text
stringlengths
1
55.3k
Nhưng bố à, đây chẳng qua chỉ là một khả năng thôi, có phải không? Bố có chứng cứ quan trọng nào chứng minh Yukiho chính là hung thủ không?” “Chứng cứ quan trọng...” Sasagaki hít một hơi thuốc, chầm chậm phả khói ra. Trong chớp mắt, làn khói thuốc ngưng tụ lại trên đỉnh đầu Koga, rồi nhanh chóng tản đi.
“Không có, tôi chỉ có thể nói là không có.” “Nếu đã vậy, chi bằng hãy nghĩ lại một lần nữa từ đầu xem. Với lại, bố à, rất đáng tiếc, vụ án này đã quá thời hạn khởi tố rồi.
Cho dù bố có tìm ra hung thủ thật sự, chúng ta cũng chẳng làm gì được hắn.” “Tôi biết chứ.” “Vậy...” “Cậu nghe tôi nói đã.” Sasagaki dụi điếu thuốc vào gạt tàn, sau đó đưa mắt nhìn xung quanh, kiểm tra thấy không có ai nghe trộm mới tiếp lời. “Cậu đã hiểu lầm một chuyện quan trọng nhất, tôi không phải đang đuổi theo thủ phạm sát hại tay chủ tiệm cầm đồ kia. Tiện thể cho cậu biết luôn, tôi cũng không chỉ đuổi theo một mình Karasawa Yukiho.” “Bố đang đuổi theo một kẻ khác?” Hai mắt Koga sáng bừng lên, bắn ra những tia nhìn sắc bén, gương mặt cũng xuất hiện biểu cảm của một trưởng ban điều tra. “Tôi đang đuổi theo,” Sasagaki nở nụ cười đắc ý, “cả tôm pháo và cá bống trắng.” 3 Thời gian khám bệnh của bệnh viện trực thuộc đại học Teito bắt đầu từ chín giờ sáng, còn thời gian làm việc của Kurihara Noriko thì bắt đầu từ tám giờ năm mươi phút. Đó là vì từ lúc bệnh viện bắt đầu khám bệnh cho đến lúc đơn thuốc đưa tới phòng dược, có một khoảng thời gian chênh lệch tương đối dài. Khi đơn thuốc đưa tới phòng dược, các dược sĩ sẽ lấy thuốc theo nhóm hai người. Một người điều chế thuốc, người còn lại xác nhận xem có sai sót gì không, rồi cho thuốc vào túi. Người xác nhận phải đóng dấu lên túi thuốc.
Ngoài phục vụ các bệnh nhân đến khám, còn có công việc ở các phòng bệnh nội trú, chẳng hạn như đưa thuốc tiêm hoặc điều chế thuốc khẩn cấp. Hôm đó, trong lúc Noriko cùng đồng nghiệp đang tối mắt tối mũi với những công việc này, có một người đàn ông cứ ngồi ở góc phòng dược. Anh ta là một phó giáo sư trẻ tuổi của khoa Y, cặp mắt từ đầu chí cuối chăm chú dán vào màn hình máy tính. Từ hai năm về trước, đại học Teito bắt đầu tích cực tiến hành trao đổi thông tin với các cơ quan nghiên cứu khác qua hệ thống máy tính. Một trong những thành quả cụ thể nhất chính là tiến hành hợp tác trực tuyến với trung tâm nghiên cứu của một công ty bào chế dược phẩm. Nhờ vậy, phía bệnh viện có thể thông qua hệ thống này lấy được các số liệu cần thiết về các loại dược phẩm do công ty này sản xuất và tiêu thụ. Về cơ bản, bất cứ ai cũng có thể sử dụng được hệ thống này, nhưng điều kiện tiên quyết là phải có tên người dùng và mật khẩu.
Noriko có cả hai thứ, song từ khi cỗ máy chẳng rõ dùng để làm gì này chuyển vào đây, cô chưa từng chạm đến nó.
Khi muốn tìm hiểu các thông tin liên quan đến dược phẩm, cô sẽ dùng cách thức trước đây, tức là hỏi công ty sản xuất. Những dược sĩ khác cũng làm vậy. Mọi người đều biết tay phó giáo sư trẻ tuổi ngồi trước màn hình máy tính đang hợp tác với một công ty dược phẩm, cùng tiến hành nghiên cứu gì đó.
Noriko cho rằng, hệ thống này đối với những người như vậy mà nói hẳn là thuận tiện lắm.
Nhưng máy tính dường như không phải hoàn hảo gì. Chỉ mấy ngày trước thôi, kỹ thuật viên ở bên ngoài vừa đến thảo luận với các bác sĩ, bọn họ nghi ngờ máy tính đã bị hacker thâm nhập.
Tất nhiên, Noriko hoàn toàn chẳng hiểu gì về mấy chuyện này. Buổi chiều, Noriko xuống phòng bệnh hướng dẫn các bệnh nhân nội trú dùng thuốc, bàn bạc với các bác sĩ và y tá về thuốc dùng cho người bệnh, sau đó về phòng Dược pha chế thuốc.
Đây là một ngày như mọi ngày khác.
Trong lúc cô làm những công việc hằng ngày ấy, đồng hồ đã chỉ năm giờ.
Đang chuẩn bị về nhà thì có đồng nghiệp gọi cô, bảo là có điện thoại tìm.
Người cô nôn nao. Có lẽ là anh ta gọi. “A lô.” Cô nói vào ống nghe, giọng hơi khàn khàn. “À... cô Kurihara Noriko phải không?” Là giọng đàn ông, nhưng không hề giống với giọng nói mà Noriko hằng chờ đợi. Giọng đối phương nhỏ đến nỗi khiến người ta liên tưởng đến người mắc bệnh, nghe hơi quen tai.
Cô trả lời. “Vâng tôi đây.” “Cô còn nhớ tôi không? Tôi là Fujii, Fujii Tamotsu.” “Anh Fujii...” Vừa thốt ra cái tên này, Noriko cũng nhớ ra luôn. Fujii Tamotsu là người đàn ông cô quen qua công ty mai mối, người duy nhất đã hẹn hò đến lần thứ ba.
Cô ậm ờ một tiếng.
“Anh khỏe không ạ?” “Vâng, cũng tàm tạm. Cô Kurihara cũng vẫn khỏe chứ?” “Vâng..” “Thực ra, giờ tôi đang ở gần bệnh viện. Vừa nãy tôi ở trong đó trông thấy cô, hình như cô gầy đi một chút.” “Thế ạ...” Noriko rất kinh ngạc, không biết rốt cuộc anh ta tìm mình làm gì. “Xin hỏi, lát nữa có thể gặp nhau được không?
Uống một tách trà.” Nghe người đàn ông nói, Noriko cảm thấy phiền phức vô cùng.
Cứ tưởng anh ta có chuyện gì quan trọng. “Thật ngại quá, hôm nay tôi có việc rồi.” “Một lát thôi cũng được. Có chuyện này dù thế nào tôi cũng phải nói với cô.
Chỉ cần ba mươi phút thôi, được không?” Noriko cố ý thở dài thành tiếng để đối phương nghe thấy.
“Xin anh đừng như vậy nữa. Anh chỉ gọi
13 BẮC MỸ DÃY ANDES RỪNG RẬM AMAZON NAM MỸ KIM TỰ THÁP ẤN ĐỘ DƯƠNG NAM DƯƠNG THÁI BÌNH DƯƠNG SỐNG ĐẠI TÂY DƯƠNG ĐỈNH EVEREST BẮC CỰC PHI CHÂU THÁI BÌNH DƯƠNG AUSTRALIA BẮC BĂNG DƯƠNG CHÂU Á ĐẠI TÂY DƯƠNG 14 BIỂN CHỨA ĐẦY CÁC THỰC VẬT BÉ XÍU BỔ DƯỠNG GỌI LÀ TẢO. NÓ CHÍNH LÀ THỨC ĂN CỦA NHỮNG SINH VẬT BIỂN NHỎ, RỒI ĐÁM NÀY BỊ NHỮNG CON TO HƠN XƠI VÀ NHỮNG CON TO HƠN NỮA LẠI CHÉN CÁC CON TO HƠN NÀY – CẬU HIỂU KHÔNG. ĐÂU, TÔI CÓ THẤY GÌ ĐÂU!
ĐẠI DƯƠNG PHÍA NAM nó là một phần của Đại Tây dương, Ấn Độ dương và Thái Bình dương chứ không phải một đại dương đích thực.
Chỉ nhiễu sự!
2 Thầy giáo địa lý có thể nói rằng biển màu xanh.
Chớ có tin dù chỉ một chữ.
Biển chỉ có màu xanh vào những ngày nắng đẹp, khi mặt nước phản chiếu màu trời. Thời gian còn lại, biển hơi có màu xanh lục hoặc xám. Biển có màu xanh lục là dấu hiệu tốt, bởi vì: Xin nói thêm, có nhiều biển thậm chí không mang màu xanh lục, xám hay xanh dương.
Bạch Hải trắng xóa vì băng tuyết.
Và, thi thoảng Biển Đỏ (Hồng Hải) tràn ngập loài thực vật nhỏ màu đỏ (một kiểu tảo khác) khiến nó chuyển sang màu đỏ nhạt.
15 ĐẠI DƯƠNG HÌNH THÀNH CAO ỐC EMPIRE STATE THÁP EIFFEL CỘT GHI CÔNG NELSON?
150M TOÀN MUỐI 3 Đại dương đã được khoảng 4 tỷ năm tuổi (già hơn cả bà cố của bà cố của bà cố của bạn).
Ngay trước khi nó xuất hiện, Trái đất ra đời từ một đám mây khí và bụi lớn. Khi Trái đất nguội đi và rắn lại, hơi nước (chính là nước dưới dạng khí) từ những vụ phun trào núi lửa trên mặt đất bay lên
khoa Huyền Môn Ai Cập. Tôi bước qua cánh cửa ở đầu gian phòng lớn của chánh điện, và đứng trước một bàn thờ nhỏ, ở hai bên có hình tượng vua Pharaon đang chiêm bái và cây linh kỳ của nữ thần Hathor. Ở phía dưới, một lổ hỏng lớn của một nền đá bị sụp lở tối đen ngòm, tôi lấy đèn bấm soi xuống thì thấy chổ sụp lở đó đưa xuống một đường hầm dưới đất. Đó là cái động xây dưới hầm của đền thờ Karnak, có nhiều ngăng cách và hành lang dài. Ở bề mặt cánh cửa lớn, tôi nhận thấy có hai lổ hỏng khác cũng là chổ nền đá bị sụp lở và đưa xuống những đường hầm nhỏ hẹp đầy bụi bặm chưa từng có vết chân người bước đến. Tôi bèn thám hiểm những con đường hẹp này thì thấy một đường đi xuyên qua động dưới hầm đến chổ thờ thần Khonsou. Đường dưới hầm bao phủ một lớp bụi dầy đặc đến nổi người ta phải nhìn nhận rằng bụi đã đóng ở đây nhiều thế kỷ, tôi cố tìm thấy dấu vết xem có người đã đến đây chăng. Nhưng ngoài những dấu bàn chân, hẳn từ người Ả Rập gác đền thờ Khonsou ở gần bên, tôi không thấy gì nữa, chỉ thấy có những đường cong ngòng nghoèo rất nhiều và xem rất có mỹ thuật được vẽ ra từ hai cái lổ đen bởi một vài con rắn nhỏ. Những đường hầm đen tối kia và cái động đá bí mật kia có ý nghĩa gì... Tôi đang tự hỏi như thế, thì cái động thâm u dưới hầm, giống như cái nhà mồ, dường như xuất hiện trước mắt tôi. Tôi nhớ lại cuộc hành lể cổ truyền tái diển sự chết và sự hồi sinh của Osiris, và cuộc lể mà tôi đã thấy khắc trên vách đá của thánh điện nhỏ trên nóc bằng của đền thờ Denderah, chính cuộc lể mà tôi đã nhìn thấy trong linh ảnh và tôi đã sống qua kinh nghiệm bản thân một đêm trong Kim Tự Tháp, chính cuộc lể mà Osiris đã truyền lại từ châu Atlantide cho những vị Đạo Trưởng và tăng lữ của thời cổ Ai Cập. Tại sao người ta lại làm lể điểm đạo Huyền Môn ở những nơi đen tối và âm u như những chốn này... Có ba lý do để giải thích câu hỏi đó.
Để giữ gìn tuyệt đối bí mật và an toàn cho việc ban phép mầu vừa có tính cách riêng tư lại vừa nguy hiểm. Để làm cho người thí sinh bước vào trạng thái xuất thần một cách dể dàng hơn, bằng cách không cho y nhìn thấy vật gì ở chung quanh và như vậy, để cho y dễ tập trung sự chú ý vào nội tâm. Sau cùng, để có được một hình thức biểu tượng hoàn hảo mà cổ nhân vẫn thích dùng, pohải chăng các vị Đạo Trưởng nhận thấy người thí sinnh vẫn còn ở trong trạng thái vô minh u tối về phương diện tâm linh, vào lúc sắp bắt đầu cuộc lễ điểm đạo... Và sự thức tĩnh của y sẽ dược thực hioện bằng cách mở mắt chào đón những tia sáng mặt trời ở một chỗ khác, nơi đó y sẽ được chở đến sau khi điển đạo, khi đó y đạt được sự giác ngộ tâm linh. Sau một cuộc điểm đạo kéo dài một cách chậm chạp, bắt đầu lúc ban đêm và kết thúc vào buổi trời rực sáng, người đạo đồ đã vượt qua từ sự vô minh hắc ám (đêm tối) đến sự soi sáng tâm linh (ánh sáng). Cuộc hành lễ điểm đạo Huyền Môn được thực hiện những động đá dưới hầm, hoặc trong những gian phòng đặc biệt bên cạnh
không được tạo nên từ ánh nắng và hoa hồng.
Giống như thép, nó được tôi trong lửa bỏng, được rèn bởi búa và đe.
Một cuộc đời thành công là cuộc sống có ý thức và theo đuổi con đường của chính mình chứ không phải chạy theo những giấc mơ hay hoàn thành những kỳ vọng của người khác. Mặt Dày, Tâm Đen chính là sự tàn nhẫn mà cũng không phải là vấn đề tàn nhẫn, bạn sẽ học được rằng bằng cách xây dựng một sự tàn nhẫn không thể lay chuyển, bạn sẽ có sự tự do cần thiết để thành công trong việc thực hiện các nhiệm vụ của cuộc đời bạn. Bằng cách khơi dậy sức mạnh này bên trong bạn, bạn sẽ đạt được sự minh xác và sự tập trung không thể lay chuyển để giúp bạn khám phá và hoàn thành định mệnh thực sự của bạn. Mặt Dày – Lớp Vỏ: để bảo vệ lòng tự trọng của ta khỏi sự chê trách của người khác. Người Mặt Dày có khả năng dẹp bỏ sự nghi ngờ chính mình. Anh ta từ chối chấp nhận những hạn chế mà người khác cố áp đặt cho anh ta và quan trọng hơn là anh ta không chấp nhận bất cứ giới hạn nào mà chúng ta vẫn thường áp đặt. Anh ta không đặt câu hỏi về khả năng hay giá trị của anh ta. Trong mắt mình, anh ta là hoàn hảo.
Tâm Đen Ngọn Giáo: để chiến đấu với những người khác và với chính mình. Một người Tâm Đen thì tàn nhẫn, nhưng không nhất thiết là xấu xa. Người Tâm Đen phải biết vượt lên sự thương xót thiển cận.
Anh ta tập trung vào các mục đích của mình và phớt lờ cái giá của nó.
Một người Tâm Đen có can đảm để thất bại. Những người tập luyện Mặt Dày, Tâm Đen phải có khả năng phớt lờ sự chỉ trích chế nhạo và phán xét của người khác, đồng thời thực hiện những nghĩa vụ của mình như họ cảm thấy là thích hợp. Mặt Dày, Tâm Đen ở mức độ thô thiển nhất không đếm xỉa đến đạo đức.
Nó chỉ bận tâm đến cách để đạt được điều nó muốn, nói theo cách khác là chiến thắng bằng mọi giá.
Ở mức độ này, Mặt Dày hoàn toàn vô lương tâm, Tâm Đen tuyệt đối tàn nhẫn.
Trí tuệ của tinh thần là nguồn gốc của đời sống trần thế.
Khả năng đánh giá cái tốt với cái xấu xa là cần thiết đối với những người thực hành Mặt Dày, Tâm Đen.
Không có người nào khác mà bạn phải chinh phục. Khi bạn đã chinh phục được bản thân mình thì thế giới sẽ nằm dưới chân bạn.
Nền tảng lòng dũng cảm của một người chiến binh Mặt Dày, Tâm Đen là thái độ lạnh lùng. Điều này nghĩa là có được lòng dũng cảm để chiến đấu bất chấp nỗi khiếp sợ; có khả năng thoát ra khỏi những xúc cảm đi kèm với sự thất bại để cho sự hiện diện của nó không cản trở bạn. Sự thống nhất của thế giới vật chất và thế giới tinh thần: bạn sẽ có thể tạo ra điểm gặp nhau cho thế giới tinh thần cao thượng và thế giới kinh doanh tàn nhẫn. Cuối cùng, bạn sẽ thấy không có sự chia cách hay mâu thuẫn nào giữa thế giới tinh thần và thế giới trần tục. Sức mạnh tinh thần của bạn sẽ trở thành một công cụ quan trọng để chinh phục những gì diễn ra hàng ngày. Khi một người hành động hòa hợp với cái Toàn thể, hành động ấy là tốt và có ích cho tất cả. Anh không cần cố tỏ ra đúng đắn, cũng không cố làm hài lòng người khác, không tìm kiếm sự ủng hộ. Trong hành động, anh nhanh nhẹn, đầy năng lực và vô tự. Trong tranh luận, anh không để bị đánh bại và không bận tâm tới đánh giá của người khác.
Khi chinh phục, anh hiệu quả và có thể tàn nhẫn.
Khi hành động và không hành động, anh không thay đổi.
Anh là một người thực hành Mặt Dày, Tâm Đen thực thụ.
Nghĩa vụ của một người là phải sống.
Không phải là tồn tại.
JACK LONDON.
Chương 2. Sự chuẩn bị cho mặt dày, tâm đen: 11 nguyên tắc về việc gạt bỏ những gì đã học Đóa hoa lẻ loi Không cần ghen tị Với những cái gai đông đúc. RABINDRANATH TAGORE Mặt Dày, Tâm Đen không chỉ đơn giản là một cách khôn ngoan để điều khiển thế giới vì lời ích cá nhân của bạn. Nó là trạng thái tự nhiên của chúng ta. Trạng thái này không còn chi phối chúng ta bởi vì những người đầy thiện ý đã rèn luyện cho chúng ta tất cả những phép tắc về cách cư xử và cảm nhận. Nó không còn ảnh hưởng đến chúng ta chúng ta bởi vì một ý niệm bên trong về bản thân mà chúng ta tạo ra từ những kỳ vọng và niềm tin của người khác. Đạt được Mặt Dày, Tâm Đen có nghĩa là việc giác ngộ trước tiên trạng thái tự nhiên của con người thật bên trong chúng ta.
1.
Phá vỡ sự gò ép của những quan niệm bên trong và những tiêu chuẩn bên ngoài Một người bạn của tôi ở độ tuổi gần năm mươi đã từng bị thừa cân tới hơn 45 kg trong phần lớn giai đoạn trưởng thành của mình. Mặc dù anh đã từng giảm cân ít nhất bảy lần nhưng anh luôn tăng cân trở lại.
Trong một cuộc tư vấn tâm lí, anh đã phát hiện ra gốc rễ của vấn đề. Anh nhận thấy rằng, bất cứ khi nào anh gầy ốm thì anh hành động hung hăng hơn và không” vui vẻ, tử tế” với người khác. Từ thời thơ ấu, gia đình đã dạy anh rằng đức tính quý giá nhất là” tử tế” đối với mọi người.
Do đó, anh ta
số, khi người ta yêu cầu chúng ta phải tính toán với các đại lượng trừu tượng được ký hiệu bằng x hay y nữa. Một số người trong chúng ta đi xa hơn trong việc nghiên cứu toán học. Họ hằng ngày phải thao tác với những thực thể toán học hoàn toàn tách khỏi thực tại vật lý, như những “số phức” hoặc những “phần tử” của một nhóm chẳng hạn. Do vậy, giấc mơ lớn của Hilbert là có thể hiểu được.
Song liệu nó có thực hiện được hay không?
Godel và những giới hạn của tư duy Nhà toán học trẻ Kurt Gödel đã xuất sắc nhận lời thách thức của Hilbert vào năm 1931, nhưng không phải theo hướng mà Hilbert mong muốn. Thay vì đi tìm một thủ tục tổng quát để chứng minh tính đúng đắn của mọi mệnh đề toán học, Gödel lại chứng minh rằng một thủ tục như vậy là không thể có.
Ông đã đạt được kết quả sau đây, một kết quả có lẽ là kỳ lạ nhất và cũng bí hiểm nhất : 582 Hỗn độn và hài hòa Hình 60.
Kurt Gödel (1906 - 1978).
Một định lý toán học nổi tiếng mang tên ông và định lý này thường được xem là một phát minh lôgic học quan trọng nhất của thế kỷ XX.
Đinh lý Gödel nói rằng toàn bộ số học có chứa những mệnh đề mà tính đúng đắn của nó chỉ có thể chứng minh được bằng cách phải thêm vào những tiên đề nằm ngoài hệ thống. Nói một cách khác, chân lý toàn bộ không được khoanh trong một hệ thống hữu hạn. Toàn bộ hệ thống hữu hạn là không đầy đủ. Định lý về “tính không đầy đủ” hay định lý bất toàn dẫn tới một hệ quả là lý trí có những giới hạn và nó không thể đạt tới chân lý tuyệt đối được. trong toán học: một hệ thống số học nhất quán và phi mâu thuẫn, bao giờ cũng chứa những mệnh đề “không thể quyết định được”, tức là những mệnh đề toán học mà người ta không bao giờ có thể khẳng định được là đúng hay sai; mặt khác, người ta cũng không thể chứng minh được một hệ thống là nhất quán và phi mâu thuẫn nếu chỉ dựa trên các tiên đề chứa trong hệ thống này; để làm điều đó, cần phải đi ra ngoài hệ thống và áp đặt một hoặc nhiều tiên đề phụ ở bên ngoài hệ thống đó. Với ý nghĩa ấy, hệ thống tự nó là không đầy đủ. Vì vậy mà định lý của Gödel thường được gọi là định lý về “tính không đầy đủ” hay định lý bất toàn. 583 Tính hiệu quả đến phi lý của tư duy Định lý này giống như một tiếng sấm giữa bầu trời trong xanh của toán học mà hậu quả của nó thật rộng lớn. Sự tồn tại những mệnh đề không thể quyết định được dường như đã đánh ngay vào nền tảng lôgic của toán học. Định lý Gödel đã làm tiêu tan giấc mộng quy giản luận của Hilbert nhằm hình thức hóa toàn bộ toán học. Để khẳng định tính đúng đắn của một mệnh đề toán học, chỉ quy nó về một dãy các ký hiệu mất hết ý nghĩa và thao tác trên các ký hiệu đó thôi là chưa đủ. Còn cần phải tính đến ý nghĩa của toàn bộ mệnh đề đó trong một bối cảnh rộng hơn của các ý tưởng toán học nữa.
Hilbert không bao giờ chấp nhận ý nghĩ rằng định lý Gödel đã làm cho chương trình to lớn của ông trở thành lỗi thời.
Ông vẫn kiên trì các đề tài của mình cho đến khi ông mất vào năm 1943.
Còn về định lý Gödel, nó đã có ảnh hưởng vang dội cả ra ngoài lĩnh vực toán học. Tiếng vang của định lý ấy còn dư âm đến tận ngày nay trong các lĩnh vực tư duy khác như triết học hoặc tin học. Những nghịch lý làm tổn hại lôgic học Thực ra, trước khi nổ ra tiếng sét của Gödel, trên bầu trời toán học, tất cả không phải là hoàn toàn quang đãng. Đã có nhiều dấu hiệu báo trước những cơn giông tố lớn, những đám mây đen đã phủ kín chân trời.
Đặc biệt, người ta biết rằng có những điểm yếu lôgic đã được bộc lộ khi đề cập tới các mệnh đề tự-quy chiếu, tức là những mệnh đề tự nói về mình. Ví dụ, ta hãy xét mệnh đề: “Câu này là sai”. Nếu câu này là đúng, thì nó là sai. Còn nếu câu này sai, thì nó lại là đúng.
Lôgic quả là đã bị nhạo báng và dẫn đến chỗ tắc tị. Thực ra, người cổ đại cũng đã từng biết đến loại nghịch lý lôgic này. Thánh Paul (khoảng năm 5-15 – khoảng năm 62-64) khi nêu 584 Hỗn độn và hài hòa một ví dụ về loại nghịch lý này đã nói về triết gia xứ Crête, người đã tuyên bố: “Tất cả dân đảo Crête đều là nói dối”. Nếu triết gia này nói thật, thì tức ông ta nói dối, vì ông ta cũng là người đảo Crête. Ngược lại, nếu triết gia này nói dối, tức thị là ông ta nói thật. Nhà toán học và triết gia người Anh Bertrand Russell (1872- 1970) đã chứng minh rằng loại mâu thuẫn lôgic này không phải do những khó khăn về ngữ nghĩa gắn liền với một ngôn ngữ cụ thể nào đó, mà chúng xuất hiện trong mọi sự biểu diễn bằng ký hiệu hoặc bằng toán học. Chính bản thân Russell cũng đã đưa ra nhiều ví dụ, chẳng hạn như người thợ cạo thành Seville. “Một người dân thành Seville được người thợ cạo thành Seville cạo râu cho, khi và chỉ khi anh ta không tự cạo râu được cho mình. Thế thì người thợ cạo thành Seville có tự cạo râu cho mình không?” Nếu anh ta tự cạo râu cho mình, tức là anh ta chỉ có thể được cạo râu bởi người thợ cạo thành Seville (cũng là chính anh ta -ND), do vậy anh ta không thể tự cạo râu cho mình. Còn nếu anh ta không tự cạo râu cho mình, thì anh ta sẽ được thợ cạo thành Seville (cũng chính là anh ta) cạo râu cho, mà như vậy có nghĩa là anh ta tự cạo râu được cho mình... Chính Russell, người đã từng mơ tưởng đặt toán học trên một nền tảng lôgic học vững chắc, cũng đã cảm thấy những mâu thuẫn lôgic làm tổn hại đến dự định lớn lao của ông. Chúng ta hãy nghe ông nói về sự thất vọng sâu sắc của mình: “Lúc đầu tôi nghĩ rằng mình có thể vượt qua mâu thuẫn đó một cách dễ dàng. Dần dần tôi mới hiểu ra rằng hoàn toàn không phải như vậy.
Mỗi buổi sáng, tôi đều ngồi trước trang giấy... cho đến chiều tối, đôi khi trang giấy vẫn còn trắng nguyên. Hai mùa hè năm 1903 và 1904 vẫn còn ghi dấu ấn trong tâm trí tôi như một thời kỳ bế tắc trí tuệ hoàn toàn. Đương nhiên là tôi không thể tiếp tục công 585 Tính hiệu quả đến phi lý của tư duy việc của mình, nếu không giải quyết được những mâu thuẫn đó, và tôi quyết định không để một trở ngại nào ngăn cản tôi hoàn thành cuốn Principia Mathematica1 (Những nguyên lý của toán học).
Nhưng rất có thể là tôi sống hết những năm tháng cuối đời mình mà vẫn còn nhìn thấy trang giấy để trắng. Càng bực mình hơn nữa khi tôi thấy rằng những mâu thuẫn này hầu như là vô nghĩa, và tôi có cảm tưởng là mình đã bỏ phí thì giờ để nghiên cứu những đề tài không đáng phải tốn công sức như thế”. Chính một phần để rũ bỏ những mâu thuẫn lôgic gây bực mình này mà Hilbert đã tung ra chương trình hình thức hóa toán học của ông. Mặc dù đã có các công trình của Russell, nhưng ông vẫn nghĩ rằng những khó khăn này đều ở mức ngữ nghĩa và chúng sẽ biến mất nếu người ta lấy đi ý nghĩa của các mệnh đề toán học và biến những mệnh đề đó thành một dãy các ký hiệu. Như chúng ta đã thấy, Gödel đã chứng minh rằng giấc mộng của Hilbert và Russell đặt toán học trên nền tảng lôgic chỉ là ảo tưởng. Trong khi cặm cụi nghiên cứu mối quan hệ giữa việc mô tả toán học với chính bản thân toán học, ông khám phá ra rằng những mâu thuẫn lôgic đã từng làm rối ren các mệnh đề tự quy chiếu cũng đều hiện diện trong các mệnh đề toán học. Giống như người ta không thể quyết định được liệu tất cả những người dân đảo Crête đều nói dối hay không, hay là như anh thợ cạo thành Seville có tự cạo râu cho mình hay không, người ta cũng không thể quyết định được một số mệnh đề toán học là đúng hay không. Bởi vì tồn tại những mệnh đề không thể quyết định được, nên một hệ thống tự nó không bao giờ có thể là đầy đủ.
1.
Đây là tác phẩm lớn của B. Russell, được xuất bản vào những năm 1910-1913 với sự cộng tác của nhà toán học Anh Alfred Whilehead (1861 - 1947). Cuốn sách có ý định xây dựng lôgic học thành cơ sở của những khái niệm và của các mệnh đề toán học.
586 Hỗn độn và hài hòa Một lỗi lôgic trong Hiến pháp Hoa Kỳ Gödel di cư sang Mỹ vào năm 1938.
Đối với con người có đầu óc hoàn toàn lôgic này, cuộc sống hằng ngày đôi khi lại tỏ ra khó có thể chịu đựng được.
Câu chuyện sau đây về việc nhập quốc tịch Mỹ của nhà lôgic học thiên tài vào năm 1948 đã chứng minh điều đó. Để có quốc tịch Mỹ, ông phải nghiên cứu Hiến pháp Hoa Kỳ và phải chứng minh cho vị thẩm phán địa phương thấy rằng ông có một hiểu biết chung tương đối tốt về bản Hiến pháp này. Về phía mình, ông còn phải có hai người làm chứng có thể bảo lãnh cho ông về mặt hạnh kiểm. Ông không thể chọn ai khác có uy tín hơn, bởi vì một trong hai người đó không phải ai khác mà chính là Einstein, bạn và đồng nghiệp của ông tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton.
Người thứ hai là nhà kinh tế người Mỹ gốc Áo Oskar Morgenstern (1902-1977).
Trước ngày tiếp kiến viên thẩm phán, Morgenstern gặp Gödel trên điện thoại. Gödel đang còn rất xúc động, báo tin rằng mình vừa phát hiện ra một lỗi lôgic trong bản Hiến pháp Hoa Kỳ, lỗi này có thể dẫn đến việc thiết lập một chế độ độc tài ở Mỹ. Morgenstern đã làm mọi cách trấn an Gödel, bảo đảm với ông ta rằng việc này thật phi lý và nài nỉ Gödel trong bất kỳ trường hợp nào cũng không nên nói với vị thẩm phán về phát hiện này, trong lúc diễn ra cuộc phỏng vấn.
Hôm sau, trong cuộc phỏng vấn, vị thẩm phán mở đầu câu chuyện bằng một nhận xét: “Ông thuộc quốc tịch Đức?”. “Không, tôi là người Áo”, Gödel chữa lại. Không chút bối rối, vị thẩm phán nói tiếp: “Dù sao đi nữa ông cũng đã sống dưới một chế độ độc tài... May thay điều đó đã không xảy ra ở Mỹ!”. Tiếng “độc tài” vừa buông ra, Gödel liền không kìm mình được nữa: “Trái lại, tôi có 587 Tính hiệu quả đến phi lý của tư duy thể chứng minh rằng điều đó có thể xảy ra”. Cả ba người, Einstein, Morgenstern và vị thẩm phán phải cùng nhau hợp sức trấn an Gödel và ngăn không để ông trình bày dài dòng về cái lỗi lôgic trong Hiến pháp Mỹ.
Nhưng cái gì tốt rồi cũng sẽ kết thúc tốt đẹp.
Viên thẩm phán không giận Gödel và ông đã được nhận Quốc tịch Mỹ.
Sự giải phóng vật chất Chúng ta đã đi đến chặng cuối của cuộc thám hiểm và đã đến lúc phải tổng kết lại những suy ngẫm của chúng ta. Trong các cuộc du hành vào thế giới khoa học, chúng ta đã chứng kiến sự xuất hiện của một cách nhìn mới về thế giới. Cách nhìn này không khác với cách nhìn đã từng xuất hiện cùng với Newton vào thế kỷ XVII và đã từng ngự trị thế giới trong suốt ba thế kỷ. Trong thế giới Newton, vật chất chỉ là thứ trơ ì, phục tùng một cách nô lệ và mù quáng các lực bên ngoài và hoàn toàn không có tính sáng tạo. Vũ trụ chỉ là một bộ máy bôi trơn dầu mỡ, một chiếc đồng hồ đã được điều chỉnh với một độ chính xác cao, và một khi đã được lên giây cót, nó sẽ tự vận hành theo các quy luật hoàn toàn mang tính quyết định luận.
Sự tự do và bay bổng hoàn toàn bị
cách nào, chúng nó cũng không nói một lời.
Cuối cùng, Phương chỉ có thể ghép tội tụi nó vào việc chống đối người thi hành công vụ, nhốt có mấy ngày phải thả ra. Cũng kể từ đó, mà vụ án dần dần đi vào bế tắc, rồi Phương đành phải gác vụ án về Nam qua một bên hơn một năm trời. Thằng Nam, giờ đây hắn đã càng ngày càng tàn bạo. Thay vì xẻo một miếng thịt của con nợ hay đối thủ, hắn bắt bọn đàn em phải chặt cho hắn nguyên cánh tay, còn không thì tự mình thế mạng cho Nam trả nợ. Hơn thế nữa, Nam bây giờ còn có một bình rượu quý, được pha với máu người để hắn uống hàng ngày.
Bảy thằng đàn em của Nam giờ đây chúng nó phục vụ Nam không phải vì tình nghĩa nữa, mà là phục tùng vì sợ, sợ rằng Nam có ngày cũng ăn thịt mình. Còn thằng Ân thì sao? Nó giờ như cái xác không hồn, tuy ăn uống đầy đủ.
Nhưng những cái ý nghĩ trong đầu nó dường như đã làm cho nó tiều tụy đi hẳn.
Đêm nào nó cũng gặp ác mộng không ngủ dược, nên đêm đêm thường uống cho thật say, rồi sáng thì phải đi làm nhiệm vụ.
Một hôm ngồi quán nhậu vỉa hè với ba thằng đàn em khác, đang uống rượu say, chợt có một bà mẹ dắt hai đứa trẻ con, lấm lem bẩn thỉu, đến ngửa tay xin tiền tụi nó. Một thằng
Henry đi tới đi lui khắp phòng.
Kendrick gỡ kính ra và mát-xa hai bên sống mũi bằng các đầu ngón tay.
Cánh cửa mở ra và mộ t người đàn ông gốc Tây Ban Nha trong bộ đồ phẫu thuật đẩy xe vào phòng. Trên xe là một cái lồng được che bằng vải.
“Ngài muốn đặt nó ở đâu?” người đàn ông trẻ hỏi, và Kendrick nói, “Cứ để cả xe đó, nếu cậu không cảm thấy phiền”, người đàn ông nhún vai rồi bỏ đi. Kendrick đi tới cửa và xoay tay nắm rồi vặn đèn tối bớt lại. Tôi chỉ lờ mờ thấy Henry đang đứng cạnh cái lồng.
Kendrick đi về phía anh ấy và lặng lẽ tháo lớp vải.
Mùi gỗ tuyết tùng tỏa ra cừ chiếc lồng.
Tôi đứng dậy và nhìn nó chằm chằm.
Chẳng có gì ngoài một cái lõi của cuộn gi ấ y vệ sinh, vài bát thức ăn, một chai nước và một cái bánh xe tập thể dục, mùn cưa từ gỗ cây tuyết tùng.
Kendrick mở nắp lồng và thò tay vào, nhấc lên một thứ gì đó nhỏ và trắng. Henry và tôi tiến lại gần, nhìn vào con chuột tí hon đang ngồi nháy mắt trong lòng bàn tay của Kendrick. Kendrick lôi từ trong túi ra một cái đèn pin nhỏ bật nó lên và không ngừng chớp v ề phía con chuột. Con chuột căng ra, rồi biến mất.
“ Ồ ”, tôi nói.
Kendrick đặt tấm vải trở lại lồng và bật điện lên.
“Nó sẽ được công bố trên số tuần tới của tờ Nature ”, ông ấ y nói, mỉm cười. “Nó sẽ là bài báo chính.” “ Xin chúc mừng”, Henry nói.