text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu Hướng dẫn Phan tich bai tho Luu biet khi xuat duong – Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương (Xuất dương lưu biệt) của Phan Bội Châu. Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, người làng Đan Nhiệm, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến sự thất bại của phong trào cần Vương chống Pháp. Chế độ phong kiến suy tàn kéo theo sự sụp đổ của cả một hệ thống tư tưởng phong kiến già cỗi, lỗi thời. Tình hình đó đặt ra cho các chí sĩ yêu nước một câu hỏi lớn: Phải cứu nước bằng con đường nào? Trong không khí u ám bao trùm khắp đất nước thời đó, những tia sáng hi vọng hé rạng qua nguồn sách Tân thư truyền bá tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản của phương Tây với nội dung khác hẳn với các sách thánh hiền thuở trước. Người ta có thể tìm thấy ở đó những gợi ý hấp dẫn về một con đường cứu nước mới, những viễn cảnh đầy hứa hẹn cho tương lai. Vì thế, các nhà Nho tiên tiến của thời đại như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã tiên phong dấn bước, bất chấp nguy hiểm, gian lao. Phan Bội Châu là một trong những chí sĩ yêu nước đầu tiên mở ra con đường cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Mặc dù sự nghiệp không thành, nhưng ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về lòng yêu nước thiết tha và ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất. Sinh thời, Phan Bội Châu không coi văn chương là mục đích của cuộc đời mình nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, ông đã chủ động nắm lấy thứ vũ khí tinh thần sắc bén ấy để tuyên truyền, cổ động, khích lệ tinh thần yêu nước của đồng bào ta. Năng khiếu văn chương, bầu nhiệt huyết sôi sục cùng sự từng trải trong bước đường cách mạng là cơ sở để Phan Bội Châu trở thành một nhà văn, nhà thơ lớn với những tác phẩm xuất sắc như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914), Trùng Quang tâm sử (1913 -1917), Phan Bội Châu niên biểu (1929)… Năm 1904, ông cùng các đồng, chí của mình lập ra Duy Tân hội. Năm 1905, hội chủ trương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập để chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho cách mạng và tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài. Trước lúc lên đường, Phan Bội Châu làm bài thơ Xuất dương lưu biệt để từ giã bạn bè, đồng chí: Sinh vi nam tử yếu hi kì, Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di. Ư bách niên trung tu hữu ngã, Khởi thiên tải hậu cảnh vô thùy. Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế, Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si! Nguyện trục trường phong Đông hải khứ, Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi. Dịch thơ: Làm trai phải lạ ở trên đời, Há để càn khôn tự chuyển dời. Trong khoảng trăm năm cần có tớ, Sau này muôn thuở, há không ai? Non sông đã chết, sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài! Muốn vượt bể Đông theo cánh gió, Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. Bài thơ mở đầu bằng việc khẳng định chí làm trai: Làm trai phải lạ ở trên đời, Há để càn khôn tự chuyển dời. Câu thơ chữ Hán: Sinh vi nam tử yếu hi kì. Hai từ hi kì có nghĩa là hiếm, lạ, khác thường cần được hiểu như những từ nói về tính chất lớn lao, trọng đại, kì vĩ của công việc mà kẻ làm trai phải gánh vác. Đây cũng là lí tưởng nhân sinh của các nhà Nho thời phong kiến. Trước Phan Bội Châu, nhiều người đã đề cập đến chí làm trai trong thơ ca. Phạm Ngũ Lão đời Trần từng băn khoăn: Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu (Tỏ lòng). Trong bài Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ khẳng định: Đã mang tiếng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông… và nhấn mạnh: Chí làm trai nam, bắc, tây, đông, Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể (Chí khí anh hùng). Chí làm trai của Phan Bội Châu thuyết phục thế hệ trẻ thời bấy giờ ở sự táo bạo, quyết liệt và cảm hứng lãng mạn nhiệt thành bay bổng. Với ông, làm trai là phải làm được những điều lạ, tức những việc hiển hách phi thường. Câu thơ thứ nhất khẳng định điều đó. Câu thơ thứ hai mang ngữ điệu cảm thán bổ sung cho ý của câu thứ nhất: Kẻ làm trai phải can dự vào việc xoay chuyển càn khôn, biến đổi thời thế chứ không phải chỉ giương mắt ngồi nhìn thời cuộc đổi thay, an phận thủ thường, chấp nhận mình là kẻ đứng ngoài. Thực ra, đây là sự tiếp nối khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài Chơi xuân: Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi, Sinh thời thế phải xoay nên thời thế. Chân dung nhân vật trữ tình trong bài Lưu biệt khi xuất dương hiện lên khá rõ qua hai câu đề. Đó là một con người mang tầm vóc vũ trụ, tự ý thức rằng mình phải có trách nhiệm gánh vác những trọng trách lớn lao. Con người ấy dám đối mặt với cả càn khôn, vũ trụ để tự khẳng định mình. Chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt hẳn lên trên cái mộng công danh xưa nay thường gắn liền với tam cương, ngũ thường của Nho giáo để vươn tới lí tưởng xã hội rộng lớn và cao cả hơn nhiều. Cảm hứng và ý tưởng đó phần nào xuất phát từ lí tưởng trí quân, trạch dân của các nhà Nho thuở trước nhưng tiến bộ hơn vì mang tính chất cách mạng. Theo quy luật, con tạo xoay vần vốn là lẽ thường tình, nhưng Phan Bội Châu ôm ấp khát vọng chủ động xoay chuyển càn khôn, chứ không để cho nó tự chuyển vần. Cũng có nghĩa là ông không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh. Lí tưởng tiến bộ ấy đã tạo cho nhân vật trữ tình trong bài thơ một tầm vóc lớn lao, một tư thế hiên ngang, ngạo nghễ thách thức với càn khôn. Hai câu thực thể hiện ý thức về trách nhiệm cá nhân của nhà thơ, cũng là nhà cách mạng tiên phong trước cuộc đời: Trong khoảng trăm năm cần có tớ, Sau này muôn thuở, há không ai? Câu thứ ba không chỉ đơn giản xác nhận sự có mặt của nhân vật trữ tình ở trên đời mà còn hàm chứa một tâm niệm: Sự hiện diện của ta không phải là một sự kiện ngẫu nhiên, vô ích; vì vậy, ta phải làm một việc gì đó lớn lao, hữu ích cho đời. Câu thứ tư có nghĩa là ngàn năm sau, lẽ nào, chẳng có người nối tiếp công việc của người đi trước. “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt ra giữa giới hạn trăm năm của đời người và ngàn năm của lịch sử. Sự khẳng định cần có tớ không phải với mục đích hưởng lạc mà là để cống hiến cho đáng mặt nam nhi và lưu danh hậu thế. Câu hỏi tu từ cũng là một cách khẳng định mãnh liệt hơn khát khao cống hiến và nhận thức đúng đắn của tác giả: Lịch sử là một dòng chảy liên tục, cần có sự góp mặt và gánh vác của nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Trong bốn câu thơ đầu, những hình ảnh kì vĩ của thiên nhiên như càn khôn, trăm năm, muôn thuở đã thể hiện cảm hứng lãng mạn bay bổng, chính là cội nguồn sức mạnh niềm tin của nhân vật trữ tình. Ở những năm đầu thế kỉ XX, sau thất bại liên tiếp của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, một nỗi bi quan, thất vọng đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêu nước. Tâm lí an phận thủ thường lan rộng. Trước tình hình đó, bài thơ Lưu biệt khi xuất dương có ý nghĩa như một hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, động viên mọi người đứng lên chống giặc ngoại xâm. Trong hai câu luận, Phan Bội Châu đặt chí làm trai vào hoàn cảnh thực tế của lịch sử đương thời: Non sông đã chết, sống thêm nhục, Hiền thánh còn đâu học cũng hoài. Lẽ nhục – vinh mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của đất nước và dân tộc: Non sông đã chết, sống thêm nhục. Ý nghĩa của nó đồng nhất với quan điểm: Chết vinh còn hơn sống nhục trong thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX. Câu thơ thứ 5 bày tỏ một thái độ dứt khoát, được thể hiện bằng ngôn ngữ đậm khẩu khí anh hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết. Đó là khí tiết cương cường, bất khuất của những con người không cam chịu cuộc đời nô lệ tủi nhục. Ý thơ mới mẻ mang tính chất cách mạng. Ở câu thứ 6, Phan Bội Châu đã thẳng thắn bày tỏ ý kiến trước một thực tế chua xót là ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo đối với tình cảnh nước nhà lúc bấy giờ. Sách vở thánh hiền chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan. Cho nên nếu cứ khư khư theo đuổi thì chỉ hoài công vô ích mà thôi. Tất nhiên, Phan Bội Châu chưa hoàn toàn phủ nhận cả nền học vấn Nho giáo, nhưng đưa ra một nhận định như thế thì quả là táo bạo đối với một người từng là đệ tử của chốn cửa Khổng sân Trình. Dũng khí và nhận thức sáng suốt đó trước hết bắt nguồn từ lòng yêu nước thiết tha và khát vọng cháy bỏng muốn tìm ra con đường đi mới để đưa nước nhà thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than. Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trước mắt là cứu nước cứu dân, là Duy tân, tức là học hỏi những tư tưởng cách mạng mới mẻ và tiến bộ. Bài thơ không đơn thuần là chỉ để bày tỏ ý chí mà thực sự là một cuộc lên đường của nhân vật trữ tình: Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi. Các hình ảnh kì vĩ trong hai câu kết mang tầm vũ trụ: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc. Tất cả như hòa nhập làm một với con người trong tư thế bay lên. Trong nguyên tác, hai câu 7 và 8 liên kết với nhau để hoàn chỉnh một tứ thơ đẹp: Con người đuổi theo ngọn gió lớn qua biển Đông, cả vũ trụ bao la Muôn lớp sóng bạc cùng bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi). Tất cả tạo thành một bức tranh hoành tráng mà con người là trung tâm được chắp cánh bởi khát vọng lớn lao, bay bổng lên trên thực tại tối tăm khắc nghiệt, lồng lộng giữa trời biển mênh mông. Bên dưới đôi cánh đại bàng đó là muôn trùng sóng bạc dâng cao, bọt tung trắng xóa, dường như muốn tiếp sức cho con người bay thẳng tới chân trời mơ ước. Hình ảnh đậm chất sử thi này đã thắp sáng niềm tin và hi vọng cho một thế hệ mới trong thời đại mới. Thực tế thì cuộc ra đi của Phan Bội Châu là một cuộc ra đi bí mật, tiễn đưa chỉ có vài ba đồng chí thân thiết nhất. Dù phía trước chì mới le lói vài tia sáng của ước mơ, nhưng người ra đi tìm đường cứu nước vẫn hăm hở và đầy tin tưởng. Sức thuyết phục, lôi cuốn của bài thơ chính là ở ngọn lửa nhiệt tình đang bừng cháy trong lòng nhân vật trữ tình. Bài thơ đã thể hiện hình tượng người anh hùng trong buổi lên đường xuất dương lưu biệt với tư thế kì vĩ, sống ngang tầm vũ trụ. Người anh hùng ấy ý thức rất rõ ràng về “cái tôi công dân” và luôn khắc khoải, day dứt trước sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Bài thơ Lưu biệt khi xuất dương được viết theo bút pháp ước lệ và cường điệu, rất phù hợp với mục đích cổ vũ, động viên. Giọng thơ vừa sâu lắng, da diết, vừa sôi sục, hào hùng, mang âm hưởng tráng ca. Nỗi đau đớn, niềm lạc quan, nhiệt tình hành động cùng tư tưởng cách mạng đã thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bài thơ. Âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay động, thức tỉnh rất lớn đối với mọi người. Đây là bài thơ từ biệt mà cũng là lời kêu gọi, thúc giục lên đường. Tầm vóc bài thơ hoàn toàn tương xứng với tầm vóc của một con người được cả dân tộc ngưỡng mộ và tin tưởng. Trong tác phẩm Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925) tác giả Nguyễn Ái Quốc đã suy tôn Phan Bội Châu là: bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập được hai mươi triệu đồng bào trong vòng nô lệ tôn sùng. Theo: Thái Bảo
Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu
2,338
Phân tích bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đổ Phủ Hướng dẫn Trong đó, Đỗ Phủ (712 – 770) là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất, được tôn vinh là ‘Thi thánh’. Ông là nhà thơ giàu lòng yêu nước, thương dân, lo đời, ghét cường quyền bạo ngược. Tính hiện thực và tinh thần nhân đạo dào dạt trong hơn 1.400 bài thơ ôngđể lại, phản ánh tâm hồn cao đẹp của một ‘nhà thơ dân đen’. Cuộc đời của Đỗ Phủ trải qua nhiều bất hạnh: công danh lận đận, con chết, lưu lạc tha hương, càng cuối đời càng nghèo đói, cơm không đủ ăn, ốm đau không thuốc thang cơm cháo, nằm chết trên một chiếc thuyền rách nát nơi quê người. ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’được xếp vào trong số 100 bài thơ hay nhất của Đỗ Phủ. Ông viết bài thơ này vào những năm cuối đời mình. Năm 760 (hay 761?) được bạn bè giúp đỡ, Đỗ Phủ đã dựng được một mái nhà tranh bên cạnh khe Cán Hoá ở phía tây Thành Đô. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ngôi nhà bị mưa bão phá nát. Năm đó, loạn An – Sử vẫn đang diễn ra khốc liệt. Bài thơ gồm có 23 câu, phần lớn là câu thất ngôn, có vài câu dài đến trên dưới chục chữ, vừa có vần trắc vừa có vần bằng. Chữ ‘ca’ trong bài thơ ‘Mao ốc vị thu phong sở phá ca’ là một loại thơ cổ (cổ phong) có nguồn gốc sâu xa với một điệu dân ca cổ. Nhiều nhà thơ đời Đường đều có viết thể ‘ca’ này: ‘Thu phô’ ca’ (Lí Bạch), ‘Thiên Dục phiêu Đồ ca’ (Đỗ Phủ), ‘Trường hận ca’ (Bạch Cư Dị), v.v… Muốn cảm nhận ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’ này, có lẽ nên đọc lại một trong hai bài thơ sau đây của Đỗ Phủ, bài thơ ‘Nhớ em’. Từ đó, ta mới có thêm căn cứ để phân tích: ‘Chạy loạn sang châu Tế Nghe em đói rét hoài Đường thăm còn vướng giặc Thư gửi biết nhờ ai? Lủi trốn khi lo vẩn Buồn phiền lúc ốm dai Phó cho dòng nước chảy Nghìn vạn mối sầu dài!’ (Nhượng Tống dịch) Bài thơ ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’ gồm có bốn phần: năm câu đầu nói bão tố phá nát ngôi nhà tranh, năm câu nối tiếp nói bọn trẻ con cướp tranh; tám câu tiếp theo tả cảnh mưa tầm tã nhà bị dột, cha con ngồi trong mưa rét; năm câu cuối thể hiện niềm mơ ước của nhà thơ. 1. Khổ thơ đầu như một ghi chép ngắn về trận thu phong. Đó là một trận bão tố, hoặc là một cơn lốc vào tháng 8 ‘gió thét già’. Ba lớp tranh ngôi nhà của Đỗ Phủ bị ‘cuộn mâ’t’ bay tứ tung khắp mọi nơi. Có tấm tranh bay rải khắp bờ sông. Có tấm tranh ‘treo tót ngọn rừng xa’. Có mảnh tranh bị phá nát rơi xuống mương nước. Chữ ‘tranh’ (mao) được nhắc lại 2, 3 lần, lối viết liệt kê đã tái hiện lại trận cuồng phong lần lượt bóc đi từng tấm tranh, nhà thơ ngơ ngác nhìn, bất lực. Cả năm câu thơ đều được gieo vần bằng: ‘hào – mao – giao – sao – ao’, đó là những vần có âm vang diễn tả âm điệu thơ như tiếng khóc, tiếng thở than, về vần thơ, Khương Hữu Dụng thể hiện đúng dụng ýnghệ thuật của Đỗ Phủ trong nguyên tác: ‘già – ta – xa – sa’. cháy gào không được’.Lũ trẻ gian tham cướp được chiếc tranh nào thì cứ ngang nhiên ‘cắp tranh đi tuốt vào lũy tre’ chiếc tranh ấy. Như thế là sau thiên tai, gia đình nhà thơ lại gặp ‘đạo tặc’, đó là lũ ‘quần đồng’ hạ lưu, những ‘tiểu tướng…’ sản phẩm của một xã hội đại loạn. Nếu khổ thơ đầu chỉ mới nói đến cái rủithì khổ thơ thứ 2 nói thêm nỗi đau,nỗi buồntrước một xã hội loạn lạc, đảo điên, trong đó lũ ‘quẩn đồng’ trẻ con vừa láo hỗn vừa gian tham. 3. Khổ thơ thứ ba ghi thêm một tai họa mới: trời mưa rét thâu đêm mà mái nhà đã bị gió thu phá nát. Gió lặng thì mây đen che phủ trời đất tối như mực. Mưa tầm tã suốt canh khuya. Nhà dột, giường không có một chỗ nào khô. Chăn rách nay thấm nước lạnh như sắt. Các chi tiết nghệ thuật được miêu tả vừa cụ thể, vừa hiện thực: gió, mưa, nhà dột, giường ướt, chăn rách… ‘Mền vải lâu năm lạnh tựa sắt, Con nằm xấu nết đạp lót nát Đầu giường nhà dột chẳng chừa đâu Dày hạt mưa, mưa chẳng dứt’ Nhà thơ ngồi trong mưa, ngồi dưới mưa thâu đêm. Tuổi già, sức yếu, bệnh tật… Đỗ Phủ vừa thương vợ con, vừa thương mình. Nỗi đau khổ như dồn lại, trút lên đầu một con người vừa nếm trải nhiều bất hạnh. Đêm như dài thêm ra: ‘Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê, Đêm dài ướt át sao cho trót?’ Khổ thơ thứ 3,về mặt bố cục mang một ý nghĩa lớn, ghi lại cái đại họa trong một đêm thu trời mưa. Nó làm rõ thêm một kinh nghiệm sống: ‘Phúc bất trùng lai, họa vô dơn chí!’. Dân gian có câu: ‘Thứ nhất con đói, thứ nhì nợ đòi, thứ ba nhà dột!’. Đỗ Phủ còn thêm một sự đau khổ nữa, đó là thân già, ốm đau ngồi co ro trong mưa rét, nhìn cảnh vợ con đang nằm dưới mưa lạnh thì nỗi khổ ấy không thể nào tả hết. Cái chăn cũ, mỏng, lâu năm, bình thường đắp đã không đủ ấm, đêm nay lại bị con thơ đạp rách nát trong cảnh mưa rét, nhà thủng mái… là những chi tiết nghệ thuật nói lên cái nghèo khổ, cái cùng cực của một gia đình tàn tạ giữa thời loạn lạc, đúng như trong bài ‘Nhớ em’ ông đã viết: ‘Buồn phiền lúc ốm dai – Phó cho dòng nước chảy – Nghìn vạn mối sầu dài’… 4. Phần thứ tư là phần hay nhất của bài thơ.Năm dòng cuối thể hiện tấm lòng cao cả của một kẻ sĩ chân chính: thương dân và lo đời: ‘Ước được nhà rộng muôn ngàn gian, Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan, Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn! Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!’ Trong nỗi đau thương phũ phàng của cuộc đời, con người rất dễ rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, hoặc gục đầu cam chịu, rồi than thân trách phận. Cũng có thể suốt đêm ngồi trong mưa lạnh rét cóng, Đỗ Phủ có quyền nghĩ đến một mái lều, một tấm chăn, một bát cơm, một ngọn lửa… cho vợ con và bản thân ông. Nhưng nhà thơ đã làm cho người đọc bất ngờ trước niềm mong ước của ông. Ông mơ ước có một ngôi nhà kì vĩ ‘muôn ngàn gian’ vô cùng vững chắc ‘Gió mưa chẳng núng, vững như thạch bàn’. Ngôi nhà ấy để ‘Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan’. Có thể nói, Đỗ Phủ có tình thương lớn của một nhà nho chân chính sống và ứng xử theo phương châm: ‘Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ’. Thực tế xưa nay chưa hề có một ngôi nhà ‘rộng muôn ngàn gian’ như thế trên thế gian. Khổ thơ được sáng tạo nên bằng biện pháp tu từ so sánh và thậm xưng để diễn tả ước mơ to lớn và cảm hứng lãng mạn dào dạt, làm sáng bừng lên tấm lòng nhân ái bao la của một con người trải qua nhiêu bất hạnh giữa thời loạn lạc. Sau loạn An – Sử, nhiều miền rộng lớn bị đốt phá tan hoang, hàng triệu người rơi vào thảm kịch: không cơm ăn, áo mặc, không cửa nhà, khắp mọi nơi người chết đói, chết rét đầy đường. Vì thế nhà thơ mong mỏi ai cũng có một mái ấm nương thân. Lo đời và thương người, khao khát hạnh phúc cho muôn dân là tình cảm tha thiết của nhiều bậc vĩ nhân, nhiều nhà thơ lớn xưa và nay. Nhà thơ Nguyễn Trãi cũng đã từng mơ ước có một cây đàn Ngu Cầm – cây đàn thần của vua Thuấn để mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân khắp mọi phương trời: Dân giàu đủ khắp đòi phương’ (Quốc âm thi tập) Trở lại ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá’, ta vô cùng xúc động trước lời nguyền của nhà ‘hàn sĩ’ Đỗ Phủ. Đây là những lời gan ruột, tâm huyết: ‘Than ôi! Bao giờ nhà ẩy sừng sững dựng trước mắt, Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!’ Thấy được ngôi nhà ấy tức là thấy được cảnh thái bình, no ấm yên vui đến với mọi người, mọi nhà, trong đó có những kẻ sĩ nghèo. Tác giả nêu ra một giả định rất chân thành cảm động. Nếu thấy ngôi nhà ‘muôn ngàn gian’ trong mơ trở thành hiện thực thì riêng Đỗ Phủ ‘lều ta nát, chịu chết rét cũng được!’. Chân thực là yếu tố hàng đầu của cảm xúc thơ ca. Lời nguyền của Đỗ Phủ rất chân thực. Không chỉ riêng bài thơ này, mà qua nhiều bài thơ khác, như chùm thơ ‘Tam lại’ và ‘Tam biệt’, ông đã nói đến tình thương yêu mãnh liệt và bao la đối với nhân dân lầm than giữa thời loạn lạc. Có thể nói, năm dòng thơ cuối bài thấm đẫm tình người, chứa chan tinh thần nhàn đạo. Sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và yếu tố lãng mạn đã tạo nên giá trị nhân bản sâu sắc. Mười ba thế kỷ đã trôi qua, ‘Bài ca nhà tranh bị gió thu phá ‘của Đỗ Phủ vẫn để lại cho chúng ta nhiều rung động và ám ảnh. Ám ảnh về những đau khổ và cay đắng của một nhà thơ vĩ đại lỗi lạc đời Đường phải nếm trải. Rung động về một ước mơ tuyệt đẹp nhưng chẳng bao giờ có được trong một xã hội loạn lạc, bất công và thối nát. Có biết được tình cảnh bi đát của Đỗ Phủ sau khi nhà bị tốc mái, ông phải đưa vợ con xuống ở trên một chiếc thuyền con rách nát lênh đênh giữa dòng sông Tương – mới cảm được phần nào ý vị đậm đà tình nhân áicủa bài thơ, cũng như cái ý vị chua chátcủa một cuộc đời!
Phân tích bài thơ Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đổ Phủ
1,814
Đề bài: Phân tích bài thơ Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành để cho thấy bộ mặt ghê tởm của tên tướng giặc phương Bắc Bài làm Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành Sáu chục người ta sức mỏi mòn Riêng ông yên giáp nhảy bon bon Được lời vua chúa cười là thích Quên nỗi anh em thấy những buồn Những tưởng cột đồng loè gái Việt Ngờ đâu xe ngọc lụy đàn con Đài mây, tên họ sao không để Cúng tế phương Nam chết vẫn bòn Nguyễn Du (Thơ chữ Hán – K.D dịch) Ngoài kiệt tác Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du còn để lại Văn chiêu hồn và 3 tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Bắc hành tạp lục là tập thơ đi sứ của Nguyễn Du vào năm 1813 – 1814. Bài thơ Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành rút trong Bắc hành tạp lục. Trên đường đi sứ, nhìn thấy miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành (vùng Kép, tỉnh: Hà Bắc nước ta ngày nay), ông viết bài thơ này để chế giễu nhân cách tầm thườnp bộ mặt tham lam độc ác của tên tướng giặc phương Bắc: Sáu chục người ta sức mỏi mòn… Cúng tế phương Nam chết vẫn bòn". Phục Ba là tước hiệu của Mã Viện nên hắn được gọi là Mã Phục Ba. Tên tướng giặc này từng đem quân sang xâm lược nước ta, dìm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 vào biển máu. Sau khi Mã Viện chết, Hoa kiều đã lập một số miếu thờ hắn ở một vài nơi trên đất nước ta. Nguyễn Du đã lấy một vài sự kiện có thực về cuộc đời Mã Viện để viết bài thơ này. Phần đề, nhà thơ nêu lên một nghịch lý: Sáu chục người ta sức mỏi mòn Riêng ông yên giáp nhảy bon bon. Từ 60 tuổi trở đi, người ta sa sút nhiều về sức khoẻ. Riêng Mã Viện còn muốn ra trận để lập công. Vua nhà Hán lưỡng lự khi thấy hắn đã già, không muốn cho đi Mã Viện muốn tỏ sức còn khỏe liền mặc áo giáp nhảy ngay lên ngựa. Nhà vua cười nói: “Ông này còn quắc thước lắm “ Mã Viện quả khác thường, già rồi mà còn "yên giáp nhảy bon bon” chạy nhanh và nhẹ lắm. Giọng thơ khen mỉa, từ cái khác thường về sức lực, hắn còn có cái khác thường nữa đó là một kẻ hám công danh. Phần thực nói rõ thêm nhân cách tầm thường của Mã Phục Ba. Câu 3 và 4 đối nhau. Mã Viện vui sướng, thích thú khi được vua Hán cười và khen – Hắn lại bỏ ngoài tai lời can ngăn của anh em: Được lời vua chúa cười là thích Quên nỗi anh em thấy những buồn Thiếu Du là em họ Mã Viện thương ông anh già tham công danh mà chi chuốc cái khổ vào thân, hết lời khuyên can, nhưng hắn đã dần bỏ ngoài tai hết cả! Câu thơ đặt trong thế tương phản để biểu thị một thái độ khinh bỉ, một nụ cười châm biếm. Từ việc chế giễu nhân cách tầm thường, Nguyễn Du chuyển sang nói về hành động của Mã Phục Ba: dựng cột đồng trụ và chuyện xe ngọc. Sau khi dẹp tan cuột khởi nghĩa Hai Bà Trưng, tên tướng giặc dựng cột đồng trụ ở Trấn Nam quan, có khắc 6 chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Hành động ấy rất xảo quyệt. Nguyễn Du cười vào mặt hắn, cho là việc ấy chẳng hù dọa được ai, may lắm lòe bịp được mấy mụ đàn bà! Mã Viện đã ăn cắp nhiều vàng bạc, châu báu của nhân dân ta đem về nước cùng với một số xe chở hạt ý dĩ. Mã Viện chết, quần thần tố giác. Vua Hán giận, vợ con Mã Viện không dám đem thi hài hắn về quê, chỉ chôn cất sơ sài ở phía tây thành. Vạch trần bộ mặt xảo quyệt và tham lam của tên tướng thiên triều, Nguyễn Du đã nhiếc móc: Những tưởng cột đồng lòe gái Việt Ngờ đầu xe ngọc lụy đàn con Mã Viện đã chết nhưng hai vết nhơ trong cuộc đời thì không bao giờ có thể rửa sạch! Xảo quyệt, tham lam, độc ác là bản chất bọn quan lại, tướng tá, bọn Thái thú phương Bắc. Đây là hai vần thơ hay nhất, sâu sắc nhất lên án bọn xâm lược Trung Quốc. Hai câu kết, nhà thơ dùng lối nói móc đả kích sâu cay Mã Viện. Nhà thơ hỏi hắn hay hỏi vua Hán, hỏi mọi người: Đài mây, tên họ sao không để Cúng tế phương Nam chết vần bòn Vua nhà Hán xây gác Vân Đài (đài mây), cho vẽ chân dung 28 vị đại công thần để thờ ở đấy. Mã Viện không những Nam chinh Bắc chiến mà còn có con cái lấy vua được lập làm hoàng hâu, thế mà chẳng được đưa vào đài mây. Nhưng lại có chuyện kỳ quặc là ở Đại Việt sao lại có miếu thờ hắn? Đúng là chết rồi vẫn còn tham lam đòi hương khói cúng tế ở phương Nam. “Chết vẫn bòn” là một ý thơ đả kích mạnh mẽ. Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành là một bài thơ độc đáo, được viết theo thể thất ngôn bát cú. Giọng thơ chế giễu và châm biếm sâu cay. Nguyễn Du lựa chọn một vài chuyện trong cuộc đời Mã Viện để vẽ lên bức chân dung biếm họa. Thủ pháp tương phản đối lập được sử dụng sắc sảo, tài tình, cả bài thơ hàm ẩn một câu hỏi: Tại sao tên tướng giặc có nhiều nợ máu đối với nhân dân ta như vậy lại có miếu thờ hắn? Cùng với bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống của Hồ Xuân Hương, bài thơ Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành biểu thị tinh thần dân tộc, ý thức độc lập tự chủ của nhân dân ta chống chủ nghĩa bành trướng phương Bắc.
Phân tích bài thơ Miếu thờ Mã Phục Ba ở Giáp Thành để cho thấy bộ mặt ghê tởm của tên tướng giặc phương Bắc
1,026
Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Tản Đà là một nhà thơ có phong cách nghệ thuật đặc biệt trong làng thi sĩ Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Bài “Muốn làm thằng Cuội” là bài thơ kiệt tác, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Tản Đà thi sĩ: “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! Trần thế em nay chán nửa rồi. Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi Có bầu có bạn can chi tủi Cùng gió, cùng mây thế mới vui Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Mở đầu bài thơ là một tiếng kêu “buồn lắm chị Hằng ơi!”. Một tiếng kêu đầy ắp tâm sự. Ba tiếng “Chị Hằng ơi!” rất biểu cảm, ý vị làm giọng thơ thiết tha thân mật. Câu thơ man mác sự buồn và chán. Tản Đà đã từng viết “Đời đáng chán hay không đáng chán?” Nay thì đã “chán nửa rồi”. Bài thơ in trong tập “Khối tình con” xuất bản năm 1961, qua đó ta thấy rõ nguyên cớ sâu xa, buồn và chán vì trần thế, vì cuộc đời xấu xa, vì chế độ thực dân nửa phong kiến ngột ngạt, thối nát, tù hãm. Vì công danh dở dang: “Tài cao, phận thấp, chí khí uất”. Buồn vì non nước đang bị ngoại bang thống trị “lệ ai giàn giụa với giang san”. Đó là nỗi buồn của một hệ thống trong vòng nô lệ lầm than. Là một thi sĩ đa cảm, đa tình, nỗi buồn đã kết thành mối sầu: Một mối tơ tầm mấy đoạn vương”. (Đề khối tình con thứ nhất) Một chữ “xin” rất chân thành tha thiết, như nài nỉ: “Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành hoa xin chị nhắc lên chơi”. Hai câu thực đã làm rõ đề bài “Muốn làm thằng Cuội” ở nơi cung trăng, cung quế. Câu hỏi tu từ gợi nhiều man mác bâng khuâng. “Cành đa” đã trở thành cái thang bắc lên chín tầng mây xanh để “chị nhắc lên chơi” cung quế. Đó là giấc mộng thoát li. Mộng vì chán đời, ngán đời. Mộng có tính phủ định: “Nghĩ đời lắm lúc không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời”. (Nhớ mộng) Có lên được cung quế mới đỡ “tủi”, mới thỏa thích, “thế mới vui”. Có chị Hằng bầu bạn; có gió, có mây cùng chơi với. Điệp ngữ (có, cùng) và phép đối được sáng tạo, có cả tiểu đội bình và đối. Cách ngắt nhịp 2/2/3 tạo nên giọng thơ nhún nhảy lâng lâng. Thấm đẫm vần thơ là chất phong tình lãng mạn. Đọc lên nghe rất thú vị: “Có bầu có bạn can chi tủi Cùng gió, cùng mây thể mới vui”. Đúng như nhà phê bình văn học Lê Thanh trong cuốn “Tản Đà thi sĩ” (1939) đã nhận xét “Thơ của ông (Tản Đà) là chất thơ trong như lọc với cảnh tượng không rõ rệt, những hình ảnh mờ mờ, ông vẽ những bức tranh tuyệt bút; với những tư tưởng lâng lâng, với những cảm giác mơ mộng, ông làm nên những câu thơ tuyệt mĩ..”. “Rồi cứ mỗi năm Rằm tháng Tám Tựa nhau trông xuống thế gian cười”. Cái kết thoát li. Một cách nói phong tình, tài hoa. Có đọc bài thơ Hầu Trời mới thấy được, cảm được cái hay, thú vị của bài “Muốn làm thằng Cuội”. Nửa đêm, Tản Đà tỉnh dậy đun nước pha trà, rồi ngâm thơ… Trời nghe gọng ngâm bèn sai hai tiên nữ xuống cõi trần rước thi sĩ bay lên. Thi sĩ đọc thơ cho Trời và bầy tiên nghe. Tất cả đều tấm tắc khen: “Văn đã giàu thay, lại lắm lối Trời nghe Trời cũng bật buồn cười! Chư Tiên ao ước tranh nhau dặn: Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”. (Hầu Trời) Bài Muốn làm thằng Cuội là một bài thơ có thi đề độc đáo, thú vị. Giọng thơ nhẹ nhành, thanh thoát, chơi vơi. Trí tưởng tượng phong phú, kì diệu. Chất mộng ảo, sắc màu lãng mạn thấm đẫm bài thơ.Tuy có nói đến buồn, nói đến chán, có nói đến thoát li, có thấm vị phong tình… nhưng toàn bài thơ thoát lên một tinh thần phủ định thực tại xã hội thực dân nửa phong kiến xấu xa, khao khát được sống trong sạch hơn, thanh cao hơn, để mãi mãi giữ trọn thiên lương cao đẹp. Giá trị đích thực của bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” là ở chỗ ấy.
Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà – Đề và văn mẫu 8
766
Đề bài: Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà Bài làm Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu xuất hiện trên văn đàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ với một cá tính độc đáo: một nhà thơ của sầu và mộng, ngông và đa tình. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội đã thể hiện rất rõ cá tính ấy của ông. Bài thơ Muốn làm thằng Cuội in trong tập Khối tình con (1916). Mặc dù tác phẩm được làm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật song người đọc sẽ thấy ở đây, dưới cái hình thức còn là của thơ cổ ấy những dấu hiệu mới mẻ của cảm xúc. Tâm sự của nhà thơ ở một thời đại mới đã khiến cho cái hình thức thơ cũ có chiều hướng giảm nhẹ đi tính trang trọng, mực thước. Sự giản dị, trong sáng gần với khẩu ngữ tự nhiên làm nên nét duyên của bài thơ này. Ngay từ nhan đề của bài thơ đã cho thấy một giọng điệu suồng sã, như là đã giải tỏa được một nhu cầu nói thật, thẳng thắn của nhà thơ và cũng lại cho thấy cái ngông nghênh, bất đắc chí: muốn ở đây như một nhu cầu bức xúc, chẳng cần giấu giếm, vòng vo. Nhưng muốn cái gì? Muốn làm cuội thì đích thực là muốn thoát lên trên rồi. ước vọng lên trên thơ mộng thế mà nói tựa như là muốn ăn, muốn uống, muốn ngủ… thật là thành thực! Và, nếu muốn thoát tục, lên trên thì thiếu gì những hình mẫu tiên để ước sao cứ phải là thằng Cuội? Thằng chứ không phải chú – cũng là một kiểu nói ngông. Thế thì chính là thi sĩ đa tình này muốn lên cung trăng rồi! Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi, Trần thế em nay chán nửa rồi! Chị Hằng thì phải ở cung trăng chứ còn gì nữa! Thì ra thi sĩ của chúng ta muốn làm thàng Cuội để tâm sự cùng chị Hằng Nga xinh đẹp. Hai câu mở đầu bài thơ như một tiếng kêu than. Chẳng cần phải mượn cái khác để diễn tả nỗi buồn trong lòng mình, thi sĩ bộc bạch ngay nỗi lòng mình. Hai chữ buồn lắm thật chân thành. Thi sĩ chỉ lòng mình ra trong tiếng gọi tha thiết. Ta thường gặp trong thơ Tản Đà một vẻ buồn chán, cái buồn lan trùm tất cả. Vì buồn lắm như thế nên thi sĩ mới "muốn làm thằng Cuội. Nhưng không phải là cái buồn vô cớ, càng không phải kiếm cớ buồn đẽ được lên tiên. Cái buồn ở đây là cái buồn đời, buồn chán cuộc đời tối tăm, đen bạc, đảo điên. Không ít lần Tản Đà kêu chán đời: "Đời đáng trách biết thôi là đủ – Sự chán đời xin nhủ lại tri âm", "Gió gió mưa mưa đã chán phèo – Sự đời nghĩ đến lại buồn teo"… Sống trong bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến những năm đầu thế kỉ XX, chẳng phải chỉ riêng Tản Đà buồn chán. Không khí tù hãm, u uất của một dân tộc bị mất nước bao trùm hết thảy, đè nặng tâm trí con người, nhất lại là những con người nhạy cảm như thi nhân. Tâm trạng buồn chán là tâm trạng của thời đại. Có trăm ngàn vẻ buồn khác nhau song đều thấy điểm chung là sự bế tắc trước thực tại cuộc đời, từ đó mà sinh ra chán nản, bất mãn đối với thời cuộc. Cái buồn của Tản Đà cũng bắt nguồn từ đấy. Và thế là thi sĩ tìm lối thoát bằng cách thoát li khỏi cuộc đời, sống trong một thế giới khác, thế giới mộng mơ, thần tiên. Thi nhân gọi trăng là chị, xưng với trăng là em thì vừa là muốn thân tình, gần gũi để giãi bày, vừa là chơi ngông. Bốn câu thơ tiếp càng thể hiện cái ngông của Tản Đà: Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi Ngông thực chất là một thái độ ứng xử đối với cuộc đời, một biểu hiện khác của sự chán ngán, bất mãn với thời cuộc. Phải là người yêu đời lắm, tha thiết với cuộc sống lắm thì mới tỏ ra buồn chán đến bất hòa trước cuộc đời đang rối ren, đen tối như thế. Câu 3 của bài thơ là lời ướm hỏi, rồi đến câu 4 là lời đề nghị. Nấu Cung quế chưa có ai thì chị cũng buồn, cũng cô đơn lắm nên hãy để em lên chơi cùng, em đỡ buồn mà chị cũng bớt cô đơn. Tính từ đây mà cũng ngang tàng đấy! Xin chị đừng từ chối nhé, bởi vì em có lí lẽ đây này: Có bầu có bạn, cùng tri kỷ Cùng gió cùng mây, thế mới vui. Cái lí của thi nhân thật là thuyết phục. Song trong sự thuyết phục để thoát li, xa lánh trần thế ấy chúng ta thấy một thực trạng buồn vắng, cô đơn của tâm hồn thi sĩ. Vốn đa tình đa cảm nên thi nhân luôn luôn có khát vọng được người tri kỉ, mà cõi trần thì "Chung quanh những đá cùng cây; Biết người tri kỉ nơi đâu mà tìm". Cái vui của thi nhân là cái vui được tâm giao, tâm đồng. Gió, mây thơ mộng được không nếu chẳng có bầu có bạn". Khát vọng lên trên, lánh đời ở đây thực ra là một cách bộc lộ khao khát đồng cảm, tri âm trong cuộc đời của Tản Đà. Và cái cách ở đây là ngông. Chưa hết, thi nhân còn vẽ ra viễn cảnh: Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám Tựa nhau trông xuống thế gian cười Lãng mạn hết mức, tưởng tượng ra cảnh "tựa nhau" cùng chị Hằng thì quả là cái ngông đã đến đỉnh điểm. Tác giả hạ chữ cười ở cuối bài thật đắt. Cười ở đây chứng tỏ cái hả hê thỏa mãn khi trong ước vọng được thoát tục, rồi bỏ được trần ai mà lên tiên. Cười còn là thái độ mỉa mai, khinh khi cái cuộc đời đang đầy những sầu khổ, cô đơn dưới kia. Cười thách thức. Cười ngông. Bài thơ tuân thủ khuôn mẫu của một bài thất ngôn bát cú Đường luật cổ điển. Nhưng nguồn cảm xúc tự nhiên, không chừng bay bổng đã tự tìm đến những lời thơ tựa như lời nói hàng ngày: "buồn lắm chị Hằng ơi", "em nay chán nửa rồi", "đã ai ngồi đây chưa", "xin chị nhắc lên chơi", "thế mới vui", "tựa nhau trông xuống thế gian cười"; xưng hô khẩu ngữ (chị – em) tự nhiên, không đẽo gọt cầu kì và ngữ điệu biểu hiện đa dạng (ơi, rồi, đó chửa, xin, thế mới). Lên tiên, thoát tục là thi đề quen thuộc trong thơ cổ, ở đây cái không mới ấy đã được làm mới bằng giọng điệu, bằng lời thơ. Cái ngông của Tản Đà trong bài thơ này là một hình thức ứng xử vốn nằm trong cốt cách của nhà nho tài tử trong thơ truyền thống. Song, như chúng ta đã thấy, cái ngông ấy lại là thái độ của Tản Đà đối với xã hội ta những năm đầu thế kỉ XX, bộc lộ một nguồn xúc cảm mới, đầy cá tính đa tình, phóng túng. Cái mơ mộng thành ra cái ngông thì quả là đậm chất riêng của Tản Đà.
Phân tích bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà
1,270
Đề bài: Phân tích bài thơ Mây và sóng của Ta-go Bài làm Trong kho tàng văn học của nhân loại đã có biết bao tác phầm viết về tình cảm gia đình. Ta dã biết những tác phẩm như Bếp lửa, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Con cò… Bên cạnh những tác phẩm rất quen thuộc đó còn có bài thơ Mây và sóng của Ta-go – một tác phẩm thơ nói lên tình mẫu tử bao la, rộng lớn của một đại thi hào Ấn Độ. Trò chơi của những người sống trên mây và sóng thật thú vị, không gì tả nổi, hấp dẫn đến lạ kì: “Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc” “Bọn tớ ca hát từ sáng sớm đến hoàng hôn. Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nao”. Thiên nhiên bao la, rộng lớn đang mở ra trước mắt em bé. Được chơi với mây, với vầng trăng bạc, ngao du nơi này nơi nọ đối với em bé là cả một niềm vui thích, rồi được chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Hẳn rằng em bé sẽ không bỏ lỡ cơ hội đó qua đi, em đã hỏi: Con hỏi: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”. Con hỏi: “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”. Đó là một điều thật dễ hiểu, dù sao em bé vẫn chỉ là một em bé mà thôi. Nhưng đúng lúc này hình ảnh người mẹ lại hiện lên trong tâm trí em: “Mẹ mình đang đợi ở nhà” – con bảo – “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?” Con bảo: “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”. Em đúng là một đứa bé ngoan, lời từ chối của em thật ngây thơ, trong sáng đến mức khiến cho họ phải mỉm cười, nhảy múa rồi lướt qua. Chính mẹ em bé, tình yêu thương của mẹ dành cho em đã trở thành sợi dây vô hình buộc chặt em bé ở lại, buộc chặt tâm trí em với lòng mẹ. Cũng chính vì điều đó mà những trò chơi sáng tạo của em bé thú vị chẳng kém trò chơi của những người sống trên mây và sóng: Con là mây và mẹ sẽ là trăng. Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta sẽ là bầu trời xanh thẳm. Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ, Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ. Mây, trăng, sóng, bờ biển đều đã thể hiện lên trò chơi của em nhưng trong đó lại có cả mẹ. Ở đây, thiên nhiên rộng lớn, kì ảo, thơ mộng vẫn hiện lên. Nó còn hiện lên đậm nét hơn nữa qua tình cảm của em bé với mẹ. Em sẽ lấy đôi tay choàng lên người mẹ. Rồi sẽ lăn, lăn, lăn mãi cùng tiếng cười vỡ tan vào lòng mẹ. Tình cảm ấy thật sâu đậm, thật thiết tha. Và chắc chắn rằng nó sẽ kéo dài từ bình minh đến tối. Nổi bật hẳn lên trong phần hai cũng như là một điểm nhấn cho toàn bộ tác phẩm chính là câu thơ và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào. Tại sao em bé lại nói như vậy, đó là bởi em tin chắc rằng tình cẳm giữa em và người mẹ sẽ ở khắp mọi nơi, mọi chốn. Tình cảm ấy sâu sấc đến mức không ai có thể hiểu hết được. Tình mẫu tử là thiêng liêng, bất diệt, hoà cả vào trong thiên nhiên bao la, thơ mộng. Với kết cấu lặp lại giữa hai phần nhưng tác phẩm khộng vì thế mà trở nên nhàm chán. Ngược lại, tác phẩm càng thêm sức lôi cuốn bởi tác giả Ta-go đã khéo léo tạo ra thêm thử thách thứ hai cho em bé. Chính điều đó đã tạo ra tình cảm mẫu tử trong bài thơ này, một tình cảm trong gian lao, thử thách càng thèm bền chật. Cùng với đó, Ta-go đã tinh thế chọn ra những hình ảnh mây, trăng, sóng, bờ biển để làm biểu tượng cho thiên nhiên. Những hình ảnh biểu tượng đó được nhân hoá lên có tâm hồn, tiếng nói khiến cho chúng thêm phần sống động trước mắt người đọc. Giọng diệu thiết tha, sâu sắc của một người con với mẹ của mình. Tác phẩm Mây và sóng của Ta-go tựa như một bài ca. Bài ca ấy cho người đọc thấu hiểu rằng tình mẫu tử là thiêng liêng, bất diệt. Đồng thời nó cũng nhắc nhở mỗi người trong chúng ta về cuộc đời bao giờ cũng có những cám dỗ, điều quan trọng là ta phải biết vượt qua nó. Một trong những động lực giúp ta biết vượt qua chính là tình cảm của người mẹ dành cho ta. Với những điều đó, tác phẩm đã để lại những tình cảm sâu đậm trong lòng người đọc. Bài làm Hãy lắng nghe tiếng thơ ngọt ngào như tiếng hát của Ta-go, đại thi hào của Ấn Độ. Năm 1913, với tập "Thơ Dâng", ông được giải thưởng Nô-ben về văn chương. Thơ của Ta-go là "bài ca về tình nhân ái", là "ước mơ và khát vọng về tự do, hạnh phúc". Thế giới thơ của Ta-go đã dành cho "miền thơ ấu" một vị trí ấm áp và sang trọng, hồn nhiên và đậm đà. Bài thơ “Mây và Sóng" nói về tình yêu mẹ và mơ ước kì diệu của tuổi thơ. Nó là bài thơ kiệt tác rút trong tập "Trăng non" (1915) của thi hào. Bài thơ mang sắc điệu trữ tình như một khúc đồng dao thể hiện niềm giao cảm thần tiên của tâm hồn tuổi thơ với mây và sóng, với thiên nhiên kì diệu. Em bé ngước mắt nhìn trời xanh, lắng nghe mây trên chín tầng cao vẫy gọi. Mây ân cần rủ em bé cùng du ngoạn "giỡn với sớm vàng", và đùa "cùng trăng bạc" từ bình minh đến lúc trăng lên. Mây được nhân hóa, có gương mặt, nụ cười và giọng nói thủ thỉ tâm tình: "Họ bảo: Chúng ta vui chơi từ tinh mơ đến tối ngày, Chúng ta giỡn với sớm vàng rồi lại đùa cùng trăng bạc". Cuộc đối thoại giữa mây với em bé không chỉ nói lên tâm hồn bay bổng hồn nhiên của tuổi thơ mà còn khẳng định, ngợi ca tình yêu mẹ của tuổi thơ rất đẹp và mãnh liệt: "Mẹ đợi tôi ở nhà, tôi có lòng nào bỏ được mẹ tôi". Yêu mẹ hiền, yêu mái nhà êm ấm… là những tình cảm trong sáng, đằm thắm của em bé. Có gì hạnh phúc hơn khi được sống bên mẹ hiền: "Con làm mây nhé, mẹ làm mặt trăng Hai tay con ôm mặt mẹ, còn mái nhà ta là trời xanh". Trí tường tượng diệu kì và tình yêu thiếu nhi nồng nàn của Ta-gor đã sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về hạnh phúc tuổi thơ, ở đây, tình mẫu tử được nâng lên ngang tầm với vũ trụ! Ngắm mây bay… rồi em bé nghe sóng reo, sóng hát. Sóng như sứ giả của đại dương xa vời đến với em bé. Sóng reo rì rầm. Sóng vẫy gọi chào mời em bé. Tuổi thơ nào mà chẳng khao khát, ước mơ? Sóng thủ thỉ cùng em về một cuộc viễn du: "Chúng ta ca hát sớm chiều, chúng ta đi mãi mãi". Và rồi cứ đi đến bờ biển… sóng sẽ cuốn con đi đến mọi bến bờ, mọi chân trời xa lạ… Mơ ước muốn đi xa, nhưng em bé lại đắn đo băn khoãn: Nhưng đến tối, mẹ tôi nhớ thì sao?". Sóng liếm vào bãi cát rồi lại rút ra xa, lại vỗ vào… Em bé bâng khuâng nhìn theo con sóng xa vời trên trùng dương: …tôi làm thế nào mà rời rnẹ tôi được? Họ bèn mỉm cuời, và nhảy nhót, họ dần đi xa…,” Mơ ước được đi xa, nhưng rồi em bé lại băn khoăn, lưỡng lự. Em đã không thể đi du ngoạn cùng mây (bay cao) nên em cũng không thể đi chơi với sóng (đi xa). Với em chỉ có mẹ hiền yêu thương, nguồn vui ấm áp cao cả, thiêng liêng mà tạo hóa đã dành cho phần hơn: tình mẫu tử. Em mơ ước đến với mọi chân trời góc biển, nhưng em không nỡ để mẹ nhớ, mẹ buồn. Trong hiện tại, em không thể nào "rời mẹ" trong khoảnh khắc. Niềm vui về mẹ hiền cứ chói ngời mãi hồn em thơ: "Con làm sóng nhé, mẹ làm mặt biển Con lăn, lăn như làn sóng vỗ, tiếng con cười giòn tan vào gối mẹ. Và không ai trên đời này biết được là mẹ con ta đang ở đâu". Câu thơ "Con làm sóng nhé, mẹ làm mặt biển" là một câu thơ hàm nghĩa, giàu tính triết lí. Không có biển thì không có sóng. Có biển mới có sóng, cũng như có mẹ mới có em thơ. Lúc sóng vỗ cũng là lúc biển reo, biển hát. Lúc "con cười giòn tan vào gối mẹ" là lúc mẹ hạnh phúc. Vì thế, con ngoan, vui chơi là mẹ hạnh phúc. Nhà thơ mượn sóng và biển để nói cùng tuổi thơ gần xa với bao điều. Tính độc đáo của bài thơ là hai mẩu đối thoại giữa em bé với mây, giữa em bé với sóng, đan xen vào lời con thủ thỉ với mẹ hiền. Một bài thơ trong sáng, hồn hậu của Ta-go nói về miền ấu thơ. Yêu thiên nhiên, sống hồn nhiên, thích phiêu lưu mạo hiểm, trí tưởng tượng phong phú, hiếu thảo… là đời sống tinh thần và tâm hồn tuổi thơ. Em bé được nói trong "Mây và Sóng" rất yêu thương mẹ hiền. "Mây và Sóng" là một bài thơ hay nói về hạnh phúc tuổi thơ. Hình tượng sóng, mây và mẹ thấm đượm vẻ đẹp nhân văn về chủ đề ấy.
Phân tích bài thơ Mây và sóng của Ta-go
1,717
Đề bài: Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải Bài làm Cũng như mùa thu, mùa xuân cũng là chủ đề cho nguồn cảm hứng sáng tác vô tận của biết bao thi sĩ xưa và nay để họ tạo nên chất ngọt của muôn ngàn vầng thơ kì diệu khác nhau. Xuân ruổi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười. Trước mắt việc đi mãi, Trên đầu già đến rồi. Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua/ sân trước/ nở cành mai. [Mãn Giác (1052-1096) – một Thiền sư đời Lý] hay bài Buổi sớm mùa xuân: Ngủ dậy tung song cửa Nào hay xuân đã sang Một đôi bươm bướm trắng Gặp hoa, cánh vội vàng. [Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)] Và mùa xuân trong thơ của Thanh hải cũng thật đẹp, thật nhiều ý nghĩa. Không những đẹp từ cảnh thiên nhiên mà đến tâm hồn Thanh Hải cũng thật đẹp. Đó là mùa xuân trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” mà tác giả sáng tác không bao lâu trước khi qua đời (1980). Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp mùa xuân thiên nhiên, đất nước, con người và khát khao cống hiến của nhà thơ, bộc lộ niềm lạc quan, vui say trong cảnh đất trời vào xuân nhưng cũng đầy trăn trờ và suy nghĩ: “Mọc giữa dòng sông xanh ……………………………… Nhịp phách tiền đất Huế” Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông, nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời. Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc. Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời, Từng giọt long lanh rơi, Tôi đưa tay tôi hứng”. Đây là bức tranh mùa xuân được vẽ lên bằng tâm hồn của người nghệ sĩ với những nét chấm phá rất dễ thương rất tuyệt vời, một nét đặc trưng rất Huế đó là hình ảnh màu “tím biếc ” của “một bông hoa” hòa với màu “xanh” của “dòng sông”. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Cả hai màu sắc đều rất hài hòa như vẫy gọi mùa xuân. Động từ “Mọc” xuất hiện một cách đột ngột trong câu thơ như một lời báo hiệu của sự trỗi dậy của sức vươn lên mạnh mẽ của một bông hoa giữa bốn bề sông nước mênh mông rộng lớn. Cả hai hình ảnh “dòng sông xanh” và “hoa tím biết” ấy d8a4 gợi lên trong lòng người đọc một bức tranh mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Bức tranh xứ Huế vào xuân lại càng sinh động hơn bởi tiếng hót líu lo của chim chiền chiện: “Ơi con chim chiền chiện Hót cho mà vang trời, Từng giọt long lanh rơi, Tôi đưa tay tôi hứng”. Tiếng hót của chim chiền chiện vút cao, lãnh lót như mở thêm không gian, gợi cảm, trong trẻo, đáng yêu. Từ cảm thán “Ơi” đặt ở đầu câu, một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào, thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ tạo cho ta một cảm giác bình yên, sự dịu dàng tha thiết của xứ Huế cố đô. Tác giả lắng nghe tiếng chim hót, nghe bằng tai chưa đủ, nhà thơ còn nghe bằng của trái tim xao động, bằng trí tưởng tượng, bằng sự liên tưởng độc đáo. Từ “giọt” được hiểu theo rất nhiều nghĩa: có thể là “giọt nắng bên thềm”, giọt mưa xuân, giọt sương sớm, tiếng hót của những chú chim chiền chiện hay là giột nước mắt hạnh phúc của tác giả? Sự chuyển đổi cảm giác trong tác giả thật kì lạ từ thị giác sang thính giác và giờ là xúc giác “tôi đưa tay tôi hứng” Sự chuyển đổi cảm giác này thể hiện sự say sưa, ngây ngất, nâng niu của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời vào xuân. Niểm vui đó, niềm hạnh phúc đó hoàn toàn khác với tâm trạng buồn chán trước cảnh xuân đất nước đang đắm chìm trong đêm đen nô lệ: Tôi có chờ đâu, có đợi đâu, Đem chi xuân đến gợi thêm sầu? Với tôi, tất cả như vô nghĩa, Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! Với những vầng thơ giản dị nhưng Thanh Hải vẫn miêu tả được mùa xuân cách mạng quê hương của tác giả: “Mùa xuân người cầm súng, Lộc giắt đầy trên lưng. Mùa xuân người ra đồng, Lộc trãi dài nương mạ. Tất cả như hối hả, Tất cả như xôn xao…” Hai câu thơ đầu tác giả muốn nhấn mạnh đến mùa xuân của người cầm súng và của người ra đồng biểu thị cho hai nhiệm vụ chính lúc bấy giờ là bảo vệ và xây dưng đất nước. Từ “Lộc” có hai tầng nghĩa: “Lộc” có nghĩa đen là cành non, lá mới, là cành lá ngụy trang trên lưng người chiến sĩ ra mặt trận. “Lộc” còn là mạ non theo chận người nông dân ra đồng ruộng. Với biện pháp ẩn dụ “Lộc” còn mang ý nghĩa tượng trưng hơ. “Lộc” biểu thị cho một niềm tin, một sức sống, là sự trẻ trung vươn lên quyết giành chiến thắng, giành lấy những kết quả tốt đẹp, đem sự bình yên đến với mọi nhà. Mà chính người chiến sĩ sẽ mang mùa xuân yên vui đến cho mọi nơi trên đất nước. “Lộc” tượng trưng cho sự ấm no, “trúng mùa” của công việc sản xuất. Người dân lao động muốn mình cống hiến hết sức lực, tài năng vào công việc xây dựng quê hương ngày một giàu mạnh bởi vậy tất cả mọi người đều tự nguyện: “Tất cả như hối hả, Tất cả như xôn xao…” Điệp từ “tất cả” xuất hiện liên tục nhấn mạnh đây là nhiệm vụ chung của mỗi người. Từ láy “hối hả”, “xôn xao” gợi hình gợi tả thể hiện nhịp độ khẩn trương, tươi vui, thể hiện nhiệt tình và trách nhiệm của những con người đang bắt tay xây dựng chủa nghĩa xã hội. Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm, trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy, được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp: “Đất nước bốn ngàn năm Vất và vào gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Một lời tổng kết về lịch sử đất nước “bốn ngàn năm” với bao “vất vả”, “gian lao” bao nhiêu sóng gió thăng trầm. Để ca ngợi truyền thống đó, Nguyễn Trãi đã từng viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu” Không tự hào sao được khi đất nước đi lên từ “vất và”, “gian lao”. Từ ngữ giản dị nhưng cũng đã tái hiện cuộc hành trình lịch sử của dân tộc ta khi chiến tranh cũng như thiên tai “sáng chống bão dông, chiều ngăn nắng lửa”, đói nghèo không buông. Đúng là: “Việt nam ơi việt nam Riếng súng tiếng gươm không bao giờ dứt Bởi Tổ quốc ta không bao giờ chịu nhục Dân tộc ta không chịu cuối đầu” Thế nhưng đất nước vẫn vươn mình về phía trước, vẫn rạng ngời “như vì sao” “Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước” Cách so sánh đầy ấn tượng. Một vì sao lấp lánh không chói lọi nhưng bền vững, trường tồn. Vì sao ấy còn là lá cờ Tổ quốc cứ tung bay, hãnh hiện cùng bạn bè năm châu bốn bể. Từ “cứ” khẳng định mãnh mẽ qui luật tất yếu “cứ đi lên phía trước” của dân tộc ta. Đó là niềm tin của tác giả vào sức sống của dân tộc, vào sự phát triển khổng ngừng của đất nước. Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết: “Ta làm con chim hót, Ta làm một cành hoa. Ta nhập vào hoà ca, Một nốt trầm xao xuyến” Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót, một cành hoa để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ cho nhau. Quan niệm sống ấy của Thanh Hải thật giống với quan niệm sống của Tố Hữu: “Nếu là con chim, chiếc lá, Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không trả, Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.” Đến khổ thơ tiếp theo, tác giả đã giúp ta hiểu rõ hơn nhan đề của bài thơ – Mùa xuân nho nhỏ: “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. “Mùa xuân” là ý niệm chỉ thời gian nhưng “mùa xuân nho nhỏ ở đây của tác giả đã trở thành lẽ sống đẹp, lý tưởng. “Lặng lẽ dâng” ước vông tha thiết khiêm tốn cả cuộ đời cho đi mà không hề đòi hỏi. “Lặng lẽ” một hành động âm thần, tự nguyện không ồn ào, khồng cần mọi người biết đến. Đã gọi là cống hiến cho đời thì dù ở tuổi nào đi chăng nữa cũng phải luôn biết cố gắng hết tâm trí để phục vụ và hiến dâng cho quê hương, đất nước mến yêu của chính mình. Già – cống hiến tuổi già, trẻ – cống hiến sức trẻ để không bao giờ thất vọng trước chính bản thân mình. Thật cảm động và kính phục biết bao khi đọc những vần thơ như lời tổng kết của cuộc đời. “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc là thời điểm hiện thời vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời và bài thơ này là một trong những bài thơ cuối cùng. “Một mùa xuân nho nhỏ” cuối cùng của Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc ông bước vào thế giới cực lạc, chuẩn bị ra đi mãi mãi. Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai, Nam Bình mênh mang tha thiết, là lời ngợi ca đất nước, biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước, một câu chân tình thắm thiết: “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai, Nam Bình Nước non ngàn dặm tình Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế” Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự, luôn chứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những điều đúc kết cả cuộc đời của ông. Ông đã giải bày, tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ, cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau. Tóm lại bài thơ đã sử dụng thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ, giọng điệu đã thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Nét đặc sắc của bài thơ là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự, gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung và bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta.
Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải
2,358
Đề bài: Phân tích bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa Bài làm Sinh ra và lớn lên tại một làng quê thuộc huyện Nam Sách, năng khiếu thơ của Trần Đăng Khoa nảy nở rất sớm. Nhiều bài thơ trong tập Góc sân và khoảng trời được tác giả viết khi còn học tiểu học. Bài thơ Mưa được chàng thi sĩ tí hon này viết năm lên 9 tuổi, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt. Từ lúc sắp mưa đến khi mưa rơi, cảnh bầu trời mặt đất từ sấm chớp mây mưa, từ cây cỏ đến những con vật như chó, gà con, lũ kiến,… đều được cảm nhận qua tâm hồn tuổi thơ rất hồn nhiên ngộ nghĩnh. Bài thơ viết theo cách nói lối đồng dao, có 63 câu thơ rất ngắn, có 10 câu chỉ có 1 chữ, có 37 câu thơ 2 chữ. 6 câu thơ 3 chữ, 9 câu thơ 4 chữ, và chỉ có 1 câu thơ 5 chữ. Qua sự khảo sát ấy, ta thấy cách viết của Khoa rất tự nhiên, hồn nhiên, câu thơ nối tiếp xuất hiện theo cảm nhận và cảm xúc từ sắp mưa đến mưa rồi, và sau cùng là hình ảnh người bố của Khoa đi cày về trong cơn mưa dữ dội, tầm tã. Mở đầu bài thơ như một tiếng reo của trẻ thơ cất lên: Sắp mưa / sắp mưa. Mẫn cảm nhất là loài mối bay ra để đón mưa. Tài thật, sao mà bé Khoa phân loại được, nhận diện được tuổi tác những con mối: Mối trẻ / Bay cao / Mối già / Bay thấp. Tiếp theo là bầy gà con Rối rít tìm nơi / ẩn nấp. Ông trời, cây mía, kiến, lá khô, cỏ gà, bụi tre, hàng bưởi, chớp, sấm, cây dừa, ngọn mùng tơi… được chú bé nói tới, nhắc tới. Tác giả sử dụng nhân hoá khá hay, tạo nên những liên tưởng thú vị, thể hiện sự tưởng tượng phong phú. Mây đen kéo phủ đầy trời, tưởng như Ông trời / mặc áo giáp đen / Ra trận. Lá mía dài, nhọn sắc. Gió thổi, lá mía xào xạc bay, khác nào Muôn nghìn cây mía / Múa gươm. Kiến chạy mưa, như vỡ tổ, nhà thơ tưởng như Kiến / Hành quân / Đầy đường. Không khí hùng tráng của lịch sử dân tộc thời chống Mĩ đã phản chiếu vào thơ Khoa. Từ ông trời đến nghìn cây mía, đàn kiến, tất cả đều ra trận, đều múa gươm đều hành quân, tất cả đều tham gia vào cuộc diễu binh hùng vĩ (thơ của Tố Hữu). Cả một không gian rộng lớn chuyển động vì sắp mưa: Lá khô / Gió cuốn Bụi bay / Cuồn cuộn, cỏ gà, bụi tre, hàng bưởi, cây dừa, ngọn mùng tơi – thế giới cây cỏ này được nhân hoá. Cách nhận xét của chú bé 9 tuổi khá tinh tế, hóm hỉnh, cỏ gà rung tai nghe. Bụi tre Tần ngần – Gỡ tóc. Hàng bưởi trĩu quả, trong gió, như một người hiền đang đu đưa – bế lũ con – Đầu tròn – trọc lốc. Gió thổi mỗi lúc một mạnh. Cây dừa Sải tay – Bế, ngọn mùng tơi nhảy múa. Một không gian nghệ thuật, một thế giới tạo vật cựa quậy, sống động, chuyển động khi trời sắp mưa. Tất cả đều có linh hồn, có cảm giác, có hành động… được thể hiện qua các hình ảnh nhân hoá rất ngộ nghĩnh, đáng yêu. Sắp mưa, sấm chớp rung chuyển, rạch xé trời đất. Chớp rạch trời ngang trời… Sấm như một tên hề Ghé xuống sân – Khanh khách – Cười. Đó là cảm nhận vũ trụ của tuổi thơ. Cảnh trời mưa được diễn tả bằng 14 câu thơ. Mưa rơi trong tiếng gió ù ù như xay lúa. Giọt mưa lộp bộp Lộp bộp rơi! Trong màn mưa, đất trời trở nên mù trắng nước. Và mưa chéo mặt sân sủi bọt. Bé Khoa đã dàn dựng một hoạt cảnh mưa có cóc, chó và cây lá thật hóm hỉnh: Cóc nhảy lồm chồm Chó sủa Cây lá hả hê. Mưa làm mát dịu trời đất mùa hè. Mưa làm cho cây lá xanh tươi, tốt tươi. Cây lá hả hê vui sướng đón cơn mưa nhân hoá thoát sáo và rất gợi cảm. Ở đây mưa là nguồn gốc sự sống, mưa là niềm vui đợi chờ. Cuối bài thơ mới xuất hiện hình ảnh con người. Một hình ảnh rất quen thuộc ở làng quê xưa nay: Bố em đi cày về Đội sấm Đội chớp Đội cả trời mưa… Mọi thứ của vũ trụ như sấm chớp, mưa đều đội trên đầu bố em. Chữ đội được điệp lại 3 lần, không chỉ cực tả sự vất vả dãi nắng dầm mưa của bố em, của người dân cày Việt Nam xưa nay mà còn mang hàm nghĩa, người nông dân cày cấy trong bom đạn chiến tranh, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Sau vần thơ là lòng biết ơn, kính yêu của Khoa. Mưa là một bài thơ hay. Thế giới thiên nhiên trong cơn mưa rào ở làng quê được cảm nhận và miêu tả tinh tế. Các câu thơ ngắn 1, 2, 3… chữ đan cài vào nhau, kết hợp với vần chân đã tạo nên nhạc điệu thơ, gợi tả tiếng mưa rơi, nghe rất vui. Phép nhân hoá và nghệ thuật sử dụng các từ láy (rối rít, cuồn cuộn, tần ngần, đu đưa, trọc lốc, khô khốc, khanh khách, ù ù, lộp bộp, chồm chồm, hả hê) đã tạo nên những vần thơ, những hình ảnh hồn nhiên, ngộ nghĩnh, thi vị. Mưa là một bài thơ đặc sắc của tuổi thơ và tâm hồn tuổi thơ.
Phân tích bài thơ Mưa của Trần Đăng Khoa
983
Phân tích bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính Hướng dẫn Phân tích bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính Mùa xuân là mùa của lễ hội, mùa của đôi lứa hẹn hò, trao nhau những lời hẹn ước. Mùa xuân cũng là mùa của cảm xúc thơ ca, thăng hoa trong tâm hồn các thi sĩ. Nếu như mùa xuân trong thơ Xuân Diệu đẹp đến vô thực, nồng cháy đến khiến ta say mê, điên cuồng muốn chiếm hữu thì mùa xuân trong thơ Nguyễn Bính lại hoàn toàn khác. Với “Mưa Xuân”, mùa xuân của Nguyễn Bính cũng đậm chất giản dị, thanh bình của làng quê Việt Nam như chính tâm hồn ông vậy! Câu chuyện về mưa xuân nhưng mở đầu bài thơ không phải mưa, không phải cảnh xuân, mà là sự xuất hiện trực tiếp của con người. Một người con gái: “Em là cô gái trong khung cửi Dệt lụa quanh năm với mẹ già. Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng Mẹ già chưa bán chợ làng xa” Đó là một cô gái trẻ làm nghề dệt lụa. Chắc hẳn đây là một cô gái đẹp, tấm lòng cô trong sáng, thuần khiết, được tác giả so sánh như một “vuông lụa trắng” vẫn chưa được mẹ già “bán chợ làng xa” tức là chưa có chồng. Cách nói thật lạ, thật hay! So sánh giản dị, giàu tính tượng hình mà cũng đầy tinh tế. Cô gái trẻ này chính là mẫu người thiếu nữ thôn quê trong trắng, thuần khiết, nét đẹp giản dị thường xuất hiện trong thơ Nguyễn Bính. Nhắc đến sự quen thuộc, tôi chợt nhớ đến “Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông” từng xuất hiện trong “Tương Tư”. Sở dĩ có sự liên tưởng này, bởi vì trong 4 câu thơ tiếp theo, hình ảnh Thôn Đoài lại xuất hiện, trong một chiều mưa xuân: “Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay, Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy. Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ, Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”. Đến đây, sau khi tả người, Nguyễn Bính đã kể đến chuyện mưa xuân, mưa xuân vào một buổi chiều. Cảnh nhà đơn chiếc chỉ có hai mẹ con bỗng trở lên vui tươi ở khổ thơ này. Bởi một bữa “mưa xuân phơi phới bay”. Đọc câu thơ, ta có cảm giác từ “phơi phới” như làm sống động cả khổ thơ, khiến cho mùa xuân cũng trở nên thật có hồn. Cảm giác như không phải mưa xuân phơi phới mà chính là lòng “em” đang “phơi phới” sắc xuân thì. Mùa xuân như thổi sắc “phơi phới” vào hồn “em” tươi trẻ, khiến hoa xoan cũng nở rộ đẹp xinh, “phơi phới” báo hiệu mùa xuân về. Rồi “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” đã làm cho khung cảnh yên bình bị phá vỡ. Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của “hội chèo” cộng thêm “mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.làm cho “vuông lụa trắng” khấp khởi khi ngồi dệt bên khung cửi hay chính tấm lòng thiếu nữ đang mong ngóng nên khấp khởi? “Lòng thấy giăng tơ một mối tình Em ngừng thoi lại giữa tay xinh Hình như hai má em bừng đỏ Có lẽ là em nghĩ tới anh” Ba câu trước miêu tả tâm trạng bối rối xen lẫn chờ đợi, khấp khởi nhưng cũng ngại ngùng e lệ điển hình của cô gái mới biết yêu. Không biết là do “mưa xuân phơi phới”, “hội chèo đi ngang ngõ” hay lời nói của mẹ đã làm cho “vuông lụa trắng” phải “ngừng thoi lại”. Không biết có phải tay xinh ngừng dệt là do lòng “giăng tơ một mối tình”? Lòng mới chỉ “giăng tơ” mà sao “hai má em bừng đỏ”? Tất cả câu hỏi đều được trả lời bằng câu thơ cuối, là do anh, tại anh, là vì nghĩ đến nha: “Có lẽ là em nghĩ tới anh”. Câu chuyện mưa xuân lại được kể tiếp như nối tiếp tâm trạng bâng khuâng, khấp khởi nhớ đến anh của cô thôn nữ: “Bốn bên hàng xóm đã lên đèn Em ngửa bàn tay trước mái hiên, Mưa chấm tay em từng chấm lạnh, Thế nào anh ấy chẳng sang xem” Bóng tối bao phủ lấy làng quê, nhà nhà đồng loạt lên đèn. “Em” ra trước mái hiên ngauwr bàn tay ra đón lấy những hạt mưa, chính là những hạt “mưa xuân phơi phới”. Dường như khi biết yêu, tâm hồn con người cũng trở nên lãng mạn hơn! Có điều, em đưa tay ra hứng mưa mà chẳng để ý lắm đến mưa, trong lòng “giăng kín” chỉ nghĩ tới Trời đã buông màn nhung tối đen xuống, bao phủ làng quê. Nhà nhà đã lên đèn, Em lúc này mới để ý và ra “trước mái hiên”,làm một hành động rất đẹp “ngửa bàn tay” ra đón “mưa xuân phơi phới bay”. Mặc dù “mưa chấm tay em từng chấm lạnh”. Nhưng em không cảm thấy mưa lạnh đang rót vào tay mình từng hạt, mà em chỉ nghĩ tới “thế nào anh ấy chẳng sang xem”. Lòng người biết yêu thổi vào mùa xuân cũng có hồn hơn hẳn, bởi “vuông lụa trắng” khấp khởi trong lòng khi nghĩ tới “anh ấy”nên không ngần ngại dẫu ngoài trời đang mưa: “Em xin phép mẹ, vội vàng đi Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe, Mưa bụi nên em không ướt áo, Thôn Đoài cách có một thôi đê” Từ “vội vàng” xuất hiện trong khổ thơ thật đúng lúc, thật kịp thời, rất đúng với diễn biến tâm trạng của cô gái đang yêu. Đọc đoạn thơ này, nhịp thơ cũng vì từ “vội vàng” mà nhanh hơn một nhịp; có cảm giác như thể Em đang vội vàng để đến Thôn Đoài, nhưng đi xem hát đấy mà chẳng phải vì hát đâu, mà là vì anh, vì muốn gặp anh. Em đi nhanh như thế, đến nỗi cách một thôi đê mà mưa bụi cũng chẳng thể làm ướt áo em. Thế cũng đủ hiểu trong lòng Em đang vội vã, khấp khởi đến thế nào. Vậy mới nói, không phải phơi phới tại mưa xuân, mà tai lòng xuân: Em mải tìm anh chả thiết xem Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em” Em đi xem hát chèo, người ta hát thâu đêm, chắc hẳn phải vui lắm, hay lắm, nhộn nhịp lắm nhưng Em chẳng quan tâm. Với tâm trạng của một thiếu nữ mới biết yêu, điều Em quan tâm nhất chỉ có Anh.Mặc kệ lời mẹ dặn “xem về kể mẹ nghe”, mải tìm kiếm Anh nên Em “chẳng thiết xem”. Vậy Em có tìm thấy hay không? Giữa chốn đông người đi xem hát ấy, chưa biết. Chỉ thấy phía trước và ngay đêm nay, nơi căn nhà ấm cúng của em và Mẹ sẽ có “giường cửi lạnh”. Em không ngủ cũng không dệt nên “thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”. Thoi ngà nhớ người, hay em đang nhớ anh? “Chờ mãi anh sang, anh chả sang, Thế mà hôm nọ hát bên làng, Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng” Vậy là Em không tìm thấy Anh, buồn làm sao! Em đã trông mong nhiều như thế, trái tim Em thuần khiết như thế. Bốn câu thơ diễn tả tâm trạng cũng như những lời trách rất thật, rất nhẹ nhàng của cô gái thôn quê. Hóa ra không dưng mà đầu câu chuyện “Mưa Xuân”, Em lại “hai má bừng đỏ” khi “nghĩ tới anh”. Hóa ra họ đã gặp nhau ở đám “hát bên làng” hôm nọ. Anh chàng đã “năm tao bảy tiết” hò hẹn. khiến cô gái “lòng còn như vuông lụa trắng” đã tin tưởng và hôm nay thì lại thấy “cả mùa xuân cũng bẽ bàng”.Anh đã hẹn nhưng rồi Anh không đến, khiến hồn Em- một cô gái ngây thơ chờ đợi, tìm kiếm đến buồn bã, bơ vơ. Em thất vọng vì tìm không gặp anh, phải lủi thủi “bẽ bàng” và có cảm giác rằng mùa xuân tươi mới kia, mới đó còn “phơi phới” giờ cũng đã trở nên thật “bẽ bàng”, Em lẻ loi, tội nghiệp trở về: “Mình em lầm lũi trên đường về, Có ngắn gì đâu một dải đê Áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt Lạnh lùng em tủi với canh khuya” Đám hát tan nhưng đêm chưa tàn. Nếu như ở khổ thơ trước, với tâm trạng “phơi phới”, khoảng cách đến thôn Đoài chỉ ngắn ngủi có một thôi đê, đến nỗi mưa xuân cũng không làm Em ướt áo; thì giờ đây, một thôi đê cũng trở nên dài bất tận. Đám hát đã tan, và “em mải tìm anh” trong vô vọng. Anh đã không đến hay là em tìm không gặp?hay là bởi không duyên?. Bao nhiêu câu hỏi không lời giải đáp. Chỉ biết rằng giờ đây “mình em lầm lũi trên đường về”! “Mình em tủi với canh khuya”! có lẽ em là người sau cùng rời đám hát, nên đường về chỉ có mình em. “Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay Hoa xoan đã nát dưới chân giầy Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày” Đúng là “ Cảnh nào cảnh chẳng đeo tình. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Mưa Xuân giờ đã biết vui. Biết buồn theo em. Mưa “phơi phới” giờ cũng ngại bay, hoa xoan vẫn rụng nhưng không lớp lớp dày” nữa mà giờ thì “hoa xoan đã nát” dưới chân giầy”. Bởi “hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”. Thôn Đoài đã hết hội rồi. Còn mẹ lại bảo “Mùa Xuân đã cạn ngày”. Em buồn, Xuân buồn, bởi hội tan, gánh chèo rời đi, em đâu còn cơ hội để tìm anh nữa. Hình ảnh hoa xoan bị đạp dưới chân giày cũng giống như sự ngóng trông, khắc khoải và hy vọng của Em vỡ vụn theo trong chiều mưa nặng hạt ấy. Hy vọng không còn em chỉ còn biết tự thầm thì với lòng mình, như đang nói với anh thôi: “Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày Bao giờ em mới gặp anh đây? Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay!” Em không gặp được Anh, Em lủi thủi một mình, Em tủi với canh khuya nhưng Em không hề mất hết hy vọng. Cô gái trẻ ngây thơ, thuần khiết như “vuông lụa trắng” vẫn chờ đợi, vẫn tin tưởng đó chỉ là chưa gặp, có nghĩa là sẽ gặp, có điều không biết là bao giờ. Bởi biết đâu, hội sau em vẫn sẽ lại không may mắn, lại sẽ không gặp được anh? Bài thơ Mưa Xuân được Nguyễn Bính viết theo thể thơ Tứ Tuyệt Trường Thiên. Đó là mùa xuân ở vùng quê bắc bộ những năm nửa đầu của thế kỷ 20. Trong “Mưa Xuân” có bức tranh làng quê ngày xuân, có hội làng, có nỗi lòng của một thôn nữ ở tuổi cập kê. “Mưa Xuân” như một câu chuyện được thi sĩ kể bằng thơ. Đó là một câu chuyện về tình yêu, về nỗi nhớ mong, tương tư của một cô gái trẻ nơi thôn quê thuần khiết. Câu chuyện chưa kết thúc, cứ khiến người đọc vừa hy vọng, lại vừa man mác buồn. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính
1,895
Đề bài: Phân tích bài thơ Mồng hai Tết viếng cô Kí của Tú xương Bài làm Những năm Tú Xương lận đận vì chuyện khoa cử, khổ sở vì đời sống ngày một túng bấn, cũng là những năm ở cái thành phố Nam Định của ông, cũng như ở cả nước Nam này, nhiều người nổi lên làm giàu, hăng hái làm giàu, làm giàu bằng mọi giá, sẵn sàng quên hết mọi điều liêm sỉ. Ngắm nhìn thế sự, dở khóc mà cũng dở cười, Tú Xương đã có những bài thơ thật thấm thìa, chẳng hạn như bài Mồng hai Tết viếng cô Kí sau đây: Cô Kí sao mờ đã chết ngay Ô hay trời chẳng nể ông Tây! Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày. Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ Ông chồng thương đến cái xe tay. Gớm ghê cho những cô con gái Mà vẫn đua nhau lấy các thầy. Tú Xương viếng cô Kí bởi cô Kí vừa mới chết, lại chết vào cái lúc khá đặc biệt, ngày mồng hai Tết, ngày mà khắp cả bàn dân thiên hạ, bất kể giàu ngheo, đãng vui vẻ đón xuân. Cô Kí được người ta gọi là cô bởi chồng được người ta gọi là thầy, thầy Kí. Hẳn ông này cũng có chút ít chữ nghĩa và cũng co làm việc dính dáng đến chữ nghĩa, ghi chép gì đó, nên mới được gọi như thế một thư chức sắc mới được khai sinh bởi chế độ thực dân. Cả hai vợ chồng, thầy Kí và cô Kí, đều là những “nhân vật” của xã hội thành phố Nam Định ngày ấy, nghĩa là những người đang nhờ có kiểu xã hội mới do người Pháp mang lại mà giàu lên. Hai vợ chồng cùng mở một cửa hiệu chuyển cho xe kéo, thường được gọi là xe tay, một loại xe chỉ có từ sau khi người Pháp thống trị Việt Nam, do người kéo. Họ là một kiểu người “tiên phong”, của tầng lớp tư sản Việt Nam làm giàu bằng sức lao động của dân nghèo. Nhưng cô Kí hay ai, ai chết mà chẳng đáng thương, huống chi lại cùng sống trong một thành phố với nhau. Tú Xương làm thơ để viếng. Cô Kí có lẽ là vì vậy. Ông đã mở đầu bài thơ của mình bằng một lời thương cảm. Cô Kí sao mà đã chết ngay? Ý nhà thơ như muốn hỏi: Cô Kí sao mà lại chết ngay được nhi? Sao lại có cái chuyện phi lí thế nhỉ? Thông thường, khi đau đớn hay thương cảm quá, người ta vẫn hỏi như vậy. Nhưng ai làm nên cái chuyện vô lí ấy? Chỉ có trời thôi. Cho nên ông trời thật đáng trách. Và quả thật nhà thơ đã trách ông trời: Ô hay trời chẳng nể ông Tây Câu thơ nghe ra thật lạ. Cái lạ thứ nhất: Thế ra, đến cả ông Tây mà trời cũng chẳng nè. Lâu nay, ở cái nước Nam này, từ vua chí dân, ai mà chẳng nể người Tây, sợ ông Tây? Nhưng cái lạ thứ hai trong câu thơ mới là điều đáng chú.: Cô Kí chết thì chuyện có quan hệ gì đến ông Tây mà trời phải nể hay không "nể”? Bây giờ, người đọc đã hiểu: Lời than vãn mở đầu bài thơ của Tú Xương chỉ à một câu đùa. Cô Kí chết, người đáng thượng không phải là cô Kí, cũng chăng phải thầy Kí mà là ông Tây! Người chịu nỗi tang tóc thực sự vì cái chết của cô Kí không phải là chồng cô Kí hay một ai khác, mà chính là “ông Tây”. Và như thế, ông Tây mới thực sự là chồng cô Kí. Sự đời đến là trớ trêu! Sau hai câu mở đầu đặt rá những nghịch lí khiến người ta phải băn khoăn. Tú Xương dành hai câu thực để giới thiệu về cô Kí, nhân vật chính của bài thơ này: Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày Hai câu thơ, một câu nói về cuộc sống, một câu nói về cái chết cua cô Kí, mà đều là những điều đặc biệtcủa cô Kí. Sống, cô Kí là gái tơ nhưng lại đi làm vợ lẽ người khác. Chết, cô Kí chết vào giữa lúc người ta mới ăn Tết được có một ngày. Như thế, cô Kí là người đáng thương thật đấy chứ! Tuy vậy, ở đây lại có chuyện đáng phải lưu ý, ấý là mấy tiếng: lấy làm hai họ. Nếu câu thơ này đứng riêng một mình, mấy tiếng ấy chỉ có nghĩa là: Lấy làm vợ hai người ta. Song, nếu đặt câu thơ trong thế đối chọi với câu dưới, hai họ sẽ đối với một ngày. Như thế, hai họ sẽ có nghĩa là: Hai dòng họ. Gái tơ lấy chồng mà lấy những “hai họ”, chẳng phải là lấy những hai chồng thì còn là gì nữa? Vậy ra, người phụ nữ này, cuộc sống và cái chết có đến những ba điều đặc biệt: lấy chồng làm lẽ, lấy chồng những hai họ, chết đứng vào ngày mồng hai Tết. Hai câu luận là hệ quả tất yếu của hai câu thực: Hàng phố khóc băng câu đối đỏ Ông chồng thương đến cái xe tay Đang mùng hai Tết, trước cửa nhà nào mà chẳng dán câu đối đỏ. "Khóc bằng câu đối đỏ” tức là chẳng khóc gì ca, nghĩa là dửng dưng như chăng có chuyện gì xảy ra, ai chết cứ chết, ai ăn Tết cứ ăn Tết! Câu thơ của Tú Xương một mặt nói lên mối quan hệ người dưng nước lã giữa cô Kí với hàng xóm láng giềng nơi cô ở, một mặt nói lên rất thấm thía một kiểu quan hệ mới giừa người với người đang hình thành trong xã hội lúc bấy giờ: cái lạnh lùng đô thị. Tuy thế, điều này vẫn chưa phải là điều tệ hại nhất Đau nhất, đáng chương nhất cho có Kí, chính là lòng thương của ông chồng. Vợ chết, ông chồng thật buồn, thật thương, nhưng không phải lhưcfng vợ, mà là “thương đến cái xe tay”. Điều thiệt thòi duy nhất mà cái chết của cô Kí để lại cho ông chồng là những cái xe tay từ nay sẽ không còn được làm ăn thuận lợi như trước nữa. Cái gọi là tình nghĩa vợ chồng mà thầy Kí dành cho cò Kí từ trước đến giờ chỉ là thế thôi! Chỉ là một thứ liên doanh để kiếm tiền. Đọc câu thơ của Tú Xương, lời thơ thật bình thần mà nghe lạnh cả người. Thay vào các tình nghĩa truyền thống, đang bắt đầu xuất hiện trong xã hội Việt Nam một kiểu tình nghĩa khác thường: tình vì lợi, nghĩa vì tiền. Sau sáu câu thơ trên, có lẽ chẳng cần thêm một lời kết luận nào nữa, thế nhưng, hai câu kết của Tú Xương đã làm ta bất ngờ, vì nhà Ihơ lại chuyển sang một ý khác: Gớm ghê cho những cô con gái Mà vẫn đua nhau lấy các thầy Hai câu thơ vẫn tiếp tục giọng trào phúng nhưng lại pha giọng trữ tình. Nhà thơ hình như ngạc nhiên. Tưởng chuyện vợ chồng cô Kí chì là chuyện đặc biệt, hóa ra lại là chuyện bình thường trong xã hội lúc này, ít nhất là đang bắt đầu trở nên bình thường. Tấm gương của cô Kí về tình nghĩa vợ chồng ấy hình như chẳng có ỷ nghĩa răn đe đối với ai cả, đối với cô gái trẻ nào cả. Các cô vẫn “đua nhau lấy các thầy”, cố kiếm cho được tấm chồng kiểu như thầy Kí. Tại sao vậy? Nhà thơ nghĩ đến điều đó mà thấy “gớm ghê”. Dùng hai tiếng này để bắt đầu câu thơ giọng thơ của Tú Xương nửa vừa thân mật, nửa vừa trách móc, khác với cái giọng cay độc thường có trong các bài thơ Tú Xương vẫn dùng để đả kích những ông Tây bà đầm và bọn quan lại tay sai thực dân. Nghĩ cho cùng thì “các cô con gái”, hay cả cô Kí nữa, dẫu có chỗ đáng trách, vẫn có chỗ đáng thương. Cô Kí đem thân làm một thứ mĩ nhân kế với ông Tây, giúp chồng kinh doanh “xe tay”, đến khi chết cũng chẳng được chồng coi ra gì. Cô Kí hay các cô gái khác ở thành phố Nam Định, hay ở cả nước Nam lúc bấy giờ, cuối cùng cũng chỉ là một thứ sản phẩm đáng thương của thời buổi nước mất nhà tan. Đã sinh ra cái xã hội có những ông Tây bà đầm, thế tất trong xã hội phải có những kiểu người như thế, những kiểu sống thực dụng, lạnh lùng như thế. Mùng hai Tết viếng cô Kí là thơ trào phúng hay thơ trữ tình? Là thơ trào phúng đích thực nhưng cũng là thơ trữ tình đích thực. Cười cợt đấy, nhưng trong giọng cười của Trần Tế Xương có cái gì đó nghèn nghẹn vì một nỗi đau đời”. Có lẽ đây chính là điều khiến cho bài thơ này nói riêng, thơ Tú Xương nói chung, có một sức vang lớn nơi tâm hồn người đọc.
Phân tích bài thơ Mồng hai Tết viếng cô Kí của Tú xương
1,578
Phân tích bài thơ Mộ (chiều tối) của Hồ Chí Minh Hướng dẫn Phân tích bài thơ Mộ (chiều tối) của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh được xem là ngôi sao lớn trên nền trời thơ ca Việt Nam, tuy không nhận mình là nhà thơ nhưng những cảm xúc về chiều hôm cứ trở đi rồi trở lại không ít những lần ở trong thơ văn của Bác. Trong số ấy thì bài “chiều tối” là một bài thơ quen thuộc hơn cả, bài thơ đã kết tinh được vẻ cổ điển mà hiện đại của cả tập thơ “nhật kí trong tù” của Người. Bài thơ “ Mộ” được sáng tác trong những tháng ngày trên đường chuyển lao từ Tĩnh Tây tới Thiên Bảo và khi viết bài này thì Bác đã để lại đằng sau địa ngục trần gian. Trong hoàn cảnh bị xiềng xích như vậy nếu như một người bình thường không thể nảy hứng thi ca được. Vậy mà bài “chiều tối” được ra đời giống như một bài thơ xinh xắn viết về cảnh chiều tối ở vùng sơn cước dạt dào về những xúc cảm thiên nhiên và con người ở nơi đây. Hai câu thơ đầu tiên mở ra trước mắt chúng ta đó là một bức tranh về thiên nhiên đậm đà màu sắc cổ điển: “Quyển điệu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không” (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Sau một ngày hoạt động mệt nhọc thì dường như vạn vật dường như tìm chốn để nghỉ ngơi nhưng mà trái lại người tù phải đi và vẫn chưa kết thúc cuộc hành trình gian khổ của mình. Trên nền trời rộng bao la ấy nhà thơ đã rất khéo léo khi cho vài nét chấm phá rất nhẹ để làm nổi bật lên linh hồn tạo vật mà nhà thơ muốn miêu tả. Đầu tiên chúng ta thấy hiện lên một con chim bé nhỏ cùng với một điểm động ở trên nền trời mênh mông. Cánh chim đang bay hướng về tổ của nó sau một ngày kiếm ăn. Còn Bác thì trìu mến để dõi theo cánh chim nhỏ ấy. Cánh chim mệt mỏi rất phù hợp với tâm trạng của người tù lúc này. Nét chấm phá thứ hai đó chính là chòm mây đang lơ lững trôi nổi trên một không gian bao la và rộng lớn dường như cũng đang mệt mỏi. Hai nét chấm phá đó đã tạo nên cái đẹp của cảnh chiều đẹp hiu hắt và tựa buồn. Nét cổ điển không chỉ là thể hiện ở trong tứ thơ ma còn gợi nên bút pháp gợi chứ không tả. Tác giả đã mượn cái động của cánh chim để nói lên cảnh không gian vắng. Qua những cảnh vật này chúng ta như thấy được tâm hồn Bác,đó là tình yêu thương thiên nhiên và con người hết mực. Dường như không có bóng dáng của người tù trên chuyến hành trình ấy mà còn có thi nhân đang say đắm ở trong cảnh chiều tối. Qua đây thì chúng ta còn thấy được một tâm hồn luôn luôn hướng về sự sống Đến với hai câu thơ tiếp theo thì mạch thơ đã chuyển động từ chiều cho tới khi tối hẳn. Bức tranh về thiên nhiên đang dần lùi lại ở phía sau và nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt đời thường: “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng” (cô em xóm núi say ngô tối Say hết lò than đã rực hồng) Đó là hình ảnh về cô thôn nữ đang say mê làm việc,đó là xay ngô tối.Đó là hình ảnh của một người phụ nữ xay ngô nhưng hình ảnh này lại hiện lên thật đẹp, tuy vất vả nhưng bình dị, thân thương. Những hình ảnh ấn vốn là ở xung quanh chúng ta và thường ngày nhưng phải là người có tâm hồn đẹp thì mới có thể ghi lại được, cảm nhận được một hình ảnh đẹp như thế này. Chính hình ảnh này làm cho bức tranh chiều tối hiện lên ấm cúng và sinh động. Thêm vào nữa đó chính là lò than rực hồng, nó đem tới ánh sáng và xua tan đi bóng tối và cái lạnh lẽo, làm vơi đi nỗi buồn đang có. Hình ảnh ấy làm cho bức tranh chiều tối ấm cúng sinh động hẳn lên. Thêm nữa là hình ảnh lò than rực hồng trong đó chữ “hồng” là thi nhãn của bài thơ. Nó đem đến ánh sáng xua đi bóng tối, hơi ấm xua lạnh lẽo, niềm vui xua nỗi buồn. Qua đây ta cũng thấy được cái tình của bài thơ hay chính là cái tình của tác giả. Đó là lòng yêu đời, yêu cuộc sống lao động và lạc quan nhân hậu. nếu không yêu lao động thì sao hình ảnh sự vất vả của cô thôn nữ kia lại. Nếu không lạc quan thì làm sao có thể quên đi những gian lao,vất vả mệt nhọc trên đường đi. Chính sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển và hiện đại đã làm nên trong thơ Bác một vẻ đẹp tự nhiên và làm sáng lên chân dung của người chiến sĩ anh hùng. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Mộ (chiều tối) của Hồ Chí Minh
888
Đề bài: Phân tích bài thơ Mộ – Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh Bài làm “Nhật ký trong tù ” của Hồ Chí Minh được viết từ 2/8/1942 đến 10/9/1943 khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ, đầy đoạ khắp các nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trong số 133 bài thơ “Nhật ký trong tù ” có một số bài ghi lại những thời khắc đáng nhớ trong ngày: Buổi sớm, Buổi trưa, Quá trưa, Chiều hôm, Chiều tối, Hoàng hôn, Nửa đêm… Mỗi bài là một nỗi niềm trong những tháng ngày “ác mộng”. "Chiều tối” (Mộ) là bài thất ngôn tứ tuyệt số 31 trong “Nhật ký trong tù”. Bài thơ số 32 là bài “Đêm ngủ ở Long Tuyền". Vậy, bài “Chiều tối” ghi lại cảnh xóm núi lúc ngày tàn trên con đường từ Thiên Bảo đến Long Tuyền vào tháng 10/1942. Đây là nguyên tác hài thơ: “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mụn độ thiên không, Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng. Một cái nhìn man mác, một thoáng ươc mơ thầm kín về một mái ấm, một chỗ dừng chân…của nhà thơ trên con đường lưu đày khổ ải muôn dặm, được hé lộ qua bài thơ, đọc qua tưởng như chỉ tả cảnh chiều tối nơi xóm núi xa lạ. Phân tích bài thơ Mộ – Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh Hai câu đâu tả bầu trời lúc ngày tàn. Hai nét vẽ “động” cánh chim mỏi mệt (quyện điểu) bay về rừng xa, tìm cây trú ẩn, một áng mây cô đơn, lẻ loi ( cô vân) đang lửng lơ trôi (mạn mạn). Câu trúc hai câu thơ đăng đối, âm điệu thơ nhẹ, thoáng buồn. Người chiến sĩ bị lưu đày ngước mắt nhìn bầu trời, dõi theo cánh chim bay và áng mây trôi nhẹ mà lòng man mác. Rất tinh tế, nét vẽ ngoại cảnh đã thoáng hiện tâm cảnh. Câu thơ dịch của Nam Trân tuy chưa thể hiện được chữ “cô ” trong “cô vân ” nhưng khá hay: “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không”. Hai câu thơ 1,2 mang vẻ đẹp cổ điển: tả ít mà gợi nhiều chỉ 2 nét phác họa (chim bay, mây trôi) mà gợi lên cái hồn cảnh vật, ngày tàn, màn đêm buông xuống dần, tạo vật như đang chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi, mệt mỏi. Nghệ thuật lấy điểm vẽ điện, lấy động tả tĩnh được vận dụng sáng tạo. Nhìn chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả, tĩnh lặng hơn. Cảnh chiều tối ở xóm núi này còn mang tính ước lệ, nó mở rộng liên tưởng và cảm xúc thẩm mỹ trong tâm hồn mỗi chúng ta,…nhớ về một cánh chim bay trong “Truyện Kiều”: “Chim hôm thoi thót về rừng”; nhớ đến một cánh chim bay mỏi và hình ảnh người lữ thứ trong chiều sương lạnh nhớ nhà: “Ngàn mai gió cuốn, chim bay mỏi Dặm liễu sương sa, khách bước dồn (Chiều hôm nhớ nhà) Trở lại bài “Chiều tối”, áng mây cô đơn lẻ loi đang lơ lửng, trôi nhẹ trênbầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người lưu đày trên con đường khổ ải xa lắc! Ngôn ngữ thơ hàm súc, biểu cảm, vừa tả cảnh vừa tả tình, thoáng nhẹ mà đầy ấn tượng, dư ba. Tiếp theo câu cuối 3-4 từ cảnh bầu trời tác giả nói về cuộc sống con người nơi núi. Thiếu nữ và lò than hồng là trung tâm của bức tranh này: “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”. Một nét vẽ trẻ trung, bình dị, đáng yêu: Thiếu nữ xóm núi đang xay ngô. Ba chữ “ma bao túc” ở cuối câu ba được láy lại “bao túc ma hoàn…” ở đầu câu 4, động tác nhịp nhàng xay ngô, vừa diễn tả sự chuyển động vòng tròn của cái cối đá xay ngô thủ công. Đức tính cần mẫn của thiếu nữ xóm núi được cảm nhận và trân trọng. Nghệ thuật điệp ngữ liên hoàn đã làm cho thơ liền mạch và có về nhạc điệu. Câu thơ địch: “Cô em xóm núi xay ngô tối", với 2 chữ cô em đã làm lạc phong cách thơ Hồ Chí Minh; chữ “tối” thêm vào đã làm cho ý thơ lộ, còn đâu nữa ý tại ngôn ngoại trong bài thơ chữ Hán này?. Sự vật như nối liếp theo dòng chảy thời gian mà xuất hiện: Khi ngô xay xong than đã rực hồng, sáng bừng lên, vô cùng ấm áp. Khi màn đêm đã bao mịt mùng, lò than đỏ rực lên, cảnh vật ấy thu hút tâm trí người tù đang bị giải đi. Buồn biết bao cảnh bếp lạnh tro tàn! ấm áp biết bao một ngọn đèn, một bếp hồng trong đêm lạnh. Hình ảnh thiếu nữ xóm núi xay ngô và lò than rực hồng tượng trưng cho một mái ấm đoàn tụ gia đình, nó đã làm vợi đi bao nỗi cô đơn tĩnh mịch. Hướng về một cảnh sinh hoạt dân dã bình dị: thiếu nữ xay ngô, dõi nhìn bếp lửa, lò than rực hồng, khi chân tay mang nặng xiềng xích, bị giải đi trong chiều tối, Bác đã tìm thấy nơi nương lựa tâm hồn mình. Hình như nỗi cô đơn, lẻ loi, lạnh lẽo bị xua tan. Một thoáng ước mơ thầm kín về một mái ấm gia đình đã đến với nhà thơ trên con đường đi đày xa xứ trong màn đêm buông xuống. Cảm hứng thơ dào dạt chất nhân bản. Cái bình dị mà đầy chất thơ. Chất thơ ấy là hồn người và tình người. Hai nét vẽ về thiếu nữ xay ngô và lò than rực hồng là hai nét vẽ bình dị, ấm áp, khoẻ và trẻ trung, làm thơ Bác có sự hoà hợp giữa màu sắc cổ điển và chất hiện đại trẻ trung bình dị. Nhiều bài thơ khác cho thấy trên con đường khổ ải, lưu đày người chiến sĩ cách mạng trong “Nhật ký trong tù” hầu như ít cảm thấy cô đơn, tâm hồn luôn luôn gắn bó với nhịp sống, làm chủ hoàn cảnh và lạc quan yêu đời. Trong cảnh hoàng hôn gió rét căm, vượt lên gian khổ. Người xúc động hướng tới một tiếng chuông chùa, một tiếng sáo mục đồng mà mạnh bước: “Gió sắc tựa gươm mài đá núi, Rét như dùi nhọn chích cành cây Chùa xa chuông giục người nhanh bước, Trẻ dẫn trâu về tiếng sáo bay”. Nam Trân dịch Có lúc trong cảnh bị cùm trói “Thừa cơ rét rệp xônq vào đánh" mà Người vẫn “thoát ngục” tìm được một chút niềm vui nâng đỡ tâm hồn mình: “Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần" (Đêm ngủ ở Long Tuyền). Điều đó cho thấy,sự sống và tự do là khát vọng của Người. Thiên nhiên và con người hiện diện trong thơ Bác bằng những nét vẽ đẹp, bình dị. đáng yêu, đó là sự sống mà Bác gắn bó, mến yêu suốt đời. “Chiều tôi” – một bài thơ đáng yêu: màu sắc cổ điển hàm súc kết hợp với tính chất trẻ trung, hiện đại, bình dị. Tứ thơ vận động từ cảnh đến tình, từ trong bóng tối đến sự sống, đến ánh sáng và tương lai. Nét vẽ linh tế, thể hiện một hồn thơ "bát ngát tình”. Bài thơ thấm đượm một tình yêu mênh mông đối với tạo vật và con người. Trong đoạ đầy gian khổ, tâm hồn Bác vẫn dào dạt sự sống.
Phân tích bài thơ Mộ – Chiều tối của tác giả Hồ Chí Minh
1,298
Đề bài: Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Hồ Chí Minh Bài làm Bài thơ Mới ra tù, tập leo núi không nằm trong tập Nhật ký trong tù. Hồ Chí Minh viết bài này khi đã được giải thoát khỏi cảnh tù đày. Bài thơ được viết bên rìa tờ báo cũng với mấy hàng chữ “ Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác, Ở bên này bình yên”, và gửi về cho các đồng chí ở nhà đang ngày ngày chờ mong tin tức và lại được tin Hồ Chí Minh đã mất trong ngục. Bài thơ mang đến cho các đồng chí niềm vui lớn: Người vẫn còn sống, đã ra tù và lại chuẩn bị bước vào chặng đường hoạt động mới Sau khi ở tù ra, sức khỏe của Người bị giảm sút hẳn. Tác giả Vừa đi đường vừa kể chuyện đã viết: Khi được thả ra, mắt Bác nhìn kém, chân bước không được. Bác quyết tâm tập đi, mỗi ngày mười bước, dù đau mà phải bò, phải lết cũng phải được 10 bước mới thôi. Cuối cùng, Bác chẳng những đi vững, mà còn trèo được cả núi. Lần đầu tiên lên đỉnh núi. Bác cao hứng làm một bài thơ chữ Hán. Bài thơ Mới ra tù, tập leo núi đã được làm trong hoàn cảnh đó. Chuyện leo núi của Bác nhằm mục đích rèn luyện ý chí và thân thể để tiếp tục hoạt động. Chủ đề của bài thơ Mới ra tù, tập leo núi không nhằm hướng vào chủ đề vượt khó như một số bài thơ đi đường khác mà chủ yếu là bộc lộ tình cảm nhớ thương với đất nước, với đồng chí bạn bè. Núi ấp ôm mây, mây ấp núi. Hình tượng mây núi được biểu hiện qua hai hình ảnh gắn bó: núi ấp ôm mây, mây ôm ấp núi như tình cảm đồng chí, bạn bè yêu thương nhau. Hình tượng mây núi ở đây không hàm ý ám chỉ cục diện chính trị tối tăm mù mịt ở Trung Quốc vào những năm 40 như có ý giải thích. Sau gần 14 tháng xa đất nước, Người rất nóng lòng chờ tin tức bên nhà: Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng, Tin tức bên nhà bữa bữa trông. ( Tức cảnh). Nhớ đất nước, bạn bè, Người cũng muốn giãi bày kín đáo phần nào tấm lòng của mình. Lòng sông gương sáng, bụi không mờ. Đứng trên đỉnh núi cao nhìn suống dòng sông, lòng sông như gương nước trong, không chút bụi mờ. Thiên nhiên cũng có những khoảnh khắc, trạng thái thanh khiết như chính tấm lòng của Người trong cảnh ngộ đó. Tình cảm của người vẫn trước sau một lòng một dạ trung thành với cách mạng, với nhân dân. Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai nhận xét: “ Đằng sau bức tranh phong cảnh này, đằng sau những tầng lớp mây núi trập trùng, đằng sau dòng nước trong dưới chân Tây Phong lĩnh, ấn tượng không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn của độc giả chính là tâm trạng vừa trong trắng sâu sắc, vừa cao cả của con người. Thiên nhiên ở đây đã góp phần biểu hiện tình cảm sâu kín của con người: Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh, Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa. Tình bạn vẫn là một hình ảnh cao đẹp nằm trong chủ đề quen thuộc: nhớ bạn ( ức hữu) được biểu hiện trong Nhật ký trong tù: Ngày đi bạn tiễn đến bến sông, Hẹn về khi lúa đã đỏ đồng: Nay đã gặt xong, cày đã khắp, Quê người, tôi vẫn chốn lao lung. ( Nhớ bạn) Tình cảm nhớ bạn trong bài thơ Mới ra tù, tập leo núi được bộc lộ trong hoàn cảnh tác giả đã được tự do. Trong lòng Hồ Chí Minh lúc này có cả niềm vui, nỗi buồn. Niềm vui của một người chiến sĩ cách mạng giữ lòng trung kiên qua những thử thách của cảnh tù đày, niềm vui và hy vọng được gặp lại bạn bè. Nhưng dù sao Người cũng đang còn trong cảnh ngộ xa đất nước, xa bạn bè nên không tránh khỏi cảnh buồn vắng, cô đơn. Trước mắt, là một chặng đường hoạt động mới mà Người chuẩn bị tinh thần để tham gia với lòng quyết tâm. Bao nhiêu cảm xúc bồi hồi xao xuyến trong lòng người chiến sĩ cách mạng. Có ai ngờ giữa cảnh thiên nhiên hùng vĩ và trong trẻo ấy con người đương một mình dạo bước trên đỉnh núi kia với một phong thái rất tiên phong đạo cốt lại là một chiến sĩ cộng sản của thời đại chúng ta đang chuẩn bị để bước vào một cuộc chiến đấu sống chết với kẻ thù.
Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi của Hồ Chí Minh
808
Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi Hướng dẫn Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân ta không những thế Người còn là một thi sĩ tài hoa của dân tộc Việt Nam. Là một chiến sĩ Hồ Chí minh phải trải qua những năm tháng khó khăn gian khổ vì mục tiêu giải phóng dân tộc thống nhất đất nước. Và trong những khó khăn mà người phải chịu chính là những lần giải lao. Tập thơ Nhật Kí trong tù đã ghi lại những khoảnh khắc như thế của Người và trong đó có bài thơ Mời ra tù tập leo núi vô cùng tiêu biểu Nguyên cớ nào khiến cho một người như Người lại có những hành động như vậy. CÓ thể nói rằng sức khỏe của Người giảm sút khi mới ra tù và chính vì thế Người đã lấy lại sức khỏe và tinh thần của mình với việc leo núi và bài thơ ra đời nhằm thể hiện ý chí sắt đá kiên cường đó của Người Không thể thiếu được trong các tác phẩm của Người đó chính là sự xuất hiện của thiên nhiên hùng vĩ hay những cảnh đẹp được ví với những cảnh sắc chốn bồng lai tiên cảnh “Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân, Giang tâm như kính, tịnh vô trần. ” (Núi ấp ôm mây, mây ấp núi, Thiên nhiên hiện ra với vẻ trùng điệp của núi non với hình ảnh hùng vĩ của những ngọn núi. Và đẹp hơn nữa núi non cao cho nên mấy cũng phải ngang tầm che núi và ôm ấp núi. Theo đó chính là hình ảnh của dòng sông được ví như gương và không môt chút mờ ảo nòa hết. quả thật cảnh đẹp nhất chính là sơn thủy hữu tình đứng trước cảnh tượng ấy ai mà không xao lòng sao được. Hơn nữa đây lại là một người mới được ra tù cho nên cảnh tượng bên ngoài sẽ làm Cho Người cảm thấy choán ngợp. Mây núi và sông như gắn kết với nhau và còn có cả lòng sông kia nữa. tất cả như hòa quyện và như soi tỏ được tấm chân dung con người của Người. tâm hồn của Người được ví với thiên nhiên thanh khiết và tnhx lặng trải dài đầy bao dung Đã từng có người nói răng: “Đằng sau bức tranh phong cảnh này, đằng sau những tầng lớp mây núi trập trùng, đằng sau dòng nước trong dưới chân Tây Phong lĩnh, ấn tượng không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn của độc giả chính là tâm trạng vừa trong trắng sâu sắc, vừa cao cả của con người. ” chính vì những hình ảnh được viết ra trùng khớp với những gì người ta cảm nhận được cho nên từ bao giờ hình ảnh ấy đã trở thành đặc trưng là đặc sản chỉ có được ở Người. con người đứng trước thiên nhiên cảm thấy xao xuyến vì vẻ hùng vĩ của nó nhưng cũng khiến con người phải bộc lộ tâm trạng của mình. “Bồi hồi độc bộ Tây Phong lĩnh, Dao vọng Nam thiên ức cố nhân” (Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh, Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa) Vừa mới ra tù ắt hẳn Người có sức khỏe còn rất yếu nhưng tinh thần và ý chí của người đã vượt lên tất cả. KHông một lời nào có thể diễn tả niềm vui vì được tự do, và lòng thương nhớ đồng bào anh em. Tâm hồn đẹp trong sáng ngời của Bác đã làm nên điều đó. Người bống nhiên nhạy cảm với hiện tại và hình ảnh quê hương đất nước mình lại ùa về trong tim của Người. Đứng ở hiện tại Người dường như tìm thấy khoảng cách với hiện tại và khoảng cách hay còn là khoảng cách của con đường cách mạng khi thời cơ chưa đến. Bài thơ “ Mới ra tù tập leo núi” như là một áng thơ đẹp về một cuộc sống tự do thoát khỏi tù đầy nhưng không chính những khoảnh khắc này lại khiến cho người ta nhận ra rõ hơn rằng Người luôn có ý chí vượt qua những khắc nghiệt của số phận của cuộc sống để rồi chinh phục những khó khăn kia. Không chỉ có những niềm vui khi trở lại với cuộc sống ở ngoài lao tù, bài thơ còn chất chưa những niềm vui nỗi buồn và tâm trạng xen kẽ của nhà thơ khi viết và đứng trước sông núi bao la đó.
Phân tích bài thơ Mới ra tù tập leo núi
778
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của em Hướng dẫn ‘Lí Công nước Việt Noi dấu tiền nhân Cầm quân tất thắng Trị nước yên dân Danh lừng trung hạ Tiếng nức gần xa…’ Lí Công la Lí Thường Kiệt, người con vĩ đại của Thăng Long nghìn năm văn vật, tác giả bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ bất hủ. Lí Thường Kiệt là danh tương thời nhà Lí, tên tuổi gắn liền với chiến thắng Sông Cầu – Như Nguyệt trong thế kỉ 11. Năm 1076, vua nhà Tống sai tướng Quách Quỳ mang đại binh sang xâm chiếm Đại Việt, Lí Thường Kiệt lập chiến tuyến Sông Cầu – Như Nguyệt để chống giặc. Trong những giờ phút giao tranhác liệt, ông viết bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ để khích lê và động viên tướng sĩ quyết chiến quyết thắng giặc Tống. Bài thơ nói lên niềm tự hào về chủ quyền của dãn tộc, nêu cao ý chí tự lực tự cường của nhân dân ta: ‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở, Vằng vặc sách trời chia xứ sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đáy, Chúng mày nhất định phải tan vỡ!’ Hai câu thơ đầu, ngôn ngữ trang trọng, ý thơ mạnh mẽ đanh thép khẳng định một chân lí lịch sử bất di bất dịch: ‘Sông núi nước Nam’ – nước Đại Việt thân yêu của nhân dân ta là ‘nơi vua Nơm ở’. Theo quan niệm phù hợp với lịch sử thời bấy giờ, thì vua là tượng trưng cho quyển lực tối thượng và đại diện cho quyền lợi tối cao của cộng đồng dân tộc. Nước ta đã có vua, nghĩa là có người làm chủ. Nam đế có thua kém gì Bắc đế. Nước có vua là có chủ quyền, có nền độc lập. Không những thế, ‘Sông núi Nam Việt được ghi rõ ở sách trời’. Đó là một chân lí lịch sử khách quan không ai có thể chối cãi được. Bài thơ nói đến ‘Nam đê’ nói đến ‘thiên thu’ và’định phận’ dể khẳng định một niềm tin, một ý chí về chủ quyền quốc gia, về tinh thần tự lập, tự cường dân tộc: Vẳng vặc sách trời chia xứ sở’ Có thể nói, đó là một lời tuyên ngôn về chủ quyền và nền độc lập của Đại Việt. Mọi niềm tin đều cho ta sức mạnh. Trước họa xâm lăng của ngoại bang, niềm tin về độc lập và chủ quyền sẽ làm bùng lên ngọn lửa yêu nước và căm thù giặc trong nhân dàn ta. Hai câu tiếp theo, giọng thơ vang lên sang sảng, căm giận. Lí Thường Kiệt nghiêm khắc lên án hành động ăn cướp trắng trợn của giặc Tống. Chúng đã mang quân sang xâm chiếm nước ta. Câu hỏi tu từ làm cho lời thơ thêm đanh thép: ‘Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?’ Hành dộng xâm lược của giặc Tống là tàn ác và phi nghĩa. Giết người, đốt phá, ăn cướp, gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn. Chúng âm mưu biến nước ta thànhquận huyện của Trung Quốc, xâm phạm tới ‘Nam quốc sơn hà’, làm trái với ‘sách Trời’. Giặc Tống nhất định sẽ bị nhân dân ta giáng cho những đòn trừng phạt đích đáng: ‘Chúng mày nhất đinh phải tan vỡ!’ Câu thơ khẳng định niềm tin chiến thắng. Chiến thắng vì ta có sức mạnh chính nghĩa đánh giặc để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng vì nhận dân ta có truyền thống yêu nước, có tinh thần đoàn kết bất khuất anh hùng chống ngoại xâm. Chiến thắng vì tướng sĩ của ta mưu lược, dũng cảm đánh giặc để giữ gìn quê hương đất nước. Bài thơ ‘Sông núi nước Nam’ vẫn được mệnh danh là bài thơ ‘Thần’. Lí Thường Kiệt với tài mưu lược của một nhà quân sự văn võ song toàn đã phủ cho bài thơ một màu sắc thần linh, có tác dụng động viên tướng sĩ đánh giặc với niềm tin thiêng liêng ‘Sông núi nước Nam’ đã được ‘vằng vặc sách trời chia xứ sở’. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ đanh thép, căm giận, hùng hồn. Nó vừa mang sứ mệnh lịch sử như một bài hịch cứu nước, vừa mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước Đại Việt. Bài thơ là tiếng nói yêu nước và tự hào dân tộc của nhân dân ta. Nó biểu thị ý ‘chí và sức mạnh Việt Nam. ‘Nam quốc sơn hà’ là khúc tráng ca chống xâm lăng biểu lộ khí phách và ý chí tự lập tự cường của đất nước và còn người Việt Nam. Nó là bài ca của ‘Sông núi ngàn năm’…
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt và nói lên cảm nghĩ của em
809
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt Hướng dẫn Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt Suốt hơn một ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân ta phải sống trong cảnh khát khao mơ ước mong có được một cuộc sống hạnh phúc, tự do. Vì thế chúng ta có thể hình dung niềm hạnh phúc sẽ lớn dần mức nào khi nước Đại Việt ta có được chủ quyền, có tự do và độc lập. Lịch sử đã ghi danh thế nhưng trong văn học, phải đợi đến gần một trăm năm sau đó, khi bài thơ Nam Quốc sơn hà ra đời, chúng ta mới có một tuyên ngôn chính thức về chủ quyền và ý chí tự lực tự cường của dân tộc chúng ta. Bài thơ từ đó đến nay đã vang vang suốt hàng ngàn năm lịch sử: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư Nguyên bài thơ được coi là của tướng quân Lý Thường Kiệt, một người con vĩ đại của đất Thăng Long. Thế nhưng cho đến ngày nay, câu trả lời cho câu hỏi tác giả bài thơ là ai vẫn đang còn bỏ ngỏ. Chỉ biết rằng bài thơ ra đời khi cuộc giao tranh giữa quân ta với quân đội của Tống triều đang ác liệt. Bài thơ được ngân lên trong ngôi đình của Trương Hống và Trương Hát vì thế mà nó trở thành lời hịch khích lệ lòng quân quyết tiến để tiêu diệt giặc thù. Núi sông nước Nam vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Câu thơ khẳng định một chân lý không thể đổi thay “Sông núi nước Nam” là nơi Vua nam ở. Chữ cư ở trong nguyên bản không chỉ hiểu là ở mà còn phải biểu là vua Nam có quyền làm chủ trên chính mảnh đất này. Nam đế cũng chẳng thua kém gì Bắc đế. Nước đã có vua nghĩa là đã có độc lập, có chủ quyền. Và mỗi người phải có trách nhiệm gìn giữ non sông. Hơn thế nữa, chủ quyền của sông núi nước Nam còn được thiên thư định phận rõ ràng. Nó là một chân lý khách quan, trên đã thuận ý trời dưới lại hợp lòng người vì thế mà không ai có thể thay đổi được, Hai câu thơ là lời tuyên ngôn đanh thép khẳng định ý chí, niềm tin về độc lập chủ quyền và về tinh thần tự cường dân tộc của nước Đại Việt chúng ta. Có thể nói hai câu thơ đầu đã tiếp thêm lòng căm thù và ý chí quyết tâm cho lời tuyên ngôn tiếp theo: Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ Hành động xâm lược dã man, tàn bạo của quân giặc chắc chắn là trái với đạo trời. Hành động ấy là phi nghĩa vì thế mà chúng bay chắc chắn sẽ phải chuốc lấy bại vong”..Nếu hai câu thơ đầu là lời khẳng định chân lý về độc lập chủ quyền thì lời khẳng định chân lý về độc lập chủ quyền thì hai câu thơ sau là lời khẳng định niềm tin chiến thắng. Có niềm tin ấy bởi chúng ta có tinh thần đoàn kết, có truyền thống yêu nước lâu bền. Chúng ta lại có ngọn cờ chính nghĩa và có cả những người con ưu tú, anh hùng luôn chiến đấu mưa lược và dũng cảm trong những cuộc chiến tranh để bảo vệ và gìn giữ sự tồn vong của đất nước, quê hương.
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt
616
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà cực hay và sâu sắc Hướng dẫn Núi sông nước Nam ‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở, Vằng vặc sách Trời chia xử sở. Giặc dữ cớ sao phạm đến đây, Chúng mày nhất định phải tan vố’ (Lê Thước – Nam Trân dịch) Hai câu thơ đầu nói về núi sông nước Nam, đất nước Việt Nam là nơi ‘Num đế cư’ (vua Nam ở). Hai chữ Nam đế đối sánh với Bắc đế; Nam đế hùng cứ một phương chứ không phải chư hầu của Thiên triều. Vua Nam là đại diện cho uy quyền và quyền lợi tối cao của Đại Việt, cho nhân dân ta. Núi sông nước Nam thuộc chủ quyền của Nam đế, có kinh thành Thăng Long, có nền độc lập vững bền… Không những thế, núi sông nước Nam đã được ‘định phận’, đã được ghi rõ ở sách Trời, đã được ‘sách Trời chia xứ sở’, nghĩa là có lãnh thổ riêng, biên giới, bờ cõi riêng. Hai chữ ‘sách Trời’ (thiên thư) trong câu thơ thứ hai gợi ra màu sắc thiêng liêng với bao niềm tin mãnh liệt trong lòng người, vần thơ vang lên như một lời Tuyên ngôn về chủ quyền thiêng liêng của Đại Việt: ‘Núi sông Nam Việt vua Nam ở, Vằng vặc sách Trời chia xứ sở’ (Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư) Từ nhận thức và niềm tin ấy về sông núi nước Nam, Lí Thường Kiệt căm thù lên án hành động xâm lược đầy tội ác, tham vọng bành trướng phi nghĩa của giặc Tống. Chúng âm mưu biến sông núi nước Nam thành quận, huyện của Trung Quốc. Hành động xâm lược của chúng đã làm trái ý Trời, đã xúc phạm đến dân tộc ta. Câu hỏi kết tội lũ giặc đã vang lên đanh thép, đầy phẫn nộ: (Như hà nghịch lổ lai xâm phạm) Vị anh hùng dân tộc đã nghiêm khắc cảnh cáo lũ giặc phương Bắc và chỉ rõ, chúng sẽ bị nhân dân ta đánh cho tơi bời, chúng sẽ chuốc lấy thất bại nhục nhã: ‘Chúng mày nhất định phải tan vơ’ (Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư) Hai câu 3, 4 có giọng thơ đanh thép hùng hồn thể hiện tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhàn dân ta quyết tâm giáng trả quân Tống xâm lược những đòn chí mạng để bảo vệ sông núi nước Nam. Chiến thắng Sông Cầu – Như Nguyệt năm 1076 là minh chứng hùng hồn cho ý thơ trên. Triệu Tiết, Quách Quỳ’ cùng hơn 20 vạn quàn Tống đã bị quân dân Đại Việt đánh bại, quét sạch khỏi bờ cõi. ‘Nam quốc sơn hà’là bài ca yêu nước chống xâm lăng. Bài thơ đã khẳng định chủ quyền dân tộc, ca ngợi sức mạnh chiến đấu để bảo vệ đất nước Đại Việt. Với nội dung ấy, bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ mang ý nghĩa lịch sử như một Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi người anh hùng Lí Thường Kiệt cùng với bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’ và chiến thắng Sông Cầu – Như Nguyệt (1076) mãi mãi chói sáng trong tâm hồn dãn tộc.
Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà cực hay và sâu sắc
542
Đề bài: Phân tích bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng) của Hồ Chí Minh Bài làm Nguyên tiêu là bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh được viết trong thời gian kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc. Sau chiến thắng Việt Bắc, Thu Đông 1947 sang Xuân Hè 1948 quân ta lại thắng lớn trên đường số 4. Niềm vui thắng lợi tràn ngập tiền tuyến, hậu phương. Trong không khí sôi động và phấn chấn ấy bài thơ Nguyền tiêu của Bác Hồ xuất hiện trên báo Cứu quốc như một đoá hoa xuân ngọt ngào rực rỡ sắc hương. Kim dạ nguyền tiêu nguyệt chính viên Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên Yên ba thâm xứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền Mở đầu bài thơ là cảnh tuyệt vời trong đêm nguyên tiêu. Trên bầu trời vầng trăng tròn vành vạnh: Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên (Rằm xuân lồng lộng trăng soi) Trăng rằm tháng giêng mang vẻ đẹp tươi xinh khác thường vì có hơi thở của mùa xuân. Đêm rằm, trăng sáng ánh trăng lồng lộng dát vàng trên nền trời, phủ khắp chốn trần gian, ánh trăng tràn mọi nẻo… Ánh trăng làm cho cảnh vật mang vẻ đẹp hữu tình lung linh sinh sắc. Đất nước, quê hương bao la một màu xanh bát ngát, màu xanh lấp lánh của xuân giang, dòng sông như được tiếp thêm sức sống mới dưới khí trời mát dịu. Dòng sông trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn, dòng sông xanh xuân thủy và tiếp nối với màu xanh của xuân thiên. Mùa xuân là mùa của chồi non, sự sống. Xuân phơi phới có ở khắp mọi nơi, xuân của dòng sông, dòng nước, không gian cao rộng của bầu trời. Khí xuân tràn ngập sự sống, ba từ xuân làm nổi bật cái thần của cảnh vật, sông nước và bầu trời: Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên (Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân) Xuân trong câu thơ chữ Hán của Bác là mùa xuân, là tuổi trẻ và vẻ đẹp xinh tươi. Nó còn gợi tả màu xanh của sông nước, đất trời vào xuân. Khi vào xuân, con người tạo vật như bừng tỉnh, rạo rực trong cuộc sống mới. Nhà thơ Thanh Hải đâ từng cảm nhận mùa xuân cua thiên nhiên và đất trời qua những tín hiệu đặc sắc: Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi! Con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng… (Mùa xuân nho nhỏ) Xuân đến, tiếng chim hót vang lừng, giọt mùa xuân long lanh do đất trời ban tặng làm cho sự sống rạo rực hơn và bất tận. Trong câu thơ của Bác xuân còn gợi tả màu xanh của sông nước, trời đất vào xuân, sức sống mãnh liệt, trẻ trung căng tràn nhựa sống. Niềm vui sướng tự hào phơi phới của Bác đang ngây ngất say sưa giữa một đêm xuân đẹp, một đêm xuân lịch sử – đất nước đang anh dũng kháng chiến. Với Bác, yêu trăng, yêu xuân chính là yêu cuộc đời. Trái tim mênh mông của người chan hoà với thiên nhiên, sông núi, hoa lá cỏ cây thật hữu tình. Có trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa, trăng vào cửa sổ đòi thơ trong niềm vui thắng trận. Và xem sách chim rừng vào cửa đậu – phê văn hoa núi ghé nghiêng soi. Thiên nhiên trong thơ Bác thật phong phú và chan chứa chất thơ. Đến hai câu thơ cuối, ta thấy cảm nhận về dòng sông, về khói sóng, và con thuyền được nâng lên một mức: Yên ba thâm xứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền Nhớ ánh trăng ngày nào khi Bác còn bị giam dưới ngục lạnh nơi đất khách quê người (1942-1943) thì đêm nay – đêm rằm tháng giêng (1948) lại bắt gặp ánh trăng nơi chiến khu Việt Bắc. Con thuyền xuôi mái giữa dòng sông trăng, tựa mạn thuyền người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh đang đàm quân sự. Ánh trăng đêm này là ánh trăng ước hẹn, báo trước những mùa trăng trong năm được nhân dân đón đợi với bao tình cảm nồng hậu. Trăng đêm nay không phải là ánh trăng bình thường trước sân nhà, đầu ngõ. Bác thưởng trăng trên khói sóng, người đang thưởng trăng nguyên tiêu không chỉ mang cốt cách như các bậc tao nhân mặc khách ngày xưa mà còn là con người hành động, người chiến sĩ cộng sản đánh giặc. Vị lãnh tụ đang bàn bạc việc quân trên con thuyền nhẹ lướt giữa sông nước trời xuân đây là trường hợp thưởng trăng rất đặc biệt, yên ba là khói sóng, thi liệu cổ của Đường thi. Vậy là câu thơ có nét cổ điển và có nét hiện đại, chất hiện đại đó chính chất thép, chất chiến đấu của người chiến sĩ cộng sản: Nay ở trong thơ nên có thép – Nhà thơ củng phải biết xung phong. Sau quãng thời gian bàn bạc việc quân, đêm đã về khuya, nửa đêm (dạ bán). Con thuyền kháng chiến trở thành con thuyền trăng trên vời sông nước mênh mông: Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền) Hình ảnh nguyệt mãn thuyền gợi cho chúng ta nhớ đến những vần thơ cổ thi hoa lệ: Thuyền mấy lá đông, tây lặng ngắt Một vầng trăng trong vắt lòng sông… (Bạch Cư Dị) Nước biếc non xanh thuyền gối bãi Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu (Nguyễn Trãi) Trở lại bài thơ Nguyên tiêu ta thấy con thuyền đang trôi nhẹ ẩn hiện sau màn sương khói. Trên chiếc thuyền hình ảnh thi sĩ – chiến sĩ hiện lên thật đẹp đẽ với bàn bạc việc quân trong đêm trăng, tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước, quyết chiến đấu giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Nguyên tiêu là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, mang phong vị Đường thi. Bài thơ có nét thơ cổ thể: con thuyền, trăng, sóng, xuân, nước xuân, trời xuân, khói sóng… điệu thơ thanh nhẹ. Trong khung cảnh ấy chất chiến sĩ là trung tâm. Bài thơ như một đoá hoa xuân, tinh hoa kết tụ tâm hồn trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh. Văn là người, thơ là tấm lòng. Bài thơ này thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước, đồng thời bộc lộ tình yêu nước sâu sắc. Côt cách thi sĩ hoà quyện chất chiến sĩ chất chứa đầy ắp trên chiếc thuyền kháng chiến đang tiến nhanh về bến bờ độc lập tự do.
Phân tích bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng giêng) của Hồ Chí Minh
1,117
Phân tích bài thơ Ngày xuân dặn các con của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Nguyễn Khuyến để lại nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm. Riêng về mảng thơ viết về gia đình đã có hàng chục bài; bài nào cũng ân tình, ân cần và tha thiết. Chùm thơ “Ngày xuân dạy các con” gồm có hai bài theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật Giọng thơ nhẹ nhàng, ấm áp bao tình thương. Bài thơ dịch của Vũ Mộng Hùng được đánh giá là bài thơ dịch hay nhất. Nguyễn Khuyến dặn các con giữ lấy nghiệp nhà: nghiệp nho gia, thanh bạch và cần kiệm. Đó là nội dung bài thơ “Ngày xuân dạy các con”-l này. Câu phá đề nói năm mới vừa sang, mùa xuân đã về. Xuân về nên có nhiều xuân cảm. Càu thừa đề nói rõ nguồn xuân cảm ấy: ‘Tuy nghèo ta vẫn mến nhà ta” Nhiều tài liệu cho biết: thân sinh Nguyễn Khuyến là một ông đồ nghèo. Vợ Nguyễn Khuyến là một phụ nữ đảm đang “hay lam hay làm, thắt lưng bó qua, xắn váy quai cồng, tất tả chân đăm đá chân chiêu…”. Nhà nghèo, bà từng bán thêm chiếc yếm để chạy đủ tiền cho chồng đi thi; khi chồng đã đỗ ông Nghè, vinh quy, thì vợ đang cấy mướn ở một đồng xa, mới chạy tắt đồng về. Thuở thiếu thời, Nguyễn Khuyến có lúc phải vừa đánh dậm vừa đi học. Sau hơn mười năm làm quan, Nguyễn Khuyến trở về làng cũ sống cuộc đời thanh bạch trong “Năm gian nhà cỏ thấp le te”, nơi vườn Bùi thuộc vùng đồng chiêm nước trũng huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Nguyễn Khuyến dặn các con giữ lấy gia phong nếp nhà: “Tuy nghèo ta vẫn mến nhà ta”. Năm chữ Hán “ngô tự ái ngô lư” thể hiện một cách kín đáo, thâm trầm niềm tự hào về nghiệp nhà nho gia thanh bạch. Hai câu 3, 4 trong phần thực, người cha nói rõ với các con về cái sự nghèo của nhà mình. Chẳng có ruộng tứ bề, vàng bạc đầy kho, mà sau khi đi làm quan xa, lui về “vườn Bùi chốn cũ” gia sản chỉ có “không đầy chín sào đất” và “một bó sách” của gia tiên để lại. Thật là thanh bạch đáng kính. Vũ Mộng Hùng đã dịch rất hay hai câu thơ đăng đối hài hòa: “Chín sào tư thổ là nơi ở, Một bố tàn thư ấy nghiệp nhà” Mới đọc qua phần luận tưởng như tả cảnh. Thời tiết không thuận, trời u ám “khói dày” lại “mưa ít”. Núi để làm bạn thì núi trở thành xa tắp trong những ngày đầu xuân. Cúc là bạn cũ thì cúc cũng chỉ nở lơ thơ cạnh tường. Thoáng một chút cô đơn. Hình ảnh người cha có tâm hồn thanh cao, trong sáng, có phong thái ung dung hiện lên sau vần thơ: “Trước cửa khói dày, non khuất bóng, Bên tường mưa ít, cúc thưa hoa” Phần luận mang tính hàm nghĩa nhất là hai thi liệu “sơn sắc” (sắc núi) và “cúc hoa” (hoa cúc). Nó đem đến liên tưởng về Đào Tiềm (365 – 427), một danh sĩ cao khiết ở đời Tấn; người mà nhà thơ Nguyễn Khuyến hay nhắc đến: “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” (Thu vịnh), “Thơ Đào ngâm vịnh đưa câu rượu” (Vịnh mùa hè),… Sắc núi và hoa cúc trong thơ Nguyễn Khuyến gợi nhớ đến những vần thơ của Đào Tiềm: “Thái cúc đông li hạ, Du nhiên kiến Nam sơn” (Hái cúc dưới giậu đông, Thư thái ngắm núi Nam) (“Ẩm tửu”) Nguyễn Khuyến đã noi gương Đào Tiềm để giữ vững khí tiết và nếp sống thanh bần của một nhà nho giữa thời loạn lạc. Các con cũng nên noi gương cha để giữ lấy nghiệp nhà. Đó là tính hàm nghĩa của phần luận bài thơ “Ngày xuân dạy các con”-ỉ. Muốn nối chí cha thì các con phải biết chuyên cần, chăm chỉ đèn sách, nghiên bút, phải biết sống cuộc đời giản dị, cần kiệm. Nhẹ nhàng mà thấm thía, cảm động: “Các con nối chí cha nên biết: Nghiên bút đừng quên lúa, đậu, cà” “Đừng quên lúa, đậu, cà” là đừng quên nghề nông, phải biết gắn bó với quê hương ruộng đồng, chan hòa với chốn quê… Trong bài số 2 “Ngày xuân dạy các con”, Nguyễn Khuyến phàn nàn giữa thời loạn lạc cha đã già yếu “thếmà các con hãy còn say sưa đàn hát mãi”: “Lẩn thẩn lấy chi đền tấc bóng, Sao con đàn hát vẫn say sưa” (Tác giả tựdịch) Như ta đã biết, con cả của Nguyễn Khuyến là Nguyễn Hoan biết nối chí cha, giữ nghiệp nhà, thi đỗ Phó bảng. Con thành đạt sao bố mẹ không vui? Bài thơ “Ngày xuân dạy các con”-ỉ là một bài thơ rất hay; hay vì lời đạm mà tình sâu, đó là tình cha – con sâu nặng: hết lòng chăm sóc dạy bảo và thương yêu các con.
Phân tích bài thơ Ngày xuân dặn các con của Nguyễn Khuyến
840
Đề bài: Phân tích – Bình luận bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh Bài làm Nói vầng trăng trong bài Ngắm trăng (Vọng nguyệt) là vầng trăng thi sĩ hay vầng trăng tri kỉ thật ra cũng không hoàn toàn chính xác. Bởi, sự thật thì nó rất khó gọi tên. Từ xưa, từ Lí Bạch, Đỗ Phủ, rồi Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến ở ta, nó đã là thi sĩ. Nhưng đó là trong những cảnh ngộ đời thường. Còn với tác giả Hồ Chí Minh, vầng trăng xuất hiện nơi tù ngục, nơi đói rét đoạ đày. Nơi ấy, trong số các tù nhân, ít ai nghĩ đến nó, hoặc có nghĩ đến nó, chỉ càng cảm nhận cái rét lạnh thấu xương: “Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh – Nhòm song, bắc đẩu đã nằm ngang” (Đêm lạnh – Nhật kí trong tù). Nhưng trong trường hợp này thì khác hẳn, có lẽ không phải từ cái đêm lạnh ấy. Tuy thế, với Bác, nó vẫn bất ngờ. Toàn bộ bài thơ khơi nguồn từ sự bất ngờ ấy. Và điều thú vị, điều bất ngờ thứ hai: ở đây, ta bắt gặp một nhân cách lớn, hai con người (con người thi sĩ và con người chiến sĩ) gặp nhau. Là thi sĩ lớn, mới có thể yêu trăng trong chốn lao tù, là chiến sĩ lớn mới có thể quên mình trong chốn lao tù mà đến với trăng. Tâm hồn và nghị lực phi thường ấy không dễ nhà thơ nào, người chiến sĩ nào ở vào hoàn cảnh của Người có được. Ấy là chưa nói Ngắm trăng đến với Bác thật hồn nhiên: Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ. Thật ra trăng đến lúc nào cũng không rõ. Nó có được chờ đợi đâu. Đột ngột nó hiện ra và lập tức nhà thơ lúng túng. Trăng ở đây không như một người khách trọ, mà vốn là một người bạn tri kỉ, tri âm. Bạn đến chơi phải tiếp bạn. Nhưng tiếp bạn thế nào cho phải. Ta nhớ đến Nguyễn Khuyến cùng cái bối rối đáng yêu (“Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa”). Còn trong trường hợp của Bác: không hoa, không rượu. Trong thơ truyền thống: ngắm trâng phải có rượu, có hoa tạo nguồn cảm hứng: Có rượu không có bạn – Một mình chuốc dưới hoa – Cất chén mời trăng sáng… (Lí Bạch) (Tương Như dịch). Cái bối rối rất thi nhân của Người chính là từ truyền thống văn chương rất phương Đông ấy. Trăng đến rồi, rượu, hoa biết kiếm đâu ra? Sự bất đắc ý vì thất lễ với trăng thể hiện không chỉ ở sự kiếm tìm mà còn có phần bực dọc. Nhưng một khoảnh khắc nghĩ ra: hoàn cảnh sống của Bác là ở trong tù. Ấy thế mà có lúc Người quên bẵng nó đi. Vậy cái bực dọc vừa nêu, Bác đã có thể tự giải thích, tự thanh minh, câu thơ trách mình thành ra phàn nàn hoàn cảnh. Vì hoàn cảnh mà đã “không rượu cũng không hoa”, để Bác không có chút gì đãi bạn. Có người hiểu cái bối rối này ở câu hai, “Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”, nhưng thực ra nó ở ngay câu thứ nhất. Nếu câu một là hành động, là cử chỉ (tìm kiếm) thì câu hai chỉ gọi nó thành tên. Cái tên ấy trong bản dịch thơ lại không sát nghĩa (“Đối thử lương tiêu nại nhược hà”). Dù thế, hai câu ấy vẫn hay, cái hay của khúc dạo đầu (“Vặn đàn mấy tiếng dạo qua – Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng bay” – Tì bà hành – Bạch Cư Dị). Cái kì diệu của văn chương là thế, nói đến văn chương là nói đến sự mê đắm, nói đến chất men say. Nếu tinh ý mà nhìn thì giữa hai câu đầu bài thơ với hai câu cuối bài thơ có một khoảng trống. Vì phải có rượu có hoa để hội ngộ. Nay, “Trong tù không rượu cũng không hoa”, ấy thế mà cuộc đàm tâm tri kỉ ấy vẫn diễn ra: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Thì ra đến bây giờ ta mới hiểu: qua cái bối rối ban đầu, Người quên hết mọi nghi thức, không còn băn khoăn đến hoa, đến rượu thông thường cần phải có. Đúng như kiểu “Bác đến chơi đây, ta với ta” (Nguyễn Khuyến). Đối đãi với trăng chỉ có một tấm lòng, một chờ đợi từ lâu, bây giờ bất ngờ gặp lại. Tấm lòng ấy, sự chờ đợi ấy đã vượt lên cảnh ngộ của riêng mình, vượt lên tù ngục. Có người xem đây là một “cuộc vượt ngục về mặt tinh thần”. Kể ra cũng đúng, đúng về mặt ý chí, nhưng nó chưa đúng về phương diện con người hồn nhiên chẳng bao giờ tỏ ra là mình khác người, mình “lên gân” cả. Sẽ phạm phải sai lầm khi tách con người Bác và thơ Bác ra khỏi hai phạm trù lúc nào cũng gắn bó với nhau: vừa lớn lao vừa bình dị, bình dị như không có gì lớn lao, chính vì thế mà rất lớn lao. Hai câu cuối của bài thơ được khơi nguồn từ trước đó, nay đã dẫn đến cao trào. Nó chính là sự tròn đầy, viên mãn, một tột đỉnh thi nhân. Người ngắm trăng, trăng ngắm người qua tấm song sắt nhà lao. Nói về cái cửa sắt nhà tù, nó không giống với cái cửa sổ thông thường, càng không giống với cái cửa sổ thơ trông thơ Bác sau này (“Trăng vào cửa sổ đòi thơ” – Tin thắng trận). Bởi nó nặng nề, u ám lắm: Anh đứng trong cửa sắt, Em đứng ngoài cửa sắt ; Gần nhau trong tấc gang, Mà hiển trời cách mặt. (Vợ người bạn tù đến thăm chồng – Nhật kí trong tù) Vì vậy đừng nên hiểu: “qua bài thơ, người đọc cảm thấy người tù cách mạng ấy dường như không chút bận tâm về những cùm xích, đói rét, muỗi rệp, ghe lở… của chế độ nhà tù khủng khiếp, công bất chấp song sắt thở bạo của nhà tù…”, bởi cách nói, cách nghĩ này có một phần cứng nhắc, khiên cưỡng. Sao người tù lại không bận tâm đến cánh lao tù? Con người lão thực Hồ Chí Minh không bao giờ viển vồng như thế. Chỉ có điều: giữa hai thế lực, một kìm giữ, một bay bổng, cái nào mạnh hơn ở vào thời điểm ấy? Rõ ràng là sức bay bổng mạnh hơn, để người tù trong một phút đã quên đi cảnh ngộ lao tù, quên đi tấm song sắt nhà tù, chỉ còn một đắm say, một hạnh phúc. Giữa người tù thi sĩ và trăng tuy vẫn bị ngăn cách – mà tác giá vẫn có ý thức về sự cách ngăn (chữ song vẫn định vị, vẫn bướng bỉnh, gan lì ở vị trí không đổi trong hai câu ba và bốn), chỉ có diều nó không buộc trói được tâm hồn. Với nhà thơ, nó vừa là ý thức vừa là tâm thức (“Thân thể ở trong lao – Tinh thần ở ngoài lao”). Cái cách nhà thơ chiến thắng hoàn cảnh, một mặt do tình yêu thiên nhiên, do sức mạnh của tâm hồn, một mặt cũng là do một phương châm tự dặn lòng mình như thế. Ở hai câu thơ tuyệt bứt trong bài thơ được sáng tác bằng thi pháp phương Đông này, cần chú ý nhiều đến phép đối. Cũng trong tập nhật kí bằng thơ này, phép đối ấy có khi được thể hiện trong một câu như “Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân” (Núi ấp ôm mây, mây ấp núi), còn ở đây là trong hai câu. Và đối rất chinh đến từng ý, từng lời. Nếu đọc lại Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Hai nhân vật trữ tình luôn luôn đối xứng trong sự giao cảm vận hành: người – trăng (câu 3) trăng – người (câu 4). Một chữ “khán” vì sao trở thành điệp ngữ trong thơ, nếu không xuất phát từ luật đối xứng? Và ở đây cũng phải khen cho người dịch thơ trong việc chọn chữ. Khán thì có thê dịch là “xem” (như trong khán đài, khán giả) nhưng như thế có sự cách bức, phân chia, nhất là một phía: một chủ động, một bị động. Còn ở đây, cả người và trăng đều chủ động như nhau, đều nhìn nhau không chán mắt. Vậy chữ “ngắm” trong bản dịch là đắc địa, là thấu lí, là đạt cái hồn của nguyên tác. Còn một chi tiết rất nên chú ý: vì sao ở nhân vật “trăng”, trong hai câu không có gì thay đổi, hoặc thay đổi không đáng kể (nguyệt và minh nguyệt), còn nhân vật người tù lại có sự thay dổi, từ “người” đến “nhà thơ” (nhân – thi gia)? Như ta dã biết, trong tập thơ Nhật kí trong tù, Bác ít khi dùng chừ “thi gia”, nhất là tự nhận mình là thi gia như thế. Người thường dùng chữ “tù nhân”, cao hơn một chút là “hành nhân”, nếu có một chút cảm hứng thì cũng là “hành nhân thi hứng” (Giải đi sớm). Thế mà ở đây, Bác lại chọn đại từ nhân xưng là thi nhân. Không bằng lòng với những cách gọi lâu nay (tù nhân, chinh nhân, hành nhân), cao hứng đến tột cùng, Bác tự nhận là thi nhân – một thi nhân như mọi thời đại thi nhân, như thế mới đối diện được với nhân vật đàm tâm xứng đáng. Bác có vẻ như tự đề cao mình (một trường hợp hiếm hoi) nhưng thực ra là không phải. Chẳng qua là một cách đề cao trăng mà nâng mình lẽn ngang tầm để tri âm, đồng điệu. Ngắm trăng – dù là ngắm trăng trong tù không thể là một tù nhân. Dưới cái vẻ tù nhân ấy phải cao quý, thanh sạch một tâm hồn thi nhân thì cuộc hạnh ngộ với trăng mới không lỗi nhịp. Thực ra tình yêu mến thiên nhiên, không phải đến Nhật kí trong tù mới có, mà có từ trước thơ Bác rất lâu (“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp – Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”). Nhưng đến thơ Bác thì thời đại đã đổi thay, nhiều quan điểm cũ đã không còn. Ấy thế mà thiên nhiên với thơ Bác, với tấm lòng của Bác luôn luôn chung thuỷ như một người bạn đồng hành. Điều ấy lớn lao đến đâu còn dành cho những công trình khám phá.
Phân tích bài thơ Ngắm Trăng (Vọng Nguyệt) của Hồ Chí Minh
1,819
Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hướng dẫn Trăng – người bạn tâm tình, trăng – nguồn cảm hứng dạt dào, bất tận của thi sĩ muôn đời. Trong thơ văn đông tây kim cổ, đã có biết bao bài thơ hay viết về trăng, để lại ấn tượng không phai mờ trong trái tim người đọc. Một trong những tác giả viết nhiều về trăng là nhà thơ – lãnh tụ Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời cách mạng gian truân và vẻ vang của Bác, Bác luôn coi trăng là tri âm, tri kỉ. Bài thơ “Ngắm trăng” ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: giữa chốn lao tù tăm tối của chế độ Tưởng Giới Thạch, thi sĩ – người tù tay bị xích, chân bị cùm, thân thể bị đọa đày nơi ngục lạnh mà lòng thanh thản thưởng thức vẻ đẹp của một đêm trăng sáng: “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa Đối thủ lương tiểu nại nhược hà? (Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ) Câu thơ mở đầu tả thực cảnh lao tù khắc nghiệt “không rượu cũng không hoa”. Trong tù làm gì có rượu và hoa, những thứ vốn để tạo thi hứng cho tâm hồn thi sĩ? Xưa nay trong hoàn cảnh lao tù đày, cái “không rượu” luôn chồng lên cái “không hoa”… Hiện thực xám ngắt và lạnh lẽo phủ định tất cả. “Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thigia. (Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm qua khe cửa ngắm nhà thơ) Bác lặng lẽ, say mê ngắm ánh trăng sáng ngoài cửa sổ. Bốn bức tường giam chật hẹp không ngăn được cảm xúc mênh mông. Bác thả hồn theo ánh trăng và gửi gắm vào đó khát vọng tự do khôn cùng của mình. Thoảng đâu đây lời thì thầm tâm sự:“Trăng ơi, trăng có hiểu cho lòng ta yêu trăng đến độ nào?”. Sự thổlộ, giãi bày chân thành tự trong sâu thẳm hồn người đã được trăng cảm động và chia sẻ. Ánh trăng lung linh bỗng chốc sống động, linh hoạt hẳn lên: “Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Trước sự hiện diện của trăng đẹp. Cái hiện thực tối tăm, u ám của nhà tù dường như bị xóa tan, nhường chỗ cho mối giao hòa thiêng liêng giữa nhà thơ tự do và thiên nhiên vĩnh cửu. Bác hướng cái nhìn vào ánh trăng sáng trong đêm lao ngục cũng như bao lần khác, trong hoàn cảnh sống gian nan. Người luôn hướng tới cái đẹp của cuộc đời.
Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
439
Phân tích bài thơ ngắm trăng của Hồ Chí Minh lớp 8 Hướng dẫn Phân tích bài thơ ngắm trăng của Hồ Chí Minh lớp 8 Ngắm trăng là bài thơ được viết băng chữ Hán và là một trong những bài thơ hay nhất trong tập Nhật ký trong tù. Bài thơ được sáng tác trong những chuỗi ngày Bác bị tù đày ở Quảng Tây (Trung Quốc). Tuy bị giam trong nhà ngục nhưng những câu thơ của Bác vẫn thể hiện sự tự do của tâm hồn. Phải chăng bài thơ là một cuộc vượt ngục về tinh thần. Vọng nguyệt (hay đối nguyệt, khán minh nguyệt) là một đề tài rất phổ biến trong thơ xưa. Thi nhân xưa gặp cảnh trăng đẹp, thường đem rượu uống trước hoa để thưởng trăng; có rượu và có hoa thì sự thưởng trăng mới là mỹ mãn, thú vị. Nói chung, người ta chỉ ngắm trăng khi thảnh thơi, tâm hồn thư thái. Nhưng ở đây, Hồ Chí Minh ngắm trăng trong cảnh đặc biệt: Trong tù không rượu cũng không hoa. Trong tù ngục, bậc tao nhân mặc khách thưởng trăng đó đang là một tù nhân bị đày đọa, vô cùng cực khổ. Điều kiện sinh hoạt của cái nhà tù tàn bạo, dã man mà tù nhân phải sống làm sao có thể phù hợp với việc thưởng nguyệt! Làm sao có rượu và hoa để thưởng trăng? Có phải câu thơ đầu bài thơ mang ý nghĩa phê phán không? Không thể hiểu như vậy được! Vì chẳng có nhà tù nào lại nhân đạo đến nỗi vì trăng sáng mà đem cả rượu và hoa đến cho tù nhân ngắm trăng cả! Chỉ có thể hiểu rằng, trước đêm trăng đẹp, Hồ Chí Minh bỗng khao khát được thưởng trăng một cách trọn vẹn và lấy làm tiếc vì không có rượu, có hoa. Và cũng phải hiểu rằng, việc nhớ đến rượu và hoa không hề vướng bận bởi những nặng nề vật chất mà tâm hồn vẫn tự do, vẫn ung dung, vẫn mong muốn được tận hưởng cảnh trăng đẹp. Thật ra trăng đến lúc nào cũng không rõ. Nó có được chờ đợi đâu. Đột ngột nó hiện ra và lập tức nhà thơ bối rối. Trăng ở đây không như một người khách trọ, mà vốn là người bạn tri âm, tri kỷ. Bạn đến chơi phải tiếp bạn thế nào cho phải. Bỗng dưng ta nhớ đến Nguyễn Khuyến cùng cái bối rối đáng yêu khi người bạn tri âm tri kỷ đến nhà chơi: trẻ thời đi vắng chợ thời xa…, có gì để mà tiếp bạn đây? Còn cái bối rối của Bác là “trăng đến rồi, rượu và hoa không có? Cái bối rối rất thi nhân của Người chính là từ truyền thống văn chương phương Đông. Câu thơ cho ta thấy rõ tâm hồn nghệ sĩ đích thực của Người. Đêm trăng đẹp quá! Mà trong tù thì biết thế nào để thưởng thức một đêm trăng trọn vẹn và vì vậy nên Bác càng bối rối. Người chiến sĩ cách mạng vĩ đại ấy vẫn là một con người yêu thiên nhiên một cách say mê và hồn nhiên, đã rung động mãnh liệt trước cảnh trăng đẹp, dù đang là thân tù. Hai câu thơ tiếp có thể coi là một cuộc vượt ngục về tinh thần. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ Đây không phải là cuộc vượt ngục về tinh thần duy nhất của người tù cách mạng Hồ Chí Minh để tìm đến vầng trăng tri kỷ. Trong bài Trung thu, Bác cũng đã để lòng theo vời vợi mảnh trăng thu (Tâm tùng thu nguyệt công du du). Và vầng trăng trong bài Ngắm trăng cũng vượt qua song sắt nhà tù để tìm đến, ngắm nhà thơ (khán thi gia) trong tù. Vậy là cả người và trăng đều chủ động tìm đến giao hòa cùng nhau, ngắm nhau. Câu trúc đối của hai câu chữ Hán đã làm nổi bật tính cách song phương mãnh liệt của cả người và trăng. Tất nhiên đây là biện pháp nhân hóa của nghệ thuật văn chương, đã cho thấy Bác Hồ và trăng hết sức gắn bó, thân thiết, trở thành tri âm, tri kỷ từ lâu. Qua bài thơ, người đọc cảm thấy người tù cách mạng ấy dường như không chút bận tâm về những cùm xích, đói rét, muỗi rệp, ghẻ lở…. của chế độ nhà tù khủng khiếp, cũng bất chấp song sắt thô bạo của nhà tù để tâm hồn bay bổng tìm đến đối diện đàm tâm với vầng trăng tri kỷ. Ngắm trăng vừa thể hiện tình cảm với thiên nhiên đặc biệt sâu sắc, mạnh mẽ, một biểu hiện nổi bật của tâm hồn nghệ sĩ ở Bác Hồ, vừa cho thấy sức mạnh tinh thần to lớn người chiến sĩ vĩ đại đó. Có thể nói, đằng sau những câu thơ rất thơ đó lại là một tinh thần thép, mà biểu hiện ở đây là sự tự do nội tại, phong thái ung dung vượt hẳn lên sự nặng nề, tàn bạo của ngục tù. Bài thơ là một minh chứng sinh động cho hai câu thơ Hồ Chí Minh mở đầu tập Nhật ký trong tù: Thân thể ở trong lao tinh thần ở ngoài lao.
Phân tích bài thơ ngắm trăng của Hồ Chí Minh lớp 8
905
Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh văn 8 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh văn 8 Năm 1942, trong thời gian bị bắt giam ở Trung Quốc, Bác Hồ đã viết Nhật ký trong tù. Ngắm trăng là một trong những bài thơ hay của Bác trong tập nhật ký và cũng là một bài thơ hay Bác viết về trăng. Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ! Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. (Nam Trân dịch) Bài thơ viết về một cảnh ngắm trăng, một tư thế ngắm tràng trong tù, qua đó biểu hiện một tâm hồn thanh cao, một phong thái ung dung tự tại của nhà thơ – chiến sĩ. Hai câu thơ đầu nói lên một cảnh ngộ và một nỗi niềm: lòng bối rối biết làm thế nào trước cảnh đêm nay vì không có rượu có hoa? Nhà thơ tự thấy mình trong, một nghịch cảnh. Trong tù phải chia nước, khẩu phần là lưng bát cháo loãng, phải đắp chăn giấy… thiếu thốn và cay đắng vô cùng. Vậy tìm đâu ra rượu và hoa để ngắm cảnh đêm trăng trong tù. Rượu, trăng, hoa là ba thú tao nhã của thi nhân xưa nay. Câu đầu bài thờ như một lời tự an ủi: Trong tù không rượu cũng không hoa. Trước cảnh đẹp đêm thu, thiếu rượu và hoa, thi nhân băn khoăn, bỗi rối. Đó là tâm trạng, là bi kịch của một thi nhân có tâm hồn thanh cao và giàu tình yêu thiên nhiên: Câu thơ chưa nói đến trăng mà người đọc đã cảm thấy một vầng trăng đẹp xuất hiện. Hai câu 3, 4 vầng trăng mới xuất hiện. Một cảnh ngắm trăng hiếm có: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Nguyên bản tiếng Hán câu thơ là: Nhãn hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia Câu thơ chữ Hán nào cũng có hai hình ảnh đối chiếu: nhân – nguyệt, nguyệt – thi gia và điệp từ khán (xem, nhìn, nhòm). Chữ nhân là người, đã biến thành thi gia – nhà thơ mang ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc. Từ trong ngục tối, người chiến sĩ ngắm trăng qua song sắt nhà tù. Tư thế ngắm trăng ấy rất đẹp, nhừ một cuộc vượt ngục tinh thần. Trăng được nhân hóa có gương mặt và ánh mắt: Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Nhà thơ và trăng lặng lẽ nhìn nhau, cảm thông, chia sẻ với mối tình tri âm tri kỉ. Hai câu 3, 4 đối nhau, ngôn ngữ, hình ảnh cân xứng, hài hòa. Trăng và nhà thơ, hai gương mặt trong sáng, hai tâm hồn thanh cao dù bị song sắt nhà tù ngăn cách vẫn gần gũi, sâu nặng ân tình. Có thể nói đây là hai câu thơ tả trăng đẹp nhất, độc đáo nhất. Đã mấy ai ngắm trăng qua song sắt nhà tù? Tư thế ngắm trăng của Hồ Chí Minh thể hiện tình yêu trăng, biểu lộ một tâm hồn thanh cao, một phọng thái ung dung tự tại. Nó còn biểu lộ khát vọng tự do; từ bóng tối ngục tù hướng về vầng trăng sáng, nhà thơ khẳng định một tâm thế: Thân thế ở trong lao – tinh thần ở ngoài lao. – Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt, Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu. (Trung thu) – Khóm chuối trăng soi càng thấy lạnh, Nhòm song, Bắc đẩu đã nằm ngang. (Đêm lạnh) -Trên trời, trăng lướt giữa làn mây. (Đêm thu) Ngắm trăng và thế giới trăng ấy phản chiếu một hồn thơ mênh mông bát ngát tình của Bác. Ngắm trăng vì yêu trăng và cũng là yêu tự do.
Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh văn 8
636
Đề bài: Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh. Bài làm Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao. Đó là tinh thần của người tù Hồ Chí Minh. Dẫu bị giam cầm xiềng xích, thân thể bị đoạ đày nhưng không ai có thể giam hãm được tinh thần của Người. Không những thế, trong nhà ngục, Hồ Chí Minh vẫn để cho tâm hồn thi sĩ của mình bay bổng, vượt ra ngoài nhà lao đến với thiên nhiên, với người bạn trăng tri kỷ. Mở Nhật kí trong tù mấy ai không cảm thấy thích thú và xúc động bồi hồi khi đọc đến bài thơ Ngắm trăng. Bài thơ được mở đầu bằng những lời miêu tả rất chân thành hiện thực cuộc sống và tâm trạng con người. Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Mỗi câu thơ nêu lên một tình huống. Câu thứ nhất: nhà tù – không rượu – không hoa. Đó là sự thiếu thốn vật chất. Điệp từ không cất lên hai lần làm tăng thêm ý thơ. Sự thật là, sống trong tù, người tù thiếu nhiều thứ, kể cả những nhu cầu tối thiểu như cơm ăn, áo mặc, nước uống, giường nằm, chăn đắp. Trong nhiều bài thơ khác, Bác đã nói về điều đó, ở câu thơ này không rượu, không hoa là lời giãi bày tâm sự về hoàn cảnh trớ trêu của mình trước vẻ đẹp mời gọi của đêm trăng. Tâm sự ấy thanh cao quá, vượt trên cái hiện thực nhà tù, trên cả những thiếu thốn vật chất bình thường, đời thường. Câu thơ thứ hai: Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ nói rõ thêm tâm sự của Bác. Ta nhận thấy dường như người tù ấy đã thực sự quên ngục tù, quên cái hiện thực tăm tối để hướng tới ánh sáng, thưởng thức cảnh đẹp, đón chào trăng sáng. Chỉ hai câu thơ mở đầu, ta được thấy hồn thơ của Bác chân thành biết bao, mở rộng biết bao. Đêm nay, trong sự cô đơn trống vắng ở nhà lao, Bác lại được người bạn trăng tìm đến. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ Bác đã chào đón người bạn trăng như vậy đấy – không rượu, không hoa chỉ có… đôi mắt nhìn nhau và tấm lòng hướng tới. Song kì diệu hơn nữa là cái tư thế ngắm trăng, cái hoàn cảnh gặp gỡ của đôi tri âm, tri kỉ. Đọc ở nguyên bản chữ Hán, ta càng thấy rõ đặc điểm của cuộc gặp gỡ này, cũng đã hiểu sâu nghệ thuật cấu trúc câu thơ tả thực, rất thực của tác giả. Nguyệt tòng song khích khán thi gia Nhân (người) 1 minh nguyệt (trăng sáng) rồi nguyệt (trăng) – thi gia (nhà thơ) đứng ở hai đầu câu thơ, cách ngăn bởi song tiền, song khích (song sắt). Câu trên: người vượt qua song sắt để ngắm trăng sáng, thưởng thức và chia sẻ với trăng vẻ đẹp của đất trời, sự phóng khoáng của tự do. Câu dưới: Trăng xuyên song sắt nhà tù để ngắm nhìn, đáp lại, cũng để chia sẽ, an ủi người. Phép tu từ nhân hóa khiến trăng trở nên gần gũi với con người, có tâm hồn, thực sự thành bạn bè, tri kỉ, tri âm với Người. Vậy là, người chăm chú ngắm trăng vì yêu trăng. Nhưng trăng cũng rất yêu và thương Người nên đã mê mải ngắm Người. Cả hai đều thanh thản, ung dung vượt qua song sắt, chiến thắng ngục tù đến với nhau bằng sức mạnh của tình yêu – yêu ánh sáng, cái đẹp và tự do. Và kì lạ thay, dưới đôi mắt trong của minh nguyệt không phải người tù hoặc một người bình thường nào khác mà là một thi gia (nhà thơ). Sự thay đổi cách dùng từ người ở câu trên thành nhà thơ ở câu dưới cũng là câu kết, lời kết của bài thơ đâu phải ngẫu nhiên. Đó là sự hóa thân kì diệu, là giây phút tỏa sáng của tâm hồn nhà thơ. Trước ánh trăng sáng, Hồ Chí Minh đã cảm nhận được tất cả vẻ đẹp, vẻ thanh cao của trăng như những nhà thơ xưa (Nguyễn Trãi, Lí Bạch…) đồng thời còn thấy thêm vẻ đẹp, sức sống của con người. Mặc dầu con người đang sống giữa gông xiềng. Bài thơ mở ra là hình ảnh nhà tù với biết bao thiếu thốn, giữa bài thơ là trăng sáng – đến cuối bài là hình ảnh con người trong thân phận bị giam cầm giữa song sắt đã thành nhà thơ đang say sưa mơ mộng… Hình ảnh, âm điệu, ngôn từ cứ sáng dần, đẹp lên, chan chứa một niềm vui, niềm lạc quan. Thơ Bác Hồ giống Đường thi ở cái dáng vẻ bên ngoài, nhưng rất khác ở cốt cách, tâm hồn, ý chí bên trong. Đó là tâm hồn thi sĩ trong con người chiến sĩ luôn hòa quyện vào nhau. Bài thơ Ngắm trăng là bài thơ đặc sắc trong tập Nhật kí trong tù của Bác. Chỉ bốn câu tứ tuyệt mà Bác đã thể hiện cả một ý chí, một tinh thần lạc quan, một tình yêu thiên nhiên sâu đậm, một sức sống và một khát vọng tự do. Nói khác đi, đó chính là một khúc hát tự do của người tù mang phong cách chiến sĩ. Bài thơ để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Mở đầu bài thơ là một thực trạng: Trong tù không rượu cũng không hoa. Nhưng đối lập với cảnh trong lao tù, ở bên ngoài là một đêm trăng đẹp (lương tiêu). Thế là một câu hỏi như một bài toán được đặt ra một cách rất tự nhiên: Đối thử lương tiêu nại nhược hà?, nghĩa là trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào? Ngắm trăng thường phải có rượu và hoa. Đó là những thứ vốn để tạo thi hứng cho tâm hồn thi sĩ. Xưa nay, uống rượu ngắm trăng, thưởng thức hoa là chuyện thường tình. Nhưng ở đây trong lao tù này làm sao có rượu có hoa để thưởng thức ánh trăng. Câu hỏi tự nhiên ấy cho thấy lòng yêu thiên nhiên say đắm và khát khao được thưởng thức cái đẹp của Bác. Câu thơ thứ hai dịch là Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ đã bỏ mất câu hỏi nên làm mất đi cảm giác băn khoăn của nhân vật trữ tình. Đọc lại câu thơ Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ, ta thấy là một câu hỏi băn khoăn với người đọc, nhưng đối với Bác là một câu hỏi tu từ để nhấn mạnh cách giải quyết tối ưu của mình. Ánh trăng thanh khiết, vời vợi kia như thúc giục, như mời gọi thi nhân hãy ra ngoài chốn tự do mà giao hòa, chia sẻ. Thế là mặc thiếu thốn vật chất, mặc cho bốn bức tường giam chật hẹp, mặc cho song sắt của cửa sổ nhà tù, tất cả không ngăn được cảm xúc mênh mông của Bác. Bác thả hồn theo ánh trăng và gửi gắm vào đó khát vọng tự do khôn nguôi của mình. Câu thơ như một lời thì thầm tâm sự. Trong hai câu thơ, Bác vừa sử dụng nghệ thuật đăng đối tài tình vừa sử dụng nghệ thuật nhân hóa đúng lúc làm cho trăng và người trở nên gần gùi, thân thiết, trở thành tri âm, tri kỷ và cùng hành động như nhau, cùng vượt qua song sắt của nhà tù đế đến với nhau. Ở đây trăng và người đều là sự hóa thân của Bác, sự hóa thân của một tâm hồn vừa là nghệ sĩ vừa là chiến sĩ yêu tự do, chủ động tìm đến cái đẹp mà không nhà ngục nào ngăn cản được. Bài thơ thật tự nhiên, giản dị mà thật triết lý. Cả bài thơ không hề nói đến một chữ tự do nào nhưng lại toát lên một tâm hồn rất tự do, luôn làm chủ được hoàn cảnh của Bác. Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn tự do, một nhân cách lớn của người nghệ sĩ và người chiến sĩ vĩ đại Hồ Chí Minh.
Phân tích bài thơ Ngắm trăng của Hồ Chí Minh
1,411
Phân tích bài thơ Ngắm trăng trong Nhật kí trong tù của Hổ Chí Minh. Hướng dẫn Vọng nguyệt (ngắm trăng) vốn là một thú vui tao nhã của những tài tử, văn nhân xưa, sống nhàn tản, ẩn dật, xa lánh cuộc đời (“Khi chén rượu, khi cuộc cờ, Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” – Truyện Kiều). Uống rượu, đánh cờ, xem hoa, rồi ngắm trăng cuộc sống sao mà tự do, thạnh thản. Vậy mà, Bác Hồ của chúng ta đang sỐng những ngày cơ cực nhất, mất tự do nhất, vẫn… ngắm trăng và… làm thơ. Mở trang Nhật kí trong tù, đọc thấy cái tên bài thơ Ngắm trăng, ai mà chẳng thích thú, xúc động. Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ Hai câu mở đầu miêu tả rất chân thành hiện thực cuộc sống và tâm trạng con người. Mỗi câu nêu một tình huống. Câu thứ nhất: nhà tù không rượu – không hoa. Đó là sự thiếu thốn vật chất. Điệp từ “không” (vô tửu diệc vô hoa) cất lên hai lần làm tăng thêm ý thơ. Sự thật là sống trong tù, người tù thiếu nhiều thứ, kế cả những nhu cầu tối thiếu như cơm ăn, áo mặc, nước uống, giường nằm, chăn đắp. Trong nhiều bài thơ khác, Bác đã nói về điều đó. Ở câu thơ này, “không rượu, không hoa” – là lời giải bày tâm sự về cái hoàn cảnh trớ trêu của mình trước vẻ đẹp mời gọi của đêm trăng. Tâm sự ấy thanh cao quá, vượt trên cái hiện thực nhà tù, trên cả những thiếu thốn vật chất tầm thường, đời thường. Câu thơ thứ hai: “Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ” nói rõ thêm tâm sự của Bác. Đọc nguyên bản chữ Hán: “Đối thử lương tiêu nại nhược hà”, ta nhận rõ: đấy là giây phút lúng túng, nôn nao, rất nghệ sĩ rất thi sĩ. Đúng như vậy! Tự nhủ “trước cảnh đẹp, khó hững hờ”, người tù ấy đã thực sự quên ngục tù, quên cái hiện thực tăm tối để hướng ra ánh sáng, thương thức “cảnh đẹp” đón chào trăng sáng. Chỉ hai câu thơ mở đầu, ta đủ thấy hồn thơ của. Bác chân thành biết bao, rộng mở biết bao. Và ta chợt nhớ hồn thơ Nguyễn Khuyến trong bài Bạn đến chơi nhà. Người tri kỉ xa cách lâu ngày, nay trơ lại trong một hoàn cảnh mình thiếu thốn mọi thứ. Lúng túng quá, bâng khuâng quá. Song, cốt ở tấm lòng quân thực. Do đó, đành: “Bác đến chơi đây, ta với ta”. Trơ lại với tác giả bài Ngắm trăng, chúng ta nghe phảng phât cái tứ thơ “ta với ta” ấy. Nhưng không phải người với người mà là người với trăng: Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Bác đã chào đón người bạn trăng như vậy đấy. Không rươu, không hoa, chỉ có đôi mắt nhìn nhau và tấm lòng hướng tới. Song điều kì diệu hơn nữa – có lẽ chưa từng có trong thơ ca kim cổ – là cái tư thế ngắm trăng, cái hoàn cảnh gặp gỡ của đôi tri âm, tri ki. Hlãy đọc nguyên bản chữ Hán để thấy rõ đặc điểm của cuộc gặp gỡ này, cũng để hiểu sâu nghệ thuật cấu trúc câu thơ tả thực, rất thực của tác giả: Nhân hướng song tiền khản minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khản thi gia. Nhân (người) – minh nguyệt (trăng sáng), rồi nguyệt (trăng) – thi gia (nhà thơ) đứng ở hai đầu câu thơ, cách ngăn bởi “song tiền, song khích” (song sắt). Ngôn ngữ vốn không có hình khối mà dựng được một không gian có đường nét rõ rệt như một bức tranh cuộc sống, thật tài tình! Câu trên: người vượt qua song sắt đế ngám trăng sáng, thương thức và sẻ chia với trăng vẻ đẹp cua đất trời, sự phóng khoáng của tự do. Câu dưới: trăng xuyên thấu nhà tù; song sắt đế ngắm nhìn, đáp lại, cũng để sẻ chia, an ủi người. Phép tu từ nhân hóa khiến ánh trăng trở nên gần gũi với con người, có tâm hồn, thực sự thành bạn bè, tri kí, tri âm với người. Vậy là, người chăm chú ngắm trăng vì yêu trăng. Nhưng trăng cũng rất yêu và thương người, nên đã mê mải ngắm người. Cả hai đều thanh thản, ung dung vượt qua song sắt, chiến thắng ngục tù, đến với nhau bằng sức mạnh của tình yêu – yêu ánh sáng, cái đẹp và tự do. Và kì lạ thay, dưới đôi mắt trong của “minh nguyệt”, không phải người tù hoặc một người bình thường nào khác mà là một “thi gia” (nhà thơ’. Sự thay đổi cách dùng từ “nhân” ở câu trên thành “thi gia” ơ câu dưới, cũng là câu kết, lời kết của bài thơ, tỏa sáng của tâm hồn nhà thơ. Với câu thơ này, thêm một lần nữa, ta thấm thìa cách nhìn và cảm xúc mới mẻ của Bác. Ngắm trăng, người xưa thấy trăng đẹp, yêu trăng, yêu thiên nhiên đế rồi bùi ngùi xót thương cho cõi đời cát bụi, cho kiếp người trầm luân. Nhà thơ Lí Bạch đời Đường viết: Cúi đầu nhớ cố hương Nguyễn Trãi viết: “Đêm thanh hớp nguyệt, nghiêng chén”. Trước trăng sáng, Hồ Chí Minh cũng cảm nhận được tất cả vẻ đẹp, vẻ thanh cao cua trăng như người xưa, song đồng thời còn thấy thêm vẻ đẹp, sức sống của con người, mặc dù con người đang phải sống giừa gông xiềng của cõi đời phi lí. Mở đầu bài thơ là nhà tù với biết bao thiếu thốn. Giữa bài thơ là trăng sáng. Đến cuối bài thơ, con người – trong thân phận bị giam cầm giữa song sắt – đã thành “nhà thơ” đang say sưa mơ mộng… Hình ảnh, âm điệu, ngôn từ cứ sáng dần, đẹp lên, chan chứa một niềm vui, niềm lạc quan. Thơ Bác Hồ giống Đường thi ở cái dáng vẻ bên ngoài, nhưng rất khác ở cốt cách, tâm hồn, ý chí bên trong. Bài thơ Ngắm trăng bắt nguồn từ đề tài quen thuộc, nhưng ý thơ, ngôn ngữ, cảm hứng trong tác phẩm thật mới mẻ độc đáo. Không chỉ toát ra tình cảm yêu thiên nhiên, niềm lạc quan, thi phẩm ấy còn thấm thìa một niềm tin, một sức sống và một khát vọng tự do. Nói khác đi, đó chính là một khúc hát tự do của người tù mang phong cách chiến sĩ, người chiến sĩ có tâm hồn thi sĩ. Vì thế, đọc Nhật ki trong tù, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã viết: Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.
Phân tích bài thơ Ngắm trăng trong Nhật kí trong tù của Hổ Chí Minh.
1,148
Phân tích bài thơ Ngắm trăng – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Trăng – người bạn tâm tình, trăng – nguồn cảm hứng dạt dào, bất tận của thi sĩ muôn đời. Trong thơ văn đông tây kim cổ, đã có biết bao bài thơ hay viết về trăng, để lại ấn tượng không phai mờ trong trái tim người đọc. Một trong những tác giả viết nhiều về trăng là nhà thơ – lãnh tụ Hồ Chí Minh. Suốt cuộc đời cách mạng gian truân và vẻ vang của Bác, Bác luôn coi trăng là tri âm, tri kỉ. Bài thơ “Ngắm trăng” ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: giữa chốn lao tù tăm tối của chế độ Tưởng Giới Thạch, thi sĩ – người tù tay bị xích, chân bị cùm, thân thể bị đọa đày nơi ngục lạnh mà lòng thanh thản thưởng thức vẻ đẹp của một đêm trăng sáng: “Ngục trung vô tửu diệc vô hoa Đối thủ lương tiêu nại nhược hà? (Trong tù không rượu cũng không hoa Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ) Câu thơ mở đầu tả thực cảnh lao tù khắc nghiệt “không rượu cũng không hoa”. Trong tù làm gì có rượu và hoa, những thứ vốn để tạo thi hứng cho tâm hồn thi sĩ? Xưa nay trong hoàn cảnh lao tù đày, cái “không rượu” luôn chồng lên cái “không hoa”… Hiện thực xám ngắt và lạnh lẽo phủ định tất cả. Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia. (Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm qua khe cửa ngắm nhà thơ) Bác lặng lẽ, say mê ngắm ánh trăng sáng ngoài cửa sổ. Bốn bức tường giam chật hẹp không ngăn được cảm xúc mênh mông. Bác thả hồn theo ánh trăng và gửi gắm vào đó khát vọng tự do khôn cùng của mình. Thoảng đâu đây lời thì thầm tâm sự: “Trăng ơi, trăng có hiểu cho lòng ta yêu trăng đến độ nào?”. Sự thổ lộ, giãi bày chân thành tự trong sâu thẳm hồn người đã được trăng cảm động và chia sẻ. Ánh trăng lung linh bỗng chốc sống động, linh hoạt hẳn lên: “Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”. Trước sự hiện diện của trăng đẹp. Cái hiện thực tối tăm, u ám của nhà tù dường như bị xóa tan, nhường chỗ cho mối giao hòa thiêng liêng giữa nhà thơ tự do và thiên nhiên vĩnh cửu. Bác hướng cái nhìn vào ánh trăng sáng trong đêm lao ngục cũng như bao lần khác, trong hoàn cảnh sống gian nan. Người luôn hướng tới cái đẹp của cuộc đời. Tags:Văn 8
Phân tích bài thơ Ngắm trăng – Đề và văn mẫu 8
444
Đề bài: Phân tích bài thơ Ngụ hứng ở quán Trung Tân của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bài làm Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) quê ở làng Trung Am, xã Lý Học, Vĩnh Bảo. Hải Phòng. Học giỏi, đỗ Trạng nguyên. Ông có câu thơ: “Văn khôi tam thượng tiến tài sơ”, nghĩa là 3 lần đỗ đầu vần cười mình tài tầm thường. Làm quan dưới triều Mạc một thời rồi ông treo ấn từ quan, về quê dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, xây Nghinh Phong kiều, mở trường dạy học, có nhiều học trò thành tài nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan (Trạng Bùng). Nguyễn Dữ… Ông đức trọng tài cao, được người đời kính ái gọi là Tuyết Giang phu tử. Lúc ông mất, vua nhà Mạc truy phong là Trình Quốc Công. Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà triết học vĩ đại để lại nhiều sấm kỳ linh diệu, là nhà thơ lỗi lạc của dân tộc trong thế kỉ XVI. Thơ ông hàm súc, hàm chứa chất triết lí, giáo huấn, thương dân, lo đời, ghét chiến tranh. Nhũng câu thơ viết về thiên nhiên rất tươi tắn, thú vị. Hiện còn lại gần 200 bài thơ Nôm trong "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" và trên 1.000 bài thơ chữ Hán trong "Bạch Vân Am thi tập". Năm Nhâm Dần (1543) Nguyễn Bỉnh Khiêm thoái quan về sống giữa xóm làng quê hương. Mùa thu năm ấy, ông cùng các bô lão dựng quán Trung Tân làm chỗ ngồi chơi hóng gió và để khách qua đường nghỉ chân. Trong “Bài bia ở quán Trung Tân". Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rõ: Có người hỏi ta rằng: “Qnán ấy đặt tên Trung Tân có nghĩa là gì?". Ta trả lời rằng: “Trung có nghĩa là đứng giữa không chênh lệch, giữ vẹn được điều thiện là trung, không giữ được điều thiện thời không phải là trung vậy, tân có nghĩa là cái bến, biết chỗ đáng đậu là bến chính, không biết chỗ đáng đậu là bến mê vậy"… Trạng Trình có chùm thơ nhiều bài lấy nhan đề “Trung Tân ngu hứng". Bài thơ thứ nhất này gồm 24 câu thơ theo thể ngụ ngôn trường thiên, lấy vần trắc (bắc-trắc- thực sắc…) làm âm vận chủ đạo. Bài thơ dịch của Ngô Lập Chi rất hay, vừa giữ được nguyên điệu thanh thoát, vừa sát nguyên tác, nhất là phép đối. Hai câu đầu nói lên vị trí quán Trung Tân: “Sông ngòi vòng tây bắc Làng xóm bọc tây nam Quán ở giữa xóm làng đông vui, có sông ngòi uốn quanh, rất hữu tình. Trong “Bài bia ở quán Trung Tân ”, tác giả cho biết rất cụ thể:… "bến Trung Tân, trông sang phía Đông nhìn Đông Hải, ngoảnh sang phía Tây nhìn Tây Kinh; bên Nam trông sang Ngư Khê, thì thấy Trung Am, Bích Động, cái kia cái nọ quanh dựa vào nhau: bên Bắc cúi nhìn sông Tuyết Giang, thì thấy chợ Hàn, bến Nguyệt bao bọc tả hữu; một con đường cái quan chạy dọc ở giữa, biết bao bánh xe, chân ngựa từ hàng ngàn dặm xa tấp nập đi qua chốn này". Ba câu tiếp theo nói về am Bạch Vân nơi đọc sách và dưỡng nhàn của ông Trạng sau khi đã thoát vòng danh lợi. Am ở bên nửa mẫu vườn, một nơi thanh tĩnh mà chủ nhân là một con người thanh bạch. Câu thơ “xe ngựa bụi không đến” mang tính hàm nghĩa sâu sắc. Tiếp theo nhà thơ nói đến hoa, cá, chim, chuyện uống rượu và pha trà. Vừa tả cành, vừa tả tình. Cảnh vật được nhân hóa. Cá, chim như bầu bạn tri kỉ. Một tâm hồn thanh cao, ung dung tự tại chan hòa giữa thiên nhiên. Uống trà, uống rượu, ngâm thơ… lòng càng thêm “tiêu dao, khoan khoái". Từng cặp câu song hành, đăng đối, ngôn ngữ hài hòa, giọng thơ khoan thai, đủng đỉnh. Trong nguyên tác và trong bản dịch đều thế: "Hoa, trúc tay tự giồng Gây, dép bên mùi hoa Chén, cốc ánh sắc hồng Rửa nghiên, cá nuốt mực Pha trà,chim lánh khói. Ngâm thơ thừa tiêu dao, Uống rượu thêm khoan khoái”. Nguyễn Bỉnh Khiêm có không ít vần thơ dung dị nói lên niềm vui dạt dào của kẻ sĩ thanh cao sống giữa thiên nhiên. Một cuộc đời thanh bạch mà sang trọng, ở cõi đời này mấy ai để có như Trạng Trình? “Ruộng hiềm đất áy, cày chưa chín. Sách được câu thần dạ những ngong". (Bài 111) “Trà sen, sáng đãi người đưa khát Rượu thánh, hòm mời khách uổng say”. (Bài 140) “Vườn rau, sáng dạo, sương đầy dép Bến cá, đêm trăng, bóng lọt thuyền". (“Ngụ ý” – thơ dịch) Giọng thơ biến hóa pha chút hóm hỉnh tự giễu mình khi ông nói về “vụng'' và “xảo”. Cấu trúc vần thơ liên hoàn. Thơ mang nội dung đạo lý với cách nói thâm trầm, thấm thía. Khuyên mình hay nhắc khẽ ai? "Người xảo thì ta vụng. Ấy vụng thế mà hay! Ta vụng, người thì xảo. Ấy xảo thế mà gay!” Vụng là vụng về, chất phác. Xảo là xảo quyệt, tham lam, dối trá. Vụng và xảo nói về 2 loại người trong xã hội xưa nay. Có bài thơ ông nói về khôn và dại trong thiên hạ: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao… ” Nơi vắng vẻ là sống với ruộng vườn, thoái vòng danh lợi. Chốn lao xao là chốn bon chen, giành giật. Cũng là hai cách sống đối lập của hai loại người trong xã hội, có người đáng trọng, có kẻ đáng khinh! Giữa thế kỉ XIX, quan đại thần, nhà thơ tài tử Nguyễn Công Trứ cũng có viết về chuyện lợi danh ở đời và tâm thế kẻ sĩ: “Chen chúc lợi danh đà chán ngắt. Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao! Đám phồn hoa rót bước chân vào. Sực nghĩ lại giật mình bao kể xiết". ("Thoát vòng danh lợi") Tám câu còn lại nói về nguyên lý đạo đức, mội tiêu chí về triết lí nhân sinh. Ông sống giữa thời loạn lạc, vì thế điều ông nói là cả một sự chiêm nghiệm lịch sử và xã hội: là bài học về đạo lí và nhân sinh: “Đườnq đời rất gập ghềnh… Lòng người rất hiểm nghèo''. Ý tưởng không có gì mới lạ, trước đó mấy nghìn năm, mấy trăm năm đã có người nói. Cái hay là ở hai câu cuối bài thơ: “Quân tử biết răn mình, Chí thiện làm mẫu mực”. “Chí thiện” là tiêu chuẩn tuyệt đối về cái sự lí ở đời. Biết sống đẹp và hướng thiện cũng là chí thiện. Là quân tử, là kẻ sĩ thì phải là người chân chính. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống và ứng xử như vậy. Vì thế ông mới được ngợi ca là ông thầy của cả một thời đại. Đền thờ Nguyễn Binh Khiêm đến nay vẫn còn có bức đại tự sơn son thiếp vàng với 4 chữ: "Như nhật trung thiên” – như mặt trời giữa bầu trời. Chủ tịch Hổ Chí Minh dạy cán bộ Đảng viên: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng", phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Đó cũng là chí thiện vậy. Bài học về “chí thiện” vẫn nhiều mới mẻ đối với chúng ta ngày nay. Chí thiện là sống đẹp, là gương sáng muôn đời được ngợi ca.
Phân tích bài thơ Ngụ hứng ở quán Trung Tân của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1,242
Đề bài: Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Bài làm Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi. Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hường nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong quy luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy. Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị. “Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quý của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khá, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đằng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền. Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh. “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn người đến chốn lao xao” Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng ta một cách ngạo nghề, một bên là người, một bên là dại của ta, một bên là khôn của người, một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống cùa Nguyễn Bĩnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dạng ích kỉ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa “Người đời tỉnh cả, một minh ta say” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại. Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản: "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao" Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão. “Thoát tục” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang Phu Tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định: “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đă nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gần với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình: “Ơ thể mới hay người bạc ác, Giàu thì tìm đến, khó thì lui” (Thói đời) Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ ‘‘Tăng thử” (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhàn cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân. Bài thơ “Nhàn” bao quát toàn bộ triết lí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vong thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.
Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1,386
Phân tích bài thơ Nhàn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm – Văn mẫu lớp 10 tuyển chọn Hướng dẫn Đề bài: Nhàn là bài thơ thể hiện được tâm thế an nhiên, tự tại cùng những tâm sự của nhà nho lánh đời Nguyễn Bỉnh Khiêm. Anh chị hãy phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêmđể thấy được những đặc sắc về nội dung của tác phẩm này. I. Dàn ý chi tiết cho đề phân tích bài thơ Nhàn 1. Mở bài Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ Nhàn: Trong đó bài thơ “Nhàn” được rút ra trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi” 2. Thân bài Giới thiệu khái quát về nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Hai câu đề: bức tranh thôn quê dân giã Hai câu thực: Chân dung “lão nông” Nguyễn Bỉnh Khiêm Hai câu luận: Cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của tác giả chốn thôn quê Hai câu kết: triết lí cuộc sống của tác giả đúc rút ra trong thời gian ở ẩn 3. Kết bài Ý nghĩa nội dung và nghệ thuật của bài thơ: Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến cho người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và triết lí sống của ông. II. Bài tham khảo Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan trong triều đình nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công, bon chen, sát phạt nên ông đã cáo quan về ở ẩn, tìm kiếm cho mình một cuộc sống an nhàn thảnh thơi. Ông là nhà thơ nổi tiếng với tập thơ chữ Hán “Bạch Vân am thi tập” và tập thơ chữ Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Trong đó bài thơ “Nhàn” được rút ra trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Với thể thơ thất ngôn bát cú đường luật, bài thơ là tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống thảnh thơi, an nhàn nơi thôn quê. Tinh thần chủ đạo của bài thơ là sự thanh tịnh và ngập tràn niềm vui trong tâm hồn tác giả. Chỉ với tám câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm nổi bật lên một cuộc sống an nhàn, nhiều niềm vui, thảnh thơi và hòa mình vào với thiên nhiên nơi đồng quê thôn dã. Mở đầu bài thơ là hai câu đề phác họa một bức tranh thôn quê mộc mạc: “Một mai một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” Các số đếm “một,…một,…một” không chỉ vẽ lên khung cảnh bình dị, đơn sơ mà dù có phải làm một mình ở nơi đó cũng không hề đơn độc. Hình ảnh “cuốc” và “cần câu” làm hiện lên một người nông dân chất phác, đó là hình ảnh của Nguyễn Bỉnh Khiêm – một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và vẻ êm đềm của một vùng quê Bắc Bộ, đây là một cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người thời kì phong kiến xưa, tuy nhiên không phải ai cũng dám bỏ chốn quan trường để về chốn đồng quê như thế. Cái “thơ thẩn” của nhà thơ là một sự nhẹ nhàng, khoan thai, ung dung và tự tại, dù bên ngoài kia mọi người vui những thú vui như thế nào thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, “an phận” với cuộc sống bình sinh của mình, cuộc sống ấy đáng để nhiều người ngưỡng mộ. Hai câu thực tiếp theo đã khắc họa rõ nét hơn về một chân dung “lão nông” Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như khẳng định quan niệm sống của ông. “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao” Câu thơ này có thể coi như một lời tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ những ngày tháng sau khi từ quan về ở ẩn. Cái “dại” mà ông nhận về mình ấy lại là cái “dại” mà nhiều người phải ngưỡng mộ, còn ông khen những người tìm đến chốn quan trường là những người “khôn”, một cách khen rất tinh tế, khen mà chê. Với thời thế xã hội lúc bấy giờ và với cốt cách của một người như ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là chốn để ông có thể sống đến suốt cuộc đời. Một cốt cách thanh cao và tâm hồn đáng ngưỡng mộ. Tiếp theo là hai câu thơ luận gợi mở ra cuộc sống đầy bình dị, giản đơn mà hòa hợp với thiên nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” Cặp câu thơ này đã lột tả được hết cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hàng ngày của “lão nông”. Thức ăn tự tay làm ra, bằng chính sức lao động của mình, mùa nào tương ứng với thức ăn ấy, tất cả đều từ thiên nhiên, không có sơn hào hải vị hay món ăn cầu kì nào cả. Những thức ăn dân giã ấy lại đậm đà hương vị quê hương nên tác giả an phận và hài lòng, mùa xuân tắm hồ sen nước vẫn ấm, mùa hạ tắm ao lại càng thêm mát, cuộc sống tuy đơn giản nhưng lại thanh cao ít ai sánh được. Hai câu thơ kết chính là sự đúc kết tinh thần và cốt cách của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao” Trong hai câu này chứa đựng triết lí sống mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đúc rút được trong thời gian ở ẩn. Với ông, phú quý vinh hoa chỉ là giấc chiêm bao, tỉnh dậy là tan biến, ông yêu nước nhưng yêu một cách thầm lặng nhất. Bài thơ đường luật với kết cấu chặt chẽ, đơn giản mà thấm thía hàm ý sâu xa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến cho người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và triết lí sống của ông, ông là một tấm gương đáng học hỏi trong cả lối sống và lòng yêu nước. Theo
Phân tích bài thơ Nhàn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm – Văn mẫu lớp 10 tuyển chọn
1,031
Phân tích bài thơ Nhàn Hướng dẫn Bài tập làm văn phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm lớp 10 bao gồm dàn ý phân tích bài thơ Nhàn và các bài văn mẫu chọn lọc. Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các bạn học sinh phân tích bài thơ Nhàn hay nhất. Dàn ý phân tích bài thơ Nhàn 1. Mở bài – Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đa tài, sống trong xã hội đầy bất công ông suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống con người, quyết cầm bút lên để chiến đấu với gian tà. – “Nhàn” là bài thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện rõ quan niệm sống của tác giả. 2. Thân bài – Hai câu đề: “Một mai/một cuốc/một cần câu Thơ thẩn dầu ai/ vui thú nào” + Nhịp điệu những câu thơ đầu tạo cảm giác thư thái, ung dung + Bằng cách sử dụng những vật dụng quen thuộc của người dân lao động cho thấy cảnh nghèo khó nhưng an nhàn, thanh bình biết bao. + Tâm trạng của nhà thơ là tâm trạng của một kẻ sĩ “an bần lạc đạo” vượt lên trên nỗi lo lắng bon chen của đời thường để tìm đến thú vui của ẩn sĩ. – Câu thực: + Cách sử dụng phép đối: dại >< khôn, nơi vắng vẻ >< chốn lao xao cho thấy được sự khác nhau giữa lối sống của tác giả và người đời thường. Ông cho rằng nơi vắng vẻ là nơi thôn quê yên bình ở đó không còn bon chen chốn quan trường, đây mới thực là cuộc sống. + Cách xưng hô “ta”, “người” >> Hai về tương phản làm nổi bật ý nghĩa, nhân mạnh phương châm, quan niệm sống của tác giả khác với thông thường. Đồng muốn ngầm ý phê phán thói đời, thói người, và thể hiện cái cao ngạo của kẻ sĩ. – Hai câu luận: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” + Cuộc sống giản dị không cần những thứ giàu sang hào nhoáng chỉ là sản vật từ nhiên nhiên “măng trúc” “giá” -> Thấy được cuộc sống an nhàn, đạm bạc thanh cao, lối sống hòa nhập với thiên nhiên của tác giả. + Cái thú sống an nhàn ẩn dật, những con người có nhân cách cao đẹp khi sống trong thời loạn lạc ấy để giữ được phẩm giá cốt cách của mình chỉ có cách cáo quan về ẩn dật, an lòng với cảnh nghèo khó, sống chan hòa với thiên nhiên với vũ trụ. – Hai câu kết: Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao + Xem nhẹ lẽ đời sống sa hoa phú quý, ông ngậm ngùi coi đó như một giấc chiêm bao. + Lối sống thanh cao vượt lên trên lẽ đời thường 3. Kết luận – Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm sống vui thú với lao động, hòa hợp với thiên nhiên, giữ cốt cách thanh cao, xa lánh vòng danh lợi. Bài văn mẫu phân tích bài thơ Nhàn Phân tích bài thơ Nhàn – bài 1 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam: Lê – Mạc xưng hùng, Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho. Nhàn là bài thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ thanh cao, vượt ra cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen vì danh lợi. Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hường nhà của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong quy luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy. Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị. “Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quý của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khá, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đằng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền. Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh. “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn người đến chốn lao xao” Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng ta một cách ngạo nghề, một bên là người, một bên là dại của ta, một bên là khôn của người, một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống cùa Nguyễn Bĩnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dạng ích kỉ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa “Người đời tỉnh cả, một minh ta say” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại. Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão. “Thoát tục” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang Phu Tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định: “Rượu đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.” Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đă nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gần với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình: “Ơ thể mới hay người bạc ác, Giàu thì tìm đến, khó thì lui” (Thói đời) Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ ‘‘Tăng thử” (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhàn cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân. Bài thơ “Nhàn” bao quát toàn bộ triết lí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vong thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính. Phân tích bài thơ Nhàn – bài 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ẩn; sống cuộc sống an nhàn, thanh thơi. Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ tiếng Hán “Bạch Vân am thi tập” và tập thơ tiếng Nôm “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Bài thơ “Nhàn “được rút trong tập thơ “Bạch Vân am thi tập”. Bài thơ đựợc viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật, là tiếng lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui, an nhàn và thanh thản nơi đồng quê. Xuyên suốt bài thơ “Nhàn” là tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả. Có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ với 8 câu thơ đường luật nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả. Mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc: Một mai một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Với phép lăp “một”-“một” đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo, dù một mình nhưng không hề đơn độc. Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc Bộ. “Một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác. Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường về với đồng quê như thế này. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Dù ngoai kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại. Cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ. Đến hai câu thơ thực tiếp theo càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của “lão nông Nguyễn Bỉnh Khiêm”. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ. Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông. Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. Một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” –”khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời. Một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ. Hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài lòng. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được. Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau. Đến hai câu thơ kết dường như đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của Nguyễn Bình Khiêm: Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng. Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. Có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất. Với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nhất. Cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất. Như vậy với 8 câu thơ, bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và phong thái của ông. Là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. Bài thơ đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cho đến bây giờ, ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ. Phân tích bài thơ Nhàn – bài 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) quê ở làng Trưng Âm, xã Lí Học, huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng, ông đỗ Trạng nguyên năm 1535 và ra làm quan dưới triều nhà Mạc. Ông đã để lại cho đời tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập (khoảng 700 bài) và tập thơ chữ Nôm Bạch Vân quốc ngữ thi (khoảng trên 170 bài). Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ca ngợi ý chí thành cao của kẻ sĩ và biểu dương quan niệm sống nhàn, đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội đương thời. Nhàn là bài thơ Nôm nằm trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi. Nhan đề bài thơ là do người đời sau đặt. Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ được cốt cách thanh cao, khí tiết cương trực, vượt lên trên những danh lợi tầm thường. Hai câu thơ đầu phản ánh cuộc sống nhàn nhã, ung dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Một mai, một cuốc, một cần câu, Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Quan Trạng về sống giữa chốn thôn quê nay đã giống như một “lão nông tri điền”, hằng ngày làm bạn với những công cụ lao động như mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để câu cá,.;., Cách dùng số từ tính đếm rành rọt cho thấy tất cả đã trở nên gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống của ông. Câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác đơn sơ của cái thời “tạc tỉnh canh điền ” (đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy cơm ăn) xa xưa. Quan Trạng đang áo mũ xênh xang, chức lớn, bổng lộc nhiều, ấy vậy mà bỗng dưng rũ bỏ tất cả để trở về với đời sống “tự cung tự cấp” thì cũng đã là: một sự ngông ngạo trước thói đời hám danh, hám lợi. Ngông ngạo mà không ngang tàng, cứ thuần hậu, nguyên thủy, chân chất nông dân: Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Hai chữ Thơ thẩn phản ánh một cách tài tình phong cách ung dung và tâm trạng thảnh thơi của con người tự cho mình là đã xa lánh cõi trần tục đầy tham, sân, si; trong lòng không còn vướng bận những âm mưu, toan tính bon chen. Niềm vui như hiện lên trong từng bước đi thong thả, nhàn nhã. Niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thản một cách lạ kì. Cụm từ dầu ai vui thú nào còn nói lên lập trường kiên định của nhà thơ trước lối sống đã lựa chọn. Chữ ai vốn là một đại từ phiếm chỉ, được tác giả sử dụng trong câu thơ này với một nghĩa rất rộng, càng suy ngẫm càng thấy thú vị. Nguyên Bỉnh Khiêm cáo quan, trở về quê nhà tức là trở về với thiên nhiên. Sống hòa hợp với thiên nhiên có nghĩa là đã thoát khỏi vòng tranh đua của thói tục, không còn bị cuốn hút bởi tiền tài, địa vị, để tâm hồn được an nhiên, khoáng đạt: Ta dại, ta tìm nơi vắng vè, Người khôn, người đến chốn lao xao. Nhân cách thanh cao Nguyễn Bỉnh Khiêm đối lập với danh lợi như nước với lửa. Vắng vẻ đối lập với lao xao, ta đối lập với người. Tìm nơi vắng vẻ không phải là lánh đời mà là tìm nơi mình thích thú, được sống thoải mái, an nhiên, khác xa chốn quan trường hiểm hóc vinh liền nhục. Nơi vắng vẻ là nơi không có chuyện cầu cạnh, bon chen. Nơi vắng vẻ là nơi thiên nhiên tươi xanh, mang lại sự thảnh thơi cho tâm hồn. Chốn lao xao là chốn cửa quyền trống giong cờ mở, là đường hoạn lộ tấp nập ngựa xe… Đến chốn lao xao là đến chốn chợ lợi đường danh huyên náo, nơi con người chen chúc xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để giành giật quyền lợi, để vinh thân phì gia. Đây là nơi có nhiều nguy hiểm khôn tường. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc thức giả có trí tuệ vô cùng sáng suốt. Sáng suốt trong sự chọn lựa: Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, mặc cho: Người khôn, người đến chốn lao xao. Sáng suốt trong cách nói đùa vui hóm hỉnh, ngược nghĩa: dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hóa dại. Ở một bài thơ khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: Khôn mà hiểm độc là khôn dại, Dại vốn hiền lành ấy dại khôn. (Thơ Nôm) Như vậy là quan niệm dại, khôn của Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất phát từ trí tuệ, triết lí dân gian: Ở hiền gặp lành; ở ác gặp ác. Cuộc sống của bậc đại nhân ở am Bạch Vân đạm bạc mà thanh cao biết mấy: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Hai câu thơ tả cảnh sinh hoạt giản dị mà không kém phần thú vị nơi thôn dã với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhà thơ nói về chuyện sinh hoạt hằng ngày như chuyện ăn, chuyện tắm,… tuy cực kì đơn sơ nhưng thích thú ở chỗ mùa nào cũng sẵn, chẳng phải nhọc công tìm kiếm về mặt tinh thần, cuộc sống giản dị như thế cho phép con người được tự do, tự tại, không cần phải luồn cúi, cầu cạnh kẻ khác, không cần phải theo đuổi công danh, phú quý, không bị gò bó, ràng buộc vào bất cứ khuôn phép nào. Những thức ăn quê mùa, dân dã như măng trúc, giá… đều là cây nhà lá vườn, do mình tự làm ra, là công sức của chính mình. Ăn đã vậy, còn ở, còn sinh hoạt? Quan Trạng giờ đây cũng tắm hồ sen, tắm áo như bao người dân quê khác. Là bậc triết gia với trí tuệ uyên thâm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nắm vững lẽ biến dịch, hiểu thấu quy luật của Tạo hóa và của xã hội. Theo ông, cái khôn của bậc chính nhân quân tử là quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung dung hòa hợp với thiên nhiên thuần khiết. Nhãn quan tỏ tường và cái nhìn thông tuệ của nhà thơ thể hiện tập trung nhất ở hai câu thơ cuối. Nhà thơ tìm đến cái “say” là để “tỉnh” và ông tỉnh táo hơn bao giờ hết: Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao. Quan Trạng khẳng định một lần nữa sự lựa chọn lối sống nhàn của mình. Cuộc sống nhàn dật này là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ khác thường. Trí tuệ sáng suốt nhận ra rằng công danh, của cải, quyền quý chỉ tựa chiêm bao. Trí tuệ nâng cao nhân cách, làm cho lập trường thêm kiên định để nhà thơ có đủ quyết tâm từ bỏ chốn quan trường lao xao danh lợi, tìm đến nơi thiên nhiên vắng vẻ mà trong sạch, thanh cao để di dưỡng tinh thần, giữ vững hai chữ thiện lương. Nhàn là chủ đề rất phổ biến trong thơ văn thời trung đại. Nhàn là một nét tư tưởng và văn hóa rất sâu sắc của người xưa, đặc biệt là của tầng lớp trí thức. Sống nhàn hợp với tự nhiên, hợp với việc tu dưỡng nhân cách, có điều kiện dưỡng sinh, kéo dài tuổi thọ. Sống nhàn đem lại những thú vui lành mạnh cho con người, Biết sống nhàn, biết tìm thú nhàn là cả một học thuyết triết học lớn. Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhằm mục đích trốn tránh vất vả, cực nhọc về thể chất, quay lưng với xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân, ông cho rằng sống nhàn là xa lánh nơi quyền quý, danh lợi mà ông gọi là chốn lao xao. Nhàn là sống hoà hợp với tự nhiên, về với tự nhiên để tu tâm dưỡng tính. Nguyễn Bĩnh Khiêm nhàn thân mà không nhàn tâm, lúc nào cũng canh cánh nỗi niềm thương nước lo dân. Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến đương thời đã có những biểu hiện suy vi về đạo đức thì quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang nhiều yếu tố tích cực. Chân dung Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện khá rõ nét qua bài thơ nhàn. Từ bức chân dung giản dị, mộc mạc ấy toát lên vẻ đẹp nhân cách caơ quý, vẻ đẹp trí tuệ tuyệt vời của bậc đại Nho mà tên tuổi lưu danh muôn thuở. Phân tích bài thơ Nhàn – bài 4 Chốn quan trường thời xưa ai cũng mong hòng có một chân trong những chức phận trong cung, người muốn thì nhiều mà người không muốn rời bỏ chốn quan trường thì ít. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một bậc quân thần trung quân ái quốc và một nhà nho đại tài đã trở về quê ở ẩn. Trong khoảng thời gian ở ẩn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sáng tác bài thơ Nhàn thể hiện sự nhàn rỗi của mình khi rời bỏ chốn quan trường, đồng thời nói lên những quan điểm của mình về chốn quan trường ấy, “dại” hay “khôn” chỉ có thể đọc thơ của ông mới hiểu hết được quan điểm ấy. Cái tên của bài thơ thật độc đáo và đặc biệt. Nhan đề ấy chỉ có một câu nhưng đã nói lên tất cả những gì mà nhà thơ muốn gửi gắm. Một tiếng nhàn thể hiện sự nhàn dỗi của con người trong cuộc sống thực tại. Theo thông thường thì nhàn thì sẽ chỉ có ngồi mát ăn bát vàng thôi vậy thì nhàn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn nói đến là gì?. Nhan đề độc đáo như có tác dụng hấp dẫn người đọc hơn khi vào những tâm tư chia sẻ của nhà thơ ấy. Trước hết là hai câu thơ đầu với những hình ảnh quen thuộc của làng quê đồng ruộng Nguyễn Bỉnh Khiêm giới thiệu cuộc sống mà ông coi là nhàn hạ cho mọi người biết: “Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” Hình ảnh những vật dụng quen thuộc của công việc làm đồng cho thấy được những không gian êm ả yên tĩnh của làng quê. Có thể mỗi nhà nho nghỉ quan về ở ẩn đều tìm đến chốn làng quê để cho tâm hồn mình thanh tịnh chứ không ở trên kinh thành. Làng quê ấy không chỉ có những cảnh vật quen thuộc như cây đa bến nước mái đình mà ở đây làng quê hiện lên trên những vật dụng công cụ của đồng áng. Nào mai, nào cuốc những thứ ấy đều là công việc mệt nhọc của nhà nông. Cái công việc mà làm quần quật cả ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, một nắng hai sương. Ấy thế mà ở đây tác giả lại noi đây là việc nhàn tại sao vậy. có thể nói so với Nguyễn Bỉnh khiêm thì đó là một công việc tuy mệt mỏi chân tay nhưng lại không mệt trí óc hay tâm hồn. Chí ít ra thì ở đây ông có thể “thẩn thơ” với thú vui câu ca cảnh vật làng quê, tận hưởng sự bình yên không khí nơi đây. Tiếp đến hai câu thơ sau thì chúng ta thấy được những quan niệm của nhà thơ về sự “khôn” “dại” trong việc làm quan hay nghỉ hưu về quê làm một anh nông dân quèn để giữ cho mình một khí tiết trong sạch: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chỗ lao xao” Chắc hẳn trước sự lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì nhiều người có thể nói ông là dại chính vì thế mà ông đã nói lên chính những tâm sự của mình để bày tỏ quan điểm sống. Tác giả nói ta dại cho nên ta về nơi thôn quê vắng vẻ hẻo lánh để ở còn người khôn người đến những chốn lao xao như quan trường. có thể thấy rằng ở đây tác giả đã thể hiện cách nói đối lập để làm rõ quan điểm của mình. Đồng thời cũng qua đó ta thấy được lẽ sống của những bậc nho gia thời xưa. Người nhà nho không gì quý hơn là thanh danh và sự trong sạch của mình chính vì thế mà ai cũng hết sức lắng đục tìm trong để bảo vệ cho khí tiết của mình. Nơi vẳng vẻ ở đây chính là chốn làng quê, chốn lao xao chính là nơi quan trường nhiều hiểm độc. Tưởng chừng những nơi vắng vẻ kia nguy hiểm nhưng chính chôn lao xao kia mới là đáng sợ. bởi vì sao?, vì trong cái chốn thâm cung nhiều người âm mưu nghiệp lớn hãm hại lẫn nhau, đấu đá dành phần hơn và có thể bất chấp mọi thủ đoạn để tiến lên. Chính vì thế mà nhà thơ chán ghét và đặc biệt nói cách ở trên thì nhà thơ như muôn người đọc tự hiểu được như thế nào mới là dại mới là khôn thật sự. Cảnh sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện rất rõ trong hai câu thơ tiếp theo. Đó bức tranh của xuân hạ thu đông, bốn mùa của đất trời và khi ấy con người nhàn hạ kia đã có những thực phẩm thể hiện sự nhàn của mình: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” Mùa thu tác giả ăn măng trúc trong rừng, mùa đông thì ăn giá đỗ, mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tắm ao. Cảnh sinh hoạt của nhà thơ nơi thôn dã thật sự rất bình thường thế nhưng qua đó ta thấy được một tâm hồn đồng điệu với thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên, ăn, uống, tăm những gì của thiên nhiên. Có thể nói nhà thơ như đang hòa mình vào đất trời. Mùa đông ăn giá là giá đỗ hay cũng chính là cái giá lạnh của gió mùa đông bắc. thế nhưng cuộc sống như thế nhà thơ không cần phải lo nghĩ gì và theo quan điểm của nhà thơ thì đó chính là “nhàn”. Cuộc sống nhàn ấy với một nhà nho không chỉ hòa hợp với thiên nhiên mà còn phải có cả rượu: “Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao” Đến rượu cũng thật sự là thiên nhiên qua hình ảnh rượu đến gốc cây. Cái “nhắp” kia như vẽ lên một hình ảnh nhà nho già tây cầm ly rượu mà đưa lên môi nhắp lấy một cái ngâm trong miệng cái nồng nàn hơi men của rượu. Thế rồi mắt đưa ra khung cảnh bầu trời mà mơ màng ngắm vịnh. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm thì đó chính là cuộc sống thanh đạm của nhà thơ song đối với ông thì đó chính là phú quý như một giấc chiêm bao vậy. Bài thơ đã vẽ lên một nhà nho về quê ở ẩn với những thú vui lao động như bao nhiêu người nông dân khác. nếu như những người nông dân coi việc đó là chán ngắt thì với Nguyễn Bỉnh Khiêm đó lại chính là thú vui. Cuộc sống đạm bạc giản dị mà thanh cao cùng với quan điểm “khôn- dại” ta thấy hiện lên một nhà nho đạm bạc và một tâm hồn cao đẹp yêu thiên nhiên biết bao nhiêu. Phân tích bài thơ Nhàn – bài 5 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Ông là nhà thơ lớn của dân tộc. Ông để lại cho dân tộc hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm đó là: Bạch vân am thi tập (chữ Hán khoảng 700 bài) và Bạch vân quốc ngữ thi (chữ Nôm khoảng 170 bài). Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm mang đậm chất triết lí, giáo huấn, ngợi ca chí của kẻ si, thú thanh nhàn đồng thời phê phán những điều xấu xa trong xã hội. Nhàn là bài thơ Nôm trích từ Bạch vân quốc ngữ thi. Một mai, môt cuốc, môt cần câu Thơ thẩn dầu ai, vui thú nào Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Rượu đến cội cây, ta sẻ uống, Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao. Bài Nhàn trong Bạch vân quốc ngữ thi thuộc về chủ đề triết lí xã hội, mà tập trung nhất là triết lí Nhàn có người đã từng cho rằng tư tưởng Nhàn, triết lí Nhàn là một chủ đề lớn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm nói chung và Bạch vân quốc ngữ thi nói riêng. Nhàn với Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là một cứu cánh mà là một phương thức tư duy một triết lí. Cho nên Nhàn là khái niệm chữ không phải là tâm trạng. Tâm lí Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những biểu hiện tích cực và tiêu cực. Yếu tố tích cực của chữ Nhàn là ở chỗ: Nhàn là sông theo lẽ tự nhiên, sống hoà hợp với thiên nhiên để cho tâm hồn được thanh thản. Chúng ta sẽ thấy rất rõ những điều trên qua việc đi sâu phân tích bài thơ Nhàn của ông trong Bạch vân quốc ngữ thi. Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng liên tiếp số từ một nhằm mục đích nhấn mạnh hoàn cảnh sống của ông khi cáo quan về quê. Với những dụng cụ quen thuộc, một mai, một cuốc, một cần câu và có thể là cả một con người, một cuộc đời ở đó. Số từ một biểu hiện sự cô đơn, một mình của Nguyễn Bỉnh Khiêm chốn quê nghèo, ông làm bạn cùng với những vật dụng quen thuộc của nhà nông là mai đào đất, xắn đất, cuốc lật đất, đi kèm phía sau là một cần câu để nhằm chỉ ra rằng sau những lúc làm lụng vất vả, ông vẫn giữ được các thú chơi tao nhã, thanh đạm của người Việt Nam đó là đi câu cá. Số từ một thể hiện sự cô đơn, trong một câu thơ nhà thơ đã sử dụng tơi ba số từ một nhằm nhấn mạnh sự cô đơn, trống vắng của một con người mang đầy chí lớn đang phải sống cuộc đời ẩn dật. Nhưng đứng sau ba số từ một cũng lại là một loạt các danh từ mai, cuối, cần câu, chắc gì sau ba từ một đứng trước… không có một từ một đứng sau. Chắc gì sau ba danh từ đó không có thểm một danh từ ẩn sau đó. Đó là một cuộc đời, một con người chính các công việc của nhà nông ấy, tuy vất vả nhưng lại rất ấm áp và gần gũi. Để rồi chỉ có gần gũi, vui bên thú chơi câu cá tao nhã, thanh đạnt mới làm cho nhân vật trữ tình của chúng ta phải thơ thẩn mà không cần bận tâm đến người khác nói gì, nghĩ gì, làm gì. Chỉ cần những điều khiển ta được vui vẻ, được hoà hợp được. Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Nhịp thơ của câu đầu 2/2/3 thể hiện sự khẳng định, quyết tâm có thể cả sự thách thức. Một mai / một cuốc / một cần câu Nhịp thơ đã tạo cho câu thơ có sức chuyển mạnh mẽ, không chỉ là lời nói khẳng định thông thường những gì mình trải qua mà táe giả qua đó muốn khẳng định sự quyết tâm vượt qua những khó khăn, vất vả trong cuộc đời đầy xô bồ, đổi thay. Và từ đó thấy rằng nhân vật trữ tình rất yêu quí, gắn bó thanh đạm mà gần gũi, ấm áp tình người. Cũng chính vì thế mà có sự chuyển nhịp ở câu sau: Thơ thẩn dầu ai vui thú nào. Nhịp thơ 4/3 là sự chậm lại của cảm xúc tâm trạng và nó đem lại một hơi ấm, niềm vui cho nhân vật trữ tình đến đây đã tìm thấy phương thức sống của cuộc đời mình. Với ước muốn sống hoà hợp với thiên nhiên để cho tâm hồn được thanh thản, yên vui, vì thế nhà thơ của chúng ta đã rời xa chốn lao xao để về nơi vắng vẻ. Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người không, người đến chốn lao xao. Tự nhận mình là dại, tác giả dại vì đã rời xa chốn phồn hoa đô hội, lấp lánh trở về sống ẩn nấp, vất vả nơi vùng quê nghèo. Nhưng có phải vì thê mà dại chăng? Và thế nào là khôn, không là đến sống ở nơi sung sướng, đầy đủ lụa là gấm vóc, ấm êm, cung phụng lẽ vì thế mà mới không. Và khôn, dại như thê nào mà tìm đến ở chôn lao xao và nơi vắng vẻ. Tâm lí Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những biểu hiện tích cực và tiêu cực Đặt câu thơ trong hoàn cảnh sống của tác giả, chúng ta sẽ thấy quan niệm về nơi vắng vẻ và chôn lao xao hay quan niệm dại và khôn. Nơi vắng vẻ ở đây chính là cuộc sống đạm bạc với thôn quê còn nhiều khó khăn và thiếu thốn. Chỉ có người dám coi thường danh lợi, coi thường vật chất, coi của cải chỉ là phù phiếm mới có thể dại mà đến ở nơi vắng vẻ. Còn chốn lao xao chính là nơi tấp nập ngựa xe, nơi sung sướng và đầy đủ, là cuộc sống hoàn toàn đối lập với nơi vắng vẻ và nơi đó chỉ đành cho những ai biết khôn, những ai coi danh lợi, vật chất là cuộc sống thì mới sống và muốn sống ở đó. Tác giả đã sử dụng hai từ láy vắng vẻ và lao xao để miêu tả hai chốn ở khác nhau. Vắng vẻ từ láy tạo nên đậm nét sức bình dị, yên bình của thôn quê. Còn từ láy lao xao nó như có cả tiếng reo vui, tiếng náo nhiệt và tấp nập của chốn đô thành. Và từ đây ta có thể hiểu nơi vắng vè là thôn quê, yên lành, còn chốn lao xao là vùng kinh đô đầy náo nhiệt. Nhưng còn không là thế nào và dại là ra sao? Chon nơi vắng vẻ là để tránh xa cuộc sống xô bồ của cuộc đời đầy bon chen, toan tính và không ít hiểm nguy. Và khi tránh xa những điều đó thì tác giả dại hay khôn. Còn khôn sống ở nơi đô thị tránh xa sự yên bình, thanh sạch khi đó là khôn hay dại khi bước chân vào chốn xô bồ. Nguyễn Binh Khiêm đã dùng biện pháp nghệ thuật sóng đôi ở hai câu thơ này để diễn tả sự đối lập, tương phản, thậm chí là trái ngược hoàn toàn tới xung khắc của hai nơi sống, hai quan điểm sống và hai sự lựa chọn. Ta dại / ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn / người đến chốn lao xao. Ta đối với người, dại đối với khôn, ta tìm đối với người đến (thể hiện sự lựa chọn qua hai từ tìm và đển) nơi vắng vẻ đối với chốn lao xao. Có lẽ đây là hai câu thơ hay nhất của bài thơ. Bởi nghệ thuật đối, bởi ý nghĩa tư tưởng của hai câu muốn nói đến. Hai câu thơ đối xứng nhau rất chuẩn cả về từ và cả về dấu thanh tạo nên sự khác biệt và đối lập nhằm khẳng định một lần nữa cách sống và cách lựa chọn của tác giả? Hai câu tiếp theo miêu tả cuộc sống của Nguyễn Bình Khiêm nơi thôn quê nghèo thanh đạm với những sản vật riêng chỉ có nơi thôn quê. Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Mặc dù sống ở nơi thôn quê còn nhiều khó khăn vất vả, nhưng ở đó lại cos các thú vui riêng và được thưởng thức những món ăn rất tầm thường nhưng lại ngon vô cùng. Chỉ có măng trúc và giá thôi, mà nào thức nấy, những thứ ấy dù rất bình thường vì lúc nào cũng có sẵn trong nhà. Thế nhưng khi ăn chúng ta sơ cảm nhận được vị ngon của nó nhờ vào sự hoà hợp, cảm thông của tấm lòng với tấm lòng. Bởi vì đã không ít lần Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rằng: Câu thanh nhàn đọc qua ngày tháng. Hay: Thanh nhàn ấy ắt là tiên khách Qua hai câu thơ thứ 5 và 6 này, chúng ta thấy cuộc sống của tác giả nơi thôn quê thaajt đạm bạc mà thanh nhàn. Đạm bạc hỏi món ăn chỉ măng và giá nhưng thanh nhàn, hoà hợp với thiên nhiên. Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Chỉ có vùng nông thôn người ta nói có thể được vùng vẫy, thoải mãi thả hồn mình vào trong thiên nhiên hoà mình với thiên nhiên để cảm hết niềm hạnh phúc, thú vui lạc quan ở đời. Nếu mới đọc qua chúng ta chỉ thấy đó là hai câu thơ tả cuộc sống nơi thôn quê của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng chiều sâu trong đó lý tưởng sống cùa ông, là khát vọng được sống hoà hợp với thiên nhiên. Được ăn những món ăn mà chỉ do thiên nhiên hoà quyện với thiên nhiên mới khiến ta mở rộng lòng mình, vùng vẫy ôm thiên nhiên vào lòng và cũng chính thiên nhiên ôm ta vào lòng nâng dậy sức sống và khơi mát tâm hồn. Chỉ có thiên nhiên tươi đẹp mới làm cho tâm hồn ta thanh thản, ấm áp mà thôi. Là nếu cần đánh đổi thì Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ sẵn sàng đánh đối phú quí để được tận hưởng cuộc sống này, tận hưởng các nhàn. Để rẻ công danh muốn được nhàn. Dường như bất kì thi nhân nào cũng không tránh được một thú vui, không thể thiếu của cuộc đời đó là rượu và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không tránh khỏi niềm đam mê với các thú vui ấy: Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao. Đây là hai câu thơ có lấy điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say và nằm dưới gốc cây hoè ngủ. Ông ta mơ thấy mình ở nước Hoè An được công danh phú quí, vinh huấn. Nhưng khi tỉnh dậy thì đó chỉ là giấc mộng, thấy cành hoè phía nam chỉ có một tấc kiến mà phơi. Điển tích này để chỉ phú quí chỉ là giấc chiêm bao. Chính vì quan điểm này Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không màng đến danh lợi bởi danh lợi, phú quí chỉ là phù phiếm và chỉ như một giấc mộng rồi sẽ qua đi. Để rẻ công danh muốn được nhàn. Hay: Thấy dặm thanh vân lại bước chen Được nhàn ta sá dường thân nhàn. Chữ nhàn ở thơ Nguyễn Bình Khiêm đôi lập với tất cả chữ nhàn ở thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhàn than chức không phải là nhàn tâm. Dù nhàn nhưng vẫn lo âu việc nước việc đời. Hai câu kết tác giả muốn khẳng định rằng tiền bạc của cải chỉ là phù phiếm, nó sẽ nhanh chóng tan biến theo bước đường thời gian, vì vậy mà phương châm sống đừng chỉ lúc nào cũng mong về tiền tài, danh vọng. Tuy rằng chữ nhàn có những hạn chế như: nhiều yếu tố nhàn rỗi, nhàn tâm, yên phận khá đậm nét. Mà đặc biệt một nhà nho ưu thời mẫu tục như Nguyễn Bỉnh Khiêm mà lại chủ trương nhàn tâm, chủ trương vô sự ngáy pho pho trước cảnh đất nước loạn lạc, nhân dân cực khổ lầm than. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm hi vọng với những vần thơ triết lí này của mình có thể giữ trọn được tâm hồn và nhân cách để cuộc sống con người được hài hoà, hợp với lẽ của tự nhiên và xã hội cũng đi đến… Nhàn là một triết lí sống để bảo toàn nhân phẩm trước sự đua chen danh lợi, trước sự băng hoại về đạo đức: Có thuở được thời mèo đuổi chuột Đến khi thất thế kiến tha bò. Và: Hoa càng khoe nở hoa càng rữa Nước chứa cho đầy nước ắt vơi. Toàn bộ bài thơ nhàn là một lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hoà hợp với tự nhiên, giữ cốt cách thanh cao, vượt lên trên danh lợi. Nhàn là triết lí sống chi phối nhiều sáng tác của Nguyễn Binh Khiêm. Tuy có lúc nó có mang yếu tốt tiêu cực nhưng nó lại là triết lí sống giúp con người ta sống đẹp hơn, đúng hơn với đời. Phân tích bài thơ Nhàn – bài 6 Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) là người có học vấn uyên thâm. Tuy nhiên khi nhắc đến ông là làm mọi người phải nghĩ đến việc, lúc ông còn làm quan ông đã từng dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám lộng thần nhưng đã không thành công nên ông đã cáo quan về quê. Do học trò của ông đều là những người nổi tiếng nên được gọi là Tuyết Giang Phu Tử. Ông là người có học vấn uyên thâm,là nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ của ông mang đậm chất triết lí giáo huấn, ngợi ca chí khí của kẻ sĩ,thú thanh nhàn, đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội. Khi mất ông để lại tập thơ bằng tập viết thơ bằng chữ Hán là Bạch Vân am thi tập; tập thơ viết bằng chữ Nôm là Bạch Vân quốc ngữ thi và “Nhàn” là bài thơ tiêu biểu trong tập thơ Bạch Vân quốc âm thi tập, được viết bằng thể thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhàn. Qua đó ta có thể thấy được vẻ đẹp chân chính của ông, nét mộc mạc của làn quê. “Một mai một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao xao Thu ăn năng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao Rượu đến cội cay ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.” Hai câu đề đã khắc họa dược như thế nào một cuộc sống nhàn rỗi “Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẫn dầu ai vui thú nào…..” Ở câu thơ đầu câu thơ đã khắc họa hình ảnh một ông lão nông dân sống thảnh thơi.Bên cạnh đó tác giả còn dùng biện pháp điệp số từ “một” thêm vào là một số công cụ quen thuộc của nhà nông nhằm khơi gợi trước mắt người đọc một cuộc sống rất tao nhãn và gần gũi nhưng không phải ai muốn là có. Từ “thơ thẩn” trong câu hai lại khắc họa dáng vẻ của một người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai. Đặt hình ảnh ấy vào cuộc đời của tác giả ta có thể thấy được lúc nhàn rỗi nhất của ông chính là lúc ông cáo ông về ở ẩn. Và từ “vui thú nào” cũng một lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái. Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ, tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên. “….. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người dến chốn lao sao……” Hai câu thực của bài thơ ý tác giả muốn nhắm đến cảnh nhàn và sử dụng các từ đối nhau như “ta” _ “người”; “dại” _ “khôn” ; “nơi vắng vẻ”_ “chốn lao xao”. Từ một loạt những từ đối lập đó đã thể hiện được quan niệm sống của tác giả. Nhân vật trữ tình đã chủ động tìm đến nơi vắng vẻ đến với chốn thôn quê sống cuộc sống thanh nhàn mặc cho bao người tìm chốn “phồn hoa đô hội”. hai câu thơ đã đưa ra được hai lối sống độc lập hoàn toàn trái ngược nhau. Tác giả tự nhận mình là “dại” vì đã theo đuổi cuộc sống thanh đạm thoát khỏi vòng danh lợi để giữ cho tâm hồn được thanh nhàn.Vậy lối sống của NBK có phải là lối sống xa đời và trốn tránh trách nhiệm? Điều đó tất nhiên là không vì hãy đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác chỉ có thể làm như vậy mới có thể giữ được cốt cách thanh cao của mình. Do NBK có hoài bảo muốn giúp vua làm cho trăm dân ấm no hạnh phúc nhưng triều đình lúc đó đang tranh giành quyền lực, nhân dân đói khổ tất cả các ước mơ hoài bảo của ông không được xét tới. Vậy nên NBK rời bỏ “chốn lao xao” là điều đáng trân trọng. “ ….. Thu ăn măng trúc đông ăn giá Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao………” Hai câu luận đã dùng biện pháp liệt kê những đồ ăn quanh năm có sẵn trong tự nhiên. Mùa nào thức ăn nấy, mùa thu thường có măng tre và măng trúc quanh nhà, mùa đông khi vạn vật khó đâm chồi thì có giá thay. Câu thơ “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã. Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản, hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen, tranh giành.Đăt bài thơ vào hoàn cảnh lúc bấy giờ thì lối sống của NBK thể hiện được vẻ đẹp của tâm hồn thanh cao đó là lối sống tích cực thể hiện rõ thái độ của Bạch Vân cư sĩ. “……. Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.” Hai câu luận đã thể hiện dược cái nhìn của 1 nhà trí tuệ lớn, có tính triết lí sâu sắc, vận dụng ý tượng sáng tạo của điện tích Thuần Vu. Đối với NBK phú quí không phải là một giấc chiêm bao vì ông đã từng đỗ Trạng Nguyên, giữ nhiều chức vụ to lớn của triều đình nên cuộc sống phú quí vinh hoa ông đã từng đi qua nhưng ông đã không xem nó là mục đích sống của ông. Mà ông đã xem đó chỉ là một giấc chiêm bao không có thực và ông đã tìm đến với cuộc sống thanh thản để luôn giữ được cốt cách thanh cao của mình. Như vậy qua bài thơ ta đã hiểu được quan niệm sống nhàn và nhân cách của NBK coi thường danh lợi, luôn giũ dược tâm hồn thanh cao hòa hợp với thiên nhiên, đề cao lối sống của những nhà nho giáo giàu lòng yêu nước nhưng do hoàn cảnh nên phải sống ẩn dật. Bên cạnh đó NBK còn sử dụng ngôn ngữ gần gũi mộc mạc nhưng giàu chất triết lí. Sử dụng khéo léo thể thơ thất ngôn đường luật, điển tích điện cố và cách phép đối thường gặp ở thể thơ Nôm một cách linh hoạt. Bài “Nhàn” là một bông hoa viết bằng chữ Nôm tuyệt đẹp của VHTĐVN. Quan niệm sống đề cao vẻ đẹp tâm hồn, lối sống trong sạch của NBK vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay. Phân tích bài thơ Nhàn – bài 7 “Thơ khởi phát từ lòng người ta”, chứa đựng biết bao nhiêu rung cảm, trăn trở nơi người cầm bút. Một tác phẩm thơ chân chính, muốn vượt lên sức mạnh của thời gian, của lòng người, ẩn chứa trong đó những tình cảm thật, suy nghĩ thật và phải được viết lên từ mồ hôi và nước mắt của nhà thơ. Với “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi tới người đọc những quan niệm, triết lí sâu sắc về con người, thời đại mà cho đến tận ngày nay người ta vẫn phải suy ngẫm. Cũng giống như Nguyễn Trãi, sống giữa một thời đại loạn lạc, đầy biến động, nơi mà các giá trị truyền thống đạo đức bị đảo lộn, con người trở nên vị kỉ hơn, vụ lợi hơn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm về với cuộc sống nơi thôn dã, vui với việc “cày nhàn câu vắng”, tự mình thích thảng với lòng mình, tạm quên hết sự đời “dầu ai vui thú nào”. Gửi chí hướng về nơi thôn dã, cuộc sống của thi nhân nơi thôn quê hiện lên như một “lão nông chi điền” Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào Bài thơ mở đầu bằng phép liệt kê kết hợp với điệp từ “một” đã gợi mở ra một cuộc sống đơn sơ, chất phác với những công cụ lao động quen thuộc của người dân quê. Một cuộc sống thuần phác, giản dị với “mai”, “cuốc” và “cần câu” nhưng an nhàn và thanh tao. Đặc biệt, hai chữ “thơ thẩn” kết hợp với nhịp thơ 2/2/3 một cách tài tình, đã gợi ra chân dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa chốn thôn quê dân dã. Đó là dáng điệu ung dung, thu thái của một nhà thơ, cũng là nhịp điệu cuộc sống thường nhật của nhân vật trữ tình. Thanh thản, tự tại là tâm thế con người đã xác định được lẽ sống của mình, rời xa cõi trần tục, lòng không vướng bận xung quanh. Câu thơ cũng là lời bày tỏ thái độ cự tuyệt đời sống thị thành, chối bỏ mọi sự nhập cuộc, tự tách mình khỏi thế nhân trụy lạc để giữ khí thiết thanh tao. Trở về với cuộc sống thuần phác, chân chất, Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục cụ thể hóa bằng một đời sống tinh thần và lề lối sinh hoạt hòa hợp với thiên nhiên. Ông nương theo quy luật đất trời, thuận theo thời tiết bốn mùa Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Các nguyên liệu cho đời sống, không gian sinh hoạt đều rất bình dị, đơn sơ với “măng trúc”, “giá” là những món ăn dân dã sẵn có trong tự nhiên; “ao”, “hồ” là những bến nước thôn quê đơn sơ và bình dị. Đó là sự thể hiện một lối sống, một thái độ xử thế cầu nhàn không hề kham khổ mà trái lại nó toát lên vẻ thanh cao của nhân vật trữ tình. Con người giờ đây đã hòa hơp với thiên nhiên bốn mùa, với sự luân chuyển luân chuyển của thời gian và không thể tách khỏi thiên nhiên. Như vậy, với Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhàn trước hết là một cách sống. Cùng với “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi, ông đã khẳng định một lối sống thanh tao của các bậc hiền tài giữa cảnh đất nước suy tàn, loạn lạc: rời xa cõi trần phàm tục để tìm về với thiên nhiên, sống một cuộc sống giản dị, thuần phác để giữ tâm hồn được thư thái, thanh sạch. Thi nhân đau đớn, phê phán thế thái nhân tình, đạo lí suy vi và tìm đến sự hòa giải nội tâm bằng một lối sống gián cách với cõi đời. Đã hơn một lần, ông lên tiếng chối bỏ lối sống đô hội thị thành, sống một cuộc sống tự tại, không đua tranh Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, Người khôn, người đến chốn lao xao. Bằng nghệ thuật đối rất chỉnh, tác giả đã đối lập giữa cái “vắng vẻ” với “chốn lao xao”, giữa “ta” với “người”. Cái “lao xao” đó chính là nơi trần tục đầy những sự nhân vi, toan tính, bon chen mà Nguyễn Bỉnh Khiêm từng chiêm nghiệm, chán ghét và thể hiện trong nhiều bài thơ khác: “Thành thị vốn đua tranh giành giật”; “Vật vờ thành thị làm chi nữa”; “Đường lợi há theo thị tỉnh”… Đối lập lại, ông đề cao lối sống dân dã, thanh đạm, kiệm cần, đề cao “nơi vắng vẻ” và rất mực coi trọng tinh thần tự tại bằng một lối nói khiêm nhường “Ta dại…”. Đương nhiên, đó là một lối sống mới mẻ, có sự hấp dẫn bởi vẻ đẹp đạo lí, cách biệt với “thói đời”. Nếu nhìn cuộc sống ấy theo quan niệm đạo đức nhà nho một chiều, người ta không dễ dàng chấp nhận những mầm mống lối sống mới đó. Trên tất cả, ông đã hòa giải được những phức tạp nội tâm bằng tinh thần tự tại và thái độ gián cách với thế tục, đứng trên thế tục. Nhưng xét đến cùng, đó mới chính là cái khôn của bậc đại trí, quay lưng lại với danh lợi, sống một cuộc sông an nhàn để giữ cho tâm hồn thư thái. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chứng kiến và chiêm nghiệm lẽ đời, đã đi đến cùng của sự khôn dại để thấu hiểu và tìm ra triết lí “nhàn” – cũng là triết lí nhân sinh sâu sắc Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao Thi nhân đã nhắc đến giấc mộng dưới cây hòe của Thuần Vu Phần để thức tỉnh một chân lí: của cái, vật chất chỉ là ảo mộng, như một giấc chiêm chiêm bao, bất chợt đến rồi lại bất chợt đi. Phải trải qua tất cả cảnh đời, trường đời như thế rồi Nguyễn Bỉnh Khiêm mới đạt tới thế ứng xử văn hóa mang tinh thần triết lí về nhàn dật và tự tại. Một tinh thần nhàn dật và tự tại như thế nhiều khi biểu lộ cách nói hơn là hành động thực, một giải pháp tình thế hơn là chí hướng cả đời người, một sự độc tôn tâm trạng bất đắc dĩ hơn là khả năng tìm ra lối thoát tối ưu. Bởi xét đến cùng, giữa một xã hội đâu đâu cũng là hư danh, phú quý phù du, mấy ai được như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Trãi để nhìn thấy lẽ đời, sự đời, để gìn giữ khí tiết thanh tao. Nhân vật trữ tình đã tìm đến cái say để tỉnh, dùng mộng để nói thực và thốt lên những chiêm nghiệm sâu sắc. Cũng như chính thi nhân đã bày tỏ rõ ràng trong Bài tựa tập thơ Am Bạch Vân: “Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ lại là đề nói chí. Có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật. Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui…” Có thể nói, nhàn là một chủ đề rất phổ biến trong thơ ca trung đại, là một nét tư tưởng văn hóa rất sâu sắc của người xưa, đặc biệt là tầng lớp trí thức. Sống nhà dật với tự nhiên để tu dưỡng nhân cách, đem lại thú vui tao nhã cho con người. Biết sống sống nhàn, biết tìm thú nhàn là cả một học thuyết triết học lớn. Bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm in đậm dấu ấn tinh thần con người cá nhân trước một thời đại mất phương hướng, chao đảo, loạn lạc, nhiều đổi thay. Đặt trong tương quan với nhiều tác phẩm thơ văn khác, các sáng tác của ông hàm chứa tính phức hợp của cung bậc tâm trạng. Thi nhân đã đưa ra nhiều cách thức hình dung về cuộc đời, soi nhìn cuộc sống từ nhiều góc cạnh, tự đặt mình trong mỗi tình huống cụ thể mà bài thơ “Nhàn” chỉ là một chiêm nghiệm riêng. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp nhận thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm cần được xem xét trong tính tổng thể song cũng phải chú tới mối liên hệ giữa các đường hướng tâm trạng phù hợp với từng cảnh đời và chặng đường đời cụ thể. Như vậy, khép lại bài thơ, người đọc vẫn còn vương vấn cuộc sống an nhàn, thanh tao, giản dị mà Nguyễn Bỉnh Khiêm coi đó là cách sống, là triết lí sống sâu sắc: vinh hoa phú quý chỉ là phù du, như một giấc mộng, rời xa chốn hư danh phàm tục đó để giữ khí tiết thanh sạch mới là bậc đại trí. Điều đó đã làm nên sức sống trường tồn bất diệt của tác phẩm trước sức mạnh của dòng thời gian và đời người. Trên đây là bài tập làm văn phân tích bài thơ Nhàn, chúc các bạn làm tốt bài văn của mình!
Phân tích bài thơ Nhàn
10,632
Đề bài: Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ Bài làm Một trong những cây bút xuất sắc có mặt ngay từ lúc ban đầu là Thế Lữ. Rất nhiều tác phẩm của ông đã góp phần to lớn cho sự phát triển của Thơ Mới mà tiêu biểu nhất là tác phẩm Nhớ Rừng. Ở trong Nhớ Rừng, Thế Lữ đã thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do cháy bỏng tha thiết qua lời mượn của con hổ trong vườn bách thú. Đó cũng là tâm sự chung của những người Việt Nam yêu nước trong hoàn cảnh mất nước. Trong những ngày đầu mới ra đời, phong trào Thơ Mới đã có những sự phát triển trong cả phong cách và nội dung. Trên các chặng đường phát triển, Thơ Mới đã dần giải phóng khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ có tính “phi ngã” của thi ca cổ điển. Các nhà thơ đã khám phá thế giới bằng chính những giác quan, những cảm xúc rất thực của mình. Đó cũng là lúc xuất hiện cái tôi rõ nét trong thơ. Ở đó là sự vươn lên của những cảm xúc mãnh liệt của con người vượt thoát khỏi thực tế khách quan. Chính vì vậy Thơ Mới có khuynh hướng thoát ly thực tại, thể hiện tâm trạng bất hoà, bất lực trước thực trạng xã hội. Qua đó, Thơ Mới cũng đã bộc lộ sự phản kháng gay gắt trước thực tại tầm thường giả dối, tù túng giam hãm ước mơ con người. Cùng chung thái độ phản kháng ấy, Thế Lữ đã viết nên những dòng thơ đầy tâm trạng trong bài Nhớ Rừng. Mượn lời con hổ ở vườn bách thú để nói lên tâm trạng chính mình. Thế Lữ đã dựng lên một khung cảnh vừa rất thực vừa ẩn chứa những điều thầm kín sâu xa. Tất cả hình ảnh đuợc nhắc đến trong bài đều là không gian xoay quanh cuộc sống của con hổ. Thực tế là con hổ đang bị giam hãm trong một cũi sắt và nó cảm nhận cuộc sống của mình chứa đựng những u uất ngao ngán trong cảnh giam hãm tù túng, những cảnh “tầm thường giả dối” ở vườn bách thú. Chính vì thế, nó cảm thấy tiếc nhớ về quá khứ oanh liệt nơi núi rừng hùng vĩ. Đó là hai cảnh tượng hoàn toàn trái ngược nhau giữa thực tại và dĩ vãng. Hổ vốn là loài vật được xem là chúa tể của muôn loài, nhưng nay vì sa cơ mà phải chịu sống cảnh “nhục nhằn” trong cũi sắt. Không gian cuộc sống của vị chúa tể rừng xanh đã bị thu hẹp và từ nay bị biến thành một “trò lạ mắt”, một “thứ đồ chơi” trong con mắt mọi người. Đối với nó, cuộc sống bây giờ đã trở nên vô vị nhạt nhẽo bởi đang phải sống nơi không tương xứng với tư cách của một vị chúa sơn lâm. Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua Hổ đã cảm thấy bất lực bởi chẳng có cách nào thoát khỏi cuộc sống tù túng nên cũng đành ngao ngán nhìn thời gian trôi qua một cách vô ích. Nhưng cho dù phải ở trong hoàn cảnh nào thì kẻ thuộc “giống hùm thiêng” cũng luôn biết thân phận thực sự của mình là một vị chúa. Ông ba – mươi đã tỏ thái độ khinh mạn, coi thường trước những sự thiếu hiểu biết về sức mạnh thật sự của thiên nhiên của những con người “ngạo mạn ngẩn ngơ” chỉ biết “giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm”. Chán nản làm sao cảnh phải chịu sống ngang bầy cùng với “bọn gấu dở hơi”, với “cặp báo chuồng bên vô tư lự”! Làm sao chịu được cảnh sống cam chịu chấp nhận số phận của những “người bạn” đồng cảnh ngộ. Đó là nỗi buồn, nỗi uất hận dồn nén để làm nên những hờn căm chất chứa trong lòng. Mệt mỏi, ngao ngán, bất lực! Trong hoàn cảnh đáng thương ấy, hổ đã nghĩ về cuộc sống quá khứ huy hoàng của mình: Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi Với khi thét khúc trường ca dữ dội… Con hổ đã tiếc nhớ về thuở “hống hách” nơi “bóng cả cây già”. Đó là nỗi nhớ đau đáu về nơi rừng thẳm. Nhớ rừng là tiếc nhớ tự do, nhớ về “thời oanh liệt”, là nhớ về cái cao cả, chân thực, tự nhiên. Ở chốn nước non hùng vĩ ấy, con hổ đang ngự trị một sức mạnh giữa cuộc đời. Bản lĩnh của một vị chúa sơn lâm luôn thể hiện xứng đáng quyền lực tối cao của mình với sức mạnh phi thường dữ dội. Những gì nó cần phải làm là khiến mọi vật đều phải nể sợ thuần phục. Ở đó, con hổ đã hiện lên với tư thế hiên ngang ngạo nghễ nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp oai phong lẫm liệt giữa núi rừng hùng vĩ: Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng Lượn tấmthân như sóng cuộn nhịp nhàng Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc Trong bóng tối mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật phải im hơi Ta biết ta chúa tể của muôn loài Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi Vẻ đẹp thật sự của hổ là đây! Từng bước chân, từng tấm thân,từng ánh mắt đã khơi gợi lên một vẻ vừa dũng mãnh uy nghi vừa nhẹ nhàng uyển chuyển. Trong từng hành động, loài mãnh thú kia đã cho mọi vật thấy được sức mạnh tuyệt đỉnh khiến cho tất cả phải “im hơi”. Cuộc sống tự do giữa chốn rừng thẳm mãi mãi là một điều rất cao quý. Ở đó hổ thực sự được hưởng một cuộc sống tươi đẹp mà thiên nhiên đã dành cho. Đó là những thời khắc mãnh hổ đang “say mồi”, đang ngắm sự đổi thay của “giang sơn”, đang say giấc và đang muốn chiếm lấy riêng “phần bí mật”. Nó đã được thoải mái trong chính giang sơn của mình và khẳng định giá trị thật sự của cuộc sống với những khung cảnh lộng lẫy tươi đẹp nên thơ và cũng đầy sức quyến rũ. Nhưng bây giờ, tất cả cũng chỉ còn là những hoài niệm thuộc về quá khứ. Hổ chẳng bao giờ còn được chứng kiến những cảnh “đêm vàng bên bờ suối”, được nhìn thấy cảnh “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, được nghe thấy tiếng chim ca, được đắm mình trong cảnh “bình minh cây xanh nắng gội”, được đợi chờ “chết mảnh mặt trời” của những *********** chiều “lênh láng máu sau rừng”. Những cảnh ấy chỉ để lại trong con hổ những cảm giác tiếc nuối, ngậm ngùi trong sự xúc động mạnh mẽ, dồn dập của những câu hỏi đau đớn xót xa. Nỗi nhớ miên man tuôn trào với cảm xúc về quá khứ tươi đẹp đã khép lại giấc mơ huy hoàng rong một tiếng than thảm thiết: Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu Được sống lại với những ký ức tươi đẹp ở chốn núi rừng hùng vĩ, hổ chợt nhận ra sự tầm thừơng giả dối của những khung cảnh nơi nó đang sống. Trong cái nhìn ngạo nghễ của hổ là những cảnh “không đời nào thay đổi”, những cảnh đơn điệu nhàm chán do con ngưới sửa sang và cố đòi “bắt chước”. Chúa tể rừng xanh đã tỏ thái độ khinh miệt, chán chường trước những cảnh vật nhỏ bé thấp kém của những sự giả dối nhân tạo. Đó không phải là nơi xứng đáng để sống của một đấng thống lĩnh. Dẫu có cố gắng sửa sang thì đó cũng chỉ là những “dải nước đen giả suối chẳng thông dòng” len dưới những “mô gò thấp kém”, là những “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” không có gì là “bí hiểm” “hoang vu”. Những cảnh sống ngụy tạo ấy khiến cho hổ càng tiếc nhớ chốn “ngàn năm cao cả âm u”. Chán ghét cuộc sống thực tại, ôm niềm uất hận không nguôi, hổ khát khao một cuộc sống tự do mãnh liệt. Tất cả tâm tư tình cảm của hổ đều thuộc về nơi rừng thẳm ngàn năm âm u. Cũng qua đó, chúa sơn lâm đã gởi một lời nhắn tha thiết của mình về núi rừng. Dẫu là đang bị sa cơ nhưng hổ đã không giấu được niềm tự hào khi nói đến chốn “nước non hùng vĩ”. Giang sơn ấy là nơi hổ đã có những ngày tháng tươi đẹp, thoả chí vùng vẫy trong không gian riêng biệt thênh thang. Cho dù bây giờ sẽ chẳng bao giờ được sống lại ở những nơi xưa ấy nhưng hổ vẫn không bao giờ thôi nghĩ về “giấc mộng ngàn to lớn”. Vị chúa mất ngôi đã khẩn cầu để được mãi sống trong những ký ức, những hoài niệm của những vẻ đẹp một đi không trở lại: Để hồn ta phảng phất được gần ngươi Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi Nỗi lòng của hổ là tâm sự của chàng thanh niên Thế Lữ.: mơ về cuộc sống tươi đẹp đã qua trong quá khứ. Đó cũng là tinh thần chung của hầu hết các bài thơ của Thế Lữ cũng như trong phong trào Thơ Mới, mang theo khát khao của con người muốn được sống chính là mình. Nhớ Rừng không thể thoát ra khỏi nỗi buồn, “tâm bệnh của thời đại” bấy giờ. Nhưng bài thơ đặc sắc chính bởi vì tạo nên điểm gặp gỡ giữa sự u uất của người dân mất nước và tâm trạng bất hoà bất lực trước thực tại của thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản. Qua đó khơi lên niềm khát khao tự do chính đáng. Giàu cảm hứng lãng mạn và cảm xúc mãnh liệt, Nhớ Rừng đã lan toả một hồn thơ hối thúc và nhiều hình ảnh thơ đầy ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng. Thành công của Thế Lữ là đã thể hiện một trí tuởng tượng phong phú khi mượn hình ảnh con hổ trong vườn bách thú để nói hộ cho những tâm sự kín đáo sâu sắc của mình. Qua đó diễn tả nỗi chán ghét cảnh sống tù túng, đồng thời khơi lên tình cảm yêu nước của người dân thuở ấy.
Phân tích bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ
1,799
Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Lớp 8 Của Tác Giả Thứ Lễ Bài làm Một trong những tên tuổi mở đầu và làm sáng lên phong trào Thơ mới cùng với Phan Khôi, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, không thể không nhắc đến cái tên Thế Lữ. Nhà thơ Thế Lữ tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, được biết đến với một văn phong độc đáo cùng lối chơi thơ khác lạ, các tác phẩm của ông đều khá đặc sắc và rất riêng, tiêu biểu có thể nói đến tác phẩm Nhớ rừng. Bài thơ mượn lời của một con hổ trong vườn thú để nhớ về thời kỳ chúa tể sơn lâm trong khu rừng của mình. “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt. Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm” Mở đầu bài thơ, con hổ đã nói lên nỗi buồn và lòng căm hờn của mình khi bị nhốt trong cũi sắt. Chiếc cũi sắt đã bó buộc, xiềng xích một vị sơn hùng quen chạy nhảy trong những cánh rừng rộng lớn. Cảnh tù ấy đã khiến cho ngày tháng trôi qua bỗng chốc hóa thành chậm chạp như nhích từng phút giây. Mượn lời của chú hổ, nhà thơ dường như đang nói về bản thân mình cùng nhân dân trước những xiềng xích của bè lũ thực dân. Chúng đã biến cuộc sống tự do bản năng của con người vào sự kìm kẹp, tù túng của một chế độ thuộc địa. “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ. Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa” “Nhớ cảnh sơn lâm bóng cà cây già Với khi thét khúc trường ca dữ dội Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng, Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi… Ta biết ta chúa tế cả muôn loài, Giữa chốn hào hoa không tên, không tuổi”. Con hổ tự nhận mình trong cảnh tù đày này chỉ là một tao đoạn sa cơ. Đó không phải là sự chấm hết, sự kết thúc mà chỉ là một thời kỳ khó khăn biến động của cuộc đời. Trong thời kỳ ấy, nó xót thương ai oán cho thực tại và nhớ về những ngày tự do mà nó vốn phải có. Đây là sự hồi tưởng về một thời oanh liệt của vị chúa sơn lâm khi còn ở đất trời của mình. Khi ấy chỉ một ánh mắt quắc lên trong đêm tối cũng khiến cho mọi vật đều im hơi lặng tiếng. “Nào đâu những đêm vùng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan. Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt Để ta chiếm lấy riêng phấn bí mật Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?” Đây có thể nói là những câu thơ hay nhất trong tác phẩm. Từng câu thơ đều gợi nhớ lại từng ngày tháng giây phút trong tự do hạnh phúc, được hòa mình vào với thiên nhiên đất trời của chú hổ. Bầu trời trong ký ức của chú hổ là một bầu trời tự do với những sự phong phú của sản vật, sự tươi tắn sinh sôi nảy nở của thiên nhiên. Những câu thơ liệt kê nhiều hình ảnh biểu tượng (ánh trăng, bờ suối, cây xanh) cùng với những trạng thái, hành động của chú hổ (say mồi, lặng ngắm, giấc ngủ tưng bừng) đã khiến cho cuộc sống của chú hổ khi xưa trở nên sinh động và không bao giờ là nhạt nhẽo, vô vị. Bên cạnh đó, đoạn thơ cũng sử dụng nhiều động từ mạnh cùng với các từ láy để giúp cho nhịp điệu của bài thơ vừa thêm phần uyển chuyển, vừa có nhạc họa bên trong càng minh chứng cho người đọc thấy rằng cuộc sống khi xưa là một cuộc sống vô cùng thú vị, ý nghĩa và dạt dào cảm xúc. Điều ấy càng trái ngược và làm nổi bật cái thực tại tù túng hiện nay. Trong chiếc cũi sắt mà con hổ chỉ có một hành động, một việc làm duy nhất là nằm dài trông ngày tháng dần qua, con hổ càng thấy tiếc nuối và lưu luyến những tháng ngày khi trước hơn bao giờ hết. Niềm tiếc thương ấy đã khiến nó bật lên “than ôi”, một tiếng than từ tận đáy lòng đầy chua xót và tủi hờn của một con vật từng dũng mãnh và uy nghiêm. Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa Nơi ta không còn được thấy bao giờ Có biết chăng trong những ngày ngao ngán Ta đang theo giấc mộng ngàn thu Để hồn ta phảng phất được gần ngươi Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!” Đoạn thơ kết bài là lời chốt hạ cho những nỗi niềm của chú hổ. Đó là lời tưởng niệm, là tiếng nói kêu than tới cuộc sống tự do và vẻ vang so với thực tại và niềm uất hận ngàn trùng. Bởi vì sự nhớ nhung và khát khao mãnh liệt với bối cảnh tự do, con hổ chỉ còn cách lạc vào trong những giấc mộng dài miên man để được trở về với những cánh rừng. Đây cũng chính là tâm trạng và khát vọng của nhà thơ trước thời thế vận mệnh của đất nước. Đất nước đang bước vào những tháng ngày đen tối, nhân dân đang ôm một nỗi căm hờn uất hận với quân cướp nước. Những người thi nhân như Thế Lữ, tầng lớp trí thức có những cái nhìn nhận đánh giá sắc sảo về thời cuộc càng sốt sắng, khó chịu với những tình cảnh như thế. Bài thơ Nhớ rừng không chỉ là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ Thế Lữ mà còn là một trong những bài thơ để lại dấu ấn sâu đậm của phong trào thơ mới. Không tuân theo những quy tắc về liêm luật vần vận, không những gò bó về ngôn từ thể thức nhưng vẫn đầy tính nghệ thuật và chan chứa ý nghĩa, giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm là một trong những tiếng kêu của con người trước thời cuộc, vận mệnh để ghi dấu lại một thời kỳ của xã hội xưa.
Phân Tích Bài Thơ Nhớ Rừng Lớp 8 Của Tác Giả Thứ Lễ
1,110
Phân tích bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu Hướng dẫn Phân tích bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu Tố Hữu (1920 – 2002) xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Cuộc đời Tố Hữu gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ông đã đóng góp cho nền văn học việt Nam đặc biệt vào thời kì cách mạng, thơ của ông mang tư cách của một chiến sĩ cách mạng kiên cường và một nhà thơ mang hồn thơ của thời đại. Những tác phẩm của Tố Hữu quy tụ và kết tinh truyền thống nhân văn cùng sức mạnh tinh thần dân tộc. Ông xứng đáng là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Nhớ đồng là một trong số những bài thơ tiêu biểu phản ánh tâm trạng cô đơn, buồn nhớ của người tù trẻ tuổi bị tách biệt khỏi môi trường hoạt động sôi nổi, phải xa đổng bào, đồng chí Những tâm tư ấy được thể hiện trong bài thơ Nhớ đồng một cách thâm trầm, da diết. Qua bài thơ Nhớ đồng đã góp phần cụ thể hóa thành nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân, nhớ những ngày được sống trong tình cảm yêu thương, nồng ấm. Cả bài thơ có thể chia làm bốn đoạn,ba đoạn đầu là ba nỗi nhớ sâu sắc kết thúc bằng câu hỏi tu từ lặp đi lặp lại: Gì sâu bằng… Đoạn cuối gồm bốn khổ và hai câu đúc kết tâm sự của nhà thơ trong hiện tại. Bằng những biện pháp nghệ thuật độc đáo khác nhau, nỗi nhớ đó trải dài xuyên suốt cả bài thơ, bắt đầu với biện pháp sử dụng những câu hỏi tu từ ở cuối mỗi khổ thơ: Gì sâu bằng những trưa thương nhớ, Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh. Những câu thơ mang sắc thái nghệ thuật hiện đại của Thơ mới góp phần thể hiện nỗi nhớ da diết, khắc khoải và tâm trạng cô đơn tột cùng của người thanh niên giữa chốn ngục tù,mong ngóng được trở về từng ngày. Gì sâu bằng là cấu trúc có ý khẳng định rằng có một thứ gì, không có một cái gì, không gì sâu xa hơn, mạnh mẽ hơn; những trưa thương nhớ là những ngày nhà thơ phải sống trong xà lim biệt giam. Tố Hữu đã sử dụng những câu hỏi tu từ kết hợp với tính từ mang tính chất mãnh liệt khiến câu thơ như một câu hỏi nhức nhối tâm can. Câu hò quen thuộc của xứ Huế là cái cớ gọi về nỗi nhớ,nó giống như âm thanh của tiếng guốc đi về ờ bài Tâm tư trong tù. Những âm thanh đó đã ăn sâu vào kí ức của chính tác giả, cũng giống như âm thanh của tiếng hò Huế, âm thanh của tiếng gà trưa của thơ Xuân Quỳnh cũng có lúc kéo nhân vật trữ tình về với những nỗi niềm thương nhớ như vậy. Tiếng hò ngân dài trên sông nước, văng vẳng lúc gần lúc xa đã làm sống dậy biết bao hình ảnh của cuộc sống giản dị mến thương trong tâm tưởng nhà thơ. Hiu quạnh bên trong một tiếng hò! Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi Đâu ruộng tre mát thở yên vui Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi? Đâu những đường con bước vạn đời Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi Giữa dòng ngày tháng âm u đó Không đổi, nhưng mà trôi cứ trôi… Năm từ “ đâu” xuất hiện trong mười câu thơ, giống như một sự tiếc nuối của tác giả những năm tháng xưa cũ,hiện tại đâu còn, chỉ là nhắc nhớ lại vậy thôi. ở đây bức tranh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt của quê ngoại nhà thơ, một làng nhỏ với những cồn bãi mướt xanh cây trái, có chiếc cầu lặng lẽ soi bóng xuống dòng Hương Giang hững hờ. Khung cảnh thật đẹp và tình người ấm áp biết bao. Nhưng quê hương giờ đây chỉ còn sống trong tâm tưởng của tác giả, khi xung quanh là 4 bức tường của lao tù. Những câu hỏi trăn trở lặp đi lặp lại nhiều lần phản ánh nỗi nhớ thương, khắc khoải và hoài vọng đau đáu khôn nguôi: Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh, Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi! Câu cảm thán được sử dụng, như một tiếng lòng của tác giả, không thể để mãi trong lòng nên đành thốt lên: “ ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!”. nhớ đến những trưa thương nhớ, đồng quê nhớ những thứ thân thuộc, tình thương mến dạt dào. Cuộc sống cơ cực của những người nông dân cơ cực,nhưng họ không thể làm mất đi vẻ đẹp khỏe khoắn, đáng yêu trong hình dáng và tâm hồn họ. Những dáng hình thân thương, bình dị với vẻ lam lũ cực nhọc lần lượt tái hiện về trong nỗi nhớ của nhà thơ: Đâu những lưng cong xuống luống cày Mà bùn hi vọng nức hương ngây Và đâu hết những bàn tay ấy Vãi giống tung trời những sớm mai? Đâu những chiều sương phủ bãi đồng Lúa mềm xao xác ở ven sông Vẳng lên trong tiếng xe lúa nước Một giọng hò đưa hố não nùng. Bóng dáng quen thuộc hiện ra, mẹ già thương nhớ, những hôm mưa nắng dãi dầm, những mảnh tình người thân thiết ấm nồng, những hồn thơ thắm thiết, như thắt chặt sự nỗi nhớ da diết với các hình ảnh quen thuộc. Nhưng tất cả chỉ còn trong tưởng tượng: Đâu dáng hình quen, đâu cả rồi Sao mà cách biệt, quá xa xôi Chao ôi thương nhớ, chao thương nhớ Ôi mẹ già xa đơn chiếc ơi Đâu những hồn thân tự thuở xưa Những hồn quen dãi gió dầm mưa Những hồn chất phác hiền như đất Khoai sắn tình quê rất thiệt thà! Dường như người chiến sĩ đang chìm đắm trong nỗi nhớ nhung, trong dòng hồi ức miên man không dứt. Khiến người đọc cảm nhận rất rõ tâm trạng cô đơn, đau khổ của người tù lúc này, bất lực với tâm trạng của mình,chẳng thể thoát ra ngoài. Điều quan trọng sau tất cả nỗi nhớ đó là khi tác giả ngộ ra lí tưởng cách mạng: Đâu những ngày xưa, tôi nhớ tôi Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời. Đó là những ngày tháng mà người thanh niên yêu nước băn khoăn trước bao ngã rẽ của cuộc đời, muốn thoát khỏi cuộc sống tù túng, ngột ngạt mà chưa tìm được lối ra bởi chưa được ánh sáng lí tưởng cộng sản soi đường. Tưởng nhớ lại những ngày tăm tối ấy là để cảm nhận rõ hơn niềm hạnh phúc lớn lao khi được “Mặt trời chân lí chói qua tim”. Tố hữu nhớ lại những ngày đầu hăng say bước đi trên con đường cách mạng với biết bao kì vọng, lạc quan, để nhận thức rõ hơn cảnh ngộ đáng buồn của mình hiện tại. Nhà thơ bừng tỉnh sau những ngày dài đắm chìm trong nỗi nhớ thương dằng dặc, trở về với niềm say mê lí tưởng, với khao khát tự do và hành động. Nhẹ nhàng như con chim cà lơi Say đồng hương nắng vui ca hát Trên chín tầng cao bát ngát trời… Âm điệu thơ đang buồn bã đột nhiên chuyển sang vui vẻ, phấn chấn. Cảm xúc chuyển từ nỗi nhớ quê hương nhớ hình ảnh quen thuộc và rồi cô đúc lại thành: Cho tới chừ đây, tới chừ đây Tôi mơ qua cửa khám bao ngày Tôi thu tất cả trong thầm lặng Như cánh chim buồn nhớ gió mây. Nỗi nhớ mênh mang được ví với hình ảnh so sánh: Như cánh chim buồn nhớ gió mây đã thể hiện thần tình nỗi nhớ đồng, thực chất là nỗi nhớ quê hương, đồng bào, đồng chí, đồng thời là khao khát tự do mãnh liệt của người chiến sĩ cách mạng đang chịu cảnh tù đày. Cánh chim đó, cánh chim của tự do,của tình yêu quê hương,cánh chim bay vút lên để đón nhận lí tưởng cao đẹp Hai câu kết là sự lặp lại của hai câu đầu, tác giả đã sử dụng kết cấu vòng, và bài thơ khép lại nhưng cảm xúc thơ vẫn tiếp tục mở rộng và lan tỏa Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi! Nhớ đồng là bài thơ góp phần diễn tả thành công tâm trạng của người tù cộng sản, đó là những cảm xúc hết sức chân thưc, những nỗi nhớ thương cứ lặp đi lặp lại thể hiện khao khát tự do cháy bỏng cùng với đó là tình yêu quê hương sâu sắc của người thanh niên yêu nước đang sục sôi nhiệt huyết. Từ chính những cảm xúc đó càng thôi thúc tác giả quyết tâm nung nấu ý chí để vượt lên khó khăn thách thức. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu
1,523
Đề bài: Phân tích bài thơ Những điều trông thấy của Nguyễn Du để nói lên cảm nhận của em vẻ tấm lòng nhà thơ trước hai cảnh đời ngang trái Bài làm Ngoài Truyện Kiều, Văn chiêu hồn bằng chữ Nôm, thi hào Nguyễn Du còn để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Tập Bắc hành tạp lục gồm những bài thơ được sáng tác trong thời gian Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc (năm 1813). Bài Những điều trông thấy (Sở kiến hành) rút trong tập thơ Bắc hành tạp lục. Với cảm hứng nhân đạo, Nguyễn Du đã phản ánh hai cảnh đời trái ngược trong xã hội phong kiến thối nát bất công. Cảnh đời nào cũng gây cho người đọc nhiều ám ảnh. Bài thơ được viết theo thể "hành", ngũ ngôn trường thiên. Nhà thơ ghi lại nhiều chi tiết hiện thực cụ thể và nói lên cảm xúc ý nghĩ của mình trước những điều trông thấy nơi đất khách quê người xa lạ. Cảnh đời thứ nhất là cảnh đời bốn mẹ con người ăn mày: "Một mẹ cùng ba con – Lê la bên đường nọ". Hành trang là một chiếc giỏ đựng "mớ rau lẫn tấm cám". Người mẹ bế con thơ; đoàn hành khất nhếch nhác, tiều tụy. Bụng đói, áo quần rách rưới đáng thương: Nửa ngày bụng vẫn không Áo quần thật lam lũ. Vì "đói kém phải xiêu bạt", người mẹ càng thương đàn con thơ. Vừa tủi thân vừa đau khổ. Bao nhiêu nước mắt đã chảy: "Gặp người chẳng dám nhìn – Lệ sa vạt áo ướt". Nhà thơ thương xót trước một cảnh đời nhiều cay đắng, bất hạnh, tự hỏi, người mẹ kia "nuôi bốn miệng sao nổi!". Sự trống vắng hình ảnh người chồng, người cha trong đoàn ăn mày gây cho chúng ta nhiều thương cảm. Người chồng, người cha đã chết đói, đi lính thú biên ải xa xôi? Hay đã giãi thây trên chiến địa? Một vệt đen đầy ám ảnh phủ lên bức tranh bốn mẹ con người ăn mày. Nguyễn Du không chỉ tả, chỉ ghi lại những điều trông thấy, mà còn nói lên cảm nghĩ đầy trắc ẩn của lòng mình. Ông lo lắng, đau xót cho tính mệnh người mẹ và lũ con thơ đau khổ, đói rét. Trước mắt đáng thương là vực thẳm. Không chết đói thì cũng sẽ làm mồi cho thú dữ: Chết lăn rãnh đến noi Thịt da béo cầy sói. Trước đau thương của người đời, đất trời cũng tê tái. Gió lạnh càng thêm lạnh. Mặt trời vàng úa lại. Người đi sứ, khách qua đường, rầu rĩ xót thương, cả một không gian đầy lệ. Nỗi đau đớn của người mẹ "như xé lòng". Nguyễn Du mượn ngoại cảnh (gió, mặt trời) để tô đậm nỗi đau của nhân gian. Đó là nét vẽ thần tình nhất, tạo nên giá trị tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo của bức tranh bốn mẹ con người ăn mày: … Nỗi đau như xé lòng Trông mặt trời vàng úa. Gió lạnh bỗng đâu về Khách qua đường thương xót. Nguyễn Du với cảm hứng nhân đạo, ông luôn luôn hướng về những con người đau khổ trong cuộc đời, nhất là những phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh như Đạm Tiên. Thúy Kiểu, người kĩ nữ gảy đàn ở Long Thành, v.v… Đây là lần thứ hai ông viết về người ăn mày đau khổ. Trong "Văn chiêu hồn" ông từng viết: Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi. Thương thay cũng một kiếp người Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan. Phần tiếp theo, Nguyễn Du nói về cảnh đời của bọn quan lại qua bữa tiệc trạm Tây Hà – bữa tiệc đón tiếp sứ thần nước Nam. Nguyễn Du là chánh sứ. Vì thế những điều ông tả trong bữa tiệc là "những điều trông thấy" rất chân thực. Có bao thứ cao lương mĩ vị: "Nào vây cá, gân hươu – Lợn dê mâm đầy ngút". Một nét vẽ tương phản có giá trị tố cáo sâu sắc những bất công trong xã hội. Trong lúc bốn me con người ăn mày "nửa ngày bụng vẫn không", cầm hơi bằng rau, cám thì bọn quan trên sống xa hoa, thừa mứa: Quan lớn không chọc đũa Tùy tùng chỉ nếm chút Thức ăn thừa đổ đi Chó no ngấy món ngon. Nghịch lí cuộc đời càng trở nên vô cùng xót xa. Câu thơ cảm thán diễn tả nỗi đau đời – nỗi đau như vò xé tâm hồn nhà thơ. Đó là "những điều trông thấy mà đau đớn lòng": Biết đâu bên đường quan Có mẹ con cực khổ! Trước hai cảnh đời trái ngược như vậy, hai câu thơ cuối như một câu hỏi vô tình nhưng hàm ẩn một ý nghĩa phê phán sâu sắc: Ai vẽ bức tranh này Dâng lên nhà vua rõ! Nguyễn Du đã vận dụng sáng tạo một điển tích Trung Hoa. Theo Tống sử, dưới chính quyển nhà Tống, khi Vương An Thạch làm tể tướng, hạn hán mất mùa, dân tình đói rét. Họ phải dỡ nhà bán. Ăn mày kéo đi đầy đường. Trịnh Hiệp làm chức giám môn (gác cổng thành) bèn vẽ một bức tranh ghi lại cảnh ấy, tìm cách dâng lên vua nhà Tống… Cái hay của điển tích là làm cho văn chương hàm súc, kín đáo, gây hứng thú thẩm mĩ và trí tuệ. Thật ra, Nguyễn Du đã "vẽ bức tranh này" với hai cảnh đời bằng tấm lòng nhân đạo cao cả. Bài thơ tuy nói vể "những điều trông thấv trên đất nước Trung Hoa, nhưng lại mang tính ám chỉ rất rõ. Xã hội phong kiến Trung Quốc cũng như xã hội Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn đầy rẫy thối nát. bất công. Bọn vua chúa, quan lại sống xa hoa, hưởng lạc trên nước mắt, mồ hôi nhân dân. Hàng triệu dân đen bị xô đẩy vào cảnh bần hàn đau khổ. "Ai vẽ bức tranh này – Dâng lên nhà vua rõ" – Nguyễn Du đã mượn điển cố để hỏi thế thôi, nhưng ông đã vẽ bức tranh ấy với hai cảnh đời ngang trái "kẻ ăn không hết người lần không ra" – một bức tranh bằng ngôn ngữ thi ca. Bức tranh hiện thực sống động có ý nghĩa phê phán bọn vua quan vô trách nhiệm trưóc nỗi thống khổ của nhân dân. Nhà thơ đã nói lên một sự thật đau lòng về quyền sống và hạnh phúc của những con người nhỏ bé dưới đáy xã hội. Ngòi bút tả thực trong miêu tả, tự sự kết hợp với biểu lộ cảm xúc trực tiếp, sâu sắc trong vận dụng điển tích văn học đã tạo nên giá trị nhân bản của áng thơ này. Có thể nói, Nguyễn Du là nhà thơ cổ điển Việt Nam viết về nỗi đau khổ của nhân dân một cách sâu sắc nhất, cảm động nhất.
Phân tích bài thơ Những điều trông thấy của Nguyễn Du
1,183
Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương – Ngữ Văn 9 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Nói với con Đề bài: Trình bày hiểu biết của mình về bài thơ Nói với con của Y Phương. 1. Yêu cầu – Trình bày hiểu biết thực chất là viết bài văn nghị luận về một bài thơ. – Vấn đề cần nghị luận (phân tích, cảm nhận) là bài thơ Nói với con của Y Phương. – Phân tích cảm nhận về cái hay, cái đẹp của nội dung và hình thức các khổ thơ – Những điều cảm nhận, phân tích phải đặt trong tương quan giữa các khổ với nhau và với toàn bài, đồng thời làm nổi rõ tư tưởng chủ đề của bài thơ. 2. Gợi ý – Đọc kĩ cả bài thơ. – Tham khảo các bài viết của các nhà nghiên cứu phê bình về bài thơ. – Những cảm nhận về đời sống tình cảm (gia đình, quê hương) của người con như thế nào? Sự tinh tế và độc đáo trong cách cảm nhận và thể hiện là gì? – Những gì là điều tốt đẹp của người đồng mình cần phải gìn giữ? – Thái độ sống mà người cha muốn nhắn nhủ con là gì? – Biện pháp nghệ thuật chủ yếu của bài thơ: cách diễn tả bằng hình ảnh cụ thể của người miền núi. – Kết hợp nghị luận với biểu cảm. 3. Lập dàn ý a. Mở bài: Y Phương và bài thơ Nói với con. b. Thân bài – Người con lớn lên trong tình yêu thương của gia đình và nâng niu của quê hương Con sinh ra và lớn lên trong gia đình đầy ắp tiếng cười và niềm vui trong tình cảm của mẹ, cha. Con được rừng núi cho hoa, quê hương cho những tấm lòng. – Những vẻ đẹp và truyền thống của người đồng mình Nỗi buồn và chí lớn cao xa. Thuỷ chung, tình nghĩa. Hồn nhiên, mạnh mẽ. Mộc mạc, chất phác. Tự hào về quê hương. – Lời dặn của người cha: sánh vai với bạn bè, không làm người nhỏ bé, không báo giờ nhỏ bé. c. Kết bài: Nhấn mạnh niềm tự hào về quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống làm một người “không bao giờ nhỏ bé”. 4. Bài làm minh hoạ Có thể hình dung bố cục bài thơ gồm hai phần. Tình cảm gia đình, quê hương, đầm ấm, yên vui được tác giả thể hiện trong 11 câu thơ đầu. Tình quê hương tha thiết, sâu nặng, truyền thống nghĩa tình, sức sống mạnh mẽ của người miền núi được tác giả thể hiện trong 17 câu thơ tiếp sau. Bài thơ mở ra với khung cảnh gia đình ấm cúng, đầy ắp tiếng nói và tiếng cười: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Một mái nhà có cha và mẹ, con lớn trong tình thương yêu. Hơn thế nữa, con sinh ra, lớn lên trong tình yêu, trong vẻ đẹp của người đồng mình: Người đồng mình yêu lắm con ơi Ngày đẩu tiên đẹp nhất trên đời. Suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc được diễn tả trực tiếp bằng hình ảnh. Tác giả đã vận dụng chính lối diễn đạt của người dân tộc miền núi để xây dựng hình ảnh thơ. Bằng cách diễn đạt như vậy, tác giả đã sáng tạo những hình ảnh vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát cao mà vẫn giàu chất thơ bay bổng về vẻ đẹp trong cuộc sống của người dân miền núi: Đan lờ cài nan hoa – Vách nhà ken câu hát – Rừng cho hoa ; và về truyền thống nghĩa tình, gắn bó, chia sẻ: Con đường cho những tấm lòng. Người cha muốn con mình thấy được vẻ nên thơ của người đồng mình để mà yêu. Cách diễn đạt độc đáo ấy còn được thể hiện ở những hình ảnh đặc sắc trong những câu thơ tiếp theo: Người đồng mình thương lắm con ơi Sống trong thung không chê thung nghèo đói. Từ những câu thơ bộc lộ một cách cụ thể tình cảm gia đình, nghĩa tình quê hương ở phần thứ nhất, sang phần thứ hai của bài thơ, tác giả mượn lời của người con để nói về sức mạnh truyền thống, lòng thuỷ chung với quê hương. Lấy cái “cao”, “xa” của đất trời làm chiều kích của nỗi buồn và chí hướng. Đó là tầm vóc của núi cao, rừng thẳm, của những Đăm Săn, Xinh Nhã. Người cha nói cho con cũng là nhắn nhủ, khuyên răn con mình biết trân trọng nơi mình đã sinh thành (Sống trên đá không chê đá gập ghềnh – Sống trong thung không chê thung nghèo đói), sống hồn nhiên, cần cù, lạc quan để vượt qua gian khó (Sống như sông như suối – Lên thác xuống ghềnh – Không lo cực nhọc). Con hãy nhớ lấy những điều ấy để mà thương. Và cũng là để sống cho xứng đáng. Bởi vì, người đồng mình tuy mộc mạc, thô sơ nhiửig không nhỏ bé. Ớ đầy, ta lại bắt gặp lối nói độc đáo của người dân miền núi trong câu Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương. Có thể thấy ở câu thơ này có hai lớp ý nghĩa: nghĩa thực và nghĩa ẩn dụ. Đục đá kê cao là hoạt động có thực, thường thấy ở vùng miền núi. Quê hương vốn là một khái niệm trừu tượng, chỉ nơi chốn sinh thành của một con người nào đó, gia đình nào đó. Nói tự đục đá kê cao quê hương là muốn khái quát về tinh thần tự tôn, ý thức bảo tồn nguồn cội. Thể thơ tự do, với số câu chữ không theo khuôn định, phù hợp với mạch cảm xúc tự nhiên, linh hoạt của bài thơ. Nhịp điệu lúc bay bổng, lúc nhẹ nhàng, lúc khúc chiết, rành rọt, lúc mạnh mẽ, sắc nhọn,… tạo ra sự cộng hưởng hài hoà với những cung bậc tình cảm khác nhau trong những lời cha truyền thấm sang cho con. Ngôn ngữ thơ giản dị, hình ảnh thơ mộc mạc, cô đọng mà vẫn phong phú, sinh động. Quả đúng là một thứ “ngôn ngữ thổ cẩm” quyến rũ. Phương thấu hiểu và bởi vậy lột tả được cái hồn cốt trong bản sắc truyền thống của người dân miền núi. Từ bài thơ này, người cha nói với con hay chính là lời trao gửi thế hệ? (Nguyễn Văn Hồng, lớp 9A, Trường THCS Nông Tiến, Tuyên Quang) Nhận xét Nói với con nhưng không phải chỉ là câu chuyện tình cảm riêng tư. Nói với con là nói về nét đẹp tình cảm và truyền thống văn hoá của quê hương, của dân tộc mình và yêu cầu bảo tồn, gìn giữ, phát huy bằng cách sống xứng đáng. Nội dung tình cảm của bài thơ đã được thể hiện bằng một “ngôn ngữ thổ cẩm”, một ngôn ngữ giàu hình ảnh, màu sắc và người viết đã khai thác khá thành công khi bàn về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương – Ngữ Văn 9
1,190
Đề bài: Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương Bài làm Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Trùng Khánh – Cao Bằng,thấm nhuần những tinh hoa, cái đẹp của dân tộc Tày, Y Phương (1948) là một nhà thơ tiêu biểu cho các dân tộc miền núi.”Thơ Y Phương như một bức tranh thổ cẩm đan dệt nhiều màu sắc khác nhau,phong phú và đa dạng,nhưng trong đó có một màu sắc chủ đạo,âm điệu chính là bản sắc dân tộc rất đậm nét và độc đáo.Nét độc đáo đó nằm ở cả nội dung và hình thức.Với Y Phương,thơ của dân tộc Tày nói riêng và thơ Việt Nam nói chung có thêm một giọng điệu mới,một phong cách mới “( Từ điển tác giả,tác phẩm văn học Việt Nam ). Đi từ đề tài quen thuộc:tình cảm cha con,phụ tử thiêng liêng,nhưng với Y Phương,trong làng thơ Việt Nam đã có thêm một lối đi,1 giai điệu mới. Khác với “Chiếc lược ngà “,tình cha con được đặt trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh,tình cha con trong bài thơ được thể hiện qua lời tâm tình của người cha.Người cha đã bộc lộ lòng yêu thương con qua ước mong con sống xứng đáng,phát huy truyền thống của,gia đình, quê hương. Mượn lời người cha nói với con về tình yêu thương của cha mẹ,sự đùm bọc của quê hương với con,nhà thơ đã gợi về nguồn sinh dưỡng trong mỗi người chúng ta.Mở đầu bài thơ là khung cảnh gia đình ấm cúng,đầy ắp tiếng nói cười.Mười một câu thơ như tràn đầy những đầm ấm,yên vui của tình cảm gia đình,tình cảm quê hương: “Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ caì nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.” Một mái nhà có mẹ có cha và con hạnh phúc vì được sống hạnh phúc trong tình yêu thương.Cha mẹ đã dìu dắt,nâng đỡ con từ những bướcđi đầu tiên,đã tìm thấy niềm vui từ con.Hơn thế nữa,con còn được sinh ra,lớn lên trong tình yêu thương,vẻ đẹp của “đồng mình “. “Người đồng mình” yêu lắm con ơi!” Lao động tuy vất vả nhưng cuộc sống của “người đồng mình”tươi vui, mà rất ngọt ngào. Dáng vẻ tuy thô sơ, công việc tuy nặng nhọc (đan lờ, ken vách ) nhưng tâm hồn “người đồng mình “lãng mạn biết bao nhiêu:Họ làm một cách nghệ thuật những công việc của mình (cài nan hoa,câu hát ).Con thật hạnh phúc vì con được sống giữa những con người như vậy — những con người khéo tay,yêu thiên nhiên,yêu lao động, lạc quan và nhân hậu. Thiên nhiên đồng mình cũng rất đẹp: Rừng núi quê hương thơ mộng đã dành cho con những gì tinh tuý nhất (hoa ),đã nuôi dưỡng con về cả tâm hồn,lối sống,”tấm lòng “. Và từng ngày,con đã lớn lên …có cha mẹ nâng đón và mong chờ,có thiên nhiên thơ mộng, có cuộc sống lao động gắn bó.Con đã trưởng thành trong nghĩa tình của quê hương như vậy đó. Nói với con những điều đó,cha mong cho con hiểu những tình cảm cội nguồn đã sinh dưỡng con,để con yêu cuộc sống hơn. Dặn dò con về quê hương,về “đồng mình “, cha càng muốn con phải khắc cốt ghi xương nơi mình đã sống,đã trưởng thành. Cuộc sống của “người đồng mình ” vất vả,gian nan “thương lắm con ơi “: “Sống trên đá..đá gập ghềnh / Sống trong thung..thung nghèo đói../Lên thác xuống ghềnh..cực nhọc..” Nhưng tự hào lắm con ơi,người đồng mình đã,đang và sẽ luôn sống đẹp.Họ có sức sống mạnh mẽ:vất vả nhưng khoáng đạt,gắn bó với quê hương.Họ ” ko chê,ko lo “gian khổ, mà vẫn sống tràn đầy “như sông như suối ”.Họ mộc mạc,chân chất nhưng giàu ý chí,niềm tin,mong xây dựng quê hương tốt đẹp hơn: “Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục “. Sự đối lập giữa bên ngoài:”thô sơ da thịt” nhưng bên trong ko hề nhỏ bé về tâm hồn,người đồng mình có ý chí tự làm chủ cuộc sống của mình. Qua “sự liên tưởng phong phú sáng tạo “tự đục đá kê cao quê hương “,người đồng mình là những con người lao động cần cù,có nghị lực,niềm tin,mà tầm vóc,nỗi buồn,chí hướng của họ là cái cao,xa chiều kích của trái đất (Cao đo nỗi buồn /Xa nuôi chí lớn ).Họ giữ gìn bản sắc dân tộc mà vẫn làm rạng rỡ quê hương như vậy bởi họ yêu quê hương sâu nặng và luôn lấy quê hương làm chỗ dựa tinh thần.Người cha muốn con yêu là yêu những điều đó, yêu những đức tính cao đẹp của người đồng mình. Cả đoạn thơ như âm vang trong những lời tự hào,sự gắn bó và tình yêu tha thiết của người cha về quê hương.Nó như trở thành một hành khúc mạnh mẽ ngợi ca quê hương.Và,lời nhắc nhở của người cha với con chính là một nốt nhấn kết lại bản hành khúc của quê hương: “Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Ko bao giờ được nhỏ bé Nghe con “. Cho con thấy tình yêu thương,niềm tin tưởng của cha,người cha mong con biết sống sao cho tốt,cho xứng đáng với tình cảm của cha.Cho con hiểu cuộc sống của người đồng mình,người cha muốn con cảm thương với những khó khăn,vất vả để khao khát đi xây dựng quê hương.Ca ngợi những đức tính cao đẹp của người đồng mình,cha đã truyền cho con vẻ đẹp sức mạnh của truyền thống quê hương,mong con sống có tình nghĩa,biết chấp nhận gian khó,vươn lên bằng ý chí của mình,vững vàng trên đường đời. Điều lớn lao nhất mà người cha muốn truyền cho con chính là lòng tự hào với quê hương và niềm tự tin khi bước vào đời.Nói với con mà chính là cha đã trao tặng cho con.Cha đã vun đắp cho con những tình cảm tốt đẹp, cho con một hành trang quý và đã sẵn sàng tung cánh cho con bay đi khắp mọi nơi. Bài thơ ko dài với 28 câu thơ tự do,có câu 2 chữ,có câu 10 chữ,tất cả bay theo cảm xúc tự nhiên,dạt dào của ý thơ.Giọng thơ tha thiết,trìu mến. Ngọt ngào làm sao từng tiếng nhắc nhở,dặn dò ” yêu lắm con ơi “, “thương lắm con ơi ”,”Con ơi..nghe con!”. Đẹp làm sao các hình ảnh thơ vừa cụ thể, mộc mạc,cô đọng mà vừa phong phú,sinh động,giàu chất thơ.”Rừng cho hoa / Con đương cho những tấm lòng …”.Những đặc sắc về nghệ thuật cộng hưởng hài hoà với những cung bậc tình cảm khác nhau của cha đã tạo nên dư âm sâu lắng cho bài thơ.Tiếng thơ trong “Nói với con ” là tiếng lòng của Y Phương,tiếng lòng về tình yêu và niềm tự hào đối với quê hương,dân tộc. Tiếng cha nói với con hay chính là lời trao gửi thế hệ vậy!
Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương
1,216
Phân tích bài thơ Nói với con-Y Phương Hướng dẫn Nói với con – Y Phương Mở bài: Y Phương vốn là một người con của dân tộc Tày. Ông được sinh ra và lớn lên ở núi rừng. Thế nên những trang viết của Y Phương đã thể hiện chân thật tình cảm trong sáng mạnh mẽ, cách tư duy giàu hình ảnh của đồng bảo miền núi. Bài thơ Nói với con có thể được xem là tác phẩm nổi bật và tiêu biểu cho phong cách viết của ông. Thân bài: Mượn lời của người cha nói con về tình cảm gia đình ấm cúng, về truyền thống lao động cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình, Y Phương kín đáo gửi gắm vào bài học sâu sắc về lòng biết ơn đối với cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người Việt Nam đồng thời bộc lộ niềm tự hào về nét đẹp của dân tộc về quê hương mình. Bài thơ có bố cục chặt chễ, cách dẫn dắt rất tự nhiên. Có thể hình dung bài thơ có cấu trúc hai phần. Mười một dòng thơ đầu thể hiện tình cảm gia đình, quê hương đầm ấm, yên vui. Phần còn lại tác giả đề cập đến sức sống mạnh mẽ của người dân quên hương mình. Tất cả đã được tác giả lồng khéo léo trong lời người cha nói với con. Ở bốn dòng thơ đầu, bằng cách hình ảnh thật cụ thể, Y Phương đã tạo được không khí gia đình đầm ấm, quấn quýt đầy áp tiếng nói, tiếng cười: “Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một chân chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười”. Qua việc vận dụng điệp cấu trúc câu, sự sóng đôi trong hình ảnh, ngôn ngữ không cầu kỳ trau chuốt, thi sĩ gợi ta liên tưởng đến những bước đi của đứa con. Từng bước đi chập chững trong tiếng nói tiếng cười. Tiếng nói bi bộ của con trẻ như có cả tiếng nói, tiếng cười, sự ngập tràn hạnh phúc của cha mẹ… Con lớn lên từng ngày, từng ngày trong tình yêu thương, trong sự nâng đỡ và mong chờ của đáng sinh thành. Hơn thế nữa, con còn được sinh ra, lớn lên trong tình yêu thương, trong vẻ đẹp của “người đồng mình”: “Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài lan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”. “Người đồng mình” ở đây chỉ những người cùng huyết thống, cùng bản làng. Đó là những người cùng sinh ra lớn lên trên mảnh đất thiêng liêng ấy. Những người cùng cội nguồn quê hương xứ sở. Hô ngữ “con ơi” làm cho lời thơ thêm da diết, lắng sâu… Đó là lời nhắn nhủ đầy yêu thương và trách nhiệm. Trong ước vọng ấy chứa đựng biết bao hoài vọng, biết bao mong muốn mà người cha muốn người con ghi nhớ. Con được dưỡng nuôi trong cuộc sống lao động hiền hòa. Con lớn lên trong thiên nhiên thơ mộng và nghĩa tình của quê hương. Con trưởng thành trong sự che chở của núi rừng và người thân yêu. Tất cả là cội nguồn sinh dưỡng của mọi con người đã sinh thành và lớn lên ở nơi đây. Bởi thế từ “con” ở đây vừa là đứa con thơ dại, vừa là đứa con của quê hương. Là tất cả những người đã từng uống nước dòng suối dưới khe, ăn hạt gạo trên nương cao, nghe tiếng chim hót giữa đại ngàn. Cuộc sống lao động cần cù và tươi vui của dân tộc miền núi, của “người đồng mình” được nhà thơ gợi lên qua các hình ảnh tươi đẹp. Cuộc sống ấy vừa được khác họa cụ thể, vừa mang tính khái quát cao mà vẫn giàu chất thơ bay bổng: vách nhà ken câu hát”. Các động từ “cài”, ken” vừa miêu tả cụ thể, vừa khiến ta lien tưởng đến sự gắn bó, quấn quýt. Người đồng mình không những cần cù, nhẫn nại dựng xây cuộc sống tốt đẹp, ấm no. Họ còn biết làm đẹp cho cuộc sống mình. Nét đẹp ấy thể hiện ngay trong những công việc bình thường nhất. Không những con lớn lên giữa sự nâng đỡ và tình yêu thương của cha mẹ. Con còn lớn lên giữa cộng đồng thân ái và hiền hậu. Những con người giản dị, chất phác luôn sẵn lòng sẻ chia những gì mình có cho các thế hệ. Họ không giữ riêng mình. Họ sống vì cộng đồng, vì sự tồn sinh của “người đồng mình”. Con còn lớn lên và được bao bộc bởi thiên nhiên thơ mộng, nghĩa tình. Thiên nhiên là người mẹ vĩ đại. Thiên nhiên đã chở che, chia sẻ, gắn bó và nuôi dưỡng con người cả về thể chất lẫn tâm hồn. Cùng với việc lặp lại từ “cho” phải chăng Y Phương muốn nói đến những gì là thanh cao, tốt đẹp mà cuộc sống nơi đây đã giành cho con người. Hai câu cuối hẳn không khỏi gợi cho ta suy nghĩ về sự gắn kết thiêng liêng trong cuộc đời này: “Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”. Đó là ngày cha mẹ đến với nhau. Đó là ngày hạnh phúc nhất trên đời. Hạnh phúc ấy được vun đắp bởi cộng đồng, bởi núi rừng, bởi quá khứ xa xôi mà hiện hữu trong truyền thống tố đẹp của “người đồng mình”. Tình cảm của “người đồng mình” dành cho cha mẹ hay đó cũng chính là dánh cho con sau này. Người cha muốn con thấy được vẻ nên thơ của “người đồng mình” để mà yêu mà quý. Âm điệu thơ và kết cấu dòng thơ dài ngắn khác nhau đã góp phần bộc lộ tự nhiên dòng cảm xúc. Nó gần gũi như lời nói, lời dặn dò nhẹ nhàng mà chắc chắn. Người cha nhắc nhở con về sức sống mạnh mẽ, một đức tính đẹp, của người dân quê hương mình: “Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn”. Cụm từ “Người đồng mình” ở đây để chỉ những người dân tộc. Đó là những con người cùng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy. Những người cùng cội nguồn quê hương. Cách gọi trìu mến của nhà thơ đã làm cho lời thơ thêm da diết, lắng sâu. Giữa những thung lũng rộng lớn của núi rừng miền Tây Bắc, dân tộc của cha dường như chỉ sống trong sự cheo leo, cao ngút của và sự bát ngát, mênh mông của rừng. Nỗi buồn trong cuộc sống cao vời vời như ngọn núi. Người cha đã nhận thấy ánh sáng chứa chan hi vọng và khát khao tỏa ra từ những khối óc, con tim của “người đồng mình”. Họ luôn khát khao vươn cao, vươn xa hơn nữa. Chí lớn ấy chưa bao giờ nguội tắt và vẫn cháy qua nhiều thế hệ. Lấy cái “cao”, “xa” của trời đất làm chiều cao, kích thước của nỗi buồn và chí hướng, người cha đã nói với con về nét đẹp của người dân quê hương mình. Đó là những người có ý chí và niềm tin mạnh mẽ “xa nuôi chí lớn”. Cách sắp xếp đối ngữ đã góp phần làm nổi bật nghĩ lực và vượt khó tới con người dân tộc. Từ việc đề cập đến những đức tính đẹp của “người đồng mình”, người cha gửi vào một lời khuyên nhủ thật chân thành và thiết tha: sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung lũng không chê thung lung nghèo đói sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lò cực nhọc”. Những hình ảnh “đá”, “thung”, “sông”, “suối” được gửi gắn qua điệp ngữ “sống”. Lời thơ như có ý nghĩa thúc giục, nhắc ở con về những giá trị của cuộc đời. Sống phải biết trân trọng nơi mình sinh thành. Sống phải chung thủy, không quay lưng với quê hương dân tộc, biết chấp nhận ngoại cảnh. Sống tự nhiên và chân thật như sông, như suối. Sống không lo cực nhọc, không chê dói nghèo, không than vãn, kêu ca. Phải chẳng trong những lời gửi gắm, khuyên bảo của cha, một tình cảm yêu thương, lo lắng đang tỏa sáng, đang ngân lên đầy tuyệt diệu? Qua việc ca ngợi những đức tính cao đẹp của “người đồng mình”, nhà thơ dặn dò con cần kế tục, phát huy một cách xứng đáng truyền thống của quê hương. Hai ý nghĩa này không tách rời nhau nên lời dặn dò càng trở nên thấm thía. Vẫn lời tâm sự ấy, người cha lại tiếp tục căn dặn con: “Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không nhỏ bé được Nghe con.” Hình ảnh “thô sơ da thịt” gợi chúng ta liên tưởng đến cuộc sống còn nhiều khó khăn. Nó giúp ta nghĩ đến tâm hồn bình dị, trong trẻo “thô sơ” của người miền cao. Cuộc sống gian khó, chất chứa nhiều khổ đau. Thế nhưng họ luôn ngẩn cao đầu, luôn tự hào về bản làng của mình: “Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con” Ở đây, ta lại bắt gặp lối nói độc đáo của dân tộc miền núi: “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương”. Có thể thấy ở câu thơ này có hai lớp ý nghĩa. Về nghĩa thực, do địa hình chênh vênh, người miền núi thường đục đá để dựng xây nhà cửa. Họ còn lấy đá để trang trí những căn nhà, những mảnh vườn thêm đẹp đẽ. Nghĩa ẩn dụ, người cha tự hào về ý chí vượt khó của người đồng mình. Họ mạnh mẽ chinh phục thiên nhiên để sinh tồn và dựng xây cuộc sống tốt đẹp. Họ tự hào vì đã làm được những việc phi thường. Kết thúc bài thơ, người cha nhắc lại lời dặn dò một lần nữa như để khắc sâu trong trí nhớ người con: Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không nhỏ bé được Nghe con.” Lần thứ nhất, khi người cha nói đến “người đồng mình” để nói cho con về sức sống mạnh mẽ, sức mạnh truyền thống của quê hương. Lần thứ hai, người cha như nhắc lại để con khắc cốt ghi tâm những phẩm chất của quê hương. Quê hương mình tuy mộc mạc, chân chất nhưng mạnh mẽ. Người đồng mình tuy thô sơ da thịt nhưng sống cao đẹp. Cho nên trên đường đời con không được cúi đầu mặc cảm tự ti. Hãy sống dũng cảm và biết tự hào truyền thống quê của hương, của dân tộc. Hãy sống xứng đáng với những giá trị cao đẹp của “người đồng mình”. Có thể nói người cha đã truyền cho con vẻ đẹp, sức mạnh của truyền thống quê hương. Mộc mạc, giản dị và trong sáng, những lời hứa của cha chắc chắn mãi mãi được con cất giữ trong tim mình. Toát lên trên tất cả là ánh sáng dịu hiền, nhân hậu của tình phụ tử được bộc lộ qua sự quan tâm. Chăm sóc của người cha đối với con cái. Cái nghèo khó hiện hình trên từng con phố, từng bản làng. Nó len lỏi vào từng nhà và từng con người cụ thể. Bản thân ông nghĩ chỉ có thể tựa vào văn hóa truyền thống mới đứng vững được trong lúc này. Vì thế tác giả viết bài thơ nhằm tôn vinh dân tộc Tày của ông. Dưới hình thức tâm sự của người cha với con ta nhận ra tình yêu con lớn dần lên tình yêu dân tộc. Tâm trạng của thi sĩ lúc này lớn dần lên trong tình yêu dân tộc, tâm trạng của thi sĩ lúc này thật nhiều nỗi niềm thiêng liêng da diết và nó thổn thức trong ông thành những ý thơ. Chính việc mượn hình thức người cha tâm tình, dặn dò đối với con, Y Phương đã đến cho bài thơ giọng điệu thiết tha, trìu mến, ấm áp và tin cậy. Giọng điệu ấy thể hiện rõ nhất ở việc điệp lại các lời gọi mang ngữ điệu cảm thán: “Người đồng mình yêu lắm con ơi”, ở các lời tâm tình dặn dò: “Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn”, “ chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con” con ơi… Nghe con”… Y Phương cũng đã rất thành công khi vận dụng ngôn ngữ giản dị trong sáng, hình ảnh mộc mạc, cô đọng mà vẫn phong phú, sinh động của người miền núi. Quả đúng là một thứ ngôn ngữ thổ cẩm dơn giản mà đầy sức quyến rũ. Bài thơ có sức truyền cảm nó biểu hiện những tình cảm vừa gần gũi vừa thiêng liêng, đẹp đẽ. Tình têu thương con hòa quyện trong tình yêu dân tộc, tình yêu đất nước.… Nhịp điệu lúc bay bổng, nhẹ nhàng, lúc khúc chiếc rành rọt. Lúc mạnh mẽ, sắc nhọn và tạo ra sự cộng hưởng hài hòa với những ucng bậc tình cảm trong lời cha truyền thấm sáng con. Cách xây dựng hình ảnh cụ thể có tính khái quát mộc mạc mà vẫn dẫu chất thơ. Phải là người con của núi rừng, được sinh ra và lớn lên; được sống trong vòng tay yêu thương của “người đồng mình” và nặng lòng với xứ sở quê hương thì Y Phương mới có thể tạo nên những vầng thơ da diết và lắng sâu đến như thế! Kết bài: Qua việc vận dụng thể thơ tự do, số câu chữ không hạn định phù hợp với cảm xúc tự nhiên của bài thơ. Âm điệu thơ trữ tình dìu dặt, linh hoạt. Ngôn ngữ, hình ảnh giàu sức biểu cảm mang đâm chất dân tộc. Tác giả đã mượn lời cha nói với con để từ đó kín đáo gửi gấm bài học sâu sắc về lòng biết ơn đối với cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người Việt Nam. Đồng thời bộc lộ niềm tự hào về những nét đẹp của dân tộc và quê hương mình một cách kín đáo, sâu sắc Có thể nói Y Phương đã thấu hiểu và lột tả được cái hồn trong bản sắc truyền thống của người dân tộc miền núi. Tình cảm cha con thắm thiết hòa quyện trong tình yêu quê hương, đất nước tạo nên sức thuyết phục của tác phẩm này. Lời cha nói con hay cũng chính là lời trao gửi giữa các thế hệ.
Phân tích bài thơ Nói với con-Y Phương
2,468
Phân tích bài thơ Nỗi Oán của người phòng khuê (Khuê oán) của Vương Xương Linh- Văn lớp 10 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Nỗi Oán của người phòng khuê (Khuê oán) của Vương Xương Linh- Văn lớp 10 Bài làm Nhà thơ Vương Xương Linh là một nhà thơ xuất sắc thời Đường. Ông để lại nhiều bài thơ hay nổi tiếng cho nền thi ca Việt Nam. Phần lớn thơ của ông đều được viết bởi thế thất ngôn tuyệt cú. Bài thơ “Khuê oán” là một tác phẩm xuất sắc nhất của Vương Xương Linh thể hiện cho phong cách nghệ thuật độc đáo của ông đó chính là sự thanh nhã, tinh tế. “Khuê tru nụ thiếu phụ bất tri sầu, Xuân nhật ngưng trang thướng thủy lâu. Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, Hối giao phu tế mịch phong hầu”. Bài thơ “Khuê oán” viết về tâm trạng của người thiếu nữ sau khi lấy chồng suốt ngày bị nhốt trong phòng khuê một mình vò võ đợi chồng nơi biên ải. Không có tin tức gì, không biết người chồng thân thương của mình còn sống hay đã chết. Bài thơ thể hiện sự khắc khoải đợi mong, tới thất thần, quên ăn quên ngủ. Người thiếu phụ trẻ trong bài thơ Khuê oán là một người phụ nữ thuộc con nhà danh giá, có quyền lực, hoặc giàu có. Nên cô được sống trong lầu son gác tía, thể hiện sự sung túc về vật chất. Thừa thãi về mặt tinh thần. Nhưng sự đối lập giữa vật chất và tinh thần càng làm cho bài thơ thêm thương cảm, xúc động lòng người. “Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu, Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu (Trẻ trung nàng biết chi sầu, Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương). Trong hai câu thơ này thể hiện sự vô tư hồn nhiên, yêu đời của người con gái trẻ trung, xuân sắc. Nàng còn trẻ tâm hồn còn yêu đời nhiều lắm, gia cảnh lại khá giả không phải lo cái ăn cái mặc, thì chẳng có chuyện gì làm cho nàng buồn cả. Mỗi ngày nàng đều trang điểm soi gương, ăn mặc đẹp như một thiên thần đi qua đi lại trong nhà. Nàng được sống trong hoàn cảnh giàu sang phú quý, trong một gia đình êm ấm hạnh phúc. Có những người hầu kẻ hạ phục vụ mình, nên những ngày xuân với nàng là một điều vô cùng tuyệt vời. Nàng có nhan sắc, có tuổi trẻ, có tiền bạc làm sao phải buồn khổ. “Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, Hối giao phu tế mịch phong hầu (Nhác trông vẻ liễu bên đường, “Phong hầu ” nghĩ dại, xui chàng kiếm chi). Trong hai câu thơ này hình ảnh hiện tại được tác giả Vương Xương Linh tái hiện là một cuộc sống hoàn toàn trái ngược với hai câu trên. Sau những năm tháng chờ chồng sống cô đơn, vò võ một mình nhìn nhan sắc tuổi xuân ngày một trôi qua tầm tay. Người con gái không còn vui vẻ được nữa, mà tâm trạng đã nhuốm sự u sầu, chán chường. Mùa thu vàng gợi cho người ta cảnh thê lương, buồn chán, ảm đạm. Tuổi thanh xuân của người thiếu phụ cũng đã trôi đi như vậy, nàng không còn ở độ tuổi đẹp nhất tươi thắm nhất nữa, mà đang chuyển sang một thời kỳ mới thời kỳ mùa thu của cuộc đời mình. Vương Xương Linh đã thật tinh tế khi sử dụng cành liễu bên đường để gợi tả vẻ thanh xuân của người thiếu phụ. Một hình ảnh ẩn dụ tài tình nhưng giàu sức gợi cảm trong lòng người đọc. Người thiếu phụ nhìn cành liễu dương chợt cảm thấy hối hận khi để cho người chồng của mình đi tòng quân, tìm công danh sự nghiệp mong hướng ấn phong hầu. Nhưng nay người đi đã lâu công danh sự nghiệp không biết có thành không, chỉ biết người thiếu phụ phải mòn mỏi chờ trông. Người đi không biết khi nào trở lại, hay đã bỏ mạng nơi chiến trường để cho người vợ trẻ là nàng chờ ngóng không một tin tức hồi âm. Nàng ngồi nhìn tuổi xuân trôi qua tay cảm thấy hối tiếc về quyết định sai lầm của mình. Công danh vương hầu chỉ là vật ngoài thân còn tình nghĩa vợ chồng keo sơn, sắc son gắn bó bên nhau, sinh con đẻ cái, sống cuộc sống hạnh phúc tới đầu bạc răng long mới là điều quan trọng với tình cảm con người. Thông qua bài thơ “Khuê oán” người đọc cảm nhận được phong cách nghệ thuật của Vương Xương Linh chứa chan tình cảm thể hiện tinh thần nhân văn của mình với những số phận người phụ nữ trẻ vì chiến tranh mà đánh mất tuổi xuân của mình. Nhìn tuổi xuân trôi qua trong vô vọng.
Phân tích bài thơ Nỗi Oán của người phòng khuê (Khuê oán) của Vương Xương Linh- Văn lớp 10
818
Phân tích bài thơ phong cảnh Hương Sơn Hướng dẫn Phân tích bài thơ phong cảnh Hương Sơn Cảnh sắc luôn là thứ khiến cho tâm hồn con người ta xao động, ngay cả người bình thường,đứng trước cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp cũng phải mềm lòng. Cho nên, đứng trước một cảnh tượng như thế những thi sĩ không thể không kiềm lòng mình lại. Sự nhạy cảm của một tâm hồn tràn ngập thơ ca,cũng khiến cho không ít thi gia bối rối và phải đặt ngay ngòi bút xuống, để cho cảnh sắc đó ngấm vào cơ thể rồi mới lay ngòi bút xuống trang giấy. Cũng bởi chới với trước vẻ đẹp của thiên nhiên Hương Sơn, mà tác giả Chu Mạnh Trinh quả thật không sai khi đã dùng những mỹ từ để ca ngợi vẻ đẹp nơi đây. Cùng với những sự nhạy cảm của bản thân và một con mắt tinh tế,mọi thứ ở Hương Sơn đã trở thành một đề tài cho giới văn nghệ sĩ tìm tới. Không chỉ xuất hiện trong các bài thơ mà còn xuất hiện trong những câu hát,người ta thấy Hương Sơn hiện ra như cảnh ở chốn tiên giới. Đây quả thực là một món quà mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người chốn nhân gian. Sự kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc con người càng làm cho bài thơ thêm đẹp đẽ. Đối với Chu Mạnh Trinh thì Hương Sơn chính là chốn thoát ra khỏi vẻ đẹp trần tục ở nhân gian. Chính vì vậy, ngay từ khi mở đầu, chỉ với 4 từ mà tác giả đã lột tả được đa số cái thần thái nơi đây: Cảnh ở đây là cảnh bụt, vừa miêu tả một chốn bồng lai tiên cảnh lại miêu tả được sự yên tịnh linh thiêng. Dù dùng bao nhiêu từ cũng không thể miêu tả hết cái vẻ đẹp ấy. Không diễn giải dài dòng, chỉ với 2 từ “ cảnh Bụt” mà gợi ra trong trí tưởng tượng của người đọc bao nhiêu thứ. Bầu trời mở rộng, không khí hư không, mọi thứ trở nên mở rộng hết cỡ, và có cái gì đó rất riêng.Ngòi bút của Chu Mạnh Trinh như bắt được nhịp chuyển động theo cảm hứng ấy và làm sống dậy từng nét thanh tú của danh lam, vừa đem lại vi thiền cho thắng cảnh. Kìa non non, nước nước, mây mây, Cảnh núi non trùng điệp cảnh mây trời lồng lộng cảnh sông nước hữu tình,càng làm cho không gian của Hương Sơn mở rộng ra, làm cho chúng ta cảm nhận như tác giả đang đứng từ trên một điểm cao để có cái nhìn bao quát nhất về phong cảnh hương Sơn. Những nơi được xem là danh thắng đều là chốn sơn thủy hữu tình, có núi non, có rừng suối, với những chim bay, cá lượn. Hương Sơn cũng thế! Nhưng Hương Sơn là cảnh bụt. Những thức xung quanh hương Sơn cũng bị thấm nhuần trở nên có linh hồn, có suy nghĩ. Thỏ thể rừng mai chim cúng trái, Lửng lơ khe Yến có nghe kinh Thoảng bên tai một tiếng chày kình, Khách tang hải giật mình trong giấc mộng. Bằng nghệ thuật nhân hóa những sinh vật ở đây có hồn, có suy nghĩ có tâm niệm, nhưng không chỉ là có tâm niệm không thôi, chúng cũng bị ảnh hưởng bởi vẻ linh thiêng nơi đây. “ chim cúng trái, yến nghe kinh”,những nhân vật ở đây giống như những tín đồ của chốn này. Du khách tới đây không chỉ để thưởng thức phong cảnh mà còn để hòa mình vào không khí nơi đây.Những âm thanh” thỏ thẻ”, hình ảnh “ dáng cá lửng lơ” và kết thúc là tiếng chày kình tạo nên không khí chỉ có ở Hương Sơn. Bước chân của tác giả không dừng lại đó, bằng việc liệt kê các địa danh ở đây,Hương Sơn lại càng nổi bật với cảnh vật phong phú: Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Vũng Này am Phật Tích, này động Tuyết Quynh Cảnh sắc thật giàu có, đủ cả suối, chùa, am, động… tất cả cứ như bày đặt ra theo bước du khách dẫn du khách từ bất ngờ này tới bất ngờ khác. Chu Mạnh Trinh tạo ra bức tranh Hương Sơn với những nét vừa mĩ lệ vừa hư huyền,những màu vừa lộng lẫy vừa cách điệu, với những mảnh vừa động vừa tĩnh Nhác trông lên ai khéo họa hình, Đá ngũ sắc Long lanh như gấm dệt. Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt. Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật, Cửa từ bi công đức, xiết là bao Những bước chân cuối của du khách khi đến với Hương Sơn cũng đến chỗ dừng chân. Nhưng hình ảnh đấy hiện ra vẫn đẹp đẽ mĩ lệ. Những từ ngữ được tác giả sử dụng như đính thêm những hạt pha lên trong suốt trên nền màu sắc rực rỡ,càng làm thêm vẻ tráng lệ của Hương Sơn.Những cảm xúc của tác giả khiến chúng ta cũng như vừa bước ra khỏi thể giới thần tiên. Tác giả như dẫn dắt chúng ta đi từ một nơi trần tục tới một nơi thần tiên thanh tịnh. Cho nên, cũng không kiềm lòng trước cảnh sắc ấy cho nên mới thốt lên: “Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật, Cửa từ bi công đức, xiết là bao Hương Sơn phong cảnh ca” là một bức tranh phong cảnh những được vẽ bằng ngôn từ, là một sợi dây kết nối giữa con người và thiên nhiên. Vẻ đẹp thiên nhiên càng được khắc họa với những nét vẽ vừa tráng lệ lại vừa yểu điệu uyển chuyển. Qua đó, cũng thể hiện tình yêu thiên nhiên và cũng như sự tinh tế,con mắt tinh tường của tác giả trước vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ phong cảnh Hương Sơn
988
Phân tích bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải Bài làm Trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên xâm lược đời Trần, Thượng tướng Trần Quang Khải đã lập được nhiều chiến công to lớn. Sau chiến thắng Hàm Tử, rồi chiến thắng Chương Dương năm 1285, trong ngày vui đất nước được giải phóng, Trần Quang Khải vinh dự đón nhà vua về kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư. Bài thư nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể Đường luật ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tuy tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn dầu tiên của dân tộc ta trong cồng cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Phân tích bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải Trước thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa dược đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó, bài thơ Phò giá về kinh của vị thượng tướng – thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ Hán: Đoạt sáo Chương Dương độ, Cầm Hồ Hàm Tử quan. Thái bình tu trí lực, Vạn cổ thử giang san. Và đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim: Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Bố cục tác phẩm gổm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầu: Chương Dương cướp giảo giặc, Hàm Tử bắt quân thù. Tìm hiểu lịch sử, biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhung Trần Quang Khải chí nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định dể giành thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và cá triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phân khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước (tháng 4 năm 1285), chiến thắng Chương Dương sau (tháng 6 năm 1285). Tại sao tạc giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị. Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở chiến thắng trước – Hàm Tử – người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chi tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, Thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền niềm vui được “phò giá” dồn dập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm hồn. Có lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dùng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú,… Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngấn gọn, mười âm tiết. Ở mỗi chiến thắng, cũng dúc lại bằng hai từ: “đoạt sáo” (cướp giáo), “cầm Hồ” (bắt quân Hồ). Cần chú ý câu thơ nguyên tác “đoạt sáo”. “Đoạt” nghĩa gốc là “lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác”. Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ “cướp giáo” làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quân giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng. Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau, bổ sung cho nhau, thật hài hoà, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ khống nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động “đoạt sáo”, “cầm Hồ”. Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta. Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khoẻ. Nhưng nhịp thơ, âm điệu vẫn toát ra niềm vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân chiến thắng vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào hùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn ca. Xuống hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lai đất nước: Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu. Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người đã trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, tức là rèn luyện, tu dưỡng tài nâng, sức lực. Đồng thời ông động viên quân dân “gắng sức, đồng lòng” phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình bền vững dài lâu. Câu thơ kết “Vạn cổ thử giang san” vừa chỉ ra cái đích đi tới của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hoà với niềm tin, niềm hi vọng. Ba năm sau khi bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư ra đời, vào tháng 4 năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông), đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơ: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu. (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, Phải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Thượng tướng Trần Quang Khải? Và phải chăng đấy cũng chính là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hào khí Đông A? Hào khí Đông A nghĩa là thế nào? Đông A là chiết tự tên họ Trần, gồm hai chữ: chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình, bền vững. Hào khí Đông A không chỉ là tư tướng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, XIII. Trở lại với bài thơ Phò giá vê kinh của Trần Quang Khải, ta thấy bài thơ thật ngắn gọn, hàm súc, biểu ý sâu sắc, biểu cảm dạt dào. Trong bài thơ có nhiều từ Hán Việt, nhưng khá quen thuộc với chúng ta ngày nay, như: “Chương Dương độ, Hàm Tử quan, thái bình, trí lực, vạn cổ, giang sơn”. Do đó, đọc thơ, chịu khó tìm tòi, suy ngẫm, chúng ta hiểu được và rung cảm được với ý thơ, hồn thơ của tác giả – người sống cách chúng ta gần một ngàn năm. Nếu ta gọi bài thơ Sông núi nước Nam là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, thì cũng có thể coi Phò giá về kinh là khúc khải hoàn ca đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm và trong lịch sử văn học Việt Nam. Bằng hình thức diễn đạt cô đúc, dồn nén cảm xúc vào bên trong ý tưởng, bài thơ Phò giá về kinh đã thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần.
Phân tích bài thơ Phò giá về kinh của Trần Quang Khải
1,524
Đề bài: Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan Bài làm Phải hiểu rõ và yêu quý bài thơ mới thấy hết được tài năng cũng như tư tưởng luôn hướng về quê hương đất nước và gia đình của bà Huyện Thanh Quan. Ai dám bảo rằng người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có được những tình cảm thiêng liêng đó? Có nơi đâu đẹp tuyệt vời Như sông như núi, như người Việt Nam Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hoà sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là dề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Nhưng đồng thời, cảnh vật cũng sẽ nhuốm màu ảm đạm, thê lương dưới ánh mắt của các nhà thơ mang một tâm sự u hoài khi sáng tác một bài thơ tức cảnh. Vì thế, đại thi hào Nguyễn Du đã từng nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Câu thơ thật thích hợp khi ta liên tưởng đến bà Huyện Thanh Quan với bài thơ Qua đèo Ngang. Bước tới đèo Ngang bóng xế tà. Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dưới núi, tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Dừng chân đứng lại, trời non, nước Một mảnh tình riêng, ta với ta. Phải hiểu rõ và yêu quý bài thơ mới thấy hết được tài năng cũng như tư tưởng luôn hướng về quê hương đất nước và gia đình của bà Huyện Thanh Quan. Ai dám bảo rằng người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có được những tình cảm thiêng liêng đó? Chỉ mới đọc hai câu đầu của bài thơ thôi: Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa là ta đã nhận ngay ra một nỗi buồn xa vắng. Câu thơ xuất hiện cụm từ bóng xế tà và sự hiện diện của điệp từ chen cùng cách gieo vần lưng lá, đá đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu: Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ Qua đèo Ngang, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật ở Hoành Sơn. Cảnh vật đã buồn lại trống vắng hơn bởi điệp từ chen ở câu thứ hai. Nó làm cho người đọc thơ bỗng cảm nhận được sự hoang vắng của đèo Ngang lúc chiều tà, bóng xế mặc dù nơi đây rất đẹp: có cỏ cây, đá, lá, hoa. Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt để tìm kiếm một chút gì gọi là sự sống linh động. Và kìa, phía xa xa dưới chân đèo xuất hiện hình ảnh: Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông, chợ mấy nhà Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn. Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ vài, mấy như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống. Từ ghép đau lòng, mỏi miệng khiến cho ta có cám giác tha thiết, ray rứt. Từ nhớ nước, thương nhà là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia gia phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó? Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự: Dừng chân dứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta. Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái. Vũ trụ bao la quá! Con người cô đơn quá! Tất cả lại được diễn tả dưới ngòi bút tài hoa của người nữ sĩ nên bài thơ là bức tranh đặc sắc. Từ ta với. ta như một minh chứng cho nghệ thuật điêu luyện trong sáng tác thơ ca của bà Huyện Thanh Quan. Bởi vì cũng ta với ta nhưng nhà thơ Nguyễn Khuyến lại nói: Bác đến chơi đây ta với ta lại là sự kết hợp của hai người: tuy hai mà một, tuy một mà hai. Còn bà Huyện lại: Một mảnh tình riêng ta với ta. đã tô đậm thêm sự lẻ loi, đơn chiếc của mình. Qua câu thơ, ta như cảm nhận sâu sắc hơn nỗi niềm tâm sự của tác giả trưức cảnh tình quê hương..ỗ Phân tích bài thơ rồi, em hiểu sâu sắc hơn, thấm thía hơn tình cảm của một nhà thơ nữ trong xã hội thời xưa, giúp em thêm yêu quý đất nước và con người Việt Nam. Em cảm thấy vững vàng trong tư tưởng và có những suy nghĩ tích cực hơn góp phần xây dựng quê hương đất nước Việt Nam thêm giàu đẹp, để giữ mãi được những dấu tích mà người xưa để lại như gửi gắm, nhắc nhở và trao gởi cho chúng em. Từ xưa đến nay, có nhiều nhà thơ tả cảnh đèo Ngang nhưng không ai thành công bằng bà Huyện Thanh Quan vì trong tác phẩm của bà có cả tâm hồn, tình cảm, nỗi lòng và tài năng của một cây bút tuyệt vời. Cả bài thơ được gieo vần "a" như chính tâm sự hoài cổ của tác giả. Chúng ta không tìm thấy dù chỉ một chút gọi là sự ồn ào trong cách miêu tả. Tất cả chỉ là sự trầm lắng, mênh mang như chính tâm sự của tác giả. Lời thơ nghe xao xuyến, bồi hồi làm cho người đọc xúc động cũng chính là những cảm xúc sâu lắng của bà Huyện Thanh Quan khi đặt chân lên đèo Ngang trong khung cảnh miền núi khi hoàng hôn buông xuống. Cũng những cảm xúc ấy, ta sẽ gặp lại khi đọc bài Chiều hôm nhớ nhà của bà với câu: Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn Tiếng ốc xa đưa, vẳng trống dồn. Để tỏ lòng biết ơn đối với nhà thơ xưa đã cho ta những phút giây có được tình cảm tốt đẹp xuất phát từ đáy tâm hồn, từ sự rung cảm thật sự, người đời đã đặt một tên làng, một tên đường: Bà Huyện Thanh Quan để mãi mãi ghi nhớ tài năng cũng như tư tưởng tuyệt vời của người,nữ sĩ đối với non sông, đất nước một thời đã qua. Bài làm 2 Trong dòng văn thơ cổ Việt Nam có hai nữ thi sĩ được nhiều người biết đến đó là Hồ Xuân Hương và bà Huyện Thanh Quan. Nếu như thơ văn của Hồ Xuân Hương sắc sảo,, góc cạnh thì phong cách thơ của bà Huyện Thanh Quan lại trầm lắng, sâu kín, hoài cảm… Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta. Tên thật là Nguyễn Thị Hinh sống trong nửa đầu thế kỷ 19. Quê ở làng Nghi Tàm, ven Hồ Tây, kinh thành Thăng Long. Bà xuất thân trong một gia đình quan lại, có nhan sắc, có học, có tài thơ Nôm, giỏi nữ công gia chánh – bà được vua Minh Mệnh vời vào kinh đô Phú Xuân làm nữ quan “Cung trung giáo tập”. Chồng bà là Lưu Nghi làm tri huyện Thanh Quan, tỉnh Thái Bình, nên người đời trân trọng gọi bà là Bà huyện Thanh Quan. Bà chỉ còn để lại 6 bài thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật: “Qua Đèo Ngang”, “Chiều hôm nhớ nhà”, “Thăng Long thành hoài cổ”, “Chùa Trấn Bắc”, “Chơi Đài Khán Xuân Trấn võ”. “Tức cảnh chiều thu”. Thơ của bà hay nói đến hoàng hôn, man mác buồn, giọng điệu du dương, ngôn ngữ trang nhã, hồn thơ đẹp, điêu luyện. Trên đường vào Phú Xuân…, bước tới Đèo Ngang lúc chiều ta, cảm xúc dâng trào lòng người, Bà huyện Thanh Quan sáng tác bài “Qua Đèo Ngang”. Bài thơ tả cảnh Đèo Ngang lúc xế tà và nói lên nỗi buồn cô đơn, nỗi nhớ nhà của người lữ khách – nữ sĩ. Lần đầu nữ sĩ “bước tới Đèo Ngang”, đứng dưới chân con đèo “đệ nhất hùng quan” này, địa giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Tĩnh – Quảng bình, vào thời điểm “bóng xế tà”, lúc mặt trời đã nằm ngang sườn núi, ánh mặt trời đã “tà”, đã nghiêng, đã chênh chênh. Trời sắp tối. Âm “tà” cũng gợi buồn thấm thía. Câu 2, tả cảnh sắc: cỏ cây, lá, hoa… đá. Hai vế tiểu đối, điệp ngữ “chen”, vần lưng: “đá” – “lá”, vần chân: “tà” – “hoa”, thơ giàu âm điệu, réo rắt như một tiếng lòng, biểu lộ sự ngạc nhiên và xúc động về cảnh sắc hoang vắng nơi Đèo Ngang 200 năm về trước: “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”. Chỉ có hoa rừng, hoa dại, hoa sim, hoa mua. Cỏ cây, hoa lá phải “chen” với đá mới tồn tại được. Cảnh vật hoang sơ, hoang dại đến nao lòng. Nữ sĩ sử dụng phép đối và đảo ngữ trong miêu tả đầy ấn tượng. Âm điệu thơ trầm bổng du dương, đọc lên nghe rất thú vị: “Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà”. Điểm nhìn đã thay đổi: đứng cao nhìn xuống dưới và nhìn xa. Thế giới con người là tiểu phu, nhưng chỉ có “tiều vài chú”. Hoạt động là “lom khom” vất vả đang gánh củi xuống núi. Một nét vẽ ước lệ rong thơ cổ (ngư, tiều, canh, mục) nhưng rất thần tình, tinh tế trong cảm nhận. Mấy nhà chợ bên sông thưa thớt, lác đác. chỉ mấy cáilèu chợ miền núi, sở dĩ nữ sĩ gọi “chợ mấy nhà” để gieo vần mà thôi: “tà” – “hoa” – “nhà”. Cũng là cảnh hoang vắng, heo hút, buồn hoang sơ nơi con đèo xa xôi lúc bóng xế tà. Tiếp theo nữ sĩ tả âm thanh tiếng chim rừng: chim gia gia, chim cuốc gọi bầy lúc hoàng hôn. Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái gia gia” tạo nên âm hưởng du dương của khúc nhạc rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. Lấy cái động (tiếng chim rừng) để làm nổi bật cái tĩnh, cái vắng lặng im lìm trên đỉnh đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng hôn, đó là nghệ thuật lấy động tả tĩnh trong thi pháp cổ. Phép đối và đảo ngữ vận dụng rất tài tình: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gai”. Nghe tiếng chim rừng mà “nhớ nước đau lòng”, mà “thương nhà mỏi miệng’ nỗi buồn thấm thía vào 9 tầng sâu cõi lòng, toả rộng trong không gian từ con đèo tới miền quê thân thương. Sắc điẹu trữ tình dào dạt, thiết tha, trầm lắng. Lữ khách là một nữ sĩ nên nỗi “nhớ nước”, nhó kinh kỳ Thăng Long, nhớ nhà, nhó chồng con, nhớ làng Nghi Tàm thân thuộc không thể nào kể xiết! Bốn chữ “dừng chân đứng lại” thể hiện một nỗi niềm xúc động đến bồn chồn. Một cái nhìn mênh mang: “Trời non nước”; nhìn xa, nhìn gần, nhìn cao, nhìn sâu, nhìn 4 phía… rồi nữ sĩ thấy vô cùng buồn đau, như tan nát cả tâm hồn, chỉ còn lại “một mảnh tình riêng”. Lấy cái bao la, mênh mông, vô hạn của vũ trụ, của “trời non nước” tương phản với cái nhỏ bé của “mảnh tình riêng”, của “ta” với “ta” đã cực tả nỗi buồn cô đơn xa vắng của người lữ khác khi đứng trên cảnh Đèo Ngang lúc ngày tàn. Đó là tâm trang nhớ quê, nhớ nhà: “Dừng chân đứng lại trời non nước, Một mảnh tình riêng ta với ta”. “Qua Đèo Ngang” là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật tuyệt bút. Thế giới thiên nhiên kỳ thú của Đèo Ngang như hiển hiện qua dòng thơ. Cảnh sắc hữu tình thấm một nỗi buồn man mác. Giọng thơ du dương, réo rắt. Phứp đối và đảo ngữ có giá trị thẩm mỹ trong nét vẽ tạo hình đầy khám phá. Cảm hứng thiên nhiên trữ tình chan hoà với tình yêu quê hương đất nước đậm đà qua một hồn thơ trang nhã. Bài thơ “Qua Đèo Ngang” là tiếng nói của một người mà trở thành khúc tâm tình của muôn triệu người, nó là bài thơ một thời mà mãi mãi – bài thơ non nước.
Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan
2,494
Phân tích bài thơ Quy hứng Hướng dẫn Phân tích bài thơ Quy hứng Quê hương- hai tiếng gần gũi, thân thương. Quê hương đối với ta như dòng sữa mẹ ngọt không bao giờ vơi cạn, như tấm lòng mẹ giản dị và bao la. Vì thế có ai xa quê hương mà không khỏi bồi hồi nhớ về hình ảnh quê hương với chiếc cầu tre, con đò nhỏ, với những rặng tre xanh tắm mình trong những luồng gió thơm ngọt ngào… đã gắn liền tuổi thơ mỗi người.. “Quy hứng” cũng nằm trong mạch cảm xúc ấy. Bài thơ được sáng tác trong thời gian Nguyễn Trung Ngạn đi sứ ở Giang Nam, Trung Quốc. Viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, “Quy hứng” thể hiện sâu sắc nỗi nhớ gia đình, quê hương với bao niềm tự hào của một người đang sống nơi đất khách quê người Hai câu đầu nói lên bao nỗi nhớ của khách tha hương: “Lão tang diệp lạc tàm phương tận Tảo đạo hoa hương giải chính phi (Dâu già lá rụng tằm vừa chín Lúa sớm bông thơm, cua béo ghê) Tác giả nhớ lá dâu già cuối vụ, vàng sẫm rụng khắp các nương bãi, nhớ những lứa tằm vừa chín vàng óng, vàng khươm trong nhà, ngoài sân, nhớ lúa sớm trổ trắng phau cánh đồng dâng hương ngào ngạt, nhớ vị béo đậm cua đồng. Các chi tiết nghệ thuật như dâu, tằm. hương lúa sớm, cua béo, đều là cảnh vật đồng quê, màu sắc, hương vị đậm đà của quê nhà thân yêu đó đã làm cho tác giả nhớ thương quê hương những hình ảnh bình dị nhưng lại mang những cảm xúc đặc biệt chính nó làm cho tác giả nhớ mong cho quê hương của mình nhiều hơn và nó cũng mang một điều kì lạ và có sức ảnh hưởng rất lớn đến những suy nghĩ và cảm xúc của tác giả. Các hình ảnh “dâu già lá rụng” và “cua béo” cho ta biết đó là vào dịp tháng mười khi gió heo may đã thổi. Khí trời lành lạnh ấy càng làm cho nỗi nhớ nhà, nhớ quê thêm phần da diết. Cảnh vật ấy, hương vị ấy đã trở thành máu thịt, tâm hồn của nhà thơ khiến ông không thể nào quên được. Ngôn từ đến hình ảnh thơ đều thật là bình dị, mộc mạc, dân dã. Và cũng chỉ những khách li hương xứ sở sống ân nghĩa thủy chung mới có nỗi nhớ xao động lòng người như vậy. “Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo Giang Nam tuy lạc bất như quy” (Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt Dẫu vui đất khách, chẳng bằng về) Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tương phản so sánh rất lí thú: “bần diệc hảo” (nghèo vẫn tốt), “gia bần” với “Giang Nam tuy lạc”. Cái “vui” quê người sao bằng cái “nghèo” của quê hương? Viết, ở nơi đất Giang Nam dù cuộc sống có sung túc và tươi vui nhưng không đâu bằng với ở nhà, chứng tỏ rằng tình cảm của tác giả đối với quê hương với gia đình của mình là rất lớn nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn và trí óc của tác giả. Tình nghĩa của khách li hương đối với nơi chôn nhau cắt rốn vốn vô cùng sâu nặng. Giang Nam là đất đô hội; quan sứ được đón tiếp linh đình, thiếu gì dê béo rượu ngon, thế mà đêm ngày lòng vẫn nhủ lòng: “bất như quy” – chẳng bằng về. Bằng giọng văn hồi tưởng gần gũi sâu lắng, hình ảnh thơ đặc trưng thơ mộng, “Quy hứng” đến với người đọc tự nhiên và tạo nên sự “đồng điệu” trong trái tim bạn đọc. Mỗi người mỗi khi nhớ thương tới quê hương chắc hẳn đều có cảm xúc và nỗi nhớ về những bông lúa chín thơm, những hình ảnh con cua đồng béo ngậy, làng quê Việt Nam gắn bó bởi quê hương là nơi mình sinh ra, mình gắn bó với những hình ảnh bình dị trong đó, hình ảnh bình dị mà thân thương nó mang âm điệu nhẹ nhàng và cũng hết sức vui tươi. Thấu hiểu và diễn tả điều này qua câu chữ, tác giả đã làm nên sự cuốn hút đối với bạn đọc mọi thế hệ và giúp bài thơ trường tồn, vượt lên những khắt khe của thời gian. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Quy hứng
749
Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh lớp 8 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh lớp 8 Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới…, Quê hương tôi có con sông xanh biếc – Nước gương trong soi bóng những hàng tre…; những vần thơ thiết tha đôi với đất mẹ quê cha là nét đẹp nhất trong hồn thơ Tế Hanh hơn 60 năm qua. Bài thơ Quê hương được Tế Hanh viết năm 1939, khi nhà thơ vừa tròn mười tám tuổi, đang học Trung học tại Huê. Nỗi nhớ làng chài, quê hương thân yêu ở Bình Dương, Quảng Ngãi đã tỏa rộng và thấm sâu vào bài thơ. Hai câu thơ đầu nói về làng tôi. Thân mật, tự hào, yêu thương… được thể hiện qua hai tiếng làng tôi ấy: Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới: Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông. Quê hương là một làng chài, bốn bề sông nước bao vây, một làng nghèo thuộc vùng duyên hải miền Trung cách biển nửa ngày sông. Giọng điệu tâm tình, một cách nói chân quê dân dã vừa cụ thể vừa trừu tượng. Những câu thơ tiếp theo là hồi tưởng lại một nét đẹp của quê hương: Cảnh làng chài ra khơi đánh cá. Kỷ niệm về quê hương như được lọc qua ánh sáng tâm hồn. Một bình minh đẹp ra khơi có gió nhẹ, có ánh mai hồng. Có những chàng trai cường tráng, khỏe mạnh bơi thuyền đánh cá. Cảnh đẹp, sáng trong, giọng thơ nhẹ nhàng thể hiện khung cảnh và niềm vui của làng chài trong buổi xa khơi. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá, Một loạt ẩn dụ, so sánh nói về con thuyền, mái chèo và cánh buồm. Tác giả ví chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã tạo nên một hình ảnh khỏe, trẻ trung diễn tả khí thế hăng hái, phấn khởi lên đường. Chữ hăng dùng rất hay, rất đích đáng. Nó liên kết với các từ ngữ: dân trai tráng và tuấn mã hợp thành tính hệ thông, tạo nên một vẻ đẹp của văn chương. Có người lầm tưởng là chữ băng rồi bình giảng là băng băng lướt sóng. Mái chèo như những lưỡi kiếm khổng lồ chém xuống nước, phăng xuống nước một cách mạnh mẽ, đưa con thuyền vượt trường giang. Sau hình ảnh chiếc thuyền, mái chèo là hình ảnh cánh buồm giương, to như mảnh hồn làng. Giương nghĩa là căng lên để đón gió ra khơi. So sánh cánh buồm to như mảnh hồn làng là hay, đặc sắc. Cánh buồm to biểu tượng cho hình bóng và sức sống quê hương. Nó tượng trưng cho sức mạnh lao động sáng tạo, ước mơ về ấm no, hạnh phúc của quê nhà. Nó còn tiêu biểu cho chí khí và khát vọng chinh phục biển khơi cua đoàn trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Câu thơ Rướn thân trắng bao la thâu góp gió là một câu thơ đậm đà ý vị mang cảm hứng lao động và cảm hứng vũ trụ. Cánh buồm được nhân hóa. Ba chữ rướn thân trắng gợi tả một cuộc đời trải qua nhiều mưa nắng, gắng sức quyết tâm lên đường. Đây là khổ thơ xuất sắc tả cảnh ra khơi của đoàn thuyền đánh cá, tự hào ca ngợi sức sóng của làng chài thân thương: Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang. Cánh buồn giương, to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…. Đứa con xa quê có bao giờ quên được cảnh bà con làng chài đón đoàn thuyền đánh cá từ biển khơi trở về. Các từ ngữ ồn ào, tấp nập diễn tả niềm vui mừng đón ghe về. Niềm vui sướng tràn ngập lòng người, là của khắp dân làng. Cảnh đón ghe về thực sự là ngày hội lao động của bà con ngư dân: Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về. Cá tươi ngon thân bạc trắng đầy khoang thuyền. Được mùa cá, vui sướng trong niềm vui ấm no, hạnh phúc, bà con làng chài khẽ thốt lên lời cảm tạ đất trời đã cho biển lặng sóng êm, cho cá đầy ghe. Sự cầu mong và niềm tin thánh thiện nhờ ơn trời ấy đã biểu lộ những tấm lòng mộc mạc, hồn hậu của những con người suốt đời gắn bó với biển, vui sướng, hoạn nạn cùng với biển. Tế Hanh đã thấu tình quê hương khi ông viết: “Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe” Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Ta tưởng như ca dao, dân ca đã thấm sâu vào hồn thơ Tế Hanh: Ơn trời mưa nắng phải thì, Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.., Làm nghề cày cấy, vun trồng tốt tươi…. Đoạn bốn bài thơ nói về bến quê bằng hai nét vẻ trẻ tráng và bình yên. Những chàng trai làng chài có làn da ngăm rám nắng khỏe mạnh, can trường được tôi luyện trong gió sóng đại dương, trong mưa nắng dãi dầu. Họ mang theo hương vị biển. Hai chữ: nồng thở rất thần tình làm nổi bật nhịp sống lao động hăng say, dũng cảm của những dân chài mang tình yêu biển. Hình tượng thơ mang vẻ đẹp lãng mạn: Dân chài lưới làn da ngậm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Nét thứ hai là con thuyền. Sau một chuyến ra khơi vất vả trở về, nó mỏi mệt nằm im trên bến. Con thuyền là một biểu tượng đẹp của làng chài, của những cuộc đời trải qua bao phong sương thử thách, bao dạn dày sóng gió: Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Con thuyền được nhân hóa với nhiều yêu thương. Vần thơ giàu cảm xúc, mang tính triết lý về lao động trong thanh bình. Chữ nghe (nghe chất muối) thể biện sự chuyển đổi cảm giác rất tinh tế và thi vị. Bến quê trở thành một mảnh tâm hồn của đứa con li hương. Đoạn cuối nhiều bồi hồi nhớ thương, thương nhớ hình bóng quê hương. Điệp ngữ nhớ làm cho giọng thơ thiết tha, bồi hồi, sâu lắng. Xa quê nên tưởng nhở khôn nguôi. Nhớ màu nước xanh của sông, biển làng chài. Nhớ cá bạc, nhớ chiếc buồm vôi, … Thấp thoáng trong hoài niệm là hình ảnh con thuyền rẽ sóng ra khơi đánh cá. Xa quê nên mới thấy nhớ hương vị biển, hương vị làng chài thương yêu cái mùi nồng mặn quá. Tình cảm thấm vào câu chữ, màu sắc, vần thơ. Tiếng thơ cũng là tiếng lòng trang trải của hồn quê vơi đầy thương nhớ. Cảm xúc đằm thắm mênh mang: Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi, Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Bài thơ Quê hương có một câu thơ đề từ rất gợi cảm: Chim bay dọc biển đem tin cá. Đó là câu thơ của phụ thân nhà thơ. Nhớ quê hương nhớ người cha thân yêu dào dạt trong hồn thơ Tế Hanh. Sau này, 1963, khi sống ở miền Bắc, trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, trong bài thơ Nghe tin cha mất ông xót xa hồi tưởng: Cuộc khởi nghĩa Cần Vương thất bại Đắng cay cha trở lại quê nhà (…) Vịnh quê hương vài vần thơ ca: Chim bay dọc biển đem tin cá. Nhà ở kề sân, sát mái nhà. Có cảm nhận được câu thơ đề từ ấy ta mới nắm bắt được tình thương nhớ quê hương của Tế Hanh qua bài thơ kiệt tác này. Bài thơ Quê hương đã đi suốt một hành trình trên 60 năm. Nó gắn liền với tâm hồn trong sáng, với tuổi hoa niên của Tế Hanh. Thể thơ tám tiếng, giọng thơ đằm thắm dào dạt, gợi cảm. Những câu thơ nói về dòng sông, con thuyền, cánh buồm, khoang cá, chàng trai đánh cá, bến quê… và nỗi nhớ của đứa con xa quê… rất hay, đậm đà biểu lộ một hồn thơ đẹp. Nghệ thuật phôi sắc, sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và chuyển đổi cảm giác khá thành công, tạo nên những vần thơ trữ tình chứa chan thi vị.
Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh lớp 8
1,410
Đề bài: Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh Bài làm Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù. Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ phối hợp cả hai kiểu gieo vần liên tiếp và vần ôm đã phần nào thể hiện được nhịp sống hối hả của một làng chài ven biển: Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Quê hương trong tâm trí của những người con Việt Nam là mái đình, là giếng nước gốc đa, là canh rau muống chấm cà dầm tương. Còn quê hương trong tâm tưởng của Tế Hanh là một làng chài nằm trên cù lao giữa sông và biển, một làng chài sóng nước bao vây. một khung cảnh làng quê như đang mở ra trước mắt chúng ta vô cùng sinh động: “Trời trong – gió nhẹ – sớm mai hồng”, không gian như trải ra xa, bầu trời như cao hơn và ánh sáng tràn ngập. Bầu trời trong trẻo, gió nhẹ, rực rỡ nắng hồng của buổi bình minh đang đến là một báo hiệu cho ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao nhiêu hi vọng, một ngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trên những chiếc thuyền ra khơi: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Nếu như ở trên là miêu tả vào cảnh vật thì ở đây là đặc tả vào bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống. Con thuyền được so sánh như con tuấn mã làm cho câu thơ có cảm giác như mạnh mẽ hơn, thể hiện niềm vui và phấn khởi của những người dân chài. Bên cạnh đó, những động từ “hăng”, “phăng”, “vượt” diễn tả đầy ấn tượng khí thế băng tới vô cùng dũng mãnh của con thuyền toát lên một sức sống tràn trề, đầy nhiệt huyết. Vượt lên sóng. Vượt lên gió. Con thuyền căng buồm ra khơi với tư thế vô cùng hiên ngang và hùng tráng: Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Từ hình ảnh của thiên nhiên, tác giả đã liên tưởng đến “hồn người”, phải là một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật, một tấm lòng gắn bó với quê hương làng xómTế Hanh mới có thể viết được như vậy.Cánh buồm trắng vốn là hình ảnh quen thuộc nay trở nên lớn lao và thiên nhiên.Cánh buồm trắng thâu gió vượt biển khơi như hồn người đang hướng tới tương lai tốt đẹp.Có lẽ nhà thơ chợt nhận ra rằng linh hồn của quê hương đang nằm trong cánh buồm. Hình ảnh trong thơ trên vừa thơ mộng vừa hoành tráng, nó vừa vẽ nên chính xác hình thể vừa gợi được linh hồn của sự vật. Ta có thể nhận ra rằng phép so sánh ở đây không làm cho việc miêu tả cụ thể hơn mà đã gợi ra một vẻ đẹp bay bổng mang ý nghĩa lớn lao. Đó chính là sự tinh tế của nhà thơ. Cũng có thể hiểu thêm qua câu thơ này là bao nhiêu trìu mến thiêng liêng, bao nhiêu hy vọng mưu sinh của người dân chài đã được gửi gắm vào cánh buồm đầy gió. Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấn tượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhû nhoi đơn độc mà ngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình. Cả đoạn thơ là khung cảnh quê hương và dân chài bơi thuyền ra đánh cá, thể hiện được một nhịp sống hối hả của những con người năng động, là sự phấn khởi, là niềm hi vọng, lạc quan trong ánh mắt từng ngư dân mong đợi một ngày mai làm việc với bao kết quả tốt đẹp: Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Những tính từ “ồn ào”, “tấp nập” toát lên không khí đông vui, hối hả đầy sôi động của cánh buồm đón ghe cá trở về. Người đọc như thực sự được sống trong không khí ấy, được nghe lời cảm tạ chân thành đất trời đã sóng yên, biển lặng để người dân chài trở về an toàn và cá đầy ghe, được nhìn thấy “những con cá tươi ngon thân bạc trắng”. Tế Hanh không miêu tả công việc đánh bắt cá như thế nào nhưng ta có thể tưởng tượng được đó là những giờ phút lao động không mệt mỏi để đạt được thành quả như mong đợi. Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Có thể nói rằng đây chính là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ. Với lối tả thực, hình ảnh “làn da ngắm rám nắng” hiện lên để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc thì ngay câu thơ sau lại tả bằng một cảm nhận rất lãng mạn “Cả thân hình nồng thở vị xa xăm” – Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơi thở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la. Cái độc đáo của câu thơ là gợi cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả. Hai câu thơ miêu tả về con thuyền nằm im trên bến đỗ cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nhà thơ không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Cũng như dân chài, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe chất muối của đại dương đang thấm trong từng thớ vỏ của nó. Thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân. Không phải người con làng chài thì không thể viết hay như thế, tinh như thế, và cũng chỉ viết được những câu thơ như vậy khi tâm hồn Tế Hanh hoà vào cảnh vật cả hồn mình để lắng nghe. Ở đó là âm thanh của gió rít nhẹ trong ngày mới, là tiếng sóng vỗ triều lên, là tiếng ồn ào của chợ cá và là những âm thanh lắng đọng trong từng thớ gỗ con thuyền. Có lẽ, chất mặn mòi kia cũng đã thấm sâu vào da thịt nhà thơ, vào tâm hồn nhà thơ để trở thành nỗi niềm ám ảnh gợi bâng khuâng kì diệu. Nét tinh tế, tài hoa của Tế Hanh là ông “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không âm thanh như “mảnh hồn làng” trên “cánh buồm giương”… Thơ Tế Hanh là thế giới thật gần gũi, thường ta chỉ thấy một cách lờ mờ, cái thế giới tình cảm ta đã âm thầm trao cảnh vật: sự mỏi mệt, say sưa của con thuyền lúc trở về bến…” Nói lên tiếng nói từ tận đáy lòng mình là lúc nhà thơ bày tỏ tình cảm của một người con xa quê hướng về quê hương, về đất nước: Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá Nếu không có mấy câu thơ này, có lẽ ta không biết nhà thơ đang xa quê. ta thấy được một khung cảnh vô cùng sống động trước mắt chúng ta, vậy mà nó lại được viết ra từ tâm tưởng một cậu học trò. từ đó ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nối nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn nồng, quê hương là con nước xanh, là màu cá bạc, là cánh buồm vôi. Màu của quê hương là những màu tươi sáng nhất, gần gũi nhất. Tế Hanh yêu nhất những hương vị đặc trưng quê hương đầy sức quyến rũ và ngọt ngào. Chất thơ của Tế Hanh bình dị như con người ông, bình dị như những người dân quê ông, khoẻ khoắn và sâu lắng. Từ đó toát lên bức tranh thiên nhiên tươi sáng, thơ mộng và hùng tráng từ đời sống lao động hàng ngày của người dân. Bài thơ đem lại ấn tượng khó phai về một làng chài cách biển nửa ngày sông, lung linh sóng nước, óng ả nắng vàng. Dòng sông, hồn biển ấy đã là nguồn cảm hứng theo mãi Tế Hanh từ thuở “hoa niên” đến những ngày tập kết trên đất Bắc. Vẫn còn đó tấm lòng yêu quê hương sâu sắc, nồng ấm của một người con xa quê: Tôi dang tay ôm nước vào lòng Sông mở nước ôm tôi vào dạ Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả Kẻ sớm hôm chài lưới ven sông Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển Vẫn trở về lưu luyến bến sông (Nhớ con sông quê hương – 1956) Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lại không có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy. Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyện cùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗi nhơ,ù trong tâm tưởng người con đấùt Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó là những gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sức gợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh”.
Phân tích bài thơ Quê hương của Tế Hanh
1,859
Đề bài: Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Của Tế Hanh Bài làm “Quê hương là gì hả mẹ Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hả mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều” Hình ảnh quê hương luôn là một nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca Việt Nam, biết bao sáng tác rất đặc sắc đã ra đời để nói về chủ đề này. Trong những tác phẩm đặc sắc ấy, người đọc không thể không nhắc tới tác phẩm Quê hương của nhà thơ Tế Hanh. Hình ảnh quê hương đất nước trong thơ của Tế Hanh hiện lên là một hình ảnh cuộc sống chân thực tại một làng chài: “Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới Nước bao vây cách biển nửa ngày sông Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”. Ngay khi mở đầu bài thơ, tác giả đã giới thiệu về nơi chôn rau cắt rốn của mình và nhà thơ đã nhắc đến nó bằng một giọng điệu hết sức tự hào, hạnh phúc khi làng tôi ở cách biển cả nửa ngày sông, và nghề nghiệp chính của người dân nơi đây là làm nghề chài lưới. Làng chài của tác giả không được nhắc đến tên trong tác phẩm, chính vì vậy nó khiến người đọc liên tưởng đến biết bao làng chài khác trên dải đất hình chữ S này. Ở khắp mọi vùng quê ấy, có những làng chài mà cứ ngày ngày những chàng thanh niên trai tráng lại ra khơi đi đánh cá. Hình tượng các chàng trai bơi thuyền đi đánh cá làm người đọc liên tưởng đến hình tượng những con người đang lên đường ra chiến trận, xông pha vào trong khói lửa xa trường. Nhưng ở đây, những người ngư dân lương thiện này lên đường là để kiếm miếng cơm manh áo, dáng điệu họ bơi thuyền hiện ra đầy khỏe mạnh, quật cường và hùng dũng trước thiên nhiên biển cả. Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…” Sau khi giới thiệu về làng chài của mình, tác giả Tế Hanh quay sang tập trung miêu tả vào một chuyến đi biển của người dân. Trong chuyến đi ấy, những con thuyền giống như những con chiến mã, mái chèo như những vũ khí lợi hại còn cánh buồm như lá cờ tượng trưng cho linh hồn của người dân. Bút pháp so sánh được tận dụng triệt để giữa hai vế. Một vế là những hình ảnh, vật dụng đơn sơ, giản dị những công cụ lao động của người ngư dân còn một vế lại là những hình ảnh biểu tượng đầy uy lực, sức sống và mang tầm vóc vĩ mô. Trong những câu thơ vừa có hình ảnh, vừa ngập tràn cảm xúc. Tất cả những vật dụng gắn bó với lao động của người dân dường như đều có linh hồn, có biểu cảm, chúng hiện lên một cách hiên ngang, oai phong lẫm liệt như chính bản thân chúng cũng muốn được thả mình, được thâu góp gió vào đất trời. Cũng có thể, cánh buồm đó là đại diện cho tình yêu và những khát khao hoài bão của chàng trai muốn được hòa mình vào với biển trời, muốn được thể hiện, được đóng góp trong những chuyến đi. “Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ Khắp dân làng tấp nập đón ghe về Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng Cả thân hình nồng thở vị xa xăm Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”. Bài thơ được diễn tả theo một trình tự về một chuyến đi biển của những người ngư dân vì vậy sau khi họ đi biển, thành quả khi trở về của họ là những con cá tươi ngon đầy ghe. Mỗi một chuyến đi biển trở về dân làng lại cùng nhau tấp nập ồn ào ra đón ghe, đón những người ngư dân trở về đất liền. Đó là một chuyến đi biển bội thu, và tất cả họ đều hiểu rằng có được điều đó là nhờ mẹ thiên nhiên ban tặng, họ biết ơn trời đã cho những chuyến đi biển được trở về trong an toàn với những thành quả đầy ăm ắp. Chuyến đi kết thúc và những con người trở về ai ai cũng mang đậm trên người cái phong vị của biển cả, đến con thuyền cũng cảm thấy mệt mỏi sau một hành trình dài. Hình ảnh và hương vị của biển đã thấm sâu và lan rộng trong từng con người, từng cảnh vật và vật dụng nơi đây. Biển và làng chài, người dân dường như đã hòa hợp vào nhau đã trộn lẫn trong cả tâm hồn và xác thịt. “Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Sau khi hồi tưởng về cả một hành trình đánh bắt, một quy trình quen thuộc của quê hương nhà thơ mới quay về bày tỏ nỗi lòng của mình (đến đây thì tác giả mới nhắc đến mình). Đó là nỗi lòng của một con người xa quê đang hướng về làng chài với một niềm nhớ thương tha thiết. Sự nhớ nhung của chàng trai được diễn tả qua cả các màu sắc (nước xanh, cá bạc), qua hình ảnh biểu tượng (chiếc thuyền vôi), qua hương vị (mùi mặn nồng) và qua cả hành động (rẽ sóng chạy ra khơi). Như vậy sự nhớ nhung phải vô cùng cồn cào, vô cùng sâu nặng thì tác giả mới gợi lại tỉ mỉ từng chi tiết và thuật lại nó bằng những ngôn từ tráng lệ, bằng giọng điệu tự hào mà chứa chan tình cảm. Nỗi nhớ ấy của nhà thơ khiến ông phải thốt lên nhớ quá, và nhớ là nhớ cả cái hương vị của biển bởi nó đã bao hàm tất cả. Đúng là trong thơ ca Việt Nam, thơ về quê hương đất nước là bất tận. Những bài thơ của Giang Nam, Đỗ Trung Quân, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Lê Anh Xuân mỗi cái tên đều đã có những tác phẩm không thể thay thế trong chủ đề thơ này. Và bài thơ Quê hương, với bút pháp miêu tả tường thuật đậm nét về hình ảnh làng chài miền biển Việt Nam cũng chính là một mảnh ghép đầy sắc màu đã đóng góp vào những trang thơ ấy.
Phân Tích Bài Thơ Quê Hương Lớp 8 Của Tế Hanh
1,118
Đề bài: Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh Bài làm Sang thu là bài thơ ngũ ngôn của Hữu Thỉnh, từng được nhiều người ưa thích, gồm có ba khổ thơ; mỗi khổ thơ bốn câu là một nét thu đẹp êm đềm của đất trời, tạo vật trong buổi đầu thu – thu mới về, thu chợt đến. Sang thu thể hiện một bút pháp nghệ thuật thanh, nhẹ, tài hoa, diễn tả những cảm nhận, những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kì diệu của thiên nhiên trong buổi thu sớm. Đối tượng được cảm nhận là cảnh sắc mùa thu nơi đồng quê trên miền Bắc đất nước ta. Với thi sĩ Xuân Diệu thì tín hiệu đầu thu là sắc “mơ phai" của lá được bàn tay tạo hóa "dệt" nên giữa muôn ngàn cây: Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng. (Đây mùa thu tới) Nhưng với Hữu Thỉnh là “hương ổi" của vườn quê được “phủ vào" trong làn gió thu se lạnh. Cái hương vị nồng nàn ấy nơi vườn mẹ mà tuổi thơ mỗi chúng ta sẽ mang theo mãi trong tâm hồn, đi suốt cuộc đời: Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se. “Phủ" nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra thành luồng (Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê). Hữu Thỉnh không tả mà chỉ gợi, đem đến cho người đọc những liên tưởng về màu vàng ươm, về hương thơm lựng, thơm ngát tỏa ra, bốc lên từ những trái ổi chín nơi vườn quê trong những ngày cuối hạ, đầu thu. Vì gió thu “se" lành lạnh, nên hương ổi mới thêm nồng nàn mà phả vào đất trời và hồn người. Nhiều người đã biết: Thạch Lam, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân, Băng Sơn, Nguyễn Đình Thi,… đã viết thật hay về hương cốm Vòng (Hà Nội), một nét đẹp mến yêu về hương vị mùa thu của quê hương đất nước: Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới… (Đất nước – Nguyễn Đình Thi) Qua đó, ta thấy “hương ổi" trong bài Sang thu là một tứ thơ mới, đậm đà màu sắc dân dã của Hữu Thỉnh. Sau “hương ổi" và “ gió se”, nhà thơ nói đến sương thu. Cũng không phải là “Sương thu lạnh… Khói thu xây thành" trong Cam thu tiễn thu của Tản Đà. Cũng chẳng phải là giọt sương lạnh và tiếng thu buồn những ngày xa xưa: "Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun" (Chinh phụ ngâm). Mà là sương thu chứa đầy tâm trạng “chùng chình" cố ý làm chậm chạp để kéo dài thời gian: Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về. Sương thu đã được nhân hóa; hai chữ “chùng chình" diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu đã về. Nếu các từ ngữ “bỗng nhận ra" biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên thì hai chữ “hình như" thể hiện sự phỏng đoán một nét thu mơ hồ vừa chợt phát hiện và cảm nhận. Chữ “se” vần với chữ “về” (vần chân, vần bằng, vần cách) đã góp phần tạo nên sự phong phú về vần điệu và nhạc điệu, làm cho giọng thơ nhẹ nhàng, mênh mông gợi cảm. Không gian nghệ thuật của bức tranh Sang thu được mở rộng, ở chiều cao, độ rộng của bầu trời với cánh chim bay và đám mây trôi, ở chiều dài của dòng sông qua khổ thơ thứ hai tiếp theo: Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. Sông mùa thu trên miền Bắc nước ta nước trong xanh, êm đềm trôi: “Trắng xóa tràng giang, phẳng lặng tờ" (Tức cảnh chiều thu – Bà Huyện Thanh Quan). Sông nước đầy nên mới "dềnh dàng”, nhẹ trôi như cố tình làm chậm chạp, thiếu khẩn trương, để mất nhiều thì giờ… Chim bay “vội vã", đó là những đàn cu ngói, những đàn sâm cầm, những đàn chim đổi mùa, tránh rét, từ phương Bắc xa xôi bay về phương Nam. Trong số đàn chim bay “vội vã" ấy phải chăng có những đàn ngỗng trời mà nhà thơ Nguyễn Khuyến đã nói tới trong Thu vịnh: Một tiếng trên không ngỗng nước nào… Dòng sông, cánh chim, đám mây mùa thu đều đươc nhân hóa. Bức tranh thu trở nên hữu tình, chứa chan thi vị. Hữu Thỉnh không dùng những từ ngữ như lang thang, lơ lửng, bồng bềnh, nhẹ trôi,… mà lại dùng chữ “ vắt”. Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu. Mây như kéo dài ra, vắt lên, đặt ngang trên bầu trời, buông thõng xuống. Câu thơ tả đám mây mùa thu của Hữu Thỉnh khá hay và độc đáo; cách chọn từ và dùng từ rất sáng tạo. Khổ thơ cuối nói lên một vài cảm nhận và suy ngẫm của nhà thơ khi nhìn cảnh vật trong những ngày đầu thu: Vẫn còn bao nhiêu nắng. Đã vơi dần cơn mưa. Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. Nắng, mưa, sấm, những hiện tượng của thiên nhiên trong thời điểm giao mùa: mùa hạ – mùa thu được Hữu Thỉnh cảm nhận một cách tinh tế. Các từ ngữ: “vẫn còn", “đã vơi dần”, “cũng bớt bất ngờ" gợi tả rất hay thời lượng và sự hiện hữu của sự vật, của thiên nhiên như nắng thu, mưa thu, tiếng sấm buổi đầu thu. Mùa hạ như còn níu giữ. Nắng, mưa, sấm mùa hạ như còn vương vấn mùa thu, vương vấn hàng cây và đất trời. Nhìn cảnh vật sang thu buổi giao mùa, từ ngoại cảnh ấy mà nhà thơ suy ngẫm về cuộc đời. “Sấm" và “hàng cây đứng tuổi'' là những ẩn dụ tạo nên tính hàm nghĩa của bài Sang thu. Nắng, mưa, sấm là những biến động của thiên nhiên, còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những thay đổi, biến đổi, những khó khăn thử thách trong cuộc đời. Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi" là một ẩn dụ nói về lớp người đã từng trải, được tôi luyện trong nhiều gian khổ, khó khăn: Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi. Hữu Thỉnh viết bài thơ Sang thu vào đầu những năm 80 của thế kỉ trước. Lúc bấy giờ, đất nước ta tuy đã được độc lập và thống nhất, nhưng đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách mới về kinh tế, về xã hội. Hai câu kết bài thơ mang hàm nghĩa khẳng định bản lĩnh cứng cỏi và tốt đẹp của nhân dân ta trong những năm tháng gian khổ, khó khăn ấy. Sang thu là một bài thơ hay của Hữu Thỉnh, được in trong tập thơ Từ chiến hào tới thành phố xuất bản vào tháng 5 – 1985. Bao cảm xúc dâng đầy, những vần thơ đẹp, hữu tình, nên thơ. Nhà thơ không sử dụng bút màu để vẽ nên những cảnh thu, sắc thu rực rỡ. Chỉ là một số nét chấm phá, tả ít mà gợi nhiều nhưng tác giả đã làm hiện lên cái hồn thu thanh nhẹ, trong sáng, êm đềm, mênh mang… đầy thi vị. Nghệ thuật nhân hóa và ẩn dụ, cách chọn lọc từ ngữ khá tinh tế là những thành công của Hữu Thỉnh để lại dấu ấn đẹp và sâu sắc trong Sang thu. Thơ ngũ ngôn trong Sang thu thể hiện một cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt mới mẻ, hàm súc, lắng đọng và hồn nhiên. Sang thu là một tiếng lòng trang trải, gửi gắm bao tình yêu mùa thu của quê hương đất nước; một tiếng thu nồng hậu, thiết tha.
Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
1,293
Phân tích bài thơ Sang thu – Hữu Thỉnh Hướng dẫn Vẻ đẹp làng quê Bắc bộ qua bài thơ sang thu Mở bài: Mùa thu vốn là đề tài lớn trong thi ca. Từ xưa đến nay, các thi sĩ vẫn chưa thôi tìm kiếm và chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt vời của sắc lá vàng phai và làn sương mờ ảo của đất trời khi bước vào thu. Hòa trong niềm say mê ấy, Hữu Thỉnh cũng góp một tiếng thơ thật mượt mà, đằm thắm với bài Sang thu. Sang thu mang cảm xúc bâng khuâng, vấn vương của tác giả trước đất trời trong trẻo, đang biến chuyển nhẹ nhàng từ hạ sang thu. Lời thơ nhẹ nhàng, đằm thắm vẽ nên bức tranh mùa thu mang đậm hồn quê Việt Nam dân dã, mộc mạc tinh tế và giàu rung cảm. Thân bài: Trọn vẹn bài thơ “Sang thu” chỉ có ba khổ thơ ngắn. Mỗi khổ 4 câu mang hình thức của thể thơ 5 chữ, giọng điệu giàu chất chữ tình, thông qua hình ảnh mới lạ, gợi cảm đã gợi tả nét đẹp thật tự nhiên mà cũng rất độc đáo về thời điểm giao mùa từ hạ sang thu ở một vùng nông thôn trên đồng bằng Bắc Bộ. Khoảnh khác giao mùa tuyệt diệu ấy được phát hiện qua mùi hương ổi chín nồng nàn không gian: “Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về”. “Sang thu” ở đây là chớm vào thu, là lúc thiên nhiên giao mùa. Mùa hè vẫn chưa hết mà mùa thu tới với những tín hiệu đầu tiên. Trước những sự thay đổi tinh vi ấy, tâm hồn phải nhạy cảm lắm mới cảm nhận được. Nếu như trong thơ ca cổ điển mùa thu thường hiện ra hình ảnh ước lệ như “ngô đồng”, “rặng liễu”, “lá vàng mơ phai”, “hoa cúc”…thì với Hữu Thỉnh ông lại bắt đầu bằng “hương ổi”. Đó là một hình ảnh, một tứ thơ khá mới mẻ với thơ ca viết về mùa thu nhưng lại vô cùng quen thuộc và gần gũi đối với mỗi người dân Việt Nam,đặc biệt là người dân miền Bắc mỗi độ thu về. Như đã chờ đợi từ lâu, bất ngờ bắt gặp cái dấu hiệu quen thuộc tuy vô hình nhưng vô cùng mạnh mẽ, nhà thơ thốt lên như một đứa trẻ, sung sướng reo vui. Từ “bỗng” là phó từ chỉ một hiện thực xảy ra thật đột ngột, bất ngờ. Nó kết hợp với từ “nhận ra” như muốn khẳng định vì “nhận ra” ấy như là vô tình, như là đang sửng sốt. Để rồi từ đây, nhà thơ có thể quan sát sự xuất hiện của mùa thu trong đât trời bằng tất cả cảm giác của mình mà trước hết là cảm nhận về “hương ổi” chín phải vào trong làn gió chớm se se lạnh. Mùi hương ấy không hòa vào quyện vào mà “phả” vào trong gió. “Phả” nghĩa là tỏa ra từng luồng và tràn ngập trong không gian. Hữu Thỉnh đã không tả mà chỉ gợi, đem đến cho người đọc một sự liên tưởng thú vị: tại vườn tược quê nhà, những quả ổi chín vàng trên các cành cây kẽ lá tỏa ra hương thơm nức, thoang thoảng trong gió. Chỉ một chữ “phả” thôi cũng đủ gợi hương thơm như sánh lại. Sánh lại bởi hương đậm một phần, sánh bởi tại gió se. “Gió thổi mùa thu hương cốm mới Tôi nhớ những ngày hương đã xa”. (Đất nước – Nguyễn Đình Thi) Hay như Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu tới cũng có những rung cảm hết sức diệu kì: “Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng”. (Đây mùa thu tới – Xuân Diệu) Hữu Thỉnh cũng thế, ông cũng đã tạo thêm những nét mới hơn trong thơ ca thông qua cảm nhận thật tinh tế khi phát hiện đất trời chuyển sang thu. Với chất bình dị trong việc chọn ngôn ngữ, hình ảnh được xây dựng chi tiết, khá bất ngờ, đột ngột. Bởi “hương ổi” được phát hiện bằng khứu giác nhạy cảm của thi nhân, theo làn gió se se lạnh đầu thu đi vào ý thơ, rồi phả, rồi lan tỏa vào tri giác của độc giả biết bao yêu thương, gợi hương thơm dìu dịu. Không những thế, cái vị giòn ngọt ẩn chứa vị chua chua gợi nơi đầu lưỡi khiến ta không khỏi nghĩ về những chùm ổi căng mộng rung rinh trên cành lá. Sự hiện hữu của “hương ổi” mở đầu cho làn sương thu tràn vào cảnh vật. Lại một lần nữa Hữu Thỉnh chứng thực tài tả cảnh sắc mùa thu. Từ “gió se” gợi tả không khí đủ làm cho da, tay ta se lại, thật mát mẻ, làm lòng ta thấy thanh thản, yên bình, một sự cảm nhận bằng xúc giác, rất mới lạ. Bên cạnh “hương ổi” “gió se”, không gian đầu thu mát dịu, yên bình ấy còn được chọn tả qua hình ảnh: “Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về”. Nếu như “hương ổi” là sự cảm nhận bằng khứu giác, “gió se” là hiện tượng cảm nhận khí thu bằng xúc giác thì hình ảnh màn sương được tác giả phát hiện thong qua thị giác. Sự cảm nhận ấy một lần nữa đã chứng nhận sự tinh tế, độc đáo của thi nhân khi miêu tả cảnh thu đã được quan sát và miêu tả vào buổi sáng sớm. Đó là sự tinh tế, phù hợp trong việc chọn hình ảnh để tả thiên nhiên. gợi ra những làn sương mỏng,mềm mại, giăng màn khắp đường thôn ngõ xóm làng quê. Nó làm cho khí thu mát mẻ và cảnh thu thơ mộng, huyền ảo, thong thả, bình yên của chốn đồng bằng Bắ Bộ mà ta vẫn thường thấy trong thơ cổ: “Nước biếc trông chừng như khói phủ, Song thưa để mặc bóng trăng vào” (Thu vịnh – Nguyễn Khuyến) Mang giá trị tả thực, từ láy, “chùng chình” góp phần miêu ta trạng thái chậm chạp, cố ý gõ chậm lại của màn sương. Tuy nhiên, vốn giàu tính hình tượng, thông qua theo làn gió thu thoảng hết trôi sang bên này lại lướt nhẹ sang bên kia, khi lướt trườn về phía trước rồi lùi hẳn về phía sau. Cứ thế, như một đứa trẻ tinh nghịch, cứ đủng đà đủng đỉnh đi qua ngõ vắng. Tâm trạng bỡ ngỡ ban đầu ấy cũng nhanh chóng vụt tan biến đi nhường chỗ cho sự rung động mãnh liệt của thi nhân trước cảnh mùa thu với hiện thực: “Sông được lúc dềnh dàng Chim bắt đầu vội vã Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu”. Thiên nhiên sang thu đã được cụ thể bằng những hình ảnh: “sông dềnh dàng”, “chim vội vã”, “đám mây vắt nửa mình”. Từ láy “dềnh dàng” miêu tả đậm nét của dòng sông vào mùa thu. Với nghĩa thực “dềnh dàng” đã góp phần gợi tả hình ảnh chậm chạp, thong thả của dòng sông êm ả trôi. Tuy nhiên, nếu từ “chùng mình” làm hiện lên sự lơ đãng của làn sương thì “dềnh dàng” lại gợi tả sự tinh nghịch của con sông. Bằng phép nhân hóa đặc sắc, Hữu Thỉnh đã rất tài hoa ghi lại linh hồn của cảnh vật, của dòng sông quê hương nơi vùng đồng bằng Bắc Bộ ăm ắp nước phù sa, vươn mình giữa ruộng đồng vào những ngày giao mùa. Dòng nước như luyến tiếc, như nấn ná không muốn rời đi, như cũng muốn cùng nhà thơ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cánh đồng vào thu, muốn hòa mình hân hoan cùng đất trời. Cái “dềnh dàng” của dòng sông không chỉ gợi ra vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu mà còn mang đầy tâm trạng của con người như chậm lại,như trễ nải, như ngẫm ngợi nghĩ suy về những trải nghiệm trong cuộc đời. Trái ngược với vẻ khoan thai của dòng sông là sự vội vàng của những cánh chim trời bắt đầu di trú về phương Nam. Nhà thơ mở rộng tầm nhìn lên bầu trời cao. Không gian trở nên xôn xao, không có âm thanh nhưng câu thơ lại gợi được cái động. Cả đất trời như đang trong cuộc chuyển luân vĩ đại, cái gì cũng bất đầu chuyển mình, bắt đầu vội vã theo khí thu lan tràn. Kể cả đám mây trời cũng cố vươn mình bước sang thu, trong khi sắc hạ như còn níu kéo không muốn cho rời đi: “Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu”. Đây là cách diễn đạt thật độc đáo của Hữu Thỉnh. Hình ảnh thơ độc đáo khiến ta liên tưởng đến đám mây như một tấm vải lụa, tấm voan thật mềm mại, thật mịn màng đang vắt hờ ngang vai bầu trời. Cảnh vật có sự xung đột dữ dội và ngày càng hiện rõ sự thắng thế của mùa thu trước mùa hạ. Nhà thơ Xuân Diệu cũng có những câu thơ tài tình miêu tả khoảnh khắc ấy: Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh”. (Đây mùa thu tới – Xuân Diệu) Những cánh mùa hạ đã tàn héo nhưng dường như chiếc lá xanh vẫn cố bám trên cành. Sắc vàng nhuộm thắm không gian biểu thị bước đi khắc nghiệt của thời gian. Tuy có chút tiếc nuối, buồn bã nhưng thi nhân biết đó là quy luật của thiên nhiên vũ trụ. Thế nên, Hữu Thỉnh mới gượng gạo vớt những tia nắng hạ cuối cùng trên bầu trời, nhìn về hướng con mưa đang lùi dần về núi, lắng nghe âm thanh vang động của vũ trụ như lời từ biệt cuối cùng: “Vẫn còn bao nhiêu nắng Đã vơi dàn cơn mưa Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi”. Không đơn thuần là tả cảnh sang thu mà còn chất chứa bao suy nghiệm của con người về cuộc sống. Bởi vì, ngoài phép nhân hóa, tiếng sấm còn mang tính ẩn dụ và được hiểu như những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời. Cụm từ “hàng cây đứng tuổi” đứng vào vị trí kết bài mang tính biểu tượng sâu sắc. Từ đó, ta có thể ngầm hiểu cái “đứng tuổi” của cây như khép lại một bức tranh thiên nhiên để mở ra bức tranh tâm trạng của con người. “Sấm” là những vang động bất thường của ngoại cảnh, cuộc đời. “Hàng cây đứng tuổi” chỉ những con người đứng tuổi từng trải. Câu thơ lắng động, giọng thơ trầm hẳn xuống gợi lên sự suy nghĩ, chiêm nghiệm về đời người. Nhìn cảnh vật biến chuyển khi thu mới bắt đầu, Hữu Thỉnh nghĩ đến cuộc đời mình đang đi vào giai đoạn “đứng tuổi”. Phải chăng, mùa thu đời người là sự khép lại của những tháng ngày sôi nổi với những bất thường của tuổi trẻ bồng bột và mở ra một giai đoạn mới, mộ thế giới mới, yên tĩnh, trầm lắng, bình tâm, chính chắn…trước những biến động trong cuộc đời con người. Bước qua những trở ngại, trải nghiệm trong thời gian, con người ngày càng hiểu biết và bình tĩnh hơn trước những bất thường của kiếp người đầy giông bão. Kết bài: Bằng hình ảnh thơ tự nhiên, không trau chuốt mà giàu sức gợi cảm, thể thơ năm chữ linh hoạt, Hữu Thỉnh đã thể hiện một cách đặc sắc những cảm nhận tinh tế để tạo ra một bức tranh chuyển giao từ cuối hạ sang thu nhẹ nhàng, êm dịu, trong sáng nên thơ…ở vùng đông bằng Bắc Bộ của đất nước. Bài thơ đánh thức tình cảm của mỗi người về tình yêu quê hương đất nước và suy ngẫm về cuộc đời. Với tư cách nhìn thật riêng, cả bài thơ, bẳng lối miêu tả thật độc đáo, thi nhân còn hun đúc cho chúng ta những suy ngẫm thật sâu sắc đối với những con người đã từng trải nghiệm với cuộc sống. Sự hòa nhập ấy giúp con người càng thêm yêu thiên nhiên, biết lấy thiên nhiên làm ngồn vui, bồi đắp cho tâm hồn con người niềm vui sống, luôn lạc quan, bền bỉ trước mọi thăng trầm của cuộc đời.
Phân tích bài thơ Sang thu – Hữu Thỉnh
2,068
Đề bài: Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh Bài làm Trong số các bài thơ thuộc "thế hệ chống Mĩ", Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ viết nhiều và rất hay về tình yêu. Thơ tình của chị đậm nét tự truyện, vân là những chuyện muôn thuở của tình yêu nhưng bao giờ chúng cũng có vẻ như chuyện riêng của Xuân Quỳnh, không quá thật thà nhưng xa lạ với những uốn éo điệu đàng, những sự "réo rắt” quá độ. Sóng là một bài thơ hay của chị, in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968). ở đây, khát vọng tình yêu, dù hình tượng sóng mà Xuân Quỳnh mượn làm ẩn dụ vốn chẳng xa lạ gì với các nhà thơ viết về tình yêu kim cổ. Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh Trước Xuân Quỳnh đã có biết bao nhà thơ thiên tài viết về tình yêu. Xuân Quỳnh hình như không có ý đua ganh với họ. Chị "khiêm tốn" chỉ đem chuyện mình ra kể, không giảng giải cho ai, không xây dựng lí thuyết, không nói điều gì vượt quá nhận thức và trải nghiệm của chính mình. Khi chị nói: Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trề Thì trước hết ta nên hiểu là chị đang nói về mình, đang thú nhận nỗi "bồi hồi" của mình cùng với sự tự biết rằng mình còn rất trẻ. Nếu mây câu ấy ứng với nhiều người thì lại là chuyện khác. Cái nhìn của Xuân Quỳnh xuất phát từ bên trong. Nó không giống sự suy đoán tuy già dặn, đúng đắn nhưng lại đi từ ngoài vào của các nhà nghiên cứu tâm lí tình yêu. Cũng thế, khi nói về nơi bắt đầu của tình yêu, Xuân Quỳnh thực sự đứng giữa cái phân vân của chính mình: Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên? Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cùng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau Người ta thường hay đối chiếu hai câu thơ "Em cũng không biết nữa, Khi nào ta yêu nhau” của Xuân Quỳnh với câu "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?" trong bài Vì sao của Xuân Diệu. Đúng là giữa chúng có sự tương đồng nhưng cái khác vẫn rõ. Mặc dù tỏ ra ngẩn ngơ nhưng Xuân Diệu vẫn cắt nghĩa và sự cắt nghĩa của ông khá rạch ròi. Xuân Quỳnh không hẳn giống thế, chị không ham lí giải, phân tích, dù trong lòng có bao mốì bức xúc đòi "tìm ra tận bể" để "hiểu", để "nghĩ". Chị vẫn giữ nguyên vẹn tâm lí phụ nữ của mình với cái "lắc đầu" thật dễ "động lòng": "Em cũng không biết nữa". Nhu cầu tìm hiểu ở đây là nhu cầu tình cảm hơn là nhu cầu của trí tuệ. Nó cũng như con sóng, được đẩy tới rồi thoái lui và lan trong mỗi ngọt ngào được che chở, vỗ về. Biết ta đang yêu nhau thế là đã đủ. Thắc mắc một tí chỉ là để yên tâm hơn với hạnh phúc hiện có. Tuy nhiên, như chị đã viết trong một bài thơ khác (Thuyền và biển): "…tình yêu muôn thuở, có bao giờ đứng yên”, dù không có gì thật gay cấn thì tình yêu vẫn sống động, vẫn muốn vỗ suốt cả hai chiều không gian và thời gian: Con sóng dưới lòng sâu… Con sóng trên mặt nước, Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được. Là con người của thời hiện đại dám sống với toàn bộ những gì mình có, Xuân Quỳnh không ngại nói thẳng ra nỗi đau đáu của mình. Trong tâm thức con người ây chỉ có "anh" là đáng kể mà thôi. Chị rất kiên định trên "lập trường tình yêu" và đề cao tuyệt đối lòng chung thuỷ: Dầu xuôi về phương Bắc, Dẫu ngược về phương Nam, Nơi nào em cũng nghĩ, Hướng về anh – một phương. Những lời khẳng định ấy thật đa diết, riết róng và cũng chứa đựng thật nhiều thách thức, thách thức với hoàn cảnh và thách thức với cả tình "anh" nữa. Những ai hay do dự và có thói quen "vọng ngoại" trong tình yêu hẳn sẽ có cảm giác "chợn" trước sự tỏ bày dứt khoát ấy. Bình thường người ta vẫn nói ngược về phương Bắc, xuôi về phương Nam nhưng Xuân Quỳnh thì đã nói ngược lại. Đối với chị, dù có xáo trộn một tí thì điều đó cũng không có gì là quan trọng. Quan trọng nhất chỉ là "phương anh", dù ở đâu em cũng "hướng về". Nếu nói đến sự quyết liệt của tình yêu Xuân Quỳnh thì khổ thơ này là dẫn chứng thuộc loại tiêu biểu nhất. Như nhan đề bài thơ đã nói rõ, hình tượng trung tâm ở đây là hình tượng sóng. Mới nhìn qua, cách biểu đạt khát vọng tình yêu bằng ẩn dụ kia chưa phải đã thật độc đáo. Dù vật, Xuân Quỳnh đã hoàn toàn đúng khi chọn đối tượng để hoá thân. Sóng – Xuân Quỳnh – nhân vật trữ tình tuy là ba nhưng cũng gần như một. Ở Xuân Quỳnh cũng có nhiều nét đối cực như sóng, cũng không bao giờ chịu yên bề như sóng và cũng như sóng, luôn muôn "tìm ra” với biển lớn của tình yêu, của cuộc đời: Dữ dội và dịu êm, Ôn ào và lặng lẽ Sóng không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể. Căn cứ vào âm điệu đồi dào, nhiều biến đổi và thường là cuộn trào sôi nổi của bài thơ, có thể thấy sóng là một hình tượng sống thực chứ không hề là hình ảnh minh hoạ (hình ảnh minh hoạ chỉ là vỏ ngoài của ý tưởng, nó sẽ chết khi ý tưởng đã được người đọc lĩnh hội hết). Xuân Quỳnh đã phả vào hình tượng "sóng” vốn khá quen thuộc hơi thở yêu đương nồng nàn của mình, và do vậy, tái tạo nó, khiến nó như mới được sinh ra lần đầu với tình yêu của chị. Đôi khi, sự hóa thân của chị vào "sóng" sâu sắc đến mức "sóng” cũng thành ra có dáng…vất vả, lo toan, tất bật ngược xuôi. Khổ thơ có mấy câu "Dẫu xuôi…"; "Dầu ngược…”(đã trích) cùng khổ tiếp theo cho ta thấy điều đó rất rõ: Ở ngoài kia đại dương, Trăm ngàn con sóng đó. Con nào chẳng tới bờ, Dù muôn vời cách trở. Khi ẩn mình trong "sóng", khi đứng hẳn ra xưng "em", một mà hai, hai mà cái "tôi" Xuân Quỳnh luôn thao thức, trán trở. Vừa bộc lộ gián tiếp lại vừa giãi bày trực tiếp, khi ẩn, khi hiện, đấy mới là "nhịp sóng” ngầm của bài thơ, định những xao động bề mặt, biểu hiện qua câu chữ và âm điệu, nhip điệu đối dễ thấy, ẩn dụ "sóng" tuy có lúc bị phá vỡ, nhưng đấy chỉ là sự phá vỡ bề ngoài. Điều đó tạo điều kiện cho ta hiểu sâu hơn tầng "ẩn dụ" của cả bài thơ, đâu hơn những âu lo khắc khoải, những hi vọng, khát vọng, những gắng sức kiếm tìm và hành động tất yếu phải có ở một tình yêu chân chính, một tình như tình yêu của Xuân Quỳnh khi đối diện với cuộc đời rộng lớn, với thời gian trôi chảy không ngừng: Cuộc đời tuy dài thể, Năm tháng vẫn đi qua, Như biển kia dẫu rộng, Mây vẫn bay về xa. Làm sao được tan ra, Thành trăm con sóng nhỏ, Giữa biển lớn tình yêu, Đề ngàn năm còn vỗ. Như trên đã phân tích, bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh có một cách thể hiện riêng về khát vọng tình yêu. Bao trùm lên là sự chân thực trong tình cảm, dường như chỉ nói những điều mà nhà thơ đẫ ihể nghiệm sâu sắc. Cách nói ở đây táo bạo, nhiều khi quyết liệt chứ không dè dặt, sẽ sàng. Hình tượng sóng được xây dựng sinh động, hàm chứa nhiều ý nghĩa phong phú, tuy nhiên nó thường bị giải thích bằng những lời thổ lộ tình cảm trực tiếp của nhân vật trữ tình. Với một vẻ đẹp khá độc đáo, khá riêng đó, bài thơ đã dành được cảm tình tốt đẹp của rất nhiều người đọc trong những năm qua. Như mong ước của Xuân Quỳnh, "giữa biển lớn tình yêu", con sóng thơ được chị hoá thân vẫn còn dào dạt vỗ.
Phân tích bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh
1,429
Đề bài: Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh Bài làm Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại. Người yêu thơ mệnh danh chị là “Nữ hoàng của thi ca tình yêu”. Thơ của chị là tiếng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm và da diết khát vọng hạnh phúc đời thường. Sóng là bài thơ được làm năm 1967 nhân chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền. Bài thơ sau đó được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Sóng là bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Quỳnh. Sóng là một hình tượng động, bất biến cũng như “tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên”. Vì vậy cho nên sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu để biểu tượng cho tình yêu. Nếu Xuân Diệu mượn sóng để biểu tượng cho tình yêu của anh “Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em/ Hôn thật khẽ thật êm/ Hôn êm đềm mãi mãi/ Đã hôn rồi hôn lại/ Cho đến nát cả trời/ Anh mới thôi dào dạt”. Thì Xuân Quỳnh lại mượn sóng là biểu tượng cho những cung bậc tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu nhiều khao khát và biến động. Hai hình tượng sóng và em luôn đi đôi sánh cặp với nhau. Sóng là em mà em cũng là sóng. Sóng và em hòa quyện vào nhau, có lúc khiến ta không nhận ra đâu là em đâu là sóng nhưng có lúc lại tách ra, soi chiếu vào nhau, tôn lên những vẻ đẹp vừa đa dạng lại vừa phong phú. Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ. Thể thơ năm chữ có tác dụng tạo ra những nhịp điệu của sóng. Cả bài thơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là một con sóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ. Tất cả đã tạo nên một âm hưởng mênh mang, dào dạt của những con sóng lòng nhiều cung bậc: Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Hai câu thơ đầu với nghệ thuật đối: Dữ dội – dịu êm; Ồn ào – lặng lẽ đã làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực. Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển dữ dội ồn ào còn những giây phút sóng gió đi qua biển lại hiền hòa trở về dịu êm lặng lẽ. Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát “Vì tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên”. Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu rất dữ dội, yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung “cả trong mơ còn thức”, đôi khi ghen tuông giận hờn vô cớ: Nếu phải cách xa nhau Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa anh Em chỉ còn bão tố (Thuyền và Biển) Nhưng cũng có lúc người con gái lại thu mình trở về với chất nữ tính đáng yêu, họ lặng lẽ, dịu êm ngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm: Có những tình yêu không thể nói bằng lời Chỉ hiểu nhau qua từng ánh mắt Nhưng đó là tình yêu bền vững nhất Bởi thứ ồn ào là thứ dễ lãng quên (Đinh Thu Hiền) Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ đang trong độ tuổi hai mươi, tiếng nói của một trái tim chân thành và đam mê, luôn rực cháy chất trẻ trung mãnh liệt, khao khát được sống hết mình và yêu hết mình. Vì thế cho nên: Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm. Mạch sóng mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao. Hành trình tìm ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình. Sóng không cam chịu một cuộc sống đời sông chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biển khơi bao la để thỏa sức vẫy vùng. Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, tình yêu của người phụ nữ cũng không thể đứng yên trong một tình yêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹp tầm thường để được sống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung. Đây là một quan niệm tình yêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại. Có thấy ngày xưa quan niệm tình yêu cổ hủ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” để rồi bao cô gái đã phải cất lên lời than van ai oán: Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân Hoặc: Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai Từ đó ta mới thấy hết được cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh: Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình. Tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, nó làm bồi hồi, xao xuyến rung động trái tim của lứa đôi, của con trai con gái, của em và anh. Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ Từ “Ôi!” cảm thán như tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tim yêu. Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau” càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng. Sóng là thế muôn đời vẫn thế vẫn dữ dội ồn ào vẫn dịu êm lặng lẽ như tình yêu tuổi trẻ có bao giờ đứng yên. Bởi tình yêu tuổi trẻ luôn khát vọng luôn khát khao và mơ ước. Nó làm ta bồi hồi khát khao và nhung nhớ bởi “Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào” hay “Bắt chim bướm thả vào vườn tình ái” (Xuân Diệu). Tình yêu làm điên đảo tuổi trẻ với những nhớ nhung giận hờn, những cồn cào da diết như lời thơ Xuân Quỳnh đã từng viết “Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau rạn vỡ/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu mong nhớ”. Có yêu nhau mới thấy được cồn cào của vị nhớ, mùi ái ân, mới thấy được thế nào là bồi hồi ngực trẻ. Tình yêu là sóng, là gió. Và qua sóng, gió ấy, nhà thơ đã nói lên thật dễ thương cái nhu cầu tự nhận thức, tự phân tích, lí giải, nhưng lại không thể cắt nghĩa nổi của tình yêu. Tình yêu cũng như sóng biển, gió trời vậy thôi, nó tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ như thiên nhiên: Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh, em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau Người phụ nữ băn khoăn về khởi nguồn của tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân thành sự bất lực không lý giải được câu hỏi muôn đời ấy trong tình yêu: “Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”. Đây là một cách cắt nghĩa về tình yêu rất Xuân Quỳnh, một cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm. Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi « Sóng bắt đầu từ gió » nhưng để hiểu « Gió bắt đầu từ đâu » thì thi nhân lại ấp úng « Em cũng không biết nữa ». Cũng như tình yêu của anh và em nó đến rất bất ngờ và tự nhiên bởi « Tình yêu đến trong đời không báo động ». Câu thơ « Em cũng không biết nữa » như một cái lắc đầu nhè nhẹ, bâng khuâng và phân vân. Đến câu hỏi « Khi nào ta yêu nhau » thì đúng là nữ sĩ đang bâng khuâng và băn khoăn. Kì lạ quá, diệu kì quá, em và anh yêu nhau bao giờ nhỉ? Câu hỏi này muôn đời không ai lí giải nổi nhất là những bạn trẻ đang yêu và đắm say trong men tình ái. Tình yêu là vậy, khó lí giải, khó định nghĩa. Xuân Diệu – ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định nghĩa về tình yêu « Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt/Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu ». Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá. Tình yêu không có tuổi cũng như « xuân không ngày tháng ». Tình yêu là một ẩn số giữa hai thế giới tâm hồn chứa đầy bí mật. Dù tin tưởng chung một đời một mộng Anh là anh mà em vẫn là em Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật Những tâm hồn bí mật ấy luôn khao khát giao hòa, khao khát khám phá nhưng lại không lý giải nổi tình yêu. Bởi tình yêu là bài toán chưa có lời giải đáp, tình yêu như bài thơ chưa có hồi kết. Vì thế tình yêu luôn đẹp, luôn mới và hấp dẫn. Có lẽ vì thế mà thi sĩ đã lắc đầu « Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau ». Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ – một trong những gam màu chủ đạo của tình yêu. Bao kẻ nhớ người mình yêu mà đảo điên: Trời còn có bữa sao quên mọc Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em (Xuân Diệu) Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than (Ca dao) Còn Xuân Quỳnh thì: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Những con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”. Bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm tư. Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước” Hai câu thơ với hình thức lặp cấu trúc quyện hòa cùng nghệ thuật đối “dưới lòng sâu – trên mặt nước” tạo nên sự điệp trùng của những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Có con sóng gầm gào trên mặt đại dương nhưng cũng có con sóng cuộn trào trong lòng biển cả. Con sóng ngầm còn mãnh liệt hơn cả con sóng trên mặt nước. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: “Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được” Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, có khi nào thôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Vì nhớ bờ “bởi hôn mãi ngàn năm không thỏa/ Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi”. Nên con sóng đã hành trình vượt qua không gian bao la và thời gian xa thẳm. Nó bất chấp cả thời gian “ngày đêm không ngủ được” để quyết tâm hướng vào bờ cho thỏa nỗi niềm mong nhớ. Và nếu sóng nhớ bờ thì em nhớ anh. Đó âu cũng là quy luật của tình yêu. Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Xuân Quỳnh dùng chữ “lòng” rất tinh tế. Lòng là nơi sâu kín nhất của tâm hồn con người. Nơi bí mật thẳm sâu của tình yêu và nỗi nhớ. Khi Xuân Quỳnh nói “lòng em nhớ” nghĩa là chị đã phơi bày tất cả gan ruột của mình để dốc hết yêu thương mà gửi về người mình yêu. Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức – thời gian trong mơ. Vị ngọt ngào mê đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lý “cả trong mơ còn thức”. Câu thơ “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Nó làm đảo lộn nhịp sống bởi “tình yêu luôn làm cho con người khó thức ngủ theo giấc giờ điều độ”. Nỗi nhớ không chỉ làm lòng em “bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi trong than” nó còn làm cho em nhớ nhung, thao thức ngay cả trong giấc ngủ. Có thể nói, với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Sóng và em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em: “Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam” Thế giới của Anh và Em không giới hạn chiều dài Bắc – Nam, không khoanh vùng địa bàn mà nơi nào cũng có nỗi nhớ thường trực của tình yêu vĩnh viễn. Xuân Quỳnh đã tiếp nhận nỗi nhớ ấy bằng tất cả sự nhạy cảm của lứa tuổi đôi mươi và khẳng định cho một cái tôi của con người luôn vững tin ở tình yêu. Từ xưa đến nay người ta vẫn thường nói “Xuôi Nam, ngược Bắc” giờ đây Xuân Quỳnh lại nói “Xuôi Bắc, ngược Nam” là cách nói ngược. Phải chăng tình yêu đã làm cho con người bị đảo lộn phương hướng? Nhưng có một phương mà em không thể nào lẫn lộn, không thể nào nguôi nhớ đó là phương anh: “Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương” Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh: Chỉ riêng điều được sống cùng anh Niềm mơ ước trong em là lớn nhất Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực Giây phút nào tim đập chẳng vì anh Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã là “hệ qui chiếu” của đời em. Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị: “Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi” Nếu như những khổ thơ trước nhà thơ nói về niềm vui sướng dào dạt, những nhung nhớ giận hờn thì đoạn thơ này nhà thơ lại thể hiện những băn khoăn, lo lắng. Đó cũng là trực cảm của tình yêu. “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào cũng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Ba từ “Ở ngoài kia” như cánh tay Xuân Quỳnh mềm mại đang chỉ tay về khơi xa nơi trăm ngàn con sóng ngày đêm không không biết mỏi đang vượt qua giới hạn không gian thăm thẳm muôn vời cách trở để hướng vào bờ ôm ấp nỗi yêu thương. Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hòa nhịp vào trong tình yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ như tìm về nguồn cội yêu thương, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi. Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi băn khoăn của chị. Những từ “tuy dài thế – vẫn đi qua – dẫu rộng” như chứa đựng ở trong nó ít nhiều nỗi âu lo. Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chân thành của mình sẽ vượt qua tất cả như áng mây kia như năm tháng kia. Có thể nói Xuân Quỳnh yêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử thách trong tình yêu; đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt qua thử thách đến vói bến bờ hạnh phúc. Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dài đằng đẵng và đám mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa. Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụ được bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềm tin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu. Yêu thương mãnh liệt nhưng cao thượng, vị tha. Nhân vật trữ tình khao khát hòa tình yêu con sóng nhỏ của mình vào biển lớn tình yêu – tình yêu bao la, rộng lớn – để sống hết mình trong tình yêu, để tình yêu riêng hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Cuộc đời là biển lớn tình yêu, kết tinh vị mặn ân tình, được tạo nên và hòa lẫn cùng trăm con sóng nhỏ. Trong quan niệm của nhà thơ, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng. Sóng không phải là biểu tượng của một cái tôi ngạo nghễ và cô đơn như thơ lãng mạn. Khát vọng lớn nhưng trong cách nói Xuân Quỳnh lại rất khiêm nhường: trăm con sóng nhỏ như là sự tổng hòa những vẻ đẹp khác nhau để tạo thành biển lớn. Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệt muốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để một đời vỗ muôn điệu yêu thương “Người yêu người, sống để yêu nhau” (Tố Hữu).. Phải chăng đó là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Vâng! Đó không chỉ là tinh thần của con người thời đại chống Mỹ mà còn là âm vang của một tấm lòng luôn tha thiết với sự sống, với tình yêu. Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu. Tóm lại, bài thơ Sóng là bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Thành công của bài thơ là nhờ vào thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, đối lập… nhất là thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu. Nhịp điệu của sóng, nhịp điệu của tâm hồn. Tất cả đã làm hiện lên vẻ đẹp rất Xuân Quỳnh giàu trắc ẩn suy tư và khát vọng trong tình yêu. Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, chị đã làm phong phú hơn cho nền thơ ca nước nhà.
Phân tích bài thơ Sóng của nữ sĩ Xuân Quỳnh
3,679
Đề bài: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Bài làm Xuân Quỳnh (1942-1988) nổi tiếng với nhiều bài thơ tình như “Thuyền và biển”, “Sóng”… Bài thơ “Sóng” được viết vào cuối năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, xuất bản năm 1968. Bài thơ nói lên một tình yêu đẹp của người con gái: yêu chân thành tha thiết, nồng nhiệt và thủy chung. Tình yêu trẻ trung ấy là khát vọng về một hạnh phúc trọn vẹn của đôi lứa. Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Sắc điệu trữ tình được dệt nên bằng hình tượng “sóng”. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nhìn những con sóng bất tận, vô hồi. Sóng là một hình tượng ẩn dụ, là sự hóa thân của cái “tôi” trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hòa nhập, lúc lại là sự phân thân của “em”, của người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi mới và sôi nổi, khát vọng. Với hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng và tình yêu nồng nhiệt của người con gái. Sóng biến hóa. Sóng vỗ liên hồi. Triền miên và bất tận: “Dữ dội và dịu êm – Ồn ào và lặng lẽ – Sông không hiểu nổi mình – Sóng tìm ra tận bể”. Trạng thái của sóng cũng là những biến thái tâm tình, những khát khao to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành. Hành trình của sóng từ sông ra đại dương: “Sông không hiểu nổi mình – Sóng tìm ra tận bể” nơi mênh mông dạt dào. Có đến nơi biển rộng trời cao, sóng mới được vẫy vùng, mới thực sự tìm thấy mình trong sức sống mạnh mẽ với bao khát khao to lớn. Sóng được nữ sĩ làm biểu tuợng cho tình yêu. Miêu tả sóng biến hóa cũng là để nói lên cái phức tạp, đa dạng, khó giải thích của tình yêu. Giống như sóng biển, tình yêu cũng là một hiện tượng kì diệu của con người, rất khó lí giải tường tận. Con sóng “ngày xưa” và con sóng “ngày sau” vẫn thế, trường tồn, bất biến. Thì tình yêu của con người, mãi mãi là “khát vọng” của tuổi trẻ, của lứa đôi, của “em” và “anh”: “Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”. Sóng tìm đến bể, đến đại dương để tự hiểu mình, cũng như em đến với anh, tìm đến một tình yêu đẹp là để hiểu sâu hơn tâm hồn em, con người đích thực của em. Người con gái hỏi sóng, hay để tự hỏi mình: “Sóng bắt đầu từ gió – Gió bắt đầu từ đâu – Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”. Sóng là sự thức nhận về cái “quy luật” không thể cắt nghĩa được của tình yêu. Cái giây phút giao duyên của lứa đôi “khi nào ta yêu nhau”, tìm được câu trả lời đâu dễ? Chính vì thế mà trong bài thơ tình số “21″ (tập thơ “Người làm vườn”) thi hào Tagor đã viết: “Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu”. (Đào Xuân Quý dịch) Câu thơ “Khi nào ta yêu nhau” đã diễn tả đúng nỗi niềm điển hình của những gái, trai đang sống trong một tình yêu đẹp. Sóng vỗ “dữ dội… dịu êm… ồn ào.. lặng lẽ”…, sóng “dưới lòng sâu” và “trên mặt nước”, sóng “nhớ bờ” – tất cả đều tượng trưng cho tình yêu và nỗi nhớ. Yêu tha thiết, mãnh liệt. Nhớ bồi hồi, triền miên. Nỗi nhớ ấy da diết, giày vò, choán đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian: “Con sóng dưới lòng sâu, Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được”. Thật là tự nhiên và thơ mộng “con sóng nhớ bờ” nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng như bến đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào người con gái cũng bồi hồi thương nhớ: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức” “Còn thức” nghĩa là lúc nào em cũng thấy rõ hình dáng anh, ánh mắt anh, nụ cười anh… một tình yêu nồng nhiệt, say mê! Con sóng khao khát tới bờ để vỗ về, ve vuốt “Hôn thật khẽ thật êm – Hôn êm đềm mãi mãi…” (Xuân Diệu). Em cũng khao khát mong được đến với anh, hòa nhịp trong tình yêu anh. Tình yêu của người con gái thật trong sáng nồng nàn và mãnh liệt. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được “tới bờ”, cũng như em và anh sẽ vượt qua mọi khó khăn, đi tới một tình yêu đẹp, được sống trong hạnh phúc trọn vẹn lứa đôi: “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở”. Điều mong ước ấy nói lên một tấm lòng, một trái tim nồng hậu chan chứa yêu thương. Người con gái ấy đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành và say mê. Thắm thiết, chân tình và thủy chung là phẩm chất của tình yêu. “Sóng” đã bày tỏ nỗi lòng của người con gái được sống hết mình với “anh” trong một tình yêu sắt son chung thủy: “Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Nhớ về anh – một phương”. Cuối cùng, sóng cũng nói giúp nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn, sống hết mình trong tình yêu. Trong tình yêu lứa đôi đằm thắm đẹp và bền vững như “trăm con sóng nhỏ” tan ra trên đại dương mênh mông, được hòa nhập trong “biển lớn tình yêu” của cộng đồng. Lời nguyện cầu của người con gái cho thấy một tâm hồn rất cao cả trong tình yêu: “Làm sao tan ra được Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ”. Cả bài thơ, nếu kể nhan đề, tác giả 11 lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng vỗ biến hóa như tâm tình xôn xao. Hình tượng sóng cho ta nhiều ấn tượng về âm điệu, nhịp điệu của sóng, cũng là giọng điệu tâm tình, nhạc điệu của bài thơ. Thơ liền mạch, phong phú về vần điệu, trong sáng trong biểu cảm, lúc bồi hồi tha thiết, lúc day dứt bồn chồn, lúc mạnh mẽ ồn ào. Sóng trên đại dương cũng là sóng vỗ trong lòng người con gái. Cái hay của bài thơ là ở âm điệu ấy. Qua hình tượng sóng và cả bài thơ, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp trẻ trung, tâm hồn trong sáng, đa tình của người con gái. Người con gái ấy chủ động bày tỏ những khát khao, những rung động rạo rực của lòng mình trong tình yêu. Đã có một nàng Vọng Phu, một hòn Trống Mái. Cũng đã có những thiên tình sử diễm lệ, những vần ca dao nói về tình yêu trai gái làng quê. Ở đây cũng vậy, Xuân Quỳnh nói lên một tình yêu đẹp của người phụ nữ: quyết tâm vượt qua mọi cách trở, khó khăn để xây đắp một tình yêu son sắt thủy chung, trọn vẹn trong hạnh phúc như trăm ngàn con sóng kia “ngàn năm còn vỗ” giữa đại dương, “Giữa biển lớn tình yêu” bao la. Người con gái được nói đến trong bài thơ “Sóng” đã có một tâm hồn đẹp, một khát vọng về hạnh phúc nên đã có một tình yêu trong sáng rất đẹp. Xuân Quỳnh viết bài thơ tình này vào những ngày cuối năm 1967, khi mà cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang diễn ra vô cùng khốc liệt. Trai tráng ào ào ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Sân đình, bến nước, gốc đa, sân ga, sân trường… diễn ra những “cuộc chia li màu đỏ”. Có đặt bài “Sóng” vào trong bối cảnh lịch sử hào hùng ấy, mới cảm nhận hết nỗi nhớ và khao khát về hạnh phúc của người con gái đang yêu: “Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được…”
Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh bài 2
1,415
Đề bài: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Bài làm Trong các nhà thơ nữ Việt Nạm, Xuân Quỳnh xứng đáng được gọi là nhà thơ của tình yêu. Bà viết nhiều, viết hay về tình yêu nhưng có lẽ Sóng là bài thơ đặc sắc hơn cả. Bởi nó nói lên được một tâm hồn khao khát yêu đương, một tình yêu vừa hồn nhiên chân thật, vừa mãnh liệt, sôi nổi của một trái tim phụ nữ. Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca. Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã viết về tình yêu với tất cả sự nồng nhiệt của một trái tim tuổi trẻ. Ta bắt gặp một Xuân Diệu nồng nàn, đắm say và khát khao dâng hiến cho tình yêu, một Nguyễn Bính mơ màng tìm về tình yêu đồng nội, một Anh Thơ tha thiết nhưng thẹn thùng cái duyên con gái… nhưng chỉ đến Xuân Quỳnh, cái khát vọng rất đỗi đời thường của con người đó mới được bộc bạch, mà bộc bạch một cách chân thành như chính cuộc đời nhà thơ vậy: một thứ tình yêu vừa phong phú, phức tạp, vừa thiết tha sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo rực, đang khao khát yêu đương. Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Sóng trong tác phẩm cùng tên của nhà thơ mang hình ảnh ẩn dụ. Nó là sự hóa thân của cái tôi trữ tình đầy mơ mộng của thi nhân. Sóng và em tuy hai mà một, có lúc phân đôi để soi chiếu vào nhau làm nổi bật sự tương đồng, có lúc lại hòa nhập để tạo nên âm vang cộng hưởng. Và có thể nói qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã bày tỏ một tình yêu dạt dào, mênh mông và một khát vọng vĩnh hằng về tình yêu đôi lứa. Mở đầu bài thơ là trạng thái tâm lý đặc biệt của một tâm hồn đang khao khát yêu đương, đang tìm đến một tình yêu rộng lớn hơn. Xuân Quỳnh diễn tả thật cụ thể cái trạng thái khác thường, vừa phong phú vừa phức tạp trong một trái tim cồn cào khao khát tình yêu. Tính khí của người con gái đang yêu, cũng như sóng vậy thôi, vốn mang trong nó nhiều trạng thái đối cực: “Dữ dội và dịu êm, Ồn ào và lặng lẽ” … Và cũng như sóng, trái tim người con gái đang yêu không chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao để có thể đồng cảm, đồng điệu với mình “Sông không hiểu nổi mình, Sóng tìm ra tận bể”. Có thể thấy, ngay trong khổ thơ đầu tiên này một nét mới mẻ trong quan niệm về tình yêu. Người con gái khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa. Nếu “Sông không hiểu nổi mình” thì sóng sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó “Tìm ra tận bể”, đến với cái cao rộng, bao dung. Thật là minh bạch và cũng thật là quyết liệt! Nỗi khát vọng tình yêu xôn xao, rạo rực trong trái tim con người, trong quan niệm của Xuân Quỳnh, là khát vọng muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ. Nó cũng như sóng, mãi mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian. Từ ngàn xưa, con người đã đến với tình yêu và mãi mãi cứ đến với tình yêu. Với con người, tình yêu bao giờ cũng là một khát vọng bồi hồi: Ôi con sóng ngày xưa Và ngày nay vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ Khi tình yêu đến, như một tâm lý tự nhiên và thường tình, người ta luôn có nhu cầu tự tìm hiểu và phân tích. Nhưng tình yêu là một hiện tượng tâm lý khác thường, đầy bí ẩn, không thể giải quyết được bằng lý lẽ thông thường, làm sao có thể giải đáp được câu hỏi về khởi nguồn của tình yêu, về thời điểm bắt đầu của một tình yêu. Cái điều mà trước đó đã từng là Xuân Diêu băn khoăn “Làm sao cặt được nghĩa tình yêu? ” thì nay một lần nữa Xuân Quỳnh bộc bạch một cách hồn nhiên, thật dễ thương. Tình yêu cũng như sóng biển, như gió trời vậy thôi, làm sao có thể hiểu hết được. Nó cũng tự nhiên, hồn nhiên như thiên nhiên, và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ như tự nhiên vậy: Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đàu từ đâu Em cũng không biết nưa Khi nào ta yêu nhau Tình yêu thường cũng gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách. Nỗi nhớ của một trái tim đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật mãnh liệt. Một nỗi nhớ thường trực cả khi thức, cả khi ngủ, bao trùm lên cả không gian. Một nỗi nhớ còn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn, dào dạt như những đợt sóng biển triền miên, vô hồi, vô hạn. Nhịp thơ trong suốt bài thơ này là nhịp sóng, nhưng rõ nhất, dào dạt, hăm hở, náo nức nhất, mãnh liệt nhất là ở đoan thơ này: Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Và, như trên đã nói, vẫn là hình tượng song hành của sóng và em bổ sung đắp đổi cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc hơn, ám ảnh hơn tình yêu và nỗi nhớ cùng với lòng thủy chung vô hạn của một trái tim đang rạo rực yêu thương. Nỗi nhớ được diễn tả qua hình tượng con sóng nhớ bờ “ Ngày đêm không ngủ được” vẫn chưa đủ, chưa thỏa, lại được thể hiện một lần nữa qua nỗi nhớ của nhà thơ: “ Lòng em nhớ đến anh, Cả trong mơ còn thức”. Nỗi nhớ tràn đầy lòng yêu của thi sĩ. Nỗi nhớ thường trực trong mọi không gian và thời gian, không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi trong ý thức, xâm nhập vào cả trong giấc mơ. Những đòi hỏi, khao khát yêu đương của người con gái được bộc lộ thật mãnh liệt nhưng cũng thật giản dị: sóng chỉ khao khát tới bờ cũng như em khao khát có anh! Tình yêu của người con gái ở đây vừa thiết tha, mãnh liệt, vừa trong sáng, giản dị, vừa thủy chung duy nhất. Qua hình tượng sóng và em. Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo, không hề giấu giếm cái khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt của mình, một phụ nữ, một điều hiếm thấy trong văn học Việt Nam. Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng năm 1967, khi mà nhà thơ đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu. Song, người phụ nữ hồn hiên tha thiết yêu đời này vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc trong trương lai. Vừa tự động viên, an ủi mình, tác giả vừa tin vào cái đích cuối cùng của một tình yêu lớn như con sóng nhất định sẽ “tới bờ”, “dù muôn vời cách trở”. Tương lai hạnh phúc như đang còn ở phía trước. Và vì thế, ý thức về thời gian chưa làm nhà thơ lo âu mà chỉ làm tăng thêm niềm tin tưởng: Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa Xuân Quỳnh vừa thổ lộ trực tiếp, vừa mượn hình tượng sóng để nói và suy nghĩ về tình yêu. Những ý nghĩ này có vẻ tự do, tản mạn, nhưng từ trong chiều sâu của thi tứ vẫn còn sự vận động nhất quán. Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la, rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thủa: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Người con gái mong muốn hòa mình vào bể đời rộng lớn, bứt mình ra khỏi những lo toan tính toán, để ngập chìm trong bể lớn tình yêu. Phải có mọt tình yêu như thế nào thì mới có được một mong muốn cao cả đến chừng ấy. Khát vọng tình yêu cũng là khát vọng sống mãnh liệt đủ đầy. Cuộc đời còn tình yêu thì cuộc đời còn tươi đẹp và đáng sống và sống trong tình yêu là một điều hạnh phúc. Xuân Quỳnh mong ước được sống mãi trong tình yêu, bất tử với tình yêu. Sóng là một bài thơ tình yêu rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thơ Xuân Quỳnh ở giai đoạn đầu. Một bài thơ vừa xinh xắn, duyên dáng, vừa mãnh liệt, sôi nổi, vừa hồn nhiên, trong sáng, vừa ý nhị sâu xa. Sau này khi đã nếm trải nhiều cay đắng trong tình yêu, giọng thơ Xuân Quỳnh không còn phơi phới bốc men say nữa, nhưng cái khát vọng tình yêu vẫn tồn tại mãi mãi trong trái tim tràn ngập yêu thương của nhà thơ.
Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
1,568
Phân tích bài thơ Sóng – Xuân Quỳnh Hướng dẫn Mở bài: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ viết về tình yêu hay nhất của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Trong sự nghiệp sáng tác của mình Xuân Quỳnh đã để lại nhiều bài thơ tình đặc sắc: thuyền và biển; Dẫu em biết rằng anh trở lại; Tự hát, Hoa cỏ may;… Thế nhưng trong số đó, “Sóng” vẫn là bài thơ thành công hơn cả. Phân tích bài thơ Sóng. Sóng là một bài thơ biểu hiện rõ nét, nhất bản sắc độc đáo của tâm hồn thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ được sáng tác năm 1967, khi Xuân Quỳnh đang hăm hở đi vào tuyến lửa khu IV, mảnh đất đầy bom đạn và “gió Lào cát trắng, để hái những chùm thơ” dọc chiến hào. Đến nơi chiến tranh khắc nghiệt, Xuân Quỳnh lại tìm ra sự sống mãnh liệt; đến nơi khát vọng nhà thơ lại nghe lời ru của sóng cả đại dương. Sóng là sự gặp gỡ kì diệu, sự cộng hưởng nhịp nhàng của tâm hồn Xuân Quỳnh và bóng biển. Xuân Quỳnh đã nhận thấy tâm hồn mình qua sóng để rồi nhờ sóng bọc bạch nói hộ tình yêu của mình. Bài thơ đã in trong tập “Hoa dọc chiến hào” năm 1968 Thân bài: Thực ra không phải chỉ có Xuân Quỳnh mà nhiều nhà thơ khác nữa cũng chọn “Sóng” để biểu đạt tình yêu mà tiêu biểu là Xuân Diệu với bài thơ “Biển” nổi tiếng. Có một sự trùng hợp đến kì lạ giữa những đặc tính thiên nhiên của con sóng (lúc dữ dội, khi dịu êm) với những sắc thái tâm trạng của con người, của người con gái đang yêu. Sóng và biển cả thường gắn liền với sự trường tồn vĩnh cửu, còn trong tình yêu con người cũng luôn hướng tới một tình yêu lâu bền và bất biến. Trong bài thơ, Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng sóng để diễn tả những cảm xúc tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong phú, vừa phức tạp, vừa tha thiết sôi nổi của một trái tim rạo rực khao khát yêu thương. Sóng hiện lên trong bài thơ như một hình tượng đa nghĩa: vừa là con sóng thật ngoài biển cả, vừa là hình ảnh tượng trưng cho niềm khao khát,hạnh phúc, cho khát vọng tình yêu của người con gái. Chính vì vậy, khi đi vào phân tích nội dung của bài thơ, chúng ta nhận thấy nổi lên, xuyên suốt bao trùm cả bài thơ là hình tượng “Sóng” nhưng thực ra trong bài thơ này còn có một hình tượng nữa gắn liền với sóng đó là “em”. Sóng là hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân của “em”. Hai hình tượng ấy tuy là một nhưng lại phân đôi để soi chiếu vào để thấy mình rõ hơn, nhờ sóng để biểu đạt những trạng thái xúc động, những khát khao mãnh liệt của lòng mình. Bài thơ có một âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng gợi ra nhịp của các con sóng liên tiếp nối nhau, lúc tràn lên sôi nổi, lúc lại êm dịu lắng sâu. Thể thơ năm chữ với những dòng thơ thường là không ngắt nhịp cùng với những dòng thơ thường là không ngắt nhịp cùng với sự trở đi trở lại của hình tượng sóng đã tạo ra nhịp điệu và âm hưởng của bài thơ, phù hợp với tâm trạng của người con gái đang yêu. Nếu đọc kĩ bài thơ “Sóng”, chúng ta sẽ thấy âm điệu bài thơ chủ yếu được tạo bởi những thanh bằng, các âm thanh trắc chiếm tỉ lệ rất thấp. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự nhịp nhàng trong âm điệu;nó vừa mô phỏng được nhịp điệu của sóng biển, vừa diễn tả được nhịp điệu của tâm hồn mà xét cho đến cùng, sự mô tả nhịp điệu bên ngoài(con sóng) cũng chính là đi diễn tả nhịp điệu bên trong của tâm hồn đó là những đợt sóng của tình yêu khát khao, dạt dạo, sôi nổi và da diết, lắng sâu. Đặc biệt là nhịp điệu vào – ra đều đều vô tận của con sóng còn được tạo nên bằng một loạt những hình ảnh đối sánh liên tiếp và để phân thành hai cực như dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, sông – bể, ngày xưa – ngày sau. 1. Khổ thơ 1: “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”. Ở hai câu thơ đầu, Xuân Quỳnh đã diễn tả những đặc tính tự nhiên của con sóng lúc thì ồn ào – dữ dội, lúc lại lặng lẽ – dịu êm. Tuy nhiên đằng sau câu thơ, tác giả còn hàm ý nói tới những sắc thái tâm trạng của người con gái đang yêu, cũng chứa đựng những cảm xúc, tâm trạng trái ngược nhau(lúc dữ dội, lúc dịu êm). Trong dòng sông chật hẹp, con sóng không thể hiểu nổi mình, nó phải tìm đến với đại dương bao la. Điều đó cũng giống như người con gái chỉ thực sự hiểu mình khi đối diện với tình yêu. “Dữ dội và dịu êm Ồn ào và lặng lẽ” Ngay từ những câu thơ đầu tiên, Xuân Quỳnh đã đưa người đọc vào thế giới của sóng, thế giới của âm thanh, nhịp điệu, của biển cả và đó là nhịp điệu tâm hồn Xuân Quỳnh trong biển lớn tình yêu. Sóng chứa đựng những trạng thái đối lập mà thống nhất, lúc thì ồn ào, dữ dội, lúc thì lặng lẽ dịu êm, tình yêu cũng mang nhiều gương mặt, nhiều dáng vẻ đa dạng. Một tâm hồn nhạy cảm giàu nữ tính như Xuân Quỳnh thì thế giới tình yêu càng lắm sắc thái và cung bậc hơn.Trước đấy, trong bài: “Thuyền và Biển”, Xuân Quỳnh cũng từng bộc lộ: “Cũng có khi vô cớ Biển ào ạt xô thuyền Vì tình yêu muôn thuở Có bao giờ đứng yên” Cũng như con sóng trên biển cả, tâm hồn người đang yêu có bao giờ yên tĩnh, bao xáo động trong tâm tư làm hiện lên nhiều dáng vẻ, sắc thái tưởng chừng như đối lập;nhưng nhiều khi vẻ ngoài bình lặng lại chứa bao khát vọng mạnh mẽ bên trong, vẻ ngoài dữ dội nhưng bên trong lại là tấm lòng nhân hậu, đằm thắm, bao dung. Sóng chứa đựng bao điều bó ẩn và những khát vọng lớn lao, vì thế sóng vượt qua giới hạn chật chội của dòng sông để tìm ra biển cả rộng lớn, ra tận đại dương mênh mông rộng lớn, thì sóng mới thể hiện đầy đủ sự dữ dội và dịu êm, ồn ào và lặng lẽ của mình vì điều đó cũng giống như người con gái với tình yêu đồng thời cũng là hành trình tự khám phá chính bản thân mình mới hiểu được tình cảm, khát vọng và giá trị của mình. 2. Khổ thơ hai: “Ôi con sóng ngày xưa Và sau này vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”. Ở khổ thơ hai,giọng thơ như trầm xuống, lắng lại, chứa đựng những suy tư của tác giả về tuổi trẻ về tình yêu. Nếu ở khổ thơ một mở ra trước con sóng là cả một không gian rộng lớn của biển cả, thì ở khổ thơ thứ hai, Xuân Quỳnh lại nói tới thời gian lâu dài. Cái khoảng khắc “ngày xưa-ngày nay”là một khoảng thời gian dài và nhiều biến đổi nhưng cũng có cái dường như bất biến với thời gian:đó chính là con sóng và tình yêu. Điều mà Xuân Quỳnh muốn nhấn mạnh ở hai câu thơ sau đó chính là tình yêu và tuổi trẻ luôn gắn liền với nhau không thể tách rời. Những con sóng trên biển cả có từ ngàn xưa và sẽ tồn tại lâu dài cùng biển cả; có biển là có sóng cũng như sóng và biển, khát vọng tình yêu là chuyện muôn đời của con người mà trước hết là tuổi trẻ: “Ôi con sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ”. Có thể nói sóng là vĩnh hằng với thời gian cũng như khát vọng tình yêu của con người mãi mãi tồn tại.Trong đoạn thơ này,tác giả Xuân Quỳnh đã có một hình ảnh so sánh cái khoảng cách “ngày xưa – ngày sau” thật dài với biết bao sự biến đổi;những con sóng cũng như khát vọng,tình yêu của con người thì dường như bất biến trước thời gian. 3. Khổ thơ ba – bốn: “Trước muôn trùng sóng bể Em nghĩ về anh,em Em nghĩ về biển lớn Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”. Trước đại dương bao la sóng vỗ,người con gái đã suy nghĩ về con sóng, về tình yêu của mình và câu hỏi về cội nguồn của sóng. “Em nghĩ về biển lớn – từ nơi nào sóng lên” thực chất cũng là câu hỏi về cội nguồn của tình yêu, là nơi tình yêu bắt đầu. Tình yêu bắt đầu từ nơi đâu,từ lúc nào đó là câu hỏi muôn đời của những người khi đến với tình yêu nhưng có ai có thể cắt nghĩa được rõ ràng và đầy đủ: Gió bắt đầu từ đâu?” Câu hỏi về khởi nguồn con sóng, khởi nguồn của tình yêu không phải là sự băn khoăn nghi ngờ mà đúng hơn là cách để người con gái khẳng định tình yêu của mình. Sóng và mức mạnh của sóng là nổi bí ẩn muôn đời,đâu có thể dễ dàng cắt nghĩa, làm sao có thể giải đáp được câu hỏi về cội nguồn của tình yêu. Điều mà trước đây nhà thơ Xuân Diệu đã từng băn khoăn “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” thì nay, một lần nữa lại được Xuân Quỳnh dãi bày bộc bạch; tình yêu cũng như sóng biển,như gió trời vậy, làm sao nắm bắt và hiểu được hết. Thậm chí phân tích, lí giải những qui luật tự nhiên là điều con người có thể làm được như phân tích, lý giải qui luật tâm lí, nhất là tâm lí của người đang yêu thì không dễ dàng chút nào, bởi vậy câu hỏi của Xuân Quỳnh vẫn chỉ là một câu hỏi bở ngở: “Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”. Xuân Quỳnh muốn thông qua một qui luật của tự nhiên để lí giải quy luật của tình yêu. Dù vấn đề ấy đã không ít lần được nói đến nhưng Xuân Quỳnh vẫn có một cách nói,cách lí giải độc đáo của mình.Điều cần lưu ý là câu kết của hai khổ thơ đều là những câu hỏi tu từ;hỏi để mà khẳng định rõ hơn khát vọng tình yêu của mình. 4. Khổ năm – sáu: “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương”. Ở đoạn thơ này, Xuân Quỳnh diễn tả nổi nhớ trong tình yêu – nỗi nhớ của con sóng nhưng thực chất cũng là để diễn tả nổi nhớ trong tình yêu. Tình yêu thường gắn liền với những nỗi nhớ, với xa cách. Nỗi nhớ của một trái tim đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật tha thiết,sâu đậm đã bao trùm cả không gian bao la: “Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam”. Nó lan tỏa cả tầng sâu và bề rộng: “Con sóng dưới lòng đất Con sóng trên mặt nước” Nó khắc khoải trong mọi thời gian cả ngày,cả đêm, thậm chí cả trong mơ. Đó là một nỗi nhớ cồn cào,da diết không thể nào nguôi, không thể nào yên; nó cuồn cuộn, dạt dào như những đợt sóng biển triền miên vô tận: “Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được” Một nỗi nhớ thường trực mà như ở bài thơ “Con tàu” – Xuân Quỳnh đã tâm sự: “Nên cả lúc gần anh Mà lòng em vẫn nhớ”. Xuân Quỳnh đã rất tinh tế khi diễn tả và nâng cao cung bậc nỗi nhớ trong tình yêu. Nếu bốn câu thơ đầu diễn tả nỗi nhớ của con sóng: “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được”. Thi hai câu thơ tiếp theo, nỗi nhớ của người con gái được Xuân Quỳnh nâng lên ở một cung bật cao hơn: “Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức”. Mới đọc qua hai câu thơ này, ta có cảm giác trong câu thơ có sự mâu thuẫn, phi logic bởi đã ở “trong mơ” thì làm sao mà thức được. Đây là nghịch lí trong bài thơ và cũng là nghịch lí trong tình yêu. Nỗi nhớ của người con gái ở đây, thật thiết tha sâu đậm; nó thường trực trong mọi thời gian, đi vào mọi trạng thái tâm hồn trong ý thức và trong cả tiềm thức. Ở đây, nỗi nhớ được tác giả đúc kết, khái quát, đặc biệt là cách nói hết sức mới mẻ, độc đáo của Xuân Quỳnh. Nỗi nhớ không chỉ có ý thức, mà nó còn choáng ở đây cả tiềm thức, nó đi vào cả trong giấc mơ. Cũng bởi vậy mà nỗi nhớ trở nên sâu sắc và thật hơn. Cũng chính vì thế mà tình yêu, nỗi nhớ ở đây trở nên sâu sắc hơn, thật hơn và từ nỗi nhớ hình ảnh con sóng ở đây còn được nhà thơ Xuân Quỳnh nâng lên trở thành biểu tượng cho lòng thủy chung sắc son của người con gái. Mặc dù phải trải qua muôn vàn khó khăn cách trở nhưng con sóng vẫn đến được với bến bờ xa: “Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ Dù muôn vời cách trở” Điều đó cũng giống như tình cảm, tấm lòng của người con gái: Hướng về anh một phương” 5. Hai khổ cuối: “Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mưa vẫn bay về xa” Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ” Xuân Quỳnh đến với tình yêu bằng một niềm tin to lớn, niềm tin ấy xuất phát từ lòng tin ở mình, ở người, ở những quy luật của tự nhiên. Triết lý trong thơ Xuân Quỳnh là triết lý của một trái tim dạt dào yêu thương, muốn tìm thêm lí lẽ và cơ sở để cũng cố lòng tin của mình vào tình yêu. Xuất phát từ lòng tin ấy, Xuân Quỳnh kết thúc bài thơ bằng những cảm nhận tinh tế, bằng sự trôi chảy của thời gian, của đời người đồng thời thể hiện một khát vọng mãnh liệt về sự bất tử của tình yêu: “Cuộc đời tuy dài thế Nhìn năm tháng trôi qua Như biển kia vẫn rộng Mưa vẫn bay về xa” Cuộc đời tuy dài nhưng không phải là vô cùng, thời gian vẫn không ngừng đi qua tới ngày sau vô tận “như biển kia dẫu rộng” nhưng những chân mây mái miết vẫn bay về xa thế thì “Cuộc đời” và cả “Biển kia” cũng vậy, cũng hạn hẹp trong cái giới hạn của mình, không thể lâu bền vĩnh viễn. Chỉ có sóng mới mãi mãi “ngàn năm vẫn vỗ” và như thế vượt khỏi cái hữu hạn để hòa vào cái vô hạn bền vững muôn đời, là khát khao không nguôi của sóng: Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ”. Kết bài: Đến đây, ý hàm ẩn của khổ thơ cuối cùng và cũng là của cả bài thơ hiện rõ: khát vọng được hòa vào những lớp sóng vô hồi trên đại dương, để được vĩnh viễn cũng là khát vọng của tình yêu cá nhân hạn hẹp muốn hòa vào biển lớn tình yêu, rộng lớn muôn đời và như thế, tình yêu mới lâu dài bền vững. Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người. Đề bài tham khảo: Đề bài 1: Phát biểu cảm nghĩ về tình yêu của ngừi con gái trong bài thơ Đó là một tình yêu sôi nổi, mãnh liệt, chân thành Tình yêu đó rất mới mẻ, hiện đại. Tuy nhiên, tình yêu đó vẫn không tách rời đối lập với quan niệm truyền thống, vẫn hướng đến một tình yêu lâu dài, bền vững Trước nhà thơ Xuân Quỳnh có lẽ chưa có một người phụ nữ nào làm thơ đã nói về tình yêu bằng những lời tha thiết nồng nàn đến thế. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh thật đẹp và trong sáng, mặc dù phải trải qua nhiều gian truân cách trở nhưng bao giờ cũng trọn vẹn, cũng đến được tận cùng hạnh phúc như con sóng nhỏ đến với bờ xa. Người con gái đang yêu trong thơ Xuân Quỳnh mạnh bạo, chân thành, bày tỏ những khát khao lòng mình là điều rất mới cả trong cuộc đời và cả trong bài thơ và cả trong thơ đó là yêu hết mình, quên mình nhưng đồng thời cũng đòi hỏi sự duy nhất, sự tuyệt đối và luôn đi liền với khát khao mái ấm gia đình, gắn bó lâu bền thủy chung. Điều đó chứng tỏ tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh mới mẻ, hiện đại nhưng không tách rời quan điểm truyền thống của dân tộc. Đề bài 2: Phân tích hình tượng Sóng trong bài thơ cùng tên của Xuân Quỳnh Lí giải vì sao Xuân Quỳnh lại chọn hình tượng Sóng để biểu đạt tình yêu: + Trước Xuân Quỳnh cũng có nhiều nhà thơ chọn hình tượng Sóng, như Xuân Quỳnh vẫn có cách nói riêng, mới mẻ và độc đáo của mình. + Sóng là hình ảnh biểu tượng cho tình yêu, là sự hóa thân của em luôn song đôi bổ sung cho nhau, làm rõ hơn cho nhau. Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã thể hiện những sắc thái tâm trạng của người con gái trong tình yêu: + Sóng là biểu tượng cho một tình yêu sôi nổi mãnh liệt + Sóng thể hiện nỗi nhớ của người con gái khi xa cách + Sóng biểu tượng cho lòng chung thủy, son sắt của người con gái + Sóng biểu tượng nỗi khát vọng về một tình yêu vĩnh hằng, bất tử
Phân tích bài thơ Sóng – Xuân Quỳnh
3,170
Phân tích bài thơ Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt Bài làm Ông cha ta kể rằng: Năm 1076, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lí Nhân Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sồng Như Nguyệt (một khúc của sông Cầu, nay thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh). Bỗng một đêm, quân sĩ chợt nghe từ trong đền Trương tướng quân (thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát là hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt) có tiếng thơ ngâm vẳng ra: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư. Đó là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo thể Đường luật, nguyên văn chữ Hán. Chúng ta có thể đọc bản dịch thơ như sau: Núi sông Nam Việt vua Nam ở Vằng vặc sách trời chia xứ sở Giặc dữ cớ sao phạm đến đây Chúng mày nhất định phải tan vỡ. Phân tích bài thơ Sông núi nước Nam Cho đến nay, các nhà nghiên cứu chưa xác định ai là tác giả bài thơ. Vì bài thơ được vọng ra từ một đền thờ linh thiêng có tác dụng khích lộ quân dân ta quyết tâm chiến đấu chống giặc, nên người dời gọi dây là bài “Thơ Thần”. Bài thơ không có tên. Để tiện ghi nhớ, nhiều người đặt tên là bài Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam). Như vậy, từ hoàn cảnh ra đời, đến việc tiếp nhận, truyền bá, việc tìm tác giả, việc đặt tên, tác phẩm thơ này đậm chất huyền thoại, linh thiêng. Đó không còn là tiếng nói của con người, mà âm vang tiếng thánh thần, không còn là suy ngẫm cảm xúc của một người – tác giả – mà là trí tuệ, tâm hồn của cả dân tộc Việt Nam xưa cũng như nay. Bài thơ Nam quốc sơn hà là tác phẩm thiên về biểu ý, ý tướng lộ rõ trong các nghĩa của ngôn từ (kiểu nghị luận). Còn nội dung biểu cảm thì “ẩn kín” sau các lớp ý nghĩa, đòi hỏi người đọc phải nhạy cảm, vừa hiểu ý thơ vừa suy ngẫm, liên tướng, tưởng tượng để đồng cảm với tác giả, rung động cùng hồn thơ. Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Nước Nam là của người Nam ở. Điều hiển nhiên đó đã được sách trời ghi rõ, xác định rõ. Ở câu đầu, ta chú ý hai chữ “Nam đế”. Nam đế là hoàng dế nước Nam, hiểu là “vua nước Nam”. Tại sao tác giả không dùng chữ “Nam vương”, cũng có nghĩa là “vua nước Nam”? Bởi vì, trong quan niệm của những kẻ thống trị phong kiến phương Bắc, thì chỉ có vua của họ mới được phép xưng là “đế”. Họ tự cho mình là “thiên tử” (con trời), hơn tất cả các vị vua ở các xứ sở khác. Dùng chữ “Nam đế”, tác giả Nam quốc sơn hà biểu hiện một niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đằng sau câu thơ, ta như nghe được một tiếng nói mạnh mẽ, kiêu hãnh: Phương Nam ta cũng có đế, bình đẳng, ngang hàng với phương Bắc, không kẻ nào được phép coi thường. Sau câu thứ nhất vừa sáng ngời ý tưởng vừa dạt dào cảm hứng tự hào, đến câu sau tiếp tục ý tướng và cảm hứng ấy. “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” mang âm trầm hùng, rắn chắc như một lời khẳng định dứt khoát. Hai chữ cuối “thiên thư” nghĩa là “sách trời, ý của trời”, tiếp tục nhấn mạnh một lẽ đương nhiên, ngày nay ta gọi là chân lí, là lẽ phải. Như vậy, về nội dung “biểu ý”, hai câu thơ đầu khẳng định chủ quyền đất nước, quyền độc lập, bình đẳng của dân tộc ta. Đồng thời từ ý nghĩa, từ âm điệu và ngôn ngữ thơ toát ra niềm tự hào, kiêu hãnh, thái độ hiên ngang, tư thế ngẩng cao đầu của tác giả bài thơ, của cả dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ hại hư. Nội dung biểu ý cũng thật rõ ràng: kẻ thù kia, không được xâm phạm. Nếu xâm phạm tới, chúng bay sẽ chuốc lấy thất bại thảm hại. Lời lẽ và âm điệu rắn đanh lại, vừa nêu một phán đoán, vừa cảnh cáo bọn ngoại xâm. Nghe được lời thơ này, hẳn quân dân ta – những con người đã ý thức được chủ quyền đất nước, tin ở luật hiển nhiên của tạo hoá, tin ở “sách trời” – sẽ vô cùng phấn khởi, càng thêm niềm tin và quyết tâm xốc tới, tiêu diệt kẻ thù. Còn bọn ngoại xâm phi nghĩa, khi nghe những lời này – lời thơ, lời thánh thần truyền dạy, – hẳn sẽ không thế yên lòng. Chúng sẽ hoang mang, nghĩ tới tương lai, số phận “thủ bại hư”, sự thất bại tất yếu phải nhận lấy. Lời thơ khác nào lời kêu gọi, truyền hịch, truyền niềm tin, niềm phấn khởi cho quân ta, dồng thời cũng là lời cảnh cáo, lời báo hiệu, gieo sự hoang mang, hoảng hốt tới quân thù. Cũng giống hai câu thơ trên, hai câu thớ cuối bài này đã hài hoà ý tưởng với tình cảm, tính “biểu ý” hài hoà tính “biểu cảm”. Tính biêu ý nổi rõ trên bề mặt ngôn từ, còn tính biểu cảm ẩn sâu trong chữ nghĩa, trong nhạc diệu và trong sự cảm nhộn, liên tưởng suy đoán tự nhiên của người đọc.
Phân tích bài thơ Sông núi nước Nam của Lý Thường Kiệt
972
Đề bài: Phân tích bài thơ số 28 của Tago Bài làm Toàn bài thơ vẫn là lời tỏ tình của người con trai, của “anh”. Còn người con gái chỉ “lắng nghe lời nói như ru” và qua “đôi mắt”, qua cái nhìn “băn khoăn… buồn” – được nói đến mà thôi. Sáu câu thơ đầu cho thấy một mối tình đầu rất đẹp và thơ mộng. Cô gái duyên dáng, ngỡ ngàng và “băn khoăn”. Vẻ đẹp dịu hiền được thể hiện qua đôi mắt và cái nhìn chan chứa yêu thương: “muốn nhìn vào tâm tưởng của anh”. Rụt rè và thăm dò. Tình yêu đến, “Thần Ái tình đã gõ cửa trái tim” nhưng em vào đã hay, đã biết gì nhiều về anh. Em là ánh trăng, anh là mặt biển (trong xanh) – Hai hình ảnh so sánh này diễn tả rất hay một tình yêu trong sáng chân thành, dào dạt và sự khao khát yêu thương. Cô gái có đôi mắt huyền mới có cái nhìn lung linh của ánh trăng kia. Và chàng trai có tình yêu nồng nàn, chân thành, trong sáng thì ánh trăng kia mới có thể soi vào tận đáy biển cả. Hình ảnh ánh trăng và biển cả đã thể hiện tài tình men say ái tình: niềm khao khát hạnh phúc và sự hòa hợp tâm hồn lứa đôi trong “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Lời tỏ tình nồng nàn yêu thương, đàng hoàng và tin cậy. Tình yêu đâu chỉ là “tìm kiếm” mà còn là “phát hiện” những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn, trong tính cách người tình của em. Như một lời nhắc khẽ mà rung động: “…Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh. Như trăng kia muốn vào sâu biển cả. Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em, Anh không giấu em một điều gì. Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh.” Bảy dòng thơ tiếp theo là lời tỏ tình rất đẹp. Sử dụng hình ảnh ẩn dụ về “ngọc”, về “hoa” và giả định: “nếu… anh sẽ…” để biểu lộ một tình yêu nồng cháy, mãnh liệt và dâng hiến. Có gì quý hơn ngọc, giá trị bằng ngọc? Nếu đời anh là viên ngọc thì anh sẽ đập vỡ làm trăm mảnh, xâu thàn chuỗi quàng vào cổ em yêu. Có gì đẹp và thơm bằng hoa? Nếu đời anh chỉ là bông hoa nhỏ bé, tròn xinh, thơm tho, anh sẽ ngắt nó ra cài lên mái tóc em. Các động từ: “đập ra”, “xâu thành”, “quàng vào”, “ngắt ra”, “cài lên” – diễn tả một “tấm lòng”, một cử chỉ trân trọng và dâng hiến trong tình yêu. Tago viết bài thơ này cách chúng ta ngày nay ngót một thế kỷ mà hình ảnh thơ vẫn mới mẻ, thú vị vô cùng: “Nếu đời anh chỉ là viên ngọc, anh sẽ đập nó ra làm trăm mảnh và xâu thành một chuỗi quàng vào cổ em. Nếu đời anh chỉ là một đóa hoa tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng, anh sẽ hái nó ra đặt lên mái tóc em.” Lời thơ dịch khá sát và hay. Có điều trong nguyên tác chữ “cài” (cài lên mái tóc em), dịch giả đã chuyển thành “đặt lên mái tóc em”, là cho lời thơ thô, làm giảm đi phong cách tao nhã, phong tình của chàng trai! Đoạn thơ thứ ba, chàng trai khẳng định tình yêu của mình qua hình ảnh so sánh: “Trái tim”. Ba tiếng “Nhưng em ơi!” vang lên thiết tha, đắm say. Lời tỏ tình được nâng lên một tầm cao mới, một chiều sâu thăm thẳm. Tình yêu ấy sâu sắc và mênh mông. Em là thần tượng, là nữ hoàng đang ngự trị vương quốc tình yêu – đời anh. Là một lời nhắc khẽ em yêu! Nhẹ nhàng và tế nhị. Gần mà xa, xa mà gần biết trân trọng và phát hiện mọi phẩm chất cao quý tiềm ẩn trong tâm tình người yêu. Lời tỏ tình sang trọng quá, chứng tỏ chàng trai có một trái tim rất nhân văn! Cả đời anh, tâm hồn anh, tình yêu của anh đã thuộc về em: “Nhưng em ơi, đời anh là một trái tim Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó, Em là nữ hoàng của vương quốc đó Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu!” Đầu bài thơ, thi sĩ đã dùng hình ảnh “biển cả”, đến khổ thơ này, ông lại tạo ra những khái niệm bổ sung: “bến bờ”, “vương quốc”, “biên giới” – tạo ra một hệ thống ngôn ngữ diễn tả một không gian nghệ thuật để nói lên niềm tự hào của người con trai có một tình yêu trong sáng mênh mông. Tình yêu không thể tầm thường và đơn giản. Đâu chỉ là “một phút giây lạc thú” để làm “nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm”, tầm thường, thoảng qua! Tình yêu cũng không phải là sự hèn hạ, van xin, cầu mong một sự “ban ơn”, một sự yếu mềm. Giọt lệ trong, nỗi thương đau, nỗi sầu u ẩn mà người con trai mang lại trong mỗi cuộc tình chỉ là sự hèn hạ mà thôi. Mà đâu chỉ là lĩnh vực tình yêu, mọi sự quỳ lạy, van xin trong ứng xử đều hèn hạ, đáng khinh. Đoạn thơ này mang tính chất “phản đề”, nhiều người viết sách lâu nay đã hiểu không đúng. Chàng trai muốn tâm tình với người yêu là trái tim anh không phải như thế này đâu: “Nếu trái tim anh chỉ là phút giây sướng vui, nó sẽ nở nụ cười dịu hiền và em sẽ thấu hiểu nó nhanh – Nếu trái tim anh chỉ là nỗi thương đau, nó sẽ tan ra thành lệ trong phản ánh nỗi sầu thầm kín”. Hai đoạn thơ thứ 4 và thứ 5 tương phản đối lập. Từ phủ định đi đến khẳng định. Không nên như thế này mà phải như thế này. Người con trai đã mang đến cho người con gái một tình yêu tuyệt đẹp. Anh tự hào thổ lộ: “Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu, Nỗi vui sướng khổ đau của nó là vô biên. Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu!” Trong nguyên tắc: “những gì tình yêu cầu mong” được người dịch thơ viết thành: “những đòi hỏi” dễ làm nhiều độc giả hiểu không đẹp ý thơ. Chàng trai tự hào về trái tim của mình “lại là tình yêu”, tình yêu đích thực, đâu phải thứ “trái tim chỉ là giây phút lạc thú”. Tình yêu của em đã và đang mang đến cho anh bao cảm xúc kỳ diệu, lúc thì vui sướng, lúc thì khổ đau… Tình yêu đâu chỉ toàn vị ngọt? Vui sướng và khổ đau mà tình yêu mang đến là mênh mông, là vô biên. Những cầu mong và sự giàu có mà tình yêu, mà trái tim của chàng trai là bất tận, là trường cửu. Chàng trai cầu mong ở người tình một tình yêu đằm thắm, chân thành và thủy chung. Cầu mong con thuyền tình của anh và em sẽ cập bến bờ hạnh phúc giữa mùa trăng? Nhẹ nhàng thổ lộ và trách móc: gần đấy sao mà xa xôi. Hình như em vẫn chưa hiểu tình yêu của anh đã dành cho em. Phải biết phát hiện sự cầu mong và giàu sang trong tình yêu, Năm dòng cuối là một “tuyên ngôn” đẹp của tình yêu. Thơ tình của Tago mang thêm màu sắc triết lý. Có biết chiếm lĩnh trái tim người yêu mới thật sự có và được sống trong một tình yêu đẹp, trọn vẹn. Bài thơ tình số “28” của Tago rất đẹp và sáng tạo trong hình tượng: “đôi mắt buồn, băn khoăn” – “ánh trăng soi vào biển cả” – “viên ngọc và chuỗi ngọc”, “đóa hoa thơm và vòng hoa” – trái tim yêu thương mênh mông… Ý tưởng phong phú và sâu sắc: cái ngần ngại, băn khoăn của thiếu nữ trong mối tình đầu; sự chân thành, say đắm, nồng nàn, khát khao trong tình yêu của chàng trai. Không thể tầm thường, đơn giản trong tình yêu. Bài thơ tình còn là một sự đúc kết, chiêm nghiệm: Yêu là tìm kiếm, là phát hiện và chiếm lĩnh. Tình yêu là sung sướng và khổ đau, là thiếu thốn và giàu sang, gần mà xa, xa mà gần. Phải biết phát hiện để chiếm lĩnh tình yêu, có thế mới thật sự đi tới mái ấm hạnh phúc trong tình yêu đôi lứa. Cũng như “Biển” của Xuân Diệu, “Sóng” của Xuân Quỳnh, “Tôi yêu em” của Puskin,… bài thơ này của Tago không thể thiếu trong hành trang – tâm hồn “tuổi áo trắng” mộng mơ.
Phân tích bài thơ số 28 của Tago
1,509
Phân tích bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ Hướng dẫn Phân tích bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ Đỗ Phủ (712 – 770) là một nhà thơ Trung Quốc nổi bật thời nhà Đường. Mặc dù không nổi tiếng từ đầu, những tác phẩm của ông gây ảnh hưởng nhiều đến cả văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản. Ông tài năng tuyệt vời và đức độ cao thượng nên từng được các nhà phê bình Trung Quốc gọi là Thi sử và Thi thánh. Hàng ngàn bài thơ của ông có nội dung phong phú, sâu sắc, phản ánh sinh động những sự kiện lịch sử thời ông đang sống và chan chứa lòng yêu nước thương đời. Bên cạnh đó, Đỗ Phủ còn sáng tác nhiều bài thơ trữ tình thể hiện cảm xúc chân thành của mình trước thiên nhiên, con người và cuộc đời. “Thu hứng” là một trong những bài thơ đó. Đây là bài thơ thứ nhất trong chùm thơ tám bài được sáng tác vào năm 766, khi Đỗ Phủ đang sống phiêu bạt ở Quý Châu. Sau mười một năm kể từ khi bùng nổ loạn An Lộc Sơn, tuy loạn đã dẹp xong nhưng đất nước kiệt quệ vì chiến tranh và nhà thơ vẫn phải lưu lạc ở quê người. Chính hoàn cảnh ấy đã khơi gợi cảm xúc bi thương của nhà thơ cũng chính là cảm xúc chủ đạo của Thu hứng. Bài thơ vừa là bức tranh mùa thu ảm đạm, hắt hiu, vừa là tâm trạng trĩu nặng u sầu của nhà thơ trong cảnh loạn li: lo cho hiện tình của đất nước đang lâm vào cảnh rối ren, loạn lạc; thương nhớ quê hương xa xôi và ngậm ngùi xót xa cho thân phận bất hạnh của mình nơi đất khách. Chỉ với vài nét chấm phá, tác giả đã thể hiện được cái thần của một chiều thu ở Quý Châu ở hai câu thơ đầu: Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm, Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm, (Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn non hiu hắt, khi thu lòa.) Cảnh tượng vào mùa thu thật khiến cho tâm hồn con người xao xuyến mông lung có cái cảm giác trống trải trong tâm hồn con người, và những cảnh vật thiên nhiên xao sát khiến cho tâm hồn còn người sầu lại càng sầu hơn. Người đọc có thể nhận thấy Đỗ Phủ đứng ở vị trí tương đôi cao để ngắm nhìn toàn cảnh, vì thế mà tầm nhìn của ông khá xa, khá rộng. Khả năng quan sát tinh tế của Đỗ Phủ thể hiện ngay từ câu thơ đầu tả cảnh rừng phong: “Lác đác rừng phong hạt móc sa”. Trong thơ cổ Trung Hoa, hình ảnh rừng phong gắn liền với mùa thu bởi mỗi độ thu về, có rừng phong chuyển sang màu đỏ úa, tượng trưng cho sự li biệt. Sương trắng cũng tượng trưng cho mùa thu, cho sự lạnh lẽo. Sương móc sa dày đặc làm xơ xác cả rừng phong. Nhắc đến Vu Sơn, Vu Giáp là người đọc nghĩ ngay tới hình ảnh đặc trưng của đất Ba Thục xưa kia. Toàn cảnh bao trùm trong hơi thu hiu hắt. Trong bản dịch, từ lòa cùng với từ hiu hắt chỉ lột tả được một phần ý nghĩa của cụm từ khi tiêu sâm (tối tăm, ảm đạm). Chữ ngàn non thay thế cho Vu sơn, Vu giáp khiến khung cảnh nơi đây vốn ảm đạm, lạnh lẽo, qua ngòi bút miêu tả thấm đẫm tâm trạng li sầu của Đỗ Phủ lại càng thêm tối tăm, ảm đạm. Hai câu thơ mở đầu, câu thứ nhất tả cảnh thu ở rừng phong, câu thứ hai tả cảnh thu ở núi non. Tuy cảnh vật khác nhau nhưng nhà thơ nhìn chúng với con mắt và tâm trạng giống nhau: trĩu nặng một nỗi buồn thương. Giang gian ba lăng kiêm thiên dũng, Tái thượng phong vân tiếp địa âm. (Lưng trời sông rợn lòng sông thẳm, Mặt đất mây đùn cửa ải xa.) Sông ở thượng nguồn thường hợp, nhiều ghềnh thác, nước chảy rất xiết. Vì thế nên mới có cảnh giữa lòng sông, sóng dữ dội vọt lên đến tận lưng trời. Các tính từ “rợn”, “thẳm” đã diễn tả sự hùng vĩ hiếm có của vùng sông nước nơi đây và thể hiện cảm giác choáng ngợp của con người nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ và hiểm trở. Hình ảnh: Mặt đất mây đùn cửa ải xa tả thực cảnh mây trắng sà xuống thấp đến mức tưởng chừng như đùn từ dưới mặt đất lên, che lấp cả cửa ải phía xa xa. Suốt cả chiều dài bảy trăm dặm, núi tiếp núi dọc đôi bờ sông, tuyệt không có một chỗ trống. Quanh năm, mây mù bao phủ những ngọn núi cao vút. Vách núi dựng đứng nên ánh mặt trời khó lọt được xuống tới lòng sông. Nếu ở hai câu trên, cảnh sắc nhuốm màu bi thương tàn tạ thì ở đây cảnh sắc lại có phần vừa hoành tráng vừa dữ dội. Hai cặp câu như bổ sung cho nhau lột tả được hai nét đặc sắc của phong cảnh vùng Vu sơn Vu giáp vừa âm u, vừa hùng vĩ. Bốn câu thơ, mỗi câu tả một cảnh thu cụ thể, đặt cạnh nhau tạo thành một bức tranh mùa thu rộng lớn, hiện rõ ràng cái hồn đặc trưng của mùa thu chốn núi non với đủ cả rừng phong, dãy núi, bầu trời, lòng sông, mặt đất, mây mù, cửa ải xa… Sức khơi gợi, liên tưởng của bức tranh thu ấy trong tâm hồn người đọc là vô biên, vô tận. Dường như cảnh đời điêu linh đã thấp thoáng ẩn hiện đâu đó sau hình ảnh những cánh rừng phong xơ xác vì sương gió, hình ảnh đất trời đảo lộn trên sóng nước Trường Giang và mây xám mịt mù vùng quan ải. Đứng trước khung cảnh ấy, một nhà thơ có trái tim nhạy cảm như Đỗ Phủ làm sao lại không nhớ thương quê cũ đến cháy lòng? Ở bốn câu thơ sau, Đỗ Phủ bày tỏ lòng mình trước cảnh mùa thu nơi đất khách: Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, Cô chu nhất hệ cố viên tâm. (Khóm cúc tuồn thêm dòng lệ cũ, Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.) Đây là hai câu hay nhất trong bài thơ chữ Hán của Đỗ Phủ cũng như trong bản dịch của Nguyễn Công Trứ. Giống như hình ảnh rừng phong gắn liền với mùa thu, hình ảnh hoa cúc cũng biểu tượng cho mùa thu. Mỗi lần thấy cúc nở hoa nhà thơ lại rơi lệ, câu thơ nguyên văn chữ Hán: Khóm cúc nở hoa đã hai lần, làm tuôn rơi nước mắt ngày trước. Theo bản dịch của Nguyễn Công Trứ cũng rất hay, giúp người đọc hình dung ra tâm trạng cô đơn chất chứa sầu thương của Đỗ Phủ trong những tháng năm phiêu bạt, xa quê hương sâu nặng nghĩa tình. Hai lần nhìn cúc nở hoa, có nghĩa là Đỗ Phủ sống ở Quý Châu đã được hai năm. Hoa cúc đã khiến lòng thi nhân không khỏi ngậm ngùi nhớ lại những mùa thu trước chốn quê cũ, vì vậy mà càng thêm xao xuyến, xúc động đến nghẹn ngào. Hoa cúc là yếu tố gợi nhớ, hình ảnh con thuyền càng làm cho nỗi nhớ nhà, nhớ quê trào dâng trong lòng tác giả: “Cô chu nhất hệ cố viên tâm”. Câu thơ chứa chất đầy tâm, trạng của Đỗ Phủ nơi đất khách. Chiếc thuyền lẻ loi (cô chu) là một ẩn dụ đầy ý nghĩa không chỉ vì tính chất trôi nổi, đơn độc của nó mà còn vì nó là phương tiện duy nhất để chở ước vọng của nhà thơ về với quê hương trong tâm tưởng. Chính vì vậy, Đỗ Phủ mới ngậm ngùi nhớ lại mùa thu ở chốn cũ và đồng thời mong ước có một con thuyền chở ước mơ ấy của nhà thơ. Đọc đến đây, người đọc không khỏi nghẹn ngào, xúc động, và rạo rực trong lòng. Ở hai câu cuối bỗng đột ngột nổi lên âm thanh dồn dập của tiếng chày đập vải trên bến sông, trong bóng hoàng hôn: Hàn y xứ xứ thôi đao xích, Bạch Đệ thành cao cấp mộ châm. (Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước, Thành Bạch, chày vang bóng ác tà.) Chính âm thanh dồn dập của tiếng chày đập vải kia đã đem đến cho bức tranh sinh hoạt nơi biên ải xa xôi một thoáng vui. Tuy nhiên, thoáng vui ấy không đủ để xua đi những áng mây buồn và tâm trạng rối ren đang vây phủ trong tâm hồn thi sĩ. Hơn thế nữa, tiếng chày đập vải như nhắc nhở mọi người rằng khí thu lạnh lẽo và mùa đông sắp đến, phải chuẩn bị nhanh nhanh cho việc may áo ấm. Ở câu thơ thứ tư đã nêu lên bối cảnh lịch sử theo bao nỗi lo. Lúc này, Loạn An Lộc Sơn đã dẹp xong nhưng đất nước chưa yên, chồng con của bao người còn trấn giữ nơi ải xa, nỗi lo lắng của người vợ còn đó. Trời đã tối, không nhìn thấy gì nữa, nhà thơ chỉ nghe thấy tiếng chày đập vải và chạnh lòng nghĩ tới những người lính thú nơi quan ải. Âm thanh của mùa thu may áo vừa kết thúc bài thơ, vừa mở ra nỗi buồn nhớ mênh mang, ông cảm thấy không lời lẽ nào có thể nói hết nỗi niềm Thu hứng. Đặc điểm nghệ thuật của bài thơ là kết cấu hết sức chặt chẽ câu nào cũng bám chặt chủ đề, tức là đều thể hiện được hai yếu tố “cảm xúc” và “mùa thu ”, vừa tả cảnh vừa chất chứa tâm trạng. Ở trong bài thơ, các mối quan hệ giữa xa và gần, giữa không gian và thời gian, giữa thị giác và thính giác, giữa thu hứng có sự liên kết chặt chẽ. Sự vận hành của tứ thơ rất lôgíc: từ xa đến gần, từ không gian mà cảm nhận thời gian, từ ngoại cảnh thể hiện nội tâm. Hàm ẩn trong mỗi câu, mỗi chữ là tâm hồn đau đáu nỗi thương đời, thương người của Đỗ Phủ. “Cảm xúc mùa thu” là bài thơ mang đậm dấu ấn phong cách thơ trữ tình của Đỗ Phủ. Bài thơ dạt dào xuất phát từ rung động mãnh liệt của trái tim nhà thơ đã được thể hiện đầy đủ qua ngọn bút thần tình. Với Đỗ Phủ, mùa thu đồng nghĩa với nỗi buồn và niềm thương nhớ không nguôi, nhất là khi ông đang phải sống trong cảnh nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn nơi xứ lạ.Nỗi lo âu cho đất nước, nỗi buồn nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi, xót xa cho thân phận mình được Đỗ Phủ thể hiện đậm nét qua bài Thu Hứng và để lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc. Ông xứng đáng được người đời tôn vinh là bậc “Thi thánh” của thơ Thịnh Đường mà tên tuổi lưu danh muôn thuở. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Thu hứng của Đỗ Phủ
1,894
Phân tích bài thơ Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Phân tích bài thơ Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến Nhắc đến thơ viết về đề tài tình yêu không thể không nhắc đến Xuân Diệu; nhắc đến thơ ca cách mạng không thể không nhắc đến Tố Hữu; còn nếu nhắc đến thơ viết về mùa thu, chúng ta không thể nào không nhắc tới cái tên Nguyễn Khuyến! Ông có cả một chùm thơ hay viết về mùa thu gồm 3 bài: Thu Vịnh, Thu Điếu, Thu Ẩm. Cả ba bài trong chùm thơ thu đều lấy bối cảnh là làng cảnh quê hương tác giả. Đó là vùng đồng chiêm trũng Bình Lục một năm chỉ cấy được một mùa, còn lại toàn là ngập nước. Làng quê Bình Lục ấy cũng bình dị như biết bao làng quê thân thuộc khác, có vô số ao chuôm với những bờ tre quanh co bao bọc những mái tranh nghèo. Nếu như trong “Thu điếu” bức tranh mùa thu được cảm nhận theo chiều không gian từ gần rồi đến cao, xa thì ở “Thu Vịnh”, nhà thơ thưởng thức bức tranh thu bắt đầu từ cao xuống thấp. Mở đầu bài thơ là hình ảnh bầu trời bao la, bát ngát, xanh trong rất điển hình của mùa thu nơi thôn dã: “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” “ Xanh ngắt” có nghĩa là xanh thăm thẳm, dường như trời thu trong thơ Nguyễn Khuyến luôn được bao phủ bởi sắc màu “xanh ngắt” ấy. Ví dụ như trong “Thu ẩm” ông viết: “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” Hay ở “Thu điếu”: “Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt” Xanh ngắt là sắc xanh trong, mở ra một không gian rất rộng, rất cao. Đặc biệt, khi kết hợp với “mấy từng cao” càng làm không gian thêm bao la, thăm thẳm. Mấy từng cao gợi cho chúng ra cảm giác là rất cao, tưởng như có nhiều lớp, nhiều tầng. Trên cái nền là bầu trời bao la nổi bật lên hình ảnh thanh tú của cần trúc. Không phải là “khóm trúc” mà là “cần trúc”, là cây trúc non dáng cong cong như chiếc cần câu đang đong đưa khe khẽ trước gió thu “hắt hiu” thổi. Gió hắt hiu là gió rất nhẹ, gió thổi không vội vàng cũng nhưng cũng không lưu luyến, gợi lên chút cảm giác hững hờ. Đến cả gió thu cũng đậm chất thu, phảng phất buồn như chứa chất tâm trạng bên trong. Tất cả dường như có một mối cảm thông thầm lặng, sâu kín, tinh tế và khó nắm bắt. Giữa cái nền “xanh ngắt”, sự lay động rất nhẹ của cần trúc càng làm tăng thêm cái lặng thinh, sâu thẳm của bầu trời. Bầu trời lại như dồn hết cái sâu lắng vào bên trong cần trúc, để cho nó vừa như đong đưa mà cũng vừa như đứng yên. Đó là nét động và nét tĩnh của cảnh thu, cũng chính là đặc tài trong dụng nghệ lấy động tả tĩnh của nhà thơ Nguyễn Khuyến. Thông qua hai câu đề này, nhà thơ đã chấm phá hai nét phong cảnh đơn sơ, thanh thoát nhưng hoà điệu nhịp nhàng với tâm hồn tác giả. Trong đó, mọi chi tiết, sắc màu, đường nét, cử động đều rất hài hoà. Nhà thơ mới chỉ nói đến trời thu nhưng ta đã thấy cả hồn thu trong đó vậy! Song thưa để mặc bóng trăng vào” Hai câu luận tiếp tục phác thảo rõ nét hơn cảnh sắc của mùa thu. Nước biếc là màu nước đặc trưng của mùa thu khi khí trời bắt đầu se lạnh. “Biếc” ở đây chỉ sắc xanh của nước: vừa xanh, vừa trong; còn gợi lên hình ảnh vừa tĩnh lặng vừa như sáng lấp lánh. Mùa thu, vào sáng sớm và chiều tối, trên mặt ao, mặt hồ có một lớp sương mỏng trông như khói phủ. Cảnh mặt nước khói sương bình thường ấy qua con mắt và tâm hồn thi sĩ đã trở thành một dáng thu ngâm vịnh. Cách sử dụng “tầng khói phủ” cũng đem lại hiệu ứng gợi hình, gợi cảm hơn hẳn. Không phải “làn” mà lại là “tầng”. Tầng khói phủ khác làn khói phủ vì sương đã trở nên dày hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, độ sâu, như chất chứa cái gì đó ở bên trong. Nước biếc cỏ tầng khói phủ thì màu nước không còn biếc nữa mà hòa lẫn vào làn khói lam mờ, trở nên mông lung, huyền ảo. Cách so sánh này thấy sự rất độc đáo, rất thơ! Từ bầu trời nhìn xuống mặt nước, rồi lại từ mặt ngước lên bầu trời. Tuy nhiên, khung cảnh thu càng làm nên thơ mộng khi được dát lên mình màu trắng bạc của ánh trăng. Hình ảnh song thưa gợi ý thanh thoát, cởi mở. Bóng trăng vào qua song thưa để ngỏ thì bóng trăng trở nên mênh mông hơn, lặng lẽ hơn. Nếu ở câu trên là một trạng thái có chiều cao, có độ sâu thì ở câu này lại là một trạng thái mở ra thành một bề rộng, mặc dù bj giới hạn bởi khung cửa sổ song thưa mà vẫn cứ mênh mông ở ý nghĩa bên trong, ở tinh thần và âm điệu, những trạng thái nào thì cũng đều tĩnh mịch và chất chứa suy tư. Đến hai câu thơ trong thực, tác giả viết: “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không, ngỗng nước nào” Sau khi nhìn mặt nước khói phủ lại đến ngắm ánh trăng tràn qua song thưa; lúc này nhà thơ trông ra bờ giậu ngoài sân thấy mấy chùm hoa đã nở. Hoa nở thì đâu có gì lạ? Điều lạ là bỗng dưng, nhà thơ cảm thấy đó là hoa năm ngoái.Nếu như ở 4 câu trên, cảnh vật được miêu tả qua con mắt nhìn có vẻ khách quan, thì đến đây cảm xúc của trái tim đã khoác lên cảnh vật màu sắc chủ quan. Rõ ràng là thấy hoa nở ngay trước mắt, nhưng nhà thơ lại cảm thấy đó là hoa nở từ năm ngoái. Phải chăng con người đang ở hiện tại mà như lùi về quá khứ? Hay quá khứ đang tìm về với thực tại mới đúng đây? Ở hai câu thơ này, âm điệu theo nhịp 4/1/2. Từ Mấy chùm trước giậu đến hoa năm ngoái có một đoạn suy tư, ngẫm nghĩ và sau đó đột nhiên xuất hiện cảm giác lạ lùng là hoa năm ngoái chứ không phải hoa năm nay. Cảm giác ấy khiến nhà thơ nghe tiếng ngỗng trên không văng vẳng mà giật mình băn khoăn tự hỏi: ngỗng nước nào? “ Cảnh nào cảnh chẳng đeo tình Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Đứng trước cảnh thu, cảm nhận hồn thu khiến cảm hứng làm thơ của thi sĩ bỗng dạt dào. Ông toan cất bút nhưng rồi lại ngập ngừng: “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.” Nhà thơ thẹn với ông Đào, là thẹn điều gì? Thẹn vì tài thơ thua kém hay thẹn vì mình chưa có được nhân cách trong sáng và khí phách cứng cỏi như Đào Tiềm? Câu hỏi ấy còn lửng lơ bỏ ngỏ. Một chữ “thẹn” vừa khiến nhịp thơ chùng xuống, vừa thấy được sự kính trọng, sùng bái của nhà thơ với người thi sĩ nhà Đường không màng danh lợi. Lời thơ trong câu kết có cái gì đó lửng lơ mà kín đáo, do đó càng làm tăng thêm chất suy tư của cả bài thơ. Không thể phủ nhận “Thu vịnh” là một trong những bài thơ đỉnh cao viết về đề tài mùa thu, về làng cảnh trong nền văn học Việt Nam. Bài thơ không chỉ khắc họa bức tranh mùa thu thôn dã đẹp bình dị, mộc mạc mà gần gũi, qua đó còn thể hiện cái tâm của người thi sĩ yêu làng quê, đất nước; người thi sĩ có tâm hồn cũng trong sáng, mộc mạc như chính cảnh sắc thu quê. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến
1,378
Đề bài: Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến Bài làm Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùa thu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” (Thu vịnh), với cái nước “trong veo” của ao cá (Thu điếu), và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” ( Thu ẩm). Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu có viết: “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”? Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênh mông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được: “ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu: ao chuôm là đặc điểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn Khuyến: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Câu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh, nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữa thu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thế mà thật bất ngờ: Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnh thiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếc thuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thân mật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao: “lẽo”, “veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồi hình ảnh: Sóng biếc theo làn hơi gợn tí Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo Càng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cái lạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàng khẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếc lá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quan sát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong không gian, rơi xuống mặt hồ yên tĩnh. Quả là phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thật sâu sắc thì Nguyễn Khuyến mới có thể cảm nhận được những âm thanh tinh tế, tưởng chừng như chẳng ai để ý đến như thế! Như trên đã nói: mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng vần “eo” nhưng tác giả không bị giới hạn mà đã mở rộng không gian theo chiều cao, tạo nên sự khoáng đạt, rộng rãi cho cảnh vật: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những áng mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà “lơ lửng”. Trước đây Nguyễn Du đã từng viết về mùa thu với: Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng Nay Nguyễn Khuyến cũng thế. Mở ra không gian rộng, cảm hứng Nguyễn Khuyến lại trở về với khung cảnh làng quê quen thuộc cũng vẫn hình ảnh tre truc, vẫn bầu trời thu ngày nào, vẫn ngõ xóm quanh co…tất cả đều thân thương vè nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam. Chỉ đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta mới thấy được những nét quê tĩnh lặng, êm ả như vậy. Trời sang thu, không khí giá lạnh, đường làng cũng vắng vẻ. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” không bóng người qua lại. Sau này Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu tới cũng đã bắt đựơc những nét điển hình đó của sông nước ở vùng quê, khi trời đã bắt đầu bước vào những ngày giá lạnh: Những luồng run rẩy rung rinh lá… … Đã nghe rét mướt luồn trong gió Đã vắng người sang những chuyến đò Cùng với: Cành biếc run run chân ý nhi (Thu) Thế rồi trong cái không khí se lạnh đó của thôn quê, những tưởng sẽ không có bóng dáng của con người, ấy vậy mà thật bất ngờ đối với người đọc: Tựa gối buông cần, lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Hai câu thơ kết thúc đã góp phần bộc lộ đôi nét về chân dung tác giả. Tôi nhớ không lầm dường như đã có tài liệu cho rằng: “tựa gối, ôm cần lâu chẳng được”, “ôm” chứ không phải là “buông”. Theo Việt Nam tự điển thì “buông” hay hơn, phù hợp với tính cách của nhà thơ hơn. Trong những ngày từ quan lui về ở ẩn, mùa thu câu cá, đó là thú vui của nhà thơ nơi làng quê để tiêu khiển trong công việc, để hoà mình vào thiên nhiên, mà quên đi những bận lòng với nước non, cho tâm hồn thanh thản. “Buông”: thả lỏng, đi câu không cốt để kiếm cái ăn (hiểu theo đúng nghĩa của nó), mà để giải trí, cho nên “ôm” không phù hợp với hoàn cảnh. Từ “buông” mang đến cho câu thơ hiệu quả nghệ thuật cao hơn. Tóm lại, qua Thu điếu, ta phần nào thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với cuộc sống: chỉ có những ao nhỏ, những “ngõ trúc quanh co”, màu xanh của bầu trời, cũng đã làm say đắm lòng người. Thì ra mùa thu ở thôn quâ chẳng có gì là xa lạ, mùa thu ở thôn quê chính là cái hồn của cuộc sống, cái duyên của nông thôn. Câu cuối này là thú vị nhất, vừa gợi được cảm giác, vừa biểu hiện đựơc cuộc sống ngây thơ nhất với sự việc sử dụng những âm thanh rất trong trẻo có tính chất vang ngân của những cặp vần, đã chiếm được cảm tình của độc giả, đã đọc qua một lần thì khó mà quên được.
Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến
1,288
Phân tích bài thơ Thu điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Phân tích bài thơ Thu điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến Bài làm: Thu Điếu nằm trong chùm thơ của Nguyễn Khuyến. Đây là một trong những bài thơ hay nhất trong hệ thống thơ ca tả về mùa thu và cũng là một trong ba bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Khuyến tả về làng cảnh Việt Nam. Cũng như Thu Vịnh và Thu Ẩm, bài Thu Điếu, đem đến cho người đọc sự cảm nhận vẻ đẹp của cảnh thu và tâm trạng của nhà thơ. Nếu như ở Thu Vịnh, cảnh thu đựơc đón nhận từ cao, xa đến gần, rồi gần đến cao, xa thì ở Thu Điếu cảnh thu được đón nhận từ gần đến cao – xa rồi từ cao xa trở lại gần. Điểm nhìn cảnh thu được nhìn từ chiếc thuyền câu đến mặt ao rồi nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi nhìn ra mặt ao. Từ khung ao hẹp tác giả miêu tả mùa thu đựơc cả không gian và thời gian cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động. Bài thơ kể việc câu cá mùa thu nhưng thực ra đó lại là nói chuyện mùa thu, miêu tả cảnh mùa thu của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, quê hương của tác giả Nguyễn Khuyến. Trong bài thơ có ao thu, thuyền câu, có lá vàng, có tầng mây, có sóng, có cá và người câu cá. Không gian mùa thu, vắng lặng và chính sự vắng lặng này mới tả được khoảnh khắc lặng lẽ của mùa thu và tả được tâm trạng, tĩnh lặng của tác giả. Ở hai câu đầu tác giả viết: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Hai câu thơ này không chỉ miêu tả được cả không gian mùa thu (ao thu) mà còn miêu tả được cả thời gian của mùa thu. Mùa thu được biểu hiện ở làn nước trong veo, đã trong lại còn trong veo và thêm lạnh lẽo. Ao thu lạnh lẽo càng làm tăng thêm độ buồn của mùa thu. Đó là mùa thu của lòng của lòng người buồn, của thi nhân buồn mà thôi. Mùa thu thường là mùa của tâm trạng buồn, qua hai câu thơ này càng thấy Nguyễn Khuyến đã rất tài tình khi miêu tả khung cảnh mùa thu. Chiếc thuyền câu vốn đã bé lại càng bé tẻo teo. Hai vầng eo càng làm cho không gian càng thêm thu nhỏ lại. Không nói ao rộng nhưng qua việc miêu tả ao mùa thu lại còn lạnh lẽo làm cho không gian ở đây có phần mông lung và như tan ra cùng sự lạnh lẽo của ao mùa thu. Mùa thu nước ao mới trong xanh như vậy làm cho không gian thêm nhỏ, chiếc thuyền đã bé lại bé thêm, như thu mình thêm nhỏ lại. Cảnh ao càng thêm vắng lặng: Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Cảnh trên bờ ao lúc này chỉ có gió mà lại rất khẽ, làm cho sóng chỉ hơi gợi tí ta cũng thấy được gió ở đây rất nhẹ chỉ tạo đủ độ để sóng gợn mà thôi. Khung cảnh mùa thu đượm buồn như im lìm, lặng lẽ, chỉ có chiếc lá khẽ đưa mà thôi, không tạo ra âm thanh từ khẽ miêu tả được cả âm thanh, đó là âm thanh, đó là âm thanh, tĩnh chứ không động, tả được cái trạng thái tĩnh lặng của mùa thu. Ngày cả từ vèo cũng vậy đó không chỉ là bay qua của chiếc lá khi có làn gió mà từ vèo đó còn là thể hiện tâm trạng, thời thế của nhà thơ, một tâm sự đầy đau buồn trước tình hình của đất nước đầy đau thương. Đến câu thơ thứ năm và thứ sáu, từ việc miêu tả cảnh ao thu, tác giả miêu tả rộng ra đó là cảnh trời mùa thu. Cảnh sắc trời tác giả miêu tả rộng ra đó là cảnh mặt trời mùa thu. Cảnh sắc trời mùa thu được nhìn rộng ra từ mặt ao, từ khung cảnh rộng đó tác giả nhìn xa: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Từ không gian của cảnh ao thu đó không chỉ là Ao thu lạnh lẽo, Chiếc thuyền câu bé tẻo teo tác giả miêu tả cảnh thu rộng và xa hơn đó là trời thu. Khung cảnh trời thu với tầng mây lơ lửng nhuộm một màu xanh ngắt, đám mây lơ lửng như không buồn trôi. Ở đây từ lơ lửng đó còn là tâm trạng suy nghĩ của tác giả về một vấn đề già đó chưa quyết định rõ ràng. Từ trời thu tác giả nhìn xuống, nhìn xa ngõ trúc. Không gian lại trở nên vắng lặng buồn thảm bên cạnh đó việc khách vắng teo lại càng làm tăng thêm không khí của mùa thu. Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo Miêu tả mọi sự vật hiện tượng của mùa thu từ đầu đến giờ, ta mới thấy xuất hiện bóng dáng của người câu cá. Thông qua vài nét miêu tả việc tựa gối câu cá, thì hình ảnh ông già ngồi câu cá mới hiện lên rõ nét. Tư thế xuất hiện của ông già câu cá cũng như cảnh vật trở nên buồn, ông không ngồi trong thế của người câu cá mà gò bó tựa gối. Ta thường biết khi câu cá con người ta cảm thấy thoải mái nhất thì ở đây ông già ngôi câu cá không được sự thoải mái, thanh thản cúi người và tựa mặt lên đầu gối như đang suy nghĩ một điều gì. Đó phải chăng cũng là tác giả đang trăn trở buồn rầu về thế sự. Sự chờ đợi của ông già câu cá đó cũng là một sự mòn, về sự vắng lặng, trống không, lâu mà chẳng được gì. Một tiếng động quậy nhẹ của con cá dưới chân bèo. Nhưng tiếng động đó cũng nhẹ, một tiếng động lẻ loi, lại càng làm tăng thêm sự vắng vẻ lặng lẽ của không gian mùa thu Ở câu cuối sử dụng ba âm đ ( đâu, đớp, động) ta cảm giác như động mà lại không động, chỉ đủ miêu tả đủ sự quẫy đuôi nhẹ của con cá. Qua bài Thu Điếu ta như cảm nhận được ở tác giả một tâm hồn gắn bó thiết tha với thiên nhiên, một tấm lòng yêu nước thầm kín. Bên cạnh đó còn vẽ ra một khung cảnh mùa thu giản dị, thanh đạm, đơn sơ của làng cảnh Việt Nam, một tâm trạng buồn khép kín phù hợp với tâm trạng của tác giả.
Phân tích bài thơ Thu điếu của nhà thơ Nguyễn Khuyến
1,149
Phân tích bài thơ Thu điếu và Thu vịnh của Nguyễn Khuyến Hướng dẫn Viết về mùa thu ở nông thôn nước ta, có lẽ Nguyễn Khuyến là nhà thơ có nhiều nét đặc sắc hơn cả. Chỉ qua hai bài ‘Thu điếu’ và ‘Thu vịnh’ ta cũng có thể khẳng định được điều đó. Trước hết mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyên là một mùa thu đẹp, yên tĩnh, đầy thơ mộng. Một vòm trời cao, một màu xanh thăm thẳm đến không cùng: ‘Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao’. Một làn mây lơ lửng càng làm tăng thêm cái vẻ cao sâu của đất trời: ‘Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt’. Từ cái màu xanh ngắt của trời thu đến cái màu xanh ‘biếc’ của nước ao thu, rồi màu xanh của sóng, của bèo, của những bờ tre… tất cả đều xanh một màu xanh bát ngát. Xuân Diệu gọi đó là ‘cái điệu xanh’ của thơ thu Nguyễn Khuyến. Trong cái không gian cao rộng ấy, mọi vật trở nên nhỏ bé, mọi cử động trở nên nhẹ nhàng như để giữ cho được cái yên tĩnh của mùa thu. Ta như nghe được tiếng của những làn gió nhẹ, nhẹ đến mức chỉ đủ làm cho sóng ‘gợn’ một ‘tí’ thôi, đủ làm cho một chiếc ‘lá vàng’ rơi ‘khẽ’: ‘Sóng biếc theo làn hợi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo’. Yên tĩnh đến mức một tiếng đớp mồi của chú cá nhỏ dưới chân bèo ta cũng nghe rõ. Đêm thu, có thêm ánh trăng, có thêm tiếng ngỗng trời, cảnh vật yên tĩnh bỗng nhiên trở nén vắng vẻ. Mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến phảng phất một nỗi buồn man mác. Ta thấy mọi cảnh vật đều như ngưng đọng, đều như đơn chiếc; một chiếc thuyền câu ‘bé tẻo teo’, một chiếc lá vàng rơi, một ngõ trúc ‘vắng teo’, một cần trúc ‘lơ phơ’, một song thưa để mặc, rồi mấy chùm hoa năm ngoái, lại một tiếng ngỗng trên không… Mùa thu đượm buồn hay chính tâm tư Nguyên Khuyên đượm buồn! Điều đó càng làm cho ta thêm quý trọng Nguyễn Khuyến khi ta biết rằng: ông đã cáo quan trở về sống nơi thôn dã để giữ lấy phẩm chất thanh cao của mình, khi mà cái xã hội ‘lai Tây, lai Tàu’ đang diễn ra trước mắt ông bao điều nhục nhã. Nghệ thuật tả cảnh của ông thật điêu luyện. Vừa vẽ bằng mắt, bằng tai, vừa vẽ bằng tâm tưởng. Những màu sắc, đường nét, âm thanh đều hài hòa cân xứng và thanh nhã. Chọn lọc từ ngữ tài tình và sử dụng đúng chỗ, đến mức mà Xuân Diệu đã phải thốt lên: ‘Một nghệ sĩ cao tay’. Nguyễn Khuyến tả cảnh để ngụ tình. Một ông ngư ngồi câu cá đến mỏi gối vẫn chưa thấy cá cắn câu, một nhà thơ nhìn trăng, nhìn hoa toan cất bút thì bỗng thấy thẹn thùng… Phải chăng chính đó là nỗi buồn man mác, là tâm sự u hoài của một nhà thơ có nhân cách đáng quý./.
Phân tích bài thơ Thu điếu và Thu vịnh của Nguyễn Khuyến
514
Đề bài: Phân tích bài thơ Thu ẩm của Nguyễn Khuyến Bài làm Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè. Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt, Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy, Độ năm ba chén đã say nhè. Rượu, hoa, trăng… là những thú tiêu khiển thanh cao của các tao nhân mác khách xưa nay. Bài thơ "Nâng chén, hỏi trăng" của Lý Bạch rất được nhiều người yêu thích: "Người nay chẳng thấy trăng thời trước Người trước, trăng nay soi đã từng Người trước, người nay như nước chảy Cùng xem trăng sáng đều thế đấy Chỉ ước vui ca thưởng chén quỳnh Be vàng, trăng sáng vào rọi mãi". (Tương Như dịch) Tam Nguyên Yên Đổ cũng có nhiều câu thơ rất đậm đà ý vị nói về rượu: "Khi vui chén rượu say không biết Ngửa mặt lờ mờ ngọn núi xa". (Cáo quan về ở nhà) "Em cũng chẳng no mà chẳng đói, Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu". (Lụt, hỏi thăm bạn) "Rượu ngon không có bạn hiền, Không mua không phải không tiền không mua"… Và còn có "Thu ẩm" – mùa thu uống rượu. Hình ảnh trung tâm của bài thơ là "Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe". Câu thơ đã diễn tả trạng thái ngà ngà say… đến "say nhè": "Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy – Độ năm ba chén đã say nhè". "Say nhè" là say êm, say nhẹ, say rồi ngủ quên đi lúc nào chẳng biết. Chẳng phải là say bét nhè, bê tha. Nguyễn Khuyến rất thanh cao, chỉ có "năm ba chén" nhỏ, đúng là cái thú "Khi vui chén rượu say không biết" hoặc "Khi hứng uống thêm năm chén rượu – Khi buồn ngâm láo một câu thơ" (Đại lão) Trong sáu câu thơ đầu thì đã có đến năm câu đều có màu sắc thể hiện một cái nhìn đếm thu lúc ngồi uống rượu một mình. Có màu đen thẫm mịt mùng của đêm sâu "ngõ tối". Có ánh sáng "lập loè" của bầy đom đóm. Có sắc trắng nhờ của "màu khói nhạt" nhẹ bay "phất phơ" trên lưng giậu cúc tần trước sân của năm gian nhà cỏ bình dị. Có màu vàng của bóng trăng loe tan ra "lóng lánh" trên làn ao "sóng biếc theo làn hơi gợn tí" trong veo. Có da trời màu "xanh ngắt" rất đẹp. Và sắc "đỏ hoe" của đôi mắt ông lão, của thi nhân đang uống rượu âm thầm. Cảnh vật có đường nét cao, thấp, xa, gần, mỏng và nhẹ. Độ "thấp le te" của ngôi nhà cỏ năm gian. Độ sâu của đêm khuya và "ngõ tối" nơi làng quê vùng đồng chiêm trũng. Độ nhẹ vờn bay "phất phơ" của màu khói nhạt. Chiều đo "thấp" của "lưng giậu", nét gợi của "làn ao", vòng tròn của "bóng trăng loe" trên mặt "ao thu lạnh lẽo", độ xa, cao, rộng của bầu trời, chân trời, độ hõm của đôi mắt "đỏ hoe" đã "say nhè". Màu sắc ấy, đường nét ấy qua cái nhìn chập chờn, tỉnh say say tỉnh của nhà thơ. Màu sắc đường nét ấy là màu sắc của tâm tưởng, là đường nét của tâm trạng. Còn đâu nữa, chén rượu tri âm của đôi bạn "đăng khoa ngày trước?". "Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân?". Nay nhà thơ chỉ còn uống rượu trong đêm sâu, âm thầm, lặng lẽ và cô đơn. Cao Bá Quát nửa đầu thế kỷ XIX chỉ uống rượu "tiêu sầu". Còn Nguyễn Khuyến "đêm thu nay’’ uống rượu cho vơi đi nỗi buồn thế sự "Rằng quan nhà Nguyễn nhà Nguyễn cáo về đã lâu" uống rượu để thao thức, thao thức nên uống rượu để vơi đi nỗi đau cuộc đời: "Có phải tiếc xuân mà đứng gọi – Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ (Cuốc kêu cảm hứng). Vợ chết, con mất, bạn chí thân qua đời, tuổi già, ốm đau, Nguyễn Khuyến mượn "năm ba chén rượu” để vợi đi ít nhiều nỗi buồn cô đơn: "Đời loạn đi về như hạc độc, Tuổi già hình bóng tựa mây côi". ( Gửi bạn) Hình như chén rượu của nhà thơ đã tràn đầy nước mắt? Hai câu kết ý tại ngôn ngoại. Thấm một nỗi buồn mênh mông. Người đọc vô cùng xúc động khi thấy nhà thơ "say nhè" nằm ngủ: "Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy, Độ năm ba chén đã say nhè”. Cả bài thơ, ngoài đầu đề "Thu ẩm" ra, chẳng có một chữ thu nào nữa, thế mà câu thơ nào cũng chứa đựng một tình thu, và hồn thu man mác, dào dạt. Đó là chất thi vị độc đáo của bài thơ này. Các từ láy: le te, lập loè, phất phơ, lóng lánh… với các từ "rượu", "chén", "say nhè" – cho thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Khuyến vô cùng tinh luyện, hình tượng và biểu cảm. Trước Nguyễn Khuyến gần 500 năm, Nguyễn Trãi có câu thơ: "Sách một hai phiên làm bầu bạn Rượu năm ba chén đổi công danh". (Tự thán – 10) Sau khi Nguyễn Khuyến mất gần nửa thế kỉ, nhà thơ Hồ Chí Minh cũng có câu thơ nói về rượu: "Du kích quy lai tửu vị tàn''. (Thu dạ, 1948) Đó là những chén rượu một thời, cũng là những chén rượu một đời. Chén rượu của các thi nhân – chén rượu thanh cao và sang trọng.
Phân tích bài thơ Thu ẩm của Nguyễn Khuyến
922
Phân tích bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão Hướng dẫn Phân tích bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão Bài làm Đất nước ta đã trải qua mấy nghìn thu chiến đấu và đổi mới, nay đã được bình yên, nhân dân ấm no, bở cõi vững vàng. Có được như thế là nhờ công lao của người đời trước. Mà trong đó, tiêu biểu là danh tướng Phạm Ngũ Lão.”Tỏ Lòng” là một trong hai bài thơ còn lại của Phạm Ngũ Lão nêu bật khí chất Đông A mạnh mẽ ấy. Trở ngược dòng thời gian về cuộc kháng chiến lần hai chống quân Nguyên lần hai, Phạm Ngũ Lão cho ra đời bài thơ “Tỏ Lòng” với lời thơ hùng hồn của nước Việt ta và tấm lòng quân tử nặng nợ tình. Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu. Bước vào thời đại chiến tranh ấy, cái thời mà lửa từ trong tim trào ra như suối như thác. Quyết lòng diệt tan kẻ thù xâm lăng bờ cõi, khẳng định lại một lần nữa:”Nam quốc sơn hà Nam Đế cư”! Và khi đó, xuất hiện tư thế hiên ngan của người anh hùng đất Việt “hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”. Tại sao lại không cầm “dọc” ngọn giáo mà lại cầm “ngang” chứ? Bởi đó chính là tư thế hiên ngang, hùng dũng của một người anh hùng đang sẵn sàng ra trận chiến đấu. Đó chính là tư thế ưỡn ngực tự hào mà rằng mình là dân đất Việt và mình sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bờ cõi Việt, bảo vệ nhân dân Việt, bảo vệ non sông gấm vóc ngàn thu này. Và cũng chính tư thế này đã lấn át cái không gian bao la rộng lớn của giang sơn. Vừa tạo nên một hình tượng dũng mãnh, vừa nêu lên một khí thế bất khả chiến bại của quân ta lúc bấy giờ. Ở câu thơ này, tác giả đã khéo léo sử dụng ngôn từ để vẽ nên một người chiến sĩ rừng rực khí thế Đông A! Ấy chỉ mới là một người chiến sĩ, vậy còn cả đội quân, cả tam quân thì sao? “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”. Ta có thể hiểu ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu hay ba quân khí mạnh lấn át cả sao Ngưu. Và chăng, khi vừa đọc lên câu thơ thì ai nấy đều đã cảm nhận được cái khí thế hùng dũng ra trận quyết chiến ấy. Cái khí thế mà cả sao trời cũng phải cúi mình nhún nhường, cái khí thế mà một con trâu to thật to cũng phải bị nuốt trôi một cách dễ dàng. Chứng tỏ một điều rằng khí thế hùng mạnh này sẽ ngày càng tăng thêm nhiều hơn nữa theo chiều hướng chiến đấu. Cũng bởi ngon lữa khát khao tự do cháy bỏng trong tim mỗi con người đất Việt đang phừng phực cháy, không chỉ là một ngọn lửa mà hàng trăm hàng ngàn ngọn lửa gộp lại với nhau thành một biển lửa. Một biển lửa đốt cháy mọi âm mưa của kẻ thù, một biển lửa phá tan mọi gông cùm xiềng xích hàng trăm năm qua, một biển lửa đốt cháy niềm khát khao độc lập tự do… Và thế, với lửa trong tim và khí chất “Đông A” hùng dũng. Nhân dân Việt “cầm giáo” xông pha trận mạc, chiến đấu và mang hạnh phúc, bình yên đến với quê nhà… Tiếp theo sau đó, Phạm Ngũ Lão chợt nhận ra rằng mình còn một món nợ rất lớn, mà cả đời ông cũng chưa chắc trả hết, đó là nợ công danh. “Nam nhi vị liễu công danh trái”. Một món nợ mà chỉ có người nam nhi, quân tử mới cảm thấy rằng mình không bao giờ trả đủ. Là tại sao vậy? Tại sao lại chiến đấu hết mình, bất chấp hy sinh… mà vẫn cảm thấy không sao trả hết nợ? Đó là bởi vì đất nước chưa hết mối lo, nhân dân chưa hết đói khổ, vậy thì sao có thể yên vị mà vui chơi được! Vậy nên món nơ ngàn đời này vẫn phải trả, trả đến khi nào không thể trả nữa thôi. Tác giả đã trải lòng mình theo bài thơ, đã tâm sự, đã truyền đạt hết những gì ấp ủ trong lòng. Phía sau cái hào khí vững mạnh ấy, là một con người còn nặng nợ công danh, nặng tình, nặng nghĩa. Luôn suy nghĩ, đắng đo vì nước vì dân. Bởi thân “làm trai cho đáng nên trai”, cho đáng với đất nước ngàn thu này! Cho đáng với Vũ Hầu Gia Cát Lượng! Để không phải “thẹn” khi nghe chuyện vũ Hầu nữa. Để những chiến tích còn có thể lưu vang ngàn đời, để người đời sau còn nhớ về một người anh hùng hết mình hy sinh vì nước vì dân. Lại trở về với hiện tại, bước ra khỏi màn sương lịch sử, ta đã làm gì cho đất nước này chưa? Ta đã có giữ lại khí thế Đông A ấy không? Ta đã hy sinh gì cho đất nước này? Vẫn chưa…món nợ ấy ta vẫn chưa trả…chưa trả hết đâu…
Phân tích bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) của Phạm Ngũ Lão
907
Đề bài: Phân tích bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão để làm sáng tỏ hào khí đời Trần Bài làm Phạm Ngũ Lão là một danh tướng đời Trần. Tuy xuất thân từ tầng lớp bình dân song chí lớn tài cao nên ông nhanh chóng trở thành tùy tướng số một bên cạnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên xâm lược, Phạm Ngũ Lão cùng những tên tuổi lớn khác của triều đình đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, góp phần quan trọng tạo nên hào khí Đông A của thời đại đó: Ông sáng tác không nhiều nhưng Thuật hoài là một bài thơ nổi tiếng, được lưu truyền rộng rãi vì nó bày tỏ khát vọng mãnh liệt của tuổi trẻ trong xã hội phong kiến đương thời: làm trai phải trả cho xong món nợ công danh, có nghĩa là phải thực hiện đến cùng lí tưởng trung quân, ái quốc. Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu Dịch thơ tiếng Việt: Múa giáo non sông trải mấy thu Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu. Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh đặc biệt có một không hai của lịch sử nước nhà. Triều đại nhà Trần (1226 – 14001) là một triều đại lẫy lừng với bao nhiêu chiến công vinh quang, mấy lần quét sạch quân xâm lược Mông – Nguyên hung tàn ra khỏi bờ cõi, giữ vững sơn hà xã tắc, nêu cao truyền thống bất khuất của dân tộc Việt. Phạm Ngũ Lão sinh ra và lớn lên trong thời đại ấy nên ông sớm thấm nhuần lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc và nhất là lí tưởng sống của đạo Nho là trung quân, ái quốc. Ông ý thức rất rõ ràng về trách nhiệm công dân trước vận mệnh của đất nước: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Bài thơ Thuật hoài (Tỏ lòng) được làm bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn tứ tuyệt luật Đường, niêm luật chặt chẽ, ý tứ hàm súc, hình tượng kì vĩ, âm điệu hào hùng, sảng khoái. Hai câu thơ đầu khắc họa vẻ đẹp gân guốc, lẫm liệt, tràn đầy sức sống của những trang nam nhi – chiến binh quả cảm đang xả thân vì nước, qua đó thể hiện hào khí Đông A ngút trời của quân đội nhà Trần thời ấy. Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu (Dịch nghĩa: cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu); dịch thơ: Múa giáo non sông trải mấy thu. So với nguyên văn chữ Hán thì câu thơ dịch chưa lột tả được hết chất oai phong, kiêu hùng trong tư thế của người lính đang chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hoành sóc là cầm ngang ngọn giáo, luôn ở tư thế tấn công dũng mãnh, áp đảo quân thù. Tư thế của những người chính nghĩa lồng lộng in hình trong không gian rộng lớn là giang sơn đất nước trong suốt, một thời gian dài (giang sơn kháp kỉ thu). Có thể nói đây là hình tượng chủ đạo, tượng trưng cho dân tộc Việt quật cường, không một kẻ thù nào khuất phục được. Từ hình tượng ấy, ánh hào quang của chủ nghĩa yêu nước ngời tỏa sáng. Câu thơ thứ hai: Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu. (Dịch nghĩa: khí thế của ba quân mạnh như hổ báo, át cả sao Ngưu trên trời). Dịch thơ: Ba quân hùng khí át sao Ngưu, đặc tả khí thế chiến đấu và chiến thắng không gì ngăn cản nổi của quân dân ta. Tam quân tì hổ là một ẩn dụ so sánh nghệ thuật nêu bật sức mạnh vô địch của quân ta. Khí thôn Ngưu là cách nói thậm xưng để tạo nên một hình tượng thơ kì vĩ mang tầm vũ trụ. Hai câu tứ tuyệt chỉ mười bốn chữ ngắn gọn, cô đúc nhưng đã tạc vào thời gian một bức tượng đài tuyệt đẹp về người lính quả cảm trong đạo quân Sát Thát nổi tiếng đời Trần. Là một thành viên của đạo quân anh hùng ấy, Phạm Ngũ Lão từ một chiến binh dày dạn đã trở thành một danh tướng khi tuổi còn rất trẻ. Trong con người ông luôn sôi sục khát vọng công danh của đấng nam nhi thời loạn. Mặt tích cực của khát vọng công danh áy chính là ý muốn được chiến đấu, cống hiến đời mình cho vua, cho nước. Như bao kẻ sĩ cùng thời, Phạm Ngũ Lão tôn thờ lí tưởng trung quân, ái quốc và quan niệm: Làm trai đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông (Chí làm trai – Nguyễn Công Trứ). Bởi thế cho nên khi chưa trả hết nợ công danh thì tự lấy làm hổ thẹn: “Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu (Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu). Vũ Hầu tức Khổng Minh, một quân sư tài ba của Lưu Bị thời Tam Quốc. Nhờ mưu trí cao, Khổng Minh đã lập được công lớn, nhiều phen làm cho đôi phương khốn đốn; vì thế ông rất được Lưu Bị tin yêu. Lấy gương sáng trong lịch sừ cổ kim soi mình vào đó mà so sánh, phấn đấu vươn lên cho bằng người, đó là lòng tự ái, lòng tự trọng đáng quý cần phải có ở một đấng nam nhi. Là một tùy tướng thân cận của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quôc Tuấn, Phạm Ngũ Lão luôn sát cánh bên cạnh chủ tướng, chấp nhận xông pha nơi làn tên mũi đạn, làm gương cho ba quân tướng sĩ, dồn hết tài năng, tâm huyết để tìm ra cách đánh thần kì nhất nhằm quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Suy nghĩ của Phạm Ngũ Lão rất cụ thể và thiết thực; một ngày còn bóng quân thù là nợ công danh của tuổi trẻ với giang sơn xã tắc vẫn còn vương, chưa trả hết. Mà như vậy là phận sự với vua, với nước chưa tròn, khát vọng công danh chưa thỏa. Cách nghĩ, cách sống của Phạm Ngũ Lão rất tích cực, tiến bộ. ông muốn sống xứng đáng với thời đại anh hùng. Hai câu thơ sau âm hưởng khác hẳn hai câu thơ trước. Cảm xúc hào sảng ban đầu dần chuyển sang trữ tình, sâu lắng, như lời mình nói với mình cho nên âm hưởng trở nên thâm trầm, da diết. Phạm Ngũ Lão là một võ tướng tài ba nhưng lại có một trái tim nhạy cảm của một thi nhân. Thuật hoài là bài thơ trữ tình bày tỏ được hùng tâm tráng trí và hoài bão lớn lao của tuổi trẻ đương thời. Bài thơ có tác dụng giáo dục rất sâu sắc về nhân sinh quan và lối sống tích cực đối với thanh niên mọi thời đại Thuật hoài đã làm vinh danh vị tướng trẻ văn võ song toàn Phạm Ngũ Lão.
Phân tích bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão để làm sáng tỏ hào khí đời Trần
1,222
Đề bài: Phân tích bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão Bài làm Nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử. Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được ghi lại trong những áng văn chương kiệt xuất như: “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu, v.v… Đặc biệt và nổi bật hơn hết cả là tác phẩm “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão. Bài thơ là một khúc tráng ca hào hùng và mang nặng nỗi niềm của tác giả. Phạm Ngũ Lão sinh ra trong thời kì loạn lạc với cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên của đất nước. Tên tuổi của ông gắn liền với câu chuyện về một chàng trai nghèo mãi nghĩ kế giúp vua đánh giặc đến nỗi bi giáo đâm vào đùi. Bên cạnh một nhà quân sự tài giỏi, ông còn là một nhà thơ vĩ đại với hai tác phẩm “Thuật hoài” và “Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương” còn vang vọng mãi với non sông. “Thuật hoài” là bản tuyên ngôn về lý tưởng của kẻ làm trai là chiến đấu để bảo vệ non sông đất nước đồng thời thể hiện khí thế, sức mạnh và khát vọng chiến thắng của một thời đại anh hùng. Bài thơ tiêu biểu cho quy luật văn chương nghệ thuật “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” Mở đầu bài thơ là hình ảnh tráng lệ với âm hưởng hào hùng: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu” Bước vào thời đại chiến tranh ấy, cái thời mà ngọn lửa như thiêu đốt cả tâm hồn quyết tâm diệt tan kẻ thù xâm lăng bờ cõi, khẳng định lại một lần nữa: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư”! Và khi đó, xuất hiện tư thế hiên ngang của người anh hùng đất Việt “hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu”. Câu thơ đầu tiên đã vẽ nên hình tượng oai phong lẫm liệt của người tráng sĩ với tư thế cầm ngang ngọn giáo sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tư thế ấy mang đậm tính tự hào rằng mình là người con đất Việt và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bờ cõi Việt, bảo vệ nhân dân Việt, bảo vệ non sông gấm vóc ngàn thu này. Hình ảnh lớn lao của người chiến sĩ đã sánh với tầm vóc bao la hùng vĩ của đất trời, lấn át cả khí thế của quân giặc. Đó còn biểu trưng cho lối sống cao đẹp cống hiến hết sức để bảo vệ đất nước một cách kiên trì, nhẫn nại. Dù bao nhiêu năm đi chăng nữa thì lí tưởng bảo vệ, khôi phục non sông vẫn mãi trường tồn. Nếu câu thơ đầu thể hiện vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao, kỳ vĩ mang tầm vóc vũ trụ thì câu thơ thứ hai tô đậm hình ảnh “ba quân” tượng trưng cho sức mạnh của quân đội nhà Trần và sức mạnh dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ. “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp với sức mạnh phi thường, mạnh như hổ báo quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu trời xuất phát từ câu “khí thôn Ngưu đẩu” hay đó chính là khí thể hùng mạnh có thể nuốt trôi trâu của tam quân thời Trần. Biện pháp nghệ thuật cường điệu hoá sáng tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, có tính sử thi. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” bất khả chiến bại mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc: Thuyền bè muôn đội, Tinh kì phấp phới. Hùng hổ sáu quân, Giáo gươm sáng chói. … (Phú sông Bạch Đằng – Trương Hán Siêu) Nếu tư thế của tráng sĩ với hình ảnh cây trường giáo như đo bằng chiều ngang của non sông thì tư thế của ba quân lớn mạnh đo bằng chiều dọc gợi không gian mở ra theo chiều rộng của núi sông và mở theo chiều cao đến tận sao Ngưu thăm thẳm. Con người kì vĩ như át cả không gian bao la, kì vĩ. Hình ảnh tráng sĩ lồng vào trong hình ảnh dân tộc thật đẹp có tính chất sử thi, hoành tráng. Đó chính là sức mạnh, âm vang của thời đại, vẻ đẹp của người trai thời Trần, là sản phẩm của “hào khí Đông A”. Nói cách khác, đó là hình ảnh con người vũ trụ, mang tầm vóc lớn lao. Con người ấy vì ai mà xông pha, quyết chiến? Tất cả xuất phát từ trách nhiệm, ý thức dân tộc và nền thái bình. Vì thế con người vũ trụ gắn với con người trách nhiệm, con người ý thức, bổn phận, con người hành động, đó chính là những biểu hiện của con người cộng đồng, con người xả thân vì đất nước. Nếu ở hai câu đầu giọng điệu sôi nổi hùng tráng thì đến đây âm hưởng thơ bỗng dưng như một nốt trầm lắng lại với lời bộc bạch, tâm sự, bày tỏ nỗi lòng của nhà thơ: “Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” Thời xưa, Nho giáo đã nêu lên triết lí kẻ làm trai từ lúc sinh ra đã gánh nợ công danh. Người đàn ông phải hướng đến “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” lấy đó là lí tưởng, là cái đích phải hướng tới. Nói như Nguyễn Công Trứ thì: “Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”. Thời Trần, cái chí làm trai ấy là “Phá cường địch, báo hoàng ân” của vị anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản, là câu nói quả quyết của Thái sư Trần Thủ Độ: “Đầu thần còn chưa rơi xuống xin bệ hạ đừng lo” hay đó là vị Quốc Công tiết chế với “Hịch tướng sĩ” mang đậm hào khí anh hùng: “…dẫu cho thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng”. Ấy chính là khát vọng được gánh vác vận mệnh đất nước, dân tộc, lập chiến công hiển hách, là lý tưởng lập công danh sự nghiệp của nam nhi thời loạn lạc. “Công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm. Đặt trong thời đại của Phạm Ngũ Lão, chí làm trai này đã cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì sự nghiệp lớn lao “cùng trời đất muôn đời bất hủ”. Phạm Ngũ Lão cũng từ cái chí, cái nợ nam nhi, nam tử đó mà cùng dân tộc chiến đấu chống xâm lược bền bĩ, ròng rã bao năm. Đặc biệt ở đây cũng từ cái chí, cái nợ đó mà nảy sinh trong tâm trạng một nỗi thẹn. Phạm Ngũ Lão “thẹn” chưa có tài mưu lược lớn như Vũ Hầu Gia Cát Lượng đời Hán để trừ giặc, cứu nước. Thẹn bởi vì so với cha ông mình chưa có gì đáng nói. Gia Cát Lượng là quân sư của Lưu Bị, mưu trí tuyệt vời, song điểm làm cho Gia Cát Lượng nổi tiếng là lòng tuyệt đối trung thành với chủ. Vì thế “luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu” thực chất là một lời thề suốt đời tận tuỵ với chủ tướng Trần Hưng Đạo. Xưa nay, những người có nhân cách vẫn thường mang trong mình nỗi thẹn. Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Thu vịnh” từng bày tỏ nỗi thẹn khi nghĩ tới Đào Tiềm – một danh sĩ cao khiết đời Tấn. Với Phạm Ngũ Lão, tuy là một nhà thao lựơc kiệt xuất, có công rất lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần hai, ba nhưng ông vẫn tự thấy hổ thẹn. Ông thẹn vì chưa khội phục được giang sơn, vì kém cỏi chưa được như Vũ hầu, chưa báo được Hoàng ân. Nỗi thẹn ấy không làm cho con người trở nên nhỏ bé mà trái lại nâng cao phẩm giá con người. Đó là cái thẹn của một con người có lý tưởng, hoài bão vừa lớn lao, vừa khiêm nhường. Nỗi thẹn của một con người luôn dành trọn cái tâm cho đất nước, cho cộng đồng. Ẩn sau cái thẹn cao cả, khiêm tốn và ấy là cả một nỗi niềm khao khát được cống hiến hơn nữa cho Tổ quốc, cho dân tộc. Ông nguyện học tập binh thư, rèn luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững: “Non sông nghìn thuở vững âu vàng”. Thuật hoài là một bài thơ Đường luật ngắn gọn nhưng hàm súc với thủ pháp gợi, thiên về ấn tượng, khái quát kết hợp với bút pháp hoành tráng mang âm hưởng sử thi đã khắc họa vẻ đẹp của người anh hùng hiên ngang, hùng dũng với sức mạnh lý tưởng lớn lao cao cả, tâm hồn sáng ngời nhận cách cùng khí thế hào hùng, quyết chiến quyết thắng của “hào khí Đông A”-hào khí thời Trần. Ngày nay, việc “cứu nước phò nguy” đâu phải là không cần thiết nữa vì vậy, mỗi thanh niên chúng ta cần học tập thật tốt, rèn luyện nhân cách đạo đức, xác định cho mình lí tưởng sống đúng đắn và quan trọng hơn là phải biết ước mơ và hành động vì sự nghiệp đất nước, đưa Việt Nam sánh ngang tầm với các cường quốc khắp năm châu.
Phân tích bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão
1,815
Phân tích bài thơ Thuật hứng và nêu cảm nghĩ về tâm trạng của Nguyễn Trãi khi về hưởng cái thú thanh nhàn Hướng dẫn Đề bài: Phân tích bài thơ Thuật hứngvà nêu cảm nghĩ về tâm trạng của Nguyễn Trãi khi về hưởng cái thú thanh nhàn sau khi cáo quan về ở ẩn. I. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài – Giới thiệu tác giả, tác phẩm Nhắc đến một nhà chính trị tài ba, kiệt xuất lại mang trong mình tâm hồn văn thơ độc đáo không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi Bài thơ “Thuật hứng” thể hiện cuộc sống yên bình, nhẹ nhàng của vùng quê nơi ông sống 2. Thân bài – Hai câu thơ đầu: Bỏ lại công danh trở về với cuộc sống thanh nhàn Công danh: Ai cũng theo đuổi, đạt được và thấy được sự đối nghịch trong đó lại muốn rời bỏ Đối với Nguyễn Trãi: Bỏ công danh ở phía sau, trở về quê nhà, lấy thiên nhiên làm bạn, hòa mình vào thiên nhiên với những thú vui – Hai câu thơ tiếp theo: Những thú vui chốn quê nhà Cuộc sống giản dị, khác so với những gì mà Nguyễn Trãi đã có, đã cống hiến, làm những công việc của những người nông dân như vớt bèo, phát cỏ. Ăn những món ăn giản dị, không có sơn hào hải vị: Rau muống, ương sen – Bốn câu thơ cuối: Lối sống thanh bạch, nỗi lo cho đất nước Lối sống yên bình, làm bạn với gió, trăng Nỗi lo cho đất nước: Lo cho vận mệnh đất nước khi tồn tại bè lũ quan tham, no cho dân, hướng về đất nước Sự hối tiếc nhẹ khi không cống hiến toàn bộ tài năng của mình cho đất nước 3. Kết bài Bài thơ “Thuật hứng” với giọng thơ nhẹ nhàng, khoan thai, giọng điệu tâm tình cởi mở Bài thơ thể hiện tâm tư tình cảm của Nguyễn Trãi dành dân, cho nước, yêu thiên nhiên cuộc sống II. Bài tham khảo Nhắc đến một nhà chính trị tài ba, kiệt xuất lại mang trong mình tâm hồn văn thơ độc đáo không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi, một con người dùng tất cả tài năng của mình cống hiến cho đất nước, sau khi giành được độc lập ông trở về làm một vị quan chính trực, công tư phân minh nhưng sự thẳng thắn, liêm khiết của ông không thể tồn tại cùng bè lũ quan tham, sau bao lần bị hãm hại ông trở về với cuộc sống an nhàn của quê nhà, cũng từ đây mà bài thơ “Thuật hứng” ra đời, bài thơ thể hiện cuộc sống yên bình, nhẹ nhàng của vùng quê nơi ông sống. Từ những cảm nhận về cuộc sống bình dị, hòa mình vào thiên nhiên thật gần gũi, vạn vật đều như tràn trề sức sống qua ngòi bút của ông đã đưa người đọc thấy được sự đối lập trong cuộc sống thoải mái, an nhiên nơi vùng quê giản dị với cuộc sống tranh chấp đố kị khi làm quan. Công danh đã được hợp về nhàn Công danh là hai từ mà bất kì ai sống trong xã hội thời bấy giờ đều muốn có được, dùng cả cuộc đời mình để chạy theo công danh, tu luyện phẩm chất theo khuân mẫu, đầu tư phần lớn thời gian cho sách vở chỉ mong một ngày nào đó có thể dùng tài năng của mình cống hiến cho đất nước, nhưng đối với những con người liêm khiết, chính trực tại thời điểm đó khi đã đạt được công danh lại thấy được sự mục nát của xã hội, những góc khuất của xã hội mà không phải ai cũng nhìn ra, rồi từ đó mà muốn rũ bỏ tất cả để trở về với sự bình yên của quê nhà, đối với Nguyễn Trãi ông cảm thấy thanh thảnh khi đã để lại được những công danh đó ở phía sau để trở về với sự nhàn hạ, cuộc sống thoải mái vô âu vô lo. Lấy thiên nhiên làm động lực, làm thú vui trong cuộc sống không ồn ào, không ghen ghét đố kị, không có chỗ cho những kẻ ham của cải vật chất, chỉ những người tránh được cám dỗ mà đồng tiền trong triều đình đem lại mới có thể cảm nhận hết được vẻ đẹp mà thiên nhiên chốn quê nhà đem lại. Hòa mình với thiên nhiên ông có những thú vui hết sức giản dị cho riêng mình Ao cạn vớt bèo cấy rau muống Tài năng là vậy, cống hiến là vậy nhưng khi trở về với cuộc sống ở ẩn người đọc thấy được một Nguyễn Trãi hoàn toàn khác, giản dị vô cùng, sống làm bạn với thiên nhiên, vớt bèo phát cỏ những hành động chỉ thấy được ở những vùng nông thôn nghèo, chỉ thấy đối với những người nông dân chân lấm tay bùn. Nhưng đối với ông đó là sở thích, là cuộc sống của ông chẳng có những món ăn sơn hào hải vị, những món ăn đắt tiền hiếm có mà chỉ có rau muốn, ương sen mộc mạc giản dị, như những nho sĩ ở ẩn khác với ông đó làm niềm vui làm cho cuộc sống ông mãn nguyện, sống có ý nghĩa. Không chỉ dừng ở đó ông còn làm bạn với vạn vật, lấy tất cả những hình ảnh đẹp đẽ mà thiên nhiên ban tặng làm cảm hứng Kho thu phong nguyệt chở đầy qua nóc Thuyền trở yên hà nặng vậy then Bui có một lòng trung lẫn hiếu Mài chăng khuyết, nhuộm trăng đen Những câu thơ thể hiện lối sống chốn yên bình lấy gió lấy trăng làm bạn làm thú vui trong cuộc sống nhưng đối với ông vốn vì dân vì nước nên trong lòng luôn mang một nỗi lo, nỗi lo dành cho tương lai của xã hội khi tồn tại một bè lũ quan tham, nỗi lo dành cho những người nông dân lam lũ vất vả chịu đầy bất công, rồi tâm hồn ông thư giãn vậy nhưng tinh thần trung quân ái quốc trong ông không bao giờ tắt và cuối cùng ông vẫn có một chút hối tiếc khi không thể đem hết toàn bộ tài năng của mình để phần nào giúp đất nước vững mạnh hơn. Bài thơ “Thuật hứng” với giọng thơ nhẹ nhàng, khoan thai, giọng điệu tâm tình cởi mở đã thể hiện một cách chân thực nhất những tâm tư tình cảm của một con người yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống không vướng tiền tài vật chất, vì nước vì dân, sống cuộc sống không hổ thẹn với lương tâm, không hối hận với những gì mình đã làm, chỉ có chút nuối tiếc khi về già. Theo
Phân tích bài thơ Thuật hứng và nêu cảm nghĩ về tâm trạng của Nguyễn Trãi khi về hưởng cái thú thanh nhàn
1,137
Đề bài: Phân tích bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương Bài làm Bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương: “Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vẵng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!” Trần Tế Xương lận đận trong thi cử, đi thi đến lần thứ tám mới đậu được cái tú tài. Ông học giỏi nhưng phải cái ngông quá, thật ra thái độ ngông của ông là một cách ông phản kháng lại chế độ thi cử lạc lậu, quan trường “ậm ọc” lúc bấy giờ. Mà đậu được cái tú tài thì rồi cũng làm “quan tại gia” thôi. Hồi đó phải đậu cử nhân mới được bổ tri huyện. Thế là bà Tú gần như phải nuôi chồng suốt đời. Ông Tú chỉ còn biết đem tài hoa của mình mà ghi công cho bà Tú: “Quanh năm buôn bán ở mom sống, Nuôi đủ năm con với một chồng”. Từ “mom” thật là hay, vừa thấy được nỗi gian truân của bà Tú buôn bán quanh năm bên bờ sông Vị, vừa thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với việc buôn bán khó nhọc của vợ. Từ “mom” là tổng hợp nghĩa của các từ ven, bờ, vực, thềm, thành một từ sáng tạo của nhà thơ làm giầu thêm cho tiếng Việt. Bà Tú buôn thúng bán bưng quanh năm ở “mom sông” mà nuôi chồng, nuôi con: “Nuôi đủ năm con với một chồng” Câu thơ chỉ mấy con số khô khốc thế vậy mà tế toái lắm đó! “Nuôi đủ năm con” là vì con, phải nuôi, nên đếm ra để mà nuôi. Nhưng còn chồng thì một chồng chứ mấy chồng, cớ sao lại cũng phải đếm ra “một chồng”? Là vì chồng cũng phải nuôi, mà bà Tú với cái gánh trên vai nuôi năm đứa con đã là vất vả, lại thêm một ông Tú trong nhà nữa thì gánh nặng gấp đôi. Thời đó mà nuôi một ông Tú, lại là Tú Xương nữa thì nhiêu khê lắm. Nhưng bà Tú được an ủi là vì ông Tú, cái con người tưởng như chỉ biết bông đùa, cười cợt đó lại để tâm đến từng bước chân của bà trên đường lặn lội buôn bán: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Có thể nói lòng thương vợ của nhà thơ dào dạt lên trong hai câu thơ này. Hình ảnh lặn lội thân cò được tác giả mô phỏng theo một biểu tượng trong thi ca dân gian để nói về người phụ nữ lao động: “Con cò lặn lội bờ sông Gánh tạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non” Nếu như từ “lặn lội” được đảo ra phía trước chủ ngữ để nhấn mạnh sự vất vả của bà Tú, thì từ “eo sèo” gợi lên âm thanh hỗn tạp (tiếng kì kèo mặc cả, tiếng cãi cọ tranh giành) của “buổi đò đông”. Hai tình huống đối lập thật hay: “vắng” và “đông”. Người phụ nữ gánh hàng lặn lội trên quãng đường vắng thật là khổ. Mà đến chỗ “đò đông” thì thật là đáng sợ! Nghĩa là nhìn từ phía nào, nhà thơ cũng thương vợ, tình thương thấm thía, cảm động. Sang hai câu luận, tác giả chuyển sang diễn tả nội tâm của bà Tú, lời thơ như lời độc thoại của người vợ: “Một duyên hai nợ âu đành phận, Năm nắng mười mưa dám quản công” Nhân dân ta thường nói “vợ chồng là duyên nợ”. Nhà thơ Tú Xương đã chỉ từ ghép “duyên nợ” thành hai từ đơn: “duyên – nợ”. “Duyên” thì thiêng liêng rồi vì đã có sự tham gia của đấng vô hình (ông Tơ bà Nguyệt), còn “nợ” thì đã thành trách nhiệm nặng nề. “Một duyên hai nợ” đã diễn tả được sự vận động trong tâm trí của bà Tú. “Một duyên hai nợ âu đành phận” là bà Tú đã thuận theo lòng trời và thuận theo lòng người (tấm lòng của chính bà!). Nói gọn lại là bà Tú đã chấp nhận! Và chấp nhận cuộc hôn nhân duyên nợ này, bà chấp nhận một ông đồ nho ngông “tám khoa chưa khỏi phạm trường quy”, bà chấp nhận vị quan “ăn lương vợ” nên bà đâu “dám quản công”: “Năm nắng mười mưa dám quản công” Thành ngữ “dầm mưa dãi nắng” được tác giả vận dụng sáng tạo thành “năm nắng mười mưa”. Phải nói những con số trong thơ Tú Xương rất có thần. Ta đã thấm thía với hai số năm – một trong câu thừa đề (Nuôi đủ năm con với một chồng). Giờ đây là sự linh diệu của những con số một – hai và năm – mười trong câu luận. “Một duyên hai nợ” đối với “Năm nắng mười mưa”, cho thấy gian khổ cứ tăng lên, bà Tú chịu đựng hết. Trước người vợ giỏi giang, tần tảo, chịu đựng mọi gian lao vất vả để “nuôi đủ năm con với một chồng” thì nhà thơ chỉ còn biết tự trách mình. “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không!” Vì quá thương vợ mà nhà thơ tự trách mình, trách một cách nặng nề. “Cha mẹ thói đời…” thì đã thành lời xỉ vả mình. Thật ra là một cách ông Tú nhún mình để cho công trạng của bà Tú nổi lên, chứ Tú Xương đâu phải là người “ăn ở bạc”. Ăn chơi sa đà thì có, “hờ hững” nữa, thì nhà thơ đã thành thật nói rồi, chứ bạc tình, bạc nghĩa thì không. Gang thép với cường quyền mà nhũn với vợ như thế thì thật là con người đáng kính. Bằng tình cảm chân thành, bằng nghệ thuật sống động, Tú Xương đã thể hiện được hình ảnh người phụ nữ giỏi giang, lam lũ, tần tảo nuôi chồng nuôi con. Bà Tú có những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa.
Phân tích bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương
1,027
Đề bài: Phân tích bài thơ Thề non nước của Tản Đà Bài làm Trong cuộc đời phiêu bạt đó đây, Tản Đà đã ví mình như dòng nước trôi lênh đênh khắp các sông, hồ, bể cả, trong khi ấy người tình như non cao đứng sừng sững giữa trời, chịu dày dạn với tuyết sương để chờ đợi tình quân: Nước non nặng một lời thề, Nước đi đi mãi không về cùng non. Trong lời thề xưa, câu ước cũ, dù nước có đi mãi chưa về, non vẫn trọn lời thủy chung. Trong cảnh khắc khoải đợi chờ, tháng ngày ủ rũ sầu nhớ, non kia có khác nào như cành cây khô héo vì hạn hán đang mong một trận mưa rào để lấy lại nét thắm tươi. Ánh trời chiều đã ngả về phía Tây đoài. Những tia sáng cuối ngày càng soi sáng cảnh vật bao nhiêu càng cho ta thấy rõ những nét "nhạt phấn phai hương” và “hao gầy” của người đẹp, vì mong nhớ người đã cùng mình nguyện trăm năm vàng đá: Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại, non còn đứng không. Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày. Xương mai một nắm hao gầy, Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương. Trời tây ngả bóng tà dương, Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha. Dù trải qua bao năm tháng đợi chờ, vẻ đẹp của giai nhân, dưới ánh nắng của buổi chiều tà, vẫn còn những nét kiều diễm đáng yêu. Với một mối tình đậm đà, gắn bó không rời, nước non vẫn không thể nào quên nhau được: Non cao tuổi vẫn chưa già, Non thời nhớ nước, nước mà quên non! Dù cho sông cạn đá mòn, Còn non còn nước vẫn còn thề xưa. Lời phân trần, biện bạch nỗi lòng của nước với non mỗi lúc càng thèm chân thành. Nước lõa có khác nào người đàn ông theo đuổi một chí hướng, và cuộc đời rày đây mai đó đã khiến cho mối tình “non nước” phải bị gián đoạn. Nhưng rốt cuộc, sau một thời gian vui thú giang hồ, nước đà trở vê sum họp với non, với người tình cũ năm nào, trong cảnh hoan lạc, vui tươi: Non cao đã biết hay chưa? Nước đi ra bể lại mưa về nguồn. Nước non hội ngộ còn luôn, Bảo cho non chớ có buồn làm chi. Nước kia dù hãy còn đi, Ngàn dâu xanh tốt non thì cử vui. Nếu nước đã không thể quên non thì non cũng không bao giờ rời xa được nước. Lời thề của non nước sẽ đời đời bất diệt: Nghìn năm giao ước kết đôi, Non non nước mức không nguôi lời thề. Nội dung của bài thơ trên đây được xây dựng trên phương diện tình cảm, một tình cảm thắm thiết và bất di bất dịch. Tản Đà đã dùng non và nước dể diễn tả nỗi lòng của mình và người tình cũ một cách tài tình. Dù lời văn có tính cách ước lệ, nhưng không vì thế mà bài thơ kém phần linh động, trái lại nhờ sự ước lệ mà giọng văn trở nên trang trọng, quý phái. Về phần hình thức, tác giả đã dùng những chữ gợi hình như: suối khô dòng lệ, xương mai, hao gầy, đã đầy tuyết sương, diễn tả được sự mong ch thương nhớ của người đẹp. Trong cảnh nhớ mong ấy, giai nhân đã võ vàng, tiều tụy. Nói đến sắc đẹp của người tình, dù đã trải qua những tháng đợi năm chờ, văn không mất đi những nét “trầm ngư lạc nhạn” của thưở nào, tác giả đã viết: Trời tây ngả bóng tà dương, Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha, Giọng điệu trầm buồn trong lời thơ đã diễn tả đúng như những tiếng nhạc khi khoan khi nhặt, lúc bổng lúc trầm, hai chữ non non, nước nước được nhắc đi nhắc lại nhiều lượt như lời nức nở than van: Nước non nặng một lời thề, Nước đi, đi mãi không về cùng non. Nhớ lời “nguyện nước thề non” Nước đi chưa lại, non còn đứng không… Để minh chứng cho lời thề non nước vẫn bền chặt với thời gian, tác giả đã dùng những lời lẽ cương quyết, đanh thép: Dù cho sông cạn đá mòn, Còn non còn nước vẫn còn thề xưa. Toàn bài thơ lời lẽ rất giản dị, chân thành và không có gì là gượng ép hay giả tạo. Đó là nhờ sự rung cảm chân thành của tác giả trong khi sáng tác. Tản Đà đã dung hòa được tất cả màu sắc, âm thanh, tình cảm để tạo nên những vần thơ tự nhiên, nhưng có một sức gợi cảm mạnh ra. Dù có tiếng là phóng túng, Tản Đà vẫn không để cho tình cảm lấn át lí trí một cách dễ dàng. Thi sĩ dã dùng tình cảm để nâng đỡ lí trí, để tạo cho mình một sự nghiệp văn chương quan trọng. Lời thơ của Tản Đà dù ở phương diện nào cũng tỏ ra phảng phất phong độ của một người rất hăng hái và có nhiệt tâm quyết đem “bút sắt mà mài lòng son". Giữa thời quốc biến, dù không thể thực hiện hoài bão của mình trong việc giúp dân, cứu nước, Tản Đà cũng đã góp phần vào việc tô điểm cho nền văn học nước nhà được thêm phần tráng lệ.
Phân tích bài thơ Thề non nước của Tản Đà
898
Đề bài: Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến Bài làm Tam nguyên Yên Đổ cũng là người có nhiều bài thơ mang ý vị tự trào vào loại hay và tiêu biểu nhất trong văn học dân tộc. Tiến sĩ giấy chính là một trong những tác phẩm như vậy. Bài thơ thể hiện tài năng nghệ thuật của một tác gia trào phúng bậc thầy và mang ý nghĩa thời đại rõ rệt. Xã hội mà Nguyễn Khuyến sống là xã hội thực dân nửa phong kiến với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm. Ở đó mọi giá trị đạo đức truyền thống đã bị đảo lộn, còn cái mới lại mang bộ mặt của kẻ xâm lược. Ngòi bút thâm trầm mà sâu cay của Nguyễn Khuyến đã chĩa mũi nhọn vào những chỗ hiểm yếu nhất của cái ung nhọt đó. Trong Tiến sĩ giấy nhà thơ đã đem ra trào phúng, châm biếm, hạ bệ thần tượng cao nhất của cả một thể chế xã hội đã tồn tại hàng mấy trăm năm – ông tiến sĩ. Đây là một nhân vật rất quen thuộc của xã hội phong kiến Việt Nam. Đạt đến học vị tiến sĩ là niềm vinh quang không chỉ của bản thân từng con người mà của cả một dòng họ, một địa phương, được cả xã hội vinh danh, khoác lên mình những ánh hào quang chói lọi. Đó vốn là những con người có tài năng, chứa đựng trong mình những tri thức của thời đại và tất cả những tài năng và tri thức đó sẽ được đem ra để phục vụ đất nước, phục vụ xã hội. Đã có biết bao ông tiến sĩ trở thành trụ cột của đất nước, của dân tộc, trở thành nguyên khí quốc gia, được ghi tên tuổi, công trạng trên bia đá, sử xanh. Nhưng đến thời đại của Nguyễn Khuyến mọi chuyện đã thay đổi, những giá trị truyền thống đã dần mai một, hoặc đang từng bước đổ vỡ. Nho học, khoa cử đã xuống cấp, không còn được coi trọng, mọi thứ đã có thể dùng tiền để mua bán, đổi chác, xuất hiện trong xã hội nhiều kẻ chỉ có hư danh mà không có thực học. Kẻ có thực tài, chữ nghĩa đầy mình thì học vị tiến sĩ chỉ còn là cái danh hão, cũng đành khoanh tay ngồi nhìn thời cuộc xoay vần, kiến thức sách vở cũ rích không còn có ích lợi gì trong một bối cảnh mới. Tất cả những điều đó đã được Nguyễn Khuyến thể hiện trong bài thơ Tiến sĩ giấy bất hủ của ông. Nhìn trên ý nghĩa bề mặt văn bản bài thơ có thể thấy đối tượng mà Tam nguyên Yên Đổ hướng tới để tạo nên tiếng cười là những đồ chơi dân gian – hình nộm ông tiến sĩ làm bằng giấy dành cho trẻ con trong những dịp tết trung thu. Làm loại đồ chơi này, các nghệ nhân dân gian muốn khơi dậy ở trẻ em lòng hiếu học và ý chí phấn đấu để đạt tới vinh quang của nền học vấn thời đại, cống hiến tài năng cho đời, đem lại niềm vui cho ông bà, cha mẹ, vinh quang cho dòng họ, tổ tiên. Như vậy, hình ảnh ông nghè tháng Tám là một hình ảnh mang tính truyền thống rất đẹp. Ở hai câu đề, Nguyễn Khuyến chưa nói thẳng cho người đọc biết rõ người được ông giới thiệu trong bài thơ là ai. Nhân vật này có đủ cờ, biển, cân, đai, lọng xanh, ghế chéo đích thị là một vị tiến sĩ oai phong mới được ghi danh đỗ đầu trên bảng rồng: Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai, Cũng gọi ông nghè có kém ai. Biển là tấm gỗ sơn son thếp vàng có khắc bốn chữ ân tứ vinh quy. Cẩn là cái khăn. Đai là cái vòng đeo ngang lưng ở ngoài áo chầu. Hết thảy đều là những thứ cao quý vua ban cho người đỗ tiến sĩ để vinh quy bái tổ. Nhân vật có vẻ bề ngoài vừa uy nghi, vừa phô trương tự đắc. Tuy nhiên, điệp từ cũng xuất hiện với mật độ dày đặc và ẩn chứa ý vị mỉa mai bắt đầu bộc lộ thái độ của tác giả, khiến cho ta thấy có điều gì đó bất thường ở vị tiến sĩ này. Từ cũng được nhấn mạnh, được đưa lên đầu câu, chỉ sự giống nhau, lặp lại của hiện tượng, kết hợp với ba từ có kém ai khiến cho con người có học vị cao này có cái vẻ của sự giả dối, học đòi. Đến hai câu sau mọi việc đã trở nên rõ ràng hơn. Nhân vật cũng biển cũng cân đai kia hóa ra chỉ là một ông tiến sĩ giấy, bề ngoài giống hệt như tiến sĩ thật nhưng thực chất bên trong lại rỗng tuếch chẳng có gì. Cái chất liệu làm nên con người ông đơn giản chỉ là từ mấy mảnh giấy và một ít son diêm dúa: Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi. Trong hai câu thực này, nghệ thuật đối được Nguyễn Khuyến sử dụng hết sức đắc địa. Mảnh giấy đối với thân giáp bảng, nét son đối với mặt văn khôi. Giáp bảng là bảng công bố kết quả thi cử ngày xưa, còn được gọi một cách trang trọng là bảng rồng. Thân giáp bảng là người đỗ đạt cao nhưng thực chất ở đây chỉ được chế tác từ một mảnh giấy vụn. Còn chỉ bằng vài nét son là có thể tạo nên mặt văn khôi – chỉ người đứng đầu làng văn. Nguyễn Khuyến đã đặt những sự vật có giá trị khác hẳn nhau vào trong một kết cấu song hành, đối lập, cho mọi người thấy được việc tạo ra một ông tiến sĩ giả bằng giấy thực chẳng khó khăn gì, qua đó thể hiện tính chất rẻ mạt, vô nghĩa của danh hiệu tiến sĩ thực của cái thời cuối phong kiến đầu thực dân này. Ông nghè tháng Tám có diện mạo bên ngoài giống hệt như tất cả các ông tiến sĩ thật nhưng cái thực học chỉ nhẹ hều như mảnh giấy và vết son mà thôi. Nhà thơ đã mượn hình ảnh của ông tiến giấy để nói về ông tiến sĩ thật đương thời, vạch trần bản chất giả dối của đối tượng bằng cách chỉ ra mâu thuẫn giữa hình thức bề ngoài lộng lẫy, hào nhoáng được che giấu hết sức tinh vi và cái thực chất bên trong sáo rỗng, đáng thương hại của nhân vật. Đối với kẻ theo đòi chuyện học hành thì danh hiệu tiến sĩ là niềm vinh quang mà muốn đạt được nó thì người quân tử phải không ngừng tự học hành rèn luyện, có tri thức thông kim bác cổ, có tài năng xuất chúng để ra giúp dân, giúp nước. Có biết bao người đã theo đòi học hành chăm chỉ suốt đời mà vẫn không đạt được vinh hạnh đó. Nhưng nay thì đã khác, cái danh hiệu ấy đã bị người đời coi thường, khinh rẻ: Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ, Cái giá khoa danh ấy mới hời. Đến hai câu luận này, Nguyễn Khuyến dường như đã chuyển từ việc mô tả khách quan sang việc đánh giá chủ quan. Chỉ qua hai cụm từ cảm thán: sao mà nhẹ, ấy mới hời dường như giá trị của ông nghè đã có thể mang ra cân đo, đong đếm. Ngày xưa kẻ lao tâm khổ tứ để đỗ đạt khoác trên thân tấm áo vua ban mà cảm thấy trách nhiệm nặng nề, thì nay kẻ mua danh bán tước khoác lên mình tấm áo ấy mà sao lại thấy nhẹ bẫng. Đơn giản bởi nó là thứ giả. Không phải ngẫu nhiên khi mô tả một ông tiến sĩ bằng giấy nhưng nhà thơ vẫn phải luôn gắn vào đó từ thân (thân giáp bảng) hoặc tấm thân (tấm thân xiêm áo), chính để tạo nên sự so sánh. Nhưng sao những lời lẽ tưởng như chủ quan chế giễu, mỉa mai trên lại như cũng đang nhuốm những ngậm ngùi, chua chát, cảm thán thời thế và nhà thơ dường như đang buồn cho chính mình vậy? Sáu câu thơ trên như một chiếc đòn bẩy để hai câu thơ cuối buông ra một lời kết luận khiến người đọc bàng hoàng: Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe, Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi. Ở đây, thêm một lần nữa tác giả tiếp tục khắc họa sâu thêm sự đối lập, tương phản gay gắt giữa cái bên ngoài và bản chất thật của ông tiến sĩ. Cụm từ ghế chéo lọng xanh vẫn gây cho người đọc ấn tượng về dáng vẻ oai vệ vốn có của nhân vật có học vấn cao nhất đương thời. Nhưng lần nâng lên cuối cùng này cũng sẽ là lần Nguyễn Khuyến giáng cho đối tượng trào phúng đòn hạ bệ chí mạng nhất. Giọng điệu mỉa mai, hài hước của hai chữ bảnh chọe đã giết chết, đã vạch rõ cái oai phong của vị tiến sĩ kia thực chất chỉ là cái mẽ giả dối bên ngoài: Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi. Thật là một hình ảnh thảm hại! Cái kẻ mà ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe ấy hóa ra là một thứ con rối chịu để kẻ khác giật dây mà thôi. Cái xã hội bát nháo ấy, cái thứ triều đình bù nhìn toàn những quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề ấy nhất định chỉ có thể sản sinh ra cái thứ hàng mã này. Mà cái kẻ đứng đằng sau giật dây tất cả lũ rối người ấy từ trên xuống dưới không ai khác chính là bè lũ thực dân cướp nước. Nguyễn Khuyến đã nhìn thấy tất cả điều đó và ông kín đáo đưa ra trào phúng đại diện ưu tú nhất nhưng đã trở nên lỗi thời của cái thể chế đó. Tam nguyên Yên Đổ đã táo bạo đưa vào trong thơ mình những hư từ, lời nói khẩu ngữ kiểu như: cũng…cũng, kém ai, sao mà nhẹ, ấy mới hời, tưởng rằng…, đưa chất văn xuôi, chất thế tục vào trong một thể thơ có tính ước lệ, tượng trưng cao như thơ Đường luật, khiến cho thể thơ này trở nên gần gũi hơn, giàu giá trị hiện thực hơn. Nhà thơ phát hiện mâu thuẫn đáng cười ở đối tượng qua những nét đối lập của sự đồng dạng, giống nhau, (tiến sĩ thật – tiến sĩ giấy). Đó là những mâu thuẫn, những điều lố bịch gây cười có ngay trong bản thân đối tượng mà chính nó không hề ý thức được. Lối trào phúng của ông già Yên Đổ là lối trào phúng gián tiếp, kín đáo và thâm thúy, ý định trào phúng của người viết không bộc lộ trên bề mặt văn bản mà chìm sâu sau những hình ảnh và từ ngữ. Muốn hiểu được tiếng cười của ông, buộc phải qua những bước “giải mã”, suy đoán, bóc tách từng lớp ngôn từ, ẩn ngữ với những ẩn dụ, phúng dụ… Để nhận ra thực chất của loại tiến sĩ thật dưới chế độ nửa thực dân phong kiến thì phải có tri thức về thứ đồ chơi trung thu của trẻ nhỏ – hình nộm ông nghè tháng Tám; hay muốn biết về thân phận vua hề, quan nhọ dưới chế độ thực dân nô lệ thì phải hiểu nghệ thuật chèo, đặc biệt là hề chèo (bài thơ Lời vợ người hát phường chèo) v.v… Rõ ràng, để có được sự thành công khi sử dụng lối trào phúng này, tác giả phải là người trong cuộc, phải am hiểu đối tượng, nếu không sẽ tạo nên những cú đánh trượt. Nguyễn Khuyến hiểu đối tượng sâu sắc như vậy chính vì ông là con đẻ của chế độ khoa cử triều Nguyễn và là người đạt đến đỉnh cao vinh quang của học vấn đương thời. Nhưng con người ấy đã dần đánh mất niềm tin vào chế độ, vào triều đình, vào vốn học vấn của mình trước thực tế lịch sử, khi mà tất cả vũ khí vật chất và tinh thần, tất cả thế ứng xử truyền thống tồn tại hàng ngàn năm của dân tộc đã bị kẻ thù mới bẻ gãy một cách dễ dàng. Ông cũng cảm thấy nghi ngờ cả tài năng, sức lực của lớp người đại diện cho tinh hoa của chế độ ấy và nghi ngờ chính bản thân mình. Bởi trong số những ông nghè tháng Tám hết thời ấy có cả bản thân Nguyễn Khuyến nhưng tất nhiên ông Tam nguyên phủ Yên Đổ hoàn toàn khác với những kẻ hữu danh vô thực đương thời. Điều ấn tượng và độc đáo ở đây là cái hài hước ấy xuất phát từ trong lòng đối tượng bị phê phán. Sự phủ định rõ ràng còn có thêm màu sắc tự phủ định. Tính bi hài của hình tượng văn học nhờ vậy càng trở nên sâu sắc gấp bội. Tính tự trào của bài thơ cũng hé mở cho ta nhận thấy, nghe thấy, chứng kiến một cuộc đối thoại và một cuộc tự đối thoại của nhà thơ với chính mình – tiếng nói phản tỉnh của một người trong cuộc. Đó cũng chính là tiếng nói phản chính thống, một hành vi tưởng như là nói ngược nhưng thực chất lại phản ánh một cách chính xác nhất bản chất của xã hội và sự tha hóa của lớp người đại diện cho tinh hoa của thể chế đương thời. Tiến sĩ giấy là biểu hiện rõ nhất của tiếng nói tự trào.Nguyễn Khuyến đã lấy việc khách thể hóa bản thân để bộc lộ tâm trạng mình. Tiếng nói lưỡng phân đa chiều, vừa hướng nội, vừa hướng ngoại này chỉ có được khi con người tự ý thức được tình trạng bi hài của mình trước thực tế lịch sử, nó bộc lộ những day dứt, trăn trở, những mâu thuẫn trong chính bản thân nhà thơ, bỏ xa kiểu con người đơn nhất trong văn chương trung đại. Trong văn học trào phúng, phê phán và phủ định điều này cũng chính là để khẳng định, bảo vệ một chân lí nào đó. Nguyễn Khuyến châm biếm, đả phá cái giả Nho, cái vô dụng, chính là để khẳng định cái chân Nho, khẳng định những giá trị truyền thống của dân tộc, khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của riêng mình để tự phản tỉnh trước thực tế của sự khủng hoảng các giá trị đạo đức đương thời. Mỹ học về cái hài dường như không bao quát hết những sắc thái đa diện của thi tài Nguyễn Khuyến. Trong Tiến sĩ giấy nói riêng và trong thơ tự trào của ông nói chung, cái hài thường bị cái bi lấn át. Điều đó cũng khiến cho tính trữ tình, sự kết hợp giữa hai phẩm chất trào phúng và trữ tình trong các bài thơ trào phúng của ông trở nên nhuần nhuyễn, ý thơ như còn đọng mãi trong lòng người đọc. Vì vậy, Nguyễn Khuyến tự trào, tự giễu cợt mình, về mặt khách quan, cũng chính là đang trào phúng cả một tầng lớp đại diện cho một xã hội thối nát, một nền học vấn đã hết thời, và một giai cấp đang từng bước chấm dứt vai trò lịch sử. Danh vị tiến sĩ nay đã trở thành trò hề, trở thành thứ đồ chơi để dứ thằng cu, mà mỗi lần nhìn thấy thứ hình nộm ấy, vị Tam nguyên lừng lẫy một thời, vị quan đại thần của triều đại đương thời lại cứ tưởng như người ta đang đem mình ra để bỡn cợt: Rõ chú hoa man khéo vẽ trò Bỡn ông mà lại dứ thằng cu. (Vịnh tiến sĩ giấy, I) Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng. (Tự trào) Có lẽ Nguyễn Khuyến là người trí thức đầu tiên trong thời đại ông có được cái nhìn tỉnh táo như vậy. Không phải người trí thức nào trong cơn phong ba của lịch sử cũng nhận ra được những hạn chế tất yếu của giai cấp mình, thừa nhận sự bất lực của nó trước thực tế lịch sử. Nguyễn Khuyến lớn chính vì ông đã sớm nhận ra tất cả những điều đó. Rõ ràng, bên cạnh màu sắc bi, hài, tự trào thấm đẫm chất trữ tình, thơ trào phúng Nguyễn Khuyến còn mang tính triết lý sâu sắc về nhiều vấn đề xã hội, trong đó nổi bật là triết lý về thân phận của người trí thức, của lớp nho sĩ cuối mùa tầng lớp mang trong số phận của mình bi kịch có tính chất nhân loại ở buổi giao thời dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Nguyễn Khuyến đã tự phản tỉnh mình, tự ý thức được thân phận con người thừa của mình, thấy mình là một hủ nho trong thời buổi mới. Mặc cảm con người thừa, con người vô tích sự phải đến Nguyễn Khuyến và đặc biệt Tú Xương sau này mới thật sự rõ nét. Tuy nhiên về chủ đề này giữa hai nhà thơ có những khác biệt cơ bản. Tú Xương cũng có bài thơ Tiến sĩ giấy nhưng hình tượng nhân vật của ông không có lớp nghĩa tự trào, không có màu sắc bi kịch và ít chi tiết khắc họa mang tính điển hình. Con người không có duyên phận với khoa cử này đứng ở thế đối lập với những kẻ mang danh khoa bảng mà không phải là người trong cuộc, người ở trên nhìn xuống như Nguyễn Khuyến. Vì vậy ông Tú có thể chửi thẳng mà không e dè và cũng không hề có chút chua xót cho đối tượng bị trào phúng: Ông đỗ khoa nào, ở xứ nào? Thế mà hoa hốt với trâm bào? Mỗi năm ngày tết trung thu đến Tôi vẫn quen ông chẳng muốn chào. Có thể thấy, hình tượng Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến mang tính đa nghĩa, giàu liên tưởng và cũng là hình tượng có tính điển hình và tính khái quát cao độ hơn. Điểm chung giữa hai tác giả chính là tấm lòng ưu ái suốt đời trăn trở vì dân, vì nước được thể hiện phong phú qua những bài thơ giàu giá trị nghệ thuật. Tiến sĩ giấy không chỉ là thành tựu nghệ thuật tiêu biểu của thơ Nguyễn Khuyến mà còn là một trong những hình tượng điển hình có giá trị nhất của văn học trào phúng Việt Nam ở giai đoạn đỉnh cao. Tiến sĩ giấy cũng không chỉ có ý nghĩa nhất thời, chỉ diễn ra trong thời đại của Tam nguyên Yên Đổ mà còn là hình tượng nghệ thuật mang giá trị phổ biến, chỉ những kẻ bề ngoài mang danh của người có học thức cao nhất nhưng thực chất bên trong lại không tương xứng với cái nhãn mà mình đang mang. Những nhân vật đó thời nào cũng có, đặc biệt trong những giai đoạn mà những giá trị thật giả lẫn lộn, đồng tiền lên ngôi, thời kỳ mà con người được định giá bằng đủ thứ danh hiệu hình thức thì loại người đó càng nhiều. Họ có thể là những kẻ mua danh bán tước, những tiến sĩ giả, nhưng họ cũng có thể là những người đi học thật nhưng tài năng kém cỏi và Nguyễn Khuyến chính là người đầu tiên đã tổng kết hiện tượng xã hội đó thành một hình tượng nghệ thuật điển hình tượng trưng cho mọi thời đại. Điều đó đã khẳng định giá trị sáng tạo và sức sống bền vững muôn đời của thơ ca Tam nguyên Yên Đổ.
Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến
3,378
Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy Nhắc đến Nguyễn Khuyến có người sẽ nhớ ngay tới 3 bài thơ “Thu Vịnh”, “Thu điếu”, “Thu ẩm” nằm trong chùm thơ thu nổi tiếng của ông. Nhiều người chỉ nhớ đến Nguyễn Khuyến như một thi sĩ với hồn thơ trong trẻo, yêu thiên nhiên, mộc mạc với cảnh quê giản dị mà quên mất đi một Nguyễn Khuyến học rộng hiểu nhiều, bất bình với những thói hư tật xấu của xã hội đương thời. Một trong số đó là bài thơ “Tiến sĩ giấy”- áng thơ mang tiếng cười mỉa mai, châm biếm, trào phúng với hiện thực tha hóa khoa cử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài thơ“Tiến sĩ giấy”của Nguyễn Khuyến lấy cảm hứng từ lối chơi đèn kéo quân trong dịp tết trung thu. Hoạt cảnh ông nghè vinh quy mô tả người đỗ tiến sĩ, trên người có đủ áo mũ, cân đai, được ngồi kiệu rước về làng. Tứ thơ được xây dựng với ý tưởng châm biếm ông tiến sĩ được làm bằng giấy, bề ngoài oai phong, bảnh chọe nhưng trước sau cũng chỉ là “tiến sĩ giấy”! Ngay từ nhan đề bài thơ: “Tiến sĩ giấy”đã thể hiện rõ nétsắc thái trào phúng, giễu nhại của tác giả. Phong cách giễu nhại mà Nguyễn Khuyến sử dụng có nguồn gốc từ dân gian, chủ yếu tạo tạo nên tiếng cười bình đẳng, dân chủ, hòa đồng nhưng ngẫm lại cũng đầy sâu cay và chua chát. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Hai câu đề Nguyễn Khuyến viết: Cũng cờ cũng biển cũng cân đai, Cùng gọi ông nghè có kém ai. Ở hai câu đề, hình ảnh con người vẫn chưa xuất hiện, mới chỉ có sự phô trương hào nhoáng bề ngoàivới đủ cờ biến, cân đai. Chính cái vẻ hào nhoáng, bóng bẩy về hình thức bên ngoài ấy lại tạo ra cảm giác như thể đang chiêm ngưỡng một diễn viên tuồng chèo trong vai tiến sĩ đang sắp bước lên sân khấu để biểu diễn. Từ “cũng” lặp đi lặp lại 4 lần càng làm tăng lên giá trị mỉa mai, giễu cợt. Cũng đủ đấy, cũng có đấy, cũng chẳng kém ai nhưng sao ta lại cứ thấy không phải, không giống; cứ như là đang đi học đòi, bắt chước người ta, như thể đang diễn tuồng!. Vâng, ông nào có kém ai về phần hình thức bề ngoài, nhưng còn nội dung bản chất bên trong thì sao đây? Có phải cũng đủ, cũng chẳng kém ai không? Nét son điểm rõ mặt văn khôi” Hai câu ở phần thực hướng đến xác định bản chất nhân vật, vừa có tả thực theo nghĩa đen vừa có ý tứ theo nghĩa bóng. Dù là “thân giáp bảng” đỗ đầu hay “mặt văn khôi” tức nhất làng văn thì vẻ ngoài ấy cũng chỉ là đặc điểm để nhận diện, xác định uy danh con người tiến sĩ. Xét về bản chất, bậc tiến sĩ kia được cấu tạo chỉ bằng những thứ tầm thường:. Cụ thể chỉ là do “mảnh giấy làm nên”, “nét son điểm mặt”. Theo nghĩa đen, hình dạng ông tiến sĩ này thực chất được cắt dán bằng giấy, được tô điểm bằng nét mực son. Còn nếu theo nghĩa bóng, nhà thơ ngụ ý nêu lên một thảm trạng không thống nhất nguồn gốc với kết quả, giữa hình thức với nội dung, giữa hiện tượng với bản chất. Cái hay của thơ Nguyễn Khuyến trong hai câu này ở chỗ ông sử dụng rất đắt, rất đúng và trúng những từ “mảnh giấy”, “nét son”, “thân giáp bảng”, “mặt văn khôi”. Đây đều là những thứ liên quan đến khoa cử, cũng chính là những thứ dùng để tạo lập nên chân dung ông tiến sĩ kia theo nghĩa đen. Hai câu thơ ở phần luận phảng phất cảm xúc chủ quan của tác giả. Về mặt kết cấu thơ, hai câu thơ tạo nên sự đăng đối tài tình, đối cả về ngữ nghĩa, âm điệu cũng như sắc thái trữ tình. Nếu như hai câu thực nói lên bản chất thật của “ngài tiến sĩ giấy” thì hai câu luận này chính là cảm thán của tác giả, độc giả về nội dung không ăn nhập gì với hình thức ấy: Cái giá khoa danh ấy mới hời. Nó “nhẹ” bởi được làm bằng “mảnh giấy”, “nét son”. Ấy vậy mà lại được người đời coi trọng gọi bằng danh tiến sĩ, bởi thế mới “hời”. Sự tăng tiến, chuyển đổi từ “thân giáp bảng” đến “thân xiêm áo” cho thấy rõ hơn cái vỏ hình thức bề ngoài ngày càng bị vạch trần, lộ rõ thêm. Trong tâm thế đối nghịch trở lại, Nguyễn Khuyên tiếp tục chỉ ra sự lệch pha giữa chất và lượng, giữa thực chất “giá khoa danh” và món “hời” của một thứ hàng không cùng giá trị, không cùng thước đo, thang bậc.Việc sử dụng các từ ngay ở đầu mỗi câu thơ nhằm định vị tính chủ thể “tấm thân”, “cái giá” càng tô đậm thêm cảm sắccủa tác giả. Sự mỉa mai, châm biếm nghe hài hước nhưng mới chua cay làm sao. Đặc biệt ở 2 câu kết, chất châm biếm mới càng rõ rệt: Ghế trẻo lọng xanh ngồi bảnh chọe, Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi! Quay lại với 2 câu đề ở đầu bài, nếu vẻ ngoài của ông tiến sĩ giấy thật oai phong, bảnh bao với “cờ biển”, “cân đai” thì đến đây, cái vẻ ngoài oai phong ấy càng thêm bảnh chọe với “ghế trẻo”, “lọng xanh”. Đây đều là những thứ quý giá, cao sang, càng góp phần tô điểm cho cái danh “ông nghè chẳng kém ai” của ông tiến sĩ. Đặc biệt, ở hai câu cuối này, bản chất con người ông tiến sĩ được bộc lộ một cách rõ ràng, đó là con ngườibảnh chọe,ra dáng “ta đây” uy nghi, sang trọng, vênh vang. Phải đặt nhân vật, đặt cảm xúc của Nguyễn Khuyến vào đương thời mới hiểu hết cái chua cay ấy. Chủ đề giễu nhại của Nguyễn Khuyến gắn liền với thời kì suy vong của chế độ khoa cử phong kiến giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX. Ở thời ấy, biết bao nhiêu là tiến sĩ làm bằng giấy, nhân vật những tưởng chỉ có trong thơ Nguyễn Khuyến hay Trần Tế Xương lại xuất hiện nhan nhản ngoài đường, ngoài chợ. Đó là kiểu nhân vật phân thân, không đồng nhất giữa cái mã bề ngoài và bản chất, giữa vẻ diêm dúa hình thức và cốt lõi nội dung, giữa những giá trị đang qua đi và sự vô vị, vô nghĩa, hỗn tạp đang ngự trị đời sống thực tại. Chủ đề trào phúng về “tiến sĩ giấy” tuy đã xưa nhưng không hề cũ. Đặc biệt là trong xã hội đầy rẫy những bất cập trong thi cử, vấn nạn học đường và bệnh thành tích trong giáo dục ở nước ta hiện nay. Ngành giáo dục nước nhà không thiếu những “tiến sĩ giấy”, tuy không có “cờ”, “biển”, “cân đai”; không được vẽ lên bằng “mảnh giấy”, “nét son”; không ngồi “ghế trẻo”, “lọng xanh” nhưng vẫn không thiếu cái khí chất “bảnh chọe”. Đã qua nhiều năm, nhưng cái chất trào phúng và đề tài trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến vẫn còn nguyên giá trị! Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Tiến sĩ giấy
1,273
Đề bài: Phân tích bài Tiếng gà trưa Bài làm Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ suất sắc của nền văn học hiện đại. Bà thường viết về những gì bình dị gần gũi trong đời sống thường ngày. Thơ của bà thường có giọng điệu sôi nổi trẻ trung mạnh bạo và giàu chất trữ tình. “Tiếng gà trưa” được viết vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ thể hiện tình yêu thương tổ quốc, quê hương trong đó sâu lặng và thắm thiết là tình bà cháu. Được làm theo thể thơ 5 chữ có sự biến đổi linh hoạt. Cách gieo vần liền ở những câu 2, 3 xen kẽ là vần dãn cách. Thể thơ này thích hợp kể lại kí ức và kỉ niệm. Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: ” Cục… cục tác cục ta” Tiếng gà cục tác buổi trưa để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người chiến sĩ nó gắn với kỉ niệm sâu sắc tuổi ấu thơ, chính vì vậy nó gắn với kỉ niệm sâu sắc tuổi ấu thơ, chính vì vậy trong vô vàn âm thanh của làng quê, người chiến sĩ nghe thấy rõ nhất là tiếng gà cục tác. Vào một buổi trưa hè tại một làng quê vắng vẻ, trên đường hành quân người chiến sĩ được tiếp sức từ tiếng gà trưa. ” Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ”. Điệp từ “nghe” được đặt ở 3 câu đầu liên tiếp để nhấn mạnh giàu cảm xúc mà tiếng gà trưa đem lại: Với lối ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, lấy thính giác thay cho thị giác. Tiếng gà trưa đã làm xao động cả không gian làm xao động cả lòng người. Tiếng gà trưa làm thức dậy cả những kỉ niệm tuổi thơ. Cách hiểu nghĩa của cả hai câu thơ ” Nghe xao động nắng trưa”, “Nghe gọi về tuổi thơ” thiên về nghĩa bóng thì câu thơ ” Nghe bàn chân đỡ mỏi” thì thiên về nghĩa đen. Cách đảo trật tự ở các câu không giống nhau làm cho âm điệu các câu thơ thay đổi, tránh được sự nhàm chán và diễn tả sự bồi hồi xao xuyến của tâm hồn. Tiếng gà trưa được cảm nhận từ nhiều giác quan bằng cả tâm hồn. Những kỉ niệm tuổi thơ sau mỗi câu thơ ” Tiếng gà trưa” lại gợi lên kỉ niệm. ” Tiếng gà trưa Ổ rơm hồng những trứng Này con gà mái tơ Khắp mình hoa đốm trắng Này con gà mái vàng Lông óng như màu nắng”. Sau một câu kể là một câu tả, câu tả có kết cấu sóng đôi và lặp lại từ ” Này” là từ dùng để chỉ và lưu ý người nghe tưởng tượng. Các tính từ ” hồng” ” trắng” ” “óng” đều là gam màu tươi sáng gợi lên bức tranh đàn gà lộng lẫy tác giả còn sử dụng biện pháp so sánh ” Long óng như màu nắng” gợi lên vẻ đẹp rực rỡ. Tác giả tạo ra điều bất ngờ trong bài thơ không miêu tả tiếng gà trưa mà nói đến sự xuất hiện bất ngờ ” ổ rơm hồng những trứng” đó là phép lạ mà tiếng gà trưa đem lại. Tiếng gà trưa Có tiếng bà vẫn mắng: – Gà đẻ mà mậy nhìn Rồi sau này lang mặt! Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Dành từng quả chắt chiu Cho con gà mái ấp Hình ảnh người bà xuất hiện với tình cảm yêu thương và lo lắng cho cháu. Khi gió mùa đông tới Bà lo đàn gà toi Mong trời đừng sương muối Để cuối cùng bán gà Cháu được quần áo mới Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áo cánh chúc bâu Đi qua nghe sột soạt Hình ảnh bà cặm cụi chắt chiu dành dụm: Khum tay chọn trứng dành cho con gà mái ấp, khi thời tiết mùa đông đến thời tiết lạnh giá khắc nghiệt bà lo đàn gà chết. Cách ngắt nhịp ở khổ 5 rất linh hoạt, tạo ra nhịp điệu chậm dãi chứa đựng những suy ngẫm để cuối cùng xuất hiện thật bất ngờ, cảm động ” Để cuối năm bán gà” – ” Cháu đi quần áo mới”. Một chi tiết bé nhỏ giản dị nhưng lại chứa đựng tình yêu thương sâu sắc vô bờ bến của bà. Tiếng gà trưa Mang bao niềm hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng. Niềm vui của người cháu khi có quần áo mới. Tuổi thơ gắn liền với niềm vui bé nhỏ, gắn liền hình ảnh người bà dành cho cháu. Quần áo là vật bình thường, tình yêu thương của bà mới là sâu sắc. Bà đã cần kiệm chắt chiu để có niềm vui nho nhỏ dành cho cháu. Bằng những chi tiết rất đổi đời thường giản dị tác giả đã làm nổi bật hình ảnh người bà hiền thảo giàu đức hi sinh. Đó là những người bà, người mẹ Việt Nam anh hùng. Vì lòng yêu tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ Thật hay cảm động sâu sắc và thiêng liêng nói lên tình cảm cao quí sâu sắc và chân thành của người chiến sĩ trên đường hành quân với người chiến sĩ. Tiếng gà trưa đã đem lại bao điều hạnh phúc bởi đó là hình ảnh của cuộc sống chân thực, bình yên làm thức dậy hình ảnh gia đình quê hương. Điều giản dị tồn tại trong bao tâm hồn con người. Âm thanh bình dị của làng quê đã đem lại niềm vui và hạnh phúc. Không nói được tình cảm yêu quí người chiến sĩ đã thốt lên lời gọi cảm động. Điệp từ ” Vì” góp phần biểu hiện ý chí chiến đấu mạnh mẽ vì tổ quốc vì nhân dân trong đó có cả những người thân yêu trong gia đình. Tiếng gà trưa từ hiện thực gợi cuộc sống yên bình ấm lo hạnh phúc đã trở thành một biểu tượng nghệ thuật lung linh trong thế giới tâm hồn mãi mãi được lưu giữ trong kí ức như ngọn nguồn tình cảm sâu sa để mang đến sức mạnh cho con người.
Phân tích bài thơ Tiếng Gà Trưa của Xuân Quỳnh
1,056
Đề bài: Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Bài làm Ở miền Bắc vào những năm 1958 – 1960 có phong trào vận động nhân dân miền xuôi – chủ yếu là thanh niên lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc. Chính sự kiện kinh tế – xã hội này đã gợi cảm hứng giúp Chế Lan Viên sáng tác bài Tiếng hát con tàu. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, bài thơ là khúc hát thể hiện khát vọng trở về với nhân dân, hoà nhập vào cuộc sống lớn của đất nước, của tình nghĩa nhân dân vĩ đại. Đó cũng là tìm về với ngọn nguồn của hồn thơ. Tiếng hát con tàu với hai khổ thơ mở đầu: Là sự trăn trở, lời giục giã mời gọi lên đường Tiếp đó, chín khổ thơ giữa là hồi tưởng về những kỉ niệm với nhân dân trong kháng chiến, thể hiện khát vọng về với nhân dân. Sau cùng, bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đường say mê náo nức. Để hiểu được bài thơ này trước hết cần hiểu hai hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng trong suốt bài thơ. Đó là hình ảnh "con tàu" và hình ảnh "Tây Bắc". Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên Thực tế thì chưa hề có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Con tàu ở bài thơ là biểu tượng cho khát vọng lên đường với cuộc sống bao la, nhân dân vĩ đại, đến với ước mơ cao đẹp, ngọn nguồn của cảm hứng nghệ thuật. Vì vậy mà có những câu thơ: Khi lòng ta đã hoá những con tàu, Tàu đói những vầng trăng, Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi, Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép, Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia… Còn hình ảnh "Tây Bắc" không chỉ là Tây Bắc mà đó còn là Tổ quốc bao la, nơi có cuộc sống gian lao vất vả mà thắm đượm nghĩa tình với muôn vàn kỉ niệm không thể nào quên. Lên Tây Bắc cũng có nghĩa là trở về với chính lòng mình, tâm hồn mình với những tình cảm trong sáng, tình nghĩa sâu nặng đối với nhân dân và đất nước! Vì vậy mà có những câu thơ: Khi tổ quốc bốn bề lên tiếng hát, Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu? Trên Tây Bắc! ôi mười năm Tây Bắc, Xứ thiêng liêng, rừng núi đã anh hùng. Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất, Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ… Hiểu được ý nghĩa hai hình ảnh biểu tượng cơ bản trên chúng ta sẽ hiểu được ngay tên của bài thơ và các câu thơ đề từ, thấy được tính khái quát rộng hơn, vượt lên các sự vật cụ thể cùa bốn câu thơ ấy. Ngay sau lời đề từ đã là lời giục gĩa mời gọi lên đưòng với những câu hỏi dồn dập lay gọi, hối thúc, khích lệ sự ra đi. Giọng hối hả, hăm hờ bộc lộ ở những lời tự chất vấn đầy trăn trở của chính nhà thơ: – Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng? – Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi – Tàu gọi anh đi, sao chừa ra đi?… Ở đây có sự phân thân của chủ thể trữ tình. Anh là người khác mà cũng là chính mình. Nhà thơ tự vấn mà nghe như đang thuyết phục ai. Chính điều này cộng với nhiều phép đối lập (bạn bè đi xa / anh giữ trời Hà Nội, Đất nước mênh mông/ đời anh nhỏ hẹp, thơ/ lòng đóng khép…) đã thể hiện sinh động ý tưởng tác giả, cuộc sống mới đang mời gọi, thôi thúc người nghệ sĩ vượt ra khỏi cuộc đời nhỏ hẹp quẩn quanh. Tiếp đó là hồi tường những kỉ niệm với nhân dân trong kháng chiến. Phần này, nhà thơ gợi lên được những kỉ niệm thiêng liêng, đẹp đẽ trong những tháng ngày kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp của mảnh đất Tây Bắc anh hùng. Nói về cuộc kháng chiến chống Pháp, lời thơ Chế Lan Viên chứa chan một ân tình sâu nặng. Thời kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa, Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường". Điều này dễ hiểu. Bởi vì đối với nhà thơ và các văn nghệ sĩ tiền chiến sau 1945 đi cùng cách mạng thì cuộc kháng chiến chống Pháp có một ý nghĩa đặc biệt là đã đánh dấu sự chuyển biến của cả cuộc đời lẫn con đường nghệ thuật của họ hoà nhập vào sự nghiệp của nhân dân và cách mạng. Lên Tây Bắc là về lại với những kỉ niệm thiết tha máu thịt trong lòng minh, đảnh thức dậy không chỉ những hồi tưởng quá khứ mà cả khát vọng trong hiện tại với bao cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Lên với Tây Bắc là trở về và hoà nhập với cuộc sống bao la của đất nước, của tình nghĩa nhân dân vĩ đại. Nhằm thể hiện ý nghĩa sâu sắc, niềm hạnh phúc lớn lao của cuộc trở về đó, nhà thơ dùng đến năm hình ảnh so sảnh tiếp liền nhau: Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cò đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa Các hình ảnh so sánh trên, hình ảnh nào cũng đơn sơ, gần gũi và gợi cảm biết bao. Trong hồi tưởng của Chế Lan Viên, nhân dân đã thể hiện mối quan hệ ruột thịt thân thiết, những người mà nhà thơ gọi là anh, là em, là mế (mẹ). Đó là hình ảnh cụ thể của những con người: người anh du kích, đứa em nhỏ liên lạc, bà mế già, cô em gái… Họ đều một lòng một dạ, chiến đấu hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp vừa qua. Nhà thơ đã khắc hoạ hinh ảnh những con người này gắn liền với những đóng góp thầm lặng, lớn lao, với tình thương và sự chở che, đùm bọc trọn vẹn và rộng lớn. Từ hình ảnh người anh du kích với chiếc áo nâu vá rách cởi lại cho con đến hình ảnh thằng em liên lạc xông xáo rừng thưa băng, rừng rậm chờ, từ bản Na qua bản Bắc mười năm ròng rã luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Cảm động biêt mấy là cảnh bà mế già đêm đêm cời bếp lửa hồng ân cần chăm sóc đứa con chiến sĩ suốt một mùa dài!. Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi. Đang là hình ảnh xây dựng theo lối tả thực cụ thể nhưng đặc biệt điển hình là cô em gái nuôi quân, Chế Lan Viên bỗng có những liên tưởng bất ngờ về vẻ đẹp: Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Nỗi hoài tưởng Tây Bắc với những kỉ niệm đượm thắm nghĩa tình vừa nói,nhà thơ dẫn tới những suy ngẫm sâu sắc có tính khái quát cao: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đấtt đã hóa tâm hồn Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương. Đến đây âm hưởng bài thơ càng trở nên sôi nổi và lôi cuốn. Tiếng thôi thúc của Tây Bắc, của đất nước, của nhân dân và của đời sống cũng la tiếng của lòng người, lòng nhà thơ tha thiet mời gọi: Đất nước gọi ta hay lòng ta goi? Lên với Tây Bắc đã là niềm khát khao cháy bỏng. Mau hãy lên đường để đến với những tình cảm ruột rà thân thiết "Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ". Lên với Tây Bắc để thấy sự xây dựng mới "Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội, Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga" và để tìm lấy nguồn cảm hứng đầy mộng tưởng nên thơ: Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa Nay ta về, ta láy lai vàng ta Lấy cả những cơn mơ? Ai bao con tau không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân. Một đặc điểm nổi bật của thơ Chế Lan Viên thể hiện ngay trong bài Tiếng Hát con tàu đã là sự kết hợp một xúc cách hài hòa giữa chất trí tuệ và chữ tình, giữa cảm xúc suy tưởng chân thành và trí tuệ sâu sắc sự trải nhiệm và những khái quát cao. Nhờ vào thủ pháp sử dụng những câu nghi vấn có hơi hướng thúc dục, nhắc nhở và những câu khẳng định, có dấu chấm than nhằm diễn đạt ý tưởng cảm xúc, những hình ảnh chọn lọc, những suy tư khái quát đặc sắc, những cảm xúc chân thành tha thiết. bài thơ Tiếng hát con tàu trở thành bài thơ tiêu biểu của Chế Lan Viên.
Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên
1,545
Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên Hướng dẫn Mở bài: Bài thơ “Tiếng hát con tàu” in trong tập thơ “Ánh sáng và phù sa” (1960) của Chế Lan Viên. Sự ra đời của bài thơ này liên quan mật thiết đến một sự kiện kinh tế – xã hội. Đó là vào những năm 1985 – 1960 có phong trào vận động nhân dân mà chủ yếu là thanh niên miền xuôi lên mở mang xây dựng kinh tế ở miền núi. Lớp thanh niên hồi ấy rất say mẽ bài thơ “Lên miền Tây” – Bùi Minh Quốc (Dương Hương Ly) – một cây bút trẻ đương thời với những câu thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn: “Lứa tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường”. Thế nhưng bài thơ “Tiếng hát con tàu” – Chế Lan Viên không đơn giản chỉ là sự minh họa tuyên truyền phục vụ cho một chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước. Với Chế Lan Viên, sự kiện kinh tế – xã hội ấy chỉ là một gợi ý, một điểm xuất phát để nhà thơ thể hiện khát vọng về với nhân dân đất nước được sống lại với những kỉ niệm sâu nặng; nghĩa tình với nhân dân trong những năm kháng chiến gian khổ đồng thời cũng tìm về nơi ngọn nguồn của hồn thơ. Như, vậy là từ một vấn đề mang tính thời sự, bài thơ đã mở ra nhứng suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống, về nghệ thuật. Thân bài: Năm 1985 có phong trào vận động thanh niên lên đường mở mang, khôi phục kinh tế miền núi. Phong trào này cũng nhận sự hưởng ứng của nhiều nhà văn, nhà thơ như:Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Tô Hoài,… Lúc đó Chế Lan Viên đang bị ốm nặng không đi được, bởi vậy ông viết bài thơ này để giải bày, để bộc lộ tình cảm gắn bó với mảnh đất con người Tây Bắc. Bài thơ lúc đầu có tên “Con tàu Tây Bắc” nhưng về sau tác giả đã đổi thành tên “Tiếng hát con tàu” – một nhan đề có tính khát quát cao hơn và mang nhiều ý nghĩa sắc thái hơn. Nhan đề của bài thơ mang ý nghĩa như một biểu tượng bởi vì trong thực tế chưa hề có đường tàu bay con tàu nào lên Tây Bắc. Do đó, bài thơ này, “con tàu” là hình ảnh tượng trưng cho những cuộc lên đường, cho khát vọng đi xa, vượt ra khỏi những cuộc sống chật hẹp, quẩn quanh của cái tôi cá nhân để đến với cuộc đời rộng lớn, đến với nhân dân và cũng là đến với những mơ ước, những ngọn nguồn cảm hứng nghệ thuật tinh tế nữa. Với biện pháp nhân hóa, “Tiếng hát con tàu” – Chế Lan Viên muốn biểu hiện niềm vui sướng mê say rạo rực của lòng mình trên con đường đi tới những miền đất đang vẫy gọi hay nói một cách khác, tình cảm gắn bó với Tây Bắc, với đất nước: Chế Lan Viên muốn hóa thân thành con tàu tâm tưởng để đến nhân dân, đất nước. Ý nghĩa nhan đề Tiếng hát con tàu Hình ảnh “con tàu” ở đây mang tính biểu tượng, bởi vậy trong thực tế chưa hề có đường con tàu và con tàu nào đi lên Tây Bắc. Như vậy, “con tàu” ở đây là hình ảnh tượng trưng cho khát vọng lên đường đến với Tây Bắc, đến với mọi miền xa xôi khác của đất nước. Nói “Tiếng hát con tàu” nhưng thực ra là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ. Nói một cách khác, Chế Lan Viên muốn hóa thân thành một con tàu để hăm hở trên hành trình đến với nhân dân, đất nước. Bài thơ Tiếng hát con tàu có bố cục theo trình tự diễn biến tâm trạng. Hai khổ thơ đầu là sự trăn trở và lời mời gọi giục giã lên đường. Chín khổ thơ tiếp theo thể hiện khát vọng về với nhân dân;gợi lại những kỉ niệm sâu nặng trong những năm kháng chiến gian khổ. Bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đường sôi nổi, tin tưởng và say mê. Giọng điệu âm hưởng của bài thơ cũng có sự biến đổi mạch theo cảm xúc, tâm trạng. Đoạn đầu là lời giục giã lên đường với những câu hỏi hối thúc ngày càng tăng lên. Đoạn giữa bày tỏ trực tiếp tình cảm của nhà thơ với những hoài niệm thiết tha, cảm động, đan xen với những hình ảnh lung linh của hồi tưởng, là những chiêm nghiệm đúc kết được thể hiện qua một giọng điệu thơ trầm bằng. Đoạn cuối lá âm hưởng của khúc hát lên đường, dồn dập, bay bỏng và lãng mạn. Kết cấu bài thơ gồm ba phần: Phần 1 (Gồm hai khổ thơ đầu): là nỗi niềm trăn trở, là lời mời gọi lên Tây Bắc Phần 2 (Gồm chín khổ thơ tiếp): những kỉ niệm sâu sắc gắn bó với cảnh vật và con người Tây Bắc. Thực chất ở phần này, Chế Lan Viên muốn lí giải vì sao phải đến Tây Bắc. Phần 3 (gồm bốn khổ thơ cuối): Thể hiện niềm ao ước say mê đến với Tây Bắc. Ngay sau lời đề từ là lời mời gọi lên đường: “Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?” tiếp đó là những câu hỏi hối thúc ngày càng tăng tiến: “Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi… Tàu gọi anh đi sao anh chửa ra đi”. Những lời ấy vang lên như là của con tàu, như của một người khác nói với nhà thơ. Nhưng xét về nghệ thuật biểu hiện thì đó chỉ là cái tôi đang được khách quan hóa với cái tôi chủ quan. Hay đó cũng chỉ là một sự phân đôi giữa đề từ đối thoại – chủ thể đối thoại. Chính điều ấy đã góp phần biểu hiện sinh động ý tưởng của nhà thơ. Không thể có thơ hay nếu chỉ biết giữ trời Hà Nội, chỉ sống với “đời anh nhỏ hẹp”, chỉ tìm cảm hứng “giữa lòng đóng khép” nghĩa là vẫn quanh quẫn trong thế giới tù túng của cái “tôi”. Tây Bắc – nơi mảnh đất xa xôi, nơi có những người dân sâu nặng nghĩa tình, nơi có những kỉ niệm gắn bó không thể nào quên trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Đến với Tây Bắc còn có nghĩa đến với hiện thực cuộc sống, nơi nguồn cội của nghệ thuật nói chung và thơ nói riêng. Giờ đây, Tiếng hát con tàu mời gọi lên Tây Bắc, đến với cuộc sống mà trước hết là sự trở về với cuộc chiến năm xưa tưởng đã lùi xa vào kỉ niệm. Làm sao có thể quên được những năm tháng ấy vì đó là thời kì những văn nghệ sĩ tiền chiến như Chế Lan Viên có sự chuyển biến quan trọng trong cuộc đời nghệ thuật. Từ thế giới của cái “tôi” cô đơn, họ đã đến với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, của dân tộc và Cách mạng, của kháng chiến có ý nghĩa soi sáng đường đời, đường thơ như thế. Cho nên Chế Lan Viên đã viết những lời thơ chân thành, chan chứa niềm mến thương sâu sắc: Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường Con đã đi nhưng con cần vượt nữa Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương” Con lại gặp nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”. Cảm xúc được gặp lại nhân dân được Chế Lan Viên diển tả rất tha thiết, cảm động mà trước hết là ở cách xưng hô của nhà thơ “Con gặp lại nhân dân”. Đại từ nhân xưng “con” diễn tả một mối quan hệ tình cảm gắn bó ruột thịt, một tình cảm hết sức thiêng liêng và trong sáng. Hạnh phúc và niềm biết ơn khi gặp lại nhân dân được Chế Lan Viên thể hiện bằng một loạt hình ảnh so sánh lấy từ thế giới tự nhiên. Cuộc gặp đó diễn ra giống như “nai về suối cũ”, “cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa” nghĩa là cuộc gặp gỡ đó diễn ra một cách tự nhiên và như một điều tất yếu, một qui luật không thể khác được. Niềm cảm xúc đó cũng được tác giả so sánh với những hình ảnh lấy từ cuộc sống con người: “Như đứa trẻ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”. Hai câu thơ đã thể hiện được niềm hạnh phúc khi gặp lại nhân dân, khi là trở về cuộc sống cội nguồn của cuộc sống trong sự nuôi dưỡng chở che, đùm bọc, cưu mang và sự giúp đỡ ấy hết sức kịp thời, đúng lúc (đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng, cánh tay đưa). Thực ra đến với kháng chiến cũng là để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của Trái tim: “Cho con về gặp lại Mẹ yêu thương” – người mẹ vĩ đại ấy chính là nhân dân. Để diễn tả ý nghĩa sâu xa, niềm hạnh phúc, lớn lao khi được trở về với nhân dân, Chế Lan Viên đã dùng một loạt những so sánh, những hình ảnh ấy đều bình dị, lấy từ đời sống tự nhiên và con người. Chính vì thế càng thêm gần gũi và gợi cảm. Về với nhân dân là về với những gì thân thuộc nhất của lòng mình, về với niềm vui và hạnh phúc từng khao khát mong chờ: “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa”. Về với nhân dân cũng là về với ngọn nguồn thiết yếu của sự sống, về với sự giúp đỡ, che chở, đùm bọc, cưu mang: “Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”. Chế Lan Viên gợi lại những kỉ niệm về nghĩa tình thắm thiết của nhân dân trong kháng chiến. Ở đây, cách xưng hô của nhà thơ với những con người đại diện cho nhân dân, thật thân thiết, ấp áp tình cảm gia đình: “Con nhớ em con… Con nhớ anh con…. Con nhớ mế…? Bằng những chi tiết cụ thể chân thực, tác giả khắc họa những con người ấy với sự hi sinh thầm lặng với tình thương và sự che chở đùm bọc thật trọn vẹn, rộng lớn. Đó là người anh du kích không nghĩ đến cái chết đang đến gần, mà tất cả tâm tư tình cảm đều hướng về đồng đội: “Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho em”. Là một em bé liên lạc tận tụy làm nhiệm cụ đưa thư và dẫn đường cho cán bộ: “Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn chưa mất một phong thư”. Là một bà mẹ dân tộc, chăm sóc người cán bộ đau yếu như chăm sóc đứa con ruột thịt của chính mình: “Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con mãi nhớ ơn nuôi”. Là cô gái dũng cảm vượt vòng vây của kẻ thù để vào rừng, tiếp tế cho bộ đội: “Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng: “Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bửa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”. Đáng chú ý là hình ảnh những con người ấy được nhà thơ khắc họa trong những bối cảnh thời gian gợi rõ sự thử thách, sự hi sinh cao cả như: – “Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con” – “Mười năm tròn chưa mất một bao thư” Nhìn chung những câu nói về tình nghĩa nhân dân của Chế Lan Viên đã biểu hiện niềm biết ơn sâu sắc, sự gắn bó chân thành và những xúc động thấm thía. Hình ảnh nhân dân trong bài “Việt Bắc” – Tố Hữu được miêu tả đó là những con người nghèo khổ, cuộc sống còn nhiều vất vả gian nan nhưng một lòng gắn bó, thủy chung son sắt với Cách mạng. Qua những câu thơ của Tố Hữu, hình ảnh con người Việt Bắc hiện lên trước hết đó là những con người cần cù lao động, chất phác, bằng những công việc nhỏ bé, thầm lặng, họ đã đóng góp lớn lao cho Cách mạng, cho cuộc kháng chiến. Họ một lòng tin tưởng vào Đảng, vào Bác Hồ và sự thắng lợi của cuộc kháng chiến, lạc quan hướng về tương lai. Tác giả viết về nhân dân Việt Bắc với một tình cảm biết ơn sâu nặng, ca ngợi những phẩm chất cao đẹp, những đóng góp lớn lao của họ đối với Cách mạng và xót xa, thương cảm với cuộc sống nhiều khó khăn của họ Qua Tiếng hát con tàu, Chế Lan Viên cũng đã viết về những con người ở Tây Bắc với một tình cảm biết ơn chân thành sâu nặng. Tác giả bày tỏ niềm hạnh phúc lớn lao khi được trở lại gặp gỡ nhân dân. Qua những hồi tưởng, hoài niệm của nhà thơ, hình ảnh người dân Tây Bắc được tái hiện qua những con người đại diện, tiêu biểu cho nhân dân là: Bà mế, người anh du kích, chú bé liên lạc,… Nhân dân Tây Bắc được nhắc đến với những đực tính, phẩm chất tốt đẹp như: nghèo khổ nhưng hết sức tình nghĩa, tận tụy một lòng gắn bó với Cách mạng,… – “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” – “Anh nhớ em như đông nhớ rét Tình yêu ta như cách kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Ở câu thơ mở đầu, Chế Lan Viên đã sử dụng hai từ “nhớ” như muốn nhấn mạnh, khắc sâu tình cảm gắn bó, nhớ thương của mình đối với Tây Bắc. Đây là nỗi nhớ chung, bởi nhà thơ không hề nói tới một bản làng hay một con đèo cụ thể nào. Thế nhưng nỗi nhớ ấy không hề chung chung vì qua hình ảnh “bản sương giăng – đèo mây phủ” người đọc vẫn nhận ra cảnh sắc thiên nhiên của chốn rừng núi Tây Bắc. Đặc biệt, nghệ thuật tiểu đối đã được nhà thơ sử dụng thành công với: nhớ bản – nhớ đèo; sương giăng – mây phủ. Câu thơ hai là sự khái quát đúc kết: “nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương”. Nói như vậy bởi đâu chỉ miền đất này mà dường như mọi miền quê của đất nước, nơi Chế Lan Viên ghé qua đều để lại cho nhà thơ bao tình cảm yêu thương của nhà thơ với Tây Bắc, với mọi miền quê khác của đất nước. Hai câu thơ sau là một sự khái quát đúc kết mang đậm chất triết lí của Chế Lan Viên. Có những điều thật giản dị, tưởng như ai cũng có thể nói được, thế nhưng với Chế Lan Viên lại trở thành một phát hiện sâu sắc. Ở đây có hai khái niệm cần được làm rõ đó là “ở đất” – nơi mà ta đã từng sống, đã từng ghé qua và đó chỉ là mảnh đất vô tư vô giác. Còn “đất đã hóa tâm hồn” thực ra là một cách nói nhân hóa nhằm diễn tả tình cảm gắn bó yêu thương, giữa người và đất. Vậy thì điều gì đã tạo nên sự chuyển hóa kì diệu khiến “đất ở” thành “đất đã hóa tâm hồn”? Đó không là gì khác, chính là tình cảm của nhà thơ, hay nói sâu xa hơn là tình yêu của nhà thơ đối với Tây Bắc. Có thể nói cái khoảng cách thời gian giữa “khi ta ở” và “khi ta đi” mới tạo nên sự kết nối gắn bó nên những mối dây giằng buộc về mặt tình cảm. Đến khi chia tay chúng ta cảm thấy lưu luyến nhớ thương như là để lại một phần tâm hồn ở đấy. Song, khổ thơ thư hai, mạch thơ có sự chuyển đổi: từ hồ hởi náo nức chuyển sang trầm lắng suy tư. Tình yêu và nỗi nhớ được nhà thơ Chế Lan Viên thể hiện qua một loạt những hình ảnh so sánh độc đáo, mới lạ: “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”. Một nỗi nhớ hết sức tự nhiên và nó diễn ra như một điều tất yếu, không thể khác được. Câu thơ hai: “Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng” cho đến nay vẫn có cách hiểu khác nhau. Nếu cho rằng cánh kiến là một loài côn trùng thường sống trên cây chủ “hoa vàng” – như vậy, hình ảnh thơ này muốn diễn tả một mối quan hệ gắn bó khăng khít không thể tách rời. Nhưng cũng có những ý kiến khẳng định là loài tổ của con cánh kiến – mùa thu hoạch lại có màu sắc lấm tấm như hoa vàng – hình ảnh thơ nhằm diễn đạt một tình yêu đạt đến độ chín của nó và lấp lánh nhiều màu sắc. Tình yêu còn được nhà thơ Chế Lan Viên so sánh diễn tả qua hình ảnh “Như xuân đến chim rừng lông trở biếc”. Mùa xuân là mùa sinh sản, cũng là mùa loài chim tìm đến với nhau để kết đôi làm tổ và mỗi khi mùa xuân đến, bộ lông của chim rừng có một màu sắc thật đẹp, thật hấp dẫn. Điều mà nhà thơ muốn nói qua hình ảnh này: tình yêu nó còn có tác dụng làm bừng thức những gì còn tìm ẩn trong mỗi con người, mỗi sự vật. Thực ra ba câu thơ trên chỉ là những tiên đề để Chế Lan Viên đi tới một sự khẳng định ở câu kết “Tình yêu làm đất lạ hóa vê hương”. Như vậy, tình yêu đã tạo nên biết bao điều kì diệu, nó không chỉ làm nên sự kết nối gắn bó, không chỉ đánh thực những gì tiềm ẩn mà nó còn tạo nên một sự chuyển hóa kì diệu khiến cho “đất lạ” – mảnh đất với chúng ta vốn xa lạ hay đó chỉ nơi “đất ở” bỗng trở thành “quê hương” – nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó với chúng ta bởi biết bao tình cảm thiêng liêng và sâu nặng. Theo dòng hoài niệm, bốn mạch thơ dẫn đến những câu thơ mang tính khái quát triết lí rút ra từ những trải nghiệm của đời người: “Nhớ bản sương giăng, đèo mây phủ Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương”. Hình ảnh “bản sương giăng – đèo mây phủ” là những hình ảnh đẹp, chân thực, thơ mộng và rất đắc trương trước khung cảnh núi rừng các bài thơ viết về rừng núi như: Việt Bắc (Tố Hữu); Tây Tiến (Quang Dũng), đều nói đến những hình ảnh đẹp của bản làng với cảnh sương khói mờ ảo như: “Nhớ từng bản khói vùng sương” – Việt Bắc hay “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” – Tây Tiến. Chế Lan Viên chỉ dùng một hình ảnh mà gợi lại được những miền đất xa xôi ẩn hiện trong sương mờ và mây núi, và cũng là trong sương khói của hoài niệm. “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ” – Câu thơ làm chúng ta nhớ đến bao nhiêu hình ảnh thân thiết của những bản làng và tình cảm đằm thắm của những con người chất phác giản dị. Câu thơ tiếp theo là một câu hoi tu từ. “Nơi nào qua lại chẳng yêu đương” – là câu hỏi nhưng thực ra lại là một lời khẳng định của nhà thơ: đâu phải chỉ là vùng đất này mà là tất cả “nơi nào qua” đều để lại cho nhà thơ biết bao tình cảm yêu thương gắn bó. Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Hai câu thơ chứa đựng sự phát hiện một qui luật của tình cảm của đời sống tâm hồn con người, chứa đựng tính triết lí sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và cuộc sống nếu: như ta sống gắn bó hết mình thì mảnh đất đó dù xa lạ cũng trở nên thân thiết. Bởi vậy, câu thơ “Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” là cách nói nghệ thuật về sự gắn bó giữa con người và cuộc sống. Trong bài thơ Tiếng hát con tàu có rất nhiều hình ảnh thực, cụ thể mà giàu tình cảm xúc (như “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách”, “bản sương giăng, đèo mây phủ”,…) và cũng có nhiều hình ảnh gợi lên những liên tưởng độc đáo, mới lạ, tạo nên những khái quát mang tính triết lý rất tiêu biểu cho phong cách thơ Chế Lan Viên. Đó là những hình ảnh đẹp, những liên tưởng phong phú mạnh mẽ bất ngờ làm cho thơ có vẻ đẹp tinh tế, sâu sắc mà rực rỡ: “Anh bỗng nhớ em như đông nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”. Đây chính là qui luật của tình yêu và cũng là qui luật của đời sống tình cảm. Ở khổ thơ này, tác giả thể hiện một nỗi nhớ có tình cảm riêng tư “anh nhớ em”, nhưng cũng có thể là anh nhớ Tây Bắc. Đây là cách nói rất quen thuộc của nhiều nhà thơ khi nghĩ về vùng đất gắn bó máu thịt với mình, họ gọi vùng đất ấy là “em”; chẳng hạn như nhà thơ Lê Anh Xuân đã viết: “Ta yêu em, ta yêu biết mấy Ôi miền Nam – tên của em đấy”. (Ta yêu em – Lê Anh Xuân) Còn nhà thơ Tố Hữu trong “Bài ca mùa xuân 1961” cũng gợi vùng đất Ngọc Hà là “em”; “Ngọc Hà em! Lộng lẫy hoa tươi”. Như vậy, Chế Lan Viên không phải trường hợp cá biết với câu thơ “Anh nhớ em như đông nhớ về rét”. Nỗi nhớ đã được cụ thể hóa và tình yêu qua những hình ảnh so sánh của nhà thơ trở nên lấp lánh nhiều màu sắc, đồng thời cũng mang ý nghĩa thể hiện sự gắn bó, kết nối bền chặt. Nó đánh thức những gì là tiềm ẩn trong mỗi con người, sự vật. Và khi đã yêu, đã nhớ, đã gắn bó như thế thì vùng đất ấy dù xa lạ cũng trở nên thân thuộc: “Tình yêu là đất lạ hóa quê hương”. Khi đã thấm sâu ân nghĩa của nhân dân thì tiếng gọi của nhân dân, của đất nước, của đời sống mới thành sự thôi thúc bên trong thày lời giục giã của chính lòng mình cho nên nhà thơ không thể chần chừ, do dự: “Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi? Tình em đang mong tình mẹ đang chờ”. Tiếng gọi ấy càng thôi thúc cả hồn thơ, nó thực sự trở về ngọn nguồn của cảm hứng sáng tạo. Chính ở đây, Chế Lan Viên đã có những hình ảnh lấp lánh ánh sáng của trí tuệ, chủ yếu là những hình ảnh mang tính biểu tượng ẩn dụ. Đặc biệt, khúc hát lên đường ở cuối bài thơ có một âm hưởng sôi nổi, lôi cuốn bởi sự có mặt của một biện pháp nghệ thuật đặc sắc đó là các móc xích hay vắt dòng, nghĩa là một hình ảnh một từ ngữ của câu thơ trên được nhắc lại và mở rộng trong câu thơ tiếp theo. Điều đó làm cho các câu thơ trở nên liền mạch, dồn dập, trùng trùng, điệp điệp: “Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao Nhựa nóng mười năm nhân dân đổ máu Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ Mười năm chiến tranh vàng ta đau trong lửa Nay trở về, ta lấy lại vàng ta” Tiếng gọi lên đường – tiếng gọi của đời sống khách quan (nhân dân, đất nước), tiếng gọi của chính tâm hồn nhà thơ hay là tiếng gọi chủ quan. “Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”. Tiếng hát say mê giữa cuộc đời rộng lớn, Chế Lan Viên như ngất ngây trong men say cuộc đời mới. Một hồn thơ sầu não, điêu tàn ngày nào giờ đây tươi xanh, cuồn cuộn nguồn sống như được tưới tắm bởi dòng nước phép màu kì diệu tưở nên trẻ trung vô cùng. Với giọng điệu trữ tình mang đậm màu sắc triết lí và suy tưởng, hình ảnh thơ mang tính biểu tượng kết hợp với các biện pháp tu từ hiệu quả, Chế Lan Viên đã viết nên một bài thơ Tiếng hát con tàu tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của mình. Đó là “chất suy tưởng triết lý mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa”; khai thác triệt để các tương quan đối lập và nổi bật nhất là năng lực sáng tạo hình ảnh phong phú, độc đáo nhiều ý nghĩa biểu tượng. “Thơ Chế Lan Viên dần trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống”. Kết bài: Qua bài thơ Tiếng hát con tàu ta nhận thấy đó là tiếng hát say mê của một tâm hồn muốn thoát khỏi cái tôi nhỏ bé để đến với cái ta rộng lớn càng được nhà thơ truyền tải rõ bằng tình yêu quê hương đất nước sâu sắc hơn. Thành tựu nghệ thuật Chế Lan Viên đã đạt được trong quá trình sáng tạo chính là những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung.
Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên
4,428
Đề bài: Phân tích bài thơ Tiếng hát đi đày của Tố Hữu Bài làm Đường qua mấy phố Quy Nhơn Nhà sao trông lại yêu hơn mọi lần ……………….. Núi hỡi từ đây băng xuống đó Chừng bao nhiêu dặm, mấy đêm trường? Tháng giêng 1942 Tố Hữu là nhà thơ lớn trong thời đại chúng ta. Với Tố Hữu, con đường cách mạng cũng là con đường thơ. Năm 1987, trong bài "Đảng và thơ” ông viết: "Tròn 50 tuổi: Đảng và thơ Từ ấy hồn vui mãi đến giờ". "Từ ấy" là từ năm 1937, Tố Hữu được "mặt trời chân lí chói qua tim". Và cũng là “Từ ấy" – tiếng hát của người thanh niên cộng sản ngân vang như tiếng hót của chim cà-lơi "Say đồng hương nắng vui ca hát – Trên chín tầng cao bát ngát trời" (Nhớ đồng). Cuối tháng 4 năm 1939, Tố Hữu bị mật thám Pháp bắt giam. Ông bị đày ải qua nhiều địa ngục trần gian: lao Thừa Thiên, nhà tù Lao Bảo, ngục Ban Mê Thuật, bị giải đến khám lớn Quy Nhơn, đến tháng Giêng năm 1942, người chiến sĩ cách mạng trẻ bị đày lên nhà ngục Đắc Lay ở sâu trên miền núi của Tây Nguyên. Bài thơ "Tiếng hát đi đày" được làm trong chuyến chuyển lao đầy khổ ải ấy. "Tiếng hát đi đày" là bài cuối của phần "Xiềng xích" trong tập thơ "Từ ấy" tập thơ đầu của Tố Hữu. Trên con đường đi đày khổ ải, bị cùm, bị xiềng xích, uất hận dâng trào, người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi vẫn cất cao tiếng hát ca ngợi lí tưởng cách mạng, bất khuất và hiên ngang, khao khát một ngày sổ lồng phá cũi. Nhan đề "Tiếng hát đi đày” thể hiện một tâm thế tuyệt đẹp ghi lại tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng trên con đường đi đày từ thành phố Quy Nhơn lên vùng rừng núi Đắc Lay. Bài thơ có cấu trúc phức điệu gồm có 22 câu thơ lục bát phối hợp với 18 câu thơ thất ngôn. Sự luân chuyển và phối hợp giữa các khổ thơ lục bát với các khổ thơ thất ngôn 2 câu, 8 câu hoặc 4 câu nhằm khắc họa và làm nổi bật những nét tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng qua mỗi chặng đường đi đày. Giọng thơ cũng trở nên biến hóa, đa thanh và giàu biểu cảm. Chặng khổ ải thứ nhất "Đường qua mấy phố Quy Nhơn". Đọc "Từ ấy", ta biết tháng 6 – 1941, Tố Hữu đã bị thực dân Pháp giam giữ tại xà lim Quy Nhơn,. Và tháng Giêng năm 1942 tức là tháng Chạp năm Tân Tỵ, ông bị đày lên Đắc Lay. Huỳnh Ngọc Huệ, chiến sĩ cộng sản, hạn tù cùng đi đày là người được nhà thơ đề tặng. Mở đầu bài thơ là 4 câu lục bát nói lên sự dõi nhìn mấy phố Quy Nhơn qua chiếc xe tù bịt bùng lao đi. Nhìn đường, nhìn phố rồi "trông lại" nhà, người chiến sĩ cách mạng vô cùng xúc động, lưu luyến, cảm thấy "yêu hơn mọi lần". Cảnh phố phường trong những ngày giáp Tết, người đi lại nhộn nhịp được diễn tả qua hai vế tiểu đối: "quấn chân" để lại trong lòng người đi đày nhiều vương vấn, man mác, cảnh vật, con người nơi mấy phố Quy Nhơn bỗng trở nên gần gũi, "quen thêm”, gắn bó. Hai câu hỏi tu từ nối tiếp cùng xuất hiện: "Nhà sao… Ưsao…?", thốt lên khe khẽ trong lòng thể hiện sự ngỡ ngàng xúc động, biểu lộ niềm thiết tha, yêu mến vô cùng với nhịp đời và cuộc sống tự do: Đường xa mấy phố Quy Nhơn Nhà sao trông lại yêu hơn mọi lần Người đi quần áo chen chân Ờ sao như đã quen thân từ nào? Ngoại cảnh phố phường đông vui, nhộn nhịp. Nhà thơ đã và đang bị tách dần ra khỏi đồng bào mình, phố cũ yêu thương của mình. Chặng đường phía trước nhiều gian truân và khổ ải, nhiều máu và nước mắt đang đón chờ mà người đi đày đã dự cầm được. Trong cảnh ngộ ấy, sao mà chẳng cô đơn và khao khát sống, khao khát tự do? Từ vần thơ lục bát độc thoại tiếp theo là hai câu thất ngôn đối thoại với "xe ơi…“. Đó là tiếng hát đi đày tiếng hát lưu luyến, "khát khao". Giọng thơ khẽ ngân lên như một tiếng than thầm: "Xe ơi, chầm chầm ngừng dây phút Kẻo nữa rồi đây lại khát khao!" Người chiến sĩ cách mạng đã nguyện "buộc" lòng mình với mọi người, nguyện đem tình nhân ái "trang trải” với trăm ngả, nguyện là "con của vạn nhà", là "em của vạn kiếp phôi pha", là "anh của vạn đầu em nhỏ…" mới có lời than thầm và nỗi "khát khao" ấy. Từ câu thơ lục bát, cảm xúc "yêu hơn" và “quen thân" như trào lên, dâng lên đến câu thất ngôn, cảm xúc "khát khao" như bị nén xuống. Và thành phố Quy Nhơn lùi xa dần, mờ khuất dần. Bốn câu lục bát tiếp theo nói về chặng đường đi đày thứ hai. Chiếc xe tù chạy nhanh về phía Tây Nguyên. Rải rác những mái nhà "lơ thơ" thưa thớt. Cảnh vật hoang vắng dần. Không nhìn thấy người mà chỉ thấy "bóng vẩn vơ trên đường". "Mấy bóng vẩn vơ” đi lại rời rạc, lẻ tẻ, buồn thê lương. Nhìn nắng chiều nhạt nhòa trên nương rẫy, nghe tiếng hót "bơ vơ" – cô đơn, xa vắng, buồn, người đi đày tưởng nhớ đến quê hương, màu xanh đồng quê, của sóng lúa trong hoài niệm như gợi lên trong tâm hồn bao nỗi nhớ. Bức tranh miền núi hoang vắng và buồn. "Tiếng hát đi đày" là khúc tâm tình "nhớ quê hương": "Nhưng nhà đã rải lơ thơ Người đi mấy bóng vẩn vơ trên đường. Đồng xanh gợi nhớ quê hương, Bơ vơ tiếng hát trên nương nắng chiều”. Các từ láy tượng hình và tượng thanh liên kết, hòa hợp với nhau: "lơ thơ – "vẩn vơ" – "bơ vơ”, các tiếng: "đường", "hương", "nương" hiệp vần với nhau, tạo nên âm điệu buồn thương man mác gieo vào lòng người bao ám ảnh. Chữ "gợn" trong câu thơ "Đồng xanh gợn nhớ quê hương" là một nét vẽ có thần, hình tượng và truyền cảm. Màu xanh của cánh đồng, sông lúa, biển lúa nhấp nhô, gợi lên nỗi nhớ quê hương trong lòng người đi đày. "Sóng" mới "gợn nhớ'', "gợn buồn" như vậy. "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp''. ( Tràng giang – Huy Cận) Lần thứ hai, cặp câu thất ngôn lại xuất hiện. Quy Nhơn đã "xa rồi", đồng xanh và quê hương cũng "xa rồi". Chỉ còn nghe "bơ vơ tiếng hát trên nương nắng chiều". Còn đâu nữa "bóng dáng yêu thương cũ", màu xanh của lúa, còn đâu nữa cảnh "người đi quấn áo chen chân”. Chiếc xe tù càng đi sâu vào vùng rừng núi, người đi đày như bị vây bọc bởi "ngàn xa" trùng điệp, màu "nhạt nhạt", thấm thía một nỗi buồn cô liêu – cô quạnh, lẻ loi và hoang vắng: "Xa rồi bóng dáng yêu thương cũ Nhạt nhạt ngàn xa buồn cô liêu". Hô ứng với thanh bằng "xa rồi" là thanh trắc "nhạt nhạt", giọng thơ trĩu xuống, tiếp theo 5 thanh bằng "ngàn xa buồn cô liêu" nhạc điệu trở nên chơi vơi, mênh mang, âm điệu "buồn cô liêu” như thấm sâu vào lòng người, tỏa rộng trên hành trình khổ ải vô định. Chặng đường đi đày thứ ba là "Đường lên xứ lạ Kông Tum", được Tố Hữu ghi lại bằng 4 câu lục bát. Hai chữ "đường lên" gợi tả con đường đi đày mỗi lúc lại lên cao: đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, núi tiếp núi. "Xứ lạ" được nói tới là Kông Tum, một thiên nhiên vô cùng hùng vĩ và hiểm trở. "Quanh quanh đèo trùng núi cao". Những con đèo như thắt lại, chật lại, uốn lượn gập ghềnh "quanh quanh" bên nhừng sườn núi. Núi tiếp núi trập trùng cao ngất. Xứ lạ Kông Tum với những đèo chật quanh quanh, với những núi cao trùng trùng, như những thử thách ghê gớm đối với người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi. Mắt thì ngắm cảnh "xứ lạ", tai thì nghe khúc nhạc rừng. Trong khổ ải vẫn tài hoa khi nhà thơ tả thông "reo", suối chảy, tiếng chim gọi đàn "chiu chít". Người chiến sĩ cách mạng vượt ra khỏi cảnh ngộ "mặc dù bị trói chân tay" (Nhật kí trong tù), tự làm chủ hoàn cảnh, thưởng thức vẻ đẹp hữu tình của thiên nhiên, để "cô quạnh đường xa vợi ít nhiều". "Thông reo bờ suối rì rào, Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?" Cảm hứng thiên nhiên trữ tình chan hoà với cảm hứng tự do. Núi đèo hùng vĩ, khúc nhạc rừng huyền diệu có thông "reo", suối "rì rào", có chim hót “chiu chít". Đag bị cùm trói, xích xiềng, bị nhốt trong chiếc xe tù chật chội, nhưng nhà thơ vẫn "Tự do lãm thưởng vô nhân cấm" vẫn yêu đời, yêu sống, sống mãnh liệt, kiên cường. Tâm hồn thơ dạt dào khi ngắm nhìn "xứ lạ Kong Tum chính là tiếng hát của hành khúc đi đày. Ngòi bút thi sĩ rất tài hoa và điêu luyện trong sử dụng các từ láy tượng hình (quanh quanh, trùng trùng), từ láy tượng thanh (rì rào, chiu chít); đặc biệt tinh tế khi sử dụng các từ ngữ phong phú về thanh điệu, giàu có về âm vang, các phụ âm "r" (reo, rì rào), phụ âm "ch” (chim, chiều, chiu, chắt) để tạo nên những câu thơ có âm điệu, nhạc điệu du dương, trầm bổng, đọc lên nghe rất thú vị. Khúc nhạc chiều của suối rừng Kông Tum với thông reo, suối hát, chim kêu đem đến bao xúc động cho người chiến sĩ đi đày. Cảnh đep ấy là để cho ai, âm thanh ấy là dành cho ai? Câu hỏi tu từ: "ai nào kêu ai" chứa đầy tâm trạng. Đau khổ vì bị tước mất tự do, uất hận vì thực dân Pháp tước mất tự đo: "Muốn gầm một tiếng tan u uất Hận bỗng tuôn theo gió thổi dài". Con đường đi đày tưởng như kéo dài vô tận, mỗi lúc một lên cao, đầy dốc cao, đồi cao, nhiều ghềnh, lắm thác, có cửa ải, cửa đồn canh. Đây là chặng thử tư đi đày; "Đường lên Đắc Sút, Đắc Pao Đèo leo ngọn thác, cầu treo mặt ghềnh Đìu hiu mấy ải đồn canh Lòng đau lại nhớ các anh những ngày…" Tiếp theo "Đường lên xứ lạ Kông Tum" là "Đường lên Đắc Sút, Đắc Pao” chặng đường khổ ai ngày một lên cao… lên cao mãi. Cảnh sắc núi đèo vô cùng hiểm trở, hùng vĩ. Con đèo uốn lượn cao vút được nhân hoá thành "Đèo treo một ghềnh". Câu thơ có hai vế tiểu đối, tả đèo và thác, tả cầu và ghềnh là những nét vẽ hoành tráng đầy ấn tượng. Các từ "đèo- leo- treo" vần với nhau (vần lưng) làm cho câu thơ giàu âm điệu, thiên nhiên vừa hùng vĩ. vừa trữ tình nên thơ: "Đèo leo ngọn thác// cầu treo mặt ghềnh". Nhìn núi đèo cao ngất, nhìn thác ghềnh thăm thẳm hoang vu, lòng nhà thơ đau đớn thắt lại "nhớ các anh", nhớ những chiến sĩ cách mạng tiền bối từng bị thực dân Pháp tù đày trước đó. Hai tiếng "đìu hiu" gợi tả cảnh hoang vắng, buồn, lặng lẽ. Giọng thơ, cảm xúc thơ tưởng như nén xuống trong "lòng đau" bỗng trào lên dữ dội, đầy uất hận căm hờn. Đường đi đày được nói đến trong bài thơ là con đường số 14. Con đường được làm nên bằng bao mồ hôi, xương máu của nhân dân ta. Hàng ngàn chiến sĩ cách mạng đã bị đày doạ, lao động khổ sai, bị bỏ mạng trên con đường này. Tố Hữu đã diễn tả cảm xúc đau đớn. căm thù bằng một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật rất gợi: "Chao ôi, xưa cũng chốn này đây Thân bạn vùi xương dưới gốc cây Roi vụt rát tay bầy lính rợ Máu dám khoái mắt lũ đồn Tây! Mỗi hòn đá đó, bao hòn huyết Một khúc cầu đây, mấy khúc thây! Hỡi những anh đầu qua trước đó Biết chăng còn lắm bạn đi đày” Hai tiếng "Chao ôi" cất lên như một lời than đau đớn, thương tiếc các liệt sĩ cách mạng bị tù đày, bị lũ đồn Tây tàn sát dã man. Câu thơ, vần thơ được nói đến là "xương", là ”máu", là "hòn huyết" là "khúc thây"… Phép đối trong bài thơ Đường được vận dụng đặc sắc để căm hờn lên án tội ác "roi vụt rát tay" của bầy lính rợ, cái "khoái mắt" của lũ đồn Tây trước cảnh "máu dầm" của đồng bào ta, chiến sĩ ta. Sự hi sinh của các liệt sĩ cách mạng thật không thể nào kể xiết. Có biết bao máu đổ xương tan. Con đường đi đày là con đường máu, tiếng hát đi đày là tiêng hát căm thù sôi sục: "Mỗi hòn đá đó, bao hòn huyết Một khúc cầu đây mấy khúc thây” Con đường đi đày như kéo dài mãi ra, những chiến sĩ cách mạng, người trước ngã, người sau tiến lên, không sợ hi sinh… Con đường tự do "còn lắm bạn đi đày"… Đây là chặng đường thứ năm của con đường đi đày khổ ải. Lần thứ ba, hai chữ "Đường lên" được điệp lại, để lại ấn tượng con đường đi đày ngày một lên cao, xa lắc: "Đường lên xứ lạ Kông Turn… Đường lên Đắc Sút, Đắc Pao… Đường lên đỉnh núi Đắc Lay…" Đỉnh núi cao vút, hoang vắng, lạnh lẽo: "Heo heo gió lạnh, sương dày vắng chim", Một tiếng gà "gáy động”, đỉnh núi Đắc Lay chìm trong màn sương "im lìm" vắng lặng! Những mái nhà tranh thấp thoáng "mơmơ" như lẫn vào, chìm vào trong mây. Lấy gió để tả "lạnh", lấy sương dày để tả ''vắng chim", mượn tiếng gà gáy để tả cảnh núi "im lìm", lấy mái nhà tranh để tả mây… Nét vẽ mờ ảo, hoang vắng, lấy động để tả tĩnh, cái "im lìm" của đỉnh núi Đắc Lay như hiện mờ trong sương núi: "Đường lên đỉnh núi Đắc Lay Heo heo gió lạnh, sương dày vắng chim Gà đâu gáy động im lìm Mơ mơ mấy xóm tranh chìm trong mây Đồn xa héo hắt cờ bay Hiu hiu phất lại buồn vây vây lòng” Một hệ thống từ láy, láy tiếng: "heo heo", "im lìm", "hiu hiu’’, láy vần: im lìm: láy âm: héo hắt – có giá trị gợi tả một không gian núi rừng vô cùng hoang vu, cái lạnh, cái buồn từ cảnh vật như thẳm sâu vào lòng người đi đày. Sự hiện diện của lá cờ ba sắc của quân xâm lược hay trên "đồn xa” là biểu tượng của sự tàn úa, chết chóc, trông vừa "héo hắt" vừa "hiu hiu" làm cho nỗi buồn như "vây vây" mãi lòng người đi đày. Nhìn đồn Tây, nhìn lá cờ ba sắc "héo hắt", căm hờn dâng lên sôi sục, nhà thơ hỏi "ai" hay tự hỏi "mình", tự đo chí khí "mình" rồi vời vời nhìn “ núi sương” mênh mông bao la: "Có ai hiểu nỗi hờn ghê gớm Trên mắt người trông với núi sương". Khát vọng tự do bùng lên dữ dội. Nung nấu trong lòng một quyết tâm, một hành động vô cùng táo bạo. Lời độc thoại biểu lộ một dũng khí. Một khát vọng tự do của người chiến sĩ trẻ tuổi trên bước đường lưu đày. Phải phá cũi sổ lồng, phải hành động để giành lấy tự do. Hỏi núi, tính dặm đường, tính đêm đường… là đo chí khí của lòng mình. Kế hoạch vượt ngục đã được trù liệu, được mưu tính, được diễn tả qua vần thơ nung nấu: "Núi hỡi! Từ đây băng xuống đó Chừng bao nhiêu dặm, mấy đêm đường” Và chỉ ba tháng sau, tháng 3 năm 1942, Tố Hữu và Huỳnh Ngọc Huệ đã vượt ngục thành công. Ba mươi một năm sau (1942 – 1973), trong bài thơ "Nước non ngàn dặm'', Tố Hữu nhắc lại "con đường máu" đi đày năm xưa như một hoài niệm tuổi hai mươi: " Vượt tù xưa, bước gieo neo, Cũng dòng nước ấy, ngủ treo đầu cành Đọt lau, rau má, vả xanh. Đói lòng, hát khúc quân hành vẫn vui…". Cảm hứng "Tiếng hát đi đày” là cảm hứng thiên nhiên trữ tình gắn liền với cảm hứng tự do. Tâm hồn thi sĩ chan hoà với chí khí chiến sĩ. Con đường đi đày với những chặng đường "lên cao", lên cao mãi đến đỉnh núi Đắc Lay là con đường máu "bao hòn huyết", là con đường đi đày với "bao khúc thây", vô cùng khổ ải và chết chóc. Sự phối hợp tài tình giữa hai thể thơ lục bát với thơ thất ngôn, nghệ thuật sử dụng từ láy và gieo vần biến hoá đã nói lên chân thực, cảm động và hào hùng tâm trạng và chí khí của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi. Có tâm trạng buồn "vây vây lòng”, có bâng khuâng lưu luyến phố cũ và đồng xanh, có "nỗi hờn ghê gớm". Bao trùm bài thơ là khát vọng tự do, là một tâm hồn gắn bó tha thiết với quê hương đất nước. "Tiếng hát đi đày" là bài ca tự do, nó phá tan "xiềng xích" để vươn tới "giải phóng". Hành trình đi đày là thước đo tầm vóc và chí khí người chiến sĩ cộng sản. Nó giúp chúng ta, những thế hệ hôm nay cảm nhận về cái giá của tự do mà ông cha đã chấp nhận và quyết đem xương máu để giành lại, càng thấm thía hơn bài học "uống nước nhớ nguồn"…
Phân tích bài thơ Tiếng hát đi đày của Tố Hữu
3,032
Phân tích bài thơ Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ Thế lữ là một nhà thơ có tài và có những sáng tác chân thực nhất. Những sáng tác của ông vừa mang tính thời đại lại mang được những dáng dấp của nối buồn cái tôi tác giả. Là một trong những trụ cột của tờ Phong Hóa, Thế Lữ ngày càng chứng tỏ được tài năng và vị trí của mình trong lòng độc giả. Và một trong những sáng tác tiêu biểu của ông chính là “tiếng sáo thiên thai”- vẻ đẹp bình dị và tiêu biểu Mở đầu bài thơ là những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp và mơn mởn của cảnh mùa xuân với ướt át cỏ tươi và những hình ảnh tươi mới Ánh xuân lướt có xuân tươi Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng Hình ảnh thiên nhiên hiện ra với vẻ thật tươi non và những cảm nhận của mùa xuân thật tyệt diệu. xuân tới chính là thời khắc của những chồi non đâm chồi nảy lộc những cảnh vật xung quanh được bồi thêm nhựa sống mới. Và hình ảnh thiên nhiên chính là làm nền cho hình ảnh của chàng trai mục động với trên tay chiếc sáo quen thuộc đã làm cất lên những giai điệu êm ái những hình ảnh đó khiến cho chúng ta quay về với những hình ảnh của đồng quê đang đổi mới Tiếng đưa hiu hắt bên lòng Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn” Không nói bóng nói gió là trong khung cảnh thiên nhiên thì phong cảnh thiên đó lại khiến cho tâm hồn con người trở nên xao động. Tác giả đã nói một cách trực tiếp răng chính hình ảnh và âm thanh của tiếng sáo mục đồng lại khiến cho một người thi sĩ lại có một nỗi buồn mênh mông đến vậy. Nỗi buồn đó khiến cho chúng ta có thể lý giải được đó là nỗi buồn của một thi nhân trươc khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp hay là cái buồn giống như những nhà thi sĩ cùng thời. Tiếng sáo ấy lại khơi gợi tới những khung cảnh cũng như hình ảnh vô cùng thi vị: Theo chim, tiếng sáo lên khơi, Lại theo dòng suối bên người Tiên Nga. Khi cao, vút tận mây mờ, Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh, Êm như lọt tiếng tơ tình, Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không, Một cách tinh tế nhất tác giả đã vẻ ra khung cảnh và cung bậc của cảm xúc của tiếng sáo ở mỗi khung mỗi hình mỗi thứ đều hiện ra với nhiều vẻ đặc sắc thú vị. chúng ta có thể thấy được tiếng sáo ấy lúc thì vút lên theo tiếng chim lúc lại rì rào bên suối. và âm thanh ấy như vọng từ mấy tầng cao về nơi chốn thiên nhiên bồng lai. động từ vắt vẻo như miêu tả một cách sinh động hình ảnh của tiếng sáo làm lay động tới người đọc như lúc thì chăng tơ nơi ngọn cỏ lúc lại vút lên thành một giai điệu vô cùng Bài thơ là cách mà nhà thơ đã bộc lộ những tình cảm và cảm xúc của mình trước cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Và những âm thanh khi trầm khi bổng của tiếng sáo thiên thai như dẫn dụ con người ta thoát khỏi cuộc sống nơi chốn trần gian đầy khổ ải bon chen. Tiếng lòng của người thi sĩ cũng từ đó mà cất lên da diết. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Tiếng sáo thiên thai của Thế Lữ
602
Phân tích bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư Thu thường gợi nhớ cho chúng ta những cảm xúc về những khoảnh khắc vô cùng lãng mạn va cũng vô cùng buồn man mác. Từ trước tới nay chưa bao giờ và cũng chưa lần nào những thi sĩ của Việt Nam ngó lơ những khoảng khắc đáng quí ấy. Và nổi lên đó là bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư với nhận xét là bài thơ thơ nhất của nền văn học Việt Nam. Những cảm xúc ùa về là một cách dấy lên cảm xúc thật kì diệu và những hình ảnh theo những câu từng chữ nhả ngọc cho những áng văn chương khó tả: Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức Em không nghe rạo rực Nhân vật chính ở đây chính là em, em có không nghe mùa thu hay em không nghe rạo rực chính là những câu hỏi tu từ như vừa muốn hỏi em vừa muốn hỏi chính mình tại sao em lại không cảm nhận rõ được điều ấy không cảm nhận được chính những lòng mong ngóng nhớ thương đến từ nơi chiến trường xa xôi. Chính sự cách biệt giữa hậu phương và tiền tuyến đã khiến cho nỗi nhớ nhung một lúc một xa một lúc một gần. Xa là khi ta nhớ mà em không biết ta nhớ em. xa là khi biết là có thể em biết ta đang mong ngóng chờ đợi tin em mà em lại ngó lơ làm như không biết. ánh trăng đó ánh trăng tròn trịa và vành vạnh son sắt thủy chung đó nay lại không khiến e gợi nhớ tới ta sao. Hay em không rạo rực khi mùa thu đã tới mùa của yêu thương của hẹn nguyền. Và như một khúc nhạc không lời cất lên giữa rừng thu chiến trận những khúc nhạc đó khiến cho con người chúng ta cũng cảm thấy xa xuyến bổi hổi bồi hồi. Và vẫn là một hình ảnh của em và cảm hứng lãng mạn bao trùm: “Em không nghe rừng thu Lá thu rơi xao xác Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô?” Có thể nói đây là đoạn thơ giàu tính nhạc và thơ nhất và tinh tế nhất từ trước tới nay. Cách mà tác giả sử dụng hình ảnh và gieo vần luyến láy ở khổ thơ khiến cho biết bao lòng người rung động. hình ảnh gió thu khiến lá vàng khô rơi trên một màu vàng óng và đặc biệt là hình ảnh của hai câu thơ cuối: Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô? Cái hay của hai câu thơ chính là hình ảnh khiến cho chúng ta vừa có thể cảm nhận nhưng cũng vừa có thể tưởng tượng ra khung cảnh ấy. một khung cảnh giàu tính nhạc và hình ảnh ấy cũng vô cùng đẹp vô cùng thơ mộng. Xuất hiện như một cái duyên chú nai vàng trở thành tâm điểm của mọi sư chú ý, và hình ảnh của chú ngơ ngác tới độ thơ ngây khiến cho tâm hồn ai không khỏi xao xuyến trước hình ảnh đó chứ. Không trực tiếp chứng kiến nhưng nghe như là có tiếng lá khô đang vỡ vụn dưới chân mình… Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư
561
Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận Bài làm Tràng Giang không chỉ là một bài thơ hay của Huy Cận mà con là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Đôi khi người ta thường hiểu Tràng Giang là một bài ihơ miêu tả phong cảnh quê hương đất nước, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, nhưng đúng hơn đây là bài thơ thể hiện nỗi cô đơn, bơ vơ của con người ngay giữa quê hương mình. Tràng Giang in trong tập Lửa thiêng của Huy Cận, xuất bản năm 1940. Đúng như nhà thơ Huy Cận từng nói, bài thơ này được sông Hồng, quãng Chèm Vẽ và những con sông khác gợi tứ. nhưng nó là bài thơ nói về nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên. Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận Trước hết ta chú ý đầu đề bài thơ là Tràng giang chứ không phải “Trường giang", để ta không lầm với sông Trường Giang (Trung Quốc), hay con sông dài nói chung. Trong Tiếng Việt “tràng giang" thường nằm trong thành ngữ “tràng giang đại hải”, chỉ một hiện tượng mênh mông bất tận mà trống rỗng khiến người ta chán chường. Mở đầu bài thơ đúng là một cảnh sông nước mênh mông bất tận: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Ngay câu đầu bài thơ không chỉ nói sông, mà nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bằng một hình ảnh ẩn dụ: sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, như nỗi buồn trùng trùng điệp điệp. Giữa tràng giang mà điểm nhìn nhà thơ tụ vào con sóng nhỏ, tuy rất nhiều, nhưng hiện ra rồi tan, muôn thuở. Con thuyền thường là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, cô đơn, vô định, ở đây con thuyền buông mái chèo xuôi dòng nước, nhưng thuyền và nước chỉ “song song" với nhau chứ không gắn bó với nhau, bởi nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngả nào? Thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. Câu thứ ba đã nói tới sự chia li. “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Thuyền buồn vì phải rẽ dòng. Nước buồn như không biết trôi về đâu. Câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, vô định: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Cái nhìn của nhà thơ vẫn tập trung vào các vật nhỏ: sóng, thuyền, củi khô. Tác giả lưu ý, không phải là cây gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô", một mảnh rơi gẫy, khô xác của thân cây. Cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. Những đường nét: nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà chỉ là chia tan, xa vời. Trên con sông đó một con thuyền, một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi, bất lực. Ở đây không chỉ thuyền buồn, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn. Khổ thứ hai tiếp tục cái mạch thơ khổ đầu: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Một cái cồn nhỏ (lại nhỏ!) lơ thơ, vắng vẻ, lại thêm ngọn gió đìu hiu, càng thêm vắng vẻ buồn bã hơn, như bị cuộc sống bỏ quên. Huy Cận nói, ông đã học được từ "đìu hiu" trong câu thơ Chinh phụ ngâm “Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” cũng nói về cảnh vắng vẻ, không người. Âm thanh của cuộc sống náo động của các phiên chợ, của làng quê nghe rất xa vắng, chợ chiều làng xa mà lại đã càng tăng thêm cảm giác bị bỏ quên ở đây. Hai dòng cuối càng tô đậm thêm cảm giác lạc lõng: nắng xuống, trời lên không chỉ gợi ra khung cảnh nắng chiều mà bản thân hai hướng lên xuống như không ăn nhập với nhau, và sông dài, trời rộng càng tăng thêm cái vắng vẻ của bến sông. Cô liêu là vắng vẻ. Trong hai dòng này nhà thơ đã đem đặt bên nhau những yếu tố vốn không có gì là buồn để tạo nên một cảnh buồn. Giữa các yếu tố đó đều có đặt dấu phảy (,). Khổ thơ thứ ba vẫn tiếp tục mạch cảm xúc về sự hờ hững, mất hết liên lạc giữa các sự vật. Con mắt nhà thơ nhìn vào bèo, những sinh thể nhỏ nhoi, yếu đuối giữa mặt nước mênh mông. Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Vẫn các sự vật đặt bên nhau: bèo hàng nối hàng, bờ xanh tiếp bãi vàng hai bờ sông mênh mông không cầu, không đò ngang, tạo thành một thế giới không liên hệ. Từ sóng, thuyền, củi, dòng trôi, đến cồn nhỏ, làng xa chợ chiều, rồi nắng xuống, trời lên, sông dài, trời rộng, bến vắng… mọi vật có, nhưng không vật nào có ý tìm nhau, đến với nhau, cần đến nhau. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Lớp lớp mây cao đùn ra thành từng núi bạc. Chữ “đùn" mượn từ thơ cổ của Đỗ Phủ, nói rằng mây trồi ra, lừng lững như núi trên trời có một vẻ đe doạ. Cánh chim bé nhỏ (lại bé nhỏ!) nghiêng nghiêng về tổ ấm được cảm nhận như chịu sức nặng của bóng chiều đè xuống. Bóng chiều mông lung bỗng trở thành hình có khối như có thể cảm nhận được bằng đôi cánh nhỏ. Và cánh chim bay đi đâu cho thoát khỏi cái bóng chiều đang đè nặng xuống mình?. Lòng quê là lòng nhớ quê hương, lấy từ hai chữ hương tâm, chứ không phải tấm lòng chất phác, quê mùa. Dợn là gợi lên, như ta nói sóng dợn chỉ một chất lỏng xao động chuyển động dâng lên, uốn xuống. Dợn dợn là thấp, ý nói hô ứng với mấy chữ “sóng gợn”, “điệp điệp” ở dòng đầu bài thơ. Chính vì vậy mà nhà thơ phiền lòng khi thấy người ta đọc chệch thành dờn dợn hay rờn rợn làm mất nghĩa câu thơ. Cả câu này có nghĩa là lòng nhớ quê hương dâng mãi lên khi phóng tầm mắt nhìn con nước. Chữ vời, cũng hay, ta cảm thấy như gặp ý câu Kiều: Bốn phương mây trắng một màu Trông vời cố quốc biết đâu là nhà? Lòng nhớ quê được gợi lên từ mây trắng, từ cánh chim chiều, nhưng mạnh hơn là từ con nước. Và nhà thơ kết thúc bài thơ bằng câu: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Viết về câu thơ này chứng tỏ Huy Cận đã biết có câu thơ Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu do Tản Đà địch: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Nhà thơ dựa ý thơ Thôi Hiệu để nói ý mình. Nhiều người, kể cả nhà thơ, khi đọc đến câu này đều nói rằng Huv Cận buồn hơn Thôi Hiệu, bởi Thôi Hiệu trông “khói sóng" mới nhớ nhà, còn Huy Cận thì ngược lại, “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Thực ra, ai buồn hơn ai làm sao mà xác định được. Điều quan trọng là Huy Cận có một ý thơ khác. Xưa Thôi Hiệu buồn vì cõi tiên mờ mịt, quê nhà cách xa, khói sóng trên sông gợi lên cảnh mù mịt mà sầu. Nay Huy Cận buồn trước không gian hoang vắng, sóng gợn tràng giang khiến ông nhớ tới quê hương như một nguồn ấm áp. Xưa Thôi Hiệu tìm giấc mơ tiên chỉ thấy hư vô, lòng khát khao một cõi quê hương thực tại. Nay Huy Cận một mình đối diện với khung cảnh vô tình, dợn lên nỗi khát khao quê nhà ấm áp. Một đằng là ý thức về thực tại, một đằng là ý thức về tình người. Tràng giang là một bài thơ buồn, dòng nào cũng buồn. Cái buồn toát ra từ những vật bé mọn, như những kiếp người cô đơn, lạc lõng giữa không gian bao la. Nhưng Tràng giang là một bài thơ vẽ lên một phong cảnh đẹp, giàu màu sắc (núi bạc, bờ xanh, bãi vàng), nhiều đường nét hùng vĩ, mở ra vô tận (buồn điệp điệp, sâu chót vót, sông dài, trời rộng…), nhiều tương phản, nhiều động từ chỉ sức sống rộn ràng: sóng gợn, mây đùn, thuyền về, nước lại, nắng xuống, trời lên… Cái buồn của bài thơ rõ ràng không phải do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp tù túng mọi vật chết chóc, ngưng đọng. Cái buồn như toát ra từ cấu tạo của thế giới, từ cái đẹp thiếu tình người, từ một sự mất mát các mối liên hệ có tính phổ quát gây nên. Một cái buồn đậm màu triết lí. Nỗi buồn này cũng phản ánh sự đổi thay của đờí sống xã hội: xã hội cộng đồng truyền thống với vô vàn mối dây liên hệ đã đứt tung để thay vào một xã hội đô thị với những cái tôi rời rạc, bơ vơ.
Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận
1,628
Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng Giang của nhà thơ Huy Cận Bài làm Mới đọc, có khi nhầm Tràng giang là một bài thơ thuần tuý tả cảnh thiên nhiên. Nhưng nghiền ngẫm cho kỹ mới thấy điều tác giả muốn nói đến trong bài thơ này tuyệt nhiên không phải là cái hữu hình, nhất thời, mà là cái vô hình, cái vĩnh viễn. Đúng như Hoài Thanh đã khẳng định: Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luân luân lắng nghe mình sống để ghi lại cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong. Cái thế giới bên trong, cái linh hồn của tạo vật trong bài Tràng giang là nỗi buồn xa vắng mênh mông. Dòng sông và con người, không gian bao la và tâm trạng cụ thể; đó là một tứ thơ cổ điển: Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song. Bài thơ có tựa đề Tràng Giang, câu thơ đầu tiên cũng nhắc lại tựa đề. Tràng Giang chứ không phải trường giang. Tràng giang góp phần tạo nên dư âm vang xa, trầm lắng của câu thơ mở đầu, tạo nên âm hưởng chung cho toàn bộ giọng điệu của cả bài thơ. Mặt khác. Tràng giang còn gợi nên được hình ảnh một con sông dài và rộng, vừa là tràng giang, vừa là đại giang. Phải chăng, đấy là sông Hồng, bền bỉ muôn đời, đã từng chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử? Và suy cho cùng sức mạnh của hai câu thơ trên không phải là nghệ thuật miêu tả, mà ở nghệ thuật khêu gợi, khêu gợi được cả cảm xúc và ấn tượng về một nỗi buồn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang), và theo thời gian (điệp điệp). Phân tích bài thơ Tràng Giang của nhà thơ Huy Cận Ở khổ thơ đầu, cũng như toàn bộ bài Tràng giang, nghệ thuật đối của thơ Đường đã được vận dụng hết sức linh hoạt, chủ yếu đối về ý, chứ không bị câu thúc về niêm, luật như cách đối trong thơ cổ. Chẳng hạn Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, có thể coi là đối với Con thuyền xuôi mái nước song song; Nắng xuống, trời lên sâu chót vót, đối với: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Hoặc ở một cấp độ khác: bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; – Mênh mông không một chyến đò ngang lại cũng có thể đối với Không cầu gợi chút niềm thân mật – Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Nghệ thuật đối ý (và đối xứng) nói trên, một mặt làm cho giọng điệu của bài thơ uyển chuyển, linh hoạt (tránh được sự khuôn sáo, cứng nhắc dễ thấy đối với một số bài thơ Đường luật hồi đầu thế kỉ); mặt khác, vẫn phát huy đợc một trong những thế mạnh của loại thơ này, tạo nên không khí trang trọng cổ điển. Bên cạnh đó, nghệ thuật dùng từ láy như: điệp điệp, song song cũng có hiệu quả nhất định gợi âm hưởng cổ kính. Nhưng Tràng giang vẫn là một bài thơ hiện đại. Trước hết hiện đại ở hình ảnh, ở thi liệu ở cảm xúc: Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng. Vào những năm 30 của thế kỷ XX, đây là những câu thơ mới mẻ, bởi trong đó xuất hiện cái tầm thường nhỏ nhoi, vô nghĩa như củi một cành khô…thơ xưa chủ yếu là địa hạt dành riêng cho những tao nhân mặc khách, hầu như thiếu vắng cái hiện thực khô ráp của đời thường. Đến thời Thơ mới, nó xuất hiện, góp phần tạo nên cuộc cách mạng trong thơ (Hoài Thanh). Hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ trôi bồng bềnh, trên dòng sông mênh mông sóng nước gợi lên nỗi buồn về kiếp người nhỏ bé, vô định. Đến khổ thơ thứ hai, nỗi buồn càng như thấm sâu vào cảnh vật: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Theo Huy Cận, là đìu hiu ông học được trong bản dịch Chinh phụ ngâm: Non Kì quanh quẽ trăng treo – Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò. Cặp từ láy lơ thơ và đìu hiu gợi lên được sự buồn bã, quạnh vắng, cô đơn…chợ chiều thường buồn tẻ, không có được cái nhộn nhịp, hào hứng của chợ sáng, chợ trưa. Đoàn Văn Cừ đã đặc tả thành công nét buồn này bằng những câu kết của bài thơ Chợ Tết quanh quán chợ. Trong Tràng giang, tiếng chợ chiều đã vãn từ một làng xa nào vẳng lại đã gợi một không khí buồn vắng, cô tịch: Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Đây là mấy câu thơ có giá trị tạo hình. Không gian được mở rộng, và đẩy cao thêm. Sâu gợi lên ở người đọc ấn tượng thăm thẳm, hun hút khôn cùng. Chót vót gợi tả chiều cao vô tận. Càng rộng, càng cao, thì cảnh vật càng thêm vắng lặng, chỉ có sông dài, với bến bờ lẻ loi xa vắng (cô liêu). Nỗi buồn tựa hồ thấm vào không gian ba chiều. Con người trở nên bé bỏng, có phần rợn ngợp trước vũ trụ vĩnh hằng, rộng lớn, không khỏi thấy lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian. (Hoài Thanh). Ấn tượng nói trên lại được tô đậm thêm ở khổ thơ tiếp theo: Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Vẫn trong mạch cảm xúc ở hai khổ đầu, nỗi buồn càng được khắc sầu qua hình ảnh những cánh bèo dạt lênh đênh. Bên cạnh những hình ảnh thuyền và nước cùng trôi về cõi vô biên, hình ảnh cành củi khô bập bềnh trên sông nước ở khổ một, đến khổ thơ này, ấn tượng về sự chia li lán, tan tác được láy lại một lần nữa, càng gợi thêm một nỗi buồn mênh mông. Toàn cảnh sông dài, trời rộng tuyệt nhiên không có bóng con người; không một chuyến đò, đồng thời cũng không có lấy một cây cầu – nhờ chúng có thể tạo nên sự gần gũi giữa con người với con người, mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) nối tiếp với thiên nhiên (bãi vàng) xa vắng, hoang sơ. Như vậy, sự cô quạnh đã được thi sĩ đặc tả độc đáo bằng chính cái không tồn tại. Thực ra điều này còn có thể nhận thấy ở khổ bốn (Không khói hoàng hôn…) nhưng rõ nhất vẫn là ở khổ ba. Bởi vậy, có thể nói, thái độ phủ định thực tại của tác giả nằm ngay ở trong kết cấu của bài thơ. Khổ kết bài thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường mà vẫn giữ được nét riêng biệt của Thơ mới, và vẫn thể hiện nét độc đáo của hồn thơ Huy Cận: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa, Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhâ nhà. Thiên nhiên buồn, nhưng cũng thật tráng lệ. Mùa thu, những đám mây trắng đùn lên trùng điệp ở phía chân trời, ánh dương phản chiếu trông lấp lánh như những núi bạc. Hình ảnh mây cao đùn núi bạc tạo ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên. Trước cảnh sồng nước, mây trời bao la và hùng vĩ ấy, bỗng hiện lên một cánh chim nhỏ bé, nó chỉ cần nghiêng cánh là cả bóng chiều xa xuống. Hình ảnh cánh chim đơn lẻ, trong một buổi chiều tà cũng để gợi lên một nỗi buồn xa vắng. (Chim hôm thoi thót về rừng – Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành. Truyện Kiều – Nguyền Du). Nhưng điều đáng nói hơn ở đây chính là hiệu quả của nghệ thuật đối lập; đối lập giữa cánh chim bé nhỏ với vũ trụ bao la, hùng vĩ. Phải chăng, điều này đã làm cho cảnh thiên nhiên rộng hơn, thoáng hơn, hùng vĩ hơn và đặc biệt cũng buồn hơn? Như vậy, đi suốt bài thơ là nỗi buồn triền miên, vô tận. Nỗi buồn ở bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà Thơ mới, trước hết, chính là nỗi buồn của cả thế hệ, của cả dân lộc, trong những năm ngột ngạt dưới thời thuộc Pháp. Vả chăng, có lẽ nỗi buồn nói trên còn xuất phát từ chính quan niệm mĩ học của các nhà thơ lãng mạn đương thời. Theo họ, cái đẹp thường đi sóng đôi với cái buồn. Bôđơle, người được Rembô mệnh danh là hoàng đế của các nhà thơ, đã từng có câu nổi tiếng: Em cứ đẹp, và em mãi buồn. Vả chăng, cái buồn của Huy Cận ở bài thơ này, trước sau vẫn là cái buồn trong sáng, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn của bạn đọc; nó cũng như cái buồn đã làm nên sức hấp dẫn mê hồn của thơ ca dân gian Nga, như Biêlinxki đã nhận xét. Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo nên được những vang hưởng kì lạ do tác giả đã chọn được thể thơ thích hợp (gần với thể cổ phong) vận dụng tự nhiên lối đối, sử dụng có hiệu quả, với tần số cao, hệ thống từ láy( 10 lần trong 1 dòng thơ) và cách ngắt nhịp truyền thống… Chất cổ điển đặc biệt rõ ở cấu kết. Thôi Hiệu nhìn khói nhớ đến quê hương (Nhật mộ hương quan hà xứ thị? – Yên ba giang thượng sử nhân sầu – Hoàng Hạc lâu). Tản Đà dịch: Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai? Huy Cận không cần có khói sóng – không cần có cái gợi nhớ – mà lòng vẫn dờn dợn nhớ nhà. Rõ ràng nỗi nhớ của Huy Cận da diết hơn, thường trực hơn và cháy bỏng hơn; do đó, hiện đại hơn!. Cổ kính, trang nghiêm, Tràng giang còn là một bài thơ rất Việt Nam. Dòng sông sóng gợn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô bồng bềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều của làng quê, cánh chim trong buổi chiều tà… thật gần gũi với người Việt Nam chúng ta.
Phân tích bài thơ Tràng Giang của nhà thơ Huy Cận
1,787
Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng Bài làm Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về thành lập trung đoàn 52. Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948 rồi được chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa được bao lâu; ngồi ở Phù Lưu Chanh(hà đông) anh viết bài thơ Tây Tiến. Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh tiêu hao quân đội Pháp ớ Thượng Lào cũng như miền tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm các tỉnh từ Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền tây Thành Hoá sang tận Sầm Nưa (Lào) rồi vòng về qua miền tây Thành Hoà. Những nơi này, lúc đó, còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng rậm, có nhiều thú dữ. Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Những người lính Tây Tiến phần đông là thành niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên (Quang Dũng thuộc vào số này). Sinh hoạt của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn là vì đánh trận. Tuy vậy, họ dẫn sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và hoàn cảnh sống cực kì gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thành lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn. Bài thơ Tây Tiến có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng. Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở cái tôi tràn đầy tình cảm cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và tuyệt mĩ. Thiên nhiên miền Tây, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người miền Tây càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng xả thân, hi sinh tất cả cho lí tưởng chung của cộng đồng, của toàn dân tộc. Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không bi luỵ. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hoà hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Ngay từ khi ra đời, Tây Tiến đã được lưu truyền rộng rãi trong bộ đội và những người yêu thơ. Nhưng sau đó, do quan niệm có phần đơn giản và ấu trĩ nên bài thơ này bị coi là mộng rớt, có những rơi rớt của tư tưởng lãng mạn ành hùng kiểu cũ. Vì vậy, trong một thời gian khá dài, Tây Tiến ít được nhắc đến. Mãi tới thời kì Đổi mới, trong xu hướng nhìn nhận lại các giá trị văn học, bài thơ Tây Tiến mới được khôi phục lại vị trí của nó trong lịch sử văn học. Bài thơ gồm bốn đoạn thơ: Đoạn l: Những cuộc hành quân gian khổ của đoàn quân Tây Tiến và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội. Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. Đoạn: Chân dung của người lính Tây Tiến. Đoạn 4: Lời thề gắn bó với Tây Tiến và miền Tây. Mạch liên kết giữa các đoạn của bài thơ là mạch cảm xúc. tâm trạng của nhà thơ. Bài thơ được viết trong một nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, đầy thơ mộng. Bài thơ là những kí ức của Quang Dũng về Tây Tiến; những kí ức, những kí niệm được tái hiện lại một cách tự nhiên, kí ức này gọi kí ức khác, kỉ niệm này khơi dậy kỉ niệm khác như những đợt sóng nối tiếp nhau. Ngòi bút tinh tế và tài hoa của Quang Dũng đã làm cho những kí ức ấy trở nên sổng động và người đọc có cảm tưởng đang sống cùng với nhà thơ trong những hồi tưởng ấy. Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ (2) da diết, bao trùm lên cả không gian và thới gian: Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ; khơi nguồn cho cảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm, rừng dày,… liên tiếp xuất hiện những câu thơ sau: Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm. Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Khổ thơ này là một bằng chứng trong thơ có hoạ (thi trung hữu hoạ)(3). Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền Tây – địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến. Hai câu thơ đầu, những từ đầy giá trị tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời đã điền tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đèo miền Tây. Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Đọc câu thứ tư, có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi. Bốn câu thơ này phối hợp với nhau, tạo nên một âm hưởng đặc biệt. Sau ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc, câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại (câu thứ tư toàn thành bằng). Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội hoạ: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gang màu lạnh làm dịu lại như xoa mát cả khổ thơ. Sự trùng điệp của núi đèo miền Tây trong bài thơ Tây Tiến làm gợi nhớ đến mấy câu thơ trong Chinh phụ ngâm: “Hình khe thế núi gần xa, – Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao”. Còn sự hoang vu và hiểm trở của nó lại gợi nhớ tới câu thơ trong bài Thục đạo nan câu Lí Bạch: “Đường xứ Thục khó đi, khó hơn cả lên trời xanh” (Thục đạo chi nan, nan ư thướng thành thiên!). Cái vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng miền Tây được nhà thơ tiếp tục khai thác. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe doạ khủng khiếp đối với con người: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Cảnh núi rừng miền Tây hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ,… Những tên đất lạ (Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch), những hình ảnh giàu giá trị tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả, nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu có nhiều vần bằng ớ cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình nên thế giới khác thường vừa đa dạng, vừa độc đáo của núi rừng miễn tây tổ quốc. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ: Nhớ ôi Tây Tiến thơ lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm đừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói còn nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lên. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc buồi sang đoạn thơ thứ hai. Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của miền Tây. Cảnh núi rừng hoang vu hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mĩ lệ, thơ mộng, duyên dáng của miền Tây. Những nét vẽ bạo, khỏe, gân guốc ở đoạn thơ đầu, đến đoạn thơ này được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này. Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa. Cảnh ấy, người ấy được hiện lên trong một khoảng thời gian làm nổi lên rõ nhất vẻ lung linh, huyền ảo của nó: cảnh một đêm liên hoan lửa đuốc bập bùng và cảnh một buổi chiều sương phủ trên sông nước mênh mang. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất mộng, rất ảo: Doành trại bừng lên hội đuốc hoa. Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Cả doanh trại “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ “kìa em” thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên,vừa mê say, vui sướng. Nhân vật trung tâm, linh hồn của đêm văn nghệ là những cô gái nơi núi rừng miền Tây bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy (“xiêm áo tự bao giờ”), vừa e thẹn, vừa tình tứ (“nàng e ấp”) trong một vũ điệu đậm màu sắc xứ lạ (“man điệu”) đã thu hút cả hồn vía những chàng trai Tây Tiến. Nếu cảnh một đêm liên hoan đem đến cho người đọc không khí mê say, ngây ngất, thì cảnh sông nước miền Tây lại gợi lên được cảm giác mênh mang, mờ ảo: Người đi Châu Mộc chiều sương ấy Có thấy hồn lau nẻo bến bờ Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương. Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử. Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của một cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc. Và như hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng “đong đưa” làm duyên trên dòng nước lũ. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng không tả mà chỉ gợi cảnh vật thiên nhiên xứ sở qua ngòi bút của ông như có hồn phảng phất trong gió, trong cây (“có thấy hồn lau nẻo bến bờ”). Ông không chỉ làm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng của cảnh vật. Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cải đẹp, thế giới của cõi mơ, của âm nhạc (4). Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên tự tân hồn ngây ngất, say mê của những người lính Tây Tiến. Hơn ở đâu hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hoà quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt. Với ý nghĩa đó, Xuân Diệu có lí khi cho rằng đọc bài thơ Tây Tiến, ta có cảm tưởng như ngậm âm nhạc trong miệng. Trên cái nên hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng (ở đoạn một) và duyên dáng, thơ mộng, mĩ lệ của miền Tây (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến xuất hiện vời một vẽ đẹp đầy chất bi tráng: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xành màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể khái quát được gương mặt chung của cả đoàn quân. Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài, chúng hoà quyện, xâm nhập vào nhau, nương tựa, nâng đỡ nhau tạo nên vẻ đẹp bí tráng – thần thái chung của cả bức tượng đài. Thơ ca thời kì kháng chiến khi viết về người lính thường nói đến căn bệnh sốt rét hiểm nghèo. Chính Hữu trong bài Đồng chí đã trực tiếp miêu tả căn bệnh ấy: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”. Còn Tố Hữu, khi vẽ chân dung anh vệ quốc quân trong bài Cá nước với những hình ảnh thật cụ thể: “Giọt giọt mồ hôi rơi, – Trên má anh vàng nghệ” cũng không quên ảnh hưởng của thứ bệnh quái ác đó. Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu những gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao cửa người lính. Chỉ có điều, tất cả những cái đó, qua ngòi bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn. Những cái đầu không mọc tóc của những người lính Tây Tiến đâu phải là hình ảnh ly kì, giật gân, sản phẩm của trí tưởng tượng xa rời thực tế của nhà thơ mà chứa dựng một sự thực nghiệt ngã. Những người lính Tây Tiến, người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp lá cả với địch, người thì bị sốt rét đến rụng tóc, trọc đầu. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên về oai phong, dữ dằn của những còn hổ nơi rừng thiêng. Sự oai phong lẫn liệt ấy còn được thể hiện qua ánh mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ. Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút của Quang Dũng, không phải là những người khổng lồ không tim. Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương (“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”). Như vậy, trong khổ thơ này, Quang Dũng đã tạc nên bức tượng đài tập thể những người lính Tây Tiến không chỉ bằng những đường nét khắc hoạ dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện được cả thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ. Ngòi bút của Quang Dũng khi dựng lên hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến không hề nhấn chìm người đọc vào cái bi thương, bi luỵ. Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào bi thương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của hình tượng, của tinh thần lãng mạn. Chính vì vậy mà cái bi thương được gợi lên qua hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi, một mặt, đã được giảm nhẹ đi nhiều nhờ những từ Hán Việt cổ kính; trang trọng: “Rải rác bên cương mồ viễn xứ”; mặt khác, chính cái bi thương ấy cũng lại bị mờ đi trước lí tưởng quên mình, xả thân vì Tổ quốc của những người lính Tây Tiến (“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”). Họ có vẻ tiều tuỵ, tàn tạ trong hình hài nhưng lại chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng dấp của những tráng sĩ thuở xưa, coi cái chết nhẹ như lông hồng. Sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, qua cái nhìn của Quang Dũng, lại được bọc trong những tấm áo bào sang trọng (5). Cái bi thương ấy vợi đi nhờ cách nói giảm (anh về đất), và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã: Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Trong âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Giọng điệu chủ đạo của đoạn thơ thứ ba này trang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội. Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ, một lần nữa, tô đậm thêm không khí chung của một thời Tây Tiến, tinh thần chung của những người lính Tây Tiến. Nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn, nhưng linh hồn của đoạn thơ thì vẫn toát lên vẻ hào hùng: Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thắm một chia phôi. Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Cái tinh thần “một đi không trở lại” (nhất khứ bất phục hoàn) thấm nhuần trong tư tưởng và tình cảm của cả, đoàn quân Tây Tiến. Tâm hồn, tình cảm của những người lính Tây Tiến vẫn gắn bó máu thịt vời những ngày, những nơi mà Tây Tiến đã đi qua. “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã thành thời điểm một đi không trở lại. Lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại cái thời mơ mộng, lãng mạn, hào hùng đến nhường ấy trong một hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy.
Phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng
3,340
Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng- Văn lớp 12 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng- Văn lớp 12 Bài làm Quang Dũng là một tác giả trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một họa sĩ, nhạc sĩ chính vì vậy trong thơ của Quang Dũng thường chứa đựng chất nhạc, chất họa làm cho mỗi câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn người nghe bởi những biện pháp nghệ thuật. Bài thơ Tây Tiến làm bài thơ được viết trong chuyến đi của tác giả cùng binh đoàn qua những cánh rừng vùng Tây Bắc. Bài thơ đã phác họa thành công chân dung người lính bộ đội cụ Hồ vừa mộc mạc, giản dị, vừa anh hùng, bi tráng như một tượng đài sống mãi với thời gian. Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ của tác giả khi nhớ tới vùng núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, trữ tình, lãng mạn, cùng với binh đoàn Tây Tiến, trẻ trung yêu đời, lòng tràn đầy nhiệt huyết với con đường mà mình đã lựa chọn. Con đường cách mạng giải phóng dân tộc. “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Tác giả gọi tên những dòng Sông Mã con sông nổi tiếng chảy qua nhiều tỉnh thành thuộc vùng Thanh Hóa. Sông Mã chính là con sông gắn liền với nhiều chiến công hiển hách trong lịch sử của dân tộc, gắn liền với cuộc hành trình của binh đoàn Tây Tiến. Tác giả vô cùng tinh tế khi gợi lên một nỗi nhớ “chơi vơi” tạo ra sự mênh mang trong câu thơ, thể hiện nỗi nhớ bâng khuâng khó diễn tả bằng lời của tác giả. Binh đoàn Tây Tiến như một người bạn thân thiết, gắn bó với tác giả lâu ngày nhưng nay phải chia xa, khiến cho tác giả cảm thấy như mình đang mất đi một người bạn thân thiết tri kỷ. “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” Tác giả Quang Dũng đã nhắc lại rất nhiều đại danh của vùng núi Tây Bắc như Mường lát, Sài Khao…Những địa danh gắn liền với những người lính chiến trong binh đoàn Tây Tiến, nhưng nơi tuy không phải quê hương nhưng lại chính là quê hương. “Dốc lên khúc khửu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Trong những câu thơ này thể hiện sự tinh tế, ngòi bút điêu luyện, tài hoa của tác giả Quang Dũng khi sử dụng nghệ thuật gieo vần, láy từ, phối thanh vô cùng tinh thế, khiến cho bức tranh thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc hiện lên vô cùng hoan sơ, đẹp hùng vĩ, nhưng cũng rất khắc nghiệt và dữ dội. Nghệ thuật đối lập giữa “lên” và “xuống” thể hiện những ngọn núi non trùng điệp, thể hiện sự vất vả mà binh đoàn Tây Tiến phải vượt qua. Hình ảnh “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” thể hiện sự gần gũi của tác giả, khi nhìn thấy những ngôi nhà người dân ở phía xa, mùi khói bếp trong cảnh núi rừng hùng vĩ, như những người thân thuộc đang nhóm bữa cơm chiều quây quần ấm áp bên gia đình. “Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Trong hai câu thơ này tác giả đã thể hiện sự ra đi của người lính một cách vô cùng nhẹ nhàng, không mang nặng tính anh hùng, mà thể hiện sự thanh thản tựa như một giấc ngủ mà thôi. Dù người lính Tây Tiến ra đi nhưng vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu “Gục bên súng mũ” những người bạn thân thiết của người lính đó chính là chiếc mũ cối, chiếc súng trường, chiếc ba lô mang theo tư trang kỷ niệm của người lính. “Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm mường hịch cọp trêu người” Vùng Tây Bắc là vùng địa hình núi non hiểm trở, vẫn còn những cánh rừng hoang, rừng nguyên sinh nhiều thú dữ, như hổ, cọp, báo…Những người lính hành quân trong rừng đôi khi cũng gặp những con thú này. Chúng thường trêu đùa những người lính, nhưng không có gì làm cho những con người lòng tràn đầy nhiệt huyết kia phải run sợ. Thiên nhiên càng hung dữ thử thách khắc nghiệt bao nhiêu thì người lính càng kiên cường, gan dạ, gai góc bấy nhiêu. “Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” Trên những chặng đường hành quân của mình người lính thường nhìn thấy những ngôi nhà dân, nơi có người đồng bào thân thân thương. Mùi khó bếp trong chiều muộn, làm cho người lính chợt nhói lên nỗi nhớ nhà nhớ quê hương, nơi xa. Nhìn cảnh khói bếp tác giả lại nhớ tới những mùa gạo cơm nếp đã qua. Những kỷ niệm quân dân gắn bó Kìa em xiêm áo từ bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhớ về Viên chăn xây hồn thơ” Trong khổ thơ này những câu thơ chuyển sang một giai điệu hoàn toàn khác, không khí tươi vui với những kỷ niệm quân dân vô cùng nồng ấm, dịu dàng. Những đêm lửa trại, những điệu múa sạp giữa người lính và những cô gái vùng núi sơn cước như tạo ra tình quân dân gắn bó thân thiết, một nhà chung vui. Những người lính Tây Tiến ra đi chiến đấu bảo vệ quê hương khi tuổi đời chỉ mới đôi mươi còn rất trẻ, có người đã có người thương, nhưng có người chưa một lần nhớ nhung con gái. Chính vì vậy, những rung động trong trái tim người lính với những cô gái vùng dân bản thân thiện, thật thà là điều không thể tránh khỏi. Trong khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hào hùng ấy hình ảnh người lính hiện lên mộc mạc, giản dị nhưng không kém hào hùng, anh dũng “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ hà nội dáng kiều thơm” Hình ảnh người lính trong binh đoàn Tây Tiến hiện lên vô cùng chân thực, giản dị, không mọc tóc, bởi trong rừng những trận sốt rét, sự thiếu thốn trong vật chất thuốc men khiến cho mái tóc người lính thưa thớt dần, nên kiểu thời trang tóc chủ đạo của lính cụ Hồ là cắt ngắn ba phân, thậm chí là cạo trọc cho khỏi tốn thời gian cắt. Những khó khăn vất vả trong đời lính chiến thì không gì có thể tả hết nhưng những người lính đều có trái tim lãng mạn, mơ mộng, đều là những người có lý tưởng sống rất tươi đẹp. Các anh ra đi vì nền độc lập tự do của dân tộc, vì quê hương mà rời khỏi thủ đô “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Rồi những tối hành quân giữa rừng ngồi quây quần bên nhau các anh lại nhớ về những ngày con đi học, những cô gái Hà Nội áo trắng tinh khôi, những kỷ niệm học trò thửa đất nước con yên tiếng súng. Tất cả đều gợi lên trong lòng người lính những kỷ niệm khó quên. Những kỷ niệm đẹp nhất của một trai trẻ. chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Trong chiến tranh sự hy sinh của những người lính là không thể tránh khỏi, biết bao nhiêu tính mạng của người lính Việt Nam ngã xuống để bảo vệ nền độc lập của tổ quốc. Biết bao người mẹ mất con, người vợ mất chồng để đất nước chúng ta được bình yên, tươi đẹp như hôm nay. Đó chính là nhờ công lao hy sinh to lớn của các anh Những người lý với ước mơ, lý tưởng sống cao đẹp các anh ra đi chẳng tiếc đời trai. Các anh nằm xuống khi tuổi hai mươi vẫn đang vẫy gọi, trái tim còn đang ấm nóng những yêu thương của tuổi xuân xanh. “Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Hai câu thơ này thể hiện sự xúc động thổn thức trong nhịp thơ của tác giả. Những người chiến sĩ anh dũng của chúng ta, ra đi nhẹ nhàng, ngủ sâu, một giấc ngủ ngàn thu. Trong chiến tranh việc tiến hành chôn cất, khâm liệm các anh cũng được tiến hành rất đơn giản, bởi cuộc chiến còn chưa kết thúc, vẫn còn nhiều khó khăn đang chờ đợi chúng ta. Sự ra đi của các anh khiến cho đồng đội, người thân đau xót, ghi nhớ những công lao trời biển mà các anh đã hy sinh cống hiến cho tổ quốc, quê hương. Hình ảnh con sông Mã quen thuộc như chú hổ dữ gầm thét, đau đớn khóc khúc nhạc của mình để tiễn đưa một người bạn, một người lính vừa trở về với đất mẹ thiêng liêng. Các anh ra đi như thế, nhẹ nhàng bình yên thể hiện sự thanh thản không bị lụy, nhưng sự ra đi của các anh chính là một tượng đài mãi mãi không bao giờ quên. Bài thơ Tây Tiên của tác giả Quang Dũng được tác giả viết lại với tất cả sự nhớ nhung, yêu thương ngưỡng mộ, xen lẫn sự tự hào, tiếc nuối trong những vần thơ. Nhà thơ đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ, nghệ thuật khác nhau làm tăng thêm tính biểu cảm, cảm xúc cho người đọc, thể hiện sự tinh tế của tác giả trong câu chữ. Qua bài thơ Tây Tiến ta thêm biết ơn sự hy sinh của những người lính bộ đội cụ Hồ đã hy sinh thân mình để bảo vệ tổ quốc tươi đẹp hôm nay.
Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng- Văn lớp 12
1,660
Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Dàn ý 1. Cần phải lưu ý, Quang Dũng – tác giả bài thơ – cũng như không ít chia đoàn Tây Tiến vốn là học sinh, sinh viên Hà Nội để có cơ sở góp phần giải thích cảm hứng bi tráng và tinh thần lãng mạn độc đáo của bài thơ này, so với một số bài thơ cùng viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp. 2. Tây Tiến là sự hồi tưởng của Quang Dũng về đoàn quân Tây Tiến, về con người và thiên nhiên Tây Bắc ở một thời kì gian khổ mà oai hùng. Tất cả đều được thể hiện qua một hồn thơ lãng mạn. nặng tình với quê hương, đất nước bằng bút pháp tài hoa, độc đáo. Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng – Đoạn một: Thông qua cách sử dụng một loại địa danh, gợi cảm giác xa xôi, hoang dã, cách dùng từ bạo khoẻ, cách phối âm để tạo giọng điệu lạ…. Quang Dũng vừa khắc hoạ được sinh động cảnh núi rừng hiểm trở vừa diễn tả được nỗi vất vả, chất tinh nghịch của người lính. – Đoạn hai: Miêu tả con người và cảnh vật Tây Bắc. Con người e ấp, tình tứ; thiên nhiên thơ mộng, tươi mát (khác xa sự hiểm trở, dữ dội ở đoạn đầu). Đây chính là vẻ đẹp của phương xa, xứ lạ có sức lôi cuốn mạnh mẽ những người lính xuất thân từ học sinh, sinh viên. – Đoạn ba: Tập trung khắc hoạ người lính bằng bút pháp lãng mạn. Họ có diện mạo khác thường, oai phong dữ dội, có chất anh hùng của tráng sĩ thời xưa và có một tâm hồn rất lãng mạn. ở đây, hình ảnh người Lính còn thể hiện rõ chất bi tráng của bải thơ. – Bốn dòng cuối cùng của bài thơ có thể coi là lời thề quyết chiến đấu cùng vì lí tưởng của người lính Tây Tiến. 3. Đây là bài thơ có nghệ thuật đặc sắc: nét bút tả người, tả cảnh gây tượng mạnh, lúc thỉ gân guốc, bạo khoẻ, khi thì mềm mại, tình tứ, thủ pháp đối lập được sử dụng linh hoạt và mang lại hiệu quả đáng kể; giọng thơ khi thì thiết tha, khi thì hào hùng; ngôn ngữ sắc sảo, từ Hán Việt được dùng rất nghệ thuật. Bài làm Cuộc kháng chiến chống Pháp đi qua để lại những dâu ấn không thể phai mờ trong tâm hồn dân tộc. Đó là điểm hội tụ của muôn triệu tấm lòng yêu nước môi trường thử thách tinh thần chiến đấu ngoan cường, bất khuất của nhân dân ta. Cuộc kháng chiến còn làm nảy sinh biết bao hình ảnh đẹp mà đẹp nhất là hình ảnh người lính. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng một thời như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên…, Tây Tiến của Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc Đoàn quân Tây Tiến quy tụ một lực lượng đông đảo đủ mọi tầng lớp thanh niên từ khắp phố phường Hà Nội. Có nhiều thanh niên học sinh thuộc tầng lớp trí thức tiểu tư sản vừa rời trang sách nhà trường để tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Tất cả những con người ấy ra đi với lí tưởng chung của dân tộc chiến đâu bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Họ ra đi không hẹn ngày trở về chiến đấu với mục đích “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Cái ảnh thần ấy là hào khí của cả một thế hệ, đã từng được phản ánh trong một bài hát thời đó: Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi, Nào có sá chi đâu ngày trở về. Trong đoàn người nô nức lên đường đi chiến đấu, trong hàng ngũ những thanh niên trí thức ngày hôm qua có khi là những tự vệ chiến đấu trên phố phường, chiến lũy Hà Nội, mà hôm nay đã có mặt trong đoàn quân Tây Tiến, thấp hoáng xuất hiện một khuôn mặt: Quang Dũng, tác giả của bài thơ. Như bao thanh niên trí thức của Hà Nội ngày ấy, Quang Dũng cũng háo hức gia nhập đoàn quân Tây Tiến với một niềm say mê của tuổi trẻ và một chút lãng mạn của những người thanh niên “nho sĩ quỵ tộc” ảnh hưởng trong Chinh phụ ngâm: Giã nhà đeo bức chiến bào hay Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao. Cũng chính vì thế mà những thanh niên như Quang Dũng sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hi sinh để chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng. Vào Tây Tiến, Quang Dũng cùng sống và chiến đấu một thời gian với đơn vị này và sau đó chuyển sang đơn vị khác. Một ngày ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về những người đồng đội, nhớ về những tháng ngày chiến đâu gian nan nhưng hào hùng, nhớ đơn vị cũ, nhớ những con đường hành quân mà ông cùng đơn vị từng đi qua. Nỗi nhớ ấy dần lớn lên trong Quang Dũng, bật ra thành hai câu thơ: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi. Cuộc sống chiến đấu của Tây Tiến cùng những nơi mà đơn vị đã đi qua hẳn là những kỉ niệm hết sức sâu đậm trong tâm hồn nhà thơ. Hẳn một phần quãng đời Quang Dũng gắn bó với Tây Tiến là cuộc sống hoạt động trong vùng rừng núi. Bởi thế, nhà thơ nhớ về Tây Tiến là nhớ ngay về sông Mã, nhớ về rừng núi với bao kỉ niệm vui buồn, ấn tượng về một miền rừng núi khắc nghiệt đã để lại trong tâm hồn nhà thơ dấu ẩn chẳng phai mờ. Vì thế, Quang Dũng nhớ về những tháng ngày đã qua với một tình cảm yêu thương lắm nhưng chẳng biết gọi lên chính xác nỗi nhớ ây. Nhớ chơi vơi! hai liếng chơi vơi dùng ở đây thật là đắc địa. diễn tả một nỗi nhớ không có hình, không có lượng nhưng hình như rất nặng và mênh mang đầy ắp. Cái tâm trạng nhớ ấy ta đã bắt gặp không chỉ một lần trong ca dao: Ra về nhớ bạn chơi vơi, hoặc: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi, Như đứng đống lửa, như ngồi đống than. Quang Dũng lấy nỗi nhớ trong ca dao để tượng trứng thêm cho nỗi nhớ chơi vơi của mình, thật là chi tiết đắt giá! Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng rừng núi ấy thiết tha như thế làm cho người đọc chú ý ngay. Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường hành quân: Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi. Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của mỗi vùng rừng biên ải. Đọc đoạn thơ, chưa cẩn suy ngẫm nội dung bên trong, chúng ta đã có thể hình dung ra con đường mà Quang Dũng miêu tả. Kết câu đoan thơ cứ thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường xa thẳm khấp khểnh. Nhạc điệu êm ả, triền miên. Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp sương dày của núi rừng, tất cả lung linh trong lớp sương khói mờ ảo, như thực, như mộng. Thế nhưng, mỗi địa danh đều gợi lên trong người đọc về hình ảnh của một xứ lạ, phương xa; nếu ta chỉ thử thay Sài Khao bằng một tên gọi khác là lớp sương huyền ảo ấy lan biến ngay. Đoàn quân Tây Tiến cất bước, trên con đường xa vạn dặm, với cái trắc trở, gập ghềnh của con đường. Đã dốc lên khúc khuỷu mà còn dốc thăm thẳm, đã ngàn thước lên cao rồi lại ngàn thước xuống thì đúng là đến độ cao chất ngất, ngoằn ngoèo khó đi. Tất cả những đặc điểm ấy diễn tả nổi khó khăn của đoàn quân Tây Tiến khi hành quân. Nó ghi lại ấn tượng về một miền rừng núi thật là dữ dội và khắc nghiệt Quang Dũng có những cách dùng từ rất tinh tế mà cũng hết sức tinh nghịch: núi cao chạm mây nổi thành cồn heo hút, và để diễn tả chiều cao của núi thì chỉ ba chữ súng ngửi trời nghe thật ngộ nghĩnh. Phải chăng đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng ghi lại với tư cách một người trong cuộc? Dù sao, qua những từ ngữ, chi tiết và cách kết hợp thanh điệu của đoạn thơ cũng đã vẽ lên trước mát ta hình ảnh một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi qua. Có những câu thơ dùng toàn vần bằng rất hay: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Sau khi ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống người chiến sĩ Tây Tiến như đứng trên nùi cao mà nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa. Những ngôi nhà như đang trôi bồng bềnh trong làn mưa trắng. Thanh bằng của từng chữ trải ra, mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng. Rừng núi trùng, ấn tượng về miền rừng núi cũng thật là khắc nghiệt và dữ dội: Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người. Chỉ hai câu thơ thôi mà gieo vào lòng ta tất cả những sự khắc nghiệt của miền rừng núi này – một miền núi rừng âm u với thú dữ đe doạ con người. Hai chữ Mường Hịch đi với nhau nghe nặng như chân cọp. Có một điều kì lạ là nếu ta thay địa danh này bằng hai chữ khác như Châu Thuận chẳng hạn, thì hiệu lực câu thơ sẽ giảm sút ngay. Qua sự miêu tả của Quang Dũng, một vùng núi rừng biên ải hiện lên với tất cả sự khắc nghiệt, dữ dội của thiên nhiên. Đó là những khó khăn mà người chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua trên con đường hành quân. Cái trắc trở, gian lao cùa con đường Tây Tiến chợt làm chúng ta nhớ đến câu thơ của Lí Bạch: Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên. (Đường xứ Thục khó đi, khó hơn lên tận trời xanh). Đó là tất cả những gian khổ, nguy hiểm do thiên nhiên đem đến mà người chiến sĩ Tây Tiến phải chịu đựng. Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ, bỏ quên đời! Quang Dũng nói cái thực trên con đường Tây Tiến. Bao người chiến sĩ đã nằm lại trên con đường hành quân. Có một điều lạ làm toả sáng cả ý thơ là người lính Tây Tiến đến lúc gục xuống vẫn cố gắng trong tư thế của người lính, chết rồi nhưng súng mũ vẫn còn đó, hành trang của người chiến sĩ vẫn còn trong tư thế tiếp tục cuộc hành trình. Bao cảnh gian khổ khó khăn, khắc nghiệt dữ dội của con đường hành quân, của thiên nhiến xứ lạ đã thử thách người chiến sĩ Tây Tiến một cách ghê gớm. Có những người lính đã vượt qua được, và cũng không ít những người phải nằm lại phía sau. Người lính dãi dầu qua mưa nắng, đi từ khó khăn này đến gian khổ khác, chịu hết thử thách này đến thử thách thác mà dường như vẫn chẳng nể hà; đến khi kiệt sức phải gục xuống thì cũng cố gắng gục xuống trong tư thế của người chiến sĩ. Cho dù Quang Dũng có nói sự thực về một vùng rừng núi che lấp con người, nhưng chính những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ đã đưa họ bay lên, vượt lên trên cái gian khổ và thiếu thốn. Quang Dũng là một người trong cuộc, rừng là chiến sĩ Tây Tiến, chính vì vậy mà nhà thơ viết về cuộc sống gian khổ của người chiến sĩ Tây Tiến một cách hết sức cảm động. Cái khắc nghiệt, khổ và dữ dội của một miền biên ải, những gian truân mà người chiến sĩ Tiến phải chịu đựng và những ấn tượng không thể nào quên. Quang Dũng về người lính Tây Tiến không như những nhà thơ khác; ông nói thật về sự khổ, hi sinh của người lính một thời. Thế nhưng, hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến không vì thế mà trở nên uỷ mị, ngược lại càng thêm cao đẹp hơn. Miêu tả nét chiến sĩ với cái bi, nhưng là “bi tráng”. Nói cái gian khổ để đề cao chiến thắng nói hi sinh để nâng hình ảnh người lính lên một tầm cao thời đại cũng là một cách “vẽ mây nảy trăng” trong hội hoạ vậy. Bởi chiến thắng có giá trị gì khi chiến thắng dễ dàng, không có hi sinh? Và hình ảnh người lính sẽ không thật cao đẹp nếu họ không trải qua những thử thách gian truân của cuộc sống chiến đấu khắc nghiệt. Lao xao sóng vỗ ngọn tùng Gian nan là nợ anh hùng phải vay. Đó là một lời đúc kết kinh nghiệm về giá trị cùa chiến thắng, giá trị cả phẩm chất con người. Giữa bao cái gian khổ, khắc nghiệt đã thành ấn tượng niềm vui, dù ít ỏi, càng đáng nhớ hơn: Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói…. Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa. Dường như để trả trạng thái tâm hồn chúng ta về thế cân bằng sau khi chùng xuống trước cuộc sống chiến đấu cùa người chiến sĩ Tây Tiến, Quang Dũng hồi tưởng lại nhiều hình ảnh vui, ấm áp. Khói bếp, mùi thơm cơm nếp gợi cái ấm cúng của cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Sức nóng của nó đủ làm tâm hổn dần ấm lại sau những phút giây chứng kiến những gian khổ của người lính, đuốc hoa là hình ảnh có sức khơi gợi, gợi cho ta cái cảm giác tươi vui như đang chứng kiến lễ hội đông vui. Hai liếng kìa em vừa ngỡ ngàng, vừa sung sưc nó diễn cả tâm hồn của người chiến sĩ Tây Tiến. Trong cả đoạn thơ dìu dặt thành tiếng nhạc, tiếng khèn, phảng phất hình ảnh vui tươi của cuộc sống ) bình như chẳng biết đến chiến ưanh. Hình ảnh nhạc về Viên Chăn xây hồn là hình ảnh đẹp, thơ mộng, diễn tả tâm hồn phong phú của người lính Tây Tiến. Họ tổ chức hội vui, sau bao thử thách khắc nghiệt của núi rừng dữ dội. Và mặc dù biết rằng sẽ còn liếp tục chịu đựng những gian truân, hi sinh, người lính Tây Tiến vẫn múa hát, đùa vui, vẫn lạc quan yêu đời. Có thể chỉ ngày hôm sau một người nào đó trong số họ phải nằm lại nơi núi rừng u tịch, nhưng hôm nay làm hồn họ vẫn mộng mơ, mơ đến những hình ảnh đẹp của thi và hoạ, xây hồn thơ. Và như vậy, họ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách tiếp theo, coi đó như một việc bình thường mà đời lính phải chấp nhận. Không lên gân, không khiên cưỡng, mọi gian khổ hi sinh đối với người lính là chuyện binh thường và tất yếu, vì vậy mà họ vẫn lạc quan, vẫn yêu đời, vẫn sống với lâm hồn trẻ trung, tươi mát. Cũng vậy mà người lính Tây Tiến có thể vẫn nhớ một dáng thuyền độc mộc, hoặc một bông hoa trên dòng nước lũ. Những hình ảnh rất binh thường ấy, ngỡ rằng sau bao sự thử thách về tinh thần, người lính sẽ quên đi. Nhưng không, họ vẫn nhớ. Những hình ảnh ấy in sâu vàu tâm hồn ngựời lính Tây Tiến, là nguồn động viên thúc giục họ chiến đấu, dù tiếp tục đón nhận những thử thách mới: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. li ''àn quân không mọc tóc! Có cách nói nào lại khơi dậy nhiều cảm xúc đến thế! Như vậy thì hình ảnh của anh bộ đội Tây Tiến có trở nên quái đản không? Không đâu! Đó chính là hình ảnh oai hùng của anh “Vệ trọc” nổi tiếng một thời rét nên tóc rụng vả lại, cái cách nói đoàn quân không mọc tóc ấy phần nào cũng dựng nên hình ảnh người tráng sĩ với dáng dấp thật hùng dũng và hiên Quân không mọc tóc, quân lại xanh màu lá, màu xanh ấy có thể do cành lá trang, nhưng chủ yếu là do sốt rét rừng. Những cơn sốt rét ghê gớm đã để lại ấn tượng sâu sắc cho người chiến sĩ. Ta cảm động trước hình ảnh người sĩ Tây Tiến, và chợi nhớ đến hình ảnh người chiến sĩ trong một số bài thơ đương thời: Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật, Đâu còn tươi nữa những ngày qua. Người lính Tây Tiến cũng chịu đựng những cơn sốt rét ghê gớm ấy, thế nhưng, nó không làm nhụt đi ý chí của người chiến sĩ mà ngược lại họ càng chiến đấu dũng cảm hơn, kiên cường hơn, quân xanh màu lá nhưng vẫn dữ oai Cái khí phách hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến được ghi lại bằng sự so sánh cân bằng. Nếu ở khổ thơ trên, người lính chịu sự đe doạ của cọp thì họ cũng chiến đấu với tinh thần dũng cảm của một chúa sơn lâm như thế. Câu thơ sau nâng đỡ câu thơ trước vút bay lên như ánh hào quang của phẩm chất người lính Tây Tiến. Miêu tả khí thế chiến đấu hào hùng của người chiến thắng một sự so sánh như thế, Quang Dũng thực sự đã hiểu người lính và đã hòa đồng với họ. Chiến đâu dũng mãnh như thế, nhưng người lính Tây Tiến vẫn có đời sống tâm Hà Nội hết sức tinh tế: Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Người chiến sĩ ra đi từ những mái trường, chiến đấu nhưng vẫn không quên hậu phương. Phía trước là trận đánh, tình cảm thể hiện qua giấc mộng, có thực, có mơ. Dáng kiều thơm gợi nên cái dáng vẻ yêu kiều của người con gái Thủ đô chữ thơm được dùng với nghĩa như “sắc nước hương trời” vậy! Người chiến sĩ của Quang Dũng ra đi, mang theo cả phong thái hào hoa của người thanh niên trí thức, cái phong thái đã giúp người chiến sĩ sống bằng đời sống tâm ít phong phú sau mỗi trận đánh ác liệt. Cái cuộc sống tâm hồn ây là nguồn động lực giúp người lính tiếp tục chiến đâu để giành lây độc lập, tự do cho Tổ quốc thân thương. Và cũng vì thế, người chiến sĩ chấp nhận sự hi sinh: Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc ười xanh. Cứ thử làm công việc tách hai câu thơ thành từng câu một. Ôi! Cái ấn tượng bi thảm đên vô cùng mà câu thơ đầu mang đến thật mạnh mẽ. Không hiểusao, cứ mỗi lần đọc đên câu thơ này là tôi lại chìm vào trong suy tưởng và nước mắt cứ rưng rưng! Trên con đường gập ghềnh xa thẳm của miền núi rừng biên giới đoàn quân Tây Tiến cứ đi và thỉnh thoảng có những con người phải tách ra khỏi đội hình. Những nấm mộ của người chiến sĩ mọc lên. Câu thơ thật là bi thảm. Nhưng câu thơ sau như một lực nâng vô hình, đã đưa câu thơ đầu lên cao, cái thảm giờ đây đã trở thành bi tráng. Nó bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng nói được một điều cốt lõi trong nhân cách của người lính: biết hi sinh, biết gian khổ nhưng vẫn cứ ra đi giải phóng quê nhà. Họ ra đi chẳng tiếc đời xanh, bởi quãng đời tươi đẹp ấy đã hiến dâng cho một lí tưỏng cao đẹp: chiến đấu vì tổ quốc. Họ ra đi và ngã xuống thanh thản không một chút vướng bận, cái chết được xem nhẹ lựa lông hồng: Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Cách dùng từ áo bào của Quang Dũng làm cho câu thơ trở nên cổ kính, áo bào chứ không phải chiến bào; người chiến sĩ như những danh tướng thời xưa da ngựa bọc thây là một điều vinh quang. Cũng như thế, người lính coi việc hi sinh trên chiến trường là một nghĩa vụ thiêng liêng. Người chiến sĩ Tây Tiến ngã xuống và thanh thản về đất. Đất sinh ra anh và lại đón nhận anh về sau khi làm tròn nghĩa vụ. Anh về đất như một hành động tựu nghĩa của những anh hùng. Mở đầu bài thơ là hình ảnh sông Mã, kết thúc bài thơ vẫn là tiếng gầm thét của dòng sông này. Dòng sông tiễn anh ra đi chiến đấu lại đón anh về: Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. Quang Dũng khẳng định lại một lần nữa cái ý chí nhất khứ bất phục phản ra đi là không trở lại). Đó cũng là ý chí quyết tâm của cả một thế hệ, của một thời đại. Những gian khổ, hi sinh của cuộc kháng chiến là những kỉ niệm không thể quên. Sẽ không bao giờ còn có lại thời kì gian khổ đến mức ấy và cũng hào hung đến mức ấy. Và cũng khó có thể có được bài thơ Tây Tiến thứ hai.
Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng
3,722
Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến để chứng minh cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng là đặc điểm nổi bật trong bài Bài làm Bài Tây Tiến tiêu biểu cho hồn thơ ấy của Quang Dũng. Bài thơ được rút trong lập thơ Mây đầu ô, được ông viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh, sau khi ông đã chuyển sang đơn vị khác và nhớ về đoàn quân Tây Tiến ngày nào. Bài thơ thành công về nhiều phương diện, nhưng đặc sắc tổng thể của nó la cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng: Cảm hứng lãng mạn: Bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến được dệt bởi cảm hứng lãng mạn qua cái nền hùng vĩ và thơ mộng của núi rừng hoang vu, bạt ngàn ởp phía Tây của Tổ quốc. Người lính vượt qua đèo núi cao, suối sâu với tư thế đẹp, htùng dũng với nỗi nhớ “chơi vơi”, “heo hút cồn mây súng ngửi trời”, với 'Mường Lát hoa về trong đêm hơi", “mưa xa khơi". Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Bút pháp lãng mạn còn thể hiện qua âm thanh ghê rợn của “thác gầm thét”, “cọp trêu người” nhằm tô đậm vẻ hoang dại, bí hiểm của rừng thiêng nước độc, rồi đột ngột mở ra một nỗi nhớ âm áp. Thực ảo đan xen trong đêm liên hoan “bừng lên hội đuốc hoa” với cái nhìn ngơ ngác “kìa em xiêm áo tự bao giờ”. Từ cảnh liên hoan chuyển sang cảnh sông nước đầy chất thơ bằng bút pháp chấm phá tinh tế. cảnh như được phủ lên màn sương huyền thoại, da diết hồn của ngàn lau… giống như một bức cổ họa. Hùng vĩ gắn với thơ mộng là cái nhìn riêng của chất lãng mạn Quang Dũng. Qua cảnh để nói về hoài niệm, tạo nên một tình yêu bâng khuâng của tác giả đối với vùng đất một thời gắn hó sâu sắc. Tinh thần bi tráng: Trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ và diễm lệ, người lính xuất hiện với cái tầm vóc bi tráng khác thường “khônq mọc tóc”, “xanh màu lá dữ oai hùm", “mắt trừng gửi mộng qua biên giới”… Bốn câu thơ tiếp theo nói về cái chết cũng khác thường “rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất…". Hai khổ thơ lạo hình dữ dội nói lên cái tột cùng cơ cực, lẫn cái lẫm liệt kiêu hùng. Đến cái chết cũng được tác giả bao bọc trong không khí hoành tráng, hiệp sĩ… Từ Hán Việt đưực sử dụng tạo âm hưởng bi hùng. Chính nhờ cảm hửng lãng mạn đã tạo nên ở Quang Dũng cái nhìn có lính anh hùng cổ điển trước cái chết của người lính. Tác giả nhìn thẳng vào sự thật. Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên tính sử thi đặc biệt của bài thơ. Bức chân dung người lính hào hoa, dũng cảm trôn cái nền hùng vĩ, mĩ lệ được tác giả hướng hồn thơ ngưng đọng cả một thế hệ anh hùng – những người lính “quvết tử cho tổ quốc quyết sinh". Tây Tiến là bài thơ hay viết về nsười lính gốc Hà Nội thời kháng chiến chông thực dân Pháp. Bài thơ góp tiếng nói độc đáo cũng như kháng chiến viết về người lính của Hồng Nguyên, Chính Hữu, Nguyền Đình Thi… làm thành mảng riêng đặc sác trong nền thơ chung.
Phân tích bài thơ Tây Tiến để chứng minh cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng là đặc điểm nổi bật trong bài
595
Phân tích bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Đặng Trần Côn là một nhà thơ tiêu biểu sống ở khoảng nửa đầ thế kỉ XVIII, ông có nhiều sáng tác thơ văn bằng chữ Hán có giá trị, tiêu biểu nhất là tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc. Ngay từ khi tác phẩm mới được ra đời đã thu hút được rất nhiều sự yêu thích của độc giả, đến khi bản dịch nôm của Đoàn Thị Điểm thì tác phẩm này lại trở nên nổi tiếng hơn bao giờ hết. Bài thơ nói về tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ khi người chinh phu chinh chiến ở chiến trường xa xôi. Kể từ khi người chồng ra đi, người chinh phụ ngày ngày ngóng trông tin tức của chồng nhưng mọi tin tức đều bặt vô âm tín, cuộc sống đơn độc, lẻ loi của người chinh phụ hiện lên chân thực qua những câu thơ đầu tiên: “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” Những câu thơ song thất lục bát được gieo vần điệu chặt chẽ tựa như những nốt nhạc trầm buồn làm nổi bật lên cuộc sống lẻ loi, đơn độc của người chinh phụ. Nỗi lòng trông ngóng thể hiện qua những bước chân “thầm gieo từng bước” ở dưới mái hiên vắng. Không chỉ ban ngày ngóng trông mà nỗi lòng nhớ nhung còn thổn thức trong đêm khuya, nỗi lòng sầu muộn chỉ biết giữ trong lòng: Mình thiếp riêng bi thiếp mà thôi” Không không gian đêm khuya, người chhinh phụ vẫn không thể ngủ được, bầu bạn với nàng chỉ có giường đơn gối chiếc, nàng ấp ủ những tâm sự cho riêng mình, vì chẳng thể dãi bày nên nỗi sầu muộn ấy dường như càng da diết. khắc khoải hơn. Thời gian dường như cũng dài hơn theo từng nỗi nhớ thương, mong ngóng của người chinh phụ. Gặp gỡ trong quan niệm thời gian này, nhà thơ Xuân Quỳnh cũng từng viết: “ Một ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ” Vậy là trong cảm nhận của những đôi lứa yêu nhau, chỉ một phút giây xa nhau thôi cũng dài dặc tựa ngàn năm, thời gian trong cảm nhận của người chinh phụ không phải thời gian vật lí thông thường mà đó là thời gian được phản xạ qua tâm lí của người vợ nhớ thương chồng. “Ngoài rèm thước chẳng mác tin Trong rèm dường đã có đèn biết chăng” Chim thước là loại chim báo tin mừng nhưng trước sự mong đợi của người chinh phụ thì chim thước không xuất hiện, không có thêm một chút tin tức nào về người chồng. Trong sự sầu thương, vô vọng, người chinh phụ đã gửi nỗi nhớ thương của mình đến người chồng nơi chiến trường xa xôi thông qua những câu thơ: “Lòng này gửi gió đông có tiện Non Yên dù chẳng tới miền Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời” Những câu thơ trên là lời tâm tình của người vợ nhớ chồng. Chiim thước chẳng xuất hiện để mang thư đi, người chinh phụ đành gửi tâm tình theo gió. Nhưng nàng vẫn băn khoăn khoắc khoải rằng liệu gió đông có thể mang những lời tâm tình ấy đến bên chàng hay không. Một chút tin tức cũng không có nên người chinh phụ cũng không thể biết được người chồng hiện đang ở nơi nào, nỗi nhớ nhung của ngường chinh phụ được cụ thể hóa thông qua con đường thăm thẳm. “Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun” Nỗi nhớ thương của người chinh phụ khó ai có thể thấu hiểu được. Thông qua các từ láy như: thăm thẳm, đau đáu lại càng tô đậm hơn sự day dứt, mong chờ của người chinh phụ. Khi người buồn, cảnh vật dường như cũng thấm đẫm những tâm sự. Như nhà thơ Nguyễn Du cũng từng viết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ Bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ sử dụng thể thơ song thất lục bát, thể thơ này vô cùng phù hợp trong việc thể hiện, giãi bày những tâm sự, khiến cho lời tự sự như những lời nỉ non đầy da diết của người chinh phụ khi nhớ thương về người chồng nơi chiến trường xa xôi.
Phân tích bài thơ Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
761
Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích bài thơ Tôi yêu em của Puskin. Bài làm Puskin không chỉ là “Mặt trời củaa nền thi ca Nga” ở tư cách công dân mà còn là thi sĩ ca hát tình yêu. “Hầu như tình yêu, tình bạn luôn luôn là những tình cảm chi phối nhà thơ nhiều nhất và là ngọn nguồn trực tiếp nhất của hạnh phúc và đau khổcủa cả đời ông… Màu sắc chung của thơ Puskin, đặc biệt trong thơ trữ tình, là vẻ đẹp nội tâm con người và lòng nhân ái vuốt ve tâm hồn” (Biêlinxki). Cùng với Gửi 'K, Tôi yêu em là bài thơ nổi tiếng cua Puskin về tình yêu. Thời kì sống ở Pêtecbua, Puskin thường lui tới nhà vị Chủ tịch Viện hàn lâm nghệ thuật Nga để gặp gỡ những người làm nghệ thuật, và cũng vì một thiếu nữ đẹp tên là A. A. Olênhia, con gái vị chủ nhà. Mùa hè năm 1828, nhà thơ ngỏ lời cầu hôn nhưng không được nhận lời. Năm 1829, bài thơ ra đời trên cơ sở của mối tình có thực này. Thơ tình yêu của Puskin thường bắt nguồn từ những xúc cảm cụ thể, chân thực với những trải nghiệm tình cảm sâu xa. Do đó, đã thể hiện được những vẻ đẹp đa dạng, tinh tế của thế giới tâm hồn con người. Bài thơ Tôi yêu em đã gây một niềm xúc động lớn lao vì đã vươn tới những giá trị tinh thần chung của loài người: những tình cảm chân thành, cao thượng, nhân ái cùa tình yêu chứa đựng trong những lời lẽ giản dị, trong sáng nhất. Bài thơ có thế được chia thành hai phần: Bốn câu đầu, nhân vật trữ tình – tôi, khẳng định tình yêu vẫn còn nhưng xin rút lui vì không muốn gây phiền muộn cho người mình yêu. Bốn câu cuối, dồn tả các cung bậc khác nhau của tình yêu và lời khẳng định một tình yêu đằm thắm, chân thành. Điệp khúc tôi yêu em là giọng điệu chủ đạo của bài thơ Trong tiếng Nga, với hai đại từ ya và vư có thể dịch sang tiếng Việt thành một số cặp quan hệ như tôi yêu cô, anh yêu em, tôi yêu em. Đối với tiếng Việt, đại từ xưng hô chỉ đổi thay một chút là quan hệ và sắc thái tình yêu cũng đổi khác. Tôi yêu cô bộc lộ một khoảng cách xa, trang trọng, ít tình cảm, hơn nữa, từ cô trong tiếng Việt ít chỉ quan hệ tình yêu. Còn anh yêu em thì thân thiết, gần gũi quá, trong trường hợp này chưa thật phù hợp. Sử dụng tôi yêu em, bản dịch của Thúy Toàn đã diễn tả chính xác một quan hệ vừa gần vừa xa, vừa rụt rè vừa đằm thắm. Nhân vật tôi chưa thân thiết với cô gái đến mức xưng anh. Khi xưng tôi quan hệ tình yêu lại mang một sắc thái trầm tĩnh, tự tin. đúng mực, có mang ý thức về mình. Nét tinh tế trong quan hệ hai nhân vật được bộc lộ qua hai đại từ nhân xưng tôi và em này. Mở đầu bài thơ là điệp khúc khẳng định: Tôi yêu em, một lời bộc lộ chân thành xuất phát từ một trái tim trung thực, báo hiệu một tình yêu thực sự. Tôi yêu em, lời lẽ giản dị mà mang bao nỗi quyến rũ, bí ẩn muôn đời: Tôi yêu em đến nay chừng có thể Ngọn lửa tỉnh chưa hẳn đã tàn phai Lời thơ chậm rãi, tình thơ thâm trầm, kín đáo. Một sự khẳng định pha chút cân nhắc, dề dặt với những từ có thể, chưa hẳn (nguyên văn: Tinh yêu có lẽ chưa hoàn toàn lụi tắt trong tôi). Dùng một ngữ mang tính phủ định, chưa hoàn toàn lụi tắt,nhân vật trữ tình bày tỏ một tình yêu, một say mê mang dáng vẻ âm thầm, dai dẳng, dấu hiệu của những cảm xúc vững bền, của một trái tim chung thủy, không phải là sự đam mê bột phát vụt sáng lóe rồi lụi tàn ngay đấy. Mạch thơ chuyển đột ngột: Nhưng không để em bận lòng thêm nữa Hay hồn em phải gợn bóng u hoài Câu thơ toát lên cái điềm tĩnh của lí trí, cái dồn nén của cảm xúc. Điệp từ không (nguyên văn: "Mong sao nó không làm em băn khoăn thêm nữa. Tôi chẳng muốn làm em buồn vì bắt cứ lẽ gì") nhấn mạnh sự dứt khoát: cần phải dập tắt ngọn lửa tình yêu (dù chỉ là âm thầm, dai dẳng) để tránh cho em phải bận lòng, tránh cho hồn em phải gợn bóng u hoài. Lời thơ như một lời tự nhắc nhủ, một sự tự ý thức về tình yêu của mình và cũng như một lời nói bên trong đầy dịu đàng, trân trọng với hồn em. Nhưng đằng sau những lời lẽ điềm tỉnh, đúng mực ấy là bao nỗi niềm, bao sắc thái của tình yêu: có cái chua xót của thân phận vì nếu tình yêu không đem lại hạnh phúc, niềm vui mà chỉ là nỗi băn khoăn, buồn bã cho người mình yêu thì nên chấm dứt tình yêu đó; có sự chế ngự của lí trí đối với con tim: có cái cao thượng, tế nhị của tình tôi (điều quan trọng không phải là tình yêu của tôi mà là sự yên tĩnh, thanh thản của hồn em); có cái tôn thờ, sùng kính của bậc nam nhi đối với người phụ nữ. Tình yêu có thể chấm dứt vì nhiều lí do, nhưng cái lí do đầy dịu dàng, trân trọng và cao thượng ấy đối với nguời phụ nữ dễ mấy ai có được. Nếu bốn câu thơ đầu, cảm xúc có xu hướng bị dồn nén, bị lí trí chi phối thi ở bốn câu thơ sau, mạch cảm xúc lại tuôn tràn, không tuân theo mệnh lệnh của lí trí, khẳng định một tình yêu mãnh liệt không che giấu với điệp khúc tôi yêu em được nhắc lại lần thứ hai: Tôi yêu em âm thầm không hi vọng Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen Nhịp thơ nhanh hơn với những từ lúc, khi, diễn tả những trạng thái tình yêu biến đổi vô cùng, dồn dập. Nhân vật trữ tình bộc lộ thẳng thắn tâm hồn mình: một tình yêu âm thầm, không hi vọng, vừa khẳng định lại nét âm thầm (nguyên văn: Không thốt ra lời ) vừa nhấn mạnh không chút hi vọng, như tô đậm thêm nét đặc biệt của mối tình đơn phương này. Nhưng dù vậy, tình yêu ấy vẫn diễn ra với mọi sắc thái muôn thuở: Nỗi đau khổ âm thầm, niềm tuyệt vọng, sự rụt rè, lòng ghen tuông giày vò. Hai câu thơ mang tính chất thú nhận đã khơi mở những lớp tình cảm phức tạp và rất con người dưới đáy sâu tâm hồn, sau lớp vỏ ngôn từ bình thản, điềm tĩnh thể hiện qua cách xưng hô, qua vẻ ngoài lặng lẽ, rụt rẽ, qua ý thức cố ghìm nén tình cảm, chỉ cho phép nói rằng tình yêu của mình chưa li tắt chứ không phải là đang bùng cháy mãnh liệt. Nhân vật trữ tình không ngại ngần mà trung thực bày tỏ: Khi hậm hực lòng ghen, nghĩa là tôi cũng chỉ như muôn người bình thường khác, cũng bị những tình cảm khổ đau, u ám muôn thuở trong tình yêu vò xé tâm can. Tuy nhiên, có ai đã từng nói, lòng ghen tuông như con rắn độc, nó bóp nghẹt trái tim, bởi vi ghen tuông trong tình yêu dần đến mất sáng suốt, như Mêđê vì thù chồng mà giết chết con mình (Mêđê – Ơriphiđơ), như Otenlô bóp chết Dexđêmôna (Ôtemlô – Sêcxpia), như Lenxki thách Onêghin đấu súng Œpghcrihi Onêghin – Puskin), nhưHoạn Thư hành hạ Thúy Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Liệu nhân vật trữ tình trong bài thơ có bị nỗi ghen tuông ngự trị làm hạ thấp con người như vậy không? Hai câu thơ cuối cùng là câu trả lời, vụt sáng lên một giá trị nhân văn, một tư thế cao thượng của con người đáng yêu ấy Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm Cầu em được người tình như tôi đã yêu em Cảm xúc bị dồn nén được giải tỏa, tuôn trào. Điệp khúc tôi yêu em được láy lại lần thứ ba với một lời khẳng định bản chất của mối tình này: Chân thành, đằm thắm. Xin lưu ý, trong điệp ngữ tôi yêu em, ở nguyên bản tiếng Nga, động từ yêu luôn được ởthể chưa hoàn thành, điều ấy có nghĩa là ngọn lửa tình yêu trong trái tim nhà thơ sẽ không bao giờ tắt, không bao giờ lụi tàn, nhạt phai. Chính là sự chân thành, đằm thắm không bao giờ nhạt phai ấy là cái gốc của tấm lòng cao thượng trong tình yêu này. Nó lí giải vì sao nhân vật trữ tình ở đoạn trên lại có một xử sự dịu dàng, tế nhị, trân trọng người mình yêu và đến cuối bài thơ lại có một lời chúc thiêng liêng, đầy vị tha: tôi cầu mong em có được một người yêu em cũng chân thành đằm thắm như tôi. Có một điều tế nhị sâu xa trong hoàn cảnh trớ trêu này. Tình yêu khi không được đền đáp thường là nỗi khổ đau, đưa đến lòng tự ái, hận thù. Nhưng nếu đó là tình yêu của một trái tim chân thật, độ lượng, nhân hậu thì dù bị cự tuyệt, con người vẫn có thể có những xử sự cao thượng. Lời cầu mong cuối bài thơ cũng còn là lời nhắn nhủ của một trái tim giàu độ lượng, chở che như nhà thơ đã viết trong một bài thơ khác: Nhưng nếu gặp ngày buồn rầu đau đớn Em thầm thì 'hãy'gọi tên lên Và hãy tin: còn đây một kỉ niệm Em vẫn còn sống giữa một trái tim Chính thái độ trân trọng, tôn thờ, sùng kính, “sự thuần khiết" đối với phụ nữ đã đưa bài thơ của Puskin vươn tới những giá trị nhân văn cao cả trong kho tàng thơ tình nhân loại. Tôi yêu em, bài thơ đã diễn tả một tình yêu vô vọng, thấm một sắc điệu buồn, nhưng hơn hết vẫn là sự mãnh liệt và cao thượng của trái tim con người với một mối tình không đơm hoa kết trái. Ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, không có biện pháp tu từ nào ngoài điệp ngữ tôi yêu em. Chất thơ của bài thơ toát ra từ những xúc cảm chân thành, ghìm nén, từ những lời nói giản dị nhưng đầy thiết tha, tế nhị và mãnh liệt, đằm thắm mà cao thượng, như Biêlinxki từng nhận định: “Đặc điểm thơ ca Puskin là khả năng phát hiện trong con người mĩ cảm và lòng nhân ái, hiểu theo nghĩa là lòng kính trọng vô hạn đối với phẩm giá con người với tư cách là con người. Tôi yêu em là một khúc hát của trái tim, là một bài thơ tình độc đáo trong thơ ca nhân loại.
Phân tích bài thơ Tôi yêu em của Puskin
1,910
Đề bài: Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính Bài làm Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh là Nguyễn Bính Tuyết. Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, biết làm thơ từ năm 13 tuổi. Năm 1937, tập thơ Tâm hồn tôi được Tự lực văn đoàn trao giải. Năm 1945, Nguyễn Bính vào Nam Bộ. Cách mạng Tháng Tám bùng nổ rồi kháng chiến chống Pháp, ông ở lại tham gia kháng chiến Nam Bộ, phụ trách đoàn Văn hóa Cứu quốc tỉnh Rạch Giá. Sau đó, ông chuyển sang công tác ở Ban văn nghệ khu Tám, sáng tác thơ, viết truyện kí và tùy bút. Năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, tiếp tục sáng tác, là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1956, ông chủ trương tờ báo Trâm hoa. Cuối đời, ông sống ở Nam Định. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Song trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của thơ ca lãng mạn Pháp thì Nguyễn Bính về với văn hóa dân gian, gắn bó với môi trường bình dị, thân thuộc của đồng quê, qua những hàng cau, giàn trầu, rặng mồng tơi, cây đa, giếng nước, sân đình… Cùng với Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… ông đã góp một dòng thơ, phái thơ riêng – Thơ mới dân gian, làm phong phú hơn cho thơ mới. Tương tư rút tong tập thơ Lỡ bước sang ngang, tập thơ nổi tiếng và tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính trước cách mạng. “Tương tư’ có nghĩa là nhớ nhau, nhưng tâm trạng tương tư không chỉ đơn thuần là nhớ nhung. Nỗi tương tư trong bài thơ này là một phức hợp các cảm xúc khác nhau, với những diễn biến không hề xuôi chiều. Bắt đầu là sự nhớ nhung: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười thương một người Rồi đến băn khoăn hờn dỗi: Hai thôn chung lại một làng Cớ sao bên ấy không sang bên này? Đến than thở: Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng Đến hờn trách mát mẻ: Bảo rằng cách trở đò ngang Không sang là chẳng đường sang đã đành Nhưng đây cách một đầu đình Có xa xôi mấy mà tình xa xôi? Rồi nôn nao mơ tưởng: Bao giờ bến mới gặp đò Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau Đến những ước vọng xa xôi: Nhà em có một giàn giầu Nhà anh có mốt hàng cau liên phòng Tất cả diễn biến theo lối xen lồng và chuyển hóa nhau rất tự nhiên, chân thực. Trong bài thơ, chàng trai có ý trách móc cô gái: Bề ngoài, điều này là vô lí. Trong tình yêu, người chủ động đi đến phải là người con trai, đằng này lại trong vai thụ động ngồi chờ đợi mới có thể bộc bạch được tâm trạng tâm tư của một người trai quê như thế. Thứ hai, lối trách móc này không phải vì ghét, không giống như sự qui kết trách nhiệm, đỗ lỗi thông thường. Mà trách vì yêu. Do quá mong nhớ, bị nỗi nhớ mong giày vò người trong cuộc dễ tưởng mình bị hờ hững, nên sinh ra “hờn ngược, trách xuôi” thôi, không có hàm ý ghét bỏ. Nói khác đi, trách chỉ là một cách bộc bạch tình yêu. Người đời cũng gọi thế là “trách yêu”. Người xưa nói: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (Một ngày không gặp mặt dài như ba mùa thu) Để chỉ nỗi nhớ mong của những người đang yêu Trong bài thơ này, tâm trạng đang chờ đợi, nhớ mong cũng được diễn đạt bằng những hình ảnh thật sắc sảo: Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm dã thành cây lá vàng Câu lục ngắt nhịp 3/3 phá đi cái nhịp thông thường của thơ lục bát (2/2/2). Ý và lời vế sau lặp lại vế trước. Cách ngắt nhịp này khiến chữ” lại” ở đầu nhịp sau trở thành điểm nhấn của ngữ điệu. Nó gợi được dòng thời gian cứ trôi qua hết sức chậm chạp, ngày mới chỉ còn là sự lặp lại ngày cũ một cách chán ngán và vô vọng. Cả việc ngắt nhịp, lặp lại vế câu và nói nhấn giọng ở chữ “lại” khiến cho giọng thơ vang lên như một lời than thở, kể lể ngán ngẩm. Tất cả điều đó làm hiện lên hình ảnh của một người con trai với tâm trạng nóng lòng chờ trông đến mỏi mòn. Câu hát diễn tả thời gian và tâm trạng một cách thật tinh tế và ý nhị. Thời gian diễn ra ở câu trên đã chậm chạp sốt ruột, nhưng mới qua lời kể lể thôi. Đến câu này, thời gian mới hiện lên sinh động. Thời gian có màu, đúng hơn, thời gian hiện lên qua việc chuyển màu: lá xanh chuyển thành lá vàng. Ngày anh bắt đầu đợi chờ, cây hãy còn xanh, đến nay lá xanh đã ngả sang vàng cả rồi, thế mà vô vọng vẫn hoàn vô vọng. Thời gian càng chậm, tâm trạng càng nặng nề, tâm trạng càng mỏi mòn nôn nóng, thời gian càng chậm chạp lê thê. Nhưng điều tinh tế nhất là ở chữ “nhuộm". Thứ nhất, “nhuộm” diễn tả được thời gian chậm chạp. Thứ hai,” nhuộm” để ngỏ chủ thể. Ai nhuộm? Chủ thể này hàm ẩn. Không gian thời gian, cũng không hẳn là sự chuyển biến nội tại của cây lá. Tương tư đã khiến lòng người héo hon, đã nhuộm cây héo úa. Kẻ tương tư và cái cây ấy có mối tương giao thật kì lạ. Cây vừa là nhân chứng của mối tương tư, là đồng minh của kẻ tương tư, là nạn nhận của bệnh tương tư, mà tựu trung, là hiện thân của nỗi tương tư đó. Có thể xem cái kia cũng là cây tương tư được chứ sao!. Lối diễn đạt như thế thật tinh tế, ý nhị. Nỗi tương tư của chàng trai và qua đó là mối nhân duyên của đôi trai gái này càng đậm nét chân quê hơn vì nó gắn liền với khung cảnh và cây cỏ chốn quê. Trong nỗi nhớ nhung của chàng trai hiện lên những chi tiết về những địa danh, cảnh vật, cây cỏ… thuộc về chốn quê bao đời: thôn Đoài, thôn Đông, đò giang, bến đò, hoa bướm, giàn giầu, hàng cau… Những chi tiết này vừa tạo ra không gian quê kiểng cho nhân vật trữ tình bày tỏ mối tương tư, vừa là phương tiện, thậm chí, là ngôn ngữ nũa để nhân vật trữ tình diễn tả tâm trạng tương tư của mình một cách tự nhiên, kín đáo, ý nhị. Có như thế, tình và cảnh mới có thế hòa quyện vào nhau được. Trong bài thơ này, trước hết thể hiện ở cách tạo ảnh độc đáo: hình ảnh chàng trai thôn Đoài ngồi nhớ cô gái thôn Đông, đã khiến cho thi sĩ mở rộng ra và khái quát thành thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Đây không chỉ đơn thuần là cách nói vòng, mà quan trọng hơn, nó tạo ra hai nỗi nhớ song hành và chuyển hóa, gắn với hai chủ thể và hai đối tượng: người nhớ người và thôn nhớ thôn, chính vì có người nhớ người mà có thôn nhớ thôn. Nó tạo ra cho thủ pháp nhân hóa: “Thôn Đông ngồi nhớ…”. Nhưng sâu xa hơn, nó còn biểu đạt được cả môt quy luật tâm lí. Khi tương tư, thì cả không gian sinh tồn bao quanh chủ thể như cũng nhuốm mọi tương tư ấy, vì thế mà có hai miền không gian nhớ nhau. Tràn đầy cả bầu không gian tạo ra bởi hai thôn ấy là một nỗi nhớ nhung. Thứ hai, nó được thể hiện nghệ thuật sử dụng các chất liệu ngôn từ chân quê, dân gian, địa danh “thôn Đoài”, “thôn Đông” dùng thành ngữ “chín nhớ mười mong”, dùng số từ “một”, “chín”, “mười”,… cách tổ chức lời thơ độc đáo: nhà thơ đã sử dụng bút pháp tài tình để tạo ra khoảng cách, “thôn Đoài… thôn Đông”, “một người… một người”. Nhất là ở câu sau, hai đối tượng ở hai đầu xa cách, giữa họ là nhịp cầu “chín nhớ mười mong”. Lối sử dụng ngôn từ này đã gợi được phong vị chân quê và thể hiện được giọng điệu kể lể rất phù hợp với việc bộc bạch nỗi tương tư của nhân vật trữ tình. Khát vọng lứa đôi trong mối tương tư này còn được biểu hiện tinh vi bằng nhiều cặp đôi trong bài: thôn Đoài – thôn Đông, môt người – một người, gió mưa – tương tư, tôi – nàng, bên ấy – bên này, hai thôn – một làng, bến – đò. hoa khuê các – bướm giang hồ, nhà anh – nhà em, giàn giầu – hàng cau, cau thôn Đoài – giầu thôn Đông. Các cặp đôi trên xuất hiện theo trình tự từ xa đến gần, cuối cùng dừng lại ở cặp đôi giầu – cau. Điều ấy cho thấy rõ, bên dưới nỗi tương tư là niềm khát khao gần kề, khao khát chung tình, khao khát nhân duyên, tình yêu gắn với hôn nhân là một đặc điểm quan niệm tình yêu trong thơ Nguyễn Bính(cũng giống với ca dao). Điều này thêm một minh chứng để khẳng định thêm rằng chất truyền thống, chất chân quê đã thấm sầu và hồn thơ Nguyễn Bính. So sánh bài “Tương tư” của Nguyễn Bính với những Ca giao yêu thương, tình nghĩa (trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một) Những nét truyền thống về nghệ thuật: Đề tài tương tư, những hình ảnh thơ truyền thống (lá trầu xanh, trầu vàng, cau liên phòng, cách trở đò giang…) thể thơ lục bát… Những cách tân nghệ thuật: Vận dụng sáng tạo thành ngữ “cách trở đò giang” – Yêu nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội mây đèo cũng qua”, “chín nhớ mười mong”…
Phân tích bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
1,706
Phân tích bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng Thông thường, trước mỗi cuộc chia li dù là người ra đi hay kẻ ở lại thì đều có chung một tâm trạng lư luyến, không lỡ rời xa. Trong xã hội xưa, khi những phương tiện đi lại cũng như thông tin còn chưa phát triển thì những cuộc chia tay lại càng để lại trong lòng người ta những bất an, thấp thỏm. Trong bài thơ Tại Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đã vẽ ra một khung cảnh đưa tiễn đầy lưu luyến giữa tác giả Lí Bạch và người bạn Mạnh Hạo Nhiên của mình. Trong cuộc đời của mình, Lí Bạch giao tiếp rất rộng, ông cũng có rất nhiều lần tiễn đưa những người bạn đi xa, mỗi lần tiến đưa nhà thơ lại viết một bài thơ và lấy nhan đề Tống biệt. Trong tổng số 150 bài thơ tống biệt ấy, bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng được coi là bài thơ hay nhất. “ Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” Dịch: Bạn từ lầu Hoàng Hạc lên đường Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng) Ở trong hai câu thơ đầu tiên, tác giả Lí Bạch đã khắc họa lại khung cảnh đưa tiễn, và thời điểm diễn ra khung cảnh đưa tiễn ấy. Các dòng sông lớn ở Trung Quốc đều có chung một hướng chảy đó là hướng Tây- đông, ta có thể hiểu ý của câu thơ này là Mạnh Hạo Nhiên đã cùng Lí Bạch chia tay ở Lầu Hoàng Hạc và đi về phía Tây đến Dương Châu. “Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến Trường giang thiên tế lưu” Dịch: Bóng buồm đã khuất bầu không Trông theo chỉ thấy bóng sông bên trời” Nếu như trong hai câu thơ đầu, tác giả Lí Bạch chỉ đơn thuần mô tả khung cảnh đưa tiễn tại lầu Hoàng Hạc thì đến hai câu thơ sau khung cảnh lại chan chứa tình cảm của người ở lại. Có thể thấy, Lí Bạch đã ở trên lầu Hoàng Hạc trông theo bóng thuyền của Mạnh Hạo NHiên cho đến khi bóng buồm ấy khuất hẳn vào trong không gian mênh mông của đất trời. Nhà thơ đã vẽ ra một khung cảnh mênh mông của không gian nhưng đồng thời cũng chấm phá bằng những đường nét đầy tinh tế. Hình ảnh của chiếc thuyền cô đơn cho đến khi hình ảnh ấy chìm khuất vào trong không gian là cả một quá trình dõi theo đầy lưu luyến của người ở lại. Thuyền tuy đã khuất nhưng người đưa tiễn vấn đứng đó một mình đầy đơn độc trên lầu Hoàng Hạc. Hai câu thơ cuối tuy nói về người ra đi những thực chất lại biểu lộ được tâm tình của người ở lại. Về hình thức, bài thơ là bức tranh tả cảnh thuần túy nhưng thấm đượm trong những câu thơ ấy lại là tình cảm đầy dạt dào, lưu luyến của nhân vật trữ tình trong bài thơ. “Ngô ái Mạnh phu tử Phong lưu thiên hạ văn” Dịch: ( Ta yêu Mạnh Phu tử Đã nổi tiếng phong lưu khắp thiên hạ) Mối quan hệ đầy đặc biệt của Lí Bạch với Mạnh Hạo NHiên dã được thể hiện trực tiếp qua cách sử dụng từ “cố nhân” trong bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng. Đó là tình tri kỉ, tình bạn thiêng liêng, cao đẹp mà nhà thơ luôn trân trọng. Bài thơ Tại Lầu hoàng hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng đã thể hiện xúc động khung cảnh chia li giữa người đi và người ở lại,qua đó ta cũng thấy được tình bạn, tình tri kỉ đáng trân trọng giữa nhà thơ Lí Bạch và người bạn Mạnh Hạo Nhiên của mình.
Phân tích bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh  Hạo Nhiên đi Quảng Lăng
668
Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hòai) của Phạm Ngũ Lão Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hòai) của Phạm Ngũ Lão Phạm Ngũ Lão là một trong những võ tướng tài giỏi của thời Trần. Ông có nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên. Là võ tướng, nhưng ông thích đọc sách, ngâm thơ và từng được ngợi ca là người văn võ toàn tài. Sử sách không ghi nhiều về ông, nhưng qua những tác phẩm của ông, thế hệ sau có thể thấu hiểu được tâm tư và tấm lòng của một người anh hùng mang tên Phạm Ngũ Lão. Trong đó, không thể không kể đến tác phẩm “Tỏ lòng” (Thuật hoài) viết về vẻ đẹp của hình tượng người anh hùng vệ quốc hiên ngang, lẫm liệt với lí tưởng và nhân cách lớn lao; về vẻ đẹp cảu thời đại với sức mạnh và khí thế hào hùng. Bởi thế, ngay trong hai câu thơ mở đầu, ta đã bắt gặp một hình tượng rất đẹp và hùng dũng: “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu, Tam quân tì hổ khí thôn ngưu” Dịch thơ: “Múa giáo non sông trải mấy thu, Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” Trong phần dịch thơ, từ “hoành sóc” nghĩa là “múa giáo”, ý chỉ tư thế của người anh hùng đang cầm giáo gìn giữ và bảo vệ đất nước. Tuy nhiên, chỉ có từ “hoành sóc” mới có thể biểu lộ một cách rõ ràng nhất về tư thế hiên ngang, lẫm liệt – biểu hiện cho tinh thần sắt đá, anh dũng của vị anh hùng đang tràn đầy khí thế, luôn sẵn sàng xả thân vì dân vì nước. Tác giả không đề chủ ngữ là ai, nhưng người đọc vẫn hiểu những từ ngữ ấy chỉ dành cho anh hùng, cho những người đang tràn đầy khí thế chiến đấu chống lại kẻ thù. Họ không cần biết về không gian hay thời gian, bất kỳ nơi đâu trên “non sông” này đều là đất nước mình, và dù có “trải mấy thu” hay cả nghìn thu thì họ vẫn vậy, vẫn luôn một lòng một dạ chung thủy với nước nhà, luôn sẵn sàng hi sinh bất cứ khi nào để cứu lấy dân tộc mình. Và từ những người như vậy, đã tạo nên một đội quân vô cùng mạnh mẽ: (“Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”). Câu thơ trên có thể hiểu theo hai cách: cách hiểu như lời dịch và một cách khác là khí thế át sao Ngưu, nghĩa là khí thế át cả sao trời. Có lẽ, không có một từ ngữ nào có thể nói hết về chí khí hùng mạnh của quân đội nhà Trần, đến mức Phạm Ngũ Lão phải lấy cả sao Ngưu để thể hiện sức mạnh hùng dũng ấy. Tuy nhiên, quân đội mạnh mẽ là vậy, nhưng trong lòng võ tướng vẫn luôn canh cánh một nỗi niềm: “Nam nhi vị liễu công danh trái, Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”. Dịch thơ: “Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”. Đối với Phạm Ngũ Lão, một người xứng đáng là đấng nam nhi đích thực khi lập được công danh với đất nước. Lý tưởng và nhân cách cao cả của ông được tóm gọn trong câu thơ “Nam nhi vị liệu công danh trái”. Ông không cho phép bản thân mình được thấp kém hay tầm thường. Ngược lại, ông hướng mình đến với những điều lớn lao hơn, mạnh mẽ hơn. Đó là công, là danh với đất nước. Ông muốn sống cống hiến hết mình cho nhân dân. Bởi vậy, khi nhìn lại bản thân mình, và nghĩ đến Vũ hầu, Phạm Ngũ Lão đã khiêm tốn sử dụng hai từ “luống thẹn”. Vũ hầu tức Gia Cát Lượng, người thời Tam quốc, có nhiều công lao giúp Lưu Bị khôi phục nhà Hán, được phong tước Vũ Lượng hầu (thường gọi tắt là Vũ hầu). Không phải tự nhiên mà Phạm Ngũ Lão nhắc tới vị anh hùng vang danh trong lịch sử này, mà đó là lý tưởng cao đẹp, là động lực để võ tướng cố gắng vươn lên, cố gắng cống hiến nhiều hơn nữa. Qua đó, ông cũng đã để lại cho thế hệ sau một bài học sâu sắc về lý tưởng sống, sống luôn phấn đấu vươn lên, luôn hướng tới những điều tốt đẹp, luôn cố gắng hết sức mình để xây dựng và bảo vệ đất nước ngày một vững mạnh hơn. Đặc biệt, hình ảnh lẫm liệt, oai hùng của quân đội nhà Trần chính là tấm gương cho lớp lớp thanh niên noi theo. Làm một đấng nam nhi, hãy luôn kiên cường, thẳng thắn, luôn sẵn sàng hi sinh bản thân mình cho đất nước bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu. Một số bạn trẻ còn đang chơi bời, chưa chú trọng đến việc học hành, việc xây dựng tương lai, hãy ngẫm nghĩ lại, hãy bắt tay làm lại ngay từ hôm nay để không phụ công những vị tướng đã hết lòng hết sức vì dân như Phạm Ngũ Lão. Đồng thời hãy cùng nhau loại bỏ những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội để làm cho đất nước ngày một văn minh hơn, êm ấm hơn.
Phân tích bài thơ Tỏ lòng (Thuật hòai) của Phạm Ngũ Lão
899
Phân tích bài thơ Tống biệt hành của nhà thơ Thâm Tâm- Văn lớp 11. Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tống biệt hành của nhà thơ Thâm Tâm- Văn lớp 11. Bài làm Nhà thơ Thâm Tâm là một nhà văn tiêu biểu, trong nền thi ca của nước nhà. Ông là một nhà thơ mà trong mỗi tác phẩm của mình đều thể hiện sự buồn sầu trước cảnh nhân tình thế thái, thơ ông luôn phảng phất nét cổ điển đôi chút giống thơ Đường. Có đôi khi lại hiện đại giống thơ mới. Đọc thơ của Thâm Tâm người đọc luôn cảm nhận được sự suy tư, u sầu chứa ẩn bên trong là một tâm hồn yêu nước, đau buồn trước cảnh nhân tình thế thái bế tắc không tìm ra lối thoát cho cuộc sống của người dân. Bài thơ Tống Biệt Hành là một bài thơ khá là nổi tiếng, thể hiện phong cách của nhà thơ Thâm Tâm, thể hiện được những cảm hứng sáng tác sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ viết về một cuộc chia tay giữa hai người bạn tri kỷ, không phải người yêu người thân nhưng lại gắn bó sâu sắc hơn cả người thân. “Đưa người, ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm, không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong” Buổi chia tay thể hiện không khí lưu luyến, kẻ ở người đi hoàn cảnh diễn ra ở buổi chiều khi hoàng hôn vừa tắt nắng, những ánh nắng chiều chỉ còn le lói, không gian mênh mông tại một bến sông xa vắng. Thời gian, và không gian gợi lên trong lòng người sự tiếc thương vô hạn. “Đưa người ta chỉ đưa người ấy Một giã gia đình một dửng dưng” Hai câu thơ này gợi ra cho người đọc về khung cảnh của cuộc chia tay, đó không phải là một cuộc chia tay đông vui, mà chỉ là một cuộc tiễn biệt giữa hai người tri kỷ. Nó thể hiện sự ra đi lặng lẽ của người đi và sự yêu mến của người ở lại. Trong mỗi câu thơ người đọc thấy được tình cảm gắn bó của hai người bạn tri kỷ này. Thể hiện những ân tình sâu nặng của hai tâm hồn đồng điệu. “Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại Ba năm mẹ già cũng đừng mong” Người đi mong muốn mình sẽ làm nên sự nghiệp lớn. Trong lòng không muốn người ở nhà, những người thân của mình vấn vương mong đợi. Trong từng câu từng chữ của mình, người ra đi đều thể hiện quyết tâm cao độ của việc phải làm nên sự nghiệp, công danh vang dội thì mới trở về. Quyết tâm ý chí cao ngút ngàn của người ra đi khi dứt áo, bỏ lại sau lưng người mẹ già mong ngóng chờ trông người con trai của mình quay về quê nhà. Bây giờ mùa hạ sen nở nốt Một chị, hai chị cũng như sen Khuyên nốt em trai dòng lệ sót” Sự ra đi không hẹn ngày trở lại này không chỉ khiến cho tác giả cảm thấy xót xa, chua chát mà còn là sự mất mát vô cùng lớn trong lòng người đi. Nó thể hiện sự lưu luyến, với những kỷ niệm với những người con gái ở quê nhà. Hình ảnh mùa hoa sen tươi đẹp với những cô gái thật thà, chân thành khiến người ra đi cảm thấy xuyến xao. “Ta biết người buồn sáng hôm nay Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc Gói tròn thương tiếc, chiếc khăn tay” Ngoài mặt người đi tỏ thái độ quyết tâm dửng dưng khi ra đi làm việc lớn. nhưng thực sâu trong đáy lòng người ra đi rất quan tâm tới những người ở lại quê nhà. Thương nhớ những kỷ niệm gắn bó với tuổi thơ của mình Giờ phút chia tay hình ảnh những người mẹ, người chị, những em nhỏ ngây thơ khiến cho người ra đi không khỏi lưu luyến bước chân của người đi như nặng tựa ngàn cân. Nhưng một ý chí lớn quyết làm thì không thể nào nao núng, hay lùi bước ra đi. “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực! Mẹ thà coi như chiếc lá bay Chị thà coi như hạt bụi Em thà coi như hơi rượu say” Trong những câu thơ này thể hiện quyết tâm của người ra đi. Một khi chưa hoàn thành đại sự, chưa hoàn thành mục đích của cuộc đời thì người ra đi sẽ không quay trở về. Mọi sự vương vấn, núi kéo, những giọt nước mắt biệt ly được người ra đi hóa thành sức mạnh để quên đi. Bài thơ Tống biệt hành của nhà thơ Thâm Tâm nói lên cuộc chia ly vô cùng xúc động, nhiều tình cảm lưu luyến giữa kẻ ở người đi. Người ra đi mang theo chí lớn mong muốn tạo dựng sự nghiệp của riêng mình nên quyết tâm dứt khoát, không vương vấn, thể hiện ý chí làm trai của người đàn ông sống trong cuộc đời này.
Phân tích bài thơ Tống biệt hành của nhà thơ Thâm Tâm- Văn lớp 11.
862
Đề bài: Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm Dàn ý I. Mở bài. – Tác giả. Thâm Tâm (1917-1950) là bút danh của Nguyễn Tuấn Trình, quê tại Hải Dương. Sống và viết văn tại Hà Nội. Giá trị nhất của Thâm Tâm là thơ. Tên tuổi Thâm Tâm gắn liền với bài "Tống biệt hành". Có nhà phê bình thơ đã xếp “Tống biệt hành" là một trong mười bài thơ hay nhất của "Thơ mới" Việt Nam (1932-1941). Giọng thơ cứng cáp, phảng phất hơi thơ cổ, tuy vẫn đượm chút "bâng khuâng khó hiểu của thời đại" (Hoài Thanh). Kháng chiến bùng nổ. Thâm Tâm làm công tác văn nghệ trong quân đội, ốm chết năm 1950. "Mưa đường số 5" là bài thơ hay nhất của ông viết trong kháng chiến chống Pháp. – Xuất xứ, chủ đề. Thâm Tâm viết "Tống biệt hành" vào năm 1940. Bài thơ thể hiện niềm mến yêu, sự ngưỡng mộ và trân trọng đối với người lên đường đi xa vì nghĩa lớn. II. Thân bài – Nhan đề bài thơ: "Tống biệt hành" là bài hành đưa tiễn người đi xa. Cảnh đưa tiễn diễn ra vào một buổi chiều, không hề có bến đò, dòng sông, không diễn ra trong khoảnh khắc hoàng hôn mà vẫn buồn. Câu 2 và câu 4 là câu hỏi tu từ, người đưa tiễn tự hỏi. Nhiều băn khoăn, ngạc nhiên. Lấy ngoại cảnh (sông, hoàng hôn) để diễn tả tâm cảnh xao xuyến, những rung động buồn, lo… đang dâng lên trong lòng. Có câu thơ toàn thanh bằng gợi tả nỗi niềm mênh mang. Các từ ngữ hô ứng cũng tạo nên âm điệu buồn thương khó tả: "Đưa người… không đưa…", "sao có…", "không thắm, không vàng vọt… sao đầy…". Hay ở cách nói biểu cảm tinh tế, hay ở giọng điệu, cấu trúc song hành câu thơ: "Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng Bóng chiều không thắm, không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?". – Hình ảnh li khách. Ôm chí lớn với quyết tâm lên đường. Li khách: khách ra đi; người đi xa. Cách gọi trang trọng, cảm phục. Điệp lại hai lần "Li khách!", cảm thán kết hợp với câu hỏi tu từ, nhịp thơ 2-2-3 vang lên âm điệu trầm hùng của một hành khúc, một tráng ca: "Li khách!/ Li khách!/con đường nhỏ/ Chí nhớn chưa về bàn tay không, Thì không bao giờ nói trở lại! Ba năm mẹ già cũng đừng mong". Các từ phủ định: "Chưa về", "không bao giờ", "đừng mong" thể hiện một ý chí sắt đá, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi, về phương diện tình cảm, li khách là một đứa con, một đứa em, một người anh. Có mẹ già, có hai chị như sen mùa hạ (đẹp) "Khuyên nốt em trai dòng lệ sót”. "Có em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc – Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay". Rất nhân tình, rất người nên li khách vẫn mang một nỗi buồn riêng khó giấu kín: "Ta biết người buồn chiều hôm trước,… " "Ta biết người buồn sáng hôm nay… " Ví "Một chị, hai chị cũng như sen" đã là nay. Hình ảnh em nhỏ "ngây thơ đôi mắt biếc – Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay" kết hợp với ba vần thơ (vần lưng): "biếc – tiếc – chiếc" lại càng hay, gợi tả nhiều vương vấn trong lòng kẻ ở lại và người ra đi. Bốn câu cuối có nhiều cách hiểu khác nhau. Cách diễn tả trùng điệp. Giây phút li khách lên đường đã diễn ra. Vượt lên trên thói nữ nhi thường tình, li khách đã ra đi vì một nghĩa lớn, một chí lớn, đặt nghĩa lớn trên mọi tình cảm gia đình. Vần thơ đầy ấn tượng, dư ba: "Người đi? ừ nhỉ người đi thực! Mẹ thà coi như chiếc lá bay Chị thà coi như là hạt bụi Em thì coi như như rượu say". Giây phút giã biệt tuy buồn, điều đó càng làm nổi bật lí tưởng và quyết tâm lên đường "Một giã gia đình, một dửng dưng” của li khách. III- Kết luận. Sử dụng tài tình một điển cố để ca ngợi li khách ôm chí lớn lên đường. Năm 1940 ở nước ta, hình ảnh li khách trong bài thơ đầy ngưỡng mộ. Đẹp như một tráng sĩ với thanh gươm nghìn cân lên đường. "Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ gân guốc rắn rỏi". "Tống biệt hành" như một hành khúc giục giã lên đường. Mọi cuộc lên đường vì nghĩa lớn xưa và nay đều đẹp và đều được ngưỡng mộ.
Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm
775
Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh ngữ văn 8 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh ngữ văn 8 Sau 30 năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, đầu năm 1941, chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật về tới Pác Bó, Cao Bằng. Giây phút thiêng liêng và cảm động ấy đã được nhà thơ Tố Hữu ghi lại: Ôi sáng xuân nay, xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về…. Im lặng. Con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ… (Theo chân Bác) Từ đó hang Pác Bó đã trở thành nơi sống và hoạt động bí mật của Người. Bài thơ Tức cảnh Pác Bó được Bác Hồ viết vào tháng 2 năm 1941 theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật: Sáng ra bờ suối, tối vào hang, Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng, Cuộc đời cách mạng thật là sang! Bài thơ phản ánh hoạt động phong phú, sôi nổi, phong thái ung dung tự tại và tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sĩ vĩ đại trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ. Câu thơ mở đầu gợi lên cuộc sống hoạt động bí mật của nhà thơ vào những ngày đầu mới về nước. Hai vế tiểu đối đầy ấn tượng: Sáng ra bờ suối / / tối vào hang. Câu thơ có thời gian, không gian và hành động. Thời gian là sáng và tối; không gian là suối và hang; hoạt động là ra và vào. Một hoạt động đã trở thành nề nếp, từ sáng đến tối, từ suối đến hang, ra đến vào. Khi cách mạng còn trứng nước, hoạt động chính trị gây dựng phong trào là chính, còn bí mật và nhiều khó khăn, người chiến sĩ vĩ đại của dân tộc đã sống và làm việc: Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Quy luật vận động ấy thể hiện một tinh thần làm chủ hoàn cảnh rất chủ động và lạc quan. Khách đến thì mời ngô nếp nướng, Săn về thường chén thịt rừng quay. Non xanh nước biếc tha hồ dạo, Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say… Vẫn sẵn sàng, tha hồ dạo, mặc sức say,… là những cách nói hóm hỉnh và yêu đời. Cách hiểu thứ hai: Mặc dù thiếu thốn khó khăn, phải ăn cháo bẹ rau măng, nhưng tinh thần cách mạng vẫn hăng say, vẫn nhiệt tình. Gian khổ biết bao, nhưng với tinh thần vẫn săn sàng, Người vẫn bền bỉ sáng niềm tin nhóm lửa: Ai hay ngọn lửa trong hang núi Mà sáng muôn lòng, vạn kiếp sau!. (Theo chân Bác) Khác với người xưa công thành, thân thoái, mai danh ẩn tích ở chốn núi rừng, Hồ Chí Minh đã sống và chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp. Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng. Đất nước cần, Bác viết Đường cách mệnh. Phong trào và cán bộ cần, Người dịch sử Đảng. Hình ảnh bàn đá chông chênh không chỉ nói lên khó khăn thiếu thốn chồng chất mà con biểu lộ tinh thần phấn đấu hi sinh vì sự thắng lợi của cách mạng. Cuộc đời cách mạng thật là sang! Sang nghĩa là sang trọng, cao sang. Một cách nói, một lối sống, một quan niêm nhân sinh và ứng xử tuyệt đẹp. Vượt lên trên gian khổ, khắc nghiệt là sang. Chỉ có cháo bẹ rau măng, chỉ có bàn đá chông chênh mà vẫn sang. Sang vì lạc quan tin tưởng về con đường cách mạng đánh Nhật đuổi Tây nhất định thắng lợi. Sang vì lí tưởng, vì đời sống tâm hồn phong phú, vì ung dung tự tại. Nhà thơ Tố Hữu đã có vần thơ rất hay nói về cái sang của Bác Hồ kính yêu: Mong manh áo vải hồn muôn trượng, Hơn tượng đồng phơi những lối mòn. (Bác ơi) Tức cảnh Pác Bó là một bài thơ hồn nhiên, giản dị mà sâu sắc, đẹp. Thơ là tâm hồn, là cuộc đời, là cách ứng xử của Bác Hồ. Bài tứ tuyệt viết về Pác Bó đã vượt qua một hành trình 60 năm. Nó như một chứng tích lịch sử về những ngày tháng gian khổ của cách mạng Việt Nam và của lãnh tụ nơi suối lạnh hang sâu đầu nguồn. Nó gợi lên trong lòng mỗi chúng ta bài học về tinh thân lạc quan yêu đời, biết sống và hướng về một lí tưởng cao đẹp.
Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh ngữ văn 8
745
Đề bài: Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó Bài làm Bác Hồ về nước tháng 2/1941, sau 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước. Khi đó, tình hình thế giới và trong nước có những biến động vô cùng to lớn (đại thế chiến thứ hai, Pháp lại khủng bố cách mạng dã man, Nhật vào Đông Dương; ở châu Âu, Pháp đầu hàng phát xít Đức..), Bác đã triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, vạch đường lối cách mạng trong tình hình mới, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh (Việt Nam độc lập đồng minh) đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân đánh Pháp đuổi Nhật, tranh thủ thời cơ giành độc lập cho Tổ quốc. Bác sống ở hang Pác Bó (đúng tên là Cấn Bó, nghĩa là đầu nguồn), trong điều kiện sinh hoạt hết sức gian khổ. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kể lại: “Nơi ở đầu tiên của Bác tại Pác Bó tuy ẩm lạnh nhưng vẩn là nơi ở tốt nhất. Địa điểm thứ hai là một hốc núi nhỏ ở rất cao và rất sâu trong rừng, bên ngoài chỉ rất ít cành lau. Những khi trời mưa to, rắn rết chui cả vào chỗ nằm. Có buổi sáng, Bác thức dậy thấy một con rắn rất lớn nằm khoanh tròn ngay cạnh Người (…) Sức khoẻ của Bác có phần giảm sút. Bác sốt rét luôn. Thuốc men gần như không có gì ngoài ít lá rừng lấy về sắc uống theo cách chữa bệnh của đồng bào địa phương. Thức ăn cũng rất thiếu (…) Có thời gian, cơ quan chuyển vào vùng núi đá trên khu đồng bào Mán trắng, gạo cũng không có, Bác cũng như các anh em khác phải ăn toàn cháo bẹ hàng tháng ròng. Ở bất cứ hoàn cảnh nào, tôi cũng thấy Bác thích nghi một cách rất\ tự nhiên. Chẳng hiểu Bác được rèn luyện từ bao giờ, như thế nào mà mọi biến cố đều không mảy may lay chuyển được…” Mặc dù sống trong điều kiện gian khổ, hiểm nghèo như vậy nhưng Bác Hồ rất vui. Bác rất vui vì sau bao năm xa nước nay được sống và trực tiếp lãnh đạo phong trào trong nước. Đặc biệt, vì với nhân quan chính trị sắc bén. Người biết rằng thời cơ giành độc lập hoàn toàn đang tới, dù cục diện trước mắt còn tất đen tối. “Đối với Nguyễn Ái Quốc và các bạn chiến đấu của Người những ngày tháng ở Pác Bó tựa như những ngày vui bất tận, rực rỡ sắc màu của cảnh chờ đợi những chuyển biến vĩ đại (…) chưa bao giờ Nguyễn Ái Quốc làm việc nhiệt tình như vậy, Người như trẻ ra đến hai, ba chục tuổi. Bài thơ với bốn câu, có giọng đùa vui hóm hỉnh, đã toát lên một cảm giác vui thích, thoải mái. Phân tích bài thơ chính là phân tích tìm hiểu niềm vui thoải mái đó, vì đằng sau niềm vui đó là vẻ đẹp của một tâm hồn bình dị mà thanh cao, hồn nhiên mà đầy bản lĩnh của Bác Hồ. Câu mở đầu bài thơ có giọng điệu phơi phới, thoải mái, đọc lên, ta có cảm tưởng Bác Hồ sống thật ung dung hoà hợp nhịp nhàng với điệu sông núi rừng: Sáng ra bờ suối, tối vào hang. Câu thơ ngắt nhịp ở giữa, tạo thành hai vế sóng đôi toát lên cảm giác nhịp nhàng, nề nếp: sáng ra, tối vào… Câu thứ hai là một nét cười đùa, cho biết thức ăn của con người sống ở suối, hang ấy thậl đầy đủ, đầy đủ tới dư thừa: Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Câu thơ này, có thể hiểu là: dù chỉ có cháo bẹ, rau măng nhưng tinh thần cách mạng vẫn san sàng. Cách hiểu ấy không sai về mặt ngữ pháp, nhưng e không thích hợp lắm với giọng đùa vui thoải mái của cả bài thơ. Có lẽ nên hiểu là: thức ăn (cháo bẹ, rau măng) thì lúc nào cũng có sẵn đó. Câu thứ nhất nói về ở, câu thứ hai nói về ăn, câu thứ ba nói về làm việc, cả ba câu đều là thuật tả sinh hoạt vật chất, chỉ đến câu kết mới phát biểu cảm xúc, ý nghĩ. Hiểu như vậy, sẽ phù hợp với mạch thơ, với kết câu chặt chẽ của bài thơ hơn. Ở đây ta chú ý cách gieo vần bằng (âm ang), gợi cảm giác mở ra và vang xa, đồng thời tạo nên cái thế vững vàng và cảm giác khoáng đạt của bài thơ. Câu thứ ba vần trắc làm nổi bật lên hình tượng ở trung tâm bài thơ, được đặc tả bằng những nét bút đậm, khoẻ, sinh động: Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng. Hai chữ “chông chênh” là lừ láy duy nhất của bài thơ, rất tạo hình; ba chữ “dịch sử Đảng” toàn vần trắc, thật khoẻ, gân guốc như cân lại ba câu Vần bằng vang xa. Đó là hình tượng nhân vật trữ tình được đặt ở trung tâm bài thơ; như vậy con người là chủ thể của thiên nhiên chứ không bị lấn át, hoà lan trong thiên nhiên. Và thật là thú vị, vị “khách lâm tuyền” sống hoà hợp nhịp nhàng với suối, với hang kia, chính là người chiến sĩ cách mạng vĩ đại, đang tựa vào thiên nhiên để hoạt động cải tạo xã hội. Đằng sau cái dáng tạo hình cụ thể của Bác đang ngồi dịch sử Đảng toát lên tư thế lồng lộng của vị lãnh tụ dân tộc, nhà cách mạng vĩ đại – một hình tượng thật đẹp. Bác Hồ đang sáng tạo ra lịch sử nơi “đầu nguồn” – trên cái bối cảnh thiên nhiên, có suối, có rừng… Cảnh tượng ấy, cuộc sống ấy quả thật là đẹp “thật là sang”! Bài thơ kết thúc bằng chừ “sang”, có thể gọi là chữ nhãn tự (chữ mất) đã kết tinh, bật sáng tinh thần toàn bài. Thơ Bác Hồ vừa rất mực giản dị, song lại rất hàm súc, gợi lên bao ý nghĩa sâu xa; vừa đậm đà màu sắc cổ điển, vừa thể hiện đầy đủ tinh thần thời đại. Bài Tức cảnh Pác Bó là điển hình của hồn thơ, phong cách thơ đó.
Phân tích bài thơ Tức cảnh Pác Bó
1,082
Phân tích bài thơ Tức cảnh Pắc Pó – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Sau 30 năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, đầu năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật về Pắc Bó (Cao Bằng). Giây phút thiêng liêng và cảm động ấy đã được nhà thơ Tố Hữu ghi lại: “Ôi sáng Xuân nay, Xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về… im lặng. Con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…” (Theo chân Bác) Hang Pắc Bó đã trở thành nơi sống và hoạt động bí mật của Người. Bài thơ “Tức cảnh Pắc Bó” được Bác Hồ viết vào tháng 2 năm 1941 theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng Cuộc đời cách mạng thật là sang!”. Bài thơ phản ánh hoạt động phong phú, sôi nổi, phong thái ung dung tự tại và tinh thần lạc quan cách mạng của người chiến sĩ vĩ đại trong hoàn cảnh bí mật đầy khó khăn, gian khổ. Câu thơ mở đầu gợi lên cuộc sống hoạt động bí mật của nhà thơ vào những ngày đầu mới về nước đang “nhóm lửa”. Hai vế tiểu đối đầy ấn tượng. “Sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Câu thơ có thời gian, không gian và hành động. Thời gian là “sáng” và “tối”; không gian là “suối” và “hang”; hoạt động là “ra” và “vào”. Mọi hoạt động đã trở thành nền nếp, từ sáng đến tối, từ suối đến hang, từ ra đến vào, khi cách mạng còn trứng nước, hoạt động chính trị gây dựng phong trào là chính, còn bí mật và nhiều khó khăn. Người chiến sĩ vĩ đại của dân tộc đã sống và làm việc tại Pắc Bó: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang”. Quy luật vận động ấy thể hiện một tinh thần làm chủ hoàn cảnh rất chủ động và lạc quan. “Khách đến thì mời ngô nếp nướng Săn về thì chén thịt rừng quay Non xanh nước biếc tha hồ dạo Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say…”. “vẫn sẵn sàng”, “tha hồ dạo”, “mặc sức say”… là những cách nói “sang trọng” mà hộm hỉnh và yêu đời. Cách hiểu thứ hai: Mặc dù thiếu thôn khó khăn, phải ăn cháo bẹ rau măng, nhưng tinh thần cách mạng vẫn hăng say, vẫn nhiệt tình. Gian khổ biết bao, nhưng với tinh thần “vẫn sẵn sàng, Người vẫn bền bỉ sáng niềm tin “nhóm lửa”. “Ai hay ngọn lửa trong hang núi Mà sáng muôn lòng, vạn kiếp sau!”. (Theo chân Bác) Khác với người xưa, “công thành, thân thoái”, mai danh ẩn tích ở chốn lâm tuyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp. “Bàn đá chông chênh lịch sử Đảng”. Đất nước cần, Bác viết “Đường cách mệnh”. Phong trào và cán bộ cần, Người “Dịch sử Đảng”. Hình ảnh “bàn đá chông chênh” không chỉ nói lên khó khăn thiếu thốn chồng chất mà còn biểu lộ tinh thần phấn đấu hi sinh vì sự thắng lợi của cách mạng. “Cuộc đời cách mạng thật là sang!”. “Sang” nghĩa là sang trọng, cao sang. Một cách nói, một lốì sống, một quan niệm nhân sinh và ứng xử tuyệt đẹp. Vượt lên trên gian khổ, khắc nghiệt là “sang”. Chỉ có “cháo bẹ rau măng”, chỉ có “bàn đá chông chênh” mà vẫn “sang”. Sang vì lạc quan tin tưởng về con đường cách mạng đánh đuổi Nhật, đuổi Tây nhất định thắng lợi. Sang vì lí tưởng, vì đời sống tâm hồn phong phú, vì ung dung tự tại. Nhà thơ Tố Hữu đã có vần thơ rất hay nói về cái sang của Bác Hồ kính yêu: “Mong manh áo vải hồn muôn trượng Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”. (Bác ơi) “Tức cảnh Pắc Bó” là một bài thơ hồn nhiên, giản dị mà sâu sắc, đẹp. Thơ là hồn, là cuộc đời, là cách ứng xử của Bác Hồ. Bài tứ tuyệt viết về Pắc Bó đã vượt qua một hành trình 60 năm. Nó như một chứng tích lịch sử về những ngày tháng gian khổ của cách mạng Việt Nam và của lãnh tụ nơi suối lạnh hang sâu đầu nguồn. Nó gợi lên trong lòng mỗi chúng ta bài học về tinh thần lạc quan yêu đời, biết sống và hướng về một lí tưởng cao đẹp. Tags:Văn 8
Phân tích bài thơ Tức cảnh Pắc Pó – Đề và văn mẫu 8
742
Đề bài: Phân tích bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu Bài làm Tập thơ Từ ấy (1937 – 1946) là chặng đường thơ đầu tiên trong đời thơ Tố Hữu. Đây là tiếng ca vui tươi, trong trẻo, hân hoan, nồng nhiệt của một tâm hồn trẻ khao khát lẽ sống đã bắt gặp ánh sáng lí tưỏng, đồng thời tập thơ cũng giàu chất lãng mạn, trong trẻo, sôi nổi trẻ trung của một cái tôi trừ tình, mới mẻ cách mạng. Bài thơ là cái mốc đánh dấu thời điểm (1937) và ông được kết nạp Đảng năm 1938 – Tố Hữu giác ngộ và gặp ánh sáng lí tưởng cộng sản. Đó cũng chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Tố Hữu. Tự nhận định về Từ ấy, nhà thơ viết:Từ ấy là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh. Xuyên suốt bài thơ là niềm say mê mãnh liệt và vui sướng tràn trề cùng với nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn khi gặp gỡ và được giác ngộ lí tưởng cộng sản. Mở đầu bài thơ ông đã diễn tả niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng của Đảng. Hai câu đầu viết theo bút pháp tự sự: Từ ấy trong tói….Rất đậm hương và rộn tiếng chim. Từ ấy. là lúc nhà thơ mới vào tuổi 18 thật trẻ trung được mặt trời chân lí cách mạng soi sáng đường đời. Hình ảnh ẩn dụ nắng hạ cho nguồn nhiệt lượng cách mạng làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ mặt trời chân lí là một liên kết đầy sáng tạo giữa hình ảnh và ngữ nghĩa. Câu thơ ca ngợi ánh sáng diệu kì của cách mạng. Đó là thứ ánh sáng của tư tường cộng sản – ánh sáng của những công bình xã hội, của chân lí xã hội. Hai cảu thơ sau của khổ thơ đầu, chợt vụt thoát bay bổng, dạt dào cảm hứng lãng mạn. Những vang động và vui tươi tràn ngập trong tâm hồn được so sánh bàng những hình ảnh và âm thanh lấy từ thiên nhiên tạo vật: vườn hoa lá, đậm hương, rộn tiếng chim.Đón nhận ánh sáng cách mạng là Tố Hữu đã đón nhận một con đường thênh thang tươi sáng cho cuộc đời, cho hồn thơ: một cuộc dời có ý nghĩa thiêng liêng, to lớn, một hồn thơ bát ngát tình yêu cách mạng, yêu đồng bào. Tiếp nối mạch cảm xúc toàn bài thơ,khổ thơ thứ hai biểu hiện những nhận thức về lẽ sống. Hai dòng thơ mở đầu khổ hai: nhà thơ khẳng định quan niệm mới mẻ về lẽ sống là sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân với cái ta chung của mọi người. Động từ buộc là một động từ mạnh thể hiện ý thức tự nguyện sáu sắc và quyết, tâm sắt đá của Tô Hữu dể vượt qua ranh giới của cái tôi để chan hòa mọi người Tôi buộc lòng tôi với mọi người. Từ đó, tâm hồn nhà thơ vươn đến trăm nơi (hoán dụ) và trang trải sẻ chia bằng những đồng cảm sáu sắc, chân thành và tự nguyện đến với những con người cụ thể. Hai dòng thơ sau bộc lộ tình yêu thương của người bằng tình yêu giai cấp rõ ràng. Nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khố Để hổn tôi với bao hồn khổ và từ đó như một biện chứng mang cái tất yếu là sức mạnh tổng hợp Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời. Ta cũng gặp điều đó trong thơ Nguyễn Khoa Điềm – nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ xâm lược: khi chúng ta cầm tay mọi người – Đất nước vẹn tròn, to lớn. Tóm lại, Tố Hữu đã khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và đời sống, mà chủ yếu là cuộc sống của quần chúng nhân dân. Khép lại bài thơ ở khổ cuối là: Sự chuyên biến sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ. Trước khi gặp cách mạng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Khi ánh sáng cách mạng như Mặt trời chân lí chói qua tim, đã giúp nhà thơ vượt qua những tầm thường ích kĩ trong đời sống tâm hồn chật hẹp đế vươn đến một tình yêu vẹn tròn to lớn.Nhà thơ tự nhận mình là con của vạn nhà trong nghĩa đồng bào thiêng liêng nhất, là em của vạn kiếp phôi pha gần gũi bằng tình cảm xót thương những kiếp đời lao khổ, bất hạnh, những kiếp sống mòn mỏi, đáng thươnglàanh của vạn đầu em nhỏ,cù bât cù bơ. Từ những cảm nhận ấy đã giúp nhà thơ say mê hoạt động cách mạng với những thiết tha cao đẹp cống hiến đời mình góp phần giải phóng đất nước, giải phóng những kiếp lầm than trong xã hội tốm tối dưới bóng thù xâm. Tóm lại hồn thơ Tố Hữu chứa chan tình yêu giai cấp và niềm biết ơn sâu sắc cách mạng. Thơ Tố Hữu rõ ràng là thơ trữ tình – chính luận, hướng người đọc đến chân trời tươi sáng. Tiếng nói trong thơ là tiếng nói của một nhà thơ vô sản chân chính. Giọng thơ chân thành, sôi nổi, nềng nàn. Hình ảnh thơ tươi sáng, ngôn ngữ giàu tính dân tộc.
Phân tích bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu
932
Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu để thấy tâm trạng của một thanh niên say mê lí tưởng Hướng dẫn Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu để thấy tâm trạng của một thanh niên say mê lí tưởng Bài làm Huế cái nôi của làng điệu dân ca một mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và cách mạng. Khi nhắc đến Huế người ta sẽ nghĩ đến những người con gái dịu dàng thướt tha trong tà áo tím, nhớ đến dòng sông Hương thơ mộng. Đặc biệt hơn nữa người ta sẽ nhớ đến nhà thơ Tố Hữu – người con của đất Huế. Tố Hữu sinh ra đã thiệt thòi, thiếu thốn về tình cảm, cha thương hay đi xa, mẹ thì mất sớm. Vì vậy mà hồn thơ Tố Hữu luôn có khát khao cháy bỏng. Khát khao say mệ lí tưởng được thể hiện rõ nhất bài thơ Từ ấy. Trong nền văn học nước nhà, Tố Hữu được coi là lá cờ đầu trong nền thơ ca cách mạng. Thơ của ông gắn với cuộc sống cách mạng và chính trị thời sự, đất nước. Từ ấy là bài thơ thể hiện: niềm vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của người thanh niên yêu nước. Hai câu thơ mở đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình: Niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim “Từ ấy” là câu nói để đánh dấu mốc thời gian quan trọng trong cuộc đời cách mạng của Tố Hữu.Khi đó nhà thơ mới 18 tuổi, được giác ngộ lí tưởng cộng sản, được kết nạp vào Đảng. “Bừng nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim”, những hình ảnh ẩn dụ có ý nghĩa tượng trưng cho lí tưởng của đảng. Lí tưởng của đảng là chân chính, là ánh sáng nó sẽ quét sạch mây mù đen tối, đưa dân tộc đến ngày mai tươi sáng. Hình ảnh “nắng hạ” là hình ảnh của nắng hè rực rỡ, ấm áp hay là hình ảnh ẩn dụ chỉ lý tưởng Cộng Sản giống như nắng hạ rực rỡ, ấm áp, đột ngột, bất ngờ bừng sáng trong tâm hồn của nhà thơ. Mặt trời chân lý” chính là hình ảnh ẩn dụ chỉ lý tưởng Cộng Sản là một ánh sáng rực rỡ, vĩ đại, diệu kỳ, là chân lý của sự đúng đắn. “Chói qua tim” chỉ cái tính chất cũng đột ngột soi rõ, chói sáng tâm hồn nhà thơ và “tim” cũng là hình ảnh thể hiện tình cảm, tâm hồn. Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao cái tôi cá nhân chủ nghĩa. Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống và sự gắn bó hài hòa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người. Với động từ buộc, câu một là một cách nói quá thế hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người. Với từ trang trải ở câu 2, có thể liên tưởng tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể. “Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”. Nhà thơ nguyện buộc lòng của mình với lòng của nhân dân để tình yêu con người, tình yêu đất nước được lan tỏa muôn nơi. Hai chữ “buộc” và “trang trải” tình cảm với mọi người với trăm nơi đã thể hiện cái nhận thức khá toàn diện về một quan niệm sống mới, tức là một nhân sinh quan mới. Như vậy quan niệm về gắn bó và chia sẻ tình cảm của Tố Hữu có địa chỉ cụ thể và có mục đích cụ thể. Khổ thơ thứ hai nhà thơ đã phản ánh kết quả của lý tưởng Đảng được soi chiếu vào tâm hồn nhà thơ ở khổ thơ thứ nhất. Đó là sự hình thành một nhân sinh quan mới, đó là quan niệm sống vì mọi người vì cách mạng. Sau khi diễn tả quá trình tiếp nhận ánh sáng Đảng, sự thay đổi nhận thức cuộc sống, nhà thơ đi đến nêu lên trách nhiệm của mình đối với cuộc đời đối với cách mạng ở khổ thơ cuối cùng. Ông đã là con của vạn nhà, là em của vạn kiếp phôi pha, là anh cảu vạn đầu em nhỏ không áo cơm cù bất cùa bơ. Ông đã tự nhận mình mình là người thân của tất cả mọi người trong đất nước, là người thân cùng sẻ chia của hàng vạn số phận. Nhà thơ nêu lên trách nhiệm của mình nhưng không phải chung chung mà rất cụ thể, rất đúng với vai trò của người thanh niên trong thời điểm thời bấy giờ. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu để thấy tâm trạng của một thanh niên say mê lí tưởng
896
Đề bài: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu Bài làm Tố Hữu là nhà thơ lớn trong thời đại chúng ta. Với ông, con đường cách mạng cũng là con đường thơ. Năm 1938, mới 18 tuổi, nhà thơ được vinh dự trở thành người chiến sĩ cộng sản của Đảng. Bài thơ "Từ ấy" vang lên như một tiếng reo vui thể hiện niềm vui sướng tự hào của một thanh niên học sinh yêu nước bắt gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin. Bài thơ đước viết theo thể thơ thất ngôn ca ngợi lí tưởng cách mạng và mang tên tình yêu giai cấp của người chiến sĩ trẻ. Khổ thơ mở đầu cất lên như một lời hát say mê, nồng nàn, vần thơ tràn ngập ánh sáng: "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim". "Từ ấy”, là từ thuở ấy (9-1938), nhà thơ vui sướng, hân hoan chào đón "Mặt trời chân lí chói qua tim". Giữa những năm tháng nô lệ, lầm than, tủi nhục, người chiến sĩ trẻ cảm thấy được hồi sinh "bừng nắng hạ". "Mặt trời chân lí" là hình ảnh ẩn dụ rất sáng tạo nói về ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lenin. Lí tưởng cách mạng, lí tưởng cộng sản chủ nghĩa soi sáng nhận thức, mở mang tâm hồn trí tuệ, làm cho cuộc đời đầy sắc màu ý nghĩa. Lòng "tôi" và con đường cách mạng "bừng nắng hạ" chói chang, ấm áp. Trái tim "tôi" có "Mặt trời chân lí chói qua…". Ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin soi rọi vào tâm hồn. Dưới ánh sáng lí tưởng, tâm hồn “ đẹp biết bao, dào dạt sức sống như một vườn xuân rực rỡ trong muôn sắc màu "hoa lá", ngào ngạt "đậm hương” và "rộn tiếng chim" hót ca. Ngoài nghệ thuật sáng tạo hình ảnh ẩn dụ, so sánh, Tố Hữu đã chọn lọc một số từ có giá trị gợi tả và biểu cảm đặc sắc (bừng, chói, đậm, rộn) để ca ngợi lí tưởng và tình yêu lí tưởng. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà thơ xứ Huế có nhiều vần thơ độc đáo, đậm đà: "Khi ta đã say mùi hương chân lí Đời đắng cay không một chút ngọt bùi Đời đau buồn không một tiếng cười vui Đời đen tối phải đi tìm ánh sáng” ("Như những con tàu" – 1938) Có thể nói, Tố Hữu là nhà thơ viết hay nhất về lí tưởng cách mạng bằng bút pháp lãng mạn tuyệt đẹp. Ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin thật vô cùng kì diệu. "Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” ( Aragông – Pháp). Yêu nước mà bắt gặp chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản đã giác ngộ tinh yêu giai cấp. Khổ thơ thứ hai nói lên sự gắn bó với mọi người", "với trăm nơi "với bao hồn khổ" với giai cấp” và nhân dân lao động nghèo khổ đang bị đế quốc, phong kiến bóc lột, áp bức dã man. Các từ ngữ: "buộc", "trang trải", "gần gũi" – biểu lộ sự gắn bó thiết tha với thế giới cần lao, với "khối đời" – khối công nông liên minh: "Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi vời bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời". Người chiến sĩ trẻ, người thanh niên cộng sản trên con đường cách mạng quyết tâm chiến đấu và hi sinh để thực hiện lí tưởng cao cả, đã nhận thức một cách sâu sắc về tình yêu giai cấp: "Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời". Hơn bao giờ hết, cái tôi đã chan hòa trong cái ta rộng lớn. Thân thiết và yêu thương, tự giác và tự nguyện, đông đảo và rộng lớn: "là con của vạn nhà", "là em của vạn kiếp phôi pha", "là anh của vạn đầu em nhỏ… Các từ: "là", các số từ "vạn" được điệp lại ba lần làm cho lời ước nguyện thiết tha chân thành, thấm thía xúc động: "Tôi đã là con củu vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ". Nhà thơ đã có một cách nói rất truyền cảm về tình yêu giai cấp, tình yêu nhân dân. Trái tim nhân ái cộng sản chủ nghĩa sáng bừng lên dưới "mặt trời chân lí", dưới ánh sáng của niềm tin, ánh sáng của Cách mạng. Tố Hữu đã sáng tạo nên những vần thơ giàu hình tượng và nhạc điệu để ca ngợi lí tưởng cách mạng và tình yêu giai cấp, tình yêu nhân dân. Tình cảm cao đẹp ấy được thể hiện một cách chân thành và say mê. "Từ ấy" là tiếng lòng của một hồn thơ đẹp, trẻ trung đã trở thành tiếng hát của hàng triệu con người hướng về Đảng và Cách mạng. Đọc "Từ ấy" ta càng cảm thấy một cách sâu sắc lời tâm sự của Tố Hữu: "Lòng tôi vui sướng vô cùng khi cảm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin soi rọi vào tâm hồn tươi trẻ của mình".
Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
881
Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương lớp 11 Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương lớp 11 Bài làm Tác giả Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ xuất sắc nhất của Việt Nam, bà có một số lượng lớn tác phẩm để lại và có một phong cách sáng tác thơ độc đáo chủ yếu là tả cảnh ngụ tình. Hồ Xuân Hương còn được biết đến với hình ảnh của một nữ nhà thơ chuyên viết về thân phận của người phụ nữ, là một người dũng cảm luôn đề cao vẻ đẹp và sự hi sinh của người phụ nữ, đồng thời cũng lên tiếng bênh vực cho họ và phê phán gay gắt chế độ xã hội cũ. Bài thơ Tự Tình được coi là một trong những bài thơ hay nó chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc của chính tác giả và cũng chính là của những người phụ nữ nói chung. Mở đầu bài thơ Tự Tình với 2 câu thơ vừa tả cảnh nhưng cũng vừa tả hình ảnh của một người phụ nữ, hay cũng có thể gọi là hồng nhan. Nhưng thật tiếc thay, hồng nhan đó lại đang rơi vào hoàn cảnh cô đơn trống vắng giữa đêm khuya u tịnh. “ Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non” Cụm từ láy “ Văng vẳng” đã được chính tác giả sử dụng để miêu tả một thứ âm thanh từ phía xa vang lại, mặc cho không biết nó xuất phát từ nơi đâu hoặc dù nó có ở xa nhưng nghe mỗi lúc lại một gần và càng rõ ràng hơn. Khoảng thời gian được nhắc tới chính là “ đêm khuya”- thời điểm mà khiến cho con người dễ rơi vào các cung bậc tình cảm, cảm xúc trạng thái khó tả nhất, đây cũng chính là khoảng thời gian này có một người phụ nữ vẫn đang ngồi đó,không thể yên lòng mà ngủ được vẫn ngồi ở đó để nghĩ ngợi về mọi thứ xung quanh đặc biệt luôn nghĩ về con người cuộc đời của chính. Là một người phụ nữ có nhan sắc mặn mà, nhưng lại được nhà thơ miêu tả “ trơ với nước non “. Trước khoảng đời rộng lớn, người phụ nữ đó đã nhận ra được thân phận của mình lẻ loi cô đơn, và tiếng âm thanh của trống cầm canh lại càng tô điểm thêm một nỗi buồn trống vắng khó tả, một nỗi buồn tận sâu thẳm trong tim. Bất giác người phụ nữ đó đã tìm đến những chén rượu để giải sầu: Vầng trăng xế bóng khuyết chưa tròn” Cứ mỗi khi có chuyện gì buồn sầu, người xưa thường tìm đến rượu đến trăng để ngỏ bầu tâm sự. Chỉ muốn uống thật say để quên đi muộn phiền, hương rượu nống để quên đi tất cả, nhưng thật nghịch lí, chén rượu khi đưa nên mũi, hương nồng thẳng vào mũi nhưng người muốn say, tâm và suy nghĩ vẫn còn đang rất tĩnh. Không có một nỗi buồn nào biến mất ở đây, mà nó còn làm hiện hữu rõ được nỗi lòng của người phụ nữ ngay lúc này. Hình ảnh vầng trăng xuất hiện nhưng vẫn còn đang bị khuyết, chưa tròn. Phải chăng, đây là ngụ ý cho thân phận cho chính hạnh phúc của tác giả. Là một người tài giỏi nhưng số phận có phần hẩm hiu, chưa một lần được trọn vẹn. Tuổi thanh xuân đã dần đi qua mà hạnh phúc thì vẫn chưa tìm tới bến đỗ: “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm tạc chân mây đá mấy hòn” Hình ảnh rêu xanh được đưa ra đây nhưng cũng mang những dụ ý sâu xa của chính tác giả, rêu là một loại cỏ mỏng manh nhỏ bé nhưng nó lại có một sức sống vô cùng mạnh mẽ, không dừng lại ở đó, ở bất cứ một khu vực nào thì nó vẫn có thể sống tươi tốt dù là điều kiện sống như thế nào đi nữa. Hình ảnh từng đám rêu đâm xuyên ngang qua mặt đất gợi ra cho chúng ta nhiều liên tưởng mạnh mẽ về sự phản kháng quyết liệt cũng như sự chống đối của chính nó với những thứ có thể mạnh mẽ hơn nó. Còn hình ảnh đá thì cũng vậy, đối lập với sự nhỏ bé của các viên đá với sự rộng lớn của đất trời, nó lại càng làm nổi bật lên sức mạnh của những viên đá nhỏ, quả thật thì nó cũng không tầm thường nhỏ bé một tí nào. Sự đồng điệu của thiên nhiên và con người, luôn đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, nhưng chưa bao giờ đi đến thành công. Một kiếp làm vợ lẽ, cho dù cố thoát ra khỏi nhưng vẫn không thể thoát được. Chính vì vậy mới có 2 câu cuối: Mảnh tình san sẻ tí con con” Thiên nhiên thuận theo trời đất, xuân đi rồi xuân tới, nhưng với con người thì lại khác, với một người phụ nữ tuổi xuân đã trôi đi rồi thì chẳng bao giờ có thể quay trở lại một lần nào nữa. Thật đáng buồn hơn cho những thân phận hẩm hiu, chờ mong tuổi thanh xuân, chờ mong có một niềm hạnh phúc được trọn vẹn nhưng nào có được. Trước sự cô đơn lẻ loi, chán trường mà tác giả Hồ Xuân Hương đã sử dụng động từ ” Ngán”, phần nào nói lên được nỗi lòng riêng của thi sĩ bây giờ. Khi mảnh tình thì đang bé lại mà còn phải san sẻ, chia nhỏ ra. Không được hưởng trọn một tình yêu, một hạnh phúc tràn đầy, tới khi tìm được hạnh phúc lại phải san sẻ, quả thật là rất đáng thương. Qua đây thì cũng ngầm ẩn ý về những số phận của phụ nữ, chịu cảnh giường đơn, gối chiếc dưới chế độ cũ không được coi trọng cũng như không có quyền lên tiếng. Bài Tự Tình là một trong những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và mang đậm phong cách cũng như tư tưởng của chính tác giả Hồ Xuân Hương, đặc biệt là những vấn đề xoay quanh người phụ nữ thời bấy giờ. Qua bài này, chúng ta cũng thấy được một Hồ Xuân Hương yếu mềm nhưng cũng thật ngang tàng và mạnh mẽ khi dám bộc lộ chính những suy nghĩ của mình.
Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương lớp 11
1,103
Đề bài: Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương Bài làm Hồ Xuân Hương là nhà thơ lớn của dân tộc. Tuy sáng tác của bà để lại không nhiều, chủ yếu là những bài thơ Nôm truyền tụng và tập thơ chữ Hán Lưu Hương kí, song bà đã khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn của văn học Việt Nam với một phong cách thơ vô cùng độc đáo. Chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung đi sâu vào nghiên cứu về sự đóng góp của bà cho thơ ca trung đại Việt Nam. Hoàng Hữu Yên cho rằng: Thơ Hồ Xuân Hương là rực rỡ nhất; Xuân Diệu lại đánh giá Hồ Xuân Hương như là một vị chúa thơ Nôm (…) Xuân Hương dùng thể thơ Đường luật thế mà ta không chút nào nghĩ rằng đó là một điệu thơ nhập nội, thơ Xuân Hương cứ nôm na bình dân tự nhiên (…) Xuân Hương thật xứng đáng là bà chúa thơ Nôm. Trước hết ta tìm hiểu nhan đề của bài thơ Tự tình. Tự tình ở đây là tình cảm tự bộc lộ ra, đó chính là tâm trạng bộc bạch của chính người trong cuộc, đó là lời của tâm hồn, lời của con tim khao khát hạnh phúc cháy bỏng, đó là tiếng nói phẫn uất đau đớn xót xa… Đọc Xuân Hương thi tập ta thấy trong đó có một con người luôn luôn căm phẫn, luôn luôn phẫn nộ đối với chế độ phong kiến thối nát đương thời, đồng thời trong thơ của bà còn luôn luôn ca ngợi bênh vực cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Nhưng bên cạnh đó trong thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương luôn hiện lên một tâm trạng khao khát hạnh phúc, muốn bộc lộ cái tôi của mình. Cái tôi đó có lúc khao khát mãnh liệt nhưng cũng có lúc cô đơn uất hận xót xa, bế tắc bấp bênh, chới với giữa dòng đời. Như trên đã nói, Tự tình là bài thơ Nôm được làm theo lối luật Đường. Bài thơ gồm 56 chữ, 8 câu chia thành 4 phần đề, thực, luận, kết, với niêm luật chặt chẽ, hàm súc mà cô đọng, lời ít mà ý nhiều. Hai câu đề của bài thơ hằn lên một nỗi niềm vừa cô quạnh, vừa bất bình ngao ngán cho một thân phận thiệt thòi quá lớn. Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom Oán hận trông ra khắp mọi chòm. Thông thường câu thơ đầu tiên của bài thơ thất ngôn bát cú có nhiệm vụ mở cửa thấy núi (Khai môn kiến sơn). Câu thơ mở đầu cho ta thấy phần nào chủ đề của bài thơ. Câu thơ đầu của bài thư này thoạt đầu dường như ta chưa thấy gì về sự báo hiệu cho chủ đề của nó. Nó chỉ là dấu hiệu của thời gian (tiếng gà văng vẳng gáy trên bom) mà ta thường thấy trong thơ ca xưa: Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương. Hay tiếng gà chuyển canh trong thơ Bác: Gà gáy một lần đêm chửa tan Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn. Nhưng đằng sau cái tiếng gà gáy sáng văng vẳng áy ẩn sau một tâm trạng xót xa, buồn bã, cô đơn. Lúc này con người đã tình giấc đối diện với chính mình. Tiếng gà như một âm thanh chát chúa dội vào tâm trạng cô đơn của nữ sĩ khiến cho bà cất lên những lời đầy oán hận: Oán hận trông ra khắp mọi chòm. Hai câu thơ trên đã cho a thấy được phần nào tâm trạng đắng cay chua xót của nhà thơ. Nỗi bất hạnh đó còn được thể hiện sâu sắc hơn ở những câu thơ sau. Hai câu thực nhà thơ đã diễn tả nỗi uất ức xót xa như chìm sâu vào trong tâm hồn nhà thơ đầy bất hạnh: Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu không đánh cớ sao om. Khi phân tích hai câu thơ này có nhà nghiên cứu đã cho rằng ở đây Hồ Xuân Hương dùng biện pháp tu từ – mượn hình ảnh khách quan để vận vào mình để diễn tả nỗi giận hờn khó kìm lại được. Ở đây nhà thơ không chỉ mượn hình ảnh khách quan để vận vào mình mà chủ yếu nhằm lột tả đau đớn xót xa bế tắc của mình. Chuông sầu, mõ thảm là những thứ gợi lên cảm giác buồn đau cô đơn lạc lõng. Nhưng ở đây làm gì có khua có đánh thế mà nó vẫn vọng ra những tiếng nghe khô khốc thảm đạm làm sao. Vậy đó là những tiếng gì? Đó là tiếng của nỗi lòng, tiếng của sự bất hạnh giữa dòng đời. Cốc diễn tả âm thanh hay diễn tả nỗi lòng? Nghe nó chát chúa khô khốc ảm đạm làm sao! Tiếng chuông chùa không ngân lên vang vọng thành hơi mà vọng lại một tiếng nghe ảm đạm làm sao? Với từ om tác giả đã thể hiện rõ sự bế tắc xót xa trước cuộc đời đen bạc, bất công. Như vậy qua bốn câu thơ đầu ta đã hiểu rõ được sự phẫn uất bất hạnh xót xa bế tắc trong cuộc đời của nữ sĩ tài hoa. Sự bất hạnh đó phần nào được lí giải ở hai câu luận của bài: Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ Sau giận vì chuyên để mõm mòm. Hoá ra sự bất hạnh của bà chúa thơ Nôm là những tiếng nghe rầu rĩ. Đó là tiếng gì vậy? – Lời đồn đại, chuyện đơn sai chẳng? – Miệng thế gian biết đâu mà lường! Nhưng làm sao tránh khỏi? Những chuyện chẳng đâu vào đâu mà buồn phiền cứ dồn ập đến. Nói lên điều này chúng ta lại càng cảm thông hơn cho con người chịu nhiều bất hạnh thua thiệt hay xã hội xưa. Coi xã hội tàn nhẫn vô lương tâm đã vùi lấp con người. Hai tiếng thêm rầu rĩ nói lên sự chua cay chát chúa đó. Từ chuyện nhân thế chuyển về chuyển riêng tư sau giận vì cái duyên mõm mòm cũng không phải tại mình mà duyên phận cứ nổi nênh, bạc bẽo: Cảnh quá lứa lỡ thì chua chát biết bao! Qua sáu câu thơ trên phần nào ta đã thấy được sự bất hạnh trong cuộc đời, nỗi chua cay thất vọng chán thường, ta hiểu được phần nào nguyên nhân gây nên những bất hạnh xót xa đó. Tất cả những cái đó ta có cảm tưởng như Xuân Hương không đứng vững nổi trước sóng gió xô đẩy của cuộc đời. Nhưng không, Hồ Xuân Hương vẫn hiên nang thách thức với một tư thế vô cùng ngạo nghễ. Tài tử văn nhân ai đó tá Thân này đâu đã chịu già tom. Đó mới đúng là Hồ Xuân Hương, mới đúng là con người luôn luôn đấu tranh cho mọi bất công ngang trái ở đời. Trong thơ Hồ Xuân Hương ta đã từng bắt gặp cá tính đó: Khi chế giễu tên bại tướng Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bây nhiêu. Khi phủ định một luật lệ bất công Quản bao miệng thế đời chênh lệch Không có nhưng mà có mới ngoan. Có khi lại tự khẳng định một cách mạnh mẽ: Giơ tay với thử trời cao thấp Xoạc cảng đo xem đất ngắn dài. Đó là những lời trách cứ, thách thức với tư thế đối diện với mọi dư luận, mọi thế lực. Chính lòng tự tin đó đã làm nên tính cách sắc sảo độc đáo của cái tôi trong thơ Hồ Xuân Hương. Cái tôi đó dù đau đớn bất hạnh đến đâu vẫn chiến đấu thách thức đến cùng chống lại mọi dư luận bất công của xã hội. Đọc thơ Hồ Xuân Hương ta cảm nhận sự bất hạnh cay đắng cho thân phận nữ sĩ đến đâu thì ta lại càng cảm phục trân trọng sự đấu tranh cho quyền được sống hạnh phúc chính đàng của con người đến đó. Bài thơ Tự tình chính là nét tiêu biểu cho hồn thơ trữ tình của Xuân Hương.
Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương
1,391
Phân tích bài thơ Tự tình của nhà thơ Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tự tình của nhà thơ Hồ Xuân Hương Bài làm: Tự tình ở số ít những bài thơ mà Hồ Xuân Hương bộc lộ trực tiếp “cái tôi” đầy xúc cảm và bản lĩnh của mình trước cuộc sống. Bài thơ mở đầu với một không gian: Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn. Nhưng đấy cũng là một thời gian.Nói đấy đủ hơn,Tự tình là tiêng lòng cất lên vào một không – thời gian.Không – thời gian ấy trong văn học trung đại thường hiếm, và nếu có thì đó là tiếng lòng của một đấng máy râu,xót xa, cảm hoài trước thời thế.Nếu xem Truyện Kiều ra đời sau khi Hồ Xuân Hương đẫ mất thì kiểu bộc lộc tâm tình đao là liền kề, ở Thuý Kiều,với nhiều trạng huống,sau khi tảo mộ,gặp Kim Trọng (Một mình nặng ngắm bóng nga / Rộn ràng đường gần với nỗi xa bời bời…),lúc đã quyết định bán mình chuộc cha ( Nỗi riêng,riêng những bàn hoàn /Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn), khi thất thân bởi Mã Giám Sinh (Đêm xuân một giấc mơ màng/Đuốc hoa đẻ đó mặc nàng nằm trơ/Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa),hoặc lúc ở lầu xanh 9Khi tỉnh rượu lúc tàn canh /Giật mình mình lại thương mình xót xa)… Đêm khuya thanh vắng là lúc con người thường đối diện với chính ản thân mình, để xót thương, để tự vấn, tự nhìn ngắm lại bản thân.Tự tình là một cách đối diện như thé. Đấy là lúc những âm vang của cuộc đời dường như không động đến con người,song con người lại cảm nhận được cả bước đi của cuộc đời.Tiếng trống cnah chỉ văng vẳng, tức ngưòi nghe phải lắng tai nghe, nhưng nhịp điệu của nó thì đã qua đầy đủ,với tất cả sự hối hả, thúc giục ( trông canh dồn ).Nó thúc giục người ta chẳng phải để hành động mà soi lại đời mình: Hồng nhan là gương mặt hồng, má hồng, đồng thời cũng để người đàn bà đẹp,người đàn bà đẹp.Cách Hồ Xuân Hương trên,dưới bốn trăm năm có một người từng một mình một bóng dưới ánh trăng thanh, cũng cảm nhận bước đi của thời gian với bao u hoài: Thế sự du du nại lão hà, Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. (việc đời bối rối tuổi già vay, Trời đất vô cùng, một cuộc say) (Đặng Dung) Người ấy là đấng trượng phu, đã sốt ruột, thậm chí đến đớn đau trước dòng thời đời tuôn chẩy trong sự bất lực của chính mình. Còn ở đây, người đang cảm nhận vè cuộc đời lại là một phụ nữ.Thế cuộc cũng khác.Nguời đó biết được giá trị của mình ( là hồng nhan=người đàn bà đẹp,có tài sắc ).Nhưng biết được phẩm giá của mình không phải để sung sướng,tự hào.Trái lại, biết chỉ thêm ngậm ngùi cay đắng.Vì sao như vậy? Từ cái đạt trước một dnah từ sẽ khiến danh từ ấy mang sác thái ngữ nghĩa của sự xem thường,khinh miệt,như:cái thằng ấy,cái con ấy v.v…hồng nhan vốn là danh từ để chỉ người đẹp khi đặt sau từ cái đã không còn nguyên giá trị nữa.Sự tươi xinh, đẹp đẽ kia chỉ có giá trị tự nó thôi.Chưa hết,trước cái hông nhan là tính từ trơ,vốn có hàm nghĩa xấu,chỉ sự không biết xấu hổ ( Cứ trơ cái mặt ấy ra! ), đồng thời chỉ sự lẻ loi,không biết nương tựa vào đâu (Đứng trơ giữa đồng).Hoá ra,hồng nhan -một phẩm giá con người trong cuộc thế này đã trở thành thứ gì chẳng có ích gì, thậm chí đang xấu hổ nữa! Chén rượu hương đưa say lại tỉnh, vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn. Xiên ngang mặt đất rêu từng đám, Đâm toạc chân mây,đá mấy hòn. Chén rượu cũng như miếng trầu là những thứ không làm cho người no nê,nhưng nhiều lúc khiến người ta vui sướng, thân mật, bớt buồn, quên đời.Thế mà,chén rượu ở đây không giúp ích điều đó,bởi hương đưa say lại tỉnh.Vầng trăng tròn chỉ sự viên mãn,tốt đẹp, song mong ước ấy mãi chưa tới ( Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn ).Thành ra hai câu luận có vẻ như tả cảnh ( về mặt đất,về bầu trời ) mà thực ra là sự bộc lộ một thái độ bực dọc theo kiểu của Hồ Xuân Hương.Cuộc đời đang diễn ra trước mắt của nữ sĩ thật vẹo vọ,khập khễnh,chẳng ra dáng ra hình gì! Hai câu kết đẩy đến cùng tâm trạng của Hồ Xuân Hương trước cuộc đời: Ngàn nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẽ tí con con! Cuộc đời đáng chán, đáng buồn như thế thì cái sự xuân tới,xuân qua nào có gì đáng nói? Nó lặp đi lặp lại buồn tẻ đến mức người ta phải ngán ngẩm.Thời Thơ Mới,các thi sĩ thường hay bộc lộ nỗi sầu,nỗi khổ trước cuộc đời ( Tôi có chờ đợi ai đau / Ai mang xuân đến gửi thêm sầu -Chế Lan Viên…).Hồ Xuân Hương không nói tới nỗi buồn -dường như điều đó trái với bản tính của thi sĩ, người thích sự thẳng thắn, mạnh mẽ.Bà nói tới nỗi niềm ngán ngẩm.Phải buồn lắm, chán lắm ngưòi ta mới có tâm trạng như vậy.Và,cũng phải đau đớn, phẫn uất lắm người ta mới có một cách thề như vậy trước cuộc đời!
Phân tích bài thơ Tự tình của nhà thơ Hồ Xuân Hương
914
Phân tích bài thơ Tự tình Hồ Xuân Hương Hướng dẫn Phân tích bài thơ Tự tình Hồ Xuân Hương Tự tình là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Hồ Xuân Hương, đây là bài thơ tự bày tỏ lòng mình. Như chúng ta cũng biết Hồ Xuân Hương sống vào cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỷ XIX, bà xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, cha làm nghề dạy học. Thế nhưng, Hồ Xuân Hương không chịu gò bó vào cái xã hội eo hẹp, tù túng mà bà là một người phóng khoáng, đa tài, đa tình, giao thiệp với những nhà văn, tài tử, đi rất nhiều nơi. Nhưng éo le thay, người xưa thường có câu “Hồng nhan bạc phận”, bà cũng phải chịu kiếp số lận đận, éo le, đầy ngang trái trong con đường tình duyên. Các tác phẩm của bà chủ yếu được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Người ta thường gọi bà là “Bà chúa thơ Nôm”. Hồ Xuân Hương – hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam. Bài thơ Tự Tình mà tôi đề cập đến chính là một trong ba bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương và nó là bài thơ Tự Tình II. Được viết dưới dạng Đường luật thất ngôn bát cú. Với lối viết sắc xảo và cũng chính là lời tự bày tỏ lòng mình nên chủ đề bai thơ được hiện lên là một nghịch đối: duyên phận muộn màng, lỡ dở trong khi tác giả cứ lạnh lùng trôi qua. Điều này dẫn đến tâm trạng vừa buồn vừa phần uất, nhưng cuối cùng vẫn đọng lại trong tâm trí của bà. Để thấy rõ được nội dung chính, ta sẽ đi vào tìm hiểu sâu qua các câu thơ.Bài thơ được viết theo thể thơ đường luật bát cú ngôn nên bố cục gồm 4 phần: 2 câu đề, 2 câu thực, 2 câu luận và 2 câu kết. “Đêm khuya văng vẳng bóng canh dền Trơ cái hồng nhan với nước non.” Khung cảnh được hiện lên là một đêm khuya, khi con người chìm sâu vào giấc ngủ, nhưng cũng chính là lúc người ta đối diện với chính mình và đây cũng là lúc Hồ Xuân Hương nhận ra được cảnh đáng thương của mình. Sự cô đơn, lẻ bóng một mình gắn liền với thời gian, tạo cho người ta một cảm giác thật đáng thương cho thân phận người phụ nữ. Tác giả đã rất tinh tế khi sử dụng nghệ thuật lấy động nói tĩnh: âm thanh “văng vẳng” của tiếng trống cầm canh để nói lên một không gian tĩnh lặng, vắng vẻ. Chính cái khoảnh khắc ấy, tự soi vào mình, tác giả thấy “trơ” mà đặc biệt nó còn được đặt ở đầu câu, càng thêm nhấn mạnh nối đau, bất hạnh về đường tình duyên, số kiếp “hồng nhan bạc phận” của chính tác giả. “Trơ” ở đây có thể được hiểu là tủi hổ, bẽ bàng. Tiếp theo nó là “cái hồng nhan” ý nói đến dung nhan của người phụ nữ, thường được dùng trong xã hội xưa. Nhưng điều đáng chú ý ở đây, một nhân phẩm, vẻ đẹp của người phụ nữ lại gọi là “cái” gợi cho người đọc thấy được sự rẻ rúng, mỉa mai. “Cái hồng nhan” trơ với nước non không chỉ là sự cay đắng, tủi hổ mà còn là nỗi xót xa, thấm thía, càng ngẫm càng thương thân. Nhưng chữ “trơ” ở đây một phần cũng có thể hiểu được đó chính là sự gan dạ của Xuân Hương, là sự thách thức. Để nhấn mạnh điều này, tác giả đã dùng nhịp thơ: 1/3/3 để nhấn mạnh vào sự bẽ bàng. Nối tiếp hai câu đề, tác giả viết: “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tàn” Với hai câu thơ thực trên, hoàn cảnh và tâm trạng của nhà thơ được hiện lên rõ hơn. Khi sầu, người ta thường lạm bạn với rượu, để có thể quên đi mọi thứ không vui, những nỗi đau. Thế nhưng “say lại tỉnh” làm nỗi buồn không thể nguôi được, Đây chính là một vòng quay luẩn quẩn, tình duyên đã trở thành một trò đùa, càng say càng tình, càng cảm nhận nỗi đau của thân phận. Câu thơ là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm trạng. Vì vậy, tạo nên sự đồng nhất giữa tâm trạng và cảnh “ trăng” sắp tàn “bóng xế” và vẫn “khuyết chưa tròn”. Tuổi xuân, cái tuổi đẹp nhất của người con gái đã trôi qua mà nhân duyên vẫn chưa trọn vẹn. Gợi lên một nỗi sầu lẻ bóng. Tiếp tục hướng về ngoại cảnh, lấy thiên nhiên để bày tỏ tâm trạng, nỗi lòng của mình, Hồ Xuân Hương viết: “Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn” Hai câu luận ở trên được tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh trạng thái của thiên nhiên, nhưng đó cũng chính là tâm trạng của con người. Rêu và đá là hai hình ảnh được hiện lên là những vật yếu mềm, không chịu chấp nhận sự thấp bé ấy, đã vươn lên bằng mọi cách, vượt qua những cản trở (mặt đất, chân mây) để chứng tỏ mình. Các động từ mạnh: xiên, đâm kết hợp với bổ ngữ: ngang, toạc gợi cho người ta thấy sự ngang ngạnh, phẫn uất. Nó không chỉ thể sự phẫn uất mà còn nói lên một phần của sự phản kháng. Cũng có thể cho người đọc ngầm hiểu Hồ Xuân Hương với sức sống mãnh liệt ngay cả khi đau buồn nhất. “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tý con con” Hồ Xuân Hương đã có cách dùng từ rất độc đáo “xuân” tức là mùa xuân, tuổi xuân, “ngán” tức là ngao ngán, chán. Bên cạnh đó từ “lại” chỉ sự trở lại một cách nhanh, sợ sự quay trở lại. Theo quy luật của tạo hóa, mừa xuân qua rồi sẽ trở lại. Nhưng mỗi mùa xuân qua đi lại mang theo tuổi xuân của con người và mãi không trở lại. Sự trở lại chính là sự ra đi của tuổi xuân. Tác giả đã quá ngán ngẩm với cuộc đời éo le. Với lối nghệ thuật tăng tiến, nhấn mạnh vào những điều bé nhỏ, làm cho nghịch cảnh éo le hơn. Mảnh tình đã nhỏ bé lại còn phải san sẻ “tý con con” tạo nên một cảm giác xót thương. Đây cũng chính là nỗi lòng của người phụ nữ trong xã hội xưa. Hạnh phúc luôn là chiếc chăn quá hẹp. Như vậy, bài thơ Tự Tình đã hiện lên với những hình ảnh giản dị mà đặc sắc, hình ảnh giàu sức gợi cảm, tinh tế từ đó nói lên tâm trạng của chủ thể. Bài thơ hiện lên cả bi kịch và khát vọng sống hạnh phúc của Hồ Xuân Hương. Trong những lúc buồn tủi, bế tắc, người phụ nữ cố vươn lên nhưng lại vẫn bị rơi vào cái vòng quay luẩn quẩn, tù túng của xã hội đương thời. Nguồn: Bài văn hay
Phân tích bài thơ Tự tình Hồ Xuân Hương
1,215
Đề bài: Phân tích bài thơ Tự tình II của Hồ Xuân Hương Bài làm Bài thơ có hai phương diện kết hợp, vừa có nét đau buồn, chán nản lại vừa khao khát, mong đợi. Người phụ nữ ao ước một cuộc sống hạnh phúc, có tình yêu của người bình thường chứ không phải muốn trở thành một tấm gương an phận thủ thường mà Nho giáo xưa vẫn ra sức tuyên truyền. Hai câu đầu, một câu tả cảnh, một câu tả người. Mối quan hệ giữa cảnh và tình cần được chú ý. Không gian là đêm khuya thanh vắng, tiếng trống cầm canh vang lên như tăng thêm sự vắng lặng, tô đậm trạng thái cô đơn của Xuân Hương. Tiếng trống dồn cùng gây ấn tượng vể nhịp đi gấp gáp của thời gian, cảnh một mình nhà thơ trơ trọi ngồi trong đêm sắp tàn, xung quanh thiếu vắng dấu hiệu của người tri kỉ, chỉ có tạo vật vô tình (nước non). Hai chữ “hống nhan” thường được người xưa liên hệ với bạc phận. Nhưng lời thơ không chỉ là buồn tủi, bẽ bàng mà còn thề hiện một bản lĩnh, một cá tính. “Trơ” còn có nghĩa là thách thức, là đương đầu với số phận, dấu hiệu của khát vọng sống có tình yêu xứng đáng. Hai câu thơ tiếp theo cũng tả cảnh và tả người nhưng đặt người trong một tương quan với cảnh khác hai câu đầu. Có thể hiểu say lại tỉnh" nhu là cái vòng luẩn quẩn của tình cảnh nhà thơ, hình tượng vầng trăng “khuyết chưa tròn” gợi liên tưởng về tuổi xuân trôi qua mà nhân duyên cua nhà thơ không trọn vẹn. Người buồn lấy rượu để giải sầu nhưng sầu không thể dứt, như rượu uống mà không hề say, “say lại tỉnh”. Trăng đang tàn và khuyết. Tuy thế, trăng sẽ tròn lại được nhưng tuổi xuân của con người liệu có lặp lại? Đã buồn, nhìn trăng lại buồn hơn. Hai câu thơ số 5 và 6 tả cảnh nhưng trong cảnh vẫn ngụ tình. Hình tượng “xiên ngang mặt đất” và “đâm toạc chân mây” khá đặc sắc. Cảnh thiên nhiên trong hai câu thơ không phẳng lặng mà cựa quậy, trỗi dậy, tương tự như người phụ nữ trong bài thơ không cam chịu cô đơn, bất hạnh mà xã hội và số phận đã an bài, muốn bứt phá, bật dậy tìm hạnh phúc cho bản thân. Đến rêu là loài yếu mềm mà “xiên ngang mặt đất” để trồi dậy, đến đá tưởng như lặng im mà cũng “đâm toạc chân mây” phải có một sức sống, một tình đời mạnh mẽ đến mức nào thì nhà thơ mới nhìn ra được cảnh trí sống động như vậy. Hoàn cảnh đáng buồn của bản thân không thể làm tê liệt tình yêu cuộc sống của tác giả. Hai câu kết bộc lộ tâm trạng của nhà thơ. Xuân đi rồi xuân lại có nghĩa khái quát chỉ thời gian trôi qua, nhưng mang âm vị cay đắng chán ngán vì chỉ tuổi trẻ và hạnh phúc đang đi qua, không báo giờ trở lại (không phải là thu đi rồi thu về mà chính là mùa xuân vì mùa xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ và tình yêu – trong tiếng Hán cổ, chữ xuân có một nghĩa là xuân tình. Tuổi trẻ của nhà thơ đang trôi qua mà nhà thơ không có được một tình yêu xứng đáng. Mảnh tình diễn tả tình yêu nhỏ bé thảm hại. Hai chữ san sẻ ngầm chỉ báo cho ta phan đoán rằng tác giả đang trong thân phận lẽ mọn hoặc hầu thiếp. Nếu đúng như vậy thì bài thơ là một tiếng nói táo bạo. Người phụ nữ trong bài thơ dám nói lên tiếng nói chán ghét, phản kháng cảnh lẽ mọn, hầu thiếp, cảnh mà nhiều phụ nữ trong xã hội phong kiến vẫn cay đắng cam chịu. Nhưng dù không hiểu theo cách trên thì ta vẫn thấy ý nghĩa nhân bản mang tính chất thời đại sàu sắc của tác phẩm. Người phụ nữ trong bài thơ đã dám nói thực nỗi lòng mình, dám thể hiện sự chán ghét thân phận mà xã hội áp đặt. Do đó, đã góp tiếng nói vào quá trình đấu tranh giải phóng phụ nữ. Bài thơ cỏ hai phương diện kết hợp, vừa có nét đau buồn, chán nản lại vừa khao khát, mong đợi. Người phụ nữ ao ước một cuộc sống hạnh phúc, có tình yêu của người bình thường chứ không phải muốn trở thành một tấm gương an phận thủ thường mà Nho giáo xưa vẫn ra sức tuyên truyền. Thậm chí, bài thơ còn ngầm thách với duyên phận bẽ bàng. Đó là một tư tưởng tích cực, tiến bộ cống hiến cho lịch sử trung đại. Đó cũng, là giá trị nhân văn của bài thơ.
Phân tích bài thơ Tự tình II của Hồ Xuân Hương
835
Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác (bài hay) Hướng dẫn “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha” Bác luôn khao khát được một lần đến miền Nam yêu thương, nhưng ước nguyện đấy chưa đạt thì Bác đã đi xa. Với Viễn Phương – một con người Nam Bộ lần đầu tiên được đặt chân lên Hà Nội, viếng lăng Bác – thăm vị cha già của dân tộc sau bao năm mong mỏi chờ mong, từ những rung động đầu tiên ấy, ông đã viết bài thơ “Viếng Lăng Bác” (1976) với tất cả cảm xúc, tình cảm chân thành, sâu sắc, thành kính, thiên liêng cho Bác. Trước hết, đọc bài thơ “Viếng Lăng Bác”, người đọc cảm nhận được cảm xúc chân thành, xúc động, sâu sắc của Viễng Phương khi nhìn thấy lăng Bác. Từ miền Nam sau bao năm khói lửa, nơi đi trước về sau, nay lần đầu tiên nhà thơ được đặt chân lên mảnh đất Ba Đình lịch sử, viếng lăng Bác. Ngay từ đoạn đầu bài thơ, Viễng Phương đã thể hiện cảm xúc dạt dào khi nhìn thấy hàng tre quanh Lăng Bác: “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát “ Từ những chuyện cổ tích xa xôi đến những bài thơ, bài văn: từ thế giới kỳ ảo cổ tích đến đời sống thường ngày, tre vẫn là loài cây quen thuộc. Trước lăng Bác, trong lòng Viễn Phương, tre như dài rộng mênh mông. Tre vẫn uy nghi, vẫn màu xanh của Việt Nam. Hàng tre ấy đã gợi cho nhà thơ lấy lại cuộc sống thầm lặng đã từng sát cách cùng dân tộc chống lại kẻ thù chung của tre. Tre đã kiên cường chiến đấu bất khuất hiên ngang, là biểu tượng của dân tộc Việt Nam. “Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã thẳng như chông lạ thường ’’ Tre Việt Nam – Nguyễn Duy Bao năm cùng người xông pha trận mạc, tre vẫn giữ thế uy nghiêm: ‘Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng. ’ Viễn Phương thật thành công khi sử dụng hàng tre để gợi sự gần gũi, thân quen của lăng Bác. Lăng Bác như bóng dáng quê hương, ở tre mà Viễn Phương không khỏi thốt lên: ‘Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam ’ Chỉ với từ cảm thán ‘Ôi” mà bao nghẹn ngào tràn ngập cả câu thơ. Tất cả dân tộc đã quay về quanh Bác, xếp thành đội ngũ chỉnh tề giữ giấc ngủ yên cho Người. Tình cảm chân thành của Viễn Phương hay cũng chính là của người dân Nam Bộ dành cho Bác thật chân thành, cảm động: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ “ “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” Vâng! Đó là tình cảm chân thành nhất, thành kính nhất mà Viễn Phương hay cũng chính là của dân tộc Việt Nam dành cho Bác. Nhìn hình ảnh dòng người vào lăng Bác, nhà thơ đã rung động mạnh mẽ. “Tràng Hoa” ấy là tấm lòng của người dân Việt Nam dành cho người. Mỗi con người trên đất nước nguyện làm một bông hoa trong tràng hoa dâng lên cuộc đời Bác – bảy mươi chin mùa Xuân. Quan hện tình cảm giữa một vị lãnh tụ và nhân dân được diễn tả thật giản dị mà tinh tế khiến người đọc cảm động và càng trân trọng tình cảm ấy. Tình cảm mà Viễn Phương dành cho Bác thật mãnh liệt khi vào thăm lăng Bác: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác ” Tác giả xưng con với Bác như sự gần gũi thân quen trong gia đình. Đó là thứ tình cảm sâu sắc, giản dị của một người con đối với cha. Các nhà thơ như Xuân Diệu, Tố Hữu… khi viết đều cũng xưng con với Bác: Hôm nay con lại về thăm lăng Bác (Bác ơi – Tố Hữu) Nhưng “con ở Miễn Nam” của Viễn Phương lại mang sắc thái riêng biệt mới, xúc động thành kính vì đó là nơi Bác hằng mong nhớ. Thơ cứ tuôn ra trong dòng cảm xúc kì lạ: “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” Nhà thơ dùng hình ảnh ẩn dụ mặt trời để thể hiện công đức của Bác – Bác là mặt trời chân lý cách mạng, là ánh hào quang rạng sáng soi đường dân tộc, là nắng xuân tươi tắn cho hoa cỏ sinh sôi kết trái. Bác đã đưa nhân dân từ nô lệ bước lên cuộc sống tự do. Đồng thời, hình ảnh ấy còn thể hiện sự tường tồn của bác trong lòng dân tộc – Bác là nguồn sống. Đó quả là một hình ảnh đẹp, mang ý nghĩa sâu sắc mà tinh tế, giản dị mà cảm động. Trong cái cảm xúc trào dâng mãnh mẽ ấy, sự tôn kính Bác lại đượ thể hiện rõ nét: “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi” “vầng trăng… trời xanh…” các hình ảnh đẹp, rộng lớn nối tiếp nhau xuất hiện khiến ta phải suy ngẫm. Ngẫm về cái bất diệt, cái vô cùng của vũ trụ đến cái bất diệt, cái vô cùng cao cả của một con người. Nhà thơ nhìn thấy Bác – vị cha già dân tộc đang nằm thanh thản trong giấc ngủ, trong ánh sáng dịu hiền của vầng trăng. Nhưng vần trăng ấy là vầng trăng lý tưởng, là hình ảnh tượng trưng bằng tất cả cảm xúc yêu kính đối với Bác. Viễn Phương đã thật thành công khi diễn tả dòng cảm xúc này, giữa thực và ảo, giữa lý trí và thực tế. Ông từ tình cảm kính yêu chân thành. Trong tâm lý của người con Nam Bộ đã có sự thay đổi, nhà thơ đang thay mặt cho toàn dân tộc thắp dâng lên Người nén nhanh thành kính. Nhưng rồi cũng đến lúc phải chia tay. Thời gian ở bên Bác thật ngắn ngủi, nhà thơ phải trở về Miền Nam. Và đến đây dòng cảm xúc được đẩy tới mức cao nhất, tuôn trào thật mạnh mẽ: “Mai về miền Nam tuôn trào nước mắt” Câu thơ như lời nói bình thường, không cần dùng đến kỹ thuật. Giọng thơ không ồn ào, nhưng đọc lên lại thấy xúc động. Trước hết bởi cách nói, cách bộc lộ có một cái nhìn rất Nam Bộ: chân thành, bộc trực mà không thô. Tác giả thay mặt cho đồng bào miền Nam, những con người ở xa, bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn. Người đọc đồng cảm với nhà thơ, với nỗi thương nhớ, xót xa khi đứng trước linh cữu của Bác của nhà thơ cũng như tất cả của mọi người. Cái ước nguyện chân thành ở cuối bài thơ cũng không của riêng ai: “Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…” Điệp ngữ muốn làm như lớp sống dồi dào khẳng định sự thủy chung của nhà thơ đối với Bác. Hình ảnh cây tre lại xuất hiện, thật tự nhiên, nhuần nhị để khép lại bài thơ, song không còn hàng tre, khách thể như ở đầu bài thơ mã đã hòa tan vào chủ thể. Nhà thơ nói cho mình, cũng là nói cho ý nguyện của mỗi chúng ta: muốn được hóa thân làm những sự vật (con chim, đóa hoa, cây tre) để được ở mãi bên Bác. “Nay Bác ngủ chúng con canh giấc ngủ”. Bài thơ đã khép lại nhưng để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc. Bài thơ thể hiện tình cảm chân thành, thành kính thiên liêng của tác giả dành cho Bác, đồng thời cũng là tình cảm của toàn dân tộc dành cho Bác. Để mỗi chúng ta càng thêm yêu kính Bác, sống và làm việc theo gương Bác Hồ.
Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác (bài hay)
1,344
Đề bài: Phân tích bài thơ Viếng Lăng Bác của Viễn Phương Bài làm Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đề tài sáng tác rộng lớn, cả cuộc đời Người hi sinh cho độc lập, tự do của dân tộc. Đây là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà văn, nhà thơ và họ đã dành hết tâm huyết của mình để viết về Người-một cuộc đời cách mạng vĩ đại. Có nhiều nhà thơ đã khai thác thành công đề tài Bác Hồ. Tố Hữu có bài “Sáng tháng Năm”, “Bác ơi”; Chế Lan Viên có “Người đi tìm hình của nước”, và Viễn Phương với “Viếng lăng Bác”. Bài thơ được viết vào năm 1976, đây là thời điểm miền Nam vừa giải phóng, đất nước vừa thống nhất, công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được hoàn thành. Ước mơ được ra Hà Nội viếng lăng Bác của đồng bào miền Nam đã có thể được thực hiện. Nhà thơ Viễn Phương cũng là một trong số những đồng bào chiến sĩ miền Nam sau giải phóng được ra Hà Nội viếng lăng Bác. Cảm xúc trong bài thơ là cảm xúc tự đáy lòng của nhà thơ trong giờ phút thiêng liêng ấy. Dù ra đời muộn khi đã xuất hiện nhiều bài thơ đã được coi là đỉnh cao trong mảng sáng tác viết về Hồ Chí Minh. Nhưng “Viếng lăng Bác” vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm thành công xuất sắc và nhanh chóng chiếm được cảm tình từ bạn đọc. Khổ thơ đầu, Viễn Phương đón nhận niềm may mắn được ra viếng lăng Bác bằng một tâm trạng xúc động vô bờ: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. Câu thơ mở đầu gợi ra một thông báo trong cảm xúc xúc động, bồi hồi của một người con từ miền Nam xa xôi sau bao năm mong mỏi mới được ra viếng Bác. Trong mỗi chúng ta ai cũng biết rằng, qua những năm đấu tranh giải phóng miền Nam, Bác luôn hướng về miền Nam bằng tình nghĩa sâu nặng: “Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi”. Chính vì vậy mà Viễn Phương ra thăm Bác lần này không phải là một người khách thông thường mà là một người con về thăm lại người cha già kính yêu. Từ “thăm” thay cho từ “viếng” ở nhan đề bài thơ gợi tả một cuộc gặp gỡ, trò chuyện của những người đang sống, đồng thời làm giảm sự đau buồn, thương tiếc. Cách xưng hô “con-Bác” là cách xưng hô rất miền Nam, ngọt ngào, gần gũi, yêu thương rất đỗi Nam Bộ, đồng thời đó là cách xưng hô của tình cha con thân mật, gần gũi như trong một gia đình. Mấy tiếng “con ở miền Nam” Bao hàm một nỗi đau, một niềm tự hào: con ở miền Nam gian khổ và anh hùng, miền Nam đi trước về sau, miền Nam thành đồng của tổ quốc, miền Nam vừa chiến thắng kẻ thù nay con mới được về trong đại gia đình Việt Nam đây Bác ơi! Con vẫn thấy Bác như sống mãi với con người đất nước Việt Nam. Câu thơ tạo khoảng cách gần gũi như chưa phải là đã có sự li biệt âm dương cách trở. Qua những hàng tre, nhà thơ bồi hồi tiến về lăng Bác, khung cảnh gần lăng càng khiến Viễn Phương xúc động hơn nữa: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. Tiếp tục theo dòng người vào lăng chầm chậm bước đi, Viễn Phương đã nhận thấy “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng-Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”. Sự xuất hiện của mặt trời trên lăng là hình ảnh thực của thiên nhiên vũ trụ tỏa sáng ngày ngày đem lại sức sống cho muôn loài, là mặt trời vĩnh hằng tồn tại cùng thời gian, sự sống. Nhưng bằng sự quan sát liên tưởng, nhà thơ đã bắt gặp một hình ảnh mặt trời khác, đó chính là Bác Hồ. Nghệ thuật ẩn dụ Bác là mặt trời đem lại độc lập tự do, mang lại ánh sáng về cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Bác là mặt trời cách mạng mãi mãi chiếu sáng trên đường chúng ta đi. Người và lý tưởng cách mạng sẽ mãi mãi là vĩnh hằng, bất tử. Thật ra, so sánh Bác với hình ảnh mặt trời đã có người viết. Với Lưu Hữu Phước: “Hồ Chí Minh-ánh thái dương tỏa sáng đời đời”, Tố Hữu cũng đã từng ca ngợi: Người rực rỡ một mặt trời cách mạng Mà đế quốc là loài rơi hốt hoảng Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người. Nhưng cách so sánh ngầm Bác nằm trong lăng như một mặt trời rất đỏ trong cái nhìn đầy ngưỡng mộ của nhà thơ Viễn Phương là một sáng tạo mới mẻ và độc đáo. Cùng với hình ảnh “Mặt trời ngày ngày đi qua trên lăng” là: Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. Hình ảnh dòng người đi trong không gian đặc biệt “thương nhớ” từ từ, chầm chậm xếp thành những hàng dài vô tận khiến nhà thơ so sánh liên tưởng đó là những “tràng hoa”, là những bông hoa tươi thắm, là tình cảm chân thành nhớ thương kết dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân”. Nghệ thuật hoán dụ mang ý nghĩa tượng trưng, cuộc đời của Bác là một cuộc đời đẹp đẽ như mùa xuân và làm ra những mùa xuân cho đất nước. Vào lăng viếng Bác là một công việc diễn ra bình thường, đều đặn trong cuộc sống của người dân Việt Nam. Nhà thơ khẳng định sự thủy chung son sắt của mình, của nhân dân,của đất nước đối với Hồ Chí Minh-vị lãnh tụ kính yêu. Lòng thương tiếc khôn nguôi đối với Bác tiếp tục được khắc sâu trong khổ thơ tiếp theo: Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! Nếu hai khổ thơ trên, tác giả đứng ở ngoài lăng thì ở khổ thơ này, vị trí quan sát của nhà thơ đã thay đổi về không gian. Tác giả vào trong lăng và được chứng kiến: Bác nằm trong lăng giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Trong tâm tưởng của nhà thơ vẫn nghĩ rằng, đây là lúc Bác được nghỉ ngơi thanh thản sau bao năm cống hiến, hi sinh vì dân vì nước. Bác đã nằm trong một giấc ngủ bình yên giữa ánh sáng của vầng trăng. Bác và vầng trăng như đang hòa quyện về tâm hồn bởi lúc sinh thời, Bác với trăng là người bạn tri âm tri kỉ. Nhưng có bao giờ Bác được thảnh thơi để đến với trăng đâu, chỉ có bây giờ trong giấc ngủ này Bác mới cùng trăng được bầu bạn gắn bó. Bác nằm trong giấc ngủ ngàn thu ấy là một sự thật không thể chối cãi được, Bác của chúng ta đã ra đi thật rồi, không còn nữa: Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! Từ “nhói” mang một nỗi đau đột ngột, nỗi đau quặn thắt, nỗi đau tinh thần,là tính từ mạnh có sức biểu cảm cao, trực tiếp bộc lộ tình cảm của nhà thơ, niềm tiếc thương vô hạn của người con khi mất đi người cha. Nỗi đau ấy không gì bù đắp được. Câu thơ thổn thức tiếng lòng của Viễn Phương trước sự ra đi của Người. Có nhiều nhà thơ đã diễn tả nỗi đau, sự mất mát to lớn này: Bác đã đi rồi sao Bác ơi Mùa thu đang đẹp nắng xanh trời Rước Bác vào thăm thấy Bác cười. Hay: Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa Hôm nay con chạy về thăm Bác Ướt lạnh vườn rau mấy gốc dừa. Khổ thơ cuối cùng có sự lặp lại với khổ thơ đầu,đều nhắc đến địa danh miền Nam, đều có hình ảnh cây tre. Sự lặp lại như vậy nhằm hoàn tất một cuộc hành hương về cội nguồn. Trở về nơi đã ra đi từ nơi vừa đến là nước mắt tràn ngập hàng mi. Hàng tre đã trở thành biểu tượng của con người: Con người trung hiếu. Cuối cùng dẫu xót xa đến mấy, cuộc ly biệt cũng phải xảy ra,Viễn Phương trở về với cảm giác thật, với nỗi đau mất Bác: “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”. Một tiếng thương của người miền Nam là trọn vẹn tình cảm của mình đối với Bác, thương ấy là yêu, là kính trọng. Cả cuộc đời của Người dành hết cho dân cho nước. Cùng với niềm thương trào nước mắt ấy, những lời lẽ tự nguyện cũng trùng điệp dâng lên đầy ắp tâm trí. Điệp ngữ “muốn làm” diễn tả trạng thái xúc động mãnh liệt đang dâng lên trong lòng người con sắp trở về miền Nam, từ biệt nơi có người cha già yên nghỉ: Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. Chân bước đi mà mặt còn ngoảnh lại,không muốn rời xa. Một sức mạnh vô hình nhưng mãnh liệt níu kéo lòng ta ở lại. Ước chi ta có thể biến thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi mãi được chiêm ngưỡng tâm hồn Bác, để bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót vui những bình minh của Bác, một đóa hoa góp hương thơm làm đẹp không gian của Bác, một cây tre trong hàng tre xanh xanh tỏa bóng mát dịu dàng bên lăng Bác. Nhưng nhà thơ không thể mong ước gì hơn,sự thật là cuộc chia ly phải xảy ra. Câu thơ trầm xuống để kết thúc, ngừng lặng hoàn toàn. Bài thơ kết thúc bằng những tâm sự của nhà thơ. Một nỗi thương tiếc bâng khuâng, những nỗi niềm tự nguyện về cuộc đời mình để xứng đáng với con người khiêm nhường và vĩ đại, người thầy, người cha, người Bác, vị lãnh tụ đã sống cuộc đời tột bậc vẻ vang của con người, cho con người. “Viếng lăng Bác” là một trong những bài thơ viết muộn màng sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, sau hàng nghìn bài thơ đã viết về nỗi đau mất Bác. Thế nhưng bài thơ vẫn tìm cho mình một tiếng nói mới. Cái mới xuất phát từ tấm lòng chân thành của nhà thơ. Nguyên nhân tạo nên thành công của bài thơ cũng chính là điều đó. Thế đấy, văn chương là chữ nghĩa nhưng trước hết là tấm lòng.
Phân Tích Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Tác Giả Viễn Phương
1,861