text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề bài: Thuyết minh về lễ hội Đền Hùng Bài làm Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm. Hàng năm, lễ hội Giỗ Tổ vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Vào những năm chẵn (5 năm một lần), Giỗ Tổ được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Việc tổ chức lễ hội Giỗ Tổ rất chặt chẽ, bao gồm hai phần: lễ và hội. Lễ hội Rước Kiệu được duy trì trang nghiêm trong các đền, chùa trên núi Hùng. Nghi thức dâng hương hoa của các đoàn đại biểu của Đảng, Chính phủ, các địa phương trong toàn quốc,… được tổ chức long trọng tại đền Thượng. Từ chiều ngày mồng 9, làng nào được Ban tổ chức lễ hội cho phép rước kiệu dâng lễ đã tập trung tại nhà bảo tàng dưới chân núi, trên kiệu đặt lễ vật. Sáng sớm ngày mồng 10, các đoàn đại biểu tập trung ở một địa điểm tại thành phố Việt Trì, có xe tiêu binh rước vòng hoa dẫn đầu, diễu hành tới chân núi Hùng. Các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau kiệu lễ, lần lượt lên đền theo tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước thềm của “Điện Kính Thiên”, đoàn dừng lại, kính cẩn dâng lễ vào thượng cung đền Thượng. Một đồng chí lãnh đạo tỉnh (năm chẵn là nguyên thủ quốc gia hoặc đại biểu đại diện Bộ Văn hoá), thay mặt cho tỉnh và nhân dân cả nước đọc chúc căn lễ Tổ. Toàn bộ nghi thức hành lễ được hệ thống báo chí, phát thanh truyền hình đưa tin hoặc tường thuật trực tiếp để đồng bào cả nước có thể theo dõi lễ hội. Đồng bào dâng lễ trong các đền, chùa trên núi, ai cũng có tâm nguyện cầu mong tổ tiên chứng giám, phù hộ độ trì cho con cháu. Lễ Dâng Hương sẽ được diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh các đền, chùa và dưới chân núi Hùng. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá hơn xưa. Các hình thức văn hoá truyền thống và hiện đại được đan xen nhau. Trong khu vực của hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hoá phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn thể,… được tổ chức và duy trì một cách trật tự, quy củ. Tại khu văn thể, các trò chơi văn hoá dân gian được bảo lưu có chọn lọc như: đu quay, đấu vật, chọi gà, bắn nỏ, rước kiệu, kéo lửa nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người)…. Có năm còn diễn trò “Bách nghệ khôi hài”, “Rước chúa gái”, “Rước lúa thần” và trò “Trám” tại khu vực hội. Cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp: chèo, kịch nói, hát quan họ,… Hội ngày nay chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hoá giữa các vùng. các nghệ nhân người Mường mang đến lễ hội thanh âm của tiếng trống đồng một thời dóng trên đỉnh núi Hùng, gọi mặt trời làm mưa, làm nắng thuận hoà, cho mùa màng tốt tươi, muôn dân hạnh phúc. Những làn điệu Xoan – Ghẹo với lời ca tinh tế, mượt mà đã đem tới cho lễ hội đền Hùng một nét đặc trưng, thấm đượm văn hoá vùng Trung du Đất Tổ. Một điểm quan trọng nằm ở giữa trung tâm lễ hội là nhà bảo tàng Hùng Vương, ở đây lưu giữ vô số những cổ vật đích thực của thời đại các Vua Hùng. Thời đại của chúng ta ngày nay đang ngày càng góp sức tô điểm và phát huy sự cao đẹp của lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương. Hàng năm, ý nghĩa tâm linh của cuộc trẩy hội về Đền Hùng đã trở thành nếp nghĩ, nếp sinh hoạt truyền thống không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần tín ngưỡng của người Việt Nam. Không phân biệt già trẻ, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt tôn giáo…. Tất cả những người con đang sống trên mọi miền Tổ quốc, những người con xa xứ đều bình đẳng về mộ Tổ, thăm đền và dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương.
Thuyết minh về lễ hội Đền Hùng
751
Đề bài: Thuyết minh về Lễ hội Đồng Nhân Bài làm Đồng Nhân có Đồng Nhàn Châu (Châu: bãi) và Đồng Nhân xóm Chùa, hai làng vốn cùng một cội nguồn, nằm sát hữu ngạn sông Hồng, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Đồng Nhân có đền thờ hai vị nữ anh hùng dân tộc là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Lễ hội Đồng Nhân có đã lâu dời, diễn ra trong 3 ngày từ mùng 4 đến mùng 6 tháng Hai âm lịch hằng năm. Ngày mùng 4 làm lễ tiên cáo. Ngày mùng 5 làm lễ chính tịch có lễ rước nước và tế lễ. Sáng sớm mùng 5, dẫn đầu đám rước đông hàng nghìn người, các bô lão và chủ tế đưa thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước đổ vào 2 cái chóe bằng sứ đem về đền để tắm tượng và dâng cúng. Hai bà lão đức hạnh nhất làng được cắt cử ra tắm tượng và thay áo mới cho tượng; số nước còn lại dùng dâng cúng suốt năm. Tắm tượng xong thì tế lễ: dâng hương. Nến thắp sáng lung linh hàng trăm ngọn. Tiếng chiêng trống nổi lên trầm hùng. Lễ múa đèn diễn ra tưng bừng như lễ đăng quang của Hai Bà tại Mê Linh nghìn năm về trước. Đội múa đèn có 10 thiếu nữ mặc áo dài đen thắt lưng đỏ ở ngoài áo, múi buộc chéo cạnh sườn. Đèn là một cái đài chung quanh có dán những cánh hoa giấy rực rỡ. Giữa đèn là một ngọn nến đang cháy. Thiếu nữ múa đèn hai tay cầm hai đèn, lượn qua lượn lại, đi vòng đi chéo xung quanh bàn thờ, nhịp nhàng theo chiêng trống. Có lúc họ chụm lại rồi chia thành hàng đôi đối diện nhau trước bàn thờ. Ánh lửa nến lung linh làm cho đôi má thiếu nữ hồng lên thật đẹp. Dẫn đầu đội múa đèn là một chàng trai đóng giả gái đựợc hóa trang rất khéo, thường gọi là “con đĩ đánh bồng", vai đeo một cái trống cơm, vừa đi vừa vỗ vào mặt trống giữ nhịp, dáng điệu mềm mại ẻo lả, cảnh múa đèn thêm rộn ràng, linh hoạt. Lễ múa đèn làm cho lễ hội Đồng Nhân mang màu sắc lịch sử hào hùng, cổ kính và thiêng liêng. Ngày mùng 6 tháng 3 hàng nghìn người dân làng Đồng Nhân cùng với dân các làng kết nghĩa như Phụng Công, An Duyên làm lễ kết thúc hội và đóng cửa đền. Chén rượu mừng xuân mừng các bô lão trăm tuổi, xóm làng yên vui, hạnh phúc, thái bình. Cuộc đánh cờ người diễn ra đến chiều tối.
Thuyết minh về Lễ hội Đồng Nhân
452
Đề bài: Em hãy thuyết minh về mâm cỗ trung thu Bài làm Có thể nhận thấy được rằng từ ngàn xưa, người Việt Nam ta cứ mỗi lần đến Tết Trung thu thì lúc này đây cả ggia đình bao gồm cả ông bà, cha mẹ lại gửi gắm rất nhiều tình cảm và nỗi niềm vào những mâm cỗ. Mẫm cỗ có ý nghĩa rất đặc biệt với con trẻ, mâm cỗ sẽ là để con trẻ được phá cỗ trông trăng. Thế rồi ta như thấy được trong mâm cỗ đó có những sản vật bình dị, dân dã, cây nhà lá vườn dưới bàn tay khéo léo của người tạo ta mâm cỗ đó. Thế rồi cũng cộng với tất cả tình yêu thương dành cho con cháu, thì ta cũng như thấy được ở các bà các mẹ đã làm nên những mâm cỗ trông trăng đẹp mắt biết bao nhiêu. Chính những mâm cỗ dường như cũng thật là giàu phong vị và đậm đà ý nghĩa. Mâm cỗ trung thu rất ý nghĩa biết bao. Trong mâm cỗ này không thể thiếu được hoa quả và bánh kẹo. Điều đặc biệt là được trưng bày làm sao cho khéo léo nhất. Các loại hoa đều là những loại quả đặc trưng cho mùa thu như thanh long, những quả cam và quả bưởi thơm ngon. Thế rồi có cả những sản phẩm của bột gạo, bột ngô, đó được xem chính là những tinh tuý của đồng đất quê hương cùng biết bao khát vọng vươn tới tương lai bằng việc rèn đức luyện tài với tư tưởng đến việc “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đặc biệt ta dường như cũng đã thấy được như xưa kia cha ông ta đã gửi gắm mong ước đó qua hình tượng “ Ông tiến sĩ giấy”. Trong mâm cổ cũng có trưng bày cả đèn kéo quân – một trong những trò chơi dân gian được các em nhỏ yêu thích. Trò chơi như cũng đã khuyên nhủ các em phải học thật tốt, học thật thi thật để dựng xây dất nước. Ta như cũng biết được rằng những em thiếu nhi – những mần non tương lai của đất nước phát huy những truyền thống đó để xây dựng một đất nước Việt Nam để có thể mà sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới như lời dạy của Bác Hồ. Tóm lại ta như thấy được mâm cỗ Trung thu thật bình dị những nó lại có những bài học sâu sắc cho các em. Hơn nữa các em có thể vui chơi và cùng phá cỗ đón một ngày trung thu – Tết của thiếu nhi. Minh Nguyệt
Thuyết minh về mâm cỗ trung thu
458
Thuyết minh về mâm ngũ quả trong ngày tết Hướng dẫn Thuyết minh về mâm ngũ quả trong ngày tết Bài Làm Giống như bánh chứng, bánh giầy của Lang Liêu, thì mâm ngũ quả là một thứ đồ không thể thiếu trên bàn thờ gia tiên của mỗi gia đình người Việt ta. Không biết tự bao giờ mà mâm ngũ quả lại trở lên quan trọng trong ngày tết cổ truyền. Từ Bắc vào Nam cứ vào ngày tết âm lịch hàng năm thì nhà nhà lại có một mâm ngũ quả với đủ thức quả để dâng lên ông ba, tổ tiên. Với một ý nghĩa mong những điều tốt đẹp sẽ đến trong năm mới. Đây làm một nết đẹp truyền thống của nhân dân ta được truyền từ ngàn đời. Cũng giống như mọi gia đình trên đất nước Việt Nam. Cứ vào ngày tết cổ truyền gia đình em lại bày một mâm ngũ quả để kính dâng lên tổ tiên để tỏ lòng thành kính. Vào ngày hai tám tết âm lịch hàng năm, dù tấp lập đủ việc để chuẩn bị đón tết, mẹ em vẫn dành phần lớn thời gian để bầy mâm ngũ quả. Bao nhiêu năm nay mẹ vẫn là người được cả gia đình em tin tưởng để bầy mâm ngũ quả. Dù người khó tính nhất trong gia đình là bà nội em cũng gật đầu với mâm ngũ quả của mẹ. Mẹ em là người đảm đang quán xuyến mọi việc trong gia đình. Không phải ai cũng bày được mâm ngũ quả toát lên được ý nghĩa mong muốn của gia đình. Vì vậy, mẹ em luôn chăm chút cho mâm ngũ quả sao cho thật đẹp mắt mà còn đầy ý nghĩa. Dù ngày tết năm nào trên bàn thờ tổ tiên cũng nào là bánh, kẹo, mứt, bánh chưng… nhưng mâm ngũ quả vẫn được đặt ở trung tâm, đặt ở vị trí cao nhất, trịnh trọng nhất trên ban thờ thể hiện tầm quan trọng của mâm ngũ quả. Mọi năm mẹ em luôn để dành những buồng chuối ngoài vườn to, đẹp nhất để bày lên mâm ngũ quả. Nhà có nhiều loại chuối nhưng mẹ luôn chọn những buồng chuối lùn vì chuối này to, cong rất đẹp, sẽ ôm được được chọn những loại quả khác. Mẹ rất quan tâm đến chuối dù mưa bão, chuối mọi nhà đổ gãy mẹ em vẫn giữ được chuội để thờ ngày tết. Mẹ lấy cái đĩa nhựa to nhất rửa sạch sẽ rồi đặt hai nải chuối to đẹp mới chọn ghép vào như một cái lớn ôm chọn các loại quả khác. Tiếp đến là quả bưởi, bưởi phải chọn là quả bưởi to, óng còn cuống và có ba chiếc lá nhỏ xinh bên trên được đặt ở giữa hai nải chuối xinh bên trên được đặt ở giữa hai nải chuối. Những năm mà không có bưởi thì mẹ thường lựa chọn đu đủ hoặc dưa hấu để thay thế. Để mâm ngũ quả ngày tết được sinh động và đẹp mắt mẹ em lựa chọn những quả quất vàng gài vào những khe của chuối, mẹ em nói đây là thể hiện sự đoàn tự, khăng khít. Rồi mẹ thêm những chùm sung mà em chảy ở sau vườn rửa sạch thể hiện sự sung túc ấm no cho năm mới. Và quả thứ năm trong mâm ngũ quả đó là quả trúng gà, những quả trứng gà to, vàng ở cây trước nhà được mẹ sử dụng. Nói là ngũ quả nhưng có thể là hơn năm loại quả có thể là bảy chín … hay nhiều hơn nhưng phải toát lên được vẻ đẹp của mâm ngũ quả. Từ ngày còn bế năm sáu tuổi em đã rất thích ngắm mẹ bày mâm ngũ quả. Sao nó lại thiên liêng và cao đẹp đến thế. Mẹ nói ở miền bắc chúng ta thì năm loại quả có thể khác nhau ở mỗi nhà nhưng ở miền nam thì luôn giữ truyền thống với năm loại quả chính là quả mãng cầu, sung, dừa xiêm, đu đủ, xoài mà theo quan niệm ngày xưa thì ta độc lái các từ sẽ thành cầu- sung – vừa -đủ -xài. Dù những loài quả ở hai miền Nam bắc có khác nhau nhưng vẫn mang ý nghĩa mong sung túc, no đủ, an lành và hành phúc. Khí hậu hai miền khác nhau nên hoa trái mỗi miền cũng khách nhau. Mâm ngũ quả thật thiêng liêng và mang nhiều ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đây chính là sự kế thừa và phát huy truyền thống tổ tiên của dân tộc ta. Dù xã hội đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng truyền thống cha ông vẫn được tiếp nối, đây là một điều đáng mừng cho đất nước. Giống mâm ngũ quả cửa gia đình em mong rằng ngày tết sum vầy, nhà nhà bên nhau.
Thuyết minh về mâm ngũ quả trong ngày tết
838
Thuyết minh về món canh chua cá lóc Hướng dẫn Thuyết minh về món canh chua cá lóc Món canh chua cá lóc vốn là một món ăn quen thuộc, gắn bó với văn hóa ẩm thực của con người Việt Nam. Ở từng địa phương khác nhau thì món canh chua cá lóc lại được chế biến với những cách thức khác nhau, thể hiện được những nét đặc trưng về ẩm thực của từng vùng miền. Khái niệm canh chua cá lóc được sử dụng phổ biến hơn ở khu vực Nam Bộ. Món canh chua cá lóc của người Nam Bộ có hương vị đặc trưng đó là vị chua và vị ngọt. Cái tinh tế của món ăn này là vị chua không quá gắt mà chua dịu, khi ăn mang đến cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng, vị ngọt của canh cũng không quá đậm mà chỉ ngọt nhẹ, hai hương vị này kết hợp với nhau đã tạo nên được nét đặc trưng cho món canh chua cá lóc. Để làm món canh chua cá lóc cũng rất đơn giản trước hết là việc chuẩn bị nguyên liệu. Trước hết không thể thiếu được cá lóc, bên cạnh đó cần chuẩn bị những loại nguyên liệu khác như: cà chua, bạc hà, đậu bắp, một quả dứa, giá đỗ, me chua, ràu mùi, ớt, sả, tỏi. Những gia vị cho món canh chua cá lóc bao gồm: đường, mắm, dầu ăn, bột ngọt, hạt nêm. Tiếp đó, cho me nấu với một bát nước để me tan. Ăn kèm với món canh chua cá lóc có món rau sống và giá đỗ, nên nhặt sạch giá đỗ, để ráo nước, những loại rau khác nhặt sạch, ngắt lấy phần non, đối với đậu bắp thì xắt lát, bạc hà tước vỏ… Đặt nước lên bếp, cho nước me vào đun sôi, khi nước sôi cho cá lóc vào nấu chín, sau đó cho thêm dứa, đậu bắp, cà chua, lá bạc hà và tắt bếp. Tùy theo sở thích của mỗi gia đình mà có thể nêm nếm cho món canh chua cá lóc cho phù hợp. Bước cuối cùng là trình bày món ăn. Canh chua cá lóc cho ra bát, để cho món ăn đúng vị và được trang trí đẹp mắt hơn thì có thể rắc lên trên món ăn rau mùi, ớt xắt lát và tỏi phi lên bên trên. Ăn kèm với món canh chua cá lóc là bún hoặc cơm, tùy theo khẩu phần ăn của từng người mà có sự lựa chọn khác nhau. Cách thức làm món canh chua cá lóc rất đơn giản, vì vậy mà ai cũng có thể tham khảo và nấu cho gia đình một món canh chua cá lóc đúng vị. trong những ngày hè,món canh chua cá lóc không chỉ xua đi cái nóng mà còn gắn kết tình cảm của những người thân trong bữa ăn gia đình. Món canh chua cá lóc là món ăn dân tộc phổ biến có ở mọi vùng miền, tuy nhiên, đặc trưng văn hóa ẩm thực ở các vùng có sự khác nhau nên cách nấu món canh chua cá lóc cũng khác nhau. Đây là món ăn dân giã nhưng lại mang đến cho bạn một cảm giác đặc biệt, hãy cùng gia đình thưởng thức món ăn thơm ngon này nhé.
Thuyết minh về món canh chua cá lóc
561
Đề bài: Thuyết minh về món phở Hà Nội Bài làm Trong danh mục các món ăn nổi tiếng của Việt Nam. Món Phở luôn là món ăn được nhiều du khách nước ngoài biết đến nhiều nhất, bởi nó có mùi vị vô cùng hấp dẫn, thu khẩu vị ngon lạ thường Phở Hà Nội không biết có từ khi nào những nó trở thành món ăn vô cùng quen thuộc với người Hà Nội và với nhiều người dân Việt Nam. Phở có hương vị vô cùng thơm ngon, độc đáo với từng loại vị của nước dùng khác biệt. Phở Gà, Phở Bò… Khi làm phở, để có thể ngon thu hút người khác thì khâu làm nước dùng của phở vô cùng quan trọng. Có thể nói nước dùng chính tâm hồn của bát phở. Nước dùng ngon thì sẽ làm vị của bát phở vô cùng thu hút người ăn cả về vị giác lẫn khứu giác. Nước dùng truyền thống được ninh từ xương, chủ yếu người ta thường dùng xương ống của bò hoặc lợn. Nếu làm phở bò thì dùng xương bò, còn các loại phở gà hay phở khác thì dùng xương lợn để không bị mùi của bò át đi hương vị món ăn khác. Xương sau khi được chọn lọc rửa kỹ bằng nước sạch rồi cho vào nồi lớn ninh bỏ nước ban đầu. Sau đó cho nước mới vào ninh thật kỹ cho những vị ngon ngọt từ xương ra hết trong nước. Sau khi nước được người ta bắt đầu nêm nếm các loại gia vị, mùi vị của nước dùng. Tùy theo từng loại phở mà người nấu sẽ cho những gia vị phù hợp với món phở của mình. Bánh phở thường được làm từ bột gạo tẻ. Gạo tẻ khi ngâm lên rồi xay thành bột tráng thành bánh rồi lấy kéo cắt thành những mảnh nhỏ tạo thành bánh phở. Ngoài ra, trong bát phở còn có thêm các loại thịt như thịt bò, thịt gà, hành, tiêu, rau mùi, dấm ớt, chanh…để ăn kèm cùng bát phở thơm ngon nóng hổi. Phở Hà Nội có ba loại phở nước, phở xào, và phở áp chảo. Tuy nhiên, phổ thông và nổi tiếng nhất là loại phở nước. Phở được chan với nước dùng, thịt nhúng, rau sống, hành…. Khi ăn phở cần ăn nóng, thì cảm giác sẽ vô cùng thơm ngon. Đặc biệt trong những ngày đông giá lạnh ăn một bát phở nóng hổi vừa thổi vừa ăn thì sẽ vô cùng ấm người. Tác giả Thạch Lam trong cuốn “Hà Nội 36 phố phường” của mình có viết những câu nói về món phở Hà Nội như sau “Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ Hà Nội mới ngon...” Phở Hà Nội là một món ăn truyền thống vô cùng nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà ở cả thế giới, khi đi tới đâu nếu có món phở người ta sẽ biết ngay đó là người Việt Nam. Bởi phở đã trở thành món ăn truyền thống gắn liền với người dân trên đất nước hình chữ S thân yêu này.
Thuyết minh về món phở Hà Nội
540
Đề bài: Thuyết minh về món ăn yêu thích Bài làm Cơm hến Cơm hến là món ăn cay, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi. Cơm của cơm hến là cơm nguội, mùi ruốc mặn nồng thơm nức mũi, vị chua thanh của khế, mùi thơm ngây ngất của rau thơm, chuối bắp, bạc hà, vị ngọt đằm thắm của nước hến, béo ngậy của tóp mỡ, vị cay đến xé lưỡi, đến phỏng miệng của ớt tương… Người ăn cơm hến đôi lúc vẫn chưa vừa lòng với món ớt tương cay nồng sẵn có, còn cắn thêm trái ớt tươi, kêu cái “bụp!” rồi xì xụp, xuýt xoa hít hà cho nước mắt nhỏ giọt, mới thấm thía được cái ngon cơm hến. Thế nên, có người còn gọi là “món ngon trời hành”. Các thôn nữ đội nón lá mỗi sáng gánh cơm hến đi khắp các ngả đường cất tiếng rao lanh lảnh ngọt ngào “hến khô… ông” là hình ảnh và âm điệu không thể nào quên của những người xa Huế. Vả Huế Vả là món ăn dân dã của Huế và vả cũng trở thành món ăn thượng lưu của du khách khi đến Huế. Vả đã để lại trong lòng người xa quê nỗi nhớ quê nhà. Thiên nhiên dành cho Huế một loài cây thuộc họ sung nhưng trái lớn, đó là cây vả. Vả cho trái ăn vừa ngọt vừa bùi. Vả tạo thêm hương vị đậm đà ngon miệng cho các món ăn từ xào, nấu, kho cho đến ăn sống. Món rau sống kèm với những món ăn như bún thịt nướng, bún thịt kẹp tôm chua, bánh khoái, thịt bò nhúng dấm… thì vùng miền nào cũng như nhau, nhưng ở đây kẹp với miếng vả trắng hồng chấm với mắm nêm trộn với ớt xanh vừa giòn vừa cay đến độ hít hà thì không gì ngon bằng. Đặc biệt là món vả trộn. Để có món vả trộn xúc ăn với bánh tráng, luộc vả trong nước sôi cho đến lúc nào có thể dùng tay chà bóc lớp vỏ xanh, xong cho vào nồi luộc tiếp cho thật nhừ, bóp tơi quả vả cho thật nhuyển. Mè đem rang vàng chà vỏ, thịt nạc và da heo luộc chín xắt hạt lựu, ướp gia vị nước mắm, hành tiêu, bột ngọt, muối, ớt bột… Các thứ trên trộn đều thành hỗn hợp, thái nhỏ rau thơm, hành, ngò rải trên mặt. Vả trộn ăn với bánh tráng (bánh đa) nướng. Chưa dừng ở món vả trộn, vả còn cho vào kho chung với thịt heo, thịt bò nhưng hấp dẫn hơn cả là vả kho với cá rô, cá nục, cá ngừ… Bún bò giò heo Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào. Bún thì không đâu không có, nhưng hình thức của con bún thì mỗi miền mỗi khác. Ở Hà Nội, xưa và nay cũng la liệt bún “bún riêu, bún chả, bún ốc, bún thang…” mà có lẽ đặc biệt nhất là bún chả, sợi bún rất mảnh lại cuộn từng lá mỏng, còn chả thì là thịt ba chỉ cặp vào thanh tre rồi đem nướng trên than hoa, chẳng khác gì bún thịt nướng ở Huế nhưng ngon hơn nhờ nước chấm và rau húng. Ở Huế cũng thế, có bún giò heo. Dọc hai bên đường bạn sẽ gặp ngay ở đây những gánh bún rất bình dân nhưng cũng rất ngon, rất đông khách… Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng và được người thợ gò xứ Huế gò rất khéo, trông giống một chiếc nồi đồng ngày xưa nhưng sâu và miệng rộng hơn. Cái nồi được chùi rửa kỳ cọ rất kỹ nên bao giờ cũng sáng trắng, trông rất thích mắt. Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong nổi bật trên đó là những viên mọc hồng (được viên từ giò sống và thịt cua), những miếng móng giò được ninh mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng rá và màu xanh của rau sống, húp một ít nước beo béo đậm đà kèm theo một chút gia vị mắm ớt chanh bạn sẽ thấy vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xuýt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt chạy dần vào trong thực quản, chắc chắn bạn sẽ không quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào. Bánh bèo xứ Huế Không biết có từ bao giờ, nhưng bánh bèo đã là một đặc sản, một món ăn không thể thiếu của người dân xứ Huế. Bánh bèo có mặt từ mâm cơm dân dã ở mỗi gia đình cho đến các bữa tiệc, ngày lễ, ngày Tết và các dịp đãi khách trọng thể. Có dịp đến Huế, mới thấy bánh bèo gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân cố đô như thế nào. Khoảng từ 3 đến 5 giờ chiều, đâu đó trên các ngõ phố những phụ nữ gọn gàng trong bộ áo dài thongthả bách bộ với quanh gánh nhẹ trên vai hoặc chiếc thúng nhỏ cắp ngang hông, đi bán bánh bèo, bánh lọc đến từng nhà. Người Huế rất thích và đã thành thói quen dùng loại bánh đầy hương vị quê nhà này vào các bữa ăn phụ, chỉ cần 1.000 đồng là đã có một đĩa bánh bèo lót dạ thơm ngon. Bánh bèo cũng không thiếu trong các bữa “cơm vua” phục vụ khách du lịch và trong các bữa tiệc “cơm cung đình” chiêu đãi các khách quý. Từ khi quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO xếp loại là di sản thế giới, khách du lịch trong và ngoài nước đến Huế ngày càng đông. Vì vậy, song song với kiểu kinh doanh “cơm vua” trong các khách sạn, nhà hàng… ở Huế bây giờ còn mọc lên nhiều “phố bánh bèo” quanh cung An Định, đường Ngự Bình, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm… Những “phố bánh bèo” này, thực khách không chỉ là dân Huế mà phần đông là khách từ phương xa đến. Quả thật, ai có dịp đến Huế cũng đều muốn thưởng thức món bánh bèo – một món đặc sản của đất cố đô. Bánh khoái Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò (hoặc chim) nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống. Khuôn bánh khoái làm bằng gang hình tròn, to bằng hai bàn tay trẻ con có cán cầm. Khi nào có khách ăn, nhà hàng mới bắc khuôn lên lò đổ bánh. Múc một muôi bột trứng đổ vào khuôn nóng đã tráng mỡ. Tiếng bột bén mỡ xèo xèo bốc lên quyến rũ, bột chín vàng rơm thì gắp một miếng thịt bò nướng, lát mỡ nhỏ, một vài con tôm, ít giá bỏ vào một nửa phần bánh, dùng đũa lật phần bánh còn lại úp lên thành hình bán nguyệt lật bánh cho vàng đều hai bên, xong bày ra đĩa. Bánh ngon một phần nhờ nước lèo, thứ nước chấm chỉ các đầu bếp giỏi mới chế được. Ðây là bí quyết gia truyền, quyết định chất lượng, tạo nên hương vị thượng hạng của bánh khoái. Nước lèo Huế được chế biến rất cầu kỳ với hàng chục nguyên liệu như bột báng, gan lợn, mè (vừng), lạc rang… Quán bánh khoái Thượng Tứ tồn tại gần ba bốn chục năm nay, đã trở thành văn hoá ẩm thực Huế, làm say lòng du khách, thân thuộc với người Cố Ðô chẳng khác gì cơm hến, tiếng chuông chùa Thiên Mụ, con đò sông Hương. Vâng, đó chính là một phần văn hóa Huế.
Thuyết minh về món ăn yêu thích
1,383
Thuyết minh về một bãi biển (Cửa Tùng) mà em biết Hướng dẫn Thuyết minh về một bãi biển (Cửa Tùng) mà em biết Đây là vùng bãi biển đẹp nổi tiếng trải dài từ cửa sông Minh Lương (Cửa Tùng Luật, nơi sông Hiền Lương đổ ra biển ở địa phận hai làng Cát Sơn (phía Nam), An Hòa (phía Bắc) đến mũi Hàu). Xưa, đây là địa phận của phường Vĩnh An – Tổng An Du – phủ Vĩnh Linh – tỉnh Quảng Trị. Cửa Tùng vừa có những dải cát dài, những mũi đá, và cả những đồi đất đỏ… rất hiếm có trên dọc suốt 3. 260km bờ biển Việt Nam. Nguyên xưa, địa danh Cửa Tùng bao gồm một vùng rộng lớn của các vùng phía Đông huyện Minh Linh (Vĩnh Linh và Gio Linh ngày nay). Các phát hiện về khảo cổ học cho thấy: Cửa Tùng có nền văn hóa lâu đời hình thành từ thời kì Đại Đá Mới. Từ thế kỉ thứ XI đến cuối thế kỉ XIX, Cửa Tùng là một cảng thị sầm uất có vai trò to lớn, trong sự phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa của xứ Đàng trong… Sau Hiệp ước Patơnốt (1884) cùng với việc củng cố chính quyền thống trị thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa. Chính quyền người Pháp đã phát hiện ra vẻ đẹp kì thú nên thơ của Cửa Tùng. Alaborde – một người Pháp rất am tường về Đông Dương và Quảng Trị đã mô tả: “Cửa Tùng có một sắc thái rất đặc biệt bởi cao nguyên xanh tươi ở độ cao 20m… Từ trên đồi con dốc người ta chiêm ngưỡng những màu xanh luôn biến đổi của biển và trời… Cửa Tùng có đủ các yếu tố để hàng năm du khách có thể đến đây nghỉ mát”. Thật vậy, từ sắc thái đổi,màu trong ngày đến cảnh quan khá đặc biệt đã tạo nên một vẻ hấp dẫn. Phía Nam là những dải cát dài (mà Lê Quý Đôn gọi là đại Trường Sa). Phía Tây là nhưng làng quê đất đỏ mướt xanh hồ tiêu, mít, chè. Phía Bắc là mũi Hàu, mũi si Giông như những con khủng long khổng lồ phơi mình cho sóng biển vuốt ve. Cửa Tùng là một bãi tắm đẹp và an toàn, độ thoải mái của bãi tắm khá đặc biệt: từ trong bờ lội ra đến 400 – 500m nước chỉ sâu 1, 5 – 1, 7m. Độ mặn của nước biển vừa phải: nhạt hơn các vùng biển phía Nam, đậm đà hơn các bãi tắm Nhật Lệ, Cửa Lò… Đặc biệt, Cửa Tùng tọa lạc trên một cùng cách xa các khu công nghiệp nên môi trường nước và không khí không bị ô nhiễm. Mặc dù là bãi tấm mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 9) song Cửa Tùng lồng lộng gió đông nam (mà dân địa phương gọi là gió nồm), vì thế cái nóng, bốc lửa của gió lào về cách Cửa Tùng từ 6 -7m bị “vô hiệu hóa” hoàn toàn. Nhà văn Nguyễn Tuân viết: “Thiên nhiên tháng bảy trên biển Cửa Tùng càng về chiều càng như một bà thợ nhuộm quảng cáo dần cho cái tủ thuốc màu bách biến vạn hóa của mình.” Tất cả những cánh buồm nước ngọt buồm nước mặn trên bể đêm, ửng lừ một sắc mai cua vộ tôm nguội lửa. Ngoài khơi xa, nằm trên ngấn Thái Bình Dương, đảo Hòn cỏ bập bềnh đỏ: một hòn than hoa chưa vạc hết ruột đá. Trên chỏm những đụn cát hồng, đống sa sâm của những em bé đang đào cho đông y rực lên cái đằm thắm của ráng chiều… “. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Cửa Tùng được đầu tư xây dựng khá quy mô và đẹp. Người Pháp cho xây đường xá (tỉnh lộ 70) đặt trạm bưu biện, ngân hàng và nhà nghỉ cho các quan chức thực dân, nơi cách li ru ngủ vua Duy Tân. Hệ thống nhà nghỉ nguy nga tráng lệ. Tại đây vị vua yêu nước Duy Tân đã tô nạp những nhân sĩ, trí thức bàn luận về việc nước. Ông đã nói một câu khẳng khái: “Tay nhớp lấy nước mà rửa, nước nhớp lấy máu mà rửa?”. Cửa Tùng là bảo vật của thiên nhiên ban tăng, qua dặm dài lịch sử đất nước Cửa Tùng là một “điểm nhấn” trong một không gian vốn hóa du lịch nổi tiếng. Sông Bến Hải – cầu Hiền Lương; Làng địa đạo Vịnh Mốc; Bãi Cửa Tùng; rừng nguyên sinh Rú Lịnh. Nếu được quy hoạch và đầu tư thích hợp, khu danh thắng Cửa Tùng chắc chắn sẽ trở thành một điểm du lịch hấp đẫn thu hút du khách trong và ngoài nước. Đó là một việc làm rất cấn thiết trong phát triển kinh tế, xã hội; văn hóa – du lịch trên vùng đất Quảng Trị anh hùng.
Thuyết minh về một bãi biển (Cửa Tùng) mà em biết
839
Đề bài: Thuyết minh về một con chó Bài làm Chó là một loài động vật rất có ích cho người. Nó trung thành, dễ gần và là bạn của con người. Cũng có thể vì thế ta còn gọi nó là “linh cẩu”. Chó có rất nhiều loại và từ đó người ta đặt tên cho chúng. Chó là một trong số những loài động vật được thuần dưỡng sớm nhất. Trung bình chó có trọng lượng là từ một đến tám mươi ki-lô-gam. Chó là loại động vật có bốn chân, mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc nhưng khi đi thì cụp vào. Chó có bộ não rất phát triển, xương quai hàm cứng. Đặc biệt, tai và mắt chó rất thính và tinh vào ban đêm. Chó vẫy đuôi để biểu hiện tình cảm. Chó là loài động vật có bộ phận tiêu hóa rất tốt. Chó có đặc tính là chạy rất nhanh bằng bốn chân, tốc độ lao về phía trước khoảng từ bảy mươi đến tám mươi km một giờ. Hơn nữa, chó cũng có khả năng đánh hơi rất tài. Hiện nay chó hoang dã vẫn còn tồn tại, nhưng chó được thuần dưỡng như chó nhà, chó cảnh thì phổ biến hơn. Chó thuần dưỡng có nhiệm vụ trông giữ nhà và thường nặng từ mười lăm đến hai mươi ki-lô-gam, có tuổi thọ trung bình từ mười sáu đến mười tám năm. Loại chó bắt tội phạm được gọi là chó nghiệp vụ, trinh thám, và thường rất to, cao, tai vểnh, hoạt động nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh. Chúng được nuôi rất công phu. Một số loại chó khác như chó săn thường rất khôn. Chó cứu hộ được dùng trong việc cứu người ở các bến cảng, sân bay,… nơi xảy ra sự số. Ớ một số nước trên thế giới, chó còn chuyên đề kéo xe. Nhưng không hẳn là chỉ có ích, nó còn rất dễ bị bệnh, đó là bệnh “dại”. Thường là thời gian đầu chó rất bình thường, ít người phát hiện ra để đề phòng. Khi bị chó dại cắn, lúc bấy giờ mới thấy rõ việc nguy hiểm đến tính mạng con người. Vì vậy cần phải tiêm phòng cho chó thường xuyên theo định kì để tránh bị mắc bệnh.
Thuyết minh về một con chó
390
Đề bài: Thuyết minh về một con mèo Bài làm Cuộc sống thật tẻ nhạt biết bao nếu bên cạnh ta không có những người bạn nhỏ dễ thương. Đó có thể là một chú chó, một chú thỏ hay một chú mèo xinh xắn. Bạn yêu chúng nhưng liệu bạn đã hiểu biết gì về chúng chưa? Tôi rất yêu chú mèo Mi Mi của nhà tôi, tôi sẽ giúp bạn tìm hiểu về mèo. Mèo là động vật bôn chân thuộc lớp thú, trên mình nó có khoác một bộ lông dày, mượt mà, bộ lông ấy có thể màu đen trắng (mèo tam thể)… Chú mèo ấy có thể mập mạp béo tròn hay gầy gò. Dù có khác nhau về đặc điểm, hình dáng bên ngoài nhưng mèo có những nét chung về tập tính, thói quen. Mèo có bộ ria mép dài, trắng như cước, đây là một trợ thủ đắc lực giúp mèo ta bắt chuột. Ban đêm, khi mọi vật đều ngủ yên, không khí tĩnh lặng bởi màn đêm bao phủ thì cũng là lúc mèo trở dậy làm nhiệm vụ của mình. Nó sục sạo khắp mọi nơi trong nhà tìm và đuổi bắt chuột. Nhiều con chuột tinh ranh chui tọt vào hang nhưng đừng tưởng mèo sẽ chịu thua nhé. Nó cũng rúc đầu chui vào nếu ria mép không chạm vào cửa hang nghĩa là cửa hang rộng, hang lớn, mèo có thể tiếp tục làm công việc của mình. Còn nếu ria mép chạm vào cửa hang nghĩa là hang hẹp, mèo khó chạy hay khó ra được. Lúc này thì đành phải kiên nhẫn ngồi rình ở cửa hang vậy. Thì ra, chiều dài bộ râu đúng bằng chiều rộng thân mèo, râu mèo đúng là hai nhánh “compa” sống. Như vậy, ta có thể biết được một chú mèo gầy hay béo dựa vào râu của nó. Râu dài, to nghĩa là mèo mập, còn thì là ngược lại. Ngoài bộ râu nhạy bén, tai và mũi mèo cũng góp phần quan trọng trong việc săn mồi. Đặc biệt là đôi tay giúp nó nghe được mọi cử động của chuột. Thính giác của mèo rất nhạy cảm, nhờ thính giác nó có thể biết được sự thay đổi xung quanh. Vì vậy mèo rất quý tai, khi ngủ nó thường cài tai vào chân trước vừa để bảo vệ tai, vừa để nghe thấy mọi âm thanh xung quanh. Đó là lí do khi mèo ngủ, dù có tiếng động nhẹ nhàng, nó vẫn nhanh chóng phát hiện ra ngay. Thính giác của mèo thật đáng nể. Nếu chịu khó quan sát, ta sẽ thấy con ngươi mắt mèo thật kì diệu, nó thay đổi ba lần trong một ngày. Con ngươi mắt mèo có tính đàn hồi cao, thay đổi theo mức độ ánh sáng. Ban ngày, ánh sáng mạnh, con ngươi mèo có thể thu nhỏ như sợi chỉ. Ban đêm ánh sáng yếu, mắt mèo mở to như trăng rằm. Còn sáng sớm hay nhá nhem tối, mắt mèo có hình hạt táo. Do đó, nó có thể nhìn thấy rõ mọi vật. Mèo có nhiều tập tính, chúng thích ngủ ở những nơi ấm áp. Mùa đông mèo thường nhảy lên giường, chui vào chăn ngủ ngon lành. Chúng thích ngủ với người, chúng thích được vuốt ve bộ lông nhất là ở cổ, ở bụng, kẽ tai. Mèo ngủ thường cuộn tròn người lại cho ấm, thích nhảy lên lòng người. Mùa hè, mèo thích ngủ trên mái bếp, trên nóc nhà, những chỗ nào có nắng để sưởi ấm. Trong khi an nhàn sưởi nắng, đôi khi mèo lại nhổm dậy liếm đi liếm lại bộ lông vốn đã mượt mà của nó. Không phải mèo đang tự tắm rửa cho mình đâu, chúng đang ăn một chất dinh dưỡng đấy. Ớ lông mèo có một chất khi được chiếu nắng sẽ chuyển hóa thành vi- ta-min D. Mèo liếm lông chính là đang ăn loại vi-ta-min này, đó là thức ăn rất bổ dưỡng quan trọng với mèo. Nếu thiếu loại vi-ta-min này mèo sẽ ủ rũ như người ốm. Lông mèo thật đặc biệt, nó giúp mèo thật nhiều. Tuy nhiên, có những trường hợp mèo liếm lông cho sạch nhưng rất hăn hữu. Sinh hoạt hằng ngày của mèo trái ngược với con người. Ban ngày người đi làm, còn mèo thì đi chơi và ngủ. Ban đêm khi con người nghĩ ngơi là lúc mèo hoạt động bắt chuột, lúc này mèo di chuyển rất nhẹ nhàng, dù nhảy từ trên cao xuống cũng không phát ra tiếng động gì. Đó là nhờ đệm thịt dày mềm dưới đế chân, móng vuốt có thể đàn hồi – lúc bắt chuột hay tự vệ thì duỗi ra, lúc nghỉ ngơi thì co vào. Nhờ đó mà mèo di chuyển rất nhẹ nhàng. Có cấu tạo đặc biệt về bàn chân, cộng thêm cơ quan phản xạ giữ thăng bằng tốt và nhờ cái đuôi dài mèo có thể nhảy từ trên cao xuống mà không bị ngã hay bị xây xát gì. Mèo có những cấu tạo, những cơ quan tự vệ thật tuyệt vời, giúp nó bảo vệ sự sống. Còn về sinh sản, mèo đẻ con, nuôi con bằng sữa từ vú. Mèo nuôi con rất tài, nó rất chăm con, dọn sạch chất thải của con, mèo còn bắt chuột về dạy con. Mèo đúng là người mẹ mẫu mực. Thời gian nuôi con, mèo mệt mỏi và gầy đi rất nhanh. Nó luôn tìm chỗ kín đáo giấu con, khi bị người phát hiện nó lập tức tha con đi ngay vì có lẽ sợ người ta bắt mất con nó, mèo muôn đảm bảo an toàn cho con. Không những vậy, mèo còn rất trung thành và có ích với con người, nó tìm bắt chuột, không cho chuột phá hoại. Nó là những “dũng sĩ diệt chuột tài ba”. Những lúc gần người, mèo thường biểu lộ tình cảm bằng cách dụi đầu vào chân người, âu yếm nhìn chủ của nó. Khi được chủ vuốt ve, hoặc nựng, nó tỏ ra rất sung sướng.
Thuyết minh về một con mèo
1,042
Thuyết minh về một con vật nuôi (con thỏ) Bài làm Nếu tôi hỏi các bạn một câu: “Trong các loài vật nuôi trong gia đình bạn yêu quý con vật nào nhất?” thì tôi chắc chắn sẽ có rất nhiều câu trả lời. Nhưng riêng đối với tôi, tôi vẫn yêu quý chú thỏ trắng nhà mình với bộ lông mềm và trắng muốt. Giống thỏ được nhập vào nước ta, cách đây khoảng một trăm năm, nên thỏ là loài vật rất gần gũi với mọi người dân Việt Nam. Thỏ có lớp lông mao dày để thích nghi với những điều kiện thời tiết khô hạn. Tai thỏ dài và có thế chuyển được mọi hướng để nghe được những âm thanh và tiếng động của kẻ thù. Ở thỏ cũng có một đặc điểm để thích nghi với môi trường sống trên cạn rất nhiều bụi. Đó là mắt có mi mắt và có tuyến lệ. Hiện nay, tuy thỏ đã được nuôi dưỡng trong nhiều gia đình nhưng chúng vẫn mang nhiều tập tính của thỏ rừng — tổ tiên xa xưa của chúng. Một trong những tập tính của thỏ mang dấu ấn của tổ tiên chúng là tập tính dào hang, ơ hai đôi chi trước và sau của thỏ đều có vuốt giúp chúng bới đất. Đối với thỏ, hang có vị trí rất quan trọng, vì nó không chỉ là nơi sinh sống của thỏ, mà đó còn là nơi để chúng trốn tránh kẻ thù. Vì thiếu những bộ phận tự vệ như nanh, vuốt sắc nên chúng thường đi kiếm ăn về buổi chiều hay ban đêm để tránh bị kẻ thù săn đuổi. Chúng ăn cỏ. Lá và một số loại thực vật. Do ăn bằng cách gặm nhấm nên răng cửa thỏ dài, cong, vát và sắc. Thỏ là động vật chịu được lạnh, dù thời tiết hanh khô hay giá lạnh chúng vẫn thích nghi được. Nhiệt độ cơ thể luôn ổn định. Thỏ là loài động vật đẻ con. Mỗi lần đẻ từ một đến hai con. Chúng nuôi con bằng sữa của mình. Thỏ “đi” không như chó, mèo mà chúng di chuyển bằng cách “nhảy cóc”. Hai chi sau dài hơn hai chi trước. Khi nhảy, hai chân sau đạp một cái là cất mình bay lên, khi hạ xuống thì hai chân trước vươn ra đỡ như cái nhíp. Khi gặp nguy hiểm, ngoài cách lẩn trốn vào hang, thỏ còn bỏ chạy. Thỏ chạy rất nhanh, có thể lên tới tám mươi ki-lô- mét trong một giờ. Thỏ thường chạy theo những đường uốn khúc để đánh lừa kẻ săn đuổi và làm chúng mất đà. Ngày nay, đã có ít nhất trên sáu mươi giống thỏ. ơ nước ngoài thỏ được nuôi trong các lồng sắt, nhưng ở Việt Nam phần lớn thỏ được thả ở ngoài vườn và cho tự kiếm ăn. Thỏ được nuôi để ăn thịt hoặc lấy lông. Ngoài ra thỏ còn được dùng trong các phòng thí nghiệm. Vì thỏ có cấu tạo gần giông cơ thể người nên được dùng để thử những loại thuốc mới. Thịt thỏ thơm, được dùng để chế biến rất nhiều loại thức ăn. Ngoài ra tai thỏ ngâm rượu còn là một loại thuốc quý. Lông thỏ được dùng may áo bông, làm khăn,… vừa đẹp lại vừa ấm. Khi đẻ con, thỏ thường nhổ một ít lông ngực để lót ổ cho thỏ con. Thỏ đã trở thành một nhân vật rất nổi tiếng trong các câu chuyện cổ tích và phim hoạt hình cho thiếu nhi như truyện: Cuộc phiêu lưu của chú thỏ trắng. Trẻ em Việt Nam hầu như em nào cũng biết bộ phim hoạt hình Hãy đợi dấy nói về một chú thỏ và một con sói. Thỏ con tuy nhỏ bé nhưng thông minh, nhanh nhẹn, luôn chiến thắng con sói già gian ác.
Thuyết minh về một con vật nuôi (con thỏ)
660
Thuyết minh về một con vật nuôi – Văn thuyết minh 9 Hướng dẫn Thuyết minh về một con vật nuôi 1. Yêu cầu – Viết bài thuyết minh giới thiệu loài vật. – Đề bài không mới nhưng cách thuyết minh cần thay đổi, phải dùng các biện pháp nghệ thuật khi giới thiệu loài vật nuôi; ví dụ: tự thuật, đối thoại,… – Những kiến thức về loài vật đó cần chính xác, đầy đủ. – Bố cục mạch lạc. 2. Gợi ý – Nên chọn con vật nuôi trong gia đình như trâu, bò, chó, mèo,… suy nghĩ xem đối với mình, giới thiệu về con vật nuôi nào sẽ là thuận lợi nhất. – Cần tìm và tham khảo các tư liệu về con vật mà mình định giới thiệu, để có kiến thức chính xác và phong phú. Thế nhưng cũng nên lựa chọn, phân loại tư liệu để vừa đủ với bài viết, tránh lan man hoặc không cân đối. – Có nhiều con vật nuôi đã gắn bó với đời sống con người như: chó, mèo. Do đó, khi lựa chọn biện pháp nghệ thuật để thuyết minh cũng dễ dùng. Con vật có thể trò chuyện, tâm sự với con người,… hoặc chúng có thể trò chuyện với nhau. – Bài viết dùng nhân hoá một cách tự nhiên, hợp lí. – Bố cục phụ thuộc vào biện pháp nghệ thuật được dùng khi thuyết minh, nhưng cần mạch lạc, dẫn dắt tự nhiên. 3. Lập dàn ý a. Mở bài: Giới thiệu con vật nuôi sẽ thuyết minh trong bài (hoặc để con vật đó tự giới thiệu, hoặc chọn một tình huống để con vật đó tự xuất hiện,…) b. Thân bài – Giới thiệu nguồn gốc con vật nuôi Thuộc họ nào. Được thuần hoá và nuôi từ bao giờ. – Miêu tả cấu tạo và sự phát triển của con vật nuôi Hình dáng. Cân nặng. Khả năng sinh sản. – Chăm sóc và nuôi dưỡng con vật đó – Ích lợi của con uột nuôi với đời sống của con người Về vật chất. Về tinh thần. c. Kết bài: Cảm nghĩ về con vật nuôi đó. 4. Bài làm minh hoạ (1) Về loài chim bồ câu Xin tự giới thiệu với các bạn, tôi là chim bồ câu. Họ bồ câu là một trong vô vàn các họ nhà chim trên trái đất. Nhưng chúng tôi là loài chim khá đặc biệt. Mắt của chúng tôi trong sáng, đẹp. Bởi thế mà những cô thiếu nữ có đôi mắt xinh đẹp nhất được ví với mắt loài bồ câu chúng tôi. Chúng tôi lại có một đặc điểm nữc là hiền lành, không thích đánh nhau. Chúng tôi hiền lành, đối xử thân thiện cùng loài bồ câu với nhau đã đành, với các loài chim khác, chúng tôi cũng không gây xích mích hay ẩu đả. Vì, thế mà loài người đã chọn chúng tôi làm biểu tượng hoà bình.. Các bạn có biết chính danh hoạ Pi-cát-xô đã vẽ hình ảnh một trong chúng tôi thành biểu tượng hoà bình cơ đấy. Chúng tôi có tổ tiên là bồ câu nui, màu lam, hiện còn sống và làm tổ trong điều kiện hoang dã ở nhiều vùng núi châu Âu, châu Á, và Bắc Phi. Thân nhiệt chúng tôi ổn định trong điều kiện nhiệt độ môi trường thay đổi; loài chim bồ câu là động vật hằng nhiệt. Các bạn thấy đó cũng là điều độc đáo đấy chứ! Loài bồ câu chúng tôi là loài ưa sống có đôi và rất gắn bó với nhau. Mỗi lứa, một chị chim mái chỉ đẻ hai trứng, có vỏ đá vôi bao bọc. Sau đó chim trống và chim mái thay nhau ấp trứng. Chim con mới nở chưa mở mắt, trên thân chỉ có một ít lông tơ, được chim bố mẹ mớm mồi bằng sữa diều (tiết từ diều của chim bố mẹ). Sau vài ngày chim mở mắt, rồi lớn dần, ra ngoài và tập bay. Khi chim bay được cũng là lúc chim có thể tự kiếm ăn. Thân chúng tôi được cấu tạo theo kiểu hình thoi. Hình dáng này có tác dụng làm giảm sức cần không khí khi bay. Chúng tôi có lớp da khô được bao bọc bởi một lớp lông dày. Lớp lông này cũng có cấu tạo đặc biệt. Sát da là lớp lông vũ phủ toàn thân, áp sát vào lông vũ là lông tơ. Lông tơ là chùm sợi lông mảnh, tạo thành một lớp xốp giữ nhiệt và làm thân chúng tôi nhẹ. Phía đuôi và cánh chim có lớp lông ống. Đó là loại lông có ống sừng cứng, lông mọc dọc ống theo hai phía tạo thành phiến lông rộng, Khi chúng tôi bay, các lông xoè thành tán rộng ở cánh và đuôi chim có vai trò như những chiếc bánh lái điều khiển hướng bay. Cánh chúng tôi khi bay xoè ra tạo thành một diện tích rộng quạt gió, khi cụp lại thì áp gọn vào thân. Bồ câu chúng tôi có hai kiểu bay: bay vỗ cánh và bay lượn. Điểm này làm chim bồ câu chúng tôi vừa giống những loại chim như chim sẻ, chim ri, chim khuyên, gà… có kiểu bay vỗ cánh ; lại vừa giống một số không nhỏ loài chim như diều hâu, chim ưng, hoặc những loài chim sống ở đại dương như hải âu có kiểu bay lượn (đập cánh chậm, nhiều lúc dạng rộng cánh mà không đập cánh). Chim bồ câu chúng tôi đi lại bằng hai chân (còn gọi là chi sau). Mỗi chân đều có bàn chân gồm ba ngón trước dài và một ngón sau ngắn. Đầu các ngón đều có vuốt, giúp chúng tôi bám chặt vào cành cây khi đậu hoặc duỗi thẳng, xoè rộng ngón khi hạ cánh. Chúng tôi rất tự hào về mình. Còn tự hào hơn vì chúng tôi là loài chim có ích, loài chim tượng trứng cho hoà bình (Nguyễn Văn Xê, lớp 9A, Trường THCS Phú Bài, Thái Nguyên) ⇒ Nhận xét Bạn đã dùng phép nhân hoá để bồ câu tự giới thiệu, thuyết minh về mình. Bài thuyết minh khá sinh động vì có nhiều thông tin về cấu tạo thân, đầu, cánh, cách bay, tập tính sinh sản của loài bồ câu. Một điều khá lí thú là bạn đã nói về mắt bồ câu vè đặc điểm yêu hoà bình của loài chim này. Có lẽ phần nói về cánh chim, cách bay vỗ cánh và cách bay lượn của loài bồ câu là tỉ mỉ và thú vị hơn cả. Một bài thuyết minh khá thành công. Mặc dù so với dàn bài thì không thật đủ ý. Nhưng khi thuyết minh theo kiểu loài vật tự giới thiệu thì cũng cần có sáng tạo và vượt rào khuôn mẫu. (2) Về con trâu ở làng quê Việt Nam Hàng ngàn năm nay, con trâu không chỉ gắn bó với đời sống vật chất mà còn gắn bó với đời sống tinh thần của người nông dân Việt Nam, với họ, con trâu là “đầu cơ nghiệp”. Hình ảnh của nó đã trở thành tượng trưng cho người nông dân và đồng quê Việt Nam. Đã có rất nhiều bưu ảnh, tranh ảnh, tác phẩm điêu khắc,… các bài văn, bài thơ nói về nó với những tình cảm tốt đẹp nhất. Cho nên khi thuyết minh về con vật nuôi trong nhà chúng ta không thể không nói đến chú trâu thân thiết, dù rằng trong thực tế hiện nay có biết bao nhiêu máy móc cơ khí hoá song vẫn không thể thay thế hết được sức lao động của con vật quen thuộc này. Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hoá; chúng có cặp sừng chắc khoẻ, đôi mắt đen láy, chiếc mũi “khổng lồ” và đôi tai luôn phe phẩy rất đáng yêu. Đặc biệt, loài trâu chỉ có hàm trên. Cấu tạo đặc biệt này gắn với câu chuyện cổ tích xưa về trí khôn của con người. Chỉ vì thấy hổ thua người mà trâu ta cười lăn cười lộn, va vào đá đến nỗị vỡ cả hàm dưới. Truyện xưa đã lí giải các hiện tượng một cách rất hợp lí và thú vị. Một vết hằn trên lông hổ, một cái hàm trâu bị khuyết đã đưa các con vật vào văn học dân gian, vào đời sống của người dân với ý nghĩa sâu sắc. Trâu Việt Nam rất khoẻ, chúng có bộ lông đen xám, đôi khi cũng gặp màu lông trắng. Thân hình chúng vạm vỡ, bụng to, mông dốc. Chiếc đuôi nhổ luôn ve vẩy như muốn “làm điệu”, nhưng thực ra chúng xua đuổi côn trùng, ruồi muỗi. Trâu có bốn chân vững chãi với những cơ bắp “nổi cuồn cuộn”. Chân có móng sắc vừa tạo bước đi vững vàng lại vừa để tự vệ. Bốn chân to chắc, và cặp sừng cong cong, nhọn hoắt đã khiến các con vật khác dù to khoẻ đến đầu cũng gờm trâu. Thức ăn chủ yếu của chúng là cỏ và rơm rạ, lá mía, lá ngô,… Mùa đồng, khi thức ăn khan hiếm trâu ăn rơm rạ phơi khô. Làm thì khoẻ mà ăn thì dễ, trông nom cũng đơn giản, hỏi làm sao chúng không được người nông dân yêu quý cơ chứ? Tình cảm của họ đối với chúng cũng nặng tình nặng nghĩa hơn hẳn các loài vật khác. Trong văn thơ chúng được gọi “trâu ơi” rất trìu mến, lại còn hứa hẹn rất tình cảm: Bao giờ câỵ lúa còn bông, Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn. Là loài động vật nhai lại nên khi được ăn chúng đánh chén rất nhiều, khi rỗi rãi, nhàn hạ lại nằm nhai lại ngon lành. Chính vì thế lúc nào nhìn thấy trâu là thấy bỏm bẻm nhai như bà già ăn trầu vậy. Nuôi trâu rất có lợi, chúng được nuôi chủ yếu để kéo cày, một ngày chúng có thể cày từ ba đến bốn sào ruộng. Ớ vùng sâu vùng xa, trâu còn dùng làm phương tiện chuyên chỏ đắc lực nữa. Trâu kéo xe chở những thứ vật dụng, trâu kéo gỗ từ trong rừng sâu. Ngoài ra, trâu còn là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng. Nó cung cấp cho ta thịt và sữa. Thịt trâu là một đặc sản giàu đạm lại có hương vị đặc trưng riêng. Sữa trâu là một nguyên liệu quan trọng để tạo ra nhiều loại thực phẩm có giá trị như sữa chua, kem, bánh, kẹo. Da, sừng của nó được dùng chế tao đồ mĩ nghệ, đồ dùng,… Ngay cả chất thải ra của nó cũng dùng để cung cấp chất bón cho cây trồng. Hẳn chúng ta còn chưa quên hình ảnh của chú trâu vàng trong Seagame 22 đã làm bao nhiêu bạn bè quốc tế ngạc nhiên và yêu quý chú trâu ngộ nghĩnh, đáng yêu. Cũng không thể không nói đến trâu ta còn gắn bó với yếu tố tâm linh. Người ta nói đến tuổi sửa như nói đến người có khả năng tự lập, sự chịu thương chịu khó, lam lũ làm ăn. Bà tôi cứ nói nhà nào không có ai tuổi Sửu thì chả có người làm ăn. Có lẽ vì thế bà rất quý bác dâu tôi, bác tôi làm gì bà cũng vừa ý và cứ khen với mọi người: “Nó tuổi con trâu nên tay nem tay chạo, chả gì không đến tay”. Ngày nay một số phát minh của con người đã tạo ra máy cày thay thế cho sức kéo của trâu, nhưng con trâu vẫn mãi là người bạn chí tình, chí nghĩa của người Việt Nam. Ngày ngày nó vẫn âm thầm, cần mẫn giúp người dân ở nông thôn, ở vùng sâu, vùng xa ; nơi đồng sâu, nơi đồng cạn, nơi đất hẹp, mấp mô,… làm ra lương thực, thực phẩm phục vụ đời sống con người. (Nguyễn Công Đạo, lớp 9A1, Trường THCS Trưng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Con trâu đã là đối tượng thuyết minh ở lớp 8. Vì vậy lần này, bài thuyết minh đòi hỏi phải công phu hơn, mới hơn và tỉ mỉ hơn. Không chỉ thuyết minh về con trâu như một vật nuôi, còn phải làm rõ vai trò của nó trên đồng ruộng. Nhìn chung bài thuyết minh của bạn khá rõ. Nhưng nếu thêm những tư liệu về loài trâu trong các sách sinh học thì chắc chắn sẽ cụ thể và thú vị hơn. Bạn đã kết hợp thuyết minh về trâu từ những quan sát cụ thể và những hiểu biết về những chuyện liên quan đến trâu như tranh ảnh, tác phẩm điêu khắc, các bài thơ, văn. Việc vận dụng các câu tục ngữ, ca dao, vận dụng truyện cổ tích Trí khôn của ta đâỵ làm cho bài thuyết minh thêm hấp dẫn. Bạn cũng có ý thức khi miêu tả so sánh trâu nhai lại “bỏm bẻm nhai như bà già ăn trầu vậy”. Liên hệ tuổi trâu với quan niệm dân gian về tính tự lập, chịu thương chịu khó làm ăn là một liên hệ thú vị. Tuy nhiên, trong khi cố gắng miêu tả thì nhà thuyết minh lại có những nhầm lẫn “kinh dị”: Trâu có bốn chân vững chãi với những cơ bắp “nổi cuồn cuộn’’. Chân có móng sắc vừa tạo bước đi vững vàng lại vừa để tự vệ. Chà! Chân trâu săn chắc đâu có nổi cuồn cuộn cơ bắp như các lực sĩ thể hình. Lại nữa: chân có móng sắc thì biến chân trâu thành chân mèo hay chân hổ mất rồi! (3) Về con trâu Dưới địa ngục tối om, Diêm Vương đang tra hổi các linh hồn. Một không gian lạnh lẽo và u ám đến rùng mình. Ngay cả tôi – một anh chàng trâu khá vạm vỡ lúc còn sống trên trần gian, khi xuống đây còn phải cảm thấy sợ hãi. Hai bên cửa địa ngục, quỷ đầu trâu mặt ngựa đứng đó với một vẻ mặt lạnh lùng và giữ tợn. Bỗng quỷ hô to: – Tới lượt hồn Trâu! Tôi bước vào mà lòng lo sợ, xung quanh tôi toàn những khuôn mặt đáng sợ! Diêm Vương với đôi mắt trợn trừng, hỏi tôi: – Trâu kia! Hãy mau khai nguồn gốc lai lịch của ngươi! Tôi đang mải nghĩ, bỗng giật mình khi nghe tiếng hỏi của Diêm Vương. Tôi vội cúi đầu xuống đáp: – Dạ dạ, tôi vốn thuộc họ Bò, thuộc lớp động vật có vú. Tôi có nguồn gốc từ Trâu rừng thuần hoá. Từ xa xưa đến nay, họ nhà Trâu chúng tôi vẫn gắn bó với người nông dân Việt Nam. Diêm Vương cúi xuống nhìn. Tôi khum người lại. Tôi rất hoang mang, chỉ sợ mình đã lỡ nói ra diều gì sai. Rồi một lúc sau, Diêm Vương nó: Tôi quýnh lên đáp lại: – Dạ vâng Họ nhà Trâu chúng tôi ai cũng khoẻ cả, tôi tự hào về điều đó! Với bộ lông xám, thân hình vạm vỡ, bụng to mông dốc, khiến họ nhà Trâu chúng tôi có thể phân biệt được với họ nhà Bò ạ. Không chỉ có thế mà chúng tôi còn có một đôi sừng khá vững chắc hình lưỡi liềm. Và với những đặc điểm đó, chúng tôi mang lại rất nhiều lợi ích, không chỉ cho bản thân mà còn cho cả bà con nông dân nữa ạ! – Thế ngươi hãy kể ra để ta xem có đúng là họ Trâu nhà ngươi có lợi ích không? – Diêm Vương hỏi tiếp. Tôi kính cẩn trả lời: – Thưa vâng! Đối với bản thân tôi, đôi sừng giúp tôi tự vệ. Tuy nhiên bản chất của họ nhà Trâu chúng tôi là hiền lành nên chỉ khi thực sự cần thiết chúng tôi mới cần đến tự vệ. Còn lợi ích quan trọng nhất của họ nhà Trâu chúng tôi lại là giúp bà con nông dân cày cấy. Mỗi một ngày tôi có thể cày được từ bốn đến năm sào ruộng lớn. Không những thế mà tôi còn kéo được cả xe, xe có nặng chở cả người tôi cũng kéo được. Và đương nhiên là cả họ chúng tôi cũng đều như thế cả. Có điều, còn một lợi ích nữa, nhưng tôi sợ vô lễ nên không dám nói ra ạ. Diêm Vướng xua tay, nói: – Không sao, ta bỏ qua cho ngươi, ngươi cứ tiếp tục đi, ta đang nghe. Tôi vội vàng nói tiếp: – Vâng, thưa ngài, lợi ích mà tôi định nói tới là con người còn dùng phân chúng tôi để bón ruộng hoặc là để cho cá ăn. Như thế ruộng mọc xanh tốt, còn cá rất béo, khiến bà con nông dân rất vui vẻ. Nói đến đây, tôi ngừng lại suy nghĩ về những điều mà họ nhà Trâu chúng tôi có thể làm vui lòng mọi người. Dường như Diêm Vương nhìn thấy thế, ngài tiếp tục hỏi: – Còn gì nữa không? Tôi liền trả lời ngài: – Dạ, thường là trong các hội làng không thể thiếu chúng tôi được. Bởi chúng tôi là chủ chốt của hội chọi trâu diễn ra hằng năm của nhiều địa phương. Còn đối với nhiều làng làm tranh, chúng tôi thường được họ vẽ lại qua các bức tranh một cách nghệ thuật theo hướng tranh dân gian. Điều đó khiến bản thân tôi rất vui! Trong cuộc sống của người nông dân, tuổi thơ của họ thường gắn liền với chúng tôi. Vào các buổi chiều, trẻ con trong làng thường dắt chúng tôi ra đồng ăn cỏ, họ vui chơi, tắm ở ao làng là không thể thiếu chúng tôi được. Họ coi chúng tôi như những người bạn tốt và ngược lại chúng tôi cũng vậy. Không chỉ thế, họ nhà Trâu chúng tôi là một hình ảnh quen thuộc, gắn bó với người dân Việt Nam, làng quê Việt Nam. Lúc này, Diêm Vướng lại gật gù, rồi hỏi: – Ngươi có ích như vậy, gắn bó với người dân như vậy sao lại bị xuống đây? Tôi ngậm ngùi trả lời: – Thưa Diêm Vương, tôi có tội tình gì đâu, chỉ do một phần ích lợi của chúng tôi là cho thịt mà thôi. Tôi bị con người giết thịt nên mới ra nông nỗi như thế này. Tôi cũng đành cam chịu bởi họ đã nụôi dưỡng chúng tôi bằng công sức của họ, cho chúng tôi ăn uống đầy đủ, lại chăm sóc cũng rất tận tình… Cả Diêm phủ lúc đó im lặng hẳn đi, thế rồi Diêm Vương ra quyết định: – Ngươi cũng rất biết điều, nhớ ơn tới công sức của người nông dân thế là rất tốt. Tội nghiệp cho ngươi! Ta sẽ cho ngươi kiếp sau được làm người để bù đắp việc ngươi bị giết thịt. Ngươi quả là một con vật có ích, là một người bạn tốt của nhà nông. (Nguyễn Hương Giang B, lớp 9A1, Trường THCS Trưng Vương, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Bạn Hương Giang đã có một bài thuyết minh sinh động, hấp dẫn. Qua các câu hỏi của Diêm Vương và câu trả lời của chú trâu, chúng ta biết được lai lịch và những đặc điểm quan trọng của loài trâu, những lợi ích mà chúng đem lại. Nếu những chi tiết còn chưa đầy đủ thì bù lại, việc tưởng tượng cảnh Diêm Vương hỏi han, tra khảo các hồn đã làm cho bài văn có một cách trình bày mới, tạo ẩn tượng và khá hấp dẫn. Người đọc không thể không mỉm cười khi chú trâu cẩn thận xin phép Diêm Vương để không thất lễ khi nói về giá trị chất thải của mình. Cái lí do để trâu bị chết cũng được trình bày hợp lí và khá tự nhiên. Điều quan trọng là trâu nhận thức được điều đó, nó coi như một lẽ tự nhiên mà không hề oán trách con người. Có thể nói là cách thuyết minh theo kiểu xây dựng đối thoại của bạn là thành công. Rất đáng khen.
Thuyết minh về một con vật nuôi – Văn thuyết minh 9
3,375
Đề bài: Thuyết minh về một căn bệnh gây nguy hại đến tính mạng con người Bài làm Trong nhiều năm trở lại đây, bên cạnh việc tiêm chủng phòng những căn bệnh nguy hiểm như ho gà, sở, lao,… việc tiêm chủng phòng bệnh viêm não Nhật Bản cũng được nhắc đến như một yêu cầu cấp thiết. Căn bệnh viêm não Nhật Bản thực sự là một căn bệnh nguy hiểm đối với sự sống của con người. Bệnh viêm não Nhật Bản khởi đầu với triệu chứng sốt rất cao khoảng từ 39 độ c đến 40 độ c. Người bệnh rét run, đau đầu, mệt lả, buồn nôn, nôn.. Tình trạng này kéo dài từ một ngày đến sáu ngày. Sau đó là các biểu hiện sốt cao co giật, rối loạn ý thức, kích thích, vật vã, ngủ gà, lơ mơ, hôn mê… Nguyên nhân mắc bệnh là do virus gây bệnh thuộc họ Togaviridae, xâm nhập cơ thể người qua vết muỗi Culex tritaeniorhynchus và Culex vishnui đốt. Đối tượng mắc bệnh thường là trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới mười lăm tuổi. Bên cạnh đó, người lớn cũng có nguy cơ mắc bệnh. Vừa qua, Viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia, BV Bạch Mai tiếp nhận nhiều bệnh nhân mắc bệnh trên là người lớn. Khi gây bệnh ở người lớn, bệnh có nguy cơ gây biến chứng cao với những di chứng rất nghiêm trọng. Theo cảnh báo của Viện Vệ sinh Dịch tế TW, hiện nay, hệ thống y tế và người dân chỉ tập trung cảnh báo viêm não Nhật Bản ở trẻ em. Trong khi bệnh viêm não Nhật Bản ở người lớn thì hầu như chưa được nhắc đến. Tỉ lệ mắc bệnh ở nhóm tuổi trên mười lăm tuổi chiếm từ 5% đến 10% tổng số bệnh viêm não Nhật Bản và khoảng 25% tổng số viêm não virus ở người lớn. Viêm não Nhật Bản là căn bệnh để lại nhiều di hại. Những trường hợp mắc viêm não Nhật Bản thường bị nhiễm khuẩn thần kinh, có thể dẫn đến tổn thương não vĩnh viễn và tỉ lệ tử vong cao. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo, 50% số người lớn khi mắc bệnh sẽ mang di chứng thần kinh và tâm thần vĩnh viễn. Thống kê trong thời gian qua, Khoa Thần kinh (BV Bạch Mai) tiếp nhận 60 bệnh nhân viêm não Nhật Bản là người lớn vào điều trị, trong đó 47 trường hợp có di chứng nặng, chín trường hợp tiến triển cấp tính, 4 người đã tử vong. Biểu hiện của các loại di chứng của viêm não Nhật Bản ở người lớn rất đa dạng và mang tính lan tỏa. Các di chứng về thần kinh tâm thần đều chiếm đa số các trường hợp như liệt vận động, rối loạn trường lực cơ, tăng phản xạ gân xương, co giật (động kinh), rối loạn trí tuệ, rối loạn cảm xúc, biến đổi nhân cách. Điều đáng lo ngại là sau 3 năm di chứng của bệnh trở thành vĩnh viễn mặc dù đã được điều trị tích cực.. Mùa viêm não thường bắt đầu vào đầu tháng 4, đỉnh cao của dịch rơi vào tháng 6 đến tháng 7. Nguyên nhân do thời điềm đó là mùa hè nắng nóng, mưa nhiều, muỗi sinh sôi nảy nở nên khả năng bệnh lây lan nhanh. Từ đầu tháng 4, số người mắc viêm não Nhật Bản bắt đầu tăng nhanh và kết thúc vào tháng 9. Những vùng có nguy cơ cao tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và bắc Trung bộ như Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nội, Thanh Hóa. Mỗi năm cả nước có tới 2500 ca đến 3000 ca viêm não, trong đó viêm não Nhật Bản chiếm tới 40% đến 60%: Viêm não là căn bệnh gây tỉ lệ tử vong cao trong khi đó việc điều trị bệnh hiện nay còn gặp nhiều khó khăn vì chưa có thuốc đặc trị, bệnh nhân đến viện muộn. Bệnh nhân chủ yếu được điều trị triệu chứng như dùng thuốc hạ sốt, chống phù nề, co giật. Các chuyên gia dịch tế khuyên cáo, để ngăn ngừa mắc bệnh viêm não Nhật Bản, ngoài biện pháp tiêm phòng văcxin, người dân cần làm vệ sinh quanh nhà, phun hóa chất diệt muỗi, có lưới bảo vệ nhà, dùng màn chống muỗi, tránh các hoạt động ngoài trời vào chiều tối. Ở một số vùng có nguy cơ cao, cần nhốt gia súc và làm chuồng gia súc xa nhà ở.
Thuyết minh về một căn bệnh gây nguy hại đến tính mạng con người
785
Đề bài: Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (Hồ Gươm) Yêu cầu của đề Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, cần giới thiệu được lịch sử của danh thắng, kiến trúc, ý nghĩa và tương lai của danh thắng ấy. Học sinh chú ý cần lựa chọn thắng cảnh được nhiều người biết đến. Để bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, người viết có thể tìm hiểu kĩ về thắng cảnh qua việc tham quan trực tiếp, ghi chép, sưu tầm tư liệu liên quan đến việc đánh giá về giá trị, ý nghĩa của danh lam thắng cảnh ấy. Về bố cục và cách thuyết minh vẫn cần tuân thủ những nguyên tắc và phương pháp phổ biến, có sự vận dụng linh hoạt và hiệu quả các phương pháp thuyết minh phù hợp. Biết kết hợp các yếu tố miêu tả, tự sự và biểu cảm để bài viết sinh động, hấp dẫn. Diễn đạt trôi chảy, trình bày mạch lạc, rõ ràng. Bài làm Nói đến Thủ đô Hà Nội thân yêu của chúng ta, có thể nhắc đến Chùa Một Cột — dáng sen vươn lên từ bùn lầy nghìn năm Bắc thuộc — tiêu biểu cho ý thức tự cường của dân tộc. Hay Khuê Văn Các — viên ngọc minh châu kết tinh của một nền khoa học ngàn đời. Nhưng chúng ta vẫn nghe nhắc đến Hồ Gươm nhiều hơn cả. Nằm trong lòng Hà Nội, thành phố ngàn năm văn hiến, thành phố vì hòa bình, nơi đây có Tháp Rùa tượng trưng cho khát vọng hòa bình. Đài Nghiên, Tháp Bút nhắc đến nền văn vật lâu đời. Chỉ với ba biểu tượng đó, hồ Hoàn Kiếm đã xứng đáng là trái tim của Thủ đô rồi! Đề bài: Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (Hồ Gươm) Hồ Gươm không chỉ là thắng cảnh tô điểm thêm vẻ xinh tươi, duyên dáng cho Thủ đô, mà còn là một trong những dấu ấn tiêu biểu của lịch sử ngàn năm văn hiến đất kinh kì Tháng Long — Đông Đô – Hà Nội. Để đến tham quan Hồ Gươm, chúng ta có thể đi từ nhiều con đường khác nhau như Hàng Bài, Tràng Thi, Hàng Khay hay các khu phố cổ, Hồ Gươm nằm ở trung tâm quận Hoàn Kiếm, là nơi kết nối giữa các phô” cổ với khu phố Tây do người Pháp quy hoạch lại cách đây hơn một thế kỉ. Chắc hẳn chúng ta đều biết Hồ Gươm chính là một dòng chảy còn sót lại của sông Hồng. Cách đây hàng trăm năm về trước, Hồ Gươm ăn thông với sông Hồng, là một nhánh nhận nước của sông Hồng, chạy dài qua các phô” Hàng Đào, Hai Bà Trưng, Lí Thường Kiệt, Hàng Chuối,.. Từ thê” kỉ XIX, khi nước ta đang bị thực dân Pháp cai trị, do sông Hồng đổi dâng nên Hồ Gươm chỉ còn là một sông nhỏ chạy qua Hàm Cá Mập (bến tàu điện một thời). Vì thê”, để qua sông, người Pháp đã bắc một chiếc cầu bằng gỗ và dần dần san đất. Và ngày nay, nơi đó chính là phô” cầu Gỗ mà ai cũng biết. Hồ Gươm rất đặc biệt. Nó có một màu sắc riêng, khác hẳn các hồ khác. Hồ Gươm xưa kia trong lắm, đẹp lắm, có màu nước xanh biêng biếc… Các bạn có biết màu xanh ấy là do đâu khống? Trong lớp bùn của Hồ Gươm, có sự sinh sông của một loài tảo. Nhờ sự quang hợp của loài tảo đó mà Hồ Gươm có màu xanh như vậy! Đã có lần, các nhà khoa học đã thử lấy thứ tảo ấy đem đi nơi khác trồng nhưng chúng không sống được! Phải chăng Hồ Gươm có một điều đặc biệt khác?… Nhưng bây giờ, màu xanh trong trẻo ấy đã bị ô nhiễm mà nguyên nhân chính là do con người gây ra. Chính những người dân không ý thức, vứt rác bừa bãi xuống hồ và Nhà nước không có biện pháp làm sạch hồ thường xuyên nên đã làm cho nước hồ đục hơn và bên bờ hồ vương vãi những túi rác mà người dân đã vứt xuống. Điều đó sẽ dẫn đôn hậu quả gì? Trước hết, Hồ Gươm đã không còn đẹp như trước nữa mà đã mất đi vẻ tự nhiên của nó. Và hậu quả thứ hai là những Cụ Rùa đã bị tổn thương vì môi trường quá bẩn. Ngày trước, Cụ Rùa chỉ nổi lên vào những dịp lễ, còn thời gian gần đây, Cụ Rùa nổi lên rất thường xuyên và mọi người đã nhìn thấy những vết thương trên thân Cụ Rùa. Có lẽ nào những người vứt rác xuống hồ không thể hiểu được những điều này? Và vài ba năm trước, việc làm sạch Hồ Gươm đã bắt đầu được chú trọng. Tất cả chúng ta đều đã nhận thây một điều rằng, mặc dù Nhà nước và Chính phủ đã đưa ra những biện pháp để giải quyết vấn đề này nhưng thực sự là nước hồ ngày càng bẩn thêm. Vi vậy, điều quan trọng vẫn là ý thức của người dân, chúng ta phải giữ gìn hồ sạch sẽ để không làm mất đi vẻ đẹp của Hồ Gươm nói riêng và vẻ đẹp của Thủ đô Hà Nội và hình ảnh tốt đẹp của con người Việt Nam nói chung. Rủ nhau xem cảnh Kiêm Hồ, Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn, Đài Nghiến, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này? Hồ Gươm có thể từ nhiều thế kỉ trước, có thể có nhiều tên gọi nhưng với tôi, Hồ Gươm chỉ mới hơn mười ba tuổi. Dù có thế nào, Hồ Gươm mãi mãi là một phần trong trái tim tôi.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (Hồ Gươm)
987
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước Hướng dẫn Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước Nước ta nổi tiếng với rất nhiều cảnh đẹp và tài nguyên thiên nhiên phong phú, giàu có, là một trong những thế mạnh để phát triển kinh tế đất nước. Và trong số những cảnh đẹp quê hương, hẳn chúng ta không thể không nhắc tới Vịnh Hạ Long-một di sản thiên nhiên thế giới đã được UNESCO hai lần công nhận. Vậy thì nơi đây có những vẻ đẹp kì vĩ như thế nào để có thể làm say đắm lòng các khách du lịch trong và ngoài nước như vậy. Hôm nay mình sẽ cùng các bạn tìm hiểu nhé. Vịnh Hạ Long nằm ở tỉnh Quảng Ninh, là một phần vịnh Bắc Bộ. Nằm ở Đông Bắc Việt Nam. Vịnh Hạ Long là một trong rất nhiều những di sản thiên nhiên khác của Việt Nam được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Đó là một niềm tự hào và vinh dự lớn của người dân Việt Nam trước bạn bè thế giới. Vịnh Hạ Long là một bờ vịnh gồm nhiều đảo và những hang động được tạo ra từ bàn tay của tạo hóa rất kì vĩ. Khách du lịch đến thăm đất nước ta hầu như đều không thể không tìm đến với vẻ đẹp của vịnh Hạ Long, đều choáng ngợp và trầm trồ trước màu xanh kì vĩ và diễm lệ của trời mây sông nước nơi đây. Ở đây, là nơi quy tụ rất nhiều nhưng hang động, mái đá xanh tự nhiên làm mê đắm lòng người. Quả thực thiên nhiên vẫn còn là bức màn đầy bí mật đối với sự khám phá của con người và trước thiên nhiên con người vẫn thật nhỏ bé biết bao. Vẻ đẹp của Hạ Long được tạo nên bởi ba yếu tố chính là đá, nước và bầu trời. Hệ thống đảo đá ở Hạ Long muôn hình vạn trạng quyện với trời biển, tạo nên một bức tranh thủy mặc. Phía trong những đảo đá lớn lại hấp dẫn bởi những hang động đẹp đẽ, kì lạ. Hang Đầu Gỗ gợi cảm giác choáng ngợp, với những nhũ đá muôn hình dáng vẻ. Động Thiên Cung như một đền đài hoành tráng, mĩ lệ. Hang Bồ Câu có nửa uốn vòng cung, với vô số nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu. Hang Sửng Sốt đúng như tên gọi mang đến ve đẹp bất ngờ sửng sốt cho người khách khi đến thăm quan với những nhũ đá hình gà rưng, cóc, rồng thác nước cùng với nhiều hình hài khác như mở ra mọt thế giới của truyện cổ tích. Những cảnh đá, núi, sông nước ở vịnh Hạ Long được bao trùm bởi một màu xanh diệu kì rất quyến rũ và tràn đầy sức sống. nhưng không chỉ có vẻ đẹp của sông nước và cảnh sắc mà vịnh Hạ Long cũng có rất nhiều loài động và thực vật quý hiếm. Tổng số loài thực vật sống trên các hòn đảo ở vịnh Hạ Long khoảng trên một nghìn loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau đã được tìm thấy như các loài ngập mặn, các loài thực vật bờ cát ven đảo, các loài mọc ven bờ núi và vách đá. Có thể nói vịnh Hạ Long thực sự là điểm đến cuốn hút và hấp dẫn về tự nhiên lẫn con người. Con người ở vùng vịnh tỉnh Quảng Ninh có sự hòa hoa, phóng khoáng của nắng gió, lại có sự cần cù chắt chiu và chăm chỉ của những người dân miền Trung nơi gió lào cát trắng. từ thiên nhiên đến con người đều xứng đáng làm chất thơ cho vẻ đẹp của quê hương, xứ sở. Mong rằng những cảnh đẹp ơ vịnh Hạ Long sẽ hấp dẫn bạn một lần đặt chân tới mảnh đất này nhé. Dải đất hình chứ S của chúng ta tuy trên bản đồ thế giới khá nhỏ bé, nhưng hãy vào sâu và đặt chân để khám phá những bí ẩn và sức hút mãnh liệt của núi sông, của văn hóa và con người nơi ấy. Chúng ta hãy cùng chung tay góp phần bảo vệ môi trường để có được càng nhiều những cảnh trí như vịnh Hạ Long bạn nhé.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước
750
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em biết (Phát Diệm) Hướng dẫn Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em biết (Phát Diệm) Từ Hà Nội đi theo quốc lộ 1 khoảng 95km đến thị xã Ninh Bình rồi sẽ theo đường số 10 chừng 28km sẽ tới thị trấn nhỏ nhưng rất nổi tiếng. Phát Diệm – nơi có nhà thờ cổ nhất VN, một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo mang đậm dáng dấp phương Đông. Khu nhà thờ Phát Diệm được cha Phêrô Trần Lục (còn gọi là cụ sáu), chánh xứ Phát Diệm, xây từ năm 1876 đến khi cụ qua đời (6-7- 1899) mới hoàn thành. Khu nhà thờ có diện tích khoảng 2.000m2, bao gồm nhiều công trình như ao hồ, phương đình, nhà thờ lớn, nhà thờ đá, bốn nhà thờ nhỏ, ba hang đá nhân tạo… Trong đó, phương đình được coi là công trình nổi bật hơn cả. Phương đình có nghĩa là “nhà vuông”, kích thước cũng gần như vuông: chiều ngang 24m, sâu 17m, cao 25m và chia làm ba tầng. Tầng dưới lớn nhất được xây dựng toàn bằng đá xanh vuông vắn, trên đó tạc những bức phù điêu diễn tả sự tích Chúa Giê su và một vài vị thánh. Tầng giữa cũng được xây bằng đá có đặt một chiếc trống cái. Ở bốn gốc tầng này là bốn tháp nhỏ có mái cong. Tầng trên cùng lại được xây bằng gỗ, nơi đây đặt một quả chuông cao tới 1,9m, đường kính 1,10m, nặng gần 2 tấn. Âm thanh của chuông ngân vang, vọng xa đến cả chục cây số. Đứng ở tầng này có thể đưa tầm quan sát cả một vùng non nước xung quanh. Phía tây nhà thờ lớn là nhà thờ Thánh Giuse và nhà thờ Thánh Phê rô; phía đông là nhà thờ trái tim Ghúa Gie su và nhà thờ Thánh Rôcô. Cả bốn nhà thờ này đều có kích cỡ như nhau, cấu trúc tương tự nhau, song lại có vẻ độc đáo riêng. Còn một nhà thờ nữa là nhà thờ Trái tim Đức Mẹ. Nhà thờ này dài 18m, rộng 9m, cao 5m, từ nền, cột, xà, tường, chấn song đến tháp, bàn thờ đều bằng đá nên còn có tên gọi là “nhà thờ đá”. Điều đặc biệt là nhà thờ này có hàng chữ khắc bằng Việt ngữ duy nhất trong toàn bộ khu nhà thờ Phát Diệm: Trái tim thánh Đức Bà chẳng hề mắc tội tổ tông truyền, cầu cho chúng tôi”. Đến Phát Diệm, bạn có cảm giác tâm hồn được thanh thản bởi không gian tĩnh lặng, tôn nghiêm, không khí trong lành, thoáng đãng. Và thật đánh tiếc nếu đến Phát Diệm mà lại không chụp vài “pô” ảnh trước nhà thờ lớn làm kỉ niệm. Nếu không có máy ảnh, xin bạn cứ yên tâm và tin tưởng vào đội ngũ thợ ảnh ở đây. Họ sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của bạn. Còn nếu bạn muốn mua quà lưu niệm thì Phát Diệm cũng rất sẵn, đặc biệt là đồ bằng cói: mũ, dép, thảm, giỏ xách… với giá chỉ trên dưới 4.000 đồng/chiếc… Trải qua hơn một thế kỉ với bao sự xói mòn của thời gian và tàn phá của bom đạn chiến tranh, nhà thờ Phát Diệm vẫn uy nghiêm tồn tại. Nhà thờ Phát Diệm không chỉ là một công trình kiến trúc độc đáo của Việt Nam từ hơn một thế kỉ nay mà còn là địa điểm du lịch nổi tiếng nằm trong vùng du lịch Ninh Bình – Hoa Lư – Bích Động – Địch Lộng – Cúc Phương, hằng năm đón hàng chục nghìn khách du lịch bốn phương. Quần thể kiến trúc Phát Diệm đã được Bộ Văn hóa nước ta xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa chung của cả nước.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh mà em biết (Phát Diệm)
659
Đề bài: Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh Bài làm Động Phong Nha nằm trong vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, một vườn quốc gia tại huyện Bố Trạch và Minh Hóa thuộc tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía Nam. Phong Nha – Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000ha. Vườn quốc gia bao gồm 300 hang động lớn nhỏ khác nhau. Điểm đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, 300 hang động và các sông ngầm, hệ thống động vật quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ Thế giới. Các hang động ở đây với tổng chiều dài là khoảng hơn 80km nhưng các nhà thám hiểm Anh và Việt Nam mới chỉ tìm hiểu được 20km. Vào tháng 4 năm 2009, một đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hoàng gia Anh đã phát hiện ra một hang động khác lớn hơn rất nhiều động Phong Nha nhưng động Phong Nha vẫn là hang động giữ nhiều kỉ luật về cái “nhất”: hang nước dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất; bãi cát, đá rộng và đẹp nhất; hồ ngầm đẹp nhất; thạch nhũ tráng lệ và kì ảo nhất; dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam; hang khô rộng và đẹp nhất thế giới. Trước đó, khi Phong Nha – Kẻ Bàng chưa phải là vườn quốc gia, khu vực này là khu vực bảo tồn thiên nhiên, từ ngày 9 tháng 8 năm 1986 được mở rộng thêm diện tích là 41132ha. Mãi đến ngày 12 tháng 12 năm 2001, thủ trướng chính phủ đã ra nghị quyết chuyển khu bảo tồn thiên nhiên này thành vườn đa quốc gia và có tên gọi như hiện nay. Quá trình hình thành hang động là một quá trình khá lâu dài. Từ những kiến tạo địa chất xảy ra trong lòng dãy núi đá vôi Kẻ Bàng vào thời kì Đại cổ sinh đã làm thay đổi hoàn toàn về địa chất nơi đây. Sự tác động của nội lực bên trong lòng trái đất và ngoại lực đã tạo ra vẻ đẹp kì bí rất riêng của động Phong Nha. Hệ thống đứt gãy chằng chịt trên mặt đá vôi đã tạo điều kiện cho nước dễ thấm vào các khối đá vôi. Sự xâm thực đã gặm mòn, hòa tan, rửa trôi đá vôi trong hàng triệu năm. Qua đó nó đã tạo nên một hang động ăn sâu trong núi đá vôi. Động Phong Nha bao gồm động khô và động nước, nổi bật nhất trong các động khô là động Tiên Sơn. Động Tiên Sơn có chiều dài 980m. Từ cửa động đi vào khoảng 400m có một vực sâu khoảng 10m và sau đó là động đá ngầm dài gần 500m khá nguy hiểm. Du khách đến tham quan, để đảm bảo an toàn chỉ được đi sâu vào 400m tính từ cửa động. Động Thiên Sơn là nơi có cảnh thạnh nhũ và những phiến đá kì vĩ huyền ảo. Các âm thanh phát ra từ các phiến đá, khi được gõ vào vọng như tiếng cồng chiêng.Theo các nhà khoa học thuộc Hội hang động Hoàng gia Anh, động này được kiến tạo cách đây hàng chục triệu năm, khi một dòng nước chảy qua quả núi đã đục rỗng, bào mòn núi đá vôi Kẻ Bàng. Sau đó, do địa chất thay đổi, khối đá vôi đổ sụp, chặn dòng chảy và làm nên động khô Tiên Sơn. Còn hệ thống động nước nổi bật nhất là động Phong Nha. Tạo hóa đã dựng nên những khối thạch nhũ đủ màu sắc với những hình dạng khác nhau. Vẻ kì ảo ấy khiến ai đến tham qua cũng trầm trồ khen ngợi. Động Phong Nha dài 7729m. Hang có chiều dài dài nhất của động là 145m. Động Phong Nha còn được mệnh danh là Thủy Tề Tiên vì nơi đây những cột đá, thạch nhũ như mang một phong thái rất khác nhau. Tiếng nước vỗ vào đá vang vọng thật xa. Động Phong Nha đẹp như một bức tranh thủy mạc mà nhiều hang động khác phải ngưỡng mộ. Động Phong Nha ngoài có giá trị về du lịch nó còn là một di chỉ khảo cổ. Những nhà thám hiểm và người dân nơi đây đã phát hiện ra nhiều chữ khắc trên đá của người xưa, gạch, tượng đá, tượng phật, mảnh gốm và nhiều bài vị tại đây. Ở động Phong Nha người ta đã phát hiện nhiều mảnh than và miệng bình gốm có tráng men của Chàm và các đồ gốm thô sơ khác. Động Phong Nha còn là nơi vua Hàm Nghi trú ngụ trong thời kì thực hiện chiếu Cần Vương kháng chiến chống Pháp. Động Phong Nha – hang động tạo nên niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam. Nó là bằng chứng cho sự ưu đãi của thiên nhiên nước ta. Động Phong Nha đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Ai đã từng đến động đều nhớ mãi sự kì diệu mà động mang lại từ vẻ đẹp thuần túy thiên nhiên.
Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
892
Đề bài: Thuyết minh về một danh lam, thắng cảnh hoặc một di tích ở địa phương Bài làm Có ý kiến cho rằng: Trong nền văn hóa cổ nước ta có rất nhiều viên ngọc bị che lấp bởi lớp bụi thời gian mà nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm tòi, bảo vệ cho nó sáng mãi. Khu di tích lịch sử văn hóa chùa Dâu là một viên ngọc như thế. Xây dựng từ những năm đầu Công nguyên, chùa Dâu lại mang một giá trị đặc biệt của trung tâm truyền giáo đạo Phật đầu tiên ở nước ta. Chùa Dâu nay thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xưa thuộc Tống Khương, huyện Luy Lâu, quận Giao Chỉ. Từ xa xưa người dân nơi đây thường sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm, dân gian vẫn thường gọi là vùng dâu hoặc kẻ dâu. Chất mộc mạc thôn dã và giản dị nơi đây đã góp phần không nhỏ tạo lên nét đẹp dân gian tự nhiên của chùa. Khoảng đầu Công nguyên một số nhà sư từ Ấn Độ đi theo đường biển vào Luy lâu để truyền đạo. Nhanh chóng chùa đã trở thành một trung tâm truyền giáo đạo Phật đầu tiên để từ đây lan rộng sang Lạc Dương (Trung Quốc) và một số nơi khác. Bấy nhiêu thôi cũng đã đủ làm cho chúng ta tự hào và trân trọng bởi ý nghĩa của giá trị văn hóa nơi đây. Nhưng không dừng lại ở đó, chùa còn đào tạo được 500 vị tăng ni, dịch được 15 bộ kinh, làm được hàng chục bảo tháp có các vị cao tăng nổi tiếng đã đến đây trụ trì như Mâu Bát, Pháp Hiền, Chi Y Cương Nương, Khâu Đà La… Ban đầu chùa Dâu chỉ là một cái am nhỏ, sau phát triển lên thành một ngôi chùa với tên gọi đầu tiên là Cổ Châu tự (nghĩa là một viên ngọc quý). Đến thế kỷ thứ II sau Công nguyên (khoảng 187-226, thời Sỹ Nhiếp) hệ tư pháp được ra đời chùa Dâu thời bà Pháp Vân nên gọi là Pháp Vân tự. Vào thế kỷ XIV (1313), có thể nói đây là đợt hưng công lớn nhất. Dưới đời vua Trần Nhân Tông, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã cho xây lên chùa to lớn như ngày nay: Chùa có hàng trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp mà bao đời nay khách từ muôn phương vẫn về đây chiêm ngưỡng. Hành động ấy, việc làm ấy của ông cha ta thời xưa đã thể hiện ý thức dân tộc, sự tôn trọng, đề cao văn hóa, bản sắc dân tộc. Chùa Dâu được coi là nơi rất thiêng liêng nên đã có lần chùa được gọi là Diên Ứng tự (tức cầu gì được nấy). Điều đó đã được minh chứng qua các đời vua của triều đại xa xưa cũng từng về chùa Dâu như vua Lý Thánh Tông cầu tự (tức cầu con) và gặp được nguyên phi Ỷ Lan khi đi thuyền trên sông Dâu. Năm Đinh Tị 1737 có rất nhiều vua chúa cung tần mĩ nữ qua lại lễ Phật cầu đảo thăm chùa, vãn cảnh,… Với diện tích khoảng 1730m2 trên khu đất rộng bằng phẳng nằm cạnh sông Dâu, chùa được xây dựng mang đậm phong cách nghệ thuật, kiến trúc của thời Lý, Trần do được tu sửa vào thời kỳ này. Quan trọng nhất là tháp Hòa Phong, tháp có chín tầng song trải qua thời gian lịch sử lâu dài nay chỉ còn ba tầng có chiều cao khoảng 15m. Chân tháp hình vuông, trong lòng tháp có bốn bệ gạch bốn bên, trên mỗi bệ là một tượng hộ pháp bằng gỗ cao 1,6m. Ở tầng hai của tháp có biển đá khắc chữ “Hòa Phong tháp”. Đặc biệt hơn nữa tháp dùng để đặt các xá lị, bên trên là một chiếc khánh đồng và một chiếc chuông đồng lớn có niên đại từ 1893. Màu thời gian đã bao phủ lên tháp những lớp rong rêu xanh màu cổ kính. Song có thể nói giá trị của tháp Hòa Phong trong quần thể di tích chùa Dâu là không nhỏ bởi đã gây sự chú ý đặc biệt của khách du lịch thăm quan từ bốn phương về đây. Đến với chùa Dâu ngoài cảnh quan đồ sộ, chúng ta còn được chiêm ngưỡng những pho tượng quý giá như Pháp Vân, Kim Đồng, Ngọc Nữ, những bức phù điêu chạm khắc trên những bức trống, cốn, giá chiêng mà ngày nay ít khi có được. Tất cả đều được tạc và rèn đúc rất tinh xảo trong bàn tay các nghệ nhân đời xưa. Tiêu biểu đó là tượng Pháp Vân cao 1m85cm tạo trong thế ngồi ở tòa sen toàn thân sơn màu cánh dán. Với chân dung tai to, lông mày cong lá liễu, cổ cao ba ngấn tay phải dơ 5 ngón lên trời, trong lòng bàn tay có một viên ngọc sáng. Nét thanh thoát, mềm mại của bức tượng đã toát lên vẻ nhân từ, độ lượng của nhà Phật thiêng liêng, cao quý. Ta còn nhận thấy rằng tín ngưỡng phật giáo Ấn Độ đan xen trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam như thờ các vị thần: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Gửi gắm vào đó là những mong ước cho mùa màng bội thu, cơm no áo ấm cho mọi chúng sinh của nhân dân khi trời đất được mưa thuận, gió hòa. Một điểm đáng nói nữa trong công trình kiến trúc của chùa Dâu là hình trạm trổ trên đá. Đó là phong cảnh thiên nhiên chim muông, hoa lá, đặc biệt là rồng. Theo một số nhà nghiên cứu thì một số hiện vật bằng đá, gạch đất nung trang trí có hình vẽ rồng phần lớn là kiến trúc nghệ thuật rồng có niên đại vào thời Lý Trần. Con rồng không chỉ là biểu tượng văn hóa quý trong di sản văn hóa vật thể mà còn hiện diện rất phong phú trong di sản văn hóa phi vật thể. Nó đi vào đời sống hôm nay như một nhu cầu văn hóa không thể thiếu trong các lễ hội. Ngày nay kiến trúc của chùa Dâu vẫn giữ nguyên như cũ: Nhà tiền thất, tháp Hòa Phong, Tiền Đường, tòa Tam Bảo, Thượng Điện, Hạ Điện, Hậu Đường, hai dãy hành lang,… Tuy nhiên thì cầu chín nhịp và Điện Tam quan đã không còn. Hằng năm cứ vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, không ai bảo ai người dân từ thập phương đều kéo về nơi đây lễ Phật cầu may. Đó cũng là ngày hội chính của chùa Dâu, ngày mà bà Man Nương sinh hạ. Hội Dâu mở trong 3 ngày: mồng 7, mồng 8, mồng 9 âm lịch với một quy chế rất chặt chẽ. 11 kiệu Phật được rước ra ngoài trời, đi khắp 12 làng xã trong Tổng Khương. Các kiệu Phật được phong áo rất lộng lẫy uy nghi. Gắn với lễ hội còn có các trò chơi dân gian như thi cướp nước, múa trống, múa gậy, múa sư tử. Ban đêm có hát chầu văn, hát chèo, hát trống quân,… Đi theo các pho tượng rước còn có các tán, long, tù và, trống chiêng… tất cả đã tạo nên cho ngày hội thêm đông vui, náo nhiệt. Về với chùa Dâu ta còn được nghe kể rất nhiều chuyện, truyền thuyết dân gian về Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, về sự tích giữa ông Khâu Đà La và bà Man Nương đầy ly kỳ, hấp dẫn. Trong hiện tại và tương lai chùa Dâu mãi là một nơi mang đậm màu sắc dân tộc Việt Nam, là một nơi mang nhiều ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Không biết tự bao giờ, hội Dâu đã thành lịch trong dân gian với những câu ca quen thuộc: Mồng bảy hội Khám Mồng tám hội Dâu Mồng chín đâu đâu Cũng về hội Gióng. Đồng thời chùa Dâu – hội Dâu đã trở thành tiếng gọi tâm linh đối với tất cả mọi người: Dù ai đi đâu, về đâu Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng tư, ngày tám, nhớ về hội Dâu. Ngược dòng lịch sử, bóc trần từng lớp bụi thời gian ta mới thấy hết được ý nghĩa và vẻ đẹp truyền thống của khu di tích văn hóa chùa Dâu. Tôi tin rằng cả ngày hôm nay và mai sau viên ngọc quý đó sẽ mãi được trường tồn và bảo vệ bởi những lớp người tiến bộ của xã hội chủ nghĩa. Để chùa Dâu xứng đáng với tên gọi là một trung tâm phật giáo đầu tiên của nước ta. Niềm tự hào ấy không chỉ của những người dân Kinh Bắc mà của cả dân tộc, của cả trang sử vẻ vang trong nét đậm đà bản sắc quê hương.
Thuyết minh về một danh lam, thắng cảnh hoặc một di tích ở địa phương
1,518
Thuyết minh về một di sản thiên nhiên thế giới – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Giấu mình trong núi đá vôi được che chở bởi những cánh rừng nhiệt đới, Phong Nha giờ đây đã trở nên nổi tiếng bởi sự hào phóng mà tạo hóa ban tặng cho vùng đất này một hệ thống hang động thật lộng lẫy với con sông ngầm được xác định là dài nhất thế giới. Động Phong Nha nằm ở vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, cách thị xã Đồng Hới 50km về phía tây bắc. Từ Đồng Hới, đi ô tô đến xã Sơn Trạch, sau đó đi thuyền trên sông Son, khoảng 30 phút thì đến động. Chỉ cách đây vài năm, đây còn là một con đường đất đỏ, mưa thì lầy lội, nắng thì bụi bẩn. Nơi mà một thời bom đạn chiến tranh đã không chừa một tấc đất, một nhành cây, một ngọn cỏ. Nhưng giờ đây, chính con đường này đã thổi một luồng sinh khí mới cho bộ mặt của cả vùng núi hoang sơ này. Nếu như đấng tạo hóa đã tạo ra con người thì hình như chính tạo hóa lại chở che cho chính họ và cho cả cảnh đẹp này. Trải qua bao cuộc chiến, động Phong Nha vẫn còn đó, nguyên sơ như hàng triệu năm về trước. Những làng quê yên bình nằm xen kẽ giữa những lùm tre thấp thoáng mái nhà nâu đỏ bên hữu ngạn sông Son. Những cô thôn nữ đứng gọi đò bên bến nước, những chiếc thuyền đưa khách ngược xuôi, chào hỏi nhau bằng ngôn ngữ của nhiều vùng làm sống động cả bến sông. Thuyền cập bến cũng là lúc du khách bắt đầu một cuộc hành trình khám phá một mê hồn cung giữa chôn đời thường. Cửa động rộng khoảng 20 mét, cao 10 mét, có nhũ đá lô nhô. Bơi thuyền qua cửa hang, động rộng như một cái bát úp trên mặt nước. Nước sông trong veo và phẳng lặng như mặt gương, càng vào sâu ánh sáng càng nhạt dần rồi mất hẳn. Xen lẫn với tiếng mái chèo như có tiếng chiêng “bi…tùng…bi” vẳng lên, người bản địa cho rằng đó là âm nhạc trong tiệc rượu của Thần Núi vọng ra… tất cả hợp thành tiếng nhạc, lúc âm u như tiếng chiêng, lúc bập bùng như tiếng trống. Động chính của động Phong Nha gồm 14 buồng nối liền bởi một hành lang nước dài đến 1500m. Từ buồng thứ 14 ta còn có thể theo những hành lang hẹp khác đi vào sâu hơn nữa đến những buồng cũng to rộng không kém nhưng có phần nguy hiểm hơn, nơi mà quá trình phong hóa đá vôi vẫn còn tiếp tục. Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là hang Nước cạn: nước biến đi nhường chỗ cho đá cát. Nhũ đá từ trên rủ xuống, măng đá từ dưới nhô lên tua tủa như cây rừng với những hình dáng kì lạ kích thích trí tưởng tượng của du khách. Tháng 4 – 1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắng Phong Nha – Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất: 1. Hang nước dài nhất; 2. Cửa hang cao và rộng nhất; 3. Bãi cát và đá rộng đẹp nhất; 4. Hồ ngầm đẹp nhất; 5. Thạch nhũ tráng lệ và kì ảo nhất; 6. Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam (13.969m); 7. Hang khô rộng và đẹp nhất. Tags:Văn 8
Thuyết minh về một di sản thiên nhiên thế giới – Đề và văn mẫu 8
610
Thuyết minh về một di tích lịch sử (Văn Miếu Quốc Tử Giám) Bài làm Trong số hàng nghìn di tích lịch sử của Hà Nội, hơn 500 di tích đã được xếp hạng, thì Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một di tích gắn liền với sự thành lập của kinh đô Thăng Long dưới triều Lý, đã có lịch sử gần nghìn năm, với quy mô khang trang bề thế nhất, tiêu biểu nhất cho Hà Nội và cũng là nơi được coi là biểu tượng cho văn hóa, lịch sử Việt Nam. Theo Đại Việt sử kí, vào mùa thu năm Canh Tuất – 1070, Vua Lý Thánh Tông đã cho khởi công xây dựng Văn Miếu để thờ các bậc tiên thánh tiên hiền, các bậc nho gia có công với nước, trong đó có thờ Khổng Tử – người sáng lập ra nền nho giáo phương Đông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Sáu năm sau – năm 1076, Vua Lý Nhân Tông quyết định khởi xây Quốc Tử Giám – một trường Nho học cao cấp nhât hồi bây giờ nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu sự lựa chọn đầu tiên của triều đình phong kiến Việt Nam về vấn đề giáo dục, đào tạo con người Việt Nam theo mô hình Nho học châu Á. Hiện trong di tích còn có 82 tấm bia đá, trên đó được khắc tên của 1306 vị đã từng đỗ tiến sĩ trong 82 kì thi từ giữa năm 1484 và 1780. Cũng trên các tấm bia này đã ghi lại người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất trong lịch sử là ông Bàn Tử Quang. Ông đỗ tiến sĩ khi 82 tuổi. Người trẻ nhất là Nguyễn Hiền, quê Nam Trực (Nam Định), đậu trạng nguyên năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên ứng Chính Bình thứ 16 (tức năm 1247) dưới triều Trần Thái Tông khi đó mới 13 tuổi. Từ đó, Văn Miếu cùng Quốc Tử Giám – được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã tồn tại đến thế kỉ XIX. Tọa lạc trên khuôn viên hơn 54.000m2, khu di tích Văn Miếu – Quôc Tử Giám nằm giữa bốn dãy phố, cổng chính ở đường Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc giáp đường Nguyễn Thái Học, phía Đông giáp phô” Tôn Đức Thắng, phía Tây là phố Văn Miếu. Bên ngoài có trường vây bôn phía, bên trong chia làm 5 khu vực. Khu vực 1 gồm có Văn hồ (hồ văn); Vàn Miếu môn, tức cổng tam quan ngoài cùng, cổng có 3 cửa, cửa giữa to cao và xây hai tầng, tầng trên có ba chữ Văn Miếu môn. Khu vực thứ hai, từ cổng chính đi thẳng vào cổng thứ ba chữ Văn Miếu môn. Khu vực thứ hai, từ cổng chính đi thẳng vào cổng thứ hai là Đại Trung môn, bên trái là Thánh Dực môn, bên phải có Đạt Tài môn. Tiếp trong là Khuê Văn Các (được xây dựng vào năm 1805). Khu vực 3 là giếng Thiên Quang (Thiên Quang Tỉnh có nghĩa là giếng trời trong sáng). Khu vực này có 82 bia Tiến sĩ dựng thành hai hàng, mặt bia quay về giếng, là một di tích thật sự có giá trị. Qua cửa Đại Thành là vào khu vực thứ 4, cửa Đại Thành cũng mở đầu cho những kiến trúc chính như hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, chính giữa là Tòa Đại Bái đường, tạo thành một cụm kiến trúc hình chữ Ư cổ kính và truyền thống. Xưa, đây là nơi thờ những vị Tổ đạo Nho. Khu trong cùng là nơi giảng dạy của trường Quốc Tử Giám thời Lê, nhiều thế hệ nhân tài “nguyên khí của nước nhà” đã được rèn giũa tại đây. Khi nhà Nguyễn dời trường Quốc học vào Huế, nơi đây dùng làm đền thờ Khi Thánh (cha mẹ Khổng Tử), nhưng ngôi đền này đã bị hư hỏng hoàn toàn trong chiến tranh. Trải qua bao thăng trầm và những biến cố của lịch sử, Văn Miếu – Quốc Tử Giám không còn nguyên vẹn như xưa. Những công trình thời Lý, thời Lê hầu như không còn nữa. Song Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẫn giữ nguyên được những nét tôn nghiêm cổ kính của một trường đại học có từ gần 1000 năm trước của Hà Nội, xứng đáng là khu di tích văn hóa hàng đầu và mãi là niềm tự hào của người dân Thủ đô khi nhắc đến truyền thống ngàn năm văn hiến của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội.
Thuyết minh về một di tích lịch sử (Văn Miếu Quốc Tử Giám)
810
Đề bài: Thuyết minh về một di tích văn hóa cổ của đất nước: Tháp Chàm ở Phan Thiết Bài làm Thành phố Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận, miền cực nam Trung Bộ nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Phan Thiết nổi tiếng với những ngôi chùa cổ rất quy mô và cổ kính như chùa Liên Trì, chùa Bà Đức Sanh, chùa Phật Quang,… Chùa Phật Quang còn gọi là Chùa Cát được xây dựng vào nửa đầu thế ki 18. Chiếc chuông đồng rất lớn được đúc năm 1750, bộ kinh Pháp Hoa với 118 bản khắc gỗ hoàn thành năm 1734. Chùa Ông uy nghi tráng lệ được xây dựng năm 1770 với hàng dãy cột chạm khắc tinh xảo treo hàng trăm câu đối sơn son thếp vàng cực kì lộng lẫy. Phan Thiết còn rất nổi tiếng với những tháp Chàm cổ kính, kì vĩ, độc đáo. Cách thành phố Phan Thiết gần 7 km về phía Đông Bắc là nhóm tháp Chàm Pôshanư có niên đại trên 1200 năm của dân tộc Chăm, nằm trên đỉnh đồi Ngọc Lâm. Nhóm tháp này được tạo tác từ cuối thế kỉ thứ 8, là nơi thờ Pôshanư vị nữ vương Chiêm Thành. Cách đây trên 300 năm nhiều tháp Chàm đã bị vùi lấp, tới đây chỉ còn lại một tháp chính lớn nhất, một tháp nhỏ ở sát chùa, và một tháp nhỏ ở gần tháp chính. Trong tháp chính có bệ thờ Linga-Yoni, biểu tượng của thần Shiva bằng đá xanh đen còn nguyên vẹn với những thớt đá đồ sộ được chạm khắc các biểu tượng thể hiện sự sinh tồn của dân tộc Chăm. Cuối thế kỉ 19, trong tháp nhỡ vẫn còn thờ con bồ Khỉ đá rất lớn nhưng sau đó thì không thấy nữa (?). Có lẽ đó là thần Nadin như ta vẫn thấy thờ trong các tháp Chàm ờ Phan Rang. Ba, bốn thế kỉ trước, quanh tháp Pôshanư là các làng mạc trù phú của người Chăm. Do chiến tranh, do biến động của thiên nhiên và lịch sử nên phần nhiều đã di dời đi lập nghiệp ở những nơi khác. Nhưng hàng năm. người Chăm từ mọi nơi vẫn trở vể tháp Pôshanư để thực hiện các nghi lễ tôn giáo truyền thống linh thiêng. Tháp Chăm Pôshanư được xếp hạng di tích quốc gia với chế độ trùng tu, bảo vệ đặc biệt. Nó là di sản văn hóa vô giá của đất nước ta. Du khách gần xa đến với Phan Thiết không thể không đến chiêm ngưỡng những tháp Chàm, dấu tích một nền văn minh từ nghìn xưa đang trầm mặc cùng tuế nguyệt.
Thuyết minh về một di tích văn hóa cổ của đất nước_ Tháp Chàm ở Phan Thiết
451
Thuyết minh về một giống vật nuôi – Con trâu Bài làm “Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” Câu ca dao này đã ăn sâu vào trong tiềm thức của chúng ta từ thuở tấm bé. Trâu là người bạn của mọi nhà, có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam. Trâu là một loại động vật thuộc họ trâu bò. Trâu hoang dã phần lớn sống ở Nam Á. Trâu nhà được thuần hóa nuôi chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á, trong đó có Việt Nam. Từ xa xưa, trâu đã gắn bó với người dân Việt Nam cùng nền văn minh lúa nước. Ông cha ta thuần hóa trâu làm vật nuôi nhằm lợi dụng sức kéo của trâu để phục vụ cho việc đồng áng. Trâu là động vật thuộc lớp thú có vú. Thân hình của trâu vô cùng vạm vỡ và lực lưỡng. Lông trâu là lông mao, da trâu màu đen, dày và bóng loáng. Hai tai trâu như hai cái lá đa. Mắt trâu lồi, mũi lúc nào cũng ươn ướt, người nuôi trâu thường xuôn dây vào mũi trâu để dễ dàng kéo đi. Đuôi trâu ngắn, có một túm lông ở cuối đuôi, thường ve vẩy để đuổi ruồi. Hai sừng trâu cong như hình lưỡi liềm, rất cứng, là vũ khí tự vệ giúp trâu chống lại kẻ thù. Giống như bò, trâu chỉ có một hàm răng và thuộc nhóm động vật nhai lại. Về đặc điểm này, nhân dân ta có cách giải thích rất thú vị thông qua truyện “Trí khôn của ta đây”. Truyện kể rằng vì trâu mải cười con hổ bị người nông dân lừa nên răng đập vào đá, gãy mất một hàm. Một năm trâu đẻ từ 1-2 lứa, mỗi lứa một con. Trâu con khi nhỏ gọi lá nghé. Cân nặng của trâu trưởng thành khoảng từ 200- 800 kg. Chẳng ai rõ trâu gắn liền với công việc đồng áng từ bao giờ. “Con trâu đi trước, cái cày theo sau” đã trở thành câu nói truyền miệng của biết bao thế hệ. Trâu chính là người bạn gần gũi nhất đối với người nông dân. Sáng sớm tinh mơ khi những tia nắng đầu tiên vừa chiếu xuống mặt đất, trâu đã thức dậy cùng người nông dân ra đồng chăm sóc cho lúa. Hình ảnh trâu cùng người nông dân cần mẫn làm việc đã khắc sâu ấn tượng trong trí óc biết bao người dân Việt Nam: “Ai ơi bưng bát cơm đấy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muốn phần”. Đến mùa gặt, trâu lại kéo xe chở lúa về nhà. Để có được những mùa màng bội thu, trâu đã đóng góp một công lao không nhỏ. Trâu nuôi chủ yếu để lấy sức kéo, ở miền núi, trâu còn giúp con người vượt qua những chặng đường xa xôi, những ngọn núi cao hiểm trở. Thịt trâu cũng rất tốt cho sức khỏe vì chứa hàm lượng dinh dưỡng cao. Sừng trâu làm đồ mĩ nghệ, da trâu dùng để bọc trống. Vì vậy, trâu trở thành một trong những tài sản quý giá của người nông dân: “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà/ Trong ba việc ấy, thật khó lắm thay”. Không chỉ thế, hình ảnh chú trâu còn gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam. Phẩm chất hiền lành, chất phác của trâu đại diện cho những người nông dân. Ở Hải Phòng hàng năm vẫn tổ chức lễ hội lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn. Những chú trâu to nhất, khỏe nhất sẽ chiến đấu hết mình để đánh bại đối thủ, mang lại vinh dự cho chủ trâu. Ngoài ra còn có lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên, thịt trâu sẽ được phân phát cho các nhà trong buôn làng, mang ý nghĩa may mắn. Hình ảnh chú bé mục đồng chăn trâu thổi sáo đã làm nên nét yên bình, giản dị của làng quê Việt Nam tự bao đời nay: Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ. Ai bảo chăn trâu là khổ Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.” Trâu không chỉ đi vào ca dao, thơ văn mà còn trở thành biểu tượng của SEA GAMES 22, đại diện cho con người Việt Nam hiền hậu, mến khách. Dù cuộc sống hiện đại, máy móc dần thay thế cho sức trâu nhưng trâu vẫn sẽ mãi là người bạn tri âm tri kỉ của người dân Việt Nam. Hình ảnh chú trâu là một phần tuổi thơ của mỗi người, gắn liền với những gì giản dị, thân thương nhất.
Thuyết minh về một giống vật nuôi – Con trâu
790
Đề bài: Thuyết minh về một giống vật nuôi Bài làm Có rất nhiều loài vật đã được con người thuần hoá, nuôi dưỡng và trở thành "thú cưng" trong mỗi giã đình. Nhưng trong số đó, có thể nói mèo là loài vật được yêu chiều, nâng niu nhất. Mèo nhà là một phần loài trong họ mèo (trong họ mèo còn có báo, linh miêu..). Theo những căn cứ khoa học đáng tin cậy thì chúng đã sống gần gũi với loài người trong khoảng từ 3.500 năm đến 8.000 năm. Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc không có đuôi. Các màu lông mèo rất đa dạng: màu trắng, màu vàng, màu xám tro… Có những chú mèo mang nhiều màu lông nên có những tên gọi như mèo tam thể (có ba màu lông), mèo vằn (hai màu lông chạy xen nhau), mèo đốm,… Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng… Chúng giao tiếp bằng cách kêu "meo”, "mi-ao", "gừ-gừ", rít, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau. Thông thường mèo nặng từ 2,5 kg đến 7 kg. Cá biệt, một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 kg vì được cho ăn quá nhiều. Trái lại, cũng có những chú mèo rất nhỏ (chưa tới 1,8 kg), ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống được từ 14 năm tới 20 năm. Chú mèo già nhất từng biết đến trên thế giới đã sống 36 năm. Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ hàng ngày có khác nhau, thường là 12 giờ đến 16 giờ, mức trung bình 13 giờ đến 14 giờ. Một số chú mèo có thể ngủ 20 giờ trong ngày. Vì thường chỉ hoạt động nhiều lúc mặt trời lặn, mèo rất hiếu động và hay đùa nghịch vào buổi tối và sáng sớm. Mèo là những "vận động viên điền kinh" tài giỏi có thể chạy rất nhanh và nhảy xuống đất từ độ cao lớn. Có điều đó vì chúng có cấu tạo cơ thể rất đặc biệt. Mèo có bốn chân, mỗi bàn chân đều có vuốt và đệm thịt ở phần tiếp xúc với mặt đất. Giống như mọi thành viên khác của họ mèo, vuốt của mèo thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Khi rơi từ trên cao xuống, mèo có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Khả năng này được gọi là "phản xạ thăng bằng." Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian thực hiện phản xạ này khi rơi. Giống như chó, mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trực tiếp trên các ngón, các xương bàn chân của chúng tạo thành phần thấp nhìn thấy được của cẳng chân. Mèo có thể bước rất chính xác, bởi vì khi đi, chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên đầu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt ghồ ghề. Hỗ trợ đắc lực cho mèo trong quá trình di chuyển, ngoài chân ra còn có đuôi. Đuôi mèo dài và uyển chuyển, chúng được dùng để xua đuổi ruồi muỗi. Nhưng chức năng chủ yếu là giữ thăng bằng khi chạy nhảy leo trèo. Tai mèo khá thính. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Nhờ tính năng động cao của cơ tai mà mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Mắt mèo cũng là một bộ phận khá đặc hiệt. Nghiên cứu cho thấy tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người, và kém nhất vào ban ngày. Màu mắt của mèo khá đa dạng: màu vàng, màu đen, màu nâu, màu xanh… về thính giác, con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp tương tự như nhau, nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó; mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh. Khứu giác của mèo cũng rất phát triển. Nó mạnh gấp 14 lần so với của con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được. Mèo là động vật ăn thịt thế nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sinh tồn là những loài vật nhỏ như: chuột, rắn, cóc nhái, cá… Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và chụp lấy con mồi. Ngày nay, loài mèo luôn sống với người qua nhiều thế hệ con cháu. Cho nên, thức ăn của loài mèo là cơm hoặc thức ăn sẵn. Nhưng thức ăn ưa thích nhất của loài mèo vẫn là món cá. Mèo thường tránh nơi ẩm ướt và ở rất sạch sẽ. Để làm vệ sinh cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra, tiết nước bọt vào chân của nó rồi bôi lên mặt và toàn thân thể. Hành động này cho thấy mục đích nó muốn xóa sạch các vết bẩn, ngay cả hơi tay của con người vừa mới bồng hay vuốt ve nó. Loài mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể của nó không có vết bẩn nào cả. Trải qua một thời gian dài được con người thuần dưỡng, ngày nay, mèo đã trở thành một loài vật cưng trong nhiều gia đình, đặc biệt là các em nhỏ. Mèo không chỉ là một "người bảo vệ", một "dũng sĩ diệt chuột" mà còn là một loài vật cảnh hết sức dễ thương. Có lẽ bởi vậy, tinh cảm giữa con người và loài mèo sẽ ngày càng gắn bó hơn.
Thuyết minh về một giống vật nuôi
1,275
Thuyết minh về một gương mặt thế thao trẻ tuổi của Việt Nam. Hướng dẫn Vận động viên thể hình Việt Nam Phạm Văn Mách (quê An Giang) đến nay đã đem về cho môn thể hình Việt Nam tổng cộng mười chiếc huy chương gồm đủ loại. Những đóng góp của anh cho thể thao Việt Nam quá lớn, song điều đơn giản nhất là có một chỗ đế an cư lạc nghiệp thì vẫn còn là mơ ước đối với anh. Cuộc đời của vận động viên thể hình này như huyền thoại. Ngày 10-3-1997 định mệnh và cũng là bước ngoặc thay đổi cuộc đời anh. Anh rời quê An Giang khăn gói lên Thành phố Hồ Chí Minh lập nghiệp với hai bàn tay trắng. Là con trai duy nhất của một gia đình có tám chị em, quyết định này của anh đã gây bàng hoàng cho những người thân trong gia đình. Còn đang choáng ngợp trước vẻ lộng lẫy của Thành phố Hồ Chí Minh, chưa biết mưu sinh như thế nào, thì có người bạn cũ là Phạm Hồng Thắng giới thiệu vào Câu lạc bộ thể hình Bàu Cát làm hướng dẫn viên. Để cải thiện nguồn sống, Mách còn nhận lời làm ca sĩ và nhảy trình diễn nhạc Ráp tại Nhà văn hóa Gò vấp. Tháng 5-1997, Mách đăng quang nhà vô địch sinh viên học sinh, nhưng phải đội tên bạn Dương Tấn Dũng, may mà trót lọt. Nhờ vậy, Mách đã lọt vào “mắt xanh” của các huấn luyện viên. Bảy tháng sau, Mách tham dự giải toàn quốc và giành Huy chương Vàng. Huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Huỳnh Anh nhận xét Mách vượt trội hơn các đối thủ về vẻ đẹp cơ bắp. Lời nhận xét ấy đã đưa Phạm Văn Mách gia nhập hàng ngũ các lực sĩ của đội tuyển thế hình Việt Nam. Thành công ngày càng lớn, nhưng anh không quên năm năm trời tá túc gian khố tại Thành phố Hồ Chí Minh. Căn phòng trọ hiện Mách đang ở tại Gò vấp chỉ rộng hơn 10m2 xen lẫn trong khu mồ mả, xung quanh nhiều tệ nạn xã hội. Nhưng với Mách, như thế cũng đầy đủ rồi. Anh hạnh phúc với những gì đã có và đang có, mặc dù bạn bè chế giễu nhà vô địch giàu vàng mà cái nhà cũng không ra hồn. Thêm vào đó, vấn đề “nạp năng lượng” đã trở thành kỉ luật của nhà thể hình, nhiều lúc gây khó khăn cho anh. Mỗi ngày phải mất trăm ngàn cho nhu cầu ăn uống, bảo đảm thể chất. Kinh phí tập luyện do ủy ban cấp không đủ trang trải, có tháng phải cầu viện gia đình gửi lên cứu đói, có những lần phải khất cả tiền thuê nhà. Tuy vậy, chúng ta vẫn hi vọng ở nhiều thành công phía trước của anh. Vì nhà vô địch Phạm Văn Mách của Việt Nam ta còn yêu và say nghề. Tin rằng anh sẽ vượt qua tất cả và thành công.
Thuyết minh về một gương mặt thế thao trẻ tuổi của Việt Nam.
515
Đề bài: Thuyết minh về một loài chim mà em yêu thích Bài làm "Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh – chui vào tay áo…". Đó là câu nói quen thuộc của chàng hoàng tử khi gọi chị Tấm. Nhưng tôi không phải là hoàng tử, cũng chẳng phải Tấm đâu mà tôi là chim vàng anh đấy, các bạn đã nhận ra tôi chưa? Tôi là một loài chim nhỏ có tiếng hát rất hay và có cái tên thật dễ thương phải không các bạn? Đi đâu tôi cũng hãnh diện và sung sướng trước dáng điệu nhỏ nhắn mảnh mai của mình lại được cha mẹ khoác cho bộ lông vũ óng ánh sặc sỡ pha trộn giữa màu đen huyền, màu phớt đỏ, vài ánh lông vàng, lông trắng. Đôi chân bé nhỏ xinh xinh của tôi trở thành điểm thu hút của bao chàng chim trong những đêm vũ hội của loài. Chiếc mỏ đỏ thắm cùng với đôi mắt nhỏ như hạt đậu, đen láy đã tô điểm cho khuôn mặt tôi thêm rạng rỡ. Như các bạn đã biết, cuộc sống của các loài chim chúng tôi rất tự do. Chúng tôi được chiếm lĩnh khám phá cả một không gian rộng lớn. Mỗi buổi sáng tôi được bay lượn, chao liệng giữa không trung. Và có một cuộc phiêu lưu bổ ích. Họ hàng vàng anh chúng tôi được xếp vào loại chim quý. Ít anh em nên chúng tôi rất thèm được kết bạn với những loài chim khác. Bắt chước những chú chim Chích Bông bé tí tẹo, tôi cũng sà vào luống rau xanh ngó nghiêng tìm sâu mà ria. Đặc biệt những ngày nắng ráo, khi ông mặt trời thức dậy chiếu những tia nắng ban mai bảy sắc cầu vồng lên những vòm cây xanh là tôi lại cùng chị sơn ca cất lên bản nhạc chào ngày mới. Nhưng điều tôi sợ nhất là tiếng súng của các bác thợ săn. Nếu không cẩn thận thì chúng tôi đã bị trúng đạn hoặc luôn bị trong tầm ngắm của họ rồi. Vì vậy chúng tôi luôn phải biết tự bảo vệ mình bằng cách nép vào những tán lá cây um tùm để không ai phát hiện được. Nhưng bạn tôi đã có người bị nhốt trong lồng sắt không bao giờ được cất cao đôi cánh giữa bầu trời bao la nữa. Chính bởi những hành vi ấy của loài người đã khiến tôi mất đi những người bạn thân thiết. Tuy chúng tôi không giúp gì nhiều cho các bạn nhưng chúng tôi xin góp lời ca tiếng hát của mình vào thế giới náo nhiệt này. Loài người đừng ép họ nhà chim chúng tôi vào những chiếc lồng gò bó mà cứ để chúng tôi được tự nhiên thanh thản. Tôi tin rằng khi điều ấy được thực hiện thì trái đất của các bạn sẽ mãi mãi màu xanh hoà bình và luôn vui tươi bởi có tiếng chim ca.
Thuyết minh về một loài chim mà em yêu thích
505
Thuyết minh về một loài cây – Văn Thuyết Minh 9 Hướng dẫn Thuyết minh về một loài cây 1. Yêu cầu – Viết bài văn thuyết minh. – Những tri thức giới thiệu trong bài cần chính xác, khoa học. – Hình thức bài viết cần mới mẻ, hấp dẫn. – Bố cục hợp lí. 2. Gợi ý – Có những loài cây yêu thích nhưng thực sự hiểu về nó một cách chính xác, khoa học thì chưa hẳn đã đầy đủ. Vì vậy, việc chuẩn bị tư liệu trước khi làm bài là rất cần thiết. Có thể tìm tư liệu trên sách báo, mạng Vietnamnet. Những tư liệu đó khi sử dụng, cần lựa chọn cho phù hợp với bài viết. – Về hình thức: có thể lựa chọn cách đối thoại giữa các loài cây hoặc các loài cây tự kể chuyện,… – Dàn ý về hình thức cần theo biện pháp nghệ thuật thuyết minh; ví dụ, nếu để cây tự kể chuyện thì bố cục bài văn theo một câu chuyện. 3. Lập dàn ý (dàn ý chung) a. Mở bài: Giới thiệu loài cây. b. Thân bài – Nguồn gốc lịch sử loài cây Thuộc họ nào. Xuất xứ từ đâu, được nhập vào Việt Nam từ khi nào. Hiện được trồng nhiều nhất ở địa phương nào. – Cách gieo trồng chăm sóc – Giá trị của loài cây đó c. Kết bài: Triển vọng của loài cây đã giới thiệu. 4. Bài làm minh hoa (1) Về bưởi Tân Triều Quê em ở vùng Tân Triều, một miệt vườn trù phú của tỉnh Đồng Nai. Điều đáng nói là ở miệt vườn quê em có một loại bưởi ngon và rất nổi tiếng, thường gọi là bưởi Tân Triều. Người dân quê em kể rằng Tân Triều thuở xưa là một vùng hoang vu, một nơi “khỉ ho cò gáy” nằm phía tả ngạn sông Đồng Nai, cách tỉnh lị Biên Hoà cũ khoảng 10km. Dân cư Tân Triều lúc đó còn thưa thớt, Năm 1968, nhà thờ Tân Triều được xây dựng. Một vị cha xứ đã xin hai cây bưởi đem về trồng trước sân nhà thờ. Cây hợp đất, lớn nhanh, vài năm sau liên tục cho trái sum sê. Điều đáng quý là trái bưởi nào cũng lớn, da láng bóng, múi to, rất ngọt và nhiều nước. Thấy vậy, người dân ở đây xin chiết về trồng. Và cứ thế nhân rộng ra cùng với một số giống bưởi khác… Không ngờ, non một thế kỉ sau, Tân Triều trở thành một làng bưởi nổi tiếng. Với hương vị ngọt ngào, nhiều nước và “tốt mã”, bưởi Tân Triều nổi tiếng và đem lại tiếng thơm cho đất Biên Hoà. Vùng đất này được mệnh danh lá xứ bưởi. Hằng năm có nhiều khách mua bưởi là người lạ ở vùng khác đến. Khách vãng lai thường mua bưởi về làm quà. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và một số nơi ngoài tỉnh đã xuất hiện nhiều sạp bán bưởi dọc theo các tuyến đường có khách du lịch đi qua như chợ Long Thành, ngã ba Tân Vạn, ngã ba Vũng Tàu,… Ngoài ra còn nhiều người bán bưởi dạo nũầ. Bưởi có nhiều loại nhưng được bán nhiều là bưởi đường lá cam, bưởi đường cao núm, bưởi thanh da láng…, nhưng khách chỉ ưa chuộng hai loại bưởi là bưởi đường lá cam và bưởi đường cao núm. Bưởi đường lá cam lá nhỏ nhưng quả rất ngọt và nhiều nước. Còn bưởi đường cao núm tuy chất lượng không bằng bưởi đường lá cam nhưng mã đẹp, trái to cân đối, để bày bàn thờ cúng rất đẹp. Hằng năm cứ vào độ tháng tư, tháng năm âm lịch, bưởi bắt đầu ra hoa. Vào thời gian này, nếu có dịp đến Tân Triều, bạn sẽ thấy hoa bưởi nở trắng vườn, toả ngát hương thơm. Làng bưởi Tằn Triều chỉ cách trung tâm thành phố Biên Hoà và khu du lịch Bửu Long không xa, du khách có thể đến tham quan bằng hai tuyến: đường bộ hoặc đường sông. Thông thường nhiều người đến làng bưởi Tân Triều theo các tua du lịch sinh thái. Loại hình “du lịch vườn” hiện nay đang có sức hấp dẫn du khách và mang lại hiệu quả cao. Có rất nhiều tua du lịch miệt vườn như du lịch vườn trái cây Long Thành, vườn trái cây Lái Thiêu. Từ tháng 10 đến tháng 12 là vào mùa bưởi. Thời gian này không khí ở làng bưởi Tân Triều rộn ràng hẳn lên. Có nhiều mối lái từ miền Tây, miền Đông, miền Trung, Sài Gòn,… đổ về, đi “ruồng” trong các vườn bưởi để mua rồi đem bưởi đi bán ở các vùng xa. (Nguyễn Thị Xuân, lớp 9A, Trường THCS Hùng Vương, Đồng Nai) ⇒ Nhận xét Người viết đã giới thiệu về một loại cây đặc sản: bưởi Tân Triều của quê hương mình. Nhìn chung, bạn đã cho biết nguồn gốc của giống bưởi, một vài đặc điểm về hình dáng và chất lượng. Giống bưởi Tân Triều gồm bưởi dường lá cam và bưởi đường cao núm, nhưng không rõ hai giống bưởi này khác nhau về cách gieo trồng, chăm sóc và giá trị kinh tế như thế nào. Mặt khác nếu nói thêm về vỏ bưởi có ích gì, trẻ con chơi hạt bưởi ra sao, hằng năm Tân Triều cung cấp bao nhiêu tấn bưởi hàng hoá, quy ra tiền là bao nhiêu thí bài thuyết minh sẽ có giá trị hơn. (2) Về cây hoa giấy Trong họ hàng các loài cây thì hoa giấy chúng tôi được xếp vào hàng tăng trưởng mạnh. Nói như thế vì bất cứ nơi đâu trên đất nước các bạn, giống hoa giấy chúng tôi cũng có thể phát triển mạnh. Chẳng ai có thể biết rõ nguồn gốc của tôi ở đâu, chỉ biết là tôi thuộc loại cầy thân gỗ. Hoa giấy đầu tiên vốn sống ở trong rừng sâu, leo bám trên những vách đá, cuốn nhằng nhịt vào những cây thân gỗ khác. Sau đó, nhờ khả năng đi rừng của con người, họ đã đem cây hoa giấy về nhà và trồng thử. Vì chúng tôi dễ trồng và thích nghi tốt, nên ngay lập tức hoa giấy được, trồng rộng rãi. Kể từ đó, hoa giấy tôi mới bắt đầu sống tại những bồn chậu cảnh của con người như ngày nay. Đặc điểm cấu tạo của chúng tôi rất đơn giản. Như nhiều loài cây khác, chúng tôi có thân gỗ nâu, lá xanh và có hoa. Thân của chúng tôi không thẳng tắp và to lớn mà chỉ khẳng khiu với đường kính khoảng 3 cm gồm nhiều nhánh chẽ ra. Dòng họ chúng tôi lấy làm tự hào về bộ rễ to khoẻ, có thể đâm xuyên mọi ngách, ăn sâu vào lòng đất. Vì lí do này mà chúng tôi sinh trưởng rất nhanh và phát triển ở mọi khí hậu trên trái đất. Chúng tôi có ưa điểm là dễ vươn ra đón ánh nắng mặt trời. Là loài cây trồng chủ yếu ở các nước, nhiệt đới, ánh nắng là một trong những điều kiện sống quan trọng nhất của hoa giấy. Nói về lá cây, chúng tôi còn muốn nói tới cấu tạo phiến lá mỏng giúp cho mức độ ánh sáng từ mặt trời của hai mặt lá là như nhau. Điều đó cũng giúp chúng tôi trong quá trình quang hợp hằng ngày. Ngày qua ngày, các lá sẽ to ra và đậm lên do số lượng diệp lục tăng lên. Như các bạn đã thấy, với bộ thân chia thành nhiều chi nhổ, chúng tôi đã phát triển thành nhiều cành nhổ hơn. Vì vậy số lượng lá cây cũng khá nhiều. Loài hoa giấy của chúng tôi có gai nhọn. Khi gai còn non thì màu xanh và khá mềm, gai nào già thì màu nâu nhọn và cứng hơn. Bông hoa giấy có năm cánh, mỗi cánh có hình dạng tròn trĩnh, mỏng như tờ giấy. Vì thế chúng tôi được đặt tên là Hoa giấy. Hoa giấy chúng tôi là loài lưỡng tính, một bông hoa có cả nhị và nhuỵ. Nhuỵ hoa bên trong có hình dáng giống như một bông hoa nữa. Khi nhìn vào hoa giấy, ta có cảm giác như nhìn vào cả một bó hoa. Chúng tôi cũng đa dạng về màu sắc, nhưng thiên về màu sắc sặc sỡ như đổ, hồng, cam, trắng. Hoa giấy cũng có thể nở thành chùm, nhìn từ xa như những chấm tròn rất đẹp. Ngoài ra, chúng tôi cũng nở hoa đơn nhưng cự li giữa các bông không lớn. Kiểu hoa này cũng có nét đẹp riêng. Hoa giấy chúng tôi chỉ đơn giản như vậy, không có gì đặc sắc hay kiêu sa. Nhưng từ bao năm nay, chúng tôi đã cùng loài người trang trí công viên, đường phố, trang trí ngôi nhà thêm rực rỡ và tươi mát hơn. (Nguyễn Kim Chi, lớp 9A2, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Bài thuyết minh vận dụng biện pháp nhân hoá: cây hoa giấy tự kể chuyện mình. Nhìn chung bài viết suôn sẻ, thanh thoát. Bạn đã cung cấp cho người đọc những thông tin quan trọng về loài hoa giấy. Thân gỗ nhỏ gồm nhiều nhánh rẽ ra ; bộ rễ rất khoẻ ; lá xanh, gai nhọn, hoa năm cánh mỏng như tờ giấy, nhiều màu rực rỡ ; hoa nở vào mùa xuân, mùa hạ, mùa thu. Công dụng của hoa giấy không nhiều, nhưng việc làm đẹp cho các ngôi nhà, đường phố, công viên cũng đủ để hoa giấy yên tâm. Ngoài ra, hoa giấy còn che mát cho tuổi thơ để các em chơi đồ hàng với bao nhiêu ước mơ, tưởng tượng. Khiêm tốn là giọng kể của hoa giấy và người ta càng quý hoa hơn ở cái đức khiêm nhường ấy của loài hoa làm đẹp cho đời. Bài viết của bạn cũng góp một nét đẹp cho việc thuyết minh về loài cây hữu ích. (3) Về hoa lan Mỗi độ xuân về, tết đến, bên cạnh hoa đàọ, cây quất được nhà nhà trang trọng để giữa phòng đón khách, còn có một loài hoa được nhiều người Việt Nam ưa chuộng nữa – đó là hoa lan. Cây hoa lan thuộc về họ lan, một họ thực vật lớn nhất trong lớp cây một lá mầm. Đây cũng là một họ thực vật gồm nhiều loài nhất. Cho đến đầu thập kỉ vừa qua, theo thống kê của các nhà sinh học, toàn thế giới có khoảng 100 000 loài lan, xếp trong 800 chi. Trong số 100 000 loài lan ấy, có khoảng 25 000 loài lan rừng và 75 000 loài lan lai. Nước ta có rất nhiều loại lan mọc hoang dại. Ai lên Lai Châu vào những ngày giáp tết hay sang xuân, khi vượt đèo Pha Đin cũng đều thấy vô vàn đoá hoa xinh đẹp, sắc thắm hồng đung đưa trước gió như một đàn bướm chập chờn trong nắng xuân. Đó là các cây lan trên vách núi nở hoa. Trong các hốc núi đá vôi ở Nho Quan hay ở Cúc Phương lại có nhiều lan Hài vệ nữ, loại lan này có hai cánh dang rộng như cánh chim bay, sải cánh hoa dài tới 15 cm, còn cánh môi thì uốn cong như mũi chiếc hài. Vì vậy, trong thơ ca gọi là “Chiếc hài của thần vệ nữ”. Vệ nữ là thần của sắc đẹp mà thần thoại Hi Lạp thường nhắc tới. Lan không chỉ đẹp về hoa mà còn đẹp về lá. Lan Cạnh giao có lá hỉnh trụ giống cây cành giao. Lan Chân rết có lá ngắn, nhọn, dẹt, xếp thành hai dãy đều đặn như chân rết. Có thứ gốc lá phồng lên thành củ gọi là lan Quả táo. Lan Gấm thì mặt lá mượt như nhung, lại điểm thêm những vân vàng óng như kim tuyến… Quế lan hương là thứ lan có hương thơm ngát và rất bền, chùm hoa màu trắng lục rủ xuống như lá liễu bên hồ. Lan vảy rắn có chùm hoa màu hoàng yến. Lan Phi điệp có thân chia đốt và khía dọc, sắc hoa trắng hồng mọc từng đôi một, cánh môi có đốm vàng. Lan Phi công thiên có hoa màu vàng đỏ… Ngày xưa, ông, bà, cha, mẹ ta giàu lòng ca ngợi cái đẹp của nhiều loài lan đất. Mỗi lần tết đến, các cụ thường tô điểm trong nhà, ngoài ngõ bằng nhữnq chậu lan Bạch ngọc mang hoa trắng rất đẹp và thơm, lan Hạc đính hoa màu hồng hay màu đỏ, lan Chu đinh có hoa màu tím,… ‘ Ngày nay, ở Việt Nam có nhiều trung tâm lai giống và tạo dáng cho hoa lan. Các nhà tạo giống đã tạo được những loài lan vừa đẹp vừa bền vừa có thể nở hoa vào những thời gian mong muốn. Việc có được một nhành lan hay một khóm lan đẹp để bày trong nhà không mấy khó khăn. Tuy nhiên người ta vẫn ưa thích tô điểm nhà mình bằng những giò phong lan mang từ những vùng núi cao về có chùm hoa rủ xuống như đuôi con cáo, mang những cánh hoa màu trắng có đốm tím ở đầu. Lan là một loài hoa đẹp và đáng yêu. Từ. những thành phố sầm uất đến các làng mạc vùng xuôi, vùng ngược, mỗi độ xuân về, nhà nhà chúng ta đều dễ dàng có thể có được một giò lan hay một nhành lan theo ý muốn. (Nguyễn Văn An, lớp 9B, Trường THCS Nguyễn Trãi, Sơn La) ⇒Nhận xét Bài thuyết minh về hoa lan cũng khá công phu. Bạn đã cung cấp những thông tin về loài hoa này. Thật không ngờ lan mà lại nhiều chi, nhiều loài đến thế. Nhưng nếu như người thuyết minh nêu rõ nguồn cung cấp những thông tin đó thì người đọc sẽ tin cậy hơn đấy. Khi thuyết mình về sự khác nhau về lá của các loại lan, bạn đã cho người đọc biết những chi tiết thú vị: Lan không chỉ đẹp về hoa mà còn đẹp về lá. Lan Cành giao có lá hình trụ giống cây cành giao. Lan Chân rết có lá ngắn, nhọn, dẹt, xếp thành hai dãỵ đều đặn như chân rết. Có thứ gốc lá phồng lên thành củ gọi là lan Quả táo. Lan Gấm thì mặt lá mượt như nhung, lại điếm thêm những vân vàng óng như kim tuyến. Mặc dù vậy, bài thuyết minh này vẫn thiên về sự chân phương, chứ chưa sử dụng các biện pháp nghệ thuật để làm cho lời văn thuyết minh thêm biến hoá, sinh động.
Thuyết minh về một loài cây – Văn Thuyết Minh 9
2,491
Đề bài: Thuyết minh về một loài hoa mà em yêu thích Bài làm Mỗi khi nhắc đến thế giới loài hoa, thật khó có thể quên được loài hoa hồng kiêu sa, kiều diễm – loài hoa vốn được mệnh danh là “nữ hoàng của các loài hoa”. Đi sâu tìm hiểu về loài hoa này, chúng ta thấy có thật nhiều điều thú vị! Hoa hồng vốn có nguồn gốc từ xứ sở Ba Tư xa xôi. Từ đất nước Ả-rập thần bí này, hoa hồng đến với khắp các quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, có lẽ chưa có mảnh đất nào có bóng con người mà hoa hồng chưa đặt chân đến. Nhưng nổi tiếng nhất, có thể nhắc đến hoa hồng của những đất nước Bun-ga-ri. Một nhà thơ Việt nam đã từng thốt lên: Hoa hồng Bun-ga-ri. Ôi! Loài hoa diệu kì! Có lẽ chính vẻ đẹp và những ý nghĩa thiêng liêng của hoa hồng đã tạo nên sức hút diệu kì thu hút và chinh phục hàng triệu trái tim con người. Hoa hồng thuộc giống thân cỏ và có rất nhiều loài. Có loài thân leo, có loài thân thẳng. Có loài không gai, có loài có gai. Tuy nhiên, phổ biếntiếp từ thân cây. Lá hoa thường có ba nhánh hình bầu dục, viền có răng cưa. Ngoài ra, trên thân cây thường có gai sắc, nhọn. Tuy nhiên, cũng có loài được lai ghép nên thân trơn nhẵn khiến người ôm hoa không sợ bị gai đâm. Nụ hoa được đặt trang trọng trên đỉnh của thân cây. Dưới nụ hoa xanh tươi còn có đài hoa nâng đỡ. Đủ ngày đủ tháng, nụ hoa bung nở hàng chục cánh hoa mềm mịn đan xếp vào nhau kiêu sa, quyến rũ. Cánh hoa hồng cũng có hình bầu dục, to hơn xu đồng tiền, cánh hoa rất mịn (“mịn như nhung”, nên có loài hoa hồng tên gọi là hồng nhung) và êm nhẹ. Đặc biệt, cánh hoa hồng thường có rất nhiều màu: màu đỏ, màu hồng, màu vàng, màu cam… Với mỗi màu lại có những sắc độ khác nhau: đỏ tươi, huyết dụ, đỏ nhung,… Hoa có rất nhiều tác dụng trong đời sống hàng ngày. Điều dễ thấy là hoa hồng được dùng để làm cảnh trong nhiều gia đình. Chúng ta trồng hoa hồng trong vườn nhà, chúng ta cắm hoa hồng trong lọ, chúng ta tặng nhau những đoá hoa hồng… Sở dĩ hoa hồng thường được trao tặng nhau một cách trang trọng như thế bởi hoa hồng có nhiều ý nghĩa. Hoa hồng đỏ tượng trưng cho tình yêu cháy bỏng, nồng nàn. Hoa hồng vàng thể hiện tình bạn cao quý, chân thành. Hoa hồng cam thể hiện sự thành đạt, hiển vinh… Số lượng hoa hồng trong mỗi đoá cũng mang những ý nghĩa nhất định thể hiện suy nghĩ của người tặng, đặc biệt là đối với những đoá hồng đỏ. Không chỉ dùng để làm đẹp, hoa hồng còn rất nhiều tác dụng khác. Từ cánh hoa hồng, nhiều quốc gia đã chiết xuất tinh dầu tạo nên những nền công nghiệp nước hoa khổng lồ như Bun-ga-ri, Pháp,… Cũng từ hoa hồng, dân gian ta chế ra những bài thuốc chữa nhiều bệnh thông thường: cảm, đau bụng,… Có nhiều tác dụng như vậy nhưng hoa hồng không hề khó tính chút nào. Hoa có thể nở bốn mùa trong năm để dâng hương sắc cho cuộc đời đầy ý nghĩa này. Ở nước ta, hoa hổng đẹp nổi tiếng nhất là hoa hổng của cao nguyên Đà Lạt. Từ Đà Lạt, hoa hồng chẳng những đi khắp mọi nẻo đường đất nước mà hoa còn đến với bạn bè khắp năm châu. Biết về hoa hồng như vậy, mỗi khi cầm bông hồng trên tay, chúng ta hãy biết trân trọng và yêu quý bông hồng bạn nhé!
Thuyết minh về một loài hoa mà em yêu thích
656
Đề bài: Thuyết minh về một loài thú hoang dã: Chó sói Bài làm Chó sói là một trong những động vật hoang dã, loài ác thú đáng sợ nhất. Sói có bộ lông đen hoặc xám, cái mõm nhọn, răng sắc và cứng như thép, cặp mắt sáng quắc, đôi tai cực thính, cái đuôi dài, bốn chân cao, cứng cáp để phóng chạy như bay. Sói là động vật cực khoẻ, khôn ranh, gan lì, thích nghi tốt với mọi điều kiện sinh hoạt và chịu đựng giỏi cả đói và lạnh. Sói sống theo đàn, từ ba, bốn con đến trên dưới mười con. Tiếng sói rú trên các thảo nguyên nghe thật rùng rợn. Sói có thể săn bám mồi liên tục trong nhiều tiếng đồng hồ, có khi nó chạy với tốc độ 80km/h. Chúng rất háu ăn, và sau mỗi buổi nhịn đói một con sói nặng ba, bốn mươi cân có thể nuốt một lúc 20 – 25kg thịt. Lúc đói sói trở nên liều lĩnh, tấn công vào những đàn gia súc có người bảo vệ, dám sâm nhập vào truồng trâu, bò, cừu để bắt mồi. Một vài số liệu đáng nhớ. Tại thành phố Các- ma- then, năm 1880, người ta dựng một đài kỉ niệm lạ lùng: con chó sói cuối cùng bị tiêu diệt. Đầu thế kỉ XX trên vùng thảo nguyên… bò, cừu bị sói ăn thịt. Tại Ka- dắc- xtan, chỉ trong vòng năm năm, người ta đã giết được trên dưới 8 vạn con sói. Cũng như hổ, báo, sư tử các loài ác thú khác, sói đã và đang bị tiêu diệt dần. Giờ đây, người ta đã hiểu rõ là ác thú rất cần thiết cho đời sống bình thường của các giống thú khác. Ác thú để cân bằng sinh thái, cân bằng tự nhiên và muôn loài. Giết sạch ác thú nghĩa là mang đến cho các giống thú khác tai họa to lớn hơn chính chúng gây ra. Ác thú cũng cần được bảo vệ là vì thế.
Thuyết minh về một loài thú hoang dã_ Chó sói
341
Thuyết minh về một loài động vật hay vật nuôi ở quê em Hướng dẫn Thuyết minh về một loài động vật hay vật nuôi ở quê em Bài mẫu 1: Thuyết minh về con trâu Hình ảnh con trâu đã gắn liền với làng quê Việt Nam, với người nông dân chân lấm tay bùn, với cây đa và lũy tre làng. Bởi trong tâm thức của người Việt, con trâu là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ, hiền lành, chất phác như chính họ. Bài làm “Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quản công?” Bài ca dao quen thuộc với mỗi người Việt Nam cũng giống như hình ảnh con trâu đã gắn liền với làng quê Việt Nam, với người nông dân chân lấm tay bùn, với cây đa và lũy tre làng. Bởi trong tâm thức của người Việt, con trâu là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ, hiền lành, chất phác như chính họ. Trâu được nuôi nhiều ở các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng đồi núi ở Việt Nam bởi đặc tính tự nhiên của trâu có thể chịu được lạnh và thích kiếm ăn trong rừng. Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng được con người thuần hóa cách đây hàng ngàn năm, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Trâu là loài động vật hiền lành, thuộc lớp thú, lông có màu xám hoặc xám đen, không dày. Thân hình trâu vạm vỡ, hơi thấp, chân ngắn. Bụng trâu to, mông dốc xuống. Một con trâu trưởng thành có thể nặng tới hơn 500kg. Đuôi trâu dài, thường xuyên phe phẩy để đuổi những động vật kí sinh như ruồi, muỗi. Là động vật có vú, trâu có bầu sữa nhỏ, nằm ở dưới bụng và sẽ nuôi con bằng dòng sữa ấy. Trên đầu trâu thường có một bộ sừng dài, cứng, nhọn hoắt, hình lưỡi liềm. Đây là vũ khí tự vệ của trâu cũng là đặc điểm còn sót lại của trâu rừng sau khi được thuần hóa. Trâu đực xem bộ sừng là thứ để biểu lộ sức mạnh của mình với những con trâu cái, sừng càng dài, càng cứng càng chứng tỏ đó là một con trâu khỏe mạnh. Những con trâu ấy sẽ thu hút được những con trâu cái hơn những con trâu khác. Mỗi năm trâu chỉ đẻ từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con và sẽ nuôi còn bằng sữa mẹ. Từ xưa đến nay, trâu luôn là nông cụ quan trọng của người nông dân bởi đây là loài gia súc lớn, khỏe, cung cấp sức kéo để cày bừa trên khắp các cánh đồng. Đặc tính của trâu là loài động vật hiền lành, chăm chỉ, chịu thương chịu khó nên hầu hết những công việc nặng nhọc trong nhà nông đều do con trâu gánh vác. Từ sớm tinh mơ cho đến tận khi mặt trời đã khuất núi, con trâu cùng với người nông dân cần mẫn trên những cánh đồng. Từ cày đến bừa, từ cấy đến gặt, khi nào cũng thấy có mặt của con trâu để giúp con người làm ra hạt lúa, hạt gạo. Có lẽ vì thế mà nhân dân ta nhắc đến con trâu bằng một tình cảm yêu mến, trân trọng Con trâu là đầu cơ nghiệp, Ruộng sâu trâu nái…Trâu cũng là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho con người. Thịt trâu có hàm lượng đạm cao, hàm lượng chất béo thấp rất tốt cho người đang điều trị bệnh béo phì hoặc bổ sung dinh dưỡng khi mới ốm dậy. Sữa trâu cũng là nguồn cung cấp chất đạm, chất béo. Dù không tốt và thơm ngon như sữa bò song đây cũng là nguồn sữa có thể bổ sung và cải thiện bữa ăn cho trẻ em vùng núi. Da trâu cũng có thể làm mặt trống, làm giày rất dày và bền. Sừng trâu làm đồ mĩ nghệ, đồ trang trí. Đâu chỉ mang tới những lợi ích vật chất, con trâu còn gắn bó với đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Tuổi thơ của biết bao thế hệ gắn liền với những ngày tháng thong dong chăn trâu trên đồng cỏ của làng. Hình ảnh những em bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo, đọc sách hay con trâu thủng thẳng gặm cò còn mấy đứa trẻ túm năm tụm ba chơi đánh bi, đánh chắt, thả diều, chọi gà đã từng đi vào thơ ca, hội họa của không biết bao nhiêu nghệ sĩ. Những hình ảnh ấy khiến cho con người ta thầy tâm hồn mình bình lặng lại sau những xô bồ, vội vã của cuộc sống thành thị. Giang Nam cũng viết về tuổi thơ chăn trâu của mình qua những vần thơ: “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao” Trong văn hóa của người Việt, con trâu cũng là một biểu tượng cho một năm. Trong 12 con giáp, trâu đứng hàng thứ hai sau Tý và đứng trước 10 con vật khác, thuộc âm. Người ta cũng chẳng thể quên hình ảnh của chú bé Định Bộ Lĩnh đầu ba chỏm đã cùng đám trẻ chăn trâu trong vùng Hoa Lư cưỡi trâu rước cờ lau tập trận. Định Bộ Lĩnh là một bị vua xuất thân từ hình ảnh chú bé mục đồng, cũng gắn liền với con trâu. Những chú trâu mập mạp còn gắn liền với những lễ hội truyền thống trong văn hóa của người Việt Nam. Có những lễ hội thu hút rất đông du khách tới tham gia như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Trước đó, những chú trâu được chăm sóc chu đáo khiến con nào con nấy vạm vỡ, khỏe mạnh với đôi sừng cong vút, nhọn hoắt. Trong tiếng trống giục giã, tiếng reo hò cổ vũ của khán giả trên khán đài, hai chú trâu lao vào nhau mà húc, mà chọi. Bên cạnh đó, ở Tây Nguyên cũng có lễ hộ đâm trâu để mừng một vụ mùa bội thu. Thịt trâu sẽ được dùng để cúng bái thần linh, phần còn lại sẽ được sẻ thịt để chia cho mỗi nhà trong buôn làng. Vượt ra khỏi lũy tre làng, hình ảnh con trâu vàng trong SEA GAMES 22 đã gây ấn tượng với bạn bè quốc tế, trở thành biểu tượng của con người Việt Nam cần cù, chịu thương chịu khó nhưng cũng rất thân thiện, sáng tạo và thông minh. Con trâu đã gắn bó với con người Việt Nam từ hàng nghìn năm nay nên cuộc sống hiện đại với những vật dụng thông minh thì con trâu vẫn sẽ luôn giữ được vị trí, vai trò của mình trong cuộc sống của chúng ta. Bài mẫu 2: Thuyết minh về con gà Con gà cục tác hay gà trống hướng về ánh mặt trời thực sự gợi lên cảm giác thân thuộc và gần gũi. Đó là hình ảnh thuộc về riêng đất nước Việt Nam. Bài làm Quê hương là nơi chôn rau cắt rốn, nơi mỗi chúng ta sinh ra và lớn lên. Nhớ về quê hương, người ta không chỉ nhớ về những kỉ niệm, những con người mà còn nhớ về những hình ảnh thân thuộc như cây cối, vật nuôi. Quê hương tôi cũng có những loài vật nuôi mà ai đi xa cũng luôn ghi nhớ. Trong đó, tiêu biểu và gần gũi nhất là con gà. Gà nở ra từ trứng, lớn dần thành gà mái, hoặc gà trứng. Gà mái đến tuổi sẽ đẻ trứng, mỗi lứa có thể đẻ từ 15 đến hơn 20 quả. Trứng ấp trong khoảng 3 tuần trong điều kiện nhiệt độ thích hợp sẽ nở ra gà con xinh. Gà con mở mắt sẽ đi theo vật mà nó trông thấy đầu tiên. Chúng cùng mẹ đi kiếm ăn, gà mẹ chỉ cần cất tiếng gọi nhẹ, gà con sẽ nhanh chóng lon ton chạy tới. Gà mẹ hết mực che chở cho con, sẵn sàng giang rộng đôi cánh ngăn cách con khỏi kẻ thù. Gà là vật nuôi thân thuộc ở mỗi làng quê, có vai trò to lớn trong đời sống con người. Trước tiên gà đem lại lợi ích kinh tế. Trứng gà chứa nhiều chất dinh dưỡng, có thể chế biến thành chiên, luộc, ốp la… Mỗi buổi sáng, một quả trứng ốp la kẹp bánh mì là món ăn được người phương Tây ưa chuộng. Trứng gà đánh tan với bột mì có thể làm bánh ga-tô, bánh kem. Thịt gà là một trong những nguyên liệu được dùng làm món ăn đặc sản ở nhiều vùng miền, với nhiều cách chế biến khác nhau. Có nhiều món được chế biến từ gà như gà luộc chấm muối tiêu, gà xé trộn rau răm, gà hấp, gà chiên, gà quay,… Lông gà xử lý sạch còn dùng để làm quạt, làm cầu đá, áo lông, đặc biệt qua xử lý hóa học còn làm được bột giặt. Ngày xưa, ông bà ta luộc trứng gà kèm theo đồ bạc để cạo gió khi cảm sốt. Ngày nay, chị em phụ nữ dùng trứng gà để đắp mặt nạ, dưỡng da. Chất thải của gà cũng được tận dụng làm phân bón. Không chỉ có giá trị vật chất, gà còn là vật nuôi mang ý nghĩa tinh thần quý giá. Tiếng gà gáy là chiếc đồng hồ báo thức cho mọi người, trở thành âm thanh bình dị của làng quê. Gà là biểu tượng cho sự sống an lành với người dân Việt Nam. Mâm cơm cúng gia tiên, thần thánh không thể đầy đủ nếu thiếu đi con gà luộc mang hàm ý tỏ lòng trân trọng biết ơn. Gà đi vào thơ ca dân gian, trở thành một trong những chủ thể của tranh Đông Hồ nổi tiếng. Thời gian trôi đi, gà là vật nuôi không thể thiếu của quê hương tôi và cả nông thôn Việt. Hình tượng con gà cục tác hay gà trống hướng về ánh mặt trời thực sự gợi lên cảm giác thân thuộc và gần gũi. Đó là hình ảnh thuộc về riêng đất nước Việt Nam. Bài mẫu 3: Giới thiệu về con vịt Vịt đàn thường được nuôi thành từng đàn lớn, hàng trăm hay hàng ngàn con. Chúng có sức chịu đựng kham khổ và ít mắc bệnh, kiếm mồi rất giỏi trên đồng ruộng. Vịt đàn đẻ nhiều, trứng nhỏ nhưng ngon. Thịt vịt đàn được nhiều người ưa thích vì có vị ngọt đậm và thơm. Bài làm Vịt là loài gia cầm được người nông dân chăn nuôi từ lâu đời bởi nó mang lại rất nhiều lợi ích. Hình ảnh từng đàn vịt khoảng vài chục con thong dong bơi lội trên mặt ao, mặt đầm hay hàng ngàn con sục sạo kiếm mồi, kêu ồn ã cả một quãng đồng là hình ảnh quen thuộc ở làng quê. Các giống vịt chủ yếu của nước ta gồm vịt đàn hay còn gọi là vịt tàu, vịt cỏ. Loại này thân nhỏ, đầu và mỏ thanh tú, lông có nhiều màu: Đen, nâu, xám, xanh đen pha trắng… trọng lượng chỉ độ 1 kg đến 1,5 kg. Vịt đàn thường được nuôi thành từng đàn lớn, hàng trăm hay hàng ngàn con. Chúng có sức chịu đựng kham khổ và ít mắc bệnh, kiếm mồi rất giỏi trên đồng ruộng. Vịt đàn đẻ nhiều, trứng nhỏ nhưng ngon. Thịt vịt đàn được nhiều người ưa thích vì có vị ngọt đậm và thơm. Nông dân ở các vùng đồng bằng miền Bắc, miền Nam thường nuôi vịt đàn theo lối chăn thả tự nhiên từ trước đến nay. Bên cạnh giống vịt đàn còn có giống vịt bầu. Vịt bầu lớn con hơn vịt đàn, cổ ngắn, chân thấp, lông nhiều màu, dáng đi lạch bạch. Thịt vịt bầu cũng mềm và ngọt nhưng nhiều mỡ hơn vịt đàn. Các gia đình nuôi vịt bầu vừa phục vụ cho nhu cầu sử dụng ngày giỗ, ngày Tết, vừa bán để tạo nguồn thu nhập quanh năm. Đồng bào miền Nam trước đây nuôi rất nhiều giống vịt cổ lùn, có những đặc điểm tương tự như vịt bầu ngoài Bắc, để tận dụng nguồn thức ăn phong phú từ kênh rạch và đồng ruộng. Hiện nay, các trại chăn nuôi quốc doanh và tư nhân đầu tư khá lớn về mặt vật chất để nuôi giống vịt nhập từ nước ngoài vào, gọi là vịt siêu thịt. Vịt siêu thịt được nuôi theo kiểu công nghiệp trong chuồng trại, ăn cám hỗn hợp, được theo dõi và tiêm chủng thường xuyên. Trọng lượng của giống vịt này khá lớn, sau 3 tháng có thể đạt tới trên 3 kg một con. Đặc điểm vượt trội của nó là chất lượng thịt đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu, chế biến thành nhiều món ăn cao cấp. Trong giai đoạn hiện nay, ngành chăn nuôi trong đó có chăn nuôi vịt đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế chung của cả nước. Vịt là loài gia cầm đem lại nhiều lợi ích cho đời sống của con người, là nguồn thu nhập thường xuyên của nông dân. Bài mẫu 4: Giới thiệu về con chó Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Bài làm Chó là một loài động vật rất có ích cho con người. Nó trung thành, dễ gần và là bạn của con người. Cũng có thể vì thế mà người ta gọi nó là “linh cẩu”. Chó có rất nhiều loại và từ đó người ta đặt tên cho chúng. Chó là một trong số những loài động vật được thuần dưỡng sớm nhất. Trung bình chó có trọng lượng là từ một đến tám mươi ki-lô-gam. Chó là giống vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 12.000 năm vào thời kỳ đồ đá. Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáo và chó sói (một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước). Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám. Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc. Mắt chó có đến 3 mí: Một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chúng thì cực thính, chúng có thể nhận được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất tuyệt vời. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém. Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay đuôi che lấy cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình. Chó có đến 2 lớp lông: Lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ “hạ nhiệt” trong những ngày oi bức. Chó là loài động vật có bốn chân, mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc nhưng khi đi thì cụp vào. Chó có bộ não rất phát triển, xương quai hàm cứng. Đặc biệt, tai và mắt chó rất thính và tinh vào ban đêm. Chó vẫy đuôi để biểu hiện tình cảm. Chó là loài động vật có bộ phận tiêu hóa rất tốt. Chó có đặc tính là chạy rất nhanh bằng bốn chân, tốc độ lao về phía trước khoảng từ bảy mươi đến tám mươi km một giờ. Hơn nữa, chó cũng có khả năng đánh hơi rất tài. Hiện nay chó hoang dã vẫn còn tồn tại, nhưng chó được thuần dưỡng như chó nhà, chó cảnh thì phổ biến hơn. Chó thuần dưỡng có nhiệm vụ trông, giữ nhà và thường nặng từ mười lăm đến hai mươi ki-lô-gam, có tuổi thọ trung bình từ mười sáu đến mười tám năm. Loại chó bắt được tội phạm được gọi là chó nghiệp vụ, trinh thám, và thường rất to, cao, tai vểnh, hoạt động nhanh nhẹn, linh hoạt và thông minh. Chúng được nuôi rất công phu. Một số loại chó khác như chó săn thường rất khôn. Chó cứu hộ được dùng trong việc cứu hộ ở các bến cảng, sân bay,… nơi xảy ra sự cố. Ở một số nước trên thế giới, chó còn chuyên để kéo xe. Nhưng không hẳn là chỉ có ích, nó còn rất dễ bị bệnh, đó là bệnh “dại”. Thường là thời gian đầu chó rất bình thường, ít người phát hiện ra để đề phòng. Khi bị chó dại cắn, lúc bấy giờ mới thấy rõ việc nguy hiểm đến tính mạng con người. Vì vậy cần phải tiêm phòng cho chó thường xuyên theo định kì để tránh bị mắc bệnh. Chó là loài động vật rất có ích trong mọi lĩnh vực. Chó còn là bạn của con người bởi sự thông minh, lanh lợi, trung thành và nhiều tác dụng của nó. Chó được coi là loài động vật rất quan trọng và giúp việc đắc lực cho con người. Con chó luôn ở bên cạnh ta trong phú quý cũng như trong lúc bần hàn, khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh, dù đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết lấp vùi, miễn sao được cận kề bên chủ là được. Bài mẫu 5: Giới thiệu về con mèo Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Bài làm Có rất nhiều loài vật đã được con người thuần hoá, nuôi dưỡng và trở thành “thú cưng” trong mỗi giã đình. Nhưng trong số đó, có thể nói mèo là loài vật được yêu chiều, nâng niu nhất. Mèo nhà là một phần loài trong họ mèo (trong họ mèo còn có báo, linh miêu..). Theo những căn cứ khoa học đáng tin cậy thì chúng đã sống gần gũi với loài người trong khoảng từ 3.500 năm đến 8.000 năm. Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng… Chúng giao tiếp bằng cách kêu “meo”, “mi-ao”, “gừ-gừ”, rít, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau. Thông thường mèo nặng từ 2,5 kg đến 7 kg. Cá biệt, một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 kg vì được cho ăn quá nhiều. Trái lại, cũng có những chú mèo rất nhỏ (chưa tới 1,8 kg), ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống được từ 14 năm tới 20 năm. Chú mèo già nhất từng biết đến trên thế giới đã sống 36 năm. Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ hàng ngày có khác nhau, thường là 12 giờ đến 16 giờ, mức trung bình 13 giờ đến 14 giờ. Một số chú mèo có thể ngủ 20 giờ trong ngày. Vì thường chỉ hoạt động nhiều lúc mặt trời lặn, mèo rất hiếu động và hay đùa nghịch vào buổi tối và sáng sớm. Mèo là những “vận động viên điền kinh” tài giỏi có thể chạy rất nhanh và nhảy xuống đất từ độ cao lớn. Có điều đó vì chúng có cấu tạo cơ thể rất đặc biệt. Mèo có bốn chân, mỗi bàn chân đều có vuốt và đệm thịt ở phần tiếp xúc với mặt đất. Giống như mọi thành viên khác của họ mèo, vuốt của mèo thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Khi rơi từ trên cao xuống, mèo có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Khả năng này được gọi là “phản xạ thăng bằng.” Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian thực hiện phản xạ này khi rơi. Giống như chó, mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trực tiếp trên các ngón, các xương bàn chân của chúng tạo thành phần thấp nhìn thấy được của cẳng chân. Mèo có thể bước rất chính xác, bởi vì khi đi, chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên đầu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt ghồ ghề. Hỗ trợ đắc lực cho mèo trong quá trình di chuyển, ngoài chân ra còn có đuôi. Đuôi mèo dài và uyển chuyển, chúng được dùng để xua đuổi ruồi muỗi. Nhưng chức năng chủ yếu là giữ thăng bằng khi chạy nhảy leo trèo. Tai mèo khá thính. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Nhờ tính năng động cao của cơ tai mà mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Mắt mèo cũng là một bộ phận khá đặc biệt. Nghiên cứu cho thấy tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người, và kém nhất vào ban ngày. Màu mắt của mèo khá đa dạng: màu vàng, màu đen, màu nâu, màu xanh… về thính giác, con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp tương tự như nhau, nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó; mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh. Khứu giác của mèo cũng rất phát triển. Nó mạnh gấp 14 lần so với của con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được. Mèo là động vật ăn thịt thế nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sinh tồn là những loài vật nhỏ như: chuột, rắn, cóc nhái, cá… Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và chụp lấy con mồi. Ngày nay, loài mèo luôn sống với người qua nhiều thế hệ con cháu. Cho nên, thức ăn của loài mèo là cơm hoặc thức ăn sẵn. Nhưng thức ăn ưa thích nhất của loài mèo vẫn là món cá. Mèo thường tránh nơi ẩm ướt và ở rất sạch sẽ. Để làm vệ sinh cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra, tiết nước bọt vào chân của nó rồi bôi lên mặt và toàn thân thể. Hành động này cho thấy mục đích nó muốn xóa sạch các vết bẩn, ngay cả hơi tay của con người vừa mới bồng hay vuốt ve nó. Loài mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể của nó không có vết bẩn nào cả. Trải qua một thời gian dài được con người thuần dưỡng, ngày nay, mèo đã trở thành một loài vật cưng trong nhiều gia đình, đặc biệt là các em nhỏ. Mèo không chỉ là một “người bảo vệ”, một “dũng sĩ diệt chuột” mà còn là một loài vật cảnh hết sức dễ thương. Có lẽ bởi vậy, tinh cảm giữa con người và loài mèo sẽ ngày càng gắn bó hơn.
Thuyết minh về một loài động vật hay vật nuôi ở quê em
4,385
Đề bài: Thuyết minh về một loài động vật ở quê em Bài làm Bức tranh thôn quê Việt Nam là một bức tranh tràn ngập sắc màu rực rỡ nhưng cũng rất yên bình, ở đó chứa đựng mơ ước của người nông dân, có cây đa, giếng nước, mái đình, con trâu,… nhưng gần gũi với mỗi gia đình nhất có lẽ là đàn gà chạy rộn rã trước sân nhà. Đối với người nông dân Việt Nam thì gà nhà luôn là con vật gần gũi và thân thuộc nhất trong số rất nhiều các loài gà khác nhau. Gà là vật nuôi quan trọng nhất của con người để lấy thịt và trứng. Đặc điểm chung của gà là cánh tròn, ngắn, toàn thân phủ lông. Để thích nghi với cuộc sống bới đất tìm mồi, từ thuở xưa, gà đã được tạo hóa ban cho một đôi chân to móng cùn và cứng, phủ vẩy sừng mỏng màu vàng và còn một cái mỏ ngắn khỏe nữa. Không phải từ thuở ban đầu gà sinh ra đã là gã nhà mà tổ tiên của chúng là gà rừng đã trải qua thuần hóa liên chúng không có khả năng bay lượn. Đại đa số thời gian chúng dùng chân nâng đỡ cơ thể đi lại trên mặt đất. Vì vậy, cơ hồng của gà đa số tập trung ở chân, cơ ngực và các bộ phận khác lại là cơ trắng. Các em thiếu nhi vẫn có bài hát rất dễ thương về loài động vật này: Gà không biết gáy là mẹ gà con. Gà mà không gáy là vợ gà cha. Đi lang thang trong sân có con gà có con gà”. Chỉ mấy càu hát đơn giản như vậy thôi đã cho ta thấy một gia đình gà. Gà trống được coi là gà bố, đúng như một ông bố có dáng bệ vệ, chân có cựa sắc, bộ lông óng mượt rực rỡ, nổi bật bởi bông hoa đỏ rực trên đầu mà người ta vẫn gọi là mào gà. Gà trống có tiếng gáy âm vang, từ lâu đã được coi như là đồng hồ báo thức của người nông dân. Gà mái hay là gà mẹ, cũng giống với một người mẹ, hiền lành và có dáng vẻ chậm chạp hơn, bộ lông không săc sỡ.như gà trống. Nhưng bù lại, với “thiên chức” của một người mẹ, gà mái có khả năng ấp trứng và nở ra những chú gà con rất đáng yêu: Gà mái đẻ mỗi lứa từ 10 đến 20 trứng. Đa số gà mái sau khi đẻ trứng thường kêụ “cục tác”. Đó là biểu hiện sự hưng phấn cùa gà mái, hay có thê nói đó là niềm vui của gà mẹ, một “người mẹ” có tình mẫu tử mãnh liệt. Gà con vừa chui ra khỏi vỏ trứng giống như một nắm nhung có sự sống, bé nhỏ trong bộ lông vàng tơ óng mượt. Gà con mới nở có thể theo mẹ đi kiếm mồi ngay. Đốì với gà thì hạt thóc hạt mạch… có thể được coi là sơn hào hải vị của chúng. Nhưng cho dù được ăn những thứ đó hàng ngàv thì chúng vẫn thích mổ đông bới tây, đề tìm ăn những hạt sỏi, hạt cát. Thật ra vì không có răng nên gà cần dựa vào thứ khác để nghiền thức ăn và chúng đã lợi dụng sỏi để tiêu hóa thức ãn. Thịt gà và trứng gà là những thức ăn bổ dưỡng rất tốt cho con người. Không những từ xưa mà đến bây giờ vẫn vậy và không chỉ đối với người nông dân mà đối với hết thảy mọi người dân Việt Nam, con gà đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá ẩm thực. Có thể nói, con gà đã đi vào tín ngưỡng, vào đời sống tâm linh văn hóa của người dân Việt Nam. Nó là một trong mười hai con giáp, vẫn được gọi bằng cái tên thân mật là “Dậu”. Con “Dậu” là tượng trưng cho một tuổi đời. Ai đã từng đến Việt Nam, từng tìm hiểu và yêu nền văn hóa dân tộc Việt thì chắc hẳn không thể nào quên được những bức tranh Đông Hồ đậm đà bản sắc Việt với hình ảnh phong phú về thể loại, màu sắc cách điệu nhưng cũng giản dị vô cùng, nổi bật với những bức tranh như: “Vinh hoa”, “Gà trống hoa hồng”, “Gà dạ xương”… Dưới con mắt của người Việt Nam, con gà đáng trân trọng và thân thương như vậy đó. Từ lâu đã thành lệ, con gà là thứ không thể thiếu trong bất kì lễ tết truyền thống hay ngày cúng giỗ nào của người Việt Nam. Đêm giao thừa, vào giờ khắc chuyển giao, nhà nhà lại cùng nhau bày một mâm cỗ đặt trước cửa nhà để cầu mong tốt lành, hạnh phúc cho năm mới. Lẽ dĩ nhiên, mâm cỗ không thể thiếu con gà. Con gà luộc được đặt trong một,cái đĩa lớn đặt giữa mâm, miệng ngậm một bông hồng. Đó là tượng trưng cho sự an lành, may mắn mà nhà nhà đều mong đợi. Tự nhiên như thế, con gà trống như linh vật của người dân Việt Nam, tượng trưng cho sự may mắn yên bình, hạnh phúc, luôn luôn rất linh thiêng đối với nhân dân.Con gà còn đi vào văn học, vào ca dao, tục ngữ của dân tộc. Có câu chỉ nói đến kinh nghiệm trong văn hóa ẩm thực như: “Con gà cục tác lá chanh” nhưng có câu còn để răn dạy con người như: Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau Con gà là biểu tượng sự sống, của hi vọng, an lành đối với người dân Việt Nam. Mong rằng nạn dịch cúm sẽ nhanh chóng được đẩy lùi để con gà lại được hồi sinh, lại trở về bên người nông dân, trở về với bữa-cơm thường ngày và luôn gần gũi gắn bó với người dân Việt.
Thuyết minh về một loài động vật ở quê em
1,027
Thuyết minh về một loại trái cây – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Khi những cơn mưa đầu mùa hạ bắt đầu rơi xuống, cây hoa gạo đầu làng cho những bông hoa rực rỡ, tươi thắm, khi những chuyến trẩy hội chùa Hương vào độ đông nhất, thì đấy cũng là lúc cây mơ cho thu hái quả. Nếu có dịp, mời bạn về quê tôi nơi có “đệ nhất động”, một thắng cảnh nổi tiếng ở nước ta và thưởng thức hương vị quả mơ nổi tiếng. Bạn sẽ chẳng thể quên được cái vị chua và giòn của quả mơ khi bạn đã ăn nó. Cứ như là có duyên nợ với nhau, cây mơ đợi bằng được các bà các chị khách thập phương đến mới cho thu hái. Quả mơ rất chua, bạn chỉ có thể ăn chơi vài quả, nhưng khi được chế biến thành sản phẩm thì rất khác. Này nhé! Trong dịp lễ Tết, gia đình bạn đều có những chai rượu vàng óng ả của nhà máy rượu Hà Nội, bạn có để ý xem nhãn hiệu của nó không? Xin thưa, đó là rượu mơ đấy. Sau Tết, khi đã chán những món cao lương mĩ vị, bạn tìm mua những quả ô mai mơ nho nhỏ có vị ngọt ngọt, chua chua để nhấm nháp. Ôi! Tuyệt vời làm sao… Tôi còn nhớ, có lần chúng tôi chuyền tay nhau quả ô mai mơ trong giờ học, vừa nhấm nháp vừa xuýt xoa vị chua và vị cay của gừng thì… cô giáo gọi cô bạn ngồi cạnh lên bảng. Nhưng khi biết thủ phạm là ô mai thì cô mỉm cười và tha cho. Đấy các bạn thấy có “may” không? Mùa hè nóng nực, đi đâu về, được cốc nước mơ, ta cảm thấy như cái hừng hực nóng của đường sá xa xôi cũng dịu bớt đi. Được ngâm với đường, quả mơ lúc trước căng mọng, ưa nhìn là thế, vậy mà bây giờ quắt lại nhỏ xíu bởi chắt hết chất để cho chúng ta vị ngon tuyệt vời. Bà ngoại tôi rất thích mơ, vì vậy năm nào tôi cũng về quê đi hái mơ biếu bà ngoại để bà ngoại ngâm mơ với đường và rượu. Món quà nho nhỏ thôi, nhưng tôi vẫn thích làm để bà tôi được vui. Nếu bạn đến quê tôi, xin đừng bao giờ quên mang về ít quả mơ nho nhỏ để biếu ông bà hoặc biếu những người thân khác, bạn nhé! Tags:Văn 8
Thuyết minh về một loại trái cây – Đề và văn mẫu 8
424
Thuyết minh về một loại vật nuôi Hướng dẫn Đề bài: Thuyết minh về một loại vật nuôi – văn mẫu lớp 9 Bài văn mẫu 1: Thuyết minh về con thỏ Nếu tôi hỏi bạn về một câu: “Trong các loài vật nuôi trong gia đình, bạn yêu quý con vật nào nhất?” thì tôi chắc chắn rằng sẽ có rất nhiều câu trả lời. Nhưng riêng đối với tôi, tôi vẫn yêu quý chú thỏ trắng nhà mình với bộ lông mềm và trắng muốt. Giống thỏ được nhập vào nước ta, cách đây khoảng một trăm năm, nên thỏ là loài vật gần gũi với mọi người dân Việt Nam. Thỏ có lớp lông mao dày để thích nghi với những điều kiện thời tiết khô hạn. Tai thỏ dài và có thể chuyển được hướng để nghe những âm thanh và tiếng động cảu kẻ thù. Ở thỏ cũng có một đặc điểm để thích nghi với môi trường sống trên cạn rất nhiều bụi. Đó là mắt có mi mắt và tuyến lệ. Hiện nay, tuy thỏ đã được nuôi dưỡng trong nhiều gia đình nhưng chúng vẫn mang nhiều tập tính của thỏ rừng – tổ tiên xa xưa của chúng. Một trong những tập tính của thỏ mang dấu ấn của tổ tiên chúng là tập tính đào hang. Ở hai đôi chi trước và sau của thỏ đều có vuốt giúp chúng bới đất. Đối với thỏ, hang có vị trí rất quan trọng, vì nó không chỉ là nơi sinh sống của thỏ, mà đó còn là nơi để chúng trốn tránh kẻ thù. Vì thiếu những bộ phận tự vệ như nanh, vuốt sắc nên chúng thường đi kiếm ăn về buổi chiều hay ban đêm để tránh bị kẻ thù săn đuổi. Chúng ăn cỏ, lá và một số loại thực vật. Do ăn bằng cách gặm nhấm nên răng cửa thỏ dài, cong, vát và sắc. Thỏ là loài dộng vật chịu được lạnh, dù thời tiết hanh khô hay giá lạnh chúng vẫn thích nghi được. Nhiệt độ của cơ thể luôn ổn định. Thỏ là loài động vật đẻ con. Mỗi lần đẻ từ một đến hai con. Chúng nuôi con bằng sữa của mình. Thỏ “đi” không như chó, mèo mà chúng di chuyển bằng cách “nhảy cóc”. Hai chi sau dài hơn hai chi trước. Khi nhảy, hai chan sau đạp một cái là cất mình bay lên, khi hạ xuống thì hai chân trước đỡ như cái nhíp. Khi gặp nguy hiểm, ngoài cách lẩn trốn vào hang, thỏ còn bỏ chạy. Thỏ chạy rất nhanh, có thể lên tới tám mươi ki-lô-mét trong một giờ. Thỏ thường chạy theo những đường uốn khúc để đánh lừa kẻ săn đuổi và làm chúng mất đà. Ngày nay, đã có ít nhất trên sáu mươi giống thỏ. Ở nước ngoài thỏ được nuôi trong các lồng sắt, nhưng ở Việt Nam phần lớn thỏ được thả ở ngoài vườn và cho tự đi kiếm ăn. Thỏ được nuôi để ăn thịt hoặc lấy lông. Ngoài ra thỏ còn được dùng trong cách phòng thí nghiệm. Vì thỏ có cấu tạo gần giống cơ thể người nên được dùng để thử những loại thuốc mới. Thịt thỏ thơm, được dùng để chế biến nhiều loại thức ăn. Ngoài ra, tai thỏ ngâm rượu còn là một loại thuốc quý. Lông thỏ được dùng may áo bông, làm khăn,… vừa đẹp lại vừa ấm. Khi đẻ con, thỏ thường nhổ một ít lông ngực để lót ổ cho con. Thỏ đã trở thành một nhân vật nổi tiếng trong các câu chuyệ cổ tích và phim hoạt hình như em nào cũng biết bộ phim hoạt hình “Hãy đợi đấy” nói về một chú thỏ là một con sói. Thỏ con tuy nhỏ bé nhưng thông minh, nhanh nhẹn, luôn chiến thắng con sói già gian ác. Thỏ đã trở thành một laòi vật nuôi kinh tế ở nước ta, và cũng còn được nuôi trong nhiều gia đình. Giữ gìn, bảo vệ loài thỏ là bảo vệ hệ đa dạng sinh thái môi trường. Bài văn mẫu 2: Thuyết minh về con chó Trong chúng ta, chắc hẳn ai cũng biết chó là một con vật đáng yêu và rất hữu ích đối với con người. Nhiều người xem chúng như dũng sĩ giữ nhà, một số người còn xem chó là một người bạn trung thành. Nhưng chúng ta có biết rõ về chó chưa? Chúng mình hãy cùng tìm hiểu về con vật đáng yêu này! Chó là giống vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 12.000 năm vào thời kì đồ đá.Tổ tiên cũa loài chó bao gồm cả cáo và chó sói, còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ màu xám. Chó là loài động vật 4 chân, ăn tạp. Kích thước trung bình của chó là dài 40-160 cm.Mắt chó có đến 3 mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ 3 nằm ỡ giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khõi bụi bẩn. Tai của chúng rất thính, có thể nhận được 35000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất thính như tai. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Chi kiểu có ngón: chi trước 5 ngón, chi sau 4 ngón. Ngón có vuốt nhưng không co rút được, vì vậy nên nó không leo trèo và khó giữ mồi lâu. Chó chạy xa và mềm nhở chân dài. Não chó rất phát triển. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động rồi sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém, chỉ nhìn thấy 2 màu đen-trắng. Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay đuôi che lấy cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình. Màu sắc lông đa dạng. Chó có đến 2 lớp lông: lớp bên ngoài như chungt1 ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong những ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ ” hạ nhiệt” trong những ngày oi bức. Chó con mới sinh ra thì nhắm mắt, sau một tháng nó mới mở mắt và bắt đầu đi đứng được. Lúc mới ra đời, chó kh6ong có răng nhưng chĩ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng.Bộ hàm đầy đủ của loại thú này là 42 chiếc. Chúng ta phải thừa nhận một cách chắc chắn rằng chó là một con vật ” đa năng”: chó giữ nhà, chó cảnh, chó săn bắt, chó thể thao, chó nghiệp vụ….. Chó nghiệp vụ lại được đào tạo chuyên sâu hơn như chó phất hiện, phòng ngừa mối sử dụng trong ngành nghiên cứu hộ đê điều; chó cảnh sát giúp phát hiện ma túy, săn bắt tội phạm; chó làm các dịch vụ bảo vệ ; chó cứu hộ trong các tình trạng khẩn cấp như động đất, thiên tai, bão lũ….; chó săn bắt mồi, chim choc…. Không thể kể hết những công việc mà chó có thể giúp đỡ hoặc thay thế con người. Nhờ trí thông minh, sự nhanh nhẹn …Chó có thể tiếp thu mọi tín hiệu, hiệu lệnh của người điều khiển rồi làm theo sau khi nhìn con người làm mẫu. Trí thong minh của chó chỉ đứng sau khỉ nhưng xếp trên cá heo. Tuy nhiên theo Pavlop, có thể huấn luyện được một con chó thong minh chứ khó dạy dỗ được nó như con khĩ. Điều đó cho thấy chop là loài vật biết tiếp thu, nghe lời. Nhờ các cơ quan khứu giác, thính giác cực kì phất triển nên chó có khả năng nhận biết, phát triển các vật thể, dấu hiệu lạ từ xa để thong báo cho con người đề phòng. Trong văn hóa, tâm linh của một số dân tộc, chó được thờ cúng tại các đền thờ, miếu mạo. tục thờ chó kah1 phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới (ĐNÁ, TNÁ, Đông Á).Trong thần thoại vùng Địa Trung Hải và Cận Đông, hỉnh tượng chó, kẻ canh giữ gia súc đã sớm trở thành kẻ canh giữ thế giới âm phủ. Còn khi nhắc đến chó cảnh thì ta cũng hiểu đó chính là chó nhà. Những con chó này thường được nuôi làm cảnh đồng thời kiêm cả nhiệm vụ giữ nhà. Có rất nhiều lại chó cảnh như: chó xù, chó Nhật, chó mini, chó Bắc Kinh, chó Chihuahua Pox. Nếu như long chó Béc-giê ngắn và mượt thì chó cảnh thường có bộ long dài và có thể mượt hay xù. Chó hữu ích và rất gần gũi với con người, do đó chúng ta cần chăm sóc tốt cho chúng. Chăm sóc chó cũng khá đơn giản, công việc này khong phức tạp và việc luyện tập cũng vậy. Với tính hiền lành của chúng thì thật dễ hòa đồng và nhanh hiểu được những điều mà gia đình bạn cần ở chúng, chỉ cần bạn có sự quan tâm đến chúng và dắt đi dạo thường xuyên, mỗi một tuần thì tắm cho nó một lần và đôi khi bạn cũng cần chãi lông cho con vật yêu của mình. Tiêm vắc-xin phòng bệnh cho chúng định kì theo chỉ định của bác sĩ thú y giúp chú chó khỏe mạnh. Chó là loài động vật rất có ích trong mọi lĩnh vực. Chó còn là bạn của con người bởi sự thông minh, lanh lợi, trung thành và nhiều tác dụng của nó. Chó được coi là loài động vật rất quan trọng và giúp việc đắc lực cho con người. Bài văn mẫu 3: Thuyết minh về con mèo Có rất nhiều loài vật đã được con người thuần hoá, nuôi dưỡng và trở thành “thú cưng” trong mỗi giã đình. Nhưng trong số đó, có thể nói mèo là loài vật được yêu chiều, nâng niu nhất. Mèo nhà là một phần loài trong họ mèo (trong họ mèo còn có báo, linh miêu..). Theo những căn cứ khoa học đáng tin cậy thì chúng đã sống gần gũi với loài người trong khoảng từ 3.500 năm đến 8.000 năm. Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc không có đuôi. Các màu lông mèo rất đa dạng: màu trắng, màu vàng, màu xám tro… Có những chú mèo mang nhiều màu lông nên có những tên gọi như mèo tam thể (có ba màu lông), mèo vằn (hai màu lông chạy xen nhau), mèo đốm,… Mèo con từ 1 tháng tuổi trở lên đã được mèo mẹ dạy các động tác săn bắt mồi như chạy, nhảy, leo trèo, rình và vồ mồi. Mèo 4 tháng tuổi có thể bắt được chuột, gián, thạch sùng… Chúng giao tiếp bằng cách kêu “meo”, “mi-ao”, “gừ-gừ”, rít, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể. Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau. Thông thường mèo nặng từ 2,5 kg đến 7 kg. Cá biệt, một số chú mèo từng đạt tới trọng lượng 23 kg vì được cho ăn quá nhiều. Trái lại, cũng có những chú mèo rất nhỏ (chưa tới 1,8 kg), ở tình trạng nuôi trong nhà, mèo thường sống được từ 14 năm tới 20 năm. Chú mèo già nhất từng biết đến trên thế giới đã sống 36 năm. Mèo giữ năng lượng bằng cách ngủ nhiều hơn đa số các loài động vật khác, đặc biệt khi chúng già đi. Thời gian ngủ hàng ngày có khác nhau, thường là 12 giờ đến 16 giờ, mức trung bình 13 giờ đến 14 giờ. Một số chú mèo có thể ngủ 20 giờ trong ngày. Vì thường chỉ hoạt động nhiều lúc mặt trời lặn, mèo rất hiếu động và hay đùa nghịch vào buổi tối và sáng sớm. Mèo là những “vận động viên điền kinh” tài giỏi có thể chạy rất nhanh và nhảy xuống đất từ độ cao lớn. Có điều đó vì chúng có cấu tạo cơ thể rất đặc biệt. Mèo có bốn chân, mỗi bàn chân đều có vuốt và đệm thịt ở phần tiếp xúc với mặt đất. Giống như mọi thành viên khác của họ mèo, vuốt của mèo thu lại được. Bình thường, ở vị trí nghỉ các vuốt được thu lại trong da và lông quanh đệm ngón. Điều này giữ vuốt luôn sắc bởi chúng không tiếp xúc với mặt đất cũng như cho phép mèo đi nhẹ nhàng rình mồi. Các vuốt chân trước thường sắc hơn so với phía sau. Mèo có thể giương một hay nhiều vuốt ra tùy theo nhu cầu. Khi rơi từ trên cao xuống, mèo có thể sử dụng cảm giác thăng bằng sắc bén và khả năng phản xạ của nnó tự xoay thân tới vị trí thích hợp. Khả năng này được gọi là “phản xạ thăng bằng.” Nó luôn chỉnh lại thăng bằng cơ thể theo một cách, khiến chúng luôn có đủ thời gian thực hiện phản xạ này khi rơi. Giống như chó, mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trực tiếp trên các ngón, các xương bàn chân của chúng tạo thành phần thấp nhìn thấy được của cẳng chân. Mèo có thể bước rất chính xác, bởi vì khi đi, chúng đặt bàn chân sau (hầu như) trực tiếp lên đầu của bàn chân trước, giảm thiểu tiếng ồn và dấu vết để lại. Điều này cũng giúp chúng có vị trí đặt chân sau tốt khi bước đi trên bề mặt ghồ ghề. Hỗ trợ đắc lực cho mèo trong quá trình di chuyển, ngoài chân ra còn có đuôi. Đuôi mèo dài và uyển chuyển, chúng được dùng để xua đuổi ruồi muỗi. Nhưng chức năng chủ yếu là giữ thăng bằng khi chạy nhảy leo trèo. Tai mèo khá thính. Đa số mèo có tai thẳng vểnh cao. Nhờ tính năng động cao của cơ tai mà mèo có thể quay người về một hướng và vểnh tai theo hướng khác. Mắt mèo cũng là một bộ phận khá đặc hiệt. Nghiên cứu cho thấy tầm nhìn của mèo tốt nhất vào ban đêm so với người, và kém nhất vào ban ngày. Màu mắt của mèo khá đa dạng: màu vàng, màu đen, màu nâu, màu xanh… về thính giác, con người và mèo có tầm thính giác ở mức thấp tương tự như nhau, nhưng mèo có thể nghe được những âm thanh ở độ cao lớn hơn, thậm chí tốt hơn cả chó. Khi nghe âm thanh nào đó, tai mèo sẽ xoay về hướng đó; mỗi vành tai mèo có thể quay độc lập về hướng nguồn âm thanh. Khứu giác của mèo cũng rất phát triển. Nó mạnh gấp 14 lần so với của con người. Số lượng tế bào khứu giác ở mũi của chúng cũng nhiều gấp đôi, do dó mèo có thể ngửi thấy những mùi mà chúng ta không nhận thấy được. Mèo là động vật ăn thịt thế nên đối tượng để nó săn mồi cho nhu cầu sinh tồn là những loài vật nhỏ như: chuột, rắn, cóc nhái, cá… Vũ khí để săn mồi là móng vuốt. Khi gặp con mồi, nó thường đứng từ xa cách con mồi khoảng chừng 5 đến 6 mét. Sau đó nó nằm bẹp hạ cơ thể xuống sát đất, mắt chăm chăm nhìn không nháy mắt đến đối tượng đồng thời bước tới con mồi cần săn rất nhẹ nhàng. Khi đến gần khoảng cách mà nó cảm thấy ăn chắc, loài mèo tung ra sức mạnh cuối cùng bằng cách đẩy mạnh 2 chân sau và đồng thời phóng mạnh toàn cơ thể tới phía trước và dùng móng sắc nhọn duỗi thẳng ra và chụp lấy con mồi. Ngày nay, loài mèo luôn sống với người qua nhiều thế hệ con cháu. Cho nên, thức ăn của loài mèo là cơm hoặc thức ăn sẵn. Nhưng thức ăn ưa thích nhất của loài mèo vẫn là món cá. Mèo thường tránh nơi ẩm ướt và ở rất sạch sẽ. Để làm vệ sinh cho cơ thể, nó thường thè lưỡi ra, tiết nước bọt vào chân của nó rồi bôi lên mặt và toàn thân thể. Hành động này cho thấy mục đích nó muốn xóa sạch các vết bẩn, ngay cả hơi tay của con người vừa mới bồng hay vuốt ve nó. Loài mèo luôn tự làm lấy vệ sinh cho cơ thể nhiều lần trong ngày, thường là lúc nó mới ngủ dậy hay đi đâu đó về. Hành động đó đã trở thành thói quen thường thấy ở loài mèo ngay cả khi cơ thể của nó không có vết bẩn nào cả. Trải qua một thời gian dài được con người thuần dưỡng, ngày nay, mèo đã trở thành một loài vật cưng trong nhiều gia đình, đặc biệt là các em nhỏ. Mèo không chỉ là một “người bảo vệ”, một “dũng sĩ diệt chuột” mà còn là một loài vật cảnh hết sức dễ thương. Có lẽ bởi vậy, tinh cảm giữa con người và loài mèo sẽ ngày càng gắn bó hơn. Hy vọng với hai bài văn thuyết minh về con mèo và con chó là đề tài giúp các bạn tham khảo và bổ sung vào bài viết cho mình. Bài văn mẫu 4: Thuyết minh về con gà Bức tranh thôn quê Việt Nam là một bức tranh tràn ngập sắc màu rực rỡ nhưng cũng rất yên bình, ở đó chứa đựng mơ ước của người nông dân, có cây đa, giếng nước, mái đình, con trâu,… nhưng gần gũi với mỗi gia đình nhất có lẽ là đàn gà chạy rộn rã trước sân nhà. Đối với người nông dân Việt Nam thì gà nhà luôn là con vật gần gũi và thân thuộc nhất trong số rất nhiều các loài gà khác nhau. Gà là vật nuôi quan trọng nhất của con người để lấy thịt và trứng. Đặc điểm chung của gà là cánh tròn, ngắn, toàn thân phủ lông. Để thích nghi với cuộc sống bới đất tìm mồi, từ thuở xưa, gà đã được tạo hóa ban cho một đôi chân to móng cùn và cứng, phủ vẩy sừng mỏng màu vàng và còn một cái mỏ ngắn khỏe nữa. Không phải từ thuở ban đầu gà sinh ra đã là gã nhà mà tổ tiên của chúng là gà rừng đã trải qua thuần hóa liên chúng không có khả năng bay lượn. Đại đa số thời gian chúng dùng chân nâng đỡ cơ thể đi lại trên mặt đất. Vì vậy, cơ hồng của gà đa số tập trung ở chân, cơ ngực và các bộ phận khác lại là cơ trắng. Các em thiếu nhi vẫn có bài hát rất dễ thương về loài động vật này: Gà không biết gáy là mẹ gà con. Gà mà không gáy là vợ gà cha. Đi lang thang trong sân có con gà có con gà”. Chỉ mấy càu hát đơn giản như vậy thôi đã cho ta thấy một gia đình gà. Gà trống được coi là gà bố, đúng như một ông bố có dáng bệ vệ, chân có cựa sắc, bộ lông óng mượt rực rỡ, nổi bật bởi bông hoa đỏ rực trên đầu mà người ta vẫn gọi là mào gà. Gà trống có tiếng gáy âm vang, từ lâu đã được coi như là đồng hồ báo thức của người nông dân. Gà mái hay là gà mẹ, cũng giống với một người mẹ, hiền lành và có dáng vẻ chậm chạp hơn, bộ lông không săc sỡ.như gà trống. Nhưng bù lại, với “thiên chức” của một người mẹ, gà mái có khả năng ấp trứng và nở ra những chú gà con rất đáng yêu: Gà mái đẻ mỗi lứa từ 10 đến 20 trứng. Đa số gà mái sau khi đẻ trứng thường kêụ “cục tác”. Đó là biểu hiện sự hưng phấn cùa gà mái, hay có thê nói đó là niềm vui của gà mẹ, một “người mẹ” có tình mẫu tử mãnh liệt. Gà con vừa chui ra khỏi vỏ trứng giống như một nắm nhung có sự sống, bé nhỏ trong bộ lông vàng tơ óng mượt. Gà con mới nở có thể theo mẹ đi kiếm mồi ngay. Đốì với gà thì hạt thóc hạt mạch… có thể được coi là sơn hào hải vị của chúng. Nhưng cho dù được ăn những thứ đó hàng ngàv thì chúng vẫn thích mổ đông bới tây, đề tìm ăn những hạt sỏi, hạt cát. Thật ra vì không có răng nên gà cần dựa vào thứ khác để nghiền thức ăn và chúng đã lợi dụng sỏi để tiêu hóa thức ãn. Thịt gà và trứng gà là những thức ăn bổ dưỡng rất tốt cho con người. Không những từ xưa mà đến bây giờ vẫn vậy và không chỉ đối với người nông dân mà đối với hết thảy mọi người dân Việt Nam, con gà đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá ẩm thực. Có thể nói, con gà đã đi vào tín ngưỡng, vào đời sống tâm linh văn hóa của người dân Việt Nam. Nó là một trong mười hai con giáp, vẫn được gọi bằng cái tên thân mật là “Dậu”. Con “Dậu” là tượng trưng cho một tuổi đời. Ai đã từng đến Việt Nam, từng tìm hiểu và yêu nền văn hóa dân tộc Việt thì chắc hẳn không thể nào quên được những bức tranh Đông Hồ đậm đà bản sắc Việt với hình ảnh phong phú về thể loại, màu sắc cách điệu nhưng cũng giản dị vô cùng, nổi bật với những bức tranh như: “Vinh hoa”, “Gà trống hoa hồng”, “Gà dạ xương”… Dưới con mắt của người Việt Nam, con gà đáng trân trọng và thân thương như vậy đó. Từ lâu đã thành lệ, con gà là thứ không thể thiếu trong bất kì lễ tết truyền thống hay ngày cúng giỗ nào của người Việt Nam. Đêm giao thừa, vào giờ khắc chuyển giao, nhà nhà lại cùng nhau bày một mâm cỗ đặt trước cửa nhà để cầu mong tốt lành, hạnh phúc cho năm mới. Lẽ dĩ nhiên, mâm cỗ không thể thiếu con gà. Con gà luộc được đặt trong một,cái đĩa lớn đặt giữa mâm, miệng ngậm một bông hồng. Đó là tượng trưng cho sự an lành, may mắn mà nhà nhà đều mong đợi. Tự nhiên như thế, con gà trống như linh vật của người dân Việt Nam, tượng trưng cho sự may mắn yên bình, hạnh phúc, luôn luôn rất linh thiêng đối với nhân dân.Con gà còn đi vào văn học, vào ca dao, tục ngữ của dân tộc. Có câu chỉ nói đến kinh nghiệm trong văn hóa ẩm thực như: “Con gà cục tác lá chanh” nhưng có câu còn để răn dạy con người như: Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau Gần đây, dịch cúm gà hoành hành đã làm cho bữa cơm Việt Nam thưa vắng món thịt gà. Người ta cảm thấy thiếu thiếu một cái gì đó, nhất là mỗi độ Tết đến. Con gà là biểu tượng sự sống, của hi vọng, an lành đối với người dân Việt Nam. Mong rằng nạn dịch cúm sẽ nhanh chóng được đẩy lùi để con gà lại được hồi sinh, lại trở về bên người nông dân, trở về với bữa-cơm thường ngày và luôn gần gũi gắn bó với người dân Việt. Bài văn mẫu 5: Thuyết minh về con heo (con lợn) Trong cuộc sống của chúng ta có biết bao nhiêu con vật có ích nào là trâu, chó, gà, bò…thế nhưng chúng ta cũng không thể nào không nhắc đến con lợn. Có thể nói lợn là một con vật rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta. Nó không chỉ là một con vật nuôi cung cấp nguồn thực phẩm cho con người mà nó còn có nhiều vai trò khác nữa. Về thức ăn thì lợn là một con vật ăn tạp và thức ăn chủ yêu của nó là cái loại rau xanh và cám, gạo, cám ngô. Người thường cho nó ăn vào một cái máng dài. Về phân loại thì lợn được chia ra làm hai loại lợn cơ bản đó là lợn sề và lợn cỏ. Lơn sề có màu khoang trắng đen kích cỡ to hơn và thịt thường dai hơn thịt lợn bình thường không tạo nên sự hấp dẫn cho con người. Chính vì thế mà trên thị trường thịt lợn sề bào giờ cũng rẻ hơn thịt lợn bình thường. Những con lợn khác thì có màu trắng bình thường. Về sinh sản thì mỗi một lứa lợn sẽ đẻ ra gần mười con lợn con. Khi mới đẻ những con lợn ấy phải được tiến hành bẻ răng nanh không thì sẽ cắn mẹ nó khi bú. Lợn con sinh ra màu hồng hào trông rất đẹp và sạch sẽ. Không chỉ thế lợn là một con vật có ích bởi vì nó có công dụng rất lớn trong đời sống của chúng ta. Thứ nhất là trong kinh tế và đời sống thực phẩm hàng ngày. Ngày nay chúng ta đi ra chợ món thịt lợn là món mà mọi người thường hay mua nhiều nhất. Chính bởi thịt lợn rất ngon và dễ ăn số lượng lại nhiều nên giá cả phải chăng khiến cho nhà ai cũng có thể ăn chứ không như thịt bò đắt. Vậy nên những người nhà không có điều kiện cũng có thể mua về ăn trong bữa cơm hàng ngày. Còn những người bán háng thì lại có thu nhập đều đều. Trong đời sống thì chúng ta có thể thấy được đó là thịt lợn có thể chế biến thành nhiều món ngon đẹp mắt như: thịt kho tàu, thịt rang, thịt xào xả ớt, thịt băm…Nói tóm lại lợn cung cấp thực phẩm cần thiết cho con người. Vai trò thứ hai đó là lợn trở thành nhiều biểu tượng cho con người và còn trở thành cả biểu tượng nghệ thuật. Lợn vô cùng may mắn khi lọt vào top mười hai con giáp để chỉ cho số phận con người. Những người sinh năm lợn được người ta phán rằng có một cuộc sống sung sướng bởi dựa theo đặc tính của con vật này thì cả ngày chỉ có ăn với nằm mà thôi. Đói thì lại kêu no thì lại ngủ. Vì thế những người sinh năm hợi đều mang số phận sướng. Không những thế mà hẳn những con người Việt nam chúng ta không quên được hình ảnh của những bức tranh Đông Hồ với đàn lợn dưới hình một cây khoai nước. Đó là nghệ thuật của nước ta mà cụ thể là ở Bắc Ninh. Như vậy có thể thấy được vai trò và những đặc điểm cơ bản của con lợn trong cuộc sống của con người chúng ta. Có lẽ chính vì những vai tro to lớn từ vật chất cho đến tinh thần ấy đã khiến cho lợn trở thành một con vật có ích. Bài văn mẫu 6: Thuyết minh về con trâu Trâu là loài động vật quen thuộc đối với làng quê, cánh đồng ruộng Việt Nam. Đặc biệt là đối với người nông dân, trâu là động vật không thể thiếu trong việc làm ruộng, cày bừa, vì thế trâu được nhắc đến trong câu thành ngữ Việt Nam xưa “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Trâu xuất hiện từ rất lâu ở đồng quê Việt Nam, hình ảnh con trâu dường như không xa lạ đối với người dân ở đây. Trâu thuộc họ Bò, phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ Guốc chẵn, là động vật ở nhóm Thú có vú vì nó nuôi con bằng sữa. Nó có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc giống trâu đầm lầy. Trâu to, khỏe, vạm vỡ, thấp ngắn, bụng to, mông dốc. Những điểm này rất thích hợp đối với công việc của chú trâu. Nhắc đến con trâu là ai cũng nghĩ ngay đến một hình ảnh làm việc siêng năng, cần cù cùng với người nông dân, đó là chú trâu hiền lành cùng với việc cày bừa trân đồng ruộng đầy vất vả. Trâu xuất hiện trên đồng ruộng làng quê Việt Nam, nó cày bừa thật chăm chỉ. Khi lưỡi cày cắm xuống đất, nó nhanh nhẹn kéo cày thành từng luống đất đều đặn tăm tắp, khiến người nông dân rất hài lòng. Trâu làm việc từ sáng đến tối, dường như không mệt nhiều. Khi người nông dân ra lệnh trâu về, nó hiểu ý chủ, liền nhanh nhẹn lên bờ. Như nhớ đường về nhà nên trâu đi rất nhanh và nó biết về đúng nơi mà được coi là “Thiên đường riêng” của mình, đó là cái chuồng trâu thật đẹp và sạch sẽ, với những thức ăn ngon mà người chủ đã chuẩn bị sẵn, đó là những ngọn cỏ thật tươi. Con trâu còn gắn bó với tuổi thơ của những trẻ mục đồng. Hình ảnh với những buổi chiều nắng dịu, lũ trẻ ngồi trên lưng trâu thổi sáo, chơi cờ lao, thả diều đã là một hình ảnh đẹp, được các họa sĩ khắc lên những bức trang sinh động, mộc mạc, tự nhiên, một bức tranh làng quê rất đẹp. Đặc biệt, lũ trẻ còn gắn bó thân thiết với chú trâu khi tắm sông. Chúng tắm và nô đùa với trâu dưới nước như những người bạn thân chứ không phải là một loài động vật nông nghiệp. Thú vị hơn nữa, con trâu còn xuất hiện trong một số lễ hội, đình đám các Sea Game. Ở Đồ Sơn, có lễ hội Chọi Trâu, diễn ra vào mồng chín tháng tám hằng năm. Lễ hội diễn ra nhằm chọn ra những chú trâu khỏe ở các vùng. Ngoài ra, còn có hội đua trâu, đâm trâu ở Tây Nguyên. Lễ hội này thật có ý nghĩa. Những chú trâu được giết để lấy thị tế các vị thần linh trong bản, nhằm cầu phúc cho một năm an lành, trù phú. Nói đến lợi ích của con trâu thì người ta nghĩ ngay đến sức mạnh của nó. Trâu có sức kéo trong cày bừa, làm ruộng, nó còn kéo xe, gỗ, giúp ít nhiều. Ngoài ra, nó còn cung cấp thịt cho ngành thực phẩm. Trâu còn cung cấp sữa, làm đồ mĩ nghệ như sừng, da,… Trâu có nhiều lợi ích về ngành kinh tế, trong nông nghiệp làm ruộng và nhiều ngành khác, nên chúng ta cần phải bảo vệ, chăm sóc tốt chúng. Cần có biệc pháp ngăn chặn sự tuyệt chủng ở loài trâu để duy trì nòi giống họ Trâu giúp chúng ta luôn có được những lợi ích từ những chứ trâu mập mạp khỏe mạnh này. Hiện nay, với sự phát triển của công nghiệp hóa hóa, hiện đại hóa nên có nhiều máy móc tân thời xuất hiện, hình ảnh chú trâu đã dần không còn xuất hiện trên làng quê Việt Nam. Nhưng trong tâm trí của người nông dân thì chú trâu vẫn là người bạn thân thuộc nhất, đối với lũ trẻ thì trâu lại là người bạn quen thuộc, gắn bó thân thiết trong kí ức tuổi thơ của chúng. Sự gắn bó, tâm sự của người nông dân Việt Nam còn thể hiện qua bài thơ vô cùng giản dị, đầy sinh động này: “Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày vốn nghiệp nông gia Ta đây trâu đấy ai mà quả công Bao giờ cây lúa còn bông Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”
Thuyết minh về một loại vật nuôi
5,428
Thuyết minh về một lễ hội mà em biết Hướng dẫn Thuyết minh về một lễ hội mà em biết Lễ hội văn hóa là một trong những hình thức nghệ thuật văn hóa phi vật thể, cho nên ở Việt Nam một nước mang những phong túc và nền văn hóa phương đông cho nên lai càng có nhiều lễ hội được tổ chức ở đây. Một trong những lễ hội truyền thống đó có cả Lễ Hội trung thu. Nó vừa mang đậm phong cách á châu vừa lại mang những nét riêng của đất nước Việt Nam Trung thu là lễ hội được diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 theo Âm lịch và đã có từ ngàn năm nay. Thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người châu Á thu hoạch xong mùa vụ. Người dân tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là Lễhội tết nguyên tiêu và lễ trung thu. Người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là bánh Trung thu, với hương vị khác nhau và thường được thưởng thức với trà, thường là trà đặc. Trăng tròn là để tượng trưng cho sự đoàn viên, sum họp trong gia đình là lúc moi thành viên trong gi đình về với nhau ăn bánh trôi, nhưng ngày nay thì lễ trung thu là lễ tết thiếu nhi, cho nên ngày này là lúc mọi người quây quần bên nhau, làm nhiều đồ chơi trẻ con và đưa trẻ đi chơi, tổ chức phá cỗ đêm trăng Bên cạnh đó một tập tục của người người trong ngày tết trung thu chính là người lớn thì uống rượu, thưởng trăng, và hát trống quân; trẻ em thì rước đèn, đi xem múa lân, ca hát các bài hát Trung thu, và vui hưởng bánh kẹo và tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo trái cây trong đêm Trung thu này được gọi là “phá cỗ”. Trong mâm cố của ngày trung thu thì có bánh trung thu, kẹo, mía, bưởi, và các thứ hoa quả khác nữa. Là dịp mà con cái hiểu được sự săn sóc quí mến của cha mẹ đối với mình nên tình cảm, tình yêu gia đình lại càng khắng khít thêm. Trong dịp này Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên đán còn ở Việt nam, người Việt lại đặc biệt tổ chức múa sư tử hay múa lân trong dịp Tết Trung thu, từ đó đến nay, khi đón trăng, đón Tết Trung thu, mọi người, nhất là các em nhỏ, được người lớn chuẩn bị cho Tết,, múa hát, đánh trống, rước đèn ông sao và các hình con vật, cùng nhiều đồ chơi thích thú Một điều đặc biệt đó là sau Cách mạng Tháng 8, khi Bác Hồ gửi thư Trung thu cho thiếu nhi cả nước, Trung thu thực sự trở thành Tết của tất cả trẻ em và được tổ chức vui chơi tưng bừng,.. Trung thu hiện đại dù đã có nhiều biến tấu tuy nhiên vẫn giữ được những nét đẹp văn hóa mà người xưa để lại.
Thuyết minh về một lễ hội mà em biết
531
Thuyết minh về một lễ hội truyền thống ở quê hương em Hướng dẫn Em hãy viết một bài văn thuyết minh về lễ hội khai mùa để ghi lại Nét đẹp phong tục tập quán truyền thống của quê hương Tết đến với nhiều lễ hội truyền thống tại từng địa phương khác nhau. Em hãy viết một bài văn thuyết minh về lễ hội khai mùa để ghi lại nét đẹp phong tục tập quán truyền thống của quê hương là một trong những đề văn thường gặp trong chương trình ngữ văn lớp 10. Mời các bạn tham khảo bài thuyết minh về một lễ hội truyền thống ở quê hương em. Cảm nghĩ về ngày tết cổ truyền quê em Viết một đoạn văn về ngày Tết bằng tiếng Anh Dàn ý Mở bài Giới thiệu lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại. Thân bài: Giới thiệu những đặc điểm của lễ hội theo kết cấu thời gian kết hợp với kết cấu logic. – Trình bày thời gian tổ chức lễ hội, địa điểm, nguồn gốc lễ hội: + Thời gian cụ thể (thời gian ấy gắn với ý nghĩa lịch sử như thế nào). + Địa điểm tổ chức lễ hội. + Nguồn gốc,lí do tổ chức lễ hội (tôn vinh nét đẹp phong tục truyền thống hay thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại). – Giới thiệu các công việc chuẩn bị cho lễ hội: + Chuẩn bị các tiết mục biểu diễn. + Chuẩn bị trang trí, tiến trình lễ hội (nếu là lễ hội truyền thống thì chuẩn bị cho việc rước kiệu, trang trí kiệu, chọn người,…). + Chuẩn bị về địa điểm… – Giới thiệu diễn biến của lễ hội theo trình tự thời gian. Thường lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội. + Nếu là lễ hội tôn vinh nét đẹp phong tục truyền thống thì bao gồm: rước kiệu lễ Phật, dâng hương lễ vật, các hình thức diễn xướng dân gian, các đoàn khách thập phương. + Nếu là lễ hội thể hiện khí thế của thời đại: tuyên bố lí do; các đại biểu nêu ý nghĩa, cảm tượng vè lễ hội, các hoạt động biểu diễn (như đồng diễn, diễu hành, ca nhạc, các trò vui chơi,…) – Đánh giá về ý nghĩa lễ hội. Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa lễ hội. Chú ý: bài văn viết đúng với phong cách của văn thuyết minh, có thể kết hợp thêm các yếu tố miêu tả (đặc điểm, tiến trình của lễ hội), biểu cảm (nêu cảm nhận về ý nghĩa của lễ hội); trình bày sạch đẹp, logic. Bài 1: Lễ hội là một trong những nét văn hóa của dân tộc ta, nó không chỉ là nơi để vui chơi giải trí mà nó còn là để cho nhân dân ta thể hiện mong ước hay nhớ ơn tổ tiên ông bà ta. Mỗi một quê hương có những lễ hội riêng, tiêu biểu có thể kể đến lễ hội cầu ngư – lễ hội cá ông. Có thể nói nhắc đến cái tên lễ hội ấy thì chúng ta hẳn cũng biết là lễ hội của những ai. Nói đến cá thì chỉ có nói đến nhân dân vùng ven biển sinh sống bằng nghề đánh bắt cá. Chính đặc trưng ngành nghề ấy đã quyết định đến tín ngưỡng của họ. Những người sống ven biển miền trung thường có tục thờ ngư ôn. Chính vì thế cho nên hàng năm họ thường tổ chức vào các năm giống như những hội ở miền Bắc. Họ quan niệm rằng là sinh vật thiêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng dân gian phổ biến trong các thế hệ ngư dân ở các địa phương nói trên. Ở mỗi địa phương thì thời gian diễn ra lễ hội truyền thống lại diễn ra khác nhau. Ở Vũng Tàu thì được tổ chức vào 16, 17, 18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Ở thành phố Hồ Chí Minh thì lại được tổ chức vào 14 – 17/18 âm lịch hàng năm. Nói chung dù diễn vào thời gian nào thì tất cả những lễ hội ấy đều nói lên được nét đặc trưng văn hóa của nhân dân ven biển. Đồng thời nó thể hiện khát vọng bình yên, cầu mong cuộc sống ấm no hạnh phúc thịnh vượng của họ. Lễ hội Ngư Ông còn là nơi cho mọi người tưởng nhớ đến việc báo nghĩa, đền ơn, uống nước nhớ nguồn. Thứ nhất là lễ rước kiệu, lễ rước đó là của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Khi ấy những ngư dân sống trên biển và bà con sẽ bày lễ vật ra nghênh đón với những khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thủy tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Không khí đầy những mùi hương của hương án và bày trước mắt mọi người là những loại lễ. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thủy tướng. Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng. Có thể thấy lễ rước ông không những có sự trang nghiêm của khói hương nghi ngút mà còn có sự đầy đủ của lễ vật và âm nhạc rộn rã của múa lân. Thứ hai là phần lễ tế. Nó diễn ra sau nghi thức cúng tế cổ truyền. Đó là các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thủy tướng. Tiếp đến là phần hội thì trước thời điểm lễ hội, hàng trăm những chiếc thuyền của ngư dân được trang trí cờ hoa đẹp mắt neo đậu ở bến. Phần hội gồm các nghi thức rước Ông ra biển với hàng trăm ghe tàu lớn nhỏ cùng các lễ cúng trang trọng. Đó là không khí chung cho tất cả mọi nhà trên thành phố đó thế nhưng niềm vui ấy không chỉ có ở thành phố mà nó còn được thể hiện ở mọi nhà. Ở tại nhà suốt ngày lễ hội, các ngư dân mời nhau ăn uống, kể cả khách từ nơi xa đến cũng cùng nhau ăn uống, vui chơi, trò chuyện thân tình. Như vậy qua đây ta thấy hiểu thêm về những lễ hội của đất nước, ngoài những lễ hội nổi tiếng ở miền Bắc thì giờ đây ta cũng bắt gặp một lễ hội cũng vui và ý nghĩa không kém là ngư ông. Có thể nói qua lễ hội ta thêm hiểu hơn những mong muốn tốt lành của những người ngư dân nơi vùng biển đầy sóng gió. Đặc biệt nó cũng trở thành một lễ hội truyền thống của những người dân nơi biển xa. Bài 2: ​Lễ hội là tín ngưỡng văn hoá của mỗi dân tộc. Hầu như làng, xã nào cũng có lễ hội được tồ chức vào đầu xuân. Mọi người dân Thuận Thành, Bắc Ninh thường có câu ca: Dù ai buôn đâu, bán đâu Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu. Câu ca dao như một lời nhắc nhở các tín đồ phật giáo hãy nhớ về hội Dâu được tổ chức vào đầu xuân hàng năm. Hội Dâu được tổ chức vào mồng 8 tháng 4 âm lịch hàng năm. Chùa Dâu là một ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được xây dựng vào những năm đầu thế ki XV. Mặc dù vậy chùa Dâu vẫn giữ được những nét nguyên bản từ khi được xây dựng tới nay. Hàng năm, chùa Dâu thu hút rất nhiều tín đồ đến thắp hương, đặc biệt là vào dịp lễ hội. Vào mỗi dịp lễ hội, người dân háo hức tổ chức sửa sang chùa chiền. Ngay từ chiều mùng 7 đã có lễ rước các bà Dâu, bà Đậu, bà Dàn, bà Keo mà theo truyền thuyết bốn bà được tạc từ một cây dâu, chị cả là bà Dâu nên chùa Dâu được xây dựng lớn nhất. Đặc biệt vào ngàv mồng 7, các vãi đến để cúng, quét dọn và làm lễ rửa chùa. Ngày hội chính diễn ra rất sôi động, náo nhiệt. Mọi người đến đây với lòng thành kính, kính mong đức phật ban cho sự an lành, ấn no. Chùa có rất nhiều gian, điện, đặc biệt có pho tượng Kim Đồng – Ngọc Nữ đạt đến chuẩn mực nghệ thuật cao với các tỉ lệ của người thật. Hành lang hai bên có những pho tượng với nhiều tư thế, nét mặt khác nhau. Người ta đến lỗ hội không chỉ để thắp hương, cầu an mà còn để vui chơi, đón không khí ngày xuân. Có rất nhiều trò chơi được tổ chức trong lễ hội như: đu quay, hát quan họ đối đáp, giao duyên giữa các liền anh, liền chị dưới thuyền rồng với những trang phục mớ ba, mớ bảy cổ truyền. Khắp sân chùa là những hàng bán đồ cúng, những nén hương trầm, hay những đồ chơi dân gian cho trẻ em như sáo, trống… hoặc chỉ là những bông lan thơm ngát. Tất cả tạo ra một không khí cộng đồng ấm cúng. Mọi người quên đi sự bận rộn, quên đi sự bon chen, thách thức để nhớ tới đức phật cùng sự thánh thiện, nhớ tới cõi bình an của tâm hồn. Khoảng 7 giờ sáng ngày 8/4, người ta đã nghe thấy tiếng chiêng, tiếng trống và tiếng cúng tế dâng sớ cầu mong bình an, lạy tạ các vị thánh thần, phật pháp của đội tế lễ tứ sắc chùa lập ra. Đặc biệt, ở lễ hội Dâu thờ Tứ Pháp là Pháp Vân (bà Dâu), Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi. Sau khi các cụ làm lễ xong, đoàn rước từ chùa Tổ bắt đầu quay về, hàng đoàn người kéo nhau đi theo hộ tống. Người đi đầu cầm bình nước, người thứ hai dâng hương, tiếp đó là đoàn kiệu được những trai tráng của lồng khiêng. Họ mặc những trang phục như quân tốt đỏ thời xưa, theo sau là các bà mặc áo nâu đội sớ. Người cầm nước vừa đi vừa cầm cành trúc vẩy nước vào những người xung quanh như ban sự may mắn cho mọi người. Người ta quan niệm rằng ai được vẩy nước vào sẽ may mắn, được Phật ban phước quanh năm và được Phật phù hộ, bảo vệ. Khi hội tan, mọi người về rồi thắp hương ở ngoài sân thờ nhớ lời hẹn gặp năm sau. Nhưng lạ lùng hơn hầu như năm nào sau hội trời cũng mưa và người dân cho đấy là lễ tẩy chùa, ở một khía cạnh nào đó thì đây được coi như một điều linh nghiệm huyền bí. Bài 3: Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm. ​ Từ nhiều đời nay, trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, đã luôn hướng tới một điểm tựa của tinh thần văn hoá – đó là lễ hội Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương, được tổ chức vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Hàng năm, lễ hội Giỗ Tổ vẫn được tổ chức theo truyền thống văn hoá của dân tộc. Vào những năm chẵn (5 năm một lần), Giỗ Tổ được tổ chức theo nghi lễ quốc gia, năm lẻ do tỉnh Phú Thọ tổ chức. Việc tổ chức lễ hội Giỗ Tổ rất chặt chẽ, bao gồm hai phần: lễ và hội. Lễ Dâng Hương sẽ được diễn ra tưng bừng, náo nhiệt xung quanh các đền, chùa và dưới chân núi Hùng. Lễ hội ngày nay có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá hơn xưa. Các hình thức văn hoá truyền thống và hiện đại được đan xen nhau. Trong khu vực của hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hoá phẩm, các cửa hàng dịch vụ ăn uống, các khu văn thể,… được tổ chức và duy trì một cách trật tự, quy củ. Tại khu văn thể, các trò chơi văn hoá dân gian được bảo lưu có chọn lọc như: đu quay, đấu vật, chọi gà, bắn nỏ, rước kiệu, kéo lửa nấu cơm thi, đánh cờ tướng (cờ người)…. Có năm còn diễn trò “Bách nghệ khôi hài”, “Rước chúa gái”, “Rước lúa thần” và trò “Trám” tại khu vực hội. Cạnh đó là sân khấu của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp: chèo, kịch nói, hát quan họ,… Hội ngày nay chính là nơi để thi tuyển và giao lưu văn hoá giữa các vùng. các nghệ nhân người Mường mang đến lễ hội thanh âm của tiếng trống đồng một thời dóng trên đỉnh núi Hùng, gọi mặt trời làm mưa, làm nắng thuận hoà, cho mùa màng tốt tươi, muôn dân hạnh phúc. Những làn điệu Xoan – Ghẹo với lời ca tinh tế, mượt mà đã đem tới cho lễ hội đền Hùng một nét đặc trưng, thấm đượm văn hoá vùng Trung du Đất Tổ. Một điểm quan trọng nằm ở giữa trung tâm lễ hội là nhà bảo tàng Hùng Vương, ở đây lưu giữ vô số những cổ vật đích thực của thời đại các Vua Hùng. Thời đại của chúng ta ngày nay đang ngày càng góp sức tô điểm và phát huy sự cao đẹp của lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương. Hàng năm, ý nghĩa tâm linh của cuộc trẩy hội về Đền Hùng đã trở thành nếp nghĩ, nếp sinh hoạt truyền thống không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần tín ngưỡng của người Việt Nam. Không phân biệt già trẻ, không phân biệt tuổi tác, không phân biệt tôn giáo…. Tất cả những người con đang sống trên mọi miền Tổ quốc, những người con xa xứ đều bình đẳng về mộ Tổ, thăm đền và dự lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương.
Thuyết minh về một lễ hội truyền thống ở quê hương em
2,404
Đề bài; Thuyết minh về một miền đất giàu tiềm năng của đất nước ta: Rừng U Minh Bài làm U Minh là một vùng đất sình lầy, chằng chịt kênh rạch, rừng xanh điệp trùng bao la, trải dài trải rộng trên một diện tích gần 2000 km2. Rừng U Minh tựa lưng vào miền tây Nam Bộ, mặt hướng ra vịnh Thái Lan, trải dài từ sông Ong Đốc phía Nam (tỉnh Cà Mau) cho đến sông Cái Lớn (tỉnh Kiên Giang) phía bắc. Sông Trèm Trẹm và sông Cái Tàu chia u Minh thành hai phần xấp xỉ nhau, đó là u Minh Thượng ở phía Bắc và u Minh Hạ ở phía Nam. Thiên nhiên ở u Minh vô cùng hoang sơ và hùng vĩ. Trước năm 1945, hai tiếng u Minh gợi lên cái gì xa xăm và thăm thẳm, heo hút và mênh mông. Nhà văn Sơn Nam trong cuốn “Văn minh miệt Vườn" đã viết: U Minh có nghĩa là tối và mờ, u u minh minh, có lẽ ở đây cây cỏ quá dày và rậm rạp, nước ngập lênh láng, đất lại thấp nên thuở xưa còn gọi là Láng Biển, Láng u Minh”. Có thể đến u Minh bằng đường thủy, hoặc đường bộ nhưng đường thủy thuận tiện hơn. Đi xuồng máy tới Cà Mau, theo sông Cái Tàu và sông Trèm Trẹm mà đi lên. Hoặc dùng tàu, thuyền từ Rạch Giá men theo bờ biển mà đi xuống. Rừng ngập mặn ở Cà Mau là rừng đước. Còn rừng ở u Minh là rừng tràm. Cây tràm cao từ 10-20 m; từ xa nhìn chỉ thấy một màu xanh vô tận của rừng tràm nối tiếp với màu xanh bao la của da trời. Cây tràm là thứ gỗ quý của rừng U Minh. Ngoài ra còn có cây móp và dây choai. Dây choai dẻo và bền không kém gì song mây, để bện đăng hoặc làm nguyên liệu cho hàng thủ công mĩ nghệ. Rễ móp rất nhẹ, dai, xốp, dể làm phao lưới cá, làm nút chai. Mùa hè đến, rừng tràm nở hoa trắng xóa, dâng hương ngào ngạt. Hàng ngàn, hàng vạn… đàn ong kéo về hút nhụy hoa, mật hoa. Những người “ăn ong” kéo nhau vào rừng tràm "gác kèo" cho ong làm tổ. Mỗi tổ ong có thể cho vài lít mật; mỗi người “gác kèo" có thể lấy được hàng trăm lít mật ong sau mỗi mùa hoa. Mật ong rừng tràm u Minh có màu vàng óng, trong veo, để lâu không biến màu, biến chất, có hương vị ngát thơm ngọt ngào đặc biệt. Rừng tràm u Minh mỗi năm có thể cung cấp khoảng 50-60 tấn mật ong. Hoa tràm chứa 2% tinh dầu. Tinh dầu tràm màu vàng xanh trong suốt là một dược liệu quý hiếm. Rừng u Minh là xứ sở của muỗi mòng và thú dữ, heo rừng, khỉ, kì đà, rắn, trăn, cá sấu, cọp. Ca dao còn truyền lại: “U Minh, Rạch Giá, thị quán sơn trường, Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua.” Kênh rạch u Minh nhiều tôm cá. Rừng u Minh là một sân chim khổng lồ với hàng trăm loài chim. Tiếng chim xào xạc trong vòm cây lá. Chiều chiều, từng đàn chim che rợp bầu trời. Trong màn đêm vẫn có một số loài chim gọi nhau đi ăn đêm. Tiếng chim gọi đàn, tiếng lá reo, tiếng sóng vỗ trên sông Cái Tàu, sông Trèm Trẹm, trên vịnh Thái Lan… lao xao, rì rầm suốt đêm ngày tạo nên khúc nhạc rừng U Minh đã mấy ngàn năm qua. Đến thăm thú sân chim U Minh, du khách ngạc nhiên và vô cùng thú vị khi nhìn thấy những con ngỗng trời có đôi cánh đồ sộ hàng sải tay, nặng bảy tám kí, đậu oằn cả những cành cây lớn, những con giang sen cao lêu nghêu, chàng bè cổ quái, mỏ to bằng cổ tay người lớn. Nhiều loài cò, điên điển, cồng cộc, le le, ó biển,… quy tụ về đây thành đàn, đẻ trứng, sinh con, sinh cháu, làm cho họ hàng nhà chim ngày một đông đúc, đàn đàn lũ lũ không kể xiết. Những vỉa than bùn dày từ 2-5 m là kho vàng đen có trữ lượng hàng tỉ tấn mà rừng u Minh đã và đang làm giàu cho quê hương xứ sở. Sau ngày 30.4.1975, u Minh được đầu tư và khai phá. Giao thông thủy bộ được mở mang. Nhiều thị tứ, làng mạc nối tiếp mọc lên theo bờ kênh rạch, sông ngòi. Cảnh quan ngày một thay đổi to lớn. Rừng u Minh là một vùng đất giàu có với bao tiềm năng kì diệu, U Minh hứa hẹn. U Minh đang vẫy tay đón chờ những bàn tay, khối óc và lòng dũng cảm của tuổi trẻ chúng ta.
Thuyết minh về một miền đất giàu tiềm năng của đất nước ta_ Rừng U Minh
816
Thuyết minh về một món ăn mà em yêu thích – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Thuyết minh về một món ăn em yêu thích Bài làm Bún thang là.một món ăn truyền thống của những gia đình khá giả Hà Nội xưa. Bún thang không được nổi tiếng như phở và bún chả vì hiếm có những gia đình còn biết cách làm bún thang. Hơn nữa, hầu hết các gia đình biết làm thì đều khá giả nên không phải làm nghề kinh doanh bún thang. Hà Nội có quán bún thang nổi tiếng nhất là quán bà Âm ở khu phố cổ. Nhưng để có thể ăn được những bát bún thang ngon nhất, đầy đủ nhất thì ta phải tự làm tại gia. Như cái tên đã cho ta biết, bún thang chắc chắn là phải có bún. Nhưng nếu thế thôi thì sẽ chẳng là gì cả, vì bún trắng chỉ là cái nền, như một tờ giấy trắng chờ đợi người hoạ sĩ vẽ lên cho các món ăn khác. Trứng gà đánh đều cho đến khi lòng đỏ quện đều với lòng trắng, rồi tráng thật mỏng, độ thành công của khâu tráng trứng tất cả phụ thuộc vào độ mỏng của trứng rán được. Tráng xong, trứng cùng với giò lợn được thái chỉ thật nhỏ ra, chỉ nhỉnh hơn sợi bún một chút thôi. Đùi gà luộc xé phay phần thịt ra (tuyệt đối không được dùng kéo). Củ cải khô ngâm trong nước ấm cho nở ra rồi chắt nước đi. Xếp các nguyên liệu vào bát rồi rắc lên một chút hành răm băm nhỏ, ta đã thấy bao nhiêu sắc màu rồi: vàng tươi của trứng, vàng ngậy của gà, màu nâu nâu của giò, màu xanh đậm của hành răm, rồi lại lấp ló màu trắng của bún. Nhưng không thể thiếu được mắm tôm vì nó là cái duyên thầm của bún thang, không có mắm tôm thì bún sẽ rất nhạt nhẽo. Thậm chí có người còn ví: “Bún thang mà không có mắm tôm thì khác gì phở không có nước”. Có người còn nói quá lên: “Bún thang mà không có mắm tôm thì khác gì phở gà không có gà”. Thật là uổng phí cho những ai không ăn được mắm tôm! Nước dùng của bún thang cũng quan trọng không kém gì! Nước dùng của bún thang khá độc đáo so với nước của các món bún, phở khác. Không chỉ có xương gà mà còn có cả tôm biển và nấm hương nữa. Vì vậy, nước dùng bỗng trở nên thanh tao và hấp dẫn hơn rất nhiều. Cho nước vào bát bún và múc vào một vài con tôm đỏ chót cung vài cọng nấm hương, ta thấy mùi thơm bốc lên ngào ngạt. Nhưng hãy khoan! Còn phải chấm thêm một đầu tăm tinh dầu cà cuống vào nữa, để tạo ra một vẻ bí ẩn, bí ẩn đến quái đản nhưng lại quyến rũ! Bún thang phải được thưởng thức ở một nơi lịch sự nếu không thì giá trị sẽ giảm đi nhiều. Bàn ghế phải vừa tầm với người ăn, bún phải đặt trong những chiếc bát sứ Bát Tràng và phải dùng đũa bằng gỗ (tuyệt đối không dùng đũa nhựa) để thưởng thức. Thực khách sẽ tự nêm vào bát bún của mình chanh, giấm, ớt,… tuỳ theo khẩu vị riêng. Để cảm nhận được cái ngon, ta phải ăn thật từ tốn và thanh lịch và không được cầm cả bát bún lên húp soàn soạt. Ăn xong, ta sẽ vừa ngồi uống trà, ăn trái cây, vừa nói chuyện. Một phần là để vui vẻ thân mật, một phần là để rửa trôi đi những phần tanh còn sót lại của thức ăn. Văn hoá và tính cách của người Hà Nội được thể hiện qua bát bún thang: Sự đa dạng và kĩ càng của từng nguyên liệu thể hiện tính cẩn thận, hương vị thanh tao và trung tính nhường quyền cho thực khách nêm nếm theo khẩu vị riêng thể hiện tinh thần hòa nhã và cách thưởng thức bún thể hiện sự lịch sự của người Hà Nội. Đỗ Xuân Hoàng (Trường Hanoi Academy) >> Xem thêm Giới thiệu cho một người bạn về đất nước, con người Việt Nam khi em đi du học tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Bún thang · Thuyết minh về một món ăn mà em yêu thích
Thuyết minh về một món ăn mà em yêu thích – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
753
Đề bài: Thuyết minh về một món ăn mẹ làm Bài làm Nhắc đến người mẹ thân yêu là em nghĩ đến những bữa ăn gia đình ấm cúng với bao món ăn ngon do chính tay mẹ làm. Có một món được gọi là "món tủ" của người, nguyên liệu rất dễ tìm, đơn giản nhưng dưới đôi tay tài hoa của mẹ, chúng được chế biến thành món ăn thật hấp dẫn: món mì xào giòn. Để làm món mì xào giòn, ta cần chuẩn bị mười hai vắt mì tươi, một cái cật heo, một bộ lòng gà, 100 gram nấm rơm búp, 100 gram bông cải, 50gram đậu hà lan, một chiếc đùi gà (hoặc ức gà), 150g tôm bạc thẻ, hai trái cà chua, hai trái ớt, 150gram xương heo nấu lấy một chén nước lèo, 50gram hành ta, một củ tỏi, một củ hành tây, hai muỗng cà phê dầu mè, một muỗng súp bột năng, nửa muỗng cà phê thuốc muối, 100 gram bột mì hoặc bột năng để rắc mì, mỡ nước hoặc dầu ăn, muối, tiêu, đường, bột ngọt, xì dầu ngò, dấm. Để chuẩn bị làm món ăn này, cần đem mì trứng sơ nước sôi rồi để ráo, sau đó gỡ mì cho rời ra. Cật heo bổ đôi, lạng bỏ lõm trong của cật rửa sạch, ngâm cật trong nước có pha chút dấm và muối độ 15 phút, vớt ra, rửa sạch, xắt ra từng miếng độ dày 1,5cm. Lòng gà và gan xắt mỏng, mề xắt hoa (khía ngang và khía dọc có bảng khoảng một li). Nấm rơm gọt rửa sạch, trụng sơ nước sôi có cho chút muối cho nấm được giòn. Bông cải cắt miếng vừa ăn, trụng sơ nước sôi. Đậu hà lan tước xơ hai bên mép, trụng sơ nước sôi có cho chút muối và thuốc muối cho đậu được xanh. Với đùi gà ta lóc nạc, xát mỏng; tôm bạc thẻ ta rửa sạch, bóc vỏ, rút bỏ chỉ đen, để ráo. Cà chua tỉa hoa một quả, còn lại xắt dọc theo trái độ 8 miếng (xắt theo múi xà). Hành ta và tỏi băm nhỏ. Còn hành tầy tỉa lá, hoặc xắt dọc theo củ có bảng độ một cm. Sau giai đoạn sơ chế, ta bắt đầu chiên mì. Đầu tiên, rây bột mì (hoặc bột năng) vào các sợi mì đã luộc chín, cho mì này vào chảo mờ đã cho một ít tỏi đập dập, chiên từng cọng cho mì được vàng và giòn. Tiếp đến, ta xào thịt. Bắc chảo mỡ nóng, phi hành tỏi cho thơm, cho thịt gà vào xào. Với cật heo, lòng gà ta cũng xào lên cho đều, nêm tiêu, xì dầu, đường, bột ngọt cho vừa ăn. Khi thịt săn, cho nấm rơm, bông cải, đậu hà lan, sau cùng cho cà chua và hành tây, nêm lại cho vừa ăn, nhắc xuống, cho dầu hào và dầu mè (xào cho rau cải vừa chín tới mới ngon). Khi các phần của món ăn đã nấu xong, ta bắc ra trang trí món ăn. Đầu tiên, cho mì ra đĩa, phía trên cho hỗn hợp rau và thịt. Khi gần ăn thì hâm sốt lại cho nóng chế lên mì, ở giữa để cà chua và ớt tỉa hoa, rắc tiêu vàng cho thơm, dùng nóng với xì dầu, ớt xắt khoanh mỏng. Món mì xào giòn có thể nấu dùng trong những bữa ăn thường ngày hoặc được nằm trong thực đơn của những quán ăn bình dân. Với riêng em, món ăn này gắn với hình ảnh người mẹ đảm đang và vô cùng khéo léo, tinh tế.
Thuyết minh về một món ăn mẹ làm
616
Đề bài: Thuyết minh về một món ăn truyền thống của địa phương Bài làm Vốn là mảnh đất ngàn năm văn hiến, Hà Nội đã hình thành cho mình một nét văn hóa ẩm thực rất riêng. Sau những ngày Tết bộn bề với thịt mỡ, bánh chưng… Người Hà Nội lại làm những bữa bún thang thanh đạm mà không kém phần hấp dẫn. Bún thang ra đời từ khi nào không ai rõ. Chỉ biết rằng hình ảnh bát bún thang từ lâu đã gắn bó với hình ảnh những cô gái của Hà Nội hăm sáu phố phường duyên dáng, khéo léo. Để làm được món bún thang phải chuẩn bị nguyên liệu khá cầu kì: bún, thịt gà, trứng gà, tôm nõn, nem chạo, xương lợn, rau thơm. Việc lựa chọn và chế biến các nguyên liệu ấy cũng rất tinh tế. Bún phải là thứ bún sợi nhỏ, trắng trong, không có mùi chua. Thịt gà luộc chín xé sợi nhỏ. Trứng gà lựa lấy lòng đỏ, tráng những lớp mỏng và khô rồi cuộn lại thái thành những sợi nhỏ. Với tôm nõn ta phải ngâm một lát, để ráo nước rồi giã bông. Rau thơm rửa sạch, thái nhỏ, riêng với nem chạo thì ta để nguyên. Xương lợn là nguyên liệu dùng để nấu nước dùng vì vậy ta nên chọn xương ống, vừa rẻ vừa ngọt nước. Ta rửa sạch xương, chặt đôi từng khúc cho vào luộc sơ qua rồi rửa sạch. Xương sau khi rửa mới có thể nấu làm nước dùng. Khi nấu, ta cho đầy đủ gia vị, nếm vừa miệng là được. Ban đầu để lửa to, sau khi sôi để lửa nhỏ cho xương nhanh dừ. Sau khi đã chế biến xong các nguyên liệu, ta chuẩn bị cho bữa ăn. Lấy một bát to, ta đạt vào đó lần lượt: bún, thịt gà xe sợi, trứng gà thái sợi, tôm bông, nem chạo, rau thơm rồi cho nước dùng vào. Ta sẽ có bát bún thang với màu trắng của bún, màu trắng ngà của thịt gà, màu vàng của trứng, màu hồng của tôm bông, màu nâu của nem chạo, màu xanh của rau thơm. Đặc biệt, sự trong veo của nước dùng sẽ làm nổi lên những màu sắc hấp dẫn của bát bún. Hương vị của bún thang rất thanh đạm khác hẳn cái béo ngậy của thịt mỡ hay đồ nếp. Bún thang thường được dùng sau những ngày Tết ồn ào hay trong những ngày hè cần một món ăn nhẹ nhàng, mát dịu. Bún thang cùng với phở, bánh tôm…đã trở thành đặc trưng của ẩm thực Hà Nội. Bát bún thang ẩn chứa trong đó sự khéo léo, tinh tế, tỉ mỉ của những “nghệ nhân” ẩm thực đất Hà thành. Và vì thế, bún thang đã “để thương để nhớ” cho tâm hồn bao người con đất Kinh kì cũng như những du khách may mắn trong đời có lần được đến với Thủ đô.
Thuyết minh về một món ăn truyền thống của địa phương
501
Thuyết minh về một ngôi chùa ở Việt Nam (Chùa Keo) Hướng dẫn Thuyết minh về một ngôi chùa ở Việt Nam (Chùa Keo) Chùa Keo, một khu chùa cổ tuyệt vời, một tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc của nghệ thuật kiến trúc Việt Nam. Chùa Keo tên chữ là chùa Thần Quang, nằm ở Vũ Thư, Thái Bình. Theo sử cũ, chùa Keo được xây dựng từ thời nhà Lý Thánh Tông, đến nay đã nhiều lần trùng tu. Trong những di tích còn lại thì chùa Keo là một di tích có quy mô to lớn. Có lẽ ở nước ta chưa có một ngôi chùa nào lại được tới 57.000m2 với 107 gian chùa lớn (trước là 154 gian) làm toàn bằng gỗ lim. Những con đường dài hàng trăm mét, lát toàn đá xanh rộng gần 2m và 350 vây cột lim lớn nhỏ, đều được kê trên những hòn đá tảng lớn, cổ bồng, chạm cánh sen. Toàn bộ khu chùa là một quần thể kiến trúc lớn, gồm cột cờ, sân lát đá, tam quan ngoài, ao trước chùa, tam quan trong, sân đất, chùa Hộ, chùa Phật, sân gạch, tòa Giá Roi, tòa Thiên Hương, tòa Phục quốc, tòa Thượng Điện, gác chuông, nhà Tổ… Ngoài ra, là hai dãy hành lang dài hai bên, từ chùa Hộ trở vào. Tổ chức không gian kiến trúc ở đây thật tài tình, phức tạp một cách trật tự, theo kiểu “tiền Phật hậu Thần”. Khu chùa phía trước và khu đền thờ Không Lộ thiền sư phía sau. Bố cục kiến trúc dường như là phá quy luật, như việc đặt gác chuông ba tầng vào cuối dây chuyền của quần thể. Kiến trúc của gác chuông là sự đồ sộ của hình khối, sự phong phú hài hòa của nhịp điệu và chi tiết, chỉ ba tầng cao 11,06m nhưng lại gây được ấn tượng đồ sộ. Bốn cây cột lim chính cao suốt hai tầng, cùng với hệ thống cột niên và những hàng lan can con tiện, đã được kết nối khéo léo. Các tảng cột gác chuông thuần bằng đá, tạc kiểu hình đôn lớn, chạm hình hoa sen kép rất đẹp. Độc đáo nhất là hệ thống dui bay, tầng tầng lớp lớp vươn lên đỡ mái. Các đầu dui bay phía ngoài vươn ra, choãi xuống theo chiều mái, làm tăng thêm chiều cao của công trình. Đứng xa trông như 200 cánh tay Phật Bà Quan Âm từ mái tầng hai, tầng ba vươn ra vẫy chào khách thập phượng! Tôi đã thấy những người khách nước ngoài dừng lại hàng giờ trước tòa gác chuông ba tầng này, sửng sốt và ngắm nghía mãi tầng tầng lớp lớp mái cong cổ kính và hàng ngàn bộ phận chạm trổ tinh vi, mà ngay đến những người thợ lành nghề nhất được mời đến trùng tu cũng không biết hết tên gọi! Trong gác chuông có treo hai quả chuông niên đại: Hoàng Triều Cảnh Thịnh Tứ Niên, một di tích quý về sự nghiệp “văn trị” của triều Tây Sơn trên đất Thái Bình. Quai đỉnh chuông đúc từ thời Tây Sơn rất đẹp, chạm hình hai con rồng hối đuôi nhau. Ớ gác một chùa Keo có một khánh đá rất to, không biết đục từ bao giờ, tiếng khánh âm vang. Hầu như bất cứ bộ phận kiến trúc nào của chùa Keo cũng thấy dấu vết của những bàn tay chạm khắc khéo léo. Ngay ở tam quan nội, một công trình tưởng như nhỏ, nhưng hai cánh cửa trung quan cung được chạm khắc rất công phu. Cánh cửa cao 2,4m, mỗi cánh rộng 1,2m, được chạm một đôi rồng chầu bán nguyệt. Rồng ở đây to, khỏe. Con lớn vươn cổ lên, miệng ngậm hạt châu, râu bờm uốn sóng, rồi choái ra thành những hình lưỡi mác, ngực rồng ưỡn về phía trước, đuôi vắt lên đỉnh tấm cửa. Hàng trăm đám mây lửa ngùn ngụt bốc lên. Rồng như bay lượn trong biển lửa. Có lẽ những người thợ tài ba muốn kí thác những dấu vết của lịch sử trong bức chạm gỗ này. Khép hai cánh cửa lại, chúng ta nhìn thấy một bức tranh hoàn chỉnh: rồng chầu nguyệt. Cái khéo của bức chạm này là trên cùng một mặt phang, người thợ đã chạm những vết nổi, hét chìm, con rồng to, rồng nhỏ, gần xa, như cả một bầy rồng bay thong dong trong mây. Dù cho cha đánh, mẹ treo Cũng không bỏ hội chùa Keo hôm rằm… Chưa đến chùa Keo, xin mời bạn hãy đến một lần…
Thuyết minh về một ngôi chùa ở Việt Nam (Chùa Keo)
775
Đề bài: Thuyết minh về một nhà văn đã được tìm hiểu trong chương trình Ngữ văn 8 Bài làm Nhà văn Nam Cao sinh năm 1915, tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng (nay thuộc xã Hoà Hậu, huyện Lí Nhân, tỉnh Hà Nam). Khi còn nhỏ, Nam Cao ở làng và thành phố Nam Định. Từ 1936, bắt đầu viết văn in trên các báo: Tiểu thuyết thử bảy, ích hữu… Năm 1938, dạy học tư ở Hà Nội và biết báo. Năm 1941, ông dạy học tư ở Thái Bình. Năm 1942, ông trở về quê, tiếp tục viết văn. Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hoá cứu quốc. Cách mạng Tháng Tám 1945, ông tham gia cướp chính quyền ở phủ Lí Nhân và được cử làm chủ tịch xã. Năm 1946, ông ra Hà Nội, hoạt động trong Hội Văn hoá cứu quốc và là thư kí toà soạn tạp chí Tiên phong của Hội. Cùng năm đó, ông tham gia đoàn quân Nam tiến với tư cách phóng viên, hoạt động ở Nam Bộ. Sau đó lại trở về nhận công tác ở Ti Văn hoá Nam Hà. Mùa thu 1947, Nam Cao lên Việt Bắc, làm phóng viên báo Cứu quốc và là thư kí toà soạn báo Cứu quốc Việt Bắc. Nãm 1950, ông nhận công tác ở tạp chí Văn nghệ (thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam) và là Uỷ viên Tiểu ban Văn nghệ Trung ương. Năm 1951, ông tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp ở khu III, bị địch phục kích và hi sinh. Những sáng tác của Nam Cao trước cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: Cuộc sống của những người tiểu tư sản trí thức nghèo và cuộc sống của người nông dân. Dù viết về đề tài nào thì diều mà Nam Cao quan tâm trước tiên là tình trạng người lao động bị tha hóa biến chất vì bát cơm manh áo. Ở đề tài tiểu tư sản trí thức nghèo, đáng chú ý nhất là các tác phẩm "Trăng sáng", "Đời thừa", "Mua nhà ", "Truyện tình", "Quên điều độ”, "Nước mắt", "Những truyện không muốn viết",… đặc biệt là tiểu thuyết "Sống mòn" (1944). Trong những tác phẩm này, Nam Cao đã miêu tả hết sức chân thực và cảm động tình trạng nghèo khổ, sống dở, chết dở của người trí thức nghèo. Qua đó, tác giả còn đặc biệt đi sâu vào những tấn bi kịch tâm hồn của họ. Đó là tấn bi kịch dai dẳng, thầm lặng mà đau đớn của những tri thức có ý thức sâu sắc về giá trị sự sống và nhân phẩm, có hoài bão lớn về một sự nghiệp tinh thần cao cả, nhưng lại bị gánh nặng cơm áo, và cuộc sống tàn nhẫn đầy rẫy bất công vô lý đầy vào cảnh "chết mòn" về tinh thần và sống cuộc "Đời thừa". Phê phán cái xã hội phi nhân đạo đã bóp nghẹt sự sống và tàn phá tâm hồn con người, Nam Cao đồng thời cũng thể hiện niềm khao khát tới một cuộc sống đẹp đẽ xứng đáng với con người. Về đề tài người nông dân: là nhà văn sinh ra và lớn lên nơi chốn bùn lầy nước đọng, Nam Cao hiểu biết khá sâu sắc cuộc sống của nhừng con người thấp cổ bé họng này. Ông đã để lại chừng hai chục truyện ngắn có giá trị về tài nông dân, đáng chú ý là "Lão Hạc”, "Chí phèo”, "Trẻ con không được ăn thị chó", "Mua danh", "Tư cách mõ", "Một bữa no", "Một đám cưới", "Dì Hảo", "Điếu văn”, “Lang Rận”, “Nửa đêm",… Qua những tác phẩm trên, Nam Cao không chỉ mô tả một cách thấm thìa và cảm động những số phận tăm tối, hẩm hiu, bị ức hiếp, bị tha hoá, lăng nhục mà còn phát hiện và khẳng định phẩm chất lương thiện đẹp đẽ của họ ẩn giấu đằng sau những tâm hồn tưởng như tăm tối và cằn cỗi đó. Chiều sâu mới mẻ của ngòi bút hiện thực và nhân đạo của Nam Cao chính là ở đấy. Cũng như các nhà văn tiểu tư sản khác chưa nắm được chân lý cách mạng, Nam Cao đã không thấy được khả năng đổi đời của người nông dân và triển vọng của xã hội. Song trong truyện ngắn "Điếu văn" (1944), Nam Cao đã viết những dòng dự báo đầy hào hứng "Cuộc đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo rồi!". Đó là lời chào đón chân thành tha thiết tia sáng rạng đông đang báo hiệu ở chân trời lúc bấy giờ. Sau cách mạng tháng Tám: Nam Cao là một trong số ít nhà văn đã đến với cách mạng ngay từ đầu. Năm 1948, Ông được kết nạp vào Đảng, ông tham gia Hội văn hoá cứu quốc, tích cực hoạt động cách mạng, kháng chiến, làm Thư ký Tạp chí "Tiền Phong". Năm 1947 làm thư ký toà soạn báo "Cứu quốc Việt Bắc". Năm 1950 nhận công tác ở tạp chí "Văn nghệ". Nam Cao được xem là một trong những cây bút tiêu biểu nhất trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Thời kỳ này, ông viết được nhiều tác phẩm có giá trị như: Nhật ký "Ở rừng" (1948) "Chuyện biên giới" (1950), đặc biệt là truyện ngắn "Đôi mắt" (1948) ra đời giữa lúc giới văn nghệ đang vất vả "nhận đường" là một thành công xuất sắc của văn nghệ kháng chiến lúc đó. Thông qua việc phê phán một nghệ sĩ có "đôi mắt" lệch lạc trong việc nhìn người, nhìn đời, có lối sống trưởng giả, kênh kiệu, nhởn nhơ, lạc lõng giữa cuộc kháng chiến sôi nổi của toàn dân tộc và khẳng định một người nghệ sĩ mới dứt khoát từ bỏ con người cũ, lối sông cũ, và quyết tâm "cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt", trỏ thành người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, "Đôi mắt” xứng đáng là một tuyên ngôn nghệ thuật của tầng lớp văn nghệ tiểu tư sản đi theo kháng chiến. Nam Cao có biệt tài trong việc diễn tả phân tích tâm lý con người. Ngôn ngữ của Nam Cao sống động uyển chuyển, tinh tế rất gần với lời ăn, tiếng nói của quần chúng. Ghi nhận những đóng góp của Nam Cao dối với nền văn học nước nhà, Nhà nước đã tặng thưởng ông giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ 1 thuật (đợt I – năm 1996). Nam Cao xứng đáng là lá cờ đầu của truyện ngắn Việt Nam đầu thế kỉ XX.
Thuyết minh về một nhà văn đã được tìm hiểu trong chương trình Ngữ văn 8
1,148
Đề bài: Thuyết minh về một nhà văn địa phương Bài làm Đông Anh, một vùng đất ngoại thành Hà Nội quê em là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa. Nơi đây đà sản sinh cho đất nước nhiều văn sĩ có tài. Nhà văn Ngô Tất Tố cũng là một người con ưu tú của vùng quê địa linh nhân kiệt này. Ngô Tất Tố sinh năm 1894 ở xã Mai Lâm, xưa kia là làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Từ nhỏ, ông đã theo học chữ Nho. Năm Nhâm Tý 1912, ông bắt đầu dự thi. Đến năm ất Mão 1915 ông đỗ đầu kì sát hạch, nên được gọi là đầu xứ Tố. Năm 1926, Ngô Tất Tố ra Hà Nội làm báo rồi cùng với Tản Đà vào Sài Gòn. Sau gần ba năm ở Sài Gòn không thành công, Ngô Tất Tố trở ra Hà Nội vẫn với hai bàn tay trắng. Từ đó đến trước Cách mạng tháng Tám, ông từng làm nhiều nghề: dạy học, bốc thuốc, làm báo, viết văn,… ông viết bài cho các báo: Phổ thông, Tương lai, Công dân, Đông Pháp, Thời vụ, Hà Nội tân văn… với nhiều bút danh khác nhau như: Thục Điểu, Lộc Hà, Lộc Đình, Thôn Dân, Phó Chi, Tuệ Nhơn, Thuyết Hải, Xuân Trào, Hy Cừ… Trong cách mạng tháng Tám, ông tham gia Ủy ban giải phóng xã Lộc Hà. Năm 1946 gia nhập Hội văn hoá Cứu quốc và lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp, ông từng là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Nam, hoạt động ở sở thông tin khu XII, tham gia viết báo Cứu quốc khu VII, Thông tin khu VII, tạp chí Văn nghệ,… và viết văn. Ông đã là Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn nghệ Việt Nam (Trong Đại hội Văn nghệ lần thứ nhất – 1948). Ngô Tất Tố có viết nhiều công trình nghiên cứu như: Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim (1938), Mặc Tử (1942), Kinh dịch (1944)… trong đó ông phê phán những tư tưởng tiêu cực của Nho học. Những tác phẩm đã xuất bản của ông đa dạng ở nhiều thể loại: Ngô Việt xuân thu (dịch, 1929); Hoàng Hoa Cương (dịch, 1929); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (truyện kí lịch sử, 1935); Đề Thảm (truyện kí lịch sử, viết chung, 1935); Tắt đèn (tiểu thuyết; báo Việt Nữ, 1939; Mai Lĩnh xuất bản, 1940); Lều chõng (phóng sự tiểu thuyết, 1940; đăng báo Thời vụ, 1941; Mai Lĩnh xuất bản, 1952); Thơ và tình (dịch thơ Trung Quốc, 1940); Đường Thi (sưu tầm, chọn và dịch, 1940); Việc làng (phóng sự, báo Hà Nội tân văn, 1940; Mai Lĩnh xuất bản, 1941); Thi văn bình chú (tuyển chọn, giới thiệu, 1941); Văn học đời Lí (tập I) và Văn học đời Trần (tập II, trọn bộ Việt Nam văn học – nghiên cứu, giới thiệu, 1942); Lão Tử (soạn chung, 1942); Mặc Tử (biên soạn, 1942); Hoàng Lê nhất thống chí (dịch, tiểu thuyết lịch sử, 1942; báo Đông Pháp, 1956); Kinh dịch (chú giải, 1953); Suối thép (dịch, tiểu thuyết, 1946); Trước lửa chiến đấu (dịch, truyện vừa, 1946); Trời hửng (dịch, truyện ngắn, 1946); Duyên máu (dịch, truyện ngắn, 1946); Doãn Thanh Xuân (dịch, truyện ngắn, 1946, 1954); Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác (chèo, 1951). Hai sáng tác nổi tiếng của Ngô Tất Tố là "Lều chõng" và "Tắt đèn”. Trong cuốn tiểu thuyết Lều chõng, ông mô tả cảnh thi cử dưới chế độ xã hội phong kiến xưa, nêu lên sự sụp đổ tinh thần của những nho sĩ suốt đời lấy khoa cử làm con đường tiến thân nhưng lại bị hoàn toàn thất vọng. Tắt đèn là tác phẩm thành công nhất của Ngô Tất Tố, trong đó ông nêu lên cảnh cơ khổ cùng cực của tầng lớp nông dân Việt Nam dưới sự bóc lột cay nghiệt của giới địa chủ. Tác phẩm phản ánh không khí ngột ngạt, căng thẳng của một làng quê trong những ngày sưu thuế. Gia đình chị Dậu thuộc loại "cùng đinh" nhất nhì trong làng, không có tiền đóng sưu cho chồng và người em chồng đã mất (!). Chị cay đắng bán con, bán chó lấy tiền đóng sưu nhưng vẫn không đủ. Anh Dậu bị bắt giam lại, đường cùng, chị chống trả sự bắt bớ của chính quyền một cách quyết liệt. Vì vậy, chị bị bắt giải lên huyện. Tên tri phủ Tư Ân dùng tiền để lợi dụng chị nhưng chị kiên quyết chống lại. Để có tiền nộp sưu cho chồng, chị phải đi ở vú, bị tên quan phủ già định giở trò bỉ ổi, chị đã vùng chạy ra sân, giữa lúc trời tối đen như mực. Ghi nhận những đóng góp của Ngô Tất Tố, Hội văn nghệ Việt Nam và Nhà nước đã dành tặng nhà văn những giải thưởng cao quý. Đó hai giải thường trong giải thưởng văn nghệ 1949 – 1952 của Hội văn nghệ Việt Nam: giải ba dịch (Trời hửng, Trước lửa chiến đấu) và giải khuyến khích (vở chèo Nữ chiến sĩ Bùi Thị Phác). Sau khi qua đời, ông đã được Hội đồng Nhà nước quyết định truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.
Thuyết minh về một nhà văn địa phương
910
Thuyết minh về một nhân vật cổ tích (Tấm Cám) Hướng dẫn Thuyết minh về một nhân vật cổ tích (Tấm Cám) Có lẽ nhiều người giống tôi, thuở bé thường được người lớn kể cho nghe truyện cổ tích Tấm Cám. Đôi với riêng tôi câu chuyện này có ấn tượng sâu sắc không chỉ vì những phép màu biến hóa li kì hấp dẫn bảo vệ người lương thiện, mà còn vì vẻ đẹp thảo hiền, sáng trong, gần gũi, thôn dã của cô Tấm. Tôi đã gặp ở cuộc sống xung quanh mình biết bao nhiêu hình ảnh rực rỡ, lung linh, huyền ảo, bao nhiêu cô gái nghiêng nước nghiêng thành, nhưng trong tôi vẫn vẹn nguyên hình ảnh cô Tâm như những ngày còn thơ bé. Sẽ chẳng có gì cần nói hơn nữa nếu như gần đây không có một số ý kiến khác nhau bàn luận về câu chuyện này, mà chủ yếu là đánh giá, lí giải về hành động của cô Tấm đối với mụ dì ghẻ và Cám ở đoạn kết. Là một độc giả rất chăm chú theo dõi tôi cảm thây rằng những bài viết về Tấm Cám đăng ở tập 20 Văn học và tuổi trẻ hình như là những cái giật mình của các tác giả về giá trị của Tấm Cám nói chung và nhân vật cô Tấm nói riêng (!) Trong bài Cách ứng xử nghệ thuật của truyện cổ tích “Tấm Cám ” tác giả Bùi Văn Tiếng sau khi phân tích một loạt những hành động của Tấm, đã đi đến nhận định: “Thì ra, một người hiền dịu đến như Tấm vẫn có thể trở thành cực kì độc ác, vì thế, muốn tự hoàn thiện nhân cách, con người phải hết sức cảnh giác với nguy cơ tha hóa do những tác động của hoàn cảnh khách quan”, và có thể nói rằng, dường như tác giả Tấm Cám không đứng về mẹ con Cám đã đành, mà cũng không hẳn đứng về phía Tấm. Tôi sẽ hoàn toàn đồng ý với hai cách nhận định nối trên nếu như cô Tấm không phải là nhân vật trong truyện cổ tích. Nhưng khi mỗi chúng ta đều biết rằng Tấm là nhân vật cổ tích thì cững nên bàn lại vấn đề này. Muốn hiểu được cái hùng vĩ của núi rừng, cái bao la của biển cả thì trước tiên phải tìm về cội nguồn sản sinh, hình thành của nó, rằng hành tinh này từ xa xưa đã vận động như thế nào. Cũng như vậy, muốn hiểu đứng về tác phẩm văn học, người cảm thụ phải biết được các quy luật phát sinh, tồn tại của nó. Cụ thể, các tác phẩm văn học trường tồn qua thời gian thì tự bản thân nó như là một sinh thể. Sự tồn tại hay quên lãng của nó trong lòng các thế hệ độc giả hoàn toàn không phụ thuộc vào một sự tác động của một cá nhân nào. Nói cách khác mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể, một thế giới nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật này tồn tại một cách độc lập ở đó cũng có những chuẩn mực đạo đức, những thể chế chính trị, pháp luật những mối quan hệ người – người… Nghiên cứu phê bình các tác phẩm văn học thực sự là sự thâm nhập của người nghiên cứu, phê bình để khám phá ra các bí ẩn có giá trị nhân văn trong thế giới ấy. Đối với các tác phẩm là truyện cổ tích, mà cụ thể là truyện Tấm Cám cũng vậy. Muốn hiểu đúng nhân vật Tấm như vấn đề đã đặt ra, điều quan trọng phải thấy rằng Tấm là một nhân vật cổ tích tồn tại trong thế giới nghệ thuật cổ tích. Cũng như muốn lí giải được mối quan hệ của Asin và Hécto trong ảnh hùng ca Iliát thì phải biết nhân vật trong thần thoại Hi Lạp là gì. Đó là, các nhân vật này trong cảm hứng ca ngợi của những người kể (hay hát) dân gian, đều có một vẻ đẹp riêng. Dường như không có sự thiên vị đối với nhân vật nào. Asin cũng đẹp và Hécto cũng oai hùng. Họ đều tiêu biểu cho sức mạnh của một cộng đồng. Bởi thế sẽ là hài hước đối với ai đi tìm nhân vật chính diện và phản diện ở các tác phẩm ánh hùng ca này. Từ đó để thấy rằng mỗi một thể loại văn học, một giai đoạn,một xu hướng, trào lưu văn học đều có những đặc trưng của nó. Để thâm nhập bắt trúng được ý đồ nghệ thuật của một tác phẩm không có cách nào khác là phải nắm được các đặc trưng ấy. Trở lại vấn đề nhận định hành động thực hiện công lí xã hội ở cuối truyện của nhân vật cô Tấm, phải thấy rằng giống như nhiều nhân vật trong các truyện cổ tích khác, nhân vật này cũng được sinh ra theo các nguyên tắc sáng tạo nhân vật cổ tích của trí tuệ dân gian. Nguyên tắc sáng tạo đó bắt nguồn từ đâu? Từ tâm tư, nguyện vọng ước muốn về công bằng xã hội của nhân dân lao động qua số phận của các nhân vật. Nguyên tắc đó được thực hiện bằng phương thức sáng tạo nào? Bằng phương thức tạo ra các “nhân vật mặt nạ”. Các nhân vật mặt nạ hoàn toàn chưa có tính cách hay sự phát triển tính cách. Hành động của các nhân vật này hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của tác giả dân gian. Tác giả dân gian đã gửi gắm những ước muốn của mình về công bằng xã hội qua các nhân vật, và không bao giờ họ quan tâm (hay chưa có ý thức quan tâm) xem hành động của nhân vật đó có nhất quán hay không. Hành động của các nhân vật có thể như thế nào đi chăng nữa (bí ẩn, li kì, hoang đường…) nhưng cuối cùng đều thể hiện được nguyện vọng của nhân dân lao động (kẻ ác phải bị trừng trị, người ăn ở lương thiện sẽ được hưởng hạnh phúc). Diễn ra như vậy, các “nhân vật mặt nạ ” (như nhân vật Tấm) đã thỏa mãn các điều kiện các yếu tố để là một nhân vật cổ tích. Nếu tất cả chúng ta đều nghĩ rằng như thế là hợp lí thì xin đừng đặt ra vấn đề phân tích, nhận định về tính cách của nhân vật cổ tích, xin đừng băn khoăn rằng hành động cuối truyện của Tấm có hợp với tính cách của Tấm không.
Thuyết minh về một nhân vật cổ tích (Tấm Cám)
1,139
Đề bài: Thuyết minh về một nhạc cụ dân tộc: Đàn bầu Bài làm Đàn bầu là một thứ nhạc khí đem lại sự say mê cho người Việt Nam, sự thán phục ngợi ca của bè bạn trên khắp thế giới. Chưa có một cây đàn nào trên thế giới có âm thanh và cách diễn tấu như đàn bầu, chưa có ở đâu đàn một dây lại phát huy được khả năng thể hiện đa dạng như đàn bầu. Các nhà nghiên cứu Việt Nam cho biết đàn bầu bắt nguồn từ một nhạc khí cổ của dân tộc là trống quân. Một số người vẫn chơi đàn bầu như chơi trống quân, nghĩa là lấy một cái que chống vào điểm 2/3 của sợi dây rồi gõ vào hai phần có hai âm thanh khác nhau của sợi dây này. Sở trường của đàn bầu là dùng tay phải gẩy lên một âm gió rất gần với người, rồi lại dùng tay trái điều khiển cho âm gió ấy uốn lên, lượn xuống tuỳ theo ý muốn. Các nhạc công đàn bầu ngày nay còn sáng tạo ra được nhiều thủ pháp biểu diễn khác làm cho đàn bầu có thể "vê" như đàn nguyệt, chạy ngón nhanh như đàn thập lục. v.v… Hình dáng và cấu trúc đàn bầu có thể rất đơn sơ. Bộ phận không thể thiếu là sợi dây. Có người lấy răng cắn chặt một đầu sợi dày, còn đầu kia mắc vào mặt của chiếc hộp rỗng; rồi tay trái cầm cái hộp này vừa làm hộp cộng hưởng vừa làm vật điều khiển cho sợi dây căng thẳng, còn tay phải thì gảy. Đầy đủ hơn thì dùng đoạn đầu trẻ đôi làm thân để căng sợi dây và quả bầu khô làm vật cộng hưởng – có lẽ đây là cách làm đàn phổ biến nhất, vì vậy mới dùng vật liệu quả bầu làm tên gọi cho cây đàn. Ngày nay, người ta làm những cây đàn bầu rất công phu và thường có lắp bộ khuếch đại âm thanh bằng điện tử.
Thuyết minh về một nhạc cụ dân tộc_ Đàn bầu
348
Đề bài: Thuyết minh về một thắng cảnh của đất nước:Yên Tử – miền đất thiêng Bài làm Yên Tử thuộc loại "danh sơn" (núi đẹp) cao 1068 m, một dãy núi trùng diệp của vùng đông bắc nước ta. Yên Tử cách thị xã Uông Bí. Tỉnh Quảng Ninh 14 km về phía tây bắc. Núi Cánh Gà phía nam, dãy núi Bảo Đài ở phía bắc như những thành quách cổ xưa mở rộng cánh cửa dẫn khách hành hương bước vào thế giới Yên Tử. Suối Giải Oan nước trong veo uốn khúc, sỏi trắng và đá cuội rải đều. Đến xuân, rừng Yên Tử nẩy lộc đơm hoa, hoa dành và hoa bướm vàng tươi, hoa hải đường và hoa thủy tiên nở bung những cánh mỏng phớt tím. Dân gian gọi núi Yên Tử là núi Voi; sách xưa gọi là Bạch Vân Sơn (núi mây trắng) vì quanh năm đỉnh núi bao phủ một lớp mây mù. Phạm Sư Mạnh đã từng vịnh thơ cảnh sắc Yên Tử hữu tình nên thơ: "Lối đi có trúc, khe suối đầy hoa”. Vào thời Ngô Quyền và dưới thời Lý, Yên Tử đã có chùa Yên Kì Sanh, Huệ Quang Thiền Sư đã từng tu luyện nơi đây. Phải đến năm 1299, vua Trần Nhân Tông từ ngai vàng, thoát vòng tục lụy đến Yên Tử tu hành, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm của Đại Việt, thì nơi đây mới trở thành cõi linh thiêng của xứ sở. Vượt dốc núi men theo bờ suối cheo leo ta đến với suối Vàng và Thác Tử uốn vòng theo chùa Vân Tiêu, hợp lưu dưới gốc cây sung già rồi đổ vào suối Giải Oan. Những linh hồn các cung nữ ngày xưa như đã nhập thiền vào chùa Giải Oan. Những cây cổ thụ xòe tán che rợp mái chùa, hoa loa kèn trắng mịn phơn phớt màu hoàng yến, những khóm hoa rừng nở xòe năm cánh với màu xanh, chùm nhị tím bao bọc lấy 6 ngọn tháp, trong đó có tháp mộ vua Trần Nhân Tông; cảnh suối, chùa Giải Oan càng trở nện u huyền, trầm lịch. Vượt qua một sườn núi độ 400m. ta đừng lại am Lò Rèn, leo qua những bậc đá ta vươn tới Hòn Ngọc. Trải qua hơn 700 năm, am xưa chùa cũ đã trờ thành phế tích, chỉ còn lại những hàng tùng cổ thụ. Hai trăm bảy mươi tư cây tùng với ba loại chính: thành tùng, thúy tùng và xích tùng, thân cây bạc phếch mà lá cành vẫn sum suê, đứng trầm mặc như những chứng nhân của cửa Thiền qua năm tháng. Cao hơn Hòn Ngọc độ 100 mét là khu tháp Tổ thờ Huệ Quang Thiền Sư. Ở đây có cây thông già trên nghìn tuổi. Thân cây to tròn, ba người ôm khóng xuể. Những cây đại già, nở hoa bốn mùa hương hoa tỏa ngào ngạt bao lấy 45 ngọn tháp với nhiều quy mô, kiểu dáng sắc màu tựa như những bông sen xòe cánh. Bạch Liên cư sĩ đến vãn cảnh mấy trăm năm về trước, đã xúc động đề thơ: “Tháp biếc trăm tầng cao chất ngất, Lầu sơn mấy nóc rộng thênh thênh" Chùa Hoa Yên ở phía sau Tháp Tổ trên độ cao 8 m. Cúc vạn thọ nở vàng rực hoa dong đỏ tía nở khắp sân chùa, vườn chùa và bờ suối. Cây đại gốc sù sì đã có dư 700 tuổi nở bung những chùm hoa trắng dâng hương. Cuối thế ki 15 vua Lê Thánh Tông lên chơi, nhìn thấy rừng hoa nở mà cảm khái đổi tên chùa từ Vân Yên thành Hoa Yên. Chùa Hoa Yên có hơn 10 pho tượng, lớn bằng đồng, có quả chuông đúc từ thời Lê mặt khác bài minh hàng nghìn chữ nói về lịch sử phái Thiền Sư Trúc Lâm. Bên phải chùa là suối Ngự Đội (nơi vua tắm nước trong mát và có mùi thơm của các loài hoa rừng). Đêm ở chùa Hoa Yên thật kì ảo. Tiếng suối róc rách mơ hồ tiếng tắc kè thảng thốt, tiếng rừng trúc rì rào, mùi hoa nồng nàn. Du khách mơ màng, chập chờn trong giấc mộng. Vượt lên ta tới chùa Phổ Đà có Tháp Độ Nhân và 4 cây lão tùng; tiếp theo là am Ngọa Vân và Thác Tử. Nước Thác Tử sôi réo trong các khe đá, mát lạnh về mùa hè ấm nóng về mùa đông. Lội qua Thác Tử, ta đến am Ngọa Vân. Cả khu rừng trúc phủ mờ sương khói. Cảnh suối rừng, am chùa ẩn hiện trong làn mây trắng mòng nhẹ, bổng bềnh như thực như mơ. Dừng lại am Ngọa Vân chênh vênh bên sườn núi, ở đây còn có am Thung và am Dược, nơi các tăng ni ngày xưa giã thuốc và chế thuốc. Vượt qua am Ngọa Vân khách hành hương leo lên chùa Bảo Sái. Dốc cheo leo gần như thẳng đứng. Với chiếc gậy trúc cầm tay. ai cũng cảm thấy lâng láng. Sen dát nở xòe 5 cánh hồng tươi, phong lan trắng, phong lan tía. hoa loa kèn nở rọ lurơng hoa lan mát dịu. Những cây vạn tuế lá xanh biếc bốn mùa, xòe tán như những chiếc õ xinli xinh. Cạnh giếng Thiêng là cây gạo lớn, thân tròn cao vụt, nở hoa đò rực vào tháng ba. Dưới gốc gạo có con hổ đá, quỳ hai chân trước, nhìn vào am đá, hiền lành và chăm chú như đang trầm mặc và kính cẩn nghe kinh. Phía trên chùa Bảo Sái là chùa Vân Tiêu, suối Hàm Long và rừng trúc bao la. Về mùa xuân, dưới những cơn mưa bụi, măng trúc, măng mai, măng giang Yên Tử mọc lên tua tủa, nhọn hoắt như tháp bút. Giữa rừng trúc là thế giới của loài chim, nào là cu xanh, cu đất, chào mào, cà cưỡng, cò lửa, chim chích… bay lượn làm mồi, tiếng kêu chao chác inh ỏi. Thỉnh thoảng xuất hiện vài con hạc, mấy chú đại bàng đất, dăm ba anh bồ nông hoặc đứng trên các mô đất cao, hoặc vắt vẻo trên ngọn thông, hiền lành và tư lự. Rời chùa Vân Tiêu ta luồn qua cổng Trời, len lỏi trong rừng sú. Sú lộng cổ thụ cao chừng 2 m, gốc sần sùi cong queo kì dị, lưa thưa vài chiếc lá nhỏ. Ở đây có nhiều loài chim vẹt, mỏ đỏ, đuôi xanh kêu cheo chét nghe rất vui tai. Khỏi rừng sú, du khách đặt chân tới Chùa Đồng, chỏm cao nhất của Yên Tử. Khi tiếng chuông Chùa Đồng ngân vang ba hồi, hàng trăm con chim nhạn bay lên lượn vòng; tức thì mây trắng ùn ùn xô tới. Cuối canh tư đầu canh năm đứng trên Chùa Đồng, khi trời quang có thể nhìn thấy một vùng đông bắc bao la. Thích thú nhất là được ngắm mật trời đỏ rực lúc rạng đông nhô dần trên ngấn bể màu lam. Ai còn nhớ bài thơ cùa Nguyễn Trãi thì khẽ ngâm lên. Có phút giây kì thú nào bằng: Đền chùa Hoa Yên núi Yên Tử Trên non Yên Tử chòm cao nhất, Trời mới canh năm đã sáng tinh. Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả, Nói cười người ở giữa mây xanh. Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa, Bao dải tua châu đá rủ mành. Dấu cũ Nhân Tông vẫn còn đấy, Trùng đồng thấy giữa ánh quang minh. (*) (Đào Duy Anh dịch) Với những mái chùa rêu phong, những am cổ, những suối, những khóm tùng cổ thụ, rừng trúc và trăm nghìn loài hoa,… mỗi bước chân của du khách khi leo lên sườn non vách động, tưởng như lạc lối vào cõi Phật Yên Tử mênh mông bao huyền tích. Phật tích cùng hoa rừng như ướp hương hồn người. Đến với Yên Tử càng thấy rõ tâm đức của ông cha, càng yêu thêm cảnh trí hùng vĩ của giang sơn gấm vóc. Hội xuân Yên Tử là một lễ hội rất lớn và đông vui; năm nào cũng có hàng vạn người trẩy hội. Ngày nay đã có cáp treo lên Yên Tử, nhưng leo núi lên chùa Hoa Yên, với tới Chùa Đồng… mới thật là thích thú. *Trùng đồng: tương truyền Trần Nhân Tông có tướng lạ là mắt có hai con ngươi, chữ Hán là “trùng đồng". Hiện nay trên Chùa Đồng còn có tượng đá vua Trần Nhân Tông. *Trần Nhân Tông viết: “Bách niên tâm ngữ tâm” nghĩa là "trăm năm riêng lòng nói với lòng". Đó chính là tâm đức của ông vua anh hùng, người sáng lập ra Phật phái Trúc Lâm Đại Việt.
Thuyết minh về một thắng cảnh của đất nước _Yên Tử – miền đất thiêng
1,457
Thuyết minh về một thắng cảnh quê em – Văn Thuyết minh 9 Hướng dẫn Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh 1. Yêu cầu – Viết bài thuyết minh, có sử dụng các biện pháp nghệ thuật. – Nội dung giới thiệu nét đặc sắc của một di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh quê em. 2. Gợi ý – Ở lớp 8, các em đã có một bài viết giới thiệu danh lam thắng cảnh. Nhưng cần lưu ý, ở bài viết này yêu cầu của bài làm có khác: dùng biện pháp nghệ thuật tự thuật, đối thoại, vẽ,… để giới thiệu. – Cần quan sát đối tượng thuyết minh, tìm đọc tư liệu về đối tượng đó rồi chọn cách thuyết minh. Sau đó, lựa chọn tư liệu cho phù hợp với cách thuyết minh đã định. – Bài viết yêu cầu làm rõ những nét đặc sắc của di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh đó. – Bố cục cần đủ 3 phần. Các nội dung thuyết minh cần sắp xếp hợp lí theo nghệ thuật thuyết minh. 3. Lâp dàn ý (dàn ý chung) a. Mở bài: Giới thiệu danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử b. Thân bài – Về vị trí địa lí – Về nguồn gốc, lịch sử. – Về kiến trúc – Những hoạt động nổi bật thường diễn ra c. Kết bài – Tương lai, vai trò của di tích, danh lam thắng cảnh đó trong sự phát triển của địa phương. – Cảm nghĩ của mình. 4. Bài làm minh họa (1) Một nét đăc sắc trong di tích, thắng cảnh ở quê hương em Tôi sinh ra và lớn-lên ở Hà Nội, mảnh đất Hà Thành mến yêu. Nhắc đến Hà Nội, thì không thể không nhắc tới Hồ Gươm – một lẵng hoa xinh đẹp giữa lòng thành phố. Nhưng mấy ai biết: được nét sinh hoạt đặc sắc của người Hà Nội đó chính là “Cờ tướng Hồ Gươm”. Hồ Gươm không chỉ để tại dấu ấn sâu đậm cho những ai đã từng một lần nghe, một lần đến với Hồ Gươm qua truyền thuyết Rùa thần, qua vẻ đẹp duyên dáng mà tạo hoá ban tặng. Theo thời gian, Hồ Gươm đã trở thành trung tâm của sinh hoạt văn hoá cờ tướng, một môn thể thao trí tuệ thu hút người chơi ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp cùng tụ hội về đây để trao đổi, học hỏi lẫn nhau qua những nước cờ, ván cờ. Cờ tướng có phần giống nhưng khác với cờ quốc tế ở chỗ cờ tướng không có quân Hậu mà chỉ có quân Tướng. Cờ tướng có quân Sĩ, quân Pháo là hai thứ quân mà cờ quốc tế không có. Cách đi của quân Tượng cũng khác với quân Tượng của cờ quốc tế. Cờ tướng mỗi bên có 16 quân gồm 1 tướng, 2 sĩ, 2 tượng, 2 pháo, 2 xe, 2 mã và 5 tốt. Bài thơ Học đánh cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù chính là nói về việc học đánh loại cờ tướng này. Trở tại với việc chơi cờ tướng quanh Hồ Gươm. Lâu dần, sinh hoạt cờ tướng bên hồ đã trở thành một bộ phận trong tổng thể cảnh quan Hồ Gươm. Không còn ai nhớ chính xác cờ tướng xuất hiện ở Hồ Gươm từ khi nào. Theo một số người chơi cờ có thâm niên, thì ít nhất khoảng mười năm, mười tám năm về trước, người ta thấy xuất hiện trước cửa Trung tâm nghiệp vụ văn hoá – thông tin một số người tụ tập chơi cờ. Về sau, do số lượng người chơi ngày càng tăng nên đã mở rộng sang cả bờ hồ phía đối diện. Nếu để ý bạn sẽ thấy có khoảng hai nhăm đến ba mươi bàn cờ nằm rải rác suốt dọc bờ hồ phía tây. Mỗi bàn cờ trung bình có hai người chơi và cộ khoảng bốn đến năm người xem. Hằng ngày, Hồ Gươm đón khoảng một trăm vị khách đến tham quan sinh hoạt cờ tướng từ lúc chiều mát cho tới tận chập tối. Phần lớn người tới đây chơi cờ là các cụ cao tuổi. Ngoài mục đích thư giãn, hóng mát, họ mong muốn giao lưu, học hỏi, từ đó hoàn thiện trình độ chơi cờ và hoàn thiện chính bản thân mình. Ai đã từng có dịp thưởng thức sinh hoạt cờ ở Hồ Gươm hẳn sẽ không thể không chú ý đến những câu nói hài hước thuộc về ngôn ngữ riêng của người chơi cờ. Ví dụ như quân Tướng gọi là “ông nhiều râu” vì nét chữ có nhiều gạch. Và khi nghe những câu đại loại như “cứ thằng nhiều râu mà bắt”, chắc chắn bạn sẽ khó mà nhịn được cười. Theo những người có thâm niên chơi cờ gần ba mươi năm nay cho biết, con người ta muốn thành công trong bất cứ chuyện gì, đức tính trước tiên phải có là cẩn thận. Đặc biệt, khi chơi cờ tướng, người chơi không thể qua quýt, vội vàng trong mỗi bước đi. Hướng con cái mình chơi cờ tướng là một trong những biện pháp dùng để giáo dục. Không chỉ các cụ cao tuổi chọn chơi cờ tướng mà cả lớp thanh niên cũng chọn cờ tướng làm môn giải trí cho mình. Phần lớn trong số họ cho rằng, cờ tướng là môn thể thao trí tuệ, nó thể hiện tính cách, khả nắng tư duy, tầm nhìn hay trình độ của mỗi người chơi. Đức tính quan trọng nhất mà cờ tướng rèn luyện cho người chơi khả năng nhìn xa trông rộng, tính cẩn thận và kiên trì. Cờ tướng còn là môn dùng sức mạnh tổng hợp để giải quyết mọi vấn đề, thông qua việc sử dụng trí tuệ của mình để chiến thắng. Cùng với thời gian, cờ tướng vẫn tồn tại và phát triển, vượt qua ý nghĩa chỉ là một môn thể tháo trí tuệ, lành mạnh. Có thể nói nó đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá tao nhã của người dân Thăng Long – Hà Nội. Để mỗi khi nhớ về Thủ đô, về hồ Hoàn Kiếm, người ta lại tự hào mà nhắc đến thú chơi cờ của người Hà Nội. (Nguyễn Ngọc Huyền, lớp 91, Trường THCS Trưng Nhị, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Đây là đề văn yêu cầu thuyết minh một nét đặc sắc trong di tích, thắng cảnh ở quê hương em. Nghĩa là không phải thuyết minh về di tích hay thắng cảnh, mà chỉ là một nét đặc sắc của nó mà thôi. Bài văn của bạn đã bám sát yêu cầu của đề bài, thuyết minh về việc chơi một môn thể thao trí tuệ – cờ tướng xung quanh Hồ Gươm. Bạn đã giới thiệu được môn cờ tướng, thú chơi cờ, lịch sử phát triển của việc chơi cờ tướng quanh hồ. Khi thuyết minh, bạn đã cho người đọc biết sự khác biệt của việc chơi cờ phổ thông và cờ đạo, cách cầm quân và tính cách người chơi. Đó là những thông tin bổ ích và thú vị. Và chính điều ấy làm cho bài thuyết minh hấp dẫn. Bạn cũng tỏ ra là người khá hài hước khi diễn giải câu nói của người chơi và người xem “cứ thằng nhiều râu (thằng tướng) mà bắt”. Có điều thằng nhiều râu không phải vì chữ tướng (viết bằng chữ Hán) có nhiều gạch như bạn tưởng. Sở dĩ con tướng được gọi là thằng nhiều râu vì trong quân bài tam cúc, tướng ông bao giờ cũng được vẽ có nhiều râu để phân biệt với tướng bà (không có râu). Đây là một bài văn chắc tay, sinh động. (2) Hồ Gươm Đêm 30, Ngọc Hoàng sau khi nghe các Táo trình bày, liền nảy ra một sáng kiến. Ngọc Hoàng (NH): – Nam Tào, Bắc Đẩu, 30 Tết rồi, ta muốn xuống trần thưởng thức tết hạ giới xem sao. Nam Tào (NT) – Bắc Đẩu (BĐ): – Bẩm Ngọc Hoàng, vậy Bệ hạ muốn đi đầu ạ? NH: – Ta nghĩ rồi, đêm nay hồ Hoàn Kiếm là nơi thích hợp nhất cho ta thưởng ngoạn. Vậy ta hổi các khanh có ai biết gì về cái hồ đó không? Nam Tào, ngươi hiểu rộng chắc biết. NT: – Thưa Bệ hạ, thần không biết rõ về hồ Hoàn Kiếm ạ. NH: – Còn Bắc Đẩu, ngươi thì sao? BĐ: – Thưa, thần cũng không rõ lắm. NH: – Các ngươi thật chán, đến cả di tích nổi tiếng cũng không rõ, hỏi các ngươi biết gì? Đi chơi mà cũng không biết đi chơi cái gì thì buồn quá!!! NT – BĐ: – Thưa, chúng thần đã có cách. NH: – Cách gì? NT – BĐ: – Bệ hạ cứ cho truyền Táo du lịch vào chầu, chắc là ông ấy rõ. NH: – Được, truyền Táo du lịch. Táo du lịch (TDL) bước uào chầu. TDL: – Ngọc Hoàng vạn tuế, vạn vạn tuế! NH: – Miễn lễ chọ khanh. TDL: – Bẩm! Thưa Bệ hạ truyền thần có việc gì ạ? NH: – Ta muốn đi chơi đêm Hồ Gươm, khanh nghĩ sao? TDL: – Dạ bẩm Ngọc Hoàng, đó là ý kiến rất hay, tuy nhiên… NH: – Tuy nhiên sao? TDL: – Đêm 30 hồ Hoàn Kiếm đông lắm vì năm nào tại đây cũng tổ chức bắn pháo hoa chào mừng xuân mới, e rằng Ngọc Hoàng xuống đó sẽ bị chen lấn xô đẩy, không thể xem được gì. Thần đề nghị ngày mai – mùng một ta hãy đi, sẽ vắng hơn nhiều ạ. NH: – Chuẩn tấu. Sáng hôm sau, mùng một Tết. TDL: – Khởi bẩm Ngọc Hoàng, đây chính là Hồ Gươm. NH: – ừ, thế nhưng ngươi có biết rõ về hồ này không? TDL: – Thưa, việc này Bệ hạ khỏi phải nói, hằng năm Hồ Gươm chính là điểm thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước đến tham quan, cho nên đây là công việc sở trường của thần. Nếu Ngọc Hoàng không chê thì thần xin tình nguyện làm hướng dẫn viên du lịch cho Bệ hạ. NH (gật gù): – Vậy thì ta yên tâm rồi. NH: – ừ, ta thấy cũng có lí. TDL: – Thưa Bệ hạ, từ thời cổ, vùng Hồ Hoàn Kiếm vốn nằm trong dòng chảy của sông Hồng. Về sau, sông đổi dòng dịch sang phía đông do các bằi phù sa bồi lên phía bắc và phía đông nên trở thành hồ rộng, dài đến tận đông nam thành phố (cuối Hàng Chuối, Lò Đúc ngày nay). Trên Hồng Đức đổ bản năm 1490 vẫn còn thấy hồ thông với sông Hồng đấy ạ. Nước Hồ Gươm không chỉ xanh trong bốn mùa khác nhau mà xanh quanh năm, nên xưa kia hồ còn có tên là Lục Thuỷ. Tuy bây giờ nước hồ đã hơi đổi màu do ô nhiễm môi trường. Tới thế kỉ XV, do sự tích Lê Lợi trả gươm cho Rùa thần nên từ đó Hồ Gươm được gọi là hồ Hoàn Kiếm, Bệ hạ đã nghe sự tích này chưa ạ? NH: – Chưa, ngươi kể ta nghe đi. TDL: – Vâng, chuyện kể rằng, Lê Lợi trước khi khởi nghĩa bắt được một thanh gươm. Thanh gươm ấy luôn ở bên ông trong suốt mười năm chinh chiến đánh quân Minh đô hộ. Khi giặc tan (1427), ông về Thăng Long (bây giờ là Hà Nội). Ông ngồi thuyền dạo chơi trên hồ, Rùa thần hiện lên đòi lại gươm. Lê Lợi trả gươm cho Rùa. Rùa thần ngậm gươm lặn mất. Lê Lợi nói rằng: Thần cho mượn gươm đánh giặc, nay giặc yên thần lấy lại gươm. Truyền thuyết thì rất dài, thần chỉ kể tóm tắt thôi, sau này có dịp thần sẽ kể lại để Bệ hạ rõ hơn. NH: – Thôi được! Ngươi hãy tiếp tục đi. TDL: – Vâng. Đầu thời Lê trung hưng thế kỉ XVII, chúa Trịnh dựng phủ chúa (Vương phủ) ở khu vực Quang Trung – Hà Nội. Hai phần hồ như chầu về phủ chúa nên bắt đầu hồ có tên là hồ Tả Vọng (Bắc) và hồ Hữu Vọng (Nam), có lẽ hồi ấy đắp con đê mới, cũng.bắt đầu từ Hàng Than, nhưng dịch hẳn sang phía đông, nhân đó các chúa Trịnh biến vùng hồ Tả Vọng thành nơi du ngoạn, nghỉ ngơi. Đời vua Tự Đức (1847 – 1883) hồ Hữu Vọng là nơi duyệt thuỷ quân nên được đổi tên là hồ Thuỷ Quân. Năm 1884, nhà nước bảo hộ Pháp giữ lại hồ Tả Vọng, gọi là hồ Hoàn Kiếm, lấp dần hồ Thuỷ Quân để lấy đất xây dựng, mở mang thành phố Hà Nội đấy ạ, nên lúc đầu hồ khá rộng nhưng bây giờ chỉ bé như thế đó ạ. NH: – Chà! Cũng lòng vòng thật! TDL: – Đúng đấy ạ! Thần xin tiếp tục. Từ khi sông Hồng chuyển dòng đã để lại trọng hồ hai hòn đảo nhổ, nhân dân thựờng gọi là núi Ngọc và núi Rùa. Bệ hạ có thấy không? Vua Lê Thánh Tông hay ra núi Ngọc câu cá giải trí nên một bên đá được xây dựng tại đây cho vua ngồi nên gọi là Điếu Đài. Từ thế kỉ XVII trở đi, các vua rất chú ý sử dụng hồ. Năm 1739, Chúã Trịnh Giang lập cung Khánh Thuỵ trên nền Điếu Đài làm nơi hóng gió ngày hè, vì thế vùng đất ven hồ về sau phân thành hai thôn là Khánh Thuỵ hữu và Khánh Thuỵ. Chục năm sau, Chúa Trịnh Giang lại cho đắp một gò đất đặt tên là núi Độc Tôn để kỉ niệm chiến thắng nghĩa quân Quận Hẻo tại núi Độc Tôn. Năm 1751, sau khi chiếm được căn cứ Ngọc Bội của Nghĩa quân Nguyễn Danh Phương, chúa Trịnh Doanh cho xây đắp núi Ngọc Bội, đăng đối với núi Độc Tôn trên bờ phía Đông. Năm 1786 dựa vào thế Nguyễn Hữu Chỉnh mà tranh giành ngôi vua, có tài liệu nói rằng vua Lê Chiêu Thống để trả thù họ Trịnh đã phóng hoả thiêu huỷ toàn bộ phủ Chúa, lầu Ngũ Long, cúng Khánh Thuỵ và các lâu đài khác do nhiều đời chúa Trịnh xây dựng nên, lửa cháy mười đêm mới tàn. Mời Bệ hạ đi vào trong này. Năm 1865 – 1866, tiến hành tu sửa tất cả các công trình kiến trúc cung văn hoá Hồ Gươm, mà người thiết kế là một nhà thơ nổi tiếng Hà Nội đương thời là Phương Đình Nguyễn Siêu, mở đầu là hàng cột hoa biển uy nghi mà thanh thoát, Bệ hạ có thấy không? Hai bên tường có chữ “Phúc”, “Lộc” như lời chúc tốt lành. Qua hàng cột bên trái là núi Độc Tôn. Trên núi vào năm 1865, ngọc tháp đá 5 tầng được xây có hình bút lông, trên thân tháp nổi bật 3 chữ “Tả thanh thiên” (nghĩa là “viết lên trời xanh”) và một bài kí kể lại sự tích hồ, gò, tháp. Đó chính là Tháp Bút, Bệ hạ thấy Tháp Bút có cao không? Đi qua Tháp Bút là Đài Nghiên, một cửa cuốn trên có nghiên mực nửa quả đào đặt trên ba con ếch. Một nét kiến trúc tài hoa là khi mặt trời mọc thì bóng ngọn bút chấm vào nghiên mực. Thỉnh thoảng ờ trên thiên, Bệ hạ có thể ngó xuống để xem, rất thú vị đấy ạ. Xin Bệ hạ bước lên cầu này. NH: – Cũng hay thật. TDL: – Xin mời Ngọc Hoàng nhìn thẳng phía trước. Bệ hạ có thấy cái cổng có lầu cao kia không? Đó là Đắc Nguyệt Lầu. Qua lầu ta đi theo con đường cong này là tới sân đền, nhìn thẳng ra hồ là Trấn Ba Đình (Đình chắn sóng) vững vàng giữa nền văn hoá đương thời. Đền chính gồm ba nếp nhà, nhà ngoài coi như tiền sảnh, nhà giữa thờ ông Thánh Văn Xương coi việc văn học ; Lã Tổ coi việc thuốc thang chữa bệnh ; Quan Vũ coi việc võ. Nhà trong thờ Trần Hưng Đạo – vị anh hùng có công chống giặc Nguyên – Mông. Giờ chúng ta cùng đi xem… Rất uy nghi phải không ạ? Mời Ngọc Hoàng xuống phòng này. Đây là đền phụ có trưng bày xác một con rùa là tiêu bản vào ngày 2 tháng 5 năm 1967, xung quanh ta có thể nhìn thấy rất nhiều ảnh. Như vậy, tín ngưỡng của đền Ngọc Sơn gồm cả văn, võ và nghề thuốc. Do vậy mà một hệ thống hàng trăm bức đại tự, câu đối ngoài nội dung ca ngợi cảnh quan còn có ý biểu thị ba hoạt động trên. Văn chương của các đại tự, câu đối cũng rất sáng giá. Diện mạo của tất cả các công trình kiến trúc vẫn giữ nguyên như ngày nay. Vậy là Bệ hạ đã xem xong kiến trúc của núi Ngọc rồi đấy ạ. NH: – Thế còn núi Rùa, ngươi kể về núi Rùa đi! TDL: – Vâng! Bệ hạ hãy ra đây, nhìn thẳng Bệ hạ sẽ thấy một toà nhà. Đó chính là Đảo Rùa và Tháp Rùa đấy ạ. Năm 1884, Bá Hộ Kim, nhà ở thôn Vũ Thạch tin vào thuyết phong thuỷ, cho gò Rùa là linh địa, mứu tính chuyện táng hài cốt tổ tiên của y ở đó nên xin chính quyền cho xây toà tháp làm đẹp hồ, nhưng bị dân chúng xung quanh hồ phản đối kịch liệt, y không thực hiện được mưu đồ nhưng đã trót hứa với quân Pháp nên phải xây cho xong toà tháp. Trông ở đây nhổ vậy nhưng tháp có 4 tầng. Tầng một, tầng hai được chạm trổ theo lối gốc tích giống như nhà thờ Thiên Chúa giáo. Trên nóc tháp có ba chữ “Quy sơn tháp” (tháp núi Rùa). Trên gò Rùa là nơi rùa thường lên phơi nắng và đẻ trứng nên gọi là Tháp Rùa. NH (tấm tắc khen): – Thật là thú vị! TDL: – Sẽ là thiếu sót nếu thần không nói đến quần thể thực vật điểm tô cho kiến trúc. Đủ các loại cây quen thuộc của đất nước: Đa, Đề, Si, Sanh, Gạo, Me, Sung, Sấu, Liễu rủ, Lộc vừng,… Đặc biệt nhất là có một kho báu của hồ: đàn rùa trong hồ, chưa biết đích xác có bao nhiêu, chỉ biết hằng năm chúng vẫn nổi lên ghé vào gò tháp, biết đâu những con rùa này là con cháu hay chính Rùa thần đã lấy lại gươm của vua?… Vậy là Bệ hạ và thần đã tham quan xong Hồ Gươm, di tích độc đáo nhất của thành phố Hà Nội. NH: – Thật là tuyệt vời! Theo khanh, ta có nên xây một Hồ Gươm trên Thiên đình không? TDL: – Xin Bệ hạ cho thần nói thẳng, Hồ Gươm là quần thể giao hoà độc đáo giữa thiên tạo và nhân tạo, là một kiến trúc đặc sắc. Nếu Bệ hạ xây thêm một cái trên Thiên đình nữa, dù giống tới mức nào thì nó cũng mãi không phải là Hồ Gươm đâu ạ. NH: – Khanh cũng có lí, ta quyết định năm sau sẽ đón giao thừa ở Hồ Gươm. Hôm nay ta thấy thật là ngắn ngủi! (Nguyễn Ngân Hà, lớp 91, Trường THCS Nguyễn Trường Tộ, Quận Ba Đình, Hà Nội) ⇒ Nhận xét Ngân Hà đã thực hiện một tiểu phẩm khá lí thú giữa Ngọc Hoàng và Táo du lịch. Chuyện các loại táo báo cáo Ngọc Hoàng ngày 23 tháng chạp hằng năm chúng ta không còn lạ gì. Nhưng Táo du lịch làm nhiệm vụ hướng dẫn viên du lịch cho Ngọc Hoàng là một cái cớ rất khéo để thuyết minh về Hồ Gươm. Đoạn mở đầu bạn cố ý để cho Nam Tào, Bắc Đẩu không hiểu biết về Hồ Gươm, chuẩn bị cho việc Táo du lịch xuất hiện là rất tự nhiên và hợp lí. Đúng như lời Táo du lịch khẳng định: hiểu biết về Hồ Gươm là sở trường của người coi sóc việc du lịch. Những tư liệu lịch sử về hồ, sự thay đổi diện tích, tên gọi qua các triều đại, các công trình kiến trúc quanh hồ, cả đến các loại cây đều được bạn nghiên cứu tỉ mỉ nên việc hướng dẫn của Táo du lịch mạch lạc và rất “chuyên nghiệp”. Chúng ta không khỏi buồn cười là Ngọc Hoàng lại có ý xây dựng một Hồ Gươm trên Thiên cung. Với ý thức của người làm văn hoá du lịch, bạn đã mượn lời Táo du lịch can ngăn để Hồ Gươm mãi mãi là một thắng cảnh độc nhất vô nhị. Một bài thuyết minh lí thú và hoàn toàn có thể xây dựng một tiểu phẩm phim hấp dẫn về Hồ Gươm.
Thuyết minh về một thắng cảnh quê em – Văn Thuyết minh 9
3,511
Đề bài: Thuyết minh về một thể loại văn học hoặc văn bản Bài làm Hài kịch là "Thể loại kịch trong đó có tính cách, tình huống và hành động được thể hiện dưới dạng buồn cười hoặc ẩn chứa cái hài nhằm giễu cợt, phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn nó một cách vui vẻ ra khỏi đời sống xã hội”. Hài kịch cho đến thế kỉ XVII được coi như là thể loại đối lập với bi kịch, và tác phẩm của nó kết thúc nhất thiết phải có hậu. Hài kịch, như trên đã nói, hướng vào sự cười nhạo cái xấu xa, lố bịch đối lập với lí tưởng xã hội hoặc chuẩn mực đạo đức. Nhân vật của hài kịch thường không có sự tương xứng giữa thực chất bên trong với danh nghĩa bên ngoài của mình nên đã trở thành lố bịch. Cái tính cách trong hài kịch thường được mô tả một cách đậm nét, cận cảnh và ở trạng thái tĩnh, nhất là những nét gây cười. Phạm vi phản ánh của hài kịch hết sức rộng lớn: từ những vấn đề chính trị xã hội đến những thói xấu trong sinh hoạt hàng ngày. Trong hài kịch cũng có thể mô tả nỗi đau khổ của con người, song chỉ có thể cho phép ở một mức độ nhất định cho nỗi đau không lấn át cái cười để từ đó hài kịch chuyển thành chính kịch. Hài kịch ra đời rất sớm, gần như đồng thời với bi kịch. A-ri-xtô-phan (khoảng 445 — 385 trước Công nguyên) nhà viết kịch Hi Lạp cổ đại được coi là "cha đẻ" của hài kịch. Do nội dung, tính chất, cung bậc của tiếng cười, hài kịch chia thành nhiều tiểu loại khác nhau như hài kịch tính cách, hài kịch tình huống, hài kịch sinh hoạt, hài kịch trào phúng, v.v. Cho đến nay, những tác phẩm của nhà hài kịch vĩ đại người Pháp Mô-li-e (1622 – 1673) được coi là hình thức cổ điển của thể loại hài kịch.
Thuyết minh về một thể loại văn học hoặc văn bản
352
Thuyết minh về một trò chơi dân gian Hướng dẫn Thuyết minh về một trò chơi dân gian Bài làm Với mỗi chúng ta, ai ai cũng có một tuổi thơ đáng nhớ không thể quên. Và trong quãng đời đẹp đẽ đó, chắc chắn không thể nào thiếu được những trò chơi dân gian. Không biết từ bao giờ, trò chơi dân gian đã gắn bó với tuổi thơ của biết bao thế hệ. Thế hệ này qua thế hệ khác, tất cả đều biết đến những trò chơi dân gian, cùng nhau trải qua những phút giây đẹp đẽ nhất của tuổi thơ với những trò chơi đó. Mỗi người sẽ có một trò chơi mà mình yêu thích, say mê. Với tôi, trò tôi yêu thích nhất là trò chơi trốn tìm, trò chơi mà có lẽ không một bạn nhỏ nào không biết đến. Trốn tìm là một trò chơi rất dễ chơi, càng đông người tham gia thì lại càng sôi động, náo nhiệt. Đây là trò chơi không cần phải chuẩn bị dụng cụ hay nguyên liệu gì cả, bất cứ ai cũng có thể tham gia trò chơi. Trước tiên để chơi trò chơi, chúng ta cần phải oẳn tù tì để tìm ra người thua cuộc. Trong một nhóm đông người, người thua cuộc sẽ phải úp mặt vào tường, sau đó đếm từ một đến một trăm. Trong thời gian đó, những người còn lại sẽ tản ra, tìm chỗ trú ẩn. Chỗ trốn thường rất phong phú, có thể trong lùm cây, bụi rậm, sau nhà, sau cửa, ở bất cứ nơi đâu…. Có thể trốn riêng lẻ mỗi người một góc, nhưng mọi người cũng thường tập trung trốn thành nhóm để có sự náo nhiệt, thú vị. Sau khi người bị bịt mắt đếm xong đến một trăm, gọi không có ai trả lời, cũng là lúc tất cả những người khác đã tìm được chỗ ẩn nấp an toàn. Người đó bắt đầu mở mắt ra, đi tìm xung quanh để bắt được những người còn lại. Từng người từng người hồi hộp, nín thở, lo sợ bị phát hiện. Có những người đắc ý, tưởng mình đã trốn được kỹ lắm rồi, cười thầm trong lòng, hoặc có những nhóm trốn cùng nhau cười rúc rích, rồi có khi lại bị phát hiện đầu tiên. Những người bị phát hiện sẽ trở thành người thua cuộc. Trong lúc người kia đi tìm, có những người nhanh chân chạy về vị trí xuất phát, đập tay vào tường loa lên, sẽ trở thành những người thắng cuộc. Những người bị bắt được sẽ phải oẳn tù tì với nhau, để tìm ra người làm cái hiệp chơi tiếp theo. Cũng có những khi người kia tìm mãi không được người nào, cuối cùng phải hô lên “ Thôi ra đi, thua rồi”. Những người khác bắt đầu ở đâu chạy đến, với vẻ mặt vô cùng đắc chí, hả hê vì đã không bị phát hiện. Trò chơi dân gian là thế, chơi vui lắm, mệt lắm, nhưng ai cũng cảm giác phấn khích. Những đứa trẻ đã cùng nhau vui vẻ, cùng nhau đi qua tuổi thơ như thế, tươi đẹp biết bao. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, những trò chơi dân gian đã không còn có cơ hội phát triển ở những thành phố lớn, thay vào đó là những trò chơi bằng điện tử, Ipad, thiết bị thông minh… Hiện đại thật đấy nhưng sẽ thiếu đi những nụ cười hồn nhiên, ngây thơ, những ánh mắt đầy tình cảm, trong veo của những đứa trẻ dành cho nhau. Chắc hẳn những thế hệ đi trước mỗi khi nhìn lại những ngày tháng ấy, sẽ cảm thấy thật đẹp, thật hối tiếc những tháng ngày đã đi qua biết bao nhiêu. Chúng ta hãy cùng nhau gìn giữ những thứ đã ăn sâu vào tiềm thức như trò chơi dân gian các bạn nhé!
Thuyết minh về một trò chơi dân gian
664
Đề bài: Thuyết minh về một trò chơi quen thuộc mà em thích nhất. Bài làm Một trong những trò chơi dân gian xuất hiện từ lâu đời được trẻ em vô cùng yêu thích là trò ú tim. Thử hỏi tuổi thơ nào mà chẳng có những kỉ niệm tràn đầy cảm xúc yêu thương, gắn bó với trò chơi quen thuộc ấy?! Trò ú tim có thể chơi ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Trong căn nhà nhỏ ấm cúng hay giữa vườn cây râm mát. Sân đình, sân chùa vào những đêm trăng sáng là chỗ chơi lí tưởng cho đám trẻ trong làng. Trò ú tim không cần đồ chơi. Dăm ba đứa bé túm tụm lại là trò chơi bắt đầu. Cả nhóm sẽ chỉ định một bạn quay mặt vào bờ tường hoặc thân cây nào đó rồi nhắm mắt lại và đếm: năm, mười, mười lăm, hai mươi… cho đến một trăm. Trong thời gian đó, các bạn khác sẽ tỏa ra tìm chỗ trốn. Cả người trốn và người tìm đều cần vận dụng trí thông minh. Người trốn phải ẩn nấp vào những chỗ vừa bất ngờ vừa kín đáo. Người tìm phải quan sát, phán đoán xem các bạn có thể nấp ở những chỗ nào để nhanh chóng phát hiện. Nhiều khi, người đi tìm bị đánh lạc hướng bởi những tiếng kêu vừa như trêu cợt, vừa như thách thức: Tớ ở đây cơ mà! cứ ran lên bốn phía. Người chơi ở trong tâm trạng hồi hộp, háo hức, thú vị vô cùng! Ai trốn không kĩ, bị phát hiện và gọi đúng tên thì sẽ phải nhắm mắt và đi tìm thay cho người trước. Sau này lớn lên, dẫu có đi bốn phương trời thì mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu, chắc chắn chúng ta chẳng thể nào quên những trò chơi dân dã như ú tim, kéo co, rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê, thả diều, chọi dế… bởi chúng như những sợi dây vô hình đan dệt nên tình bạn trong sáng, thắm thiết trong thời niên thiếu của mỗi con người.
Thuyết minh về một trò chơi quen thuộc mà em thích nhất
359
Đề bài: Thuyết minh về một tác giả văn học Bài làm Nguyễn Tuân quê ở Nhân Mục, thôn Thượng Đình, nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân – Hà Nội. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn. Thân sinh của Nguyễn Tuân là cụ Nguyễn An Lan, tú tài khoa thi Hán học cuối cùng. Một nhà nho tài hoa bất đắc chí có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và phong cách Nguyễn Tuân. Ông học đến cuối bậc thành chung thì bị đuổi vì tham gia cuộc bãi khoá phản đối mấy giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam. Năm 1930, do “xê dịch” không có giấy phép qua Lào sang Thái Lan, ông bị tù. Ra tù, ông bắt đầu nghiệp cầm bút bằng việc viết báo, viết văn. Nhưng ông chỉ thực sự nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm Một chuyến đi, Vang bóng một thời… Năm 1941, ông lại bị bắt giam vì giao du với những người hoạt động chính trị. Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân trở thành một cây bút tiêu biểu hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến, giữ chức Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948-1958. Ông mất ngày 28/7/1987 tại Hà Nội. Với những đóng góp to lớn và có giá trị cho nền văn học nước nhà, năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật. Con người Nguyễn Tuân là một trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Ông yêu tiếng mẹ đẻ, trân trọng những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, những kiệt tác văn chương trung đại, những lờica tiếng hát của mỗi miền quê, các món ăn truyền thống, dân dã… Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Với ông, viết văn là để thể hiện cái tôi một cách kì cùng. Con người ông rất mực tài hoa, uyên bác, thông hiểu sâu sắc nhiều ngành khoa học và nghệ thuật. Ông cũng là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình, coi nghệ thuật là một hình thái lao động cực kì nghiêm túc, thậm chí nghệ thuật là một sự khổ hạnh (những đứa con hoang). Những đặc điểm ấy về con người Nguyễn Tuân có ảnh hưởng lớn đến phong cách nghệ thuật của ông. Nguyễn Tuân thử bút ở nhiều thể loại truyện ngắn hiện thực trào phúng, thơ, nhưng mãi đến đầu năm 1938 mới nhận ra sở trường của mình và thành công với: Một chuyến đi (1938); Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941). Sự nghiệp của ông có thể chia làm hai chặng khá rõ rệt trước và sau Cách mạng tháng Tám từ một nhà văn lãng mạn chuyển thành nhà văn cách mạng. Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân sáng tác xung quanh ba đề tài chính. “Chủ nghĩa xê dịch” thể hiện cái tôi lãng tử của nhà văn theo bước chân qua những miền quê để đi tìm cảm giác mới lạ, “thay thực đơn cho các giác quan”. Tuy Nguyễn Tuân tìm đến với chủ nghĩa xê dịch “như một phản ứng bất lực trước thời cuộc nhưng với đề tài này, ông đã thể hiện được những cảnh sắc và phong vị quê hương đất nước bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa, qua đó nhà văn bày tỏ được tấm lòng yêu nước thiết tha trong tác phẩm của mình: Một chuyến đi, “Thiếu quê hương…”. Ở đề tài “vang bóng một thời”, nhà văn đi tìm và làm sống lại vẻ đẹp riêng của một thời xưa cũ với những phong tục văn hóa, những thú tiêu dao lành mạnh, tao nhã, gắn với những con người thuộc lớp nhà nho tài hoa bất đắc chí. Những sáng tác này thể hiện một cách kín đáo và ý nhị tấm lòng yêu mến, trân trọng những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc. Tác phẩm chính là tập truyện ngắn Vang bóng một thời. Đề tài đời sống tâm trạng bi quan của một cái tôi hoang mang, bế tắc, tìm cách thoát li trong đàn hát, trong rượu và thuốc phiện, qua đó ta thấy được tâm trạng khủng hoảng của lớp thanh niên đương thời. Nhưng đôi khi ở đó vẫn vút lên “niềm khao khát một thế giới tinh khiết, thanh cao, được nâng đỡ trên đôi cánh của nghệ thuật”. Tác phẩm chính là Chiếc lư đồng mắt cua, Tàn đèn dầu lạc… Sau Cách mạng, lòng yêu nước và sự bất mãn với chế độ thực dân đã đưa Nguyễn Tuân đến với Cách mạng và kháng chiến. Sáng tác của ông trong thời kỳ này tập trung phản ánh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân anh hùng, tài hoa trong chiến đấu và sản xuất. Tác phẩm Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950), Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972), Sông Đà (1960). Dù ở giai đoạn nào, Nguyễn Tuân cũng có một phong cách nghệ thuật độc đáo mà biểu hiện chính là sự tài hoa, uyên bác. Trước Cách mạng, Nguyễn Tuân được biết đến như là một nhà văn duy mĩ. Ông trân trọng và đề cao cái đẹp. Với ông, cái đẹp chỉ tồn tại trong một thời xưa cũ, do vậy, ông đi tìm và làm sống dậy cái đẹp của thời xưa và phê phán, chối bỏ xã hội trên phương diện văn hóa. Nguyễn Tuân quan niệm xã hội đương thời là “xã hội cơ khí giết chết cái đẹp”. Ông cũng nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ, tập trung miêu tả những nhà nho tài hoa bất đắc chí, đứng cao hơn hoàn cảnh. Nhân vật của ông trong giai đoạn này mang dáng dấp của những con người “đặc tuyển”. Nguyễn Tuân đi tìm cảm giác mới lạ, “cái nguồn sống bồng bột tắc lối thoát (Tóc chị Hoài) trong “xê dịch” và trụy lạc. Ông có một lối viết tự do, phóng túng, vừa đĩnh đạc, cổ kính lại vừa trẻ trung, hiện đại không chỉ dùng vốn ngôn ngữ văn học phong phú, ông còn sử dụng hiểu biết về nhiều ngành nghệ thuật, khoa học khác như hội họa, điện ảnh, âm nhạc, quân sự, võ thuật… để gợi dựng hình tượng, đem đến người đọc nhiều liên tưởng thú vị. Sau Cách mạng ông vẫn tiếp tục khẳng định nét tài hoa, uyên bác những cũng có những thay đổi rõ rệt. Cũng nhìn con người trên phương diện văn hóa nhưng Nguyễn Tuân không còn đối lập xưa và nay mà tìm được sự ấm áp của cuộc đời. Cái đẹp không chỉ có trong thời xưa cũ mà còn có trong thiên nhiên, đời sống lao động sản xuất và chiến đấu. Chất tài hoa nghệ sĩ không chỉ có ở những con người đặc tuyển mà còn có ở đại chúng nhân dân, ngay trong nghề nghiệp của họ như anh bộ đội, chị dân quân, người lái đò sông Đà. Ông cũng không còn đối lập cái phi thường với cái bình thường. Nét tài hoa hòa lẫn với những tâm tư rất bình dị, rất người. Giọng văn không còn khinh bạc, mà có thì chỉ để ném vào mặt kẻ thù cướp nước, bán nước và các mặt tiêu cực của xã hội. Với những nét độc đáo và riêng biệt nói trên, Nguyễn Tuân tìm đến với thể loại tuỳ bút như một tất yếu và có công nâng tuỳ bút lên đỉnh cao. Do đó, ông được mệnh danh là “ông hoàng” của thể loại tuỳ bút. Tuỳ bút Nguyễn Tuân cũng đã thể hiện rõ phong cách phóng túng của ông. Các sáng tác này giàu có thông tin và tính thời sự cao, có nhiều yếu tố truyện. Nhà văn đã xây dựng được một lõi sự việc, các nhân vật được miêu tả một cách kĩ lưỡng, có tính cách riêng, đi sâu vào tâm lí. Lời văn kết hợp triết luận, trữ tình bàn bạc một cách thoải mái. Qua đó ta thấy được tâm hồn phóng túng, sức liên tưởng tưởng tượng bất ngờ, táo bạo của nhà văn, không tồn tại ở thể tĩnh tại mà nhìn trong chiều sâu thời gian và chiều rộng không gian. Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân giàu có, đa dạng, một mặt thể hiện cảm xúc trữ tình của một cái tôi uyên bác mà trẻ trung, hiện đại; mặt khác thể hiện sự tinh tế, giàu cảm xúc thẩm mĩ, đầy chất thơ và khả năng tạo hình. Câu văn co duỗi nhịp nhàng. Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời tìm kiếm và khẳng định cái đẹp, một định nghĩa về người nghệ sĩ. Ông có đóng góp to lớn cho quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt, đặc biệt là thể loại tuỳ bút. Ông xứng đáng là một nghệ sĩ lớn một nhà văn hóa lớn của dân tộc.
Thuyết minh về một tác giả văn học
1,554
Thuyết minh về một đồ dùng học tập – Sách – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Thuyết minh về một đồ dùng học tập Bài làm “Sách là con đường dẫn đến tri thức”. Trong cuộc sống hằng ngày, việc đọc sách vô cùng quan trọng. Nhất là đối với các bạn học sinh, sách là đồ dùng học tập cần thiết để góp phần tạo nên tri thức cho các bạn. Sách có từ rất lâu. Những năm trước Công nguyên, người Ai Cập cổ đại đã biết ghi chép lại những kiến thức văn học và toán học trên một loại “sách” đặc biệt, đó là các phiến đất sét rồi nung nóng lại. Về sau, thấy làm vậy quá cồng kềnh và khó lưu trữ, họ mới dùng da động vật đã được thuộc làm giấy rồi dùng một vật nhọn như cây kim viết lên đó. Mảnh “giấy” đó được làm khá dài rồi cuộn lại. Đó là một trong những loại sách cổ nhất của loài người. Bây giờ, khi công nghệ ngày càng phát triển, người ta đóng sách bằng giấy thành từng tập, có thể lật từ trang này sang trang khác một cách dễ dàng. Sách có rất nhiều loại khác nhau nhưng tất cả đều có cấu tạo chung: bìa sách và nội dung sách. Bìa sách thường được làm bằng giấy bìa hoặc da. Ngoài bìa in tên sách, tên tác giả, nhà xuất bản và thường có hình minh hoạ cho nội dung cuốn sách. Nội dung sách thường gồm lời nói đầu, sau là tri thức mà sách cung cấp và cuối cùng là mục lục. Lời nói đầu thường được in ở trang đầu tiên của cuốn sách, có thể là lời tác giả hay lời nhà xuất bản giới thiệu chung về cuốn sách. Phần mục lục trước đây thường được in cuối cuốn sách, gần đây, nhiều tác giả đưa ngay lên đầu sách, tiện cho người đọc theo dõi. Tùy theo nội dung mà chức năng của sách cũng rất đa dạng. Sách giáo khoa cung cấp những kiến thức cần nhớ và những câu hỏi giúp học sinh hiểu và nhớ bài. Sách bài tập bao gồm những bài tập tương ứng với những bài học trong sách giáo khoa, giúp học sinh luyện tập bài đã học để hiểu sâu bài hơn. Sách tham khảo cung cấp những kiến thức bên ngoài sách giáo khoa, giúp học sinh mở rộng kiến thức đã học. Học sinh không nên quá lạm dụng sách tham khảo mà không tư duy phân tích bài học. Ngoài các loại sách trên, học sinh còn rất yêu thích sách truyện, như truyện trinh thám, truyện ngụ ngôn, những câu hỏi – đáp về những hiện tượng tự nhiên,…Loại sách này góp phần tạo sự hình thành nhân cách, thế giới quan và nhân sinh quan cho các em học sinh,…Tóm lại, đối với mỗi học sinh chúng ta, sách có vai trò vô cùng quan trọng. Có lẽ việc sử dụng một cuốn sách không dễ dàng như mọi người tưởng, không chỉ đơn giản là mở cuốn sách đó ra và đọc mà còn là việc đọc như thế nào cho đúng cách. Người biết sử dụng sách là người sau khi đọc sách có thể hiểu sách nói về vấn đề gì, nó như thế nào,… Cách sử dụng sách hiệu quả nhất là đọc sách một cách tập trung, chăm chú. Có người đọc sách rất nhanh nhưng thu nhận kiến thức sách cung cấp còn nhiều hơn những người đọc bình thường. Có lẽ học sinh chúng ta và mọi người nên tìm hiểu cách đọc đó. Cho dù mỗi người chúng ta có đi đâu, về đâu, sách vẫn mãi là người bạn đường tốt nhất của chúng ta. Nguyễn Ngọc Huyền (Trường THCS Ngô Gia Tự) >> Xem thêm Thuyết minh về chiếc bút máy tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Sách · Thuyết minh về một đồ dùng học tập
Thuyết minh về một đồ dùng học tập – Sách – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
675
Thuyết minh về Ngũ hành sơn Hướng dẫn Thuyết minh về Ngũ hành sơn Ngày nay Đà Nẵng là một điểm đến đầy tiềm năng và một điểm đến thân thiện mà nhiều du khách trong và ngoài nước vẫn thường nhắc tới. Trong đó, một trong những địa danh thu hút nhiều người tìm tới đó là Ngũ Hành Sơn- danh thắng lịch sử văn hóa và mang những nét nổi bật hiếm có. Ngũ Hành Sơn được biết tới là một danh thắng gồm 6 ngọn núi đá vôi nhô lên trên một bãi cát ven biển, và có diện tích khoảng 2 km2 bao gồm những ngọn: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn (lớn, cao và đẹp nhất), Hỏa Sơn (có hai ngọn) và Thổ Sơn, cái tên Ngũ Hành Sơn cũng bắt nguồn từ đó. Là dãy gồm 5 ngọn núi đẹp và mang vẻ hung vĩ Ngũ Hành Sơn nằm khoảng 8 km về phía Đông Nam, ở trên tuyến đường Đà Nẵng – Hội An, phường g Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Ngũ hành Sơn được biết đến thông qua một truyền thuyết và theo truyền thuyết đó thì do ngày xưa có một ẩn sĩ sống giữa bãi cát mênh mông. Một hôm ông thấy một chuyện lạ, đó là Nữ Thần Naga mang theo một cái trứng đưa cho Thần Kim Quy cất giữ đi để chống lại sự quấy phá của ma quái và thần không quên để lại cái móng vàng để giúp cho việc bảo vệ quả trứng được tốt hơn. Quả trứng ấy nở ra một cô gái xinh đẹp riêng vỏ trứng thì nứt thành năm mảnh hóa thành năm ngọn núi và ngyaf nay người ta gọi năm ngọn núi ấy chính là ngũ hành sơn. Ngũ Hành Sơn mang những vẻ đẹp mà thiên nhên ban tặng. Ngũ Hành Sơn nổi bật với hình ảnh những bãi cát vàng mịn màng trên các bờ biển từ Non Nước kéo dài đến đảo Tiên Sa. Ở đây mọc lê các loại thảo mộc quý: Thiên tuế, Thạch trường sanh, Cung-nhân-thảo lài trắng, Chương não, Thử lý Tứ quý Ở đây cũng có nhiều loại phong lan đẹp mê hoặc lòng người. Bên cạnh những di tích lịch sử còn in đậm trong các hang động như mộ mẹ tướng quân Trần Quang Diệu, đền thờ công chúa Ngọc Lan (em gái vua Minh Mạng). Bê cạnh đó còn có những di tích qua các thời kì kháng chiến như Địa đạo núi đá Chồng, hang Bà Tho, núi Kim Sơn, hang Âm Phủ. Thực sự những vẻ đẹp mà Ngũ Hành Sơn mang lại còn ngoài sức tưởng tượng. Những vẻ đẹp và đặc điểm đặc trưng mà Ngũ Hành Sơn mang lại đã khiến du khách thập phương phải xao xuyến. Người dân nơi đây luôn luôn tự hào về những vẻ đẹp và giá trị lịch sử và giá trị nhân văn mà Ngũ Hành Sơn mang lại. Đó không chỉ là vẻ đẹp mà thiên nhiên mang lại mà còn là vẻ đẹp của nền văn hóa. Chính vì thế Ngũ Hành Sơn đã được nhà nước công nhận là di sản văn hóa cấp quốc gia. Nguồn: Bài văn hay
Thuyết minh về Ngũ hành sơn
545
Thuyết minh về nhân vật Ngô Tử Văn Hướng dẫn Thuyết minh về nhân vật Ngô Tử Văn Chức phán sự ở đền Tản Viên là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất được trích trong tập Truyền kì mạn lục của tác giả Nguyễn Dữ, thông qua nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả Nguyễn Dữ đã thể hiện được niềm tin mạnh mẽ vào những điều thiện trong cuộc sống. Ngô Tử Văn là nhân vật trung tâm của truyện ngắn Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, ngay trong phần mở đầu của tác phẩm, tác giả Nguyễn Dữ đã giới thiệu khái quát về quê quán cũng như tính cách của nhân vật, đó chính là một con người cương trực, khẳng khái, nóng nảy, thấy điểu gian tà là không chịu được. Qua lời giới thiệu phần mở đầu ta cũng thấy được thái độ của Nguyễn Dữ với nhân vật, đó là sự động viên, thấu hiểu với nhân vật với hành động đốt đền say đó. Ở nơi mà Ngô Tử Văn sinh sống có một ngôi đền thiêng, nhưng từ khi có tên tướng giặc gian ác chết ở đó đã tác oai, tác quái, gây ra bao nhiêu tai họa cho người dân, vốn là người nóng tính lại ghét điều gian tà nên Ngô Tử Văn đã tức giận, tắm rửa sạch sẽ và châm lửa để đốt đền. Trước thái độ của chàng, rất nhiều người trong làng đều thấy lo lắng, lắc đầu lè lưỡi trước hành vi quá táo bạo của chàng và cũng vì trước nay chưa ai dám mạo phạm đến ngôi đền bị yêu ma chiếm lĩnh ấy. Ngô Tử Văn đã dám làm việc mà mọi người không dám làm, khi đốt đền cũng với phong thái ung dung, đường hoàng, qua đó khẳng định được những phẩm chất tốt đẹp ở con người này, đó chính là sự chính trực, bản lĩnh hơn người. Việc đốt đền của Ngô Tử Văn không đáng trách mà đáng ca ngoại, hành động của chàng không phải xuất phát từ việc chứng tỏ bản thân mà vì ý muốn tiêu diệt cái ác, bảo vệ cuộc sống của dân lành. Hành động nhìn qua có vẻ nóng nảy, ngông cuồng nhưng lại thể hiện được cốt cách của kẻ sĩ, cũng chính hành động này đã châm ngòi cho mâu thuẫn gay gắt giữa Ngô Tử Văn và tên tướng giặc bại trận. Có thể nói, nét đặc sắc của tác phẩm này đó chính là việc tạo ra hai nét tính cách hoàn toàn đối nghịch của Ngô Tử Văn và tên tướng bại trận, nếu NGô Tử Văn cương trực, thẳng thắn bao nhiêu thì tên tướng giặc lại càng ti tiện, đê hèn bấy nhiêu. Tên tướng bại trận họ Thôi là một kẻ xâm lược bại trận, hồn ma lưu lạc nơi đất khách không người cúng tế, với bản tính gian xảo, quỷ quyệt, hắn ta đã cướp ngôi đền thần và có bao nhiêu hành động tác oai tác quái cho dân lành. Khi Ngô Tử Văn đốt đền, tên tướng bại trận đã yêu cầu Tử Văn xây lại đền, chàng nhất quyết không chịu thì hắn ta đã kiện chàng xuống tận Diêm Vương, qua hành động này ta thấy được tận cùng bản chất ti tiện của hắn, khi sống là một tên giặc cướp nước, chết đi cũng không bỏ được thói cậy mạnh mà hà hiếp dân lành. Với những lời cáo buộc mạnh mẽ của hồn ma tướng giặc, Tử Văn chỉ có một mình nhưng chàng không hề run sợ, chàng tin vào sức mạnh của chính nghĩa, hành động ngồi “ngất ngưởng” cũng không phải hành động của một kẻ liều lĩnh bất cần mà là người nắm chắc được chính nghĩa trong tay. Thái độ tự tin và khí phách hơn người của Ngô Tử Văn được thể hiện rõ nét hơn khi bị tên tướng bại trận lôi xuống tận địa ngục để xét xử. Trước khung cảnh rùng rợn và những lời đe dọa trừng phạt của người dưới âm phủ thì chàng không hề buông xuôi lo lắng mà một mực thanh minh kêu oan và mong được Diêm Vương xét xử công bằng, minh bạch. Đứng trước Diêm Vương, Tử Văn đã vạch trần bộ mặt xấu xa của tên tướng giặc bằng những lí luận sắc sảo, giọng điệu cứng cỏi mà hắn ta chẳng thể nào chối cãi được. Trước những lí lẽ mà Tử Văn đưa ra, Diêm Vương đã có những phán xử công bằng: trừng phạt thích đáng hồn ma tướng giặc họ Thôi và cho Tử Văn làm chức phán sự ở đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giúp đỡ và bảo vệ chính nghĩa, công lí ở trần gian. Có thể thấy, truyện Chức phán sự đền Tản Viên được kết hợp giữa hai yếu tố kì và ảo, câu chuyện được xây dựng với những tình tiết li kì, hấp dẫn bởi sự xuất hiện của những không gian, nhân vật kì ảo như: địa ngục, Diêm Vương hay người chết đi vẫn có thể sống lại. Tuy nhiên, với cách dẫn dắt câu chuyện đầy tài tình của NGuyễn Dữ ta lại thấy câu chuyện có những khía cạnh rất thực, thể hiện thông qua chi tiết nhà văn nói về quê quán, tính cách, cũng như thời điểm diễn ra sự việc.Chính sự kết hợp giữa kì và ảo đó đã mang đến sự hấp dẫn cho câu chuyện. Thông qua nhân vật Ngô Tử Văn, tác giả Nguyễn Dữ đã ca ngợi con người với tính cách cứng cỏi, thẳng thắn và giàu tinh thần của dân tộc. Câu chuyện thể hiện được niềm tin mạnh mẽ của tác giả vào công lí, chính nghĩa ở đời, đồng thời ngầm phản ánh xã hội thực tại với biết bao xấu xa, tiêu cực, có thể kể đến như nạn tham nhũng ở quan lại khiến cho sự thực, công lí bị che mờ.
Thuyết minh về nhân vật Ngô Tử Văn
1,015
Thuyết minh về những tác hại của thuốc lá đối với đời sống con người Hướng dẫn – Bệnh nghiện thuốc lá đe dọa sức khỏe và tính mạng con người còn nặng hơn AIDS. – Trích dẫn câu văn của Trần Hưng Đạo nêu nhận xét về cách đánh của giặc, trước khi phân tích tác hại của thuốc lá, tác giả ví ngầm thuốc lá với ai? Sự tác hại như thế nào mới là đáng sợ? Cái chết của những người hút thuốc lá có giống như “Giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu” đất nước, dân tộc ta? Như vậy, lối lập luận có chặt chẽ không, có làm tăng độ cảnh báo của tác giả đối với người hút thuốc không? – Sự thật thì đã có người nói:“Tôi /lút, tôi bị bệnh, mặc tôi!”. Đúng là quyền tự do cá nhân. Nhưng tác giả đã đáp lại như thế nào? Không khí đê thở là tài sản chung hay là tài sản riêng của người nghiện thuốc gây ra mà tác giả dã nêu có đúng ỉ à tội ác không? – Người lớn đã đẩy con em vào con đường phạm pháp bằng cách nào? Các nước ở châu Âu đã làm gì để chống thuốc lá? Đất nước ta đã thanh toán một số bệnh hiểm nghèo như châu Âu chưa? Bây giờ nhiễm bệnh thuốc lá thì sẽ như thể nào? Kiến nghị của tác giả có xác đáng không? I. Có câu chuyện kể lại rằng một nhà thám hiểm Tây Ban Nha đã quan sát thổ dân ở quần đảo Ăng-tin (Antilles) vùng biển Đại Tây Dương quấn một loại lá iu ỉu khô rồi đốt và hút. Nhà thám hiểm đó đã thử làm theo và cảm thấy có chút lâng lâng sảng khoái. Thế là hạt giống được đưa về Tây Ban Nha, châu Âu và rồi lan khắp thế giới, mà nơi trồng nhiều nhất là Trung Quốc, Ân Độ, Bra-xin, Nhật Bản,… Mỗi năm toàn thế giới sản xuất khoảng bốn triệu tấn thuốc lá khô. ít ai ngờ loại cây dùng để hút chơi, làm thuốc chữa bệnh ngoài da, rắn rết và côn trùng cắn, và có thể chế thành thuốc trừ sâu lại là loài cây độc hại. Ớ Việt Nam, ông Nguyễn Khắc Viện đã lên tiếng báo động: “Ôn dịch, thuốc lá”. II.Bài nghị luận của Nguyễn Khắc Viện có thể được chia làm ba phần, với nội dung cụ thể: – Ôn dịch thuốc lá đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn nặng hơn cả AIDS. – Cách gây hại của thuốc lá đối với cá nhân người nghiện và đối với những người chung quanh, nhất là đối với thanh thiếu nhi. – Thế giới chống hút thuốc lá. Phần hai của bài văn, tác giả tập trung giải thích, chứng minh và bình luận nhằm trả lời câu hỏi: Tại sao thuốc lá lại đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của loài người còn nặng hơn cả AIDS? Trước khi giải thích và chứng minh để trả lời câu hỏi trên, Nguyên Khắc Viện đã trích dẫn nhận xét của Trần Hưng Đạo về cách xâm lược của quân Nguyên rằng: “Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu”. Trích dẫn danh ngôn ấy, Nguyễn Khắc Viện muôn so sánh để nhân mạnh sự đáng sợ về cách hủy hoại con người của thuốc lá. Từ ý nghĩ có tính khái quát ấy, tác giả bắt đầu giải thích và chứng minh. Vốn là một bác sĩ học và tốt nghiệp tại Pháp, Nguyễn Khắc Viện đã vận dụng kiến thức y học để giải thích tại sao chất hắc ín có trong thuốc lá là thủ phạm gây ra bệnh ung thư, mà “trên 80% ung thư vòm họng và ung thư phổi là do thuốc lá”. Tác giả còn cho người đọc biết trong thuốc lá còn có chất ô-xít cac-bon, “chất này thấm vào máu, bám chặt các hồng cầu không cho chúng tiếp cận ô-xi nữa”.Hồng huyết cầu không được tiếp cận ô-xi thì sẽ không tái sinh. Điều này ảnh hưởng tiêu cực nặng nề đến năng lực làm việc của mỗi người vì sức khỏe ngày một yếu dần đi theo lối “tằm ăn dâu”. Trong thuốc lá còn có chất ni-cô-tin. Đây là một chất gây nghiện cực độc. Khi đã nghiện người hút thuốc lá vẫn sống dai dẳng, sức khỏe bị hao mòn dần như kiểu “tằm ăn dâu” khiến ảnh hưởng đến sức lao động và tốn tiền mua thuốc lá. Lượng ni-cô-tin nhiều gây nên những bệnh cực kỳ nguy hiểm như huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim. Để chứng minh những bệnh nguy hại ấy do thuốc lá gây ra, tác giả đã nêu những điều mà ông chứng kiến khi hành nghề ở nhiều bệnh nhân khác nhau. “Có thấy một bệnh nhân bị tắc động mạch chân lên những cơn đau như thể nào, rồi phải Người hút thuốc thường bảo: “7ÌÔỈ hút, tôi bị bệnh, mặc tôi!”.Đúng đó là quyền tự do cá nhân mà luật pháp chưa cấm đoán, nhưng có quyền ra quy định hạn chế do có liên quan đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Không khí để thở là tài sản chung. Hút thuốc nơi công cộng “thì người gần anh cũng hít phải luồng khói độc”, nghĩa là người hút thuốc đã phạm vào tài sản chung ấy. Để chứng minh cho lập luận sắc bén ấy bằng một loạt người bị nhiễm độc vì sông chung với người hút thuốc lá như vợ con, người làm cùng phòng. Tác giả còn cố đánh thức lương tri của mọi người bằng lời văn gây cảm xúc: “Tội nghiệp thay những cái thai còn nằm trong bụng mẹ, chỉ vì có người hút thuốc ngồi cạnh mẹ mà thai bị nhiễm độc, rồi mẹ đẻ non, con sinh ra đã suy yếu”. Người nghĩ đến gia đình, vợ con ắt hẳn sẽ không hút thuốc bên cạnh người vợ đang mang thai sau khi đọc câu văn vừa thắm thiết tình người vừa chỉ rõ hậu quả của sự nhiễm độc khói thuốc lá ấy. Phần cuối của bài văn, tác giả bàn về việc chống hút thuốc ở châu Âu bằng những quy định: cấm hút thuốc lá nơi công cộng, phạt nặng những ai vi phạm và tái phạm, cấm quảng cáo thuốc lá trên các phương tiện truyền thông, tuyên truyền rộng khắp những tác hại do thuốc lá gây ra để đạt được mục đích “Mộ/ châu Ấu không còn thuốc lá”.Từ thực tế của các nước phát triển ở châu Âu, tác giả đã so sánh với thực trạng nhiều bệnh tật do vi trùng, ký sinh trùng gây ra nhưng chưa thanh toán được ở nước ta, “lại ôm thêm ôn dịch thuốc lá”để cất lời kêu gọi: “Đã à ứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này”. Với lời văn bình dị, lập luận bằng phép nhân quả, so sánh đối chiếu theo một trật tự hợp lý, Nguyễn Khắc Viện đã giúp người đọc nhận ra thuốc lá là tác nhân chính của một số bệnh nguy hiểm chết người. Nó còn nguy hiểm hơn các bệnh ôn dịch khác do có chất gây nghiện đẩy dần thanh thiếu niên vào con đường phạm pháp, gây tác hại nhiều mặt đối với cuộc sông gia đình và xã hội. Biết vậy nhưng thuốc lá vẫn tồn tại với lời cảnh báo trên bao bì. Và chờ một quyết tâm cao hơn, biện pháp triệt để hơn trong việc phòng chống ôn dịch này.
Thuyết minh về những tác hại của thuốc lá đối với đời sống con người
1,297
Thuyết minh về quyển SGK Ngữ văn 8 tập một Hướng dẫn 1.Tìm hiểu đề Đề yêu cầu học sinh giới thiệu về một đối tượng rất gần gũi, quen thuộc với học sinh: quyển SGK Ngữ vãn 8. Đây là tài liệu mà bất cứ học sinh nào cũng có, lại được sử dụng hằng ngày nên việc giới thiệu, thuyết minh không phải khó khăn. Tuy nhiên, so với các đề văn trước, đề bài này ít tư liệu tham khảo hơn. Nó đòi hỏi học sinh phải tự tìm hiểu, tự kết luận để đưa ra những đặc điểm cơ bản về cuốn sách. Nói cách khác, học sinh cần có những thao tác tư duy độc lập, sáng tạo để thuyết minh về đôi tượng này. Để làm được bài, nên dựa vào một số câu hỏi như: Cuốn sách do ai viết? Được xuất bản ở đâu? Nó có đặc điểm gì về hình thức? Nội dung cơ bản của cuốn sách? Giá trị, ý nghĩa của nó đối với học sinh? Có thể tìm mua sách ở đâu?… 2.Dàn ý sơ lược Mở bài: Giới thiệu về cuốn sách và giá trị của nó đối với học sinh. Thân bài: – Giới thiệu xuất xứ của sách. -Thuyết minh, giới thiệu về hình thức bề ngoài của sách. -Giới thiệu bao quát bố cục của sách -Giới thiệu nội dung, giá trị của cuốn sách. -Nêu cách sử dụng, bảo quản sách. Kết bài: 3.Dàn ý chi tiết Mở bài: – Giới thiệu và nêu giá trị của sách nói chung với cuộc sông con người. – Giới thiệu về SGK và tình cảm của em với cuốn SGK Ngữ văn 8, tập một. Thản bài: -Giới thiệu xuất xứ của sách: + SGK Ngữ văn 8, tập một được ra đời từ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. + Các tác giả cuốn sách là những giáo sư, nhà nghiên cứu đầu ngành về văn chương của Việt Nam. -Thuyết minh, giới thiệu về hình thức bề ngoài của sách: + Cuốn sách có hình thức đơn giản, hài hòa, khổ 17×24 rất phù hợp và thuận tiện cho học sinh khi sử dụng. + Bìa một của cuốn sách có tông màu nổi bật là màu lòng tôm đậm pha hồng rất bắt mắt. Trên cùng là dòng chữ “Bộ Giáo dục và Đào tạo” được in trang trọng. Dưới đó là tên cuốn sách được viết theo kiểu chữ hoa mềm mại: “Ngữ văn” màu xanh da trời. Số 8 màu trắng nhã nhặn nhưng cũng rất dễ nhìn, dễ nhận ra. Nổi bật trên bìa sách là một khóm hoa màu vàng nhạt xinh xắn. + Bìa bốn của cuốn sách có biểu tượng vương miện kim cương chất lượng quốc tê quen thuộc của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Danh sách bộ SGK lớp 8 cũng được in rõ ràng, đầy đủ. Cuối trang là mã vạch và giá tiền. + SGK Ngữ văn 8, tập một có 17 bài, tương ứng với 17 tuần. + Mỗi bài lại gồm 4 bài nhỏ trong đó thường là 2 văn bản, 1 bài Tiếng Việt và 1 bài Tập làm văn. + Quyển sách là sự phát triển kế tiếp SGK lớp 6 và lớp 7. – Giới thiệu nội dung, giá trị của cuốn sách: + Ở phần Văn học, học sinh sẽ được làm quen, tiếp xúc, tìm hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam từ đầu thê kỉ XIX đến 1945. Đồng thời, sách còn giới thiệu phần văn học nước ngoài với những tác phẩm đặc sắc của Mĩ, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Liên bang Nga. + Phần Tiếng Việt gồm cả từ ngữ và ngữ pháp được sách cung cấp rất dễ hiểu, khoa học, ngắn gọn, vừa cung cấp tri thức, vừa giúp học sinh luyện tập. + Ớ phần Tập làm văn, ngoài việc tiếp tục làm văn tự sự, học sinh còn được học thêm một thể loại rất mới là văn thuyết minh. -Nêu cách sử dụng, bảo quản sách: + Để cuốn sách có giá trị sử dụng lâu bền, chúng ta cần giữ gìn cẩn thận, không quăng quật, không vo tròn, không gập đôi cuốn sách. + Hơn thế nữa, chúng ta nên mặc thêm cho cuôn sách một chiếc áo ni lông vừa bền vừa đẹp để sách sạch hơn, an toàn hơn. Kết bài: Khẳng định giá trị, ý nghĩa lớn lao của quyển sách đối với học trò.
Thuyết minh về quyển SGK Ngữ văn 8 tập một
730
Thuyết minh về quyển sách giáo khoa “Ngữ Văn 8”, tập một – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Thuyết minh về quyển SGK Ngữ Văn 8 Bài làm 1 Sách là thứ không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Sách đem đến cho con người kho tri thức vô cùng to lớn, nhũng điều mới mẻ, lí thú, và cả những tiếng cười thoải mái. Còn đối với học sinh chúng ta, những quyển sách giáo khoa là những vật vô cùng gắn bó và thân thuộc; một trong số đó, cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một mang đến rất nhiều kiến thức về bộ môn Ngữ văn. Sách có hình chữ nhật đứng khá dày, khổ 17 x 24 cm nên cầm trên tay rất vừa vặn. Trang bìa làm bằng giấy cứng, bóng, đẹp. Phần trên của sách có dòng chữ: “Ngữ văn 8, tập một”, khổ chữ to, rõ ràng. Góc trái in hình khóm hoa thuỷ tiên vàng đang khoe sắc. Phần dưới cùng ghi lôgô Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Ở bìa bốn quyển Ngữ văn là danh sách 11 quyển sách giáo khoa ở tất cả các môn học. Cuốn sách gần hai trăm trang làm bằng giấy mỏng, màu hơi sậm để không gây ảnh hưởng đến thị lực của học sinh. Các chữ được in rõ ràng, bố cục hợp lí rất vừa mắt. Trang đầu tiên in tên những người biên soạn sách. Trang thứ ba là phần “Lời nói đầu” khái quát về nội dung và cách sử dụng sách, giúp chúng ta hiểu hơn và dễ học hơn. Trang cuối là phần mục lục – danh sách các bài học giúp chúng ta tiện tra cứu. Cuốn sách gồm mười bảy bài học, mỗi bài chia làm ba phần: Văn bản, Tiếng Việt và Tập làm văn. Đầu mỗi bài học có đóng khung phần kiến thức cần nắm vững. Phần văn bản gồm hai thể loại chính là văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Văn học Việt Nam gồm các tác phẩm từ năm 1930 đến năm 1945 như Lão Hạc của Nam Cao, văn bản Tức nước vỡ bờ trích trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố, hay văn bản Trong lòng mẹ trích từ Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng,… Những văn bản này cho chúng ta thêm hiểu biết, cảm thương trước số phận của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám – họ là nạn nhân bị bần cùng hoá, mà thủ phạm chính là xã hội thuộc địa phong kiến tàn ác. Đối với phần văn học nước ngoài, chúng ta biết thêm rất nhiều về những nhà văn nổi tiếng như: O Hen-ri (Chiếc lá cuối cùng), An-đéc-xen (Cô bé bán diêm), Ai-ma-tốp (Người thầy đầu tiên),… Qua những tác phẩm đã học ấy, chúng ta thêm hiểu về cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nhưng giàu tình cảm của những hoạ sĩ nghèo nước Mĩ vào thế kỉ XX; hay cuộc sống bấp bênh, nghèo khổ của những trẻ em phương Tây mồ côi, phải tự đi kiếm sống trước sự ghẻ lạnh của xã hội vào cuối thế kỉ XIX. Trong phần Tiếng Việt có khá nhiều những điều mới mẻ như: trường từ vựng, các biện pháp nói giảm nói tránh, biện pháp tu từ nói quá,… Ngoài ra chúng ta còn biết cách sử dụng của một số các loại dấu câu mới như: dấu ngoặc đơn, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép. Tất cả những phần tiếng Việt trên đều giúp chúng ta một phần nào trong việc làm các bài tập làm văn. Cách phối hợp phương pháp tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn tự sự là một trong những nội dung chính của phần Tập làm văn. Phần vô cùng quan trọng ở Tập làm văn là phương pháp và cách làm bài văn thuyết minh – loại văn được sử dụng chủ yếu trong lớp tám, và cả các lớp trên. Ngoài ra, mỗi bài học đều có những hình ảnh minh hoạ giúp chúng ta không bị nhàm chán. Cuốn sách giáo khoa đúng là người bạn thân thiết, gắn bó với học sinh chúng ta. Hãy giữ gìn nó vì nó không chỉ phục vụ mục đích học ở lớp tám mà còn ở nhiều lớp trên, sử dụng sách đúng cách, phù hợp để đạt những thành tích cao trong học tập bạn nhé! Lê Quỳnh Thư (Trường THCS Ngô Gia Tự) Bài làm 2 Từ xưa đến nay, sách luôn là kho tàng lưu trữ kiến thức, là một công cụ học tập hữu ích của con người. Sách cung cấp cho ta đầy đủ tri thức về mọi lĩnh vực trên thế giới, giúp ta thư giãn, giải trí và đôi khi còn làm thay đổi một phần nào đó trong cuộc sống của chính chúng ta. Trong đó cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một là một cuốn sách vô cùng bổ ích và không thể thiếu đối với mỗi học sinh Trung học cơ sở. Cuốn sách nào cũng vậy, trang bìa rất quan trọng bởi nó thể hiện lĩnh vực mà cuốn sách muốn truyền đạt tới người đọc. Như bao cuốn sách khác, sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập một được trình bày rất đẹp và hợp lí. Bìa sách được làm bằng giấy cứng màu hồng nhạt trông rất sáng và đẹp. Ở góc dưới cùng bên phải của bìa là tên và logo của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Ở giữa cuốn sách là một khóm hoa thuỷ tiên đang đua nhau khoe sắc như đang đón chào chúng ta đến với kho tàng kiến thức dành cho học sinh lớp 8. Phía bên trên là dòng chữ “Ngữ văn” màu xanh dương kết hợp với con số 8 màu trắng được in nổi bật trên nền bìa màu hồng. Kích thước 17 x 24 cm vừa vặn, phù hợp với tầm tay của học sinh. Cuốn sách dày gần hai trăm trang chứa đựng biết bao kiến thức bổ ích. Bìa sau cuốn sách cũng được làm bằng chất liệu giấy cứng màu trắng. Phía trên cùng in hình biểu tượng chất lượng mà sách đạt được. Ở giữa là tên sách giáo khoa của 11 bộ môn. Sau trang bìa, trang đầu tiên là “Lời nói đầu” giới thiệu cho người đọc biết mục đích và nội dung chung mà cuốn sách sẽ mang lại cho học sinh. Giấy in sách màu trắng có độ sáng hài hoà, chữ viết in đậm rõ ràng giúp học sinh nhìn rõ, đảm bảo thị lực cho học sinh. Cuốn sách có tất cả 17 bài, phía trên mỗi bài đều có nội dung kiến thức cần đạt được. Cấu trúc mỗi bài thường có ba phần: phần Văn bản, phần Tiếng Việt và phần Tập làm văn được in theo một thứ tự nhất định, rõ ràng. Sau mỗi bài học thường có phần Ghi nhớ được đóng khung rõ ràng, cẩn thận. Phía dưới là phần Luyện tập giúp học sinh củng cố lại kiến thức vừa học và nâng cao kiến thức hơn. Ớ các văn bản văn học đều có các bức tranh minh hoạ giúp học sinh không cảm thấy khô khan, nhàm chán mà trái lại mỗi bài như một tri thức mới, hứng thú mới, kích thích sự thích thú, tò mò của lứa tuổi học trò. Không chỉ vậy, những bức tranh minh hoạ còn giúp học sinh có thể tưởng tượng, hiểu sâu hơn nội dung bài học. Kiến thức cuốn sách giáo khoa mang lại cho người đọc vô cùng phong phú và đa dạng. Phần truyện gồm nhiều loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi kí giúp ta hiểu được cuộc sống của người nông dân Việt Nam và phẩm chất cao quý của họ dưới xã hội thuộc địa phong kiến. Phần thơ gồm thơ yêu nước đầu thế kỉ XX của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Tuấn Khải,… Các tác phẩm thơ này không chỉ mang ý nghĩa giáo dục về tư cách đạo đức, về lòng yêu nước sâu sắc mà còn cho học sinh thấy được những vẻ đẹp khác nhau của các tác phẩm trữ tình. Bên cạnh các tác phẩm văn học Việt Nam là một phần văn học nước ngoài như đưa ta đến những chân trời mới lạ: Đan Mạch, Mĩ, Nga, Tây Ban Nha,… Những truyện ngắn tuy nhẹ nhàng nhung toát lên tinh thần nhân đạo cao cả, tình yêu thương những người cùng khổ, đồng thời cho ta hiểu được một phần nào về xã hội của các nước bạn trong thế kỉ XIX, XX. Phần Tiếng Việt rèn cho học sinh cách sử dụng từ ngữ, câu văn, dấu câu sao cho phù hợp với tình huống, hoàn cảnh giao tiếp. Phần Tập làm văn giúp học sinh nâng cao, củng cố một số kiến thức về văn bản, rèn luyện cho học sinh kĩ năng cơ bản về quá trình tạo lập văn bản như xây dựng bố cục, liên kết đoạn văn, các phương pháp để viết một bài văn. Ở lớp 8, học sinh tập trung học ba kiểu văn bản là tự sự, thuyết minh và nghị luận. Sự kết hợp hài hoà giữa các phương thức biểu đạt là hình tượng phổ biến trong các tác phẩm văn chương. Bởi vậy nội dung học của phần Tập làm văn tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đọc hiểu văn bản. Ở cuối sách là trang mục lục giúp học sinh dễ tra cứu các bài học. Sách giáo khoa Ngữ văn 8 là một cuốn sách bổ ích bởi vậy ta cần giữ cho nó được sạch sẽ, không bị quăn mép bằng cách bọc bìa bằng ni lông. Nguyễn Thị Thuỳ Linh (Trường THCS Văn Hồ) >> Xem thêm Để hướng tới 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, em hãy giới thiệu về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử của Hà Nội tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · SGK “Ngữ Văn 8” · tập 1 · Thuyết minh
Thuyết minh về quyển sách giáo khoa “Ngữ Văn 8”, tập một – Văn thuyết minh – Bài văn hay lớp 8
1,725
Đề bài: Thuyết minh về quả bưởi Bài làm Quả bưởi còn gọi là quả bòng. Bưởi Đoan Hùng, bưởi Diễn (miền Bắc), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Năm Roi (miền Nam) ngon nổi tiếng, tất cả đều là thứ quả xuất khẩu có thương hiệu. Bưởi là cây họ vân hương. Giêng, Hai bưởi ra hoa; hoa trắng phau như cúc bạch ngọc, hương thơm ngào ngạt. Tháng 8, tháng 9 là mùa thu hoạch bưởi. Mâm cỗ trung thu của trẻ em không thể không có bưởi. Nhà thơ Nguyễn Duy viết: “Bao giờ cho tơi mùa thu- trái hồng, trái bưởi đánh đu giữa rằm". Quả bưởi to, dài, hình quả lê hay hình tròn bằng đầu đứa trẻ con lên một tuổi. Có quả bưởi hình tròn nhưng hơi dẹt, vỏ màu vàng nhạt hoặc màu vàng chanh, bóng, dày, khó tách. Tép bưởi trong, múi màu vàng nhạt hoặc màu đào; mỗi quả có từ 12 — 18 múi, các múi dễ tách rời nhau, trong mỗi múi có vài hạt. Múi bưởi dùng để ăn, vỏ và hạt dùng làm vị thuốc chữa trị các bệnh như ăn không tiêu, chướng bụng, buồn nôn, ho nhiều đờm. Bưởi có múi to, tép dày, vị ngọt lẫn chua là bưởi ngon. Trên mâm ngũ quá bày trên bàn thờ gia tiên không thể thiếu quả bưởi.
Thuyết minh về quả bưởi
226
Đề bài: Thuyết minh về quả phật thủ Bài làm Phật thủ là là loại cây thuộc họ cây ván hương. Mỗi năm cho trái một lứa; chín vào mùa đông. Trái phật thủ có hình dáng kỳ lạ: phía dưới gần cuống hình tròn, phía trên mọc như hình hàn tay mở ra có các ngón. Phật thủ nghĩa là tay phật. Trái phật thủ chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển màu vàng tươi, vỏ ngoài nổi lên các núm vú, không có múi và hạt. Trái phật thủ chín cũng không ăn tươi được, nhưng rất thơm, hương dìu dịu lâng lâng. Quả chín đem thái thành miếng nhỏ, đem sấy hoặc phơi khô. càng để lưu niên càng tốt, gọi là trần phật thù. Trần phật thủ đem hãm, hoặc sắc thành vị thuốc để trừ đờm, giảm ho, chữa trị chứng buồn nôn, tức ngực. Phật thủ được trồng nhiều ở miền Nam nước ta. Mâm ngũ quả ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên không thể không có trái phật thủ. Nó được bày ở vị trí trung tâm. Màu vàng tươi, mùi thơm ngát của phật thủ như làm đẹp làm thơm lên nhiều lần cam, quýt, hồng, bưởi… trên mâm ngũ quả. Chọn phật thủ phải chọn quả to, có dáng hình xinh đẹp. mềm và dai, vỏ xanh hoặc vàng…
Thuyết minh về quả phật thủ
224
Đề bài: Thuyết minh về quả vải Bài làm Vải là loài cây thuộc họ vô hoạn tứ. Quả vải còn gọi là quả tu hú. Tháng 6, tháng 7 hàng năm, tu hú kêu tha thiết bồi hồi trên đồng quê cũng là mùa vải chín rộ. Mùa vải trên những vùng đồi Bắc Giang, vải chín đỏ đất trời. Vải thiều Thanh Hà thuộc tỉnh Hải Dương là thơm ngon nhất. Quả vải hình cầu hoặc hình trứng, vỏ trông sần sùi như có gai trên bề mặt, khi chín chuyển thành màu đỏ. Thịt quả vải tươi gần như trong suốt, màu trắng mềm, mọng nước, vị ngọt, mùi thơm. Quả vải càng nhỏ hạt càng quý. Cành vải giòn, nếu quả nhiều quá sẽ làm gãy cành nên cần phải dùng cây chống đỡ. Cùi vải có thể ăn tươi, sấy khô, hoặc làm vải hộp, có giá trị kinh tế cao, vải tươi, quả to, múi dày trắng, có vị ngọt thơm là vải quý, vỏ và hạt vải, phơi khô tán bột làm thuốc chữa trị bệnh lị, bệnh mẩn ngứa. Vải là đặc sản của phương Nam được các vua, chúa đời Đường hết sức trọng vọng coi là “Vua của các loại quả". Nhà thơ Bạch Cư Dị đã ca ngợi như sau: “Bóc ra múi trắng như thủy tinh, ăn lại mềm như tuyết xốp, mùi vị thật tuyệt vời, thật không hổ danh". Nhà văn Vũ Bằng trong tác phẩm "Thương nhớ mười hai" coi quả vải là thời trân của Bắc Việt.
Thuyết minh về quả vải
257
Đề bài: Thuyết minh về quả xoài Bài làm Cây xoài thuộc họ cây sơn. Ở miền Nam nước ta trồng rất nhiều xoài. Xoài thuộc thân cây gỗ, lưu niên; có cây xoài cao to, sum suê như cây đa, cây đề. Các nhà làm vườn dùng cách chiết cành có thể tạo ra những cây xoài chỉ cao hơn đầu người đã cho hàng trăm quả mỗi vụ. Hoa xoài trăng trắng, nở thành từng chùm. Ong rất thích hoa xoài. Mùa hoa, ong kéo đến dập dìu hút mật, lúc nào cũng nghe tiếng vù vù trên các vòm lá, chùm hoa. Quả xoài có nhiều tên: quả vọng, quả mật vọng, quả hương cái. Xoài chín rộ vào mùa hè, mùa thu. Quả tròn dẹt hoặc hình quả thận. Lúc chín màu vàng bóng; thịt xoài vàng tươi, nhiều nước, hương thơm, vị ngọt. Hạt xoài to dẹt, có xơ trông tựa như cái mõ chùa bé xíu. Xoài được tôn vinh là “vua của các loài quả trong vườn cây ăn trái. Quá xoài chứa nhiều vi- ta- min C, BI, B2, ca- rô- ten, đường, prô- tít, v.v… Xoài tượng, xoài cát, xoài thanh ca, xoài voi, xoài cơm, xoài quéo,… thứ nào cũng quý và thơm ngon.
Thuyết minh về quả xoài
208
Đề bài: Thuyết minh về quần thể lăng Bác Bài làm Chiến tranh đă di qua gần nửa thế kỉ nhưng nỗi xót thương và niềm yêu kính của mỗi người dân Việt Nam dành cho Bác Hồ – vị Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – chưa bao giờ nguôi cạn. Nhớ đến người, nhưng dòng người hướng về lăng Bác tưởng như không bao giờ dừng lại. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và quần thể lăng gồm quảng trường Ba Đình, khu nhà sàn, vườn cây,… sau hai năm xây dựng, ngày 19/8/1975 đã được khánh thành. Mặt chính của lăng nhìn ra hướng đông là Quảng trường Ba Đình. Lăng gồm ba lớp với chiều cao 21,6 mét. Lớp dưới kết cấu bậc nhiều cấp, có lễ đài dành cho đoàn chủ tịch khi mít tinh. Phần giữa là kết cấu trung tâm của lăng, gồm phòng thi hài, hành lang, cầu thang lên xuống. Phần trên là mái lăng được tạo dáng cách điệu bông sen nở. Mặt chính lăng có dòng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh” bằng đá hồng ngọc màu mận chín. Lăng là nơi lưu giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Cha già dân tộc, người đã được UNESCO tặng danh hiệu Danh nhân Văn hóa thế giới và Anh hùng giải phóng dân tộc nhân kỷ niệm 100 ngày sinh (1890 – 1990). Công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả lao động sáng tạo của nhiều nhà khoa học và công nhân hai nước Việt Nam – Liên Xô tỏ lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh và là sản phẩm của tình hữu nghị Việt – Xô. Lăng Bác quay về hướng Đông để đón ánh mặt trời, trước cửa lăng là quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi đây, ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã chứng kiến những giờ phút thiêng liêng nhất của dân tộc khi Hồ Chí Minh đứng trước quốc dân đồng bào đọc "Tuyên ngôn Độc lập" công bố với thế giới nền độc lập lâu bền của dân tộc Việt Nam ta. Quảng trường Ba Đình dài 320m, rộng 100m, chia thành 240 ô cỏ xanh tươi là hình tượng những chiếc chiếu trải trên sân đình ở các làng quê Việt Nam xưa, là nơi nhân dân đến dự các buổi lễ trọng thể. Phía tây của Quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chủ tịch. Tại đây còn có Bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn là nơi ở của Người, hồ cá, vườn cày, rặng dừa, những hàng rào dâm bụt.. Tất cả đã đi vào thơ ca Việt Nam: "Anh dẫn em vào cõi Bác xưa Vườn xoài hoa trắng nắng đu đưa Có hồ nước lặng sôi tôm cá Có bưởi cam thơm mát bóng dừa". (Tố Hữu) Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17-5-1958 cho tới khi Người qua đời. Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm. Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng, như cây vú sữa của đồng bào miền Nam gửi biếu Bác nàm 1954, bưởi Phúc Trạch, Biên Hòa, Mê Linh; cam Hải Hưng, Xuân Mai, Vần Du, Xã Đoài; quýt Hương Cần, Lý Nhân; táo Thiện Phiến, Ngọc Hồ, song mai Đông Mỹ; hồng Tiên Điền (quê hương nhà thơ Nguyễn Du). Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngàn hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê… Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử. Nhắc đến lăng Bác, lòng người lại rưng rưng trong niềm thương nhớ: "Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dăng bảy mươi chín mùa xuân" ("Viếng lăng Bác" — Viễn Phương)
Thuyết minh về quần thể lăng Bác
758
Thuyết minh về sự gia tăng dân số Hướng dẫn + Thuyết minh từ sách vở thời cổ đại: -Chuyện kén rể bằng bàn cờ tướng của nhà thông thái. -Chuyện từ Kỉnh thánh. + Thuyết minh từ thực tế: -Người phụ nữ có thể sinh nhiều con. -Nêu tỉ lệ sinh con ở một số nước. + Suy nghĩ thêm: -Ai cũng mong muốn có đủ cơm ăn, áo mặc, được học hành tử tế để mưu cầu hạnh phúc. -Trái đất không thể rộng thêm, dân số tăng nhiều như một số nước ở châu Phi, châu Á thì sẽ kéo theo nghèo nàn, thất học, lạc hậu… + Kêu gọi giảm tốc độ gia tăng dân số. I. Đọc bài văn thuyết minh xen lẫn tự sự của Thái An, người đọc chợt ngỡ ngàng đến thú vị. Ngỡ ngàng vì tác giả nêu sự việc có liên quan đến mình, gia đình mình,… mà mình không nghĩ tới. Thú vị là ở chỗ Thái An đã 11 luận cổ suy kim”để khơi gợi suy nghĩ và hành động của mỗi người, nhất là với những ai đã nên vợ nên chồng, về “bài toán dân số”,bởi đặc tính sinh hoạt của con người khác với muôn loài. II. Bài văn có 5 đoạn: đoạn đầu là phần mở hài, đoạn cuối là phần kết luận. Phần mở bài được viết bằng lôi văn tự sự nêu thẳng vấn đề: “Bài toán dân sô’đã được đặt ra từ thời cổđạVThái An đã không tin điều này. Điều ấy cũng đúng thôi vì thời cổ đại là thời cách nay dăm bảy ngàn năm về trước, lúc ấy số lượng người còn quá thưa thớt thì người cổ đại đặt ra “bài toán dân sổ”để làm gì mới được chứ! Vả lại “vân đề dân số và kế hoạch hóa gia đình chỉ mới được đặt ra vài chục năm nay” nên tác giả không tin là phải. Nhưng đó chỉ là phản ứng trước mắt có tính nhất thời. Hay nói đúng hơn là nghệ thuật nhận sự thiếu sót về mình trước khi trình bày cái đúng của vấn đề, như Thái An tâm sự: “Thế mà nghe xong câu chuyện này, qua một thoáng liên tưởng, tôi bỗng “sáng mắt ra”. Cái khéo của tác giả là dùng lối văn tự sự làm phần mở bài rồi dẫn qua lối văn thuyết minh ở phần thân bài bằng cách nêu một sự việc mấu chốt. Sự việc mâu chốt ở đây là “câu chuyện này”.Thế là “câu chuyện này” trở thành dẫn chứng để thuyết minh cho sự việc “bỗng sáng mắt ra” điều mà lúc đầu Thái An đã không tin. Và Thái An đi vào mạch văn kể. “£>ớ là câu chuyện từ một bài toán cổ, kể về việc kén rể của nhà thông thái. Nhà thông thái đưa ra một bàn cờ tướng gồm 64 ô. Ông yêu cầu các chàng trai thực hiện theo điều kiện sau: đặt 1 hạt thóc vào ô thứ nhất; ô thứ hai đặt 2 hạt thóc; và các ô tiếp theo số thóc cứ thê’ nhân đối. Ai đủ số thóc theo yêu cầu của bài toán sẽ là chồng cô gái”.Tất nhiên không có chàng trai nào có đủ số thóc đặt vào 64 ô cờ để trở thành chàng rể của nhà thông thái, bởi vì “số thóc được tính ra theo bài toán cấp số nhân ấy, nhiều đến mức có thể phủ khắp bề mặt trái đất này”.Khi đặt ra bài toán để kén rể, nhà thông thái thời cổ đại có nghĩ đến sự gia tăng dân số hay không thì không biết, nhưng với Thái An, khi kể lại, thì câu chuyện này có ẩn dụ về bài toán dân số. người: một chàng A-đam và một nàng E-va; thì đến năm 1995 dân số toàn thế giới là 5,63 tỉ người”.Dù A-đam và E-va là nhân vật có thật hay không thì vẫn không ảnh hưởng gì đến thực tế nam nữ trở thành chồng vợ và sự gia tăng dân số: từ hai người vào thuở khai thiên lập địa tới 5,63 tỉ người vào năm 1995, mà theo bài toán của nhà thông thái cổ đại kia thì số người đã ở vào ô thứ 30, với điều kiện là mỗi cặp vợ chồng chỉ được phép có 2 con. Thế nhưng trong thực tế thì không như thế vì “một người phụ nữ có khả năng sinh được rất nhiều con”.Và tác giả đưa ra con số thông kê do hội nghị Cai-rô (Ai Cập) họp ngày 5-9-1994 công bố thì “tỉ lệ sinh con của một phụ nữ Ân Độ là 4,5; Nê-pan: 6,3; Ru-an-đa: 8,1; Tan-da-ni-a: 6, 7; Ma-đa-gát-xca: 6,6… Tính chung toàn châu Phi là 5,8. Phụ nữ Việt Nam là 3,7″.Và tác giả còn cho biết thêm “với tỉ lệ hàng năm tăng 1,43% như mười lăm năm trước và 1,57% năm ỉ 990 thì dân sổ của hành tinh chúng ta năm 2015 sẽ là hơn7 tỉ người. Theo bài toán cổ trên, số dân ấy đã mon men sang ồ thứ 31 của bàn cờ”.Với tỉ lệ 1,73% và 1,57%, tức là dưới 2% mà chỉ 20 năm sau (1995-2015) dân số thế giới tăng tới trên 1,3 tỉ thì với con số tỉ lệ phụ nữ sinh con ở trên đều gấp đôi hoặc gấp ba tỉ lệ 2% thì tới năm 2015 dân số thế giới chắc chắn sẽ trên 7 tỉ. Còn nếu tính đổ đồng về sự tăng dân số theo ô bàn cờ của nhà thông thái thì cứ 20năm dân số lại ở vào ô kế tiếp. Nếu 2015 dân số ở ô 31 thì 660 năm sau, tức là năm 2675 dân số thế giới sẽ ở ô cuối cùng, ô 64! 660 năm cứ tưởng là dài so với đời một người, còn so với sự vĩnh cửu của nhân loại thì con sô” ấy là một đe dọa, là một cảnh báo “không tồn tại” của nhân loại quá rõ ràng, bởi vì tới lúc ấy diện tích dành cho mỗi con người trên mặt Trái Đất chỉ bằng diện tích một hạt thóc!
Thuyết minh về sự gia tăng dân số
1,040
Thuyết minh về thơ Đường – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Thơ Đường là một hiện tượng thi ca đặc biệt trong lịch sử văn học, kéo dài suốt từ thời nhà Đường, từ khi Đường Thái Tông dựng triều đại, cho đến khi nhà Đường kết thúc, ròng rã ba trăm năm (618 – 907). Số lượng có tới hàng vạn bài thơ của khoảng hai nghìn ba trăm nhà thơ… Trên cái nền vĩ đại ấy, có những thi hào nổi danh và trở thành những danh nhân thế giới như Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị… Một phong trào thơ, mở đầu và phát triển, luôn luôn có những tên tuổi mới, vượt trội lên. Phong cách của những nhà thơ nổi tiếng của đời Đường rất đa dạng: Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Trần Tử Ngang, Cao Thích, Lí Thương Ẩn, Trương Tịch, Đỗ Mục, Lưu Vũ Tích, Đỗ Tuân Hạc, Tào Đường… thơ của họ đã rất khác nhau, nói chi đến Lí Bạch và Đỗ Phủ. Đề tài thể hiện từ những sinh hoạt xa hoa của quý tộc, đến cảnh nghèo túng nhất của dân chúng, cảnh đời, cảnh tiên, núi non, sông nước, trận mạc, hoa cỏ… rất phong phú. Đề tài thơ này với đề tài thơ khác, mỗi đề tài lại có một vẻ đẹp riêng nhưng cũng có những phong vị chung. Vua chúa như Đường Thái Tông, Đường Cao Tông, Võ Tắc Thiên, Đường Huyền Tông, Hiến Tông, Mục Tông, Tuyên Tông; nữ thi sĩ như Đỗ Thu Nương, Trần Ngọc Lan, Dương Quý Phi…; hoặc những dân chúng bình thường ở thành thị hoặc thôn dã đều làm thơ, yêu thơ. Sinh hoạt ngâm thơ, thưởng thơ ở các nhà giàu đã đành, mà trong quân, những tiệc lớn của nhà vua hay Tết nhất, lễ hội của dân chúng, thơ cũng là một thứ được nhiều người mến mộ. Di sản đồ sộ và tinh hoa của thơ Đường đã trở thành niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa và là một trong những điểm sáng rực rỡ của văn hóa nhân loại. Không riêng gì thơ ca mà cả ngành khác như họa, nhạc, múa cũng đều phát triển. Do đó, ngành này đem lại vẻ đẹp cho những ngành khác. Thơ Đường rất trọng âm nhạc, hình ảnh, khắc họa. Sự trau chuốt, khổ công đi đôi với những cảm hứng tự nhiên. Không phải tự dưng hái được, mà do những kiến thức thu hái từ nhiều nguồn của các nhà thơ đời Đường. Vương Duy không những là một nhà thơ, còn là một họa sĩ, một nhà thư pháp. Do đó trong thơ ông thơ và họa kết hợp rất điêu luyện. Sau này, thi hào Tô Đông Pha đời Tống đã thốt lên rằng: “Mỗi bài thơ của ông (Vương Duy) là một bức họa, vá trong mỗi bức họa của ông lại có một bài thơ”. Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán, Cao Thích nghe hát ở Kì Đình, thẩm âm sành điệu chẳng khác gì nhạc công, nhạc sĩ… Thơ Đường sâu sắc về nội dung, đẹp về hình thức, hiện thực và lãng mạn đều đạt tới đỉnh cao… Trong thơ luật có hai tuyệt cú (bốn câu) và bát cú (tám câu), mỗi phần trong bài bát cú đều có quy tắc cụ thể để thành một quy định về cấu trúc (phá, thừa, thực, luận và kết). Ngoài ra, còn có luật bằng trắc, bắt buộc tạo thành âm điệu và vần, làm phong phú cho bài thơ. Thơ Đường có mấy thời kì như sơ Đường, thịnh Đường, trung Đường, vãn Đường. Cũng có nhiều nhà nghiên cứu chỉ chia gọn làm ba thời kì là sơ, thịnh và vãn hoặc sơ, trung và vãn. Mỗi thời kì đều có những nhà thơ tiêu biểu. Tags:Văn 8
Thuyết minh về thơ Đường – Đề và văn mẫu 8
649
Thuyết minh về thể loại truyện ngắn theo hiểu biết của em (chiếc lá cuối cùng) Hướng dẫn Từ trước tới nay, chúng ta đã đọc nhiều tác phẩm với nhiều thể loại: truyền thuyết, truyện cười, truyện ngắn, tiểu thuyết,… Nhưng thích nhất vẫn là truyện ngắn. Nó có nhiều điểm khác với các thể loại truyện khác. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về truyện ngắn. Truyện ngắn đúng là rất ngắn, phù hợp với tên gọi của truyện, đó là một hình thức tự sự nhỏ. Truyện ngắn có dung lượng nhỏ, kể người thật việc thật nên nó không giống các thể loại khác (truyền thuyết là truyện dân gian truyền miệng, truyện cười gây cười,…). Truyện ngắn khắc sâu vào lòng người đọc một hình ảnh, một suy nghĩ sâu sắc, một ấn tượng khó phai vì vậy khi đọc truyện ngắn dù chỉ một lần cũng nhớ mãi về nội dung của nó. Truyện ngắn thường tập trung mô tả một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó, một khía cạnh của tính cách nhân vật, thể hiện một mặt nào đó của đời sống xã hội đương thời. Như trong tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao, truyện đã tập trung mô tả một mảng cuộc sống của lão Hạc, đưa ra một hoàn cảnh éo le: con trai lão không lấy được người yêu, bỏ làng ra đi để lại người cha già và con chó Vàng. Người con trai ra đi có thể sẽ không bao giờ trở về nhưng lão Hạc cứ mong đợi, dành dụm chắt chiu cho con. Cuôl cùng lão đã phải ra đi, phải lìa xa cõi đời để giữ được tiền cho con. Lão là một nạn nhân, qua đó, tác phẩm đã tố cáo xã hội đương thời xấu xa, người tốt phải chết để giữ được nhân phẩm của mình. Tác phẩm khắc sâu vào lòng người đọc bằng nghệ thuật của truyện ngắn. Các tác phẩm truyện ngắn thường nêu cao phẩm chất của con người, phê phán thói hư tật xấu, giáo dục con người đi theo hướng tích cực. Truyện Chiếc lá cuối cùng của OHen-ri đã đề cao lòng nhân đạo, sự hi sinh cao cả của cụ Bơ-men, một họa sĩ nghèo, để cứu mạng sống cho Giôn-xi, một cô họa sĩ cũng rất nghèo, mắc bệnh sưng phổi đang trong cơn tuyệt vọng. Sự hi sinh này làm người đọc thấy cảm động. Dung lượng của truyện ngắn tuy nhỏ nhưng nội dung của truyện ngắn sâu sắc. Truyện ngắn thường ít nhân vật và sự kiện. Tuy nhiên, những nhân vật và những sự kiện đó phải thật đặc sắc, nổi bật, có ý nghĩa sâu rộng bao quát toàn bài viết. Cốt truyện đơn giản, đời sống nhân vật phức tạp, diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Truyện ngắn không kể trọn vẹn một quá trình biến đổi, một quá trình sống của một đời người mà nó thường chọn lấy những khoảnh khắc, lát cắt quan trọng, bất ngờ, đặc biệt để thể hiện. Sự sắp đặt bố cục, các biện pháp tu từ, những phép đối chiếu, tương phản, lời kể hấp dẫn, mạch lạc, giàu cảm xúc, hình ảnh đã làm bật chủ đề chính của truyện, chủ đề ấy có thể ẩn sâu bên trong các sự kiện, nhân vật,… cũng có thể bộc lộ một cách rõ ràng. Truyện ngắn do đó ngắn nhưng hay, hấp dẫn người đọc.
Thuyết minh về thể loại truyện ngắn theo hiểu biết của em (chiếc lá cuối cùng)
594
Đề bài: Thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật Bài làm Thể thơ thất ngôn bát cú được hình thành từ thời nhà Đường. Một thời gian dài trong chế độ phong kiến, thể thơ này đã được dùng cho việc thi cử tuyển chọn nhân tài. Thể thơ này đã được phổ biến ở nước ta vào thời Bắc thuộc và chủ yếu được những cây bút quý tộc sử dụng. Cấu trúc bài thơ thất ngôn bát cú gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Nếu tiếng thứ hai của câu 1 là vẫn bằng thì gọi là thể bằng, là vần trắc thì gọi là thể trắc. Thể thơ quy định rất nghiêm ngặt về luật bằng trắc. Luật bằng trắc này đã tạo nên một mạng âm thanh tinh xảo, uyển chuyển cân đối làm lời thơ cứ du dương như một bản tình ca. Người ta đã có những câu nối vấn đề về luật lệ của bằng trác trong từng tiếng ở mỗi câu thơ: các tiếng nhất – tam – ngũ bất luận còn các tiếng: nhị – tứ – lục phân minh. Tuy nhiên trong quá trình sáng tác bằng sự sáng tạo của mình, các tác giả đã làm giảm bớt tính gò bó, nghiêm ngặt của luật bằng – trắc để tâm hồn lãng mạn có thể bay bổng trong từng câu thơ. Ví dụ trong bài "Qua Đèo Ngang" được viết theo thể bãng: Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà t T b B t T B Cỏ cây chen đá lá chen hoa t B b T t B B Về vần, thể thơ thường có vần bằng được gieo ở tiếng cuối các câu 1-2-4-6-8. Vần vừa tạo sự liên kết ý nghĩa vừa có tác dụng tạo nén tính nhạc cho thơ. Ví dụ trong bài "Qua Đèo Ngang”, vẫn được gieo là vần "a". Thể thơ còn có sự giống nhau về mặt âm thanh ở tiếng thứ 2 trong các cặp câu: 1 – 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7. Chính điều này tạo cho bài thơ một kết cấu chặt chẽ và nhịp nhàng trong âm thanh. Trong bài thơ "Qua Đèo Ngang": câu 1 – 8 giống nhau ở tất cả các tiếng, trừ tiếng thứ 6 (TTBBTB) câu 2-3 giống nhau ở các tiếng 2, 4, 6 (BTB)… Vế đối, thể thơ có đối ngẫu tương hỗ hoặc đối ngẫu tương phản ở các câu: 3 – 4, 5 – 6. Ở bài thơ "Qua Đèo Ngang" câu 3 – 4 hỗ trợ nhau để bộc lộ sự sống thưa thớt, ít ỏi của con người giữa núi đèo hoang sơ, câu 5-6 cùng bộc lộ nỗi nhớ nước thương nhà của tác giả. Các câu đối cả về từ loại, âm thanh, ý nghĩa. Cấu trúc của thể thơ thất ngôn bát cú gồm bốn phần: Hai câu đề nêu cảm nghĩ chung về người, cảnh vật, hai câu thực miêu tả chi tiết về cảnh, việc, tình để làm rõ cho cảm xúc nêu ở hai câu đề; hai câu luận: bàn luận, mở rộng cảm xúc, thường nêu ý tưởng chính của nhà thơ; hai câu kết: khép lại bài thơ đồng thời nhấn mạnh những cảm xúc đã được giãi bày ở trên. Cấu trúc như vậy sẽ làm tác giả bộc lộ được tất cả nguồn cảm hứng sáng tác, ngạch cảm xúc mãnh liệt để viết lên những bài thơ bất hủ. Còn về cách ngắt nhịp của thể thơ, phổ biến là 3 – 4 hoặc 4 – 3 (2 – 2 – 3; 3 – 2 – 2). Cách ngắt nhịp tạo nên một nhịp điệu êm đềm, trôi theo từng dòng cảm xúc của nhà thơ. Thể thơ thất ngôn bát cú thực sự là một thể tuyệt tác thích hợp để bộc lộ những tình cảm da diết, mãnh liệt đến cháy bỏng đối với quê hương đất nước thiên nhiên. Chính điều đó đã làm tăng vẻ đẹp bình dị của thể thơ. Có những nhà thơ với nguồn cảm hứng mênh mông vô tận đã vượt lên trên sự nghiêm ngặt của thể thơ phá vỡ cấu trúc vần, đối để thể hiện tư tưởng tình cảm của mình. Tóm lại, thể thơ thất ngôn bát cú mãi mãi là một trang giấy thơm tho để muôn nhà thơ viết lên những sáng tác nghệ thuật cao quý cho đời sau.
Thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật
748
Đề bài: Thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú Bài làm Trong lịch sử hình thành thể thơ thất ngôn bát cú được sách cũ ghi lại và xuất hiện trong các tác phẩm văn chương trong đời Đường. Thể thơ này cũng lại được dùng ở một thời gian khá dài, trong chế độ phong kiến và sử dụng trong việc tuyển chọn nhân tài. Có thể nhận thấy được thể thơ này cũng được dùng phổ biến vào nước ta trong thời kì Bắc thuộc. Thể thơ hấp dẫn những cây bút quý tộc sử dụng. Có thể nhận thấy được chính cấu trúc bài thơ thất ngôn bát cú gồm 8 câu, người ta nhận thấy được ở mỗi câu 7 chữ. Còn nếu như tiếng thứ hai của câu thứ nhất chính là vẫn bằng thì gọi là thể bằng, còn nếu như là vần trắc thì gọi là thể trắc. Có thể nhận thấy được chính thể thơ cũng đã quy định rất nghiêm ngặt về luật bằng trắc. Trong thơ thất ngôn bát cú thì luật bằng trắc này đã tạo nên một mạng âm thanh tinh xảo, luôn mang được một sự uyển chuyển cân đối để làm lời thơ cứ du dương như một bản tình ca thật da diết, giống như những đợt sóng dâng trào nhưng cứ nhịp nhàng từng đợt từng đợt một. Khi người ta đã có những câu nối vấn đề về luật lệ của luật bằng trắc chính trong từng tiếng ở mỗi câu thơ trong bài. Dễ nhận thấy được chính các tiếng đó là nhất – tam – ngũ còn các tiếng như nhị – tứ – lục phân minh. Bên cạnh đó thì chính trong quá trình sáng tác bằng sự sáng tạo của chính mình, các tác giả lại có giảm đi tính gò bó cũng như sự nghiêm ngặt vốn có của thơ Đường luật cũng đã làm giảm bớt tính gò bó để khiến cho tâm hồn lãng mạn có thể bay bổng, nhẹ nhàng và sáng tạo chính trong từng câu thơ. Thêm một ví dụng rất rõ được thể hiện chính trong bài “Qua Đèo Ngang” được viết theo thể bằng được thể hiện: Chúng ta có thể biết ngay về vần cũng như về thể thơ thường có vần bằng được gieo ở tiếng cuối ở chính trong các câu 1-2-4-6-8. Các vần này dường như cũng đã vừa tạo sự liên kết ý nghĩa và độc đáo, chúng lại vừa có tác dụng tạo nên tính nhạc cho thơ càng thấy được sự hấp dẫn trong bài. Điều này còn thể hiện trong bài “Qua Đèo Ngang”, thì chính vẫn được gieo là vần “a” khiến cho câu thơ cứ vang vọng hơn thật lâu. Thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú Thêm nữa đó là thể thơ Đường luật còn có sự tương đồng với nhau về mặt âm thanh ở tiếng thứ 2 chính trong các cặp câu đó là các cặp 1 – 8, 2 – 3, 4 – 5, 6 – 7. Thông qua đây ta nhận thấy được thể thơ Đường luật cũng có một kết cấu chặt chẽ và nhịp nhàng trong âm thanh. Thi phẩm “Qua Đèo Ngang” có câu 1 – 8 giống nhau ở tất cả các tiếng, ngoại trừ tiếng thứ 6 (TTBBTB), còn đối với câu 2-3 giống nhau ở các tiếng 2, 4, 6 (BTB). Xét về vế đối, người ta cũng nhận thấy được rằng thể thơ có đối ngẫu tương hỗ cũng như đối ngẫu tương phản ở các câu đó chính là 3 – 4, 5 – 6. Xét về mặt cấu trúc của thể thơ thất ngôn bát cú gồm bốn phần rõ ràng. Đối với hai câu đề nêu cảm nghĩ chung về người suy nghĩ về cảnh vật, người ta nhận thấy được hai câu thực cũng được miêu tả chi tiết về cảnh vật, sự việt để có thể làm rõ cho cảm xúc nêu ở hai câu đề. Tiếp đến là đến hai câu luận có nhiệm vụ để có thể bàn luận, từ đây tác giả cũng có thể mở rộng ra được thêm những cảm xúc. Ở phần này cũng thường nêu ý tưởng chính của nhà thơ thể hiện. Tiếp đến chính là ở hai câu kết dùng để khép lại bài thơ đồng thời cũng lại nêu được một sự nhấn mạnh những cảm xúc đã được giãi bày ở các câu thơ trên. Người đọc cũng thấy được với cấu trúc khá chặt chẽ như này như cũng khiến cho tác giả có thể bộc lộ được nguồn cảm hứng sáng tác và một mạch cảm xúc vô cùng mãnh liệt để có thể viết lên, sáng tạo thêm được những sáng tác để đời. Thực sự có thể nhận thấy được chính thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật cũng thực sự là một thể tuyệt tác vô cùng thích hợp để bộc lộ được những tình cảm da diết, tình cảm mãnh liệt. Bên cạnh đó có những nhà thơ với nguồn cảm hứng mênh mông vô tận họ cũng đã phá vỡ cấu trúc của luật thơ để sáng tạo ra một sáng tác nghệ thuật độc đáo. Minh Nguyệt
Thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú
888
Thuyết minh về Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương Hướng dẫn Thuyết minh về Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương Trích Diếm Thi tập được biên soạn bởi tác giả Hoàng Đức Lương, bài thơ bao gồm những bài thơ hay. Ông sinh ra ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, sau này ở huyện Gia Lâm, Hà Nội, đỗ tiến sĩ năm 1478. Người ta nhắc tới Hoàng Đức Lương với những nét nổi bật như là một trí thức giàu lòng yêu nước bên cạnh đó ông ý thức về nền văn hiến dân tộc như là một bộ phận cấu thành của ý thức độc lập dân tộc. Trích Diễm thi tập từ khi ra đời đã gây được tiếng vang lớn cho người đoc và những người yêu văn chương Về tác phẩm, Trích diễm thi tập đã được Hoàng Đức Lương nói rõ trong bài Tựa của ông biểu hiện của tấm lòng trân trọng đối với di sản tinh thần, một việc làm cụ thể nhằm bổ cứu cho tình trạng mất mát đáng tiếc trong lịch sử văn học Việt Nam cũng chính là ý thức muốn góp phần vào việc xây đắp truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt, nnâng cao thêm uy tín và địa vị tự chủ của nước nhà Việt Nam trên thế giới Bài tựa được được viết vào năm 1497 qua đó nhằm thể hiện niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của Hoàng Đức Lương trong việc bảo tồn gìn giữ những di sản văn học của ông cha ta đẻ lại từ bao đời nay bên cạnh đó, nhắc nhở các thế hệ sau hãy trân trọng và yêu quý di sản văn học của dân tộc mình. Trong sáng tác văn chương chỉ có thi sĩ nhà thơ mới thấy được cái hay cái đẹp trong thi ca của họ mà thôicho nên thơ ca không được lưu truyền, bởi đã không ai hiểu chỉ có những nhà thơ mới hiểu thì làm sao có thể truyền lưu được. Thứ hai là người có học, bản thân họ luôn luôn bận rộn trong quan trường và khoa cử cho nên ít có thời gian dành cho thơ ca. Điều thứ ba là có người quan tâm về thơ ca nhưng lại không đủ năng lượng và kiên trì. Họ thiếu tâm huyết và lòng nhiệt thành đối với thi ca Và cuối cùng một lí do cũng góp phần vào nguyên nhân tại sao mà thơ ca không được lưu truyền đó chính là do Chưa có lệnh lưu truyền thơ ca do nhà vua Ban hành Trước những mối lo ngại và đe dọa khiến cho thơ ca của nước ta không được lưu truyền thì nó trở thành một thách. Cho nên đứng trước thềm ấy Ông quyết định sưu tầm thơ của các nhà thơ xưa thành một quyển. Hoàng Đức Lương mong muốn làm thơ thì chỉ có thể là dựa vào những thơ bách gia thời nhà Đườngvà nó còn xuất phát từ những nhu cầu bức thiết trong việc gìn giữ những văn hiến của dân tộc. Việc làm của ông là hết sức lớn lao mang tầm vóc của một dân tộc với nền văn hiến cần được gìn giữ phát huy Qua những phân tích và đánh giá thì những quan điểm của Hoàng Đức Lương cùng với những lí lẻ của ông hco chúng ta thất được những quan điểm cũng như những ý kiến, trách nhiệm của ôngvề việc gìn giữ nền văn hiên văn hóa dân tộc ta. Cho nên, những hậu thế như chúng ta phải biết nâng cao nhận thúc và trân trọng những điều như vậy. Nguồn: Bài văn hay
Thuyết minh về Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương
626
Đề bài: Thuyết minh về “trò chơi dân gian” Bài làm Những đứa trẻ sinh ra ở những vùng nông thôn Việt Nam, luôn gắn bó với nhiều trò chơi dân gian vô cùng quen thuộc được cha ông ta để lại như” Rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê, nhảy dây, đánh đáo hay trốn tìm….Những trò chơi này gắn liền với tuổi thơ của nhiều bạn vùng nông thôn nhất là khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Nó đã trở thành những ký ức tuổi thơ ngọt ngào khó phai trong mỗi chúng ta. Trò chơi dân gian là những trò chơi có tính chất tiếp nối lưu truyền từ đời này sang đời khác, có nguồn gốc từ rất lâu mà không ai biết được do ai tạo ra. Trò chơi dân gian thường được tổ chức với rất đông người tham gia, tạo thành từng nhóm, từng nhóm bạn sẽ vui hơn. Nó tạo được sự gắn kết giữa các bạn với nhau, khi tham gia chơi chung các bạn trở nên vui vẻ, thân thiện và hòa đồng với nhau hơn. Tạo ra những kỷ niệm khó quên với tuổi thơ của mỗi người. Trò chơi dân gian “Trốn tìm” là trò chơi dễ chơi, dễ thực hiện, ở bất kỳ chỗ nào cũng có thể chơi được. Nó thường thu hút một nhóm người tham gia từ năm tới bảy bạn thậm chí nhiều hơn. Trong đó các bạn sẽ oẳn tù tì xem ai là người thua cuộc sẽ phải dùng một chiếc khăn buộc chặt vùng mắt lại không cho nhìn thấy. Trò chơi “Trốn tìm” thường được tổ chức chơi ở những bãi đất trống rộng rãi tiện cho việc các bạn vui chơi chạy nhảy, và cũng tiện cho việc đuổi bắt.Khi người phải đi tìm tìm lâu mà không thấy bạn nào xuất hiện sẽ có tâm trạng mệt mỏi, chán nản thì thì các bạn đang đi ẩn trốn sẽ lên tiếng động gì đó để bạn đi tìm có chút manh mối động lực để chơi tiếp. Trốn tìm là một nét văn hóa của trẻ em các vùng nông thôn, đồng bằng những vùng quê ở Việt Nam, tất cả các bạn những ai đã lớn lên ở vùng nông thôn thì đều biết trò này sẽ ít hay nhiều từng tham gia trò chơi này. Nó đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu, gắn liền với tuổi thơ bình yên, dịu êm của chúng ta khi còn thơ bé. Khi tham gia trò chơi trốn tìm người chơi được trải qua những giây phút vô cùng căng thẳng phải lẩn trốn sợ ai đó tìm thấy mình, cảm giác đó vừa hồi hộp vừa vui mừng. Khi các bạn là người đi tìm cảm giác lo lắng, xót ruột tăng lên khi không tìm thấy ai, vì các bạn kia trốn kỹ quá thì mình sẽ tiếp tục phải bịt mắt đi tìm chứ không được làm người đi trốn.
Thuyết minh về trò chơi dân gian
503
Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều- Văn lớp 9 Hướng dẫn Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều- Văn lớp 9 Bài làm Nguyễn Du là một tác giả xuất sắc, một nhân tài kiệt xuất của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nguyễn Du là một trong bốn danh nhân văn hóa thế giới. Những tác phẩm của ông đều để lại những tiếng vang lớn, thể hiện tình cảm, giá trị nhân văn của tác giả với những số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Với tấm lòng nhân đạo tha thiết và tài năng xuất chúng của mình. Tác giả Nguyễn Du đã để lại những ấn tượng sâu sắc khó phai mờ trong lòng người đọc về nghệ thuật chơi chữ, tả cảnh ngụ tình, thể hiện ông là một nhà thơ vừa có tâm vừa có tài trong nghệ thuật sáng tác. Ngay từ khi còn nhỏ Nguyễn Du cũng là người có tài năng văn chương xuất chúng. Ông là bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Ông là một tác giả kiệt xuất trong nền văn học trung đại Việt Nam thời bấy giờ. Trong sự nghiệp sáng tác của mình Nguyễn Du có nhiều sự bứt phá trong sáng tạo về cả nền thơ ca chữ Nôm và chữ Hán. Ông để lại nhiều tác phẩm hay như tập Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Về văn chương chữ Nôm Nguyễn Du nổi tiếng bởi cuốn sách nổi tiếng là Văn chiêu hồn, Truyện Kiều hay còn gọi là Đoạn trường tân thanh. Tác phẩm này được sáng tác trên cuốn tiểu thuyết Kim Vân Kiều Truyện của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân nước Trung Hoa, kể về cuộc đời có thật của người con gái Thúy Kiều, nhưng gặp nhiều tai ương trong cuộc sống. Thông qua tác phẩm của mình tác giả Nguyễn Du muốn tố cáo tội ác của xã hội phong kiến lúc bấy giờ, khi họ đã trọng nam khinh nữ, chà đạp lên số phận của những người con gái bất hạnh. Chính sự bất công của cuộc đời đã đẩy người con gái tài sắc vẹn toàn như Thúy Kiều tới bước đường cùng nhiều lần phải rơi vào chốn lầu xanh, nhiều lần tìm tới cái chết nhưng không thành công. Qua những lời thơ ngọt ngào, nhiều tình nhân đạo sâu sắc tác giả Nguyễn Du đã thể hiện sự cảm thông của mình với những số phận người phụ nữ đau khổ, trái ngang bị cuộc đời chèn ép, xô đẩy tới con đường cùng. Thông qua tác phẩm Truyện Kiều thể hiện nhân sinh quan, thái độ sống của tác giả Nguyễn Du với cuộc đời, với những người con gái hồng nhan đa truân gặp nhiều gian khổ trong cuộc sống. Thông qua đó, tác giả Nguyễn Du cũng muốn tố cáo tội ác của chế độ phong kiến, một chế độ bất công trọng nam khinh nữ, coi thân phận người con gái rẻ mạt, kiếp sống lẽ mọn Thúy Kiều cũng là người vô cùng tài năng, khi mà cô có thể giỏi cả cầm-kỳ-thi-họa, tài sắc vẹn toàn mười phân vẹn mười. Xưa nay trong nhân gian những cô gái đẹp thường không thông minh. Nhưng Thúy Kiều là trường hợp đặc biệt, cô vừa thông minh vừa xinh đẹp xưa nay hiếm thấy. Một cô gái tài sắc như vậy đáng lẽ ra phải gặp nhiều may mắn hạnh phúc trong cuộc sống. Nhưng Thúy Kiều lại gặp nhiều éo le, trắc trở, bởi cô là người con có hiếu. Khi gia đình gặp tai biến, cô đã hy sinh thân mình sẵn sàng bán mình chuộc cha và em trai ra khỏi chốn lao tù. Hành động báo hiếu của Thúy Kiều khiến nhiều người phải đau xót chua chát, cho một cô gái nhan sắc vẹn toàn nhưng lại gặp bất hạnh trong cuộc sống. Thúy Kiều phải hy sinh thân mình hy sinh tình cảm riêng tư của mình để báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Một sự hy sinh cao cả của người con gái hiếu thảo. Cũng từ đây, cuộc đời của Thúy Kiều gặp nhiều éo le trắc trở cô gặp những cảnh bất hạnh dở khóc dở cười, hết lần này tới lần khác bị bán vào chốn lầu xanh, thành gái làng chơi mua vui cho những tên đàn ông nhiều tiền. Phải sa chân vào chốn nhơ nhuốc ngàn năm không thể rửa sạch. Thúy Kiều bị Tú Bà, Bạc Bà ép tiếp khách… được Từ Hải cứu giúp chuộc thân nhưng rồi Từ Hải cũng chết Thúy Kiều không nơi nương tựa. Tất cả những long đong lận đận 15 gian truân mà Kiều trải qua không gì sánh được. Thúy Kiều cũng hai lần tự vẫn trên sông Tiền Đường nhưng được sư Giác Duyên cứu giúp. Rồi cuối cùng Thúy Kiều gặp lại Kim Trọng được đưa về quê hương sau 15 năm lưu lạc. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm kinh điển thể hiện rõ giá trị nhân văn, giá trị nghệ thuật của tác phẩm vượt mọi không gian và thời gian. Cho tới hôm nay thì Truyện Kiều vẫn còn sống mãi trong lòng bạn đọc.
Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều- Văn lớp 9
892
Đề bài: Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du Bài làm Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1866 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn. Thân sinh ông là Hoàng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận công triều Lê. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng. 13 tuổi lại mồ côi mẹ, ông phải ở với người anh là Nguyễn Khản. Đời sống của người anh tài hoa phong nhã, lớn hơn ông 31 tuổi này rất có ảnh hưởng tới nhà thơ. Sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ. Về văn thơ nôm, các sáng tác của ông có thể chia thành 3 giai đoạn. Thời gian sống ở Tiên Điền – Nghi Xuân đến 1802, ông viết “Thác lời trai phường nón Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”. Đây là 2 bản tình ca thể hiện rất rõ tâm tính của ông, sự hoà biểu tâm hồn tác giả với thiên nhiên, với con người. Ba tập thơ chữ Hán thì “Thanh hiên thi tập” gồm 78 bài, viết lúc ở Quỳnh Côi và những năm mới về Tiên Điền, là lời trăn trở chốn long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trước cảnh đời loạn lạc. Sau 1809, những sáng tác thơ của ông tập hợp trong tập “Nam Trung Tạp Ngâm” gồm 40 bài đầy cảm hứng, của tâm sự, nỗi niềm u uất. Truyện Kiều được Nguyễn Du chuyển dịch, sáng tạo từ cuốn tiểu thuyết “Truyện Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân, tên thật là Tử Văn Trường, quê ở huyện Sơn Am, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. Truyện Kiều đã được nhân dân ta đón nhận một cách say sưa, có nhiều lúc đã trở thành vấn đề xã hội, tiêu biểu là cuộc tranh luận xung quanh luận đề “Chánh học và tà thuyết” giữa cụ Nghè Ngô Đức Kế và ông Phạm Quỳnh thu hút rất nhiều người của 2 phía cùng luận chiến. Không chỉ ảnh hưởng sâu sắc trong tầng lớp thị dân, Truyện Kiều còn được tầng lớp trên say mê đọc, luận. Vua Minh Mạng là người đầu tiên đứng ra chủ trì mở văn đàn ngâm vịnh truyện Kiều và sai các quan ở Hàn Lâm Viện chép lại cho đời sau. Đến đời Tự Đức, nhà vua thường triệu tập các vị khoa bảng trong triều đến viết và vịnh Truyện Kiều ở văn đàn, ở Khu Văn Lâu. Ngày nay, Truyện Kiều vẫn đang được các nhà xuất bản in với số lượng lớn, được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá cao Truyện Kiều. Dịch giả người Pháp Rơ-Ne-Crir-Sắc khi dịch Truyện Kiều đã viết bài nghiên cứu dài 96 trang, có đoạn viết: “Kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh một cách xứng đáng với kiệt tác của bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào”. Ông so sánh với văn học Pháp: “Trong tất cả các nền văn chương Pháp không một tác phẩm nào được phổ thông, được toàn dân sùng kính và yêu chuộng bằng quyển truyện này ở Việt Nam”. Và ông kết luận: “Sung sướng thay bậc thi sĩ với một tác phẩm độc nhất vô nhị đã làm rung động và ca vang tất cả tâm hồn của một dân tộc”. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du. Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân.
Thuyết minh về tác giả Nguyễn Du
836
Thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và Phú sông Bạch Đằng Hướng dẫn Thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và Phú sông Bạch Đằng Trương Hán Siêu sinh năm (?-1354). Tự là Thăng Phủ, người làng Phúc An, huyện Yên Ninh (nay thuộc thành phố Ninh Bình). Ông vốn là môn khách của Trần Hưng Đạo, là một danh sĩ thời Trần. Năm 1351 ông được thăng tham tri chính sự. Khi mất ông được vua tặng tước Thái Bảo,Thái phó và được thở ở Văn Miếu (Hà Nội). Trương Hán Siêu được người đời nhận xét là một người có tình tình cương trực, hào phóng có tâm hồn lãng mạn, thích đi du ngoạn và tìm cho mình một phong cảnh tuyệt vời. Và ông đã tìm đến Phú sông Bạch Đằng để ngắm cảnh thiên nhiên ở đây. Như ta đã biết, Phú sông Bạch Đằng là một nhánh sông đổ ra biển Đông nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng nơi ghi dấu những chiến công lịch sử của dân tộc, đáng nhớ nhất là chiến thắng năm 938 của Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán và năm 1288 của Trần Quốc Tuấn đánh tan quân Mông- Nguyên. Tác phẩm Phú sông Bạch Đằng được viết bằng chữ Hán, Bùi Văn Nguyên đã dịch khá thành công áng văn này. Phú là một thể văn cổ dung để tả cảnh vật, phong tục, hoặc tính tình. Mỗi bài phú thường bao gồm bốn phần. Ở bài Phú sông Bạch Đằng cũng không ngoại lệ, phần một của bài phú này từ đầu cho đến tiếc thay dấu vết luống còn lưu, phần này giới thiệu về nhân vật khách khi du ngoại ở sông Bạch Đằng. Với câu thơ “Khách” có kẻ trong bài phú là nơi nhà cao ghế tựa, trưa mùa hạ nắng nóng, áo trong ngắn, làn nước biếc. “Khách” ở đây Mạch Đình Chi đã biểu lộ tấm lòng thanh cao, chí khí, hoài bão của kẻ sĩ ở đời. Trương Hán Siêu là một danh sĩ nổi tiếng, với chín câu đầu cho ta thấy Trương Hán Siêu có tâm hồn hiểu biết rộng, có chí khí lớn, ham thích với cuộc sống phong ba cùng thiên nhiên mây gió, thích thú tiêu dao và tâm hồn tự do. Đêm thì “chơi trăng” ngày thì “sớm gõ thuyền chờ Vũ Nguyệt”. Các danh lam thắng cảnh trong bài phú như: Nguyên Tương, Cửu Giang, Ngũ Hổ, Tam Ngô, Bách Việt…. đều ở trên đất nước Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá tính, một tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết lấy việc du ngoạn làm niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “Giang hồ” của mình, bên cạnh đó với đoạn thơ: Đầm vân mộng chứa vài trăm dạ cũng nhiều Bát ngát song kình muôn dặm Thướt tha đuôi trĩ một màu Đã nói lên cảnh đẹp hùng vĩ, bát ngát ngoài ra còn thể hiện được cảnh đẹp đó là một danh lam thắng cảnh của đất nước. Qua phần hai “từ đoạn tiếp theo cho đến hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã”. Cuộc gặp gỡ bên sông và câu chuyện bô lão, các bô lão đã đón tiếp khách rất chu đáo và hiếu khách. Các bô lão là người kể chuyện và cũng là người bình luận những chiến tích xưa. Đặc biệt hơn, các bô lão cũng là người đã từng tham gia trận chiến và nhân vật “Khách” đã đối thoại để bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình với các bô lão xuất hiện giữa lúc nhân vật “Khách” đang ngậm ngùi nhớ tiếc. Với giọng kể hào hùng, rành rọt và sôi nổi như đang diễn ra chiến tranh vậy. Đúng là cảm hứng của những người trong cuộc. Phần ba là tiếp theo cho đến nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh. Lời bình của các bô lão đã nhấn mạnh những trận chiến lẫy lừng và các nhân tài, đồng thời đã mang ý nghĩa tổng kết giống như tuyên ngôn chân lý. Phần bốn là phần còn lại. Đây là lời bình của nhân vật khách, đây là lời tiếp nối lời các bô lão, là bài ca ngợi sự anh minh của vị thánh quân, ca ngợi giá trị cảu những chiến công, đem lại nền thái bình muôn thuở. Tiếp nối phần bình luận của các vị bô lão về lịch sử. Hai câu cuối của bài ca này là lời kết thúc một chân lý về mối quan hệ giữa đất hiểm và người tài.
Thuyết minh về tác giả Trương Hán Siêu và Phú sông Bạch Đằng
784
Thuyết minh về tác hại của ma túy hoặc của rượu, của thuốc lá Hướng dẫn Thuyết minh về tác hại của ma túy hoặc của rượu, của thuốc lá Xã hội càng phát triển điều ấy cũng đồng nghĩa với việc các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng và càng hoạt động khó lường. Mỗi quốc gia đều phải đối mặt với những khó khăn riêng dù ít nhiều trên mọi lĩnh vực. Với nước ta thì hiện nay thực trạng sử dụng và nghiện ma túy càng trở nên nghiêm trọng và đáng báo động, đặc biệt là trong giới trẻ. Nước ta còn đang trong thời kì phát triển, trong khi đó lực lượng nòng cốt để đưa xã hội phát triển đi lên lại đang rơi vào những cám dỗ của ma túy như vậy thật đáng buồn và đáng lo ngại thay. Thực trạng sử dụng và nghiện ma túy của nước ta đang diễn biến khôn lường và phức tạp, đến các vùng nông thôn cũng đã dần xuất hiện dấu hiệu của việc sử dụng ma túy, từ đó đủ đế thấy ảnh hưởng khủng khiếp của chúng như thế nào. Mỗi năm có hàng trăm vụ nghiện hút và bị chết hoặc gặp những éo le về hạnh phúc gia đình do ma túy gây nên. Ma túy giống như một con tằm khổng lồ và đáng sợ đang gặm nhấm dần dần sức khỏe và phá hủy sự bền vững và an toàn của cả một cộng đồng. Vậy nguyên nhân do đâu? Có thể giải thích bằng một trong số những lí do sau. Do sự phát triển của xã hội, các tệ nạn chính là những luồng khí độc mà nước ta bị ảnh hưởng, đấy hẳn là điều không tránh khỏi. Nhưng khách quan chưa bao giờ đáng sợ bằng chủ quan. Vâng, chính con người và bản thân người sử dụng mới là vũ khí tự hạ chết chính mình. Do ham muốn tìm tòi, khám phá cái mới mẻ nên với suy nghĩ dùng thử, rồi dần thành nghiện. Do tâm lí của tuổi trẻ thích học đòi làm người lớn, thích thể hiện và ra oai với bạn bè, thích bắt chước. Một số gia đình vì có điều kiện về kinh tế nên chiều chuộng sinh hư con cái, dẫn đến chúng bị sa đà theo thói ăn chơi phè phỡn, thừa giấy vẽ voi sớm sa chân lỡ bước vào những thứ như ma túy, thuốc phiện là điều dễ hiểu. Trên đây chỉ là một số nguyên nhân của việc nghiện ma túy, nhưng điều đáng buồn hơn nữa là người nghiện hút không ý thức được tác hại ghê gớm của con quái vật này. Không chỉ với bản thân mà nghiện ma túy còn gây ra tác hại với gia đình. Mỗi khi lên cơn nghiện, con nghện còn sẵn sàng phá hủy, đập vỡ mọi thử để đe dọa thậm chí giết người. Rồi gia đình có người nghiện hút kinh tế mau chóng suy sụp, tán gia bại sản do tiền để sử dụng là quá lớn. Sức khỏe các thành viên cũng bị ảnh hưởng khi phải thường xuyên lo lắng, bất an, mặc cảm trước mọi người. Bản thân, gia đình đến cả xã hội cũng bị ảnh hưởng: gây mất trật tự, rối loạn an ninh xã hội, các tệ nạn như lừa đảo, trộm cắp hoành hành, thâm chí giết người cướp của. Làm mất đi thuần phong, văn hóa mĩ tục. Làm giảm sút lực lượng lao động sản xuất, ảnh hưởng đến nòi giống và sự phát triển bền vững của dân tộc. Đó hoàn toàn là những tác hại của ma túy, hãy nhớ và đề phòng nó, kêu gọi mọi người chung tay phòng chống ma túy bạn nhé. Chúng ta, hơn ai hết là những mầm măng tương lai của đất nước, hi vọng rằng chúng ta sẽ ý thức cao được tinh thần trách nghiệm của bản thân để ngăn ngừa và phòng trừ tệ nạn nghiện ma túy đang lan rộng, góp phần chung tay xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ bạn nhé. Nhờ tiến bộ của khoa học kĩ thuật, hiện nay, thế giới đã khống chế được những dịch bệnh nguy hiểm như dịch hạch, thổ tả, sốt rét… Bên cạnh những mối họa ẩn chứa nhiều nguy cơ tiềm tàng đó, các quốc gia, dân tộc lại đang phải đối mặt, đấu tranh với những tệ nạn xã hội cũng gây ra không ít hậu quả nặng nề. Một trong số đó là rượu- thức uống vô cùng quen thuộc trong cuộc sống đời thường. Rượu là tên gọi của một loại đồ uống chứa cồn. Rượu được làm từ việc lên men và chưng cất những loại ngũ cốc như gạo, ngô. Uống rượu là thói quen lâu đời đã có từ thời cổ đại. Rượu là thức uống có cồn, vì thế khi uống vào sẽ tạo cảm giác hưng phấn, uống nhiều dẫn đến say. Ở Việt Nam nói riêng, rượu rất phổ biến và được dùng trong nhiều dịp: cỗ bàn, cưới hỏi, giao lưu. Khi vui, người ta uống rượu để chúc mừng, khi buồn lại dùng rượu để giải khuây. Trong mọi tình huống, mọi lúc mọi nơi, người ta đều có thể uống rượu. Nếu uống một cách điều độ và hợp lí, rượu có thể giảm căng thẳng, rối loạn tiêu hóa, phòng trầm cảm, chống mệt mỏi sau một ngày làm việc dài. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều người không kiểm soát được việc uống rượu của mình, uống tràn lan, bừa bãi, trở thành con nghiện của rượu. Khi đó, rượu sẽ để lại những hậu quả khôn lường, không chỉ trước mắt mà còn lâu dài. Đã có nhiều công trình khoa học chứng minh cho tác hại của rượu. Rượu ảnh hưởng trước nhất đến hệ thần kinh- cơ quan điều khiển những phản xạ, hành động của con người. Dễ dàng nhận thấy những người say rượu thường đi đứng loạng choạng, phản ứng chậm, mất kiểm soát, nói nhiều và liều lĩnh hơn. Ngoài ra, lượng cồn trong rượu còn làm cho trí nhớ bị suy giảm. Uống rượu nhiều, trong thời gian dài còn dẫn đến những bệnh về tim mạch. Uống quá nhiều rượu làm tăng huyết áp- nguyên nhân gây ra đau tim hay đột quỵ. Những người nghiện rượu thường không kiểm soát được hành vi của mình. Không ít những vụ tai nạn giao thông, bạo lực gia đình, gây gổ, đánh nhau xảy ra là do rượu. Nghiện rượu cũng còn dẫn đến tội phạm, mất an toàn, trật tự xã hội, gia đình li tán, mất việc làm, quan hệ xã hội suy giảm. Cái kết chung cho tất cả các con rượu là trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Rượu là thức uống không thể thiếu trong các nghi thức của cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, hãy tỉnh táo và biết giữ mình để rượu không hủy hoại cuộc sống của chúng ta, đồng thời đưa nó về đúng mục đích của nó- là thức uống giúp con người vui vẻ và giải tỏa căng thẳng.
Thuyết minh về tác hại của ma túy hoặc của rượu, của thuốc lá
1,223
Đề bài: Em hãy thuyết minh về tác hại của thuốc lá đối với đời sống của con người. Vấn đề phổ biến và đang được mọi người quan tâm nhất hiện nay đó là tác hại của thuốc lá đối với đời sống của con người. Như chúng ta đã biết, việc hút thuốc lá đang diễn ra hàng giờ, hàng ngày trên thế giới. Họ hút thuốc lá ở mọi lúc mọi nơi, không phân biệt chỗ nào. Mỗi người đàn ông họ luôn cho rằng hút thuốc lá là thể hiện mình là một người có đẳng cấp. Một gói thuốc khoảng từ 10 đến 20 ngàn đồng, họ tiếc với những thứ khác còn với thiếc lá thì không. Việc hút thuốc lá đã được khoa học chứng minh, thuốc lá với 4000 chất độc hại trong đó có chất nicotin một trong những chất độc hại nhất là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư phổi.Thuốc lá là một trong những chất gây nghiện, hút lần một sẽ có lần hai, lần ba, từ đó tạo thành thói nghiện và không bỏ được. Nhiều bạn trẻ bây giờ rất thích đua đòi, ham chơi, sa vào các tệ nạn xã hội trong đó có tệ nạn hút thuốc lá. Tình trạng hút thuốc lá diễn ra khắp mọi nơi, kể cả trường học. Học sinh hiện nay chỉ mới học lớp 6, lớp 7 là tập tành hút thuốc, cứ đến giờ ra chơi thì lại rủ nhau vô phòng vệ sinh để hút. Đến lớp sớm rồi rủ nhau cùng hút, các bạn ấy cứ nghĩ như vậy mới là đàn ông thực thụ, thích thể hiện trước mọi người nhưng lại không bao giờ nghĩ đến tác hại mà thuốc sẽ gây ra cho mình ghê gớm như thế nào. Hằng năm, có đến hàng triệu người chết do thuốc lá gây ra. Hút thuốc gây ra các bệnh như ung thư phổi, bệnh lao,… nó có sức tàn phá đến cơ thể của con người rất ghê gớm. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng hút thuốc ngày càng tăng cao là do chính bản thân con người không ý thức được, phần lớn do thiếu sự quan tâm của gia đình nên khiến các bạn trẻ bây giờ sa vào tệ nạn thuốc lá. Khi đã nghiện thuốc thì sẽ tìm đủ mọi cách để có thuốc hút. Ăn trộm, ăn cắp để có được tiền thỏa mãn được cơn thèm khát. Thậm chí còn giết cả cha cả mẹ người thân trong gia đình để chiếm đoạt tài sản. Điều này thật kinh khủng có đúng không? Trên các trang mạng hiện nay đăng rất nhiều tin về việc con trẻ giết bà, giết mẹ để lấy tiền đi hút thuốc. Trên mỗi vỏ bao thuốc lá đều có dòng chữ “Thuốc lá có hại cho sức khoẻ” vậy mà bất chấp điều cảnh báo ấy,người ta vẫn hút thuốc.Hút đến vàng răng,vàng cả ngón tay cầm thuốc,hơi thở hôi đến khó chịu với những người xung quanh. Hút thuốc không chỉ có hại cho người hút mà nó còn ảnh hưởng đến những người xung quanh,khói thuốc lan trong không khí khiến họ cũng phải chịu ảnh hưởng nặng nề. Thuốc lá có hại như vậy. Làm thế nào để ngăn chặn việc hút thuốc lá?Có lẽ cần tuyện truyền nhiều hơn về tác hại của nó trên các phương tiện thông tin đại chúng. Coi việc hút thuốc lá là hành vi không đẹp bởi nó là biểu hiện của nghiện ngập và của những con người dễ bị chi phối.Và yếu tố quan trọng nhất là tự bản thân phải ý thức cao, chủ động không tiếp cận với thuốc lá để giữ gìn,bảo vệ sức khoẻ của chính mình và những người thân trong gia đình mình.Xem thêm: Thử thách của thế hệ chúng ta là tạo ra một thế giới, nơi mà mọi người đều có mục đích của mình (Mark Zuckerberg) Xã hội ngày càng phát triển khiến con người không mấy bận tâm về tình trạng hút thuốc lá này. Thuốc lá có hại đến như vậy. Vậy chúng cần làm gì để ngăn chặn tình trạng này? Có lẽ ta nên tuyên truyền tác hại của việc hút thuốc này trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là ý thức của chính bản thân mỗi chúng ta.Hãy cùng nhau "Nói không với thuốc lá" nào!
Thuyết minh về tác hại của thuốc lá đối với đời sống con người
754
Đề bài: Thuyết minh về tác hại của thuốc lá Bài làm Chúng ta có thể viết ra được không biết bao nhiêu là trang giấy để nói về tác hại thuốc lá. Mỗi năm, thế giới có 5 triệu người chết vì thuốc lá, nhiều hơn số tử vong do tai nạn, bị lao và AIDS cộng lại. Nếu không có biện pháp ngăn chặn, sau 25 năm nữa, con số này sẽ là 10 triệu ca; 2/3 trong số đó thuộc các nước đang phát triển. Thuốc lá được tạo nên từ những gì mà lại gây hại đến vậy? Trong khói thuốc lá có hơn 4000 hóa chất trong đó có hơn 200 loại có hại cho sức khoẻ, bao gồm chất gây nghiện, các chất gây độc và 43 được biết là nguyên nhân gây ung thư. Hút thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong từ 30 đến 80%, chủ yếu là do các bệnh ung thư (ung thư phổi), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, các bệnh tim gây suy thoái giống nòi do làm giảm khả năng sinh sản ở cả nam và nữ.…. Ngoài ra, hút thuốc còn làm giảm khả năng lưu thông của máu trong cơ thể, tăng nhịp tim và làm suy giảm sức khoẻ của bạn, dẫn đến nhiều bệnh ung thư khác như ung tư miệng, đại tràng, vòm họng, thực quản, gan, thận…Các nhà khoa học đã khảo sát và tìm ra đc rằng tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người không hút thuốc từ 05 đến 08 năm, tức là khi hút 1 điếu thuốc tự ta đã làm mất đi 5,5 phút cuộc sống. Thế thì có phải chỉ có người hút mới chịu những tác hại xấu do thuốc lá? Ngoài con đường hút thuốc trực tiếp, thuốc lá còn có thể gây hại qua việc ta hít phải khói thuốc của người khác. Trẻ em và người lớn, những người không hút thuốc nhưng sống trong khói thuốc của những người khác chụi rủi ro cao hơn hoặc bị mắc các bệnh kinh niên và cấp tính về họng, tai và trí tuệ cũng như sức khoẻ thể chất bị ảnh hưởng. Phụ nữ có mang mà hút thuốc sẽ chịu rủi ro bị sẩy thai cao hơn, sinh con nhẹ cân, hoặc con bị ốm, tử vong. Trẻ sơ sinh của những người cha hút thuốc trong những tháng trước và trong thời gian mang thai của người mẹ có nguy cơ gấp đôi bị hở hàm ếch, bạch cầu và chịu mức rủi ro bị ung thư não cao hơn tới 40% so với những trẻ có cha không bao giờ hút thuốc. Đó là những ảnh hưởng không nhỏ tí nào. Không chỉ gây bệnh, thuốc lá còn gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho xã hội. Mỗi năm, một người có hút thuốc ở Việt Nam chi gần 700.000 đồng cho thuốc lá. Với 12 triệu người hút, một năm chúng ta tốn hơn 8.200 tỷ đồng cho mặt hàng này. Trong khi số tiền đó đủ để mua lương thực nuôi sống 10,6 triệu người.Thêm nữa, một khảo sát gần đây cho thấy, chi tiêu cho thuốc lá ở nước ta cao gấp 3,6 lần phí tổn học hành, gấp 2,5 lần mức chi cho quần áo và gần gấp đôi mức chi cho khám chữa bệnh. Mặt khác, bệnh tật mà thuốc lá đem lại đã tăng thêm gánh nặng kinh tế cho mỗi gia đình và làm mất đi lực lượng lao động. Vì thuốc lá, những người nghèo ngày càng trở nên kiệt quệ.Trong thực tế, đối với nhiều gia đình thì chi phí cho hậu quả của việc hút gây ra còn tốn kém hơn nhiều so với chi phí để mua thuốc. Khi một thanh niên trong gia đình bị ốm do thuốc lá thì gia đình này phải chịu những chi phí điều trị chăm sóc, tốn kém thời gian. Thế là từ chuyện hút thuốc nảy sinh ra nhiều vấn đề khác. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thuốc lá mang nhãn mác phương Tây, nhiều người cứ nghĩ rằng người phương Tây hút thuốc nhiều. Thực ra không phải như vậy. Tại Hoa Kỳ và Canada, tỷ lệ người hút thuốc lá đang giảm một cách nhanh chóng. Ở nhiều nước phương Tây, giờ đây việc hút thuốc lá ở những nơi công cộng như nhà hàng, bệnh viện và trường học là phạm pháp. Vì thuốc lá đang bị tẩy chay tại những nước này, các công ty thuốc lá đã để mắt tới những nước đang phát triển như đất nước chúng ta chẳng hạn. Các công ty thuốc lá muốn chúng ta tin rằng hút thuốc là “cao sang”. Thực ra hút thuốc là một thói quen của người nghèo. Người nghèo dễ dẫn tới hút thuốc nhất và cũng là người có ít khả năng tiền bạc để mua thuốc nhất. Số tiền mà người ta dùng để mua thuốc lá thay vì mua những đồ vật cần thiết cho cuộc sống là mối hiểm hoạ nghiêm trọng tới tài sản của mình và gia đình. Tiền tiêu tốn vào thuốc lá thay vì những thứ cần thiết cơ bản khác cho cuộc sống như thực phẩm, đồ dùng gia đình …Và còn nhiều nghịch cảnh khác ko kể ra hết được. Đã biết được những điều trên, chúng ta – những người đã nghiện thuốc lá và những người chưa cần phải làm gì? Trước hết, đối với những người chưa hút, đừng hút thuốc và hãy động viên bạn bè mình không dùng thuốc lá! Áp lực phụ cũng có thể tích cực! Tiếp đó bạn có thể động viên họ hàng và bạn bè cai thuốc và giúp đỡ họ trong quá trình này. Còn với những người đã nghiện hút, phải tìm được nguyên nhân vì sao mình lại hút thuốc, để từ đó tìm cách làm sao cho mình bỏ được. Và quan trọng nhất, ta phải quyết tâm cai thuốc: trước khi cai thuốc, ta phải quyết định thật sự mình muốn gì chứ không phải chỉ gia đình, bạn bè của mình muốn gì.Hãy lên kế hoạch cho tương lai, đưa ra các mục tiêu cho mình và lập kế hoạch để thực hiện và hãy tập trung vào các mục tiêu đó hút thuốc có thể xuất hiện trong quá trình thực hiện mục tiêu. Một trong những cách hữu hiệu nhất là nhai kẹo cao su mỗi khi muốn hút thuốc. Tập dần thói quen này dần sẽ thay thế hẳn luôn việc nghiện thuốc lá. Và sau khi ta đã bỏ được, đôi khi những cơn “ghiền” vẫn quay lại. Hãy sẵn sàng để đối phó nếu tình huống đó xảy ra. Cai thuốc không phải là việc dễ dàng nhưng nhiều người vẫn làm được. Nói tóm lại, thuốc lá gây ra nhiều tác hại ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe của cá nhân và của cộng đồng. Cái vòng luẩn quẩn nghèo đói – thiếu hiểu biết – hút thuốc – bệnh tật, nghèo đói… sẽ không bao giờ kết thúc nếu thuốc lá chưa được loại trừ ra khỏi cuộc sống người dân. Vì vậy, chúng ta phải quyết tâm nói “không” với thuốc lá, vì một xã hội văn minh, phát triển, vì một tương lai tươi sáng cho loài người nói chung và đất nước Việt Nam nói riêng.
Thuyết minh về tác hại của thuốc lá
1,257
Đề bài: Thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi Bài làm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải kí hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi (1380-1442) là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ Ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm. Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Đoạn thứ hai của bài cáo đã vạch trần, tố cáo tội ác dã man của giặc Minh xâm lược. Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép, tố cáo giặc Minh ở các điểm: âm mưu cướp nước, chủ trương cai trị phản nhân đạo, hành động tàn sát tàn bạo. Đồng thời, đoạn văn cũng nêu bật nỗi thống khổ, khốn cùng của nhân dân, dân tộc ta dưới ách thống trị của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn-Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”; “Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế-Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”. Đoạn văn ngùn ngụt Ý chí căm thù giặc và thống thiết nỗi thương dân lầm than. Đoạn văn thứ ba là đoạn dài nhất của bài cáo, có Ý nghĩa như bản anh hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn văn đã tổng kết lại quá trình khởi nghĩa. Ban đầu cuộc khởi nghĩa gặp nhiều khó khăn, lương thảo, quân sĩ, người tài đều thiếu, nghĩa quân ở vào thế yếu “Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần-Khi Khôi Huyện quân không một đội”, “Tuấn kiệt như sao buổi sớm-Nhân tài như lá mùa thu”, “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều”…Nhưng nghĩa quân có người lãnh tụ Lê Lợi sáng suốt, bền chí, yêu nước “Ngẫm thù lớn há đội trời chung-Căm giặc nước thề không cùng sống”, biết đoàn kết lòng dân “Sĩ tốt một lòng phụ tử-Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, dùng chiến thuật phù hợp nên nghĩa quân Lam Sơn ngày một trưởng thành “Sĩ khí đã hăng, quân thanh càng mạnh”và ngày càng chiến thắng giòn giã, vangdội “Đánh một trận sạch không kình ngạc-Đánh hai trận tan tác chim muông”, giặc Minh thì liên tiếp thất bại, thất bại sau lại càng thảm hại hơn thất bại trước, mỗi tên tướng giặc bại trận lại có vết nhục nhã riêng: kẻ treo cổ tự vẫn, kẻ quỳ gối dâng tờ tạ tội, kẻ bị bêu đầu… Đoạn văn thứ ba của bài cáo cũng ca ngợi lòng nhân đạo, chuộng hòa bình của nhân dân, dân tộc ta, tha sống cho quân giặc đã đầu hàng, lại cấp cho chúng phương tiện, lương thảo về nước. Đoạn cuối của bài cáo đã tuyên bố trịnh trọng về việc kết thúc chiến tranh, khẳng định nền độc lập, hòa bình vững bền của đất nước, thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước. “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn: “Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có…”
Thuyết minh về tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
1,004
Đề bài: Thuyết minh về vai trò của cây cối bảo vệ môi trường sống Bài làm Không phải dĩ nhiên mà trái đất được gọi là hành tinh xanh. Với diện tích lớn là biển, rừng và tầng ôzôn bao quanh, trái đất với điều kiện lý tưởng ấy là nơi bắt nguồn cho sự sống – một điều mà chưa hành tinh nào có. Đặc biệt là rừng – một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người. Rừng là gì? Đó là một quần lạc sinh địa, trong đó sinh vật rừng, đất và khí hậu tạo thành một thể thống nhất, có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau. Nó được tạo nên bởi nhiều thành phần mà cây là thành phần chính. Vậy thì tại sao rừng lại có một ảnh hưởng lớn như vậy đến cuộc sống con người? Như chúng ta đã biết, thành phần chính của rừng là cây xanh. Mà cây xanh lại có tác dụng rất lớn đối với môi trường sống. Không đơn thuần là tạo bóng mát, làm đẹp phố phường mà hơn hết cây xanh điều hòa khí hậu giúp cho không khí trong lành, làm sạch bầu khí quyển. Hãy thử tưởng tượng xem nếu như trái đất này không có cây xanh thì chắc chắn xung quanh ta sẽ chỉ là một bầu không khí bụi bặm, ô nhiễm nắng, nóng hoặc mưa lạnh giá, hạn hán ngập lụt sẽ giày xéo lên cuộc sống của người dân. Nói cách khác không có cây xanh sự sống của con người sẽ chấm dứt. Cuộc sống con người không chỉ được quyết định ở yếu tố vật chất mà nó còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên khách quan. Trong đó xói mòn đất là một hiện tượng tự nhiên thường xảy ra nơi những vùng dồi dào, đất trọc ít cây bao phủ. Xói mòn làm cho lớp đất mặt bị rửa trôi, tạo thành khe rãnh gây lũ lụt, đất trôi lở… ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và đời sống con người. Rồi hiện tượng gió, gió mạnh ảnh hưởng lớn đến cây rừng làm giảm 30 – 90% sự đồng hóa thực vật, gió nóng làm giảm khả năng thụ phấn của cây, dèm cát vùi lấp đồng ruộng, nhà cửa… Tất cả những thiên tai khủng khiếp đó đều có thể được ngăn chặn hoặc giảm bớt bằng cách trồng cây xanh. Rừng điều hòa khí hậu, điều tiết dòng chảy trên mặt đất, bảo vệ, cải tạo làm tơi xốp đất, giữ nước cho sản xuất, hạn chế sức phá hoại của gió ngăn sự di chuyển của cát vào sâu đất liền, ngăn chặn gió, bão, mùa màng, làng xóm. Không chỉ thế rừng còn là nguồn cung cấp cho con người gỗ, củi, hoa quả và làm phân xanh. Có thể nói rừng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi con người. Không chỉ là yếu tố, thành phần chính trong hoàn cảnh sống của con người mà rừng còn là môi trường sống của rất nhiều động vật quý hiếm. Rừng có các loại cây từ thấp lên cao. ở mỗi tầng là một môi trường hoàn cảnh thích nghi riêng biệt với từng loài vật. Nào thỏ, hươu, nai, hổ đến khỉ, vượn, sóc, chim… đó là những loài động vật rất quý hiếm mà môi trường sống duy nhất của chúng chính là rừng – thiên nhiên hoang dã. Trong rừng có rất nhiều loài gỗ quý hiếm như đinh, lim, sến, táu,… rồi các loại thuốc quý. Có những khu rừng được con người trồng lên để phục vụ cho chế biến công nghiệp như rừng cao su, rừng tre, nứa, keo tai tượng,…. Bên cạnh đó rừng còn là môi trường sinh thái trong lành – một địa điểm du lịch lý thú, một danh lam thắng cảnh tuyệt vời đầy bí ẩn, hoang dã và tràn đầy hấp dẫn, lôi cuốn. Ảnh hưởng lớn và có tính chất quyết định đến sự sống con người rừng còn rất có ích với các lĩnh vực khác như nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, dịch vụ… hiểu rõ được những lợi ích và ảnh hưởng của rừng ta mới thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của nó như thế nào? Đất nước ta với ba phần tư diện tích là rừng, đồi núi – một điều kiện thiên nhiên tuyệt vời. Vậy mà giờ đây diện tích rừng đó còn lại bao nhiêu? Không hiểu rõ tầm quan trọng của rừng rất nhiều người đã chặt phá cây bừa bãi nhất là những người dân thiếu hiểu biết “đốt nương làm rẫy” khai phá rừng một cách vô ý thức. Nhưng cũng có những người biết được lợi ích của rừng hiểu được sự sai trái trong hành động của mình nhưng vẫn chặt trộm, khai khác rừng trái phép để kiệm lợi về mình. Hậu quả của những việc chặt phá, khai thác thiếu quy củ, đốt rừng, phá rừng ấy thật không thể tưởng tượng được. Từng tự hào với cánh rừng U Minh rộng lớn, phong phú thì nhưng chỉ vì thiếu ý thức, công tác quản lý kém mà hàng trăm, hàng nghìn hecta rừng bị phá hủy, thiêu rụi trong ngọn lửa làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường người dân và thiệt hại hàng trăm tỷ đồng của nhà nước. Những vùng đồi xanh đẹp đẽ xưa kia những cánh rừng nguyên sinh xưa kia giờ đây chỉ còn là những quả đồi trọc, những khu rừng thứ sinh. Tiếp theo đó là những thảm họa thiên nhiên liên tục xảy ra nào hạn hán, nào lũ lụt, nào sụt lở đất… làm thiệt hại bao tiền của và đau đớn hơn là tính mạng của những người dân vô tội. Không có rừng thì lấy cái gì để ngăn chặn lũ lụt, điều hòa không khí, để chống xói mòn, để bảo vệ làng mạc. Những tai hại to lớn và khủng khiếp ấy đều chỉ vì một sự vô ý thức, sự thiếu hiểu biết và hám lợi của một số cá nhân gây ra. Mất rừng đồng nghĩa với việc môi trường sống của con người đang dần dần bị tàn phá, hủy hoại. Những loại động vật hoang dã cũng mất đi môi trường sống của mình. Đã bao loài động vật bị tuyệt chủng, bị đem vào danh sách đỏ. Nguy cơ tuyệt chủng tất cả cũng vì chặt phá rừng. Hiểu rõ tầm quan trọng, thấy rõ những hậu quả của việc tàn phá rừng, chúng ta thêm phần yêu quý và biết bảo vệ rừng hơn. Hiện nay Đảng và chính quyền nhà nước ta đã có những biện pháp thích hợp và quản lý chặt chẽ trong việc khai thác rừng. Bằng cách khai thác hợp lý kết hợp với việc tái tạo rừng, nhiều khu rừng đã được phục hồi “phủ xanh đồi trọc”. Tác động của con người tới tái sinh tự nhiên là rất lớn bởi trong tái sinh tự nhiên thường gặp hoàn cảnh bất lợi, ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt, sự sinh trưởng của cây con. Để khắc phục người sản xuất phải chủ động tạo hoàn cảnh sống thích hợp bằng cách chặt phá những cây, cành mọc quá rậm, phát bớt bụi để hạt tiếp xúc nảy mầm dễ và xới đất tơi xung quanh gốc. Là học sinh, sinh viên chúng ta có thể góp sức nhỏ của mình trong công cuộc cải tạo rừng bằng cách tuyên truyền tầm quan trọng của rừng, hậu quả của việc khai thác trái phép và có thể trồng cây quanh nhà để góp phần làm trong sạch không khí, môi trường sống trong xóm làng. Hãy yêu quý và bảo vệ rừng để trái đất của chúng ta mãi là “hành tinh xanh” “Tổ quốc Việt Nam yêu dấu, có sạch đẹp mãi được không. Điều đó tuỳ thuộc hành động của bạn, chỉ thuộc vào bạn mà thôi”.
Thuyết minh về vai trò của cây cối bảo vệ môi trường sống
1,354
Thuyết minh về Vai trò của rừng đối với cuộc sống con người Hướng dẫn Thuyết minh về Vai trò của rừng đối với cuộc sống con người Như các bạn đều đã biết, rừng là lá phổi xanh của trái đất và rừng rất quan trọng đối với cuộc sống của con người. Rừng đem đến cho chúng ta một ngôi nhà xanh, đem đến cho ta rất nhiều những nguồn lợi từ rừng và hơn thế nữa, rừng cung cấp cho chúng ta một lượng lớn khí oxi – hay còn chính là nguồn sống của mỗi con người. Không một quốc gia nào, một con người nào có thể nói rằng, họ không cần rừng, rừng không là một tài nguyên nào cả. Bởi, đối với mỗi con người, mỗi quốc gia, hay một dân tộc nào đó thì rừng là vô giá. Nhưng liệu những thế hệ trẻ như chúng ta, lý thuyết từ sách vở chúng ta đã học quá nhiều, nhưng liệu có bao nhiêu bạn thực sự hiểu được về tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống của con người. Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Không phải tự nhiên mà ta lại nói như vậy. Như các bạn đều đã biết, cây xanh hấp thụ khí cacbonic và cung cấp khí oxi cho chúng ta. Đặc biệt là đối với tất cả các quốc gia, khi mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang phát triển rất mạnh mẽ thì đi cùng với nó luôn là khói bụi từ nhà máy, từ các công trường, từ các phương tiện giao thông. Bởi vậy mà nếu ta liên tục thải khí các-bon-níc mà không có những biện pháp xử lý, thì làm cách nào để có thể có đủ lượng khí oxi cung cấp cho con người nếu không có rừng? Rừng giúp ta ngăn lũ quét và sạt lở đất. Nếu bạn thắc mắc tại sao trên các tỉnh vùng núi thường hay có nhiều rừng phòng hộ, thì chính bởi lý do: đây chính là nơi thường ra những trận lũ quét lớn. Khi ta trồng rừng, cây sẽ bám chặt xuống đất, ngăn cho lũ khi chảy về xuôi sẽ gây ra hiện tượng sạt lở đất và với diện tích rừng phủ đầy cây xanh cũng sẽ giảm được tốc độ của dòng nước lũ khi chảy về. Và điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với người dân. Rừng cung cấp cho ta một tài nguyên phong phú. Rừng cung cấp cho chúng ta một lượng gỗ lớn, nếu ta biết khai thác và có những biện pháp chăm sóc đúng quy cách. Nhưng trên thực tế thì rừng của nước ta hiện nay đang lâm vào tình trạng rất đáng báo động. Tình trạng khai thác rừng trái phép với nạn lâm tặc khiến cho hàng nghìn héc-ta rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn bị chặt phá nghiêm trọng. Cùng với đó là nạn cháy rừng hay người dân do thiếu hiểu biết mà phá rừng để làm nông cũng khiến cho diện tích rừng của nước ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Rừng đang bị khai thác trái phép, diện tích rừng giảm và điều chúng ta được tận mắt nhìn thấy đó chính là hậu quả nghiêm trọng, bởi nó làm thiệt hại về người, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và đặc biệt là hiệu ứng nhà kính đang tác động đến chính mỗi chúng ta. Vậy nên, chúng ta không chỉ khoanh tay đứng nhìn rừng đang bị tàn phá, hay nhìn những sự nỗi lực của các nước khác mà hơn thế nữa, chúng ta hãy cùng chung tay trồng rừng, bảo vệ rừng, bởi:”Rừng rất quan trọng đối với cuộc sống của mỗi chúng ta”.
Thuyết minh về Vai trò của rừng đối với cuộc sống con người
634
Thuyết minh về vai trò của rừng đối với sự sống con người Hướng dẫn Đề bài: Thuyết minh về vai trò của rừng đối với sự sống con người Bài làm Một mùa xuân mới lại về. Trong sự đầm ấm sum họp của mọi nhà vẫn còn đó nỗi lo canh cánh của người dân Bắc Bộ về sự bất thường của thời tiết và khí hậu. Miền Trung còn đó hậu quả của những đợt “lũ chồng thêm lũ”. Còn thế giới, cùng với sự nóng lên của khí hậu toàn cầu, lũ lụt khủng khiếp là những đợt giá lạnh hiếm thấy xảy ra khắp nơi. Thiên tai hoành hành dữ dội và rộng khắp như thế đều liên quan đến vấn đề môi trường sông, nhất là rừng, bị huỷ hoại. Tất cả những điều đó đã khẳng định vai trò quan trọng của rừng trong cuộc sống của chúng ta. Cây rừng là lá phổi xanh của trái đất. Cây cung cấp cho chúng ta ô-xi và hút các-bon-níc do chúng ta thải ra. Ngày nay, dân số ngày càng tăng cao, lượng ô-xi càng ngày càng bị mất đi do nhu cầu hô hấp của con người. Thiếu cây rừng, thiếu ô-xi thì làm sao chúng ta tồn tại? Hơn nữa, cây rừng còn là “ngôi nhà xanh” của những loài thú hoang dã. Thú sông trong “ngôi nhà” của chúng thì điều kiện sống sẽ tô't hơn. Hiện nay, nhiều loài thú hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng cao. Một phần của hiện tượng đó cũng chính là vì môi trường sống của chúng đang bị tàn phá nặng nề. Chúng ta có thể khẳng định một điều: đối với con người và động vật thì cây rừng giữ vai trò quan trọng. Cây rừng ngăn lũ lụt, thiên tai thất thường. Khi nước lũ dâng cao, cây rừng cản sức nước và rễ cây sẽ hút phần nào nước lũ. Có cây rừng, sức nước đờ mạnh hơn, giảm thiểu sức tàn phá của nước lũ. Cây rừng còn chắn gió, từng tán lá, cành cây sum suê mở rộng giúp hạn chế và làm suy yếu sức mạnh tại những vùng bão đi qua. Vì lợi ích đó mà ở các bãi biển người ta thường trồng nhiều cây. Trồng cây trên bãi biển vừa tạo không khí trong lành vừa bảo vệ con người. Thế nhưng nạn phá rừng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Có thế nói, rừng là nước cho đời sống của thực vật và cho sản xuất của xã hội, là không khí trong lành, là lá phổi xanh giúp điều hoà khí hậu,… Rừng đóng vai trò quan trọng như thế nhưng hiện nav rừng trên thế giới đang kêu cứu, cứ mỗi phút trôi qua có tới hơn 22 ha rừng nhiệt đới bị phá huỷ. Sự mất mát quá lớn của rừng tất yếu dẫn đến sự nghèo kiệt của đất đai và sự biến mất dần những sinh vật quý hiếm, sự gia tăng hàm lượng các-bon-níc trong khí quyển – một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên “hiệu ứng nhà kính”, làm tăng nhiệt độ của trái đất… Việt Nam tuy là một nước nông nghiệp, hơn nữa sự phát triển của nước ta hiện nay vẫn chưa vượt ra khỏi trình độ của nền văn minh nông nghiệp nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không bị đe doạ bởi hiểm hoạ môi trường. Nếu ở các nước phát triển, hiểm hoạ môi trường là do sự phát triển của kĩ thuật công nghệ và sự phát triển tự phát của nền văn minh công nghiệp thì ở Việt Nam, hiểm hoạ sinh thái là do những bất cập trong quá trình phát triển, do ảnh hưởng còn nặng nề của nếp nghĩ, nếp làm ciia người sản xuất nhỏ. Thiên nhiên nước ta trước đây bị phá hoại bởi những cuộc chiến tranh kéo dài, còn bây giờ bị phá hoại bởi những hoạt động vô ý thức, bởi thái độ tuỳ tiện vô trách nhiệm, thiếu kế hoạch của con người trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hậu quả của việc phá rừng bừa bãi đôi với môi trường là vô cùng nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường cũng đang là vấn đề nan giải. Chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt và y tế,… không được xử lí đúng quy trình mà đưa trực tiếp vào môi trường gây ra dịch bệnh và ô nhiễm môi trường sinh thái. Sự nóng lên của trái đất, hiện tượng biến đối khí hậu, sa mạc hoá ngày càng mở rộng, kéo theo đó là những hậu quả khôn lường như hạn hán, lũ lụt,… đang trở thành mối đe doạ đối với tất cả chúng ta. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải tự ý thức về lợi ích của rừng và việc cấp bách của chúng ta lúc này là vận động, tuyên truyền mọi người cùng nhau trồng rừng, bảo vệ, khôi phục và phát triển các khu rừng sinh thái, vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên,… Nhiều người nghĩ bảo vệ môi trường là những hoạt động mang tính quy mô, tốn kém và phải tốn nhiều thời gian. Điều đó đúng song việc bảo vệ môi trường có thê và trước hết phải bắt đầu từ mỗi cá nhân con người, từ những việc làm cụ thể hàng ngày. Từ bậc Tiểu học đến Trung học phố thông, chắc chắn học sinh chúng ta cũng đă tham gia các phong trào do Đoàn, Đội phát động như “Vì trường em Xanh – Sạch – Đẹp”. Những công việc của “tuổi nhỏ” như tưới nước, tỉa cành, thu gom rác,… đã góp phần hình thành một thói quen, một nếp sống tốt trong thiếu nhi. Đó là tình yêu thiên nhiên, sự thân thiện và ý thức bảo vệ môi trường, ơ mỗi tỉnh, thành phô" lại có nhừng đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế – xã hội cũng như những vấn đề đặt ra với môi trường và ở đó, các cấp bộ Đoàn đã đi tiên phong, sáng tạo trong việc triển khai các chương trình nhằm mục đích giải quyết các “bức xúc” về môi trường tại địa phương. Phải kể đến ở đây là các mô hình: “Cánh rừng thanh niên”, “Câu lạc bộ bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, lâm sản”, “Câu lạc bộ thanh niên với môi trường và phát triển bền vững”,… Trong các đợt bão lũ, thiên tai, ở đâu chúng ta cũng bắt gặp sự có mặt kịp thời của lực lượng đoàn viên, thanh niên tình nguyện tham gia khắc phục hậu quả những cơn giận dữ của “bà mẹ thiên nhiên”. Đã thành tập quán tốt đẹp gần nửa thế kỉ qua, cứ mỗi dộ xuân về, cả nước lại sôi nổi phong trào Tết trồng cây theo lời dạy cua Bác Hồ. Tết trồng cây mở đầu cho năm sản xuất mới, tạo ra phong trào xây dựng và bảo vệ vốn rừng trong cả nước, đem lại những lợi ích thiết thực về kinh tế, xã hội và môi trường ở từng vùng miền và trong cả nước. Rừng có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta hãy cùng chung tay góp sức bảo vệ rừng, để đất nước ta mãi thắm tươi và hành tinh này mãi mãi xanh màu bạn nhé!
Thuyết minh về vai trò của rừng đối với sự sống con người
1,277
Đề bài: Thuyết minh về “Văn Miếu Quốc Tử Giám” Bài làm Văn Miếu Quốc Tử Giám được xem là trường đại học đầu tiên của nước ta, nằm ở thủ đô Hà Nội nơi có nền văn hiến lâu đời. Văn Miếu thường thu hút rất nhiều lượt khách tham quan mỗi năm. Nó trở thành nơi thiêng liêng đối với người dân nước ta. Hàng năm cứ tới dịp Tết đến, xuân về người dân Hà Nội lại ra đây để xin chữ thể hiện sự thành kính của mình với một nơi vốn là truyền thống tri thức của đất nước. Văn Miếu được xây dựng năm 1070 do nhà vua Lý Thánh Tông xây dựng nhằm ghi danh những nho sĩ yêu nước, có tài học rộng hiểu nhiều. Văn Miếu có hình chữ nhật bề ngang của Văn Miếu rộng 75m. Trải qua rất nhiều thăng trầm trong lịch sử nhưng Văn Miếu vẫn luôn giữ được giá trị nhân văn, truyền thống cao đẹp của riêng mình. Đó chính là tinh thần học đạo. Nơi đây đã đào tạo ra rất nhiều nho sĩ có kiến thức uyên thâm, giúp ích cho dân cho nước trong lịch sử phát triển của dân tộc ta. Trong Văn Miếu có hai phần di tích là phần đền thờ Khổng Tử, các nhà hiền triết và người thầy đầu tiên Chu Văn An, dù trải qua rất nhiều thời gian, biến cố của lịch sử nhưng Văn Miếu vẫn giữ được giá trị của mình Lúc đầu, khi xây dựng Văn Miếu nhà vua Lý Thánh Tông chỉ làm nơi học tập cho các hoàng tử, con cái các vị quan lớn trong triều đình. Nhưng sau này thì có mở rộng thêm cho tất cả những người hiện tại trong cả nước theo học. Văn Miếu rộng gần 55.000m2 xung quanh được bao bọc bởi tường gạch với lối kiến trúc cổ xưa. Khi tới Văn Miếu ta sẽ đi từ cổng chính và bước vào Văn Miếu Môn. Khu thứ hai của Văn Miếu chính là Khuê Văn Các có 8 nhà mái và xây dựng hai tầng khá rộng rãi, thoáng mát. Xưa kia nơi đây thường là nơi để các nho sĩ bình các bài thơ hay, đàm đạo chuyện học tập. Khu thứ ba chính là Đại Thành Môn có một chiếc hồ vung tên là Thiên Quang Tĩnh ở giữa hai bên có những chiếc bia đề tên các tiến sĩ, quê quán, chức danh của họ. Trong những bia tiến sĩ này có tên của những vị nổi tiếng trong lịch sử như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm… Văn Miếu được xây dựng chủ yếu bằng loại gạch nung, ngói mũi, và gỗ lim thể hiện cho sự uy quyền, thanh cao của những nhà nho học đồng thời cũng thể hiện phong cách nghệ thuật kiến trúc của thời Lê và Nguyễn. Những nét hoa văn chạm trổ trong thiết kế của Văn Miếu thể hiện sự tinh hoa kỳ công trong thiết của của ngôi trường này.
Thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám
510
Thuyết minh về vấn đề bảo vệ môi trường lớp 7 Hướng dẫn Thuyết minh về vấn đề bảo vệ môi trường lớp 7 Trong đời sống xã hội, một vấn đề được xem là cấp thiết nhất hiện nay chính là vấn đề môi trường. Trên thế giới đã có những hội nghị mà chủ đề chính là bàn về vấn đề bảo vệ môi trường. Có nghĩa là vấn đề môi trường không còn là của riêng quốc gia nào, của một người nào mà nó là của tất cả mọi người. Thế nhưng trên thực tế có những cá nhân chưa ý thức được rằng môi trường cẩn phải được bảo vệ và đặc biệt mỗi người dân phải ý thức trong việc bảo vệ môi trường thì mới có thể khắc phục được những hậu quả khôn lường do ô nhiễm môi trường gây nên. Nếu chúng ta không bảo vệ môi trường thì hậu quả đầu tiên con người phải gánh chịu đó là số người mắc những căn bệnh nan y sẽ ngày một tăng, bởi khi khói của các nhà máy công nghiệp với đủ các độc tố tạo thành lớp mây mù bay trên bầu trời, con người sẽ hít phải khí độc đó và hơn nữa những chất thái đó sẽ làm hư hại đến tầng ôzon nên về lâu dài nếu cứ để tình trạng ô nhiễm khí công nghiệp xảy ra con người sẽ không có không khí để thở và cả thế giới sẽ chết ngạt. Và bệnh tật sẽ còn phát sinh hơn nữa, nếu con người phải sống lâu ngày ở môi trường ô nhiễm đặc biệt là nguồn nước, bởi nguồn nước vô cùng quan trọng với con người, nước dùng để sinh hoạt như ăn uống, tắm giặt và dùng trong trồng trọt, cây rau của chúng ta cũng sẽ trở nên độc hại nếu được tưới tiêu bằng nguồn nước bẩn. Và còn rất nhiều thứ khác sẽ trở thành độc hại khi sử dụng chúng bằng nguồn nước bẩn. Một vấn đề nữa, nếu chặt phá rừng bữa bãi cũng sẽ gây ra những hậu quả khủng khiếp, đó là nạn lũ lụt hoành hành từng năm. Theo Thông tấn xã Việt Nam “3 giờ sáng ngày 3-1-2000, một cơn lũ ống ghê gớm chưa từng có ở Sìn Hồ đã quét qua bản Nậm Coóng, xã Nậm Cooi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, ba bản này gần như bình địa. Lũ quét làm chết 40 người, 25 người bị thương, có 5 gia đình không còn một ai, 43 ngôi nhà và hàng trăm gia súc, gia cầm bị lũ cuốn. Toàn bộ gia sản của 43 hộ bị mất hoàn toàn”. Lũ lớn tràn về là do rừng đầu nguồn bị tàn phá. Hậu quả của nó vô cùng khủng khiếp. Bạn hãy tưởng tượng xem nếu cứ tàn phá rừng thì đến một lúc nào đó nhìn ra xung quanh bạn chỉ thấy đất và cát đang bay mịt mù trong không khí và không khí thì thật sự ngột ngạt, nóng bức. Thế giới sẽ biến thành sa mạc khổng lồ. Con người sỗ khô cằn kiệt quệ vì nóng bức, vì thiếu lương thực bởi nắng nóng thì chẳng cổ cây gì sống nổi. Động vật không có chỗ trú chân, chúng sẽ tràn đến để quấy phá con người. Một cuộc sống hỗn tạp sẽ diễn ra khi trái đất lúc nào cũng nóng bỏng.
Thuyết minh về vấn đề bảo vệ môi trường lớp 7
584
Đề bài: Thuyết minh về Vịnh Bái Tử Long Bài làm Cùng với vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long là một thắng cảnh tuyệt vời của đất nước ta. Nằm ở vùng Đông Bắc, cách thủ đô Hà Nội gần 200 km, vịnh Bái Tử Long, Quảng Ninh cho đến nay chưa được nhiều người biết đến. Vịnh Bái Tử Long có hàng trăm đảo nhấp nhô trên mặt nước xanh biếc với hàng trăm cây số bờ biển, với những bãi cát trắng mịn ở Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng… Nơi đây có bao huyền tích gắn liền với các đảo gần, đảo xa. Một số đền, chùa cổ được xây dựng từ thời nhà Lý. Vườn Quốc gia Bái Tử Long có nhiều loài chim, loài thú quý hiếm. Giếng nước ngọt Nàng Tiên nước xanh ngăn ngắt ở Cái Làng – một làng Việt cổ trên đảo Minh Châu. Hang Thông Thiên đẹp mê hồn, nhũ đá long lanh. Đảo Phất Cờ huyền diệu với dải san hô lấp lánh. Những vệt rừng sú, rừng vẹt chắn sóng như những dải lụa xanh viền quanh các đảo. Đảo Ban Sen có thứ trà trăm tuổi ngát hương đậm đà. Bãi biển Uyên Ương cát trắng phau, nước trong như pha lê, ai đã một lần tắm mát và bơi lội ở đấy sẽ không bao giờ quên. Du khách đến thăm thú vịnh Bái Tử Long nên đến tham quan đền Cửa Ông, đi chơi cảng Vạn Hoa, đi xuyên rừng hay đi thuyền thăm các bản làng của người Tày, người Dao đỏ, người Sán Dìu mộc mạc mà mến khách. Hương vị biển có nhiều loài hải sản tươi ngon như cá song, cá giò, cá sùng, lu hài, cù kì… sẽ làm cho ta nhớ mãi. Cá giò được chế biến thành 12 món ăn tuyệt ngon như chiên, hấp, nướng, lòng cá xào, da cá chiên giòn, và tuyệt nhất là ăn gỏi cá với mù tạt. Chính gỏi cá giò này mà cô gái làng chài đen giòn ngày xửa ngày xưa đã từng làm đắm đuối Tiên ông. Những đêm thu biển xanh óng ánh trăng vàng, đảo gần đảo xa trên vịnh Bái Tử Long như đàn rồng vẫy đuôi nô nức vũ hội. Ánh trăng sao càng làm cho Bái Tử Long thêm huyền ảo mênh mông. Tiếng sóng vỗ, tiếng cá đớp mồi hay tiếng đuôi rồng cuộn sóng nghe lao xao, rì rầm bất tận…
Thuyết minh về Vịnh Bái Tử Long
412
Thuyết minh về Vịnh Hạ Long Việt Nam văn 8 Hướng dẫn Thuyết minh về Vịnh Hạ Long Việt Nam văn 8 Theo truyền thuyết xa xưa, một vài gia đình rồng nhà trời, đứng đầu là một con rồng mẹ bay tới vùng Long Đồ (rốn rồng) thuộc phường Hà Khẩu ở Đông Đô. Được ngày lành tháng tốt, gia đình nhà rồng bay cả lên bầu trời, ca ngợi cảnh thái bình và phồn vinh. Rồi rồng bay xuống vịnh Hạ Long là nơi đắc địa, có phong cảnh diệu kì. Ở đây, rồng thiêng phun ra muôn ngàn những viên châu ngọc và sinh ra nhiều rồng con. Những viên châu ngọc đó trở nên những hòn đảo trong vịnh. Vịnh nhỏ Bái Tử Long là vịnh của những đàn rồng con chầu về mẹ rồng. Vịnh biển rộng 1500km vuông, rải rác chừng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ. Chúng còn được gọi là đỉnh. Là hòn, ngọn, núi… Người ta nhìn hình tượng chúng mà đặt tên như: gà chọi, con cóc, con chó, con rùa, đỉnh hương, phẩm oản, nải chuối, ẵm em, yên ngựa, ông cục, chờ chồng v.v… Hang động trong các đảo đá ở vịnh Hạ Long cũng la liệt phô bày. Có hang lại nửa nổi nửa chìm. Các thuyền nhỏ có thể luồn lách vào tận bên trong, xuyên qua mấy đảo núi như thể vào mê cung nước biển vô tận. Có hang lại đi xuyên qua gan ruột một quả núi, tạo thành một đường hầm có hai cửa. Ngay sát vịnh là quê hương của những mỏ than lộ thiên – chủ yếu là mỏ Hòn Gai với nhiều đoàn tàu nước ngoài đến “ăn than” tấp nập, khẩn trương. Bãi tắm Bãi Cháy, bãi Tử Long, Cô Tô. Bãi tắm ở đảo Ba Mùn, Ngọc Vừng, Quan Lan, Minh Châu, Trà cổ… là những bãi tắm xanh, sạch, đẹp. Cát chỗ nào cũng mịn màng, trắng phau. Đảo Ba Mùn là một hòn đá đảo rừng nguyên sinh, xanh ngợp cây đại ngàn. Nơi đây không hiếm các loại cây, cỏ làm thuốc quý như: ngũ gia bì, đằng đằng, ngưu tất, tam thất… Trên các đảo của vịnh có đủ các loại sơn cầm, dã thú như vượn, khỉ, sơn dương, kì đà, bói cá, hươu sao, sóc bay, đại bàng, cò lửa, chim xanh, chim gõ mõ… Bãi Cháy là dải bờ biển nằm ở phía tây bắc Vịnh Hạ Long, là một bãi tắm trải dài, uốn khúc. Nơi đây mọc lên nhiều khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ. Các cửa hàng buôn bán sầm uất ngay bên cạnh bãi biển. Đi phà chừng 15 phút, sẽ tới Thành phố Hạ Long có mùi cá và mùi than. Đi về phía bên trái một chút là đến đảo Khỉ. Khách có thể đến thăm nơi sinh sống của gần 2000 con khỉ. Chúng kéo nhau đi nhận phần cơm khi có tiếng kẻng báo giờ ăn. Xem chúng bồng con bế cái, đùa giỡn, chòng ghẹo nhau. Chúng cũng vui, giận, yêu, ghen… Về việc vịnh Hạ Long của ta được UNESCO công nhận và ghi vào danh sách di sản văn hóa của toàn thế giới, là danh thắng (site) của thế giới là cả một quá trình kéo dài nhiều năm gửi công văn đi và nhận công văn về. Việc này đã qua nhiều cuộc bàn luận quốc tế, qua nhiều lần khao sát thực địa, trình bày, phân tích. Những cuộc khảo sát khoa học và văn hóa về vịnh Hạ Long do các đoàn chuyên viên cao cấp của UNESCO tiến hành rất tỉ mỉ. Để được UNESCO công nhận là di tích của thế giới, phải có những cứ liệu cụ thể, những lí luận vững để bảo vệ. Nói chung thì danh thắng (site) được coi là danh thắng của thế giới phải đạt ba tiêu chuẩn: 2) Phải có những gì xứng đáng là công trình, có bàn tay và trí óc của con người hợp sức với thiên nhiên để tạo nên một quần thể kiến trúc có nét đẹp hài hoa. 3) Phải có cái hồn của cả hai mặt nói trên cộng lại. Nghĩa là phải có nhiều sự tích, chuyện kể bi hùng, lâm li qua nhiều đời người. Vịnh hạ Long có 12 giá trị: 1. Giá trị về mặt khảo cổ, 2. Giá trị về kinh tế, 3. Giá trị về quang cảnh, 4. Giá trị về nghệ thuật, 5. Giá trị về lịch sử, 6, Giá trị về khoa học, 7. Giá trị về văn hóa, 8. Giá trị về chính trị, 9. Giá trị về tinh thần, 10. Giá trị về thiên nhiên, l1. Giá trị về giáo dục, 12. Giá trị về tính chất phổ quát toàn cầu. Được UNESCO ra văn bản công nhận Hạ Long của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là di sản văn hóa của thế giới là niềm phấn khởi đầy tự hào. Nhưng cũng là một nhiệm vụ nặng nề đối với chứng ta trong việc giữ gìn, xây dựng, tránh ô nhiễm để Vịnh Hạ Long càng ngày càng đẹp hơn và có ích hơn cho cả cộng đồng quốc tế…
Thuyết minh về Vịnh Hạ Long Việt Nam văn 8
871
Thuyết minh về vịnh Hạ Long – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài tham khảo Theo truyền thuyết xa xưa, một vài gia đình rồng nhà trời, đứng đầu là con rồng mẹ bay tới vùng Long Đồ (rốn rồng) thuộc phường Hà Khẩu ở Đông Đô. Được ngày lành tháng tốt, gia đình nhà rồng bay cả lên bầu trời, ca ngợi cảnh thái bình và phồn vinh. Rồi rồng bay xuống vịnh Hạ Long là nơi đắc địa, có phong cảnh diệu kì. Ở đây, rồng thiên phun ra châu ngọc và sinh ra nhiều rồng con. Những viên châu ngọc đó trở nên những hòn đảo trong vịnh. Vịnh nhỏ Bái Tử Long là vịnh của những đàn rồng con chầu về mẹ rồng. Vịnh biển rộng 1.500km2, rải rác chừng 3000 ngàn hòn đảo lớn, nhỏ. Chúng còn gọi là đỉnh, là hòn, ngọn, núi… Người ta nhìn hình tượng chúng mà đặt tên như: gà chọi, con cóc, con chó, con rùa, đỉnh hương, phẩm oản, nải chuôi, ẵm em, yên ngựa, ông cụ, chờ chồng… Hang động trong các đảo đá ở vịnh Hạ Long cũng la liệt phô bày. Có hang lại nửa nổi nửa chìm. Các thuyền nhỏ có thể luồn lách vào tận bên trong, xuyên qua mấy đảo núi như thế vào mê cung nước biển vô tận. Có hang lại đi xuyên qua gan ruột một quả núi, tạo thành một đường hầm có hai cửa. Đó là hang Trông, hang Đầu Gỗ, hang Trinh Nữ có dáng đá giống hệt người đàn bà xõa tóc đẻ ra những câu chuyện kẻ thương tâm, bi hùng về một người con gái nhan sắc, đã làm xúc động biết bao nhiêu đời người. Mỗi hòn đá, một nhóm cây ở đây đều gắn liền với những câu chuyện. Chúng có cuộc sống và tâm hồn riêng. Thôi thì đủ chuyện: chuyện những vụ đắm tàu, những toán cướp biển, những chàng trai anh hùng, những nàng tiên cá, những cuộc yêu đương mà hai bên trai gái đều đâm đầu xuống biển để sống với nhau ở thế giới bên kia, những chuyện ma quỷ rùng rợn, những chuyện thần tiên đủ cả. Ngay sát vịnh là quê hương của những mỏ than lộ thiên – chủ yếu là mỏ Hòn Gai với nhiều đàn tàu nước ngoài đến “ăn than” tấp nập, khẩn trương. Bãi tắm Bãi Cháy, Bái Tử Long, Cô Tô. Bãi tắm ở đảo Ba Mùn, Ngọc Vừng, Quan Lan, Minh Châu, Trà cổ… là những bãi tắm xanh, sạch, đẹp. Cát chỗ nào cũng mịn màng, trắng phau… Đảo Ba Mùn là một hòn đảo có rừng nguyên sinh, xanh ngợp cây đại ngàn. Nơi đây không hiếm các loại cây, cỏ làm thuốc quý như ngũ gia bì, đằng đằng, ngưu tất, tam thất… Trên các đảo của vịnh có đủ các loại sơn cầm, dã thú như vượn, khỉ, sơn dương, kì đà, bói cá, hươu sao, sóc bay, đại bàng, cò lửa, chim xanh, chim gõ mõ… Bãi Cháy là dải bờ biển nằm phía Tây Bắc vịnh Hạ Long, là một bãi tắm trải dài, uốn khúc. Nơi đây mọc lên nhiều khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ. Các cửa hàng buôn bán sầm uất ngay bên cạnh bãi biển. Đi phà chừng 15 phút, sẽ tới thành phố Hạ Long có mùi cá và mùi than. Đi về phía bên trái một chút là đến đảo Khỉ. Khách có thể đến thăm nơi sinh sống của gần 2000 con khỉ. Chúng kéo nhau đi nhận phần cơm khi có tiếng kẻng báo giờ ăn. Chúng bồng con bế cái, đùa giỡn, chọc ghẹo nhau, cũng vui, giận, yêu, ghen… Được UNESCO ra văn bản công nhận di sản văn hóa thế giới là niềm phấn khởi đầy tự hào, nhưng cũng là một nhiệm vụ nặng nề đối với chúng ta trong việc giữ gìn, xây dựng, tránh ô nhiễm để vịnh Hạ Long càng ngày càng đẹp hơn và có ích hơn cho cả cộng đồng quốc tế. Tags:Văn 8
Thuyết minh về vịnh Hạ Long – Đề và văn mẫu 8
683
Đề bài: Em hãy thuyết minh về xôi gấc Bài làm Chúng ta như biết được rằng, cùng với các món truyền thống như gà luộc, giò lụa hay bánh chưng, hay đó là những chiếc bánh tét thì đĩa xôi gấc được xem là món không thể thiếu trong mâm cỗ ngày tết truyền thống của người Việt Nam từ xưa cho đến nay. Người Việt ta hay nói rộng hơn đó chính là những người phương Đông thì dường như cũng vẫn quan niệm rằng màu đỏ là màu của hạnh phúc. Hơn nữa ta như biết được rằng chính sắc màu thắm của sắc xuân, là biểu tượng cho sự may mắn và cũng chính là sự tốt lành. Hơn nữa, ta cũng có thể nhận thấy được rằng chính màu đỏ của gấc là màu tự nhiên của đất trời, màu đỏ này dường như cũng đã mang đến nên sẽ tạo ra sự dung hòa, thuận lợi cho năm mới an khang hơn, nhiều may mắn cũng như hạnh phúc hơn biết bao nhiêu. Đặc biệt hơn nếu như ta chú ý thì cứ vào bữa cơm tất niên hay trên mâm cỗ cúng gia tiên ngày đầu năm mới của dân ta thì người Việt thường chuẩn bị thêm một đĩa xôi gấc. Đĩa xôi gấc nó dường như cũng đã tượng trưng cho một niềm tin sẽ được nhiều lộc, nhiều may mắn trong cả năm sắp tới này. Xôi gấc có màu đỏ – đó cũng chính là một điều cực may mắn cho những thành viên trong gia đình theo quan niệm của ông cha ta. Và chho dù bạn không tin lắm thì cũng không thể phủ nhận được màu đỏ luôn là một trong những màu nổi trội, đẹp mắt và mang đến điều tốt lành cho chúng ta. Cứ vào mỗi phiên chợ giáp tết, dù ở quê nghèo hay trên thành phố sầm uất giàu sang. Và ta như nhận thấy được cũng chính ngay trong sự bận bịu sắm tết hay trang hoàng nhà cửa thì người ta vẫn cố tìm mua một vài quả gấc đỏ tươi rồi thổi một vài đĩa xôi gấc đỏ thắm vừa thơm lại vừa ngon miệng biết bao nhiêu! Xôi gấc được người Việt nấu luôn luôn lại có được vị dẻo thơm của những hạt lúa nếp, và những hạt xôi này lại có màu đỏ tươi tắn, còn chứa đựng đủ vị bùi, béo, ngậy… Tất cả những mùi, hương vị này như cũng rất đặc trưng từ quả gấc. Món xôi này không chỉ mang đến vị lạ, đặc biệt nó dường như cũng rất ngon trong ngày tết mà còn gửi gắm một giá trị tinh thần cho ngày tết truyền thống Việt Nam. Xôi gấc được biết đến cũng chính là thức ăn trong dịp lễ tết nên món xôi gấc thường được chuẩn bị rất công phu. Thật dễ có thể nhận thấy được rằng, cũng chính từ việc lựa gấc làm sao cho đỏ, thơm và ngon nhất đến việc đồ xôi, đơm xôi và đặt lên ban thờ như thế nào… dường như ta thấy được tất cả đều được các bà, các mẹ làm kỹ lưỡng, cầu kỳ biết bao nhiêu, Xôi gấc là một loại xôi dễ ăn, màu sắc đẹp và nó thực sự trở thành một trong những loại xôi truyền thống của dân tộc Việt Nam ta từ ngàn đời nay. Minh Nguyệt
Thuyết minh về xôi gấc
578
Đề bài: Em hãy thuyết minh về đèn ông sao Bài làm Trung thu đêm hội trăng rằm Em theo sao sáng về thăm chị Hằng. Cứ mỗi khi Tết trung thu về trên khắp phố xá cho đến các con đường nhỏ như lại xuất hiện rất nhiều những đồ chơi của trẻ em. Một trong số những trò chơi đó ta không thể không kể đến những chiếc đèn ông sao – một thứ trò chơi được thiếu nhi ưa chuộng nhất Trung thu đến những khúc ca như cứ vang ngân lên đó chính là câu: “Chiếc đèn ông sao sao năm cánh tươi màu Cán đây rất dài cán cao quá đầu Em cầm đèn sao em hát vang vang Đèn sao tươi màu của đềm rằm liên hoan! Tùng rinh rinh, tùng tùng tùng rinh rinh…”. Qủa thực ta như thấy được rằng cũng đã từ lâu rồi thì ta như thấy được hình ảnh của chiếc đèn Trung thu hình ngôi sao năm cánh dường như cũng đã được xem là món đồ không thể thiếu đối với trẻ em trong dịp Tết trung thu ngày trước và cho đến ngày nay nữa. Không thể phủ nhận được rằng, ngày nay thì mỗi trẻ em cũng không hề thiếu những đồ chơi đẳng cấp, hiện đại,… Các đồ chơi tuy nhiều cũng như có nhiều trò chơi hiện đại nhưng dường như những chiếc đèn ông sao vẫn có một ý nghĩa đặc biệt với thiếu nhi chúng em. Ta không thể nào có thể phủ nhận được một chiếc đèn ông sao năm cánh cũng giống như những vì sao đang lấp lánh trên trời cao. Thực sự cứ những ngày mà vào đêm trăng rằm tháng tám. Nếu như, ta mà thấy được ở bên trong lồng đèn là một vì sao tinh tú của đất trời thì bên ngoài là một vầng trăng tròn nó dường như cũng đã lại thật là đầy đặn đang mở mắt tròn xoe đón chào một ngày hội tuyệt đẹp cho thiếu nhi và cho ngày đoàn viên chúng ta. Thế rồi cứ mỗi khi mà chúng ta mà lại như nhìn lên trời cao, chúng ta có thể thấy vầng trăng xinh đẹp, đồng thời với đó cũng chính là cùng những vì sao soi lấp lánh soi sáng cả bầu trời bao la. Có lẽ rằng, ta như cũng đã còn dưới trần gian này vầng trăng, ngôi sao của chúng em được thắp bằng ngọn đèn nhỏ xinh của tuổi thơ chứa đựng bao mơ ước cho tương lai của chúng em. Em rất vui khi được có một chiếc đèn trung thu đi chơi ngày trung thu. Em sẽ cố gắng học thật giỏi để không phụ lòng bố mẹ. Và nếu như học giỏi em sẽ bảo bố mua cho em một chiếc đèn ông sao đẹp như năm nay bố mua. Minh Nguyệt
Thuyết minh về đèn ông sao
479
Đề bài: Em hãy viết bài văn thuyết minh về đôi dép lốp cao su. Bài làm Đôi dép cao su là vật dụng đầy sáng tạo và độc đáo, chỉ ở đất nước Việt Narn mới có. Nó đã gắn bó thân thiết với cán bộ và chiến sĩ ta qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đố quốc Mĩ xâm lăng. Đôi dép có hình dáng giống các đôi dép bình thường khác. Quai dép được làm bằng săm (ruột) xe ô tô cũ. Hai quai trước bắt chéo nhau, hai quai sau song song, vắt ngang cổ chân. Bề ngang mỗi quai khoảng 1,5 cm. Quai được luồn xuống đế qua các vết rạch vừa khít với quai. Đế dép được làm bằng lốp (vỏ) xe ôtô hỏng hoặc đúc bằng cao su, mặt dưới có xẻ những rãnh hình thoi để đi cho đỡ trơn. Dép lốp cao su dễ làm, giá thành rẻ, tiện sử dụng trong mọi thời tiết nắng, mưa. Khi xỏ quai sau vào, dép sẽ ôm chặt lấy bàn chân và gót chân nên người đi đường sẽ không bị mỏi. Người đi đường xa mang sẵn cái rút dép tự tạo bằng cật tre già hoặc bằng nhôm, đề phòng khi dép cao su bị tuột quai thì rút lại. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, mỗi anh bộ đội được phát một đôi giày và một đôi dép cao su. Chiến sĩ ta thường sử dụng dép cao su để hành quân đánh giặc. Đi giày vừa nặng vừa nhiều cái bất tiện, nhất là lúc hành quân qua địa hình rừng núi, gặp trời mưa thì giày là cái túi nước dưới chân, là nơi trú ngụ tốt nhất của các con vắt rừng chuyên hút máu. Dẫu biết có vắt trong giày, các chiến sĩ vẫn phải cắn răng chịu đựng, không dám dừng lại để bắt nó ra vì sợ lạc đội ngũ. Nếu dùng dép lốp để hành quân thì mọi việc đơn giản hơn nhiều. Trời nắng thì dép nhẹ, dễ vận động. Nếu trời mưa, gặp đường sình lầy thì chỉ cần đổ ít nước trong bi đông ra rửa bớt bùn là tiếp tục đi. Vắt cắn chân thì cúi xuống nhặt, vứt sang lề đường, chẳng mất thời gian. Đôi dép cao su là biểu tượng giản dị, thuỷ chung trong hai cuộc chiến tranh giải phóng đau thương mà oanh liệt của dân tộc ta. Đôi dép cao su còn gắn liền với cuộc sống thanh cao, giản dị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đôi dép cao su, đôi dép Bác Hồ đã trở thành đề tài bài thơ của nhà thơ quân đội Tạ Hữu Yên, được nhạc sĩ Văn An phổ nhạc. Bài hát đã in đậm hình ảnh đáng yêu của đôi dép cao su trong lòng công chúng: Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường, trận địa, nhà máy, đồng quê, đều in dấu dép Bác về Bác ơi! Dép này Bác trải đường dài. Đã cùng Bác vượt chông gai, xây non nước nhà. Đường đi chiến đấu gần xa, dấu dép Cha già dẫn lối con đi… Bài hát đã vang lên cùng năm tháng, nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta hãy trân trọng thành quả và vinh quang to lớn mà ông cha ta đã tạo dựng nên từ những thứ bình thường nhất trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Thuyết minh về đôi dép cao su
592
Thuyết minh về địa phương em – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Với diện tích tự nhiên 2.360km2 tỉnh Trà Vinh có hình dáng như một hình chữ nhật được phân bố thành ba vùng rõ rệt: vùng nước ngọt, vùng nước lợ và vùng nước cận biển hoàn toàn mặn. Đây là một trong những vùng đất cổ xưa được hình thành do biển đưa phù sa vào từ hàng ngàn năm nay. Trà Vinh còn là nơi đang tồn tại sự hòa hợp của ba nền văn hóa Việt, Khơme, Hoa qua hình ảnh những ngôi chùa. Có lẽ chưa có một thị xã nào ở nước ta mang dáng dấp tỉnh lị phố xá lại nằm dưới một tán rừng cây cao bóng cả như Trà Vinh. Trên một diện tích không lớn lắm vậy mà thị xã Trà Vinh có hơn 5.000 cây sao, dầu cao 20 – 30m tỏa bóng che mát cho những đường phố sạch sẽ, yên tĩnh và thanh bình. Nếu như du khách muôn tìm đến một nơi nghỉ ngơi có cảnh quan thú vị nửa phố thị, nửa rừng cây và có thể có cả sóng biển vỗ ầm ào suốt đêm thì nên một lần ghé qua Trà Vinh. Du khách sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi đến vùng đất “lạ mà quen” này. Lạ là chỉ vì đi xa vài cây số, từ một thị xã bán buôn sầm uất, phố phường đông vui thì lại thấy ngay những rừng cây xanh chẳng thua gì những rừng khộp của Buôn Ma Thuột – rồi qua dải rừng ấy đột nhiên lại hiện ra những dòng sông rộng mênh mông, có đoạn từ bờ này sang bờ kia rộng 5km, nước luôn ngầu đục phù sa. Có nhiều người cho rằng, muốn tìm cảm giác dòng sông cuốn đến tận chân trời thì nên đến Trà Vinh. Vào mùa Vu Lan (tháng 7 âm lịch) du khách sẽ được chứng kiến những lễ hội độc đáo tại Vạn Niên Phong Cung (thị trấn cầu Kè). Du khách sẽ tham dự các nghi thức tổ chức rước lễ trang trọng như lễ rước Phật ở các chùa, rước thần ở các đình làng; lễ thỉnh kinh (diễn lại sự tích thỉnh kinh của thầy trò Đường Tăng Tam Tạng); lễ Đàn thí thực; lễ cầu quốc thái dân an… Lễ hội cúng biển Mĩ Long được tổ chức hằng năm trong ba ngày (10 – 12.5 âm lịch) tại miếu Bà Chúa Xứ ở biển Mĩ Long, huyện cầu Ngang. Nghi lễ tiến hành trang trọng với lễ Nghinh Ông Nam Hải, rước Bà Chúa Xứ, lễ tế Thần Nông… rất tưng bừng náo nhiệt. Lễ Chui Chnăm Thmây là lễ Tết đón mừng năm mới vào giữa tháng 4 dương lịch. Tưng bừng nhất có lẽ là lễ hội Ok Om Bok, còn gọi là lễ cúng trăng. Theo tín ngưỡng của người Khơme, mặt trăng được coi là vị thần mang lại mùa màng tươi tốt, cuộc sông ấm no cho dân làng. Lễ Ok Om Bok được tổ chức vào ngày rằm tháng 10 âm lịch. Khi trăng lên cao, một vị cao niên nhất làng sẽ tiến hành lễ tạ ơn Thần Mặt Trăng, xin mặt trăng tiếp nhận lễ vật và ban phúc cho mọi người. Ngoài ra dân làng còn tổ chức các trò chơi dân gian như thả đèn gió, đấu võ, kéo co … Trà Vinh có những cảnh quan tự nhiên vô cùng hấp dẫn như ao Bà Om, rừng đước bạt ngàn trên 840ha, cồn Nghêu nằm cách bờ biển Mĩ Long 10 phút đi ca nô. Cồn Nghêu chỉ xuất hiện khi thủy triều xuống. Lúc triều lên thì toàn bộ cồn chìm trong làng nước biển mênh mông. Chính sự ẩn hiện bất thường của cồn là điều thích thú đối với du khách, cồn Nghêu còn được gọi là “mỏ nghêu”, bởi nghêu nhiều vô kể. Khách sẽ được thưởng thức một bữa nghêu nhớ đời. Hoặc đến rừng đước sẽ được thưởng thức món đặc sản: con chù ụ, con vộp hấp sả. Bạn sẽ biết món chù ụ, vộp ngon đến khó quên thế nào. Và còn một điểm du lịch mà du khách đừng bỏ qua, đó là biển Ba Động, một vùng biển mà từ đây, nếu muốn, du khách sẽ được tàu du lịch đưa đi tham quan Côn Đảo, chỉ mất 8 tiếng đồng hồ vượt biển Đông. Trà Vinh đang chuyển mình để có thể trở thành một trung tâm du lịch như các “đàn anh” Vĩnh Long, cần Thơ, Bến Tre. Chắc chắn Trà Vinh sẽ còn những điều bất ngờ ở phía trước chờ đón bạn. Tags:Văn 8
Thuyết minh về địa phương em – Đề và văn mẫu 8
797
Đề bài: Em hãy thuyết minh về ước mơ Bài làm Có lẽ rằng chúng ta đều biết được rằng cuộc đời sẽ tẻ nhạt, vô nghĩa biết bao khi con người ta sống không có ước mơ, khát vọng đúng không nào? Ta cũng phải hiểu được rằng, uớc mơ là nhựa sống để nuôi dưỡng tâm hồn ta lớn lên. Và ta cũng phải hiểu được chính ước mơ dường như cũng đã giúp cho chúng ta sống có mục đích, có tương lai, hạnh phúc. Thế rồi ta như biết được rằng, chính một câu nói đáng để ta suy ngẫm đó chính là câu nói bất hủ “Ở trên đời, mọi chuyện đều không có gì khó khăn nếu ước mơ của mình đủ lớn”. Vậy, chúng ta nên hiểu được ước mơ là già? Ước mơ được xem chính là điều tốt đẹp ở phía trước mà con người tha thiết, khao khát, ước mong hướng tới, đạt được trong cuộc sống của chúng ta. Trong cuộc sống ta như thấy được rằng thực sự cũng đã có biết bao người đã ví rằng “Ước mơ giống như ngọn hải đăng, chúng ta là những con thuyền giữa biển khơi bao la. Hay nói một cách khác thì ước mơ cũng chính là ngọn hải đăng thắp sáng giúp cho con thuyền của chúng ta đi được tới bờ mà không bị mất phương hướng”. Thực sự ta như thấy được những sự ví von quả thật chí lí, giúp người ta hiểu rõ, hiểu đúng hơn về ước mơ của mình hơn nữa. Nếu trong đời sống của chusnh ta, ai ai cũng có ước mơ và họ luôn luôn cố gắng để đạt được ước mơ đó thì cũng chính là việc ước mơ đủ lớn rồi đó. Trong cuộc sống ta như hiểu được rằng chính ước mớ đủ lón là ước mơ khởi đầu từ điều nhỏ bé, trải qua một quá trình nuôi dưỡng. Và tất nhiên ước mơ này như cũng đã để cho ta được phấn đấu, vượt những khó khăn trở ngại để trở thành hiện thực. Thật vậy đó, ta như thấy được chính những ước mơ đủ lớn cũng như một cái cây phải được ươm mầm rồi trưởng thành. Ta như biết được, thực tế thì một cây sồi cổ thụ đang vươn mình dưới ánh nắng khi thì nó dường như cũng phải bắt đầu từ một hạt giống được gieo và nảy mầm rồi dần lớn lên. Và có như vậy, ta như thấy được rằng, chính ước mơ đủ lớn nghĩa là ước mơ bắt đầu từ những điều nhỏ bé và được nuôi dưỡng dần lên. Để ước mơ trở thành hiện thực thì chúng ta cũng phải như biết được mà cố gắng hơn thực hiện từ những điều nhỏ bé nhất để cố gắng vươn đến thành công. Bên cạnh đó ta cũng như thấy được rằng trong mỗi một con người tồn tại trên cõi đời này phải có riêng cho mình ước mơ, hi vọng, lí tưởng, mục đích sống của đời mình. Thực sự ta như thấy được ước mơ có thể thành, có thể không, xin người hãy tự tin. Nếu như mà con người chúng ta mà lại sợ ước mơ bị thất bại mà không dám ước mơ, hay không đủ ý chí, nghị lực mà nuôi dưỡng ước mơ “đủ lớn” thì lúc này đây thực thật đáng tiếc, đáng phê phán. Cuộc đời của chúng ta dường như cũng sẽ chẳng đạt đạt được điều gì mình mong muốn, sống như thế thật tẻ nhạt, vô nghĩa. Trong cuộc sống thì mỗi người chúng ta hãy có cho mình một ước mơ, hi vọng. Nếu như ai đó trong số chúng sống không có ước mơ, khát vọng thì cuộc đời tẻ nhạt, vô nghĩa biết nhường nào. Minh Nguyệt
Thuyết minh về ước mơ
650
Thuyết minh vể một món ăn đặc sản Bài làm Thuở ban đầu, người làm bánh cốm chỉ suy nghĩ đơn giản là muốn làm một loại bánh gần giống như bánh chưng, nhưng khác với bánh chưng là có vị ngọt. Bởi vậy nguyên liệu làm bánh cốm cũng có là gạo nếp và đậu xanh. Loại gạo nếp làm bánh cốm là gạo nếp non được chế biến ra dạng cốm, dùng làm vỏ bánh. Nhân bánh làm từ đậu xanh và dừa. Cả nhân và vỏ bánh đều được xào lẫn với đường tạo cho bánh vị ngọt, thơm ngon. Bánh cốm có ngon hay không phụ thuộc rất nhiều vào khâu chọn nguyên liệu. Cốm làm bánh phải là cốm già, nếu non quá khi xào với đường sẽ bị nhão, không dùng làm vỏ bánh được. Nếu bánh được làm đúng vào mùa cốm, người ta thường pha thêm ccím tươi để bánh dẻo và thơm mùi cốm mới. Trước khi xào đường, cốm được ủ khoảng một giờ đồng hồ. Tiếp đến là làm nhân bánh. Đậu xanh thường dùng là loại đậu của vùng Thái Bình, Sơn La, Bắc Ninh vì loại đậu này có khi ngâm nước có độ nở vừa phải. Còn đậu xanh của các vùng khác, đặc biệt là đậu trồng ở khu vực phía Nam, khi ngâm nước nở nhiều, dễ bị thiu, không thể dùng làm nhân bánh được. Những người chuyên làm bánh cho rằng chẳng có một công thức cụ thể nào để làm bánh cốm. Bí quyết để có bánh ngon hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và thói quen của mỗi người làm bánh. Ví dụ ở khâu ủ cốm, nhiều người cho rằng khi đặt tay lên bề mặt cốm cảm giác hết độ dính thì mới đem xào đường. Do vậy tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu, tùy loại cốm, thời gian ủ có xê dịch đôi chút. Khi xào cốm phải xác định thời gian vừa phải, không kĩ quá làm vỏ bánh chóng bị cứng, hoặc không quá nhanh, cốm chưa kịp ngấm đường, không để lâu được… Khi xào nhân đậu xanh cũng vậy, phải xào cho đến khi nước bốc hơi hết, chỉ còn lại đường và đậu dính quyện vào nhau mới ngon. Bánh cốm làm xong được ướp hương hoa bưởi và một số vị thuốc bắc hoặc bằng va-ni, vừa nhanh, vừa tiện.
Thuyết minh vể một món ăn đặc sản
408
Thuyết minh đặc điểm truyện ngắn dựa vào một số truyện đã học – Đề và văn mẫu 8 Hướng dẫn Bài làm Truyện ngắn là một thể loại văn học thuộc hình thức tự sự loại nhỏ. Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ, tập trung mô tả một mảnh cuộc sống, một biến cố, một hành động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh của tính cách hay một mặt nào đó của đời sống xã hội. Truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh ghi lại một biến cố quan trọng trong cuộc đời đứa trẻ khi em từ thế giới gia đình bước vào thế giới nhà trường. Trong Chiếc lá cuối cùng của O’ Hen-ri, đó là việc Giôn-xi bị ốm nặng nằm chờ chết; việc cụ Bơ-men lặng lẽ vẽ chiếc lá cuối cùng trong một đêm mưa tuyết dữ dội để cứu sống cô gái, và cụ đã ra đi sau khi hoàn thành kiệt tác ấy. Còn trong Lão Hạc, Nam Cao ghi lại mảnh đời cuối cùng của người nông dân già nghèo khổ, đơn độc, nhưng trước khi tìm về cái chết đã lo lắng thật chu đáo cho đứa con lúc nó trở về. Truyện ngắn thường có ít nhân vật và sự kiện như trong ba truyện ngắn trên. Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Nó không kể trọn vẹn một quá trình diễn biến một đời người mà chọn lấy những khoảnh khắc, những lát cắt của cuộc sống để thể hiện. Tôi đi học chỉ thu lại trong buổi tựu trường đầu tiên trên con đường từ nhà đến trường, trên sân trường, trong lớp học; Lão Hạc chỉ là khoảnh khắc cuối đời của nhân vật từ nhà của lão sang nhà ông giáo; Chiếc lá cuối cùng được kể lại trong những ngày Giôn-xi ốm nằm ở căn phòng nhỏ có chiếc cửa sổ trông ra cây thường xuân. Những đặc điểm trên đây đã khiến cho dung lượng truyện ngắn thường ngắn. Nhưng không phải vì thế mà truyện ngắn không đề cập tới những vấn đề lớn của cuộc đời như Lão Hạc hay Chiếc lá cuối cùng. Và nếu đọc các tác phẩm của các bậc thầy trong thể loại này, ta càng thấy rõ điều đó.
Thuyết minh đặc điểm truyện ngắn dựa vào một số truyện đã học – Đề và văn mẫu 8
402
Thuyết minh: Hành hương đền Hùng Hướng dẫn Trong tiềm thức của mỗi người Việt Nam, về với Đền Hùng là cuộc hành hương trở về nguồn cội, tìm lại những dấu ấn lịch sử hào hùng thời Vua Hùng dựng nước. “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm” Cụm di tích Đền Hùng trên một ngọn núi cao hùng vĩ. Bàn thờ Tổ được đặt trên ngọn núi Nùng (Nghĩa Lĩnh) thuộc thôn cổ Tích, xã Hi Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Núi Nùng cao 175m nổi lên án ngự vùng đồi Phong Châu Bạch Hạc. Đền Hùng là tên chung chỉ bốn ngôi đền và một ngôi lăng trên Núi Nùng. Từ cổng chính đi lên là Đền Hạ, theo truyền thuyết đây là nơi bà Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng nở ra một trăm người con tạo thành sức mạnh Việt Nam. Lên nữa là Đền Trung nơi các vua Hùng bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng và trên đỉnh núi là Đền Thượng với bốn chừ vàng “Nam Việt Triệu Tổ” (Tổ muôn đời nước Việt Nam). Đây là nơi Vua Hùng thờ Thánh Gióng và làm lễ tế trời đất cầu mưa gió thuận hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân ấm no. Cạnh Đền Thượng là ngôi Lăng nhỏ thường gọi là mộ Tổ mang ý nghĩa tượng trưng. Từ Lăng đi xuống về hướng Đông, dưới chân núi là Đền Gióng nơi xưa hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con Vua Hùng thứ 18 soi gương nước trang điểm, vì thế giếng còn có tên là Giếng Ngọc. Giếng ấy nay ở trong lòng đền. Đứng trước Đền Thượng (đỉnh Hùng Sơn) nhìn ra tám phương bốn hướng, trải ra trước mắt một vùng trung du tươi đẹp và bạt ngàn đồi cây xanh tốt, lấp lánh ánh nước ngã ba sông. Những ngôi nhà mới và những nhà máy mọc lên khiến cho cảnh vật thêm sinh động. Con người cảm thấy thực sự nhỏ bé trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ nơi đây. Sự đổi thay của đất và người Phú Thọ đã tô điểm thêm vẻ đẹp cho khu di tích Đền Hùng lịch sử. Sừng sững phía Đông là dãy Tam Đảo chạy dài như bức trường thành. Phía Tây chót vót ngọn Tản Viên trấn ngự. Sông Đà, sông Lô, sông Thao hợp nước chầu về Đền Hùng càng làm tăng vẻ hùng vĩ cho khu di tích: “Xem địa thê trùng trùng long hổ Tả đảo Sơn mà hữu Tản Viễn Lô, Đà hai nước hai bên Giữa Sồng Thao thủy dòng trên Nhị Hà” Cố đô Văn Lang xưa, Nghĩa Lĩnh – Việt Trì là cái nôi của huyền thoại. Sông núi cỏ cây mang nặng hồn đất nước, đem đến cho khách thập phương những câu chuyện nửa thực nửa hư mà rất đẹp. Làng Lú xưa là nơi Vua Hùng dạy dân trồng lúa. Các xã dọc sông Lô là nơi Vua Hùng đi săn cùng các Lang và các Mỵ Nương. Làng Hương Trầm, xã Lâu Thượng là nơi hoàng tử Lang Liêu làm ra bánh chưng, bánh dày dâng lễ chúc thọ Vua Hùng. Ngã ba sông là nơi Vua Hùng thứ 18 lập lầu kén rể chọn chồng cho công chúa, nơi diễn ra cuộc so tài giữa thần Núi và thần Nước để giành người đẹp… Là ngày giỗ Tổ bốn nghìn năm nay” Về hội Đền Hùng là tìm về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, tìm về tuổi ấu thơ trong chiếc nôi với lời ru sông núi của mẹ Âu Cơ; là nhớ về tổ tiên một thời lập quốc với dấu tích của một thời đại Vua Hùng, về với Đền Hùng là về với nguồn cội, về với bản sắc văn hóa của người Việt Nam, cùng cầu chúc mọi điều tốt đẹp đến với tất cả mọi người.
Thuyết minh_ Hành hương đền Hùng
666
Thuyết mình về Cây…ở quê em Hướng dẫn Thuyết mình về Cây…ở quê em Bài mẫu 1: Thuyết minh về cây bưởi Múi bưởi cong hình vầng trăng khuyết, có tôm vàng, hạt bên trong se nhỏ. Từng tép bưởi sẽ mọng nước và có mùi thơm rất đặc trưng. Khi ăn múi bưởi Diễn, người ta sẽ thấy vị ngọt đậm đà lưu lại trên đầu lưỡi. Bài làm Quê hương là nơi chôn rau cắt rốn nên luôn có một vị trí đặc biệt trong tâm hồn của mỗi người. Quê hương tôi được biết đến là vùng đất của những cây bưởi – vùng Phú Diễn, Bắc Từ Liêm. Bưởi Diễn quê tôi là loài cây ăn quả lâu năm, thuộc nhóm cây có múi, thân gỗ. Thân bưởi cao, khi trưởng thành có thể cao tới hàng chục mét cành lá xù xì. Là một loại cây dễ trồng, bưởi thích hợp trồng và phát triển tốt nhất là trên đất thịt. Để trồng bưởi Diễn, người ta thường lựa chọn chiết cành nhiều lá, lá to và xanh ngắt làm cây con. Khi cành ấy mọc rễ, ta có thể trồng xuống đất như một cây con. Bưởi chiết khi mới trồng sẽ rụng hết lá để bắt đầu một cuộc sống mới, như cách mà loài rắn lột da để trưởng thành hơn vậy. Sau một năm, bưởi được chăm sóc tốt sẽ bắt đầu ra lá, thân to hơn và cành bắt đầu mọc nhiều hơn. Cây bưởi Diễn khi trưởng thành và bắt đầu cho thu hoạch sẽ có chiều cao khoảng trên 2 mét, bề rộng tán cũng vậy. Bưởi Diễn thường ra hoa vào tháng hai, một năm chỉ ra quả một lần, thường quả sẽ chín vào đúng dịp Tết. Hoa bưởi có màu trắng như nước da nõn nà của các thiếu nữ thôn quê với năm cánh, mịn, mọc thành từng chùm lấp ló trong tán lá. Khi hoa nở, cánh hoa uốn cong xuống dưới lộ ra nhị hoa vàng. Hoa có mùi thơm thoang thoảng, dịu dàng và tinh tế. Mùi hương ấy quyện với gió lan tỏa khắp cả khu vườn. Mỗi sáng tinh mơ thức dậy bước ra vườn, không khí trong lành cùng mùi hương ngọt mát ấy theo gió tràn cả vào trong nhà. Chao ôi là dễ chịu. Ngửi được mùi hương bưởi tháng hai cũng có nghĩa là Tết đã đến, xuân đã về, ngày sum họp đoàn tụ cũng đã về rất gần rồi. Bưởi Diễn quê tôi không giống với bưởi da xanh, bưởi đào và những giống bưởi khác. Bởi quả bưởi Diễn có kích thước nhỏ với đường kính khoảng 15cm, trọng lượng cũng chỉ dao động từ 0.8 – 1kg một quả mà thôi. Phần cùi và vỏ của quả rất mỏng nên khi bổ, người gọt phải thật cẩn thận và khéo léo nếu không lưỡi dao sắc sẽ cắt vào thịt quả. Múi bưởi cong hình vầng trăng khuyết, có tôm vàng, hạt bên trong se nhỏ. Từng tép bưởi sẽ mọng nước và có mùi thơm rất đặc trưng. Khi ăn múi bưởi Diễn, người ta sẽ thấy vị ngọt đậm đà lưu lại trên đầu lưỡi. Đặc biệt, chỉ những người sành ăn mới biết, bưởi Diễn càng để lâu, quả bưởi xuống nước và khô lại thì múi bưởi ăn sẽ càng thơm và ngọt hơn. Có lẽ vì thế mà người ta vẫn lặn lội từ khắp những thành phố xa xôi để về Phú Diễn mua cho kì được vài quả bưởi về làm quà cho người thân, cho bạn bè. Bưởi là một loại quả của vùng nhiệt đới, có hàm lượng vitamin A,C,E rất lớn và hàm lượng axit tự nhiên tốt cho cơ thể con người. Đặc biệt, trong bưởi có chất pectin giúp làm giảm lượng cholesterol trong máu, hỗ trợ người béo phì, tiểu đường trong quá trình điều trị. Trong các bài thuốc dân gian, bưởi cũng là một vị thuốc với nhiều công dụng, dùng để trị các bệnh như tiêu đờm, cảm cúm, rối loạn tiêu hóa. Bưởi Diễn được xem là loại cây có giá trị kinh tế cao nhưng những năm gần đây, do sự phát triển của đô thị và quy hoạch của thành phố, số lượng bưởi Diễn cung cấp cho thị trường ngày càng ít. Cùng với việc bán quả và cây giống, việc phát triển mô hình bưởi cảnh cũng trở thành một xu hướng được người dân chú ý và phát triển, đặc biệt là mỗi dịp tết đến, xuân về. Trong kí ức của tôi và những người con Phú Diễn sẽ vẫn luôn là hình ảnh của những vườn bưởi xanh mướt với quả bưởi tròn lúc lửu trên cành dưới cái nắng ấm của những ngày đầu xuân. Mai này có đi đâu xa, mỗi khi nhớ đến hình ảnh ấy, tôi sẽ cảm giác như quê hương vẫn luôn ở rất gần… Bài mẫu 2: Giới thiệu cây chuối quê em Thân chuối hình tròn thẳng đứng và nhẵn thín như những chiếc cột nhà bóng loáng. Lá khi mới mọc ra cuộn tròn như chiếc hoa loa kèn xanh non, khi lớn lên thì xanh mướt và rộng như một tấm phản. Mặt trên của lá màu xanh thẫm, mặt dưới màu xanh nhạt và có phấn trắng Bài làm Trên khắp mọi miền của Tổ quốc thân yêu, nơi đâu cũng có những loài cây đặc trưng cho xứ sở của mình. Hà Nội thoang thoảng hương hoa sữa, miền Tây nức tiếng cây trái miệt vườn. Nông thôn bình dị quê tôi lại không thể vắng bóng hình ảnh cây chuối. Nhắc đến nông thôn Việt Nam không thể không nhắc đến cây chuối. Trên khắp mọi miền quê, nơi đâu ta cũng thấy màu xanh những tàu lá chuối mong manh nhưng căng tràn sức sống. Cây chuối là một loại cây ăn trái đã được thuần hóa từ bao đời nay, nó có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á, phổ biến ở các khu rừng nhiệt đới. Cho đến nay đã có khoảng 300 giống chuối được trồng và sử dụng trên khắp thế giới được trồng ít nhất trên 107 quốc gia. Chuối ở Việt Nam lại có nguồn gốc từ các giống chuối dại và có số lượng lớn. Nổi tiếng là chuối tiêu, chuối ngự… Sau đó, người Pháp mang vào nước ta vài giống chuối mới, quả to và năng suất cao hơn.Họ hàng nhà chuối rất đông đúc, phong phú bao gồm chuối lấy quả, chuối chỉ để lấy lá. Ở nước ta các loại chuối phổ biến là chuối tiêu, chuối sứ, chuối tây, chuối bom…và một số giống nhập ngoại khác. Mỗi giống lại có đặc điểm hình dáng, hương vị khác nhau. Về cơ bản, đặc điểm sinh thái của chuối giống nhau. Chuối là loại cây thân ngầm có sinh trưởng tốt ở môi trường ẩm ướt. Chúng có chiều cao trung bình khoảng 3 – 5 m. Tuy nhiên lại có giống chuối sáp cao tới 10 m. Phần thân chính ẩn mình dưới mặt đất gọi là củ chuối, phần thân trên là thân giả do các bẹ chuối ghép lại. Thân chuối hình tròn thẳng đứng và nhẵn thín như những chiếc cột nhà bóng loáng. Lá khi mới mọc ra cuộn tròn như chiếc hoa loa kèn xanh non, khi lớn lên thì xanh mướt và rộng như một tấm phản. Mặt trên của lá màu xanh thẫm, mặt dưới màu xanh nhạt và có phấn trắng. Mỗi chiếc là chuối có 1 đường gân lá nằm ở giữa, 2 bên có hai dải mềm mại rủ xuống. Khi già lá rũ xuống bám chặt lấy thân. Ban đầu vàng tươi rồi khô dần dần thành màu nâu nhạt, chúng nhường chỗ cho những lá non đang chuẩn bị chồi ra ngoài. Chuối rất dễ sống và nhanh lớn, nhưng vòng đời lại rất ngắn. Nên trồng chuối ở những nơi có nhiều ánh sáng để chúng phát triển. Vào mùa gió bão, nếu chuối có buồng cần phải chống để cây khỏi đổ. Khi thu hoạch thì phải nhẹ nhàng tránh rơi gẫy quả. Cây chuối gắn bó thân thiết với cuộc sống người dân quê tôi và người dân Việt Nam. vốn gần gũi trong đời sống của người nông dân Việt Nam. Chỉ một loài cây bình dị nhưng ẩn chứa rất nhiều công dụng. Cùng với các loại hoa quả, lương thực, chuối cũng là loại quả được xuất nhập khẩu nhiều ở các quốc gia. Quả chuối có giá trị dinh dưỡng cao. Chuối chín có rất nhiều vitamin tốt cho sức khỏe, người giả và người trẻ đều yêu thích. Xưa kia chuối là loại quả quí để tiến vua, ngày nay chuối được coi là món ăn dân giã, quen thuộc. Người ta còn làm thành mứt chuối, chuối sấy rất ngon. Chuối xanh là một món ăn kèm không thể thiếu trong ẩm thực với thịt dê, gỏi, cá kho hay nấu ốc, nấu ếch. Thân chuối còn dùng làm thức ăn chăn nuôi. Lá chuối dùng gói xôi, gói bánh, gói giò tạo mùi thơm dịu nhẹ. Lá chuối khô để đốt. Người ta dùng cả dây chuối khô từ cuống lá chuối để buộc, rất dai và bền. Củ chuối thái nhỏ làm nộm, nấu lươn rất ngon. Chuối còn được dùng trong Đông y chữa bệnh. Trong đời sống tinh thần dân tộc, cây chuối đi vào thơ ca, hội họa tạo nên nét đẹp dịu dàng, bình dị vùng quê Việt Nam mộc mạc, thanh bình từ bao đời nay. Hình ảnh buồng chuối trĩu nặng giống như biểu tượng của người mẹ thiên nhiên bao dung, cần mẫn và yêu thương đàn con. Những ngày rằm, ngày lễ trên mâm bàn thờ tổ tiên luôn có những quả chuối thơm ngon nhằm cầu mong phúc lành, sự sum vầy, trù phú và thịnh vượng trong cuộc sống. Từ bao đời nay, chuối đã gắn bó và dâng hiến cho cuộc sống con người Việt Nam, cả về vật chất và tinh thần. Cây chuối cũng chính là loài cây biểu tượng cho quê hương thân yêu mà mỗi lần đi xa tôi luôn ghi nhớ. Bài mẫu 3: Thuyết minh về cây tre Dưới bóng chúng tôi là cả một nền văn hoá lâu đời đang từng ngày được nâng niu và gìn giữ. Trong đời sống sinh hoạt, chúng tôi còn làm ra những đồ dùng thân thuộc với mỗi người: đó là đôi đũa, là chiếc chõng tre, chiếc giường tre. Đối với mỗi gia đình nông dân, tre tôi là người bạn vô cùng thân thiết. Bài làm Có lẽ đối với mỗi người Việt Nam, cây tre đã trở thành một phần của cuộc sống. Đặc biệt với mỗi con người ra đi từ làng quê thì hình ảnh những luỹ tre xanh đã ăn sâu vào tiềm thức, do vậy dù có đi đâu đến nơi đâu họ cũng đều nhớ về luỹ tre xanh như nhớ về kỉ niệm gắn bó, thân thương nhất. Và đó chính là niềm tự hào của họ hàng nhà tre chúng tôi. Sự gắn bó, gần gũi của họ hàng nhà tre chúng tôi được thể hiện ở chỗ đi bất cứ nơi đâu, đồng bằng hay miền núi thì bạn cũng đều thấy chúng tôi nghiêng mình trên những con đường hay trong những cánh rừng bát ngát. Họ nhà tre chúng tôi rất đông đúc, nào là: Tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, rồi dang, rồi hóp và cả luỹ tre thân thuộc đầu làng… Khác với các loài cây khác, từ khi mới bắt đầu sinh ra, chúng tôi đã thể hiện sự ngay thẳng, điều đó các bạn có thể thấy ngay khi nhìn những mầm tre mọc thẳng tắp và dù trong bất cứ môi trường nào chúng tôi cũng vẫn vươn lên để sống mạnh mẽ và xanh tốt. Thân tôi gầy guộc hình ống rỗng bên trong,màu xanh lục,đậm dần xuống gốc. Tôi bền bỉ hiên ngang chẳng dễ gì bị ngã dưới các anh mưa chị gió. Vả lại trên thân tôi có rất nhiều rất nhiều gai nhọn như những chiếc kim giúp tôi tự vệ,bảo vệ cuộc sống của mình trước những bàn tay ác qủy dám chặt phá tôi một cách vô lí. Lá của tôi mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan rung rinh theo những cơn gió thoảng. Rễ tôi thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ. Vào những ngày khô hạn nóng nực vô cùng. Cả nhà chúng tôi đung đưa theo gió, dang những cành tre che mát cho đàn con – những đàn con thân yêu. Đến thời kì mưa gió bão bùng,chúng tôi kết thành lũy dày kiên cố ra sức chống gió cản mưa. Chính nhờ đặc điểm này mà chúng tôi sông được ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, ở những nơi gần nước hay những nơi xa nước. Vì thế mà câu thơ này ra đời: “Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đá vôi bạc màu”… Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chúng tôi luôn cùng con người đấu tranh cho độc lập, tự do. Chẳng thế mà từ lâu, người Việt đã ví chúng tôi với phẩm chất quật khởi của dân tộc ngàn đời.Những ngày đất nước Việt Nam còn sơ khai, chúng tôi đã giúp ông Gióng diệt lũ giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Rồi trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chính chúng tôi đã dìm chết bao tàu chiến của địch khiến cho chúng khiếp sợ phải thua cuộc. Thưở đất nước còn chưa có vũ khí hiện đại như bây giờ, chúng tôi là vũ khí mạnh nhất được dùng để tiêu diệt quân thù. Và trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, chúng tôi cũng tích cực tham gia kháng chiến bằng cách góp một phần bé nhỏ cơ thể mình để làm ra những cây chông nhọn hoắt sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù. Bởi vững vàng trong chiến đấu mà họ mà tre tôi đã được phong danh hiệu anh hùng bất khuất. Dưới bóng chúng tôi là cả một nền văn hoá lâu đời đang từng ngày được nâng niu và gìn giữ. Trong đời sống sinh hoạt, chúng tôi còn làm ra những đồ dùng thân thuộc với mỗi người: đó là đôi đũa, là chiếc chõng tre, chiếc giường tre. Đối với mỗi gia đình nông dân, tre tôi là người bạn vô cùng thân thiết. Ngoài ra cây danh, nứa, một trong những họ nhà trẻ còn giúp con người chẻ lạt buộc nhà, nứa giúp cắm sào làm giàn cho bầu bí leo quấn quýt vào nhau. Tre còn gắn với tuổi già, cho họ chiếc ống điếu hút thuốc làm vui. Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn có thể làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích. Dưới những bãi đất rộng, được chúng tôi che hết ánh nắng oi ả của mùa hè, các bạn tha hồ chơi đùa thoả thích. Các bạn nữ còn trò gì thú vị hơn ngồi đánh chuyền với những que chắt bằng tre. Còn các bạn nam lại chạy nhảy reo hò theo tiếng sáo vi vút trên chiếc diều cũng được làm ra từ tre. Những cánh diều đó sẽ đem ước mơ của các bạn về nơi xa. Tre chúng tôi còn làm nên những tiếng nhạc réo rắt từ những cây sáo tre, sáo trúc, làm vơi đi bao nỗi vất vả nhọc nhằn của người nông dân chân lấm tay bùn. Ngày nay loài tre của chúng tôi còn vươn xa hơn nữa. Có một giáo sư là Việt Kiều sống ở Pháp đã đưa anh em chúng tôi sang trồng thử trên đất Pháp. Thế mà ở xứ lạ, chúng tôi vẫn sống vững vàng. Ngày sau, dẫu nước mình có hiện đại hơn, loài tre chúng tôi cũng vẫn sẽ ngay thẳng, thuỷ chung và can đảm để tôn lên những đức tính của người hiền – đức tính Việt Nam. Bài mẫu 4: Bài văn thuyết minh về cây xoài quê hương em Chỉ cần sức một đứa trẻ con cũng có thể bẻ gãy cây ra làm đôi. Lúc này nó giống như một người đứa trẻ con yếu ớt vậy. Lá của cây xoài khi này vẫn còn vẻ mỡ màng mòng mượt của những lá non, màu của nó là màu xanh vàng nhẹ nhàng. Rễ cũng ít và cành nhỏ. Lúc này cây vẫn phải chăm sóc một cách kĩ lưỡng, tưới nước hàng ngày. Bài làm Trên quê hương tôi có biết bao nhiêu là cây ăn quả, thế nhưng nhiều nhất phổ biến nhất có lẽ phải nói đến cây xoài. Mỗi nhà trong thôn phải có đến ít nhất một cây xoài không thì là ba bốn cây, có những nhà trồng lấy quả đi bán thì có hẳn một vườn xoài. Trong cuộc sống của chúng ta không thể nào thiếu loại cây ăn quả ngon ngọt thơm đến như vậy. Trước hết là về đặc điểm của cây xoài. Loài cây này thường được trông bằng cây con khi người ta đã ươm hạt lớn chừng hai đến ba mươi đến năm mươi xăng ti mét sau đó người ta sẽ đem ra để trồng. khi cây xoài còn nhỏ thì cây có thân rất bé và yếu. Chỉ cần sức một đứa trẻ con cũng có thể bẻ gãy cây ra làm đôi. Lúc này nó giống như một người đứa trẻ con yếu ớt vậy. Lá của cây xoài khi này vẫn còn vẻ mỡ màng mòng mượt của những lá non, màu của nó là màu xanh vàng nhẹ nhàng. Rễ cũng ít và cành nhỏ. Lúc này cây vẫn phải chăm sóc một cách kĩ lưỡng, tưới nước hàng ngày. Khi lớn hơn một chút những chiếc lá non trước đó sẽ già đi mang một màu xanh lá cây đậm, còn thân cũng trở nên cứng cáp hơn. Những chiếc lá to hơn, cứng hơn. Và cứ thế nó sống ở đó cao dần, lớn dần đến khi thành một bóng mát tỏa một góc vườn. Cành cây nhỏ bé ngày nào giờ đã chắc khỏe như một cánh.Cây xoài ra có hoa rất đẹp, nó mọc thành những chùm màu vàng hoa nhỏ li ti. Nó thường nở hoa vào mùa xuân vì khi ấy tất cả những tinh túy của trời đất sẽ ngấm vào nó, mùa sinh sôi nảy nở bắt đầu. Sau một thời gian thì những bông hoa ấy rụng dần và để lại quả non bé nhỏ nhú ra và lớn lên dần theo năm tháng. Những quả xoài khi chưa chín thì có màu xanh còn khi ăn được thì nó có màu vàng và mềm ra. Người ta có thể cầm nguyên quả xoài lột vỏ đi mà ăn rất ngon lành. Về phân loại thì xoài được phân ra làm rất nhiều loại khác nhau như xoài Cát, xoài Tượng, xoài Tròn Yên, xoài Thanh Ca, xoài tròn, xoài Đức…Mỗi loại xoài có một hương vị khác nhau. Theo hương vị thì còn phân ra làm xoài chua và xoài ngọt. Ngày nay khi khoa học phát triển thì chúng ta còn biết đến nhiều loại cây xoài nữa. Xoài chiếm vai trò quan trọng trong đời sống hiện nay của chúng ta mà vai trò thứ nhất và thiết yếu nhất đó chính là một cay ăn quả ngon hấp dẫn. Xoài khi chín có mùi rất thơm và ngọt. Tùy theo từng loại xoài mà có vị ngọt khác nhau. Vỏ xoài không cần lấy dao gọt như những loại quả bình thường mà chỉ cần lấy tay tước là có thể ăn được rồi. Màu sắc vàng ươm ấy không những đẹp mắt mà ăn thì lại rất ngon. Vị ngọt của nó không phải ngọt sắc như mít, cũng không thào thào như ổi mà đó là một vị ngọt thanh thanh nhẹ nhàng. Ăn xoài không bị nóng như ăn mít. Không chỉ ăn như thế mà người ta còn ăn cả xoài xanh chấm muối ớt cũng rất ngon. Khi ấy xoài sẽ giòn và ăn có vị chua chua rất dễ ăn. Xoài chín người ta còn mang dầm ra thành sinh tố xoài kèm theo sữa và đá mát lạnh là một thức uống mùa hè. Như vậy qua đây ta thấy được đặc điểm và công dụng của cây xoài. Chính vì thế mà nó có ý nghĩa rất lớn đền đời sống của nhân dân ta. Nó không chỉ là một loài cây ăn quả mà người đời con dùng nó với nhiều công dụng chữa bệnh khác. Mỗi quê hương nên gìn giữ những cây xoài hữu ích này. Bài mẫu 5: Thuyết minh về cây đa quê em Đa không có giá trị kinh tế như các loài cây khác, không cho quả thơm như mít, như xoài; không có hoa đỏ như gạo, hoa tím như xoan. Đa chỉ có tấm thân lực lưỡng, trăm cành hiên ngang và tán lá quanh năm xanh ngắt. Đa chỉ có bóng mát cho đời. Đa càng sống lâu càng khoẻ chắc kiên cường. Bởi thế, giá trị tinh thần của đa thật lớn. Đa là cây cao bóng cả của làng. Chim muông tìm đến đa để làm tổ. Người thương lấy gốc đa làm nơi hò hẹn, đợi chờ. Xao xuyến làm sao, một đêm trăng, cành đa la đà trước ngõ để cho ai đó ngắm trăng ngơ ngẩn đợi người! Bài làm Không biết tự bao giờ cùng với bến nước, sân đình, cây đa đã trở thành biểu tượng của làng quê đất Việt. Ai đó xa quê hẳn không thể không có những phút nao lòng mỗi khi nhớ về những kỷ niệm bên gốc đa làng. Cây đa đi vào ca dao, trong chuyện cổ tích, trong mỗi khúc dân ca. Quên sao được câu chuyện của bà dưới gốc đa có Thạch Sanh, chú Cuội. Nhớ vô cùng điệu “Lý cây đa” người thương ta đã hát. “Cây đa, bến nước, sân đình” phải chăng đã trở thành những thiết chế văn hoá không thể thiếu được của làng ta xưa? Thật vậy, với đặc tính sinh vật của mình, cây đa đã gắn bó sâu sắc với làng. Đa rất dễ trồng và sống lâu tới ngàn tuổi. Trong bão táp phong ba, trải qua bao thế hệ, cây đa vẫn sừng sững toả bóng mát giữa trời, ôm cả một góc quê hương. Cành đa vươn đến đâu buông rễ chùm, rễ nổi đến đó. Từ rễ hoá thành thân, để cây đa có thêm nhiều cội. Có cây có tới “chín cội” lừng lững uy nghiêm cả một góc làng. Những cội đa đó như những cánh tay khổng lồ cơ bắp cuồn cuộn nâng cả tán cây lên giữa trời xanh. Ngoài những cội chính ra đó, đa còn có bao nhiêu là rễ chùm rễ phụ buông lơ lửng lưng trời như tóc ai đang xoà bay trong gió. Trẻ chăn trâu tha hồ ẩn náu trong từng cội đó chơi trò đuổi bắt. Lá đa xanh ngắt bốn mùa gọi chim về làm tổ. Trong vòm lá chim ríu rít gọi bầy. Dưới gốc đa trẻ nô đùa hò hét. Và kia, con trâu nhà ai đang mơ màng lim dim nằm nhai cỏ để cho lũ chim sáo nhảy nhót cả lên đầu. Đa không có giá trị kinh tế như các loài cây khác, không cho quả thơm như mít, như xoài; không có hoa đỏ như gạo, hoa tím như xoan. Đa chỉ có tấm thân lực lưỡng, trăm cành hiên ngang và tán lá quanh năm xanh ngắt. Đa chỉ có bóng mát cho đời. Đa càng sống lâu càng khoẻ chắc kiên cường. Bởi thế, giá trị tinh thần của đa thật lớn. Đa là cây cao bóng cả của làng. Chim muông tìm đến đa để làm tổ. Người thương lấy gốc đa làm nơi hò hẹn, đợi chờ. Xao xuyến làm sao, một đêm trăng, cành đa la đà trước ngõ để cho ai đó ngắm trăng ngơ ngẩn đợi người! Những trưa hạ oi nồng, gốc đa thành nơi dừng chân cho bao lữ khách. Người làng ra đồng, ra bãi gồng gánh trên vai, cả con trâu cái cày cũng lấy gốc đa làm chỗ nghỉ. Quán nước ven đường dưới gốc đa ấy râm ran bao chuyện ở đời. Bát nước chè xanh hay bát vối đặc cùng với ngọn gió mát lành dưới bóng đa rì rào ấy đã xua đi bao gian khó nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh. Cổng làng bên cạnh gốc đa, nơi thuở thiếu thời ta chong chong chờ mẹ đi chợ về có gió cành đa vỗ về ôm ấp để đến bây giờ cái cảnh ấy vẫn hoài niệm canh cánh mãi trong ta. Và anh nghệ sỹ, góc máy nào, gam màu nào để anh có được một tấm ảnh, một bức tranh cổng làng ta, mái đình quê ta với gốc đa sần sùi rêu mốc, lá đa xanh ngát đẹp ngời đến thế! Cây đa đi vào lịch sử mỗi làng. Thời chống Pháp, ngọn đa là nơi treo cờ khởi nghĩa, gốc đa là nơi cất giấu thư từ, tài liệu bí mật. Thời chống Mỹ, ngọn đa lại là chòi gác máy bay, nơi treo kẻng báo động. Còn mãi trong ta hình ảnh cây đa Tân Trào thủ đô kháng chiến khi xưa. Đa là nỗi kinh hoàng cho lũ giặc, là bình yên cho xóm cho làng. Phải chăng “thần cây đa” cũng là từ ý nghĩa đó. Đa là một trong những biểu tượng của làng. Bác Hồ, người “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới”, Người đã phát động Tết trồng cây và việc trồng cây mỗi mùa xuân đến theo lời Bác dạy là một nét đẹp văn hoá của người Việt Nam chúng ta. Cả cuộc đời Người, Bác đã trồng biết bao cây xanh tạo bóng mát cho đời, trong đó có nhiều cây đa. Tết Kỷ Dậu (1969) Tết cuối cùng của Bác Hồ, Bác đã trồng cây đa cuối cùng tại xã Vật Lại (Ba Vì). Những cây đa Bác trồng đã vươn cành xanh lá toả bóng rợp mát quê hương. Theo chân Bác, cùng với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, chúng ta hãy trồng thêm nhiều cây đa nữa ở những nơi trung tâm làng xã để cho “cây đa, bến nước, sân đình” mãi là những tín hiệu bình yên, biểu tượng của một làng quê văn hoá Việt Nam.
Thuyết mình về Cây…ở quê em
4,569
Đề bài: Thuyết mình về hình tượng con trâu Việt Nam Bài làm Nhắc đến làng quê Việt Nam, nhắc đến những cánh đồng lúa trĩu hạt mùa trổ bông, chúng ta không thể không nhắc đến con trâu. Con trâu không chỉ gắn liền với đồng ruộng mênh mông mà còn gắn liền với những người nông dân cơ cực, chân lấm tay bùn. “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, câu nói của các cụ thời xưa cho thấy hình ảnh con trâu gắn liền với sự nghiệp làm nông của ngừơi nông dân. Mặc dù có rất nhiều hình ảnh cũng như tài liệu về những chú trâu thầm lặng này nhưng chưa có bất kì tài liệu nào nói đến xuất xứ, cũng như lý do tại sao con người ta lại đưa chú trâu ra làm “đầu cơ nghiệp”. Trâu là động vật thuộc lớp thú có vú, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn, màu đen hoặc xám đen với lông mao bao phủ toàn thân chúng. Da trâu dày, những chiếc lông tơ như áo choàng choàng lên thân thể mập mạp kia. Thấp thoáng trong choàng đẹp đẽ ấy là làn da căng bóng mỡ màng. Trâu có cái đuôi dài, phe phẩy như chiếc quạt để đuổi lũ ruồi nhặng bu lấy cặp mông tròn quay của chú. Hai tai dài cũng giúp cho cái đuôi rất nhiều trong việc đuổi lũ nhặng đi. Tai trâu khá thính giúp trâu nghe ngóng những tiếng động xung quanh chúng. Chú trâu nào cũng có cái sừng dựng lên, người nông dân nhận biết sự lành dữ ở loài trâu một phần cũng nhờ đôi sừng trên đầu. Trâu có sừng dài, uốn cong lưỡi liềm, giúp trâu làm dáng thì ít mà tự vệ chống lại kẻ thù thì nhiều. Trâu có đặc điểm nổi bật là không có hàm trên, có thể vì vậy mà trâu phải nhai lại. Thêm một điểm khác biệt trâu có một kiểu ngủ rất đặc biệt.Hai chân trước gập vào trong, đầu ghé lên để ngủ. Đến mùa vụ, trâu làm việc gần như cả ngày không nghỉ ngơi. Hết mùa, trâu đuợc nghỉ ngơi, đuợc chăm sóc, được hưởng những ngày thong dong gặm cỏ non lững thững trên những con đường đê. Ai trong chúng ta cũng đều biết đối với người nông dân con trâu chính là cơ ngơi là sự nghiệp mà họ có, chính vì vậy việc chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ là cần thiết. Người nông dân thiếu đi con trâu sẽ không làm được gì vì có sức kéo, sức cày bừa, sinh sôi để có thêm những lứa sau…Không những vậy, trâu còn là con vật linh thiêng trong các lễ hội chọi trâu. Thịt trâu ăn cũng khá ngon, thơm và bổ dưỡng, sừng và da trâu còn dùng để làm trang sức, quần áo. Không chỉ góp phần quan trọng trong đời sống vật chất mà còn có mặt trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Từ xa xưa, trâu hay còn gọi là sửu và có mặt trong muời hai con giáp. Con trâu gắn liền với tuổi tác của con người. Người mang tuổi trâu thường rất chăm chi cần cù. Trong đời sống văn hóa tinh thần, trâu còn là con vật thiêng liêng dùng để tế lễ thần linh trong ngày lề hội. Ngoài ra còn gắn liền với những lễ hội truyền thống Việt Nam ta như chọi trâu và đâm trâu. Ở Hải Phòng có lễ hội chọi trâu nổi tiếng ở Việt Nam. Hải Phòng là nơi có truyền thống văn hoá với di tích lịch sử và những danh lam thắng cảnh mang đặc trưng của vùng biển. Trong di sản văn hoá ấy, nổi bật nhất vẫn là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn, nó mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Đây là một sinh hoạt văn hoá, nghệ thuật truyền thống nói lên cuộc sống vật chất và tâm linh. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được khôi phục lại và được Nhà nước xác định đây là một trong mừơi lăm lễ hội quốc gia, vì lễ hội này không chỉ là giá trị văn hoá, tín ngưỡng mà còn là điểm du lịch hấp dẫn
Thuyết mình về hình tượng con trâu Việt Nam
723
Thuyết phục các bạn chăm học hơn Hướng dẫn Thuyết phục các bạn chăm học hơn Việc học tập trong cuộc sống là vô cùng quan trọng đối với mỗi người. Không ai có thể phủ nhận được vai trò to lớn của việc học. Người xưa thường nhắc nhở con cháu rằng: “Nếu khi còn trẻ ta không chịu học hành thì lớn lên sẽ chẳng làm được việc gì có ích”. Muốn thành công,nên người thì ngay từ khi còn nhỏ,chúng ta không được phép lơ là việc học tập,hơn thế trong suốt cuộc đời ta cần phải học tập chăm chỉ để có kiến thức làm giàu cho bản thân,gia đình và xã hội. Học tập là gì? Đó là một quá trình tiếp thu kiến thức,tìm hiểu tri thức về mọi lĩnh vực văn hóa,xã hội,khoa học tự nhiên…từ đó ứng dụng vào cuộc sống. Những hiểu biết về sinh học giúp con người nuôi trồng nông sản cho năng suất cao; những kiến thức về vật lí giúp ta ứng dụng nhiều thành tựu hiện đại vào máy móc,thiết bị; kiến thức văn học giúp chúng ta sống hòa nhập vào cộng đồng,biết cách cư xử có văn hóa,sống có trước sau,có tình có nghĩa. Rồi kiến thức lịch sử,địa lí giúp ta biết rõ về quá trình hình thành và phát triển của đất nước,con người từ quá khứ tới hiện tại để thêm yêu,tự hào…Vậy nên nếu không chịu khó học tập thì ta sẽ mất rất nhiều cái lợi về sau này. Ta sẽ bị tụt hậu so với sự phát triển của xã hội và ảnh hưởng lớn đến chính bản thân,gia đình và xã hội vì kiến thức hạn hẹp của mình. Khi còn trẻ ta có rất nhiều điều kiện để học tập. Bây giờ khi đầu óc còn thông minh,còn sáng rõ,phát triển tốt giúp ta tiếp thu kiến thức một cách toàn diện,nhanh hơn và nhiều hơn. Kiến thức của nhân loại thì rộng lớn,còn sự hiểu biết của mỗi người lại như giọt nước giữa biển cả mênh mông. Ở những người từ tuổi trưởng thành trở đi,trí não phát triển kém hơn,tiếp thu chậm lại nhanh quên bởi vậy khi tuổi trẻ qua đi cũng là lúc khả năng học tập giảm đi rất nhiều. Hạn chế về trí tuệ làm cho con người trở nên ngu dốt. Cái ngu dốt lại điều khiển ta không hòa hợp mình với mọi người,không tiếp cận được với khoa học công nghệ tiên tiến,biến ta trở thành người cổ hủ,lạc hậu và tự đào thải mình ra khỏi xã hội. Con người cần phải có tri thức,để có tri thức thì chúng ta cần phải học tập. Tấm gương điển hình nhất chính là vị lãnh tụ Hồ Chí Minh của chúng ta. Với sự chăm chỉ,nỗ lực hết mình,không ngại khó khăn gian khổ trong những năm tháng tuổi trẻ,Người đã tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam,giúp đất nước ta thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than. Nhân dân ta vô cùng tự hào và biết ơn Bác. Thử hỏi nếu như ngày ấy,Bác không quyết tâm thì liệu có đất nước ta như ngày hôm nay. Mặc dù tới tuổi xế chiều nhưng Người luôn tìm tỏi,khám phá tri thức,truyền đạt cho mọi người. Trong “Năm điều Bác Hồ dạy”,Người đã dạy chúng ta phải “Học tập tốt,lao động tốt”. Tấm gương sáng của Người mãi được thế hệ sau noi theo.Hay như nhà bác học Đác Uyn từng nói: “bác học không có nghĩa là ngừng học”. Các bạn thấy đấy,họ tuy là người tài giỏi,thành công nhưng vẫn không ngừng chăm chỉ học tập huống chi chúng ta là những người trẻ tuổi đang căng tràn nhựa sống. Hay như thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí,bị liệt cả hai tay nhưng vẫn không nhất quyết bỏ học. Thầy dùng chính đôi chân của mình để viết,để tới trường,để lập nên thành công và trở thành một nhà giáo ưu tú,mẫu mực cho mọi người noi theo. Thầy phải vượt qua bao khó khăn,đánh đổi bằng máu và nước mắt,sự tự ti,mặc cảm nhưng cuối cùng ý chí học tập đã chiến thắng trong con người thầy…Còn rất nhiều những tấm gương khác mà tôi không kể hết,họ là những người chăm chỉ học hành và sống có ích cho xã hội. Thật đáng buồn cho xã hội hiện nay,có không ít các bạn trẻ không chịu học hành,lao vào những trò chơi vô bổ,đua đòi,nghiện hút,cướp giật,phạm pháp…những mảng màu đen tối ấy là mối nguy hại lớn cho chính gia đình và đất nước ta. Họ như cái xác không hồn tự tay đóng cảnh cửa tương lai của mình.
Thuyết phục các bạn chăm học hơn
799
Thuyết trình Sắc đẹp-tài năng và tấm lòng hiếu nghĩa của Thúy Kiều-Truyện Kiều Nguyễn Du Hướng dẫn Tài năng, sắc đẹp và tấm lòng hiếu nghĩa trọn vẹn của nhân vật Thúy Kiều Mở bài: Nguyễn Du là một bậc đại Nho, tư tưởng luôn gắn liền với triết lí của Nho gia. Bởi thế, khi xây dựng nhân vật Thúy Kiều, ông đã không rời những đặc điểm cần có của một con người mẫu mực mà Nho giáo đã quy định. Ở nhân vật Thúy Kiều là sự kết hợp toàn vẹn giữa sắc đẹp và tài năng, giữa năng lực ưu việt và phẩm chất cao đẹp. Tuy mang tính lý tưởng hóa nhưng nhân vật Thúy Kiều vẫn hết sức chân thực, gần gũi và được người đọc chấp nhận. Thân bài: Sắc đẹp ngoại hạng và tài năng vượt trội của Thúy Kiều Thúy Kiều là một người con gái có sắc đẹp toàn bích, vượt lên trên mọi giới hạn, được người đời ngưỡng mộ. Trước khi Nguyễn Du miêu tả Thúy Kiều, ông đã khắc họa nên chân dung Thúy Vân qua 4 câu thơ sau: “Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”. Sau đó tiếp đến, Nguyễn Du đã dành hẳn 12 câu tiếp theo để nói về Tài Sắc của Thúy Kiều. Và trước tiên, ta nói đến Sắc: “Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” Ở đây ta có thể thấy, việc Nguyễn Du dành hẳn 12 câu để nói về Kiều là ông có phần ưu ái Kiều hơn Vân, điều đó cũng thể hiện qua câu: “Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn” Giờ ta thử so sáng giữa Kiều và Vân như thế này: – Nếu Thúy Vân: “Hoa cười, ngọc thốt đoan trang” Thì Thúy Kiều sẽ là “Làn thu thủy, nét xuân sơn” Ta có thể thấy vẻ đẹp của Vân được so sánh với “hoa cười”, “ ngọc thốt đoan trang” còn vẻ đẹp của Kiều đã được Nguyễn Du so sánh với” Làn thu thủy”- Làn nước mùa thu và” nét xuân sơn” ý nói chân mày Kiều phơn phớt như núi mùa xuân. Điều đó thể hiện rằng đối với Vân, Nguyễn Du đã dung những sự vật nhẹ nhàng, êm dịu để miêu tả nàng. Còn đối với Kiều, ông đã dung những hình ảnh hung vĩ như núi non hay các cảnh thiên nhiên uy nghi tráng lệ nhưng đượm buồn. Thúy Kiều là một người đa tài, thuần thạo mọi thú tao nhã của người xưa. Ở lĩnh vực nào nàng cũng đạt đến đỉnh cao ngoại hạng. “Một hai nghiêng nước nghiêng thành Sắc đành đòi một tài đành họa hai”. “nghiêng nước nghiêng thành” là biện pháp nói quá. Ý chỉ vẻ đẹp của Thúy Kiều làm cho các thành quách nghiêng ngã. “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” ý nói tài năng Kiều may ra có người thứ hai sánh ngang. Còn sắc thì thật không ai bằng. “Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”. Kiều là một người thông minh, sáng suốt lại còn đa tài ( Cầm – Kì – Thi – Họa) “Cung thương làu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên bạc mệnh lại cành não nhân”. “Cung, thương” là hai trong số 5 âm về nhạc bộ (Cung thương giốc trủy vũ). “Hồ cầm” là đàn tì bà, đời vua Hán Vũ Đế có bà Chiêu Quân phải đi cống rợ Hồ, thường hai đánh cái đàn ấy cho nên mới gọi là hồ cầm. “nên chương” nghĩa là thành nên bài hay. Tài năng của Kiều quả thật khó có ai sánh bằng. Tuy nàng hát hay, đàn giỏi nhưng các ca khúc của nàng lại là những ca khúc “bạc mệnh”. Điều này lại một lần nữa tiên đoán trươc số phận trôi nổi, tài hoa nhưng bạc mệnh của Kiều Thúy Kiều là một người con hiếu nghĩa hiếm có trên đời. Nội dung truyện Kiều là một chuỗi những đau khổ tận cùng Thúy Kiều gặp phải và chịu đựng suốt mười lăm năm của cuộc đời mình mà khởi nguyên của quãng đời đoạn trường đau đớn ấy là từ lòng hiếu thảo của nàng. Kiều là một người con gái đa tình, đa cảm nhưng không yếu đuối, ít ra là trong phương diện báo hiếu của nàng. Trước cảnh cha và em bị bọn quan lại sai nha đánh đập hành hạ bởi “Làm cho khốc liệt chẳng qua vì tiền” trong Kiều đã nghĩ: “Sao cho cốt nhục vẹn tuyền, Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao. Duyên hội ngộ, đức cù lao, Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?” Mối tình sâu nặng với Kim Trọng vừa bắt đầu, lòng còn vấn vương nỗi niềm thương nhớ, nặng lời hẹn biển thề non. Kiều biết bán mình chuộc cha thì ắt phải lỗi hẹn với tình yêu, trọn đời phụ tình với Kim Trọng. Trước cảnh hoạn nạn của gia đình, nàng phải đối trước một sự chọn lựa quá khắc nghiệt giữa chữ Tình và chữ Hiếu để rồi trong khoảnh khắc phải quyết định: “Để lời thệ hải minh sơn Làm con trước phải đền ơn sinh thành. Quyết tình nàng mới hạ tình Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”. Thử hình dung một người con gái vừa đến tuổi “cập kê”, đang sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”, lại vừa ước hẹn một mối tình đầu nồng nàn tươi đẹp trong niềm tin trao thân gửi phận sau này, bổng dưng phải có một quyết định táo bạo và đau lòng dường ấy, để thấy lòng hiếu của Kiều lớn biết dường nào. Khi đã nói đến hai chữ “bán mình”, hẳn Kiều đã đoán trước được con đường phía trước của cuộc đời nàng sẽ ra sao! Trong tình cảnh bi đát của gia đình, Kiều không còn nghĩ đến thân mình nữa, chỉ mong cứu được cha: “Vẻ chi một mảnh hồng nhan, Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành”. Lòng hiếu thảo của Kiều qua hành động bán mình cứu cha không phải là một tình cảm bất chợt, bộc phát trước cảnh tan cửa nát nhà mà là một tình cảm sâu nặng trong trái tim đa cảm của nàng. Hơn thế, lý trí Kiều đã ý thức: “Hổ sinh ra phận má đào, Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong”. Thế nên, sau này trên bước đường lưu lạc, chịu bao nỗi đoạn trường suốt mười lăm năm của đời mình, trong Kiều luôn canh cánh nỗi lòng nghĩ về cha mẹ. Khi ở lầu Ngưng Bích của Tú bà, trong cảnh cô độc đầu tiên nơi đất khách quê người, nàng nhớ về cha mẹ trong niềm lo lắng: “Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ. Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc Tử đã vừa người ôm”. Rồi những tháng ngày quằn quại, xót xa ê chề khi phải tiếp khách trong lầu xanh của Tú Bà, “khi tỉnh rượu, lúc tàn canh” cha mẹ vẫn là điểm tựa, là nỗi nhớ thương trong lòng nàng thiếu nữ họ Vương bạc mệnh: Một ngày một ngã bóng dâu tà tà. Dặm ngàn nước thẳm non xa, Nghĩ đâu thân phận con ra thế này! Sân hòe đôi chút thơ ngây, Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?” Khi trở thành vợ Từ Hải, Từ Hải ra đi theo tiếng gọi “động lòng bốn phương”; bên song cửa chờ đợi Từ Hải trở về, nàng càng nghĩ về cha mẹ. Kiều thương cha mẹ giờ đã già yếu đi nhiều vì từ ngày cách biệt đến giờ đã mười năm có lẽ: “Xót thay huyên cỗi thung già, Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi. Chốc đà mười mấy năm trời, Còn ra khi đã da mồi tóc sương”. Như vậy, Thúy Kiều xứng đáng là “một người con hiếu thảo đáng kính, đáng mến…” như lời một nhà Nho xưa nhận xét. Hành động bán mình chuộc cha là điểm đỉnh của lòng hiếu thảo ấy. Ở đây người viết không quá võ đoán để kết luận rằng: Nhà thơ núi Hồng Lĩnh thấm nhuần tinh thần “Hiếu tâm tức Phật tâm” của nhà Phật để xây dựng chữ Hiếu cho nhân vật Thúy Kiều, nhưng tinh thần chữ Hiếu trong đạo Phật đã thấm sâu vào tâm hồn dân tộc Việt Nam, trở thành đạo lý truyền thống cao đẹp trong bản sắc văn hiến việt Nam. Và đạo lý ấy hiển nhiên có ảnh hưởng, trong chừng mực nào đó, đến những người “cư Nho, mộ Thích” như Nguyễn Du. Điều cần nói là chữ Hiếu trong truyện Kiều, biểu hiện cụ thể ở nàng hiếu nữ họ Vương mang đậm nét giáo lý nhà Phật ở tinh thần Vô ngã vị tha. Ta không tìm thấy quan niệm “lập thân hành đạo, dương danh hậu thế, dĩ hiếu phụ mẫu” của Nho gia mà là sự hy sinh tất cả, chịu đựng tất cả cho cha mẹ được yên vui, dù sự hy sinh đó là cái giá quá đắt, phải trả bằng cả cuộc đời mình. Thế nên, dù ai có khắt khe trong lễ giáo phong kiến Nho gia, hẳn cũng đồng tình khi Tố Như kết luận: “Như nàng lấy hiếu làm trinh, Bụi nào cho đục được mình ấy vay?” Kết bài: Thế nên, có nhà nghiên cứu về truyện Kiều đã viết: “truyện Kiều là truyện của nàng hiếu nữ họ Vương”. Có lẽ thật chính xác và không phải quá lời vậy.
Thuyết trình Sắc đẹp-tài năng và tấm lòng hiếu nghĩa của Thúy Kiều-Truyện Kiều Nguyễn Du
1,620
Thuyết trình tập truyện ngắn Cánh đồng bất tân-Nguyễn Ngọc Tư Hướng dẫn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, một sự lưu đày của con người Cánh đồng bất tận là tên một tập truyện ngắn phát hành năm 2005 của Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời cũng là tên một truyện trong tập truyện ngắn đó được đăng báo lần đầu cùng năm. Tính đến nay, tập truyện đã được phát hành dưới dạng sách in và sách nói. Một vài truyện ngắn trong tuyển tập đã được chuyển thể thành phim và kịch. Cả truyện vừa “Cánh đồng bất tận” và tập truyện ngắn cùng tên đã được dư luận phản hồi tích cực. Tập truyện đã trở thành một hiện tượng xuất bản của văn học Việt Nam với 108.000 bản được tiêu thụ tính đến năm 2010, nhất là sau khi bộ phim dựa trên truyện vừa cùng tên được ra mắt cùng năm.Cùng trong năm 2005, truyện vừa “Cánh đồng bất tận” được đứng đầu trong một cuộc bình chọn truyện ngắn đặc sắc trên báo Văn nghệ. Vào năm 2006, tập truyện đoạt Giải thưởng “Hội Nhà văn Việt Nam” dành cho tác phẩm xuất sắc. Năm 2007, tác phẩm được dịch ra tiếng Hàn và được nhà xuất bản Asia tại Seoul phát hành. Năm 2008, tập truyện được dịch qua tiếng Thuỵ Điển với tên “Fält utan slut”. Trước hết, nói về tác giả Nguyễn Ngọc Tư. Nguyễn Ngọc Tư (sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau) là một nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam, được biết đến nhiều nhất bởi tập truyện gây tranh cãi mang tên “Cánh đồng bất tận”. Tập truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, mỗi lần đọc là thêm những cảm xúc mới. Đó là nỗi đau, là sự ám ảnh về cảnh nghèo của những người con Đồng bằng sông Cửu Long lam lũ, là sự thương xót cho tình cảnh éo le, kiếp sống lang bạt, hay sự cảm phục trước tình người sâu đậm, niềm tin vào tình yêu của con người. Mỗi câu chuyện là mỗi số phận, mỗi hoàn cảnh éo le khác nhau: người bị phụ tình, kẻ bị ruồng bỏ.. nhưng trong đó đều chan chứa tình người, chan chứa niềm tin vào cuộc sống, vào con người. Câu chuyện xoay quanh cuộc sống của người dân Nam Bộ, đặc biệt là Nương và Điền. Hai chị em cùng bố trên chiếc thuyền nay đây mai đó và quá khứ về một người mẹ mà khi nghĩ về là xen lẫn cả niềm vui và nỗi buồn. Nương không được phép nhắc đến mẹ trước mặt bố dù trong lòng nhiều lúc lòng Nương cồn cào da diết nhớ!Khi vợ bỏ đi ông đốt nhà dẫn hai con lưu lạc khắp nơi không dừng chân ở đâu quá lâu và hai đứa nhỏ không được biết đến cái gọi là “Nhà”. Vì quá thương vợ,yêu vợ nên nỗi hận trong ông càng lớn khi vợ ra… Tác phẩm viết về những con người chân chất của miền Tây. Họ tuy là những người nông dân nghèo, tay lấm chân bùn nhưng họ luôn giàu tình cảm. Mỗi người mỗi cảnh nhưng họ có một điểm chung, luôn dành cho những người thân yêu của họ những điều tốt đẹp nhất, còn phần mình thì chịu nhiều nỗi buồn. Đọc tác phẩm mà thấy buồn rười rượi. Không phải là một tập truyện như những tác phẩm khác. “Cánh đồng vất tận” gồm nhiều câu chuyện nhỏ góp nhặt nên. Dù vậy, câu chuyện nào cũng mang một nỗi buồn man mác. Không hiểu tại vì sao tác giả lại viết ra những câu chuyện buồn đến thế? Tuy vậy, tác phẩm vẫn rất hay, nó khắc họa rõ nét đời sống thường ngày của người dân miền sông nước, khắc họa rõ bản tính thật thà của họ. Những con người luôn lênh đênh trên chiếc ghe của mình, cứ chông chênh, chồng chềnh, rày đây mai đó, không biết đến khi nào thì mới có thể tìm được một bến bờ cho mình. Một tác phẩm đúng chất của Nguyễn Ngọc Tư. Giọng văn mộc mạc nhưng thấm đẫm tình người. Nó tái hiện lại một vùng quê đầy lam lũ, tình cha dành cho con thắm thiết đến cảm động. “Cải ơi!” tiếng người cha gọi con về nghe thật xót xa. Có thể hành động có phần hơi “lúa” của người cha trong truyện ấy làm ta bật cười, nhưng đằng sau những tràng cười do lại là một bài học đầy ý nghĩa về tình gia đình cao cả. Qua cuộc sống lam lũ ầy, họ có buồn phiền, nhưng họ không hề chán nản, một nghị lực sống phi thường thật đáng để ta học hỏi. Đấy là những tình cảm, những bài học thâm thúy mà tôi nhận được từ một “Cánh đồng bất tận” khác, cánh đồng “tình người” trong chất văn Nguyễn Ngọc Tư.
Thuyết trình tập truyện ngắn Cánh đồng bất tân-Nguyễn Ngọc Tư
846
Thuyết trình về một quyển sách yêu thích. Anh có thích nước Mỹ không-Tân Di Ổ Hướng dẫn Anh có thích nước Mỹ không – Tân Di Ổ “Có lẽ tuổi xuân của mỗi cô gái đều đã từng gặp Trần Hiếu Chính của mình, sau đó mới tìm thấy Lâm Tĩnh; nhưng mỗi người đàn ông đều đã một thời là Trần Hiếu Chính, khi họ đã trưởng thành chín chắn, họ sẽ biến thành Lâm Tĩnh.” ————– “Anh Có Thích Nước Mỹ Không” là một tác phẩm chất chứa những nỗi buồn len lỏi trong từng câu chữ. Câu chuyện xoay quanh đề tài về tuổi thanh xuân, những hồi ức buồn, nghẹn ngào và tiếc nuối của Trịnh Vy, Trần Hiếu Chính, Lâm Tĩnh, Khai Dương, Nguyễn Nguyễn, Lão Trương,…Mỗi người trong số họ đều có những nỗi niềm, những luyến tiếc, xót xa riêng của bản thân mình. Song, những hoài niệm ấy đều gợi cho ta một cảm xúc bâng khuâng khó tả, một nỗi buồn man mác xuyên qua cả không gian và thời gian. Trịnh Vy, 18 tuổi, có làn da trắng, đôi má hồng bầu bình tự nhận mình là Ngọc diện Tiểu Phi Long, một cô gái vô tư, cuộc sống dường như không có gì khiến cô phải buồn. Trịnh Vy quyết định thi vào Học viện Kiến trúc của thành phố G vì một lời hẹn ước với Lâm Tịnh – chàng trai sống cùng khu nhà tập thể với cô và hơn cô 5 tuổi. Với riêng cá nhân tôi, tôi thích Trịnh Vi, một nàng Ngọc diện Tiểu Phi Long đầy nhiệt huyết và có một lòng can đảm đáng ngưỡng mộ. Tôi thích cách Trịnh Vi “dòm ngó” Lâm Tĩnh lúc thơ ngây, vì có lẽ ai cũng từng có một “Lâm Tĩnh thời trẻ” giống như thế, để nhìn ngắm, để mơ ước, để hy vọng và huyễn hoặc mình. Nàng khờ dại, lãng mạn, nhưng cũng thẳng thắn vô cùng. Trịnh Vi dần được trui rèn để rời bỏ từng góc của tuổi xuân, để xét đoán hơn cho cuộc sống của mình một cách tỉnh táo. Thì quả vậy, cuộc sống người con gái nào cuối cùng cũng muốn tìm cho mình một bàn tay rộng có thể nép vào, một trái tim cùng nhịp, “không phải là không có tình yêu”, cái câu này mới chua chát làm sao… một ai đó bằng tình thương so sánh với thời mãnh liệt, sao mà so đây? Mà phàm ở đời cái gì nhạt nhạt thì tồn tại lâu hơn, cuồng nhiệt quá lại tuột trôi qua kẽ tay như sóng nước. Có một câu rất hay trong truyện tôi nghĩ để dành cho Trịnh Vi là xác đáng, “khi chúng ta còn trẻ, làm sao chúng ta tin rằng, sẽ có định mệnh khiến chúng ta không đạt được những điều mình mong muốn…” Từ khi còn rất nhỏ cô đã nói trước mặt mọi người là sẽ lấy Lâm Tịnh. 17 năm cô mải miết theo anh trên mọi con đường anh đi, đến cuối cùng cô tưởng như mình đã được ở gần anh sẽ không phải xa cách. Thật không ngờ, chuyện của người lớn – chuyện mẹ cô và cha anh đã từng yêu nhau đã khiến cho hai bên gia đình tan vỡ. Lâm Tịnh đã chọn con đường ra đi, sang Mĩ bỏ cô ở lại với bao câu hỏi ngổn ngang. Song, trong thời gian này, cô lại gặp Trần Hiếu Chính_người đã khiến tuổi thanh xuân của Ngọc diện Tiểu Phi Long ta không chỉ đơn thuần là vô tư và can đảm trước những gian nan, thử thách trong cuộc sống mà còn làm thay đổi rất nhiều bước ngoặc trong cuộc đời của Trịnh Vy. Từ đầu tới cuối tôi không thấy anh xứng với những gì Trịnh Vi dành cho, dù tình yêu sinh viên của hai người đẹp như một giấc mơ, dù sự day dứt của anh có ở trong quyết định của anh, nhưng anh luôn đặt lòng tự trọng tối cao của mình lên trên trái tim đang khóc, thì anh dệt nên muôn vết sẹo trong lòng cô gái anh yêu. Anh không biết rằng trái tim đó dù còn yêu, nhưng sẽ rạn vỡ, và người con gái kia ôm nỗi tủi thân đến một bến bờ khác… Nhưng nếu suy xét theo một phương diện khác ta có thể thấy rằng,Cuộc sống cũng bất công với Trần Hiếu Chính quá nhiều. Mặc dù Tân Di Ổ không miêu tả tuổi thơ của Trần Hiếu Chính nhưng ai dám khẳng định anh có một tuổi thơ, bình lặng và êm đềm. Xưa vẫn vậy nay cũng thế cái câu hỏi “bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn?” vẫn là câu hỏi khó, làm người ta trằn trọc, băn khoăn, làm người ta nuối tiếc, dạy dứt. Một bên là người mình yêu thương hết mực, một bên là người có ơn sinh thành, dưỡng dục biết chọn bên nào? Trần Hiếu Chính đã chọn bên hiếu, nhưng ai dám nói Trần Hiếu Chính không nghĩ đến Trịnh Vy, đã bao lần Trần Hiếu Chính cầm tay Trịnh Vy và tự hỏi chính mình “có thể làm cho bàn tay ấy mãi mềm mại như ngày hôm nay” anh cũng đã nói với cô “Anh không thể yêu em với hai bàn tay trắng” như thế là đúng hay sai là nên hay không nên? Thời nay đã khác thời xưa quá nhiều, có mấy ai có thể yêu nhau nếu như những yêu cầu cơ bản của bản thân mình còn chưa đáp ứng đủ? Cũng chỉ vì cái lẽ đó mà một cuộc tình dang dở, cũng có lẽ vì nó dang dở nên nó đẹp “giống như một ca khúc, dừng giữa khoảnh khắc du dương nhất, có lẽ lại là điều tốt…”. Tôi đã từng đặt ra một câu hỏi rằng tại sao Trịnh Vy đã tuyệt tình như vậy rồi mà Trần Hiếu Chính vẫn không chịu buông tay? Có phải là vì anh vẫn đang tiếc nuối cho mối tình đối với Trịnh Vy cũng như là tiếc nuối cho chính bản thân mình… Trần Hiếu Chính đã cố gắng xây dựng một tương lai đầy hoàn hảo mà theo anh là không có sự sai lệch. Vì chính anh đã nói với Trịnh Vy rằng “ Anh không thể lấy em với hai bàn tay trắng”. Nhưng anh đâu biết rằng cái mà anh cho là không sai lệch, nó đã sai lệch ngay từ phút đầu tiên. Những năm tháng ở Đại Học, anh trắng tay nhưng anh có Trịnh Vy. Giờ đây, anh đã công thành danh toại nhưng anh đã đánh mất đi Trịnh Vy, người mà anh từng cho rằng quan trọng nhất cuộc đời anh. Anh yêu Trịnh Vy nhưng anh lại không biết cách xây dựng tình yêu của mình. Mất Trịnh Vy, anh không cam tâm và luôn muốn hoàn hảo trở lại như lúc trước. Trần Hiếu Chính đã rất ích kỉ. Sự ích kỉ của anh đã đánh mất đi thứ quý giá nhất trong cuộc đời anh. Trong cuộc tình này, Trịnh Vy không sai, Trần Hiếu Chính cũng không sai, Lâm Tĩnh lại càng không. Nếu thử đặt chúng ta vào trường hợp ba mình yêu mẹ của người yêu mình thì thật sự chúng ta có chịu nổi hay không? Cũng như tôi đã nói ở trên, có người cho rằng Lâm Tĩnh quá tàn nhẫn với Thi Khiết, cho rằng Lâm Tĩnh quá vô tình. Nhưng chúng ta có dám chắc rằng khi đứng ở vị trí của Lâm Tĩnh, ra không làm như thế không? Phải chăng thanh xuân của Nguyễn Nguyễn là thanh xuân trọn vẹn nhất trong “Anh Có Thích Nước Mỹ Không”? Tôi không thể trách tại sao Tân Di Ổ lại giết đi cô gái hồn nhiên, trong sáng và luôn chân thành với tình yêu bất diệt của mình. Bởi vì tôi biết rằng cái chết của Nguyễn Nguyễn là cách duy nhất khiến cho người đọc cảm nhận được sự khao khát yêu và được yêu của Nguyễn Nguyễn. Ta cảm nhận được cái chết của Nguyễn Nguyễn không phải là dấu chấm cho cuộc đời cô mà đó còn là cách cô bảo vệ tình yêu chân chính của cuộc đời mình. Thanh Xuân của Nguyễn Nguyễn không đơn thuần chỉ là một kết thúc mà nó có thể là cả linh hồn của quyển sách này. Mọi việc xảy ra đều có kí lẽ của riêng nó. Ngoài việc tập chấp nhận ta còn phải đối đầu và tìm cách vượt qua nó. Dù đúng hay sai thì mọi chuyện vẫn sẽ qua đi, thời gian rồi cũng sẽ xóa nhòa tất cả và mọi người sớm muộn cũng sẽ phải đổi thay. Có lẽ chỉ cần giữ chút hồi ức trong lòng để đôi khi nghĩ lại và mỉm cười thì có lẽ đã là hạnh phúc, đâu cần phải tham làm đòi hỏi quá nhiều. “Tình yêu là ngọn lửa khiến con người phải liều mình, cho dù là người thông minh hay ngốc nghếch, đã yêu rồi, đều biến thành con thiêu thân. Ai cũng biết xông vào lửa sẽ biến thành tro bụi, nhưng biết làm thế nào, trăm năm sau, cho dù đã từng bốc cháy hay không, chúng ta đều biến thành cát bụi.”
Thuyết trình về một quyển sách yêu thích. Anh có thích nước Mỹ không-Tân Di Ổ
1,585
Đề bài: Thuật lại buổi cắm trại lớp em đã tổ chức Bài làm Dự tính đã lâu, nhưng mãi đến lễ 30 tháng 4, kỉ niệm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng vừa qua, lớp em mới có dịp cắm trại tại công viên thị xã. Hôm ấy, vì quá nôn nao nên mới năm giờ, các bạn đã đến trường, sớm hơn giờ hẹn. Các thứ như: cây, cọc, vải che lều, thức ăn, nước uống… đều mang theo đầy đủ như được phân công. Sau khi điểm danh, dặn đò vài điều cần thiết, cả đoàn đi bộ lên đường. Địa điểm cũng không xa lắm. Thuật lại buổi cắm trại lớp em đã tổ chức Đến nơi, chúng em chọn ngay một khoảnh đất trống thật mát dưới tàng cây me to để dựng trại. Các bạn trai năng nổ cắm cọc, các bạn gái quét dọn. Nhờ thế chẳng bao lâu, một căn lều, tuy đơn giản mà xinh xắn, đã hiện ra. Lúc sinh hoạt là nhộn nhịp nhất. Tiếng hò hát vang vang cùng tiếng nhịp vỗ tay. Hoà vào đó là tiếng đệm đàn của thầy em. Ngồi giữa vòng tròn, em thấy thầy gần gũi và thân mật quá. Bạn Thống, thường ngày học giỏi, hôm nay lại hát hay nên mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Xen vào đó là những trò chơi: giành khăn, mèo bắt chuột, bịt mắt bắt dê… thật hào hứng. Nhiều lúc, tiếng reo náo nhiệt cả một vùng, làm cho mây người lớn, mấy em nhỏ đi qua đó cũng dừng lại đứng nhìn mà vui lây. Trưa hôm ấy, sau khi tổ chức ăn uống, người thì ra ngồi gốc cây hóng mát, đọc sách, người thì đi dạo. Đến chiều sinh hoạt tiếp và khoảng ba giờ, lúc mặt trời hơi chếch về tây, thầy trò mới nhổ trại ra về. Lần đầu tiên dự buổi cắm trại thật là lí thú. Tình thấy trò, tình bè bạn dường như gắn bó hơn. Cả lớp cứ nhắc mãi chuyện cắm trại vừa qua.
Thuật lại buổi cắm trại lớp em đã tổ chức
344
Đề bài; Thuật lại buổi triển lãm Vở sạch chữ đẹp của nhà trường Bài làm Sáng chủ nhật vừa qua, thầy giáo chúng em đến xem phòng triển lãm “Vở sạch chữ đẹp’’ của nhà trường. Từ xa nhìn lại, mái trường thân yêu như một vườn cây xanh tốt. Đến gần, phòng triển lãm là ba gian nhà xinh xắn, mái ngói đỏ tươi. Bên hàng cây xanh biếc, cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió như chào đón chúng em trong nắng sớm. Những bức tường xây đang phơi mình dưới nắng trông thật đẹp. Những cánh cửa sơn xanh bóng hôm nay mở ra đón phụ huynh và các vị đại biểu đến xem. Tấm bảng đỏ mang dòng chữ vàng đậm nét: “Triển lãm vở sạch chữ đẹp” căng trước cửa phòng trông vừa đẹp vừa nghiêm trang. Thuật lại buổi triển lãm Vở sạch chữ đẹp của nhà trường Cửa phòng hôm nay như hẹp lại vì đông nghẹt người ra vào. Chúng em đi theo hướng mũi tên dưới sự hướng dẫn của thầy giáo. Bước vào phòng đầu, cách trang hoàng lộng lẫy đã lôi cuốn ngay sự chú ý của em. Trên tường cao, tấm ảnh Bác Hồ lồng trong khung kính trang trọng. Mắt Bác sáng ngời như ân cần nhắc nhở chúng em học giỏi, đoàn kết thương yêu nhau. Dưới khung ảnh, năm điều Bác dạy viết trên một tấm bìa màu vàng. Tiếp đó là nhiều khung kính bằng khen, giấy khen và cờ luân lưu khen tặng các thành tích của nhà trường. Điều đáng chú ý ở đây là các dây hoa trang trí đều do các bạn học sinh tự làm với sự lựa chọn màu sắc và bàn tay khéo léo của mình. Xung quanh chân tường là những chiếc bàn kê ngay ngắn phủ những tấm vải hoa, hàng trăm quyển vở được trưng bày. Quyển nào cũng sạch, cũng đẹp. Cô giáo Liên tay cầm que bọc giấy xanh đỏ, niềm nở giới thiệu. – Đây là những quyển vớ của học sinh lớp một. Em nghểnh cao hơn, cố len vào để trông cho rõ nhưng quyển sách, quyển vờ dùng lâu ngày mà không quăn mép: sờn gáy. Nâng niu quyển vở trên tay, em lật di lật lại những trang chữ viết nắn nót, nét thanh, nét đậm trông mềm như tơ. Em ngắm mãi không chán mắt những dòng chữ màu xanh tím đều đặn trên nền những trang giãy trắng mà nghĩ đến tinh thần chăm chỉ của các bạn: Bàn tay siêng năng Nở hoa trên giấy Từng hàng giăng giăng (Thơ Huy Cận trong tập Hai bàn tay em) Tiếp đó là sách vở của các bạn khối ba và bốn. Những quyển vở này trình bày sáng sủa hơn. Em nâng quyển chính tả của bạn Giang, quyển vở rất dày mà không có một giọt mực. Em thích nhất quyển bài tập toán có những điểm mười nở rộ như những bông hoa tươi thắm. Nổi bật nhất là sách vở cừa bạn Thu Hương – bạn là học sinh ưu tú, ba năm liền bạn đạt danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ. Sách vở của bạn được trưng bày chiếm đến hai bàn. Bác Lê, mẹ bạn Thu Hương hôm nay cũng đến xem triển lãm. Em nâng quyển vở của bạn Thu Hương lên cho bác xem những điểm mười tươi rói. Gương mặt bác ánh lên niềm vui dào dạt. Bác ngắm mãi như không muốn rời những quyển vở của đứa con thân yêu đã được các thầy, các cô hết lòng dạy bảo. Sau hai giờ tham quan phòng triển lãm, chúng em ra về. Mặt trời đã lên cao, nắng mới trải vàng trên đồng lúa mênh mông. Lòng em rạo rực, em nhìn các bạn, ai cũng dễ mến hơn, hàng cây đẹp hơn, lúa đồng xanh hơn. Lòng em vui phai phới Qua trang giấy hôm nay Qua tửng dòng chữ đẹp Tổ quốc lớn từng ngày Em thấy như các thầy, các cô, các bạn đang trông chờ ở em những thành tích tốt hơn, đẹp hơn góp phần cho những cuộc triển lãm ở nhà trường.
Thuật lại buổi triển lãm Vở sạch chữ đẹp của nhà trường
696
Đề bài: Thuật lại buổi tổng kết năm học tổ chức tại trường em Bài làm Buổi lễ tổng kết cuối năm học vừa qua của trường em tuy đơn giản nhưng không kém phần long trọng. Hôm ấy nhằm một ngày đẹp trời, không khí mát dịu. Các bạn học sinh đều ăn mặc tươm tất hơn ngày thường. Ngay giữa sân lễ, một tấm phông đỏ treo cao, nổi bật lên với dòng chữ to màu trắng “Lễ tổng kết năm học”. Kế bên là một chiếc bàn dài trải thảm hoa, trên ấy, chất đầy những gói phần thưởng được bọc bằng giấy kiếng bóng lộn. Chúng em cứ đi qua đi lại ngắm nhìn mà lòng nôn nao khó tả. Thuật lại buổi tổng kết năm học tổ chức tại trường em Chẳng bao lâu, quan khách đến dự đã đông đủ. Họ ngồi chật cả dãy bàn phía trước. Tiếng nói chuyện, tiếng cười huyên náo. Buổi lễ được bắt đầu bằng phút chào cờ thật trang nghiêm. Xong, thầy hiệu trường mới đọc diễn văn tổng kết năm học. Giọng thầy từ tốn, ấm rõ điểm lại từng mặt hoạt động của nhà trường. Chúng em im lặng lắng nghe mà lòng thầm cảm phục, biết ơn công lao của thấy cô đã không quản bao khó nhọc vì chúng em. Thầy hiệu trưởng còn thân mật khích lệ những bạn học giỏi, động viên các bạn khác phải cố gắng nhiều hơn nữa. Bài diễn văn kết thúc giữa tràng pháo tay giòn giã. Tiếp theo là bài phát biểu của khách tham dự. Nhưng xúc động nhất là bài phát biểu của bạn Thu Hương. Bạn ấy đại diện cho học sinh lớp cuối cấp lên bày tỏ những suy nghĩ, những tình cảm của mình về thầy cô, về mái trường thân yêu sắp sửa phải rời xa. Lúc phát thưởng thật vui nhộn. Bạn nào hạng nhất được gọi lên trước. Mỗi lẫn như thế là một lần tiếng vỗ tay vang dậy. Các bạn nhận thưởng tuy hơi rụt rè, nhưng người nào trên gương mặt cũng lộ nét hân hoan, tràn đầy sung sướng. Mấy bạn học sinh phía dưới cứ đứng chồm lên để nhìn cho rõ hơn. Xen vào giữa là các tiết mục văn nghệ hào hứng. Những bài hát về tuổi học trò được dịp cất lên. Đặc biệt tiết mục biểu diễn dàn organ của một em lớp Một đã làm cho ai nấy đều khen ngợi. Cuối cùng, thầy hiệu trưởng lên tuyên bố bế mạc và cúi đầu chào tất cả mọi người. Buổi lễ tổng kết năm học đã kết thúc. Những bàn tay vẫy giã từ nhau, những ánh mắt nhìn nhau đầy lưu luyến. Xung quanh dần vắng lặng. Đâu đây, thoảng tiếng ve kêu. Riêng em, một mình còn đếm bước giữa sân trường đầy xác phượng đỏ.
Thuật lại buổi tổng kết năm học tổ chức tại trường em
482
Đề bài: Thuật lại chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng 5 tháng giêng Bài làm Nguyễn Huệ là một người anh hùng rất tài giỏi, ông có tài điều binh khiển tướng. Nguyễn Huệ từng chỉ huy nhiều cuộc chiến lớn và đã giành thắng lợi, trong đó có cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Thanh, ông đã góp phần đem lại những mốc son vàng chói lại cho lịch sử Việt Nam. Trong đó phải kể đến chiến công thần tốc đại phá quân Thanh. Lê Chiêu Thống vốn là một tên vua ươn hèn, do lo cho cái ngai vàng mọt rỗng của mình nên hắn cầu cứu nhà Thanh, mở đường cho quân Thanh xâm lược nước ta. Ngày 24 tháng 11, Văn Tuyết vào Nam cấp báo cho Bắc Bình Vương, Lê Chiêu Thống thì nhận sắc phong của vua Thanh là Nam Quốc Vương, còn Sở và Lân rút lui về Tam Điệp. Điều này có nghĩa là nước ta mất hết đất từ cửa ải phía Bắc vào đến Thăng Long, đây quả là một biến cố lớn. Trước sự việc đó, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ định mở cuộc tấn công ra Bắc đại phá quân Thanh cứu nguy cho đất nước. Mấy hôm trước khi xuất quân, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức của Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung vào tháng chạp năm Mậu Thân (1788). Nguyễn Huệ lên ngôi rất uy nghi đường bệ, nghi lễ vô cùng trang nghiêm. Đây là một con người có dung mạo vô cùng đặc biệt. Trong cuốn Các triều đại Việt Nam có viết: ông là người tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, mắt sáng như chớp có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối nên không một ai dám nhìn vào mắt Nguyền Huệ. Ta có thể thấy ở vị vua này toát lên vẻ mặt cương nghị, oai phong, lẫm liệt. Vua Quang Trung sai lính là Hám Hổ Hầu tuyển quân ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, chẳng mấy chốc đã được một vạn quân tinh nhuệ. Sau đó, vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trận, những hàng quân thẳng tắp, gươm giáo nhất loạt bên mình, lá cờ tung bay phấp phới đã khí thế sẵn sàng luôn chuẩn bị chiến đấu để bảo vệ đất nước. Trước khi xuất quân, vua Quang Trung cưỡi voi thân chinh ra doanh trại yên ủi quân lính bằng phủ dụ của mình. Giọng nói của ông sang sảng giữa bốn bề núi rừng thanh vắng, đầy hào khí, tuyên bố với ba quân, khẳng định niềm tin, ý chí quyết chiến quyết thắng của đội quân chính nghĩa. Lời vua Quang Trung nói vừa như ân cần khuyên bảo, vừa như răn dạy khiến cho quân sĩ rất cảm phục. Vì vậy họ đồng thanh mà nói rằng: xin vâng lệnh không dám hai lòng. Ngay hôm sau, Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các hàng quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà đi. Đến núi Tam Điệp, ông gặp Sở và Lân. Vua Quang Trung phân tích rõ công tội của họ. Không những không chém mà còn tha tội chết cho họ. Quang Trung đã thể hiện sự am hiểu, lòng vị tha độ lượng và quán lệnh nghiêm minh quân thua chém tướng khiến cho mọi người nhất là Sở và Lân đều vô cùng cảm động và biết ơn ông. Ngoài ra ông còn nói rõ sẽ cho quân sĩ hiểu rằng quân Thanh là đội quân lớn mạnh gấp mười lần đội quân mình, nếu chúng thua trận này ắt thấy thẹn mà báo thù như vậy việc binh đao không bao giờ dứt, lúc đó dân chúng sẽ lâm vào cảnh lầm than. Điều này đã thể hiện rõ vua Quang Trung còn rất biết lo xa, lo lắng cho vận mệnh dân chúng. Đêm 30 tháng chạp, ông cho mở tiệc khao quân, bữa tiệc Tết trước khi ra trận tuy làm không to, không khí không có tiếng đàn, ca hát nhưng quân sĩ ai ai cũng thấy lòng phơi phới niềm vui và niềm tin quyết thắng vào trận chiến hôm sau. Vua Quang Trung dõng dạc tuyên bố với một vài tướng sĩ của mình trước ngày thắng trận đã cho thấy ông là người có khả năng tiên đoán trước tình hình, có tầm nhìn xa trông rộng. Vào tối 30 Tết lập tức lên đường ra Bắc. Để giữ sức cho quân sĩ, ông liền nghĩ ra cách lấy cáng làm võng cứ hai người khiêng một người nằm ngủ luân phiên nhau đi suốt, đêm ngày, mau chóng thần tốc, tiến thẳng ra Bắc. Khi quân sĩ của vua Quang Trung ra đến sông Gián, nghĩa binh trân thủ ở đó tan vỡ chạy trước lúc đến sân Thanh Quyết, quân Thanh ở đó trông thấy cũng chạy nốt. Vua Qung Trung liền thúc quân đuổi theo, đến huyện Phú Xuyên thì bắt sống được hết không để tên nào về báo tin. Lại nói Quang Trung đi rất nhiều ngày đêm, quần áo sộc sệch bám đầy bại đường, da den sạm đi vì nắng và gió. Có lúc quân sĩ còn lên cơn sốt nửa đường do không quen với khí hậu phía Bắc và do cái lạnh căm căm của ngày Tết. Nhưng ông vẫn đủ minh mẫn để chỉ huy cả đội quan tiến đánh. Việc tấn công của quân ta là hoàn toàn bí mật tiến về đồn Hà Hồi – Ngọc Hồi. Nửa đêm ngày mồng 3 tháng giêng, năm Kỉ Dậu (1789), sau khi đi suốt 3 đêm 23 ngàv, nghĩa quân đã tới làng Hà Hồi. Từ nửa đêm mồng 3 tháng giêng vua Quang Trung lặng lẽ cho bao vây khắp làng, ông đã rất thông minh khi dùng kế nghi binh: bắc loa truyền gọi, tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn lúc đó mới biết, ai nấy đều rụng rời xin hàng. Toàn bộ vũ khí và lương thực đều bị quân Nam lấy hết. Chính vì vậy nên việc hạ đồn Hà Hồi rất nhanh gọn. Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván cứ ghép ba tấm làm một bức, lấy rơm đắp nước phủ quanh ngoài. Mờ sáng ngày mồng 5, đoàn quân đã tiến sát đến đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra nhưng chẳng trúng người nào, nhân có gió Bắc bọn chúng liền dùng ống phun lửa, khói lửa mù trời. Nhưng bỗng trời trở gió Nam thành ra quân Thanh tự hại mình. Sự việc đó lại càng chứng tỏ việc làm của nghĩa quân Quang Trung là rất chính nghĩa đến trời đất cũng ủng hộ. Quân Thanh chống không nổi. Bỏ chạy tán loạn giẫm đạp, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn. Quân ta thừa thế xông lên chém giết, máu chảy thành suối,! quân Thanh đại bại. Giữa chưa hôm ấy Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi vào thành. Vua Quang Trung cho mở tiệc khao quân ăn mừng, hôm ấy là ngày mồng 5 tháng giêng. Như vậy dự đoán của Quang Trung quả không sai. Quân sĩ hết sức vui mừng cho chiến thắng oanh liệt này. Qua đây ta càng cảm thấy khâm phục trước chiến công thần tốc của vua Quang Trung. Nó mang lại một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Tuy Đại Việt chỉ là một nước nhỏ nhưng dân tộc ta lại có một sức mạnh vô cùng ghê gớm, sức mạnh này có thể đánh bại bất kỳ một nước lớn nào dám sang xâm lược. Hằng năm, Việt Nam ta thường tổ chức lễ hội Đống Đa cũng là đế tưởng nhớ đến người anh hùng áo vải Quang Trung cùng toàn bộ quân sĩ đã dũng cảm chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc.
Thuật lại chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 Tết đến ngày mồng 5 tháng giêng
1,384