text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Soạn bài ôn tập tiếng việt lớp 9 HK 2 Hướng dẫn I. Khởi ngữ và các thành phần biệt lập Câu 1: Khởi ngữ Các thành phần biệt lập Tình thái Cảm thán Gọi – đáp Phụ chú Xây cái lăng ấy Dường như Vất vả quá Thưa ông Những người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp lại ta nữa, hay nhìn ta như vậy. Câu 2. HS tự viết đoạn văn giới thiệu về truyện Bến Quê (Nguyễn Minh Châu) có dùng khởi ngữ và thành phần tình thái. "Bến quê" là một truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Đọc kĩ truyện, chắc chắn ttrong mỗi chúng ta không ai không thấy một triết lí giản dị mà sâu sắc ; những tổng kết đã đc trải nghiệm trong cuộc đời của mỗi con người. Truyện đc xây dựng trên một tình hướng nghịch lí và thể hiện rất rõ qua nhân vật Nhĩ – một con người buôn ba khắp muôn nơi nhưng cuối đời lại bị buộc chặt vào giường bệnh. Lúc này Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp bình dị và đầy quyễn rũ của một vùng đất bên kia sông Hồng ; và anh mới cảm nhận hết tình cảm thân thương của người vợ trong những ngày bệnh tật… tất cả đc nhà văn thể hiện qua những lời văn tinh tế, giàu hình ảnh mà tràn đầy cảm xúc. Đọc "Bến quê", ta không phải đọc qua một lần mà hiểu đc ; ta phải suy tư, nghiền ngẫn qua từng câu từng chư của nhà văn. Bài viết: BÊN QUÊ Nguồn Zing Blog Câu 3. HS tự phân tích sự liên kết câu trong đoạn của mình viết về truyện Bến Quê (bài tập 2 phần 1). Biện pháp liên kết Ngữ liệu Lặp từ ngữ Đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng Thế Nối Đoạn a Mưa – mưa đá – tiếng lanh canh – gió Nhưng, nhưng rồi, và Đoạn b Cô bé Cô bé – nó Đoạn c Bất bình – khinh bỉ – cười khát ; Pháp – Nã Phá Luân ; Mĩ – Hoa Thịnh Đốn Bây giờ cao sang rồi thì để ý đâu đến bọn chúng tôi nữa – thế II. Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ý Câu 1. Qua câu ở dưới ấy các nhà giàu chiếm hết chỗ cả rồi, người ăn xin muốn nói: địa ngục là nơi dành cho bọn nhà giàu (bọn người chất đầy tội lỗi ở trần gian). Câu 2. a. Nam không muốn nói thẳng ý kiến chê của mình (để tránh mếch lòng bạn), do đó cố ý vi phạm phương châm cách thức (nói mơ hồ) và phần nào phương châm quan hệ (noi chệch đề tài). b. Huệ muốn nói rằng ‘’’còn Nam và Tuấn mình vẫn chưa báo’’. Huệ cố ý vi phạm phương châm về lượng (nói thiếu), có lẽ để nhẹ đi phần chưa hoàn thành trách nhiệm của mình.
Soạn bài ôn tập tiếng việt lớp 9 HK 2
472
Soạn bài ôn tập truyện kí Việt Nam (Ngữ Văn 8) Hướng dẫn A.YẾU CẦU Củng cố, hệ thống hóa kiến thức phần truyện kí hiộn đại Việt Nam học ở lớp 8. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Bài tập 1. Lập bảng thống kê những văn bản truyện kí Việt Nam đã học từ đầu năm học theo mẫu sau: Tên văn bản, tác giả (1) Thể loại (2) Phương thức biểu đạt (3) Nội dung chủ yếu (4) Đặc sắc nghệ thuật (5) Chú ý -Mục (1): nếu là văn bản trích tác phẩm thì ghi cả tên tác phẩm, năm tác phẩm ra đời và đặt trong ngoặc đơn; ví dụ: Tức nước vỡ bờ (Tắt đèn, 1939). Sau tên tác giả ghi năm sinh – năm mất (nếu đã mất) của tác giả đó (đặt trong ngoặc đơn); ví dụ: Nguyên Hồng (1918 – 1982). -Mục (2): ghi thể loại của văn bản (truyện ngấn, tiểu thuyết, hồi kí…) -Mục (3): ghi phương thức biểu đạt của văn bản (tự sự, trữ tình hoặc tự sự xen trữ tình…) – Các mục (4) và (5): dựa vào phẩn Ghi nhớ của mỗi bài để ghi. Gợi ý Bài tập 2. Hãy nêu những điểm giống nhau và khác nhau chủ yếu về nội dung và hình thức nghệ thuật của ba văn bân trong các bài 2, 3 và 4. Gợi ý -Giống nhau: + Đều là văn bản tự sự, thuộc truyện kí hiện đại (thời kì 1930 – 1945). + Đều có lối viết chân thực, gần gũi đời sống, sinh động (bút pháp hiện thực). -Khác nhau: Mỗi tác phẩm có nhừng điểm khác về các mặt như: thể loại, phương thức biểu đạt, nội dung chủ yếu và đậc sắc nghệ thuật (như đã tóm tắt trong bảng trên). Bài tập 3. Trong mồi văn bản của các bài 2, 3 và 4 kể trên, em thích nhất nhân vật hoặc đoạn văn nào? Vì sao? Gợi ý Em chọn một trong hai yêu cầu: đoạn văn hoặc nhân vật. Chọn đoạn vàn nào hoặc nhủn vật nào tùy theo ý thích của em. Em cần lí giải được tại sao lại thích nhân vật ấy, đoạn văn ấy mà không phải đoạn văn khác, nhân vật khác.
Soạn bài ôn tập truyện kí Việt Nam (Ngữ Văn 8)
359
Soạn bài ôn tập truyện kí Việt Nam lớp 8 HK 1 Hướng dẫn Soạn bài ôn tập truyện kí Việt Nam lớp 8 HK 1 1. Lập bảng thống kê những văn bản truyện kí Việt Nam đã học từ đầu năm học. Tên văn bản, tác giả Thể loại Phương thức biểu đạt Nội dung chủ yếu Đặc điểm nghệ thuật Trong lòng mẹ (Nguyên Hồng) Hồi kí (trích) Tự sự (có xen trữ tình) Nỗi đau của đứa bé mồ côi và tình yêu thương của mẹ bé. Văn hồi kí chân thực, trữ tình, tha thiết. Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố) Tiểu thuyết (trích) Tự sự Phê phán chế độ tàn ác, bất nhân và ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông thôn. Khắc họa nhân vật và miêu tả hiện thực một cách chân thực, sống động. Lão Hạc (Nam Cao) Truyện ngắn (trích) Tự sự (có xen yếu tố trữ tình) Số phận bi thảm của người nông dân cùng khổ và nhân phẩm cao đẹp của họ. Nhân vật được miêu tả sâu về tâm lí, cách kể chuyện tự nhiên, vừa linh hoạt vừa đậm tính chất trữ tình. 2. a. Giống nhau: – Đều là văn tự sự (có xen lẫn trữ tình), là các truyện kí thể hiện đại sáng tác vào thời kì 1930 – 1945. – Đề tài là những con người và cuộc sống đương thời, đi sâu miêu tả nỗi đau của con người với số phận nghèo khổ cùng cực. – Tố cáo tội ác xấu xa của giai cấp thống trị đương thời. – Sự giống nhau còn ở cách thể hiện chân thực, sinh động, đó là đặc điểm chung của dòng văn xuôi hiện thực trước CMT8. b. Khác nhau. – Ở mỗi văn bản đều có cái riêng. Cũng là nỗi đau của con người nhưng ở mỗi văn bản thể hiện một phương diện, một khía cạnh cụ thể: + Có người vừa nghèo khổ lại vừa bị hủ tục xô đẩy. + Có người vì quá nghèo khổ phải đứng lên phản kháng lại, có người lại chôn chặt nỗi đau ấy trong một cái chết thảm thương. – Về phương diện biểu đạt thì mỗi văn bản thể hiện sắc thái miêu tả, biểu cảm đậm nhạt khác nhau. 3. Gợi ý – Nhân vật Hồng có tình cảm thương mẹ rất sâu sắc. Chú ý đoạn văn tả cảnh Hồng ngồi trên xe với mẹ. – Nhân vật chị Dậu vừa giàu lòng thương chồng con vừa đanh đá. Chú ý đoạn văn chị Dậu chống lại tên cai Lệ. – Nhân vật lão Hạc vừa hiền hậu, vừa có tâm hồn trong sáng. Chú ý đoạn kể chuyện bán chó với ông giáo.
Soạn bài ôn tập truyện kí Việt Nam lớp 8 HK 1
439
Soạn bài ôn tập truyện lớp 9 Hướng dẫn Câu 1. STT Tên tác phẩm Tác giả Nước Năm sáng tác Tóm tắt nội dung 1 Làng Kim Lân Việt nam 1948 Qua tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc, truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân. 2 Lặng lẽ Sa Pa Nguyễn Thành Long Việt Nam 1970 Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông họa sĩ, cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao Sa Pa. Qua đó, truyện ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước. 3 Chiếc lược ngà Nguyễn Quang Sang Việt Nam 1966 Câu chuyện éo le và cảm động về hai cho con: ông Sáu và bé Thu trong lần ông về thăm nhà và ở khu căn cứ. Qua đó, truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh chiến tranh. 4 Cố hương Lỗ Tấn Trung Quốc Trong tập Gào thét (1932) Trong chuyến thăm quê, nhân vật “tôi” đã chứng kiến những đổi thay theo hướng suy tàn của làng quê và cuộc sống người nông dân. Qua đó, truyện miêu tả thực trạng của xã hội nông thôn Trung Hoa đương thời đang đi vào tiêu điều và suy ngẫm về con đường đi của người nông dân và cả xã hội. 5 Những đứa trẻ Mác-xim Go-rơ-ki Nga Trích tiểu thuyết thời thơ ấu (1913 – 1914) Câu chuyện về tình bạn nảy nở giữa chú bé nhà nghèo A-li-ô-sa với những đứa trẻ con viên sĩ quan, sống thiếu tình thương ở bên hàng xóm. Qua đó khẳng định tình cảm hồn nhiên, trong sáng của trẻ em, bất chấp những cản trở của quan hệ xã hội. 6 Bến quê Nguyễn Minh Châu Việt Nam Trong tập Bến quê (1985) Qua những cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật Nhĩ vào lúc cuối đời trên gường bệnh, truyện thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những giá trị và vẻ đẹp bình dị, gần giũ của cuộc sống, của quê hương. 7 Những ngôi sao xa xôi Lê Minh Khuê Việt Nam 1971 Cuộc sống, chiến đấu của ba cô gái thanh niên xung phong trên một cao điểm ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Truyện làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mộng mơ, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của họ. 8 Rô-bin-xơn ngoài đạo hoang Đi-phô Anh Trích tiểu thuyết Rô-bin-xơn Cru-xô (1017) Qua bức chân dung tự họa và lời kể của Rô-bin-xơn, đoạn truyện đã miêu tả cuộc sống vô cùng khó khăn và thể hiện tinh thần lạc quan của nhân vật khi một mình ở nơi đạo hoang trên mười năm ròng rã. 9 Bố của Xi-mông Mô-pa-xăng Pháp Thế kỉ XIX Tâm trạng đau khổ của bé Xi-mông không có bố và sự gặp gỡ của em với bác thợ rèn Phi-líp dẫn đến việc em có được người bố. Truyện đề cao lòng nhân ái, nhắn nhủ chúng ta sự quan tâm và tình yêu thương đối với những con người chịu thiệt thòi, bất hạnh. 10 Con chó Bấc (sẽ học ở tuần 31) Lân – đơn Mĩ Trích tiểu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã (1903) Đoạn văn miêu tả tình cảm đặc biệt của con chó Bấc với người chủ Giôn Thoóc-tơn, thể hiện những nhận xét tinh tế, trí tưởng tượng phong phú và lòng yêu loài vật của tác giả. Câu 2. Có 5 truyện ngắn Việt Nam từ sau năm 1945 được học trong chương trình Ngữ văn lớp 9, sắp xếp theo các thời kì lịch sử như sau: – Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp: Làng (Kim Lân). – Thời kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ: Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê). – Từ sau năm 1975: Bến Quê (Nguyễn Minh Châu). Các tác phẩm trên đã phản anh được một phần những nét tiêu biểu của đời sống xã hội và con người Việt Nam với tư tưởng và tình cảm của họ trong những thời kì lịch sử có nhiều biến cố lớn lao, từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chủ yếu là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Câu 3. Hình ảnh con người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mi đa được thể hiện sinh động qua một số nhân vật: ông Hai (Làng), người thanh niên (Lặng lẽ Sa Pa), ông Sáu và bé Thu (Chiếc Lược Ngà), ba cô gái thanh niên xung phong (Những ngôi sao xa xôi). Sau đây là những nét nổi bật về tính cách và phẩm chất ở mỗi nhân vật – Ông Hai: tình yêu làng thật đặc biệt, nhưng phải đặt trong tình cảm yêu nước và tinh thần kháng chiến. – Người thanh niên trong truyện Lặng lẽ Sa Pa: yêu thích và hiểu ý nghĩa công việc thầm lặng, một mình trên núi cao, có những suy nghĩ và tình cảm tốt đẹp, trong sáng về công việc và đối với mọi người. – Bé Thu (Chiếc lược ngà): tính cách cứng cỏi, tình cảm nồng nàn, thắm thiết với người cha. – Ông Sáu (Chiếc lược ngà): tình cha con sâu nặng, tha thiết trong hoàn cảnh éo le và xa cách của chiến tranh. – Ba cô gái thanh niên xung phong (những ngôi sao xa xôi): Tinh thần dũng cảm không sợ hi sinh khi làm nhiệm vụ hết sức nguy hiểm; tình cảm trong sáng, hồn nhiên, lạc quan trong hoàn cảnh chiếc đấu ác liệt. Câu 4. Cảm nghĩ về nhân vật để lạ ấn tượng sâu sắc. Các em đọc lại bài giảng về truyện ngắn mình thích để viết về nhân vật được sâu sắc, độc đáo. Câu 5. Về phương thức trần thuật: chú ý những truyện sử dụng cách trần thuật ở ngôi thứ nhất (nhân vật xưng “tôi”). Nhưng có những tác phẩm tuy không xuất hiện trực tiếp nhân vật kể chuyện xưng “tôi” mà truyện vẫn được trần thuật chủ yếu theo cái nhìn và giọng điệu của một nhân vật, thường là nhân vật chính. Ở kiểu thứ nhất (nhân vật kể chuyện “tôi”) có các truyện: Chiếc lược ngà, Cố hương, Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, Những ngôi sao xa xôi, Những đứa trẻ. Ở kiểu thứ hai có các truyện: Làng, Lẵng lẽ Sa Pa, Bến Quê. Câu 6. Về tình huống truyện: nhớ lại sơ lược về tình huống truyện. Nêu những tình huống đặc sắc trong cách truyện đã học. Chú ý các tình huống trong các truyện Làng, chiếc lược ngà, Bến Quê, Bố của Xi-mông.
Soạn bài ôn tập truyện lớp 9
1,130
Soạn bài Ôn tập tả đồ vật Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1. Trò chơi: Đoán tên đồ vật Một em nói một vài câu miêu tả đồ vật mà mình yêu thích. Bạn cùng chơi đoán xem đó là đồ vật nào. M: -Bạn A: Đồ vật đó thường nhắc tôi thức dậy vào mồi buổi sáng. -Bạn B: Đó là cái đồng hồ báo thức. Gợi ý: – Đồ vật đó cao, to là nơi cất giữ quần áo của tôi -Đó là tủ đựng quần áo -Đồ vật đó giúp tôi giải trí, nắm bắt tin tức hằng ngày -Đó là chiếc truyền hình màu -Đó là một đồ chơi bằng bông có hình tượng con vật sống ở Bắc Cực, có dáng đi lặc lè. -Đó là chú gấu bông trắng muốt -Đồ vật đó giúp tôi vẽ hình trong môn Toán –Đó là cây bút chì 3.Lập dàn ý miêu tả một trong các đồ vật sau: a)Quyển sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5, tập 2A. b)Cái đồng hồ báo thức c)Một đồ vật trong nhà mà em yêu thích d)Một đồ vật hoặc món quà có ý nghĩa sâu sắc với em e)Một đồ vật trong viện bảo tàng hoặc trong nhà truyền thống Tham khảo tại đây: B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Tìm các từ dùng để nối các vế câu trong mồi câu ghép dưới đây. Viết kết quả ra bảng nhóm. M: Buổi chiều, nắng vừa nhạt, sương đã buông nhanh xuống mặt biển. (Cặp từ dùng để nôi các vế câu: vừa – đã) a)Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. (THẠCH LAM) b)Chúng tôi đi đến đâu, rừng rào rào chuyển động đến đấy. (NGUYỄN PHAN HÁCH) c)Trời càng nắng gắt, hoa giấy càng bồng lên rực rỡ. (TRẦN HOẢI DƯƠNG) Gợi ý: a) chưa – đã; b) đâu – đấy; c) càng – càng 2.Chọn các cặp từ thích hợp để hoàn chỉnh các câu ghép dưới đây (SGK/110) Gợi ý: a) Mưa càng to, gió càng thổi mạnh. b)Trời vừa hửng sáng, nông dân đã ra đồng. c)Thủy Tinh dâng nước cao bao nhiêu, Son Tinh làm núi cao lên bấy nhiêu. 3.Đặt một câu ghép có cặp từ nối các vê câu như trên và viết vào vở. Gợi ý: Mọi người càng hò hét, đàn voi càng chạy nhanh hơn.
Soạn bài Ôn tập tả đồ vật
355
Soạn bài ôn tập và kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 1 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Nắm vững những nội dung về từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt đã học ở học kì I: cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ, trường từ vựng; từ tượng hình, từ tượng thanh; từ địa phương, biệt ngừ xã hội; các biện pháp tu từ từ vựng; trợ từ, thán từ; tình thái từ; câu ghép. -Thực hiện một số bài tập trong SGK. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP PHẨN BÀI HỌC I. Từ vựng Thực hành Dựa vào kiến thức về văn học dân gian và cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ, hãy điền từ ngữ thích hợp vào ô trống theo sơ đồ sau: (SGK, tr. 157) Gợi ý a)Điền từ ngữ vào ô trống theo sơ đồ: Giải thích những từ ngữ có nghĩa hẹp trong sơ đồ trên: -Truyền thuyết: Truyện dân gian về các nhân vật và sự kiện lịch sử xa xưa, có nhiều yếu tô thần kì. -Truyện cổ tích: Truyện dân gian kể về cuộc đời, số phận của một số kiểu nhân vật quen thuộc (như: người mồ côi, người mang lốt xấu xí, người em, người dũng sĩ…), có nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo. -Truyện ngụ ngôn: Truyện dân gian mượn chuyện về loài vật, dồ vật hoặc về chính con người đổ nói bóng nói gió chuyện con người. -Truyện cười: Truyện dân gian dùng hình thức gây cười để mua vui hoặc phê phán, đả kích. Từ ngữ chung trong phần giải thích nghĩa của những từ ngữ trên là truyện dân gian. Đây là từ ngữ có nghĩa rộng hơn (cấp độ khái quát cao hơn). b)Trong ca dao Việt Nam có nhiều câu sử dụng biện pháp tu từ nói quá hoặc nói giảm nói tránh. Ví dụ nói quá: +Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho +Con tằm nó ăn lá dâu Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò c)Viết hai câu, trong đó một câu có dùng từ tượng hình, một câu có dùng từ tượng thanh. Ví dụ: -Biển động, đêm nằm nghe tiếng sóng vọng lại ầm ì. -Mấy con trâu bụng no tròn, đủng đỉnh theo chân những đứa trẻ về làng. II. Ngữ pháp Thực hành (SGK, tr. 158) Gợi ý a)Viết hai câu, trong đó một câu có dùng trợ từ và tình thái từ, một câu có dùng trợ từ và thán từ. Ví dụ: -Chị giành một lúc những hai giải thưởng kia à? -Trời ơi, chính mình cũng bất ngờ vé chuyện này. b)Câu Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị là câu ghép. Câu này có thê tách thành ba câu đơn. Tuy nhiên, khi tách thành ba câu đơn thì mối liên hệ, sự liền mạch của các sự việc sẽ bị phá vỡ. Do đó, ý cần diễn đạt của câu sẽ thay đổi. c)Đoạn trích gồm ba câu. Câu thứ nhất và câu thứ ba là câu ghép. Câu thứ nhất, các vế câu được nối với nhau bằng quan hệ từ cũng như. Câu thứ ba, các vế câu được nối với nhau bằng quan hệ từ bởi vì.
Soạn bài ôn tập và kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 1
522
Soạn bài ôn tập và kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 2 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Ôn tập phần Tiếng Việt ở học kì II để nắm vững các nội dung vể các kiểu câu, cáẹ kiểu hành động nói, lựa chọn trật tự từ trong câu. -Vận dụng làm tốt bài kiểm tra vé những nội dung trên. B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I.Kiểu câu: nghi vổn, cầu khiến, cám thán, trần thuật, phủ định Bài tập 1. Đọc những câu sau và cho biết mỗi câu thuộc kiểu câu nào trong số các kiểu câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, trần thuật, phủ định. (SGK, t.2, tr 130-131) Gợi ý Câu (1) là câu trần thuật ghép, có một vế là dạng câu phủ định. Câu (2) là câu trần thuật đơn. Câu (3) là câu trần thuật ghép, vế sau có một vị ngữ phủ định. Bài tập 2. Dựa vào nội dung của câu (2) trong bài tập 1, hãy đặt một câu nghi vấn. Gợi ý Từ nội dung của câu trần thuật Cái bản tính tốt của người ta bi những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất, chúng ta có thể đặt nhiều câu nghi vấn, tùy vào việc đặt điểm hỏi vào từ ngữ nào. Ví dụ: -Những gì có thể che lấp mất cái bản chất tốt của người ta? (những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ). -Cái bản chất tất của người ta có thể bị những gì che lấp mất? (những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ). -Những nổi lo lắng, buồn đau, ích kỉ có thể che lấp cái bản tính tốt của người ta không? Bài tập 3. Hãy đặt câu cảm thán chứa một trong những từ như vui, buồn, hay, đẹp… Gợi ý Căn cứ vào những từ đã cho để tạo những câu cảm thán. Ví dụ: -Buồn ơi là buồn! -Vui quá đi mất! -Ôi, hay thật! -Chà, bức tranh mới đẹp làm sao! Bài tập 4. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi. (SGK, t.2, tr. 131) Gợi ý a)Câu trần thuật là các câu (1), (3), (6); củu cầu khiến là câu (4); câu nghi vấn là các câu (2), (5), (7). b)Câu nghi vấn dùng để hỏi là câu (7). c)Các câu nghi vấn không dùng để hỏi là câu (2), (5). Câu (2) chỉ dùng để bộc lộ sự ngạc nhiên của ông giáo, câu (5) dùng để giải thích cho đề nghị được nêu ở câu (4). II. Hành động nói Bài tập 1. Hãy xác định hành động nói của các câu đã cho theo bảng sau đây: (SGK, t.2, tr. 131) Gợi ý STT Câu đã cho Hành động nói (1) Tôi bật cười bảo lão: Kể (2) Sao cụ lo xa quá thế? Bộc lộ cảm xúc (3) Cụ còn khoè lắm, chưa chết đâu mà sợ! Nhận định ( 4) Cụ cứ để tiền ấy mà ân, lúc chết hãy hay! Đề nghị (5) Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại? Giải thích thêm (6) – Không, ông giáo ạ! Phủ định bác bỏ (7) Ăn mãi hết đi thì dến lúc chết lấy gì mà lo liệu? Hỏi Bài tập 2. Hãy xếp các câu nêu từ bài tập 1 vào bảng tổng kết theo mẫu sau: (SGK, t.2, tr. 132) Gợi ý STT Kiểu câu Hành động nói được thực hiện Cách dùng (1) Trần thuật Kể Trực tiếp (2) Nghi vấn Bộc lộ cảm xúc Gián tiếp (3) Trần thuật Trình bày Trực tiếp (4) Cầu khiến Đề nghị, điểu khiển Trưc tiếp (5) Nghi vấn Giải thích Gián tiếp (6) Phủ định Phủ định bác bỏ Trực tiếp (7) Nghi vấn Hỏi Trực tiếp Bài tập 3. Hãy viết một hoặc vài ba câu theo một trong những yêu cầu nêu dưới đây. Xác định mục đích của hành động nói. a)Cam kết không tham gia các hoạt động tiêu cực như đua xe trái phép, cờ bạc, nghiện hút… b)Hứa tích cực học tập, rèn luyện và đạt kết quả tốt trong năm học tới. Gợi ý Em tự viết những câu thể hiện hành động nói hứa hẹn với hai dạng cụ thể: cam kết và hứa hẹn. II.Lựa chọn trột tự từ trong câu Bài tập 1. Giải thích lí do sắp xếp trật tự của các bộ phận câu in đậm nối tiếp nhau trong đoạn vãn sau: Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. (Thánh Gióng) Gợi ý Thứ tự các từ ngữ in đậm được sắp xếp theo trình tự trước sau của hoạt động, trạng thái của sứ giả. Bài tập 2. Trong những câu sau, việc sắp xếp các từ ngữ in đậm ở đầu câu có tác dụng gì? a)Các lang ai cũng muốn ngôi báu về mình, nên cố làm vừa ý vua cha. Nhưng ý vua cha như thế nào, không ai đoán được. (Bánh chưng, bánh giầy) b)Con người của Bác, đòi sống của Bác giản dị như thế nào, mọi người chúng ta đều biết: bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống. (Phạm Văn Đồng, Đức tính giản dị của Bác Hồ) Gợi ý a)Các từ ngữ in đậm có tác dụng liên kết câu. b)Các từ ngừ in đậm có tác dụng nhấn mạnh đề tài của câu nói. Bài tập 3. Đọc, đối chiếu hai câu sau (chú ý các cụm từ in đậm) và cho biết câu nào mang tính nhạc rõ ràng hơn. a)Nhớ một huổi trưa nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê. b)Nhớ một huổi trưa nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên khúc nhạc đồng quê man mác. Gợi ý Câu (a) mang tính nhạc rõ ràng hơn.
Soạn bài ôn tập và kiểm tra phần tiếng Việt lớp 8 HK 2
916
Đề bài: Soạn Bài Ôn Tập Và Kiểm Tra Phần Tiếng Việt Lớp 8 Bài Làm I. KIỂU CÂU: NGHI VẤN, CẦU KHIẾN, CẢM THÁN, TRẦN THUẬT PHỦ ĐỊNH. Câu 1: Câu 1: Câu trần thuật ghép – có một vế là dạng câu phủ định Câu 2: Câu trần thuật đơn Câu 3: Câu trần thuật ghép, vế sau có một vị ngữ phủ định ( không nỡ giận ) Câu 2: – Cái bản tính tốt đẹp của người ta sẽ bị những gì che lấp mất? ( hỏi theo kiểu câu bị động ) – Những gì có thể che lấp mất cái bản tính tốt đẹp của người ta? ( Hỏi theo kiểu câu chủ động) – Cái bản tính tốt đẹp của người ta có thể bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất không? – Những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ có thể che lấp mất cái bản tính tốt đẹp của người ta không? Câu 3: – Chao ôi buồn! – Ôi, buồn quá! – Vui quá là vui! – Áo cậu đẹp lắm! Câu 4: a) Câu trần thuật: (1), (3), (6) ; Câu cầu khiến: (4) ; câu nghi vấn: (2), (5), (7) b) Câu nghi vấn dùng để hỏi là câu 7 c) Câc câu nghi vấn (2), (5) là những câu không được dùng để hỏi. Câu (2): Sự ngạc nhiên về việc lão Hạc nói về những chuyện xảy ra trong tương lai xa, chưa xảy ra trước mắt. Câu này tương đương với câu:“ Cụ lo xa quá đấy thôi!” hoặc: “Chẳng có gì khiến cụ phải lo xa như thế cả!”. Nó không dùng để hỏi một việc gì cả, mục đích của nó chỉ là nêu lên điều ngạc nhiên, bất ngờ của người nói. Nó được dùng để bộc lộ cảm xúc. II. HÀNH ĐỘNG NÓI Câu 1: STT Câu đã cho Hành động nói 1 Tôi bật cười bảo lão: Trình bày 2 – Sao cụ lo xa quá thế? Bộc lộ sự cảm xúc 3 Cụ còn khỏe lắm, chưa chết đâu mà sợ! Trình bày 4 Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Điều khiển 5 Tội gì bây giờ nhịn đói mà để tiền lại Trình bày 6 – Không, ông giáo ạ! Trình bày 7 Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu? Hỏi Câu 2: STT Kiểu câu Hành động nói được thực hiện Cách dùng 1 Trần thuật Trình bày Trực tiếp 2 Nghi vấn Bộc lộ cảm xúc Gián tiếp 3 Trần thuật Trình bày Trực tiếp 4 Cầu khiến Điều khiển Trực tiếp 5 Nghi vấn Trình bày Gián tiếp 6 Trần thuật Trình bày Trực tiếp 7 Nghi vấn Hỏi Trực tiếp Câu 3: a) Cam kết không tham gia các hoạt động tiêu cực như đua xe trái phép, cờ bạc, nghiện hút…: – Em hứa sẽ không tham gia hoạt động đua xe trái phép – Tôi xin cam kết rằng sẽ không đánh cờ bạc dưới mọi hình thức. – Tôi xin cam đoan rằng mình sẽ không bao giờ nghiện hút. b) Hứa sẽ tích cực học tập, rèn luyện và đạt kết quả tốt trong năm học tới: – Con hứa sẽ tích cực học tập, rèn luyện và đạt kết quả cao trong năm học tới để bố mẹ vui lòng về con. III. LỰA CHỌN TRẬT TỰ TỪ TRONG CÂU Câu 1: Các trạng thái và hành động của sứ giả được xếp theo đúng thứ tự xuất hiện và thực hiện: Thoạt tiên là tâm trạng kinh ngạc sau đó là mừng rỡ và cuối cùng là về tâu vua. Câu 2: a) Nối kết câu b) Nhấn mạnh ( làm nổi bật ) đề tài của câu nói Câu 3: Câu a có tính nhạc hơn, vì: Đặt “man mác” trước “khúc nhạc đồng quê” gợi cảm xúc mạnh hơn; kết thúc thanh bằng (quê) có độ ngân hơn kết thúc thanh trắc ( mác).
Soạn Bài Ôn Tập Và Kiểm Tra Phần Tiếng Việt Lớp 8
591
Soạn bài ôn tập văn nghị luận Hướng dẫn Câu hỏi 1: Đọc lại các bài nghị luận đã học và điền vào bảng theo mẫu cho sẵn. Gợi ý: HS điền vào bảng lần lượt như sau: -Văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta: + Tác giả: Hồ Chí Minh + Đề tài nghị luận: Tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam + Vấn đề nghị luận: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. + Kiểu bài: chứng minh. -Văn bản Sự giàu đẹp của tiếng Việt: + Tác giả: Đặng Thai Mai. + Đề tài nghị luận: Sự giàu đẹp của tiếng Việt. + Vấn đề nghị luận: Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay. + Kiểu bài: chứng minh kết hợp với giải thích. -Văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ: + Tác giả: Phạm Vãn Đồng. + Đề tài nghị luận: đức tính giản dị của Bác Hồ. + Vấn đề nghị luận: Bác giản dị trong mọi phương diện: bữa cơm, nhà ở, lôi sống, cách nói và viết. Sự giản dị ấy đi liền với sự phong phú, rộng lớn về đời sống tinh thần của Bác. + Kiểu bài: Chứng minh kết hợp với giải thích và bình luận. -Văn bản Ý nghĩa văn chương: + Tác giả: Hoài Thanh. + Đề tài nghị luận: Văn chương và ý nghĩa của nó đối với con người + Vấn đề nghị luận: Nguồn gốc của văn chương là ở tình thương con người, thương muôn loài, muôn vật. Văn chương hình dung ra và sáng tạo sự sông, nuôi dưỡng và làm giàu cho tình cảm của con người. + Kiểu bài: Giải thích kết hợp với bình luận. Câu hỏi 2: Nêu tóm tắt những nét đặc sắc nghệ thuật của mỗi bài nghị luận đã học. Gợi ý: -Văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta: Dẫn chứng tiêu biếu, câu văn giàu hình ảnh, bô' cục chặt chẽ, lô gíc theo trình tự thời gian -Vãn bản Sự giàu đẹp của tiếng Việt: Bố cục rõ ràng, mạch lạc, luận cứ xác đáng có cơ sở thực tế, kết hợp giải thích và chứng minh. -Văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ: Dần chứng cụ thể, toàn diện, kết hợp giải thích với chứng minh, xen vào những đoạn bình luận. Lời văn giàu cảm xúc. -Văn bản Ý nghĩa văn chương: Lôi văn giàu hình ảnh và biếu cảm. Các ý rõ ràng. Câu hỏi 3: a.Căn cứ vào hiểu biết của mình, hãy chọn trong cột bên phải những yếu tố có trong mỗi thể loại ở cột bên trái. b.Dựa vào sự tìm hiểu ở trên, em hãy phân biệt sự khác nhau căn bản giừa văn nghị luận và các thế loại tự sự, trữ tình. c.Những câu tục ngữ trong bài 18, 19 có thể coi là loại văn nghị luận đặc biệt không? Gợi ý: a.Từng thế loại tương ứng với các yếu tố như sau: -Truyện: cốt truyện, nhân vật, nhân vật kể chuyện -Kí: nhân vật kế chuyện, nhân vật -Thơ tự sự: cốt truyện, nhân vật kề chuyện, nhân vật. -Tuỳ bút: vần, nhịp -Nghị luận: luận điểm, luận cứ, vấn đề. b.Thể loại tự sự chủ yếu dùng phương thức miêu tả và kế nhằm tái hiện sự vật, hiện tượng, con người, câu chuyện. Còn các thế loại trữ tình và tuỳ bút chu yếu dùng phương thức biểu cảm đế thể hiện tình cảm, cảm xúc qua các hình ảnh, vần, nhịp -Khác với tự sự và trừ tình, văn nghị luận dùng phương thức lập luận bằng lí lẽ, dần chứng đế trình bày ý kiên, tư tưởng nhăm thuyết phục người đọc, người nghe. Trong văn nghị luận cũng có hình ảnh, cảm xúc nhưng điều cốt yếu là lập luận với các hệ thống luận điểm, luận cứ chặt chẽ, xác đáng. c.Những câu tục ngữ trong bài 18, 19 có thể coi là văn bản nghị luận đặc biệt vì chúng có cấu trúc theo luận cứ và luận điểm. VD: “Ráng mỡ gà có nhà thì giữ”. “Ráng mỡ gà” là luận cứ và “có nhà thì giữ” chính là kết luận.
Soạn bài ôn tập văn nghị luận
693
Soạn bài Ôn tập về câu lớp 5 Hướng dẫn HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Quan sát bức tranh dưới đây (SGK/131). Dựa vào nội dung tranh, mỗi bạn đặt 1 câu theo các kiểu câu đã học: – Câu hỏi. (M: Các bạn học sinh đang làm gì?) Gợi ý: – Câu hỏi: Các bạn học sinh múa hát ở đâu? -Câu kể: Các bạn học sinh múa hát ở lửa trại. –Câu cảm: Các bạn múa hát vui ghê! 2.a) Đọc đoạn văn sau (SGK/132). b)Tìm trong đoạn văn và viết vào phiếu học tập: một câu hỏi, một câu kể, một câu cảm. c)Điền dấu hiệu nhận biết mỗi kiểu câu, theo mẫu (SGK/132). Gợi ý: b) – Câu hỏi: câu (2) -Câu kể: câu (1) -Câu cảm: câu (5) c) Kiểu câu Câu Dấu hiệu nhận biết Câu hỏi Phải chăng tiếng hát ấy được cất lên từ trong sâu thẳm trái tim? Dấu chấm hỏi cuối câu Câu kể Tiếng hát ngọt ngào của cậu bé mù vang lên từ trong khán phòng đã chật kín người. Dấu chấm cuối câu Câu cảm Thật tuyệt vời! Dấu chấm than cuối câu 3.Phân loại các kiểu câu kể: a)Đọc mẩu chuyện “Quyết định độc đảo” (SGK/133). b)Các câu trong mẩu chuyện trên thuộc kiểu câu gì? (Điền số câu vào chỗ trống phù hợp trong bảng nhóm). M: Kiểu câu Ai làm gi? gồm có câu (1),… c) Ghi các thành phần trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ của các câu trong mẩu chuyện trên vào phiếu học tập theo mẫu: Gợi ý b) – Kiểu câu Ai làm gì? gồm có câu (1), (3). – Kiểu câu Ai thế nào? gồm có câu (2). – Kiểu Câu Ai là gì? gồm có câu (4). c) Câu Trạng ngữ Chủ ngữ Vị ngữ (2) Theo quyết định này, mỗi lần mắc lỗi công chức bị phạt 1 bảng. (3) Ông chủ tịch Hội đồng thành phố tuyên bố sẽ không kí bất cứ văn bản nào có lỗi ngữ pháp và chính tả. (4) Đây là một biện pháp mạnh nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Anh.
Soạn bài Ôn tập về câu lớp 5
309
Đề bài: Soạn Bài Ôn Tập Về Luận Điểm Lớp 8 Bài Làm I. KHÁI NIỆM LUẬN ĐIỂM Câu 1: Luận điểm là những tư tưởng, quan điểm, chủ trương cơ bản người viết (nói) nêu ra trong bài văn nghị luận. (Đáp án c) Câu 2: a) Văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta có 4 luận điểm: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Lịch sử đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại Đồng bào ta ngày nay cũng có một lòng yêu nước nồng nàn Bổn phận của chúng ta với lòng yêu nước Trong đó, luận điểm dùng làm cơ sở là luận điểm thứ nhất: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, và luận điểm dùng làm kết luận của bài là luận điểm thứ tư: Bổn phận của chúng ta với lòng yêu nước. b) Một bạn cho rằng bài Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có hai luận điểm: Luậnđiểm 1: Lí do phải dời đô Luận điểm 2: Lí do có thể coi thành Đại La là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Xác định luận điểm như vậy là không đúng vì đó không phải là ý kiến, quan điểm mà chỉ là những vấn đề. Văn bản Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn có các luận điểm sau Dời đô là việc trọng đại của các vua chúa, trên thuận ý trời, dưới theo lòng dân mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài. Các nhà Đinh, Lê không chịu dời đô nên triều đại ngắn ngủi… Thành Đại La xét về mọi mặt, thật xứng đáng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Vua sẽ dời đô ra đó. Câu 1: a) Vấn đề đặt ra trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta ( Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước). Nếu trong bài văn, Hồ Chí Minh chỉ đưa ra luận điểm: “Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn” thì không đủ làm sáng tỏ vấn đề tinh thần yêu nước của nhân dân ta. b) Trong bài Chiếu dời đô, nếu Lí Công Uẩn chỉ đưa ra luận điểm: Các triều đại trước đó đã có lần dời đô, thì mục đích của vua khi ban chiếu không đủ để làm sáng rõ vấn đề: Cần phải dời đô từ Hoa Lư đến Đại La. Câu 2: Luận điểm cần chính xác, rõ ràng, phù hợp với yêu cầu giải quyết vấn đề và phải đủ làm sáng tỏ toàn bộ vấn đề. III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LUẬN ĐIỂM TRONG BÀI VĂN NGỊ LUẬN Câu 1: – Hệ thống luận điểm 1 trong ví dụ hoàn toàn chính xác, có sự liên kết, phân biệt rành mạch các ý với nhau, bảo đảm chúng ko bị trùng lặp, chồng chéo lên nhau; được sắp xếp theo một trình tự hợp lí. – Hệ thống luận điểm 2 không đạt vì chưa chính xác, chưa phù hợp với vấn đề( chưa chăm học, hay nói chuyện riêng chưa phải là khuyết điểm về phương pháp học tập. Các luận điểm không có sự liên kết: Vì chưa chính xác nên luận điểm a không thể làm cơ sở để dẫn tới luận điểm b, bởi không bàn về phương pháp học tập nên luận điểm c không liên kết được với các luận điểm đứng trước và sau nó. Do đó, luận điểm d cũng không kế thừa và phát huy được kết quả của cả ba luận điểm a, b, c trước đó. Nếu viết theo hệ thống luận điểm này thì bài làm không thể rõ ràng, mạch lạc, các ý không thể tránh khỏi luẩn quẩn, trùng lặp, chồng chéo. IV. LUYỆN TẬP Bài tập 1: Luận điểm của văn bản không phải là “Nguyễn Trãi là một ông tiên”, cũng không phải là: “ Nguyễn Trãi là một anh hùng dân tộc “ mà là: “Nguyễn Trãi là tinh hoa của đất nước, dân tộc và thời đại lúc bấy giờ”. Vì: Nguyễn Trãi có cái tài làm hay, làm đẹp cho đất nước, từ xưa chưa bao giờ có. Nguyễn Trãi là người chân đạp đất Việt Nam, đầu đội trời Việt Nam, tâm hồn lộng gió của thời đại lúc bấy giờ, thông cảm sâu xa với nỗi lòng dân lúc bấy giờ, suốt đời tận tụy cho một lí tưởng cao quý. Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc. Ông có sự nghiệp sáng tác đáng tự hào. Bài tập 2: a, Các luận điểm đuợc lựa chọn phải có nội dung chính xác, và phù hợp với ý nghĩa của vấn đề giáo dục là chìa khoá của tương lai. Đây là một vấn đề nghị luận đồng thời cũng là luận điểm trung tâm. Vì thế không thể chọn những ý không có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung cơ bản này b, Có thể sắp xếp theo trình tự: Giáo dục được coi là chìa khoá của tương lai vì: – Giáo dục là yếu tố quyết định đến việc điều chỉnh tốc độ gia tăng dân số; thông qua đó, quyết định môi trường sống, mức sống… trong tương lai – Do đó giáo dục là chìa khoá cho sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai. – Cũng do đó giáo dục là chìa khoá cho sự phát triển chính trị và cho tiến bộ xã hội sau này.
Soạn Bài Ôn Tập Về Luận Điểm Lớp 8
908
Soạn bài Ôn tập về luận điểm Hướng dẫn Soạn bài Ôn tập về luận điểm lớp 8 Soạn bài Ôn tập về luận điểm được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài Ngữ văn lớp 8 Ôn tập về luận điểm trang 73 SGK I. KHÁI NIỆM LUẬN ĐIỂM 1. Chọn (c) 2. a. b. Xác định hai luận điểm như vậy là đúng. Vì đây là 2 câu trả lời cho luận đề “cần phải dời đô đến Đại La”, một câu căn cứ vào lịch sử, một câu căn cứ vào thực tế thành Đại La. II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬN ĐIỂM VỚI VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN 1. a) Vấn đề được đặt ra trong bài “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” là tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Nếu trong bài, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đưa ra luận điểm “Đồng bào ta ngày nay có lòng yêu nước nồng nàn” thì chưa đủ làm sáng tỏ vấn đề. b) Nếu Lí Công Uẩn chỉ đưa ra luận điểm “Các triều đại trước đây đã nhiều lần thay đổi kinh đô” thì mục đích của nhà vua khi ban “Chiếu dời đô” có thể không đạt. Vì chừng đó chưa đủ làm sáng tỏ vấn đề “cần phải dời đô đến Đại La” III. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LUẬN ĐIỂM TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN a) Hệ thống thứ nhất đạt được các điều kiện cần của luận điểm. b) Hệ thống thứ hai không đạt được các điều kiện đó. Là bởi: – Trong hệ thống đó, có những luận điểm chưa chính xác (không thể chỉ đổi mới phương pháp là kết quả học tập sẽ được nâng cao, cũng không thể đòi hỏi phải thường xuyên đổi mới cách học tập nếu không có lí do chính đáng), cũng có luận điểm chưa phù hợp với luận đề (chưa chăm học và nói chuyện riêng đều không phải là khuyết điểm về phương pháp học tập). Vì chưa chính xác nên luận điểm (a) không thể làm cơ sở để dẫn tới luận điểm (b). Bởi không bàn về phương pháp học tập nên luận điểm (c) không liên kết được với các luận điểm đứng trước và sau nó. Do đó, luận điểm (d) cũng không kế thừa và phát huy được kết quả của 3 luận điểm (a), (b), (c) trên đó. – Nếu viết theo hệ thống luận điểm này thì bài làm không thể rõ ràng, mạch lạc (bởi mạch vẫn không thông suốt), các ý không tránh khỏi luẩn quẩn, trùng lặp, chồng chéo (ví dụ: Ý “cần đổi mới phương pháp học tập” sẽ phải nói đi nói lại suốt bài Vì thế trong bài văn nghị luận, luận điểm cần phải chính xác và gắn bó chặt chẽ với nhau. – Sự phân chia ra các luận điểm ngang bậc nhau chỉ được dựa vào một căn cứ duy nhất. – Các luận điểm ngang bậc nhau phải loại trừ nhau, không được trùng lặp hoặc chồng chéo lên nhau. – Các luận điểm phải được sắp xếp đúng theo lô gích của quá trình giải quyết vấn đề, luận điểm trước chuẩn bị cơ sở cho luận điểm sau, luận điểm sau tiếp thu và phát huy kết quả của luận điểm trước. – Các luận điểm cũng cần được sắp xếp sao cho người đọc (người nghe) dễ dàng tiếp nhận. Sự nghị luận nên đi theo trình tự: Từ cái dễ thấy hơn đến cái khó nhận ra hơn, từ cái quen thuộc hơn đến cái mới lạ hơn, từ cái ở mức độ thấp hơn đến cái ở mức độ cao hơn… Dưới đây là bài soạn Ôn tập về luận điểm bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Ôn tập về luận điểm Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài Ôn tập về luận điểm
742
Soạn bài ôn tập về thơ lớp 9 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Hệ thống hoá kiến thức cơ bản về các tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam đã học trong chương trình Ngữ văn 9. Củng cố những tri thức về thơ trữ tình đã học trong chương trình Ngữ văn 9 và các lớp dưới. Bước đầu hình thành những hiểu biết sơ lược về đặc điổm và thành tựu thơ Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. -Rèn kĩ năng phân tích thơ. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Bài tập 1. Lập bảng thống kê các lác phẩm thơ hiện đại Việt Nam đã học trong sách ngữ văn 9 (cả hai tập) theo mẫu và theo Lưu ý ưong SGK tập 2, trang 89. Gợi ý Bài tập 2. (SGK tập 2, trang 89) Gợi ý -Các tác phẩm thơ thống kê ở trên đều là thơ Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945: a)Giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954): Đồng chí. b)Giai đoạn hoà bình sau cuộc kháng chiến chống Pháp (1954 – 1964): Đoàn thuyền đánh cú, Bếp lửa, Con cò. c)Giai đoạn kháng chiến chống Mĩ (1964 – 1975): Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ. d)Giai đoạn lừ sau năm 1975: Ánh trâng, Mùa xuân nho nhỏ, Viếng lăng Bác, Nói với con, Sang thu. -Các tác phẩm thơ nêu ở trên đà thể hiện hiện thực về cuộc sống đất nước ưong giai đoặn này. Đó là hiện thực về một đất nước và dân tộc nhiều gian khổ, hi sinh và vô cùng anh dũng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ; hiện thực về những con người Việt Nam trong công cuộc lao động, xây dựng đất nước với truyền thống cần cù và tinh thần làm chủ đất nước. Những tác phẩm thơ cũng đã thể hiện dược nét đẹp về tâm hồn, tình cảm, tư tưởng của con người Việt Nam trong một thời kì lịch sử có nhiều biên động lớn lao, nhiều đối thay sâu sắc. Đó là: tình yêu quê hương, tình đồng chí, sự gắn bó với cách mạng, lòng kính yêu Bác Hồ, tình mẹ con, hà cháu trong sự thống nhất với tình cảm chung rộng lớn. Bài tập 3. Nhận xét về những điểm chung và nét riêng trong nội đung và cách biểu hiện tình mẹ con trong các bài thơ: Khúc hút ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Con cò, Mây và sóng. Gợi ý -Ba bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Con cò, Mây vù sóng đều có điểm chung là đề cập đến tình mẹ con, đều ngợi ca tình mẹ con thắm thiết, thiêng liêng. Nhưng nội dung tình cảm, cảm xúc ở mỗi bài lại mang nét riêng biệt: + Bài thơ Khúc hút ru những em bé lớn trên lưng mẹ thể hiện sự thống nhất của tình yêu con với lòng yêu nước, gắn bó với cách mạng của người mẹ dân tộc Tà-ôi trong hoàn cảnh hết sức gian khổ ở chiến khu miền tây Thừa Thiên trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. + Bài thơ Con cò: từ hình tượng con cò trong ca dao, tác giả ca ngợi tình mẹ. Ý nghĩa của bài thơ vì thế mà được nâng lên cao hơn, sâu sắc hơn. + Bài thơ Mây vù sóng hoá thần vào lời trò chuyện hồn nhiên, ngây thơ của em bé với mẹ để thể hiện tình yêu mẹ thắm thiết của em bé. Mẹ đối với em bé là vẻ đẹp, niềm vui, sự hấp dẫn lớn nhất, sâu xa và vô tận hơn tất cả những điều hấp dẫn khác trong vũ trụ, trên cuộc đời này. -Cách thể hiện ở ba bài thơ cũng có điểm gần gũi đó là dùng điệu ru, lời ru của người mẹ hoặc lời của em bé nói với mẹ. Bài tập 4. Nhận xét về hình ảnh người lính và tình đồng đội của họ trong các bài thơ: Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Ánh trăng. Gợi ý Cả ba bài thơ: Đồng chí, Bài thư về tiểu đội xe không kính, Ánh trăng đều viết về vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của người lính cách mạng, nhưng mỗi bài lại khai thác những phẩm chất đáng yêu này trong những hoàn cảnh khác nhau. -Bài thơ Đồng chí: Nói về người lính trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chông Pháp. Họ xuất thân là nông dân, từ những làng quê nghèo khó, tình nguyện và hăng hái đi chiến đấu. Tinh đồng chí giữa họ dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ, cùng chia sẽ những gian lao, thiếu thôn và cùng lí tưởng chiến đâu. Bài thơ tập trung thể hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí ở những người lính cách mạng. -Bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính: Nhà thơ khắc hoạ hình ảnh những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Họ là những người lính tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chông Mĩ. Bài thơ làm nổi bật tinh thần dũng cảm, niềm lạc quan yêu đời và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam của họ. -Bài thơ Ánh trăng là tâm sự của người lính đã đi qua cuộc chiến tranh, nay sống giữa thành phố, trong hoà bình. Bài thơ nhắc nhở về đạo lí nghĩa tình, thuỷ chung bằng cách gợi lại những kỉ niệm gắn bó của người lính với đất nước, với đồng đội trong những năm tháng gian lao của thời chiến tranh. Bài tập 5. Nhận xét bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong các bài: Đoàn thuyền đánh cú (Huy Cận), Ánh trăng (Nguyễn Duy), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Con cò (Chế Lan Viên). Gợi ý Bút pháp xây dựng hình ảnh thơ ở một số bài thơ: -Bài Đồng chí sử dụng bút pháp tả thực, tác giả dưa vào bài thơ những chi tiêt có thực của đời sống người lính (nước mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá, đêm rét chung chăn, áo rách, quần tôi có vài mảnh vá, chân không giày,…). Hình ảnh "đầu súng trăng treo" ở cuối bài thơ là một hình ảnh đẹp và giàu ý nghĩa biểu trưng, nhưng cũng rất thực. -Bài Đoàn thuyền đánh cú lại chủ yếu dùng bút pháp tượng trưng, phóng đại với nhiều liên tưởng, tưởng tượng, so sánh mới mẻ, độc đáo (mặt trời xuống biển như hòn lửa, sóng cài then, đêm sập cửa, thuyền ta lái gió, buồm trăng,…). -Bài thơ về tiểu đội xe không kính sử dụng bút pháp hiện thực, miêu tả rất cụ thể, chi tiết từ hình dáng chiếc xe không kính đến cảm giác và sinh hoạt của người lái xe. -Bài Ánh trăng có những hình ảnh, chi tiết rất thực và bình dị, nhưng chủ yếu dùng bút pháp gợi tả, không di vào chi tiết mà hướng tới ý ngnĩa khái quát và biểu tượng của hình ảnh. Tóm lại, mỗi bút pháp xây dựng hình ảnh thơ của các bài thơ trên đều có giá trị riêng và phù hợp với tư tưởng cảm xúc của mỗi bài và phong cách từng tác giả.
Soạn bài ôn tập về thơ lớp 9
1,235
Soạn bài ôn tập về truyện lớp 9 Hướng dẫn A.YÊU CẦU -Củng cố lại kiến thức về các tác phẩm truyện đã học trong chương trình lớp 9: về cách xây dựng nhân vật, cốt truyện, tình huống truyện. -Rèn kĩ năng tổng hợp, hệ thống hoá kicn thức. B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP Bài tập 1. (SGK tập 2, trang 144) TT Tên tác phẩm Tác giả Năm sáng tác Tóm tắt nội dung 1 Làng Kim Lân 1948 Qua tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tán cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc, truyện thể hiện tinh yêu làng quê sâu sắc thông nhât với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân. 2 Lặng lẽ Sa pa Nguyễn Thành Long 1970 Truyện kể về cuộc gặp gỡ tinh cờ của ông hoạ sĩ và cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại ưạm khí tượng trên núi cao Sa Pa. Qua đó ca ngợi những ngươi lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước. 3 Chiếc lược ngà Nguyễn Quang Sáng 1966 Câu chuyện éo le và cảm động về hai cha con: ông Sáu và bé Thu trong lần ông về thăm nhà và ở khu căn cứ. Truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh chiến tranh. 4 Cố hương Lỗ Tấn Trong tập Gào thét 1923 Trong chuyến về thăm que, nhân vật "tôi" đã chứng kiến những đổi thay theo hướng suy tàn của làng quê và cuộc sống người nông dân. Qua đó, truyện miêu lả thực trạng của xã hội nông thôn Trung Hoa đương thơi dang đi vào tiêu điều và suy ngầm về con dường đi của ngươi nông dân và cả xã hội. 5 Những đứa trẻ Mác- xim Go- rơ- ki Trích tiểu thuyết Thời thơ ấu (1913 – 1914) Câu chuyện vồ tình bạn nảy nở giữa chú bé nhà nghèo A-li-ô-sa với những đứa trẻ con viên sĩ quan, sông thiếu tình thương ởbên hàng xóm. Qua đó khẳng định tình cảm hồn nhiên, trong sáng của trẻ em, bất chấp những cản trở của quan hệ xã hội. 6 Bến quê Nguyền Minh Châu Trong tập Bến quê (1985) Qua những cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật Nhĩ vào lúc cuối đời trên giường bệnh, truyện thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những giá trị và vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cuộc sống, quê hương. 7 Những ngôi sao xa xôi Lê Minh Khuê 1971 Truyện kể về cuộc sống, cuộc chiến đấu của ba cô gái thanh niên xung phong trên một cao điểm ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Truyện đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm và cuộc sống chiến dâu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của họ. 8 Rô- bin- Xơn ngoài đao hoang Đi- phô Trích tiểu thuyết Rô-bin- xơn Cru- xô(1971) Qua bức chân dung tự hoạ và lời kể của Rô-bin-xơn, đoạn truyện đã miêu tả cuộc sống vô cùng khó khăn và thể hiện tinh thần lạc quan của nhân vật khi sống một mình nơi đảo hoang trong hơn mười năm ròng rã. 9 Bố của Xi mông Mô- pa -xăng Trong Tuyển tập truyện ngắn Pháp thế kí XIX Tâm trạng đau khổ của bé Xi-mông vì không có bố và sự gặp gỡ của em với bác công nhân Phi-líp dẫn đến việc em có dược người bố. Truyện đề cao lòng nhân ái; nhắn nhủ chúng ta cần có sự quan tâm và tinh yêu thương đối với những con người chịu thiệt thòi, bất hạnh. 10 Con chó Bấc Gi. Lân- đơn Trích tiêu thuyết Tiếng gọi nơi hoang dã(1903) Đoạn văn miêu tả tinh cảm đặc biệt của con chó Bấc với người chủ Giôn Thoóc-tơn; thể hiện những nhận xét tinh tế, trí tưởng tượng phong phú và tinh yêu loài vật của lác giả. Bài tập 2. Các tác phẩm ưuyện sau Cách mạng tháng Tám 1945 trong bảng thống kê trên đã phản ánh được những nét gì về đất nước và con người Việt Nam ở giai đoạn đó. Gợi ý Có 5 truyện ngắn Việt Nam từ sau năm 1945 trong chương trình Ngữ vãn 9 được sắp xếp theo các thời kì lịch sử như sau: + Thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp: Làng (Kim Lân). + Thơi kì kháng chiến chống đế quốc Mĩ: Chiếc lược ngà (Nguyền Quang Sáng), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê). + Từ sau năm 1975: Bến quê (Nguyễn Minh Châu). Các tác phẩm trên đã phản ánh được một phần những nét tiêu biểu của đời sống xã hội và con người Việt Nam với tư tưởng và tình cảm của họ trong nhừng thời kì lịch sử có nhiều biến cố lớn lao, từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, chủ yếu là trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Bài tập 3. Hình ảnh các thế hệ con người Việt Nam yêu nước ưong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đà đưực miêu tả qua những nhân vật nào? Hãy nêu những nét phẩm chất chung của các nhân vật ấy và nét tính cách nổi bật ở mồi nhân vật. Gợi ý -Hình ảnh các thế hộ con người Việt Nam yêu nước trong hai cuộc kháng chiến chông Pháp và chống Mĩ đă được miêu tả qua những nhân vật như: Ông Hai (Làng), người thanh niên (Lặng lẽ Sa Pa), ông Sáu và bé Thu (Chiếc lược ngà), ba cô gái thanh niên xung phong (Những ngôi sao xa xôi). -Mỗi người có những tính cách riêng: + Ông Hai: tinh yêu làng thật đặc biệt, nhưng phải đặt trong tình cám yêu nước và tinh thần kháng chiến. + Người thanh niên: yêu thích và tìm hiểu ý nghĩa công việc thầm lặng một minh ưên núi cao, có những suy nghĩ và tình cảm tốt đẹp, trong sáng về công việc và đối với mọi người. + Bé Thu: tính cách cứng cỏi, tình cảm nồng nàn, thắm thiết với người cha. + Ông Sáu: tình cha con sâu nặng, tha thiết trong hoàn cảnh éo le và xa cách của chiến tranh. + Ba cô gái thanh niên xung phong: tinh thần dũng cảm không sợ hi sinh khi làm nhiệm vụ hết sức nguy hiểm, tình cảm trong sáng, hồn nhiên, lạc quan trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt. Phẩm chất chung của họ: đều có tình yêu đất nước, quê hương, yêu những người thân trong gia đình, tình đồng đội, tinh người cao quý; tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách, không sợ vâ't vả, hi sinh; lạc quan yêu đời; yêu công việc mình làm và làm việc với tinh thần ưách nhiệm cao. Bài tập 4. Trong số các nhân vật của những tác phẩm truyện được học ở lớp 9, em có ấn tượng sâu sắc với những nhân vật nào? Nêu cảm nghĩ của em về một nhân vật. Gợi ý Trong các truyện đã học, em thấy nhàn vật nào (thuộc truyện nào) để lại ấn tượng sâu sắc nhất, em viết cảm nghĩ vẻ nhân vật ấy. Hãy phân tích nhân vật bằng nhận thức và tình cảm của mình. Bài tập 5. Các tác phẩm truyện ở lớp 9 đã đưực trần thuật theo các ngôi kể nào? Những truyện nào có nhân vật kể chuyện trực tiếp xuất hiện (nhân vật xưng "tôi")? Cách trần thuật này có ưu thế như thế nào? Gợi ý -Những truyện sử dụng cách trần thuật ở ngôi thứ nhất (nhân vật xưng "tôi"): Chiếc lược ngà, cố hương, Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, Những ngôi sao xa xôi, Những đứa trẻ. -Những truyện tuy không xuất hiện trực tiếp nhân vật kể chuyện xưng "tôi" nhưng truyện vẫn được trần thuật chủ yêu theo cái nhìn và giọng điệu của một nhân vật, thường là nhân vật chính: Làng, Lặng lẽ Sa Pa, Bển quê. Cách trần thuật như trên tạo thuận lợi cho việc miêu tả tâm lí, tính cách nhân vật một cách sâu sắc và chân thật. Bài tập 6. Ở những truyện nào tác giả sáng tạo được tình huống truyện đặc sắc? Gợi ý Trong các truyện Làng, Chiếc lược ngà, Bến quê, Bố của Xi- mông, tác giả đã tạo ra được nhừng tình huống truyện rất đặc sắc.
Soạn bài ôn tập về truyện lớp 9
1,375
Soạn bài Ôn tập về tả cảnh Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Quan sát và nói về vẻ đẹp cua cảnh trong các bức ảnh sau (SGK/44) Gợi ý: Bình minh trên vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) Mặt nước trên Vịnh êm lắng như mặt hồ. Trên ngọn của dãy núi xa, mặt trời hé mây tô lên nền một màu vàng đồng chói lọi. Đêm trăng trên sông Hương (Huế) Ánh trăng như ngọn đèn cao áp soi rọi lên sông Hương tình mịch. Trong không gian trầm lắng ấy, hình ảnh cầu Tràng Tiền kẻ một đường trắng bạc như sợi dây chuyền bạch kim vắt qua dòng sông tĩnh lặng, nên thơ trong đêm trăng đẹp. Công viên văn hóa Đầm Sen (Thành phố Hồ Chí Minh) Không khí vui chơi, tắm mát sôi nổi và náo nhiệt của các bạn trên những chiếc phao khiến Công viên văn hóa Đầm Sen trở thành một điểm du lịch không thể bỏ qua. Phía xa, hình anh Lạc Long Quân uy nghi, hùng vĩ tô điểm thêm vẻ đẹp cua thành phố. 2.Lập dàn ý miêu tả một trong các cảnh sau: a) Tả một ngày mới bắt đầu ở quê em: b) Tả một đêm trăng đẹp: c) Tả trường em trước buổi học: d) Tả một khu vui chơi, giải trí mà em thích: B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Đọc các đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu bên dưới (SGK/45, 46) M: Câu (1) – dấu phẩy dùng để ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ. Gợi ý: Dấu phẩy có 3 tác dụng: 1)Ngăn cách các vế trong câu ghép. 2)Ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ. 3)Ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu. Gợi ý: a)Câu (2) – dấu phẩy dùng để ngăn cách các bộ phận cùng chức vụ trong câu. Câu (3) – dấu phẩy thứ nhất dùng đế ngăn cách trạng ngữ với chủ ngữ và vị ngữ, các dấu phẩy còn lại dùng để ngăn cách các bộ phận cùng giữ chức vụ. b) Câu (4) – dâu phẩy dùng để ngăn cách các vế trong câu ghép. Câu (5) – dấu phẩy dùng để ngăn cách các vế trong câu ghép. 2.a) Đọc mẩu chuyện vui “Anh chàng láu lỉnh” (SGK/46) b) Trả lời câu hỏi trong bảng sau (SGK/47) Gợi ý: b) Lời phê của xã Bò cày không được thịt 1. Anh hàng thịt đã thêm dấu câu gì vào chồ nào trong lời phê của cán bộ xã để hiểu là xã đồng ý cho làm thịt con bò? 1. Anh hàng thịt đã thêm dấu phẩy. Bò cày không được, thịt. 2. Lời phê trong đơn cần viết như thế nào đế anh hàng thịt không thể chữa một cách dễ dàng? 2. Bò cày, không được thịt. Gợi ý: Sách Ghi-nét ghi nhận chị Ca-rôn (1960 – 1994) là người phụ nữ nặng nhất hành tinh. Ca-rôn nặng gần 700kg nhưng lại mắc bệnh còi xương. Cuối mùa hè năm 1994, chị phải đến cấp cứu tại một bệnh viện ở thành phố Phơ-lin, bang Mi-chi-gân, nước Mĩ. Để có thế đưa chị đến bệnh viện, người ta phải nhờ sự giúp đỡ của 22 nhân viên cứu hoả. (Theo MỘT CỬA SỔ NHÌN RA THẾ GIỚI)
Soạn bài Ôn tập về tả cảnh
523
Đề bài: Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8 Tập 2 Bài Làm I. ÔN TẬP LÍ THUYẾT Câu 1: Vai trò của văn bản thuyết minh trong đời sống: – Là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức ( kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân….của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội. >> XEM THÊM: Soạn bài Phương pháp thuyết minh Câu 2: Văn bản thuyết minh khác với văn bản tự sự, miêu tả và biểu cảm: – Văn thuyết minh là phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con người. Vì thế cần trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn. Câu 3: Để làm tốt bài văn thuyết minh: – Cần có sự am hiểu về đối tượng cần thuyết minh ( tri thức về các sự vậ,t hiện tượng tự nhiên chính xác. – Tích luỹ hiểu biết bằng cách nghiên cứu, tìm hiểu, quan sát…để nắm bắt đặc điểm đặc trưng của chúng. – Yêu cầu đối với bài văn thuyết minh + Làm nổi bật được những đặc trưng, bản chất của sự vật, hiện tượng + Có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ ; bố cục 3 phần Câu 4: Các phương phương pháp thuyết minh: Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, phân tích, phân loại. II. LUYỆN TẬP a) Giới thiệu một đồ dùng trong học tập hoặc trong sinh hoạt. * Lập ý: – Tên đồ dùng, hình dáng, kích thước, màu sắc, cấu tạo, công dụng của đồ dùng, những điều cần lưu ý khi sử dụng đồ dùng. * Dàn ý chung: – Mở bài: Giới thiệu khái quát tên đồ dùng và công dụng của nó. – Thân bài: Hình dáng, chất liệu, kích thước, màu sắc, cấu tạo các bộ phận, cách sử dụng; Những điều cần lưu ý khi lựa chọn để mua, khi sử dụng, khi sự cố cần sửa chữa, Cách bảo quản Phân loại (nếu có) – Kết bài: Vai trò và ý nghĩa của nó trong đời sống. b) Giới thiệu danh lam thắng cảnh – di tích lịch sử ở quê hương. – Mở bài: Giới thiệu vị trí và ý nghĩa văn hoá, lịch sử, xã hội của danh lam đối với quê hương, đất nước. – Thân bài: + Giới thiệu vị trí địa lí, quá trình hình thành, phát triển, định hình, tu tạo trong quá trình lịch sử cho đến ngày nay. + Cấu trúc, qui mô từng khối, từng mặt, từng phần. + Sơ lược thần tích. + Hiện vật trưng bày, thờ cúng. + Phong tục, lễ hội. – Kết bài: Thái độ tình cảm đối với danh lam. c) Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em đã học – Mở bài: Nêu định nghĩa chung về thể loại đó. Về kết cấu, số câu, số chữ. Quy luật bằng trắc, cách gieo vần, cách ngắt nhịp trong thơ. Cảm nhận về vẻ đẹp, nhạc điệu của thể thơ; nghệ thuật sử dụng câu từ, hình ảnh trong văn. – Kết bài: Vai trò của thể loại trong lịch sử và trong đời sống văn học nói chung. d) Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm) – Mở bài: Giới thiệu tên đồ dùng. – Thân bài: Nguyên vật liệu. Cách làm. Yêu cầu thành phẩm. – Kết bài: Những điều cần lưu ý trong quá trình tiến hành. Bài tập 2: Tập viết đoạn văn. Ví dụ: Đoạn văn thuyết minh về Vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long (Vịnh nơi con rồng đáp xuống) là một vịnh nhỏ thuộc phần tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh. Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa, với vị Bái Tử Long phí đông bắc và quần đảo Cát Bà phía tây nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553 km gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của vịnh có diện tích 334 km quần tụ dày đặc 775 hòn đảo. Sự kiến tạo địa chất đá vôi của vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lí khác nhau. Sự kết hợp của môi trường, khí hậu,… đã khiến vịnh Hạ Long trở thành quần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh
Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh Lớp 8 Tập 2
795
Soạn bài ôn tập về văn bản thuyết minh Hướng dẫn I.Ôn tập lý thuyết 1.Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm tính chất, nguyên nhân … của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội. 2.Xem lại câu trả lời ở mục I.2.a của bài “ Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh” 3.Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát sự vật, hiện tượng cần thuyết minh hoặc tra cứu sách vở, hỏi han những người hiểu biết để có kiến thức đáng tin cậy. Ngoài ra, phải xác đỉnh rõ phạm vi tri thức khách quan, khoa học về đối tượng thuyết minh, sử dụng phương pháp thuyết minh thích hợp, ngôn từ chính xác, dễ hiểu. Bài văn thuyết minh phải làm nổi bật được bản chất, đặc trưng của hiện tượng, sự vật cần thuyết minh, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng. 4.Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại. II.Luyện tập 1.Hãy nêu cách lập ý và lập dàn bài đối với các đề bài sau (gợi ý chung và ví dụ cụ thể) •Giới thiệu một đồ dùng a.Mở bài: Giới thiệu đồ dùng một cách chung nhất. b.Thân bài: -Cấu tạo đồ dùng -Đặc điểm của đồ dùng -Lợi ích của đồ dùng đó •Giới thiệu một danh lam thắng cảnh: a.Mở bài: Giới thiệu chung về thắng cảnh (vị trí địa lý, bao gồm những bộ phận nào ….) b.Thân bài: lần lượt mô tả, giới thiệu từng phần trong danh lam thắng cảnh. c.Kết bài: Vị trí của thắng cảnh trong đời sống tình cảm của con người. •Giới thiệu một thể loại văn học a.Mở bài: Nêu định nghĩa chung về thể loại đó. b.Thân bài: Nêu các đặc điểm của thể loại đó (có ví dụ kèm theo minh họa) c.Kết bài: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thể loại văn học đó. • Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm) a.Nguyên vật liệu b.Cách thức tiến hành (giới thiệu theo trình tự) c.Kết quả thu được và yêu cầu chất lượng đối với đồ dùng học tập hay thí nghiệm đó. Ví dụ dàn ý giới thiệu thơ lục bát a.Mở bài: Lục bát là thể thơ dân tộc, được hoàn thiện trong văn chương ở thế kỷ XVIII với tác phẩm “ Truyện Kiều” (Nguyễn Du) b.Thân bài:Các đặc điểm của thể thơ lục bát. -Số lượng tiếng cố định: Dòng 6 tiếng (câu lục) và dòng 8 tiếng (câu bát) -Hiệp vần: Vừa hiệp vần chân vừa hiệp vần lưng. Tiếng cuối câu lục hiệp vần với tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát hiệp vần với tiếng cuối câu lục tiếp theo. -Phố điệu (luật bằng trắc): + Tiếng chẵn có qui định (tiếng thứ 2, thứ 6 và thứ 8 bằng, tiếng thứ 4 trắc) + Trong câu bát, lấy tiếng thứ 6 làm căn cứ tìm thanh cho tiếng thứ 2 và thứ 8 (nếu tiếng thứ 6 là thanh huyền thì tiếng thứ 2 và 8 là thanh không hoặc ngược lại) c.Kế bài: Lục bát dân tộc đã được gìn giữ và phát huy ở những nhà thơ lớn về sau. Thể thơ này kết tinh hoa, hồn vía người Việt văn hóa Việt. 2.Tập viết đoạn văn theo các đề bài sau: a.Giới thiệu một đồ dùng: Chiếc ấm pha trà của ông em cao khoảng 20 cm, được làm từ sứ màu trắng. Phía trên là nắp ấm hình tròn, có núm cầm nhỏ xíu. Phía dưới là thân ấm hình trụ có đáy, trên nền sứ trắng có điểm xuyết cành tre và vài chú chim chích bông xinh xắn. Một bên thân ấm là vòi ấm dài khoảng 7cm, uốn cong, hướng lên trên. b.Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em: Đến thăm Hạ Long, du khách thường được thưởng ngoạn nhiều cảnh đẹp: hang Đầu Gỗ, hang Sửng Sốt hay vịnh Quả Đào. Trong số các hang động và hòn núi đẹp của Hạ Long phải nói tới hang Đầu Gỗ. Hang này cách Bãi Cháy 12km. Trong hang có nhiễu nhũ đá, măng đá và trụ đá với hình dáng và màu phong phú, đẹp. Đặc biệt, trong hang còn có những vũng nước ngọt trong lành, mát mẻ. c.Giới thiệu một thể loại văn học: Lục bát là một thể thơ dân tộc với số lượng tiếng cố định: dòng 6 tiếng (câu lục) và dòng 8 tiếng (câu bát). Thể thơ này gieo vần lưng và vần chân về luật bằng trắc, chỉ có quy định cho những tiếng chẵn mà thường là tiếng thứ 4 trắc, còn lại bằng. Về ngắt nhịp, thể thơ lục bát chủ yếu ngắt nhịp chẵn. Khi những cành đào ở Nhật Tân (Hà Nội) bắt đầu nở hoa báo hiệu một mùa xuân ấm áp đã đến thì ở Huế, Đà Lạt và Sài Gòn nở rộ những cành mai vàng trang nhã. Hoa mai vàng có đài xanh đậm, năm cánh hoa vàng óng như tơ. Hoa có nhiều nhị. Người xưa quan niệm về hoa mai là biểu tượng cho sự thanh cao, đẹp đẽ của tâm hồn. e.Giới thiệu một loài động vật. Chú thỏ con nhà tôi xinh thật là xinh. Chú có cái mũi đo đỏ lúc nào cũng ươn ướt luôn hít hít thở thở. Bộ ria mọc hai bên mép cũng trắng như cước. Đôi mắt đỏ hồng tròn xoe như hai hòn bi trông rất hiền. Hai tai thỏ như hai lá doi lúc nào cũng vểnh lên. f.Giới thiệu về một sản phẩm mang bản sắc Việt Nam Nghĩ đến người Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến tà áo dài, bánh chưng.. nhưng không thể nhắc đến những chiếc nón lá của những thiếu nữ, dù hiện nay lớp thanh niên nam nữ dùng nhiều đến muc. Nón có hình chóp, được làm từ lá cọ, dừa và các thanh tre được vuốt nhỏ, chuốt trơn. Ở nước ta có một số vùng nổi tiếng làm nón mà khi đi du lịch, người ta không thể không mua làm quà tặng người thân. Đó là Huế, Quảng Bình, Hà Tây (làng Chuông).
Soạn bài ôn tập về văn bản thuyết minh
1,074
Soạn bài ông Giuôc – Đanh mặc lễ phục Hướng dẫn Câu 1. -Hành động kịch diễn tả tại phòng khác nhà ông Giuôc-đanh, một người trên bốn mươi tuổi, thuộc tầng lớp dân thành thị phong lưu. Bác phó may và một tay thợ phụ mang bộ lễ phục đến nhà ông. -Lời chỉ dẫn sân khấu dài: “Bôn tay thợ phụ bước vào…” chia lớp kịch này thành hai cảnh rõ rệt: Cảnh trước gồm những lời thoại của ông Giuôc Đanh và bác phó may, cảnh sau gồm những lời thoại cảu ông Giuôc-đanh và tay thợ phụ. Cảnh trước trên sân khấu có 4 nhân vật là bác phó may, tay thợ phụ mang bộ lễ phục, ông Giuôc-đanh và một gia nhân của ông Giuôc-đanh. Cảnh sau đông hơn, sôi động hơn, có thêm bốn tay thợ phụ nữa. -Cảnh trước có hai người là ông Giuôc-đanh và bác phó may nói với nhau. Cảnh sau, cũng chỉ có hai người là ông Giuôc- đanh và một thợ phụ (tay thợ phụ mang bộ lễ phục đến lúc trước) nói với nhau. Nhưng ta hình dung bốn tay thợ phụ kia cũng xúm xít chung quanh và thợ phụ 5 người. Cảnh này rõ ràng nhộn nhịp hơn cảnh trước. -Cảnh trước chủ yếu chỉ là những lời đối thoại, tất nhiên các lời đối thoại ấy kèm theo cử chỉ. Sang cảnh sau, khan giản không chỉ được nghe những lời đối thoại, mà còn được xem các thợ phụ cởi quần áo cũ, mặc lễ phục mới cho ông Giuôc-đanh. Kịch sôi động hẳn lên. Câu 2. Cuộc đối thoại giữa hai người xoay quanh một số sự việc như bộ lễ phục, đôi bít tất, bộ tóc giả và lông đính mũ, nhưng chỉ yếu là xoay quanh bộ lễ phục. Tất nhiên ai may áo cũng phải may hoa hướng lên trên. Bác phó may chẳng biết là dốt, là do sơ xuất hay do cố tình biến ông Giuôc-đanh thành trò cười nên đã may ngược hoa. Ông Giuôc-đanh chưa phài là mất hết tỉnh táo nên đã phát hiện ra điều đó. Nhưng chỉ cần bác phó may vụng chèo khéo chống, bịa ra lí lẽ những người quý phái đều mặc áo ngược hoa là ông ưng thuận ngay. Đoạn kịch có kịch tính cao. Bác phó may đang ở thế bị động (bị chê trách may áo ngược hoa), nay chuyển sang thế chủ động tấn công lại bằng hai đề nghị liên tiếp: “Nếu ngài muốn thì sẽ xoay hoa xuôi lại thôi mà”, “Ngài chỉ việc bảo thôi”. Và thế là ông Giuôc-đanh cứ lùi mãi: “Không, không”, “Đã bảo không mà, Bác làm thế này được rồi”, sau đó đánh bài lảng sang chuyện khác hỏi bộ lễ phục ông mặc có vừa vặn không. Câu 3. Mô-li-e chuyển tiếp từ cảnh trước sang cảnh sau ở lớp kịch này một cách hết sức tự nhiên và khéo léo. Khi ông Giuôc-đanh mặc xong bộ lễ phục là được tay thợ phụ tôn xưng là “ông lớn” ngay, khiến ông tưởng rằng cứ mặc lễ phục vào là nghiễm nhiên trở thành quý phái. -Khác với tính cách của bác phó may, tay thợ phụ ranh mãnh dùng mánh khóe nịnh hót để moi tiền, điểm huyệt đúng thói học đòi làm sang của ông Giuôc-đanh. Thấy ông mắc mưu, tay thợ phụ dân thêm mấy bước, cứ tôn lên mãi “ông lớn” đến “cụ lớn” rồi đến “đức ông”. -Ông Giuôc-đanh vẫn nghĩ đến túi tiền của mình đấy. Thấy tay thợ phụ không tôn ông lên cao thêm nữa, ông nói riêng: “Nó như thế là phải chăng, nếu không ta mất tong cả túi tiền cho nó thôi”. Nhưng qua câu nói đó, ta thay tính cánh trưởng giả học đòi làm sang ở ông vẫn mạnh liệt lắm. Ông sẵn sàng cho hêt cả tiền để được “làm sang”. Khán giả có thể đến vỡ rạp khi được tận mắt nhìn thấy trên sân khấu ông Giuôc-đanh bị bốn tay thợ phụ lột quần áo ra, mặc cho bộ lễ phục lố lăng theo nhịp điệu, màu sắc vớ vẩn (không phải màu đen sang trọng) lại may ngược hoa, ấy thế mà vẫn vênh vang ra vẻ ta đây là nhà quý phái.
Soạn bài ông Giuôc – Đanh mặc lễ phục
721
Soạn bài Ông Giuôc-Đanh mặc lễ phục Hướng dẫn Soạn bài Ông Giuôc-Đanh mặc lễ phục lớp 8 Soạn bài Ông Giuôc-Đanh mặc lễ phục tài liệu văn mẫu lớp 8, tổng hợp các bài tham khảo hay giúp các bạn học sinh hoàn thành tốt bài kiểm tra sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài Ông Giuôc-Đanh mặc lễ phục trang 118 SGK Ngữ Văn 8 1. – Hành động kịch diễn ra tại phòng khách nhà ông Giuôc-đanh, một người trên bốn mươi tuổi, thuộc tầng lớp dân thành thị phong lưu. Bác phó may và một tay thợ phụ mang bộ lễ phục đến nhà ông. – Lời chỉ dẫn sân khấu dài: “Bốn tay thợ phụ bước vào…” chia lớp kịch này thành hai cảnh rõ rệt: Cảnh trước gồm những lời thoại của ông Giuôc-đanh và bác phó may, cảnh sau gồm những lời thoại của ông Giuôc-đanh và tay thợ phụ. Cảnh trước trên sân khấu có 4 nhân vật là bác phó may, tay thợ phụ mang bộ lễ phục, ông Giuôc-đanh và một gia nhân của ông Giuôc-đanh. Cảnh sau đông hơn, sôi động hơn, có thêm bốn tay thợ phụ nữa. – Cảnh trước có hai người là ông Giuôc-đanh và bác phó may nói với nhau. Cảnh sau, cùng chỉ có hai người là ông Giuôc-đanh và một thợ phụ (tay thợ phụ mang bộ lễ phục đến lúc trước) nói với nhau. Nhưng ta hình dung bốn tay thợ phụ kia cũng xúm xít chung quanh, và ông Giuôc-đanh tuy chỉ đối thoại với một người mà như nói với cả tốp thợ phụ 5 người. Cảnh này rõ ràng nhộn nhịp hơn cảnh trước. – Đã thế ở cảnh sau trên sân khấu còn có cả nhảy múa, và âm nhạc rộn ràng nữa. Ông Giuôc-đanh mặc lễ phục được xây dựng công phu, sân khấu và rạp hát sôi động náo nhiệt khi màn hạ kết thúc hồi II. 2. Cuộc đối thoại giữa hai người xoay quanh một số sự việc như bộ lễ phục, đôi bít tất, bộ tóc giả và lông đính mũ, nhưng chủ yếu là xoay quanh bộ lễ phục. Tất nhiên ai may áo cũng phải may hoa hướng lên trên. Bác phó may chẳng biết là dốt, là do sơ xuất hay do cố tình biến ông Giuôc- đanh thành trò cười nên đã may ngược hoa. Ông Giuôc-Đanh chưa phải là mất hết tỉnh táo nên đã phát hiện ra điều đó. nhưng chỉ cần bác phó may vụng chèo khéo chống, bịa ra lí lẽ những người quý phái đều mặc áo ngược hoa là ông ưng thuận ngay. Đoạn này có kịch tính cao. Bác phó may đang ở thế bị động (bị chê trách may áo ngược hoa), nay chuyển sang thế chủ động tấn công lại bằng hai đề nghị liên tiếp: “Nếu ngài muốn thì sẽ xoay hoa xuôi lại thôi mà”, “Ngài chỉ việc bảo thôi”. Và thế là ông Giuôc-đanh cứ lùi mãi: “Không, không”, “Đã bảo không mà, Bác làm thế này được rồi”, sau đó đánh bài lảng sang chuyện khác hỏi bộ lễ phục ông mặc có vừa vặn không. 3. Mô-li-e chuyển tiếp từ cảnh trước sang cảnh sau ở lớp kịch này một cách hết sức tự nhiên và khéo léo. Khi ông Giuôc-đanh mặc xong bộ lễ phục là được tay thợ phụ tôn xưng là “ông lớn” ngay, khiến ông tưởng rằng cứ mặc lễ phục vào là nghiễm nhiên trở thành quý phái. – Khác với tính cách của bác phó may, tay thợ phụ ranh mãnh dùng mánh khóe nịnh hót để moi tiền, điểm huyệt đúng thói học đòi làm sang của ông Giuôc-đanh. Thấy ông mắc mưu, tay thợ phụ dấn thêm mấy bước, cứ tôn lên mãi “ông lớn” đến “cụ lớn” rồi đến “đức ông”. – Ông Giuôc-đanh vẫn nghĩ đến túi tiền của mình đấy. Thấy tay thợ phụ không tôn ông lên cao thêm nữa, ông nói riêng: “Nó như thế là phải chăng, nếu không ta đến mất tong cả túi tiền cho nó thôi”. Nhưng qua câu nói đó, ta thay tính cách trưởng giả học đòi làm sang ở ông vẫn mãnh liệt lắm. Ông sẵn sàng cho hết cả tiền để được “làm sang”. Khán giả có thể cười đến vỡ rạp khi được tận mắt nhìn thấy trên sân khấu Ông Giuôc-đanh bị bốn tay thợ phụ lột quần áo ra, mặc cho bộ lễ phục lố lăng theo nhịp điệu, màu sắc dơ dấn (không phải màu đen sang trọng lại may ngược hoa, ấy thế mà vẫn vênh vang ra vẻ ta đây là nhà quý phái. Dưới đây là bài soạn Ông Giuốc-Đanh mặc lễ phục bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Ông Giuốc-Đanh mặc lễ phục Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài Ông Giuôc-Đanh mặc lễ phục
890
Đề bài: Soạn Bài Ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục Lớp 8 Của Mô Li Ê Bài Làm Câu 1: Bố cục: 2 phần (2 cảnh): Cảnh ông Giuốc- Đanh với bác phó may và cảnh ông Giuốc- Đanh với thợ phụ (cảnh ông Giuốc-Đanh trước khi mặc lễ phục và ông giuốc đanh sau khi mặc lễ phục ). Trong 2 cảnh đó thì càng về sau kịch càng sôi sộng, tức là cảnh 2 sôi động hơn, hay hơn cảnh 1. Cảnh 2 tuy chỉ có ông Giuốc-Đanh nói với tay thợ phụ mang bộ lễ phục đến lúc trước nhưng ta hình dung bốn tay thợ phụ kia cũng xúm xít quanh và ông Giuốc- Đanh tuy chỉ đối thoại với một người nhưng cũng như nói cả với năm người. Ở cảnh này, khán giả không chỉ được nghe những lời đối thoại mà còn được xem các thợ phụ cởi quần áo cũ, mặc quần áo mới cho ông Giuốc-Đanh, trên sân khấu còn có cả nhảy múa và âm nhạc rộn ràng. Câu 2: – Cuộc đối thoại giữa hai người xoay quanh một số sự việc như bộ lễ phục, đôi bít tất, bộ tóc giả và lông đính mũ, nhưng chỉ yếu là xoay quanh bộ lễ phục. – Tất nhiên ai may áo cũng phải may hoa hướng lên trên. Bác phó may chẳng biết là dốt, là do sơ xuất hay do cố tình biến ông Giuôc-đanh thành trò cười nên đã may ngược hoa. Ông Giuôc-Đanh chưa phài là mất hết tỉnh táo nên đã phát hiện ra điều đó. Nhưng chỉ cần bác phó may vụng chèo khéo chống, bịa ra lí lẽ những người quý phái đều mặc áo ngược hoa là ông ưng thuận ngay. – Ông Giuôc-Đanh lại phát hiện ra bác phó may ăn bớt vải của mình. Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ. Ông chuyển sang thế chủ động, trách bác phó may bằng hai lời thoại. Bác phó may chống đỡ yếu ớt. Bây giờ đến lượt bác gỡ thế bí bằng cách chơi nước cờ lảng sang chuyện khác hỏi ông Giuôc-Đanh có muốn mặc thử bộ lễ phục không. Nước cờ khá cao tay vì nó đánh trúng vào tâm lí ông Giuôc-Đanh đang muốn học đòi làm sang. Câu 3: – Ở cảnh 1 bác phó may đã thành công trong việc lợi dụng đào mỏ ông Giuốc-Đanh vì nắm được cái sự học đòi làm sang của ông ta. Chính thói học đòi đó đã biến ông ta thành thứ mồi ngon béo bở đối với cả đám thợ phụ. Tiếp tục sang cảnh 2 thói học đòi làm sang của ông Giuốc-Đanh đã bị đám thợ phụ lợi dụng. – Ông Giuốc-Đanh học đòi làm sang, thích được tâng bốc, cứ tưởng rằng hễ mặc lễ phục là nghiễm nhiên trở thành nhà quý tộc. Ông ta cực kì sung sướng mãn nguyện và hãnh diện vì những lời gọi đó. – Ông liên tục thưởng tiền hào phóng sau mỗi tiếng ông lớn, cụ lớn, đức ông. Ông sẵn sàng cho hết cả tiền để được “làm sang”. Câu 4: – Khán giả cười ông Giuốc-Đanh ngu dốt đén ngớ ngẩn, chỉ vì thói học đòi làm sang mà bị phó may và cả đám thợ phụ lợi dụng, kiếm chác. – Cười khi ông tưởng rằng phải mặc áo hoa ngược mới là sang trọng, là mốt. – Cuời khi ông bỏ tiền ra để mua thứ danh hão. – Cười vì những nhận xét ngớ ngẩn của ông. – Cười khi ông bị bốn tay thợ phụ lột hết quần áo, cho mặc bộ lễ phục lố lăng theo nhịp điệu dàn nhạc mà vẫn tưởng là mình là nhà quý phái.
Soạn Bài Ông Giuốc Đanh Mặc Lễ Phục Lớp 8 Của Mô Li Ê
623
Soạn bài Ông lão đánh cá và con cá vàng Hướng dẫn I. KIẾN THỨC CƠ BẢN -Ông lão đánh cá và con cá vàng là truyện cổ tích do A. Pu-skin kể lại. -Truyện ca ngợi lòng biết ơn đối với những người nhân hậu và nêu ra bài học đích đáng cho những kẻ tham lam, bội bạc. -Truyện sử dụng các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu của truyện cổ tích như: sự lặp lại tăng tiến của các tình huống cốt truyện, sự đối lập giữa các nhân vật, sự xuất hiện của các yếu tố tưởng tượng, hoang đường. II. MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI VÀ KHÓ -A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799 – 1837) – đại thi hào Nga, từng được mệnh danh là “mặt trời của thi ca Nga” – đã kể lại nhiều truyện cổ tích dân gian bằng thơ, như Truyện cổ tích về con gà trống, Truyện cổ tích về nàng công chúa chết và bảy chàng hiệp sĩ, Ông lão đánh cá và con cá vàng (nhan đề trong nguyên bản tiếng Nga là Truyện cổ tích về người đảnh cá và con cá vàng). -Đây là truyện cổ tích được tác giả kế lại băng 205 câu thơ trên cơ sở truyện dân gian Nga, Đức. Tác phẩm được Vũ Đình Liên và Lê Trí Viễn dịch từ văn bản tiếng Pháp. Truyện vừa giữ được nét chất phác, dung dị của nghệ thuật dân gian, vừa thể hiện tài năng sáng tạo của Pu-skin. Truyện vừa mang đặc điểm, nội dung, ý nghĩa của một truyện cổ tích, vừa chứa đựng tư tưởng kín đáo mà tác giả gửi gắm trong truyện. Đó là tư tưởng chống đôi chế độ Nga hoàng độc ác, chuyên quyền, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của nhân dân Nga. Không ít nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: Trong truyện này, nhân vật mụ vợ tượng trưng cho chế độ Nga hoàng tàn ác, độc đoán; ông lảo tượng cho nhân dân – người có sức mạnh, khả năng (biểu tượng là cá vàng) nhưng nếu nhu nhược thì bị áp bức cực khổ suốt đời. Tư tưởng này của truyện cùng một loại với bài thơ Cây An-tra của Pu-skin. Cá vàng trả ơn cho chồng mụ cũng chính là cá trở thành ân nhân của mụ. Do đó, sự vong ân cua mụ không chỉ với ông chồng của mình mà còn cả với cá vàng nữa. Biển cả và cá vàng cũng giận ông lão vì sự khờ dại, nhân nhượng, nhu nhược. Tính nhu nhược tạo cơ hội cho kẻ xấu, kẻ ác tiếp tay cho cường quyền, bạo lực, vua chúa lộng hành. -Cách kết thúc truyện không phải là kết thúc có hậu trong truyện dân gian. Truyện dân gian kết thúc có hậu thường để cho nhân vật chính, nhân vật thiện trong truyện sau khi trải qua khó khăn thử thách được sống một cuộc sống hạnh phúc. Nhưng nhân vật chính trong truyện nàv lại không như thế mà trở lại cuộc sống nghèo khổ trước đây. -Hình ảnh cá vàng xuyên suốt tác phẩm không chỉ làm cho câu chuyện thêm li kì hấp dẫn mà nó còn là nhân vật thề hiện ước mơ công lí và hạnh phúc của nhân dân lao động. -Các câu tục ngữ Việt Nam trong phần Đọc thêm có nội dung gần gũi với nội dung câu chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng. Đó là những câu tục ngừ đề cập đến lòng tham vô đáy của con người (Được voi đòi tiên) và lòng tham sẽ phải trả giá (Tham thì thâm), đề cập đến sự vô ơn, bất nhân, bội bạc (Ăn cháo đá bát) và khuyên mọi người phải có lòng biết ơn đối với những người đã giúp đỡ, cưu mang mình (Ăn quả nhớ kẻ trồng cây). III. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Câu 1. Trong truyện, mấy lần ông lão ra biển gọi cá vàng? Việc kể lại những lần ông lão ra biển gọi cá vàng là biện pháp lặp lại có chủ ý của truyện cổ tích. Hãy nêu tác dụng của biện pháp này. Gợi ý: Năm lần ông nghe lời vợ ra biên cầu xin cá vàng trả ơn, giúp đỡ. Biện pháp này nhằm nhấn mạnh và khắc sâu một nội dung của truyện, góp phần bộc lộ chủ đề của tác phẩm. Việc lặp lại hành động của ông lão đã khắc sâu thêm tính cách của mụ vợ. Sự lặp lại đó đã lột tả tính cách của hai nhân vật, một người nhu nhược sợ vợ, còn người kia thì tham lam vô độ. Cuối cùng, kẻ tham lam cũng bị trừng trị một cách đích đáng. Câu 2.Mỗi lần ông lão ra biển gọi cá vàng, cảnh biển thay đổi như thế nào? Vì sao? Gợi ý: Mổi lần ông lão ra biển gọi cá vàng, cảnh biển lại thay đổi một cách dữ dội hơn. Lí do là bởi những điều đòi hỏi của mụ vợ ngày càng quá mức, đến độ không thể chấp nhận được. Khi mụ vợ đòi cái nhà rộng => Biển xanh đã nổi sóng. Khi mụ vợ đòi làm nhất phẩm phu nhân => Biển xanh nổi sóng dữ dội Khi mụ vợ đòi làm nừ hoàng => Biển nổi sóng mù mịt. Khi mụ đòi lảm Long Vương => Biển nổi sóng ầm ầm. Như vậy, lòng tham của mụ vợ đã trở nên quá sức chịu đựng. Điều này được thế hiện tài tình qua việc đan cài các chi tiết của Pu – skin. Câu 3.Em có nhận xét gì về lòng tham và sự bội bạc của nhân vật mụ vợ? Sự bội bạc của mụ vợ đối với chồng đã tăng lên như thế nào? Khi nào sự bội bạc của mụ đi tới tột cùng? (Chú ý thái độ của mụ đôi với cá vàng thể hiện ở ý muốn cuối cùng). Gợi ý: Mụ vợ là người: -Tham lam vô độ; -Lăng loàn, bội bạc, tàn nhần, thô bỉ; -Mang bản chất của giai câ’p bóc lột, bằng mọi cách để đạt danh vọng tột đỉnh. -Mụ càng lên nước do được sự tiếp tay của sự nhu nhược, mềm lòng, thỏa mãn cam chịu. Câu 4.Câu chuyện đã được kết thúc như thế nào? Ý nghĩa của cách kết thúc đó. Gợi ý: Câu chuyện được kết thúc khi ông lão trở về nhà nhìn thấy mụ vợ và cái máng lợn sứt mẻ. Đây là cách kết thúc truyện độc đáo, theo lối vòng tròn không có hậu. Nhân vật được đưa về với điểm xuất phát của chính mình.
Soạn bài Ông lão đánh cá và con cá vàng
1,101
Đề bài: Soạn bài Ông đồ của Vũ Đình Liên Bài làm 1. Hai khổ thơ đầu tái hiện lại một thời sáng lạng của ông đồ: Mỗi dịp Tết đến xuân về, ông đồ lại xuất hiện với “hoa đào”, “mực tàu”, “giấy đỏ” giữa “phố đông người qua”. Công việc viết chữ được miêu tả “hoa tay thảo những nét”, “như phượng múa rồng bay”. Những hình ảnh được tác giả sử dụng: phượng múa rồng bay, hoa đào gợi nên một mùa xuân tươi đẹp đến gần. Nhưng sang đến khổ 3 và 4 có sự khác nhau tạo nên sự đối lập về hình ảnh ông đồ- người đem niềm vui đến mỗi độ xuân sang Tết đến. “Nhưng mỗi năm một vắng” bởi “người thuê viết nay đâu”. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, không có ai thuê viết, “giấy đỏ buồn không thắm, “mực đọng trong nghiên sầu”. Ông đồ vẫn ngồi đấy, bút nghiên vẫn còn đó nhưng dường như hình ảnh quen thuộc đó đã dần nhòa đi trong “bụi bay” ngoài phố. Đã không còn ai chú ý đến ông đồ, “người thuê viết nay đâu”. “Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay”không chỉ tả cảnh nhạt nhòa của sự lãng quên mà còn nói lên tâm trạng của tác giả trước sự lãng quên ông đồ- hình ảnh dần bị phai mờ. 2. Tâm tư của nhà thơ được thể hiện qua bải thơ một cách kín đáo. Hai hình ảnh đối lập được tác giả miêu tả trực tiếp và niềm thương cảm, đồng cảm sâu sắc của nhà thơ đối với ông đồ được bộc lộ trực tiếp. Sự lãng quên đã khiến tác giả thốt lên ở cuối bài thơ: “Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?” Câu hỏi tu từ được sửu dụng ở cuối bài thơ thể hiện sự tiếc nuối, đồng cảm cho ông đồ cũng như một lớp người đã bị lãng quên và lùi về quá khứ. Nét đẹp văn hóa đang dần bị mai một, quên lãng. 3. Nét đặc sắc nghệ thuật làm nên sự thành công cũng như sức hấp dẫn của bài thơ: • Nghệ thuật đối lập tương phản về hình ảnh của ông đồ lúc còn thời tươi sáng và lúc bị nhạt nhòa, mai một • Hình ảnh sinh động, phong phú • Ngôn ngữ nhẹ nhàng, giản dị, xót xa • Thể thơ ngũ ngôn giàu nhịp điệu 4. “Giấy đỏ buồn không thắm ” Mực đọng trong nghiên sầu Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay” Đoạn thơ không đơn thuần chỉ tả cảnh đường phố bụi bay, cảnh vật giấy mực thiếu sức sống. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Ông đồ buồn, cảnh vật cũng sầu theo. Nghệ thuật nhân hóa được tác giả sử dụng trong khổ thơ này. Ông đồ đang dần bị lãng quên và một nét đẹp văn hóa đang bị mai một. Đây chính là sức hấp dẫn và lay động của bài thơ.
Soạn bài Ông đồ của Vũ Đình Liên
503
Học sinh luôn phải học văn và môn văn là một môn chính quan trọng trong chương trình học. Vậy, có bao giờ ta nghĩ văn chương làm sao lại có tác dụng, vị trí và vai trò quan trọng đến như thế trong cuộc sống? Để tìm hiểu rõ hơn thì chúng mình cũng đi vào nội dung trong bài học Ý nghĩa văn chương. Soạn bài Ý nghĩa văn chương Bài làm Bố cục bài Ý nghĩa văn chương Chia làm 2 phần: + Phần 1 (từ đầu… muôn vật muôn loài): Tác giả chỉ ra được nguồn gốc của thơ ca. + Phần 2 ( Còn lại): Phần này nói đến nhiệm vụ và công dụng của văn chương đối với con người như thế nào. Hướng dẫn soạn bài Câu 1 (trang 63 sgk ngữ văn 7 tập 2) Theo Hoài Thanh, nguồn gốc cốt yếu của văn chương là gì? Hãy chú ý đến nghĩa của hai từ cốt yếu và đọc bốn dòng đầu của văn bản để tìm ý trả lời. – Theo nhà phê bình văn học Hoài Thanh thì cho rằng “Mọi nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương muốn vật, muôn loài”. – Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy được cũng sẽ vẫn có quan niệm khác: “văn chương bắt nguồn từ cuộc sống lao động của con người” >>> Tất cả các quan niệm này không trái ngược mà tương hỗ và bổ sung lẫn nhau Câu 2 (Trang 63 sgk ngữ văn 7 tập 2) Hoài Thanh viết: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế văn chương còn sáng tạo ra sự sống.. ”. Hãy đọc lại chú thích 5 rồi giải thích và tìm dẫn chứng để làm rõ các ý đó. Văn chương được hiểu là; – Chính những hình ảnh của cuộc sống đa dạng và phong phú, luôn luôn phản ánh cuộc sống. + Trong cuộc sống đa dạng nên hình ảnh dường như cũng đã lại được phản ánh trong văn chương cũng đa dạng biết bao nhiêu. – Văn chương còn tạo ra sự sống nữa + Việc thông qua văn chương ta biết một cuộc sống mơ ước của con người. Câu 3 (trang 62 sgk ngữ văn 7 tập 2) Theo Hoài Thanh, công dụng của văn chương là gì? Nhắc đến công dụng văn chương theo Hoài Thanh cho rằng: – Văn chương sẽ còn giúp con người có tình cảm và gợi lòng vị tha – Văn chương cũng sẽ gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có + Văn chương cũng sẽ mang đến cho ta nhungwxx cảm nhận cái đẹp, cái hay của cảnh vật, của thiên nhiên + Đồng thời văn chương như cũng lưu giữ lại dấu vết, lịch sử văn hóa của loài người >>> Thông qua đây thì văn chương giúp con người có đời sống tinh thần phong phú. Văn chương còn giúp khơi gợi ở con người tình cảm, cảm xúc chân thật Câu 4 (trang 62 sgk ngữ văn 7 tập 2): Văn bản ý nghĩa văn chương thuộc loại văn bản nghị luận nào? Văn nghị luận của Hoài Thanh có gì đặc sắc? Tìm một đoạn trong văn bản đế làm dần chứng và làm rõ ý đã chọn. a, Khi nói đến ý nghĩa văn chương thuộc văn nghị luận văn chương (nội dung nghị luận về vấn đề văn chương) b, Có thể nhận thấy được nét đặc sắc trong văn nghị luận của Hoài Thanh đó chính là vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh – Xét trong ví dụ như trong đoạn văn mở đầu của bài đó là “Người ta kể… nguồn gốc của thi ca.” + Tác giả thật tài tình khi cũng đã lấy dẫn chứng từ một câu chuyện có từ xa xưa về thi sĩ Ấn Độ Soạn bài Ý nghĩa văn chương Luyện tập Câu hỏi (trang 63 SGK): Em hãy giải thích câu của Hoài Thanh “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Và cũng những dẫn chứng chứng minh câu nói đó: + Giải thích câu nói: – Văn chương cũng đã lại gây cho ta những tình cảm ta không có: Chính văn chương có khả năng rung động và đồng thời cũng đã lại khơi gợi những xúc cảm bên trong con người như nỗi buồn, niềm vui hay đó cũng chính là sự đồng cảm. – Văn chương cũng đã thể hiện những tình cảm mà chúng ta đã sẵn có: văn chương luôn diễn tả sâu sắc những tâm tư, tình cảm của con người. Biến tâm tư, tình cảm của con người như cũng trở nên vô cùng rõ rằng, phong phú hơn rất nhiều. + Dẫn chứng: – Trong ‘Bài Sông nước Cà Mau” của tác giả Đoàn Giỏi: Tác phẩm cũng đã lại tạo cho người đọc sự xúc động trước vẻ đẹp sông nước Cà Mau. Cho người đọc được cảm nhận thấy được sông nước Cà Mau như thế nào dù người đọc chưa một lần được đến nơi này. Ta có thể coi tác phẩm này cũng chính là một tác phẩm bồi đắp tình yêu quê hương đất nước. – Trong bài thơ “Lượm” của tác giả Tố Hữu thì cũng đã lại gây cho người đọc sự xúc động, một sự xót thương trước sự hi sinh của chú bé liên lạc trong một thời chiến tranh đã qua. Tất cả những điều này dường như cũng đã khiến người đọc cảm thấy quý trọng cuộc sống hòa bình mà mỗi người đang được tận hưởng mỗi ngày. Thông qua lối văn nghị luận vừa có lí lẽ lại vừa có cảm xúc và hình ảnh của tác giả Hoài Thanh. Thì mỗi học sinh chúng ta dường như cũng lại cảm nhận thấy được luận điểm nổi bật nhất của văn chương. Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm chính là lòng vị tha. Không chỉ dừng lại ở đó ta nhận thấy được văn chương là hình ảnh của sự sống muôn hình vạn trạng một sự sống luôn thay đổi. Nơi đó lại gây những tình cảm không có, tôi luyện thêm những tình cảm sẵn có, đồng thời văn chương lại còn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân loại. Nếu như không có văn chương thì cuộc sống cũng sẽ trở nên vô cùng nghèo nàn và cằn cỗi. Bài Ý nghĩa văn chương là một bài học vô cùng lý thú và bổ ích. Trên đây thì Giải Văn cũng đã mang lại cho chúng ta một bài soạn bám sát nội dung chương trình trong sách giáo khoa giúp cho các em có thể nắm bắt được nội dung chính, dễ nhớ, dễ học. Hi vọng các em cũng sẽ đồng hành cùng với Giải Văn trong các bài soạn, bài học mới! Chúc các em học tốt! Minh Nguyệt Các em có thể tham khảo một số bài soạn liên quan đến chương trình Ngữ văn 7 dưới đây: Soạn bài Tục ngữ về con người và xã hội Soạn bài Cảnh Khuya Soạn bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta Soạn bài Những câu hát than thân Soạn bài Những câu hát về tình yêu quê hương đất nước con người
Soạn bài Ý nghĩa văn chương hay nhất
1,231
Đề bài: Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương Ngữ Văn Lớp 7 Tập 2 Bài làm Câu 1: Nguồn gốc cốt yếu của văn chương theo Hoài Thanh: – Nói cốt yếu tức là nói cái chính, cái quan trọng nhất chứ chưa phải là nói tất cả. Vậy theo Hoài Thanh: “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.” – Sở dĩ Hoài Thanh có quan niệm như vậy là vì về văn chương vẫn có những quan niệm khác. Ví dụ: “Văn chương bắt nguồn từ cuộc sống lao động của con người“. Các quan niệm tuy có khác nhau nhưng không loại trừ nhau, lại có thể bổ sung cho nhau. Câu 2: Hoài Thanh viết: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống”. – Hoài Thanh Quan niệm văn chương có hai nhiệm vụ: “hình dung cuộc sống” và “sáng tạo ra sự sống”. – Nói nhiệm vụ “hình dung cuộc sống” có nghĩa là văn chương có khả năng phản ánh cuộc sống với muôn hình vạn trạng. Qua các tác phẩm văn chương, cuộc sống đời thường bước vào trong trang văn với đầy đủ những cung bậc cảm xúc, những sáng tạo tình tiết, những hình tượng nhân vật với các tính cách và số phận đặc trưng. Tác phẩm văn chương là cuộc sống được tái hiện, phản ánh qua cái nhìn của nhà văn, qua cảm nhận và đánh giá riêng của người nghệ sĩ, qua hư cấu, sáng tạo của nhà văn, qua lý tưởng thẩm mĩ của người viết. Vì vậy, tác phẩm văn chương mang nặng cảm quan cảm thụ của người sáng tạo ra nó. – Với nhiệm vụ “sáng tạo ra sự sống” có nghĩa là nói đến khả năng điển hình hóa cao độ của văn chương. Nghĩa là “nhà văn sáng tạo ra những thế giới khác, những người, những sự vật khác mà nó chưa có trong thực tế để gọi nó vào thực tế”. Ví dụ: Nhân vật Thánh Gióng trong truyền thuyết Thánh Gióng, nhân vật ông bụt, ông tiên trong các truyện cổ tích,… Câu 3: Theo Hoài Thanh, văn chương có công dụng: – Giúp ta có tình cảm, gợi lòng vị tha bởi nguồn gốc của văn chương đều xuất phát từ tình cảm và lòng vị tha. Qua những hình tượng đẹp, gợi cảm. văn chương khơi gợi những hình tình cảm cao đẹp, tác động đến thế giới tinh thần của con người, giúp con người phân biệt, nhận thức được cái tốt, cái xấu, từ đó sống đẹp, cao thượng và giàu lòng vị tha hơn. Đó chính là sức mạnh tác động của văn chương đối với nhân cách con người. – Văn chương còn có tác dụng đánh thức, khơi gợi những xúc cảm cao đẹp mà bấy lâu nay hoặc chưa xuất hiện ở con người, hoặc bị ngủ quyên: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Nhờ có văn chương mà cuộc sống có ý nghĩa hơn, phong cảnh núi non, hoa cỏ, chim muông trở nên đẹp đẽ, xinh tươi; đời sống nội tâm của con người trở nên phong phú. a. Văn bản Ý nghĩa văn chương thuộc loại văn nghị luận văn chương, vì nội dung bàn đến là ý nghĩa, công dụng của văn chương. b. Bài văn có nét đặc sắc về nghệ thuật là vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh. Ví dụ đoạn mở đầu, hay đoạn nói về mãnh lực của văn chương.
Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương Ngữ Văn Lớp 7 Tập 2
616
Soạn bài Đeo nhạc cho mèo Hướng dẫn I.KIẾN THỨC Cơ BẢN -Truyện Đeo nhạc cho mèo miêu tả sinh động, sâu sắc làng chuột và từng loại chuột (thông qua cuộc họp cua hội đồng chuột và tên gọi, bộ dạng, hành động, ngôn ngữ, tính cách của nhân vật). -Truyện khuyên nhủ người ta luôn phải cân nhắc đến điều kiện và khá năng thực hiện khi dự định làm một công việc nào đó. Truyện còn phê phán những ý tướng viền vông, những kẻ ham sông sợ chết, chỉ bàn mà không dám hành động, trút công việc khó khăn nguy hiểm cho những người dưới quyền. II.MỘT SỐ NỘI DUNG MỚI VÀ KHÓ -Truyện ngụ ngôn này gốc của Ê-dốp (người Hi Lạp, thế kỉ VII – thế kỉ VI tr. CN). Tác giả Nguyễn Văn Ngọc dựa vào đây phóng tác, mở rộng thêm ngụ ý của truyện. -Có thế nhận ra câu chuyện có ngụ ý chính: luôn phải tính đến điều kiện và khả năng thực hiện một công việc nào đấy; ngụ ý phụ: phê phán nhừng kẻ viển vông, ham sống sợ chết, chỉ nói mà không làm, đẩy cái khó khăn sang người khác. -Cảnh họp làng chuột được miêu tả sinh động, hài hước, sắc sảo, giàu chất hiện thực, mang tính chất ngụ ý của cảnh “việc làng” trong xã hội cũ. Mỗi nhân vật đại diện cho một tầng lớp người nhất định trong xã hội đó. -Truyện này giúp ta liên tưởng đến thành ngữ “Đeo nhạc cho mèo” (hay “Đeo chuông cho mèo”, “Treo chuông cổ mèo”). III. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Câu 1.Dựa vào những chỉ tiết nào trong truyện Đeo nhạc cho mèo để ta có thể nóỉ: Làng chuột là ẩn dụ của làng người trong xă hội Việt Nam xưa kia? Gợi ý: Truyện đã sử dụng biện pháp nhân hoá rất sinh động. -Các loài chuột được phân biệt cao thấp, giàu nghèo trong xã hội: + Cống, Nhắt là những kẻ “chiếu trên” có quyền hành trong làng, chỉ phán truyền mà không thực hiện, từ chối việc làng. + Chuột chù là “đầy tớ”, là bậc cùng đinh, phải làm những việc nguy hiểm. -Sự đùn đẩy trách nhiệm để không thực hiện “nghị quyết” làng của các thành viên trong họ răng dài. Câu 2.Ngụ ý chính của truyện vẫn là bài học “Đeo nhạc cho mèo”. Đó là bài học gì? Gợi ý: Có sáng kiến, làm việc có khoa học, bàn bạc thông nhất là tcít nhưng phải dựa trên cơ sở thực tế và xem có tính khả thi không. Nếu không, sáng kiến, kế hoạch tốt mấy cũng trở thành vô ích, tốn kém, thậm chí làm ảnh hưởng đến tính mạng người khác.
Soạn bài Đeo nhạc cho mèo
453
Soạn bài Đi bộ ngao du là một bài học thật hấp dẫn nằm trong khung chương trình học lớp 8. Hi vọng bài soạn mà Giải Văn mang đến cho các em dưới đây sẽ giúp cho các em có được một buổi học thật hiệu quả. Chúng ta hãy cùng theo dõi bài soạn văn ngay dưới đây nhé! Soạn bài Đi Bộ Ngao Du Bài làm Câu 1: Ba luận điểm ứng với 3 đoạn của văn bản như sau; – Phần 1: Từ đầu cho đến đoạn “nghỉ ngơi”: Khi đi bộ ngao du được tự do thưởng ngoạn. – Phần 2: Phần tiếp đến “Tốt hơn”: Khi đi bộ ngao du mở mang vốn tri thức. – Phần 3: Chính là phần còn lại: Việc đi bộ ngao du sẽ tốt cho sức khỏe và tinh thần. Câu 2: Về trật tự các luận điểm trong văn bản trên, tùy ở quan niệm của mỗi người xem cái nào quan trọng hơn thì đưa lên trước (có thể sắp xếp luận điểm hai hoặc luận điểm ba lên trước đều được). Có thể nói đối với Ru-xô, từ nhỏ đã bị chủ xưởng chửi mắng, đánh đập đã thế cũng lại phải đi ở cho người ta để kiếm ăn cho nên ông luôn khao khát tự do. Có lẽ chính bởi vậy, ông cũng đã đưa luận điểm đi bộ mang lại lợi ích tự do lên trên là điều dễ hiểu biết bao nhiêu. Ngay từ khi còn nhỏ, ông cũng đã luôn luôn khao khát tri thức nhưng hầu như ông không được học hành, và ngay cả cả đời ông phải nỗ lực tự học. Ông cũng đã đưa ra lập luận trau dồi tri thức không qua sách vở mà phải trải qua thực tiễn cuộc sống sinh động. Người đọc đọc tác phẩm cũng nhận thấy được ông thật khéo léo khi đã xếp luận điểm lợi ích đi bộ để trau dồi kiến thức ở vị trí thứ hai. Soạn bài Đi Bộ Ngao Du Câu 3: Theo dõi các đại từ nhân xưng khi thì “ta”, khi thì “tôi” trong bài để chứng minh rằng thực tiễn cuộc sống từng trải của bản thân Ru-xô luôn bổ sung sinh động cho các lí lẽ của ông khi ông lập luận. – Tác giả Ru – xô cũng đã dùng đại từ nhân xưng “ta” khi mà bị lí luận chung, xưng “tôi” nhất là khi nói về những cảm nhận cũng như nói về cuộc sống từng trải của riêng mình. – Và cũng có chỗ những trải nghiệm của “tôi” được thể hiện dưới dạng kể chuyện về Ê-min, người học trò tưởng tượng của ông. – Thêm vào đó chính là những phần lý luận trừu tượng (khi xưng “ta”) và đặc biệt hơn nữa đó là các trải nghiệm cá nhân (khi xưng “tôi”), tất cả dường như cũng lại đan xen nhau làm cho bài văn nghị luận cho bài Đi bộ ngao du thêm sinh động, không khô khan. Câu 4: Ta hiểu gì về con người và tư tưởng, tình cảm của Ru-xô qua bài này? Thông qua bài văn nghị luận hơn nữa thì người đọc có thể tìm thấy bóng dáng nhà văn Ru-xô. Ông được xem là một con người giản dị, luôn luôn biết quý trọng tự do và yêu mến thiên nhiên. Hi vọng với những kiến thức trên sẽ giúp cho các em học và tiếp thu bài thật tốt. Thông qua đó có thể hiểu được rất nhiều điều lý thú về tư tưởng, nội dung cũng như nghệ thuật của bài. Minh Minh Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 Soạn bài Ôn dịch thuốc lá Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Soạn bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Đi Bộ Ngao Du
653
Đề bài: Soạn Bài Đi Đường (Tẩu Lộ) Lớp 8 Của Hồ Chí Minh Bài làm Câu 1: Học sinh đọc hiểu phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ Câu 2: Bài thơ Đi đường được Bác viết dựa vào mô hình của một bài thơ tứ tuyệt Đường luật, gồm 4 phần: – Câu 1: Khai (Mở đầu, khai triển ý): Nỗi gian khổ của người đi đường – Câu 2: Thừa (Phát triển, nâng cao ý của câu khai): Nói rõ đi đường khó như thế nào. – Câu 3: Chuyển (Chuyển ý): Mọi gian lao đều kết thúc, người đi đường lên tới đỉnh cao chót vót. – Câu 4: Hợp (quy tụ cảm hứng chủ đạo của toàn bài): Niềm vui sướng của con người khi vượt qua được mọi gian khó, lên đến đỉnh núi cao. Câu 2: Bài thơ sử dụng rất nhiều điệp ngữ (“Tẩu lộ”, “trùng san“) tạo cho bài thơ có sự nhịp nhàng, uyển chuyển, vẽ ra sự gian nan, trập trùng của đường đi. Hết lớp núi này chồng chất lên lớp núi khác, trùng trùng điệp điệp như không thể đi hết được, đi qua được. Những lớp núi chồng chất đó cũng chính là những khó khăn, gian khổ mà con người phải vượt qua trong cuộc đời. Câu 3: – Câu thơ thứ hai: “Trùng san chi ngoại hựu trùng san” sử dụng biện pháp điệp ngữ trùng san (lớp núi) và chữ hựu (lại) như mở ra trước mắt chúng ta cả một con đường gập ghềnh những núi, hết lớp núi này đến lớp núi khác. Nhấn mạnh sự trải dài như vô tận, không dứt hết dãy này đến dãy khác. Con đường đó như đối lập với sức người, vắt cạn sức lực của con người. – Đi đường gian nan là vậy, thế nên khi vượt qua được hàng hàng, lớp lớp trùng san ấy, để được đứng trên cao ngắm cảnh, thì niềm vui sướng quả thật vô cùng lớn lao: “Vạn lí dư đồ cố miện gian”. Câu thơ diễn tả niềm vui sướng đặc biệt, bất ngờ. Được đứng trên đỉnh núi cao chót vót, dường như “muôn trùng nước non” đều thu vào tầm mắt của người đi đường, đây là phần thưởng quý giá đối với con người đã vượt qua bao dãy núi vô vàn gian lao. Nhân vật trữ tình dường như đang say sưa tận hưởng, say sưa ngắm nhìn phong cảnh hữu tình. Đó không phải là niềm vui khi được ngắm cảnh, mà còn là niềm hạnh phúc, niềm tự hào khi vượt qua được bao núi cao vất vả mà không hề nản chí. Câu thơ thứ hai và câu thơ thứ 4 ngoài ngụ ý miêu tả đi đường gặp bao nhiêu núi cao và vượt qua được các dãy núi cao đó con người có thể lên tới đỉnh chót vót để ngắm nhìn trời đất thì còn có ngụ ý nói về con đường cách mạng. Con đường này gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn như hàng lớp lớp núi, nhưng khi kiên trì vượt qua được những gian khó này, thì sẽ đạt đến niềm hạnh phúc vô bờ bến của chiến thắng, của tự do, độc lập.
Soạn Bài Đi Đường (Tẩu Lộ) Lớp 8 Của Hồ Chí Minh
540
Soạn bài Đi đường (Tẩu lộ) Hướng dẫn Đọc – hiểu văn bản Câu 1: Kết cấu bài thơ: Ba câu thơ đầu miêu tả sự gian nan, khó khăn đi đường núi để rồi kết bằng một câu rất bất ngờ, khỏe khoắn cân bằng lại tất cả, biến những gian nan trở thành thử thách rèn luyện ý chí và tinh thần để đi tới chiến thắng vẻ vang. Câu 2. Bài thơ sử dụng rất nhiều điệp ngữ (“Tẩu lộ”, “trùng san”) vẽ ra sự gian nan, trập trùng của đường đi. Hết lớp núi này chồng chất lên lớp núi khác, trùng trùng điệp điệp như không thể đi hết được, đi qua được. Nhấn mạnh sự khó khăn đó chính là bài thơ đã làm nổi bật được sự nhọc nhằn, chông gai mà tác giả phải trải qua cũng như khí phách cứng cỏi của Người. Câ 3. Nếu như câu 2 tập trung vẽ ra cảnh núi non trùng điệp kéo dài bao la qua thủ pháp điệp ngữ thì câu 4 vẽ ra tư thế đĩnh đạc, đường hoafg cũng như tâm thế sảng khoái bay bổng của thi nhân. Dường như ta bắt gặp nhà thơ đang dang rộng bàn tay như muốn ôm cả non sông đất trời, đón nhận cảnh sắc thiên nhiên bao la, khoáng đạt trong niềm sung sướng của một con người vừa vượt qua một chẳng đường đi vất vả. Hình tượng nhân vật trữ tình trong câu 4 vững chãi và kì vĩ giữa cái bao la của đất trời. Câu 4. Trước hết, “Đi đường” là một bài thơ miêu tả, kể chuyện cảnh đi đường. Nhưng bài thơ đã mở rộng nội dung ý nghĩa ra ngoài phạm vi sẽ giành chiến thắng. Ý thơ lay tỉnh người đọc nhớ đến lời người xưa “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Vượt qua sự e ngại đó sẽ đạt được đích thắng lợi.
Soạn bài Đi đường (Tẩu lộ)
337
Đi Đường của Hồ Chí Minh là một bài thơ độc đáo và hấp dẫn. Bài thơ sẽ là một sự mới mẻ cho các em học sinh. Để có thể học thật tốt bài này các em cũng cần đọc bài và soạn bài trước khi đến lớp. Hãy cùng tham khảo qua bài soạn văn dưới đây: Soạn bài Đi Đường của Hồ Chí Minh Bài làm Đôi nét về bài: “Đi đường” là một bài thơ nằm trong tập “Nhật kí trong tù”. Bác Hồ cũng viết bài thơ này để có thể ghi lại cảm hứng ngay ở lúc đi đường khi bị giải từ nhà lao này cho đến nhà lao khác. Câu 1: Đọc hiểu phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ Các em tự đọc và tự tìm hiểu Câu 2: Tìm hiểu kết cấu bài thơ. Gợi ý: dựa vào kết cấu của bài thơ Tứ tuyệt đường luật- khai, thừa, chuyển, hợp – đã được biết ở lớp dưới; chú ý mối liên hệ logic giữa các câu thơ và vị trí của câu thứ ba. Bài thơ “Đi đường” cũng lại có một kết cấu khá chuẩn về kiểu kết cấu của bài thơ tứ tuyệt Đường luật và 4 câu có trình tự như sau: + Câu 1: Câu khai (mở) + Câu 2: Phần thừa (nâng cao, triển khai ý câu khai) + Câu 3: Phần chuyển (chuyển ý) + Câu 4: Phần hợp (tổng hợp) Câu 3: Việc sử dụng các điệp ngữ trong bài thơ có hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Có thể nhận thấy được chính hệ thống điệp ngữ ở nguyên tác lại có tác dụng rõ rệt nhất trong chính việc tạo nhịp điệu cũng như chính âm hưởng cho mạch thơ. Người đọc nhận thấy được các chữ tẩu lộ – tẩu lộ, trùng san – trùng san – trùng san như cũng đã gợi ra cái trùng điệp gian nan của chính dặm đường dài. Bài thơ “Đi đường” được dịch làm mất đi điệp ngữ ở câu mở đầu bài thơ. Soạn bài Đi Đường của Hồ Chí Minh Câu 4: Phân tích câu 2 và câu 4 để làm rõ nỗi gian lao của người đi đường núi và niềm vui sướng của người đứng trên cao ngắm cảnh. Hai câu thơ này ngoài ý nghĩa miêu tả, còn ngụ ý gì nữa không? Có thể nhìn ngay thấy được chính câu thơ thứ hai miêu tả cái khó khăn vất vả triền miên của người đi bộ đường núi. Sử dụng nghệ thuật điệp ngữ trùng san (lớp núi) và chữ hữu (lại) dường như cũng đã lại góp phần làm nổi bật, đồng thời như cũng cứ nhấn mạnh và làm sâu sắc ý thơ. Câu thơ trong cứ dường như thấp thoáng có bóng dáng nhân vật trữ tình – mà người đó ở đây chính là người tù cách mạng Hồ Chí Minh. Một người cũng đã từng trải qua bao lần để có thể chuyển lao bằng đường núi đầy khổ ải. Ta nhận thấy cũng chính từ sự thấm thía vể nỗi gian lao triển miên của người đi đường núi, thì chính Người suy ngẫm về con đường cách mạng, con đường đời. – Tiếp đến là ở câu thơ cuối của bài: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Có thể nhận thấy được chính con người từ tư thế vị đày đọa tưởng như không thể nào vượt qua nổi mà nay cũng lại trở thành một du khách ung dung say đắm cảnh non sông. Ta có thể nhận thấy được chính câu thơ cuối diễn tả niềm hạnh phúc bất ngờ nhưng vô cùng xứng đáng đến với con người đã kì công mà đã trèo qua bao dãy núi vô cùng gian khổ. Nhận xét được chính bài thơ Đi Đường không thuộc loại thơ tức cảnh hay tự sự mà ta nhận thấy được nó chủ yếu thiên về suy nghĩ. Với những triết lý nhưng không phải triết lý lên giọng dạy đời giống như lời kể chuyện, hay tâm sự của chính Bác ở trong những ngày tù đày. Có thể nhận thấy được chính bốn câu thơ bình dị mà cô đọng, vô cùng tiết kiệm ngôn từ và lời chặt chẽ cũng thật logic, vừa tự nhiên, chân thực, vừa chứa đựng tư tưởng sâu xa của Bác. Hi vọng với việc trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa đầy đủ, ngắn gọn ngất cũng khiến cho các em tiện theo dõi dễ học, dễ nhớ. Chúc các em học thật tốt! Minh Minh Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000 Soạn bài Ôn dịch thuốc lá Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Sean bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Đi Đường của Hồ Chí Minh
814
Đi đường là một trong những bài thơ hay nằm trong khung chương trình học lớp 8. Được viết theo thể thơ tứ tuyệt Đường luật và dịch ra thể lục bát giàu cảm xúc thì chắc chắn đây cũng sẽ là một bài học độc đáo cho các em. Nhằm giúp các em có được một buổi học hay và hấp dẫn thì Giải Văn mang đến cho các em bài soạn văn Đi đường đầy đủ, chi tiết nhất ngay dưới đây: Soạn bài Đi Đường Ngữ văn 8 tập 2 Bài làm Câu 1 (trang 40 sgk Ngữ văn 8 tập 2): Đọc kĩ các phần phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú thích để hiểu rõ nghĩa các câu thơ. Khi chúng ta đối chiếu giữa nguyên tác với bản dịch nghĩa, dịch thơ sẽ nhận thấy rõ ràng: – Theo nguyên tác viết theo thể tứ tuyệt Đường luật thế nhưng dịch thơ theo thể lục bát. Mà thể thơ lục bát luôn được biết đến mặc dù uyển chuyển, tự nhiên nhưng đã làm giảm đi chất thép cứng cỏi trong bài gốc. – Tiếp đến chính là việc dùng các điệp ngữ tẩu lộ – tẩu lộ, trùng san- trùng san- trùng san như để có thể gợi ra sự điệp trùng, cái vất vả người tù phải đối mặt, bản dịch làm mất điệp ngữ ở câu mở đầu trong bài. – Trùng san nghĩa được hiểu đó chính là lớp núi trùng điệp nhưng bản dịch lại dịch là núi cao. Câu 2 (trang 40 sgk Ngữ văn 8 tập 2): Tìm hiểu kết cấu bài thơ. (Gợi ý: dựa vào mô hình kết cấu bài tứ tuyệt Đường luật – khai, thừa, chuyển, hợp – đã được biết ở lớp dưới; chú ý mối liên hệ lô-gíc giữa các câu thơ và vị trí của câu thứ ba. Bài thơ “Đi đường” cũng đã lại biểu hiện rõ nét kết cấu thể thơ tứ tuyệt đường luật, bám theo trình tự kết cấu này thì mang đến cho chúng ta nắm được mạch triển khai tứ thơ. – Câu thừa – mở rộng, triển khai, cụ thể hóa ý thơ: Tất cả những khó khăn, gian khổ của người đi đường lúc này đây cũng đã lại được cụ thể hóa bằng hình ảnh núi non lớp lang, trùng điệp như cũng thật hiểm trở là quãng đường mà người đi phải vượt qua. – Câu chuyển – chuyển ý ( đó là những câu quan trọng để bộc lộ ý thơ trong bài thơ tứ tuyệt): Để rồi khi vượt qua hết những khó khăn, khổ cực sẽ lên đến đỉnh cao chót vót, chiến thắng – Câu hợp – gắn kết: Nhận thấy được với các câu chuyển để tổng kết, thâu tóm ý thơ: đứng trên đỉnh cao nước non ngàn dặm thu vào tầm mắt. Câu 3 (trang 40 sgk Ngữ văn 8 tập 2): Việc sử dụng các điệp ngữ trong bài thơ (cả ở chữ Hán và bản dịch thơ) có hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Điệp ngữ: trùng san, tẩu lộ nhằm để: + Tạo được một âm hưởng, nhịp điệu cho bài thơ càng sinh động, khí thế + Đồng thời cũng lại càng nhấn mạnh những khó khăn, gian khổ mà người đi đường phải vượt qua bao thử thách. Soạn bài Đi Đường Ngữ văn 8 tập 2 Câu 4 (trang 40 sgk Ngữ văn 8 tập 2): Phân tích câu 2 và câu 4 để làm rõ nỗi gian lao của người đi đường núi và nỗi vui sướng của người đứng trên cao ngắm cảnh. Hai câu thơ này, ngọài ý nghĩa miêu tả, còn ngụ ý gì nữa không? Xét thấy nếu như câu 2 tập trung vẽ ra cảnh núi non trùng điệp kéo dài bao la qua thủ pháp điệp ngữ thì câu 4 vẽ ra tư thế đĩnh đạc, vẻ đường hoàng cũng như tâm thế sảng khoái bay bổng của thi nhân. Chúng ta cũng đã lại bắt gặp nhà thơ đang dang rộng bàn tay như có thể ôm cả non sông đất trời, đón nhận cảnh sắc thiên nhiên bao la, một thiên nhiên như cũng thật khoáng đạt trong niềm sung sướng của một con người vừa vượt qua một chẳng đường đi vất vả. Thông qua đây ta nhận thấy được hình tượng nhân vật trữ tình trong câu 4 cũng thật vững chãi và kì vĩ giữa cái bao la của đất trời. Song, chúng ta nhận thấy được ở hai câu thơ không chỉ có ý nghĩa miêu tả mà còn là một bài học thấm thía, đó cũng lại còn là một bài học vô cùng sâu sắc mà ngắn gọn về đường đời. Chúng ta nếu như mà kiên trì, chịu khó vượt qua gian lao chồng chất, nhất định sẽ tới thắng lợi vẻ vang. – Bài thơ “Đi đường” lúc này dường như cũng không đơn thuần là miêu tả và kể về hành trình đi đường. – Tác giả cũng đã thật tài tình khi đã mượn chuyện đi đường với muôn vàn khó khăn, thử thách để vươn tới đỉnh cao. Và chính tác giả thì đã như muốn nhắn nhủ bài học kinh nghiệm về đường đời, nhắn nhủ về con đường cách mạng gian lao, lâu dài và nhất định thắng lợi. – Bài thơ “Đi đường” với lời thơ bình dị, cô đọng, chân thực nhưng lại hàm chứa tính triết lý sâu sắc nhất! Trên đây là toàn bộ nội dung bài soạn “Đi đường” đầy đủ và vô cùng ngắn gọn cho các em học sinh có thể tiện theo dõi. Chúc các em học tốt! Minh Nguyệt Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Em bé thông minh Soạn bài Trường từ vựng Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió Soạn bài Ông Đồ
Soạn bài Đi Đường Ngữ văn 8 tập 2 hay nhất
986
Soạn bài Đoàn kết đấu tranh vì hoà bình Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1. Những bức tranh dưới đây cùng nói lên điều gì? (SGK/100). Gợi ý: Những bức tranh cho thấy thiếu nhi khắp năm châu cùng nắm chặt tay nhau, vui vẻ sông trên hành tinh xanh đầy ắp tiếng cười. Mọi người cùng chung tay gìn giữ hoà bình, đoàn kết đấu tranh vì hoà bình. 5. Cùng nhau hỏi – đáp theo các câu hỏi dưới đây: 1)Tình huống trong câu chuyện diễn ra vào thời gian nào? 2)Vì sao tên sĩ quan Đức có thái độ bực tức với ông cụ người Pháp? 3)Nhà văn Đức Si-le được ông cụ người Pháp đánh giá thế nào? 4)Em hiểu thái độ của ông cụ đối với người Đức và tiếng Đức như thế nào? Gợi ý: 1) Tình huống trong câu chuyện diễn ra vào thời gian nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. 2)Tên sĩ quan Đức có thái độ bực tức vì ông cụ biết tiếng Đức nhưng không thèm chào bằng tiếng Đức. 3)Ông cụ người Pháp đánh giá nhà văn Đức Si-le là một nhà văn quốc tế. 4)Ông cụ không ghét người người Đức và tiếng Đức. Ông thông thạo tiếng Đức, ngưỡng mộ nhà văn Đức. 6. Phát biểu ý kiến trước lớp: Lời đáp của ông cụ ở cuối truyện ngụ ý gì? Gợi ý: Lời đáp của ông cụ ở cuối truyện ngụ ý những tên phát xít là những tên cướp. 1.Đọc bài văn “Thần chết mang tên 7 sắc cầu vồng” (SGK/103) 2.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Bài viết trên cho biết chất độc màu da cam gây ra những hậu quả gì đối với con người? 2)Chúng ta có thể làm gì để giảm bớt nỗi đau cho những nạn nhân chất độc màu da cam? Gợi ý: 1) Chất độc màu da cam vẫn còn trong cơ thế con người sau 30 năm, gây ra những bệnh nguy hiểm cho những người nhiễm độc và con cái họ, như ung thư, nứt cột sông, thần kinh, tiểu đường, sinh quái thai, dị tật bẩm sinh. Nhiều trẻ em nhiễm chất độc đã chết từ trong bụng mẹ hoặc mất ngay lúc mới sinh. 2) Để giảm bớt nỗi đau cho những nạn nhân chất độc màu da cam, chúng ta có thể thăm hỏi, động viên, giúp đỡ, vận động mọi người chung tay hỗ trợ, gây quỹ ủng hộ. 3.Luyện viết đơn: Giả sử Hội Chữ thập đỏ (là tổ chức giúp các nạn nhân bị thiên tai và chiến tranh) địa phương em tổ chức đội tình nguyện giúp đỡ nạn nhân chất độc màu da cam, em hãy viết đơn xin gia nhập đội tình nguyện. Gợi ý CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Quận ngày… tháng… năm… ĐƠN XIN GIA NHẬP ĐỘI TÌNH NGUYỆN Kính gửi: Ban chấp hành Hội Chữ thập đỏ phường 14. Nam, nữ: Nam Học sinh lớp: Năm 3 Sinh ngày: 17 – 03 – 2006 Nơi sinh: Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh Quê quán: Bình Dương Địa chỉ thường trú: 1059/32 Nguyễn Trãi P.14, Q.5 Được biết Hội Chữ thập đỏ của phường sẽ tổ chức Đội Tình nguyện giúp đỡ nạn nhân chất độc màu da cam với các nội dung hoạt động phong phú như: -Thăm hỏi, động viên, giúp đỡ các gia đình có người nhiễm chất độc màu da cam. -Sáng tác truyện, thơ, bài hát, tranh, ảnh… thể hiện sự cảm thông với các nạn nhân, vận động mọi người giúp đỡ cô bác và những em nhỏ bị ảnh hưởng của chất độc này. -Lao động công ích gây quỹ ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam nói riêng và nạn nhân chiến tranh nói chung. Những việc làm trên thật ý nghĩa và phù hợp với sở thích của em. Nay em làm đơn này kính mong Ban Chấp hành Hội Chữ thập đỏ của phường chấp thuận cho em được tham gia Đội Tình nguyện. Em xin hứa sẽ tích cực tham gia mọi hoạt động của Đội và không làm gì gây mất uy tín của Đội. Xin chân thành cảm ơn sự chấp thuận của Ban Chấp hành Hội. Người làm đơn Kí tên Đinh Văn Phong.
Soạn bài Đoàn kết đấu tranh vì hoà bình
692
Soạn bài đoàn thuyền đánh cá Hướng dẫn Soạn bài đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. a.Bố cục bài thơ: Bài thơ gồm 3 đoạn: –Đoạn 1: Hai khổ thơ đầu là cảnh đoàn thuyền đánh cá lên đường và tâm trạng náo nức của con người. –Đoạn 2: Bốn khổ thơ tiếp theo là cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển. –Đoạn 3. Còn lại là cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về trong bình minh. b.Không gian và thời gian miêu tả trong bài thơ: –Không gian là mặt biển bao la, rộng lớn với sự hiện diện của mặt trời, mặt biển, trăng sao, mây, gió. –Thời gian là nhịp tuần hoàn của vũ trụ: Từ lúc hoàn hôn buông xuống, trời biển vào đêm đến lúc mặt trời đội biển nhô lên, một ngày mới bắt đầu. Nhịp tuần hoàn của vũ trụ điểm nhịp thời gian cho đoàn thuyền đánh cá làm việc. Câu 2. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc về thiên nhiên vũ trụ và cảm xúc về lao động, người lao động. –Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi. Vũ tru đi vào trạng thái nghỉ ngơi theo nhịp tuần hoàn của thời gian: Mặt trời lặn, sóng cài chặt cánh cửa đêm đen. Con người bắt đầu một đêm lao động hào hứng phấn chấn: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi”. “Câu hát”, “Buồm”, “Gió khơi” vốn là ba sự vật rất khác nhau nay được nối kết lại trong một liên tưởng mới mẻ, tạo thành hình ảnh đẹp và lạ. Câu hát như thổi căng cánh buồm, đẩy con thuyền đi nhanh hơn. Câu hát như tràn ngập cả mặt biển. Ngay từ khổ thơ đầu ta đã thấy cảnh đoàn thuyền ra khơi trong một tâm trạng hứng khởi, hưa hẹn nhiều điều tốt đẹp. –Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển: Trong tưởng tượng, tác giả phát hiện ra vẻ đẹp hòa quyện của thiên nhiên, người lao đọng và công việc lao động. “Thuyền ta lái gió vơi buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng”. Con thuyền đánh cá vốn gần gũi với chúng ta, nhỏ bé trước mặt biển bao la, giờ đây đã trở thành con thuyền khổng lồ, hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên. Những hình ảnh “Lái gió”, “Buồm trăng”, “Mây cao”, “Biển bằng”… đã khiến con thuyền đánh cá hằng ngày trở thành con thuyền kỳ vĩ, lướt giữa cõi tiên, giữa mây cao cùng trăng gió. Trời biển giao hòa làm một. Giữa vũ trụ mênh mang là hình ảnh con thuyền đang “Dàn đan thế trận” vây đàn cá. Hình ảnh thơ mang đầy chất lãng mạn, khiến cho những con thuyền đánh cá và công việc đánh cá vất vả biến thành công việc thần tiên, đầy ắp nềm vui, chan chứa lòng yêu đời. Thiên nhiên tham gia vào công việc lao động. Song trên nền cảnh thiên nhiên hùng vĩ, con người vẫn hiện lên trong tư thế làm chủ, tư thế của người chiến sĩ “Dàn đan thế trận’ đánh bắt cá. Hình ảnh người lao động hiện lên thật đẹp, vẻ đẹp dũng mãnh trong công cuộc chinh phục thiên nhiên. Cảnh này là mình chứng cho thấy thơ Huy Cận là sự tiếp nối giao hòa giữa con người với vũ trụ cao rộng, vừa bí ẩn, vừa gần gũi. Thiên nhiên không chỉ tham gia vào công việc của con người mà còn nâng đỡ con người, chia sẽ với con người. “Ta hát bài ca gọi cá vào Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào”. Làm cho công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá trở thành bài ca lao động vui tươi nhịp nhàng cùng thiên nhiên. Đàn cá trên biển cũng mang đến cho bức tranh thiên nhiên một vẻ đẹp rực rỡ, lỗng lẫy đến huyền hảo, đúng như một bức tranh sơn mài được sáng tạo bằng trí tượng tượng bay bổng của nhà thơ. “Cá nhụ cá chim cùng cá đé, Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Cái đuôi em quẫy trăng vào chóe, Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long” Trí tưởng tượng ấy đã nối dài, chắp cánh cho hiện thực trở nên kỳ ảo, làm giàu thêm cái đẹp vốn có của thiên nhiên. Câu 3. Bài thơ có bốn từ “Hát”. Cả bài như một khúc ca, ngợi ca lao động, với tinh thần làm chủ, với niềm vui phơi phới mà nhà thơ viết thay cho những người lao động. Lời thơ dõng dạc giọng điệu như khúc hát mê say hào hứng, cách gieo vần biến hóa linh hoạt. Vần trắc xen lẫn vần bằng, vần liền xen lẫn vần cách. Vần trắc tạo nên sức dội, sức mạnh. Vần bằng tạo nên sự vang xa, bay bổng… tất cả góp phần làm nên âm hưởng của bài thơ vừa khỏe khoắn sôi nổi, vừa phơi phới bay bổng. Câu 4. Phân tích một số hình ảnh đẹp tráng lệ: Cảnh biển vào đêm vừa rộng lớn vừa gần gũi với con người: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa” Nhà thơ so sánh mặt trời như một hòn lửa đang từ từ lặn xuống biển. Trời biển có sự giao hòa trọn vẹn. Mặt biển mênh mông, mát mẻ kia sẽ làm cho “Hòn lửa” mặt trời dịu êm đi. Nhà thơ đã liên tưởng vũ trụ là một ngôi nhà lớn, có màn đêm là cánh cửa khổng lồ, những con sóng là then cửa cài chặt cánh cửa đêm đen. Vũ trụ đi vào trạng thái nghỉ ngơi theo nhịp tuần hoàn của thời gian. Câu 5. Nhận xét về cái nhìn và cảm xúc của tác giả trước thiên nhiên, đất nước và con người lao động. Nhà thơ Huy Cận có cái nhìn tươi mới và cảm xúc hào hứng, tràn đầy niềm vui về cuộc sống. Thiên nhiên tráng lệ, giàu có là nguồn tài nguyên vô tận luôn phục vụ con người, tham gia tích cực vào cuộc sống. Con người hăng hái say mê lao động làm chủ cuộc sống, xây dựng cuộc sống mới. Chính nhà thơ đã viết “Không khí lúc này thật vui, cuộc đời phấn khởi, nhà thơ cũng rất phấn khởi. Cả một vùng than, vùng biển đang hăng say lao động từ bình minh cho đến hoàng hôn và cả từ hoàng hôn cho đến bình minh”. Đây là một cái nhìn tin tưởng và phấn khởi của nhà thơ trước cuộc đời mới. Cái nhìn ấy, cảm xúc ấy là kết quả của quá trình đi thực tế dài ngày tại vùng mở Quảng Ninh. Bắt đầu từ đây hồn thơ Huy Cận này nở trở lại trong niềm vui say cuộc sống mới.
Soạn bài Đoàn thuyền đánh cá
1,177
Đánh nhau với cối xay gió (trích Đôn ki-hô-tê) là một đoạn trích khá ấn tượng trong chương trình Ngữ văn 8. Là một tác phẩm nước ngoài nên có rất nhiều điều mới mẻ cho nên để học tốt tác phẩm này các em cũng cần phải chủ động học bài, soạn bài. Hãy cùng theo dõi bài soạn hôm nay Giải Văn mang đến cho các em nhé! Soạn bài Đánh Nhau Với Cối Xay Gió Bài làm Tóm tắt tác phẩm: Có hai thầy trò Đôn Ki-hô-tê và Xan-chô khi đi trên đường đi tìm những chiến công thì lại có được một phát hiện ba bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng. Đôn Ki-hô-tê lúc này đây cũng đã khéo tưởng tượng đó là những tên khổng lồ và quyết giao chiến với chúng. Nhân vật Xan-chô biết sự nhầm lẫn cũng đã đưa ra lời can ngăn nhưng không thành. Đôn Ki-hô-tê lại cầm giáo xông vào thế rồi bỗng gió nổi lên, cối xay gió chuyển động và nhân vật Đôn Ki-hô-tê ngã kềnh ra. Xan-chô lúc đó nhanh chóng chạy đến cứu chủ lúc nguy. Nhân vật Đôn Ki-hô-tê ngã đau nhưng không kêu ca vì cho mình chinh là một hiệp sĩ giang hồ, đã vậy lại còn giải thích lí do bại trận là do pháp sư Phơ-re-xtôn thù nghịch nữa. Ngay trong ngày hôm sau, hai thầy trò lại tiếp tục lên đường tìm kiếm những cuộc phiêu lưu mới mẻ hơn. – Phần 1 (từ đầu cho đến: không cân sức): Thể hiện được những ttình cảnh trước khi đánh nhau với cối xay gió khổng lồ kia. – Phần 2 (tiếp theo cho đến: toạc nửa vai): Đóa là đoạn ssánh nhau với cối xay gió. – Phần 3 (phần còn lại): Lúc này thì hai thầy trò tiếp tục cuộc phiêu lưu mới hơn Câu 1 (Sách giáo khoa trang 79 Ngữ Văn 8 Tập 1): Xác định ba phần của đoạn truyện này theo trật tự diễn biến trước, trong và sau khi Đôn Ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió. Liệt kê năm sự việc chú yếu, qua đó tính cách của lão hiệp sĩ và bác giám mã được bộc lộ – Nhân vật Đôn Ki-hô-tê phát hiện ba, bốn chục chiếc cối xay gió khổng lồ ngay giữa đồng và cho đó chính là những tên khổng lồ ghê gớm luôn luôn cần giết hết bọn chúng. – Đôn Ki-hô-tê đã luôn mong nàng Đuyn-xi-nê-a và cứu giúp rồi xông vào đánh cối xay gió khổng lồ kia. – Đôn Ki-hô- tê lúc đó bị thương nặng vì bị cối xay gió đạp cánh quạt vào người và ngựa. Nhân vật Xan-chô nhanh chóng đến cứu giúp, và hai thầy trò tranh luận với nhau về cối xay gió. – Khi mà vừa đang trong lúc bàn tán chuyện xảy ra, hai thầy trò lúc đó cũng đi về phía cảng La-pu-xê vì theo Đôn Ki-hô- tê cho rằng đó chính là một con đường có nhiều chuyện phiêu lưu khác nhau. Câu 2 (Sách giáo khoa trang 79 Ngữ Văn 8 Tập 1): Qua năm sự việc ấy, phân tích những nét hay và dở trong tính cách của nhân vật Đôn Ki-hô-tê. Có thể chỉ ra được những nét hay và dở trong tính cách nhân vật Đôn Ki-hô-tê đó chính là các đặc điểm: – Đầu óc của Đôn –ki –hô –tê luôn chứa đầy những ý tưởng tốt đẹp nhưng phi thực tế – Nhân vật cũng chỉ luôn thích sống trong hoài niệm cùng những lí tưởng viển vông mà thôi – Thông qua đoạn trishc thấy nhân vật vô cùng gan dạ, dũng cảm, quên mình nhưng khắc khổ, cứng nhắc. Đánh nhau với cối xay gió Câu 3 (Sách giáo khoa trang 79 Ngữ Văn 8 Tập 1): Vẫn qua các sự việc ấy, chứng minh nhân vật Xan-chô Pan-xa cũng bộc lộ cả những mặt tốt lẫn mặt xấu. Nói về nhân vật Xan-chô cũng bộc lộ những mặt tốt lẫn xấu đó chính l;à – Anh ta luôn luôn sống vui vẻ, tự nhiên, thoải mái. – Đầu óc sáng và cũng có sự thiết thực: ngăn chủ nhân tấn công cối xay gió. – Nhân vật cũng rất nhát gan, ích kỉ, thiện cận, vụ lợi. Câu 4 (Sách giáo khoa trang 79 Ngữ Văn 8 Tập 1): Đối chiếu Đôn Ki-hô-tê và Xan-chô Pan-xa về các mặt: dáng vẻ bên ngoài, nguồn gốc xuất thân, suy nghĩ, hành động… để thấy rõ nhà văn dã xây dựng một cặp nhân vật tương phán. Cặp nhân vật tương phản nhau ở các điểm: Phương diện tương phản Đôn Ki-hô-tê Xan-chô Pan-xa Xuất thân Quý tộc nghèo khó Nông dân chân chất Bề ngoài Gầy gò, dáng người lại cao lênh khênh, cưỡi ngựa Béo lùn, luôn luôn cưỡi con lừa nên càng lùn tịt Tính cách Dũng mãnh, vô cùng trọng danh dự, nghĩ đến việc chung Nhát gan, thật thà và luôn lo nghĩ đến cuộc sống của mình Mục đích Làm hiệp sĩ trừ gian tà giúp người tốt Nhân vật cũng mong hưởng chiến lợi phẩm Suy nghĩ Ảo tưởng, hão huyền toàn chuyện đâu đâu Tỉnh táo, thực tế rất nhiều Trên đây là toàn bộ nội dung bài soạn chi tiết của bài Đánh Nhau Với Cối Xay Gió. Hi vọng với cách soạn bài chi tiết, đầy đủ này của Giải Văn mang lại sẽ giúp cho các em có được một bài học thật tốt! Minh Nguyệt Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Sean bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió (trích Đôn ki-hô-tê)
933
Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió của Xéc van tét Hướng dẫn -Sau khỉ đánh nhau: – Hai thầy trò bàn chuyện về tính cách của hiệp sĩ, chuyện ăn và chuyện ngủ. Năm sự việc chủ yếu thì sự việc 1 được thê hiện ở đoạn ỉ; sự việc 2 ở đoạn 2; 3 sự việc còn lại ở đoạn 3. + về Xéc-van-íét, học sinh nên biết thêm họ tên đầy đủ của ông là Miguel de Cervantes, sinh năm ỉ547 tại Alcaỉá de Henares, và mất năm 16Ĩ6 tại Madrid, Tây Ban Nha. I.Nhắc đến các nhà văn cổ điển Tây Ban Nha người đọc thường nhớ đến Xéc-van-tét, người xuất thân từ gia đình quý phái nhưng nghèo, học đại học được ít lâu rồi bắt đầu cuộc đời ba chìm bảy nổi, sau đó vào quân đội. Trong một trận thủy chiến, Xéc-van-tét bị mất cánh tay trái và bị bắt làm tù binh 5 năm ở An-giê (Alger). Năm 1580, ông ra tù, lấy vợ, sống trong lao đao nghèo khổ. Dù có hoạt động văn nghệ nhưng chưa nổi tiếng. Mãi cho đến năm 1605, khi phần I của bộ tiểu thuyết Đôn-ki-hô-tê, nhà quý tộc tài ba xứ Man – cha ra đời, Xéc-van-tét mới được độc giả Tây Ban Nha hoan nghênh vì phản ánh đúng tâm trạng của người dân đương thời – tâm trạng không còn tin tướng vào đạo lý của tầng lớp hiệp sĩ vốn đã được một số tiểu thuyết gia đương thời đề cao trong tác phẩm của họ. Sau đó, Đôn-ki-hô-tê trở thành một tác phẩm mẫu mực của trào lưu hiện thực. II.Xéc -van-tét kể chuyện Đôn-ki-hô-tê, một lão quý tộc nghèo, người cao và gầy, rất mê đọc truyện hiệp sĩ nên muôn trở thành người tìm diệt lũ gian tà, cứu người lương thiện. Với đồ binh giáo cũ, lão mặc vào người, phong cho người phụ nữ mà lão thầm yêu là công nương Đuyn-xi-nê-a, con ngựa gầy Rô-xi-nan-tê là chiến mã. Lão cưỡi lên mình ngựa cùng với giám mã Xan-chô Pan-xa béo lùn cưỡi trên lưng lừa ra đi. Sau những thất bại ê chề, lão ốm nặng. Lão nhận ra sự mù quáng cô” chấp của mình khi tin vào những nhân vật hiệp sĩ trong tiểu thuyết. Lão viết di chúc và qua đời. Không tỉnh táo để phân biệt thật – giả, không chịu chữa vết thương khi bị “những tên khổng lồ… cối xay gió” đánh cho “không cựa quậy” được, Đôn-ki-hô-tê còn cho người hầu biết “và ta không kêu đau là vì các hiệp sĩ giang hồ có bị thương thế nào cũng không được rên rì, dù xổ cả gan ruột ra ngoài”. Tới giờ ăn thì cho rằng lúc này chưa cần ăn; tới giờ ngủ thì Đôn- ki-hô-tê “bắt chước những hiệp sĩ lão từng đọc trong sách thức trắng nhiều đêm ròng… nhớ tới tình nương’” là “cũng đủ no rồi”. Tại sao Đôn-ki-hô-tê lại có những quyết định như thế? Chẳng lẽ lão không nhận ra việc điều trị vết thương, ăn uống, nghỉ ngơi là việc tối cần để giữ gìn sức khỏe trên đường hành hiệp? Chỉ có thể nói rằng lão tin và bắt chước các nhân vật trong tiểu thuyết hiệp sĩ đến mê muội. Ây là mặt hạn chế của Đôn-ki-hô- tê mà Xéc-van-tét đã miêu tả để vừa châm biếm các nhà viết tiểu thuyết hiệp sĩ vừa diễu cợt những ai chỉ biết bắt chước các nhân vật trong sách một cách máy móc, đần độn. Tuy vậy, Đôn-ki-hô-tê cũng có mặt tốt. Trước hết là động cơ thúc đẩy lão hành hiệp giang hồ. Đời vẫn còn nhiều kẻ ác, xấu xa như lão pháp sư chẳng hạn nên Đôn-ki-hô-tê quyết trở thành hiệp sĩ là để “quét sạch cái giống xấu xa này khỏi mặt đất” Và khi đã quyết định, Đôn-ki-hô-tê kiên quyết làm, không sợ chết. Khi bị thương, Đôn-ki-hô-tê vẫn giữ chí khí của người hiệp sĩ là không rên ri kêu than. III.Câu chuyện hiệp sĩ Đôn-ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió được kể lại trong đoạn trích chấm dứt ở đó, vào buổi sáng chim hót líu lo đón mừng một ngày mới. Hai nhân vật tương phản từ hình dáng đến tính cách. Một kẻ thì quý phái nhưng gầy yếu, mê muội lại là hiệp sĩ, còn kẻ kia thì mập lùn, sáng suốt thì lại là người hầu. Cả hai đã được ngòi bút Xéc-van- tét miêu tả bằng những chi tiết tương phản khá nực cười để trở thành cặp nhân vật bất hủ trong văn học Tây Ban Nha và thế giới.
Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió của Xéc van tét
788
Soạn bài đánh nhau với cối xay gió Hướng dẫn I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. Xác định ba phần của đoạn trích theo trật tự diễn biến trước, trong và sau khi Đôn-ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió. Liệt kê 5 sự việc chủ yếu, qua đó tính cách của lão hiệp sĩ và bác giám mã được bộc lộ. -Căn cứ vào sự kiện chính là Đôn-ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió, bài này có thể chia làm ba phần: + Từ đầu đến… “bọn khổng lồ”: Đôn-ki-hô-tê trước khi đánh nhau với cối xay gió. + “Vừa bàn tán” đến hết: Đôn-ki-hô-tê sau khi đánh nhau với cối xay gió. -Liệt kê năm sự việc chủ yếu, qua đó tính cách của lão hiệp sĩ và bác giám mã được bộc lộ: + Đôn-ki-hô-tê phát hiện thấy ba, bốn chục chiếc cối xay gió giữa đồng. Đôn-ki-hô-tê cho rằng đó là những tên khổng lồ ghê gớm, cần giết hết bọn chúng. + Đôn-ki-hô- tê cầu mong nàng Đuyn-xi-nê-a cứu giúp rồi xông vào đánh cối xay gió. + Đôn-ki-hô- tê bị thương nặng vì bị cối xay gió đạp cánh quạt vào người và ngựa. Xan-chô đến cứu giúp, và hai thầy trò tranh luận nhau về “cối xay gió”. + Vừa bàn tán chuyện xả ra, hai thầy trò đi về phía cảng La-pu-xê vì theo Đôn-ki-hô- tê con đường này có nhiều chuyện phiêu lưu khác nhau. + Đêm hôm ấy, hai người ngủ dưới vòm cây. Đôn-ki-hô- tê không ngủ để nghĩ với nàng Đuyn-xi-nê-a. -Có hoài bão, ước mơ tốt: diệt ác, cứu nguy. -Gan dạ, dũng cảm. -Nghiêm nghị, khắc khổ, cứng nhắc. -Điên rồ, hoang tưởng. Câu 3. Chứng minh nhân vật Xan-chô Pan-xa cũng bộc lộ cả những mặt tốt lẫn mặt xấu. -Sống vui vẻ, tự nhiên, thoải mái. -Đầu óc sáng, thiết thực. -Nhát gan, hay sợ. -Thiện cận, vụ lợi. Câu 4. Đối chiếu Đôn-ki-hô- tê và Xan-chô Pan-xa về các mặt để thấy rõ nhà văn đã xây dựng một cặp nhân vật tương phản. Sự tương phản bộc lộ ở nhiều mặt: -Đôn-ki-hô- tê: + Suy nghĩ trước cối xay gió: ++ Tưởng gặp lũ khổng lồ hung tợn có cánh tay rất dài. ++ Đánh chúng là việc hay, tốt, nên làm. + Quan niệm sống và hành động. ++ Có lí tưởng, hoài bão: cứu người lương thiện, trừ ác. ++ Hành động theo quy ước, đúng bài bản của giới hiệp sĩ. +++ Coi thường nhu cầu tự nhiên (đến bữa không ăn). + Cách nói năng: ++ Câu nệ phép tắc (nhớ tới tình nương: không ngủ). ++ Gan gạ, chấp nhận gian nguy (không trốn tránh, không kêu ca). ++ Hiên ngang, trịnh trọng. ++ Đúng như sách vở, phép tắc phải có. + Ưu điểm: ++ Có hoài bão, ước mơ đẹp: diệt ác, cứu nguy. ++ Gan dạ, dũng cảm. + Nhược điểm. ++ Nghiêm nghị, khắc khổ, cứng nhắc. -Xan- chô Pan-xa: + Suy nghĩ trước cối xay gió. ++ Rõ ràng là vật quen, dễ nhận biết, dễ lí giải. ++ Không nên đụng vào chúng. + Quan niệm sống và hành động. ++ Tỉnh táo, cân nhắc kỹ trước khi hành động. ++ Tự nhiên, chân thật, không giấu giếm. ++ Thích được ăn, được uống thoải mái, no say. ++ Ngủ ngon lành, đầy giấc. ++ Lảng tránh nguy hiểm, đau đớn. + Cách nói năng. ++ Tự nhiên. ++ Thực sự đời sống vốn có. + Ưu điểm: ++ Sống vui vẻ, tự nhiên, thoải mái. ++ Đầu óc sáng, thiết thực. + Nhược điểm. ++ Nhát sợ. ++ Thiện cận, vụ lợi. Hai tính cách trên tương phản nhau nhưng lại không mâu thuẫn; trái lãi, bổ sung cho nhau. Thực tế tác phẩm cho thấy trong các cuộc phiêu lưu mạo hiểm hiệp sĩ Đôn-ki-hô- tê luôn luôn có giám mã Xan-chô Pan-xa đo theo phục vụ. Và hai người sống với nhau rất hòa thuận, gắn bó. Tách riêng ra, mỗi tính cách đều phiếm diện (lệch lạc), cực đoạn (thái quá) không thể tồn tại mà không gặp khó khăn và thất bại – nhất là những lúc đứng trước thử thách lớn. Đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau, chúng hạn chế được những mặt yếu, phát huy được những mặt mạnh, trở thành một khối thống nhất vững chắc trong mọi suy nghĩ, sinh hoạt và hành động. Xéc-van-tét đã sử dụng biện pháp trào lộng, phóng đại và tương phản đối lập trong kể chuyện để dựng lên hình ảnh của trang hiệp sĩ Tây Ban Nha thời Trung cổ đã lỗi thời. Hình tượng nhân vật thầy trò Đôn-ki-hô- tê và Xan-chô Pan-xa là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc của Xéc-van-tét. Câu 6. Ý nghĩa. Đằng sau những câu văn, dòng chữ, ta luôn bắt gặp nụ cười hóm hỉnh của tác giả. Nhưng đằng sau nụ cười chế giễu là sự đề cao của nhà văn đối với nhân vật Đôn-ki-hô- tê về một tình yêu tự do, bình đẳng, sống thiết thực và yêu đời.
Soạn bài Đánh nhau với cối xay gió
802
Từ lâu thì Văn học phương Tây cũng mang lại cho người đọc biết bao nhiêu điều mới lạ. Đánh Nhau với cối xay gió là một trong những đoạn trích vô cùng độc đáo trong tác phẩm Đôn-ki-hô-te của đại văn hào Xéc-van-tec. Hãy cùng giải Văn đi soạn bài để cảm nhận thấy được vẻ đẹp của nhân vật cũng như bút pháp châm biếm hay và thú vị của một nền văn học mới này nhé! Soạn bài Đánh Nhau với cối xay gió Bài làm Soạn bài: Đánh nhau với cối xay gió của Xéc-van-tét Bố cục của tác phẩm cũng được chia làm 3 phần: + Phần 1 (Từ đầu cho đến “không cân sức”): Đây chính là đoạn trước khi Đôn-ki hô-tê lao vào giao chiến với cối xay gió. + Phần 2 (tiếp cho đến “văng ra xa”): Nhân vật Đôn-ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió quyết liệt. + Phần 3 (Đoạn còn lại): Lúc này đây thì hai thầy trò tiếp tục cuộc phiêu lưu. Hướng dẫn soạn bài Câu 1 (trang 79 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Xác định ba phần của đoạn truyện này theo trật tự diễn biến trước, trong và sau khi Đôn Ki-hô-tê đánh nhau với cối xay gió. Liệt kê năm sự việc chú yếu, qua đó tính cách của lão hiệp sĩ và bác giám mã được bộc lộ Bố cục được chia như phần trên và bao gồm 5 sự việc chính chủ yếu: + Khi nhìn thấy và nhận định về những chiếc cối xay gió có sức mạnh + Những thái độ cũng như các hành động của hai thầy trò Đôn-ki-hô-tê + Tiếp đến đó là những quan niệm và cách cư xử của hai thầy trò khi bị thương, đau đớn + Chuyện ngủ >>> Thông qua những sự việc này tính cách đối lập của hai nhân vật được khắc họa rõ nét nhất trong tác phẩm Câu 2 (trang 79 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Qua năm sự việc ấy, phân tích những nét hay và dở trong tính cách của nhân vật Đôn Ki-hô-tê. Người đọc cũng nhận thấy được những nét tính cách của nhân vật Đôn-ki-hô-tê được bộc lộ: – Trí tuệ của nhân vật được thể hiện ở trong đoạn trích đó là mê muội (đọc quá nhiều chuyện hiệp sĩ) + Khi nhân vật thấy cối xay lại nghĩ bọn khổng lồ gian ác + Khi mà bị quật ngã thì nhân vật cũng lại cho rằng đó là do pháp sư như đang yểm bùa để có thể biến những tên khổng lồ thành cối xay gió vậy. – Tư tưởng được thể hiện đó là mong muốn tiêu diệt cái xấu khỏi mặt đất, theo tinh thần hiệp sĩ – Hành động của nhân vật được thể hiện đó là luôn bất chấp nguy hiểm, lời can ngăn vẫn lao vào đánh nhau với cối xay gió – Tính cách của nhân vật được bộc lộ ra là một dũng cảm, khắc khổ, cứng nhắc. – Quan niệm sống được tác giả gửi gắm qua nhân vật chính là một sự quên mình vì việc nghĩa (quên cả chuyện ăn, ngủ quên cả những chuyện chăm lo cho bản thân) >>> Thông qua đây người đọc cũng có thể nhận thấy được nhân vật Đôn-ki-hô-tê là nhân vật có lý tưởng tốt. Nhân vật luôn hành hiệp trượng nghĩa làm những điều tốt. Thế nhưng đáng nói ở đây thì hành động thì điên rồ mang tính chất phi thực tế bởi chính những ảo tưởng và có cả những mê muội khi đọc chuyện kiếm hiệp quá nhiều. Soạn bài Đánh Nhau với cối xay gió của Xéc-van-tét Câu 3 (trang 79 sgk Ngữ Văn 8 tập 1) Vẫn qua các sự việc ấy, chứng minh nhân vật Xan-chô Pan-xa cũng bộc lộ cả những mặt tốt lẫn mặt xấu. – Nhân vật Xan- chô-pan-xa – Trí tuệ của nhân vật lại đối lập với Đôn-ki-hô-tê mê muội thì anh hoàn toàn tỉnh táo + Xan- chô-pan-xa cũng nhận thức được bản chất của sự vật- cối xay là cối xay – Ước muốn của nhân vật đó là phải thực tế tới mức thực dụng + Nhân vật luôn luôn mong được cai trị một vài hòn đảo – Hành động Xan- chô-pan-xa lại có vẻ nhút nhát, sợ sệt + Xan- chô-pan-xa cũng không dám theo chủ vào đánh nhau với cối xay + Chỉ hơi đau một chút thôi thì Xan- chô-pan-xa cũng đã kêu ca ngay – Quan niệm sống của nhân vật Xan- chô-pan-xa luôn luôn quá chú trọng tới bản thân (quan tâm quá mức tới việc ăn, ngủ…) – Tính cách của Xan- chô-pan-xa luôn nhát gan, ích kỉ, vụ lợi nhưng trung thành, thực tế >>> Thông qua đây ta nhận thấy được ở Xan-chô-pan-xa là nhân vật tồn tại cả những mặt tốt, xấu, hay dở. Nhân vật Xan-chô-pan-xa rất thực tế và luôn luôn tỉnh táo nhưng nhân vật này thực dụng, hèn nhát, tham lam nữa. Câu 4 (Trang 79 trong SGK Ngữ Văn 8 tập 1). Đối chiếu Đôn-ki-hô-tê và Xan-chô-pan-xa thông qua về các mặt có thể thấy được như cái dáng vẻ bên ngoài, nguồn gốc xuất thân, những suy nghĩ, hành động… để có thể nhận thấy rõ nhà văn xây dựng một cặp nhân vật tương phản nhất hương diện Đôn-ki-hô-tê Xan-chô-pan-xa Nguồn gốc xuất thân Quý tộc Nông dân Dáng vẻ bên ngoài Gầy gò đã vậy còn cao lênh khênh Vừa béo vừa lùn, luôncưỡi lừa thấp lè tè Suy nghĩ Có những ảo tưởng, mê muội, phi thực tế Luôn thực tế, tỉnh táo Hành động Có hành động điên rồ, hấp tấp, thiếu suy xét Thực dụng Mục đích Mong muốn làm hiệp sĩ trừ tà Thu chiến lợi phẩm Tính cách Dũng cảm, luôn coi trọng danh dự, ảo tưởng Nhát gan, thật thà, thực tế Chúc các em học tốt! Minh Nguyệt Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách
Soạn bài Đánh Nhau với cối xay gió của Xéc-van-tét
987
Soạn bài Đất lành chim đậu Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Xem tranh, nói với các bạn trong nhóm (SGK/3). -Tranh vẽ những gì? -Màu sắc cây cối, trời mây trong tranh thế nào? -Điều gì xảy ra nếu tất cả các cây xanh đều bị chặt phá? Gợi ý: – Tranh vẽ các bạn nhỏ đang chơi đùa quanh thân cây cao, to. Trên cây, chim đậu và làm tổ dưới những tán cây mát rượi. -Cây cối xanh tươi, cành lá sum sê, bóng bẩy; bầu trời cao vọi, những đám mây trắng được nhuộm hồng bởi ánh mặt trời vừa ló dạng. –Nếu tất cả cây xanh đều bị chặt phá thì khí hậu sẽ biến đổi, môi trường bị ô nhiễm, một số loài động vật sẽ chết, kể cả con người. 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Chuyện một khu vườn nhỏ” (SGK/4). 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Bé Thu thích ra ban công để làm gì? 2)Mỗi loài cây trên ban công nhà Thu có những đặc điểm gì nổi bật? 3)Thu mời bạn lên ban công nhà mình để làm gì? 4)Em hiểu câu “Đất lành chim đậu” ý nói gì? Chọn ý đúng để trả lời: a)Nơi đất lành thì chim chóc mới về làm tổ. b)Nơi tốt đẹp, thanh bình, có nhiều người đến làm ăn, sinh sông. c)Nơi có chim đậu là nơi đất lành. Gợi ý: 1) Bé Thu thích ra ban công để ngắm nhìn vườn cây và nghe ông giảng về từng loài cây. 2)Cây quỳnh giữ được nước nhờ lá dày, cây hoa ti gôn leo trèo và thò những cái râu mà ngọ nguậy theo gió, cây hoa giấy bị vòi ti gôn quấn chắc, cây đa Ân Độ liên tục bật ra những búp đỏ hồng nhọn hoắt và xoè ra thành chiếc lá nâu rõ to khi đủ lớn. 4)b. 6.Tìm hiểu về đại từ xưng hô. 1)Điền các từ xưng hô được in đậm dưới đây vào cột thích hợp trong phiếu học tập (SGK/6). Ngày xưa, có cô Hơ Bia đẹp nhưng rất lười, lại không biết yêu quý cơm gạo. Một hôm, Hơ Bia ăn cơm để cơm đổ vãi lung tung. Thấy vậy, cơm hỏi: –Chị đẹp là nhờ cơm gạo, sao chị khinh rẻ chúng tôi thế? Hơ Bia giận dữ: –Ta đẹp là do công cha mẹ, chứ đâu nhờ các ngươi. Nghe nói vậy, thóc gạo tức lắm. Đêm khuya, chúng rủ nhau bỏ cả vào rừng. Theo truyện cổ Ê-ĐÊ 2)Cách xưng hô của mỗi nhân vật ở đoạn truyện trên thể hiện thái độ của người nói như thế nào? Gợi ý: Cách xưng hô của mỗi nhân vật thể hiện sự kiêu ngạo hay khiêm nhường, tôn trọng hay coi thường người nghe? 3)Ghi vào phiếu học tập những từ em dùng để xưng hô: -Với thầy, cô. -Với bố, mẹ. -Với anh, chị, em. -Với bạn bè. Gợi ý: -Em tìm từ để tự chỉ mình và từ dùng để chỉ người nghe. -Chú ý chọn từ xưng hô phù hợp với thứ bậc, giới tính, tuổi tác,… Gợi ý: 1) Từ người nói dùng để tự chỉ mình Từ người nói dùng để chỉ người nghe Từ chỉ người hay vật được người nói nhắc tới chúng tôi, Ta, Chị, chị, các ngươi chúng 2) – Cơm: khiêm nhường, tôn trọng người nghe. – Hơ Bia: kiêu căng, coi thường người nghe. Đối tượng giao tiếp Từ người nói dùng để tự chỉ mình Từ người nói dùng để chỉ người nghe Thầy giáo, cô giáo M: em (con) M: thầy, cô Bố, mẹ con ba, cha, tía, thầy, má, u, bầm, mợ Anh, chị em (hoặc tên mình) anh, chị Em nhỏ anh, chị em (hoặc tên của em) Bạn bè tôi, tớ, mình (hoặc tên mình) bạn, cậu, đằng ấy (hoặc tên của bạn) B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Tìm các đại từ xưng hô trong đoạn truyện sau và ghi vào vở (SGK/8). Gợi ý: Các đại từ xưng hô: anh, tôi, ta, chú em. 2.Nhận xét về thái độ, tình cảm của các nhân vật trong đoạn truyện trên thể hiện qua đại từ xưng hô và ghi vào phiếu học tập (SGK/8). Gợi ý: Dựa vào cách sử dụng đại từ xưng hô, em nhận xét: Mỗi nhân vật thể hiện sự khiêm tốn hay kiêu căng, có tự trọng hay không, lịch sự hay coi thường người đối thoại? Gợi ý: Nhân vật Đại từ Thái độ Rùa Tự xưng: tôi Tự trọng Gọi thỏ: anh Lịch sự với người đối thoại Thỏ Tự xưng: ta Kiêu căng Gọi rùa: chú em Coi thường người đối thoại 3.Chọn các đại từ xưng hô tôi, nó, chúng ta thích hợp với mỗi ô trống (SGK/9). Gợi ý: Bồ Chao hốt hoảng kể với các bạn: .- Tôi và Tu Hú đang bay dọc một con sông lớn, chợt Tu Hú gọi: “Kìa, cái trụ chống trời”. Tôi ngước nhìn lên. Trước mắt là những ống thép dọc ngang nối nhau chạy vút tận mây xanh. Nó tựa như một cái cầu xe lửa đồ sộ không phải bắc ngang sông, mà dựng đứng trên trời cao. Thấy vậy, Bồ Các mới à lên một tiếng rồi thong thả nói: –Tôi cũng từng bay qua cái trụ đó. Nó cao hơn tất cả những ống khói, những trụ buồm, cột điện mà chúng ta thường gặp. Đó là trụ điện cao thế mới được xây dựng. Mọi người hiểu rõ sự thực, sung sướng thở phào. Ai nấy cười to vì thấy Bồ Chao đã quá sợ sệt. VÕ QUẢNG 5.Trò chơi: Thi tìm nhanh từ ngữ chứa tiếng có trong bảng (chọn a hoặc b). Gợi ý: a) – lắm điều, lắm chuyện – nắm vững, nắm đấm. -lấm lem, lấm lét – nấm rơm, nấm đất. -lương tâm, lương bổng – nương rẫy, nương náu. -củi lửa, lửa hận – nửa buổi, nửa vời. b)- con trăn, trăn trở – trăng trắng, trăng trối. -dân ca, dân cư – dâng cao, dâng hiến. -răn đe, răn rắn – răng cưa, răng sắc. –bay lượn, uốn lượn – trọng lượng, lượng thứ. 6. Thi tìm từ nhanh (chọn a hoặc b): a)Các từ láy âm đầu n: M: náo nức b)Các tự gợi tả âm thanh có âm cuôì ng. M: oang oang Gợi ý: a) nô nức, não nùng, nườm nượp, nắn nót. b)loảng xoảng, leng keng, đoàng đoàng, đùng đùng. C. HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG 1.Hỏi người thân về cách trồng và chăm sóc cây ăn quả hoặc cây hoa. Gợi ý Trồng cây có hai cách: gieo hạt hoặc chiết cành. Thông thường, ta mang hạt ngâm nước ấm vài giờ đến vài ngày tuỳ loại rồi gieo trên đất xốp. Khi cây đã lớn, ta phải tỉa lá héo úa, bắt sâu và bón phân cho cây phát triển. Thường xuyên tưới cây vào buổi sáng sớm. Nhớ để cây ngoài trời cho có ánh sáng.
Soạn bài Đất lành chim đậu
1,068
Soạn bài Đất nước lớp 5 Hướng dẫn A- KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Đây là đoạn trích trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi được sáng tác theo thể thơ tự do. Khi đọc, cần căn cứ vào ý nghĩa của từng dòng thơ, đoạn thơ đế có ngữ điệu đọc thích hợp. Âm điệu chung của đoạn trích phải biểu hiện được cảm nhận của tác giả trong sự đối sánh giữa hai mùa thu: mùa thu xưa ở Hà Nội lúc tác giả tạm biệt Hà Nội để lên đường đi kháng chiến và mùa thu nay, mùa thu ở Việt Bắc một vùng trời được giải phóng. Vì vậy phần đầu (2 khổ thơ đầu) giọng đọc trầm lắng, tha thiết gợi những kỉ niệm buồn. Phần sau (3 khổ thơ còn lại của văn bản) giọng đọc phải toát lên niềm phấn khởi, tự hào, sảng khoái đầy niềm tin và kiêu hãnh trước cảnh non sông bát ngát, tươi đẹp, khẳng định quyền làm chủ của một dân tộc. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI: *Câu 1: Những ngày thu đẹp và buồn dược tả trong khố thơ nào? -Trả lời: Những ngày thu đẹp và buồn được tả trong khố thơ thứ 2: Sáng chởm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lả rơi đầy. *Câu hỏi 2: Nêu một hình ảnh đẹp và vui về mùa thu mới trong khổ thơ thứ 3. Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha. *Câu hỏi 3: Nêu một, hai câu thơ nói lên lòng tự hào về đất nước tự do, về truyền thống bất khuất của dân tộc trong khổ thơ thứ 4 và 5. -Trả lời: + Lòng tự hào về đất nước tự do: Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng dây là của chúng ta. + Về truyền thống bất khuất của dân tộc: Nước chúng ta Nước những người chưa bao giờ khuất Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Soạn bài Đất nước lớp 5
349
Soạn bài Đất nước mùa thu Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 1.Quan sát tranh và trả lời câu hỏi (SGK/148) -Tranh vẽ những gì? -Những cảnh trong tranh về những vùng nào của đất nước? Gợi ý: -Tranh vẽ nhà cửa, ruộng vườn, núi non, sông hồ, biển cả, con người và loài vật. –Những cảnh trong tranh vẽ vùng trời, vùng biển, vùng đồi núi, cao nguyên, đồng bằng của đất nước. 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài “Đất nước (trích)” (SGK/149) 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Những ngày thu đẹp và buồn được tả trong khổ thơ nào? 2)Nêu một hình ảnh đẹp và vui về mùa thu mới trong khổ thơ thứ ba. 3)Nêu một, hai từ ngữ, hình ảnh / câu thơ nói lèn lòng tự hào về đất nước tự do, về truyền thống bất khuất của dân tộc trong khổ thơ thứ tư và thứ năm. Gợi ý: 1) Những ngày thu đẹp và buồn được tả trong khổ thơ 1 và 2. 2)Một hình ảnh đẹp và vui về mùa thu mới: rừng tre phấp phới trong gió, tiếng nói cười trong biếc, thiết tha. 3)- Lòng tự hào về đất nước tự do: “Trời xanh…….. Những dòng sông đỏ nặng phù sa”. – Truyền thống bất khuất của dân tộc: Nước những người chưa bao giờ khuất. 6.Chọn đọc một khố thơ em thích và nói cho bạn biết vì sao em thích khổ thơ đó. Gợi ý: Chọn khổ thơ thứ tư. Cảnh đẹp cua quê hương đất nước, một đất nước hoàn toàn độc lập. 1.Đọc bài văn “Cây chuối mẹ” và trả lời câu hỏi (SGK/151) a)Cây chuối trong bài văn trên được tả theo trình tự nào? Em còn có thể tả cây cối theo trình tự nào khác? b)Cây chuối đã được tả theo cảm nhận của giác quan nào? Em còn có thể quan sát cây cối bằng những giác quan nào khác? c)Tìm các hình ảnh so sánh, nhân hóa được tác giả sử dụng đế tả cây chuối. Gợi ý: a)Cây chuối trong bài văn được tả theo trình tự thời gian, tả từng thời kì phát triển cua cây. Em có thể tả từng bộ phận của cây. b)Cây chuối được tả theo cảm nhận của thị giác. Em có thế quan sát cây côi theo những giác quan: -Thính giác: nghe tiêng lá khua trong gió. -Xúc giác: cảm giác trơn láng, mát rượi của thân chuối. -Khứu giác: nghe mùi thơm cua quả chuôi chín. -Vị giác: nếm được vị ngọt cua quả chuối chín. c)+ So sánh -Tàu lá dài như lưỡi mác. -Tàu lá ngả ra như những cái quạt lớn. -Cái hoa thập thò, hoe hoe đỏ như một mầm lửa non. + Nhân hóa: đĩnh đạc, nhanh chóng thành mẹ, đánh động, cây mẹ bận, lớn nhanh hơn hớn, đành để mặc, một hay hai đứa con đứng sát nách, khẽ khàng. 2.Viết một đoạn văn ngắn tả một bộ phận của cây (lá hoặc hoa, quả, rễ, thân). Quả thanh long Hình dáng của quả thanh long thật là lạ. Lúc còn nhỏ quả màu xanh thẫm, với những cánh tủa ra xung quanh trông như vảy rồng. Khi lớn thì quả chín, vỏ nó đó hồng như xác pháo. Nhìn từ xa, những quả thanh long như những đốm lửa lúc ẩn lúc hiện giữa vô số cánh tay xanh dài ngoằn ngoèo. Bổ ra, trong ruột thanh long trắng nõn, mọng nước, chi chít những hạt li ti đen nhánh. Nếm thử, vị ngòn ngọt, man mát, chua chua của thanh long thấm ngập vào từng kẽ răng. Một cảm giác khó mà quên được. 3.Kể cho các bạn nghe một kỉ niệm về thầy (cô) giáo của em, qua đó thế hiện lòng biết ơn của em với thầy (cô). Gợi ý: Tham khảo Những bài tập làm văn lớp 5 (cùng tác giả).
Soạn bài Đất nước mùa thu
616
Soạn bài đấu tranh cho một thế giới hòa bình Hướng dẫn Soạn bài đấu tranh cho một thế giới hòa bình của Gác-xi-a Mác -két I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. –Luận điểm chính của bài là: Chiến tranh hạt nhân là một hiểm họa khủng khiếp đang đe dọa toàn thể loài người và mọi sự sống trên trái đất. Vì vậy nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại là phải đấu tranh để loại bỏ nguy cơ ấy cho một thế giới hòa bình. –Luận điểm cơ bản trên đã được triển khai thành một hệ thống luận cứ toàn diện, xác thực: + Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng hủy diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ Mặt Trời. + Cuộc chạy đua vũ trang đã làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỉ người nghèo, trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, lương thực, thực phẩm. + Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lý trí của loài người mà còn ngược lại với lí trí của tự nhiên, phản lại sự tiến hóa. + Vì vậy, tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình. Câu 2. Trong đoạn đầu bài văn, nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa loài người và sự sống trên trái Đất đã được tác giả chỉ ra rất cụ thể bằng cách lập luận chứng minh. Tác giả mở đầu bài viết bằng việc xác định một mốc thời gian cụ thể và đưa ra số liệu cụ thể đầu đạn hạt nhân với những phép tính đơn giản và rõ ràng. Cách nêu vấn đề trực tiếp và đưa những chứng cứ rất rõ ràng, mạnh mẽ của tác giả đã thu hút người đọc, gây ấn tượng về tính chất hệ trọng của vấn đề đang được nói tới. Câu 3. Sự tốn kém và tính chất vô lý của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đã được tác giả chỉ ra bằng hàng loạt chứng cứ, với những so sánh thật thuyết phục trong các lĩnh vực xã hội, y tế, giáo dục… những lĩnh vực hết sức thiết yếu trong cuộc sống con người. Nghệ thuật lập luận ở đoạn này thật đơn giản mà có sức thuyết phục cao, không thể bác bỏ được. Ví dụ, có những chứng cứ, so sánh khiến người phải ngạc nhiên, bất ngờ trước sự thật hiển nhiên rất phi lí: “chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân đã đủ tiền xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới”, “tiền đóng 10 tàu sân may Ni-mít đủ thực hiện chương trình phòng bệnh 14 năm đồng thời bảo vệ 1 tỷ người khỏi bệnh sốt rét, cứu hơn 14 triệu trẻ em”, “tiền làm 27 tên lửa MX đủ trả tiền công cụ cho các nước nghèo để họ làm ra lương thực trong 4 năm”… Cùng với những chứng cứ đời sống, tác giả còn đưa ra những chứng cứ khoa học về sự hủy diệt sự sống và văn minh trái Đất. Câu 4. Lời cảnh báo của nhà văn G.Macket đã đặt ra trước toàn thể nhân loại một nhiệm vụ cấp bách. Đó là chúng ta phải đoàn kết, kiên quyết ngăn chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đấu tranh cho một thế giới hòa bình. Câu 5. Văn bản được đặt tên là: Đấu tranh cho một thế giới hòa bình, vì chủ đích của người viết không phải chỉ là chỉ ra mối đe dọa hạt nhân, mà muốn nhấn mạnh vào nhiệm vụ đấu tranh để ngăn chặn nguy cơ ấy. Nhan đề ấy thể hiện luận điểm cơ bản của bài văn, đồng thời như một khẩu hiệu, kêu gọi, hướng nhân loại tới một thái độ đấu tranh tích cực.
Soạn bài Đấu tranh cho một thế giới hòa bình
655
Soạn bài Đấu tranh vì hoà bình Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 5.Thảo luận theo các câu hỏi dưới đây: 1)Vì sao chú Mo-ri-xơn lên án cuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền Mĩ? 2)Chú Mo-ri-xơn nói với con điều gì khi từ biệt? Gợi ý: 1) Chú Mo-ri-xơn lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa; tàn ác khi đốt bệnh viện, trường học; vô nhân đạo khi giết người vô tội, giết trẻ em; phá huỷ một đất nước tươi đẹp. 2) Khi từ biệt, chú Mo-ri-xơn dặn con của mình hãy hôn mẹ khi mẹ đến và nói với mẹ rằng anh ra đi mà lòng rất thanh thản. 6.Phát biểu ý kiến trước lớp: Em có suy nghĩ gì về hành động của chú Mo-ri-xơn? Gợi ý: Hành động của chú Mo-ri-xơn rất cao cả, đáng khâm phục. Chú dám xả thân hi sinh vì việc nghĩa. B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Nhớ lại số sách báo em có và thống kê theo các loại sau: a)Sách học các môn học ở trường b)Sách truyện thiếu nhi c)Các loại sách khác. Gợi ý: a) Sách học ở trường: 15 quyển. b)Sách truyện thiếu nhi: 9 quyển. c)Các loại sách khác: 7 quyển. 2.Thực hiện các yêu cầu dưới đây và viết vào vở: -Từng em nhớ lại và báo cáo với tổ trưởng scí buổi nghỉ học từ tuần 1 đến tuần 4 của mình. -Tổ trưởng ghi số buổi nghỉ học của các thành viên trong tổ vào bảng thông kê dưới đây (SGK/85). Bảng thông kê sô buổi nghỉ học của tổ 2. Số thứ tự Họ và tên Số buổi nghĩ học Tuần 1 Tuần 2 Tuần 3 Tuần 4 1 Nguyễn Văn Nam 1 2 Hồ Thành Phát 2 3 Võ Hồng Loan 1 4 Trương Thị Hà 1 Tổng cộng 1 3 1
Soạn bài Đấu tranh vì hoà bình
264
Đề bài: Soạn Bài Đập Đá Ở Côn Lôn Lớp 8 Của Phan Châu Trinh Bài làm 1. Người tù ở Côn Đảo làm việc trong một không gian khắc nghiệt, bao la rộng lớn, biển rộng non cao: Côn Đảo Điều kiện làm việc: hết sức khó khăn, chỉ có những dụng cụ thô sơ như búa, có khi phải dùng tay. Tính chất công việc vô cùng nặng nhọc và nguy hiểm 2. – Bốn câu thơ đầu có hai lớp nghĩa: nghĩa tả thực và nghĩa tượng trưng Nghĩa tả thực: Công việc đập đá khổ cực, gian khó, đó là cách thực dân Pháp đày ải, hành hạ người tù cách mạng Nghĩa tượng trưng: Đá tượng trưng cho những khó khăn, ngáng trở mà con người phải khắc phục. nó cũng tượng trưng cho lũ bè giặc ngoại xâm đang hoành hành trên đất nước ta. Dù hoàn cảnh có khó khăn, thiếu thốn như thế nào thì Phan Châu Trinh và các chiến sĩ cách mạng cũng sẽ sẵn sàng đập tan bè lũ đó với tư thế hiên ngang, bất khuất. – Giá trị nghệ thuật của bốn câu thơ đầu: Thủ pháp khoa trương, phóng đại: ~ Về tư thế: hiên ngang “đứng giữa” trời đất Côn Lôn. ~ Về hành động: quả quyết, mạnh mẽ “xách búa”, “đánh tan”, “ra tay”, “đập bể”. ~ Về ý chí: Ý chí ghê gớm “làm cho lở núi non”. Sử dụng các động từ mạnh: xách, đánh, ra, đập… Nhịp thơ nhanh, gấp gáp. Giọng thơ: ngang tàng, xem thường mọi khó khăn thử thách. 3. Bốn câu thơ cuối trực tiếp bộc lộ cảm xúc và suy nghĩ của tác giả. Đây cũng là khẩu khí ngang tàng của người anh hùng không chịu khuất phục hoàn cảnh, luôn giữ vững niềm tin và ý chí chiến đấu sắt son. Cách thức biểu hiện cảm xúc: Để làm nổi bật chí lớn, gan to của người anh hùng, tác giả đã tạo tư thế thương quan đối lập. Cặp 5-6 là sự đối lập giữa những thử thách gian nan (tháng ngày, mưa nắng: chỉ những gian khổ phải chịu đựng không phải một sớm, một chiều mà dài dằng dặc qua nhiều năm tháng) với sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ (thân sành sỏi) và ý chí chiến đấu sắt son của người chiến sĩ cách mạng (càng bền dạ sắt son). Ở cặp câu 7 -8 là sự đối lập giữa chí lớn của những con người dám mưu đồ sự nghiệp cứu nước vào những năm đầu thế kỷ XX, một công việc mà khônng phải ai cũng tin sức người có thể làm được( giống như công việc đội đá vá trời của bà Nữ Oa) với những thử thách phải gánh chịu trên bước đường chiến đấu, được xem như “việc con con”. Mạch thơ khoa trương dường như kết đọng lại ở hai câu kết. Nhà thơ ngầm ví việc mưu đồ sự nghiệp cứu nước cũng giống như việc Nữ Oa tạo lập vũ trụ, không phải ai cũng tin sức người có thẻ làm được. và việc mình lỡ bước phải vào tù, đi làm lao dịch khổ sai cũng là việc con con, bé xíu, có đáng kể gì. (thực ra thì bản án mà pct phải chịu và hoàn cảnh khắc nghiệt mà ông phải đang phải chịu đựng đâu phải là việc con con, có điều, đặt bên cái chí lớn, gan to ấy thì quả nó chẳng có gì đáng kể)
Soạn Bài Đập Đá Ở Côn Lôn Lớp 8 Của Phan Châu Trinh
580
Đập Đá Ở Côn Lôn là một trong những sáng tác độc đáo của tác giả Phan Châu Chinh. Thông qua đây ta có thể nhận thấy được tình cảnh khó khăn, tù đầy của những người chí sĩ yêu nước. Để học tốt được bài này thì chúng ta cùng nhau đến bài soạn hôm nay nhé! Soạn bài Đập Đá Ở Côn Lôn Bài làm Đập đá ở Côn Lôn của tác giả Phan Châu Chinh Thể loại: Thất ngôn bát cú Đường luật cổ điển Bố cục của bài thơ: – Ở trong hai câu Đề: Ta như nhận thấy được cũng chính tư thế ngạo nghễ của người tù khi ở Côn Lôn – Ở hai câu Thực: Ta như nhận thấy được cũng chính sức mạnh phi thường của người chí sĩ yêu nước – Hai câu Luận lại đã thể hiện được chí khí vững bền qua gian khó – Hai câu Kết: Ta nhận thấy được một tinh thần lạc quan, cùng với đó cũng là một dũng khí hiên ngang sắt đá. Phương thức biểu đạt được sử dụng: Biểu cảm kết hợp với tự sự Hướng dẫn soạn bài Câu 1 (trang 150 sgk Ngữ Văn 8, tập 1) Em hình dung công việc đập đá của người từ ở Côn Đảo là một công viộc như thế nào? (Chú ý không gian, điều kiện làm việc và tính chất công việc. – Không gian của bài thơ: Côn Đảo là nơi khắc nghiệt, đây chính là một nơi địa ngục trần gian – Điều kiện làm việc: Vô cùng khổ sở, những người tù khổ sai bị bóc lột, đàn áp – Các tính chất công việc: Ta nhận thấy được chính việc đập đá là công việc đày ải sức khỏe, cũng như chính tinh thần của người tù. – Tư thế của người tù được thể hiện: Khi đứng giữa đất Côn Lôn với tư thế ngạo nghễ, lẫm liệt – thực sự đây cũng chính là một tư thế của đấng anh hào. >>> Ta nhận thấy được chính ở phần đầu bài thơ hình ảnh hiên ngang của người tù yêu nước có khí phách. Soạn bài Đập Đá Ở Côn Lôn​​ – Ngay ở chính bốn câu thơ đầu có hai lớp nghĩa: nghĩa thực và nghĩa tượng trưng + Nghĩa thực được thể hiện ở đây: Những công việc đập đá khổ cực vô cùng gian khó, đây cũng chính là một cách thực dân Pháp đày ải cũng như để hành hạ người tù cách mạng + Ta nhận thấy được cũng chính với ý nghĩa tượng trưng: để có thể nổi bật lên tư thế hiên ngang, một tinh thần ngang tàng của chí sĩ yêu nước. – Không dừng lại ở đó ta nhận được chính giá trị nghệ thuật của hình ảnh mang hai lớp nghĩa: + Khi mà làm trai, đứng giữa đất Côn Lôn: Ta dường như cũng đã lại quan niệm truyền thống về chính chí nam nhi, hiên ngang và làm trụ cột, có chí lớn + Làm cho lở núi non: Thể hiện được một sức mạnh phi thường làm thay đổi cục diện, tình thế + Hình ảnh xách búa, đánh tan, năm bảy đống: Câu thơ này dường như nói đến không quản khó khăn, cực nhọc chút nào mà lại còn có sự quyết tâm. + Ra tay, đập bể, mấy trăm hòn: Ta nhận thấy được ở đây cũng chính là những ciến công kì tích của đấng trượng phu anh hùng – Khẩu khí của tác giả được thể hiện vô cùng rõ ràng + Tác giả cũng thật tài tình khi sử dụng liên tiếp các động từ, tính từ mạnh nhằm khẳng định lòng kiêu hãnh của người có chí lớn. Đồng thời cũng muốn có được biết bao nhiêu hành động để giúp nước, cứu đời. + Tiếp đến chính là một giọng thơ đanh thép, một đoạn thơ dường như cũng thật hùng hồn thể hiện tư chất hiên ngang lẫm liệt đồng thời cũng lại không chịu khuất phục của kẻ thù. – Tác giả cũng đã lại thể hiện ý chí cũng như thể hiện được một vẻ đẹp tinh thần của người chiến sĩ cách mạng. Đó cũng chính là một khẩu khí ngang tàng và đó cũng là một tinh thần sắt đá không khuất phục. – Tiếp với đó khi ta xây dựng tương quan đối lập, đó cũng chính là một cách thức tác giả thể hiện cảm xúc: + Ta nhận thấy được chính sự đối lập giữa thử thách gian khổ với sự bền chí, tinh thần kiên cường luôn luôn sẵn sàng đối mặt với thử thách cho dù khó khăn. + Xét thấy được sự đối lập chí lớn mưu đồ sự nghiệp với lúc sa cơ lỡ bước đó chính là hình ảnh mưa nắng >< bền dạ sắt son. – Ta nhận thấy được cũng vớ bốn câu thơ cuối dường như cũng đã lại thể hiện khí chất hiên ngang, thể hiện được ý chí trung kiên không sờn lòng đổi chí trước vận mệnh của đất nước, dân tộc ta Luyện tập Câu 1(trang 150 sgk Ngữ Văn 8 tập 1): Đọc diễn cảm bài thơ. Em hãy đọc diễn cảm bài thơ Nên đọc với giọng hùng hồn, dõng dạc, rõ ràng. Câu 2 (Sánh giáo khoa trang 150 sgk Ngữ Văn 8 tập 1): Qua cả hai bài thơ Vào nhà ngạc Quảng Đông cảm tác và Đập đá ở Côn Lôn, em hãy trình bày lại những cảm nhận của mình về vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn của hình tượng nhà nho yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX. Chúng ta nhận thấy được cũng chính qua cả hai bài thơ độc đáo “Vào nhà ngục ở Quảng Đông cảm tác” và Đập đá ở Côn Lôn thì em hãy trình bày những cảm nhận của mình về vẻ đẹp hảo hùng cùng với vẻ lãng mạn của hình tượng nhà nho yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX. + Bài thơ cũng lại có khẩu khí anh hùng, đó cũng chính là tinh thần ngang tàng của bậc chí sĩ khi sa cơ. Ta nhận thấy được cũng chính lời thơ thể hiện chí nam nhi mưu đồ nghiệp lớn. + Thêm vào đó cũng chính là một phí phách hào hùng, kiên trung đồng thời đó cũng chính là một sự coi thường hiểm nguy của những người mang chí hướng lớn và sứ mệnh vẻ vang cho nước nhà. Nội dung chính của bài: Đập đá ở Côn Lôn của tác giả Phan Chu Trinh là một tác phẩm như cũng đã kể về việc đập đá. Thực sự đây chính là một công việc khổ sai người tù phải làm. Thông qua đây ta nhận thấy được cũng đã làm nổi bật lên tinh thần quật cường, ngang tàng của những chí sĩ lúc buổi lâm nguy. Không chỉ dừng lại ở đó mà tác giả thông qua đây nói đến tội ác của thực dân Pháp. Chúng đã dùng chính công việc gian khổ này để dùng để đày đọa, giam hãm những người yêu nước của ta. Hi vọng bài soạn trên cũng đã mang đến cho các em được các bài học bổ ích nhất giúp cho các em học tốt hơn. Chúc các em học tốt! Minh Minh Sau đây là một số bài soạn có trong chương trình văn 8, các em có thể tham khảo thêm: Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8 Soạn bài Bàn về đọc sách Sean bài Trong lòng mẹ
Soạn bài Đập Đá Ở Côn Lôn
1,251
Đề bài: Soạn Bài Đặc Điểm Của Văn Nghị Luận Lớp 7 | Văn Mẫu Bài làm I. Luận điểm, luận cứ và lập luận 1. Luận điểm Xét văn bản Chống nạn thất học: – Luận điểm chính: chống nạn thất học. Luận điểm này được nêu ra dưới dạng nhan đề, câu khẳng định. – Câu văn thể hiện luận điểm: + “Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí” + “Mọi người Việt Nam thì phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, … mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà,…” – Luận điểm là linh hồn, tư tưởng, quan điểm của cả bài. – Muốn có sức thuyết phục thì luận điểm phải đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế. 2. Luận cứ: – Lí lẽ: + Khi xưa Pháp cai trị nước ta, chúng thi hành chính sách ngu dân để dễ bề bóc lột nhân dân ta. + Số người Việt Nam thất học so với số người trong nước là 95 phần trăm, như thế thì đất nước ta không thể tiến bộ được. + Nay chúng ta đã dành được độc lập, vì vậy, một trong những công việc cần thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí. + Mọi người phải hiểu biết, biết chữ, có kiến thức để hiểu biết những quyền lợi của mình và tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” + Những người đã biết chữ dạy cho những người chưa biết chữ + Chồng dạy cho vợ, anh dạy cho em, con cái dạy cho cha mẹ,… + Phụ nữ lại càng cần phải biết chữ để tham gia ứng cử – Những luận cứ ấy đóng vai trò làm cơ sở cho luận điểm. – Muốn có sức thuyết phục thì luận cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu. 3. Lập luận. – Văn bản “Chống nạn thất học” lập luận theo kiểu tổng – phân – hợp. – Trình tự lập luận: + Nêu lí do: Vì sao phải chống nạn thất học? Chống nạn thất học để làm gì? + Từ các lí do, nêu ra các biện pháp để chống nạn thất học: Chống nạn thất học bằng cách nào? + Cuối cùng kêu gọi mọi người sốt sắng giúp sức chống nạn thất học. II. Luyện tập Văn bản “Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội” (sgk/9-10) – Luận điểm: Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội – Luận cứ: + Có thói quen tốt và thói quen xấu + Có những người biết phân biệt tốt và xấu, nhưng vì đã thành thói quen nên rất khó bỏ, khó sửa + Tạo được thói quen tốt rất là khó. Nhưng nhiễm thói xấu thì dễ – Dẫn chứng: + Luôn dậy sớm, luôn đúng hẹn, giữ lời hứa, luôn đọc sách,… thói quen tốt + Hút thuốc lá, hay cáu giận, mất trật tự là thói quen xấu + Ném chai vỡ, cốc vỡ ra đường gây nguy hiểm – Lập luận: Tổng – phân – hợp. Theo trình tự: Đưa ra thói quen tốt ->Thói quen xấu (có dẫn chứng cụ thể) và những tác hại của thói quen xấu-> Khuyên mọi người nên xem lại mình và cần tạo ra thói quen tốt.
Soạn Bài Đặc Điểm Của Văn Nghị Luận Lớp 7 _ Văn Mẫu
544
Đề bài: Soạn Bài Đề Văn Biểu Cảm Và Cách Làm Bài Văn Biểu Cảm Bài Làm I. ĐỀ VĂN BIỂU CẢM VÀ CÁC BƯỚC LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM 1. Đề văn biểu cảm – Đối tượng biểu cảm: Dòng sông quê hương, đêm trăng trung thu, nụ cười của mẹ, tuổi thơ, loài cây. – Tình cảm cần biểu hiện: Nêu những tình cảm chân thật của mình đối với dòng sông quê hương, đêm trăng trung thu… => Đề văn biểu cảm bao giờ cũng nêu ra đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm cho bài văn. >> XEM THÊM: Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Biểu Cảm >> XEM THÊM:Soạn Bài Đặc Điểm Của Văn Biểu Cảm 2. Các bước làm một bài văn biểu cảm Đề bài: Cảm nghĩ về nụ cười của mẹ. a) Tìm hiểu đề và tìm ý: – Đối tượng biểu cảm: nụ cười của mẹ b) Lập dàn ý: * MB: Nêu cảm xúc đối với nụ cười của mẹ. Nụ cười ấm lòng. * TB: Nêu những biểu hiện, sắc thái nụ cười của mẹ. – Nụ cười vui thương yêu – Nụ cười khuyến khích – Nụ cười an ủi. – Những khi vắng nụ cười của mẹ * KB: Lòng yêu thương và kính trọng mẹ c) Viết bài: Có thề dựa vào dàn ý trên để viết các đoạn văn. d) Sửa bài: Sửa bài là bước quan trọng để phát hiện các lỗi sai và sửa lại. Bài tập: a) Bài văn biểu đạt tình cảm tự hào và yêu tha thiết quê hương. – Nhan đề: Quê hương An Giang. – Đề văn: cảm nghĩ về quê hương. b) Dàn bài: * MB: giới thiệu tình yêu quê hương An Giang. * TB: Biểu hiện tình yêu mến quê hương. – Tình yêu quê từ thủa bé. – Tình yêu quê hương trong chiến đấu và những tấm gương yêu nước. * KB: Tình yêu quê hương với nhận thức của người từng trải, trưởng thành. c) Phương thức biểu cảm: Vừa biểu cảm trực tiếp nỗi lòng mình vừa biểu cảm gián tiếp khi nói đến thiên nhiên tươi đẹp và con người anh hùng của quê hương.
Soạn Bài Đề Văn Biểu Cảm Và Cách Làm Bài Văn Biểu Cảm
345
Soạn bài đề văn thuyết minh và cách làm văn thuyết minh Hướng dẫn A.YÊU CẦU Hiểu đề văn và cách làm bài văn thuyết minh: -Đề văn thuyết minh nêu các đối tượng để người làm bài trình bày tri thức về chúng. -Để làm bài văn thuyết minh, cần tìm hiểu đối tượng thuyết minh, xác định rõ phạm vi tri thức về đối tượng đó; sử dụng phương pháp thuyết minh thích hợp; ngôn từ chính xác, dễ hiểu. Cần nắm được bố cục bài văn thuyết minh (Mở bài: giới thiệu đối tượng thuyết minh; Thân hài: trình bày cấu tạo, các đặc điểm, lợi ích,… của đối tượng; Kết bài: bày tỏ thái độ đối với đối tượng). B.GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP PHẦN BÀI HỌC Đề văn thuyết minh và cách làm bài vãn thuyết minh I. Đề văn thuyết minh Đọc các đề văn thuyết minh và thực hiện các yêu cẩu nêu bẻn dưới. a)Giới thiệu một gương mặt trẻ của thể thao Việt Nam (Ví dụ: Nguyễn Thúy Hiền, Phạm Văn Quyến…). b)Giới thiệu một tập truyện. c)Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam. d)Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam. e)Thuyết minh về chiếc xe đạp. g)Giới thiệu về đôi dép lốp trong kháng chiến. h)Giới thiệu về một di tích, thắng cảnh nổi tiếng của quê hương (đền, chùa, hồ, kiến trúc…). ị) Thuyết minh về một giống vật nuôi có ích. k)Giới thiệu về hoa ngày tết ở Việt Nam. l)Thuyết minh về một món ăn dân tộc (bánh chưng, bánh giầy, phở, cốm…). n)Giới thiệu một đồ chơi dân gian. Yêu cầu: -Nhận xét về phạm vi các đề văn nêu trên. -Dựa vào tính chất của bài văn thuyết minh để tìm hiểu đề văn và yêu cầu về nội dung của bài ván thuyết minh. Gợi ý Các đề văn trên dều yêu cáu viết kiểu văn bản thuyết minh (có đề ghi rõ là thuyết minh nhưng có đế ghi là giới thiệu). Đối tượng thuyết minh là: một gương mặt trẻ của thể thao, một tập truyện, chiếc xe đạp, chiếc nón lá, chiếc áo dài Việt Nam, đỏi dép lốp trong kháng chiến, một di tích, thắng cảnh nổi tiếng của quê hương, một giống vật nuôi có ích, hoa ngày Tết, một món ăn dân tộc, tết Trung thu, một đồ chơi dân gian. Đề yêu cầu giới thiệu, chứng minh, giải thích về đối tượng chứ không phải kể chuyện, miêu tả hay biểu cảm về đối tượng. Đề (a) Giới thiệu một gương mặt trẻ của thể thao Việt Nam, em cẩn giới thiệu được gương mặt trẻ đó cụ thê là ai, thành tích thi đấu của người đó, vị trí của người đó trong đội, trong nền thể thao nước nhà… Đề (b) Giới thiệu một tập truyện, em phải giới thiệu được tên tập truyện, nơi xuất bản, năm xuất bản, hình thức trình bày (khổ giấy, bìa, tranh ảnh…), nội dung, ý nghĩa tập truyện, có thê tìm mua ở đâu,… Đề (e) Thuyết minh về chiếc xe đạp, em cần trình bày cấu tạo, nguyên tắc hoạt động của xe dạp; vị trì, tác dụng của phương tiện này trong đòi sống con người. Đọc bài văn và trả lời câu hỏi. XE ĐẠP (SGK, tr. 138- 139) Câu hỏi: a)Đối tượng thuyết minh của bài văn là gì? b)Chí ra ở phần Mở bài, Thần bài, Kết bài và cho biết nội dung mỗi phần. c)Để giới thiệu vể chiếc xe đạp, bài viết đà trình bày cấu tạo chiếc xe như thế nào? (Xe gồm mấy bộ phận? Các bộ phận đó là gì? Các bộ phận ấy được giới thiệu theo thứ tự nào? Có hợp lí không? Vì sao?) d)Phương pháp thuyết minh trong bài là gì? Gợi ý a)Đối tượng thuyết minh của bài vãn là chiếc xe đạp. b)Bố cục: -Mở bài (đoạn văn đầu): Giới thiệu khái quát vẻ xe đạp. -Thân bài (tiếp theo đến “tay cầm”): Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của xe đạp. -Kết bài (còn lại): Tiện ích, vị trí của xe đạp trong đời sống. c)Giới thiệu vé cấu tạo của chiếc xe đạp: -Hệ thống truyền động. -Hộ thống điéu khiển. -Hệ thống chuyên chở. Giới thiệu các bộ phận như trên là hợp lí, tạo thuận lợi để nói về cơ chế hoạt động của xe đạp. Nếu giới thiệu theo lối liệt kê như: bánh xe, càng xe, khung xe, xích, líp, đĩa, bàn đạp của xe,… thì sẽ rất khó trình bày cơ chế hoạt động của xe đạp. d)Phương pháp thuyết minh trong bài: phân loại, phủn tích (khi chia ra các hệ thống: truyền động, điều khiển, chuyên chở ở phần Thân bài). Ngoài ra, bài viết còn sử dụng phương pháp liệt kê (ví dụ: Hệ thống truyền dộng gồm khung xe, hàn đạp, trục giữa, Ổ hi giữa, dây xích, dĩa, Ổ ỉíp, hai trục và Ổ hi hai hánh trước sau); dùng số liệu (ví dụ: Đường kính bánh xe thường là 650 mm hay 700 mm, gấp 10 lần dường kính Ổ líp); nêu định nghĩa (ví dụ: Xe đạp là phương tiện giao thông giàn tiện nhờ sức người). Bài tập 1. Lập ý và dàn ý cho để bài: “Giới thiệu vể chiếc nón lá Việt Nam”. Gợi ý Tham khảo dàn ý sau: a)Mở bài Nêu một định nghĩa vể chiếc nón lá Việt Nam. b)Thân bài -Hình dáng của nón như thế nào? Nón được làm bằng nguyên liệu gì? Cách làm nón ra sao? Nón gồm có những bộ phận nào? Vùng nào nổi tiếng vể nghề làm nón? (Ví dụ: nón Huế, nón Quảng Bình, nón Hà Tây – làng Chuông…) -Giá trị sử dụng của chiếc nón lá trong cuộc sống của người Việt (che nắng mưa). Giá trị văn hóa của nón (vật trang điểm, làm duyên của phụ nữ; làm quà tăng; làm đạo cụ trong biểu diễn nghệ thuật). Ý nghĩa biểu tượng của chiếc nón lá Việt Nam? -Em có nghĩ rằng nón đà trở thành một biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam không? c)Kết bài Cảm nghĩ vẻ chiếc nón lá Việt Nam. Cần giữ gìn nghề làm nón lá.
Soạn bài đề văn thuyết minh và cách làm văn thuyết minh
1,011
Soạn bài đối thoại và độc thoại trong văn bản tự sự Hướng dẫn Soạn bài đối thoại và độc thoại trong văn bản tự sự I.Gợi ý trả lời câu hỏi phần bài học a.Trong ba cầu đầu của đoạn trích có hai người tản cư đang nói chuyện với nhau. –Dấu hiệu nhận biết đây là một cuộc trò chuyện qua lại. + Có hai lượt lời qua lại. + Nội dung: Hướng tới người tiếp chuyện. + Hình thức: có hai gạch đầu dòng đứng đầu hai lượt lời qua lại. b.Câu “Hà! nắng gớm! Về nào”. –Đó là lời ôn Hai nói với chính mình: + Đây không phải là một đối thoại vì nội dung lời nói của ông không liên quan đến câu chuyện của hai người đàn bà cũng chẳng hướng vào ai. + Sau lời của ông chẳng có ai đáp lại. Đây là ông Hai nói với chính mình một cách bâng quơ, đánh trống lảng, tìm cách rút lui. Đây là độc thoại. –Trong đoạn trích có một số câu như thế: Ví dụ: “Ông lão nắm tay rít lên: –Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt Gian bán nước để nhục nhã như thế này” c.Những câu “Chung nó cũng là trẻ con làng Việt Gian đây ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đất ư? Khốn nạn bằng ấy tuổi đầu…” là những câu ông Hai hỏi chính mình. Những câu này không phát ra thành tiếng, chỉ âm thầm diễn ra trong suy nghĩ và tình cảm của ông Hai. Nó diễn tả tâm trạng đau đớn của ông khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc. Vì không thốt lên thành lời chỉ nghĩ thầm nên không có gạch đầu dòng. Đó là những câu độc thoại nội tâm. d.Các hình thức đối thoại tạo cho câu chuyện có không khí như cuộc sống thật, thể hiện thái độ căm giận của những người tản cư với dân làng chợ Dầu theo giặc, tạo tình huống, đi sâu vào nội tâm nhân vật. Các hình thức độc thoại và đối thoại nội tâm giúp nhà văn khắc họa sâu sắc tâm trạng đau đớn, dằn vặt của ôn Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc. II.Luyện tập Câu 1. Phân tích tác dụng của hình thức đối thoại trong đoạn trích: –Cuộc đối thoại diễn ra không bình thường giữa hai vợ chồng ông Hai. –Có ba lượt lời trao nhưng chỉ có hai lượt lời đáp. Lời thoại đầu cua bà Hai, ông Hai không đáp: câu hỏi hai của bà được ông Hai khẽ nhúc nhích đáp lại bằng cách hỏi lại “Gì?” Lần ba ông cũng chỉ đáp lời bà bằng một câu cụt lủn “Biết rồi”. Cuộc đối thoại này giú người đọc nhận ra tâm trạng buồn bã, đau khổ, thất vọn của ông Hai. Câu 2. Viết đoạn văn kể chuyện theo đề tài tự chọn trong đó có sử dụng cả hình thức đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm. HS chọn một vấn đề nào đó quen thuộc với mình và viết theo yêu cầu trên.
Soạn bài đối thoại và độc thoại trong văn bản tự sự
522
Soạn bài đối thoại, đọc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự Hướng dẫn A. YÊU CẦU -HS hiểu được: Đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm là hình thức quan trọng để thể hiện nhân vật trong văn bản tự sự. Đối thoại là hình thức đôi đáp, trò chuyện giữa hai hay nhiều người. Trong văn bản tự sự, mỗi lượt thoại thường thể hiện bằng một gạch đầu dòng. Độc thoại là lời của người nào đó nói với chính mình hoặc nói với một ai đó trong tưởng tượng. Trong văn bản tự sự, nếu người độc thoại nói thành lời thì phía trước có gạch đầu dòng, nếu độc thoại nội tâm thì không dùng gạch đầu dòng. – Rèn kĩ năng nhận diện và tập kết hợp các yếu tố này trong khi học cũng như khi viết văn tự sự. B. GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP I – Phần bài học TÌM HIỂU YẾU TỐ ĐỐI THOẠI, ĐỘC THOẠI VÀ ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ Bài tập 1. Đọc đoạn trích trong truyện ngắn Làng của Kim Lân (SGK, tr. 176). Bài tập 2. Suy nghĩ và trả lời câu hỏi (a, b, c, d – SGK, tr. 177): Gợi ý a)Trong ba câu đầu của đoạn trích có hai gạch đầu dòng, có một dấu hai chấm, một dấu chấm hỏi và một dấu chấm than cho những lời thoại. Đó là dấu hiệu cho thấy có cuộc trò chuyện, trao dổi qua lại, trong đó ít nhất có hai người tản cư nói với nhau. b)Câu "Hà, nắng gớm, về nào…” là câu ông Hai nói một mình, không nói với ai. Đó là câu độc thoại, không phải là câu đối thoại (bởi vì nội dung câu nói của ông chẳng ăn nhập gì với nội dung những câu mọi người đang trao đổi). Ồng Hai nói câu này là chỉ nhằm “lẳng lờ” câu chuyện của nhừng người tản cư đang bàn luận. Trong đoạn trích này còn có câu độc thoại tương tự: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này! ”. c)Những câu: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…” là lời ông Hai tự nói với mình, đúng hơn là tự hỏi mình. Đó là những câu độc thoại nội tâm. d)Qua những câu đối thoại của những người tản cư, tác giả đã thể hiện được tình huống của truyện, tạo được không khí cho truyện. Những câu đối thoại thể hiện đươc thái độ căm ghét cao độ của ngươi dân kháng chiến với những kẻ đầu hàng giặc, thể hiện được lòng yêu nước, quyết tâm kháng chiến của họ. Những câu độc thoại và độc thoại nội tâm của ông Hai thể hiện tâm trạng bất ngơ, đau đớn, xâu hổ của một người dân yêu nước, yêu quê hương khi nghe tin làng mình làm “Việt gian”. Tính cách ông Hai hiện lên sinh động không cần qua miêu tả của người kể chuyện. II – Phần luyện tập Bài tập 1. Phân tích tác dụng của hình thức đối thoại trong đoạn trích sau đây: (SGK tr. 178). Gợi ý Tác dụng của hình thức đối thoại giữa hai vợ chồng ông Hai thể hiện được tâm trạng của hai người: -Lời nói ngập ngừng của bà Hai khi định nói cho chồng biết tin làng mình làm Việt gian (“- Tôi thấy người tu dồn…”) đã thể hiện được sự lo lắng và cũng sợ bà chủ nhà nghe thấy tin này. -Ông Hai không muốn đáp lại và khi đáp lại thì cụt lũn, cáu gắt thể hiện tâm trạng chán chường, đau khổ, thất vọng của ông khi nghe tin làng mình theo Tây. Bài tập 2. Viết một đoạn văn kể chuyện theo đề tài lự chọn, trong dó sử dụng cả hình thức đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm. Gợi ý Khi chọn chuyện dể viết đoạn văn, em cần chú ý câu chuyện phải có các nhân vật đối đáp với nhau, có cả những câu nói thể hiện tâm trạng của nhân vật nào dó tự nói với mình, không nói với ai.
Soạn bài đối thoại, đọc thoại và độc thoại nội tâm trong văn bản tự sự
727
Soạn bài đồng chí Hướng dẫn Soạn bài đồng chí của Chính Hữu I.Đọc – hiểu văn bản Câu 1. a.Dòng thứ bảy của bài thơ có cấu tạo rất đặc biệt. Cả dòng thơ chỉ có một từ, hai tiếng và dấu chấm cảm: Đồng chí! Kiểu câu đặc biệt này tạo một nốt nhấn. Nó vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng định. Nó còn tựa như cái bắt tay thân thiết giữa những con người. Nó như cái bàn lề gắn kết hai đoạn: Đoạn trước là cơ sở, nguồn gốc của tình đồng chỉ, đoạn sau là những biểu hiện cụ thể, cảm động của tình đồng chí. b.Bố cục. –Đoạn đầu là sự lý giải về cơ sở của tình đồng chí (7 câu). –Đoạn thứ hai là những biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của nó (9 câu tiếp). –Đoạn cuối (3 dòng cuối) là hình ảnh biểu tượng về người lính. Câu 2. Sáu câu thơ đầu bài nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách mạng. Đó là tình cảm bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó: "Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá" Đó chính là cơ sở cùng chung giai cấp xuất thân của những người lính cách mạng. Chính điều đó cùng với mục đích, lý tưởng chung đã khiến họ từ mọi phương trời xa lạ tập hợp lại trong hàng ngũ quân đội cách mạng và trở nên thân quen với nhau. Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu: "Súng bên súng đầu sát bên đầu" Tình đồng chí, đồng đội nảy nở và thành bền chặt trong sự chan hòa và chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỉ của những người bạn chí cốt, mà tác giả đã biểu hiện bằng một hình ảnh cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm: "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ." Câu 3. Trong bài thơ có những chi tiết, hình ảnh vừa chân thực vừa có sức gợi cảm cao về tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn của những người lính cách mạng: –“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt của thời tiết, người lính chia sẽ hơi ấm cho nhau. Đắp “chung chăn” chỉ là mẹ và con, “chung chân” chỉ là vợ chồng, giờ đây “chng chăn” lại là mình và anh trong cái chăn ta ấm tình đồng chí, ta là đôi “Tri kỷ” gắn bó với nhau tâm đầu ý hợp. –Mười câu tiếp theo là những biểu hiện cụ thể và cảm động của tình đồng chí. Đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư nỗi lòng của nhau: "Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kể gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính." Đó là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính: "Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày." Nhất là cùng trải qua những “cơn sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Câu 4. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh rất đặc sắc: "Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới. Đầu súng trăng treo." Đây là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ. –Trong bức tranh trên nói lên nền cảnh rừng đê giá rét, là ba hình ảnh gắn kết với nhau: người lính, khẩu súng, vầng trăng. Trong cảnh rừng hoang sương muối, những người lính phục kích, chờ giặc, đứng bên nhau. Sức mạnh của tình đồng đội đã giup họ vượt lên trên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết và mọi gian khổ, thiếu thốn. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ giữa cảnh rừng hoang của mùa đông, sương muối giá rét. –Người lính trong cảnh phục kích giữa rừng khuya còn có một người bạn nữa, đó là vầng trăng. “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích của chính tác giả. Những hình ảnh ấy còn mang ý nghĩa biểu tượng, được gợi ra bởi những liên tưởng phong phú. Súng và trăng là gần và xa, thực tại và mơ mộng, chất chiến đấu và trữ tình, chiến sĩ và thi sĩ… Đó là các mặt bổ sung cho nhau, hài hòa với nhau của cuộc đời người lính cách mạng. Xa hơn, đó cũng có thể xem là biểu tượng cho thơ ca kháng chiến – nền thơ kết hợp chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn. –Về hình ảnh đầu súng trăng treo, Chính Hữu đã nói với những ấn tượng và suy nghĩ của chính tác giả: “Đầu súng, trăng treo ngoài hình ảnh, bốn chữ này còn có nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh, trong sự bát ngát”. Nó nói lên một cái gì lơ lửng ở xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng từ bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng mình như một người bạn, rừng hoang sương muối là một khung cảnh thật. Câu 5. Bài thơ được đặt tên là Đồng Chí. Đồng Chí là từ ghép Hán Việt nghĩa là cùng chung chí hướng, lý tưởng. Tình đồng chí là bản chất cách mạng của tình đồng đội và thể hiện sâu sắc tình đồng đội vì vậy tác giả đã đặt tên bài thơ là Đồng chí. Câu 6. Bài thơ về tình đồng chí đồng đội làm hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách mạng, cụ thể ở đây là anh bộ đội hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình đồng chí, đồng đội đã giúp người lính đứng vững trên trận tuyến đánh quân thù trong tư thể chủ động “chờ” đón đánh địch. Tình yêu thương giữa những người đồng chí có sức mạnh vô cùng. II.Luyện tập. Câu 2. Tham khảo tại đây:Cảm nhận về khổ cuối bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu.
Soạn bài Đồng chí
1,065
Soạn bài Ước mơ của em Hướng dẫn A. HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 2.Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài thơ “Những cánh buồm (trích)” (SGK/55). 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Dựa vào những hình ảnh trong hài thơ (bầu trời, bãi biển, mặt trời, tia nắng, bãi cát, người cha, con trai…), hãy miêu tả cảnh hai cha con dạo chơi trên bãi biển. 2)Thay nhau đối đáp để hoàn chỉnh cuộc trò chuyện giữa hai cha con (SGK/56) 3)Những câu hỏi ngây thơ cho thấy con có ước mơ gì? 4)Ước mơ của con gợi cho cha nhớ đến điều gì? Gợi ý: 1)Buổi sáng, bầu trời trong vắt, biển như rộng thêm ra. Đằng chân trời xa, ánh mặt trời rải nhừng tia nắng rực rỡ trên biển xanh. Trên bãi cát trắng mịn, hai cha con dạo bước bên nhau. Bóng cha dài lênh khênh song song cùng bóng con tròn mà chắc nịch. Sau trận mưa đêm, không khí khoáng đãng hơn, ánh ban mai nhuộm hồng dáng cha và con tay trong tay. 2)Con: – Cha ơi! Sao xa kia chỉ thấy nước thây trời Không thấy nhà, không thấy cây, không thấy người ở đó? Cha: – Theo cánh buồm đi mãi đến nơi xa Sẽ có cây, có cửa có nhà, Nhưng nơi đó cha chưa hề đi đến. Con: – Cha mượn cho con cánh buồm trắng nhé, Để con đi… 3)Con có ước mơ được khám phá những điều mới lạ trong cuộc sống. 4)Ước mơ của em gợi cho cha nhớ đến ước mơ của mình khi còn trẻ thơ. Hôm ấy, bọn trẻ trong làng chọn hố cát cạnh con mương đào làm nơi tổ chức cuộc thi nhảy xa. Chị Hà được mời làm trọng tài. Khán giả là mấy cô cậu tí hon ngồi ở bên kia bờ mương mắt hau háu chờ xem. -Các thí sinh chuẩn bị! Người số một: Hưng! Hưng Tồ bậm bạch như một chú vịt chạy vào vị trí. Nghe tiếng hô: “Bắt đầu!”, nó lấy đà chạy nhanh đến bất ngờ. Gần đến nơi, miệng nó bặm lại. “Phốc”, nó nhảy đúng vào miệng hố bên kia, đất lún xuống. Nó đứng dậy, hãnh diện nhìn mọi người. Người tiếp theo là Dũng Béo. Vừa nghe gọi tên, cậu đã vồ đùi đen đét để thị uy. Rồi cậu cũng nhảy qua hố có phần dễ dàng hơn Hưng Tồ. Chỉ phải cái chân cậu lún sâu xuống lớp đất mềm khiến cả bọn phải xúm vào “nhổ” cậu lên. Cậu ta cười toe toét: -Tớ sẽ nhảy lại để tự phá kỉ lục. Người thứ ba vượt qua chiếc hố nhẹ như mèo là Tuấn Sứt, cậu ta đã từng thi nhảy xa cấp huyện. Xong việc, cậu nằm vắt chân chữ ngũ trên cỏ để chờ nhận giải. Chị Hà gọi đến Tôm Chip. Tôm Chip bé nhất bọn, tính tình lại rụt rè, mới nghe gọi tên mặt đã đỏ lên. Chị Hà ái ngại, bảo: -Nếu em không nhảy thì làm khán giả vậy. Tôm Chip càng bối rối. Dũng Béo thấy vậy, cười, bảo: -Làm khán giả thì sang bờ mương bên kia. Có thể vì tự ái, Tôm Chip quyết định vào vị trí. -Hai…ba! Tôm Chip giật bắn người lao lên. Đến gần điểm đệm nhảy thì cậu đột nhiên đứng sựng lại, chân miết xuống đất. -Hay là để tớ cắp vào nách rồi nhảy qua. -Tớ cho cậu thành tích lúc nãy đây. Dũng, Hưng và mấy bạn nhao nhao khích bác. Tôm Chip suýt khóc vì giận mình và các bạn. Chị Hà nhẹ nhàng an úi: -Hay em dế Dũng nhảy lại trước đã.Nhưng Tôm Chíp quyết định nhảy lần thứ hai. Lần này cậu lấy đà đúng kiểu hơn. Đúng lúc cậu đạp chân vào mô đất lao lên thì có tiếng kêu thất thanh phía bên kia bờ mương. Mọi người đang tập trung theo dõi cuộc thi nên chỉ có cậu mới trông thấy một bé trai, do xô đấy, đang lăn theo bờ mương xuống dòng nước. Cậu lao nhanh như tên bắn. Đến gần hố nhảy, cậu quặt sang bên, tiếp tục lao lên khiến mọi người cười ồ. Khi đứa bé đã ở sát mép nước, Tôm Chíp cũng đã tới bờ mương. Có tiếng hét tuyệt vọng. Lúc tất cả cùng nhận ra mối nguy hiểm thì họ cũng thây Tôm Chíp đã nhảy như bay qua con mương kịp giữ đứa bé lại. Ai nấy thơ phào. Chị Hà lội sang bờ mương bên kia. Mấy đứa lần lượt lội sang theo. Cả bọn đều lè lưỡi, lắc đầu không hiếu Tôm Chíp làm thế nào để nhảy qua con mương rộng nhường kia. Dũng Béo tuyên bố: – Chức vô địch thuộc về Tôm Chíp. Nhưng phải khám xem nó có lắp chiếc cánh quạt nào không đã. (Theo TẠ DUY ANH) B. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Nghe thầy cô giới thiệu và kể câu chuyện Nhà vô địch. 2.a) Cùng sắp xếp lại thứ tự các tranh dưới đây cho đúng với cốt truyện Nhà vô địch em vừa nghe kể (SGK/58, 59) c)Trả lời câu hỏi: -Em thích nhất chi tiết nào trong truyện? -Nguyên nhân dẫn đến thành tích bất ngờ của Tôm Chíp là gì? -Tôm Chíp có điều gì đáng khen? Gợi ý: a) Thứ tự đúng là: 2, 4, 1, 3 c) – Em thích nhât chi tiết phần thi của Dũng béo. Khi nhảy qua dễ dàng cái hố cát nhưng chân của cậu bị lún sâu xuông lớp đất mềm khiến cả bọn xúm lại “nhổ” cậu lên. Hình ảnh thật vui nhộn và ngộ nghĩnh. -Tình huống bất ngờ xảy ra khiến Tôm Chíp mất đi tính nhút nhát, thiếu tự tin. Tôm Chíp phản ứng rất nhanh và dũng cảm lao qua con mương rộng để cứu một em bé. Tôm Chíp dũng cảm, nhanh trí, quên mình để cứu người.
Soạn bài Ước mơ của em
961
Soạn bài Ấm áp rừng chiều Hướng dẫn A.HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN 2. Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài thơ “Trước cổng trời” (SGK/139). 5.Thảo luận, trả lời câu hỏi: 1)Vì sao địa điểm miêu tả trong bài thơ được gọi là “cổng trời”? 2)Hình ảnh cổng Trời được miêu tả trong khổ thơ đầu đẹp như thế nào? M. Hình ảnh cổng trời được miêu tả trong khổ thơ đầu rất đẹp. Nơi đây có hai vách đá nhìn qua thấy mây bay, gió thổi và cỏ cây trùng điệp. 3)Em hãy tả lại vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong khổ thơ 2, 3 và 4. Gợi ý: Em hãy tưởng tượng đang đứng ở cổng trời, tả lại vẻ đẹp của cảnh vật thiên nhiên mà em cảm nhận được từ lời thơ. 4)Điều gì đã khiến cánh rừng sương giá ấy như ấm lên? 5)Trong những cảnh vật được miêu tả trong bài thơ, em thích nhất cảnh vật nào? Vì sao? Gợi ý: 1) Địa điểm miêu tả trong bài thơ được gọi là “cổng trời” vì đó là một đèo cao nằm giữa hai vách đá. Đứng dưới dốc có thể nhìn thấy một khoảng trời lộ ra, có gió thoảng, mây trôi khiến ta có cảm giác đó là chiếc cổng để đi lên trời. 2)Hình ảnh cổng trời được miêu tả trong khổ thơ đầu đẹp như ở cõi tiên trên trời, có gió thoảng, có mây trôi bồng bềnh. Ráng chiều soi rọi một bức màn huyền ảo, phủ trùm cây trái dọc vùng rừng nguyên sơ. Những vạt nương sẫm mật, từng thung lúa chín vàng đẫm tiếng nhạc ngựa rung rinh theo từng tia nắng. 4)Cảnh rừng sương giá như ấm lên nhờ con người đã mang nhịp đập của cuộc sống vào khung cảnh thiên nhiên thơ mộng ấy. Bức tranh thiên nhiên rộn ràng và sinh động hơn khi thấp thoáng đây đó những vạt áo chàm, xua tan sương giá giữa rừng sâu núi thẳm. 5)Em thích cảnh vật dòng thác và đàn dê soi đáy suối. Những cảnh vật này nổi bật giữa màu xanh đại ngàn được điểm xuyết bởi ráng chiều. Tất cả sắc trắng ấy tuy sắc độ khác nhau nhưng lại hoà quyện vô cùng. Dòng thác trắng xoá, đàn dê trắng bông và dòng suối trong suốt. B.HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH 1.Lập dàn ý cho bài văn miêu tả một cảnh đẹp ở địa phương em. Gợi ý: Dàn ý tả một cảnh đẹp ở địa phương em. I.Mở bài: Giới thiệu bao quát cảnh đẹp. -Sau bữa cơm chiều, ra công viên nhỏ gần nhà chơi đùa; với em, nó đẹp và gần gũi. II.Thăn bài: Tả từng bộ phận cùa cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo -Mặt trời đã khuất hẳn nhưng trời vẫn còn sáng. Hàng cây cao tán lá xanh um, cành lá xôn xao trong gió. -Các bồn hoa rực rỡ sắc màu: hoa cúc vàng tươi, hoa mào gà đỏ rực, hoa thuỷ tiên tim tím; những vò lan hồ điệp như vẫy chào. -Một vài cánh bướm sặc sỡ vẫn còn nhởn nhơ, quanh quẩn bên các khóm hoa chưa chịu về, như muôn đua sắc cùng hoa. -Vào giờ này, công viên thật đông vui, nhộn nhịp. -Người lớn thì đi dạo công viên, hóng mát hoặc ngồi trò chuyện trên các băng ghế đá rải rác trong công viên. -Thanh niên tụ tập chơi đá cầu; tiếng cầu chạm vào giầy chan chát, chiếc cầu hết bay lên lại lộn xuống từ người này chuyền sang người khác. -Huyên náo nhất chính là bọn trẻ con chúng em: nhóm chơi chạy đuổi nhau, nhóm chơi nhảy dây, tiếng cười giòn tan vui vẻ. -Khi phố lên đèn, bọn trẻ chúng em về nhà, các nhóm thanh niên chơi đá cầu cũng giải tán, chỉ còn người lớn dạo công viên hóng mát sau một ngày làm việc mệt nhọc. III.Kết bài: -Với em, công viên nhỏ thật đẹp và gần gũi. –Bọn trẻ con chơi đùa thoả thích, an toàn. 2.Dựa theo dàn ý đã lập, viết một đoạn văn miêu tả cảnh đẹp ở địa phương em. Gợi ý: Mặt trời đã dần khuất sau hàng cây cao vút ven đường. Cảnh vật vẫn còn sáng tỏ, công viên ngày càng đông đúc, nhộn nhịp. Cành lá xôn xao, reo vui với gió. Muôn hoa hầu như không cảm nhận được buổi xế chiều, cứ hơn hớn khoe sắc, ong bướm vẫn mải vờn quanh. Khung cảnh chiều tà như được dát vàng, lung linh, huyền ảo. Cảnh công viên đẹp trong một thành phố đông đúc quả thật là hiếm.
Soạn bài Ấm áp rừng chiều
758
Soạn bài: Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng Hướng dẫn Soạn văn bài Chiếc lược ngà Nguyễn Quang Sáng Soạn bài: Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng là tài liệu Ngữ văn lớp 9 được VnDoc sưu tầm và tổng hợp. Bài soạn văn mẫu lớp 9 này sẽ giúp các bạn học sinh lớp 9 tổng hợp kiến thức môn văn nhằm ôn thi học kì 1, ôn thi vào lớp 10 các trường THPT. Chúc các bạn ôn tập tốt và đạt kết quả cao trong các kỳ thi sắp tới. Soạn bài: Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng lớp 9 Câu 1: a. Kể tóm tắt đoạn trích: Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cho em không giống với cha trong bức ảnh chụp chung với má. Em đối xử với ba như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, lúc tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Tại khi căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông còn kịp trao cây lược cho người bạn để gửi cho con. b. Các tình huống bất ngờ: – Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi bé Thu chưa đầy một tuổi. Sau tám năm xa cách, anh trở về, đứa con gái không chịu nhận ba. Đến lúc bé Thu nhận ra và gọi anh bằng ba là lúc anh phải ra đi nhận nhiệm vụ mới. Câu 2: a. Diễn biến tâm lí, hành động của bé Thu: – Trước khi nhận anh Sáu là cha: + Thái độ xem anh Sáu như người xa lạ: Khi anh Sáu gọi “Thu, con”, bé thu giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng và chạy kêu thét “Má!….” + Ương ngạnh, đáng yêu: Nó nhất định không chịu gọi anh Sáu bằng ba mà luôn nói trống “cơm chín rồi”, “vô ăn cơm”, “cơm sôi rồi, nhão bây giờ”. + Sự phản ứng của em chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, có tình yêu cha sâu sắc. Tình yêu ấy đã khắc ghi trong trái tim ngây thơ đầy kiêu hãnh nên em không chấp nhận người đàn ông có sẹo là cha. – Từ khi nhận anh Sáu là cha: + Khi nghe ngoại giải thích (vết thẹo) nó tỏ niềm ân hận day dứt “nằm im, lăn lội, thở dài như người lớn”. + Anh Sáu chào “Thôi! ba đi nghe con” thì tình cảm trong Thu bỗng trỗi dậy mãnh liệt bằng tiếng gọi “Ba…a…a…ba” xé sự im lặng, xé ruột gan mọi người. Tiếng gọi thể hiện cảm xúc dồn nén bị vỡ òa, thể hiện tình yêu sâu sắc mà thu cất giữ trong sau thẳm tâm hồn. Hành động như con sóc chạy đến anh Sáu ôm hôn….hôn cả vết thẹo. Cảm động hơn nữa là khi chứng kiến cảnh Thu bấm chặt người ba như sợ ba đi mất. b. Tính cách nhân vật bé Thu – Tình cảm mạnh mẽ sâu sắc nhưng cũng rất dứt khoát, rạch ròi. – Có nét cá tính cứng cỏi đến mức ương ngạnh nhưng vẫn là đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ. c. Nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả: Cách miêu tả diễn biến tâm lí thành công: Từ chỗ Thu ngạc nhiên hoảng sợ đến lạnh lùng, cuối cùng là sự bùng nổ những yêu thương do bị dồn nén. Thể hiện được điều đó chứng tỏ tác giả am hiểu tâm lý trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ. Câu 3. a. Tình cảm cao đẹp của ông Sáu với con. Tình cảm của ông Sáu với con thể hiện phần nào trong chuyến về thăm nhà nhưng được biểu hiện tập trung, sâu sắc ở phần cuối truyện khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ. – Nỗi ân hận, day dứt cứ ám ảnh ông nhiều ngày vì ông đã nóng giận đánh con trong những ngày nghỉ phép. – Lời dặn dò của con gái: «Ba về! Ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba» đã thôi thúc ông nghĩ đến việ làm một cây lược ngà cho con. – Khi kiếm được khúc ngà voi, ông mừng vô cùng, ông dành hết tâm trí, công sức vào làm một cây lược: «Anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc», «trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà ông đã gò lưng, tần mẩn khắc từng nét: Yêu nhớ tặng Thu, con của ba». Chiếc lược ngà đã trở thành một báu vật đối với ông. Nó làm dịu đi nỗi ân hận day dứt. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của người cha những ngày xa cách. Nhưng rồi tình cảnh đau thương lại đến với cha con ông Sáu. Ông Sáu hi sinh khi chưa kịp gặp lại con. Chiếc lược ngà chưa tới được tay bé Thu. Câu 4: Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu, không chỉ là người chứng kiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật; cảm nhận được tình cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le thông qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên của tác giả. Chọn cách kể chuyện như vậy có nhiều tác dụng: – Làm cho câu chuyện trở nên thật và đáng tin cậy. – Nhân vật được nhìn nhận, đánh giá khách quan. – Người kể có thể kể linh hoạt, tự do những gì diễn ra với nhân vật. Dưới đây là bài soạn Chiếc lược ngà bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Chiếc lược ngà Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng
1,120
Soạn bài: Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) Hướng dẫn Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) Soạn bài: Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình. mời các bạn tải và tham khảo bài viết dưới đây Soạn bài: Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) I. Cách chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động Câu 1: Hai câu đã cho: + Giống nhau: Miêu tả cùng một sự việc. + Khác nhau: Câu (a) có dùng từ được, câu (b) không dùng từ được. Câu 2: 2 cách chuyển đổi câu chủ động thành một kiểu câu bị động. + Chuyển từ (hoặc cụm từ) chỉ đối tượng của hoạt động lên đầu cầu và thêm các từ bị hay được vào sau từ (cụm từ) ấy. + Chuyển từ (cụm từ) chỉ đối tượng của hoạt động trên đầu câu, đồng thời lược bỏ hoặc biến đổi từ (cụm từ) chỉ chủ thể của hoạt động thành một bộ phận không bắt buộc trong câu. Không phải câu nào có các từ bị, được cũng là câu bị động. Câu 3: Những câu sau không phải là câu bị động vì chủ ngữ trong hai câu này không phải là đối tượng được hoạt động của người hay vật khác hướng vào. Câu 1: Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động: + Tất cả cánh cửa chùa được (người ta) làm bằng gỗ lim. + Tất cả cánh cửa chùa (người ta) làm bằng gỗ lim. + Con ngựa được buộc bên gốc đào. + Một lá cờ được dựng giữa sân. Câu 2: a. + Em được thầy giáo phê bình. + Em bị thầy giáo phê bình. b. + Ngôi nhà ấy đã được người ta phá đi. + Ngôi nhà ấy đã bị người ta phá đi. c. + Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn đã được trào lưu đô thị hoá thu hẹp. + Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn đã bị trào lưu đô thị hoá thu hẹp. – Câu bị động có từ “được” khác với câu bị động có từ “bị” ở sắc thái biểu đạt: Câu bị động có từ được mang hàm ý đánh giá tích cực, câu bị động có từ bị mang hàm ý đánh giá tiêu cực. – Vì có sự khác nhau trên nên khi chuyển đổi cần lưu ý: Câu (a) nên dùng từ “bị”, câu (b) có thể dùng cả 2 từ, câu (c) nên dùng từ “được” vì sự thu hẹp khoảng cách giữa đô thị và nông thôn vốn là điều tích cực, trong mong muốn của mọi người. Câu 3: 2. Viết một đoạn văn nói về lòng say mê của em đối với văn học, đối với một tác phẩm văn học, hoặc về ảnh hưởng của tác phẩm văn học nào đó tới em trong đó có sử dụng câu bị động. Dưới đây là bài soạn Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 7: Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động (tiếp theo)
624
Soạn bài: Chương trình địa phương (phần văn) Hướng dẫn Soạn bài lớp 8: Chương trình địa phương (phần văn) Soạn bài: Chương trình địa phương (phần văn) được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài: Chương trình địa phương (phần văn) Giới thiệu di tích thắng cảnh địa phương. Có thể tham khảo các ý sau để viết: Mùa xuân khi đất trời giao hòa, thiên nhiên tươi tốt, lòng người hân hoan cũng là lúc nhiều lễ hội dân gian ở nước ta tưng bừng vào hội. Hội xuân là thời điểm cuốn hút nhất người ta đi chùa, tham gia lễ hội để thể hiện lòng thành tâm, cầu an cho cả năm đồng thời có dịp hòa mình vào những lễ hội đậm sắc văn hóa dân tộc. Người việt tin rằng đi lễ chùa đầu năm không đơn giản để ước nguyện mà đó còn là thời gian để mọi người tìm về chốn tâm linh sau những năm tháng vất vả trong cuộc mưu sinh. Hòa vào dòng người đi lễ để cảm nhận được sự giao hòa của đất trời khi vào xuân. Cửa chùa rộng mở với tiếng chuông ngân vang cùng mùi thơm của khói hương, hoa lễ luôn làm cho tâm hồn con người thanh bình đến lạ. Và có thể bắt gặp hình ảnh dòng người Việt hành hương về cõi phật khi mùa xuân về. Hàng năm cứ mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn Hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách bốn phương lại nô nức trẩy hội Chùa Hương, hành trình về một miền đất phật. Nơi trác tích Bồ Tát Quán Thế Âm ứng thiện tu hành, để dâng lên người một nén tâm hương. Một lời nguyện cầu, hoặc thả hồn mình bay bổng hòa quện với thiên nhiên, ở một vùng miền còn in dấu tích phật thoại và văn hóa tâm linh. Hội Chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội. Ngày mùng 6 tháng giêng là ngày khai hội Chùa Hương, lễ hội kéo dài đên hết tháng 3 âm lịch, ngày này vốn là ngày mở cửa rừng, của người dân địa phương sau này trở thành ngày khai hội. Chùa Hương là một danh thắng nổi tiếng, không chỉ bởi cảnh đẹp mà nó còn là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo phật của người dân Việt Nam. Không giống bất kỳ nơi nào, Chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa hang động gắ liền với núi rừng, và trở thành một quần thể thắng cảnh rộng lớn, với một kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và nhân tạo, tạo hóa đã khéo bày đặt cho mơi đây núi non sông nước hiền hòa và rồi con người đã thổi hồn vào những điều kỳ diệu đó. Nó trở lên lung linh sinh động và nhiều màu sắc, chính điều đó đã tạo lên một nét văn hóa của dân tộc đó là nét văn hóa tín ngưỡng đạo phật. Có lẽ đã trải qua nhiều thế kỷ, nó đã in đậm vào trong tâm thức của mỗi con người Việt Nam ta khi tới Chùa Hương, để rồi những tao nhân mặc khách hàng năm lại nô nức về đây với mong muốn được tháp một nén tâm hương. Trước một danh thắng như vậy các vị vua chúa và các vị nho nhã đã không tiếc lời thán phục. Năm 1770 khi chúa Trịnh Sâm tuần thú Hương Sơn có đề khắc năm chữ lên cửa động Hương Tích (Nam Thiên Đệ Nhất Động) động đẹp nhất trời nam, và còn rất nhiều những thi nhân tới đây đã đè bút như: Chu Mạnh Trinh, Cao Bá Quát, Xuân Diệu. Chế Lan Viên, Hồ Xuân Hương. Dưới đây là bài soạn Chương trình địa phương (phần văn) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Chương trình địa phương (phần văn) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Chương trình địa phương (phần văn)
771
Soạn bài: Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo) Hướng dẫn Soạn bài Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo) lớp 6 Soạn bài: Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo) được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn học sinh tham khảo hiểu rõ về một số lỗi thường gặp trong văn bản và cách chữa lỗi dùng từ trong văn bản giúp học tốt môn Ngữ văn lớp 6 và chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài: Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo) I. Dùng từ không đúng nghĩa Câu 1: Trong các câu trên, người viết đã mắc lỗi dùng từ không đúng nghĩa. a.Yếu điểm: Điểm quan trọng; b.Đề bạt: Cử giữ chức vụ cao hơn (thường do cấp có thẩm quyền cao quyết định mà không qua bần cử); c.Chứng thực: Xác nhận là đúng sự thật. Câu 2: Sửa lại a. Thay yếu điểm bằng nhược điểm (điểm yếu) b. Thay đề bạt bằng đề cử c. Thay chứng thực bằng chứng kiến Như vậy, nguyên nhân chính của việc dùng từ không đúng nghĩa là trường hợp người viết (nói) không biết nghĩa của từ, hiểu sai nghĩa của từ hoặc hiểu không đầy đủ nghĩa của từ. Cho nên, để không mắc phải lỗi này khi viết (nói) thì một mặt phải không ngừng trau dồi thêm vốn từ, mặt khác trong những tình huống giao tiếp cụ thể, phải xác định được nghĩa của từ mình dùng, nếu còn chưa chắc chắn về nghĩa của từ nào thì phải tra từ điển để hiểu rõ nghĩa cũng như cách sử dụng nó. Câu 1: Phương án đúng là: – (1) bản (tuyên ngôn) – (2) (tương lai) xán lạn; – (3) bôn ba (hải ngoại) – (4) (bức tranh) thuỷ mặc – (5) (nói năng) tuỳ tiện Câu 2: Chọn từ thích hợp để điền vào chỗ trống: a.Khinh khỉnh: Tỏ ra kiêu ngạo và lạnh nhạt, ra vẻ không thèm để ý đến người đang tiếp xúc với mình. b.Khẩn trương: Nhanh, gấp và có phần căng thẳng. c. Băn khoăn: Không yên lòng vì có những điều phải suy nghĩ, lo liệu. Câu 3: Tìm và chữa các lỗi dùng từ trong các câu sau: a. Nghĩa của từ đá không phù hợp với nghĩa của từ tống (thay từ đá bằng từ đấm hoặc thay từ tống bằng từ tung); b. Từ thành khẩn phù hợp với việc nhận lỗi (thay cho thật thà), từ bao biện có nghĩa là ôm đồm làm nhiều việc, không phù hợp, nên thay bằng nguỵ biện (có ý nghĩa tranh cãi giả tạo, vô căn cứ). c.Tinh tú có nghĩa là các vì sao, không phù hợp, nên thay bằng tinh tuý (phần giá trị nhất, quý báu nhất). Dưới đây là bài soạn Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 6: Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Chữa lỗi dùng từ (tiếp theo)
550
Soạn bài: Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ (tiếp theo) Hướng dẫn Soạn bài Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ (tiếp theo) Soạn bài: Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ (tiếp theo) thuộc môn Ngữ văn lớp 6 học kỳ 2. Bài soạn dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 6 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài: Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ (tiếp theo) I. Câu thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ a. Câu sai vì chỉ có trạng ngữ, không có chủ ngữ và vị ngữ. – Cách chữa: Cần thêm chủ ngữ và vị ngữ. Ví dụ: Mỗi khi đi qua cầu Long Biên, tôi lại nhớ những năm tháng anh dũng chống đế quốc Mĩ. b. Sai, chỉ có trạng ngữ, thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ – Cách chữa: Cần thêm chủ ngữ và vị ngữ. Ví dụ: Bằng khối óc sáng tạo và bàn tay lao động của mình, chỉ trong vòng sáu tháng, nhóm kĩ sư, công nhân cầu đường đã hoàn thành cây cầu bê tông cốt thép ở tỉnh em. II. Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần câu. Câu 1: Mỗi bộ phận in đậm trong câu đã cho đều nói về hành động của dượng Hương Thư. Câu 2: Câu sai ở chỗ cách sắp xếp như trong câu đã làm cho người đọc hiểu nhầm là phần in đậm trước dấu phẩy (Hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa) miêu tả hành động của chủ ngữ trong câu (ta). Đây là câu sai về mặt nghĩa. Ta thấy dượng Hương Thư ghì trên ngọn sào, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa, giống như một hiện sĩ của Trường Sơn oai linh, hùng vĩ. III. Luyện tập Câu 1: Xác định chủ ngữ, vị ngữ a. Chủ ngữ: Cầu Vị ngữ: Được đổi tên thành cầu Long Biên. b. Chủ ngữ: Lòng tôi Vị ngữ: lại nhớ những năm tháng chống đế quốc Mĩ oanh liệt vào hào hùng. c. Chủ ngữ: Tôi Vị ngữ: Cảm thấy chiếc cầu như chiếc võng đung đưa, nhưng vẫn dẻo dai, vững chắc. Câu 2: Thêm chủ ngữ và vị ngữ a. Mỗi khi tan trường, chúng em tung tăng đi về nhà. b. Ngoài cánh đồng, các bạn đang thả diều lộng gió. c. Giữa cánh đồng lúa chín, mọi người khẩn trương gặt lúa. d. Khi chiếc ô tô về đến đầu làng, những người ra đón đã tụ tập đủ. Câu 3: Chữa câu – cách chữa. Các câu a, b, c đều thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ. Có thể sửa lại như sau: a. Giữa hồ, nơi có một tòa tháp cổ kính, một du thuyền nhỏ đang bơi. b. Trải qua mấy nghìn năm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, một dân tộc anh hùng, chúng ta đã hình thành và phát triển truyền thống yêu nước chống xâm lược. c. Nhằm ghi lại những chiến công lịch sử của quân và dân Hà Nội bảo vệ cây cầu trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, ta nên viết một công trình nghiên cứu lịch sử về cầu Long Biên. a. Chủ ngữ: Cây cầu Vị ngữ gồm hai: + Đưa những chiếc xe vận tải nặng nề vượt qua sông. + Bóp còi rộn ràng cả dòng sông yên tĩnh. – Câu sai vì chủ ngữ chỉ phù hợp với vị ngữ thứ nhất, không phù hợp với vị ngữ thứ hai (cây cầu không thể bóp còi). Chữa lại: Cây cầu đưa những chiếc xe vận tải nặng nề vượt qua sông, còi xe rộng vang cả dòng sông yên tĩnh. b. Câu sai vì trạng ngữ “vừa đi học về” không phù hợp với chủ ngữ “mẹ” Chữa lại: Thúy vừa đi học về, mẹ đã bảo Thúy sang đón em. Thúy cất vội cặp sách rồi đi ngay. c. Lỗi sai giống câu a. Chữa lại: Khi em đến cổng trường thì Tuấn gọi em và cho em một cây bút mới. Dưới đây là bài soạn Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ (tiếp theo) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 6: Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ (tiếp theo) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ (tiếp theo)
785
Soạn bài: Danh từ (tiếp theo) Hướng dẫn Soạn bài lớp 6 Danh từ (tiếp theo) Soạn bài: Danh từ (tiếp theo) được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo để chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình. Mời các bạn tải và tham khảo Soạn bài: Danh từ (tiếp theo) I. Danh từ chung và danh từ riêng Câu 1: Danh từ chỉ sự vật gồm danh từ chung và danh từ riêng. Danh từ chung là tên gọi một loại sự vật. Danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng vật, từng địa phương,… Bảng phân loại: Danh từ chung Công ơn, vua, tráng sĩ, đền thờ, làng, xã, huyện Danh từ riêng Phù Đổng Thiên Vương, Gióng, Gia Lâm, Hà Nội Câu 2: Danh từ riêng viết hoa, danh từ chung nếu đứng đầu câu thì viết hoa (Vua). Câu 3: Với mỗi quy tắc viết hoa sau đây, hãy cho 3 ví dụ minh hoạ: – Quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Tất Thành,… (Trần Hưng Đạo là một trong những là quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử); Hà Nội, Hải Phòng, Tản Viên,… (Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam) – Quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài: Mao Trạch Đông, Ken-nơ-đi, Bắc Kinh, Mát-xcơ-va,… (Bắc Kinh là thủ đô của Trung Quốc) Ghi nhớ: (SGK) II. Luyện tập Câu 1: Các danh từ chung như: Ngày xưa, miền, đất, bây giờ, vị thần, nòi, rồng, nước,… Danh từ riêng như: Lạc Việt, Long Nữ, Bắc Bộ,… Câu 2: Câu (a): Các danh từ Chim, Mây, Nước, Hoa, Hoạ Mi viết hoa là đúng, vì đây là các danh từ riêng. Thông thường, các từ này là danh từ chung. Ở đây Chim, Mây, Nước, Hoa, Hoạ Mi là tên của các nhân vật cụ thể nên được xem như danh từ riêng. Câu (b): Út là tên riêng nên viết hoa; vua là danh từ chung, viết hoa là sai. Câu (c): Ngựa là danh từ chung, không viết hoa; Cháy là tên làng – danh từ riêng, viết hoa là đúng. Câu 3: Các từ in nghiêng là các từ đã được chỉnh lại cách viết hoa hoặc viết thường Ai đi Nam Bộ Tiền Giang, Hậu Giang Ai vô thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng. Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp Việt Bắc miền Nam, mồ ma giặc pháp Nơi chôn rau cắt rốn của ta! Ai đi Nam – Ngãi, Bình – Phú, Khánh Hoà Ai vô Phan Rang, Phan Thiết Ai lên Tây Nguyên, Công Tum, Đắc Lắc Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung Ai về với quê hương ta tha thiết Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng …Ai vô đó với đồng bào, đồng chí Nói với Nửa – Việt Nam yêu quý Rằng nước ta là của chúng ta Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà! (Tố Hữu) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Danh từ (tiếp theo)
556
Soạn bài: Hành động nói tiếp theo Hướng dẫn Soạn bài lớp 8 Hành động nói tiếp theo Soạn bài: Hành động nói tiếp theo dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo bài soạn bài Hành động nói (tiếp theo) Soạn bài: Hành động nói tiếp theo I. Cách thực hiện hành động nói. Câu 1: Mục đích 1 2 3 4 5 Hỏi – – – – – Trình bày + + + – – Điều khiển – – – + + Hứa hẹn – – – – – Bộc lộ cảm xúc – – – – – 2. Các kiểu câu thực hiện hành động nói. – Câu nghi vấn thực hiện hành động nói: Hỏi, điều khiển, bộc lộ cảm xúc. – Câu trần thuật thực hiện hành động nói: Trình bày, bộc lộ cảm xúc, điều khiển, hứa hẹn. – Câu cảm thán: Bộc lộ cảm xúc. – Câu cầu khiến thực hiện hành động: Điều khiển. II. Luyện tập Bài 1 ( trang 71 sgk Ngữ văn 8 tập 2): – Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ bỏ mình vì nước đời nào không có? Mục đích: Khẳng định tinh thần yêu nước, gương sáng các bậc trung thần nghĩa sĩ đời nào cũng có. – Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi có muốn vui vẻ phỏng có được không? Mục đích: Khơi dậy trong quân sĩ, tướng sĩ tinh thần chống giặc ngoại xâm. Chỉ rõ ra thú vui của tướng sĩ là sai trái, không giúp ích cho nước nhà. – Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không? Mục đích: Khẳng định chắc chắn không ai có thể vui vẻ được – Nếu vậy, rồi đây sau khi giặc giã dẹp yên, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa? Mục đích khẳng định sự đớn hèn, nhục nhã, xấu xa của những kẻ cam tâm không biết rửa nhục cho đất nước Bài 2 (trang 71 sgk Ngữ văn 8 tập 2): a, Đoạn trích thứ nhất – Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi. – Quân và dân miền Bắc quyết ra sức thi đua yêu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm trong nghĩa vụ của mình đối với đồng bào miền Nam ruột thịt. Mục đích: Là lời cổ vũ, động viên đồng bào cả nước đứng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm. b, Đoạn trích thứ hai – Điều mong muốn cuối cùng của tôi… cách mạng thế giới. Thể hiện được sự quan tâm lo lắng của Bác đối với Đảng, với nhân dân trước lúc ra đi. Đó cũng là nguyện vọng của Bác với Đảng và nhà nước. Bài 3 (trang 72 Ngữ Văn 8 tập 2): Các câu cầu khiến thể hiện mối quan hệ giữa Dế Mèn và Dế Choắt: – Song, anh cho phép em mới dám nói. (Lời nói khiêm nhường, nhã nhặn) (Lời nói bề trên, hách dịch) – Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em một cái ngách sang bên nhà anh… (Lời đề nghị nhờ giúp đỡ nhã nhặn, khiêm nhường) – Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. (Lời mắng nhiếc vô tình, hống hách) Bài 4 ( trang 72 sgk Ngữ Văn 8 tập 2): Khi hỏi người lớn tuổi, các em cần chú ý những điểm sau: + Chú ý cách xưng hô phù hợp, lịch sự + Thể hiện được sự lễ phép, văn minh. + Bộc lộ được mục đích lời hỏi Em nên dùng cách hỏi: “Bác có thể chỉ giúp cháu bưu điện ở đâu không ạ? Bài 5 (trang 72 sgk Ngữ văn 8 tập 2): a, Trong một quán ăn khi có người đề nghị “Anh có thể chuyển giúp tôi lọ gia vị được không ạ? b, Ta có thể chọn cách đáp lại: c, Đưa lọ gia vị cho người kia và nói: “Mời anh” (hoặc “Mời chị”, “Mời bác”…) Dưới đây là bài soạn Hành động nói tiếp theo bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Hành động nói tiếp theo Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Hành động nói tiếp theo
750
Soạn bài: Kiểm tra thơ và truyện hiện đại Hướng dẫn Soạn văn bài Kiểm tra thơ và truyện hiện đại lớp 9 Soạn bài: Kiểm tra thơ và truyện hiện đại là tài liệu Ngữ văn lớp 9 được VnDoc sưu tầm và tổng hợp, giúp các bạn học sinh lớp 9 tổng hợp kiến thức môn văn nhằm ôn thi học kì 1, ôn thi vào lớp 10 các trường THPT. Chúc các bạn ôn tập tốt và đạt kết quả cao trong các kỳ thi sắp tới. Soạn bài: Kiểm tra thơ và truyện hiện đại – Ngữ văn lớp 9 I. Thơ STT Tên bài thơ Tác giả Năm sáng tác Thể thơ Đặc sắc nội dung, tư tưởng Đặc sắc nghệ thuật 1 Đồng chí Chính Hữu 1948 Tự do Ca ngợi tình đồng chí cùng chung lí tưởng của những người lính cách mạng trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình đồng chí trở thành sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của anh bộ đội cụ Hồ. Chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, chân thực, cô đọng, giàu sức biểu cảm. Hình ảnh sáng tạo vừa hiện thực vừa lãng mạn: Đầu súng trăng treo. 2 Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật 1969 Tự do Tư thế hiên ngang, tinh thần chiến đấu bình tĩnh, dũng cảm, niềm vui lạc quan của những người lính lái xe trên những nẻo đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Tứ thơ độc đáo: Những chiếc xe không kính, giọng điệu tự nhiên, khoẻ khoắn, vui tếu có chút ngang tàng; lời thơ gắn với lời văn xuôi, lời nói thường ngày. 3 Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận 1958 Bảy chữ Cảm xúc tươi khoẻ về thiên nhiên và lao động tập thể qua cảnh một chuyến ra khơi đánh cá của những ngư dân Quảng Ninh Cảm hứng vũ trụ – lãng mạn. Nhiều hình ảnh đẹp, nên thơ, âm hưởng rộn ràng, phấn chấn. Một bài ca lao động hào hứng 4 Bếp lửa Bằng Việt 1963 Bảy chữ và tám chữ Nhớ lại những kỉ niệm xúc động về bà và tình bà cháu. Lòng kính yêu và biết ơn của cháu đối với bà và cũng là của bà đối với gia đình, quê hương, đất nước Kết hợp biểu cảm, miêu tả, kể chuyện và bình luận. Hình ảnh bếp lửa gắn với hình ảnh người bà, tạo ra những ý nghĩa sâu sắc. Giọng thơ bồi hồi, cảm động 5 Ánh trăng Nguyễn Duy 1978 Năm chữ Từ hình ảnh trăng trong thành phố, nhớ lại những năm tháng đã qua của cuộc đời người lính chiến đấu gắn bó với thiên nhiên, với ánh trăng, với đất nước thân yêu và bình dị, nhắc nhở thái độ sống tình nghĩa, thuỷ chung Hình ảnh bình dị, tứ thơ bất ngờ mà hợp lí. (thình lình mất điện, mở cửa sổ, chợt gặp vầng trăng); giọng điệu chân tình, nhỏ nhẹ mà thấm sâu; kết bài gợi mở (cái giật mình không phải ngẫu nhiên) II. Truyện STT Tên tác phẩm Tác giả Năm sáng tác Tóm tắt nội dung 1 Làng (Trích truyện ngắn) Kim Lân 1948 Truyện thể hiện tình yêu làng thống nhất với tình yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân. 2 Lặng lẽ Sa Pa (trích truyện ngắn) Nguyễn Thành Long 1970 Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông hoạ sĩ, cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao. Qua đó, ca ngợi những con người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến tâm sức mình cho đất nước. 3 Chiếc lược ngà (trích truyện ngắn) Nguyễn Quang Sáng 1966 Truyện kể về cuộc gặp gỡ giữa hai cha con sau tám năm xa cách với nhiều éo le, trắc trở. Qua đó, ca ngợi tình cha con thắm thiết trong chiến tranh a. Làng (Kim Lân) Truyện kể về ông Hai quê ở làng Chợ Dầu. Ông gắn bó và yêu tha thiết làng quê mình. Ông thường khoe làng ông giàu đẹp, làng kháng chiến. Vì cuộc sống của gia đình, vì cuộc kháng chiến, ông phải rời làng. Tối nào ông cũng sang nhà bác Thứ để nói chuyện về làng cho đỡ nhớ. Hằng ngày ông đến phòng Thông tin để theo dõi tin tức về làng. Một hôm, nhận được tin làng theo giặc, ông bàng hoàng, xấu hổ tủi nhục. Mấy ngày liền ông không bước chân ra khỏi nhà. Bế tắc, đau khổ, ông tâm sự với đứa con út cho vơi đi nỗi lòng. Rồi một hôm nhận được tin cải chính, ông Hai sung sướng tột độ. Mặc dù nhà bị đốt nhưng ông vẫn vui vẻ đi khoe và kể về làng như trước. b. Lặng lẽ SaPa (Nguyễn Thành Long) Trên một chuyến xe đi Lào Cai có bác lái xe, ông họa sĩ và cô kỹ sư. Qua lời kể của bác lái xe, họ biết được anh thanh niên làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh Yên Sơn. Đến SaPa, xe dừng lại, anh thanh niên được bác lái xe giới thiệu gặp ông họa sĩ và cô kỹ sư. Anh mời họ lên thăm nhà. Qua cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, họ biết được anh thanh niên hằng ngày làm công việc đo gió, đo mưa, giúp vào việc báo trước thời tiết. Khâm phục trước tinh thần làm việc và sự cống hiến lặng lẽ của anh thanh niên, họa sĩ vẽ chân dung anh. Để không vô lễ, anh ngồi yên cho ông vẽ nhưng từ chối vì nghĩ mình không xứng đáng. Ba mươi phút trôi qua, họ chia tay nhau trong sự lưu luyến. Họa sĩ và cô kỹ sư đi tiếp chặng đường, còn anh thanh niên trở về với công việc thường ngày của mình. c. Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) Ông Sáu là một cán bộ kháng chiến, xa nhà nhiều năm. Mãi đến khi hòa bình lập lại ông mới có dịp về thăm nhà. Bé Thu không nhận ông là cha vì thấy xa lạ. Đến khi nhận ra người cha và tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, ông dồn nỗi nhớ thương và tình yêu con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng cho con. Trong một trận càn của địch, ông đã hi sinh. Ông Sáu còn kịp đưa cây lược ngà cho người bạn đem về trao lại cho bé Thu. Câu 3: Phân tích nét nổi bật trong tính cách ông Hai (truyện ngắn Làng, của Kim Lân. Trong số rất nhiều những nhân vật nông dân khác, người đọc khó có thể quên một ông Hai yêu làng quê, yêu đất nước, thuỷ chung với kháng chiến, với sự nghiệp chung của dân tộc. Một ông Hai thích khoe làng, một ông Hai sốt sắng nghe tin tức chính trị, một ông Hai tủi nhục, đau đớn khi nghe tin làng mình theo giặc, một ông Hai vui mừng như trẻ thơ khi biết tin làng mình không theo giặc,… Ai đó đã một lần thấy nhà vàn Kim Lân, nghe ông nói chuyện còn thú vị hơn nữa: Hình như ta gặp ông đâu đó trong Làng rồi thì phải. Câu 4: Vẻ đẹp trong cách sống, trong tâm hồn, và những suy nghĩ của nhân vật anh thanh niên một mình trên trạm khí tượng giữa núi cao trong “Lặng lẽ SaPa” Câu 5: – Tình cảm của đứa con: + Bé Thu cũng rất thương yêu cha. Em tôn thờ và giữ trọn lòng thương nhớ cha qua bức ảnh. + Em ương bướng và chống đối anh Sáu, nhất định không chịu gọi anh một tiếng “Ba” chỉ vì em dành tình thương yêu đó cho người cha mà em thương nhớ. + Khi nhận ra cha “hai tay em ôm chặt cổ ba…” như muốn giữ anh Sáu ở mãi bên cạnh. + Sự thông minh và sự ương ngạnh của bé Thu làm người đọc thương em hơn trách em – Tình cảm người cha: + Anh Sáu thương nhớ con xiết bao. Ngày về phép anh chỉ mong được ôm con vào lòng và gọi một tiếng “Ba”. Nhưng nó không chịu gọi… + Những ngày ở bên con, anh chăm sóc chiều chuộng con. Nhưng nó vẫn lạnh nhạt với anh… + Ngày anh ra đi, bé Thu hiểu ra mọi việc. Nó ôm chầm lấy cha muốn rời… + Ở chiến khu, anh làm cho con chiếc lược bằng ngà. Mỗi chiếc răng lược là bao nhiêu tình cảm thương nhớ mà anh dành cho con. Câu 6: a. Người lính hiên ngang, dũng cảm: – Đọc qua hai bài thơ, người đọc nhận thấy hai người lính tuy ở hai thời kì khác nhau nhưng lòng yêu quê hương cao đẹp như nhau… – Từ trong cuộc đời họ bước vào trang thơ với những nét đẹp hiên ngang dũng cảm: Anh lính trong “Đồng chí” dũng cảm rời quê hương ra đi rời bỏ cuốc cày, cầm vũ khí chiến đấu. Vì lí tưởng “súng bên súng, đầu sát bên đầu” mà anh đã ra đi để lại “ruộng nương, gian nhà” trong nỗi nhớ thương thầm lặng “Ruộng nương…lung lay”. – Anh lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” có khác hơn. Anh hiên ngang đối mặt với bom đạn kẻ thù, ngồi vào những chiếc xe bị lột từng lúc một cách trần trụi “không có kính…ta ngồi”. Vì xe vỡ kính, anh bình tĩnh đối diện với bao khó khăn tràn vào “không có kính ừ thì có bụi”, “không có kính ừ thì ướt áo”. Phải là người bình tĩnh mới có thể đương đầu với thế giới bên ngoài”. Nhìn thấy…buồng lái” – Trong “Đồng chí” người dù thiếu thốn “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá” vẫn không nề hà. Anh và đồng đội đã vượt qua những cơn “sốt run người” hay những lúc “vầng trán ướt mồ hôi”. Tuy gian khổ nhưng anh vẫn mỉm cười vượt qua… “Áo anh…không giày”. – Trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” người lính dù “mưa tuôn mưa xối” dù “bụi phun tóc trắng” vẫn ung dung đối mặt, xem thường khó khăn, lấy gian khổ làm thử thách cho cuộc đời mình, lạc quan yêu đời…hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam. “Chưa cần thay…mau thôi”. c. Trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” người lính dù “mưa tuôn mưa xối” dù “bụi phun tóc trắng” vẫn ung dung đối mặt, xem thường khó khăn, lấy gian khổ làm thử thách cho cuộc đời mình, lạc quan yêu đời…hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam. “Chưa cần thay…mau thôi”. – Tình đồng đội của những người lính là một nét đẹp luôn được ca ngợi. Họ cũng đoàn kết với nhau vượt qua mọi gian nan thử thách… – Người lính trong “Đồng chí” chia cho anh từng “đêm rét chung chăn”. Họ nắm tay truyền cho nhau nghị lực, niềm tin, giúp nhau vượt qua những lúc thiếu thốn, hiểm nghèo. Họ “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”, “thương nhau…tay”. – Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” để động viên nhau tiếp tục cuộc chiến đấu. Mỗi một “chiếc xe từ trong bom rơi” trở về đã là thành viên của tiểu đội lái xe Trường Sơn. Những giờ phút họ ngồi bên nhau chia nhau bát cơm, đôi đũa là trở thành “gia đình” của nhau. “Những chiếc xe… gia đình đấy”. d. Ý chí chiến đấu của người lính: – Điểm nổi bất ở những người lính là ý chí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Họ ra đi với quyết tâm đánh đuổi kẻ thù chung. Cho nên dù đêm đông giá rét, dù gió lạnh thấu xương, họ vẫn “đứng cạnh nhau” quyết tâm chiến đấu “Đêm nay…trăng treo”. – Ở “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” quyết tâm của người lính thể hiện qua việc tiếp tục lên đường, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam thân yêu. Họ “lại đi, lại đi” với ý chí chiến đấu cao độ, giải phóng đất nước, đem bầu “trời xanh” về cho nhân dân. Quyết tâm này thể hiện qua lí tưởng chiến đấu “vì miền Nam phía trước”. “Xe vẫn chạy…trái tim”. Dưới đây là bài soạn Kiểm tra thơ và truyện hiện đại bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Kiểm tra thơ và truyện hiện đại Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Kiểm tra thơ và truyện hiện đại
2,156
Soạn bài: Luyện nói kể chuyện (tiếp theo) Hướng dẫn Soạn bài Luyện nói kể chuyện (tiếp theo) lớp 6 Soạn bài: Luyện nói kể chuyện (tiếp theo) được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn học sinh tham khảo hiểu rõ về khái niệm về cách nói chuyện và luyện tập nói chuyện giúp học tốt môn Ngữ văn lớp 6 và chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài: Luyện nói kể chuyện (tiếp theo) Đề 1: Kể về một chuyến về quê a. Mở bài: Lý do về thăm quê, về quê với ai? b. Thân bài: – Cảm xúc khi được về quê – Quang cảnh chung của quê hương – Gặp họ hàng ruột thịt – Thăm mộ tổ tiên – Gặp bạn bè cùng tuổi – Dưới mái nhà người thân – Phút chia tay c. Kết bài: Cảm nghĩ về chuyến về quê Đề 2: Kể về một cuộc thăm hỏi gia đình liệt sĩ neo đơn a. Mở bài: Giới thiệu chung: Thời gian, thành phần tham dự, đối tượng được thăm. b. Thân bài: Kể lại diễn biến cuộc đi thăm: – Mục đích cuộc đi thăm. – Các sự việc cụ thể trong buổi thăm viếng (hỏi thăm sức khoẻ, tặng quà, giúp đỡ một số việc cần thiết,…). – Thái độ, tình cảm của người đến thăm và người được thăm. c. Kết bài: Cảm nghĩ của em (Hiểu rõ thêm về đạo lí của dân tộc ta. Biết ơn và có trách nhiệm đối với những gia đình có công với cách mạng…) Đề 3: Kể về một cuộc đi thăm di tích lịch sử a. Mở bài: Giới thiệu chung: Cuộc đi do ai tổ chức? Đi vào dịp nào? Thăm di tích nào? b. Thân bài: Diễn biến cuộc đi thăm: – Tả lại cảnh đẹp mà em đã đến thăm. – Kể lại những chi tiết thú vị nhất trong chuyến đi. c. Kết bài: Cảm nghĩ của em: – Gắn bó hơn với bạn bè, thầy cô… – Hiểu và yêu thêm quê hương, đất nước. Đề 4: Kể về một chuyến ra thành phố a. Mở bài: Lý do ra thành phố?, Đi với ai? Ấn tượng chung? b. Thân bài: – Trước khi lên đường: + Tâm trạng + Việc chuẩn bị – Lên đường: + Không khí trên xe + Quang cảnh hai bên đường – Đến nơi: + Quang cảnh chung + Diễn biến cuộc tham quan (nghe thuyết minh, quan sát thực tế, chụp hình lưu niệm, mua sắm, xem văn nghệ?) + Tâm trạng c. Kết bài: Cảm nghĩ sau chuyến đi. Dưới đây là bài Soạn bài: Luyện nói kể chuyện (tiếp theo) bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn bài: Luyện nói kể chuyện (tiếp theo) Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Luyện nói kể chuyện (tiếp theo)
512
Soạn bài: Luyện tập kể chuyện tưởng tượng Hướng dẫn Soạn bài Luyện tập kể chuyện tưởng tượng lớp 6 Soạn bài: Luyện tập kể chuyện tưởng tượng được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn học sinh tham khảo. Bài soạn văn lớp 6 này sẽ giúp các bạn hiểu rõ về khái niệm, cách kể một câu chuyện tưởng tượng từ đó giúp học tốt môn Ngữ văn lớp 6 và chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài: Luyện tập kể chuyện tưởng tượng A. Đề bài: Mượn lời một đồ vật hay con vật gần gũi với em để kể chuyện tình cảm giữa em và đồ vật hay con vật đó. 1. Mở bài: Giới thiệu nhân vật: – Đồ vật (con vật) tự giới thiệu mình. – Đồ vật (con vật) giới thiệu về tình cảm giữa mình và người chủ. 2. Thân bài: – Lí do đồ vật (con trâu) trở thành vật sỡ hữu của người chủ. – Tình cảm ban đầu giữa đồ vật (con vật) và người chủ. – Những kỉ niệm vui, buồn khó quên của hai người. – Tình cảm lúc sau (nếu có sự thay đổi trong tình cảm người chủ) lí do sự thay đổi. 3. Kết bài: Suy nghĩ, cảm xúc của đồ vật (con vật) đó với chủ của mình. B. Đề bài: Thay ngôi kể để bộc lộ tâm tình của một nhân vật truyện cổ tích mà em yêu thích. – Giới thiệu không gian, thời gian của buổi gặp gỡ. – Xây dựng tình huống gặp nhân vật trong truyện (nằm mơ? Tưởng tượng?…) 2. Thân bài: Cuộc trò chuyện thú vị. – Hỏi han. – Trao đổi suy nghĩ, thắc mắc (nếu có)… của mình. 3. Kết bài: Bày tỏ tình cảm đối với nhân vật đó. C. Đề bài:Tưởng tượng một đoạn kết mới cho một truyện cổ tích nào đó (chẳng hạn: Truyện sọ dừa, cây bút thần) Gợi ý: – Mã Lương sau khi vẽ biển, đánh chìm thuyền rồng, tiêu diệt cả triều đình, cả bè lũ Vua, quan tham ác thì cũng bất ngời bị sóng cuốn trôi dạt vào một hoang đảo. – Ở đây Mã Lương lại dùng cây bút thần chiến đấu với thú dữ, trùng độc, với hoàn cảnh sống khắc nghiệt để tồn tại. Mã lương tình cờ gặp một con tàu thám hiểm vòng quanh trái đất chạy qua, ghé đảo để trữ nước ngọt. Mã Lương được mời lên tàu làm quen với nhà hàng hải nổi tiếng Magienlăng. Magienlăng mời Mã Lương đi cùng để vẽ những cảnh đẹp trên đường. Mã Lương sung sướng nhận lời. Dưới đây là bài soạn Luyện tập kể chuyện tưởng tượng bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 6: Luyện tập kể chuyện tưởng tượng Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 6 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 6 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Luyện tập kể chuyện tưởng tượng
533
Soạn bài: Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện Hướng dẫn Soạn bài lớp 9 Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện Soạn bài: Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài: Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) Đề bài: Cảm nhận của em về đoạn trích truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng. Dàn bài chi tiết: I. Mở bài: Dẫn dắt vấn đề: Thơ ca Việt Nam có biết bao tác phẩm viết về tình cha con rất xúc động nhưng ta không thể nào quên được tình cha con trong chiến tranh lại càng thiêng liêng, cao đẹp. Điều đó được thể hiện qua tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng. Đây là một tác phẩm xuất sắc thể hiện tình cha con đẹp đẽ sâu đậm khiến người đọc không thể nào quên được II. Thân bài: a. Giới thiệu: – Chiếu lược ngà viết 1966 viết trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta rất gay go – Truyện kể ngôi thứ nhất qua lời kể của Bác Ba – bạn thân anh Sáu – Chiếc lược ngà là kỉ vật cuối cùng của ông Sáu dành cho bé Thu – Nhà văn dẫn dắt nhân vật vào tình huống éo le để nhân vật bộc lộ sâu sắc tình cha con b. Cảm nhận Bé Thu cảm nhận tình yêu thương một cách mãnh liệt – Qua các tình huống khi bé Thu lần đầu gặp người đàn ông có vết sẹo dài trên mặt. – Qua việc không chịu vâng lời ông Sáu nói – Qua việc ông Sáu gắp trứng cá trong bữa cơm và bị bé Thu hất ra – Qua việc trèo thuyền qua bên nhà ngoại, được bà ngoại giải thích cặn kẽ và bé Thu mới hiểu ra đó là ba mình – Qua việc bé Thu thét lên “Ba..a..a ” và những hành động của Thu – Qua việc ông Sáu cảm thấy xúc động và sau khi về căn cứ làm một “Chiếc lược ngà” – Qua việc ông Sáu trao kỉ vật này cho đồng đội mình khi ông đã hi sinh trên chiến trường III. Kết bài: Tác phẩm trên mang đậm đà tình cảm, làm góp phần phong phú cho nền văn thơ Cách mạng Việt Nam. Truyện giúp cho người đọc hiểu cách nhìn trọn vẹn hơn về giá trị hạnh phúc gia đình để từ đó người đọc càng biết nâng niu quý trọng tình cảm thiêng liêng này Dưới đây là bài soạn Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện
562
Soạn bài: Luyện tập viết đoạn văn chứng minh Hướng dẫn Soạn bài lớp 7 Luyện tập viết đoạn văn chứng minh Soạn bài: Luyện tập viết đoạn văn chứng minh được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình. mời các bạn tải và tham khảo bài viết dưới đây Luyện tập viết một đoạn văn chứng minh một số đoạn văn tham khảo Đoạn 1. Văn chương luyện những tình cảm ta sẵn có. “Đọc những bài ca dao tình nghĩa con người, ta càng thêm yêu ông bà, cha mẹ ta hơn. Qua những bài ca, những câu hát than thân, ta càng hiểu rõ và càng thương cha ông ta, nhất là những người chị, người mẹ Việt Nam ngày xưa. Tương tự như thế, đọc chùm thơ Đường của Lý Bạch, của Hạ Tri Chương, Đỗ Phủ, tình yêu quê hương của chúng ta được bồi đắp bởi những cung bậc rung động thật tinh tế. Qua bài kí: “Một thứ quà lúa non: Cốm”; “Mùa xuân của tôi”, ta thấm thía thêm biết bao vẻ đẹp của cây lúa Việt Nam, của mùa xuân Hà Nội, mùa xuân Tổ quốc ta… kể sao cho hết, dẫn sao cho cùng những tác dụng… công dụng kì diệu của văn chương. (Theo Vũ Dương Quỹ) Đoạn 2. Nói dối là có hại cho bản thân. Đoạn 3. Chứng minh cần phải chọn sách mà đọc. Sách là tri thức của nhân loại, là chân trời của cuộc đời. Nhưng sách cũng có sách tốt, sách xấu, vì vậy chúng ta phải biết lựa chọn sách mà đọc cho phù hợp với trình độ, lứa tuổi, nghề nghiệp. Là học sinh, bạn hãy nên chọn những quyển sách giải đáp những kiến thức về khoa học tự nhiên khoa học xã hội, về vũ trụ, về cây cối, và hoạt động của cơ thể con người. Chẳng hạn như bộ sách hàng vạn câu hỏi vì sao? Lịch sử Việt Nam bằng tranh, danh nhân thế giới, thế giới tâm hồn… Đó là những quyển sách thật bổ ích. Bạn hãy tránh xa những cuốn sách có nội dung xấu: Dưới đây là bài soạn Luyện tập viết đoạn văn chứng minh bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 7: Luyện tập viết đoạn văn chứng minh Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Luyện tập viết đoạn văn chứng minh
482
Soạn bài: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí Hướng dẫn Soạn bài lớp 9 Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí Soạn bài: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí dưới đây được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình Soạn bài: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí I. Kiến thức cơ bản a. Bài văn bàn về vấn đề vai trò của tri thức và người trí thức trong đời sống xã hội. b. Có thể chia văn bản Tri thức là sức mạnh thành 3 phần: – Phần mở bài (đoạn mở đầu): Đặt vấn đề “tri thức là sức mạnh”; – Phần thân bài (hai đoạn tiếp): Chứng minh tri thức đúng là sức mạnh trong công việc và khẳng định tri thức là sức mạnh cách mạng. – Phần kết bài (đoạn còn lại): Phê phán những người chưa biết quý trọng tri thức và sử dụng tri thức không đúng mục đích. c. Các câu mang luận điểm: – Các câu trong đoạn mở bài. – “Tri thức đúng là sức mạnh”; “Rõ ràng người có tri thức thâm hậu có thể làm được những việc mà nhiều người khác không làm nổi.”; – “Tri thức cũng là sức mạnh của cách mạng.”; – Tri thức có sức mạnh to lớn như thế nhưng đáng tiếc là còn không ít người chưa biết quý trọng tri thức.”; “Họ không biết rằng, muốn biến nước ta thành một quốc gia giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế giới cần phải có biết bao nhiêu nhà trí thức tài năng trên mọi lĩnh vực!”. d. Văn bản chủ yếu sử dụng phép lập luận chứng minh. Từ những dẫn chứng cụ thể, người viết khẳng định sự đúng đắn của tư tưởng “Tri thức là sức mạnh” và “Ai có tri thức thì người ấy có được sức mạnh”, qua đó phê phán những người không biết quý trọng tri thức, sử dụng tri thức sai mục đích và đề cao vai trò của tri thức đối với sự phát triển của đất nước. e. – Bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng cuộc sống: Từ một sự việc, hiện tượng đời sống, người viết nêu ra vấn đề mang ý nghĩa tư tưởng, đạo lí. – Bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đao lí: Bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích… làm sáng tỏ, một vấn đề tư tưởng, đạo lí, chỉ ra chỗ đúng (hay chỗ sai) của nó; qua đó khẳng định tư tưởng của người viết. II. Luyện tập a. Văn bản Thời gian là vàng thuộc loại bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. b. Văn bản nghị luận về giá trị của thời gian. Giá trị của thời gian được làm rõ qua các luận điểm: – Thời gian là sự sống – Thời gian là thắng lợi – Thời gian là tiền c. Trong văn bản Thời gian là vàng, người viết sử dụng phép lập luận phân tích và chứng minh. Người viết đã phân tích giá trị của thời gian thành các luận điểm (Thời gian là sự sống – Thời gian là thắng lợi – Thời gian là tiền – Thời gian là tri thức). Các luận điểm này lại được chứng minh bằng những dẫn chứng từ thực tiễn. Mạch triển khai lập luận của bài văn đơn giản nhưng cô đọng, sáng rõ và chặt chẽ. Dưới đây là bài soạn Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí
719
Soạn bài: Những đứa trẻ (trích Thời thơ ấu) Hướng dẫn Soạn bài Những đứa trẻ (trích Thời thơ ấu) Soạn bài: Những đứa trẻ (trích Thời thơ ấu) là tài liệu Ngữ văn lớp 9 được VnDoc sưu tầm và tổng hợp, giúp các bạn học sinh lớp 9 tổng hợp kiến thức môn văn nhằm ôn thi học kì 1, ôn thi vào lớp 10 các trường THPT. Chúc các bạn ôn tập tốt và đạt kết quả cao trong các kỳ thi sắp tới. Soạn bài: Những đứa trẻ (trích Thời thơ ấu) Bố cục: – Phần 1 (từ đầu đến “ấn em nó cúi xuống”): Tình bạn thân thiết giữa bốn đứa trẻ qua những câu chuyện chúng chia sẻ cho nhau. – Phần 2 (tiếp theo đến “cấm không được đến nhà tao”): Tình bạn của những đứa trẻ bị ngăn cấm bởi ông của ba đứa trẻ nhà giàu. – Phần 3 (đoạn còn lại): Những câu chuyện và tình bạn giữa những đứa trẻ vẫn tiếp tục bất chấp sự ngăn cản. Hướng dẫn soạn bài Câu 1: Chia bài văn thành ba phần: – Phần 1: Từ đầu đến “ấn em nó cúi xuống”: Tình bạn tuổi thơ trong trắng. – Phần 2: Từ “Trời bắt đầu tối” đến “Cấm không được đến nhà tao”: Tình bạn bị cấm đoán. – Phần 3: Còn lại: Tình bạn vẫn cứ tiếp diễn. Những chi tiết xuất hiện ở phần một: Ba đứa trẻ hàng xóm, chuyện về những con chim, những câu chuyện cổ tích, chuyện về người bà hiền hậu lại xuất hiện ở phần ba tạo nên sự kết nối chặt chẽ, gây ấn tượng lắng đọng ở người đọc. Ông bà ngoại của A-li-ô-sa là hàng xóm của đại tá Ốp-xi-an-ni-cốp, nhưng hai gia đình lại có địa vị xã hội khác nhau, điều đó tạo ra bức tường ngăn cách mối quan hệ tự nhiên giữa những đứa trẻ. Nhìn sang hàng xóm, A-li-ô-sa chỉ biết “Ba đứa cùng mặc áo cánh và quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau. Chúng có khuôn mặt tròn, mắt xám và giống nhau đến nỗi tôi chỉ phân biệt được chúng theo tầm vóc”. Do tình cờ, A-li-ô-sa góp sức cứu đứa trẻ – con của gia đình đại tá rơi xuống giếng nên ba đứa trẻ nhà đại tá rủ A-li-ô-sa sang chơi. Hoàn cảnh sống thiếu tình thương đã tạo nên tình bạn trong sáng giữa các bạn nhỏ. Khi mấy đứa trẻ kể về chuyện mẹ chết, “chúng ngồi sát vào nhau giống như những chú gà con”. Hình ảnh đó rất giàu sức gợi. Câu 3: Phân tích, bình luận một số hình ảnh của ba đứa trẻ hàng xóm qua sự cảm nhận tinh tế của A – li – ô – sa. Những quan sát và nhận xét tinh tế: – Trước khi quen thên nhìn sang hàng xóm, A – li – ô – sa chỉ biết: “Ba đứa cùng mặc áo cánh và quần dài màu xám, cùng đội mũ như nhau. Chúng có khuôn mặt tròn, mắt sáng và giống nhau đến nỗi mình chủ có thể phân biệt được chúng theo tầm vóc. – Khi đại tá Ốp-xi-a-ni-cốp bất chợ xuất hiện, quát mắng thì chúng “Tức thì cả mấy đứa trẻ lặng lẽ bước ra khỏi chiếc xe và đi vào nhà, khiến mình lại nghĩ đến những con ngỗng ngoan ngoãn”. Rõ ràng chúng bị bố áp chế, lằng lặng vào nhà chẳng dám hé răng. A – li – ô – sa thông cảm với cuộc sống thiếu tình thương của các bạn nhỏ biết bao. Câu 4: Chuyện đời thường và vườn cổ tích được lồng vào nhau trong nghệ thuật kể chuyện của Gor-ki. Đoạn trích thể hiện đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện đan xen giữa chuyện dời thường và truyện cổ tích. Thông qua chi tiết về “dì ghẻ”, khi mấy đứa trẻ hàng xóm nhắc đến “mẹ khác”, A-li-ô-sa liên tưởng ngay đến nhân vật mụ dì ghẻ độc ác trong truyện cổ tích. Khi những đứa trẻ nói về “mẹ thật”, A-li-ô-sa cũng có những suy tưởng như độc thoại nội tâm, lạc ngay vào không khí truyện cổ tích. Chi tiết người bà nhân hậu cũng được kể lại bằng giọng của truyện cổ tích: “ngày trước, trước kia, đã có thời”,… Ý nghĩa – Nhận xét – Qua đoạn trích, học sinh cảm nhận được tình bạn thân thiết nảy sinh giữa Mác-xim Go-rơ-ki hồi còn nhỏ với những đứa trẻ sống thiếu tình thương bên hàng xóm, bất chấp những cản trở trong quan hệ xã hội lúc bấy giờ. – Học sinh thấy được nét đặc sắc trong ngòi bút của tác giả: Lối kể chuyện giàu hình ảnh, đan xen chuyện đời thường với truyện cổ tích. Dưới đây là bài soạn Những đứa trẻ bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 9: Những đứa trẻ Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 9 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 9 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Những đứa trẻ (trích Thời thơ ấu)
897
-CHÚC CÁC EM CÓ MỘT GIỜ HỌC VĂN VUI VẺ – SOẠN VĂN : TÔI ĐI HỌC – Thanh Tịnh- Tìm hiểu chung: – Tác giả : Thanh Tịnh ( Trần Văn Ninh) +Quê: Huế + Các tác phẩm chính : Hận chiến trường ,Quê mẹ , Ngậm ngải tìm trầm, Sức mồ hôi, Những giọt nước biển. +Những tác phẩm của ông đều toát lên vẻ đẹp dằm thắm dịu êm, trong sáng + Viết về nhiều thể loại , những thành công nhất vẫn là truyện ngắn. -Tác phẩm : +In trong tập Quê mẹ (1941) +Thể loại: Truyện ngắn ( dòng hồi tưởng) + Phương thức biểu đạt : Tự sự kết hợp cùng Miêu tả và Biểu cảm. + Truyện viết theo dòng hồi ký đầy chất trữ tình. Tìm hiểu chung. Khởi nguồn kỉ niệm : – Thời gian: Hàng ngày cứ vào cuối thu -lễ khai giảng của các em học sinh. -Không gian : + Lá rụng nhiều +Những đám mây +Những em nhỏ rụt rè núo dưới nón mẹ. -Tâm trạng tác giả: náo nức, mơn man , tưng bừng, rộn rã, cảm giác trong sáng nảy nở trong lòng. -Nghệ thuật : sử dụng các từ láy , biện pháp tu từ : Nhân hóa , So sánh . => Diễn tả niềm vui , niềm hạnh phúc tràn ngập rạo rực để làm tương lai thêm tưới sáng. => Qua các chi tiết về không gian và thời gian đã làm nhân vật ‘tôi’ trở về với tuổi thơ trong trẻo của mình. -Tâm trạng và cảm giác của nhân vật ‘tôi’ Khi cùng mẹ đến trường -Thời gian : Một buổi mai hôm ấy -Cảnh vật: + Một buổi mai đầy sương thu và gió, con đường dài hẹp. +Con đường thì quen nhưng hôm nay bỗng hóa lạ thường -Tâm trạng: Cảm thấy lạ lẫm dù đã đi qua trăm lần, tự thấy mình trang trọng đúng đắn => Diễn tả sự hồi hôp, mới mẻ trong nhân vật ‘tôi’. => Gợi lên cho người đọc một cảm xúc chung khi nhớ về ngày khai trường. Nghệ thuật : Sử dụng các biện pháp tư từ: So sánh kết hợp cùng động từ và tính từ => Diễn tẻ lên sự ngộ nghĩnh và ngây thơ của nhân vât’tôi’ b ) Khi tới trường học: -Cảnh trường :Cũng có sự thay đổi +Sân trường dày đặc người với những bộ quần áo trắng sạch sẽ =) Tưng bừng, náo nức,rộn rã. Tâm trạng trước và sau : +Lúc chưa đi học: là một nơi xa lạ ,không có cảm tưởng, ấn tượng về ngôi trường. +Lúc đi học : đầy ấn tương, thấy trường học đầy xinh xắn , oai nghiêm ,nhưng lòng đâm lo sợ vẩn vương. -Tâm trạng lúc bấy giờ : Lo sợ vẩn vơ, ngập ngùng, e sợ, chở lên vụng về, lúng túng. -Nghệ thuật : so sánh => sự miêu tả hết sức sinh động thể hiện rõ những hình ảnh và tâm trạng của các em nhỏ ngày đầu tới trường. c ) Khi sắp xếp hàng và nghe ông đốc nói : -Khi xếp hàng : + Cảm thấy chơ vơ vì xung quanh là những cậu bé cũng lúng túng như mình. -Khi ông đốc gọi tên từng người. +Tim như ngừng đập => lo lắng , sợ hãi +Giật mình và lúng túng +Cảm thấy người mình nặng nề 1 các kì lạ +Òa khóc nức nở trong lòng me. => Nhân vật ‘tôi’ vừa lo sơ, vừa sung sướng khi thấy mình đã lớn. d ) Khi bước vào lớp học – Trong lớp : + Có mùi hương lạ, cảm thấy vừa lạ vừa hay +Nhận bàn ghế và lạm nhận đó là vật riêng của mình + Thấy quyến luyến với bạn mới dù không hề quen biết. -Khi ngồi vào bàn và nghe thầy giảng dạy. +Không có cảm giác sợ sệt, xa lạ khi ngòi với bạn không quen thân. +Sự quyến luyện bất ngờ không dám tin vào sư thật. + Nhìn ra cửa sổ thấy chim liệng , hót, bay +Đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim tự do. +Tiếng phấn của thầy gọi về với cảnh thưc -> Tập trung học bài. => Gợi lên kỷ niệm cùng bạn bắt chim trong tâm trí ‘tôi’. => Cảm giác nhân vật ‘tôi’ hết sức trong sáng, chân thực , đan xen lạ và quen. * Lưu ý thêm : Tình cảm của mọi người với các em nhỏ + Phụ huynh : ân cầm , chăm lo => rất yêu thương và đồng cảm với đứa con của mình. +Ông đốc: trìu mến ,ân cần, thương yêu ,đầy thông cảm và hiền. => một người thầy nhân hậu , yêu thương trẻ con hết lòng. Tổng Kết -Nghệ thuật :+ Bố cục độc đáo + Hình ảnh thiên nhiên đầy sức gợi hình gợi cảm +Ngôn ngữ, hình ảnh so sánh giàu sức gợi mang ý nghĩa tượng trưng. + Kết hợp hài hòa giữa kể, tả , bộc lộ cảm xúc. -Nội dung: Buổi tựu trường đầu tiên sẽ mãi mãi không bao giờ quên trong tâm trí tác giả.
Soạn bài_ Tôi đi học ngữ văn lớp 8
809
Soạn bài: Tập đọc Buôn Chư Lênh đón cô giáo Hướng dẫn A. KỸ NĂNG ĐỌC DIỄM CẢM – Phát âm chuẩn xác các từ ngữ sau: Chư Lênh, buôn, Y Hoa, Rok, xoa tay. – Đọc rõ ràng lưu loát, ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Thay đổi ngữ điệu cho phù hợp với từng nhân vật. Nhấn giọng ở những động từ, tính từ có trong bài thể hiện sự trang nghiêm, long trọng khi buôn làng đón cô giáo. Hồ hởi, phấn khởi khi buôn làng xem cái chữ của cô giáo. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Cô giáo Y Hoa đến buôn Chư Lênh để làm gì? Trả lời: Cô giáo Y Hoa đến buôn chư lênh để mở trường, dạy cho buôn làng, con em buôn làng học chữ. Câu 2: Người dân Chư Lênh đón tiêp cô giáo trang trọng và thân tình như thế nào? Trả lời: Người dân Chư Lênh đón tiếp cô giáo rất trang trọng và cũng rất thân tình. Cụ thể là: Cả buôn làng đến chật ních cả sân, quần áo như đi dự hội. Họ trải những tấm lông thú từ đầu cầu thang đến cửa bếp giữa nhà sàn cho cô giáo đi. Già làng đứng ở giữa sàn nhà đón cô giáo, trao cho cô giáo một con giao để chém một nhát vào cây cột, thực hiện một lời thề để trở thành là người của buôn theo nghi lễ của buôn làng. Câu 3: Những chi tiết nào cho thấy dân làng rất háo hức chờ đợi và yêu quý “cái chữ”? Trả lời: Đó là những chi tiết: -Mọi người ùa theo già làng đề nghị cô giáo cho xem “cái chữ”. -Mọi người im phăng phắc theo dõi Y Hoa viết chữ. -Khi Y Hoa viết xong, mọi người đều đồng thanh reo hò. Câu 4: Tình cảm của người Tây Nguyên với cô giáo, với cái chữ nói lên điều gì? Trả lời: Tinh cảm của người Tây Nguyên với cô giáo, với cái chữ nói lên: nguyện vọng tha thiết muốn học chữ để hiểu biết hơn, thoát khỏi cái dốt, cái lạc hậu. Có được cái chữ sẽ mỏ mang được trí tuệ, tiếp nhận được khoa học kĩ thuật, nhờ đó mà thoát được cái nghèo, cái lạc hậu, buôn làng được ấm no, hạnh phúc. * Nội dung chính: Tình cảm yêu quý của buôn làng Chư Lểnh – Tây Nguyên đối với cô giáo, với cái chữ, thể hiện nguyện vọng tha thiết muốn được học để xây dựng buôn làng ấm no hạnh phúc.
Soạn bài_ Tập đọc Buôn Chư Lênh đón cô giáo
428
Soạn bài: Tập đọc Bài ca về Trái Đất Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Phát âm đúng chuẩn xác từng từ, từng dòng thơ. -Tốc độ đọc hơi nhanh. -Âm điệu vui tươi, hồn nhiên. -Nhịp thơ, nhìn chung là nhịp 3/4. -Nhấn giọng ở những từ có giá trị gợi tả, gợi cảm (tính từ, động từ). B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Hình ảnh trái đất có gì đẹp? Trả lời: Hình ảnh trái đất thật đẹp, thật thơ mộng, giống như quả bóng xanh bay giữa bầu trời xanh, có tiếng chim bồ câu gọi bạn, có cánh hải âu vờn sóng biển nô đùa. Câu 2: Em hiểu hai câu thơ cuối khổ 2 nói gì? Trả lời: Hai câu thơ cuối khổ thơ thứ 2 “Màu hoa nào cũng quí, cũng thơm; Màu hoa nào cũng quí, cũng thơm”, ý nói: Khẳng định một điều mỗi loài hoa đều có những vẻ đẹp riêng. Tất cả đều đẹp và quí. Cũng như trên hành tinh chúng ta, tuy khác nhau về màu da nhưng đều bình đẳng, đều đáng yêu và đáng quí như nhau. Câu 3: Chúng ta phải làm gì để giữ bình yên cho trái đất? Trả lời: Để giữ bình yên cho trái đất, chúng ta phải đoàn kết lại, kiên quyết chống chiến tranh hạt nhân. Chỉ có hòa bình, trái đất mới có tiếng hát, tiếng cười, trái đất mới trẻ mãi không già, nhân loại mới có cuộc sống tươi vui hạnh phúc.
Soạn bài_ Tập đọc Bài ca về Trái Đất
244
Soạn bài: Tập đọc Ca dao về lao động sản xuất Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Ba bài ca dao đều được sáng tác theo thể thơ lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc. Âm điệu chung của cả ba bài là âm điệu nhẹ nhàng, tha thiết, tình cảm. Nhịp điệu 2/2/2 – 4/4 là phổ biến. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Tìm những hình ảnh nói lên nỗi vất vả, lo lắng của người nông dân trong sản xuất? -Trả lời -Nỗi vất vả của người nông dân được thể hiện qua những hình ảnh: + Cày đồng vào buổi trưa; Mồ hôi đổ ra như mưa. + Có được bát cơm đầy dẻo thơm người dân phải trải qua bao nhiêu là đắng cay, gian khổ. -Nỗi lo lắng của người nông dân được thể hiện qua những hình ảnh: + Đi cấy mà còn phải trông nhiều bề: trông trời, trông đất, trông mây; trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm; Trông cho chân cứng đá mềm; Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng. Câu 2: Những câu nào thể hiện tinh thần lạc quan của người nông dân? -Trả lời: Đó là những câu: Công lềnh chẳng quản lâu đâu Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng. Câu 3: Tìm những câu ứng với mỗi nội dung dưới đây: a)Khuyên nông dân chăm chỉ cấy cày. b)Thể hiện quyết tâm trong lao động sản xuất. c)Nhắc người ta nhớ ơn người làm ra hạt gạo. a)Ứng với nội dung (a): Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu. b)Ứng với nội dung (b): Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng. c)Úng với nội dung (c): Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. * Nội dung chính: Ca ngợi công việc vất vả, khó nhọc trên đồng ruộng của người nông dân và khuyên mọi người hãy trân trọng, nhớ ơn những người đã làm ra hạt gạo nuôi sống cả xã hội.
Soạn bài_ Tập đọc Ca dao về lao động sản xuất
329
Soạn bài: Tập đọc Chuyện một khu vườn nhỏ Hướng dẫn A.Kĩ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng các từ ngữ sau: rất khoái, rủ ri, quỳnh, dày, hoa ti gôn, leo trèo, ngọ nguậy, nhọn hoắt, xòe ra, xanh biếc, líu ríu, cháu. -Giọng đọc phù hợp với nội dung lời nói của từng nhân vật. Ngừng nghỉ đúng chỗ các dấu câu, tốc độ đọc vừa phải rõ ràng. Nhấn giọng ở những động từ chỉ hành động, những tính từ chỉ đặc điểm tính chất. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Bé Thu thích ra ban công để làm gì? Trả lời: Bé Thu rất thích ra ban công để ngắm nhìn cây cối, nghe ông kể chuyện về từng loài cây trồng ở ban công. Câu 2: Mỗi loài cây trên ban công nhà bé Thu có những đặc điểm gì nổi bật? Trả lời: Mỗi loài cây trên ban công nhà bé Thu đều có những đặc điểm riêng: –Cây quỳnh: lá dày, giữ được nước. -Cây hoa ti gôn: thích leo, cứ thò những cái râu ra theo gió ngọ nguậy như những cái vòi voi bé xíu. -Cây hoa giấy: bị vòi hoa ti gôn quấn chặt nhiều vòng. -Cây đa Ấn Độ: liên tục bật ra những búp đỏ hồng nhọn hoắt, xòe những lá nâu to. Câu 3: Vì sao khi thấy chim về đậu ở ban công, Thu muốn báo ngay cho Hằng biết? Trả lời: Vì Thu muốn khẳng định với Hằng rằng: ban công của nhà Thu cũng là vườn chứ không phải như Hằng nói là ban công nhà Thu không phải là vườn. Trả lời: Theo em hiểu “Đất lành chim đậu” nghĩa là chỗ nào tốt đẹp, thanh bình có nhiều hoa trái, dễ sinh sống thì sẽ có chim về đậu, con người sẽ tìm đến để ở, làm ăn. * Nội dung chính: Tình yêu đối với cảnh vật, thiên nhiên của hai ông cháu. Ai cũng muốn làm cho môi trường sống xung quanh mình ngày một đẹp thêm lên.
Soạn bài_ Tập đọc Chuyện một khu vườn nhỏ
332
Soạn bài: Tập đọc Chuỗi ngọc lam Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Âm điệu chung của toàn bài là âm điệu kể chuyện. Vì vậy, cần đọc thong thả, rõ ràng, luôn thay đổi ngữ điệu phù hợp với tính cách của từng nhân vật. -Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Lên giọng, xuống giọng phù hợp với câu hỏi, câu cảm, câu kể trong bài. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1-Phân đoạn: Có thể chia bài văn làm hai đoạn để luyện đọc: -Đoạn 1: Từ đầu đến… “người anh yêu quý” (Cuộc đối thoại giữa Pi-e và cô bé). -Đoạn 2: Phần còn lại của văn bản (Cuộc đốĩ thoại giữa Pi-e và chị cô bé). -Câu chuyện gồm có ba nhân vật: cô bé, Pi-e và chị cô bé. 2-Nội dung bài Câu 1: Cô bé mua chuỗi ngọc lam để tặng ai? Em có đủ tiền mua chuỗi ngọc không? Chi tiết nào cho biết điều đó? Trả lời: -Cô bé mua chuỗi ngọc để tặng chị nhân ngày lễ Nô-en. Đó là người chị thay mẹ nuôi cô bé từ khi mẹ cô bé mất. -Cô bé không đủ tiền để mua chuỗi ngọc. -Chi tiết: “Cô bé mở khăn tay ra, đố lên bàn một nắm xu toàn bộ sô tiền mà cô bé đã đập từ con lợn đất. Chú Pi-e trầm ngâm nhìn cô bé rồi lúi húi gỡ mảnh giấy ghi giá tiền. Câu 2: Chị của cô bé tìm gặp Pi-e làm gi? Trả lời: Chị của cô bé tìm gặp Pi-e để hỏi ba điều. -Chuỗi ngọc này có phải của tiệm Pi-e không? -Chuỗi ngọc này là thật hay giả? -Giá của chuỗi ngọc này là bao nhiêu? Câu 3: Vì sao Pi-e nói rằng em bé đã trả giá rất cao để mua chuỗi ngọc? Trả lời: Vì Pi-e đã thấy được tình cảm của cô bé đối với người chị của mình. Cô bé đã đưa tất cả sô’ tiền mà mình dành dụm được từ bấy lâu nay (đập từ con lợn đất ra) để mua chuỗi ngọc tặng cho người chị thân yêu nhất trên đời của cô bé. Pi-e vô cùng cảm động trước tình cảm ấy nên mới nói như thế. Câu 4: Em nghĩ gì về những nhân vật trong câu chuyện này? Trả lời: Cả ba nhân vật trong truyện này đều là những con người tốt. Họ đều có những phẩm chất và tình cảm đáng trân trọng, đáng quý, biết sống vì nhau, biết đem lại niềm vui, hạnh phúc cho nhau: Người em thì biết công ơn sâu nặng của chị, muốn chị mình vui trong ngày lễ Nô-en, đã dốc hết số tiền tiết kiệm đế mua tặng chị một món quà. Người chị thì tần tảo thay mẹ nuôi dạy em khi mẹ qua đời. Biết em mình không có khả năng mua nổi chuỗi ngọc, muốn đem trả lại người bán. Còn Pi-e thì là một con người giàu tình nhân ái, thương người muôn đem đến cho người khác niềm vui hạnh phúc nên lặng lẽ gỡ giấy ghi giá tiền đế cô bé mua được chuỗi ngọc tặng chị.
Soạn bài_ Tập đọc Chuỗi ngọc lam
517
Soạn bài: Tập đọc Cái gì quý nhất Hướng dẫn A- Kĩ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng chuẩn xác các từ ngừ sau: quý nhất, trao đổi, nhau, reo lên, vàng bạc, tranh luận, sôi nổi. -Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Dấu phẩy nghỉ ngắn, dấu chấm nghỉ dài hơn. -Giọng đọc như người kể chuyện, thong thả, từ từ, rành mạch rõ ràng. Thay đổi ngữ điệu cho phù hợp với nội dung câu nói của từng nhân vật trong đối thoại. B- TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Theo Hùng, Quý, Nam cái gì quý nhất trên đời? Trả lời: -Hùng thì cho rằng lúa gạo là quý nhất. -Quý thì khẳng định vàng là quý nhất. -Nam thì không tán đồng ý kiến của hai bạn và cho rằng thì giờ mới là quý nhất. Câu 2: Mỗi bạn đưa ra lí lẽ như thế nào để bảo vệ ý kiến của mình? Trả lời: Mỗi bạn đều có những lí lẽ riêng để bảo vệ ý kiến của mình: -Lí lẽ của Hùng: lúa gạo nuôi sống con người. -Lí lẽ của Quý: có vàng là có tiền, có tiền mua được lúa gạo. -Lí lẽ của Nam: có thì giờ mới làm ra được lúa gạo, vàng bạc. Câu 3: Vì sao thầy giáo cho rằng người lao động là quý nhất? Trả lời: Sau khi khẳng định những cái mà Nam, Hùng, Quý đưa ra là đúng, lập luận có cơ sơ, có lí: lúa gạo, vàng bạc, thì giờ đều quý cả nhưng chúng chưa phải là cái quý nhất. Câu 4: Chọn tên khác cho bài văn và nêu lí do sao em chọn tên đó. Trả lời: (Tùy theo cảm nhận của từng em về câu chuyện trên mà đặt tên cho phù hợp và nêu lí lẽ của mình để bảo vệ tiêu đề mà mình đặt). Ví dụ em đặt tên câu chuyện là: “Người lao động là quý nhất”. Vì qua cuộc tranh luận của các nhân vật, cuối cùng bài văn kết luận: Người lao động là quý nhất. Hoặc em đặt tên: “Cuộc tranh luận bổ ích”. Vì câu chuyện kế lại một cuộc tranh luận rất bổ ích cho nhiều người. Tuy mỗi người đều có cái lí của mình cả. Nhưng cuối cùng đều thống nhất chung về một nhận thức giúp cho mỗi người có thêm nhận thức mới toàn diện hơn, đầy đủ hơn. * Nội dung chính: Khi tranh luận mỗi người đều có lí lẽ bảo vệ cho nhận thức quan điểm của mình nhưng không bảo thủ mà cần tiếp nhận những ý kiến mới. Nếu ý kiến đó giàu sức thuyết phục, có lí, có tình.
Soạn bài_ Tập đọc Cái gì quý nhất
442
Soạn bài: Tập đọc Hành trình của bầy ong Hướng dẫn A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Bài thơ được sáng tác theo thế lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc. Âm điệu chung của toàn bài là nhẹ nhàng, êm ái, khoan thai theo nhịp 2/2/2 – 4/4. Lưu ý các dòng thơ sau đây: Nối rừng hoang / với biển xa – 3/3 Đất nơi đâu / cũng tìm ra ngọt ngào – 3/5 Lặng thầm thay / những con đường ong bay – 3/5 Những mùa hoa / đã tàn phai tháng ngày – 3/5 -Nhấn giọng ở những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt động của bầy ong. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1-Phân đoạn: Chia làm ba đoạn để luyện đọc: -Đoạn 1: Khố thơ đầu: Ý nói: Sự kiên nhẫn của bầy ong trong cuộc hành trình vô tận của mình. -Đoạn 2: Khổ thứ 2, 3: Ý nói: Những nẻo đường và những miền đất trong cuộc hành trình tìm hoa, hút nhụy của bầy ong. -Đoạn 3: Khố thơ cuối: Ý nói: Giá trị của sản phẩm mà bầy ong đem đến cho con người trong cuộc hành trình gian khổ của mình. 2-Nội dung bài Câu 1: Những chi tiết nào trong khố thơ đầu nói lên hành trình vô tận của bầy ong? Trả lời: Đó là những chi tiết: -Đôi cánh đẫm nắng trời, bay đến trọn đời, nẻo đường xa, thời gian vô tận. Câu 2: Bầy ong đi tìm mật ở những nơi nào? Nơi ong đến có vẻ đẹp gì đặc biệt? Câu 3: Em hiểu nghĩa câu thơ “Đất nơi đâu cũng tìm ra ngọt ngào” thế nào? Trả lời: Em hiểu câu thơ “Đất nơi đâu cũng tìm ra ngọt ngào” là có ý ca ngợi bầy ong chăm chỉ, cần cù, giỏi giang, đến nơi đâu ong cũng tim được hoa làm mật, đem lại hương vị ngọt ngào cho cuộc sống con người và cho chính loài ong. Câu 4: Qua hai câu thơ cuối bài, tác giả muôn nói điều gì về công việc của loài ong? Trả lời: Tác giả muốn nói đến công việc chế biến tài tình từ nhụy hoa thành ra một sản phẩm gọi là mật. Mật là vị ngọt, là hương thơm của hoa. Dù mùa hoa đã tàn mà mật vẫn còn đó, nghĩa là mùa hoa vẫn tồn tại với con người không bao giờ tàn phai. * Nội dung chính: Ca ngợi những phẩm chất đáng quý của loài ong, cần cù tìm hoa hút nhụy làm mật, giữ hộ cho con người hương vị của các mùa hoa đã tàn phai để lại hương thơm vị ngọt cho đời.
Soạn bài_ Tập đọc Hành trình của bầy ong
439
Soạn bài: Tập đọc Hạt gạo làng ta Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa được sáng tác theo thể thơ bốn chữ, mang âm hưởng của những bài đồng dao. Nhịp thơ chủ yếu ngắt theo từng dòng thơ biểu hiện những cảm xúc hồn nhiên, tươi mát của trẻ thơ. Tuy vậy khi đọc cũng cần chú ý những dòng thơ ý chưa trọn mà phải “vắt” sang những dòng thơ sau ý thơ mới hoàn chỉnh được. Cấu tứ mang phong vị của thể thơ “vắt dòng”. Cho nên, tùy thuộc vào ý thơ để có cách ngắt nhịp thích hợp với từng dòng thơ, khổ thơ. – Ví dụ khổ thơ (1): Các dòng 2, 4, 6 đọc vắt luôn sang dòng thơ sau. Khố thơ thứ 3 dòng 2, 4, 6, 8 đọc vắt luôn sang dòng thơ kế tiếp. Khổ thơ 4 dòng 1, 2, 3 đọc vắt luôn. Nhưng hai câu thơ cuối thì ngắt ra thành từng nhịp: Em vui / em hát / Hạt vàng / làng ta B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Đọc khổ thơ 1, em hiểu hạt gạo được làm nên từ những gì? Trả lời: Hạt gạo được làm từ thiên nhiên và con người: từ vị phù sa bồi đắp cho ruộng đồng màu mờ phì nhiêu, từ nước hồ sen tưới cho lúa tươi tốt, từ tình cảm và công sức củavcon người (người mẹ) một nắng hai sương đổ ra trên đồng ruộng. Câu 2: Những hình ảnh nào nói lên nỗi vất vả của người nông dân? Trả lời: Đó là những hình ảnh: -Giọt mồ hôi sa. -Những trưa tháng sáu. -Nước như ai nấu. -Chet ca cá cờ. -Cua ngoi lên bờ. -Mẹ em xuống cấy. Câu 3: Tuổi nhỏ đã góp công sức như thế nào để làm ra hạt gạo? Trả lời: Tuổi nhỏ đã cùng với người mẹ, người chị và các thế hệ khác ở lại hậu phương ra sức thi đua lao động sản xuất để làm ra hạt gạo tiếp tế cho chiến trường. Không kể sáng, trưa, chiều, tuổi nhỏ luôn có mặt ở ngoài đồng ruộng chống hạn, bắt sâu, gánh phân bón lót, bón thúc, làm cỏ… góp công sức làm ra hạt gạo. Câu 4: Vì sao tác giả gọi hạt gạo là “hạt vàng”? Trả lời: Hạt gạo được gọi là hạt vàng, vì hạt gạo rất quý. Có được hạt gạo, con người phải đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt “một nắng hai sương” trên đồng ruộng mới làm ra được hạt gạo. Do đó, tác giả mới đem so sánh hạt gạo với hạt vàng và gọi hạt gạo là hạt vàng. * Nội dung chính: Hạt gạo là sự kết tinh của cả máu, mồ hôi, nước mắt và trí tuệ của con người. Hạt gạo chính là hạt vàng.
Soạn bài_ Tập đọc Hạt gạo làng ta
473
Soạn bài: Tập đọc Kì diệu rừng xanh Hướng dẫn A- KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng các từ ngữ sau: kì diệu, rừng xanh, loanh quanh, lúp xúp, sặc sỡ, kiên trúc, vương quốc, vượn bạc má, chuyền, len lách. -Ngừng nghỉ đúng chỗ các dấu câu. Tốc độ đọc vừa phải. Nhấn giọng ở những động từ, tính từ. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Những cây nấm rừng đã khiến tác giả có những liên tưởng thú vị gì? Nhờ những liên tưởng đó mà cảnh vật đẹp thêm như thế nào? Trả lời: Những cây nấm rừng đã khiến tác giả liên tưởng những đám nấm dại như một thành phố nấm. Mỗi chiếc nấm là một lâu đài kiến trúc tân kì. Còn mình thì như một người khổng lồ đi lạc vào kinh đô của vương quốc những người tí hon với những đền đài, miếu mạo, cung điện lúp xúp dưới chân. -Nhờ những liên tưởng đó mà cảnh vật đẹp lên một cách huyền ảo và lộng lẫy. Câu 2: Những muông thú trong rừng được miêu tả như thế nào? Sự có mặt của chúng mang lại vẻ đẹp gì cho cảnh rừng? Trả lời: Những muông thú trong rừng được miêu tả thật cụ thể, sinh động: “Những con vượn bạc má ôm con gọn ghẽ chuyền nhanh như tia chớp. Những con chồn sóc với chùm lông đuôi to đẹp vút qua không kịp đưa mắt nhìn theo. Những con mang vàng đang ăn cỏ non, chân giẫm trên thảm lá vàng”. -Sự có mặt của chúng làm cho cảnh rừng thêm sống động và tạo nên những điều bất ngờ thú vị hơn, khiến cho con người muôn tìm hiểu, khám phá hơn những gì bí ẩn của cảnh rừng. Câu 3: Vì sao rừng khộp được gọi là “giang sơn vàng rơi”? Trả lời: Rừng khộp được gọi là “giang sơn vàng rơi” là vì nhìn vào rừng khộp, tác giả chỉ thấy một màu vàng trùm lên rừng khộp: lá úa vàng như cảnh mùa thu, mấy con mang vàng hòa cùng với màu vàng của lá đang ăn cỏ, sắc nắng cũng rực vàng trên lưng nó. Câu 4: Hãy nói cảm nghĩ của em khi đọc đoạn văn. Trả lời: Đây là một đoạn văn được viết theo thể tả cảnh: vẻ đẹp kì vĩ của một cánh rừng. Tác giả đã sử dụng hàng loạt những động từ, tính từ chỉ màu sắc của cảnh vật, nhằm đem đến cho chúng ta một bức tranh thiên nhiên vừa cụ thể, vừa kì bí. Ước gì có một lần nào đó, em được cùng bạn bè vui chơi trong cánh rừng khộp này, được tận mắt nhìn thấy những con vượn bạc má, những con chồn, con mang lượn qua lượn lại trước mắt mình thi thú vị biết bao nhiêu. Thiên nhiên thật là đẹp. * Nội dung chính: vẻ đẹp kì thú của cảnh rừng và tình yêu của tác giả đối với cảnh vật thiên nhiên.
Soạn bài_ Tập đọc Kì diệu rừng xanh
502
Soạn bài: Tập đọc Lòng dân (tiếp theo) Hướng dẫn A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM – Đọc đúng văn bản kịch. – Phân biệt lời nói, giọng điệu của từng nhân vật. – Ngữ điệu của từng nhân vật. Ngữ điệu phù hợp với từng kiểu câu: câu kể, câu hỏi, câu khiến, câu cảm. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: An đã làm cho bọn giặc mừng hụt như thế nào? Trả lời: An trả lời tụi lính ông này (chỉ người cán bộ) không phải tía, làm cho bọn chúng cứ tưởng An sợ sẽ khai thật. Nhưng không ngờ An cũng là một cậu bé dũng cảm, thông minh như mẹ mình. An nói tiếp: Cháu.. kêu bằng ba, chứ hổng phải tía, làm cho bọn chúng cụt hứng, trơ trẽn. Câu 2: Những chi tiết nào trong đoạn kịch cho thấy dì Năm ứng xử rất thông minh? Trả lời: Đó là những chi tiết: + Giả vờ hỏi chú cán bộ để giấy tờ chỗ nào. + Lấy giấy tờ của chồng (thật), nói tên tuổi của chồng, tên bố chồng để người cán bộ biết mà nói theo khi bọn giặc có hỏi để trả lời. Câu 3: Vì sao vở kịch được đặt tên là Lòng dân? Trả lời: Vở kịch được đặt tên là Lòng dân vì: Vở kịch đã thể hiện tấm lòng vì cách mạng của người dân. Người dân sẵn sàng hi sinh vì cách mạng.
Soạn bài_ Tập đọc Lòng dân (tiếp theo)
236
Soạn bài: Tập đọc Lòng dân Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng văn bản kịch. Giọng đọc phù hợp với từng nhân vật. – Tuyệt đối không đọc với giọng điệu đều đều. Tùy vào tính cách, thái độ, cử chỉ hành động… để có ngữ điệu đọc thích hợp với từng nhân vật, tình huống kịch. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Chú cán bộ gặp chuyện gì nguy hiểm? Trả lời: Chú cán bộ bị giặc rượt đuổi ráo riết. Bí quá, chú đành chạy vào nhà dì Năm. Câu 2: Dì Năm đã nghĩ ra cách gì để cứu chú cán bộ? Trả lời: Trong lúc nguy kịch, dì Năm đã nhanh trí đưa cho chú cán bộ một cái áo để thay để kẻ địch không nhận ra chú. Đồng thời dì bảo chú ngồi xuống chõng ăn cơm tự nhiên giống như chồng của dì vậy. Câu 3: Chi tiết nào trong đoạn kịch làm em thích thú nhất? Vì sao? Trả lời: (Em có thể chọn tùy ý chi tiết nào mà mình thích). Nếu em chọn chi tiết dì Năm trả lời tên cai nhận chú cán bộ là chồng. + Chồng tui – Thằng này là con. Em thích vì: Dì trả lời một cách tự nhiên, không hề ngần ngại. Lại còn khẳng định. + Dạ, chồng tui. Hoặc nếu em chọn chi tiết: + Mấy cậu… để tui. Là vì: Lũ giặc tưởng dì sợ chúng bắn chết sẽ khai ra. Nhưng không ngờ dì chấp nhận cái chết, chỉ xin được căn dặn con mấy điều trước lúc chết. Hành động bình tĩnh, dũng cảm, thông minh ấy đã làm cho bọn địch từ lúng túng đến trơ trẽn.
Soạn bài_ Tập đọc Lòng dân
277
Soạn bài: Tập đọc Mùa thảo quả Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Đây là một bài văn miêu tả độc đáo và hay. Dưới ngòi bút của nhà văn Ma Văn Kháng, mùa thảo quả hiện lên thật sinh động đẹp như một bức tranh phong cảnh. Thảo quả là một loài cây đặc sản của rừng Việt Bắc được mô tả một cách đầy đủ, sắc sáo với tất cả những đặc điểm về quá trình phát triển, ra hoa, kết trái của loài cây quý hiếm này. Khi đọc, em cần đọc rõ ràng, lưu loát. Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dâu câu. Nhấn giọng ở những từ ngữ chỉ đặc điểm tính chất của sự vật. Tốc độ vừa phải. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1-Phân đoạn: Bài văn chia ra làm ba đoạn để luyện đọc. -Đoạn 1: Từ đầu đến “nếp khan”. -Đoạn 2: Từ “Thảo quả trên rừng” đến… “không gian”. -Đoạn 3: Phần còn lại cua văn bản. 2- Nội dung bài Câu 1: Thảo quả báo hiệu vào mùa bằng cách nào? Trả lời: Thảo quả báo hiệu vào mùa bằng mùi thơm đặc biệt lan xa, thấm vào vạn vật: gió thơm, cây cỏ thơm, đất trời thơm, con người thơm. Câu 2: Cách dùng từ, đặt câu ở đoạn đầu có gì đáng chú ý. Trả lời: Từ hương và từ thơm được lặp lại nhiều lần biểu hiện thảo quả có một mùi hương thật đặc biệt và rất quý. Chính mùi hương này mà thảo quả được dùng làm hương liệu chế dầu thơm, nước hoa, làm thuốc, làm men rượu, làm gia vị. Khi nói đến hương thơm, tác giả đã sử dụng một loạt câu đơn ngắn gọn nhằm khẳng định những giá trị đặc biệt của cây thảo quả. Trả lời: Đó là những chi tiết: -Qua một năm, đã lớn cao tới bụng người. Một năm sau nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới, sinh sôi manh mẽ. Thoáng cái, thảo quả sầm uất từng khóm râm, vươn ngọn, xòe lá, lấn chiếm không gian. Câu 4: Hoa thảo quả nảy ra ở đâu? Trả lời: Hoa thảo quả nảy ra ở dưới gốc cây. Câu 5: Khi thảo quả chín, rừng có những nét đẹp gì? Trả lời: Khi thảo quả chín, rừng có một vẻ đẹp kì lạ, hấp dẫn. Thảo quả tỏa ra một mùi hương ngào ngạt, ngây ngất đồng thời làm cho cánh rừng như rực hồng lên bởi màu đỏ chót như chứa lửa, chứa nắng của thảo quả. Rừng đẹp như một bức tranh lộng lẫy hấp dẫn, vui mắt. * Nội dung chính: vẻ đẹp đặc biệt của rừng thảo quả khi thảo quả chín rộ và hương thơm kì lạ của loài cây quý hiếm này.
Soạn bài_ Tập đọc Mùa thảo quả
459
Soạn bài: Tập đọc Một chuyên gia máy xúc Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng chuẩn xác các từ ngữ sau: chuyên gia, máy xúc, hòa sắc, êm dịu, quay ra, máy, ngoại quốc, lần lượt, A-lêch-xây, lắc, thắm thiết. -Giọng đọc nhẹ nhàng, thoải mái, như đang kể chuyện. Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu nhằm diễn đạt rõ ràng đúng ý, đúng cảm xúc. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Anh Thủy gặp A-lêch-xây ở đâu? Trả lời: Anh Thủy gặp A-lêch-xây tại một công trường xây dựng. Câu 2: Dáng vẻ của A-lêch-xây có gì đặc biệt khiến anh Thủy chú ý? Trả lời: Điều làm cho anh Thủy đặc biệt chú ý đến A-lêch-xây là ở chỗ: Anh là người ngoại quốc có dáng vóc to lớn, mái tóc vàng óng ửng lên như một mảng nắng. Bộ quần áo màu xanh công nhân bó chặt một thân hình chắc, khỏe, khuôn mặt to chất phác. Câu 3: Cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn đồng nghiệp diễn ra như thế nào? Trả lời: Cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn đồng nghiệp diễn ra một cách thoải mái, tự nhiên, cỏi mở và thân tình. + Nhìn nhau một cách thân thiện, gần gũi (A-lêch-xây nhìn tôi bằng đôi mắt sâu và xanh, mỉm cười hỏi). + Đối thoại với nhau bằng những lời lẽ cỏi mở chân tình (- Đồng chí làm nghề máy xúc bao nhiêu năm rồi?) Câu 4: Chi tiết nào trong bài khiến em nhớ nhất? Vì sao? Trả lời: (Tùy cảm nhận riêng của từng em về một chi tiết nào đó có trong bài và nói lên được vì sao mình thích chi tiết đó là được). Ví dụ em thích chi tiết: “Thế là A-lêch-xây đưa bàn tay vừa to vừa chắc ra nắm lấy bàn tay đầy dầu mỡ của tôi lắc mạnh và nói”. Em thích chi tiết này là vì sự gãn gỡ của hai đồng nghiệp tuy ở hai phương trời khác nhau nhưng đầy thân thiện, cởi mở, chân tình, tự nhiên, tình cảm thể hiện tình hữu nghị giữa hai dân tộc. * Nội dung chính: Tình cảm chân thành của một chuyên gia nước bạn với một công nhân Việt Nam, biểu hiện của tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Soạn bài_ Tập đọc Một chuyên gia máy xúc
379
Soạn bài: Tập đọc Nghìn năm văn hiến Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng các từ ngữ: nghìn năm, văn hiến, Văn Miếu Quốc Tử Giám, triều, vua, Thiên Quang, muỗm già. -Ngừng nghỉ đúng chỗ các dấu câu. -Nhấn giọng ở những từ ngữ: đầu tiên, ngạc nhiên lấy đỗ gần 3000 tiến sĩ, chứng tích, văn hiến lâu đời. -Tốc độ đọc: thong thả, chậm rãi, rõ ràng. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Đến thăm Văn Miếu, khách nước ngoài ngạc nhiên về điều gì? Trả lời: Khách nước ngoài ngạc nhiên khi biết rằng từ năm 1075, nước ta đã mở khoa thi tiến sĩ. Ngót 10 thế kỉ, tính từ khoa thi 1075 đến khoa thi cuôi cùng vào năm 1919, các triều vua Việt Nam đã tố chức được 185 khoa thi, lấy đỗ gần 3000 tiến sĩ. Câu 2: Hãy đọc và phân tích bảng sô liệu thống kê theo các mục sau: a)Triều đại nào tổ chức nhiều khoa thi nhất? Trả lời: Đó là triều đại nhà Lê, có tới 104 khoa thi. b)Triều đại nào có nhiều tiến sĩ nhất? Trả lời: Đó là triều đại nhà Lê, có tới 1780 tiến sĩ. Câu 3: Bài văn giúp em hiểu điều gì về truyền thông văn hóa Việt Nam? Trả lời: Bài văn cho em thấy được: Đất nước Việt Nam là một đất nước có một nền văn hiến lâu đời. Đất nước ấy rất coi trọng sự học. Chúng ta tự hào về truyền thống ấy.
Soạn bài_ Tập đọc Nghìn năm văn hiến
246
Soạn bài: Tập đọc Ngu công xã trịnh tường Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Toàn bài đọc với giọng điệu của một người đang kể chuyện. Đọc thong thả, rõ ràng từng câu chữ. Ngừng nghỉ đúng chỗ các dấu câu. Nhấn giọng ở những từ ngữ thể hiện quyết tâm của ông Lìn trong cuộc sống chống đói nghèo lạc hậu. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1-Phân đoạn: Có thể chia bài làm ba phần để luyện đọc: -Phần 1: Từ đầu đến… “Vỡ thêm đất hoang trồng lúa”. -Phần 2: Từ “con nước nhỏ” đến… “như trước nữa”. -Phần 3: Phần còn lại của văn bản. 2-Nội dung bài Câu 1: Ông Lìn đã làm thế nào để đưa được nước về thôn? -Trả lời: Để đưa được nước về thôn, ông Lìn đã lần mò cả tháng trong rừng tìm nguồn nước. Tìm được nguồn nước, ông cùng vợ con đào suốt một năm trời được bốn cây số mương xuyên đồi dẫn nước từ rừng già về thôn. Câu 2: Nhờ có mương nước, tập quán canh tác và cuộc sống ở thôn Phin Ngan đã thay đổi như thế nào? -Trả lời: Nhờ có mương nước, đồng bào Phìn Ngan đã thay đổi tập quán canh tác: không làm mương như trước mà trồng lúa nước, trồng lúa cao sản, năng suất, sản lượng cao, không còn hộ đói. Đặc biệt là nạn phá rừng đã được chấm dứt. Cuộc sống của người dân ngày một phát triển. -Trả lời: Để giữ rừng, bảo vệ dòng nước, ông Lìn đã lặn lội đến các xã bạn học cách trồng cây thảo quả và hướng dẫn cho bà con cùng làm. Câu 4: Câu chuyện giúp em hiểu điều gì? Trả lời: Câu chuyện đã giúp em hiểu ra nhiều điều trong cuộc sống. -Muốn chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, muốn có cuộc sống ấm no hạnh phúc, phải có ý chí, quyết tâm, phải suy nghĩ, sáng tạo tìm biện pháp tốt nhất để thay đổi cách làm ăn cổ lổ, lạc hậu trong hiện tại; tìm đến với cách làm tiên tiến, khoa học. Đồng thời phải học tập cách làm ăn tốt ở những nơi khác về áp dụng cho nơi mình; vận động mọi người cùng tham gia. Chỉ có như vậy mới mong có được cuộc sống hạnh phúc. * Nội dung chính: Ca ngợi tinh thần dám nghĩ, dám làm của ông Lìn đã thay đổi tập quán làm ăn của một vùng. Nhờ vậy mà đã làm thay đổi cuộc sống từ nghèo đói vươn lên ấm no hạnh phúc của đồng bào dân tộc một vùng cao.
Soạn bài_ Tập đọc Ngu công xã trịnh tường
434
Soạn bài: Tập đọc Người gác rừng tí hon Hướng dẫn A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Âm điệu toàn bài là giọng kể, thong thả, chậm rãi, rõ ràng từng câu, từng đoạn. Duy chỉ có đoạn kể về hành động mưu trí, dũng cảm của cậu bé khi phát hiện ra phá hoại rừng thì đọc với tốc độ khẩn trương, giọng điệu hồi hộp nhằm bộc lộ đúng nội dung của nó. -Ngừng nghỉ đúng các dấu câu có trong bài. Nhấn giọng ơ những từ ngữ chỉ hành động của các nhân vật. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1-Phân đoạn: Văn bản có thể chia ra làm ba phần để luyện đọc. -Phần 1: Gồm đoạn 1, 2 (Từ đầu đến “đánh xe ra bìa rừng chưa?) -Phần 2: Gồm đoạn 3 (Từ “Qua kẽ lá” đến… “thu lại gỗ”) -Phần 3: Gồm hai đoạn còn lại của văn bản truyện. 2-Nội dung bài Câu 1: Theo lối ba vẫn đi tuần rừng, bạn nhỏ đã phát hiện được điều gì? Trả lời: Bạn nhỏ đã phát hiện được: “những dấu chân người lớn hằn trên đất”. Em thắc mắc: “Hai ngày nay đâu có đoàn khách tham quan nào?”. Rồi “em lần theo dâu chân và phát hiện hơn chục cây to đã bị chặt thành từng khúc dài. Gần đó có tiếng xì xào bàn bạc” về cách thức chuyển các số gỗ đã chặt lên xe vào buổi tối. Câu 2: Kế những việc làm của bạn nhỏ cho thấy: b)Bạn là người dũng cảm. Trả lời: Những việc làm của bạn nhỏ cho thấy: a)Bạn là người thông minh: -Thấy có dấu chân lạ liền đặt câu hỏi thắc mắc, nghi vấn, lần theo dấu chân để tự giải đáp nghi vấn. Khi phát hiện ra bọn trộm gỗ thì bí mật chạy tắt đường gọi điện thoại báo cho công an. b)Bạn là người dũng cảm: -Sẩn sàng phối hợp với các chú công an đế bắt bọn trộm, buộc dây chắn ngang đường để chặn xe. Câu 3: Trao đổi với bạn cùng lớp để làm rõ những ý sau: a)Vì sao bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm gồ? b)Em học tập được bạn nhỏ điều gì? Trả lời: Thảo luận làm rõ những ý sau: a)Bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm gỗ là xuất phát từ tình yêu đối với rừng, sợ rừng bị tàn phá, thể hiện ý thức bảo vệ tài sản chung. b)Em học tập được bạn nhỏ rất nhiều điều: + Ý thức trách nhiệm, bảo vệ rừng, xem đây là một nhiệm vụ của tất cả mọi người từ già đến trẻ, từ cá nhân đến tổ chức. + Bình tĩnh khi xử lí tình huống. + Gan dạ, dũng cảm, kiên quyết, mưu trí, sáng tạo khi đấu tranh chống lại bọn tội phạm, bảo vệ tài sản chung. *Nội dung chính: Ca ngợi ý thức trách nhiệm, sự thông minh, lòng dũng cảm của cậu bé chông lại bọn tội phạm phá rừng, bảo vệ tài sản chung.
Soạn bài_ Tập đọc Người gác rừng tí hon
494
Soạn bài: Tập đọc Những con sếu bằng giấy Hướng dẫn A.KỸ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng chuẩn xác các từ ngữ sau: con sếu, bom nguyên tử, quyết định, Hi-rô-si-ma, Na-ga-da-ki, nhiễm, Xa-da-cô Xa-xa-ki, may mắn, thoát, truyền thuyết, quyên góp. -Giọng đọc nhẹ nhàng, tình cảm, mang âm hưởng trầm buồn. Nhấn giọng ở những từ ngữ miêu tả tác hại nặng nề của hai quả bom nguyên tử do Mĩ gây ra, khát vọng sống của cô bé Xa-da-cô và ước mơ hòa bình của trẻ em trên toàn thế giới. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Xa-da-cô bị nhiễm phóng xạ nguyên tử khi nào? Trả lời: Xa-da-cô bị nhiễm phóng xạ nguyên tử khi Đế quốc Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống đất Nhật vào năm 1945, lúc này cô bé mới hai tuổi. (Chúng ta biết rằng vào giữa năm 1945, thế chiến thứ hai đã ở vào thời điểm sắp kết thúc. Phe Phát xít gồm có Đức — Ý – Nhật sắp đại bại trước phe đồng minh. Mĩ thuộc phe đồng minh). Nhằm chứng tỏ sức mạnh của mình và uy hiếp cả thế giới, Mĩ quyết định ném hai quả bom nguyên tử xuống đất Nhật. Đây là thứ vũ khí giết người hàng loạt. Khi hai quả bom nguyên tử nổ, gần nửa triệu người Nhật đã bị thiệt mạng. Mười năm sau, gần 100.000 người vì bị nhiễm phóng xạ đã chết dần chết mòn. Thảm họa do chiến tranh hạt nhân gây ra thật kinh khủng. Trả lời: Xa-da-cô hi vọng kéo dài cuộc sống của mình bằng cách lặng lẽ gấp những con sếu, bởi em ngây thơ tin vào một truyền thuyết nói rằng nếu gấp đủ một nghìn con sếu bằng giấy treo quanh phòng, em sẽ khỏi bệnh. Câu 3: Các bạn nhỏ đã là gì? a)Để tỏ tình đoàn kết với Xa-da-cô? b)Để bày tỏ nguyện vọng hòa bình? Trả lời: a-b)Để tỏ tình đoàn kết với Xa-da-cô, các bạn nhỏ ở thành phố Hi-rô-si-ma đã quyên góp tiền xây một tượng đài tưởng nhớ những nạn nhân bị bom nguyên tử sát hại. Trên đỉnh tượng đài là hình một cô bé gái giơ hai tay nâng một con sếu. Dưới tượng đài khắc một dòng chữ: “Chúng tôi muốn thế giới này mãi mãi hòa bình”. Câu 4: Nếu được đứng trước tượng đài, em sẽ nói gì với Xa-da-cô? Trả lời: (Tùy theo cảm nhận của từng em, tự mình nói lên cảm nghĩ của riêng mình). Có thể em nói như sau: -Cái chết của bạn sẽ làm cho những kẻ có vũ khí hạt nhân sẽ chùn tay không dám gây thêm tội ác nữa. Nhất định chúng phải hủy bỏ thứ vũ khí đó. Và chính cái chết của bạn sẽ là một hồi chuông thức tỉnh nhân loại phải biết yêu hòa bình, bảo vệ sự bình yên trên trái đất. * Nội dung chính: Qua cái chết của một em bé Nhật Bản, tác giả đã tố cáo tội ác chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hạt nhân, đồng thời nói lên khát vọng sống, khát vọng hòa bình của trẻ em toàn thế giới.
Soạn bài_ Tập đọc Những con sếu bằng giấy
528
Soạn bài: Tập đọc Những người bạn tốt Hướng dẫn A.Kĩ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Phát âm chuẩn xác các từ phiên âm tiếng nước ngoài: A-ri-ôn; Xi-xin. -Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Giọng đọc chậm rãi như người đang kể chuyện. Nhấn giọng ở những từ ngữ chỉ hành động, đặc điểm tính chất của người, sự vật… B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Vì sao nghệ sĩ A-ri-ôn phải nhảy xuống biển? Trả lời: Nghệ sĩ A-ri-ôn phải nhảy xuống biển vì bọn thủy thủ trên tàu nổi máu tham cướp hết tặng vật quý giá mà ông đã được cuộc thi ca hát tặng thưởng và đòi giết ông. Câu 2: Điều kì lạ gì đã xảy ra khi nghệ sĩ cất tiếng hát giã biệt cuộc đời? Trả lời: Khi nghệ sĩ cất tiếng hát giã biệt cuộc đời thì một điều kì lạ đã xảy ra: Có một đàn cá heo đã bơi đến vây quanh tàu say sưa thưởng thức tiếng hát của nghệ sĩ. Khi nghệ sĩ nhảy xuống biển thì đàn cá heo đã cứu ông, đưa ông về với đất liền một cách an toàn. Câu 3: Qua câu chuyện, em thấy cá heo đáng yêu, đáng quý ở điểm nao? Trả lời: Qua câu chuyện, em thấy cá heo rất đáng yêu, đáng quý: Cá heo cũng biết thưởng thức âm nhạc như con người.
Soạn bài_ Tập đọc Những người bạn tốt
228
Soạn bài: Tập đọc Quang cảnh làng mạc ngày mùa Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Đọc đúng và chuẩn xác các từ ngữ: quang cảnh, làng mạc, ngày mùa, màu vàng, nhau, sương, vàng xuộm, vườn, lắc lư, xõa, mải miết, ngay. -Ngừng nghỉ đúng các dấu câu có trong bài (ngắt giọng lô-gích), nhấn giọng ò những từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật. -Tốc độ đọc vừa phải, tạo nên một âm điệu nhẹ nhàng êm dịu. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Kể tên những sự vật trong bài có màu vàng và từ chỉ màu vàng đó. Trả lời: Đó là những sự vật và từ chỉ màu vàng sau: + lúa chín – vàng xuộm + cái nắng – vàng hoe + quả xoan – vàng lịm + lá mít – vàng ối + tàu đu đủ, lá sắn héo – vàng tươi + quả chuối – chín vàng + tàu lá chuôi – vàng ối + bụi mía – vàng xọng + rơm, thóc – vàng giòn + con gà, con chó – vàng mượt + mái nhà rơm – vàng mới + tất cả – đượm màu vàng Câu 2: Những chi tiết nào về thời tiết và con người đã làm cho bức tranh làng quê thêm đẹp và sinh động. Trả lời a)Những chi tiết về thời tiết là: + Quang cảnh đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm. + Không còn có cảm giác héo tàn hanh hao như lúc sắp bước vào mùa đông. + Ngày không nắng, không mưa. b)Những chi tiết về con người là: + Không ai tưởng đến ngày hay đêm, mà chỉ mải miết đi gặt, kéo đá, cắt rạ, chia thóc hợp tác xã. + Cứ buông bát đũa lại đi ngay. + Cứ trở dậy là ra đồng ngay. Câu 3: Bài văn thể hiện tình cảm gì của tác giả đối với quê hương? Trả lời: Bài văn đã thể hiện tình cảm yêu mến đến da diết của tác giả đối với quê hương mình. Phải là một người có tình yêu gắn bó sâu nặng với quê hương làng mạc, với cảnh vật, con người mới bộc lộ được cảm xúc của mình hay đến như vậy. * Nội dung chính: Qua việc miêu tả quang cảnh làng mạc giữa ngày mùa, tác giả đã làm hiện lên một bức tranh sinh động của một làng quê trù phú, ấm áp, sôi động. Từ đó thề hiện tình cảm yêu mến gắn bó tha thiết của mình với quê hương.
Soạn bài_ Tập đọc Quang cảnh làng mạc ngày mùa
405
Soạn bài: Tập đọc Sắc màu em yêu Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Phát âm đúng, chuẩn xác các từ ngữ sau: sắc màu, máu, Tổ quốc, khăn quàng, cao, vợi, màu vàng, rực rỡ, bát ngát, đóa hoa, hoa sim, nét mực. -Đây là một bài thơ viết theo thể bốn chữ. Vì vậy khi đọc cần chú ý ngắt giọng. Mỗi dòng là một nhịp. Nhấn giọng ở những từ ngữ chỉ màu sắc và các sự vật so sánh. Tốc độ đọc vừa phải, tạo nên một âm điệu tình cảm, nhẹ nhàng, tha thiết. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Bạn nhỏ yêu những sắc màu nào? Trả lời: Bạn nhỏ yêu tất cả các màu sắc: đỏ, xanh, vàng, trắng, đen, tím, nâu. Câu 2: Mỗi màu sắc gợi ra những hình ảnh nào? Trả lời: Mỗi màu sắc đều có những hình ảnh tương ứng tiêu biểu cho cuộc sống muôn hình muôn vẻ của con người Việt Nam. Đó chính là cuộc sống Việt Nam, con người và truyền thống Việt Nam, trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, sức sống và bản chất con người Việt Nam, sức sống và bản chất con người Việt Nam. Cụ thể là: + Màu đỏ: Gợi ra màu máu, màu cờ Tổ quốc, màu khăn quàng đội viên. + Màu xanh: Gợi nên màu của đồng bằng, rừng núi, biển cả bao la và bầu trời cao xanh vời vợi. + Màu vàng: Gợi ra màu của lúa chín, của hoa cúc mùa thu, của nắng trời rực rỡ. + Màu đen: Gợi ra màu của hòn than óng ánh, của đôi mắt trẻ thơ và của màn đêm yên tĩnh. + Màu tím: Gợi ra màu của hoa cà, hoa sim, màu chiếc khăn của chị và màu mực em học. + Màu nâu: Gợi ra màu chiếc áo mẹ mặc đã sờn, màu đất đai, màu gỗ rừng bát ngát. Câu 3: Bài thơ nói lên điều gì của bạn nhỏ với quê hương đất nước. Trả lời: Bài thơ nói lên tình yêu của bạn nhỏ đôi với quê hương đất nước rất tha thiết. * Nội dung chính: Bài thơ đã gợi ra những cảnh vật, sắc mặu của cuộc sống xung quanh ta làm cho ta càng yêu hơn thiên nhiên, cuộc sông và những người thân của chúng ta. Đó chính là đất nước và con người Việt Nam.
Soạn bài_ Tập đọc Sắc màu em yêu
395
Soạn bài: Tập đọc Sự sụp đổ của chế độ A-Pác-Thai Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Phát âm chuẩn xác các từ phiên âm và tên riêng như: A-pác-thai, Nen-xơn Man-đê-la, các từ ngữ tiếng Việt: phân biệt, trồng trọt, chữa bệnh, yêu chuộng, tổng tuyển cử. -Ngừng nghỉ đúng chỗ các dấu câu. Tốc độ vừa phải, ngữ điệu đọc phù hợp với nội dung từng đoạn. Đoạn 1: Ngữ điệu bình thường như kể chuyện. Đoạn 2: Biểu hiện sự bất bình. Đoạn 3: Mang âm hưởng ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Nam Phi. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Dưới chế độ A-pác-thai, người da đen bị đối xử như thế nào? Trả lời: Dưới chế độ A-pác-thai người da đen bị đối xử vô cùng thậm tệ. Họ phải làm những công việc nặng nhọc, bẩn thỉu nhưng đồng lương thì quá thấp chỉ bằng 1/7 hay 1/10 lương của công nhân da trắng. Họ phải sống và chữa bệnh, làm việc ở những khu riêng, không được hưởng một chút tự do dân chủ nào. Câu 2: Người dân Nam Phi đã làm gì để xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc? Trả lời: Người da đen đã đứng lên đòi quyền bình đẳng. Cuối cùng, họ đã giành được thắng lợi. Chính quyền Nam Phi buộc phải hủy bỏ sắc lệnh phân biệt chủng tộc. Cuộc tổng tuyển cử đa sắc tộc đầu tiên được tổ chức. Trả lời: Ông tên là Nen-Xơn Man-đê-la một luật sư da đen. Vì phát động đâu tranh xóa bỏ chế độ A-pác-thai, chính quyền Nam Phi đã bắt ông bỏ tù suốt 27 năm liền. Sau khi được thả tự do, ông tiếp tục cùng với nhân dân lao động Nam Phi dũng cảm đấu ti anh đòi quyền bình đẳng. Cuối cùng họ đã giành được thắng lợi. Chính quyền Nam Phi buộc phải hủy bỏ sắc lệnh phân biệt chủng tộc. Ngày 27 – 4 – 1994 cuộc tổng tuyển cử đa sắc tộc được tổ chức. Nen- xơn Man-đê-la được bầu làm tổng thống – vị tổng thống đầu tiên của nước Nam Phi mới. * Nội dung chính: Phản đối chế độ phân biệt chủng tộc, ca ngợi cuộc đâu tranh đòi quyền bình đẳng giữa các dân tộc của nhân dân Nam Phi.
Soạn bài_ Tập đọc Sự sụp đổ của chế độ A-Pác-Thai
389
Soạn bài: Tập đọc Thư gửi các học sinh Hướng dẫn A.Kĩ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Phát âm đúng chuẩn xác các từ ngữ của bức thư. Phối hợp tót cách ngắt giọng lô-gích và biểu cảm để ngừng nghỉ đúng chỗ. Ví dụ: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn / ngày nay / chúng ta cần xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta / làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu //… -Nhấn giọng ở những từ ngữ: xây dựng lại; trông mong; chờ đợi; tươi đẹp; hay không; sánh vai; phần lớn. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Để cảm nhận được giá trị nội dung của bức thư, trước hết, em cần tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của bức thư. 1.Hoàn cảnh ra đời của bức thư Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Với cương vị là Chủ tịch nước, tuy bận trăm công nghìn việc của Đảng và Chính phủ nhưng Bác Hồ luôn luôn quan tâm đến thế hệ trẻ. Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tức là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay) Bác Hồ đã gửi thư cho học sinh cả nước. 2.Nội dung bức thư Câu 1: Ngày khai trường tháng 9 năm 1945 có gì đặc biệt so với những ngày khai trường khác? Trả lời: Trước Cách mạng tháng tám năm 1945, nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, học sinh phải học chương trình do thực dân Pháp quy định. Tiếng Pháp trong nhà trường trở thành thứ tiếng bắt buộc. Tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của dân tộc ta – thì bị coi là một “ngoại ngữ” không được dùng trong học tập. Sau Cách mạng tháng tám năm 1945, nước ta giành được độc lập. Vì vậy ngày khai trường tháng 9 năm 1945 có ý nghĩa đặc biệt: ngày khai trường đầu tiên của nước ta sau 80 năm đô hộ của thực dân Pháp. Từ đây trở đi, “chúng ta bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”. Câu 2: Sau Cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ của toàn dân là gì? Trả lời: Sau Cách mạng tháng Tám, nhiệm vụ của toàn dân là xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên ta để lại, làm cho đất nước ta phát triển, theo kịp với các nước khác trên hoàn cầu. Câu 3: Học sinh có trách nhiệm như thế nào trong công cuộc kiến thiết đất nước? Trả lời: Học sinh phải có trách nhiệm: cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn nghe thầy, yêu bạn, phấn đấu trở thành những con ngoan, trò giỏi để sau này lớn lên đóng góp tài năng, trí tuệ của mình vào công cuộc xây dựng kiến thiết Tổ quốc, làm cho đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu. Bác Hồ nói về niềm vinh dự, tự hào của học sinh trong ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và khuyên học sinh phải cô gắng chăm học, tu dưỡng trở thành những con ngoan trò giỏi, kế tục xứng đáng sự nghiệp của cha ông, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh sánh vai với các cường quốc năm châu.
Soạn bài_ Tập đọc Thư gửi các học sinh
580
Soạn bài: Tập đọc Thầy thuốc như mẹ hiền Hướng dẫn A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Giọng điệu chung của toàn bài là giọng điệu kể chuyện: thong thả, rõ ràng, lưư loát. -Ngừng nghỉ ở chỗ các dấu câu có trong bài. Nhấn giọng ở những từ ngữ biểu hiện thái độ cảm phục về tấm lòng nhân ái, không màng danh lợi của Hải Thượng Lãn Ông. B- TÌM HIỂU NỘI DƯNG BÀI 1- Phân đoạn: Bài văn có thể chia làm ba phần để luyện đọc: -Phẩn 1: Gồm đoạn 1, 2 (Từ đầu đến… “cho thêm gạo củi”). -Phần 2: Gồm đoạn 3 (Từ “Một lần… càng hối hận”). -Phẩn 3: Phần còn lại của văn bản. 2-Nội dung bài Câu 1: Tìm những chi tiết nói lên lòng nhân ái của Lãn Ông trong việc ông chữa bệnh cho người phụ nữ? Trả lời: Đó là những chi tiết: -Nghe tin con của người thuyền chài bị bệnh đậu nặng, Lãn Ông đã tự tìm đến thăm. -Ân cần chăm sóc đứa bé suốt một tháng trời không ngại khổ, ngại bẩn. -Ông không những không lấy tiền mà còn cho thêm gạo, củi. Câu 2: Điều gì thể hiện lòng nhân ái của Lãn Ông trong việc ông chữa bệnh cho người phụ nữ? Trả lời: Điều thể hiện lòng nhân ái của Lãn Ông trong việc chữa bệnh cho người phụ nữ là lương tâm và trách nhiệm của người thầy thuốc. Người phụ nữ chết không phải do ông gây ra nhưng ông tự buộc tội mình “như mắc phải tội giết người” và ông vô cùng ân hận. Lẽ ra, dù khuya bao nhiêu nêu ông đến khám và cho thuốc kịp thời thì chưa chắc người bệnh qua đời. Điều day dứt, ân hận đó xuất phát từ “y đức” của Hải Thượng Lãn Ông. Trả lời: Có thể nói Lãn Ông là một người không màng danh lợi là vì: nhiều lần vua chúa vời ông vào cung, tiến cử vào chức Ngự y nhưng ông đã khéo léo từ chối. Câu 4: Em hiểu nội dung hai câu thơ cuối bài như thế nào? Trả lời: Theo em hiểu nội dung hai câu thơ: “Công danh trước mắt trôi như nước Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương”. Nghĩa là: Công danh không phải là cái tồn tại mãi, nó cũng sẽ trôi di như nước, cái mà chẳng đáng được coi trọng. Chỉ có nhân nghĩa là cái tồn tại mãi mãi, cái mới đáng trân trọng, đáng quý nhất ở đời. * Nội dung chính: Ca ngợi tấm lòng thương người và nhân cách cao cả của Hải Thượng Lãn Ông – một tấm gương sáng về y đức và nhân cách cao cả của một người thầy thuốc.
Soạn bài_ Tập đọc Thầy thuốc như mẹ hiền
450
Soạn bài: Tập đọc Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên Sông Đà Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Bài thơ được viết theo thể tự do. Ý thơ có những đoạn mang tính vắt dòng. Nghĩa là ý thơ không nằm trọn trong một dòng thơ mà trải dài qua nhiều dòng thơ mới trọn ý. Vì vậy đọc diễn cảm bài thơ này, em cần lưu ý nhịp đọc và cách ngắt nghỉ ở các dòng thơ cho phù hợp với ý thơ. -Giọng đọc toàn bài: nhẹ nhàng vui tươi, tình cảm tha thiết, lạc quan tin tưởng. Cách đọc cụ thể như sau: Trên sông Đà / Một đêm trăng chơi vơi / / Tôi đã nghe tiếng ba-la-lai-ca / Một cô gái Nga / mái tóc màu hạt dẻ / Ngón tay đan trên những sợi dây đồng / / Lúc ấy / Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông / / Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ / / Những xe ủi / xe ben / sóng vai nhau nằm nghỉ / Chỉ còn / tiếng đàn ngân nga Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà / / Ngày mai / Chiêc đập lớn nối liền hai khối núi / Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên / / Sông Đà / chia ánh sáng đi muôn ngả Từ công trình thủy điện lớn / đầu tiên. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Bài thơ diễn tả những cảm xúc và sự rung động của nhà thơ trước cảnh một cô gái Nga chơi đàn trên công trường thủy điện sông Đà vào một đêm trăng đẹp. Để cảm nhận được sâu sắc điều ấy, em đọc kĩ bài thơ, khám phá vẻ đẹp của các hình ảnh qua những từ ngữ trong bài dựa vào hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài sau đây: Câu 1: Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm trăng vừa tĩnh mịch, vừa sinh động trên công trường sông Đà? Trả lời: Đó là những chi tiết: Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông. Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ. Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ. Câu 2: Tìm một hình ảnh đẹp trong bài thơ thê hiện sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên trong đêm trăng trên sông Đà? Trả lời: Em có thể nêu những hình ảnh sau: Chỉ còn tiếng đàn ngân nga Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà. Gợi lên một hình ảnh đẹp thể hiện sự gắn bó hòa quyện giữa con người với thiên nhiên. Một đêm trăng sáng nhưng tĩnh lặng, tiếng đàn ngân lên tỏa trong không gian, dòng sông thì đẫm ánh trăng lâ’p loáng như một dòng trăng. Câu 3: Những câu thơ nào trong bài sử dụng biện pháp nhân hóa? Trả lời: Đó là những câu: Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông Những tháp khoan nhô lền trời ngẫm nghĩ. Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ. Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên. Sông Đà chia ánh sảng đi muôn ngả. * Nội dung chính: Ca ngợi vẻ đẹp kì vĩ của công trình thủy điện sông Đà, sức mạnh của những con người đang chinh phục thiên nhiên.
Soạn bài_ Tập đọc Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên Sông Đà
520
Soạn bài: Tập đọc Trước cổng trời Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Bài thơ được viết theo thể năm chữ. Nhịp thơ đều đặn. Mỗi dòng là một nhịp. Âm điệu tươi vui phấn khỏi trước vẻ đẹp và sự ấm cúng của cuộc sống người dân ở vùng cao. -Nhấn giọng ở những từ ngữ gợi hình, gợi tả. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Vì sao địa điểm tả trong bài thơ được gọi là “cổng trời”? -Trả lời: Địa điểm tả trong bài thơ được gọi là “cổng trời”, vì địa điểm ấy nằm ở vị trí rất cao trên đỉnh núi ở giữa hai vách đá. Ở dưới nhìn lên, hai vách đá tựa như hai cái cột sừng sững giữa trời xanh, cửa cổng là một khoảng không gian có gió thoảng mây trôi; đem đến cho ta một cảm giác như là một lối đi lên trời, ở đó có một cái cổng. Câu 2: Tả lại vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ. Trả lời: Thiên nhiên ở đây thật đẹp, thật hùng vĩ. cổng trời sừng sững hiện ra. Đứng ở cổng trời, người ta có cảm giác như đang đứng giữa những đám mây đang bồng bềnh trôi dưới chân mình, trôi trên những cánh rừng bạt ngàn cây trái. Xung quanh ta nhuộm bao sắc màu cỏ hoa, có thác reo ngân nga như một bản nhạc, có đàn dê đang soi mình bên bờ suối… Cảm giác như ta đang lạc vào một chốn bồng lai tiên cảnh. Câu 3: Trong những cảnh vật được miêu tả, em thích nhất cảnh vật nào? Vì sao? Trả lời: (Tùy theo cảm xúc của mình để chọn những cảnh vật mà mình cho là thích nhất). Ví dụ em chọn cảnh: Đứng ở cổng trời nhìn ra xa là những cánh rừng bạt ngàn một màu xanh bất tận. Chen lẫn giữa màu xanh ấy là những sắc màu của cỏ hoa, tạo nên một bức tranh thiên nhiên thật hùng vĩ và cũng thật kì ảo. Hoặc là cảnh khi ráng chiều xuất hiện, ánh nắng yếu ớt nhuộm vàng những vạt nương rẫy và hơi sương bốc lên lan tỏa như hơi khói tạo nên một cảm giác như thực như mơ, thật là huyền diệu. Câu 4: Điều gì đã khiến cho cánh rừng sương giá như ấm lên? Trả lời: Điều đã khiến cho cánh rừng sương giá như ấm lên chính là cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người ở đây: Tiếng nhạc ngựa rung lên vang động khắp cả cánh rừng, người Tày từ khắp ngả hăng hái đi gặt lúa, trồng rau. Còn người Giáy, người Dao thì say sưa đi tìm măng, hái nấm. Cuộc sống, lao động ở đây thật nhộn nhịp và sôi động. * Nội dung chính: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sông lao động nhộn nhịp, sôi động của nhân dân ở những vùng cao.
Soạn bài_ Tập đọc Trước cổng trời
496
Soạn bài: Tập đọc Trồng rừng ngập mặn Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIEN CẢM – Đọc đúng, rõ ràng mạch lạc văn bản khoa học. Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu, nhằm diễn đạt rõ ý từng câu chữ cùa văn bản. Nhấn giọng ở những từ ngữ trọng tâm như: “lá chắn bảo vệ”, “xói lở, vỡ, làm tốt, thấy rõ vai trò của rừng ngập mặn, phục hồi rừng ngập mặn, thay đổi rất nhanh chóng, phát triển, đủ giống cho hàng nghìn đầm, hàng trăm, tăng nhiều, phong phú, tăng thu nhập”. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Nêu nguyên nhân và hậu quả của việc phá rừng ngập mặn? Trả lời: -Nguyên nhân: Do chiến tranh, các quá trình quai đê lấn biển, làm đầm nuôi tôm… làm mất đi một phần rừng ngập mặn. -Hậu quả: Lá chắn bảo vệ đê biển không còn, đê điều dễ bị xói lở, dẫn đến bị vỡ khi có gió bão sóng lớn. Câu 2: Vì sao các tỉnh ven biển có phong trào trồng rừng ngập mặn? Trả lời: Vì chúng ta đã làm tốt công tác tuyên truyền, thông tin để người dân thấy rõ vai trò của rừng ngập mặn đối với việc bảo vệ đê điều. Cụ thể một số tỉnh ven biên như: Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh… đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền nên nhân dân tham gia trồng được nhiều rừng ngập mặn tạo nên những lá chắn vững chắc bảo vệ đê điều. Trả lời: Rừng ngập mặn khi được phục hồi có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đê điều: Đê điều không bị xói lở, kế cả khi có những cơn bão lớn như cơn bão số 2 tràn qua năm 1996. Lượng cua trong rừng ngập mặn phát triển; không những chỉ cung cấp đủ giống cho hàng nghìn đầm cua ở địa phương mà còn cho hàng trăm đầm cua ở các vùng khác. Ngoài cua ra, lượng hải sản tăng nhiều, các loài chim nước cũng rất phong phú. *Nội dung chính: Văn bản đã trình bày nguyên nhân khiến rừng ngập mặn bị tàn phá và những hậu quả của chúng từ đó văn bản nêu lên tác dụng của rừng ngập mặn của các tỉnh ven biển trong cả nước, những kết quả có được từ phong trào trồng rừng ngập mặn.
Soạn bài_ Tập đọc Trồng rừng ngập mặn
410
Soạn bài: Tập đọc Tác phẩm của Sin Lơ và tên phát xít Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Phát âm chuẩn xác các từ ngữ sau: Sin-lơ, phát xít, Pa-ri, tàu, Hít-le, ngạc nhiên, Vin-hem-ten, Mét-xi-na, Óoc-lê-ăng. -Ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu. Phân biệt ngữ điệu của các nhân vật khi đối thoại. B.TÌM HIỂU NỘI DƯNG BÀI Câu 1: Vì sao tên sĩ quan Đức có thái độ bực tức với ông cụ người Pháp? Trả lời: Vì ông cụ tỏ thái độ coi thường tên phát xít qua lời chào lạnh lùng. Tên phát xít càng bực tức hơn khi biết ông cụ đang đọc một tác phẩm của Sin-lơ viết bằng tiếng Đức, nghĩa là ông cụ rất thông thạo tiếng Đức nhưng không dùng tiếng Đức chào hắn mà chào bằng tiếng Pháp. Câu 2: Nhà văn Đức Sin-lơ được ông cụ người Pháp đánh giá thế nào? Trả lời: Nhà văn Đức Sin-lơ được ông cụ người Pháp đánh giá vắt cao. Đó là một nhà văn quốc tế – một nhà văn của nhân loại. Câu 3: Em hiểu thái độ của ông cụ đôi với người Đức và tiếng Đức như thế nào? -Trả lời: Thái độ của ông cụ là rất trân trọng, ngưỡng mộ người Đức, tiếng Đức (rất kính trọng Sin-lơ qua việc ông kế tên những tác phẩm viết cho người Thụy Sĩ, người I-ta-li-a, người Pháp v.v… Bản thân ông đang cầm đọc một lá thư của Sin-lơ viết bằng tiếng Đức). Nhưng ông lại rất ghét những tên phát xít Đức xâm lược. Trả lời: Lời đáp của ông cụ cuối truyện ngụ ý là: Những kẻ phát xít như ngài đều là những tên kẻ cướp. * Nội dung chính: Ca ngợi cụ già người Pháp thông minh biết phân biệt người Đức với bọn phát xít Đức, phân biệt người tốt và người xấu và dạy cho tên phát xít một bài học sâu cay để đời.
Soạn bài_ Tập đọc Tác phẩm của Sin Lơ và tên phát xít
324
Soạn bài: Tập đọc Về ngôi nhà đang xây Hướng dẫn A.KĨ NĂNG ĐỌC DIEN CẢM Bài thơ được viết theo thế tự do phù hợp với cách phô diễn tình cảm khoáng đạt. Lúc thì biểu hiện cảm xúc, lúc thì biểu hiện sự tâm tình như hình thức kể chuyện. Do vậy khi đọc, cần có ngữ điệu và cách ngắt, nghỉ phù hợp với từng câu, từng đoạn. B.TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Những chi tiết nào vẽ lên hình ảnh một ngôi nhà đang xây? Trả lời: Đó là những chi tiết: -Gmn giáo tựa cái lồng; Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây; Bấc thợ nề huơ huơ cái bay; Ngôi nhà thở ra màu vôi vữa, còn nguyên màu vôi, gạch. Câu 2: Tìm những hình ảnh so sánh nói lên vẻ đẹp của ngôi nhà? Trả lời: Đó là những hình ảnh: -Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây. -Ngôi nhà giống bài thơ sắp làm xong. -Ngôi nhà như bức tranh còn nguyên màu vôi, gạch. -Ngôi nhà như trẻ nhỏ lớn lên với trời xanh. Câu 3: Tìm những hình ảnh nhân hóa làm cho ngôi nhà được miêu tả sông động, gần gũi. Trả lời: Đó là những hình ảnh: -Ngôi nhà tựa vào nền trời sẫm biếc, thở ra mùi vôi vữa. -Rót vào ô cửa chưa sơn vài nốt nhạc. -Nắng đứng ngủ quên trên những bức tường. -Làn gió mang hương, ủ đầy những rãnh tường chưa trát. Câu 4: Hình ảnh những ngôi nhà đang xây nói lên điều gì về cuộc sống trên đất nước ta? – Trả lời: Hình ảnh những ngôi nhà đang xây nói lên nhịp sống và công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước đang rất sôi động, nhộn nhịp. Báo hiệu một cuộc sống ấm no hạnh phúc. * Nội dung chính: Những ngôi nhà đang xây là một hình ảnh đẹp và sông động về công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước diễn ra một cách sôi động trên đất nước ta. Cuộc sống đang nở hoa.
Soạn bài_ Tập đọc Về ngôi nhà đang xây
337
Soạn bài: Tập đọc Ê-Mi-Li,Con Hướng dẫn A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM -Bài thơ được sáng tác theo thể thơ tự do. Vì vậy em cần chú ý ngừng nghỉ đúng chỗ có các dấu câu có trong bài. Mặt khác cũng cần lưư ý đến ý thơ (có những ý thơ trải dài qua hai, ba dòng thơ mới trọn ý) để ngừng nghỉ cho đúng chỗ. -Giọng đọc cần thay đổi theo từng nội dung. Khổ một, lời của Mo-ri- xơn tâm sự cùng con nhẹ nhàng, tình cảm, nhưng trang nghiêm, lời của bé Ê-mi-li: ngây thơ hồn nhiên. Khổ thơ thứ hai, Mo-ri-xơn lên án tội ác của chính quyền Giôn-xơn, giọng đọc phẫn nộ, đau thương. Khổ thứ ba: Lời của Mo-ri-xơn nhắn nhủ, từ biệt vợ con, giọng đọc trầm lắng, tha thiết, xúc động. Khổ thứ tư: mong ước của Mo-ri-xơn thức tỉnh nhân loại, giọng đọc chậm rãi, xúc động. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI Câu 1: Đọc diễn cảm khổ thơ đầu để thể hiện tâm trạng của chú Mo-ri-xơn và bé Ê-mi-li. (Đọc chậm, âm điệu trầm lắng, trang nghiêm làm toát lên tâm trạng của một người cha tâm sự lần cuối với đứa con ngây thơ của mình trước lúc đi vào cõi vĩnh hằng). Câu 2: Vì sao chú Mo-ri-xơn lên án cuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền Mĩ? Trả lời: Chú Mo-ri-xơn lên án cuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền Mĩ, vì đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa, một cuộc chiến tranh mà cả nhân loại đều lên án. Chính cuộc chiến tranh này đã sử dụng tất cả những vũ khí hủy diệt: B.52, na-pan, hơi độc để đốt phá nhà thương, trường học, giết trẻ em, giết những đồng xanh và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc hoa. Trả lời: Trước lúc từ biệt, chú Mo-ri-xơn nói với con: “Trời sắp tốì rồi, cha không bế con về được nữa. Đêm nay mẹ sẽ đến tìm con, hãy ôm hôn mẹ cho cha và nói với mẹ cha đi vui, xin mẹ đừng buồn”. Câu 4: Em có suy nghĩ gì về hành động chú Mo-ri-xơn? Trả lời: Hành động tự thiêu để phản đối chiến tranh ở Việt Nam của chú Mo-ri-xơn là một hành động dũng cảm, cao đẹp đầy khâm phục. * Nội dung chính: Bài thơ ca ngợi hành động dũng cảm, phi thường của một công dân Mĩ dám tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa do chính quyền Mĩ gây ra ở Việt Nam.
Soạn bài_ Tập đọc Ê-Mi-Li,Con
426
Soạn bài: Tập đọc Đất Cà Mau Hướng dẫn A. KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM Bài văn thuộc văn kể chuyện xen kẽ văn miêu tả. Giọng văn nhẹ nhàng hấp dẫn với một lối kể và tả rất sinh động. Khi đọc, em cần ngắt nghỉ đúng dấu câu. Nhấn giọng ở những từ ngữ miêu tả đặc điểm khí hậu, thời tiết, cuộc sống sinh hoạt của nhân dân ở vùng tận cùng của đất nước và niềm tự hào về truyền thống của cha ông được con cháu lưu truyền, phát huy. B. TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI 1.Phân đoạn: Bài văn chia làm ba đoạn để luyện đọc: -Đoạn 1: Từ đầu đến… “cơn dông”. Nêu đặc điểm thời tiết của đất mũi Cà Mau. -Đoạn 2: Từ “Cà Mau đất xốp” cho đến… “cây đước”. Giới thiệu cây đước một loài cây nhiều nhất ở vùng đất Mũi. -Đoạn 3: Phần còn lại của văn bản. 2-Nội dung bài Câu 1: Mưa ở Cà Mau có gì khác thường? Trả lời: Mưa ở Cà Mau là mưa dông: mưa thất thường, đột ngột kèm theo gió mạnh dữ dội nhưng chóng tạnh (nhanh hết). Câu 2: Hãy đặt tên cho đoạn văn này. Trả lời: Em có thế đặt tên: Mưa dông hoặc Mưa ở Cà Mau, Đặc điểm thời tiết ở Cà Mau. Câu 3: Cây cối trên đất Cà Mau mọc ra sao? Trả lời: Do đặc điểm thời tiết, khí hậu thất thường nhiều mưa dông, đế tồn tại, phát triển các loài cây phải mọc thành chòm, thành rặng, thành rừng, rễ dài cắm sâu vào lòng đất và dựa vào nhau để chống chọi lại những cơn dông bất thường, dữ dội. Trả lời: Người Cà Mau dựng nhà cửa dọc những bờ kênh, dưới những hàng đước xanh rì. Nhà nọ sang nhà kia phải leo trên cầu bằng thân cây đước. Câu 5: Người Cà Mau có tính cách như thế nào? Trả lời: Người Cà Mau có tính cách: thông minh, giàu nghị lực, thích kể, nghe những huyền thoại kì lạ về sức mạnh và trí thông minh của con người chinh phục các loài vật hung dữ, toát lên một tinh thần thượng võ. Câu 6: Mỗi đoạn văn trong bài tập trung nêu rõ một ý. Em hãy đặt tên cho từng đoạn văn. Trả lời: Em có thể đặt tên cho từng đoạn như sau: -Đoạn 1: Đặc điểm thời tiết ở Cà Mau. -Đoạn 2: Cây cối, nhà cửa ở đất Mũi. -Đoạn 3: Tính cách của người đất Mũi. * Nội dung chính: Đặc điểm thiên nhiên và tính cách con người Cà Mau.
Soạn bài_ Tập đọc Đất Cà Mau
428
Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 2 Hướng dẫn Soạn bài lớp 8: Viết bài tập làm văn số 2 Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 2 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ I sắp tới đây của mình. Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 2 Đề 1: Hãy kể về một kỉ niệm đáng nhớ đối với con vật nuôi mà em yêu thích. Mở bài: Giới thiệu về kỉ niệm đáng nhớ với con vật nuôi mà em yêu thích (con mèo, con chó…). Giới thiệu về nguồn gốc của con vật nuôi đó (được tặng hay do ba mẹ mua về) Thân bài – Tả về hình dáng của con vật nuôi đó + Tả bao quát hình dáng bên ngoài của con vật: Bộ lông, màu da, vóc dáng + Tả từng bộ phận: Đầu, tai, mắt, thân hình, chân, đuôi + Tả sơ lược về thói quen sinh hoạt, sở thích của con vật nuôi đó. + Nói về môi trường sống của con vật nuôi đó – Kỉ niệm đáng nhớ với con vật nuôi: + Đưa vật nuôi đi dạo và bị lạc mất vật nuôi nhưng cả hai đều tìm thấy nhau sau đó. + Vật nuôi do một lần bị mắng khi làm đổ vỡ đồ trong nhà, nó bỏ đi, sau đó trở về. + Vật nuôi lập kì tích đuổi trộm, trông nhà. Kết bài: Nêu cảm nghĩ và tình cảm dành cho con vật nuôi đó. Hứa chăm sóc vật nuôi chu đáo. Đề 2: Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy, cô giáo buồn. Có nhiều lỗi học sinh thường mắc phải khiến thầy cô buồn lòng như nói dối thầy cô, quay cóp trong giờ kiểm tra, bỏ học, trêu chọc thầy cô… Thân bài: – Hoàn cảnh, thời gian mắc lỗi: + Năm học lớp 6, trong giờ học môn tiếng Anh + Năm lớp 3, trong giờ học Văn – Kể về việc sai trái mình mắc phải + Mắc lỗi vào thời điểm nào? Mắc lỗi với ai – Nêu nguyên nhân mắc lỗi: + Do chủ quan + Khách quan – Diễn biến khi gây lỗi – Hậu quả gây ra đối với lớp, với gia đình, với bản thân – Sau khi mắc lỗi cảm xúc của em thế nào, em đã hối lỗi và sửa lỗi như thế nào Kết luận Bài học sâu sắc rút ra sau khi mắc lỗi Lời khuyên dành cho các bạn khác Đề 3: Kể về một việc khiến bố mẹ rất vui lòng. – Cần xác định việc làm tốt khiến ba mẹ vui lòng là việc gì (giúp cụ già qua đường, nhặt được tiền rơi trả người đánh mất, giúp đỡ bạn bè trong cuộc sống, trong học tập…) – Tâm trạng, cảm xúc của ba mẹ khi em kể những việc tốt em làm giúp đỡ người khác. – Tâm trạng cảm xúc của em lúc đó như thế nào? (hạnh phúc, tự hào, hứa hẹn trong lòng nhiều niềm tin mới… Mở bài: Giới thiệu về việc tốt em khiến cha mẹ vui lòng: Giúp đỡ bạn bè trong học tập Thân bài – Hoàn cảnh: + Có một bạn vì hoàn cảnh gia đình, bố mẹ ít quan tâm, bạn mải chơi và kết quả học tập sa sút, đi xuống và cô giáo đã sắp xếp cho bạn ngồi cạnh em. – Giúp bạn học tập tiến bộ: + Hằng ngày, tới lớp đều nói chuyện và chơi cùng với bạn + Những lúc rảnh rỗi em thường cùng bạn làm bài tập, trao đổi bài học vào giờ ra chơi + Những bài tập khó, bạn không hiểu, em thường giảng giải cho bạn hiểu. + Cuối cùng bạn đã vươn lên đạt danh hiệu học giỏi và trở thành bạn thân của em. – Cảm xúc của em khi kể chuyện cho bố mẹ nghe: Vui mừng và hãnh diện về sự quan tâm, giúp đỡ của mình dành cho bạn bè. – Cảm xúc của bố mẹ khi nghe em kể về việc tốt của em: Tự hào và vui khi thấy em trưởng thành Kết bài: Sau lần giúp đỡ đó, em suy nghĩ về bản thân thế nào. Hoàn thành việc tốt khiến ba mẹ vui lòng, bản thân cũng cảm thấy hạnh phúc gấp bội. Tự hoàn thiện bản thân hơn. Đề 4: Nếu được chứng kiến cảnh lão Hạc bán chó kể với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại chuyện đó như thế nào? – Xác định yêu cầu đề bài + Vào vai nhân vật kể chuyện: Có thể là hàng xóm, có thể vào vai vợ của ông giáo (xưng tôi kể chuyện) + Chọn lọc những chi tiết chính trong truyện để kể. + Cảm nhận và suy nghĩ về lão Hạc. Mở bài: Dẫn dắt hoàn cảnh việc chứng kiến câu chuyện của lão Hạc kể lúc bán chó. Thân bài: – Nêu các sự việc chính theo trật tự truyện kể + Vừa gặp lão Hạc đã nói “bán rồi” + Lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậng nước + Lão bắt đầu khóc hu hu như đứa trẻ, cái miệng móm mém của lão cứ méo xệch đi. + Lão tự dằn vặt bản thân bằng này tuổi còn nhẫn tâm lừa một con chó, lão ân hận, dằn vặt – Cảm xúc và suy nghĩ về nhân vật lão Hạc. Kết bài: Từ hoàn cảnh của lão Hạc, bản thân em (sự hóa thân vào người kể chuyện) em có suy nghĩ gì về thân phận người nông dân trong xã hội cũ trước cách mạng tháng Tám. Dưới đây là bài soạn Viết bài tập làm văn số 2 bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Viết bài tập làm văn số 2 Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Viết bài tập làm văn số 2
1,038
Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 3 Hướng dẫn Soạn bài lớp 8: Viết bài tập làm văn số 3 Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 3 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn học sinh nắm rõ kiến thức từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình. Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 3 Đề 1: Thuyết minh chiếc kính đeo mắt Mở bài: Giới thiệu về kính đeo mắt – đối tượng được thuyết minh Thân bài – Nêu nguồn gốc, xuất xứ + Kính đeo mắt ra đời năm 1620 ở nước Ý + Qua nhiều năm được cải tiến và phổ biến sử dụng + Năm 1877 chiếc kính áp tròng đầu tiên trong lịch sử ra đời – Nêu cấu tạo: + Mắt kính: Tùy vào thực trạng của mắt để sử dụng các loại mắt kính khác nhau. Mắt kính được làm từ thủy tinh, nhựa. + Mắt kính thủy tinh có đặc điểm trong suốt có nhược điểm là dễ vỡ + Măt kính nhựa: Ưu điểm nhẹ nhưng dễ xước + Gọng kính gồm 2 loại: Gọng nhựa và gọng kim loại. Gọng kim loại được làm bằng sắt, đeo cứng cáp và khó chịu. Gọng nhựa dẻo, bền, chịu được áp lực khi bị tác động – Công dụng của mắt kính. + Kính thuốc giúp người có bệnh về mắt như cận, loạn, lão… + Kính lão bảo vệ mắt khi đọc sách, hay làm việc lâu trên máy tính. + Kính râm bảo vệ mắt khi có ánh sáng mạnh hắt vào mắt. + Kính thời trang giúp làm đẹp cho khuôn mặt. Đề số 2: Thuyết minh về cây bút bi Mở bài: Giới thiệu chung về vai trò, tầm quan trọng của bút bi với đời sống con người. Nó là công cụ giúp con người lưu lại chữ viết. Thân bài – Nguồn gốc, xuất xứ Được phát minh bởi nhà báo Hungaru Biro vào năm 1930 (từ thực tiễn khi thấy mực in trên giấy khô nhanh) – Cấu tạo bút bi: Gồm hai bộ phận chính + Vở bút: Là ống trụ tròn dài khoảng 14- 15cm, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau, có ghi nhà sản xuất hoặc hãng sản xuất + Ruột bút: Là từ kim loại, nhựa dẻo, bên trong có ống mực chứa mực nước hoặc mực đặc. + Còn các bộ phận khác: Lò xo, nút bấm, nút bấm, trên vỏ ghim để gài vào áo hoặc vở – Phân loại: Tùy thuộc vào kiểu dáng, màu sắc, và thị hiếu người dùng + Màu sắc đa dạng, bắt mắt + Có thể dẫn ra các thương hiệu bút nổi tiếng – Nguyên lí vận hành: Mũi bút chứa viên bi nhỏ, khi viết viên bi lăn ra mực tạo khối chữ – Cách sử dụng và bảo quản + Sau khi viết xong phải đậy nắp cẩn thận – Ưu điểm + Gọn nhẹ, tiện dụng, dễ vận chuyển + Giá thành phù hợp với lứa tuổi học sinh. – Nhược điểm + Bút chỉ sử dụng được khi hết mực mua bút mới + Không tạo khối được nét thanh nét đậm cho chữ Nhấn mạnh và khẳng định tầm quan trọng của bút bi trong cuộc sống. Nêu cảm nhận của em về vai trò của chiếc bút bi. Đề số 3: Thuyết minh về đôi dép lốp trong kháng chiến. Mở bài: Dép lốp từng là một trong số những vật dụng quan trọng thiết yếu trong cuộc kháng chiến trường kì chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc. Hiện tại: Dép lốp là vật chứng tiêu biểu cho quá trình gian khổ mà hào hùng của dân tộc Việt Nam Thân bài: – Nêu nguồn gốc (hoàn cảnh ra đời) + Bên cạnh những vật dụng khác như mũ nan, áo trấn thủ, thì đôi dép lốp được ra đời + Dép lốp được làm từ việc cắt những chiếc lốp xe ô tô cũ – Hình dáng, cấu tạo, chất liệu của dép lốp + Hình dạng giống những đôi dép bình thường + Quai dép được làm từ săm ô tô + Đế dép được làm từ xăm ô tô cũ, không qua sử dụng + Quai và đế được gắn cố định chắc chắn vào nhau không qua thứ keo kính nào mà dựa trên sự giãn nở của cao su + Dưới đế dép được xẻ rãnh để tạo độ ma sát với mặt đường, tránh trơn trượt trên địa hình – Nêu đặc biệt, công dụng + Dép cao su được tái chế từ xăm lốp ô tô đã qua sử dụng, nên giá thành rẻ, phù hợp với các loại địa hình, kể cả đèo cao, suối sâu, đường lầy lội + Dép nhẹ nên dễ sử dụng, khi nắng thì đi thoáng mắt, mưa thì không lo bị đọng nước. + Dép lốp là vật dụng gắn liền với hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh – Cách bảo quản: + Dép lốp được làm từ cao su nên không được để chúng ở nơi có nhiệt độ cao Kết bài: + Ngày nay dép lốp không còn phổ biến như trước, nó dần trở thành kỉ vật minh chứng cho giai đoạn hào hùng trong lịch sử dân tộc. + Dép lốp đi vào thơ ca với sức sống bất tận. Đề số 4: Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam. Mở bài: + Giới thiệu chiếc áo dài, trang phục độc đáo đặc biệt dành cho phụ nữ Việt Nam. + Áo dài không chỉ là trang phục truyền thống mà còn trở thành biểu tượng văn hóa đẹp của người Việt Nam Thân bài: – Nêu xuất xứ Từ thời chúa Nguyễn Phúc Kháng, do không muốn chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc nên vua ban lệnh người Việt đều mặc quần không đáy Dưới đây là bài soạn Viết bài tập làm văn số 3 bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Viết bài tập làm văn số 3 Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 1 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Viết bài tập làm văn số 3
1,057
Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 5: Văn lập luận chứng minh Hướng dẫn Soạn bài Viết bài tập làm văn số 5 Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 5: Văn lập luận chứng minh được VnDoc sưu tầm và giới thiệu tới các bạn học sinh tham khảo chuẩn bị tốt cho bài giảng của học kì mới sắp tới đây của mình. mời các bạn tải và tham khảo bài viết dưới đây Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 5: Văn lập luận chứng minh Đề 1: Ít lâu nay, một số bạn trong lớp em có phần lơ là học tập. Em hãy viết một bài văn để thuyết phục bạn: Nếu khi còn trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích! Dàn bài: A. Mở bài: – Dẫn dắt để giới thệu được tình hình của lớp (có nhiều bạn lơ là học tập). – Đưa ra chân lí: Nếu khi trẻ ta không chịu khó học tập thì lớn lên ta sẽ chẳng làm được việc gì có ích. B. Thân bài: – Kể lại tình hình của lớp thời gian qua (tưởng tượng về chuyện có nhiều bạn lơ là học tập, say mê vào các trò chơi như: Điện tử, cờ bạc, chat,…). – Chứng minh cho các bạn thấy: Nếu không chịu khó học tập từ khi còn trẻ, thì sẽ có nhiều cái hại: + Sẽ không có thời gian để bổ sung kiến thức. + Không có kiến thức để làm việc sau này. + Bị tụt hậu so với sự phát triển của xã hội nói chung. + Ảnh hưởng đến gia đình và xã hội sau này. C. Kết bài: Khẳng định lại chân lí vừa nêu. Động viên các bạn tập trung vào việc học. Đề 2: Hãy chứng minh rằng bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. A. Mở bài: – Nêu khái quát vai trò của rừng đối với cuộc sống của chúng ta. – Khẳng định: Bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống. B. Thân bài: Chứng minh bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của chúng ta: 1. Nêu những ích lợi của rừng: – Cung cấp không khí. – Ngăn lũ lụt, lở đất. – Cung cấp sản vật, hoa cỏ, gỗ,… – Tạo lớp mùn cho đất. 2. Vì thế, bảo vệ rừng là bảo vệ cuốc sống của chúng ta, bởi: – Nghĩa là chúng ta đang bảo vệ sự trong lành của sự sống. – Nghĩa là chúng ta đang bảo vệ mình khỏi những thiên tai. – Nghĩa là chúng ta đang gìn giữ cho những ích lợi lâu dài của cả cộng đồng. Đề 3: Dân gian ta có câu tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Nhưng có bạn lại bảo: Gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng. Em hãy viết một bài văn chứng minh thuyết phục bạn ấy theo ý kiến của em. A. Mở bài: – Khái quát nội dung câu tục ngữ. – Giới thiệu câu tục ngữ. – Nêu ý kiến của bạn nọ. B. Thân bài: 1. Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ: – Nghĩa đen. – Nghĩa bóng. – Ý nghĩa tổng quát của câu tục ngữ là gì? 2. Khẳng định tính đúng đắn của câu tục ngữ bằng việc đưa ra các dẫn chứng trong thực tế mà em biết. 3. Mở rộng câu tục ngữ. – Câu tục ngữ là một chân lí nhưng còn mang tính cực đoan. – Cũng có những trường hợp: Gần mực chưa chắc đã đen, gần đèn chưa chắc đã rạng. – Câu tục ngữ chỉ đúng với những người luôn có ý thức học hỏi. 4. Về ý kiến mà bạn đã nêu, có thể khẳng định: Ý kiến đó tuy có phần đúng nhưng không thể khẳng định tuyệt đối như vậy được. C. Kết bài: Tán thành phần đúng trong ý kiến mà bạn nọ đã nêu. Nhưng cần khẳng định tính đúng đắn theo hướng thuận chiều của câu tục ngữ, bởi đó là một chân lí đã được thực tế chứng minh. Đề 4: Hãy chứng minh rằng đời sống của chúng ta sẽ bị tổn hại rất lớn nếu mỗi người không có ý thức bảo vệ môi trường sống. Từ thuở con người xuất hiện trên Trái Đất, môi trường sống là một điều kiện không thể thiếu cho sự sinh tồn của sự vật và con người. Hiện nay, do nhu cầu đời sống vật chất cao nên ít ai quan tâm đến và làm cho môi trường ngày càng trở nên xấu đi do những kẻ vô lương tâm phá hoại. Môi trường là không gian sống của con người, động vật,…Bao gồm tất cả những gì xung quanh ta và được phân thành hai loại: Môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo. Môi trường tự nhiên là các yếu tố thiên nhiên như không khí, nước, đất, rừng,… Là lá phổi xanh của Trái Đất, là những ngọn núi cao hùng vĩ, là ánh sáng rạng ngời,… Môi trường rất quan trọng đối với đời sống của mỗi người. Vì thế, chúng ta phải bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe của chính mình. Cây xanh là nguồn cung cấp không khí trong lành. Cây còn ngăn lũ, cho bóng mát, bảo vệ đời sống con người. Vì thế, cây xanh cũng rất quan trọng trong môi trường. Nhưng có một số người không hiểu điều đó, chặt phá cây, đốt rừng, xuất hiện đất trống đồi trọc. Màu xanh dần dần biến mất, khí hậu trở nên ngột ngạt. Lũ lụt tràn về gây nhiều thiệt hại. Những nguồn lợi quý giá như gỗ, nguyên liệu làm thuốc,…dường như cũng bị cuốn vào những lưỡi cưa phá hoại rừng. Chỉ một hành động tàn nhẫn đó đã phá hoại vẻ đẹp thiên nhiên, mà con người không thể tạo ra. Đâu chỉ có vậy, rừng còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã, quý báu mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Con người đã săn bắn thú quý hiếm bán cho nhau. Chỉ vì cái lợi trước mắt mà tàn phá thiên nhiên. Bây giờ một số loài đã và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Chúng ta nên bảo vệ, xây dựng nhiều khu bảo tồn để bảo vệ các thú vật quý hiếm. Thành phần tiếp theo cũng có không ít vai trò quan trọng đó chính là nước. Nước là vật chất không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người và sự vật. Ví dụ như: Làm nước uống, giao thông đường biển, và nhiều sinh hoạt khác. Hãy nghĩ xem nếu một ngày không có nước thì mọi vật sẽ ra sao? Sẽ chất dần, héo dần vì mất nước, khô khan. Điều đó sẽ xảy ra nếu chúng ta cứ phung phí, không biết sử dụng hợp lí. Người ta thường nói “rừng vàng, biển bạc” mà giờ đây mặt biển lại bập bềnh toàn rác thải. Những ao, hồ bị ô nhiễm do rác của con người quá nhiều làm cho cá, tôm chết, nhiễm bệnh hàng loạt. Rồi con người lại sử dụng nguồn nước đó, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh bệnh. Ôi, thật kinh khủng! Nguồn nước bị ô nhiễm chẳng những không sử dụng được mà còn gây ô nhiễm môi trường do mùi hôi thối. Như mọi người cũng đã biết, Hồ Gươm là nơi rất sạch đẹp, dành cho mọi người đi tham quan, ngắm cảnh ở đây. Nhưng cách đây không lâu có một bài báo đưa tin về việc ý thức người dân bị giảm sút làm cho hồ bị ô nhiễm, mất đi vẻ đẹp văn hóa của Hồ Gươm. Môi trường sống là rất quan trọng. Nếu không có môi trường thì sẽ không có chúng ta, không có sự sống. Nhưng đã có nó thì phải biết giữ gìn, bảo vệ. Chúng ta không nên có thêm hành động nào phá hoại môi trường. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt nhất để hành tinh luôn xanh tươi. Đề 5: Hãy chứng tỏ rằng Bác Hồ sống vô cùng giản dị, thanh bạch. Dưới đây là bài soạn Viết bài tập làm văn số 5: Văn lập luận chứng minh bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 7: Viết bài tập làm văn số 5: Văn lập luận chứng minh Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 7 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 7 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Viết bài tập làm văn số 5_ Văn lập luận chứng minh
1,481
Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận Hướng dẫn Soạn bài lớp 8: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận là tài liệu tham khảo hay được sưu tầm, giúp bạn thuận tiện hơn trong quá trình soạn bài để chuẩn bị cho bài học mới trên lớp. Mời các bạn tham khảo. Soạn bài: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận Đề số 1:Tuổi trẻ và tương lai đất nước Mở bài: Đặt vấn đề, nêu vai trò của tuổi trẻ đối với tương lai của đất nước. Có thể trích dẫn câu nói nổi tiếng về tuổi trẻ. Thân bài: – Khái niệm tuổi trẻ: + Tuổi trẻ là lứa tuổi thanh niên, thiếu niên. Lứa tuổi được học hành, đang còn ngồi trên ghế nhà trường. + Tuổi trẻ là những năm tháng tươi đẹp nhất trong cuộc đời. – Nhấn mạnh tầm quan trọng của tuổi trẻ với đất nước: + Tuổi trẻ là lúc nhiều sức khỏe và thời gian nhất trong cuộc đời mỗi người. + Tuổi trẻ là tuổi có nhiều ước mơ, khát vọng và dám nghĩ dám làm. + Là tuổi có sức bật mạnh mẽ nhất. + Tuổi trẻ là tuổi cống hiến được nhiều nhất cho xã hội. → Với những lợi thế trên, tuổi trẻ trở thành nguồn nhân lực hàng đầu trong công cuộc xây dựng đất nước phát triển, cường thịnh. – Nhiệm vụ của tuổi trẻ + Tuổi trẻ cần tập trung trau dồi kiến thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức để trở thành người có nhân cách, năng lực. + Xây dựng kế hoạch và mục tiêu sống kiên định. + Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải tập trung học tập. + Tích cực tham gia những hoạt động tình nguyện vì cộng đồng. + Tránh xa các tệ nạn xã hội. + Đặt ra những mục tiêu và phương pháp học tập đúng đắn. + Kết hợp giữa học và thực hành để lý thuyết được áp dụng hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống. Kết bài: Khẳng định rằng tuổi trẻ chính là tương lai của đất nước. Xây dựng và bảo vệ đất nước là nhiệm vụ chung thiêng liêng của mỗi cá nhân trong quốc gia đó, vì vậy thế hệ trẻ cần tích cực trau dồi kiến thức, rèn luyện đạo đức xứng đáng là công dân có ích cho xã hội. Đề số 2: Văn học và tình thương Mở bài: Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: Văn học và tình thương. Chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa phạm trù này. Bất kì tác phẩm văn học nào cũng xuất phát từ tình thương và làm lan tỏa tình thương tới cộng đồng. Thân bài: – Khái niệm về văn học: Văn học là những sáng tác nghệ thuật mà người sáng tác dùng ngôn từ để truyền tải tư tưởng, tình cảm của mình tới người đọc. – Tình thương: Là sự thương yêu, quan tâm, đồng cảm, chia sẻ giữa người với người – Văn học gắn liền với tình thương + Tình yêu quê hương đất nước, lòng tự tôn dân tộc. + Có nhiều tác phẩm gắn liền với tình yêu đất nước, sự tự hào dân tộc như: Nam Quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Làng (Kim Lân). Quê hương (Tế Hanh). – Văn học gắn liền với tình cảm gia đình, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau. + Tình cha con, tình mẫu tử, tình anh em, tình cảm vợ chồng, tình bà cháu… đều được phản ánh trong các tác phẩm văn học. + Dẫn ra các tác phẩm tiêu biểu về chủ đề tình thương yêu gia đình: Nói với con (Y Phương), Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Bếp lửa (Bằng Việt), Con cò (Chế Lan Viên)… – Văn học phản ánh tình yêu thương giữa con người với con người với nhau. + Con người sống chung trong một xã hội có các mối quan hệ xã hội phức tạp. Ngoài những tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, còn có tình cảm của con người dành cho con người, những số phận đáng được thương cảm, thấu hiểu. → Như vậy văn học xuất phát từ tình thương, và mang tình thương truyền tải tới người đọc. Khơi dậy trong mỗi cá nhân những nguồn tình cảm thiêng liêng, tốt đẹp. Kết bài: Khẳng định vai trò của văn học và tình thương đối với cuộc sống. Nhờ có tình thương con người sống với con người chan hòa, hạnh phúc hơn. Nhờ văn học đời sống tinh thần của con người phong phú, tình thương được nhen nhóm và lan tỏa. Đề 3: Hãy nói “không” với các tệ nạn xã hội. Mở bài: Đặt vấn đề cần nghị luận. – Trong cuộc sống bên cạnh những điều tốt đẹp còn có nhiều tệ nạn có hại, hủy hoại con người và xã hội. – Nhiều thói quen có sức cám dỗ con người như cờ bạc, thuốc lá, ma túy, “truyền thông đen”… – Nếu con người không có bản lĩnh sẽ dần đi đến sa ngã vào những tệ nạn nguy hiểm trên. Vì vậy hãy nói “không” với tệ nạn xã hội. Thân bài: – Giải thích tệ nạn xã hội là gì: + Là những hành vi sai trái không đúng với chuẩn mực xã hội, phạm trù đạo đức, pháp luật. Tệ nạn xã hội là mối nguy hại, phá vỡ sự văn minh của xã hội. – Những biểu hiện cụ thể của tệ nạn xã hội. + Tệ nạn xã hội diễn ra ở nhiều nơi, ngay cả làng quê (nơi vốn được coi là yên bình. + Tệ nạn xã hội có thể xảy ra ở mọi đối tượng không riêng gì một cá nhân nào. + Tệ nạn xã hội xảy ra ở nhiều thời điểm, lứa tuổi, đối tượng khác nhau. – Tác hại của tệ nạn xã hội gây ra đối với đời sống của con người. + Dẫn ra tác hại về vật chất: Làm tổn hại tới tài chính, kinh tế. + Tác hại về đạo đức, nhân cách sống. + Tác hại tệ nạn gây ra đối với xã hội, cộng đồng là rất lớn. – Cách phòng chống tệ nạn xã hội + Với cá nhân: Cần trang bị đầy đủ các kiến thức về tệ nạn xã hội, phải hình thành lối sống lành mạnh, suy nghĩ tích cực… + Với gia đình: Cần giáo dục con cái sống tích cực, quản lí tốt thời gian, tiền bạc, nêu gương của người lớn… + Với xã hội: Cần tuyên truyền, đưa ra khung pháp lý nghiêm. + Phòng chống tệ nạn xã hội phải được chú trọng bởi nó có ý nghĩa quan trọng với mỗi quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống yên bình cho cộng đồng. + Tránh xa những tệ nạn xã hội con người có điều kiện và môi trường tích cực để phát triển bản thân. → Cần nói “không” với các tệ nạn xã hội, phải tìm hiểu kiến thức chung về tệ nạn xã hội và các biện pháp tránh xa tệ nạn xã hội. Kết bài: Mọi người đặc biệt là người trẻ cần tránh xa và kiên quyết nói “không” với tệ nạn xã hội. Nếu lỡ mắc phải thì cần quyết tâm từ bỏ, làm lại cuộc đời. Cần xây dựng lối sống và môi trường sống lành mạnh để phát triển cá nhân. Dưới đây là bài soạn Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận bản rút gọn nếu bạn muốn xem hãy kích vào đây Soạn văn 8: Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận Ngoài đề cương ôn tập chúng tôi còn sưu tập rất nhiều tài liệu học kì 2 lớp 8 từ tất cả các trường THCS trên toàn quốc của tất cả các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Hóa, Sinh. Hy vọng rằng tài liệu lớp 8 này sẽ giúp ích trong việc ôn tập và rèn luyện thêm kiến thức ở nhà. Chúc các bạn học tốt và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới
Soạn bài_ Viết bài tập làm văn số 7 – Văn nghị luận
1,361