text stringlengths 78 4.36M | title stringlengths 4 2.14k | len int64 18 943k | gen stringclasses 1 value |
|---|---|---|---|
Đóng vai người khách qua đường để kể lại truyện Treo biển và cho biết suy nghĩ của em đối với mỗi lần chủ cửa hiệu thay biển. Em rút ra bài học gì từ câu chuyện đó
Gợi ý
Tuần trước, ta đi qua ngã ba đầu phố thấy một cửa hàng bán cá đề biển: “Ở đây có bán cá tươi”’ Nghe đến “cá tươi” ta vui mừng bước vào định mua một ít. Đang chờ người bán hàng gói cá thì ta nghe thấy một người khách cười nói:
– Nhà ông này có bán cá ươn hay sao mà biển phải đề là “cá tươi”?!
Không hiểu có phải chủ hàng nghe thấy câu nói ấy hay không mà hôm sau, đi qua, ta đã thấy chữ “tươi” bị bỏ mất. Biến hiệu chỉ còn: “Ở đây có bán cá”! Ta thấy rất thú vị bèn lân la đến gần quầy hàng định bụng hỏi chuyện ông chủ. Lúc ấy, có người đi qua lại bảo:
– Chẳng bán cá ở đây thì bán ở đâu!
Người chủ lập tức hạ biển, bứt chữ. Thế là cái biển chỉ còn ba chữ: “Có bán cá”. Ta định góp ý với ông chủ nhưng thấy tình hình ấy thì không nén được cười thầm trong bụng. Được rồi! Cứ chờ xem số phận cái biển sẽ ra sao!
Ít ngày sau ta lại qua đó. Thật kinh ngạc! Cái biển chỉ còn một chữ: “Cá”. Nghe người qua đường kể thì hoá ra, có một người khách đến mua hàng, ông ta nói với chủ hàng rằng:
– Bày cá ra chẳng để bán thì để làm gì mà còn phải viết “có bán”!
Vậy là ông chủ lại hạ biển, bớt chữ! Tôi bật cười, cố tình nói một câu rõ to để trêu đùa ông chủ quán ba phải này:
– Chưa đến đầu phố đã ngửi thấy mùi tanh, đến gần thì thấy cá. Vậy phải để biển làm gì!
Nói rồi, ta chờ phản ứng của ông chủ quán. Quả nhiên, lựa lúc vắng khách, ông ta cho hạ rồi cất cái biển đi luôn!
Ông chủ hàng cá thật là người thụ động, ba phải – “con tám cũng ừ, con tư cũng gật”. Treo biển lên để quảng cáo là một công việc rất có ý nghĩa nhưng chính ông ta cũng không nhận thức được ý nghĩa đó, không có chủ kiến của mình, rốt cuộc treo len rồi lại cất đi chỉ vì những ý kiến vô thường vô phạt.
Việc làm khi đó vừa tốn công, phí sức lại vừa đáng chê cười.
Từ việc làm kì quặc của người bán hàng này, tôi hiểu rằng khi làm việc gì cũng phải suy nghĩ trước sau. Cũng có thể lắng nghe góp ý của người khác nhưng phải cẩn trọng suy xét đúng sai, phải có chủ kiến khi làm việc kẻo phí công vô ích mà lại mang tiếng “Đẽo cày giữa đường”, bị thiên hạ cười chê mà vẫn không mang lại kết quả việc làm như mong muốn. | Đóng vai người khách qua đường để kể lại truyện Treo biển và cho biết suy nghĩ của em đối với mỗi lần chủ cửa hiệu thay biển. Em rút ra bài học gì từ câu chuyện đó | 509 | |
Đóng vai người lao động kể lại chuyến ra khơi trong Đoàn thuyền đánh cá
Hướng dẫn
Kể lại chuyến ra khơi trong Đoàn thuyền đánh cá bằng vai của một ngư dân
Để kịp cho chuyến ra khơi tối nay được thuận lợi, chúng tôi đã tấp cập chuẩn bị từ sớm. Bác ba lo vá lại tấm lưới bị rách, còn anh Sáu đưa nước và mấy cái thùng phi lên thuyền. Tôi cũng lo kết lại mấy cái dây thừng cho thật chặt. Mùa này sóng lớn, ra biển mà nhỡ nó bị đứt thì không biết làm thế nào. Bên kia, thuyền viên của các thuyền khác cũng nhộn nhịp chuẩn bị không kém gì. Đến chiều thì mọi thứ đã sẵn sàng.
Trưởng đoàn đứng trên con thuyền lớn nhất đang dẫn đầu, lặng lẽ nhìn khơi xa. Đôi mắt đăm đăm nhìn về không cùng. Chắc ông đang hướng tìm ngọn gió, xem khí trời thế nào. Lão ngư già dặn ấy đã có trên 50 năm tuổi nghề, mọi biến chuyển của đại dương ông đều cảm nhận được hết. Trên biển, mặt trời từ từ chìm xuống biển, ánh sáng vàng rực hắt thẳng lên trời cao.
Tôi cứ ngỡ như đó là một hòn lửa khổng lồ bị dìm vào biển nước, sức mạnh vô biên của nó có thể tạo nên những đợt sóng kinh hồn. Đêm cũng từ từ buông xuống. Cái khoảnh khắc giao điểm giữa đêm và ngày thật kì diệu. Nó cứ khiến lòng ta nôn nao khó tả. Trời mới còn đang sáng đáy thôi, bỗng chốc tối sầm lại, vệt sáng tối kéo dài trên mặt biển rồi mất hút tận khơi xa.
Dưới kia, các thuyền viên đã lên thuyền cả rồi, cột buồm rùng rùng chuyển động, cánh buồm căng lên đồng loạt. Bỗng lão ngư hét lớn: “Gió đã thổi, ta khơi thôi!”. Hàng mấy chục thuyền viên đồng loạt “dạ” ran, tiếng vang kinh bạt cả biển trời. Hai mươi mấy chiếc thuyền rùng mình chuyển động rồi xếp hàng ra khơi. Thuyền này nối đuôi thuyền kia tạo thành một vệt dài trên biển.
Tiếng hát ra khơi lại rộn vang khắp các thuyền. Dân chài lưới đầu sóng ngọn gió nhưng yêu đời lắm. Lần ra khơi nào chúng tôi cũng ca hát. Hát từ bờ hát đến khơi xa. Tôi nhớ rất rõ bài hát ấy chính do lão ngư già hát và chúng tôi hát theo. Hát mãi trong mỗi chuyến ra khơi đến giờ thuộc nằm lòng luôn:
Nơi nào nước chảy, nơi nào cá bơi
Thuyền ta đi tới! Thuyền ta tới!
Bao nhiêu năm căng gió buồm khơi
Sóng đã bạc đầu, chim trời mỏi cánh
Bao nhiêu năm cuộc đời hiu quạnh
Nay ra khơi ta bắt cá về.
Ơi hỡi đại dương muôn trùng sóng vỗ!
Ơi hỡi Biển Đông muôn luồng cá chạy!
Ta soi, ta rọi, ta vớt, ta giăng
Đây đoàn cá bạc biển Đông lặng,
Đây luồng cá thu như đoàn thoi
Đây ánh lưng vây con nục trắng…
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Bao nhiêu năm căng gió buồm khơi
Bấy nhiêu gian khổ ở trên đời
Cuộc đời đã mới, đời đã mới
Hãy tiến lên nào anh em ơi!”
Lời hát cứ dặt dìu theo nhịp sóng biển. Tiếng hát khơi bừng khí thế ra trận. Ai cũng tràn đầy tin tưởng ở trong lòng. Cánh buồm no gió đẩy thuyền lướt mạnh ra khơi.
Thoáng chốc, bãi bờ, làng xóm đã mấy hút, không còn nhìn thấy nữa. Lúc này, trăng cũng đã lên cao. mà thú thật, giữa biển khơi bao la, trăng có lên hay xuống chúng tôi cũng không biết nữa. Không lấy gì để so sánh mà biết nó lên hay lặn. Đoàn thuyền vẫn giữ hàng ngũ, trật tự băng băng lao tới. Nhìn cảnh ấy cứ ngỡ như rằng nó đăng lướt đi giữa mây cao với biển bằng. Nhiều lúc tôi nghĩ cả đoàn thuyền đang bay chứ không phải đang bơi vì biển và trời gần nhau quá.
Đến 10 giờ đêm là chúng tôi buông lưới. Lão ngư già đã cảm nhận có luồng cá chạy gần đây. Linh tính ông mách bảo thế. Ông lại ra đứng trên mũi thuyển, mắt nhìn vào con nước, đôi tai khẽ rung rung như đang nghe ngóng cái gì đó. Các bạn sẽ không thể tin được rằng chỉ cẩn ngửi mùi nước biển thôi là ông ấy có thể biết đàn cá đang ở đâu, nhiều hay ít, chìm sâu hay nổi cạn. Ông lấy chèo gõ nhẹ vào mạn thuyền rồi lại lắng nghe. Đôi tai kì diệu của ông dường như có thể nghe được đàn cá đang chạy rộn ràng trong lòng biển sâu sau mỗi tiến gõ. Sau ông lệnh: “Rẽ thuyền, thả lưới”.
Các thuyền bắt đầu chuyển hướng, phân làm hai đội. Một đội dùng lưới giăng hình cánh cung đi trước đón cá. Một đội giang lưới hàng chữ nhất thả lưới chìm đi sau. Xong đâu tất cả, lão ngư già lệnh cho đoàn thuyền đi tới. Mặt biển dội sóng dữ dội do lưới cào vào lòng bể. Chính giữa, luồn nước chảy xiết mạnh như thác lũ. lão ngư già vẫn đứng trên mũi tàu, vững chải như một cây đinh ba. Bỗng lão phất tay nói lớn: “Cá đã vào, khép lưới lại”.
Các thuyền viên nhanh chóng bẻ lái rẽ thuyền. Những thuyền viên khác lập tức gồng tay kéo dây chão khép lưới lại. Mặt biển lại sôi sục dữ dội. Khi lưới vừa khép, đoàn cá từ dưới sâu dội lên, đội cả lưới định tìm đường tháo chạy. Anh Sáu vội cầm dây chão móc vào cần cẩu, rút miệng lưới lên cao tóm gọn lại. Đàn cá hết đường chạy thoát. Phái sau, đoàn thuyền cào vớt cũng thu được đầy lưới cá.
Lão ngư già quả thật tinh tế. Ông hiểu tính cá rất sâu sắc. Đoàn đi trước vây hình cánh cung dụ cá vào luồng giữa. Khi đụng phải lưới, thế nào một phần cá cũng lặn xuống sau hơn tìm đường chạy trốn. Thế nên, ông bố trí đội thuyền giăng hàng chữ nhất đi sâu và thả lưới chìm để đón đầu đoàn cá ấy. Quả thật, đoàn cá bị tóm gọn chẳng sót con nào.
Bắt gọn đoàn cá, chúng tôi lại giong thuyền đi. bài hát rộn rã lại vang lên. Tôi nhìn lão ngu già mà thầm kính phục. Đúng thật, gừng càng già càng cay. Đời ông đã có hàng nghìn chuyến đi biển, gian nan nào cũng đã trải qua. Nhớ có lần, trong trận bào cách đây bảy năm, thuyền của ông không kịp về bến để tránh bão. Cơn bão đến thật nhanh, phá nát cả xóm làng.
Trong mịt mù sóng gió, tưởng ông và các thuyền viên đã bỏ mình trong bụng ca. Nào ngờ, khi cơn bão tan, người ta thấy con thuyền lừ lừ từ khơi xa trở về. Không ai tin được đó lại là sự thật. Có người còn nghĩ đó là bóng ma, là ảo ảnh thôi. Đến khi thuyền cập bến, mọi người mới tin.
Chuyến đó, cũng may nhờ tài năng lão luyện của lão ngư già mà cả đoàn viên đã thoát nạn. Họ mang ơn ông đến suốt cuộc đời. Từ mẻ lưới đầu tiên đến quá nửa đêm, chúng tối kéo ba mẻ lưới nữa, thu được rất nhiều cá tôm. Đến khi thuyền đã đầy cá, lão ngư già lệnh dừng lại và cho thuyền quay trở về.
“…Bao nhiêu năm căng gió buồm khơi
Sóng đã bạc đầu, chim trời mỏi cánh
Bao nhiêu năm cuộc đời hiu quạnh
Nay ra khơi ta bắt cá về.
Ơi hỡi đại dương muôn trùng sóng vỗ!
Ơi hỡi Biển Đông muôn luồng cá chạy!
Ta soi, ta rọi, ta vớt, ta giăng
Đây đoàn cá bạc biển Đông lặng,
Đây luồng cá thu như đoàn thoi
Đây ánh lưng vây con nục trắng…”
Biển với chúng tôi như người mẹ vĩ đại. Biển mẹ che chở chúng tôi, nuôi lớn chúng tôi từng ngày. Có lúc biển mẹ bao dung, hiền hòa, trìu mến. Có lúc biển mẹ giận dữ như muốn trừng phạt những đứa con ngỗ nghịch không biết nghe lời. Cuộc sống dân chài sớm bờ tối biển chẳng ngày nào yên. Nhưng chúng tôi mạnh mẽ, chúng tôi tự hào về công việc của mình. Mỗi chuyến ra khơi bồi đắp trong tôi một tình yêu lớn đối với biển cả.
Thuyền gần tới bờ thì trời cũng hững sáng. Lúc dàu ánh sáng mờ mờ nhưng đã có thể nhìn rõ. Đi một lúc, ánh sáng đã thực rõ. Trên biển là thế nhưng giờ này trên đất liền vẫn còn tối lắm. Chắc các chị em đã sẵn sàng thúng rổ chờ thuyền về rồi.
Mặt trời đội biển nhô lên kì vĩ. Đó là khung cảnh ấn tượng nhất mỗi ngày mà chúng tôi vẫn thường thấy. Một chiếc mâm bạc không lồ từ từ dưới biển sâu nhô lên rực sáng chói gắt. Ánh sáng kéo một vệt dài trên biển rồi tỏa ra giống hệt như ánh đèn màu mà tôi vẫn thường thấy trong những đêm văn nghệ. Tiếng hát vui mừng cùng gió thổi căng cánh buồn. Có lẽ con thuyền cũng háo hứng trở về nên băng băng vượt sóng. | Đóng vai người lao động kể lại chuyến ra khơi trong Đoàn thuyền đánh cá | 1,569 | |
Đóng vai người lính kể lại bài thơ Đồng Chí-Chính Hữu
Hướng dẫn
Chuyện người lính những ngày đầu kháng chiến
Chưa kịp vui mừng sau tháng lợi của Cách mạng Tháng Tám thì năm 1946, thực dân pháp đã nổ súng tái xâm lược nước ta. Thực hiện lệnh tổng động viên của Chính phủ kháng chiến, nhân dân cả nước hăng hái tham gia chiến đấu, quyết không sống chung với kẻ thù.
Với tinh thần nồng nàn yêu nước, căm ghét quân thù tột độ, tôi cũng hăm hở tòng quân. Sau khi nhận lệnh ở cơ sở, tôi được điều về Trung đoàn thủ đô, thuộc sư đoàn 308. Đây là một đơn vị có bề dày lịch sử hào hùng. Nhiệm vụ của trung đoàn là bảo vệ thủ đô, bảo vệ chính phủ và giúp bà con di tản về khu khắng chiến.
Là người nông dân, chỉ biết cày ruộng, làm vườn, chưa quen tay súng nhưng tôi không quản ngại gian nan. Chí làm trai trong cơn nguy biến phải vì nợ nước thù nhà mà anh dũng, can trường. Tiếp nối truyền thống cha ông, viết tiếp những trang lịch sử vẻ vang, hào hùng.
Dù chưa được luyện tập nhưng tôi rất tự tin. Cuộc chiến đấu sẽ dạy tôi làm điều đó. Lòng yêu nước vô hạn động viên tôi giữ chắc tay súng. Lòng yêu nước sẽ giúp tôi vững tâm trong cuộc chiến với kẻ thù hung bạo.
Vào cuối năm 1947, tôi tham gia chiến dịch Việt Bắc. Cùng tham gia chiến dịch còn có các đơn vị khác. Chúng tôi được phân công nhiệm vụ chiến đấu và ngăn chặn các cánh quân của địch tiến công lên khu căn cứ. Để hợp tác tác chiến hiệu quả, chúng tôi sáp nhập nhiều đơn vị với nhau, cùng hỗ trợ nhau trong nhiệm vụ và cuộc sống.
Ban ngày, chúng tôi vừa tổ chức hành quân truy kích quân địch. Ban đêm, đơn vị sẽ nghỉ ngơi lấy sức. Việc quân nơi rừng núi lúc nào cũng nghiêm ngặt. Tuy kẻ thù còn ở xa nhưng lúc nào chúng tôi cũng nâng cao cảnh giác, đề phòng cao.
Những người lính từ những quê hương xa lạ, cùng yêu nước, căm thù giặc đã tề tựu về đây trong một đơn vị. Thân với tôi có một chiến sĩ quê ở tận miền duyên hải. Quê hương anh nước mặn đồng chua, quanh năm gian khó. Anh mới gia nhập đơn vị sau tôi, trong đợt tuyển quân vừa rồi. Tôi đã vốn không biết gì về chiến trường, anh còn “ngây thơ” hơn cả tôi nữa. Nhìn nụ cười hồn nhiên còn vươn nét lãng mạn tôi thấy thương anh vô cùng.
Phải nói là chiến dịch vô cùng gian khổ. Thời gian đầu tổ chức kháng chiến, ta chưa có quân trang, quân dụng đầy đủ. Vũ khí cũng hết sức thô sơ. Lương thực, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác lại càng thiếu thốn. Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên người một bộ áo cánh. Đầu không có mũ, chân không có giày. Mỗi lần dẫm bàn chân trần trên lá khô tôi không khỏi rùng mình. Rừng Trường Sơn ma thiêng nước độ, thú dữ đã nhiều, rắn rết cũng vô kể. Hôm qua, một đồng chí đã dẫm phải con rắn hổ mang, bị cắn vào chân. Cái chân sưng vù lên khủng khiếp. Đơn vị vội tìm thầy lang trong làng để chữa trị. Tạm thời, đồng chí ấy phải ở lại cho đến khi vết thương lành hẳn.
Việc ăn uống cũng hết sức kham khổ vì đơn vị đang trên đường truy kích kẻ thù. Các chiến sĩ quân nhu chăm lo điều này cho chúng tôi dù đã cố gắng hết sức nhưng cũng không thể làm gì được trong tình thế này. Hiểu thế, nên chúng tôi không ai than vãn hay kêu ca điều gì.
Đêm ngủ nhiều khi phải rải lá khô để nằm, không có chăn màn, không chiếu. Cái lạnh rừng núi căm căm cắt vào da thịt chúng tôi. Để giữ ấm chúng tôi nằm sát cạnh nhau. Hơi ấm nhiều người lan tỏa khiến tôi càng mến yêu, càng khâm phục tinh thần hy sinh vì nước của các anh.
Sợ nhất là bệnh sốt rét rừng. Kẻ thù chúng tôi có thể chiến thắng, gian khổ chúng tôi có thể vượt qua nhưng những cơn sốt rét rừng tàn bạo cứ âm thầm bào mòn cơ thể chúng tôi. Đó là một căn bệnh khủng khiếp, là khó khăn lớn nhất mà chúng tôi luôn đối mặt. Đó là một kể thù vô hình đáng sợ.
Tôi cũng đã từng mắc phải căn bệnh ấy. Cơn sốt làm tôi run rẩy khắp người ê buốt. Mồ hôi cứ tuôn ra như tắm, ướt cả mấy lớp áo. Anh bạn ngồi lau cho tôi hết khăn này đến khăn khác, đôi mắt lo lắng như muôn khóc. Tôi mỉm cười động viên, anh cũng gượng cười.
Tưởng chừng mình sẽ ra đi như bao đồng chí khác. Nhưng thật may mắn, tôi đã vượt qua. Tôi vẫn sống nhờ sự chăm sóc tận tình của đồng chí, đồng đội. Lúc mê man bất tỉnh, đồng đội luôn ở cạnh tôi. Họ lo lắng, chăm sóc tôi từng chút một như chăm sóc cho một người thân. Họ dành tất cả thuốc men cho tôi. Khi vượt qua cơn nguy kịch, sức khỏe còn yếu, anh bạn tôi còn đi tìm bồi dưỡng cho tôi bằng món cháo thịt hoẵng thơm lừng mà anh vừa săn được.
Thật không thể diễn tả hết sự gắn bó, keo sơn thắm thiết tình đồng chí, đồng đội của chúng tôi. Chính nhờ sức mạnh ấy đã giúp chúng tôi vượt qua biết bao khó khăn gian khổ. Chính tình đồng đội thiêng liêng ấy đã giúp chúng tôi giữ vững tình thần chiến đấu, bám sát nhiệm vụ. Tình yêu thương, sự đồng cảm, cả lòng mến phục khiến chúng tôi xem nhau như anh em một nhà, cùng vào sinh ra tử bao trận chiến. Tình đồng đội sâu đậm kết tinh trong tình yêu nước thiêng liêng, là nguồn sức mạnh vĩnh hằng xuyên suốt trong trái tim người lính.
Những đêm cùng nhau canh gác, chúng tôi kể chuyện cho nhau nghe cho bớt đơn điệu. Anh bạn tôi kể lại ngày ra đi kháng chiến. Tuổi trẻ chưa bao giờ rời làng quê. Giờ xa cách muôn trung thấy nhớ vô cùng. Ngày ra đi đất trời đẫm lệ. Nhìn vợ dại con thơ, mẹ già sức yếu anh không nỡ đành lòng. Nhưng tổ quốc đang cần. Tổ quốc đang lâm nguy. Kháng chiến cần anh. Dân tộc đang cần anh. Gửi lại ruộng vườn nhờ bạn thân trong nom, cày xới, anh gạt nước mắt lên đường. Đêm ấy mưa rơi tầm tã. Ngồi trong xe mà những giọt nước mắt cứ ròng ròng chảy. Ôm chặt tay súng, anh hứa khi giặc giã đầu hàng, anh sẽ trở về.
Tôi lặng im, nhìn về phía xa xăm. Trên đỉnh núi, vầng trăng khuya cũng im lặng. Vầng trăng nghiêng nghiêng như treo trên đầu súng. Vâng trăng trầm mặc nghĩ ngợi, đồng cảm cùng con người. Ôi, cũng vầng trăng ấy đã sáng trên những đồng quê, trên những ruộng lúa. Vầng trăng thủy chung, son sắt ấy giờ cùng chúng tôi hành quân và chiến đấu. Trăng mãi mãi nghĩa tình với con người như chúng tôi mãi mãi kiên trung với quê hương đất nước.
Những đêm trăng rừng đằng đẵng. Những đêm trăng rừng rét buốt. Ẩn sau bóng tối là biết bao điều hiểm nguy, bất trắc. Nhưng bên cạnh tôi luôn có các anh. Bên cạnh tôi luôn có những người đồng đội đồng cam cộng khổ, thủy chung son sắt. Tôi tự hào khi có mặt ở đây. Tôi tự hào khi tham gia cuộc chiến đấu này. Tôi tự hào khi đứng cạnh các anh trong trận chiến đấu với kẻ thù.
Cuộc chiến nào chẳng có mất mất hy sinh. Nhiều đồng chí của tôi đã ngã xuống. Họ không chết. Họ hóa thân vào với đất nước, để bảo vệ mảnh đất thiêng liêng. Họ là những người anh hùng của thế kỉ. Tên tuổi của họ mãi mãi sẽ được tổ quốc vinh danh.
theo | Đóng vai người lính kể lại bài thơ Đồng Chí-Chính Hữu | 1,413 | |
Đóng vai người lính kể lại tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí
Hướng dẫn
Đóng vai người lính kể lại tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí
Bài làm
Chín năm là một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng
Tôi là một người lính từng tham gia kháng chiến chống Pháp. Câu thơ của Tố Hữu đã ghi lại thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mỗi khi đọc lên mọi cảm xúc lại dậy lại trong lòng khiến tôi bồi hồi khôn xiết. Phải chăng? Tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó là một trong những nguyên nhân góp vào chiến thắng tự hào dân tộc.
Chúng tôi đa số là những anh lính nông dân xuất thân từ những miền quê nghèo khó tôi hỏi bạn:
– Quê anh ở đâu
– Quê tôi ở vùng đồng bằng chiêm trũng ven biển khó làm ăn cày cấy lắm!
– Tôi cũng vậy. Quê tôi ở vùng đồi núi trung du nơi ” Chó ăn đá gà ăn sỏi” cây cối xác xơ nghèo khó.
Có lẽ vì vậy mà chúng tôi dễ xích lại gần nhau chăng? Chính sự đồng cảm giai cấp khiến con người trở lên gần gũi dễ cảm thông chia sẻ.
Không chỉ vậy chúng tôi còn chung lí tưởng nhiệm vụ rời bỏ tay cày tay quốc. Chúng tôi cầm súng bảo vệ chính quyền non trẻ, nền độc lập tự do vừa mới giành được. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của bác Hồ kính yêu chúng tôi từ mọi phương trời xa lạ tập hợp trong hàng ngũ quân đội cách mạng…
Ôi! Tiếng gọi thiêng liêng ” Đồng chí”!
Là đồng chí của nhau chúng tôi chia sẻ những tâm tư, nỗi niềm nhớ quê hương xuất thân từ giai cấp nông dân, với chúng tôi ruộng nương, gian nhà là những thứ quí giá nhất, giếng nước gốc đa là những gì thân quen nhất vậy mà chúng tôi đều bỏ lại. Tất cả ra đi vì nghĩa lớn. Anh bạn tôi tâm sự: Căn nhà không trống tuếch trồng toàng giờ đây lại thiếu vắng trụ cột gia đình nên càng trống vắng hơn giờ hết. Nhưng anh vẫn dứt khoát ra đi. Còn nước là còn nhà tất cả đều có chung suy nghĩ như vậy chẳng phải là thái độ vô tình bởi nếu vô tình chúng tôi chẳng nhận được nỗi nhớ của quê hương: Mẹ già, vợ trẻ, con thơ.
Là đồng chí của nhau chúng tôi còn chia sẻ những khó khăn thiếu thốn về quân trang quân phục động viên nhau vượt qua bệnh tật đó là những cơn sốt rét rừng tàn phá sức khỏe ghê ghớm lại thiếu thốn thuốc men. Tôi thì áo rách vai, anh thì quần có vài mảnh vá. Tôi thì chân không giày, anh thì đầu không mũ, giữa những cái lạnh của núi rừng Việt Bắc thế mà tất cả vẫn sáng lên nụ cười lạc quan sưởi ấm cả không gian giá buốt.
Đặc biệt hơn nữa, là đồng chí của nhau chúng tôi còn chia sẻ tình cảm bền chặt, chân thành nhất thông qua cái nắm tay thay cho mọi lời nói không ồn ào nhưng cái nắm tay chất chứa bao điều muốn nói: Nắm tay để truyền cho nhau hơi ấm. Sưởi ấm đôi bàn chân buốt giá, cao hơn là truyền cho nhau nghị lực để vượt qua mọi khó khăn hiểm nguy. Và đó còn là lời chào lời hứa hẹn lập công trước lúc vào trận đánh chúng tôi thấu hiểu chẳng cần nói thành lời. Ôi tình cảm keo sơn ấy khiến tôi xúc động mãi.
Nhưng có lẽ kỉ niệm về những đêm sát cánh trong chiến hào phục kích chờ giặc tới in đậm khó phai trong tâm trí tôi nhất. Thời tiết khắc nghiệt vô cùng sương muối giá rét đầu ngón chân ngón tay giá buốt như có kim châm. Thế mà tôi và đồng đội vẫn cầm chắc tay súng chủ động chờ giặc tới, cái tư thế vành đồng vách sắt đã làm mờ đi mọi khó khăn ác liệt. Đêm ấy là một đêm có trăng. Trăng lơ lửng ở trên cao cứ xuống thấp dần thấp dần có lúc tưởng như treo đầu mũi súng.
Cuộc chiến đã lùi xa hòa bình đã trở lại nhưng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã ghi một mốc son trong lịch sử vàng dân tộc. Mong rằng thế hệ trẻ hiện nay biết kế thừa truyền thống cha ông, học tập tốt xây dựng đất nước hùng cường dũng mạnh cảnh giác trước mọi âm mưu xâm lấn bờ cõi của kẻ thù. | Đóng vai người lính kể lại tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí | 798 | |
Đóng vai người lính lái xe kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Hướng dẫn
tại sao không coppy được bài vậy. | Đóng vai người lính lái xe kể lại Bài thơ về tiểu đội xe không kính | 23 | |
Đóng vai người lính trong bài thơ Ánh trăng kể lại câu chuyện
Hướng dẫn
Bài khá hay nhưng khúc đầu đọc hơi thiếu cảm xúc, bài mình thấy có nhiều chỗ vòn vấp, không được trôi chảy cho lắm, chưa diễn tả được tình cảm nhân vật, theo một cách nào đó, có thể nói là ch đc sâu vào nội tâm nv | Đóng vai người lính trong bài thơ Ánh trăng kể lại câu chuyện | 62 | |
Đóng vai người lính Tây Sơn kể lại cuộc hành quân thần tốc và những chiến công hiển hách của Quang Trung Nguyễn Huệ
Hướng dẫn
Bai viet hay | Đóng vai người lính Tây Sơn kể lại cuộc hành quân thần tốc và những chiến công hiển hách của Quang Trung Nguyễn Huệ | 27 | |
Đóng vai người vợ kể lại câu chuyện Giấu Cày lớp 3
Hướng dẫn
Chồng tôi được cái tính khỏe mạnh, thật thà, song khổ nỗi lại chẳng được khôn ngoan như người khác. Dù có chăm chỉ làm lụng, chịu thương chịu khó nhưng kết quả thu về lại chẳng là bao. Tôi đã nhiều lần khuyên nhủ mà bản tính khù khờ của anh ta chẳng thay đổi. Đấy, như hôm vừa rồi, anh ta lại làm mất cái cày. Kể ra thì anh ta thật là đáng trách.
Hôm ấy, anh ta bảo ra cày ruộng để trồng thêm mấy luống khoai. Tôi thấy anh đi từ sáng sớm mà trưa muộn vẫn chưa thấy về. Mặt trời đã lên đến đỉnh, tôi sợ anh mệt và đói liền chạy ra đồng gọi về ăn cơm. Vi còn con nhỏ ở nhà nên khi ra đến cánh đồng nhà tôi vội vàng gọi réo lên rồi trở về. Một lúc sau, anh lật đật về đến cổng. Thấy anh về tay không, tôi hỏi:
–Chiếc cày của mình hồi sáng mang đi làm đâu?
Anh hồn nhiên trả lời:
–ơ hay, vợ nó quên rồi à. Vừa nãy, ở dưới ruộng, tôi chả hét lên với minh là tôi giấu cày ở bụi rậm thì gì.
–Trời ơi, thế thì làm gì còn cày.
Không tin tôi, anh ta lại chạy ra ruộng xem. Lúc sau trở về, anh ta ghì sát vào tai tôi và nói rất nhỏ:
–Cày bị mất thật rồi!
Chồng ơi là chồng, đến nước này thì tôi còn chịu sao nổi!
Dàn ý: Các em càn trình bày được những chi tiết sau:
•Bác nông dân đang cày ruộng thì vợ gọi về ăn cơm.
•Vội quá, bác la to lên: "Để tôi giấu chiếc cày này vào bụi cây đõ."
•Khi bác ra tìm lợi, chiếc cày đỗ mốt.
•về nhà, bác thì thầm vào tai VỢ: "Chiếc cày bị mốt rồi."
Các em chú ý, vì nhập vai nhân vật người vợ nên lời kể xưng "tôi". Các em cần cho thấy suy nghĩ, cảm xúc của bà vợ trước sự ngốc nghếch, khờ dại của ông chổng.
Nguồn: | Đóng vai người vợ kể lại câu chuyện Giấu Cày lớp 3 | 353 | |
Đề bài: Đóng vai nhân vật Lang Liêu kể lại truyện Bánh chưng bánh giày
Bài làm
Ta là Lang Liêu, vốn là con trai thứ mười tám của vua Hùng. Gia đình ta rất nghèo. Vì mẹ mất sớm, nên một mình ta lủi thủi với ruộng vườn để làm ra hạt lúa, củ khoai nuôi thân. So với các hoàng tử khác, ta là kẻ ít được sự nuông chiều của vua cha. Cũng nhờ sự siêng năng cần cù mà ta luôn gặp may mắn, hạnh phúc trong cuộc đời.
Số là, một hôm cha gọi tất cả các con và triều để chầu, cha nói rằng lâu nay thấy người không được khoẻ, có thể cái chết đến ngày một ngày hai, nên người có ý định truyền ngôi báu. Vua cha phán rằng:
– Tới ngày lễ Tiên Vương, ai làm vừa lòng ta thì ta sẽ cho người ấy ngôi báu để tiếp tục xứng đáng sự nghiệp của tiền nhân.
Những hoàng tử anh em của ta mặt mày hồng hào, quần áo sang trọng hớn hở ra về. Còn ta, với bộ quần áo bạc phếch mưa nắng quê kệch trở về nhà trong nỗi buồn và những ý nghĩ rối như tơ. Biết làm sao đây khi trong tay chỉ có cái cày, mảnh ruộng và các thứ tầm thường của con nhà nông? Ta nhìn những cái vựa chứa lúa vàng óng, nhìn những bó hành củ và những miếng thịt heo ướp muối treo trên bếp mà lắc đầu chán nản. Ta không nghĩ tới và cũng không dám nghĩ tới ngôi báu của vua cha, nhưng ta chỉ sợ phụ lòng cha già, phụ lòng các đấng Tiên Vương mà ta kính quý.
Trong lúc các anh em đang lên rừng xuống biển tìm của ngon vật lạ thì ta trằn trọc suốt đêm này qua đêm khác. Một hôm, ta thiếp đi thì thấy thần hiện lên báo mộng. Thần nói với ta là lấy chính những sản phẩm mà mình làm ra để làm bánh. Thần bày cho làm hai thứ một loại hình vuông một loại hình tròn, bên ngoài là gạo nếp và bên trong là thịt mỡ, hành…
Đến ngày lễ, giữa khói nhang thơm lừng, trên bàn thờ của các đấng tiên Vương là biết bao thứ sơn hào hải vị, những nem công chả phụng. Toàn là những món quý hiếm mà chỉ có vua chúa mới được thưởng thức.
Vua cha nếm tất cả các món với thái độ điềm tĩnh, nhưng đến cái mâm gỗ sơn son của ta thì người cầm từng chiếc bánh lên và suy nghĩ rất lâu. Rồi người tươi tỉnh mặt mày gọi các quần thần lại chia mỗi người mỗi miếng. Ai cũng tấm tắc khen ngon. Vua cha của ta nói:
– Lang Liêu quả là người con có hiếu. Nó làm cái bánh tròn này là tượng trưng cho Trời, cái bánh vuông là tượng trưng cho Đất. Các thứ thịt mỡ, đậu, lá vông và nếp gạo đều là sản phẩm của Đất Trời. Lá vông bọc ngoài còn muôn nói đến sự đùm bọc, chắc nó nghĩ đến cái bọc trứng kì diệu mà ông bà tố Tiên Rồng của chúng ta đã đẻ ra.. Lang Liêu thật xứng đáng cho ta chọn đế đẹp lòng các vị Tiên Vương. À, ta cũng đặt tên hai loại bánh này là bánh chưng và bánh giày đó!
Ta đã nói đến các cháu về sự lên ngôi của ta như thế. Đứa cháu đích tôn đã nói với những đứa khác rằng:
– Các em hãy noi gương ông nội, ông lên ngôi không phải xuất thân từ một vị hoàng tử sung sướng mà từ nhưng người nông dân chăm chỉ làm lụng. Tuy ông nghèo nhưng tình cảm hiếu thảo với vua cha và các Tiên Vương thì thật là đáng quý. Chúng ta phải theo gương ông không phải ỷ thế con cháu nhà vua mà quên lao động, quên sống sao cho có đạo đức.
– Vậy là kể từ dạo đó, tết nào trong nhân dân cũng làm bánh chưng bánh giày hả ông? – Một cháu hỏi ta.
– Đúng vậy, kể từ hôm lên ngôi ta đã truyền trong dân gian tục lệ ấy – Ta nghiêm trang nói với các cháu ta những lời như thế! | Đóng vai nhân vật Lang Liêu kể lại truyện Bánh chưng bánh giày | 731 | |
Đề bài: Đóng vai nhân vật Lạc Long Quân kể lại chuyên Con Rồng Cháu Tiên
Bài làm
Ta là Lạc Long Quân con trai thần Long Nữ, dòng dõi ta thuộc nòi rồng. Chính vì vậy mà ta sống ở dưới nước, thỉnh thoảng ta lên cạn để giúp dân lành diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh và các loài yêu quái. Ta còn dạy cho dân chúng cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Khi ta xuất hiện trên cạn thì tất cả dân chúng đều rất kính trọng và khâm phục tài năng của ta.
Có lần, ta đã hoá phép giết chết năm loài quỷ quái, chuyên đi giết hại dân lành. Sau khi bọn quỷ quái bị ta giết, người dân ở vùng này vô cùng sung sướng, họ đã đem rất nhiều lễ vật quý báu đến dâng cho ta nhưng ta không hề nhận một thứ gì. Chính vì thế họ càng kính phục tin tưởng vào tài năng và tấm lòng nhân đức của ta. Mỗi khi làm xong việc ta lại trở về Thủy Cung và báo cáo với cha ta. Trước khi trở về Thuỷ Cung ta còn dặn lại dân chúng khi nào gặp tai ương, hoạn nạn thì xuống biển gọi ta lên giúp.
Một lần, ta đang cùng cha vui chơi dưới Thuỷ Cung, bỗng có tiếng kêu cứu của dân chúng. Ta vội vàng từ biệt cha lên đường. Khi ta xuất hiện, ta đã phải chứng kiến một cảnh thảm thương ở vùng núi phương Bắc. Đó là nạn Hồ Tinh, Mộc Tinh quấy nhiễu dân lành. Chúng ăn thịt biết bao người dân vô,tội nơi đây khiến xương trắng phơi đầy sau một quả núi to. Ta vô cùng căm phẫn đã truy tìm tới tận hang ổ của bọn Hồ Tinh và Mộc Tinh.
Ròng rã một tháng trời, ta mới quét sạch được lũ yêu ma này. Sau khi giết hết lũ Hồ Tinh và Mộc Tinh, cuộc sống của người dân ở vùng này lại trở lại bình yên. Để đền đáp công ơn của ta, họ đã mở hội ăn mừng to lắm: Bao nhiêu lễ vật họ đã dâng biếu cho ta cùng tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng trống và tiếng hò reo chào mừng chiến thắng náo động cả một vùng. Đã lâu nay ta mới cảm nhận được cuộc sống ở trên cạn có nhiều điều kì thú mà ở dưới Thuỷ Cung không có được. Cảnh núi non hùng vĩ với hoa lá chim muông thật đẹp và thơ mộng. Ta quyết định ở vùng này một thời gian để vãn cảnh. Thế rồi, vào một ngày đẹp trời, ta đang mải mê ngắm nhìn dòng sông chảy lững lờ quanh một sườn núi cỏ cây xanh biếc thì thấy xuất hiện một thiếu nữ xinh đẹp cùng các hầu nữ cũng đang hái hoa đuổi bướm dưới núi. Có lẽ vì mải mê với những bông hoa ven sườn núi mả nàng đã bị ngã. Không ngần ngại gì, ta vội chạy tới đỡ nàng lên. Sau một lúc trò chuyện ta đã biết được đó là nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Tiếng tăm của nàng ta đã được nghe đã lâu mà nay mới thấy. Ta đã đem lòng yêu thương nàng và nàng cũng yêu ta. Ta và nàng đã trở thành vợ chồng cùng chung sông ở cung điện Long Trang.
ít lâu sau, nàng có mang. Đến kì sinh, chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng; trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con chẳng cần bú mớm mà tự lớn như thổi, mặt mũi khôi ngô, khoẻ mạnh như thần. Thế rồi một hôm, ở dưới Thuỷ Cung có việc lớn, cha ta gọi về. Ta đành phải từ biệt nàng và đàn con về Thuỷ Cung, ở dưới đó cha ta đã già yếu nên rất cần ta ở lại giúp việc, nên ta chưa thể về ngay với nàng cùng các con.
Âu Cơ ở lại một mình nuôi con, tháng ngày chờ mong buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi ta lên mà than thở:
– Sao chàng bỏ thiếp mà di, không cùng thiếp nuôi các con?
Ta nói:
-Ta vốn nồi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở dưới nước kẻ ở cạn tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp dỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.
Nàng đã nghe lời ta, rồi ta chia tay nàng cùng năm mươi con xuống vùng biển. Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang.
Triều đình có tướng văn, tướng võ; con trai gọi là Lang, con gái gọi là Mị Nương; khi cha chết thì ngôi được truyền cho con trưởng, mười mấy đời truyền ngôi vua đều lấy tên hiệu là Hùng Vương, không hề thay đổi.
Mốì tình của ta và nàng Âu Cơ đã trở thành một sự tích đẹp lưu truyền trong dân gian. Mỗi khi nhắc đến nguồn gốc của mình người Việt Nam thường tự xưng mình là con Rồng cháu Tiên. | Đóng vai nhân vật Lạc Long Quân kể lại chuyên Con Rồng Cháu Tiên | 931 | |
Đóng vai nhân vật người em kể lại chuyện Cây khế – Văn 6
Hướng dẫn
Bài làm
Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân. Vì chăm chỉ làm lụng nên bố mẹ tội cũng có bát ăn bát để, hi vọng sau này cho anh em tôi làm vốn sinh nhai. Nhưng rồi cha mẹ tôi mất đột ngột. Anh trai tôi đã không làm như lời cha mẹ dặn trước lúc lâm chung là chia đều tài sản cho hai anh em mà chiếm hết gia tài, chỉ để lại cho tôi một túp lều nhỏ và cây khế còi cọc ở góc vườn.
Tôi chấp nhận mà không hề kêu ca, than phiền gì. Hằng ngày, tôi phải mò cua bắt ốc, cày thuê, cuốc mướn để sống. Cây khế trở thành tài sản quý giá nhất và là người bạn thân thiết của tôi. Tôi chăm sóc nó chu đáo, tận tình như người bạn. Vì vậy mà cây khế lớn rất nhanh và chẳng bao lâu đã ra hoa kết quả. Đến mùa khế chín, những chùm khế chín vàng óng, thơm lừng báo hiệu một mùa khế bội thu. Không thể nào nói hết được niềm hạnh phúc của mọi người trong gia đình tôi. Tôi đã đan những chiếc sọt để ngày mai đem khế ra chợ đổi lấy gạo. Sáng hôm đó, khi vừa thức dậy, tôi đã nhìn thấy trên cây khế có một con chim to với bộ lông sặc sỡ đang ăn những quả khế chín. Lòng tôi đau như cắt. Tôi chạy đến dưới gốc cây và nói: “Chim ơi! Ngươi ăn khế của ta thì gia đình ta biết lấy gì để sống?”. Chim bỗng ngừng ăn và cất tiếng trả lời: “Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi và đựng”. Nói rồi chim bay đi. Tôi không tin lắm vào chuyện lạ lùng đó nhưng vẫn bảo vợ may cho mình một chiếc túi ba gang. Sáng hôm sau, chim đến từ sớm và đưa tôi ra một hòn đảo nhỏ giữa biển. Tôi không thể tin vào những gì hiện ra trước mắt. Cả hòn đảo toàn vàng bạc châu báu chất đống. Cả hòn đảo ánh lên màu vàng làm tôi bị lóa mắt. Không hề có một bóng người. Tôi cảm thấy lo sợ, cứ đứng yên một chỗ. Nhưng rồi chim vỗ cánh và giục giã: “Anh hãy lấy vàng bạc, châu báu vào túi, rồi tôi đưa về.” Lúc đó tôi mới dám nhặt vàng cho vào đầy túi ba gang rồi lên lưng chim để trở về đất liền.
Từ đó, gia đình tôi không còn phải ăn đói mặc rách nữa. Tôi dựng một căn nhà khang trang ngay trong khu vườn, nhưng vẫn giữ lại túp lều và cây khế.
Tôi dùng số của cải đó chia cho những người dân nghèo khổ trong làng. Cũng không hiểu sao từ bữa đó, chim không còn đến ăn khế nữa. Cây khế bây giờ đã to lớn, toả bóng mát xuống cả một góc vườn. Mùa khế nào tôi cũng chờ chim thần đến để bày tỏ lòng biết ơn.
Tiếng lành đồn xa, câu chuyện lan đến tai người anh trai tôi. Một sáng, anh đến nhà tôi rất sớm. Đây là lần đầu tiên anh tới thăm tôi kể từ ngày bố mẹ mất. Anh đòi tôi đổi toàn bộ gia sản của anh lấy túp lều và cây khế. Tôi rất buồn khi phải chia tay với căn nhà và cây khế. Nhưng trước lời cầu khẩn của anh, tôi đành bằng lòng. Cả gia đình anh chuyển về túp lều cũ của tôi. Ngày nào anh cũng ra dưới gốc khế chờ chim thần đến. Mùa khế chín, chim cũng trở về ăn khế. Vừa thấy chim, anh tôi đã khóc lóc, kêu gào thảm thiết và đòi chim phải trả vàng. Chim cũng hứa sáng mai sẽ đưa anh tôi ra đảo vàng và dặn may túi ba gang. Tối hôm đó, anh tôi thức cả đêm để may túi mười gang ngày mai đi lấy vàng. Sáng hôm sau, vừa ra tới đảo vàng, anh tôi đã hoa mắt bởi vàng bạc châu báu của hòn đảo. Anh tôi vội nhét vàng vào đầy túi mười gang, vào túi quần, túi áo và mồm cũng ngậm vàng nữa. Trên đường trở về nhà, chim nặng quá, kêu anh tôi vứt bớt vàng xuống biển cho đỡ nặng. Vốn tính tham lam, anh không những không vứt bớt xuống mà còn bắt chim bay nhanh hơn. Nặng quá, chim càng lúc càng mệt. Đôi cánh trở nên quá sức, yếu dần. Cuối cùng, không còn gắng được nữa, chim chao đảo rồi hất luôn người anh xuống biển cùng với số vàng. | Đóng vai nhân vật người em kể lại chuyện Cây khế – Văn 6 | 809 | |
Đóng vai nhân vật Thánh Gióng kể lại truyện Thánh Gióng – Văn 6
Hướng dẫn
Bài làm
Có lẽ bất kì người dân Việt Nam nào cũng nhớ tới tôi: Thánh Gióng – một trong những tứ bất tử của dân tộc. Cả cuộc đời của tôi là một câu chuyện huyền thoại hay chính bước đi cuả lịch sử đã huyền thoại hoá tất cả!
Bố mẹ tôi cũng là những người dân Việt bình thường như biết bao nhiêu người khác. Thậm chí, họ còn không được hưởng niềm hạnh phúc bình thường bởi họ đã về già mà vẫn không có nổi một mụn con. Ngày nào bố mẹ tôi cũng cầu trời khấn Phật cho họ một đứa trẻ để vui cửa vui nhà, động viên họ lúc tuổi đã xế chiều. Hình như trời Phật đã thấu hiểu mơ ước của hai vợ chồng. Một hôm, mẹ tôi đi làm đồng về muộn, bà phát hiện ra một dấu chân lạ. Nó có độ lớn khác thường. Tò mò, bà đặt chân ướm thử. Không ngờ, về nhà, bà lại thụ thai. Nhưng thật kì lạ, cái thai đã qua chín tháng mười ngày mà vẫn không chịu ra. Ở trong bụng mẹ, tôi thấu hiểu hơn ai hết nỗi lo lắng của cha mẹ tôi. Đúng mười hai tháng sau tôi mơi ra đời. Ngày tôi chào đời, những giọt nước mắt hạnh phúc đã lăn dài trẽn gương mặt nhăn nheo của cha mẹ. Theo thời gian tôi cứ lớn lên. Nhưng ki lạ thay đã ba năm trôi qua mà tôi vẫn không biết nói biết cười, không biết bò chứ chẳng nói đến biết đi như những đứa trẻ bình thường khác. Suốt ngày tôi chỉ trơ trơ nằm ở giường. Niềm vui lại tắt ngấm trong căn nhà nghèo khổ của cha mẹ tôi. Hai ông bà nhìn nhau thở dài không nói. Nhưng họ không nỡ vứt bỏ đứa con mà họ ao ước cả cuộc đời. Hai ông bà vẫn nhịn ăn, nhịn mặc lấy tiền nuôi tôi. Hàng xóm láng giềng nhìn tôi không khỏi ái ngại cho ông bà già tuổi đã gần đất xa trời. Nhưng họ vẫn hết lòng động viên, an ủi.
Năm ấy, giặc Ân sang xâm lược bờ cõi nước ta. Thế giặc rất mạnh, đất nước đang trong thế ngàn cân treo sợi tóc. Khắp mọi ngõ ngách trong làng, ai ai cũng lo sợ. Nhà vua không còn cách nào khác là cho sứ giả đi khắp nơi tìm người hiền tài giúp nước. Qua biết bao vùng đất làng quê mà người hiền tài vẫn vắng bóng. Sứ giả đù rất buồn nhưng vẫn khộng nản bước. Rồi ngài cũng dừng lại ở làng quê hẻo lánh mà nhỏ bé của làng chúng tôi. Vừa nghe tiếng loa thông báo ngoài đình, cậu bé mà bao năm nay không biết nói biết cười bỗng chốc cất tiếng nói làm cha mẹ tôi hoảng hốt bất ngờ và lo sợ. Tôi gọi mẹ đi tìm sứ giả vào cho tôi. Mẹ tôi bước đi mà trong lòng không hết bối rối. Bỗng nhiên lúc đó, tôi cảm nhận được sự thay đổi lớn lao trong mình. Tôi bỗng chốc trở thành một con người khác hẳn. Tôi thấy được sự trưởng thành ghê gớm trong mình. Tiếng nói đầu tiên không phải là tiếng nói bình thường như bao đứa trẻ khác mà tiếng nói của lòng yêu nước. Khi sứ giả vào, ông không tin nổi mắt mình khi một đứa trẻ lên ba vẫn còn ngồi trên giường xin đi đánh giặc. Tôi nói với sứ giả: “Ông về tâu với nhà vua đúc cho ta một con ngựa sắt, một áo giáp sắt, một roi sắt ta sẽ đánh tan lũ giặc này”. Khi nghe câu nói này của tôi, sứ giả như tìm được một niềm tin nơi tôi. Ông trở về kinh thành ngay. Những ngày sau đó, cả làng tôi ai cũng bận rộn. Từ hôm sứ giả trở về tôi ăn khoẻ khác thường. Ba nong cơm, chín nong cà. Cha mẹ không đủ thóc gạo nuôi tôi. Mọi nhà không ai bảo ai đều mang thóc gạo, ngô khoai đến cho cha mẹ tôi. Ai cũng mong tôi ăn thật nhiều để lấy sức giết giặc. Những ngày đó ở kinh đô, trong các xưởng rèn, những người thợ ngày đêm rèn binh khí theo lời dặn của tôi. Giặc tiến tới đâu, cả dân tộc tôi ngày đêm hừng hực tinh thần giết giặc đến đó. Rồi cũng đến ngày sứ giả mang binh khí đến. Tôi đứng dậy, vươn vai và trong phút chốc trở thành một tráng sĩ khôi ngô, tuấn tú, dũng mãnh vô song. Mọi người không khỏi ngạc nhiên và vui mừng. Tôi mặc áo sắt, đội mũ sắt, tay cầm roi sắt nhảy lên mình con ngựa bằng sắt. Chú ngựa vô hồn trong nháy mắt đã tung vó, hí vang. Tôi tạm biệt cha mẹ, tạm biệt dân làng dẫn quân đi giết giặc. Đoàn quân hùng hậu tiến ra trận trong hào khí ngút trời. Chúng tôi đi tới đậu, giặc chết tới đó. Tôi phi ngựa, vung roi quật lũ giặc. Ngựa hí vang phun ra lửa thiêu đốt quân thù. Giặc chết như ngả rạ. Bỗng roi sắt gãy, tôi nhổ những cụm tre đằng ngà bên đường tiếp tục đánh giặc. Quân giặc hoảng sợ, tháo chạy. Thừa thắng, quân ta xông lên, đuổi lũ giặc ra khỏi bờ cõi. Đất nước trở lại thanh bình. Tôi không kịp trở về nhà tạm biệt mẹ. Đó là nỗi buồn mà có lẽ không bao giờ nguôi ngoai trong lòng tôi. Tôi phi ngựa lên đỉnh núi cao của làng rồi cởi bỏ lại áo giáp sắt, mũ sắt, cúi lạy quê hương rồi một người một ngựa từ từ bay về trời. | Đóng vai nhân vật Thánh Gióng kể lại truyện Thánh Gióng – Văn 6 | 999 | |
Đóng vai nhân vật Tấm kể truyện đời mình
Hướng dẫn
Đóng vai nhân vật Tấm kể truyện đời mình
Vậy là mọi chuyện đã qua. Từ một cô Tấm nghèo khổ, thiếu thốn, trải qua bao nhiêu gập ghềnh sóng gió, nay tôi cũng đã được thỏa lòng với ngôi vị Hoàng Hậu bên cạnh nhà vua đầy uy quyền, lộng lẫy.
Mẹ tôi mất sớm, cha lấy dì ghẻ về. Những tưởng dì sẽ thay mẹ yêu thương chăm sóc cho tôi nhưng ngược lại, bà ấy dành cho tôi tất cả những gì ác độc nhất. Ngày qua ngày, tôi sống trong buồn tủi, khổ sở. Bà chỉ quan tâm, yêu thương một mình Cám thôi. Thân phận làm chị nên cái gì tôi cũng nhường cho em. Thế nhưng, em cũng đâu có yêu thương gì tôi. Ngày dì sai hai chị em ra đồng bắt cá, Cám mải chơi đã lừa tôi lấy hết cá của tôi. Lúc ấy, tôi rất buồn. Trong lòng nhớ mẹ vô cùng, chỉ mong sao mẹ vẫn còn sống, vẫn có thể dỗ dành mỗi khi tôi khóc. Tôi biết điều đó là không thể vì mẹ đã ra đi vĩnh viễn rồi. Nhưng đúng lúc tuyệt vọng nhất, Bụt đã hiện ra giúp đỡ tôi. Người bảo tôi xem còn lại gì trong giỏ không. Quả thật, còn lại một con cái bống. Bụt lại bảo hãy đem về nuôi, ngày ngày mang cơm cho bống ăn, gọi bống bằng những câu hát
“Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”
Tôi làm theo lời Bụt dạy. Nhưng rồi vào một ngày đẹp trời. Tôi hát đi hát lại mấy lần mà không thấy Bống lên ăn như mọi khi. Thiết nghĩ có điều chẳng lành đã xảy ra. Quả đúng như vậy, một cục máu nổi lên từ dưới giếng. Tôi giật mình phát hiện ra Bống đã chết. Hóa ra, mẹ con Cám đã ở nhà ngấm ngầm theo dõi tôi, nhân lúc tôi đi vắng bắt Bống lên làm thịt. Quá buồn tủi, tôi chỉ biết khóc thôi. Bụt lại hiện lên bảo tôi hãy lấy xương bống chôn vào bốn chân giường. Tôi không biết chôn để làm gì nhưng cứ làm theo lời bụt bảo. Vì tôi tin rằng những điều Bụt dặn chắc chắn có ý nghĩa quan trọng.
Biến thành chim thì bị giết, Bụt lại cho tôi hóa thành hai cây xoan đào, mọc ở đúng chỗ Cám vứt lông chim. Ngày ngày nhà vua mắc võng nằm dưới gốc cây hóng gió, thư giãn. Tôi chỉ biết xòe những tán lá của mình xuống che mát cho vua. Chỉ mong vua có thể hiểu được tấm lòng của tôi. Nhưng làm sao vua có thể hiểu được cây chứ. Vua thấy cây mát thì ngày ngày ra nằm. Cám lại tức giận sai người chặt cây làm khung cửi. Lần này, trực tiếp Cám ngồi dệt nên tôi không có cơ hội gần vua nữa. Trong lúc dệt vải, tôi lên tiếng dạo cám:
“Cót ca cót két
Lấy tranh chồng chị
Chị khoét mắt ra”
Cám sợ quá, lại về nhà mách mẹ. Dì bảo đốt quách khung cửi rồi đổ tro ra thật xa cho yên tâm. Họ tưởng làm vậy là tôi đã biến mất vĩnh viễn. Nhưng ở đời, mọi chuyện đâu có dễ dàng vậy. Bụt lại cho tôi được làm cây thị. Mà trên cây chỉ ra duy nhất một trái. Ngày nọ, một bà cụ đi qua thấy thị thơm, tôi hiểu ý bà nên rơi vào bị bà, theo bà về nhà. Thấy bà hiền lành, tốt bụng nên ngày ngày tôi chui từ quả thị ra nấu nướng, dọn dẹp đỡ cho bà. Bà thấy điều lạ sinh nghi. Một hôm, tôi đang nấu nướng thì bà chợt quay trở về nhà và bắt gặp tôi. Bà chợt nhận ra sự thật và vội vàng xé vụn vỏ thị để tôi không chui vào đó nữa. Từ đó, hai bà cháu sống với nhau rất đầm ấm.
Giờ đây, mọi chuyện đã qua. Mẹ con Cám cũng đã phải trở về cuộc sống của mình. Có lẽ họ cũng đã biết ân hận, biết nhận ra lỗi lầm của mình. Tôi cũng chỉ mong sao họ không còn làm điều gian ác nữa. Còn tôi cũng sẽ cố gắng làm tròn bổn phận của một vị Hoàng Hậu nhân từ, tốt bụng, đem hạnh phúc đến cho muôn dân. | Đóng vai nhân vật Tấm kể truyện đời mình | 757 | |
Đề bài: Đóng vai nhân vật Âu Cơ kể lại câu chuyện Con Rồng Cháu Tiên
Bài làm
Ngày ấy, ở núi rừng phía bắc, trong dòng họ thần Nông, ta được xem là một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần. Cha mẹ đã đặt tên ta là Âu Cơ.
Quanh vùng nhiều chàng trai tài giỏi đã đến cầu hôn, nhưng chưa ai chiếm được tình cảm của ta. Cha mẹ ta ngày đêm khuyên bảo: Con đÃ, đến tuổi phải lấy chồng, cha mẹ không ép nhưng trong số các chàng trai, đến cầu hôn, con hãy chọn lấy một người. Vì thương cha mẹ, nhiều đêm ta không thể' ngủ được vì chẳng biết chọn ai trong khi mình không yêu chàng nào trong số họ. Cuộc sống trôi đi thật tẻ nhạt, ta nghe người ta đồn rằng, ở vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bèn xin cha mẹ đến đó tham quan.
Vào một buổi sáng đẹp trời, ta đang dạo trên bờ biển sạch đẹp vô cùng, từng đợt sóng xô bờ tung lên trắng xoá. Chẳng cần suy nghĩ gì, ta đã chạy xuống biển để đùa cùng sóng. Sóng biển cùng những làn gió mát lạnh đã làm ta quên hết những buồn phiền, lo âu. Ta cùng các hầu nữ cứ thoả thích đẫm mình, giỡn đùa cùng nhau trên biển. Chẳng biết từ lúc nào những đợt sóng đã đưa chúng ta ra quá xa bờ. Đến lúc tất cả đều mệt mỏi thì không có cách nào để vào bờ được, chỉ còn cách kêu cứu, tiếng kêu vang vọng cả một vùng. Thế rồi, trong nháy mắt, xuất hiện một chàng trai mình rồng, sức khoẻ vô địch, thần dùng phép lạ đã nhanh chóng đưa tất cả vào bờ. Sau khi trấn tĩnh lại, ta mới nói với chàng: Chàng ơi! Nhờ ơn chàng cứu nạn. Trước khi báo đáp ơn chàng thiếp muốn chàng cho biết họ tên quê quán. Nghe nói đên ơn huệ, chàng nói với tôi giúp người, cứu nạn, diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, quý quái là việc chàng vẫn thường làm. Chàng là một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long nữ tên là Lạc Long Quân, sống ở dưới nước. Thỉnh thoảng chàng lên cạn diệt trừ yêu quái bảo vệ dân lành, dạy cho dân biết cách trồng trọt, chăn nuôi cách ăn ở. Xong việc chàng lại về Thuỷ Cung với mẹ.
Thế rồi một ngày không xa, chàng đã tìm đến và cầu hôn với ta. Ta vô cùng vui sướng vì ước mơ của mình đã trờ thành hiện thực. Cha mẹ ta cũng rất hài lòng vì Lạc Long Quân là một chàng trai tài giỏi thật xứng đôi với ta. Cha mẹ đã chọn ngày lành tháng tốt tổ chức cho chúng tôi một đám cưới linh đình. Sau đó hai vợ chồng ta về sống ở cung điện Long Trang.
ít lâu sau, ta có mang. Đến kỳ sinh, thật kỳ lạ ta sinh ra một cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra trăm người con hồng hào đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khoẻ mạnh như thần.
Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở dưới nước không quen sống mãi ở trên cạn được nên đành từ biệt mẹ con ta để trở về thuỷ cung. Ở lại một mình cùng đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Ta liền gọi chàng lên mà than răng:
– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con?
Chàng nói:
– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình, tập quán khác nhau khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.
Nghe chàng nói cũng có lí tôi cùng các con nghe theo. Thế rồi chúng tôi chia tay nhau lên đường.
Người con trưởng theo tôi được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ, con trai vua gọi là Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, khi cha chết thì truyền ngôi cho con trưởng, mười mấy đời truyền ngôi vua đều lấy hiệu là Hùng Vương. Không hề thay đổi. Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta – con cháu Vua Hùng – khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường xưng là con Rồng Cháu Tiên. | Đóng vai nhân vật Âu Cơ kể lại câu chuyện Con Rồng Cháu Tiên | 817 | |
Đóng vai Pê-nê-lốp kể lại cuộc hội ngộ với Uy-lít-xơ
Hướng dẫn
Đóng vai Pê-nê-lốp kể lại cuộc hội ngộ với Uy-lít-xơ
Hai mươi năm, một khoảng thời gian quá dài cho những biến cố của cuộc đời nối tiếp nhau. Hai mươi năm, ta sống trong nhung nhớ cùng sự dày vò về sự biến mất của Uy-lít-xơ – chồng ta. Chàng đã ở đâu, làm gì, đã sống những ngày tháng như thế nào trong suốt hai mươi năm đầy bão táp ấy? Nay chàng trở về, có thật là chàng đã trở về? Hay lại là một kẻ xấu xa nào đó đến đây mạo danh chàng nhằm chiếm đoạt tài sản và cả gia đình của chàng? Việc này đã không ít lần xảy ra rồi.
Uy-lít-xơ của ta, chàng là một đấng anh hùng rất xứng danh, một người chồng rất mực thủy chung và hết lòng yêu vợ thương con. Chàng đi ta ngày đêm mong nhớ. Nhưng giữa thế giới này, có biết bao nhiêu kẻ rình rập muốn thay thế vào vị trí của chàng. Bọn chúng vì của cải, vì uy quyền của chàng, của gia đình ta nên sẽ không từ mọi thủ đoạn. Ta phải thật cẩn thận. Không thể vì một phút yếu lòng mà tạo cơ hội cho kẻ xấu đoạt được điều mình muốn.
Ngoài kia, cả thảy 108 kẻ đến cầu hôn ta. Tất cả bọn chúng đều đã bại dưới tay chàng. Chàng đúng là mạnh thật. Nhưng chưa thể chỉ dựa vào đó mà kết luận rằng đó chính là Uy-lít-xơ chồng ta được. Hai mươi năm, đâu có thể dễ dàng như thế này. Hỡi nhũ mẫu A-ri-cle hiền thảo của ta, nếu thực sự đây là chàng thì ta và con trai chúng ta sinh ra kia sẽ sung sướng xiết bao. Nhưng ta sẽ có cách thử lòng chàng. Uy-lít-xơ đầy trí tuệ và anh minh của ta hẳn sẽ không trách móc ta đâu.
Đúng rồi, chiếc giường. Chỉ có duy nhất một mình chàng biết về bí mật của chiếc giường. Chính tay chàng đã làm nên nó. Thế nên, khi ta bất ngờ nhắc đến chiếc giường, chàng liền phản ứng ngay: “Nếu không có thần linh giúp đơz thì dù là người tài giỏi nhất cũng khó lòng làm được việc này…”. Chiếc giường vẫn còn đó, và những gì chàng nói ra khiến ta không thể không tin đây chính là người chồng yêu quý đã mất tích suốt hai mươi năm của mình. Chao ôi! Đây là chàng đấy ư! Uy-lít-Xơ của ta. Ta mong nhớ chàng nhưng không dám nghĩ sẽ có ngày hôm nay. Chàng trở về trước mắt ta, không những không tiều tụy rách rưới mà còn đẹp như một vị thần. Lòng ta sung sướng xiết bao.
“Uy-lít-Xơ, xin chàng chớ giận thiếp, vì xưa nay chàng vẫn là người nổi tiếng khôn ngoan. Ôi! Thần linh đã dành cho hai ta một số phận xiết bao cay đắng vì người ghen ghét ta không muốn cho ta được sống vui vẻ bên nhau, cùng nhau hưởng hạnh phúc của tuổi thanh xuân và cùng nhau đi đến tuổi già bạc đầu…” Đến giây phút này ta chỉ biết ôm chàng mà khóc thôi. Chàng cũng vậy. Tình cảm bao lâu bị trôi dạt lênh đênh ở chốn xa xôi, nay hội tụ cũng là lúc hai ta đã già. Hai mươi năm minh chứng cho lòng chung thủy của cả hai. Dù khó khăn thế nào chàng cũng đã trở về. Còn ta, khi chàng vắng mặt, dù có bao nhiêu kẻ đến cầu hôn cũng chẳng thể làm lòng ta lay chuyển. Nỗi nhớ thương ngày qua ngày gặm nhấm tuổi thanh xuân. Dù cô đơn, dù buồn tủi, lòng ta vẫn nguyên vẹn dành cho mình chàng thôi. Hai mươi năm tưởng chừng như ta vĩnh viễn không bao giờ được gặp lại người chồng yêu quý của mình nữa. Nhưng giờ đây, sự thật ấy đang diễn ra ngay trước mắt ta. Là sự thật chứ không phải mơ. | Đóng vai Pê-nê-lốp kể lại cuộc hội ngộ với Uy-lít-xơ | 687 | |
Đóng vai Thánh Gióng em hãy kể lại câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân
Hướng dẫn
Thánh Gióng là truyền thuyết về tấm gương đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc. Thánh Gióng là nhân vật trung tâm của truyền thuyết, bằng tài năng và sức mạnh hơn người, Thánh Gióng đã đánh đuổi hết giặc Ân rồi bay về trời. Em hãy đóng vai Thánh Gióng và kể lại câu chuyện của mình sau khi đánh đuổi giặc Ân.
Dưới đây là dàn ý và bài văn tham khảo hay nhất cho đề bài đóng vai Thánh Gióngvà kể lại câu chuyện sau khi đánh giặc Ân. Các bạn hãy cùng tham khảo để có thêm những thông tin thú vị nhất nhé!
I. Dàn ý cho đề bài đóng vai Thánh Gióng kể lại câu chuyện đánh giặc Ân
1. Mở bài cho đề đóng vai Thánh Gióng em hãy kể lại câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân
Giới thiệu về lai lịch của bản thân và câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân.
2. Thân bài cho đề đóng vai Thánh Gióng em hãy kể lại câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân
-Kể lại diễn biến sau khi về trời
– Sự đón tiếp của Ngọc Hoàng.
– Kể lại cho Ngọc Hoàng về hành trạng của bản thân khi ở chốn nhân gian.
-Đầu thai vào gia đình vợ chồng ông lão mặc dù vô cùng lương thiện, tốt bụng nhưng vẫn không có con.
-Sau đó vì đã đầu thai nên đã quên đi những chuyện trước đây, cho đến khi nghe thấy tiếng loa của sứ giả tìm người giết giặc, mới sực tỉnh cất lên tiếng nói đánh đuổi giặc ngoại xâm.
-Lớn nhanh như thổi và ra trận giết giặc.
-Cảm xúc khi nghĩ gì những gì đã diễn ra ở trần gian
– Luôn nhớ về trần gian.
– Sự vui mừng khi được vua phong là “Phù Đổng Thiên Vương” và biết đến lòng biết ơn, kính trọng của nhân dân dành cho mình, luôn dõi theo những cuộc thi được tổ chức hằng năm tại đình làng Gióng.
3. Kết bài cho đề đóng vai Thánh Gióng em hãy kể lại câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân
Cảm xúc vui mừng khi chứng kiến cuộc sống yên bình ở trần gian của nhân dân.
II. Bài tham khảo cho đề đóng vai Thánh Gióng em hãy kể lại câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân
Từ những sự thật lịch sử cùng khối óc sáng tạo của tác giả dân gian, những câu chuyện truyền thuyết li kì, hấp dẫn đã ra đời. Quê hương của ta chính là xứ sở của thế giới truyền thuyết mang đầy màu sắc thần kì đó. Xin tự giới thiệu, ta là Thánh Gióng- người đã đánh đuổi giặc Ân xâm lược. Hôm nay ta sẽ kể lại câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân, để hoàn thiện bức tranh về hành trang của chính mình.
Sau khi đánh tan bè lũ giặc Ân xâm lược, ta đã bay lên đỉnh núi, cởi áo giáp sắt bỏ lại và từ từ bay lên trời, bởi vì ta đã hoàn thành xong sứ mệnh mà Ngọc Hoàng giao phó, giúp đỡ nhân dân nước Văn Lang bảo vệ bờ cõi trước bước chân xâm lược. Vừa bước chân lên trời, ta đã thấy Ngọc Hoàng cùng các vị thần khác đang mở yến tiệc để tiếp đãi ta. Ta vốn không phải là một người phàm thông thường, mà là một vị thần được Ngọc Hoàng phái xuống nhân gian. Sau khi gặp Ngọc Hoàng, ta vội bẩm tấu những gì đã diễn ra:
– Ngọc Hoàng vạn tuế! Đúng như người dự đoán, sau khi con xuống đầu thai ở trần gian ba năm thì giặc Ân đã sang xâm lược nước Văn Lang. Thần đã đầu thai vào gia đình của một vợ chồng ông lão, và chờ đợi thời cơ để cất lên tiếng nói đánh đuổi ngoại xâm.
Ngọc Hoàng vội đỡ ta đứng dậy và ân cần hỏi:
– Nhân gian có vô vàn gia đình, vậy thì tại sao ngươi lại chọn vợ chồng ông lão làm bố mẹ của mình?
Ta đã thành thực trả lời:
– Trong suốt quá trình vi thần tìm hiểu trước cuộc sống nhân gian, thần được biết vợ chồng ông lão mặc dù vô cùng lương thiện, tốt bụng nhưng vẫn không có con. Vì thế thần chọn đầu thai vào người mẹ để ban cho họ niềm vui lúc tuổi già. Sau đó vì đã đầu thai nên thần đã quên đi những chuyện trước đây, cho đến khi nghe thấy tiếng loa của sứ giả tìm người giết giặc, thần mới sực tỉnh nhớ lại lời căn dặn của Ngọc Hoàng. Từ hôm đó, thần đã ăn uống thật nhiều để khôi phục lại hình dáng. Và sau khi đuổi hết giặc Ân xâm lược, đến chân núi Sóc Sơn, thần vội vã quay trở về thiên đình.
Lúc đó Ngọc Hoàng đã tấm tắc khen ngợi ta. Trở về chốn thiên cung- nơi mà ta gắn bó mấy trăm năm qua nhưng lòng ta vẫn không nguôi nhớ về làng Gióng- quê hương thứ hai của ta ở hạ giới.
Ta nhớ làng quê dù chỉ sinh sống tại đó ba năm vì sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ, và sự bao bọc giúp đỡ của dân làng. Khi ta nghe lời truyền của sứ giả và nhớ ra sứ mệnh của mình, ta đã ăn rất nhiều để trở về hình hài cao lớn, vạm vỡ ban đầu, nhưng vì gia đình quá nghèo nên không đủ cơm cho ta ăn, và lúc đó dân làng đã chung tay góp sức, sẵn sàng cung cấp lương thực cho ta ăn. Ta thầm biết ơn miền quê nghèo nhưng chan chứa tình người và giàu lòng yêu nước đã tiếp thêm cho ta sức mạnh để đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Sau đó, vì quá nhớ quê hương, ta đã đứng trước cổng thiên cung trông về hạ giới và được biết rằng vua Hùng đã phong ta tước hiệu Phù Đổng Thiên Vương, nhân dân biết ơn đã lập đền thờ cúng ta. Và họ vẫn luôn nhớ về những bụi tre ngà mà ngựa sắt của ta đã phun lửa và những ao hồ do vết chân ngựa để lại. Điều làm ta cảm thấy vui mừng nhất là khi biết rằng hằng năm, vào ngày mồng tám tháng tư, tại làng quê mà ta đầu thai, luôn tổ chức hội kỉ niệm rất linh đình và trang trọng, gọi là hội thi “Phù Đổng Thiên Vương”. Vì nội quy thiên đình quá nghiêm ngặt nên ta không thể quay về nhân gian khi chưa được sự cho phép của Ngọc Hoàng, nhưng ta vẫn luôn dõi theo những cuộc thi đó từ lúc tễ lễ đến những trò chơi dân gian như đánh trận giả, màn múa hát của nhân dân.
Dù thời gian trôi qua đã lâu nhưng ta vẫn không thể quên được quê hương nơi trần gian. Giờ đây, khi chứng kiến cảnh nhân dân được sống cuộc sống ấm no, yên ổn, ta cảm thấy rất vui vì đã bảo vệ hai chữ “hòa bình”. | Đóng vai Thánh Gióng em hãy kể lại câu chuyện mình sau khi đánh đuổi giặc Ân | 1,230 | |
Đóng vai Thúy Kiều kể lại đoạn trích Cảnh Ngày Xuân
Hướng dẫn
Đóng vai Thúy Kiều kể lại đoạn trích Cảnh Ngày Xuân
Bài làm
Mùa xuân là mùa tươi trẻ mùa của tình yêu sự sống Vương Thúy Kiều tôi cùng hai em Thúy Vân, Viên quan náo nức chảy hội mùa xuân tham dự lễ tảo mộ và vui hội đạp thanh ôi mùa xuân tuyệt đẹp!
Buổi sáng mùa xuân thật đẹp. Cánh én chao liệng trên bầu trời như thoi đưa trong khung cửa dệt vải ánh sáng màu hồng trong veo trải khắp không gian chưa chói lòa chưa gay gắt bước chân của mùa xuân đã sang tháng thứ ba, ôi ngày vui ngắn chẳng tày gang! Lòng tôi trào dâng một niềm nuối tiếc ngày vui đang trôi qua mau. Trước mắt tôi là cả một bước diễm họa mùa xuân. Cỏ xanh non tơ trải dài đến tít tận chân trời sức sống của mùa xuân thật trào trề mãnh liệt, trên nền cỏ xanh ấy vài bông hoa lê trắng điểm xuyết bàn tay của tạo hóa sao khéo sắp đặt?
Màu xanh của cỏ là phông nền cho màu trắng của hoa lê nổi bật nếu màu xanh gợi sự tươi trẻ thì màu trắng lại gợi sự tinh khôi trong trẻo tinh khiết bức tranh mùa xuân sao đẹp đến thế! Lòng tôi tràn ngập một niềm vui khó tả.
Ba chị em tôi hòa vào dòng người du xuân chảy hội ngày tết thanh minh này có lễ tảo mộ – sửa sang lại phần mộ của người thân đã khuất, hội đạp thanh – giẫm lên cỏ xanh, du xuân ở trốn đồng quê đông vui náo nức quá! Nhưng đông nhất vẫn là nam thanh nữ tú trai tài gái sắc bởi chúng tôi có thể tìm thấy sợi tơ hồng trong tương lai khắp các ngả đường người người ngựa ngựa, xe xe, áo áo quần quần kéo về chật như nêm cối, chị em tôi cũng sắm sửa đầy đủ lễ vật hòa vào truyền thống lễ hội tốt lành của dân tộc. Mọi người kéo lên các gò cao những ngôi mộ liền kề nhau ai cũng hương khói sửa sang phần mộ tôn đắp cho cao, đốt vàng vó gửi cho người thân ở thế giới bên kia. Phải chăng đây là nét đẹp trong thế giới tâm linh của người phương đông? Đúng vậy tôi thấy truyền thông này mang đậm vẻ đẹp văn hóa của người Việt hướng tới đạo lí uống nước nhớ nguồn cần được gìn giữ và phát huy.
Một ngày du xuân chảy hội đã kết thúc trong tôi vui buồn đan xen khó có thể tách rời ôi lòng người đa đoan! Tương lai phía trước ra sao còn chờ tôi trải nghiệm. | Đóng vai Thúy Kiều kể lại đoạn trích Cảnh Ngày Xuân | 471 | |
Đóng vai Thúy Kiều để kể lại cho lớp nghe về việc báo ân báo oán
Hướng dẫn
Đề bài: Em hãy đóng vai Thúy Kiều để kể lại cho lớp nghe về việc báo ân báo oán. Trong khi kể, cố gắng làm nổi bật tâm trạng của Thúy Kiều lúc gặp Hoạn Thư.
Bài làm 1:
Sau khi bị gã Sở Khanh lừa đảo đưa vào cạm bẫy của Tú Bà và bị Tú Bà đánh đập dã man, không thể chịu đựng nổi nhục nhã, uất hận nên tôi đã tìm đến cái chết để giải thoát. Sợ mất cả vốn lẫn lời, mụ Tú Bà đành giở giọng nhân nghĩa dỗ dành, hứa sẽ tìm cho tôi một người chồng xứng đáng. Mụ đưa tôi ra ở lầu Ngưng Bích, bảo rằng để cho tôi bình tâm trở lại, Nhưng thực ra là mụ giam lỏng, chờ ngày bán tôi đi.
Cũng tại đây, tôi đã may mắn gặp được người anh hùng Từ Hải tiếng tăm lừng lẫy. Chàng đã hào phóng chuộc tôi ra khỏi lầu xanh và cưới tôi làm vợ. Từ thân phận của một kĩ nữ, tôi đã được chàng đưa lên vị thế của một bậc phu nhân quyền quý. Trong một lần tâm sự với chàng, tôi bày tỏ ý nguyện được báo ân báo oán cho vơi bớt nỗi khổ chất chứa trong lòng bấy lâu nay. Vốn là người hào hiệp, giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha, Từ Hải đồng ý giúp tôi thực hiện nguyện vọng đó.
Chàng cắt cử mấy đạo quân lập tức lên đường. Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri, mời những ân nhân của tôi và bắt những kẻ đã gây ra tội ác đối với tôi. Sáng hôm sau, Từ Hải mở phiên tòa. Giữa trung quân, chàng cùng tôi sánh vai nhau ngồi xử án. Khung cảnh phiên tòa vô cùng trang trọng. Quân lính dàn hàng hai bên, gươm lớn giáo dài lăm lăm trong tay, khiến cho kẻ yếu bóng vía phải run sợ Từ Hải giao cho tôi toàn quyền xét xử. Tôi quyết định báo ân trước, báo oán sau.
Khi Thúc Sinh được mời đến trước trướng hùm, tôi thấy mặt chàng xám như chàm đổ, chân tay run cầm cập, chẳng dám ngước mắt nhìn ai. Người đời thường nói: Một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen, huống hồ tôi với chàng đã từng là vợ chồng, dẫu chẳng được bao lâu. Tôi cất tiếng nhẹ nhàng chào hỏi trước:
– Thiếp xin chào chàng! Ơn nghĩa của chàng đối với thiếp nặng tựa nghìn non. Thiếp là người cũ ở Lâm Tri, liệu chàng có nhớ?! Tại ai mà chúng ta phải chia lìa đôi ngả Sâm Thương? Tại ai mà thiếp đành phụ lòng chàng?! Thôi, chuyện cũ đã qua. May mà trời xanh có mắt, thiếp vượt được bước gian nan. Giờ đây, thiếp có chút quà mọn xin tạ lòng chàng!
Nói rồi, tôi sai lính đem ra trăm cuốn gấm quý và một ngàn lạng bạc để đền ơn Thúc Sinh. Tôi cũng không quên nhắc rằng sẽ bắt người vợ quỷ quái tinh ma của chàng phải trả giá cho những mưu mô và hành động nham hiểm, tàn nhẫn mà ả đã dùng để đày đọa tôi suốt mấy tháng trời.
Lần lượt, sư Tam Hợp, vãi Giác Duyên, bà quản gia, Kiều Nhi… tất cả ân nhân đã từng giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn đều được trân trọng mời lên để tôi cảm tạ và báo đáp ân tình. Thấy tôi thoát khỏi cảnh trầm luân, ai cũng vui mừng. Tôi bảo mọi người nán lại để xem tôi báo oán.
Khi lính áp giải Hoạn Thư đến nơi, tôi cố kiềm chế cơn giận dữ đang trào dâng trong lòng, lấy giọng mỉa mai hỏi ả:
– Chào tiểu thư! Chắc tiểu thư không thể hình dung nổi có ngày lại đặt chân đến đây, phải không?! Trên đời, tôi thấy thật hiếm có người đàn bà nào ghê gớm như tiểu thư. Nhưng thói thường, càng cay nghiệt lắm thì càng oan trái nhiều mà thôi!
Nhận ra trước mặt chính là Hoa Nô đầy tớ ngày nào đã bị mình đọa đày đến mức cất đầu chẳng lên, Hoạn Thư đột nhiên biến sắc, hồn lạc phách xiêu, vội dập đầu van xin tha tội. Ả con quan Lại bộ thượng thư quả đúng là kiểu người: Bề ngoài thơn thớt nói cười, Mà trong nham hiểm giết người không dao. Tuy run sợ nhưng ả vẫn đủ bình tĩnh để liệu điều phân trần, thanh minh cho nhẹ tội:
– Thưa phu nhân! Tôi mắc tội xúc phạm đến phu nhân chẳng qua cũng vì ghen tuông là thói thường tình của nhi nữ. Suy cho kĩ, tôi cũng có chút thương tình đối với phu nhân. Như lúc cho phu nhân ra Quan Âm Các chép kinh, hay lúc biết phu nhân bỏ trốn mà chẳng sai người đuổi theo. Thật lòng, tôi rất mến mộ tài sắc của phu nhân. Còn chuyện chồng chung thì chưa dễ ai nhường cho ai. Nay biết mình trót gây việc chông gai, sóng gió, tôi chỉ xin phu nhân mở lượng hải hà mà tha cho!
Thế là giữa thanh thiên bạch nhật, việc báo ân báo oán của tôi đã được giải quyết xong xuôi. Tôi quay sang cảm tạ ân nhân lớn nhất đời mình là người anh hùng Từ Hải. Chàng đáp lại bằng câu nói thật chân tình: “Việc của nàng cũng là việc của ta, có gì mà phải cảm ơn?! Ta chỉ mong từ nay trở đi, nàng sẽ sống vui vẻ, hạnh phúc vì đã cất được gánh nặng trong lòng!” Tôi xúc động vô cùng vì chàng dã nói giúp điều mà tôi đang nghĩ tới.
Bài làm 2:
Trong mười lăm năm lưu lạc, cuộc đời tôi tưởng bị chôn vùi trong những tháng ngày “ thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”. Nhưng may mắn thay, đã có lúc tôi được cuộc đời nâng niu, ưu ái. Nhưng thay đổi ấy có được là nhờ Từ Hải, một con người “ đầu đội trời chân đạp đất”
Về với chàng ít lâu, sau những chiến công lừng lẫy của chàng, tôi trở thành đệ nhất phu nhân. Chàng hỏi tôi về những người đã từng có ơn, những kẻ đã hãm hại, đẩy tôi vào bể khổ. Rồi chàng mời hết những người có ơn, bắt những kẻ gian ác ấy về cho tôi toàn quyền xử tội. Thế là hôm ấy, tôi và chàng ngồi trên điện xét xử: báo ân và báo oán. Đầu tiên là Thúc Sinh, người đã từng có ơn cứu tôi khỏi lầu xanh. Chàng Thúc bước vào, mặt đỏ như chàm, mình mẩy run run. Tôi nghĩ, chắc chàng quá sợ đây mà. Tôi biết chàng là người nhu nhược nhưng tôi không trách móc. Dù vợ cả chàng là Hoạn Thư luôn nghen tuông hành hạ tôi nhưng chuyện đó để khi khác! Giờ đây tôi phải đền ơn chàng.Tôi cất tiếng:” Chào chàng Thúc! Hôm nay mời chàng đến đây là để tôi bày tỏ chút lòng thành, xin được đền ơn chàng!”
Nghe đến đây dường như đã đỡ sợ nên chàng lên tiếng: “ Vâng…!”. Tôi lại nói: “ Nghĩa chàng dành cho tôi nặng đến nghìn non, trả làm sao hết. Đây có gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân để tạ lòng chàng gọi là có vậy. Mong chàng nhận cho”. Người hầu bưng lễ ra, chàng lạy tạ lời nhận lễ. Nhưng tôi nghĩ: “ Sao chàng phải lạy tạ, chàng còn sợ chăng? Thôi tha để chàng đi vì tôi còn nhiều người phải báo ân nữa”. Nhìn chàng, tôi lại chua xót nghĩ đến sự quỷ quyệt của Hoạn Thư. Tại sao hai con người ấy lại có thể chung chăn chung gối được nhỉ! Tôi bèn mỉm cười nói thêm với chàng Thúc: “ Vợ chàng quỷ quái tinh ma, phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”
Chàng đi ra và tiếp đó tôi báo ân cho nhiều người khác: vãi Giác Duyên, cô a hoàn, mụ quản gia…những người đã giúp đỡ tôi trong những ngày khốn khó
Sau đó là đến việc báo oán, người đầu tiên mà tôi phải trả thù, trả hết oán chính là Hoạn Thư- vợ cả của Thúc Sinh. Mụ vừa vào tới cửa, tôi đã nói đón: “ Tiểu thư cũng có thì giờ đến đây ư?”. Rồi tôi lại dõng dạc hơn: “ Đàn bà dễ có mấy tay. Từ xưa đến nay được mấy người mưu mô, tinh quái như bà?”. Mụ vội vàng quỳ xuống phần vì nhận ra tôi đang ngồi trên, phần vì thấy hàng quân lính áo giáp, gươm đao đầy mình. Tôi nghĩ: “ Chắc phen này mụ sẽ phát hoảng lên, sẽ lạy lục van xin vì biết mình có tội. Mụ sẽ biết thế nào là “gieo nhân nào được quả nấy”. Tôi lại dõng dạc hơn: “ dễ dàng là kiếp hồng nhan, ăn ở mà càng cay nghiệt thì càng chịu nhiều oan trái”. Đến đây Hoạn Thư đã hiểu ra. Nhưng mụ tinh ranh quá, mụ còn bình tĩnh khấu đầu rồi xin thưa. Tôi biết mụ sẽ kêu ca, sẽ chữa tội cho mình, lúc này tôi có thể cho mụ từ giã cõi đời nhưng tôi vẫn muốn xem mụ có hối cải không. Nếu có, tôi có thể mở lượng khoan hồng tha không giết mụ. Mụ bắt đầu thưa: “ Thưa phu nhân, tôi đây phận đàn bà hèn kém nên cũng như ai. Tôi ghen tuông thì cũng là chuyện thường tình, nghĩ lại ngày ấy kẻ hèn mọn này đã để phu nhân ra gác viết kinh ở, với lại khi phu nhân bỏ đi, tôi đâu đuổi theo bắt về mặc dù đã biết gác viện đã mất vài thứ đáng giá…Nhưng cũng tại kẻ hèn mọn này gây ra việc chông gai, giờ chỉ còn biết chông chờ vào tấm lòng bao dung rộng lượng như biển cả của phu nhân mà thôi. Xon phu nhân nghĩ cho mà thương cho kẻ hèn kém này”
Tôi bàng hoàng, khen cho mụ khôn ngoan đến mực mà nói năng phải lời. Mụ thật giảo hoạt, khôn ngoan, tinh quái, ranh mãnh. Nhưng lời nói của mụ có lý quá, tôi cũng là đàn bà thì cần hiểu được suy nghĩ chung của đàn bà là thói ghen tuông. Nhưng tha cho mụ thì may đời cho mụ còn làm ra thì lại là người nhỏ nhen, với lại tôi đã có ý nghĩ khoan hồng nếu như mụ biết hối cải. Dù chưa thấy hành động nhưng những lời nói của mụ cũng có tình, có lý. Mụ đã nhận hết lỗi vào mình thì cũng khoan dung cho mụ và tôi chỉ nói thêm: “ Hãy biết hối cải vì sống mà tạo nhiều ơn nghĩa thì sẽ gặp nhiều điều tốt đẹp. Nên nhớ câu ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”
Sau đó tôi còn xử tội nhiều tên khác. Tất cả chúng đều là lũ gian ác, độc địa, bất nhân. Đã trả qua biết bao đắng cay, khổ nhục tôi càng thấm thía cái lẽ đời: “ Hồng nhan bạc mệnh”. Nhưng thôi, giờ đây tôi đã đoàn tụ với cả nhà, có cha, có mẹ, có anh em, có người yêu chung thủy thì cuộc sống còn gì không hạnh phúc? Cuộc sống cũng có quy luật: “ Gặp nhiều tai ương rồi sẽ có được niềm hạnh phúc”.
Bài làm 3:
Sau khi chịu bao đau đớn, tủi nhục đọa đầy ở chốn lầu xanh, tôi được Từ Hải cứu thoái. Chàng không chỉ giúp tôi thoát khỏi lầu xanh mà còn cho tôi hưởng cuộc sống hạnh phúc, đặc biệt chàng còn giúp tôi đền ơn, trả oán. Tôi còn nhớ mãi cảnh báo oán hôm đó.Người đầu tiên tôi mời ra để báo ân là chàng Thúc Sinh thuở nào. Thật tội nghiệp cho chàng tưởng mình bị đưa ra để xử tội nên chàng run rẩy, mặt tái ngắ như chàm. Tôi nhắc lại với chàng những kỉ niệm hồi còn ở Lâm Tri. Vì sự ngăn cách mà chúng tôi đã không vẹn chữ tòng, song nghĩa nặng tình non của chàng thì không bao giờ tôi quên được. Tôi sai người lấy trăm cuốn bạc nghìn cân làm chút lễ mọn để báo đáp cho chàng. Tôi cũng nói trước với chàng dự định báo oán người vợ cay nghiệt độc ác của chàng.
Khi Hoạn Thư vừa được đưa ra, tôi đã chào cô ta bằng giọng điệu như trước đây tôi bị ép làm hoa nô phục dịch trong nhà của cô ta: Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây. Ngày xưa bà ăn ở ác độc như thế, thì nay phải gánh chịu tất cả, gieo gió thì gặp bão, càng cay nghiệt lắm thì càng oan trái nhiều. Đàn bà hạng như bà thế gian thật hiếm. Nghe tôi nói như vậy Hoạn Thư rụng rời phách lạc hồn xiêu. Thế nhưng vốn bản tính mưu mô và thuộc loại đàn bà lắm mồm lắm miệng ngay lập tức mụ đã lên tiếng kêu ca: “Tôi cũng chỉ là phận đàn bà mà thôi, mà đàn bà thì vốn dĩ hay ghen tuông, chẳng ai chịu nhường chồng mình cho người khác cả. Với lại tôi cũng rất yêu quý nàng, kính yêu nàng khi nàng trốn khỏi Quan Âm Các tôi đã không cho người đuổi theo. Nhưng dẫu sao tôi cũng là người có tội chỉ mong nàng rộng lượng bao dung mà tha thứ cho tôi”. Trước những lời lẽ khôn ngoan, chặt chẽ như vậy, tôi nghĩ rằng “thôi tha cho mụ ta cùng là điều làm phúc”, cho nên truyền quân lệnh tha bổng Hoạn Thư.
Bài làm 4:
“Lạ chi con tạo xoay vần
Đời người lắm nỗi gian truân khó lường”
Cha! Mẹ! Hai em! Chàng! Nếu mọi người muốn biết cuộc sống của con ra sao trong từng ấy năm phiêu bạt thì con chỉ xin kể quãng đời vẻ vang nhất của con. Liệu có ai ngờ rằng từ một tấm thân ô nhục, con bỗng chốc trở thành một phu nhân tướng quân nắm quyền sinh sát của nhiều kẻ gian ác bất lương. Nếu mọi người thấu hiểu lòng con thì hãy lắng nghe chuyện con kể: Báo ân, báo oán.
Nhờ chàng Từ Hải – một vị tướng đã rạch đôi sơn hà, chống lại triều đình, con trở thành một phu nhân tướng quân. Chàng hỏi con về những người đã từng có ơn với con, những kẻ đã hãm hại con, đẩy con vào bể khổ. Rồi chàng mời hết những người có ơn, bắt hết những kẻ gian ác ấy về cho con toàn quyền xử tội. Thế là hôm ấy, con và chàng ngồi trên điện xét xử – báo ân và báo oán. Đầu tiên là Thúc Sinh, người đã từng có ơn cứu con khỏi lầu xanh. Chàng Thúc bước vào, mặt đỏ như chàm, mình mẩy run run. Con nghĩ, chắc chàng quá sợ đây mà. Con biết chàng là người nhu nhược nhưng con không trách móc. Dù vợ cả chàng là Hoạn Thư luôn ghen tuông hành hạ con nhưng chuyện đó để khi khác! Giờ đây con phải đền ơn chàng. Con cất tiếng: “Chào chàng Thúc! Hôm nay mời chàng đến đây là để tôi bày tỏ chút lòng thành, xin được đền ơn cho chàng!”.
Sau đó là đến việc báo oán, người đầu tiên mà con phải trả thù, trả hết oán chính là Hoạn Thư, vợ cả của Thúc Sinh. Mụ vừa vào tới cửa con đã nói đón: “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”. Rồi con lại dõng dạc hơn: “Đàn bà dễ có mấy tay. Từ xưa đến nay được mấy người nhiều mưu mô, tinh quái như bà”. Mụ vội vàng quỳ xuống, phần vì nhận ra con đang ngồi trên, phần vì thấy hàng hàng tướng lính áo giáp, gươm đao đầy mình. Con nghĩ: “Chắc phen này mụ sẽ phát hoảng lên, sẽ lạy lọc van xin. Vì biết mình có tội, mụ sẽ biết thế nào là “gieo nhân nào được quả nấy”. Con lại dõng dạc hơn: “Dễ dàng là kiếp hồng nhan, ăn ở mà càng cay nghiệt thì sẽ càng chịu nhiều oan trái”. Đến đây Hoạn Thư đã hiểu ra. Nhưng mụ tinh ranh quá, mụ còn bình tĩnh khấu đầu rồi xin thưa. Con biết mụ sẽ kêu ca, sẽ chữa tội cho mình, lúc này con có thể cho mụ từ giã cõi đời nhưng con vẫn muốn xem mụ sẽ nói gì, và cũng một phần vì con muốn xem mụ có hối cải không. Nếu có, con có thể mở lượng khoan hồng tha không giết mụ. Mụ bắt đầu thưa: “Thưa phu nhân, tôi đây là phận đàn bà hèn kém nên cũng như ai. Tôi ghen tuông thì cũng là chuyện thường tình, nghĩ lại ngày ấy kẻ hèn mọn này đã để phu nhân ra gác viết kinh ở, với lại khi phu nhân bỏ đi, tôi đâu dám chửi, cũng chẳng đuổi theo bắt về mặc dù biết gác viện đã mất vài thứ đáng giá. Với lại cũng tại chế độ đa thê, một chồng mà nhiều vợ, chồng chung thì ai dễ chiều cho ai. Nhưng cũng tại kẻ hèn mọn này gây ra việc chông gai, giờ thì chỉ còn biết trông chờ vào tấm lòng bao dung rộng lớn như biển cả của phu nhân mà thôi. Xin phu nhân nghĩ cho mà thương cho kẻ hèn kém này”.
Con bàng hoàng vô cùng, khen cho mụ khôn ngoan đến mực mà nói năng phải lời. Mụ thật giảo hoạt, khôn ngoan, tinh quái, ranh mãnh. Nhưng lời nói của mụ có lí quá, con cũng là đàn bà thì cần hiểu được suy nghĩ chung của đàn bà là: hay ghen tuông. Tha cho mụ thì may đời cho mụ còn làm ra thì lại là người nhỏ nhen, với lại con đã có ý khoan hồng nếu mụ biết hối cải. Dù chưa thấy hành động nhưng lời nói của mụ thì cũng có tình, có lí. Mụ đã nhận hết lỗi vào mình thì cũng khoan dung cho mụ và chỉ nói thêm: “Hãy biết hối cải vì sống mà tạo nhiều ơn nghĩa thì sẽ gặp nhiều điều tốt đẹp. Nên nhớ câu ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”. Sau đó con còn xử tội nhiều tên khác. Tất cả chúng đều là lũ gian ác, độc địa, bất nhân. Con chỉ kể có vậy thôi.
Đã trải qua biết bao đắng cay, khổ nhục, con càng thấm thía cái lẽ đời: “Hồng nhan bạc mệnh”. Nhưng thôi, giờ đây con đã đoàn tụ với cả nhà, có cha, có mẹ, có anh em, có người yêu chung thuỷ thì cuộc sống còn gì không hạnh phúc. Cuộc sống luôn theo nghĩa của nó là: “Gặp nhiều tai ương rồi sẽ có được niềm hạnh phúc”. Con thấy thật đúng! | Đóng vai Thúy Kiều để kể lại cho lớp nghe về việc báo ân báo oán | 3,249 | |
Đóng vai Thầy Mạnh Tử hồi bé để kể về câu chuyện Mẹ hiền dạy con
Gợi ý
Ta là Mạnh Tử, ta được người đời tôn là một trong những ông tổ của Nho gia. Ta còn nổi tiếng bởi đạo đức trong sạch và sự chăm chỉ hiếm có. Sở dĩ ta được như vậy là vì được mẹ ta hết lòng dạy dỗ, bảo ban. Ta còn nhờ mãi những câu chuyện mẹ Ta dạy ta thời thơ bé.
Ngày ta còn nhỏ, nhà ta ở gần một nghĩa địa. Hàng ngày, mẹ đi làm ruộng, ta ở nhà cùng đám trẻ đi chơi. Hàng ngày thấy cảnh người làng đi đưa ma, kẻ thì khóc lóc, người đào huyệt chôn thây kẻ chết chúng ta thấy lạ lắm và thích thú vô cùng. Ta cùng đám bạn rủ nhau bắt chước. Một đứa được cử làm người chết cho những đứa khác khiêng. Bọn ta giả khóc lóc rồi đào huyệt, chôn người giống hệt một đám tang. Hôm ấy, “đám tang” đang diễn ra thì mẹ ta về. Bà thấy vậy hốt hoảng chạy lại hỏi han. Ta vô tư trả lời người: “Chúng con bắt chước những người kia” rồi chỉ tay về phía đám ma đang đào huyệt chôn thây người ở nghĩa địa. Chẳng hiểu sao mẹ ta buồn phiền lo lắng nói: “Chỗ này không phải chỗ con ta ở được”. Rồi ít lâu sau mẹ bán dần đồ đạc trong nhà chuyển nhà ra gần chợ.
Ở gần trường, ta thấy học trò đi học rất đông. Ta lại thấy họ lễ phép nghe lời thầy giáo, chăm chỉ học hành. Ta bèn bắt chước học tập lễ phép, cắp sách vở đi học. Mẹ ta thấy vậy thì vui vẻ mỉm cười: “Chỗ này là chỗ con ta ở được đây”. Và nhà ta ở hẳn đấy đến giờ.
Một ngày nọ, ta thấy người hàng thịt giết lợn. Ta hỏi mẹ: “Người ta giết lợn làm gì?”. Mẹ không nhìn ta mà nói: “Để cho con ăn đấy”. Ta cứ nghĩ đó là một lời nói đùa bởi nhà ta nghèo ít khi được ăn thịt lợn. Vả lại, ta đã thấy nhiều nhà giết lợn nhưng đã thấy ai cho thịt bao giờ. Không ngờ, trưa hôm đó, ta thấy mẹ đi mua thịt lợn về cho ta ăn thật.
Khi ta lớn hơn một chút, ta được mẹ cho đi học. Một hôm, ta thấy bài học khó khăn bèn bỏ học về nhà chơi, về đến nhà, ta thấy mẹ đang dệt vải. Mẹ hỏi ta: “Vì sao con về?”. Ta đáp: “Con không muốn học”. Mẹ cầm dao cắt đứt tấm vải và bảo: “Con đang đi học mà bỏ học, thì cũng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi vậy”. Ta vô cùng ân hận vì dệt vải vất và vô cùng, mẹ đã thức bao đêm mới dệt được phần vải ấy. Chỉ vì ta mà người đã bỏ đi bao công sức của mình. Từ đó, mỗi lần nản việc học hành, ta lại nghĩ đến mẹ để cố gắng chuyên tâm học tập.
Ta học tập chuyên cần, khi lớn lên, nhớ lại những chuyện đã qua ta càng thấy thấm thía ý nghĩa sâu xa của những việc mẹ làm, từ những việc chuyển nhà hay cắt đứt tấm vải đang dệt dở. Sau này ta được người đời tôn vinh là bậc đại hiền, nổi tiếng về đạo đức và hiểu biết rộng chính là nhờ cách dạy con như thế của mẹ ta.
Làm con, ta thiết nghĩ trước hết phải lấy việc tôn kính cha mẹ làm đầu. Không những thế, để làm vui lòng cha mẹ, mỗi chúng ta cần phải ra sức học hành. Con cái học hành chăm chỉ, giỏi giang, đó cũng là ước nguyện, là niềm hi vọng trọn đời của cha mẹ. Học hành chăm chỉ, giỏi giang, thiết nghĩ đó cũng là cách đền đáp công ơn có ý nghĩa nhất của con cái đối với cha mẹ của mình. | Đóng vai Thầy Mạnh Tử hồi bé để kể về câu chuyện Mẹ hiền dạy con | 687 | |
Đề bài: Đóng vai Thủy Tinh Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh
Bài làm
Ta là Thuỷ Tinh,một người đã năm lần bảy lượt đánh nhau với Sơn Tinh để cướp Mỵ Nương,nhưng chẳng hiểu vì sao mỗi lần ta đánh nhau với Sơn Tinh ta đều thua.
Nguyên nhân là do hôm đó,ta nghe bọn thuỷ binh và các loài vật dưới biển nói rằng:”Vua Hùng thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tuyệt trần,tính nết hiền hậu,dịu dàng và muốn kén cho con một người chồng xứng đáng để làm rể.”:M02: Nghe vậy,không đợi chờ gì nữa,ta liền đến xin cầu hôn nàng. Nhưng không biết ý trời thế nào,ta và một người nữa đến thành Phong Châu để xin cầu hôn nàng. Anh ta mặc bộ áo giáp,bước đi mạnh mẽ,hùng dũng và cũng có sức mạnh chẳng thua kém gì ta:vẫy tay về phía Đông,phía Đông nổi cồn bãi,vẫy tay về phía Tây,phía Tây mọc lên từng dãy núi đồi,mọi người đều gọi anh ta là Sơn Tinh. Sau đó,ta cũng trổ tài:ta vung tay,miệng cất tiếng oang oang,rồi một luồn gió mạnh nổi lên,mây đen đua nhau kéo đến,mưa trút xuống ào ào.Vua Hùng băn khoăn không biết chọn ai và từ chối ai,bèn cho mời các lạc hầu đến bàn bạc. Xong,vua phán:
_Hai ngươi đều vừa ý ta,nhưng ta chỉ có một người con gái,biết gả cho người nào. Thôi thì…ngày mai,ai đem sính lễ đến trước thì sẽ được vợ.
Chúng ta tâu hỏi đồ sính lễ,vua nghĩ ngợi một lúc rồi nói:
_Một trăm ván cơm nếp,một trăm nệp bánh chưng,voi chín ngà,gà chín cựa,ngựa chín hồng mao,mỗi thứ phải đủ một đôi.
Nghe vua phán như vậy ta cũng hơi lo vì những thứ vua ra đều là những sản vật ở rừng,Sơn Tinh dễ dàng kiếm được,nhìn mặt thằng Sơn Tinh cười hí hí trong miệng là thấy ghét.Còn ta lại ở dưới nước thì làm sao đây,lấy đâu ra những thứ ấy. Nếu vua yêu cầu cá,tôm hay rồng cũng được,như thế thì quá dễ.Phen này khó mà lấy được vợ.
Sáng hôm sau,từ lúc mặt trời còn ngáy ngủ,Sơn tinh đã đem lễ vật đến. Ta đến sau,không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đánh ghen với Sơn Tinh. Vừa đuổi theo,ta vừa hét:”Sơn Tinh trả Mỵ Nương lại cho ta,trả vợ yêu cho ta.”Trận đánh giữa ta và Sơn Tinh diễn ra rất ác liệt.Ta hô mưa,gọi gió,làm thành giông bão rung chuyển cả đất trời,dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh. Nước ngập ruộng đồng,tràn vào nhà cửa,dâng lên lưng đồi,sườn núi,tưởng như cả thành Phong Châu đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Ta biết,nàng Mỵ Nương đang lo lắng cho cha và các thần dân,nhưng ta không thể nào làm khác được,lí do là một điều vô cùng đơn giản vì ta muốn chiếm lại nàng. Nghĩ rằng có thể chiếm được Mỵ Nương nên tôi rất đắc chí và đánh đến cùng.Nhưng thằng Sơn Tinh chẳng hề nao núng vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Ta dâng nước cao lên bao nhiêu,nó lại làm núi đồi cao bấy nhiêu. Đánh ròng rã mấy tháng trời,ta vẫn không thắng thằng Sơn Tinh đáng ghét,cuối cùng sức ta đã kiệt đành phải rút quân về.
Từ đó oán nặng thù sâu,năm nào ta cũng làm mưa đẻ đánh Sơn Tinh nhưng lần nào cũng vậy,ta đánh đến mỏi mệt,chán chê nhưng vẫn không thắng nó để cướp Mỵ Nương và rút quân về. Ta phải lủi thủi ra về tay không khi trong lòng đầy oán hận. Từ đó,nhân dân đã chế nhạo ta vì đã làm hại dân lành. | Đóng vai Thủy Tinh Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh | 623 | |
Đóng vai Trương Sinh kể lại đoạn đầu Chuyện người con gái Nam Xương bằng ngôi kể thứ nhất
Hướng dẫn
Mình vốn là con nhà hào phú, chẳng thích học hành. Đến tuổi trưởng thành, mình xin mẹ mang trăm lạng vàng hỏi Vũ Nương về làm vợ. Vũ Nương con nhà nghèo khó nhưng xinh đẹp thùy mị nết na nhất vùng. Nàng luôn giữ gìn khuôn phép nên tính mình dù có nóng giận, vợ chồng cũng không xảy ra chuyện bất hòa. Năm ấy có giặc Chiêm xâm lấn bờ cõi nên mình xung phong vào quân đội của triều đình đi gẹp giặc. Buổi tiễn mình ra đi, mẹ và vợ lo lắng dặn dò. Mình lại rất lo lắng chuyện ở nhà khi mẹ già, vợ lại mang thai sắp đến kì sinh nở.
Nghe nói, mình đi khoảng mươi ngày thì Vũ Nương sinh con đặt tên là Đản. Mẹ mình vì lo lắng thương nhớ mình, sinh ra ốm đau. Vũ Nương thay mình chăm sóc chu đáo nhưng cụ vẫn không qua khỏi. Nàng lo ma chay chu đáo.
Năm sau, giặc tan, trở về nhà không có mẹ, lòng mình đau xót vô cùng. Bế con ra thăm mộ mẹ thằng bé quấy khóc, mình phải dỗ dành:
-Nín đi con! Đừng khóc. Cha về bà đã mất, lòng cha buồn khổ quá.
Đứa bé nín ngay, hỏi mình:
-Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít.
Mình ngạc nhiên gạn hỏi con. Thằng bé kể:
-Đêm nào cũng có một người đàn ông đến, mẹ nó đi đâu người đàn ông nọ đi theo đến đó nhưng không bao giờ bế con cả. Cơn ghen bừng bừng bốc lên, mình tức tốc bế con về nhà chửi um lên cho hả giận, mặc cho Vũ Nương thanh minh, mặc cho họ hàng làng xóm bênh vực.
Nào ngờ, Vũ Nương gieo mình xuống bến Hoàng Giang tự tử. Dù giận nàng, mình vẫn tìm cách cứu thây nàng nhưng tìm khắp nơi không thấy.
Đêm ấy! Dưới ngọn đèn khuya, trong căn nhà vắng vẻ chỉ có hai cha con, thằng bé Đản bỗng reo lên:
-Cha Đản đến kìa.
Giật mình, mình vội hỏi thằng bé. Thằng bé chỉ vào cái bóng trên và bảo đó là bố nó. Mình đau xót ân hận vô cùng. Khi thấu hiệu nỗi oan của vợ thì vợ mình đâu còn nữa!!! | Đóng vai Trương Sinh kể lại đoạn đầu Chuyện người con gái Nam Xương bằng ngôi kể thứ nhất | 411 | |
Đóng vai Vũ Nương kể lại cuộc đời mình
Hướng dẫn
Đóng vai Vũ Nương kể lại cuộc đời mình
Bài làm
Tôi là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương người đời yêu quí gọi tôi là Vũ Nương. Tôi vốn con nhà nghèo khó nhưng được cha mẹ dạy bảo ân cần chu đáo nên người trong làng khen tôi tính tình thùy mị nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp vì thế có bao nhiêu trai làng bám đuổi. Trong đó có chàng Trương Sinh con nhà hào phú xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới tôi về làm vợ. Chính cuộc hôn nhân khập khiễng này khiến tôi gặp bao điều khó khăn. Ôi số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến này bất hạnh biết bao!
Ngày ấy tôi cũng biết chồng đa nghi hay ghen với vợ phòng ngừa quá sức nên hết sức giữ gìn khuôn phép vợ chồng chưa từng xảy ra chuyện thất hòa. Vợ chồng tôi ăn ở êm ấm, lại sắp có đứa con đầu lòng vui mừng hạnh phúc biết bao nhưng cuộc sống không bao giờ êm ả xuôi chiều mát mái như ta trong đời. Giặc Chiêm bỗng xâm phạm bờ cõi nước ta chồng tôi ít học nên bị bắt đi lính vào loại đầu, chia lìa mất mát đau thương là những gì chiến tranh mang lại. Buổi tiễn đưa tôi chỉ biết rót chén rượu đầy bày tỏ nỗi lòng mong chàng bình yên trở về. Thấu hiểu khó khăn mà chồng phải chịu. Bày tỏ nỗi khắc khoải nhớ mong của mình.
“Sau này… phụ mẹ”
Tấm lòng của bà nhân hậu biết bao! Từ đấy chỉ còn có tôi cùng bé Đản. Nhớ thương chồng và muốn bù đắp cho con. Tôi thường chỏ bóng trên tường mỗi tối rồi bảo con ” Cha Đảm lại đến kia kìa!” Bé Đản ngây thơ tin là thật thường đùa vui cùng chiếc bóng.
Thấm thoắt đã 3 năm. May mắn biết bao chồng tôi an lành trở về. Vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi hạnh phúc như vỡ òa. Biết tin mẹ mất Trương Sinh rất buồn bế con ra thăm mộ mẹ khi chàng vừa trở về ” giông tố” đã nổi lên chàng la mắng tôi không tiếc lời một mực bảo tôi hư thân mất nết không thủy chung với chàng. Tai họa ở đâu ập xuống đầu tôi khủng khiếp như vậy tôi khóc lóc phân trần giải thích:
” Thiếp vốn con… như lời chàng nói”.
Có lẽ tất cả những lời phân trần của tôi không thể lọt tai chàng họ hàng làng xóm bênh vực tôi chàng cũng không nghe. Tôi hỏi thì chàng lại giấu. Khiến tôi không thể thanh minh.
Người ta nói ở hiền gặp lành không ngờ nỗi oan khuất của tôi đã động lòng trời đất các nàng tiên cá đã rẽ một đường nước đưa tôi xuống thủy cung của Lương Phi chốn này đến đài cung điện nguy nga lộng lẫy. Người đối xử với nhau nhân hậu vô cùng thật là cuộc sống mong đợi ước ao! Trong một bữa tiệc. Lương Phi khoản đãi người có ơn cứu mạng, không ngờ tôi gặp Phan Lang – Người cùng làng và cũng là ân nhân của Lương Phi. Nghe Phan Lang kể tôi mới biết Trương Sinh bế con ngồi bên ngọn đèn con trỏ bóng nhận cha, chàng mới thấu hiểu nỗi oan của tôi. Cuộc đời sao mà tàn nhẫn đến vậy chính đứa con tôi hết mực yêu thương đã gieo mầm họa. Chính người chồng tôi hết lòng yêu thương thủy chung đã đa nghi hay ghen hồ đồ đẩy tôi vào chỗ chết.
Chao ôi! Cuộc sống ở cõi trần thật đen bạc! Mong rằng xã hội bất công này sẽ bị xóa bỏ chính tư tưởng trọng nam khinh nữ đã dung túng cho Trương Sinh có thói gia trưởng đẩy tôi vào cuộc đời oan khuất. Xã hội cần cải tiến xây dựng một cuộc sống bình đẳng nam nữ bình quyền kể ra câu chuyện này tôi còn mong người đời lấy đó là bài học giữ gìn hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ được xây dựng trên cơ sỏ tin yêu tôn trọng lẫn nhau. Ghen bóng ghen gió sẽ khiến gia đình tan vỡ. | Đóng vai Vũ Nương kể lại cuộc đời mình | 731 | |
Đề bài: Kể lại truyện Chiếc lá cuối cùng (O Hen-ri) bằng lời kể của tác giả hoặc lời kể của nhân vật Xiu.
Bài làm
Giôn-xi ơi, em dại lắm em có biết không? – Xiu thầm nghĩ. Thật khó có thể diễn tả được tâm trạng của cô lúc này. Cô đang rất bực: “Tại sao Giôn-xi lại có ý nghĩ dại khờ như thế chứ? Chiếc lá cuối cùng rụng thì nó cũng sẽ ra đi ư?”. Nhìn cảnh Giôn-xi nằm trên giường không thiết ăn uống, cô lại không thể cầm nổi nước mắt. Cô thương Giôn-xi lắm! Hai người thân thiết, gắn bó như hai chị em ruột vậy. Xiu bần thần ngồi suy nghĩ. Ngoài trời khá lạnh, thời tiết đang là mùa đông. Bầu trời quang, đến một gợn mây cũng không có. Gió thổi mang theo không khí lạnh buốt làm căn gác xếp của họ càng thêm ảm đạm, u ám. Cô đưa mắt nhìn ra cửa sổ, dây thường xuân yếu ớt bắc qua tường. Từng chiếc lá đang cố níu giữ mình lại, không để cho gió cuốn đi. Xiu lo lắng. Nhỡ chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì sao? Bao nhiêu cảm xúc lẫn lộn: buồn, thương, lo lắng,… cứ lởn vởn đeo bám Xiu, không để cô tìm ra lối thoát.
Xiu nhìn đồng hồ, đã là năm giờ chiều. Cô đi xuống nhà để chuẩn bị ra phố mua đồ ăn cho bữa tối. Từng bước chân nặng trĩu, cô xuống đến tầng hai. Bất chợt, bác Bơ-men đi ra. Bác nói:
— À, Xiu, cháu đây rồi! Vào đây, ta có chuyện muôn nói với cháu.
Xiu đi theo người họa sĩ già vào nhà. Nói là nhà, thực chất đây là một căn phòng chật hẹp, màu vẽ, bút lông vương vãi khắp phòng… tất cả thể hiện một lối sống cẩu thả và nghèo khó.
—Bác ơi, cháu lo lắm… Giôn-xi…
–ừ, bác biết. Bác cũng vậy. Nhưng bác nghĩ ra cách giải quyết rồi.
Một sự bất ngờ, sửng sốt khẽ thoáng qua mặt Xiu. Bác Bơ-men nói tiếp:
—Chúng ta sẽ… vẽ một chiếc lá khác thay cho chiếc lá cuối cùng. Phải hết sức bí mật, không để Giôn-xi biết.
–Vẽ… Nhưng…
–Không sao, ta sẽ vẽ. Chỉ cần cháu giữ bí mật.
—Không được bác ạ. Cháu sẽ vẽ. Bác có tuổi rồi, leo cao như vậy nhỡ xảy ra chuyện gì thì sao? Xiu quả quyết. Đôi mắt lờ đờ, thâm quầng do mất ngủ của cô bỗng sáng lên. Gương mặt cô rạng rỡ, tự tin.
Theo đúng kế hoạch, cô thực hiện ngay lập tức. Cô nhờ bác Bơ-men chuẩn bị bữa tối cho Giôn-xi. Còn cô chuẩn bị bút lông, bột màu. Buổi tối, cô nhẹ nhàng bảo với Giôn-xi:
—Tối nay chị phải ra ngoài lấy tiền bán bức tranh hôm nọ. Bác Bơ-men sẽ mang bữa tối lên bây giờ em nhé.
Cô làm vậy để đảm bảo Giôn-xi không kéo rèm ra. Cô bắc thang rồi trèo lên. Bút và màu vẽ được chuẩn bị đầy đủ. Cô cầm bút nhưng tay cứ run run. Cô cô” gắng lấy lại bình tĩnh nhưng bao ý nghĩ cứ lởn vởn làm cô không thể tập trung được. Cuối cùng, cô run rẩy vẽ được một chiếc lá. Nhưng trông nó vô hồn và không có gì là lá thật. Xiu tuyệt vọng trèo xuống, cô chạy vào trong nhà.
Lên tầng hai, bác Bơ-men đã ở đó. Bác nói rằng Giôn-xi đã ngủ. Xiu òa khóc. Cô nức nở kể lại với bác Bơ-men. Nghe xong, bác có vẻ rất bình tĩnh. Bác nói:
–Xiu à, cháu bình tĩnh đã nào…
—Không sao, bác sẽ sửa lại chiếc lá đó. Đó là cách duy nhất chúng ta có thể làm bây giờ. Còn một tia hi vọng cũng phải quyết mà làm cháu ạ!
–Nhưng cháu sợ, cháu không muốn bác trèo lên cao như vậy, nguy hiểm lắm!
—Thế thì cháu lấy cái thang nữa, đứng cạnh cầm đèn và màu cho ta. Hai bác cháu ta cùng làm, nhất định chúng ta sẽ thành công.
Hai cái bóng một cao to, một bé nhỏ đi ra giữa đêm tối. Hai cái thang được bắc và họ cùng trèo lên. Gió rít lên từng hồi, lạnh thấu xương.
Bác Bơ-men cầm chắc trong tay chiếc bút. Bác đưa bút rất thành thạo và điêu luyện. Kinh nghiệm bao năm trong nghề thể hiện trong từng nét vẽ. Không lâu sau, bác đã “sửa lại” được chiếc lá của Xiu. Chiếc lá thường xuân cuối cùng đó nằm im trên tường. Nó có màu xanh, hơi úa vàng. Màu sắc và đường nét trông rất thật, khó có thể nhận ra là nó đã được vẽ lên. Bác Bơ-men đã dùng hết kinh nghiệm, tình thương yêu để vẽ lên chiếc lá đó. Chỉ sửa lại thôi nên không mất nhiều thời gian lắm, nhất là dưới bàn tay của bác Bơ-men.
Hai người xong việc cũng là lúc những hạt mưa bắt đầu rơi lộp bộp vào mái tôn căn gác xếp của hai cô gái. Trời rét buốt, tưởng chừng như ở ngoài một lát nữa thôi là hai người có thể chết cóng.
Sáng hôm sau, Giôn-xi nhờ Xiu kéo rèm lên.
—Thật kì diệu! — Giôn-xi sửng sốt và kêu lên.
Xiu và bác Bơ-men đều rất vui. Vào một ngày đầu xuân, khi cái rét cắt :la cắt thịt đã qua đi, từng tia nắng ấm áp chiếu vào căn gác xếp nhỏ — nơi ba người họa sĩ đang ngồi ăn mừng. Trên bàn ăn toàn những món đơn giản, nhưng vậy đã là quá dủ và thịnh soạn so với mọi ngày rồi. Thưởng thức món thịt, Giôn-xi đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Ba người đang nói chuyện vui vẻ, bỗng nhiên Giôn-xi giật mình:
—ơ cái lá! Nó vẫn như vậy từ ngày em nhìn thấy, trong khi bao chồi non đã ra mà nó vẫn ờ đó, không hề lay động khi gió thổi! Thật kì lạ!
Xiu và bác Bơ-men đưa mắt nhìn nhau. Sau một phút tần ngần, Giôn-xi như đã hiểu ra mọi chuyện. Một giọt nước mắt khẽ lăn trên má, rồi cô nức nở, cò như đang vỡ òa trong hạnh phúc. Cô ôm chầm lấy Xiu và bác Bơ-men:
—Ôi, là hai người vê đó ư? Cháu thật không biết nói gì! Cháu yêu hai người nhiều lắm! Cảm ơn bác!… Cảm ơn chị Xiu! Hai người mang lại sự sống cho cháu…
Từng tia nắng khẽ chiếu qua cửa sổ. Không gian căn gác xép yên lặng và ấm áp. Mùa xuân mới đã đến, năm mới đã về, hứa hẹn mang đến thử thách mới, niềm vui mới mà cả ba người họa sĩ sẽ sát cánh bên nhau để vượt qua… | Đóng vai Xiu kể lại truyện Chiếc lá cuối cùng | 1,138 | |
Đóng vai Xiu kể về quá trình hồi phục trong “Chiếc lá cuối cùng” – Đề và văn mẫu 8
Hướng dẫn
Bài làm
Bệnh tình của Giôn-xi ngày càng nặng. Tôi và cụ Bơ-men hết sức lo lắng tìm mọi cách động viên, cố giữ cô ta lại với cuộc sống. Bởi Giôn-xi đã suy sụp tinh thần và đang nghĩ đến cái chết của mình từng ngày, từng giờ như số phận mong manh của chiếc lá thường xuân cuối cùng nơi cửa sổ cô nằm trong đêm mưa tuyết dữ dội.
Sáng hôm ấy, tôi vừa tỉnh dậy thì thấy Giôn-xi đang thẫn thờ nhìn tấm mành mành che kín cửa sổ và thều thào ra lệnh:
– Kéo nó lên, em muôn nhìn!
Tôi lo lắng kéo tấm mành lên. Nhưng, ô kìa! Sau một đêm mưa tuyết dữ dội, vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch. Chiếc lá cuối cùng vẫn chưa rụng.
Giôn-xi nói với tôi: “Em cứ tưởng là nhất định trong đêm qua nó đã rụng. Em nghe thấy gió thổi. Hôm nay nó sẽ rụng thôi và cùng lúc đó thì em sẽ chết”.
Tôi hốt hoảng cúi xuống sát gối Giôn-xi, nói như van xin: “Em thân yêu, em hãy nghĩ đến chị. Chị sẽ làm gì đây nếu không còn em nữa?”.
Giôn-xi không trả lời. Cô đang nghĩ đến cái chết sắp đến đưa cô đi.
Ngày hôm đó trôi qua và ngay cả trong ánh hoàng hôn, tôi và Giôn-xi vẫn trông thấy chiếc lá thường xuân đơn độc níu vào cái cuống của nó trên tường. Rồi đêm buông xuống và gió bấc lại ào ào, mưa tuyết vẫn đập mạnh vào cửa sổ nơi Giôn-xi nằm. Tôi thầm nghĩ không biết số phận của chiếc lá và cô gái sẽ sao đây?
Hôm sau, khi trời vừa hửng sáng thì Giôn-xi lại ra lệnh kéo mành lên. Thật tàn nhẫn nhưng… thật lạ quá! Tôi không tin vào mắt mình nữa! Chiếc lá thường xuân vẫn còn đó.
Tôi thấy Giôn-xi nhìn chiếc lá hồi lâu. Rồi Giôn-xi gọi tôi khi tôi đang quấy món cháo gà trên lò hơi đốt và nói với tôi những câu rất lạ:
– Em thật là một con bé hư, có phải không chị Xiu thân yêu? Có một cái gì đây đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đó để cho em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội.
Cô nói líu ríu với tôi như một đứa em gái nhỏ làm nũng chị:
– Giờ thì chị có thể cho em xin tí cháo và chút sữa pha ít rượu vang đỏ và – khoan – chị hãy đưa cho em một chiếc gương tay trước đã, rồi xếp mấy chiếc gối lại quanh em, để em ngồi dậy xem chị nấu nướng.
Sau đó một tiếng đồng hồ, Giôn-xi nói với tôi trong ánh mắt tươi vui chưa từng có:
– Chị Xiu thân yêu ơi! Một ngày nào đó em hi vọng sẽ được vẽ vịnh Na-plơ.
Buổi chiều bác sĩ đến khám bệnh cho Giôn-xi. Khi tiễn ông ra về, ông cho biết bệnh tình của Giôn-xi đã giảm được năm phần mười rồi. Tôi biết có công của tôi, công của bác sĩ, nhưng cái sức mạnh chủ yếu đã kéo Giôn-xi lại với cuộc sống chính là chiếc lá thường xuân cuối cùng đã không rụng xuống sau hai đêm mưa tuyết dữ dội, sau hai lần Giôn-xi ra lệnh kéo mành lên. Không phải chiếc lá thật mà là chiếc lá cuối cùng do cụ Bơ-men vẽ – một kiệt tác cụ để lại trước khi qua đời để cứu sông cô, mà sau đó tôi mới biết và kể lại cho Giôn-xi nghe. | Đóng vai Xiu kể về quá trình hồi phục trong “Chiếc lá cuối cùng” – Đề và văn mẫu 8 | 629 | |
Đóng vai Ông giáo kể lại chuyện Lão Hạc bán chó và cái chết của lão Hạc
Hướng dẫn
Đóng vai Ông giáo kể lại chuyện Lão Hạc bán chó và cái chết của lão Hạc
Bài làm
Những năm 1930 – 1945 xã hội thực dân nửa phong kiến bóp ngẹt đời sống của người dân lao động khiến cuộc sống ngày càng cơ cực lầm than không riêng gì người nông dân mà cả tầng lớp tri thức như tôi – Ông giáo làng nghèo khổ cũng bị dồn vào mức đường cùng không có lối thoát. Câu chuyện của Lão Hạc – một hàng xóm của tôi phải bán con chó vàng yêu quý và phải tìm đến cái chết khiến tôi day dứt mãi. Ôi, một kiếp người!
Lão Hạc ở gần nhà nên tôi hoàn toàn thấu hiểu hoàn cảnh của lão góa vợ lão sống cảnh gà trống nuôi con vì không đủ tiền cho con cưới vợ con lão phấn chí đi đồn điền cao su khiến lão day dứt đau đớn nhiều lần khóc vì thương con nhớ con. Lão làm thuê kiếm sống, bòn tiền vườn dành dụm cho con nhưng rồi lão ốm một trận hai tháng mười tám ngày tiêu gần hết số tiền, có con chó vàng bầu bạn cũng phải tính đến chuyện bán nó. Nhưng tôi nghe lão nói nhiều lần vẫn chưa thấy bán. Làm quái gì một con chó mà lão băn khoăn quá thế nhỉ. Thế rồi một hôm Tôi vừa sang đến sân nhà tôi lão đã thông báo ngay.
Tôi vừa hỏi cho có chuyện thì lão bật khóc: Mặt lão… xưa, cụ Nguyễn Khuyến đã từng viết:
“Tuổi già hạt lệ như xương
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan?”
Tuổi già nước mắt thường lẩn vào trong nỗi dau kìm nén thế mà lão Hạc khóc như con trẻ. Phải chăng nỗi đau đã vỡ òa thành những giọt nước mắt, Lão cho rằng mình đã lừa một con chó. Tấm lòng lão nhân hậu quá! Tâm hồn lão mới thánh thiện làm sao!
Tôi định mời lão ăn khoai luộc uống nước chè tươi, một niềm vui dung dị, tìm lời an ủi lão. Rồi lão cũng nguôi ngoai nhưng từ chối lời mời của tôi. Bởi lão muốn nhờ tôi mấy việc. Việc thứ nhất là trông hộ mảnh vườn cho con trai việc thứ hai là gửi ba mươi đồng bạc lo ma sợ phiền lụy bà con lối xóm. Ôi tấm lòng của lão Hạc không chỉ dành cho con mà còn rất giàu lòng tự trọng. Đó là vẻ đẹp dáng quí ẩn dấu dưới vẻ bề ngoài tưởng như gàn dở lẩn cẩn.
Từ sau hôm ấy lão Hạc sống mòn chế được món gì thì ăn món đấy. Tôi ngấm ngầm giúp đỡ nhưng lão biết vợ tôi không ưa nên lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Một lần nữa tôi càng kính trọng hơn lòng tự trọng của lão.
Bỗng có tiếng xôn xao bên nhà lão Hạc tôi vội chạy sang tôi không thể tin nổi: Lão Hạc dùng bả chó để tự tử. Ôi một cái chết đau đớn dữ dội vật vờ, lão tru tréo bọt mép, sùi ra hai mắt lăn sòng sòng thỉnh thoảng lại giặt nảy người nên một cái, một cái chết thương tâm quá! Thì ra từ lúc bán con chó vàng lão đã bán đi niềm hi vọng sống âm thầm chuẩn bị cho mình cái chết. Phải chăng đó là cái chết vì con để chấm dứt kiếp sống mòn, để tránh tha hóa biến chất để khẳng định lương tâm trong sạch?
Hỡi ơi lão Hạc! Lão đã ra đi như thế này ư? Đó là kiếp người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng không có lối thoát. Xã hội này đen bạc quá! Là người trí thức tôi phải làm gì để góp phần xóa bỏ xã hội bất nhân này xây dựng cuộc sống này. Đó là câu hỏi khiến tôi day dứt và khao khát hành động. | Đóng vai Ông giáo kể lại chuyện Lão Hạc bán chó và cái chết của lão Hạc | 684 | |
Đề bài: Đơn xin học lớp bồi dưỡng
Bài làm
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN XIN NHẬP HỌC LỚP BỒI DƯỠNG NHẠC
Kính gửi: Ông Giám đốc Cung văn hoá thiếu nhi Long An.
Tôi tên là Trần Quốc Văn sinh năm 1986. hiện cư ngụ tại 65 đường Huỳnh Thúc Kháng.
Nay làm đơn này kính xin ông Giám đốc cho tôi được ghi tên tham dự lớp hồi dưỡng nhạc do Cung vãn hoá tổ chức.
Nếu được chấp thuận, tôi hứa sẽ chấp hành tốt nội quy và cố gắng học tập thật tốt để khỏi phụ lòng ông Giám đốc.
Trân trọng cảm ơn ông.
…. ngày… tháng… năm…
Kính đơn
Trần Quốc Văn | Đơn xin học lớp bồi dưỡng | 118 | |
Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Em hiểu câu nói đó như thế nào?
Hướng dẫn
Ông Nguyễn Bá Học (1857 – 1921), người làng Nhân Mục, tỉnh Hà Đông, là một nhà giáo mà cũng là một nhà văn. Ông tác giả của tập Lời khuyên học trò, một tập sách gồm những lời khuyên nhằm dẫn dắt học sinh trên con đường tu dưỡng và rèn luyện bản thân. Để khuyên lớp trẻ khi làm bất cứ công việc gì cũng phải có ý chí, vượt qua mọi khó khăn trở ngại để nhằm đi đến chỗ thành đạt, ông viết: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Chúng ta cần hiểu câu nói của Nguyễn Bá Học như thế nào.
Bằng cách nói bóng bẩy đầy hình ảnh, nhà văn cho rằng con đường ta đi, muốn tới được đích nhiều khi giải vượt qua núi cao, sông sâu, hiểm trở, gian lao nhưng nếu quyết tâm thì vẫn tới đích được. Nghĩa chủ yếucủa câu nói trên vẫn là nghĩa bóng, “đường” ở đây là đường đi tới đích, nói cách khác, “đường” chỉ đích mà con người muốn đến, muốn đạt được. “Sông”, “núi” là hình ảnh tượng trưng cho sự trở ngại to lớn của hoàn cảnh khách quan, còn “lòng người” ở đây chính là ý chí của con người.
Hiểu như vậy ta mới thấy qua câu nói ấy, nhà văn đã khẳng định sức mạnh ý chí có thể giúp chúng ta vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, thử thách để đạt được thành công.
Nhà văn đã trả lời: Đường đi khó “vì lòng người ngại núi e sông”. Nói như thế có nghĩa là ý chí, nghị lực có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện ý muốn của mình. Có ý chí vững chắc, có quyết tâm cao, con người có thể vượt qua được mọi khó khăn, trở ngại để đi đến đích. Thiếu ý chí, thiếu quyết tâm thì cho dù đường di thuận lợi cũng chẳng vượt qua được. Bác Hồ đã từng nói: Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên” đó sao?
Cả những việc khó khăn hơn “đào núi và lấp biển” như bay vào vũ trụ, đổ bộ lên mặt trăng, khai thác tài nguyên trong lòng đất, dưới đáy biển sâu, con người đã làm được cũng nhờ vào sự bền lòng, quyết chí của mình.
Ngay thực tế lịch sử của dân tộc ta, một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, một trăm năm nô lệ giặc Tây, các cuộc kháng chiến trường kì gian khổ chống quân xâm lược đều là sự thử thách ý chí sắt đá của dân tộc. Nếu “ngại núi e sông” thì dễ chi dân tộc ta được tự do, độc lập, xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên dân giàu nước mạnh như hôm nay. Ý chí mạnh mẽ, quyết tâm sắt đá đó phải chăng là chất vàng ròng, là hương sen mà nhà thơ Tố Hữu đã ngợi ca:
Chúng muốn đốt ta thành tro bụi
Chúng muốn ta bán mình ô nhục
Ta làm sen thơm ngát trong đầm.
(Việt Nam máu và hoa – TốHữu)
Gần gũi hơn, quanh ta, thiếu chi những bạn nhỏ giàu quyết tâm và nghị lực. Trong hoàn cảnh khó khăn vẫn không nản lòng, vừa làm lụng giúp đỡ người thân, vừa lo kiếm sông, vừa học tập để vươn lên thành người hữu dụng trong xã hội.
Câu nói của nhà văn Nguyễn Bá Học có kết cấu cân đối, nhịp nhàng với hình ảnh cụ thể đã nêu lên cho chúng ta một chân lí cuộc đời. Đó là một bài học, một lời nhắc nhở với mọi người, mọi thế hệ về sức mạnh và sự cần thiết của ý chí con người. Câu nói giúp chúng ta luôn luôn rèn nghị lực trong cuộc sống hàng ngày, luôn quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đạt được kết quả mà mình mong muốn. | Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông. Em hiểu câu nói đó như thế nào_ | 707 | |
Đất là mẹ – Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Ngữ Văn 6
Hướng dẫn
Đất là mẹ – Về bài Bức thư của thủ lĩnh da đỏ của Xi-át-tơn.
Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Ngữ Văn 6
Bảo vệ thiên nhiên và môi trường hiện nay là vấn đề sống còn đối với nhân loại. Tất nhiên phải có sự đồng thuận và những biện pháp có tính chất chiến lược toàn cầu. Song, để có được những hành động kịp thời và hiệu quả ấy, con người phải tự đổi mới về nhận thức. Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Xi-át-tơn góp phần tích cực vào tư tưởng, tình cảm của chúng ta trên phương diện vừa nêu.
1. “Đất là mẹ”. Luận điểm quan trọng này chạy suốt bài văn, và riêng ở phần đầu bức thư, nó mở ra một quan niệm hoàn toàn mới mẻ. Vì sao “mỗi tấc đất là thiêng liêng”, nghĩa là một khái niệm vật chất đã được tinh thần hoá? Vì một mặt, “mỗi lá thông óng ánh, mỗi bờ cát, mỗi hạt sương…” đối với người dân da đỏ đã trở nên không khí trong lành để sống, để hít thở hằng ngày. Và một mặt khác, nó là trí tuệ, là khái niệm. Đất vừa là không gian vừa là thời gian, và tất cả điều này đã trở nên máu thịt: “Những dòng nhựa chảy trong cây cối cũng mang trong đó kí ức của người da đỏ”. Câu văn chân thành như một lời tâm niệm, một tiếng nói trung thực tha thiết của lương tâm. Hình ảnh bà mẹ trở đi trở lại nhiều lần ở đoạn văn nhằm khẳng định quan hệ huyết thống, mà khi đã có quan hệ huyết thống thì không thể chia cắt, tách rời: “Chúng tôi là một phần của mẹ, và mẹ cũng là một phần của chúng tôi”. Người với bông hoa là chị, là em: người với mỏm đá, vũng nước,… đều cùng chung một gia đình. Dòng nước đâu chỉ là những giọt nước, nó là “máu của tổ tiên chúng tôi”. Tiếng thì thầm của nó chính là “tiếng nói của cha ông chúng tôi”. Luận điểm quan trọng này một mặt phản ánh quan hệ cộng sinh giữa con người với môi trường sống từ buổi sơ khai, nhưng một mặt nó xác nhận một quy luật trường tồn: con người muốn tồn tại, phải dựa vào thiên nhiên để tồn tại. Và như thế, đồng thời nó dự báo những nguy cơ: con người sẽ tự huỷ diệt nếu những khế ước thiêng liêng giữa con người với môi trường đã được thiết lập một cách tự nhiên bị xâm phạm. Và không dưới hai lần, khế ước tinh thần ấy được gọi tên một cách nôm na là “kí ức của người da đỏ”.
Thế là: biến đất đai thành vật bán mua, biến nông thôn thành đô thị, nhưng quá quắt hơn, họ biến bầu không khí vốn là của chung, của muông thú, cỏ cây, cả người da trắng cũng cùng sẻ chia “hít thở bầu không khí đó” thành đối tượng chẳng đáng quan tâm. Điều đáng nói ở đây, cũng thật vô lí ở đây: tác giả bức thư lưu ý cả đến quyền lợi của những người đi chinh phục, trong lúc chính kẻ đi chinh phục lại chẳng đoái hoài. “Nếu có bán cho Ngài mảnh đất này, Ngài phải giữ gìn và làm cho nó thành một nơi thiêng liêng cho ngay cả người da trắng cũng có thể thưởng thức được những làn gió thấm đượm hương hoa đồng cỏ”, (ở đoạn trước: những âm thanh của mùa xuân đối với họ không có ý nghĩa gì hơn là những tiếng ồn ào lăng mạ trong tai). Cách lập luận dẫn đến cao trào khi người viết bức thư so sánh hai hình ảnh một thuộc về thiên nhiên, còn một thuộc về nền văn minh hiện đại: “con trâu rừng” và “con ngựa sắt nhả khói”. Nếu xét về phương diện ích lợi trong giao thông thì: “con ngựa sắt nhả khói” là vô địch, là niềm tự hào. Nhưng nếu chỉ cần đến nó mà bắn bỏ những con trâu rừng thì khi đoàn tàu chạy qua lại là một hành vi tự sát. Câu văn sau đây vượt qua sự khập khiễng của biện pháp so sánh thông thường để đạt đến một sự tiên tri, minh triết: “Tôi là kẻ hoang dã, tôi không hiểu nổi tại sao một con ngựa sắt nhả khói lại quan trọng hơn nhiều con trâu rừng mà chúng tôi chỉ giết để duy trì cuộc sống”. Một câu hỏi không có hồi âm vì không thể có một cách nào đó trả lời, vậy bản thân nó đã là chân lí, một sự thật hiển nhiên. | Đất là mẹ – Bức thư của thủ lĩnh da đỏ Ngữ Văn 6 | 821 | |
Đầu tuần, trường em thường có tổ chức lễ chào cờ. Em hãy tả lại một buổi lễ chào đó
Gợi ý
Những tia nắng dịu mát của buổi bình minh như theo em vào đến trường. Hôm nay là ngày thứ hai, mới sáng sớm mà học sinh tập hợp đầy cả sân trường để chuẩn bị làm lễ chào cờ.
Lúc này sân trường nhộn nhịp hẳn lên, tiếng cười nói râm ran. Trước dãy lớp gần nơi làm lễ, các bạn trực nhật đang sắp xếp lại các dãy ghế để thầy cô đến ngồi dự lễ. Giữa sân là một cột cờ thẳng cao khoảng mười thước được sơn trắng. So với nhừng ngày trong tuần, hôm nay sân trường trở nên sạch sẽ hơn, có lẽ bác bảo vệ đã chuẩn bị nên quét từ sáng sớm.
Bỗng một hồi trống vang lên. Không ai bảo ai, tất cả học sinh đều chạy ngay đến chỗ lớp mình xếp hàng ngay ngắn. Bạn lớp trưởng đứng ra chỉ huy. Sân trường bớt đi phần ồn ào và dường như rộng hẳn ra. Hàng ngũ thẳng tắp trông chẳng khác nào như một doanh trại đang tập hợp binh lính thật nghiêm túc và trật tự. Các lớp trưởng đến báo cáo về sỉ số lớp mình. Trong lúc này, thầy cô lần lượt đến ngồi trên các dãy ghế. Hôm nay thầy cô nào cũng tươi vui rạng rỡ hơn sau một ngày chủ nhật nghỉ ngơi thoải mái. Các tà áo dài đủ màu sắc thật thướt tha của các cô như điểm thêm cho buổi lễ sinh động hơn, đẹp mắt hơn. Rồi một tiếng hô: “Nghiêm” thật to của bạn chỉ huy liên đội khiến tất cả trở nên im lặng. Tất cả hướng về phía cột cờ. Buổi lễ chào cờ bắt đầu. Lá quốc kỳ được kéo lên bay phần phật trong gió. Tiếng hát của bài quốc ca trầm hùng vang lên bay cao bay xa khiến em tưởng như tiếng bước chân dồn dập của đoàn quân ta ngày nào thật oai hùng tiến ra mặt trận. Trên đỉnh cột cờ, lá quốc kỳ đang lượn mình theo gió, dưới sân trường, bài Quốc ca hùng tráng đang hòa vào không gian. Tất cả học sinh hát thật to, hát say sưa bằng tất cả trái tim, tất cả tấm lòng theo lời ca tiếng hát ấy. Dường như trong tiếng hát ấy em hình dung được nỗi nhọc nhằn gian lao cũng như những hy sinh mất mát của các anh chiến sĩ đã ngã xuống tô thắm cho màu cờ thêm đỏ. Chiến tích của các anh hùng liệt sĩ đã quyện trong lời ca, thắm vào lá quốc kỳ.
Bài Quốc ca chấm dứt, thầy Hiệu trưởng có vài lời nhận xét và nhắc nhở với học sinh. Trong bầu không khí thật yên tĩnh, tiếng thầy vang lên nghe thật rõ và ấm áp làm sao ấy. Lời thầy dặn dò như một người cha ân cần giáo dục con cái. Chúng em như uống từng lời giáo huấn ấy, lòng dặn lòng cố thực hiện cho thật tốt những điều thầy vừa phổ biến. Một cơn gió thoảng qua, những chiếc lá me, lá phượng li ti bay bay rơi nhẹ trên tóc của học sinh đang ngồi ở dưới sân. Đây đó trên cành vài con chim đùa giỡn hót líu lo. Dường như chúng muốn chia sẻ niềm vui với chúng em vì lớp của chúng em được thầy Hiệu trưởng khen lớp có kỷ luật tốt và học tốt nhất trong tuần vừa qua.
Buổi chào cờ đã xong. Học sinh tuần tự vào lớp học tiết đầu tiên. Những ánh mắt nụ cười của bạn bè lớp em trao nhau như ngầm nhắc nhở phải cố gắng hơn nữa để giữ mãi danh hiệu thi đua cho lớp. Em cũng tự thầm hứa với mình là phải làm như vậy đó. | Đầu tuần, trường em thường có tổ chức lễ chào cờ. Em hãy tả lại một buổi lễ chào đó | 666 | |
Đặc sắc nghệ thuật trong Vợ chồng A Phủ
Hướng dẫn
Những thành công nghệ thuật trong Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài
Truyện Vợ chồng A Phủ đã rất thành công khi miêu tả chân thực số phận nô lệ cực khổ của người dân lao động nghèo Tây Bắc dưới ách thống trị của bọn cường quyền phong kiến miền núi. Mỵ và A Phủ là điển hình cho những số phận khổ đau bị thần quyền và cường quyền ràng buộc, bóc lột, áp bức đến cùng kiệt.
Truyện còn phơi bày bản chất tàn bạo, bất nhân của giai cấp phong kiến thống trị ở miền núi. Cha con thống lí Pá Tra là đại điện tiêu biểu cho sức mạnh ấy. Chúng xem con người như những công cụ làm việc, như con thú được nuôi trong nhà. Chúng mặc sức hành hạ, đánh đập khi cảm thấy bực bội hoặc để làm trò vui mỗi khi chúng muốn.
Lối sống động vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên và phong tục, tập quán của người dân miền núi Tây Bắc cũng được miêu tả sâu sắc bằng tấm lòng trân trọng của nhà văn. Toàn bộ khung cảnh núi rừng Tây Bắc dưới ngòi bút của nhà văn trở nên tươi đẹp, hiền hòa như muốn che chở cho con người. Con người hòa vào thiên nhiên trong những hội xuân tưng bừng. Thiên nhiên đi vào cuộc sống, tràn ngập trong từn bước chân, từng tiếng hát. Mỗi lá cây, mỗi ngọn cỏ đều rưng rức sự sống, trở thành một phần trong tâm hồn những con người bình dị, chấc phác.
Vợ chồng A Phủ còn là bài ca ca ngợi và khẳng định mạnh mẽ niềm tin vào vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của con người. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến mức nào, con người cũng không mất đi khát vọng sống tự do và hạnh phúc. Trong vô thức, Mỵ vẫn muốn đi chơi dẫu đang bị trói và những cơn đau hành hạ. Dù không còn muốn sống nữa nhưng Mỵ vẫn muốn cứu A Phủ, muốn người khác được sống. Và khi thức ngộ được hoàn cảnh, Mỵ đã tự tìm lấy con đường sống cho chính mình.
Truyện còn thể hiện lòng yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc của nhà văn đối với thân phận đau khổ của người lao động nghèo miền núi, lên tiếng phê phán quyết liệt những thế lực chà đạp con người. Thông qua câu chuyện, nhà văn đã chỉ ra cho người dân miền núi Tây Bắc nói riêng, những số phận khổ đau nói chung con đường tự giải thoát khỏi những bất công, con đường làm chủ vận mệnh của mình.
Từ trong tuyệt vọng, họ đã tìm thấy con đường sáng, con đường đi đến tương lai dù biết rằng phía trước vẫn còn muôn vàn trắc trở. Mỵ và A Phủ đã cùng đến Hồng Ngài. Họ bắt đầu xây dựng cuộc sống mới với niềm tin tưởng lớn lao. Họ còn được giác ngộ lí tưởng Cách mạng và tham gia giải phóng bản làng ra khỏi sự áp bức của thực dân và cường quyền miền núi. Họ thực sự đã tìm thấy con đường sống đích thực cho mình và cho nhiều người khác.
Tô Hoài đã rất thành công khi lựa chọn cách kể chuyện điềm tĩnh, chắc chắn, lối cuốn, đầy bất ngờ. Cách giới thiệu nhân vật tự nhiên mà ấn tượng. Cách dẫn dắt tình tiết khéo làm cho mạch truyện phát triển và vận động liên tục, biến đổi hấp dẫn mà không rối, không trùng lặp. Các nhân vật lần lượt xuất hiện trong hoàn cảnh của họ, mạnh mẽ, đầy sức sống. Họ bước vào câu chuyện và tạo lập nên các tình huống gây cấn, thu hút người đọc.
Ngôn ngữ kể chuyện sinh động, chọn lọc và đầy sáng tạo. Lối văn giàu tính tạo hình, thấm đẫm chất thơ. Hình tượng nhân vật nổi bậc lên với những đặc điểm điển hình ở họ. Mỵ xinh đẹp nhưng buồn bã. Một nỗi buồn triền miên, dai dẳng, có sức hủy hoại lớn. A Phủ khỏe khoắn, lực lưỡng, tài năng, hứu hẹn một cuộc đời đẹp đẽ. Nhưng hoàn cảnh khắc nghiệt đã khiến cho anh mất dần sức trai trẻ.
Nghệ thuật tả cảnh đặc sắc. Cảnh thiên nhiên thơ mộng của núi rừng Tây Bắc được miêu tả bằng ngôn ngữ giàu chất thơ và chất tạo hình (cảnh mùa xuân về trên núi Hồng Ngài). Đời sống lao động và văn hóa của người miền núi với những nét sinh hoạt phong tục riêng, sinh động. Từ cảnh đêm tình mùa xuân đầy luyến lưu đến cảnh cúng trình ma oan nghiệt được miêu tả tỉ mỉ. Kể cả cảnh xử kiện cũng được trình bày một cách rõ ràng. tất cả phơi bày trước mắt người động hết sức sinh động như cuộc sống đang diễn ra.
Tác phẩm đặt ra vấn đề số phận con người miền núi trước và sau Cách mạng. Những con người dưới đáy xã hội, những con người bị tước đoạt hết tài sản, bị bóc lột sức lao động và bị xúc phạm nặng nề về nhân phẩm. Giải quyết vấn đề số phận con người, Tô Hoài đã thức tỉnh họ, đưa họ đến với ánh sáng cách mạng và mở ra cho họ một cuộc sống mới. | Đặc sắc nghệ thuật trong Vợ chồng A Phủ | 928 | |
Đặc điểm và cách làm bài văn tự sự – Ngữ văn 9
Hướng dẫn
Đặc điểm và cách làm bài văn tự sự
I. ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CỦA VĂN TỰ SỰ
Trong cuộc sống, con người có nhu cầu giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen, chê. Trẻ em muốn nghe kể chuyện cổ tích, một nhóm người hay một người muốn biết về một người khác là người như thế nào, muốn tìm hiểu câu chuyện xảy ra với người bạn của mình khiến bạn đó phải chuyển trường, hoặc đơn giản muốn sẻ chia với bạn một chuyện cảm động hay lạ lùng mà mình chứng kiến… Khi chúng ta đáp ứng những nhu cầu đó, tức là chúng ta đã sử dụng phương thức tự sự hay còn gọi là kể chuyện.
Tự sự là cách trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê. Tự sự khác với miêu tả ở chỗ nó không tả tỉ mỉ, chi tiết theo chủ quan của người kể (không nhằm mục đích làm cho người đọc cảm thấy mà chủ yếu là làm cho họ nắm được) ; khác với văn bản biểu cảm vì nó cố gắng trình bày một cách khách quan, theo trình tự, lớp lang, không bộc lộ trực tiếp tình cảm riêng của người kể (mặc dù có tỏ thái độ khen, chê); khác với nghị luận vì nó trình bày diễn biến của sự việc, chứ không trình bày luận điểm, lí lẽ. Văn bản tự sự cũng khác với văn bản hành chính – công vụ ở chỗ nó không giải quyết các mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, mà hướng tới làm cho người ta hiểu ý nghĩa của một quá trịnh sự việc nảy sinh, phát triển và kết thúc.
Sự việc trong văn tự sự cần được trình bày một cách cụ thể: xảy ra vào thời gian nào, địa điểm xảy ra ở đâu, có những nhân vật nào tham gia, nguyên nhân xảy ra sự việc, diễn biến, kết quả. Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự, diễn biến sao cho thể hiện được rõ nhất tư tưởng mà người kể muốn truyền đạt.
Nhân vật trong văn tự sự là người thực hiện các sự việc được kể trong văn bản. Nhân vật chia làm hai loại. Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng của văn bản. Nhân vật phụ giúp cho nhân vật chính và làm rõ nhân vật chính. Nhân vật được thể hiện ở các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết hình dáng, việc làm,… đặc biệt là trong mối quan hệ với nhân vật khác.
II – CÁCH LÀM BÀI VĂN TỰ SỰ
1. Tri thức để làm bài văn tự sự
Bài văn tự sự có những yêu cầu khác nhau thể hiện ở yêu cầu của đề bài. Muốn viết được bài văn tự sự (kể chuyện) thì phải đọc hoặc nghe kể chuyện ; tự mình chứng kiến sự việc, tham gia vào sự việc ; có quen biết, gặp gỡ với người mình định kể (hoặc đã đọc và biết về người đó qua sách vở). Bao giờ cũng phải xác định yêu cầu chủ yếu là kể người, kể việc hay tường thuật.
Muốn có tri thức, người viết phải trực tiếp tìm hiểu sự việc, nhân vật, quan sát, ghi chép, hỏi những người am hiểu,… Đó là cách tích luỹ kiến thức trực tiếp. Tuy nhiên, tri thức cũng có thể tích luỹ một cách gián tiếp thông qua sách vở, thông qua mạng In-tơ-nét,.;. Cũng có khi phải sử dụng kết hợp cả hai nguồn tri thức với nhau.
Bài văn tự sự cũng được làm theo quy trình chung gồm 4 bước của một bài tập làm văn: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài và sửa bài. Muốn viết được bài văn tự sự thành công thì phải tìm hiểu đề và tìm được các ý cho bài viết đó. Sau khi tìm được ý, phải chọn ngôi kể và giọng kể cho phù hợp. Sau đó là lập dàn ý theo bố cục ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) và viết bài. Trong khi viết có thể bổ sung, thêm bớt ý cho dàn bài hoàn chỉnh. Bước cuối cùng là sửa lại bài viết, nhất là sửa các lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp.
3. Ngôi kể trong văn tự sự
Tự sự là kể chuyện. Trong khi kể, có nhiều cách kể khác nhau, nhưng có hai ngôi kể chủ yếu quyết định nội dung câu chuyện.
Ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi”, kể lại câu chuyện mình tham gia hay chứng kiến. Người kể trực tiếp kể những gì mình nghe, mình thấy, mình trải qua; có thể trực tiếp nói ra cảm tưởng, ý nghĩ của mình. Những truyện như Dê Mèn phiêu lưu kí, Bức tranh của em gái tôi, Buổi học cuối cùng (Ngữ văn 6) ; Cuộc chia tay của những con búp bê (Ngữ văn 7) ; Tôi di học, Những ngày thơ ấu, Lão Hạc (Ngữ văn 8) ; Chiếc ỉược ngà, Cố hương (Ngữ văn 9),… đều kể theo ngôi thứ nhất.
Ngôi kể thứ ba, người kể chuyện như tự giấu mình, chỉ gọi nhân vật bằng tên của chúng. Người kể không xuất hiện nhưng biết hết những chuyện xảy ra với nhân vật, có thể kể tự do, linh hoạt tất cả những điều đó. Hầu hết các truyện cổ tích đều kể theo ngôi kể thứ ba. Con hổ có nghĩa, Mẹ hiền dạỵ con, Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng (Ngữ văn 6) ; Sống chết mặc baỵ, Những trò ìố hay là Va-ren uà Phan Bội Châu (Ngữ văn 7) ; Tức nước ƯỠ bờ, Cô bé bán diêm, Đánh nhau uới cối xay gió, Chiếc lá cuối cùng (Ngữ văn 8) ; Chuyện người con gái Nam Xương, Hoàng Lê nhất thống chí, Làng, Lặng lẽ Sa Pa, Bên quê,… (Ngữ văn 9) đều là những văn bản tự sự dùng ngôi kể thứ ba!
Cũng có sự kết hợp giữa ngôi kể thứ nhất với ngôi kể thứ ba theo cách chuyển đổi hoặc thêm ngôi kể ; hoặc kể theo ngôi thứ ba nhưng lại thông qua điểm nhìn, cách suy nghĩ của một nhân vật nào đó ; hoặc ngôi kể là chúng tôi, nhưng thực chất chỉ là một trong số các nhân vật (ví dụ Vượt thác, Những ngôi sao xa xôi).
Lựa chọn ngôi kể thích hợp tuỳ thuộc vào năng lực và ý thích, thói quen của người tạo lập văn bản. Cốt sao sự lựa chọn đó có lợi nhất cho việc thể hiện tư tưởng chủ đề của văn bản. | Đặc điểm và cách làm bài văn tự sự – Ngữ văn 9 | 1,198 | |
Đề 1 – Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi (P1) – Văn tự sự – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Đề 1 – Người ấy sống mãi trong lòng tôi
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
+ Trước hết, em cần chọn cho mình một đối tượng cụ thể:
– Nếu đó là bạn, thì đó là người bạn nào? Tên gì? Ngoại hình, tính cách, hoạt động ra sao? Có mối quan hệ với em như thế nào? Từ đâu em có được người bạn này?
– Nếu đó là thầy, cô; thì người thầy, người cô ấy tên là gì? Dạy môn học nào? Ngoại hình, tính cách, hoạt động ra sao? Em có ấn tượng như thế nào về giáo viên này?
– Nếu đó là người thân, thì người thân ấy là ai (ba, mẹ, ông, bà, anh, chị, em,…)? Tên gì? Có mối quan hệ với em như thế nào? Em có cảm nhận như thế nào về người thân này?
+ Ở những nét về ngoại hình, tính cách, hành động liên quan đến nhân vật này thì em cần cảm nhận đặc điểm nào gây một ấn tượng mạnh đối với em?
+ Cảm nghĩ của em về nhân vật này?
DÀN Ý CHI TIẾT
Lấy ví dụ là NGƯỜI BÀ.
I. MỞ BÀI
Có thể dẫn dắt bằng một đôi câu thơ hay bài hát liên quan đến bà. (Bà ơi bà, cháu yêu bà lắm…)
Ngoài cha mẹ là những người sinh thành, dưỡng dục, yêu thương tôi thì người bà cũng là một người tôi luôn kính trọng.
II. THÂN BÀI
1. Miêu tả bà
Vóc dáng, ngoại hình:
+ Lớn tuổi: theo thời gian, tuổi bà đã cao.
+ Tóc bạc trang: tóc bà đã bạc trắng vì sự vô tình của thời gian.
+ Đôi mắt: vẫn còn tinh anh, nhìn rõ tuy đã có vô vàn vết chân chim nơi khóe mắt.
+ Nụ cười: hiền từ, ấm áp chan chứa tình yêu thương con cháu.
+ Đôi bàn tay: gầy guộc và làn da đầy vết đồi mồi.
+ Vóc người: lưng còng, đi chậm rãi vì tuổi cao sức yếu.
+ Trang phục: bộ bà ba màu nâu chân chất, mộc mạc đời thường.
Tính cách:
+ Đối với mọi người xung quanh: luôn quan tâm, giúp đỡ.
+ Đối với gia đình: luôn yêu thương con cái và các cháu của mình, phụ một phần việc cho con cái trong việc trông nhà, giữ cháu,…
2. Kể một kỉ niệm sâu sắc giữa em và bà để thể hiện đúng đề bài “…sống mãi trong lòng tôi”
Tôi là một đứa trẻ có sở thích là hay ăn quà vặt. Hôm ấy, tôi thèm món chè đậu xanh mà bà hay nấu.
Thế là tôi bảo với bà rằng: “Bà ơi, hôm nay bà nấu chè cho cháu ăn nhé, cháu thèm quá”.
Hôm ấy, bà dường như không được khỏe trong người nhưng vẫn cố gắng đi chợ mua đồ về để nấu cho tôi ăn.
Trong khi đó, tôi cũng chỉ là một cậu bé hồn nhiên vô tư chẳng biết gì, chẳng quan tâm gì mà chỉ biết mong chờ món chè mà bà sắp nấu.
Nhìn bà đãi đậu xanh, vắt nước cốt dừa đầy vất vả. Có thể do bà hơi mệt trong người nên ngưng tay một lúc lâu.
Tôi hỏi bà: “Bà có khỏe không, cháu thấy sắc mặt bà không được tốt”. Bà bảo không việc gì phải lo.
Bà tiếp tục nhóm củi, nấu nước.
Nhìn bà vất vả như vậy, sao tự nhiên tôi thấy thương bà quá đỗi!
Tôi cầm chén chè thơm mát, nóng hổi trên tay, ăn từng muỗng chè mà tưởng như nó đong đầy tình cảm bà cháu đầy thân thương.
Sau lần nấu chè ấy, tôi càng thấy thương yêu bà hơn. Dẫu bà không được khỏe nhưng vẫn cố gắng nấu cho cháu của mình những chén chè thơm ngon.
Tôi biết ơn bà nhiều lắm.
3. Cảm nhận về Bà
Bà là người mà tôi luôn hằng quý trọng trong tim.
Mỗi khi vắng mẹ, bà là người đưa tôi vào giấc ngủ say nồng bằng những lời ru ngọt ngào, dịu êm.
III. KẾT BÀI
Tuy bà đã không còn trên cõi đời này nữa nhưng hình ảnh cùa bà vẫn đọng mãi trong tim tôi.Tôi hứa rằng sẽ luôn chăm lo học hành, ngoan ngoãn để trở thành con ngoan trò giỏi, không phụ lòng những người luôn yêu thương và quan tâm đến tôi như người bà thuở nào.
BÀI VĂN THAM KHẢO
BÀI VĂN 1
Cuộc sống của chúng ta có rất nhiều điều thú vị. Những sự vật, hiện tượng, vạn vật gần gũi với chúng ta từng ngày bỗng trở nên quen thuộc. Chắc hẳn ai ai trong lòng cũng có một người quen thuộc, gần gũi và bên ta mỗi ngày. Tôi cũng vậy. “Mẹ” – một tiếng gọi thiêng liêng nhất đời mà tôi luôn tôn thờ và kính trọng.
Mẹ tôi năm nay đã hơn bốn mươi tuổi nhưng nhìn mẹ vẫn còn rất trẻ. Mẹ có mái tóc nâu hạt dẻ tự nhiên óng ánh rất đẹp. Gương mặt hình trái xoan với đôi mắt tượng trưng cho cửa sổ tâm hồn lúc nào cũng nhìn tôi một cách trìu mến và thân thương. Bên cạnh đôi mắt ấy chính là chiếc mũi cao cao rất hợp với gương mặt và cùng với đôi môi hồng rạng rỡ, lúc nào cũng mỉm cười, lộ ra hàm răng trắng đều. Khi mẹ cười, đôi má mẹ ửng hồng cùng với những nét trên khuôn mặt khiến tôi cảm thấy vui và nhìn thấy sự thuần khiết, trong trẻo trong nụ cười ấy. Thời gian trôi qua, trôi qua nhẹ nhàng nhưng nó lại không chờ đợi bất kì điều gì. Tôi không thích thời gian vì khi nó đi qua, nó để lại những nếp nhăn trên vầng trán cao của mẹ. Nhưng đó cũng chỉ là một mà thôi, bên cạnh đó mẹ tôi phải làm việc vất vả nuôi chúng tôi ăn học nên người, suy nghĩ đủ điều cho chúng tôi và cho gia đình nên vẻ đẹp chóng tàn phai như thế. Sự hi sinh ấy tôi không thể nào đáp trả hết. Tôi chỉ muốn nói với mẹ: “Mẹ ơi! Con cảm ơn mẹ. Cảm ơn mẹ đã hi sinh vì chúng con. Cảm ơn mẹ vì tất cả!”. Do phải làm việc vất vả, gian khổ nhiều nên đôi bàn tay cùa mẹ đã chai sần theo năm tháng. Càng nhìn tôi càng cảm thấy thương mẹ nhiều hơn. Làn da của mẹ không còn trắng trẻo như trước nữa cũng chỉ bởi dãi dầu mưa nắng lo cho chúng tôi.
Khi gia đình tôi có chuyện gì xảy ra, mẹ luôn tìm hiểu kĩ rồi mới đưa ra cách giải quyết hợp lí. Hơn nữa, mẹ xử lí sự việc rất nhanh gọn và không làm mất lòng mọi người xung quanh. Mỗi việc làm mẹ đều suy đi tính lại rất cẩn thận. Những điều đó đã khiến tôi rất tự hào về mẹ cùa mình.Có một lần khi tôi bị bệnh. Mẹ lo cho tôi, luôn bảo và hỏi: “Con thấy trong người như thế nào? Có nhức đầu không? Có mệt không?…” Những lo lắng sốt sắng của mẹ làm tôi thương mẹ hơn. Mẹ nhắc tôi uống thuốc, ăn đúng bữa,… Khi sốt cao mẹ chườm khăn ướt lên trán tôi để hạ sốt. Mẹ lo cho tôi hằng ngày từ miếng ăn đến giấc ngủ. Tôi rất thương mẹ. Ôi! Sao tôi thương mẹ nhiều đến như thế.
Mẹ ơi! Con yêu mẹ nhiều lắm! Mẹ là vầng trăng soi sáng bước đường con đi. Mẹ luôn cho con cảm giác hạnh phúc và bình yên trong lòng. Cuộc sống của con không thể không có mẹ. Con mất mẹ như cây mất đi nguồn nước. Đó là điều con không bao giờ dám nghĩ đến. Mẹ ơi!
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 2
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Mỗi khi nhắc đến bài ca dao trên, lòng tôi lại bồi hồi xúc động. Trong mỗi con người chúng ta, ai ai cũng có những kỉ niệm hạnh phúc bên gia đình và người thân, tôi cũng không ngoại lệ. Trong gia đình, mẹ là người luôn chăm sóc tôi cũng như gia đình một cách chu đáo nhất. Mẹ là người sống mãi trong lòng tôi.
Mẹ đã vất vả chín tháng mười ngày để sinh ra tôi. Những tiếng khóc đầu đời của tôi đã làm cho mẹ rơi những giọt nước mắt hạnh phúc, tình yêu thiêng liêng ấy không gì có thể sánh nổi. Bây giờ, mẹ tôi đã ngoài bốn mươi tuổi. Mặc cho thời gian có làm phai mờ con người, nhưng mẹ vẫn mãi trẻ đẹp trong trái tim tôi. Nghe mọi ngưòi trong xóm nói rằng lúc mẹ tôi còn thời con gái, mẹ tôi là người đẹp nhất xóm nhưng thời gian đã làm cho mẹ tôi không còn đẹp như xưa nữa. Trán mẹ giờ đã hằn in những nếp nhăn, những vết chân chim nơi khóe mắt. Ôi! Thật xót xa.
Thế nhưng, đôi lúc tôi khiến cho mẹ buồn vì những việc làm sai của mình, tôi thật sự thấy hối hận. Tôi còn nhớ như in hồi học lớp Năm, tôi làm kiểm tra chỉ được ba điểm. Khi mẹ tôi nhìn vào bài kiểm tra, mẹ liền bỏ xuống và đi lên phòng. Tôi thoáng nhìn thấy đôi mắt đo đỏ, cay cay, rồi những giọt lệ bắt đầu tuôn rơi. Có lẽ mẹ đang rất buồn vì tôi bị điểm kém. Từ đó, tôi đã tự nhủ với lòng mình rằng sẽ luôn chăm chỉ học tập thật tốt và luôn là con ngoan, trò giỏi trong lòng mọi người.
Ngày xưa, mẹ là một giáo viên dạy môn Ngữ vãn. Nhưng vì bố hay đi công tác xa, nên mẹ phải chăm sóc chị em tôi. Với vốn kiến thức ngày trước, mẹ đã truyền lại cho chúng tôi những kiến thức hữu ích về môn Văn, về cách giao tiếp ứng xử sao cho phù hợp… Mẹ như là một giáo viên rất tuyệt vời trong lòng tôi.
Đối với tôi, mẹ là tất cả. Mẹ đã hi sinh biết bao thời gian và công sức để nuôi nấng và dạy dỗ tôi nên người. Tôi nghĩ rằng, mẹ là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hôm nay và tương lai của chúng tôi. Tôi chỉ muốn nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, con yêu mẹ nhất trên đời. Con sẽ làm bất kì điều gì để mẹ vui lòng. Mẹ là tất cả của đời con.”
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 3
Chắc hẳn ai cũng đã từng một lần nuối tiếc muốn quay về tuổi thơ đầy ắp những kỉ niệm đẹp đẽ bên người thân. Tôi cũng vậy, thỉnh thoảng những năm tháng trẻ con của tôi cứ hiện lên như một thước phim quay chậm, mà trong đó hình ảnh bà nội tôi là rõ nét nhất. Nụ cười hiền hậu và ánh mắt sâu thẳm của nội không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi.
Tôi không biết bà nội đã ở bên cạnh tôi từ khi nào, chỉ nhớ rằng tôi lớn lên cùng với mùi dầu gió, những bài ca xưa cũ ở thành phố hoa phượng đỏ và những câu chuyện bà kể. Không giống với những người bà khác, nội tôi không có gương mặt bầu bầu phúc hậu, thay vào đó là một gương mặt của sự lam lũ, vất vả hơn nửa đời mưu sinh nuôi ba tôi và các anh chị của tôi ăn học. Những nếp nhăn trên trán, trên tay, chân nội và cả nhũng vết chân chim hằn sâu nơi đuôi mắt bà trông thật khắc khổ. Vậy mà lúc bé xíu, tôi lại ngây thơ hỏi rằng: “Nội ơi! Sao da nội nhăn nheo thế ạ?” Lúc ấy, nội nở nụ cười hiền hậu trả lời: “Khi già thì da sẽ nhăn con à” Tôi thì thấy những nếp nhăn của nội thật đặc biệt bởi vì ba mẹ tôi đều không có những nếp nhăn rõ như vậy, tôi thích thú vuốt vuốt trán nội rồi ôm lấy nội, thơm lên những nếp nhăn của bà. Nhưng đối với tôi, ấn tượng nhất ở bà nội là đôi mắt. Mặc dù mắt nội đã không còn tinh anh nhưng nội luôn nhìn tôi tràn đầy yêu thương, mỗi khi tôi phá phách, bướng bỉnh cãi lời ba mẹ, thấu hiểu điều đó nội chỉ im lặng nhìn tôi bằng ánh mắt chia sẻ, thông cảm và bao dung làm cho tôi cảm thấy rất hối hận, vội vàng sà vào lòng nội khóc oà lên rồi xin lỗi ba mẹ, xin lỗi luôn cả nội.
Rồi có những đêm tôi mãi không ngủ được vì vô vàn các lí do của trẻ con: sợ ông ba bị, sợ ma,… Những lúc đó nội chỉ mỉm cười rồi kéo tôi vào lòng kể đủ thứ chuyện dỗ dành tôi ngủ, có khi là chuyện cổ tích nhưng cũng có khi là chuyện thật của cuộc đời nội: chẳng hạn như mối tình tuyệt đẹp của nội và ông nội trong thời chiến tranh, hay bà đã phải cố gắng xây dựng gia đình như thế nào sau khi ông mất, hoặc xa hơn nữa là những kì niệm bình dị ở quê khi nội còn là một cô bé…Tôi chầm chậm khép mắt lại trong khi miệng vẫn cười thích thú, tôi tưởng tượng hình ảnh bà nội mặc chiếc áo ka ki cũ màu nâu, đội nón lá, hai tay đội lên đầu chồng bánh tráng nội vừa nướng đem đi bán khắp các nẻo đường cho đến chiều tối mới trở về căn nhà nhỏ.
Thời gian vẫn không ngừng trôi, nội ngày một ốm yếu hơn. Lúc đầu, nội nằng nặc đòi ở căn nhà nhỏ trong hẻm vì có quá nhiều kỉ niệm ở đó – nơi ba tôi và các cô chú lớn lên. Cứ cuối tuần, ba mẹ tôi lại chở anh em chúng tôi sang thăm bà nội, nếu là những ngày hè thì tôi luôn xin ngủ lại dăm ba hôm để chơi với nội. Mỗi lần chúng tôi qua, nội luôn mở rộng cửa, cuống quýt thu dọn đồ đạc trong căn nhà chật chội, tìm chỗ cho từng đứa ngồi rồi đi nấu một nồi chè thật ngon…Nhưng sau này, do nội thường xuyên đau ốm nên ba tôi nhất quyết xin nội về ở với gia đình tôi. Sau đó, nội dọn sang ở với chúng tôi nhưng nội có vẻ buồn, có lẽ vì bà rất nhớ ngôi nhà đó.
Vài tuần trôi qua, bệnh của nội không nặng thêm nhưng cũng không bớt hẳn. Dạo đó tôi thấy nội rất hay thẫn thờ, có lần suy nghĩ gì mà một lát nước mắt nội lại rơm rớm, tôi hoảng hốt chạy lại ôm nội. Lúc ấy nội mới ngẩn người ra, rồi nói với tôi rằng do được nhìn thấy chúng tôi lớn lên nên người, nên nội rất vui. Sau hôm đó, gia đình tôi tìm cách giúp nội vui vẻ hơn, mọi người học những câu chuyện cười nghe được ở bất cứ đâu về kể cho nội, ngồi cả buổi đọc đi đọc lại tờ báo vì nội không nghe rõ. Rồi nội cũng vui vẻ hơn. Có những buổi chiều, tôi thấy nội ngồi nhai trầu, nhìn miệng nội móm mém tôi thấy sao thương nội quá. Hay có lần đang giặt đồ, nội bỗng cao hứng cất cao một câu hát mà tôi không biết tên bài hát, giọng nội lúc nghe được lúc mất rất buồn cười nhưng không hiểu sao cả nhà tôi đều im lặng, sụt sùi.
Cũng có những lúc ba mẹ tôi cãi vã, nội loạng choạng bước ra can ngăn, nội mắng ba tôi bằng giọng khàn khàn và khuôn mặt nặng trĩu, nỗi buồn làm ba mẹ tôi giật mình, rối rít xin lỗi nội. Cho đến một ngày, tôi còn nhớ rất rõ là thứ Năm, năm đó, tôi lớp hai, buổi chiều tan trường tôi bước ra cổng trường. Bầu trời hôm ấy thật âm u, tôi tự nhủ có lẽ sắp có mưa. Anh tôi đứng đón tôi, ánh mắt buồn thăm thẳm, rất lâu mới nói được một câu. Tai tôi ù đi, không biết là vì gió thối vào hay nghe tin này quá đột ngột. Bà nội tôi đã qua đời. Lúc nhỏ, khái niệm về sự ra đi của nội tôi rất mơ hồ, tôi còn quá nhỏ để có thể cảm nhận cái chết đem đến cho những người sống sự đau buồn, mất mát, tổn thất lớn như thế nào. về đến nhà, tôi ngây ngô thắc mắc sao nhiều người đến nhà tôi quá vậy. Tôi bước vào nhà, thấy nội nằm yên, tôi kêu mãi nội không dậy. Mẹ tôi buồn bã giải thích nội sẽ không mở mắt ra nữa. Lúc đó tôi mới nhận thức được, nội sẽ không thức dậy nữa, tôi sẽ không được thấy ánh mắt và nụ cười đó nữa, bà sẽ không kể chuyện cho tôi nghe nữa, cho dù là những câu chuyện tôi đã nghe đi nghe lại hàng trăm lần… Rồi sau đó, tôi chỉ nhớ tôi đã quỳ xuống chiếu khóc nức nở, thấy tôi khóc, bầu không khí thêm nặng nề, u ám, ai cũng khóc ra thành tiếng, tiếng máy tụng kinh ở đầu quan tài vẫn phát ra đều đều…
Đã sáu năm trôi qua, cô bé lớp hai ngày nào đã lên lớp tám. bót đi cái thời bông bột, vụng dại, nhưng mãi mãi không mất đi hình ảnh người bà kính yêu. Giá như lúc trước tôi ôm nội chặt hơn, nói với nội rằng tôi rất yêu nội. Nhưng nội đã dạy tôi rằng người tốt nhất định sẽ lên thiên đường. Vậy bây giờ chắc nội đang an tâm và dõi theo tôi. Nếu vậy thì tôi sẽ sống cho thật tốt, nếu vấp ngã sẽ tự đứng lên, biết trân trọng và yêu quý những người bên cạnh mình để không bao giờ phải thốt lên hai tiếng “giá như”.
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 1: Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi (P2) tại đây.
Tags:Đề 1 · Văn chọn lọc 9 · Văn tự sự | Đề 1 – Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi (P1) – Văn tự sự – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 3,136 | |
Đề 1 – Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi (P2) – Văn tự sự – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Đề 1 – Người ấy sống mãi trong lòng tôi
BÀI VĂN 4
Ai có thể định nghĩa được hai chữ “tình bạn” thì chắc chắn người đó sẽ có một tình bạn tốt. Mặc dù tôi không thể định nghĩa được hai chữ này nhưng tôi có thể hiểu được tình bạn là nơi để chúng ta sẻ chia những niềm vui, nỗi buồn. Ai có một tình bạn đẹp thì người đó sẽ có một người bạn tốt. Tôi cũng thế! Tôi cũng có một người bạn tốt, một người bạn có ý nghĩa thật sự trong cuộc sống của tôi, bạn ấy là Trúc Anh – người bạn thân thiết của tôi.
Ấn tượng đầu tiên của tôi đối với Trúc Anh là một cô bé xinh xắn, đáng yêu mặc một chiếc váy màu xanh dương, thắt hai bím tóc đang ngồi chơi xích đu. Trúc Anh là một cô gái xinh đẹp có đôi mắt to tròn đen lay láy. Bạn sở hữu một làn da màu bánh mật trông rất đặc trưng và vì thế mọi người trong nhà thường gọi bạn là Sô-cô-la. Anh có mái tóc dài và dày nhưng lại rất mượt, bạn thường thắt hai bím tóc hai bên. Tôi rất thích thắt bím cho bạn, những khi rảnh rỗi không có gì chơi chúng tôi thường rủ nhau ra sau vườn làm tóc cho nhau. Nhớ có lần khi còn nhỏ, hai chúng tôi nghịch ngợm đem kéo ra cắt tóc cho nhau và thế là đầu hai đứa bị biến dạng. Vì chuyện này mà chúng tôi bị la cho một trận. Trúc Anh cười nhìn trông rất là đáng yêu, nhất là khi bạn ấy để lộ ra hai chiếc răng khểnh nho nhỏ rất có duyên. Trúc Anh rất thích mặc váy, ở nhà bạn ấy có đủ hết những chiếc váy đầy màu sắc.
Anh học rất giỏi, đặc biệt là đối với môn tiếng Anh. Trong môn học này, bạn dành cho nó niềm đam mê sâu sắc. Ngoài ra, bạn còn có rất nhiều tài năng tiềm ẩn khác chẳng hạn như là vẽ tranh. Bạn vẽ rất tuyệt vời. Bức tranh nhìn vào rất có hồn và sinh động. Những bức tranh mà bạn vẽ đều mang lại cho người xem ấn tượng rất sâu sắc, đem lại cho họ những cảm xúc riêng biệt. Trúc Anh là một người năng động, tự tin đặc biệt là trong giao tiếp, ứng xử. Bạn rất vô tư, hồn nhiên và hay giúp đỡ mọi người xung quanh mình. Tính cách của Trúc Anh khác hẳn với tôi. Tôi là một con người sống nội tâm, ít khi bộc bạch tâm sự của mình cho người khác. Nhưng đối với Trúc Anh, tôi sẵn sàng chia sẻ hết những suy nghĩ của mình. Mặc dù không phải là chị em nhưng tỉnh cảm của tôi và bạn có khi còn thân thiết hơn cả hai chị em ruột thịt nữa. Tuy không có sở thích giống nhau nhiều nhưng tôi và Anh rất thích sử dụng đồ giống nhau. Giống như khi bạn có một chiếc váy mới thì chắc rằng mấy ngày sau tôi sẽ có một chiếc y như thế. Mỗi lần, hai chúng tôi đi chơi với nhau cũng thường mặc đồ giống nhau mà đi và có nhiều người còn hiểu lầm là chúng tôi là hai chị em song sinh.
Khi còn nhỏ, tôi và Trúc Anh rất quậy. Những trò nghịch ngợm, phá phách gì cũng có tên chúng tôi. Nhưng tôi và Anh cũng rất thích được khen. Những lúc không tìm ra được những trò chơi mới chúng tôi thường lon ton chạy theo phụ giúp người lớn để được khen. Có lần, tôi với Trúc Anh giành nhau để bưng tô canh giúp mẹ tôi, hai đứa cứ đưa qua đưa lại, và kết quả là “xoảng” rớt tô canh mất tiêu. Lần đó không những không được khen mà chúng tôi còn bị mắng té tát.
Trúc Anh cũng rất quan tâm đến tôi lắm. Có lần tôi bị sốt cao suốt mấy ngày liền, bạn hôm nào cũng chạy sang thăm tôi và kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện và dặn dò tôi rất nhiều điều. Tôi biết lúc đó bạn cũng lo lắng không kém gì mẹ. Những lúc như thế tôi thấy Trúc Anh rất giống bà cụ non.
Tôi và Anh rất hay đi chơi chung với nhau, nào là đi sở thú, công viên nước, siêu thị,…nhưng đối với tôi lần đi mái ấm “Ánh sáng” đã để lại cho tôi nhiều kỉ niệm nhất. Hôm đó, Trúc Anh diện cho mình một bộ váy màu hồng xoè rộng ra ở phần đuôi và được cách điệu ở phần trên, trông bạn lúc đó như là một cô công chúa nhỏ vậy. Khi đến mái ấm, tôi đã được làm quen với rất nhiều bạn mới. Đa số các bạn ở đó đều trạc tuổi tôi và Trúc Anh. Lúc chúng tôi mới bước vào, các bạn nhìn hai đứa với vẻ dè dặt, e sợ. Nhưng chỉ một lúc sau, chúng tôi được hoà nhập vào cả lũ con nít chơi với nhau rất vui vẻ. Chúng tôi cùng nhau chơi rượt bắt, đố vui, ô ăn quan,…sau đó hai đứa còn được các bạn dạy cho chạy xe đạp. Tôi học nhanh hơn Trúc Anh nên chỉ một lúc sau tôi có thể chở bạn chạy vòng vòng. Chạy được một lúc thì bỗng nhiên từ bên kia đường có một con chuột chạy ngang qua đầu xe của tôi, tôi hoảng quá hét lên và bỏ luôn cả tay lái và thế là hai đứa ngã nhào xuống đất. Mặc dù bị té nhưng chẳng đứa nào khóc la gì hết mà còn nhìn nhau cười ha hả. Sau lần ấy, tôi và Trúc Anh cũng thường ghé đó chơi mấy lần. Nhưng bây giờ thì chẳng còn cơ hội đó nữa rồi. Thời gian trôi qua nhanh thật, nó chẳng bao giờ chờ đợi một ai. Những khoảnh khắc đó giờ đã ra đi. Trúc Anh cũng thế. Bạn ấy đã đi sang Mĩ du học rồi. Ngày đó – ngày mà tôi nghe được tin không vui ấy, đầu óc tôi chẳng nghĩ ngợi được gì. Tôi chỉ khóc và khóc, khóc rất nhiều. Khóc vì buồn mà cũng vì vui. Buồn vì tôi phải xa một người bạn, một người mà tôi xem như chị em ruột thịt của mình. Vui vì thấy Trúc Anh đã thực hiện được ước mơ của mình.
Thế đấy! Tinh bạn của chúng tôi là như thế. Mặc dù giờ đây mỗi đứa một nơi nhưng tình bạn của hai đứa vẫn là mãi mãi. Những kỉ niệm giữa tôi và bạn sẽ luôn in sâu trong tâm trí tôi và tôi sẽ dành riêng một góc nhỏ trong trái tim đế giữ gìn tình bạn này.
BÀI VĂN 5
Từ nhỏ em đã được sống trong ngôi nhà hạnh phúc và đầy niềm vui, tiếng cười được mọi người yêu thương. Em cũng rất yêu quý gia đình mình. Nhưng người mà em yêu quý nhất luôn là mẹ vì mẹ là người sinh em ra và hiểu em nhiều nhất.
Đố ai có thể đếm được những công lao mà mẹ dành cho mình? Đối với em, mẹ là số một và mẹ là người có công lao lớn hơn cả quả đất, rộng hơn cả vũ trụ nữa. Từ nhỏ, mẹ đã xem em như là một chàng hoàng tử bé bỏng trong lòng mẹ. Mẹ luôn chăm lo và yêu thương em hết mực. Mẹ là một người mẹ đảm đang, không ngại chuyện thức khuya dậy sớm để chăm lo cho gia đình. Từ sáng mẹ đã tất bật ra chợ mua những nguyên vật liệu cần thiết để chuấn bị bữa ăn sáng của cả nhà. Ngoài ra, mẹ còn đi làm ở công ty. Khi về đến nhà, mặc dù rất mệt nhưng mẹ vẫn cố gắng làm nốt những việc đang dang dở. Nhìn những giọt mồ hôi từ trán mẹ đổ xuống, em thấy thương mẹ nhiều quá! Có một lần em nói với mẹ: “Mẹ ơi, để con giúp mẹ cho”. Nhưng mẹ lại nói: ‘Thôi, con cứ lo học bài đi, chỉ cần con học giỏi là mẹ cảm thấy vui rồi”. Nghe thấy vậy, em xúc động vô cùng. Những khi rảnh, mẹ nắm lấy tay em luyện cho em viết từng nét thanh nét đậm. Được mẹ cầm tay, em cảm thấy mình tràn trề sinh lực và sau này chữ viết của em đã dần được cải thiện. Mẹ còn dạy em những phẩm chất, đạo đức cần thiết của mỗi người, giúp em phân biệt những cái nào đúng, cái nào sai; việc nào tốt, việc nào chưa tốt,… Mẹ còn khuyên em phải luôn sạch sẽ, gọn gàng, ngăn nắp, nề nếp, kỉ luật.
Em vẫn còn nhớ khi em mới chập chững biết đi, mẹ theo sát em từng li từng tí tập cho em đi vững chãi. Khi em bị điểm kém, mẹ không la mắng mà khuyên em nên phải rút kinh nghiệm từ những lỗi sai ấy. Khi em được điếm tốt, mẹ tươi cười và thưởng cho em món quà, dường như cái nụ cười ấy tươi hơn những nụ cười kia, nó như một ngọn lửa thôi thúc tâm hồn em, giúp em có được những con điểm mười đỏ chói trong học tập. Những hôm trước khi thi mẹ luôn dò bài và hướng dẫn em cách làm bài. Nhờ có mẹ mà điểm thi của em rất cao. Đúng là công lao của mẹ không gì có thể cân đo đong đếm được.
Mẹ em đã ngoài ba mươi tuổi. Nước da ngăm đen vì mẹ đã phải bôn ba khắp nơi để kiếm việc khi ngày trước mẹ còn chưa kiếm được việc ở công ty. Thời gian trôi qua nhanh thật, mới đó mà nó đã làm phai đi mái tóc đen óng ả, mượt mà cùa mẹ mà thay vào đó là nhũng sợi tóc bạc lấm tấm. Nhưng đổi lại, mẹ vẫn giữ được khuôn mặt sáng sủa, căng tràn nhựa sống như hồi hai mươi. Đôi mắt mẹ không còn tinh anh như trước nữa, mẹ phải mang một cái kính lão. Mẹ luôn mỉm cười với em, nụ cười thật hiền dịu biết bao! Bên cạnh đó là đôi bàn tay thân thương của mẹ, đôi bàn tay đã chai sần theo năm tháng. Trong việc học tập của em, mẹ rất nghiêm khắc và mẹ cũng là một người nấu ăn cực kì ngon.
Em vẫn còn nhớ như in lúc nhỏ, em rất thích tắm mưa. Lần đó mẹ gọi em vào nhà, không cho tắm lâu nhưng vì không nghe lời mẹ nên khi vào nhà người em cứ run cả lên. Một tiếng sau. em cảm thấy trong mình nóng bừng bừng và khó chịu trong người. Mẹ nấu cháo, đắp khăn lên trán em, nắm bàn tay em thật chặt. Mẹ ở bên cạnh em suốt không đi đâu hết. Được mẹ nắm tay, em cảm nhận rất rõ hơi ấm truyền từ tay mẹ đến tay em. Nó như một ngọn lửa của sự yêu thương đốt sạch cơn sốt, loại bỏ căn bệnh và thật kì diệu ngày hôm sau em cũng hết bệnh.
Mẹ ơi con yêu mẹ nhiều lắm. Dù mai này con có đi đâu về đâu thì con cũng sẽ không bao giờ quên hình ảnh thân thương của mẹ. Mẹ luôn dang tay chào đón, chờ con quay về. Em sẽ cố gắng chăm ngoan, học giỏi để không phụ lòng mong đợi của mẹ. Mẹ ơi, con muốn nói với mẹ rằng, mẹ luôn sống mãi trong trái tim con.
BÀI VĂN 6
Trong cuộc đời mỗi con người, từ khi được tạo hoá ban cho cái hình hài nhỏ bé này, ta được sống trong vòng tay yêu thương của rất nhiều người. Nhưng có một người ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc đời tôi, đối với từng việc làm dù là nhỏ nhất. Người như một bà tiên cho tôi ấm no, hạnh phúc, như ngọn đèn sáng soi con đường tôi đi, như một bãi biển tri thức mênh mông. Đó là ai? Ấy chính là mẹ tôi – người sống mãi trong lòng tôi.
Mẹ tôi năm nay đã gần năm mươi tuổi, năm tháng trôi đi mẹ càng già nhưng trong mắt tôi mẹ vẫn còn trẻ trung như thời mới đôi mươi, vầng trán cao của mẹ giờ đây đã xuất hiện nếp nhăn. Đó là dấu tích của một thời thanh xuân mẹ lao động vất vả cùng ba lo cho hai chị em ăn học thành tài. Dưới đôi lông mày hình bán nguyệt xinh xắn là đôi mắt to tròn, đen láy của mẹ. Khi nhìn vào đôi cửa sổ tâm hồn ấy là một khoảng không bao la của tình yêu thương vô tận tuy vô hình nhưng chúng thật dịu dàng và ấm áp mẹ dành cho tôi. Mỗi khi tôi làm lỗi, đôi mắt ấy lại trở nên buồn rầu,lo lắng như tự trách mình đã không thể dạy con. Nhưng những khi tôi đạt được kết quả trong học tập thì y như rằng, đôi cửa sổ tâm hồn ánh lên một lời động viên, khích lệ tôi cổ gắng phát huy. Tôi yêu nhất đôi mắt ấy, thứ tình cảm thiêng liêng không gì có thể so sánh được! Mái tóc đen tuyền, dài và mượt mà luôn được mẹ buộc lên gọn gàng.
Có lần, tôi đã phát hiện sau mái tóc đen ấy đã lấm tấm vài sợi tóc bạc. Tôi lại cảm thấy buồn vô cùng vì biết mình ngày một lớn thi mẹ cũng ngày càng lớn tuổi theo thời gian. Thời gian thấm thoát thôi đưa làm cho đôi vai mẹ gầy đi rất nhiều, làm cho những vết chai sạn đã xuất hiện ở bàn tay mẹ tôi. Chính bờ vai vững chắc ấy, vòng tay ấm áp đầy tình thương yêu ấy đã bồng bế tôi ngày còn bé. Rồi từng ngày tôi lớn lên trong vòng tay ngập tràn tình yêu thương đó…Tình thương thật bao la, vô bờ bến, nó ấm áp như một dòng sông bồi đắp những bến bờ xa vắng, yêu thương tôi như nước mắt chảy vào nguồn, bảo vệ che chở cho tôi như suối xanh cuốn bao bụi mờ.
Khi vừa mới chào đời, mẹ mang đến cho tôi sự sống, niềm hi vọng qua dòng sữa mẹ ngọt ngào chan chứa tình yêu thương. Dòng sữa ấy như một thứ keo đặc biệt gắn kết chặt chẽ tình cảm giữa tôi với mẹ. Những kỉ niệm ấu thơ của tôi gắn liền với hình ảnh của mẹ. Một tuổi thơ đầy niềm vui, nỗi buồn và cả nước mắt: đó là nước mắt của sự hạnh phúc. Hạnh phúc khi thấy tôi biết đi lần đầu tiên, khi tôi nói được nhũng tiếng bi bô,… Mẹ luôn ở cạnh, nắm lấy bàn tay bé xíu ấy dìu dắt từng bước từng bước một. Và khi tôi vấp té, mẹ lại đến cạnh âu yếm, vỗ về tôi. Từng câu hát ru của mẹ trong cái nắng mùa hè như làn gió mát, xoa dịu cơn nóng giúp tôi đến với những giấc mơ hồn nhiên, trong sáng.
Rồi đến ngày đầu tiên tôi vào lớp Một, mẹ lại là người lo chu toàn mọi thứ cho tôi. Từ cái áo, cái quần đến quyển tập, cây viết, mẹ cẩn thận sắp xếp mọi thứ để tôi an tâm vào trường tìm đến với con đường tri thức của nhân loại. Mẹ làm tất cả chỉ mong tôi học thật giỏi, thành tài. Vì mẹ mà trong nhiều năm qua tôi đã tích cực phấn đấu học tập để mang nhiều thành tích về cho mẹ vui lòng. Đến bây giờ, khi tôi đã lớn, mẹ lại là người dạy tôi làm những công việc nhỏ nhặt: quét nhà, rửa chén, nấu cơm,…đó là thành quả mà tôi học được từ mẹ.
Trong gia đình, mẹ tôi không chỉ là một người vợ hiền dâu thảo, luôn thương yêu chồng con của mình, lễ phép với ông bà; mẹ còn là một đầu bếp đại tài, Những món ăn mẹ nấu rất ngon, chứa đựng tình yêu thương đối với gia đình, tình cảm sâu nặng mẹ dành cho những người thân yêu. Nhớ lắm làm sao quên những bài học đạo đức, cách đối nhân xử thế mẹ dành cho tôi. Nhờ đó mà tôi đã làm được những việc có ích cho xã hội.
“Cảm ơn mẹ”, “Con yêu mẹ nhiều lắm”, tôi chỉ biết nói thầm vói lòng mình nhũng câu nói tưởng chừng như đơn giản mà chưa một lần nào tôi dám thổ lộ ra với mẹ. Nhưng từ khi tận mắt thấy mẹ đang vật vã đối mặt với thần chết trên giường bệnh vì căn bệnh hẹp van tim. Trong giây phút đó tôi chợt nhận ra rằng mình phải biết yêu thương, biết quan tâm chăm sóc mẹ nhiều hơn. Khi ấy tôi đã khóc rất nhiều, khóc vì tôi nghĩ mình đã sắp mất mẹ mãi mãi, những hi sinh của mẹ vô cùng cao cả. Có những đêm tôi sốt cao, mẹ bỏ mặc cả sức khoẻ, thời gian, công việc của mình chì để đến bên tôi, lo cho tôi từng viên thuốc, ngụm nước. Tôi khóc vì nghĩ rằng sẽ chẳng còn cơ hội nào để nói lời xin lỗi, sửa chữa sai lầm mà tôi làm mẹ buồn phiền. Suy nghĩ ấy cứ hiện mãi trong đầu tôi làm nước mắt cứ tuôn trào xuống hai cánh tay tôi đang nắm chặt tay mẹ trên giường bệnh. Và giờ đây khi căn bệnh quái ác đó đã qua đi, trời Phật đã mang mẹ về bên tôi thì tôi sẽ phải càng yêu thương mẹ hơn để đền đáp những hi sinh cao cả mà mẹ dành cho gia đình.
Mẹ tôi là một người có tấm lòng yêu thương gia đình rất cao cả phải không các bạn? Mẹ đúng là một bà tiên, một ngọn đèn, là kho tàng tri thức sống quý báu. Tôi biết ơn mẹ rất nhiều. Tôi hứa sẽ cố gắng học thật giỏi, làm những việc có ích cho xã hội để mẹ vui lòng.
Và mẹ em chi có một trên đời”
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 2: Kể lại một giấc mơ, trong đó em gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày tại đây.
Tags:Đề 1 · Văn chọn lọc 9 | Đề 1 – Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi (P2) – Văn tự sự – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 3,197 | |
Đề 1 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5
Hướng dẫn
Đề 1 – Học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5
1. Phân biệt sắc thái nghĩa của những từ đồng nghĩa (in đậm) trong các tập hợp từ sau:
a) “… những khuôn mặt trắng bệch, những bước chăn nặng như đeo đá.”
(Nguyễn Khải)
b) Bông hoa huệ trắng muốt.
c) Hạt gạo trắng ngần.
d) Đàn cò trắng phau.
e) Hoa ban nở trắng xoá núi rừng.
2. Tìm những từ đồng nghĩa với từ in đậm trong từng câu dưới đây:
a) Bóng tre trùm lên âu yếm làng tôi.
b) Đứa bé rất chóng lớn, người tiều phu chăm nom như con đẻ của mình.
(Vũ Ngọc Phan)
c) Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên.
3. Trong bài Mùa thu mới, nhà thơ Tố Hữu viết:
Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát
Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non
Yêu biết mấy, những con đường ca hát
Qua công trường mới dựng mái nhà son!
Theo em, khổ thơ trên đã bộc lộ cảm xúc của tác giả trước những vẻ đẹp gì trên đất nước chúng ta?
4. Hãy tả lại một cảnh vật thiên nhiên mà em yêu thích (ngọn núi, cánh rừng, dòng sông, bãi biển, hồ nước, dòng thác,…). | Đề 1 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 | 208 | |
Đề 1 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4
Hướng dẫn
I.Em đọc thầm bài Hoa mai vàng
Hoa mai vàng
Nếu như hoa đào là đặc sản của miền Bắc, thì hoa mai vàng là đặc sản của miền Nam. Mai vàng thuộc họ hoàng mai, vốn là một loại cây rừng. Cây mai vàng cũng rụng lá vào mùa đông, thân lá mềm mại hơn cành đào. Hoa mai vàng mọc thành chùm và có cuống dài treo lơ lửng bên cành. Hoa mai vàng có mùi thơm e ấp và kín đáo. Mai vàng có giống sau khi cho hoa còn kết trái màu đỏ nhạt bóng như ngọc. Mai tứ quý là mai nở hoa bốn mùa, còn nhị độ mai là mai nở hai lần trong năm.
Người ta nhân giống mai bằng cách chiết cành hoặc trồng từ hạt. Có thể trồng mai vàng ngoài vườn, vào bồn hay vào chậu cũng đều được. Mai ưa ánh sáng và đất ẩm. Người miền Nam chơi hoa mai vàng vào những ngày Tết rất kiêng kị hoa héo. Còn giống hoa mai nước gọi là mai chiếu thủy, cây lá nhỏ, hoa mọc thành chùm trắng, nhỏ và thơm, thường trồng vào núi non bộ, ra hoa mùa xuân, cây và cành được uốn tỉa thành cây thế.
Những năm gần đây, hoa mai vàng miền Nam đã được trồng nhiều ở miền Bắc. Việc trồng mai vàng ở đất Bắc cần nhất là tránh gió rét mùa đông. Những cây mai vàng trồng ở miền Bắc thường cho hoa muộn vào cuối tháng hai âm lịch.
Khoanh tròn vào chữ cái trước ý trả lời đúng nhất.
1.Hoa mai vàng là đặc sản của vùng miền nào?
A.Miền Bắc
B.Miền Trung
C.Miền Nam
2.Đặc điểm riêng của hoa mai so với hoa đào là gì?
A.Rụng lá vào mùa đông.
B.Thân cành mềm mại.
C. Hoa mọc thành chùm.
3.Bài văn cho ta biết có mấy loại hoa mai?
A.Một loại
B.Hai loại
C. Ba loại
D. Bốn loại
4.Cụm từ được gạch dưới trong câu “Những năm gần đây, hoa mai vàng miền Nam đã được trồng nhiều ở miền Bắc.” là:
A.Trạng ngữ chỉ nơi chốn.
B.Trạng ngữ chỉ thời gian,
C.Trạng ngữ chỉ mục đích.
5.Chuyển câu kể sau thành câu cảm:
Hoa mai vàng có mùi thơm e ấp và kín đáo
Câu cảm là:……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
6.Chuyển các câu sau đây thành câu cầu khiến:
a.Cả nhà dậy sớm.
b.Chị ở lại chăm sóc mẹ.
c.Nam đi học.
d.Thanh đi lao động.
đ) Lan phấn đấu học giỏi.
III.Tập làm văn
Cho đề bài như sau: Tả một con vật mà em đã trông thấy.
Em hãy:
1. Lập dàn ý chi tiết để tả con vật đó.
2.Viết đoạn mở bài theo cách gián tiếp và đoạn kết bài theo cách mở rộng.
>>XEM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TẠI ĐÂY | Đề 1 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4 | 455 | |
Đề 10 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề Tiếng Việt nghĩa của từ tả cảnh mùa xuân
1. Tìm lời giải nghĩa (ở cột B) tương ứng với từ in đậm ở cột A:
2. Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: kính, nghé, sáo.
VD: – Em tớ mới tám tuổi đã phải đeo kính.
– Ở trường, các em phải kính thầy yêu bạn.
3. Trong bài Trên hổ Ba Bể, nhà thơ Hoàng Trung Thông có viết:
Thuyền ta lướt nhẹ trên Ba Bể
Trên cả mây trời, trên núi xanh
Mây trắng bồng bềnh trôi lặng lẽ
Mái chèo khua bóng núi rung rinh.
Theo em, đoạn thơ trên đã bộc lộ những cảm xúc của tác giả khi đi thuyền trên hồ Ba Bể như thế nào?
4. Tả cảnh vật nơi em ở (hoặc nơi em đã đến) trong hoặc sau cơn mưa xuân (hoặc mưa rào mùa hạ). | Đề 10 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 155 | |
Đề 10: Hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 10: So sánh hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
Bài làm
Người lính là một trong những hình tượng trung tâm của văn học cách mạng Việt Nam. Đi vào trang văn trang thơ là những anh bộ đội Cụ Hồ với những phẩm chất đáng quý. Hai tác phẩm Đồng chí (1948) của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu đội xe không kính (1969) của Phạm Tiến Duật cũng nằm trong dòng chảy đó.
Hai bài thơ, mỗi bài mỗi vẻ. Ở Đồng chí của Chính Hữu, người đọc bắt gặp hình ảnh người nông dân mặc áo lính giản dị, chân thành, chất phác với hoàn cảnh xuất thân bình dị:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Họ đều là những người nông dân chân lấm tay bùn, ra đi từ những miền quê nghèo khó. Vì chung lí tưởng, chung nhiệm vụ mà họ trở thành người đồng chí sát cánh bên nhau. Khác với những người chiến sĩ trong bài Đồng chí, những người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính là những chiến sĩ trẻ hồn nhiên, hóm hỉnh, ngang tàng, trẻ trung, phần nhiều là những thanh niên học sinh đi thẳng từ nhà trường ra chiến trường. Họ ngang tàng, hóm hỉnh ngay từ chính câu thơ đầu tiên: “Không có kính không phải vì xe không có kính” – câu thơ mang giọng tranh luận sôi nổi, say sưa của tuổi trẻ. Dòng thơ đầu dài mười tiếng như lời phân trần nguyên nhân khiến xe không có kính. Và người chiến sĩ lái xe trẻ trung đã biến cái không bình thường thành cái bình thường, thậm chí thấy thú vị trước cái không bình thường đó.
Tuy mang một vài điểm khác nhau về độ tuổi, về hoàn cảnh xuất thân nhưng hình tượng người lính trong hai bài thơ đều mang những nét đẹp chung của anh bộ đội Cụ Hồ như tinh thần sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, tình đồng đội keo sơn gắn bó, ý chí chiến đấu kiên cường và tinh thần lạc quan, yêu đời.
Trong cuộc kháng chiến trường kì của nhân dân ta, dù ở thời điểm nào, người lính cũng phải đương đầu với vô vàn khó khăn, thử thách. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã phải sống những ngày tháng kháng chiến gian truân, vất vả, thiếu thốn. Ai đã từng trải qua đời lính trong những năm tháng đó mới thấm thìa hết những gian nan mà người lính phải trải qua. Một trong những khó khăn mà họ phải đối mặt là căn bệnh sốt rét rừng:
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Những người nhiễm bệnh đầu tiên cảm thấy ớn lạnh, sau đó người lạnh run cầm cập, đắp bao nhiêu chăn cũng không đủ, người vã mồ hôi vì nóng và vì yếu. Sau cơn sốt rét là da xanh, da vàng, viêm gan… Viết về điều này, Tố Hữu đã có những câu về anh vệ quốc quân: “Giọt giọt mồ hôi rơi – Trên má anh vàng nghệ”. Thôi Hữu trong bài Lên Cấm Sơn cũng để cập đến căn bệnh ác tính này: “Nước da đã lên màu tật bệnh – Đâu còn tươi nữa những ngày hoa”. Không chỉ để lại nước da xanh, căn bệnh này còn cướp đi sinh mạng của biết bao chiến sĩ. Có những người không chống chọi lại được với bệnh tật và nằm lại ở rừng xanh: “Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục lên súng mũ bỏ quên đờì” (Quang Dũng – Tây Tiến).
Không chỉ phải đối mặt với bệnh tật, những ngày đầu kháng chiến, cuộc sống của người lính rất gian khổ thiếu thốn:
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Những khó khăn thiếu thốn đó của các anh bộ đội đã hiện lên trong thơ Chính Hữu bằng bút pháp tả thực, một sự thật trần trụi đến xót xa. Nhà thơ Hồng Nguyên trong bài thơ Nhớ cũng kể về những anh lính thiếu thốn quân trang quân dụng, phải đánh giặc bằng vũ khí tự tạo:
Lột sắt đường tàu
Rèn thêm dao kiếm
Ảo vải chân không
Đi lùng giặc đánh
Khi viết về những người lính trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật không nhắc đến những thiếu thốn về quân trang quân dụng mà đề cập đến sự khốc liệt của chiến trường. Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe của đoàn xe ra trận trở thành những chiếc xe không kính. Xe không kính vì: “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Không có kính nên “Bụi phun tóc trắng như người già”, “Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”. Và tác giả đã lạc quan vui vẻ gọi tiểu đội của mình là “tiểu đội xe không kính”. Trên con đường Trường Sơn – nơi mà “một mét vuông có ba quả bom lớn” nhiều chiến sĩ đã phải nằm lại về điều này, có nhà thơ đã viết những câu thơ đầy đau xót.:
Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn?
Dù ở thời điểm nào, chiến tranh cũng luôn là mất mát, là đau thương. Mặc dầu vậy, những chiến sĩ lái xe vẫn vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình một cách lạc quan, trẻ trung. Họ hiện ra với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, bất chấp khó khăn, nguy hiểm: “Ung dung buồng lái ta ngồi – Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Tư thế đó là tư thế đi vào lịch sử, tư thế hùng tráng của những anh hùng Trường Sơn.
Dù khó khăn, vất vả như vậy nhưng những chiến sĩ vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Dù đứng giữa rừng rét buốt nhưng trên môi họ vẫn nở nụ cười: “Miệng cười buốt gia ‘ (Đồng chí). Họ coi thường thử thách, khó khăn. Câu thơ cho thấy sự lạc quan, bình thản của những con người hồn nhiên, giản dị. Những người lính ấy lạc quan, cười trước khó khăn, chấp nhận mọi thách thức: “Không có kính, ừ thì có bụi – Bụi phun tóc trắng như người già – Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc – Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, rồi “Không có kính, ừ thì ướt áo – Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời – Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa – Mưa ngừng, gió lùa, khô mau thôi”. Ai đã từng đặt chân đến đường Trường Sơn vào thời chống Mĩ mới thấu hiểu hết gian khổ của người lính lái xe. Đường Trường Sơn gập ghềnh hiểm trở. Mưa rừng Trường Sơn như trút nước. Mùa khô, bụi bay mù trời. Ngày trời quang mây tạnh thì bom giặc Mĩ liên tục trút xuống những đoàn xe nối nhau ra trận. Xe có kính, những chiến sĩ lái xe đã vất vả, xe không có kính lại càng vất vả biết chừng nào.
Sống giữa lửa đạn chiến tranh, những người lính càng thêm yêu thương đùm bọc nhau. Sống những ngày tháng gian khổ, họ sẵn sàng chia sẻ từng cái chăn, tấm áo: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”, “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” (Chính Hữu – Đồng chỉ). Đó là cái nắm tay xiết chặt hàng ngũ và gạt bớt những khó khăn, gian khổ. Dù bom đạn giặc Mĩ có khốc liệt đến đâu cũng không thể ngăn được những cái bắt tay thân ái của những chiến sĩ lái xe Trường Sơn: “Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới – Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Cái bắt tay đó cho thấy sự bất lực của kẻ thù, đồng thời cũng cho thấy sự cộng hưởng niềm vui chiến thắng. Dù trút mưa bom bão đạn song đế quốc Mĩ không sao ngăn được “Bếp Hoàng Cẩm ta dựng giữa trời – Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy – Võng mắc chông chênh đường xe chạy – Lại đi, lại đi trời xanh thêm”. Dừng chân giữa rừng Trường Sơn, những người chiến sĩ động viên, khích lệ nhau cùng hướng về ngày mai tươi sáng. “Chỉ cần trong xe có một trái tim”, dù không có kính, không có đèn, không có mui xe, thùng xe có xước thì những chiếc xe vẫn sẽ luôn hướng về miền Nam yêu thương.
THỦY BÌNH
Lời nhận xét:
– Kiểu bài so sánh là một dụng đề khó, đòi hỏi tư duy tổng hợp, khái quát và kiến thức sâu rộng về tác phẩm. So sánh hình tượng người lính qua hai bài thơ Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính, người viết đã chỉ ra những nét giống và khác nhau cơ bản, đặc sắc.
– Bố cục bài viết mạch lạc, lô gích. Sau khi chỉ ra các đặc điểm khác nhau về hoàn cảnh xuất thân, người viết đã đi sâu phân tích những nét tương đồng của hình tượng người lính trong hai bài thơ như: “tinh thần sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ, tình đồng đội keo sơn gắn bó, ý chí chiến đấu kiên cường vù tinh thần lạc quan yêu đời “
– Lời văn trong sáng, giàu cảm xúc. | Đề 10_ Hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,643 | |
Đề 11 – Giới thiệu về một loài cây hoặc loài hoa.(cây mai) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Về một loài cây hoặc loài hoa.(hoa mai)
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
– Trước hết, em cần chọn cho mình một loài cây hoặc loài hoa gần gũi với em (cây dừa, cây phượng, cây bàng, cây me, cây đa, cây bưởi, hoa sen, hoa phượng…). Dù em chọn loài cây hay loài hoa nào đi chăng nữa thì cũng phải nhớ nguyên tắc là: đối tượng thuyết minh đó, bản thân em phải có thật nhiều kiến thức về nó.
Khi thuyết minh về một loài cây, loài hoa; em cần chú ý các điểm sau đây:
+ Nguồn gốc, xuất xứ loài cây, loài hoa ấy?
+ Cấu tạo của loài cây, loài hoa ấy (hình dáng bên ngoài, thân, cành, rễ, lá, hoa, quả, hương thơm, màu sắc…)
+ Cách trồng như thế nào?
+ Đó là loài cây, loài hoa như thế nào? (ưa nắng, chịu gió mưa được,…)
+ Cách chăm sóc loài cây ấy ra sao?
+ Giá trị kinh tế? (thương mại, buôn bán…)
+ Giá trị tinh thần? (niềm vui trong cuộc sống của con người)
+ Cảm nghĩ của em về loài cây, loài hoa đó?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Giới thiệu: Hoa mai trong đời sống của người miền Nam, đặc biệt là trong những ngày Tết. (có thể dùng cách so sánh: miền Bắc: hoa đào, miền Nam: hoa mai).
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ, cấu tạo
Xuất phát là một loại cây mọc dại ở trong rừng.
Cây cao trên 2m, thân gỗ, chia thành nhiều nhánh.
Lá nhỏ bằng hai ngón tay, màu xanh lục, tán luôn xòe rộng.
2. Phân loại:
Mai có nhiều loại:
Mai vàng (hoàng mai): hoa mọc thành chùm, có cuống dài treo lơ lửng dọc theo cành. Cánh hoa mỏng, màu vàng, có mùi thơm kín đáo.
Mai tứ quý (nhị độ mai): là loại mai vàng nở quanh năm. Sau khi cánh hoa rụng hết ở giữa bông hoa còn lại 2, 3 hạt nhỏ và dẹt màu đen bóng.
Mai trắng (bạch mai): Hoa mới nở có màu hồng nhạt, sau chuyển sang trắng, có mùi thơm nhẹ.
Mai chiếu thủy: hoa nhỏ, lá nhỏ mọc thành chùm màu trắng và thơm ngát về đêm.
Thường được trồng trang trí ở hòn non bộ hoặc trong chậu sứ.
3. Cách chăm sóc mai:
Mai vàng là cây cảnh ưa sáng. Khi trồng nên chọn vị trí có ánh sáng thật nhiều (ánh nắng trực tiếp) có từ 6 giờ chiếu sáng trở lên, nếu trồng ở sân thượng thì bảo đảm yêu cầu về ánh sáng.
Trồng ở ban công thì thích hợp hơn ở hướng chính đông hoặc chính tây (có từ bốn giờ chiếu sáng trở lên). Cây mai sản xuất lớn thì người ta trồng ở vùng rộng lớn, cánh đồng có ánh nắng trực tiếp cả ngày.
Bổ sung đất phân, thay đất, cắt rễ già, tỉa cành, tỉa hoa, nụ, quả cho mai vàng: Trồng cây mai trong chậu thoát nước tốt: dưới đáy chậu bỏ một lóp cát xây, vỏ trấu chưa đốt, đá dăm nhỏ, miếng sành, sứ,… để nước mưa hay nước tưới cho cây mai khi quá nhiều sẽ thoát ra ngoài dễ dàng vì cây mai cần đủ ẩm nhưng không chịu được ngập, úng lâu ngày.
Bổ sung đất phân trên mặt chậu (tiến hành hàng năm): Lấy 5->10cm đất mặt chậu bỏ đi, bổ sung vào bằng hỗn hợp đất phân trồng mai theo công thức: 30% phân hữu cơ (phân bò, dê) + 30% đất phù sa + 40% phân trấu, rơm rạ, xơ dừa,…Công thức này có thể vận dụng theo nguyên liệu của từng địa phương sao cho phù hợp.
Thay đất cho mai vàng: Xăm quanh chậu, kéo cây mai ra, cắt bớt rễ, đất phía dưới đáy(10->20cm) và xung quanh (5->10cm), 2 năm tiến hành một lần.
Tỉa cành, tỉa hoa, nụ và quả cho mai vàng: Tỉa lại cành cho cây mai có tán cân đối, cắt ngắn lại những cành vượt ở tán và cắt bỏ những chồi vượt trong thân. Tỉa hết hoa, nụ và quả.
Cây mai ưa nước sạch, không chịu được nước nhiễm chua phèn, mặn.
Cây mai ưa ẩm vì vậy phải được tưới nước hàng ngày trừ những ngày mưa to.
Nếu ta thấy trời mưa lâm râm, cứ nghĩ cây đủ nước nên không tưới, cây mai sẽ bị khô lá, lá bị vàng ở đầu ngọn và tuổi thọ của lá mai sẽ bị ngắn dần. Việc này nếu xảy ra nhiều lần trong năm sẽ làm cây mai không giữ được lá đến 12 tháng để đợi chúng ta lặt lá và ra hoa tập trung. Do đó cây mai sẽ ra hoa lác đác từ tháng 9->12 âm lịch. Vì vậy cây mai sẽ không nở được tập trung, ít hoa.
Đoán ngày lặt lá cho mai sẽ ra hoa đúng Tết Nguyên đán. Đây là một việc làm mang tính đòi hỏi sự cảm nhận, kinh nghiệm của người trồng và chơi mai.
Lặt lá mai phụ thuộc vào thời tiết (lập xuân), loại Mai 5,9,12 cánh,…, cây mai khỏe hay yếu, tập tính của từng cây mai được trồng, chăm sóc của riêng từng gia đình, được đặt ở những vị trí của riêng từng nhà,…
Trước tiết lập xuân trời lạnh, sau tiết lập xuân trời ấm, kết hợp với theo dõi dự báo thời tiết hằng ngày để quyết định ngày lặt lá mai, bản thân cứ mạnh dạn quyết định vài lần để tự rút ra kinh nghiệm. Thông thường: mai 12 cánh (mai tai giảo) lặt lá từ 25/11 đến 5/12 Âm lịch. Mai 5 cánh đến 9 cánh lặt lá từ 5->10/12 Âm lịch. Ngoài ra còn phụ thuộc vào nụ mai lớn, nhỏ, lá mai già hay xanh để quyết định ngày lặt lá. Lặt lá mai là một việc làm hết sức tỉ mỉ, thận trọng, cân nhắc trải qua những tâm trạng hồi hộp, lo lắng, phấn khởi, hy vọng, thất vọng… thật hết sức thú vị.
4. Ý nghĩa của hoa mai
Sau khi đưa ông Táo về trời (23 tháng chạp), các nhà vườn bứng nguyên gốc mai cho vào chậu đem về các chợ hoa xuân ở thành phố để bán hoặc khách có thể đến tận vườn để mua.
Trong nhũng ngày Tết hầu như nhà nào cũng mua hoa mai về trưng, vừa trang trí cho đẹp nhà vừa cầu tụng may mắn. Nếu hoa mai nở rộ vào sáng mùng 1 Tết, gia chủ sẽ rất vui. Nếu trong 3 ngày Tết mà hoa mai chưa nở hoặc đã tàn thì gia chủ cảm nhận khó thấy được niềm vui được trọn vẹn.
III. KẾT BÀI
Cây mai được xếp vào hàng “tứ quý” được vẽ trong bộ tranh “tứ bình” đại diện cho 4 mùa: mai, lan, cúc, trúc và hoa mai biểu tượng cho mùa xuân.
Về mặt ý nghĩa, cây hoa mai còn tượng trưng cho dáng vẻ thanh mảnh, phẩm giá thanh cao, tốt đẹp của con người Việt Nam.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Vào ngày Tết cổ truyền hằng năm, cùng với bánh chưng xanh và dưa hấu đỏ, chúng tôi là những nhân vật không thể thiếu, thậm chí còn là những nhân vật chính. Các bạn biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi chính là cây hoa mai, một loại cây quen thuộc trong ngày xuân. Sau đây, ta hãy cùng tìm hiểu rõ hơn về dòng họ nhà mai chúng tôi nhé.
Không như cô đào khó tính và kén chọn, chăm sóc tôi vô cùng dễ dàng, chi cần đặt ở nơi có đầy đủ ánh sáng, đất luôn ẩm nhưng phải thoát nước đế chống bị ủng. Để loài mai chúng tôi nở đúng vào ngày Tết thì trước Tết âm lịch nửa tháng, người ta thường hay tuốt bỏ lá, ngưng tưới nước và bắt đầu bón thúc cho chúng tôi. Khoảng mười ngày sau, trên cành đã bắt đầu xuất hiện những nụ hoa nhỏ màu xanh biếc mọc thành chùm, tỏa ra hương thơm ngào ngạt.
Sau một mùa đông lạnh lẽo, năm cũ trôi qua, năm mới đến gần, thay thế cho làn gió se lạnh là những tia nắng ấm áp của mùa xuân, mọi người tấp nập ra phố đón ngày mới. Trong khung cảnh đông đúc, tấp nập mua sắm của người dân là sự báo hiệu của ngày Tết sắp đến. Nói đến Tết thì không thể không nhắc đến dòng họ mai chúng tôi. Trong không khí vui tươi này, nhà ai cũng muốn chưng một cây mai trong nhà, không lớn thì nhỏ, chưng ở giữa phòng để mọi người cùng nhau chiêm ngưỡng. Có vài người, cụ thể là những tay chơi mai thường nói rằng trong ba ngày Tết, nếu loài mai chúng tôi nở rộ thì chắc chắn gia chủ sẽ rất vui, gặp nhiều may mắn trong năm mới. Còn nếu hoa chưa nở hoặc tàn thì sẽ khiến gia chủ khó có niềm vui trọn vẹn, gặp những bất lợi trong công việc. Đó cũng chỉ là suy nghĩ, nhưng ai đâu biết được có thể chúng tôi cũng có tầm quan trọng như thế đấy. Muốn chúng tôi xinh đẹp hay xấu xí vào ngày Tết thì điều đó còn tùy thuộc vào cách chăm sóc của người chủ. Trong ngày Tết, chậu mai phải để ở nơi thoáng mát, đủ ánh sáng và không nên để gần quạt hay chỗ có gió lùa vì sẽ làm mai bị rụng hoa và nụ. Chứng tôi rất yêu ánh sáng, nếu để tôi vào chỗ quá tối thì tôi sẽ không thế quang hợp, chồi sẽ vươn dài, lá ra nhanh, hoa rụng sớm. Nhưng cũng không nên để tôi ở nơi quá sáng như ở gần bóng đèn có công suất lớn vì nhiệt độ cao cũng làm cho chúng tôi nở nhanh, chóng tàn hơn. Sau những ngày xuân vui tươi thì những nàng mai chúng tôi bắt đầu tàn tạ nhan sắc và cần được chăm sóc, chiều chuộng để năm sau lại đơm hoa kết nhụy. Nếu được chưng trong nhà thì sau Tết phải đem cây ra ngoài càng sớm càng tốt, đặt cây ở nơi có bóng râm để lá không bị cháy khi tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời. Sau đó lặt bỏ tất cả các hoa dù nở hay chưa nở để cây không mất dinh dưỡng nuôi đài hoa tạo hạt.
Dòng họ mai của tôi được xếp vào bộ tứ bình, là một trong bốn cây điển hình của bốn mùa: mai (mùa xuân), lan (mùa hạ), cúc (mùa thu), trúc (mùa đông). Như một câu thơ trong đoạn thơ “Chị em Thúy Kiều” của Nguyễn Du đã nói: “Mai cốt cách tuyết tinh thần” đã cho thấy loài mai chúng tôi đây không chỉ đơn giản là biểu tượng cho mùa xuân mà còn là biểu tượng cho nét thanh cao, đẹp đẽ, tràn đầy sức sống của con người.
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 12: Giới thiệu về một loài cây hoặc loài hoa.(hoa sen) tại đây.
Tags:Đề 11 · Hoa mai · Văn chọn lọc 9 | Đề 11 – Giới thiệu về một loài cây hoặc loài hoa.(cây mai) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,897 | |
Đề 11 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề Tiếng Việt tả cảnh nơi em ở Tiếng Vọng
1. Ở từng chỗ trông dưới đây, có thể điền chữ (tiếng) gì bắt đầu bằng:
a) ch / tr
– Mẹ … tiền mua cân … cá.
– Bà thường kể… đời xưa, nhất là … cổ tích.
– Gần … rồi mà anh ấy vẫn … ngủ dậy.
b) d / gi
– Nó … rất kĩ, không để lại … vết gì.
– Đồng hồ đã được lên … mà kim … vẫn không hoạt động.
– Ông tớ mua một đôi giày …và một ít đồ … dụng.
2. a) Viết lại cho rõ nội dung từng câu dưới đây (có thể thêm một vài từ):
– Vôi của tôi tôi tôi.
– Trứng của bác bác bác.
b) Mỗi câu dưới đây có mấy cách hiểu? Hãy diễn đạt lại cho rõ nghĩa từng cách hiểu ấy (có thể thêm một vài từ).
– Mời các anh chị ngồi vào bàn.
– Đem cá về kho!
3. Kết thúc bài thơ Tiếng vong, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết:
Đêm đêm tôi vừa chợp mắt
Cánh cửa lại rung lên tiếng đập cánh
Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ
Tiếng lăn như đá lở trên ngàn.
Đoạn thơ cho thấy những hình ảnh nào đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí tác giả? Vì sao như vậy? | Đề 11 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 232 | |
Đề 11: Hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ, con người trong Đoàn thuyên đánh cá của Huy Cận – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 11: Hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ, con người trong Đoàn thuyên đánh cá của Huy Cận.
Bài làm
Trước Cách mạng tháng Tám, Huy Cận được biết đến như là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Tiếng thơ “ảo não” mang nặng “nỗi sầu vạn cổ”, “nỗi buồn thiên thu” của ông đã nói lên được tâm trạng chung của tầng lớp tiểu tư sản đương thời. Nhưng tựu chung lại, có thể thấy nổi bật lên trong thơ Huy Cận là khát vọng được hoà nhập giữa cá thể và vũ trụ, con người và thiên nhiên. Sau Cách mạng, cũng vẫn mang ước vọng lớn lao ấy, nhưng được ngọn gió cách mạng thổi vào những luồng sinh khí mới, thơ Huy Cận tràn ngập niềm hân hoan, hoà mình vào cuộc chiến đấu của đất nước, và sự hồi sinh từng ngày của quê hương. Chính điểu đó tạo nên màu sắc tươi sáng cho những trang thơ Huy Cận. Đoàn thuyền đánh cá là một trong những bài thơ thể hiện rõ nét nhất sự thay đổi đó trong thơ ông.
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là khúc ca về người dân lao động vùng chài lưới — những con người sống cùng biển và sống nhờ biển. Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh con người và trời biển, thiên nhiên, vũ trụ luôn hoà hợp, gắn bó với nhau, soi sáng nhau để cùng làm nên bài ca lao động hùng tráng.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ hiện ra vô cùng độc đáo qua cái nhìn của một tâm hồn lãng mạn, bay bổng:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Hai câu thơ ngắn mà như vẽ nên được cả một bức tranh hoàn mĩ, sống động về cảnh hoàng hôn trên biển. Mặt trời cuối ngày từ từ “xuống biển”, mang theo những tia nắng cuối cùng của một ngày, như một “hòn lửa” khổng lồ. Đây quả là một sự so sánh độc đáo. Ta có cảm tưởng như cả một vùng biển dát hồng, lẫn màu trời chạng vạng theo những con sóng bạc đầu tạo nên một cảnh sắc tuyệt đẹp giữa vùng trời nước hoà nhập làm một. Hoàng hôn nhưng vũ trụ không hề gợi cảm giác tàn lụi mà lại chuyển động khoẻ khoắn. Điều này khác xa phong cách của Huy Cận trước cách mạng tháng Tám – một con người luôn cô đơn, nhỏ bé, một mình ôm “mối sầu vạn cổ” đối diện với vũ trụ bao la, rợn ngợp. Ở đây, cũng là trời biển mênh mông nhưng con người như hoà nhập cùng nhịp đập của thiên nhiên. Biện pháp nhân hoá tài tình không chỉ cho ta thấy một cây bút tài hoa mà còn làm hiện lên trước mắt ta một khung cảnh thiên nhiên trác tuyệt: sóng biển như chiếc then cửa, nhốt ánh sáng bằng một động tác “sập cửa” mau lẹ. Thiên nhiên hùng vĩ, mênh mang mà cũng gần gũi biết bao khi được ví với những thứ thân thuộc trong ngôi nhà của mỗi người. Thì ra Huy Cận đang nhìn biển bằng con mắt của những người ngư dân gắn bó cả đời với biển, coi biển là nhà. Và khi thiên nhiên ngưng nghỉ sau một ngày chiếu sáng vất vả thì cũng là lúc người dân chài bắt đầu hành trình của một ngày lao động mới. Những người con khoẻ khoắn của biển hào hứng ra khơi:
Tinh thần lao động hăng say khiến họ quên đi màn đêm đang bao trùm biển cả, không ngại khó, sợ khổ. Một cụm từ “lại ra khơi” đủ để Huy Cận khắc họa cho người đọc thấy đây là công việc hết sức quen thuộc với những ngư dân này. Nhưng quen thuộc mà không hề tẻ nhạt, nhàm chán, trái lại vẫn tràn đầy hứng khởi, say mê. Niềm say mê ấy cất lên thành khúc hát:
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Câu hát chính là lòng say mê, là tinh thần lao động nhiệt thành của con người ngân lên, để hoà nhập cùng biển khơi mênh mông. Chính tiếng hát ấy đã nâng con người lên ngang tầm vũ trụ. Câu hát – cánh buồm – gió khơi biểu thị cho mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên – tất cả cùng hoà nhập, trở thành động lực đưa con thuyền tiến ra biển cả hùng vĩ. Và đoàn thuyền ra khơi mang theo khúc hát lên đường tràn đầy hứa hẹn, hi vọng vào một thành quả lao động tốt đẹp của những người dân chài.
Khổ thơ ngắn nhưng tràn ngập hình ảnh. Nghệ thuật liên tưởng, so sánh, nhân hoá độc đáo đã giúp Huy Cận dựng lên một bức tranh hùng vĩ về thiên nhiên và con người. Những nét vẻ khoẻ khoắn của cây bút tài hoa ấy tiếp tục được thể hiện trong những dòng thơ tiếp theo, mang đến cho ta những ấn tượng hết sức độc đáo:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Con người và thiên nhiên cùng hoà nhịp với vũ trụ bao la. Khoảng không vũ trụ được đo bằng trời, bằng biển – một không gian thoáng đãng, vượt ra khỏi tầm mắt con người nhưng ấm áp chứ không lạnh lẽo kiểu “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”. Hình ảnh con thuyền là một sáng tạo độc đáo của Huy Cận. Ta chợt nhớ tới những câu thơ của Tế Hanh:
Chiếc thuyên hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm trương ro như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
(Tế Hanh – Quê hương)
Nếu như con thuyền trong Quê hương hiện lên như một con “tuấn mã”, mạnh mẽ, hùng hực khí thế thì con thuyền của Huy Cận lại mang nhiều nét bay bổng, lãng mạn hơn. Tế Hanh gắn cho con thuyền của mình những động từ, tính từ mạnh: hăng, phăng, mạnh mẽ, rướn,… trong khi Huy Cận lại vẽ con thuyền của mình bằng nhũng nét nhẹ nhàng, nên thơ khi gắn nó với những hình ảnh của thiên nhiên: người cầm lái là gió trời, cánh buồm là vầng trăng. Thuyền và người hoà nhịp vào thiên nhiên, hoà trong cái thơ mộng gió trăng, trời biển. Con thuyền đánh cá quen thuộc trong cuộc sống hàng nsày của người dân chài tựa như được gió trời, khí biển chắp cánh hay chính tâm hồn phơi phới của con người đã thổi hồn vào đó, biến nó thành chiếc thuyền lung linh, lướt nhẹ giữa thiên nhiên rộng lớn, tươi đẹp? Giữa khung cảnh kì vĩ ấy, con người bắt tay vào công việc lao dộng:
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vậy giăng.
Đoàn thuyền đánh cá trên biển như một đoàn quân ra trận, cũng “dò”, “dàn đan thế trận”, “vây giăng”. Huy Cận đã sử dụng một loạt những từ ngữ thuộc lĩnh vực quân sự nhưng không hề làm cho câu thơ trở nên khô khan, mà ngược lại, mang đến cho ta những hình dung lí thú về công việc đánh cá của những người dân chài. Giữa biển khơi bao la hùng vĩ, con người không hề sợ hãi phải chăng vì một điều hết sức giản dị mà sâu sắc: biển là người mẹ gắn bó, nâng đỡ con người:
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
Biển muôn đời vẫn thế, dù có lúc bão nổi sóng cồn nhưng vẫn luôn bao dung, ưu ái đối với con người. Biển giàu đẹp là thế giới của muôn vàn loài cá:
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
CA song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thỏ, sao lùa nước Hạ Long.
Hai câu thơ đầu tưởng chừng chỉ là những dòng liệt kê vể tên các loài cá trên biến, vậy mà lại mang đến nhũng khoái cảm thẩm mĩ độc đáo cho người đọc. Một sự liên tưởng, so sánh thú vị: cá song như những ngọn đuốc, tô thêm cho biển đêm những màu sắc lấp lánh. Những chú cá vui đùa dưới ánh trăng, quẫy đuôi, làm vỡ ánh trăng soi bóng trên mặt nước, sắc “vàng chóe” của trăng hoà cùng những chấm màu hồng của cá, sáng rực lên trong đêm, tạo nên vẻ đẹp hư ảo, kì lạ. Biển như cung điện lộng lẫy sắc màu và trăng cùng các chú cá đang tham gia vào vũ hội thần tiên. Vũ hội ấy còn có sự tham dự của một trời sao bạt ngàn. Tác giả đã thể hiện khả năng liên tưởng tuyệt vời của mình qua hình ảnh nhân hoá: “Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”. Đêm yên bình, biển dịu êm, những đợt thủy triều lên xuống, những con sóng dập dờn tạo ra hơi thở của đêm. Mọi vật trong vũ trụ như đang hoà cùng nhau để bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ khắc nên một bức tranh đẹp tuyệt sắc.
Biển giàu có là thế, thiên nhiên đẹp là vậy, nên thơ là vậy, khiến cho công việc lao động của con người bỗng trở nên thi vị biết bao. Ta không nhận ra ở đây bóng dáng của sự cực nhọc trong công việc chài lưới, bởi có thiên nhiên giúp sức:
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Bài ca lao động khoẻ khoắn của con người vang lên, hoà cùng nhịp gõ thuyền của vầng trăng trên cao. Thiên nhiên, con người hoà ca trong niềm say mê lao động: Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Thiên nhiên đang chuyển dịch dần và một ngày lao động của con người cũng đã đến chặng cuối. Huy Cận như một bức tượng vể người ngư dân trong tư thế của người làm chủ thiên nhiên, khoẻ mạnh, đẹp đẽ, sánh ngang cùng vũ trụ: “Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”. Công việc lao động nặng của người đánh cá đã trở thành bài ca đầy niềm vui nhịp nhàng với thiên nhiên, thể hiên tinh thần lao động say mê, khẩn trương và đạt hiệu quả cao:
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu thơ tràn ngập một niềm phấn khích, tâm trạng hào sảng, chào đón một bình minh tươi sáng:
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Khổ thơ cuối điệp lại cấu trúc của đoạn mở đầu nhưng cảm xúc mạnh hơn khiến nó giống như điệp khúc của một khúc ca khải hoàn dâng trào niềm vui chiến thắng của một ngày lao động. Đoạn thơ dựng lên một cuộc đua giữa con thuyền và mặt trời, giữa con người và thiên nhiên. Thực ra cuộc đua này được bắt đầu từ đầu bài thơ, cả hai cùng lướt tới, cùng vượt lên và con người đã chiến thắng nhờ tiếng hát hăng say, tinh thần phơi phới lạc quan, làm chủ thiên nhiên, làm chủ số phận. Ở đây, tác giả như một trọng tài đang hướng về đoàn thuyền, cổ vũ đoàn thuyền hối hả lướt tới giữa tiếng hát ngập tràn, ngân vang biển khơi. Chính tâm trạng hào sảng ấy đã giúp Huy Cận phóng bút vẽ nên những nét vẽ dẹp đẽ dường vậy về thiên nhiên và con người. Chỉ riêng hình ảnh “Mặt trời đội biển nhô màu mới” cũng đủ cho ta thấy tài quan sát liên tưởng của một cây bút bậc thầy và trái tim tràn đầy nhiệt huyết của nhà thơ.
Với Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận đã vẽ nên một bức tranh khoẻ khoắn, sáng đẹp về thiên nhiên và con người lao động. Nhịp thơ thất ngôn cổ điển cân đối và sang trọng toát lên một âm hưởng lãng mạn và hùng tráng. Nhà thơ đã cất lên khúc hát ngợi ca thiên nhiên đẹp tươi và bàn tay lao động kì diệu của con người. Thành công của Huy Cận đã khắc sâu vào lòng độc giả một bức tượng đài về những con người lao động bình dị mà đẹp đẽ với tình yêu lao động và tư thế làm chủ thiên nhiên hùng vĩ.
TỐNG THỊ LAN ANH
Lời nhân xét:
– Đây là một đề bài đòi hỏi người viết phải có khả năng khái quát, biết chọn lọc các chi tiết để phân tích. Người viết đã làm tốt điều đó và thể hiện năng lực cảm thụ văn chương tốt khi đi sâu khai thác các tín hiệu thẩm mĩ chủ yếu để làm sáng tỏ yêu cầu của đề bài: “Đoàn thuyền đánh cá trên biển như một đoàn quân ra trận, cũng “dò”, ‘‘dàn đan thế trận”, “vây giăng’’. Huy Cận đã sử dụng một loạt những từ ngữ thuộc lĩnh vực quân sự nhưng không hề làm cho câu thơ trở nên khô khan, mà ngược lại, mang đến cho ta những hình dung lí thú về công việc đánh cá của những người dân chài. Giữa biển khơi bao la hùng vĩ, nhưng con người không hê sợ hãi”.
– Văn phong trong sáng, diễn đạt lưu loát, giàu hình ảnh: “Những chú cá vui đùa dưới ánh trăng, quẫy đuôi làm vỡ ánh trăng soi bóng trên mặt nước, sắc “vùng chóe” của trăng hòa cùng những chấm màu hồng của cá, sáng rực lên trong đêm, tạo nền vẻ đẹp hư ảo, kì lạ. Biển như cung điện lộng lẫy sắc màu và trăng cùng các chú cá đùng tham gia vào vũ hội thần tiên. Vũ hội ấy còn có sự tham dự của một trời sao bạt ngàn”. | Đề 11_ Hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ, con người trong Đoàn thuyên đánh cá của Huy Cận – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 2,381 | |
Đề 12 – Giới thiệu về một loài cây hoặc loài hoa.(hoa sen) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Một loài cây hoặc loài hoa.(hoa sen)
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Hoa sen trong đời sống của người Việt Nam tượng trưng cho sự thuần khiết, trong sáng, cao sang.
Là quốc hoa của nước Việt Nam.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Hoa sen có nguồn gốc từ Châu Á, xuất phát từ đất nước Ấn Độ, sau đó lan rộng ra nhiều nước khác như Hàn Quốc, Trung Quốc,…
Từ Bắc đến Nam, sen có mặt ở khắp mọi nơi với hình ảnh gần gũi, thân thuộc như cây đa đầu làng, cây tre, trúc,…
Nếu ở Bắc, sen chỉ mọc vào mùa hè do điều kiện thời tiết thì ở Nam, sen bốn mùa khoe sắc thắm, đặc biệt là ở Đồng Tháp Mười.
2. Cấu tạo
Hoa được đỡ nâng bằng cuống hoa dài, đưa hoa mọc lên trên bề mặt nước để khoe sắc hương của mình.
Lá to rộng, có đường kính khoảng sáu mươi cen-ti-mét.
Cánh hoa khi nở thì rất to và đẹp, có nhiều màu như màu trắng tinh khiết hay màu hồng đào phất phơ.
Hoa sen có nhiều nhị (tua sen) và noãn rời, các noãn này về sau thành quả gắn trên một đế hoa hình nón ngược (gương sen).
Mỗi quả chứa một hạt, trong hạt có chồi mầm (tâm sen) gồm bốn lá non gập vào trong.
Sen có thể được trồng bằng hạt hay thân rễ.
3. Cách trồng
Không nên trồng quá sâu hoặc quá cạn làm sen dễ bị nổi lên. Nên chọn chân ruộng trũng để trồng.
Thời vụ: thường trồng vào tháng 1 – 2 dương lịch.
Cách trồng: có thế trồng bằng gốc sen hoặc tách nhánh (phát triển nhanh hơn); chọn nhánh dài khoảng 0,7 – 1m, có 3 cụm lá là tốt nhất.
Trồng cây cách cây 2m x 2m, khoảng 250 cây/1000.
Sau trồng giữ mực nước trong ao, hồ, ruộng khoảng 20 – 25cm.
Sau 10 ngày cây bén rễ nếu có cây bị chết cần giặm cho đủ.
Sau thời gian này, giữ mực nước tăng dần theo sự phát triển cây sen và khống chế trên dưới 50cm là tốt nhất.
Từ sen có thể chế biến thành nhiều món ăn bổ dưỡng, những bài thuốc đặc trị rất hay: hạt sen nhỏ, có màu vàng, vừa là món ăn dân dã quen thuộc, vừa là liều thuốc tốt để chữa bệnh mất ngủ, suy nhược thần kinh.Tâm sen màu xanh, nằm giữa hạt sen, có thể dùng ướp trà, tạo nên hương thơm dịu.
Lá sen dùng để gói bánh, cốm thì rất tuyệt vì nó mang lại một hương thơm rất đặc trưng.
5. Cách chăm sóc
Liều lượng và cách bón phân cho 1000ao sen: Phân có thể dùng super lân, urê và KCl. Bón lót toàn bộ phân lân trước khi trồng với lượng khoảng 40kg. Sau đó cứ sau 15 ngày bón thúc 1 lần với khoảng 2kg urê + 10kg super lân/1000.
Bón thúc lần 5 có thêm kali với lượng vài trăm gram/1000.
Trước khi bón nên thay đổi nước trong ao trồng sen cho nước mới có phù sa vào và giữ cố định ở mức nói trên.
Sen cần bón cân đối đạm, lân và kali để tạo ra nhiều bông hoa đẹp nên cần thường xuyên bón phân. Nếu thiếu phân, cây cho hoa không ấn tượng, lá vàng và cây yếu.
Mặt khác do sen trồng trong điều kiện ao, ruộng ngập nước sâu nên có thế kết hợp nuôi một số loài cá và động vật thủy sinh.
Để môi trường trong ao tốt, khi bón phân cần chú ý loại phân và sử dụng đúng liều lượng.
Bón phân không gây ngộ độc cho động vật thủy sinh, nguồn nước và không kích thích tảo mọc nhiều. Lưu ý không nên bón phân dạng DAP hoặc phân gà vì chúng sẽ giúp tảo mọc dày, cạnh tranh oxy và đất sống với sen.
Sen mọc dưới nước, có sức chống chịu cao, không có bệnh, tuy nhiên thỉnh thoảng bị sâu ăn lá, khắc phục bằng việc thường xuyên kiểm tra và cắt lá bị sâu vùi sâu xuống bùn.
6. Ý nghĩa
Sen còn được xem là biểu tưọng cho sự trong trắng, thanh thoát của người con gái.
Hoa sen còn tượng trưng cho vẻ tươi sáng, cao sang, thuần khiết của dân tộc, con người và đất nước Việt Nam thân yêu.
Chính vì những ý nghĩa cao đẹp đấy mà sen đã trờ thành quốc hoa của đất nước Việt Nam và luôn là nguồn cảm hứng tuyệt vời cho thi ca, nhà văn và nghệ thuật.
III. KẾT BÀI
Với vẻ đẹp giản dị, tao nhã, hoa sen là hiện thân cho nhân phẩm, lối sống, tâm hồn cũng như cốt cách nhân văn của người Việt.
Đây là món quà quý báu mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người.
BÀI VĂN THAM KHẢO
“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn ”
Bài ca dao trên ca ngợi nét đẹp tinh khiết của loài hoa sen đã làm cho người đọc thêm yêu quý, trân trọng loài hoa này. Cũng vì nét đẹp này mà sen đã trở thành quốc hoa của đất nước Việt Nam.
Hoa sen của nước ta thuộc giống sen màu đỏ, cánh kép gọi là quý. Giống hoa này có thân, lá, hoa đều nhỏ nên được gọi là sen tịch thượng. Nó thường được trồng ở chậu nước hay bể cạn. Ở Ân Độ và Bắc Mỹ, còn có giống sen màu vàng.
Hoa sen không những có hương thơm mà nó còn có nét đẹp yêu kiều và thuần khiết. Nó đẹp giản dị với cánh hoa màu đào phất phơ ôm ấp nhị hoa màu vàng tươi và toả hương thơm ngát. Mỗi bộ phận cùa hoa đều có ích, từ ngó sen, thân sen. lá sen, hạt sen đến nhị sen và nhân sen. Ngó sen, nó góp phần làm nên các món ăn ngon, thân sen dùng để làm thuốc, lá sen dùng để gói đồ ăn, hạt sen thì có thể bào chế làm thuốc cho những người mất ngủ hoặc suy nhược, nhị sen còn có thể làm thuốc Bắc. Hoa sen rất có ý nghĩa đối với con người Việt Nam. Nó không chỉ là quốc hoa của Việt Nam mà còn là biểu tượng cùa người con gái vói nét đẹp tươi sáng, yêu kiều mà giản dị và mang đầy nét truyền thống của dân tộc Việt Nam. Cũng chính vì lẽ đó mà hoa sen đã được chọn làm chủ đề cho nhiều bài văn, bài thơ và là hình ảnh trang trí cho nhiều vật dụng ví dụ như tà áo dài đằm tliam hay được trưng trong các chùa chiền, miếu thờ,… Hoa sen tuy là thân mềm nhưng rất mạnh mẽ và có sức sống mãnh liệt. Vì là cây ưa nắng nên nó có thế ngoằn ngoèo mà tìm ảnh sáng. Khi trồng sen, chúng ta có thể qua ba mươi năm mà không cần đổ phân, chăm bón. Không những hoa sen mang ý nghĩa thực dụng, mà nó còn mang ý nghĩa triết lí văn hoá. Hình ảnh sen tinh khiết, giản dị vươn lên tìm ánh sáng toả hương ngan ngát, hình ảnh ấy như cho mọi người thấy sự giản dị, tinh khiết nhưng luôn kiên cường, bất khuất vươn lên trong mọi khó khăn gian khó của những người Việt Nam.
Có thể nói hoa sen mang nhiều ý nghĩa và lợi ích gắn bó mật thiết với dân tộc Việt Nam. Khi nghĩ đến hoa sen, nghĩ đến những con người Việt Nam, chúng ta không thể không nghĩ tới nét đẹp giản dị, thanh tao, nhưng lại rất kiên cường bất khuất khi gặp khó khăn và luôn toả hương thơm ngào ngạt giữa năm châu bốn bể.
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 13: Giới thiệu về một loài cây hoặc loài hoa.(cây gạo) tại đây.
Tags:Đề 12 · Hoa sen · Văn chọn lọc 9 | Đề 12 – Giới thiệu về một loài cây hoặc loài hoa.(hoa sen) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,368 | |
Đề 12 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Mùa thảo quả Nghĩa gốc nghĩa chuyển Tả cụ già
1. Trong những câu nào dưới đây, các từ sườn, tai mang nghĩa gốc và trong những câu nào, chúng mang nghĩa chuyển?
a) Sườn: – Nó hích vào sườn tôi.
– Con đèo chạy ngang sườn núi.
– Tôi đi qua phía sườnnhà.
– Dựa vào sườn của bản báo cáo…
b) Tai: – Đó là điều tôi mắt thấy tainghe
– Chiếc cối xay lúa củng có hai tairất điệu.
– Đến cả cái ấm, cái chén cũng có tai.
2. Với mỗi nghĩa dưới đây của từ chạy, hãy đặt một câu:
a) Dời chỗ bằng chân với tốc độ cao.
(VD: Ở cự li chạy l00m, chị ấy luôn dẫn đầu.)
b) Tìm kiếm (VD: chạy tiền)
c) Trốn tránh (VD: chạy giặc)
d) Vận hành, hoạt động (VD: máy chạy)
e) Vận chuyển (VD: chạy thóc vào kho)
3. Trong bài Mùa thảo quả, nhà văn Ma Văn Kháng tả hương thơm trong rừng thảo quả như sau:
Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San. Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn.
Hãy nêu nhận xét về cách dùng từ, đặt câu nhằm nhấn mạnh hương thơm của thảo quả chín trong đoạn văn trên. | Đề 12 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 250 | |
Đề 12: Phân tích tình cảm của người mẹ trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 12: Phân tích tình cảm của người mẹ trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ (Nguyễn Khoa Điềm).
Bài làm
Từ những ngày còn bên nôi, ta đã được sống trong bầu không khí êm đềm, mát lành với lời ru ầu ơ của bà, của mẹ. Tiếng hát ấy đưa ta vào giấc ngủ an lành của tuổi thơ, nâng giấc ta, nuôi ta trưởng thành. Đó là những thanh âm trong trẻo vang động sâu sắc tâm hồn ta. Nó không chỉ cho ta những dấu ấn đầu tiên về quê hương xứ sở mà còn găm chặt trong tim ta tình yêu của mẹ thiết tha gửi gắm. Khúc hát ru của bà mẹ Tà-ôi trong thi phẩm Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm là một khúc ru da diết, lắng đọng. Nó mang đến cho ta những cảm nhận sâu đậm về tình yêu con của người mẹ vùng chiến khu Trị Thiên trong những năm chống Mĩ ác liệt.
Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ không chỉ là bài thơ mà còn là lời ru dành cho những em bé lớn lên bằng nhịp đưa nôi của lưng mẹ. Không phải ngẫu nhiên khi phổ nhạc cho bài thơ này, nhạc sĩ Trần Hoàn đã đặt tựa đề là Lời ru trên nương. Chính những lời ru đã làm thành nên cấu tứ của bài thơ, dẫn dắt vào một thế giới mang đậm bản sắc riêng của người Tà-ôi. Tình yêu ngân lên thành một điệp khúc xuyên suốt theo nhịp chày của mẹ:
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ.
Câu thơ vừa như lời hát trìu mến của người mẹ, vừa như lời nhắn nhủ đầy yêu thương của nhà thơ dành cho em bé. Nhịp thơ nhè nhẹ tựa như tiếng hát êm đềm vang xa giữa núi rừng bao la. Hình ảnh ém bé Tà-ôi “ngủ trên lưng mẹ” êm đềm biết bao, nó khiến ta bồi hồi nhớ lại những câu thơ về người mẹ Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp của nhà thơ Tố Hữu:
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Cả hai bà mẹ đều giống nhau ở công việc, giống nhau ở sự chăm sóc, chở che cho con nhưng nếu người mẹ Việt Bắc hiện lên trong hồi tưởng, thì người mẹ Tà-ôi được dựng lên giữa hiện thực:
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng.
Nhịp thơ 3/4 đều đều ở hai câu thơ tựa như nhịp đưa à ơi trên cánh võng. Công việc của mẹ là giã gạo để nuôi bộ đội kháng chiến nhưng chính trong công việc đó người mẹ đã thể hiện tình yêu dành çho con. Từ “nghiêng” lặp lại hai lần vừa tạo nhịp điệu cho câu thơ vừa có chất tạo hình đồng thời diễn tả chân thực hình ảnh người mẹ vừa giã gạo vừa địu con trên lưng. Nỗi nhọc nhằn hiện hữu cả nơi mẹ và con:
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Công việc của mẹ khiến em bé cũng phải vất vả, nhưng em được mẹ bù đắp bằng tình yêu thiết tha. Giấc ngủ “nghiêng” của con có mẹ chở che, nâng giấc bằng “vai gầy” làm gối, bằng “lưng đưa nôi” và trái tim cất vang lời ru. Đó là lời ru được ngân lên từ tình yêu thương bao la của mẹ.
Trong mọi công việc, mọi hoàn cảnh, tình yêu tha thiết ấy vẫn vẹn nguyên, ấm áp. Dù là khi giã gạo ở nhà hay tỉa bắp trên núi Ka-lưi nắng cháy, trong tim mẹ vẫn ngân vang khúc hát ru cho a-kay, bởi a-kay chính là nguồn sống, là động lực của mẹ:
Mặt trời của bắp thì nằm trên núi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ được tác giả sử dụng thật đắc địa, mang lại những rung cảm thẩm mĩ sâu sắc, thể hiện tình mẹ con cảm động, thiêng liêng. Con là mặt trời soi rọi, sưởi ấm lòng mẹ, là nguồn vui, hạnh phúc của đời mẹ. Hạt bắp lớn lên nhờ hơi ấm của mặt trời. Mẹ vui sống bằng nguồn sáng của mặt trời trên lưng – đứa con yêu của mẹ. Lời thơ nhịp nhàng, dịu dàng như tình mẹ êm đềm ru sâu thêm giấc ngủ cho em cu Tai.
Ngủ ngoan a-kay ơi
Ngủ ngoan a-kay hỡi
Những lời ru nhẹ nhàng thể hiện sự nâng niu, gượng nhẹ của mẹ đối với giấc ngủ trẻ thơ của con. Tình yêu nồng ấm ấy trải dài xuyên suốt toàn bộ bài thơ, qua những lời ru được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc mỗi lúc một tha thiết hơn. Yêu con, thương con, bao ước mong của mẹ gửi gắm vào con. Đó chính là nguồn động lực giúp mẹ vượt qua những gian nan, thử thách, những khó khăn, nhọc nhằn để sống, lao động và tham gia kháng chiến. Những ước mong ấy giản dị, mộc mạc, phù hợp với tâm thức của người mẹ Tà-ôi và gắn liền với những ước mong dành cho bộ đội, cho kháng chiến:
Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần
Mai sau con lớn vung chày lún sân…
Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi
Mẹ mong con trở thành một chàng trai khoẻ mạnh, có thể “vung chầy lún sân”, có thể “phát mười Ka-lưi” Trong ước mơ ấy thấp thoáng bóng dáng và sức mạnh của những anh hùng trong sử thi, thần thoại đồng thời hội tụ cả sức mạnh của dân tộc từ quá khứ đến hiện tại gắn với cuộc chiến đấu trường kì của đất nước. Đặc biệt, ước mơ trong lời ru cuối của mẹ mới đẹp làm sao:
Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ Mai sau con ì ớn làm người Tự do…
Đó là ước mơ về ngày thống nhất non sông. Yêu con, niềm mong mỏi lớn nhất của người mẹ là con được làm người tự do. Mẹ lớn lên trong đói nghèo, nô lệ, trưởng thành trong gian khổ chiến tranh, mẹ hiểu lắm giá trị của tự do. Vì thế, mẹ không mong gì hơn là con được trở thành công dân của một đất nước tự do, độc lập. Tinh yêu con của mẹ thật sâu sắc biết bao, lớn lao biết bao.
HOÀNG THANH HƯƠNG
Lời nhận xét:
– Bài viết đã phân tích rõ nét tình cảm của người mẹ Tà-ôi đôi với con trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ.
– Người viết đã cảm nhận và thẩm bình các chi tiết nghệ thuật khá tinh tê: “Biện pháp nghệ thuật ẩn dụ được tác giả sử dụng thật đắc địa, mang lại những rung cảm thấm mĩ sầu sắc, thế hiện tình mẹ con cảm động, thiêng liêng. Con là mặt trời soi rọi, sưởi ấm lòng mẹ, là nguồn vui, hạnh phúc của đời mẹ. Hạt bắp Iớn lên nhờ hơi ấm của mặt trời. Mẹ vui sống nhờ hơi ấm của nguồn sáng mặt trời trên lưng – đứa con yêu của mẹ. Lời thơ nhịp nhàng, dịu dàng như tình mẹ êm đềm ru sâu thêm giấc ngủ cho em cu Tai
– Người viết đã có ý thức liên hệ so sánh nhưng cần phải gia tăng, mở rộng hơn nữa để bài viết phong phú hơn.
– Kết cấu của bài viết khá hợp lí. | Đề 12_ Phân tích tình cảm của người mẹ trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,315 | |
Đề 13 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Tả cô giáo Măt trời xanh của tôi nghĩa gốc
1. Xác định nghĩa của từ in đậm trong các cụm từ, câu dưới đây, rồi phân các nghĩa ấy thành hai loại: nghĩa gốc, nghĩa chuyển.
a) Lá: – Lá bàng đang đỏ ngọn cây. (TốHữu)
– Lá khoai anh ngỡ lá sen. (Ca dao)
– Lá cờ căng lên vì ngược gió. (Nguyễn Huy Tưởng)
– Cầm lá thư này lòng hướng vô Nam. (Bài hát)
b) Quả: – Quảdừa – đàn lợn con nằm trên cao. (Trần Đăng Khoa)
– Quả cau nho nhỏ ; Cái vỏ vân vân. (Ca dao)
– Trăng tròn như quả bóng. (Trần Đăng Khoa)
– Quảđất là ngôi nhà chung của chúng ta.
–Quả hồng như thể quả tim giữa đời.
2. Tìm từ có thể thay thế từ mũitrong các câu sau:
– Mũithuyền
– Mũi súng -Mủi đất
– Mũiquân bên trái đang thừa thắng xốc tới.
– Tiêm ba mũi
3. Trong bài Măt trời xanh của tôi, nhà thơ Nguyễn Viết Bình có viết:
Rừng cọ ơi! Rừng cọ!
Lá đẹp, lá ngời ngời
Tôi yêu thường vẫn gọi
Mặt trời xanh của tôi.
Theo em, khổ thơ trên đã bộc lộ tình cảm của tác giả đối với rừng cọ của quê hương như thế nào?
4. Tả cô giáo (thầy giáo) đã dạy em trong những năm học trước. | Đề 13 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 228 | |
Đề 14 – Thuyết minh về một đồ dùng trong học tập của em – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Thuyết minh một đồ dùng học tập của em
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
– Trước hết, em cần chọn cho mình một đồ dùng học tập cụ thế (bút bi, bút chì, cặp sách, quyển tập,…) miễn là đồ dùng đó là vật gần gũi, em có nhiều tình cảm về nó và có nhiều kiến thức về nó. Khi thuyết minh, em cần đảm bảo những ý sau đây:
+ Nguồn gốc, xuất xứ, người phát minh?
+ Cấu tạo của đồ dùng đó bao gồm những bộ phận nào? (cấu tạo bên ngoài, cấu tạo bên trong)
+ Cách sử dụng đồ dùng đó như thế nào là đúng, là tốt?
+ Cách bảo quản đồ dùng đó như thế nào là tốt?
+ Ý nghĩa của đồ dùng trong cuộc sống của em?
+ Cảm nghĩ của em về đồ dùng đó?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Giới thiệu: Một vật dụng nhỏ gọn, tiện ích cho học sinh, sinh viên ngày nay mà chúng ta thường nhắc đến đó chính là cây bút bi.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Người xin cấp bằng sáng chế bút bi đầu tiên trên thế giới là một người thợ thuộc da người Mỹ tên là John Loud vào năm 1888 nhưng không được khai thác thương mại. Cho đến năm 1938, một biên tập viên người Hungari tên là Laszlo Biro vì quá chán nản với việc sử dụng bút mực nên ông đã sáng chế ra cây bút bi viết bằng mực in báo khô nhanh và ngày 15 tháng 6, ông được cấp bằng sáng chế của Anh Quốc.
Từ năm 1940, ngày sinh nhật của Biro ngày 29 tháng 9 đã trở thành ngày của những nhà phát minh ra bút bi.
2. Cấu tạo
Bên ngoài bút là thân bút với một ống nhựa cứng, trên thân bút thường in hãng sản xuất, trang trí nhiều màu sắc bắt mắt.
Hình dạng rất phong phú, đa dạng.
Tháo bút ra, chúng ta sẽ thấy bên trong có một ống ruột.
Trong ống ruột có đoạn mực đặc. Phần dưới đầu bút có một viên bi rất nhỏ, chỉ từ không phẩy bảy đến một mi-li-mét. Viên bi này chuyển động lăn giúp mực in lên giấy khô và nhanh. Bút bi có rất nhiều loại khác nhau, có loại làm bằng nhựa cứng, có loại làm bằng kim loại màu,… và nhiều nguyên liệu khác.
Loại làm bằng nhựa cứng thường được dùng một lần, đến hết mực rồi bỏ.
Nắp bút bi cũng rất đa dạng. Có dạng nắp ròi ra, khi dùng tháo nắp gắn lên đầu, dùng xong đậy lại. Còn dạng nắp gắn liền với thân, khi dùng bấm nút để đẩy ngòi bút ra, không dùng bấm nút đẩy ngòi ngược vào trong.
3. Cách sử dụng và bảo quản
Khi viết, chúng ta phải để bút hơi nghiêng từ 40° đến 60°, đặc biệt tránh vừa nằm vừa viết.
Khi dùng xong, cần phải đậy nắp lại ngay để tránh bút rớt làm hư đầu bi. Vì đầu bi là bộ phần quan trọng nhất của bút nên nếu hư đầu bi thì bút sẽ không dùng được. Phải để bút luôn nằm ngang để mực luôn lưu thông trong ống.
4. Ý nghĩa
Chúng ta có thể thấy nó nằm ở trên bàn, trong túi hay trong xe hơi,… Những nơi nào cần viết sẽ có sự hiện diện của bút bi.
Nó vừa rẻ tiền lại vừa tiện dụng. Tùy theo hãng sản xuất mà có những giá cả khác nhau, trung bình từ khoảng 3.000đ trở lên. Còn các hãng sản xuất nước ngoài như: Waterman, Paker,… thì giá một cây bút bi dao động hàng trăm USD trở lên.
Bút bi còn được dùng tặng miễn phí như một dạng quảng cáo.
III. KẾT BÀI
Bút bi luôn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống mọi người và đặc biệt đối với học sinh như chúng ta thì nó là một người bạn thân thiết trên con đường học vấn.
Vì vậy là một học sinh, chúng ta cần phải biết nâng niu và trân trọng bút để xứng đáng là người chủ “tài hoa” của nó.
BÀI VĂN THAM KHẢO
BÀI VĂN 1
Bút bi có thể được xem là người bạn thân thiết nhất đối với các bạn học sinh. Nó góp phần không nhỏ trong việc dẫn ta đến thành công trên con đường học vấn qua những nét chữ thơm mùi mực trên từng trang giấy.
Không ai biết chính xác thời gian ra đời của bút viết. Chỉ biết rằng khi con người phát minh ra chữ viết thì bút viết cũng từ đó mà có mặt trên đời. Thời xưa, người ta thường dùng lông ngỗng hoặc lông chim để chấm mực viết, tuy nhiên việc này đã gây ra không ít rắc rối. Mãi đến năm 1938, sau một thời gian tìm tòi nghiên cứu, nhà báo Lazo Biro người Hungary đã phát minh ra cây bút bi đầu tiên trên thế giới.
Bút bi gồm hai bộ phận chính: vỏ bút và ruột bút. Phần vỏ bút được làm từ chất liệu nhựa hoặc kim loại, chiếm 80% vẻ đẹp của cây viết. Để thu hút tầm nhìn khách hàng, các nhà sản xuất thường tạo ra nhiều mẫu mã đẹp, phong phú với các kiểu dáng và màu sắc khác nhau, làm tăng thêm tính thẩm mỹ của cây bút. Bộ phận này dùng để chứa các vật nhỏ bên trong như lò xo, ruột bút,… vỏ bút dạng hình ống, có kích thước vừa với cỡ tay mỗi người. Bộ phận thứ hai cũng không kém phần quan trọng là ruột bút, được làm từ nhựa dẻo, có khả năng giữ mực nên gọi là ống mực. Phần đầu ruột có gắn viên bi nhỏ xinh xinh, có đường kính khoảng 0,7 – 1 milimet được coi là ngòi bút. Khi ta viết, viên bi lăn đầy mực ra tạo thành những dòng chữ tròn trịa, thanh thoát. Loại mực dành cho bút này khô rất nhanh. Ngoài ra, đế tạo nên một cây bút bi thì không thể thiếu các vật dụng phụ như lò xo có tác dụng đẩy ngòi viết ra vào, nút bấm, nắp viết…
Bút bi có nhiều loại, có hàng nhập từ nước ngoài (hàng ngoại) hoặc sản xuất trong nước (hàng nội). Có ý kiến cho rằng hàng ngoại tốt hơn hàng nội nhưng trên thực tế thì điều này chưa hoàn toàn đúng. So về mặt giá cả thì hàng ngoại mắc hơn nhưng nếu xét về dung tích mực hoặc độ bền thì cả hai đều như nhau. Vì vậy, các bạn học sinh yêu thích hàng nội và dùng nhiều hơn. Mực bút bi rất đa dạng, có nhiều màu như xanh, đỏ, đen, tím,… các loại bút bi phổ biến là bút bấm, bút có nắp, bút xoay thân… Trên thị trường ngày nay có loại viết bi nhiều ruột, mỗi ruột là một màu, rất tiện cho người tiêu dùng.
Bút bi rất có ích cho con người vi nó nhỏ gọn, tiện lợi, có thể mang đi mọi nơi mà vẫn tránh được các tác nhân bên ngoài va chạm vào ngòi bút. Mặc khác bút còn có một đặc điểm nhỏ mà ít ai để ý là có thể biến những cây bút bi thành món quà nhỏ nhỏ xinh xinh, dễ thương, vô cùng ý nghĩa để tặng thầy cô, bạn bè hoặc người thân và so với thời xưa khi ta còn dùng viết mực chấm thì bút bi bây giờ là một bước tiến đáng kể.
Bút bi rất cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Bút bi đã làm thay đổi lịch sử về chữ viết loài người. Và nó sẽ mãi là người bạn nhỏ đồng hành với con người cả hôm nay và mai sau.
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 2
Chữ viết xuất hiện là thành tựu của loài người chúng ta. Từ khi chữ viết xuất hiện, thì bút bi được thiết kế và sử dụng rộng rãi khắp thế giới. Bút bi rất có ích cho loài người trong việc giao tiếp bằng chữ viết. Nó là sản phẩm của trí tuệ, là một vật dụng rất tiện lợi và thông dụng.
Trước khi bút bi ra đời, con người đã sử dụng các công cụ để trao đổi thông tin như sử dụng những hòn đá có đầu nhọn để khắc chữ lên đá hay người Trung Quốc sử dụng bút lông được lấy từ lông con lạc đà. Rồi vào năm 1880, bút bi xuất hiện lần đầu tiên tại Mĩ. Bút bi xuất hiện ở thế kỉ XX vào những năm sáu mươi. Người đã có công và là cha đẻ của cây bút bi là hai anh em người Hungari, là Laszlo Biro và George. Khi Biro đang công tác cho một tờ báo nhỏ, điều cảm thấy Biro rất khó chịu là cây bút mực của Biro văng mực lên áo, làm bẩn giấy tờ quan trọng và chữ viết rất lâu khô. Biro biết rằng mực của máy in rất mau khô, không làm bẩn giấy tờ và Biro quyết định làm cây bút bi có mực từ máy in. Với quyết định này, anh trai của Biro và cũng là một nhà hóa học – George, Biro bắt đầu vào việc thiết kế một cây bút mới. Biro nhận bằng sáng chế Anh quốc vào ngày 15/06/1938.
Vỏ bút được làm bằng nhựa cứng, bao quanh ruột bút để tránh va chạm mạnh. Tên nhà sản xuất hoặc hoa văn đều được in lên vỏ bút để tạo sự bắt mắt cho người mua. Vỏ bút có hình trụ, dài khoảng một gang tay, thon nhỏ như cây đũa. Nhờ cấu tạo này, mà ta có thể cầm viết dễ dàng hơn. Hiện nay, trên thị trường có loại bút có đệm một lớp bằng cao su để cho người viết không bị đau, mỏi tay khi cầm viết trong một thời gian dài.
Ruột bút nằm bên trong vỏ bút và là phần quan trọng nhất của cây bút, gồm hai phần là ống mực và ngòi bút. Ống mực có hình trụ dài, theo chiều dài của bút, đường kính khoảng 0,5cm, nhỏ mềm và chứa mực. Bên trong ruột bút bi là mực đặc sệt, sẽ khô ngay khi tiếp xúc với mặt giấy. Tùy theo loại bút: viết đỏ thì mực đỏ, viết xanh thì mực xanh… được nhà sản xuất bơm mực vào. Ngòi bút được gắn liền với ống mực. Ngòi bút được làm bằng kim loại hay hợp kim, gắn với một hòn bi rất nhỏ, khoảng 0,5mm, đó là lí do vì sao ta gọi là bút bi.
Ngoài ra, còn một số phụ kiện đi kèm. Đối với bút bi có nắp đậy thì nắp dùng để che đậy ngòi bút để tránh hư hỏng, không cho mực bị khô. Đối với loại bút bi bấm thì kèm theo lò xo và một miếng nhựa nhô ra ở phía trên đầu bút để kẹp chặt, không cho ống mực dịch chuyển.
Bút bi là một dụng cụ học tập rất quen thuộc đối với học sinh. Bút bi có thể đem đi, không cần phải đem lọ mực để nạp mực, giá thành cũng rẻ rất nhiều so với bút máy. Thế nhưng, bút bi lại viết không đẹp so với bút máy, dễ làm hư nét chữ, nhất là học sinh tiểu học. Nhưng không vì thế mà ta lại phủ nhận sự tiện dụng của nó. Nếu khi mực bị khô, ta khoan hãy bỏ nó. Ta có thể ngâm bút trong nước ấm sau đó có thể dùng lại một cách dễ dàng.
Tóm lại, bút bi là một dụng cụ học tập đắc lực và quen thuộc đối với mọi người, nhất là học sinh – sinh viên. Bút cũng được xem là một người bạn không thể thiếu trong mọi hoàn cảnh và chúng ta cần phải trân trọng và gìn giữ nó.
>> Xem thêm Đề 15: Thuyết minh về một đồ vật gần gũi trong đời sống(Kính đeo mắt) tại đây.
Tags:Bút bi · Đề 14 · Văn chọn lọc 9 | Đề 14 – Thuyết minh về một đồ dùng trong học tập của em – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 2,076 | |
Đề 14 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Ngữ pháp Hành trình của bầy ong Tả người bạn
1. Xác định chức năng ngữ pháp (làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ) của đại từ tôi trong từng câu dưới đây:
a) Đơn vị đi qua tôi ngoái đầu nhìn lại
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi.
(Giang Nam)
b) Đây là quyển sách của tôi.
c) Cả nhà rất yêu quý tôi.
d) Người về đích sớm nhất trong cuộc thi chạy việt dã hôm ấy là tôi.
2. Tìm đại từ xưng hô và đại từ phiếm chỉ trong câu sau:
Việc gì tôi cũng làm, đi đâu tôi cũng đi, bao giờ tôi cũng săn sàng.
3. Kết thúc bài Hành trình của bầy ong, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu viết:
Bầy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày.
Qua hai dòng thơ trên, em hiểu được công việc của bầy ong có ý nghĩa gì đẹp đẽ?
4.Tả một người bạn mà em thấy gần gũi, thân thiết và quý mến. | Đề 14 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 179 | |
Đề 14: Trình bày cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 14: Trình bày cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.
Bài làm
Nguyễn Duy là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Sáng tác của ông thấm đẫm phong vị của ca dao, dân ca nhưng nhiều bài vẫn có cái ngang tàng mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm. Thơ ông vì thế cứ đi sâu vào tâm hồn người đọc một cách tự nhiên và có lúc khiến người ta phải giật mình. Ánh trăng là một thi phẩm như thế. Nó tựa như một câu chuyện nhỏ có các sự kiện diễn biến theo trình tự thời gian. Lời thơ dung dị như lời kể nhưng chất thơ vẫn đong đầy và ẩn chứa những triết lí sâu sắc về con người, cuộc đời.
Mớ đầu bài thơ là những kỉ niệm êm đềm, tươi đẹp giữa trăng và người trong quá khứ. Một loạt những mốc thời gian được liệt kê, như một cuốn phim quay chậm:
Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ
Lời thơ như không hề có sự dụng công nghệ thuật mà chỉ là sự đo đếm bước đi của thời gian, sự kiện: hồi nhỏ, sống với đồng, với bể, với sông, hồi chiến tranh… Thế nhưng ẩn chứa sau nó là cả một quãng đời dài, từ thời niên thiếu hồn nhiên, thơ dại đến khi trưởng thành và trong những năm tháng chiến tranh gian khổ gắn bó cùng trăng. Mọi chiều kích không gian và thời gian được mở rộng tới bao la, không cùng, gợi hình ảnh ánh trăng tràn ngập không gian, trải dài theo thời gian. Cách gieo vần lưng “đổng”, “sông” và điệp từ “với” đã diễn tả một tuổi thơ êm đềm hạnh phúc chan hoà cùng thiên nhiên của tác giả. Khi lớn lên, bước chân vào đời lính gian khổ, giữa núi rừng hoang lạnh “vầng trăng thành tri kỉ”. Trăng theo sát bước chân người lính, cùng chia sẻ buồn vui của cuộc sống chiến đấu. Ta chợt nhớ tới vầng trăng của tình đồng đội thiêng liêng trong sáng tác của Chính Hữu:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
(Chính Hữu – Đồng chí)
Trăng thực sự là một người bạn thân thiết trong những năm tháng tuổi nhỏ và là người “tri kỉ” của người lính trong những tháng ngày khói lửa chiến tranh. Con người giản dị, hồn nhiên như bản tính vốn có của tự nhiên bao đời:
hồn nhiên như cây cỏ
Tính từ “trần trụi”, “hồn nhiên” được đặt ở hai đầu dòng thơ như muốn nhấn mạnh khí chất của con người. Trăng và người cứ hồn nhiên như thế, như sông, như đồng, như bể, như tâm hồn chân chất của những người nông dân mộc mạc, như tinh thần lạc quan, bay bổng của những người lính. Cách gieo vần lưng “thiên nhiên”, “hồn nhiên” làm cho âm điệu thơ liền mạch, khơi dòng cảm xúc dâng tràn trong tâm hồn thi nhân. Từ “ngỡ” như báo trước một sự đổi thay, một điều bất thường. Câu thơ như một lời tự nhủ của nhân vật trữ tình, cũng là bản lề mở ra sự biến chuyển của tứ thơ:
Từ hồi vê thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đì qua ngõ
như người dưng qua đường
Tác giả chỉ ra sự đối lập giữa hoàn cảnh của con người trong hiện tại và quá khứ. Quá khứ là những tháng ngày sống cùng thiên nhiên dân dã, mộc mạc, với đồng, với sông, với bể ; còn hiện tại là “ánh điện, cửa gương” nơi phố thị phồn hoa. Tác giả sử dụng thủ pháp hoán dụ để nói về cuộc sống đầy đủ, tiện nghi xa hoa, ồn ào của thành phố. Từ sự thay đổi của hoàn cảnh đã dẫn đến sự đổi thay của lòng người:
Vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Người bạn “tri kỉ”, “tình nghĩa” tưởng không bao giờ quên được ấy giờ đây lại giống như “người dưng qua đường”. Phép nhân hoá càng gợi lên dư vị xót xa trong tâm hồn độc giả. Vầng trăng có tình cảm, có yêu thương, có thuỷ chung. Còn con người lại dửng dưng, vô tình, dễ đổi thay. Những ồn ào nơi cuộc sống phố thị, những ánh sáng của cuộc sống xa hoa làm lu mờ trái tim, xoá nhoà kí ức đẹp đẽ một thời. Đó không phải là điều cá biệt trong cuộc sống. Bởi vậy mà ông cha ta đã từng nhắc nhớ: “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay”, khuyên con người ta không nên quay lưng lại với quá khứ.
Có lẽ, vầng trăng tri kỉ đó sẽ mãi bị “ngủ quên” trong miền kí ức nếu không có một tình huống bất ngờ xảy đến, buộc con người phải đối mặt:
phòng buyn – đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Đèn điện tắt cũng là lúc những ánh sáng của bóng điện cửa gương biến mất. Đó là tình huống tạo nên bước ngoặt để nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề của tác phẩm. Hai từ “thình lình”, “đột ngột” mang âm hưởng nhanh, mạnh, được đảo lên đầu câu, tạo sự đối lập giữa “phòng buyn – đinh tối om” và “vầng trăng tròn”. Giây phút nhìn thấy vầng trăng chứa chở bao cảm xúc ngỡ ngàng. Cái “đột ngột” trons sự xuất hiện của vầng trăng cũng chính là tâm trạng “đột ngột” của nhà thơ khi nhận ra vầng trăng tình nghĩa ngày nào. Trăng vẫn như xưa, vẫn đẹp một vẻ tròn đầy, vẹn nguyên. Sự xuất hiện ấy, lặng lẽ thôi mà đầy bất ngờ, mà có sức rung động mạnh mẽ đối với tâm hồn con người, thức tỉnh phần kí ức bị ngủ quẽn. Để rồi, khi đối diện với trăng, những cảm xúc ấy càng dâng tràn mạnh mẽ:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bê
như lù sông là rừng
Niềm xúc động chen lẫn sự thành kính bao trùm không gian. Trăng và người, quá khứ và hiện tại, thuỷ chung và đổi thay đối diện với nhau. Từ “mặt” cuối câu thơ là từ đa nghĩa, tạo nên sự đa dạng cho ý thơ. “Mặt” là trăng, là thiên nhiên, là quá khứ một thời bị lãng quên, và “mặt” còn là chính bản thân con người. Con người đang tự đối diện với chính mình, với một thời quá vãng. Khoảnh khắc đối diện ấy làm nhà thơ “rung rung” xúc động, bởi quá khứ vất vả mà ấm áp tình yêu cùng trăng bấy lâu tưởng chừng bị lãng quên nay lại ùa về, bởi con người đã nhận thức được giá trị của quá khứ, biết hổ thẹn và ân hận về sự đổi thay của mình.
Điệp từ “như là”, các hình ảnh liệt kê sông, đồng, bể, rừng cùng nhịp thơ dồn dập tạo nên dòng cảm xúc mãnh liệt, cuốn độc giả hoà theo với bao mênh mông, sâu lắng.
Khổ thơ cuối là dòng cảm xúc lắng sâu, trở thành những triết lí nhân sinh sâu sắc:
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình
“Trăng tròn vành vạnh” biểu tượng cho sự tròn đẩy, vẹn nguyên, thuỷ chung như nhất của thiên nhiên, của quá khứ. Nó đối lập với con người vô tình đổi thay, đối lập với ánh điện cửa gương dễ bị chi phối bởi hoàn cảnh. Hai tiếng “kể chi” như một lời khẳng định thể hiện sự bao dung độ lượng của trăng. Ánh trăng được nhân hoá và khoảnh khắc “im phăng phắc” là cái lặng im của sự nghiêm khắc mà bao dung, của sự thấu hiểu và độ lượng, tha thứ. Sự im lặng của trăng đủ để nhà thơ “giật mhìh” – cái giật mình của lương tâm thức tỉnh, của kí ức bị lãng quên ùa về. Cái giật mình ấy làm cho con người trở nên đáng trọng hơn. Bao ăn năn như bị dồn nén, tạo nên một sự ám ảnh sâu sắc về cái lặng im đầy ý nghĩa, về cái giật mình thảng thốt ấy.
PHẠM TUẤN ANH
Lời nhân xét:
– Bài viết đã có những phân tích sâu sắc, khá tinh tế về bài thơ Ánh trăng – một thi phẩm chứa đựng nhiều ý nghĩa. Người viết khai thúc tốt các giá trị biểu cảm của từ ngữ cũng như các thủ pháp nghệ thuật.
– Bô cục bài viết hợp lí, mạch lạc.
– Văn phong trong sáng, giàu xúc cảm: “Lời thơ như không hề có sự dụng công nghệ thuật, chỉ là sư đo đếm bước đi của thời gian, sự kiện: hồi nhỏ, sống với đồng, với bể, với sông, hồi chiến tranh,… thế nhưng ẩn chứa sau nó là cả một quãng đời dài, từ thời niên thiếu hồn nhiên, hoang dại đến khi trưởng thành và những năm tháng chiến tranh gian khổ gắn bó cùng trăng. Mọi chiều kích không gian và thời gian được mở rộng tới bao la, không cùng, gợi hình ảnh ánh trăng tràn ngập không gian, trải dài theo thời gian. | Đề 14_ Trình bày cảm nhận của em về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,593 | |
Đề 15 – Thuyết minh về một đồ vật gần gũi trong đời sống(Kính đeo mắt) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Một đồ vật gần gũi trong đời sống
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
Trước hết, em cần chọn cho mình một đồ vật trong đời sống cụ thể (phích nước, bàn ủi, cây chổi, kính đeo mắt,…) miễn là đồ dùng đó là vật gần gũi, em có nhiều tình cảm về nó và có nhiều kiến thức về nó. Khi thuyết minh, em cần đảm bảo những ý sau đây:
+ Nguồn gốc, xuất xứ, người phát minh?
+ Cấu tạo của đồ vật đó bao gồm những bộ phận nào? (cấu tạo bên ngoài, cấu tạo bên trong)
+ Cách sử dụng đồ vật đó như thế nào là đúng, là tốt?
+ Cách bảo quản đồ vật đó như thế nào là tốt?
+ Ý nghĩa của đồ vật trong cuộc sống của em?
+ Cảm nghĩ của em về đồ vật đó?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Giới thiệu: Chiếc kính đeo mắt là một vật dụng hết sức cần thiết trong cuộc sống của chúng ta ngày nay.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Chiếc kính mắt đầu tiên ra đòi ở Ý vào năm 1920, gồm hai mắt kính nối với nhau bằng một sợ dây để lên mũi.
Năm 1930, một chuyên gia quang học ở Luân Đôn sáng chế ra hai càng (ngày nay gọi là gọng kính) để mắt kính gá vào một cách chắc chắn.
2. Cấu tạo
Gồm hai bộ phận chính là gọng kính và tròng kính.
Gọng thường được làm bằng nhựa cứng hoặc dẻo, kim loại.
Mỗi loại gọng thì có một ưu điểm riêng, gọng kim loại được làm bằng một loại sắt, giúp người đeo cảm thấy cứng cáp và chắc chắn.
Gọng nhựa dẻo và bền thì có thể chịu được áp lực lớn mà không bị cong hoặc biến dạng.
Một loại gọng được làm bằng ti-tan rất nhẹ, có thể bẻ cong mà không gãy.
Giá của các loại gọng đó sẽ chênh lệch nhau không ít.
Phần cuối gọng kính được bẻ cong để người sử dụng có thể gác lên vành tai.
Dù là nhựa hay kim loại thì tất cả các loại gọng đều có rất nhiều màu sắc và kiểu dáng khác nhau tạo nên những vẻ đẹp riêng cho kính, như màu đỏ, đen, tím, vàng, xanh,… và còn trang trí những hình ảnh, hoa văn ngộ nghĩnh như thờ, mèo,…
Tròng kính được làm bằng thuỷ tinh trong suốt hoặc nhựa cao cấp, ban đầu có hình tròn, vuông và được mài, cắt sao cho vừa khít với gọng mà người dùng lựa chọn. Đối với tròng kính, tuy trong suốt nhưng dễ vỡ. Còn tròng kính bằng nhựa, tuy nhẹ nhưng dễ bị trầy nên cần phải lựa chọn loại kính phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình.
Tròng kính có các loại chống tia cực tím, loại chống trầy xước là loại có cả hai đặc tính trên.
Tròng kính được gán vào gọng nhờ một sợi dây cước trang và gọng được siết chặt giữ hai tròng kính nhờ hai con đinh vít. Gần hai tròng có hai miếng đệm cao su hoặc nhựa dùng để gác lên hai bên của sống mũi.
3. Phân loại
Kính đeo mắt thì có nhiều loại: kính thuốc, kính râm, kính thời trang,… tùy mỗi loại sẽ có những công dụng riêng khác nhau.
Kính thuốc là kính dùng cho những người bị bệnh về mắt như cận thị, loạn thị,…
Kính thời trang là vật trang điểm, tạo dáng cho mắt và khuôn mặt.
Kính râm là kính để bảo vệ mắt khi đi ngoài trời.
4. Cách sử dụng và bảo quản
Lúc sử dụng kính, nên nhẹ nhàng mở bằng hai tay, dùng xong nên lau sạch tròng kính bằng khăn mềm, mịn, cất kính vào hộp, để ở nơi cố định, dễ tìm như trong ngăn tù, ngăn bàn, mặt bàn,… tránh các vật nặng đè vỡ hoặc làm trầy xước mặt kính.
Thường xuyên rửa kính bằng nước, lau sạch tròng kính bằng khăn chuyên dùng.
Để mắt kính không bị biến dạng, khi đeo và tháo kính nên dùng hai tay cầm gọng kính.
Phải dùng kính đúng độ thì thị lực sẽ không bị tăng cao.
III. KẾT BÀI
Giúp ta nhìn sự vật một cách chính xác, tạo điều kiện cho mọi người lao động và học tập tốt hơn.
Là một người bạn không thể thiếu của chúng ta.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Chiếc kính đeo mắt là một trong những vật dụng rất cần thiết đối với con người. Nói về nguồn gốc của chiếc kính đeo mắt, ít ai biết được rằng nó được ra đời ở đất nước Trung Quốc vào thế kỉ XII. Trải qua bao thời gian, chiếc mắt kính ngày nay đã có sự cải tiến không chỉ về chất lượng mà còn về hình thức, mẫu mã. Hưởng lợi từ thành quả đó, chúng ta không thể không nhớ đến công ơn của những nhà khoa học đã miệt mài nghiên cứu và cải tiến để làm ra một chiếc mắt kính tốt nhất.
Bộ phận còn lại là gọng kính dùng để nâng đỡ tròng kính. Trước đây, người ta dùng hai sợi dây để đeo vào tai nhưng bây giờ mỗi chiếc kính đều có hai thanh đỡ để đeo vào tai. Tròng kính được làm bằng nhựa hoặc kim loại nối với phần trên của gọng bằng một con ốc. Ở phía trên của gọng có hai miếng đệm để khi đeo vào không bị cấn vào mũi làm đau. Cũng như tròng kính, gọng kính cũng đủ màu sắc sặc sỡ không thua kém gì. Ngoài ra, trên gọng kính cũng được trang trí bằng các đường viền hoặc các hoa văn làm cho người nhìn không cảm thấy quá chán vì chỉ có một màu.
Kính đeo mắt có nhiều loại với nhiều công dụng khác nhau như kính mát, kính loạn thị, kính cận, kính viễn,… phù hợp với nhu cầu của mỗi người.
Kính đeo mắt rất được ưa chuộng bởi vì nó có nhiều màu sắc rất đẹp. Nó được sử dụng rất nhiều trong việc học tập, làm việc, giải trí,… Nhiều người làm công việc hàn sắt, thép rất cần có chiếc kính làm bằng kim loại để không cho các ánh sáng tiếp xúc trực tiếp với mắt. Kính dành cho học sinh là loại kính có tròng làm bằng thuỷ tinh hoặc mi-ca và tròng thì trong suốt không có màu, còn loại kính thời trang thì dành cho các diễn viên hoặc các nhà tạo mẫu tròng kính sặc sỡ đủ màu sắc khiến người khác nhìn vào cảm thấy vui tươi và yêu đời. Những loại kính thường thấy là ray-ban hay versus là những loại kính thưòng dùng cho thời trang. Còn những loại kính thường dùng để đi xa tránh nắng và bụi thì là những kính có tròng màu đen và gọng cũng màu đen. Hàng năm có hàng trăm triệu chiếc mắt kính sản xuất ra để phục vụ đời sống con người và ngày càng tiến bộ hơn rất nhiều. Con người chúng ta đã làm ra chiếc kính 3D dùng để xem phim làm hình ảnh thêm rõ nét, sống động hon trải nghiệm được như cuộc sống thật ở trong phim. Kính đeo mắt được trải rộng khắp mọi nơi trên thế giới kể cả trong phim cho đến ngoài đời thực.
Riêng tôi, tôi nghĩ rằng những người đang mắc phải bệnh về mắt sẽ khó khăn biết chừng nào trong cuộc sống nếu thiếu chiếc kính đeo mắt. Có chiếc kính đeo mắt cũng chính là có thêm một người bạn thân thiết với chúng ta. Tôi hi vọng rằng chiếc kính đeo mắt sẽ được cải tiến nhiều hơn nữa trong một tương lai không xa.
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 16: Thuyết minh về một đồ vật gần gũi trong đời sống(Cái quạt giấy) tại đây.
Tags:Đề 15 · Kính đeo mắt · Thuyết minh · Văn chọn lọc 9 | Đề 15 – Thuyết minh về một đồ vật gần gũi trong đời sống(Kính đeo mắt) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,365 | |
Đề 15 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Cô Tấm của mẹ đại từ xưng hô tả em
1. Tìm đại từ xưng hô trong đoạn trích sau, nói rõ từng đại từ thay thế cho từ ngữ nào:
Khi gấu đã đi khuất, anh kia từ trên cây tụt xuống và cười:
-Thế nào, gấu rỉ tai cậu điều gì thế?
– À, nó bảo với tớ rằng những người xấu là những kẻ chạy bỏ bạn trong lúc hiểm nghèo.
(Lép Tôn-xtôi)
2. Dùng đại từ xưng hô để thay thế cho danh từ bị lặp lại (từ in đậm) trong các câu dưới đây:
Chuột chui qua khe hở và tìm ra rất nhiều thức ăn. Là một con chuột tham lam nên chuột ăn nhiều đến mức bụng chuột phình lên. Sáng ra, chuột tìm đường về ổ, nhưng cái bụng phình to đến mức chuột không sao lách qua được khe hở.
3. Trong bài Cô Tấm của mẹ, nhà thơ Lê Hồng Thiện viết:
Bao nhiêu công việc lặng thầm
Bàn tay của bé đỡ đần mẹ cha.
Bé học giỏi, bé nết na
Bé là cô Tấm, bé là con ngoan.
Đoạn thơ giúp em thấy được những điều gì đẹp đẽ ở cô bé đáng yêu?
4. Tả một em bé đang tuổi tập đi, tập nói (hoặc em bé ở lứa tuổi mầm non). | Đề 15 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 227 | |
Đề 15: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 15: Tình yêu làng và lòng yêu quê hương, tinh thần kháng chiến của người nông dân được thể hiện sâu sắc trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Em hãy phân tích nhân vật ông Hai để làm sáng tỏ điều đó.
Bài làm
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã xây dựng thành công hình ảnh những con người Việt Nam kiên cường, bất khuất với một tình yêu quê hương đất nước tha thiết, sâu nặng. Bên cạnh hình ảnh những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trên mặt trận còn có những con người hi sinh lặng thầm nơi hậu phương để góp phần vào thắng lợi của kháng chiến. Đó là những người nông dân có lòng yêu nước thiết tha, bình dị, sâu sắc. Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã xây dựng thành công hình ảnh nhân vật ông Hai – một người nông dân chân chất nhưng mang nặng tình yêu làng và lòng yêu quê hương, có tinh thần kháng chiến mạnh mẽ.
Phải đi tản cư do làng bị địch chiếm đóng nhưng ông Hai không lúc nào nguôi nỗi nhớ về làng mình. Đó là nỗi nhớ da diết của một con người cả đời gắn bó sâu nặng với mảnh đất nơi mình sinh ra, lớn lên. Tinh yêu ấy được Kim Lân cảm nhận một cách sâu sắc và thể hiện hết sức giản dị, chân thành.
Những ai đã đọc Làng đều cảm nhận được ở ông Hai tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với làng xóm, với quê hương. Đối với người nông dân chất phác ấy, tình cảm với làng quê, thôn xóm là tình cảm tự trong tim, ngấm sâu vào máu thịt. Cũng như bao người dân lao động khác, cả một đời ông Hai gắn bó với mảnh đất quê nghèo mà nặng sâu ân tình. Cái làng Chợ Dầu ấy đã trở thành nguồn vui sống của ông. Tác giả đã để cho ông Hai bộc lộ tình yêu đó một cách chân thật, nồng nhiệt, vừa có những nét quen thuộc vừa có những nét riêng biệt chỉ có ở ông Hai. Yêu làng, ông yêu tất cả những gì thuộc về làng, thậm chí yêu cả những cái mà ông và biết bao người đã phải khổ sở vì nó. Ông Hai tự hào vì làng Chợ Dầu của ông có những ngôi nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong lạng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng năm ngày mười phơi rơm và thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất… Ông tự hào về tất cả những nét độc đáo, những thứ đã làm nên bề dày lịch sử của làng ông.
Nhưng tình yêu làng của người nông dân ấy không bất biến mà thay đổi theo thời gian, theo sự biến chuyển của thời đại. Kháng chiến nổ ra mang theo những luồng tư tướng mới chiếu rọi tâm hồn ông. Giờ đây, đối với ông Hai, cái làng cụ Thượng, cái sinh phần kia đều đáng căm thù ; niềm tự hào về làng là những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy tham gia ; những hố, những ụ, những hào…, chiếc chòi phát thanh. Tất cả những điều đó, từ những cái nhỏ nhặt đến những điều lớn lao, đểu trở thành đối tượng của tình yêu tha thiết, đậm sâu trong ông. Qua những lời khoe của ông Hai, ta có cảm tưởng như cảnh vật, làng xóm đã hằn in trong ông, chiếm trọn con tim, khối óc người nông dân ấy.
Nếu như cuộc sống cứ diễn ra yên bình như thế thì tình yêu làng của ông Hai mới chỉ là “tâm lí làng xã” của những người dân quê Việt Nam – những con người cả đời gắn bó với luỹ tre, cây đa, bến nước, sân đình ; yêu nơi “chôn rau cắt rốn” bằng một tình yêu bản năng, máu thịt. Kim Lân đã để cho nhân vật trải qua tình huống truyện độc đáo: ông Hai nghe tin làng theo Tây. Đây chính là tác nhân làm bùng nổ tình yêu nước thiết tha, sâu đậm của ông. Ở người nông dán ấy, tình yêu làng gắn liền với lòng yêu nước. Ta bắt gặp ở đây chân lí về cội nguồn của lòng yêu nước theo quan điểm của nhà văn Liên Xô (cũ). Ê-ren-bua: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tâm thường nhất… Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc“.
Nghe tin làng theo giặc, “cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân…, ông lão lặng đi, tưởng như không thể thở được”. Trong ông đã diễn ra một cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt: ông tủi nhục, đớn đau, ông tự giày vò, ông hồ nghi rồi lại tự nhủ mình phải tin vì mọi chuyện đã hết sức rõ ràng. Cuối cùng, ông cay đắng rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay ăn miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này…“. Tiếng rít ấy là tiếng nói của lòng căm hờn, sự căm giận đang ngùn ngụt trong lòng ông Hai. Trong ông đang có cuộc giằng co dữ dội: Ông yêu làng, làng ông đáng tự hào là thế, mà giờ lại theo Tây. Tinh cảm của ông phải thế nào đây? Nhưng sự giằng co ấy nhanh chóng đi đến kết luận: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì ta phải thù”. Một thái độ dứt khoát, một tình yêu mạnh mẽ nhưng không mù quáng. Tinh yêu làng trong ông rất mãnh liệt, nhưng làng phải gắn với nước. Giờ đây, làng Chợ Dầu của ông theo Việt gian, tức là hại nước, hại cách mạng thì không thể yêu làng như xưa được nữa. Niềm đau, sự oán trách cũng như thái độ kiên quyết… tất cả, tất cả đều là biểu hiện sống động nhất của tình yêu nước trong ông Hai.
Những diễn biến trong cảm xúc, tâm trạng, những suy nghĩ và cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt của ông Hai trong những ngày nghe tin làng theo Tây chính là tình huống giúp Kim Lân khắc hoạ rõ nét hơn bức chân dung tinh thần và lòng yêu nước sâu nặng, tình yêu làng tha thiết của ông Hai. Ông thấy tủi hổ vì niềm tự hào bấy lâu nay của ông giờ thành ra như thế. Ông chỉ biết “cúi gằm mặt xuống mà đi“, ông thương lũ con ông vì chúng có một quê hương đáng xấu hổ: “nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu“. Suốt những ngày đó, ông không dám đi đâu, chỉ “nằm rũ ở trên giường, không nói gì”, “quanh quẩn trong cái gian nhà chật chội mà nghe ngóng”, lúc nào cũng nơm nớp lo âu. Ta bỗng hiểu hơn tại sao tác giả lại kể và tả tí mí những biểu hiện của tình yêu làng nơi ông Hai những ngày làng còn chưa bị đồn là theo Tây. Nó là sự đối nghịch với thái độ kiên quyết khi nghe tin làng làm Việt gian, là sự khẳng định mạnh mẽ tình yêu nước lớn lao trong ông. Tinh yêu ấy không chỉ là bản năng mà đã trở thành ý thức – ý thức của một công dân. Nó gắn liền với tình cảm dành cho kháng chiến và đối với Cụ Hồ, được thể hiện thật cảm động khi ông giãi bày tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với Cụ Hồ, với anh em đồng chí và là lời tự nhủ của chính ông trong những lúc căng thẳng, thử thách. Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ soi xét cho bố con ông“. Những lời bộc lộ chân tình ấy là biểu hiện của tấm lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng, với kháng chiến mà biếu tượng là Cụ Hồ ; cũng là thể hiện tình yêu đất nước thiết tha của ông Hai. Tình cảm của một người nông dân nghèo đối với đất nước và kháng chiến thật sâu nặng và thiêng liêng: “Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”.
Niềm vui sướng vỡ oà khi ông Hai biết rằng làng mình vẫn là làng kháng chiến. Không còn nỗi tủi nhục đè nặng trong Iòng, ông lại tiếp tục đi khoe về làng Chợ Dầu anh dũng của mình, “lại ngồi trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng của ông“. Người nông dân vốn gắn bó với nhà cửa ruộng vườn… Phải bỏ nhà ra đi họ đã xót xa lắm, ông Hai cũng thế. Nhưng ta lại bắt gặp hình ảnh ông Hai tất bật đi khoe cái tin “Tây nó đốt hết nhà tôi rồi, hết hẳn“. Ông sung sướng bởi việc Tây đốt nhà là biểu hiện của làng ông trong sạch, làng ông không làm Việt gian. Làng vẫn là tình yêu, là niềm tự hào tha thiết của ông Hai. Nhà ông bị đốt hết nhưng như thế có là gì. Đó chí là một phần ông cống hiến cho đất nước. Tài sản riêng mất mát nhưng cách mạng, đất nước sẽ vững mạnh hơn, đó mới thực sự là niềm vui, là hạnh phúc.
VŨ HOÀNG ANH
Lời nhân xét:
– Bài viết đã làm nổi bật tình yêu làng quê tha thiết, sâu nặng của ông Hai cũng như những diễn biến, thay đổi trong tâm lí của nhân vật. Người viết thực sự am hiểu diễn biến tâm lí nhân vật, do đó lời văn phân tích có hồn, giàu câm xúc: “Niềm vui sướng vỡ oà khi ông Hai biết rằng làng mình trong sạch, làng mình vẫn là làng kháng chiến. Khônq còn nỗi tủi nhục đè nặng trong lòng, ông lại tiếp tục đi khoe về làng Chợ Dầu anh dũng của mình, “lại ngồi trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng của ông”. Người nông dân xưa vốn qấn bó với nhà cửa, ruộng vườn… Phải bỏ nhà ra đi họ đã xót xa lắm, ông Hai cũng thế. Nhưng ta lại bất gặp hình ảnh ông Hai tất bật đi khoe cái tin “Tây nó đốt hết nhà tôi rồi, hết hẳn”. Ông sung sướng bởi việc Tây đốt nhà là biểu hiện của làng ông trong sạch, làng ông không làm Việt gian”.
– Bài viết có cấu trúc hợp lí, ý tứ rõ ràng, mạch lạc, chặt chẽ, có những ý kiến đánh giá khá sâu sắc: ” Tình yêu làng trong ông rất mãnh liệt, nhưng làng đó phải gắn với nước. Giờ đây, làng Chợ Dầu của ông theo Việt gian, tức là hại nước, hại cách mạng thì không thể yêu làng như xưa được nữa. Niềm đau, sự oán trách cũng như thái độ kiên quyết… tất cả, tất cả đều là biểu hiện sống động nhất của tình yêu nước trong ông Hai”.
– Cần gia tăng những liên hệ, so sánh để bài viết phong phú hơn. | Đề 15_ Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,972 | |
Đề 16 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Tả một người công nhân Bác ơi các đại từ
1. Tìm các đại từ xưng hô và nhận xét thái độ, tình cảm của nhân vật khi dùng mỗi đại từ trong đoạn thơ sau:
Má hét lớn ỉ “Tụi bay đồ chó!
Cướp nước tao, cắt cổ dân tao!
Tao già không sức cầm dao
Giết bay đã có con tao trăm vùng!”
(Tố Hữu)
2. Tìm đại từ trong đoạn trích sau, phân biệt ngôi (ngôi thứ nhất, thứ hai, hay thứ ba), sô'(sốít hay số nhiều) của từng đại từ tìm được:
Hai người đi đường nhìn thấy một túi tiền lăn lóc giữa đường. Người trẻ nhặt lên và bảo:
– Thượng đế gửi lộc cho tôi đây.
Còn ông già bảo:
– Chúng ta cùng hưởng chứ?
Người trẻ cãi:
– Không, chúng ta đâu có cùng thấy, một mình tôi nhặt lên thôi.
Chợt họ nghe thấy có người cưỡi ngựa đuổi theo sau, quát bảo:
– Đứa nào ăn cắp túi tiền?
Người trẻ sợ hãi nói:
– Bác ơi, không khéo vì cái của bắt được này mà chúng ta khốn mât. Ông già liền bảo:
– Của bắt được là của anh, chứ đâu phải của chúng ta, thế thì anh khốn chứ chúng ta không khốn.
(Theo Lép Tôn-xtôi)
3. Ca ngợi cuộc sông cao đẹp của Bác Hồ, trong bài thơ Bác ơi!, nhà thơ Tô” Hữu có viết:
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già.
Đoạn thơ trên đã giúp em hiểu được những nét đẹp gì trong cuộc sông của Bác Hồ kính yêu?
4. Tả một người công nhân (hoặc nông dân, thợ thủ công, bác sĩ, y tá,…) đang làm việc. | Đề 16 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 292 | |
Đề 16: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 16: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.
Bài làm
Mỗi lần có dịp ghé thăm Sa Pa – hòn ngọc của Tây Bắc, đi trên những con đường uốn lượn giữa núi rừng điệp trùng, tôi luôn kiếm tìm hình ảnh một con người, một chàng thanh niên trong câu chuyện mà tôi yêu mến: Lặng lẽ Sa Pa. Tôi thầm cảm ơn nhà văn Nguyễn Thành Long, bởi nhờ ông, tôi và biết bao độc giả biết đến một con người lặng lẽ làm nghề khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh Yên Sơn, một chàng thanh niên “đặc biệt”, biết cống hiến, hi sinh hết mình cho đất nước.
Xuyên suốt truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, không một ai biết chính xác tên tuổi của chàng trai nhưng ấn tượng mà anh để lại thì thật sâu đậm. Trước hết đó là con người yêu đời, sống ngăn nắp, khoa học. Anh thanh niên được bác lái xe giới thiệu là “người cô độc nhất thế gian” mới nghe đã gây hứng thú và sự tò mò không chỉ với riêng ông họa sĩ, cô gái mà với cả bạn đọc. Bác lái xe đã cung cấp một cách khái quát nhất về lí lịch anh thanh niên đặc biệt này: “hai mươi bảy tuổi […] làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu“. Điều mà nhà văn thực sự muốn nhấn mạnh đó là nỗi cô đơn, thèm người lạ lùng của chàng trai trẻ trong những ngày đầu lên núi. Vì sống và làm việc một mình trên đỉnh Yên Sơn cao hai nghìn sáu trăm mét, “bốn bề chỉ cây cỏ và mây mù lạnh lẽo, chưa quen, thèm người quá” anh thanh niên đã lấy khúc gỗ chắn ngang đường cho xe dừng lại để được nói chuyện. Câu chuyện bác lái xe kể thật dí dỏm cho thấy sự vui tính của chàng trai trẻ. Con người đó thật dễ gần, dễ mến với “tầm vóc bé nhỏ, nét mặt rạng rỡ” khi xuất hiện trước mọi người. Đáng quý hơn, anh còn mang trong mình trái tim luôn biết quan tâm, sẻ chia. Từ lời nói đầu tiên của anh trong tác phẩm (Củ tam thất cháu vừa đào đấy. Cháu gửi bác gái ngâm rượu uống. Hôm nọ bác chẳng bảo bác gái vừa ốm dậy là gì?”) đến những quả trứng anh dành cho ông họa sĩ và cô kĩ sư trẻ ăn trưa đều khiến cho người đọc cảm nhận rõ nét điều đó. Sự quan tâm đó dù rất bình dị nhưng thể hiện tình cảm yêu thương của anh thanh niên đối với những người xung quanh.
Nhà văn Nguyễn Thành Long bên cạnh việc khắc họa lòng yêu đời, nếp sống khoa học còn đặc biệt nhấn mạnh niềm say mê, cống hiến hết mình cho công việc của chàng trai trẻ tuổi. Nghe cách anh kể về công việc của mình cho ông họa sĩ và cô kĩ sư, ta thấy toát lên một tình yêu lớn lao, vô bờ bến đối với công việc: “Cháu ở đây có nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hằng ngày, phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu”. Công việc của anh tưởng chừng đơn giản nhưng đòi hỏi sự chính xác và cũng có muôn vàn khó khăn: “gian khổ nhất là lần ghi và báo về lúc một giờ sáng”. Đó chính là thử thách đòi hỏi người thanh niên phải đấu tranh tâm lí để vượt qua: “Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông đồng hồ chỉ muốn đưa tay tắt đi“. Tuy vậy, gió bão, tuyết sương không thể làm gục ngã niềm yêu nghề, sống chết với nghề của anh thanh niên. Có trách nhiệm với công việc được giao phó, người trai trẻ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và còn lập những chiến công vang dội: “nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mù ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản-lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng”. Cảm giác “hạnh phúc” của chàng trai sau khi biết được sự đóng góp của mình không phải là sự tự cao, tự đại mà là niềm hạnh phúc được cống hiến, được hi sinh cho quê hương mình.
Mặc dù là người hi sinh hết mình cho công việc, có những đóng góp quan trọng nhưng anh thanh niên là một người rất khiêm tốn. Phẩm chất đó khiến chúng ta càng thêm trân trọng, quý mến anh hơn. Anh thanh niên tự thấy những đóng góp của mình thật nhỏ bé so anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng, ông kĩ sư vườn rau hay đồng chí chuyên nghiên cứu sét. Vì vậy, anh thấy mình không xứng để cho họa sĩ vẽ. Thái độ của chàng trai chuyên đo nắng, mưa, gió, bão,… không phải là sự tự ti mà là thái độ khiêm tốn, biết học hỏi.
HOÀNG KHÁNH LY
Lời nhận xét:
– Bài viết đã khám phá, phân tích chi tiết những phẩm chất đáng quý của anh thanh niên: từ lòng yêu đời, lối sống ngăn nắp đến lòng say mê nghê nghiệp và sự khiêm tốn, học hỏi.
– Người viết đã khai thác những chi tiết nhỏ nhưng tinh tế góp phần soi sáng tính cách nhân vật như: sự quan tâm của anh thanh niên đối với vợ bác lái xe, ông họa sĩ và cô kĩ sư trẻ…
– Văn phong trong sáng, diễn đạt mạch lạc, có những liên hệ thực tê tốt như nêu lên những điều mà thế hệ trẻ ngày nay cần học tập ở nhân vật anh thanh niên: biết yêu công việc, biết sống và hi sinh vì người khúc.
– Mở bài và kết bài tự nhiên, ấn tượng. | Đề 16_ Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,033 | |
Đề 17 – Thuyết minh về một đồ vật gần gũi trong đời sống(Cái nón) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Đề 17 -Thuyết minh về cái nón
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Khi nhắc đến trang phục truyền thống của Việt Nam, chúng ta thường thấy nét đặc trưng là những tà áo dài. Và sẽ rất là thiếu sót nếu như chúng ta không tô điểm thêm vào nét duyên ấy một chiếc nón lá dịu dàng.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Nón làng Chuông vốn rất đẹp lại bền.
Xa xưa nón làng Chuông là cống vật tiến hoàng hậu, công chúa bởi vẻ đẹp rất riêng được làm từ những bàn tay tài hoa khéo léo của các nghệ nhân lành nghề.
Ngày nay, nón làng Chuông có mặt khắp nơi, cả trên thị trường trong nước lẫn ngoài nước.
Trung bình mỗi ngày, dân làng làm được khoảng 7.000 chiếc nón đưa đi khắp nơi, sang cả Trung Quốc, Nhật Bản và các nước châu Âu.
2. Cách làm
Đầu tiên là chọn lá.
Lá lụi được đem về vò trong cát rồi phơi nắng cho đến khi màu xanh của lá chuyển sang màu trắng bạc.
Sau đó lá được lót dưới nắm giẻ, dùng lưỡi cày miết nhanh sao cho lá phẳng mà không giòn không rách.
Vòng nón làm bằng cật nứa vót nhỏ và đều, khi nối bắt buộc phải tròn và không chấp, không gợn.
Nón làng Chuông có 16 lớp vòng giúp nón có độ bền chắc nhưng vẫn mềm mại.
Người thợ xếp từng lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp lá nữa rồi khâu.
Khâu là một công đoạn rất khó bởi không khéo là rách lá ngay.
Khi chiếc nón được khâu xong, người thợ hơ bằng hơi diêm làm cho màu nón trở nên trắng muốt và giúp nón không mốc.
3. Phân loại
Nón ba tầm làm cho các cô gái, nón nhọn, nón chóp cho đàn ông.
Ông Hai Cát, giờ đã 84 tuổi là người có công đưa nón Xuân Kiều, còn gọi là nón Ba Đồn về làng sản xuất thay cho các loại nón cổ.
Hiện nay làng chỉ còn gia đình hai nghệ nhân chuyên làm nón cổ. Đó là nhà ông Lê Văn Tuy làm nón chóp và nhà ông Trần Văn Canh làm nón ba tầm – còn gọi là nón quai thao.
Nón quai thao làm thì khó mà lại ít được ưa chuộng nên tương lai cũng khó phát triển.
4. Ý nghĩa
Là vật dụng làm duyên của người con gái Việt Nam cùng với tà áo dài thướt tha.
Là vật dụng cần thiết và hữu ích cho con người: che nắng, che mưa,…
III. KẾT BÀI
Chiếc nón lá từ lâu đã là hình ảnh quen thuộc khi nhắc đến người phụ nữ Việt Nam.
Cần phải quảng bá hình ảnh này ra khắp năm châu bốn bể.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Ngày xưa, chàng trách nàng rằng:
Xưa kia gắn bó một hai
Giờ đây ghé nón ngang vai chẳng chào!
Bộ trang phục tương đối đầy đủ của cô gái Kinh Bắc đưọc tả như sau:
Đội nón ba tầm
Quai thao một nhúm, áo trầm một đôi
Cái thắt lưng em, bảy, tám vuông sồi….
Cái nón để che mưa che nắng, để phục tang, đỡ ngượng, che giấu tình cảm, thêm duyên, làm đẹp…Lại có câu…
Chòng chành như nón không quai
Như thuyền không lái, như ai không chồng
Hoặc như câu đối lại:
Nón không quai, nón nghiêng nón ngủ,
Làm cả làng phải ngả, phải nghiêng.
Ngày nóng nực quá, cô gái khát nước xin một gầu nước giếng mát đổ ngay vào chiếc nón, uống cho đỡ khát rồi rửa mặt, rửa tay. Thỉnh thoảng cô gái soi chiếc gương trong nón, cười một mình, tin vào mình, nghĩ bụng: nhan sắc nhường này, ta chẳng sợ…Có lúc cái nón dùng để phe phẩy cho mát. Lúc đó, cái nón thay cho cái quạt. Cái nón trong tay người sử dụng sinh ra nhiều động tác và ý nghĩa:
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu…
Khổ “giã bạn” trong cảnh quan họ, các liền anh, liền chị hát rất buồn: “Khăn, nón i…ôi…để lại đây”… là lúc cô gái tặng cho các bạn trai cái nón quai thao thân thiết của mình. Cái nón là tấm lòng cùa cô gái, là vật nặng tình. Chàng trai Bắc Ninh không muốn cho cô bạn gái của mình phải ra chợ mua nón. Anh ta tự chẻ tre đan lấy nón. Cho nàng đội để đi xem hội đêm rằm. Anh ta muốn cái nón đó phải mang hơi thở và nỗi lòng của mình.
Việt Nam là quê hương của ba loại nón: nón ba tầm, nón quai thao, nón bài thơ. Và cũng có nhiều loại nón khác nữa như: nón lá gồi, nón lá cọ, nón sơn, nón Nghệ, nón lòng chảo, nón thúng, nón giang, nón mệnh phụ, nón xam, nón quả bứa, nón tiến vua, nón dứa, nón dấu, nón thờ, nón lông, nón đi biển, nón tu cờ (nhà sư), nón chóp…Phổ biến hơn cả là nón lá cọ, nón bài thơ, nón Huế, nón làng Chuông, nón Hữu Bằng, nón Vân Đình… Cái nón Huế trắng đến lóe mắt. Nón bài thơ còn được gọi là nón “người tình”.
Chiếc nón quai thao thật đặc biệt. Nón có đường kính chừng 70cm. Thành nón cao trên 7cm. Mặt dưới có gắn một ống hình tròn bằng nan trẻ để đội vào đầu cho cân gọi là chũm nón. Quanh chũm nón là những vòng tre chuốt nhỏ, khâu bằng chỉ màu. đan chéo sợi rất công phu. Nón còn được trang trí bằng những bông hoa, cánh bướm. Quai nón làm bằng dây thao đen gồm từ một đến ba dây chập lại, buông võng dài xuống…
Các bạn nước ngoài đến Việt Nam thường phải mua bằng được một vài chiếc nón để làm kỉ niệm. Các diễn viên, nghệ sĩ ngôi sao nước ngoài đến Việt Nam luôn tranh thủ cơ hội đội cái nón Việt Nam rồi chụp ảnh, đánh dấu sự có mặt của mình ở quê hương của nón.
Suốt cả chiều dài lịch sử dân tộc, qua mấy cuộc trường kì, cái nón là hình ảnh, biểu trưng của người phụ nữ Việt Nam. Chúng ta không thể nào quên được hình ảnh những chiếc nón mê, nón tả tơi trong cuộc sống lam lũ một thời, cũng như những chiếc nón của nông dân cướp kho thóc Nhật, đi dân công phục vụ các chiến dịch lịch sử. Những chiếc nón giản dị mà kiên cường! Lại còn những chiếc nón nhấp nhô trong các phiên chợ làng. Một mái tóc, một vành nón… là cả một ấn tượng sâu sắc, đậm đà, là nhớ, là mong. Cái nón là hình ảnh và âm hưởng của quê hương.
Thiết tưởng trong các bảo tàng văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, chúng ta nên có hẳn một gian phòng trang trọng giữ lại hình ảnh của những chiếc nón Việt Nam tần tảo, nhẫn nại, bi hùng và trữ tình… Chúng góp một nét đậm đà khó quên trong nền văn hóa truyền thống…
(Theo Lý Khắc Cung, Hà Nội Văn hóa và Phong tục, 2014)
>> Xem thêm Đề 18: Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam tại đây.
Tags:Cái nón · Thuyết minh · Văn chọn lọc 9 | Đề 17 – Thuyết minh về một đồ vật gần gũi trong đời sống(Cái nón) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,230 | |
Đề 17 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Tả người trong gia đình về sau chuyến đi xa
1. Tìm quan hệ từ, cặp quan hệ từ trong các câu sau và nêu rõ tác dụng của chúng:
Hằng ngày, bằng tinh thần và ý chí vươn lên, dưới trời nắng gay gắt hay trong tuyết rơi, hàng triệu trẻ em trên thế giới cùng đi học. Nếu phong trào học tập ấy bị ngừng lại thì nhân loại sẽ chìm đắm trong cảnh ngu dốt, trong sự dã man.
2. Tìm quan hệ từ thích hợp để điền vào chỗ trông: với, hoặc, mà, của.
a) Đây là em … tôi và bạn … nó.
b) Chiều nay … sáng mai sẽ có.
c) Nói.,. không làm.
d) Hai bạn như hình … bóng, không rời nhau một bước.
3. Đọc hai câu ca dao:
– Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.
– Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.
Em hiểu được điều gì có ý nghĩa đẹp đẽ trong cuộc sông của con người?
4. Tả một người trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị,…) vừa trở về nhà sau chuyến đi xa. | Đề 17 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 205 | |
Đề 17: Phân tích nhân vật ông hoạ sĩ trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 17: Phân tích nhân vật ông hoạ sĩ trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long.
Bài làm
Có người đã nhận xét rằng Lặng lẽ Sa Pa là nơi hội tụ của những tấm lòng. Câu chuyện giản dị mà sâu sắc ấy kể vể những con người có tâm hồn trong sáng và trái tim ấm áp. Họ gặp nhau tình cờ và quyến luyến nhau bởi cái tình đằm thắm trong mỗi người. Trong cuộc hội ngộ ấy, ông hoạ sĩ là nhân vật để lại trong lòng ta những ấn tượng sâu đậm, bởi tính cách thâm trầm, sâu sắc, bởi những triết lí sâu xa về nghệ thuật. Ông chính là sợi dây liên kết các nhân vật trong câu chuyện.
Điều đầu tiên dễ nhận ra ở ông hoạ sĩ là một tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với công việc. Dù tuổi đã cao, đến lúc được nghỉ ngơi nhưng ông vẫn say mê, năng nổ với nghề nghiệp của mình. Ông không bằng lòng với tất cả những gì mình đã làm được trong cuộc đời. Ông muốn vươn tới những giá trị vinh hằng. Khát vọng đó thôi thúc người nghệ sĩ ấy lên đường. Và hành trình đến với Sa Pa là hành trình ông đi tìm cái đẹp theo tiếng vẫy gọi, sự thôi thúc của con tim. Câu nói của ông hoạ sĩ già đã khiến cô kĩ sư trẻ xúc động “đối với một người khao khát trời rộng, việc dứt bỏ một tình yêu đôi khi lại cảm thấy nhẹ lòng”. Ông nói với cô gái trẻ mới bước vào ngưỡng cửa cuộc đời hay là tâm niệm với chính mình, bởi bản thân ông cũng là một người khao khát trời rộng? Có lẽ trong cuộc đời mình, cũng không ít lần ông từng mạnh dạn vứt bỏ nhũng tình yêu tầm thường, vô vị để đi tìm giá trị chân chính của cuộc đời.
Những khát vọng, những cảm hứng sáng tác bùng nổ trong ông khi ông bắt gặp anh thanh niên trên đỉnh Yên Sơn. Từ những ấn tượng được nghe trước đó qua lời giới thiệu của bác lái xe, đến khi tận mắt nhìn thấy “người con trai có tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ” ông đã “xúc động mạnh“. Đó là sự xúc động của một người luôn khao khát đi tìm cái đẹp đã “bắt gặp được một điều thực ra ông vẫn ao ước được biết. Một nét thôi đủ khẳng định một tâm hồn, khơi gợi một ý sáng tác, một nét đủ là giá tri của một chuyến đi dài”.
Những hành động, lời nói vô tư, suy nghĩ sâu sắc, thái độ chân thành, nhiệt huyết của anh thanh niên đã tác động mạnh đến suy nghĩ của người hoạ sĩ. Ông băn khoăn về những cái đã làm và những cái chưa làm, những cái ông dám nghĩ nhưng không dám làm, về mảnh đất Sa Pa “mà ônq quyết định sẽ chỉ đến và nghỉ ngơi giai đoạn cuối đời, mà ông yêu nhưng vần còn tránh“. Có thể nói những suy nghĩ của ông hoạ sĩ cũng chính là những tâm niệm nghệ thuật của nhà vãn Nguyễn Thành Long. Nhân vật ông hoạ sĩ là hoá thân bằng xương bằng thịt của một tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn.
Ông hoạ sĩ còn là người sống hoà đồng, chân thành. Trên chuyến xe Hà Nội – Lào Cai ấy, nơi nhữnơ con người xa lạ, lần đầu và cũng có thể là lần cuối gặp nhau, ông hoạ sĩ đã là người kết nối họ lại. Ông hoà mình với tất cả, dễ dàng thân thiết với mọi người. Ông cởi mở – cái cởi mở chân thành đến mức hồn nhiên ở một người lớn tuổi, từng trải, mang trong mình trái tim ấm nóng, chan chứa tình đời của một người nghệ sĩ nhạy cảm. Chính ông đã mang lại cho cô kĩ sư một niềm tin tưởng, gieo vào tâm hồn cô gái trẻ ấy niềm tin mạnh mẽ để bước vào đời. Ông tâm sự với cô những điều sâu xa, tế nhị “những điều mà người ta ít nghĩ tới hoặc giấu kín trong lòng”. Tình cảm của ông dành cho cô thật hồn hậu, nhân ái như tình cảm của một người cha với cô con gái nhỏ. Nó không chỉ dừng lại ở những tâm sự an ủi, động viên mà còn thể hiện qua những việc làm cụ thể: đưa cô đến tận tinh giao tận tay ông trưởng ti rồi xem qua chỗ ăn ở của cô. Những hành động, việc làm ấy chỉ có thể bắt nguồn từ một tình cảm chận thành.
Nhân vật ông hoạ sĩ già là một thành công nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Thành Long. Ông là hiện thân của con người luôn ý thức được vị trí, trách nhiệm của bản thân đối với công việc, với cuộc đời và với đất nước. Tâm hồn nghệ sĩ cho ông những sợi dây tinh nhậy để rung cảm trước những nét đẹp của cuộc đời, nhận ra chân giá trị của cái đẹp bắt nguồn từ chính cuộc sống đời thường, từ những con người giản dị. Hình ảnh ông cùng các nhân vật khác – những con người lặng lẽ làm nên một Sa Pa không lặng lẽ – đã để lại trong lòng độc giả những ngân vang sâu lắng.
Lời nhân xét:
– Người viết có năng lực phân tích tốt. Phân tích nhân vật người họa sĩ, người viết đã xoáy sâu vào hai nét phẩm chất nổi bật: một con người có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với công việc và một con người sống hoà đồng, chân thành với mọi người xung quanh. Để làm rõ những nét phẩm chất đó của người hoạ sĩ, bài viết đã chú ý khai thác các chi tiết được coi là điểm sáng nghệ thuật, đặc biệt là những suy nghĩ của nhân vật. Ví dụ: “ Vẽ anh, ông thấy mình bất lực: “Người con trai ấy đáng yêu thật nhưng làm cho ông khó nhọc quá. Với những điều làm người ta suy nghĩ về anh. Và về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vời vợi hai nghìn sáu trăm mét trên mặt biển, cuồn cuộn tuôn ra khi gặp người”. Đó chính là nghịch lí của nghệ thuật: sự bất lực của nghệ sĩ trước tấm gương của cuộc đời hiện hữu, ngồn ngộn sức sống, tràn đầy nhiệt huyết ẩn bên trong một sự giản dị, mà ông không thể chuyển tải hết vào trong tác phẩm của mình. Chính cái giản dị đời thường – tưởng chừng là “cái chết của nghệ thuật ” – lại là hạt ngọc quý mà không phải nghệ sĩ nào cũng nhận ra ánh sáng của nó“.
– Lời văn trong sáng, giản dị, có những nhận định, đánh giá sâu sắc. Ví dụ: “Tình cảm của ông dành cho cô thật hồn hậu, nhân ái như tình cảm của một người cha với cô con gái nhỏ. Nó không chỉ dừng lại ở những tâm sự, an ủi, động viên mà thể hiện ở cả những việc làm cụ thể: đưa cô đến tận ti, giao tận tay ông trưởng ti rồi xem qua chỗ ăn ở của cô. Những hành động, việc làm ấy chỉ có thể bắt nguồn từ một tình cảm chân thành“. | Đề 17_ Phân tích nhân vật ông hoạ sĩ trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,293 | |
Đề 18 – Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
Trước hết, em cần chọn cho mình một sản phẩm cụ thể (nón lá, áo dài Việt Nam…) miễn là sản phẩm đó gần gũi, em có nhiều tình cảm về nó và có nhiều kiến thức về nó. Khi thuyết minh, em cần đảm bảo những ý sau đây:
+ Nguồn gốc, xuất xứ, lịch sử hình thành nên sản phẩm đó?
+ Địa danh vùng miền nào gắn liền với tên tuổi sản phẩm đó?
+ Sản phẩm ấy có cấu tạo như thế nào? (cấu tạo bên ngoài, cấu tạo bên trong)
+ Cách thức thực hiện ra sao?
+ Trình bày thành phẩm như thế nào để bắt mắt?
+ Cách sử dụng sản phẩm đó ra sao?
+ Cách bảo quản sản phẩm như thế nào là tốt, là đúng?
+ Giá trị kinh tế (thương mại, buôn bán)?
+ Ý nghĩa, giá trị lịch sử của sản phẩm ấy trong đời sống tinh thần của chúng ta?
+ Cảm nghĩ của em về sản phẩm đó?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Là trang phục truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Áo dài thể hiện sự duyên dáng, xinh đẹp của người phụ nữ phụ nữ Việt Nam.
II. THÂN BÀI
1. Cấu tạo
Những chiếc áo dài thường có năm phần chính: cổ áo, thân áo, tà áo, tay áo và quần áo dài.
Chiếc áo dài truyền thống, có cổ dài từ bốn đến năm xen-ti-mét, hở hình chữ V, toát lên vẻ đẹp của chiếc cổ trắng ngần của người phụ nữ Việt Nam.
Người ta cũng thiết kế cổ áo thêm nhiều kiểu hơn: cổ tròn, cố trái tim, cổ chữ u,.. Phần thân áo được tính từ cổ đến eo, may ôm sát thân người càng làm toát lên vẻ đẹp thon thả của người phụ nữ.
Cúc áo thường là cúc bấm, được kéo dài từ cổ sang vai rồi đến eo.
Từ phần eo trở xuống chia làm hai tà áo, được ngăn cách bằng hai bên hông. Phần tà áo có hai phần tà áo trước và tà áo sau, bắt buộc phải dài hơn đầu gối.
Phần tay áo được kể từ vai đến dài hơn cổ tay, được may bằng một loại vải riêng biệt hoặc chung với phần thân áo.
Quần áo dài được may dài hơn đầu gối, thường là vải phi trắng, nhưng cũng có một số loại vải giống với màu thân.
Phần áo thường được may bằng vải ni, vải nhung,… có màu sắc và hoa văn đa dạng.
2. Cách sử dụng
Áo dài thường được sử dụng trong các ngày lễ truyền thống.
Khi đi học, cũng có thể sử dụng trong văn nghệ, các buổi biểu diễn nói về nét đẹp dân tộc.
Áo dài càng đẹp càng duyên dáng hơn khi đi cùng với chiếc nón lá, khăn đóng.
3. Phân loại
Áo dài có cả loại dành cho nam và cho nữ.
Áo dài trong ngành giáo dục cũng rất quan trọng. Những người giáo viên, với trang phục áo dài truyền thống thưót tha, duyên dáng, tôn lên vẻ nghiêm trọng và thanh cao của giáo viên Việt Nam.
4. Cách bảo quản
Áo dài là một nét đặc sắc của dân tộc, nên chúng ta hãy cố gắng bảo vệ những bộ áo dài ấy.
Đầu tiên là phải giặt sạch nhưng nhẹ nhàng không giặt mạnh vì như thế sẽ làm cho nó mau cũ.
Phải ủi thật kĩ nhưng không ủi với nhiệt độ lớn.
Để áo dài không bị mốc, ta nên thường phơi nắng nhưng không quá lâu.
III. KẾT BÀI
Áo dài là biểu tượng của nước Việt Nam.
Áo dài là một nét đặc sắc, chúng ta cần phải giữ gìn và phát triển để áo dài mãi là bộ trang phục truyền thống trong lòng mỗi người Việt Nam.
BÀI VĂN THAM KHẢO
BÀI VĂN 1
Đất nước Việt Nam là một đất nước có truyền thống và nền văn hóa lâu đời. Mỗi người dân Việt Nam đều sở hữu một tâm hồn đầy nhiệt huyết và lòng dũng cảm. Đất nước chúng ta có điều mà các nước trên thế giới không quốc gia nào có được, nó chỉ có độc quyền ở Việt Nam chính là tà áo dài – một bộ trang phục nói lên văn hoá của đất nước hình chữ S. Tà áo dài đã tôn lên nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam: giản dị, mộc mạc nhưng giàu ý nghĩa sâu sắc. Sau đây, tôi xin giới thiệu với các bạn về chiếc áo dài.
Để có thể dùng lâu bền chúng ta cần phải có cách sử dụng hợp lí: khi mặc xong phải giặt ngay bằng tay, vò nhẹ nhàng, không dùng bàn chải tránh làm gãy cổ áo. Còn nếu ta giặt bằng máy thì phải bỏ vào túi lưới và giặt ở chế độ nhẹ để không làm gãy cổ áo và giữ cho áo được bền lâu. Đối với các loại áo dài làm bằng the hoặc nhung thì phải đem ra tiệm hấp chứ không giặt. Ngoài ra chúng ta cũng phải biết cách bảo quản áo dài: giặt xong, áo dài phải được phơi bằng mốc áo, còn khi khô thì phải ủi áo với nhiệt độ vừa phải, tuỳ theo chất liệu áo. Khi đi xa, nếu chúng ta muốn mặc áo dài thì phải xếp theo cách cuộn tròn để không làm gãy cố áo và tránh làm áo bị nhăn. Bởi áo dài cũng mộc mạc và giản dị như tính cách của chính con người Việt, áo dài cũng giống như gương mặt đại diện cho tiếng nói của dân tộc Việt Nam nên áo dài đã đi vào cuộc sống cùa mọi người một cách thân quen và trang trọng. Nó gắn liền với chúng ta trong công việc và cả trong học tập. Các cô giáo, nhân viên nhà nước, nữ sinh cấp ba đều chọn áo dài làm trang phục đi làm và đi học của mình. Có thể nói áo dài là một niềm tự hào cùa dân tộc ta vì vào năm 1995, tà áo dài đưa Việt Nam đến với danh hiệu “Trang phục truyền thống đẹp nhất”. Đó thật sự là niềm vinh quang cho đất nước Việt Nam. Bên cạnh đó, tại Tokyo, trong cuộc thi hoa hậu thế giới năm 2004, hoa hậu Nguyễn Thị Huyền đã mặc áo dài để giới thiệu với bạn bè thế giới về văn hoá của Việt Nam. Điều đáng mừng hơn là có nhiều người khen đẹp và tỏ ra thích thú khi biết đó là bộ trang phục truyền thống của nước ta. Năm 2007, hoa hậu trái đất từ Chi Lê, Philipin, Singapore,… đã rực rỡ khoe sắc cùng tà áo dài, nón lá tại Thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, ta có thể thấy áo dài là một niềm tự hào vô cùng to lớn của đất nước chúng ta. Bởi nó đã đưa văn hoá nước ta ra tầm thế giới. Bên cạnh đó, áo dài cũng là hình ảnh nói lên tâm hồn và khát vọng cùa người dân Việt Nam. Nó đã thể hiện lên nét đẹp của phụ nữ Việt: giản dị, mộc mạc, và kín đáo.
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 2
Có người bảo em từ kiểu áo người Tày, người Mường mà ra. Có người bảo ở em có vài chi tiết nơi áo của các chị em Huế, Chăm. Lại có người cho rằng em thành hình từ bộ áo mớ ba mớ bẩy của đất Kinh Bắc huyền thoại…Những ý kiến đó đều có những tỷ lệ chính xác nhất định nào đó. Nhưng, đúng ra, em tiếp nhận hình ảnh và hơi hưóng của nhiều miền trong cả nước gom góp lại, bổ sung cho nhau mà thành. Em đã có mặt ở Pháp và ở Anh từ những năm 1913. Hồi đó và sau đó ít năm, em vẫn còn đơn sơ và được cắt, may toàn bằng tay cả.
Thoạt đầu là cái áo dài, cổ tròn, màu nâu, tam giang, mỡ gà, hồ thủy. Vạt áo thẳng, tay bô, xẻ một đoạn ở cổ tay, cài cúc bên sườn. Những năm 1936-1938, từ cơ sở sẵn có, chiếc áo dài đã được họa sĩ Cát Tường thiết kế và bố trí lại đã ra đời. Phải nói một chút về ông Cát Tường. Ông đã ấp ủ nhiều ý đồ cải cách y phục Việt Nam, nhất là chiếc áo dài. Ông say sưa với cả bức thêu rồng, phượng, những bức tranh Hàng Trống. Nhưng ông thờ phụng chiếc áo dài. Ông là sinh viên trường Cao đăng Mỹ thuật Đông Dương, học hết năm năm và đã tốt nghiệp. Ông cũng có một số tranh. Nhưng mọi người biết đến ông chủ yếu qua chiếc áo dài với công trình cải tiến của ông. Ông là người đầu tiên dùng máy khâu để may chiếc áo dài. Động tác này rút ngắn được rất nhiều thời gian so với khâu tay. Lẽ dĩ nhiên còn một vài vị trí quan trọng, hoa mỹ để quyết định chất lượng chiếc áo phải dùng đến bàn tay khéo léo của người thợ. Ông cải tiến cái cổ áo, đưa nó lên thành cổ đứng cao hai cen-ti- mét. Ông còn “lăng xê” kiểu cổ cứng, cổ bắt chéo và cổ cánh hoa. Ông quy định vị trí những chiếc khuy bấm và đưa ra nhiều kiểu khuy, khuyết, bỏ đi tà áo phụ, ngắn đệm trong. Tà áo dài buông xuống cách mặt đất 20cm. Ông chú ý làm cho độ dài của hai mặt trước sau có độ “đổ” chuẩn xác để cho khi mặc vào được căng, lượn sát, bó khít lấy những đường nét của cơ thể, tôn cao bộ ngực, làm cho eo thon thả, thắt đáy lưng ong…
Chính vì vậy, áo dài Cát Tường Lơ muya (Le mưr theo tiếng Pháp là Cát Tường) được nhiều người ưa chuộng. Trong số này, đa số là những nữ sinh, những chị em thích ăn mặc đẹp. Áo dài là thời trang tuyệt đối trong những nhân vật tiểu thuyết như cô Liên trong “Gánh hàng hoa”, cô Loan trong “Đoạn tuyệt”, cô Mai trong “Nửa chừng xuân” và ít lâu sau cho cô “Thiếu nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân, cho cô gái trong bức “Hiện vẻ hoa” của họa sĩ Nguyễn Tường Lân.
Từ sau 1945 và nhất là từ năm 1975, chiếc áo dài được lên ngôi. Nó chiếm vị trí độc tôn trong các dịp lễ hội, giao dịch quốc tế. Nó xuất hiện trên các diễn đàn, các sân vận động trong và ngoài nước. Trong các buối biểu diễn nghệ thuật, thời trang, thi hoa hậu. Chiếc áo dài đã như câu ca quan họ, bay đi khắp thế giới, ở đâu nó cũng có một vị trí xứng đáng. Nó được cải tiến thêm và mang sắc thái riêng từng miền trong những chi tiết nhỏ để đáp ứng được sở thích và yêu cầu thẩm mĩ của thời đại.
Nhắc lại, những năm 1930, 1936, 1937, trong các cuộc thi hoa hậu ở Hà Nội, Hà Đông và trong các chợ phiên, các cô gái đẹp như Ái Liên, cô Điệp, cô Hoàn, cô Síu đều đăng quang với chiếc áo dài. Cô Síu là con gái nhà tiểu thuyết kiếm hiệp Lý Ngọc Hưng.
Các nghệ sĩ nước ngoài như Kirienko, Francine…đều mặc áo dài. Dự hội nghị Pari, chị Nguyễn Thị Bình hùng biện với chiếc áo dài. Nhà sử học Mỹ là J.S.Tenson, viết: “Xin phép cho tôi được mặc chiếc áo dài Việt Nam, chiếc áo dài của người mẹ Việt Nam. Những người mẹ đã sinh ra những anh hùng của nhiều thời đại đã mặc chiếc áo dài. Mẹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mặc chiếc áo dài”.
Chiếc áo dài Việt Nam là một dòng sông, một cơn gió, một nếp mây bay. Nó tượng trưng cho sự màu mỡ, hồi sinh, tẩy trần và phồn thực.
Có khi trên thân áo được in hoặc thêu lên hình ảnh những rồng, phượng, hoa, lá… để thêm phần hấp dẫn. Nhưng, nó không có những mảng sặc sỡ. Những hình vẽ trên áo dài phải xinh, gọn để ăn ý với vẻ đẹp mà chúng gửi mình vào đó. Có người lại in lên chiếc áo quá nhiều hình ảnh, những vạch ngang dọc chi chít hoặc quá nhiều màu sắc, chiếm cả bề mặt chiếc áo dài. Như vậy không ăn nhịp, làm cho người mặc áo phải mang cả một bức tranh trên mình. Nói chung, việc pha hoặc chọn màu áo, in hoặc thêu hình trên áo là một công việc rất phức tạp. Phải có con mắt mỹ thuật, văn học nghệ thuật, lại phải có con mắt tâm linh…
Trong một cuộc trao đổi giữa các nghệ sĩ kịch nói Trung Quốc với Việt Nam, một nữ diễn viên kịch nói Trung Ọuốc nói với chị Diệp Bích: “Áo dài” của chị đẹp hơn áo “Sườn xám” Thượng Hải của em”. Chiếc áo dài là một nét đẹp văn hóa rất riêng của Việt Nam.
(Theo Lý Khắc Cung, Hà Nội Văn hóa và Phong tục, 2014)
>> Xem thêm Đề 19: Thuyết minh về con trâu tại đây.
Tags:Áo dài Việt Nam · Đề 18 · Văn chọn lọc 9 | Đề 18 – Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 2,279 | |
Đề 18 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sin giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Chiếc xe lu tả người bạn cặp quan hệ từ
1. Tìm cặp quan hệ từ thích hợp để điền vào chỗ trông:
a)... trời mưa … chúng em sẽ nghỉ lao động.
b)... cha mẹ quan tâm dạy dỗ … em bé này rất ngoan.
c) … nó ốm …nó vẫn đi học.
d)... Nam hát hay… Nam vẽ cũng giỏi.
2. Hãy thay quan hệ từ trong từng câu dưới đây bằng quan hệ từ khác để có câu đúng:
a) Nếu Rùa biết mình chậm chạp nên nó cố gắng chạy thật nhanh.
b) Tuy Thỏ cắm cổ chạy miết nên nó vẫn không đuổi kịp Rùa.
c) Vì Thỏ chủ quan, coi thường người khác nhưng Thỏ đã thua Rùa.
d) Câu chuyện này không chỉ hấp dẫn, thú vị nên nó còn có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc.
3. Trong bài Chiếc xe lu, nhà thơ Trần Nguyên Đào có viết:
Tớ là chiếc xe lu
Người tớ to lù lù
Con đường nào mới đắp
Tớ san bằng tăm tắp
Con đường nào rải nhựa
Tớ là phẳng như lụa
Trời nóng như lửa thiêu
Tớ vẫn lăn đều đều
Trời lạnh như ướp đá
Tớ càng lăn vội vã.
Theo em, qua hình ảnh chiếc xe lu (xe lăn đường), tác giả muốn ca ngợi ai? Ca ngợi những phẩm chất gì đáng quý? | Đề 18 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sin giỏi Tiếng Việt 5 | 227 | |
Đề 18: Hãy thay lời bé Thu kể lại kỉ niệm Thu gặp cha sau tám năm xa cách – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 18: Hãy thay lời bé Thu kể lại kỉ niệm Thu gặp cha sau tám năm xa cách (truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng).
Bài làm
Cứ mỗi lần cầm cây lược trong tay, tôi lại bần thần nhớ đến người cha kính yêu của mình. Đã năm mươi năm trôi qua, kể từ ngày lần đầu tiên tôi được gặp ba. Thời gian sao mà trôi nhanh, bất giác bao kỉ niệm của thời thơ ấu như hiện về trong tôi.
Ngày ấy, cái xóm ấp nhỏ lúc nào cũng rộn rã, tiếng cười đùa, hò reo của lũ trẻ con chúng tôi. Người lớn đều đi chiến đấu hay đi làm đồng. Xóm có năm đứa nhưng mỗi đứa một tuổi, tôi là đứa lớn nhất khi đó mới lên tám, người ta thường gọi tôi là út nhỏ nhà ông Sáu. Cha tôi luôn là niềm tự hào để tôi khoe với lũ trẻ vì ba là bộ đội giải phóng. Dù chưa một lần được gặp nhưng qua các tấm hình của má cho xem, trong ấn tượng của tôi ba hiện lên thật oai phong, ba là một vị anh hùng.
Ngày thứ nhất bên ba
Trong suốt cuộc đời mình, có lẽ không bao giờ tôi quên được buổi chiểu đáng nhớ ấy. Cũng như các buổi chiều khác, lũ trẻ chúng tôi lại tụ tập chơi nhà chòi. Bỗng có tiếng gọi to: “Thu! Con”. Tôi giật mình, quay lại. Trước mắt tôi là một người đàn ông lạ mặc bộ quân phục đã bạc màu, trên khuôn mặt có vết thẹo dài, đỏ ửng trông dữ tợn và rất sợ. Tôi chưa kịp định thần thì người đó đưa hai tay về phía trước, tiến về phía tôi chầm chậm và nói giọng run run:
– Ba đây con!
Lần này, tai tôi không nghe nhầm, đúng là người đó xưng “ba” với tôi mà, còn nhắc lại hai lần nữa. Tai tôi ù đi, đầu óc tối sầm lại, trong đầu cứ vang vang câu hỏi: Tại sao? Tại sao? Người này đâu giống ba tôi? Ông ta mỗi lúc càng tiến lại gần. Lo sợ, tôi chạy thật nhanh và kêu lên: “ Má! Má!”.
Trái với dự đoán của tôi, khi nhìn thấy ông ấy má tôi không đuổi đánh mà lại khóc, đỡ ba lô cho ông ta và nói:
– Ba nó đã về đấy ư?
Tôi nép vào đằng sau má. Trong đầu hiện lên biết bao câu hỏi: “Vì sao đó lại là ba mình? Không thể nào! Ba mình mà dữ tợn thế ư? Ba hiền hậu và oai phong lắm mà!”. Nghĩ vậy nên dù má nói thế nào tôi vẫn không thể tin nổi đó là ba của mình và kiên quyết không nhận. Những ngày tiếp theo thực sự là những ngày đấu tranh ngầm nhưng quyết liệt giữa tôi và người đàn ông mà tôi cho là xa lạ đó. Thật kì lạ, ông ấy suốt ngày chẳng đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở gần tôi, vỗ về, nựng tôi. Thấy vậy, tôi lại càng ghét ông ta hơn. Má tôi cứ như không hiểu lòng tôi vậy, má muốn tôi gần gũi ông ta, gọi ông ta là “ba”, cho nên, đến bữa ăn, má không gọi mà sai tôi:
“Gọi ba vào ăn cơm ư? Không đời nào!” – tôi thầm nghĩ và cãi lại má:
– Thì má cứ kêu đi.
Má liền nổi giận cầm đũa bếp dọa đánh tôi. Tôi đành phải gọi nhưng vẫn giữ nguyên lập trường, tôi nói trổng:
– Vô ăn cơm!
Tôi nói như hét mà ông ấy cứ ngồi im như người điếc vậy. Thấy thế, tôi tức lắm nhưng sợ má nên vẫn kêu lần nữa:
– Cơm chín rồi!
Lần này, ông ta quay lại nhìn tôi vừa khe khẽ lắc đầu, vừa cười. Bữa cơm hôm đó rồi cũng trôi đi, tôi cứ ngồi im ăn, mặc cho má và người đó nói chuyện. Người đàn ông có vết thẹo dài vẫn luôn chăm chú nhìn tôi, đôi lúc bất giác nhìn lên bắt gặp ánh mắt ông ta đang nhìn mình tôi lại thấy rất lạ. Thực ra nếu nhìn kĩ ông ấy cũng không quá dữ tợn. Tuy vậy, ông ấy cũng không giống ba trong ảnh chút nào.
Ngày thứ hai với người đàn ông lạ…
Dù đã sang đến ngày thứ hai nhưng người đàn ông kia vẫn chẳng đi đâu ra khỏi nhà. Tôi làm gì, đi đâu, ông ấy cũng dõi theo khiến tôi càng cảm thấy khó chịu hơn. Má vẫn khẳng định đó là ba Sáu và mắng tôi ngang bướng: Đúng là tôi ngang bướng bởi đó rõ ràng không phải ba Sáu. Đến trưa, khi đang nấu cơm má phải chạy ra chợ mua thức ăn, tôi đòi đi theo, má nhất định không cho. Thế là tôi đành ở nhà với người đàn ông đó. Tôi không ra ngoài mà ngồi trong bếp lúi cúi với nồi cơm. Đang suy nghĩ miên man, nhìn ngọn lửa cháy bập bùng thì tiếng xèo xèo vang lên. Nồi cơm đã sôi rồi, phải chắt nước, làm thế nào bây giờ? Nồi to quá, tôi không thể nhắc xuống. Tôi quay lại thì thấy ông ấy đã đứng cạnh tôi từ lúc nào. Tôi đưa ánh mắt nhìn ông ta cầu cứu và kêu lên:
– Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!
Tôi thực sự bối rối, hoang mang. Nếu không chắt nước thì cơm sẽ nhão, má về la, đánh mất. Tôi tiếp tục kêu cứu:
– Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!
Nhưng sao tôi cầu cứu rồi mà ông ta chẳng hề động lòng vậy? Có phải vì tôi không gọi ông ta bằng “ba”? Không! Không… nhất định không thể gọi “ba” được, cái Thu đâu phải là đứa dễ bị khuất phục thế! Sau một hồi lúng túng, bỗng một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi: “Đúng! Không bắc nồi ra được thì mình sẽ lấy cái vá múc ra từng vá nước vậy. Thật là sáng suốt!” Tôi làm luôn, nhưng trong lòng vẫn tức giận, tôi nguyền rủa ông ta. Tại sao ông ta thấy thế mà không giúp đỡ chứ? Ông ấy thật nhẫn tâm!
Bữa cơm ngày thứ hai có thể cũng trôi qua như hôm trước nếu…
Khi đó, tôi ngồi ăn cho xong bữa cơm. Đang ăn, bỗng ông ta gắp vào bát tôi một miếng trứng cá vàng to. Lúc đó, trong lòng tôi thực sự có những xao động vì ngoài má ra, đây là lẩn đầu tiên tôi được người lớn tuổi như ba mình gắp thức ăn cho. Tôi nhìn chén cơm suy nghĩ, bất thần cầm cái đũa gẩy mạnh hất miếng trứng ra khỏi bát khiến cơm bắn tung tóe khắp mâm. Bỗng mông tôi đau rát! Người đàn ông ấy đã phát vào mông tôi và giận dữ nói:
– Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?
Có lẽ, ông ấy đã quá giận dữ. Tôi lặng im, không nói không rằng. Đây là lẩn đầu tiên tôi bị đánh đau như thế, má dù đánh cũng chỉ đánh nhẹ mà thôi! Tôi muốn khóc thật to nhưng tự nhủ trước mặt ông ta không được yếu đuối. Tôi nhặt trứng vào bát rồi bước ra khỏi nhà, tôi phải sang nhà ngoại đế méc với ngoại. Vừa nhìn thấy ngoại, tôi túi thân, chạy đến ôm chầm lấy tấm thân gầy gố của ngoại và khóc tức tưởi cho thoả nỗi lòng. Ngoại yêu và chiều tôi nhất nhà nên có gì tôi cũng chạy đến tâm sự với ngoại. Chiều đến, má qua đón tôi về nhưng tôi nhất định không chịu, tôi không muốn nhìn thấy người đàn ông dữ tợn đó nữa. Tôi nhất quyết ngủ với ngoại.
Đêm đến… Tiếng ếch nhái ngoài con kênh trước nhà kêu ì ộp. Tôi nằm mãi mà khône sao ngủ được, đến lúc này tôi thực sự hoang mang. Người đàn ông đó rốt cuộc là ai? Sao lại cứ bắt tôi gọi bằng “ba”? Sao lại giận và đánh tôi? Ngoại như đoán biết được tâm trạng cô cháu gái nhỏ, ngoại nói:
– Thu à! Tại sao con không nhận ba con? Người đó là ba Sáu của con mà!
– Không ngoại ơi! Ba Sáu con không giống ông ta! – Tôi trả lời.
– Sao con lại bảo không giống với ba Sáu? Có phải ba đi chiến đấu lâu nên nhìn già hơn không?
Để minh chứng với ngoại, tôi liền nói:
– Vì ba Sáu của con không có vết thẹo dài dữ tợn trên má như ông ấy, ngoại ạ!
Ngoại cười móm mém, xoa đầu tôi và nói:
– Đó là ba Sáu con. Ba con vì đi đánh giặc bị Tây bắn bị thương nên có vết thẹo đó.
Từng lời ngoại nói cứ vang vang trong đầu tôi. Trời ơi! Thì ra đó là ba Sáu thật ư? Vậy mà… tôi đã không nhận ba, lại còn nói trổng nữa chứ? Bao nhiêu năm mong mỏi gặp ba, giờ gặp lại không nhận ra ba. Tôi thấy ân hận quá! Giờ biết làm sao đây?
Ngày thứ ba bên ba…
Sáng sớm hôm sau, ngoại thức dậy sớm và nói:
– Hôm nay, ba Sáu lại phải lên đường. Con có về chào ba không Thu?
Tôi gật đầu đồng ý và theo ngoại về. Đến nhà, từ ngoài cổng đã thấy rất đông bà con bên nội, bên ngoại. Khác với những ngày trước, sự xuất hiện của tôi không khiến ai chú ý nữa, kể cả ba và má. Ba bận tiếp khách còn má thì chuẩn bị đồ đạc. Tôi thấy mình như bị bỏ rơi, lặng lẽ đứng nép vào cửa, có lúc đông quá thì đứng nép vào góc nhà nhìn mọi người. Tôi lo lắng, không biết có nên chạy đến gọi ba không, ba sắp đi rồi. Nhưng tôi xấu hổ… nên cứ đứng yên.
– Thôi! Ba đi nghe con!
Tiếng của ba sao trìu mến vậy. Tiếng nói ấy đã thúc giục tôi:
–..a…a…ba!
Tôi hét lên và chạy đến ôm cổ ba. Tôi ôm ba thật chặt, lòng cảm thấy ấm áp lạ lùng. Tôi thèm được gọi ba, thèm được ôm ba suốt tám năm nay rồi. Nghĩ đến việc ba sắp phải ra đi, tôi sợ hãi, nói trong tiếng khóc:
– Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!
Ba cũng rơm rớm nước mắt và nói:
– Ba đi rồi ba sẽ vể với con.
– Không!
Tôi hét lên, tôi không thể để cho ba đi nữa, không thể… Tôi cố sức ôm ghì chặt ba. Mọi người và ngoại dỗ dành, an ủi tôi. Ngoại nói:
– Cháu của ngoại giỏi lắm mà! Cháu để ba cháu đi rồi ba cháu sẽ mua về cho cháu một cây lược.
Biết là không thể giữ ba được nữa, ba tôi là bộ đội còn phải đi chiến đấu, diệt thằng Tây ác ôn nên tôi ôm ba lần nữa và dặn:
– Lúc về ba mua cho con một cây lược nghe ba!
Tôi quệt nước mắt vẫy chào tạm biệt cha! Tôi đâu biết rằng đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp ba. Trong một trận chiến đấu, ba bị bắn trọng thương và hi sinh. Bác Ba – đồng đội của ba đã trao cho tôi kỉ vật ba dành cho tôi: chiếc lược ngà trên có khắc dòng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Nhìn từng nét chữ của ba khắc trên cây lược nhỏ nhắn, tôi đã bật khóc, lòng tôi đau đớn. Ba Sáu của tôi đã không còn…
Năm mươi năm đã trôi đi, bé Thu bướng bỉnh ngày nào giờ đã trở thành cựu chiến binh. Năm mươi năm tôi đã cố gắng? sống thật tốt để không hổ danh con của ba sáu, cũng là năm mươi năm tôi nhớ ba khôn nguôi. Với tôi, chiếc lược ngà trở thành vật bất li thân, người bạn tri kỉ. Tôi tin rằng, ở thế giới bên kia, ba Sáu sẽ mỉm cười hạnh phúc và tự hào về cô con gái bướng bỉnh ngày nào!
HÀ KIỀU TRANG
Lời nhận xét:
– Người viết đã nhập vai bé Thu kể lại câu chuyện khá thành công, khiến người đọc thực sự xúc động. Sự am hiểu diễn biến tâm lí nhân vật một cách sâu sắc đã làm nên sức hấp dẫn của bài viết.
– Cách kể lôi cuốn, sử dụng đan xen thủ pháp đối thoại, độc thoại nội tâm, miều tả… khiến cho câu chuyện trở nên sinh động.
– Người viết đã lựa chọn điểm nhìn của bé Thu sau 50 năm khiến cho câu chuyện vừa mang tính hồi tưởng, có chất triết lí, song vẫn có nét hồn nhiên của trẻ thơ. | Đề 18_ Hãy thay lời bé Thu kể lại kỉ niệm Thu gặp cha sau tám năm xa cách – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 2,172 | |
Đề 19 – Thuyết minh về con trâu – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Thuyết minh về con trâu
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
– Trước hết, em cần chọn cho mình một loài động vật, vật nuôi cụ thể (trâu, bò, chó, mèo, gà, vịt. Dù em chọn loài động vật, vật nuôi nào đi chăng nữa thì cũng phải nhớ nguyên tắc là: đối tượng thuyết minh đó, bản thân em phải có thật nhiều kiến thức về nó.
Khi thuyết minh về một loài động vật, vật nuôi; em cần chú ý các điểm sau đây:
+ Nguồn gốc, xuất xứ loài vật ấy?
+ Cấu tạo của loài vật ấy (hình dáng bên ngoài, mắt, mũi, tai, gương mặt, thân hình, lông, chân,…)
+ Hoạt động, tính nết của loài vật ấy?
+ Cách nuôi như thế nào?
+ Cách chăm sóc loài vật ấy ra sao?
+ Giá trị kinh tế? (thương mại, buôn bán…)
+ Giá trị tinh thần? (niềm vui trong cuộc sống của con người)
+ Cảm nghĩ của em về loài vật đó?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Giới thiệu: Nơi làng quê, nông thôn Việt Nam ta thường hay có một câu nói: “Con trâu đi trước, cái cày đi sau”. Hình ảnh con trâu là một trong những hình ảnh thân thương, mộc mạc và có sự gắn bó sâu sắc với những người nông dân.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Trâu thuộc họ bò, thuộc phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn và thuộc lớp thú có vú.
Trâu có nguồn gốc từ giống trâu rừng thuần hóa, có sừng to và thích trầm mình trong đầm lầy.
2. Đặc điểm
Giống trâu rất dễ nhận dạng, chúng ta có thể dựa vào đặc điểm bên ngoài của chúng:
+ Thân hình: vạm vỡ, thấp, bụng to, mông dốc.
+ Ở dưới cổ chỗ hai xương ức có hai dải lông màu trắng.
+ Loài trâu luôn khoác lên mình bộ áo màu xám đen.
+ Cân nặng thì trâu đực nặng từ 400-500 kg.
Đặc điểm sinh sản: Thời gian mang thai của trâu nội là 320-325 ngày. Theo sự phát triển của thai việc nuôi dưỡng cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:Thời kỳ bắt đầu mang thai đến 7-8 tháng, nuôi trâu chủ yếu là thức ăn thô xanh. Trước khi đẻ 2-3 tháng, ngoài thức ăn thô xanh cần cho trâu ăn thức ăn tinh (cám, bắp, lúa nghiền …) từ 0,5 – 1,5 kg/con/ngày.
Ở tháng tháng thứ nhất và tháng cuối của thai kỳ, không sử dụng trâu để làm nhũng việc nặng nhọc như cày, kéo, không xua đuổi nhiều… tránh ảnh hưởng đến thai. Giai đoạn gần đẻ, nên chăn thả gần và nuôi riêng trâu mang thai để tiện chăm sóc.
Trước khi trâu đẻ 1-2 ngày, nhốt trâu tại chuồng, tắm rửa sạch sẽ, dọn chuồng, chuẩn bị dụng cụ và trực trâu đẻ. Nghé vừa sinh phải được móc sạch nhớt ở miệng, mũi và lau khô sạch toàn thân, cắt rốn để dài khoảng 10cm và đùng cồn i-ốt sát trùng vết cắt, xong cho bú ngay. Sau khi trâu đẻ, cho trâu uống nước ấm có pha ít muối, tránh để trâu mẹ ăn nhau thai.
Giai đoạn nuôi con: Trong giai đoạn này cần cho trâu cái ăn nhiều để phục hồi cơ thể và sản xuất sữa để nuôi con. Ngoài chăn thả phải bổ sung thêm thức ăn xanh và thức ăn tinh tại chuồng. Chăn thả trâu mẹ từ gần tới xa để nghé con quen dần, luôn để nghé con được bú sữa mẹ. Mùa mưa cần chú ý việc che chắn để chuồng nuôi không bị mưa tạt gió lùa, giữ cho nghé khỏi bị lạnh. Hàng ngày dọn chuồng sạch sẽ, khô ráo; đảm bảo có nước sạch thường xuyên tại chuồng.
3. Lợi ích
Ở trâu, ta còn có thể thấy được sức mạnh dẻo dai, bền bỉ. Nhờ vào sức mạnh ấy trâu có thể giúp con người kéo cày, kéo bừa trên ruộng đồng hay kéo xe, kéo gỗ. Tuy trâu kéo cà rền cà rịch, chậm chạp nhưng bù lại trâu có thể kéo nặng.
Khi gặp ổ gà trâu cũng có thể vượt qua.
Bên cạnh việc cày bừa, trâu cũng cho sữa và thịt trong sản xuất, nhưng do sữa trâu không béo và tươi như bò nên không tiêu thụ nhiều trên thị trường.
Thịt trâu cũng được bán rộng rãi bởi nó có chứa nhiều chất bổ dưỡng và ăn rất ngon.
Chúng ta có thể dùng phân trâu để bón ruộng, vườn cây ăn trái sẽ góp phần giúp cây tươi tốt.
4. Cách chăm sóc
Phải tắm cho trâu mỗi ngày, cho ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng.
Hàng ngày vệ sinh chuồng trại, máng ăn uống sạch sẽ; định kỳ tiêu độc, khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và thu gom phân để ủ.
Sử dụng thức ăn, nước uống không bị nhiễm độc, nhiễm bẩn và mùa nắng thường xuyên tắm chải cho trâu, nghé.
Cách ly trâu bệnh với trâu khỏe, những trâu mua về nên nuôi cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi.
Bố trí chuồng nuôi trâu không quá gần nhà ở, nguồn nước sinh hoạt và không nuôi chung với các loại vật nuôi khác.
Tẩy nội, ngoại ký sinh trùng cho nghé lúc 1- 3 và 6 tháng tuối. Tẩy sán lá gan lúc trâu 12 tháng tuổi và sau đó định kỳ 6 tháng tẩy lại 1 lần (cần chủ động tẩy sán trước khi phối giống).
Định kỳ tiêm phòng các loại vaxin Tụ huyết trùng, Lở mồm long móng… theo lịch của thú y.
5. Ý nghĩa
Khi nhắc đến loài vật tiêu biểu của Việt Nam, mọi người thường lấy hình ảnh con trâu bởi tính tình hiền lành, cần cù và chăm chỉ.
Trâu còn được đưa vào các lễ hội, điển hình như ở Đồ Sơn – Hải Phòng hằng năm đều diễn ra lễ hội chọi trâu. Vòng “chung kết” được diễn ra vào mồng chín tháng tám âm lịch. Quan niệm cho rằng nếu nhà nào có trâu thắng thì sẽ gặp nhiều điều may mắn và hạnh phúc.
Ở Tây Nguyên thì các dân làng thường hay tổ chức buổi giết trâu đem tế thần linh cầu mong cho một năm mới gặp nhiều điều an lành.
III. KẾT BÀI
Hình ảnh “Con trâu đi trước, cái cày đi sau” đã in sâu trong tâm trí mỗi con người Việt Nam.
Trâu đưọc mọi người xem là thành viên thân thiết trong gia đình.
BÀI VĂN THAM KHẢO
BÀI VĂN 1
Mỗi sáng tinh mơ vừa thức dậy, tôi đã cùng bác nông dân sánh bước ra đồng. Cả hai chúng tôi bắt đầu một ngày làm việc mới trên cánh đồng quen thuộc, cùng nhau ra sức bỏ công tạo ra những hạt lúa vàng óng. Các bạn có biết tôi là ai không? Tôi chính là chú trâu nơi làng quê Việt Nam đấy. Sau đây, tôi xin giới thệu vài nét về họ nhà trâu chúng tôi cho các bạn cùng biết.
Nghe tôi nói, chắc hẳn sẽ có một vài bạn lại bảo: “Ôi giời, trâu thì có gì hay ho đâu mà phải giới thiệu!” Các bạn lầm to rồi đấy nhé. Trâu tôi tuy hơi thô kệch nhưng vẫn luôn là người bạn thân thiết và là tài sản rất quý giá của các bác nông dân. Hơn nữa, chắc hẳn còn nhiều điều các bạn không biết về tôi đâu. Trâu chúng tôi thuộc họ bò, phân bộ nhai lại, nhóm sừng rồng, bộ guốc chẵn, lóp thú có vú. Họ hàng trâu ở Việt Nam có nguồn gốc từ các cụ trâu rừng đã được con người thuần hoá. Tuy đã được thuần hoá từ lâu, trâu chúng tôi vẫn giữ được dáng vẻ cao to, vạm vỡ, thân thấp, ngắn; bụng to, mông dốc, đầu vú nhỏ, sừng lưỡi liềm cong như mặt trăng. Trâu đực như tôi nặng khoảng từ 400 đến 500 kg. Còn các cô trâu cái như vợ tôi nặng khoảng từ 350 đến 400 kg.
Vì chúng tôi cao to, khoẻ mạnh là thế nên con người nuôi chúng tôi chủ yếu để lấy sức kéo, mà phổ biến nhất là kéo cày. Sức kéo của mỗi chú trâu trưởng thành như tôi là khoảng 70 đến 75 kh trên đồng ruộng. Trâu loại A như bố tôi có thể cày được một ngày từ ba đến bốn sào. Trâu loại B như tôi thì cày được từ hai đến ba sào, còn vợ tôi trâu loại C cũng cày được từ một rưỡi đến hai sào. Trâu tôi còn có thể kéo xe, kéo gỗ. Trên đường xấu, tôi có thể kéo xe với tải trọng từ 400 đến 500kg, bằng với sức nặng của chính cơ thể tôi. Trên đường tốt, tôi có thể kéo được xe nặng hơn cả 700kg. Và nếu đi trên đường nhựa và có sự hỗ trợ của bánh xe, tôi có thể kéo được xe nặng hơn cả tấn chứ chẳng ít. Ngoài tận dụng sức khoẻ dũng mãnh của chúng tôi, con người còn nuôi chúng tôi để cho thịt sữa. Tuy không phổ biến như thịt, sữa của bò, nhưng thịt và sữa của chúng tôi vẫn có hàm lượng dinh dưỡng rất cao. Hơn nữa, sừng của chúng tôi được họ tạo thành những sản phẩm thủ công mĩ nghệ đẹp vô cùng. Da của chúng tôi thì để làm mặt trống. Và chúng tôi còn có khả năng cho phân bón, rất tốt cho cây trồng. Đấy, các bạn thấy không, trâu tôi là một loài vô cùng có ích.
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thảnh thót như mưa ruộng cày”.
Tuy vậy, cái nắng đó vẫn không thể nào ngăn cản tôi làm việc để tạo ra những hạt lúa vàng ươm cho con người.
Các bạn có biết không? Trâu tôi không chỉ là người bạn của người nông dân mà còn là món ăn tinh thần của con người. Trong các lễ hội truyền thống dân gian của Việt Nam, các chú trâu luôn là nhân vật không thể thiếu được. Điển hình là lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng) họ nhà trâu chúng tôi luôn được vinh danh gọi là “ông trâu”. Các “ông trâu” may mắn khi đưọc dắt vào sân đấu thì trở nên mãnh liệt, hùng hổ xông về phía đối phương, hai bên ghì chặt cặp sừng chắc như thép của mình vào nhau cho đến khi cuộc chiến ngã ngủ. Sau đó, các “ông trâu” ấy đều bj xẻ thịt khao mọi người. Thịt trâu thắng gọi là “lộc”, ai gắp được ắt hẳn sẽ may mắn cả năm.
Không chỉ xuất hiện trong các lễ hội, trâu tôi còn là hình ảnh gắn liền với tuổi thơ người nông dân. Các bạn còn lạ gì hình ảnh các cậu nhóc tì nằm dài trên lưng tôi, vừa ôn bài vừa thả diều sáo. Còn lạ gì những ngày hè oi bức, tôi cùng các cậu nhóc nhảy ùm xuống ao, vừa tắm vừa đùa giỡn, vui thật là vui. Không biết tự lúc nào, giữa tôi và các cậu bé ấy đã hình thành một thứ tình cảm bền chặt, yêu thương.
Chúng tôi khoẻ mạnh là thế, các cậu nhóc vẫn bảo nhau rằng: “khoẻ như trâu”, thế mà vẫn có lúc chúng tôi ngã bệnh. Vì vậy, muốn chúng tôi luôn khoẻ mạnh, con người cần phải chăm sóc chúng tôi cẩn thận. Đầu tiên, chúng tôi phải cần ăn thật đầy đủ chất dinh dưỡng để có thể khoẻ mạnh làm việc. Hằng ngày, chúng tôi cũng cần được tắm rửa sạch sẽ như con người. Hơn nữa, khi tôi làm việc, tôi cần được nghỉ ngơi ít nhất mười lăm phút mỗi hai tiếng. Vào mùa hè, chuồng trại cùa tôi phải sạch sẽ, thoáng mát; mùa đông cần giữ ấm cho tôi. Khi tôi không may ngã bệnh, tôi chỉ cần được một vị bác sĩ thú y đến khám và cho ăn uống dinh dưỡng sẽ khỏi bệnh ngay. Đấy, chăm sóc cho tôi cũng không hề khó khăn là bao, vì vậy các bạn phải thực hiện cho đúng đấy nhé
Các bạn cũng đã nghe tôi nói rồi đó, trâu chúng tôi luôn luôn là người bạn của người nông dân, luôn đồng hành cùng họ từ khi còn bé đến lúc nhắm mắt xuôi tay. Không những thế, trâu tôi còn là món ăn tinh thần của họ, của làng quê, của đất nước Việt Nam. Có lẽ vì thế mà năm 2005 SEAGAMES Việt Nam đã lấy hình ảnh chúng tôi làm biểu tượng cho đất nước – chú trâu vàng Việt Nam.
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 2
Trong tất cả các loài động vật, có thể nói chúng tôi là loài vật có ích nhất trong việc đồng áng, chúng tôi là “đầu cơ nghiệp”, là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ. Các bạn có biết tôi là ai không? Xin thưa, tôi là trâu đây – con trâu ở làng quê Việt Nam.
Tuy gọi là trâu nhưng tổ tiên tôi lại thuộc họ bò, sừng rỗng, thuộc bộ nhai lại, lớp thú có vú. Riêng tôi, tôi thuộc nhóm trâu Việt Nam, loài trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Trâu cái nặng trung bình từ ba trăm năm mươi đến bốn trăm kí lô gam. Còn trâu đực thì khoảng bốn trăm đến bốn trăm năm mươi kí lô gam.
Tôi được tạo hóa khoác lên người một bộ lông màu xám hay màu xám đen. Thân hình tôi lực lưỡng, vạm vỡ để thích hợp với các công việc nặng nhọc. Tuy vậy nhưng tôi lại sở hữu một chiều cao có đôi chút khiêm tốn. Bụng tôi thì không nhỏ chút nào, mông dốc, đầu vú nhỏ. Để đền đáp lại công lao nuôi dưỡng của các bác nông dân, tôi cống hiến thịt. Thịt trâu tôi cũng bổ không kém gì thịt bò đâu nhé! Mà còn không bị phong ngứa nữa cơ. Tôi duy trì nòi giống giúp các bác nông dân, trâu ba tuổi đã có thể đẻ lứa đầu. Mỗi lứa khoảng từ ba đến sáu nghé. Nghé sơ sinh nặng từ 22 – 25 kg. Tôi còn cống hiến cả sữa, bộ da để làm mặt trống, cặp sừng để làm đồ mỹ nghệ xuất khẩu đấy. Phân của tôi cũng được dùng làm phân bón. Tôi thật có ích phải không? Là người Việt Nam, không ai không biết câu ca dao:
“Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta ”
Người nông dân nuôi tôi chủ yếu để cày ruộng, kéo cày. Từ sáng sớm, lúc bạn gà vừa cất tiếng gáy, tôi đã theo các bác nông dân ra đồng. Tôi làm việc rất chăm chỉ. Trời nắng tôi cũng làm, trời mưa tôi cũng làm, không ngại khó khăn, gian khổ. Trâu tôi một ngày trung bình có thể cày từ 3 – 4 sào đất. Nhưng ở Tây Nguyên, tôi lại được nuôi chủ yếu để kéo gỗ, có thể từ 0,5 – 1,3 mét khối với đoạn đường từ 3 – 5 ki lô mét.
Trâu tôi không chỉ xuất hiện với việc đồng áng, mà tôi còn xuất hiện ở các lễ hội vì thế trong dân gian đã có câu ca dao:
“Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mùng chín tháng tám chọi trâu thì về ”
Tôi xuất hiện ở lễ hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng). Ở lễ hội này, dù thấng hay thua, tôi vẫn bị xẻ thịt để chia cho mọi người gọi là lộc. Tôi còn là biểu tượng của SEAGAME 22 Việt Nam vừa rồi đấy các bạn ạ.
Không chỉ có hai hình ảnh thân quen trên, mà tôi còn xuất hiện với hình ảnh là người bạn đối với tuổi thơ nông thôn. Chiều chiều, sau mỗi ngày làm việc chăm chỉ ở ngoài đồng, tôi được các cậu bé dắt đi ăn cỏ, uống nước, tắm táp. Các cậu còn dắt tôi đi thả diều, các cậu ngồi chễm chện trên lưng tôi. Dùng lưng tôi làm chỗ ngồi học bài, thổi sáo. Tiếng sáo của các cậu đã tạo nên bức tranh sống động thật thanh bình ở nông thôn.
Nói đến sức khỏe của loài trâu chúng tôi, dân gian hay có câu nói: “khỏe như trâu” nhưng đôi lúc tôi cũng cần được dưỡng sức. Nếu không được chăm sóc kĩ lưỡng, tôi rất dễ mắc bệnh. Mỗi ngày, cứ hai tiếng làm việc là phải cho tôi nghỉ mười lăm phút. Sau một tuần làm việc là phải cho tôi nghỉ xả hơi một ngày, không nên cho tôi làm việc liên tục. Sức trâu có hạn mà. Vào mùa hè, các bạn phải giữ chuồng trại của tôi sạch sẽ, thoáng mát, để muỗi không đốt tôi. Còn vào mùa đông, các bạn phải giữ ấm cho tôi bằng cách cho thêm rơm vào chỗ tôi nằm nếu không tôi bị cảm thì khốn.
Ngày nay, với đà công nghiệp ngày một phát triển hơn, nhiều loại máy móc được ra đời dần thay thế công việc của trâu tôi. Nhưng tôi vẫn mãi gắn bó với đời sống nông thôn dân dã, vẫn mãi là bạn của tuổi thơ nông thôn và của người nông dân Việt Nam.
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 20: Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh (Huế) tại đây.
Tags:Thuyết minh về con trâu · Văn chọn lọc 9 | Đề 19 – Thuyết minh về con trâu – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 2,972 | |
Đề 19 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
1. Phân các câu dưới đây thành hai loại: câu đơn và câu ghép. Em dựa vào đâu để phân chia như vậy?
a) Trên các trảng rộng và chung quanh những lùm bụi thấp mọc theo các lạch nước, ta có thể nghe tiếng vù vù bất tận của hàng nghìn loại côn trùng có cánh không ngớt bay đi bay lại trên những bông hoa nhiệt đới sặc sỡ.
(Theo Đoàn Giỏi)
b) Một vài giọt mưa loáng thoáng rơi trên chiếc khăn quàng đỏ và mái tóc xoã ngang vai của Thuỷ, những sợi cỏ đẫm nước lùa vào dép Thuỷ làm cho bàn chân nhỏ bé của em ướt lạnh.
(Theo Lưu Quang Vũ)
c) Cây chuối củng ngủ, tàu lá lặng đi như thiếp vào trong nắng.
(Theo Băng Sơn)
d) Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra, và tung tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.
(Theo Phạm Đức)
2. Vạch ranh giới giữa các vế câu trong từng câu ghép ở bài tập 1. Xác định chủ ngữ, vị ngữ trong từng vế câu.
3. Trong Thư gửi các hoc sịnhnhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (1945), Bác Hồ đã viết:
Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.
Lời dạy của Bác Hồ kính yêu đã giúp em hiểu được trách nhiệm của người học sinh đốì với việc học tập như thế nào? | Đề 19 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 292 | |
Đề 19: Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng khi ông Sáu về phép – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 19: Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng khi ông Sáu về phép.
Bài làm
Chiến tranh đã qua đi nhưng mỗi khi nhìn lại chúng ta vẫn không nguôi nỗi xót xa trước sự tàn phá ghê gớm của nó. Đã biết bao người hi sinh, đổ máu ; bao hạnh phúc bị vùi dập ; bao cuộc chia tay đẫm nước mắt. Đọc đoạn trích trong truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, người đọc hiểu thêm về sự tàn khốc của chiến tranh. Hình ảnh cô bé Thu giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về nỗi đau mà trẻ thơ phải chịu đựng trong cuộc chiến ác liệt: nỗi đau thiếu cha.
Bé Thu ngay từ khi xuất hiện đã để lại ấn tượng khó quên: “một đứa bé độ tám tuổi tóc cắt ngang vai, mặc quần đen, áo bông đỏ đang chơi nhà chòi dưới bóng cây xoài trước sân nhà”. Qua cách miêu tả của tác giả, bé Thu hiện lên là cô bé đáng yêu, hồn nhiên, nhí nhảnh. Ẩn đằng sâu sự hồn nhiên đó, có lẽ ít ai biết Thu phải chịu cảnh thiếu thốn tình cảm của cha. Theo lời ông Sáu – bố em, thì ngày ông lên đường chiến đấu, đứa con gái duy nhất mới “chưa đầy một tuổi” – cái tuổi quá nhỏ để nhớ mặt cha. Điều này cũng lí giải vì sao sau bảy năm trời đằng đẵng xa cách khi nhìn thấy ông Sáu, nhìn thấy cha mình, Thu không vồ vập chạy đến ôm cổ ba mà trái lại “con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng”. Nhà văn đã sử dụng liên tiếp các từ miêu tả trạng thái tâm lí ngỡ ngàng, ngạc nhiên của bé: giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng. Khi nghe ông Sáu xúc động nói: “Ba đây con“, bé Thu vẫn không nhận ra, vẫn không tin đó là ba mình: “Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, bỗng nó tái mặt, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má” “. Tác giả rất tinh tế khi miêu tả sự thay đổi trạng thái tâm lí của Thu: từ lạ lùng đến khiếp sợ. Khi đứa trẻ cảm thấy bất an, sợ hãi thì mẹ chính là nơi trú ẩn bình an nhất. Nhà văn thực sự rất am hiểu tâm lí trẻ thơ. Câu chuyện được thắt nút, tạo sự hấp dẫn, hồi hộp với độc giả: vì sao đứa bé không nhận cha? Nguyễn Quang Sáng đã tạo được sức hấp dẫn cho tác phẩm của mình.
Nguyễn Quang Sáng đã xây dựng độ căng cần thiết tạo sự dồn nén cho diễn biến tâm lí, hành động của bé Thu, bởi thời gian mà ông Sáu về phép chỉ có ba ngày ngắn ngủi. Ông Sáu càng “vỗ về” bao nhiêu, bé Thu lại càng tỏ ra bướng bỉnh bấy nhiêu. Sự xa cách đằng đẵng đứa con gái dấu yêu đã khiến ông khao khát đến cháy bỏng một tiếng gọi “ba” của con bé. Tuy vậy, bé Thu nhất định không nhận đó là ba mình. Nhà văn đã lột tả chi tiết hành động thể hiện sự “chống đối” của cô bé khi phải gọi ông Sáu vào ăn cơm. Lúc đầu bé lảng tránh “Thì má cứ kêu đi”, khi phải gọi thì nói trổng: “Vô ăn cơm!”, rồi khi ông Sáu giả vờ không nghe thấy thì con bé cũng không chịu thua, nó “đứng trong bếp nói vọng ra: “Cơm chín rồi!”. Giữa ông Sáu và bé Thu lúc này như đang xảy ra cuộc chiến ngầm. Nếu người đọc chỉ căn cứ vào các câu nói trống không và các hành động chống đối của Thu chắc hẳn sẽ nghĩ đây là một cô bé hư, thiếu lễ phép với người lớn. Song, nhìn sâu vào tình huống mà cô bé 8 tuổi đang phải trải qua chúng ta sẽ phần nào hiểu và cảm thông cho tâm trạng của bé. Cuộc sống của hai mẹ con em đang trôi đi trong những tháng ngày xa cách một “người cha” – người vốn đã có trong hình dung, tiềm thức của bé, nay lại có người xa lạ lại đến bắt em gọi bằng ba. Với bé Thu, đây thực sự là một “cú sốc tinh thần”.
“con bé đáo để thật“. Mặc dù vậy, bé Thu không phải là đứa trẻ chỉ biết “chống đối”, quậy phá, bé cũng có suy nghĩ. Khi thấy ông Sáu “gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó”, Thu “liền lấy đũa xới vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra”. Từ “bất thần” như nhãn tự của câu văn, nó cho chúng ta thấy đó không phải là hành động cố tình mà phải chăng là hành động bất cẩn do đang mải suy nghĩ? Bởi nếu phản đối, em đã hất miếng trứng ra ngay từ đầu. Nhưng do quá yêu con, quá thương con và mong mỏi một tiếng gọi “ba” ấm áp mà luôn bị chối từ nên khi con bé làm như vậy, ông Sáu đã không kiềm chế được nên đã đánh và mắng con: “Sao mày cứng đầu quá vậy, hả?“. Sự bướng bỉnh, ngang ngạnh không phải là bản chất tính cách của bé Thu nên dù bị cha đánh em không “khóc, giẫy, đạp đổ cả mâm cơm” mà “gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm rồi sang nhà ngoại, mét với ngoại và khóc ở bên đấy”.
Bé Thu là cô bé bướng bỉnh, song em thực sự là người có tình cảm, biết suy nghĩ. Nếu không như vậy, chắc hẳn em sẽ quậy đến cùng chứ không sang nhà ngoại để “khóc”. Thái độ ngang ngạnh của em với ông Sáu không làm người đọc giận, trái lại làm người đọc thấy đau xót. Sự tàn phá của chiến tranh thật ghê gớm, nó khiến cho con không nhận ra ba… Thật xót xa.
Tuy nhiên, điều mà nhà văn hướng đến không chỉ dừng lại ở đó, cái mà ông nhấn mạnh chính là tình cha con thiêng liêng, bất tử. Điều kì diệu đã xảy ra vào những phút giây cuối cùng trước khi ông Sáu chia tay gia đình lên đường chiến đấu. Trong khi mọi người đang chuẩn bị cho ba lên đường “con bé như bị bỏ rơi… vẻ mặt nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm tại, buồn rầu”. Bé Thu đã có sự thay đổi thái độ rõ rệt. Nhà văn miêu tả cô bé như già hơn so với tuổi “đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngúc, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”. Người đọc hiểu rằng chắc hẳn đang có sự giằng co, day dứt trong lòng bé. Liệu bé có nhận ông Sáu làm cha? Tiếng thét nức nở của em như trả lời cho tất cả: “Ba…a…a…ba”, tiếng thét vỡ oà sau bao lâu câm lặng, tiếng thét của tình thương và nỗi nhớ cha da diết. Tác giả đi sâu miêu tả thanh âm thiêng liêng, kì diệu đó: “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa”. Tình yêu với người cha sau bao năm xa cách giờ như bùng cháy: “nó vừa kên vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó… Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”. Đoạn văn có nhịp điệu nhanh thể hiện sự mạnh mẽ, dào dạt của suối nguồn tình cảm yêu thương. Hành động của bé Thu chứng tỏ em yêu và nhớ ông Sáu biết chừng nào. Câu hỏi tại sao bé Thu không nhận ông Sáu là cha đến đây đã được giải đáp: “té ra nó không nhận ba nó là vì cái vết thẹo” vì “ba không giống cái hình ba chụp với má“. Từ nhận thức ngây thơ, trong sáng của con trẻ, nhà văn đã lên tiếng tố cáo sự tàn ác của chiến tranh. Vì chiến tranh mà cha con ông Sáu phải xa cách, vì chiến tranh mà con không nhận ra ba.
Bé Thu thật đáng thương bởi giây phút nhận cha cũng là giây phút em phải chia tay ba. Hạnh phúc đến với em ngắn ngủi quá. Như ý thức được điều đó, Thu ra sức níu giữ: “hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi vai của nó run run”. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã vượt qua các họa sĩ hay nhiếp ảnh gia để tạo dựng một cảnh chia tay đẫm nước mắt bằng ngôn từ thông qua việc lựa chọn câu chữ giàu chất tạo hình, biểu cảm. Chiến tranh khiến cho cả những đứa trẻ ngây thơ cũng phải hi sinh. Thu chấp nhận để ông Sáu ra đi và không quên kèm theo lời dặn trong nước mắt: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba ”. Tại sao bé không chọn một món quà nào khác mà lại chọn cây lược? Bởi lẽ đó là vật dụng luôn gắn liền với người con gái, “hàm răng mái tóc là góc con người”. Hơn nữa những gì ta muốn lưu giữ chính là những gì sẽ gắn bó, gần gũi nhất. Không phải ngẫu nhiên tác giả đặt tên cho truyện ngắn này là Chiếc lược ngà. Chiếc lược chính là biểu tượng cao nhất của tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu, một kỉ vật thiêng liêng, bất tử.
Câu chuyện đã khép lại mà vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng gọi ba đến xé lòng của bé Thu. Đó thực sự là một vang âm ám ảnh trong lòng người đọc hôm nay và mai sau…
NGUYỄN HÀ MY
Lời nhân xét:
– Người viết đã thực sự am hiểu tình cảm, cảm xúc của nhân vật. Văn viết đậm dấu ấn cá nhân, giàu tình cảm và chặt chẽ: “Bé Thư là cô bé bướng bỉnh, song em thực sự là người có tình cảm, biết suy nghĩ. Nếu không như vậy, chắc hẳn em sẽ quậy đến cùng chứ không sang nhà ngoại để “khóc”. Thái độ ngang ngạnh của em với ông Sáu không làm người đọc giận, trái lại làm người đọc thấy đau xót. Sự tàn phá của chiến tranh thật ghê gớm, nó khiển cho con không nhận ra ba… Thật xót xa”.
– Người viết có những suy nghĩ và lí giải khá sâu sắc: “Tại sao bé không chọn một món quà nào khác mà lại chọn cây lược? Bởi lẽ đó là vật dụng luôn gắn liền với người con gái, “hàm răng mái tóc ìà góc con người” Hơn nữa những gì ta muốn lưu giữ chính là những gì sẽ gắn bó, gần gũi nhất. Không phải ngẫu nhiên tác giả đặt tên cho truyện ngắn này là Chiếc lược ngà. Chiếc lược chính là biểu tượng cao nhất cho tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu, một kỉ vật thiêng liêng, bất tử. ”
– Mở bài và kết bài tự nhiên, lôi cuốn, tạo ấn tượng. | Đề 19_ Phân tích diễn biến tâm lí và hành động của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng khi ông Sáu về phép – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 2,022 | |
Đề 1: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 1: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Bài làm
Thân em như hụt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
Lời ca dao cứ da diết, ngân vang, ám ảnh. Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong văn học thật đẹp, thật sáng trong, nhưng số phận của họ cũng thật nhiều éo le, ngang trái. Tôi thực sự bị ám ảnh bởi hình ảnh Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Có lẽ đây là một trong những hình tượng đầu tiên, phản ánh chân thực và rõ nét số phận của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến hà khắc.
Mở đầu câu chuyện, tác giả đã giới thiệu một cách ngắn gọn về nhân vật Vũ Nương. Đó là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thuỳ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Mặc dù, truyện được viết theo thể loại truyền kì, nhưng với cách giới thiệu họ tên, quê quán cụ thể, tác giả tạo nên tính hiện thực sống động cho nhân vật. Người con gái đó không chỉ dẹp về nhan sắc mà còn có những phẩm chất sáng ngời: hiền hậu, đảm đang, chung thủy, giàu đức hi sinh. Tác giả đã đưa ra nhiều chi tiết thể hiện phẩm chất đáng quý đó của Vũ Nương. Tuy Trương Sinh – chồng của nàng – là một người đa nghi, “đối với vợ phòng ngừa quá sức” nhưng “nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà”. Người phụ nữ là người giữ lửa cho mỗi gia đình, Vũ Nương đã khéo léo giữ được không khí đầm ấm, hạnh phúc cho mái nhà nhỏ của mình. Đây thực sự là điều không hể dễ dàng. Cũng như bao người phụ nữ Việt Nam khác, Vũ Thị Thiết đã hi sinh hết mình vì chồng. Nhưng hạnh phúc mà nàng được hưởng thật ngắn ngủi, chẳng khác nào “bóng câu qua cửa sổ”. Người đọc thật xót xa, thương cảm khi nghe những lời chia li của nàng trước khi chồng ra trận: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”. Nếu như người ra đi phải đối diện với hiểm nguy vì hòn tên mũi đạn thì người ở nhà cũng phải chịu bao khổ đau với nỗi cô đơn tột cùng, mỏi mòn và niềm mong ngóng cháy bỏng. Bởi lẽ: “Non Kì quạnh quẽ trăng treo – Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò” (Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm), người ra đi mấy ai may mắn trớ về. Vũ Nương thương chồng hết mực và chính tình thương yêu đó đã biến thành sức mạnh để nàng vượt qua bao khó khăn khi chồng ra đi.
Là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết tưởng rằng Vũ Nương sẽ được hưởng hạnh phúc suốt đời nhưng nàng lại có một số phận thật bi thảm, bất hạnh. Tấm lòng hi sinh, hiếu thảo của Vũ Nương tưởng như được đền đáp khi Trương Sinh từ chiến trận trở về. Song, cuộc đời thật trớ trêu, ngày chồng trở về không phải ngày Vũ Nương ngập tràn trong hạnh phúc sum vầy mà là ngày định mệnh, tột cùng đau khổ, bi thương với nàng. Lời nói ngây thơ của bé Đản chẳng khác nào những nhát dao oan nghiệt: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít […] Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Người ta thường nói: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”, Trương Sinh lại là người hay ghen và đa nghi do đó lời nói của con càng khiến chàng tin rằng Vũ Nương đã phụ bạc mình. Chàng đâu biết “người đàn ông” mà cậu bé Đản nói chính là cái bóng của chính Vũ Nương. Vì thương con, nhớ chồng nên nàng thường chỉ bóng mình ở trên vách và nói đó là cha Đản. Có lẽ nàng cũng không thể ngờ chính tình yêu thương chồng con lại trở thành mối dây oan nghiệt với cuộc đời mình. Nguyễn Dữ đã thật tài tình khi xây dựng tình huống đầy éo le, kịch tính, tạo sự hồi hộp cho độc giả. Liệu Vũ Nương sẽ giải thích sao đây? Liệu tự nàng có giải oan được cho mình hay không?
Cuộc đời của Vũ Nương chẳng khác nào cánh bèo đơn chiếc trôi nổi giữa dòng đời. Nàng đã bị đẩy vào tình huống dù giải thích thế nào chồng cũng không tin, nàng chỉ còn biết than khóc với trời xanh, sông rộng: “kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”. Lời thề của Vũ Nương vừa thể hiện niềm đau đớn khôn nguôi vừa khẳng định tấm lòng trinh bạch của nàng. Tác giả đã sử dụng kết hợp các điển tích, điển cố “ngọc Mị Nương, cỏ Ngu mĩ” như lối so sánh ngầm. Tấm lòng của Vũ Thị Thiết cũng sáng trong, trinh khiết như Mị Nương, Ngu Cơ – những trang “tiết hạnh khả phong” của muôn đời. Lòng tự trọng bị xúc phạm nặng nề và để minh oan cho sự trong sáng của mình, Vũ Nương đã “gieo mình xuống sông mà chết”. Cái chết của nàng khiến người đọc hiểu thêm về số phận bi thảm của người phụ nữ xưa. Hạnh phúc với họ thật mong manh.
Tuy vậy, dù ở hoàn cảnh nào người phụ nữ vẫn đau đáu một niềm yêu thương chồng con tha thiết. Vũ Nương dù đã chết nhưng không nguôi nỗi nhớ mái ấm gia đình. Với tài năng bậc thầy, Nguyễn Dữ đã xây dựng nên một thế giới huyền ảo, một cây cầu nối hai bờ hư thực khi để nhân vật Phan Lang gặp lại và trò chuyện với Vũ Nương chốn thủy cung. Những giọt nước mắt của nàng khi nghe người hàng xóm nói về chồng con “Nhà cửa tiên nhân của nương tử, cây cối thành rừng, phần mộ tiên nhân của nương tử, cỏ gai ngợp mắt. Nương tử dù không nghĩ đến, nhưng tiên nhân còn mong đợi nương tử thì sao?” cho chúng ta thấy, nàng vẫn một lòng yêu thương Trương Sinh tha thiết. Vì còn lòng yêu thương nên nàng đã để cho Trương Sinh có cơ hội gặp lại mình: “Nhờ nói hộ với chàng Trương, nếu còn nhớ chút tình xưa nghĩa cũ, xin lập một đàn giải oan ở bến sông, đốt cây đèn thần chiếu xuống nước, tôi sẽ trở về”. Tuy nhiên sự trở về của Vũ Nương thật ngắn ngủi: “Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông lúc ẩn lúc hiện”. Nàng chỉ nói một câu duy nhất: “Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. Biết bao ý tình nhà văn Nguyễn Dữ đã gửi gắm vào sự trở về chốc lát của Vũ Nương. Đó là sự trở về để khẳng định lòng chung thủy, tình yêu thương, là món quà dành cho người biết hối lỗi như Trương Sinh. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, chốc lát thể hiện con người đã ra đi mãi mãi không thể trở về, cũng như hạnh phúc một khi đã để tuột mất thật khó có thể lấy lại. Trương Sinh vì ghen tuông mù quáng nên đã để mất người vợ. Bên cạnh đó, ẩn sâu trong sự trở về của Vũ Nương là nỗi ngậm ngùi, đau đớn, xót xa cho số phận người phụ nữ:
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
(Nguyễn Du – Truyện Kiều)
Hai chữ “bạc mệnh” cứ bám riết, đeo đẳng số phận người phụ nữ. Hình tượng Vũ Nương là điển hình nghệ thuật cho “phận đàn bà” tư dung tốt đẹp, chung thủy sắt son mà bất hạnh tột cùng. Câu chuyện vừa là niềm cảm thương sâu sắc với số phận người phụ nữ, vừa là tiếng nói vạch trần, tố cáo đanh thép đối với xã hội phong kiến đã chà đạp, bóp nghẹt quyền sống của con người. Chuyện người con gái Nam Xương do đó thấm đượm giá trị nhàn đạo và giá trị hiện thực sâu sắc. Cho đến hôm nay câu chuyện vẫn như một hồi chuông nhắc nhở mọi người phải bênh vực, bảo vệ người phụ nữ để họ được hưởng những niềm hạnh phúc mà họ xứng đáng được hưởng. Gấp trang sách lại, lòng tôi vẫn băn khoăn tự hỏi: Liệu cuộc đời này còn biết bao người phải khổ như Vũ Nương?
CHU HÀ THỦY LINH
Lời nhân xét:
– Người viết hiểu và phân tích nhân vật kĩ, sâu sắc.
– Bố cục bài viết mạch lạc, thể hiện tư duy lô gíc chặt chẽ nhưng cũng giàu cảm xúc và chất văn chương. Người viết thể hiện niềm cảm thông chân thành đối với số phận éo le, bất hạnh, ngang trái của nhản vật Vũ Nương.
– Người viết đã có những so sánh khiến bài viết có chiều sâu, phong phú: so sánh Vũ Nương với Ngu Cơ, Mị Châu…
– Kết bài tạo ấn tượng với câu hỏi nhiều sức gợi: “Liệu cuộc đời này còn biết bao người phải khổ như Vũ Nương? | Đề 1_ Phân tích nhân vật Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,862 | |
Đề 2 – Kể lại một giấc mơ, trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Đề 2 – Gặp lại người thân trong mơ
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Đối với đề bài này, em cần phải tưởng tượng. Trước hết em cần phải xác định, người thân mà em nằm mơ thấy đó là người thân nào? (Ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em,…). Em cần tạo ra một tình huống nào đó dẫn đến việc em đi ngủ, từ đó mới có giấc mơ, sau đó em gặp lại người mà em muốn gặp. Tiếp đến, trong giấc mơ ấy, em cần kể lại theo trình tự: trước khi gặp: quang cảnh xung quanh như thế nào? Có gì đặc biệt không? Ánh sáng thế nào?; trong khi gặp: người em gặp xuất hiện như thế nào? Hình dáng, cách ăn mặc, ngoại hình ra sao, em cần miêu tả kĩ lưỡng?…; sau khi gặp: trên hết là cảm xúc nuối tiếc khôn nguôi, muốn níu kéo lại để được nói chuyện nhiều hơn. Trong phần này, em chú ý tránh cho các nhân vật kể quá nhiều dễ dẫn đến câu chuyện bị loãng. Nêu ra mong muốn của em. Và cuối cùng, em cần nghĩ ra một tình huống để khiến em tỉnh giấc ngủ.
DÀN Ý CHI TIẾT
Lấy ví dụ là NGƯỜI CHA
I. MỞ BÀI
Có thể dẫn dắt bằng một đôi câu thơ hay bài hát liên quan đến tình cảm gia đình – người cha.
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Cha là người mà tôi luôn yêu quý, kính trọng. Trong một lần học bài mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi. Tôi đã có dịp gặp cha trong giấc mơ – người đã bỏ đi từ rất lâu từ khi tôi còn bé.
II. THÂN BÀI
1. Miêu tả Cha
Vóc dáng, ngoại hình:
+ Tuổi tác: theo thời gian, cũng đã có tuổi.
+ Tóc điểm trắng vài sợi bạc: tóc cha đã có vài sợi bạc.
+ Đôi mắt: hiền hậu.
+ Nụ cười: ấm áp chan chứa tình yêu thương con cái.
+ Đôi bàn tay: gầy guộc, xương xương vì bệnh tật đày đọa.
+ Vóc người: ốm, hay đau đớn về thể xác vì bệnh tật.
+ Trang phục: bộ áo sơ mi, quần tây đơn sơ, mộc mạc đời thường.
Tính cách:
+ Đối với mọi người xung quanh: luôn quan tâm, giúp đỡ.
+ Đối với gia đình: luôn yêu thương con cái và người vợ thân yêu của mình.
+ Đối với bản thân: là người luôn có trách nhiệm.
2. Kể lại cuộc đối thoại giữa em và cha khi em gặp lại
Khi gặp cha trong giấc mơ, tôi xúc động lắm.
Từ hồi cha bị bệnh ung thư và qua đời cách đây 3 năm, đêm nào tôi cũng nhớ về ông.
Tôi hỏi thăm ông có khỏe không? Sao cha lại bỏ tôi đi như vậy? Cha có nhớ tôi không?
Ông trả lời tôi rằng cuộc sống đều có quy luật của nó. Có sinh lão bệnh tử. Dù rất nhớ, rất thương con cái, gia đình nhưng số phận đã an bài như thế.
Cha mong tôi luôn sống khỏe mạnh, hạnh phúc và học thật giỏi để mai sau giúp ích cho đời, không được phụ sự kì vọng của ông bà, cha mẹ và thầy cô.
Rồi cha lùi vào trong một đám mây màu hồng rồi biến mất.
Tôi chưa kịp được tâm sự nhiều hơn với cha. Trong tôi hiện lên những sự tiếc nuối khôn nguôi.
Một tiếng gọi vang lên đánh thức tôi dậy: “Khang, dậy ăn cơm con ơi!”.
Tôi thức giấc mà vẫn còn tiếc nuối và mắt thì ngân ngấn từng giọt.
Mẹ hỏi tôi có chuyện gì mà sao tôi lại khóc.
Tôi nói rằng không có gì và nhìn mẹ mà nói: “Cha của con là một người tuyệt vời phải không mẹ?”
3. Cảm nhận về Cha
Cha là người trụ cột mà gia đình tôi tựa vào những khi khó khăn, vất vả.
Dù cha đã đi xa, nhưng trong tim tôi, cha vẫn luôn tồn tại, vẫn luôn sống mãi.
III. KẾT BÀI
Thoát khỏi giấc mơ, tôi tự hứa với lòng mình với ba sẽ cố gắng chăm ngoan, học giỏi không phụ lòng những người yêu thương và chăm lo cho mình.
Dù đi đâu về đâu, tôi vẫn sẽ luôn nhớ về cha của mình.
BÀI VĂN THAM KHẢO
BÀI VĂN 1
Giấc mơ là một trong những điều kì diệu mà cuộc sống mang lại cho chúng ta. Từ cái hôm mà tôi được gặp lại người bà kính yêu của mình trong mơ nay đã được hai tháng. Câu chuyện bắt đầu như sau:
Vào những ngày trời đông giá rét, từng cơn gió se lạnh luồn qua kẽ tóc, lùa qua mái tóc tôi khiến tôi không, tài nào học bài được. Trong lúc đang mơ màng với những dòng chữ trên vở thì bỗng nhiên tôi thấy một vầng hào quang bừng sáng lên trước mắt tôi. Khuất sau luồng sáng đó là một không gian xa lạ nhưng trông quen thuộc đến lạ thường. Trước mắt tôi là một bộ bàn ghế sờn cũ với những đồ dùng linh tinh trên bàn. Trong lúc tôi vẫn còn ngỡ ngàng với khung cảnh đó thì bỗng nhiên tôi nghe thấy một tiếng gọi đến ấm lòng: “Văn ơi! Văn ơi!” Tôi vội vàng quay lại, tim tôi cứ như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực của mình, vẫn mái tóc dài xoăn đó, vẫn thân hình đầy đặn đó và đặc biệt là giọng nói trầm ấm khi gọi tên của tôi. Nhờ đó tôi đã nhận ra người bà kính yêu của mình. Bà tôi đã mất cách đây đã được bốn năm. Mặc kệ mọi thứ xung quanh, tôi chạy hết sức đến bên bà và ôm chầm lấy bà. Miệng tôi thì lúc nào cũng gọi: “Bà ơi! Bà ơi!”. Bà cũng dang rộng đôi tay nhỏ bé của mình để ôm chặt lấy tôi. Môi tôi nghiến chặt, nước mắt tôi ứa ra khi một lần nữa được ôm ấp vào lòng bà. Đây là lần đầu tôi được ở bên bà sau bao tháng ngày xa cách và bây giờ tôi mới có dịp gặp lại. Mái tóc của bà thì cũng như bao người bà khác trắng muốt tựa như những áng mây. Những nếp nhăn của tháng ngày ròng rã nuôi con chăm cháu hiện rõ trên vầng trán và khóe mắt của bà. Nhưng tôi chợt nhận ra một điều là nụ cười phúc hậu của bà thì vẫn như ngày nào. Cứ mỗi lần tôi thấy bà mỉm cười là biết bao phiền muộn, bực dọc đều tan biến. Lúc tôi vẫn đang ghì chặt lấy đôi bờ vai gầy guộc của bà thì bỗng nhiên bà cất giọng hỏi: “Dạo này cháu và gia đình thế nào?”. Tôi mỉm cười và đáp rằng: “Gia đình mình thì vẫn khỏe bà ạ! Chỉ có cháu là đang bù đầu vì đống bài vở thôi ạ!”. Bà mỉm cười như hiểu ý tôi và bảo: “Năm nay con phải cố gắng lên, thi chuyển cấp nhất định phải vào được trường chuyên đấy.” Lúc đó, tôi chỉ biết cười trừ và gật đầu. Rồi sau đó, bà đòi xem tập vở của tôi như thế nào. Vào giây phút đó, tôi cứ như chỉ muốn trốn đi nơi khác vì sợ bà la. Chân mày bà nhíu lại, cau có và bà nói: “Một học sinh giỏi, chăm ngoan thì không bao giờ được viết bài một cách cẩu thả đâu cháu nhé!”. Chắc là do bà nhìn thấy những nét chữ nghuệch ngoạc, cẩu thả của tôi trên quyển vở trắng. Nhưng nhờ câu nói của bà đã gợi nên những kỉ niệm khi xưa bà vẫn thường dạy tôi như thế. Tôi cảm thấy rất có lỗi với bà vì tôi đã không làm theo lời dạy của bà. Bà cũng chính là nguồn động viên lớn nhất của tôi trong những lần tôi rơi vào tuyệt vọng. Đang tận hưởng không khí vui vẻ bên bà thì bỗng nhiên tôi giật bắn người vì tiếng chuông đồng hồ đã điểm sáu giờ sáng. Giây phút đó sao tôi thấy hụt hẫng quá có lẽ tôi sẽ không còn dịp gặp bà trong giấc mơ nữa.
Từ giấc mơ đó, tôi học được rất nhiều bài học từ bà và có những lúc tôi tìm đến những giấc mơ để lạc quan và yêu đời hơn trong cuộc sống.
BÀI VĂN 2
“Ánh, Ánh ơi…!”, bạn tôi hốt hoảng kêu lên khi thấy trên mặt tôi chảy dài hai hàng lệ. Nhưng tôi đã không trả lời lại được, vì tôi vẫn còn chìm đắm mãi trong giấc mơ vừa rồi, giấc mơ ngắn ngủi trong giờ ra chơi…
Khi tôi vừa thiếp đi vì mệt trong giờ ra chơi, tôi chọt mơ thấy bà nội, người bà thân yêu của mình. Bà thương tôi lắm, cho dù bà ở nhà chú bác cách xa nhà tôi, nhưng cứ mỗi lần tôi đến thăm bà là bà lại cho bánh, cho kẹo rồi kể chuyện xưa cho tôi nghe. Vậy mà bà đã mất, mất do tuổi già – cái tuổi quy luật của cuộc đời. Tôi biết đó là chuyện thường tình, nhưng dù vậy tôi vẫn rất buồn và bệnh cả tuần liền ngay sau đó. Tôi cứ ngỡ mình sẽ không thế gặp bà nữa, nhưng… Tôi có nằm mơ không? Tôi thấy bà đang đứng trước mặt tôi, nở một nụ cười hiền dịu như ngày xưa. Tôi bàng hoàng trong giây lát, một cảm giác rất lạ tràn ngập trong lòng tôi, không phải là cảm giác sợ sệt khi bà đột nhiên xuất hiện, mà là sự hạnh phúc khó diễn tả thành lời. Hai tiếng “Bà! Bà!” vỡ òa trong nước mắt, tôi chạy vội đến rồi nhào vào lòng bà. Bà vẫn thế, mặc chiếc áo bà ba nâu quen thuộc, nhưng trông bà hôm nay lại đẹp và rạng rỡ hon mọi ngày. Tôi nằm trong vòng tay ấm áp của bà cảm nhận sự trìu mến của bà khi bà vuốt ve mái tóc tôi. Tôi và bà muốn nói với nhau rất nhiều, nhưng bà vẫn không nói tiếng nào, vậy nên tôi sẽ nói cho bà nghe. Tôi nói rất nhiều, nhiều đến mức tôi cứ tưởng bà vẫn chưa bao giờ mất, vẫn như ngày xưa mỗi khi bà nghe tôi kể nhiều chuyện thú vị gặp ở trường lớp vậy. Được một lát, bà bỗng phẩy phẩy tay như muốn bảo tôi về. Nhưng tôi không muốn phải xa bà nhanh như vậy, cho nên tôi kéo tay áo bà, nhìn bà với vẻ cầu xin. Bà vẫn luôn không nỡ làm tôi thất vọng. Bà cười bất đắc dĩ, rồi nắm tay tôi dắt đi. Tôi không biết mình sẽ đi đâu, nhưng tôi vẫn vui vẻ nắm tay bà và bước. Đi được một lát, tôi chợt nhận ra những điều là lạ. Tôi đang bước trên những đám mây trắng bồng bềnh, mềm và xốp. Dọc hai bên đường đi, có những loại hoa quả kì lạ đầy màu sắc, tỏa mùi thơm phức. Hàng cây bên đường vẫy vẫy cành chào tôi, dưới chân tôi có nhũng con vật thật đáng yêu đang quấn quýt. Còn có những tầng mây cao hơn nữa, kì lạ là nhũng đám mây lại có hình tôi, hình bà, hình ba mẹ tôi, và cả hình chị tôi nữa. Đấy có phải là thiên đường không? Tôi thích thú chỉ cho bà xem, bà nhìn theo rồi cười. Suốt cả quãng đường đi đều như vậy, tôi cứ chỉ cho bà nhìn, bà nhìn với một vẻ mặt rạng rỡ trông thật hạnh phúc và ấm áp biết dường nào. Tôi chỉ muốn con đường này kéo dài thêm thêm nữa để…
Cuối cùng rồi cũng đến nơi, trước mặt tôi hiện lên một căn nhà lớn, trông vừa quen vừa lạ. Quen là vì nó trông rất giống nhà chú bác tôi, lạ là vì nó trông khang trang, đẹp và mới hơn nhiều. Bà chỉ chỉ vào căn nhà đó, tôi hiểu ý bà, thì ra là bà đang sống ở đây. Bước vào nhà, tôi ngửi thấy mùi bánh nướng quen thuộc. Quay sang nhìn bà, tôi thấy bà đang cầm chiếc bánh nướng thơm ngon mà lúc xưa bà vẫn hay làm cho tôi ăn. Không biết bà làm khi nào mà nhanh thể nhì? Chiếc bánh vẫn ngon như xưa, tôi thầm nghĩ một chiếc bánh sẽ không đủ tôi ăn mất. Nhưng rồi tôi lại ngạc nhiên lần nữa, trông bánh nhỏ thế mà tôi ăn hoài vẫn không hết. Đợi đến lúc tôi no, chiếc bánh vẫn nguyên vẹn. Rồi bà lại “hô biến” lần nữa, lần này là ly nước ép táo tôi thích nhất. Đợi tôi ăn no nê, bà lại dắt tôi đi qua nhũng căn nhà gần đó. Có rất nhiều người ở đây, ai thấy tôi và bà cũng đều cười vui vẻ chào đón, rồi cho tôi rất nhiều kẹo. Tôi đang rất vui vẻ thì bỗng bà kêu tôi lại rồi nói nhỏ nhẹ và chậm rãi:
– Cháu ở lại mạnh khỏe nhé, bà phải đi rồi. Nhớ phải gắng học, đừng để thầy cô, cha mẹ buồn lòng!
Nói rồi bà biến mất theo làn mây trắng. Tôi hốt hoảng nhìn quanh, không còn thấy bà, không còn những con người thân thiện đó nữa, cũng chang còn những ngôi nhà, những cảnh vật huyền ảo đẹp như ở cõi tiên nữa. Tôi la to “Bà, bà ơi!” nhưng vẫn không thấy bà nữa. Bà đã thật sự đi rồi.
Tôi chợt tỉnh giấc. Xung quanh tôi vẫn là cảnh vật quen thuộc trong lớp. Sau đó tôi lại thấy khuôn mặt lo lắng của bạn tôi. Bạn hỏi tôi làm sao vừa khóc vừa la hét thế kia, nhưng tôi không trả lời. Để lát nữa tôi sẽ giải thích với bạn sau vậy, còn bây giờ tôi vẫn đang tiếc nuối giấc mơ vừa rồi. Bà ơi, cháu hứa với bà, cháu sẽ cố gắng ngoan ngoãn học tập, để không phụ lòng tin của bà dành cho cháu. Nếu như bà đang ở trên thiên đường, bà hãy luôn dõi mắt nhìn cháu bà nhé!
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 3
Bạn có tin vào giấc mơ không? Nhưng với tôi thì tôi rất tin, bởi trong mơ đó là một thế giới kì diệu, là nơi mang đến cho ta cảm giác hạnh phúc khi được thực hiện mong muốn của bản thân hay biến ước mơ thành sự thật. Còn với tôi, giấc mơ chính là xứ sở thần tiên, là thiên đường đưa tôi đến với người mẹ đã rời bỏ tôi ra đi mãi mãi sau bao tháng ngày chống chọi với căn bệnh viêm màng não.
Trong giấc mơ ấy, tôi không chỉ được gặp mà còn được trò chuyện, tâm sự vói người mẹ kính yêu. Khung cảnh xung quanh chính là khu vui chơi Đầm Sen mà lúc trước mẹ với bố vẫn thường dắt tôi và anh hai đến. Từ xa xa, tôi đã thoáng thấy hình bóng của mẹ, bất giác tôi thốt lên trong sự bất ngờ:
– Mẹ ơi!
Mẹ quay người lại và nở một nụ cười tươi trên môi. Lúc này, cảm giác hạnh phúc bỗng chốc ùa về trong tôi. Nó dẫn đôi chân tôi đến gần chỗ mẹ hơn. Đột nhiên, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác lạ thường. Phải chăng đây là cảm giác của tình máu mủ sau bao năm xa cách? Không suy nghĩ nhiều, tôi ôm chầm lấy mẹ và nói rằng:
– Con nhớ mẹ nhiều lắm!
Cái ôm ấy sao mà ấm áp đến lạ thường! Tôi có thể cảm nhận được từng nhịp đập của mẹ. Lúc này trái tim mẹ cũng đập liên hồi như tim tôi. Đó chính là sự giao hòa của tình mẹ con thiêng liêng. Mẹ vừa ôm tôi vừa nói rằng:
– Mẹ cũng nhớ con nhiều lắm, con gái yêu của mẹ!
Nghe được giọng nói ấy, giọng nói mà sáu năm rồi tôi chẳng còn nghe thấy nữa. Giọng của mẹ vẫn ấm áp như ngày nào, vẫn là cách nói dịu dàng như lúc tôi còn bé. Chẳng hiểu sao, khi được nghe giọng nói của mẹ thì lòng tôi lại xao xuyến lạ thường. Sau cái ôm đầy hạnh phúc ấy, tôi cùng mẹ vào vui khu vui chơi nào là đạp vịt, tàu lượn siêu tốc,… biết bao kỉ niệm khi xưa chọt ùa về trong tâm trí tôi. Bất chọt, tôi lại nghĩ về những tháng ngày mẹ còn sống cùng gia đình và thầm mong rằng: “Lúc này mà có cả anh hai và bố thì hay biết mấy!”. Cứ mãi đắm chìm trong dòng mơ tưởng mà tôi không nhận ra trước mắt là một hòn đá to tướng. Bị vấp phải, tôi ngã nhào ra đất. Bấy giờ, tôi mới thoát khỏi dòng suy nghĩ và trở về với hiện tại. Chân tôi đau rát và chảy máu khá nhiều. Mẹ băng bó rồi dìu tôi đến bên ghế đá ngồi. Đến lúc này, tôi mới được nhìn thật rõ gượng mặt của mẹ. Sự thay đổi cũng đã khá nhiều sau thời gian sáu năm đằng đẵng ấy. Mặt mẹ đã bắt đầu có những chấm tàn nhang, đã bắt đầu xuất hiện nhiều nếp nhăn hơn. Mái tóc mẹ đã điểm thêm vài sợi bạc. Nhìn thấy những hình ảnh ấy, lòng tôi chợt đau nhói. Nhìn thấy người mẹ đã có tuổi mà còn phải chạy đôn chạy đáo nào là mua nước cho tôi, mua khăn giấy lau mồ hôi cho tôi, tôi lại thấy thương mẹ nhiều hơn gấp trăm ngàn lần. Tôi thấy thật hối hận biết bao khi chưa kịp đền đáp cho mẹ mà lại để mẹ ra đi như thế. Sự ân hận cùng với tình yêu thương to lớn đã làm những giọt lệ bắt đầu tuông ra trên gương mặt tôi. Thấy thế, mẹ liền ôm tôi vào lòng:
– Không sao đâu con, con gái của mẹ đừng khóc mà. Đã có mẹ ở đây rồi!
Được mẹ ôm ấp, vỗ về, tôi đã không khóc nữa bởi tôi cũng không muốn mẹ buồn khi thấy tôi như thế mà tôi càng phải trân trọng những giây phút được ở cạnh mẹ như lúc này. Thế là hai mẹ con lại cùng nhau trò chuyện, tâm sự với nhau. Tôi đã kể mẹ nghe những câu chuyện thú vị ở trường hay những việc tốt mà tôi đã làm được. Cả tôi và mẹ đã cười suốt một buổi. Có lẽ cái không khí náo nhiệt của khu vui chơi cũng không thể sánh bằng niềm vui và hạnh phúc của tôi khi được ở cùng mẹ. Ấy thế mà thời gian trôi qua cũng nhanh thật! Mới đó mà đã đến lúc tôi với mẹ phải về nhà rồi. Trên đường đi, lòng tôi dâng trào biết bao cảm xúc. Nào là lưu luyến cuộc vui, nào là nuối tiếc vì đã không thể cùng mẹ chơi nhiều trò hơn. Nhưng cảm giác lo sợ mới chính là thứ đã áp đảo tâm trí tôi. Tôi lo sợ sẽ không còn được gặp mẹ. Lo sợ sẽ mất mẹ thêm một lần nữa, sẽ không còn được mẹ ôm ấp và vỗ về như khi nãy. Dường như mẹ đã nhìn thấy điều đó qua đôi mắt đầy sự hoang mang kia của tôi mà ôm tôi vào lòng.
– Mẹ sẽ luôn bên con như thế này, sẽ luôn là nguồn động viên cho con, sẽ là chỗ dựa cho con khi cần. Con chịu không?
Tôi gật đầu nhẹ nhàng và nở một nụ cười tươi – nụ cười của sự hạnh phúc! “Reng…reng…reng”, tôi choàng tỉnh dậy! Thỉ ra tất cả chì là một giấc mơ. Cảm giác hụt hẫng lẫn với nỗi buồn khi nhận ra mẹ không còn ở bên cạnh tôi lúc này bao trùm lấy tôi. Với tôi đó chính là một giấc mơ đẹp mà tôi sẽ luôn nhớ mãi. Nếu được chọn, tôi sẽ chọn cho bản thân ngủ mãi để có thể ở cùng mẹ trong mơ, tôi thà rằng chân bị thương để được mẹ băng bó. Dù mẹ đã bỏ tôi ở lại thế gian này nhưng tôi biết mẹ vẫn luôn dõi theo từng bước chân của tôi, vẫn luôn tiếp thêm sức mạnh cho tôi dù mẹ đang ở một nơi nào đó. Nếu được gặp mẹ lần nữa, tôi sẽ trân trọng mẹ hơn và nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, con yêu mẹ nhiều lắm!”.
BÀI VĂN 4
“Meo, meo, meo” – tiếng kêu của chú mèo con đã làm tôi chợt tỉnh giấc. Thì ra tôi đã ngủ thiếp đi khi đang chật vật với đống bài tập để kiểm tra một tiết của ngày hôm qua. Lúc tôi ngủ thiếp đi thì tôi đã rơi vào một giấc mơ. Một giấc mơ mà tôi sẽ không bao giờ quên được.
Lạc vào một khoảng không vô định, tôi ngỡ ngàng khi thấy mình bay giữa đám mây hồng và trước mắt tôi là một thứ ánh sáng lóe lên như một cánh cổng muốn đưa tôi đi vào một nơi nào đó. Qua khỏi cánh cổng ấy rồi thì tôi phát hiện ra mình đang đứng trước một ngôi nhà. Ngôi nhà này chẳng được khang trang mấy. Cánh cửa bằng sắt thì bị gỉ, mái ngói ngôi nhà thì đã bị bể đôi chỗ, lớp sơn đã bong tróc hết để lại một bức tường vôi trắng nhưng dường như đã bị ố theo thời gian. Thế rồi tôi thử gõ cửa nhưng ngạc nhiên là cánh cửa không khóa. Càng ngạc nhiên hon khi cái bầu không khí ấm áp, thân quen đến lạ thường bao phủ khắp người khi tôi tiến vào trong. Đưa mắt đảo qua một vòng ngôi nhà thì tôi nhận ra: “A! Thì ra đây là nhà bà nội”. Vì tôi ở với nội khi còn bé nên mọi thứ về căn nhà này đã để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí tôi. Nhưng hình ảnh của người bà đáng kính của tôi, làm sao tôi có thể quên được. Thế là tôi bắt gặp một dáng người gầy gầy, hơi còng; đầu tóc bạc phơ, da thì nhăn nheo, trên mặt có không ít vết chân chim. Chợt người đó cất lên một giọng nói ấm áp đến lạ thường. “Này, cu cậu đừng có đứng ngoài nắng kẻo bệnh bây giờ”. Nhìn gần hơn chút nữa thì tôi không thể nhầm lẫn vào đâu được nữa, đó chính là bà nội tôi. Tôi chạy tới ôm chầm lấy bà ngay. Bà vừa đánh yêu vào má tôi vừa nói: “Cái thằng này làm như lâu lắm không gặp bà vậy”. Chỉ câu nói đó thôi mà cũng đã làm tôi muốn ứa hai hàng nước mắt rồi. Làm sao tôi có thế quên được tiếng ru của bà lúc còn bé, những lúc bà đi chợ về tôi đưọc bà cho biết bao là quà, bánh; lại nữa, những lúc đau ốm bà là người luôn kề bên tôi, chăm sóc tôi rất nhiều. Tất cả những kí ức ấy chỉ trong khoảnh khắc nó như ùa về hết trong tâm trí tôi. Thể rồi bà nắm tay tôi, dẫn tôi vào trong. Cái cảm giác được đôi bàn tay gầy gầy, xương xương ấy nắm lấy dâng lên trong tôi một cảm xúc khó tả. Bà dắt tôi ra sau vườn. Trước mắt tôi cứ như một câu truyện cổ tích vậy. Cây nào cây nấy đều đã to lớn và trĩu quả. Nhớ lúc nhỏ tôi hay đòi bà bế lên để có thể hái một mình rồi. Tôi đưa tay lên, hái xuống những trái ngon và chín: nào là cam, quýt, chôm chôm, chanh, mít,… Tất cả chúng gọi nhớ cho tôi về lúc nhỏ. Thế là vừa hái xuống xong tôi vội đem khoe bà như thể đây là việc làm đầu tiên của tôi vậy. Đến giờ cơm, bà đã bày sẵn những món ăn do chính tay bà làm lên chiếc bàn gỗ. Tôi phụ bà dọn cơm, vừa dọn tôi vừa trò chuyện cùng bà. Bà hỏi tôi:
– Mấy bữa nay, việc học hành của cháu bà sao rồi?
– Vâng, cháu đã đạt được danh hiệu học sinh giỏi vào cuối năm đấy bà ạ! – Tôi hí hửng khoe với bà.
– Cháu bà giống bố mày ghê nhỉ, hồi đó bố mày cũng học giỏi lắm đấy, ráng mà nối nghiệp cha mi nhé! – Bà tôi đáp với vẻ mặt vui mừng, có đôi chút tự hào.
Tôi “dạ” một tiếng thật lớn. Thế rồi bữa cơm cũng đã dọn xong, tôi bắc ghế mời bà ngồi. Trên bàn ăn hôm nay toàn là món khoái khẩu của tôi, nào là: gà luộc, rau muống xào, cháo đậu xanh. Tôi chưa kịp mời bà dùng bữa thì bà đã gắp miếng thịt cho vào clién của tôi rồi: “Này này, ráng mà ăn cho nhiều vô, học cho giỏi để sau này còn về chơi vói bà nữa nhé!”. Nghe câu nói thân thương này của bà, tôi bỗng muốn khóc và chạy đến ôm bà ngay. Lúc nào cũng vậy cả, tôi lúc nào cũng ham chơi, ít khi được ôm ấp trọn vẹn trong vòng tay của bà, vậy mà bà lúc nào cũng nghĩ cho tôi đến từng miếng ăn, từng giấc ngủ. Tất cả những điều bà làm dường như chỉ để cho tôi có một cuộc sống thật yên bình và thật sung sướng. Vừa ăn tôi vừa cảm nhận, cảm nhận được vị ngon, sự yêu thương của bà qua từng món ăn mà bà đã tự tay làm cho tôi. Nhưng bà bỗng dừng đũa và nói với tôi rằng: “Sau này cháu phải nghe lời ba mẹ cố gắng mà học tập để có một cuộc sống sung sướng nhé!”. Nói đoạn, rồi bỗng nhiên những đám mây hồng ban nãy bỗng nhiên che kín cả căn phòng và rồi hình ảnh của người bà kính yêu của tôi mờ dần, mờ dần. Lúc đó tôi chạy lại ôm lấy bà và la lên: “Bà ơi, bà đừng đi, cháu yêu bà lắm”. Nhưng đã quá muộn, hình ảnh của bà mờ hẳn đi trước mắt tôi.
“Meo, meo, meo” chính là tiếng chú mèo con đó đang cào nhẹ vào mặt tôi làm tôi chợt tỉnh giấc. Thì ra chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ đẹp nhất của tôi. Tôi mong rằng tôi có thể gặp lại bà vào giấc mơ của mình nữa để tôi có thể ở cùng bà lâu hơn, được nhìn ngắm mãi hình ảnh của bà.
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm đề 3: Viết thư cho bạn học cũ kể lại buổi thăm trường vào một ngày hè đầy xúc động sau hai mươi năm tại đây. | Đề 2 – Kể lại một giấc mơ, trong đó em được gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 4,607 | |
Đề 2 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề 2 – Đề học sinh giỏi Tiếng Việt 5
1. Chọn từ thích hợp trong các từ sau để điền vào chỗ trông: cho, biếu, tặng, truy tặng, cấp, phát, ban, dâng, hiến.
a) Bác gửi… các cháu nhiều cái hôn thân ái.
(Hồ Chí Minh)
b) … chị Võ Thị Sáu danh hiệu anh hùng.
c) Ăn thì no,… thì tiếc. (Tục ngữ)
d) Lúc bà về, mẹ lại… một gói trà mạn ướp nhị sen thơm phưng phức.
(Tiếng Việt 3, tập hai, 1983)
e) Đức cha ngậm ngùi đưa tay … phước.
(Chu Văn)
g) Nhà trường … học bổng cho sinh viên xuất sắc.
h) Ngày mai, trường … bằng tốt nghiệp cho sinh viên.
i) Thi đua lập công … Đảng.
k) Sau hoà bình, ông Đỗ Đình Thiện đã … toàn bộ đồn điền này cho Nhà nước.
(Tiếng Việt 5, tập hai, 2006)
2. Tìm thêm các từ đồng nghĩa vào mỗi nhóm từ dưới đây và chỉ ra nghĩa chung của từng nhóm:
a) chọn, lựa, …
b) diễn đạt, biểu đạt, …
c) đông đúc, tấp nập, …
3. Trong bài Việt Nam thân yêu (Tiếng Việt 5, tập một), nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết:
Việt Nam đất nước ta ơi!
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.
Cánh cò bay lả dập dờn,
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều.
4. Đất nước ta có nhiều cảnh đẹp do con người tạo nên. Hãy tả một cảnh đẹp đó trên quê hương em hoặc nơi em đã từng đến. | Đề 2 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 256 | |
Đề 2 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4
Hướng dẫn
I.Phần bài đọc
SAU TRẬN MƯA RÀO
Một giờ sau cơn dông, người ta hầu như không nhận thấy trời hè vừa ủ dột. Mùa hè, mặt đất cũng chóng khô như da em bé.
Không gì đẹp bằng lá cây vừa tắm mưa xong, đang được mặt trời lau ráo, lúc ấy trông nó vừa tươi mát, vừa ấm áp)… Khóm cây, luống cảnh trao đổi hương thơm và tia sáng. Trong tán lá mấy cây sung, chích chòe huyên náo, chim sẻ tung hoành, gõ kiến leo dọc thân cây dẻ, mổ lách cách trên vỏ. Hoa cẩm chướng có mùi thơm nồng nồng. Ánh sáng mạ vàng những đóa hoa kim cương, làm cho nó sáng rực lên như những ngọn đèn. Quanh các luống kim hương, vô số bướm chập chờn trông như những tia sáng lập lòe của các đóa đèn hoa ấy.
Ánh sáng chan hòa làm cho vạn vật đầy tin tưởng. Nhựa ngọt, mùi thơm, khí ấm, cuộc sống tràn trề. Nhờ có cát nên không có một vết bùn, nhờ có mưa nên không có bụi trên lá. Cây cỏ vừa tắm gội xong, trăm thứ như nhung gấm bạc, vàng, vàng bày lên trên cánh hoa không một tí bụi. Cảnh vườn là cảnh vắng lặng của thiên nhiên ngập tràn hạnh phúc, vắng lặng thần tiên, vắng lặng mà dung hòa với nghìn thứ âm nhạc; có chim gù, có ong vo ve, có.gió hồi hộp dưới lá.
II.Em đọc thầm bài “Sau trận mưa rào” để làm các bài tập sau:
(Khoanh vào đáp án đúng?)
1.Tên các loài chim và hoa được tác giả miêu tả trong bài là:
A. Sung, sẻ, chích chòe, gõ kiến, cẩm chướng.
B. Sẻ, chích chòe, gõ kiến, cẩm chướng, kim hương,.
C. Chích chòe, gõ kiến, cẩm chướng, sung, kim hương,
D.Chích chòe, gõ kiến, ong, cẩm chướng, kim hương.
2.Tác giả đã sử dụng từ ngữ nào để miêu tả trời hè trựớc cơn mưa dông?
A.Tươi mát.
B.Ấm áp.
C.Huyên náo
D.Ủ dột.
3.Sau trận mưa rào, yếu tố nào làm cho vạn vật trở nên tươi mát, ấm áp, đầy tin tưởng?
A. Mưa
B.Anh sáng.
C.Tia sáng
D.Khí ẩm.
4.Tìm các từ ngữ miêu tả hoạt động của chim chóc trong bài?
5.Tìm và viết lại một câu văn trong bài học có sử dụng hình ảnh nhân hóa?
6.Câu “Khóm cây, luống cảnh trao đổi hương thơm và ánh sáng.” thuộc loại câu nào?
A.Câu kể.
B.Câu cảm.
C.Câu khiến.
7.Điền trạng ngữ thích hợp vào chỗ chấm trong câu sau:
-……………….., em giúp bố mẹ quét dọn nhà cửa.
8.Dòng nào dưới đây chỉ gồm các từ có chứa tiếng “lạc” mang nghĩa là “vui, mừng”?
A. Lạc quan, lạc hậu, lạc điệu, lạc thú.
B. Lạc quan, lạc thú, lạc nghiệp, an lạc.
C. Lạc quan, lạc nghiệp, lạc đàn, an lạc.
9.Tìm trạng ngữ trong câu sau và cho biết trạng ngữ bổ sung ý nghĩa gì cho câu?
Trạng ngữ: ……………………………..
Trạng ngữ bổ sung ý nghĩa:………………
III.Tập làm văn
Đề bài: Tả một con vật nuôi trong nhà.
Bài làm
>>XEM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TẠI ĐÂY | Đề 2 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4 | 510 | |
Đề 20 – Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Huế) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Đề 20 – Giới thiệu về Huế
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
– Trước hết, em cần chọn cho mình một danh lam thắng cảnh hoặc một di tích ở quê hương em cụ thể (Vịnh Hạ Long, Nha Trang, Huế, các Chùa nổi tiếng (chùa Hương, chùa Một Cột…) miễn là danh lam thắng cảnh hoặc một di tích ở quê hương có sự gần gũi, em có nhiều tình cảm về nó và có nhiều kiến thức về nó. Khi thuyết minh, em cần đảm bảo những ý sau đây:
+ Nguồn gốc, xuất xứ, lịch sử hình thành nên danh lam đó?
+ Kết cấu, kiến trúc cùa danh lam thấng cảnh đó bao gồm những điều gì? (cấu tạo bên ngoài, cấu tạo bên trong)
+ Có thể kể một vài câu chuyện lịch sử ngắn, một vị anh hùng dân tộc gắn liền với danh lam thắng cảnh đó?
+ Ý nghĩa, giá trị lịch sử của địa danh đó?
+ Nhà nước, địa phương đã có những biện pháp nào để trùng tu, tôn tạo và phát triển nó?
+ Cảm nghĩ của em về danh lam thắng cảnh đó?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Giới thiệu: Huế được liệt vào một trong những di sản văn hóa thế giới bởi vì Huế đẹp, thơ mộng, cổ kính và có nhiều công trình kiến trúc độc đáo.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Huế nằm ở miền Trung của đất nước, phía Bắc giáp Quảng Trị, phía Nam giáp Đà Nẵng, phía Tây dựa vào dãy Trường Sơn và phía Đông nhìn ra biển Đông. Huế cách Hà Nội 660 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1080 km. Huế là do từ “Hóa” trong từ “Thuận Hóa” đọc chệch đi.
2. Đặc điểm
Đến với Huế, du khách có rất nhiều địa điểm để tham quan: Đầu tiên, du khách có thể đến thăm kinh thành Huế.
Nơi đây gồm 3 vòng thành từ ngoài vào trong đó là Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.
Tử Cấm Thành có điện cần Chánh là nơi vua làm việc và điện Càng Thành là nơi vua ở.
Kinh Thành Huế có kiến trúc kết hợp nghệ thuật Đông Tây và còn được gọi là thành phố, thành luỹ ngôi sao.
Lăng Gia Long được xây dựng trên một khu đất bao gồm 42 đồi núi lớn nhỏ. Ở đây là nơi chọn cất vua Gia Long cùng các cung tần mĩ nữ và những bà chị của vua.
Lăng Minh Mạng được xây dựng trước khi ông mất một năm. Lăng có vẻ đẹp thiên nhiên hấp dẫn của vùng núi cẩm Khê bên tả ngạn sông Hương cách Huế 12km.
Lăng Tự Đức được xây dựng trên núi Vạn Niên. Lăng toạ lạc trong một thung lũng và là một trong những công trình đẹp nhất trong kiến trúc cung đình Huế.
Huế cũng là nơi đạo Phật rất thịnh hành và có rất nhiều chùa chiền và nối tiếng nhất là chùa Thiên Mụ. Chùa nằm ở đồi Hà Khê bên tả ngạn sông Hương.
Chùa có một tháp bát giác, bảy tầng cao 21m. Mỗi tầng thờ một đức Như Lai.
Núi Ngự và sông Hương như là linh hồn của Huế.
Con sông Hương bắt nguồn từ dãy Trường Son hùng vĩ lặng lẽ trôi qua núi rừng rồi âm thầm chảy về sông Hương đi qua nơi an giấc nghìn thu của các vua nhà Nguyễn.
Cùng với sông Hương, núi Ngự cũng là một nét đặc trưng của Huế.
Ngọn núi hình thang cao 105m. Dáng núi uy nghi như một con đại bàng đang vỗ cánh nên người ta còn gọi là Bằng Sơn. Sau này vua Gia Long mới đổi lại là Ngự Bình.
III. KẾT BÀI
Nhắc đến Huế, chúng ta thường nghĩ ngay đến sự mộng mơ và kiều diễm.
Người ta yêu Huế bởi vì Huế quá dịu dàng, ngay cả ánh nắng cũng dè dặt. Nhất là những chiều mưa ở Huế rất đượm buồn, gợi cảm giác nhớ thương.
BÀI VĂN THAM KHẢO
“Ai ra xứ Huế thì ra
Ai về là về núi Ngự
Ai về là về sông Hương”
(Trích bài hát “Ai ra xứ Huế”- Duy Khánh)
Huế là một trong những trung tâm văn hoá, nghệ thuật của Việt Nam. Nếu đem Huế so sánh với các thủ đô trên thế giới thì Huế quá nhỏ bé, nhưng Huế vẫn được liệt vào một trong những di sản văn hoá thế giới bởi vì Huế đẹp, thơ mộng, cổ kính và có nhiều công trình kiến trúc độc đáo.
Huế cũng là nơi đạo Phật rất thịnh hành và có rất nhiều chùa chiền và nổi tiếng nhất là chùa Thiên Mụ. Chùa nằm ở đồi Hà Khê bên tả ngạn sông Hương. Chùa có một tháp bát giác, bảy tầng cao 21m. Mỗi tầng thờ một đức Như Lai. Cứ chiều chiều, khi tiếng chuông chùa Thiên Mụ vang lên như mang lại sự an lành hạnh phúc cho người dân xứ Huế.
Ở đây, người ta còn yêu thích bởi những sản phẩm đặc biệt của Huế. Huế là thành phố của vườn hoa, cây cảnh, vườn cây ăn quả tươi mát và những chiếc nón lá càng tô điểm vẻ đẹp dịu dàng, thanh cao của những cô gái Huế. Chính vì vậy, trước khi rời Huế, ai cũng mua một chiếc nón bài thơ để làm kỉ niệm.
Đã bao lần du khách đến với Huế, lúc thì vội vàng, lúc thì thong dong nhưng Huế đã để lại trong lòng du khách một tình cảm như một cố nhân. Người ta yêu Huế bởi vì Huế quá dịu dàng, ngay cả ánh nắng cũng dè dặt. Nhất là những chiều mưa ở Huế rất là đượm buồn gợi cảm giác nhớ thương. Vì thế có một nhạc sĩ viết hết sức là trữ tình:
“Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ.
Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt.
Vẻ đẹp Huế chẳng nơi nào có được nét dịu dàng pha lẫn trầm tư…”
(Trích bài hát “Huế tình yêu của tôi”– Trương Tuyết Mai)
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 21 – Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Văn Miếu – Quốc Tử Giám) tại đây.
Tags:Đề 20 · Huế · Văn chọn lọc 9 | Đề 20 – Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Huế) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,081 | |
Đề 20 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Tả ca sĩ cả nhà đi học từ nối dấu nối
1. Các vế câu trong từng câu ghép dưới đây được nối với nhau bằng cách nào (dùng từ có tác dung nốihay dùng dấu câu để nối trực tiếp)?
a) Mùa thu, gió thổi mây về phía cửa sông, mặt nước phía dưới cầu Tràng Tiền đen sẫm lại.
(Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường)
b) Đêm đã rất khuya nhưng mẹ em vẫn cặm cụi ngồi soạn bài.
c) Em ngủ và chị cũng thiu thiu ngủ theo.
(Băng Sơn)
d) Mưa rào rào trên sân gạch ; mưa đồm độp trên phên nứa, đập bùng bùng vào lòng lá chuối.
(Theo Tô Hoài)
2. Tìm từ có tác dung nối hoặc dấu câu thích hợp để điền vào chỗ trông:
a) Sự sống cứ tiếp tục trong âm thầm… hoa thảo quả nảy dưới gốc cây kín đáo và lặng lẽ.
(Ma Văn Kháng)
b) Chuột là con vật tham lam… nó ăn nhiều quá, nhiều đến mức bụng chuột phình to ra.
(Theo Lép Tôn-xtôi)
c) Đến sáng, chuột tìm đường trở về ổ… nó không sao lách qua khe hở được.
(Theo Lép Tôn-xtôi)
d) Mùa nắng, đất nẻ chân chim… nền nhà cũng rạn nứt.
(Theo Mai Văn Tạo)
3. Đọc bài thơ sau
Cả nhà đi học
Đưa con đến lớp mỗi ngày
Như con, mẹ củng “thưa thầy”, “chào cô”
Chiều qua bố đón, tình cờ
Con nghe bố củng “chào cô”, “thưa thầy”…
Cả nhà đi học, vui thay!
Hèn chi điểm xấu buồn lây cả nhà
Hèn chi mười điểm hôm qua
Nhà mình như thể được …ba điểm mười.
(Cao Xuân Sơn)
4. Tả một ca sĩ (hoặc diễn viên múa, kịch, xiếc, điện ảnh,…) mà em yêu thích. | Đề 20 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 287 | |
Đề 20: Phân tích nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 20: Truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang sáng là bài ca về tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng. Em hãy phân tích nhân vật ông Sáu đề làm sáng tỏ điều đó.
Bài làm
Văn học từ cổ chí kim luôn tồn tại một mạch nguồn xuyên suốt, đó là tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái. Đã có biết bao khúc ca ấm áp vang lên như sự tri ân của những người con dành cho cha mẹ. Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng cũng là một bài ca đẹp về tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng, bao năm qua luôn là một tiếng ngân sâu lắng trong lòng độc giả Việt Nam.
Chiếc lược ngà là câu chuyện về tình cha con sâu nặng, tha thiết của ông Sáu và cô con gái tên Thu. Một câu chuyện đẹp nhưng buồn, có sức lay động sâu xa, gợi lên trong lòng độc giả bao thế hệ nỗi niềm xót xa, thương cảm, day dứt khôn nguôi về chiến tranh và sự tàn phá của nó. Những ám ảnh ấy như khắc sâu vào tâm khảm mỗi người, khiến ta thấm thía hơn sự hi sinh của những người chiến sĩ của một thời chiến tranh gian khổ và ta biết yêu kính hơn, trân trọng họ hơn. Bằng lời văn dung dị, nhẹ nhàng, nhiều âm vang với những cung bậc cảm xúc khác nhau, nhà văn đã thể hiện thật sâu sắc và cảm động tình cảm cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Phải chăng sức nặng của những ám ảnh đó chính là bởi tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng toát ra từ mỗi lời văn, va đập vào trái tim độc giả, lắng đọng và day dứt mãi không thôi?
Ngày từ đầu câu chuyên, người đọc đã có thể cảm nhận sâu sắc tình yêu con tha thiết của ông Sáu. Người lính đã trải qua khói lửa chiến tranh, gió sương núi rừng, có một khuôn mặt lạnh, một ý chí thép nhưng trái tim người cha trong ông thì vẫn ấm nóng. Vì vậy mà, mới chỉ nghĩ đến việc được gặp con thôi, ông đã thấy “nôn nao mãi“. Hành động vội vàng: “không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”, “bước vội vàng với những bước chân dài, rồi dừng lại, kêu to: “Thu! Con” đã khắc họa rõ nét nỗi lòng khao khát, mong mỏi của người cha. Tiếng gọi con lần đầu như vỡ oà trong tình yêu quá lớn bị dồn nén bao năm. Hình ảnh “vết thẹo dài trên má phải đỏ ửng lên, giần giật…” là biểu hiện của sự xúc động tột độ. Tiếng xưng “ba” sau bao ngày nhớ mong, mòn mỏi, vừa muốn vỡ oà, vừa lại như bị dòng cảm xúc quá lớn kìm xuống, khiến nó nghẹn lại trong “giọng run run”: “Ba đây con”. Nhưng chính nỗi mong mỏi, niềm hạnh phúc, mong chờ quá lớn ấy lại khiến ông đau đớn bội phần khi đứa con gái không đáp lại sự vồ vập của ông, “mặt nó tái đi, rồi vụt chạy”. Cả bầu trời như sụp xuống trước mắt người cha. Niềm đau, sự hụt hẫng bóp nghẹt trái tim ông. Ông “đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.
Vào thời khắc cuối cùng được ở nhà, được nhìn thấy con gái, trái tim của người cha đã được xoa dịu khi bé Thu nhận ra ba. Lúc chia tay, ông Sáu cố nén lòng, kìm giữ cảm xúc của mình. Ông “cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng cũng lại sợ nó giãy lên, lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó“. Chỉ cần nhìn thấy sự hiện diện của con thôi, ông cũng cảm thấy được an ủi phần nào. Và bao nhiêu tình yêu ông dồn cả vào ánh mắt nhìn con – “đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu“. Ánh mắt ấy vừa muốn bộc lộ hết tình yêu tha thiết với con, vừa thể hiện nỗi khao khát bị kìm nén, nỗi buồn của sự chia xa và cả nỗi đau của sự bị khước từ. Để rồi, tất cả như vỡ oà theo tiếng gọi “ba” bất ngờ của bé Thu: “Ba… a… a… ba!”. Tiếng gọi ông Sáu khao khát, trông chờ, tưởng chùng mòn mỏi bao lâu đã vang lên, khiến tim ông như muốn vỡ ra vì hạnh phúc. Người đọc như cũng lạc nhịp tim trong giây phút âm thanh yêu thương ấy cất lên. Ông Sáu “không ghìm được xúc động”, “một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt”. Những dòng nước mắt tuôn trào từ trái tim yêu thương cháy bỏng của người cha.
Có thể nói, Nguyễn Quang Sáng đã thật tài tình khi xây dựng nhân vật ông Sáu. Toàn bộ câu chuyện về người chiến sĩ ấy đều gắn với sự bộc lộ tình yêu con. Từ những hành động đến những chi tiết miêu tả ngoại hình, tâm trạng. Vì thế mà trong tâm trí người đọc, hình ảnh ông Sáu hiện lên với tình yêu con thiết tha, sâu nặng. Những ngày ở chiến trường, tình yêu con được ông Sáu dồn vào việc làm cây lược tặng con. Dõi theo quá trình làm chiếc lược của ông Sáu, từ vẻ mặt “hớn hở” khi nhặt được khúc ngà đến khi tỉ mỉ ngồi giũa cây lược “như người thợ bạc”, ta có thể cảm nhận được tình yêu sâu nặng của ông. Dòng chữ khắc trên cây lược “yêu nhớ tặng Thu con của ba‘’ thể hiện trọn vẹn nỗi lòng người cha đối với cô con gái ngàn lần dấu yêu nơi quê nhà. Chiếc lược ngà ấy đã “gỡ rối đi phần nào tâm trạng” của ông. Lời hứa của ông đối với con đã thành hiện thực. Chiếc lược là chỗ dựa tinh thần mỗi khi ông nhớ con. Đó là kỉ vật cuối cùng lưu giữ tình yêu sâu nặng của ông Sáu dành cho con, ông khao khát được tận tay trao cho con gái. Sự khốc liệt của cuộc chiến tranh đã khiến nguyện ước của ông không thành nhưng cây lược sẽ là minh chứng cho tình yêu con của ông.
Tình yêu của ông Sáu dành cho con thật sâu sắc. Bao cung bậc cảm xúc của ông được người đọc thấu cảm, sẻ chia. Trong chiến tranh, có những việc tưởng chừng rất bình dị như nghe một tiếng con gọi “ba”, tự tay tặng cho con một món quà nhỏ, được ôm con trong vòng tay,… cũng trở thành mơ ước của rất nhiều người và cũng rất nhiều người trong số họ giống như ông Sáu đã không thực hiện được ước nguyện đó. Nhưng cũng chính trong sự khốc liệt của chiến tranh, tình cảm tha thiết, trái tim ấm nóng của người cha lại được bộc lộ rõ nhất. Nó lắng đọng ngân vang mãi trong lòng ta.
Tác phẩm khép lại nhưng tình phụ tử ấm áp, thiêng liêng, cao cả sẽ mãi là ngọn lửa lấp lánh sáng, sưởi ấm trái tim độc giả.
HÀ VUƠNG ANH
Lời nhận xét:
– Bài viết đã phân tích khá sâu sắc hình ảnh ông Sáu khi đi sâu khai thác những diễn biến tâm trạng, tình yêu con tha thiết, hết mực của người cha: “Tiếng gọi con lần đầu như vỡ oà trong tình yêu quá lớn của người cha bị dồn nén bao năm“. Hình ảnh “vết thẹo dài trên má phải đỏ ửng lên, giần giật… ” là biểu hiện của sự xúc động tột độ.
– Bố cục bài viết sáng rõ, mạch lạc, có những khái quát, đánh giá sâu sắc: “Sức ám ảnh của tác phẩm được tạo nên bởi nội dung câu chuyên. Ngòi bút của Nguyễn Quang Sáng thật tinh tế trong việc thể hiện mọi cung bậc của cảm xúc, xây dựng tình huống truyện, sử dụng ngôn từ,… tất cả những điều đó đã góp phần làm nên sức sống của câu chuyện”.
– Văn phong diễn đạt trôi chảy, có cảm xúc: “Dòng chữ khắc trên cây lược “yêu nhớ tặng Thu con của ba” thể hiện trọn vẹn nỗi lòng người cha gửi gắm cho cô con gái ngàn lần dấu yêu nơi quê nhà. Chiếc lược ngà ấy đã “gỡ rối đi phần nào tâm trạng” của ông. Lời hứa của ông đối với con đã thành hiện thực. Chiếc lược là chỗ dựa của ông mỗi khi nhớ con. Đó là kỉ vật cuối cùng lưu giữ tình yêu sâu nặng của ông Sáu dành cho con và ông khao khát được tận tay trao cho con gái. Sự khốc liệt của cuộc chiến tranh đã khiến nguyện ước của ông không thành hiện thực, nhưng cây lược sẽ là minh chứng cho tình yêu cọn sâu nặng của ông”. | Đề 20_ Phân tích nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn Chiếc lược ngà – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,552 | |
Đề 21 – Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Văn Miếu – Quốc Tử Giám) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Giới thiệu về Văn Miếu – Quốc Tử Giám
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Văn miếu – Ọuốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng học sinh xuất sắc và nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông.
Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam.
Năm 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ. Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.
Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành.
Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được). Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa. Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp, Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi).
Năm 1762, Lê Hiến Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám – cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.
Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám lập tại Huế.
Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu – Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các, với một chức năng duy nhất là nơi thờ tự Thánh hiền. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.
Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.
2. Kết cấu
Nhà Thái học có ba gian, có tường nang, lợp bằng ngói đồng.
Nhà giảng dạy ở phía đông và tây hai dãy đều 14 gian.
Phòng học của học sinh tam xá đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người.
Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch Bát Tràng.
Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hưong ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Ọuốc.
Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia “Hạ Mã”, xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh.
Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ “Văn Miếu Môn” kiểu chữ Hán cổ xưa.
Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau:
Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.
Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến Khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805).
Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời).
Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toả trong là Thượng cung.
Khu thứ năm: là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá huỷ. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm 2000.
Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tử Phổi (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử).
Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa.
Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hoà giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương.
3. Ý nghĩa
Là hình ảnh tiêu biểu của Hà Nội.
Là nơi tượng trưng cho truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam.
III. KẾT BÀI
Vào tháng 3/2010, 82 tấm bia Tiến sĩ triều Lê – Mạc tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Đến ngày 27/7/2011, 82 bia Tiến sĩ lại tiếp tục được công nhận là Di sản tư liệu thế giới trên phạm vi toàn cầu.
Di tích làm rạng rỡ văn hóa, lịch sử sâu rộng của dân tộc Việt Nam; tôn vinh nền văn hóa, nền giáo dục, truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa, tôn sư trọng đạo, quý đức, quý tài của dân tộc Việt Nam.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Việt Nam là một nước văn hiến. Cách đây gần một ngàn năm, vào năm 1070, Văn Miếu được xây dựng và đến năm 1076, tại đây, Quốc Tử Giám được chính thức thành lập, là nơi dạy học cho Thái tử và con các quan đại thần. Năm 1257, Quốc Tử Giám được đổi thành Quốc Học Viện. Sang đời Lê, lại đổi thành Nhà Thái Học. Từ những ngày đầu tiên đó, Quốc Tử Giám thực sự là một trường đại học đầu tiên của nước Đại Việt. Và sau đó, trường đại học này đã được đặt dưới sự lãnh đạo của các vị Tứ nghiệp hoặc Tế tửu (như giám đốc ngày nay) mà tài năng và đức độ từng nổi tiếng trong lịch sử Chu Văn An, một nhà nho đầy khí phách và tài năng; Ngô Sĩ Liên, một sử gia cấn trọng; Lê Quý Đôn một học giả uyên thâm,…
Trong số 1306 ngưòi thi đỗ, có tên trên bia, có thể đọc thấy tên một số danh sĩ như Lương Thế Vinh (1441 –?), Lê Qúy Đôn (1726 – 1783), Ngô Sĩ Liên (đỗ tiến sĩ năm 1544), Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) và rất nhiều người khác.
Đến đời Nguyễn, Thủ đô bị dời vào Huế. Quốc Tử Giám chỉ còn là Văn Miếu thờ Không Tử. Năm 1946, thực dân Pháp xâm lược nước ta, đã đốt phá gần hết Văn Miếu. Từ năm 1954, năm giải phóng Thủ đô đến nay, Văn Miếu – Quốc Tử Giám được trùng tu sửa sang, xây dựng lại, đúng quy cách như xưa, nhưng đẹp đẽ hơn nhiều.
Nằm ở phía tây nội thành Hà Nội, trên một khoảng đất rộng, Văn Miếu là một khu di tích lịch sử, đẹp đẽ, trang nghiêm và còn nhiều tư liệu quý.
Trước cổng, có một hồ nhỏ, có đảo, gọi là Văn Hồ. Qua một cổng, có 4 cột trụ là một cổng lớn xây theo kiểu tam quan, có gác chuông và hai cổng phụ nhỏ hai bên, trên cổng còn rõ chữ Văn Miếu Môn. Trước và sau cổng có hai đôi rồng đá, tạc từ thời Lê. Qua một đoạn đường lát gạch là cổng Đại Trung và hai cổng nhỏ: Thành Đức và Đạt Tài. Lại qua một đoạn đường nữa đến Khuê Văn Các. Đây là một công trình độc đáo, được dựng lên năm 1805, với tám mái cong, xinh xắn, trên gác có cửa hình tròn, có những con tiện tỏa ra như nhũng tia sáng của một ngôi sao lớn: ngôi sao Khuê, tượng trưng cho văn học.
Bên trong và sát với Khuê Văn Các là một giếng hình vuông, quanh năm nước xanh trong vắt: Thiên Quang Tỉnh (giếng chứa ánh sáng mặt trời). Khuê Văn Các với Thiên Quang Tỉnh qua cửa số hình tròn và mặt giếng hình vuông, theo quan niệm của người xưa nói về vũ trụ: trời tròn, đất vuông.
Hai bên giếng Thiên Quang là khu nhà bia. Những tấm bia đá đồ sộ, đã trải mưa nắng bão dông qua hàng trăm năm, có tấm bị nứt, có tấm đã mờ, có tấm rêu phong; thậm chí có tấm đã bị triều đình nhà Nguyễn đục đi mất một số tên tiến sĩ – những nhân sĩ tiến bộ đã làm việc với nhà Tây Sơn.
Qua hết khu vực này đến phần chính của Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Một chiếc sân khá rộng, lát gạch Bát Tràng cổ, hai bên là tả vu và hữu vu. Cuối sân là nhà Bái Đường và Chính điện, xây dựng vào cuối thế kỉ XIII với nhũng hàng cột gỗ lim vững chãi, nâng những cánh mái cong vút tám đầu đao.
Văn Miếu không những đẹp về cách sắp xếp các kiến trúc qua nhiều cửa cách nhau bằng những lối đi dài hun hút, tạo ra khung cảnh chờ đợi của người đi vào, mỗi bước đi lại mở ra một ảnh trí mới lạ, một công trình mới lạ, mà Văn Miếu còn đẹp vì những hàng cây cổ thụ, tỏa bóng um tùm mát rượi xuống những công trình cổ; những lối đi lát gạch vòng vèo và những thảm cỏ xanh bốn mùa không đổi. Những chiếc hoa gạo, lá xoài, lá đa rụng lác đác như những cánh hoa thêu nhiều màu trên nền xanh biếc.
Từ năm 1954 đến nay, Văn Miếu được chọn làm nơi tổ chức những cuộc vui chơi giải trí tao nhã của Thủ đô trong những dịp ngày lễ, ngày Tết như ca nhạc, ngâm thơ, chơi chim…
Đặc biệt Tết năm 1962 trong một buổi ngâm thơ đón xuân những bài thơ hay đang được trình bày thì có một cụ già từ ngoài cửa bước vào. Nhưng mọi người nhận ra ngay và cùng reo lên: Bác Hồ! Bác Hồ! Đúng! Đó là Hồ Chủ tịch. Người đã ngồi nghe ngâm thơ suốt buổi và sau đó tặng các cụ hai câu thơ:
Tuổi già nhưng chí không già
Góp phần xây dựng nước nhà phồn vinh.
Hiện nay Văn Miếu – Quốc Tử Giám được chăm sóc chu đáo. Cây cỏ được chăm bón và trồng thêm, bổ sung thường xuyên. Khu vực bia tiến sĩ được vẽ sơ đồ, có chú thích từng tấm ra đời năm nào, ghi tên tiến sĩ khoa thi nào…Gian chính diện dùng để trưng bày một số tư liệu văn học nghệ thuật của Thủ đô và của các danh nhân viết về Thủ đô qua nhiều thế kỉ.
Văn Miếu – Ọuốc Tử Giám là niềm tự hào chung của chúng ta. Nó là chứng tích rất cụ thể của nền văn hiến trải hàng ngàn năm vẫn sừng sững tính dân tộc, không một thế lực nào đụng chạm được vào nó.
(Theo Băng Sơn, Hà Nội rong ruổi quẩn quanh, 2013)
>> Xem thêm Đề 22: Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Vịnh Hạ Long) tại đây.
Tags:Đề 21 · Văn chọn lọc 9 · Văn Miếu – Quốc Tử Giám | Đề 21 – Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Văn Miếu – Quốc Tử Giám) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,991 | |
Đề 21 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề bài luyện tập học sinh giỏi Tiếng Việt 5
1. Xác định các vế câu, quan hệ từhoặc căp quan hệ từnôi các vế câu trong từng câu ghép sau:
a) Chẳng những Lãn Ông không lấy tiền của gia đình người thuyền chài mà ông còn cho thêm gạo, củi.
b) Về việc thì người bệnh chết do tay người thầy thuốc khác nhưng về tình, tôi như mắc phải tội giết người.
c) Là thầy thuốc nổi tiếng, Lãn Ông nhiều lần được vua chúa vời vào cung chữa bệnh và được tiến cử vào chức ngự y, song ông đã khéo chối từ.
d) Vì Lãn Ông không vương vào vòng danh lợi nên ông sống rất thanh thản.
2. Tìm quan hê từ, cặp quan hệ từ thích hợp với chỗ trống trong từng câu ghép sau:
a) Lúa gạo là quý nhất … lúa gạo nuôi sống con người.
b) Lúa gạo quý …ta phải đổ bao mồ hôi mới làm ra được.
c) … cây lúa không được chăm bón …nó cũng không lớn lên được.
d) … con người quai đê lấn biển, làm đầm nuôi tôm … một phần rừng ngập mặn đã mất đi.
3. Hình ảnh người mẹ chiến sĩ trong kháng chiến chống Mĩ được nhà thơ Bằng Việt gợi tả qua những câu thơ trong bài Mẹnhư sau:
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng. Tiếng chân đi rất nhẹ
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.
…
Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.
Hãy nêu cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ chiến sĩ qua hai khổ thơ trên.
4. Tả một người đang bán hàng mà em có dịp qụan sát ở địa phương (hoặc ở nơi khác). | Đề 21 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 321 | |
Đề 21: Kể lại cuộc gặp mặt của cha con ông Sáu bằng lời của nhân vật ông Sáu – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 21: Tại chiến khu, trong một ngày mưa, ngồi buồn nhớ con, ông Sáu đã đem câu chuyện gặp gỡ đầy xúc động của mình với bé Thu sau tám năm xa cách kể lại cho đồng đội nghe.
Em hãy thay lời nhân vật ông Sáu trong truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng kể lại câu chuyện đó.
Bài làm
Ngoài trời mưa tầm tã. Chiếc lán anh em tôi dựng hôm nào dột lỗ chỗ. Sau khi đánh thắng trận càn ác liệt của địch, anh em tôi quây quần bên nhau nghỉ ngơi, đàn hát và kể chuyện gia đình. Đó thực sự là những phút giây quý giá trong đời lính chúng tôi. Như thường lệ, tôi lôi từ trong áo ra chiếc lược làm bằng ngà đang làm dở để trau chuốt những công đoạn cuối cùng. Cầm chiếc lược trên tay, nỗi nhớ bé Thu trong tôi bỗng dâng lên mãnh liệt, cồn cào gan ruột. Tôi đem cuộc gặp gỡ của hai cha con bữa trước kể cho đồng đội nghe, hi vọng sẽ khuây khoả phần nào…
Thấm thoắt cũng đã tám năm ròng kể từ ngày tôi từ biệt quê hương, gia đình, bạn bè tham gia vào cuộc kháng chiến trường kì của dàn tộc. Dẫu cho má nhỏ có vượt rừng thăm tôi vài lần, dẫu cho tấm ảnh má con nó vẫn được nâng niu và nhìn ngắm mỗi ngày thì cái cảm giác được gặp con, được ôm ấp cái “hình hài máu mủ” ấy vào lòng vẫn khiến tôi khao khát…
Con xuồng nhỏ đang trên đường cập bến, đem theo khát khao của tôi về với quê nhà.
Trước mặt tôi, hình ảnh những hàng dừa nước nghiêng mình xuống dòng kênh trước nhà bỗng chốc hiện ra. Bất chợt tôi nhìn thấy một bé gái độ tám tuổi, tóc cắt ngắn, mặc chiếc áo bông đang chơi dưới gốc cây trước nhà. Linh cảm của một người cha khiến tôi nhận ra đó chính là bé Thu – đứa con gái bé bỏng mà tôi khao khát, mong mỏi gặp mặt bấy lâu nay.
Xuồng cập bến, tôi nhảy vọt lên bờ không để ý thấy dưới xuồng mọi người bị tôi làm cho chao đảo.
– Thu! Con!
Tôi hét thật to và chạy đến gần con. Với cuộc trở về đầy bất ngờ này tôi nghĩ con bé sẽ chạy thật nhanh đến mà ôm chầm lấy tôi, sẽ kêu to lên cho má nó trong nhà biết. Tôi dang hai tay, mở sẵn lòng để đón đứa con gái bé bỏng.
Nhưng, lạ chưa kìa, con bé ngơ ngác, tròn mắt ngạc nhiên như cố vắt óc ra xem tôi là ai. Tôi vẫn hi vọng và bước đến gần nó với đôi tay dang rộng. Nhưng thật lạ, con bé không chạy lại như tôi tưởng, nét mặt nó trở nên sợ sệt. Nó hét toáng lên: “Má! Má!” rồi vội vàng chạy vô nhà.
Tôi điếng, người, hai tay buông thõng. Tôi nhìn theo nó đang chạy vô nhà thật nhanh, chẳng dám quay mặt lại. Quay sang anh Ba, chúng tôi cùng lắc đầu. Anh Ba an ủi:
– Thôi, cứ yên tâm, trước sau gì nó cũng nhận ra cậu. Bố nó chứ ai mà nó lại không chịu nhận.
Tôi cười mà nước mắt như muốn trào ra. Tại sao lại thế này? Đúng lúc đó, má nhỏ chạy ra mừng rỡ đỡ cái ba lô trên vai tôi rồi chạy đi báo tin cho mọi người.
Giữa bộn bề những lời thăm hỏi của họ hàng làng xóm, dù cho phấn khởi thật nhưng tôi vẫn cảm thấy trong lòng trống trải. Thỉnh thoảng tôi đưa mắt lén nhìn con nhưng nó vẫn cứ trốn tránh cái nhìn của tôi. Trái tim tôi như rỉ máu.
Vì đường sá xa xôi, tôi chỉ được ở nhà có ba ngày. Tôi dành toàn bộ thời gian của mình cho gia đình, đặc biệt là cho con. Đến bữa cơm, má nhỏ sai nó ra gọi tôi vô ăn cơm. Nó vùng vằng, lắc đầu nguầy nguậy không chịu gọi. Má nó đâm cáu, quơ đũa bếp dọa đánh đòn, nó mới tức tưởi gọi vọng ra từ cửa bếp:
– Vô ăn cơm!
Câu nói đầu tiên nó nói với tôi từ khi trở về lại là một câu trống không. Tôi lặng người nhưng tôi cũng hiểu rằng khoảng cách tám năm đã ngăn cản tình cảm của cha con tôi. Tôi vẫn hi vọng, vẫn trông chờ tiếng gọi “ba” của nó.
Bữa khác, má nó đang nấu cơm thì chạy vội đi mua thức ăn, dặn nó trông nồi. Nồi cơm sôi sùng sục, nó cầm đôi đũa đảo đi đảo lại mấy lượt. Nhưng đến công đoạn chắt nước, nó lượng sức mình không nhấc nổi mới cầu viện đến tôi:
– Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!
Lại một câu nói trổng, tôi lặng im không đáp, tiếp tục nhâm nhi chén trà đặc với anh Ba. Tôi cố tình tỏ ra không nghe thấy để mong sao con bé sẽ gọi một tiếng “ba” ấm áp, trìu mến. Nhưng không, con bé vẫn chẳng chịu gọi tôi là ba. Nó loay hoay hồi lâu rồi lấy cái vá múc ra từng vá nước. Con bé đáo để thật!
– Ăn đi con!
Nó không nói gì, rồi bất thần hất miếng trứng ra, cơm vãi tung tóe khắp mâm. Tôi giận quá, không kìm chế được, lấy tay phát liền hai cái vào mông nó, mắng:
– Sao mày cứng đầu quá vậy hả?
Đánh con xong lòng tôi đau như xát muối. Lạ thay, nó chẳng khóc, cũng chẳng phụng phịu đạp đổ mâm cơm hay nhổ thức ăn trong miệng ra như những đứa trẻ khác. Nó cúi gằm mặt, lặng lẽ gắp miếng trứng cá vô chén, để ngay ngắn rồi lẳng lặng ra thuyền, sang bên nhà ngoại. Lúc này, tôi thấy ân hận hơn là giận con. Con bé không có lỗi, tất cả là do chiến tranh đã ngăn cách ba con chúng tôi. Đêm đã về khuya, tôi nằm thao thức không sao ngủ nổi, không biết giờ con bé thế nào rồi? Chắc nó giận và ghét tôi lắm. Không hiểu sao nước mắt tôi cứ trào ra.
Sáng hôm sau tôi lên đường. Bận bịu chào mọi người, tôi không còn thời gian nghĩ tới nó nữa. Trước khi đi, tôi quay ra tìm con. Nó đang đứng ớ góc nhà, thẫn thờ nhìn tôi, ánh mắt không còn hờn trách tôi nữa. Tôi muốn chạy đến ôm hôn từ biệt con nhưng sợ con bỏ chạy nên tôi chỉ đứng từ xa, nhìn thẳng vào mắt nó khe khẽ nói:
– Ba đi nghe con!
Tôi vội quay mặt đi ngay. Nhưng trong lúc mọi người đều nghĩ nó sẽ lặng thinh thì:
– Ba..a…a…ba!
Trời ơi! Tai tôi có nghe nhầm không vậy? Cái Thu đang gọi tôi đấy ư? Tôi còn chưa hết bàng hoàng thì con bé chạy đến ôm chầm lấy tôi và nói trong tiếng nấc nghẹn ngào:
– Con không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con cơ!
Nói rồi, nó hôn lên cổ, lên tóc, lên má và lên cả vết thẹo dài trên má tôi. Tôi ôm nó vào lòng và thấy thật ấm áp biết bao. Tôi nói:
– Ba đi rồi ba lại về với con!
– Không!
Hai tay nó ôm chặt lấy cổ tôi. Đôi chân quặp ngang hai bên hông của tôi. Nó nức nở khóc và tôi cũng thấy khóe mắt cay cay. Đến khi má nó và bà ngoại dỗ dành, con bé mới chịu buông tôi ra. Nước mắt lưng tròng, nó nức nở ;
Tôi gật đầu không thốt nên lời. Vì nhiệm vụ một lần nữa tôi gạt nước mắt ra đi, lên đường chiến đấu. Lần này, trong hành trang của mình, tôi mang theo lời hứa với con gái bé bỏng. Chắc chắn, tôi sẽ làm một cây lược thật đẹp để gửi về cho con… Ông trời như cũng chiều lòng ba con tôi. Một hôm khi đang tìm kiếm chất liệu làm lược trong rừng, tôi bất ngờ nhặt được một khúc ngà nho nhỏ. Tôi sung sướng vô cùng vì khúc ngà này sẽ giúp tôi làm một chiếc lược xinh xắn cho con bé. Chắc nó đang mong tôi lắm. Công việc làm lược không nhanh chóng như tôi tướng. Ngày ngày, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tôi lại ngồi tỉ mẩn cưa từng chiếc răng lược một. Cứ thế… cứ thế rồi cũng đến ngày cây lược được hoàn thiện. Như để đánh dấu kỉ vật của hai ba con, tôi đã khắc lên sống lưng lược hàng chữ nhỏ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Hi vọng rằng con bé sẽ thích và vui khi nhận được món quà này.
Thu à! Nhất định ba sẽ về, sẽ trao tận tay con cây lược. Khi nào đất nước thống nhất, ba sẽ vể ở hẳn bên con, sẽ bù đắp những thiếu thốn tình cảm trong bao năm xa cách. Chờ ba con nhé!
TRƯƠNG BÁ HUỲNH
Lời nhân xét:
– Bài viết đã đem đến cho tác phẩm Chiếc lược ngà một màu sắc mới khi người viết đóng vai ông Sáu kể lại câu chuyện.
– Lời văn giàu cảm xúc, phù hợp với tâm trạng của nhân vật: “Tôi gật đầu không thốt nên lời. Vì nhiệm vụ một lần nữa tôi gạt nước mắt ra đi, lên đường chiến đấu. Lần này, trong hành trang của mình, tôi mang theo lời hứa với con gái bé bỏng. Chắc chắn, tôi sẽ làm một cây lược thật đẹp để gửi về cho con.
– Người viết nên sáng tạo thêm một số chi tiết để câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. | Đề 21_ Kể lại cuộc gặp mặt của cha con ông Sáu bằng lời của nhân vật ông Sáu – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,676 | |
Đề 22 – Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Vịnh Hạ Long) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Giới thiệu về Vịnh Hạ Long
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Giới thiệu: Trên đất nước Việt Nam thân yêu có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhưng có lẽ tiêu biểu nhất chính là Vịnh Hạ Long.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Hạ Long nghĩa là “nơi rồng đáp xuống”. Tên gọi Hạ Long đã thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, thời Bắc thuộc khu vực này được gọi là Lục Châu, Lục Hải. Các thời Lý, Trần, Lê Vịnh mang các tên Hải Đông, An Bang, Vân Đồn, Ngọc Sơn hay Lục Thủy. Tên Hạ Long mới xuất hiện trong một số thư tịch và các bản đồ hàng hải của Pháp từ cuối thế kỷ XIX.
Theo tài liệu của người Pháp:
+ Trên tờ Tin tức Hải Phòng xuất bản bằng tiếng Pháp có bài viết về sự xuất hiện của sinh vật giống rồng trên khu vực là vịnh Hạ Long ngày nay, khi viên thiếu úy người Pháp Legderin, thuyền trưởng tàu Avalence cùng các thủy thủ bắt gặp một đôi rắn biển khổng lồ ba lần (vào các năm 1898, 1900 và 1902).
+ Có lẽ người Châu Âu đã liên tưởng con vật này giống như con rồng châu Á, loài vật huyền thoại được tôn sùng trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa các nước châu Á nói chung và đó là lý do khiến vùng biển đảo Quảng Ninh được người Pháp gọi bằng cái tên vịnh Hạ Long tên đó tồn tại đến ngày nay.
Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam:
+ Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam: trong tâm thức của người Việt từ thời tiền sử với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, một số truyền thuyết cho rằng khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra lửa thiêu cháy thuyền giặc, một phần nhả Châu Ngọc dựng thành bức tường đá sừng sững làm cho thuyền giặc đâm phải mà vỡ tan, chặn đứng bước tiến của ngoại bang.
+ Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến để muôn đời bảo vệ con dân Đại Việt. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay, với bãi cát dài trên 15 km).
2. Đặc điểm
Vịnh có rất nhiều hang động, có động nước và động khô.
Bên trong những hang động có rất nhiều đá vôi.
Có rất nhiều đảo và cồn đá.
Mặt nước ở Vịnh Hạ Long rất đẹp, những làn sóng nhẹ nhàng đánh vào bờ tạo nên một khung cảnh thơ mộng khi bạn đứng ngắm Vịnh Hạ Long.
Chiều về bạn có thể thấy hoàng hôn từ phía xa chiếu lên mặt nước như đang có đến tận hai mặt trời.
Từ trên cao nhìn xuống, Vịnh Hạ Long như một bức tranh tuyệt hảo do thiên nhiên tạo thành gồm có những hang động và những hòn.
Bên trong là những hang động người ta có thể tham quan, ngắm cảnh.
Có những thạch nhũ có hình thù kì lạ do thiên nhiên tạo ra bên trong hang.
Vịnh Hạ Long nhìn từ xa thấy như những người lính khổng lồ canh giữ biển Việt Nam.
Vì thế, mà Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
3. Ý nghĩa
Vịnh Hạ Long là một trong những tài sản vô giá của đất nước Việt Nam thân yêu.
Ngoài ý nghĩa là một cảnh đẹp, nó còn tượng trưng cho nét đẹp hồn hậu của con người Việt Nam mỗi khi du khách ghé thăm.
III. KẾT BÀI
Vịnh Hạ Long đúng là một cảnh đẹp thiên nhiên trên thế giới không nơi nào sánh bằng.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Vịnh Hạ Long có tổng diện tích 1,553gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên. Đảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 đến 280 triệu năm. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng nằm trong vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long. Vùng di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận có diện tích 434bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông) vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ văn hoá – Thông tin xếp hạng năm 1962. Ngày 17-12-1994, vịnh Hạ Long được UNESCO cấp bằng Di sản thế giới “khẳng định giá trị ngoại hạng và giá trị toàn cầu của một di sản văn hoá và thiên nhiên cần thiết phải được bảo vệ vì lợi ích cùa toàn thế giới”. Ngày 29-11- 2000, Hội đồng Di sản thế giới tiếp tục thông qua quyết định công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thể giới về giá trị địa chất – địa mạo.
Một số hang, động tiêu biểu của vịnh Hạ Long:
Hang Đầu Gỗ
Giữa non nước mây trời Hạ Long tuyệt mĩ, một cái hang mang tên rất mộc mạc dân dã: hang Đầu Gỗ. Hang nằm trên đảo Đầu Gỗ. Từ phía xa nhìn lại, cửa hang có màu xanh lam hình một con sứa biển, qua 90 bậc đá xây là tới cửa hang. Vòm hang cao khoảng 25m, từ trên cao ấy hàng trăm nhũ đá khổng lồ rủ xuống như một dòng thác kỳ lạ.
Hang được chia làm ba ngăn chính. Ngăn phía ngoài có một vòm cuốn tràn trề ánh sáng tự nhiên, trần hang là một bức “tranh sơn dầu” khổng lồ, mô tả phong cảnh thiên nhiên hoang sơ với những rừng măng đá, nhũ đá nhiều mầu tạo nên nhiều hình thù kỳ lạ tuỳ theo trí tưởng tượng phong phú của mỗi người: những đàn voi đang đi kiếm ăn, những chú hươu sao ngơ ngác, chú sư tử lim dim ngủ…, phía dưới là một chú rùa đang bơi giữa bể nước mênh mông. Đứng dưới vòm hang ta có cảm giác như đang đứng giữa một toà lâu đài cổ kính, có lối kiến trúc đồ sộ và hùng vĩ.
Sở dĩ gọi là hang Đầu Gỗ vì theo truyền thuyết xưa kể rằng: Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên, Trần Hưng Đạo đã cho chuẩn bị nhiều cọc gỗ lim ở đây để cắm xuống dòng sông Bạch Đằng, tạo nên một trận thuỷ chiến vang lừng trong lịch sử. Sau đó còn rất nhiều mẩu gỗ sót lại vi vậy hang mang tên là hang Đầu Gỗ. Lại có tên gọi là hang Giấu Gỗ vì theo truyền thuyết đây chính là nơi Trần Hưng Đạo cho giấu các cọc gỗ lim để chuẩn bị cho trận chiến Bạch Đằng chống quân Mông Nguyên.
Nếu động Thiên Cung hoành tráng tinh tế, hiện đại thì hang Đầu Gỗ trầm mặc uy nghi và rất đồ sộ. Cuốn Merveille de Monde (kỳ quan thế giới) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch giới thiệu các danh thắng nổi tiếng thế giới đã gọi hang Đầu Gỗ là Grotte des merveilles (động của các kỳ quan). Điều đó hoàn toàn chính xác.
Năm 1917, vua Khải Định lên thăm hang Đầu Gỗ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần tiên của tạo hoá, ông đã cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long và hang Đầu Gỗ. Hiện nay, tấm bia đá vẫn còn ở phía bên phải cửa hang.
Hang Sửng Sốt
Nằm ở khu vực trung tâm của di sản thế giới vịnh Hạ Long, hang Sửng Sốt trong đảo Bồ Hòn. Đây là một hang rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long và đây cũng là nơi tập trung nhiều đảo đá có hình dáng đặc sắc không nơi nào có được. Đường lên hang Sửng sốt luồn dưới những tán lá rừng, những bậc đá ghép cheo leo, du khách vừa có được cái thú của người leo núi, vừa có cái háo hức như đang đi lên trời.
Hang được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn đầu như một nhà hát lớn rộng thênh thang. Trần hang được phủ bằng một lớp “thảm nhung” óng mượt, vô số những “chùm đèn” treo bằng nhũ đá rực sáng long lanh, những tượng đá, voi đá, hải cẩu, mâm xôi, hoa lá… tất cả dường như đang rung rinh xao động giữa cõi thực và mơ. Chưa hết ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần kỳ ở ngăn đầu, ta bước vào ngăn thứ hai bằng một con đường nhỏ. Một luồng ánh sáng ùa vào rực rỡ, hang mở ra một khung cảnh mới hoàn toàn khác lạ, ngăn hang động mênh mông có thể chứa được hàng ngàn người. Đi vào bên trong sẽ thấy cảnh trí lộng lẫy kỳ lạ, như cây đa cổ thụ tán lá sum suê, chú gấu biển, khủng long… Tới đỉnh cao nhất của hang, bất ngờ một khu “vườn thượng uyển” mở ra trước mắt ta, có hồ nước trong vắt, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, muôn loài cây cỏ cùng nhiều loài chim muông sinh sống. Từng đàn khỉ vẫn thường kéo nhau xuống đây tìm hoa quả làm náo động cả một vùng.
Động nằm ở vùng trung tâm du lịch của vịnh Hạ Long (bãi tắm Ti Tốp – hang Bồ Nâu – ông Mê Cung – hang Luồn – hang Sửng Sốt) và được người Pháp đặt cho hang cái tên “Grotte des surprises” (động của sự sửng sốt).
Từ bến tàu leo lên khoảng 50 bậc đá dựng đứng rồi lại đi xuống chừng mươi bậc đá nữa là đến cửa hang với chiều cao khoảng 25m. Hang rộng khoảng 10.000với hàng ngàn măng đá, nhũ đá. Trong hang có một hệ thống đường đi lát đá dọc từ cửa hang vào đến lối ra dài hơn 500m. Hai bên lối đi là những cột đèn đường thấp vừa là cột giới chỉ đường vừa là vật trang trí, chiếu sáng. Hệ thống đèn chiếu sáng với những kiểu đèn trang nhã, ánh sáng dịu mắt càng tôn thêm vẻ đẹp của hang.
Ngay cạnh lối ra vào là nhũ đá có hình con ngựa và một thanh gươm dài. Truyền thuyết xưa kể rằng, sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng đã giúp dân chúng ở đây đánh đuổi yêu ma, khi dẹp xong loạn Thánh Gióng bay về trời, để lại thanh gươm và con ngựa quý để trấn an dân chúng, xua đuổi yêu quái. Hiện nay trong hang còn có nhiều hình ảnh tự nhiên dường như là nhũng dấu tích của trận chiến ác liệt đó, vết chân ngựa Gióng trở thành những ao hồ nhỏ xinh xinh cùng nhiều tảng đá to lớn vỡ vụn…
Hang Trinh Nữ
Hang Trinh Nữ nằm trên dãy đảo Bồ Hòn cùng với hệ thống hang Sửng sốt, hồ Động Tiên, hang Luồn… cách Bãi Cháy 15km về phía nam. Với người dân đánh cá, họ coi hang Trinh Nữ là ngôi nhà thân yêu của họ, còn những đôi trai gái yêu nhau lại coi đây là biểu tượng, nơi thề nguyện của tình yêu.
Bước vào hang Trinh Nữ, ngay giữa lòng hang là bức tượng người con gái bằng đá, nằm xoã mái tóc dài, mắt hướng ra khơi xa đang mỏi mòn chờ mong.
Đối diện với hang Trinh Nữ là hang Trống (còn được gọi là hang Con Trai). Bức tượng chàng trai hoá đá đang quay mặt về phía hang Trinh Nữ vẫn còn, du khách như nghe thấy tiếng gào thét tuyệt vọng cùng những âm thanh gõ vào vách đá cùa chàng vẫn văng vẳng đâu đây. Những dấu tích của trận cuồng phong đêm đó vẫn còn đến ngày nay – đó là những đổ vỡ của đất đá ngổn ngang trong hang, tiếng gió gầm gào qua vách đá và những bọt sóng vẫn tung lên trắng xoá.
Động Tam Cung
Động nằm ở trung tâm vịnh Hạ Long, cách hang Sửng Sốt 5km về hướng đông bắc. Động được chia làm ba ngăn, luồn lách qua từng khe đá. Trong động có nhiều nhũ đá đẹp. Ở cả ba ngăn động, nhũ đá tạo ra những hình thù tự nhiên sống động như tiên ông với chòm râu bạc phơ, ba ông tam đa trầm mặc, nụ hoa quỳnh trắng muốt, hình sư tử, hải cẩu, tượng thuỷ thần…
Động Tam Cung nằm trên đảo Mây Đèn – một hòn đảo nằm gần như tách biệt với các đảo khác. Hòn Mây Đèn vách đá dựng đứng chênh vênh, rừng cây xanh tốt.
Vào ngăn thứ nhất, bất chợt ta dừng bước lặng nghe đâu đó vang lại những âm thanh như tiếng đàn T’rưng hoặc đàn đá thánh thót. Chưa hết ngạc nhiên, du khách bỗng gặp một “ông tiên” đang chống gậy leo núi, chòm râu trắng phơ bay trong gió. Và đây nữa, ba “ông tam đa” đang đứng trầm mặc trên vách động nhìn cảnh trần xuôi ngược. Từ trần động một nhũ đá giống hệt nụ hoa quỳnh trắng muốt đang chúm chím nở giũa rừng hoa nhũ đá.
Từng ngăn thứ nhất đến ngăn thứ hai qua một khe cửa nhỏ, bước đi gập ghềnh, nơi đây như là một bảo tàng tự nhiên sống động, nào là sư tử đá, hải cẩu, tượng thuỷ thần… Và chính giữa ngăn thứ hai là một dòng suối tiên quanh năm nước ngọt tràn trề, hai bên vách động là những bức rèm đá buông rủ từ trần xuống thướt tha, tất cả cả dường như đang lay động.
Đen ngăn trong cùng du khách sẽ được xem một bức phù điêu hoành tráng trên đó chạm trổ những hình thù kỳ dị nhưng lại rất công phu, tầng tầng lóp lóp trong một chỉnh thể chung cân đối, hài hoà, những bông hoa, gậy trúc xinh xắn, những bức rèm đá tự nhiên, những chú voi hiền từ đang ngủ…
Động bãi tắm Ti Tốp 2km về phía tây nam là động Mê Cung. Động nằm trên hòn Lờm Bò ở độ cao 25m so với mực nước biển. Nhìn từ xa, cửa động như một mái nhà ăn sâu vào sườn sảo.
Qua một khe cửa nhỏ hẹp, lòng động mở ra nhiều ngăn, tuy nhỏ hẹp nhưng lại hết sức tinh xảo, những nhũ đá mang hình những pho tượng, hoa văn tuyệt đẹp, nhũ đá từng chùm muôn màu rủ xuống từ trần động, những sư tử đá, gấu đá đang vờn nhau… Một luồng ánh sáng nhạt từ xa hắt lại, đó là con đường dẫn ra cửa động. Ra khỏi cửa động, leo tiếp vài bậc đá sắc nhọn lởm chởm, nhìn xuống dưới là một hồ nước bị núi vây kín rất tròn và rộng, bốn mùa nước xanh biếc phẳng lặng như mặt gương, trong đó là thế giới của các loài sinh vật quần tụ như cá, tôm, mực, rong, tảo, san hô, cua… Bên cạnh là một khu đất có nhiều cây cổ thụ mà người dân thường gọi là khu “vườn thượng uyển”, đẹp đến mê hồn.
Qua những bậc đá, cheo leo, một mái đá rộng nhô ra, khô ráo thoáng mát, lớp ốc suối Melina dày trải trên cửa động iàm nền. Xưa kia lớp ốc này dày tới 1,2m được kết tầng bán hoá thạch ở phía ngoài. Gần đây còn phát hiện ra một bộ xương thú đã hoá thạch trong động. Động Mê Cung được các nhà khảo cổ học xác định là một trong những di chỉ thuộc nền văn hoá tiền Hạ Long sơ kỳ đá mới, cách ngày nay từ 7.000 đến 10.000 năm.
Động Thiên Cung
Động nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long cách cảng tàu du lịch 4km, trên đảo Đầu Gỗ ở độ cao 25m so với mực nước biển. Đường lên động Thiên Cung vách đá cheo leo, hai bên cây che phủ um tùm. Qua một khe cửa hẹp, lòng động đột ngột mở ra khoảng không bên trên một mặt bằng hình tứ giác với chiều dài hơn 130m. Càng vào trong ta càng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp hết sức sinh động và lộng lẫy do thạch nhũ tạo liên. Trên vách động phía đông là một bức tranh hoành tráng đồ sộ, trong đó nổi lên những nhân vật trong truyện cố tích xưa, đường nét mềm mại uyển chuyển và vô cùng tinh tế, sắc sảo tới từng chi tiết nhỏ, những khối điêu khắc dù là đồ sộ hay nhỏ bé đều được bàn tay của tạo hoá trau truốt tỉ mỉ.
Tới động Thiên Cung, du khách sẽ có cảm giác như vừa được xem một “bảo tàng mỹ thuật” vô cùng độc đáo, công phu, kỳ thú mà tất cả đều do bàn tay thần tình của tạo hoá làm nên, vượt khỏi tài trí và sức tưởng tượng của con ngưòi.
Trung tâm động là bốn cột trụ to lớn. Từ chân cột tới đỉnh đều được “chạm nổi” nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành… Trên vách động phía bắc là cảnh tiên nữ đang múa hát. Dưới vòm động cao vút, từng chùm nhũ đá rủ xuống muôn màu tạo thành bức rèm đá tự nhiên lộng lẫy. Đâu đó có tiếng gió thổi qua kẽ đá như tiếng trống bập bùng như trong đêm hội làng xưa.
Tới ngăn động cuối cùng, những luồng ánh sáng trắng xanh đỏ xen lẫn phối màu tạo nên khung cảnh hoa lệ. Một khe nước tự nhiên bốn mùa tuôn chảy róc rách, nơi đây có ba chiếc ao, nước trong vắt. Nhìn lên vòm động cao vút, màu thạch nhũ xanh như dát ngọc khiến du khách ngỡ như đang đứng trong cảnh bồng lai vậy.
Hồ Ba Hầm
Nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long, hồ Ba Hầm nằm trên đảo Đầu Bê thuộc vịnh Lan Hạ. Đảo Đầu Bê là một trong những nhóm đảo phía ngoài cùng của vịnh Hạ Long tiếp giáp với vùng biển Long Châu bát ngát. Hồ Ba Hầm ở giữa một trũng biển hẹp hình chữ nhật, bốn bề núi cao dựng đứng.
Hồ Ba Hầm là một hệ thống gồm ba trũng biển lớn hình tròn, được thông với nhau qua một hang luồn hẹp, uốn khúc quanh co. Từng chùm nhũ đá muôn sắc màu rủ xuống từ trần hang với nhiều hình thù kỳ lạ. Trên đảo là những loài cây như phong lan, si, đa, thiên tuế… bốn mùa xanh tươi thơm ngát mùi hoa, cũng là nơi sinh sống quần tụ của các loài khỉ lông vàng, chim, sóc bay, dơi… Dưới mặt nước xanh biếc ấy là cuộc sống sôi động của nhiều loài hải sản.
Mặc dù xa bờ tới 25km, nhưng ngay từ xưa, hồ Ba Hầm đã được du khách và những người yêu thiên nhiên chú ý đến từ lâu. Trong cuốn “Merveille de Monde” xuất bản năm 1938 chuyên giới thiệu những danh lam thắng cảnh đã mô tả hồ Ba Hầm như sau: Đen hồ Ba Hầm, có cùng một ấn tượng đẹp như đến hang Luồn, động Sửng Sốt nhưng phong cảnh ở đây còn đẹp hơn nhiều. Cửa vào hồ Ba Hầm không được dễ dàng như vào hang Luồn, nhưng đó chính là cái thú của người đi tham quan ngắm cảnh. Cửa hang hình bán nguyệt mở ra bên vách đá bằng phẳng phía tây bắc của đảo, cách mặt nước 4 – 5m, đúng là mặt vịnh thông với dòng hải lưu uốn lượn từ Cửa Vạn vào.
Từ cửa hồ, du khách sẽ đi vào hầm thứ nhất: một rừng nhũ đá với các màu tím, hồng, lam, trắng… rủ xuống mặt nước trông như rễ đa, rễ si. Càng vào sâu càng tối. Đáy hang sâu thẳm và trong vắt có thể nhìn thấy từng đàn cá tung tăng bơi lội. Đi vào sâu khoảng 100m có một luồng ánh sáng chiểu từ trần hang xuống, khách sẽ nhìn thấy nhiều loại hoa phong lan bám quanh vách núi, cây vạn tuế mọc rải rác ở các khe đá, trúc đuôi gà mềm mại lá vàng mọc từng khóm. Hầm thứ hai có một cây khế cổ thụ mọc trên vách phía đông nam ra hoa kết trái quanh năm. Từng bầy khỉ lông vàng, sóc bay, vẹt đầu bạc… tụ tập trên cành. Hầm thứ ba cách hầm thứ hai một vách núi và đi qua một hang luồn khoảng 5 phút. Đây là nơi trú ngụ của các loài dơi, bướm.
Giữa không gian yên tĩnh, chỉ có tiếng mái chèo khua nước róc rách, thuyền bơi trong hồ như đang bơi trong lòng giếng sâu thăm thẳm vậy, bốn bề vách đá dựng đứng. Hồ Ba Hầm là một trong những cảnh đẹp kỳ thú của Vịnh Hạ Long.
(Đông Bắc vùng đất và con người, NXB Quân đội Nhân dân, 2010)
>> Xem thêm Đề 23: Thuyết minh một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam(Mâm ngũ quả) tại đây.
Tags:Đề 22 · Văn chọn lọc 9 · Vịnh Hạ Long | Đề 22 – Giới thiệu về một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh(Vịnh Hạ Long) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 3,751 | |
Đề 22 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề bài bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
1. Xác định các vế câu và các quan hê từ, căp quan hê từ trong từng câu ghép dưới đây:
a) Vì rừng ngập mặn được phục hồi ở nhiều địa phương nên môi trường đã có những thay đổi rất nhanh chóng.
b) Nhân dân các địa phương đều phấn khởi vì rừng ngập mặn đã được phục hồi.
c) Nếu lá chắn bảo vệ đê biển không còn nữa thì đê điều dễ bị xói lở, bị vỡ khi có gió, bão, sóng lớn.
d) Không những lượng hải sản tăng lên nhiều mà các loài chim nước củng trở nên phong phú.
2. Nghĩa nào dưới đây thích hợp với từng quan hệ từ sau: do, tai, nhờ.
a) Điều sắp nêu ra là nguyên nhân dẫn đến kết quả tốt đẹp được nói đến.
b) Điều sắp nêu ra là nguyên nhân của sự việc nói đến.
c) Điều sắp nêú ra là nguyên nhân của sự việc không hay – được nói đến.
3. Trong bài Bộ đội về làng, nhà thơ Hoàng Trung Thông có viết:
Các anh về
Mái ấm nhà vui
Tiếng hát câu cười
Rộn ràng xóm nhỏ.
Các anh về
Tưng bừng trước ngỗ,
Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau.
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.
Em hãy cho biết: Những hình ảnh nào thể hiện niềm vui của xóm nhỏ khi bộ đội về? Vì sao các anh bộ đội được mọi người mừng rỡ đón chào như vậy? | Đề 22 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 268 | |
Đề 22: Cảm nghĩ về những ước vọng được thể hiện trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 22: Cảm nghĩ của em về những ước vọng được thể hiện trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. Từ ước nguyện ấy của Thanh Hải, em có suy nghĩ gì về khát vọng và sự cống hiến của thế hệ trẻ ngày nay.
Bài làm
Nếu lù con chim, chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?
(Tố Hữu – Một khúc ca)
Đó là những lời tâm niệm chân thành của người chiến sĩ cách mạng Tố Hữu, cũng là của thế hệ cha anh một thời đất nước chìm trong máu lửa. Nhà thơ Thanh Hải, giống như bao người con đất Việt ở thời đại ông, đã có một ước nguyện thật cao cả: được sống và cống hiến cho quê hương, xứ sở. Những tâm niệm ấy giản dị mà chân thành, sâu sắc và cảm động biết bao. Tất cả những ước vọng ấy được thể hiện trong thi phẩm Mùa xuân nho nhỏ.
Tinh yêu quê hương đất nước tha thiết của Thanh Hải đã giúp ông “thức nhọn các giác quan” để cảm nhận được vẻ đẹp và sự đổi thay, chuyển vận của đất trời. Quê hương trong con mắt nhà thơ mới đẹp và tràn đầy sức sống làm sao:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiên
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân đất nước hiện lên với những hình ảnh rộn ràng, màu sắc tươi sáng, âm thanh trong trẻo của cây lá, chim chóc… Ta nhận ra trong những dòng thơ ấy một tình yêu tha thiết, một niềm tự hào sâu sắc của nhà thơ đối với quê hương, đất nước.
Mùa xuân đất nước đẹp dường ấy. Là một người con đất Việt, phải làm gì cho quê hương đây? Tâm hồn, trái tim của một người nặng lòng với non sông đã cất vang lên những nguyện ước chân thành nhất. Những ước nguyện của Thanh Hải thật giản dị mà cao đẹp biết bao:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Lời thơ da diết, ngân vang như tiếng ca tha thiết, như điệu Nam ai, Nam bình nhẹ nhàng trôi trên dòng Hương giang. Từ “tôi” ở đầu bài thơ đã được chuyển thành “ta” đầy ý nghĩa. Nếu như “tôi” chỉ một cá nhân, một con người cụ thể, thích hợp để bày tỏ những cảm xúc, rung cảm cá nhân thì “ta” lại thích hợp với tâm thế hoà nhập, sẻ chia. “Ta” ở đây đâu chỉ là nhà thơ mà còn là tất cả mọi người. Thanh Hải thật khéo léo khi chọn lựa những hình ảnh thiên nhiên để thể hiện tâm niệm nung nấu trong tim mình. Nó nhỏ bé, đơn sơ như là một con chim, một nhành hoa, một nốt trầm… mà giàu sức gợi, mà mang những ý nghĩa ẩn tàng sâu sắc, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn con người. Nhầ thơ nguyện được làm một chú chim cất tiếng hót trong veo làm rộn ràng hơn mùa xuân đất nước, muốn làm một cành hoa thơm ngát toả hương cho khu vườn cuộc đời, muốn làm một.nốt nhạc trầm trong bản hoà tấu muôn điệu của cung đàn mùa xuân đất nước. Nguyện ước ấy thật giản dị và khiêm tốn. Chỉ là một chú chim nhỏ bé, một bông hoa mỏng manh, một nốt trầm không lảnh lót, nhưng không thể thiếu trong bản hoà ca để làm “xao xuyến” lòng người. Thanh Hải ý thức rất rõ vai trò, sự đóng góp của mỗi cá nhân là rất nhỏ bé giữa cuộc đời rộng lớn, cũng giống như một nốt trầm có thể “tan biến trong hoà ca”, nhưng là những nét làm nên bản sắc. Bản sắc của Thanh Hải được thể hiện độc đáo nhất trong ước muốn được làm “một mùa xuân nho nhỏ” để góp phần làm nên mùa xuân lớn của đất nước. Đây là điểm nhấn sáng tạo nhất của Thanh Hải trong toàn bộ thi phẩm. Hình ảnh mùa xuân vừa là một mùa xuân thực với dòng sông, bông hoa, tiếng chim nhưng còn là ẩn dụ về một cuộc đời, một khát vọng, một lẽ sống cao đẹp: ước mong được cống hiến, được sống có ích cho quê hương, để đất nước mãi mãi là mùa xuân. Khát vọng ấy cháy bỏng bất chấp cả thời gian, tuổi tác:
Dù là khi tóc bạc
Điệp từ “dù là” càng có ý nghĩa nhấn mạnh, khẳng định thái độ quyết tâm, bền bỉ của tấm lòng, của khát vọng thiết tha đối với quê hương đất nước. Cống hiến cho quê hương từ khi tuổi còn trẻ cho đến khi đã da mồi, tóc bạc. Hai hình ảnh hoán dụ, đối lập ấy cho ta thấy thời gian, tuổi tác không thể làm hao mòn đi bầu nhiệt huyết của những con người trọn đời cống hiến cho đất nước. Khát vọng sống, cống hiến cuộc đời để làm đẹp cho đất nước thật đáng quý biết bao. Đó là quan niệm sống đầy trách nhiệm và thật đáng trân trọng. Những câu thơ không chỉ là lời tâm niệm mà còn là sự tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình – cuộc đời một chiến sĩ, thi sĩ đã cống hiến trọn vẹn cho non sông, đất nước. Giờ đây, ngay cả khi cái chết cận kề, trái tim và tâm trí con người ấy vẫn cháy bỏng một khát vọng duy nhất: được cống hiến cho quê hương.
Lời nguyện ước cuối cùng của nhà thơ mang đậm dấu ấn của một người con xứ Huế – đó là cất lên tiếng ca để đón chào mùa xuân. “Câu Nam ai Nam bình” thấm đượm chất Huế, nhẹ nhàng, da diết thể hiện niềm tin yêu, gắn bó thiết tha của nhà thơ với quê hương mình. Hiểu hoàn cảnh sáng tác bài thơ (những ngày Thanh Hải đang nằm trên giường bệnh, cận kề với cái chết) ta càng trân trọng và cảm phục hơn một tấm lòng yêu đời, nặng lòng với quê hương, khát khao sống và cống hiến. Khúc hát ấy chính là “một mùa xuân nho nhỏ” Thanh Hải “lặng lẽ dâng cho đời”, sẽ mãi ngân vang, lắng đọng trong tâm trí những người dân Việt Nam.
Trong những cuộc chiến tranh, khi đất nước lâm nguy, cống hiến cho quê hương là góp sức mình để giành lại độc lập và chủ quyền dân tộc. Thời đại đó là thời đại của những người “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, sẵn sàng xả thân vì màu xanh hoà bình trên mảnh đất quê hương. Trong thời đại ngày nay, khi đất nước đã hoà bình, thống nhất và đang trên đà phát triển, là một người con của đất nước, nhiệm vụ của chúng ta là phải gắng phấn đấu học tập, lao động để phục vụ, xây dựng đất nước vững mạnh đi lên, “sánh vai với các cường quốc năm châu”, để mỗi ngày được ngắm nhìn quê hương thay da đổi thịt, lớn mạnh, hùng cường. Cống hiến cho đất nước là nghĩa vụ và bổn phận của tất cả người dân Việt Nam. Mỗi người, với khả năng của mình, hãy cố gắng đóng góp cho đất nước mình để đưa quê hương ngày càng giàu đẹp hơn. Để là người sống có trách nhiệm với đất nước, chúng ta phải sống có mục đích, ước mơ, lí tưởng. Chính những mơ ước, lí tưởng ấy là cơ sở để chúng ta xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Đặc biệt, tuổi trẻ chúng ta cần tránh xa những tệ nạn xã hội, biết sống một cách lành mạnh và có trách nhiêm. Có như thế, ta mới là người sống có trách nhiệm với đất nước mình bởi mỗi người chỉ có thể có trách nhiệm với người khác khi có trách nhiệm với chính bản thân mình.
Là một người trẻ tuổi, một thành viên của thế hệ trẻ ngày nay, tôi cũng đang tự nhủ phải từng ngày, từng giờ, cố gắng học tập và phấn đấu thật tốt để có thể đóng góp công sức nhỏ bé của mình làm nên những “mùa xuân” đẹp tươi của đất nước ta như nguyện ước ngày nào của nhà thơ Thanh Hải.
TRỊNH LÂM ANH
Lời nhân xét:
– Bài viết đã nêu lên những cảm nhận sâu sắc, tinh tế về ước vọng mà nhà thơ Thanh Hải gửi gắm qua thi phẩm Mùa xuân nho nhỏ.
– Bố cục bài viết hợp lí, chặt chẽ.
– Lời văn diễn đạt trôi chảy, giàu xúc cảm: “Hình ảnh mùa xuân vừa là một mùa xuân thực với dòng sông, bông hoa, tiếng chim nhưng còn là ẩn dụ về một cuộc đời, một khát vọng, một lẽ sống cao đẹp: ước mong được cống hiên, được sống có ích cho quê hương, để đất nước mãi mãi là mùa xuân
– Người viết đã có những liên hệ, đánh giá phù hợp với thực tế thế hệ trẻ hiện nay. Điều này khiến bài viết trở nên sâu sắc hơn: “Trong thời đại ngày nay, khi đất nước đã hoà bình, thống nhất và đang trên đà phát triển, là một người con của đất nước, nhiệm vụ của chúng ta là phải cố gắng phấn đấu học tập và lao động để xây dựng đất nước vững mạnh đi lên, “sánh vai với các cường quốc năm châu ”, để mỗi ngày được ngắm nhìn quê hương thay da đổi thịt, lớn mạnh, hùng cường”. | Đề 22_ Cảm nghĩ về những ước vọng được thể hiện trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,688 | |
Đề 23 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề bài luyện tập học sinh giỏi Tiếng Việt 5
1. Trong các câu ghép dưới đây, câu ghép nào biểu thị quan hệ điều kiên – kết quả, giả thiết – kết quả:
a) Vì người dân buôn Chư Lênh rất yêu quý “cái chữ” nên họ đã đón tiếp cô Y Hoa trang trọng và thân tình đến thế.
b) Mặc dù Y Hoa được dân làng trọng vọng nhưng cô vẫn rất thân mật, hoà mình với tất cả mọi người.
c) Nếu trẻ em không được học chữ thì cuộc sống của các em sau này sẽ rất khó thoát khỏi cảnh lạc hậu, tối tăm.
2. Tìm quan hệ từ hoặc căp quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ trông:
a) … cụ Ún tin tưởng ở bác sĩ trong việc chữa bệnh … cụ đã không trốn viện về nhà.
b) …cụ Ún đến bệnh viện kịp thời …cụ không phải chịu những cơn đau quằn quại, khổ sở như vậy.
c) … con trai cụ nói đến chuyện đi bệnh viện chữa bệnh …cụ Ún lại nói lảng sang chuyện khác.
d) …cụ Ún đi viện từ sớm … bệnh sỏi thận của cụ đã khỏi lâu rồi.
3. Trong bài thơ Chú đi tuần của Trần Ngọc, hình ảnh người chiến sĩ đi tuần trong đêm khuya thành phố được tả như sau:
Trong đêm khuya vắng vẻ,
Nép mình dưới bóng hàng cây
Gió đông lạnh buốt đôi tay chú rồi!
Rét thì mặc rét cháu ơi!
Chú đi giữ mãi ấm nơi cháu nằm.
Đoạn thơ nói về người chiến sĩ đi tuần trong hoàn cảnh thế nào? Hai dòng thơ cuối cho ta thấy ý nghĩa gì sâu sắc và đẹp đẽ?
4. Kể lại câu chuyện về một chiến sĩ cách mạng đã hi sinh anh dũng cho Tổ quốc mà em được biết (qua sách báo, phim ảnh hoặc người khác kể lại). | Đề 23 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 326 | |
Đề 23: Cảm nhận về đoạn thơ cuối trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 23: Cảm nhận của em về đoạn thơ:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
(Thanh Hải – Mùa xuân nho nhỏ)
Bài làm
Mùa xuân là mùa của tình yêu, sức sống dào dạt và cũng là mùa khơi nguồn cho bao áng thi ca, nhạc họa. Nếu chọn những bài thơ hay nhất viết về mùa xuân, tôi tin chắc không thể vắng bóng Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải. Thi phẩm là sự kết tinh, lắng đọng của một tài năng thơ đang độ chín. Bài thơ không chỉ hấp dẫn bạn đọc bởi khung cảnh mùa xuân mộng mơ nơi xứ Huế mà còn bởi khát vọng cống hiến cháy bỏng, dạt dào:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Mùa xuân nho nhỏ là bài thơ cuối cùng của nhà thơ Thanh Hải, được viết khi nhà thơ nằm trên giường bệnh, chỉ mấy ngày trước khi ông qua đời. Có lẽ vì vậy, bài thơ như một lời tâm niệm, chất chứa bao cảm xúc, suy tư của nhà thơ trọn đời gắn bó với cách mạng, đất nước. Mở đầu đoạn thơ, tác giả nêu lên trực tiếp ước muốn, nguyện vọng của mình:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Khát vọng được dâng hiến cho quê hương, đất nước không phải chỉ có ở riêng nhà thơ Thanh Hải song khẳng định một cách mạnh mẽ, dứt khoát và thiết tha mong ước cao cả đó, có lẽ chỉ có ở ông. Điệp từ “ta làm” được lặp lại hai lần kết hợp với biện pháp lặp cấu trúc ngữ pháp khiến cho nhịp thơ vừa uyển chuyển, nhịp nhàng vừa mạnh mẽ. Không ước mơ trở thành cái gì quá lớn lao, cao sang, vĩ đại, những điều tác giả mong muốn thật bình dị nhưng đầy ý nghĩa. Nhân vật trữ tình muốn làm “con chim hót” để ca ngợi đất nước đẹp giàu, muốn làm “cành hoa” để toả hương, khoe sắc cho đời, muốn làm “nốt trầm xao xuyến” để góp phần làm nên bản hoà ca của cuộc đời. Mong muốn giản dị thôi nhưng chính những điều đó làm cho cuộc sống này trở nên tươi đẹp hơn, ý nghĩa, kì diệu hơn. Ta bắt gặp sự đồng điệu giữa tâm hồn thơ Thanh Hải với tâm hồn nhạc sĩ Trương Quốc Khánh – tác giả khúc ca Tự nguyện:
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Là người, tôi sẽ chết cho quê hương
Đó là sự gặp gỡ của những tâm hồn nghệ sĩ ý thức được vai trò, trách nhiệm cao cả của mình với quê hương. Nhà thơ Thanh Hải và nhạc sĩ Trương Quốc Khánh đều có ước muốn thật thanh cao, đẹp đẽ. Điểm khác biệt của hai nghệ sĩ là ở cách thức thể hiện. Nếu trong lời ca của Trương Quốc Khánh, ông sử dụng lối viết giả thiết, với sự điệp lại của liên từ “nếu” thì nhà thơ Thanh Hải dùng lối viết khẳng định “ta làm” ; “ta nhập”. Người đọc trân trọng trái tim ấm nóng, gắn bó với quê hương đất nước của hai tâm hồn nghệ sĩ.
Nhà thơ Thanh Hải thực sự khiến người đọc ngưỡng mộ, khâm phục bởi khi cái chết cận kề, ông vẫn mang trong mình những trăn trở, khát vọng dâng hiến cho quê hương, đất nước. Đỉnh cao của ước vọng hiến dâng ấy là niềm mong muốn được là “mùa xuân nho nhỏ”:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Vẫn không phải là một mùa xuân lớn lao, ôm trùm vũ trụ, nhà thơ chỉ mong là một “mùa xuân nho nhỏ” ấm áp. Hình ảnh ẩn dụ “mùa xuân” thể hiện phần tốt đẹp của mỗi người, là tài năng, trí tuệ, là sức sống. Nhà thơ muốn dem hết tâm hồn, sức lực và cả sự sống của mình cống hiến cho sự phát triển của quê hương, đất nước dấu yêu. Sự dâng hiến lớn lao đó không khoa trương, ồn ào mà chỉ “lặng lẽ dâng cho đời”. Động từ “dâng” thể hiện một thái độ thành kính, trân trọng, nâng niu. Nhà thơ nguyện cống hiến hết mình cho Tổ quốc:
Dù là khi tóc bạc.
Hình ảnh hoán dụ “tuổi hai mươi”, “tóc bạc” thể hiện thời gian của đời người, thể hiện khát vọng cống hiến hết mình, trọn đời của nhà thơ. Cho dù đó là khi trẻ trung căng tràn nhựa sống hay khi đã về già thì ông cũng không lúc nào nguôi niềm mong ước được hiến dâng.
Với lời thơ năm chữ nhẹ nhàng, lắng sâu, nhà thơ Thanh Hải đã thực sự làm lay động trái tim biết bao bạn đọc. Khát vọng cháy bỏng được hiến dâng của nhà thơ thể hiên một tình yêu quê hương tha thiết. Khát vọng đó càng đáng quý, đáng trân trọng hơn bởi đó là mong ước sau cùng của con người sắp từ giã cõi đời. Ta hiểu rằng, sự cống hiến không bị giới hạn bởi tuổi tác, chỉ cần con người có một trái tim luôn ấm nóng và biết sống vì người khác. Hai khổ thơ thực sự mang đến những bài học quý giá cho thế hệ trẻ hôm nay. Liệu chúng ta đã, đang và sẽ làm được gì để cống hiến cho quê hương, đất nước mình? Mỗi người hãy phấn đấu trở thành những “mùa xuân nho nhỏ” để đất nước ngày càng đẹp tươi.
THỦY HÀ
Lời nhận xét:
– Bài viết đã cảm nhận, phân tích được những cái hay về nội dung cũng như nghệ thuật của hai khổ thơ. Văn viết trong sáng, mạch lạc.
– Có những đánh giá sâu sắc, liên hệ với thực tiễn tốt: “Ta hiểu rằng, sự công hiến không bị giới hạn bởi tuổi tác, thời gian, chỉ cần con người có một trái tim luôn ấm nống và biết sống vì người khác. Hai khổ thơ thực sự mang đến những bài học quý giá cho thế hệ trẻ hôm nay… ”. | Đề 23_ Cảm nhận về đoạn thơ cuối trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,117 | |
Đề 24 – Thuyết minh một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam(Tết trung thu) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Nét đẹp của Tết trung thu
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Tết Trung thu là một cái Tết đặc biệt dành cho thiếu nhi.
Đây cũng là dịp để mọi người trong gia đình sum họp, trò chuyện,…
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Trung Quốc.
Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.
Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quý Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.
Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ.
2. Đặc điểm
Theo phong tục người Việt, bố mẹ bày cỗ cho các con để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn.Cỗ mừng trung thu gồm bánh trung thu, kẹo, mía, bưởi, và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để con cái hiểu được sự săn sóc quý mến của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khăng khít thêm.
Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành.
Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình.” Ngày xưa trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát.
3. Ý nghĩa
Tết Trung Thu mới đầu là tết của người lớn để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, ăn bánh, và uống trà ngắm trăng rằm vào giữa tiết Thu.
Dần dần Tết Trung Thu trở thành Tết trẻ em hay Tết nhi đồng, nhưng người lớn cũng dự phần trong đó.
Trẻ em được người lớn chú ý săn sóc như các hội đoàn người Việt hải ngoại đã và đang làm.
Các em có dịp vui chơi rước đèn, ca hát, phá cỗ do cha mẹ anh chị bày cho và nhất là có dịp ăn bánh kẹo thả cửa mà không sợ bị quở mắng là “ăn kẹo hư răng.”.
III. KẾT BÀI
Tết Trung thu là một trong những cái Tết rất có ý nghĩa không chỉ đối với người lớn mà còn đặc biệt đối với thiếu nhi.
Chúng ta cần phải biết trân trọng, giữ gìn và phát huy những ý nghĩa cao đẹp của nó.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Từ rất xa xưa đã có tục lệ, mùa xuân tế mặt trời, mùa thu tế mặt trăng. Tế xong, mọi người cùng thưởng thức bánh dưới trăng. Phong tục này cứ kéo dài. Ngày 15 là ngày giữa tháng tám, cũng là giữa mùa thu. Đó là ngày trăng tròn nhất trong cả năm. Trăng tròn tượng trưng cho hạnh phúc tròn đầy, sự vuông tròn của ước mong. Là sự đoàn viên của các thành viên trong gia đình cũng như họ hàng và cộng đồng. Với trẻ em, được tung tăng chơi và ăn bánh, hoa quả dưới bầu trời có trăng sáng là một điều thú vị và say sưa lắm. Chúng thường nghêu ngao:
Có cây đa to
Có thằng cuội già
Ôm một mối mơ…
Với người lớn, người ta nhìn lên mặt trăng sáng mát cảm thấy thanh thản như mình trẻ lại. Có khi họ nghĩ đến những kỉ niệm xưa, người xưa: trăng thề nhớ buối hoa viên; vầng trăng ai xẻ làm đôi; ngẩng đầu nhìn trăng sáng, cúi đầu nhớ cố hương, trông trăng lại nhớ đến người đêm trăng ; nhìn trăng đang hát điệu vong tình; Thái Bạch ôm trăng lạnh, thuyền trăng Phạm Lãi luyến Tây Thi… Trăng là đề tài muôn thuở và chứa đựng biết bao nhiêu huyền thoại…
Dần dà, người ta không tế trăng nữa mà bày cỗ và chơi dưới trăng. Xung quanh mâm cỗ, chủ yểu là trẻ con rồi đến các thành viên khác trong gia đình và khách. Các trẻ em đi rước đèn ngoài phố qua xóm ngõ, cánh đồng ven đô. Chúng tụ tập chừng 10 đến 20 em, mỗi em mang một chiếc đèn thắp bằng nến. Đèn con thỏ, đèn ông sao, đèn xếp, đèn nổi, đèn lồng, đèn con cóc… các em lớn hơn một chút đi đầu múa sư tử. Chúng vừa đi vừa hát, có khi đứng vòng lại với nhau rồi múa. Sau khi rước đèn, chúng về nhà phá cỗ.
Chúng cùng ăn bánh dẻo, bánh nướng với mọi người và còn được chia thêm các hoa quả như hồng, na, chuối, bưởi, cam, ổi và các loại bánh bằng bột nướng hoặc rán mang hình các con vật thân thuộc như tôm, cá, thỏ, lợn, hươu… Mâm cỗ được thắp sáng bằng nến, ở giữa có bày tượng một ông tiến sĩ giấy ngồi bảnh chọe, có cờ, có biển. Hình ảnh này tượng trưng cho sự hiếu học, lòng ham mê khoa cử. Bên cạnh còn được bày những con vật nhỏ xíu được nặn bằng bột và quét màu xanh, đỏ, vàng trông rất xinh và ngộ nghĩnh.
Trong mỗi nhà, thường treo ở gian giữa một chiếc đèn kéo quân tạo nên những hình ảnh hoạt động của các nhân vật trong truyện như: Ông già úp cá, Thị Mầu lên chùa, Thạch Sanh đốn củi, Lã Bố hí Điêu Thuyền… Những hình ảnh đó cứ diễu quanh nhiều vòng, in bóng vào mặt giấy của đèn nhanh hay chậm là do ngọn nến ở giữa cháy to hay cháy nhỏ tạo nên gió chuyển nhiều hay ít. Bọn trẻ còn bận bịu và hồi hộp với những đồ chơi Trung thu như: quả đào úp mở theo bánh xe phía dưới chuyển động, tàu thủy chạy dưới nước, con thỏ đánh trống, con gà thổi kèn…bằng sắt Tây. Mấy hôm trước ngày rằm, một số em thiếu nhi hiếu động rủ nhau đi trống kèn và kể vè. Chúng nắm tay nhau, xếp thành vòng tròn có tầng trên và tầng dưới. Những đứa ở tầng trên đứng lên vai những đứa ở tầng dưới. Một đứa tốt giọng kể vè, những đứa khác xen vào câu “Dô ta” để hưởng ứng. Ví dụ, chúng kể về việc làm ăn:
Làng ta làm giấy, thua tài làng Đông.
Hoặc để chế nhạo:
Con ngựa bạch đeo cái cương sừng
Một cô con gái ôm lưng ông già…
Mỗi năm, cứ đến Tết Trung thu, nơi nào cũng náo nhiệt. Nhưng đặc biệt náo nhiệt là mấy phố chính như Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Hàng Thiếc, Hàng Mã, chợ Đồng Xuân và xung quanh hồ Hoàn Kiếm. Cũng có những đoàn múa sư tử, múa rồng của nhũng người lớn thích chơi, nhũng người mãi võ biểu diễn hoặc múa tranh giải do các nhà từ thiện hoặc các cửa hàng trao cho đoàn nào múa đẹp và sôi nổi. Có năm lại xuất hiện một vài đoàn múa sư tử gồm toàn con gái mặc võ phục gọn gàng và dũng mãnh làm nức lòng mọi người.Ở vùng Bưởi, các em còn chơi trồng hoa trồng nụ, bịt mắt bắt dê, nhảy cừu, rồng rắn lên mây…trong những ngày trước và sau rằm tháng tám.
Tết Trung thu là Tết truyền thống của nước ta, là Tết cùa các em thiếu nhi, nhưng người lớn cũng có phần. Nó làm sống lại quãng đời trẻ thơ không bao giờ trở lại của họ.
(Theo Lý Khắc Cung, Hà Nội Văn hóa và Phong tục, 2014)
>> Xem thêm Đề 25 – Thuyết minh một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam(Bánh trung thu) tại đây.
Tags:Đề 24 · Tết trung thu · Văn chọn lọc 9 | Đề 24 – Thuyết minh một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam(Tết trung thu) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,662 | |
Đề 24 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề bài luyện tập bồi dưỡng giỏi Tiếng Việt 5
1. Trong các câu ghép dưới đây, câu ghép nào biểu thị quan hệ tương phản:
a) Vì Trần Thủ Độ là người có công lập nên nhà Trần nên ai ai cũng nể trọng ông.
b) Tuy Trần Thủ Độ là chú của vua và đứng đầu trăm quan nhưng ông không cho phép mình vượt qua phép nước.
c) Nếu Trần Thủ Độ chỉ nghĩ đến tình riêng, bỏ qua phép nước thì ông đã cho người kia giữ chức câu đương.
2. Tìm quan hệ từhoặc căp quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ trông:
a) … ai rào giậu ngăn sân
Lòng ta vẫn giữ là dân cụ Hồ.
(Tố Hữu)
b) … Linh Từ Quốc Mẫu đòi phải trừng trị kẻ dưới khinh nhờn … Trần Thủ Độ không những không trừng trị mà ban thưởng cho người quân hiệu.
c) … viên quan tâu với vua rằng Trần Thủ Độ chuyên quyền … Trần Thủ Độ vẫn đề cao việc làm của viên quan ấy.
3. Trong bài Khúc hát runhững em bé lớn trên lưng mẹ, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết về lời hát ru cất lên từ trái tim yêu thương của người mẹ như sau:
– Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội
Mai sau con lớn vung chày lún sân …
Theo em, lời hát ru của người mẹ đã bộc lộ những điều gì đẹp đẽ và sâu sắc?
4. Tả một đồ vật trong nhà (hoặc trên lớp học) gần gũi và thân thiết đối với em. | Đề 24 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 279 | |
Đề 24: Tình cảm của tác giả và đồng bào miền Nam qua bài thơ Viếng lăng Bác – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 24: Phân tích tình cảm sâu nặng của Viễn Phương và đồng bào miền Nam với Chủ tịch Hô Chí Minh qua bài thơ Viếng lăng Bác.
Bài làm
Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha
Miền Nam luôn là nỗi day dứt, niềm nhớ thương khôn nguôi của Bác Hồ và ước mong được gặp vị cha già dân tộc cũng là khát vọng thường trực trong tâm hồn những người con miền Nam. Viếng lăng Bác là bài thơ của Viễn Phương nói lên tiếng lòng của hàng triệu triệu trái tim miền Nam đối với Người.
Bài thơ được sáng tác trong không khí xúc động của nhân dân ta lúc công trình lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được hoàn thành, đồng bào miền Nam được thoả mong ước bấy lâu: được ra viếng Bác. Vì vậy, ngay từ dòng thơ đầu tiên, tác giả đã nghẹn ngào thốt lên:
Con ở Miền Nam ra thăm lăng Bác
Câu thơ giản dị như một lời thông báo nhưng lại ẩn chứa bao niềm xúc cảm sâu lắng của người con miền Nam, sau bao năm tháng đợi chờ mòn mỏi nay đã được thoả nguyện ra thăm lăng Bác. Tiếng “con” đầu câu thơ vang lên ấm áp, thân thương biết mấy! Bác gần gũi lắm, thân thiết lắm với những con dân đất Việt, như một vị cha già của dân tộc. “Con ở miền Nam” mấy tiếng ấy bao hàm cả nỗi đau và niềm tự hào sâu sắc. Miền Nam của nỗi đau chia cắt, miền Nam đi trước về sau, miền Nam gian khổ và anh hùng, miền Nam thành đồng Tổ quốc vừa chiến thắng kẻ thù hung bạo để về sum họp một nhà với cả nước thân yêu! Mong một lần được nhìn thấy Bác cho thoả nỗi nhớ mong, nhưng thật đau xót, Bác không còn. Vì vậy từ “thăm” tác giả sử dụng thay cho từ “viếng” không chỉ là cách nói giảm nói tránh để vơi bớt cảm giác đau thương, xót xa mà còn là sự khẳng định sức sống bất diệt của Bác Hồ – Người sống mãi trong lòng miền Nam, trái tim Việt Nam.
Trong niềm cảm xúc trào dâng ấy, hình ảnh hàng tre hiện lên đầy hiên ngang, mang tới bao ấn tượng sâu đậm cho người viếng thăm:
Đã thấy trong sương hảng tre bút ngát,
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Thán từ “Ôi” cất lên như dòng cảm xúc ngỡ ngàng trào dâng trong lòng nhà thơ. Những tính từ “bát ngát”, “xanh xanh” gợi sự trải dài ngút ngàn, mướt mát của hằng tre bên lăng Người. Hình ảnh cây tre vốn là biểu tượng cho sự bất khuất, kiên cường, cho tấm lòng thẳng ngay kiên trung. Nó đã đi sâu vào tâm thức dân tộc, toả bóng mát rượi bao trùm bao thế hệ người Việt Nam. Đó là bó tre đằng ngà trong bàn tay Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân bảo vệ bờ cõi đất nước, là lũy tre làng thân quen bao bọc sự bình yên của thôn xóm, là cây tầm vông, là hầm chông giết giặc. Cây tre ấy mang những phẩm chất của con người, Tổ quốc ta: dẻo dai, đoàn kết, bất khuất, kiên cường. Và Bác chính là sự hội tụ tất cả những gì cao đẹp nhất của phẩm cách Việt Nam: là sự sống bát ngát luôn xanh màu, là tâm thế kiên cường “đứng thẳng hàng” chống chọi lại với “bão tấp mưa sa”. Hàng tre ấy bây giờ đang đứng bên lăng Bác như người lính kiên trung canh giữ giấc ngủ bình yên cho Người, như dân tộc Việt Nam đời đời sát cánh bên vị cha già dân tộc.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Câu thơ tạo hiệu ứng thẩm mĩ đặc biệt trước hết bởi sự kết hợp tài tình giữa hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi với nhau. Từ hình ảnh thực mặt trời của thiên nhiên, vũ trụ soi sáng và mang lại sự sống cho muôn loài “ngày ngày đi qua trên lăng”, Viễn Phương liên tưởng tới một mặt trời ẩn dụ trong lăng. Bác Hồ là mặt trời. Bác đã mang ánh sáng cách mạng đến cho dân tộc. Bác đã dẫn lối, chỉ đường cho đất nước đi qua bao thăng trầm của lịch sử. Ánh sáng của Người xua tan đêm đen bao phủ dân tộc hàng nghìn năm. Tình yêu bao la từ trái tim ấm áp của Người có sức nóng, lan toả như tia nắng mặt trời. Nhưng dường như chỉ ví Bác với mặt trời thôi thì chưa đủ, mà cần phải nhấn mạnh đặc tính nổi bật nhất của cái quầng sáng thiêng liêng ấy: “rất đỏ”. Mặt trời “Ngày ngày đi qua trên lăng” của vũ trụ bao la đâu phải lúc nào cũng giữ được sắc đỏ và nguồn nóng mà sẽ có lúc bị đêm đen bao phủ. Nhưng mặt trời Bác Hồ thì vĩnh cửu, trường tồn, mãi là nguồn sống, là ánh sáng soi đường cho dân tộc Việt Nam, mãi mãi đỏ thắm trong trái tim, tâm hồn mỗi người con đất Việt. Vì vậy mà con cháu của Bác luôn thành kính dâng lên người tình yêu chân thành nhất:
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…
Như mặt trời thiên nhiên, ngày ngày dòng người cũng đi qua trên lăng, trong niềm thương nỗi nhớ sâu đậm. Điệp ngữ “ngày ngày” khẳng định thời gian vĩnh cửu, chảy trôi. Nhịp thơ đều đều, chầm chậm, như bước chân đoàn người vào lăng viếng Bác. “Dòng người đi trong thương nhớ’ ấy kết thành những tràng hoa tươi thắm dâng Người. Đó không chỉ là hình ảnh thực mà còn là hình ảnh ẩn dụ đầy sáng tạo của Viễn Phương: cuộc đời của con người đã nở hoa dưới ánh sáng mặt trời của Bác. Đó là tràng hoa đẹp nhất, với hương thơm ngát kính dâng lên Người dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân”. Hình ảnh hoán dụ mang ý nghĩa tượng trưng được tác giả sử dụng thật độc đáo. Con người vĩ đại ấy đã sống trọn vẹn một cuộc đời đẹp như những mùa xuân thắm tươi và làm nên những mùa xuân bát ngát cho đất nước, cho con người Việt Nam. Ta nhận ra trong đó bao sự thành kính, trân trọng của một người con đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Và niềm biết ơn thành kính ấy đã chuyển thành nỗi xúc động nghẹn ngào khi tác giả được thấy:
Bức nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Bác đang bình yên trong giấc ngủ êm đềm. Nỗ lực của “bảy mươi chín mùa xuân” trong cuộc đời Người đã được đáp đền xứng đáng khi giờ đây núi sông đã liền một dải, Nam Bắc thống nhất, đất nước chan hoà trong tự do, hạnh phúc. Sự bình yên của Bác là sự bình yên của một lãnh tụ suốt đời lo lắng cho dân tộc, đã có thể an lòng trước sự vững vàng của đất nước. Ánh sáng dịu nhẹ trong lăng gợi liên tưởng thú vị tới “vầng trăng sáng dịu hiền”. Trăng là tri kỉ của Bác, đã cùng Người gắn bó, san sẻ từ những ngày tháng còn trong lao tù hay giữa “cảnh khuya” nơi chiến khu luận bàn việc quân. Nhưng chưa bao giờ Người được thảnh thơi ngắm trăng. Chỉ giờ đây, khi đã “nằm trong giấc ngủ bình yên”, Người mới đến với trăng trọn vẹn tấm tình. Trăng dịu hiền soi sáng hình ảnh Bác. Nhưng vầng trăng ấy còn là tình cảm thiết tha sâu nặng của con dân Việt Nam dệt nên để nhẹ nhàng canh giấc ngủ ngàn thu cho Người. Trăng cũng nằm trong hệ thống hình ảnh vũ trụ được Viễn Phương sử dụng để ví với Bác. Người vừa như mặt trời rực rỡ, vĩ đại, vừa như vầng trăng dịu hiền, thanh cao. Ta nhận ra trong sự so sánh ấy niềm kính yêu vô hạn của nhà thơ đối với Bác.
Nhưng tình yêu càng lớn thì niềm đau cũng càng trào dâng mãnh liệt khi phải đối diện với sự thật đau đớn: Bác đã không còn.
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Câu thơ có sự đối lập giữa lí trí và trái tim, giữa cái vĩnh cửu và cái hữu hạn. Trời xanh kia sẽ mãi trường tồn, và Bác sẽ sống mãi trong trái tim, tâm hồn người dân Việt Nam như màu xanh mãi ngự trị trên bầu trời Tổ quốc. Bác về với tiên tổ, hoá thân thành một phần của thiên nhiên đất nước, vĩnh cửu bất diệt cùng núi sông, biển trời quê hương. Nhà thơ Tố Hữu đã từng khẳng định:
Bác sống như trời đất của ta
Lí trí đã xác định như thế nhưng trái tim thì nhức nhối, nhói đau. Một từ “nhói” đặt chính giữa câu thơ, như một vết khứa đậm sâu trong trái tim nhà thơ, thể hiện niềm đau quặn thắt – nỗi đau vượt lên trên mọi lí lẽ hằng thường của lí trí. Nơi đây chỉ còn sự ngự trị của trái tim – trái tim thổn thức rung lên những cung bậc yêu kính, tiếc thương chân thành.
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Câu thơ tràn ngập tình yêu, niềm xúc cảm ngân vang và dòng nước mắt nhớ thương. Chỉ một chữ “trào” thôi cũng đủ diễn tả niềm luyến tiếc, bịn rịn mãnh liệt trào dâng trái tim nhà thơ. Để rồi từ dòng cảm xúc chân thành ấy, nhà thơ cất lên muôn vàn nguyện ước:
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
Điệp từ “muốn làm” vang lên ba lần như muốn khẳng định ước muốn, sự chân thành của tác giả, cũng là của hàng triệu con người Việt Nam: Muốn làm con chim cất cao tiếng hót trong lành, ngân nga làm rộn ràng không gian ; muốn làm bông hoa nhỏ ngát hương thơm thanh cao nơi Bác yên nghỉ ; muốn làm cây tre xanh Việt Nam toả bóng mát dịu dàng, trung hiếu giữ mãi giấc ngủ bình yên cho Người. Hình ảnh cây tre khép lại bài thơ thật ý nhị biết bao. Nó láy lại hình ảnh ở đầu bài thơ, tạo nên một khúc ngân…
Viếng lăng Bác là một trong những bài thơ hay nhất về Bác. Làm nên sức sống của thi phẩm là hệ thống hình ảnh ẩn dụ giàu ý nghĩa và đặc biệt là dòng cảm xúc mãnh liệt trào dâng khắp các dòng thơ. Bài thơ là tiếng lòng không chỉ của Viễn Phương, của người dân miền Nam mà của tất cả những người yêu kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó sẽ còn ngân vang mãi trong trái tim mỗi chúng ta, như sự vĩnh cửu, trường tồn của Bác Hồ muôn vàn kính yêu.
HÀ THỦY LINH
Lời nhân xét:
– Bài thơ Viếng lăng Bác là một nén tâm hương mà nhà thơ Viễn Phương thành kính dâng lên Người. Bài viết đã phân tích sâu sắc tình cảm đó. Đặc biệt, người viết biết cách chiếm lĩnh giá trị của thi phẩm qua việc phân tích những biện pháp nghệ thuật độc đáo. Ví dụ: “Từ hình ảnh thực mặt trời của thiên nhiên, vũ trụ, soi sáng và mang lại sự sống cho muôn loài “ngày ngày đi qua trên lăng”, Viễn Phương liên tưởng tới một mặt trời ẩn dụ trong lăng. Bác Hồ là mặt trời. Bác đã mang ánh sáng đến cho dân tộc. Bác đã dẫn lối, chỉ đường cho đất nước đi qua bao thăng trầm của lịch sứ. Ánh sáng của Người xua tan đêm đen bao phủ dân tộc hàng nghìn năm. Tình yêu bao la từ trái tim ám áp của Người có sức nóng, lan toả như tia nắng mặt trời. | Đề 24_ Tình cảm của tác giả và đồng bào miền Nam qua bài thơ Viếng lăng Bác – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 2,099 | |
Đề 25 – Thuyết minh một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam(Bánh trung thu) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Thuyết minh về bánh trung thu
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Một loại bánh không thể nào thiếu được trong ngày Tết Trung thu đó chính là chiếc bánh trung thu.
Một loại bánh chất chứa hạnh phúc đầm ấm của gia đình.
II. THÂN BÀI
1. Nguồn gốc, xuất xứ
Có nguồn gốc từ Trung Quốc và được gọi là bánh Nguyệt.
Theo sử sách ghi chép từ thời Ân, Chu ở vùng Triết Giang đã có loại bánh kỷ niệm Thái Sư Văn Trọng gọi là bánh Thái Sư. Bánh này có thể coi như là thuỷ tổ của bánh Trung Thu.
Vào thời Tây Hán, Trương Thiên đi Tây Vực mang về Trung Quốc hạt Mè, hạt Hồ đào, dưa hấu làm nguyên liệu cho bánh Nguyệt thêm dồi dào.
Thời đó hồ đào là nguyên liệu chính của bánh Nguyệt nên còn gọi là bánh hồ đào.
Đến thời Đường trong dân gian có những ngưòi hành nghề làm bánh, ở thành phố Trường An có những tiệm bánh trứ danh.
Tương truyền có một đêm Trung Thu Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi ăn bánh hồ đào, thuởng ngoạn trăng rằm, Đường Huyền Tông chê tên bánh Hồ nghe không hay nên đặt tên là Bánh Nguyệt cho thơ mộng hơn, nên từ đó về sau thứ bánh này có tên là bánh Nguyệt (tên người Trung Quốc đặt) và trở thành bánh Trung Thu khi du nhập vào Việt Nam.
2. Cách làm bánh
Bánh có hai phần: Phần áo và phần nhân.
Áo bánh phải chọn gạo nếp vàng, vùng Trôi hoặc vùng Bắc Ninh, Bắc Giang.
Gạo được rang rồi xay, hoặc giã nhỏ mịn, nhào với nước đường thắng ngan ngát một mùi hương bưởi. Tất cả những công đoạn kể trên đều phải do một bàn tay thợ có “nghề” đã được “hạ sơn” đảm nhiệm.
Người thợ không được sai sót một khâu nào. Sai một ly đi một dặm.
Lúc ra khuôn, cái bánh hiện rõ những hoa văn chìm nổi của một bông hoa nở 8 cánh hoặc 10 cánh.
Khuôn mặt áo bánh dẻo mịn, bánh ngọt đậm, thơm dịu.Phần nhân bánh nhất thiết phải do thợ cả quán xuyến với những khâu quan trọng đầy bí quyết nhà nghề như: rang vừng, ủ vừng, xử lí mứt bí khẩu, mứt sen, hạt dưa, hạnh nhân, ướp nhân, tạo hương cho nhân…
Bánh dẻo làm bằng bột nếp trắng tinh nhồi với đường với nước hoa bưởi thơm lừng, đúc trong khuôn gỗ thường hình tròn, nhân làm bằng hột sen hay đậu xanh tán nhuyễn là chiếc bánh Trung Thu mang sắc thái Việt Nam hơn bánh nướng.
Theo khẩu vị Hà Nội, bánh dẻo thường ngọt sắc hơn trong Nam.
Đường kính của bánh thường rất lớn, có thể gần bằng chiếc mâm, để thể hiện hình dáng của vầng trăng thu lớn và trắng ngà trong biểu tượng của ý nghĩa “đoàn viên của gia đình” và nhất ià tình yêu khắng khít vợ chồng.
Bánh nướng Trung Thu hầu như vẫn trong bí quyết chế biến của dân Việt gốc Hoa.
Hình dáng bánh nướng thường vuông hay tròn, thường đựng vừa khít bốn chiếc trong một cái hộp giấy vuông.
Vỏ bánh làm bằng bột mì dậy men trộn vói trứng gà và chút rượu, nhân thì có thể thuần tuý thường làm bằng đậu xanh, khoai môn, hay hột sen tán nhuyễn bao bọc lấy một hay hai tròng đỏ trứng vịt muối có mùi vani hay sầu riêng hoặc là nhân thập cẩm gồm đủ thứ như dăm bông, thịt quay, vi yến, dừa, hạt dưa, vỏ quít, ngó sen, bí đao.
Một điểm cần biết là những chiếc bánh nướng Trung Hoa mà chúng ta quen ăn ở Việt Nam hay mua tại những tiệm Hoa đại đa số ở hải ngoại chính là thoát thai từ kiểu thức và khẩu vị của vùng Quảng Đông bên Trung Hoa với những đặc điểm sau: vỏ bánh có vị ngọt, bánh đúc từ khuôn gỗ, còn về nhân thì thập cẩm bao gồm đến 200 loại vô cùng phong phú.
4. Cách thưởng thức
Về mặt thưởng thức, bánh nướng mới ra lò ăn không ngon vì vỏ khô cứng mà phải chờ ba ngày sau, mỡ trong lớp nhân mới rịn ra làm bánh ăn mềm và thơm ngon.
Mặc dù người ta quảng cáo bánh có thể bảo quản lâu đến một tháng nhưng điều kiện khí hậu bình thường thì bánh chỉ nên ăn trong vòng hai tuần là tối đa nếu không thì ngửi khét dầu và làm sình bụng.
III. KẾT BÀI
Có chiếc bánh trung thu vào ngày Tết Trung thu thể hiện sự sum họp, hạnh phúc gia đình.
Chiếc bánh dẻo tròn, gợi hình mặt trăng thể hiện sự tròn đầy, viên mãn.
Tết Trung thu, phải nói đến chiếc bánh nướng, bánh dẻo kì diệu, cũng giống như chiếc bánh chưng trong những ngày Tết Nguyên Đán.
Bánh dẻo có hai phần: Phần áo và phần nhân. Áo bánh phải chọn gạo nếp vàng, vùng Trôi hoặc vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Gạo được rang rồi xay, hoặc giã nhỏ mịn, nhào với nước đường thắng ngan ngát một mùi hương bưởi. Tất cả những công đoạn kể trên đều phải do một bàn tay thợ có “nghề” đã được “hạ sơn” đảm nhiệm. Người thợ không được sai sót một khâu nào. Sai một ly đi một dặm. Lúc ra khuôn, cái bánh hiện rõ những hoa văn chìm nổi của một bông hoa nở 8 cánh hoặc 10 cánh. Khuôn mặt áo bánh dẻo mịn, bánh ngọt đậm, thơm dịu. Phần nhân bánh nhất thiết phải do thợ cả quán xuyến với những khâu quan trọng đầy bí quyết nhà nghề như: rang vừng, ủ vừng, xử lí mứt bí khẩu, mứt sen, hạt dưa, hạnh nhân, ướp nhân, tạo hương cho nhân…
Nhân của bánh dẻo chay tịnh, nặng mùi hương đồng gió nội. Mãi về sau này, người ta mới phá cách cho thêm lạp sường vào. Nhân bánh nướng được cải tiến với nhiều sáng kiến. Mỗi hiệu bánh đều muốn có phần độc đáo của mình. Vả lại bánh nướng là “em” của bánh dẻo. Nó sinh sau đẻ muộn, mới xuất hiện từ năm 1930 nên lắm trò hơn. Ngoài mứt bí, hạt dưa, nhân bánh nướng còn có thêm cả ruột quả trứng ở giữa hoặc thịt lợn quay, gà quay, lạp sường…gọi là nhân thập cẩm… Bánh nướng cũng có loại nhân chay bằng đậu xanh mịn, dừa sợi, hạt sen.
Bánh dẻo trắng trong, bánh nướng có màu vàng sẫm và vàng nhạt do chỗ nướng già, nướng non tạo ra, thường có đường kính chừng 7-8cm, chiều dày 2,5-3cm. Cứ 4 cái bánh được xếp chồng lên nhau là một cân. Ngoài giấy bọc có in nhãn hiệu đẹp và nhiều màu sắc. Đặc biệt là các hiệu người Hoa rất chú ý in nhãn hiệu thật nổi. Nhiều nhà còn đặt làm những chiếc bánh dẻo đặc biệt to bằng chiếc đĩa tây hoặc gần bằng cái mâm, trên có hình mặt trăng tròn, lưỡng long tranh châu, song phượng…
Nghĩa là người thợ làm cả cái việc tạo hình trên chiếc bánh. Bánh dẻo, bánh nướng Trung thu nói lên cái tài hoa của người thợ. Ngay cả ở các hiệu lớn của người Hoa trước đây, thợ Việt Nam cũng chiếm 70-90%. Hằng năm, cứ đến gần Tết Trung thu là các hiệu lại rộn rã cho người về các vùng lân cận, đón các phường thợ làm bánh nổi tiếng ra Hà Nội vào mùa. Các chủ hiệu ưu ái họ lắm, mỗi người được chủ hiệu phát một áo choàng trắng, mũ trắng và một đôi guốc mộc. Các cửa hàng lấy làm hãnh diện đã mời được ông Toán làng Bưởi, các ông Ba Thiện xã Cào ở tỉnh Sờn, ông Quế Xuân Tảo Sở, hoặc ông Lý Bắc Ninh.
Tết Trung thu, nhà nào cũng phải có bánh dẻo. Người nghèo cũng cố mua cho con cái một vài cái bánh dẻo. Không có bánh dẻo tức là không có Tết. Người ta làm quà cho ân nhân, khách quý, bạn thân…bằng bánh Trung thu. Chiếc bánh dẻo tròn, gợi hình mặt trăng thể hiện sự tròn đầy, viên mãn.
Vào những năm 1989 – 1990, những chiếc bánh Trung thu từng tham dự các Hội chợ quốc tế ở đức và Bun-ga-ri, gây sự chú ý đặc biệt và được tặng Huy chương độc đáo. Chúng mang mùi vị, thanh sắc Việt Nam, kèm theo cái nghệ thuật thưởng thức miếng ngon tinh tế, thanh nhã. Nó cũng là biểu tượng văn hóa của Việt Nam. Chiếc bánh Trung thu sẽ trường tồn. Chúng ta mong sao có thêm nhiều người thợ tài hoa kế tục nghệ thuật làm bánh Trung thu truyền thống, không những cho mọi người mà còn cho khách nước ngoài thưởng thức mỗi khi đến với mùa Tết Trung thu.
(Theo Lý Khắc Cung, Hà Nội Văn hóa và Phong tục, 2014)
>> Xem thêm Đề 26: Thuyết minh một món ăn của người Việt Nam (Bún thang) tại đây.
Tags:Bánh trung thu · Văn chọn lọc 9 | Đề 25 – Thuyết minh một nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam(Bánh trung thu) – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,562 | |
Đề 25 –Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề bài luyện tập học sinh giỏi Tiếng Việt 5
1. Trong các câu ghép dưới đây, câu ghép nào biểu thị quan hệ tăng tiến giữa các vế câu:
a) Ông Đỗ Đình Thiện không những là chủ của một số nhà máy, tiệm buôn nổi tiếng mà ông còn là chủ của nhiều đồn điền rộng lớn.
b) Vì ông Thiện là một người nhiệt thành yêu nước nên ông đã dành sự trợ giúp to lớn cho Cách mạng.
c) Tuy ông Đỗ Đình Thiện hết lòng ủng hộ Cách mạng nhưng ông không hề đòi hỏi sự đền đáp nào.
2. Tìm cặp quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ trống:
a) Ông Giang Văn Minh …là người có tài trí … ông còn là người có dũng khí, có lòng quả cảm.
b) Vĩ đại thần nhà Minh … không đạt được mục đích làm nhục sứ thần Việt Nam … viên quan này còn bị bẽ mặt trước vế đối lại cứng cỏi của ông Giang Văn Minh.
c) Sứ thần Giang Văn Minh … dùng mưu làm cho vua nhà Minh buộc phải tuyên bố bỏ lệ góp giỗ Liễu Thăng … ông còn giữ được danh dự và thể diện cho đất nước qua vế đối cứng cỏi, tràn đầy lòng tự hào dân tộc.
3. Nghĩ về nơi dòng sông chảy ra biển, trong bài Cửa sông, nhà thơ Quang Huy viết:
Cửa sông chẳng dứt cội nguồn
Lá xanh mỗi lần trôi xuống
Bỗng… nhớ một vùng núi non.
Em hãy chỉ rõ những hình ảnh nhân hoá được tác giả sử dụng trong khổ thơ trên và nêu ý nghĩa của những hình ảnh đó.
4. Tả một thứ đồ chơi của em (hoặc đồ vật dùng để vui chơi nơi công cộng mà em biết). | Đề 25 –Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 309 | |
Đề 25: Cảm nhận về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 25: cảm nhận của em về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh.
Bài làm
“Thơ là thu của đất trời, thu là thơ của lòng người”. Mùa thu đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân muôn đời. Đó là một mùa thu vàng rực rỡ, tràn trề sức sống trong Mùa thu vàng của danh hoạ Lêvitan, là bức tranh thu nơi đồng bằng Bắc Bộ hiu hắt trong thơ Nguyễn Khuyến (chùm ba bài thơ thu), là những bước chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam vào những ngày thu trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi, là cái thu lạnh lẽo, “rét mướt” trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu… Cũng góp một gam màu dệt nên bức tranh thu tuyệt sắc ấy, Hữu Thỉnh mang đến cho ta một Sang thu mới mẻ, nhẹ nhàng mà sâu lắng, khai thác được những cung bậc tế vi của thời khắc giao mùa sang thu:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về.
Sông được lúc dềnh dùng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám máy mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Vẫn còn bao nhêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Từ nhan đề của bài thơ, tác giả đã xác định cho người đọc một tâm thế để cảm nhận: thời điểm giao mùa “sang thu”. Đó không phải là những ngày chính thu, khi trời cao xanh ngắt những tầng mây lơ lửng, không phải là cuối thu khi chớm lạnh, “Đã nghe rét mướt luồn trong gió” (Xuân Diệu – Đây mùa thu tới). Sang thu là mới chớm thu, khi những dấu hiệu báo mùa về mới chỉ ở trạng thái “chớm”, nhẹ nhàng.
Bài thơ ngắn, thể thơ bốn chữ với nhịp thơ nhanh, ngôn ngữ thơ dung dị càng tô đậm hơn cảm xúc của nhà thơ được kí thác trong từng câu chữ. Dường như đó là những cung bậc cảm xúc tự lên tiếng, tự tìm cho nó cách thể hiện tốt nhất.
Dấu hiệu đầu tiên của mùa thu là hương ổi:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se…
Không đi theo lối mòn của những công thức ước lệ quen thuộc trong thơ ca trung đại là mùa thu gắn với lá ngô đồng (Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ tận tri thu); hay với rừng phong (Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san), Hữu Thỉnh nắm bắt khoảnh khắc giao mùa ở một tín hiệu mới mẻ: hương ổi. Nó gần gũi lắm với làng quê Việt Nam. Sau khi chắt nắng từ những ngày hè nóng cháy, những ngày thu sang, ổi bắt đầu chín và toả hương. Khắp đường làng, ngõ xóm tràn ngập hương ổi thom. Ở đây, Hữu Thỉnh để người đọc tự cảm nhận mà không hề đưa ra một định ngữ đi kèm để định tính cho nó. Nhưng dường như chính điều đó lại làm cho cảnh sắc có chiều sâu và bức tranh giao mùa hiện lên mênh mang hơn.
Từ khứu giác, cảm giác của nhà thơ nhanh chóng chuyển sang thị giác để ngắm nhìn những làn sương mỏng manh “chùng chình qua ngõ”. Chỉ một từ “chùng chình” đủ để làm cho hình ảnh sương trở nên sinh động, có hồn. Nó cho ta cảm nhận được cả không gian tràn ngập sương mờ ẩm ướt của buổi giao mùa thu sang. Làn sương mỏng manh, như còn lưu luyến, vương vấn gì hay đang muốn nhắc nhớ mọi người thời điểm giao mùa đã tới.
Dường như những sự vật đó đã gọi mùa về, để rồi nhà thơ phải thốt lên:
Hình như thu đã về.
Một cảm giác mơ hồ trong hai chữ “hình như”, một sự gượng nhẹ, sợ điều gì đó mỏng manh sẽ vỡ oà. Lắng lại sau giây phút ngỡ ngàng, nhà thơ tiếp tục khám phá những biểu hiện của mùa thu:
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Từ những đặc trưng riêng của mùa thu, nghiêng về cảm giác, đến đây đã chuyển sang những đổi thay của thiên nhiên dưới tác động của ngày mùa sang. Dòng sông, cánh chim hay đám mây không tô điểm cho cảnh thu bởi những gam màu đặc trưng mà đánh dấu ngày thu đang đến qua những “đặc trưng thu” của mình. Không còn những ngày hè mưa đổ, sông đục ngầu, cuộn sóng dữ dội mà đã “dềnh dàng”, bình lặng, trôi êm đềm theo làn gió mùa thu trong lành, hiu hắt, nhẹ nhàng. Trái ngược với sự bình thản của dòng sông là sự “vội vã” của bầy chim. Mùa thu sang báo hiệu những ngày đông giá sắp sửa, chúng phải nhanh chóng di trú về phương nam tránh rét. Trong cái “vội vã” của bầy chim như chứa chở cả cái nắng nóng của mùa hè phương Bắc vào miền ấm áp. “Đám mây mùa hạ” kia như cũng hoà cùng sự đổi thay của đất trời để “Vắt nửa mình sang thu”. Biện pháp nhân hoá độc đáo mang đến cho người đọc những dự cảm lí thú. Một sự liên tưởng mới mẻ của một trí tưởng tượng độc đáo: đám mây như chiếc cầu nối hai mùa, còn dang dở mùa hạ và bắt đầu chuyển mình sang thu. Hành động “Vắt nửa mình sang thu” của đám mây có giống tâm trạng “chùng chình” của làn sương, có khác hành động “vội vã” của bầy chim hay sự “dềnh dàng” của dòng sông? Tất cả chúng dường như đều có điểm chung là trạng thái giao mùa. Thế mới biết nhà thơ phải có tài quan sát và tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước tha thiết mới có thể cảm nhận được những biến chuyển tế vi trong từng sự vật như vậy. Nhà thơ thấu cảm sự vật, miêu tả chính xác trạng thái và thổi hồn vào tạo vật, mang đến cho chúng những cảm giác rất người.
Những biểu hiện của mùa thu tiếp tục được khắc hoạ rõ ràng hơn ở khổ thơ cuối:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
Thu đến, vạn vật vẫn còn những đặc trưng của mùa hạ nhưng mức độ đã giảm dần.“Vẫn còn bao nhiêu nắng” – cái nắng nhẹ nhàng, dịu dàng của mùa thu. Câu thơ giản dị như lời nói thường dung dị, tự nhiên, như bước chuyển mùa âm thầm, lặng lẽ… Những cơn mưa bất chợt đã “vơi dần” theo ngày hạ đang trôi qua. Hàng cây đã quá quen với mưa dông, bão nổi, được nhà thơ gọi một cách hình ảnh là “hàng cây đứng tuổi”. Đến đày, người đọc như có những cảm nhận mới về câu thơ. Không chỉ còn là tả thực về thiên nhiên, tạo vật mà còn bao hàm ý nghĩa nhân sinh sâu xa. Nắng, mưa, sấm, chớp… hay là những sóng gió của cuộc đời và “hàng cây đứng tuổi” hay là con người từng trải qua bao biến động, ba đào, không còn “bất ngờ” trước những vang động của đời? Chính nguồn mạch liên tưởng ấy mang lại cho thiên nhiên vẻ đẹp sâu lắng của cõi nhân sinh.
TRỊNH SAO MAI
Lời nhân xét:
– Bài viết thực sự gây ấn tượng với lối viết nhẹ nhàng mà sâu lắng. Người viết đã nắm bắt chính xác cái hồn của Sang thu. Lối phân tích chan chứa tình cảm nhưng vẫn lô gích, mạch lạc.
– Người viết đã bám sát vào ngôn từ giàu tính biểu đạt, các hình ảnh thơ đặc sắc như: hương ổi, dòng sông, đám mây và cảm nhận được sự tinh tế trong cách dùng từ của tác giả: “Từ “bỗng” đầu câu thơ như đặt cả một sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên. Có cảm tưởng như thi nhân đã vô tình với thiên nhiên, để rồi hương ổi nhẹ nhàng lan toả trong gió đã lên tiếng gọi, thức động tâm hồn nghệ sĩ đón nhận và rung cảm trước bước đi của mùa. Từ “phá” được sử dụng thực sự đắc địa. Hương ổi được nhân hoá, biết tự mình mang hương sắc hoà nhập vào thiên nhiên, đánh dấu bản ngã của mình, “phả vào trong gió se” hương thơm nồng nàn để báo hiệu một mùa mới đã sang. | Đề 25_ Cảm nhận về bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,441 | |
Đề 26 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề tả cây hoa có những vẻ đẹp em thích
1. Xác định các vế câu, cặp từ hô ứng nôi các vế câu trong từng câu ghép dưới đây:
a) Bích Vân vừa về đến nhà, Hồng Hạnh đã gọi đi ngay.
b) Tôi chưa đi đến lớp, các bạn đã đến đông đủ rồi.
c) Gà mẹ đi đến đâu, gà con đi theo đấy.
d) Tôi bảo sao thì nó làm vậy.
2. Tìm cặp từ hô ứng thích hợp điền vào chỗ trống:
a) Gió … to, con thuyền … lướt nhanh trên mặt biển.
b) Đám mây bay đến cả một vùng rộng lớn rợp mát đến …
c) Trời … tối hẳn, vầng trăng tròn vành vạnh … hiện ra.
d) Thuyền … cập bến, bọn trẻ … xúm lại.
3. Trong bài Nhớ Việt Bắc (Tiếng Việt 3, tập một), nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi được nhà thơ Tố Hữu gợi tả như sau:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang…
Em hãy cho biết: Người cán bộ về xuôi nhớ những gì ở chiến khu Việt Bắc? Nỗi nhớ ấy bộc lộ tình cảm gì ở người cán bộ? | Đề 26 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 233 | |
Đề 26: Tâm sự của người cha đối với con trong bài thơ Nói với con của Y Phương – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 26: Cảm nhận và suy nghĩ của em về tâm sự của người cha đối với con trong bài thơ Nói với con của Y Phương.
Hướng dẫn phân tích
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ
Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha
Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ
Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha
Trong mỗi gia đình, nếu mẹ là người giữ lửa, giữ sự ấm áp cho mái nhà thì cha là trụ cột của gia đình. Bề ngoài, cha thường nghiêm khắc nhưng ẩn chứa bên trong là cả một trái tim bao la, thương yêu các con hết mực. Cha dạy con những điều lớn lao trong cuộc sống, là bờ vai vững chắc để các con nương dựa. Có biết bao áng văn thơ viết về tình cảm cha con. Y Phương – nhà thơ dân tộc Tày cũng mang đến cho thi đàn một tiếng thơ giản dị, hồn nhiên mà không kém phẩn sâu sắc về tình cha con ấm áp qua bài thơ Nói với con.
Tác phẩm dược viết theo thể thơ tự do, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị. Đặc biệt, bài thơ không đưa ra những chân lí to tát mà là lời tâm sự chân thành của một người cha dành cho đứa con yêu quý, dạy con hãy biết yêu thương, quý trọng, phát huy truyền thống của quê hương. Qua đó, tình cảm cha con hiện lên thật ấm áp và cao cả biết bao.
Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu một khung cảnh gia đình, quê hương thật đầm ấm, yên vui:
Chân phải bước tới cha
Chần trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Câu thơ được diễn đạt tự nhiên tái hiện không khí gia đình rộn rã tiếng cười. Đó là tiếng cười của con trẻ bi bô tập nói, chập chững tập đi ; là niềm hạnh phúc rạng ngời của mẹ cha khi thấy con mình dần khôn lớn. Trong bốn câu thợ, tác giả sử dụng bốn từ “bước”. Đó là bước chân của đứa con thơ đang tập đi, và đó cũng là bước chân của con đang dần bước vào cuộc đời rộng lớn. Nếu như ở những câu thơ đầu tiên, người con được sống trong vòng tay ấm áp, dìu dắt của mẹ cha thì đến những vần thơ tiếp theo, đứa con ấy còn được nuôi dưỡng bởi cái nôi lớn hơn: cái nôi quê hương, “đồng mình”:
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken cảu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng.
“Người đồng mình ” – cách nói sao mà giản dị, gần gũi. Người cha muốn đứa con bé nhỏ hiểu về sự chân chất, mộc mạc của người dân quê mình. Đó là những con người cần cù, chăm chỉ làm lụng (“Đan lờ cài nan hoa”). Nhưng bên cạnh đó họ còn có một tâm hồn rộng mở, tràn đầy tinh thần lạc quan (“vách nhà ken câu hát”). Động từ “ken” được sử dụng thật tự nhiên thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người “đồng mình”. Hình ảnh giàu sức ẩn dụ “Con đường cho những tấm lòng” thể hiện cuộc sống gắn bó, thấm đượm tình yêu thương, san sẻ của đồng bào. Với lối nói mộc mạc, chất phác, người cha giúp con cảm nhận được không khí ấm áp, hạnh phúc, yêu thương, nồng đượm của gia đình, quê hương mà từ đó đứa con được sinh ra, nuôi dưỡng, trưởng thành.
Trong mạch nguồn tâm sự, người cha còn cho con hiểu thêm về truyền thống đáng tự hào của “người đồng mình”, của quê hương, bản làng:
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Nhà thơ đã đưa vào thi phẩm cách đo đếm của người dân quê mình khiến cho lời thơ mang đậm phong vị dân tộc, giản dị mà sâu sắc biết bao: “Cao đo nôi buồn – Xa nuôi chí lớn”. Tác giả lấy khoảng cách cụ thể (cao, xa) để đo những đại lượng vô hình (nỗi buồn, chí lớn) từ đó người cha muốn con hiểu rằng: người đồng mình sống thật sâu sắc và có ý chí, nghị lực mạnh mẽ ; người đồng mình có một trái tim ấm áp và một nghị lực phi thường. Từ đó, người cha muốn hướng người con đến vấn đề sâu xa hơn – vấn đề lẽ sống:
Sông trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Y Phương không phải là nhà thơ duy nhất đưa lẽ sống vào thơ. Đã có biết bao nhà thơ, nghệ sĩ viết về vấn đề này. Nhà thơ Tố Hữu đã viết vể lẽ sống “cho – nhận” ở đời (“Sông là cho đâu chi nhận riêng mình”); nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua ca từ đã đề cập đến lẽ sống yêu thương (“Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”) Đó đều là những lẽ sống cao thượng, đẹp đẽ. Nhà thơ dân tộc Tày Y Phương qua cách nói “thô sơ” mà sâu sắc ý tình đã đem đến bài học: sống phải có nghị lực. Ông xây dựng nên một loạt các hình ảnh gợi sự khó khăn, vất vả: “đá gập ghềnh”, “thung nghèo đói” nhưng dường như cuộc sống càng khó khăn bao nhiêu thì con người càng phải vươn lên không ngừng, đấu tranh vượt qua nó. Cụm từ “không chẽ” được lặp lại hai lần nhằm khẳng định ý chí mạnh mẽ của con người. Người cha muốn dạy con lẽ sống có ý chí mạnh mẽ: “Sống như sông như suối – Lên thác xuống ghềnh – Không lo cực nhọc”. Đây thực sự là điều cần thiết cho mỗi con người khi bước chân vào đường đời lắm chông gai, nhọc nhằn bởi lẽ “đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi mà vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học).
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Ngựời đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Sự giản đơn bề ngoài “thô sơ da thịt” như càng làm tăng thêm sức mạnh niềm tin, ý chí bên trong mỗi con người. Hình ảnh “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang tính tả thực (chỉ truyền thống làm nhà kê đá cho cao của người miền núi) vừa mang nghĩa ẩn dụ sâu sắc. Người cha muốn nói với con: chính người dân quê mình đã tự tay xây dựng nên truyền thống quê hương giàu đẹp. Câu thơ ngầm chứa niềm tự hào, kiêu hãnh. Cha đã nhắc nhở, chỉ dạy cho con về phẩm chất, phong tục, truyền thống cao quý của quê hương mình. Đố là tình yêu thiêng liêng cần có trong bản thân mỗi người.
Bài thơ khép lại bằng âm hưởng của một lời nhắn nhủ trìu mến với bao niềm hi vọng của cha đặt vào đứa con yêu:
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con
Trong hành trang của người con mang theo khi “lên đường” có một thứ quý giá hơn mọi thứ trên đời đó là ý chí, nghị lực, truyền thống của quê hương. Lời dặn ẩn chứa niềm hi vọng lớn lao của cha, hi vọng đứa con sẽ tiếp tục vững bước trên đường đời, tiếp nối truyền thống và làm vẻ vang quê hương. Hai tiếng “Nghe con” lắng đọng bao cảm xúc, ẩn chứa tình yêu thương vô bờ bến của cha dành cho con.
THỦY HÀ
Lời nhận xét:
– Bài viết đã tạo ấn tượng cho người đọc ngay từ phần mở bùi rất tự nhiên mà lôi cuốn với những trích dẫn, liên hệ phù hợp. Người viết đã cảm nhận chiều sâu trong lời tâm sự của người cha với con để thấy tình cảm đậm sâu của cha dành cho con. Đặc biệt, Thủy Hà nắm bắt được phong cách thơ mang âm hưởng dân tộc, lời lẽ giản dị, dễ hiểu mà ý tứ sâu xa: “Nhà thơ đã đưa vào thi phẩm cách đo đếm của người dân quê mình khiến cho lời thơ đậm phong vị dân tộc, giản di mà sân sắc biết bao: “Cao đo nỗi buồn – Xa nuôi chí lớn”. Tác giả lấy khoảng cách cụ thể (cao, xa) để đo những đại lượng vô hình (nỗi buồn, chí lớn) từ đó người cha muốn con hiểu rằng: người đồng mình sống thật sâu sắc và có ý chí, nghị lực mạnh mẽ ; người đồng mình có một trái tim luôn ấm áp và một nghi lực phi thường”.
– Bài viết có sự liên hệ, so sánh phong phú, sâu sắc so sánh lẽ sống trong thơ của Y Phương với thơ của Tố Hữu, nhạc Trịnh Công Sơn.
Tags:hot | Đề 26_ Tâm sự của người cha đối với con trong bài thơ Nói với con của Y Phương – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,542 | |
Đề 27 – Đề bài luyện tập – Bôi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề học sinh giỏi Tiếng Việt tả cây ăn quả
1. Tìm từ được lặp lại nhiều trong đoạn trích sau. Việc lặp lại từ trong trường hợp này có tác dụng gì?
Cái đẹp của Hạ Long trước hết là sự kì vĩ của thiên nhiên.Trên một diện tích hẹp mọc lên hàng nghìn đảo nhấp nhô khuất khúc như rồng chầu phượng múa. Đảo có chỗ sừng sững chạy dài như bức tường thành vững chãi, ngăn khơi với lộng, nối mặt biển với chân trời. Có chỗ đảo dàn ra thưa thớt, hòn này với hòn kia biệt lập, xa trông như quân cờ bày chon von trên mặt biển. Tuỳ theo sự phân bố của đảo, mặt vịnh Hạ Long lúc toả mênh mông, lúc thu hẹp lại thành ao, thành vũng, lúc bị kẹp giữa hai triền đảo như một dòng suối, lúc uốn quanh chân đảo như dải lụa xanh.
(Theo Thi Sảnh)
2. Chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trông trong đoạn trích dưới đây, để tạo sự liên kết giữa các câu trong đoạn:
Cuộc sống quê tôi gắn với … Cha làm cho tôi chiếc … để quét nhà, quét sân. Mẹ đựng hạt giống đầy móm lá cọ, treo lên gác bếp, để gieo cấy mùa sau. Chị tôi đan nón lại biết đan cả … và … xuất khẩu. Chiều chiều chăn trâu, chúng tôi rủ nhau đi nhặt những … rơi đầy quanh gốc về om, ăn vừa béo vừa bùi.
(Theo Nguyễn Thái Vận)
(lá cọ, mành cọ, làn cọ, cây cọ, chổi cọ, trái cọ)
Nước chúng ta,
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
Em hiểu những câu thơ trên như thế nào? Hai dòng thơ cuối muôn nhắc nhở ta điều gì?
4. Tả một cây ăn quả ở quê em (hoặc ở nơi khác) mà em có dịp quan sát và thưởng thức loại quả đó. | Đề 27 – Đề bài luyện tập – Bôi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 345 | |
Đề 27: Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 27: Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê
Bài làm
Nguyễn Minh Châu là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Với quan niệm viết văn là “đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”, tác giả đã cố gắng lách ngòi bút của mình vào sâu thế giới nội tâm nhân vật để tìm kiếm những hạt ngọc tiềm tàng. Nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê được xây dựng theo quan điểm đó. Bằng ngòi bút khắc họa tâm lí tài tình, Nguyễn Minh Châu đã đưa người đọc vào thế giới tâm trạng của Nhĩ trong một buổi sáng đầu thu, qua đó gửi đến độc giả những bài học triết lí nhân sinh về cuộc đời con người.
Xây dựng nhân vật Nhĩ, Nguyễn Minh Châu đã đặt nhân vật vào hoàn cảnh éo le, ngặt nghèo trong những ngày cuối đời. Là người đã từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, vậy mà cuối đời Nhĩ lại bị buộc chặt trên giường bởi một căn bệnh quái ác khiến anh gần như liệt toàn thân và sự sống của Nhĩ gần như cạn kiệt. Khai thác tình huống này, tác giả phát hiện và nhấn mạnh vào những nghịch lí trong cảnh ngộ của anh: Là người đã từng đi khắp thế giới nhưng Nhĩ lại chưa từng đặt chân lên cái bãi bồi màu mỡ ngay phía bên kia sông, từng bay những chuyến bay vượt nửa vòng trái đất nhưng nay lại không nhích được mình dịch chuyển vài mươi phân trên giường bệnh. Đứa con trai mà anh nhờ thay mình thực hiện điều khao khát là đặt chân lên bờ bãi phía bên kia sông lại mải mê sa vào một đám chơi cờ thế trên hè phố, có thể lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Tạo ra một chuỗi những tình huống nghịch lí như trên, tác giả muốn lưu ý người đọc rằng cuộc sống và số phận của con người chứa đựng những điều bất thường, những nghịch lí, ngẫu nhiên vượt ra ngoài những dự định, ước muốn, những hiểu biết và tính toán của chúng ta. Ngoài ra, tác giả còn muốn nhắn nhủ với người đọc: chúng ta thường hay hướng đến những điều cao xa mà vô tình không biết đến những vẻ đẹp gần gũi ngay bên cạnh mình như vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông đối với nhân vật Nhĩ.
Nằm trên giường bệnh, Nhĩ suy ngẫm và nhận ra nhiều điều. Trước tiên, anh nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên xung quanh mình, vẻ đẹp của buổi sáng đầu thu được nhìn từ cửa sổ căn phòng. Cảnh vật được miêu tả trong tầm nhìn của anh, từ gần đến xa, tạo thành một không gian vừa có chiều sâu vừa có chiều rộng: những bông hoa bằng lăng ngay phía cửa sổ, con sông Hồng phía xa xa với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu, mặt sông như rộng thêm ra, vòm trời cũng cao hơn, những tia nắng sớm di chuyển trên mặt nước, cả một vùng phù sa lâu đời của bãi bồi bên kia sông với sắc màu quen thuộc. Đó chính là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp diễn ra hàng ngày mà đến hôm nay Nhĩ mới thấy. Tất cả đều được anh cảm nhận bằng những cảm xúc rất tinh tế. Không gian và những cảnh vật ấy vốn quen thuộc, gần gũi nhưng lại như rất mới mẻ với Nhĩ. Có lẽ đây là lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó. Cái nhìn ấy thể hiện niềm tha thiết với cuộc sống, với vẻ đẹp bình dị mà sâu xa của thiên nhiên, của quê hương ở nhân vật Nhĩ.
Không chỉ có những tình cảm rất đáng quý với thiên nhiên quanh mình, với những người thân yêu, lần đầu tiên Nhĩ cũng nhận ra vẻ đẹp đặc biệt của bãi bồi phía bên kia sông, nhận thấy những sắc màu quen thuộc như da thịt, như hơi thở của đất đai màu mỡ. Nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn mà cả đời mình không nhận ra, anh khao khát được đặt chân lên nơi đó. Và trớ trêu thay, với “con người đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất như Nhĩ, cái bờ bãi bên kia sông giờ đây lại trở thành “một chân trời gần gũi mù lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến”. Việc Nhĩ khao khát được đặt chân lên vùng đất ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bình dị, bền vững mà sâu xa của đời sống. Những giá trị thường bị chúng ta lãng quên, vô tình lại chính là những điều giản dị, mộc mạc, đơn sơ như gia đình, quê hương vì khi còn trẻ, con người dễ chạy theo những ham muốn xa vời. Sự thức nhận này chỉ đến vói con người khi họ đã từng trải, đã thấm thía những sướng vui và cay đắng… Cùng với sự thức tỉnh đó là những nỗi xót xa cay đắng, vì ân hận, vì nuối tiếc. Nhĩ cũng nhận ra khi anh biết đến giá trị giản dị nhưng đích thực của cuộc sống thì anh lại không còn nhiều thời gian và khả năng để thực hiện nó nữa. Càng trớ trêu hơn khi Nhĩ nhờ con trai mình thực hiện cái ước muốn nhỏ bé ấy thì con anh lại không thể hiểu được niềm khao khát của cha nó nên nó thực hiện một cách miễn cưỡng để rồi bị cuốn hút theo trò chơi hấp dẫn mà nó gặp trên đường đi. Rất có thể nó sẽ lỡ mất chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Từ hoàn cảnh éo le của mình, từ việc làm của đứa con, Nhĩ đã chiêm nghiệm ra cái quy luật phổ quát của cuộc đời: “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những điều vòng vèo hoặc chùng chình”. Chính vì hiểu được quy luật này nên anh không trách con mình, bởi cũng như anh trước đây “nó đã thấy có gì hấp dẫn ở phía bên kia sông đâu”. Đến cuối truyện, chúng ta thấy hành động đặc biệt của Nhĩ: “mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai mắt long lanh chứa một nỗi say mê đầy đau khổ, cả mười đẩu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cúi bậu cửa sổ… Anh đang cố thu nhặt hết mọi chút sức lực cuối cùng còn sót lại để đu mình nhô người ra ngoài, giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát y như đang khẩn thiết ra hiệu cho một người nào”. Có lẽ anh đang khẩn thiết ra hiệu cho con trai của mình, sợ nó “chùng chình”, sẽ lỡ mất cơ hội sang sông. Dường như Nhĩ cũng muốn thức tỉnh chúng ta về những điều vòng vèo, “chùng chình” để rút ra khỏi đó, hướng đến những giá trị đích thực, giản dị và gần gũi.
TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN
Lời nhận xét:
– Bài viết đã đi sâu khám phá, phân tích diễn biến tâm lí, niềm khát khao, suy tư, trăn trở của nhân vật Nhĩ. Người viết đã đi sâu khám phá những triết lí sâu xa mà tác giả muốn gửi gắm. “Tao ra một chuỗi những tình huống nghịch lí như trên, tác giả muốn lưu ý người đọc rằng cuộc sống và sô phận của con người chứa đựng những điều bất thường, những nghịch lí, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định, ước muốn, cả những hiểu biết và tính toán của chúng ta. Ngoài ra, tác giả còn muốn nhắn nhủ với người đọc: Chúng ta thường hay hướng đến những điều cao xa mà vô tình không biết đến những vẻ đẹp gần gũi ngay bên cạnh mình như vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông đối với nhân vật Nhĩ ”.
– Diễn đạt trôi chảy, mạch lạc. Văn phong trong sáng, có những đánh giá sâu sắc. | Đề 27_ Phân tích nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,411 | |
Đề 28 – Cảm nghĩ về câu chuyện “Điều kì diệu của đôi bàn tay” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Điều kỳ diệu của đôi bàn tay
Đề 28:
ĐIỀU KÌ DIỆU CỦA ĐÔI BÀN TAY
Khi mới sinh ra, tôi đã có thể cảm nhận được hơi ấm từ đôi bàn tay mẹ. Đôi bàn tay luôn nâng niu, lo lắng từng giấc ngủ, từng bữa ăn cho tôi. Đôi bàn tay đã dìu tôi những bước đi chập chững đầu tiên, nâng đỡ mỗi khi tôi té ngã và nhẹ nhàng chăm sóc những vết thương do tôi nghịch ngợm gây ra.
Suốt những năm tháng đi học, bàn tay mẹ vẫn âm thầm lo lắng cho tôi. Bàn tay mẹ kiên nhẫn dạy tôi viết những nét chữ đầu tiên, giặt sạch chiếc áo tôi mặc, đánh bóng đôi giày tôi mang; thắp sáng ngọn đèn trên bàn học, dọn dẹp gọn gàng bàn ghế, tủ sách cho tôi. Bàn tay mẹ còn chuẩn bị cả chiếc giường tươm tất, chăn màn cho tôi nằm ngủ mỗi tối…
Trên thế gian này, còn điều gì kì diệu và quỷ giá hơn đôi bàn tay mẹ? Đôi tay chai sần, vất vả nhưng êm ái, dịu dàng và bất cứ khi nào cũng đầy ắp tình thương yêu dành cho bạn. Dù đi bất cứ nơi nào, ta cũng luôn khao khát được quay trở lại về bên vòng tay yêu thương của mẹ.
(Hạt giống tâm hồn, 2007)
Hãy viết bài văn nêu cảm nghĩ cùa em về câu chuyện trên.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
Trước hết, em cần xác định đây là dạng đề bài: tư tưởng đạo lí
Nêu lên những cảm nhận của em về đôi bàn tay của mẹ?
Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho sự yêu thương của mẹ dành cho em?
Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học nào thông qua câu chuyện trên?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Mẹ là người đã sinh ra ta, yêu thương, chăm sóc và nuôi dạy ta khôn lớn nên người. Trong đó, đôi bàn tay mẹ là gây cho tôi một ấn tượng sâu sắc vì qua đôi bàn tay ấy tôi cảm nhận được tình cảm mẫu tử thật thiêng liêng.
II. THÂN BÀI
a. Miêu tả người mẹ
Em có thể miêu tả những đặc điểm đặc sắc của người mẹ nhưng cần chú ý đôi bàn tay mẹ nhiều hơn (đôi bàn tay chai sần, gầy gầy xương xượng vì mưa gió, vì năm tháng,…)
Đưa ra cảm nhận của em về đôi bàn tay ấy.
b. Kể một câu chuyện ngắn có liên quan đến đôi bàn tay thân thương của mẹ
Câu chuyện kể cần ngắn gọn, có đầu có đuôi và kết thúc câu chuyện em có cảm nghĩ gì về đôi bàn tay ấy.
III. KẾT BÀI
Nêu lên cảm xúc của em mỗi khi được nắm bàn tay ấy.
Đưa ra lời hứa hẹn của em đối với mẹ. (học tập tốt, luôn phấn đấu làm con ngoan trò giỏi để mẹ được vui lòng,…)
BÀI VĂN THAM KHẢO
BÀI VĂN 1
Theo em, đây là một câu chuyện mang đậm tính chất nhân văn, sâu sắc và đầy biểu cảm giúp chúng ta hiểu thêm về sự kì diệu của người mẹ, tình yêu thương vô bờ bến của người mẹ đối với con cái mà không thứ gì có thể sánh bằng.
Từ những dòng đầu tiên, câu chuyện đã cho chúng ta thấy bàn tay của người mẹ là tuyệt vời hơn cả. Khi chúng ta vừa mới bước chân vào thế giới này, chính bàn tay mẹ là thứ đã đón nhận chúng ta đầu tiên, một đôi bàn tay đầy ắp tình yêu thương và niềm hạnh phúc ngập tràn. Đôi bàn tay đã nâng niu, âu yếm một hình hài nhỏ bé, run rẩy và khuôn mặt đầy sự sợ hãi của chúng ta. Cũng từ lúc đó, bố mẹ đã phải gánh thêm một gánh nặng đó chính là nuôi nấng chúng ta nên người. Và khi chúng ta đặt những bước chân đầu tiên đến trường, bàn tay mẹ cũng chính là thứ nâng bước cho chúng ta có thể tự tin hơn để bước vào một môi trường mới, gặp những người bạn mới và thầy cô mới. Ngay cả khi chúng ta vấp ngã, bàn tay mẹ cũng dịu dàng ôm chúng ta vào lòng, vỗ về và khuyên nhủ chúng ta không nên bỏ cuộc, phải tiếp tục bước đi trên con đường của chính mình. Và một ngày khi bạn lỡ làm mẹ buồn lòng, thì hãy xin lỗi mẹ ngay đi vì những lúc ấy bạn hãy nhớ lại những việc mà mẹ đã làm cho ta và ôm lấy mẹ nhé!
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 2
“Bàn tay mẹ, bế chúng con…
Bàn tay mẹ, chăm chúng con… ”
(Trích bài hát “Bàn tay mẹ ” — Tạ Hữu Yên)
Lời bài hát như in sâu vào tâm trí của em, gợi nhớ cho em những công lao nâng niu, chăm sóc của mẹ dành cho em suốt mười ba năm qua. Ôi! Mẹ sao mà tuyệt vời!
Chắc hẳn, người mẹ của mồi chúng ta đều có đôi bàn tay gầy gầy xương xương. Đó là do mẹ đã làm việc, kiếm tiền nuôi chúng ta khôn lớn và chịu đựng nhiều vất vả. Đọc đoạn đầu của câu chuyện, em chợt ngẫm lại những điều mà mẹ đã làm cho em mà trước đây, em chưa từng một lần nghĩ tới. Em cũng được lớn lên trong vòng tay của mẹ và cũng đã có thể cảm nhận được hơi ấm của đôi bàn tay ấy. Nhưng chúng ta đã có khi nào quan tâm và thật sự hiểu được ý nghĩa của nhũng việc mà mẹ đã làm cho chúng ta chưa? Ngay giây phút này đây, em mới thấm thía được những điều ấy và em cảm thấy thương mẹ biết dường nào!
Đôi bàn tay mẹ đã chịu nhiều vất vả để nuôi em khôn lớn đến nay. Những chiếc áo ấm em mặc vào mùa đông, những bữa cơm ngon hàng ngày…Tất cả đều ướt đẫm mồ hôi của bàn tay mẹ. Khi em nghịch ngợm và để bị trầy xước, mẹ đã nâng đỡ em, xoa dịu những vết thương đó. Nếu em là một cây con thì đôi bàn tay mẹ là ánh nắng giúp cho cây thêm sức sống. Câu chuyện này lại khiến cho em hồi tưởng về thời thơ ấu của em. Những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, đương nhiên, em đã phải đối diện với biết bao là khó khăn. Bạn mới, thầy cô mới, trường lớp mới, cả một thế giới mới. Nhưng chính đôi bàn tay gầy xương của mẹ đã nâng đỡ em, cho em thêm nghị lực để đứng vững và bước tiếp trên con đường bao gian nan ấy. Cũng như tác giả và bao người khác, mẹ lúc nào cũng ở bên cạnh giúp đỡ em. Đôi bàn tay mẹ kiên nhẫn dạy em viết những nét chữ đầu tiên. Mẹ tần tảo sớm hôm, làm những việc cực nhọc để lo cho gia đình, lo cho em ăn học. Vào những đêm khuya, em bỗng thức giấc, thấy mẹ đang ngồi đánh bóng đôi giầy em mang, may vá thật kĩ chiếc áo mà hằng ngày em mặc đến trường, lòng em cảm thấy day dứt, cảm động trước những việc ấy. Em muốn nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, trời khuya lắm rồi! Mẹ vào ngủ đi! Đừng làm nữa!”. Nhưng em lại không thể nói được chẳng hiểu vì sao? Có thể em chưa đủ dũng cảm để bày tỏ tình cảm sâu kín cùa mình với mẹ nhưng em cũng có thể lặng lẽ làm được một điều gì đó khiến mẹ vui lòng. Đọc đến đoạn hai, em tự trách mình, tại sao bấy lâu nay, em chưa hề quan tâm hay thực sự hiểu rõ những cực nhọc, vất vả của mẹ. “Trên thế gian này, còn điều gì kì diệu và quý giá hơn đôi bàn tay của mẹ”. Đôi bàn tay ấy đã cho em có được cuộc sống ấm no như ngày hôm nay. Dù cho đôi bàn tay ấy chai sần, vất vả nhưng êm ái, dịu dàng và luôn đầy ắp tình yêu thương ấm áp.
Những cảm nhận trên đã cho chúng ta thấy được công lao trời biển của những người mẹ dành cho chúng ta. Sau này, nếu có trưởng thành thì em vẫn khao khát được quay trở lại vòng tay yêu thương của mẹ. Em đã từng nghe qua những dòng thơ mà trong lòng dâng lên biết bao nỗi niềm:
Khi mẹ không còn dỗ dành con
Là lúc mẹ không lau nước mắt cho con
Là lúc mẹ không còn
Hoa hồng đỏ từ nay hóa trắng
Ôi! Thời gian ơi! Hãy trôi thật chậm để em có thêm giây phút ở bên mẹ và có thể đền đáp công lao to lớn ấy! Mẹ ơi! Chờ con lớn lên, con sẽ giúp mẹ! Một lần nữa, em thật sự biết ơn tạo hoá đã cho em một người mẹ thân yêu luôn quan tâm, chăm sóc cho em. Em biết ơn nhiều lắm.
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 3
Cũng như tác giả, tôi, một đứa con gái vụng về, luôn được bàn tay chai sần, vất vả nhưng êm ái của mẹ chở che.
Con nhiều lần ngồi suy nghĩ về những điều kì diệu và quý giá mà chính đôi bàn tay mẹ đã làm cho con. Đôi bàn tay cũng là phương tiện để mẹ mưu sinh, lại là đôi bàn tay mà tất cả mọi người con đều ao ước được nắm lấy. Mẹ, một người luôn hiền từ nhân hậu, luôn dang tay đón lấy những người con thân yêu khi xa cách trở về. Nhưng đôi tay ấy còn làm rất nhiều việc, may vá, giặt rửa,… và đôi bàn tay gầy gò, sương gió ấy còn dìu dắt cho những đứa bé mà mình mang nặng đẻ đau để tập đi. Từ những bước đi đầu tiên lần theo vách nhà, tôi đã được sự nâng đỡ, dìu dắt của mẹ. Khi tôi bệnh thì cũng là một tay mẹ chăm sóc. Từng muỗng cháo nóng hổi, chan chứa bao nhiêu là tình cảm mẹ dành cho tôi, nhờ thế mà tôi mau lành bệnh. Người mẹ nào mà không thương con, yêu con bằng một tình yêu bao la, cao cả. Câu chuyện đã cho tôi nhìn thấy được khoảng thời gian hơn mười mấy năm trời mẹ âm thầm, lo lắng cho tôi. Đến tuổi đi học, vẫn là đôi bàn tay mẹ lựa chọn, mua sắm những điều tốt nhất cho tôi. Trái tim người mẹ thật rộng lớn, bao la, làm sao mà người con hiểu được. Bàn tay mẹ cũng đã nhẹ nhàng, kiên nhẫn, cầm tay tôi nắn nót viết từng chữ để ngày hôm nay từng con chữ của tôi đều đặn và đẹp đẽ. Tấm lòng thương yêu, tình cảm sâu nặng của người mẹ dành cho mọi người con chúng tôi đã được câu chuyện diễn tả tất cả. Câu chuyện đã nói về tình vêu thương tha thiết mà mẹ đã dành cho mỗi người con chúng ta. Từng tấm áo trắng tinh tươm, thẳng đều, không một vết nhăn đã được mẹ chuẩn bị từ đêm hôm trước cho ta. Những vết nhăn, vết chân chim hiện ra ngày một nhiều hơn trên vầng trán cao, ở đuôi mắt. Đôi tay ấy đã thắp sáng lên những ngọn đèn tri thức, dọn dẹp bàn ghế, sách vở,… cho các con mình chuyên tâm vào mà học. Mỗi khi thức khuya ôn bài, sẵn bên tôi là mẹ, mẹ ngồi dò từng nét chữ, từng bài tập mà tôi làm. Chốc chốc, mẹ lại đi xuống lầu lấy một Iy nước, pha một ca sữa để tôi uống bổ sung năng lượn. Khi chuẩn bị ngủ, mở cửa phòng ra là nhìn thấy, giường chiếu tươm tất, chăn màn gọn gàng. Đọc câu chuyện trên xong, tôi mới hiểu rằng: những điều mà đôi tay mẹ xương xương, bên trong lại là cả một thế giới kì diệu, thần tiên mà chính đôi bàn tay mẹ đã gầy dựng nên. Thật tuyệt vời!
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 4
“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ “
Suốt cuộc đời mẹ đã lo lắng cho tôi. Từng miếng ăn giấc ngủ của tôi đều do chính bàn tay ấm áp, tràn đầy yêu thương của mẹ dành cho. Bài văn trên đã bộc lộ cảm xúc về đôi bàn tay mẹ thật sâu sắc.
Sau mười ba năm dài dằng dặc, tôi đã ngày một lớn khôn, còn mẹ, người phụ nữ đã sinh tôi ra trong đau đớn và giáo dục tôi thành người đã ngày một già yếu. Thật chua xót biết bao mỗi khi nghĩ đến điều ấy! Đôi bàn tay mẹ đã chai sần vì tôi. Mẹ đã hi sinh cả tuổi đời hạnh phúc chỉ để chăm sóc tôi. Mẹ thật cao cả! Cũng như đôi bàn tay của mẹ tôi, bàn tay người mẹ của tác giả lúc nào cũng đầy ắp những yêu thương, nhưng tác giả không hề xấu hổ vì đôi bàn tay của mẹ, đôi bàn tay chai sần vì hạnh phúc cuộc đòi của con. Tôi luôn cảm nhận được một màu hồng hạnh phúc khi tôi ở bên cạnh mẹ. Đôi bàn tay ấy. Ôi! Tôi cảm động biết bao khi nghĩ về nó. Đôi bàn tay kì diệu đã từng là chiếc nôi ru ta khi còn bé, để tác giả có những giấc ngủ ngon và những giấc mơ đẹp về ước mơ của cuộc đời. Quan trọng nhất, đó là những nấc thang hi vọng, toả ra hào quang tươi sáng đưa ta lên đỉnh vinh quang. “Bàn tay mẹ vẫn âm thầm lo lắng cho tôi”. Sự âm thầm ấy chưa khi nào chúng ta hiểu hết được. Âm thầm và nhẹ nhàng, sự nhẹ nhàng đó đã giúp ta lớn lên và thành công trong sự nghiệp. Cảm động biết bao khi nghe được câu nói trên. Cái cuộc đời sung sướng mà tác giả chưa một lần mơ đến đã trở thành hiện thực dưới đôi bàn tay mẹ. ‘‘Bàn tay mẹ kiên nhẫn dạy tôi viết những nét chữ đầu tiên”. Mẹ của tác giả là người thầy đầu tiên, là sự giáo dục đầu tiên đối với tác giả. “Đánh bóng đôi giày tôi mang, giặt sạch chiếc áo tôi mặc”. Như thế đã đủ biết mẹ tác giả đã lo lắng chăm sóc tác giả từng li từng tí, kĩ lưỡng như thế nào. Sự kĩ lưỡng đó đôi khi khiến chúng ta khó chịu, nhưng cứ nghĩ mà xem, nếu một ngày đôi giày của bạn không ai đánh bóng, chúng bám đầy bụi. Chiếc áo bạn mặc luôn có những vết ố vàng, không ai giặt sạch. Lúc đó bạn sẽ thiết tha được mẹ ôm vào lòng, được đôi bàn tay kì diệu ấy chăm sóc từng li từng tí, kĩ lưỡng một chút một! Lúc ấy bạn có hạnh phúc không? Thật hạnh phúc biết mấy đúng không! Bạn sẽ mãi mãi yêu thương mẹ và cả đôi bàn tay chai sần kia nữa. Đôi bàn tay kì diệu của mẹ.
Có lẽ bây giờ tôi đang rất nhớ mẹ, nhớ đôi bàn tay mẹ nữa. Khi mẹ không còn, ai sẽ chăm sóc con? Ai sẽ hướng con đến một tương lai tươi sáng? Mẹ ơi! Mẹ mãi mãi là một thiên thần mà Thượng đế đã ban tặng cho con. Con thương mẹ nhiều lắm, mẹ ơi!
(Bài làm của HS)
>> Xem thêm Đề 29: Mối quan hệ giữa văn học và tình thương tại đây.
Tags:Điều kỳ diệu của đôi bàn tay · Văn chọn lọc 9 · Văn nghị luận | Đề 28 – Cảm nghĩ về câu chuyện “Điều kì diệu của đôi bàn tay” – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 2,704 | |
Đề 28 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề học sinh giỏi tả một cây có bóng mát
1. Đọc đoạn trích sau:
Thời trẻ, Lép Tôn-xtôi hay có những hành động bột phát. Có lúc Tôn-xtôi tự treo mình lên cây bằng một nửa mái tóc. Sau đó, Tôn-xtôi lại cạo sạch lông mày. Tôn-xtôi muốn tìm hiểu xem đối với những hành động như vậy, mọi người có phản ứng như thế nào. Có hôm, Tôn-xtôi muốn mình cũng bay được như chim. Thế là Tôn-xtôi trèo lên gác, chui qua cửa sổ lao xuống sân với đôi cánh tay dang rộng như cánh chim. Khi mọi người chạy đến, thấy Tôn-xtôi nằm ngất lịm ở giữa sân.
(Theo Truyện kể về thần đổng thế giới)
a) Tìm từ trùng lặp nhiều trong đoạn trích trên, có thể thay thế được bằng đại từ hoặc từ ngữ đồng nghĩa.
b) Từ ngữ có thể thay thế ở đây là từ ngữ nào? Chép lại đoạn trích sau khi đã thay thế từ trùng lặp bằng đại từ hoặc từ đồng nghĩa.
2. Trong đoạn văn sau, người viết đã dùng những từ ngữ nào để chỉ anh hùng Núp? Việc dùng nhiều từ ngữ thay thế cho nhau như vậy có tác dụng gì?
Năm 1964, anh hùng Núp tới thăm đất nước Cu-ba theo lời mời của Chủ tịch Phi-đen Cát-xtơ-rô. Người anh hùng Tây Nguyên được đón tiếp trong tình anh em vô cùng thân mật. Anh Núp thấy người Cu-ba giống người Tây Nguyên mình quá, củng mạnh mẽ, sôi nổi, bụng dạ hào phóng như cánh cửa bỏ ngỏ, thích nói to và đặc biệt là thích nhảy múa. Tới chỗ đông người nào, sau một lúc chuyện trò, tất cả lại cùng nhảy múa. Bị cuốn vào những cuộc vui ấy, anh Núp thấy như đang sông giữa buôn làng Tây Nguyên muôn vàn yêu dấu của mình.
(Theo Nguyễn Khắc Trường)
3. Đọc hai khổ thơ sau trong bài Hương nhãn của tác giả Trần Kim Dũng:
Cháu còn bé thơ
Vâng lời ông dặn
Cháu tưới cháu che.
…
Nay mùa quả chín
Thơm hương nhãn lồng
Cháu ăn nhãn ngọt
Nhớ ông vun trồng.
Em có nhận xét gì về hình ảnh người cháu qua hai khổ thơ trên.
4. Tả một cây có bóng mát (hoặc cây lấy gỗ, cây công nghiệp,…) từng đem lại lợi ích cho mọi người. | Đề 28 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 400 | |
Đề 29 – Mối quan hệ giữa văn học và tình thương – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Văn học và tình thương
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến hai khái niệm: văn học và tình thương.
Vậy văn học là gì?
Tình thương có nghĩa là gì?
Giữa văn học và tình thương có mối quan hệ ra sao?
Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho mối quan hệ đó?
Suy nghĩ của em về tác dụng của văn học trong việc bồi dưỡng tình yêu thương trong trái tim của mỗi con người?
Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Tình yêu thương luôn là thước đo nhân cách của con người.
Văn học với chức năng của nó đã thể hiện một cách rõ rệt những mảng sáng, mảng tối của cuộc sống đặc biệt là tình yêu thương con người.
II. THÂN BÀI
Trong văn bản “Ý nghĩa văn chương” của tác giả Hoài Thanh đã nhấn mạnh: “Nguồn gốc cốt yếu cùa văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài.” (SGK Ngữ văn 7 – trang 60).
Dẫn chứng một vài ví dụ cụ thể:
Trong tác phẩm “Cô bé bán diêm” của nhà văn Đan Mạch An- đéc – xen, chúng ta thấy rằng với tấm lòng yêu thương con người vô hạn, nhà văn đã tạo dựng rất nhiều tình huống đầy tính nhân đạo nhằm mang đến cho cô bé bán diêm những điều mà cô mong muốn. Đó là lò sưởi ấm, là bữa ăn ngon miệng, là cây thông nô- en tuyệt đẹp, là người bà kính yêu, là được bay lên thiên đường cùng bà. Nụ cười cuối truyện thật sự làm ấm lòng con người bởi cuối cùng cô bé đã được toại nguyện. Tình yêu thương con người của nhà văn còn bộc bạch qua những lời xì xào của người qua đường khi thấy cô bé đã qua đời “Chắc nó muốn sưởi ấm”, nhà văn đã lên án cái xã hội đầy bất công ấy đã vô tâm, thờ ơ với cuộc sống của những người nghèo khổ. Tất cả đã được chứa đựng một cách đầy đủ, rõ ràng trong tác phẩm. Hay tác phẩm “Chiếc lá cuối cùng” của nhà văn người Mỹ O Hen-ri đã thực sự làm cho chúng ta rung cảm tâm hồn trước tình yêu thương cao cả giữa những con người nghèo khổ.
Bên cạnh đó, văn học không chỉ có chức năng ca ngợi tình yêu thương mà nó còn có khả năng phản ánh, phê phán những con người vô tâm, thờ ơ với cuộc sống của con người xung quanh. Những kẻ này cần phải được xã hội lên án.
III. KẾT BÀI
Nói chung, văn học là sự phản ảnh thực tế đời sống của nhà văn, nhà thơ.
Giữa văn học và tình thương luôn có một mối dây gắn bó khắng khít và bổ sung cho nhau.
BÀI VĂN THAM KHẢO
Trong những tình cảm của quan hệ giữa người với người thì tình cảm gia đình là quan trọng nhưng trong tình cảm gia đình thì tình mẫu tử là loại tình cảm thiêng liêng nhất. Chẳng hạn như số phận đau thương, nỗi giày vò của chú bé Hồng trong hoàn cảnh nghèo nàn khi bố mất, mẹ phải đi tha hương cầu thực, Hồng phải sống trong sự ghẻ lạnh của dòng họ nội. Không những vậy, Hồng còn bị bà cô gieo rắc vào đầu những ý nghĩ xấu xa để Hồng ruồng rẫy, khinh ghét mẹ của mình. Tất cả đều được thể hiện qua tập truyện ngắn “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng. Tình mẫu tử được thể hiện rõ nét qua sự miêu tả tinh tế của tác giả khiến người đọc không sao kiềm được những giọt nước mắt xúc động, nghẹn ngào.
Con người khác loài vật ở chỗ là biết suy nghĩ và có tình cảm. Tuy rằng ta khác màu da, tiếng nói, phong tục tập quán, thói quen nhưng vẫn giúp đỡ nhau khi gặp hoạn nạn khó khăn cho dù ở bất cứ nơi đâu như lời giao hẹn của mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân thời trước.Tuy vậy, nhưng vẫn có những kẻ tỏ thái độ lạnh lùng, thò’ ơ, dửng dưng trước người gặp nạn, khó khăn như bà cô chú bé Hồng trong “Những ngày thơ ấu”. Bà cô đã nhẫn tâm gieo rắc vào đầu đứa cháu ngây thơ, trong sáng, hồn nhiên những suy nghĩ tanh bẩn để Hồng khinh miệt và ruồng rẫy mẹ của chính mình.
Vì vậy, trong văn học cũng như trong quan hệ giữa người với người ngoài cuộc sống, ta cần phải biết yêu thương, động viên, giúp đỡ nhau vượt qua những thử thách đầy chông gai, khó khăn để xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp và góp phần giúp ích cho đất nước phát triển giàu mạnh hơn.
>> Xem thêm Đề 30: Trình bày suy nghĩ của em về lỗi lầm và sự biết ơn tại đây.
Tags:Đề 29 · Văn chọn lọc 9 · Văn học và tình thương | Đề 29 – Mối quan hệ giữa văn học và tình thương – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 897 | |
Đề 29 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề luyện học sinh giỏi Tiếng Việt tả cây
1. Chép lại câu chuyện dưới đây và đặt đúng dấu chấmhoặc dấu chấm hỏi, dấu chấm than vào chỗ có gạch chéo (/).
Quả lê
Bé cầm quả lê to / Bé hỏi:
– Lê ơi / Sao lê không chia thành nhiều múi như cam / Có phải lê muốn dành riêng cho tôi không Ị Quả lê đáp:
– Tôi không dành riêng cho bạn đâu / Tôi không chia thành nhiều múi để bạn biếu cả quả cho bà đấy /
Bé reo lên:
– Đúng rồi Ị
Rồi bé dem quả lê biếu bà /
(Theo Ba-um-vôn)
2. Đặt câu với mỗi nội dung dưới đây và dùng dấu câu cho thích hợp:
a) Hỏi bạn về ước mơ làm một nghề khi lớn lên.
b) Khuyên em trai cần đánh răng cho sạch trước khi đi ngủ.
c) Nhờ một người lớn đưa qua đường lúc có nhiều xe cộ.
d) Bộc lộ sự ngạc nhiên, vui thích khi được xem xiếc thú.
3. Trong bài Nghệ nhân Bát Tràng, nhà thơ Hồ Minh Hà tả nét bút vẽ của cô gái làm đồ gốm như sau:
Bút nghiêng lất phất hạt mưa
Bút chao gợn nước Tây Hồ lăn tăn
Hài hoà đường nét hoa văn
Dáng em, dáng của nghệ nhân Bát Tràng.
Đoạn thơ giúp em cảm nhận được nét bút tài hoa của người nghệ nhân Bát Tràng như thế nào? | Đề 29 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 246 | |
Đề 29: Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 29: Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê.
Bài làm
Văn học Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã xây dựng nên những bức tượng đài bất tử về các chiến sĩ thanh niên xung phong đã anh dũng chiến đấu cho hoà bình, độc lập của đất nước. Trong số đó, có những nét vẽ khoẻ khoắn về những “cô gái mở đường” dũng cảm trong Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ ; những cô thanh niên xung phong hồn nhiên, tinh nghịch trong thơ Phạm Tiến Duật Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây ; Gửi em cô thanh niên xung phong) là người “em gái tiền phương”, “vai áo bạc quàng súng trường” trong Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi… Lê Minh Khuê cũng đã góp thêm vào đó một chân dung đẹp đẽ, chân thực và sinh động với nhân vật Phương Định trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi.
Hoà chung nhịp đập của thời đại cách mạng, người con gái bé nhỏ đã hi sinh tuổi xuân, chấp nhận cuộc sống gian khổ nơi chiến trường như bao đồng đội khác. Cuộc sống chiến đấu hiểm nguy và đầy gian khổ không làm mờ đi tâm hồn trong sáng, tính cách dũng cảm, hồn nhiên cùng tinh thần lạc quan của người nữ thanh niên xung phong ấy. Nó khiến ta xúc động, cảm phục trước một người con gái bé nhỏ mà kiên cường – một biểu tượng của phụ nữ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Phương Định là một cô gái Hà Nội. Như bao thiếu nữ Hà thành khác, cô từng có một tuổi thơ êm đềm, hồn nhiên. Đó là những tháng năm học trò vô tư sống cùng người mẹ thân yêu trong một căn phòng nhỏ trên một con phố yên tĩnh. Trong những ngày tháng chiến tranh khốc liệt, giữa khói lửa chiến trường, những kỉ niệm mát lành ấy thường ùa về, làm dịu tâm hồn cô.
Phương Định đẹp một vẻ đẹp thanh xuân. Hãy lắng nghe những lời tự khẳng định bản thân của cô: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: cô có cái nhìn sao mà xa xăm”. Đó là những lời tự đánh giá chân thật, vừa có cái tự hào ngầm của một cô gái tự tin, vừa thể hiện sự thẳng thắn của một người chiến sĩ, một nữ thanh niên xung phong. Giữa cái khốc liệt của chiến trường, vẻ đẹp của Phương Định như một “ngôi sao” lấp lánh, làm dịu đi vùng đất “chỉ có những thân cây bị tước khô cháy”. Vẻ đẹp ấy của cồ đã khiến bao anh lính ngẩn ngơ. Điều ấy làm cô thấy vui – niềm vui hồn nhiên của một thiếu nữ khi vẻ đẹp của mình được khẳng định. Nhưng cô chưa dành tình cảm đặc biệt cho bất cứ ai. Cô cũng không thích “săn đón vồn vã”. Trong khi những người con gái khác “xúm lại đối đáp với một anh bộ đội nói giỏi nào đó” thì cô lại thường “đứng ra xa, khoanh tay lại trước ngực và nhìn đi nơi khác, môi mím chặt”. Nếu chỉ đọc đến đây, ta sẽ dễ lầm tưởng Phương Định là một cô gái kiêu kì. Hoàn toàn không phải vậy. Cô chỉ là người con gái kín đáo, không hay biểu lộ tình cảm của mình và như cô nói: “chẳng qua tôi điệu thế thôi”. Chỉ một suy nghĩ: “những người đẹp nhất, thông minh, can đảm và cao thượng nhất là những người mặc quân phục, có ngôi sao trên mũ” cũng đủ cho ta thấy tâm hồn trong sáng của cô. Cô là một thiếu nữ, và trên hết, một nữ thanh niên xung phong mang vẻ đẹp và trái tim của một người lính.
Phương Định đã cùng đồng đội của mình trải qua những gian khó của trận chiến. Những cô gái phải sống ở một nơi “không có lá cây xanh”, “chỉ có những thân cây bị tước khô cháy. Những cây nhiều rễ nằm lăn lóc. Những tảng đá to. Một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất”. Âm thanh quen thuộc hàng ngày họ được nghe là tiếng “máy bay rít, bom nổ”. Hoàn cảnh sống khắc nghiệt, công việc của Phương Định và đồng đội “chẳng hề đơn giản” mà khó khăn, nguy hiểm vô cùng. Công việc của cô là sau mỗi trận bom, lao ra trọng điểm, do và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nổ đặt vào cạnh nó để phá. Họ “bị bom vùi luôn. Có khi bò trên cao điểm về chỉ thấy hai con mắt lấp lánh”. Những cô gái thuộc “tổ trinh sát mặt đường” ấy luôn bị cái chết đe doạ. Trong lời tự thuật của Phương Định, giữa những ấn tượng về sự hiểm nguy của công việc, ta thấy lấp lánh ánh sáng của tinh thần lạc quan, lòng dũng cảm. Cô nói về cái chết nhẹ nhàng như kể một câu chuyện đời thường, xen vào đó những câu bông đùa. Ta nhận ra trong đó lòng quả cảm, sự kiên cường của những người chiến sĩ đã được tôi luyện qua lò lửa chiến tranh của người chiến sĩ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Là một nữ thanh niên xung phong kiên trung, Phương Định vẫn là một cô gái – một cô gái bé nhỏ lắm trước sự “mênh mông” của chiến trường, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Cô cũng có những giây phút hoang mang trong những lần phá bom: “không gì cô đơn và khiếp sợ hơn khi bom gào thét chung quanh mà không nghe một tiếng trả lời”. Lúc đó, con người cần lắm một âm thanh gần gũi, “dù chỉ một tiếng súng trường thôi, cũng đủ giúp con người thấy mênh mông bên mình sự che chở đồng tình, để có thể có một khả năng tự vệ rất vững…”. Tâm lí đó của Phương Định rất chân thật, cũng là tâm trạng của biết bao người cầm súng trên chiến trường. Giữa những thời khắc khốc liệt, con người rất cần có những điểm tựa để biết mình có đồng đội, để biết mình không đơn độc, để có thể đứng vững. Vì vậy mà cô thanh niên xung phong Phương Định đã “muốn la toáng lên vì thích thú” khi phát hiện ra “xung quanh cao điểm vắng vẻ này có bao nhiêu là người”. Đó là niềm vui của tình đồng đội, đồng chí. Nó mang đến cho Phương Định sức mạnh vì “cô cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi theo mình” và cô “không còn sợ nữa”. Những trải nghiệm của Phương Định giúp ta hiểu đâu là cội nguồn sức mạnh tinh thần, ý chí kiên cường của những người chiến sĩ nơi chiến trường. Chính tình yêu, lòng tin tưởng giữa những người đồng đội đã giúp họ chiến thắng mọi gian khổ, vượt qua mọi sợ hãi để vững vàng tay súng, chiến đấu với quân thù.
Những ngôi sao xa xôi là khúc ca vể những con người dũng cảm, hồn nhiên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước nhiều hi sinh, gian khổ nhưng cũng rất vẻ vang. Phương Định là một trong số những ngôi sao đó. Cô tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam một thời, tiêu biểu cho những nữ thanh niên xung phong, dù trải qua bao khó khăn, nhưng vẫn luôn giữ vững tinh thần lạc quan và trái tim ấm áp. Sẽ còn mãi trong lòng độc giả Việt Nam hình ảnh cô gái Phương Định – một “ngôi sao xa xôi” sáng lấp lánh trong trái tim nhiều thế hệ bạn đọc.
Lời nhận xét:
– Người viết thực sự hiểu đề, phân tích chi tiết các đặc điểm tính cách của nhân vật Phương Định. Bạn đã có những nhận định, bình luận, đánh giá sâu sắc: “Vào chiến trường đã ba năm, sống giữa nơi trọng điểm ác liệt, Phương Định vẫn giữ được sự hồn nhiên, mơ mộng của một cô gái mới lớn. Chính tâm hồn lãng mạn ấy đã giúp cô có thể cảm nhận sâu sắc mọi thứ đang diễn ra xung quanh, từ khung cảnh khô khốc, xác xơ nơi chiến trường, cái im lặng của những buổi trưa đến cả ranh giới mong manh của sự sống và cái chết…”.
– Bố cục bài viết mạch lục, ỷ tứ rõ ràng. Lời văn trong sáng, biểu cảm: “Hoà chung nhịp đập của thời đại cách mạng, người con gái bé nhỏ đã hi sinh tuổi xuân, chấp nhận cuộc sống gian khổ nơi chiến trường như bao đồng đội của mình”.
– Phần so sánh giữa nhân vật Phương Định và các nhân vật khác cần cụ thể, chi tiết hơn để bài viết thêm phong phú. | Đề 29_ Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,599 | |
Đề 2: Về kết thúc có hậu trong hai tác phẩm Truyện Kiều và Chuyện người con gái Nam Xương – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 2: Em hãy phân tích, so sánh ý nghĩa của lối kết thúc có hậu trong hai tác phẩm Truyện Kiều của Nguyến Du và Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Bài làm
Trong xã hội phong kiến xưa, những người phụ nữ, những người dân thấp cổ bé họng phải chịu bao nỗi đắng cay, bất hạnh. Những đau khổ của họ như chất thành núi, nước mắt tuôn chảy thành sông. Nỗi niềm đó, con người chỉ có thể gửi gắm vào các áng thơ văn giàu xúc cảm. Ta có thể nhận ra trong các tác phẩm tiêu biểu của thời kì này những ước mơ, khát vọng của người bình dân về một xã hội công bình, mà ở đó, nhân nghĩa sẽ thắng hung tàn, kẻ ác sẽ bị trừng trị thích đáng. Vì vậy, không chỉ truyện cổ tích mà các tác phẩm văn học viết cũng luôn hướng tới những kết thúc có hậu để đáp ứng tâm lí, tình cảm và ước mơ, khát vọng của nhân dân lao động. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng có những cái kết ấm áp như vậy.
Chuyện người con gái Nam Xương được sáng tác dựa trên một câu chuyệi có thật xảy ra vào thế kỉ XIII đời Hồ. Tuy nhiên Nguyễn Dữ đã không ghi chép lại một cách thụ động mà đã sáng tạo thêm dể câu chuyện có được những ý nghĩa sâu sắc. Nếu như câu chuyện thực kết thúc bằng cái chết oan ức của Vũ Nương trên bến Hoàng Giang thì trong tác phẩm của mình, Nguyễn Dữ đã để cho nhân vật được sống ở dưới thuỷ cung sau khi gieo mình xuống sông và đặc biệt là nàng đã được lập đàn giải oan, hiện về giữa dòng Hoàng Giang trong cờ hoa võng lọng.
Nguyễn Du viết Truyện Kiều dựa vào Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. So với tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân thì Truyện Kiều của Nguyễn Du thành công hơn, toả sáng rực rỡ hơn, là “tập đại thành” của văn học Việt Nam. Thành công đó của tác phẩm không chỉ được tạo nên từ giá trị hiện thực sâu sắc hay tài nghệ của một cây bút bậc thầy mà còn bởi tinh thần nhân đạo cao cả của một trái tim nghệ sĩ lớn chan chứa lòng yêu thương con người. Thanh Tâm Tài Nhân kết thúc tác phẩm của mình bằng cái chết oan nghiệt của Kiều trên sông Tiền Đường. Nhưng Nguyễn Du, bằng tài năng và trái tim ấm nóng của mình, đã sáng tạo thêm phần “đoàn tụ”, không để cho Thuý Kiều phải chết như lời báo mộng của Đạm Tiên. Tố Như đã để cho Thuý Kiều vượt lên trên định mệnh, được sư Giác Duyên cứu và sau đó nàng được trở về quê hương sum họp với gia đình và sống hạnh phúc giữa người thân.
Vũ Nương sau một đời khổ cực, hi sinh vì chồng con, lại phải tìm đến với cái chết oan ức. Nguyễn Dữ không muốn người con gái “tính đã thuỳ mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” ấy phải chịu số kiếp “hẩm hiu”. Vì thế, ông đã sáng tạo thêm phần kết thúc mang tính chất kì ảo. Vũ Nương không chết mà được sống ở động tiên dưới thuỷ cung. Nhà văn để cho nàng được sống những ngày tháng vui vẻ trong tình yêu thương của các nàng tiên. Sống ở đó, nàng phần nào vợi được nỗi khổ trên trần thế. Nhưng Vũ Nương là một người vợ chung thuỷ, một người mẹ hết mực yêu con. Vì vậy mà cảnh sống sung sướng, đủ đầy không làm nàng nguôi vơi đi nỗi lòng vương vấn trần thế. Nàng luôn hướng về quê hương, nhớ tới phần mộ tổ tiên, nhớ chồng, thương con. Và trong trái tim của người phụ nữ tiết hạnh ấy luôn khắc khoải, canh cánh bởi nỗi oan chưa được giải. Vì vậy việc được gặp Phan Lang với nàng là cơ hội để được minh oan, chiêu tuyết. Hình ảnh nàng xuất hiện trên sông Hoàng Giang, “trên một chiếc kiệu hoa”, với “cờ tán, võng lọng đầy sông” là lời khẳng định mạnh mẽ về tấm lòng son sắt, thuỷ chung như nhất của người con gái ấy. Dẫu khôn được trở về dương gian, nhưng với một người có tấm lòng trong trắng thì việc Vũ Nương được giải oan, không chi làm vợi bớt đi nỗi day dứt của người chồng cả ghen, đa nghi, mà còn thoả nguyện ước mong tha thiết của quần chúng có oan phải được giải oan.
Nhưng kết thúc mang những nét có hậu ấy không làm giảm đi tính bi kịch của câu chuyện. Vũ Nương trở về nhưng chỉ “đứng ở giữa dòng”, “lúc ẩn, lúc hiện”. Nàng và chồng con sẽ mãi mãi chia lìa đôi ngả, âm dương cách biệt. Hạnh phúc trần thế đã vĩnh viễn rời xa nàng. Nguyễn Dữ đã ru người đọc trong cảm giác thoả mãn vì Vũ Nương được giải oan, nhưng rồi ngay lập tức kéo chúng tạ trở về thực tại. Màn sương khói huyền ảo như một giấc mơ tan đi cũng là lúc sự thật càng trở nên cay đắng, bẽ bàng. Nỗi oan của người phụ nữ không có đàn tràng nào giải nổi, dù là sự ân hận muộn màng của người chồng hay đàn cầu siêu của tôn giáo. Đó là giấc mơ, nhưng cũng là một lời tố cáo đanh thép. Nó lắng lại trong lòng ta những dư vị ngậm ngùi. Dù nó chỉ là ảo ảnh, nhưng nếu không có ảo ảnh này thì nỗi đau của người bất hạnh sẽ không được xoa dịu, trái tim người đọc sẽ mãi day dứt khôn nguôi.
Nguyễn Dữ gửi gắm ước vọng được minh oan, chiêu tuyết cho những thân phận bất hạnh trong xã hội cũ với một kết thúc mang tính chất kì ảo. Đại thi hào Nguyễn Du cũng mang trong mình ước nguyện về cuộc đời hạnh phúc cho những kiếp tài hoa bạc mệnh khi sáng tạo nên một kết thúc có hậu cho Truyện Kiều, khác với nguyên tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Thuý Kiều được sư Giác Duyên cứu và nàng được trở về đoàn tụ cùng gia đình. Sau mười lăm năm chìm nổi của kiếp đoạn trường, Kiều được sống trong vòng tay yêu thương của những người thân. Ta nhận ra trong đó trái tim nhân đạo bao la của tác giả. Thấu cảm vẻ đẹp của những người phụ nữ, Nguyễn Du muốn đòi quyền sống cho họ bởi họ xứng đáng được hưởng một cuộc đời hạnh phúc trọn vẹn. Cách kết thúc này đã xoa dịu nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội phong kiến hà khắc cũng như thoả nguyện nỗi niềm của những người:
Sắc tài sao mà lắm truân chuyên
(Chế Lan Viên)
Nguyễn Dữ và Nguyễn Du sống cách nhau tới ba thế kỉ. Nhưng ta nhận ra ở họ sự đồng điệu của tấm lòng nhân đạo cao cả, của tình yêu thương sâu sắc dành cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Đó chính là điều làm nên sức sống bền lâu của hai tác phẩm trong đời sống tinh thần của dân tộc.
Ngày nay, ước mơ xưa đã thành hiện thực. Cuộc đời đã bước sang trang, và người phụ nữ không còn bị những khắc chế dồn ép mà được hưởng hạnh phúc. Nhưng những ý nghĩa nhân đạo cao cả thể hiện qua Chuyện người con gái Nam Xương và Truyện Kiều sẽ còn mãi ngân vang, như khúc ca ấm áp tình người!
ĐỖ THỊ MAI HIÊN
Lời nhận xét
– Đây là một đề văn đòi hỏi người viết thể hiện năng lực tổng hợp, khái quát qua sự so sánh, đánh giá. Bài viết của Mai Hiên thể hiện tư duy mạch lạc, lô gíc. Bạn đã phân tích và so sánh kết thúc của hai tác phẩm một cách cụ thể, chì tiết đê từ đó thấy được “Nguyễn Dữ và Nguyễn Du cách nhau tới ba thế kỉ. Nhưng ta nhận ra ở họ sự đồng điệu của tấm lòng nhân đạo cao cả, của tình yêu thương sâu sắc dành cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Đó chính là điêu làm nên sức sống bền lâu của hai tác phẩm trong đời sống tinh thần của dân tộc.
– Bố cục bài viết hợp lí, khoa học.
Văn phong trôi chảy,có những đánh giá, nhận xét sắc sảo: “Nhưng kết thúc mang những nét có hậu ấy không làm mất đi tính bi kịch của câu chuyện. Vũ Nương trở về nhưng chỉ “đứng ở giữa dòng”, “lúc ẩn, lúc hiện”. Nàng và chồng con sẽ mãi mãi chia lìa đôi ngả, âm dương cách biệt. Hạnh phúc trần thế đã vĩnh viễn rời xa nàng. Nguyễn Dữ đã ru người đọc trong cảm giác thoả mãn vì Vũ Nương được giải oan, nhưng rồi ngay lập tức kéo chúng ta trở về thực tại | Đề 2_ Về kết thúc có hậu trong hai tác phẩm Truyện Kiều và Chuyện người con gái Nam Xương – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 1,595 | |
Đề 3 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5
Hướng dẫn
Đề 3 – Học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5
1. Thay từ ngữ in đậm trong đoạn văn dưới đây bằng một từ ngữ đồng nghĩa khác để các câu văn có hình ảnh hơn:
Hồ Tơ-nưng
Hồ Tơ-nưng ở phía bắc thị xã Plây-cu. Hồ rộng lắm, nước trong như lọc. Hồ sáng đep dưới ánh nắng chói của những buổi trưa hè. Hàng trăm thứ cá sinh sôi nảy ở đây. Cá đi từng đàn, khi thì tự do bơi lội, khi thì lao nhanh như những con thoi. Chim chóc cũng đua nhau đến bên hồ làm tổ. Những con bói cá mỏ dài, lông nhiều màu sắc. Những con cuốc đen trũi, chen lách vào giữa các bụi bờ …
2. Chọn từ ngữ thích hợp nhất (trong các từ đồng nghĩa cho sẵn ở dưới) để điền vào từng vị trí trong đoạn văn miêu tả sau đây:
Đêm trăng trên Hồ Tây
Hồ về thu, nước (1), (2). Trăng toả sáng rọi vào các gợn sóng (3). Bây giờ, sen trên hồ đã gần tàn nhưng vẫn còn (4) mấy đoá hoa nở muộn. Mùi hương đưa theo chiều gió (5). Thuyền theo gió cứ từ từ mà đi ra giữa khoảng (6). Đêm thanh, cảnh vắng, bốn bề (7).
(Theo Phan Kế Bính)
(1): trong veo, trong lành, trong trẻo, trong vắt, trong sáng.
(2): bao la, bát ngát, thênh thang, mênh mông, rộng rãi.
(4): thưa thớt, lưa thưa, lác đác, lơ thơ, loáng thoáng.
(5): thoang thoảng, ngào ngạt, thơm phức, thơm ngát, ngan ngát.
(6): trông trải, bao la, mênh mang, mênh mông.
(7): yên tĩnh, yên lặng, im lìm, vắng lặng, lặng ngắt như tò.
3. Trong cuốn Hồi kí Bác Hồ, hai nhà văn Hoài Thanh và Thanh Tịnh đã tả phong cảnh quê hương Bác như sau:
Trước mắt chúng tôi, giữa hai dãy núi là nhà Bác với cánh đồng quê Bác. Nhìn xuống cánh đồng có đủ các màu xanh, xanh pha vàng của ruộng mía, xanh rất mượt của lúa chiêm đương thời con gái, xanh đậm của những rặng tre ; đây đó một vài cây phi lao xanh biếc và nhiều màu xanh khác nữa.
Đọc đoạn văn trên, em có nhận xét gì về cách dùng những từ ngữ chỉ màu xanh? Cách dùng từ ngữ như vậy đã góp phần gợi tả điều gì về cảnh vật trên quê Bác?
4. Tả cảnh nơi em ở (hoặc nơi em đã từng đến) vào một buổi sáng đẹp tròi. | Đề 3 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 5 | 429 | |
Đề 3 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4
Hướng dẫn
I.Phần bài đọc
SÁNG NAY CHIM SẺ NÓI GÌ?
Đêm nọ, trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho viên ngọc quý nghe được tiếng nói của loài vật. Rồi bé Na vượt suối băng rừng, thỏa thích lắng nghe muông thú. Bé Na thích nhất là câu nói của bác Sư Tử. Câu ấy thế này: “Đâu nhất thiết chúng tôi phải nói tiếng người thì loài người mới hiểụ được chúng tôi. Chỉ cần một chút yêu thương, gần gũi, các bạn sẽ hiểu chúng tôi”…
Sáng sớm hôm ấy, bé Na thức dậy, bước về phía cửa, nơi chiếc chuông gió đang khúc khích cười. Và kia! Một chú Chim sẻ đang đậu trên dây điện chằng chịt tự nhiên bay sà xuống ban công. Chim sẻ quẹt quẹt cái mỏ nhỏ xinh xuống nền nhà. Chim sẻ mổ mổ những hạt cát. Chim Sẻ ngẩng lên, tròn xoe đôi mắt nhìn bé Na. Và rồi bé Na thoảng nghe trong gió:
-Chị ơi, em đói lắm!
-Ai thế? – Bé Na ngơ ngác nhìn quanh. Ai đang nói chuyện với Na thế?
-Em là Chim sẻ nè. Em đói…
Bé Na nhìn sững chú chim nhỏ vài giây. Quả thật, cái mỏ nhỏ cũng vừa mấp máy. A, mình nghe được tiếng Chim sẻ thật rồi! Bé Na vô cùng thích thú, bé chạy vội xuống nhà bếp nắm một nắm gạo rồi chạy lên ban công.
Chim Sẻ nói cảm ơn liên hồi rồi cúi xuống mổ dồn dập.
Theo Phan Đăng Đăng
(Báo Nhi đồng số 8/2009)
II. Em đọc thầm bài “Sáng nay Chim sẻ nói gì?” rồi khoanh tròn vào chữ cái trước ý em chọn là đúng nhất hoặc trả lời các câu hỏi sau:
1.Trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho vật gì, yật đó có giá trị ra sao?
A.Viên đá quý rất đắt tiền.
B.Một vật giúp bé Na học giỏi.
C.Viên ngọc quý nghe được tiếng nói của loài vật.
D.Một vật là đồ cổ có giá trị.
2.Bé Na thích nhất điều gì sau khi có viên ngọc quý?
A.Đi khắp nơi trong rừng nghe tiếng nói của các loài chim.
B.Nghe được câu nói của bác Sư Tử.
C.Nghe được nhiều câu nói của nhiều người ở xa.
D.Nghe được tiếng chân di chuyển của loài thú dữ, nguy hiểm.
3.Chim Sẻ đã nói gì với chị bé Na?
AChị ơi, em đói lắm!
B.Em là Chim sẻ nè. Em đói…
C.Ôi, em cám ơn chị!
D.Cả 3 ý trên đều đúng.
4.Câu nói của bác Sư Tử: “Đâu nhất thiết chúng tối phải nói tiếng người thì loài người mới hiểu được cliúng tôi. Chỉ cần một chút yếu thương, gần gũi, các bạn sẽ hiểu chúng tôi” muốn nhắn gửi đến loài người điều gì?
5.Nghĩa trong bài của cụm từ “Vượt suối băng rừng” là:
B.Đi thám hiểm qua nhiều con suối, qua nhiều khu rừng để tìm hiểu về đời sống của muông thú và nghe được tiếng nói của chúng.
C.Đi thám hiểm để thăm dò dấu vết cổ từ các con suối, khu rừng xa lạ.
D.Đi thám hiểm qua nhiều con suối, qua nhiều khu rừng để tìm những loài thú quý hiếm về nuôi.
6.Tìm và viết ra một câu cảm có trong bài đọc thầm.
-Câu cảm là:
7.
a) Tìm trong bài đọc thầm 1 câu kể có dạng Ai là gì?
b) Xác định chủ ngữ của câu vừa tìm được
-Câu kể có dạng Ai là gì?……………………………………………………
-Chủ ngữ của câu trên là: …………………………………………………..
8.Thêm trạng ngữ cho các câu sau:
a)………………………………………………………………………………….., em chăm chú nghe cô giảng bài.
b)………………………………………………………………………, muôn loài hoa đua nhau nở.
III.Tập làm văn
Đề bài: Tả một con vật nuôi ở vườn thú.
Bài làm
>>XEM HƯỚNG DẪN PHÂN TÍCH TẠI ĐÂY | Đề 3 – Đề kiểm tra học kì II – Tiếng Việt 4 | 618 | |
Đề 30 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề học sinh giỏi Tiếng Việt 5 tả con vật
1. a) Ghép tiếng ở dòng (1) với tiếng ở dòng (2) để tạo thành 10 từ phức thường dùng:
(1) – nam, nữ
(2) – sinh, giới, công, nhi, trang, tính
b) Giải nghĩa từ phức đã ghép được với tiếng công, tiếng trang ở mục a.
2. Đặt dấu phẩy vào mỗi câu dưới đây và cho biết tác dụng của dấu phẩy đó trong câu:
a) Trong lớp tôi thường xung phong phát biểu ý kiến.
b) Cô giáo khen cả nhóm làm bài tốt cho mỗi bạn một điểm mười.
c) Các bạn nữ lau bàn ghế các bạn nam quét lớp.
3. Viết về người mẹ, nhà thơ Trương Nam Hương có những câu thơ sau:
Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao
Lưng mẹ cứ còng dần xuống
Cho con ngày một thêm cao.
Mẹ ơi, trong lời mẹ hát
Có cả cuộc đời hiện ra
Lời ru chắp con đôi cánh
Lớn rồi con sẽ bay xa.
(Trích Trong lời mẹ hát)
Theo em, đoạn thơ trên đã bộc lộ những cảm xúc và suy nghĩ gì của tác giả?.
4. Tả một con vật nuôi trong nhà gần gũi với em (hoặc con vật trong vườn thú mà em yêu thích). | Đề 30 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 220 | |
Đề 30: Kể lại một kỉ niệm giữa em và thầy cô giáo cũ – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 30: Kể lại cho các bạn nghe một kỉ niệm đáng nhớ giữa em và thầy, cô giáo cũ.
Bài làm
Tuổi thơ tôi không giống nhiều bạn cùng trang lứa. Năm lớp 4, tôi đã chuyển xuống học ở trường chuyên dưới huyện. Phải xa gia đình, xa trường lớp, thầy cô, bạn bè thân quen đến với một nơi xa hoàn toàn lạ lẫm khiến tôi và các bạn cùng lợp khóc suốt những ngày đầu. Lúc đó, các cô giáo đã an ủi, vỗ về, động viên chúng tôi rất nhiều để tôi có thể nhanh chóng hoà nhập cùng cuộc sống mới. Trong số các thầy, cô giáo, người thân thiết với chúng tôi hơn cả là cô Doan – giáo viên môn Toán. Cô chỉ dạy tôi một năm nhưng đã để lại trong tôi những ấn tượng đậm sâu, những kỉ niệm không bao giờ phai mờ. Kỉ niệm khiến tôi nhớ nhất là một buổi tối thứ bảy mùa đông, cô đã ở bên tôi để an ủi tôi khi tôi nhớ nhà.
Hôm đó là thứ bảy. Chúng tôi vẫn phải ở lại trường để học. Nỗi nhớ nhà thường trực như vỡ oà khi tôi nhìn thấy mẹ của các bạn cùng kí túc xá lên thăm. Mẹ tôi đang bận với vụ lúa chiêm nên không thể đến thăm tôi được. Buổi học hôm đó, tâm trí tôi cứ lơ lửng tận đâu đâu, không thể tập trung vào lời cô giảng. Tôi đang nhớ nhà, nhớ mẹ. Cô giáo nhận ra điều đó. Cô không trách mắng tôi, chỉ nhắc tôi nên chú ý hơn. Vừa kết thúc buổi học, tôi chạy ngay về phòng, thu xếp một ít quần áo và sách vở định đi bộ về nhưng chưa kịp đi thì hai bạn cùng phòng về đến nơi. Hai bạn không cho tôi vể và dọa sẽ mách cô giáo. Cả hai bạn cũng nhớ nhà, cũng muốn về quê nhưng đi bộ 15 cây số vào lúc 5 giờ chiều là điều quá nguy hiểm đối với con nhóc 10 tuổi. Ba đứa quyết định sáng mai sẽ về sớm, bất kể cô giáo có cho phép hay không. Cất quần áo, sách vở và lau nước mắt, tôi cùng các bạn ra quán ăn cơm. Chiều mùa đông, gió lạnh như càng khứa sâu thêm nỗi lòng của những đứa con xa nhà. Cả ba lặng yên không nói, như thể chỉ cần cất tiếng là nước mắt sẽ trào ra. Ăn xong, chúng tôi còn lang thang trên đường một lúc, để nhìn hai bên đường thấy khung cảnh quây quần bên mâm cơm, để cảm nhận được không khí gia đình, về đến kí túc thì trời đã tối mịt. Chúng tôi giật mình vì thấy có một chiếc túi để trước cửa phòng. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng ba đứa cũng quyết định mang nó vào phòng. Chà! Một túi to đầy cam, táo và bánh. Ba đứa hét lên sung sướng. Bên dưới có một lá thư nhỏ. Tôi mở ra đọc. Đó là thư của cô. Nét chữ mềm mại quen thuộc. Tôi đọc cho các bạn nghe:
Ba học sinh thân yêu của cô! Cô qua nhưng các em đi ăn cơm. Cô đợi một lúc rồi. Mấy đứa đi lâu quá. Cô có việc phải đi, không đợi lúc em về được. Cô biết các em nhớ nhà, nhớ bố mẹ lắm nhưng cố gắng nhé. Chỉ còn hai tuần nữa thôi, thi xong là cô trò mình được nghỉ ngơi, các em được về với bố mẹ rồi. Mấy đứa lớn rồi, đừng có khóc nhè nha! Ăn hết chỗ đồ này rồi ngủ sớm nhé. Ngày mai cô miễn kiểm tra bài tập của ba đứa. Nhớ cài cửa cẩn thận nhé! Chúc các em ngủ ngon!
Cô Doan
Trên đường đi, ba đứa tập duyệt nói với nhau làm sao để thuyết phục cô.
Đến nhà cô, cô vẫn chưa về. Ngồi đợi một lúc thì thấy cô hớt hải về. Chúng tôi cười toe, chưa kịp chạy ào ra thì đã thấy cô tức giận: “Mấy đứa có biết cô lo thế nào không? Sao lại ra ngoài muộn như thế? Cô đang định về nhờ người đèo đi tìm mấy đứa đây này”. Chúng tôi không biết nói sao, chỉ biết đứng yên. Nói xong, cô lại dịu dàng ngay: “Nhưng thế này thì tốt quá rồi, mấy đứa không sao cả, làm cô hết hồn. Nào đi vào đây, tôi tính tội”. Ba đứa líu ríu theo cô vào nhà. Cô hỏi nhẹ nhàng: “Mấy đứa vào cô muộn thế này có việc gì không?”. Bọn tôi đẩy cho Hiên. Hiên khẽ thưa: “Bọn em vào là muốn xin cô ngày mai cô cho bọn em nghỉ, để bọn em về quê ạ”. Nói xong, mắt Hiên rơm rớm. Ngọc nói thêm: “Bọn em nhớ nhà lắm”. Tôi thấy cô quay đi chỗ khác, lấy tay dụi mắt. Có hỏi: “Vậy mấy đứa về bằng cách nào?”. Chúng tôi ngập ngừng, rồi tôi mạnh dạn: “Chúng em đi bộ ạ”. Cô phì cười: “Các em có biết từ đây vể nhà bao xa không?”. Tôi tự tin: “Dạ 15 cây số ạ”. Cô cười: “Xa lắm đấy. Không đi được đâu”. Chúng tôi bắt đầu thấy lo lắng. Có lẽ cô không đồng ý. Ba đứa ra sức thuyết phục. Cuối cùng, dường như những giọt nước mắt của chúng tôi đã khiến cô không thể cứng rắn hơn. Cô đồng ý đế sáng hôm sau chúng tôi về. Ba đứa nhảy cẫng lên, ôm chặt lấy cô, không thấy cô lén lau nhũng giọt nước mắt. Cô vỗ về chúng tôi rồi cất tiếng hỏi: “Các em đói không, cô lấy cơm nhé”. Ba đứa gần như đồng thanh: “Không, bọn em không đói ạ”. “Đồ cô cho, bọn em ăn hết rồi, giờ vẫn còn no ạ” – tôi nói thêm. Cô cười hiền: “Thế thì ăn khoai nhé. Cô trò mình đi luộc khoai nào”. Nói rồi cô kéo chúng tôi xuống bếp. Bốn cô trò ngồi quây quần bên bếp trấu. Lửa bếp hắt ánh sáng lên khuôn mặt mấy cô trò, hồng rạng rỡ. Nhìn cô cời bếp, nụ cười hiền hậu, sao tôi thấy ấm áp quá, như mẹ, như chị tôi vậy. Bỗng nhiên, cảm giác nhớ nhà tan biến lúc nào không hay. Chỉ còn là sự ấm áp mà cô mang lại. Vừa trông bếp, cô vừa kể chuyện cho chúng tôi nghe. Khác hẳn những công thức, những bài toán khô khan thường ngày, cô kể biết bao nhiêu là chuyện hay, lại đọc cả thơ nữa. Chúng tôi nghe say sưa. Nếu các bạn trong lớp biết chúng tôi được nghe cô kể chuyện, đọc thơ thế này thì chắc chúng sẽ ganh tị lắm đây. Khoai chín, mấy cô trò lại quây quần bên nồi khoai ngút khói, vừa ăn vừa xem ti vi. Cô thật khác với vẻ nghiêm nghi khi ở trên lớp và thật trẻ trung. Thì cô cũng chỉ mới rời ghế nhà trường được gần một năm mà!
Đánh chén hết nồi khoai, chúng tôi xin phép cô đi vể kẻo khuya. Cô giữ chúng tôi lại ngủ. Nhưng nhà cô chật, chúng tôi ngại, không dám ở lại. Cô đưa chúng tôi về. Bốn cô trò đi bộ, vừa đi vừa trò chuyện râm ran. Cô gợi ý chúng tôi thi hát, ai thua sẽ bị búng tai. Cả ba đứa hào hứng tham gia. Thật kì lạ, cũng con đường ấy, lúc đến nhà cô thấy nó sao thật lạnh vắng, mà giờ đây lại vui tươi, nhộn nhịp, mặc dù đường đã vắng hoe, chỉ lác đác người qua lại, với bóng đèn cao áp vàng vọt và bóng bốn cô trò vừa đi, vừa cười đùa. về đến kí túc thì cổng đã khoá. Làm thế nào đây? Bốn cô trò lo lắng nhìn nhau. Cô cười và ngoắc tay chúng tôi lại chỗ đoạn cống thấp nhất. “Bây giờ cô kiệu từng đứa một sang nhé”. Nói rồi cô khom lưng xuống, để mỗi đứa trèo lên và nhảy qua cổng. Thật không ngờ cô giáo cho chúng tôi trèo cổng! Nhưng chúng tôi còn được một pha mắt tròn mắt dẹt khi thấy cô tự trèo lên cổng và nhảy vào cùng lũ học trò tinh nghịch. Thấy rõ sự ngạc nhiên trên mặt của lũ học trò nhỏ, cô xoa đầu tôi và cười: “Bí mật nhé!”.
Chúng tôi vào phòng. Nghĩ đến việc phải chia tay cô, lại thấy buồn. Nhìn bộ mặt tiu nghỉu của lũ nhóc, cô giả bộ nhăn nhó: “Bây giờ vể muộn quá rồi, cô sợ tối lắm, hay mấy đứa cho cô ngủ nhờ được không?”. Ba đứa chúng tôi hét lên sung sướng: “Được chứ ạ, tất nhiên là được rồi ạ!”. Chúng tôi sốt sắng dọn dẹp giường chiếu. Vấn đề nan giải nhất là ai sẽ được nằm cạnh cô. Không đứa nào chịu nhường đứa nào. Cuối cùng thì Hiên phải chịu nằm ngoài, vì trong ba đứa, bạn là người lớn nhất.
Chui vào chăn rồi cô lại tiếp tục kể chuyện cho chúng tôi nghe. Đó là câu chuyện về chính cô, về những tháng năm sinh viên vất vả, về niềm vui, hạnh phúc, nỗi lo lắng khi ngày đầu tiên lên lớp, về cảm giác thân thiết với những cô học trò đầu tiên của mình (chính là chúng tôi). Chúng tôi nghe say sưa. Càng nghe càng hiểu và yêu cô nhiều hơn. Đã khuya, cô bắt chúng tôi đi ngủ. Mặc dù chả muốn tí nào nhưng không đứa nào dám nằn nì cô kể chuyện nữa vì sợ cô mệt. Cô dỗ chúng tôi ngủ bằng một câu đố: “Cái gì càng thiu càng ngon”. Đó là giấc ngủ. Lời chúc ngủ ngon của cô thật hay và lạ quá! Sau này, nó đã trở thành câu chúc quen thuộc của ba đứa chúng tôi.
Sáng hôm sau, khi chúng tôi dậy thì không thấy cô đâu. Chắc cô đã về để chuẩn bị lên lớp. Ba đứa quyết định sẽ không nghỉ học về quê nữa vì cô đã giúp chúng tôi xua đi nỗi nhớ nhà. Đang chuẩn bị cặp sách để đi học thì cô đến, mang theo ba gói xôi to. Cô cười thật tươi: “Các công chúa nhỏ, lại ăn sáng đi rồi còn về nào. Cô đã gọi điện cho bố mẹ các em rồi, lát nữa sẽ xuống đón các em về. Ngày mai lên sớm nhé và phải hoàn thành bài tập cho cô đấy Ị”. Cầm gói xôi nóng hổi từ tay cô, không hiểu sao nước mắt tôi cứ trào ra. Cô đã yêu chúng tôi biết bao nhiêu!
Năm đó đội tuyển chúng tôi đoạt giải nhất toàn tỉnh. Nhìn giọt nước mắt hạnh phúc của cô, chúng tôi cảm thấy vui vì mình đã không phụ lại tấm lòng của cô.
Học cô một năm và đã sáu năm rồi vẫn chưa có dịp gặp lại vì cô đi lấy chồng xa. Chỉ có những cánh thư làm cầu nối giữa cô trò. Nhưng tình cảm ấm áp giữa cô và chúng tôi vẫn không hề thay đổi. Đặc biệt buổi tối hôm đó đã trở thành một kỉ niệm không bao giờ phai trong trái tim tôi. Nó cho tôi hiểu hơn tình cảm của cô – người mẹ hiền thứ hai thân thiết của chúng tôi.
TRẦN NGỌC
Lời nhận xét:
– Người viết đã kể một câu chuyện cảm động, sâu sắc về kỉ niệm với cô giáo cũ của mình. Tình cảm cô trò gắn bó, trái tim ấm áp, tình thương yêu của cô dành cho lũ học trò nhỏ… khiến người đọc xúc động.
– Văn phong trong sáng, biểu cảm: ‘‘Bốn cô trò ngồi quây quần bên bếp trấu. Lửa bếp hắt ánh sáng lên khuôn mặt mấy cô trò, hồng rạng rỡ. Nhìn cô cời bếp, nụ cười hiền hậu, sao tôi thấy ấm áp quá, như mẹ, như chị tôi vậy. Bỗng nhiên, cảm giác nhớ nhà tan biến lúc nào không hay. Chỉ còn là sự ấm áp mà cô mang lại. ”
– Bài viết diễn đạt mạch lạc, tự nhiên: “Nước mắt tôi làm nhòe hết trang thư. Quay sang thấy Hiên và Ngọc cũng đang lau nước mắt. Lặng đi một lúc, Hiên là người đầu tiên phá vỡ bầu không khí nặng nề đó. Chúng tôi bắt đầu ăn hoa quả và bánh kẹo. Đang tuổi ăn tuổi lớn, bữa cơm hồi chiều dường như không đủ đối với chúng tôi. Yêu cô quá! Cô thật tâm lí. Chúng tôi tự nhủ sẽ không đi ngủ mà sẽ làm hết bài và không trốn về nhà nữa, không để cô phải buồn lòng. Chúng tôi học say sưa. Nhưng trẻ con mau quên, buồn đấy rồi vui ngay và cũng ngay lập tức có thể buồn lại. Học được một lúc, tôi bắt đầu rấm rứt khóc…
– Câu chuyện có nhiều tình huống lí thú, tạo sự lôi cuốn với độc giả. | Đề 30_ Kể lại một kỉ niệm giữa em và thầy cô giáo cũ – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 2,243 | |
Đề 31 – Suy nghĩ của em về lòng yêu nước – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9
Hướng dẫn
Suy nghĩ về lòng yêu nước
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
* Nội dung trọng tâm: Người học cần chú ý những ý chính sau:
Trước hết, em cần hình thành trong đầu những ý chính liên quan đến khái niệm: lòng yêu nước.
Vậy lòng yêu nước có nghĩa là gì?
Những biểu hiện nào cụ thể minh chứng cho lòng yêu nước?
Bàn luận, mở rộng vấn đề: khi một con người không có lòng yêu nước, phản bội đất nước, kết giao với ngoại bang để chà đạp lên sự phát triển của đất nước thì những con người này chúng ta phải có cách ứng xử và thái độ ra sao?
Cảm nghĩ của em về khái niệm trên? (là tốt hay không tốt)
Bản thân em đã rút ra cho mình những bài học kinh nghiệm nào?
DÀN Ý CHI TIẾT
I. MỞ BÀI
Lòng yêu nước là một trong những phẩm chất cao quý của con người đối với đất nước mà chúng ta đang sinh sống.
Vậy lòng yêu nước đóng vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc sống của chúng ta?
II. THÂN BÀI
a. Giải thích: (Đặt câu hỏi: là gì?)
Lòng yêu nước là gì? => Đó là thứ tình cảm thiêng liêng, là sự tôn trọng, tôn thờ, ghi khắc trong tim đối với đất nước mà mình đang sinh sống.
b. Đưa ra các biểu hiện: (Đặt câu hỏi: Tại sao? Vì sao?)
Tại sao chúng ta phải có lòng yêu nước?
+ Một con người có lòng yêu nước là người có những tình cảm cao đẹp, trong sáng và luôn vì sự phát triển của đất nước mà cống hiến hết mình.
+ Là thước đo để đánh giá phẩm chất, đạo đức một con người.
+ Người có lòng yêu nước thì dù đi đâu, làm gì, ở bất cứ nơi nào thì trong tim vẫn luôn hướng về cội nguồn, đất nước.
Dẫn chứng: Những lần ngoại xâm sang xâm lược nước ta (trong lịch sử – 3 lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, Thanh, Minh,…), kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ,…
c. Bàn bạc, mở rộng vấn đề
Phê phán những con người có hành động bán rẻ linh hồn của mình cho bọn phản động, hại nước. Đó là những người rất đáng chê trách và bị xã hội tẩy chay.
III. KẾT BÀI
Lòng yêu nước là phẩm chất đạo đức cần thiết của con người.
BÀI VĂN THAM KHẢO
BÀI VĂN 1
Dân tộc Việt Nam chúng ta trải qua biết bao sóng gió, thăng trầm chống lại những cuộc xâm lăng vô nghĩa, lập nên những trang sử oai hùng. Trong rất nhiều những yếu tố góp nên thành công ấy, chúng ta phải kể đến lòng yêu nước dạt dào trong mỗi trái tim của người con đất Việt. Giờ đây, khi đất nước đứng trước những thử thách mới của một thời đại phát triển, lòng yêu nước được thể hiện như thế nào?
Thật vậy, lòng yêu nước đóng một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của một đất nước. Ta hiểu đơn giản lòng yêu nước chính là việc yêu những thứ nhỏ bé, giản dị, bình thường của quê hương đất nước. Những hàng tre xanh, dòng sông, xóm làng,… Từ những cái nhỏ bé ấy đã giúp chúng ta thêm yêu và gắn bó hon với quê hương và đất nước của mình. Con người dù đi đến đâu, về đâu đều hướng về đất nước, quê hương. Quê hương, đất nước không chỉ là nơi dạy dỗ cho chúng ta nên người, mà còn mang đến những điều thú vị, dạy chúng ta từng bước đi vững chắc trong cuộc sống. Vì vậy đất nước luôn để lại một ấn tượng cho mỗi con người, làm cho mọi người yêu đất nước hơn. Những con người có lòng yêu nước luôn chất chứa những tình cảm đẹp đẽ, hướng về đất nước và ra sức để giúp cho đất nước ngày càng phồn vinh. Những con người đó luôn tự hào về đất nước.
Quê hương đất nước là bàn đạp giúp con người đạt được những thành công. Ngay từ khi còn bé, mỗi người dân Việt Nam đều đã được cha mẹ xây dựng và phát triển tinh thần yêu nước từ nhũng giai điệu, lời hát, lời ru à ơi… Ngày nay cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, cùng với sự du nhập của những giá trị văn hoá trên thế giới, những truyền thống dân tộc bị mai một và bị biến đổi; nhưng truyền thống yêu nước của dân tộc sẽ không bao giờ bị thay đổi, nó như một ngọn lửa âm ỉ cháy trong tâm hồn mỗi con người và khi có điều kiện hoàn cảnh, thử thách sẽ được bùng cháy. Trong thời gian vụ việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, những người con đất Việt ở khắp mọi miền đất nước và ở hải ngoại đã bộc lộ rõ lòng yêu nước luôn luôn bùng cháy trong tâm hồn họ. Họ đoàn kết lại, chung lòng phản đối mãnh liệt hành động sai trái và tư tưởng lệch lạc của Trung Quốc.
Tóm lại, chúng ta cần phải luôn cảnh giác với những hành động này và tránh xa nó. Cần phải thể hiện lòng yêu nước đúng lúc, đúng chỗ. Và bản thân tôi cũng phải nuôi dưỡng và phát triển lòng yêu nước cho bản thân để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp và vững mạnh.
(Bài làm của HS)
BÀI VĂN 2
Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam ta, đã có biết bao tấm gương anh hùng dám liều mình đứng lên chống lại bọn giặc xâm lược mang lại hạnh phúc, vinh quang cho đất nước. Trong số đó ta có thể kể đến các anh hùng như: Lí Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo,… Đó là những tấm gương hi sinh anh dũng cho đất nước trọn một niềm vui hòa bình. Để có thể đánh thắng được lũ giặc bạo tàn, ngoài sự mưu trí, dũng lược thì lòng yêu nước sâu sắc là một trong những sức mạnh.
Vậy lòng yêu nước có nghĩa là gì? Lòng yêu nước là một tình cảm thiêng liêng, quý báu mà bất cứ người dân nào cũng có đối với đất nước mà mình đang sinh sống, tồn tại. Và tình cảm thiêng liêng đó được trỗi dậy mạnh mẽ hơn cả trong những giai đoạn lịch sử dân tộc phải gồng mình trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Ở đất nước Việt Nam chúng ta, bất cứ người dân nào cũng luôn tồn tại lòng yêu nước mãnh liệt. Cụ thể là khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan xuống vùng biển của Việt Nam thì trong tim của mỗi con người Việt trỗi dậy một nỗi bất bình mạnh mẽ, tạo thành một làn sóng phản đối quyết liệt đối với hành vi, ứng xử không đúng đắn đó. Đâu đâu tại Việt Nam cũng như trên thế giới, hễ là người Việt Nam đều nêu cao tinh thần yêu nước và phản đối Trung Quốc. Hay những thanh niên hiện nay đủ tuổi phải thực thi lệnh gọi Nghĩa vụ quân sự luôn hăng hái, xung phong, xung kích lên đường thực hiện nghĩa vụ cao quý, thiêng liêng của mình. Dù chúng ta đang sống trong thời bình, nhưng không có nghĩa là chúng ta lơ là với bất kì hành động khiêu khích nào, chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta luôn có kế hoạch xây dựng, củng cố quốc phòng vững mạnh, chắc chắn, là lực lượng tiên phong để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và đất nước Việt Nam ngày càng vững bền. Đó chính là những hành động của lòng yêu nước sâu sắc.
Nói tóm lại, trong mỗi con người Việt Nam ta đều sẵn sàng một lòng yêu nước sâu sắc. Chỉ có một số ít người vì hám lợi mà bán rẻ đất nước. Riêng bản thân tôi, tôi sẽ học tập thật tốt, là con ngoan trò giỏi để mai sau thành tài góp công xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh để xứng danh với các cường quốc năm châu bốn bể.
(Bài làm cùa HS)
>> Xem thêm Đề 32: Suy nghĩ của em về lòng nhân ái tại đây.
Tags:Đề 31 · Lòng yêu nước · Văn chọn lọc 9 | Đề 31 – Suy nghĩ của em về lòng yêu nước – Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 9 | 1,454 | |
Đề 31 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề học sinh giỏi Tiếng Việt 5 tả con vật
1. Điền từ trai hay nam, gái hay nữ vào chỗ trông trong các thành ngữ, tục ngữ, câu văn dưới đây sao cho thích hợp:
a) Làm … cho đáng nên …
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai đã từng.
b) Luật pháp đã quy định rõ quyền bình đẳng giữa … và …
c) … tài, … đảm.
d) Những bộ đồng phục, đồng phục … của trường em rất đẹp.
e) … mà chi, … mà chi
Sinh con có nghĩa có nghi là hơn.
2. Viết lại các câu văn dưới đây sau khi sửa lại dấu phẩy đặt sai vị trí:
a) Anh Kim Đồng nhanh trí dũng cảm, tuyệt vời.
b) Trên đường ra nơi xử bắn chị, Võ Thị Sáu ngắt một bông hoa cài lên mái tóc.
c) Chúng em luôn nhớ ơn những anh hùng đã hi sinh, vì dân vì nước.
c) Rừng cây im lặng tiếng chim gù, nghe trầm âm.
3. Trong bài Thợ rèn, nhà thơ Khánh Nguyên viết:
Làm thợ rèn mùa hè có nực
Quai một trận, nước tu ừng ực
Hai vai trần bóng nhẫy mồ hôi
Cũng có khi thấy thở qua tai.
Làm thợ rèn vui như diễn kịch
Râu bằng than mọc lên bằng thích
Nghịch ồ đây già trẻ như nhau
Nên nụ cười nào có tắt đâu.
4. Tả con vật rất quen thuộc và gắn bó với tuổi thơ của em (hoặc với những người dân ở địa phương em). | Đề 31 – Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 255 | |
Đề 31: Kể lại một giấc mơ trong đó em gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày – Bài văn chọn lọc lớp 9
Hướng dẫn
Đề 31: Kể lại một giấc mơ trong đó em gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày
Bài làm
Đêm 29 Tết, tôi cùng mẹ và chị gái thức canh nồi bánh chưng. Khuya lắm rồi. Mọi vật đều chìm vào im lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng nồi bánh chưng sôi đều. Củi gốc xoan, gốc ổi cháy đượm, thỉnh thoảng vang lên tiếng nổ nhỏ lép bép. Tôi ngồi tựa vào vai mẹ, nhìn bếp lửa đỏ hồng, thả hồn theo những tàn lửa bay chấp chới như những đốm sao lung linh.
Bỗng một vầng sáng hiện ra làm tôi loá mắt. Tôi định thần nhìn kĩ thì hoá ra là một ngôi nhà, một ngôi nhà được trang hoàng với những cành đào, cành quất trong dịp Tết đến xuân về. Kì lạ thay đó lại là ngôi nhà xinh xắn nằm ngay cạnh một luỹ tre xanh mát mà tôi đã từng ở với bà nội mình. Bóng dáng bà lão quét cống sao mà quen thuộc, gần gũi với tôi đến vậy! Bà! Bà ơi! Vừa nhìn thấy bà, một tiếng gọi nào đó từ trái tim tôi cất lên như nâng bước chân tôi nhanh hơn. Rồi tôi chạy ùa vào ôm chầm lấy bà rối rít: “Bà! Bà! Cháu nhớ bà quá! Bà khoẻ không bà? Bà có nhớ cháu không?”.
– Cháu bà lớn nhanh quá, càng lớn càng dễ thương.
Vừa nói nước mắt bà vừa chảy ra, tôi vội lấy khăn thấm cho bà rồi chúi đầu vào lòng bà, đôi mắt cũng cay xè: “Tết đến rồi, bà về thăm cháu đấy à?”. Bà gật đầu. Đã ba năm rồi từ khi bà ra đi, ra đi mãi mãi…
Bà vẫn như thế, không có gì thay đổi. Mái tóc bạc trắng như cước được búi gọn ra sau gáy như một đoá sen trắng. Trên khuôn mặt phúc hậu đã lấm tấm đồi mồi những nếp nhăn như những rẻ quạt chạy dài từ phía trước ra sau tạo nên những lớp sóng trên gương mặt bà. Tuy vậy, ánh mắt của bà vẫn sáng, vẫn trong và hiền hậu.
Bất chợt, biết bao kỉ niệm những ngày tôi sống cùng bà tràn về. Tôi còn nhớ có lần bố mẹ đi công tác hết, chị tôi thì bận ôn thi đại học nên cũng chẳng mấy khi có ở nhà, chỉ còn tôi và bà quấn quýt bén nhau. Hôm đó, trên đường đi học về, tôi bỗng cảm thấy nửa hàm răng dưới đau buốt. Đầu nhức ong ong. Nuốt nước bọt lại thấy bỏng rát. Về đến nhà, quăng cái cặp sách vào ngăn bàn, tôi leo lên giường, trùm chăn, không ngăn được tiếng rên cứ bật ra và những giọt nước mắt ứa dài trên má.
Thấy vậy, bà vội chạy đến bên giường, lật chăn. Thấy tôi nằm cuộn tròn, nước mắt giàn giụa, tay ôm má, bà dịu dàng: “Trời, cháu bà ốm đây mà. Khổ thân cháu tôi. Nào! Ngồi dậy để bà xem thế nào?”. Vừa nói bà vừa nhẹ nhàng đặt tay lên trán tôi, tay kia vòng qua lưng đỡ lấy tôi dậy, bế vào lòng. Cái đau trong răng, trong họng tôi dịu hẳn. Tôi nép vào ngực bà thút thít: “Bà ơi! Cháu đau cả hàm răng dưới, đau cổ họng lắm. Cháu thấy khó chịu, chẳng muốn ăn gì cả bà ạ!”. Bà khéo léo bảo tôi há miệng để bà xem răng, xem họng. Tuy không phải là bác sĩ nhưng bà đã có nhiều kinh nghiệm. Hồi nhỏ, bố tôi cũng hay đau răng, đau họng lắm. Chăm chú xem xét một lúc bà bảo: “Không sao. Quả thật cái răng, cái họng của cháu có hơi mất trật tự một chút. Sáng mai bà sẽ đưa cháu đến bệnh viện khám xem sao!”.
Cả đêm ấy, tôi đau, rên, mất ngủ. Bà nấu cháo gạo nếp sánh, thơm phưng phức, pha sữa dỗ tôi cố ăn cho chóng khoẻ. Chốc chốc, bà lại dấp khăn mặt ướt đắp lên cái trán dô, nóng hôi hổi của tôi cho hạ bớt nhiệt độ. Nhìn bà vất vả, tất bật, đi đi lại lại, miệng tôi đắng ngắt nhưng vẫn cố nuốt vài miếng cho bà vui lòng. Suốt đêm bà thức trắng để trông tôi.
Sáng hôm sau, bà đưa tôi lên viện. Ở phòng bệnh, tôi được biết mình bị hai bệnh tấn công một lúc: viêm chân răng hàm dưới và viêm a-mi-đan. Bác sĩ chỉ định nhổ răng và một tuần sau sẽ cắt a-mi-đan. Tôi sợ tái mặt. Bà thoáng đăm chiêu nhưng rồi lại tươi cười dỗ dành, an ủi: “Thôi vậy, bà cháu ta đành phải tạm trú trong viện này dăm bữa để giải quyết hai tên giặc hỗn láo dám làm phiền cháu gái bà.”
Đúng một tuần nằm viện, bà đón tôi trở về nhà. Đôi mắt bà hấp háy niềm vui, dịu dàng, chan chứa tình thương. Một tuần đi qua, tôi thấy chiếc áo bà mặc rộng ra, đôi tay gầy gầy, xương xương hơn, nếp nhăn cũng nhiều hơn, da bà nhăn nheo, xanh xao hơn. Bất giác tôi thấy sống mũi cay cay, mắt nhoè đi.
Cứ được ôm bà, gần gũi với bà như vậy thật hạnh phúc biết bao. Bóng hình bà biến thành rất nhiều con đom đóm chập chờn như những đốm lửa. Đèn trời không biết từ đâu xuấn hiện rất nhiều chiếu sáng khắp nơi. Bà ơi!… Bà đừng đi!…
Bỗng có ai đó lay tôi dậy rồi tiếng mẹ tôi gọi:
– Dậy đi con! Gần sáng rồi, vào nhà ngủ kẻo lạnh, sương xuống nhiều quá ướt hết tóc con gái tôi rồi!
Tôi mở choàng mắt, bừng tỉnh. Thì ra là một giấc mơ, một giấc mơ dài và đẹp quá! Giấc mơ đã đưa tôi đến với bà, nói chuyện, tâm tình cùng bà. Bên cạnh nồi bánh chưng vẫn đang sôi sùng sục. Trong gió bấc đã thoảng thấy hơi thở của mùa xuân đang về. Bà ơi, cháu ước gì thời gian có thể quay trở lại để cháu được sống cùng bà, được đón Tết với bà. Bà hãy sống thật hạnh phúc ở thế giới huyền bí đó nhé! Bà sẽ mãi ở trong tâm trí cháu. Bà ơi! Tết đến rồi!
ĐINH THỊ QUỲNH ANH
Lời nhận xét:
– Người viết kể về giấc mơ gặp lại người bà kính yêu rất xúc động, tự nhiên, chân thành.
– Bố cục bài viết hợp lí, văn viết trôi chảy, giàu cảm xúc: “Đúng một tuần nằm viện, bà đón tôi trở về nhà. Đôi mắt bà hấp háy niềm vui, dịu dàng, chan chứa tình thương. Một tuần đi qua, tôi thấy chiếc áo bà mặc rộng ra, đôi tay gầy gầy, xương xương hơn, nếp nhăn cũng nhiều hơn, da bà nhăn nheo, xanh xao hơn. Bất giác tôi thấy sống mũi cay cay, mắt nhoè đi. ”
– Bài viết có nhiều hình ảnh so sánh ấn tượng: “Bà thoáng đăm chiêu nhưng rồi lại tươi cười dỗ dành, an ủi: “Thôi vậy, bà cháu ta đành phải tạm trú trong viện này dăm bữa để giải quyết hai tên giặc hỗn láo dám làm phiền cháu gái bà
– Đặc biệt, điều làm nên thành công trong bài viết của Quỳnh Anh là bạn đã biết đan xen giữa kể, tả và bộc lộ cảm xúc khiến bài văn kể sinh động, hấp dẫn, cuốn hút.
– Kết bài lắng đọng nhiều tâm tư, nỗi niềm thể hiện tình yêu thương bà tha thiết: “Bà ơi, cháu ước gì thời gian có thể quay trở lại để cháu được sống cùng bà, được đón Tết với bà. Bà hãy sống thật hạnh phúc ở thế giới huyền bí đó nhé! Bà sẽ mãi ở trong tâm trí cháu. Bà ơi! Tết đến rồi! ”
Bài viết 2
– Nhanh thật, mai đã là một trăm ngày nó rồi.
Bố tôi nhấp ngụm nước chè, trầm tư nhìn ra sân. Nỗi buồn mất con vẫn còn hằn sâu trên khóe mắt ông. Mẹ tôi vội quay đi, giấu giọt nước mắt đang lăn dài trên má. Chỉ vì cái tai nạn oan nghiệt đó mà chị tôi đã phải rời xa cha mẹ, rời xa tôi, rời xa cuộc sống thân thương. Nước mắt cứ trào ra, tôi chạy về phòng, úp mặt xuống gối nức nở.
Có tiếng chim lảnh lót đâu đây. Tôi mở mắt, vươn vai ngáp dài. Trước mắt tôi là một khung cảnh đẹp như trong truyện tranh. Trời xanh trong, mây trắng trôi bồng bềnh, nắng vàng dịu trải khắp đồng cỏ xanh tươi. Nơi tôi ngồi, một cái cây cổ thụ thân nâu sẫm, to gấp bốn lần cái cây đa ở quê tôi. Cành lá nó sum suê, hình như càng lúc càng toả rộng. Khung cảnh này rất quen, hình như tôi đã thấy nó ở đâu.
Một giọng nói quen thuộc, nghe như tiếng… chị tôi. Đúng, chị gái tôi chứ không ai khác. Tôi ngoảnh lại. Trước cửa căn nhà xinh xắn ấy, chị tôi đang vẫy tôi. Khuôn mặt tròn trịa, bầu bĩnh, đôi mắt sáng, miệng cười rạng rỡ. Chị mặc áo phông cộc thùng thình và cái quần ngố bò. Đấy là loại trang phục ưa thích của chị tôi. Đối với chị, thoải mái là số một. Mái tóc buộc lệch, lơ thơ mấy sợi tóc trên trán. Tôi hạnh phúc quá, không còn biết làm gì ngoài việc cố gắng, cố gắng chạy thật nhanh tới. Chị tôi cũng chạy. Hai chị em ôm chầm lấy nhau, quay hai ba vòng rồi cùng ngã lăn xuống đất. Chúng tôi nhìn nhau, bật cười khúc khích. Tôi bật nhảy tót ra cạnh chị, xoa xoa hai tay vào đôi má tròn của chị liến thoắng:
– Chị đi đâu mà không về với em? Chị có biết em nhớ chị lắm không? Chị có biết, không có chị, nhà mình chán lắm không?
– Chị cũng nhớ em lắm, đồ sâu bọ! – Chị cũng xoa má tôi, trả lời.
Hai chị em phá lên cười. Tôi kéo chị vào, xiết chị thật chặt:
– Thôi bây giờ chị phải ở nhà với em nhé.
Chị tôi bỗng nhiên im lặng rồi đẩy tôi ra, bảo:
– Mình vào nhà giúp mẹ nấu bữa trưa đi.
Chị đứng dậy dắt tôi vào căn nhà nhỏ xinh xắn. Từ trong nhà, bố tôi vác một chiếc bàn tròn, màu trắng. Đưa tay lau mồ hôi, ông cười:
– Hai đứa về rồi à, vào giúp mẹ nấu nướng đi con. Ớ trong nhà bếp bên kia ấy.
Tôi và chị tôi đi vào căn nhà nhỏ bên cạnh. Mẹ tôi đang ở trong đó, chuẩn bị rất nhiều món ngon. Có món tủ của tôi: tôm chiên xù. Mùi thơm nức mũi của nó khiến bụng tôi cồn cào. Có cả salad Nga với nhiều rau củ tươi, canh khoai môn tím sền sệt chỉ nhìn thôi mà tôi đã chảy cả nước miếng. Chị đập nhẹ vào lưng và bảo tôi:
– Con gái con lứa, nước miếng chảy hết cả ra khóe miệng rồi. Chẳng ý tứ gì cả.
Tôi vội lau, quay ra cãi:
– Kệ em, em còn bé mà. Với lại ở nhà chứ đâu phải nơi khác, cần gì phải ý tứ.
Cô chỉ giỏi chống chế thôi, ai bảo ở nhà thì không cần ý tứ. Thôi, ra bê với tôi mấy thứ để dọn bàn.
Tôi cười hì hì, lém lỉnh:
– Vâng ạ.
Chị tôi thấy thế cũng cười theo. Mẹ tôi quay lại, mỉm cười trìu mến rồi bảo:
– Hai chị em bê bát đũa với mấy món xong rồi ra trước, mẹ sẽ ra sau.
Chị em tôi lăng xăng bưng bê bát đũa trong khi bố tôi đang lau lại ghế. Cuối cùng, mọi người cũng ngồi vào bàn ăn. Tôi nhanh nhảu mời bố mẹ, mời chị rồi gắp vào bát mình một con tôm to. Tôi nhai ngấu nghiến. Chị tôi nhìn rồi nói:
– Đúng là đồ sâu bọ, ăn cái gì cũng ngấu nghiến. Này, ăn thêm một con nữa đi.
Chị gắp bỏ vào bát tôi thêm một con nữa. Tôi cũng gắp cho chị một con.
– Chị ăn nhiều vào.
Cả nhà tôi cùng cười. Bữa trưa đó thật sự rất vui vẻ. Cả nhà ai cũng ăn nhiều, cười nhiều, nói nhiều.
Sau bữa trưa, chị giúp mẹ dọn dẹp. Xong xuôi, chị rủ tôi:
– Sâu bọ, đi vẽ với chị đi.
Mỗi lần đi vẽ, tôi lại phải làm người mẫu cho chị cả tiếng đồng hồ. Hơi một tí là tôi lại ngó ngoáy, ngọ ngoạy. Lần này cũng vậy. Chốc chốc, tôi lại hỏi:
– Xong chưa chị?
Ngồi im đi, sắp xong rồi.
Một lúc sau:
– Xong chưa, em mỏi lắm rồi.
Nếu em ngồi im một chút thì nó sẽ xong nhanh hơn.
Và cuối cùng:
– Bức tranh hoàn thành! – Chị tôi kêu lên.
Đâu, đâu, cho em xem đi!
Tôi chạy lại, cố giành bức tranh. Quả thật chị tôi vẽ rất đẹp, nét vẽ sắc, rõ, rất có hồn. Trong tranh, hình như có ngọn cỏ đang lay động, con bướm đang bay lượn tung tăng. Chưa bao giờ tôi thấy mình lại giống thật như thế. Nhưng chị giật lại bảo:
– À! Còn quên mất một vài chi tiết. Bên mép của em có cái nốt ruồi này. Trán toàn mụn trứng cá còn hai má phải nhiều tàn nhang. Ha ha…
Chị tôi vừa cười vừa cho tôi xem bức tranh sau chỉnh sửa.
Mặt nhăn nhó, tôi đứng dậy chạy đuổi theo chị. Chị tôi vừa chạy vừa cười phá lên. Tất nhiên rồi, vì cái mặt tôi trong tranh buồn cười lắm. Hai chị em đuổi nhau đến khi mệt lử. Chúng tôi ngồi bệt xuống, dựa vào thân cây cổ thụ. Ai cũng mặt đỏ gay, mồ hôi chảy ròng ròng. Vừa thở hổn hển, chúng tôi vừa nhìn nhau rồi lại cười khúc khích. Chị tôi lấy khăn tay lau mồ hôi cho tôi, rồi đưa cho tôi một lon nước ngọt mát lạnh:
– Mệt không, uống đi. Không phải đây là thứ nước mà em thích uống nhất à?
– Vâng, em cảm ơn chị nhiều!
Nhưng ở nhà nhớ uống ít cái này thôi. Ăn thêm nhiều rau và cá, em sẽ khoẻ hơn đấy. Đừng ăn vặt nhiều không thì em sẽ béo ú ra đấy.
Tôi nhoẻn miệng cười:
– Vâng, em nhớ rồi.
Chị mỉm cười:
– Bây giờ em lớn rồi phải có ý tứ một chút. Ăn uống phải nhìn trước sau, có người trên thì phải mời trước mới được ăn nhớ chưa.
Rồi chị vuốt tóc tôi:
– Ở nhà nhớ chăm sóc bố mẹ. Bố mẹ có chuyện gì thì phải quan tâm, bố mẹ ốm thì phải coi sóc chu đáo.
– Thế chị không chăm sóc bố mẹ à? Chị không ở nhà sao?
– Chị phải đi xa rồi, không thể ở lại rtữa, em nhớ sống tốt. Chị đi thì đừng buồn, nghe chưa?
– Chị đi đâu? Thôi chị đừng đi mà. Chị phải ở nhà, em cần chị, bố mẹ cần chị. Chị đừng đi.
Tôi vươn tay, định nắm lấy tay chị. Nhưng chị lùi ra xa. Chị vẫn cười nhưng nước mắt thì lăn dài trên má. Tôi cố chạy theo, nhưng càng chạy chị càng xa tôi. Một bóng đen nào đó đang kéo chị tôi vào. Tôi cố gọi, gọi lạc cả giọng, cố vươn tay với, cố chạy theo. Nhưng không gian đang bị bao trùm bởi bóng đen kia. Tôi chẳng thấy gì nữa, chỉ biết hét gọi trong vô vọng:
– Chị ơi! Chị ơi! Đừng đi! Chị ơi…
– Tỉnh dậy đi con, Linh ơi! Tỉnh dậy đi.
Trước mắt tôi là khuôn mặt giàn dụa và đau đớn của mẹ. Tôi bật dậy:
– Mẹ ơi giữ chị lại, không cho chị đi. Mẹ ợi mẹ phải giữ chị lại.
Đến lúc này, mẹ tôi không kìm lòng được nữa. Mẹ ôm tôi, bật khóc nức nở. Tôi cũng khóc. Bố tôi đứng ở góc phòng, mắt ông cũng rưng rưng, nước mắt trực trào ra. Ông thở dài.
Sáng sớm hôm sau, cả nhà tôi đi thăm chị. Đặt bông cúc trắng lên mộ chị, tôi nước mắt vòng quanh. Nhưng tôi vội lau ngay. Chị không muốn tôi buồn mà muốn tôi vui vẻ sống tiếp cuộc sống mà chị phải rời bỏ. Tôi sẽ giúp chị chăm sóc bố mẹ, giúp chị làm những việc chị chưa làm được và sống tốt như chị mong đợi. Chắc chắn nếu tôi làm được thì dù có ở thế giới bên kia chị cũng cảm thấy vui lòng.
NGUYỄN THỊ THUỲ LINH
Lời nhận xét:
– Kể lại giấc mơ gặp lại người chị vừa mất chưa lâu của mình, bài viết của Thuỳ Linh thực sự tạo rung động cho người đọc bởi cảm xúc, nỗi nhớ thương đau xốt, tình yêu tha thiết với chị: “Mẹ ôm tôi bật khóc nức nở. Tôi cũng khóc. Bố tôi đứng ở góc phòng, mắt ông cũng rưng rưng, nước mắt trực trào ra. Ông thở dài…
– Kết bài cũng tạo sự lắng đọng khôn nguôi: “Đặt bông cúc trắng lên mộ chị, tôi nước mắt vòng quanh. Nhưng tôi vội lau ngay. Chị không muốn tôi buồn mà muốn tôi vui vẻ sống tiếp cuộc sống mà chị phải rời bỏ. Tôi sẽ giúp chị chăm sóc bố mẹ, giúp chị làm những việc chị chưa làm được và sống tốt như chị mong đợi. Chắc chắn nếu tôi làm được thì dù có ở thế giới bên kia chị cũng cảm thấy vui lòng”.
– Lời văn kể tự nhiên, chân thành, giàu xúc cảm khi kể về những kỉ niệm của hai chị em: “Mặt nhăn nhó, tôi đứng dậy chạy đuổi theo chị. Chi tôi vừa chạy vừa cười phá tên. Tất nhiên rồi, vì cái mặt tôi trong tranh buồn cười lắm. Hai chị em đuổi nhau đến khi mệt lử. Chúng tôi ngồi bệt xuống, dựa vào thân cây cổ thụ. Ai cũng mặt đỏ gay, mồ hôi chảy ròng ròng ”. | Đề 31_ Kể lại một giấc mơ trong đó em gặp lại người thân đã xa cách lâu ngày – Bài văn chọn lọc lớp 9 | 3,067 | |
Đề 32 -Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Hướng dẫn
Đề học sinh giỏi Tiếng Việt tả cảnh quê hương
1. Chép lại đoạn văn dưới đây, sau khi đặt dấu chấm hoặc dấu phẩy cho đúng ở những chỗ có gạch chéo (/)
Bé mới mười tuổi / bữa cơm / Bé nhường hết thức ăn cho em / hằng ngày / Bé đi câu cá bống về băm sả / hoặc di lượm vỏ đạn giặc ở ngoài gò về cho mẹ / thấy cái thau / cái vung nào gỉ người ta vứt / Bé đem về cho ông Mười quân giới /
(Theo Nguyễn Thi)
2. Đặt câu có sử dụng dấu hai chấm cho mỗi trường hợp sau:
a) Đùng dấu hai chấm để tách lòi giải thích về các loại cây (hoặc: hoa, quả) với bộ phận đứng trước nói về khu vườn.
b) Dùng dấu hai chấm để tách lòi giải thích về một số phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam với bộ phận đứng trước có ý giới thiệu.
c) Dùng dấu hai chấm (phối hợp với dấu gạch ngang đầu dòng) để báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là lời nói của bố (hoặc: mẹ, anh, chị) đối với em.
d) Dùng dấu hai chấm (phối hợp với dấu ngoặc kép) để báo hiệu bộ phận câu đứng sau nó là một thành ngữ (hoặc tục ngữ) mà em dẫn ra.
3. Nói về nhân vật chị Sứ (người phụ nữ anh hùng trong kháng chiến chống Mĩ), trong tác phẩm Hòn Đấtcủa nhà văn Anh Đức có đoạn viết:
Đọc đoạn văn trên, em hiểu được vì sao chị Sứ rất yêu quý và gắn bó với quê hương?
4. Tả một cảnh đẹp ở quê hương mà em yêu thích. | Đề 32 -Đề bài luyện tập – Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 | 300 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.