text
stringlengths
1
148k
label
int64
0
2
__index_level_0__
int64
0
113k
Cày ri ta Hạ Long (danh pháp: Primulina halongensis) là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi. Loài này được Ruth Kiew và Nguyễn Tiến Hiệp mô tả khoa học đầu tiên năm 2000 dưới danh pháp "Chirita halongensis". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Primulina heterotricha là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Hải Nam (Trung Quốc) và được Elmer Drew Merrill mô tả khoa học đầu tiên năm 1934 dưới danh pháp "Chirita heterotricha". Năm 2011, Y.Dong & Yin Z.Wang chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Microchirita involucrata là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Campuchia, Malaysia bán đảo (Kedah, Kelantan, Penang, Perak, Pahang), trung và nam Thái Lan; được William Grant Craib mô tả khoa học đầu tiên năm 1928 dưới danh pháp "Chirita involucrata". Năm 2011, Yin Z. Wang chuyển nó sang chi "Microchirita".
1
null
Primulina juliae là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hồ Nam, Giang Tây (Trung Quốc); được Henry Fletcher Hance mô tả khoa học đầu tiên năm 1883 dưới danh pháp "Chirita juliae". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Henckelia lacei là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Myanmar; được William Wright Smith mô tả khoa học đầu tiên năm 1914 dưới danh pháp "Didymocarpus lacei". Năm 1954, Brian Laurence Burtt chuyển nó sang chi "Chirita". Năm 2011, D.J.Middleton & Mich.Möller chuyển nó sang chi "Henckelia".
1
null
Henckelia lachenensis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở khu vực ven Himalaya, bao gồm Bhutan, Ấn Độ (Assam, Sikkim), miền bắc Myanmar, Trung Quốc (Vân Nam). Nó được Charles Baron Clarke mô tả khoa học đầu tiên năm 1883 dưới danh pháp "Chirita lachenensis". Năm 2011, D.J.Middleton & Mich.Möller chuyển nó sang chi "Henckelia". Tính từ định danh "lachenensis" được đặt theo địa danh nơi thu hái mẫu vật là Lachen, Sikkim, Ấn Độ. Danh pháp "Chirita clarkei" là "nom. illeg." vì nó là tên dư thừa theo điều 52 của Đại hội Thực vật học Quốc tế (IBC) khi được đặt muộn hơn cho cùng một mẫu vật gốc ("Chirita" sp. N. 27, "Herb. Ind. Or." Hook, f. et T. Thoms.).
1
null
Damrongia lacunosa là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có trong khu vực Malaysia bán đảo và miền nam Thái Lan; được Joseph Dalton Hooker mô tả khoa học đầu tiên năm 1892 dưới danh pháp "Didymocarpus lacunosus". Năm 1965 Brian Laurence Burtt chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita lacunosa". Năm 2011, D.J.Middleton & A.Weber chuyển nó sang chi "Damrongia".
1
null
Primulina obtusidentata là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở các tỉnh Quý Châu, Hồ Bắc, Hồ Nam (Trung Quốc); được W.T. Wang mô tả khoa học đầu tiên năm 1981 dưới danh pháp "Chirita obtusidentata". Năm 1984, W.T. Wang công bố thêm loài với danh pháp "Chirita laifengensis". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber coi chúng chỉ là đồng nghĩa của nhau và chuyển sang chi "Primulina". Loài này có một thứ được công nhận là "P. obtusidentata" var. "mollipes" (đồng nghĩa "C. obtusidentata" var. "mollipes" ) chỉ thấy có ở tỉnh Hồ Nam.
1
null
Microchirita lavandulacea là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có trong khu vực từ Ấn Độ, Trung Quốc tới miền bắc Việt Nam, về phía nam tới Malaysia; được Otto Stapf mô tả khoa học đầu tiên năm 1925 dưới danh pháp "Chirita lavandulacea". Năm 2011, Yin Z.Wang chuyển nó sang chi "Microchirita".
1
null
Primulina liboensis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quý Châu (Trung Quốc); được W. T. Wang & D. Y. Chen mô tả khoa học đầu tiên năm 1985 dưới danh pháp "Chirita liboensis". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Primulina liujiangensis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây (Trung Quốc); được D. Fang & D. H. Qin mô tả khoa học đầu tiên năm 1994 dưới danh pháp "Chirita liujiangensis". Năm 2011, Yan Liu chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Primulina longgangensis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây (Trung Quốc); được W.T.Wang mô tả khoa học đầu tiên năm 1982 dưới danh pháp "Chirita longgangensis". Năm 2011, Yan Liu & Yin Z.Wang chuyển nó sang chi "Primulina". Cùng năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển "Chirita longgangensis" var. "hongyao" thành "Primulina longgangensis" var. "hongyao".
1
null
Cyperus alternifolius là một loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được L. mô tả khoa học đầu tiên năm 1767. Phân loài và tên gọi. Các phân loài "Cyperus alternifolius" ssp. "flabelliformis" là "Cyperus flabelliformis" = "Cyperus involucratus" Rottb.. có tên tiếng Việt là thủy trúc, lác dù, trúc ngược. Đặc điểm. Cây thủy trúc có hình dáng đặc sắc, thân và lá đẹp. Cây có thân tròn cứng cáp, bề mặt nhẵn bóng với màu xanh lục đậm. Cây mọc thành bụi dày thẳng như cây cau, dừa tí hon. Rễ của cây là dạng rễ chùm bám chắc vào đất và rất khỏe. Lá thủy trúc mỏng, gân chính nổi rõ, có màu xanh, giảm thành các bẹ ở gốc, mặc khác các lá bắc ở đỉnh lại phát triển lớn, dài xếp vòng xòe ra và cong xuống. Hoa có cuống chung dài thẳng, xếp tỏa ra nổi trên đám lá bắc. Hoa lúc non có màu trắng khi già chuyển dần sang màu nâu. Cây thường hay thay lá, nếu không kịp thời cắt bỏ những lá bị úa vàng thì chúng sẽ rụng xuống làm đục nước, gây mất mỹ quan. Cây có tốc độ sinh trưởng nhanh và là loài cây ưa bóng râm, ưa sáng. Cây còn là thực vật bán cạn nên phát triển rất tốt trong môi trường nước ngập úng qua rễ, tuy nhiên nếu nước quá cao, ngập cả phần thân và gần chạm đến lá thì làm cho lá dễ bị vàng hoặc thối rữa. Cây được nhân giống dễ dàng từ tách bụi, dễ chăm sóc. Sử dụng canh tác. "Cyperus alternifolius" vừa có tác dụng thẩm mỹ, vừa có tác dụng lọc và làm sạch môi trường không khí, nước nên thường được trồng làm cây cảnh phổ biến trên toàn thế giới. Cây được trồng trong các sân vườn, tiểu cảnh ven ao (pond), hồ nước nhỏ, chậu hoặc đơn giản là trong đất, trang trí trong nhà (houseplant) hoặc trong các hồ thủy sinh bán cạn. Với vóc dáng thanh mảnh, cách sắp xếp lá độc đáo, đều đặc như một bông hoa rất đẹp, cây thủy trúc sẽ mang lại sự tươi mới, thú vị và xanh mát cho không gian trang trí. Đó là các vùng chịu đựng trong USDA (hardiness): 9a-11b. Giống cây trồng "Cyperus alternifolius" Variegatus được phát triển vì trạng thái khác nhau về màu sắc (variegation) và kích thước nhỏ hơn.
1
null
Primulina macrodonta là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây (Trung Quốc); được D. Fang & D. H. Qin mô tả khoa học đầu tiên năm 1994 dưới danh pháp "Chirita macrodonta". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Henckelia grandifolia là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này phân bố tại Nepal, Ấn Độ (Assam, Sikkim, Tây Bengal), Bhutan, miền bắc Myanmar, Trung Quốc (Vân Nam), miền bắc Thái Lan. Lịch sử phân loại. Trong bản thảo chép tay của Nathaniel Wallich có ghi danh pháp "Calosacme macrophylla". Tuy nhiên, danh pháp này là vô hiệu lực, do nó chỉ là tên gọi trần trụi ("nom. nud"). Năm 1830, Nathaniel Wallich công bố mô tả khoa học đầu tiên cho loài này dưới danh pháp "Chirita macrophylla". Năm 1831, Albert Gottfried Dietrich công bố danh pháp "Henckelia grandifolia", trong đó ghi đồng nghĩa của nó là "Chirita macrophylla" Wall. "Pl. Asiat. Rar." p. 56. Trong thời gian trước năm 2011, nói chung người ta coi nó thuộc về chi "Chirita" với danh pháp "Chirita macrophylla", chẳng hạn như Ủy ban biên tập Quần thực vật Trung Hoa. 1998. "Flora of China" (Scrophulariaceae through Gesneriaceae). 18: 1–449. Trong C. Y. Wu, P. H. Raven & D. Y. Hong (chủ biên) Fl. China. Science Press & Missouri Botanical Garden Press, Beijing & St. Louis. Kết quả phân tích phát sinh chủng loài của Weber "et al." (2011) cho thấy "Chirita macrophylla" nằm trong mối quan hệ họ hàng gần với các loài "Henckelia", vì thế danh pháp "Henckelia grandifolia" có độ ưu tiên cao nhất để được chọn làm danh pháp chính thức, mặc dù nó được công bố hợp lệ muộn hơn "Chirita macrophylla". Weber "et al." (2011) đã lựa chọn "Henckelia grandifolia" làm danh pháp chính thức cho loài này. Danh pháp "Henckelia macrophylla" công bố hợp lệ sớm hơn cả, nhưng không thể sử dụng do nó là đồng nghĩa của "Didymocarpus macrophyllus" mặc dù một vài dữ liệu cho thấy nó vẫn có thể là đồng nghĩa của "H. grandifolia".
1
null
Primulina maguanensis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Vân Nam (Trung Quốc); được Z.Yu Li, H.Jiang & H.Xu mô tả khoa học đầu tiên năm 2008 dưới danh pháp "Chirita maguanensis". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Deinostigma minutihamata là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được D.Wood mô tả khoa học đầu tiên năm 1972 dưới danh pháp "Chirita minutihamata". Năm 2011, Weber "et al." chuyển nó sang chi "Primulina" với danh pháp "Primulina minutihamata". Năm 2016, Möller "et al." chuyển nó sang chi "Deinostigma". Loài này sinh sống trong khu vực Tây Nguyên của Việt Nam (tỉnh Kon Tum).
1
null
Primulina weii là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây; được D.Fang, Y.G.Wei & J.Murata mô tả khoa học đầu tiên năm 1999 dưới danh pháp "Chirita mollifolia". Tháng 6 năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina", tuy nhiên nó không được sử dụng danh pháp "Primulina mollifolia", do danh pháp này ("Primulina mollifolia" ) đã được J.M.Li & Y.Z. Wang sử dụng từ tháng 1 năm 2011 để chuyển "Chiritopsis mollifolia" sang chi "Primulina". Danh pháp chính thức mới do Mich.Möller & A.Weber đặt.
1
null
Chirita mollis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở khu vực Sumatra (Indonesia); được Friedrich Anton Wilhelm Miquel mô tả khoa học đầu tiên năm 1858. Kể từ năm 2011, chi "Chirita" đã bị chia tách toàn bộ. Olive Hilliard có ghi chú tại phó bản mẫu gốc (isotype) số L0443413 của loài này ở Leiden rằng nó là "Henckelia" ("sensu" Weber & Burtt, 1998 - đa ngành), vì thế với khu vực phân bố là Malesia thì nó phải được coi là thuộc về chi "Codonoboea". Tới thời điểm ngày 18-11-2016 vẫn chưa có thêm thông tin gì việc gán vị trí chính thức của "Chirita mollis".
1
null
Liebigia neoforbesii là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Indonesia (miền nam Sumatra); được Olive Mary Hilliard nâng cấp từ một thứ của "Chirita blumei" là "C. blumei" var. "cordifolia" vào năm 2003 trong "Edinburgh J. Bot." 60(3): 368 in năm 2004 lên cấp loài với danh pháp "Chirita neoforbesii". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Liebigia".
1
null
Henckelia oblongifolia là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có trong khu vực Ấn Độ (Assam), miền bắc Myanmar, Trung Quốc (Vân Nam). Lịch sử phân loại. Nó được William Roxburgh mô tả khoa học đầu tiên năm 1832 với danh pháp "Incarvillea oblongifolia". Năm 1840, Augustin Pyramus de Candolle định danh nó thành "Babactes oblongifolia" với nội dung như sau "2. Babactes. DC. prodr. Mss. – Sp. 1: B. oblongifolia, DC. (Incarvillea oblongif., Roxb. fl. Ind. 3. p. 113.)". Năm 1957, James Sinclair chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita oblongifolia". Năm 2011, D.J.Middleton & Mich.Möller chuyển nó sang chi "Henckelia".
1
null
Primulina pinnatifida là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Chiết Giang (Trung Quốc); được Heinrich Raphael Eduard Handel-Mazzetti mô tả khoa học đầu tiên năm 1934 dưới danh pháp "Didymocarpus pinnatifidus". Năm 1960, Brian Laurence Burtt chuyển nó sang chi "Chirita". Năm 2011, Yin Z. Wang chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Primulina polycephala là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Đông (Trung Quốc); được Trần Hoán Dong mô tả khoa học đầu tiên năm 1946 dưới danh pháp "Didymocarpus polycephalus". Năm 1981, W.T.Wang chuyển nó sang chi "Chirita". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Henckelia pumila là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được D.Don mô tả khoa học đầu tiên năm 1825 dưới danh pháp "Chirita pumila". Phân bố. Từ miền bắc Ấn Độ (Himachal Pradesh tới Assam), Nepal, Bhutan, miền bắc Myanmar, Thái Lan, miền nam Trung Quốc (Vân Nam, Quý Châu) tới miền bắc Việt Nam.
1
null
Damrongia purpureolineata là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở miền bắc Thái Lan (Lamphun); được Kerr thiết lập nhưng do Craib công bố mô tả khoa học đầu tiên năm 1918. Nó là loài điển hình của chi "Damrongia". Năm 1972, David Wood chuyển nó sang chi "Chirita", mà không đưa ra lý do của việc hạ cấp chi "Damrongia". Năm 2011, Weber "et al." phục hồi lại chi "Damrongia" để chuyển một số loài từ chi "Chirita" theo định nghĩa khi đó sang, trong đó có cả loài điển hình của chi.
1
null
Henckelia burttii là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được Brian Laurence Burtt và Gopinath Panigrahi mô tả khoa học đầu tiên năm 1965 dưới danh pháp "Chirita reptans". Năm 2011, D.J.Middleton & Mich.Möller chuyển nó sang chi "Henckelia". Tuy nhiên danh pháp "Henckelia reptans" đã bị chiếm chỗ trước từ năm 1827 khi Curt Polycarp Joachim Sprengel sử dụng tên này để chuyển loài "Didymocarpus reptans" sang chi "Henckelia" (hiện tại có danh pháp chính thức là "Codonoboea reptans" - có trong khu vực Malaysia bán đảo); vì thế các tác giả đã dùng tính từ "burttii" để đặt tên cho loài này, nhằm vinh danh Brian Laurence Burtt - đồng tác giả đặt danh pháp "Chirita reptans". Loài này được tìm thấy ở miền bắc Myanmar.
1
null
Primulina secundiflora là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quý Châu (Trung Quốc); được Chun mô tả khoa học đầu tiên năm 1946 dưới danh pháp "Didymocarpus secundiflorus". Năm 1982, W.T.Wang chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita secundiflora". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Microchirita sericea là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Malaysia bán đảo (Kedah, Perak, Kelantan); được Henry Nicholas Ridley mô tả khoa học đầu tiên năm 1905 dưới danh pháp "Chirita sericea". Năm 2011, A.Weber & Rafidah chuyển nó sang chi "Microchirita".
1
null
Primulina tenuituba là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quý Châu, Hồ Bắc, Hồ Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc); được W.T.Wang mô tả khoa học đầu tiên năm 1981 trong "Bull. Bot. Res.", Harbin 1(3): 40 dưới danh pháp "Deltocheilos tenuitubum", và sau đó trong "Bull. Bot. Res.", Harbin 1(4): 66. ông mô tả thêm loài "Chirita shennungjiaensis". Năm 1990, trong "Fl. Reipubl. Popularis Sin." 69: 388 ông chuyển "Deltocheilos tenuitubum" sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita tenuituba". Năm 2011, Yin Z.Wang đồng nghĩa hóa "Chirita shennungjiaensis" với 'Chirita tenuituba" và chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Primulina dryas là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài được tìm thấy trong khu vực phía tây tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Được John Lindley mô tả khoa học đầu tiên năm 1844 dưới danh pháp "Chirita sinensis", và nó là loài điển hình của "Chirita" sect. "Gibbosaccus". Nó sinh sống tại những nơi ẩm ướt có bóng râm hay trên các tảng đá trong thung lũng, ở độ cao 100–500 m. Ra hoa từ tháng 5 tới tháng 2 năm sau và tạo quả từ tháng 8 tới tháng 2 năm sau. Quả nang vuông góc với cuống quả, dài 4-7,5 cm. Năm 1906, Augustin Abel Hector Léveillé chuyển nó sang chi "Didymocarpus" với danh pháp "Didymocarpus sinensis". Năm 1912, W.S. Dun công bố danh pháp "Chirita dryas" cho loài này. Tháng 1 năm 2011, trong bài báo công bố trên "Journal of Systematics and Evolution", Wang "et al." mở rộng chi "Primulina" (trước đó chỉ chứa một loài là "Primulina tabacum") để chứa các loài thuộc "Chirita" sect. "Gibbosaccus" - do các loài này cùng "P. tabacum" tạo thành một nhánh đơn ngành, và thiết lập danh pháp "Primulina sinensis" với diễn giải nó có đồng nghĩa là "Chirita sinensis" . Mặc dù được công bố hợp lệ, nhưng từ năm 1890 thì Joseph Dalton Hooker đã sử dụng danh pháp "P. sinensis" - dù nó là thừa thãi ("nom. superfl.") - để chỉ "Primulina tabacum", nên danh pháp của Wang "et al." năm 2011 chỉ là trùng tên (đồng âm) muộn hơn của "P. sinensis" , vì thế nó trở thành một tên gọi không hợp lệ ("nom. illeg."). Trong bài báo công bố tháng 6 năm 2011 trên "Taxon", Weber "et al." đã phát hiện ra điều này. Như thế, cả hai danh pháp "P. sinensis" và "P. sinensis" đều trở thành "nom. illeg.". Các tác giả đã hiệu đính tên gọi khoa học chính thức cho "C. sinensis" thành "P. dryas", trên cơ sở danh pháp đồng nghĩa "C. dryas" .
1
null
Henckelia smitinandii là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở vườn quốc gia Khao Yai (miền đông Thái Lan); được B.L.Burtt mô tả khoa học đầu tiên năm 2001 dưới danh pháp "Chirita smitinandii". Năm 2011, D.J.Middleton & Mich.Möller chuyển nó sang chi "Primulina". Burtt (2001) trong "Thai Forest Bull., Bot." 29: 89 đã không cung cấp vị trí trong tổ nào của "Chirita" cho loài này, nhưng gợi ý rằng nó có quan hệ họ hàng với "Chirita poilanei" , một loài hiện nay đặt trong "Primulina". Tuy nhiên các đặc điểm lá mỏng, quả nang nứt theo mặt lưng và sự ưa thích môi trường sống không trên đá vôi có thể cho thấy nó gần giống và có quan hệ dường như gần gũi hơn với các loài hiện nay đặt trong "Henckelia". Vì thế, các nghiên cứu bổ sung về loài này là cần thiết.
1
null
Primulina speluncae là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Vân Nam (Trung Quốc); được Heinrich Raphael Eduard Handel-Mazzetti mô tả khoa học đầu tiên năm 1936 dưới danh pháp "Didymocarpus speluncae". Năm 1972, David Wood chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita speluncae" Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina". Danh pháp "Didymocarpus minutus" là "nom. illeg." do nó được đặt sau danh pháp "Didymocarpus minutus" (là đồng nghĩa của "Paraboea minuta" ).
1
null
Primulina swinglei là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) và miền bắc Việt Nam; được Elmer Drew Merrill mô tả khoa học đầu tiên năm 1918 từ mẫu vật thu hái tại Quảng Đông dưới danh pháp "Didymocarpus swinglei". Năm 1981, Wen Tsai Wang chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita swinglei". Năm 1926, François Pellegrin mô tả mẫu vật thu hái tại miền bắc Việt Nam dưới danh pháp "Didymocarpus balansae". Năm 1960, Brian Laurence Burtt chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita pellegriniana", do danh pháp "Chirita balansae" đã được Emmanuel Drake del Castillo đặt từ năm 1890 (nay là "Primulina balansae"). Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber đồng nhất hóa "Chirita pellegriniana" với "Chirita swinglei" và chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Deinostigma tamiana là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi. Loài này được B. L. Burtt mô tả khoa học đầu tiên năm 1999 dưới danh pháp "Chirita tamiana". Năm 2011, Weber "et al." chuyển nó sang chi "Primulina" với danh pháp "Primulina tamiana". Năm 2016, Möller "et al." chuyển nó sang chi "Deinostigma". Loài này sinh sống trong khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo, Việt Nam.
1
null
Henckelia tibetica là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc); được Adrien René Franchet mô tả khoa học đầu tiên năm 1899 dưới danh pháp "Roettlera tibetica". Năm 1960, Brian Laurence Burtt chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita tibetica". Năm 2011, D.J.Middleton & Mich.Möller chuyển nó sang chi "Henckelia".
1
null
Chirita umbrophila có thể là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được C.Y.Wu ex H.W.Li mô tả khoa học đầu tiên năm 1983. Loài chỉ được biết đến từ một mẫu vật đang ra quả không có đầu nhụy không rụng, và như thế là không thể xác định nó có thuộc về "Chirita" hay không.
1
null
Primulina verecunda là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây (Trung Quốc); được Trần Hoán Dong mô tả khoa học đầu tiên năm 1946 dưới danh pháp "Didymocarpus verecundus". Năm 1981, Wen Tsai Wang chuyển nó sang chi "Chirita" với danh pháp "Chirita verecunda". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina".
1
null
Microchirita viola là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở miền nam Thái Lan, Malaysia bán đảo (Kedah: quần đảo Langkawi); được Henry Nicholas Ridley mô tả khoa học đầu tiên năm 1897 dưới danh pháp "Chirita viola". Năm 2011, A.Weber & Rafidah chuyển nó sang chi "Microchirita".
1
null
Henckelia walkerae là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Sri Lanka; được George Gardner mô tả khoa học đầu tiên năm 1846 dưới danh pháp "Chirita walkerae" ('walkeri'). Năm 2011, D.J.Middleton & Mich.Möller chuyển nó sang chi "Henckelia". Các tác giả cũng hiệu chỉnh lại tính từ định danh từ "walkeri" thành "walkerae", do George Gardner đã chỉ rất rõ ràng rằng loài cây ông mô tả được đặt tên theo họ của bà Walker (vợ của Edward Walker - người giúp đỡ, hỗ trợ ông trong giai đoạn 1836-1841 tại Ceará, Brasil), vì thế chính xác nó phải là ‘walkerae’ theo Điều 60.11 của ICBN (McNeill "et al.", 2006).
1
null
Henckelia communis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được William Jackson Hooker mô tả khoa học đầu tiên năm 1845 dưới danh pháp "Chirita zeylanica". Hiện nay, sau khi chia tách chi "Chirita" thì nó thuộc về chi "Henckelia". Cả hai danh pháp "C. zeylanica" và "C. communis" đều là đồng nghĩa gốc hợp lệ và "C. zeylanica" được công bố trước năm 1845, nhưng do danh pháp "Henckelia zeylanica" đã bị chiếm chỗ trước từ năm 1997 khi A. Weber & B. L. Burtt chuyển loài "Didymocarpus zeylanicus" sang chi "Henckelia" và hiện nay nó vẫn thuộc chi này, nên tính từ định danh "communis" được sử dụng để chỉ loài này ("H. communis").
1
null
Primulina cordifolia là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây (Trung Quốc); được D.Fang & W.T.Wang mô tả khoa học đầu tiên năm 1982 dưới danh pháp "Chiritopsis cordifolia". Tháng 1 năm 2011, Yin Z.Wang chuyển nó sang chi "Primulina". Lưu ý rằng loài "Chirita cordifolia" kể từ tháng 7 năm 2011 trở đi có danh pháp là "Primulina cordata" , mà không phải "Primulina cordifolia", mặc dù chúng đều được tìm thấy ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, do "Primulina cordifolia" đã bị chiếm chỗ trước.
1
null
Primulina glandulosa là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây (Trung Quốc); được D.Fang, L.Zeng & D.H.Qin mô tả khoa học đầu tiên năm 1993 dưới danh pháp "Chiritopsis glandulosa". Năm 2011, Yin Z.Wang chuyển nó sang chi "Primulina". Loài này có một thứ được công nhận là "Primulina glandulosa" var. "yangshuoensis" , đồng nghĩa: "Chiritopsis glandulosa" var. "yangshuoensis"
1
null
Primulina repanda là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Tây (Trung Quốc); được W.T.Wang mô tả khoa học đầu tiên năm 1981 dưới danh pháp "Chiritopsis repanda", và nó là loài điển hình của chi "Chiritopsis". Năm 2011, Yin Z.Wang chuyển nó sang chi "Primulina". Loài này có một thứ được công nhận là "Primulina repanda" var. "guilinensis" , đồng nghĩa: "Chiritopsis repanda" var. "guilinensis" .
1
null
Primulina subulata là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này có ở Quảng Đông (Trung Quốc); được W.T.Wang mô tả khoa học đầu tiên năm 1986 dưới danh pháp "Chiritopsis subulata". Năm 2011, Mich.Möller & A.Weber chuyển nó sang chi "Primulina". Loài này có một thứ được công nhận là "Primulina subulata" var. "yangchunensis" , đồng nghĩa: "Chiritopsis subulata" var. "yangchunensis" .
1
null
Vân Hồ là một huyện biên giới nằm ở phía đông tỉnh Sơn La, Việt Nam. Địa lý. Huyện Vân Hồ nằm ở phía đông nam của tỉnh Sơn La, có vị trí địa lý: Huyện có diện tích 982,89 km², dân số năm 2020 là 63.191 người, mật độ dân số đạt 64 người/km². Hành chính. Huyện Vân Hồ có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 14 xã: Chiềng Khoa, Chiềng Xuân, Chiềng Yên, Liên Hòa, Lóng Luông, Mường Men, Mường Tè, Quang Minh, Song Khủa, Suối Bàng, Tân Xuân, Tô Múa, Vân Hồ (huyện lỵ), Xuân Nha. Lịch sử. Huyện Vân Hồ được thành lập vào ngày 10 tháng 6 năm 2013, theo Nghị quyết số 72/NQ-CP của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh 97.984 ha diện tích tự nhiên và 55.797 nhân khẩu, gồm 14 xã: Chiềng Khoa, Chiềng Xuân, Chiềng Yên, Liên Hòa, Lóng Luông, Mường Men, Mường Tè, Quang Minh, Song Khủa, Suối Bàng, Tân Xuân, Tô Múa, Vân Hồ và Xuân Nha thuộc huyện Mộc Châu. Trung tâm hành chính huyện Vân Hồ đặt tại Tiểu khu Sao Đỏ 2, xã Vân Hồ. Kinh tế - xã hội. Tổng giá trị sản xuất năm 2020 ước đạt 3.380 triệu đồng, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn (2015 – 2020) ước tăng 12% và đạt 92% so với kế hoạch đề ra (kế hoạch 3.670 triệu đồng). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đúng hướng: Tỷ trọng Nông – lâm nghiệp, thủy sản từ 63% (năm 2015) xuống còn 50% (ước năm 2020) giảm 13% so với 2015; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng tăng từ 12% (năm 2015) lên 18% (ước năm 2020); tỷ trọng thương mại – dịch vụ tăng 24% (năm 2015) lên 32% (ước năm 2020); Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác năm 2020 ước đạt 40 triệu đồng. Giao thông. Giao thông vận tải thuỷ. Trên địa bàn huyện có tuyến đường thủy quan trọng lòng hồ thủy điện Hòa Bình vùng hồ Sông Đà, tuyến Hòa Bình – Sơn La có chiều dài 35 km chạy qua 5 xã là điều kiện thuận lợi để phát triển dịch vụ vận tải đường thủy.
1
null
Monochaetum multiflorum is a species of flowering plant in the family Buya. This species was first described by (Bonpl.) Naudin in 1845.[1] Monochaetum multiflorum Scientific classification Gender (regnum) Plantae (no rating) Angiospermae (no rating) Eudicots Set (ordo) Myrtales Surname (familia) Melastomataceae Genus (genus) Monochaetum Species M. multiflorum Two-part nomenclature Monochaetum multiflorum (Bonpl.) Naudin Ann. Monochaetum multiflorum là một loài thực vật có hoa trong họ Mua. Loài này được (Bonpl.) Naudin mô tả khoa học đầu tiên năm 1845.
1
null
An bích Trung Quốc, mua tép hay kim cẩm hương (danh pháp khoa học: Osbeckia chinensis) là một loài thực vật có hoa trong họ Mua. Loài này được Carl von Linné mô tả khoa học đầu tiên năm 1753. "O. chinensis" chứa hợp chất lớp ellagitanin là punicacortein A. Phân bố. Các đồng cỏ hay sườn núi, các khu vực có cỏ mọc trên các dốc núi thoáng rộng, các khu rừng thưa, vệ đường mòn, ở độ cao từ 0 tới 2.800 m. Có tại Trung Quốc (An Huy, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Giang Tây, Cát Lâm, Tứ Xuyên, Đài Loan, Tây Tạng (huyện Mêdog), Vân Nam, Chiết Giang), Australia, Ấn Độ, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Nepal, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan và Việt Nam.
1
null
Didymocarpus cortusifolius là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được Henry Fletcher Hance mô tả khoa học đầu tiên năm 1883 dưới danh pháp "Chirita cortusifolia", với mẫu vật thu được từ tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, được lưu giữ theo mã số 22178 trong phòng mẫu cây của Hance. Năm 1894, Karl Fritsch chuyển loài này sang chi "Roettlera" với danh pháp "Roettlera cortusifolia" trong "Naturlichen Pflanzenfamilien". Năm 1905, Augustin Abel Hector Léveillé mô tả loài "Didymocarpus cortusifolius" trong "Compte Rendu de l'Association Francaise Pour l'Avancement des Sciences" (in năm 1906), nhưng tên gọi này là không hợp lệ ("nom. inval.") theo quy tắc $34 của ICBN. Năm 1974, David Wood giữ loài này trong chi "Chirita", nhưng năm 1990 Wang lại chuyển nó sang chi "Didymocarpus", do các đặc điểm hình thái (như đầu nhụy hình đầu thường thấy ở các loài "Didymocarpus") cho thấy nó không phù hợp để xếp trong "Chirita". Năm 1998 Wang "et al." vẫn duy trì nó trong "Didymocarpus". Theo Möller "et al." (2011) thì loài này nằm trong cùng một nhánh với "Gyrocheilos" và "Allocheilos" .
1
null
Didymocarpus heucherifolius là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được Heinrich Raphael Eduard Handel-Mazzetti mô tả khoa học đầu tiên năm 1936. David Wood (1972, 1974) chuyển nó sang chi "Chirita", nhưng Wang "et al." (1998) vẫn duy trì vị trí của nó trong chi "Didymocarpus". Kết quả phân tích của Weber "et al." (2011) cho thấy "Chirita" là đa ngành, bị chia tách toàn bộ, di chuyển các loài sang các chi khác và họ vẫn duy trì vị trí của loài này trong "Didymocarpus".
1
null
Didymostigma obtusum là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được Charles Baron Clarke mô tả khoa học đầu tiên năm 1883 dưới danh pháp "Chirita obtusa". Năm 1984, Wen Tsai Wang chuyển nó sang chi "Didymostigma". Phân bố. Loài này sinh sống trong rừng hay ven suối có bóng râm, ở cao độ 200–800 m tại miền nam Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam.
1
null
Epithema benthamii là một loài thực vật có hoa thân thảo cao 5–30 cm trong họ Tai voi. Loài này được C. B. Clarke mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1883. Khác biệt bề ngoài duy nhất của "Epithema calcicola" và "E. benthamii" là các lá bắc hơi đảo ngược và hẹp hơn của "E. calcicola". Loài này chỉ được biết đến từ mẫu vật đã thu thập, vì thế Bransgrove & Middleton (2015) đánh giá rằng nó chỉ là mẫu vật khá bất thường của "Epithema benthamii", dựa theo tất cả các đặc trưng khác cũng như do nó được tìm thấy trong khu vực phân bố của "E. benthamii". Có 2 dạng không chính thức của "Epithema benthamii". Dạng điển hình được tìm thấy trong khắp khu vực phân bố của loài này, trong khi dạng thanh mảnh hơn, thuôn dài hơn và có màng mỏng hơn được tìm thấy trên đảo Buru (Maluku) và Biak ngoài khơi Papua. Nhóm cây này trông giống như "Epithema longipetiolatum", nhưng vẫn có hình dạng lá điển hình và các lông tơ dài, thẳng hay chủ yếu là thẳng rất đặc trưng trên bầu nhụy và nắp quả của "E. benthamii". Phân bố. Indonesia (Sulawesi, Maluku (Buru, Seram), Tây Papua), Philippines. Sự phân bố của "Epithema benthamii" và "E. longipetiolatum" chồng lấn lên nhau tại khu vực đảo Buru và Biak. Môi trường sống. Loài thực vật sống trên đá, cả đá vôi lẫn các loại đá khác, đôi khi cũng sống trên mặt đất. Thường tìm thấy tren các tảng đá hay đá cuội trong hay cạnh sông suối, nhưng cũng thấy trong các khe nứt trong đá tại các khu vực có bóng râm, ẩm thấp (nếu không ướt). Các mẫu thu được ở độ cao 0–1.600 m.
1
null
Codonoboea inaequalis là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi. Loài này được Henry Nicholas Ridley mô tả khoa học đầu tiên năm 1896 dưới danh pháp "Didymocarpus inaequalis". Năm 1997, Anton Weber chuyển nó sang chi "Henckelia" với danh pháp "Henckelia inaequalis". Năm 2011, Ruth Kiew chuyển nó về chi "Codonoboea"
1
null
Metapetrocosmea peltata là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi. Loài này được Elmer Drew Merrill và Trần Hoán Dong mô tả khoa học đầu tiên năm 1935 trong "Sunyatsenia" 2: 320 với danh pháp "Petrocosmea peltata". Năm 1981, trong "Bull. Bot. Res., Harbin 1(4): 38" Wen Tsai Wang chuyển nó sang chi mới thiết lập là "Metapetrocosmea". Nó là loài duy nhất hiện đã biết của chi này, được tìm thấy trong khu vực Hải Nam, Trung Quốc.
1
null
Peltanthera floribunda là một loài thực vật có hoa. Loài này được George Bentham mô tả khoa học đầu tiên năm 1876. Nó cũng được coi là loài duy nhất của chi Peltanthera. Chi này nguyên ban đầu được đặt trong họ Loganiaceae và kể từ đó đã được các tác giả khác nhau đặt trong các họ Buddlejaceae, Scrophulariaceae, Gesneriaceae, hay trong họ của chính nó là Peltantheraceae. Angiosperm Phylogeny Group trong phiên bản năm 2016 không đặt nó trong họ nào, mà để ở vị trí không xác định ("incertae sedis") trong bộ Lamiales. Loài này sinh sống trong khu vực từ Costa Rica tới Bolivia. Nó là cây gỗ với các lá mọc đối. Các lá to có hình elip. Các hoa màu trắng có mùi thơm mọc thành các xim hoa chia ba nhánh. Đài hoa và tràng hoa chia 5 thùy, các hoa có 5 nhị. Hai ngăn của bầu nhụy chứa nhiều hạt. "Peltanthera" rất giống "Buddleja" khi xét về giải phẫu gỗ.
1
null
Primulina tabacum là một loài thực vật có hoa trong họ Tai voi (Gesneriaceae). Loài này được Hance miêu tả khoa học đầu tiên năm 1883. Nó là loài điển hình của chi "Primulina". Tính từ định danh "tabacum" là do lá của nó có mùi như thuốc lá. Loài này được tìm thấy ở phía bắc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Nó sinh sống trên các vách đá ven sông, ở độ cao 100–300 m. Ra hoa tháng 8-10. Quả nang, dài 3–6 mm. Từ năm 1890, Joseph Dalton Hooker đã sử dụng danh pháp "P. sinensis" - dù nó là thừa thãi ("nom. superfl.") - để chỉ "P. tabacum". Tháng 1 năm 2011, trong bài báo công bố trên "Journal of Systematics and Evolution", Wang "et al." mở rộng chi "Primulina" để chứa các loài thuộc "Chirita" sect. "Gibbosaccus", do các loài này cùng "P. tabacum" tạo thành một nhánh đơn ngành và thiết lập danh pháp "P. sinensis" với diễn giải nó có đồng nghĩa là "Chirita sinensis" . Mặc dù được công bố hợp lệ, nhưng do công bố muộn hơn và được dùng để chỉ một loài khác so với công bố hợp lệ trước đó nên danh pháp của Wang "et al." năm 2011 chỉ là trùng tên (đồng âm) muộn hơn của "P. sinensis" và là tên gọi không hợp lệ ("nom. illeg."). Trong bài báo công bố tháng 6 năm 2011 trên "Taxon", Weber "et al." đã phát hiện ra điều này. Như thế, cả hai danh pháp "P. sinensis" và "P. sinensis" đều là "nom. illeg.". Các tác giả đồng thời cũng hiệu đính tên gọi khoa học chính thức cho "C. sinensis" thành "P. dryas", trên cơ sở danh pháp đồng nghĩa "C. dryas" .
1
null
Mỏ bao trứng ngược hay mỏ bao lá rộng, mỏ bạc (danh pháp khoa học: Rhynchotechum ellipticum) là loài thực vật có hoa trong họ Tai voi. Loài này được (Wall. ex D. Dietr.) A. DC. mô tả khoa học đầu tiên năm 1845. Loài này phân bố ở Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Trung Quốc..
1
null
là một từ tiếng Nhật dùng để chỉ các tập đoàn kinh doanh tài chính và công nghiệp ở Đế quốc Nhật. Sức ảnh hưởng và tầm vóc của các zaibatsu cho phép chúng kiểm soát các phần quan trọng của nền kinh tế Nhật Bản từ thời Minh Trị cho đến khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai. Thuật ngữ. Dù rằng từ "zaibatsu" đã xuất hiện từ thế kỷ 19, thuật ngữ này không thường được sử dụng cho đến sau thế chiến thứ nhất. Theo định nghĩa, "zaibatsu" là các tập đoàn độc quyền gia đình trị gồm một công ty mẹ đứng đầu và một vài công ty con chi phối những mảng quan trọng của thị trường một cách đơn lẻ hoặc thông qua nhiều công ty con dưới nó. Ý nghĩa. "Zaibatsu" đóng một vai trò cực kỳ quan trọng của các hoạt động kinh tế và công nghiệp trong lòng đế quốc Nhật và có ảnh hưởng lớn đến những chính sách đối nội và đối ngoại của Nhật. Chính đảng Rikken Seiyūkai được coi là phần mở rộng của tập đoàn Mitsui, tập đoàn này cũng có mối quan hệ cực kỳ gần gũi với Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Tương tự, đảng Rikken Minseitō có liên hệ với tập đoàn Mitsubishi cũng như với Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Trước khi nổ ra thế chiến thứ hai, chỉ riêng tứ đại "zaibatsu" đã nắm giữ trên 30% ngành công nghiệp khai khoáng, hóa chất và kim loại của Nhật Bản và kiểm soát gần 50% thị trường thiết bị và máy móc, phần lớn đội thương thuyền viễn dương và 60% lượng giao dịch chứng khoán. Lịch sử và phát triển. Tứ đại. theo thứ tự thời gian thành lập lần lượt là Sumitomo, Mitsui, Mitsubishi và Yasuda, đây là những "zaibatsu" lớn mạnh nhất. Hai trong số đó, Sumitomo và Mitsui, đã bắt rễ từ thời Edo, trong khi Mitsubishi và Yasuda khởi phát từ cuộc cải cách Minh Trị. Kể từ Minh Trị cho đến Chiêu Hòa, chính phủ thường mượn sức mạnh tài chính và sự thông thạo nhạy bén của họ cho nhiều việc khác nhau, bao gồm thu thuế, trưng thu quân sự và ngoại thương.
1
null
Timecop là một bộ phim hành động / viễn tưởng năm 1994 của Mỹ được đạo diễn Peter Hyams thực hiện với phần kịch bản của Mike Richardson và Mark Verheiden, phim có sự tham gia của diễn viên hành động Jean-Claude Van Damme. Nội dung. Một buổi tối của năm 1994, anh chàng cảnh sát Max Walker đang ngủ cùng vợ thì bỗng có một nhóm tội phạm bí ẩn xông vào nhà mưu sát vợ chồng anh, nhưng may mắn thay Max vẫn sống còn vợ anh thì chết, sau vụ đó Max rất đau buồn. Mười năm sau, tức là năm 2004, khi chính phủ chế tạo ra cái máy có khả năng quay ngược thời gian thì Max đã dùng nó trở về quá khứ để cứu vợ mình và giết bọn tội phạm tàn ác năm xưa lại để trả thù.
1
null
Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam là liên hoan phim tài liệu do các quốc gia châu Âu phối hợp với Hãng Phim Tài liệu và Khoa học Trung ương Việt Nam tổ chức. Liên hoan này còn được truyền thông tại Việt Nam gọi là Liên hoan phim tài liệu quốc tế tại Việt Nam, Liên hoan phim tài liệu quốc tế. Lịch sử. Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam được tổ chức lần đầu vào năm 2009. Sau thành công lần này, các quốc gia châu Âu đã phối hợp với Hãng Phim Tài liệu và Khoa học Trung ương Việt Nam tổ chức các liên hoan phim tiếp theo vào các năm 2010, 2011, 2012, và Liên hoan phim tài liệu quốc tế tại Việt Nam lần thứ 5 được diễn ra từ ngày 5/6 - 14/6/2013 tại Hà Nội và từ ngày 10/6 – 29/6/2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vai trò. Khẳng định vị trí của phim tài liệu đã trở thành một loại hình điện ảnh riêng biệt, với ngôn ngữ, mật mã riêng, kỹ thuật riêng và những nhà đạo diễn chuyên biệt.. Sự kiện này cũng nằm trong khuôn khổ các chương trình hoạt động của EUNIC (Liên minh các Tổ chức văn hóa châu Âu) tại Hà Nội.. Trong vòng 5 năm liên tiếp, Liên hoan phim tài liệu quốc tế đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trong bối cảnh văn hóa tại Việt Nam và trở thành một điểm hẹn quen thuộc hàng năm đối với công chúng Việt Nam và quốc tế yêu thích phim tài liệu.. Khán giả. Các buổi chiếu phim mở cửa tự do, không thu phí, thu hút mọi tầng lớp khán giả. Các liên hoan. Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ nhất. Đánh thức tình yêu phim tài liệu Đó là một trong những mục tiêu của các nhà tổ chức Tuần Phim Tài liệu Quốc tế lần đầu tiên tại Hà Nội (15-19.6) và có thể nói họ đã thành công khi 4 buổi chiếu đều chật kín khán giả. Đánh thức tình yêu phim tài liệu Qua nhiều thập kỷ, điện ảnh thương mại khống chế thị trường, nhưng thời gian gần đây, phim tài liệu ngày càng thu hút đông khán giả và có chỗ đứng vững chắc hơn. Không chỉ là tấm gương phản chiếu xã hội đương đại, phim tài liệu hiện nay còn như một hình thức giải trí, có tính nghệ thuật cao, nhiều phim giành được những giải thưởng danh giá như tại LHP Cannes. Thể loại phim tài liệu đã vượt ra ngoài những câu chuyện có thực trong đời thường, cho phép người làm phim thả sức sáng tạo để nói lên một sự thật "rộng lớn" hơn, với những đề tài thiết thực với đời sống của con người như toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa, môi trường… Đại diện Phái đoàn Wallonie-Brussels (Bỉ) tại Việt Nam, ông Frank Pezza cho rằng, phim tài liệu là một phần nhỏ trong ngành Điện ảnh nhưng lại chiếm một vị trí quan trọng trong xã hội. Tại Bỉ có những đạo diễn gạo cội chuyên làm phim tài liệu. 10 năm trở lại đây, lượng khán giả đến rạp xem phim tài liệu rất đông, nhiều khi hơn cả phim truyện. Phim tài liệu được chiếu riêng biệt, thường dài 1 tiếng đến 1 tiếng rưỡi (trong khi các phim tài liệu của Việt Nam hiện mới chỉ dài 30 phút trở xuống). Có những phim thu hút hàng vạn, thậm chí hàng triệu lượt khán giả như bộ phim của Pháp nói về chim di cư hay bộ phim tài liệu của Anh nói về ô nhiễm môi trường ở Zimbawae… Tại Việt Nam, đầu ra chủ yếu của phim tài liệu vẫn là truyền hình, nhưng Giám đốc Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương Lê Hồng Chương cho biết, gần đây Hãng cũng tổ chức chiếu phim tài liệu tại các trường học và thu hút rất đông khán giả. Vì thế, Tuần Phim Tài liệu Quốc tế vừa qua không chỉ đánh thức tình yêu với phim tài liệu trong khán giả Việt Nam, mà còn thêm một lần khẳng định sức hút của thể loại phim này. Những góc nhìn đối sánh 8 bộ phim được chọn chiếu trong Tuần Phim Tài liệu Quốc tế 2009 có 4 phim nước ngoài, của Đức, Thụy Sĩ, Italy và Phái đoàn Wallonie-Brussels (Bỉ), cùng với 4 bộ phim của các nhà làm phim tài liệu Việt Nam có đề tài gần nhau. Đó là nỗ lực bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc (Mizike Mama của Phái đoàn Wallonie-Brussels và Một trích đoạn cũ của Hãng phim Tài liệu và Khoa học T.Ư), giá trị truyền thống của các dân tộc ở miền núi (Ngày xửa ngày xưa... những thú vui bình dị của Italy và Bài ca trên đỉnh Tà Nùng). Đó còn là tình người trong chiến tranh (Phóng viên chiến tranh của Thụy Sĩ và Trở lại Ngư Thủy) hay trong quá trình toàn cầu hóa (Người thắng kẻ thua của Đức và Gầm cầu mặt nước). Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 2. Tuần Phim Tài liệu Quốc tế tại Hà Nội lần thứ 2 - 2010 Sau thành công rực rỡ của Tuần phim Tài liệu Quốc tế tại Hà Nội lần thứ I năm 2009, các Đại sứ quán I-ta-li-a, Thụy Sĩ, Đức (Viện Goethe), Phái đoàn Wallonie – Bruxelles Đại sứ quán Pháp, phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương cùng tổ chức Tuần Phim Tài liệu Quốc tế tại Hà Nội lần thứ 2, từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 6/2010. Mỗi tối một bộ phim tài liệu châu Âu và một bộ phim tài liệu Việt Nam cùng một đề tài sẽ được giới thiệu tới khán giả. Bằng việc chọn lựa rất đa dạng về đề tài phim, trên nguyên tắc như cuộc đối thoại giữa phim tài liệu châu Âu và Việt Nam, các nhà tổ chức mong muốn giới thiệu với công chúng yêu điện ảnh tài liệu Việt Nam và quốc tế sức sống mãnh liệt của điện ảnh tài liệu đang phát triển rực rỡ từ nhiều năm nay. Bên cạnh các bộ phim truyện, phim tài liệu trở thành một loại hình điện ảnh riêng biệt, với mật mã riêng, kĩ thuật riêng và những nhà đạo diễn chuyên biệt. Thành công của phim tài liệu từ nhiều năm nay trên trường quốc tế chứng tỏ rằng công chúng đang đòi hỏi một "nền điện ảnh hiện thực". Qua lần xuất hiện thứ hai này, Tuần phim Tài liệu Quốc tế tại Việt Nam đang tạo lập chỗ đứng trong bức tranh văn hóa Việt Nam và trở thành "điểm hẹn điện ảnh tài liệu" được công chúng đánh giá rất cao. Các phim được trình chiếu: Sự biến đổi của một nhà (Bỉ), Tĩnh ngục (Italia), Bến cuối nhớ nhung (Đức), Những pho tượng phật khổng lồ (Thụy Sĩ), Và tạp chí Elle đã tạo ra phụ nữ (Pháp). 5 phim VN được trình chiếu là: Thành phố bên sông Hồng, Bàn thờ của mẹ, Đất tổ quê cha, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Con cầm bố mẹ.  Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 3. Sau thành công liên tiếp của Liên hoan phim (LHP) tài liệu quốc tế lần thứ nhất (2009) và lần thứ hai (2010), năm nay thông qua Hãng phim Tài liệu & khoa học T.Ư, bảy quốc gia châu Âu (Ý, Đức, Thụy Sĩ, Pháp, Ba Lan, Đan Mạch, Bỉ) lại cùng chung tay với Việt Nam để tổ chức LHP tài liệu quốc tế lần thứ 3 tại Việt Nam. Liên hoan sẽ diễn ra từ ngày 6 đến 13-6 tại Thành phố Hồ Chí Minh (IDECAF, 31 Thái Văn Lung, quận 1) và từ ngày 8 đến 14-6 tại Hà Nội (phòng chiếu của Hãng phim Tài liệu & khoa học T.Ư, 465 Hoàng Hoa Thám). Sự kiện này cũng nằm trong khuôn khổ các chương trình hoạt động của Liên minh các tổ chức văn hóa châu Âu tại Hà Nội. Tiêu đề của LHP tài liệu quốc tế năm 2011 là "Một quốc gia không có phim tài liệu giống như một gia đình không có album ảnh" (trích dẫn câu nói của Patricio Guzman - nhà làm phim tài liệu  Mỗi tối trong tuần phim này, một bộ phim tài liệu đến từ châu Âu và một bộ phim tài liệu Việt Nam cùng đề tài sẽ được giới thiệu tới khán giả. Bảy phim châu Âu gồm Cleveland chống lại Phố Wall (Thụy Sĩ), Múa với Pietragalla: trên đầu mũi chân (Pháp), Những câu chuyện mưa (Ý), Thu vàng (Đức), Mumbai - Đứt kết nối (Đan Mạch), Hiệu ứng Chopin (Ba Lan), Nghệ thuật có thể mất (Bỉ) và bảy phim Việt Nam: Khoảng cách, Đi để thấy: Go to see - tập 1: Hãy nói, Lời ru thì buồn, Chuyện của mọi nhà, Đất lạnh, Kèn đồng, Điệu múa cổ. Bằng việc chọn lựa rất đa dạng về đề tài phim, trên nguyên tắc như cuộc đối thoại giữa phim tài liệu châu Âu và Việt Nam, các nhà tổ chức mong muốn giới thiệu với công chúng yêu điện ảnh tài liệu Việt Nam cũng như quốc tế sức sống mãnh liệt của điện ảnh tài liệu. Sự quan tâm với phim tài liệu từ nhiều năm nay trên thế giới chứng tỏ rằng công chúng đang đòi hỏi một "nền điện ảnh hiện thực - sự thực". Qua lần xuất hiện thứ ba này, LHP tài liệu quốc tế tại Việt Nam đang tạo lập chỗ đứng trong bức tranh văn hóa chung và trở thành điểm hẹn điện ảnh tài liệu được công chúng đánh giá cao. Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 4. Liên hoan phim tài liệu châu Âu và Việt Nam lần thứ tư tại Việt Nam từ ngày 8/6 -17/6/2012 tại Hà Nội, 9 phim châu Âu và 14 phim Việt Nam được trình chiếu. Liên hoan do 10 nước (9 quốc gia châu Âu là Áo, Anh, Đức, Ba Lan, Đan Mạch, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Wallonie - Bruxelles (Bỉ) cùng với Hãng Phim Tài liệu và Khoa học Trung ương Việt Nam) tổ chức. Mỗi tối trong tuần phim này, một bộ phim tài liệu châu Âu và một bộ phim tài liệu Việt Nam cùng một đề tài được trình chiếu. Các phim có độ dài từ chưa đầy 3 phút đến 35 phút xoay quanh các đề tài các vấn đề xã hội, môi trường, khám phá, chân dung, kiến trúc, ký ức chiến tranh. Các buổi chiếu phim đều miễn phí. Một số bộ phim bao gồm: Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 5. Đây là một trong những hoạt động văn hóa nằm trong khuôn khổ kỷ niệm 20 năm ngày ký Hiệp định Văn hóa giữa Việt Nam và Cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp. Các nước tham gia. Có 9 nước tham gia tổ chức trong đó có 8 nước Châu Âu: Bỉ, Đức, Thụy Điển, Pháp, Ba Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh và Việt Nam... Điểm đặc biệt của liên hoan lần thứ năm - 2013 là việc trình chiếu chùm phim tài liệu đặc sắc của Bỉ, giới thiệu 4 phim tài liệu trong khuôn khổ của Tua liên hoan phim ChopShot với sự đa dạng về nhiều chủ đề. Và lần đầu tiên, các bộ phim tài liệu đến từ 5 nước khu vực Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia, Myanmar, Campuchia và Philippines sẽ được trình chiếu để đánh dấu kỷ niệm 5 năm Liên hoan phim tài liệu quốc tế được khởi xướng. Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 6. Diễn ra tại Hà Nội từ ngày 4 đến 12/6 và tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 21 đến 29/6/2014. Vẫn như 5 lần trước, lần này LHP đã quy tụ được các phim tài liệu có chất lượng nên thu hút sự quan tâm của giới truyền thông cùng công chúng. Khởi động từ năm 2009, lúc ấy đã có ý kiến nghi ngờ về sức sống của LHP này, vì "phim tài liệu khô khan, ít thu hút". Đến nay thì tình thế dường như ngược lại, vì nó đã thu hút được hàng chục tổ chức uy tín của quốc tế và Việt Nam cùng vào cuộc, với mong muốn thay đổi lại nhận thức về thể loại phim này. Bởi nói như nhà làm phim Patricio Guzman (người Chile): "Một đất nước mà không có phim tài liệu cũng giống như một gia đình không có album ảnh". Một cơ hội rõ ràng Công chúng quốc tế, khi nghĩ đến phim Việt Nam nói chung, phim đầu tiên mà họ khâm phục không thuộc thể loại điện ảnh, mà là tài liệu - đó là Chuyện tử tế (1985) của Trần Văn Thủy. Nhà làm phim Wu Wenguang (Ngô Văn Quang, Trung Quốc) từng thẳng thắn: "Trong bối cảnh ngày càng bị chi phối bởi các đại gia lớn như Hollywood thì cánh cửa chung để bước vào nền công nghiệp và giải trí phim ảnh quốc tế sẽ hẹp dần với các nhà làm phim sống ở "ngoại vi Hollywood", như Việt Nam chẳng hạn. Thế nhưng không phải tất cả các thể loại phim đều bị như vậy, bởi phim tài liệu vẫn là thế mạnh của những nhà làm phim độc lập, gắn bó với từng địa phương, với những câu chuyện lay động người xem bằng sự nhạy cảm, chân thật. Hơn nữa, kỹ thuật và đầu tư của phim tài liệu phù hợp với những người làm phim có ít kinh phí". Theo số liệu của nhà làm phim Nguyễn Trinh Thi, từ năm 1965 đến năm 1973 Việt Nam đã làm 463 phim thời sự, 307 phim tài liệu, 141 phim khoa học, trong khi đó chỉ có 36 phim truyện và 27 phim hoạt hình. Từ đầu thế kỷ 21, khi máy quay video cá nhân và phần mềm dựng phim phổ biến, ở Việt Nam đã hình thành thêm đội ngũ các nhà làm phim tài liệu độc lập, đóng góp giọng điệu riêng vào môi trường phim quốc tế. Tuy nhiên, "các liên hoan phim tại Việt Nam, kể cả liên hoan lâu đời nhất ra đời năm 1970, thường do chính phủ tổ chức và điều phối toàn bộ, do đó có rất ít cơ hội cho các bộ phim tài liệu độc lập tiếp xúc với công chúng nước nhà", Nguyễn Trinh Thi cho biết. Như năm nay, LHP tuyển chọn 8 phim từ châu Âu và 9 phim Việt Nam do Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất, không có phim độc lập. "Giữ lửa" bằng vài phim đáng xem Nếu năm vừa rồi LHP có bộ phim Người thắp lửa (ĐD: Nguyễn Đức Thìn), thì năm lại là Người giữ lửa (Phan Huyền Thư), với thông điệp: làm sao để gia đình bước qua được bạo hành và giữ được ngọn lửa hạnh phúc. Có hai phim lấy tứ từ cái ti vi. Nếu Chiếc ti vi màu khác (Yovista Ahtajida & Dyantini Adeline, Indonesia) là chuyện bà nội trợ cố gắng chuyển tải lại gia đình mình những giá trị và quan điểm đã xem trên ti vi. Thì Chiếc ti vi vẫn bật (Carol Morley, Anh) là chuyện cô Joyce Vincent bị chết trong căn hộ của mình, sau 3 năm mới được phát hiện, với chiếc ti vi vẫn mở. Rất đáng xem nữa là Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng (Nguyễn Thị Thắm) với hành trình theo chân gần 5 năm qua các thành phố ở miền Trung Việt Nam cùng một gánh hát hội chợ. Các phim đáng chú ý khác là Xin đừng quên tôi (David Sieveking, Đức), Nơi nào tôi đi (Neang Kavich, Campuchia), Cỏ xanh im lặng (NSND Nguyễn Thước - Lê Thị Thiện Đoan), Nhân văn đô thị (Andreasmoel Dalsgaard, Đan Mạch)… LHP còn có 2 workshop dành cho các nhà làm phim trẻ Đông Nam Á và Hà Nội; có một ngày dành cho phim trẻ Đông Nam Á (7/6 tại Hà Nội và 22/6 tại TP.HCM). Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 7. EUNIC - Hiệp hội các Viện văn hóa và Đại sứ quán châu Âu tại Hà Nội tiếp tục phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học trung ương sẽ đưa khán giả đắm chìm trong thế giới của nhiều nền văn hóa đa dạng trong Liên hoan Phim tài liệu Châu Âu – Việt Nam 2015. Được tổ chức vào dịp nhiều đại sứ quan kỷ niệm năm thiết lập quan hệ ngoại giao của Việt Nam, Liên hoan năm nay phong phú về cả mặt số lượng thành viên tham gia (8 nước Châu Âu, Israel và Việt Nam), về số lượng phim và mặt nội dung. Ngoài các buổi chiếu phim, sẽ có phần giao lưu với ba nhà làm phim đến từ Đức, Israel, Pháp và buổi giới thiệu về hai mạng lưới phim tài liệu của Indonesia hoạt động tại khu vực Đông Nam Á và mạng lưới phim làm phim tài liệu của Pháp hoạt động lại châu Mỹ, châu Âu và châu Á. Không chỉ vậy, những cuộc đối thoại hấp dẫn giữa các bộ phim tài liệu châu Âu và Việt Nam sẽ được tạo ra xuyên suốt chương trình của liên hoan. Mỗi buổi tối, một bộ phim Việt Nam được chiếu kèm một bộ phim đến từ Đan Mạch, Đức, Pháp, Israel, Áo, Ba Lan, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha hay Thụy Điển. Ngoài ra, một buổi chiếu đặc biệt mang đến những cái nhìn thực tế về đời sống trong khu vực Đông Nam Á với phim của những nhà làm phim trẻ đến từ nhiều quốc gia trong khu vực như Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Chủ đề của các bộ phim phản ánh những vấn đề trong xã hội đương đại và cung cấp cơ sở cho việc thảo luận và trao đổi. Liên hoan có hai bộ phim châu Âu (từ Israel và Đan Mạch) đề cập tới vấn đề giới tính và sự công nhận bản thân. Cả hai phim đều kể về hai con người trẻ tuổi sống ngoài ranh giới các quy định về giới tính thông thường. Trong khi đó, một số phim tham dự của Việt Nam đã giành giải thưởng tại các liên hoan phim quốc tế thì lại tập trung khai thác đề tài về nỗi đau chiến tranh nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 8. LIÊN HOAN PHIM TÀI LIỆU QUỐC TẾ CHÂU ÂU - VIỆT NAM SẼ TRỞ LẠI VỚI CÔNG CHÚNG YÊU PHIM TÀI LIỆU (TRÌNH CHIẾU 25 BỘ PHIM ĐẶC SẮC CỦA VIỆT NAM VÀ CHÂU ÂU). BẮT ĐẦU VÀO LÚC 19 HÀNG NGÀY TỪ NGÀY 9/6 ĐẾN 18/6/2017 TẠI PHÒNG CHIẾU DSF 465, HOÀNG HOA THÁM BA ĐÌNH, HÀ NỘI: LỊCH CHIẾU PHIM Chiếu phim của các tác giả độc lập: 1/ Tại Hà Nội (15h00 Chủ nhật 18/06):         - Sofa, bếp và chuyện phiếm  (Đỗ Hà Thu, 38’, 2015, DOCLAB) - Lên lên xuống xuống (Đỗ Thu Vân, 18’, 2016, DOCLAB) - Nhà đối diện (Lê Mỹ Cường, 19’, 2015, TPD) - Dành tặng ông Điều (Nguyễn Hiền Anh, 23’, 2015, TPD) - Gia đình đầu trọc (Trịnh Duy Quyền, 14’, 2013, SKDA) 2/ Tại Tp Hồ Chí Minh: -         Một công việc ổn định (Võ Thạch Thảo, 30’, 2005, Varan Paris & Hãng Phim Giải Phóng) -         Giường xinh (Hà Lệ Diễm, 30’, 2016, Varan Vietnam & trường Đại học Hoa Sen) -         Đất đai thuộc về ai? (Đoàn Hồng Lê, 56’, 2009, Varan Paris & Hãng Phim Tài liệu và Khoa học Trung ương) - Bên dưới đại lộ (Nguyễn Khánh Ly, 32’, 2016, Varan Vietnam & trường Đại học Hoa Sen) - Thiên thần bất tử (Nguyễn Thu Hương, 25’, 2016, Varan Vietnam & trường Đại học Hoa Sen) - Chuyến về quê cùng ba mẹ (Dương Mộng Thu, 60’, 2016, Varan Vietnam) Chú thích http://baochinhphu.vn/Van-hoa/Lien-hoan-Phim-Tai-lieu-Chau-Au-Viet-Nam-lan-thu-9/337975.vgphttp://vovworld.vn/vi-VN/van-hoa/lien-hoan-phim-tai-lieu-chau-auviet-nam-lan-thu-9-650228.vov. Liên hoan phim tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 9 Liên hoan Phim Tài liệu Châu Âu - Việt Nam lần thứ 9 sẽ diễn ra từ ngày 8 - 17/6/2018 tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.   Năm nay, Liên hoan phim quy tụ 10 nước tham gia gồm Áo, Anh, Đức, Đan Mạch, Israel, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Cộng hòa Séc và vùng Wallonia-Brussels, Bỉ, bên cạnh nước chủ nhà Việt Nam. Trong suốt 10 ngày diễn ra Liên hoan phim, cùng với hãng Phim Tài liệu và Khoa học Trung ương và trường Đại học Hoa Sen của Việt Nam, các nước sẽ giới thiệu tới khán giả yêu điện ảnh tài liệu tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh những tác phẩm xuất sắc với chủ đề đa dạng: môi trường, xã hội, văn hóa, di sản, hòa nhập… Trong đó, nhiều bộ phim đã giành được các giải thưởng danh giá. Bên cạnh đó, cũng sẽ có 4 phim của các tác giả độc lập được giới thiệu tại các buổi chiếu riêng trong khuôn khổ Liên hoan phim. Một số phim của Việt Nam là những phim giành giải Bông sen vàng, Cánh diều vàng, Giải phim môi trường. Các phim Việt Nam tham dự Liên hoan phim do Hãng Phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất và một số phim đến từ Điện Ảnh Quân Đội, Đài Truyền hình Việt Nam, Trường Đại học Sân khấu, Điện ảnh Hà Nội và các tác giả làm phim độc lập. Các phim quốc tế có một số phim đã giành được giải thưởng cao tại: München, Nyon, California, Praha, Melbourne… Đây là một sự kiện văn hóa đặc biệt đáp ứng nhu cầu giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và quốc tế. https://hanoigrapevine.com/vi/2018/06/9th-european-vietnamese-documentary-film-festival/ Liên hoan Phim Tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 10. Nằm trong khuôn khổ các chương trình hoạt động của Hiệp hội các Viện Văn hóa và các Đại sứ quán châu Âu, từ ngày 31/5 đến 9/6/2019, tại Hà Nội và TP HCM, sẽ  diễn ra Liên hoan Phim Tài liệu châu Âu - Việt Nam lần thứ 10. Liên hoan quy tụ 10 quốc gia gồm Áo, Wallonia-Brussels (Bỉ), Pháp, Đan Mạch, Đức, Israel, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Cộng hòa Séc, Vương quốc Anh và Việt Nam. Tại Liên hoan, khán giả sẽ được thưởng thức những tác phẩm điện ảnh tài liệu của Việt Nam và của các quốc gia tham gia, nhiều bộ phim trong đó đã giành được các giải thưởng danh giá. Đặc biệt, 4 phim của các tác giả độc lập Việt Nam cũng được giới thiệu tại các buổi chiếu riêng vào ngày 9/6. Công chúng yêu mến phim tài liệu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh sẽ được thưởng thức 10 bộ phim tài liệu nước ngoài: 10 bộ phim tài liệu Việt Nam gồm: Ngoài ra có 4 phim tài liệu do các tác giả làm phim độc lập thực hiện sẽ được trình chiếu: "Mệ A; Mùa hè! Nghiêm; Nghề đậu phụ; Những mảnh đời đá bạc." Liên hoan Phim Tài liệu châu Âu-Việt Nam lần thứ 11. Liên hoan phim Tài liệu châu Âu- Việt Nam lần thứ 11 đã khai mạc tối 1.10, tiếp tục mở ra cánh cửa khám phá đầy thú vị dành cho đông đảo công chúng yêu mến phim điện ảnh tài liệu tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Cùng tham dự lễ khai mạc có các Đại sứ, đại diện Ngoại giao đoàn và các tổ chức quốc tế, các nghệ sĩ,  nhà làm phim trong và ngoài nước cùng đông đảo khán giả yêu mến phim tài liệu điện ảnh. LHP Tài liệu châu Âu-Việt Nam lần thứ 11 do Hiệp hội các Viện Văn hóa và các Đại sứ quán các nước châu Âu phối hợp với Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương tổ chức tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Phát biểu tại lễ khai mạc, Thứ trưởng Tạ Quang Đông nhấn mạnh, LHP Tài liệu châu Âu tại Việt Nam là một trong những sự kiện văn hóa quốc tế thường niên được tổ chức tại Việt Nam, thu hút ngày càng  đông đảo  sự tham gia của các nghệ sĩ, các nhà làm phim nổi tiếng, với những bộ phim có chất lượng cao, giành được nhiều giải thưởng tại các LHP trong nước và quốc tế. LHP lần thứ 11 sẽ giới thiệu tới khán giả yêu phim tài liệu 22 bộ phim của các quốc gia đến từ châu Âu và Việt Nam. Trong số 22 tác phẩm điện ảnh tài liệu đặc sắc tham dự LHP năm nay, 10 phim quốc tế gồm: 10 phim của Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương gồm: 2 phim Việt Nam của các tác giả độc gồm: "Người mẹ" (đạo diễn Đoàn Hồng Lê) và "Cống ngầm" (đạo diễn Hương Na Nguyễn). Hai phim này được giới thiệu tại buổi chiếu riêng vào thứ bảy ngày 03.10.2020
1
null
Lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quy trình hàng năm các đại biểu quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm dưới hình thức bỏ phiếu kín các chức danh lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ. Lịch sử. Nghị quyết số 85/2014/QH13, ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2014 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn đã được ban hành. Kể từ lần lấy phiếu tín nhiệm đầu tiên vào tháng 6 năm 2013 đến lần gần đây nhất vào tháng 10 năm 2023, Quốc hội đã 4 lần tiến hành lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Trong đó: Mục đích và nguyên tắc. Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá cán bộ. Về nguyên tắc, cần đảm bảo: 1. Bảo đảm quyền và đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; tôn trọng quyền báo cáo, giải trình của người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm. 2. Công khai, công bằng, dân chủ, khách quan; bảo đảm đánh giá đúng thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm. 3. Bảo đảm sự ổn định và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ. Quy trình. Bốn căn cứ để đánh giá tín nhiệm, gồm: Báo cáo tự đánh giá của các vị được lấy phiếu; Kết quả hoạt động của QH thông qua chức năng nhiệm vụ của mình để nghe, xem xét, quyết định qua tổ chức tiếp xúc cử tri, giám sát, chất vấn, báo cáo giải trình; Đánh giá của bản thân mỗi Đại biểu Quốc hội; và căn cứ quan trọng thứ tư là tình hình kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại. Quy trình lấy phiếu tín nhiệm dựa trên 4 bước, trước hết là biểu quyết thông qua danh sách các vị lấy phiếu; tiến hành thảo luận ở các đoàn; Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ giải trình báo cáo thảo luận này; bước cuối cùng là bầu ban kiểm phiếu, bỏ phiếu. Phiếu đánh giá tín nhiệm được chia làm 10 loại theo chức vụ, nhóm chức vụ trong danh sách lấy phiếu tín nhiệm, in màu giấy khác nhau, ghi rõ họ tên, chức vụ từng người, kèm theo các ô tương ứng với 3 mức độ: tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp. 10 loại phiếu gồm: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các ủy viên Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tổng cộng là 50 chức vụ. Các phiếu đều có đóng dấu của Quốc hội. Các trường hợp phiếu không hợp lệ bao gồm: phiếu không theo mẫu, không có dấu; phiếu đánh dấu 2 trở lên hoặc không đánh dấu cho mỗi chức danh; phiếu có viết thêm các nội dung khác hoặc ghi thêm tên ngoài danh sách. Theo quy trình, kết quả kiểm phiếu sẽ được công khai và Quốc hội dự kiến sẽ thông qua nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm. Một trong những mục đích của việc đánh giá tín nhiệm này là để loại bỏ những vị trí chưa làm tròn chức trách, nhưng để làm được điều này không phải dễ mà phải trải qua nhiều công đoạn. Sau vòng lấy phiếu tín nhiệm, phải cần đến 2/3 đại biểu Quốc hội đánh giá ‘tín nhiệm thấp’ hoặc bị hơn một nửa Quốc hội đánh giá ‘tín nhiệm thấp’ hai năm liên tục, một vị trí nào đó mới đứng trước nguy cơ mất chức. Tuy nhiên, vị bị tín nhiệm thấp này không mất chức ngay mà còn phải trải qua thêm một vòng nữa là ‘bỏ phiếu tín nhiệm’, nhưng không phải tại kỳ họp đang diễn ra của Quốc hội mà phải đến kỳ họp sau, trong trường hợp người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm không được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tín nhiệm thì cơ quan hoặc người đã giới thiệu để bầu có trách nhiệm trình quốc hội xem xét, quyết định cách chức đại biểu đó. Việc lấy phiếu tín nhiệm hiện thời có ba hạng: Việc bỏ phiếu tín nhiệm hiện thời có hai loại: Kết quả các lần lấy phiếu tín nhiệm. Quốc hội khóa XIII. Kết quả ngày 11 tháng 6 năm 2013. Danh sách 47 người được lấy phiếu tín nhiệm ngày 11 tháng 6 năm 2013 theo Nghị quyết 35 của Quốc hội. Kết quả ngày 15 tháng 11 năm 2014. Ngày 15 tháng 11 năm 2014, sau khi có đề xuất dừng lấy phiếu trong năm 2014 tín nhiệm hồi tháng 2, Quốc hội vẫn quyết định lấy phiếu tín nhiệm trong năm này. Lần này, 50 chức danh đều được lấy phiếu tín nhiệm. Quốc hội khóa XIV. Kết quả ngày 25 tháng 10 năm 2018. Ngày 25 tháng 10 năm 2018, Quốc hội lần này có 48 chức danh được lấy phiếu tín nhiệm. Quốc hội khóa XV. Sáng ngày 25 tháng 10, Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với 44/50 chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn. Chiều cùng ngày, Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm.
1
null
Landsat 7, phóng lên ngày 15 tháng 4 năm 1999, là vệ tinh nhân tạo thứ 7 của chương trình Quan sát Trái Đất (hay chương trình Landsat). Mục đích chính của Landsat 7 là cập nhật những hình ảnh vệ tinh mới nhất so với những ảnh đã được thu thập từ các vệ tinh trước đó, và có thể chụp những ảnh không mây. Chương trình Landsat do USGS quản lý và vận hành, và dữ liệu thu thập từ Landsat 7 có thể được thu thập và phân bối bởi USGS. Dự án NASA World Wind cho phép chụp các ảnh 3D từ 7 và các nguồn tài nguyên khác để định hướng tự do và nhìn từ bất kỳ góc độ nào. Đặc điểm. Landsat 7 có các đặc điểm mới so với các phiên bản trước đó: Liên kết ngoài. CategoChuyến bay vào không gian năm 1999
1
null
Chi Thạch trang (danh pháp khoa học: Petrocosmea) là chi thực vật thuộc họ Tai voi, hầu hết các loài trong chi này là đặc hữu của miền tây Trung Quốc, dù một số loài là bản địa của các khu vực khác ở châu Á. Các loài. Chi này có khoảng 25 loài Các loài sau đây có thể là loài riêng biệt hoặc là tên đồng nghĩa với các tên loài đã được công nhận:
1
null
Tiwanaku ( hoặc ) là một địa điểm khảo cổ Tiền Columbo quan trọng ở phía tây Bolivia gần hồ Titicaca, và là một trong những địa điểm khảo cổ lớn nhất ở Nam Mỹ. Bề mặt của nó vẫn còn khoảng 4 km vuông là nơi có rất nhiều đồ gốm trang trí, các cấu trúc hoành tráng và các khối đá khổng lồ. Nó đạt hưng thinh vào khoảng năm 800 sau Công nguyên với dân số khoảng từ 10.000 đến 20.000 người. Nó lần đầu được ghi nhận trong văn bản lịch sử là vào năm 1549 bởi nhà chinh phục người Tây Ban Nha Pedro Cieza de León trong quá trình ông tìm kiếm thủ đô Qullasuyu của miền nam đế quốc Inca. Một số người đã đưa ra giả thuyết rằng, tên hiện đại của Tiwanaku có liên quan đến thuật ngữ "taypiqala" trong tiếng Aymara, có nghĩa là "hòn đá ở trung tâm", ám chỉ niềm tin rằng nó nằm ở trung tâm của thế giới. Tên mà Tiwanaku được người dân biết đến có thể đã bị mất vì khi đó họ không có ngôn ngữ viết. Heggarty và Beresford-Jones cho rằng, tiếng Puquina rất có thể ngôn ngữ nói của người Tiwanaku. Mô tả. Khu vực xung quanh Tiwanaku có thể đã có người cư trú vào đầu những năm 1500 trước Công nguyên (TCN) và là một làng nông nghiệp nhỏ. Hầu hết các nghiên cứu cho rằng Tiwanaku IV và V phát triển trong thời gian giữa năm 300 tới 1000 và Tiwanaku tăng đáng kể về quyền lực. Trong khoảng thời gian từ 300 TCN và 300 sau, Tiwanaku được cho là đã trở thành một trung tâm lý luận và vũ trụ mà nhiều người hành hương biết đến. Những ý tưởng về vũ trụ là điềm báo trước của đế quốc hùng mạnh Tiwanaku. Năm 1945, Arthur Posnansky sử dụng kỹ thuật thiên văn ước tính Tiwanaku có tuổi lên tới 15.000 năm. Sau đó, như một kết quả của việc đánh giá lại các kỹ thuật mà Posnansky sử dụng, chuyên gia khảo cổ học thiên văn kết luận rằng điều đó là không hợp lý. Vị trí Tiwanaku nằm giữa hồ và vùng cao nguyên khô cằn cung cấp nguồn lực quan trọng về cá, chim tự nhiên, cây trồng và chăn thả gia súc, đặc biệt là lạc đà không bướu. Titicaca là hồ nước điều tiết môi trường hiệu quả nhất trong khu vực với lượng mưa phong phú mà văn hóa Tiwanaku sử dụng khai thác và phục vụ trong canh tác nông nghiệp. Đi xa hơn về phía đông, Altiplano là một vùng đất cực kỳ khô cằn. Độ cao của hồ Titicaca cần thiết cho sự phát triển kỹ thuật canh tác đặc biệt được gọi là "suka kollus" (trồng trọt tại các vùng sườn dốc cao).Kỹ thuật nông nghiệp chiếm phần đáng kể của họ, cùng với các lĩnh vực trong tưới tiêu, chăn thả, ruộng bậc thang và "qochas" (hồ nhân tạo) . Gò trồng nhân tạo lớn tạo từ việc ngăn cách bởi kênh rạch đầy nước. Các kênh rạch này cung cấp độ ẩm cho cây trồng phát triển, nhưng nó cũng hấp thụ nhiệt từ bức xạ mặt trời vào ban ngày. Nhiệt độ ban ngày tuy cao nhưng đêm ở đây lại rất lạnh lẽo khi sương xuống. Dấu vết của quá trình quản lý sử dụng cũng được tìm thấy trong khu vực Llanos de Moxos (đồng bằng lương thực Amazon của Moxos). Theo thời gian, các kênh rạch cũng được sử dụng để nuôi cá, và ống dẫn bùn được dùng để nạo vét làm phân bón. "Suka kollus" sản xuất được sản lượng lương thực cực kỳ ấn tượng. Trong khi nông nghiệp truyền thống trong khu vực thường mang lại 2,4 tấn khoai tây mỗi hecta, và nông nghiệp hiện đại (với phân hoá học và thuốc trừ sâu) sản lượng cũng chỉ khoảng 14,5 tấn mỗi hecta thì với kỹ thuật canh tác "suka kollus" sản lượng trung bình khoảng 21 tấn mỗi ha. Đáng chú ý, các lĩnh vực thử nghiệm tái tạo vào những năm 1980 bởi Alan Kolata và Oswaldo Rivera thuộc trường Đại học Chicago 10% sản lượng bị đóng băng trong mùa đông năm 1988 đã làm giảm 70-90% sản lượng sản xuất cho thấy việc giống cây trồng chống lại sương bị chết đã làm một nền văn minh bị diệt vong. Với những lý do này, tầm quan trọng của "suka kollus" là không hề được phóng đại. Dân số tăng lên, mỗi thành viên của xã hội đã được phân công một chức năng nhiệm vụ cụ thể. Tiwanaku cũng có vài tổ chức thương mại thị trường dựa trên phân phối. Đó là, các tầng lớp thượng lưu của đế chế kiểm soát cơ bản tất cả sản lượng lương thực trong nền kinh tế, cung cấp cho mỗi người bình thường các nguồn lực cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Một số ngành nghề bao gồm nông nghiệp, chăn nuôi gia súc cũng có sự tách biệt này tạo ra một sự phân chia giai cấp trong đế chế. Tiwanaku được bao bọc bởi bốn bức tường và bao quanh là một con hào. Con hào này được tin là tạo ra hình ảnh của một hòn đảo thiêng. Bên trong các bức tường có nhiều hình ảnh về nguồn gốc của con người chỉ có giới thượng lưu là có đặc quyền, bất chấp thực tế là đại diện cho sự khởi đầu không chỉ riêng gì tầng lớp thượng lưu. Dân thường chỉ có thể vào trong cấu trúc này cho các mục đích nghi lễ vì đó là quê hương của linh thiêng nhất của đền thờ.
1
null
Omamori Himari (おまもりひまり) còn được biết với tên ngắn hơn là OmaHima (おまひま) là loạt manga do Matra Milan viết và minh họa. Tác phẩm đã đăng trên tạp chí Monthly Dragon Age từ ngày 09 tháng 6 năm 2006 trước khi chuyển sang tạp chí Age Premium từ tháng 8 năm 2011. Cốt truyện xoay quanh Amakawa Yuto một nam sinh trung học 16 tuổi bị dị ứng với mèo, vào đúng sinh nhật lần thứ 16 của mình thì một cô gái tên Himari là một bakeneko đến để bảo vệ cậu khỏi bị tấn công các yêu quái bắt đầu để ý đến mình khi bùa hộ mệnh bắt đầu mất tác dụng. Sau vài lần bị tấn công Yuto bắt đầu cố gắng tập luyện để có thể tự chống lại các cuộc tấn công của các yêu tinh mà không cần nhờ đến Himari để cô không bị nguy hiểm cũng như cố gắng quen với việc bị dị ứng thường xuyên do Himari vốn là một miêu nữ. Dù vậy Yuto lại muốn con người và yêu tinh sống hòa bình nên cậu đã nỗ lực để đạt được mục đích đó bằng việc thuyết phục những người chủ trương tiêu diệt yêu tinh cũng như nhận giúp các công việc mà các yêu tinh ít hung tợn nhờ. Qua thời gian và các sự kiện khác nhau có một số nữ yêu tinh và người săn yêu tinh đã đồng ý giúp đỡ và gia nhập nhóm của cậu để theo đuổi lý tưởng của mình. Loạt manga cũng được chuyển thể thành các loại hình truyền thông khác như light novel, internet radio và anime. Chuyển thể anime do hãng Zexcs thực hiện và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 06 tháng 1 đến ngày 24 tháng 3 năm 2010. Tổng quan. Sơ lược cốt truyện. Bộ phim xoay quanh Yuto Amakawa, một thiếu niên có vẻ bình thường với một quá khứ rắc rối. Bảy năm trước, cha mẹ anh qua đời trong một vụ tai nạn xe hơi, để lại anh một mình không một người thân bên cạnh. Món đồ duy nhất còn lại của gia đình anh là một chiếc bùa hộ mệnh kỳ lạ và bí ẩn được người bà quá cố của anh tặng cho. Kể từ đó, người bạn thời thơ ấu của anh là Rinko Kuzaki (và bố mẹ cô [ch. 1]) đã nấu ăn và chăm sóc anh. Cuộc đời của anh có một bước ngoặt đáng ngạc nhiên vào sinh nhật thứ 16 khi anh gặp Himari, một nữ samurai quỷ mèo. Himari tiết lộ với anh ta rằng gia đình và tổ tiên của anh ta là một phần của mười hai gia tộc Sát quỷ giết quỷ kể từ thời phong kiến, và anh ta cũng là một Sát thủ giết quỷ. Cô đã tuyên thệ với gia đình anh để bảo vệ Yuto khỏi những con quỷ khác nhau đang ra tay giết anh, nhưng chứng dị ứng mèo của Yuto khiến vấn đề trở nên phức tạp hơn nhiều. Sau đó, Yuto gặp nhiều cô gái khác cũng thích anh: Shizuku, một mizuchi hoặc thủy thần dưới hình dạng một đứa trẻ nhỏ; Lizlet, một tsukumogami hay linh hồn tạo tác trong hình dạng một cô hầu gái phục vụ trà nóng bỏng; và Kuesu, một Sát quỷ khác, người được tiết lộ là vợ chưa cưới của Yuto và là người trong quá khứ bị lãng quên của Yuto. Khi bộ phim tiếp tục, Yuto và cả nhóm chạm trán với một số ayakashi mạnh mẽ, với một số người trong số họ là đồng minh, và cuối cùng Yuto đã đưa ra quyết định thay đổi cuộc đời để chiến đấu vì niềm tin của mình về sự chung sống giữa con người và ayakashi. Truyền thông. Manga. Loạt manga do Milan Matra viết và minh họa. Tác phẩm đã đăng trên tạp chí Monthly Dragon Age từ ngày 09 tháng 6 năm 2006 trước khi chuyển sang tạp chí Age Premium từ tháng 8 năm 2011 và tiếp tục phát hành đến ngày 09 tháng 9 năm 2013 cả hai điều của Fujimi Shobo. Các chương sau đó được tập hợp lại và phát hành thành 12 tankōbon, trong đó Kadokawa Shoten xuất bản 5 tập đầu còn Fujimi Shobo thì bắt đầu tự xuất bản các tập từ tập 6. Yen Press đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của loạt manga này để phát hành tại thị trường Bắc Mỹ còn Kadokawa Media thì giữ bản quyền phát hành tại Đài Loan. Milan Matra cũng thực hiện một tập ngoại truyện với việc minh họa được đảm nhiệm bởi Nikubanare có tựa "Omamori Himari: Himaru no Opanchu" (おまもりひまり: 緋鞠のおぱんちゅう) tập hợp các mẫu truyện theo phong cách 4 hình và cũng đăng trên tạp chí Monthly Dragon Age vào tháng 11 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010. Các chương sau đó được tập hợp lại và phát hành thành 1 tankōbon. Matora Miran thì thực hiện một tập ngoại truyện của loạt manga với việc minh họa cũng được đảm nhiệm bởi Nikubanare có tựa "Omamori Himari: Gaiden no Sho" (おまもりひまり 外伝の書) và Fujimi Shobo đã phát hành thẳng thành tankōbon ngày 09 tháng 9 năm 2011 chứ không đăng trên tạp chí. Light novel. Mikazuki Kougetsu đã thực hiện chuyển thể light novel với việc minh họa được Matra đảm nhiệm. Tác phẩm bắt đầu đăng trên tạp chí Dragon Magazine của Fujimi Shobo từ ngày 19 tháng 7 năm 2008 đến ngày 20 tháng 1 năm 2010. Các chương sau đó được tập hợp lại và phát hành thành 4 bunkobon. Cốt truyện trong tiểu thuyết là ngoại truyện vì thế nó khác cốt truyện của manga cũng như có một số nhân vật mới chỉ xuất hiện trong chuyển thể này. Internet radio. Một chương trình internet radio có tên "OmaHima☆HR" (おまひま☆HR) đã được Animate thực hiện và phát sóng từ ngày 12 tháng 11 năm 2009 đến ngày 30 tháng 4 năm 2010 với 13 tập. Người dẫn chương trình hai nhân vật Noihara Himari và Kuzaki Rinko còn các khách mời là các nhân vật khác trong bộ anime. Nippon Columbia đã phát hành bộ CD gồm 6 đĩa chứa 13 chương trình này từ ngày 26 tháng 3 đến ngày 27 tháng 8 năm 2010. Anime. Hãng Zexcs đã thực hiện chuyển thể anime của loạt manga với sự đạo diễn của Ushiro Shinji và bắt đầu phát sóng trên các kênh Chiba TV và TV Saitama từ ngày 06 tháng 1 đến ngày 24 tháng 3 năm 2010, khi hai kênh chiếu tập đầu tiên thì sau đó một hay vài ngày thì các kênh khác tại Nhật Bản cũng phát sóng bộ anime này như Tokyo MX, BS Nippon, TV Aichi, TV Kanagawa, TVQ Kyushu và Sun TV. Kadokawa Pictures đã phát hành phiên bản DVD của bộ anime từ ngày 26 tháng 3 năm 2010, phiên bản blu-ray thì phát hành vào ngày 27 tháng 1 năm 2012. Muse Communication đã đăng ký bản quyền để phân phối bộ anime này tại Đài Loan. Sách. Fujimi Shobo đã phát hành một cuốn sách hướng dẫn có tựa "Omamori Himari 0" (おまもりひまり 0) vào ngày 24 tháng 10 năm 2009. Quyển sách có chứa các hình ảnh được tô màu dùng trong truyện và light novel, các thông tin về nhân vật kể cả nhân vật thêm trong chuyển thể tiểu thuyết. Ngoài ra cuốn sách còn chứa các thông tin về chuyển thể anime đang thực hiện khi đó. Một cuốn sách hình dành cho người hâm mộ có tựa "TV Animation Koushiki Fan Book" (TVアニメーション おまもりひまり 公式ファンブック) đã được phát hành vào ngày 20 tháng 5 năm 2010. Cuốn sách có chứa các hình ảnh và thông tin của các nhân vật dùng trong chuyển thể anime. Một cuốn sách hình khác có tựa "Omamori Himari Shojo Gashū ~MATRA MILAN Art Works~" (おまもりひまり 処女画集 ~MATRA MILAN Art Works~) đã phát hành vào tháng 1 năm 2014. Âm nhạc. Bộ anime có ba bài hát chủ đề, một mở đầu và hai kết thúc. Bài hát mở đầu có tựa "Oshichau zo!!" (押しちゃうぞっ!!) do AyaRuka trình bày, bài hát kết thúc đầu có tựa "BEAM my BEAM" do các nhân vật nữ chính trình bày, hai đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 24 tháng 2 năm 2010 với bài hát kết thúc trình bày bởi các nữ nhân vật chính hát chung. Bài hát kết thúc thứ hai có tựa "Sakamichi no Hate" trình bày bởi Hirakawa Daisuke. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 17 tháng 3 năm 2010. Album chứa các bản nhạc do các nhân vật trình bày phát hành vào ngày 31 tháng 3 năm 2010, album có chứa các bài "BEAM my BEAM" được các nhân vật nữ chính trình bày riêng lẻ và cả bài hát chủ đề kết thúc thứ hai cùng các đoạn drama. Bài hát chủ đề mở đầu của chương trình internet radio có tựa "love and peace" do Koshimizu trình bày và cũng đã phát hành trong đĩa đơn chứa bài hát kết thúc thứ nhất của bộ anime. Drama CD. Nippon Columbia cũng thực hiện chuyển thể drama CD của bộ truyện và phát hành chung trong album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày vào ngày 31 tháng 3 năm 2010. Đón nhận. "Omamori Himari" đã xuất hiện trên bảng xếp hạng Tohan với tập 4 có vị trí thứ 29 từ ngày 11 đến ngày 17 tháng 11 năm 2008 và tập 5 có vị trí thứ 15 từ ngày 7 đến ngày 13 tháng 4 năm 2009. Truyện cũng xuất hiện hiện trên bảng xếp hạng Oricon với tập 6 đứng ở hạng 27 từ ngày 11 đến ngày 17 tháng 1 năm 2010, tập 7 đứng ở hạng 16 từ ngày 02 đến ngày 08 tháng 8 năm 2010, tập 8 đứng ở hạng 19 từ ngày 4 đến ngày 10 tháng 4 năm 2011, tập 10 đứng ở hạng 17 ngày 6 đến ngày 12 tháng 4 năm 2011.
1
null
Cyperus erythrorhizos là loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được Muhl. mô tả khoa học đầu tiên năm 1817. Loài này mọc khắp Bắc Mỹ từ Maine, Ontario và British Columbia ở phía nam đến Tabasco ở phía nam Mexico. "Cyperus erythrorhizos" là một loài cây mọc ở các khu vực ẩm ướt như sông và mương, thường ở độ cao thấp.
1
null
Cyperus fulvoalbescens là loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được T.Koyama mô tả khoa học đầu tiên năm 1955. Cỏ đa niên, căn hành bò, cứng có vảy nâu đen, thân thành chuỗi cao 40 –80 cm. thân có 3 cạnh, rộng khoảng 1.5 mm. Ở phần gốc phình to ra 8 mm. Lá có phiến rộng 3mm, dài 20 – 30mm. Phát hoa, có lá hoa dài, hoa đầu rộng 2 –3 cm, gié hoa dài 1-2.2 cm, mài dài 6mm, màu vàng trắng hay ngâm đen, 5 -7 ngân. Bế quả cao 1.3 mm màu đen. Sinh sản bằng hạt và thân ngầm, thích hợp nơi đất sét, ven lộ.
1
null
Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật là trường Cao đẳng đào tạo về ngoại ngữ tại Việt Nam, được thành lập năm 2006. Tên tiếng Anh: Vietnhat College of language anh technology. Tên tiếng Nhật: 越日外語工?短期大学. Ký hiệu CNC. Lịch sử. Ông Nguyễn Đăng Đào đã có điều kiện tiếp xúc với thế hệ trẻ Nhật Bản và các nước. Với kinh nghiệm trong việc hỗ trợ đưa trên 5.000 Tu nghiệp sinh đi lao động và trên 500 Du học sinh Việt Nam sang học tại Nhật Bản, ý tưởng dự án về Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật (Viet Nhat College of Language and Technology - CNC) đã hình thành và năm 2006 đã được Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam ra Quyết định cho phép thành lập. CNC được thành lập tại Quyết định số: 4820/QĐ - BGD&ĐT do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký ngày 01 tháng 09 năm 2006. Vị trí. Trụ sở chính của CNC hiện đặt tại cơ sở I. Tổng diện tích quỹ đất của CNC hiện có là 17,2 ha. Tại Bắc Ninh: Tại Hà Nội: 55 Mai Hắc Đế - Hai Bà Trưng - Hà Nội Biểu tượng. Năm 2006, logo đầu tiên của CNC mang biểu tượng cây tre Việt Nam kết hợp với hoa Anh đào, là biểu tượng của hai nước Việt Nam và Nhật Bản. Sau 5 năm đi vào hoạt động, để đánh dấu sự trưởng thành và phát triển, Hội đồng quản trị đã quyết định thay đổi Logo mới như hình trên. Logo này rất dễ nhận ra bởi những đường kẻ sọc tạo nên chữ cái CNC là tên viết tắt của trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật. Các đường này tượng trưng cho "tốc độ và sự năng động". Còn chữ Viet Nhat Group biểu hiện cho sức mạnh của Tập đoàn Việt Nhật thể hiện sự bền vững như quan hệ Việt Nam - Nhật Bản. Khẩu hiệu. Đẳng cấp - Chất lượng - Phát triển- Hội nhập Các hệ đào tạo. Cao đẳng. Bao gồm 9 chuyên ngành (năm thành lập được ghi bên cạnh): Hệ Trung cấp chuyên nghiệp. Bao gồm 5 chuyên ngành (năm thành lập được ghi bên cạnh): Hệ Vừa làm vừa học. Bao gồm 4 chuyên ngành (năm thành lập được ghi bên cạnh): Hệ đào tạo Liên thông. Đào tạo Liên thông từ Trung cấp chuyên nghiệp lên Cao đẳng, bao gồm 4 chuyên ngành (năm thành lập được ghi bên cạnh): Hợp tác đào tạo liên thông. Hợp tác đào tạo liên thông từ Cao đẳng lên Đại học với các trường: Đại học Kinh tế Quốc dân; Đại học Bách khoa; Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên; Đại học Dân lập Phương Đông; Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Cơ sở vật chất. CNC đã không ngừng nâng cao về chất lượng và số lượng các phương tiện thực hành, có khả năng phục vụ hơn 5.000 học sinh sinh viên. CNC đã tiến hành xây dựng các phòng học và thực hành với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại cho từng khoa. Cơ cấu tổ chức. Hiện nay, tổ chức bộ máy của nhà trường bao gồm: Hội đồng quản trị, ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể, các phòng ban chức năng, các khoa, các trung tâm. Hội đồng quản trị. Chủ tịch HĐQT kiêm Hiệu trưởng: Ông Nguyễn Đăng Đào (QĐ số 4956/QĐ-GDĐT-TC ngày 08/9/2006 và QĐ số: 3548/QĐ - BGD&ĐT ngày 25.06.2008 của Bộ GD&ĐT). Các thành viên: Bà Nguyễn Thị Kim; Bà Nguyễn Thị Bích Liên. Ban giám hiệu. Bao gồm 2 người, gồm 1 Hiệu trưởng và 1 Phó Hiệu trưởng. Tùy theo sự phát triển CNC sẽ bổ nhiệm thêm Phó Hiệu trưởng để giải quyết các công việc của nhà trường. Các tổ chức đoàn thể. CNC đã hình thành được các tổ chức đoàn thể sau:Chi bộ trường, Công đoàn trường,Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Các khoa, bộ môn. Bao gồm 10 khoa: (1) Khoa Quản trị kinh doanh: Quản trị kinh doanh (2) Khoa Kế toán: Bộ môn Kế toán và Kiểm toán (3) Khoa Tiếng Anh:Bộ môn tiếng Anh hệ phiên dịch; tiếng Anh chuyên ngành du lịch; tiếng Anh thương mại. (4) Khoa Tiếng Nhật: Bộ môn tiếng Nhật hệ phiên dịch; tiếng Nhật chuyên ngành du lịch; tiếng Nhật thương mại. (5) Khoa Tiếng Trung: Bộ môn tiếng Trung hệ phiên dịch; tiếng Trung chuyên ngành du lịch; tiếng Trung thương mại. (6) Khoa Tiếng Hàn: Bộ môn tiếng Hàn hệ phiên dịch; tiếng Hàn chuyên ngành du lịch; tiếng Hàn thương mại. (7) Khoa Công nghệ thông tin: Bộ môn Quản trị; Lập trình;Tin học ứng dụng. (8) Khoa Việt Nam học: Bộ môn Hướng dẫn du lịch; Quản trị KS; (9) Khoa Tài chính ngân hàng: Bộ môn Tài chính ngân hàng; (10) Khoa cơ bản: Bộ môn KH Tự nhiên, Văn học, Văn hóa, Chính trị Các trung tâm. (1) Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học CNC. (2) Trung tâm Hợp tác với các doanh nghiệp và Giới thiệu việc làm. Đội ngũ cán bộ, giảng viên. CNC đã tập hợp được 260 cán bộ, giảng viên. Dự kiến khi nâng cấp lên thành trường Đại học sẽ có đội ngũ cán bộ, giảng viên: 350 người. Trong đó, trình độ Tiến sĩ trở lên: 32 người; trình độ Thạc sĩ: 140 người; đạt tiêu chuẩn tỷ lệ học hàm, học vị theo quy định của Bộ GD&ĐT. Học sinh, sinh viên. Trường Cao đẳng Ngoại ngữ - Công nghệ Việt Nhật không tổ chức thi mà xét tuyển trên phạm vi cả nước điểm thi Đại học và Cao đẳng theo điểm sàn quy định của Bộ GD&ĐT. Sinh viên trường CNC được tự do lựa chọn ngành học; được đào tạo các kỹ năng cốt lõi quan trọng. Đảm bảo khi sinh viên tốt nghiệp có đủ khả năng và trình độ để làm việc và sẽ được nhà trường giới thiệu việc làm trong các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã ký hợp tác với nhà trường. Sau 5 năm với tổng số trên 3.000 HSSV đã tốt nghiệp (3 khóa), trên 80% sinh viên có việc làm ngay. Thực tế, doanh nghiệp nước ngoài đã tiếp nhận và trả lương sinh viên từ khi đang học năm thứ hai (Doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản tại Khu công nghiệp Quế Võ); còn lại 20% sinh viên tiếp tục học liên thông cao hơn hoặc đi xuất khẩu lao động tại Nhật theo hợp đồng của Công ty (chủ đầu tư xây dựng CNC: Đã đưa trên 200 SV đi tu nghiệp tại Nhật). Nghiên cứu khoa học. Hội động khoa học mới được thành lập do vậy công tác hiện tại của CNC là chú trọng kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao thương hiệu. Công tác nghiên cứu khoa học chưa được triển khai sâu rộng. Phong trào nghiên cứu khoa học tại các khoa cũng đã được triển khai với 10 đề tài đã được Hội đồng khoa học nghiệm thu và đưa lên bảo vệ ở cấp trường, các đề tài đều có tính ứng dụng thực tiễn cao. Một số đề tài đã thẩm định đang đưa vào vận dụng thực tế tại trường. Công tác NCKH của sinh viên cũng phát triển mạnh mẽ. Hợp tác Quốc tế. CNC có quan hệ hợp tác đào tạo với nhiều trường Đại học nước ngoài. Hàng năm CNC tiếp nhận giáo viên của các trường Đại học của Nhật sang giảng dạy như: Đại học Jobu, Đại học Utsunomiya Kyowa; Orioaishin Tankidaigaku, Các trường dạy tiếng Nhật: Asahi Kokusai Gakuin, JSL Nihon Akademi, Sanritsu Kousai Gakuin và Trung tâm giao lưu văn hoá Tokyo. Đồng thời thực hiện mô hình 1+3 (một năm học tại Việt Nam, ba năm học tại trường ĐH của Nhật); 2+2 (Hai năm học tại Việt Nam, hai năm học tại trường ĐH của Nhật). Đến nay CNC đã tiến cử được trên 100 sinh viên sang đào tạo tại các trường Đại học của Nhật. Đây sẽ là lực lượng nòng cốt của nhà trường sau này. CNC cũng có thoả thuận với các trường của Hàn Quốc như: Đại học Quốc tế Pusan; Đại học Kinh tế Pusan; Đại học Dongguk và một số trường Đại học của Canada và Trung Quốc. Định hướng phát triển. Phấn đấu trở thành một trong những địa chỉ đáng tin cậy về đào tạo ĐH&CĐ trong phạm vi cả nước; Mở rộng quy mô, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất tại cơ sở II (Làng Đại học 2 - Huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh trên diện tích 15,2 ha), đầu tư trang thiết bị đồng bộ và hiện đại để tạo cơ hội học tập và rèn luyện tốt nhất cho học sinh sinh viên; Trong giai đoạn 2011 - 2015, CNC sẽ phát triển thành Trường Đại học đẳng cấp chất lượng cao, có quy mô lớn và hiện đại về đào tạo Ngoại ngữ, Công nghệ và Nghiệp vụ ở Việt Nam và khu vực. Đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Việt Nhật CNC sẽ được xây dựng trên cơ sở hoàn thiện, phát triển và bổ sung đội ngũ hiện có. Động viên, khuyến khích, cử giảng viên đi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước/nước ngoài bằng ngân sách của CNC hoặc hợp đồng thỉnh giảng với các giảng viên có trình độ và kinh nghiệm ở các trường Đại học, viện nghiên cứu trên địa bàn TP.Hà Nội, tỉnh Bắc Ninh và các tỉnh lân cận. Đồng thời mời các Giáo sư, Phó giáo sư và Tiến sĩ có kinh nghiệm quản lý, giảng dạy, nghiên cứu khoa học đến tuổi nghỉ chế độ từ các cơ sở công lập còn sức khỏe về làm việc. Có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy của các khoa, phòng trong từng giai đoạn. Xem thêm. Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Bắc Ninh
1
null
Eriophorum angustifolium là loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được Honck. mô tả khoa học đầu tiên năm 1782. Chúng gốc ở Bắc Mỹ, Bắc Á, và Bắc Âu, thường được tìm thấy trong đất nhiều than bùn hay đất chua, tại các vùng đất ngập nước, và bãi hoang.
1
null
Eriophorum callitrix còn được biết đến trong tiếng Anh như là Arctic cotton (nghĩa đen: bông Bắc Cực) hay Arctic cottongrass (nghĩa đen: cỏ bông Bắc Cực) là loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được Carl Anton von Meyer mô tả khoa học đầu tiên năm 1831, hoa này nở vào giữa mùa hè. Loại hoa này từng được người Eskimo dùng làm bấc nến, hoa còn được thu thập rồi phơi khô, cuộn với mỡ hải cẩu, mỡ tuần lộc để làm đèn sưởi. Loại hoa khô trắng muốt như bông thu hút khách ở Hà Nội dịp cận Tết bởi vẻ đẹp lạ, phù hợp với kiểu nội thất châu Âu. Hoa cotton thực chất là một loại hoa cỏ nhập khẩu, bông hoa được tạo thành từ những sợi bông mịn cuộn chặt vào nhau. Mỗi cành hoa thường có 8-10 bông trắng như tuyết.
1
null
Acaena là một chi thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài xâm lấn. Một số loài được du nhập một cách tình cờ từ những khu vực khác, chúng dính trên lông cừu, và trở thành loài xâm lấn. "Acaena novae-zelandiae", là một loài có mặt ở New Zealand, là loài thường gặp nhất ở vương quốc Anh, ở những nơi này chúng mọc rất nhiều ven bờ biển và trên các đụn cát, chúng lấn át thực vật bản địa và tạo ra những phiền toái do gai của chúng. Ở California, "A. pallida", "A. novae-zelandiae" và "A. anserinifolia" được xếp vào nhóm cỏ dại có ảnh hưởng nghiêm trọng.
1
null
Alchemilla là một chi thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Phần lớn các loài "Alchemilla" là cây thân thảo lâu năm, cao 40–50 cm, thân mọc thẳng hay bò sát đất thành bụi hay ụ, với các lá sát gốc mọc ra từ thân rễ dạng gỗ. Một số loài có lá với thùy tỏa ra từ một điểm chung và các loài khác có các lá phân chia — cả hai đều là hình quạt điển hình với các răng nhỏ ở đỉnh. Các lá màu xanh xám tới xanh lục, có cuống dài, thường được lông tơ che phủ, và có mức độ không thấm nước cao (xem Hiệu ứng lá sen). Các hoa nhỏ, màu từ xanh lục tới xanh nõn chuối, không có cánh hoa và mọc thành các cụm hoa phía trên tán lá vào cuối mùa xuân hay đầu mùa hè. Một số loài. Chi này chứa khoảng 300-1.000 loài, với The Plant List phiên bản 1.1 liệt kê 598 loài, và website của APG tính là trên 1.000 loài, phần lớn là bản địa khu vực ôn đới lạnh và cận Bắc cực thuộc châu Âu và châu Á, với chỉ một vài loài có tại châu Phi và châu Mỹ. Từ nguyên. Tên gọi "Alchemilla" có lẽ xuất phát từ việc các nhà giả kim thuật (alchemist) phương Tây đánh giá rất cao sương đọng trên lá cũng như các khối u lồi từ gân lá của các loài này, do chúng có thể cố định thủy ngân - "prima materia" (chất gốc) để các nhà giả kim thuật điều chế vàng. Hieronymus Bock (1498-1554) có lẽ là người đầu tiên ghi chép lại tên gọi bằng tiếng Đức cho "Alchemilla vulgaris" (có thể là một tổ hợp loài, bao gồm khoảng 15 loài) là ""Frauen Mantel", nghĩa là áo choàng/sự che chở của quý bà. Tuy nhiên, trong tài liệu của ông người ta có thể nhận thấy những người đương thời khác gọi nó là "Unser Frauen Mantel" nghĩa là "sự che chở của Đức Mẹ"", do tác dụng của nó trong điều trị một số rối loạn phụ khoa. Sử dụng. Sử dụng làm trà thảo mộc, chữa trị vết thương, tiêu chảy, xuất huyết, làm đẹp ngực ở phụ nữ hay điều trị các rối loạn phụ khoa như rong kinh (menorrhagia) hay khí hư (leukorrhea). Bộ phận sử dụng: Lá, hoa, rễ.
1
null
Aphanes là một chi thực vật có hoa trong họ Hoa hồng (Rosaceae). Chi này chứa khoảng 20 loài, bản địa châu Âu, châu Á và Australia. Nghiên cứu năm 2003 chỉ ra rằng "Aphanes" có thể nên gộp vào chi "Alchemilla". Chúng là cây thân thảo mảnh dẻ, mọc thấp, sống một năm, chia nhiều cành với các lá xẻ thùy sâu, che phủ bằng lông tơ mềm trên các cuống lá ngắn. Hoa nhỏ màu xanh lục tới vàng, không có cánh hoa, mọc thành chùm trong các lá kèm có răng cưa.
1
null
Photinia là một chi thực vật có hoa thuộc họ Hoa hồng. Chi này có khoảng 79 loài phân bố ở Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á, Trung Mĩ và Mexico; trong số đó tại Trung Quốc có 43 loài và 34 loài trong số này là đặc hữu của Trung Quốc được gọi chung là "Thạch Nam" ("石楠"). Đặc điểm. Gồm các loại cây thân gỗ hoặc cây bụi, cây rụng lá hoặc thường xanh. Nảy lộc nhỏ vào mùa đông; vảy dính chặt và ít. Lá mọc so le, gân lá hình trứng, mép đôi khi có răng cưa, cuống lá ngắn. Cụm hoa hình chùy, hình tán hoặc có chùm, nhiều hoa, đôi khi hoa 2 hoặc 3 cụm hoặc đơn độc. Hoa hình thành từ đầu mùa hè, mỗi bông có đường kính 5 đến 10mm, có 5 cánh tròn màu trắng, có mùi thơm nhẹ. Quả dạng quả lựu, hình cầu, hình trứng hoặc elip, hơi nhiều thịt đường kính từ 4 đến 12mm, màu đỏ, 1 đến 5 khoang, mỗi khoang có 1 hoặc 2 hạt; hạt mọc thẳng, vỏ cứng; lá mầm phẳng-lồi. Độc tính. Một số giống Photinia độc hại do sự hiện diện của glycoside cyanogen trong không bào của lá và tế bào quả. Khi nhai lá, các hợp chất này được giải phóng và nhanh chóng chuyển thành hydro xyanua (HCN) ngăn cản quá trình hô hấp của tế bào. Lượng HCN được tạo ra thay đổi đáng kể giữa các loài, và nói chung là nhiều nhất ở các lá non. Động vật nhai lại đặc biệt bị ảnh hưởng bởi glycoside cyanogen vì giai đoạn đầu tiên của hệ thống tiêu hóa của chúng (dạ cỏ) cung cấp điều kiện tốt hơn để giải phóng HCN so với dạ dày của động vật có xương sống dạ dày đơn. Phân loài. 32 loài được công nhận bởi Plants of the World Online . Gồm tên khoa học và người phát hiện ra. Các loài khác. Theo website Hệ thực vật Trung Quốc
1
null
Thái Quang Trung (1944 – 7 tháng 6 năm 2013). Ông là một học giả lớn của Việt Nam và ASEAN đồng thời là chủ tịch danh dự quỹ FOF (Foundation Of the Future). Cuộc đời. Ông sinh năm 1944 tại Đồng Hới, Quảng Bình. Ngày 07 tháng 06 năm 2013, Giáo sư Thái Quang Trung đã đột ngột qua đời vì chứng nhồi máu cơ tim khi đang trên đường thực hiện chương trình quốc gia của Bộ Tài nguyên –Môi trường tại Đà Nẵng. Ngày 09 tháng 06 năm 2013, Ông được an táng tại nghĩa trang Thành phố Huế. Đóng góp. Giáo sư Thái Quang Trung được chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) giao phó nhiều trọng trách trong kiến thiết các lĩnh vực cho sự phát triển hài hòa và bền vững, đó là kinh tế xanh, tăng trưởng xanh nhằm mang đến thịnh vượng, hạnh phúc cho con người. Giáo sư Trung đã có công đóng góp cho những công trình nghiên cứu có tầm toàn cầu như thiết kế và thực hiện nhiều chương trình hợp tác kỹ thuật phát triển về luật và bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu và kinh tế xanh với tư cách điều phối viên, tư vấn khu vực của Quỹ Hanns Seidel của CHLB Đức. Đối với Việt Nam, ông Thái Quang Trung đã bỏ nhiều công sức trong việc hợp tác với các tổ chức quốc tế và khu vực, đặc biệt với rất nhiều bộ ngành, địa phương của Việt Nam với mong muốn hiện thực triển vọng đưa Việt Nam trở thành một mẫu mực của kinh tế xanh – tăng trưởng xanh.
1
null
Chiến tranh Tề-Tống hay Chiến tranh Tề diệt Tống (286 TCN), là cuộc chiến diễn ra vào thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc với sự tham gia của bốn nước chư hầu là Tề, Ngụy, Sở và Tống. Bối cảnh, diễn biến và ý nghĩa. Bước sang thời Chiến Quốc, thế lực của nước Tống ngày càng suy yếu trước sự nổi lên của thất hùng, sau cùng phải chịu thần phục nước Ngụy rồi nước Tề để tránh bị xâm lấn. Năm 329 TCN, Tử Yển dùng vũ lực đuổi anh là Tống Dịch Thành quân rồi lên làm vua. Sau đó, Tử Yển ra sức khuếch trương thế lực, tự xưng tước hiệu là vương năm 315 TCN, tức Tống Khang vương và đem quân gây chiến với các nước chư hầu khác. Phía đông, Khang vương tấn công nước Tề, chiếm 5 thành; Phía nam đánh bại quân Sở, chiếm 300 dặm đất nước Sở, phía tây chiếm 2 thành của nước Ngụy, và đánh nước Tiết, diệt nước Đằng, kết thân với nước Tần phát triển thế lực của nước Tống lên đến cường thịnh. Tuy nhiên sau đó, Tống Khang vương lại sinh ra bạo ngược, làm nhiều điều vô đạo: lấy tên bắt trời, lấy roi quất đất, chửi mắng bô lão can gián, nên mất lòng người, bị chư hầu ghét, gọi là Kiệt Tống. Cùng lúc đó nước Tề ở phía đông cũng trong thời kì cực thịnh, cùng nước Tần ở phía tây là hai chư hầu lớn nhất. Tề Mẫn vương cũng có ý định diệt Tống để mở rộng lãnh thổ, khuếch trương thế lực và uy hiếp nước Tần. Còn hai nước Sở và Ngụy đang bị nước Tần lấn át nên cũng muốn đánh Tống để phục hồi lại uy thế. Năm 286 TCN, Tề Mẫn vương sai Hàn Niếp hợp quân với nước Sở và nước Ngụy cùng đánh Tống báo thù việc lấn đất. Tần Chiêu vương nghe tin đó định đưa quân sang giúp Tống, nhưng biện sĩ Tô Đại can gián vua Tần vì vua Tống cũng có tiếng bạo ngược và Tống thua thì Tề sẽ lấy hết đất, nước Sở và nước Ngụy phải sợ Tề và thân Tần. Vua Tần bèn thôi, không cử binh giúp Tống. Liên quân ba nước nhanh chóng tiến vào lãnh thổ nước Tống. Dân Tống tán loạn, thành không có người giữ, nhanh chóng đại bại. Tống Khang vương bỏ trốn sang nước Ngụy, sau chết ở Ôn ấp thuộc Ngụy. Sau khi chiếm được Tống, Tề, Sở và Ngụy chia đất Tống làm ba, mỗi nước một phần. Từ đó thế lực của Tề tiếp tục lớn mạnh, trở thành mối uy hiếp với các nước, sau đó lại tranh chấp để tranh giành đất Tống cũ với Sở và Ngụy, nên bị chư hầu ghét. Sau cùng năm 284 TCN, các nước hợp lực đánh Tề, chiếm được gần hết nước Tề và làm Tề suýt diệt vong.
1
null
Cỏ bạc đầu, hay cỏ đầu tròn, thủy ngô công, pó dều dều, còn gọi là bạch đầu ông, (danh pháp Kyllinga nemoralis) là loài thực vật có hoa trong họ Cói. Loài này được (J.R.Forst. & G.Forst.) Dandy ex Hutch. và Dalziel (K. monocephala Rottb) mô tả khoa học đầu tiên năm 1936. Phân bố. Cỏ bạc đầu là loài cỏ nhiệt đới, phân bố rộng ở Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Campuchia, Sri Lanka, Indonesia, Úc, châu Phi, châu Mỹ. Ở Việt Nam, cây mọc ở Lào Cai, Cao Bằng, Hà Nội, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, thường gặp ở ven đường, trên các bãi hoang trong vườn. Đặc điểm. Cỏ bạc đầu là loài cây thân thảo mọc hoang, phát triển mạnh, sống lâu năm, cao 7–20 cm. Thân rễ mọc bò. Lá thường ngắn hơn thân. Cây ra hoa vào mùa hè, cụm hoa đầu gần hình cầu, đường kính 4-8mm, 1-3 bông hình trụ hẹp, 3-4 lá bắc hình lá, trải ra, dài tới 10 cm, bông chét có 1 hoa. Quả bế hình trái xoan ngược, dẹp, trắng vàng, hơi có chấm. Toàn cây có mùi thơm, thơm nhất là rễ. Trong cây có tinh dầu. Hoạt chất chưa rõ. Tác dụng chữa bệnh. Cỏ bạc đầu được biết đến là cây thuốc nam quý. Bộ phận dùng là toàn cây. Cây được rửa sạch, dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Để sử dụng có thể thu hái toàn cây quanh năm. Cây có vị cay, tính bình. Cây có tác dụng khu phong, giải biểu, tiêu thũng, chỉ thống, làm toát mồ hôi, lợi tiểu, trừ ho giảm đau.
1
null
Vụ đánh ghen vũ nữ Cẩm Nhung bằng hình thức tạt axít diễn ra vào ngày 17 tháng 7 năm 1963 tại Sài Gòn. Đây được xem là vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất từng được ghi nhận tại thành phố này, gây chấn động cả Sài Gòn và miền Nam trong một thời gian dài. Báo chí thời điểm đó đánh giá đây là vụ đánh ghen bằng axít lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn, là tâm điểm quan tâm của nhiều tầng lớp. Nguyên nhân. Đối tượng bị đánh ghen là cô vũ nữ Cẩm Nhung được cho là nổi tiếng nhất Sài Gòn vào thời điểm đó, và mệnh danh là "nữ hoàng vũ trường" sinh năm 1940 tại Hà Nội. Năm 15 tuổi theo gia đình di cư vào miền Nam. Sau đó ít lâu người cha không may qua đời. Mẹ cô, bà Ninh Thị Liễu lúc ấy còn trẻ, đẹp nên quyết định đi bước nữa và sinh thêm người em trai nữa. Khi lớn lên, Cẩm Nhung trở thành vũ nữ chuyên nghiệp và làm ra tiền liền mua một căn nhà ở khu Hồ Ếch (nay là đường Âu Dương Lân, quận 8, TP.HCM) cho mẹ, em trai và dượng ở. Lúc ấy, bản thân Cẩm Nhung vì có tiền nên chủ yếu sống ở khách sạn. Tại vũ trường Kim Sơn trên đường Tự Do - một trong những con đường phồn hoa và đắt giá nhất Sài Gòn, Cẩm Nhung gặp gỡ trung tá Trần Ngọc Thức, một tay chơi có tên tuổi làm trong ngành xây dựng công trình quân sự và đã có gia đình. Thời điểm Cẩm Nhung làm vũ nữ thì hoạt động buôn lậu của các đại gia chế độ cũ đang rầm rộ. Người khơi mào cho hoạt động buôn lậu chính là bà cố vấn Trần Lệ Xuân với việc buôn bán ma tuý. Sau thời gian hoạt động, các tướng tá chế độ cũ cũng học theo để kiếm về cho mình những mối lợi phục vụ cho những cuộc chơi sa đọa, vô tiền khoán hậu. Thời điểm ấy, hoạt động quản lý buôn lậu vẫn thuộc Quân đội Việt Nam Cộng Hòa chứ không thuộc cảnh sát. Sau này, do sự siết chặt của quân đội nên việc buôn lậu mới chuyển sang hình thức mới tinh vi hơn. Để công việc buôn lậu dễ dàng, các "đại gia" thường dẫn đi theo một nhân tình nổi tiếng giả vờ đi du lịch để kiếm hàng về. Việc trung tá Thức quen biết với vũ nữ Cẩm Nhung cũng không ngoài mục đích ấy. Có được người đẹp phục vụ trong tình trường, trung tá Thức còn cùng Cẩm Nhung buôn lậu kim cương, đá quý từ Campuchia, Lào về bán lại cho giới thượng lưu. Việc đến tai vợ ông là Lâm Thị Nguyệt, với biệt danh Năm Rađô. Bà đã nhiều lần đón đường, hăm dọa Cẩm Nhung nhưng không có hiệu quả. Diễn biến. Bà Năm Rađô đã mua một can axít sunfuric đậm đặc từ một cơ sở sản xuất bình ắc quy, thuê hai người đàn ông tiến hành vụ đánh ghen. Chiều ngày hôm đó, bà có đến nhà hăm doạ, chửi bới rồi bỏ về. Khoảng 10h đêm ngày 17 tháng 7 năm 1963, trên đường rời nhà ra xe đưa rước đến vũ trường, Cẩm Nhung bị một người đàn ông tạt ca axit đậm đặc vào mặt. Cô được đưa đến bệnh viện cấp cứu ngay sau đó nhưng chỉ giữ được mạng sống, đôi mắt đã mù loà và nhan sắc bị huỷ hoại hoàn toàn: khuôn mặt cháy xám, thẹo lồi lõm và cặp mắt mờ đục lồi ra ngoài như mắt ếch. Xét xử. Ngày 18 tháng 7 năm 1963, đồng loạt các tờ báo, tạp chí Sài Gòn đăng tin về việc "nữ hoàng vũ trường" bị tạt axít phá hủy toàn bộ gương mặt xinh đẹp. Vụ việc được đưa ra pháp luật nhưng thế lực của gia đình ông trung tá quá mạnh nên chưa có kết quả rõ ràng. Trần Lệ Xuân, lúc này được xem là đệ Nhất phu nhân của chính quyền miền Nam Cộng Hoà, biết được vụ việc qua báo chí khi đang ở nước ngoài và rất tức giận. Bà chỉ đạo an ninh vào cuộc ngay khi về nước, bắt xử những kẻ tạt axít. Trung tá Trần Ngọc Thức bị tước bổng lộc và buộc phải giải ngũ, trở về làm dân thường. Bà cũng thu xếp đưa Cẩm Nhung đi Nhật Bản chữa trị nhưng không hiệu quả. Phiên toà mở ra 3 tháng sau đó kết tội bà Năm Rađô và tên tạt axít thuê mỗi người 20 năm tù và 15 năm tù cho tên đồng bọn khác. Vài tuần sau đó, cuộc đảo chính diễn ra, chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ và Trần Lệ Xuân phải sống lưu vong ở nước ngoài. Vụ xử đánh ghen đang kháng cáo bị dừng lại và đi vào quên lãng trong không khí rối ren chính trị của Sài Gòn vào thời điểm đó. Sau này vợ chồng Thức chia tay nhau. Người chồng sống ẩn dật và người vợ xuất gia đi tu. Ảnh hưởng. Khi về nước và tham gia giải quyết vụ đánh ghen, Trần Lệ Xuân đã cho ngừng hoạt động tất cả các vũ trường; kiểm tra tiến hành kỷ luật, hạ cấp hoặc loại khỏi quân đội các tướng tá có vợ nhỏ. Nhịp sống Sài Gòn về đêm đã giảm một phần đáng kể sau khi hàng trăm vũ trường bị buộc đóng cửa. Các nhà hàng cũng lâm vào cảnh ế ẩm. Sau vụ vũ nữ Cẩm Nhung bị hại, như một sự mở màn, ở Sài Gòn nổi lên phong trào đánh ghen bằng axít. Riêng năm 1964 đã có hàng chục vụ. Về nạn nhân. Khi sự việc còn chưa được điều tra rõ ràng thì đột nhiên cuộc đảo chính diễn ra, bà Trần Lệ Xuân bỏ đi nước ngoài khiến Cẩm Nhung suy sụp hoàn toàn và lao vào rượu chè. Mặc dù bị tạt axit nhưng số tiền mà Cẩm Nhung có được hoạt động buôn lậu và làm vũ nữ vẫn còn rất lớn. Sau thời gian suy sụp, số tiền ấy đã bị Cẩm Nhung nướng sạch, rồi không lâu sau đó khánh kiệt. Hận vì kẻ thủ ác đã làm hại mình Cẩm Nhung đeo hình chụp chung với trung tá Thức ăn xin, rêu rao khắp nơi. Lúc này, người đi qua thấy Cẩm Nhung ăn xin thì động lòng thương mà cho vô số tiền của. Tuy nhiên, Cẩm Nhung đã phung phí phần lớn tiền cho những cuộc chơi sa đọa. Sau khi tiêu tán hết tài sản và mẹ qua đời, năm 1969, cô ra trước chợ Bến Thành, đeo trên ngực bức hình chụp chung với trung tá Trần Ngọc Thức để ăn xin. Khi có tiền cô lại tiếp tục nghiện ngập. Cô lê bước hành nghề khắp nhiều tuyến đường ở Sài Gòn sau đó về bến phà Mỹ Thuận ở miền Tây. Bị đưa vào trung tâm nuôi người tàn tật nhưng cô trốn ra tiếp tục ăn xin. Sau này cô chỉ còn hình chân dung để đeo trước ngực và cuối cùng là tấm bảng "vũ nữ Cẩm Nhung". Cẩm Nhung từng nhận nuôi một bé trai là trẻ mồ côi từ khi cô còn chưa bị tạt axit và đặt tên là Hoàng. Sau ngày giải phóng miền Nam, đứa trẻ ấy mới đủ lớn để đi tìm Cẩm Nhung. Những năm tháng người ta không thấy Cẩm Nhung đi xin nữa là thời kỳ Cẩm Nhung đang ở với người con nuôi. Cẩm Nhung còn dành dụm tiền mua cho người con nuôi căn nhà rồi dựng vợ cho. Đúng nửa thế kỷ sau vụ đánh ghen, vào đầu năm 2013, Cẩm Nhung qua đời tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang vì già yếu và bệnh tật.
1
null
Cerasus jamasakura, còn gọi là "Yamazakura" (ヤマザクラ) hoặc "Prunus jamasakura", là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được (Siebold ex Koidz.) Ohba mô tả khoa học đầu tiên năm 1992. Đây là loài đặc hữu của Nhật Bản và là một trong 10 hoặc 11 loài hoang dã thuộc chi Sakura mọc tự nhiên ở Nhật Bản. Nó cũng đề cập đến một giống được sản xuất từ "Prunus serrulata" var. "Prunus spontanea". Để thuận tiện, những cây anh đào dại mọc ở vùng núi đôi khi được gọi chung là "Yamazakura" (hoa anh đào dại), vì vậy cần cẩn thận để không nhầm lẫn chúng với "Yamazakura" như một giống cây trồng.
1
null
Úc lý, còn gọi là uất lý (tên khoa học: Prunus japonica), là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Carl Peter Thunberg mô tả khoa học đầu tiên năm 1784. Tên gọi. Các tên gọi thông thường bao gồm: Mô tả. Cây bụi cao 1–1,5 m. Cành con màu nâu ánh xám; cành non màu xanh lục đến nâu ánh lục, nhẵn. Chồi mùa đông hình trứng, nhẵn nhụi. Lá kèm thẳng, 4–6 mm, mép có tuyến khía răng cưa. Cuống lá 2–5 mm, nhẵn nhụi hoặc có lông; phiến lá hình trứng đến hình trứng-hình mác, 3–7 × 1,5–2,5 cm, phần xa trục màu xanh lục nhạt và nhẵn nhụi hoặc có lông dọc theo gân lá, phần gần trục màu xanh lục sẫm và nhẵn nhụi, đáy thuôn tròn, mép khía răng cưa đôi hoặc răng cưa sâu, đỉnh nhọn thon; gân phụ 5–8 ở hai bên gân giữa. Hoa đơn độc hoặc đến 3, mọc thành chùm, nở cùng lúc với lá hoặc trước. Cuống hoa 0,5–2 cm, nhẵn nhụi hoặc có lông. Chén hoa hình con quay, 2,5–3 × 2,5–3 mm, mặt ngoài nhẵn nhụi. Lá đài hình elip, hơi dài hơn chén hoa, mép khía răng cưa, đỉnh thuôn tròn. Cánh hoa màu hồng hoặc trắng, hình trứng ngược. Nhị hoa ~32. Vòi nhị dài gần bằng nhị, nhẵn nhụi. Quả hạch màu đỏ sẫm, gần tròn, đường kính ~1 cm; vỏ quả trong nhẵn bóng. Ra hoa tháng 5, tạo quả tháng 6–8. Phân bố. Có tại miền đông và đông bắc Trung Quốc (các tỉnh Cát Lâm, Chiết Giang, Hà Bắc, Hà Nam, Hắc Long Giang, Liêu Ninh, Sơn Đông), Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên. Môi trường sống là rừng trên các sườn dốc, bụi rậm, các dốc núi nhiều nắng, cũng được gieo trồng; cao độ 100-200 m. Các thứ. "Prunus japonica" var. "japonica". Danh pháp đồng nghĩa: "Prunus japonica" var. "nakaii". Danh pháp đồng nghĩa:
1
null
Cotoneaster acuminatus là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Lindl. mô tả khoa học đầu tiên năm 1821. Đây là loài bản địa ở dãy Himalaya. Trong rừng loài này có thể được tìm thấy ở độ cao của 1.300-3.000 mét, trong khi trên các sườn đồi loài cây này được tìm thấy tại độ cao 2.500-3.500 mét. Loài này cũng được du nhập với Oregon.
1
null
Cotoneaster horizontalis là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Decne. mô tả khoa học đầu tiên năm 1877. "Cotoneaster horizontalis" là loài bản địa tây Trung Quốc. Nó là loài cây bụi và mọc lan ra, cao 1 m và rộng đến 1,5 m. Chúng thường được trồng trong công viên và vườn ở các khu vực ôn đới làm bờ rào hoặc thực vật phủ mặt đất. "C. horizontalis" đã được đưa vào trồng ở một số nơi tại Anh quốc và có thể trở thành loài xâm lấn.
1
null
Filipendula vulgaris là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Moench mô tả khoa học đầu tiên năm 1794. Loài này được tìm thấy trên các đồng cỏ khô trên phần lớn Châu Âu và Trung và Bắc Á chủ yếu là trên đá vôi. Các lá và rễ nghiền nát có mùi thơm của dầu cây thạch nam (methyl salicylate).
1
null
Fragaria chiloensis, dâu tây bãi biển, dâu tây Chilê hay dâu tây ven biển là một trong hai loài dâu tây dại được lai tạo để tạo thành giống dâu tây ("F. × ananassa"). Chúng được ghi nhận là quả có kích thước lớn. Phạm vi tự nhiên của loài nằm dọc theo bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ và Nam Mỹ và cả Hawaii. Những con chim di cư được cho là đã phân tán "F. chiloensis" từ bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ đến vùng núi Hawaii, Chile và Argentina. Loài này ưa thích thổ nhưỡng đá và cồn cát ven biển. Cây là loài thực vật thường xanh, có thể phát triển đến 15–30 cm (5,9-11,8 in) chiều cao với có ba lá trong một cuống lá, mỗi lá dài khoảng 5 cm (2,0 in). Những bông hoa màu trắng nở vào mùa xuân và đầu mùa hè. Quả có thể ăn được, có màu đỏ trên bề mặt, màu trắng ở bên trong. Phân loài. Loài dâu này gồm nhiều phân loài: Di truyền học. Dâu tây "Fragaria" có bộ nhiễm sắc thể đơn bội là 7 nhiễm sắc thể. "Fragaria chiloensis" là thể đa bội, gồm 8 bộ đơn bội (tức 8n) tổng số là 56 (xem thêm trang số nhiễm sắc thể ở các loài, mục "Dâu tây"). Tám bộ gen thuộc bốn bộ riêng biệt, hai loại khác nhau, và có rất ít hoặc không có cặp gen nào giữa các bộ. Thành phần bộ gen của các loài dâu tây thể đa bội thường được chỉ định là AAA'A'BBB'B '. Bộ gen loại A có khả năng được đóng góp bởi tổ tiên lưỡng bội liên quan đến loài "Fragaria vesca" hoặc các loài tương tự, trong khi bộ gen loại B dường như có nguồn gốc từ một họ hàng gần của "Fragaria iinumae". Quá trình lai tạo và quá trình hình thành loài của các loài dâu tây thể đa bội vẫn chưa được biết, nhưng có thể cấu trúc bộ gen của cả "Fragaria chiloensis" và "Fragaria virginiana" (và bằng cách mở rộng cả dâu tây đa bội được trồng) cũng giống hệt nhau. Thông tin khác về loài. Quả của loài dâu này được bán như một món ngon tại nhiều địa phương ở thị trường Nam Mỹ. Loài "Fragaria chiloensis" đã lai với "Fragaria virginiana" để tạo thành loài dâu tây ("Fragaria ananassa") trồng trọt dần dần lan rộng trên toàn cầu, cuối cùng trở thành giống dâu tây trồng chiếm ưu thế trên thế giới. Kích thước quả của chúng lớn hơn hai giống ban đầu. Amédée-François Frézier (1682–1773) là người đầu tiên mang mẫu vật của "Fragaria chiloensis" từ châu Mỹ đến các châu lục khác. "Chaetosiphon fragaefolii", hay rệp dâu, là một loài bọ ăn "F. chiloensis" ở Chile. Nó là côn trùng mang Strawberry mild yellow-edge virus (SMYEV)- một loại virus.
1
null
Fragaria vesca, tên thông dụng là dâu tây dại, dâu tây rừng, dâu tây Anpơ hay dâu tây châu Âu, là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được L. mô tả khoa học đầu tiên năm 1753. Loài này còn có tên gọi là Phúc bồn tử (覆盆子) theo cuốn từ điển song ngữ Việt-Latinh "Nam Việt Dương Hiệp Tự vị"; tuy nhiên cái tên này có thể đề cập đến một số loài thực vật khác, nhất là những loài thuộc Chi Mâm xôi, xin xem thêm trang định hướng.
1
null
Fragaria virginiana là một trong hai loài dâu tây hoang dã đã được lai tạo thuần hóa trở thành giống cây trồng. Phạm vi tự nhiên của loài cây dâu này giới hạn chỉ ở Bắc Mỹ, mặc dù một giống phổ biến có tên là "Little Scarlet" được trồng ở Anh, chúng đã được nhập khẩu từ Hoa Kỳ vào đầu những năm 1900. Loài dâu này phân bố ở những vùng đồng cỏ đất đen ẩm ướt, bìa rừng, khu vực đá vôi. Chúng mọc thường không quá xa các khu rừng. Loài sống dưới ánh mặt trời chói chang, một ít ở chỗ bóng râm. Chúng có thể chịu được bóng râm khi chúng bắt đầu sinh trưởng vào đầu mùa xuân. Loài dâu này rất thích đất màu mỡ và điều kiện ẩm ướt. Ngoài ra cũng có thể phát triển trong các khu vực bị xáo trộn sinh thái. Phân loài. Dâu này thuộc họ Rosaceae. Có 4 phân loài đã được công nhận Tế bào học. Dâu tây có bộ nhiễm sắc thể đơn bội là 7 nhiễm sắc thể. "Fragaria virginiana" là thể đa bội, có 8 bộ nhiễm sắc thể đơn bội tức tổng số 56 (8n = 56). Tám bộ gen thuộc bốn bộ riêng biệt, hai loại khác nhau, và có rất ít hoặc không có cặp gen nào giữa các bộ. Thành phần bộ gen của các loài dâu tây thể đa bội thường được chỉ định là AAA'A'BBB'B '. Bộ gen loại A có khả năng được đóng góp bởi tổ tiên lưỡng bội liên quan đến loài "Fragaria vesca" hoặc các loài tương tự, trong khi bộ gen loại B dường như có nguồn gốc từ một họ hàng gần của "Fragaria iinumae". Quá trình lai tạo và quá trình hình thành loài của các loài dâu tây thể đa bội vẫn chưa được biết, nhưng có thể cấu trúc bộ gen của cả "Fragaria chiloensis" và "Fragaria virginiana" (và bằng cách mở rộng cả dâu tây đa bội được trồng) cũng giống hệt nhau. Xem thêm mục "Dâu tây" ở trang Số nhiễm sắc thể ở các loài. Đặc trưng. "Fragaria virginiana" còn được gọi là dâu dại. Nó có thể cao tới 4 inch. Đặc điểm lá của nó thường bao gồm ba lá trong một cuống lá và lá của chúng có màu xanh lá cây. Mỗi lá rời dài khoảng 3 inch và rộng 1,5 inch. Lá có hình bầu dục và có "răng thô" dọc theo cạnh ngoại trừ gần phía dưới. Loài có một bông hoa trắng năm cánh với nhiều phần ở giữa bao phấn màu vàng. Có mười lá đài màu xanh lá cây kích thước nhỏ nằm dưới cánh hoa. Hạt của loài được phát triển từ một nhụy hoa ở giữa của hoa sẽ lớn thành các chấm nhỏ màu sẫm trên quả dâu tây. Hạt nảy mầm kém. Quả của dâu dại nhỏ hơn quả dâu trồng vườn ("Fragaria × ananassa"). Về mặt sinh học, quả được phân loại là quả giả kết hợp, nhưng nó thường được gọi là quả mọng. Một nghiên cứu cho thấy "F.virginiana" có thể sinh sản cả vô tính và hữu tính.
1
null
Lachemilla nivalis là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Carl Sigismund Kunth mô tả khoa học đầu tiên năm 1823. Năm 1937 Werner Hugo Paul Rothmaler chuyển nó sang chi "Lachemilla". Ghi chú. Năm 1908 khi mô tả chi "Lachemilla" Per Axel Rydberg đã gán loài điển hình cho chi này là "Alchemilla nivalis" , do loài "Alchemilla nivalis" được mô tả lần đầu tiên năm 1823 trong sách "Nova Genera et Species Plantarum" của Humboldt, Bonpland và Kunth nên ông đã lấy 3 chữ cái đầu tiên trong họ của các tác giả này làm tên viết tắt cho tác giả của danh pháp "Alchemilla nivalis". Tuy nhiên, gần như tất cả văn bản đều do Carl Sigismund Kunth soạn thảo. Vì thế tên gọi trong H.B.K. nên được gán cho Kunth.
1
null
Sơn tra hay còn gọi chua chát, gan, pom rừng (danh pháp khoa học: Malus doumeri) là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Désiré Georges Jean Marie Bois mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1904 với danh pháp "Pyrus doumeri" và mẫu vật thu thập tại miền trung Việt Nam, sau đó vào năm 1920 được Auguste Jean Baptiste Chevalier chuyển sang chi "Malus". Phân bố. Phân bố trong khu vực đồng rừng ở độ cao 1.000-2.000 m tại Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Nam, Giang Tây, Chiết Giang, Vân Nam), Đài Loan, Việt Nam (từ Cao Bằng tới Lâm Đồng), Lào.
1
null
Hải đường Hồ Bắc (danh pháp khoa học: "Malus hupehensis") là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được (Pamp.) Rehder mô tả khoa học đầu tiên năm 1933. Đây là loài bản địa Trung Quốc. Hải đường Hồ Bắc là một loại cây rụng lá mạnh mẽ, cao tới 12 m và tán rộng. Nụ màu hồng, mở ra những bông hoa trắng thơm vào mùa xuân. Quả có kích thước bằng quả anh đào màu đỏ tươi vào mùa thu.
1
null
Malus spectabilis là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng, tại Trung Quốc nó có tên là 海棠 (hải đường), và đây chính loài hoa hải đường xuất hiện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chứ không phải là loài hải đường Việt Nam thuộc chi Trà. Loài này được William Aiton mô tả khoa học đầu tiên năm 1789 dưới danh pháp "Pyrus spectabilis". Năm 1803 Moritz Balthasar Borkhausen chuyển nó sang chi "Malus". Phân bố. Là loài đặc hữu Trung Quốc (các tỉnh Hà Bắc, Giang Tô, Liêu Ninh, Thanh Hải, Thiểm Tây, Sơn Đông, Vân Nam, Chiết Giang) với tên gọi 海棠 (hải đường), nó sinh sống ở vùng bình nguyên hay miền núi ở độ cao 500-2.000 m. Ra hoa tháng 4-5, tạo quả tháng 8-9 Mô tả. Cây gỗ cao đến 8 m. Các cành con màu nâu ánh đỏ hoặc nâu ánh tía khi già, thon búp măng, có lông tơ khi còn non, nhẵn nhụi khi già; các chồi màu nâu ánh tía, hình trứng, thưa lông tơ. Các lá kèm sớm tàn, hình mác hẹp, dài 4–6 mm, dạng màng, mặt gần trục có lông nhung, mép nguyên, đỉnh nhọn thon; cuống lá 1,5–2 cm, có lông tơ; phiến lá hình elip hoặc hình elip hẹp, 5–8 × 2–3 cm, cả hai mặt thưa lông tơ khi còn non, trở thành nhẵn nhụi khi già, đáy hình nêm rộng hoặc gần thuôn tròn, mép có khía răng cưa ôm sát, đỉnh nhọn thon ngắn hoặc thuôn tròn tù. Ngù hoa gần giống tán, đường kính 4–6 cm, gồm 4–6 hoa; lá bắc sớm tàn, hình mác, dạng màng, mép nguyên, đỉnh nhọn thon. Cuống cụm hoa 2–3 cm, có lông tơ. Hoa đường kính 4–5 cm. Chén hoa hình chuông, mặt xa trục nhẵn nhụi hoặc có lông măng màu trắng. Lá đài hình trứng-hình tam giác, 2–4 mm, hơi ngắn hơn chén hoa, mặt xa trục nhẵn nhụi hoặc có lông tơ, mặt gần trục có lông măng trắng, mép nguyên, đỉnh nhọn. Cánh hoa màu trắng hay hồng, màu hồng khi nằm trong nụ, hình trứng, dài 2–2,5 cm, đáy có vuốt ngắn, đỉnh thuôn tròn. Nhị hoa 20–25, không bằng nhau, dài ~ 1/2 cánh hoa. Bầu nhụy 4 hoặc 5 ngăn; với 2 noãn mỗi ngăn; vòi nhụy 4 hoặc 5, hơi dài hơn nhị hoa, đáy có lông măng trắng. Quả dạng quả táo màu vàng, gần hình cầu, đường kính ~2 cm, không lõm vào ở đỉnh, đáy lồi; cuống quả 3–3,5 cm, dày nên ở phần xa, gần như nhẵn nhụi; lá đài bền. "2n" = 34, 51. Sử dụng. Loài này là một trong những cây cảnh nổi tiếng nhất ở Trung Quốc, được trồng rộng khắp trong khu vực miền đông và miền bắc nước này. Giống được gieo trồng "M. spectabilis" var. "riversii" có hoa kép màu hồng, còn ""M. spectabilis" f. "albiplena" cũng được gieo trồng, có hoa kép màu trắng.
1
null
Rockstar San Diego (trước đây có tên Angel Studios) là một studio game có trụ sở tại thành phố San Diego, Hoa Kỳ.Năm 2002, Angel Studios được Take-Two Interactive mua lại và gia nhập vào hàng ngũ của Rockstar Games. Từ đó studio hoạt động dưới sự bảo trợ của Rockstar. Rockstar San Diego là đầu tàu của lãnh vực game đua xe thế giới mở với tựa game "Midtown Madness" và sê-ri "Midnight Club" lừng danh từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế. Studio còn giữ trách nhiệm phát triển sê-ri Red Dead với chủ đề cao bồi miền Viễn Tây ("Red Dead Revolver" năm 2004, "Red Dead Redemption" năm 2010 và "Red Dead Redemption 2" vào năm 2018). Studio tại San Diego này còn là trụ sở của RAGE Technology Group, nơi sản sinh ra game engine RAGE. Engine này được dùng cho hầu hết những trò chơi mới do Rockstar sản xuất.
1
null
Cuộc Thập tự chinh thứ hai (1145-1149) là chiến dịch lớn thứ hai xuất phát từ châu Âu. Cuộc Thập tự chinh thứ hai được bắt đầu để đáp ứng với sự sụp đổ của Lãnh địa Edessa năm trước quân đội của Zengi. Lãnh địa này đã được thành lập trong cuộc Thập tự chinh thứ nhất (1096-1099) dưới quyền của Baldwin của Boulogne trong năm 1098. Trong khi đây là quốc gia Thập tự đầu tiên được thành lập, nó cũng là quốc gia đầu tiên bị tiêu diệt. Cuộc Thập tự chinh thứ hai được tuyên bố bởi Đức Giáo hoàng Êugêniô III và nó cũng là cuộc thánh chiến đầu tiên được dẫn dắt bởi các vị vua của châu Âu, cụ thể là Louis VII của Pháp và Conrad III của Đức, với sự giúp đỡ từ một số quý tộc quan trọng khác của châu Âu. Quân đội của hai vị vua đã hành quân một cách riêng rẽ trên khắp châu Âu. Sau khi vượt qua lãnh thổ của Đế quốc Byzantine để tiến vào vùng Anatolia, quân đội của cả hai nhà vua đã bị đánh bại một cách riêng rẽ bởi người Thổ Seljuk. Theo nguồn tin chính của Thiên chúa giáo phương Tây, Odo của Deuil và Kitô hữu Syria cho rằng Hoàng đế Byzantine Manuel I Komnenos bí mật cản trở sự tiến quân của quân viễn chinh, đặc biệt là ở Tiểu Á, nơi ông đã bị cáo buộc là đã cố ý cảnh báo cho người Thổ Nhĩ Kỳ để tấn công họ, quân Thập tự chinh. Louis và Conrad và tàn quân của họ đến được Jerusalem, và trong năm 1148, tham gia vào một cuộc tấn công theo một lời khuyên sai lầm vào Damas. Cuộc thập tự chinh ở phía đông là một thất bại thảm hại cho quân viễn chinh và là một chiến thắng tuyệt vời đối với thế giới Hồi giáo. Cuối cùng nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự sụp đổ của vương quốc Jerusalem và cuộc Thập tự chinh lần thứ ba vào cuối thế kỷ 12. Sự thành công duy nhất của cuộc Thập tự chinh lần thứ hai đến từ một lực lượng liên quân gồm 13.000 người Flemish, Frisian, Norman, Anh, Scotland và quân viễn chinh Đức trong năm 1147. Xuất phát bằng đường thủy từ Anh đến Đất Thánh, đội quân này đã dừng lại và giúp đội quân nhỏ bé hơn 7000 người của Bồ Đào Nha chiếm Lisboa và trục xuất người Moor ra khỏi đó. Thập tự chinh phương Đông. Joscelin đã cố gắng để chiếm lại Edessa sau cái chết của Zengi, nhưng Nur ad-Din đã đánh bại ông ta trong tháng 11 năm 1146. Ngày 16 tháng 2 năm 1147 các thủ lĩnh của quân viễn chinh Pháp và Đức đã gặp nhau ở Étampes để thảo luận về lộ trình của họ. Người Đức đã quyết định đi đường bộ qua Hungary, vì tuyến đường biển là không thực tế bởi vì Ruggeru II, vua của Sicilia, là một kẻ thù của Conrad. Nhiều người trong số các quý tộc Pháp không tin tưởng về con đường trên bộ, con đường sẽ đưa họ qua lãnh thổ của đế quốc Đông La Mã, sự khủng khiếp của nó vẫn còn được ghi trong tài liệu của quân Thập tự chinh lần đầu tiên. Tuy nhiên Conrad đã quyết định chọn con đường bộ và khởi hành vào ngày 15 tháng 6. Ruggeru II cảm thấy bị xúc phạm và từ chối không tiếp tục tham gia. Tại Pháp, cha trưởng tu viện Suger và Bá tước Guillaume II của Nevers được bầu làm nhiếp chính, trong khi nhà vua tham gia vào cuộc thập tự chinh. Tại Đức, những bài giảng mở rộng được thực hiện bởi Adam của Ebrach và Hồng y Otto của Freising cũng tham gia vào Thập tự chinh. Người Đức có kế hoạch khởi hành vào Lễ Phục sinh nhưng đã không thể bắt đầu mà phải đợi cho đến tận tháng 12 năm 1146. Lộ trình của người Đức. Thập tự quân Đức, đi kèm theo với người thừa kế của Giáo hoàng và hồng y Theodwin, dự định sẽ hội ngộ với người Pháp tại Constantinopolis. Ottokar III của Styria gia nhập với Conrad tại Viên và vua Geza II của Hungary, một đối thủ của Conrad, cho phép họ đi qua lãnh thổ của mình mà không hề gây hấn gì. Khi khoảng 20.000 quân Đức đến được lãnh thổ Đông La Mã, Hoàng đế Manuel đã lo sợ rằng họ sẽ tấn công ông ta và quân đội La Mã đã được cảnh báo để đảm bảo rằng không có sự cố gì xảy ra. Có một cuộc giao tranh ngắn với một số trong những tay cứng đầu người Đức ở gần thành phố Philippopolis và Hadrianopolis, nơi tướng Prosouch của Đông La Mã đã đánh nhau với cháu trai của Conrad kiêm hoàng đế tương lai Friedrich. Mọi thứ trở thành tồi tệ hơn khi một số binh sĩ Đức bị thiệt mạng trong một trận lụt vào đầu tháng 9. Tuy nhiên vào ngày 10 tháng 9, họ đã đến được Constantinopolis, nơi mà mối quan hệ với Manuel trở nên rất tệ dẫn đến một cuộc giao chiến và người Đức đã bị thuyết phục để vượt sang Tiểu Á càng nhanh càng tốt. Manuel muốn Conrad để lại một số quân của mình ở lại, để hỗ trợ trong việc phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của Rugerru II, người đã nắm lấy cơ hội này để cướp bóc các thành phố của Hy Lạp, nhưng Conrad đã không đồng ý, dù ông này cũng là một kẻ thù của Ruggeru. Tại Tiểu Á, Conrad quyết định không chờ đợi người Pháp nữa và quyết định tiến đến Iconium, kinh đô của Vương quốc Hồi giáo Rum của người Seljuk. Conrad chia quân đội của mình thành hai đội. Quyền của Đông La Mã với các tỉnh ở miền Tây Tiểu Á thì hư nhiều hơn thực, với phần lớn tỉnh trở thành khu vực phi quân sự bị kiểm soát bởi quân du mục người Thổ. Conrad đánh giá sai độ dài của cuộc hành quân đến Anatolia, cũng như cho rằng uy quyền của Manuel ở vùng Anatolia lớn hơn so với thực tế. Conrad đem các hiệp sĩ và quân tinh nhuệ hành quân trong đất liền trong khi đám thường dân đi men theo bờ biển theo Otto von Freising. Nhà vua đích thân chỉ huy một trong số này và nó đã gần như bị hủy diệt hoàn toàn bởi người Seljuk vào ngày 25 tháng 10 năm 1147 tại trận Dorylaeum lần thứ hai lần thứ hai. Trong trận chiến này, người Thổ sử dụng chiến thuật điển hình của họ là giả vờ rút lui và sau đó quay trở lại để tấn công lực lượng nhỏ kỵ binh của người Đức đã tách ra khỏi đội quân chính để truy đuổi họ. Conrad đã bắt đầu phải rút lui một cách chậm chạp về phía Constantinopolis và hàng ngày quân đội của ông liên tục bị quấy rối bởi người Thổ, họ đã tấn công và đánh bại những toán lính Đức bị lạc ra khỏi đội hình của hậu quân. Ngay cả Conrad cũng đã bị thương trong một cuộc giao tranh với họ. Một bộ phận khác được dẫn đầu bởi Giám mục Otto của Freising (người anh em cùng cha khác mẹ với nhà vua), lúc này cũng đang hành quân về phía nam tới bờ biển Địa Trung Hải và cũng đã bị đánh bại bằng một chiến thuật tương tự vào đầu năm 1148. Đội quân của Otto chạy quên ăn qua một vùng đất không thể trú ngự và bị quân Seljuk phục kích ở gần Laodicea vào ngày 16 tháng 11 năm 1147. Quân của Otto phần nhiều bị giết, số còn lại thì bị bắt đem đi bán làm nô lệ. Lộ trình của người Pháp. Thập tự quân Pháp đã khởi hành từ Metz vào tháng 6 năm 1147, dẫn đầu là Louis và Thierry của Alsace, Renaut I của Bar, Amadeus III, Bá tước của Savoie và người anh cùng cha khác mẹ của ông ta Guillaume V của Montferrat cùng Guillaume VII của Auvergne và những người khác, cùng với quân đội từ Lorraine, Bretagne, Bourgogne và Aquitaine. Một lực lượng từ Provence, do Alphonse của Toulouse chỉ huy đã chọn cách chờ đến tháng Tám và đi đến vùng đất Thánh bằng đường biển. Tại Worms, Louis gia nhập với các đạo quân viễn chinh từ Normandy và Anh quốc. Họ đã theo con đường mà Conrad đã đi qua một cách khá bình yên, mặc dù Louis đã có một cuộc xung đột với vua Geza của Hungary khi Geza phát hiện Louis cho phép người cướp ngôi Hungary gia nhập vào quân đội của ông ta. Quan hệ tại lãnh thổ Đông La Mã cũng rất tồi tệ và người Lorraine, những người đã hành quân vượt trước phần còn lại của quân Pháp, cũng đã rơi vào một cuộc xung đột với người Đức đi chậm mà họ gặp trên đường. Kể từ các cuộc đàm phán ban đầu giữa Louis và Manuel, Manuel đã cho tạm dừng các chiến dịch quân sự chống lại Vương quốc Hồi giáo Rûm và ký kết một thỏa thuận ngừng bắn với kẻ thù của ông là Sultan Mesud I. Thỏa thuận ngừng bắn này được thực hiện để Manuel được rảnh tay tập trung vào việc bảo vệ vương quốc của mình từ quân Thập tự chinh, những người đã nổi tiếng về các hành vi trộm cướp và phản bội từ khi cuộc Thập tự chinh đầu tiên và được bị nghi ngờ là có chứa những dự định độc ác với thành phố Constantinopolis. Tuy nhiên, mối quan hệ của Manuel với quân Pháp có vẻ tốt hơn so với người Đức và Louis đã được đòn tiếp một cách xa xỉ ở Constantinopolis. Một số người Pháp đã bị xúc phạm bởi thỏa thuận ngừng bắn của Manuel với người Seljuk và kêu gọi một thành lập một liên minh với Rugerru II và tấn công vào thành phố Constantinopolis, nhưng họ đã bị ngăn cản bởi Louis. Khi các đội quân từ Savoy, Auvergne và Montferrat gia nhập với đội quân của Louis ở Constantinopolis sau khi đã đi qua tuyến đường xuyên qua nước Ý và qua Brindisi để đến được Durazzo, toàn bộ quân Pháp đã được vận chuyển qua eo biển Bosporus để đến Tiểu Á. Người Đông La Mã đã được khuyến khích bởi những tin đồn rằng quân Đức đã chiếm được Iconium (Konya), nhưng Manuel từ chối điều hỗ trợ cho Louis bất cứ binh sĩ nào. Người La Mã đang bị Rugerru II của Sicilia xâm lấn và Manuel rất cần tất cả binh sĩ của mình đóng tại khu vực Peloponnesos. Vì thế cả người Đức và người Pháp đã tiến vào phần đất châu Á mà không có bất kỳ sự trợ giúp nào của người Đông La Mã - không giống như các đội quân Tây Âu trong cuộc Thập tự chinh lần đầu tiên. Theo truyền thống của ông nội của ông Alexios I để lại, Manuel cũng bắt người Pháp phải tuyên thệ là sẽ trả lại cho đế quốc bất cứ lãnh thổ mà họ chiếm được. Người Pháp đã gặp được tàn quân của Conrad tại Lopadion và Conrad gia nhập với lực lượng của Louis. Họ đã men theo con đường của Otto von Freising, di chuyển gần hơn tới bờ biển Địa Trung Hải, và họ đã đến được Ephesus trong tháng 12, tại đây họ biết được rằng người Thổ Nhĩ Kỳ đang chuẩn bị để tấn công thành phố. Manuel cũng đã gửi sứ giả đến để phàn nàn về sự cướp bóc mà quân của Louis đã làm trên đường đi và không bảo đảm rằng người Đông La Mã sẽ giúp họ chống lại người Thổ. Trong khi đó, Conrad đã bị ốm và quay lại Constantinopolis, nơi Manuel đã đón tiếp cá nhân ông ta một cách long trọng và trong khi Louis không hề để ý đến những cảnh báo về những cuộc tấn công của người Thổ Nhĩ Kỳ và đã hành quân ra khỏi Ephesus cùng quân đội người Pháp và những người Đức sống sót. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã chờ đợi để tấn công họ từ lâu nhưng trong một trận chiến nhỏ ở bên ngoài Ephesus, người Pháp đã chiến thắng. Người Pháp cũng chống cự được một cuộc phục kích khác của người Thổ tại gần sông Meander. Họ đến được Laodicea bên sông Lychus vào đầu tháng 1 năm 1148, gần như cùng một lúc với thời gian quân đội của Otto Freising bị tiêu diệt tại cùng một vùng. Lại tiếp tục cuộc hành quân và đội tiên phong dưới sự chỉ huy của Amadeus xứ Savoie đã bị cắt với trung quân ở tại núi Cadmus và quân đội của Louis bị tổn thất nặng nề từ người Thổ. Theo lời kể của Odo xứ Deuil thì bản thân Louis đã phải leo lên một tảng đá và người Thổ Nhĩ Kỳ đã không tấn công vì không nhận ra ông ta là ai. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã không tổ chức những đợt tấn công quyết liệt và người Pháp tiếp tục hành quân về phía Adalia trong khi liên tục bị quấy rối từ xa bởi người Thổ, họ đã cho đốt cháy mặt đất để ngăn chặn việc người Pháp kiếm thêm lương thực cho người và ngựa của họ. Louis không còn muốn tiếp tục đi bằng đường bộ và ông đã quyết định tập hợp một hạm đội tại Adalia và giương buồm đi Antiochia. Sau khi bị trì hoãn trong một tháng do bão tố, hầu hết tất cả các tàu được cử đi đã không đến được đích. Louis và các tùy tùng thân tín đã lên tàu và đi bằng đường thủy, trong khi phần còn lại của đội quân này phải tiếp tục hành quân một chặng dài đến Antiochia. Quân Pháp đã gần như hoàn toàn bị tan rã bởi người Thổ hoặc vì thiếu ăn và bệnh tật. Hành trình tới Jerusalem. Cuối cùng Louis cũng đã đến Antiochia vào ngày 19 tháng 3 sau khi bị trì hoãn do một cơn bão; Amadeus của Savoie đã qua đời vào ngày trên đường đi tới Síp. Louis đã được chào đón bởi Raymond của Poitiers, chú của Eleanor. Raymond muốn ông ta giúp để chống lại người Thổ và đi cùng với ông này trên một cuộc viễn chinh chống đến Aleppo, một thành phố Hồi giáo vốn là cửa ngõ để đến Edessa, nhưng Louis đã từ chối, ông muốn kết thúc cuộc hành hương của mình ở Jerusalem thay vì tập trung vào các khía cạnh quân sự của cuộc thập tự chinh. Eleanor rất muốn đi theo Louis, nhưng chú của bà đã yêu cầu bà ta ở lại để mở rộng vùng đất của dòng họ và ly hôn Louis nếu nhà vua từ chối giúp đỡ những gì chắc chắn là mục tiêu về mặt quân sự của cuộc Thập tự chinh. Trong thời gian này, đã có nhiều tin đồn về một cuộc tình giữa Raymond và Eleanor, điều này gây căng thẳng trong cuộc hôn nhân giữa Louis và Eleanor. Louis nhanh chóng rời Antiochia đến Tripoli nhưng Eleanor đã bị giữ ở lại. Trong khi đó, Otto của Freising và phần còn lại trong tờ trình của quân đội của ông đến Jerusalem vào đầu tháng Tư và Conrad đến ngay sau đó. Thượng phụ Công giáo La Mã Fulk của Jerusalem, đã gửi lời mời Louis cùng tham gia với họ. Đội tàu đã dừng lại tại Lisbon và trong khoảng thời gian này thì người Provençal cũng rời châu Âu dưới sự chỉ huy của Alfonso Jordan, Bá tước của Toulouse. Bản thân Alphonso đã không đến được Jerusalem vì ông qua đời ở Caesarea. Ông được cho là đã bị đầu độc bởi Raymond II của Tripoli, người cháu rất e sợ tham vọng chính trị của ông. Có tuyên bố rằng Raymond đã đầu độc Alphonso vì phần lớn quân Provençal đều muốn quay về nhà. Sự tập trung ban đầu của cuộc thập tự chinh là Edessa, nhưng mục tiêu mà vua Baldwin III và các Hiệp sĩ Dòng Đền quan tâm lại là Damas. Để đối phó với sự xuất hiện của Thập tự quân, quan nhiếp chính của Damascus, Mu'in ad-Din Unur đã bắt đầu chuẩn bị tích cực cho cuộc chiến, đắp thêm tường thành của Damascus, ra lệnh cho các cánh quân đến thành phố và phá hủy hoặc chuyển hướng các nguồn nước dọc đường đến Damascus. Anur còn cầu viện những nhà cai trị Zangid từ Aleppo và Mosul (những người bình thường là đối thủ của ông), mặc dù quân đội các nước này đã không đến kịp để cứu Damas. Điều gần như chắc chắn rằng là những nhà cai trị Zangid trì hoãn việc gửi quân tới Damas ra với hy vọng rằng đối thủ của họ, Anur, có thể để mất Damas vào tay quân Thập tự. Hội nghị Acre. Các quý tộc ở Jerusalem hoan nghênh sự có mặt của quân đội đến từ Châu Âu và họ rằng nên tổ chức một hội đồng quân sự để quyết định đâu là mục tiêu tốt nhất cho thập tự quân. Sự kiện này diễn ra vào ngày 24 tháng 6 năm 1148, khi Haute Cour của Jerusalem gặp đội quân Thập tự vừa mới đến từ Châu Âu tại Palmarea, một thành phố lớn của ở Vương quốc Jerusalem của Thập tự quân nằm gần Acre. Đây là cuộc họp ngoạn mục nhất trong lịch sử tồn tại của nó.
1
null
Anh đào dại hay anh đào chim, tên khoa học Prunus avium, là loài thực vật có hoa trong chi Prunus, họ Hoa hồng. Loài này được Carl von Linné mô tả khoa học đầu tiên năm 1755. Chữ "Avium" bắt nguồn từ tiếng Latin "Avis", có nghĩa là chim, ý chỉ trái anh đào mà chim thích ăn. Từ loại Anh đào dại ("Prunus avium" subsp. "avium") được trồng trọt thành anh đào ngọt ("Prunus avium" subsp. "duracina"), có trái lớn hơn và ngọt hơn. Lợi ích kinh tế. Ở Đức, anh đào ngọt về diện tích được trồng nhiều thứ nhì trong những cây ăn trái sau táo (2009: 5.440 mẫu). Tuy nhiên thu lương thì ít hơn các loại cây ăn trái khác (trung bình 2005–2009: 5,8 t/mẫu), cho nên số lượng hái được chỉ đứng hàng thứ 4 sau lê và mận châu Âu (trung bình 2005–2009: 31.700 t). Gỗ của cây anh đào được dùng để làm bàn ghế. Nó không đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng để sưởi ấm.
1
null
Damson () hay Mận Damson ("Prunus domestica" subsp. "insititia", hay "Prunus insititia"), là một loài thực vật có quả hạch, một phân loài của mận. Tên có yếu tố "insititia" được tìm thấy trên khắp châu Âu, nhưng tên gọi "damson" có nguồn gốc từ Vương quốc Anh và chỉ đến những giống có xuất xứ tại đây. Mận damson là một loại quả tương đối nhỏ giống quả mận có hình trứng với hương vị đặc biệt, hơi chát và được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực, đặc biệt là trong các món mứt. Ở Nam Á và Đông Nam Á, thuật ngữ "mận damson" đôi khi dùng để chỉ trâm mốc, một loại quả từ cây thuộc họ Myrtaceae. Trước đây, ở Jamaica, tên "damson núi" hoặc "damson đắng" cũng được dùng để gọi "Simarouba amara". Lịch sử. Tên gọi 'damson' bắt nguồn từ các từ "damascene", "damesene", "damasin", "damsin" trong tiếng Anh thời kỳ Trung cổ và cuối cùng là từ "(prunum) damascenum" ("mận từ Damascus") trong tiếng Latinh. Một lý thuyết vẫn thường tuyên bố rằng damson lần đầu tiên được trồng trong thời cổ đại ở vùng đất xung quanh thành phố cổ Damascus, thủ đô của Syria hiện nay, và đã được mang đến Anh bởi người La Mã. Mối liên hệ lịch sử giữa "damascenum" thời La Mã và mận damson phía bắc và tây châu Âu khá mong manh dù đã dùng để gọi là mận. Trong thời kỳ hậu cổ điển, các tác giả La Mã và Hy Lạp mô tả "Damascenum" có nhiều đặc tính của một món mận ngọt dùng để tráng miệng, nhưng đặc tính lại không phù hợp để gọi là "mận damson". Dấu tích của mận damson đôi khi được tìm thấy trong các cuộc khai quật khảo cổ học tại các di chỉ La Mã cổ đại trên khắp nước Anh, chúng rõ ràng đã được trồng trọt và tiêu thụ trong nhiều thế kỷ. Hạt quả mận Damson đã được tìm thấy trong một cuộc khai quật ở Hungate, York có niên đại vào cuối thời kỳ Anglo-Saxon của Anh. Nguồn gốc chính xác của "Prunus domestica" subsp. "insititia" vẫn còn rất nhiều tranh cãi: nó thường được cho là đã phát sinh từ các cây lai hoang dã ở Tiểu Á, giữa mận gai ("Prunus spinosa") và mận anh đào ("Prunus cerasifera"). Mặc dù vậy, các cuộc thử nghiệm trên mận anh đào và mận damson cho thấy có thể quả mận damson phát triển trực tiếp từ các dạng của quả mận gai, có lẽ thông qua các giống có quả tròn được gọi là mận bullace, và mận anh đào không đóng một vai trò nào trong huyết thống của nó. "Insititia" có nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như mận Đức "Kriechenpflaume" hoặc mận Pháp "quetsche", phân bố trên khắp châu Âu và từ "damson" đôi khi được dùng để chỉ các loại mận này trong tiếng Anh, nhưng nhiều giống mận dùng trong tiếng Anh với tên "damson" ban đầu chỉ mận có dạng khác biệt về vị đặc trưng và hình dạng quả lê (pyriform) so với các dạng mận lục địa châu Âu. Robert Hogg nhận xét rằng "Damson dường như là một loại trái cây đặc biệt đối với nước Anh. Chúng ta không thấy nó ở nước ngoài, cũng như không có bất kỳ đề cập nào về nó được thực hiện trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào hoặc danh mục vườn ươm nào trên Lục địa". Theo tiến triển thời gian, sự phân biệt được phát triển giữa các giống được gọi là "damascenes" và các loại (thường nhỏ hơn) được gọi là "damson", đến mức vào năm 1891, chúng trở thành đối tượng của một vụ kiện khi một cửa hàng tạp hóa ở Nottinghamshire phàn nàn về việc được cung cấp sai một trong hai giống quả này, trong khi anh ấy đặt hàng cái khác. Ngoài việc cung cấp trái cây để ăn, cây mận damson còn làm hàng rào cứng hoặc chắn gió, và nó đã trở thành loại cây hàng rào được ưa chuộng ở một số vùng của Anh như Shropshire và Kent. Ở những nơi khác mận damson được sử dụng trong vườn cây ăn trái để bảo vệ các cây trồng khác thiếu độ cứng cáp, mặc dù vườn cây trồng toàn bộ là cây mận là một đặc điểm của một số khu vực, chẳng hạn như thung lũng Lyth ở Westmorland và thung lũng Teme ở Malverns, và thực sự damsons là mận chỉ được trồng thương mại ở phía bắc Norfolk. Có nhiều bằng chứng giai thoại cho thấy mận damson đã được sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất vải và thuốc nhuộm của Anh vào thế kỷ 18 và 19, với nhiều khu vực trồng damson lớn (Buckinghamshire, Cheshire, Westmorland, Shropshire và Worcestershire). Những giai thoại kể rằng mận damson được sử dụng để nhuộm quân phục màu kaki, và điều này đặc biệt phổ biến. Tuy nhiên, một báo cáo vào năm 2005 của cơ quan bảo tồn English Nature không thể tìm thấy bằng chứng tài liệu nào trong ngành công nghiệp nhuộm cho thấy mận damson từng là nguồn thuốc nhuộm, lưu ý rằng việc sử dụng thuốc nhuộm tự nhiên đã giảm nhanh chóng sau những năm 1850, và kết luận rằng "dường như không có bằng chứng cho thấy mận damson được sử dụng rộng rãi hoặc sử dụng trong phát triển kỹ nghệ". Việc sử dụng chúng được ghi nhận trong thời kỳ công nghiệp là để làm mứt thương mại, và các vườn cây ăn quả của giống mận này đã trồng phổ biến rộng rãi cho đến Thế chiến thứ hai. Sau đó, do thay đổi trong khẩu vị tiêu dùng, do ảnh hưởng của việc phân bổ đường thời chiến, và do chi phí tương đối cao trong việc trồng và phát triển mận damson ở Anh, nên cuối cùng gây ra sự sụt giảm nghiêm trọng đối với giống cây trồng này. Mận damson đã được đưa vào các thuộc địa Mỹ bởi những người Anh định cư trong giai đoạn trước cuộc Cách mạng Hoa Kỳ. Nó được coi là phát triển ở lục địa Hoa Kỳ tốt hơn so với các giống mận châu Âu khác; nhiều tài liệu tham khảo sớm nhất đề cập mận châu Âu trong vườn cây ăn quả Mỹ liên quan đến mận damson. Là loại cây ưa thích của những người thực dân đầu tiên, cây mận damson đã thoát khỏi các khu vườn trồng và có thể được tìm thấy mọc hoang dã ở nhiều tiểu bang như Idaho. Đặc điểm. Đặc điểm chính của mận damson là hương vị đậm đà đặc biệt của nó; không giống như các loại mận khác nó vừa chứa rất nhiều đường vừa chứa rất nhiều chất làm chát. Quả mận damson cũng có thể được xác định bằng hình dạng của nó, thường là hình quả trứng hơi nhọn ở một đầu, hoặc hình quả lê; thịt quả màu vàng - xanh có kết cấu mịn khi ăn; và vỏ của nó có màu từ xanh đậm đến màu chàm đến màu gần như đen tùy thuộc vào giống cây trồng (Giống "Prunus domestica" khác có thể có vỏ màu tím, vàng hoặc đỏ). Hầu hết các giống mận damson thuộc loại "quả hạch". Chúng cũng gần giống với mận bullace bán hoang dã, cũng được phân loại là ssp. "insititia" là một loại mận nhỏ hơn nhưng quả tròn, có vỏ màu xanh tím hoặc vàng lục. Mận damson nhìn chung hạt quả có rãnh sâu, không giống như mận bullace, và không thể sấy khô để làm mận khô được. Các giống trồng. Một số giống cây trồng đã được chọn lọc, một số giống được tìm thấy ở Anh, Ireland và Hoa Kỳ. Hiện vẫn có ít giống damson, tạp chí "The Garden" ghi nhận có không quá "tám hoặc chín giống" tồn tại vào cuối thế kỷ 19; một số tự sinh sản và có thể sinh trưởng từ hạt cũng như bằng cách ghép. Giống 'Farleigh Damson' và giống 'Prune Damson' đã đạt được Giải thưởng Garden Merit của Hiệp hội Làm vườn Hoàng gia. Có một giống mận damson từng được trồng rộng rãi ở County Armagh, Ireland chưa bao giờ được xác định chắc chắn nhưng thường được gọi là mận damson Armagh, quả của nó đặc biệt được coi là tốt cho việc đóng hộp. Các loại mận khô của Anh như Gloucestershire 'Old Pruin' đôi khi được mô tả là giống damson. Mận damson trắng. Mặc dù phần lớn các giống mận damson có màu xanh đen hoặc màu tím, nhưng hiện có ít nhất hai dạng "damson trắng" hiếm gặp, cả hai đều có da xanh lục hoặc vàng xanh. National Fruit Collection có nhập giống cây trồng "White Damson (Sergeant)" và "White Damson (Taylor)" có cỡ lớn hơn, cả hai đều được đề cập từ thập niên 1620. Sử dụng. Vì hạt damson khó tách khỏi thịt quả và tốn nhiều thời gian để tách, nên việc làm mứt hoặc bơ quả thường dùng nguyên quả. Hầu hết những người nấu ăn khi chế biến loại bỏ hạt, nhưng những người khác thì tin rằng để nguyên quả thì hương vị sẽ ngon hơn. Một số lượng hạn chế hạt damson bỏ sót trong mứt được cho là mang lại hương vị hạnh mặc dù như tất cả các loại mận, hạt mận damson có chứa cyagenic glycoside amygdalin, một độc tố. Rượu mùi Damson gin được chưng cất như giống rượu làm từ mận gai, mặc dù cần ít đường hơn vì damsons ngọt hơn mận gai. Các giống "Insititia" tương tự như mận damson được sử dụng để làm rượu slivovitz, một loại rượu mận chưng cất được sản xuất ở các nước Slav. Rượu vang Damson đã từng rất phổ biến ở Anh: một tài liệu tham khảo từ thế kỷ 19 ghi nhận "rượu vang damson ngon có lẽ là cách tiếp cận gần nhất đến Rượu vang Bồ Đào Nha mà chúng ta có ở Anh. Không loại rượu nho nào có thể sánh bằng."
1
null
Hạnh lý (danh pháp khoa học: "Prunus simonii") là một loài cây ăn quả thuộc nhánh (đoạn) "Prunus", phân chi Mận mơ, chi Prunus. Loài này được Carrière mô tả khoa học đầu tiên năm 1872. Hạnh lý là cây ăn trái được trồng rộng rãi ở miền Bắc Trung Quốc.
1
null
Lê châu Âu (danh pháp khoa học: "Pyrus communis") là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Carl von Linné miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753. Đây là loài lê bản địa miền trung và miền đông châu Âu và Tây Nam Á. Đây là một trong những loại trái cây quan trọng nhất của vùng ôn đới, là loài mà hầu hết các giống lê trồng được trồng ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc đã được phát triển. Hai loài lê khác, lê Nashi ("Pyrus pyrifolia") và lê trắng Trung Quốc ("Pyrus × bretschneideri", tiếng Trung: 白梨; pinyin: báilí; Hán-Việt: bạch lê) được trồng rộng rãi hơn ở Đông Á. Phân loài của Pyrus communis
1
null
Rosa Banksiae, tên thường gọi hoa Mộc Hương, Hường mân côi, Kim ngân Nữ, là một loài thực vật có hoa thuộc họ hoa hồng Rosaceae, có nguồn gốc từ miền Trung và miền Tây Trung Quốc, ở các tỉnh Cam Túc, Quý Châu, Hà Nam, Hồ Bắc, Giang Tô, Tứ Xuyên và Vân Nam, ở độ cao 500-2,200 m (1,640-7,218 ft). Mô tả. Cây leo,không rụng lá vào mùa đông,có thể cao tới 6 m. Không như nhiều giống hoa hồng khác, Hường mân côi gần như không có gai, ngang từ 4–6 cm với 3-5 lá chét (hiếm khi có 7 lá) dài từ 2–5 cm với viền hình răng cưa. Hoa nhỏ, đường kính khoảng 1,5-2,5 cm, màu trắng hoặc vàng nhạt. Hường mân côi ra hoa sớm nhất trong các loại hoa hồng, thường là vào tháng tư hoặc tháng Năm nếu trồng ở Bắc bán cầu, mặc dù khí hậu lạnh có thể trì hoãn việc ra hoa. Hoa nở chỉ nở mô lần trong năm. Hoa màu trắng có mùi thơm, màu vàng thì gần như không mùi. Phân loại. Có hai loại: "Rosa Banksiae var. banksiae" - hoa bán kép hoặc kép, với nhiều cánh hoa trên mỗi bông, gần như che lấp cả nhị hoa. "Rosa Banksiae var. normalis" - hoa đơn, với năm cánh hoa trên mỗi bông;
1
null
Rosa carolina, hay hoa hồng Carolina, hoa hồng đồng cỏ, là một loài thực vật có hoa nằm trong họ Hoa hồng (Rosaceae). Loài này được Carl Linnaeus miêu tả khoa học đầu tiên vào năm 1753. Là một loài hoa hồng bản địa của miền đông Bắc Mỹ, nó có thể được tìm thấy ở hầu hết các tiểu bang của Mỹ và các tỉnh bang của Canada nằm về phía đông của Đại Bình nguyên Bắc Mỹ. Nó thường xuyên được tìm thấy trong khắp vùng phân bố của mình và sinh trưởng trong rất nhiều môi trường sống, từ bụi cây và rừng thưa cho đến vệ đường và dọc các đường ray xe lửa. Mô tả. Thân có gai thẳng, hình mũi kim. Chính đặc điểm này giúp phân biệt "Rosa carolina" với các loài rất giống nó như "Rosa palustris" hay "Rosa virginiana", là những loài có gai cong. Những bông hoa thơm ngào ngạt của nó thường nở vào đầu mùa hè và có màu hồng nhạt.
1
null
Nội dung. Kể về thời tuổi tuổi thơ của cậu bé đam mê bóng đá Ozora Tsubasa khi hoàn thành xong lớp 5 và chuyển đến trường tiểu học Nankatsu để hoàn thành năm lớp 6 cuối cùng của cấp tiểu học (tại Nhật tiểu học từ lớp 1-6). Nankatsu SC. Ozora Tsubasa Ozora Tsubasa (tên cũ: hyuga Là nhân vật chính xuyên suốt bộ truyện, một thiên tài bóng đá. Cậu sinh ra ở Tokyo, trong một gia đình có cha làm nghề thủy thủ, mẹ là nội trợ. Hàng xóm trước đây của cậu là gia đình của Yayoi - người bạn thân thuở bé của Tsubasa. Ngay từ bé, cậu đã rất thích chơi bóng đá. Quả bóng luôn đi theo bên cậu mọi lúc, mọi nơi. Nó đã từng cứu mạng Tsubasa khi cậu còn rất nhỏ. Năm học lớp 6, gia đình cậu chuyển đến Shizuoka. Cậu đã gặp rất nhiều người bạn mới như đội trưởng Ishizaki Ryou, quản lý Sanae Anego... của đội bóng trường Tiểu học Nankatsu. Cậu còn gặp và so tài cao thấp cùng thủ môn thiên tài, đội trưởng đội bóng trường Tiểu học Shutetsu Wakabayashi Genzo. Wakabayashi hẹn cậu tại trận đấu Liên trường. Đúng lúc đó, cựu cầu thủ nổi tiếng người Brazil Robert Hongo được cha Tsubasa giới thiệu sang Nhật chữa trị chấn thương mắt. Ông đã ở nhờ nhà Tsubasa và nhận làm huấn luyện viên cho đội bóng Nankatsu để chuẩn bị cho trận đấu. Tại trận Liên trường, một cầu thủ mới chuyển đến là Misaki Taro xuất hiện. Từ đó đã khai sinh nên bộ đôi vàng Nankatsu giữa Ozora Tsubasa và Misaki Taro. Sau khi trận đấu giữa Nankatsu và Shutetsu hòa với tỉ số 2 - 2, ban tổ chức đã cho hợp tất cả các cầu thủ tài năng của tất cả đội bóng ở Shizuoka, tạo thành một đội mới gọi là Nankatsu FC. Tsubasa đã dẫn cả đội tiến thẳng đến Đại hội toàn quốc, tranh tài cùng các đối thủ vô cùng mạnh như: Takeshi và Hyuga Kojiro (Meiwa FC); Misugi Jun;... Sau này cậu tới Brazil đầu quân cho Sao Paulo, và gặt hái thành công tại đội bóng này. Misaki Taro Cậu là người đá cặp với Tsubasa và cũng là bạn thân của Tsubasa. Do trong quá khứ, bố mẹ cậu đã ly dị nên cậu phải đi theo ba cậu - Misaki Ichiro, một hoạ sĩ tài ba và nổi tiếng - đến khắp mọi nơi trên nước Nhật. Cậu đã từng chơi ở nhiều câu lạc bộ như: Furano FC(Furano, Hokkaido); Meiwa FC(Saitama);... Sau khi ngừng chơi ở Nankatsu SC, cậu đã chuyển tới Okinawa. Trước khi đi công tác ở Pháp, vì không muốn con trai phải xa bạn bè, ông Ichiro dự định sẽ cho con sống cùng vợ cũ - Yamaoka Yumiko, và em gái cùng mẹ khác cha - Yamaoka Yoshiko. Nhưng vì lí do nào đó nên cậu quyết định du học tại Pháp. Meiwa FC. Hyuga Kojiro Hyuga Kojiro (日向 小次郎) tiền đạo của Meiwa FC. Cậu là mẫu tiền đạo sức mạnh trái ngược với Tsubasa (tiền đạo kỹ thuật). Takeshi Sawada Là bạn đồng hành và là người phối hợp với Hyuga ăn ý nhất. Ken Wakashimazu Là 1 thủ môn thiên tài của Meiwa FC. Furano FC. Matsuyama Hikaru Matsuyama Hikaru (松山光) là đội trưởng của đội Furano. Cậu cũng đóng vai trò tiền đạo chủ lực của đội bóng và truyền cảm hứng cho các thành viên nhờ ý chí sắt đá của mình. Ngoài ra cậu cũng thuộc kiểu người dễ gần, ấm áp. Kazumasa Oda Kazumasa Oda (小田和正) là tiền đạo của Furano FC, cánh tay phải đắc lực của Matsuyama. Masanori Kato Masanori Kato (加藤正則) là thủ môn của Furano FC. Cậu mang áo số 1. Kato cũng được chọn vào đội hình đội tuyển quốc gia Nhật Bản thi đấu tại Giải Bóng đá Thanh niên thế giới. Musashi FC. Misugi Jun Misugi Jun (三杉 淳) là đội trưởng Musashi. Cậu là một cầu thủ rất đẹp trai và toàn diện nhưng bị bệnh tim, đã từng gây không ít khó khăn cho Tsubasa, Misaki và cả đội Nankatsu. Hanawa FC. Anh em nhà Tachibana Là anh em sinh đôi, có cú sút độc đáo là một người nằm dưới đất giơ chân lên cao để người còn lại nhảy lên làm bàn đạp và bay lên cao đón bóng dứt điểm
1
null
Rosa kokanica là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Sergei Vasilievich Juzepczuk công bố hợp lệ đầu tiên năm 1941 trên cơ sở miêu tả năm 1878 của Eduard von Regel. Danh pháp "Rosa kokanica" là không hoàn toàn rõ ràng và vì lý do này trong một số thực vật chí Trung Á thì các tên gọi "Rosa divina" hay "Rosa sumneviczii" thường được sử dụng đối với loài này. Các dạng của "Rosa kokanica" với các thân non rậm lông tơ có hoặc không có tuyến cũng được tách ra như là "Rosa ovczinnikovii" . Phân bố và môi trường sống. Trung Á, Afghanistan. Theo dữ liệu của GRIN thì khu vực phân bố bao gồm Afghanistan, Iran, Kazakhstan, Mông Cổ, Trung Quốc (Tân Cương). Thường gặp tại các sườn dốc ở bìa rừng, ở cao độ từ 800 đến 2.800 m trên mực nước biển.. Là một loài quan trọng trong những cánh rừng thông rụng lá ("Larix" spp.). Mô tả. Cây bụi cao đến 1,5–2 m. Các cành non màu nâu, trần trụi hoặc có lông tơ rậm. Gai phân bố không đều, màu nâu nhạt, thẳng hoặc cong, mở rộng dần dần về phần đế. Các lá gồm cả cuống dài 4,5–8 cm. Lá chét 5-7 (-9) đến 15 (-20) mm, hình elip hoặc hình trứng, hiếm khi hình tròn hay hình mác ngược, thường có lông tơ ở mặt dưới, có tuyến ở cả hai mặt, hiếm khi nhẵn, vì thế mà có tên gọi trong tiếng Trung là 腺叶蔷薇 (tuyến diệp tường vi = tường vi lá tuyến). Các lá kèm hẹp, chủ yếu hợp sinh với cuống, các phần tự do hình trứng, mép có khía răng cưa và tuyến. Các cành mang hoa nhẵn nhụi tới có lông tơ rậm, đôi khi với các tuyến có cuống. Hoa thường mọc đơn độc, ở nách lá, không có lá bắc, màu vàng, đường kính 2-4 (6) cm. Cuống hoa dài 1,5–3 cm, nhẵn, hiếm khi che phủ bằng lông cứng, đôi khi có lông tơ. Lá đài 5, không mở rộng ở đỉnh, nguyên, hiếm khi với 2-3 thùy nhỏ ở phần trên. Cánh hoa 5, màu vàng nhạt hay trắng, hình trứng rộng, có khía chữ V ở đỉnh. Vòi nhụy có lông tơ rậm, tạo thành một đầu lớn và rắn chắc. Quả có đường kính đến 10–15 mm, hình cầu hoặc hình quả lê, màu nâu tím hay nâu sẫm khi chín. Ra hoa tháng 5-7, kết quả tháng 8-11.
1
null
Rosa rugosa (tên tiếng Anh là rugosa rose, beach rose, Japanese rose, và Ramanas rose), cũng gọi là mai khôi hay mân côi (), là một loài hoa hồng bản địa miền đông châu Á, gồm đông bắc Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và đông nam Siberia. Nó mọc ở vùng ven biển, thường trên những đụn cát. Trong tiếng Anh loài "Rosa multiflora" (tường vi), cũng được gọi là "Japanese rose". Từ "rugosa" trong tiếng Latinh có nghĩa là "nhăn nheo."
1
null