cảm xúc”. Cái yêu cái ghét của nhà thơ được thể hiện trực tiếp. Ông ca ngợi và khẳng định: Nhân giả – người có nhân nghĩa, biết thương yêu nhân dân là vô địch. Câu thơ như một châm ngôn, như một chân lí được đúc kết: “Cổ lai, nhân giả tri vô địch!" Người có nhân là người chiến thắng vì được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Câu thơ cuối bài như một lời trách móc, ám chỉ bọn vua chúa thời bấy giờ: “Việc gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh”. Đằng sau câu thơ là tất cả thái độ căm ghét và khinh bỉ bọn người tranh giành quyền lực gây ra cảnh chém giết, núi xương sông máu, coi thường tính mạng và tài sản của nhân dân. “Hữu cảm” là một bài thơ trữ tình có tính nhân dân sâu sắc. Qua bài thơ này. Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cập tới một vấn đề mới, chưa hề có trong nền văn học nước nhà trước đó: ấy là sự phê phán gay gắt chiến tranh, đồng thời cũng biểu hiện một tình cảm truyền thống: tấm lòng yêu thương nhân dân. Một mặt, ông lên án bọn “nghịch tặc" tham lam, độc ác chỉ “khư khư thích chiến tranh", mặt khác ông đề cao “nhân gia”, ca ngợi họ mang lại yên vui cho nhân dân. Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ rõ: hoà bình hạnh phúc là khát vọng của nhân dân. Ai được nhân dân đội ơn sâu, được nhân dân theo về, ủng hộ người ấy là “nhân giả vô địch”. Một giọng thơ nghiêm trang, một lối sử dụng ngôn ngữ trang trọng, văn liệu cổ được vận dụng để viết nên những câu thơ hàm súc, mang tư tưởng, tình cảm sâu sắc. Bài thơ đã phản ánh một xã hội loạn lạc và niềm ưu ái sâu nặng của Trạng Trình đối với dân với nước.
Phân tích bài thơ Hữu cảm của Nguyễn Bình Khiêm
1,237
Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu để chứng tỏ rằng dù đang ở trong tù nhưng lòng yêu cuộc sống và niềm khao khát tự do vẫn luôn cháy bỏng trong lòng người chiến sĩ cách mạng. Hướng dẫn “Khi con tu hú” là bài thơ TốHữu làm khi ông bị giam trong nhà lao Thừa Phủ (Huế) năm 1939. Trong khoảng thời gian bị bắt giam từ tháng 4/1939 cho đến tháng 3/1942, Tô’ Hữu đã làm rất nhiều thơ in trong phần Xiềng xích của tập thơ Từ ấy. Đây là một bài thơ nói lên cảm giác mất tự do, ngột ngạt của nhà cách mạng trẻ tuổi. Bài thơ gồm hai phần. Phần đầu (sáu dòng) nói về niềm khao khát tự do. Phần hai (bốn dòng) thể hiện khát vọng hành động, tháo cũi sổ lồng. Ýthơ bắt đầu từ tiếng chim tu hú, như nhan đề bài thơ đã nêu lên: Khicon tu hú. Đó là tu hú kêu, tiếng kêu vang suốt cả bài thơ, ra ngoài bài thơ, vang mãi. Tu hú kêu báo hiệu mùa hè. Người bị giam trong tù, khép kín giữa bốn bức tường kín mít. Chỉ còn có âm thanh là mối liên hệ với bên ngoài: chỉ có tiếng chim, tiếng chuông, tiếng bước chân, tiếng rao đêm… là báo hiệu cuộc sống bên ngoài. Tự nhiên, âm thanh bên ngoài trở thành biểu tượng của cuộc sống tự do. Cả bài thơ xây dựng trên hình ảnh âm thanh đó. Khi con tu hú gọi bầy Lúa chim đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không… Khung cảnh và chi tiết đúng là của đồng nội vào vụ tháng năm, tháng sáu: lúa chín, trái chín, tiếng ve, ngô vàng, nắng tươi, trời cao, sáo diều bay lượn. Nhà thơ chứng tỏ một tâm hồn thơ đầy ắp ấn tượng về thôn dã. Nhưng hồn thơ còn chứa đựng một điều kì diệu. Ấy là sự liên tưởng tạo thành một phản ứng dây chuyền. Tiếng chim gọi bầy, gọi lúa đang chín và trái cây đang ngọt dần, biết bao là hương vị. Rồi thì bóng râm và dậy tiếng ve ngân — một vầng âm thanh xao xuyến ngập tràn thính giác. Bắp vàng và nắng đào đẫy sân gợi lên ánh sáng chan hòa và màu sắc rực rỡ. Cuối cùng âm thanh gợi ra một không gian cao rộng tự do: Đây là đỉnh điểm của sự tưởng tượng. Tâm hồn nhà thơ như cùng đang bay lượn, nhào lộn trong không gian cao rộng ấy. Khó có thể hình dung đây là cảnh tượng có thật được nhìn bằng mắt, bởi tác giả đang ở trong tù. Đây chỉ có thể là tấm ảnh mở ra trong một tiếng chim: Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Nhà thơ thì thầm với mùa hè, đây cũng là một hình ảnh mới. Mùa hè của tự do, của nồng nàn, của đam mê. Tiếng kêu của chim tu hú đến đây trở thành tiếng gọi của tự do. Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu! Hai câu kết đã thể hiện niềm khát khao tự do đến cháy bỏng, đến đỉnh điểm. Sự tương phản của cảnh trời tự do và nhà tù giam hãm đã thôi thúc thêm niềm uất hận, muốn phá tan nhà tù. Con chim cứ kêu nghĩa là tiếng gọi tự do không bao giờ thôi, nghĩa là ý chí vượt ngục luôn luôn thường trực. Bài thơ kết thúc với một sự nung nấu ý chí hành động, một tâm trạng nhức nhối, bồn chồn, một tâm sự không thể ngồi yên, khoanh tay. Điều thú vị là Tố Hữu đã kết thúc chuỗi ngày tù ngục của mình bằng hành động vượt ngục. Con chim cách mạng ấy đã cất cánh tung bay.
Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu để chứng tỏ rằng dù đang ở trong tù nhưng lòng yêu cuộc sống và niềm khao khát tự do vẫn luôn cháy bỏng trong lòng người chiến sĩ cách mạng.
675
Đề bài: Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu Bài làm Trong bóng tối mịt mờ chốn lao tù, dường như sự sống đã chấm dứt hẳn, bởi lạnh giá, bởi cô độc. Vậy mà, giữa những âm thanh khô khốc, chói tai của tiếng xiềng xích, vẫn vang lên nhịp tim thổn thức, rạo rực của một hồn thơ trẻ tha thiết yêu đời, yêu người. Tố Hữu, bằng cảm xúc chân thật của mình, đã cất lên tiếng nói tâm tình tha thiết của người chiến sĩ cộng sản suốt đời chiến đấu cho lí tưởng và tâm hồn khát khao tự do đến cháy bỏng trong bài thơ “Khi con tu hú”. Nhan đề bài thơ là một sự diễn đạt chưa trọn ý một cách kì lạ. Kì lạ bởi chính chỗ chưa trọn vẹn đó đã mở ra bao nhiêu liên tưởng. Giờ đây, người ta không còn thấy bóng dáng cô đơn, nặng nề của người tù Tố Hữu mà chỉ nghe tiếng lòng nhà thơ đang rộn ràng, ngân vang khi đón nhận lấy tiếng chim tu hú từ xa rộn về. Tu hú gọi bầy là âm thanh hết sức quen thuộc ở chốn làng quê Việt Nam, báo hiệu cho sự chuyển mình của sự sống – mùa hè về. Lúc này, khi con tu hú gọi bầy, trong hoàn cảnh tách biệt với cuộc sống bên ngoài, người chiến sĩ cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt hơn, tù túng hơn, vì vậy mà càng thêm khát khao cháy bỏng hướng đến cuộc sống tự do tươi đẹp bên ngoài: “Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không.” Mười chín tuổi, còn trẻ trung, bồng bột, người thanh niên Tố Hữu đã tìm thấy cho mình lí tưởng cao đẹp cuộc đời. Những bước đi không mỏi mệt trên chặng đường chông gai, phút chốc phải dừng đột ngột, bị bó buộc tù hãm khiến cho Tố Hữu không khỏi có lúc thốt lên chua xót: “Cô đơn thay là cảnh thân tù”. Nhưng rồi phút giây ấy cũng nhanh chóng đi qua, nhường chỗ cho không gian cảnh vật tràn trề nhựa sống: những bông luá chín, hạt bắp vàng, ánh nắng đào, trời xanh rộng, đôi sáo diều, tiếng ve ngân… Phải có một sự tưởng tượng lãng mạn, bay bổng và một tâm hồn mến yêu sự sống sâu sắc mới có thể vẽ lại toàn bộ bức tranh phong cảnh mùa hè sống động đến vậy. Thiên nhiên hiện lên tuyệt đẹp kia không phải là hiện thực, tất cả chỉ là sự tưởng tượng của một tâm hồn mơ mộng khi căng tất cả các giác quan để nghe, để nhìn, để ngửi, để cảm nhận không khí hè qua tiếng gọi bầy của tu hú. Chỉ bằng vài đường nét, màu sắc, âm thanh, nhà thơ đã phơi bày một bức tranh đầy nhựa sống với cánh đồng lúa chiêm quen thuộc của quê hương đã bao lần đi vào thơ Tố Hữu: “Đây từng ô mạ xanh mơn mởn (…) Ôi ruộng đồng quê hương thương nhớ ơi!” Giờ đây lại hiện về trong trạng thái căng đầy nhất, viên mãn nhất, lúa ngả vàng, ngả sang màu niềm vui, là màu vàng rực rỡ của mùa hè, của mồ hôi kết tinh thành hạt thóc. Với một tâm hồn lãng mạn tinh tế, Tố Hữu đã cảm nhận sự thay đối của màu nắng với nhiều góc độ: từ ánh nắng của “đôi ánh lạt ban chiều” (Tâm tư trong tù), ánh nắng yếu ớt dễ bóp nghẹt bởi bóng tối tới một “ánh nắng đào” giữa mùa hè, lấp đi dấu ấn của “vườn râm”. Câu thơ là một không gian thoải mái với sắc hồng kì lạ. Đó là thứ ánh sáng êm dịu, hiền hậu, vỗ về cho con người trước những mất mát, đau khổ trong cuộc đời. Có lẽ từ chính sự gặp gỡ tuyệt diệu của chàng thanh niên trẻ tuổi: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim” đã khiến cho ánh nắng mùa hè có sự thay đổi tinh tế đến vậy. Và sự xuất hiện của bầu trời trong vắt như mặt nước yên bình nâng tầm bay cho các cánh diều đã đẩy tầm nhìn, tầm nhận thức của nhà thơ lên đến độ sâu nhất, xa nhất, cao nhất: “Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không” Thấp thoáng trong ánh nhìn người tù, là một không gian mở rộng đến vô cùng vô tận. Mặc dù có thể lúc ấy ánh nhìn của nhà thơ – chiến sĩ có phần bị che khuất đi bởi chấn song nhà tù chật hẹp. Trên bầu trời lúc này không phải là một mình lẻ loi, con sáo diều cũng có đôi, có cặp, có được sự tự do bay lượn trong vùng trời riêng kia. Huống chi là con người. Vậy mà, thực tế thì sao? Con người cô đơn, cô đơn hơn bao giờ hết, và mất tự do. Không ngẫu nhiên mà bài thơ có sự bổ đôi của hai câu thơ lục bát. Nhà thơ diễn tả bức tranh mùa hè sống động đối lập với cảnh mùa đông trong ngục tối đã làm nổi bật lên khát vọng cháy bỏng của người chiến sĩ trên con đường tìm đến tự do. bốn câu thơ kết đã lắng lại cho tiếng lòng náo nức bật lên: “Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết mất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu” Khổ thơ là lời bộc lộ trực tiếp cho tâm tư con người. Bốn câu cảm thán là sự dồn nén những cảm xúc mãnh liệt của một trái tim đau khổ, uất hận vì mất tự do. Nhà thơ nghe hè, cảm nhận hè chỉ qua tiếng chim tu hú gọi bầy. Hè đã đến, ba tháng trong ngục tối cũng đã trôi qua, lòng người thanh niên đầy nhiệt huyết càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn tiếng gọi lên đường, tiếng gọi của tự do. Từ trong sâu thẳm tâm tư mình, người tù đã nhận ra tất cả cuộc sống náo nức, vui tươi bên ngoài lúc chỉ là tưởng tượng, bởi đó là tất cả những hình ảnh tồn tại trong trí nhớ của nhà thơ. Đó là những cánh đồng, những vườn cây trái, những vườn râm. Còn hiện tại, kẻ thù đang giày xéo quê hương, đã biến bao đồng quê thành hoang mạc và thực chất không gian tự do mà nhà thơ khát khao bên ngoài kia cũng chỉ là một không gian tù hãm, một cái lồng to giam chí lớn, như chụp lên cuộc sống con người, lên quê hương. Cho nên, khổ thơ là sự bừng tỉnh của lí trí, là tâm trạng uất ức, ngột ngạt muốn đạp bỏ tất cả, tìm đến không gian tự do, tự tại thật sự. Bằng cách ngắt nhịp mạnh kết hợp với những từ ngữ mạnh mẽ: “đạp tan”, “chết uất”, câu thơ đã tập trung cao độ tinh thần yêu đời, yêu người cháy bỏng. Tiếng kêu tu hú cứ day đi day lại cả bài thơ, như thúc giục, như lời thôi thúc người tù vượt thoát cảnh giam cầm, tìm về với tự do. Có lẽ vì vậy mà ba năm sau, Tố Hữu đã vượt ngục và quay về đội ngũ, để làm tròn ước nguyện cống hiến tất cả cuộc đời cho cách mạng. “Khi con tu hú” là một bài thơ kết hợp hài hoà của cảnh và tình. Cảnh mở ra rạo rực, tha thiết, tình lắng đọng da diết, trầm buồn. Với tâm hồn dân tộc, ngòi bút linh hoạt, mềm mại, Tố Hữu xứng đáng với danh hiệu con chim đầu đàn trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam.
Phân tích bài thơ Khi con tu hú của Tố Hữu
1,352
Đề Bài: Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú Gọi Bầy Của Tố Hữu Bài làm Tố Hữu – Người cộng sản kiên trung, nhà văn hóa tài năng, cũng là “nhà thơ của cách mạng”, “nhà thơ của nhân dân”… Ông ra đi để lại cho đời một sự nghiệp văn thơ đồ sộ. Con đường thơ của ông hầu như song hành cùng con đường cách mạng. Nội dung thơ Tố Hữu được phân làm 2 mảng: trước và sau cách mạng tháng 8. Bài thơ Khi con tu hú thuộc thời kỳ đầu. Thời kỳ này người đọc bắt gặp một tâm hồn nồng nhiệt của tuổi trẻ khi gặp gỡ lý tưởng cách mạng và lời tâm niệm nguyện trung thành với lý tưởng khi bị tù đày. Bài thơ Khi con tu hú được Tố Hữu sáng tác tháng 7 năm 1939 tại nhà lao Thừa Phủ (Huế) khi tác giả bị bắt giam vào đây chưa lâu, được in trong tập thơ “Từ Ấy”, phần “Xiềng xích”. Mười sáu tuổi tìm thấy con đường cách mạng như tìm thấy lý tưởng cho cuộc sống của mình, Tố Hữu đã vỡ òa thốt lên: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…” (Từ ấy) Chàng thanh niên Tố Hữu lúc đó cảm thấy sung sướng vô biên vì bắt gặp lý tưởng cộng sản, say mê hoạt động cách mạng với một tâm hồn bồng bột, lãng mạn. Đang say mê lý tưởng, yêu đời và hoạt động cách mạng với niềm vui phơi phới như thế, bỗng bị nhốt trong phòng giam bưng bít, cách biệt hoàn toàn với cuộc sống ở bên ngoài, người chiến sĩ trẻ ấy cảm thấy ngột ngạt không chịu nổi. Và bài thơ Khi con tu hú đã ra đời trong dòng cảm xúc đó. Có thể nói rằng, sự độc đáo của bài thơ này nằm ngay nhan đề của tác phẩm. “Khi con tu hú” – là một mệnh đề chỉ thời gian, chỉ là một vế phụ của một câu trọn ý, nội dung còn bỏ ngõ. Nhan đề đã gây được sự chú ý, gợi mở mạch cảm xúc của toàn bài, gợi ra nhiều hướng suy nghĩ, giúp người đọc liên tưởng đến nhiều vấn đề. Nội dung của toàn bài được tóm gọn trong một câu văn ngắn: Khi con tu hú gọi bầy là khi mùa hè đến, người tù cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt trong phòng giam chật chội, càng thèm khát cháy bỏng cuộc sống tự do tưng bừng ở bên ngoài. Tiếng chim tu hú đã làm thức dậy trong tâm hồn người chiến sĩ trẻ trong tù một khung cảnh mùa hè tươi đẹp, sống động: “Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…” Sáu câu thơ lục bát thanh thoát mở ra cả một thế giới rộn ràng, tràn trề nhựa sống. Qua trí tưởng tượng của tác giả, người đọc như tận mắt được nhìn thấy một bức tranh mùa hè có âm thanh rộn ràng, sinh động của tiếng chim tu hú, tiếng ve ran trong vườn râm; cảm nhận được vị ngọt của lúa chín, của trái cây; được hòa mình trong một khung cảnh tươi vui, rộn rã của màu vàng của bắp, màu hồng đào của nắng, màu xanh của trời; được chiêm ngưỡng một bầu trời cao rộng với đôi con diều sáo đang nhào lộn thật vui mắt… Có thể nói, bức tranh mùa hè qua trí tưởng tượng của nhà thơ thật tươi đẹp, thanh bình, êm ả, tràn trề nhựa sống. Tiếng chim tu hú đã mở ra một bức tranh mùa hè rộn rã âm thanh, rực rỡ sắc màu, ngọt ngào hương vị. Hỡn nữa, bức tranh ấy không phải là một bức tranh tĩnh mà một bức tranh động, chúng ta như cảm nhận được sự chuyển động của lúa đang chín, của trái cây đang ngọt dần, của diều sáo đang nhào lộn trên không trung. Bức tranh mùa hè tươi đẹp khép lại, mở ra bức tranh tâm trạng của người tù cách mạng ở bốn câu thơ cuối: “Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!” Đoạn thơ với sự ngắt nhịp bất thường: 6/2 (câu 8); 3/3 (câu 9), với cách dùng những từ ngữ mạnh (đập tan phòng, chết uất), những thán từ (ôi, thôi, làm sao), câu cảm thán (Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!) đã thể hiện thành công tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng. Đó là tâm trạng đau khổ, uất ức, ngột ngạt, và tâm trạng đó được biểu hiện trực tiếp qua động từ muốn. Bốn câu thơ đã truyền đến độc giả cái cảm giác ngột ngạt cao độ, niềm khao khát cháy bỏng muốn thỏi khỏi cảnh tù ngục, trở về với cuộc sống tự do bên ngoài. Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú Gọi Bầy Của Tố Hữu Như vậy, chúng ta thấy đối lập giữa cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tràn đầy sức sống là tâm trạng dằn vặt, u uất của người tù cách mạng. Cảnh thiên nhiên ngoài kia càng tươi đẹp bao nhiêu thì trong tù tâm trạng người chiến sĩ cách mạng càng bức bối, khát khao tự do mãnh liệt bấy nhiêu. Ở trong tù, người chiến sĩ cách mạng bị tách biệt hẳn với cuộc sống bên ngoài về mọi mặt, trừ âm thanh. Và vì thế cuộc sống như chỉ dồn vào phạm vi âm thanh. Trong bài thơ Tâm tư trong tù tác giả từng viết: “Cô đơn thay là cảnh thân tù Tai mở rộng mà lòng nghe rạo rực Ta lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu” Âm thanh là sợi dây liên hệ duy nhất với cuộc đời của người tù. Bài thơ mở đầu là tiếng chim tu hú và kết thúc cũng là tiếng chim tu hú. Nó không chỉ là tiếng chim báo hiệu mùa hè mà còn là một âm thanh nhức nhối, thúc giục hành động. Từ đó tâm trạng của người chiến sĩ cũng thay đổi theo, từ chỗ chỗ khát khao cảm thụ thiên nhiên đến khát khao hành động. Bài thơ kết thúc, nhưng mở ra trong lòng người đọc biết bao dư ba.
Phân Tích Bài Thơ Khi Con Tu Hú Gọi Bầy Của Tố Hữu
1,111
Phân tích bài thơ Khi con tu hú – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Bài thơ “Khi con tu hú” được sáng tác vào tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trên bước đường hoạt động cách mạng đang bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ (Huế). Bài thơ phản ánh tâm trạng ngột ngạt của một người cộng sản trẻ tuổi sôi nổi, yêu đời bị giam cầm giữa bốn bức tường vôi lạnh. Tâm trạng ấy càng trở nên bức xúc khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến bầu trời tự do ở bên ngoài. Đặc biệt giữa không gian tự do ấy bỗng vang lên tiếng chim tu hú gọi bầy. Với âm thanh da diết đó, nỗi ngột ngạt, u uất càng dồn nén và biến thành niềm khát vọng tự do cháy bỏng không thể kìm hãm nổi: “Ta nghe hề dậy bên lòng Mà chân muốn đập tan phòng, hè ôi!”. Mở đầu bài thơ, với tựa đề “Khi con tu hú”, tác giả muốn khẳng định đây là một thứ âm thanh mở ra mạch cảm xúc toàn bài thơ. Tác động của âm thanh này đặt vào tâm cảnh của bài thơ càng trở nên tha thiết và thôi thúc hướng đến tự do. Ta biết rằng người thanh niên cộng sản Tố Hữu bị tù đày, tra tấn nhưng không nản chí sờn lòng. Nhà thơ đã xác định: “Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu Dấn thân vô là phải chịu tù đày Là gươm kề tận cổ, súng kề tai Là thân sống chỉ coi còn có một nửa”. (Trăng trối) Trở lại câu thơ mở đầu của bài thơ: “Khi con tu hú gọi bầy”. Đó là cái thời điểm thiết thân và thiếu thốn khi nghe con chim tu hú gọi bầy, tiếng gọi trở về với bạn bè, đồng đội dữ dội. Tiếng chim gọi bầy càng tăng thêm nỗi cô đơn của nhà thơ giữa bốn bức tường lạnh lẽo. Tố Hữu đã bị bắt giam giữa lúc nhiệt tình cách mạng của tuổi xuân đang sục sôi. Muốn đem tất cả nhiệt huyết để cống hiến cho cách mạng. “Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần Vườn râm dậy tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào”. Một bức tranh được “vẽ” trong tâm tưởng bằng nỗi nhớ da diết. Nhịp sống của đồng quê thật rộn rã và tràn đầy sức sống: “Lúa chiêm đương chín, trái cây ngọt dần”. Sự vật đang vận động tiến dần đến sự hoàn thiện, hoàn mĩ (đương chín, ngọt dần). Tất cả đã báo hiệu một mùa hè với những cảnh vật, âm thanh, màu sắc, ánh nắng quen thuộc. Phải là một con người tha thiết yêu cuộc sống, gắn bó máu thịt với quê hương mới có nỗi nhức nhối khôn nguôi đến thế. Trí tưởng tượng của nhà thơ được chắp cánh đến với bầu trời khoáng đạt: “Trời xanh càng rộng càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Cũng là bầu trời xanh thân thiết của tuổi thơ với “đôi con diều sáo lộn nhào từng không”. Giữa khoảng trời bao la, cao, rộng, vài con diều sáo nhào lộn như nét chấm nhỏ nhoi giữa cái mênh mông của đất trời. Hình ảnh con diều sáo lộn nhào giữa từng không cũng là niềm khát vọng được tự do của người chiến sĩ cách mạng bị giam cầm. “Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu”. Nhịp sống trào dâng, mời gọi, thôi thúc tràn ngập vào tận ngõ ngách tăm tối của chốn ngục tù, len lỏi vào tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi biến thành nỗi khát khao hành động “muốn đạp tan phòng” của cái nhà tù tăm tối. Bài thơ có 10 câu, câu mở đầu và câu kết thúc là tiếng kêu của con tu hú. Âm hưởng tiếng kêu xuyên suốt toàn bài, tiếng kêu liên hồi, khắc khoải và da diết. Tiếng kêu vang vào thế giới chật chội, tối tăm của nhà lao và tâm trạng nhà thơ trở nên bức bối, ngột ngạt đến nỗi phải kêu kên: “Ngột làm sao, chết uất thôi”. Bài thơ khép lại nhưng ta vẫn nghe tiếng tu hú “cứ kêu”, kêu hoài, kêu mãi… Bài thơ cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi. Người chiến sĩ gang thép đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng, và một niềm khát khao tự do cháy bỏng. Tags:Văn 8
Phân tích bài thơ Khi con tu hú – Đề và văn mẫu 8
785
Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến BÀI LÀM Bác Dương thôi đã thôi rồi. Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta Mở đầu là cảm giác sửng sốt và nỗi “ngậm ngùi” của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột và vĩnh viễn của bạn mình – Dương Khuê, ở đoạn sau, cảm nhận ấy còn được nhắc lại. “Làm sao bác vội về ngay. Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời” Câu “làm sao bác vội về ngay” trong nguyên tác bằng chữ Hán là “Hốt văn công phó chí” (1), dịch nghĩa là “Chợt nghe tin báo bác đã qua đời”. Câu thơ dịch không dùng chữ theo nghĩa đen “đã qua đời” mà theo nghĩa bóng “vội về ngay”. Cả bốn lần nói về cái chết của Dương Khuê, Nguyễn Khuyến đều cố tránh cánh diễn đạt trực tiếp về một mất mát đau lòng, một thực tế có vẻ phi lý nhưng lại hiển nhiên: “…thôi đã thôi rồi” (câu 1) “…vội về ngay” (câu 25) “…mãi lên tiên” (câu 28) và “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở” (câu 35). Cuộc tử biệt sinh ly đem đến cho người đang sống một tâm trạng hai chiều bạn mất và mất bạn. Cái chết của bạn sống lại trong lòng tác giả một quãng đời quan trọng với bao kỷ niệm tưởng đã lùi sâu vào dĩ vãng, từ những chuyện nghiêm chỉnh như thi cử đến những chuyện phóng khoáng như cuộc rượu, câu thơ, con hát… Quãng đời ấy lại gắn liền với một cục thế hết sức phức tạp và đen tối. Năm 1882. Hà thành thất thủ; năm 1883, thất thủ kinh đô: Hiệp ước Hác – măng (Harmand) rồi hiệp ước Pa – tơ – nốt (Patennôtre) nhục nhã… Hầu như cơn giông tố ba đào “quốc biến” cứ dồn dập đuổi theo Tam Nguyên trẻ tuổi vừa mới xuất chinh (2). Hai người kết bạn với nhau ít nhất cũng ba mươi tám năm kể từ khoa thi Giáp Tý (1864). Sau cái sự kiện năm 1883, mỗi người chọn lấy một cách xử thế. Nguyễn “cáo về” ở tuổi năm mươi, tuổi của sự dày dặn và chính chắn. Hai mươi bốn năm tiếp theo, ông là chính nhân đáng giá của lịch sử đất nước với hàng loạt vấn đề cũ và mới như nước mắt, dân nô lệ, nạn đói, kẻ sĩ biến chất, bọn cơ hội, tùy thời “bung ra” và lấn lướt…” bao nhiêu sự kiện phản ảnh vào ông bao nhiêu dằn vặt, tranh đấu trong tâm hồn ông!” (Xuân Diệu) (3). Thơ văn ông đẫm lệ nhân sinh và vũ trụ. Dương ở lại theo “phận đẩu thăng”, thơ văn nặng mùi hưởng lạc. Như vậy, ba mươi tám năm bầu bạn, họ không phải luôn luôn và hoàn toàn tượng tri, tương đắc. Nhất là khoảng thời gian mười chín năm cuối với vấn đề nổi cộm là họ Dương ở lại công tác với kẻ thù dân tộc (?). Dĩ nhiên, họ Dương không thuộc “ê kíp” (4), những tên nhồi tro xác cụ Phan vào thuốc súng rồi bắn xuống “Lan Giang” (4) những kẻ bày trò văn chương thi vịnh Kiều đề đánh hỏa mù vấn đề chính trị (5). Những câu thơ tuyệt vời dưới đây đâu phải là chuyện kỷ xảo hoặc tài chơi chữ mà sự chuyển tải những xao xuyến tâm hồn, một tiếng khóc chân thành: “Rượu ngon không có bạn hiền. Không mua không phải không tiền không mua. Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết. Viết đưa ai, ai biết mà đưa? Giường kia treo cũng hững hờ. Đàn kia gẩy củng ngẩn ngơ tiếng đàn”. Một câu lục bát chỉ mười bốn tiếng, có đến năm từ “không” lặp đi lặp lại nỗi tiếc bạn không nguôi, nỗi đau mình cô độc trước cuộc đời bất như ý. Còn ai để giải bày tâm sự: “viết đưa ai” và còn ai có thể hiểu được mình “ai biết mà đưa?” Nỗi cô đơn của tác giả đã vượt quan hệ Dương – Nguyễn lớn lên thành nỗi đau đời! Thực dân Pháp đã ngồi yên chỗ, ngọn cờ cần Vuơng đã ngã xuống… trong tâm trạng lớp người như Yên Đổ, đại cục của đất nước coi như đã hỏng. Âu trong nỗi buồn mất bạn là nỗi buồn nhân thế, một nỗi buồn thế kỷ. Điều ấy giải thích vì sao tác giả đã tìm được sự đồng cảm của nhiều thế hệ bạn đọc. “Đàn kia” có “gẩy” nữa cũng chỉ làm “ngẩn ngơ” những ai đang “ngất ngơ, lơ láo” trong cảnh “ngày loạn, người cùng”(7). Nỗi buồn nhân thế ấy đã được tác giả khái quát vào một câu thơ đậm chất triết lý: “Ai chẳng biết chán đời là phải”. Không chán sao được khi cái đạo của đời thì đang sụp đổ, còn mình thì: Ngước nhìn sông núi xiết buồn đau!” (8) Trở lại câu hỏi đã được đặt rạ. Nguyễn Khuyến vẫn giữ một tình bạn chân thành “từ trước đến sau”, thủy chung như nhất. Ông hết sức ân cần với bạn: Cầm tay hỏi hết xa gần. Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can. Và thực sự đau xót khi nhận được tin chẳng lành: “Chợt nghe, tôi bỗng tay chân rụng rời” Nhưng, Nguyễn Khuyến cũng có một thái độ rạch ròi trong việc Dương Khuê ra hợp tác với Tây. Có điều thái độ đó được chuyển tải ra câu chữ hết sức kín đáo và tinh tế. Tác giả dành hai mươi câu thơ (từ câu 3 đến câu 22) trên tổng số ba mươi tám câu toàn bài để nói về ba mươi tám năm hai người là bạn của nhau. Mười sáu câu trên nói về mười chín năm đầu, lúc cuộc đời dù sao vẫn còn suôn sẻ, khi cả hai tuổi xuân đang phơi phới. Ở tám câu còn lại thì bốn câu cuối (các câu 19,20,21,22) nhắc lại lần gặp nhau gần nhất. Không bao giờ là lần cuối, lần vĩnh biệt. Bốn câu trên (các câu 15,16,17,18) tóm lược chín năm cuối cùng kể từ cái mốc 1883: “Buổi dương cửu… thì thôi mới là!” Mười chín năm va đập trong cơn quốc biến, chính là lúc vàng đưa vào lửa, lúc nhân cách con người được thử thách trước vận hạn “nước loạn, nhà nghèo”. Lẽ nào lại “dám than trời” cái “phận đẩu thăng?”. Lẽ nào phải đi xin giống khác miếng ăn, “ăn vào thì lại nhục”(9). Vẫn biết, mỗi người có một cảnh ngộ, có kẻ vì cơm áo, có người mất lòng tin và dũng khí… an phận “sáng vác ô đi, tối vác về”. Nguyễn Khuyến cũng nghèo, gốc gác vốn nghèo, làm quan thanh liêm, về già có người “cho thịt” mà ông “ôm mặt khóc”. Khóc vì “Những nỗi cực nhục ở trên đời” (Xuân Diệu) (10). Đối với kẻ sĩ chân chính, danh tiết còn nặng hơn hình hài. “Nghèo chứ không khốn khổ. Kẻ sĩ không thi hành đạo đức thì mới khốn khổ (Trang Tử) (11). Vả lại, rộng và lớn hơn khuôn khổ chữ trung cũ kỹ đối với một dòng họ, một triều đại, vượt khỏi cấp độ truyện cổ “Bá Di, Thúc Tề”, đây là vấn đền nỗi nhục của quốc gia Đại Việt văn hiến. Trước họ mấy thập kỷ, Đồ Chiểu đã dứt khoát: “Thà đui mà giữ đạo nhà”, “thà thác mà chẳng đầu Tây” (12)… Dương Khuê không hẳn không biết Nguyễn Khuyến từng băn khoăn “về hay ở?” (13), “Mừng thấy các ông lùi mạnh bước” (14), mừng thấy “Đạo ta có lẽ chưa cùng chăng?” (15), “Khóc Dương Khuê” không phải là việc “đập cổ kính…” (16) mà đây là lần cuối nói với nhau một lời phải, lúc đậy nắp quan tài cho người đã khuất: Câu thơ dịch trên, nguyên văn chữ Hán là “Giải tổ quy điền viên”, dịch nghĩa “Cởi dây ấn về với ruộng vườn”, ý tứ rõ ràng cụ thể. Câu thơ dịch thanh thoát, ngôn từ dung dị, nhạc điệu uyển chuyển mềm mại làm cho ý nghĩa “co giãn”, vừa mang sắc thái triết lý, vừa là một lời trách cứ nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Không ai có thể dịch đúng ý tác giả hơn chính tác giả, nhất là đối với con người “nếu ngày xưa có thi thơ Nôm thì Nguyễn Khuyến lại đoạt thêm một cái bảng vàng Tiến sĩ thơ Nôm nữa, chứ chẳng chơi!” (17). Câu thơ trên – “cái gai hoa hồng” ấy – luôn nhắc nhở con người hãy nghĩ về danh tiết.
Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến
1,450
Đề bài: Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm Bài làm Viết về bà mẹ Việt Nam trong thời kì chống Mĩ, bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm là một bài thơ độc đáo và rất hay. Nó đã được phổ nhạc thành ca khúc từng làm rung động hàng triệu trái tim. Bà mẹ được nói đến là bà mẹ người Tà-ôi có một tình thương mênh mông: thương con, thương làng đói, thương bộ đội, thương đất nước. Bài thơ có 3 khúc ca được sáng tạo theo âm điệu dân ca, điệu ru con của đồng bào Tà-ôi trên miền núi Trị Thiên. Mở đầu mỗi khúc ca là một điệp khúc ngọt ngào tha thiết: Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ… Có lúc như vỗ về yêu thương. Tình mẹ hay tấm lòng nhà thơ: Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi… 1. Khúc ca thứ nhất là tiếng ru khi mẹ địu con giã gạo: Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời. Tiếng ru con "nghiêng" theo nhịp chày làm cho giấc ngủ cm cu Tai cũng "nghiêng" theo. Con như đang chia sẻ sự vất vả của mẹ. Má em cũng "nóng hổi" vì bao mồ hôi mẹ tuôn rơi. Hàng loạt hình ảnh hoán dụ (mồ hôi, má, vai, lưng, tim) được sử dụng rất "đắt" để thể hiện trái tim yêu thương mênh mông của người mẹ nghèo. Lưng mẹ là chiếc nôi để con lớn lên. Tim mẹ dạt dào tình mẫu tử, đã "hát thành lời". Hạt gạo hậu phương là "hạt vàng làng ta", hạt gạo của mẹ nặng tình nặng nghĩa, rất đáng tự hào: Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội. 2. Khúc ca thứ hai là tiếng ru khi mẹ tỉa bắp trên núi Ka-lưi. Người mẹ cần cù và đảm đang vừa địu con, vừa làm rẫy. So sánh "lưng núi" với "lưng mẹ" nhằm khẳng định đức tính kiên nhẫn, chịu đựng gian khổ của người mẹ nghèo: Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ. "Mặt trời” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là một hình ảnh ẩn dụ nói lên tình thương, niềm tự hào của mẹ đối với cu Tai, vì em là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mẹ: Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. Mẹ nhân hậu, lòng mẹ bao la mang nặng tình nhà nghĩa xóm: Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói. Thời kháng chiến "hạt gạo cắn đôi, hạt muối chia đều" là thế. 3. Khúc ca thứ ha, nhịp điệu vang lên dồn dập. Đó là lúc "Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối", dồn đồng bào Tà ôi vào chỗ chết, mẹ địu con khi đang "chuyển lán" và "đạp rừng", cả gia đình mẹ cùng ra trận, mang tầm vóc anh hùng: Anh trai cầm súng, chị gái cắm chông Mẹ địu em đi để giành trận cuối Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn. Khúc ca thứ ba là khúc ca chiến đấu. "Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh" là truyền thống anh hùng của người phụ nữ Việt Nam. Ở đây, người mẹ địu con ra trận, đi tiếp tế, đi tải đạn vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước. 4. Trong bài thơ, Nguyễn Khoa Điềm 3 lần nói lên giấc mơ đẹp của bé thơ: – Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần. – Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều. Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi. – Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ Mai sau con lớn làm người Tự do… Đó là giấc mơ tình thương, giấc mơ về ấm no, hạnh phúc, giấc mơ chiến thắng. Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ xứng đáng là bài ca lòng mẹ Việt Nam. Mọi đứa con chỉ có thể lớn lên bằng dòng sữa, bằng lời ru, tình thương của mẹ. Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm là tượng đài tráng lệ về bà mẹ Việt Nam "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Nó nhắc nhở mỗi chúng ta ghi sâu trong lòng tình cảm kính yêu và biết ơn người mẹ hiền của mỗi chúng ta, tự hào về bà mẹ Việt Nam.
Phân tích bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm
765
Đề bài: Phân tích bài thơ Lai Tân trong tác phẩm Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh Bài làm Vào khoảng những năm ba mươi của thế kỷ XX, trên văn đàn Việt Nam đã dần dần có một sự trưởng thành mới. Thi ca giờ đây của Việt Nam không còn bị lệ thuộc vào những quy ước khắt khe của Nho gia rằng tất cả nhà thơ không được bộc lộ cái tài một cách tự do. Bước vào giai đọan này, mỗi thi sĩ lại hiện diện trên văn đàn với một tư thế rất riêng, của riêng mình. Cũng bởi vì cái riêng này, họ – thi sĩ thời đại mới – đã có những định nghĩa rất khác về thơ. Nếu Xuân Diệu cho rằng “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” thì Hàn Mặc Tử lại nói: “Thi sĩ là người gánh trên vai cả nỗi đau nhân loại”. Câu hỏi đặt ra rằng “nỗi đau nhân loại” đó là gì? Có thể là nỗi phiền muộn “tương tư” như Nguyễn Bính chăng? Hay là tư thế “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” của Huy Cận? Bên cạnh những nỗi đau trên, Hồ Chí Minh cũng đã “vô tình” thêm vào “nỗi đau nhân loại” kia một góc nhìn rất khác. Đó là góc nhìn vào cái xấu xa, thối nát của xã hội. Không còn chỉ là gói gọn trong “vòng trời đất dọc ngang ngang dọc” của đất Việt mà đã chạm đến cái mục rửa của xã hội Trung Quốc do chính quyền Tưởng Giới Thạch đứng đầu lúc bấy giờ. Tuy rằng “ngâm thơ ta vốn không ham” nhưng nếu là con người thì Hồ Chí Minh lại thờ ơ với những gì chướng tai gai mắt thế sao? Chỉ gói gọn trong bài thơ “Lai Tân”, tác giả đã nhẹ nhàng nhưng lại đả kích sâu cay một xã hội “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh Chong đèn, huyện trưởng làm công việc Trời đất Lai Tân vẫn thái bình” Vì là người tù của chế độ Tưởng Giới Thạch nên không có gì khó hiểu khi tác giả lại vẽ ra một bức tranh hiện thực sắc sảo đến thế. Khi lược đọc qua bài thơ, người ta sẽ dễ dàng nhận thấy một nghịch lý – một nghịch lý rất lớn. Đúng rằng không thể phủ nhận được trong thi ca không được có những nghịch lý. Thi ca vẫn đươc quyền có những nghịch lý. Những nghịch lý đó đôi khi là cảnh “Hầu trời” của Tản Đà hay làm sao có thể được khi Xuân Diệu lại muốn “cắn” vào “xuân hồng”. Tuy là nghịch lý đấy nhưng tất cả đều mang trong mình một nét dễ thương của con người “ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Nghĩa là tuy nghịch lý về vật chất nhưng lại hợp lý trong tâm khảm. Cái nghịch lý ở đây mà Hồ Chí Minh đặt ra cũng thế. Cái nghịch lý này giờ đây đã kèm theo chút nóng giận, bực tức. Làm sao có thể được khi một xã hội “ban trưởng chuyên đánh bạc”, “cảnh trưởng” lại “kiếm ăn quanh” mà “trời đất Lai Tân vẫn thái bình”? Quả thật, nếu như định nghĩa rằng “ban trưởng” là người trông coi nhà lao và “cảnh trưởng” là những người có nhiệm vụ giải tù nhân. Tất cả họ dường như đều chung một công việc là giáo dục tù nhân, giúp tù nhân tốt hơn. Nhưng thực tế thì không phải vậy. Trong cái nghịch lý chủ đạo đã trình bày thì lại đâu đó nhen nhóm lên những nghịch lý khác. Chính là tại sao trong tù lại có cái nạn đánh bạc? Vẫn biết rằng chính xã hội lúc bấy giờ bên Trung Quốc thì món đánh bạc bị luật cấm. Nếu như anh đánh bạc thì không những anh, mà cả vợ con anh cũng bị liên lụy; còn riêng anh, anh phải đi tù. Đó là một thực tế và thực tế này đã được Hồ Chí Minh phác lại qua một lời ăn năn, hối tiếc của tên tù cờ bạc: “Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội Trong tù đánh bạc được công khai Bị tù con bạc ăn năn mãi Sao trước không vô quắt chốn này?” Chính bài thơ trên đã vẽ ra rất khéo sự lạm quyền đến khốn nạn của chế độ lúc đó. “Con bạc” kia bị tù là đáng rồi, thích đáng cho việc hắn làm. Nhưng làm sao có thể im lặng được khi cái kẻ bắt mình vì tội đánh bạc thì chính y cũng đánh bạc. Thế là cả cai tù và phạm nhân đều là tòng phạm. Cùng đánh bạc với nhau cả thôi, nếu tôi có tội thì anh cũng chẳng thoát; thế mà lấy cái tư cách gì mà anh bắt tôi? Quả đúng như thế, vị quan kia không có tư cách để “bắt tội” nhưng hắn có quyền. Hắn có quyền, cái quyền mà chế độ Tưởng Giới Thạch đã “ban tặng” cho hắn. Và rồi cái nghịch lý ở đây là nhà lao giờ đây đã bị biến thành sòng bạc “được công khai”. Tại đây, ngay cái nơi mà tù nhân ước gì mình đừng vô đây lại được cấp giấy phép đánh bạc. Ngay cả đến “con bạc ăn năn mãi”: thà lúc trước vào đây đánh bạc để khỏi bị kết tội. Nực cười chăng? Cũng có thể. Chua cay chăng? Cũng có thể. Đau đớn chăng? Cũng có thể. Cái nhà tù Tưởng Giới Thạch là thế đấy! Và rồi, không chỉ có nạn đánh bạc vậy đâu mà nơi đây còn bị Hồ Chí Minh chụp ảnh lại: “Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh”. Lại thêm cái nạn hối lộ. Đã quá đong đầy những sự thối nát, mục rửa của nhà tù Tưởng Giới Thạch. Khi bước vào lao tù, phạm nhân luôn ý thức rằng này đây mình sẽ bị đánh, bị đối xử có thể thậm chí như một súc vật. Biết là thế nhưng nếu với ý nghĩa nhà tù là nơi cải tạo phạm nhân thì lại sao có cái tình trạng hối lộ? Nghịch lý! Ở một bài thơ khác, tác giả cũng đã khắc lại cái trớ trêu, cái khốn nạn của thói ăn hối lộ này một cách rất chân thực: “Mới đến nhà lao phải nộp tiền Lệ thường ít nhất năm mươi nguyên Nếu anh không có tiền đem nộp Mỗi bước anh đi một bước phiền” Thì ra cái thói ăn hối lộ là một “lệ thường”. Bây giờ đã rõ đến tận gốc rễ của sự việc. “Cảnh trưởng” dường như có được cái quyền làm cho “mỗi bước anh đi một bước phiền” nếu như tù nhân không có “năm mươi nguyên” đem nộp. Ở nơi “tối tăm mù mịt ấy”, tác giả đã thấy, đã chua xót, đã cay đắng vì cái nghịch lý khốn nạn, trớ trêu này. Dường như tác giả đang tìm một sự hợp lý nào đó. “Chong đèn, huyện trưởng làm công việc” Tưởng chừng như “huyện trưởng” là một vị quan rất lo cho dân, rất thương dân nên khi đêm đã về, vạn vật như chìm đắm trong giấc mộng thì ông lại “thiêu đăng” để làm việc. Điều này thật là quý hóa! Nhưng câu hỏi đặt ra nếu như ông ta lo lắng cho dân, cho nước như thế thì tại sao cấp dưới của ông ta lại xảy ra, xuất hiện những thói đời như thế. Phải chăng ông là người có tài nhưng lại bất lực; hay ông cố tình cho qua và “cho phép” cấp dưới được quyền như thế? Vấn đề đặt ra tiếp theo rằng phải chăng “huyện trưởng” đã được cấp dưới đút lót? Đó quả là một câu hỏi lớn – một câu hỏi phải để cho chính chế độ đó trả lời. Một mặt khác, nếu như đánh đồng những đối tượng trong ba câu thơ đầu thì có lẽ “huyện trưởng” hằng đêm “thiêu đăng” để hút thuốc phiện. Không phải một cách cường điệu mà ghép hết tội này đến tội khác cho ông; nhưng dù có cố tìm một lý do chính đáng cho những hành động giữa đêm như thế trong bối cảnh này cũng là khó khăn. Chỉ cần lướt qua ba câu thơ đầu của “Lai Tân”, người đọc đã có thể thấy đó như một thước phim mà tác giả đang cố tái hiện lại một cách chân thực. Thước phim này chiếu lại một bộ máy cai trị ở Lai Tân gồm “ban trưởng”, “cảnh trưởng”, “huyện trưởng” với những việc làm xem ra là bình thường trong cái xã hội bấy giờ. Bình thường đến mức tầm thường! Thực tế là vậy. Một điều minh nhiên rằng cái xã hội đó sẽ không “thái bình”. Nhưng đến câu cuối bài thơ, với tất cả những sự việc như thế mà tác giả lại kết luận rằng: “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình” Dường như là dửng dưng và vô cùng nghịch lý. Tuy là thế nhưng tác giả đã sâu cay đả kích một cách nhẹ nhàng nhưng lại thấm thía. Nhãn tự “thái bình” đồng thời vừa vạch ra một nghịch lý, vừa vẽ ra một hợp lý mang “phong cách” Tưởng Giới Thạch. Phải chăng “thái bình” là do được sự đồng lòng nhất quán từ “cảnh trưởng”, “ban trưởng” đến “huyện trưởng”. Tất cả đều như nhau, cũng thối nát, mục rữa. Lại thêm với nhãn tự “thái bình”, tác giả dường như đang khẳng định rằng tình trạng của chế độ thống trị xã hội Trung Quốc bấy giờ vẫn xảy ra bình thường, không có gì phải lạ cả, thậm chí điều đó gần như là bản chất của guồng máy cai trị ở đây. Chỉ cần như thế thôi, tác giả đã mỉa mai châm biếm cái xã hội dưới thời Tưởng Giới Thạch đó một cách sâu sắc đến vậy. Sâu sắc là bởi thi nhân đã nhìn thấy vào trong cái sự thật đã được che đậy bằng bề mặt giả tạo của bộ máy cai trị này. Hồ Chí Minh dường như đã thật sự trở thành một thi sĩ vì tác giả đã “gánh trên vai cả nỗi đau nhân loại”. Thi nhân vừa thương vừa đả kích mạnh mẽ. Bút pháp châm biếm nhẹ nhàng mà thấm thía cùng nhãn tự “thái bình” đặc biệt xen giữa nhịp thơ 4/3 đã giúp thi sĩ hòan thành “Lai Tân”. Rất chính đáng, vô lý nhưng lại có lý hết lời!
Phân tích bài thơ Lai Tân trong tác phẩm Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh
1,795