text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề 32 – Suy nghĩ của em về lòng nhân ái – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ của em về lòng nhân ái HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến khái niệm: lòng nhân ái. Vậy lòng nhân ái có nghĩa là gì? Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho lòng nhân ái? Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người không có lòng nhân ái, không biết yêu thương, quan tâm, san sẻ đối với những người xung quanh thì những con người này phải bị phê phán, lên án ra sao? Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất cao quý của con người. Vậy lòng nhân ái đóng vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc sống của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gỉ?) Lòng nhân ái là gì? => Đó là thứ tình cảm thiêng liêng, là sự tôn trọng, yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa con người và con người. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?) Tại sao chúng ta phải có lòng nhân ái? + Bởi vì nó thể hiện phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi chúng ta. + Khi thể hiện tình yêu thương, nó mang đến cho chúng ta suy nghĩ, dư âm ngọt ngào và bình yên trong tâm hồn. + Là thước đo để đánh giá phẩm chất, đạo đức một con người. + Lòng nhân ái có khả năng giúp đỡ con người qua cơn khốn khó, mang đến cho họ suối nguồn của tình thương con người. + Lòng nhân ái còn giúp cho những con người đang lầm đường lỡ bước quay lại với con đường chân chính. + Yêu thương thật sự đem lại hạnh phúc cho mọi người không chỉ riêng ta mà là cả nhân loại. Dẫn chứng: Nêu ra những con người thể hiện sự yêu thương trong xã hội mà người học biết (thông qua sách báo, truyền hình,…). c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề Phê phán những con người có hành động coi thường, khinh rẻ những người nghèo khó cần được sự giúp đỡ, yêu thương đặc biệt là người nghèo, trẻ em cơ nhỡ. Dẫn chứng: Những câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn về lòng nhân ái: Lòng nhân ái chỉ trở thành giá trị đạo đức khi chính nó là một sự hi sinh vị tha. (Đen-bôn) Thấy người hoạn nạn thì thương Thấy người cùng khổ lại càng thương hơn. Thương người như thể thương thân, (tục ngữ) Lá lành đùm lá rách, (tục ngữ) Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ. (tục ngữ) Nhường cơm sẻ áo. (thành ngữ) Một miếng khi đói bằng một gói khi no. (tục ngữ) Không phải là tài năng, không phải là danh dự, không phải là thị hiếu để đo được sự cao quý của tâm hồn mà chính là lòng nhân ái vậy. (Lacordaire) Một con tim nhân từ còn quý hơn vạn đầu não trong thế gian. (Bulwer Lytton) Hãy yêu người như yêu mình vậy. (Jesus) III. KẾT BÀI Lòng nhân ái là phẩm chất đạo đức cần thiết của con người. Cần mở rộng tấm lòng của mình ra xung quanh cuộc sống để thấy rằng xung quanh ta còn có rất nhiều người cần sự giúp đỡ, yêu thương. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Trong cuộc sống hễ là con người thì ai cũng cần được yêu thương và yêu thương người khác. Đó cũng chính là niềm hạnh phúc lớn nhất của con người. Một trong những đức tính tốt gắn kết giũa con người với con người đó chính là lòng yêu thương, tình nhân ái. Vậy ta hiểu như thế nào về lòng nhân ái? Thật vậy, lòng nhân ái thật sự cần thiết vói mỗi con người. Lòng nhân ái là tình cảm giữa người và người, là những điều tốt đẹp mà con người dành cho nhau, như tình cảm bạn bè, tình cảm gia đinh,… Thậm chí là những người ta không quen biết. Lòng nhân ái là những cử chỉ, những hành động quan tâm đến người khác như một nụ cười thân thiện, trìu mến, ánh mắt thân thương. Ngoài ra còn sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp hoạn nạn khó khăn, sẵn sàng làm chỗ dựa cho người yếu đuối và sẻ chia những đau buồn với bạn bè. Những người có lòng nhân ái luôn đem lại hạnh phúc và những điều tốt đẹp cho những người xung quanh mình. Nhưng dù ở bất cứ biểu hiện nào thì lòng nhân ái cũng luôn mang lại những điều kì diệu riêng cho cả người cho lẫn người nhận. Cái hạnh phúc mà tình yêu thương, lòng nhân ái đem lại cho cuộc sống là dành cho cả hai phía. Ai cho đi lòng yêu thương của mình thì họ sẽ luôn luôn nhận lại được tình yêu thương của người khác. Và những người dùng lòng nhân ái để cho đi tình yêu thương của mình thì sẽ cảm thấy lòng mình êm dịu, bình yên. Lòng yêu thương còn có sức mạnh cảm hoá những ai đã lầm đường lạc lối quay trở lại con đường ngay thẳng để trở nên tốt hơn. Tóm lại, chúng ta đã hiểu thêm về lòng nhân ái quan trọng như thế nào. Đó là động lực giúp ta phải cần hiểu biết. Bản thân tôi cũng cần phải đem lòng nhân ái của mình đi giúp đỡ mọi người góp phần phát triển đất nước. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Con người hễ được sống trên đời đều là một hạnh phúc lớn lao. Nhưng có lẽ điều hạnh phúc lớn hơn ở đây là cảm giác yêu thương và được yêu thương. Có lẽ yêu thương người khác và được yêu thương chính là niềm hạnh phúc lớn nhất của con người. Vậy ta hiểu “Lòng nhân ái” là như thế nào? Quả đúng như vậy, lòng nhân ái là một thứ tình cảm tốt đẹp mà mọi người dành cho nhau như tình cảm gia đình, tình cảm bè bạn,… thậm chí đối với những người ta không quen biết. Nó là một thứ có thể vun đắp, xây dựng trong một thời gian dài, nhưng cũng có thể chỉ là một niềm thương cảm trào dâng khi gặp một hoàn cảnh xúc động nào đó. Nhưng dù có thế nào thì tình yêu thương vẫn mang lại nhiều điều cho cả người cho lẫn cả người nhận. Vậy tại sao phải có lòng nhân ái? Vì tình yêu thương hấp dẫn kéo mọi người xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất. Nếu không có tình yêu thương thì mối liên kết đó có thể sẽ đứt gãy bất cứ lúc nào. Và sẽ là một thảm hoạ nếu thế giới trở nên như vậy. Rất có thể là sẽ xảy ra chiến tranh, là chết chóc, bởi vì yêu thương không tồn tại thì lòng nhân đạo sẽ bắt nguồn ở đâu? Khi đó hạnh phúc sẽ không còn tồn tại được nữa. Yêu thương đem lại hạnh phúc cho nhân loại! Vì vậy hãy dành tình thương của mình cho mọi người thật nhiều. Có thể chúng ta sẽ nhận lại được tình thương từ họ, hoặc có thể không, nhưng điều đó không quan trọng, và chỉ cần yêu thương tồn tại trong ta thì ta đã có được hạnh phúc. Bởi yêu thương chính là hạnh phúc của con người! Bên cạnh đó, còn có những người không có lòng yêu thương đối với mọi người, chỉ biết quan tâm đến tình cảm của bản thân, không biết giúp đỡ người khác và có thể vì lợi ích cá nhân mà làm tổn hại đến người khác, chỉ biết áp đặt người khác vào những suy nghĩ của chính bản thân. Không biết cảm thông cho những người lầm đường lạc lối. Với tuổi trẻ hiện nay, trong môi trường toàn cầu hoá giao tiếp với con người càng rộng bao nhiêu thì lòng yêu thương cần được mở rộng bấy nhiêu. Đó là động lực để chúng ta hợp tác cùng nhau nâng cao hiểu biết, tích cực cải thiện cuộc sống con người, chỉ có yêu thương mới xoa dịu những ngăn cách giàu nghèo, những bất đồng, nghi kỵ, tạo ra thế giới hoà bình, hạnh phúc. Đối với tôi tình yêu thương là điều khiến cho cuộc sống của tôi trở nên tươi đẹp hơn, cho tôi biết được thương yêu mọi người là một điều tuyệt vời nhất trên đòi. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 3 “Sống trong cuộc sống cần có một tấm lòng”, đó là lời bài hát quen thuộc vui tươi, trong trẻo khuyên chúng ta sống trong cuộc đời cần có sự yêu thương. Nếu sống mà không có tình yêu thương, lòng nhân ái thì cuộc đời sẽ lạnh lẽo và vô vị. Câu chuyện kể về một cậu bé và một người ăn xin đã già yếu. Ông lão chìa tay xin cậu bé, nhưng cậu lại không có gì cho ông. Cậu bèn nắm lấy bàn tay ông một cách run rẩy, chân thật xin lỗi ông, nhưng ông lão không hề giận mà lại cảm ơn cậu bé. Cả hai nhân vật trong câu chuyện này đều cảm thấy mình đã nhận được từ người kia một điều gì đó. Vậy đó là gì? Đó chính là lòng nhân ái, tình yêu thương con người. Vậy thế nào là lòng nhân ái? Lòng nhân ái là lòng yêu thương giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn, hoạn nạn hơn mình, hoặc đó cũng là sự cảm thông, đồng cảm với một người nào đó. Đây là một cách sống đúng đắn, là một phẩm chất tốt đẹp mà mỗi người nên có. Thế tại sao chúng ta cần phải có lòng nhân ái? Trong cuộc sống vốn có nhiều khó khăn, bất trắc mà ta không thể lường trước được như bệnh tật, hoàn cảnh khắc nghiệt, làm ăn thua lỗ, bị mất đi người yêu thương hay thiên tai, bệnh dịch. Trong những lúc đó, đau khổ, tuyệt vọng như thế, ai cũng cần được động viên, an ủi, sẻ chia. Như cậu bé trong câu chuyện, ta không nên xa lánh, ghẻ lạnh với người ăn xin vì nếu trong lúc hoạn nạn mà không nhận được sự an ủi ở mọi người thì cuộc sống này sẽ trở nên lạnh lẽo, băng giá chẳng khác nào Bắc Cực. Hơn nữa, lòng nhân ái đã trở thành truyền thống, đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta từ lâu. Nhờ thế mà ta mới vượt qua những thiên tai, hiểm hoạ, tường chừng không vượt qua được. Khi giúp đỡ người khác, mình sẽ cảm thấy rất vui trong lòng vì hạnh phúc của người khác cũng là hạnh phúc của mình. Ta không thể là người tốt nếu không có lòng nhân ái vì tình yêu thương chính là thước đo phẩm chất của mỗi con người. Ngoài ra, lòng nhân ái sẽ làm mối quan hệ giữa người với người trở nên tốt đẹp hơn, cuộc sống tràn đầy ý nghĩa hơn. Có rất nhiều hành động thể hiện tình yêu thương ở bản thân. Ta có thể giúp đỡ người ăn xin, như cậu bé trong truyện, đưa em bé bị lạc về nhà, giúp cụ già qua đường, nhường chỗ cho người già, người mang thai và còn nhiều hơn nữa. Đạo lí tốt đẹp này đã được ông cha ta ngợi ca trong những câu thành ngữ, tục ngữ như “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”,… Ngày nay, nước ta cũng thường phát động phong trào giúp đỡ người khó khăn như xoá đói giảm nghèo, kế hoạch nhỏ, nhà tình thương,… Nếu ta có lòng nhân ái thì sẽ được mọi người yêu mến và quí trọng. Trong thục tế cuộc sống, vẫn còn không ít kẻ thờ ơ, dửng dưng trước người gặp hoạn nạn. Lối sống ích kỉ ấy rất cần phê phán. Lòng nhân ái không chỉ giới hạn trong nước ta mà là trên toàn thế giới, như thời kì các quốc gia cùng nhau đóng góp giúp đỡ Nhật Bản vượt qua động đất, sóng thần. Tóm lại, lòng nhân ái là một phẩm chất tốt mà mỗi người cần phải có. Là một học sinh, em sẽ cổ gắng phát huy phẩm chất này để giúp xã hội trở nên tốt đẹp, ấm áp hơn. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 4 Lòng nhân ái tình yêu thương, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau… là một trong những truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam ta. Có người đã nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu tình yêu thương”. Câu nói trên quả thật rất đúng. Bắc Cực là vùng tận cùng của Trái Đất, là nơi lạnh lẽo, thời tiết khắc nghiệt, băng tan, núi lở quanh năm. Không có bất kì sự sống nào ở nơi đó. Cây cối, hoa màu, muông thú,… đều không thể tồn tại ở Bắc Cực. Những tưởng đấy chính là nơi âm u nhất, lạnh lẽo nhất trên thế giới. Thế nhưng không phải. Nơi lạnh nhất chính là nơi không có tình yêu thương! Vậy, tình yêu thương là gì mà thiếu nó thì nơi đó trở nên lạnh lẽo? Nó là một rương báu vật vô giá mà Thượng đế đã ban tặng cho mỗi con người. Tình thương giúp con người biết quan tâm nhau, giúp đỡ lẫn nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn, từ đó mọi người sống chan hòa hơn, hạnh phúc, ấm cúng hơn: Tuy nhiên, vẫn còn có một số người ích kỉ chỉ biết nghĩ đến bản thân mình. Họ vô tâm, vô cảm với mọi sự việc xung quanh. Họ ngại đưa tay mình ra giúp đỡ vì phiền phức, sợ những điều vô hình. Chính họ làm cho xã hội không thể phát triển. Vì thế mà chúng ta cần phải loại bỏ tính xấu ấy ngay từ bây giờ. Tóm lại, lòng nhân ái là một thước đo phẩm chất tốt đẹp, biểu hiện của một con người văn minh, có học thức. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 5 Có người nói rằng, khi quay ngược trái tim mình lên, trái tim sẽ có hình ngọn lửa. Đó là ngọn lửa của tình yêu thương, của tình người ấm áp. Bạn hãy thử tưởng tượng, nếu một ngày nào đó ngọn lửa ấy sẽ không còn tồn tại trong mỗi con người chúng ta thì Trái Đất này sẽ ra sao? Trái Đất sẽ trở nên lạnh lẽo như câu nói “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà ià nơi thiếu tình yêu thương”. Câu nói này đã thể hiện rất rõ ràng lòng nhân ái cần có ở mỗi con người. Vậy lòng nhân ái là gì? Là sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc, khoan dung vị tha hay những lời động viên, an ủi người khác khi họ gặp khó khăn (do bệnh tật, hoàn cảnh, làm ăn thua lỗ,…). Tất cả những điều này đều xuất phát từ tận đáy lòng của mỗi người, từ sự chân thành của trái tim chứ không phải là lời nói suông. Ông cha ta có câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân”, câu nói đó được biểu hiện qua những hành động rất đơn giản, chẳng hạn: ta giúp một người ăn xin có được bữa cơm, giúp một bà cụ hay một em nhỏ qua đường, tham gia chương trình “Nụ cười hồng”, những chương trình từ thiện… Những việc đó tuy nhỏ nhoi nhưng chính là hơi ấm xua tan cái giá lạnh của những trái tim băng giá, là nghị lực giúp con người đương đầu với mọi điều kiện khắc nghiệt của hoàn cảnh, để họ luôn được sống trong vòng tay yêu thương của mọi người xung quanh, để họ cảm nhận đầy đủ giá trị của cuộc sống và cảm thấy hạnh phúc với số phận của minh. Lòng yêu thương, nhân ái là một đức tính tốt đẹp cần thiết đối với mỗi con người. Vì nó là một sợi dây liên kết vô hình, là một thứ keo đặc biệt gắn chặt tình người lại với nhau, tình bạn bè năm châu láng giềng cho dù bạn đang ở đâu, dù nơi đó có lạnh lẽo đến mức nào, nhưng bên cạnh bạn luôn có biết bao ngọn lửa sưởi ấm tinh thần giúp bạn vượt qua khó khăn. Đã bao giờ bạn cảm thấy cô đơn và cần được sưởi ấm tâm hồn chưa? Có lẽ điều bạn cần không gì ngoài tình thương của bố, của mẹ, thầy cô và bạn bè… Hay như nhân vật Hê – len Ki — lơ, bà đã dùng tình yêu thương nhân loại, đồng cảm bản thân để giúp nhũng người đồng cảnh ngộ mặc dù bà vừa câm vừa điếc để họ tiếp tục sống, học tập và lao động. Nhưng trong thực tế chẳng có mấy ai hiểu được đạo lí đó. Còn rất nhiều con người thờ ơ, sống ích kỉ chỉ biết vì bản thân chứ chẳng hề muốn giúp đỡ người khác. Thật đáng chê trách! Tóm lại, câu nói trên đã khẳng định yêu thương nhân ái là phẩm chất đạo đức tốt đẹp cần phát huy. Là một học sinh ta phải biết san sẻ, động viên, khích lệ bạn bè khi họ gặp khó khăn. Điều đó sẽ vun đắp cho chúng ta một cuộc sống tốt đẹp và tràn ngập hạnh phúc. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 33: Suy nghĩ của em về lòng trung thực tại đây. Tags:Đề 32 · Lòng nhân ái · Văn chọn lọc 9
Đề 32 – Suy nghĩ của em về lòng nhân ái – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
3,049
Đề 32: Thuyết minh về loài hoa em yêu – Bài văn chọn lọc lớp 9 Hướng dẫn Đề 32: Thuyết minh về loài hoa em yêu Bài làm Mùa hè, mùa của nắng. Trên những con đường, sắc đỏ của hoa phượng, sắc vàng của hoa điệp hoà cùng với sắc tím của bằng lăng như rực rỡ hơn dưới ánh mặt trời chói chang. Thế nhưng dưới hồ lại có những cánh hoa với sắc hồng bình dị hay sắc trắng thanh tao lấp ló sau những chiếc lá và toả hương thơm dìu dịu làm giảm bớt đi cái không khí nóng nực. Đó là hoa sen – loài hoa đặc trưng của mùa hè và cũng là loài hoa tôi yêu thích nhất. Từ rất lâu, cách chúng ta hơn một trăm triệu năm về trước, sen đã bắt đầu xuất hiện và mọc dọc theo con sông Nin huyền thoại ở đất nước Ai Cập. Sen là loài cây túc thảo, ưa ánh sáng, thường sống ở vùng đầm lầy, ao, hồ nông hoặc ngập nước. Qua con đường tơ lụa, sen được mang đến và trồng ở Ba Tư, An Độ, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Nhưng có lẽ do quá gần gũi, quá thân thuộc với con người Việt Nam nên trong dân gian vẫn lan truyền sự tích về hoa sen. Truyện kể rằng có hai cô gái, một chị một em không những xinh đẹp mà còn hát hay múa giỏi nổi tiếng cả vùng. Nghe tiếng hai cô, một tên hào phú độc ác sai người bắt cô chị về. Để giữ trinh tiết, cô chị nhảy xuống hồ tự vẫn. Quá thương chị, cô em cũng nhảy xuống theo. Lạ kì thay, sau đó trên hồ xuất hiện những bông hoa trắng và hồng vô cùng đẹp đẽ, toả hương thơm thanh khiết như tâm hồn của hai cô gái. Đó là hoa sen. Hoa sen có thân rễ mọc trong bùn lầy của ao hồ. Dù vậy nó không hề bị vấy bẩn mà ngược lại thân rễ (hay ngó sen) trắng muốt. Ngó sen có thể ăn sống hoặc làm các món ăn như súp, canh. Thân sen nhỏ như ngón tay, màu xanh hoặc nâu, có nhiều gai nhỏ li ti. Lá sen to bản, nổi ngay trên mặt nước như những chiếc nón quai thao của các liền chị hát quan họ thường đội. Lá sen dùng để gói cốm. Cốm làng Vòng gói trong lá sen Hồ Tây – một món quà vô cùng đặc biệt của người Hà Thành. Hường cốm hoà quyện với hương lá sen dìu dịu, man mác khiến cho bất kì ai cũng không thể quên. Không chỉ vậy, lá sen không thấm nước, còn áp dụng vào chế tạo các bề mặt tự làm sạch, người ta gọi đó là hiệu ứng lá sen, Nắng nồng không nhạt, mưa dầm không phai Dù dưới cái nắng gay gắt của mặt trời hay những cơn mưa rào bất chợt của mùa hè thì hoa sen vẫn giữ nguyên sắc tươi sáng, đằm thắm như nó vốn có. Nếu sen trắng với sắc trắng thanh khiết, cánh hoa mềm mại, mỏng manh thì sen với sắc hồng phơn phớt, dáng xinh xinh tựa như đôi hài của người thiếu nữ xưa. Bên trong nhụy vàng bao quanh gương sen tròn đầy đặn. Hoa sen không chỉ có sắc mà còn có cả hương. Hương sen dìu dịu, thoang thoảng. Đứng bên hồ sen, để cơn gió mang hương sen luồn qua mái tóc, hít hà cái mùi hương đang lan toả trong không gian mới thấy thật bình yên. Chính vì cái hương thơm này mà người ta dùng nó để ướp trà. Đối với người dân Hà Nội, ướp trà sen là một nghệ thuật. Người ta phải dậy thật sớm, khi mặt trời còn chưa tỉnh giấc, lấy nhụy vàng từ những bông sen tươi mang về ủ với trà, hương sen đượm vào trong từng lá trà, uống sao mà đậm đà. Người dân Huế lại ướp trà vào ban đêm, khi trời đất giao hoà, những bông sen mới he hé, người ta bỏ trà vào lòng hoa rồi buộc chặt lại, ép không cho hoa nở, sáng hôm sau mới thu trà. Những chén trà Huế đã làm say lòng biết bao nhiêu du khách. Nhiều người cho rằng hoa sen đâu cũng có nhưng chẳng có nơi nào sen lại đẹp như ở Huế. Quả thật sự tĩnh lặng, không khí trầm lắng của miền đất cố đô tạo cho hoa sen ớ đây cái gì đó khác biệt. Bước vào cánh cổng đại nội mùa hè, hai bên hồ Thượng Tứ và Tịnh Tâm rực sắc. Sáng sớm trên những con đường Huế, gánh hoa của các bà, các chị đã đầy hương sắc sen. Những bông hoa sen nằm gối đầu lên những phiến lá sen xanh rì. Thu về, sen tàn, những cánh hoa rơi nhẹ nhàng xuống mặt hồ. Thế nhưng vẫn phảng phất đâu đây hương sen dịu mát. Hương sen Huế như níu giữ chân người đi, đọng lại trong lòng chút gì xao xuyến: Đầu hè nở, thu về hoa ủ rũ Vương vấn hồn hoa vẫn ngát hương Hoa sen còn có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của người Việt. Theo quan niệm của người xưa, sen tượng trưng cho sự đức hạnh, sự thanh khiết: Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhi vàng Nhị vàng, bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Sen có sức sống mạnh mẽ, trong bùn lầy nhưng sen vẫn vươn mình thoát khỏi mặt nước, kết nụ khai hoa và toả hương thơm ngát tràn đầy cả không gian. Thật kì lạ, sen mọc ở đâu thì nước ở đó lắng trong chứ không vẩn đục. Đó là sen đã thay đổi hoàn cảnh sống của chính nó để trở nên đẹp hơn, tinh khiết hơn. Ít loài hoa nào có nhiều phẩm chất tốt đẹp như hoa sen. Có lẽ bởi vậy mà Phật giáo chọn sen làm biểu tượng và ví nó với đức tính của người tu hành. Trong quan niệm Phật giáo, sen trắng là sự thuần hoá nhân tính, sen đỏ là biểu tượng của Phật Bà Quan Âm với ý nghĩa là bản chất nguyên thủy của trái tim ; sen xanh tượng trưng cho trí tuệ của con người và sen hồng là biểu tượng của vị tối cao. Sự hình thành của sen là sự luân hồi, nối tiếp liên tục. Hoa nở là quá khứ, đài sen là hiện tại, hạt sen là tương lai. Trong nghệ thuật, điêu khắc và kiến trúc Phật giáo, hình hoa sen xuất hiện rất nhiều. Từ những ngôi chùa đến bệ tượng phật rồi các bình hoa, bình gốm. Nhưng tiêu biểu nhất là kiến trúc Phật giáo. Một trong những ngôi chùa tựa hoa sen là chùa Một Cột (Hà Nội). Chùa được xây dựng từ giấc mộng đài sen của Lí Thánh Tông. Mái chùa cong cong như cánh hoa sen, một cột thẳng đứng vươn cao như thân sen đỡ lấy bông sen. Từ trên nhìn xuống, chùa Một Cột như một bông sen khổng lồ nổi bật giữa hồ sen rộng lớn. Hoa sen là sự giác ngộ, thanh khiết và vô nhiễm. Không chỉ đi vào đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt Nam mà sen còn đi vào đời sống sinh hoạt thường ngày. Hoa sen dùng để cắm trang trí trong nhà, trên bàn làm việc, phòng khách bởi vẻ đẹp thanh tao, trong sạch của nó. Hoa sen đối với chị em phụ nữ như một loại mĩ phẩm thiên nhiên cực tốt, hơn hẳn những loại phấn son đắt tiền khác. Hoa sen còn là một trong những nét văn hoá ẩm thực của người Việt: chè sen, vịt hấp lá sen, mứt sen… Chè sen ăn ngọt ngọt, thanh thanh, hương vị khó quên. Hoa sen còn là vị thuốc dùng để chữa say nắng và suy nhược cơ thể. Tâm sen đắng chát nhưng là vị thuốc an thần cho những ai mất ngủ. Hoa sen mang nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam ta. Từ những câu ca dao, sự tích hoa sen đến những bài thơ về sen cũng đều ngợi ca vẻ đẹp trong sạch, tinh khiết của sen. Hãy đi dạo bên Hồ Tây, hít hà không khí ở đó hay đến tham quan vùng đất Huế, lặng ngắm những đoá sen nở để thấy và cảm nhận được những gì đẹp nhất từ sen. PHÙNG THỊ KIM ANH Lời nhận xét: – Người viết đã thể hiện vốn hiểu biết phong phú và tình yêu của mình với loài hoa sen: “Đối với người dân Hà Nội, ướp trà sen là một nghệ thuật. Người ta phải dậy thật sớm, khi mặt trời còn chưa tỉnh giấc, lấy nhụy vàng từ những bông sen tươi mang về ủ với trà, hương sen đượm vào trong từng lá trà, uống sao mà đậm đà. Người dân Huê lại ướp trà vào ban đêm, khi trời đất giao hoà, những bông sen mới he hé, người tu bỏ trà vào lòng hoa rồi buộc chặt lại, ép không cho hoa nở, súng hôm sau mới thu trà. Những chén trà Huế đã làm say lòng biết bao nhiêu du khách”. – Vân phong trong sáng, giản dị: “Sen có sức sống mạnh mẽ, trong bùn lầy nhưng sen vẫn vươn mình thoát khỏi mặt nước, kết nụ khai hoa và toả hương thơm ngút tràn đầy cả không gian. Thật kì lạ, sen mọc ở đâu thì nước ở đó lắng trong chứ không vẩn đục. Đó là sen đã thay đổi hoàn cảnh sống của chính nó để trở nên đẹp hơn, tinh khiết hơn”. – Cần gia tăng sự liên hệ, so sánh sen với một số loài hoa khác để bài viết sâu sắc hơn.
Đề 32_ Thuyết minh về loài hoa em yêu – Bài văn chọn lọc lớp 9
1,687
Đề 33 – Suy nghĩ của em về lòng trung trực – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ của em về lòng trung thực HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến khái niệm: lòng trung thực. Vậy lòng trung thực có nghĩa là gì? Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho lòng trung thực? Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người không có lòng trung thực, không nói đúng sự thật, luôn lừa dối đối với những người xung quanh thì những con người này phải bị phê phán, lên án ra sao? Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI Cuộc sống xã hội ngày càng xô bồ với bao lọc lừa, gian trá. Để tồn tại cần lắm đức tính trung thực trong mỗi con người. Vậy đức tính trung thực có giá trị tinh thần như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) Trung thực có nghĩa là gì? => Nghĩa là tôn trọng sự thật, dám nói lên sự thật, dám nhận lỗi khi mắc lỗi, nhất là luôn thành thật với bản thân, với mọi người xung quanh mình. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Như thế nào? Tại sao? Vì sao?) * Người trung thực là người như thế nào? Người trung thực là người luôn nói đúng sự thật, không gian trá, không nói sai sự thật, sống ngay thẳng, cương trực, khách quan với mọi việc xung quanh, luôn tôn trọng chân lí, lẽ phải. * Tại sao chúng ta phải trung thực? + Bởi vì nó thể hiện phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi chúng ta. + Giúp ta nâng cao phẩm giá, khiến cho các mối quan hệ thêm bền chật, khắng khít và tạo được sự tin tưởng lẫn nhau. + Khiến cho mọi người có cái nhìn thiện cảm, tin yêu và kính trọng người trung thực. + Người có lòng trung thực sẽ dễ thành công trong mọi việc. + Dẫn chứng: câu tục ngữ: “Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối”. Khi chúng ta đi làm đặc biệt là với những công việc liên quan đến tiền bạc, ta lại càng cần đức tính trung thực (đặc biệt là trong kinh doanh), nhặt được của rơi trả lại cho người bị mất bằng mọi cách có thể, dám nhận lỗi khi mình mắc phải, phê bình những người gây sai trái làm ảnh hưởng lớn đến người khác… c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề Phê phán, lên án nhũng con người gian dối, hay nói dối, không trung thực vói chính bản thân mình và mọi người xung quanh. Dẫn chứng: trong lớp học thì quay cóp, gian dối trong kiểm tra, thi cử; bao che lỗi lầm của bạn, hay nói dối cha mẹ để được đi chơi, hay như câu chuyện “cậu bé chăn cừu” III. KẾT BÀI Đức tính trung thực là đức tính tốt, rất cần thiết cho con người. Cần phải trau dồi, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức này bằng tất cả việc làm, trước hết là ở chính bản thân mình. “Một cái đầu tỉnh táo, một trái tim trung thực và một linh hồn khiêm nhường, đó là ba người dẫn đường tốt nhất qua thời gian và cõi vĩnh hằng” (Walter Scott) BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Trong cuộc sống hiện nay, đức tính trung thực là một nét đẹp đạo đức mà mọi người cần có, nhất là giới học sinh rất cần đức tính này để hoàn thiện chính mình, trở thành người dân tốt. Vậy ta hiểu “trung thực” là như thế nào? thẳng, thật thà, là người luôn được mọi người tin tưởng. Trong cuộc sống này, đức tính trung thực được biểu hiện trong các kì thi của học sinh như không có hiện tượng quay cóp, chép bài hoặc xem bài của bạn. Và đức tính này cũng được biểu hiện trong xã hội như có những người ngay thẳng, không nói sai sự thật, không tham lam của người khác. Trong kinh doanh, nếu là người ngay thẳng, họ sẽ không sản xuất những loại hàng kém chất lượng, kinh doanh những mặt hàng bất hợp pháp, làm nguy hại đến người tiêu dùng… những người mang trong mình hoặc rèn luyện đức tính trung thực thì những người đó sẽ dần hoàn thiện nhân cách của họ, sẽ được mọi người tôn trọng. Nếu rèn luyện đức tính trung thực, chúng ta sẽ thành đạt trong cuộc sống, chúng ta sẽ có vốn tri thức để làm giàu một cách chân chính và nếu chúng ta mắc sai lầm, ta sẽ dễ dàng sửa chữa được nó và hoàn thiện mình thành một công dân tốt, có ích cho xã hội, làm cho xã hội chúng ta trở nên trong sạch, văn minh và tốt đẹp, khiến đất nước ngày càng đi lên và phát triển. Bên cạnh những người biết hoàn thiện bản thân để trở thành công dân tốt vẫn có những người có biểu hiện thiếu trung thực và sai trái. Chúng ta cần phê phán và lên án những biểu hiện như vậy. Rõ nhất là trong học sinh, chép bài của bạn, gian lận trong thi cử đã trở thành một tệ nạn phổ biến gây ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập. Thứ hai, không trung thực trong kinh doanh, chất lượng ngày càng kém, ảnh hưởng xấu đến người tiêu dùng, các loại sữa có chứa melamine, trong nước mắm có độc tố, rau quả được bơm hoá chất để nhìn tươi hơn… Những hành vi trên đều đáng phê phán vì thiếu trung thực, không nghĩ đến sức khoẻ người dân, chỉ lo đến hoa hồng, cái lợi của bản thân. Chính điều này khiến cho xã hội xuống cấp, đạo đức hạ thấp, huỷ hoại nét đẹp. Tóm lại, con người sống trong xã hội hiện đại, đức tính trung thực là không thể thiếu cho bản thân, cần tích cực rèn luyện đức tính đáng quý này để tự hoàn thiện mình, trở thành người công dân tốt, đưa đạo đức xã hội ngày càng đi lên, đất nước ngày một phát triển. (Bài làm cùa HS) BÀI VĂN 2 Hiện nay, trong xã hội thường xảy ra một số vấn đề cần giải quyết như nói tục, chửi thề, bạo lực học đường,… Bên cạnh những vấn đề đó thì trung thực đang là một vấn đề nan giải cần giải quyết. Vậy tại sao chúng ta cần phải trung thực trong cuộc sống? Trung thực là một đức tính rất cần thiết cho mỗi con người chúng ta. Chúng ta biết trung thực là nói thật trong mọi việc, thật thà trong gia đình, trung thực với mọi người trong xã hội. Người có đức tính trung thực là người luôn nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, ngay thẳng, thật thà, là người luôn được mọi người tin tưởng. Trong cuộc sống ngày nay, đức tính trung thực được biểu hiện qua những kì thi trong trường học hoặc những việc làm trong xã hội. Ví dụ như trong trường học, đức tính trung thực biểu hiện trong giỏi học sinh như không có hiện tượng quay bài, chép bài hoặc xem bài của bạn,… và đức tính này cũng được biểu hiện trong xã hội như có những người ngay thẳng, không nói sai sự thật, không tham lam. Trong kinh doanh, nhất là người ngay thẳng, họ sẽ không sản xuất những loại hàng kém chất lượng hay kinh doanh những mặt hàng bất hợp pháp, làm nguy hại đến người tiêu dùng. Từ đây, chúng ta biết nếu rèn luyện đức tính trung thực thì chúng ta sẽ thành đạt trong cuộc sống và được nhiều người kính trọng, tin tưởng. Trung thực là đức tính rất cần thiết cho mỗi người chúng ta nhưng đôi khi nói dối cũng giúp chúng ta làm được việc tốt. Ví dụ như trong ngành nghề bác sĩ, bệnh nhân đang mắc một căn bệnh không thể chữa được, bác sĩ sẽ nói dối là căn bệnh đó có thể chữa được để người bệnh có hi vọng sống tiếp. Nói tóm lại, trung thực là dấu hiệu đạo đức của con người và xã hội. Trung thực đem lại rất nhiều điều tốt lành nhưng không dễ dàng để là người trung thực. Muốn trở thành người trung thực thì mỗi người chúng ta cần rèn luyện và phấn đấu nhiều hon. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 3 Trong bất cứ công việc nào, nếu chúng ta muốn đạt được thành công thì ngoài những yếu tố khách quan, sự trung thực góp phần rất lớn. Vậy ta cần hiểu trung thực là gì? Những biểu hiện của trung thực là gì? Sự trung thực có những ảnh hưởng như thế nào đối với con người? Đây là những vấn đề chúng ta cần làm rõ để khẳng định đây là một trong những đức tính tốt của con người. Trung thực là thành thật, thẳng thắn. Trung thực với giả dối là hai tính cách đối lập với nhau. Nếu trung thực là lửa thì giả dối là nước. Nếu trung thực là công lí thì giả dối là tội ác. Trung thực biểu hiện rõ nhất khi bênh vực cái đúng hay sự thật. Nếu có một học sinh suốt đời không quay cóp khi làm bài kiểm tra, không nhìn bài bạn khi làm bài thi thì bạn học sinh đó chính là người đại diện cho sự trung thực. Trung thực là trước hết phải thành thật với bản thân, thành thật với con tim, nói sự thật, không lừa dối bạn bè, thầy cô, cha mẹ. Dưới đây là một đoạn phỏng vấn và trò chuyện của đài truyền hình VTV và một bạn học sinh về đức tính trung thực. Phóng viên: Chào bạn! Bạn nghĩ như thế nào về tình trạng thi cử hiện nay? Học sinh: Theo tôi thấy hiện nay, trong những mùa thi cử có rất nhiều học sinh giỏi, những học sinh học thuộc bài những học sinh trung thực thường thì họ chỉ được ở mức khá mà thôi. Còn những học sinh chuyên quay cóp hoặc giở tài liệu trong giờ thi thì thường được điểm cao hơn. Phóng viên: Thế bạn nghĩ việc làm của các học sinh gian lận này như thế nào? Học sinh: Tôi thấy làm những chuyện gian lận như vậy là sai. Trong đời sống hằng ngày, tôi nhận ra những học sinh gian lận đó thường rất lười biếng, quậy và ỷ lại vào gia đình. Điều đó có hại về lâu dài cho bản thân những bạn ấy và làm xấu hình ảnh một nền giáo dục trong sáng. Học sinh: (Cười) Là học sinh thì ai cũng phải có một lần gian lận. Tôi đã từng lén mở sách giáo khoa trong giờ kiểm tra nhưng tôi nhận thấy càng gian lận thì sẽ càng ngu dốt. Phóng viên: Để chúng tôi hỏi cậu câu cuối cùng. Cậu có gì để chia sẻ với các bạn học sinh đang xem chương trình này không? Học sinh: Chuyện học là chuyện mà các học sinh cần phải biết tự ý thức rõ ràng. Không được làm phụ lòng các đấng sinh thành của chúng ta. Nếu các bạn nghĩ gian lận là tốt cho thi cử hoặc kiểm tra thì liệu nó có tốt cho tương lai của các bạn không? Hãy trung thực, đây là cách khôn ngoan nhất. Qua đoạn đối thoại vừa rồi hẳn ai cũng đã hiểu rõ về tầm quan trọng của tính trung thực trong học tập và đời sống. Một trong những nhà thành lập tài năng cùa Hoa Kì từng nói: “Dối trá và lừa lọc là hành động của những kẻ ngu xuẩn không có đủ trí óc để trung thực”. Vì vậy, trung thực là phẩm giá cần có của mỗi người. Hãy trung thực để tạo nên một cộng đồng không dối trá và lừa gạt! (Bài làm của HS) BÀI VĂN 4 Trên đời này, không phải ai cũng tốt đến mức hoàn hảo cả, xen lẫn vào điều đó là lỗi lầm mà hầu như mọi người đều mắc phải. Đó là sự gian dối, thiếu trung thực. Vậy trung thực là gì? Trung thực là một đức tính quý báu mà bất cứ ai cũng đều mong muốn có cho mình. Đó là lối sống ngay thẳng, không bao giờ nói sai sự thật, và rất cần thiết đối với chúng ta. Trung thực được thể hiện ở rất nhiều mặt của cuộc sống. Đó là trong lớp học, khi một bạn làm vỡ bình hoa, cô giáo hỏi thì ta phải mạnh dạn nhận lỗi mình là người đã gây ra. Đó chính là trung thực. Trong các giờ kiểm tra, thi cử, ta không quay cóp hay hỏi bài bạn bè. Làm bài bằng chính khả năng thực sự của mình. Đó chính là trung thực. Trung thực còn giúp cho chúng ta rất nhiều điều khác trong cuộc sống nữa. Nó giúp ta có được sự tin tưởng, tin yêu của người khác. Trong công việc làm ăn, nếu chúng ta làm ăn trung thực với nhau, không gian dối thì cả hai bên đều có lợi. Nói như vậy không có nghĩa là không có những con người gian dối, không trung thực. Những người không trung thực là những người xấu, dễ gây mất niềm tin đối với người xung quanh, khiến ai cũng phải dè chừng. Nói một đằng làm một nẻo. Trong các giờ kiểm tra, làm bài thi thì chỉ mong muốn quay cóp, hỏi bài bạn bè nhằm đối phó với thầy cô, cha mẹ. Trong cuộc sống hằng ngày, khi vi phạm lỗi lầm gì thì cố gắng kiếm cớ, nói dối sao cho mình thoát khỏi tội. Đó là những hành vi của kẻ không trung thực. Người không trung thực là người không tốt. Ta cần phải tránh xa những con người này. Tóm lại, trung thực là một đức tính tốt, cao quý rất đáng để cho chúng ta noi theo. Là một đức tính chúng ta nên ủng hộ và làm theo, cần phải học hỏi và tích lũy nhiều hơn. Tôi sẽ học tập theo đức tính này vì nó sẽ giúp ta có được sự tin tưởng, tin yêu của mọi người đối với mình. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 34: Suy nghĩ của em về lòng khiêm tốn tại đây. Tags:Đề 33 · Lòng trung thực · Văn chọn lọc 9
Đề 33 – Suy nghĩ của em về lòng trung trực – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
2,497
Đề 33 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề Tiếng Việt tả cảnh đẹp em từng đến thăm 1. – Tìm 5 từ láy thường chỉ giọng nói, cách nói của trẻ em. (VD: bi bô) – Đặt 2 câu vổi 2 từ láy (mỗi câu có 1 từ) trong số’ những từ em tìm được. 2. a) Đoạn văn dưới đây có những câu cần đặt dấu ngoặc kép để đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật. Em hãy viết lại những câu đó và đặt dấu ngoặc kép cho đúng: Mèo con nhảy một cái thật cao theo bướm, rồi cuộn tròn lăn lông lốc giữa sân, cho đến lúc chạm bịch vào gốc cau. Rì rào, rì rào, con mèo nào mới về thế? Cây cau lắc lư chòm lá trên cao tít hỏi xuống. Rì rào, rì rào, chú bé leo lên đây nào! Mèo con ôm lấy thân cau, trèo nhanh thoăn thoắt. Rì rào, rì rào, ừ chú trèo khá đấy! Mèo con ngứa vuốt, cào cào thân cau sồn sột. Ấy, ấy! Chú làm xước cả mình tôi rồi, đê vuốt sắc mà bắt chuột chứ! Mèo con tiu nghỉu cúp tai lại, tụt xuống đất. Rì rào, rì rào, chòm cau vẫn lắc lư trên cao. (Theo Nguyễn Đình Thi) b) Đặt 1 câu có dùng dấu ngoặc kép để đánh dấu lời nói trực tiếp hoặc ý nghĩ của nhân vật ; 1 câu có dùng dấu ngoặc kép để đánh dấu những từ ngữ có ý nghĩa đặc biệt. Đi qua thời ấu thơ Bao điều bay đi mất Chỉ còn trong đời thật Tiếng người nói với con Hạnh phúc khó khăn hơn Mọi điều con đã thấy Nhưng là con giành lấy Từ hai bàn tay con. Qua đoạn thơ, tác giả muốn nói với con điều gì khi con lớn lên và từ giã thời ấu thơ? 4. Tả cảnh đẹp ở một nơi em đã từng đến thăm và cảm thấy thích thú.
Đề 33 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
331
Đề 34 – Suy nghĩ của em về lòng khiêm tốn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ của em về lòng khiêm tốn HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến khái niệm: lòng khiêm tốn. Vậy lòng khiêm tốn có nghĩa là gì? Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho lòng khiêm tốn? Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người không có lòng khiêm tốn, không nhận ra được khả năng thật sự của bản thân, lúc nào cũng tự cao tự đại cho mình là nhất thì những con người này phải bị phê phán, lên án ra sao? Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI Trong vô vàn nhũng đức tính tốt của con người thì khiêm tốn, dường như có rất nhiều giá trị quý báu. Vậy đức tính khiêm tốn, có giá trị tinh thần như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) Khiêm tốn là gì? => Có nghĩa là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự đề cao, không kiêu căng, tự phụ. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Như thế nào? Tại sao? Vì sao?) * Người có đức tính khiêm tốn là người như thế nào? Ngưòi có tính khiêm tốn là người tự cho mình chưa hoàn thiện luôn phải cố gắng nhiều hơn trong mọi việc. Khi có nhiều đóng góp trong sự thành công chung, người có tính khiêm tốn, ít khi ca tụng hoặc nêu lên những đóng góp của bản thân. * Tại sao chúng ta phải khiêm tốn? Bởi vì nó thể hiện phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi chúng ta. Giúp ta nâng cao phẩm giá, khiến cho các mối quan hệ thêm bền chặt, khắng khít và tạo được sự tin tưởng lẫn nhau. Có cuộc sống nhẹ nhàng, ít xô bồ hơn trong xã hội hiện giờ.Giúp cho ta biết tự kiềm chế bản thân: khen người khác thì hết sức chân thành, đúng đắn. Khi chê người khác, lời chê phải thận trọng, nhẹ nhàng mang tính xây dựng. Nhờ có đức tính này, chúng ta dễ có được địa vị và công việc tốt trong xã hội. Thể hiện sự nhìn xa trông rộng cùa mình. Tuy vậy, khiêm tốn không có nghĩa là tự hạ thấp bản thân mà phải luôn phấn đấu, nỗ lực nhiều hơn. Dẫn chứng: Bác Hồ sống một cuộc sống hết khiêm nhường với ngôi nhà sàn gỗ mộc mạc, đơn sơ. Ăn uống đạm bạc, lối sống hết sức giản dị… c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề Phê phán, lên án những con người có tính tự cao, tự đại, kiêu căng, ngạo mạn. Những con người này với địa vị cao thường hay lên mặt, coi thường những người xung quanh. Dẫn chứng: Tính tự kiêu này ta có thể thấy rõ ràng qua câu tục ngữ: “Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung”. III. KẾT BÀI Khiêm tốn, khiêm nhường là đức tính tốt, rất cần thiết cho con người. Cần phải trau dồi, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức này bằng tất cả việc làm, trước hết là ở chính bản thân mình. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Trong xã hội hiện đại, để thành công, chúng ta cần trang bị cho bản thân đức tính khiêm tốn bởi vì khi có nó, ta sẽ có những nhìn nhận đúng mực về bản thân. Từ đó, chúng ta sẽ gặt hái được nhiều thành quả tốt hơn trong cuộc sống. Lòng khiêm tốn thật sự rất cần thiết và quan trọng đối với mỗi con người. Đó là thái độ không tự đề cao mình. Đánh giá đúng bản thân, luôn học hỏi người khác và biết kính trên nhường dưới. Những người khiêm tốn là những người luôn hoà nhã nhún nhường, tôn trọng người khác và nghe nhiều hơn là nói. Họ luôn nhanh chóng nhìn nhận và sửa đổi khuyết điểm, học tập những cái hay, cái tốt để hoàn thiện bản thân. Họ cũng không bao giờ khoe khoang những thứ mình đạt được. Bác Hồ là tấm gương sáng cho lòng khiêm tốn. Suốt cuộc đời mình, Bác luôn giữ một cuộc sống giản dị, thanh đạm. Dù ở cương vị của một chù tịch nước, Bác vẫn ở nhà sàn, cùng với những vật dụng giản dị và những món ăn đơn sơ. Khiêm nhường là một đức tính cần thiết và là một thái độ sống đẹp trong xã hội hiện nay. Vì không ai trong chúng ta là hoàn hảo cả. Tất cả những việc chúng ta cần làm là học tập không ngừng ở người khác. Khiêm tốn đó dường như chỉ là một giọt nước giữa đại dương bao la mà thôi, khiêm tốn sẽ giúp chúng ta hoàn thiện bản thân và mở rộng hiểu biết của mình, khiêm tốn là thái độ cần có của mỗi chúng ta, bất kể là ai, làm chức vụ gì, tài giỏi thế nào thì đức tính đó sẽ làm chúng ta có thiện cảm với mọi người, và được mọi người yêu quý ta cũng như sẽ có những mối quan hệ gần gũi và thân thiết. Tóm lại, khiêm tốn là đức tính góp phần nâng cao giá trị con người. Bản thân tôi cũng phải tự rèn luyện bản thân cho minh đức tính khiêm tốn để phát triển bản thân cũng như góp phần phát triển xã hội và đất nước. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Trong cuộc sống hiện đại, chúng ta phải tự trang bị cho mình những hành trang cần thiết để có thể tự hoàn thiện chính mình và hoà nhập với cộng đồng, vào xã hội. Một trong những đức tính cần thiết nhất để có thể hội nhập, hoà đồng và có được mối quan hệ tốt với mọi người xung quanh đó là lòng khiêm tốn. Khiêm tốn không chỉ là nghệ thuật mà còn là nền tảng đi đến thành công trong cuộc sống. Vậy ta hiểu “khiêm tốn” là như thế nào? Quả đúng như vậy, khiêm tốn là một trong những đức tính tốt đẹp của con người, khiêm tốn là không tự đề cao chính bản thân, đánh giá đúng mực về bản thân, phải luôn học hỏi người khác và biết kính trên nhường dưới. Những người khiêm tốn thường rất hoà nhã, nhún nhường, tôn trọng người khác và nghe nhiều hơn nói. Họ luôn nhanh chóng nhìn nhận và sửa đổi khuyết điểm của mình, học tập những cái hay, cái tốt từ người khác và không tự mãn với những gì mình đạt được. Còn đối với những người không có đức tính khiêm tốn thì sẽ ngủ quên trên vinh quang. Một số khác lại tự ti, xem nhẹ bản thân minh, rụt rè và nhút nhát. Những con người như thế sẽ rất khó thành công trong công việc. Từ đó đế lại những hậu quả rất lớn đó là vốn kiến thức sẽ bị thu hẹp, gây đố kị dẫn đến thất bại. Và ngược lại với đức tính khiêm tốn là sự kiêu căng, tự mãn. Những người có tính tự kiêu căng thường hay tự đề cao mình, luôn coi thường những người xung quanh, dễ bị mọi người xa lánh. Đối với tôi, những đức tính tốt như đức tính khiêm tốn nên là thứ cần thiết ở mọi người, giúp cho tôi nhận thấy đúng đắn hơn về bản thân mình, hoàn thiện mình hơn trong cách ứng xử của cuộc sống thường ngày. Tóm lại, khiêm tốn thực sự là đức tính góp phần nâng cao giá trị của con người. Đó là một trong những đức tính mà Bác Hồ đã dạy cho thiếu niên Việt Nam. Chính vì vậy, chúng ta cần phải kính trên nhường dưới, không ngừng học hỏi, rèn luyện bản thân và không tự mãn trước thành quả mà ta đạt được. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 35: Suy nghĩ về lời dạy của Phật: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung” tại đây. Tags:Đề 34 · Lòng khiêm tốn · Văn chọn lọc 9
Đề 34 – Suy nghĩ của em về lòng khiêm tốn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,423
Đề 34 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề Tiếng Việt tả người mà em hằng yêu thương 1. Chia những dòng từ ngữ dưới đây thành hai nhóm: từ ngữ nói về quyền của trẻ em và từ ngữ nói về bổn phân của trẻ em: a) Được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ b) Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ c) Khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại cơ sở y tế công lập d) Lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ e) Thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông g) Học trường tiểu học công lập không phải trả học phí 2. Nêu ví dụ minh hoạ cho mỗi trường hợp sử dụng dấu gạch ngang với tác dụng dưới đây: a) Đánh dấu chỗ bắt đầu lòi nói của nhân vật trong đốì thoại b) Đánh dấu phần chú thích trong câu c) Đánh dấu các ý trong một đoạn liệt kê 3. Trong bài Con cò, nhà thơ Chế Lan Viên viết về lòi ru của người mẹ như sau: Mai khôn lớn con theo cò đi học, Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân. Lớn lên, lớn lên, lớn lên… Con làm gì? Con làm thi sĩ. Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ, Trước hiên nhà Và trong hơi mát cău văn. Hãy nêu những suy nghĩ của em về hình ảnh con cò trong đoạn thơ trên.
Đề 34 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
237
Đề 35 – Suy nghĩ về lời dạy của Phật: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về lời dạy của Phật HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến khái niệm thông qua lời dạy của Phật: lòng khoan dung. Vậy lòng khoan dung có nghĩa là gì? Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho lòng khoan dung? Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người không có lòng khoan dung, không có sự tha thứ, độ lượng cho những người mắc lỗi, lúc nào cũng tự cho mình là đúng thì những con người này đáng bị phê phán, lên án ra sao? Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI Trong vô vàn những đức tính tốt đẹp và quý báu của con người Việt Nam thì lòng khoan dung là tiêu biểu nhất. Phật có lời dạy rằng: “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”. Vậy lời dạy trên có giá trị như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) + Tài sản là gì? Đó là bao gồm những gì thuộc về vật chất hoặc tinh thần có giá trị giúp cho con người được trở nên sung túc, đầy đủ. + Lòng khoan dung là gì? Chỉ sự tha thứ, độ lượng cho những gì mà người khác mắc lỗi nhưng biết sửa chữa lỗi lầm của mình. => Nghĩa của cả câu (lời khuyên, nhắc nhở): So sánh tài sản (thuộc về vật chất) có giá trị rất lớn với lòng khoan dung (thuộc về tinh thần) có giá trị tương đương. Điều đó chứng tỏ, câu nói của Phật đề cao đức tính con người quý giá hơn giá trị vật chất. * Tại sao chúng ta phải có lòng khoan dung? + Bởi vì nó thể hiện phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi chúng ta. + Nói khái quát hơn thì lòng khoan dung chính là tấm lòng yêu thương con người, là sự chia sẻ, quan tâm đến những khó khăn của người khác. + Để tha thứ cho một người mắc sai lầm quả thật rất khó khăn nhưng khi ta làm được điều đó sẽ giúp cho việc hàn gắn tình cảm giữa con người và con người. + Khi ta tha thứ được cho một người phạm lỗi lầm, trong lòng ta dâng lên một niềm vui và hạnh phúc vì mình vừa làm được một việc tốt. + Dẫn chứng: Trong lịch sử chống giặc Minh xâm lược, sau khi giặc đầu hàng, ta mở rộng tấm lòng khoan dung: cung cấp phương tiện và lương thực để họ về nước, tha thứ cho những người bạn đã làm điều xấu đối với mình: như đánh mình, nghi oan mình là kẻ ăn cắp,… c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề Phê phán, lên án những con người thù dai, không mở rộng tấm lòng tha thứ cho người khác dễ dẫn đến sứt mẻ tình cảm giữa con người với con người khiến cho mối quan hệ tình cảm bị rạn nút. Có những người khi có cơ hội thì trả thù khi người khác mắc lỗi. Dẫn chứng: trong lớp học, trong cuộc sống hàng ngày, trong gia đình… III. KẾT BÀI Lời dạy cùa Phật là đúng đắn. Lòng khoan dung là đức tính tốt, rất cần thiết cho con người. BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống của chúng ta, lòng khoan dung, độ lượng là một trong những đức tính tốt đẹp và cũng chính là tài sản của đòi người mà ngày nay trong mỗi chúng ta ai cũng cần thiết phải có. Vì thế câu nói trên là hoàn toàn đúng “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”. Vậy chúng ta hiểu “lòng khoan dung” là đức tính như thế nào? Quả đúng như vậy, lòng khoan dung là sự tha thứ, độ lượng, không khắt khe, có thể tha thứ cho những lỗi lầm mà người khác đã gây ra cho mình, không nóng nảy. Vì thế mỗi người trong chúng ta cần phải có lòng khoan dung để xử sự đúng cách trong cuộc sống và quan hệ xã hội. Tại sao chúng ta phải có “lòng khoan dung”? Vì nó giúp ta ứng xử đúng mực trong cuộc sống, cho ta biết phải quan tâm đến người khác, biết độ lượng, tha thứ cho những việc làm sai trái, giúp ta hiểu hơn những cái đúng, cái sai, những gì nên tha thứ. Giống như Bác Hồ, khi thấy các anh bộ đội làm sai diều gì chỉ khuyên nhủ, nhắc nhở chứ không la mắng. Chúng ta thấy đó, lòng khoan dung chính là tài sản lớn nhất mà con người cần phải có. Biểu hiện của lòng khoan dung là ta cần phải giúp đỡ, quan tâm người khác, đến người làm điều sai thì biết tha thứ, khuyên dạy điều đúng đắn. Khi ta biết khoan dung, ta sẽ được sự tôn trọng của người khác, yêu mến, quí trọng của mọi người xung quanh. Mặt khác, lòng khoan dung sẽ là một yếu tố quan trọng đem lại sự bình yên, hòa thuận, hạnh phúc cho xã hội và gia đình. Khi thể hiện lòng khoan dung với người khác thì tâm hồn ta cảm thấy thanh thản, nhẹ nhàng vì đã làm được một điều có ý nghĩa của phẩm chất nhân ái, vì như thế là không phạm vào sự nhỏ nhen, hẹp hòi, trái với phẩm chất quí giá của con người. Qua những dẫn chứng trên ta rút ra được lòng khoan dung làm cho tâm hồn ta trở nên độ lượng, cao thượng và giàu có hơn. Vì thế, ta phải lấy sự khoan dung, sự nhường nhịn làm phương châm xử thế “Một sự nhịn, chín sự lành”. Và chúng ta cần rèn luyện nhân cách, phẩm giá, sống là phải biết yêu thương sẻ chia, đồng cảm, biết kiềm chế những cảm xúc nóng giận và học cách yêu thương, vị tha, khoan dung. Tóm lại, bản thân mỗi chúng ta phải không ngừng tự rèn luyện, phấn đấu bồi đắp cho mình có lòng khoan dung rộng lớn. Lòng khoan dung là tài sản vô giá của con người và cũng là phương châm đối nhân xử thế tốt nhất. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 36: Suy nghĩ của em về tiền bạc và hạnh phúc tại đây. Tags:Lời Phật dạy · Lòng khoan dung · Văn chọn lọc 9
Đề 35 – Suy nghĩ về lời dạy của Phật _ “Tài sản lớn nhất của đời người chính là lòng khoan dung”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,142
Đề 35 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề Tiếng Việt kể câu chuyện nói về tình bạn 1. a) Điền từ trẻ hoặc từ già vào chỗ trống trong các thành ngữ, tục ngữ dưới đây: (1) … thì dưỡng cây, … thì cây dưỡng. (2) … được bát canh, … được manh áo mới. (3) … trồng na, … trồng chuối. (4) Đi hỏi…, về nhà hỏi… (5) Yêu ……. hay đến nhà, kính ……. để tuổi cho. b) Nêu nội dung, ý nghĩa của câu (1), câu (5). 2. Đặt câu nói về việc học tập và rèn luyện của em, trong đó có sử dụng trạng ngữ theo yêu cầu dưới đây: a) Câu có trạng ngữ chỉ thời gian và trạng ngữ chỉ nơi chốn. b) Câu có trạng ngữ chỉ nguyên nhân (hoặc trạng ngữ chỉ mục đích). c) Câu có trạng ngữ chỉ thòi gian và trạng ngữ chỉ phương tiện. 3. Đọc những khổ thơ sau trong bài Ngưỡng cửacủa nhà thơ Vũ Quần Phương: Nơi này ai củng quen Ngay từ thời tấm bé Khi tay bà, tay mẹ Còn dắt vòng đi men. Nơi bố mẹ ngày đêm Lúc nào qua cũng vội, Nơi bạn bè chạy tới Thường lúc nào cũng vui. Nơi này đã đưa tôi Buổi đầu tiên đến lớp Nay con đường xa tắp, Vấn đang chờ tôi đi. Hình ảnh ngưởng cửa của ngôi nhà trong mỗi khổ thơ trên gợi cho em nghĩ đến những điều gì đẹp đẽ và sâu sắc?
Đề 35 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
241
Đề 36 – Suy nghĩ của em về tiền bạc và hạnh phúc – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về tiền bạc và hạnh phúc HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến hai khái niệm: tiền bạc và hạnh phúc. – Vậy tiền bạc có nghĩa là gì? – Hạnh phúc có nghĩa là gì? – Mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc được thể hiện ra sao? – Nhũng biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người quá lệ thuộc vào tiền bạc thì liệu người đó có tìm thấy cho mình hạnh phúc đích thực hay không? Tiền bạc có nuôi dưỡng được hạnh phúc thêm lâu dài hay không? – Cảm nghĩ của em về hai khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Tiền bạc và hạnh phúc là hai trong những vấn đề thiết yếu của con người. – Vậy tiền bạc và hạnh phúc đóng vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc sống của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Tiền bạc là gì? => Đó là từ ngữ chỉ chung về những thứ giúp con người trao đổi với nhau những lợi ích. – Hạnh phúc là gì? => Đó là tính từ thể hiện sự đạt được như ý nguyện của con người về mặt tình cảm, cảm xúc. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?) Tại sao tiền bạc và hạnh phúc lại có mối quan hệ khắng khít với nhau? + Bởi vì nó là hai khía cạnh góp phần tạo nên cuộc sống của mỗi con người. + Phần lớn, mọi người đều có suy nghĩ rằng tiền bạc có thể mua được tất cả mọi thứ. Và chúng ta chỉ có hạnh phúc khi và chỉ khi có tiền bạc đầy đủ. + Dẫn chứng: Nêu ra những dẫn chứng thiết thực của cuộc sống thực dụng ở mỗi con người. Họ dùng tiền để mua hạnh phúc và liệu họ có hạnh phúc thật sự hay không?… c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Tiền bạc có thể mua được tất cả tuy nhiên đối với hạnh phúc thì không. – Dẫn chứng: Những gia đình giàu có có những người mẹ vì muốn lấy vợ cho con mình mà bỏ ra một số tiền lớn để “mua” con dâu về. Thế nhưng, chắc chắn đó là hai vợ chồng không hề tìm thấy được hạnh phúc. “Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên” đúng như ông bà ta ngày xưa thường nói. – Tiền bạc và hạnh phúc là hai mặt luôn đi song song với nhau. – Tuy vậy, chúng ta cần hiểu rõ và đúng đắn ý nghĩa của đồng tiền và tự tạo cho mình hạnh phúc tròn đầy bằng chính trái tim của chúng ta chứ không phải bằng những đồng tiền vô nghĩa. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Có khi nào chúng ta tự hỏi: Tiền bạc là gì mà nhiều kẻ đã mất lí trí để theo đuổi, hạnh phúc là gì mà bao người cũng khát khao, mong đợi? Hai điều đó tưởng như không có quan hệ gì với nhau nhưng chúng lại tạo một liên kết chặt chẽ, mật thiết trong cuộc sống. Vậy ta hiểu “tiền bạc và hạnh phúc” là như thế nào? Quả đúng như vậy, tiền bạc là vật dụng có giá trị, dùng để chi tiêu, đáp ứng được những nhu cầu của con người dù cao hay thấp, còn dùng để trao đôi buôn bán. Còn hạnh phúc là cảm giác sung sướng, mãn nguyện và cảm thấy hoàn toàn đạt được những gì mà mình mong muốn, cũng như được người khác quan tâm, chăm sóc. Giữa tiền bạc và hạnh phúc chúng có mối liên kết khắng khít với nhau. Tại sao chúng ta lại cần “tiền bạc và hạnh phúc”? Vì tiền bạc có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với chúng ta. Nó chính là điều kiện cho nhiều hoạt động của cuộc sống hằng ngày như học tập, ăn ở, đi lại,… Mỗi việc chúng ta làm đều cần rất nhiều tiền. Hàng ngày chúng ta phải ăn uống để duy trì sự sinh tồn. Phải có tiền thì chúng ta mới mua được những thực phẩm mà cần dùng hằng ngày. Nếu không ăn uống, không có những thứ tối thiểu để sinh hoạt, chắc chắn rằng cơ thể sẽ bị giảm sút và kéo theo đó là rất nhiều điều nguy hiểm, kết quả học tập và làm việc sẽ không được đảm bảo. Nhưng không chỉ tiền là có ảnh hưởng lớn với chúng ta mà ngang bằng với nó là hạnh phúc cũng như thế. Tiền bạc là một điều kiện của cuộc sống nhưng đó không phải là điều kiện đủ của hạnh phúc. Có rất nhiều người chỉ mải mê làm việc, kiếm tiền vì họ nghĩ có kiếm bao nhiêu cũng không đủ sống cho gia đình, họ không biết trân trọng nhũng gì mình đang có. Đối với họ, hạnh phúc ở chỗ họ làm ra được rất nhiều tiền. Và khi nhận ra mình không có hạnh phúc thì đã quá muộn. Cũng giống như Bác Hồ không cần quá nhiều tiền cũng thấy hạnh phúc. Bác hạnh phúc với những thứ mình đang có, khi làm được việc mình thích mỗi ngày, và với một cuộc sống giản dị cùng với thú lâm tuyền đầy tao nhã. Chỉ với một ngôi nhà sàn, một ao cá, vài loài cây tự tay mình trồng,… Bác cũng cảm thấy đó là tất cả của sự hạnh phúc. Với tôi, hạnh phúc không phụ thuộc vào giá trị vật chất mà đồng tiền mang đến, quan trọng là sự nâng niu, trân trọng cuộc sống mà chúng ta có mà thôi. Tóm lại, tiền bạc và hạnh phúc là hai điều mà ai cũng muốn có, cũng muốn hoà hợp để đạt đến sự hoàn hảo, làm con người có đủ những điều mà ai cũng ngưỡng mộ. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Trong xã hội hiện nay, tiền bạc và sự hạnh phúc đóng một vai trò quan trọng. Hai điều đó tưởng chừng không gắn bó gì với nhau nhưng lại tạo nên một mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết. Vậy ta hiểu như thể nào về tiền bạc và hạnh phúc? Thật vậy, tiền bạc và hạnh phúc thực sự rất quan trọng. Hạnh phúc là cảm giác rất sung sướng, thoả mãn vì đạt được những gì mình muốn. Còn tiền bạc là công cụ để trao đổi cho những chi tiêu hàng ngày. Giũa tiền bạc và hạnh phúc có một mối quan hệ khắng khít với nhau. Tiền bạc có tầm ảnh hưởng lớn đối với chúng ta. Nó là thứ cần cho nhiều hoạt động sống hàng ngày như học tập, ăn uống, đi lại. Mỗi việc chúng ta làm đều cần tiền. Chúng ta phải có tiền mới mua được lương thực, thực phẩm ta cần. Chúng ta cần tiền để đổ xăng phục vụ cho nhu cầu đi lại của chúng ta. Và nếu như một ngày chúng ta không có tiền chi tiêu thì sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu của chúng ta hằng ngày. Lúc đó ta sẽ bị giảm sút sức khoẻ và kéo theo đó là nhiều điều tồi tệ khác. Bên cạnh những giá trị vật chất, chúng ta có khi đáp ứng những giá trị tinh thần khi có tiền. Như đi chơi vào những ngày cuối tuần để thư giãn. Dường như đồng tiền đã là một phần nào của cuộc sống chi phối hoạt động và nhu cầu của chúng ta. Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu được điều kiện kinh tế của gia đình và bản thân để chi tiêu hợp lí. Mặt khác, ngày nay có rất nhiều người không biết quý tiền, sinh ra những thói hư tật xấu: lười biếng, hư hỏng, trì trệ. Cái gì cũng đã có, không phải làm gì và chỉ biết hưởng thụ những gì tiền đem tới. Và chắc chắn họ sẽ không có được hạnh phúc. Chúng ta cũng cần phải phê phán những người sử dụng đồng tiền sai trái vào những việc xấu. Chúng ta cần phải bác bỏ những quan niệm sai trái về đồng tiền. Chúng ta cần phải hướng dẫn họ biết giá trị cuộc sống và làm thể nào có hạnh phúc thật sự. Tóm lại, chúng ta đã hiểu rõ thêm thế nào là tiền bạc và hạnh phúc. Và hạnh phúc không phụ thuộc vào giá trị vật chất mà đồng tiền mang đến mà là sự nâng niu trân trọng trong cuộc sống mà chúng ta đang có. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 37: Suy nghĩ của em về truyền thống tôn sư trọng đạo tại đây. Tags:Tiền bạc và hạnh phúc · Văn chọn lọc 9
Đề 36 – Suy nghĩ của em về tiền bạc và hạnh phúc – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,552
Đề 37 – Suy nghĩ của em về truyền thống tôn sư trọng đạo – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Truyền thống tôn sư trọng đạo HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến hai khái niệm: truyền thống và tôn sư trọng đạo. – Vậy truyền thống có nghĩa là gì? – Tôn sư trọng đạo có nghĩa là gì? – Tôn sư trọng đạo có phải là truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam chúng ta không? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho truyền thống ấy? (có những câu thơ, câu tục ngữ hay bài ca dao nào liên quan đến truyền thống tôn sư trọng đạo?) – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người khi thành công trong cuộc sống lại vội quên đi công lao của thầy cô đã dìu dắt chúng ta nên người ngày trước, những con người này thật đáng phải lên án ra sao? – Cảm nghĩ của em về khái niệm “tôn sư trọng đạo” trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Tôn sư trọng đạo là một trong những truyền thống cao đẹp muôn đời của dân tộc ta, là nền tảng đạo đức của xã hội văn minh. – Vậy tôn sư trọng đạo là một truyền thống có giá trị như thế nào trong xã hội của chúng ta ngày nay? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Tôn sư trọng đạo là gì? => Tôn sư tức là kính thầy, trọng thầy vì thầy là người đưa đường chỉ lối cho ta đi đến con đường thành công. Đạo là đạo đức, đạo lí con người hiểu rộng ra đó là những kiến thức, hiểu biết mà ta tiếp thu. Trọng đạo nghĩa là người học phải thể hiện sự kính trọng của mình đối với lễ nghĩa, các mặt đạo đức. Ý nghĩa toàn câu: Bản thân người học phải kính trọng người làm thầy, đặt đạo nghĩa làm đầu. Đây là một truyền thống quý báu của dân tộc. • Tại sao chúng ta phải tôn sư trọng đạo? + Bởi vì nó thể hiện phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi chúng ta. + Thầy là người truyền đạt kiến thức, hiểu biết của nhân loại cho ta cho nên ta phải kính trọng thầy. “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” đó là một phạm trù đạo đức mà bất cứ ai là học sinh đều phải biết. + Học ở thầy không chỉ được học về mặt kiến thức, hiếu biết mà còn được thầy truvền đạt những bài học đạo đức, đạo lí giàu ý nghĩa có giá trị rất lớn trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. + Bồi dưỡng tình cảm cao đẹp trong tâm hồn con người ở mỗi chúng ta. + Biểu hiện của tinh thần “tôn sư trọng đạo” ở học sinh chính là cố gắng, nỗ lực học hành chăm chỉ, ngoan ngoãn nghe lời thầy cô. + Dẫn chứng. c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Phê phán, lên án những con người quên đi công lao của thầy cô mà lại có những hành động như: lên mạng nói xấu. đánh thầy cô, dựng chuyện để gây khó khăn cho thầy cô,… III. KẾT BÀI – Tôn sư trọng đạo là một truyền thống tốt, rất cần thiết cho con người. – Bản thân học sinh phải luôn yêu thương, kính trọng thầy cô như cha mẹ của mình vậy. Từ xưa đến nay, tôn sư trọng đạo không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn là một truyền thống văn hoá vô cùng tốt đẹp của nhân dân ta. Đó cũng là yếu tố quan trọng làm nền tảng đạo đức của một xã hội văn minh. Vậy ta hiểu như thế nào về truyền thống trên? Thật vậy, tôn sư trọng đạo quả là một truyền thống vô cùng tốt đẹp. “Tôn sư” là tôn kính những người đã dạy dỗ mình, đạo thầy trò là một trong những mối quan hệ đạo đức quan trọng. “Tôn sư trọng đạo” đã trở thành một truyền thống đạo đức quý giá của người Việt… Nhờ coi trọng việc học, tôn kính người thầy, nhân dân đã góp phần tạo nên nền văn hiến lâu đời của đất nước. Thời đại nào cũng có những tấm gương hiếu học, nhiều người thầy mẫu mực và những câu chuyện cảm động về tình thầy trò. Có những người thầy đã khuất nhưng tài năng và nhân cách của họ vẫn toả sáng. Có những học trò dù đã đỗ đạt thành tài, có quyền cao chức trọng nhưng vẫn luôn nhớ về người thầy đã dạy dỗ mình nên người. Ngày nay, truyền thống tôn sư trọng đạo ấy vẫn được tiếp nối và phát huy. Nhà nước, xã hội luôn có sự quan tâm, phát huy giáo dục. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho những người làm thầy làm cô. Các gia đình ở cấp học nào thỉ tiếng nói của thầy giáo, cô giáo vẫn có tác động vô cùng lớn đến sự hình thành nhân cách của mỗi con người. Tóm lại, tôn sư trọng đạo là một truyền thống tốt đẹp và chúng ta cần phải gìn giữ và phát huy nó. Bản thân tôi cũng sẽ luôn hướng về và nhớ ơn những thầy cô đã dạy dỗ mình. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 38: Suy nghĩ về quan điểm của Mác-xim-góc-ki “Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người đến với ta trong những giờ phút khóa khăn, cay đắng nhất cuộc đời” tại đây. Tags:Đề 37 · Tôn sư trọng đạo · Văn chọn lọc 9
Đề 37 – Suy nghĩ của em về truyền thống tôn sư trọng đạo – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
991
Đề 38 – Suy nghĩ về quan điểm của Mác-xim-góc-ki – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Quan điểm của Mác-xim-góc-ki HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến hai khái niệm: người bạn và người bạn tốt nhất. – Vậy người bạn có nghĩa là gì? – Người bạn tốt nhất có nghĩa là gì? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho “người bạn tốt nhất”? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: những con người vong ân bội nghĩa, quên đi tình nghĩa bạn bè trong nhũng lúc khó khăn, gian khổ; đây là những người đáng phải bị lên án ra sao? – Cảm nghĩ của em về quan điểm trên của Mác-xim-góc-ki ở trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Tình bạn là một trong nhũng tình cảm thiêng liêng và tốt đẹp của con người. – Mác-xim-góc-ki cho rằng: “Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người đến với ta trong những giờ phút khó khăn, cay đắng nhất cuộc đời”. – Vậy quan điểm trên có giá trị như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) + Người bạn tốt nhất là gì? – Đó là người quan tâm, kề bên, chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn cùng với ta trong cuộc sống. => Nghĩa của cả câu (lời khuyên, nhắc nhở): Người bạn tốt nhất là người luôn ở bên ta trong những giờ phút khó khăn đế hỗ trợ ta cả về vật chất lẫn tinh thần. • Tại sao Mác-xim-góc-ki có quan điểm rằng: “Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người đến với ta trong những giờ phút khó khăn, cay đắng nhất cuộc đời”? + Có thêm một người bạn tốt là ta có thêm một đời sống tinh thần tình cảm phong phú, đa dạng. + Khi ta gặp khó khăn, cực khổ không phải ai cũng sẽ đến để chia sẻ cùng ta những vất vả ấy mà chỉ có những người bạn tốt mới có sự quan tâm đến chúng ta mà thôi. + Dẫn chứng: – Câu ca dao: Ra đi vừa gặp bạn hiền Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời – Trong cuộc sống hàng ngày, ta quen rất nhiều người bạn nhưng chỉ cần ta sa cơ thất thế một lần (vỡ nợ, công ty phá sản, cần tiền để khám chữa bệnh cho người thân…), cần bạn bè giúp đỡ về vấn đề tiền bạc thì không bao giờ thấy ai đến với mình cả, họ né tránh, họ viện cớ đủ điều. Nếu là bạn tốt của mình, thì dù không giúp được về vật chất thì ít nhất họ cũng là nơi cho ta tựa vào về mặt tinh thần để vượt qua cơn khốn khó. c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Phê phán, lên án những người lợi dụng tình bạn để trục lợi, ích kỉ, kiếm lợi ích cho mình nhưng đến khi cần giúp đỡ thì chối bỏ, bỏ mặc người bạn đang khốn khó của mình. – Dẫn chứng: trong lớp học, trong cuộc sống hàng ngày, trong gia đình… III. KẾT BÀI – Ta cần trân trọng và gìn giữ, quý trọng tình bạn và những người bạn thân thiết của mình. – Luôn luôn tâm niệm trong lòng “thêm một người bạn là bớt một kẻ thù”. BÀI VĂN THAM KHẢO Để có một người bạn tốt, một người bạn tri âm tri kỷ chia sẻ cùng ta những niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống không phải là điều dễ dàng. Đặc biệt là những tình huống khó khăn, cay đắng nhất mới giúp ta nhận ra ai mới thật sự là bạn tốt của mình. Cho nên Mác-xim-góc-ki có ý kiến rằng: “Người bạn tốt nhất bao giờ cũng là người đến với ta trong nhũng giờ phút khó khăn, cay đắng nhất cuộc đời”. Vậy ta hiểu như thế nào là “tình bạn”? Có thể nói tình bạn là mối quan hệ tình cảm, sự liên kết giữa những con người cùng trang lứa (cùng một độ tuổi), là sự gắn bó thân thiết lâu dài về mọi mặt cũng như hai người có chung một suy nghĩ. Vậy còn “người bạn tốt nhất” là gì? Người bạn tốt nhất là người luôn biết lắng nghe, chia sẻ và đồng cảm với ta, người luôn thấy được mặt tốt-xấu của ta đế nhắc nhở và giúp ta khắc phục. Họ luôn lo lắng và quan tâm mỗi khi ta gặp khó khăn và giúp đỡ ta một cách tận tình. Chính tôi lúc còn học trung học cơ sở vào năm cuối cấp, tôi thật may mắn và cơ duyên đã cho tôi và người bạn có một tình bạn tuyệt đẹp trong suốt ba năm học và cho đến ngày hôm nay chúng tôi vẫn giữ liên lạc, đi chơi cùng với nhau. Nhìn chung, tình bạn ở tuổi chúng ta thật đẹp nhưng cũng rất phức tạp. Nếu không được định hướng đúng, không được quan tâm, sẽ rất dễ sa ngã, nhận thức sai lệch. Do đó gia đình và xã hội phải thực sự quan tâm đến vấn đề này để tình bạn là tình ngọc, tình hoa, tình của những kỉ niệm đẹp của mỗi con người đặc biệt là các bạn học sinh. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 39: Suy nghĩ của em về việc các nữ sinh thời nay nên mặc áo dài truyền thống hay trang phục hiện đại chưa đúng mực khi đến trường tại đây. Tags:Đề 38 · Quan điểm của Mac-xim-góc-ki · Văn chọn lọc 9
Đề 38 – Suy nghĩ về quan điểm của Mác-xim-góc-ki – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
969
Đề 39 – Suy nghĩ về trang phục khi đến trường của nữ sinh thời nay – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Trang phục khi đến trường của nữ sinh HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: hiện tượng đời sống xã hội (việc nữ sinh thời nay nên mặc áo dài truyền thống hay trang phục hiện đại chưa đúng mực khi đến trường?) – Vậy truyền thống có nghĩa là gì? – Giải thích hiện tượng trong đề bài là hiện tượng như thế nào? Hiện tượng ấy có ảnh hưởng như thế nào đối với các thế hệ trẻ? – Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng đó? (đưa ra cụ thể các nguyên nhân) – Những cách khắc phục nào (đối với hiện tượng tiêu cực) và phát triển, tuyên truyền ra sao (đối với hiện tượng tích cực)? – Bài học, kinh nghiệm nào mà em rút ra từ những gì vừa phân tích ở trên? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Ngày nay, các nữ sinh khi đi học đa phần đều mặc áo dài truyền thống thế nhưng thời gian gần đây xuất hiện trào lưu mặc trang phục hiện đại chưa đúng mực khi đến trường. – Vậy quan điểm của em về vấn đề này như thế nào? II. THÂN BÀI a. Giải thích hiện tượng: (Đặt câu hỏi: là gì?) + Hiện tượng nữ sinh mặc trang phục hiện đại chưa đúng mực đến trường đó là hiện tượng gì? – Đó là hiện tượng học sinh nữ mặc những bộ trang phục không phù hợp với môi trường học đường vì quá “hiện đại” như: váy nhiều màu, quần ngắn, áo quá mỏng hợp thời trang, áo hai dây… – Mặc áo dài truyền thống đi học thể hiện được nét duyên dáng của nữ sinh. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Như thế nào? Tại sao? Vì sao?) • Tại sao hiện tượng mặc trang phục hiện đại chưa đúng mực khi đến trường lại diễn ra? + Bởi vì nó thể hiện phần nào cá tính mạnh mẽ của học sinh. + Thể hiện mình là người có gu thẩm mĩ trong cách ăn mặc. + Cạnh tranh với bè bạn xung quanh. • Hậu quả dẫn đến của hiện tượng này là gì? + Do vi phạm quy định nhà trường nên bị nhà trường nhắc nhở thường xuyên. + Bạn bè xa lánh vì ăn mặc không nghiêm túc, dị hợm. + Mình trở thành tâm điểm cho mọi người bàn tán. + Mất dần nhân cách, đạo đức và tạo cái nhìn không thiện cảm cho mọi người xung quanh đối với mình. • Cái bất lợi của việc mặc áo dài truyền thống là gì? + Mùa mưa: đường phố lầy lội dễ vấy bẩn lên áo khi đi học, dễ vướng căm xe. + Chi phí cho việc may một chiếc áo dài đắt hơn. c. Nguyên nhân do đâu dẫn đến việc học sinh mặc trang phục hiện đại chưa đúng mực khi đến trường? – Học sinh cho rằng chiếc áo dài truyền thống chưa phù hợp với thời đại hiện đại ngày nay. – Ý thức học sinh chưa cao, chưa phân biệt được nơi nghiêm túc và nơi thả sức diện đồ hiện đại. Môi trường học đường cần phải có sự nghiêm túc, đàng hoàng. – Mong muốn thể hiện mình trong nhà trường của các em quá mãnh liệt. – Mong muốn được mọi người nể phục, trầm trồ khen ngợi. d. Biện pháp khắc phục – Nhà trường cần phối hợp với xã hội, gia đình để giáo dục các em ý thức cao hơn trong vấn đề ăn mặc đến trường. – Tạo một môi trường lành mạnh, thi tài về vấn đề trang phục cho các em thoả sức thể hiện mình và sáng tạo (Ví dụ như: thi thiết kế thời trang, thời trang giấy,…) III. KẾT BÀI – Mặc áo dài truyền thống hay mặc trang phục hiện đại đến trường đều có mặt lợi và hại. – Ta cần phải hiểu rõ và đúng đắn trong việc ăn mặc khi đến trường. BÀI VĂN THAM KHẢO Có thể nói, chiếc áo dài trắng thướt tha, bay bay trong gió luôn là hình ảnh đẹp đẽ; thể hiện nét đẹp dịu dàng khi nói đến người con gái Việt Nam, đặc biệt là các nữ sinh Việt Nam. Nét đẹp truyền thống ấy đã được giữ gìn, tôn vinh không chỉ trong nước mà còn trên khắp thế giới. Thế nhưng hiện nay xuất hiện một trào lưu trong môi trường học đường, đó chính là các nữ sinh mặc những trang phục khá hiện đại nhưng không đúng mực đến trường. Quan điểm của chúng ta về vấn đề này như thế nào? Hiện tượng các nữ sinh mặc những trang phục khá hiện đại nhưng không đúng mực đến trường là hiện tượng các em mặc những trang phục không phù hợp với môi trường học đường như: váy nhiều màu, quần quá ngắn, áo quá mỏng, áo hai dây,…Những trang phục này tuy khá là gần gũi với các em nhưng lại không phù hợp với môi trường giáo dục học đường. Còn chiếc áo dài trắng đã trở thành trang phục truyền thống bao lâu nay của các em nữ sinh, tạo nên nét duyên dáng, dịu dàng của người con gái Việt Nam ta. Hai cách ăn mặc khi đến trường mà chúng ta vừa đề cập ở trên đã cho ta thấy sự khác nhau trong nhận thức của các em. Vậy thì, một vấn đề cần đặt ra là tại sao cách ăn mặc trang phục hiện đại không đúng mực ấy lại diễn ra? Phải chăng, đó chính là cách mà các em học sinh thể hiện cá tính mạnh mẽ của bản thân – một cách thể hiện bản lĩnh với bạn bè xung quanh mình. Hay đó là cách mà các em thể hiện được xu hướng thẩm mĩ “mới” trong cách ăn mặc của mình khi đến trường? Dù là với lí do nào đi chăng nữa thì việc ăn mặc như thế là không phù hợp. Bởi khi các em ăn mặc như thế khi đến trường, chắc chắn các em sẽ phải đối diện với những lời nhắc nhở từ nhà trường vì vi phạm nội quy của nhà trường. Hình ảnh mặc đồ váy ngắn, nhiều màu, áo quá mỏng,…có thể nói là những hình ảnh phản cảm, làm mất đi sự trong sáng vốn có của bộ trang phục mà nó còn làm mất đi hình ảnh trong sáng, hồn nhiên của các nữ sinh trong mắt các bạn khác. Những người xung quanh các em sẽ xa lánh bởi họ không muốn “đụng” tới những người ăn mặc dị hợm, khác lạ một cách không phù hợp. Không chỉ vậy, bản thân người mặc trang phục không phù hợp ấy cũng sẽ dần dần mất đi nhân cách, đạo đức tạo một cái nhìn không thiện cảm đối với những người xung quanh. Vậy còn việc mặc trang phục áo dài thì sao? Có thể nói, chiếc áo dài trắng thể hiện nét đẹp tinh khôi, trong trắng, sự dịu dàng của người con gái Việt Nam. Trang phục này khi sử dụng trong môi trường học đường thì rất phù hợp. Thế nhưng, đi kèm sự phù hợp ấy vẫn còn tồn tại đâu đó sự bất tiện trong một số thời tiết, hoàn cảnh nhất định. Những khi mùa nắng nóng kéo về, chiếc áo dài khiến cho những người mặc nó cảm giác không thoải mái. Còn mùa mưa, đường phố lầy lội khiến cho tà áo dài màu trắng bỗng trong phút chốc bị vấy bẩn. Chi phí để may một chiếc áo dài cũng đắt hơn một bộ trang phục bình thường. Thêm một tình huống cũng khá phổ biến đó là khi các em nữ sinh chạy xe đạp, thường hay gặp phải trường hợp tà áo dài vướng vào dây xích của xe. Khi ấy, chiếc áo dài không chỉ bị vấy bẩn mà còn có thể bị rách, gây khó khăn cho các em trong việc di chuyển. Làm cách nào để chúng ta có thể khắc phục được tình trạng nữ sinh mặc trang phục hiện đại chưa đúng mực khi đến trường? Điều này có thể khắc phục được nếu như nhà trường cần phối hợp với xã hội, gia đình để giáo dục các em ý thức cao hơn trong vấn đề ăn mặc đến trường. Ban lãnh đạo nhà trường thường xuyên làm công tác tư tưởng mỗi khi đến giờ chào cờ, giáo viên chủ nhiệm nhắc nhở mỗi ngày, bạn bè bảo nhau,…Hay nhà trường cũng có thể tạo nên một môi trường lành mạnh, thi tài về vấn đề trang phục cho các em thoả sức thể hiện mình và sáng tạo như thi thiết kế thời trang giấy. Những biện pháp này chắc chắn sẽ giúp cho các em nữ sinh có ý thức tốt hơn về cách ăn mặc khi đến trường. >> Xem thêm Đề 40: Phân tích và làm sáng tỏ ý nghĩa câu nói của Nguyễn Bá Học:” Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” tại đây. Tags:Đề 39 · Trang phục đến trường · Văn chọn lọc 9
Đề 39 – Suy nghĩ về trang phục khi đến trường của nữ sinh thời nay – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,580
Đề 3: Phân tích bức tranh mùa xuân trong bốn câu thơ của Nguyễn Du – Bài văn chọn lọc lớp 9 Hướng dẫn Đề 3: Phân tích bức tranh mùa xuân trong bốn câu thơ sau: Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. (Nguyễn Du – Truyện Kiểu) Bài làm Chẳng biết tự bao giờ, mùa xuân đã có sức thu hút kì diệu với lòng người đến vậy. Xuân tuyệt diệu, xuân trẻ trung, tinh khiết đã làm say lòng các thi nhân, văn sĩ. Đã có biết bao áng thơ, áng văn, biết bao bản nhạc ca ngợi mùa xuân nhưng bức tranh xuân chắc hẳn sẽ kém đi sự huyền diệu nếu không có cảnh ngày xuân trong thơ đại thi hào Nguyễn Du. Chỉ với bốn câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Du đã vẽ nên khung cảnh tuyệt diệu của mùa xuân để lưu truyền cho muôn đời: Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Mở đầu bức tranh xuân, tác giả thông báo trực tiếp về thời gian: “Ngày xuân con én đưa thoi – Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”. Hình ảnh “con én đưa thoi” gợi ra các cách hiểu khác nhau. “Con én đưa thoi” có thể hiểu là những cánh én chao liệng trên bầu trời như thoi đưa, bởi chim én là tín hiệu của mùa xuân. Bên cạnh đó, “con én đưa thoi” còn có thể hiểu là thời gian trôi rất nhanh chẳng khác nào thoi đưa. Nếu hiểu theo cách hai thì câu thơ “Ngày xuân con én đưa thoi” không chỉ đơn thuần là câu thơ tả cảnh mà ngầm chứa trong đó bước đi vội vàng của thời gian. Cách hiểu này dường như rất lô gích với câu thơ tiếp theo: “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”. Nhà thơ Nguyễn Du đã đưa ra những con số rất cụ thể. Mùa xuân có chín mươi ngày thì đã trôi đi quá nửa (“đã ngoài sáu mươi”). Câu thơ ẩn chứa sự nuối tiếc khôn nguôi của con người trước sự chảy trôi chóng vánh của thời gian. Mùa xuân vốn đến và đi theo quy luật của tự nhiên, bao đời vẫn thế nhưng ở đây nhà thơ đã nhìn dưới cái nhìn tâm lí mang màu sắc chủ quan nên mùa xuân cũng trở nên sống động. Ta bắt gặp sự gần gũi trong cách cảm nhận thời gian của đại thi hào Nguyễn Du với “hoàng tử thơ ca” Xuân Diệu sau này. Nhà thơ Xuân Diệu của thời thơ mới trước mùa xuân tươi đẹp cũng đã có những dự cảm về sự tàn phai, nuối tiếc: Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già, (Xuân Diệu – Vội vàng) Sự tương đồng trong cách cảm nhận bước đi mùa xuân giữa hai nhà thơ cách nhau mấy thế kỉ thể hiện sự nhạy cảm, tinh tế của những hồn thơ kiệt xuất. Chỉ có những người biết yêu, biết quý trọng thời gian mới có thể cảm nhận được sự chảy trôi, vận động tế vi đến như vậy. Nếu như hai câu đầu, Nguyễn Du nghiêng về miêu tả thời gian thì hai câu sau nhà thơ tập trung miêu tả cảnh sắc: Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Chỉ với hai câu thơ, tác giả đã làm sống dậy một bức tranh xuân căng tràn nhựa sống. Tất cả cảnh vật đều được miêu tả ở trạng thái viên mãn nhất. “Cỏ non xanh tận chân trời“, màu xanh của cỏ tiếp nối với màu xanh của trời như trải ra ngút ngàn. Màu xanh vốn là màu của sự sống, hơn nữa đây là xanh non, xanh lộc biếc nên sự sống lại càng tràn trề, trào dâng. Nguyễn Du không phải là nhà thơ đầu tiên miêu tả cỏ xuân, trước ông, nhà thơ Nguyễn Trãi đã viết trong bài Bến đò xuân đầu trại: Độ đầu xuân thảo lục như yên, Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên (Cỏ xanh như khói bến xuân tươi Lại có mưa xuân nước vỗ trời) Nếu Nguyễn Trãi sử dụng thủ pháp so sánh “thảo lục như yên” để miêu tả vẻ xuân như mờ ảo, sương khói trong ngày mưa nơi bến đò thì Nguyễn Du lại vẽ trực tiếp bức tranh cỏ xuân. Chỉ với câu thơ: “Cỏ non xanh tận chân trời”, ông đã đem đến cho người đọc cảm nhận về hình ảnh, màu sắc, đường nét, sức sống của cỏ… Tất cả đều hài hoà, lắng đọng trong chiều sâu câu thơ 6 chữ, tạo nên nét xuân riêng rất Nguyễn Du. Cái tài của đại thi hào không chỉ dừng ở đó, bức tranh cỏ xuân xanh biếc như làm nền cho sự đột phá ở câu thơ tiếp theo: Miêu tả những bông hoa lê trắng trong, tinh khiết, nhà thơ không viết là “điểm trắng” mà sử dụng đảo ngữ “trắng điểm” khiến cho màu trắng càng được nhấn mạnh. Bên cạnh đó, biện pháp đảo ngữ khiến người đọc cảm nhận màu trắng của hoa lê chủ động tô điểm cho bức tranh xuân thêm tuyệt diệu. Chỉ “một vài bông hoa” nhưng cũng đủ làm nên thần thái của bức tranh xuân. Chính điều này đã khiến câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du tạo được dấu ấn riêng sắc nét so với câu thơ cổ của Trung Quốc: Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa Câu thơ “Lê chi sổ điểm hoa” (Trên cành lê có mấy bông hoa) chỉ đơn giản là lời thông báo, không có sự hoà quyện màu sắc giữa sắc màu hoa lê với sắc màu “cỏ thơm” ở câu đầu. Trái lại, câu thơ của Nguyễn Du là sự hoà quyện, kết hợp màu sắc tạo nên nét thần thái của cảnh vật. Tác giả đã rất tinh tế khi lựa chọn màu sắc cho bức tranh xuân của mình. Đó là xanh và trắng – những sắc màu trinh nguyên, thanh khiết, giàu sức sống, tiêu biểu cho mùa xuân. Ta nhận ra rằng Nguyễn Du không chỉ là đại thi hào trong lĩnh vực thơ ca mà cũng là bậc thầy trong lĩnh vực hội họa. Hai câu thơ tả cảnh thực sự là những câu thơ tuyệt bút. HÀ HOÀNG MINH Lời nhận xét: – Bài viết đã thực sự tạo ấn tượng với sự cảm nhận và phân tích tinh tế. Người viết tỏ ra thực sự có năng lực cảm thụ văn chương, phát hiện vù xoáy sâu vào những chi tiết miêu tả cái thần của cảnh vật như: “con én đưa thoi ”, “cỏ non xanh tận chân trời”, thủ pháp đảo ngữ,… – Đặc biệt, tác giả bài viết đã thể hiện kiến thức văn chương phong phú khi đưa ra những so sánh hợp lí, tinh tế. Ví dụ khi so sánh cảm nhận thời gian trong thơ Nguyễn Du với nhà thơ Xuân Diệu sau này: “Sự tương đồng trong cách cảm nhận bước đi mùa xuân giữa hai nhà thơ cách nhau mấy thê kỉ thê hiện sự nhạy cảm, tinh tế của những hồn thơ kiệt xuất. Chỉ có những người biết yêu, biết quý trọng thời gian mới có thể cảm nhận được sự chảy trôi, vận động tế vi đến như vậy” hay so sánh để tìm va sự khác biệt giữa hình ảnh trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyên Du.
Đề 3_ Phân tích bức tranh mùa xuân trong bốn câu thơ của Nguyễn Du – Bài văn chọn lọc lớp 9
1,279
Đề 4: Kể lại những kỉ niệm ngày đầu tiên đi học – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Đề 4 – Kỉ niệm ngày đầu tiên đi học HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: + Những cảm xúc của em vào đêm trước ngày khai trường như thế nào? + Những hoạt động nào được diễn ra vào đêm hôm đó? + Trên đường đến trường, em và mẹ có những cảm xúc ra sao? + Đứng trước cổng trường, tâm trạng của em lúc đó là gì? + Khi bước vào sân trường, không khí ra sao? Khi gọi đến tên của em, suy nghĩ của em lúc đó? + Tiết học đầu tiên diễn ra trong cảm nhận của em? + Suy nghĩ của em về ngày đầu tiên đi học? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI Có thể đẫn dắt bằng một đôi câu thơ hay bài hát “Ngày đầu tiên đi học, mẹ dắt tay đến trường,… ” Ngày đầu tiên đi học luôn là ngày để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng chúng ta. II. THÂN BÀI 1. Cảm xúc, tâm trạng của tôi trong đêm trước khi ngày mai đi học Chộn rộn, háo hức đến lạ. Chuẩn bị đầy đủ quần áo, cặp sách,… sẵn sàng cho ngày mai đi học. Lo lắng, trằn trọc, khó ngủ. Đã đi ngủ sớm nhưng vẫn không chợp mắt được vì mải lo nghĩ đến ngày mai sẽ ra sao? 2. Ngày đầu tiên đến trường a. Trên đường đến trường Sau khi mặc đồng phục, cả nhà chụp một tấm hình làm kỉ niệm “Ngày đầu tiên tôi đi học”. Mẹ dắt tay tôi đi học với tất cả sự háo hức, tràn đầy niềm vui. Con đường quen thuộc sao mà hôm nay bỗng nhiên thấy cái gì cũng lạ lẫm. Con đường, hàng cây, tiếng chim hót, đường phố xe cộ đông đúc qua lại,… Tất cả đều lạ lẫm. Nhìn xung quanh, tôi nhận thấy cũng có nhiều bạn giống mình, cũng lần đầu tiên đến trường với biết bao điều thú vị. b. Khi tới trường Đứng trước cổng trường: cổng trường lo lớn, hàng cây thật đẹp, bảng tên trường rất to và nghe sao thật hay… Tôi như bị choáng ngợp. Mẹ dắt tôi vào trường, còn tôi trong lòng xiết bao hồi hộp, lo lắng. Bước vào sân trường: sân trường thật rộng lớn, từng dãy phòng học khang trang, đẹp đẽ khiến tôi thật thích thú. Xếp hàng: mẹ buông tay tôi và báo tôi vào xếp hàng với các bạn theo sự điều động của nhà trường. Cảm xúc cùa tôi lúc này: mắt rơm rớm nước mắt vì lo sợ mẹ sẽ bỏ mình, bấu víu lấy áo mẹ không rời,… Mẹ tôi dịu dàng khuyên tôi phải mạnh dạn hơn. c. Trong giờ học Cô chủ nhiệm dắt cả lớp lên phòng học. Tôi vẫn cố ngoái nhìn xem mẹ có còn đứng trong sân trường không? Tôi không thấy, lòng lại càng hồi hộp hơn nhưng tự nhủ sẽ mạnh mẽ hơn. Bước lên phòng học, tôi và các bạn rất ngạc nhiên vì phòng học quá đẹp. Phòng học đẹp là vì: sơn phết màu sắc rất đẹp đẽ, từng cái bàn cái ghế được xếp gọn gàng, ngăn nắp. Trên các bức tường được trang trí hình ảnh dễ thương, bắt mắt. Chúng tôi bước vào bài học đầu tiên trong cuộc đời mình. Cô giảng bài thật hay. Lời giảng du dương, trong trẻo, ngọt ngào đưa chúng tôi đến với sự thú vị của từng bài học. Sau tiết học, tôi cảm thấy thật thích thú và hạnh phúc khi được đi học. Được cô giáo yêu thương, được làm quen bạn bè mới. Ôi thích thú làm sao! d. Giờ ra về Vừa bước chân xuống cầu thang, tôi đã nhìn thấy mẹ mình. Tôi vui mừng chạy đến, hôn lên má mẹ. Mẹ hỏi tôi nhiều điều về lớp học, về cô giáo, về bài học ngày hôm nay. Tôi kể mẹ nghe mọi việc. Thấy tôi vui khi đi học về, mẹ cũng thấy hạnh phúc. III. KẾT BÀI Kỉ niệm ngày đầu tiên đi học của tôi là thế đó. Biết bao cảm xúc xen lẫn vào nhau khiến tôi nhớ mãi. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Mỗi con người ai cũng có những kỉ niệm. Từ những kỉ niệm vui, buồn hay kỉ niệm về thời thơ ấu của mình. Chắc hẳn mọi người vẫn còn nhớ đúng không? Tôi cũng vậy. Tôi nhớ nhất là ngày đầu tiên đi học của tôi. Kỉ niệm đó chẳng thể nào quên được. Đó là ngày đầu tiên tôi đến trường. Mẹ đã dắt lay tôi từng bước một đi trên con đường đó. Lúc ấy tôi cỏ cảm giác rất sợ và lo lắng nữa. Trên vai tôi là chiếc cặp mà mẹ đã mua cho tôi vào hôm qua. Cùng với những cuốn sách và tập vở mới tinh. Tôi nhìn xung quanh và cũng thấy rất nhiều bạn học mới. Có bạn thì tung tăng vui đùa bên cha, mẹ mình. Có bạn thì lại mếu máo khóc sướt mướt vì không muốn rời xa người thân. Khi đứng trước cổng trường, tôi đã sững sờ và đứng lại một giây vì mọi thứ đều quá bất ngờ và lạ mắt. Ngôi trường ấy cao, to. Tất cả đều được phù một lớp màu xanh nên trông rất mát mẻ. Vào bên trong trường tôi càng bất ngờ hơn, với hàng ngàn các bạn học sinh đang xếp hàng ngay ngắn. Ai cũng đều khoác trên người bộ quần áo mới và trắng tinh cùng với cái logo in hình biểu tượng và tên của ngôi trường. Xung quanh ngôi trường đều là nhũng hàng cây cổ thụ cao to. Chúng như đang vẫy tay đứng chào mừng các bạn học sinh mới vào trường. Còn các thầy cô đều đứng rất nghiêm túc và luôn mỉm cười với các bạn học sinh. Các thầy thì mặc áo sơ mi trắng cùng với quần tây màu đen trông rất nghiêm trang và lịch sự. Các cô thì mặc những bộ áo dài truyền thống đủ màu sắc, hoa văn trông rất đẹp và nữ tính. Sau đó có một thầy cầm chiếc loa và nói to: “Kính mời quý phụ huynh ra về để các em vào lớp sinh hoạt với giáo viên chủ nhiệm”. Mẹ tôi nghe vậy liền quay sang nói với tôi: “Mẹ về đây, con ở lại phải học thật chăm chỉ và luôn hòa đồng với các bạn nhé”. Mẹ nở nụ cười hiền hậu nhìn tôi rồi dần bước ra cổng trường đi về. Khi đó, tôi như sắp khóc vì không muốn mẹ xa mình. Nhưng tôi đã cố gắng kìm nén cảm xúc của mình và hứa rằng sẽ không được khóc, nhưng chẳng biết sao nước mắt tôi cứ rơi liên tục. Sau đó, tôi lên lớp sinh hoạt với giáo viên chủ nhiệm của tôi. Cô rất xinh đẹp và hiền hậu nữa. Cô bắt dầu giới thiệu. Buổi sinh hoạt của ngày đầu tiên tôi đi học kết thúc. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Cuộc đời ai mà chẳng có những kỉ niệm đáng nhớ. Dù vui, dù buồn, dù hạnh phúc, dù đắng cay nhưng mỗi khi ngẫm lại chỉ khiến ta phải thốt lên rằng: “Sao ngày đó mình hồn nhiên quá!”, hồn nhiên ở cái tuổi chưa hiểu đời. Và đó cũng là những niềm vui nho nhỏ, an ủi phần nào trong cuộc sống của tôi. Năm nay tôi học lớp chín, mới tích tắc đó mà đã chín năm đã trôi qua, khoảng thời gian đó đã gắn bó với tôi rất nhiều kỉ niệm. Nhưng điều tôi nhớ nhất là kỉ niệm ngày đầu tiên đi học. Tôi không quên buổi sáng hôm ấy, mẹ gọi tôi đậy. Việc này thật khó đối với một cô bé lười biếng như tôi, tôi từ biệt chiếc gối thân yêu và mặc bộ quần áo phẳng phiu được mẹ ủi từ đêm hôm trước. Mẹ khoác lên vai tôi chiếc ba lô nặng trĩu cả hai vai và bảo: – Đi học con nhớ nghe lời cô giáo đó nha. Tôi gật gù rồi đặt lên má mẹ một cái thơm như thói quen ngày nào. Đối với những đứa trẻ khác, ba mẹ chúng hay bảo: “Trong lớp con bị các bạn khác bắt nạt thì hãy nói với cô giáo rồi về kể lại ba mẹ nghe chưa!”, còn ba mẹ tôi thì khác, họ lúc nào cũng khuyên tôi rằng: “Trong lớp con không được ăn hiếp các bạn khác đấy!”. Nghĩ lại tôi thấy mình thật ngốc xít rồi cười phá lên vì những kỉ niệm khó quên này. Hôm nay tôi đi học. Ngồi đằng sau chiếc tay ga do ba tôi điều khiển, tâm trạng tôi có điều vui sướng lạ kì. “Phải chăng mình đã trưởng thành rồi ư?” – tôi thầm nghĩ. Vòng tay ôm ba tôi, tôi ngắm nhìn khung cảnh xung quanh mình trên con đường nhựa được tráng xi-măng phẳng lì từ lúc nào. Hai hàng cây xanh rì bên đường đung đưa theo gió như chào đón tôi vào một ngày mới. Các hàng quán lòng lề đường bắt đầu mở cửa, tôi mong họ sẽ bán đắt hôm nay. Nghĩ đi nghĩ lại, cảnh vật hôm nay khác lạ thường, đâu quen thuộc như ngày nào. Chắc tại hôm nay tôi hồi hộp quá nên tôi mới nghĩ nó xa lạ như vậy. Nhìn lại chiếc áo mới trắng tinh, hai bên cánh tay phồng kết hợp với bộ váy xanh, khiến tôi nhớ đến lời mẹ khen lúc nãy, tôi khoái chí và cười mỉm một mình dưới nắng vàng ấm áp. Cuối cùng tôi cũng đến ngôi trường Tiểu học Trần Bình Trọng, nơi mà tôi chỉ dám “ghé mắt” mỗi khi đi ngang qua. Sân trường tiểu học dày đặc người. Bạn nào áo quần cũng sạch sẽ, tươm tất, gương mặt cũng lộ rõ vẻ vui tươi. Điều đó khiến tôi cứ chộn rộn và vui sướng trong niềm tự hào khó tả. Từ hôm nay tôi là học sinh lớp một rồi đấy. Tôi không còn là một con bé nhóc suốt ngày quậy phá nữa, không còn nghịch ngợm dưới nắng buổi trưa, không còn nhảy lò cò, tắm mưa, chơi rượt đuổi với lũ bạn hàng xóm nữa…Tôi nhìn thấy một cô cậu học trò mới đang đứng bỡ ngỡ, đứng nép bên bạn bè, người thân, chỉ dám đi từng bước nhẹ. Đột nhiên cái tự tin khi ở nhà của tôi biến mất tiêu rồi, trong tôi chỉ còn lại nỗi lo sợ vẩn vơ. Tôi ước gì được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy cô giáo để khỏi phải rụt rè nữa. Tiếng trống trường vang lên giục giã, các anh chị lớp lớn đến xếp hàng trước sân rồi đi vào lớp, cô chủ nhiệm gọi chúng tôi đến xếp hàng ngay ngắn trên một khoảng sân rộng. Trong khi đọc tên từng người, tôi nghe thấy tiếng tim mình vang lên từng nhịp đập trong lồng ngực. Bỗng cô gọi đến tên tôi, tôi giật mình và lúng túng một lúc sau mới lên tiếng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên, cô hiền từ nhìn chúng tôi và ra hiệu cho vào lớp. Bấy giờ tôi mới đế ý rằng giọng cô thật ấm áp làm sao! Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi một cách cẩn thận rồi tạm nhận nó là do mình sở hữu. Đã vậy tôi còn phân chia ranh giới trên bàn nữa chứ. Tôi thật là trẻ con mà. Ngồi kế bên tôi là một bạn nữ, tôi nhìn bạn ấy và mỉm cười, một người bạn xa lạ. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã chơi thân với nhau như quen biết từ lâu lắm rồi. Và cứ như vậy, tôi ngồi khoanh tay trên bàn ngay ngắn, bắt đầu tiết học ở trường đầu tiên trong đời tôi. Thế đó mà đã chín năm rồi đấy. Tôi sẽ nhớ mãi, nhớ về cái ngày đầu tiên đi học trong đời tôi với những kỉ niệm đẹp đẽ và đáng yêu: “Ngày đầu như thế đó Cô giáo như mẹ hiền Em bây giờ cứ ngỡ Cô giáo là cô tiên Em bây giờ khôn lớn Vẫn nhớ về ngày xưa Ngày đầu tiên đi học Mẹ cô cùng vô về… ” (Bài hát: “Ngày đầu tiên đi học – Nguyễn Ngọc Thiện “) BÀI VĂN 3 Mỗi năm, khi đến cuối thu, tôi lại ngắm nhìn các em nhỏ tung tăng đến trường trong bộ đồng phục trắng tinh và tươm tất. Các em nhỏ đã gợi lại trong tôi những kỉ niệm của buổi tựu trường đầu tiên trong thời thơ ấu cùa mình. Có lẽ, tôi sẽ không quên được cái ngày đặc biệt ấy – Ngày mở rộng con đường tri thức trong tôi. Cái đêm trước ngày khai trường, tôi không sao ngủ được. Có rất nhiều cảm xúc trong tôi đan xen lẫn nhau khiến lòng tôi lại thêm rạo rực. Nằm trằn trọc mãi mà tôi không sao ngủ được nên tôi đã đi đến chiếc tủ đồ riêng của tôi để mân mê chiếc cặp mới, những quyển vở còn thơm mùi giấy và bộ đồng phục mới tinh mà mẹ mua cho tôi từ vài hôm trước. Được một lúc thì tôi cũng cảm thấy buồn ngủ nên tôi liền lên giường và ngủ thật say đến sáng. Sáng tinh mơ hôm ấy, khi khí trời còn se se lạnh thì thật kì lạ! Tôi dậy sớm hơn thường ngày mà không cần đến báo thức hay ai đó gọi. Thế rồi tôi liền vệ sinh cá nhân, ăn sáng thật nhanh đế thay ngay bộ đồng phục mới. Có lẽ vì từ khi còn học mẫu giáo, tôi thường mặc những bộ đồ giống như ở nhà nên khi khoác vào mình bộ đồng phục mới tinh này thì tôi cảm giác mình đã chững chạc hơn rất nhiều. Thay bộ đồng phục xong thì bỗng dưng lòng tôi lại nôn nao, nôn nao đến nỗi tôi chỉ nghĩ đến quang cảnh trong ngày khai trường đầu tiên mà quên bén đi chỗ để chiếc cặp và những thứ tôi đã chuẩn bị. Tôi liền chạy toáng lên kiếm khắp nhà và la hét om sòm để tìm chiếc cặp và những thứ mà tôi đã chuẩn bị, nhưng rồi để giữ sự bình tĩnh và tỉnh táo trong ngày khai trường đầu tiên thì tôi liền tự nhủ rằng: “Mình đã lớn hơn rồi, không cần phải làm ầm ầm lên như thế”. Thế rồi tôi liền chạy nhanh vào phòng mẹ tôi, tôi kể lại cho mẹ nghe thì mẹ tôi cười mỉm rồi xoa đầu tôi bảo: “Con cứ ra trước cửa đợi mẹ, mẹ sẽ đem hết ra và hai mẹ con mình cùng đi đến trường nhé!”. Nghe mẹ nói xong, lòng tôi bỗng nhẹ đi phần nào. Lúc bước ra khỏi nhà, mọi thứ trước mắt tôi dường như lạ lùng thay đôi hoàn toàn khiển tôi nắm tay mẹ tôi chặt hơn. Con xóm nhỏ thân thuộc bỗng dưng trở nên xa lạ với tôi. Phía đông, mặt trời tròn xoe từ từ nhô lên sau từng hàng tre xanh, thẳng tắp. Những tia nắng chiếu xuyên qua những khe hở nhỏ của hàng tre xanh trông thật huyền ảo làm sao! Đi được một lúc thì tôi gặp được thằng Khanh và nhỏ Yên cũng đến trường như tôi. Tôi còn nhớ cả đám còn thân thiết, chơi đùa, chia kẹo hôm nào thì bây giờ cũng đều trưởng thành hơn. Nhìn vẻ mặt lo sợ, lúng túng của bọn nó khiến tôi càng thêm lo lắng. Gần đến trường, tôi thấy có rất nhiều anh chị khối lớn đang choàng tay nhau, nói chuyện trông vô tư lắm. Chả như bọn “lính mới” chúng tôi, phải đợi cha, đợi mẹ dẫn đến tận lớp. Tôi cũng nhận ra vẻ mặt vui tươi, hớn hở của từng bậc phụ huynh, chắc vì họ thấy con cái mình đã khôn lớn hơn, biết nắm lấy chiếc chìa khoá dẫn đến một tương lai xán lạn. Tôi cũng mừng vì mình đã khôn lớn hơn, biết suy nghĩ hơn trước. Tôi chỉnh tề trong bộ đồng phục cho tươm tất để trông tôi thật bảnh bao trước mặt các bạn và tôi cùng mẹ từ từ bước vào trường. Ngôi trường này trông khang trang hơn ngôi trường mẫu giáo của tôi rất nhiều. Ngay trên phía cổng trường có một biển hiệu đề: “Trường tiểu học Nhật Lương” và có rất nhiều hoạ tiết trên cổng trường. Không khí trong trường rộn rã, náo nhiệt hơn so với bên ngoài. Trong khuôn viên trường, xung quanh là những chậu cây được xếp đều nhau tạo ra một cái đẹp rất bắt mắt. Hai bên góc trường là hai cây phượng to, đẹp đẽ với những cành lá xum xuê. Trong sân trường, những hàng ghế được xếp thẳng, đều nhau. Lá cờ Tổ quốc được đặt ở giữa trường tôi trông thật lộng lẫy trong màu cờ đỏ sao vàng. Trước mắt tôi là lễ đài thật rộng lớn, có một dòng chữ “Mừng các em học sinh mới vào trường” và thêm một dòng chữ bên phải “Mừng ngày khai trường”. Khuôn viên trường rộn rã, náo nhiệt rồi bỗng có tiếng trống “Tùng…tùng…tùng” báo hiệu đã đến giờ bắt đầu buổi lễ khai trường đầu tiên. Sau đó, cô hiệu trưởng từ từ bước lên lễ đài và bắt đầu bài phát biểu của mình để chào đón các em học sinh mới. Làm lễ xong, lại có một hồi trống “‘Tùng…tùng…tùng” báo hiệu giờ nhận lớp và giáo viên mới để lên lớp. Được bước đến trước dãy hàng lớp tôi, cô nói: “Từ giờ cô sẽ là giáo viên chủ nhiệm của các em”. Nói xong, cô hướng dẫn cả lớp đi theo hàng sát bên phải cầu thang. Khi bắt đầu lên lớp thì tôi thấy các bạn khác khóc mếu rồi chạy lại ôm cha, ôm mẹ của mình một cách nức nở khiến tôi cũng khóc theo. Mẹ tôi liền đến bên tôi và dỗ dành tôi. Mẹ nói rằng: “Con ráng học đi, học rất có ích cho con và con sẽ được làm quen với các bạn nhiều hơn”. Nói xong, mẹ lau hết nước mắt cho tôi rồi lùi ra xa, vẫy tay chào tôi để tôi tự đi lên lớp của mình. Tôi quay lại và nhìn mẹ. Tôi thấy gương mặt mẹ rất hạnh phúc khi thấy tôi được đến trường như các bạn khác. Để không làm tan vỡ niềm hạnh phúc đó, tôi liền đi lên lớp cùng vói một vài bạn cùng lớp. Nét chữ cô trông rất đẹp! Những dòng chữ viết bằng phấn trên bảng, cô đều viết hết sức tỉ mỉ và rõ ràng để chúng em được thấy rõ. Lúc cô giảng về bài toán cộng đầu tiên, giọng nói cô ấm áp làm sao. Nó nhẹ nhàng in sâu vào đầu tôi – những con số thật thú vị. Tôi liền suy nghĩ trong đầu rằng: “Mình phải cố gắng học để không phụ lòng mẹ. Ọuyết tâm! Ọuyết tâm! Thế rồi tôi liền chú ý lắng nghe bài giảng của cô. Cứ môn này rồi đến môn kia, và giờ tan học cuối cùng đã đến. Mẹ tôi đã đợi tôi sẵn từ bên cạnh trường từ khi nào. Khi thấy mẹ, tôi mừng rỡ và chạy ngay đến đó rồi ôm mẹ mà hôn. Tôi kể cho mẹ nghe những chuyện xảy ra hôm nay rồi mẹ dắt tay đi về. Buổi tựu trường đầu tiên đã là một phần quan trọng trong tim tôi mà tôi sẽ ghi nhớ mãi suốt cuộc đời này. (Bài làm cùa HS) BÀI VĂN 4 Tiếng trống trường vang lên “Tùng…tùng…tùng” cũng là lúc tôi lên lớp mới. Chỉ mới chớp mắt thôi vài năm đã trôi qua nhanh chóng. Tôi cũng quên đi cái cảm giác bồi hồi lần đầu tiên tôi đi học. Đứng dưới sân xếp hàng, tôi chợt hồi tưởng lại những kỉ niệm thời thơ ấu mà tôi tưởng chừng như đã quên mất rồi. Tối trước ngày đi học lớp một của tôi, cả nhà đều loay hoay với những quyển tập trắng tinh, thơm mùi hương như mùi hoa. Vừa dán nhãn, vừa bao tập lòng tôi bồi hồi, bâng khuâng không biết ngày mai sẽ ra sao? Bạn bè như thế nào? Cô giáo có hiền không? Mới suy nghĩ một chút mà đã đến giờ ngủ. Tôi liền lấy từng quyển tập, quyển sách mà nâng niu, mà ôm vào lòng. Nằm trên giường, tôi nhắm mắt lại nhưng không tài nào ngủ được. Những suy nghĩ lúc nãy cứ bám lấy đầu tôi không buông. Một lúc sau, tôi ôm quyển sách tiếng Việt lớp một vào lòng rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Sáng hôm sau, không cần đợi chiếc đồng hồ báo thức của tôi reo inh ỏi, tôi đã bật dậy khỏi giường, chạy ra ngoài phòng vệ sinh cá nhân rồi sau đó ăn sáng. Bữa sáng hôm ấy cũng như mọi ngày, chỉ một miếng trứng, miếng bánh mì với li sữa tươi nhưng sao tôi lại thấy phấn khởi lạ thường. Màu đỏ của trứng như ánh mặt trời đang soi chiếu vào tôi như thể mình là nhân vật chính trong vở kịch nào đó. Ăn xong, tôi ra khỏi nhà cùng mẹ. Vẫn là con đường ấy tôi đi hằng ngày nhưng hôm nay tôi lại có một cảm giác kì lạ khác thường. Cảm giác nằng nặng trên đôi chân tôi như thể sợ đến trường vậy. Tới gần trường rồi, tim tôi đập càng lúc càng nhanh. Thấy mấy bạn xung quanh đều đeo cặp, tôi cũng mè nheo mẹ để được đeo cặp giống các bạn. Bước vào cổng trường, tôi thấy mình dường như đang lạc vào một thế giới khác vậy – một thế giới tuyệt vời. Cổng trường mở toang ra, nhìn lên cao tôi thấy một tấm bảng “Chào mừng ngày khai trường”. Tôi nhìn ra xung quanh, thấy có nhiều anh chị khối trên đi một mình mà không cần ba mẹ đưa vào hay những người bạn cùng tuổi tôi bám chặt lấy người thân trước một thế giới khác. Vào bên trong xếp hàng, vì là lớp một nên tôi được đứng đối diện với sân khấu phía trên. Mẹ tôi chỉ đứng ngoài ghế đá mà dõi theo tôi. Khi thầy hiệu trường lên đọc diễn văn, tâm hồn tôi lúc đó như bị đông cứng lại, tim tôi ngày càng đạp mạnh và nhanh hơn. Tôi tưởng tượng như thời gian đang ngừng lại. Đúng lúc đó, thầy hiệu trưởng lại nói “Chào mừng các em học sinh lớp một đã đến với nhà trường”, một tràng pháo tay chọt vang lên khiển tôi phải giật mình. Thầy lại đọc tên từng bạn để vào lớp. Khi nghe đến tên mình, tôi cùng nhiều bạn khác bước vào lớp. Mà nói bước cũng không đúng. Ai ai cũng ngượng ngùng, lo sợ nên xô nhẹ nhau đến khi vào lớp mới thôi. Vừa bước vào lớp, khuôn mặt hiền dịu của một người phụ nữ cỡ tuổi ba mươi vui vẻ chào đón chúng tôi. Vào đến lớp, ổn định chỗ ngồi thì từng bạn bắt đầu giới thiệu, mặc dù ai ai cũng rụt rè hết. Phụ huynh đứng ngoài lớp theo dõi con mình một hồi lâu mới an tâm ra về. Cô giáo tự giới thiệu mình với nụ cười hiền hậu. Nó như đang sưởi ấm tôi thoát khỏi sự cô đơn, lẻ loi này. Cô dạy rất nhiệt tình và hấp dẫn. Chúng tôi như bị cuốn hút vào từng lời giảng, chữ viết. Ôi! Sao mà hay đến thế. Cô còn động viên chúng tôi trong học tập nữa. Đến chiều, mẹ rước tôi về và ăn liên hoan ngày đầu tiên đi học. Ôi! Ngày đầu tiên đi học sao mà dễ thương và hồn nhiên quá đi mất. Tôi sẽ mãi mãi lưu giữ kỉ niệm này đến suốt cuộc đời mình. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 5: Một kỉ niệm đáng nhớ với vật nuôi mà em yêu thích nhất tại đây. Tags:Đề 4 · Văn chọn lọc 9
Đề 4 _ Kể lại những kỉ niệm ngày đầu tiên đi học – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
4,120
Đề 4 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề 4 bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh từng câu dưới đây: a) Chúng ta bảo vệ những (thành công, thành tích, thành tựu, thành quả) của sự nghiệp đổi mới đất nước. b) Các quốc gia đang phải gánh chịu những (kết quả, hiệu quả, hệ quả, hậu quả) của sự ô nhiễm môi trường. c) Học sinh phải chấp hành (quy chế, nội quy, thể lệ, quy định) của lớp học. 2. Điền từ thích hợp vào từng chỗ trống (chọn trong các từ đồng nghĩa): a) Loại xe ấy … nhiều xăng quá,,không hợp với ý muốn của người … nên rất khó … (tiêu dùng, tiêu thụ, tiêu hao) b) Các …là những người có tâm hồn … (thi sĩ, nhà thơ) 3. Đọc bài thơ sau: Quê em Bên này là núi uy nghiêm Bên kia là cánh đồng liền chân mây Xóm làng xanh mát bóng cây Sông xa trắng cánh buồm bay lưng trời… (Trần Đăng Khoa) Em hình dung được cảnh quê hương của nhà thơ Trần Đăng Khoa như thế nào? 4. Tả một cảnh đẹp mà em từng quan sát kĩ và cảm thấy yêu thích vào buổi chiều trong ngày.
Đề 4 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
212
Đề 4 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn I.Em đọc thầm bài Cứu muối Cứu muối Đám mây đen to và nặng bay ngang qua bầu trời. Nó dừng lại, ngay trên đầu làng. Mặt Trời bỗng dưng biến mất và nắng như tấm màn mỏng nhà ai đang căng phơi bị cuốn ngay lại. Trời âm u. -Cứu muối, bà con ơi! -Cứu muối! – Nhiều tiếng kêu theo vang trên các khoảnh đồng. Tiếng chân người chạy thình thịch, dồn dập trên đường làng. Người vác trang, bồ cào, người phên liếp, thúng mủng vội vã chạy ra đồng. Tôi cũng chạy theo rất nhanh. Đồng muối lúc này nom thật lạ mắt, cứ loang loáng như gương. Trên những ô nề, muối đã bắt đầu kết tinh; đã nhìn thấy những hạt muối tươi lấm tấm nổi lên giữa những vùng nước mặn đang bắt đầu đóng váng. Mọi người hối hả lấy trang cào muối vun lại thành đống ở mỗi góc ruộng rồi lấy phên liếp che lên trên. Tôi cũng nhặt lấy một cái trang và bắt đầu cào muối. Mùi nắng nồng gặp mưa bốc lên mặn chát. Tôi thấy người nóng rực, mồ hôi toát ra. Những hạt mưa to và nặng bắt đầu rơi xuống như ai ném đá, nghe rào rào. Mặt đất bốc hơi ngùn ngụt. Nhưng chỉ một lúc sau mưa tạnh ngay. Nắng bừng lên chói chang vàng rực. Mọi người lại vội vã bỏ phên liếp che đậy trên các ruộng ra để lấy nắng. Một chị phụ nữ nhìn tôi cười, hỏi: -Em là cháu bác Tự. Em về làng nghỉ hè. (Trích Cánh đồng bờ biển, Nguyễn Thị Ngọc Tú) II.Làm bài tập Khoanh vào ô trống trước ý trả lời đúng nhất 1.Khi sắp mưa, cảnh bầu trời được miêu tả như thế nào? A.Các đám mây trên đầu làng bỗng dưng biến mất. B.Trời âm u, có nhiều đám mây đen to và nặng bay qua. C. Nắng như tấm màn mỏng đang căng phơi bị cuốn ngay lại. 2.Cảnh người khẩn trương chạy đi cứu muối được miêu tả bằng những chi tiết nào? A.Mọi người vội vã bỏ phên liếp che đậy trên các ruộng ra để lấy nắng. B.Mọi người cảm thấy trong người nóng rực, mồ hôi toát ra. C. Tiếng kêu “Cứu muối”! vang lên, mọi người vác trang, bồ cào, phên liếp, thúng mủng vội vã chạy ra đồng. 3.Người ta cứu muối bằng cách nào? Vì sao các việc đó phải làm hối hả? 4.Câu “Cứu muối, bà con ơi!” là loại câu gì? A.Cầu khiến B.Câu kể C.Câu cảm 5.Tìm trạng ngữ trong câu sau và cho biết nó bổ sung ý nghĩa gì cho câu. Trên những ô nề, muối đã bắt đầu kết tinh. a.Trạng ngữ: ……………………………. b.Ý nghĩa của trạng ngữ:…………………… 6.Câu “Ngoài trời lúc này, tuyết tạm ngừng rơi, lạnh như cắt ruột”. Có mấy trạng ngữ? A. Có một trạng ngữ. Đó là Ngoài trời lúc này. C.Có ba trạng ngữ. Đó là Ngoài trời lúc này và tuyết tạm ngừng rơi. 7.Điền từ thích hợp vào chỗ trống: (lạc hậu, lạc đề, thất lạc, lạc quan, lạc hướng) a.Bài văn bị………….. b.Hồ sơ bị………………………………. …. c.Sống……………. d.Nền kinh tế……… e.Con tàu bị………….. 8.Chuyển câu kể sau thành câu cảm. Trời âm u. III.Tập làm văn Đề bài: Tả con gà mái cùng đàn gà con. Bài làm. >>XEM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TẠI ĐÂY
Đề 4 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4
548
Đề 40 – Câu nói của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Ý nghĩa câu nói của Nguyễn Bá Học Đề 40: Phân tích và làm sảng tỏ ý nghĩa của câu nói: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học). HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí thông qua một câu nhận định (Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông “Nguyễn Bá Học ”) – Em cần rút ra được ý nghĩa được chứa trong câu nói của Nguyễn Bá Học? – Giải thích khái niệm “lòng kiên trì, quyết tâm” có nghĩa là gì? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho sự kiên trì, quyết tâm? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người không có lòng kiên trì, quyết tâm có làm được mọi việc mà mình mong muốn hay không – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Sử dụng các câu tục ngữ, ca dao về kiên trì để dẫn dắt “Có chí thì nên”, “Không có việc gì khó…”, – Gợi dẫn vào nội dung trong câu nói: Ý chí, quyết tâm, kiên trì. – Trích dẫn câu nói. II. THÂN BÀI a. Giải thích:Câu nói trên có ý nghĩa là gì? Nghĩa đen: Trên đường ta đi, thường gặp nhiều trở ngại (sông, núi) nếu không có ý chí nghị lực phi thường sẽ không vượt qua được. Nghĩa bóng: Trên đường đời ta thường gặp nhiều khó khăn, thử thách, nếu có ý chí, nghị lực, kiên trì ta sẽ thành công. b. Đưa ra các biểu hiện:Tại sao khi ta có sự kiên trì sẽ thành công trong mọi việc? – Mọi kết quả, thành công không tự dưng có được mà phải trải qua một quá trình học tập, lao động gian khổ, đòi hỏi con người phải có sự kiên trì, sự quyết tâm cao độ. Đó là bí quyết để thành công. – Trong cuộc sống, đôi khi ta cũng cần phải có sự thất bại thì mới thành công được. Phải biết kiên trì, nhẫn nại với sự thất bại đó. – Cho dẫn chứng: Bác Hồ, thầy Nguyễn Ngọc Ký, bản thân các em… c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề:Làm gì để rèn luyện đức tính kiên trì? – Phê phán những kẻ nghèo ý chí, sự kiên trì, nhẫn nại. Chỉ biết hưởng thụ mà không biết bỏ sức lực của mình ra. Đức tính kiên trì khi chúng ta rèn luyện nó là để phục vụ cho con người với những việc tốt, phấn đấu đi lên chứ không phải là những mục đích thấp hèn. – Tóm lại, câu nói của Nguyễn Bá Học gửi gắm đến chúng ta một bài học giàu ý nghĩa. – Bản thân em rút ra được điều gì trong câu nói trên? (Phải luôn rèn luyện, trau dồi đạo đức đặc biệt là đức tính kiên trì nếu muốn thành công trong mọi việc.) BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 “Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên Hồ Chí Minh ” Lời khuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất có ích cho tất cả mọi người. Bởi lẽ làm việc gì cũng phải gặp khó khăn, nếu con người không kiên trì và quyết tâm vượt khó thì sẽ chẳng thể làm được gì. Nguyễn Bá Học có ý kiến cho rằng: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Vậy, ý kiến ấy có vai trò, ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta? Thật vậy, câu nói trên có ý nghĩa khẳng định và nhấn mạnh vai trò của yếu tố tinh thần, tư tưởng kiên trì, vượt khó của con người đối với sự thành công trong công việc. “Đường đi khó” có ý nghĩa là con đường mà chúng ta đang bước đi luôn trải đầy chông gai, vất vả khó mà vượt qua được một cách dễ dàng. Những trở ngại “ngăn sông, cách núi” dường như không làm chùn bước của những con người giàu lòng kiên định, quyết tâm vượt lên trên sự gian truân, cực khổ. Và khi tư tưởng thông suốt, tinh thần vững vàng thì sẽ có quyết tâm cao, có ý chí vững mạnh để vượt qua các thử thách, khó khăn. Vậy tinh thần vượt khó và quyết tâm hoàn thành công việc là điều rất quan trọng trong việc quyết định sự thành công của chúng ta. Trong cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc ta, tinh thần vượt khó ấy đã thể hiện được rất sôi nổi và rất đẹp. Hình tượng những người lính với tinh thần bất khuất, đạp lên mọi khó khăn, gian khổ để chiến đấu, chiến thắng nỗi vất vả và chiến thắng kẻ thù đã trở thành những hình tượng nghệ thuật điển hình về tinh thần vượt khó: “Đèo cao thì mặc đèo cao Trèo lên tới đỉnh ta cao hơn đèo ” Câu nói của Nguyễn Bá Học rất đúng với những khó khăn trong hoạt động cách mạng. Sự nghiệp đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc, là sự nghiệp lâu dài, gian khổ và cần nhiều nhất lòng quyết tâm và sự kiên định lí tưởng. Câu nói đã đúc kết một kinh nghiệm được rút ra từ những khó khăn và thành bại trong cuộc đấu tranh không ngừng vì lẽ phải. Đường đi khó không phải vì bản thân con đường ấy có nhiều chướng ngại vật mà khó bởi người đi đường không có quyết tâm cao. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải phê phán những người không kiên trì vượt khó mà còn cản trở những người muốn vươn lên. Con đường nào cũng có khó khăn và gian khổ, con đường càng vinh quang càng nhiều chông gai. Nếu chúng ta không tiến lên phía trước mà đợi người khác làm thế cho mình coi như là vô dụng, không kiên trì vượt khó. Nguyễn Bá Học đã dạy cho ta: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Để vượt qua được những trở ngại trên đường đời, không có cách nào khác là phải quyết tâm. Câu nói của Ngụyễn Bá Học thật sự là một lời khuyên đúng đắn và bổ ích. Chúng ta cần phải biết kiên trì, vượt khó trong mọi việc mới đạt được thành công. Riêng bản thân tôi, tôi sẽ cố gắng vượt mọi trở ngại trong cuộc sống để tiến dần đến bước đường vinh quang của sự thành công không chỉ trong việc học tập mà còn trong cuộc sống, để không phụ lòng cha mẹ, thầy cô đã tin tưởng và yêu thương. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Ông bà ta ngày xưa đã truyền dạy cho con cháu những đức tính rất tốt trong đó có đức tính kiên trì, bền chí. Và thường thì cuộc đời của chúng ta giống như một con đường có nhiều khó khăn, hiểm trở trước mắt. Thế nên Nguyễn Bá Học đã từng nói: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Suy nghĩ của chúng ta về vấn đề này như thế nào? Câu nói của Nguyễn Bá Học có ý nghĩa là gì? “Đường đi” mang ý nghĩa là con đường, là cuộc đời mà chúng ta đang bước đi, đang tồn tại. Con đường này không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng, êm đềm cho chúng ta đi qua mà chúng còn tồn tại những “sông, núi” chông gai, trắc trở, đầy nguy hiểm. Câu nói của Nguyễn Bá Học khuyên rằng trên con đường ta đi, thường gặp nhiều trở ngại (sông, núi) nếu không có ý chí nghị lực phi thường sẽ không thể vượt qua được. Suy rộng ra, câu nói ấy còn hàm chứa ý nghĩa là trên đường đời ta thường gặp nhiều khó khăn, thử thách, nếu có ý chí, nghị lực, kiên trì ta sẽ thành công. Kiên trì, bền chí là một phẩm chất không thể thiếu ở mỗi người. Vì nó giúp chúng ta đạt được thành công trong cuộc sống và làm nên nhũng thành tựu lớn. Nguyễn Ngọc Ký liệt cả hai tay từ nhỏ, nhưng ông vẫn cắn răng chịu đựng và tập viết bằng chân. Ông đã trở thành nhà giáo nổi tiếng. Hay Nick Vujicic bị dị tật từ nhỏ nhưng ông vẫn kiên trì chịu đau và làm nên những điều tuyệt vời khác người và ông thật sự trở thành tấm gương sống cho mọi người trên toàn thế giới noi theo. Dẫu biết rằng trong cuộc sống, khi ta đối diện với một lần thất bại là một lần cho ta một bài học kinh nghiệm tuyệt vời. Đó chính là hành trang giúp ta vững tin bước vào cuộc sống. Tuy vậy, ta vẫn còn bắt gặp đâu đó những con người mau chán nản khi gặp thất bại thậm chí là bỏ cuộc. Những người này thật sự rất đáng chê trách bởi nếu không rèn luyện, trau dồi sự bền bỉ, kiên trì thì sẽ chẳng thành công điều gì cả. Người Nhật đã rất kiên trì khắc phục hậu quả của thiên tai tạo nên một đất nước cường thịnh, giàu có. Là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, em thật thấm thía lời dạy của cha ông “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, học theo Bác Hồ, noi gương người xưa để trở thành công dân có ích. Câu nói của Nguyễn Bá Học thực sự là một lời khuyên đúng đắn cho chúng ta vươn tới thành công, giúp chúng ta làm những việc phi thường, tạo dựng tương lai tươi sáng cho đất nước. (Bài làm cùa HS) >> Xem thêm Đề 41: Trình bày suy nghĩ của em về đức tính kiên trì tại đây. Tags:Đề 40 · Nguyễn Bá Học · Văn chọn lọc 9
Đề 40 – Câu nói của Nguyễn Bá Học _ “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,774
Đề 41 – Trình bày suy nghĩ của em về đức tính kiên trì – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về đức tính kiên trì HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí – Giải thích khái niệm “lòng kiên trì, quyết tâm”? – Những dẫn chứng nào cụ thể minh chứng cho sự kiên trì, quyết tâm? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người không có lòng kiên trì, quyết tâm có làm được mọi việc mà mình mong muốn hay không – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Sử dụng các câu tục ngữ, ca dao về kiên trì để dẫn dắt “Có chí thì nên”, “Không có việc gì khó…”, – Gợi dẫn vào nội dung của khái niệm: Ý chí, quyết tâm, kiên trì. II. THÂN BÀI a. Giải thích:Khái niệm trên có ý nghĩa là gì? => Kiên trì có nghĩa là khi ta thất bại một việc nào đó thì ta cần cố gắng nỗ lực tiếp tục thực hiện cho tới khi nào thành công thì thôi. b. Giải quyết vấn đề:Tại sao khi có sự kiên trì ta sẽ thành công trong mọi việc? – Mọi kết quả, thành công không tự dưng có được mà phải trải qua một quá trình học tập, lao động gian khổ, đòi hỏi con người phải có sự kiên trì, sự quyết tâm cao độ. Đó là bí quyết để thành công. – Cho dẫn chứng, biểu hiện cụ thể: Bác Hồ, thầy Nguyễn Ngọc Ký, bản thân em… c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề:Làm gì để rèn luyện đức tính kiên trì? – Phê phán những kẻ nghèo ý chí, sự kiên trì, nhẫn nại. Chỉ biết hưởng thụ mà không biết bỏ sức lực của mình ra. Đức tính kiên trì khi chúng ta rèn luyện nó là để phục vụ cho con người với những việc tốt, phấn đấu đi lên chứ không phải là những mục đích thấp hèn. III. KẾT BÀI – Tóm lại, khi ta có đức tính kiên trì thì ta dễ dàng thành công trong mọi việc. – Bản thân em rút ra được điều gì trong câu nói trên? (Phải luôn rèn luyện, trau dồi đạo đức đặc biệt là đức tính kiên trì nếu muốn thành công trong mọi việc.) BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống, chúng ta thường thấy có rất nhiều người đã thành công ở lĩnh vực mà họ đang làm. Để đạt được thành công rực rỡ như vậy, họ đã phải cố gắng rất nhiều trong việc trui rèn tri thức, kĩ năng và trên hơn hết chính là đức tính kiên trì, nhẫn nại. Nếu muốn cuộc sống sung túc và hạnh phúc thì chúng ta cần kiên trì và nỗ lực trong công việc. Thế nhưng trong cuộc sống vẫn còn đâu đó một số người hay nản chí, chỉ thất bại lần đầu đã vội bỏ cuộc. Những người thiếu ý chí như vậy chắc chắn trong tương lai sẽ không bao giờ thành công được. Trong đời sống hàng ngày ta vẫn thấy có rất nhiều người nghèo nàn đó là do họ không ăn học đàng hoàng ngày trước chỉ biết trốn học, không thích học. Sau này họ phải buôn bán vé số hay phải trộm cắp…bởi họ sống mà không có một mục đích rõ ràng, không kiên trì phấn đấu để vươn lên trong cuộc sống. Những đối tượng này sẽ dễ sa ngã vào con đường phạm pháp. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 42: Trình bày suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa tranh giành và nhường nhịn tại đây. Tags:Đề 41 · Kiên trì · Văn chọn lọc 9
Đề 41 – Trình bày suy nghĩ của em về đức tính kiên trì – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
663
Đề 42 – Suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa tranh giành và nhường nhịn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Tranh giành và nhường nhịn HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội đung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tướng đạo lí (tranh giành và nhường nhịn) – Giải thích hai khái niệm tranh giành và nhường nhịn có nghĩa là gì? – Đưa ra các biếu hiện của hai khái niệm trên được thể hiện như thế nào trong cuộc sống? – Mối quan hệ giữa hai khái niệm tranh giành và nhường nhịn? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi chúng ta cố gắng tranh giành một điều gì đó về mình cho dù đó là điều tiêu cực, có ảnh hưởng không tốt thì người đó sẽ gánh chịu những hậu quả nào? Và ngược lại, khi ta nhường nhịn cho kẻ ác lấn tới làm điều xằng bậy có phải là ta quá nhu nhược hay không? – Cảm nghĩ của em về hai khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Tranh giành và nhường nhịn là hai trong số những tính cách của con người. Đó là mặt tốt và mặt chưa tốt. Nếu như sự nhường nhịn là biểu hiện của đức tính vị tha, khoan dung thì tranh giành là sự biểu hiện của lòng đố kị. – Vậy tranh giành và nhường nhịn có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Tranh giành là gì? => Tranh nhau để giành lấy. – Nhường nhịn là gì? => Chịu nhận phần kém, phần thiệt về mình, để cho người khác được hưởng phần hơn trong quan hệ đối xử. b. Đưa ra các biểu hiện: 1. Tại sao chúng ta nên nhường nhịn trong cuộc sống? + Đó là một trong những phẩm chất tốt của con người. + Cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, thắt chặt tình cảm giữa con người với con người hơn. – Dẫn chứng: Câu chuyện “Dê đen và Dê trắng” khi tranh nhau qua cầu, vì không ai chịu nhường nhịn ai nên cuối cùng cả hai đều rơi xuống sông. 2. Tranh giành có mang lại lợi ích gì cho con người không? – Làm xấu đi mối quan hệ, tình cảm giữa con người với nhau. – Thể hiện mình là kẻ ích kỉ, không biết nghĩ đến những người xung quanh mình. c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề Có phải nhường nhịn mãi sẽ trở thành hèn nhát không? – Đó là cách xử sự khôn khéo trong giao tiếp ứng xử cùa con người. – Giúp cho ta dễ thành công hơn trong cuộc sống. III. KẾT BÀI – Tranh giành và nhường nhịn là hai phẩm chất đạo đức của con người. – Cần đề cao đức tính tốt: nhường nhịn. – Tránh xa đức tính chưa tốt: tranh giành. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Trong cuộc sống xã hội đầy bộn bề như ngày nay thì tính cách của con người cũng theo đó mà có sự biến chuyển rất rõ rệt. Trong vô vàn những tính cách của con người thì dường như sự tranh giành và nhường nhịn là hai trong số những tính cách có mối quan hệ khắng khít với nhau. Nếu như sự nhường nhịn là biểu hiện của đức tính vị tha, khoan dung thì tranh giành là sự biểu hiện của lòng đố kị. Vậy tranh giành và nhường nhịn đã được thể hiện như thế nào trong cuộc sống của chúng ta? Và chúng có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực nào trong xã hội? Trước hết ta phải hiểu rõ tranh giành là gì? Đó là tranh nhau để giành lấy điều gì đó về phía mình bất chấp tất cả. Thế còn nhường nhịn nghĩa là gì? Là chúng ta chịu nhận phần kém, phần thiệt về mình, để cho người khác được hưởng phần hơn trong quan hệ đối xử với nhau. Với cách chúng ta vừa định nghĩa thì hai khái niệm này một bên thì thể hiện cái tốt và một bên thể hiện cái chưa tốt. Vậy thì tại sao chúng ta nên nhường nhịn nhau trong cuộc sống? Bởi vì đó là một trong những phẩm chất tốt đẹp của con người. Cuộc sống của chúng ta sẽ dễ dàng hơn, thắt chặt được mối quan hệ, tình cảm giữa con người với con người với nhau hơn. Trong kho tàng truyện ngụ ngôn dân gian, chúng ta chắc ai cũng đã từng đọc qua câu chuyện “Dê trắng và Dê đen”. Khi hai con dê tranh nhau qua cầu, do không ai chịu nhường nhịn ai nên cả hai cuối cùng đều rớt xuống sông. Nội dung câu chuyện trên cũng minh chứng phần nào cho việc nếu chúng ta trong cuộc sông không biết nhường nhịn lẫn nhau thì cả hai sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề. Hay trong cuộc sống, tìm hiểu tình huống trong siêu thị có hàng người đang xếp hàng để tính tiền phần hàng mình vừa mua, thế nhưng bỗng có một người chen ngang chạy lên đứng đầu hàng để tính tiền, những người đứng đợi khá lâu trước đó rất bức xúc và bắt đầu đôi bên gây ra cãi vã, dẫn đến đánh nhau rất đáng tiếc. Trong tình huống này, ta thấy người chen ngang đã thể hiện mình là một người vừa không có ý thức xếp hàng, vừa thể hiện mình là một người rất bất lịch sự. Nếu như hai bên mỗi bên nhường nhịn nhau một tiếng, và xếp hàng một cách trật tự thì sẽ không có chuyện gì xảy đến. Nhưng trong xã hội đầy rối ren, xô bồ thì có phải nhường nhịn mãi sẽ trở nên hèn nhát không? Xin thưa mọi người là không. Bởi vì khi ta nhường nhịn, điều đó đã thể hiện cách xử sự khôn khéo trong giao tiếp ứng xử của con người với nhau. Nó giúp cho ta đạt được dễ dàng những thành quả trong cuộc sống. Ví dụ như trong gia đinh chúng ta, nếu anh chị em trên thuận dưới hoà, mỗi người đều biết nhường nhịn lẫn nhau sẽ tạo nên một đại gia đình hạnh phúc và yên vui, làm ấm lòng những người làm cha, làm mẹ. Còn ngoài xã hội, nếu như ai ai cũng biết tâm niệm “Một câu nhịn, chín sự lành” thì xã hội của chúng ta sẽ đẹp đẽ biết bao. Còn nếu như ai ai cũng chi biết nghĩ đến bản thân mình, ích kỉ mà không quan tâm đến mọi người thì chắc chắn những người đó sẽ dễ gặp trắc trở và thất bại trong cuộc sống sau này của mình. Nói tóm lại, tranh giành và nhường nhịn luôn tồn tại trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Vì vậy, chúng ta cần phải mở rộng lòng mình, luôn lấy sự nhường nhịn làm kim chỉ nam trong cuộc sống cùa bản thân. Từ đó khắc phục dần thói xấu tranh giành lẫn nhau. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Trong cuộc sống diễn ra hằng ngày, ta luôn nhìn thấy xung quanh ta những con người tranh giành nhau những quyền lợi về bản thân và những con người nhường nhịn, giúp đỡ người khác không tính toán. Tranh giành và nhường nhịn là hai đức tính tồn tại song song trong mỗi con người. Vậy việc tranh giành và nhường nhịn dã ảnh hưởng như thế nào trong cuộc sống xã hội của chúng ta? Tranh giành là giành, giựt, cướp đoạt từ người khác những gì mà họ có, những quyền lợi của họ đem về cho bản thân mình. Việc tranh giành xảy ra hằng ngày trong cuộc sống từ thời vua chúa đến chúng ta ngày hôm nay, việc tranh giành diễn ra trong các cung điện, những thê thiếp của vua tranh giành nhau, thậm chí là hãm hại nhau để tranh giành ngôi vị hoàng hậu. Đức tính tranh giành xuất phát từ lòng đố kỵ, ghen ghét của một con người. Từ việc cảm thấy mình thiệt thòi, thua kém một người nào đó, bản tính xấu trong ta nổi dậy. Ta sẽ hãm hại, tranh giành quyền lợi của người đó về bản thân mình bằng mọi thủ đoạn. Mặt khác, nếu ta sống với trái tim biết yêu thương và nhường nhịn ta sẽ được mọi người ngưỡng mộ và yêu mến còn việc sống nham hiểm, chỉ nghĩ đến việc tranh giành quyền lợi về bản thân tự khắc sẽ bị mọi người xung quanh xa lánh. Đức tính nhường nhịn rất tốt, cần phải có ở mỗi người để tránh việc tranh giành và đố kị với người khác. Tóm lại, qua vấn đề chúng ta vừa bàn luận, tôi thấy việc tranh giành và nhường nhịn xảy ra thường xuyên trong cuộc sống xã hội. Riêng tôi sẽ luôn sống với trái tim biết yêu thương và nhường nhịn cho người khác đúng lúc, đúng chỗ và không tính toán bất cứ điều gì. (Bài làm cùa HS) >> Xem thêm Đề 43: Trình bày suy nghĩ của em về tự tin tại đây. Tags:Đề 42 · Tranh giành và nhường nhịn · Văn chọn lọc 9
Đề 42 – Suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa tranh giành và nhường nhịn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,586
Đề 43 – Trình bày suy nghĩ của em về tự tin – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ của em về tự tin HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí – Giải thích khái niệm “tự tin”? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho sự tự tin? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một con người không có sự tự tin thì có làm nên việc không? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Tự tin luôn là một trong những đức tính cần thiết khi ta mong muốn thành công trong công việc. – Vậy tự tin có giá trị như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Tự tin là gì? => Nghĩa là tin vào chính bản thân mình. Dù cho thất bại có trước mắt nhưng vẫn dấn thân tới vì tin chắc rằng mình sẽ thành công. b. Đưa ra các biếu hiện: (Đặt câu hỏi: Như thế nào? Tại sao? Vì sao?) • Người tự tin là người như thế nào? – Là người không bao giờ ngần ngại trước bất kì khó khăn, thử thách nào. Dù là thất bại nhưng họ vẫn xem đó là cơ hội để dẫn đến thành công. • Tại sao chúng ta phải có sự tự tin trong công việc? + Là yếu tố đầu tiên dẫn đến mọi thành công trong công việc. + Sự tự tin giúp cho bản thân chúng ta thêm vững tin vào cuộc sống, thêm yêu đời hơn, giúp ta vượt qua nỗi sợ hãi, bi quan, chán nản. c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Phê phán, lên án những con người thiếu tự tin dẫn đến tự ti, mặc cảm dễ thất bại trong cuộc sống. – Phê phán những con người quá tự tin dẫn đến kiêu căng, ngạo mạn dễ gây mất tình cảm ở mọi người xung quanh. – Dẫn chứng: trong lớp học, trong cuộc sống hàng ngày, trong gia đình… III. KẾT BÀI – Tự tin là đức tính tốt, rất cần thiết cho con người. – Luôn mạnh dạn đối đầu, đón nhận những thách thức, khó khăn trong cuộc sống để rèn luyện sự tự tin cho bản thân. BÀI VĂN THAM KHẢO Có thể nói, trong vô vàn những đức tính quý báu của con người thì tự tin luôn luôn là đức tính cần thiết khi ta mong muốn thành công trong công việc. Vậy tự tin là đức tính có giá trị như thế nào trong xã hội của chúng ta? Ta cần hiểu tự tin nghĩa là gì? Tự tin nghĩa là phải biết tin tưởng vào chính bản thân mình, dù cho ta có thất bại trước mắt nhưng vẫn cố gắng dấn thân tới vì ta tin chắc rằng mình sẽ thành công. Vậy người tự tin là con người như thế nào? Đó là những con người không bao giờ ngần ngại trước bất kì khó khăn, thử thách nào. Dù là thất bại họ vẫn xem đó là cơ hội để dẫn đến con đường thành công. Là người trong tình huống khó khăn nào cũng xem đó là một cơ hội to lớn cho mình tiến dần đến con đường thành công. Tuy vậy, trong cuộc sống cũng tồn tại không ít những con người thiếu tự tin dẫn đến mặc cảm, tự ti. Biểu hiện của những con người này chính là khi làm bất cứ việc gì, họ cũng rụt rè, e ngại, sợ hãi không dám làm hết sức mình vì sợ người khác dòm ngó, dè bỉu, nhận xét. Mặc dù họ thừa khả năng để làm nhưng vì vấn đề tâm lí e dè như vậy cũng khiến cho họ không thể thành công trong cuộc sống. Mặt khác, trái lại với loại người e dè, mặc cảm, tự ti về bản thân mình thì cũng có một loại người tự tin một cách thái quá dẫn đến kiêu căng, ngạo mạn, chẳng xem ai ra gì cả. Những con người này rất tài giỏi, rất có năng lực nhưng về mặt phẩm chất thì hay coi thường người khác, xem mình là cái rốn của vũ trụ. Những người này rất dễ gây mất tình cảm ở mọi người xung quanh họ. Ví dụ như, trong lớp học, nếu một em học sinh học rất giỏi nhưng có tính kiêu căng, ngạo mạn, tự tin thái quá sẽ luôn xem những bạn học yếu là con giun, con dế còn mình là người đứng trên thiên hạ và lúc nào cũng dè bỉu các bạn khi các bạn làm bài sai hay không hiểu bài. Còn mình thì vênh váo tự đắc khi làm được bài và đạt điểm cao. Những người như vậy, chúng ta cần phải phê phán, lên án mạnh mẽ để mang tính giáo dục, răn đe kẻ khác sống tốt hơn với con đường đúng đắn của cuộc sống. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 44: Trình bày suy nghĩ của em về tính tự lập tại đây. Tags:Đề 43 · Tự tin · Văn chọn lọc 9
Đề 43 – Trình bày suy nghĩ của em về tự tin – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
903
Đề 44 – Trình bày suy nghĩ của em về tính tự lập – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ của em về tính tự lập HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí – Giải thích khái niệm “tính tự lập”? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho tính tự lập? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một con người không có tính tự lập thì dễ gặp những vấn đề nào trong cuộc sống? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Một trong những đức tính cao quý quyết định sự thành công đó là tính tự lập. – Vậy đức tính tự lập có giá trị tinh thần như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Tính tự lập có nghĩa là gì? => Có khả năng tự xây dựng lấy cuộc sống cho mình, không ỷ lại, không nhờ vả người khác. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?) Tại sao chúng ta phải có tính tự lập? + Bởi vì nó thể hiện sự tự tin của bản thân. + Tự mình rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp khác như: cần cù, chịu khó, kiên nhẫn… + Tạo cho bản thân nhũng thử thách mới lạ tạo niềm vui trong cuộc sống. + Có tính tự lập thì sẽ có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Cần rèn luyện tính tự lập như thế nào? – Tự mình làm lấy những việc mà mình có thể làm được không được nhờ vả người khác. – Tự lập cũng đồng nghĩa với việc không sợ thất bại, khi vấp ngã ta cần đứng lên một cách tự tin và bằng sự quyết tâm. c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Phê phán những học sinh không có tính tự lập. Mỗi khi làm bài kiểm tra đều dựa dẫm vào bạn bè, thầy cô, cha mẹ. III. KẾT BÀI – Đức tính tự lập là một đức tính tốt, quý báu. – Cần rèn luyện, trau dồi, bồi dưỡng tính tự lập để có thể đương đầu một cách tự tin trước cuộc đời đầy bon chen này. BÀI VĂN THAM KHẢO Một trong những đức tính quyết định thành công cho mỗi con người chính là đức tính tự lập. Vậy tự lập có nghĩa là gì, và nó giúp ích gì cho chúng ta đế đạt được thành công? Tính tự tập có nghĩa là gì? Tính tự lập có nghĩa là chúng ta có khả năng tự xây dựng lấy cuộc sống cho mình, không ỷ lại, không nhờ vả người khác. Vậy thì tại sao chúng ta cần phải có tính tự lập? Bởi vì nó thể hiện sự tự tin của bản thân ta. Trong cuộc sống, có những giai đoạn chúng ta cần phải tự mình lo liệu không phải lúc nào cũng cần đến ba mẹ nâng đỡ ta mãi. Tính tự lập còn giúp cho ta rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt đẹp khác nữa như cần cù, chịu khó, kiên nhẫn,… giúp cho ta dần dần hoàn thiện trong cuộc sống. Bên cạnh đó, tính tự lập còn tạo cho bản thân những thử thách mới lạ tạo niềm vui trong cuộc sống. Có tính tự lập thì chúng ta sẽ có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Dẫn chứng là các bạn sinh viên khi lên thành phố học tập đều phải xa nhà, tự mình bươn chải kiếm sống, tự lo liệu học tập, ba mẹ chỉ ủng hộ về mặt tinh thần và phần nào vật chất. Các anh chị sinh viên ấy phải tự mình thuê nhà trọ, tự mình kiếm việc làm để trang trải cuộc sống cho bốn năm đại học trên thành phố đầy bon chen và cạm bẫy. Chính nhờ sự tự lập như vậy mà các anh chị đó sau khi học xong thì rất vững vàng về mặt kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống. Bởi vì trong thời gian các anh chị làm việc đã giúp cho các anh chị có sự cọ xát thực tế cuộc sống. Trau dồi cho bản thân mình những đức tính tốt đẹp khác như kiên trì, nhẫn nại, chịu khó,…Với sự rèn luyện như vậy chắc chắn những anh chị sinh viên này sẽ dễ dàng thành công trong công việc ở tương lai. Trong cuộc sống ta vẫn còn bắt gặp đâu đó những người không có tính tự lập, lúc nào cũng có tư tường dựa dẫm vào người khác mà bản thân lại không biết phấn đấu vươn lên. Ví dụ như trong các lần kiểm tra, những người không có ý thức tự giác, tự lập, tự mình học tập thì lúc nào cũng nghĩ đến việc nhờ người khác giúp đỡ, chỉ bài cho mình. Những con người này cần phải bị phê phán và lên án mạnh mẽ. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 45: Trình bày suy nghĩ của em về tình yêu thương con người tại đây. Tags:Đề 44 · Tính tự lập · Văn chọn lọc 9
Đề 44 – Trình bày suy nghĩ của em về tính tự lập – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
903
Đề 45 – Trình bày suy nghĩ của em về tình yêu thương con người – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Tình yêu thương con người HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí – Giải thích khái niệm “tình yêu thương con người”? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho tình yêu thương con người? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một con người không có tình yêu thương con người thì sẽ trở thành loại người như thế nào? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Một trong những phẩm chất cao quý của con người đó là tình yêu thương. – Vậy tình yêu thương có giá trị tinh thần như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Tình yêu thương có nghĩa là gì? => Đó là tình cảm thiêng liêng, quý báu là sự quan tâm giữa con người và con người với nhau. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?) Tại sao chúng ta phải có tình yêu thương? + Bởi vì nó thể hiện phẩm chất cao quý của một con người. + Có tình yêu thương, con người trở nên tốt đẹp hơn trong tâm hồn. + Có tình yêu thương, xã hội ngày càng phát triển tốt hơn. + Dẫn chứng: giúp đỡ những đồng bào miền Trung bị lũ lụt hàng năm, vùng đồng bằng sông Cửu Long bị thiên tai tàn phá, bản thân em giúp đỡ những người xung quanh mình như thế nào, khi Nhật Bản bị sóng thần hủy hoại, các quốc gia trên thế giới đã có sự chung lòng giúp sức ra sao? c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Phê phán những kẻ thờ ơ, ghẻ lạnh, vô tâm trước sự đau khổ, vất vả của những người xung quanh mình. – Dẫn chứng: trong xã hội có những con người vô tâm như thế nào? (Khi thấy người bị tai nạn, những kẻ vô tâm thường thờ ơ mà nhìn rồi đi mà không có sự giúp sức cho người bị nạn…) III. KẾT BÀI – Tình yêu thương là một phẩm chất tốt, quý báu. – Cần rèn luyện, trau dồi, bồi dưỡng đức tính này để cuộc sống tâm hồn của mình ngày càng tốt đẹp hơn. BÀI VĂN THAM KHẢO Một trong những phẩm chất cao quý của con người đó là lòng yêu thương. Tình yêu thương dường như là sợi dây vô hình, nối kết những trái tim yêu thương lẫn nhau giữa con người và con người với nhau. Vậy tình yêu thương còn có những giá trị tinh thần nào khác? Tình yêu thương có nghĩa là gì? Đó là thứ tình cảm thiêng liêng, quý báu là sự quan tâm giữa con người và con người với nhau. Vậy tại sao chúng ta cần phải có tình yêu thương? Bởi vì nó thể hiện phẩm chất cao quý của một con người. Có tình yêu thương, con người bỗng trở nên tốt đẹp hơn trong tâm hồn. Nó nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta ngày càng hoàn thiện hơn về mặt nhân cách, nhân phẩm, đạo đức. Nhờ có tình yêu thương mà những nỗi đau, vết thương trong tâm hồn dường như được hàn gắn, khiến cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn, phát triển tốt hơn. Dẫn chứng mà chúng ta dễ dàng thấy được đó chính là những phong trào kêu gọi sự giúp đỡ đồng bào miền Trung bị lũ lụt hàng năm hoành hành, vùng đồng bằng Sông Cửu Long bị thiên tai tàn phá nặng nề,… Khi đất nước Nhật Bản bị sóng thần ập vào tàn phá đã để lại biết bao hậu quả đau thương về người, về của cho đất nước này. Tình yêu thương đã được nhân rộng khắp thế giới khi mà phong trào ủng hộ giúp đỡ nhân dân Nhật Bản khắc phục phần nào nỗi đau thương, mất mát này được nở rộ và mạnh mẽ. Những sự việc nêu trên thể hiện tình yêu thương con người luôn luôn sẵn có trong trái tim của mỗi con người nhưng khi có dịp thì tấm lòng yêu thượng ấy bỗng trỗi dậy mạnh mẽ như đợt sóng trào dâng. Ngoài những hoạt động, phong trào lớn đó thì ở ngay tại trường lớp tôi cũng có những bạn có gia đình rất nghèo khó cần được giúp đỡ, vì gia đình quá khốn khó mà nhiều bạn phải nghỉ học để phụ giúp gia đình mưu sinh. Chúng tôi là học sinh, tuy không có nhiều tiền nhưng mỗi người một chút, mỗi ngày góp chút ít thì sau một khoảng thời gian chúng tôi vẫn có thể giúp đỡ những bạn nghèo khó này đi học dưới sự giúp đỡ của quý thầy cô trong nhà trường. Những biểu hiện đó phần nào nói lên tình yêu thương luôn có mặt ở khắp mọi nơi. Tóm lại, có lòng yêu thương chính là một phẩm chất tốt đẹp, quý báu mà chúng ta cần gìn giữ và phát huy. Chúng ta là học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường, ta cần rèn luyện, trau dồi, bồi dưỡng phẩm chất này để cuộc sống tâm hồn của mình ngày càng tốt đẹp hơn. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 46: Trình bày suy nghĩ của em về tinh thần tự học tại đây. Tags:Đề 45 · Tình yêu thương con người · Văn chọn lọc 9
Đề 45 – Trình bày suy nghĩ của em về tình yêu thương con người – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
969
Đề 47 – Trình bày suy nghĩ của em về tinh thần đoàn kết – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ của em về tinh thần đoàn kết HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí – Giải thích khái niệm “tinh thần đoàn kết”? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho tinh thần đoàn kết? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một người lúc nào cũng có suy nghĩ cá nhân, ích kỉ một mình thì liệu họ có thành công trong cuộc sống được hay không? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Đôi khi để thành công trong công việc không thể chỉ dựa vào sức mạnh của cá nhân mà phải cần đến sức mạnh của tập thể, của sự đoàn kết. – Vậy đoàn kết có giá trị, như thế nào trong xã hội của chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Đoàn kết là gì? => Nghĩa là những cá nhân riêng lẻ cùng nhau hợp sức lại, tạo nên một sức mạnh vững chắc giải quyết tốt vấn đề mà tập thể đang muốn làm. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Như thế nào? Tại sao? Vì sao?) + Là yếu tố đi đầu dẫn đến mọi thành công trong công việc. + Tình đoàn kết tạo nên một sức mạnh lớn lao, vĩ đại. + Dẫn chứng: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tinh thần đoàn kết được thể hiện thông qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Một số câu tục ngữ, ca dao tham khảo: + Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. + Vì đồng lòng mà việc nhỏ thành lớn; vì bất hoà mà việc lớn thành tan vỡ. (Sallust) + Bẻ đũa chẳng bẻ được cả nắm. + Chết cả đổng còn hơn sống một người. + Dân ta nhớ lấy chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh. + Chung lưng đấu cật. + Nhiều tay vỗ nên kêu. + Góp gió thành bão. + Một hòn đắp chẳng nên non Ba hòn đắp lại nên cồn Thái Sơn. + Kề vai sát cánh. + Đồng tâm hiệp lực. c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Phê phán, lên án những con người đoàn kết lại để làm việc xấu, gây phương hại đến những người khác. – Trong trường học, nhiều học sinh tự chia nhau thành các nhóm riêng rẽ, gây mất đoàn kết trong lớp. Có học sinh chỉ vì lợi ích cá nhân bàn ra tán vào gây ảnh hưởng nặng nề đến tinh thần đoàn kết của cả lớp… – Dẫn chứng: trong lớp học, trong cuộc sống hàng ngày, trong gia đình… III. KẾT BÀI – Tinh thần đoàn kết là đức tính tốt, rất cần thiết cho con người. BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống của chúng ta, tinh thần đoàn kết là một trong những đức tính tốt mà chúng ta cần phải trang bị cho mình. Nó giúp cho chúng ta vượt qua bao phong ba bão táp của cuộc đời. Đôi khi trong công việc để thành công chúng ta không thể dựa vào sức mạnh của cá nhân mà phải cần đến sức mạnh của tập thể, của sự đoàn kết. Vậy đoàn kết có giá trị như thế nào trong xã hội của chúng ta? Vậy đoàn kết là gì? Nghĩa là những cá nhân riêng lẻ cùng nhau hợp sức lại, tạo nên một sức mạnh vững chắc giải quyết tốt vấn đề mà tập thể đang muốn thực hiện. Tại sao chúng ta phải có tinh thần đoàn kết trong mọi việc thì sẽ dễ dẫn đến thành công? Trước hết, tinh thần đoàn kết thể hiện phẩm chất đạo đức cần có ở mỗi chúng ta. Đó chính là yếu tố hàng đầu dẫn đến thành công trong mọi công việc. Ví như khi ta đang cần giải quyết một bài toán, nhưng ta không thể giải quyết được nó vì nó quá khó cho nên nếu họp nhóm lại thì mỗi người thêm một suy nghĩ thì chắc chắn đáp án sẽ được giải quyết nhanh gọn thôi. Đó là thể hiện của sự đoàn kết trong học tập. Trong lịch sử xa xưa, nếu nhân dân ta không trên dưới một lòng, không đoàn kết, nắm tay lại với nhau thì không thể nào đánh đuổi được giặc ngoại xâm hung tàn, ác bá. Trong kho tàng ca dao, tục ngữ ông bà ta cũng có những câu thể hiện nội dung của sự đoàn kết như “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết”, “Chung lưng đấu cật”, “Nhiều tay vỗ nên kêu”, “Một cây làm chẳng nên non/ Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, “Góp gió thành bão”,… Tinh thần đoàn kết là một trong những đức tính tốt và quý báu mà ta cần gìn giữ và phát huy, nhân rộng đến mọi người xung quanh. Bản thân em cũng sẽ luôn gắn kết, hoà hợp với mọi người xung quanh tạo nên tính đoàn kết theo đúng nghĩa vốn có của nó. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 48: Trình bày suy nghĩ của em về lòng tự trọng tại đây. Tags:Đề 47 · Tinh thần đoàn kết · Văn chọn lọc 9
Đề 47 – Trình bày suy nghĩ của em về tinh thần đoàn kết – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
920
Đề 5 – Một kỷ niệm đáng nhớ với một vật nuôi mà em yêu thích – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Đề 5 – Kỉ niệm đáng nhớ với vật nuôi HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: – Em cần xác định, con vật nuôi mà em yêu thích là con vật nào (chó, mèo, gà, vịt,…)? – Con vật nuôi đó từ đâu em có? (đưa ra một hoàn cảnh cụ thể) – Hình dáng, tính nết, hành động, và những kỉ niệm liên quan đến con vật nuôi ấy và em là những điều gì? – Trong vô số những điều về hình dáng, tính nết, hành động liên quan đến con vật nuôi ấy thì em thấy đặc điểm nào là nổi bật, gây ấn tượng mạnh đối với em? – Cảm nhận của em khi có con vật nuôi này bên cạnh? DÀN Ý CHI TIẾT Lấy ví dụ là CON CHÓ I. MỞ BÀI Dần dắt vào hoàn cảnh nào em có được chú chó? (được tặng nhân dịp sinh nhật, nhặt ngoài đường đem về nuôi,…) Chú chó này tên Mi Lu, trông chú rất dễ thương, lanh lẹ. II. THÂN BÀI 1. Miêu tả CON CHÓ Vóc dáng, ngoại hình: Thân hình: nhỏ gọn. Bộ lông: màu trắng có đốm đen. Đôi mắt: tinh anh, long lanh. Hàm răng: những chiếc răng sắc nhọn, trông rất đáng sợ khi mà nó nhe ra. Cái mũi: hay hếch lên, ướt ướt để ngửi mùi xung quanh nó. Đôi tai: hay vểnh như nghe ngóng điều gì đó. Khả năng, tính cách: Là một con vật trung thành, dễ mến của loài người. Giữ nhà: mỗi khi có vị khách lạ là nó sủa um lên để báo hiệu cho chủ nhà biết. Bắt chuột và côn trùng rất giỏi. 2. Kể một kỉ niệm sâu sắc giữa em và chú chó Một ngày, do tôi bận tập trung cho việc làm bài tập nên ít đế ý đến chú chó. Cửa nhà thì mở nên chú chó vì tò mò mà chạy ra đường chơi. Không may là chú bị một chiếc xe gắn máy va quẹt, chú nằm một chỗ và rên lên ư ử. Tôi làm xong bài tập thỉ gọi nó ra để vuốt ve như mọi ngày thì không thấy nó xuất hiện. Tôi vội vàng chạy đi kiếm nó, một hồi sau mới thấy nó nằm bên vệ đường. Chân nó đầy máu vì vết xe tông phải. Tôi xót thương và khóc rất nhiều, bế nó trên tay mà trong lòng tôi hứa rằng sẽ luôn quan tâm đến nó. Tôi ẵm nó ra trạm thú y để băng bó. Nó nhìn tôi đầy niềm vui vì được chủ quan tâm đến mình. Tôi cũng nhìn nó đầy vẻ yêu thương. Sau lần đó, tôi lại càng thương yêu nó nhiều hơn nữa. 3. Cảm nhận về CHÚ CHÓ Chú chó là một con vật rất đáng yêu và là con vật trung thành với chủ của nó. Trong cuộc sống của tôi, nó luôn mang lại cho tôi biết bao niềm vui và hạnh phúc. III. KẾT BÀI Ngoài những người bạn của mình thì chú chó cũng là một người bạn thân thiết của tôi. Tôi hứa rằng sẽ luôn yêu thương và chăm sóc cho nó chu đáo. BÀI VĂN THAM KHẢO Thấm thoắt đã một năm trôi qua kể từ khi chị tôi mang “Cà phê” về nhà. Cả nhà tôi ai cũng yêu quý nó cả. Khi mới được đem về, chú còn rất nhỏ. Lúc đầu, chú còn nhút nhát, đi lại trong nhà hơi mất thăng bằng với bốn cái chân mập mạp. Nhìn chú cứ như một trái banh lông vậy đấy. Chú có đôi mắt nâu nhạt, to tròn như hai hòn bi ve và cái mũi lúc nào cũng ươn ướt. Hai tai chú vểnh lên như đang nghe ngóng chuyện gì vậy. Điều đặc biệt tôi thích nhất ở cà phê là cái bụng căng tròn mỗi lúc ăn no, nó được bao phủ bởi một lóp lông trắng toát và mềm mại. Khi còn nhỏ, bốn chân chú rất mập mạp và hơi ngắn nên cứ thường hay loạng choạng. Nhưng bây giờ, chúng đã được thay bằng bốn chân rắn chắc, khỏe mạnh có thể phóng lên vai tôi nữa đấy. Gia đình tôi quý chú lắm! Chú chó này rất háu ăn. Cứ mỗi lần tới bữa ăn chính hay nhẹ, hễ tôi cho ăn gì chú đều chén sạch hết mọi thứ. Ăn xong rồi lại kiếm chỗ để nằm nên hàng xóm của chúng tôi gọi chú với biệt danh là “Sữa béo”. Cái tên dễ thương quá đúng không! Từ nhỏ, chú đã rất khôn, tôi đã huấn luyện chú rất tốt từ khi chú được mang vào nhà. Mỗi khi có khách đến nhà là chú sủa vài tiếng rồi đi lại gần ngửi thử mùi. Nếu nhận ra mùi lạ thì chú lại sủa nhưng còn người quen thì chú lại vẫy đuôi và chạy xồng xộc qua lại như muốn đâm vào họ vậy. Mỗi khi tôi đi học về là cu cậu lại từ trong nhà chạy ra và nhảy phốc lên vai tôi như muốn nói: “Chào chị mới về” rồi nó cứ liếm liếm mặt tôi vài cái như thể đó là cử chỉ thân thiện vậy. Tôi sờ vào cái bụng trắng toát của chủ rồi hỏi: “Đói bụng rồi phải không?”. Như hiểu được ý tôi vậy, chú vẫy đuôi và mắt sáng lên chạy thẳng vào kế bên cái tủ lạnh. Cà phê luôn là người bạn thân thiết của tôi. Mỗi khi vui, chú cứ như muốn chia vui cùng với tôi vậy. Có nhũng lúc tôi buồn, cu cậu lại lăn ra làm trò làm tôi quên mất đi nỗi buồn và chơi cùng cu cậu. Từ khi có chú, tôi không còn cô đơn nữa. Cà phê luôn mang lại tiếng cười cho gia đình tôi. Cà phê không chỉ là một chú cún mà còn là một người bạn, một thành viên và còn là một người gác cổng của gia đình tôi nữa. Gia đình tôi quý chú vô cùng. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 6: Một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy, cô giáo buồn tại đây. Tags:Đề 5 · Văn chọn lọc 9
Đề 5 – Một kỷ niệm đáng nhớ với một vật nuôi mà em yêu thích – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,050
Đề 5 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề 5 bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Tìm các cặp từ trái nghĩa trong những câu thơ sau: a) Trong như tiếng hạc bay qua Đục như nước suối mới sa nửa vời. Tiếng khoan như gió thoảng ngoài Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa. (Nguyễn Du) b) Sao đang vui vẻ ra buồn bã Vừa mới quen nhau đã lạ lùng (Trần Tế Sương) c) Đắng cay mới biết ngọt bùi Đường đi muôn dặm đã ngời mai sau. (Tố Hữu) 2. Tìm từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh các câu tục ngữ dưới đây: a) Chết đứng còn hơn sống … b) Chết … còn hơn sống đục. c) Chết vinh còn hơn sống … d) Chết môt đống còn hơn sống … 3. Trong bài Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà, nhà thơ Quang Huy đã miêu tả một đêm trăng vừa tĩnh mịch vừa sinh động trên công trường sông Đà như sau: Lúc ấy Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông Những tháp khoan nhô lên trời ngẫm nghĩ Những xe ủi, xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ Chỉ còn tiếng đàn ngân nga Với một dòng trăng lấp loáng sông Đà. Khổ thơ trên có hình ảnh nào đẹp nhất? Hình ảnh đó cho ta thấy ý nghĩa gì sâu sắc? 4. Tả cảnh một đêm trăng đẹp trên quê hương (hoặc ở nơi khác) từng để lại cho em những ấn tượng khó phai.
Đề 5 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
241
Đề 5 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn I.Em đọc thầm bài Cửa Tùng. Cửa tùng Trên sông Bến Hải – con sông nằm ngang vĩ tuyến mười bảy ghi dấu ấn lịch sử một thời chống Mĩ cứu nước ròng rã suốt hơn hai mươi năm – thuyền chúng tôi đang xuôi dòng, trôi. Đôi bờ thôn xóm mướt màu xanh lũy tre làng và những rặng phi lao rì rào gió thổi. Từ cầu Hiền Lương, thuyền xuôi khoảng sáu cây số nữa là đã gặp biển cả mênh mông. Nơi dòng Bến Hải gặp sóng biển khơi ấy chính là Cửa Tùng. Bãi cát từng được ngợi ca là “Bà Chúa của bãi tắm”. Diệu kì thay, trong một ngày, Cửa Tùng có ba sắc màu nước biển. Bình minh, Mặt Trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển, nước biển nhuộm màu hồng nhạt. Trưa, nước biển xanh lơ và khi chiều tà thì biển đổi sang màu xanh lục. Đồng bào nơi đây nhận xét: “Nước biển đổi màu từng giờ dưới ánh mặt trời”. Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển. (Thụy Chương) II.Làm bài tập Khoanh vào ý đúng nhất trong các câu trả lời dưới đây: 1.Hai bên bờ sông Bến Hải có những cảnh đẹp gì? A.Con sông in đậm dấu ấn lịch sử. B. Thuyền xuôi khoảng sáu cây số nữa là gặp biển cả mênh mông. 2.Bãi tắm Cửa Tùng được coi là “Bà Chúa của bãi tắm” vì sao? A.Bãi tắm ở đây vốn là nơi tắm của vua chúa thời xưa. B.Vì cạnh bãi tắm là một làng chài có tên là Bà Chúa. C.Vì đây là bãi tắm đẹp và kì vĩ nhất trong tất cả các bãi tắm. 3.Người xưa đã so sánh bờ biển Cửa Tùng với cái gì? A.Chiếc lược ngà cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển. B.Chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc xanh của sóng biển. C.Chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển. 4.Sắc màu nước biển biến đổi trong một ngày như thế nào? A.Bình minh nước biển màu hồng nhạt B.Trưa, nước biển xanh lục. C. Chiều tà, biển màu xanh lơ. 5.Câu “Nước biển đổi màu từng giờ dưới ánh mặt trời”, chủ ngữ là gì? A.Nước biển. B.Ánh mặt trời. C.Nước biển đổi màu. 6.Khi muốn mượn bạn quyển truyện, em chọn cách nói nào? A.Cho mượn quyển truyện một tí! B. Đưa tớ quyển truyện! C.Cậu cho tớ mượn quyển truyện này nhé! 7.Chuyển câu kể sau thành câu cảm: a.Bạn Tuấn Anh hát hay. b.Con chó này khôn. 8.Đặt một câu có trạng ngữ chỉ thời gian. III.Tập làm văn Đề bài: Tả một con vật em gặp trên đường. Bài làm >>XEM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TẠI ĐÂY
Đề 5 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4
462
Đề 55 – Bàn về vấn đề tự giáo dục – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Bàn về vấn đề tự giáo dục ĐỀ 55: Có ý kiến cho rằng: “Mọi người nhận hai thứ giáo dục, một thứ là do người khác truyền cho và một thứ quan trọng hơn nhiều là do chính mình tự tạo. Bàn về vấn đề tự giáo dục. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí thông qua một câu nhận định (Mỗi người nhận hai thứ giáo dục, một thứ là do người khác truyền cho và một thứ quan trọng hơn nhiều là do chính mình tự tạo) – Giải thích khái niệm “tự giáo dục”: nghĩa đen, nghĩa bóng? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho tự giáo dục? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một con người không có giáo dục cũng như không biết tự trui rèn đạo đức, phẩm chất của bản thân thì con người ấy sẽ như thế nào? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Kiến thức của nhân loại là vô bờ bến, chúng ta tiếp thu những kiến thức ấy không chỉ nhờ giáo viên truyền cho ta mà còn do ta phải tự mình kiếm lấy bằng cách tích luỹ từ nhũng thất bại. – Vậy tự giáo dục có giá trị như thế nào đối với chúng ta? – Trích dẫn câu nhận định. a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Tự giáo dục có nghĩa là gì? => Đó là chúng ta tự mình đúc kết những kinh nghiệm từ những lần thất bại, hoặc tự mình đọc thêm sách báo, tham khảo thêm nhiều nguồn kiến thức khác nhau. Và vấn đề tự giáo dục quan trọng hơn cả việc người khác truyền kiến thức cho ta. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?) Người luôn luôn có tinh thần tự giáo dục là người như thế nào? Đó là người có sự phấn đấu, nỗ lực trong cuộc sống. Biết vươn lên sau khi thất bại. Biết rút kinh nghiệm và tự mình hoàn thiện không chỉ về mặt kiến thức mà còn về mặt tinh thần, tư tưởng. Tại sao chúng ta phải tự giáo dục? + Bởi vì kiến thức nhân loại và hiểu biết đời sống là bao la, không có giới hạn nào cả. Nếu như ta không tự giáo dục lấy bản thân thì ta sẽ theo sau thời đại, sẽ là người lỗi thời. + Tự giáo dục còn giúp cho ta rèn luyện những đức tính tốt khác như: kiên tri, nhẫn nại, tinh thần ham học hỏi. + Dẫn chứng: Trong việc học tập, ngoài kiến thức ở lớp, chúng ta còn phải đọc thêm sách báo, xem ti vi để biết thêm nhiều kiến thức hơn. Trong cuộc sống, mỗi khi ta vấp ngã, sai lầm cần phải biết rút kinh nghiệm, bài học cho bản thân để từ đó mà hoàn thiện nhân cách đạo đức cùa mình. c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Có những con người luôn có tư tưởng “ếch ngồi đáy giếng” tự cho là mình là người hiểu biết, biết hết kiến thức của thiên hạ. Hoặc có những người hay ỷ lại vào thầy cô là người truyền đạt kiến thức và như thế là đủ nhưng họ đâu biết rằng kiến thức nhân loại là bao la, không bao giờ chúng ta học hết đưọc. – Tự giáo dục là đức tính tốt và ta cần duy trì nó thường xuyên. – Riêng bản thân em sẽ luôn phấn đấu, nỗ lực để tự trau dồi, học hỏi thêm nhiều kiến thức hơn không chỉ trong sách vở mà còn ngoài thực tế cuộc sống. BÀI VĂN THAM KHẢO Mỗi chúng ta ai cũng được giáo dục, được học hỏi nhiều điều hay từ thầy cô, bạn bè và có thể học từ chính bản thân chúng ta. Vì vậy có ý kiến cho rằng: “Mỗi người nhận hai thứ giáo dục, một thứ là do người khác truyền cho và một thứ quan trọng hơn là do chính mình tự tạo”. Vậy ta hiểu “tự giáo dục” là như thế nào? Quả đúng như vậy, tự giáo dục là tự mình dạy bản thân, rút ra bài học từ chính con người mình hay được chỉ dạy những điều tốt, hay, dở từ người khác và đó cũng chính là sự tự nhận thức, có cái nhìn về những vấn đề có sự ảnh hưởng đến sự phát triển của bản thân. Vậy tại sao chúng ta cần được giáo dục? Một xã hội muốn phát triển tiến bộ phải có nhiều nhân tài, mà nhân tài phải là người thực học, được tiếp thu những kiến thức và các phẩm chất đạo đức tinh hoa của nhân loại và dân tộc thông qua sự giáo dục của cộng đồng. Chính sách giáo dục là điểm bắt đầu, là nơi sản sinh ra nguồn lực cho sự cường thịnh cùa một nước. Vì thế mà chúng ta cần phải được giáo dục toàn diện. Cũng giống như anh trai tôi, anh ấy đã được nhận và tiếp thu những kiến thức chuyên môn để giờ đây anh ấy trở thành tổng giám đốc của một công ti phần mềm và không ngừng ở đó, anh ấy còn tự giáo dục bản thân về nhiều mặt khác. Bên cạnh đó còn có những thành phần xã hội không được giáo dục, họ cũng không thể tự nhận thức được chính bản thân, có những gia đình cha mẹ không được giáo dục đủ trình độ và khi có con thì không đủ kinh phí để cho con cái đi học và vì thế những đứa con ấy đã trở thành thành phần xấu của xã hội, bị mọi người chê bai, xa lánh. Tóm lại, đất nước chúng ta có cường thịnh hay không tuỳ thuộc vào việc nền giáo dục của chúng ta có đổi mới để có thể sinh ra những nhân tài thực sự hay không. Đó không phải là một việc khó, nhưng chắc chắn cũng không dễ dàng gì hơn. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 56: Bàn về lời khuyên” Có chí thì nên” tại đây. Tags:Đề 55 · Tự giáo dục
Đề 55 – Bàn về vấn đề tự giáo dục – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,097
Đề 56 – Bàn về lời khuyên “Có chí thì nên” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Lời khuyên “Có chí thì nên” HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trưóc hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí thông qua một câu tục ngữ (Có chí thì nên) – Giải thích khái niệm kiên trì, quyết tâm, bền ý chí được chứa trong câu tục ngữ: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa toàn câu? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho sự kiên trì, quyết tâm? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một con người không có kiên trì, quyết tâm thì có làm được những việc mà mình mong muốn hay không? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Dẫn dắt: “Trong kho tàng ca dao, tục ngữ của ông cha ta đã đúc kết biết bao kinh nghiệm sống quý báu…” – Nêu nội dung câu tục ngữ. – Trích dẫn câu tục ngữ. – Chuyển ý bằng cách đặt câu hỏi để tạo sự liên kết (Ra sao? Như thế nào?) II. THÂN BÀI – Từ ngữ liên kết: Thật vậy, Quả đúng như vậy. – Lời dẫn. 1. Giải thích từ ngữ trọng tâm trong câu tục ngữ (Nghĩa đen => Nghĩa bóng) + Chí là gì? – Là ý muốn bền bỉ theo đuổi một mục đích, hoặc điều gì tốt đẹp. + Nên là gì? – Là thành ra được, là kết quả cuối cùng. + Có chí thì nên nghĩa là như thế nào? – Bền chí ắt có ngày sẽ tạo dựng nên những việc lớn mà mình hằng ao ước. 2. Đưa ra các nguồn dẫn chứng a. Trong thời đại lịch sử xa xưa – Nguyễn Hiền, đỗ Trạng Nguyên năm 12 tuổi là nhờ vào lòng quyết tâm, bền chí trong việc tự học mà thành tài. – Cao Bá Quát, từ một người viết chữ không đọc được đến chỗ kiên trì, rèn luyện mà chữ viết đã được cải thiện và tên tuổi Cao Bá Quát văn hay chữ đẹp nổi tiếng khắp vùng. b. Trong thời đại hiện nay – Thầy Nguyễn Ngọc Ký bị liệt hai tay từ nhỏ nhưng vẫn quyết tâm, nhẫn nại luyện viết chữ bằng chân của mình và ông đã thành công, trở thành một tấm gương sáng muôn đời về ý chí, về nghị lực vượt qua nghịch cảnh. – Giáo sư Ngô Bảo Châu với sự kiên trì nghiên cứu Toán học và cuối cùng cũng đã mang vinh dự về cho nước nhà Việt Nam thân yêu cùng với giải thưởng Fiels danh giá. c. Trong thơ văn – Có công mài sắt có ngày nên kim. – Thất bại là mẹ thành công. – Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên. (Bác Hồ) – Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo. – Kiến tha lâu cũng đầy tổ. – Nước chảy đá mòn. – Ngữ liên kết: Những điều vừa phân tích trên cho ta thấy, – Khẳng định lại ý nghĩa của câu tục ngữ: Trong bất cứ công việc nào nếu ta có sự kiên trì, bền chí sẽ thành công tất cả. – Liên hệ bản thân: Luôn phấn đấu, nỗ lực, quyết tâm nhiều hơn trong học tập và trong cuộc sống. BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống hiện nay của chúng ta có một số người chỉ mới gặp khó khăn một chút mà đã nản chí không thực hiện nữa. Mặt khác, một số người họ phải gặp rất nhiều khó khăn trên con đường đạt tới mục đích, thành công cùa họ, nhưng họ vẫn không vội nản lòng mà họ còn kiên quyết, quyết tâm làm sao đạt được mục đích đó. Những người đó đã làm theo câu tục ngữ: “Có chí thì nên” của cha ông tự bao đời nay. Nó cho thấy được sự quyết tâm, kiên trì, không bao giờ nản lòng trước khó khăn của con người Việt Nam ta qua bao thế hệ. Chúng ta cần hiểu rõ về câu tục ngữ “Có chí thì nên” như thế nào? Thật vậy, câu tục ngữ “Có chí thì nên” là một trong những câu tục ngữ rất bổ ích vì nó giúp cho ta có được sự kiên trì khi làm một việc gì đó trong cuộc sống của mình. Theo cách hiểu của ta thì câu tục ngữ “có chí thì nên” có ngụ ý gì? Chúng ta hiểu được chữ “chí” tượng trưng cho ý chí, nghị lực, sự kiên quyết. Chữ “nên” thể hiện được sự thành công, sự thành đạt, kết quả. Vậy ngụ ý của nguyên câu tục ngữ “có chí thì nên” cho ta thấy được sự chủ động, quyết chí làm một việc gì đó, tuy gặp nhiều trở ngại, khó khăn nhưng vẫn không nản lòng, thì mới đạt được kết quả mà mình mong muốn. Câu tục ngữ “Có chí thì nên” giúp ta có được sự quyết tâm, nghị lực trong cuộc sống, vì thế ta cần phải chia sẻ câu tục ngữ này cho các bạn trẻ, tất cả những người gặp khó khăn trong cuộc sống, để họ vươn lên vượt khó và trở thành những người có ích trong xã hội. Bên cạnh đó có một số người chỉ mới đụng phải khó khăn mà đã vội nản lòng, không làm nữa. Đó là những người không có ý chí luôn luôn ở dưới mọi người, không bao giờ thành công trong mọi việc. Qua đó chúng ta hiểu rõ được sự quan trọng của sự nỗ lực quyết tâm trong cuộc sống để đạt được kết quả tốt. Riêng bản thân tôi, tôi vẫn đang cố gắng để có thể đạt được những kết quả mà mình mong muốn. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 57: Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội tại đây. Tags:”Có chì thì nên” · Đề 56
Đề 56 – Bàn về lời khuyên “Có chí thì nên” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,025
Đề 57 – Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Thói dối trá và suy thoái đạo đức HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tường đạo lí. – Giải thích khái niệm thói dối trá có nghĩa là gì? – Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho sự dối trá? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một con người luôn dối trá thì có nhận được sự tin yêu, tin cậy của mọi người xung quanh hay không? – Cảm nghĩ cùa em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Thói dối trá được xem là một thói xấu mà chúng ta cần phải tránh. – Vậy thói dối trá đã có ảnh hưởng như thế nào đối với chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Thói dối trá có nghĩa là gì? => Dối trá là không trung thực, lừa dối người khác, tạo ra cái ảo để gây điều tin tưởng cho người khác nhằm mục đích vụ lợi, làm mất đi chuẩn mực của đạo đức. b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?) Người có thói dối trá là người như thế nào? Đó là người luôn thích nói sai sự thật ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Dường như việc nói dối là một việc thường ngày của họ khiến cho mọi người không thể tin tưởng được. Tại sao chúng ta phải loại bỏ thói dối trá này? + Vì nỏ là một thói quen rất xấu, một tính nết xấu làm suy đồi về mặt đạo đức của chúng ta. + Bởi vì nó khiến cho mọi người xung quanh có cái nhìn không tốt về ta. + Làm mất đi tình cảm quý báu của con người với nhau. + Dẫn chứng: Trong việc học tập, mặc dù được điểm 10 đỏ chói nhưng thực chất là do quay bài, chép bài của bạn mà có. Hay trong công việc, ta thường làm qua loa, sơ sài cho xong việc một cách gian dối,… c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề – Để khắc phục được thói dối trá này, ta cần phải giáo dục các em từ nhỏ về đức tính trung thực. Người lớn cần làm điều tốt, điều đúng để làm gương cho các em. Dạy các em những bài học đạo đức đúng đắn. – Thói dối trá là đức tính xấu cần loại bỏ. – Riêng bản thân em sẽ luôn phấn đấu, trau dồi rèn luyện thêm về đức tính trung thực. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Trong đời sống hiện nay, có rất nhiều đức tính không tốt đang tồn tại ở trong mỗi con người chúng ta mà nổi bật trong đó là thói dối trá, được xem là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội. Vậy ta hiểu “dối trá” là như thế nào? Quả đúng như vậy, dối trá là không trung thực, lừa dối người khác, tạo ra cái ảo để gây điều tin tưởng cho người khác nhằm mục đích vụ lợi, làm mất đi chuẩn mực của đạo đức. Thói dối trá đang tồn tại trong các lĩnh vực cùa đời sống như trong công việc thì lừa gạt, khoét tiền của công ty và trong trường lớp thì coi tài liệu, chép bài của bạn để nộp cho thầy cô. Thói dối trá làm thiệt hại đến vật chất và tinh thần của xã hội. Nguyên nhân có sự tồn tại của thói dối trá ở con người là trình độ học vấn không đủ để lo cho bản thân, những thói xấu từ cha mẹ truyền qua con cái, từ môi trường xung quanh tác động đến mỗi người từ đó mà sinh ra những thói hư, tật xấu. Cho nên dối trá nhằm mục đích gì đều là tội lỗi, vô đạo đức. Hậu quả của thói dối trá là khi đi đâu cũng bị người khác chê bai, coi thường, xa lánh, mất đi sự tin tưởng của mọi người, xem mình như kẻ tội đồ, rác rưởi. Từ một người có đạo đức, trở thành một người vô đạo đức. Không còn ai quan tâm và họ xem như mình không hề tồn tại trong xã hội. Chính vì thế chúng ta cần có những biện pháp khắc phục để xã hội không còn những thành phần xấu gây ảnh hưởng không tốt đến mọi người xung quanh. Chúng ta nên giáo dục thói quen trung thực cho con em từ nhỏ, đặc biệt là những mầm non của tương lai, cho chúng biết thế nào là những đức tính tốt cần phải học, những tính cách xấu nên tránh xa và tự khắc phục; cho chúng xem hay đọc những bộ phim hay truyện cố tích mang tính giáo dục cao. Còn người lớn thì phải biết suy nghĩ điều gì hay/ dở; điều gì tốt hoặc xấu trước khi làm và cũng để làm gương cho thế hệ sau này. Tóm lại, thói dổi trá là một đức tính xấu của con người. Người có thói dối trá là một con người vô đạo đức, bất chấp thủ đoạn để lấy cái lợi về cho bản thân, làm cho con người mất đi sự tin tưởng lẫn nhau. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Trong cuộc sống hiện nay, dối trá không chỉ là một thói xấu mà nó đã lan ra thành một dịch bệnh nguy hiểm khó chữa, gây ra những tác hại nghiêm trọng trong nhiều lĩnh vực. Vì vậy có nhận định cho rằng: “Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái đạo đức trong đời sống xã hội”. Vậy qua câu nói trên, ta rút ra được bài học gì? Quả thật vậy, thói dối trá là một biểu hiện sự suy đồi của đạo đức. Dối trá là không trung thực, không thành thật, hành động và lời nói không ăn khớp với nhau. Còn suy đồi về đạo đức là không tuân theo những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Ta hiểu cả câu nói này có ý nghĩa là khi ta nhiễm phải thói dối trá thì nhân cách, đạo đức của chúng ta cũng bị lây nhiễm bởi cái xấu và chắc chắn đó là điều không tốt. Thói dối trá quả là một biểu hiện của suy đồi đạo đức bời vì nó đã làm cho mọi người nhìn nhận không đúng với ý đồ của mình, khiến cho họ làm sai. Đây quả là một hành động sai trái gây hậu quả đáng tiếc, gây ra nhiều tác hại nguy hiểm về mặt đạo đức, làm cho cuộc sống không ổn định, mất thăng bằng. Nó còn tạo ra sự căm ghét, trong lòng người khác khi những người đó biết mình bị lừa dối, tạo ra những suy nghĩ và hành động đáng tiếc của những người bị lừa dối với những người lừa dối họ. Dối trá cũng gây ra nhiều thiệt hại trong nhiều lĩnh vực như kinh tế có vụ việc Vinashin đã lừa dối mọi người ăn chặn hàng trăm ngàn tỷ đồng, gây thiệt hại to lớn. Hoặc là vụ việc bệnh viện Đa khoa Hoài Đức đã “nhân bản” hàng loạt bảng xét nghiệm, làm cho bệnh nhân hiểu sai về bệnh của họ, gây ra phương pháp chữa trị sai, khiến cho nhiều chuyện đáng tiếc xảy ra. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những lời nói dối mang tính nhân đạo, nhằm mục đích giúp đỡ người khác, đặc biệt là trong các trường hợp những người bệnh nan y hoặc khi muốn giấu đi một sự thật có thể gây nguy hiểm cho ai khác. Mặc dù vậy sống trung thực là một biểu hiện của người có nhân cách cao đẹp, nhưng người nói dối thì có đầy vì vậy chúng ta cần phải kiên quyết đấu tranh để loại bỏ thói nói dối trong bản thân chúng ta. Tóm lại, thói dối trá quả là một biểu hiện của sự suy đồi đạo đức. Và tôi cũng phải rèn luyện bản thân, kiên quyết và đấu tranh cho sự thật góp phần xây dựng xã hội phát triển và văn minh hơn. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 58: Suy nghĩ về lời dạy của Bác “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” tại đây. Tags:Đề 57 · suy thoái đạo đức · Thói dối trá
Đề 57 – Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,482
Đề 58 – Bàn về lời dạy của Bác Hồ – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Bàn về lời dạy của Bác về đức và tài ĐỀ 58: Trong một cuộc nói chuyện với học sinh, Bác Hồ có dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Nêu suy nghĩ của em về lời dạy trên. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí thông qua một câu câu nhận định (Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó) – Giải thích khái niệm tài và đức có nghĩa là gì? – Mối quan hệ giữa tài và đức được thể hiện như thế nào trong cuộc sống? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: một con người có tài nhưng không có đức thì như thế nào? Và một con người có đức độ tốt mà lại không có năng lực thì sẽ như thể nào? – Cảm nghĩ của em về hai khái niệm trên? (chúng bổ trợ cho nhau hay bài trừ lẫn nhau?) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Tài và đức được xem là hai mặt để tạo nên thành công của một con người. Bác Hồ có dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Có tài mà không có đức là người vô dụng có nghĩa là gì? => Nghĩa là một người tuy có tài năng thật sự nhưng về mặt đạo đức không có thì cũng trở thành một kẻ vô dụng, không được mọi người trọng dụng. – Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó có nghĩa là gì? => Nghĩa là một người có đức độ, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp nhưng lại không có năng lực trong công việc thì khi làm việc gì cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn và không thuyết phục được mọi người. b. Đưa ra mối quan bệ giữa đức và tài + Đức và tài có thể nói có mối quan hệ qua lại với nhau. Nếu như một người có đức nhưng không có năng lực làm việc thì rất khó để hoàn thành công việc được giao. Còn người có năng lực, tài năng nhưng đức độ, đạo đức, phẩm chất không có thì dù tài giỏi mấy cũng không được mọi người hưởng ứng, ủng hộ. + Do vậy, theo lời dạy của Bác nếu chúng ta có tài năng thực sự thì cần phải trau dồi, rèn luyện thêm về mặt phẩm chất, đạo đức. Rèn luyện thêm về cách cư xử, giao tiếp với mọi người xung quanh. Còn đối với người có phẩm chất đạo đức tốt thì cần phải tự mình học hỏi, trau dồi thêm về chuyên môn, năng lực cùa mình để đáp ứng nhu cầu của công việc. III. KẾT BÀI – Nói chung, đức và tài là hai mặt chúng ta cần phấn đấu hướng đến để đạt được cả hai để dần dần hoàn thiện bản thân. BÀI VĂN THAM KHẢO Hiện nay trong cuộc sống của chúng ta, thanh niên học sinh có suy nghĩ rằng chỉ cần đạt mục đích duy nhất là cố học thành tài, xem nhẹ việc rèn luyện đạo đức. Còn có người học chưa tốt mà không chịu rèn luyện và cố gắng học tập để phục vụ cho xã hội. Để khuyên dạy học sinh phải chú trọng trau dồi cả tài lẫn đức, Bác Hồ dạy rằng: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Vì vậy ta hiểu “tài” và “đức” là như thế nào? Quả đúng như vậy, có tài là có đầu óc, có kiến thức, kinh nghiệm và có bản lĩnh để hoàn thành tốt công việc với hiệu quả cao. Cũng có thể giải quyết tất cả những vấn đề với một kết quả tốt nhờ có nhiều phương pháp hiệu quả, sáng tạo. Còn có đức là có thái độ, ý thức làm chủ bản thân, tôn trọng và trung thực với mọi người. Kính trọng người lớn hơn, nhường nhịn kẻ thấp hơn mình, yêu thương, đóng góp phần sức để giúp đỡ mọi người, tận tuỵ phục vụ cho quê hương, đất nước. Vậy thì tại sao thanh niên phải có cả tài lẫn đức? Vì thanh niên dù có tài giỏi đến mức nào mà lương tâm, đạo đức không có thì cũng sẽ trở thành thành phần xấu của xã hội, là người vô dụng. Còn chỉ có đức thì được mọi người yêu mến, quý trọng nhưng không có tài năng gì thì không thể giúp được cho người khác mà còn khiến mình trở nên khó khăn trong công việc, khó mà giải quyết tốt và có kết quả không như mong muốn. Một học sinh có hạnh kiểm tốt nhưng học lực lại đạt trung bình, một cán bộ quản lí có nhiệt huyết nhưng trình độ văn hoá, chuyên môn kém thì sẽ sai sót, dẫn đến thất bại. Tóm lại, thanh niên học sinh cần trau dồi cả đức lẫn tài để trở thành công dân tốt, góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp, phồn vinh. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 59: Suy nghĩ của em về hiện tượng: ” Học sinh hiện nay không thích đọc sách” tại đây. Tags:Đề 58 · Đức và tài · Lời dạy của Bác
Đề 58 – Bàn về lời dạy của Bác Hồ – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
985
Đề 59 – Hiện tượng: “Học sinh hiện nay không thích đọc sách” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Hiện tượng không thích đọc sách HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Ngưòi học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: hiện tượng đời sống xã hội (Học sinh hiện nay không thích đọc sách) – Giải thích khái niệm sách có nghĩa là gì? – Giải thích hiện tượng: Học sinh không thích đọc sách. – Nguyên nhân nào dẫn đến việc học sinh không thích đọc sách, (mất thời gian, không thú vị, hấp dẫn; bị các trò chơi giải trí internet lôi cuốn,…) – Đưa ra các biện pháp khắc phục? – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Có thể nói, việc đọc một quyển sách giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong việc tiếp thu kiến thức của nhân loại. Tuy nhiên, thời gian gần đây xuất hiện một hiện tượng đó là học sinh hiện nay không thích đọc sách. Vậy hiện tượng trên có ý nghĩa như thế nào? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Sách có nghĩa là gì? => Sách là hình thức ghi chép để lưu trữ kiến thức của nhân loại. – Hiện tượng học sinh không thích đọc sách nghĩa là như thế nào? => Nghĩa là phần lớn học sinh hiện nay chỉ thích những thú vui giải trí khác đặc biệt là game Online, trò chơi điện tử mà ít khi đọc sách để bồi dưỡng tâm hồn hay nâng cao kiến thức. – Hậu quả dẫn đến của việc không đọc sách là gì? => Điều đó khiến cho các em không có vốn hiểu biết và kiến thức cần thiết, rất dễ sa vào những con đường tối tăm, dốt nát, tù tội. Không có sách thì sự hiểu biết đó trở nên tầm thường, lạc hậu, kiến thức nông cạn và không thể theo kịp với những sự tliay đổi tiên tiến của thế giới b. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là gì? + Công nghệ hiện đại được ra đời và đang có chiều hướng phát triển sâu rộng như máy tính, điện thoại, ti-vi, nhũng máy móc có độ xử lí và tính năng giải trí cao làm cho học sinh thích thú và bị hấp dẫn. + Tâm lí ngại đi xa để mua một cuốn sách với số tiền vài chục ngàn mà chỉ cần ngồi ở nhà mở internet là có tất cả. c. Biện pháp khắc phục hiện tượng này là gì? + Quản lí chặt chẽ việc chơi game Online của các em để tránh gây nghiện. + Dắt các em đến tham gia các buổi hội thảo, giới thiệu sách mới để khơi dậy niềm yêu thích sách ở các em. III. KẾT BÀI – Nói chung, việc đọc sách là tốt cho chúng ta trong việc nâng cao tri thức, trí tuệ của bản thân. – Riêng bản thân em sẽ đặt ra mục tiêu cho mình trong việc đọc sách để kiến thức mà mình đang tiếp nhận ngày càng được nâng cao. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Trong cuộc sống hiện đại và công nghệ như ngày nay, việc đọc sách, theo dõi những thông tin cần thiết và bổ ích là điều hết sức quan trọng đối với mỗi chúng ta. Nhưng đối tượng không thích đọc sách nhiều nhất đó là học sinh. Vậy việc đọc sách có vai trò quan trọng như thế nào đối với học sinh? Thật vậy, học sinh là thế hệ có trí tuệ, đạo đức, năng lực chất xám của đất nước, là những nhân tài được đào tạo từ môi trường giáo dục có tố chất để sau này phục vụ cho đất nước. Còn đọc sách là đọc một vật mà trong đó có chứa nhiều thông tin, nhũng điều sâu rộng mà ta chưa từng được thấy, cảm nhận, nhũng thứ vượt ngoài tầm hiếu biết và cũng có thể là những điều mới mẻ mà ta không được học ở trường, lớp. Ta dùng nó để học tập khoa học kĩ thuật hiện đại. Việc không đọc sách có những ảnh hưởng tiêu cực ra sao? Tác hại của việc học sinh ngày nay không thích đọc sách là sẽ khiến cho các em không có vốn hiểu biết và kiến thức cần thiết, rất dễ sa vào những con đường tối tăm, dốt nát, tù tội. Không có sách thì sự hiểu biết đó trở nên tầm thường, lạc hậu, kiến thức nông cạn và không thể theo kịp với những sự thay đổi tiên tiến của thế giới. Học sinh sẽ không bao giờ biết được có những sự việc nóng bỏng xảy ra ngoài sự hiểu biết của mình. Nguyên nhân dẫn đến việc học sinh không thích đọc sách là vì hiện nay nhiều công nghệ hiện đại được ra đời và đang có chiều hướng sâu rộng như máy tính, điện thoại, ti-vi, những máy móc có độ xử lí và tính năng giải trí cao làm cho học sinh dành hầu hết thời gian vào đó và đánh mất di thời gian đọc sách của mình mặc dù họ biết rằng những thông tin đó có thể được truyền tải từ sách thông qua vật dụng công nghệ bằng internet. Chỉ vì họ ngại đi xa mua một cuốn sách với số tiền vài chục ngàn mà chỉ cần ngồi ở nhà mở internet là có tất cả. Chính vì thế mà giờ đây sách rất ít được quan tâm sử dụng. Tóm lại, việc đọc sách phải gắn liền với việc học tập của học sinh hiện nay. Đọc sách là để học những kiến thức sâu rộng của nhân loại. Để trở thành người lao động có văn hoá, có kĩ thuật để đem tài năng góp phần xây dựng quê hương, đất nước mãi mãi phát triển và bền vũng. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Từ lâu, con người đã biết sách là một báu vật kì diệu do nhân loại tạo nên. Từ ngàn năm trước, khi con người chưa phát minh ra máy in, thì những cuốn sách đó đã được viết bằng tay. Sách là nơi lưu trữ những kiến thức, ý tưởng, khái niệm mà ông cha ta đã dạy, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vậy còn học sinh hiện nay nên có thái độ như thế nào về việc đọc sách? Từ hàng ngàn năm xưa, việc đọc sách rất quan trọng, nhất là thời còn vua, còn trường học Quốc Tử Giám. Khi đó, việc đọc sách cực kì quan trọng. Còn hiện nay, thời đại công nghệ thông tin phát triển, đất nước đã và đang phát triển thì con người không chú tâm đến việc đọc sách. Có một thời, người Việt Nam rất chú trọng đến việc đọc sách, bất cứ lúc nào rảnh rỗi, họ đều đem sách ra mà đọc, họ yêu thích đến nỗi đi đâu họ cũng mang sách theo mà đọc. khi đi chợ xếp hàng mua rau, khi đợi bạn bè,… Đọc sách giúp chúng ta tăng cưòng khả năng giao tiếp, giúp chúng ta tự tin hon khi giao tiếp mà không bị ấp a ấp úng đối với mọi người. Việc học sinh hiện nay không thích đọc sách có rất nhiều nguyên nhân. Ngày xưa chỉ có ai biết chữ thì mới tự mình đọc sách, còn nhũng người không biết chữ thì không. Sang thời hiện đại, sự phát triển của khoa học đã tạo ra một cách đọc khác khiến chúng ta lười biếng đi. Đó là cách đọc nhờ vào phương tiện nghe, nhìn. Chỉ cần một cái máy đọc chữ thôi thì toàn bộ không cần huy động, trí tưởng tưởng của cá nhân. Việc học đã mang tính chất giải trí thay cho tính chất suy ngẫm. Lâu ngày, tính chất đọc sách sẽ mất dần đi, thay vào đó là thú vui hưởng thụ việc “đọc” theo kiểu tập thể và dễ dãi hơn. Đó là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng học kém Văn và không thích học Văn. Chừng nào học sinh chưa thấy sự hấp dẫn của việc đọc sách, chừng đó hãy đừng nói đến việc bồi dưỡng tâm hồn con người. Nhưng quan trọng nhất là niềm đam mê, yêu thích của họ mới quyết định được thái độ với việc đọc sách. Như vậy, việc học sinh hiện nay không thích đọc sách là một hiện tượng xấu đối với giới trẻ, cần phải có giải pháp để khắc phục ngay. Tóm lại những điều chúng ta nói ở trên, việc học sinh không thích đọc sách hiện nay cho ta thấy đã có những tác hại đáng kể và đã nêu ra tác hại của việc không đọc sách. Để khuyên họ cần hãy tự đọc sách và suy ngẫm nhiều hơn, chúng ta sẽ biết được sách rất có nhiều thú vui trong đó. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 60: Suy nghĩ của em về vấn đề” Vì cái gì ta sống trên đời?” tại đây. Tags:Đề 59 · Hiện tượng lười đọc sách · Văn chọn lọc 9
Đề 59 – Hiện tượng _ “Học sinh hiện nay không thích đọc sách” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,564
Đề 5: Tâm trạng của Thuý Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích – Bài văn chọn lọc lớp 9 Hướng dẫn Đề 5: Phân tích tâm trạng của Thuý Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Bài làm Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. (Nguyễn Du – Truyện Kiều) Nguyễn Du đã nói lên mối quan hệ gắn bó, hoà nhập, đồng điệu giữa thiên nhiên và con người. Điều này được thể hiện rõ nét trong kiệt tác bất hủ Truyện Kiều. Ở đó, thiên nhiên và con người luôn hiện hữu trong sự đối sánh, giao hoà tuyệt đối, giữa cái vô tri và cái tâm thức, để hiện lên những bức tranh cảnh – tình đặc sắc nhất của văn học Việt Nam. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích thể hiện rõ nhất bút pháp tả cảnh ngụ tình bậc thầy của thi hào Nguyễn Du. Với nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc, Nguyễn Du đã khắc hoạ thành công tâm trạng bi kịch của Thuý Kiều trong những bước gian truân đầu tiên của kiếp đời lung lạc. Những vần thơ mênh mang cứ day dứt, ám ảnh khôn nguôi, gieo vào lòng ta niềm xót xa về kiếp “hồng nhan bạc phận”. Trong đoạn thơ mở đầu, tác giả không đi ngay vào việc miêu tả tâm trạng Thuý Kiều mà gợi ra khung cảnh thiên nhiên: Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân, Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung. Bốn bề bát ngát xa trông, Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia. Bốn câu thơ đầu hoàn toàn không có sự xuất hiện của con người mà chỉ thuần tuý thiên nhiên hay chính xác hơn là thiên nhiên hiện ra dưới mắt con người và con người ẩn mình sau dòng chữ, để cho thiên nhiên tự bộc lộ tiếng nói riêng của nó. Nhân vật trữ tình ấy chính là Thuý Kiều – người đang bị giam lỏng trong lầu Ngưng Bích. Chỉ có tâm hồn nàng được tự do, thoả sức hướng ra thiên nhiên như tìm một nơi chốn neo đậu, để xoa dịu đi nỗi đau đớn nhức nhối trong lòng, để tìm cảm giác giải thoát cho tâm linh tù túng, bế tắc. Trong tâm trạng, tâm thế ấy, Thuý Kiểu hướng tầm mắt về thiên nhiên và sững sờ khi bắt gặp một bức tranh đẹp mê hồn: Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân, Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung. Khung cảnh như thực mà như mơ. Mơ là bởi “vẻ non xa” kia như một miền xa thẳm mịt mờ sương khói. Thực là bởi “tấm trăng gần”, như có thể đưa tay ra là với được. Vầng trăng ấy đã thân thuộc biết bao với Kiều. Cách đó không lâu người đã đến với trăng như tìm một chứng nhân cho tình yêu vĩnh cửu: Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song. Giờ đây, ở cái nơi “Chân trời góc bể bơ vơ” thật bất ngờ, trăng đã tự tìm đến với người lẻ loi làm bầu bạn. Vầng trăng vô tri mà rất đỗi thuỷ chung! Trong cảnh ngộ Kiều bị dồn vào thế chân tường, trăng đã đến bên nàng. Sự xuất hiện của trăng tựa như một chỗ dựa tâm linh nâng đỡ Kiều. Từ điểm tựa ấy, Thuý. Kiều hướng tầm mắt ra thiên nhiên, để cảm nhận rõ hơn thân phận, tình cảnh lẻ loi của mình: Cát vùng cồn nọ bụi hồng dặm kia. Nhịp thơ đều đều, trầm bổng mà không hề đơn điệu, tạo cảm giác da diết, buồn thương. Nỗi niềm ấy chất chứa trong trái tim Kiều, được Nguyễn Du gói gọn trong từ “bẽ bàng”: Bẽ bàng mây sớm đèn khuya “Bẽ bàng” là tâm trạng của con người cảm thấy hổ thẹn vì lâm vào cảnh éo le. Cảnh ngộ của Kiểu chính là đang trong những cung bậc cảm xúc ấy. Hổ thẹn vì phụ lời thề ước với chàng Kim, vì đang ở chốn lầu xanh nhớp nhơ, vì số phận ngang trái trớ trêu,… Trong tình cảnh ấy, thiên nhiên như cũng thấu nỗi niềm của thân phận lỡ làng, nhẹ nhàng đến bên nàng như một điểm tựa tinh thần, hoà cùng khúc nhạc sầu thương: Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Tình và cảnh tưởng chừng như tách biệt trong hai vế của câu thơ bởi từ “chia” nhưng thực ra là sự đồng điệu, thấu nhập tuyệt đối: cảnh chứa tình và tình phổ buồn vào cảnh. Vì thế mà nhìn cảnh, bao cung bậc sầu thương của Kiều mới được bộc lộ: Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, Tin sương luống những rày trông mai chờ. Tại sao tâm trí Kiều lại hướng về Kim Trọng đầu tiên mà không phải là cha mẹ? Nếu có ai vì điều này mà trách Kiều là bất hiếu thì thật là chưa hiểu nàng. Kiều hướng đến chàng Kim trước nhất vì vầng trăng trực diện đang gợi lòng người nhớ về cảnh cũ của đêm thề nguyền. Chính cảnh ấy đã gợi lòng người thiếu nữ nhớ về tình yêu. Hơn nữa, Kiều đã bán mình chuộc cha nên đối với song thân, cảm giác tội lỗi đã vơi đi ít nhiều. Còn đối với Kim Trọng, Kiều là người bội ước, là kẻ phá vỡ lời thề sắt son hôm nào. Điều đó khiến trái tim thiếu nữ lần đầu sống trong tình yêu luôn khắc khoải hình bóng tình nhân: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”. Nỗi niềm nhớ thương da diết hoà cùng bức tranh cảnh càng khiến cho lòng người đau đớn khôn khuây. Càng đau vì nhớ người, vì sự khắc khoải ngóng trông của người yêu, Kiều càng cảm thương cho thân phận “bẽ bàng” của mình: Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Có sự đối lập về ý giữa “Tim sương luống những rày trông mai chờ” và “Bên trời góc bể bơ vớ” – sự ngóng trông trong mòn mỏi, vô vọng một người nơi xa xăm, mịt mù vô định. Kiểu tự ý thức được cảnh ngộ của mình, nên nỗi đau càng như xé gan ruột. Nhưng chính trong niềm đau ấy, ta nhận ra ở người con gái bé nhỏ mà kiên trinh ấy những phẩm chất cao quý: Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Một câu hỏi đồng thời cũng là lời khẳng định đinh ninh về tấm lòng sắt son đối với người yêu của Kiều. Ta còn nhận ra trong lời tự thán ấy dư vị chua xót – sự chua xót của bi kịch khi phải sống trong kiếp bơ vơ, nơi “bên trời góc bể’’ mà nỗi lòng nhớ nhung cứ vẫn vít khôn khuây. Nỗi đau nối tiếp nỗi đau. Nhớ về Kim Trọng trong sự xót xa, bẽ bàng, Kiều hướng tới cha mẹ trong nỗi nhớ, niềm thương: Xót người tựa cửa hôm mai, Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? Sân Lai cách mấy nắng mưa, Có khi gốc tử đã vừa người ôm. Bán mình chuộc cha, lâm vào tình cảnh “bẽ bàng”, Kiều vẫn một lòng lo cho song thân. Nỗi lo song hành với cảm giác xót xa của một người con hiếu thảo không thể chăm sóc cha mẹ lúc già yếu. Cảm thương và trân trọng biết bao trước một nàng Kiều với những tình cảm cao đẹp. Trong cảnh ngộ như vậy, đáng ra Kiều phải lo cho bản thân mình trước, xót xa cho số kiếp mình đầu tiên, nhưng nàng lại hướng tới người yêu và cha mẹ trong sự khắc khoải, day dứt. Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn của người con gái “sắc tài” ấy. Sau nỗi nhớ là niềm đau, nỗi buồn tê tái khi chợt thức nhận vể hoàn cảnh hiện tại của mình. Những tháng ngày bão tố, sóng gió vừa qua, chặng đường phía trước mịt mờ, đầy chông gai! Bao bất hạnh, bao xót xa bủa vây, xiết chặt hồn Kiều: Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyên ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là vê đâu? Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Buồn trông gió cuốn mặt dềnh Âm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Tám câu thơ chất chứa nỗi buồn đau tê tái, sự hoang mang lo sợ. Điệp từ “buồn trông” lặp lại bốn lần ở những câu thơ lục vừa diễn tả trọn vẹn tâm thế của Kiều trong tình cảnh ấy vừa góp phần tạo nên âm hưởng, nhịp điệu da diết cho toàn đoạn thơ. Trong cảnh ngộ đơn độc, bơ vơ nơi chân trời, góc bể, Thuý Kiều đã tìm đến với thiên nhiên như một người bạn tri âm, một điểm tựa tinh thần. Thiên nhiên đến với nàng để sẻ chia, để sát cánh. Vì vậy mà dưới con mắt của Kiểu, mỗi hình ảnh thiên nhiên lại gợi ra biết bao chua xót về thân phận bơ vơ, về số kiếp bất hạnh: Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyên ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Cánh buồm thấp thoáng, như thực như ảo giữa “cửa bể chiều hôm’” gợi ra hành trình lưu lạc, nổi chìm của Kiều. Khung cảnh chiều hôm gợi nhớ, gợi sầu cho kẻ li hương. Cánh buồm “thấp thoáng” vô định cộng hưởng kì lạ với tâm trạng của nàng trước lầu Ngưng Bích. Thân phận nàng giờ đây đâu khác gì cánh hoa, lắt lay trước sóng gió cuộc đời: Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? Câu hỏi này cũng là lời tự vấn, tự thương cho thân phận mình của Kiều. Giữa đời nước vô định, cánh hoa mong manh biết bao trước sóng dập gió vùi, như thân phận người con gái chuẩn bị bước vào cuộc hành trình đằng đẵng của số kiếp đoạn trường, oan khổ lưu li. Người con gái “Sắc dành đòi một tài đành hoạ hai” ấy phải chịu kiếp “cỏ nội hoa hèn” bạc bẽo, sầu đau: Chân mây mặt đất một màu xanh xanh. Nội cỏ mang tâm trạng “rầu rầu“, héo úa, cô đơn, lạc lõng giữa “chân mây“, “mặt đất” hay là thân phận của Kiều giữa mênh mông cuộc đời: Buồn trông gió cuốn mặt gềnh, Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi. Cả thiên nhiên vắng lặng hoà theo tâm hồn lạnh lẽo, cô đơn, hoang mang lo sợ của Kiều. Thanh âm duy nhất vang vọng lại là tiếng sóng “ầm ầm”, như nói lên nỗi lo âu, khiếp sợ của Kiểu. Tám dòng thơ chất chứa tâm trạng. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của đại thi hào Nguyễn Du đã đạt đến độ tuyệt bút. Mỗi hình ảnh, mỗi yếu tố ngoại cảnh đều như một ẩn dụ cho tâm trạng khổ đau và cảnh ngộ ngang trái của Kiều. Nàng đang ngập chìm trong bể khổ trầm luân. Hệ thống từ láy được tác giả sử dụng đắc địa đã tạo nên cho đoạn thơ âm hưởng hắt hiu, trầm buồn, diễn tả tinh tế tâm trạng của Kiểu. Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn trích đặc sắc nhất của Truyện Kiểu. Từ bức tranh cảnh, Nguyễn Du đã thổi hồn vào đó, xây dựng nên chân dung tâm hồn của Kiều trong cơn bĩ cực, từ đó mang đến cho người đọc những cảm xúc chân thành, xúc động trước một cô Kiều tài hoa mà bạc phận có tâm hồn cao quý. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng xúc động thốt lên: Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc Sắc tài sao mà lắm truân chuyên. (Chế Lan Viên – Đọc “Kiều ”) Tinh cảm của nhà thơ cũng là tiếng lòng chung của triệu triệu trái tim những người đã, đang và sẽ thổn thức cùng Kiều. NGUYỄN PHƯƠNG HUYỀN Lời nhân xét: – Người viết đã thực sự hiểu tâm trạng của Kiều trong đoạn trích: Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn trích đặc sắc nhất của Truyện Kiểu. Từ bức tranh cảnh, Nguyễn Du đã thổi hồn vào đó, xây dựng nên chân dung tâm hồn của Kiều trong cơn bĩ cực. – Khai thác thành công những đặc sắc nqhệ thuật của đoạn trích: “Tám câu thơ chất chứa nỗi buồn đau tê tái, sự hoang mang lo sợ. Điệp từ “buồn trông” lặp lại bốn lần ở những câu thơ 6 chữ, vừa diễn đạt trọn vẹn tâm thế của Kiều trong cảnh, vừa góp phần tạo nên âm hưởng, nhịp điệu da diết cho toàn đoạn thơ ”.
Đề 5_ Tâm trạng của Thuý Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích – Bài văn chọn lọc lớp 9
2,119
Đề 6 – Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy, cô giáo buồn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Đề 6 – Một lần em mắc khuyết điểm HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: – Em cần xác định, lần mắc khuyết điểm ấy là khuyết điểm gì (bị điểm kém khiến thầy, cô giáo buồn phiền; quậy phá, chửi thề; đánh bạn, học hành không nghiêm túc,…)? – Tâm trạng, cảm xúc của thầy, cô giáo khi phát hiện khuyết điểm của em gây hậu quả nghiêm trọng là cảm xúc gì? – Tâm trạng, cảm xúc của em lúc đó ra sao? – Em đã đấu tranh tư tưởng như thế nào để có thể nói lên lời xin lỗi và lời hứa hẹn sẽ không tái phạm trực tiếp bằng lời trước thầy, cô giáo? DÀN Ý CHI TIẾT Lấy ví dụ là Sửa điểm trong số điểm của cô giáo I. MỞ BÀI Là học sinh chắc hẳn ai cũng đã từng có lỗi lầm khiến thầy cô giáo phải buồn. Lần mắc khuyết điểm mà tôi mắc phải đó là lần tôi sửa điểm trong sổ điểm của cô giáo. II. THÂN BÀI 1. Hoàn cảnh Lần đó, tôi bị điểm kém môn Toán bài 1 tiết. Đây là bài quan trọng mà tôi chỉ được có 3 điểm. Tôi bị quê mặt trước mặt bạn bè vì con điểm ấy nên tôi đã nảy ra ý nghĩ xấu là tìm mọi cách để thay đổi con điểm ấy. 2. Trong giờ ra choi Trong giờ ra chơi, tất cả mọi người đều ra chơi. Riêng tôi thì ngồi trong lớp buồn rầu vì con điểm 3 ấy. Cô giáo cũng đi tới chỗ tôi ngồi để an ủi tôi lần sau cố gắng nhiều hơn. Tôi cám ơn cô vì điều đó. Cô giáo bảo tôi coi sóc đồ đạc của cô trên bàn vì cô có chút công chuyện bên nhà trường. Khi nhìn thấy quyển sổ điểm của cô trên bàn, tôi chợt nảy ra ý nghĩ xấu là sẽ sửa điểm. Nếu con 3 điểm ấy mà ba mẹ tôi biết được thì ăn roi mây là cái chắc. Nhưng làm như vậy thật không hay chút nào! Tôi suy nghĩ, đắn đo một hồi. Thế là tôi quyết định, tôi sẽ lên sửa điểm. Tôi nhìn dáo dác xung quanh mình xem coi có người nào không. Tôi chạy lên bàn, lật quyển sổ đến trang điểm của lóp mình. Tôi dùng bút xanh tô lên nét chữ số từ số 3 sang số 8. Sau đó, tôi cẩn thận để quyển sổ lại như cũ. Nhưng tôi lại không ngờ rằng, khi tôi sửa điểm đã bị bạn lớp trưởng nhìn thấy. Bạn chạy đi gặp cô để trình báo sự việc. Nhưng cô không nói gì. Về lớp dọn dẹp lại đồ đạc và cám ơn tôi đã trông coi đồ giúp. Tôi hí hửng vì tưởng rằng sự việc đã êm xuôi. Nhưng sáng hôm sau, trong giờ ra chơi tôi được thầy giám thị gọi loa cho cô chủ nhiệm gặp (cô dạy toán đồng thời cũng là giáo viên chủ nhiệm của tôi). Khi lên gặp, tôi đã bắt gặp ánh nhìn nghi ngờ của cô. Cô hỏi tôi: “Con sửa điểm trong sổ của cô phải không?”. Tôi im lặng, cúi đầu. “Cô hiểu rằng bị điểm kém, con sẽ buồn và lo lắng nhiều lắm. Nhưng việc làm như vậy là sai rồi, con hiểu không? Cô rất buồn vì điều đó. Lần này tạm thời cô không truy cứu nhưng con phải khắc phục sửa chữa. Không được tái phạm nữa!”. Tôi “dạ” rõ nhẹ nhàng và nói “Con thành thật xin lỗi cô, con sẽ không bao giờ làm như vậy nữa”. Không dám ngẩng mặt cao đầu, lòng biết bao tủi hổ, sự ăn năn hối lỗi dâng lên trong lòng tôi. III. KẾT BÀI Đó là lần mắc khuyết điểm sâu sắc trong cuộc đời tôi. Tôi tự hứa với lòng sẽ cố gắng chăm ngoan, học giỏi nhiều hơn nữa để không làm cho thầy cô, cha mẹ phải buồn lòng. BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống, chắc hẳn ai cũng có những lỗi lầm và khuyết điểm. Tôi cũng vậy! Tôi đã phạm phải một lỗi lầm mà tôi không bao giờ quên được, nó dường như đã in sâu trong kí ức của tôi khi tôi còn là một đứa trẻ lớp hai ở trường Phạm Hồng Thái. Hồi xưa tôi nhớ, tôi đã có một lần làm cho cô Ánh buồn vì đã làm hư một cây bút máy mà cô rất quý và giữ gìn nó cẩn thận suốt bao nhiêu năm vì đó là vật kỉ niệm của cô và người mẹ đã mất rất lâu. Lúc ấy tôi làm rớt nhưng sợ cô sẽ la và phát hiện ra điều đó. Cô cho tôi mượn để đi thi “Viết chữ đẹp”. Qua ngày thi và những ngày kế tiếp đến khi cô hỏi tôi: “Ngân ơi! Cây bút máy cô cho con mượn đâu rồi?”. Tôi sợ hãi và ấp úng không biết trả lời như thế nào và cuối cùng tôi đã nhận lỗi. Tôi nói với cô: “Con xin lỗi cô ạ! Hôm trước con đã làm rớt và không dùng được nữa. Con xin lỗi và mong cô tha thứ cho con. Vì con sợ cô la và buồn nên mấy ngày nay con không dám nói với cô.”. Cô nhìn tôi với ánh mắt thân thương và trìu mến nhưng tôi biết trong ánh mắt ấy có pha lẫn chút buồn phiền, một chút nuối tiếc. Cô bảo: “Thôi, không sao đâu con. Dù gì thì chuyện cũng đã lỡ rồi và con cũng không cố ý. Cô sẽ không trách con đâu.”. Nghe xong câu nói ấy của cô, tôi không còn thấy sợ nữa nhưng thay vào đó tôi càng cảm thấy có lỗi và muốn làm điều gì đó cho cô vui. Qua ngày tôi nhận lỗi với cô, khuôn mặt thanh tao và vui vẻ như ngày nào dường như đã không còn mà hàng ngày tôi thấy trên đôi môi đỏ hồng của cô. Tôi càng cảm thấy có lỗi và ân hận vì việc tôi đã mắc phải. Ngày qua ngày, tôi không được nhìn thấy nụ cười của cô, tôi nói với cô: “Cô ơi, chuyện con làm hư cây bút máy của cô hôm trước, con hứa sẽ cố gắng sửa sai ạ. Con không muốn chính bản thân con đã cướp mất nụ cười của cô! Kì thi “Viết chữ đẹp” vừa qua con đã rất cố gắng ạ. Con sẽ đạt giải cao cho cô vui. Con xin lỗi cô. Cô đừng buồn cô ạ”. Sau đó, cô Ánh cười với tôi và tôi rất vui vì đã thấy nụ cười của cô. Cô bảo: “Thôi, chuyện đó đã qua rồi con, sẽ không sao đâu. Con ra chơi vói các bạn đi. Cô sẽ chờ và tin vào kết quả thi viết chữ của con”. Tôi đáp: “Vâng ạ, con chào cô”. về sau, mọi chuyện như bình thường. Tôi thấy gần gũi và thương cô nhiều hơn. Đây là lỗi mà tôi mắc phải và là bài học đầu tiên mà tôi phải rút kinh nghiệm cho mình. Nhưng trên hơn cả nó còn là kỉ niệm giữa hai cô trò chúng tôi. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 7: Kể lại một việc em làm khiến bố mẹ vui lòng tại đây. Tags:Đề 6 · Một lần mắc khuyết điểm · Văn chọn lọc 9
Đề 6 – Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy, cô giáo buồn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,270
Đề 6 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Với mỗi từ in đậm dưới đây, hãy tìm một từ trái nghĩa: a) cứng: – thép cứng (ví dụ:mềm) – học lực loại cứng – động tác còn cứng b) non:– con chim non – cân này hơi non – tay nghề non c) nhạt:– muối nhạt – đường nhạt – màu áo nhạt – tình cảm nhạt 2. a) Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: thật thà, hiền lành, siêng năng. b) Ở mỗi từ trong từng cặp từ trái nghĩa nói trên, hãy tìm các từ đồng nghĩa. (Ví dụ (VD): thật thà, chân thật… / dối trá, giả dối...) 3. Trong bài Bài ca về trái đất, nhà thơ Định Hải có viết Trái đất này là của chúng mình Quả bóng xanh bay giữa trời xanh Bồ câu ơi, tiếng chim gù thương mến Hải âu ơi, cánh chim vờn sóng biển Cùng bay nào, cho trái đất quay! Cùng bay nào, cho trái đất quay! Đoạn thơ trên giúp em cảm nhận được những điều gì về trái đất thân yêu. 4. Tả ngôi nhà em đang ở cùng với những người thân.
Đề 6 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
194
Đề 6 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn I.Em đọc thầm bài Vườn vải Côn Sơn. Vườn vải Côn Sơn Lên núi Côn Sơn, chúng ta nhìn thấy một cảnh đẹp mới của miền di tích lịch sử này: “Vườn quả Bác Hồ”. Mùa này, vải thiều được mưa xuân đang rộ hoa. Những cây vải thiều, trông trên núi xuống, giống như những mâm xôi. Nhìn từ trên cao xuống, thấy những mâm xôi màu xanh ấy nở đầy hoa và điểm những lá non mới bật lên sau những trận mưa xuân đầu năm. Hễ có chim tu hú về kêu là cùng lúc thời kì vải thiều ra mã. Thời kì ấy, quả vải bắt đầu chín, cứ đỏ dần từ cuống, cho đến toàn quả vải. Vườn vải lúc ấy đỏ ối, đỏ tím, đủ các sắc độ của màu đỏ… nói không tả hết vẻ đẹp của ba nghìn cây cùng đỏ chín dưới nắng tháng năm. Mùa vải ra hoa, từ mờ sáng đã có hàng ngàn vạn con ong bay đến vườn vải. Hương vải lan tỏa lâng lâng thấm vào hồn người. Thật kì lạ, ở đầu những chùm hoa vải, có nhiều giọt nước long lanh, tưởng như đấy là những giọt nước mưa. Mà đúng buổi đêm có chút mưa bụi thật. Nhưng chính đây là những giọt nước đã ngọt chất mật của vải rồi… Ta đưa lưỡi nhấp thử, thấy những giọt ấy ngọt và thơm, thơm mùi vị của quả vải thiều đang làm mật… (Theo Quang Dũng, về Côn Sơn) II.Làm bài tập Khoanh vào ô trống trước ý trả lời đúng. 1.“Vườn quả Bác Hồ” ở núi Côn Sơn là một cảnh đẹp mới của cái gì? A. Miền di tích lịch sử Côn Sơn. B. Một danh lam thắng cảnh Côn Sơn. C.Khu bảo tồn di sản thiên nhiên Côn Sơn, 2.Vì sao nói không thể tả hết vẻ đẹp của ba nghìn cây cùng đỏ chín dưới nắng tháng năm? A. Vì từ mờ sáng đã có hàng ngàn, hàng vạn con ong bay lượn trên các quả vải đang đỏ dần. B.Vì chim tu hú bay về kêu vang khi vườn vải bắt đầu chín đỏ. C.Vì các quả vải lúc ấy đỏ ối, đỏ tím… đủ các sắc độ của màu đỏ. 3.Vải thiều trồng ở Côn Sơn được miêu tả đặc biệt như thế nào? A.Vườn vải ra hoa giống như những mâm xôi màu xanh, quả vải bắt đầu chín, cứ đỏ dần dần từ cuống. C.Cả 2 ý trên đều đúng. 4.Cụm từ nhìn từ trên cao xuống trong câu “Nhìn từ trên cao xuống, thấy những mâm xôi màu xanh ấy nở đầy hoa.” là gì? A.trạng ngữ chỉ thời gian. B. trạng ngữ chỉ nơi chốn. C.trạng ngữ chỉ nguyên nhân. 5.Chuyển câu kể sau thành câu cảm: “Những cây vải thiều, trông trên núi xuống, giống như những mâm xôi”. Câu cảm:……………………………….. 6.Xếp các từ có tiếng “quan” vào cùng nhóm nghĩa: a.“quan” có nghĩa là “quan lại”. b.“quan” có nghĩa là “nhìn, xem”. c.“quan” có nghĩa là “liên hệ, gắn bó”. (quan sát, quan võ, quan tâm, chủ quan, lạc quan, sĩ quan, khách quan, quan hệ, tham quan, quan quân). a……………………………………………………………………………… b………………………………………………………………………………… c………………………………………………………………………………… III.Tập làm văn Đề bài: Tả một con vật em thấy trên truyền hình. Bài làm >>XEM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TẠI ĐÂY
Đề 6 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4
541
Đề 60 – Về vấn đề ” Vì cái gì ta sống trên đời?” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Vì cái gì ta sống trên đời? HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí (Vì cái gì ta sống trên đời) – Giải thích khái niệm mục đích sống có nghĩa là gì? – Đưa ra các biểu hiện của một con người khi sống có mục đích, có lí tưởng. – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người sống; mà không có mục đích sống rõ ràng, có lí tưởng thì con người ấy sẽ là một gánh nặng như thế nào đối với gia đình, xã hội? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Trong cuộc đời của mỗi con người, chúng ta tồn tại được là nhờ vào mục đích sống của chúng ta. Có mục tiêu của cuộc đời, dường như chúng ta sống có ý nghĩa hơn rất nhiều. Nhiều người trong xã hội thường hay có suy nghĩ “Vì cái gì ta sống trên đời?”. Vậy câu hỏi trên có ý nghĩa như thế nào? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Mục đích sống có ý nghĩa là gì? => Nghĩa là một cái đích đến của con người trên bước đường tồn tại trong cuộc đời của người đó. Nó hướng con người luôn phấn đấu, nỗ lực để vươn lên. + Luôn luôn phấn đấu vì một mục tiêu mà mình đã đề ra. Từ đó phát huy được những năng lực tiềm ẩn trong chúng ta. + Khi đã có mục đích sống, con người sẽ dần dần hoàn thiện được nhân cách, đạo đức của bản thân mình. + Khi họ đã đạt được mục tiêu của cuộc đời mình thì họ sẽ tiếp tục đặt ra những mục tiêu mới mẻ hơn, lớn lao hơn. + Dẫn chứng: Bác Hồ vĩ đại với mục đích sống của mình đó là tìm ra con đường giải phóng đất nước. c. Bàn luận, mở rộng vấn đề + Trong cuộc sống vẫn còn tồn tại không ít kẻ sống không có mục đích. Cuộc đời họ bỗng trở nên vô vị, nhàm chán. Cuộc sống dường như là sự lay lắt, vật vờ. + Những kẻ sống không mục đích sẽ là gánh nặng của xã hội và gia đình. + Mặt khác có những kẻ khi đã hoàn thành một mục tiêu của cuộc đời đã vội vàng tự đắc không tiếp tục phấn đấu vươn lên, chỉ biết dặm chân tại chỗ, chắc chắn dạng người này sẽ luôn bị tụt lại phía sau của xã hội. III. KẾT BÀI – Nói chung, trong cuộc sống của mỗi con người, chúng ta cần phải đặt ra cho mình một mục đích sống cao đẹp. – Riêng em còn là học sinh trên ghế nhà trường cũng sẽ tự đặt ra cho mình một mục tiêu cuộc sống để từ đó mà phấn đấu vươn lên. BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống của mỗi con người thì ai cũng cần phải có một lí tưởng, một mục đích sống của riêng mình. Vì thế mà có câu nói cho rằng: “Vì cái gì mà ta sống trên đời”. Vậy ta hiểu như thế nào về câu nói trên? Tóm lại, qua câu nói trên, mọi người cần tìm một mục đích sống của riêng mình để góp phần phát triển xã hội và đất nước thêm giàu mạnh. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 61: Suy nghĩ của em về nhận định: ” Sự học không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc ” tại đây. Tags:Đề 60 · Văn chọn lọc 9 · Vì cái gì ta sống trên đời?
Đề 60 – Về vấn đề ” Vì cái gì ta sống trên đời_” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
667
Đề 61 – Về nhận định “Sự học không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về nhận định về việc học HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: hiện tượng đời sống thông qua một câu nhận định (Sự học không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc) – Giải thích khái niệm sự học có nghĩa là gì? – Giải thích người có học vấn là người như thế nào? – Giải thích hiện tượng: Việc học không chỉ gói gọn trong đất nước của mình mà nên mở rộng ra bên ngoài thế giới nhưng người có học luôn ghi nhớ về quê hương, đất nước của mình, đem những kiến thức học được phục vụ cho Tổ quốc. – Nguyên nhân nào dẫn đến: một số người khi đã tiếp thu được kiến thức của nhân loại và ở lại các đất nước đó để làm việc và sinh sống, chúng ta cần phải hạn chế tình trạng này như thế nào? – Đưa ra biện pháp khắc phục: đưa ra các chính sách tốt để thu hút nhân tài, tạo điều kiện tốt để họ phát huy được năng lực nghiên cứu của mình… – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Trong quá trình chúng ta tiếp nhận tri thức của nhân loại, chúng ta nên có sự mở rộng kiến thức ra bên ngoài. Sau này thành tài ta sẽ dùng những kiến thức đó để xây dựng nước nhà ngày càng phồn vinh. Trích dẫn câu nhận định. II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Sự học có ý nghĩa là gì? => Nghĩa là việc chúng ta tiếp thu kiến thức của nhân loại bằng nhiều con đường khác nhau. Có thể do người khác truyền lại hoặc do ta tự tim hiểu. – Người có học vấn phải có Tổ quốc có nghĩa là gì? => Nghĩa là dù chúng ta mở rộng ra kiến thức bên ngoài như thế nào thì trong tim ta lúc nào cũng luôn nhớ đến cội nguồn, quê hương, Tổ quốc của mình. Bản thân phải biết đem tài năng mà chúng ta học hỏi được để phục vụ, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh hơn. – Một lời khuyên đúng đắn: Dù ta tài giỏi nhờ vào việc tiếp thu kiến thức thế giới nhưng cần phải biết sử dụng tài năng, kiến thức ấy vào việc xây dựng đất nước. b. Nguyên nhân nào dẫn đến việc một số người khi đã tiếp thu được kiến thức của nhân loại đã ở lại các đất nước đó để làm việc và sinh sống? + Đó là do chính sách ưu đãi nhân tài của các đất nước đó đã thu hút được nguồn nhân tài mà họ có được. + Điều kiện tại các đất nước này giúp cho những người có kiến thức uyên bác để phát huy, không chỉ vậy, những nhân tài này còn được ưu đãi những điều khác như: chốn ăn, chốn ở, vật chất,… c. Làm thế nào để khắc phục được tình trạng này? + Nhà nước ta cần phải có những chính sách thu hút nhân tài. + Tạo mọi điều kiện để họ được phát huy khả năng nghiên cứu của mình. III. KẾT BÀI – Nói chung, kiến thức nhân loại là vô bờ bến, ta cần phải luôn ý thức tự trau dồi, học hỏi thêm từ nhiều nguồn khác nhau. – Khi đã học hỏi được những điều hay, chúng ta hãy cống hiến hết mình để Tô quốc, quê hương của mình ngày càng giàu đẹp và phát triển. BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống, mỗi con người dù đang học tập ờ bất cứ nơi nào, hay dù có xa xôi như thể nào đi chăng nữa đều có một quê hương, một tố quốc để nhớ, để làm chỗ dựa tinh thần vững chắc. Vì vậy có câu nói cho rằng “Sự học không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc”. Vậy qua câu nói trên ta rút ra được những điều gì? Câu nói trên quả là một lời nhận định đúng đắn. “Sự học không có quê hương” là bởi vì kiến thức là vô bờ, không có giới hạn, chúng ta không thể nào học được hết tất cả kiến thức của nhân loại do vậy ta phải biết mở rộng việc học ra bên ngoài thế giới, “nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc” ý muốn nhấn mạnh những con người dù học rộng và xa xôi phải luôn nhớ về quê hương, đất nước để hướng về. Đó là nơi mọi người sinh ra và lớn lên, là nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người. Câu nói trên ý muốn nhắn nhủ con người dù đi xa vẫn phải nhớ về quê hương về tổ quốc vì đây là thước đo cho nhân cách của mỗi con người. Quả đúng như vậy, tổ quốc, quê hương là bệ phóng để con người vươn tới bầu trời của kiến thức, giúp cho con người bay lượn trên không gian rộng lớn đó; vì tổ quốc, quê hương đã có công nuôi dạy ta, là nơi chứa đựng mỗi con người, giúp ta lớn lên nên ta phải luôn nhớ về Tổ quốc; vì con người và đất nước là một phần không thể tách rời nhau được, đất nước quê hương đã có sẵn trong máu thịt của mỗi chúng ta. Để thể hiện tình yêu quê hương, không cần chúng ta phải đầu tư những dự án bạc tỷ vào quê hương, đất nước làm những điều lớn lao mà thật ra chỉ là những việc giản dị, đơn sơ. Yêu quê hương là luôn nhớ về quê hương, luôn hướng về nó cho dù có ở nơi xa xôi nào đi nữa. Tình yêu quê hương còn là việc nhớ về những truyền thống của dân tộc ta ở quê hương. Những người đi hải ngoại vẫn luôn nhớ về truyền thống của dân tộc ta đó là việc gói bánh chưng, bánh tét mỗi lần Tết cổ truyền đến. Cũng có rất nhiều người con đất Việt luôn hướng về đất nước. Tiêu biểu mới đây nhất là vụ việc Trung Quốc đặt giàn khoan ở vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, tất cả những người Việt Nam trên toàn thế giới đều hướng về biển đảo và phản đối Trung Quốc ở khắp mọi nơi. Điều đó đã cho thấy tình yêu đất nước sâu đậm của người dân Việt Nam. Tóm lại, câu nói trên dạy ta phải biết yêu thương và hướng về quê hương không được một phút nào quên. Và bản thân tôi cũng phải luôn yêu quê hương và chung tay góp phần xây dựng quê hương và đất nước ngày càng phát triển. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 62: Suy nghĩ của em về vai trò của quê hương đối với đời sống tâm hồn của mỗi người tại đây. Tags:Đề 61 · Văn chọn lọc 9
Đề 61 – Về nhận định “Sự học không có quê hương nhưng người có học vấn phải có Tổ quốc” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,230
Đề 63 – Bàn luận về mối quan hệ giữa học và hành – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Mối quan hệ giữa học và hành HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí (Học và Hành) – Giải thích hai khái niệm Học và Hành có nghĩa là gì? – Đưa ra các biểu hiện của hai khái niệm trên được thể hiện như thế nào trong cuộc sống? – Mối quan hệ giữa hai khái niệm Học và Hành? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi chúng ta học lí thuyết không thôi thì có tốt không? Hay nếu chúng ta chỉ thực hành không thôi mà không áp dụng lí thuyết thì có giải quyết được công việc hay không? – Cảm nghĩ của em về hai khái niệm trên? (là có ích hay không có ích) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Trong công việc học tập của một con người, thành công hay không là nhờ vào khả năng biết kết hợp giữa lí thuyết và thực hành. – Vậy thì theo em, mối quan hệ giữa học và hành là gì? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Học có ý nghĩa là gì? => Học có nghĩa là chúng ta tiếp thu kiến thức của nhân loại – Hành có ý nghĩa là gì? => Hành có nghĩa là chúng ta dựa trên phần lí thuyết để thực hiện bài học lí thuyết ấy ngày càng sống động để việc tiếp thu kiến thức của chúng ta được tốt hơn. + Nếu một người chỉ chăm chăm học lí thuyết vậy thì khi đụng tới thực tế của bài học thì ta khó mà thực hiện tốt được. Bởi vì ta chưa thực hành qua mà những kiến thức mà chúng ta tiếp thu chỉ đơn thuần là phần lí thuyết suông mà thôi. + Còn nếu một người chỉ lo thực hành, nhưng việc thực hành ấy không dựa trên một cơ sở lí thuyết nào thì chắc chắn việc thực hành ấy cũng không đạt được thành công tốt đẹp. + Vì vậy, để việc học tập đạt kết quả tối ưu, chúng ta cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí thuyết và thực hành. + Dẫn chứng: Trong học tập, khi học tập bộ môn Sinh, chúng ta không chỉ học lí thuyết đơn thuần về cấu tạo của một loài vật nào đó, mà chúng ta còn hay được thực hành mổ thí nghiệm trên con vật để tìm hiểu rõ hơn về loài vật đó. Hay trong bộ môn Hoá học, nếu như chúng ta chỉ biết lí thuyết đơn thuần các chất hoá học thông qua các kí hiệu thì chúng ta sẽ không hiểu rõ sự tuyệt vời của sự kết họp các chất hoá học với nhau nếu như chúng ta không thực hành thông qua các bài thí nghiệm,… III. KẾT BÀI – Nói tóm lại, học và hành có mối quan hệ với nhau hết sức chặt chẽ. – Riêng em, em sẽ luôn kết hợp cả hai cách học này để việc học tập của mình đạt được kết quả tốt hơn. Từ xưa đến nay, không một quốc gia nào thờ ơ với giáo dục. Nhiều thời đại rạng danh biết bao tên tuổi của các bậc kì tài. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là một trong số đó. Con người “Thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu” này đã dâng lên vua Quang Trung một bài tấu bày tỏ ý kiến nghị về việc chấn chỉnh sự học của quốc gia vì sự hưng thịnh của đất nước. Đoạn trích “Bàn luận về phép học” đã thể hiện rõ quan niệm cùa ông về mục đích của việc học và cách học. “Theo điều học mà làm”, ngày nay chúng ta gọi đó là học gắn với hành. Vậy học và hành có mối quan hệ như thế nào? Quả đủng như vậy, học thì luôn đi chung với hành. Vậy học là gì? Hành là gì? Tại sao học phải gắn liền với hành? Trước hết chúng ta cần biết, học là thu nhận kiến thức và kĩ năng mọi mặt từ trong sách vở và thực tiễn. Còn hành ở đây là thực hành, là áp dụng những tri thức đã học được vào công việc thuộc ngành nghề cụ thể. Học và hành là hai mặt của vấn đề học tập. Đó là học để biết và để làm. Mục đích chân chính của việc học là có đủ tài, đức để làm việc, khẳng định bản thân và cống hiến cho đất nước. Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO) xác định nhiệm vụ học tập trong thế kỉ XXI là “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”. Trong quan điểm trên, “Học để biết” gắn liền với “Học để làm”. Học để biết là nắm những công cụ dễ hiểu. Học để làm là có những khả năng hoạt động sáng tạo tác động vào môi trường sống của mình. Hai mặt này gắn bó với nhau, như chúng ta thường nói: “Học” đi đôi với “Hành”. Thời đại hiện nay, học càng phải gắn liền với hành, tức là học để đáp ứng yêu cầu của đời sống. Do đó, học không chỉ là chủ động tiếp nhận kiến thức, mà còn thành thạo về kĩ năng giải quyết những vấn đề khoa học và thực tiễn, đồng thời học để làm người hữu ích, chung sống với mọi người. Nói tóm lại, học phải gắn liền với hành. Học mà không hành thì sẽ không biết vận dụng nhũng kiến thức đã học của mình vào việc gì, còn hành mà không học sẽ không có những kiến thức để thực hành. Vì thế, học phải đi đôi với hành. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 64: Trình bày quan niệm của em về vấn đề thế nào là sống có ích tại đây. Tags:Đề 63 · Học và hành · Văn chọn lọc 9
Đề 63 – Bàn luận về mối quan hệ giữa học và hành – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,055
Đề 64 – Trình bày quan niệm của em về vấn đề thế nào là sống có ích – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Thế nào là sống có ích HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí (Sống có ích) – Giải thích khái niệm sống có ích có nghĩa là gì? – Đưa ra các biểu hiện của khái niệm trên được thể hiện như thế nào trong cuộc sống? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người sống mà không có mục đích, không có lí tưởng sống đúng đắn thì con người ấy có phải đang là gánh nặng của gia đình và xã hội không? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là có ích hay không có ích, là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, việc sống sao cho có ý nghĩa là một trong những mục tiêu của cuộc đời mỗi người. – Vậy theo em, thế nào là sống có ích? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Sống có ích có ý nghĩa là gì? => Nghĩa là bản thân ta sống sao cho có ý nghĩa, sống có mục tiêu, mục đích rõ ràng. b. Tại sao chúng ta phải sống có ích? + Bởi vì nó là biểu hiện của phẩm chất tốt đẹp mà chúng ta cần có. + Chúng ta sống có ích vì khi chúng ta sống có ích chúng ta có thể tìm được mục đích của mình và chịu trách nhiệm những gì do chính mình gây ra. c. Bàn luận, mở rộng vấn đề + Trong cuộc sống vẫn còn rất nhiều người sống không có mục đích, mục tiêu cuộc đời. + Những kẻ này chỉ biết sống dựa dẫm vào người khác. + Bản thân họ cũng không biết sống có ích cho cuộc đời là như thế nào. + Dẫn chứng: Tham gia các hoạt động tình nguyện, mùa hè xanh,… giúp đỡ cho những người còn nghèo khó trong cuộc sống. Thấy người gặp nạn thì phải giúp đỡ họ vượt qua cơn khốn khó,… III. KẾT BÀI – Nói tóm lại, sống có ích là lối sống tích cực, có ích cho bản thân và cho mọi người xung quanh. – Riêng em, em sẽ luôn trau dồi, rèn luyện cách sống sao cho có ý nghĩa và tốt đẹp hơn. BÀI VĂN 1 Từ ngàn xưa, ông cha ta đã có những lối sống nề nếp truyền dạy cho con cháu ta đến ngày nay. Để có được một lối sống có ích con người chúng ta phải rèn luyện qua bao nhiêu năm tháng. Chúng ta đã phải trải qua rất nhiều thử thách trong cuộc sống mới có thể tìm ra một lối sống có ích hoàn thiện. Vậy sống có ích là sống như thế nào? Quả đúng như vậy, để tìm ra một lối sống có ích hoàn thiện ông cha ta đã vượt qua rất nhiều thử thách mới có thể truyền dạy cho con cháu đời sau sống có ích là lối sống tích cực luôn làm những điều đúng đắn, phải biết kỷ luật mình không cho phép mình vượt qua giới hạn của nhà trường, vừa cố gắng làm đẹp cho bản thân nhưng cũng đồng thời phải phù hợp với đa số những người sống xung quanh, được nhiều người thừa nhận, sống có ích phải được thể hiện cụ thể thông qua những hoạt động vật chất và tinh thần có ích cho bản thân gia đình và xã hội. Khi sống có ích chúng ta có thể sống thanh thản hơn không phải nghĩa đến những việc không tốt. Thật vậy, chúng ta có thể tạo cho mình một cuộc sống có ích nhưng thực sự có ích hay không là do mỗi con người tự chọn. Tại sao chúng ta phải sống có ích? Chúng ta sống có ích vì khi chúng ta sống có ích chúng ta có thể tìm được mục đích của mình và chịu trách nhiệm những gì do chính mình gây ra. Con người chúng ta có hai loại được ví như hai loài động vật đó chính là cừu và đại bàng. Cừu là con vật đại diện cho những người hèn nhát hay đỗ lỗi, than phiền và theo đuôi những người khác. Hiện nay họ không chịu bỏ công sức của mình ra làm việc mà thích đua đòi nếu không được như ý muốn thì họ than phiền trách mắng ba mẹ mình. Thứ hai là đại bàng một loài chim sống rất có trách nhiệm và chịu hoàn toàn trách nhiệm của chính mình và sống có mục đích, nó thể hiện những người con người ít ỏi còn sót lại trong xã hội ngày nay, những con người này biết đặt ra mục tiêu của chính mình. Họ nỗ lực phấn đấu để vươn lên tạo dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp và có ích. Trong cuộc sống, không phải điều gì cũng dễ dàng vượt qua nhưng nhờ có quyết tâm họ có thể làm được và cuộc sống này chính là do họ góp phần lớn tạo dựng nên. Tuy nhiên, không phải điều gì cũng hoàn hảo. Chúng ta có những con đại bàng để dựa dẫm nhưng còn có những con cừu, những con cừu này làm cho xã hội không thể phát triển và làm phiền lòng những người đã sinh ra mình. Nhưng họ vẫn có thể biến thành đại bàng và tung cánh trên bầu trời tự do nhờ chính bản thân họ, họ có thể sửa đổi mình vì mỗi con người đều có quyền lựa chọn, lựa chọn bản thân mình sẽ trở thành như thế nào. Còn đối với những con người không sửa đổi mà chỉ mơ mộng thì cả đời họ vẫn sẽ không thành công. Nói tóm lại, sống có ích là lối sống tích cực, sống có mục tiêu cho chính mình để mình có thể tự nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu của mình đặt ra, không vì chùn bước mà bỏ cuộc. Riêng tôi, mười bốn năm qua tôi chính là một con cừu làm phiền lòng ba mẹ đua đòi theo những người không tốt, than phiền vì không vừa ý mình nhưng tôi đã thay đổi, thay đổi về mọi mặt biết quan tâm ba mẹ mình và quý trọng những thứ mình đang có. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Trong cuộc sống hiện nay những khó khăn, thử thách luôn xuất hiện để cản trở chúng ta đến bước đường thành công. Ta thường tự hỏi, những lúc như vậy chúng ta cần làm những điều gì để có thể vượt qua chông gai của cuộc đời. Chẳng khác hơn, đó chính là chúng ta cần phải sống có ích từng ngày, từng giờ, từng phút. Vậy sống có ích mang những ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống của chúng ta? Quả đúng như vậy, sống có ích là sống sao cho có ý nghĩa, có mục tiêu, mục đích rõ ràng. Vậy làm cách nào để sống có ích? Muốn sống có ích chúng ta phải tiến hành hoạt động có ích cho bản thân và cho xã hội; phải quan tâm, chia sẻ với cộng đồng nhiều hơn. Ta có thể tham gia đóng góp cứu trợ người dân bị lũ lụt, đóng góp xây dựng trại trẻ mồ côi, đóng góp xây dựng viện dưỡng lão,… Những hành động ấy tuy nhỏ bé nhưng giàu ý nghĩa nhân văn cao đẹp. “Sống có ích” không phải là điều dễ dàng nhưng cũng không thực sự là khó khăn. Mấu chốt của việc sống có ích chính là từ ý thức của bản thân môi người. Ắt hẳn sẽ có nhiều người băn khoăn về lối sống có ích, sống có ích chính là lối sống phù hợp với thời đại, làm đẹp cho cuộc sống bản thân, sống hoà hợp với mọi người xung quanh, được nhiều người thừa nhận, sống có ích phải có những hành động, việc làm, những tình cảm tốt đẹp đem lại hiệu quả thiết thực cho cá nhân cũng như cho cộng đồng. Cuộc sống không phải lúc nào cũng là màu hồng thắm tươi, đôi khi sẽ có những giọt nước mắt, những đổ vỡ, những cuộc chia ly, những nỗi đau, vết thương không bao giờ lành được. Đến khi đó, chúng ta hãy cố gắng sống có ích mỗi ngày để tìm được giá trị thực sự của cuộc sống chứ đừng nên bỏ cuộc. Cuộc sống tuy có nhiều khó khăn nhưng nếu ta có ý chí thì có thể biến màu tăm tối trong cuộc sống thành màu hồng tươi thắm, sống có ích có một sức mạnh mãnh liệt giúp tâm hồn ta thanh thản sau những lần vấp ngã, khó khăn và thử thách mà ta phải trải qua. Sống có ích đến từ những hành động thiết thực nhất: sống thật với bản thân, biết cách đối nhân xử thế với mọi người, giúp đỡ những người đang gặp hoạn nạn, lắng nghe và chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh… Sẽ không khó nếu chúng ta dẹp qua cái tôi và lắng nghe tiếng nói từ bên trong mình. Nói tóm lại, sống có ích là lối sống tích cực và là lối sống rất cần thiết với mỗi người chúng ta. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 65: Suy nghĩ của em về hai câu thơ của Tố Hữu tại đây. Tags:Đề 64 · Thế nào là sống có ích
Đề 64 – Trình bày quan niệm của em về vấn đề thế nào là sống có ích – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,652
Đề 65: Suy nghĩ về hai câu thơ của Tố Hữu:” Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn?…”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn ——————–~*~————————- ĐỀ 65: Suy nghĩ của em về hai câu thơ của Tố Hữu: “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình ” HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí (sống đẹp) – Giải thích khái niệm Sống đẹp có nghĩa là gì? – Đưa ra các biểu hiện của khái niệm trên được thể hiện như thế nào trong cuộc sống? – Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người sống mà không có mục đích, không có lí tưởng sống đúng đắn, chỉ thích phá hoại cuộc đời, trả thù cuộc sống thì con người ấy có phải đang là gánh nặng của gia đình và xã hội không? Và bản thân người đó có phải đã tự đánh mất chính mình hay không? – Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là có ích hay không có ích, là tốt hay không tốt) – Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT (Tham khảo đề “Sống có ích”) BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Trong cuộc sống, dù là trẻ hay già thì ai cũng có quan niệm sống của riêng mình. Đối với nhà thơ Tố Hữu thi quan niệm sống của ông được thể hiện rõ trong các câu thơ sau, được trích trong bài thơ “Một khúc ca xuân”. “Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn? Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình ” Chúng ta có suy nghĩ như thế nào về quan niệm sống của nhà thơ Tố Hữu chứa đựng trong các câu thơ trên? Vậy thế nào là sống đẹp? Sống đẹp là sống với những đức tính tốt đẹp, những nhân đức mà mỗi con người cần có. Ở nhà thơ Tố Hữu, cách sống đẹp của ông là “sống là cho”. Cuộc đời phải có vay, có trả “sống là cho” là cống hiến, dâng tặng những gì tốt đẹp nhất của mình cho gia đình, cho quê hương, đất nước, chứ đâu cả đời chỉ biết có nhận, chỉ biết có hưởng những điều tốt đẹp cho riêng mình. Vì vậy, quan niệm “sống là cho” của nhà thơ trong các câu thơ trên là vô cùng đúng đắn, đẹp đẽ. Bởi mỗi con người được sinh ra là thành quả hoàn hảo nhất của cha mẹ, của ông bà, tổ tiên. Nếu như không có những người đi trước thì làm sao ta có mặt trên cõi đời này? Công lao nuôi dưỡng, giáo dục tận tụy của ông bà, cha mẹ, thầy cô và biết bao người xung quanh là vô cùng lớn lao, nhờ công lao ấy mà ta được nên người, trở thành những người công dân tốt. Hơn nữa, được sống trong một đất nước độc lập, tự do, hòa bình như hôm nay là nhờ công ơn của các bậc cha anh đi trước, các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh bao nhiêu máu xương để bảo vệ và xây dựng đất nước. Vì thế, việc vay trả là vô cùng tất yếu bởi mỗi người chúng ta đã vay quá nhiều của đất nước, xã hội. Triết lí “sống là cho” của Tố Hữu cũng chính là lối sống của ông cha ta từ xưa, như Nguyễn Công Trứ đã nói trong bài thơ “Chí anh hùng”. Nợ tang bồng vay trả trả vay ” Qua đó, ta thấy được rằng sống là vay, là trả. Đó là nhiệm vụ của mỗi chúng ta và cũng là lẽ công bằng, hợp lý. Là học sinh, khi còn nhỏ, việc sống là vay, là trả, là cống hiến được thể hiện ở tinh thần chăm chỉ, cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức, giúp đỡ ông bà, cha mẹ những công việc nhà vừa sức. Đến khi lớn lên, ta phải luôn phấn đấu, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian nan, vượt lên chính mình để cống hiến cho đất nước, cho xã hội. Trong thực tế cuộc sống cũng như trong văn học có nhiều tấm gương đáng khâm phục, điển hình như anh thanh niên, cô kĩ sư trẻ trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” đã sẵn sàng từ bỏ cuộc sống tiện nghi, đầy đủ ở thành phố để hưởng ứng phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”, lên công tác ở nơi xa xôi, khó khăn nhất của tổ quốc. Có một quan niệm sống đúng đắn như tác giả sẽ làm cho cuộc sống của ta được nên tốt đẹp và tràn đầy ý nghĩa. Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống vẫn có không ít những kẻ ích kỷ, lười biếng, những kẻ cơ hội, luôn dựa dẫm vào người khác, là “con sâu làm rầu nồi canh”, là những ung nhọt mà xã hội đã và đang lên án. Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì thế mỗi người phải tự xác định cho mình thái độ sống đúng đắn. sống phải biết cống hiến, đóng góp cho đất nước và cần biết rằng cống hiến là niềm hạnh phúc của mỗi con người. Quan niệm “sống là cho” của nhà thơ Tố Hữu trong các câu thơ trên là rất đúng đắn và chúng ta cần noi theo. Là học sinh, tôi sẽ luôn biết sống đẹp, sống cống hiến cho gia đình, cho đất nước, cho xã hội qua việc cần cù học tập và giúp đỡ mọi người xung quanh. BÀI VĂN 2 Quan niệm “sống đẹp” đối với mỗi người chúng ta rất quan trọng. Do đó, xã hội chúng ta ngày nay luôn đề cao lối sống đẹp. Vậy “sống đẹp” là lối sống như thế nào? Chúng ta có thể hiểu “sống đẹp” là sống có mục đích, có lí tưởng, có quan niệm sống đúng đắn, đem lại sự thoải mái, niềm vui cho con người. Người nào biết sống đẹp là người biết quan tâm, chia sẻ với người khác. Ngược lại đó là con người xấu. Do đó, đây là bài học vô cùng quý giá. Nếu mỗi cá nhân chúng ta biết cách sống đẹp thì sẽ hình thành được nhân cách con người tốt hơn, nhận được sự thành công trong cuộc sống. Không những thế, nó còn giúp con người phát triển trí tuệ, hoàn thiện bản thân, giúp con người tự tin, lạc quan hơn. Chúng ta cũng có thể thấy trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Từ những anh chiến sĩ, bộ đội cho tới các thi sĩ, nhạc sĩ và các vị lãnh tụ đều mang trên mình một quan niệm sống đẹp. Bác Hồ cũng là một trong những người như thế. Bác đã phải lặn lội tới các nước phương Tây để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Các anh hùng trẻ tuổi như Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Lý Tự Trọng… đã hi sinh tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Ngày nay, chúng ta cũng có thể thấy những anh lính cứu hỏa sẵn sàng xông vào vùng lửa ác liệt để cứu lấy tính mạng con người. Đó chính là nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc, đất nước yên bình. Nhưng bên cạnh đó lại có những người luôn “sống tệ”. Họ không học hành nghiêm túc, kết bè kết phái, đạo đức tác phong không tốt, để rồi sa vào những tệ nạn xã hội như rượu chè, ma túy, hút chích,… Họ là những con người thật đáng phê phán, là gánh nặng của xã hội. Tóm lại, người sống đẹp luôn được mọi người yêu quý, trân trọng. Là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, tôi luôn hứa sẽ cố gắng học hành thật chăm chỉ để rồi mai sau có thể giúp các anh chiến sĩ thực hiện ước mơ của mình. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 3 Sống ở trên đời, mỗi người chúng ta phải sống sao cho sự hiện diện của mình không là sự vô nghĩa. Vì lẽ đó, chúng ta cần phải sống đẹp. Thế thì, tại sao chúng ta lại cần phải sống đẹp? Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn những người sống thiếu trách nhiệm, dễ dàng từ bỏ và sống ích kỷ, nhỏ nhen lúc nào cũng muốn chuộc lợi cho bản thân. Điều đó thật đáng phê phán biết nhường nào. Ngoài sống đẹp cho người khác trước hết chúng ta cũng cần biết sống đẹp cho bản thân từ đó mới có thể sống tốt, sống có ích được. Nói tóm lại, ai cũng phải tự trang bị cho mình lối sống đẹp để có một tương lai tốt đẹp hơn, được mọi người quý mến và tôn trọng. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 66: Suy nghĩ của em về nạn ùn tắc giao thông hiện nay tại đây. Tags:Đề 65 · Sống đẹp · Tố Hữu
Đề 65_ Suy nghĩ về hai câu thơ của Tố Hữu _” Ôi! Sống đẹp là thế nào hỡi bạn_…”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,564
Đề 66: Suy nghĩ của em về nạn ùn tắc giao thông hiện nay – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Nạn ùn tắc giao thông hiện nay HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: hiện tượng đời sống xã hội (nạn ùn tắc giao thông) – Giải thích hiện tượng ùn tắc giao thông hiện nay? – Đưa ra các nguyên nhân dẫn đến nạn ùn tắc giao thông hiện nay (luật không nghiêm, còn mang nặng tình cảm, người dân chưa có ý thức trong việc điều khiển phương tiện giao thông…)? – Đưa ra các biện pháp khắc phục, cải thiện hiện tượng đáng báo động trên (phạt thật nặng, thay đổi luật cho phù hợp với xã hội hiện tại, tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân…)? – Cảm nghĩ của em về hiện tượng trên? (là tốt hay không tốt) – Bàn thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Xã hội đang ngày càng phát triển, và nhu cầu đi lại của mọi người cũng phát triển theo, vấn đề ùn tắc giao thông đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay. – Vậy hiện tượng ùn tắc giao thông có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống cùa chúng ta? II. THÂN BÀI a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?) – Giao thông có nghĩa là gì? => Giao thông là những con đường, những ngã tư, cột đèn giao thông… và người tham gia giao thông. – Hiện tượng ùn tắc giao thông là hiện tượng như thế nào? => Đó là hiện tượng kẹt xe hàng giờ liền do các xe không tuân thủ luật giao thông dẫn đến biết bao phiền toái cho người dân nhất là về mặt thời gian. b. Đưa ra các biểu hiện: – Vào giờ cao điểm, ta sẽ thấy hàng ngàn chiếc xe và các phương tiện khác. Do không còn đủ chỗ để đi, họ lấn chiếm lên vỉa hè. – Những chiếc xe phóng nhanh vượt ẩu muốn vượt lên cho nhanh vì mục đích cá nhân nhưng điều đó vô tình đã khiến cho tình trạng ùn tắc càng thêm rối loạn mặc dù đã có các anh cảnh sát giao thông đứng chỉ đường, điều khiển phương tiện. – Xe đi ngang, đi dọc, xe đi xuôi, đi ngược dường như đan vào nhau như một cái nêm khó mà có lối thoát. c. Đưa ra các nguyên nhân: – Do người dân đổ ra đường quá nhiều dẫn đến ùn tắc. – Các đèn giao thông ở các ngã tư, ngã năm đã hư lâu ngày mà không ai sửa chữa. – Do đường phố vừa hẹp vừa ngắn, lượng xe đủ kiểu quá nhiều cùng một lúc lưu thông trên đường phố. – Ý thức chấp hành luật lệ giao thông quá kém, bất chấp đường hẹp, bất chấp luật lệ về dừng xe, đỗ xe, về bốc xếp hàng hóa, chỗ nào cũng có thể thành ga ra, thành bến bãi, thành kho hàng. – Cảnh sát giao thông quá mỏng. – Luật pháp không nghiêm. – Vỉa hè đã biến mất ở nhiều phố, không còn một chỗ len chân. – Trình độ văn hóa người dân còn thấp. – Nguyên nhân sâu xa là do người dân nông thôn đổ ra thành thị quá đông để sinh sống, kiếm việc làm cũng gây nhiều phiền toái. d. Tác hại của vấn nạn ùn tắc giao thông – Gây ô nhiễm, phá hủy môi trường. – Bị đinh tai nhức óc bời tiếng còi xe, hai lá phổi của con người cũng đang dần bị nhiễm bệnh. – Dễ gây ra tai nạn giao thông. e. Biện pháp khắc phục – Người dân cần nâng cao ý thức tự giác chấp hành mọi quy định, luật an toàn giao thông. – Cần sửa chữa các cột đèn giao thông và phải kiểm tra thường xuyên. – Cần có sự quan tâm nhiều hơn đến các công trình thi công còn đang dang dở trên đường phố. – Phạt thật nghiêm khắc những trường hợp vi phạm luật giao thông. III. KẾT BÀI – Ùn tắc giao thông có thể giải quyết tốt được nếu như những nguyên nhân trên được khắc phục một cách triệt để. – Tất cả chúng ta hãy cùng chung tay xóa đi vấn nạn nhức nhối này bằng cách luôn luôn ý thức tự giác thực hiện đúng luật an toàn giao thông. Ùn tắc giao thông hình như đã thành căn bệnh mạn tính của nhiều thành phố lớn, trong đó Hà Nội hầu như ít ngày không gặp tai nạn ấy. Tại sao vậy? Có nhiều nguyên nhân lắm. Trước hết, ùn tắc giao thông sẽ làm mất rất nhiều thì giờ của mọi người, mà lẽ ra thì giờ phải được coi là quý giá, chỉ mất một phút, một giờ thôi cũng sẽ là thiệt hại về vật chất. Mà nghĩ cho cùng, một trong những nguyên nhân ùn tắc giao thông, thủ phạm gây ra nó, lại chính là người quý thì giờ, nhưng là quý cho riêng mình mà không cần nghĩ đến người khác. Người lái xe cố luồn lách, cố nhoai lên, không chịu nhường ai, để mong đi sớm một vài phút, thế là nghẽn lại, hoặc đã ùn tắc rồi nhưng không chịu lùi lại vì nếu lùi sẽ chạm vào lòng tự ái, coi như mình bị thua, nên cứ chạy vượt lên, bất chấp tất cả. Chúng ta đều biết đường phố Hà Nội hiện nay có rất nhiều điều chưa hợp lý cho một thành phố công nghiệp có nếp sống hiện đại, tốc độ. Nguyên nó chỉ là một đô thị nhỏ, đường đã hẹp lại ngắn, rất nhiều ngã ba, ngã tư cắt nhau, nhiều đường phố chỉ một hai cái ô tô tránh nhau đã khó khăn, vậy mà không ít trường hợp xe tải, xe khách đỗ lại hàng giờ, hàng buổi để bốc dỡ hàng hóa từ tỉnh khác về, có cả loại xe kềnh càng mười bánh như một căn nhà tầng di động. Họ đỗ bất chấp bên số chẵn hay số lẻ, bất chấp đầu xe xuôi hay ngược. Và lúc ấy, một cái xe con khác, chờ một ông “quan” nào đó, cũng cần đỗ lại ở đoạn ấy, xe đỗ lại phía bên kia đường. Thế là cảnh hai xe nghênh ngang hai bên đường, ở giữa lòng đường chỉ còn hẹp bé tí tẹo, một cái xích lô, thêm mấy chị hàng rau, trờ vai, đưa ngang quang gánh ra đường, ùn tắc là dĩ nhiên không tránh khỏi. Phố Hàng Buồm, phố Nguyễn Xí, phố Đinh Lễ, phố Đinh Liệt và nhiều phố khác đã luôn có cảnh đông vui như lễ hội ấy xảy ra. Không kể còn thêm ít xe đạp, người đi bộ, một vài chị phe tiền, xe bán hàng rong, đồ nhựa hoặc thuốc tây, cứ chen ào tới… cái phố yên tĩnh ấy bỗng nổ ra những cuộc tranh luận bất phân thắng bại, có người phải quay ngược đầu xe, tránh sang lối khác. Người đi bộ, có việc vội thì tự tìm lấy lối mà đi, tự khai phá lấy con đường riêng, lách qua mấy hàng nước vỉa hè, mấy chõng phở hay cái tủ kính của ông bán kính, chị bán thuốc nhuộm móng chân móng tay… mà thoát ra khỏi cảnh chen lấn, không biết hàng giờ nữa có thông thoáng được không? Phố Nguyễn Khuyến chật chội, đường ổ gà, nhà cửa cũng lộn xộn, gặp lúc xe hỏa dồn toa, chắn một đầu đường, thế là hàng trăm xe nghìn người bắt buộc phải đứng lại giải lao, khinh thường nắng, mặc kệ mưa gió. Cứ đứng đấy, hãy đợi đấy. Và xe ô tô, không ai chịu nhường ai. Trở lại chuyện ùn tắc ở đầu phố Nguyễn Khuyến, giáp với đường Lê Duẩn, Cửa Nam, ít lâu nay có chắn đường, phân luồng, gọi là phần mềm, có đỡ đi được một phần, nhưng ùn tắc vẫn còn là cái nạn, mà nhiều người phải tự nhắc mình: Khôn hồn thì đừng có đi vào ngã tư ấy, con đường ấy vào những giờ cao điểm, mất hàng giờ đồng hồ như chơi. Và cũng chẳng biết kêu với ai, họa chăng là về nhà bị vợ mắng là đi đâu mà lâu thế. Ngã tư Khâm Thiên, Nguyễn Thượng Hiền còn gây ấn tượng mạnh hơn. Cũng có giải phân cách mêm, nhưng có lúc nó cũng vô hiệu như cái “thiên kiều” là cái cầu vượt bắc lên trời, biến thành nhà vệ sinh công cộng không ai quét dọn, còn dưới đường thì cứ là chen vai thích cánh mà chờ giải tỏa mấy cái đầu xe ô tô hôn nhau, không anh tài nào chịu anh tài nào. Có anh còn khuỳnh tay ra ngoài, hút thuốc lá phì phèo một cách bất cần đời, mặc chuyện thiên hạ muốn ra sao thì ra. Những lúc ùn tắc như thế, không còn ai phân biệt bên nào là bên phải, đâu là bên trái, luồng đường nào là cùa xe cơ giới chỗ nào là xe thô sơ và người đi bộ thì đi đứng ở chỗ nào. Nó thực sự là một cuộc quân hồi vô phèng, đúng theo khấu hiệu “đường ta, ta cứ chen…” Đã có năm lễ hội giỗ trận Quang Trung, người tắc từ giữa phố Nguyễn Thượng Hiền, đến hết ngã ba ngõ chợ Khâm Thiêm, đứng như lèn cá hộp trong xe buýt. Rồi qua giờ khai mạc lễ hội, có nhiều người bê cái xe đạp lên đầu mà lách đi, trông như cái xe đạp trôi nổi trên làn sóng đầu người, như nó tự bơi, hoặc nó từ từ bay một cách tự động mà động cơ lắp ở đâu thì có trời mà biết. Ngã tư Trung Hiền, chỗ Đại La – Trương Định – Minh Khai, ngã tư đã được mở rộng, nhà đã được cắt xen, nhưng là trục đường cho ô tô, nó là con đường vành đai, là một đoạn xuôi về phía Nam, nên lượng xe cộ ở ngã tư này có thể sắp thành kỉ lục, và ùn tắc thành bệnh kinh niên. Những ô tô tải, những quang gánh rau quả, những xe công nông, và nhiều thử khác khó thống kê được, sáng sáng, chiều chiều phải đi qua đây để vào thành phố hoặc ra liên tỉnh… Quãng giữa phố Khâm Thiên, một dạo người ta đào đường, đặt công trình gì đó, và cả lúc không đào đường, nước thải, nước mưa, ổ voi, vỉa hè long lở, thế là ngã ba với ngõ Văn Chương thành ngã ba quái ác. Mấy tấm sắt vừa dầy, vừa to đặt tạm trên đường để che những cái hố như cửa vào một đường hầm dẫn sang thế giới bên kia, sắt cong vênh lên, mà đường vẫn chưa được giải tỏa, và không phải giờ cao điểm, nó vẫn cứ diễn ra, chỉ cần một cái xe tải quá khổ, quá tải, quay đầu, rẽ vào hay rẽ ra mà chết máy… Thế là… vở kịch không thể vui cười kia được diễn ra không cần sân khấu, mà toàn mặt người nhăn nhỏ. Trên kia đã nhắc đến nguyên nhân. Vậy nguyên nhân là gì? Trước hết là đường Hà Nội vừa hẹp, vừa ngắn, xe cộ từ ô tô các loại đến xe bình bịch đủ kiểu (mà theo như quảng cáo, các loại xe này còn đang được khuyến khích tiêu dùng, để góp phần vào việc quá tải hơn nữa, nào là trả góp, chỉ cần mấy trăm đô, nào là xe thiên thần, có xe là có tất cả,…) vì vậy mà đường phố không chịu đựng nổi lượng xe nhiều quá mức như hiện nay. Nguyên nhân nữa là ý thức chấp hành luật lệ giao thông quá kém, bất chấp đường hẹp, bất chấp luật lệ về dừng xe, đỗ xe, về bốc xếp hàng hóa, chỗ nào cũng có thể thành ga ra, thành bến bãi, thành kho hàng. Và khi đã đỗ rồi thì xe không còn muốn nổ máy nữa, mặc ai nổi còi, xin đường, mặc ai đứng chửi, cái xe nó vốn không có tai mà. Hai xe châu đầu vào nhau, nhưng người ta quen hiếu thắng, không ai chịu nhường ai, ai cũng thấy chỉ có mình là nhất trên trần gian này, người khác phải lùi để nhường mình chứ mình không việc gì phải lùi để nhường người khác. Nguyên nhân thứ tư là luật pháp không nghiêm như vừa nói. Nếu một xe đỗ sai luật, một xe cố lách lên làm đường tắc, anh cảnh sát có biện pháp cứng rắn, từ phạt nặng đến tịch thu bằng lái, bắt giam xe máy, cảnh cáo… thì hẳn những kẻ cú nhảy kia phải nhớ mà chờn. Nguyên nhân thứ năm là vỉa hè đã biến mất ở nhiều phố, không còn một chỗ len chân. Có nơi để bán hàng, có nơi làm ga ra rửa xe máy, nơi khác lại biến vỉa hè thành bếp riêng, có phuy nước, bếp thang, rổ rá, thùng chậu và khói đun mù mịt như căn bếp riêng…từ nguyên nhân ấy còn có nguyên nhân thứ sáu là trình độ văn hóa người dân còn thấp, thói quen tản mạn lề mề, coi đường phố nhừ cái ngõ làng cái bờ ruộng, cứ nghênh ngang mà đi, cứ lừ đừ mà bước, kể cả quang gánh, xe thồ, xe đẩy chở hàng, chờ trẻ em, và rõ nhất là nghênh ngang tản bộ, coi như xe phải tránh mình vì mình có tự do cá nhân, chứ mình không việc gì phải tránh xe cho phí công, cho mất đi tinh thần độc lập cửa người công dân… Có thể còn nhiều nguyên nhân khác nữa chăng? Con bệnh đã ở thời kỳ nguy kịch. Bắt mạch cũng đã tìm ra căn bệnh. Nhưng thuốc thang thế nào đây? Ai là vị thầy thuốc cao tay, dám cho liều thuốc công phạt mạnh, hay dám cầm dao làm cuộc giải phẫu đau, nguy hiểm nhưng sẽ khỏi? Trước hết có lẽ là vấn đề luật pháp, là sự có mặt của người thi hành công vụ về giao thông, và cũng không xem nhẹ các vấn đề khác như quy định giờ nào xe nào đi vào đâu là được phép, là bị cấm, cách đỗ xe chỉ một bên đường, theo ngày chẵn lẻ, chứ không cùng một lúc có xe đỗ cả hai bên, tăng cường những biên báo, những lời nhắc nhở một cách cứng rắn…như ai đi vào đường một chiều, đường cấm, vượt đèn đỏ, thì không thể phạt ở mức thông thường, mà coi như vi phạm pháp luật, tạm giam, phạt tiền gần ngang với giá trị cái xe… Nạn ùn tắc giao thông không thể là bệnh không chữa được. Quan trọng là người cầm luật có dám và có muốn ra tay hay không? Đưa ra nếp giao thông thành phò vào trật tự kỉ cương hay cứ nhu nhơ, biến thành phố thành làng quê, để khi tai nạn chết người xảy ra mới đổ lỗi cho khách quan… Những dải phân cách mềm là rất có ích. Nhưng một số đường mới phân chia thành đường một chiều, có chỗ thật tốt, nhưng cũng có chỗ chưa hợp lí lắm (như cửa ga Hàng cỏ chẳng hạn…) sẽ gây thêm ra nạn ùn tắc ở chỗ khác. Thành phố còn đang mở rộng, xe cộ còn đang phát triển. Giao thông công cộng như xe buýt, tắc-xi còn xa vời…Điều khiển giao thông ở một thành phố cổ cho lưu lượng xe cộ thời mới, thật không dễ dàng, nhưng có lẽ không vì khó mà bó tay không làm. Càng khó lại càng cần làm hơn mới phải, chứ không tự bằng lòng, rồi cho qua để cái sảy sẽ nảy cái ung được, vấn đề đã thấy rõ là như thế. (Theo Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, 2013) >> Xem thêm Đề 67: Cảm nhận về hình ảnh “sóng” trong hai khổ thơ bài “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến tại đây. Tags:Đề 66 · Nạn ùn tắc giao thông hiện nay · Văn chọn lọc 9
Đề 66_ Suy nghĩ của em về nạn ùn tắc giao thông hiện nay – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
2,766
Đề 67: Cảm nhận về hình ảnh “sóng” trong hai khổ thơ bài “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Hình ảnh sóng trong Tổ quốc nhìn từ biển ĐỀ 67: ... Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển, Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng. Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa. Trong hôn người có ngọn sóng nào không? Nên Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo, Lạc Long cha nay chưa thấy về. Lời cha dặn phải giữ tìm tấc đất. Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi. (Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến) Cảm nhận của em về hình ảnh “sóng” trong khổ thơ trên. BÀI LÀM THAM KHẢO Từ bao đời nay, yêu nước đã trở thành một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Trải qua bao thế hệ, bao nhiêu cuộc đấu tranh anh dũng là biết bao nhiêu con người đã ngã xuống vì công cuộc giải phóng dân tộc, để mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc như bây giờ. Nhưng liệu truyền thống ấy có còn nguyên vẹn hay đã mai một theo thời gian? Liệu con người ta có còn nhớ đến những hy sinh, gian truân mà ông cha ta đã phải trải qua để mang lại cuộc sống đầy đủ, ấm no như bây giờ? “…Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa Trong hồn người có ngọn sóng nào không? ” (Nguyễn Việt Chiến – Tổ quốc nhìn từ biển ) Vâng. “Liệu trong hồn người có ngọn sóng nào không?”. “Sóng” ở đây không phải là những con sóng bình thường, không đơn thuần chỉ là những gợn nước xô vào bờ. Nếu như “sóng” ở câu thơ thứ ba nghĩa là những thách thức, những áp lực về việc giữ vững nền hòa bình dân tộc khi tình hình chiến sự đang căng thẳng thỉ “sóng” ở câu thơ thứ tư chính là những suy nghĩ bất bình, là tinh thần bất khuất, là những hành động thiết thực và ý nghĩa để đánh tan cơn sóng trên tinh thần yêu nước. Nhưng liệu tinh thần yêu nước của dân tộc ta nói chung và của từng cá nhân nói riêng có còn mãnh liệt như “sóng” kia? Có người nghĩ rằng: “Hòa bình rồi, độc lập rồi thì cần yêu nước để làm gì nữa?” Đúng. Nước ta đã giành được chủ quyền qua nghìn năm đô hộ nhưng đâu thể để tinh thần ấy bị mai một.Yêu nước đâu phải chỉ để giải phóng dân tộc! Yêu nước đâu phải để đánh thắng quân thù! Và yêu nước đâu thể chỉ nói suông bằng lời! Yêu nước là cơ sở để xã hội phát triển như tia sáng dẫn lối ta thoát khỏi hang động tăm tối. “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt ” Việt Nam ta đẹp vô cùng! Việt Nam ta giàu thắng cảnh, Việt Nam ta giàu khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên và ta còn giàu hơn cả ở đời sống tinh thần, ở những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ở những trang sử vẻ vang mang dấu ấn của những chiến tích hào hùng. Vậy từ đâu mà ta lại giàu hơn về mặt tinh thần? Chẳng phải phân lớn là nhờ vào “sóng” trong hồn của mỗi con người hay sao? Chẳng phải chính nó đã đóng những dấu son chói lọi vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của dân tộc hay sao? Phải chăng những chiến tích hào hùng của dân tộc đều chỉ là lý thuyết? Tại sao chúng ta không thể nhìn thấy được cơ sở chính của những bài học lịch sử “vô vị” ấy? Tại sao chúng ta lại không nhìn thấy tinh thần yêu nước vượt thời gian, vượt qua bao gian lao thử thách nhưng vẫn trọn vẹn, chẳng những không mất đi mà còn được phát huy và nhân rộng? Xã hội được phát triển không chỉ dựa vào con người. Đất nước thanh bình không thể dựa vào một cá nhân. Có ai lại không muốn sống trong hòa bình? Có ai lại muốn chiến tranh hay xung đột vũ trang? Chẳng ai muốn điều ấy cả. Ấy thế mà “đại cường quốc” Trung Quốc kia lại muốn thế kia chứ. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có vùng lãnh thổ riêng của minh. Ấy vậy mà Trung Quốc cứ một mực giành Hoàng Sa với ta. Ấy vậy mà cứ muốn xâm chiếm lãnh thổ ta như ông đưa “hắn” đã đặt ách đô hộ lên Việt Nam ta cả nghìn năm, dàn khoan Hải Dương vào địa phận nước ta để “mặt dày” lấy dầu mà không biết “ngượng” là gì. Như thế là đã quá lắm rồi! Vậy mà ngư dân Trung Quốc còn lên mặt phá tàu bè của ta, bắt ngư dân ta thật quá đáng! Trước tình hình căng thẳng nói trên, nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp để giành lại chủ quyền biển đảo trong khi Trung Quốc vẫn đưa dân ra quần đảo Hoàng Sa và dần lấn chiếm địa phận lãnh thổ của nước ta. “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo, Lạc Long cha nay chưa thấy về. Lời cha dặn phải giữ từng tấc đất. Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi. “ (Tổ quốc nhìn từ biển) (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 68: Viết một bài văn trình bày những suy nghĩ của em về ý nghĩa của bản Quốc ca của cố nhạc sĩ Văn Cao. Cảm xúc của em như thế nào khi tham dự những buổi chào cờ đầu tuần trong trường? tại đây. Tags:Nguyễn Việt Chiến · Tổ quốc nhìn từ biển · Văn chọn lọc 9
Đề 67_ Cảm nhận về hình ảnh “sóng” trong hai khổ thơ bài “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
990
Đề 68: Viết một bài văn trình bày những suy nghĩ của em về ý nghĩa của bản Quốc ca của cố nhạc sĩ Văn Cao – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về ý nghĩa của bản Quốc ca ĐỀ 68: TIẾN QUÂN CA Đoàn quân Việt Nam đi Chung lòng cứu quốc Bước chân dồn vang lên trên đường gập ghềnh xa Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước, Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca. Đường vinh quang xây xác quân thù, Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu. Vì nhân dân chiến đấu không ngừng, Tiến mai ra sa trường, Tiến lên, cùng tiến lên. Nước non Việt Nam ta vững bền. Tiến quân ca do cố nhạc sĩ Văn Cao sáng tác vào năm 1944. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca là Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Viết một bài văn trình bày những suy nghĩ của em về ý nghĩa của bản Quốc ca. Cảm xúc của em như thế nào khi tham dự những buổi chào cờ đầu tuần trong trường? ————————– BÀI LÀM THAM KHẢO Có nơi nào trên vũ trụ kia bảo vệ sự sống bằng máu và xương nhiều hơn nơi đây không? Bầu trời hòa bình ngày nay, trong trẻo và xanh biếc, có phải tự dưng mà có đâu? Hình ảnh trong đêm tối xa xôi ấy, hình ảnh những người anh hùng chiến đấu mạnh mẽ, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc. Trên mảnh đất mấy nghìn năm kiên cường, Việt Nam bây giờ, vẫn in dấu bước chân ấy, bước chân ra đi tìm đường cứu nước của vị lãnh tụ vĩ đại, tài ba Hồ Chí Minh. Bác Hồ với bước chân rạo rực lòng yêu nước trong trái tim, sức mạnh đoàn kết, cùng chung lòng chiến đấu của nhân dân ta. Vì tinh thần sâu sắc ấy, vì đã trải qua biết bao chiến thắng cùng chính nghĩa, trong tiếng trống hào hùng, cố nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác bài “Tiến quân ca” như muốn khẳng định giá trị lòng yêu nước, ghi nhận lại những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc và hơn tất thảy cảm nhận niềm hạnh phúc và tự hào dành cho đất nước. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bạn đã từng dâng trào cảm xúc khi hát bài hát ấy chưa, ngay lần đầu tiên và bây giờ, hẳn chúng ta đã hiểu hết ý nghĩa trong nó? “Tiến lên, cùng tiến lên Nước non Việt Nam ta vững bền Bài “Tiến quân ca” được duyệt làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 13 tháng 8 năm 1944. Vậy đã mấy chục năm trôi qua, hưởng ứng nền tự do độc lập của nước ta, khi tham dự những buổi chào cờ đầu tuần cảm xúc của mọi người thế nào? Riêng tôi, đầu tiên là một sự biết ơn rất sâu sắc và lớn lao, bởi đó là Quốc ca của đất nước, bởi mỗi đầu tuần đều được cất tiếng ca rộn rã của riêng mảnh đất này, hơn hết, mỗi ngày trôi qua là cảm giác tự do, độc lập. Thế nhưng hiện nay, các bạn học sinh khi hát Quốc ca lại đùa giỡn, không nghiêm túc. Tại sao vậy, các bạn có cảm nhận được chăng niềm thương của người chiến sĩ dành cho Tổ quốc này, dành cho các bạn người nắm giữ chìa khóa cánh cổng tương lai? Họ đã hy sinh thân mình để giành lấy cuộc sống cho mọi người, cho các bạn. Có thể bây giờ họ còn sống, nhưng lại không trọn vẹn do di chứng của chiến tranh để lại. Có thể họ vẫn còn sống khỏe mạnh, nhưng cũng có thể đã ra đi về một miền xa xôi nơi chiến trường, không thể chăm sóc gia đình mình, người thân của họ giờ đây họ phải cô đơn một mình để sống tiếp quãng đời còn lại. Họ nhường quyền sống cho mọi người, để lại cho gia đình họ một nỗi đau xót xa, vết thương lòng qua thời gian cũng không thể chữa kịp. “Đoàn quân Việt Nam đi Chung lòng cứu quốc”. Điều chúng ta cảm động, không chỉ là sự đánh mất máu và xương của người chiến sĩ đế giành lấy một nền hòa bình đất nước như bấy giờ mà là một suy nghĩ sâu sắc của họ, suy nghĩ mạnh mẽ không run sợ với cái chết đang đối đầu vì tương lai của toàn thể nhân dân Việt Nam. Bác Hồ đã nói: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”, chúng ta giờ đây nên ra sức học tập, để mai sau bảo vệ và đưa đất nước Việt Nam lên một tầm cao mới. Ý nghĩa của bản Quốc ca là lòng yêu nước, đoàn kết cho chiến thắng của nhân dân, ghi nhận nền hòa bình hôm nay và cả mai sau. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 69: Suy nghĩ về câu chuyện anh Hai của Lý Thanh Thảo, Trích” Bốn mươi truyện rất ngắn” tại đây.
Đề 68_ Viết một bài văn trình bày những suy nghĩ của em về ý nghĩa của bản Quốc ca của cố nhạc sĩ Văn Cao – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
893
Đề 69: Suy nghĩ về câu chuyện anh Hai của Lý Thanh Thảo, Trích” Bốn mươi truyện rất ngắn” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về câu chuyện anh Hai ĐỀ 69 ANH HAI – Ăn thêm cái nữa đi con! – Ngán quá, con không ăn đâu! – Ráng ăn thêm một cái, má thương. Ngoan đi cưng! – Con nói là không ăn mà. Vứt đi! Vứt nó đi! Thằng bé lắc đầu nguầy nguậy, gạt mạnh tay. Chiếc bánh kem văng qua cửa xe rơi xuống đường sát mép cổng. Chiếc xe hơi láng bóng rồ máy chạy đì. Hai đứa trẻ đang bới móc đống rác gần đó, thấy chiếc bánh nằm chỏng chơ xô đến nhặt. Mắt hai đứa sáng rực lên, dán chặt vào chiếc bánh thơm ngon. Thấy bánh lấm láp, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai: – Anh Hai thổi sạch rồi mình ăn. Thằng anh phùng má thổi. Bụi đời đã dính, chăng chịu đi cho. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó làm bánh rơi tõm xuống cống hôi hám, chìm hẳn. – Ai biểu anh Hai thổi chi cho mạnh – Con bé nói rồi thút thít. – Ừa. Tại anh! Nhưng kem còn dính tay nè. Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi! (Lý Thanh Thảo, Trích “Bốn mươi truyện rất ngắn ”, NXB Hội nhà văn 1994) Câu chuyện trên gợi cho em suy nghĩ gì? BÀI LÀM THAM KHẢO “Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”. Đúng thật như vậy, ở một giây phút nào đó trong cuộc đời, ta sẽ thấy được rằng cuộc sống không bao giờ suôn sẻ, con đường mà ta đang và sắp phải đi qua không bao giờ bằng phẳng và trải đầy hoa hồng. Những va vấp và sự cố trên đường đi có thể sẽ làm ta nản lòng và tuyệt vọng. Những lúc ấy, ta sẽ cần lắm một bờ vai để dựa vào, một nơi để sẻ chia những nỗi niềm, một vòng tay âu yếm đế chở che. Khi đó, người anh và người chị sẽ luôn sẵn sàng ở bên ta, nâng đỡ ta, che chở cho ta, thương yêu ta, sưởi ấm con tim và chữa lành vết thương cho ta. Thông điệp yêu thương ấy lại một lần nữa được gửi gắm trong câu chuyện “Anh Hai”. Trong thực tế hàng ngày, ta có thể thấy trên ti vi hay sách báo, ở những vùng quê nghèo, gia đình không đủ chi phí để nuôi cả hai anh em hay chị em ăn học. Người anh hoặc người chị sẽ luôn luôn hi sinh cho em ăn học, còn mình thì đi làm để kiếm tiền phụ giúp gia đình nuôi em ăn học. Chính mẹ của tôi là một minh chứng. Ngày xưa khi còn nhỏ như tôi, vì gia đình nghèo, đông con nên mẹ tôi đã nghỉ học, ngày ngày phải đội mưa, đội nắng đi chẻ cùi, đi bán hàng rong để kiếm tiền nuôi sống cả gia đình. Mẹ tôi đã nhường tấm vé đi tới tương lai cho những đứa em của mình… Thể nhưng có những người anh, người chị xem em mình như một gánh nặng, luôn ghét bỏ và xua đuổi em của mình. Như bạn của tôi tên T, mỗi khi tôi đến nhà nó là nhìn thấy anh nó mắng chửi, đánh nó. Mặc dù nó khóc rất nhiều và đã nói xin lỗi cả trăm lần nhưng anh nó vẫn tiếp tục đánh nó. Trong một gia đình, nếu như anh em hòa thuận, sống vui vẻ và thương yêu lẫn nhau thì tổ ấm của mình sẽ luôn tràn ngập niềm vui, tiếng cười và hạnh phúc. Giống như nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Có gì đẹp hơn trên đời hơn thế Người với người sống để yêu nhau”. Và nếu trên Trái Đất này tràn ngập niềm yêu thương và niềm hạnh phúc, ánh nắng ấm áp bao trùm cả Trái Đất, thì trên đời này sẽ không còn chiến tranh, không còn những xung đột, bất hòa. Vậy nên tình anh em trong mỗi gia đình là rất quan trọng. Nhưng ngược lại, nếu anh em trong gia đình bất hòa, ngày nào cũng gây gổ, chiến tranh lạnh với nhau thì bóng tối u ám sẽ bao trùm lấy cả Trái Đất này. Chúng ta sẽ phải ngày ngày sống trong chiến tranh, bất hòa, những cuộc cãi vã không có điểm dừng. Xã hội sẽ ngày càng đi xuống, an ninh trật tự trong xã hội sẽ bị rối loạn. Trong xã hội ngày nay, tầng lớp nào cũng có, thành phần nào cũng có, đặc biệt là những người bị tê liệt cảm xúc, không có trái tim, không biết yêu thương người thân nhất là anh em của mình. Còn có những người còn tệ hại hơn nữa, những thành phần sống dưới đáy xã hội, là cặn bã của xã hội. Họ làm những chuyện đồi bại, hãm hại chính anh em của mình. Trong tầng lớp thượng lưu, ta có thể thấy rất rõ, vì tranh chấp tài sản, mà ngay cả anh em mình cũng hãm hại lẫn nhau. Chỉ vì bị vật chất và đồng tiền làm lu mờ mà “anh em tương tàn”, trở mặt với nhau. Những người đó đáng bị xã hội lên án và trừng trị. Hiểu rõ và cảm nhận được sâu sắc sự quan trọng của tình anh em, chúng ta phải làm thế nào? Những ai đã xây dựng được tình anh em trong gia đình thì hãy trân trọng nó, hãy tiếp tục yêu thương, tiếp tục vun đắp cho nó thật vững chắc để ngọn gió nào cũng không thể đánh gục nó. Còn những người chưa yêu thương anh em của mình, hãy để tình yêu làm tan chảy trái tim băng giá của mình, đừng để mất rồi lại hối hận thì đã muộn. Và riêng những người hay ghen ghét, đố kị với anh em của mình thì “Đừng để con rắn ghen tị luồn vào trong tim. Nó là con rắn độc. Nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim”. Hãy tập sống vị tha và bao dung, đừng bao giờ sinh lòng đố kị với anh em của mình. Nó sẽ che mắt mình dẫn mình vào con đường tăm tối và lạc lối. Hãy luôn nhớ sống trên đời là để yêu thương, nếu không biết yêu thương thì xem như ta đã “chết khi còn sống”. Tình yêu thương không cần thể hiện qua một cái gì đó lớn lao. Tình yêu thương có thể là thầm lặng. Tình yêu thương thể hiện qua những điều nhỏ nhặt và tầm thường nhất trong cuộc sống như hai anh em nhường nhau một mẩu bánh trong câu chuyện “Anh Hai” hay là một bàn tay nâng đỡ khi thấy người khác gặp hoạn nạn khó khăn. Tình anh em cũng thế, không cần thể hiện ra cho mọi người thấy, chỉ cần trong tim mỗi người đều có ngọn lửa yêu thương thì có thể sưởi ấm khắp cả thế gian. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 70 tại đây. (Nguồn: Em có suy nghĩ gì sau khi xem hình ảnh trên? Tags:anh Hai · Đề 69 · Văn chọn lọc 9
Đề 69 _ Suy nghĩ về câu chuyện anh Hai của Lý Thanh Thảo, Trích” Bốn mươi truyện rất ngắn” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,244
Đề 7 – Kể lại một việc em đã làm khiến bố mẹ vui lòng – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Một việc em làm khiến bố mẹ vui lòng HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: – Em cần xác định, việc làm tốt khiến cho bố mẹ vui lòng đó là việc gì (giúp đỡ một cụ bà qua đường, đem trả lại tiền nhặt được cho người bị đánh rơi, giúp đỡ bạn bè trong học tập, trong cuộc sống…)? – Tâm trạng, cảm xúc của ba mẹ khi em kể lại câu chuyện đó cho ba mẹ nghe là những cảm xúc gì? – Tâm trạng, cảm xúc của em lúc đó ra sao? (hạnh phúc, tự hào, hứa hẹn trong lòng những niềm tin mới,…) – Em đã có những lời nói, hứa hẹn như thế nào đối với ba mẹ của em trong tương lai sẽ làm thêm thật nhiều việc tốt nữa? DÀN Ý CHI TIẾT Lấy ví dụ là TRẢ VÍ TIỀN LẠI CHO NGƯỜI BỊ MẤT I. MỞ BÀI Làm việc tốt chắc chấn sẽ mang đến niềm vui cho cha mẹ, thầy cô và mọi người xung quanh. Tôi đã làm được rất nhiều việc tốt nhưng việc mà tôi nhớ nhất là có lần tôi nhặt được một chiếc ví tiền đem trả lại cho người bị mất. II. THÂN BÀI 1. Hoàn cảnh Hôm ấy, đám bạn học rủ tôi đi xem phim. Trong rạp xem phim, tôi tình cờ nhặt được một ví tiền có rất nhiều tiền trong đó. Tôi đã đắn đo rất nhiều và cuối cùng quyết định trả lại ví tiền cho người bị mất. 2. Quá trình nhặt và trả lại ví tiền Tôi đi xem phim với các bạn. Khi tới chỗ bán vé, tôi tình cờ thấy được một cái ví bị đánh rơi gần đó. Tôi giả bộ tới đó ngắm mấy bức tranh và nhặt ngay chiếc ví. Tôi vội vàng quay sang bảo với lũ bạn là mình quên đem theo tiền. Trong đám bạn có một vài đứa nói rằng sẽ cho mình mượn tiền. Tôi lần lữa không chịu, nói là bạn bè ai lại mượn của nhau mắc công không hay. Tôi chạy thật nhanh về nhà. Thế nhưng, trên đường chạy về, tôi suy nghĩ bần thần rằng nếu cái ví tiền này là của một người mới mượn được tiền về để chạy chữa bệnh tật cho con cái thì sao? Hay số tiền này là tài sản duy nhất của một người nghèo khổ nào đó thì sao? Tôi đắn đo, suy nghĩ với số tiền này, mình có thể mua thật nhiều đồ chơi và quà cho gia đình. Cuối cùng tôi cũng quyết định đem cái ví đến cho các chú công an để tìm lại người bị mất. Do chạy tới đồn công an hơi vội vã nên tôi mệt mỏi và ngồi nghỉ, uống nước. Một lát sau có một người trông cũng khá lớn tuổi, nhìn từ xa là như vậy. Tôi trả lời rồi nói rằng tôi nhìn thấy nó xung quanh chỗ bán vé nên đem tới công an để tìm người bị mất. Ông sau khi nhận được ví thì cảm ơn tôi rối rít. Mong muốn đền ơn tôi bằng một tờ bạc lớn. Tuy vậy, tôi không nhận và nói rằng đó là việc tôi nên làm. Ba mẹ, thầy cô đã dạy tôi rằng “nhặt được của rơi phải trả cho người bị mất”. Tôi chạy tới chỗ xem phim để cùng hòa nhịp vui với các bạn của mình. Ngày hôm sau, tôi được nhà trường gọi lên sân trường để tuyên dương trước trường là học sinh trung thực, gương mẫu trong việc làm việc tốt “nhặt được của rơi, trả người bị mất”. Tôi cảm thấy mình thật vui sướng và hạnh phúc vì điều đó. Về sau tôi mới hiểu là người đàn ông ấy chính là em trai của thầy hiệu trưởng trường tôi. Ông đã về nói lại và đề nghị thầy hiệu trưởng tuyên dương tôi trước trường để làm gương cho những em học sinh khác. III. KẾT BÀI Làm được một việc tốt thật sự là một niềm vui sướng, hạnh phúc biết bao. Tôi luôn tự hứa với bản thân mình rằng sẽ luôn luôn phấn đấu làm thật nhiều việc tốt hơn nữa để không làm phụ lòng thầy cô và cha mẹ đã tin yêu. BÀI VĂN THAM KHẢO Trong cuộc sống văn minh hiện đại với những bộn bề công việc, có bao giờ bạn ngồi ngẫm lại có bao lần bạn làm được việc nào tốt chưa? Tôi đã làm được rất nhiều việc tốt nhưng việc mà tôi nhớ nhất là có lần tôi nhặt được một chiếc ví tiền đem trả lại cho người bị mất. Chuyện là như thế này: Hôm đó là một buổi sáng chủ nhật tuyệt đẹp. Bầu trời trong xanh, quang đãng, những chị mây trôi bồng bềnh trên bầu trời như những chiếc thuyền trôi lững lờ trên làn nước trong xanh, êm dịu. Ông mặt trời từ từ ló dạng với những tia nắng ban mai đang nhảy múa tung tăng trên mặt đường tấp nập xe cộ qua lại. Vào lúc tám giờ, tôi đang ngồi xem ti-vi cùng với gia đình bỗng một tiếng kêu phát ra từ dưới lầu vang lên: “Quốc ơi! Đi xem phim cùng với bọn này không?”. Tôi liền nhận ra đó là tiếng của bạn Hiếu, tôi lật đật chạy ra mở cửa sổ và nói: “Chờ tôi một chút”. Tôi liền xin phép bố mẹ cho đi xem phim, bố mẹ tôi gật đầu đồng ý và thế là tôi sửa soạn quần áo và chạy xuống cùng với các bạn của mình. Vừa xuống nhà chúng tôi bắt đầu đi với những câu chuyện tán dóc rất hài hước. Đi được một quãng đường tôi mới hỏi: “Bây giờ chúng mình đi xem phim gì?”. Tài nói: “Đi xem “Turbo – ốc sên siêu tốc”, nghe nói phim này hay lắm!”. Tôi liền đáp lại: “ừ”. Tôi nghĩ trong đầu: “Đây là một bộ phim mà mình đã đợi lâu lắm rồi”. Tới nơi, các bạn rất háo hức muốn xem bộ phim này không chỉ riêng tôi. Đứng trước rạp phim, tôi thấy rạp rất đẹp với những ánh đèn chiếu lấp lánh xuống đường. Thì ra đó là rạp “BHD Star”. Không gian chỗ rạp này rất rộng rãi và thoáng mát với những hàng cây xanh tạo nên bầu không khí trong lành. Ngó qua ngó lại thì bỗng nhiên tôi thấy có một cái gì đó rơi ở đằng kia. Sự tò mò của tôi lại trỗi lên. Tôi liền nghĩ ra một kế và nói: “Chết chưa. Mình quên tiền ở nhà rồi, để tôi chạy về nhà lấy”. Quyên nói: “Để tôi cho bạn mượn”. Tôi liền nói: “Thôi mình không muốn mượn tiền của ai cả”. Vừa dứt lời, tôi liền chạy về và núp vào vách tường kề bên rạp. Các bạn lúc đó cũng đã vào rạp. Thừa lúc các bạn vào, tôi liền chạy tới chỗ đồ vật khi nãy. Thì ra đó là một chiếc ví da cá sấu rất đắt tiền. Chiếc ví màu đen viền màu vàng đất nhìn rất sang trọng và nghĩ: “Chắc trong đây có nhiều tiền lắm đây!”. Tôi liền mở ví ra thì thấy rất nhiều tiền trong ví, có cả tiền đô trong đó nữa. Lúc ấy, mọi điều ước bấy lâu nay tôi mong muốn bỗng dần hiện ra một cách rõ ràng mồn một. “Đây là một số tiền lớn, mình có thể mua cho ba một chiếc điện thoại để làm quà sinh nhật cho ba. Hay cũng có thể mua một chiếc Iphone mà mẹ mình luôn mong đợi. Hoặc một bộ đồ chơi siêu nhân cho đứa em ở nhà. Còn tiền đóng học phí cho ba mẹ bớt vất vả. Số tiền này mình cũng có thể bao các bạn đi ăn kem, xem phim”. Thế nhưng, bên cạnh những điều ấy cũng là những chất vấn của bản thân tôi: “Mình lấy số tiền này, người bị mất sẽ rất buồn và lo lắng. Người đó đã làm việc rất cực nhọc để có được số tiền này. Hay người đó đã vay tiền nóng để đóng phí cho con cái chẳng hạn. Mình phải làm sao đây?”. Tôi đứng lưỡng lự và ra quyết định cuối cùng đó là đến đồn công an gần nhất để đưa cho chú công an gửi lại người bị mất. Chút nữa tôi lại tiếp tục nghĩ: “Chắc không sao đâu, mình lấy tiền này đâu có ai biết, mình cứ giữ lấy”. Lại một ý kiến khác chợt xuất hiện: “Lỡ người ấy rất buồn và đang đau khổ vì đã đánh rơi nó thì sao?”. Thế là tôi vẫn giữ lập trường là đem đến đồn công an. Tôi không biết đường nên đã hỏi bác xe ôm gần đó. Cuối cùng, tôi cũng đã đến được đồn công an. Tôi liền chạy vào và nói: “Chú ơi! Con đã nhặt được cái ví này, chú hãy giúp con trả lại cho người bị mất”. Chú công an liền hỏi thăm tôi tên tôi, trường lớp tôi học nhưng tôi không biết để làm gì. Tôi ngồi nghỉ ngơi một chút trong đồn. Một lúc sau, bỗng nhiên có một chú trạc tuổi bố tôi đi vào với vẻ mặt lo lắng và hớt hải: “Anh công an ơi, anh có nhận được một chiếc ví tiền da cá sấu màu đen viền vàng đất không”. Chú công an mỉm cười và nói: “Tôi có nhận được chiếc ví đó của anh từ một chú bé đang ngồi nghỉ ở đằng kia”. Chú ấy chạy lại và nói: “Có phải con đã nhặt được chiếc ví của chú phải không?”. Tôi thẳng thắn trả lời: “Dạ phải ạ”. Chú đó liền móc trong túi ra một số tiền gửi cho tôi, tôi liền từ chối không nhận. Chú cảm ơn tôi rối rít vì đó là số tiền mà chú mới vay của người bạn để lo cho công việc gia đình. Tôi cảm thấy rất vui và hạnh phúc vì mình vừa làm được một việc tốt. Về đến rạp, bộ phim cũng đã kết thúc. Tôi đi về nhà và kể lại toàn bộ câu chuyện cho bố mẹ nghe. Bố mẹ nghe xong liền ôm tôi vào lòng và khen rằng tôi rất ngoan và tốt bụng vì đã giúp chú ấy. Tôi nhận ra được một điều rằng, khi ta làm việc tốt thì niềm vui và hạnh phúc còn lớn lao hơn rất nhiều số tiền mà ta nhặt được. Vào thứ hai đầu tuần, giờ chào cờ bỗng nhiên tôi được gọi lên giữa sân trường để tuyên dương và được trao tặng một phần quà vì đã làm được một việc tốt. Bây giờ tôi mói hiểu ra tại sao chú công an lại xin tên, trường lớp nơi mình đang học. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 8: “Tôi thấy mình đã khôn lớn” tại đây. Tags:Đề 7 · Văn chọn lọc 9
Đề 7 – Kể lại một việc em đã làm khiến bố mẹ vui lòng – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,883
Đề 7 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề bài bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. a) Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: nhỏ bé, sáng sủa, vui vẻ, cao thượng, cẩn thận, đoàn kết. b) Chọn một cặp từ trái nghĩa nêu trên để đặt câu. (Hai từ trái nghĩa cùng xuất hiện trong một câu.) 2. Tìm từ trái nghĩa với từ in đậm trong từng cụm từ sau: – hoa tươi – rau tươi – rau tươi – củi tươi – cá tươi – nét mặt tươi – trứng tươi – màu sắc tươi 3. Trong bài Hạt gao làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết: Hạt gạo làng ta Có bão tháng bảy Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy… Em hiểu đoạn thơ trên như thế nào? Hình ảnh đôi lập trong đoạn thơ gợi cho em những suy nghĩ gì? 4. Tả con đường (hoặc một đoạn đường) quen thuộc nơi em ở (hoặc con đưòng ở nơi khác mà em yêu thích).
Đề 7 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
186
Đề 7 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn I.Em đọc thầm bài Ăn “mầm đá” (Tiếng Việt 4, Tập II, trang 157, 158). II.Làm bài tập 1.Dựa vào nội dung bài đọc thầm “Ăn mầm đá” khoanh vào ô trống trước câu trả lời đúng. A.Vì sao Chúa Trịnh bảo Trạng Quỳnh mách cho món ăn ngon? B.Vì Chúa chưa bao giờ được ăn các món ăn ngon. C.Vì Chúa ăn gì cũng không thấy ngon miệng D. Vì Chúa biết Trạng Quỳnh rất thông minh. 2.Trạng Quỳnh giới thiệu món ăn gì với Chúa? A.Món mầm đá. B. Món tương. C.Món mầm đá và món tương. 3.Vì sao Trạng Quỳnh không dâng Chúa món mầm đá? A.Vì Chúa đã đói mà món mầm đá chưa kịp chín. B. Vì món mầm đá phải ninh thật kĩ, không thì khó tiêu. C.Vì thật ra không có món mầm đá. 4.Trạng Quỳnh đề hai chữ “đại phong” ở lọ tương dâng Chúa để làm gì? A. Để Chúa tưởng đó là một món ăn lạ. B. Để Chúa nghĩ rằng đó là món mầm đá. C.Để bày cho Chúa cách nói lái. 5.Vì sao chúa Trịnh ăn cơm với tương vẫn thấy ngon miệng? A.Vì tương là món ăn rất ngon. B.Vì Chúa tưởng đó là một món ăn lạ. C.Vì đang đói thì ăn gì cũng thấy ngon. 6.Trong câu “Vào thời vua Lê – chúa Trịnh, có ông Trạng Quỳnh là người rất thông minh”, có mấy danh từ riêng? B. Hai danh từ riêng. Đó là:……………….. C.Ba danh từ riêng. Đó là:……………….. 7.Ở cuối câu “Ngươi biết thứ gì ngon thì mách cho ta.”, có thể đặt dấu chấm hỏi không? Vì sao? A. Có, vì đó là câu hỏi. B.Không, vì đó không phải là câu hỏi. C.Thế nào cũng được, vì câu ấy có thể dùng để bày tỏ mong muốn hay để hỏi. 8.Trạng Quỳnh nói lái “tượng lo” thành “lọ tương” bằng cách nào? A.Đảo vị trí hai tiếng “tượng” và “lo” cho nhau. B.Đổi thanh của hai tiếng “tượng” và “lo” cho nhau, C.Dùng cả hai cách trên. 9. A Sắp xếp các từ phức có chứa tiếng “vui” vào cùng nhóm: Vui chơi, vui tính, vui vẻ, vui tai, vui lòng, chia vui, vui sướng, vui thích, góp vui, vui nhộn, vui mừng, mua vui, vui thú, vui mắt. a.Chỉ hoạt động:…………………………………………………………………. b.Chỉ cảm giác:…………………………………………………………………… c.Chỉ tính tình:…………………………………………………………………….. B.Đặt câu: Mỗi loại đặt một câu: III.Tập làm văn Đề bài: Tả một con vật nuôi ở nhà (hoặc ở nhà bạn em) mà em thích Bài làm >>XEM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TẠI ĐÂY
Đề 7 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4
403
Đề 70 – Suy nghĩ về hình ảnh cho dưới đây – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về hình ảnh cho dưới đây Đề 70: (Nguồn: Em có suy nghĩ gì sau khi xem hình ảnh trên? —————————————————- BÀI LÀM THAM KHẢO “Đất nước cong hình cung mũi nỏ Núi thâm trầm nghe biển hát ru Khi giặc đến, núi vươn thành lá chắn Biên trào sôi, dâng kiếm sóng ngăn thù Bao xương máu những người con của Mẹ Lặng lẽ vào dòng biển kết san hô… ” Từ rất lâu rồi, lãnh thổ nước Việt Nam đã bao gồm phần đất liền và hải đảo. Qua bao năm tháng lịch sử thăng trầm, ngày hôm nay, nước ta đã được hưởng bầu trời tự do, độc lập. Hải đảo cũng như phần đất liền, là máu thịt của mỗi con người nước Nam, được mọi người vô cùng yêu thương và ra sức gìn giữ. Ở đó, nơi cơn gió mang hơi muối vẫn có những con người thầm lặng giữ lấy mảnh đất quê hương, trong đất liền ấm áp vẫn có những trái tim đang hướng về phía Đông Tổi quốc – biến đảo chủ quyền của nước ta. Vùng biển nước ta nằm trong biển Đông, thuộc Thái Bình Dương. Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3000 km cùng diện tích biển trên 1 triệu. Ẩn sâu dưới lòng đại dương là biết bao tài nguyên vô giá. Biển đảo nước ta có nguồn hải sản dồi dào, sinh vật đa dạng, có nhiều loại hình khoáng sản,… Bên cạnh đó, trên vùng biển Việt Nam còn có khá nhiều đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ đó là Hoàng Sa và Trường Sa. Các đảo và quần đảo này có vị trí chiến lược và tiềm năng trong việc khai thác du lịch, trở thành các khu bảo tồn, khu nghỉ dưỡng,… Biển Việt Nam là nguồn lực lớn trong việc phát triển kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi trong việc khai thác hải sản, khoáng sản và giao thông hàng hải, du lịch,… Chính vì thế vùng biển này được nhân dân cả nước dành trọn tình yêu thương và sự bảo bọc. “Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển Mẹ Âu Cơ hẳn thể không yên lòng Sóng lớp lớp xô lên thềm lục địa Trong hồn người có con sóng nào không? ” Giữa muôn trùng đại dương sâu thẳm ấy, không phải lúc nào thiên nhiên cũng tươi đẹp, thời tiết cũng trong lành. Mà đôi lúc nơi biển đảo cũng phải hứng chịu những đợt sóng dữ dội. Trong tâm hồn người Việt Nam cũng thế, lúc nào cũng tồn tại những “làn sóng”. Đó là những “cơn bão” lòng, lo toan cho sự an nguy của đất nước, thôi thúc lòng yêu thương dành cho biển đảo quê hương. Và “cơn bão” ấy thật sự dữ dội hơn, mãnh liệt hơn khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 trên hải phận Việt Nam với mục đích thăm dò dầu khí và khoáng sản trên Biển Đông của Việt Nam. Nhưng có lẽ không chỉ vì lí do đó. Việc vi phạm luật pháp quốc tế về Luật biển năm 1982 này có thể là còn để thăm dò sức chịu đựng, lòng yêu nước của toàn dân Việt Nam. Trước tình hình ấy, nhân dân cả nước đã có những hành động vô cùng thiết thực. “Cuộc sống nơi đây tháng ngày dài thể kỳ Sáng, trưa, chiều, tối chi từng ấy bước chân… Các anh là những anh hùng trong thời kì đổi mới Nhận hi sinh cho Tổ quốc yên bình”. Khi Trung Quốc có những hành động sai trái, các anh đã tiếp cận giàn khoan HD981. Nhưng Trung Quốc không thừa nhận hành vi của mình mà còn phun vòi rồng vào thuyền của các chiến sĩ. Tuy bị thương nhưng các anh vẫn bất chấp nguy hiểm, trụ vững trên vùng biển, quyết “Một tấc không đi, một li không rời” để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc. Cám ơn các anh! Các anh là những người anh hùng của nước Việt ta. Dù có khó khăn đến mấy các anh vẫn luôn hiên ngang cầm chắc súng trong tay đế bảo vệ cho đất nước, sẵn sàng hi sinh thân mình khi Tổ quốc cần đến. Em vô cùng khâm phục và tự hào khi Việt Nam ta có những người con vô cùng dũng cảm. Chính sự dũng cảm và những hành động của các anh đã tiếp thêm lòng yêu quê hương đất nước, yêu vùng biển quê nhà cho chúng em, làm chúng em thêm yêu các anh – những người lính nơi hải đảo xa xôi ấy. Xin cảm ơn các anh! “Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo Lạc Long cha nay chưa thấy trở về Lời cha dặn phải giữ từng thước đấy Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi”. Chúng ta, tôi và bạn – những người con đất Việt – dù sinh ra trong thời bình nhưng lúc nào ta cũng phải có một trái tim tràn ngập tình yêu dành cho Tổ quốc. Chúng ta phải tiếp nối đàn anh đi trước, các anh đã hy sinh ước mơ, hoài bão để đi theo tiếng gọi của con tim, của lý tưởng. Tuổi trẻ hôm nay là tương lai của đất nước. Tôi và bạn hãy cố hết sức làm việc và lao động, học tập thật tốt. Khi Tổ quốc cần đến, chúng ta phải hiến dâng sức lực, tài năng để làm giàu, để bảo vệ đất nước. Ta phải có những hành động thiết thực để xây dựng và giữ gìn vùng biển đảo. “Tổ quốc gọi, chúng tôi sẵn sàng!”. Chúng ta phải học theo những tấm gương cao cả ấy và phải phê phán những kẻ làm trái đạo lý. Đó là những con người thờ ơ với vận mệnh đất nước, bàng quang với tình hình quốc gia, chỉ nghĩ đến bản thân, chỉ biết hưởng thụ, những người này là những gánh nặng cho xã hội, đất nước. Bên cạnh đó, có một số người yêu nước không đúng cách. Ở Bình Dương, Hà Tĩnh, họ tổ chức đập phá các công ty nước ngoài. Vì học thức kém, họ cứ nghĩ biển hiệu của các công ty đó có chữ Trung Quốc nhưng thực ra đó là công ty của Nhật và Đài Loan. Ngay khi ở khơi xa, tình hình quốc phòng đang căng thẳng, những người ở đất liền lại có những hành động như thế. Những hành động đó không phải là yêu nước đúng pháp luật. Thật đáng xử phạt! (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 71: “Đánh giá, đối xử với bản thân thì bằng lí trí. Đánh giá, đối xử người khác thì bằng tấm lòng. “(Ngạn ngữ phương Tây). Trình bày ý kiến của em về vấn đề trên tại đây. Tags:Đề 70 · Hình ảnh · Văn chọn lọc 9
Đề 70 – Suy nghĩ về hình ảnh cho dưới đây – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,177
Đề 71: Suy nghĩ về câu Ngạn ngữ phương Tây “Đánh giá, đối xử với bản thân thì bằng lí trí. Đánh giá, đối xử người khác thì bằng tấm lòng. “- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về câu Ngạn ngữ phương Tây BÀI LÀM THAM KHẢO Trong cuộc sống bộn bề, có bao giờ bạn tự đánh giá bản thân mình một cách công tâm chưa? Có bao giờ bạn đánh giá, đối xử với người khác một cách đúng đắn chưa? Có thể bạn không tốt nhưng vẫn cho qua những lỗi lầm sai trái của mình, có thể bạn nhìn thấy những việc làm không tốt của người khác, vội vã kết luận người đó không tốt. Vậy chẳng phải tất cả đều là bạn không tốt đó sao? Nếu bạn là một người công bằng, không bao giờ bạn bỏ qua mọi thứ xấu xa bên trong con người bạn, và thẳng thừng đánh giá một chiều về người khác như thế. “Đánh giá, đối xử với bản thân thì bằng lí trí. Đánh giá, đối xử người khác thì bằng tấm lòng.” (Ngạn ngữ phương Tây). Có lẽ, bạn nên dành cả sự công bằng và quyết tâm của bạn cho việc đánh giá mình và đối xử với người khác. Vậy lí trí là gì? Lí trí là những suy nghĩ, những quyết định của bạn. Thường thì chúng ta bị cảm tính xen lẫn với lý trí, khiến bạn dễ dàng bị chi phối bởi nhiều thứ. Chúng ta nếu không có lý trí, cũng sẽ chẳng làm được gì? Chỉ bởi một lẽ, lí trí sẽ chọn cho bạn, một con đường đúng đắn để đi. Vậy tại sao khi đối xử, đánh giá người khác bạn phải bằng tấm lòng? Tấm lòng ở đây chỉ sự công bằng ở con người. Nếu bạn là quan, là một người có địa vị trong xã hội, bạn xử lý không công bằng, cũng giống như bạn không có tấm lòng. Thời gian cứ trôi mãi, nó không dừng lại bao giờ, hãy chọn cho bản thân mình một lí trí mạnh mẽ, và một tấm lòng đủ bao dung. Bác Hồ của chúng ta là một người rất khắt khe với bản thân. Là một người đứng đầu một nước, nhưng Bác chỉ cho phép bản thân sống một cuộc sống hết sức giản dị. Bác chỉ chọn cho mình một ngôi nhà sàn, và quần áo sơ mi giản đơn cùng dép lê. Chẳng những thế, Bác còn là một người công bằng, lễ độ. Suốt bao nhiêu năm, chu du ngược xuôi để tìm đường cứu nước, Bác vẫn không để lúc nào lí trí bị chi phối. Bác là một vị lãnh tụ vĩ đại, là người Cha của cả dân tộc để chúng ta học hỏi. Cảm ơn Bác, vì đã cho chúng cháu biết cách đối xử với bản thân và với người khác. Đã thế, còn giấu tiền của dân, dù chỉ một đồng. Những con người ấy, có đáng để loại bỏ hay không. Nếu không loại trừ thì cũng có lúc chúng ta sẽ phải làm theo những lời không cánh của họ. Là một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, tôi sẽ tự nhủ, sẽ đối xử công tâm với bản thân, sẽ học tập và rèn luyện đức tính chí công vô tư, học cách đối nhân xử thế, sẽ là một người công dân tốt, giúp ích cho xã hội, cho đất nước. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 72: Suy nghĩ về lời dạy của Bác “Ngày trước ta chỉ có đêm và ngày … giữ lấy nó” tại đây. Tags:Đề 71 · Ngạn ngữ phương Tây · Văn chọn lọc 9
Đề 71_ Suy nghĩ về câu Ngạn ngữ phương Tây “Đánh giá, đối xử với bản thân thì bằng lí trí. Đánh giá, đối xử người khác thì bằng tấm lòng. “- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
633
Đề 72: Suy nghĩ về lời dạy của Bác “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng … giữ lấy nó” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về lời dạy của Bác ĐỀ 72: Ngày 20-03-1959, một lần về thăm cán bộ, chiến sĩ nơi đảo xa, tại hang Đầu Gỗ, nơi xưa kia Trần Hưng Đạo dựng công trường làm cọc để cắm trên sông Bạch Đằng đánh tan giặc Nguyên Mông, Bác nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có trời, có biển. Bờ biển ta dài và đẹp, ta phải biết giữ lấy nó”. Hãy trình bày suy nghĩ của em về lời dạy trên của Bác. BÀI LÀM THAM KHẢO Trong một lần về thăm cán bộ, chiến sĩ nơi đảo xa Bác Hồ đã từng nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có trời, có biển. Bờ biển ta dài và đẹp, ta phải biết giữ lấy nó.” Như lời Bác Hồ nói trước đây, ta bị bao nhiêu nước xâm lược giờ đây ta được sống thanh bình, được thấy “ngày”, “trời” và biển. Vì vậy ta phải yêu quê hương, đất nước ta, phải bảo vệ lấy nó. Vậy tình yêu quê hương là như thế nào và bảo vệ ra sao? Chúng ta ai cũng đã từng nghe câu hát “Quê hương mỗi người chỉ một”. Quê hương, đất nước chỉ có một nên chúng ta phải yêu lấy nó. Tình yêu quê hương thật là mơ hồ. Liệu nó có phải là yêu thích cảnh đẹp quê hương, yêu con người Việt Nam? Tình yêu quê hương không chỉ đơn giản là như vậy. Tình yêu quê hương là yêu cảnh đẹp, con người văn hóa của Việt Nam và yêu cả màu cờ, sắc đỏ sao vàng và phải biết bảo vệ nó khỏi sự xâm lược của các nước như các vị anh hùng dân tộc đã từng làm: anh hùng Lý Thường Kiệt đánh đuối quân Tống hay Trần Hưng Đạo đánh tan giặc Nguyên Mông và có cả trận Điện Biên Phủ lịch sử. Chính những điều đó đã tạo nên lòng yêu nước yêu quê hương và tạo nên một đất nước giàu mạnh như hiện nay. Tình yêu ấy còn phải được vun đắp để nó ngày một lớn mạnh. Tuy tình yêu đất nước nói thì dễ dàng nhưng thật ra thực hiện rất khó. Nhưng nói như vậy chứ không phải chúng ta từ bao đời nay không thực hiện được. Như Nguyễn Trãi đã từng có câu trong “Bình Ngô đại cáo” như sau: Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có”. Lịch sử nước ta tuy từng lúc khác nhau, trải qua biết bao thăng trầm nhưng không hết người yêu nước và đấu tranh vì đất nước này. Để noi gương các anh hùng ngày xưa, các chiến sĩ ta ở ngoài đảo xa đang canh giữ lấy biển, đảo biên cương khỏi sự xâm lược của nhiều nước khác. Tuy rằng nơi biển đảo xa xôi kia tiềm ẩn biết bao nguy hiểm không lường trước, nhưng các anh ấy vẫn lạc quan yêu đời, cống hiến cho quê hương đất nước này. Không chỉ có vậy, trong đất liền những người thân vẫn luôn ủng hộ các anh ấy để các anh yên tâm làm việc hết mình vì Tổ quốc tươi đẹp. Tuy vậy lại có những người lại đi phá công sức của nhân dân ta đó chính là những kẻ bán nước chỉ vì tiền, họ chỉ nghĩ riêng cho bản thân họ mà không hề nghĩ đến mọi người. Liệu họ có nghĩ đến tương lai sau này của đất nước? Khi nước mất nhà tan, họ mới tiếc nuối hối hận. Bác Hồ đã từng nói “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình.” Có lẽ tiền đề quan trọng nhất của đất nước chính là trẻ em – những mầm non tương lai, các em tuy nhỏ nhưng vẫn có thể góp những công sức nhỏ nhoi vào việc bảo vệ xây dựng xã hội như để dành ống heo để góp tiền vào các quỹ quyên góp vùng sâu vùng xa, giúp các anh chiến sĩ vùng sâu biển đảo, góp đá xây Trường Sa. Người lớn chúng ta thì cần quan tâm hơn đến việc xây dựng nước nhà, bảo vệ biển đảo không phải là ta gây chiến tranh với Trung Quốc mà phải bình tĩnh thương lượng. Và chúng ta cần phải có ý thức hơn trong việc giữ gìn, yêu nước. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 73: Cảm nhận về tính triết lý: cần phải biết phát hiện và trân trọng những cái đẹp giản dị, gần gũi của gia đình và quê hương tại đây. Tags:Đề 72 · Lời dạy của Bác · Văn chọn lọc 9
Đề 72_ Suy nghĩ về lời dạy của Bác “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng … giữ lấy nó” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
837
Đề 73: Cảm nhận về tính triết lý: “Cần phải biết phát hiện và trân trọng những cái đẹp giản dị, gần gũi của gia đình và quê hương”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Cảm nhận về tính triết lý ĐỀ 73: Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc có nhiều trăn trở, tìm tòi, thúc đẩy công cuộc đổi mới văn học Việt Nam hiện đại. Truyện ngắn “Bến quê” là một tác phẩm mà thông qua các tình huống nghịch lý, những sinh hoạt đời thường, nhà văn muốn đưa đến cho người đọc những triết lý giản dị mà sâu sắc, mang tính trải nghiệm có ý nghĩa tổng kết về cuộc đời. Nhĩ – nhân vật chính của truyện – sau bao năm từng đặt chân lên nhiều miền đất khác nhau, cuối cùng anh bị cột chặt vào giường bệnh. Chính trong những giây phút cuối cuộc đời mình, Nhĩ nhận thấy cái đẹp chẳng phải đâu xa, nó ở ngay bên cạnh mình. Thông qua dòng suy nghĩ của nhân vật, “Bến quê ” làm hiện lên một triết lý giản dị mà sâu sắc: Cần phải biết phát hiện và trân trọng những cái đẹp giản dị, gần gũi của gia đình và quê hương. Em hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ, cảm nhận của mình về tính triết lý trên. —————————————————- BÀI LÀM THAM KHẢO “Người ta có thể tách con người ra khỏi quê hương chứ không thể tách quê hương ra khỏi con người. ” (Danh ngôn) Trong trái tim mỗi người luôn ngự trị một tình yêu, một sợi dây liên kết với quê hương, Tố quốc mà không gì có thể cắt đứt được. Khi ta chào đời, quê hương dang rộng vòng tay, cưu mang chúng ta. Khi ta gặp những thử thách trong cuộc sống, quê hương chở che và bảo vệ ta. Và đến lúc tuổi già, quê hương cũng vẫn bên ta, âu yếm ta. Cuộc sống của chúng ta bao giờ cũng có sự hiện diện của quê hương, hay gần gũi hơn nữa là gia đình – điểm tựa của mỗi con người. Nhưng liệu con người đã thật sự trân trọng những phút giây đáng quý, những cái đẹp rất đỗi gần gũi của điểm tựa biết ấy chưa? Nhằm mang cho cuộc sống nhũng bài học sâu sắc về tình yêu đất nước, Nguyễn Minh Châu, một cây bút xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam, đã viết nên truyện ngắn “Bến quê”, một tác phẩm hiện lên một triết lý sâu sắc: cần phải biết phát hiện và trân trọng những cái đẹp giản dị, gần gũi của gia đình và quê hương. Quê hương chắp cánh cho ta niềm tin, ước mơ, cho ta sức mạnh vững bước trong cuộc sống. Ai sinh ra mà không có quê hương? Nếu như gia đình cho ta cuộc sống, thì quê hương cho ta chỗ dừng trong xã hội, cho ta ngẩng mặt hòa mình vào tập thể. Chúng ta sinh ra trong những gia đình khác nhau, nhưng lại có cùng chỗ sống trên mảnh đất quê hương. Có thể cho rằng, quê hương là một đại gia đình của mỗi con người. Quê hương cưu mang và đùm bọc chúng ta. Nhờ có gia đình, quê hương, con người mới có niềm tin, khát khao để sống, có lòng dũng cảm để giải quyết khó khăn, có tính kiên trì để đến thắng lợi. Thật tuyệt vời làm sao khi quê hương và gia đình luôn ở ngay cạnh tôi. Khi tôi cười, tôi có gia đình chia sẻ; khi tôi khóc, tôi có gia đình an ủi. Còn với những con người kém may mắn hơn, quê hương sẽ gắn kết những con người với nhau, cả người may mắn và kém may mắn, cùng chia sẻ nỗi buồn, vượt qua khó khăn. Quê hương cho chúng ta mở lòng với đồng bào miền Trung đang khó khăn, cho ta có cơ hội mở chiến dịch “Mùa hè xanh” mang con chữ đến những vùng sâu, vùng xa. Quê hương tạo nên cái đẹp cho cuộc sống, soi rọi cho cuộc sống ánh sáng của niềm tin. về phần tôi, tôi sẽ sống và trân trọng từng giây phút bên gia đình, tôi sẽ yêu từ những cái đẹp nhỏ bé và bình dị nhất của quê hương. Nếu Bác Hồ cũng trân trọng những cái đẹp của quê nhà và hết mình dựng xây vì mục đích cao đẹp ấy, tôi cũng sẽ cống hiến cho chính quê hương mà tôi yêu. Tôi sẽ đặt gia đình lên làm điều quan trọng nhất, và trong tương lai, tôi sẽ sống có ích cho đất nước. Tôi sẽ mang trong mình tình yêu quê hương, yêu gia đình. Tôi biết, sức tôi rất nhỏ bé, nhưng tôi sẽ bắt đầu bằng việc học tập và góp ích cho gia đình. Còn giới trẻ ngày nay ơi, đừng ham mê danh vọng mà quên đi chỗ dựa quan trọng nhất của cuộc đời mình. Quê hương vẫn đang đợi các bạn. Hạnh phúc của cuộc sống cũng là tình yêu Tố quốc, bởi: Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa Vui gì hơn làm người lính đi đầu Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa”. (Tố Hữu) Ngày nay, nhiều bạn trẻ chỉ biết hưởng lợi cho bản thân, thích cái thắng lợi, vinh quang. Cách sống ấy chỉ khiến ta mất đi thời gian quý báu bên gia đình. Hãy sống và trân trọng quê hương bạn à và cũng để niềm vui cuộc sống được trọn vẹn hơn. “Bến quê” đã mang ta đến một triết lý giản dị mà sâu sắc: Cần phải biết phát hiện và trân trọng những cái đẹp giản dị, gần gũi của gia đình và quê hương. Lời khuyên đúng đắn ấy sẽ chảy trong dòng máu của chúng ta, và tôi tin, sau này, quê hương ta sẽ tràn ngập những sắc màu cuộc sống, vì sự cống hiến của tất cả chúng ta. Hãy trân trọng thời gian quý giá bên gia đình. Hãy góp sức từ những việc nhỏ, để cho cuộc sống có được hạnh phúc trọn vẹn, để ta được góp sức cho quê hương: “Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương nếu ai không nhớ Sẽ không lớn nổi thành người”. (Đỗ Trung Quân) (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 74: Viết bài văn về từ mà em cho là đẹp nhất trong tiếng Việt tại đây. Tags:Cảm nhận về tính triết lý · Đề 73 · Văn chọn lọc 9
Đề 73_ Cảm nhận về tính triết lý _ “Cần phải biết phát hiện và trân trọng những cái đẹp giản dị, gần gũi của gia đình và quê hương”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,115
Đề 74: Viết bài văn về từ mà em cho là đẹp nhất trong tiếng Việt – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Từ đẹp nhất trong tiếng Việt ĐỀ 74: “Mother” là từ đẹp nhất trong tiếng Anh. Đó là kết quả cuộc khảo sát của Hội đồng Anh với khoảng 7000 người học tiếng Anh ở 46 quốc gia và hơn 35.000 người bình chọn qua vvebsite Và “Mother” (mẹ) là từ đứng đầu trong danh sách 70 từ được chọn. Theo giải thích của các bình chọn thi khi nghĩ về “Mother”, ai cũng đều mỉm cười hạnh phúc và nhớ đến người phụ nữ mà mình yêu quý, người dẫn dắt đến cuộc sống yên bình. (Báo Thanh Niên ngày 1-11-2012) Nếu được chọn từ đẹp nhất trong tiếng Việt em sẽ chọn từ nào? Hãy viết bài văn về từ mà em cho là đẹp nhất ấy. BÀI LÀM THAM KHẢO “Cuộc sống là câu chuyện cổ tích kì diệu nhất”. Andersen, nhà văn vĩ đại đã viết nên tuổi thơ cho bao đứa trẻ trên thế giới đã từng phát biểu như vậy. Vâng, cuộc sống quả thật là một câu chuyện thần tiên nhiệm màu với bao điều bất ngờ. Chính cuộc sống là sự mở đầu cho mọi thứ, là bắt nguồn của mọi tinh hoa, là cội nguồn của sự phát triển. Nhưng chính cuộc sống cũng khởi đầu cho gian lao, cho thử thách và cho những cám dỗ. Có lẽ vì vậy, “cuộc sống” đã trở thành một từ có vẻ đẹp cao quý nhất, một vẻ đẹp hoàn hảo mà không hoàn hảo, một vẻ đẹp mà chỉ có số ít người trải qua nó mới có thể cảm nhận được. “Cuộc sống” tưởng chừng như hoa mĩ và phức tạp nhưng lại thật đơn giản. À không, là quá đơn giản so với bản chất thật của nó. Cuộc sống chính là thứ mà mọi sinh vật sở hữu. Từ mầm non đang hé dần chiếc lá đầu tiên, đến cây cổ thụ già đã đi qua bao nhiêu đời người. Từ con kiến gió nhỏ bé ngày ngày làm chúng ta bực mình vì gây ngứa đến con cá voi vĩ đại ngự trị đáy đại dương. Những thứ chúng ta tưởng như vô tri, ngu ngốc và phiền nhiễu, chúng cũng có cuộc sống. Mọi sinh vật đều được ban tặng cho cuộc sống. Con người cũng vậy, cũng là một phần của thiên nhiên, của tạo hóa, nên cũng được trao cho món quà quý giá ấy. Cuộc sống tồn tại ở mọi nơi, mọi thời điểm. Ở dưới nước, trên không, trên mặt đất. Quá khứ, hiện tại, tương lai. Tất cả đều có sự có mặt của cuộc sống. Mọi hoạt động hít thở, ăn uống, chạy nhảy đều xảy ra do có cuộc sống. Bạn có thể là bất kì sinh vật nào, đẹp hay xấu, khỏe mạnh hay yếu ớt, thông minh hay khờ khạo. Bạn có thể ở bất kì đâu vào bất kỳ thời điểm nào. Quan trọng ở chỗ, như William Shakespeare đã viết: Miễn là bạn tồn tại, bạn sẽ được nhận cuộc sống dù muốn hay không: “Mặt trời mỗi ngày đều mới” Cuộc sống cũng như mặt trời trong câu nói của Heraclitus, mỗi ngày đều có cái mới, những cái khác biệt, những cái góp phần viết nên con người bạn. Mỗi ngày, cuộc sống đều có sự thay đổi, dù nhỏ bé, dù to lớn. Cho dù là cùng làm một việc như cái cách bạn làm hôm qua và cách bạn làm hôm nay ắt sẽ khác biệt, cho dù rất mờ nhạt. Chúng ta không bao giờ làm một việc cùng một cách thức, cùng một trạng thái quá một lần trong đời. Nhưng chúng ta ít ai nhận ra điều đó nên cứ than vãn sao cuộc sống giống như một con tắc kè hoa. Nó thay đổi sắc thái xoành xoạch ngẫu nhiên theo môi trường xung quanh. Không bao giờ, cuộc sống trở lại chính xác trạng thái mà nó đã đi qua. Đó chính là một trong những điều làm cho hai chữ “cuộc sống” trở nên rất thú vị. Bạn có thể lựa chọn, ngồi đó than thở rằng, sao ngày nào cũng như ngày nào. Hoặc làm mọi việc một cách hết mình khi biết rằng đây là cơ hội duy nhất và cuối cùng của mình để làm việc đó theo cách này, tùy bạn, nhưng hãy nhớ lời khuyên này của Ciel Phantomhive, một nhân vật trong bộ truyện tranh Nhật Bản nổi tiếng “Hắc quản gia”: “Một thử đã mất đi sẽ không thế nào có lại được”. Vậy đấy, cuộc sống cứ như cô nàng thời trang không bao giờ mặc lại một bộ hai lần. Sự thay đổi liên hồi ấy đã tạo nên bản chất của cuộc sống, cái bản chất sâu thẳm được giấu kín, kín đến nỗi hiếm ai nhận ra. Cái bản chất của một đồng xu: Hai mặt. Có những giây phút mà ta tưởng chừng như không có thật. Nó quá đẹp, quá hoàn mỹ, quá cao cả. Như tình yêu thương chẳng hạn. Tình yêu thường có mặt trong trái tim của mọi sinh vật và được cảm hóa bởi tình yêu thương là bản năng của mọi sinh vật. Một ví dụ điển hình là cô bé 6 tuổi trong tiểu thuyết “Đêm tối và ánh sáng”. Có ai ngờ rằng một cô bé bị mắc chứng bệnh tâm lý mà có thể nhờ được giáo dục trở thành một thiên tài? Chính nhờ tình yêu thương của cô giáo mà cô bé ấy mới có ngày được tốt đẹp. Hay con quái vật trong truyện cổ tích “Người đẹp và quái thú”? Liệu có ai đoán sau lớp quái vật là chàng hoàng tử tuấn tú? Chính nhờ tình yêu của nàng Bell mà chàng mới được như vậy. Nhưng không chỉ tình yêu thương mà cuộc sống còn có muôn vàn điều tốt đẹp: ý chí vươn lên, bản chất riêng của cá nhân, lòng biết ơn, vị tha,… và vô số những điều khác. Chúng đều xuất phát từ tình yêu thương: yêu bản thân, yêu người khác, yêu giấc mơ và yêu sự bình yên. Và hơn cả, chúng đều là một phần của cuộc sống này. Đẹp lắm, cuộc sống à? Nhưng cớ sao có những kẻ lại chối bỏ nó? Cớ sao có những kẻ lại cướp nó đi từ những sinh vật khác? Hằng ngày đọc báo, cứ thi thoảng lại thấy một vụ án: tự tử, giết người, chặt cây, săn bắn lậu, thực phẩm có chất độc,… Khi làm những điều đó, con người liệu có dừng lại dù chỉ một phút để nghĩ về hậu quả chưa? Con người liệu đã đặt mình vào sinh mệnh mình sát hại hay những người chịu ảnh hưởng? Những sinh viên tự tử do thất tình; trùm khủng bố đánh bom vào tòa tháp đôi ngày 11/9, Lê Văn Luyện, sát hại một gia đình vì vàng, Hitler gây nên chiến tranh thế giới thứ hai; gã thợ săn bắn chết con voi con trong rừng; hàng loạt lâm tặc chặt gỗ, những vụ án trên trông có vẻ lộn xộn nhưng chúng đều mang cùng một tội ác: Cướp đi cuộc sống. Vì điều gì? Vì niềm tin tôn giáo? Vì thất vọng? Vì niềm tin chính trị? Vì vật chất? Xin thưa rằng một khi cuộc sống không tồn tại thì những thứ ấy là vô nghĩa. Bản thân chết đi thì sẽ chẳng nhận gì khác từ người mình yêu ngoại trừ sự thương hại. Đánh bom chẳng giúp tôn giáo thêm vẻ vang, chiến tranh chẳng giúp đất nước phát triển và giết người chẳng làm cho họ giàu lên. Chỉ bị gắn mác kẻ sát nhân. Giết thú? Chặt cây thì sao? Ừ thì lợi nhuận thì đầy nhưng con cái họ tương lai sẽ biết gì về động vật khi chúng đã bị họ tàn sát và chúng sẽ lấy gì để thở khi oxy từ những cánh rừng bị tàn phá đã không còn tồn tại? Quả là câu hỏi nan giải? Vậy tự hỏi bản thân đi, liệu có gì đáng để tước đi cuộc sống của bản thân và những sinh vật xung quanh không? “Hãy sống như thể ngày mai bạn sẽ chết”. Hãy cứ sống, sống không chỉ vì bản thân mà còn sống vì người khác: “Sống trong đời sống, cần có một tấm lòng Để làm gì, em biết không? Để gió cuốn đi!” Hãy cứ sống, sống để quan sát cuộc đời xung quanh bởi Sinbad, chàng thủy thủ nổi tiếng trong huyền thoại rằng: “Cuộc đời là một chuyến phiêu lưu”. Đó chính là cách sống sao cho không bất kì giây nào của cuộc sống bị lãng phí. Nhưng đó chỉ là suy nghĩ chủ quan của cá nhân tôi. Đây là cuộc sống của bạn. Bạn sở hữu nó hoàn toàn và chỉ có bạn mới là người quyết định phải làm gì với cuộc sống của mình. Xin hãy quyết định sao cho để không chỉ bản thân bạn mà những người xung quanh sẽ không thấy hối hận và mãi mãi nuối tiếc quá khứ! Xin hãy biến chữ “cuộc sống” vốn đã đẹp thành một thứ vĩ đại và tuyệt vời hơn nữa! “Bởi cuộc sống là một món quà”. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 75: Suy nghĩ về câu nói “Người ta không biết trọng cái thực lực mà muốn trông cậy về cái vận may thì chí khí cũng đã kém rồi huống chi là cái vận may không mấy khi được gặp” tại đây. Tags:Từ đẹp nhất trong tiếng Việt
Đề 74_ Viết bài văn về từ mà em cho là đẹp nhất trong tiếng Việt – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,636
Đề 75: Suy nghĩ về lời nói của người xưa:” Người ta không biết trọng cái thực … khi được gặp”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Suy nghĩ về lời nói của người xưa ĐỀ 75: Em hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của bản thân về lời nói của người xưa: “Người ta không biết trọng cái thực lực mà muốn trông cậy về cái vận may thì chí khí cũng đã kém rồi huống chi là cái vận may không mấy khi được gặp”. BÀI LÀM THAM KHẢO Nhiều lúc tôi tự hỏi; “Vận may là gì nhỉ? Tại sao nó không đến với mình?”. Chắc hẳn rằng nhiều người cũng có câu hỏi tương tự như tôi. Nhưng các bạn biết không, một ngày nọ tôi chợt nhận ra rằng, thực lực của chúng ta quan trọng hơn vận may rất nhiều lần. Nếu con người chỉ biết sống dựa vào may rủi thì không thể thành công. Nhờ đâu tôi học được chân lí đúng đắn ấy? Đó là do một lần tôi tình cờ đọc được câu nói của người xưa: “Người ta không biết trọng cái thực lực mà muốn trông cậy về cái vận may thì chí khí cũng đã kém rồi huống chi là cái vận may không mấy khi được gặp”. Để hiểu rõ hơn ý nghĩa giáo dục của câu nói trên, Tôi và Bạn hãy cùng tìm hiểu một vài khái niệm được đưa ra. Vận may là gì? Vận may theo cách hiểu đơn giản nhất chính là may mắn khi chúng ta làm một việc gì đó thuận lợi, không gặp bất trắc. Còn thực lực là thế nào? Thực lực là tố chất, là khả năng của con người trong một hay nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, cũng có thể nói thực lực là tài năng vậy. Vận may có thể đến bất ngờ như chúng ta mong muốn sống bạn đừng chỉ trông chờ vào vận may mà hãy quan tâm hơn đến thực lực của chính bản thân mình. Câu nói của ông bà ta ngày xưa rất hay và đúng đắn. Nó răn đe những người không tự thân cố gắng, không dùng thực lực để chứng tỏ, khẳng định bản thân mà chỉ trông vào cái gọi là may rủi. Không chỉ vậy, câu nói còn khẳng định rằng chí khí của chúng ta cũng kém đi nhiều rồi huống hồ vận may lại không mấy khi được gặp. Là lời nhắc nhở cũng như lời khuyên chân thành, câu nói đáng để bạn và tôi cùng ngồi lại suy ngẫm thật nhiều. Bạn đã từng nghe câu chuyện về một chàng trai lười biếng, hằng ngày anh ta nằm dưới gốc cây sung và há miệng chờ sung rụng xuống để ăn chưa? Anh chàng ấy cũng giống như chúng ta, chỉ biết nằm chờ vận may chứ chưa hề tự thân vận động. Thử hỏi nếu anh chàng kia chờ cả ngày mà chẳng được quả sung nào lọt vào miệng thì sao nhỉ? Vì vậy, ta nên hiểu rằng vận may và thực lực luôn là đôi bạn đồng hành trên chặng đường dài của cuộc sống, chúng bổ sung cho nhau và cùng hỗ trợ nhau giúp chúng ta thành công. Tại sao ư? Tôi có thể nêu vài ví dụ để các bạn hiểu thêm: Giả sử một người có thực lực thật sự nhưng anh ta lại không gặp may mắn khi đi phỏng vấn xin việc làm. Hay chẳng hạn một người khác may mắn được gọi đi phỏng vấn nhưng sau đó người ta biết được thực ra anh chàng này chẳng hề có một chút thực lực? Một số người khác trong những trường hợp khác lại không tự tin vào bản thân mình, họ chỉ mong sao mình may mắn và không hề quan tâm trau dồi thêm cho thực lực. Nhiều khi họ quên rằng mình cũng giống thật sự cái anh chàng trong câu chuyện “Há miệng chờ sung” kia, thiếu ý chí, thiếu ý thức và thực lực cũng thiếu nốt. Một khi ta thiếu ý chí rồi thì làm việc gì cũng khó khăn. Tôi có một câu hỏi nhỏ với các bạn nhé! Có bao giờ bạn ghen tị với những người khác bởi vì bạn cho rằng họ may mắn hơn mình chưa? Con người ai cũng muốn mình may mắn, hoàn hảo nhưng chả ai chịu cố gắng và coi trọng thực lực bản thân. Họ đâu biết rằng thực lực, ý chí là hai yếu tố quan trọng chứ đâu phải cái vận may kia (chỉ là yếu tố phụ góp thêm để tạo nên thành công). Tôi đã tìm đọc một câu chuyện từ quyển sách “Hạt giống tâm hồn” có tên gọi là “Chiếc bình nứt”. Câu chuyện kể về một người Ấn Độ dùng hai cái bình lớn để hằng ngày gánh nước từ suối về nhà. Một trong hai cái bình bị nứt và nó luôn tự ti mặc cảm. Một ngày kia, nó giãi bày nỗi xấu hổ của mình với người gánh nước. Song người gánh nước đã chỉ cho nó những luống hoa xinh đẹp mọc bên phía đường mà nó đi qua. Lúc ấy, nó mới chợt hiểu ra rằng, nước chảy từ vết nứt của nó đã tưới mát những bông hoa kia. Bạn thấy không? Chúng ta cũng như chiếc bình nứt, luôn mong mình hoàn hảo như chiếc bình bên kia đầu gánh mà không thấy được thực lực của mình. Ảo vọng hoàn hảo và may mắn đã xâm chiếm hết con người ta, làm con người ta không biết trọng thực lực. Từ đó ta luôn mất đi niềm tin vào bản thân và trông chờ vào vận may không mấy khi được gặp. Bài học từ câu chuyện nhỏ mà tôi chia sẻ hy vọng phần nào giúp bạn lấy lại sự tự tin, chí khí của mình. Đừng là con người quá coi trọng may mắn bạn nhé. Trong cuộc sống này, vẫn rất nhiều thành công đâu chỉ vì gặp may mắn mà họ thành công là do bản thân họ có thực lực đấy bạn ạ! Điển hình như Walt Disney, Bill Gates, Lev Tolstoy hay Luis Pasteur… Họ là những tấm gương sáng để chúng ta noi theo. Nhà văn Nguyễn Bá Học cũng từng nói: ‘‘Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Đúng vậy, chỉ sợ chúng ta không có ý chí, không đủ thực lực để bước đi trên con đường đời thôi chứ nếu ta hội đủ các tố chất thì không cần phải lo sợ, đúng không? Một lần nữa, tôi muốn nhắn nhủ tới các bạn rằng: Thực lực là quan trọng nhất, quyết định số phận cũng như thành công bạn ạ! Bác Hồ kính yêu cũng đã từng dạy thanh niên: “Không có việc gì khó Chỉ sợ lòng không bền Đào núi và lấp biển Quyết chí ắt làm nên”. Đừng quên lời tôi, bởi vì nó là chiếc chìa khóa kì diệu mở ra cánh cửa tương lai tươi sáng của bạn đấy! cố gắng lên, rồi bạn sẽ đạt được điều mình mong muốn. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 76: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương’’ của Nguyễn Dữ tại đây.
Đề 75_ Suy nghĩ về lời nói của người xưa _” Người ta không biết trọng cái thực … khi được gặp”- Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,255
Đề 76: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương’’ của Nguyễn Dữ – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Phân tích nhân vật Vũ Nương DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Giới thiệu tác giả: Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông là học trò của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền binh, gây ra các cuộc nội chiến kéo dài. Ông học rộng, tài cao nhưng chỉ làm quan có một năm rồi xin nghỉ về nhà nuôi mẹ già và viết sách, sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời khác. – Giới thiệu tác phẩm: Chuyện người con gái Nam Xương nằm trong tác phẩm gồm 20 truyện mang tên Truyền kì mạn lục (ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu truyền). – Trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương, nhân vật Vũ Nương nổi bật lên với những phẩm chất đáng quý của một người phụ nữ Việt Nam. II. THÂN BÀI – Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (còn gọi là Vũ Nương) là một người con gái thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp có chồng là Trương Sinh – một người vô học và có tính hay ghen. Trương Sinh đầu quân đi đánh giặc. Ít lâu sau, Vũ Nương có mang và sinh ra một đứa con trai đặt tên là Đản. Ở nhà, Vũ Nương hết mực yêu thương mẹ chồng và con, nhưng vì quá nhớ thương con trai nên người mẹ chồng lâm bệnh mà qua đời mặc dù Vũ Nương đã hết lòng chăm sóc. Trương Sinh trở về, đứa con nhất mực không gọi là cha vì cha cậu bé buổi tối mới đến, không nói, không bế Đản, chỉ đi theo mẹ. Với thói hay ghen tuông, Trương Sinh nghi ngờ vợ thất tiết nên buông lời mắng nhiếc và đuổi nàng đi, nàng kêu oan không được đành gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Một đêm, khi thấy bóng cha trên tường, bé Đản nói cha lại đến, bấy giờ Trương Sinh mới vỡ lẽ ra thì lúc đó tất cả đã quá muộn màng. Vì thương nhớ chồng con mà Vũ Nương đã nhờ đến Phan Lang – người cùng làng với Trương Sinh, nói lại với chồng mình lập đàn giải oan cho nàng. Nhưng khi Trương Sinh đã lập đàn bên sông, Vũ Nương chỉ hiện về trong chốc lát rồi biến mất. A. Vũ Nương nơi trần thế a) Phẩm chất, đức hạnh. – Vũ Nương là một người vợ thủy chung son sắt và hết mực yêu thương chồng của mình, là một người mẹ hiền, dâu thảo, là người có tư dung tốt đẹp. – Vũ Nương đẹp về tâm hồn và phẩm chất, được thể hiện trong các mối quan hệ: + Với chồng: giữ gìn khuôn phép, chung thuỷ khi chồng đi lính, khát vọng hạnh phúc gia đình giản dị, bình yên. + Với mẹ chồng: hiếu thảo, chăm sóc mẹ chồng tận tâm khi ốm đau, xót thương khi mẹ chồng mất. + Với con: yêu thương con, nuôi con một mình khi chồng đi lính. – Vũ Nương tiêu biểu cho phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến. b) Nỗi oan khuất của nàng – Vì lời nói của con trẻ mà nàng mắc phải nỗi oan khuất. Trương Sinh nghi ngờ sự thất tiết của nàng qua lời nói của bé Đản. Lễ giáo hà khắc của phong kiến không chấp nhận một người phụ nữ như vậy. – Vũ Nương kêu oan nhưng vô ích. – Nàng trầm mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn để khẳng định tấm lòng son sắt của mình. B. Vũ Nương nơi thủy cung – Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa; Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi tiệc yến và gặp Vũ Nương, người cùng làng đã chết, rồi được sứ giả của Linh Phi rẽ nước đưa về dương thế; hình ảnh Vũ Nương hiện ra sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến Hoàng Giang đầy lung linh, huyền ảo,… sự xuất hiện của nàng lúc ẩn, lúc hiện rồi biến mất hẳn. – Chi tiết kết thúc tác phẩm: hoàn thiện tính cách của Vũ Nương là một người phụ nữ vô tội và xứng đáng được hưởng cuộc sống hạnh phúc với phẩm chất vốn có của mình. Dù bây giờ nàng đã là người của thế giới khác nhưng trong tâm hồn nàng vẫn còn nặng tình với chồng, con, với những kỉ niệm, hạnh phúc gia đình. Điều đó cũng tạo nên một kết thúc có hậu cho câu chuyện. Ngoài ra, cái kết thúc còn thể hiện được ước mơ của con người về sự công bằng, cái thiện sẽ được gặp lành, hạnh phúc sẽ đến với những con người biết sống theo cái thiện, đặc biệt là người phụ nữ. – Ý nghĩa của những chi tiết kì ảo: bắt buộc phải có của loại truyện truyền kì tạo được sự hấp dẫn, sinh động cho câu chuyện. Ngoài ra, các yếu tố kì ảo, hoang đường còn góp phần tăng thêm tính hiện thực và nhân văn cho tác phẩm. • GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO A. Giá trị hiện thực Nỗi oan của Vũ Nương là nỗi oan chung của bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Cuộc đời họ gặp bao nhiêu chuyện nghi ngờ, oan uổng nhưng họ nói nào có ai nghe, nên đành phải sống trong câm lặng với nỗi dằn vặt, oan uổng => Cuộc đời người phụ nữ thật đắng cay. B. Giá trị nhân đạo – Tác giả đã hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương – một phụ nữ bình dân. – Nguyễn Dữ trân trọng vẻ đẹp của Vũ Nương bao nhiêu thì càng đau đớn trước bi kịch cuộc đời của nàng bấy nhiêu. – Nguyễn Dữ với tấm lòng yêu thương con người sâu sắc, ông không để cho số phận một con người trong sáng, cao đẹp như Vũ Nương chịu cảnh oan khuất. – Nguyễn Dữ lên án gay gắt những thế lực tàn bạo của xã hội phong kiến đã chà đạp lên quyền sống và hạnh phúc của con người. III. KẾT BÀI – Qua cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, Chuyện người con gái Nam Xương đã thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ. – Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình. Những cuộc chiến tranh vô nghĩa giữa các phe phái phong kiến ở thế kỷ XVI đã đẩy bao số phận, bao con người, bao gia đình vào cảnh éo le, đau thương, tan nát. Thấu hiểu tận lòng nỗi khổ ấy, Nguyễn Dữ đã viết về họ, đặc biệt là người phụ nữ với tấm lòng yêu thương và sự cảm thông sâu sắc. Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” trích trong Truyền kì mạn lục ta bắt gặp những gửi gắm đầy nhân văn của tác giả và hình ảnh thân phận bị chà đạp của người phụ nữ ở thời kì phong kiến. Như chúng ta đã biết “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã làm xúc động bao thế hệ bạn đọc bởi những phẩm chất cao quý nhưng cuộc đời lại đầy oan trái của một người con gái. Vũ Nương chính là nhân vật trung tâm của câu chuyện, nàng nổi bật với những nét phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam đảm đang, tháo vát, chung thuỷ và khát khao hạnh phúc gia đình. Nhưng cái xã hội nam quyền khắt khe đã đẩy cuộc đời nàng đến cảnh trái ngang, oan uất đầy bất hạnh. Mặc dù sống trong xã hội phong kiến nhưng Vũ Nương luôn biết hy sinh cái của riêng mình để đạt được cái lớn lao hơn đó chính là một gia đình êm ấm, hòa thuận. Sau khi tiễn chồng đi bằng những lời mặn nồng, tha thiết, Vũ Nương ở nhà sinh con và nuôi con một mình, nàng cũng hết mình chăm sóc, phụng dưỡng mẹ chồng, thuốc thang lễ bái và chôn cất mẹ chồng chu đáo khi mẹ chồng qua đời như đứa con đẻ không so bì, phân tính thiệt hơn. Trong mối quan hệ gia đình Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, ăn nói có chừng mực, cho dù năm tháng xa cách, nàng vẫn luôn giữ mình, giá sạch tiết trong. Bởi thế, khi bị Trương Sinh nghi ngờ Vũ Nương phụ bạc mình. Vũ Nương chỉ biết một mực kêu oan, cuối cùng nàng đã đến bến Hoàng Giang tự vẫn. Nhưng trước đó, Trương Sinh đâu biết “người đàn ông” mà cậu bé Đản nói thật ra chỉ là cái bóng của chính Vũ Nương. Nguyễn Dữ đã thật tài tình khi xây dựng tình huống đầy éo le, kịch tính, tạo sự hồi hộp cho độc giả. Liệu Vũ Nương có được cứu thoát khỏi cuộc sống đau khổ như hiện tại hay không? Liệu nàng có giải oan được cho mình hay không? Chúng ta biết khi Vũ Nương tự vẫn thì đã được Linh Phi cứu và hứa sẽ giúp cho nàng giải oan. Để giúp cho Vũ Nương giải oan, tác giả Nguyễn Dữ dã xây dựng nên một thế giới huyền ảo, một cây cầu nối hai bờ hư thực để nhân vật Phan Lang gặp lại và trò chuyện với Vũ Nương nơi chốn thuỷ cung. Vì còn lòng yêu thương Trương Sinh nên nàng đã nhờ Phan Lang nói cho Trương Sinh biết nếu muốn gặp lại nàng thì hãy lập đàn giải oan bên sông và kêu Phan Lang đưa kỷ vật của nàng cho Trương Sinh. Khi trở về nhân gian, Phan Lang đã làm đúng theo như những gì Vũ Nương đã nói. Trương Sinh vốn đa nghi nên đã không tin nhưng khi thấy kỉ vật là cây trâm của Vũ Nương thì Trương Sinh đã làm theo lời Phan Lang nói. Trương Sinh lập đàn giải oan bên bờ sông thì ngay lập tức Vũ Nương hiện lên trên bờ sông ngồi trên chiếc kiệu hoa và theo sau có năm mươi chiếc xe cơ tán, võng lọng và rực rỡ lúc ẩn lúc hiện. Vũ Nương chỉ nói một câu duy nhất: “Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng thiếp chẳng thể trở về trần gian được nữa”. Biết bao ý tình nhà văn Nguyễn Dữ đã gửi gắm vào sự trở về chốc lát của Vũ Nương. Đó là sự trở về để khẳng định sự chung thuỷ, tình yêu thương, là món quà dành cho người biết hối lỗi như Trương Sinh. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, chốc lát vì con người đã ra đi mãi mãi không thể trở về, cũng như hạnh phúc một khi đã để tuột mất thật khó để lấy lại. Trương Sinh vì ghen tuông mù quáng nên đã đánh mất người vợ của mình. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Lời thề của Vũ Nương vừa thể hiện niềm đau đớn khôn nguôi, vừa khẳng định tấm lòng trinh bạch của nàng. Tác giả đã sử dụng kết hợp các điển tích, điển cố “Ngọc Mị Nương, cỏ Ngu Mĩ’ như lối so sánh ngầm. Tấm lòng của Vũ Thị Thiết sáng trong muôn đời. Lòng tự trọng bị xúc phạm nặng nề và để minh oan cho sự trong sáng của mình, Vũ Nương đã “gieo mình xuống sông mà chết”. Cái chết của Vũ Nương khiến người đọc hiểu thêm về số phận bi thảm của người phụ nữ xưa. Hạnh phúc của người phụ nữ sống trong thời kì phong kiến thật mỏng manh. Nói tóm lại, sự ra đi của Vũ Nương đáng thương biết bao để lại trong lòng người đọc bao niềm cảm thương, ngậm ngùi. Nhưng có lẽ đây là cách tốt nhất của tác giả để giải thoát cho số phận đau thương, để cho Vũ Nương sống dưới thuỷ cung mới có thể tìm được hạnh phúc chính đáng và chốn nương thân che chở cho mình. Ngòi bút của Nguyễn Dữ đã mạnh dạn đưa ra những lời tố cáo và phê phán xã hội và nêu lên những nét đẹp về phẩm chất cho người đương thời và mãi mãi về sau khâm phục, nâng niu và trân trọng. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 77: Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng” của Kim Lân tại đây. Tags:Chuyện người con gái Nam Xương · Đề 76 · Văn chọn lọc 9 · Vũ Nương
Đề 76_ Phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương’’ của Nguyễn Dữ – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
2,254
Đề 77: Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng” của Kim Lân – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Phân tích nhân vật ông Hai DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Giới thiệu tác giả: Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng báo từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân. Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. – Giới thiệu tác phẩm: Truyện ngắn Làng được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948. – Trong tác phẩm Làng, nhân vật ông Hai nổi bật lên với những phẩm chất đáng quý của một người nông dân yêu làng yêu nước. II. THÂN BÀI – Tóm tắt:Ông Hai là một nông dân ở làng Chợ Dầu. Ông rất yêu làng của mình với một tình cảm rất sâu sắc. Ông luôn hào hứng khi nói về tất cả những gì liên quan đến cái làng Chợ Dầu. Và một ngày, ông nghe tin làng theo giặc, ông đau đớn, tủi hổ không dám nhìn mặt ai, cũng không dám bước chân ra khỏi nhà mà chỉ tâm sự với đứa con nhỏ trong nhà về một niềm tin tuyệt đối vào cách mạng và Bác Hồ. Sau đó, tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính. Ông Hai mừng rỡ, hân hoan đi khắp nơi khoe về điều đó mặc dù nhà ông đã bị Tây đốt. a. Tâm trạng đau đớn, tủi hổ của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc – Ông Hai vốn là người yêu làng tha thiết. Tự hào về làng yà hay khoe về nó => Yêu làng – Từ chỗ ông Hai đang vui vẻ, phấn chấn vì nghe được nhiều tin ta thắng giặc trên tờ báo của phòng thông tin thì ông hay tin làng của ông theo giặc “Cô ông lão nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tường như đến không thở được”. – Để rồi ông Hai rơi vào trạng thái đau đớn, tủi hổ ngày càng nặng nề. Sau khi nghe tin ông tìm cách lảng ra về, cố ra vẻ bình thản để che giấu tâm trạng, nỗi tủi hổ khiến ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”, tai còn nghe văng vẳng tiếng chửi theo “…giống Việt gian bán nước”. – Về đến nhà ông nằm vật ra giường, nhìn đàn con mà tủi, “…nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”. Ông căm giận lũ người theo giặc, phản bội quê hương, đất nước. – Ông Hai có một cuộc xung đột nội tâm dữ dội: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù ” => Yêu nước. – Ông Hai tâm sự cùng với đứa con nhỏ thể hiện tấm lòng bền chặt, sâu sắc gắn bó giũa ông với quê hương, đất nước, với kháng chiến và cụ Hồ. Nói với con, nhưng thực chất ông nói với lòng mình, tự giãi bày, tự minh oan. Lời tâm sự như một lời thề, khẳng định sắt đá tình yêu làng, yêu nước sâu nặng, bền vững của ông Hai. b. Tâm trạng vui sướng, tự hào khi ông Hai nhận được tin cải chính về làng – Khi có tin đính chính làng ông không theo giặc “cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên”, niềm vui trở lại trên gương mặt ông: khăn áo lại chỉnh tề, mặt tươi rạng rỡ, miệng lẻm bèm nhai trầu, mắt hấp háy, nói bô bô, khao con ăn bánh rán đường,… – Ông hoan hỉchạy sang nhà bác Thứ khoe với Bác và tất cả mọi người tin vui “Tây nó đốt nhà tôi rồi Dác ạ. Đốt nhẵn!”. Đó là minh chứng hùng hồn cho việc làng ông không theo giặc, trung thành với kháng chiến, với cách mạng. – Ông nhắc đi nhắc lại “Tây nó đốt nhà tôi rồi Bác ạ. Đốt nhẵn! ” c. Nghệ thuật đặc sắc – Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và là lời ăn tiếng nói của người nông dân. – Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu theo điểm nhìn của nhân vật ông Hai. – Ngôn ngữ nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động. III. KẾT BÀI – Tình yêu làng quê và lòng yêu nước, tinh thần kháng chiến cùa ngưòi nông dân phải rời làng đi tản cư đã được thể hiện chân thực, sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai. BÀI VĂN THAM KHẢO Tác giả Kim Lân sinh năm 1920, mất năm 2007. Quê ông ở huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Ông tên thật là Nguyễn Văn Tài. Ông là một nhà văn thời hiện đại. Các tác phẩm của ông hầu hết kể về thời kháng chiến chống thực dân Pháp, nạn đói v.v… Văn bản “Làng” trong Ngữ Văn 9 là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông được viết trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong truyện, tác giả Kim Lân đã sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật nhưng có lẽ biện pháp hay nhất chính là miêu tả tâm trạng nhân vật ông Hai. Ông Hai là một nông dân ở làng Chợ Dầu. Ông rất yêu làng của mình với một tình cảm rất sâu sắc. Ông luôn hào hứng khi nói tất cả những gì liên quan đến cái làng Chợ Dầu. Và một ngày, ông nghe tin làng theo giặc, ông đau đớn, tủi hổ không dám nhìn mặt ai, cũng không dám bước chân ra khỏi nhà mà chỉ tâm sự với đứa con nhỏ trong nhà về một niềm tin tuyệt đối vào cách mạng và Bác Hồ. Sau đó, tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính. Ông Hai mừng rỡ, hân hoan đi khắp nơi khoe về điều đó mặc dù nhà ông đã bị Tây đốt. Trong câu chuyện, Kim Lân đã tạo nên một tình huống éo le làm bộc lộ rõ tâm trạng của ông Hai. Đọc bài “Làng” thì hẳn ai cũng biết ông Hai là một người rất yêu và tự hào về làng Chợ Dầu của mình. Vậy mà trong lúc đi dạo ông lại nghe tin làng mình làm Việt gian theo Tây từ những người tản cư từ dưới làng lên. Đó là tình huống bất ngờ làm tổn thương tình yêu làng của ông Hai và khiến ông hết sức đau khổ, đau xót. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả rất tinh tế và sâu sắc. Kim Lân đã miêu tả rất cụ thể các diễn biến nội tâm qua ngoại hình, cử chỉ, ý nghĩa của nhân vật ông Hai. Hay hơn nữa là nhà văn miêu tả tâm lý nhân vật ông Hai không phải trong một khắc, một đoạn mà là cả một quá trình diễn biến hợp lí qua các chặng. Nỗi bất hạnh lớn đổ xuống đầu ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc khiến ông sững sờ, choáng váng: “Cổ ông lão nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân…” Lúc về đến nhà, ông nằm trên giường, nửa tin nửa ngờ: “Chả lẽ ở làng lại đốn đến thế chăng?”. Ông không dám ló mặt ra ngoài, suốt ngày chỉ ở trong nhà mà thôi. Hễ nghe thấy hai từ “Việt gian” là ông lại tự nhủ: “Thôi lại chuyện đấy rồi” Khi mụ chủ nhà biết chuyện làng chợ Dầu theo giặc thì lại có ý đuổi khéo gia đình ông đi. Ông Hai đã rơi vào trạng thái bế tắc hoàn toàn: “Biết đi đâu bây giờ. biết ở đâu có bố con ông mà đi bây giờ?”. Ông đã có ý nghĩ trở về làng nhưng ngay lập tức ông gạt phăng cái ý nghĩ ấy đi. Chính vì vậy ông đã không còn cách nào khác ngoài tâm sự cùng đứa con út bé bỏng. – Nhà ta ở đâu? – Ở làng Chợ Dầu – Con ủng hộ ai? – Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Ôi yêu làng, ông muốn khắc sâu vào trái tim bé bỏng của con tình cảm đối với làng, đối với kháng chiến, với Cụ Hồ. Đó cũng chính là tấm lòng yêu nước chung thuỷ với cách mạng của ông. Khi tin đồn đưọc cải chính, thái độ buồn thiu thường ngày của ông biến mất hẳn, ông rạng rỡ hẳn lên. Ông vội vàng chia quà cho các con, chạy khắp nơi để khoe: “Tây nó đốt nhà tôi rồi. Đốt nhẵn! Ông chủ tịch… làng chợ Dầu chúng tôi đi Việt gian. Láo! Toàn là sai cả!” Ở đây, nhà văn Kim Lân đã để cho nhân vật cùa mình cứ hả hê sung sướng trước cái sự lẽ ra phải đau khổ, tác giả đã rất hiểu cái tâm lí thông thường của con người rất tinh tế. Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân có một nghệ thuật xây dựng nhân vật và miêu tả tâm trạng nhân vật hết sức đặc sắc. Truyện đã ca ngợi tình yêu làng, yêu nước của những con người Việt Nam trong kháng chiến. Tâm trạng của ông Hai cũng là tâm trạng cùa biết bao người nông dân trên mọi nẻo đường của Tổ quốc. Vừa gợi sự thân thuộc vừa gây ấn tượng mạnh mẽ, để lại cho người đọc những cảm xúc khó quên. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 78:: Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê tại đây. Tags:Đề 77 · Kim Lân · Làng · Ông Hai
Đề 77_ Phân tích nhân vật ông Hai trong tác phẩm “Làng” của Kim Lân – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,730
Đề 78: : Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Phân tích nhân vật Phương Định DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Giới thiệu tác giả: Lê Minh Khuê sinh năm 1949, quê ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Trong kháng chiến chống Mĩ, gia nhập thanh niên xung phong và bắt đầu viết văn vào đầu những năm 70. Lê Minh Khuê là cây bút nữ chuyên về truyện ngắn. Trong những năm chiến tranh, truyện của Lê Minh Khuê viết về cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn. Sau năm 1975, tác phẩm của nhà văn bám sát những biến chuyển của đời sống xã hội và con người trên tinh thần đổi mới. – Giới thiệu tác phẩm: Truyện Những ngôi sao xa xôi ở trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết năm 1971, lúc cuộc kháng chiến chổng Mĩ của dân tộc đang diễn ra ác liệt.. – Trong tác phẩm Những ngôi sau xa xôi, tác giả Lê Minh Khuê đã thể hiện một cách nổi bật tinh thần dũng cảm của những cô gái thanh niên xung phong mà tiêu biểu là nhân vật Phương Định. II. THÂN BÀI – Tóm tắt:Truyện kể về nhóm nữ trinh sát mặt đường gồm Thao, Nho và Phương Định. Công việc của họ cực kì nguy hiểm và có thể mất mạng bất cứ lúc nào. Đó là quan sát máy bay thả bom của giặc, đo đất đá, san lấp hố bom, kiểm tra những quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc nguy hiểm là thế nhưng họ vẫn luôn yêu đời, hồn nhiên, thích ca hát. tâm hồn thơ mộng, đặc biệt là nhân vật Phương Định. Họ luôn gắn bó, yêu thương nhau như chị em dù cho tính nết mỗi người mỗi khác. Cơn mưa đá ở cuối truyện để lại trong lòng Phương Định bao xuyến xao, hoài niệm. – Giới thiệu về Phương Định: + Là một thiếu nữ sống ở thủ đô, vào chiến trường Trường Sơn được ba năm và trở thành chiến sĩ rất dày dặn. + Cô có hình thức bên ngoài là một cô gái đẹp với hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn và một đôi mắt mà các anh chiến sĩ lái xe thường bảo rằng: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. + Phương Định thích làm đẹp, thích ngắm mình trong gương nhưng tính tình thì tế nhị, kín dáo. Gặp các anh bộ đội, các cô gái thanh niên xung phong khác thường xúm nhau lại đối đáp với các anh rất vui vẻ nhưng riêng Phưong Định thì khác. Cô thường đứng ra xa, khoanh tay trước ngực và quay mặt đi nơi khác trong lúc đôi môi mím chặt, trông cô có vẻ kiêu kỳ nhưng thật ra cô chỉ làm điệu thế thôi vì người cô yêu mến và cảm phục chính là những người chiến sĩ ấy. + Phương Định rất thích hát, mê hát, lại hát rất hay. Cô có biệt tài bịa ra lời bài hát, nhiều lời hát rất ngớ ngẩn, vui vẻ làm ca tổ cười vang, thích thú. 1.Tính cách 1: Là một cô gái thanh niên xung phong có tinh thần trách nhiệm cao, chiến đấu dũng cảm, không sợ cái chết. – Thể hiện qua lần Phương Định phá bom: Cô dùng một cái xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom, âm thanh vang lên sắc đến gai người. Trong khi Phương Định đào đất, quả bom nóng. Không sợ. Cô tiếp tục công việc. Đó là nối sợi dây mìn đến với quả bom rồi phát lửa. Chờ mìn nổ, quả bom nổ. Phương Định phải tính toán nếu mìn không nổ, quả bom không nổ thì làm cách nào để châm mìn lần hai. Công việc rõ ràng là hết sức nguy hiểm “Tôi có nghĩ đến cái chết nhưng một cái chết mờ nhạt, không cụ thể”. => Cái chết được xem nhẹ, quan trọng là mình có hoàn thành công việc hay không. => Hành động ấy rất dũng cảm, cho thấy Phương Định là một người có tinh thần trách nhiệm, ý chí tiến công để hoàn thành nhiệm vụ. => Đó là biểu hiện cùa lòng yêu nước, ở niềm tin cuộc cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 2. Tính cách 2: Tinh đồng đội, đồng chí thắm thiết – Tình cảm thương yêu, sự quan tâm lẫn nhau của các cô gái thanh niên xung phong được biểu hiện bằng những nét rất chân thật, hồn nhiên: + Nho sau khi đi san lấp mặt đường trở về, cô đã xuống suối tắm ngay. Nho vừa tắm ở dưới suối lên cứ nguyên quần áo ướt, Nho ngồi và đòi ăn kẹo. Phương Định đưa cho bạn hai cái kẹo chanh dính đầy cát, chảy nước. Cô ngắm nhìn bạn với đôi mắt thương yêu, cứ muốn bế bạn trên tay. Phương Định cảm nhận về bạn rất gần gũi, chỉ có cái nhìn yêu thương, gắn bó, Phương Định mới cảm thấy Nho: “Trông nó nhẹ, mát mẻ như một que kem trắng”. + Khi Nho bị thương, cả chị Thao lẫn Phương Định đều hốt hoảng, lo lắng. Chị Thao vấp ngã vì vội vàng chạy đến với Nho, đôi mắt chị mờ trắng đi như không còn sự sống vì chỉ nghĩ tới Nho với quả bom vừa mới nổ và hầm của Nho bị sập. + Người đọc xúc động khi thấy chị Thao nghẹn ngào trong nước mắt, theo dõi Phương Định moi đất, bế Nho lên, từ cánh tay của Nho, máu túa ra ngấm vào đất. + Phương Định đã nhanh chóng đun nước sôi trên bếp than để rửa vết thương cho Nho. Máu ra nhiều, Nho bị choáng. Phương Định đã dùng bông băng trắng đế băng vết thương rồi tiêm thuốc cho Nho cẩn thận. Trông cô làm, săn sóc cho bạn không khác một y sĩ thành thạo với tấm lòng nhân ái vì bệnh nhân. + Khi cơn mưa đá đổ xuống thì những viên đá đầu tiên mà Phương Định nhặt ở cửa hang chính là dành cho Nho, dành cho người bạn, người đồng đội đang chịu những đau đớn và thiệt thòi: Sự quan tâm của Phương Định đã làm cho Nho thích thú, môi cô hé mở: “Mày cho tao mấy viên nữa”. => Lúc Nho bị thương và lúc sự sống và cái chết gần kề, tình đồng đội càng trở nên thắm thiết hơn. 3.Tính cách 3: Một cô gái nhiều mộng mơ, tâm hồn trong sáng, lãng mạn, rất đáng yêu – Cơn mưa đá đột ngột đến trên cao điểm và cũng bất ngờ đem đến cho Phương Định những hồi ức về những ngày sống thanh bình, yên ả trong một căn gác giữa lòng Hà Nội… – Cơn mưa đá đến đồng thời cũng đem đến những đợt sóng lòng êm dịu trong Phương Định. Kỉ niệm cũ ùa về. Hình ảnh người mẹ thương yêu. Chiếc cửa sổ bên căn gác. Ánh đèn điện lấp lánh phản chiếu trên con đường nhựa ướt nước mưa trong như những con sông đen… Rồi hình ảnh về Hà Nội với những sinh hoạt trong khu phố hiện về rất rõ: Bà bán kem đẩy chiếc xe kem với đám trẻ con bâu quanh. Tiếng rao của bà bán xôi buổi sáng với cái mủng xôi đội trên đầu. Tiếng trẻ con đùa nghịch trên đường phố với những cú sút bóng ầm ĩ… Những hình ảnh và âm thanh quen thuộc ấy theo cơn mưa trở về với Phương Định giữa lúc Phương Định đang ở trên một cao điểm trên tuyến đường Trường Sơn đầy máu lửa. => Quả là những giờ phút lãng mạn, rất đẹp của Phương Định. Tâm hồn của Phương Định phải rất nhạy cảm, phong phú, giàu tình yêu thương. 4. Đánh giá khái quát – Về nội dung, ý nghĩa: Qua nhân vật Phương Định, người đọc hình dung rõ nét, cụ thể hơn về những thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Đó là những con người: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, Mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu)… – Về nghệ thuật xây dựng nhân vật: + Về phương thức trần thuật: truyện được trần thuật từ ngôi thứ nhất, cũng là nhân vật chính. + Một nét đặc sắc là nghệ thuật xây dựng nhân vật, chủ yểu là miêu tả tâm lí. + Ngôn ngữ và giọng điệu: ngôn ngữ trần thuật phù hợp với nhân vật kể chuyện – cô gái thanh niên xung phong người Hà Nội – tạo cho tác phẩm có giọng điệu và ngôn ngữ tự nhiên, gần với khẩu ngữ, trẻ trung và có chất nữ tính. + Lời kể thường dùng những câu ngắn, nhịp nhanh, tạo được không khí khẩn trương trong hoàn cảnh chiến trường, ở những đoạn hồi tường, nhịp kể chậm lại, gợi nhớ những kỉ niệm của tuổi niên thiếu hồn nhiên, vô tư và không khí thanh bình trước chiến tranh. III. KẾT BÀI – Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. – Đó chính là hình ảnh đẹp, tiêu biểu về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời ki kháng chiến chống Mĩ. – Truyện sử dụng vai kể là nhân vật chính, có cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ sinh động, trẻ trung và đặc biệt thành công về nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 “Đi dưới trời khuya sao đêm lấp lánh Tiếng hát ai vang động cây rừng Phải chăng em cô gái mở đường? Không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát ” (Trích bài hát “Cô gái mở đường” – Xuân Giao) Vào giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, nước ta đã có rất nhiều vị anh hùng đứng lên để bảo vệ bờ cõi quê hương. Bên cạnh những chú bộ đội cụ Hồ ngày đêm kháng chiến chống giặc thì ta không thể nào không nhắc đến những cô gái thanh niên xung phong quả cảm, gan dạ cũng là một phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc. Hình ảnh của những nữ thanh niên ấy đã được mang vào nhiều bài thơ của các tác giả khác nhau. Nhưng có lẽ không ai viết về họ một cách am hiểu và sâu sắc như Lê Minh Khuê qua tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”. Trong đó, truyện đã cho ta hiểu rõ hơn phần nào về nét đẹp trong sáng hồn nhiên của Phương Định. Phương Định là một cô gái trẻ, độ khoảng hai mươi. Từ thuở còn thơ, cô đã được sống trong vòng tay ấm áp của cha mẹ mình. Rồi khi cô lớn lên tham gia vào tổ trinh sát ở nơi chiến khu. Nhiệm vụ của cô quan sát địch ném bom và đánh dấu vị trí các quả bom chưa nổ. Nguy hiểm hơn là việc phải kích nổ những trái chưa nổ để cho quân ta có thể vận chuyển lương thực. Từ những công việc khó khăn và muôn trùng trắc trở đó đã cho ta thấy ít nhiều về phẩm chất cao quý của Phương Định. Đa phần con gái thường chú trọng về vẻ bề ngoài của mình và cô cũng thế. Cô đã tự đánh giá về bản thân rằng: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn thì tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như hoa loa kèn”. Còn về đôi mắt thì cô được các anh lính nhận xét rằng “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Vì thế cô rất thích ngắm đôi mắt mình trong gương “nó dài dài, màu nâu hay nheo lại như chói nắng”. Và cô cũng biết rằng mình được các anh lính để ý và có tình cảm. Cô rất vui mừng vì điều đó, nhưng cô lại không thể biểu lộ tình cảm của mình. Cô luôn kín đáo trước những đám đông. Trong khi các cô gái khác vây quanh bên các anh bộ đội thì cô lại đi ra nơi khác, khoanh tay trước ngực nhìn thật là xa, tưởng như kiêu kì. Nhưng trong suy nghĩ của cô, những người đội nón có ngôi sao luôn là những người đáng cảm phục nhất vì cô rất hâm mộ họ. Rõ ràng những chi tiết trên đã cho ta thấy được sự hồn nhiên trong sáng của Phương Định. Tuy rằng cô hay mơ mộng nhưng cô cũng là một thiếu nữ đầy lòng gan dạ. Mặc dù mỗi ngày công việc nguy hiểm của cô phải làm diễn ra đến bốn năm lần. Nhưng cô vẫn luôn cố gắng thực hiện tốt. Vì trong thâm tâm cô luôn nghĩ rằng đây chỉ là một công việc nhỏ của mình để giúp cho đồng bào và các anh bộ đội có thể đẩy lùi giặc Mĩ và giải phóng đất nước. Đội trinh sát của Phương Định có ba người – cô lớn hơn cô là chị Thao, nhỏ hơn thì có em Nho. Cô luôn dành tình yêu thương cho đồng đội của mình. Điều đó được thể hiện qua chi tiết cô đã hoảng hốt và lo lắng khi đang túc trực điện thoại khi chị Thao và Nho đi phá bom vẫn chưa về. Lòng cô bồn chồn khi đợi mãi mà chưa thấy họ về. Qua đó ta đã thấy được tấm lòng cao quí mà cô đã dành cho đồng đội mình. Phương Định là một hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam ở giai đoạn kháng chiến chống Mĩ. Truyện đã được tác giả sử dụng ngôi kể thứ nhất để làm tăng tính hấp dẫn cho bài. Tác giả đã thành công trong việc khắc hoạ tâm lý nhân vật Phương Định. Qua văn bản, ta đã hiểu thêm về sự hồn nhiên và ngây thơ trong tâm hồn của người con gái thanh niên xung phong tên là Phương Định. Khi gấp trang sách lại, hình ảnh về nữ anh hùng xung phong – Phương Định vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi. Qua những đặc điểm của cô đã tiếp thêm cho tôi nguồn động lực để rèn luyện bản thân. Tôi xin hứa sẽ cố gắng học thật giỏi để góp phần cống hiến cho sự phát triển đất nước như Phương định đã làm. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 “Những ngôi sao xa xôi” là một trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết vào năm 1971. Lúc cuộc chiến đấu chống Mĩ cứu nước diễn ra ác liệt. Trong truyện có nhân vật Phương Định là nhân vật tiêu biểu cho lớp thanh niên xung phong Việt Nam. Đó là một cô gái hồn nhiên nhưng rất dũng cảm, gan dạ – một cô gái thanh niên xung phong trẻ trung, hay mơ mộng. Qua đó, ta thấy được phần nào những nét đẹp cùa Phương Định và thấy được sự nổi bật của câu chuyện. Để hiểu rõ hơn những nét đẹp đó của Phương Định, chúng ta hãy cùng nhau bước vào phần phân tích. Truyện kể về nhóm nữ trinh sát mặt đường gồm Thao, Nho và Phương Định. Công việc của họ cực kì nguy hiểm và có thể mất mạng bất cứ lúc nào. Đó là quan sát máy bay thả bom của giặc, đo đất đá, san lấp hố bom, kiểm tra những quả bom chưa nổ và phá bom. Công việc nguy hiểm là thế nhưng họ vẫn luôn yêu đời, hồn nhiên, thích ca hát, tâm hồn thơ mộng, đặc biệt là nhân vật Phương Định. Họ luôn gắn bó, yêu thương nhau như chị em dù cho tính nết mồi người mỗi khác. Cơn mưa đá ở cuối truyện để lại trong lòng Phương Định bao xuyến xao, hoài niệm. Cũng như bao cô gái mới lớn khác, Phương Định rất nhạy cảm và hay quan tâm đến ngoại hình của mình. Cô tự đánh giá về mình: “Tôi là cô gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn tôi là một cô gái khá. Có hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như hoa loa kèn”. Còn đôi mắt của cô được các anh lính lái xe nhận xét: “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Cô biết mình được nhiều người nhất là các anh lính lái xe để ý và có thiện cảm. Điều đó làm cô vui và tự hào. Nhưng cô không hay biểu lộ tình cảm của mình, cô luôn kín đáo giữa đám đông. Trong khi các cô gái khác vây quanh các anh bộ đội còn cô thì: “thường đứng ra xa khoanh tay trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt, tưởng như kiêu kì”. Nhưng thật ra trong suy nghĩ của cô những người đẹp nhất, thông minh, can đảm, cao thượng nhất là những người mặc quân phục có ngôi sao trên mũ. Và cô còn dành tình yêu, niềm cảm phục cho những ngưòi lính chiến sĩ hằng đêm cô gặp trên trận địa. Dù mơ mộng hồn nhiên nhưng Phương Định vẫn là một cô gái rất gan dạ, dũng cảm có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Điều đó thể hiện qua một lần phá bom. Mặc dù đã quen với công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thê phá bom đến bốn, năm lần nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách thần kinh đến từng cảm giác và ý nghĩ. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy sự căng thẳng: “Vắng lặng đến phát sợ, cây xơ xác, đất nóng khi đen dật dờ trong không trung…”. Đến cảm giác “Cảm thấy có ánh mắt của các anh chiến sĩ dõi theo mình nên cô sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới”. Đến lúc ở bên quả bom đào, xới với những cảm giác hồi hộp, căng thẳng và thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt. Cô rùng mình và bỗng nhận ra sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí, vỏ quả bom nóng lên, một dấu hiệu chẳng lành.” Trọng lúc chờ bom nổ, cô có thoáng nghĩ đến cái chết nhưng là một cái chết mờ nhạt. Cô không sợ hi sinh mà chỉ sợ bom không nổ vì nếu như vậy sẽ không thông đường cho đoàn xe ra trận được. Còn đối với công việc và đồng đội, cô càng gắn bó với công việc bao nhiêu, cô càng yêu đồng đội đồng chí bấy nhiêu. Cô nhận xét đồng đội của mình một cách tinh tế. Nho: “mát mẻ như một que kem trắng, chị Thao: “cương quyết bạo nhưng khi nhìn thấy máu, thấy vắt thì nhắm mắt lại mặt tái mét”. Và tình cảm đó được thể hiện qua một lần Nho bị thương vì bị sập hầm. Cô “moi đất, bế Nho đặt lên đùi, chăm sóc vết thương và tiêm thuốc cho Nho”. Ta còn thấy được các đặc điểm riêng của hai người bạn của Phương Định. Nho là một cô gái cũng như Phương Định rất hồn nhiên, lạc quan, mơ mộng nhưng có một điều khác là Nho rất thích ăn kẹo. Chị Thao là một người chị trong tổ trinh sát rất cương quyết và gan dạ, luôn quan tâm, yêu thương đồng đội của mình như Phương Định, Qua đó, có thể thấy Phương Định là một hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước ác liệt. Cùng với cô là tính cách của sự hồn nhiên, lạc quan, dũng cảm và gan dạ, không sợ hi sinh vì tương lai tươi sáng của đất nước…Qua Phương Định, ta cảm nhận sự oai hùng của dân tộc và cuộc chiến đấu đầy ác liệt và gian khổ. Chúng ta phải cảm phục, tự hào và noi gương lớp lớp người đi trước. Góp phần xây dựng thành công cho câu chuyện, tác giả đã sử dụng ngôi kể thứ nhất, người kể cũng chính là nhân vật chính. Nghệ thuật miêu tả tâm lí, sinh động thể hiện được thế giới nội tâm phong phú của các nhân vật trong truyện. Gấp trang sách lại nhưng hình ảnh Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê cứ lung linh trong tâm trí chúng ta. Nó khiến ta bồi hồi, xúc động, họ – những cô gái thanh niên xung phong cho ta thấy được một bức tranh thời chiến tranh thật đáng tự hào và cảm phục biết bao dân tộc Việt Nam anh hùng. Chúng ta hiện giờ tuy vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng cần phải luôn luôn nỗ lực, ra sức học tập, rèn luyện đạo đức thật tốt để trở thành những người chủ của đất nước trong tương lai. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 79: Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” của tác giả Thanh Hải tại đây. Tags:Lê Minh Khuê · Những ngôi sao xa xôi · Phương Định
Đề 78_ _ Phân tích nhân vật Phương Định trong tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
3,671
Đề 79: Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” của tác giả Thanh Hải – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Bài thơ ” Mùa xuân nho nhỏ” DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Giới thiệu tác giả: Thanh Hải (1930 – 1980) tên khai sinh là Phạm Bá Ngoãn, quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống Pháp. Trong thời kì chống Mĩ cứu nước, Thanh Hải ở lạ quê hương hoạt động và là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam từ những ngày đầu. – Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được viết không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời, thể hiện niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện của tác giả. – Trích dẫn bài thơ: “Mọc giữa dòng sông xanh ………… Nhịp phách tiền đất Huế ” II. THÂN BÀI 1. Giải thích ý nghĩa nhan đề – Giải thích ý nghĩa nhan đề: Mùa xuân nho nhỏ là một sáng tạo độc đáo của Thanh Hải. Nhà thơ nguyện làm một mùa xuân, nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ cùa mình nhưng rất khiêm nhường là một mùa xuân nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời chung. 2. Khổ 1: – Nghệ thuật: sự chuyển đổi các cảm giác từ màu sắc, âm thanh, hình ảnh…sang hình khối, đường nét… cùng với vài nét phác họa: dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót vang trời. – Nội dung: đó là mùa xuân của thiên nhiên, đất trời. Chỉ bằng vài nét phác họa nhưng vẽ ra được cả không gian cao rộng (với dòng sông, mặt đất, bầu trời bao la), cả màu sắc tươi thắm của mùa xuân (sông xanh, hoa tím biếc – màu tím đặc trưng của xứ Huế), cả âm thanh vang vọng, tươi vui của chim chiền chiện (hót vang trời). 3. Khổ 2 + 3: – Nghệ thuật: Phép đối tương đồng giữa hai câu thơ trên với hai câu thơ dưới, phép điệp (điệp ngữ: mùa xuân; điệp từ: lộc), âm điệu thơ giàu nhạc tính, mạch thơ đi hối hả. Điệp ngữ “tất cả”, từ láy “xôn xao, hối hả”, hình ảnh so sánh “Đất nước như vì sao – Cứ đi lên phía trước” – Nội dung: Từ mùa xuân của thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước với lộc non của mùa xuân gắn với người cầm súng, người ra đồng. Mùa xuân của đất trời đọng lại trong hình ảnh lộc non, đã theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính là họ đã đem mùa xuân đến mọi nơi trên đất nước? Sức sống của mùa xuân đất nước còn được cảm nhận trong nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao. 4. Khổ 4: – Nghệ thuật: Điệp ngữ “ta làm”, hình ảnh ẩn dụ “con chim, nhành hoa, một nốt trầm”, cấu tứ được lặp lại ở phần đầu đều có hình ảnh bông hoa và tiếng chim hót. – Nội dung: Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, dất nước, mạch thơ chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân đất nước. Đó là khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp – dù nhỏ bé cùa mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên, giản dị và đẹp. Những hình ảnh chọn lọc ấy được trở lại mang một ý nghĩa mới: niềm mong muốn được sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, bông hoa tỏa hương sắc cho đời. 5. Khổ 5 + 6: – Nghệ thuật: hình ảnh ẩn dụ mang triết lí nhân sinh “mùa xuân nho nhỏ” 6. Nghệ thuật chung: – Thể thơ 5 chữ gần với các điệu dân ca, đặc biệt là dân ca miền Trung, có âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. – Kết hợp những hình ảnh tự nhiên giản dị từ thiên nhiên với những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, khái quát. – Cấu tứ bài thơ chặt chẽ. – Giọng điệu bài thơ thể hiện đúng tâm trạng, cảm xúc của tác giả. III. KẾT BÀI – Mùa xuân nho nhỏ là một bài thơ đặc sắc. – Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ’’’ là tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với đất nước, với cuộc đời, thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp một mùa xuân nhỏ của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc. – Bài thơ theo thể năm tiếng, có nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca, nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, những so sánh và ẩn dụ sáng tạo. BÀI VĂN THAM KHẢO Thanh Hải ià một người chuyên sáng tác thơ. Ông có rất nhiều bài thơ hay và tôi thích nhất là bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của ông. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác vào năm 1980 khi ông còn nằm trên giường bệnh. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là tiếng lòng tha thiết, gắn bó với cuộc đời thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước: “Mọc giữa dòng sông xanh ………… Nhịp phách tiền đất Huế ” Vậy thông qua bài thơ” Mùa xuân nho nhỏ”, Thanh Hải đã muốn gửi gắm đến chúng ta những suy nghĩ gì? Thật vậy, bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là một bài thơ hay. Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét chấm phá: “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi! Con chìm chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. ” Với những hình ảnh nho nhỏ, thân quen, bình dị, nhà thơ đã vẽ nên bức tranh thật đẹp. Chỉ bằng vài nét phác hoạ, tác giả đã vẽ ra một không gian của mùa xuân, rộng lớn với dòng sông mặt đất, bầu trời bao la với sắc màu tươi thắm, với những âm thanh vang vọng của mùa xuân thơ mộng, đậm đà phong vị xứ Huế. Bức tranh mùa xuân ở đây chỉ toàn là màu sắc dịu nhẹ một màu xanh biêng biếc của dòng sông quê, một màu tím ngát của cánh hoa mong manh đang mọc giữa dòng sông ấy. Nghệ thuật đảo ngữ giữa hai câu thơ làm nổi bật hình ảnh cùa sắc hoa màu tím. Màu tím gợi lên một sắc xuân dịu dàng, đằm thắm. Màu tím là màu đặc trưng cùa Huế. Bức tranh xuân bỗng rộn rã hơn lên bởi tiếng hót của con chim chiền chiện. “Chiền chiện” là loài chim hót vào mùa xuân. Từ cảm thán “Ơi!” là tiếng gọi trìu mến, thân thương của nhà thơ. Mấy tiếng “hót chi mà…” như một lời trách yêu nghe thật dịu dàng và duyên dáng. Bản nhạc của con chim chiền chiện như vang động cả đất trời, tràn ngập khắp không gian, làm bừng lên một niềm vui bất diệt. Chỉ bằng vài nét phác hoạ đơn sơ: với một dòng sông, một bông hoa, một tiếng chim, một màu xanh, một sắc tím, Thanh Hải đã hoàn chỉnh bức tranh xuân của quê hương mình thật nhẹ nhàng và quyến rũ lạ thường. “Giọt long lanh” ở đây có thể là giọt sương sớm mùa xuân, có thể là nhũng giọt mưa xuân phơ phất hoặc có thể nói là những giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện đang đọng lại trong không gian rồi từ từ rơi xuống cho nhà thơ xoè hứng bằng đôi tay trân trọng của mình. Chỉ có sáu câu thơ mà có đủ cả âm thanh, màu sắc, dòng sông, bông hoa, tiếng chim, bầu trời cao lồng lộng. Cảnh mùa xuân mở ra một không gian phóng khoáng nhưng lại dịu dàng, tươi mát, một không gian rất Huế. “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trài dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao. ” Ngày xuân, người ta đi hái lộc, “lộc” theo nghĩa hẹp là chồi non, nghĩa rộng là sự may mắn. Lộc của người lính là lá nguỵ trang trên lưng. Lộc của người nông dân là nương mạ xanh rờn. Cặp câu thơ đối xứng nhịp nhàng, kết hợp với điệp ngữ “mùa xuân” và điệp từ “lộc” được láy đi láy lại nhiều lần, làm cho không khí xây dựng và bảo vệ đất nước như càng khẩn trương, gấp gáp hơn. Và không khí háo hức sôi nổi ấy được miêu tả bằng các từ “hối hả, xôn xao” như càng tăng thêm sức gợi tả. Sau đó, nhà thơ nghĩ về mùa xuân cùa đất nước: “Đất nước bốn nghìn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước”. Viết về đất nước, nhà thơ chỉ viết có bốn câu thơ nhưng bốn câu thơ đó thật tự hào. Tự hào về quá khứ oai hùng và khẳng định về một tương lai tươi sáng của quê hương mình. Từ ngữ giản dị “bốn nghìn năm” giống như nhà thơ đang kể chuyện tâm tình về đề tài lịch sử. Mấy ngàn năm nước Việt ta đã trải qua biết bao gian lao, vất vả – kể từ lúc vua Hùng dựng nước rồi đến lúc nhân dân ta cùng nhau giữ lấy nước. Ta cũng bắt gặp lòng tự hào ấy trong nhiều tác phẩm văn học. Đối lập với hai câu thơ nói về quá khứ là hai câu thơ ca ngợi tương lai. Tại sao nhà thơ không dùng từ “vẫn” hay từ “sẽ” mà nhà thơ lại dùng từ “cứ”. “Cứ đi lên phía trước” chỉ sự tử tế đi lên một cách hiên ngang, mạnh mẽ không có một sức mạnh nào ngăn cản được. Với nghệ thuật so sánh “đất nước như vì sao”, hình ảnh đất nước trở nên gần gũi, gợi cảm. Đất nước đẹp như ánh sao sáng lung linh trên bầu trời cao vời vợi mà chúng ta đang ngẩng cao đầu chiêm ngưỡng. Mở đầu bài thơ, tác giả xưng tôi. Đến cuối bài thơ tác giả lại xưng “ta”. Cái “ta” bây giờ vừa mang cái “ta” cá thể của riêng tác giả vừa là cái “ta” chung của chúng ta, của tất cả mọi người. “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến ” Đại từ “ta” mang sắc thái trang trọng, kiêu hãnh, cấu trúc “ta làm”, “ta nhập” nghe như lời căn dặn. Nhà thơ đang căn dặn mình và căn dặn chúng ta về trách nhiệm và nghĩa vụ với quê hương. Trong cái lớn lao chung của mùa xuân xinh đẹp, nhà thơ chỉ góp mình như một tiếng chim, trong giọng hót của muôn chim. Một cành hoa, trong muôn sắc hương hoa. Một nốt nhạc trầm khiêm tốn, trong muôn nốt nhạc bản tình ca. Cánh chim, cành hoa rất nhỏ bé, nhưng chim vô tư cống hiến những tiếng hót hay cho đời. Nốt nhạc trầm không đủ tạo nên bản nhạc hay, nhưng nó cũng góp phần tạo nên những cung bậc khác nhau của bản nhạc. Mượn cánh chim trời, đoá hoa thơm, nốt nhạc trầm, để bày tỏ lòng mình. Nhà thơ muốn được góp một phần công sức bé nhỏ của mình trong công cuộc xây dựng quê hương. Qua đó, ta thấy được khát vọng sống có ích cho đời của tác giả. Khát vọng đó thể hiện rõ ý thức đúng đắn trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa “tôi” và “chúng ta”. “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc Khổ thơ như một lời nhắn nhủ, một lẽ sống, sống là để cống hiển. “Mùa xuân nho nhỏ” còn là quan điểm đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể giữa mỗi con người, giữa cuộc đời chung của dân tộc. Tác giả đã chọn cho mình một cách cống hiến riêng, không phô trương, không ồn ào, cống hiến một cách âm thầm, lặng lẽ trong mọi hoàn cảnh, mọi lứa tuổi. Điệp ngữ “dù là” thách thức với thời gian, tuổi già, bệnh tật. Tính từ “lặng lẽ” kết hợp với động từ “dâng” đặt ở đầu câu thơ cho thấy một thái độ trân trọng, khiêm tốn và yêu mến quê hương mình biết là bao! Trên giường bệnh, khi trở về với cát bụi, Thanh Hải vẫn mang trong lòng mình một tình yêu tha thiết với cuộc sống, với đất nước và thanh cao với một tinh thần lạc quan mạnh mẽ. Kết thúc bài thơ, nhà thơ lại muốn được cất lên tiếng hát thiết tha dựa trên lời ca buồn bã của câu Nam ai Nam bình xứ Huế: “Mùa xuân ta xin hát Câu Nam ai Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế” Lời ca vang vọng, gọi mở ra một cái tình nhỏ bé trong cái ngàn dặm rộng lớn, mênh mang nhưng vẫn rất gần gũi, tràn đầy yêu thương và ấm ấp, gợi mở ra một cái tình rất riêng, rất Huế nhưng lại hoà chung được với nước non. Tiếng hát đằm thắm, hiền hoà xen với những tiếng phách giòn giã, tươi vui đã kết lại bài thơ. Bài thơ với thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca cùng nhiều hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ. Tóm lại, qua những điều chúng ta vừa bàn luận, bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là tiếng lòng tha thiết, gắn bó với đất nước, với cuộc đời, thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp một mùa xuân nhỏ của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc. (Bài làm cùa HS) >> Xem thêm Đề 80: Phân tích khổ 1 và 2 bài thơ “ Viếng lăng Bác ” của tác giả Viễn Phương tại đây. Tags:Đề 80 · Mùa xuân nho nhỏ · Thanh Hải
Đề 79_ Phân tích bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” của tác giả Thanh Hải – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
2,471
Đề 7: Phân tích nhân vật Lục vân Tiên qua đoạn trích: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Bài văn chọn lọc lớp 9 Hướng dẫn Đề 7: Phân tích nhân vật Lục vân Tiên qua đoạn trích: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu). Bài làm Ai đã một lần ghé thăm vùng sông nước Cửu Long chắc hẳn sẽ không thể quên vẻ đẹp của miền quê thiên nhiên trù phú, tốt tươi và đặc biệt không thể quên những người dân với tấm lòng chất phác, phóng khoáng, thật thà, đôn hậu. Đặt chân đến vùng đất này bạn sẽ được thưởng thức các làn điệu cải lương thiết tha và được nghe những câu chuyện li kì, hấp dẫn. Đối với người dân Nam Bộ, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu thật thân quen, gần gũi bởi ông đã nói lên ước mơ, nguyện vọng của họ, đã xây dựng thành công người anh hùng mà họ mong ước: Lục Vân Tiên. Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga giúp người đọc hiểu vì sao người dân Nam Bộ nói riêng và người dân cả nước nói chung lại yêu mến anh hùng Lục Vân Tiên đến vậy. Nếu như người anh hùng Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du được miêu tả với ngoại hình kì vĩ: “Râu hùm hàm én mày ngài – Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”, thì người anh hùng Lục Vân Tiên chủ yếu được miêu tả trên phương diện hành động, lời nói. Đoạn trích Lục Vùn Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga khắc họa hình ảnh người anh hùng hảo hán Lục Vân Tiên qua việc miêu tả hành động đánh cướp và cách cư xử với người bị nạn. Trước hết chàng được đặt vào một tình huống đầy bất ngờ: trên đường về thăm cha mẹ gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành, tác oai tác quái, Lục Vân Tiên không một chút đắn đo, suy nghĩ, tính toán thiệt hơn mà có những hành động thật quyết liệt: Vân Tiên ghé lại bên đàng, Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô. Cho dù là một nho sinh chỉ quen với sách bút, nghiên mực nhưng Vân Tiên cũng là một người dũng cảm, mưu trí. Dù không có vũ khí trong tay, lại phải đối phó với lũ cướp đầy mình giáo gươm, chàng trai họ Lục đã “Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô”. Điều khiến chàng được người đọc cảm mến là chí khí mạnh mẽ, quyết “thấy bất bình chẳng tha”. Đi liền với hành động, Lục Vân Tiên đã lên tiếng bộc lộ rõ quan điểm của mình: Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân. Nhà thơ Đồ Chiểu không sử dụng những từ ngữ chau chuốt hay những điển tích quá cầu kì để tái hiện lời nói của nhân vật mà sử dụng từ ngữ như lời ăn tiếng nói hàng ngày vì vậy tạo không khí rất gần gũi. Đối với Vân Tiên, chàng luôn đứng về phía những người dân, kiên quyết chống lại bọn hung đồ. Qua đó, ta thấy đây là một chàng trai quả cảm, hết lòng vì chính nghĩa, vì nhân dân. Hình ảnh Lục Vân Tiên chiến đấu giữa vòng vây “bịt bùng” của bọn cướp thật lẫm liệt: Vân Tiên tả đột hữu xông, Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang. Nhịp thơ 2/2/2 nhanh, mạnh, dứt khoát thể hiện từng hành động kiên cường của Vân Tiên. Biện pháp so sánh “Khác nào Triệu Tử phú vòng Đương Dang’” đã nâng tầm vóc của Lục Vân Tiên sánh ngang với Triệu Tử Long – vị tướng trẻ tài ba của Lưu Bị thời Tam quốc ở Trung Hoa. Tuy nhiên, Lục Vân Tiên đánh cướp không phải vì muốn lập công trạng hiển hách mà chỉ vì muốn cứu dân, vì dân. Do đó, mục đích, động cơ hành động của chàng rất trong sáng, giản dị và vô tư. Phải chăng chính niềm yêu thương nhân dân đã truyền cho chàng sức mạnh khiến bọn cướp phải khiếp sợ: Lâu la bốn phía vỡ tan, Đều quăng gươm giáo tìm đường chạy ngay. Phong lai trở chẳng kịp tay, Bị Tiên một gậy thác rày thân vọng. Như vậy, với việc miêu tả liên tiếp các hành động chiến đấu quả cảm, mạnh mẽ, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên chân dung Lục Vân Tiên dũng cảm, có tấm lòng vì nghĩa quên thân. Đó thực sự là một trang anh hùng hảo hán. Bên cạnh phẩm chất của người anh hùng, Lục Vân Tiên còn là một nho sinh chính trực, điềm đạm, đường hoàng. Điều này được thể hiện rõ trong cách cư xử của chàng với người bị nạn – nàng Kiều Nguyệt Nga. Sau khi nghe người hầu Tiểu Liên trình bày nguồn cơn câu chuyện, Lục Vân Tiên đã trấn an hai cô gái để họ an lòng nhưng vẫn không quên giữ gìn phép tắc: Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la. Khoan khoan ngồi đó chớ ra, Nàng là phận gái, ta là phận trai”. Là một nho sinh, hơn ai hết, Lục Vân Tiên chịu ảnh hưởng của quan niệm phong kiến “Nam nữ thụ thụ bất thân”. Theo tôi, chúng ta không nên nhìn nhận, đánh giá đây là một quan niệm lạc hậu mà xét trong hoàn cảnh lúc đó thì điều này thể hiện thái độ tôn trọng của Vân Tiên đối với Nguyệt Nga. Càng đọc, độc giả càng ngưỡng mộ phẩm chất và tư cách của chàng trai họ Lục, nhất là khi Nguyệt Nga bày tỏ ý muốn cảm ơn, hậu tạ, chàng đã có cách cư xử thật đáng trân trọng: Vân Tiên nghe nói liền cười: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn. Nay dù rõ đặng nguồn cơn, Nào ai tính thiệt so hơn làm gì”. Nhà thơ Xuân Diệu trong bài viết Đọc lại thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã nhận xét thật chính xác, tinh tế về nụ cười của Lục Vân Tiên: “Cái cười đáng yêu, đáng kính sao! Một là cái cười của người anh hùng quân tử ; hai là cái cười của anh con trai ; ba là cái cười của quần chúng rộng lượng đều nở trên môi Vân Tiên”. Nụ cười đó thật đôn hậu thể hiện tính cách của con người phóng khoáng, chất phác. “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” chính là quan niệm sống, quan niệm nhân sinh của người hùng Vân Tiên: hi sinh, chiến đấu hết mình không vì lợi ích nhỏ nhen, tầm thường mà vì tình yêu thương con người. Hành động trừ gian diệt ác của chàng vì thế càng trở nên cao đẹp hơn, vô tư và trong sáng. Đoạn trích kết thúc với câu thơ thể hiện quan điểm sống của Lục Vân Tiên: Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng. Câu nói của Vân Tiên có nét tương đồng với câu nói của người xưa: “Kiến ngãi bất vi vô dũng dã” nghĩa là “Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải người dũng cảm”. Với cách vận dụng câu nói của người xưa một cách sáng tạo, Vân Tiên đã trực tiếp bộc lộ thái độ phê phán những kẻ ích kỉ, chỉ khư khư giữ thân, không biết sống vì người khác. Câu nói của Lục Vân Tiên cũng là một châm ngôn, quan niệm sống cho các bậc hiển nhân, quân tử. NGUYỄN LÊ NGỌC ANH Lời nhân xét: – Người viết hiểu đề, phân tích nhân vật cụ thể, chi tiết, đã chỉ ra được nét riêng của nhân vật thông qua những so sánh thuyết phục như: so sánh Lục Ván Tiên với Từ Hải, Triệu Tử Long: “Nếu như người anh hùng Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du được miêu tả với ngoại hình kì vĩ: “Râu hùm hàm én mày ngài – Vai năm tấc rộng thân mười thước cao” thì người anh hùng Lục Vân Tiên chủ yếu được miêu tả trên phương diện hành động, lời nói”. – Bên cạnh đó, người viết cũng chú ý phân tích các thủ pháp nghệ thuật để làm sáng rõ nội dung: “Nhà thơ Đồ Chiểu không sử dụng những từ ngữ chau chuốt hay những điển tích quá cẩu kì để tái hiện lời nói của nhân vật mà sử dụng từ ngữ quen thuộc như lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân tạo nên không khí qần gũi. – Bài viết có cấu trúc hợp lí, rõ ràng, mạch lạc. Nhân vật Lục Vân Tiên được làm rộ hai nét tính cách nối bật: phẩm chất người anh hùng mạnh mẽ và một nho sinh “chính trực, điềm đạm, đường hoàng”.
Đề 7_  Phân tích nhân vật Lục vân Tiên qua đoạn trích _ Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Bài văn chọn lọc lớp 9
1,475
Đề 8 – Tôi thấy mình đã khôn lớn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Đề 8 – Tôi thấy mình đã khôn lớn HƯỚNG DẪN LÀM BÀI * Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau: – Em cần xác định, khi em cảm nhận mình đã khôn lớn thì sự khôn lớn ấy được thể hiện qua những yểu tố nào (thể chất, tinh thần, suy nghĩ,…)? – Qua những hoạt động, kỉ niệm nào mà em có thể rút ra được suy nghĩ rằng mình đã khôn lớn? – Sự khôn lớn ấy được thể hiện ra sao? – Mọi người xung quanh nhìn nhận sự khôn lớn ấy như thế nào? DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI Vào một ngày, tôi bỗng nhận ra sự trưởng thành của mình. II. THÂN BÀI 1. Miêu tả bản thân khi đã lớn * Đối với các bạn nam Vóc dáng, ngoại hình: Chiều cao: cao hơn ngày trước rất nhiều. Giọng nói: bị vỡ giọng, nghe ồm ồm rất trầm. Cơ thể: cơ thể phát triển tốt, rắn chắc hơn. Trí tuệ: cảm thấy mình nắm rõ vấn đề hơn, giải quyết vấn đề tốt hơn, nhanh nhạy hơn. Tính cách: Bớt hậu đậu hơn trước, làm việc gì cũng đều đắn đo, suy nghĩ kĩ lưỡng hơn. Quan tâm, chăm sóc bản thân mình nhiều hơn. Hay thẹn thùng, mắc cỡ trước bạn khác giới. Biết quan tâm đến mọi người xung quanh mình hơn. * Đối với các bạn nữ Vóc dáng, ngoại hình: Chiều cao: cao hơn ngày trước rất nhiều. Giọng nói: thánh thót, trong trẻo hơn. Cơ thể: cơ thể phát triển tốt, trông dịu dàng, nữ tính hơn. Trí tuệ: cảm thấy mình nắm rõ vấn đề hơn, giải quyết vấn đề tốt hơn, nhanh nhạy hơn. Tính cách: Bớt hậu đậu hơn trước, làm việc gì cũng đều đắn đo, suy nghĩ kĩ lưỡng hơn. Chải chuốt, chăm lo cho bề ngoài nhiều hon trước khi đứng trước người khác. Hay thẹn thùng, mắc cỡ trước bạn khác giới. Biết quan tâm đến mọi người xung quanh mình hơn. 2. Kể một kỉ niệm sâu sắc đế thế hiện đúng đề bài “…thấy mình đã khôn lớn” Ví dụ: Tự giặt đồ của mình Hôm nay, mẹ đi vắng cho nên tôi phải tự tay giặt lấy đồ đạc của mình. Tôi lôi liết những đống đồ dơ của mình ra thau, đổ bột xà bông lên sau đó đổ nước vào thau cho lên xà phòng. Những chiếc bong bóng xà phòng trông thật đẹp đẽ làm sao. Tôi bắt đầu lấy bàn chải để chà từng chiếc áo, cái quần của mình. Ôi chao! Sao mà mệt thế này? Giặt được vài cái áo, cái quần, tay chân tôi cứng đờ lại. Bây giờ tôi mới cảm hết được sự vất vả, nhọc nhằn của mẹ khi giặt đồ. Sao lúc này, tôi cảm thấy yêu thương mẹ mình đến như thế. Giặt xong, tay của tôi cũng cứng đờ hết. Tôi đố nước sạch vào thau đế vắt sạch xà phòng còn vương trên các áo, quần mới vừa giặt. Công việc vất vả nhất đó chính là vắt nước. Thật khó khăn và đau khổ! Vắt xong, tôi lấy từng cái móc áo móc vào và đem phơi khô. Tôi lẩn thẩn đi vào trong nhà nằm phịch xuống mà ngủ ngon lành. Khi mẹ về, nhìn xung quanh nhà thì thấy sào đồ sao mà ướt đầm và treo đầy các móc áo, móc quần. Mẹ đến bên cạnh tôi, hôn nhẹ nhàng lên má tôi và thì thầm: “Con của mẹ lớn rồi đấy!” Tuy thì thầm và mặc dù tôi đang ngủ, tôi vẫn có thể nghe được lời mẹ nói. Bất giác tôi tỉnh giấc. Nhìn thấy mẹ, tôi ôm chầm lấy mẹ và nói rằng: “Con thương mẹ nhiều lắm!” Mẹ tôi tuy không hiểu chuyện gì đang xảy ra nhưng vẫn ôm tôi vào lòng một cách đầy trìu mến. 3. Cảm nhận về bản thân mình Cần phải cố gắng nhiều hơn và phải rút kinh nghiệm trong cuộc sống của mình. Khôn lớn đối với tôi là một điều gì đó rất thú vị và hạnh phúc. Đã khôn lớn, tôi sẽ luôn làm những công việc phù hợp với bản thân để đỡ đần giúp cha mẹ được phần nào việc để cha mẹ vui lòng. BÀI VĂN THAM KHẢO BÀI VĂN 1 Thời gian cứ trôi và làm mọi thứ thay đổi, cả con người cũng vậy. Ai rồi cũng phải lớn dần theo năm tháng. Chính tôi cũng đang ngày càng trưởng thành hơn, trưởng thành trong từng suy nghĩ, từng hành động. Tôi đang hoàn thiện bản thân mình. Không phải chỉ mình tôi mà cả mọi người xung quanh cũng thấy tôi đang khôn lớn. Năm nay tôi đã mười lăm tuổi, đủ lớn để học cách sống tự lập và phụ giúp bố mẹ. Nếu so với tám năm trước thì bây giờ tôi cao hơn rất nhiều. Mỗi lần đi ngang qua cái tủ gỗ ở nhà thì tôi lại nhớ đến những ngày tôi còn nhỏ, chạy lon ton khắp nhà. Khi ấy, tôi chỉ cao bằng tay cầm của tủ, với tôi cái tủ và mọi thứ xung quanh đều thật to lớn. Nhưng bây giờ, tôi không cần mẹ lấy đồ ở cao giúp cho nữa vì tôi đã cao hẳn ra, có thể tự lấy được mọi thứ và nhất là những vật ở trên cao. Ngoại hình của tôi đang thay đổi và cả tính cách cũng vậy. Cái tính bộp chộp, vụng về của ngày nào bây giờ tôi cũng đang dần khắc phục nó. Tôi biết rằng, tôi đang dần trưởng thành hơn nên không thể trẻ con như trước kia, không thể cứ mãi vụng về đụng vào thứ gì thì hỏng thứ ấy được. Chính vì thế nên tôi đã biết phụ giúp mẹ làm các công việc nhà như: lau nhà, quét nhà, xếp quần áo, dọn dẹp phòng của mình…. Nếu là tôi của lúc trước thì sẽ hay làm nũng với mẹ, đòi mẹ đút cơm cho nhưng bây giờ tôi không còn là một đứa trẻ non nớt như ngày xưa nữa. Tôi có thể tự thay quần áo và cột tóc cho mình, có thể tự đi học về mà không cần mẹ đi theo hoặc đưa đón nữa. Bây giờ, suy nghĩ của tôi cũng đang dần thay đổi từng ngày. Lúc trước tôi hay làm mẹ buồn nhưng bây giờ, tôi đã biết suy nghĩ chín chắn hơn phần nào, luôn tự cố gắng học tập thật tốt để mẹ vui lòng vì niềm vui của mẹ là sự hạnh phúc của tôi. Lúc nào tôi cũng muốn làm mẹ vui, làm mẹ cảm thấy hạnh phúc. Tôi cũng luôn muốn giúp đỡ mọi người xung quanh vì tôi biết sống trong xã hội thì đó là một tập thể. Lúc trước tôi còn vô tư lắm, chưa suy nghĩ nhiều vào những lời nói của bản thân nhưng bây giờ tôi không muốn ai buồn vì tôi cả, tôi sẽ luôn làm họ cười vui mỗi ngày. Ngoại hình, suy nghĩ, tính cách của tôi đã và đang thay đổi theo sự trưởng thành cùa chính mình và cả ước mơ cũng vậy. Những ước ngây thơ và không bao giờ thành hiện thực của trước kia bây giờ đã tan biến trong tôi mà thay vào đó là những ước mơ táo bạo hơn, vững vàng hơn. Bây giờ tôi đã biết nghiêm túc thực hiện ước mơ cùa chính mình, không còn thái độ đùa cợt như xưa nữa. Tôi đang phấn đấu rất nhiều và hết mình trong từng giây, từng phút. Tôi đang nỗ lực hết mình để học tập thật tốt vì tôi biết rằng chỉ có học tập mới là con đường duy nhất giúp tôi thành công và biến ước mơ của tôi thành sự thật. Có lẽ, trước kia tôi còn nhỏ chưa biết thời gian quý báu như thế nào nên tôi đã lãng phí nhiều thời gian của bản thân. Nhưng từ bây giờ, tôi sẽ phấn đấu và nỗ lực hết mình để mở đường cho tương lai của chính bản thân tôi. Tất cả từ suy nghĩ, ngoại hình, và ca tính cách, ước mơ cũng đang khẳng định rằng bản thân tôi đã dần khôn lớn. Tám năm trước kia và tôi của hiện nay vẫn là tôi đấy thôi nhưng tôi của hiện tại đã biết suy nghĩ nhiều hơn, chín chắn hơn rất nhiều, biết quan tâm mọi người xung quanh và sống vì mọi người hơn. Tất cả mọi thứ và cả tôi cũng đang thay đối đế chuẩn bị thật tốt cho một tương lai mới, một con người mới. Thay đổi và học cách sống tự lập, tự giác trong mọi việc và cho mọi người thấy rằng tôi đã khác rất nhiều, đã trưởng thành rất nhiều rồi. Điều đó đã đánh dấu cho một tương lai xán lạn và một con người thành công trong xã hội. (Bài làm của HS) BÀI VĂN 2 Từ lúc cha mẹ sinh ra đến giờ, chắc hẳn không ai trong chúng ta đế ý là: mình đã lớn lên ra sao? Cách suy nghĩ và nói chuyện của chúng ta đã thay đối như thế nào, khi nào chúng thay đổi? Chúng ta không hề nhớ, kế cả tôi cũng vậy. Tôi, từ lúc nhỏ cho đến bây giờ tôi chưa hề để ý đến dòng thời gian thay đổi của mình. Nhưng cha mẹ thì khác, họ quan sát tôi từng chút một và một ngày nọ, họ bảo tôi rằng: “Con cao hơn rồi này! Con suy nghĩ chín chắn hơn rồi đấy!”. Tôi rất vui khi nghe được những lời nói ấy từ cha mẹ, nhưng rồi họ lại kết thúc bằng một câu: “Nhưng con vẫn chưa trưởng thành được đâu”. Lúc trước tôi chỉ là một cô bé dáng người nhỏ bé hay tung tăng vui đùa, phá làng phá xóm. Mà vì hồi nhỏ tôi dễ thương quá nên hàng xóm cũng chẳng ai nỡ lòng nào trách mắng tôi, nhưng những thiệt hại mà tôi gây ra thì ba mẹ lại là người phải đi đền bù cho nhà người ta thôi. Công việc của tôi lúc đó là chỉ có ăn, ngủ, chơi nhưng chẳng có ngày nào tôi có thể làm tốt công việc của mình cả. Chơi thì chơi ngày chơi đêm đến quên ăn quên ngủ. Ăn thì kéo dài từ giờ này sang giờ khác. Làm cha mẹ đã mệt đủ điều nay lại càng mệt mỏi hơn vì tôi. Nhưng lần đầu tiên tôi nhận được lời khen cho thấy mình đã lớn hơn là khi tôi đang đi chơi với mấy bạn thì tôi bảo với bà rằng: “Ngoại ơi, con đói quá à, ngoại dọn cơm cho con ăn đi!”. Ngoại cười: “Ai dà, cháu bà lớn rồi nhỉ?”. Từ đó trở đi tôi vui lắm cứ hay hỏi mẹ xem làm cách nào để lớn nhanh hơn. Mỗi ngày đều trôi qua như vậy cho đến khi tôi lên lớp hai. Lúc đó em gái tôi mới vào mẫu giáo thôi mà lại hay bị bệnh, tuy ba mẹ hay đi làm xa nhưng vẫn có bà ngoại ở nhà chăm sóc hai chị em tôi nên cũng không sao. Nhưng rồi một hôm, cả nhà nhận được tin ông ngoại đổ bệnh nên cần có người về quê chăm sóc ông ít lâu. Nhưng ngày mà ngoại về quê lại là ngày mà bố mẹ tôi đi công tác xa không về được. Thấy vậy tôi nghĩ rằng mình nên thử một phen làm người lớn xem sao, thế là tôi đòi nhận cái trọng trách giữ nhà trông em cho bố mẹ. Nghe xong, mẹ cười bảo là đồng ý cho tôi thử sức một lần nhưng bà lại không đồng ý, bảo rằng: “Con là con nít, lỡ ăn trộm nó có đột nhập thì cái thân nhỏ xíu, teo ngắt thế thì làm ăn gì được!”. Cho dù là vậy thì tôi cũng phải trông nhà. Cuối cùng mọi người cũng đồng ý. Hôm đó là một ngày thứ bảy nóng bức, chị em tôi ở nhà một mình từ trưa đến tối, quả thật là có rất nhiều chuyện xảy ra. Em tôi là một đứa trẻ dễ thương nhưng lại chẳng bao giờ nghe lời chị cả. Buổi trưa, khi mọi người đã đi hết thì em tôi bắt đầu thức dậy, chạy lại chỗ tôi và đòi ăn. Trong khi tôi đang làm việc ở dưới bếp thì nghe cái “xoảng” một cái, chạy vào thì thấy nguyên ly sữa của em tôi vỡ thành từng mảnh văng đầy sàn nhà. Tôi đang ngớ người ra thì em tôi lại leo lên nóc tủ mà nghịch mấy bức ảnh của bà nội. Khó khăn lắm mới mang “bé quỷ” xuống được vậy mà vừa xuống đã khóc, la hét inh ỏi đòi ăn. Tôi đem chén cơm, canh ra đút thì lại phải chạy theo em từ trên xuống dưới, vật vã cả tiếng mới hết chén cơm. Xong ăn rồi đến tiết mục “đi tắm”. Em tôi rất sợ nước, cứ chạy miết. Tôi dỗ mãi mới xong mà con nít thì nó vậy đấy, quậy thì quậy dỗ ngọt là nghe ngay. Tắm xong mà lại ham chơi không chịu ngủ trưa, dỗ mãi không ngủ tôi đành bỏ cuộc nằm ngay ra đó chợp mắt một lát. Khi mở mắt ra, cả một bãi chiến trường đang hiện ra trước mặt tôi. Đồ chơi thì vương vãi ở mọi nơi, nước văng tung tóe trên sàn nhà, còn em tôi thì mình mẩy ướt nhẹp, ngồi đó gào lên đói bụng. Đành để mặc đống bừa bộn kia mà lo cho con bé cái đã. Cuối cùng cũng xong cơm nước, tắm rửa đều xong cả rồi thì đã đến tám giờ. Em tôi xem ti-vi còn tôi thì rửa chén cho đến chín giờ. Lo mền chiếu xong xuôi, để cho em ngủ. Ấy thế mà ru miết không ngủ, mệt mỏi và bực bội, tôi bật khóc, em tôi không hiểu gì và nó cũng khóc theo. Hai đứa ngồi khóc om sòm được một lúc tôi nguôi từ từ quay sang em thi thấy con bé ngủ đi từ lúc nào. Khuôn mặt dễ thương khác hẳn lúc sáng, giờ em tôi đã ngủ thật ngon lành. Và tôi đi lo dọn dẹp nhà cửa, dọn được một lúc thì mệt quá tôi nằm xuống giường ngủ luôn cho đến sáng. Khi thức dậy, tôi vô cùng ngạc nhiên. Căn phòng tôi dọn còn dang dở nay đã sạch sẽ và gọn gàng hơn. A, thì ra là mẹ đã về và kết thúc ngày vất vả của tôi. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 9: Kể lại một lần em được đi tham quan học tập hướng nghiệp cùng với lớp tại đây. Tags:Đề 8 · Tôi thấy mình đã khôn lớn · Văn chọn lọc 9
Đề 8 – Tôi thấy mình đã khôn lớn – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
2,525
Đề 8 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề bài luyện học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Tìm các cặp từ trái nghĩa trong các thành ngữ, tục ngữ sau: a) Én bay thấp mưa ngập cầu ao, én bay cao mưa rào lại tạnh. b) Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. c) Khôn nhà dại chợ. d) Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. e) Một miếng khi đói, bằng một gói khi no. 2. Tìm từ trái nghĩa trong các câu thơ dưới đây. Thử phân tích tác dụng của một cặp từ trái nghĩa tìm được: a) Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng. (Nguyễn Khoa Điềm) b) Tôi di lính, lâu không về quê ngoại Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi Khi tôi biết thương bà thì đã muộn Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi. (Nguyễn Duy) c) Chị buồn nhớ những ngày qua Em vui nghĩ những ngày xa đang gần. (Trần Đăng Khoa) d) Giã từ năm cũ bâng khuâng Đã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường. (Tố Hữu) 3. Tả vẻ đẹp của rừng mơ ở Hương Sơn (Hà Tây, nay là Hà Nội), trong bài Rừng mơ của nhà thơ Trần Lê Văn có đoạn viết: Rừng mơ ôm lấy núi Mây trắng đọng thành hoa Gió chiều đông gờn gợn Hương bay gần bay xa… Hãy ghi lại vài dòng cảm nhận của em khi đọc đoạn thơ trên.
Đề 8 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
247
Đề 80: Phân tích khổ 1 và 2 bài thơ “ Viếng lăng Bác ” của tác giả Viễn Phương – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 Hướng dẫn Khổ 1 và 2 bài thơ “Viếng lăng Bác” DÀN Ý CHI TIẾT I. MỞ BÀI – Giới thiệu tác giả: Viễn Phương (1928 — 2005), tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, quê ở tỉnh An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ông hoạt động ở Nam Bộ, là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. – Giới thiệu tác phẩm: Năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc, vào lăng viếng Bác Hồ. Bài thơ “Viếng lăng Bác” được sáng tác trong dịp đó và in trong tập thơ Như mây mùa xuân (1978). – Khổ 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đến thăm lăng Bác. – Khổ 2: Cảm xúc cùa nhà thơ trước hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác. – Trích dẫn 2 khổ thơ: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Dác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân… “ II. THÂN BÀI 1. Khổ 1 – Nghệ thuật: cách xưng hô thân mật “con – Bác”, hình ảnh biểu tượng của dân tộc: cây tre, từ ngữ thể hiện cảm xúc dạt dào “Ôi!”, từ láy “xanh xanh”, thành ngữ “bão táp mưa sa”, nhân hóa “đứng thẳng hàng”. – Nội dung: Câu thơ “con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” chỉ gọn như một thông báo, nhưng lại gợi ra tâm trạng xúc động của một người từ chiến trường miền Nam sau bao năm mong mỏi bây giờ mới được ra viếng Bác. Hình ảnh đâu tiên mà tác giả thấy được và là ấn tượng đậm nét về cảnh quan bên lăng Bác chính là hàng tre. Biểu tượng hàng tre là biểu tượng của sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc. – Nghệ thuật: Điệp ngữ “ngày ngày”, hình ảnh thực “mặt trời”, hình ảnh ẩn dụ “mặt trời – Bác Hồ”, hình ảnh ẩn dụ “kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” – Nội dung: Bác Hồ được ví như ánh mặt trời luôn tỏa sáng ban phát sự sống cho muôn loài, luôn sống mãi, vĩnh cửu cùng đất trời cũng như luôn sông mãi trong lòng của tất cả con dân Việt Nam. Cụm từ ngày ngày được lặp lại gợi cảm giác một thời gian vô tận, vĩnh viễn, không bao giờ ngừng, như tấm lòng nhân dân không nguôi nhớ Bác. Qua đó, nhà thơ còn bộc lộ niềm thành kính, biết ơn, ngưỡng vọng, tự hào của mình đối với Bác. – Liên hệ thêm: Người rực rỡ như mặt trời cách mạng Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng Đêm tàn bay chập choạng dưới chân người (Sáng tháng năm – Tố Hữu) III. KẾT BÀI – Viếng lăng Bác là một bài thơ đặc sắc trong đó khổ 1, 2 là đặc sắc hơn cả. – Qua hai khổ thơ trên, tôi càng cảm thấy yêu quý và kính trọng Bác Hồ và tôi tự hứa với bản thân sẽ cố gắng học thật tốt, thật giỏi để góp phần dựng xây quê hương, đất nước càng ngày càng giàu đẹp và vững mạnh. BÀI VĂN THAM KHẢO “Bác đã đi rồi sao, Bác ơi! Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!” (Bác ơi – Tố Hữu) Khi Bác mất, có không ít nhà thơ đã bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn của mình đối với vị cha già, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Viễn Phương cũng không ngoại lệ, ông đã góp vào kho tàng thơ văn Việt Nam một bài thơ khiến người đọc cứ lưu luyến mãi: là bài “Viếng lăng Bác”. Đặc biệt, hai khổ đầu của bài thơ để lại cho ta những cảm xúc bồi hồi lạ thường: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác … Kết tràng hoa dâng bày mươi chín mùa xuân “ Bài thơ mở đầu với lời giới thiệu đậm chất ngôn ngữ Nám Bộ: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác ” Cách xưng hô của tác giả trong câu thơ đầu tiên này thật đặc biệt. Đó là cách xưng hô “Con” – “Bác” rất gần gũi, thân thương của người dân Nam Bộ. Dường như nó đã xoá tan đi mọi khoảng cách giữa một vị lãnh tụ vĩ đại và một công dân. Bởi vì trong thâm tâm mọi người, Bác là người cha kính yêu: Quả tim lớn lọc trăm dòng máu đỏ ” (Sáng tháng năm – Tố Hữu) Cụm từ “ở miền Nam” như thông báo cho Bác biết rằng người con ấy đến từ một nơi rất xa xôi – miền Nam – mảnh đất anh hùng suốt mấy chục năm trời chiến đấu gian khổ chỉ mong có ngày giành được độc lập, thống nhất, đón Bác vào thăm. Cụm từ ấy như thông báo cho Bác biết rằng: miền Nam máu mủ ruột thịt giờ đây đã được giải phóng rồi Bác ơi! Khi còn sống Bác vẫn nhớ miền Nam da diết, mong ngày được vào thăm miền Nam thân thương: “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà Miền Nam mong Bác nỗi mong cha ” (Miền Trung nhớ Bác – Tố Hữu) Động từ “thăm” cũng như một sự nói giảm nói tránh hay mặt khác còn là sự đấu tranh, đối lập giữa lí trí và thể xác. Dù nhà thơ không muốn tin Bác đã mất rồi nhưng sự thật hiện tại vẫn là thể. Tiếp đến lăng Bác, hình ảnh đầu tiên tác giả bắt gặp sau làn sương sớm mai là hàng tre xanh bát ngát, thấp thoáng bóng dáng quen thuộc của làng quê: “Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng “ Từ cảm thán “Ôi” biểu thị bao niềm xúc động tự hào về hàng tre trước lăng Bác. Với biện pháp ẩn dụ hàng tre bát ngát xanh tươi trải rộng bên lăng như những hàng quân canh giữ cho giấc ngủ của Bác. “Hàng tre xanh xanh” mộc mạc như muốn nhấn mạnh sức sống bền bỉ của tre hay dân tộc Việt Nam. Cái “xanh” ấy cũng đã được tác giả Nguyễn Duy nhắc đến trong thơ của mình: “Tre xanh, xanh tự bao giờ Từ ngày xưa đã có bờ tre xanh “ Quả thật, đi suốt chiều dài lịch sử, đâu đâu ta cũng thấy bóng tre thấp thoáng. Tre của Thép Mới “giữ nhà, giữ cửa, giữ túp lều tranh, giữ đồng lúa chín”. Tre anh hùng chống giặc ngoại xâm, luỹ tre làng còn là nơi tâm tình, hò hẹn cùa những đôi trai gái. Khi dần tiến tới lăng Bác, cảnh vật xung quanh Viễn Phương lại thay đổi: Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ ” Ai đã từng vào thăm lăng Bác mới cảm nhận được vẻ đẹp của câu thơ này. “Mặt trời trong lăng” vừa là bút pháp tả thực vừa là hình ảnh ẩn dụ. Mặt trời là nguồn sáng của vạn vật khi nó mang ánh sáng đến khắp hành tinh. Bác Hồ là người đem lại ánh sáng khắp dân tộc, soi sáng bầu trời đêm của những cuộc đời tăm tối, nô lệ. Thật ra, việc so sánh Bác với hình ảnh mặt trời không chi là phát hiện của Viễn Phương mà chúng ta đã từng bắt gặp điều này ở trong ca dao kháng chiến: “Bác Hồ là vị cha chung Là sao Bắc Đẩu, là vầng Thái Dương’’ Cùng với mặt trời đi qua trên lăng là dòng người đi trong thương nhớ: “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân ” “Người là hoa của đất trời” – Dòng người đi thăm lăng Bác được ví như những bông hoa tươi đẹp, rạng rỡ, “kết thành tràng hoa” dâng lên Bác. Bài thơ là hình ảnh ẩn dụ đẹp, từ ngữ giản dị mà cô đúc, nhà thơ đã bộc lộ hết tình cảm của mình đối với vị cha già kính yêu của dân tộc – Bác Hồ. Còn riêng bản thân, em luôn khắc sâu trong tim mình hình ảnh của Bác. Em hứa với lòng mình sẽ cố gắng học giỏi, thực hiện tốt năm điều Bác đã dạy để xứng đáng là cháu ngoan của Bác Hồ thân thương. (Bài làm của HS) >> Xem thêm Đề 81: Ước nguvện cống hiến trong khổ 4 bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương và khổ 4,5 bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” của Thanh Hải tại đây. Tags:”Viếng lăng Bác” · Khổ 1 và 2 · Viễn Phương
Đề 80_ Phân tích khổ 1 và 2 bài thơ “ Viếng lăng Bác ” của tác giả Viễn Phương – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
1,531
Đề 8: Phân tích vẻ đẹp của bài thơ Đồng Chí (Chính Hữu) – Bài văn chọn lọc lớp 9 Hướng dẫn Đề 8: Phân tích vẻ đẹp của bài thơ Đồng Chí (Chính Hữu) Bài làm Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đã chứng kiến bao kì tích của những người nông dân. Họ đã làm nên lịch sử từ đôi bàn tay cày cuốc, đôi bàn chân lấm lem bùn lầy. Họ là những chàng “Thạch Sanh của thế kỉ XX”. Đã có biết bao tiếng hát, lời thơ ca ngợi những anh hùng “chân đất” ấy. Là một chiến sĩ, đồng thời cũng là một nghệ sĩ, với bài thơ Đồng chí, Chính Hữu đã góp một bản hùng ca hoà vào bản đàn chung về những người lính anh dũng của một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng. Năm hai mươi tuổi, Chính Hữu viết về người lính trong Ngày về nhưng ở bài thơ này hình ảnh người chiến sĩ hiện lên với nhiều nét ước lệ, với những thanh gươm, áo bào, đôi giày vạn dặm, khác xa lắm người lính trong cuộc chiến thực tại: Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm Bụi trường chinh phui bạc áo hào hoa (Chính Hữu – Ngày vê) Ba năm sau (1948), khi tham gia vào hàng ngũ cách mạng, được trực tiếp trải nghiệm đời lính, được chứng kiến những mất mát, hi sinh, những khó khăn gian khổ, được sống trong tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, Chính Hữu đã có cái nhìn, cách cảm nhận khác về người lính. Điều đó được thể hiện rõ trong bài thơ Đổng chí. Ngay từ khi mới ra đời, Đồng chí đã được đón nhận nồng nhiệt. Có thể coi đó là một trong những áng thơ đẹp nhất về người lính, vẻ đẹp của bài thơ chính là vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội được hiện lên qua những “chi tiết và hình ảnh tự nhiên, bình dị mà cô đọng, giàu sức biểu cảm” (SGK Ngữ văn 9, tập 1). Mở đầu bài thơ là sự khái quát về cảnh ngộ của những người lính: Quê hương anh nước mặn, đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá. Ngôn ngữ thơ giản dị như lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân quê. Ta bắt gặp ở đây những thành ngữ quen thuộc “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”, thể hiện rõ nhất nguồn gốc xuất thân của những người lính. Họ đến từ mọi miển Tổ quốc, từ những vùng đồng bằng châu thổ quanh năm ngập lụt đến vùng đồi núi trung du khô cằn. Những con người xa lạ, cách nhau cả một phương trời nhưng giống nhau ở cái nghèo, sự lam lũ khó nhọc của người dân quê Việt Nam. Chính sự đồng cảnh ấy đã khiến họ xích lại gần nhau, để từ những “người xa lạ”, họ tập hợp lại trong hàng ngũ cách mạng và trở thành quen biết, thân thiết với nhau: Súng bên súng, đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Những hình ảnh thơ rất thực nhưng cũng đầy sức gợi. Điệp từ “bên” cùng cấu trúc song hành có tác dụng khẳng định sự gắn bó khăng khít giữa những người lính. Họ cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc “súng bên súng” (cùng chung lí tưởng, suy nghĩ – “đầu sát bên đầu”). “Cái hay của nhà thơ là đã biết đem cái ấm áp của “đêm rét chung chăn” vào bài thơ, sưởi nóng mối tình đồng chí lên thành mức độ tri kỉ”. Những người lính đến với nhau nhẹ nhàng bình dị, vừa có cái chung của lí tưởng lớn, vừa có cái riêng của một đôi bạn ỷ hợp tâm đầu. Và cứ giản dị như thế, những con người cùng chung gian khó ấy trở thành đồng chí của nhau: Đồng chí! 56 ngày đêm bom gầm, pháo giội Ta mới hiểu thế nào là đồng đội Đồng đội ta Là hớp nước uống chung Nắm cơm sẻ nửa Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết. (Chính Hữu – Giá từng thước đất) Đồng chí là thế. Là sự gắn bó tha thiết tự trong tim, là sự sẻ chia những tâm tư, những gian khó cuộc đời, là sự thấu hiểu những tình cảm, nghĩ suy: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Đối với những người nông dân, thiết thân nhất là ruộng vườn cả đời cày sâu cuốc bẫm, là ngôi nhà nhỏ có gia đình thân yêu. Vậy nhưng họ vẫn quyết tâm gạt bỏ lại sau lung, lên đường theo tiếng gọi của quê hương, đất nước. Từ “mặc kệ” mộc mạc như cách nói quen thuộc của người dân quê vang lên, ẩn chứa cả ý chí kiên định. Đó không phải là thái độ buông xuôi, vô trách nhiệm mà là biểu hiện của lòng quyết tâm sắt đá. Họ vẫn gắn bó lắm, vẫn yêu nhớ lắm cái mảnh đất quê hương nghèo khó, nên mới có thể cảm nhận được nỗi lòng của người thân nơi hậu phương: Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính, Đã bao lần ta bắt gặp hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình trong ca dao xưa, nhưng vẫn thật mới mẻ trong thơ Chính Hữu. Biện pháp nghệ thuật hoán dụ “giếng nước”, “gốc đa” gợi ta nhớ tới nơi hò hẹn của những người dân quê, nhắc đến những kỉ niệm một thời gắn bó trên mảnh đất quê hương. Chúng cũng biết “nhớ” khi cách xa những người con thân yêu của làng quê. Nghệ thuật nhân hoá được sử dụng thật đắc địa. Bao tình cảm nặng sâu như đều dồn tụ trong tiếng ”nhớ“ giản dị ấy. Câu thơ gợi ta nhớ đến những tiếng thơ của Hồng Nguyên: Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân bên cối gao canh khuya. (Hồng Nguyên – Nhớ) Giữa người đi xa và người ở lại luôn có một sợi dây vô hình gắn kết. Những người lính cùng nhau san sẻ mọi buồn vui, khó khăn của cuộc sống kháng chiến. Không chỉ thế, tình đồng chí còn tiếp thêm cho họ sức mạnh để họ vượt qua khó khăn, gian khổ của đời lính: Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi. Câu thơ khắc hoạ hoàn cảnh thực của người lính: thường xuyên phải chống chọi với những cơn sốt rét rừng triền miên. Hình ảnh thơ chân thực, cụ thể, nhịp thơ 3/5 đều đều như những lời kể chuyện nhẹ nhàng mang lại cho ta cảm giác se xót trước những gian khó mà người lính phải trải qua trong cuộc đời chiến đấu. Những hiện thực trần trụi tưởng như không phải là thơ, nhưng lại gieo vào lòng người đọc bao cảm xúc: Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Nhịp thơ nhanh, câu thơ ngắn, kết hợp cùng cấu trúc song hành có tác dụng đặc tả sự thiếu thốn của đời lính trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta cũng từng bắt gặp những câu thơ đậm chất hiện thực như thế trong thơ Chính Hữu: Súng nặng Đường trơn Vai gầy Áo rách (Chính Hữu – Tháng năm ra trận) Nhưng bất chấp gian khổ, người lính vẫn cười – tiếng cười ngạo nghễ của những con người coi thường khó khăn, tiếng cười được sưởi ấm bằng đôi bàn tay nắm chặt: Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. Câu thơ giản dị, nhẹ nhàng, đậm chất lính. Hai tiếng “thương nhau” được đặt lên đầu câu khiến cho nhịp thơ như lắng lại. “Thương” chứ không phải là “yêu”. Trong “thương” không chỉ có tình yêu mà còn có sự cảm thông, sự xót xa cho nhau. Chính trong tâm thế đó, người lính tìm đến nhau trong cái nắm tay tình nghĩa. Đó là cái nắm tay truyền hơi ấm để giúp đồng đội vượt qua cái giá lạnh nơi núi rừng, cũng là cái nắm tay truyền ý chí chiến đấu, truyền ngọn lửa nhiệt tình cách mạng. Đây là ngọn nguồn tạo nên sức mạnh bất diệt của người lính Việt Nam trong kháng chiến. Những người nông dân vốn chỉ lo “côi cút lùm ăn” (Nguyễn Đình Chiểu), quanh năm gắn bó với ruộng đồng, con trâu, cái cày. Nhưng tình yêu quê hương lên tiếng giục giã họ cất bước lên đường. Những gian khổ là nhiều, những hi sinh là không ít, nhưng tình yêu Tổ quốc và tình đồng chí thiêng liêng đã tiếp thêm sức mạnh để người lính vượt qua những khó khăn thử thách đó, để họ vững tay súng, hoàn thành nhiệm vụ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. Ba câu thơ ngắn là sự kết tinh tình đồng chí. Giữa nơi chiến trường khốc liệt, thiên nhiên khắc nghiệt: (rừng hoang, sương muối) hình ảnh những người lính kề vai nhau ngời sáng lên đẹp biết bao! Nó là sự đối chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và sự khốc liệt của hiện thực chiến tranh. Từ “bên” ở đây tương thích với từ “bên” trong câu thơ: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu”. Nhưng nếu như ở trên, hai cá thể vẫn tách biệt (súng – súng ; đầu – đầu) thì đến đây, từ “bên nhau” cho ta thấy một sự gắn kết trọn vẹn giữa những người lính. Họ kề vai sát cánh cùng nhau, truyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh và niềm tin để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ Tổ quốc. Có thể nói, chính hoàn cảnh khắc nghiệt của núi rừng hoang lạnh, hiểm nguy lại là nơi thử thách tình đồng đội thiêng liêng cao cả của những người lính. Hình ảnh họ toả sáng trong câu thơ kết bất ngờ, độc đáo: Đây là hình ảnh độc đáo, kết tinh giá trị nghệ thuật của cả bài thơ. Chính Hữu từng tâm sự: “Trong chiến dịch, nhiều đêm có trăng. Phục kích giặc trong đêm trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật: khẩu súng, vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện lại với nhau thành hình ảnh “Đầu súng trăng treo”. Tưởng như không hề có sự dụng công nghệ thuật trong hình ảnh đó, vậy mà nó đưa lại cho người đọc khoái cảm thẩm mĩ thật đặc biệt. Nhịp thơ 2/2 “như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh trong sự bát ngát” (Chính Hữu). Súng và trăng như cũng tạo thành một cặp đồng chí, góp phần soi rọi, tô sáng hơn vẻ đẹp của cặp đồng chí kia, mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Súng tượng trưng cho khói lửa chiến tranh, trăng tượng trưng cho cuộc sống thanh bình. Súng và trăng vừa đối lập lại vừa hài hoà, một bên là hiện thực, một bên là ước mơ. Ta nhận ra trong câu thơ sự kết hợp hài hoà giữa tâm hồn chiến sĩ và thi sĩ, giữa chất ện thihực đằm sâu và chất lãng mạn bay bổng. Đó chính là yếu tố làm nên giá trị độc đáo của câu thơ này. “Trong bài Đồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội. Suốt cả cuộc chiến đấu, chỉ có một chỗ dựa dường như là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu, là tình đồng chí, đồng đội” (Chính Hữu). Cả bài thơ là khúc ca về tình cảm chân thành, thiêng liêng của những người lính nông dân. Từ những miền quê nghèo khác nhau trên dải đất hình chữ S, cùng chung sự khốn khó, chung lí tưởng chiến đấu, họ đến với nhau, giản dị mà chân thành. Bài thơ sẽ còn ngân vang mãi trong trái tim, tâm hồn mỗi người dân Việt Nam như một biểu tượng đẹp về tình đồng chí bất tử! ĐỖ MINH HUỆ Lời nhân xét: – Phạm vi yêu cầu của đề bài khá rộng, đòi hỏi người viết phải biết chắt lọc những gì tiêu biểu nhất để phân tích nếu không sẽ rơi vào tản mạn. Bài viết của Minh Huệ đã biết đi sâu vào những nét chính, đặc sắc của thi phẩm Đồng chí đó là hình ảnh người lính và tình đồng đội. – Văn phong trong sáng, giàu sắc thái biểu cảm:” “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”. Câu thơ qiản dị, nhẹ nhàng, đậm chất lính. Hai tiếng “thương nhau” được đặt lên đầu câu khiến cho nhịp thơ như lắng lụi. “Thương” chứ không phủi là “yêu”. Trong “thương” không chỉ có tình yêu mà còn có sự cảm thông, sự xót xa cho nhau. Chính trong tâm thế đó, người lính tìm đến nhau trong cái nắm tay tình nghĩa”. Người viết đã có ý thức so sảnh, đối chiếu, song cần liên hệ sâu hơn với một số bài thơ khác viết về người lính như Tây Tiến của Quang Dũng ; Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật để thấy sự giống và khác nhau trong cách nhìn và cách thể hiện hình ảnh người lính.
Đề 8_ Phân tích vẻ đẹp của bài thơ Đồng Chí (Chính Hữu) – Bài văn chọn lọc lớp 9
2,251
Đề 9 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 Hướng dẫn Đề bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 1. Phân biệt nghĩa các từ in nghiêng ; cho biết những từ nào là từ đồng âm, những từ nào là từ nhiều nghĩa. a) (1) Cái nhẫn bằng bạc. (2) Đồng bạc trắng hoa xoè. (3) Cờ bạc là bác thằng bần. (4) Ông Ba tóc đã bạc. (5) Đừng xanh như lá, bạc như vôi. (6) Cái quạt máy này phải thay bạc. b) (1) Cây đàn ghi ta. (2) Vừa đàn vừa hát. (3) Lập đàn để tế lễ. (4) Bước lên diễn đàn. (5) Đàn chim tránh rét trở về. (6) Đàn thóc ra phơi. 2. Đọc các cụm từ sau, chú ý từ in đậm: a) Sao trên trời có khi mờ khi tỏ. b) Sao lá đơn này thành ba bản. c) Saotẩm chè. d) Sao ngồi lâu thế? e) Đồng lúa mượt mà sao! Nghĩa của từ sao được nói tới dưới đây phù hợp với từ saotrong cụm từ nào, câu nào ở trên? – Chép lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng bản chính. – Tẩm một chất nào đó rồi sấy khô. – Nêu thắc mắc, không biết rõ nguyên nhân. – Nhấn mạnh mức độ làm ngạc nhiên, thán phục. – Các thiên thể trong vũ trụ. 3. Trong bài Hoàng hôn trên sông Hương (Tiếng Việt 5, tập một) có đoạn tả cảnh như sau: (Theo Hoàng Phũ Ngọc Tường) Em hãy cho biết: Đoạn văn trên có những hình ảnh và âm thanh nào có sức gợi tả sinh động? Gợi tả được điều gì? 4. Tả ngôi trường có những cảnh vật đã từng gắn bó với em trong những ngày thơ ấu.
Đề 9 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
275
Đề 9: Phân tích hình ảnh người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài văn chọn lọc lớp 9 Hướng dẫn Đề 9: Phân tích hình ảnh người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật Bài làm “Tôi gắn bó máu thịt với Trường Sơn và có thể nói Trường Sơn đã “đẻ” ra nhà thơ Phạm Tiến Duật. Trước đây, bây giờ và sau này nếu tôi viết được chút gì neo lại trong lòng bạn đọc chính là nhờ những năm tháng ở Trường Sơn”. Đó là những lời tâm sự chân thành của nhà thơ Phạm Tiến Duật khi ông đang trên giường bệnh chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác. Những năm tháng chiến tranh đã để lại dấu ấn sâu đậm trong trái tim người lính ấy, để rồi ngân thành những cung bậc cảm xúc, những giai điệu hào hùng, trẻ tráng và hồn nhiên. Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một trong những khúc ca hay nhất, mang đậm âm hưởng của những ngày tháng gian khó mà tràn đầy hùng tâm tráng trí của những người lính trên tuyến dường Trường Sơn những năm chống Mĩ. Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã “ghi lại những nét ngang tàng, dũng cảm và lạc quan của người chiến sĩ lái xe trong binh đoàn vận tải quân sự, qua đó ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời chống Mĩ”. Ấn tượng đầu tiên của người đọc về những người lính lái xe Trường Sơn ấy là tư thế ung dung, hiên ngang: Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Ta tưởng như đó là dáng ngồi khoan thai, thong thả của những con người nhàn nhã trong cuộc sống đời thường chứ đâu phải là của người lính trên tuyến đường Trường Sơn mưa bom bão đạn! Tính từ “ung dung” được đảo lên đầu câu thơ, cũng là từ đầu tiên Phạm Tiến Duật dùng để nói về người lính, như một sự khắc sâu vào tâm trí người đọc tâm thế của những con người anh dũng ấy. Nhưng ấn tượng mạnh mẽ nhất về họ không phải là tư thế ngồi “ung dung” mà chính là cái nhìn – cái nhìn khoáng đạt, dũng mãnh, chứa đựng cả tinh thần sẩn sàng hi sinh và lòng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nó cho ta thấy một tư thế hùng dũng, hiên ngang. Họ dám nhìn thẳng vào gian khổ, vào hi sinh mất mát, cũng chính là nhìn thẳng vào bản thân ; không hề run sợ, né tránh. Đó là thái độ của những trái tim dũng cảm, những con người chân chính. Hai chữ “ta ngồi” kết hợp với điệp từ “nhìn” được láy lại ba lần cùng giọng thơ đĩnh đạc đã giúp Phạm Tiến Duật dựng nên thành công tư thế của những người lính lái xe: hiên ngang, kiên định, bất khuất. Nhịp thơ 2/2/2 gợi cho người đọc hình ảnh chiếc xe đang lăn bánh, nhẹ nhàng, thanh thản trước tay lái tự tin của người lính. Chính tâm thế ấy giúp họ bình tĩnh đối diện với những khó khăn, gian khổ của chiến trường: Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thắng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như lìa vào buồng lủi. Đoạn thơ mang đến cho ta cảm giác như một thước phim quay chậm theo ánh nhìn của người chiến sĩ. “Gió”, được nhân hoá qua biện pháp chuyển đổi cảm giác đầy ấn tượng: “xoa mắt đắng”. Hiện thực khó khăn khốc liệt của chiến tranh không làm mất đi nét trẻ trung, lãng mạn trong tâm hồn của người lính. Hình ảnh “Con đường chạy thẳng vào tim” phải chăng là một lời nhắn nhủ của các chiến sĩ: con đường chiến đấu, con đường đến với miền Nam ruột thịt là con đường của trái tim, được sự chỉ dẫn của trái tim. Những từ “nhìn”, “thấy”, “sa”, “ùa” có tác dụng đặc tả tốc độ phi thường của những chiếc xe đang lướt nhanh, băng mình qua mưa bom bão đạn. Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Không cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lâm cười ha ha. Gió bụi tượng trưng cho những gian khổ, thử thách mà các chiến sĩ trên tuyến đường Trường Sơn phải trải qua. Tiếng “ừ” vang lên như là sự chấp nhận, nhưng là sự chấp nhận một cách chủ động của người chiến sĩ. Độc đáo và dí dỏm biết bao là hình ảnh so sánh: “Bụi phun tóc trắng như người già”. Hiện thực khó khăn, gian khổ đã được những tâm hồn trẻ trung, lạc quan của người lính nhìn nhận một cách hóm hỉnh, bình thản. Đó là cái bình thản của những người coi thường khó khăn, gian khổ. Với họ, những trở ngại trên con đường chiến đấu là không đáng kể. Vì thế mà: “Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc – Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Phạm Tiến Duật đã đưa vào câu thơ chất hiện thực ngồn ngộn, tựa như một câu chuyện của đời sống, tự nó đã mang trong mình chất thơ và người nghệ sĩ chỉ làm công việc của người chấp bút. Chính nhà thơ Phạm Tiến Duật đã từng tâm sự: “lúc đó, việc sáng tác thơ không còn theo vần điệu, cú pháp cổ điển nữa mà lấy vần nhịp của cuộc sống thay cho vần nhịp chữ nghĩa”. Nhịp chiến đấu sôi động của những người lính đã phổ nhạc vào câu chữ, làm nên khúc ca hào hùng về chính cuộc sống của họ. Đó là một cuộc đời bi tráng, đậm chất lính. Không chỉ có gió bụi chiến trường, những người lính còn phải trải qua những cơn mưa rừng dữ dội: Không có kính ừ thì ướt áo Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Ta nhận ra ở đây sự lặp lại cấu trúc của câu thơ đầu khổ thơ thứ hai. Đó là sự lặp lại có tính chất liệt kê những gian khổ, qua đó thể hiện tinh thần không nao núng trước những khó khăn của người lính. Họ thản nhiên coi việc mưa giội vào xe là điều tất yếu. Tác giả lại sử dụng một loạt những động từ mạnh để chỉ sự dữ dội của mưa “tuôn”, “xối”, càng nhấn mạnh thêm những gian khổ mà người lính phải trải qua. Nhưng họ chấp nhận một cách ngang tàng, lạc quan: Không cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. Đó là thái độ của những người lính mang trong mình tâm thế bất khuất, coi thường gian khổ, hi sinh, luôn sẵn sàng tiến về phía trước để chi viện cho chiến trường miền Nam. Tinh thần ấy được tính bằng con số cụ thể: “trăm cây số“. Cụ thể nhưng lại mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là biểu tượng cho quãng đường mưa bom bão đạn, hi sinh, mất mát. Đọc những câu thơ này ta càng thêm thấm thìa rằng con đường Trường Sơn huyền thoại đã thấm bao mồ hôi, xương máu của chiến sĩ ta. Thơ Phạm Tiến Duật được dệt nên từ chất liệu của cuộc đời chiến đấu vừa khốc liệt, vừa lãng mạn mà chính ông đã từng trải nghiệm. Vì thế, nó gần gũi lắm, thân thiết lắm. Nó khiến ta có thể cảm nhận được hơi thở của chiến trường, nhịp sống của những người lính. Những con người tràn đẩy tinh thần lạc quan ấy đã biến khó khăn thành cơ hội để thể hiện tình đồng đội sâu sắc: Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi Đây là cái bắt tay thân tình của những con người cùng chung chí hướng, cái bắt tay truyền lửa – ngọn lửa soi sáng những chặng đường khốc liệt được thắp lên từ triệu trái tim chiến sĩ tràn đầy nhiệt tình cách mạng. Những con người vốn “xa lạ”, gặp nhau nơi chiến trường, đồng điệu nhau ở tình yêu Tổ quốc và trở thành đồng đội, “đồng chí‘. Họ kề vai, sát cánh bên nhau không chỉ trong những giờ phút khốc liệt băng qua mưa bom bão đạn, đối mặt với kẻ thù, cận kề cái chết mà cả trong những phút giây ấm áp, thân tình: Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy. Một định nghĩa về gia đình thật mới mẻ, giản dị và thiết thân biết bao. Những lần nghỉ ngơi vội vã, những bữa cơm đạm bạc chan chứa tình thân đã mang lại không khí gia đình đầm ấm, giúp người lính vơi đi nỗi nhớ quê hương, người thân. Nó như một nguồn sức mạnh nâng bước các chiến sĩ: Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Lắng nghe những vần thơ này ta mới càng thấm thìa hơn nhận định: Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn. Hình ảnh “bếp Hoàng Cầm”, “võng mắc chông chênh” là hiện thực của cuộc sống chiến trường được đưa vào thơ tự nhiên như hơi thở núi rừng. Hồn thơ cứ tự nó được khởi nguồn từ chính những hiện thực bình dị ấy. Nhưng nhịp điệu thơ lại được tạo nên bởi nhịp võng đưa, bởi nhịp bánh xe quay đểu. Từ láy “chông chênh” không chỉ mang lại vần điệu cho câu thơ mà còn có ý nghĩa gợi hình sâu sắc. Đó là hình ảnh thực của con đường xe chạy hay là những khó khăn trở ngại, những hiểm nguy mà người lính phải đối mặt trong chiến tranh? Nhưng khí phách, ý chí chiến đấu của những người lính ấy vẫn luôn vững vàng, kiên định. Ngọn lửa trái tim và tình đồng chí – tình cảm của những con người trong cùng “gia đình” đã nâng những bước chân lạc quan, phơi phới, ngân lên thành câu hát, băng qua “bom giật bom rung” để “Lại đi, lại đi trời xanh thêm”. Điệp từ “lại đi” lặp lại hai lần vừa thể hiện nhịp sống, chiến đấu của tiểu đội xe không kính vừa khẳng định tinh thần, ý chí cách mạng kiên định vững vàng không sức mạnh bạo tàn nào có thể ngăn nổi của những người lính. Dường như chính những bước chân ấy đã nhuộm lên màu xanh của bầu trời – màu xanh chứa chan hi vọng gợi lên tâm hồn lạc quan, sức trẻ, khát vọng và niềm tin chiến thắng của người lính Trường Sơn. Trong khổ thơ cuối cùng, một lần nữa tác giả lại nhấn mạnh sự khốc liệt của chiến trường đồng thời khẳng định ý chí chiến đấu bất khuất của những người lính. Phạm Tiến Duật tâm sự rằng ông đã “gắn bó với những nẻo đường bom đạn bằng máu”. Những trải nghiệm ấy giúp ông hiểu hơn ai hết sự hi sinh của những người lính, và cũng hơn bất cứ người nào, nhà thơ biết rõ sức mạnh của họ bắt nguồn từ chính nhiệt huyết cách mạng tràn đầy. Nhiệt tâm ấy là ánh sáng dẫn lối chỉ đường cho những chiến sĩ thẳng bước trên đường Trường Sơn trập trùng, gian khó: Chỉ cần trong xe có một trái tim. Một từ “vẫn” giản dị mà có sức nặng khẳng định mạnh mẽ. Nó như lời hứa đinh ninh của những chiến sĩ lái xe sẵn sàng vượt lên trên mọi gian lao, thử thách, tiến về miền Nam. Họ đạp bằng tất cả, “Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Từ “chỉ cần” đảo lên đầu câu vừa nhấn mạnh thái độ hiên ngang, vừa khẳng định sức mạnh của “trái tim”. “Trái tim” là hình ảnh hoán dụ chỉ những người chiến sĩ trẻ, tràn đầy lòng yêu nước và ý chí kiên cường. Đó là trái tim sục sôi tình yêu Tổ quốc và lòng căm thù quân xâm lược. Tác giả mở đầu bài thơ bằng dấu ấn về những cái “không có”: “Không có kính không phải vì xe không có kính”. Nhưng khép lại bài thơ lại là: “Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Cái không có là những cơ sở vật chất. Cái có là trái tim, là nhiệt huyết của tuổi thanh xuân dâng hiến cho Tổ quốc. Cái không có đó làm nổi bật cho cái có. Nhà thơ Vũ Quần Phương từng nhận xét: “Chỗ đặc sắc của thơ Phạm Tiến Duật là lấy cuộc sống để nói tình cảm. Cái sâu sắc của tình cảm trong thơ anh phải tìm trong cuộc sống, không tìm trong chữ nghĩa”. Quả thật, chất thơ trong thơ Phạm Tiến Duật nói chung, trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính nói riêng toát lên từ thực tế cuộc chiến đấu, từ niềm vui sống của thời đại, từ sức trẻ, từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam mà nhà thơ đã trải nghiệm. Những vần thơ ấy một thời đã là nguồn sống tiếp sức cho những người lính trên khắp các mặt trận. Cho đến nay, nó vẫn chứng tỏ sức sống của mình. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước anh dũng của dân tộc, biết bao chiến sĩ đã hoà thân thể cùng núi rừng xanh thẳm. Phạm Tiến Duật sáng tác thơ như một sự hối thúc của con tim, như một nén tâm nhang gửi tới những đồng đội thân yêu. Khi thơ là tiếng nói và điệu hồn dân tộc thì nó sẽ tìm được bến neo đậu vĩnh hằng trong lòng độc giả. Thơ Phạm Tiến Duật chính là những vần thơ như thế. Tiếng nói của một thế hệ thanh niên thời chống Mĩ đã được nhà thơ tài hoa phổ thành thơ, trở thành khúc tráng ca về những con người giản dị mà kiêu hùng, bất khuất. Hình ảnh những người lính của “tiểu đội xe không kính” ấy sẽ còn sáng mãi trong tâm trí nhiều thế hệ bạn đọc. THỦY BÌNH Lời nhân xét: – Phân tích hình ảnh người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, người viết đã đi sâu khai thác những từ ngữ biểu cảm, thủ pháp nghệ thuật giàu giá trị nhằm làm nổi bật bức chân dung tự hoạ của người lính lái xe Trường Sơn. – Bài viết có những trích dẫn, so sánh chính xác, thể hiện kiến thức văn chương phong phú. – Tuy nhiên, cần chú ý phân tích sâu hơn hình ảnh chiếc xe không kính vì nó thể hiện tập trung nhất những khó khăn, gian khổ của người lính nơi chiến trường cũng như sự khốc Hệt của hiện thực chiến tranh. Điều này góp phẩn làm cho vẻ đẹp tâm hồn của người lính càng thêm toả sáng. – Bài viết quá dài nên khó tránh khỏi cảm giác dàn trải.
Đề 9_ Phân tích hình ảnh người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài văn chọn lọc lớp 9
2,555
Đề bài: Có người cho rằng: Ngắm trăng (Vọng nguyệt) của Hồ Chí Minh là một cuộc vượt ngục về tinh thần của người tù Cách mạng Hồ Chí Minh. Ý kiến của em thế nào? Hướng dẫn -Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: được viết trong tù. Hồ Chí Minh ngắm trăng trong hoàn cảnh bị đọa đày trong tù, vô cùng gian khổ. -Sự vượt ngục là sự thoát khỏi nhà tù để có tự do. ơ đây là sự vượt ngục trong tinh thần và bằng tinh thần của Bác. Tuy thân thể vẫn ở trong chốn lao tù nhưng tinh thần Người không hề bị giam cầm, tinh thần ấy đã tự do như tâm hồn một người nghệ sĩ để hòa nhịp với người bạn tri kỉ: trăng. Bài thơ là một cuộc ngắm trăng rất đặc biệt của Bác Hồ: ngắm trăng trong tù. Trong hoàn cảnh đặc biệt đó, tình yêu thiên nhiên và vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh được bộc lộ rõ. -Sự vượt ngục trong Ngắm trăng (vọng nguyệt) được thể hiện ở việc người tù Cách mạng đã quên đi điều kiện khó khăn trong tù để thưởng thức trăng. Thông thường, người ta ngắm trăng khi thảnh thơi, tâm hồn thư thái. Nhưng Hồ Chí Minh đã ngắm trăng trong hoàn cảnh ngục tù, Người là một tù nhân dang bị đày đọa với cuộc sống khó khăn, thiếu thôn. Điều kiện trong tù: không rượu, không hoa. Trước cảnh đẹp đêm nay tâm hồn người tù cũng khó hững hờ. Người xưa, có cảnh trăng đẹp, thường mang rượu uống trước hoa để thưởng trăng. Có rượu, hoa thì ngắm trăng mới thi vị. Nhưng trong tù thiếu thốn không có rượu, hoa, người tù cách mạng vẫn say sưa ngắm trăng vì tình yêu với trăng đã đánh thức tâm hồn người nghệ sĩ. Tâm hồn người tù ung dung, tự do, muốn được tận hưởng cảnh trăng. Người tù Hồ Chí Minh vẫn rung động mãnh liệt trước cảnh trăng đẹp dù đang là thân tù. -Sự vượt ngục còn được thể hiện cao độ ở sự giao hòa đặc biệt giữa người tù nghệ sĩ với vầng trăng. Người tù đã trở thành một nhà thơ. Hai câu thơ cuối với một cấu trúc đem đối lại một hiệu quả thẩm mỹ (nhân hướng/ nguyệt tòng, song tiền/ song khích, khán minh nguyệt/ khán thi gia). Câu thơ làm hiện lên hình ảnh nhân — người và nguyệt — trăng (ngoài trời) và song sắt nhà tù chắn ở giữa. Người đã thả hồn vượt ra ngoài song sắt để ngắm trăng, giao hòa với trăng (khán minh nguyệt — ngắm trăng sáng). Còn vầng trăng cũng vượt qua song sắt kia để giao hòa với người (khán thi gia – ngắm nhà thơ). Cả người và trăng đều giao hòa vào nhau. -Bài thơ cho thấy một cuộc vượt ngục với một sức mạnh tinh thần to lớn của người tù — người chiến sĩ — người thi sĩ. Nhà tù, song sắt (thế giới của chiến tranh, hiện thực tàn bạo) trở nên vô nghĩa trước vầng trăng (thế giới của tự do, của cái đẹp). Đằng sau những vần thơ của Bác là một tinh thần thép, sự tự do nội tại, phong thái ung dung vượt lên mọi hoàn cảnh. -Tóm lại, Hồ Chí Minh ngắm trăng trong hoàn cảnh bị tù đày cực khổ (không có những điều kiện tối thiểu để thưởng trăng: không rượu, không hoa, không tự do) nhưng người tù cách mạng này đã thưởng trăng trọn vẹn, không bị vướng bận bởi hoàn cảnh. Người ung dung thưởng thức trăng với một tâm hồn râ't nghệ sĩ. Như vậy nhà tù chỉ giam cầm được thể xác chứ không thể giam cầm tinh thần của Người, về mặt tinh thần, Người đã vượt ngục trở thành một người tự do đế ngắm trăng trọn vẹn.
Đề bài_ Có người cho rằng_ Ngắm trăng (Vọng nguyệt) của Hồ Chí Minh là một cuộc vượt ngục về tinh thần của người tù Cách mạng Hồ Chí Minh. Ý kiến của em thế nào_
665
Đề bài: Em hãy kể về giấc mơ gặp lại người thân đã cách xa rất lâu Bài làm Giấc mơ là những gì bạn mong ước, nhớ nhung rồi đêm nằm mộng thành sự thật. Có ai đó đã nói rằng giấc mơ chính là phản ánh hiện thực ban ngày của bạn. Tôi luôn có một ước mơ là được gặp lại bà mình dù chỉ một lần, nhưng bà tôi đã đi rất xa từ khi tôi còn nhỏ. Nhưng tôi vẫn hy vọng sẽ có lần được gặp lại bà để nói với bà một lời xin lỗi. Rồi ước mơ của tôi cũng thành hiện thực, khi tôi được gặp lại bà trong giấc mơ của chính mình. Tối đó vào một buổi tối ngày thứ bảy, trời mùa thu tháng 8 gió nhè nhẹ. Tôi mở bung cửa sổ phòng ngủ, chờ những cơn gió thổi vào cho mát. Thời tiết dễ chịu như thế này tôi không thích bật điều hòa hay dùng quạt điện mà muốn được tận hưởng sự dịu dàng của những cơn gió thu. Thoáng đâu đó qua những ngõ nhỏ của những dãy nhà tôi ngửi thấy mùi thơm của hương ổi chín, một thứ quà quê mà khi còn sống bà ngoại tôi thường đi chợ rồi mua về cho tôi rất nhiều. Bất chợt tôi nhớ bà da diết, cảm thấy sống mũi mình cay cay. Ngày bà còn sống, do bố tôi đi nước ngoài từ năm tôi 3 tuổi, mẹ tôi đón bà ngoại về nhà ở cùng để bà giúp đỡ mẹ trông nom, chăm sóc tôi. Mẹ tôi làm công nhân ở một xí nghiệp gần nhà, nhưng, công việc vô cùng vất vả mẹ thường xuyên phải làm ca. Hai sáng, rồi hai chiều và hai đêm, nên nhiều đêm mẹ đi làm tới 11 giờ mới về hoặc đi cả đêm tới 6 giờ sáng hôm sau. Nhà chỉ có mình tôi và bà, tối nào tôi cũng thường khó ngủ, tôi hay đòi bà cho sờ tí, rồi bắt bà kể chuyện cổ tích cho nghe. Những lúc được gục đầu vào vòng tay bà tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Tôi đã khóc đã xin bà ở lại với mẹ con tôi. Nhưng bà không chịu bà xoa đầu tôi và nói “Con đã lớn rồi, bà giờ già yếu cũng chẳng giúp đỡ hai mẹ con được nhiều nữa. Bà muốn về nhà để hương khói cho ông ngoại con”. Rồi bà về nhà bác Cả. Trước khi bà lên ô tô về nhà bác Cả tôi đã chạy theo xe và nói với bà rằng “Con ghét bà, vì bà bỏ con”. Nhà bác Cả xa nhà tôi lắm, cách nhau tận mấy tiếng đồng hồ đi xe bus. Nên từ khi bà đi, tôi ít khi được gặp bà. Mẹ tôi bảo “chờ tới khi nghỉ hè mẹ sẽ cho con về nhà bà chơi một tháng”. Tôi mong hè lắm, bởi tôi rất nhớ bà. Nhưng gần đến hè năm đó, bác Cả tôi gọi điện ra thông báo rằng bà tôi bị ốm nặng lắm, có lẽ bà sẽ không qua khỏi bảo mẹ con tôi đi tới nhà bác gấp. Mẹ mua vé xe rồi hai mẹ con tôi chuẩn bị hành lý lên đường. Nhưng khi mẹ con tôi tới nơi thì thấy cả nhà bác Cả đang khóc rất to. Rồi đám tang bà cũng qua đi, tôi trở về nhà rồi đi học, ngày nào tôi cũng ước được gặp bà một lần. Rồi mãi cho tới một hôm, ngày thứ bảy định mệnh. Ngày thứ bảy của tháng 8 mùa thu dịu mát. Tôi đã được gặp bà trong giấc mơ. Khi những ô cửa sổ được mở tung, gió thu nhè nhẹ làm tôi ngủ gật lúc nào không biết. Tôi ngủ và trong giấc mơ tôi thấy bà đứng ở một cây cầu màu đỏ rất đẹp, bà mặc chiếc áo tứ thân trông rất giống các cụ lên chùa thường mặc. Chân đi hài kiểu hài của vua chúa ngày xưa, đầu vấn khăn mỏ quạ màu đen, miệng bỏm bẻm nhai trầu. Bà gọi tôi “Khôi Nguyên hả con, lại đây với bà” Tôi òa khóc nức nở chạy lại bên bà sà vào lòng bà như những ngày thơ dại. Tôi nói với bà rất nhiều, nhiều tới mức giờ tôi cũng không nhớ hết mình đã nói những gì, chỉ biết tôi nói “Con nhớ bà. Con yêu bà lắm” Bà nhìn tôi cười hiền hậu rồi xoa xoa cái đầu đinh của tôi bảo “Bà cũng thương con nhiều lắm. Cố gắng học hành chăm chỉ, nghe lời mẹ nghe con. Mẹ con nó vất vả nhiều đừng làm nó phải buồn lòng”. Tôi gật đầu lia lịa. Giấc mơ gặp bà là khoảnh khắc thần kỳ đáp ứng nỗi nhớ nhung, mong chờ của tôi. Dù chỉ có một vài thời khắc ngắn ngủi nhưng tôi vô cùng trân trọng giấc mơ đó, bởi tôi đã được gặp lại người mình vô cùng thương quý, được nói với bà những điều tôi ấp ủ bấy lâu nay, được ngồi trong lòng bà sống lại những ngày thơ bé.
Đề bài_ Em hãy kể về giấc mơ gặp lại người thân đã cách xa rất lâu
880
Đề cương ôn tập học kì 1 lớp 6 môn Địa lý Hướng dẫn Đề cương ôn tập học kì 1 môn Địa lý lớp 6 Đề cương ôn tập học kì 1 lớp 6 môn Địa lý. Tài liệu gồm các câu hỏi lí thuyết nhằm giúp các bạn học sinh nắm chắc kiến thức. Chúng tôi hi vọng rằng tài liệu này sẽ giúp ích cho các bạn học sinh trong quá trình ôn tập. Chúc các bạn đạt được kết quả học tập cao trong kì thi học kì 1 này. Mời các bạn tham khảo. Đề cương ôn tập học kì 1 – Địa lý 6 Câu 1:Trình bày vị trí, hình dạng và kích thước của trái đất. – Trái Đất có hình cầu. – Có 9 hành tinh trong hệ Mặt Trời: Sao Thuỷ, sao Kim, Trái đất, sao Hoả, sao Mộc, sao Thổ, Thiên Vương, Hải Vương, Diêm Vương – Trái đất nằm ở vị trí thứ 3 trong số 9 hành tinh theo thứ tự xa dần mặt trời Câu 2:Kinh tuyến là gì? Vĩ tuyến là gì? Kinh tuyến gốc, vĩ tuyến gốc có đặc điểm như thế nào? * Kinh tuyến: là đường nối cực Bắc đến cực Nam Trái đất có độ dài bằng nhau. – Kinh tuyến gốc là đường kinh tuyến 0o, đi qua đài thiên văn Grin- Uyt (ngoại ô Luân Đôn – nước Anh) – Kinh tuyến đối diện vớ kinh tuyến gốc là kinh tuyến 180 *Vĩ tuyến: Là những đường vĩ tuyến vuông góc với kinh tuyến. – Vĩ tuyến gốc được đánh sồ 0 còn được gọi là đường xích đạo * Quả địa cầu – 181 vĩ tuyến – 360 kinh tuyến Câu 3: Trên quả địa cầu nếu cứ 10o ta vẽ 1 kinh tuyến thì có tất cả bao nhiêu kinh tuyến? nếu cứ 10o ta vẽ 1 vĩ tuyến thì có tất cả bao nhiêu vĩ tuyến Bắc và bao nhiêu vĩ tuyến Nam? – Nếu cứ 10o ta vẽ 1 vĩ tuyến thì: + Nửa cầu Bắc có 9 vĩ tuyến Bắc. + Nửa cầu Nam có 9 vĩ tuyến Nam. Câu 4: Tỷ lệ bản đồ là gì? – Tỉ lệ bản đồ chỉ rõ mức độ thu nhỏ của khoảng cách được vẽ trên bản đồ so với thực tế trên mặt đất. * Bản đồ có tỉ lệ 1/1.000.000 thì 5 cm trên bản đồ tương ứng với bao nhiêu km trên thực địa? 5 cm x 1.000.000 cm = 5.000.000 cm 5.000.000 cm = 50 km * Bản đồ có tỉ lệ 1/6.000.000 thì 4 cm trên bản đồ tương ứng với bao nhiêu km trên thực địa? 4 cm x 6.000.000 cm = 24.000.000 cm 24.000.000 cm = 240 km * Bản đồ có tỉ lệ 1/4.000.000 thì 2 cm trên bản đồ tương ứng với bao nhiêu km trên thực địa? 2 cm x 4.000.000 cm = 8.000.000 cm 8.000.000 cm = 80 km * Bản đồ có tỉ lệ 1/ 2.000.000 thì 5 cm trên bản đồ tương ứng với bao nhiêu km trên thực địa? 5 cm x 2.000.000 cm = 10.000.000 cm 10.000.000 cm = 100 km * Bản đồ có tỉ lệ 1/2.000.000 thì 3 cm trên bản đồ tương ứng với bao nhiêu km trên thực địa? 3 cm x 2.000.000 cm = 6.000.000 cm 6.000.000 cm = 60 km Câu 5: Nêu cách xác định phương hướng trên bản đồ – Muốn xác định phương hướng trên bản đồ ta cần phải dựa vào các đường kinh, vĩ tuyến. * Vĩ tuyến: Đầu bên trái chỉ hướng Tây, đầu bên phải chỉ hướng Đông. Câu 6:Trình bày sự vận động tự quay quanh trục của trái đất? – Trái đất tự quay một vòng quanh trục theo hướng từ Tây sang Đông trong 24 giờ. – Chia bề mặt TĐ làm 24 khu vực giờ. Mỗi khu vực có 1 giờ riêng là giờ khu vực – Một khu vực giờ: 150 – Việt Nam nằm ở múi giờ thứ 7. Câu 7: Vì sao có hiện tượng ngày đêm kế tiếp nhau ở khắp mọi nơi trên Trái Đất? – Trái Đất có dạng hình cầu nên chỉ được chiếu sáng một nửa, nửa được Mặt Trời chiếu sáng là ngày, nửa nằm trong bóng tối là đêm – Do Trái Đất quay quanh trục từ Tây sang đông nên khắp mọi nơi trên TĐ đều lần lượt có ngày và đêm Câu 8:Sự chuyển động của trái đất quanh Mặt trời ra các mùa như thế nào? – TĐ chuyển động quanh mặt trời theo hướng từ Tây sang Đông trên một quỹ đạo có hình Elíp gần tròn. – Thời gian TĐ chuyển động quanh mặt trời trọn 1 vòng hết 365 ngày 6 giờ. – Khi chuyển động quanh quỹ đạo trục của TĐ bao giờ cũng có độ nghiêng không đổi và luôn hướng về 1 phía, nên 2 nửa cầu bắc và nam luân phiên nhau chúc và ngả về phía mặt trời, sinh ra các mùa. – Các mùa tính theo dương lịch và âm lịch có khác nhau về thời gian bắt đầu và kết thúc. * Mùa Hạ: Từ 22 tháng 6 đến 23 tháng 9 * Mùa Thu: Từ 23 tháng 9 đến 22 tháng 12 * Mùa Đông: Từ 22 tháng 12 đến 21 tháng 3 Câu 9: Cấu tạo bên trong của Trái Đất gồm mấy lớp? Lớp vỏ có vai trò gì đối với đời sống và hoạt động của con người? * Cấu tạo của vỏ trái đất: Gồm 3 lớp + Lớp vỏ + Lớp trung gian + Lớp lõi * Lớp vỏ có vai trò quan trọng vì nơi tồn tại của các thành phần khác của trái đất như: Nước, không khí, sinh vật… và của xã hội loài người Câu 10: Bình nguyên là gì? Có mấy loại bình nguyên? Thế nào là châu thổ? * Bình nguyên là dạng địa hình thấp, tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối thường dưới 200m – Có hai loại đồng bằng: + Đồng bằng bồi tụ ở của các con sông lớn gọi là châu thổ + Đồng bằng bào mòn – Đồng bằng thuận lợi cho trồng cây lương thực, thực phẩm Ngoài đề cương ôn thi học kì 1 lớp 6, các em học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 1 lớp 6 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Những đề thi học kì 1 lớp 6 này được ra từ các trường THCS trên toàn quốc. Với việc ôn thi học kì 1 qua đề thi cũ, các em sẽ có thêm kiến thức và kinh nghiệm trước khi bước vào kì thi chính thức. Chúc các em học tốt.
Đề cương ôn tập học kì 1 lớp 6 môn Địa lý
1,091
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 1 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn Đề 1 1.Hãy cho biết các từ gạch dưới trong các thuật ngữ, tục ngữ sau là danh từ (DT) hay động từ (ĐT), tính từ (TT), bằng cách ghi theo mẫu (M): a) Nhườngcơmsẻáo. M : ĐT b) Giấy rách phải giữ lấy lề. c) Lá lànhđùmlá rách. d) Đói cho sạch rách cho thơm. e) Một con ngựađau cả tàu bỏ cỏ. 2.Chép lại 3 thành ngữ, tục ngữ nói về chủ điểm Thương người như thể thương thân trong số các thành ngữ, tục ngữ ở bài 1. (1) (2) (3) 3.Ghi vào mỗi ô trống 2 ví dụ về cách thể hiện mức độ khác nhau của mỗi đặc điểm cho trước (xinh, đẹp): 4.Đặt 3 câu với 3 từ ngữ tìm được ở 3 ô trong cột từ xinh của bài 3. 5.Trong bài Tre Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Duy viết:, Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm. Thương nhau, tre chẳng ở riêng Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người. Hãy cho biết: Hình ảnh của tre trong đoạn thơ trên gợi lên phẩm chất gì của người Việt Nam? Để góp phần gợi tả phẩm chất tốt đẹp ấy, tác giả đã sử dụng những động từ, tính từ nào ở 2 dòng thơ đầu? 6.* Kể lại một việc em đã làm hoặc chứng kiến nói về chủ điểm đã học: Thương người như thể thương thân. (Bài viết có độ dài khoảng 12 câu.) XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 1 – Tiếng Việt 4
254
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 5 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 5 1.Ghi vào chỗ trống các từ ghép theo yêu cầu dưới đây. a) 4 từ ghép chứa tiếng nhân có nghĩa là người: b) 4 từ ghép chứa tiếng nhân có nghĩa là lòng thương người: 2.Dựa vào từ láy lung linh, hãy tạo ra 8 từ láy khác đều có khuôn vần ung – inh bằng cách thay đổi âm đầu hoặc thanh (hoặc âm đầu và thanh) ở 2 tiếng sao cho thích hợp. M: rủng rỉnh (thay đổi âm đầu và thanh ở cả 2 tiếng) (1)…………………………………… (2)…………………………………… (3)…………………………………… (4)…………………………………… (5)…………………………………… (6)…………………………………… (7)…………………………………… (8)…………………………………… 3. a)Xác định các từ gạch dưới trong đoạn văn là động từ hay tính từ bằng cách ghi kí hiệu: ĐT (động từ), TT (tính từ). Áp mặt xuống gối, em mong trời mau sáng để nói với mẹ: “Con không M : ĐT thích chiếc áo ấy nữa. Mẹ hãy để tiền mua áo ấm cho cả hai anh em.” b) Chọn 1 động từ thích hợp trong số các động từ đã xác định để đặt 1 câu kể theo mẫu Ai làm gì? sau đó gạch dưới bộ phận vị ngữ của câu đã đặt. 4.Đặt câu hỏi phù hợp với mỗi tình huống sau: a) Tan học về, em gặp một em nhỏ đang muốn sang bên kia đường. Hãy dùng hình thức câu hỏi để thể hiện mong muốn giúp em nhỏ qua đường: – b) Em được xem cuốn vở có chữ viết rất đẹp của bố từ những ngày bố còn đang đi học. Hãy dùng hình thức câu hỏi để bộc lộ sự thán phục của em về chữ viết của bố: – c) Bạn Sơn mượn truyện của em, hứa sẽ trả sau hai ngày. Quá hẹn đã ba ngày, Sơn vẫn khất lần không chịu trả sách. Hãy nhẹ nhàng trách bạn đã không giữ đúng lời hứa bằng một câu hỏi: – d) Trong giờ học, bạn Phong ngồi cùng bàn không tìm thấy bút liền nói với em: “Cậu cầm bút của tớ thì trả đi!”. Em không cầm bút của Phong nên đã dùng hình thức câu hỏi để phủ định lại ý của bạn: – ………………………………………………………………… 5.Đọc bài thơ sau của nhà thơ Thanh Hào: Bóng mây Hôm nay trời nắng như nung Mẹ em đi cấy phơi lưng cả ngày Ước gì em hoá đám mây Em che cho mẹ suốt ngày bóng râm. Em cảm nhận được điều gì đẹp đẽ về tình cảm của người con đối với mẹ. 6.* Em đã từng tham gia hoặc chứng kiến những việc làm có ý nghĩa tốt đẹp ở địa phương mình đang sống. Hãy kể lại câu chuyện nói về một việc làm tốt đó. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 5 – Tiếng Việt 4
445
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 6 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 6 1.a) Gạch chéo (/) để ngăn cách các từ (từ đơn, từ phức) trong đoạn thơ sau (M: Việt Nam /…): Việt Nam / đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. Cánh cò bay lả dập dờn, Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều. (Nguyễn Đình Thi) b) Xếp các từ phức đã xác định ở trên vào hai nhóm dưới đây” – Từ ghép:…………………………………………………………………. – Từ láy:……………………………………………………………………………….. …. 2.Gạch dưới và chép lại 7 tính từ trong đoạn thơ của nhà thơ Tố Hữu viết về Bác Hồ: Nhà gác đơn sơ một góc vườn Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn Giường mây chiếu cói đơn chăn gối Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn. (1)……………. (2)……………. (3)……………. (4)……………. (5)……………. (6)……………. (7)……………. 3.Dùng các động từ thích, đọc, viết để đặt 3 câu (mỗi câu có một động từ đã cho) theo mẫu đã học (Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?), sau đó gạch dưới bộ phận trả lời cho câu hỏi Ai? ở từng câu. a) Câu theo mẫu Ai là gì? b) Câu theo mẫu Ai làm gì? c) Câu theo mẫu Ai thế nào? 4.Đoạn trích dưới đây trong câu chuyện Bài văn bị điểm không của nhà văn Nguyễn Quang Sáng có 4 câu văn gạch dưới còn chép thiếu dấu hai chấm và dấu ngoặc kép. Em hãy chép lại 4 câu văn đó sau khi đặt dấu ngoặc kép (hoặc dấu hai chấm và dấu ngoặc kép) cho đúng chỗ: Tôi ngạc nhiên: – Đề bài khó lắm sao? – Không. Cô chỉ yêu cầu Tả bố em đang đọc báo. Có đứa bạn con bảo ba nó không đọc báo, nhưng rồi nó bịa ra, cũng được 6 điểm. Tôi thở dài: – Còn đứa bị điểm không, nó tả thế nào? – Nó không tả, không viết gì hết. Nó nộp giấy trắng cho cô. Hôm trả bài, cô giận lắm. Cô hỏi Sao trò không chịu làm bài? Nó cứ làm thinh. Mãi sau nó mới bảo Thưa cô, con không có ba. Nghe nó nói, cô con sững người. Té ra ba nó hi sinh từ khi nó mới sanh. Cô mới nhận lớp nên không biết, ba ạ. Cả lớp con ai cũng thấy buồn. Lúc ra về, có đứa hỏi Sao mày không tả ba của đứa khác? Nó chỉ cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống má. Chép lại 4 câu: 5.Đọc đoạn văn sau trong bài Cánh diều tuổi thơ của nhà văn Tạ Duy Anh: Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều, trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,… như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Em hãy cho biết: Tác giả tả trò chơi thả diều hấp dẫn qua những từ ngữ, hình ảnh nào? Vì sao tác giả nghĩ rằng ‘Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều” 6*. Hãy tả lại một đồ vật trong nhà (bàn học, lịch treo tường, giá sách nhỏ, tủ đựng quần áo, tủ đồ chơi,…) được em yêu quý và gắn bó thân thiết trong cuộc sống hằng ngày. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 6 – Tiếng Việt 4
561
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 7 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 7 1.Tìm các từ ghép, từ láy chứa tiếng ghi ở cột A điền vào ô trống theo từng cột trong bảng: 2. Xác định các từ gạch dưới trong đoạn văn là danh từ hay động từ, tính từ rồi ghi lại theo từng dòng. Cầu Thê Húc màu son, cong như con tôm, dần vào đền Ngọc Sơn. Mái đền lấp ló bên gốc đa già, rễ lá xum xuê. Xa một chút là Tháp Rùa, tường rêu cổ kính. Tháp xây trên gò đất giữa hồ, cỏ mọc xanh um. a) Danh từ: b) Động từ:…………………………………………………………….. c) Tính từ:……………………………………………………………………………. 3.Gạch dưới một động từ, một tính từ dùng sai trong hai câu dưới đây. Chữa lại cách dùng từ cho đúng, sau đó chép lại câu văn đã chữa. Nêu rõ lí do vì sao em cho rằng động từ, tính từ đó dùng sai. a) Tính tình anh ấy rất hiền lành, nhưng khi ra trận đánh giặc thì táo tợn vô cùng. – Chữa lại: – Lí do dùng từ sai: b) Học sình sẽ hiểu sai vấn đề cô giáo truyền tụng lại. – Chữa lại: – Nêu lí do dùng từ sai: 4.Đặt 4 câu hỏi khác nhau để tìm ý miêu tả cuốn sách Tiếng Việt 4, tập một mà em đang dùng. Gạch dưới từ nghi vấn trong mỗi câu hỏi đã đặt. (2) (3) (4) 5.Nêu những suy nghĩ của em về hình ảnh bạn học sinh giúp bà cụ qua đường giữa trưa nắng trong đoạn thơ sau: Tan học về giữa trưa Nắng rất nhiều mà bà chẳng thấy Qua đường lắm xe, bà dò theo cái gậy Cái gậy tre run run. Bà ơi, cháu tên là Hương Cháu dắt tay bà qua đường… Bà qua rồi lại đi cùng gậy Cháu trở về, cháu vẫn còn thương. MAI HƯƠNG 6*. Tả chiếc áo (hoặc mũ / nón) đã từng gắn bó thân thiết (hoặc chứa đựng một kỉ niệm đáng nhớ) với em trong những ngày thơ ấu. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 7 – Tiếng Việt 4
337
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 9 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 9 1.Tìm các từ ghép, từ láy chứa tiếng ghi ở cột A điền vào ô trống theo từng cột trong bảng: 2.Chọn từ thích hợp (đã, đang, sắp) điền vào chỗ trống để bổ sung ý nghĩa thời gian cho động từ in đậm trong mỗi câu dưới đây: a) Trên bờ sông, Rùa………………………..cố sức tập chạy. b) Thỏ………………………….mỉm cười và chế diễu Rùa chậm chạp. c) Bỗng Thỏ nghĩ đến cuộc thi, ngẩng đầu lên thì …………………. thấy Rùa……………..chạy tới đích. 3. a) Cho biết mục đích của mỗi câu hỏi sau dùng để làm gì: (1) Bà ơi, ai cũng bảo anh em cháu giống nhau như những giọt nước cơ mà? (Dùng để………………………………………) (2) Những con bồ câu cũng cần ăn chứ nhỉ? (Dùng để………………………………………) (3) Tớ nhảy qua con cá chuối bao giờ? (Dùng để………………………………………) (4) Ông giấu cày mà la to như thế, kẻ gian nó biết chỗ, lấy cày đi thì sao? (Dùng để………………………………………) (5) Cháu đã biết nấu món ăn ngon như thế này từ bao giờ thế? (Dùng để………………………………………) (6) Bạn có thể cho mình mượn hộp bút chì màu một lúc được không? (Dùng để………………………………………) b) Viết một câu hỏi không nhằm mục đích để hỏi mà dùng vào mục đích khác (ghi rõ mục đích đó vào trong ngoặc): (Dùng để………………………………………) 4.Đặt 4 câu kể Ai làm gì? nói về hoạt động của học sinh trong giờ ra chơi ở sân trường, sau đó gạch chéo (/) để ngăn cách chủ ngữ – vị ngữ và gạch dưới động từ có trong bộ phận vị ngữ 5.Cách đây hơn 50 năm, trong bài Cây tre Việt Nam, nhà văn Thép Mới có viết: Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt thép và xi măng cốt thép. Nhưng tre nứa sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam, còn mãi với chúng ta, với hạnh phúc, hoà bình. Theo em, vì sao tác giả tin tưởng rằng hình ảnh cây tre sẽ còn mãi với thiếu nhi, với dân tộc Việt Nam chúng ta? 6.* Dựa vào khổ thơ dưới đây trong bài thơ Gọi bạn của nhà thơ Định Hải, em hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyện Dê Trắng đi tìm người bạn Bê Vàng thân thiết. Bê Vàng đi tìm cỏ Lang thang quên đường về Dê Trắng thương bạn quá Chạy khắp nẻo tìm Bê Đến bây giờ Dê Trắng Vẫn gọi hoài: “Bê! Bê!” XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì I – Đề 9 – Tiếng Việt 4
412
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 17 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 17 1.Tìm 2 từ cùng nghĩa với mỗi từ in đậm và ghi vào ô trống ở từng cột: 2.Xếp 16 từ in đậm trong đoạn văn tả cây gạo của nhà văn Vũ Tú Nam vào hai cột trong bảng dưới: Cây gạo già mỗi năm lại trở lại tuổi xuân, cành nặng trĩu những hoa đỏ mọng và đầytiếng chim hót. Chỉ cần một làn gió nhẹ hay một đôi chim mới đến là có ngay mấy bông gạo lìa cành. Những bông hoa rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống, những cánh hoa đỏ rực quaytít như chong chóng nom thật đẹp.Xếp 16 từ in đậm trong đoạn văn tả cây gạo của nhà văn Vũ Tú Nam vào hai cột trong bảng dưới: 3.Trong số các từ ở bảng trên (bài tập 2), hãy chọn 2 động từ, 2 tính từ để đặt 4 câu kể theo mẫu đã học (nhớ gạch dưới từ đã chọn để đặt câu): a) 2 câu kể Ai làm gì? b) 2 câu kể Ai thế nào? 4.Đặt 4 câu kể Ai là gì? theo từng yêu cầu: (1) Chủ ngữ (do cụm danh từ tạo thành) chỉ sự vật được giới thiệu ở vị ngữ. (2) Chủ ngữ (do cụm danh từ tạo thành) chỉ sự vật được xác định ở vị ngữ.………………………………………………………………………… (3) Vị ngữ (do cụm danh từ tạo thành) giới thiệu sự vật nêu ở chủ ngữ. (4) Vị ngữ (do cụm tính từ tạo thành) nêu nhận định về sự vật ở chủ ngữ. Chú ý: Nhớ gạch dưới chủ ngữ ở câu (1), câu (2),. gạch dưới vị ngữ ở câu (3), câu (4). 5.Trong bài thơ Lịch, tác giả Nguyễn Hưng Hải có viết: Lá là lịch của cây Cây lại là lịch đất Trăng lặn rồi trăng mọc Là lịch của bầu trời. Em hiểu những hình ảnh so sánh trong khổ thơ trên như thế nào? Cách so sánh đó giúp em cảm nhận được điều gì có ý nghĩa? 6.* Em hãy thay lời một đồ vật quen thuộc (chiếc cặp hoặc quyển sách, quyển vở, cây bút, bàn học, chiếc xe đạp,…) để kể lại câu chuyện nói về kỉ niệm của đồ vật đó đối với em trong những ngày đi học. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 17 – Tiếng Việt 4
390
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 18 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 18 1.Chọn từ láy gợi tả âm thanh, hình ảnh phù hợp với mỗi chỗ trống trong đoạn văn bằng cách gạch dưới từ trong ngoặc: Mọi người đã thức dậy nấu cơm. Tiếng vo gạo (xoàn xoạt, xoèn xoẹt, lạch cạch), tiếng xóc gạo (lách cách, lách tách, lạch xạch), nồi xoong va vào nhau (leng keng, loảng xoảng, lỉnh kỉnh). Gà mái, gà choai đã động chuồng, mổ nhau (chí chát, chí choé, choe choé). Lợn ủn ỉn đòi ăn. Trâu gõ sừng (lọc cọc, lóc cóc, canh cách) vào gióng gỗ, thở (hổn hển, phì phì, phì phò), nghểnh đầu chờ những bó cỏ do tay người đưa vào chuồng. Chúng thích thú nhai (nhóp nhép, tóp tép, lép nhép), đuôi (vung vẩy, ve vẩy, vẫy vẫy) đuổi muỗi, mắt (lìm dim, lừ đừ, lò dò) nhìn ánh đèn soi (lấp lánh, lóng lánh, lấp loáng) trên đầu. 2.Điền vào chỗ trống trong ngoặc để cho biết: mỗi câu dưới đây thuộc câu kể Ai là gì? hay Ai làm gì?,Ai thế nào? ; từ thật thà là danh từ hay động từ,tính từ và thuộc bộ phận (BP) nào trong câu (trạng ngữ hay chủ ngữ, vị ngữ): a) Chị Chấm rất thật thà. ( Câu kể……………; từ thật thà là……………, thuộc BP……………..) b) Tính thật thà của chị Chấm khiến ai cũng mến. ( Câu kể……………; từ thật thà là……………, thuộc BP……………..) ( Câu kể……………; từ thật thà là……………, thuộc BP……………..) d) Ai cũng khen chị Chấm là người ăn nói thật thà, dễ nghe. ( Câu kể……………; từ thật thà là……………, thuộc BP……………..) e) Thật thà là phẩm chất đáng quý của chị Chấm. ( Câu kể……………; từ thật thà là……………, thuộc BP……………..) 3.Chữa lại mỗi câu sai dưới đây băng cách đổi vị trí từ ngữ hoặc thay, thêm, bớt chỉ một, hai từ. a) Rất nhiều cố gắng, bạn An đã tiến bộ vượt bậc ở học kì II. Chữa lại: b) Tàu của hải quân ta trên bến đảo Trường Sa giữa mịt mù sóng gió. Chữa lại: 4.Thêm trạng ngữ (TrN) cho câu “Lá rụng rất nhiều theo mỗi yêu cầu sau: a) Thêm một TrN chỉ thời gian. b) Thêm một TrN chỉ nơi chốn. c) Thêm một TrN chỉ nguyên nhân. d) Thêm hai TrN (chỉ thời gian, nơi chốn hoặc thời gian, nguyên nhân). 5. Mở đầu bài Nhớ con sông quê hương, nhà thơ Tế Hanh viết: Quê hương tôi có con sông xanh biếc Nước gương trong soi tóc những hàng tre Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng. Đoạn thơ trên có những hình ảnh nào đẹp? Những hình ảnh đó giúp em cảm nhận được điều gì? 6.* Em hãy tả một con vật đang chăm sóc, bảo vệ con cái (ví dụ: gà mái dẫn đàn con đi kiếm ăn ; chim mẹ mớm mồi cho con nhỏ ; mèo cho con bú, dạy con bắt chuột,…). XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 18 – Tiếng Việt 4
498
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 19 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỂ 19 1.Dựa vào các từ in nghiêng trong hai câu thơ của Bác Hồ dưới đây, hãy tìm và ghi lại 6 danh từ, 2 động từ và 2 tính từ: Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày. – 6 danh từ – 2 động từ:…………………………………………………………………… ­- 2 tính từ:……………………………………………………………………. 2.Cho các từ: núi sông, rạng rỡ, chen chúc, cây, dịu dàng, xanh, thành phố, xây, đổi mới. Hãy sắp xếp những từ trên thành các nhóm theo 2 cách dưới đây và ghi vào từng cột trong bảng: Cách 1: Dựa vào cấu tạo Cách 2: Dựa vào từ loại 3.Chọn từ láy thích hợp điền vào chỗ trống để câu văn diễn tả được âm thanh, hình ảnh cụ thể, sinh động: a) Trên những cành cây cao……………………, bầy chim hót……………………. b) Đàn cò trắng bay………………………… trên cánh đồng rộng………………… c) Dòng sông. …………………. chảy giữa đôi bờ lúa ngô xanh……………… 4.Viết lại câu nói của em sao cho lịch sự và phù hợp với mỗi tinh huống sau: a) Dùng câu khiến để nhờ mẹ bạn Vũ cho nói chuyện qua điện thoại với bạn Vũ. – b) Dùng câu hỏi để nhờ mẹ bạn Vũ cho nói chuyện qua điện thoại với bạn Vũ. – c) Dùng câu cảm bộc lộ cảm xúc vui mừng khi gặp lại người bạn thân sau ba tháng hè xa cách. d) Dùng câu hỏi khen người bạn thân cao hơn trước sau ba tháng hè xa cách. 5.Trong bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có những câu thơ giàu hình ảnh và cảm xúc như sau: Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng Hãy chỉ rõ những hình ảnh có ý so sánh trong đoạn thơ trên và nêu cảm nhận của em về ý nghĩa đẹp đẽ của sự so sánh tinh tế đó. 6.* Hãy tả một thứ đồ chơi của trẻ em vừa có hình dáng đẹp vừa hoạt động được, từng đem đến cho em niềm vui và sự thích thú. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 19 – Tiếng Việt 4
372
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 20 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 20 1.Xếp các từ có tiếng lạc dưới đây (không kể mẫu – M) thành 2 nhóm, rồi điền vào chỗ trống: lạc thú, lạc lõng, lạc quan, lạc đề, lạc điệu, lạc hướng, lạc loài, lạc hậu, lạc nghiệp, sai lạc. – Nhóm (1): Những từ trong đó lạc có nghĩa là “vui, mừng” (M: lạc thú). – Nhóm (2): Những từ trong đó lạc có nghĩa là “rớt lại, sai” (M: lạc lõng). 2.Hãy cho biết các từ gạch dưới trong mỗi câu sau là danh từ (DT), động từ (ĐT) hay tính từ (TT) bằng cách ghi kí hiệu (DT, ĐT, TT) ở dưới: (1) Lan dỗ em nín khóc cho mẹ nấu cơm. (2) Anh em, họ hàng quây quần bên nhau trong ngày giỗ ông nội. (3) Mặt bác Hải bị rỗ là do di chứng quái ác của bệnh đậu mùa. (4) Con chó mực rất dữ nhưng được chủ khen vì giữ nhà rất giỏi. (5) Em viết đơn xin gia nhập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. (6) Mẹ dẫn Long ra trạm y tế để xin thuốc chữa bệnh ngoài da. 3.Gạch dưới và ghi rõ TrN (trạng ngữ) – nếu có, CN (chủ ngữ), VN (vị ngữ) trong mỗi câu kể dưới đây và cho biết câu đó thuộc câu kể Ai làm gì? hay Ai thế nào? Ai là gì? (Chú ý: Giữa CN và VN có gạch chéo /) (Câu kể………………………………..) b) Tiếng mưa rơi lộp độp trên những tàu lá chuối. (Câu kể……………………………… ) c) Những chú gà nhỏ như những hòn tơ lăn tròn trên bãi cỏ. (Câu kể……………………………… ) d) Từ cửa, trịnh trọng tiến vào một anh bọ ngựa. (Câu kể……………………………… ) 4.Viết đoạn văn (khoảng 5 câu) nói về các hoạt động của em ở trường hoặc ở nhà, trong đó có sử dụng 2 câu theo mẫu “Ai làm gì mỗi câu đều có ít nhất một trạng ngữ. (Gạch dưới trạng ngữ của 2 câu trong đoạn văn.) 5. Trong bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính, nhà thơ Phạm Tiến Duật có viết: Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi. Đọc những câu thơ trên, em thấy hình ảnh người chiến sĩ lái xe trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ có những điểm gì đáng yêu, đáng quý? 6.* Tả một con vật có nhiều nét lạ mà em quan sát được trong vườn thú hoặc nhìn thấy qua phim ảnh, ti vi,… XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 20 – Tiếng Việt 4
437
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 21 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 21 I – Đọc hiểu Đọc bài văn sau: Làm cách nào dễ hơn Ba cậu bé rủ nhau vào rừng chơi. Trong rừng có nấm, có quả rừng, lại có đủ thứ chim thật hấp dẫn. Ba cậu mải chơi nên không để ý là trời sắp tối. về bây giờ thì biết nói với bố mẹ sao đây. Cả ba cố nghĩ ngợi tìm xem cách nào dễ hơn: nói dối hay thú thật? Cậu thứ nhất nhanh nhảu: -Tớ sẽ nói dối là bị chó sói đuổi trong rừng. Bố tớ phát hoảng lên, thế là không mắng tớ nữa. Cậu thứ hai hí hửng: – Tớ sẽ nói là đang đi đường thì gặp ông ngoại. Mẹ tớ sẽ vui và cũng không mắng tớ. Cậu thứ ba chậm rãi: -Còn mình thì sẽ nói thật, vì nói thật thì chẳng cần phải nghĩ tìm cách này hay cách khác. Thế rồi ba cậu bé về nhà. Cậu thứ nhất vừa nói với bố xong thì đúng lúc bác gác rừng đến chơi. Bác nói: -Không, trong rừng này làm gì có chó sói. Người cha bực tức vô cùng. Vì tội đi chơi về muộn cũng đã tức rồi, vậy mà còn nói dối nữa nên tức gấp đôi. Cậu thứ hai đang nói với mẹ là đi đường gặp ông ngoại thì vừa lúc ông ngoại bước vào. Bà mẹ cũng bực tức vô cùng. Vì tội nói dối còn tức gấp mấy lần tội đi chơi về muộn. Theo Truyện nước ngoài (Trần Cao Thụy dịch) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng cho từng câu hỏi dưới đây: 1.Trong ba cậu bé vào rừng choi, những ai vê nhà đã nói dối bố mẹ? a – Cậu bé thứ nhất và cậu bé thứ hai b – Cậu bé thứ hai và cậu bé thứ ba c – Cậu bé thứ nhất và cậu bé thứ ba 2.Nhờ ai mà bố mẹ của cả hai cậu bé biết được con mình nói dối? a – Nhờ có bác gác rừng đến chơi nhà b – Nhờ có bác gác rừng và ông ngoại c – Nhờ có ông ngoại đến nhà chơi. 3.Vì sao cậu bé nói thật lại được người bố tha thứ? a – Vì cậu biết nhận lỗi một cách thật dễ dàng, vui vẻ b – Vì cậu biết tính bố luôn tha thứ cho người nói thật c – Vì cậu biết nhận lỗi kịp thời và có thể sửa được lỗi. 4.Câu chuyện muốn ca ngợi điều gì là chủ yếu? a – Ca ngợi lòng dũng cảm b – Ca ngợi tính trung thực c – Ca ngợi trí thông minh 5.Dòng nào dưới đây nêu đúng 4 từ ghép trong bài? a – bố mẹ, tha thứ, hấp dẫn, chậm rãi b – bố mẹ, nói thật, dễ hơn, chậm rãi c – tha thứ, nói thật, hấp dẫn, nhận lỗi. a – nghĩ ngợi, bực tức, nhanh nhảu, thú thật b – nghĩ ngợi, nhanh nhảu, hí hửng, căn dặn c – nhanh nhảu, thú thật, căn dặn, hoàn toàn 7.Dòng nào dưới đây nêu đúng các danh từ (DT), tính từ (TT) trong câu: “Trong rừng có nấm, có quả rừng, lại có đủ thứ chim thật hấp dẫn.” a – DT: rừng, nấm, quả, thứ chim ; TT: thật, hấp dẫn b – DT: nấm, quả rừng, thứ, chim ; TT: có, hấp dẫn c – ĐT: rừng, nấm, quả, thứ, chim ; TT: đủ, hấp dẫn 8.Có mấy động từ trong câu “Bố cậu chỉ căn dặn một câu và hoàn toàn tha thứ cho cậu.”? a – Một động từ. (Đó là:……… ) b – Hai động từ. (Đó là: ……… ) c – Ba động từ. (Đó là: ) 9.Hai câu “(1) Tớ sẽ nói là đang đi đường thì gặp ông ngoại. (2) Mẹ tớ sẽ vui và cũng không mắng tớ.” thuộc các kiểu câu kể nào em đã học (Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì?)? a – Câu (1) thuộc kiểu câu Ai là gì?; câu (2) thuộc kiểu câu Ai thế nào? b – Câu (1) thuộc kiểu câu Ai làm gì?; câu (2) thuộc kiểu câu Ai thế nào c – Câu (1) thuộc kiểu câu Ai là gì?; câu (2) thuộc kiểu câu Ai làm gì? 10.Vị ngữ trong câu “Tớ sẽ nói là đang đi đường thì gặp ông ngoại.” là những từ ngữ nào? b – nói là đang đi đường thì gặp ông ngoại. c – là đang đi đường thì gặp ông ngoại. II – Cảm thụ văn học Ca ngợi vẻ đẹp của đất nước ta, nhà thơ Tố Hữu đã viết những câu sau trong bài Ta đi tới: Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca… Hãy nêu cảm nhận của em về những hình ảnh gợi tả sinh động vẻ đẹp của đất nước Việt Nam qua đoạn thơ trên. III – Tập làm văn Viết đoạn văn (khoảng 8 câu) kể lại mẩu chuyện vui em được nghe hoặc chứng kiến trên lớp (hoặc ở nhà). XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 21 – Tiếng Việt 4
848
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 22 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 22 I – Đọc hiểu Đọc bài văn sau: Mẹ con cá chuối Bơi càng gần lên mặt ao, thấy nước càng nóng, cá chuối mẹ bơi mãi, cố tìm hướng vào bờ. Mặt ao sủi bọt, nổi lên từng đám rêu. Rất khó nhận ra phương hướng. Chuối mẹ phải vừa bơi vừa nghếch lên mặt nước để tìm hướng khóm tre. Trời bức bối, ngột ngạt. Lắm lúc chuối mẹ chỉ muốn lặn ngay xuống đáy ao cho mát. Nhưng nghĩ đến đàn con đang đói, chờ ở vùng nước đằng kia, chuối mẹ lại cố bơi. Khóm tre bên bờ đã gần đây rồi. Khi tới thật gần, chuối mẹ chỉ còn trông thấy gốc tre, không thấy ngọn tre đâu. Chuối mẹ bơi sát mép nước, rồi rạch lên chân khóm tre. Tìm một chỗ đoán chắc là có tổ kiến gần đó, chuối mẹ giả vờ chết, nằm im không động đậy. Trời nóng hầm hập. Hơi nước, hơi lá ải cùng với mùi tanh trên mình chuối mẹ bốc ra làm cho bọn kiến lửa gần đó thèm thuồng. Bọn chúng rủ nhau đi kiếm mồi. Kiến nối đuôi nhau, vừa bò loằng ngoằng vừa dò dẫm về phía có mùi cá. Đầu tiên, cá chuối mẹ cảm thấy buồn buồn ở khắp mình, sau rồi đau nhói trên da thịt. Biết kiến kéo đến đã đông, chuối mẹ liền lấy đà quẫy mạnh, rồi nhảy tùm xuống nước. Bọn kiến không kịp chạy, nổi lềnh bềnh trên mặt ao. Đàn chuối con ùa lại tranh nhau đớp tới tấp. Thế là đàn chuối con được một mẻ no nê. Chiiối mẹ bơi quanh nhìn đàn con đớp mồi, vui quá nên quên cả những chỗ đau vì bị kiến đốt. Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng cho từng câu hỏi dưới đây: 1.Cá chuối mẹ tìm cách vào bờ, rạch lên chân khóm tre để làm gì? a – Để tìm cách kiếm mồi cho các con ăn b – Để tránh cái nóng ngột ngạt, bức bối c – Để tìm chỗ mát cho các con đến nghỉ 2.Nằm ở chân khóm tre, chuôi mẹ phải chịu đựng thử thách gì lớn nhất? a – Trời nóng hầm hập, khô khốc b – Hơi nước, hơi lá ải nồng nặc c – Kiến đốt đau nhói trên da thịt 3.Chi tiết nào dưới đây tả niềm vui của chuôi mẹ đối với các con? a – Nghĩ đến đàn con đang đói, chuối mẹ cố bơi về phía gần bờ b – Nhìn đàn con đớp mồi, quên cả những chỗ đau vì bị kiến đốt c – Đàn chuối con ùa lại tranh nhau đớp tới tấp những con kiến lửa 4.Câu chuyện ca ngợi điều gì là chủ yếu? a – Sự thông minh của cá chuối mẹ trong việc kiếm mồi cho các con b – Tinh thần dũng cảm vượt qua thử thách lớn lao của cá chuối mẹ c – Tinh cảm yêu thương sâu nặng của cá chuối mẹ đối với các con 5.Đoạn cuối của bài (“Đầu tiên… bị kiến đốt”) có mấy từ láy? a – Hai từ láy. (Đó là:……………………………………….) b – Ba từ láy. (Đó là:……………………………………….) c – Bốn từ láy. (Đó là:………………………………………..) 6. Có mấy động từ trong số 5 từ láy động đậy, hầm hập, thèm thuồng, loằng ngoằng, dò dẫm? b – Ba động từ. (Đó là:………………………………………..) c – Bốn động từ. (Đó là:………………………………………..) 7.Có mấy tính từ trong câu “Biết kiến kéo đến đã dông, chuối mẹ liền lấy đà quẫy mạnh, rồi nhảy tùm xuống nước.”? a – Một tính từ. (Đó là…………………………………………) b – Hai tính từ. (Đó là…………………………………………) c – Ba tính từ. (Đó là:………………………………………..) 8.Dòng nào dưới đây xác định đúng kiểu câu kể đôi với ba câu: (1) Lắm lúc chuối mẹ chỉ muốn lặn ngay xuống đáy ao cho mát. (2) Chuối mẹ bơi sát mép nước, rồi rạch lên chân khóm tre. (3) Đàn chuối con ùa lại tranh nhau đớp tới tấp. a – Cả ba câu (1), (2), (3) đều là câu kể Ai làm gì? b – Câu (1) và (2) là câu kể Ai thế nào?, câu (3) là câu kể Ai làm gì? c – Câu (1) là câu kể Ai thế nào?, câu (2) và (3) là câu kể Ai làm gì? 9.Vị ngữ của câu “Đàn chuối con ùa lại tranh nhau đớp tới tấp.” là những từ ngữ nào? a – ùa lại tranh nhau đớp tới tấp. b – tranh nhau đớp tới tấp. c – đớp tới tấp. 10.Chủ ngữ của câu “Hơi nước, hoi lá ải cùng với mùi tanh trên mình chuối mẹ bốc ra làm cho bọn kiến lửa gần đó thèm thuồng.” là những từ ngữ nào? a – Hơi nước, hơi lá ải b – Hơi nước, hơi lá ải cùng với mùi tanh trên mình chuối mẹ II – Cảm thụ văn học Trong bài Bè xuôi sông La, nhà thơ Vũ Duy Thông có viết: Sông La ơi sông La Trong veo như ánh mắt Bờ tre xanh im mát Mươn mướt đôi hàng mi. Hãy cho biết: Đoạn thơ trên giúp em cảm nhận được vẻ đẹp của dòng sông La như thế nào? III – Tập làm văn Viết đoạn văn (khoảng 8 câu) tả một bông hoa đang nở trên cành vào một buổi sớm mà em yêu thích. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 22 – Tiếng Việt 4
892
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 23 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn ĐỀ 23 I – Đọc hiểu Đọc bài văn sau: Ê-đi-xơn và bà mẹ Hôm đó, Ê-đi-xơn vừa đi ra ga thì mẹ ở nhà đau bụng dữ dội. Bố bận đi làm. Khi chị Ta-ni-a về, mẹ thều thào bảo chị đi gọi em và mời bác sĩ. Bác sĩ đến khám bệnh và cho biết: bà đang đau ruột thừa, phải mổ ngay, chờ đến sáng thì muộn quá. Nhưng trời cứ tối dần, mà dưới ánh sáng đèn dầu thì làm sao mổ được. Thấy bác sĩ lo lắng, Ê-đi-xơn hỏi ông: -Thưa bác sĩ, nếu thắp tất cả đèn dầu lên để mổ thì có được không ạ? -Không được, vì không đủ ánh sáng, mổ như thế nguy hiểm lắm. Ê-đi-xơn ôm đầu suy nghĩ, niềm thương mẹ day dút trong lòng. Đột nhiên, cậu bé nhìn thấy ánh đèn sáng chói phản chiếu từ mảnh sắt tây trên tủ. Một tia sáng loé lên trong đầu: “Sao không mượn tấm gương lớn ở hiệu tạp hoá về và cho phản chiếu thật nhiều ánh đèn cho sáng hơn?”. Thế là cậu liền chạy đi mượn ngay tấm gương lớn. Lát sau, tất cả đèn dầu trong nhà được thắp sáng và đặt trước gương. Xong xuôi, cậu sang phòng bên, gặp bác sĩ và tự hào nói: -Thưa bác sĩ, đã có đủ ánh sáng rồi ạ! Mời bác sĩ sang xem. -Cháu làm thế nào mà tài thế, hỡi cậu bé thông minh! Bác sẽ bắt đầu ngay! Rạng sáng thì mổ xong. Bà mẹ thoát khỏi tay thần chết. Ê-đi-xơn cứu được mẹ nhờ sáng kiến của mình. Theo cuốn Ê – ĐI – XƠN NXB Kim Đồng, 1977 Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng cho từng câu hỏi dưới đây: 1.Câu chuyên có những nhân vật nào? a – Ê-đi-xơn, bác sĩ, bố Ê-đi-xơn, mẹ Ê-đi-xơn b – Ê-đi-xơn, chị Ta-ni-a, bố Ê-đi-xơn, mẹ Ê-đi-xơn c – Ê-đi-xơn, chị Ta-ni-a, bác sĩ, mẹ Ê-đi-xơn 2.Bà mẹ trong câu chuyện rơi vào tình trạng nguy hiểm ra sao? a – Đau bụng dữ dội, phải có bác sĩ đến khám b – Đau ruột thừa, phải mổ ngay mới cứu được c – Đau ruột thừa, phải đem đến bệnh viện chữa 3.Ê-đi-xơn đã nghĩ ra sáng kiến gì giúp bác sĩ cứu sống mẹ? a – Tập trung tất cả đèn dầu trong nhà rồi thắp lên, đủ ánh sáng để mổ b – Mượn nhiều mảnh sắt tây phản chiếu ánh đèn, đủ ánh sáng để mổ c – Mượn tấm gương lớn phản chiếụ nhiều ánh đèn, đủ ánh sáng để mổ 4.Dòng nào dưới đây nêu đúng đặc điểm nổi bật của cậu bé Ê-đi-xơn? a – Thông minh, có tình cảm thương yêu mẹ sâu sắc b – Thông minh, có tình cảm tốt đẹp với cả gia đình 5.Dòng nào dưới đây nêu đúng nhất cảm xúc của bác sĩ khi nói câu “Cháu làm thế nào mà tài thế, hỡi cậu bé thông minh!”? a – Vui mừng, ngạc nhiên b – Ngạc nhiên, thán phục c – Vui mừng, thán phục. 6.Trong bài văn có mấy danh từ riêng? a – Một danh từ riêng. (Đó là:………………………………………) b – Hai danh từ riêng. (Đó là:………………………………………) c – Ba danh từ riêng. (Đó là:………………………………………) 7.Có mấy danh từ trong câu “Ê-đi-xơn ôm đầu suy nghĩ, niềm thương mẹ day dứt trong lòng.”? a – 4 DT (Ê-đi-xơn, đầu, mẹ, lòng) b – 5 DT (Ê-đi-xơn, đầu, niềm, mẹ, lòng) c – 6 DT (Ê-đi-xơn, đầu, niềm, mẹ, trong, lòng) 8.Bài văn sử dụng những kiểu câu nào đã học ở lớp 4? a – Câu hỏi, câu kể, câu khiến. b – Câu hỏi, câu kể, câu cảm. c – Cả 4 kiểu: kể, hỏi, cảm, khiến. 9.Hai câu “(1) Bố bận đi làm. (2) Khi chị Ta-ni-a về, mẹ thều thào bảo chị đi gọi em và mời bác sĩ.” thuộc kiểu câu kể nào? a – Câu (1) là câu kể Ai thế nào?, câu (2) là câu kể Ai làm gì? b – Câu (1) là câu kể Ai làm gì?, câu (2) là câu kể Ai thế nào? c – Cả hai câu (1) và (2) đều là câu kể Ai làm gì? 10.Dòng nào dưới đây xác định đúng chủ ngữ (CN), vị ngữ (VN) của câu “Khi chị Ta-ni-a về, mẹ thều thào bảo chị đi gọi em và mời bác sĩ.”? b – CN: mẹ thều thào / VN: bảo chị đi gọi em và mời bác sĩ. c – CN: mẹ / VN: thều thào bảo chị đi gọi em và mời bác sĩ. II – Cảm thụ văn học Đọc bài thơ sau của nhà thơ Trần Quốc Toàn: Mẹ và cô Buổi sáng bé chào mẹ Chạy tới ôm cổ cô Buổi chiều bé chào cô Rồi sà vào lòng mẹ. Mặt trời mọc rồi lặn Trên đôi chân lon ton Hai chân trời của con Là mẹ và cô giáo. Qua khổ thơ thứ nhất, em thấy hình ảnh em bé có gì đáng yêu? Vì sao nhà thơ nghĩ “Hai chân trời của con / Là mẹ và cô giáo”? III – Tập làm văn Viết đoạn văn (khoảng 8 câu) là một vài nét nổi bật của một thứ quà mà em yêu thích. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 23 – Tiếng Việt 4
860
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 25 – Tiếng Việt 4 Hướng dẫn I – Đọc hiểu Đọc bài văn sau: Bà Chúa Bèo Ở vùng quê Thái Bình năm xưa, đồng ruộng mênh mông mà đất bạc màu, cây lúa lớn lên không nuôi nổi con người. Nhiều năm mất mùa, dân làng chỉ ăn cháo cầm hơi. Một cô bé ra đồng bắt cua thấy lúa cằn cỗi bèn ngồi ở bờ ruộng ôm mặt khóc nức nở. Bỗng, Bụt hiện lên, hỏi: -Vì sao con khóc? Cô bé nghẹn ngào thưa: -Dạ, con thương cây lúa nghẹn đòng. Bụt nói: -Muốn cứu lúa, con hãy đưa cho ta một vật mà con quý nhất! Cô bé sờ vào túi thì túi nhẩn không. Sực nhớ đến đôi hoa tai bằng ngọc, cô vội gỡ ra, dâng lên Bụt: -Thưa Bụt, con chỉ có đôi hoa tai được mẹ trao lại trước khi chết. Mẹ con dặn: Đây là vật quý của dòng họ, hễ ai làm mất hoặc đem bán thì người đó suốt đời bị dòng họ xa lánh, hắt hủi. -Vậy con không sợ bị trừng phạt sao? -Để cứu lúa, con xin chịu trừng phạt. Bụt liền chỉ vào đám ruộng nước, bảo: -Con hãy ném đôi hoa taí xuống ruộng kia! Cô bé làm theo lời Bụt. Lạ thay, bông hoa tai sáng rực màu xanh rồi chìm xuống nước, sau đó nổi lên một cây bèo giống hình hoa dâu. Bụt dặn: Dứt lời, Bụt biến mất. Cô bé làm theo lời Bụt dặn và thấy bèo cứ thế sinh sôi nảy nở, lan rộng, phủ xanh đồng làng. Mùa năm ấy, lúa vàng trĩu hạt. Biết chuyện cô bé vì dân làng mà hi sinh vật quý, dòng họ đã từ bỏ lời nguyền và luôn thương yêu cô. Khi cô mất, dân làng La Vân, tỉnh Thái Bình đã lập đền thờ cô để tỏ lòng biết ơn và gọi cô là bà Chúa Bèo. Theo PHONG CHÂU Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng cho từng câu hỏỉ đướỉ đây: 1.Vì sao cô bé ngồi ở bờ ruộng ôm mặt khóc? a – Vì không bắt được cua trên đồng b – Vì thương cây lúa đang nghẹn đòng c – Vì thương dân làng ăn cháo cầm hơi 2.Dòng nào dưới đây nêu đúng nhất ỷ chí của cô bé trong việc cứu lúa? a – Sẵn sàng hi sinh đồ vật quý giá của bản thân b – Sẵn sàng hi sinh kỉ vật quý báu do mẹ trao lại c – Sẵn sàng chịu đựng sự trừng phạt của dòng họ 3.Việc làm của cô bé đã đem lại kết quả gì cho dân làng? a – Có cây bèo hoa dâu trông đẹp mắt, sinh sôi nảy nở phủ xanh đồng làng c – Có một mùa lúa vàng trĩu hạt, mọi ngưòi được sống một năm hạnh phúc 4.Những việc làm của dòng họ, dân làng La Vân đôi với cô bé thể hiện điều gì? a – Kính trọng, biết ơn người đã đem hạnh phúc đến cho nhân dân b – Yêu thương, quý trọng người đã hi sinh cuộc sống vì nhân dân c – Cao cả, độ lượng đối với người luôn biết yêu thương nhân dân 5.Dòng nào dưới đây nêu đúng 5 từ láy trong bài? a – mênh mông, nức nở, hắt hủi, sinh sôi, nảy nở b – mênh mông, nức nở, nghẹn ngào, hắt hủi, sinh sôi c – mênh mông, nức nở, cằn cỗi, hắt hủi, sinh sôi 6.Dòng nào dưới đây gồm 5 từ ghép có nghĩa phân loại? a – hoa tai, hoa dâu, bạc màu, sáng rực, xa lánh b – hoa tai, hoa dâu, đồng ruộng, bạc màu, biết ơn c – hoa tai, hoa dâu, bạc màu, sáng rực, đền thờ 7.Có mấy danh từ trong câu “Nhiều/ năm/ mất mùa/, dân/ làng/ chỉ/ ăn/ cháo/ cầm hơi.”? (Dấu / là kí hiệu phân cách các từ.) a – 3 từ. (Đó là:……………………………………) b – 4 từ. (Đó là:……………………………………) c – 5 từ (Đó là:…………………………………….) 8.Có mấy động từ trong câu “Nhiều / năm / mất mùa /, dân / làng / chỉ / ăn / cháo / cầm hơi.”? a – 3 từ. (Đó là:……………………………………) b – 4 từ. (Đó là:……………………………………) c – 5 từ (Đó là:……………………………………) 9.Bài văn sử dụng những kiểu câu nào đã học ở lớp 4? b – Câu hỏi, câu kể, câu cảm c – Cả 4 kiểu: kể, hỏi, cảm, khiến 10.Bài văn được mở bài, kết bài theo cách nào? a – Mở bài trực tiếp, kết bài mở rộng b – Mở bài trực tiếp, kết bài không mở rộng c – Mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng II – Cảm thụ văn học Tục ngữ Việt Nam có các câu sau: -Uống nước nhớ nguồn. -Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng. Theo em, hai câu tục ngữ trên khuyên ta điều gì? Điều đó được em thực hiện như thế nào trong cuộc sống? III – Tập làm văn Viết đoạn văn (khoảng 8 câu) kể lại một việc làm của em (hoặc bạn em) ở lớp (hoặc ở nhà, ngoài đường) được thầy cô (bạn bè, cha mẹ, người lớn tuổi,…) khen ngợi vì có ý nghĩa “việc nhỏ nghĩa lớn”. XEM ĐÁP ÁN TẠI ĐÂY TẢI VỀ TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đề kiểm tra cuối kì II – Đề 25 – Tiếng Việt 4
857
Đề kiểm tra cuối tuần 1 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 1 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Thử tài Ngày xưa có một cậu bé rất thông minh. Nhà vua muốn thử tài, bèn cho gọi cậu đến, bảo: “ Ngươi hãy về lấy tro bếp bện cho ta một sợi dây thừng. Nếu làm được, ta sẽ thưởng”. Cậu bé về nhờ mẹ chặt cây tre, chẻ nhỏ rồi bện thành một sợi dây thừng. Bện xong, cậu cuộn tròn sợi dây, đặt lên chiếc mâm đồng, phơi cho khô rồi đốt thành tro. Khi lửa tắt, đám tro hiện rõ hình cuộn dây. Cậu đem dâng vua. Vua mừng lắm nhưng vẫn muốn thử tài lần nữa. Lần này, vui sai quân đem chiếc sừng trâu cong như vòng thúng đưa cho cậu bé, bảo: “Ngươi hãy nắn thẳng chiếc sừng này cho ta. Nếu được, ta sẽ thưởng to”. Cậu bé về nhà, bỏ sừng trâu vào cái chảo to, đổ đầy nước rồi ninh kĩ. Sừng trâu mêm ra và dễn uốn. Cậu lấy đoạn tre vót nhọn thọc vào sừng trâu rồi đem phơi khô. Khi rút đoạn tre, chiếc sừng trâu đã được uốn thẳng. Thấy cậu bé thực sự thông minh, nhà vua bèn thưởng rất hậu và đưa cậu vào trường học để nuôi dạy thành tài. ( Phỏng theo Truyện cổ dân tộc Dao ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Lần đầu, nhà vua giao việc gì để thử tài cậu bé? b- Lấy tre tươi bện một sợi dây thừng c- Lấy tro bếp bện một sợi dây thừng 2. Cậu bé làm thế nào để nắn thẳng chiếc sừng trâu? a- Ninh sừng cho mềm, lấy đoạn tre buộc vào sừng, rồi đem phơi khô b- Ninh sừng cho mềm, lấy đoạn tre thọc vào sừng rồi đem phơi khô c- Ninh sừng cho mềm, dùng tay nắn lại cho thẳng rồi đem phơi khô 3. Dòng nào dưới đây nêu đúng ý nghĩa câu chuyện? a- Ca ngợi cậu bé ngoan ngoãn b- Ca ngợi cậu bé chăm chỉ c- Ca ngợi cậu bé thông minh 4. Qua câu chuyện, em hiểu thế nào là người có tài? a- Người có khả năng đặc biệt khi làm một việc nào đó b- Người có thể làm được một việc đặc biệt khó khăn c- Người có thể làm được một việc hơn hẳn người khác. II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các câu dưới đây sau khi điền vào chỗ trống: a) l hoặc n Anh ta …eo …ên …ưng chim. Chim đập cánh ba …ần mới …ên…ổi. b) an hoặc ang Trời nắng ch….ch…. Tiếng tu hú gần xa r….r…. 2. Gạch dưới các từ ngữ chỉ sự vật trong mỗi khổ thơ sau: a) Hai bàn tay em Như hoa đầu cành Hoa hồng hồng nụ Cánh tròn ngón xinh. ( Huy Cận ) b) Em cầu bút vẽ lên tay Đất cao lanh bỗng nở đầy sắc hoa Con cò bay lả, bay la Lũy tre đầu xóm, cây đa giữa đồng. ( Hồ Minh Hà ) 3. Gạch dưới những sự vật được so sánh với nhau trong mỗi câu văn sau: a) Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. ( Vũ Tú Nam ) b) Cây rau khúc rất nhỏ, chỉ bằng một mầm cỏ non mới nhú. ( Ngô Văn Phú ) 4. Điền nội dung cần thiết vào chỗ trống để hoàn thành lá đơn dưới đây: CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ………., ngày……tháng……năm……. ĐƠN XIN CẤP THẺ ĐỌC SÁCH Kính gửi: Thư viện ………………………………………………………. Em tên là: ………………………………………………………………… Sinh ngày: …………………Nam ( nữ ):………………………………… Nơi ở:……………………………………………………………………… Học sinh lớp:………………Trường:…………………………………….. Em làm đơn này xin đề nghị Thư viện cấp thẻ cho em thẻ đọc sách năm …. Được cấp thẻ đọc sách, em xin hứa thực hiện đúng nội quy của Thư viện. Em xin trân trọng cảm ơn. Người làm đơn ( Kí và ghi rõ họ tên ) ……………………. Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 1 Tiếng Việt lớp 3
664
Đề kiểm tra cuối tuần 1 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 1 Tiếng Việt lớp 5 I – Bài tập về đọc hiểu Quần đảo Trường Sa Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông nam bờ biển, đã mọc lên một chùm đảo san hô nhiều màu. Đó là quần đảo Trường Sa, mảnh đất xa xôi nhất của Tổ quốc ta. Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung. Mỗi đảo là một bông hoa san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa giữa mặt nước Biển Đông xanh mênh mông. Từ lâu Trường Sa đã là mảnh đất gần gũi với ông cha ta. Đảo Nam Yết và Sơn Ca có giống dừa đá, trái nhỏ nhưng dày cùi, cây lực lưỡng, cao vút. Trên đảo còn có những cây bàng, quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín vỏ ngả màu da cam. Gốc bàng to, đường kính chừng hai mét, xòe một tán lá rộng. Tán bàng là những cái nón che bóng mát cho những hòn đảo nhiều nắng này. Bàng và dừa đều đã cao tuổi. Người lên đảo trồng cây chắc chắn phải từ rất xa xưa. Một sáng đào công sự, lưỡi xẻng của anh chiến sĩ xúc lên một mảnh đồ gồm có nét hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng. Anh chiến sĩ quả quyết rằng những nét hoa văn này y như hoa văn trên hũ rượu thờ ở đình làng anh. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã đặt chân lên đây, khi tìm báu vật, khi trồng cây để xanh tươi mãi cho tới hôm nay. ( Hà Đình Cẩn – trích Quần đảo san hô ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Quần đảo Trường Sa nằm ở đâu? a-Cách bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông nam b- Cách bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng ba trăm cây số về phía đông nam c- Cách bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông bắc a- Gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung b- Mỗi đảo là một bông hoa san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa giữa mặt nước Biển Đông xanh mênh mông c- Những cây bàng quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín vỏ ngả màu da cam. 3. Dòng nào dưới đây nêu đúng và đủ những nét đặc biệt của cây cối trên đảo? a- Giống dừa đá trái nhỏ nhưng dày cùi, cây lực lưỡng, cao vút, tán lá như những cái nón khổng lồ che bóng mát cho những hòn đảo nhỏ b- Những cây bàng cao vút, quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín vỏ ngả màu da cam c- Nhiều cây dừa đá lực lưỡng, cao vút ; nhiều gốc bàng to, đường kính chừng hai mét, xòe một tán lá rộng ; được trồng từ rất xa xưa 4. Chi tiết “mảnh đồ gốm có nét hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng” giúp anh chiến sĩ biết điều gì? a- Những nét hoa văn của mảnh đồ gốm trên đảo rất đẹp b- Người Việt Nam đã sống và gắn bó với đảo từ lâu đời c- Đảo có rất nhiều đồ gốm với những nét hoa văn tinh xảo II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các từ ngữ sau khi điền vào chỗ trống: a) c hoặc k -……ánh đồng/…………. -….ể chuyện/…………… -….ì diệu/……….. -…..âu cá/……….. b) g hoặc gh -…ọn gàng/…………….. -…..é thăm/…………… -………i nhớ/………. -…..ửi quà /………… c) ng hoặc ngh -……e ngóng/……….. -……i ngờ/………….. – ….ẫm nghĩ/………. -……ần ngại/………. 2. Xếp những từ sau thành 4 nhóm đồng nghĩa (a, b, c, d ): Nam, nữ, xinh xắn, to lớn, gái, trai, đẹp đẽ, vĩ đại a)………………………. b) ………………………….. c)………………………. d) ………………………….. 3. dưới từ thích hợp nhất trong ngoặc đơn để hoàn chỉnh từng câu sau: a) Mặt trăng tròn vành vạnh từ từ ( nhô, mọc, ngoi ) lên sau lũy tre làng b) Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng lúa ( vàng hoe, vàng óng, vàng ối ) c) Mưa tạnh hẳn, một vài tia nắng hiếm hoi bắt đầu ( chiếu, soi, rọi ) xuống rừng cây d) Mẹ và tôi say sưa ( nhìn, xem, ngắm ) cảnh bình minh trên mặt biển 4. Lập dàn ý cho bài văn tả cảnh một buổi sáng ( hoặc trưa, chiều ) trong vườn cây ( hay trên nương rẫy, cánh đồng, đường phố, công viên …) Gợi ý: a) Mở bài ( giới thiệu bao quát ). VD: Đó là cảnh gì, ở đâu, vào buổi nào? Ấn tượng chung của em về cảnh lúc đó ra sao? b) Thân bài ( Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian ) VD: – Cảnh được tả bao gồm những phần nào? Phần nổi bật nhất làm em chú ý có màu sắc, đặc điểm cụ thể ra sao? – Mỗi phần còn lại của cảnh có những sự vật gì nổi bật ( về màu sắc, âm thanh, đặc điểm…)? ( Kết hợp tả và nêu cảm xúc, suy nghĩ của em về từng phần của cảnh ) c) Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của em về cảnh được tả ( vào thời điểm đã xác định ) Đáp án tuần 1 I – 1.a2.b 3.c 4.b II – 1. a) cánh đồng, kì diệu, kể chuyện, câu cá b) gọn gàng,ghi nhớ, ghé thăm, gửi quà c) nghe ngóng, ngẫm nghĩ, nghi ngờ, ngần ngại 2. a) nam – trai b) nữ – gái c) xinh xắn – đẹp đẽ d) to lớn – vĩ đại 3. a) nhô b) vàng óng c) rọi d) ngắm 4. Tham khảo (1) Dàn ý bài văn tả cảnh một buổi sáng trong vườn cây a) Mở bài: Cảnh vườn cây ở cù lao sông Tiền,buổi sáng mùa hè đẹp trời ; tràn trề nhựa sống b) Thân bài ( tả từng phần của cảnh ) – Giữa vườn: những cây xoài cao to, lá xanh đậm, chi chít những trái vàng ươm ; những tia nắng mặt trời len lỏi qua kẽ lá, chùm quả rọi xuống mặt đất như những đốm hoa ; tiếng chim ríu rít trong vòng lá,… – Bên trái khu vườn: rặng nhãn bao quanh hồ, cây xanh, lá tốt, trái tròn xoe lúc lỉu trên cành ; mặt hồ xanh trong, lác đác vài bông súng đang nở, sắc hoa hồng tươi như cánh sen,… – Những con đường nhỏ nấp dưới những hàng cây ; thấp thoáng bóng người mang giỏ đi thu hoạch trái chín,… c) Kết bài: Yêu quý, tự hào về vườn cây trái ở Nam Bộ. (2) Dàn ý bài văn tả cảnh một buổi trưa trên nương rẫy a) Mở bài: Giới thiệu bao quát về cảnh một buổi trưa trên nương ngô đầy nắng và gió. b) Thân bài ( tả từng phần của cảnh ): – Bầu trời cao xanh, mặt trời tỏa nắng chói chang,… – Nương ngô sắp vào mùa thu hoạch ; lá ngô ngả màu vàng, rủ xuống ; bắp ngô to và chắc, râu ngô màu nâu đậm hoặc đen xỉn,… Gió thổi xào xạc, lá ngô rung rung như cánh chim bay,… – Cái chòi canh nhỏ dựng trên nương ngô trông xa như chiếc tổ chim ; những sợi dây từ chòi canh nối dài tới những tên “bù nhìn” đội nón, đeo mõ đuổi chim ; gió thổi rụng chiếc mõ kêu “lắc cắc, lắc cắc” thật vui tai,… – Mấy người dân Mông vai đeo gùi đang lúi húi bẻ ngô ; nắng trưa dội xuống nương ngô như đổ lửa,… c) Kết bài: Cảnh nương ngô vào buổi trưa trên miền núi vừa gợi vẻ hoang sơ vừa cho thấy sự vất vả trong lao động của bà con dân tộc thiểu số. Tải về file đềtại đây. Tải về file đáp án tại đây. Tags:bài giải toán lớp 5 · Đáp án Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · đề thi toán lớp 5 · toán hay và khó lớp 5
Đề kiểm tra cuối tuần 1 Tiếng Việt lớp 5
1,376
Đề kiểm tra cuối tuần 10 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 10 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Tình quê hương Làng quê tôi đã khuất hẳn, nhưng tôi vẫn đăm đắm nhìn theo. Tôi đã đi nhiều nơi, đóng quân nhiều chỗ phong cảnh đẹp hơn đây nhiều, nhân dân coi tôi như người làng và cũng có những người yêu tôi tha thiết, nhưng sao sức quyến rũ, nhớ thương vẫn không mãnh liệt, day dứt bằng mảnh đất cọc cằn này. Ở mảnh đất ấy, tháng giêng, tôi đi đốt bãi, đào ổ chuột ; tháng tám nước lên, tôi đánh giậm, úp cá, đơm tép ; tháng chín, tháng mười, đi móc con da(1) dưới vệ sông. Ở mảnh đất ấy, những ngày chợ phiên, dì tôi lại mua cho vài cái bánh rợm(2) … Những tối liên hoan xã, nghe cái Tị hát chèo và đôi lúc lại ngồi nói chuyện với Cún con, nhắc lại những kỉ niệm đẹp đẽ thời thơ ấu. Phảng phất trong không khí có thứ mùi quen thuộc, không hẳn là mùi nhang ngày Tết, cũng không phải là thứ mùi nào khác có thể gọi tên được,có lẽ đã lâu lắm, nay tôi lại cảm thấy nó. Thôi tôi nhớ ra rồi… Đó là thứ mùi vị rất đặc biệt,mùi vị của quê hương. ( Theo Nguyễn Khải ) (1) Con da: một loại cua giống cua đồng nhưng chân có lông. Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Đoạn 1 (“Làng quê tôi… mảnh đất cọc cằn này.”) ý nói gì? a- Tình cảm gắn bó thiết tha,mãnh liệt của tác giả đối với nhân dân b- Tình cảm gắn bó thiết tha, mãnh liệt của tác giả với nơi đóng quân c- Tình cảm gắn bó thiết tha, mãnh liệt của tác giả đối với quê hương 2. Ở đoạn 2 (“Ở mảnh đất ấy…thời thơ ấu.”), tác giả nhớ những việc gì đã làm từ thời thơ ấu trên quê hương? a- Đốt bãi, đào ổ chuột, đánh giậm, úp cá, đơm tép, đi chợ phiên b- Đốt bãi, đào ổ chuột, đánh giậm, úp cá, đơm tép, móc con da c- Đốt bãi, đánh giậm, úp cá, đơm tép, móc con da, đi hát chèo 3. Thứ mùi vị đặc biệt mà tác giả cảm nhận được là mùi vị gì? a- Mùi vị của đất bãi b- Mùi nhang ngày Tết c- Mùi vị của quê hương 4. Dòng nào dưới đây nêu đúng ý chính của bài văn? a- Tình cảm gắn bó của anh bộ đội với quê hương qua những kỉ niệm khó quên b- Tình cảm gắn bó của anh bộ đội với bạn bè, người thân qua kỉ niệm thời thơ ấu c- Tình cảm lưu luyến, nhớ thương của anh bộ đội đối với quê hương trước lúc đi xa 1. Chép lại các câu sau khi điền vào chỗ trống: a) oai, oay hoặc oet – Ng… cửa, cơn gió x…. làm cây cối trong vườn nghiêng ngả. – Chú chim nhỏ l…..h….tìm bắt lũ sâu đục kh…thân cây. b) l hoặc n …..ong….anh đáy…ước in trời Thành xây khói biếc…on phơi bóng vàng ( Theo Nguyễn Du ) 2. Gạch dưới những từ ngữ chỉ âm thanh được so sánh với nhau trong mỗi câu sau: a) Tiếng ve râm ran như tiếng nhạc chiều êm ả b) Tiếng sóng ì oạp vỗ vào bờ cát như tiếng ru dịu dàng của mẹ c) Tiếng khèn dìu dặt tựa tiếng gió reo vi vút trong rừng bương. 3. Ngắt đoạn dưới đây thành 4 câu và chép lại cho đúng chính tả Cháu rất nhớ khu vườn của bà khu vườn ấy có cây ổi đào mà cháy rất thích hè này về thăm bà, chắc cháu lại được ăn ổi trái ổi thơm ngon như tấm lòng yêu thương của bà dành cho cháu. 4. Viết một bức thư ngắn cho cô giáo ( thầy giáo ) đã dạy em trong những năm học trước nhân Ngày 20 – 11 Gợi ý: – Dòng đầu như: Nơi gửi, ngày….tháng…năm… – Lời xưng hô với người nhận thư ( VD: Cô giáo Mai Anh kính mến, hoặc Thầy Lăng kính mến,…) – Nội dung thư ( 4 – 5 dòng ): Thăm hỏi, báo tin tới thầy cô.Lời chúc và hứa hẹn… ……………..,ngày…..tháng……năm…….. ……………………………. Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · Giáo Án Tiếng Việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 10 Tiếng Việt lớp 3
722
Đề kiểm tra cuối tuần 10 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 10 Tiếng Việt lớp 5 A- Kiểm tra đọc I – Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi ( 5 điểm ) Đọc một trong số các đoạn trích dưới đây trong bài Tập đọc đã học (SGK) và trả lời câu hỏi (TLCH) ; sau đó tự đánh giá, cho điểm theo hướng dẫn ở Phần hai ( Giải đáp – Gợi ý ) (1) Thư gửi học sinh ( từ Trong công cuộc đến kết quả tốt đẹp ) TLCH: Học sinh có nhiệm vụ gì trong công cuộc xây dựng đất nước? (2) Sắc màu em yêu ( 4 khổ thơ cuối ) TLCH: bài thơ nói lên điều gì về tình cảm của bạn nhỏ với quê hương đất nước? (3) Những con sếu bằng giấy ( từ Khi Hi-rô-si-ma bị ném bomđến gấp được 644con ) TLCH: Câu chuyện muốn nói với chúng ta điều gì? (4) Kì diệu rừng xanh ( từ Sau một hồi đến thế giới thần bí ) TLCH: Vì sao rừng khộp được gọi là “giang sơn vàng rợi”? (5) Đất Cà Mau ( từ Cà Mau đất xốp đến thân cây đước ) TLCH: Cây cối trên đất Cà Mau mọc ra sao? II – Đọc thầm và làm bài tập ( 5 điểm ) Thu vàng diễm lệ ở En-giơ-lân Cứ mỗi độ thu sang, người dân ở khắp nơi lại đổ về Niu En-giơ-lân để chiêm ngưỡng vẻ đẹp diễm lệ của mùa thu vàng nơi đây. Với địa hình đồi núi đa dạng tiêu biểu cho vùng Đông Bắc, mùa thu Niu En-giơ-lân đẹp hơn bất cứ nơi đâu trên nước Mĩ. Nó trở thành miền đất ước ao được một lần đặt chân của những du khách yêu thích khám phá sự kì diệu của thiên nhiên. Dưới bầu trời trong xanh là những ngọn đồi, núi, cao thấp nhấp nhô, trập trùng với muôn màu sắc. Màu vàng nhạt, vàng rực, da cam, đỏ thẫm, đỏ tươi… như thắp lửa tỏa sáng rực rỡ nổi bật giữa sắc xanh của những cây không rụng lá về mùa đông. Những con đường mềm mại uốn lượn từ ngọn đồi này sang ngọn đồi khác. Bên đường là những ngôi nhà xinh xắn ẩn hiện dưới những vòm lá đủ màu cùng với dòng xe đi lại tấp nập làm cho khung cảnh En-giơ-lân trở nên rất sống động. Khắp nơi, đâu đâu cũng thấy màu của lá. Lá rực rỡ trên cây, lá rải thảm ở dưới đất, trên những vỉa hè ở đường phố, trên những con đường trong công viên. Khi tất cả những chiếc lá ở trên cây đồng loạt chuyển màu, ấy là lúc mùa lá vàng đã vào thời kì đỉnh điểm. Tất cả cùng bừng sáng, lung linh sắc màu huyền ảo để chỉ sau đó vài hôm, tất cả sẽ rụng xuống còn trơ cành để chuẩn bị bước vào mùa đông lạnh lẽo cùn tuyết trắng. Đó cũng là thời điểm mọi người nô nức rủ nhau đi ngắm lá vàng. Những dòng xe nối đuôi nhau trên những con đường men theo đồi núi… Phong cảnh hiện ra trước khung cửa xe như những thước phim sống động: Những cánh rừng, những quả đồi rực rỡ sắc vàng, sắc đỏ.. những con suối trong vắt soi bóng lá êm đềm chảy ôm lấy chân đồi.. Và tuyệt vời hơn cả là khi bạn dừng chân trên đỉnh núi cao nhất trong vùng mà ngắm nhìn xung quanh, ngắm nhìn thung lũng…Một bức tranh sắc màu trải rộng mênh mông: vàng, vàng nhạt, da cam, đỏ, đỏ tươi, đỏ thẫm, xanh, xanh nhạt, xanh biếc … xen lẫn nhau tạo nên biển màu nhấp nhô ngàn trùng sóng. Lúc này, bạn mới cảm nhận hết vẻ đẹp tuyệt vời của mùa thu nơi đây. Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Bài văn thuộc loại bài miêu tả nào em đã học? a- Tả cây cối b- Tả con vật c- Tả cảnh 2. Vì sao nhiều du khách ước ao được một lần đặt chân đến Niu En-giơ-lân? a- Vì địa hình đồi núi đa dạng, mùa thu đẹp nhất nước Mĩ b- Vì đường đến nơi đó vô cùng hiểm trở, nhiều thử thách c- Vì địa hình tiêu biểu cho vùng Đông bắc của nước Mĩ 3. Ở đoạn 2 (“Dưới bầu trời đến trong công viên”), tác giả sử dụng những từ ghép nào để miêu tả màu sắc mùa thu ở En-giơ-lân? a- Vàng nhạt, vàng rực, đỏ tươi, trong xanh, sống động b- Vàng nhạt, vàng rực, da cam, đỏ tươi,đỏ thẫm c- Vàng nhạt, vàng rực, da cam, đỏ thẫm, trong xanh 4. Trong đoạn 3 (“Khi tất cả đến mù thu nơi đây.”), hình ảnh nào cho thấy vẻ đẹp tuyệt vời của mùa thu En-giơ-lân? a- Những chiếc lá trên cây đồng loạt chuyển màu b- Những con suối trong vắt soi bóng lá êm đềm chảy c- Một bieernmafu nhấp nhô ngàn trùng sóng 5. Cụm từ nào dưới đây phù hợp nhất với mùa thu vàng ở En-giơ-lân? a- Diễm lệ, rực rỡ, sống động, đa sắc màu b- Diễm lệ, rực rỡ, đẹp tuyệt vời, đa dạng c- Diễm lệ, rực rỡ, xinh xắn, đa sắc màu 6. Dòng nào dưới đây gồm 3 từ đồng nghĩa với từ vàng rực? a- Vàng tươi, vàng mượt, vàng bạc b- Vàng tươi, vàng ròng, vàng mượt c- Vàng óng, vàng tươi, vàng mượt 7. Dòng nào dưới đây có các từ in nghiêng là từ đồng âm? b- bức tranh / tranh nhau c- chân đi dép / chân đồi 8. Dòng nào dưới đây có các từ in nghiêng là từ nhiều nghĩa? a- cánh đồng / pho tượng đồng b- con đường / cân đường trắng c- ngọn lửa hồng / quả hồng 9. Đoạn 1 (“Cứ mỗi độ thu sang đến của thiên nhiên”) có mấy câu sử dụng trạng ngữ? ( Gạch dưới bộ phận trạng ngữ trong câu ) a- Một câu b- Hai câu c- Ba câu 10. Câu “Những dòng xe nối đuôi nhau trên những con đường men theo đồi núi.” Thuộc kiểu câu nào em đã học? a- Ai làn gì? b- Ai thế nào? c- Ai là gì? B- Kiểm tra viết I- Chính tả nghe – viết ( 5 điểm ) Bình minh hương Nơi thành phố, bình minh dậy, thế nào cũng phải qua cơn ngái ngủ, ánh sáng tán quang, tia mặt trời còn bị vương chưa vào thấu. Trên sân thượng nhìn ra, chỉ có thể gặp tia nhài quạt hắt lên như ánh đèn pha đọng thành quầng lan tỏa rồi sáng. Tiếng chim bói không ra, gà lục cục, loáng thoáng,gáy ồ ồ, chìm ào động cơ ào ào rầm rầm. Bấy giờ mới thèm sao buổi bình minh đầy hương sắc và âm thnah trong trẻo – bình minh hương. ( Theo Phong Thu ) Chú ý: HS nhờ người khác đọc từng câu để viết bài chính tả trên giấy kẻ ô li. II – Bài tập làm văn ( 5 điểm ) Tả một cảnh đẹp trên quê hương mà em yêu thích ( Bài viết khoảng 15 câu ) ( Chú ý: HS viết bài tập làm văn vào giấy kẻ ô li ) ĐÁP ÁN TUẦN 10 A – Đọc ( 10 điểm ) I – Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi ( 5 điểm ) – Đọc đúng tiếng, đúng từ: 1 điểm ( đọc sai từ 2 đến 4 tiếng: 0,5 điểm, đọc sai quá 5 tiếng: 0 điểm ) – Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu và các cụm từ cho rõ nghĩa: 1 điểm ( ngắt nghỉ hơi không đúng từ 2 đến 3 chỗ: 0,5 điểm, ngắt nghỉ hơi không đúng từ 4 chỗ trở lên: 0 điểm ) – Bước đầu thể hiện cảm xúc trong giọng đọc: 1 điểm ( giọng đọc chưa thể hiện rõ cảm xúc: 0,5 điểm ; giọng đọc không thể hiện đúng cảm xúc: 0 điểm ) – Tốc độ đọc đạt yêu cầu ( khoảng 1 phút ): 1 điểm ( đọc khoảng 2 phút: 0,5 điểm ; đọc trên 2 phút: 0 điểm ) – Trả lời đúng ý câu hỏi: 1 điểm ( trả lời chưa đủ hoặc diễn đạt chưa rõ ràng: 0,5 điểm, trả lời sai hoặc không trả lời được: 0 điểm ) VD: (1) HS phải cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn đẻ lớn lên xây dựng đất nước, làm cho dân tộc Việt nam bước tới đài vinh quang, sánh vai các cường quốc năm châu. (3) Câu chuyện tố cáo chiến tranh hạt nhân, nói lên khát vọng sống, khát vọng hòa bình của trẻ em toàn thế giới. (4) Rừng khộp được gọi là “giang sơn vàng rợi” vì có sự phối hợp của rất nhiều màu sắc vàng trong một không gian rộng lớn: lá vàng như cảnh mùa thu trên cây và rải thành thảm dưới gốc, những con mang màu lông vàng, nắng cũng rực vàng. (5) Cây cối mọc thành chòm, thành rặng, rễ dài, cắm sâu vào lòng đất để chống chọi được với thời tiết khắc nghiệt. II- Đọc thầm và làm bài tập ( 5 điểm ) 1.c ( 0,5 điểm ) 2.a ( 0,5 điểm ) 3.b ( 0,5 điểm ) 4.c ( 0,5 điểm ) 5.a ( 0,5 điểm ) 6.c ( 0,5 điểm ) 7.b ( 0,5 điểm ) 8.c ( 0,5 điểm ) 9.b ( 0,5 điểm ) 10.b ( 0,5 điểm ) Chú ý câu 9 không gạch đúng 2 trạng ngữ thì chỉ được 0,25 điểm B – Viết ( 10 điểm ) I – Chính tả nghe – viết ( 5 điểm – 15 phút ) – Em nhờ bạn ( hoặc người thân ) đọc để viết bài chính tả – Bài viết được điểm tối đa khi không mắc lỗi chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày đẹp. Mỗi lỗi chính tả trong bài viết ( sai – lẫn phụ âm đầu hoặc vần, thanh, không viết hoa đúng quy định ) trừ 0,5 điểm. Nếu chữ viết không rõ ràng,sai về độ cao, khoảng cách, kiểu chữ hoặc trình bày không sạch sẽ… bị trừ một điểm toàn bài II – Tập làm văn ( 5 điểm, thời gian làm bài khoảng 35 phút ) – Viết đúng kiểu bài văn tả cảnh. Bài viết có độ dài khoảng 15 câu, đủ 3 phần ( mở bài, thân bài, kết bài ) ; nội dung bám sát yêu cầu đề, miêu tả được một vài nét tiêu biểu về cảnh đẹp cụ thể trên quê hương em. Diễn đạt rõ ý, không mắc lỗi về dùng từ, đặt câu, chính tả. – Bài làm đạt những yêu cầu nêu trên có thể đánh giá ở mức Giỏi ( 5 – 4,5 điểm ). Tùy theo hạn chế trong bài làm, có thể đánh giá các mức còn lại như sau: Khá ( 4 – 3,5 điểm ) ; Yếu ( 2 – 1,5 điểm ) ; Kém ( 1 – 0,5 điểm ) Tải về file đề tại đây. Tải về file đáp án tại đây. Tags:Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Đáp án bài tập bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Đáp án Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 · Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 10 Tiếng Việt lớp 5
1,885
Đề kiểm tra cuối tuần 11 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 11 Tiếng Việt lớp 3 I- Bài tập về đọc hiểu Tiếng thác Leng Gung Chuyện xưa kể lại, quê hương của người Mnông(1) là dãy núi Nâm Nung. Trên đỉnh núi chạm mây trời, có ngọn thác cao. Dưới chân thác có một tảng đá rộng và mỏng. Dòng nước dội xuống phát ra muôn ngàn tiếng vang ngân như chuông reo. Tiếng ngân vang đến xứ Prum. Vua Prum ghen tức, nhiều phen cho người do thám(2) để phá nguồn nước chảy xuống thác. Một lần, người của Prum bắt được chàng trai Dăm Xum.Vua dụ dỗ chàng chỉ đường lên nguồn nước, hứa gả cho con gái đẹp, cho nhiều ché bạc và nương rẫy. Dăm Xum không chịu. Vua tức giận, đưa chàng đi thật xa. Từ ngày bị đưa vào rừng thẳm, cái bụng Dăm Xum lúc nào cũng nghe tiếng ngân vang của dòng thác. Chàng quên ăn, quên ngủ, ngày đêm lội suối băng rừng,lần theo tiếng thác reo. Khi chàng về được dưới chân thác, râu tóc đã bạc trắng, dài quá vai. Dòng thác Leng Gung vẫn trẻ trung ngân vang khắp núi rừng tiếng chuông gọi những người con xa quê với buôn làng. ( Phỏng theo Truyện cổ Tây Nguyên ) (1) Mnông: một dân tộc thiểu số thường sống ở Tây Nguyên. (2) Do thám: dò xét để biết tình hình của đối phương. 1. Âm thanh của dòng thác Leng Gung có gì đặc biệt? a- Ngân vang như tiếng đàn đá b- Ngân vang như tiếng chuông c- Ngân vang như tiếng chiêng 2. Vua Prum dụ dỗ Dăm Xum làm điều gì? a- Chỉ đường lên phá nguồn nước chảy xuống thác b- Chỉ đường đến nơi có nhiều ché bạc, nương rẫy c- Chỉ đường đến xem dòng thác phát ra âm thanh 3. Chi tiết nào chứng tỏ tình yêu mãnh liệt của Dăm Xum đối với quê hương? a- Lúc nào cái bụng cũng nghe thấy tiếng ngân vang của dòng thác b- Sống trong rừng thẳm, tóc bạc trắng, dài quá vai vẫn nhớ tiếng thác c- Quên ăn, quên ngủ, ngày đêm lội suối băng rừng để trở về với thác 4. Dòng nào dưới đây nêu đúng ý nghĩa của câu chuyện? a- Ca ngợi lòng dũng cảm của chàng Dăm Xum b- Ca ngợi tình yêu quê hương của người Mnông c- Ca ngợi âm thanh kì diệu của thác Leng Gung II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các từ ngữ sau khi điền vào chỗ trống: a) s hoặc x – cây ….ong/……………. – ngôi …ao/……………… -…..ong việc /………… – lao ….ao/…………….. b) ươn hoặc ương – con l…../……………… – bay l …./……………… – l…….thực /………….. – khối l……/…………… 2. Viết vào chỗ trống ít nhất 3 từ ngữ có thể thay thế cho từ in đậm ở câu sau: những người con xa quê về với buôn làng Từ ngữ có thể thay thế cho từ quê :……………………………………… 3. Dùng mỗi từ ngữ sau để đặt câu theo mẫu Ai làm gì? – ( cô giáo hoặc thầy giáo ):…………………………………………… – ( các bạn học sinh ): ………………………………………………… – ( đàn cò trắng ): ……………………………………………………… 4. Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu ) nói về một cảnh vật em yêu thích nhất ở quê hương ( hoặc nơi em đang sống ) Gợi ý: a) Em yêu thích nhất cảnh gì ở quê hương? ( VD: dòng sông, con suối, dòng thác, dãy núi, cánh đồng, bãi biển, hồ nước, bến đò, công viên,….) b) Cảnh đó có những nét gì nổi bật làm em thích thú? c) Nêu cảm nghĩ của em khi ngắm cảnh ( hoặc nhớ về cảnh đó lúc đi xa ) Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 11 Tiếng Việt lớp 3
623
Đề kiểm tra cuối tuần 11 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 11 Tiếng Việt lớp 5 I – Bài tập về đọc hiểu Cây cối và con người Mỗi người đều hiểu rằng: cây là “lá phổi xanh” lọc dưỡng khi, duy trì sự sống của con người. Cây đem lại cho con người cảm giác bình yên. Dân cư sống ở đô thị càng đông thì càng cảm thấy có nhu cầu về cây cối. Người ta ước ao được đến với tự nhiên, nơi có bóng lá xanh, tiếng chim hót, tiếng suối reo để thả hồn về với những kỉ niệm của riêng mình. Những năm gần đây, nhiều người say mê với cái thú lầm vườn hoặc chơi cây cảnh. Mỗi loài cây còn mang lại những giá trị biểu trưng khác nhau. Cây nguyệt quế biểu hiện sự vinh quang. Người La Mã cuốn nó thành chiếc vòng nguyệt quế đặt lên đầu các hoàng đế, các tướng lĩnh chiến thắng. Cây bách là một thứ cây xanh tốt quanh năm, gỗ thơm như hương, mang ý nghĩa của sự trường tồn vĩnh cửu. trong tâm thức của người Do Thái, người theo đạo Thiên Chúa, cây ô liu tượng trưng cho hòa bình. Ở nước ta, từ năm 1960, bác Hồ đã phát động Tết trồng cây. Đi thăm mỗi địa phương, Người thường trồng cây kỉ niệm. Những năm gần đây, thiên tai bão lụt làm cho cây cối một số vùng rộng lớn ở nước ta bị triệt phá. Không những các chủ đất, chủ vườn phải xót xa, buồn tiếc mà gần như cả nước cũng xúc động. Hình ảnh cây cối cụt cành, gãy ngọn khiến người ta đau nhói trong lòng. Con người cảm thấy mồ côi khi thấy những miệt vườn chết trong màu lá úa. Khoanh vào chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Mọi người đều hiểu sự cần thiết của cây cối đối với con người ra sao? a- Lọc dưỡng khí, tô đẹp cuộc sống, đem lại cảm giác thư thái b- Lọc dưỡng khi, duy trì sự sống, đem lại cảm giác bình yên c- Cải thiện cuộc sống,đem lại nhiều niềm vui, gợi nhớ kỉ niệm 2. Một số loài cây có giá trị biểu trưng cho điều gì? a- Cây nguyệt quế – hòa bình, cây bách – sự trường tồn vĩnh cửu, cây ô liu – sự vinh quang. b- Cây nguyệt quế – sự trường tồn vĩnh cửu, cây bách – sự vinh quang, cây ô liu – hòa bình c- Cây nguyệt quế – sự vinh quang, cây bách – sự trường tồn vĩnh cửu, cây ô liu – hòa bình 3. Từ năm 1960, Bác Hồ kính yêu đã phát động phong trào gì? a- Tết trồng cây b- Trồng cây kỉ niệm c- Chăm sóc cây 4. Hình ảnh nào ở đoạn cuối bài văn khiến con người đau nhói trong lòng? a- Chủ đất, chủ vườn buồn tiếc b- Cây cối bị cụt cành, gãy ngọn c- Miệt vườn chết trong màu lá úa 5. Dòng nào dưới đây nêu đúng ý nghĩa của bài văn? a-Cây cối có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người b- Cây cối giúp con người thả hồn về với kỉ niệm của riêng mình II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Điền vào chỗ trống a) l hoặc n – Bàn tay ta làm ….ên tất cả -…ên rừng xuống biển -…ắng tốt dưa mưa tốt…úa b) ăn hoặc ăng – Đèn ra trước gió còn ch…hỡi đèn – Trời lạnh cần phải đắp ch…. – N…..mưa từ những ngày xưa L…trong đời mẹ đến giờ chưa tan 2. a) Điền đại từ xưng hô thích hợp vào chỗ trống trong đoạn văn sau: Một chú khỉ con cứ nhảy qua, nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô. Thấy ….. đi qua,…… nhe răng khẹc khẹc, ngó…… rồi quay lại nhòm người chủ, dường như muốn bảo ….. hỏi giùm tại sao ông ta không mối dây xích cổ ra để …… được tự do đi chơi như ….. b) Đặt câu có dùng danh từ chỉ người làm đại từ xưng hô (nhớ gạch dưới đại từ đó) M: – Thưa cụ, cháu có thể giúp gì cụ không ạ? (1) Nói với người vai trên:……………………………………………….. (2) Nói với người vai dưới:………………………………………………. 3. Chọn một quan hệ từ ( và, rồi, còn hoặc ) điền vào chỗ trống cho thích hợp a) Trăng đã lên …mặt biển sáng hẳn ra b) Tấm chăm chỉ, hiền lành……….Cám thì tham lam, lười biếng c) Những đọt măng trúc đội đất ngoi lên……nảy nhành, nở lá d) Chủ nhật tôi về thăm bà………..bà lên thăm tôi Chú ý: Họ tên, ngày sinh của người viết đơn do em biết và ghi lại hoặc tự nghĩ ra sao cho hợp lí ĐÁP ÁN TUẦN 11 I – 1.b 2.c 3.a 4.b 5.a II – 1. a) – Bàn tay ta làm nên tất cả. / – Lên rừng xuống biển. / – Nắng tốt dưa mưa tốt lúa. b) – Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn. / – Trời lạnh cần phải đắp chăn. – Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan. 2. a) Một chú khỉ con cứ nhảy qua, nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô. Thấy tôi đi qua, nó nhe răng khẹc khẹc, ngó tôi rồi quay lại nhòm người chủ, dường như muốn bảo tôi hỏi giùm tại sao ông ta không mối dây xích cổ ra để nó được tự do đi chơi như tôi. b) VD: (1) – Bà thấy chữ viết của cháu có đẹp không ạ? ; (2) – Chị cho em mượn quyển truyện này đấy! 3. a) và b) còn c) rồi d) hoặc 4. Tham khảo: Tải về file đề tại đây. Tải về file đáp án tại đây. Tags:Bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt · Đáp án bài tập bồi dưỡng học sinh vào lớp 6 môn Tiếng Việt
Đề kiểm tra cuối tuần 11 Tiếng Việt lớp 5
985
Đề kiểm tra cuối tuần 12 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 12 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Cây mai tứ quý Cây mai cao trên hai mét, dáng thanh, thân thẳng như thân trúc. Tán tròn tự nhiên xòe rộng ở phần gốc, thu dần thành một điểm ở đỉnh ngọn. Gốc lớn bằng bắp tay, cành vươn đều, nhánh nào cũng rắn chắc. Loại cây này chỉ ưa bạn với gió mạnh, bướm ong không dễ dàng ve vãn, sâu bọ không dễ dàng gây hại. Mai tứ quý nở bốn mùa. Cánh hoa vàng thẫm xếp làm ba lớp. Năm cánh đài đỏ tía như ức gà chọi, đỏ suốt từ đời hoa sang đời kết trái. Trái kết màu chín đậm, óng ánh như những hạt cườm đính trên tầng áo là lúc nào cũng xum xuê một màu xanh chắc bền. Đứng bên cây ngắm hoa, xem lá, ta thầm cảm phục cái mầu nhiệm của tạo vật trong sự hào phóng và lo xa: đã có mai vàng rực rỡ góp với muôn hoa ngày Tết, lại có mai tứ quý đem đến sự cần mẫn, thịnh vượng quanh năm. ( Theo Nguyễn Vũ Tiềm ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Cành của cây mai tứ quý có đặc điểm gì? ( Đoạn 1 –“Cây mai…gây hại” ) a- Thẳng, xòe rộng b- Thẳng, vươn đều c- Vươn đều, rắn chắc 2. Đoạn 2 ( “Mai tứ quý…màu xanh chắc bền” ) tả cụ thể những bộ phận nào của cây mai tứ quý? b- Cánh hoa, cánh đài, trái mai c- Cánh hoa, cánh đài, tầng áo lá 3. Đoạn 3 ( “Đứng bên cây…quanh năm” ) cho biết cảm nghĩ gì của tác giả? a- Hoa và lá của cây mai tứ quý đều rất tốt đẹp b- Mai tứ quý và mai vàng làm đẹp cho ngày Tết c- Mai tứ quý đem đến sự cần mẫn, thịnh vượng 4. Cánh hoa mai tứ quý có gì nổi bật? a- Đỏ tía, óng ánh như hạt cườm b-Vàng thẫm, xếp làm ba lớp c- Vàng thẫm, óng ánh như hạt cườm II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các từ ngữ sau khi điền vào chỗ trống: a) tr hoặc ch – chóng ….án /…………… – phải…..ăng/……………. – vầng ….án/…………. – ánh …..ăng/…………. b) at hoặc ac – ng….nhiên/……………. -bát ng………/………….. – ng….thở/…………… – ngơ ng…../………….. 2. Gạch dưới những từ ngữ chỉ hoạt động được so sánh với nhau trong mỗi câu sau: a) Con thuyền chồm lên hụp xuống như nô giỡn b) Những chú ngựa phi nhanh trên đường đua tựa như tên bắn c) Những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại rơi mà như nhảy nhót 3. Đặt câu với mỗi từ chỉ hoạt động, trạng thái: – (bơi):………………………………………………………………. – (thích):……………………………………………………………… 4. Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu ) nói về một cảnh đẹp ở nước ta mà em được biết qua tranh ( ảnh ) hoặc ti vi a) Đó là cảnh gì, ở đâu? b) Cảnh đó có những điểm gì nổi bật làm em chú ý ( về màu sắc, đường nét, hình khối…)? c) Nhìn cảnh đẹp đó, em có những suy nghĩ gì? Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 12 Tiếng Việt lớp 3
535
Đề kiểm tra cuối tuần 12 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 12 Tiếng Việt lớp 5 I – Bài tập về đọc hiểu Sắc tím bằng lăng Không rộn rã tưng bừng hay khoa trương sặc sỡ, nhưng khi nở, bằng lăng rực một góc trời. Cũng như những cánh phượng hồng, bằng lăng là loài hoa “nữ hoàng của mùa hạ”. Hoa bằng lăng chỉ đẹp nhất khi khoe sắc tím trên cây cùng những chiếc lá xanh căng tràn sức sống. Không biết sao cả tôi và bạn đều thích cái màu tím ấy, đó là màu thời gian xa xôi. Vì bằng lăng tím có bao giờ tím mãi, cứ đến hẹn lại lên, những cánh bằng lăng thi nhau nở bung một góc trời, nắng mưa qua ngày, sắc tím phai dần, phai dần theo thời gian. Đã không biết bao nhiêu buổi chiều tôi và bạn đứng ngẩn ngơ nhìn những bông hoa tím đang chuyển sang màu tím nhạt, rồi màu trắng… Một ngày kia, những bông hoa cứ rụng dần, thay vào đó là mùa quả, những mùa quả tròn căng mọc thành từng chùm…để rồi năm sau lại khô xác đi rụng xuống, nhường chỗ cho những lớp lá non mới nhú. Con gái chúng mình hình như đứa nào cũng có một góc để thương để nhớ. Và tôi biết, màu tím bằng lăng sẽ khiến chúng mình không bao giờ quên được tuổi học trò hồn nhiên một thuở. ( Theo Nguyễn Thị Thu Hà ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Hoa bằng lăng được mệnh danh là gì? a- Nữ hoàng áo tím b- Nữ hoàng của các loài hoa c- Nữ hoàng của mùa hạ 2. Hoa bằng lăng đẹp nhất khi nào? a- Khi khoe sắc tím trên cây cùng lá xanh b- Khi màu tím chuyển sang nhạt dần c- Khi bằng lăng chuyển hẳn sang màu trắng 3. Tại sao màu bằng lăng được gọi là màu thời gian xa xôi? a- Vì màu tím bằng lăng cứ phai nhạt dần theo thời gian b- Vì bằng lăng nở vào mùa hè, các bạn học trò chia tay nhau c- Vì màu tím là màu thủy chung dù nhiều thời gian trôi qua 4. Màu tím bằng lăng khiến tác giả không quên được điều gì? a- Một loài hoa đẹp b- Loài hoa “nữ hoàng của mùa hạ” c- Tuổi học trò hồn nhiên II- Bài tập về Chính tả,Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Điền vào chỗ trống: a) s hoặc x : nắm…ôi, nước …ôi, sản …uất, …uất ăn trưa b) ăt hoặc ăc : đôi m…, thắc m…, gi… giũ, đánh gi… 2. Chọn từ trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống sao cho thích hợp: a) Chúng em góp phần…….. môi trường xanh, sạch, đẹp b) Thóc gạo trong kho luôn được………..tốt. c) Người tham gia giao thông cần đội mũ……….để phòng tai nạn. d) Công tác ……………di tích lịch sử và văn hóa luôn được coi trọng. e) Đơn vị du kích rút về khu căn cứ để……..lực lượng. ( bảo quản, bảo vệ, bảo tồn, bảo toàn, bảo hiểm ) 3. a) Chọn quan hệ từ ( và, với, để, của, thì, như ) thích hợp điền vào mỗi chỗ trống để hoàn chỉnh các câu sau: (1) Cuộc sống quê tôi gắn bó………cây cọ. (2) Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ…………quét nhà, quét sân. (3) Bảo vệ rừng đầu nguồn là trách nhiệm……..tất cả mọi người. (4) Bình minh, mặt trời……….chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển, nước biển nhuộm màu hồng nhạt. (5) Trưa, nước biển xanh lơ…….khi chiều tà…..biển đổi sang màu xanh lục. b) Gạch dưới cặp quan hệ từ ở mỗi câu và cho biết chúng biểu thị quan hệ gì giữa các bộ phận của câu bằng cách điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống trong ngoặc đơn: (1) Nhờ sân trường luôn rợp mát bóng cây nên chúng em được vui chơi thỏa thích dưới nắng hè. ( Biểu thị quan hệ……………………) (2) Nếu cây thiếu ánh sáng thì những chiếc lá cũng không còn màu xanh. ( Biểu thị quan hệ………………….) (3) Rừng không chỉ đem lại nguồn tài nguyên quý giá mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu trên trái đất ( Biểu thị quan hệ………………… ) 4. Lập dàn ý bài văn tả một người trong gia đình em Gợi ý a) Mở bài ( Giới thiệu ): Người trong gia đình em sẽ tả là ai? Lí do nào khiến em chọn tả người đó?… b) Thân bài – Tả ngoại hình + Người đó trạc bao nhiêu tuổi? Tầm vóc ra sao? ( nhỏ nhắn / đậm đà / cân đối…) Cách ăn mặc thế nào? ( gọn gàng / giản dị,…) + Khuôn mặt, mái tóc, cặp mắt, hàm răng, nụ cười,… có những nét gì nổi bật? ( ( VD: khuôn mặt đầy đặn dễ mến ; mái tóc buông xõa hai vai ; cặp mắt nâu hiền ; hàm răng trắng đều đặn ; nụ cười tươi tắn,… ) – Tả tính tình, hoạt động + Lời nói, cử chỉ, thói quen của người em tả có những điểm gì làm em chú ý? ( VD: lời nói dịu dàng ; làm việc cẩn thận, chu đáo ; có thói quen dậy sớm đi bộ quanh công viên,…) + Thái độ và cách cư xử của người đó đối với em và những người khác ra sao? (VD: ân cần hỏi han mỗi khi em đi học về ; bảo ban nhẹ nhàng khi em mắc lỗi ; vui vẻ, hòa nhã với bà con xóm giềng,….) c) Kết bài: Người em miêu tả đã để lại ấn tượng gì sâu sắc đối với em ( hoặc có ảnh hưởng gì đối với em trong cuộc sống ; có vai trò như thế nào trong gia đình )? 5. Viết một đoạn thân bài theo dàn ý em đã lập ĐÁP ÁN TUẦN 12 I – 1.c 2.a 3.a 4.c II- 1. a) nắm xôi, nước sôi, sản xuất, suất ăn trưa b) đôi mắt, thắc mắc, giặt giũ, đánh giặc c) buồng chuối, buồn ngủ, buôn làng, buông tay 2. a) Chúng em góp phần bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp b) Thóc gạo trong kho luôn được bảo quản tốt c) Người tham gia giao thông cần đội mũ bảo hiểm để phòng tai nạn d) Công tác bảo tồn di tích lịch sử và văn hóa luôn được coi trọng e) Đơn vị du kích rút về khu căn cứ để bảo toàn lực lượng. 3. a) (1) Cuộc sống quê tôi gắn bó với cây cọ. (2) Cha làm cho tôi chiếc chổi cọ để quét nhà, quét sân. (3) Bảo vệ rừng đầu nguồn là trách nhiệm của tất cả mọi người. (4) Bình minh, mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển, nước biển nhuộm màu hồng nhạt. (5) Trưa, nước biển xanh lơ và khi chiều tà thì biển đổi sang màu xanh lục. b) (1) Nhờ sân trường luôn rợp mát bóng cây nên chúng em được vui chơi thỏa thích dưới nắng hè. ( Biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả ) (2) Nếu cây thiếu ánh sáng thì những chiếc lá cũng không còn màu xanh. ( Biểu thị quan hệ giả thiết, điều kiện – kết quả) (3) Rừng không chỉ đem lại nguồn tài nguyên quý giá mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu trên trái đất ( Biểu thị quan hệ tăng tiến ) 4. Tham khảo ( dàn ý chi tiết bài văn tả ông nội ) a) Mở bài – Từ khi em đi học, người gần gũi em nhiều nhất chính là ông nội – Nhìn hai ông cháu, ai cũng bảo em và ông nội có gương mặt giống nhau. b) Thân bài – Tả ngoại hình + Ông nội năm nay 71 tuổi ; vóc người cao cao nhưng hơi gầy ; thường mặc bộ đồ sơ mi nâu giản dị. – Tả tính tình, hoạt động – Giọng nói của ông thật nhẹ nhàng, cử chỉ ân cần với tất cả mọi người. Mỗi lần em được điểm tốt về khoe với ông, ông dang rộng cánh tay cho em sà vào lòng để vỗ về, khen nựng: “Cháu làm ông rất vui và thấy trẻ lại như hồi còn đi học.” Ông có thói quen dậy sớm đun nước pha trà, đi bộ một vòng quanh Bờ Hồ, mua tờ báo mới về đọc tin buổi sáng,… + Ông ân cần hỏi han em về việc học tập và vui chơi, bảo ban nhẹ nhàng mỗi khi em đi đá bóng về muộn hoặc quét nhà chưa sạch ; trao đổi nhẹ nhàng với mẹ em một vài việc về gia đình và con cái ngay sau bữa cơm tối ; gần gũi, vui vẻ chào hỏi mọi người, tham gia câu lạc bộ cờ tướng của các cụ trong tổ hưu trí của phường ; kể chuyện chiến đấu oanh liệt năm xưa cho bọn trẻ chúng em làm ai cũng thích… c) Kết bài: Bố em đóng quân tận biên giới, mẹ thỉnh thoảng đi công tác xa, ông nội là người luôn gần gũi bên em và để lại nhiều ấn tượng thật sâu sắc ; đôi lúc em thấy ông gần gũi như bố mẹ, lại có lúc thân mật như bạn bè, chả thế mà nhiều người cứ khen ông trẻ lâu. 5. Tham khảo: Em Bống nhà em năm nay đã tròn một tuổi. Trông em thật đáng yêu với chùm tóc nhỏ lơ thơ vài sợi tóc tơ túm lại. Bống có khuôn mặt bầu bĩnh, nước da trắng hồng. Đôi mắt em tròn xoe, long lanh, lúc nào cũng ngấn ít nước. Cặp lông mày hình trăng khuyết. Đôi má lúm đồng tiền thật xinh và cái miệng nhỏ chúm chím. Mỗi khi có bánh kẹo, em lại cho Bống. Những lúc ấy, bé rất vui, cười toét miệng để lộ bốn cái răng sữa trắng muốt. Em Bống đúng là một thiên thần nhỏ xinh xắn, dễ thương! ( Theo Internet ) Tải về file word tại đây. Tags:Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 12 Tiếng Việt lớp 5
1,668
Đề kiểm tra cuối tuần 13 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 13 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Viếng lăng Bác Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân. Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim. Mai về miền Nam, thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này. (Viễn Phương) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Ở khổ thơ 1, hàng tre bên lăng Bác được tả bằng những từ ngữ nào? a- Trong sương, xanh xanh, thẳng hàng b- Bát ngát, xanh xanh, đứng thẳng hàng c- Xanh xanh, bát ngát, bão táp mưa sa 2. Ở khổ thơ 2, những từ ngữ nào nhắc đến hình ảnh Bác Hồ kính yêu? a- Mặt trời đi qua trên lăng ; mặt trời trong lăng rất đỏ b- Mặt trời đi qua trên lăng ; bảy mươi chín mùa xuân c- Mặt trời trong lăng rất đỏ; bảy mươi chín mùa xuân a- Bác Hồ đang ngủ ngon dưới vầng trăng sáng trong, dịu hiền b- Bác Hồ nằm đó như đang ngủ ngon giấc dưới ánh trăng đẹp c- Bác Hồ nằm đó như đang ngủ yên giữa vầng trăng sáng đẹp 4. Khổ thơ cuối ( “Mai về miền Nam… chốn này” ) nói lên điều gì? a- Tình cảm gắn bó, yêu thương sâu nặng của tác giả đối với Bác Hồ kính yêu b- Tình cảm thủy chung son sắt của nhân dân miền Nam với Bác Hồ kính yêu c-Tác giả chỉ muốn luôn được ở bên lăng Bác Hồ để vơi đi nỗi nhớ thương Bác II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các câu dưới đây, sau khi điền vào chỗ trống: a) r, gi hoặc d Sóng biển …ữ…ội xô vào bãi cát, …ó biển ào ào xé nát….ặng phi lao b) Chữ có dấu hỏi hoặc dấu ngã Quê hương ….người chỉ một Như là…một mẹ thôi 2. Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống trong bảng theo từng cặp: ( Từ ngữ cần điền: con heo, hột vịt, bông sen, cốc nước, cá quả, quả bóng ) 3. Điền dấu câu ( chấm hỏi hoặc chấm than ) thích hợp vào chỗ chấm: Hùng cầm cục than đen vẽ lên bức tường trắng một con ngựa đang phi. Thấy bác Thành đi qua, Hùng gọi: Hùng vội hỏi: – Cái nào không đẹp hở bác … Bác Thành nghiêm nét mặt: – Cái không đẹp là bức tường mới của trường bị xấu đi rồi đấy, cháu ạ … Hùng ngượng nghịu cúi đầu im lặng. 4. Qua báo chí hoặc đài phát thanh, truyền hình.. em được biết tấm gương vượt khó để vươn lên học giỏi của một bạn cùng lứa tuổi. Hãy viết một bức thư cho bạn đó để làm quen và hẹn bạn cùng thi đua học tốt. ………………,ngày…tháng…năm… ……………………………………………… Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 13 Tiếng Việt lớp 3
555
Đề kiểm tra cuối tuần 13 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 13 Tiếng Việt lớp 5 ĐỀ KIỂM TRA CUỐI TUẦN TIẾNG VIỆT 5 Tuần 13 I – Bài tập về đọc hiểu Trà Vinh “Đô thị xanh” Trà Vinh có nét dịu dàng riêng của một tỉnh thuộc đồng bằng ven biển, với thị xã yên bình nằm êm đềm dưới những tán cây cổ thụ xanh biếc, mỗi cây với một cái tên là những con số. “Trà Vinh – Đô thị xanh” với những con đường nhỏ hẹp mang những cái tên rất đỗi tự nhiên, quen thuộc: “Đường Hàng Sao”, “Đường Cây Dầu”… Ai đã từng có lần đặt chân đến vùng đất Trà Vinh, lòng không khỏi bâng khuâng, xao xuyến với cảm giác dịu êm khi dạo bước dưới những bóng cây xanh mát, với hương thơm thoang thoảng của hoa sao, hoa dầu rơi lất phất, xoay tít bay bay trong gió. Phong cảnh nơi đây thật hữu tình, nơi mà cộng đồng người Kinh, Khmer, Hoa đã sống gắn bó từ bao đời góp phần làm phong phú cho nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc… Tất cả những điều đó sẽ mang lại cho du khách cảm giác dễ chịu, một ấn tượng khó phai khi đến với Trà Vinh. Trà Vinh hiện có 140 chùa Khmer ẩn hiện thấp thoáng sau màu xanh thẫm của hàng trăm hàng ngàn cây cổ thụ. Đẹp nhất, cổ kính nhất là chùa Âng với nhiều tháp nhọn cao vút, dựng trên một nghìn năm ( năm 990 ). Hình ảnh những nhà sư đủ lứa tuổi, mặc áo vàng đi khất thực là hình ảnh quen thuộc ở nơi đây. Mỗi ngôi chùa là một trung tâm văn hóa phum sóc của đồng bào Khmer, của những con người hiền lành chất phác. Sau khi đến ngắm hàng nghìn cánh cò dập dờn trong nắng chiều ở chùa Cò, Giồng Lớn, bạn sẽ đến dạo quanh Ao Bà Om. Dọc theo Quốc lộ 53 đi khoảng 7km sẽ tới thắng cảnh này. Mặt hồ thật trong và thật xanh trải rộng trước mặt du khách. Xung quanh hồ là những hàng, những dãy cây sao, cây dầu cổ thụ tỏa bóng mát rượi. Ngồi trên những gò cát quanh hồ, ngắm nhìn mặt hồ lăn tăn gợn sóng mà cảm thấy mát rượi cả tâm hồn. Thả đèn trên Ao Bà Om là một lễ hội truyền thống của đồng bào Trà Vinh, đã lôi cuốn hàng vạn người gần xa về dự. Trà Vinh rồi lên xe đến thăm biển Ba Động, một điểm du lịch nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ đã được truyền tụng bao đời này: Biển Ba Động nước xanh cát trắng Ao Bà Om thắng cảnh miền Tây. ( Theo Du lịch Trà Vinh ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Trà Vinh có nét dịu dàng riêng của vùng nào? a- Vùng văn hóa cổ kính b- Vùng miền Tây Nam Bộ c- Vùng đồng bằng ven biển 2. Đến Trà Vinh, điều gì khiến ta bâng khuâng, xao xuyến với cảm giác dịu êm? a- Được dạo bước dưới những bóng cây xanh mát, với hương thơm thoang thoảng của hoa sao, hoa dầu b- Được đi trên những con đường nhỏ hẹp mang những cái tên “Đường Hàng Sao”, “Đường Cây Dầu” c- Được ngắm hàng nghìn cánh cò dập dờn trong nắng chiều, ngắm nhìn mặt hồ lăn tăn gợn sóng 3.Dòng nào nêu đúng những địa danh nổi tiếng của Trà Vinh được nhắc trong bài? a- Hàng Sao, Cây Dầu, chùa Khmer, Ao Bà Om b- Chùa Âng, chùa Cò, Giống Lớn, biển Ba Động c- Chùa Âng, chùa Cò, Ao Bà Om, biển Ba Động 4. Vì sao Trà Vinh được gọi là đô thị xanh? a- Vì đó là đô thị có nhiều đường cây xanh b- Vì đó là nơi có nhiều cảnh thiên nhiên đẹp c- Vì đó là khu đô thị đang tràn đầy sức trẻ II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Điền vào chỗ trống a) s hoặc x : – nhường cơm…ẻ áo – kéo cưa lừa…ẻ -…ẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Bát cơm…ẻ nửa chăn sui đắp cùng b) iêt hoặc iêc: xanh b…,nhận b…, ch… nón, ch… cây c) ươn hoặc ương : v…vai, v… vãi, bay l…, độ l… 2. Dựa vào nghĩa của tiếng bảo và tiếng sinh, hãy gạch bỏ từ không thuộc nhóm và điền tiếp vào chỗ trống để nêu nghĩa của bảo và sinh: a) bảo vệ, bảo tồn, bảo quản, bảo kiếm, bảo trợ là nhóm từ có tiếng “bảo” với nghĩa là b) sinh vật, sinh động, sinh hoạt, sinh viên, sinh thái, sinh tồn là nhóm từ có tiếng “sinh” với nghĩa là ………………………………………………………………. 3. a) Gạch dưới cặp quan hệ từ ở mỗi câu và cho biết chúng biểu thị quan hệ gì giữa các bộ phận của câu ( Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống trong ngoặc đơn ) (2) Cây xanh không chỉ giúp con người có không khí trong lành để thở mà còn làm cho môi trường thêm tươi đẹp. ( Biểu thị quan hệ ……………) (3) Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng nhiều thiếu nhi Việt Nam đã có ý thức tham gia bảo vệ môi trường ( Biểu thị quan hệ ……………………………..) b) Điền vào những chỗ trống các cặp quan hệ từ thích hợp: (1) ……….khu vườn được chăm sóc chu đáo………những đàn chim cứ lần lượt kéo nhau về làm tổ. (2)………..ai cũng vứt rác bừa bãi ngoài đường……….môi trường sẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng. (3)………..tuổi đã cao…………ông tôi vẫn tích cực tham gia Tết trồng cây. (4) Anh Thanh ……….là một người chăn nuôi giỏi ……………là một thanh niên đi đầu trong việc trồng cây gây rừng. 4. Dựa vào gợi ý, hãy viết đoạn văn ( khoảng 5 câu ) tả ngoại hình của một người mà em thường gặp ở trường hay ở nhà, hoặc nơi em ở: Gợi ý: Viết câu mở đoạn để nêu ý chung ( sẽ tả một hay vài đặc điểm tiêu biểu về ngoại hình, VD: tả kĩ về dáng người hay mái tóc, đôi mắt,…. hoặc tả vài đặc điểm nổi bật về cả nước da, vóc người, cách ăn mặc,…) Thân đoạn cần nêu cụ thể, đầy đủ và đúng những nét tiêu biểu về ngoại hình đã chọn tả ; bộc lộ tình cảm của em đối với người được tả ( qua cách lựa chọn và sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt,…) Câu kết đoạn có thể nêu nhận xét hay cảm nghĩ của em về ngoại hình của người được tả. ĐÁP ÁN TUẦN 13 I – 1.c 2.a 3.c 4.a II – 1.a) – nhường cơm sẻ áo – kéo cưa lừa xẻ – Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng b) xanh biếc, nhận biết, chiếc nón, chiết cây c) vươn vai, vương vãi, bay lượn, độ lượng 2. a) Gạch bỏ “bảo kiếm” – điền “giữ, giữ gìn” b) Gạch bỏ “sinh viên” – điền “sống” 3. a) (1) Do bảo vệ tốt những cánh rừng đầu nguồn nên quê tôi không bị những trận lũ lớn tràn về ( Biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả ) (3) Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng nhiều thiếu nhi Việt Nam đã có ý thức tham gia bảo vệ môi trường ( Biểu thị quan hệ tương phản) b) Vì khu vườn được chăm sóc chu đáo nên những đàn chim cứ lần lượt kéo nhau về làm tổ ( Hoặc: ..nên, Nhờ…mà…) (2) Nếu ai cũng vứt rác bừa bãi ngoài đường thì môi trường sẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng ( Hoặc: Hễ…thì…) (3) Tuy tuổi đã cao nhưng ông tôi vẫn tích cực tham gia Tết trồng cây. ( Hoặc: Mặc dù…nhưng…) (4) Anh Thanh không những là một người chăn nuôi giỏi mà còn là một thanh niên đi đầu trong việc trồng cây gây rừng 4. Tham khảo (1) Tả ngoại hình của người bạn Thanh Bình có gương mặt thật đáng mến. Mái tíc cắt ngắn gọn gàng. Khuôn mặt chữ điền, sống mũi thẳng và cao. Trên khuôn mặt bạn, thích nhất là đôi mắt sáng và đen. Nơi đó có nét gì thông minh khó tả. (2) Tả ngoại hình của người bà Gương mặt của bà tôi thật hiền. Da mặt bà nhăn nheo, lác đác vài chấm tàn hương. Hàm răng bà đen nhánh. Tôi nghe mẹ kể: hồi còn trẻ, bà nhuộm răng nên bây giờ răng bà mới chắc và đẹp như thế. Mỗi khi tôi được điểm 10, về khoe với bà, bà lại khen: “Cháu bà giỏi quá!”. Lúc ấy, trông gương mặt của bà tươi hiền lạ lùng. Những nếp nhăn bên khóe miệng, những vết chân chim ở hai đuôi mắt như lặn đi, chỉ còn vành môi thơm đỏ nước cốt trầu. (3) Tả ngoại hình của em bé Đầu bé Thu Phương thon nhỏ như trái dừa xiêm. Đôi mắt đen tròn như hai hạt nhãn. Mũi bé hơi cao và cái miệng chúm chím trông thật dễ thương. Chân mày dài, mờ mờ, cong cong, đôi môi đỏ hồng như có ai thoa son. Nhìn bé, ai cũng muốn ôm vào lòng mà hôn lên đôi má phúng phính của bé. Tải về file word tại đây. Tags:Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 13 Tiếng Việt lớp 5
1,557
Đề kiểm tra cuối tuần 14 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 14 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Sự tích ngôi nhà sàn Ngày xưa, người ta chưa biết làm nhà, phải ở trong hang đá, chưa có làng mạc, thành phố như bây giờ.a Ở một vùng nọ, có một ông tên là Cài làm lụng vất vả mà vẫn đói, vì nương rẫy của ông thường bị thú rừng phá hoại. Ông Cài đặt bẫy bắt thú rừng. Lần ấy, ông bắt được một chú Rùa gầy. Ông định đem về ăn thịt cho bõ tức. Rùa xin ông tha chết và hứa mách ông cách làm nhà ở. Nghe hay hay, ông liền cởi trói cho Rùa. Rùa gầy từ từ đứng dậy và nói: – Ông là người sáng dạ. Ông nhìn xem: Toàn thân tôi là một ngôi nhà đấy! Ông Cài ngắm nhìn hồi lâu, hình dung một ngôi nhà trong đầu, rồi nói: – Bốn chân Rùa là bốn cái cột. Mu Rùa là mái nhà. Miệng Rùa là lối vào nhà. Hai mắt Rùa là hai cửa sổ. Có phải thế không? Rùa gật đầu khen và xin được về với họ hàng. Từ đó con người có nhà sàn để ở, tránh được mưa nắng. ( Theo Truyện cổ dân tộc Mường ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Ngày xưa, khi chưa biết làm nhà, con người sống ở đâu? b- Con người sống trong lều cỏ c- Con người sống trong hang đá 2. Vì sao ông Cài cởi trói và tha cho Rùa? a- Vì ông thương chú Rùa gầy b- Vì Rùa mách ông cách làm nhà ở c- Vì Rùa mách ông cách đặt bẫy thú rừng 3. Ông Cài hình dung ra ngôi nhà từ những bộ phận nào của chú Rùa? a- Chân Rùa, mu Rùa, miệng Rùa, mắt Rùa b- Chân Rùa, cổ Rùa, miệng Rùa, mắt Rùa c- Chân Rùa, mu Rùa, miệng Rùa, mũi Rùa 4. Theo truyện cổ, nhờ đâu mà con người làm được nhà sàn để ở? a- Nhờ may mắn có Rùa mách cho cách làm b- Nhờ thông minh, biết đặt bẫy thú rừng c- Nhờ trí thông minh và có lòng nhân ái II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các từ ngữ sau khi điền vào chỗ trống: a) l hoặc n -….ên ….ớp/…………… -…..on…….ước/………. -…..ên người/……….. – chạy…on ton/……… b) ay hoặc ây – d …. học /………. – m …trắng/………. – thức d………/……….. – m ……áo/…………… c) au hoặc âu – con s……../………. – c…..văn/…………. – trước s………/……….. – cây c………./………… 2. Gạch dưới những từ ngữ chỉ đặc điểm được so sánh giữa hai sự vật trong các câu thơ, câu văn sau: a) Bế cháu ông thủ thỉ: – Cháu khỏe hơn ông nhiều! ( Phạm Cúc ) b) Ông trăng tròn sáng tỏ Soi rõ sân nhà em Trăng khuya sáng hơn đèn Ơi ông trăng sáng tỏ. ( Trần Đăng Khoa ) c) Quyển vở này mở ra Bao nhiêu trang giấy trắng Từng dòng kẻ ngay ngắn Như chúng em xếp hàng. ( Quang Huy ) d) Những lá sưa mỏng tang và xanh rờn như một thứ lụa xanh màu ngọc thạch với những chùm hoa nhỏ li ti và trắng như những hạt mưa bay. Những chiếc lá ngõa non to như cái quạt lọc ánh sáng xanh mờ mờ. ( Ngô Quang Miện ) 3. Gạch dưới bộ phận câu trả lời cho câu hỏi “Thế nào?”: a) Những cánh rừng Việt Bắc xanh ngút ngàn từ bao đời nay b) Ngọn núi đá cao chót vót như chạm tới mây trời c) Đồng bào các dân tộc thiểu số trọn đời thủy chung với cách mạng 4. Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu ) giới thiệu các thành viên của tổ em và một vài hoạt động của tổ trong tháng thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Gợi ý: a) Tổ em gồm những bạn nào? b) Trong tháng thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, tổ em đã làm những việc gì để ngôi trường trở nên sạch đẹp và gần gũi với học sinh? c) Tổ em đã làm những việc gì để phát huy vai trò tích cực của học sinh trong học tập và các hoạt động khác? Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 14 Tiếng Việt lớp 3
708
Đề kiểm tra cuối tuần 14 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 14 Tiếng Việt lớp 5 I – Bài tập về đọc hiểu Thanh Kiếm và Hoa Hồng Một lần Thanh Kiếm và bông Hoa Hồng xinh đẹp cãi vã nhau. Thanh Kiếm cao giọng nói với Hoa Hồng: – Tớ khỏe hơn cậu và chắc chắn sẽ giúp ích được cho con người nhiều hơn rồi! Còn cậu yếu ớt và mảnh dẻ thế kia thì làm sao mà chống chọi với thiên tai, giặc giã được. – Tôi không hiểu vì sao mà anh chê bai tôi như vậy? – Hoa Hồng nói. – Phải chăng anh ganh tị vì anh không thể có được hương thơm và vẻ đẹp lộng lẫy của tôi? – Cậu lầm, chỉ tiếc là vẻ đẹp của cậu chẳng để làm gì. – Thanh Kiếm lắc đầu, mỉa mai. Bỗng lúc đó, có một người thông thái đi tới. Bông Hoa Hồng và Thanh Kiếm bèn nhờ ông phân xử xem giữa Thanh Kiếm và Hoa Hồng, ai sẽ có lợi cho con người nhất. Nhà thông thái suy nghĩ một lúc rồi tươi cười trả lời: – Các cháu biết không, trên trái đất, con người cần cả Thanh Kiếm và Hoa Hồng. Thanh Kiếm bảo vệ cho con người chống lại kẻ thù và tránh được các hiểm họa. Còn Hoa Hồng đem lại hương thơm, sự ngọt ngào và niềm vui sướng cho cuộc sống và trái tim của họ… Thanh Kiếm và Hoa Hồng hiểu ra, rối rít cảm ơn nhà thông thái. Cả hai bắt tay nhau thân thiện và không bao giờ cãi nhau nữa. ( Theo Truyện cổ tích A Rập ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Vì sao Thanh Kiếm cho rằng mình có ích hơn Hoa Hồng? a- Vì nó cứng rắn, có thể chống lại được kẻ thù b- Vì nó khỏe, sẽ giúp được nhiều cho con người c- Vì nó được tôi luyện, vượt qua mọi hiểm họa 2. Vì sao Hoa Hồng cho rằng mình hơn hẳn Thanh Kiếm? a- Vì nó có hương thơm và vẻ đẹp lộng lẫy b- Vì nó không có tính hay ghen tị như thanh kiếm c- Vì nó không hề thích đánh nhau 3. Nhà thông thái trả lời như thế nào? a- Thanh Kiếm cần hơn vì giúp người chống kể thù và tránh hiểm họa c- Cả Thanh Kiếm và Hoa Hồng đều rất cần thiết cho con người 4. Câu chuyện muốn nói với chúng ta điều gì? a- Không nên kiêu căng, tự phụ, tự cho mình hơn hẳn người khác b- Không nên cãi nhau vì những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống c- Con người cần cả sức mạnh, hương thơm, niềm tin và sự ngọt ngào II – bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Điền vào chỗ trống a) tr hoặc ch : ….ồng cây, …ồng chất, câu …uyện, quyển ….uyện b) ao hoặc au : ngồi s…, mai s…, vườn r…, tiếng r…hàng 2. Xếp các từ in đậm trong đoạn văn sau vào bảng phân loại ở dưới: Một tiếng reo to nổi lên, rồi ầm ầm, hơn chục thanh niên cả nam lẫn nữ, vác một vác củi vẹt, nhảy xuống dòng nước đang cuốn dữ. Họ khoác vai nhau thành một sợi dây dài, lấy thân mình ngăn dòng nước mặn. Nước quật vào mặt, vào ngực, trào qua đầu hàng rào sống. Họ ngụp xuống, trồi lên, ngụp xuống. Trong đám thanh niên xung kích, có người ngã, có người ngạt. Nhưng những bàn tay khoác vai nhau vẫn cứng như sắt, và thân hình họ cột chặt lấy những cọc tre đóng chắc, dẻo như chão. Tóc dài các cô quấn chặt vào cổ các cậu con trai, mồ hôi như suối, hòa lẫn với nước chát mặn. Đám người không sợ chết đã cứu được quãng đê sống lại. ( Chu Văn ) 3. a) Viết các danh từ riêng trong đoạn thơ sau vào từng ô trống trong bẳng: Bà Trưng quê ở Châu Phong Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên. Chị em nặng một lời nguyền Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân. Ngàn tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên. Hồng quần nhẹ bước chinh yên Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành. Đô kì đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta. ( Đại Nam quốc sử diễn ca ) b) Viết các tên người, tên địa lí nước ngoài vào chỗ trống trong bảng cho đúng quy định: a) Phần mở đầu ( Quốc hiệu, tiêu ngữ ) Tên biên bản b) Phần chính – Ghi thời gian ( giờ, ngày tháng), địa điểm lập biên bản – Ghi thành phần tham dự cuộc họp ( giáo viên chủ nhiệm ; số học sinh của lớp, tên bạn vắng mặt – nếu có ) – Ghi họ tên chủ tọa, thư kí cuộc họp – Ghi nội dung cuộc họp: + Cuộc họp bàn về việc gì? ( VD: họp tổ về việc phân công giúp đỡ nhau trong học tập ; họp lớp về việc đánh giá tháng thi đua chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11 ; họp chi đội về việc cử đội viên giúp đỡ, chăm sóc gia đình Anh hùng, Liệt sĩ,…) + Diễn biến chính của cuộc họp ra sao ( ai phát biểu trước, ai phát biểu sau, nói điều gì )? + Kết luận của cuộc họp như thế nào ( người điều hành nói gì )? c) Phần kết thúc: Ghi rõ họ tên và chữ kí của chủ tọa và thư kí ĐÁP ÁN TUẦN 14 I – 1.b 2.a 3.c 4.c II- 1.a) trồng cây, chồng chất, câu chuyện, quyển truyện b) ngôi sao, mai sau, vườn rau, rao hàng 2. 3. a) b) 4.Tham khảo I – Thời gian, địa điểm 1. Thời gian: 11 giờ, ngày 06-11-2008 2. Địa điểm: Phòng học lớp 5A II – Thành phần tham dự 1. Cô giáo chủ nhiệm lớp: Lý Thanh Trúc 2. Toàn thể 35 học sinh lớp 5A III – Chủ tọa, thư kí 1. Chủ tọa: Hoàng Văn Sinh ( Lớp trưởng ) 2. Thư kí: Nguyễn Thị Minh Hà ( Lớp phó ) IV – Nội dung cuộc họp Đánh giá tháng thi đua chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 1. Lớp trưởng Hoàng Văn Sinh báo cáo thành tích nổi bật: a) Về học tập – Cả lớp đi học đầy đủ, đúng giờ, chuẩn bị bài tốt ; hăng hái phát biểu ý kiến, được các thầy cô khen. – Toàn lớp có 260 điểm trong tháng 11, trong đó có 30% điểm giỏi, 40% điểm khá, 30% điểm trung bình ; có 3 bạn đạt 100% điểm giỏi: Trần Thị Thu Thủy, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Thị Minh Hà. b) Về lao động – Các tổ chăm sóc tốt vườn hoa theo lịch phân công, hoa nở rất đẹp. – Việc trực nhật tiến hành đều đặn, lớp học lúc nào cũng sạch sẽ. c) Về các công tác khác – Lớp đã đóng góp 2 tiết mục hay trong đêm liên hoan mừng Ngày 20-11 – Đội bóng nam của lớp đoạt giải Nhì toàn trường. 2. Ý kiến của các bạn: – Vũ Thùy Dương: Đề nghị lớp có phần thưởng cho các bạn đạt nhiều thành tích. – Lương Thị Thanh Hằng: Các bạn đã đến thăm và tặng hoa cô giáo Hương dạy lớp 1 từ bốn năm trước, đây là việc làm thể hiện lòng biết ơn sâu sắc. – Nguyễn Văn Phú: Phát huy thành tích đạt được, cả lớp quyết tâm phấn đấu để trở thành lớp dẫn đầu toàn trường trong năm học này. 3. Đề nghị nhà trường khen thưởng: – Tập thể đạt thành tích xuất sắc: Tổ 2 – Cá nhân xuất sắc: Trần Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Minh Hà 4. Cô giáo chủ nhiệm phát biểu: Cô rất vui vì cả lớp đạt nhiều thành tích trong tháng 11 vừa qua. Cô mong lớp 5A luôn học giỏi, tích cực rèn luyện để trở thành những người có ích. Cô sẽ đề nghị nhà trường khen thưởng lớp ta và báo cáo thành tích của lớp trong cuộc họp phụ huynh cuối học kì I. 5. Lớp trưởng kết luận: – Cả lớp nhất trí: Lớp 5A đã có nhiều thành tích về học tập, lao động, công tác trong tháng thi đua chào mừng Ngày 20-11. Các bạn cần phát huy để đạt thành tích cao hơn trong năm học cuối cấp. – Đề nghị nhà trường khen thưởng Tổ 2 và hai cá nhân xuất sắc: Trần Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Minh Hà. Tải về file word tại đây. Tags:Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 14 Tiếng Việt lớp 5
1,422
Đề kiểm tra cuối tuần 15 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 15 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Tình anh em Thời trước, có hai anh em cha mẹ mất sớm. Sau khi lấy vợ, người anh muốn làm giàu và lạnh nhạt* với em. Nhà có thóc lúa, ruộng tốt, người anh chiếm cả, chỉ cho em một ít ruộng xấu. Một hôm, anh bắn được một con nai to. Anh định gọi bạn khiêng về cùng ăn, chứ không gọi em. Người vợ biết ý, bèn bàn với chồng thử xem bạn tốt hay em tốt. Nghe lời vợ bàn, anh đến nhà bạn làm bộ hốt hoảng: “Tôi đi săn chẳng may bắn trúng một người. Bây giờ làm thế nào, anh giúp tôi với!” Bạn lắc đầu: – Trời mưa, rãnh nhà ai nhà ấy xẻ! Người anh đến nhà em cũng nói như nói với bạn. Người em nghĩ một lát, rồi an ủi anh: – Đã trót bắn chết thì khiêng về làm ma vậy. Rồi anh em cùng nhau thu xếp tiền, đến xin lỗi gia đình họ. Bấy giờ, người anh mới tỉnh ngộ, nói hết sự thật và rủ em đi lấy nai về. ( Theo Truyện cổ dân tộc Thái ) *lạnh nhạt: tình cảm xa cách, không gần gũi giúp đỡ nhau. Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Sau khi lấy vợ, người anh đối xử với em thế nào? b- Chiếm cả thóc lúa, ruộng đất ; lánh mặt, không hỏi han đến em c- Chiếm cả thóc lúa, lấy nhiều ruộng tốt ; để cho em ít ruộng tốt 2. Câu nói “Trời mưa, rãnh nhà ai nhà ấy xẻ.” chứng tỏ điều gì ở người bạn? a- Chỉ lo được công việc của mình, không giúp được ai b- Lo việc xẻ rãnh của nhà mình để khỏi ngập nước mưa c- Chỉ lo việc nhà mình, không quan tâm đến người khác 3. Khi nghe anh báo tin lỡ bắn trúng người khác, người em có thái độ ra sao? a- Lắc đầu từ chối, nói rằng việc của ai thì người ấy tự lo liệu b- An ủi, khuyên anh mang tiền đến xin lỗi nhà người bị nạn c- An ủi anh, sẵn sàng cùng anh lo giải quyết sự việc xảy ra 4.Câu tục ngữ nào dưới đây phù hợp với lời khuyên rút ra từ câu chuyện? a- Khôn ngoan đối đáp người ngoài / Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau b- Anh em như thể chân tay / Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần c- Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các từ ngữ sau khi điền vào chỗ trống: a) s hoặc x -….ôn….ao/………… – thổi ….áo/…………. – lao ….ao/………. -…..áo trộn/……… x…….khiến/…………. x………dòng/………… c) âc hoặc ât b……thang/………….. b…..lửa/………………. 2. Gạch dưới các từ ngữ chỉ nhạc cụ dân tộc thường được đồng bào các dân tộc thiểu số sử dụng: đàn ghi-ta kèn lá đàn bầu đàn tơ-rưng đàn oóc-gan khèn chiêng trống cơm đàn đá kèn đồng đàn tính pi-a-nô 3. Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để có hình ảnh so sánh: a) Trăng tròn như …………. Lơ lửng mà không rơi Những hôm nào trăng khuyết Trông giống……………….trôi ( Theo Trần Đăng Khoa ) b) Miệng cười như thể ………………… Cái nón đội đầu như thế……………….. ( Theo Ca dao ) ( Từ ngữ cần điền: con thuyền, cái đĩa, hoa sen, hoa ngâu ) 4. Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 5 câu ) giới thiệu một vài hoạt động của tổ em trong tháng thi đua chào mừng Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12 Gợi ý: a) Trong tháng thi đua chào mừng Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12, tổ em đã làm được những việc gì đạt kết quả tốt về học tập? b) Về các mặt hoạt động khác ( văn nghệ, thể dục thể thao, công tác đội,…) tổ em có những hoạt động gì nổi bật? Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 15 Tiếng Việt lớp 3
665
Đề kiểm tra cuối tuần 15 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 15 Tiếng Việt lớp 5 I – Bài tập về đọc hiểu Bé Na Nhiều buổi sớm tập thể dục trước nhà, tôi thấy một cậu bé khoảng 10 tuổi đội chiếc mũ đỏ bạc màu, khoác cái bao trên vai đi thẳng đến sọt rác trước nhà bé Na. Cậu ngồi xuống nhặt mấy thứ ở sọt rác bỏ vào bao. Khi đứng lên, cậu nhìn một lát vào căn nhà còn đóng cửa. Tình cờ một buổi tối, tôi thấy bé Na xách một túi ni lông ra đặt vào sọt rác. Tò mò, tôi ra xem thì thấy trong túi có chiếc dép nhựa hồng, mấy mảnh nhôm, mảnh nhựa, mấy vỏ chai và vài thứ lặt vặt khác. Lặng lẽ theo dõi nhiều lần, tôi thấy bé Na làm như vậy vào buổi tối. Lạ thật, sao cô bé này lại không bán hay đổi kẹo như bao đứa trẻ khác vẫn làm? Một lần, bé Na vào nhà tôi chơi. Tôi thân mật hỏi: – Cháu muốn làm “cô tiên” giúp cậu bé nhặt nhôm nhựa đấy hả? Bé tròn xoe mắt, ngạc nhiên: – Sao bác biết ạ? – Bác biết hết. Này nhé, hằng đêm, có một “cô tiên” đẹp như bé Na đem những thứ nhặt được đặt vào sọt rác để sáng sớm hôm sau có một cậu bé đến nhặt mang đi. Đúng không nào? Bé Na cười bẽn lẽn và nói: – Cháu biết bạn ấy mồ côi mẹ đấy ạ! – À ra thế! Bé chạy đi còn ngoái đầu lại nói với tôi: – Bác không được nói cho ai biết đấy nhé! Từ hôm đó, tôi cũng gom những thứ nhặt nhạnh được,bỏ vào một túi ni lông để đến tối đem đặt lên sọt rác trước nhà. ( Theo Lê Thị Lai ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Bé Na mang những thứ gì bỏ vào sọt rác trước nhà vào buổi tối? b- Chiếc dép nhựa, vài mảnh nhôm, mảnh nhựa, vỏ chai c- Mấy túi ni lông cũ, mảnh nhôm, mảnh nhựa, vỏ chai 2.Vì sao Na đem những thứ nhặt được bỏ vào sọt rác cho cậu bé lấy đi? a- Vì Na muốn làm “cô tiên” xinh đẹp để được mọi người yêu thích b- Vì Na thấy cậu bé chỉ thích nhặt những thứ đồ cũ để bán lấy tiền c- Vì Na thương cậu bé mồ côi mẹ phải đi nhặt đồ cũ để bán lấy tiền 3.Vì sao Na không muốn nói cho ai biết việc mình giúp đỡ cậu bé? a- Vì Na cảm thấy ngượng ngùng, xấu hổ trước mọi người b- Vì Na sợ cậu bé ngượng ngùng, xấu hổ trước mọi người c- Vì Na coi đó là việc rất nhỏ, không đáng để khoe khoang 4. Việc làm của tác giả ở cuối truyện giúp em hiểu được điều gì? a- Gom những thứ nhặt được bỏ vào sọt rác là một việc làm tốt b- Việc làm thể hiện lòng nhân hậu được người khác noi theo c- Cần quan tâm giúp người khác để người khác giúp đỡ mình 5.Cụm từ nào dưới đây có thể dùng để đặt tên khác cho truyện Bé Na? a- Cậu bé nhặt ve chai b- Câu chuyện buổi tối c- Việc nhỏ nghĩa lớn II – bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Điền vào chỗ trống a) tr hoặc ch: Đèn khoe đèn tỏ hơn …ăng Đèn ra…ước gió còn…ăng hỡi đèn? b) nghỉ hoặc nghĩ : ……..ngơi, ngẫm ….. ngỏ hoặc ngõ:……..nhỏ, thư ………….. 2. a) Chọn từ ngữ ( to lớn hoặc sống, ước mơ, của nhân dân, giành lấy, đơn sơ) điền vào chỗ trống để có các kết hợp từ đúng: (1)…………..hạnh phúc (3)…………..hạnh phúc (5)…………..hạnh phúc (2)…………..hạnh phúc (4)…………..hạnh phúc (6)…………..hạnh phúc (1) Mình chúc Minh khỏe vui và ……………………. (2) Bà em bảo phải ăn ở tử tế để……………..lại cho con cháu (3) Gương mặt cô trông rất…………………………… 3.Điền vào chỗ trống cho đúng thành ngữ, tục ngữ, ca dao nói về quan hệ gia đình, thầy trò, bè bạn: a) Anh thuận……hòa là nhà có……………… b) Công……….nghĩa…………ơn…………… Nghĩ sao cho bõ những ngày gian lao. c)…………là nghĩa tương tri Sao cho sau trước mọi bề mới nên. 4.Tìm các từ ngữ thường dùng để tả người và viết vào chỗ trống ở từng cột trong bảng ( mỗi cột ít nhất 5 từ ngữ ): 5. Viết đoạn văn ( khoảng 8 câu ) tả hoạt động của một người mà em yêu mến ( bố, mẹ, cô giáo, thầy giáo, chị gái, em bé, bạn thân,……..) Chú ý: Cần viết rõ câu mở đoạn, ý thân đoạn và câu kết đoạn ĐÁP ÁN TUẦN 15 I – 1.b 2.c 3.c 4.b 5.c II -1. a) Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn? b) nghỉ ngơi, ngẫm nghĩ, ngõ nhỏ, thư ngỏ 2.a) (1) sống hạnh phúc ; (2) hạnh phúc to lớn ; (3) ước mơ hạnh phúc ; (4) hạnh phúc của nhân dân ; (5) giành lấy hạnh phúc ; (6) hạnh phúc đơn sơ b) (1) hạnh phúc (2) phúc đức (3) phúc hậu 3. a) Anh thuận em hòa là nhà có phúc b) Công cha nghĩa mẹ ơn thầy / Nghĩ sao cho bõ những ngày gian lao c) Bạn bè là nghĩa tương tri / Sao cho sau trước mọi bề mới nên Gợi ý: 5. Tham khảo: (1) tả hoạt động ( sửa chạn ) của người bố: Đầu tiên, bố em lấy những thanh gỗ ướm vào những chỗ gãy của chạn, rồi cưa cưa, cắt cắt. Những hạt mùn cưa rơi xuống như mưa phùn. Cưa xong, bố bắt đầu bào. Chiếc bào lướt nhẹ trên gỗ, đùn ra những mảnh vỏ bào cong cong như sóng biển cuộn dâng, trông mới đẹp làm sao! Chẳng mấy chốc, mặt gỗ đã trở nên nhẵn nhụi, phẳng lì. Bố loay hoay lắp ghép những đoạn gỗ mới thay cho đoạn gỗ bị hỏng ở chân chạn. Rồi bố chọn những chiếc đinh ngắn, tay trái giữ đinh, tay phải cầm búa đóng “chí chát”. Những chiếc đinh lần lượt lún sâu vào gỗ. Một lúc sau, chiếc chạn đã được sửa xong và lại trở nên lành lặn để đựng bát đĩa như xưa. (2) Tả hoạt động ( tập đi, tập nói ) của em bé: Cháu Trà đang tuổi lon xon tập đi nahnh. Có lần, cả nhà quây quần, em bảo cháu: “Bé Trà bắt chước người lớn, làm ông cụ đi!”. Nghe thế, cháu bèn đứng lên, cúi lom khom, vắt hai tay ra đằng sau, loạng choạng bước. Bỗng cháu giơ tay, chới với ra ý không muốn đi nữa. Cả nhà cười ầm lên còn cháu sà vào lòng mẹ, cười khanh khách. Thanh Trà lúc nào cũng vui tươi và bi bô luôn miệng nhưng chỉ mới bập bẹ rõ mấy tiếng “ông, bà, bố, mẹ, măm,…”. Cháu cũng hay làm nững. Mỗi khi không vừa ý, cháu lại lăn kềnh ra khóc, hai chân đập thình thịch xuống giường. Cháu thường làm theo lời người lớn dạy. Ai bảo cháu chào, cháu chìa bàn tay đưa lên ngang tai. Bảo cháu hoan hô, cháu vỗ tay đen đét. Khi muốn đi chơi, cháu chỉ vào chiếc mũ của cháu và hét “i,…i,…i,…”. Được bế đi chơi, cháu thích lắm, nhảy cẫng lên sung sướng, mắt sáng ra và vỗ tay rối rít. ( Theo Vũ Thanh Quang ) Tải về file word tại đây. Tags:Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 15 Tiếng Việt lớp 5
1,236
Đề kiểm tra cuối tuần 16 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 16 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Những cánh bướm bên bờ sông Ngoài giờ học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những con bướm đủ hình dáng, đủ sắc màu. Con xanh biếc pha đen như nhung bay nhanh loang loáng. Con vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như trôi trong nắng. Con bướm quạ(1) to bằng hai bàn tay người lớn, màu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn. Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng. Loại bướm nhỏ đen kịt, là là theo chiều gió, hệt như tàn than của những đám đốt nương. Còn lũ bướm vàng tươi xinh xinh của những vườn rau thì rụt rè, nhút nhát, chẳng bao giờ dám bay ra đến bờ sông. Chúng cứ quấn quýt quanh màu vàng hoa cải và quanh những con đông tây(2) xanh mọng nằm chờ đến lượt mình được hóa bướm vàng. ( Theo Vũ Tú Nam ) (1) Bướm quạ: loại bướm to, sải cánh rộng, màu nâu xỉn (2) Con đông tây: con nhộng của loài bướm Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Ba con bướm được tả ở 5 câu đầu (“Ngoài giờ học…vẻ dữ tợn” ) có những màu sắc gì? a- Xanh biếc pha đen, vàng sẫm, đen kịt c- Xanh biếc pha đen, vàng tươi, đen kịt 2. Ở 5 câu đầu, dáng bay của các con bướm được tả bằng những từ nào? a- Loang loáng, lờ đờ b- Loang loáng, líu ríu c- Lờ đờ, nhút nhát 3. Lũ bướm nào luôn quấn quýt quanh màu vàng hoa cải? a- Lũ bướm vàng tươi xinh xinh b- Lũ bướm xanh biếc pha đen c- Lũ bướm vàng sẫm, nhiều hình mặt nguyệt 4. Dòng nào dưới đây nêu đúng ý chính của bài văn? a- Vẻ đẹp kì lạ, hấp dẫn của các loại bướm sống trên sông nước b- Vẻ đẹp lộng lẫy, kì thú của các loại bướm sống trên đất bãi c- Vẻ đẹp phong phú, đa dạng của các loại bướm bên bờ sông II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các từ ngữ sau khi điền vào chỗ trống: a) tr hoặc ch – bánh …ưng/……….. – sáng….ói/…………. – sáng….ưng/……….. -……..ói tay/………… b) đổ hoặc đỗ – thi …………/…………. – ……….rác/…………… – thác……./………….. -……..đen/………….. 2. Viết vào đúng cột trong bảng tên các sự vật, công việc sau: Đèn cao áp, cánh đồng, hồ sen, rạp chiếu bóng, bể bơi, máy cày, bến xe buýt, máy gặt, chế tạo máy móc, xay thóc, giã gạo, trình diễn thời trang. 3. Đặt dấu phẩy vào chỗ thích hợp trong mỗi câu sau: a) Những đêm trăng sáng dòng sông lung linh như dát vàng c) Ô tô xe máy xe đạp cứ nối đuôi nhau chạy ùn ùn về trung tâm thành phố 4. Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 6 câu ) kể về một vài nét đẹp mà em thấy ở nông thôn ( hoặc thành thị ) Gợi ý: a) Em được biết một vài nét đẹp ở đâu ( thuộc nông thôn hoặc thành thị )? b) Đó là những nét đẹp gì cụ thể ( về cảnh vật, con người, cuộc sống …)? c) Vì sao em thích những nét đẹp đó? Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 16 Tiếng Việt lớp 3
568
Đề kiểm tra cuối tuần 16 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 16 Tiếng Việt lớp 5 I – Bài tập về đọc hiểu Thằng Cay ở bản Xốp-ò Cay không được đi học. Bố mẹ Cay đều bị câm và điếc. Cay lớn lên khỏe mạnh nhưng chỉ ê a được mấy tiếng. Nhiều lần Cay lén đến trường, ghé tai vào vách nứa nghe cô giảng. Giờ ra chơi, Cay lại lủi vào rừng… Một lần, Cay thấy ở lưng dốc có một cô bé vai mang cặp sách, tay cầm cây nứa nhỏ cố rướn người chọc quả dâu da. Cay thoăn thoắt trèo lên cây ngắt chùm quả chín đưa cho cô bé, ánh mắt như muốn nói: “Ăn đi!”. Cô bé cảm ơn Cay. Cay vội nhặt giúp. Quyển Tiếng Việt lật mở, Cay bị cuốn hút vào những hình vẽ vui mắt. Thấy thế, cô bé hỏi: “Cay thích học chữ à?”. Cay gật đầu. “Nhưng cay không biết nói làm sao học được?”. Cay thừ người rồi vội bỏ đi như để xua nỗi buồn tủi… Hôm sau, Cay lại đến chỗ cây dâu da. Cay hái rất nhiều quả chín nhưng chờ mãi chẳng thấy cô bé đến. Khi về nhà, Cay tròn mắt ngạc nhiên: đang ngồi bên mẹ Cay là cô bé ấy. Thấy Cay về, mắt cô bé sáng lên, cô mở cặp lấy ra quyển Tiếng Việt đưa cho Cay: “Tớ là Na. Tớ sang bày cho cậu học.”. Cay cười hiền lành, mắt rơm rớm….Rồi Cay chạy vào nhà, lấy quyển vở bìa xanh đưa cho Na. Na tròn mắt kinh ngạc: không biết Cay học từ lúc nào mà đã viết được những dòng chữ ngày hàng thẳng lối… ( Theo Đình Thanh Quang ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Cay có hoàn cảnh đáng thương như thế nào? a- Bố, mẹ bị câm điếc, Cay cũng chỉ ê a mấy tiếng, không được đi học. b- Bố, mẹ bị câm điếc, Cay khỏe mạnh nhưng chỉ biết nói vài tiếng c- Không được đi học, Cay thường lén đến trường đứng ngoài nghe giảng. 2. Cay và cô bé làm quen với nhau như thế nào? a- Gặp và làm quen với cô bé khi cùng đi hái quả dâu da ở lưng dốc b- Trèo lên cây hái giúp dâu da, nhặt hộ sách vở khi cô bé làm rơi c- Gặp và làm quen với cô bé khi đang học lén ở trường bị cô bắt gặp 3. Vì sao cô bé biết Cay rất thích học chữ? a- Vì biết Cay thường đi nghe lén bài giảng của cô giáo ở trường b- Vì Cay nói với cô bé là mình rất thích học chữ và đến trường c- Vì thấy Cay bị hút vào những hình vẽ trong sách Tiếng Việt 4. Câu chuyện kết thúc như thế nào? a- Cô bé sang nhà dạy Cay học nhưng rất ngạc nhiên vì Cay đã biết đọc c- Cay được mọi người giúp đỡ để có nhà ở, được đến trường đi học 5. Bạn Cay trong câu chuyện có đức tính gì đáng yêu? a- Thật thà, tốt bụng b- Thật thà, ham học c- Ham học, tốt bụng II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Điền vào chỗ trống: a) r, d hoặc gi: …..ành quà cho bé,…ành chiến thắng, đọc….ành mạch b) iêm hoặc im: lúa ch…, tổ ch…, t… thuốc, quả t… c) iêp hoặc ip: rau d…, buồn ngủ d… mắt, chất d… lục, d… may 2. Xếp 15 từ sau thành 3 nhóm từ đồng nghĩa và viết vào từng cột trong bảng: anh dũng, nhân từ, trung thực, nhân hậu, dũng cảm, nhân ái, thành thật, gan dạ, chân thật, nhân đức, thực thà, can đảm, phúc hậu, thẳng thắn, gan góc 3. Chọn từ chỉ màu trắng thích hợp( phau phau, trắng hồng, trắng bệch, trắng xóa ) điền vào chỗ trống trong các câu thơ sau: – Tuyết rơi………….một màu Vườn chim chiều xế…………cánh cò. Da …………….người ốm o Bé khỏe đôi má non tơ………………… 4. Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu ) tả khuôn mặt của một em bé, trong đó có sử dụng ít nhất 2 từ đồng nghĩa chỉ màu trắng hoặc màu đen: Đáp án tuần 16 I – 1.a 2.b 3.c 4.c 5.b b) lúa chiêm, tổ chim, tiêm thuốc, quả tim c) rau diếp, buồn ngủ díp mắt, chất diệp lục, dịp may 2. Chú ý: Chỉ cần xếp đúng các từ đồng nghĩa theo từng nhóm, không cần đúng thứ tự 3. Thứ tự điền từ: trắng xóa, phau phau, trắng bệch, trắng hồng 4. Tham khảo: (1) Khuôn mặt bé Lan thật đáng yêu. Đôi mắt đen lay láy, sáng long lanh như hai hạt ngọc. Đôi lông mày đen nhánh nổi bật trên nền da trắng hồng. Cái miệng chúm chím như nụ hoa đang nở. Lúc bé cười, hai lúm đồng tiền xinh xinh in trên đôi má trông mới dễ thương làm sao. (2) Thảo có khuôn mặt bụ bẫm, sáng sủa. Hai má phúng phính màu trắng sữa. Dôi môi đỏ hồng như tô son. Mỗi khi bé cười, miệng lại phô ra hai hàm răng nhỏ xinh, trắng muốt. Nụ cười của bé được đôi mắt đen sáng như cười hòa theo làm cho khuôn mặt rạng rỡ biết bao. Tải về file word tại đây. Tags:Đáp án Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 16 Tiếng Việt lớp 5
919
Đề kiểm tra cuối tuần 17 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 17 Tiếng Việt lớp 3 I – Bài tập về đọc hiểu Thăm vườn bách thú Bữa trước về chơi Thủ đô Chăn Dào vào vườn bách thú Gặp chú voi vẫy tay chào Y như gặp người bạn cũ. Gặp chú báo đen giận dữ Bên trong cũi sắt một mình Có bầy khỉ vàng láu lỉnh Chìa tay xin kẹo học sinh. Ở đây có chú hươu non Tung tăng những bàn chân nhỏ Người ta cho mẩu bánh mì Chú nhai như là nhai cỏ. Đúng rồi những chú voi kìa Chăn Dào gặp hôm hái nấm Đúng rồi con đại bàng này Trên đỉnh ngàn kia sải cánh. Ở đây có chim, có rắn Trăn hoa, báo gấm, lợn lòi Lạ thật bao nhiêu là thú Như là trên núi mình thôi! ( Nguyễn Châu ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Bốn khổ thơ đầu ( “Bữa trước…sải cánh” ) tả những con vật nào quen thuộc với Chăn Dào? a- Voi, báo đen, khỉ vàng, đại bàng, báo gấm b- Voi, báo đen, báo gấm, hươu non, trăn hoa c- Voi, báo đen, khỉ vàng, hươu non, đại bàng 2. Con vật nào vừa gặp Chăn Dào đã có thái độ thân thiện như gặp người bạn cũ? a- Chú voi b- Chú khỉ c- Chú hươu 3. Ở khổ thơ 2 và 3, những từ ngữ nào gợi tả bầy khỉ vàng và chú hươu non giống như trẻ em? b- Chìa tay xin kẹo ; tung tăng những bàn chân nhỏ c- Láu lỉnh, chìa tay xin kẹo ; nhai như là nhai cỏ 4. Bài thơ cho thấy những điều gì đáng quý ở bạn Chăn Dào? a- Luôn gần gũi với các loài vật và yêu quý môi trường b- Rất yêu thương loài vật và có ý thức bảo vệ môi trường c- Rất yêu thương các loài vật và thân thiện với môi trường II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Chép lại các từ ngữ sau khi điền vào chỗ trống a) r hoặc d, gi -………ống nhau/…………. – lá ………ụng/……………. – kêu……..ống lên/………….. – tác………ụng/…………….. b) ui hoặc uôi – c……. cùng/……………….. – c………….đầu/…………….. c) ăt hoặc ăc – ng……..hoa/……………… – đọc ng………..ngứ/………….. 2. Điền từ chỉ đặc điểm thích hợp với mỗi con vật vào chỗ trống: – chú voi …………….. – bẫy khỉ vàng……….. – con đại bàng ………. – chú báo đen ………….. – chú hươu non………… – con lợn lòi …………… ( Từ cần điền: giận dữ, láu lỉnh, ngây thơ, thân thiện, dữ tợn, hùng dũng ) 3. Đặt câu theo mẫu Ai thế nào? để miêu tả: a) Chú voi con b) Một em bé c) Một đêm trăng 4. Dựa vào nội dung bài tập 4 – tuần 16, hãy viết một bức thư ngắn (khoảng 8 câu) cho bạn, kể về một vài nét đẹp mà em thấy ở nông thôn hoặc thành thị. ( Chú ý viết đúng thể thức của một bức thư đã học ở tuần 10, tuần 13 ) …………………………………………………….. Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · Giáo Án Tiếng Việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 17 Tiếng Việt lớp 3
492
Đề kiểm tra cuối tuần 17 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 17 Tiếng Việt lớp 5 Thả thuyền Trời đang chuyển mưa. Những đám mây bông xô nhau dạt về phía chân trời nhường chỗ cho những đám mây đen nặng như chì vần vũ như muốn kéo toạc bầu trời xuống thấp. Sấm rền vang, chớp thi nhau vạch những đường loằng ngoằng lóe sáng. Gió từ đâu thổi đến làm cho cây cơm nguội trước sân oằn mình nghiêng ngả. Những chiếc lá trên cành run rẩy, lắc lư rồi rơi xuống đất, nằm trơ trọi. Mưa bắt đầu rơi. Tí tách…tí tách rồi lộp bộp…lộp bộp. Những hạt mưa to dần, to dần… Mưa như trút nước lên mặt sân…Nước mưa ướt sũng trên nền gạch rồi tràn xuống vỉa hè chảy thành dòng lênh láng. Được một lúc, cơn mưa tạnh dần rồi dứt hẳn. Những chú chim nấp trong hốc cây, vòm lá giờ bay ra chuyển cành hót líu lo. Trời quang đãng hơn, những đám mây trắng lại nối đuôi nhau bồng bềnh trên vòm trời xanh thẳm. Trước sân, có tiếng ríu rít của bọn trẻ đang xúm lại chơi thả thuyền. Những chiếc thuyền bằng giấy đủ màu được lần lượt thả xuống dòng nước. Chiếc nào cũng tròng trành, nghiêng ngửa một lúc rồi mới lướt đi băng băng. Bọn trẻ thích thú đuổi theo những chiếc thuyền, vừa chạy vừa reo hò. Đoàn thuyền trôi xa dần. Bỗng dòng nước chững lại rồi đột ngột chồm lên chui tọt vào miệng cống. Những chiếc thuyền xoay tròn mấy vòng rồi mất hút trong dòng xoáy sủi bọt. Bọn trẻ tần ngần hồi lâu rồi lập tức chạy ngay về nhà lấy thêm những chiếc thuyền mới. Cứ thế, hàng loạt chiếc thuyền được thi nhau thả xuống. Đã thấy lác đác xuất hiện những chiếc thuyền lá. Thuyền lá bao giờ cũng trôi nhanh hơn thuyền giấy, có lẽ vì lá không thấm nước. Từ đây cuộc đua thuyền đã trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết. Bọn trẻ reo hò, tranh cãi nhau xem thuyền của đứa nào trôi nhanh nhất. Chiếc thuyền trở thành niềm hi vọng của mỗi chủ nhân nhỏ tuổi. Dường như chúng đang chở trên mình cả một thời bé dại. ( Hà Thị Bình Thanh ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Bài văn trên nói về điều gì? a- Cảnh mưa rào đến rồi tạnh hẳn và cảnh vật thiên nhiên sau mưa b- Cảnh mưa rào và trò chơi thả thuyền của các bạn nhỏ sau mưa c- Những kỉ niệm khó quên thời thơ ấu của tác giả và các bạn nhỏ 2. Cảnh vật thanh bình sau cơn mưa được miêu tả qua đoạn văn nào? a- Đoạn 1 (“Trời dang chuyển mưa đến nằm trơ trọi.”) b- Đoạn 2 (“Mưa bắt đầu rơi đến thành dòng lênh láng.”) c- Đoạn 3 (“Được một lúc đến vòm trời xanh thẳm.”) 3. Nội dung chính của đoạn “Trước sân đến một thời bé dại.” là gì? a- Cảnh thả thuyền trên sông của các bạn nhỏ b- Trò chơi thả thuyền của các bạn nhỏ sau mưa c- Cảnh chơi thả thuyền giấy của các bạn nhỏ 4. Hình ảnh chiếc thuyền giấy “chở trên mình cả một thời bé dại” ý nói gì? a- Chiếc thuyền đem theo cả niềm vui thời trẻ con hồn nhiên, nghịc ngợm b- Chiếc thuyền chở theo cả tiếng cười thích thú của bọn trẻ khi vui chơi c- Chiếc thuyền chở theo cả một thời quá khứ rất dại dột của bọn trẻ con. II – Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Ghi dấu hỏi, dấu ngã, đúng quy tắc trên các chữ in nghiêng: a) quyên sách, nhuần nhuyên c) cái thuông, đôi đua b) phát triên, nhân nghia d) khen thương, chưa bài 2. Xếp những từ sau vào chỗ trống thích hợp ở các ô trong bảng: nhỏ, bé, nhỏ bé, nhỏ nhắn, nhỏ nhẹ, nhỏ nhen, đẹp, tươi, đẹp tươi, đẹp đẽ, đẹp xinh, đèm đẹp, vui, mừng, vui chơi, vui thích, vui vẻ, vui vầy 3. Tìm 2 từ đồng nghĩa, 2 từ trái nghĩa với từ in đậm ở cột A và ghi vào từng ô trong bảng: 4. Cho biết từ in đậm ( kèm theo VD trong ngoặc đơn ) ở cột A là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa ( bằng cách ghi dấu + vào cột tương ứng trong bảng ): 5. Hoàn thành đơn xin học môn tự chọn ( Tin học hoặc Tiếng Anh, Tiếng Pháp,…) theo mẫu dưới đây: Kính gửi:…………………………………………………….. Em tên là:…………………………………………………………… Nam, Nữ: …… Sinh ngày:………………………………. Tại:……………………………………… Địa chỉ thường trú:……………………………………………………………. Học sinh lớp …………….của Trường Em làm đơn này kính đề nghị ……………………xét cho em được học môn……… theo chương trình tự chọn. Em xin hứa thực hiện đầy đủ nội quy và hoàn thành nhiệm vụ học tập Em xin trân trọng cảm ơn. Ý kiến của cha mẹ học sinh Người làm đơn ( Kí và ghi rõ họ tên ) ( Kí và ghi rõ họ tên ) Đáp án tuần 17 I – 1.b 2.c 3.b 4.a II- 1.a) quyển sách, nhuần nhuyễn b) phát triển, nhân nghĩa c) cái thuổng, đôi đũa d) khen thưởng, chữa bài 2. 3. 4. 5. VD Kính gửi: Cô Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hồng Thái Em tên là: Nguyễn Thị Ngọc Tú Nam, Nữ: Nữ Sinh ngày: 06 – 10 – 2001 Tại: Thành phố Yên Bái Địa chỉ thường trú: Số nhà 87, đường Điện Biên Phủ, TP.Yên Bái Học sinh lớp 5B của Trường Em làm đơn này kính đề nghị Cô Hiệu trưởng xét cho em được học môn TiếngAnh theo chương trình tự chọn Em xin hứa thực hiện đầy đủ nội quy và hoàn thành nhiệm vụ học tập Em xin trân trọng cảm ơn. Tải về file word tại đây. Tags:Đáp án Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 17 Tiếng Việt lớp 5
992
Đề kiểm tra cuối tuần 18 Tiếng Việt lớp 3 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 18 Tiếng Việt lớp 3 ÔN tập cuối học kì I A- Kiểm tra đọc I – Đọc thành tiếng ( 6 điểm ) Đọc đoạn trích dưới đây trong bài Tập đọc đã học ( SGK Tiếng Việt 3, tập một ) và trả lời câu hỏi ( TLCH ) ; sau đó tự đánh giá, cho điểm theo hướng dẫn ở Phần hai ( Giải đáp – Gợi ý ) (1) Đất quý, đất yêu ( từ Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha đến dù chỉ là một hạt cát nhỏ ) TLCH: Vì sao người Ê-ti-ô-pi-a không để khách mang đi, dù chỉ là một hạt cát nhỏ? (2) Nắng phương Nam ( từ Phương tủm tỉm cười đến rung rinh dưới nắng ) TLCH: Vì sao các bạn chọn cành mai làm quà Tết cho Vân? (3) Người con của Tây Nguyên ( từ Núp mở những thứ Đại hội tặng đến coi mãiđến nửa đêm – Đoạn 3 ) TLCH: Khi xem những thứ Đại hội tặng, thái độ của lũ làng ra sao? (4) Người liên lạc nhỏ ( từ Đến quãng suối đến ngồi nghỉ chốc lát – Đoạn 2 ) TLCH: Khi gặp Tây đồn đem lính đi tuần, thái độ của Kim Đồng thế nào? (5) Nhà rông ở Tây Nguyên ( từ Gian đầu nhà rông đến chiêng trống dùng khicúng tế ) TLCH: Gian đầu của nhà rông được bài trí như thế nào? II – Đọc thầm và làm bài tập ( 4 điểm ) Bác rất thương loài vật Mỗi lần chuyển nhà đến nơi ở mới, bao giờ con khỉ cũng nhảy phóc lên ngồi trên lưng con chó. Hễ chó đi chậm, khỉ cấu hai tai chó giật giật. Chó chạy sải thì khỉ gò lưng như người phi ngựa. Chó chạy thong thả, khỉ buông thõng hai tay, ngồi núc nga ngúc ngoắc. Ai trông thấy cũng phải cười. Con mèo đen có đốm trắng thì ngoao ngoao lững thững chạy theo. Riêng con khỉ thì rất nghịch nên các anh bảo vệ thường phải cột dây. Khi Bác ăn cơm, Bác mở dây và cho nó ăn. Bữa nọ, Bác vừa quay lưng ngó ra sân, nó bèn bốc trộm cơm của Bác và ngồi yên, giấu nắm cơm trong tay, và như không có chuyện gì xảy ra. Tôi nhìn thấy vội kêu lên: “Sao mày bốc cơm của Bác?”. Con khỉ vội lom khom chạy đi, vừa chạy vừa quay lại nhìn như sợ Bác giận. Bác chỉ mỉm cười, nụ cười rất hiền lành. ( Theo Diệp Minh Châu ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Các con vật được Bác nuôi có quan hệ với nhau như thế nào? a- Không ưa nhau c- Quấn quýt nhau 2. Chi tiết nào cho thấy con khỉ rất nghịch? a- Hễ con chó đi chậm, nó cấu vào hai tai chó giật giật b- Bác vừa quay lưng, nó bèn bốc cơm của Bác, giấu đi c- Nó vừa chạy vừa quay lại nhìn Bác như sợ Bác giận 3. Chi tiết nào thể hiện rõ nhất tấm lòng rộng lượng của Bác? a- Bác dạy cho các con vật biết gắn bó với nhau b- Bác mở dây cho con khỉ mỗi khi cho nó ăn cơm c- Khi biết con khỉ bốc trộm cơm, Bác chỉ mỉm cười 4. Dòng nào dưới đây có các từ in nghiêng là từ chỉ đặc điểm của các con vật trong bài? a- Con chó nhanh nhẹn ; con mèo chậm chạp ; con khỉ nghịch ngợm b- Con chó chạy trước ; con mèo đi sau ; con khỉ ngồi trên lưng con chó c- Con chó nhanh nhẹn ; con mèo ngoao ngoao ; con khỉ nghịch ngợm B- Kiểm tra viết I – Chính tả nghe – viết ( 5 điểm ) Cây trái trong vườn Bác Vườn cây ôm tròn gần nửa vòng cung quanh ao cá cứ nở đầy nỗi thương nhớ không nguôi. Vị khế ngọt Ba Đình. Hồng xiêm Xuân Đỉnh cát mịn. Bưởi đỏ Mê Linh… Hồng Liên Thôn! Hàng trăm quả trĩu trịt trên cành như hàng trăm chiếc đèn lồng phập phồng thở lửa giữa sương giá, ơi cái màu hồng thắm thiết và vồn vã. II – Tập làm văn ( 5 điểm ) Viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 8 câu ) kể về quê hương em hoặc nơi em đang ở theo gợi ý sau: a) Quê em ở đâu? b) Em yêu nhất cảnh vật gì ở quê hương? c) Cảnh vật đó có gì đáng nhớ? d) Tình cảm của em với quê hương như thế nào? Tải về file word tại đây. Tags:Để học tốt Tiếng Việt 3 · tiếng việt 3
Đề kiểm tra cuối tuần 18 Tiếng Việt lớp 3
777
Đề kiểm tra cuối tuần 18 Tiếng Việt lớp 5 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần 18 Tiếng Việt lớp 5 A- Kiểm tra Đọc I – Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi ( 5 điểm ) Đọc một trong số các đoạn trích dưới đây trong bài Tập đọc đã học ( SGK ) và trả lời câu hỏi (TLCH) ; sau đó tự đánh giá, cho điểm theo hướng dẫn ở Phần hai ( Giải đáp – Gợi ý ) (1) Mùa thảo quả ( từ Sự sống cứ tiếp tục đến nhấp nháy vui mắt ) TLCH: Khi thảo quả chín, rừng có những nét gì đẹp? (2) Hành trình của bầy ong ( 2 khổ thơ cuối ) TLCH: Hai dòng thơ cuối bài nói gì về công việc của loài ong? (3) Hạt gạo làng ta ( 3 khổ thơ đầu ) TLCH: Những điệp từ trong khổ thơ đầu nhằm nhấn mạnh điều gì? (4) Về ngôi nhà đang xây ( 3 khổ thơ đầu ) TLCH: Những chi tiết nào vẽ nên hình ảnh một ngôi nhà đang xây? (5) Thầy thuốc như mẹ hiền ( từ Hải Thượng Lãn Ông đến cho thêm gạo, củi ) TLCH: Những chi tiết nào cho thấy lòng nhân ái của Lãn Ông? II – Đọc thầm và làm bài tập ( 5 điểm ) Lòng nhân ái thật sự Một cơn bão vừa tàn phá thị trấn nhỏ ở gần thành phố của chúng tôi làm nhiều gia đình phải sống trong cảnh khốn khó. Tất cả các tờ báo địa phương đều đăng hình ảnh và những câu chuyện thương tâm về một số gia đình mất mát nhiều nhất. Có một bức ảnh làm tôi xúc động. Một phụ nữ trẻ đứng trước ngôi nhà đổ nát của mình, gương mặt hằn sâu nỗi đau đớn. Đứng cạnh bà là một cậu bé chừng 7 hay 8 tuổi, mắt nhìn xuống. Đứa con gái nhỏ bám chặt quần mẹ, nhìn chằm chặp vào máy ảnh, mắt mở to vẻ bối rối và sợ hãi. Bài báo đi kèm kêu gọi mọi người giúp đỡ những người trong gia đình đó. Tôi nhận thấy đây sẽ là một cơ hội tốt để dạy các con mình giúp đỡ những người kém may mắn hơn. Tôi đưa tấm ảnh gia đình đó cho các con tôi xem, giải thích nỗi khổ của họ cho hai đứa con trai sinh đôi 7 tuổi và đứa con gái 3 tuổi. Tôi bảo chúng: “Chúng ta có quá nhiều trong khi những người này bây giờ không còn gì cả. Chúng ta hãy chia sẻ với họ những gì mình có.”. Tôi và hai con trai chất vào thùng cứu trợ nào đồ hộp và xà bông, mì gói,… Tôi cũng khuyến khích chúng chọn ra một số đồ chơi mà chúng không chơi nữa. Đứng nhìn hai anh sắp xếp mọi thứ, con gái tôi có vẻ nghĩ ngợi. Tôi nói với con: “Mẹ sẽ giúp con tìm một thứ gì đó cho em bé trong ảnh.”. Con gái tôi gật đầu nghiêm trang: “Nó đem lại niềm vui cho con mẹ ạ, có lẽ nó cũng sẽ đem lại niềm vui cho bạn kia.” Tôi nhìn sững con, chợt nhận ra rằng bất cứ ai cũng có thể đem cho những thứ mình bỏ đi, nhưng lòng nhân ái thật sự là đem cho những gì mình yêu quý nhất. ( Theo Báo điện tử – ) 1. Điều gì đã khiến người mẹ trong câu chuyện cảm thấy xúc động? a- Bức ảnh trên báo đăng hình một gia đình bị bão tàn phá rất thương tâm b- Cơn bão vừa tàn phá một thị trấn làm nhiều gia đình phải sống khốn khó c- Bài báo kêu kêu gọi mọi người giúp đỡ những người trong gia đình bị gặp nạn 2. Người mẹ muốn dạy các con mình điều gì? a- Biết cho đi những thứ mà mình không cần dùng nữa trong cuộc sống b- Biết nhận ra mình là người may mắn và giúp đỡ người gặp khó khăn c- Biết chia sẻ với những con người đã gặp hoàn cảnh không may mắn 3. Cô bé 3 tuổi đã gửi bạn gái trong bức ảnh cái gì? a- Rất nhiều đồ hộp, xà bông, mì gói và đồ chơi cũ b- Con búp bê cũ nhưng là đồ chơi bé yêu thích nhất c- Con búp bê cũ là đồ chơi bé không thích chơi nữa 4. Câu nói của cô con gái 3 tuổi làm người mẹ sững người và nhận ra điều gì? a- Đem cho tất cả những gì mình có mới là lòng nhân ái thực sự b- Đem cho những thứ mình yêu quý nhất mới là lòng nhân ái thực sự c- Đem cho bất cứ cái gì của mình cũng thể hiện lòng nhân ái 5. Dòng nào dưới đây gồm 3 từ đồng nghĩa với từ nhân nghĩa? a- nhân đức, nhân hậu, thiện chí b- nhân đức, nhân từ, lương thiện c- nhân đức, nhân hậu, nhân từ a- độc ác, hung bạo, bất lương b- hung bạo, ác nghiệt, bất tử c- ác nghiệt, hung tàn, dữ dội 7. Dòng nào dưới đây có từ đồng âm? a- bàn bạc / bàn cãi b- bàn chân / bàn công việc c- bàn tay / bàn học 8. Dòng nào dưới đây ghi đúng 3 đại từ xưng hô trong 2 câu “Ta băn khoăn tìm cách cứu dân khỏi cảnh hạn hán. Con có thể cùng thầy bàn mưu cứu trăm họ được không?”? a- ta, dân, thầy b- con, thầy, họ c- ta, con, thầy 9. Câu “Tất cả các tờ báo địa phương đều đăng hình ảnh và những câu chuyện thương tâm về một số gia đình mất mát nhiều nhất.” thuộc kiểu câu nào em đã học? a- Ai làm gì? b- Ai thế nào? c- Ai là gì? 10. Bộ phận chủ ngữ trong câu “Nó ôm hôn con búp bê lần chót trước khi bỏ vào thùng.” Là từ ngữ nào? a- Nó b- Nó ôm hôn c- Nó ôm hôn con búp bê lần chót B. Kiểm tra Viết I – Chính tả nghe – viết ( 5 điểm ) Mùa xuân Lá cứ lặng lẽ rụng. Chim cứ lặng lẽ chuyền cành. Các giống hoa cứ lặng lẽ đơm nụ. Thời gian thầm thì gọi mùa xuân đến, không vội vàng mà chắc chắn. Bỗng một buổi sớm, tiếng chích chòe vang lên lảnh lót, hương hoa bưởi lan tỏa khắp vườn. Những chú ong mật tíu tít bay đến những chùm hoa chúm chím. Cây đào lốm đốm những nụ phớt hồng. Mùa xuân đã đến rồi đấy, thật bất ngờ như đã được mong đợi từ lâu. ( Theo Vũ Nam ) Chú ý: HS nhờ người khác đọc từng câu để viết bài chính tả trên giấy kẻ ô li. II – Tập làm văn ( 5 điểm ) Hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 15 câu ) tả một người thân của em. ( Chú ý: HS viết bài tập làm văn vào giấy kẻ ô li ) Đáp án tuần 18 – Ôn tập cuối học kì I A- Đọc ( 10 điểm ) I – Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi ( 5 điểm ) Đánh giá tương tự như hướng dẫn ở bài kiểm tra giữa học kì I ( Tuần 10 ) Trả lời đúng ý câu hỏi. VD: (1) Khi thảo quả chín, dưới đáy rừng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót như chứa lửa, chứa nắng ; rừng sáng như có lửa hắt lên từ dưới đáy rừng, rừng ngập hương thơm ; thảo quả như những đốm lửa hồng ngày qua ngày lại thắp thêm nhiều ngọn mới. (3) Hạt gạo được làm nên từ vị phù sa của sông, từ hương sen thơm của các hồ nước, từ những lời hát của mẹ. Điệp từ nhằm nhấn mạnh trong hạt gạo bé nhỏ chất biết bao nhiêu tinh túy của đất trời, tình yêu và sức lao động của con người. (4) Giàn giáo tựa cái lồng, trụ bê tông đang nhú lên, bác thợ nề huơ huơ cái bay, nguyên màu vôi gạch, ô cửa chưa sơn, rãnh tường chưa trát vữa. (5) Hải Thượng Lãn Ông không ngại khổ khi mùi hôi tanh từ các mụn mủ của đứa trẻ bốc lên giữa mùa hè nóng nực, trên chiếc thuyền nhỏ hẹp ; ông chăm sóc đứa bé hàng tháng trời, không lấy tiền công mà còn cho thêm gạo củi. II – Đọc thầm và làm bài tập ( 5 điểm ) 1.a ( 0,5 điểm ) 2.c ( 0,5 điểm ) 3.b ( 0,5 điểm ) 4.b ( 0,5 điểm ) 5.c ( 0,5 điểm ) 6.a ( 0,5 điểm ) 7.b ( 0,5 điểm ) 8.c ( 0,5 điểm ) 9.b ( 0,5 điểm ) 10.a ( 0,5 điểm ) B – Viết ( 10 điểm ) I – Chính tả nghe – viết ( 5 điểm – 15 phút ) Em nhờ bạn ( hoặc người thân ) đọc để viết bài chính tả, sau đó đánh giá như hướng dẫn ở bài kiểm tra giữa học kì I ( Tuần 10 ) II – Tập làm văn ( 5 điểm, thời gian làm bài khoảng 35 phút ) – Viết đúng kiểu bài văn tả người. Bài viết có độ dài khoảng 15 câu, đủ 3 phần ( mở bài, thân bài, kết bài ) ; nội dung bám sát yêu cầu đề, miêu tả được một vài nét nổi bật về ngoại hình, hoạt động của người được tả ; bộc lộ được tình cảm yêu quý, gắn bó với người thân. Diễn đạt rõ ý, không mắc lỗi về dùng từ, đặt câu, chính tả. – Bài làm đạt những yêu cầu nêu trên có thể đánh giá ở mức Giỏi ( 5 – 4,5 điểm ). Tùy theo hạn chế trong bài làm, có thể đánh giá các mức còn lại như hướng dẫn ở Tuần 10 ( phần II, Tập làm văn ) Tải về file word tại đây. Tags:Đáp án Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Giáo Án Tiếng Việt 5 · Tiếng Việt 5
Đề kiểm tra cuối tuần 18 Tiếng Việt lớp 5
1,687