text
stringlengths
1
55.3k
Họ ở trong phòng một mình.
Dominique đã xin phép đi nghỉ sau bữa tối.
Cô biết rằng họ muốn ở một mình.
“Một tiếng cười nhạo với tất cả chúng ta,” Wynand nói.
“Với tất cả mọi người trên phố. Tôi luôn nhìn những người đi trên phố. Tôi đã từng đi vào tàu điện ngầm chỉ để nhìn xem có bao nhiêu người cầm tờ Ngọn cờ.
Tôi từng căm ghét họ và đôi khi cảm thấy sợ.
Nhưng giờ đây tôi nhìn họ và chỉ muốn nói: ‘Ôi, những kẻ ngốc nghếch tội nghiệp!’ Vậy thôi.” Ông gọi điện tới văn phòng Roark vào một buổi sáng. “Anh có thể đi ăn trưa với tôi không hả Howard?... Gặp tôi ở khách sạn Nordland nửa tiếng nữa.” Ông nhún vai mỉm cười khi ngồi đối diện với Roark trong nhà hàng.
“Chẳng có chuyện gì, Howard.
Chẳng có lý do gì đặc biệt cả.
Tôi vừa mới có nửa tiếng đến là ghê tởm, và tôi muốn tống khứ dư vị của nó ra khỏi miệng tôi.” “Nửa tiếng ghê tởm gì vậy?” “Chụp ảnh chung với Lancelot Clokey.” “Lancelot Clokey là ai?” Wynand cười phá ra và quên bẵng sự lịch thiệp luôn được kiểm soát của mình, quên cả cái nhìn cảnh giác của người hầu bàn.
“Vậy đó, Howard.
Đó là lý do vì sao tôi phải ăn trưa với anh. Bởi vì anh có thể nói những điều như vậy.” “Nào, có chuyện gì nào?” “Anh không đọc sách à?
Anh không biết rằng Lancelot Clokey là ‘nhà phân tích tình hình quốc tế tinh tế nhất của chúng ta’ à? Đó là lời của các nhà phê bình – trên tờ Ngọn cờ của tôi. Lancelot Clokey được một tổ chức khỉ gió nào đó chọn là tác giả xuất sắc của năm nay hay một cái gì đó đại loại thế.
Chúng tôi sẽ đăng lý lịch của hắn trên bản phụ trương số báo Chủ nhật và tôi phải đứng quàng tay qua vai hắn cho người ta chụp ảnh.
Hắn ta mặt áo sơ mi lụa bốc mùi rượu gin.
Cuốn sách thứ hai của hắn kể về thời niên thiếu của hắn, rằng nó đã giúp hắn ra sao trong việc nắm bắt tình hình quốc tế.
Cuốn sách đó đã bán được một trăm ngàn bản.
Thế mà anh lại chưa bao giờ nghe về hắn.
Thôi ăn trưa đi, Howard. Tôi thích nhìn anh ăn. Tôi ước gì anh nhẵn túi, thế là tôi có thể mua bữa trưa này cho anh và biết rằng anh thực sự cần nó.” Vào cuối ngày làm việc, ông thường ghé thăm văn phòng hoặc nhà Roark mà không báo trước.
Roark có một căn hộ ở tòa nhà Enright, một trong những căn hộ xây theo hình lục giác nhìn ra sông Đông: một phòng làm việc, một thư viện, một phòng ngủ. Anh đã tự mình thiết kế nội thất của gian phòng. Suốt một thời gian dài, Wynand không thể hiểu tại sao nơi này lại cho ông một ấn tượng về sự xa hoa, cho đến khi ông n...
“Chúng ta đã khởi đầu giống nhau, Howard,” ông nói trong khi liếc nhìn quanh căn phòng của Roark.
“Theo đánh giá và kinh nghiệm của tôi thì anh lẽ ra sẽ vẫn nằm dưới đáy xã hội. Nhưng anh đã không như vậy.
Tôi thích căn phòng này.
Tôi thích ngồi ở đây.” “Tôi thích nhìn thấy ông ở đây.” “Howard, anh đã bao giờ nắm quyền định đoạt cuộc sống của một ai đó chưa?” “Chưa. Và tôi cũng sẽ không nhận nếu như người ta trao cho tôi cái quyền đó.” “Tôi không thể tin điều đó.” “Đã có một người đề nghị tôi điều đó, Gail.
Tôi đã từ chối.” Wynand nhìn anh với sự tò mò, đó là lần đầu tiên ông nghe thấy sự gắng gượng trong giọng nói của Roark.
“Tại sao?” “Tôi buộc phải từ chối.” “Vì lòng kính trọng với anh ta à?” “Đó là một người đàn bà.” “Ồ, anh đúng là đồ ngốc! Vì lòng kính trọng với một người đàn bà ư?” “Vì sự kính trọng đối với bản thân tôi.” “Đừng có nghĩ là tôi sẽ hiểu. Chúng ta là hai người đối lập.” “Tôi từng nghĩ thế. Tôi đã muốn nghĩ như vậy.” “Và ...
Gail, có một người coi ông là tượng trưng cho cái loài ác quỷ đặc biệt đã hủy hoại ông ấy và rồi sẽ hủy hoại tôi. Ông ấy đã truyền cho tôi sự căm ghét kia.
Và có một lý do khác nữa.
Tôi nghĩ rằng tôi đã căm ghét ông trước khi tôi gặp ông.” “Tôi biết vậy.
Điều gì đã làm anh thay đổi suy nghĩ?” “Tôi không thể giải thích điều đó cho ông được.” Họ cùng lái xe tới khu đất ở Connecticut, nơi những bức tường của ngôi nhà đang vươn lên từ mặt đất băng giá.
Wynand đi theo Roark qua các căn phòng tương lai. Ông đứng bên cạnh và quan sát Roark hướng dẫn những công nhân ở đó.
Thỉnh thoảng Wynand đến một mình.
Những người công nhân nhìn thấy một chiếc xe hai chỗ không mui màu đen leo lên con đường vòng vèo dẫn lên đỉnh đồi, và nhìn thấy hình dáng Wynand đứng từ xa ngắm nhìn công trình.
Dáng vẻ của ông luôn ẩn chứa những liên tưởng về vị trí của ông: sự thanh lịch nhã nhặn của áo khoác, sự góc cạnh của chiếc mũi, dáng đứng tự tin, vừa căng thẳng vừa thoải mái, làm cho người ta nghĩ về một đế chế Wynand.
Nó làm cho người ta nghĩ đến những chiếc máy in gầm gào xuyên qua các đại dương, về những tờ báo, những trang bìa tạp chí rực rỡ, những luồng sáng run rẩy của các rạp chiếu phim, những đường dây điện thoại tỏa đi khắp thế giới, một quyền lực chảy tràn vào mọi cung điện, mọi thủ đô, mọi gian phòng quan trọng và bí mật t...
Ông đứng yên lặng, dựa vào bầu trời có màu xám xịt như nước thải máy giặt. Những bông tuyết rơi một cách lười biếng qua vành mũ của ông.
Vào một ngày tháng Tư, ông lái xe một mình tới Connecticut sau nhiều tuần vắng mặt.
Chiếc xe mui trần hai chỗ băng qua đồng quê, không phải như một vật thể chuyển động, mà là một dải tốc độ dài.
Ông không thấy sự chuyển động trong cái hình khối nhỏ bé làm bằng kính và da ấy. Với ông dường như chiếc ô-tô đứng yên, treo lơ lửng phía bên trên mặt đất, trong khi bàn tay ông điều khiển vô lăng làm cho trái đất này bay ngang qua ông. Và ông chỉ đơn thuần chờ nơi ông muốn tới.
Ông yêu quý vô lăng của chiếc xe như yêu quý bàn làm việc trong văn phòng ở tòa soạn tờ Ngọn cờ; cả hai thứ đó đều làm cho ông có cái cảm giác như có một con quái vật nguy hiểm đang nhũn người dưới sự điều khiển tài tính của các ngón tay ông. Có một cái gì đó vụt qua tầm mắt của ông, và phải đi thêm một dặm nữa ông mới...
Ông đã rất bận rộn trong những tuần qua.
Ông không có thời gian để nhận ra điều đó.
Giờ đây ông nhìn thấy dấu hiệu của màu xanh trên những cánh đồng bao quanh, giống như một lời thì thầm. Ông nghe thấy trong tâm trí ông vẳng lên ba lời tuyên ngôn được khớp với nhau một cách chính xác như những bánh răng: Trời đã sang xuân – Chẳng biết ta còn bao nhiêu năm để nhìn thấy nó – Ta năm mươi lăm tuổi. Đó là ...
Ông chưa bao giờ nghĩ về tuổi tác của mình trong mối liên hệ với bất kỳ đơn vị đo nào, ông chưa bao giờ định nghĩa vị trí của mình trong một dòng chảy có giới hạn.
Ông đã là Gail Wynand, đã tồn tại vững chắc, như chiếc ô-tô này, nhiều năm đã qua, giống như trái đất này, như động cơ trong cơ thể ông, động cơ đã điều khiển chuyến bay của những năm tháng.
Không, ông nghĩ, ta không hối tiếc gì cả. Ta đã để lỡ một vài điều nhưng ta không hề hối tiếc, bởi vì ta đã yêu cuộc đời của ta như nó vốn có, kể cả những phút giây ta cảm thấy trống rỗng, kể cả những khi ta không tìm thấy lời giải đáp trong cuộc đời ta. Nhưng ta yêu nó.
Nếu như câu chuyện truyền thuyết về việc mỗi người rồi sẽ phải đứng trước một vị quan tòa tối cao và liệt kê những thành tích của mình là có thật; thì ta, với tất cả niềm tự hào của mình, sẽ liệt kê – không phải những thứ ta đã làm được – mà chỉ một thứ, một thứ ta chưa bao giờ làm trên trái đất này: đó là ta chưa bao ...
Ta đã sống và Ta đã hành động.
Ông lái xe xuống chân đồi và đạp phanh xe, giật nảy mình khi nhìn lên phía trên. Trong thời gian ông vắng mặt, ngôi nhà đã hiện hình. Bây giờ đã có thể nhận được ra ngôi nhà ấy, nó giống y như bản vẽ. Trong chốc lát, ông phân vân như một đứa trẻ liệu có đúng là ngôi nhà ấy đã mọc lên từ trong bản phác thảo không nhỉ? C...
Ông rời khỏi xe và đi bộ lên đỉnh đồi.
Ông nhìn thấy Roark giữa những người công nhân. Ông đứng phía ngoài và quan sát cách Roark đi ngang qua công trình, cách anh quay đầu hoặc giơ tay lên để chỉ. Ông nhận ra dáng vẻ của Roark khi dừng lại: chân anh dang ra, các cánh tay buông dọc thân hình, đầu ngẩng cao; một tư thế toát ra sự tự tin bản năng và một nguồn...
Wynand nghĩ thầm, một kết cấu là lời giải cho bài toán về các sức ép đối nghịch, về sự cân bằng và về độ an toàn. Ông nghĩ: không có những yếu tố cảm tính trong việc dựng lên một tòa nhà, đó chỉ là một công việc cơ học, giống như việc lắp đặt đường ống thoát nước hay việc sản xuất ra một loại xe ô-tô.
Và rồi ông tự hỏi tại sao khi nhìn Roark, ông lại có cái cảm giác như khi ở trong gallery của mình.
Wynand nghĩ: anh ta thuộc về những công trình chưa hoàn thành, hơn là một công trình đã hoàn thành, hơn là khi ngồi ở bàn vẽ; đây chính là chỗ của anh ta; nó thích hợp với anh ta – như Dominique đã nói rằng cái thuyền buồm thích hợp với ta.
Sau đó Roark đi ra và họ cùng đi bộ theo triền đồi, xuyên qua những đám cây. Họ ngồi xuống một nhánh cây đổ và nhìn ngôi nhà từ xa, qua những bụi cây. Những thân cây khô và trơ trụi, nhưng có thể cảm nhận được sức sống của mùa xuân từ sự reo vui của những cành nhánh đang vươn thẳng lên trời một cách ngạo nghễ, từ sự la...
Wynand hỏi: “Howard, anh đã từng yêu bao giờ chưa?” Roark quay lại nhìn thẳng vào ông và trả lời khẽ: “Tôi vẫn đang yêu.” “Nhưng khi anh đi xuyên qua một công trình, cái anh cảm thấy còn lớn hơn thế, phải không?” “Lớn hơn nhiều, Gail.” “Tôi đang nghĩ về những người vẫn nói rằng hạnh phúc là điều không thể có trên trái ...
Người ta dùng
CỦA TRẺ “Làm thêm việc gì đó khi đi bộ” giúp tạo nên bộ não thiên tài Rèn luyện từ sóm “vùng số 10”- vùng chỉ có ở con người Ở đây tôi xin giải thích một chút về não bộ để các bạn có thể sử dụng quyển sách này một cách hiệu quả. Hình vẽ ở trang bên phải là “Bản đồ vỏ não Brodmann” đã chia não bộ thành 52 vùng dựa vào h...
Ví dụ vùng số 46 giúp con người ghi
liên quan đến quyền lợi hoặc chính in cụ thể.
Nhà chính trị chuyên nghiệp là nhà chính trị có khả năng đối thoại với nhiều cộng đồng. Trong thời đại toàn cầu hoá, tất cả các quan hệ song phương đều chứa đựng các yếu tố đa phương, vì thế, hiểu biết về các cộng đồng khác hay cũng như về cộng đồng toàn nhân loại là một trong những tố chất quan trọng nhất của nhà chín...
Đấy chính là tố chất đại điện. Khi đã có tố chất đại diện, để được lựa chọn, anh cần phải có tố chất thứ hai, đó là tố chất đối thoại. Đối thoại ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, nó bao gồm cả những hình thức hoà bình lẫn những hình thức sử dụng vũ lực, chẳng hạn chiến tranh. Kim von Clausewitz, nhà quân sự Đức có n...
Muốn đối thoại cần phải hiểu đối tượng đối thoại, nói cách khác là phải có một kiến thức cơ bản về văn hoá của đối tượng cùng
phía đông nam đi cho đến khi hình ảnh của đại dương dần hiện ra.
Có thể nó nằm giữa những dãy cây và đường ray, dưới bầu trời đen mịt mù, ông ta bắt đầu kể quê hương của mình, một vùng đất của sữa và mật ong và Lily hỏi tại sao ông ấy lại ra rời xa quê hương. “Chỉ muốn bay xa thôi” ông ta đáp lại.
“ Kia là quyển gì mà cô đang đọc thế ?” “ Quyển nhật ký của mẹ tôi” “Mẹ cô đang ở đâu?” “Bà ta không còn nữa” “ Thế nên cô giữ quyển sách kia, đó là kỷ niệm rất đáng giá” Và ông ta đưa cô xem tấm ảnh của vợ và con mình “Họ đã qua đời rồi sao?” Lily hỏi: “ Theo như tôi biết thì chưa” Ông ấy trở người làm Lily tỉnh giấc....
Ông xốc eo cô lên và thúc mạnh vào bên trong cô gái, dù cô nàng trẻ hơn ông rất nhiều, đối trọng với từng lớp mỡ thừa có từ hàng ngàn thế kỷ trước của người đàn ông từng trải, đầy đam mê và hoang dại.
Tôi không kể cho Rose rằng mẹ cô ấy đã nhìn thấy chúng tôi. Cảm giác thật tuyệt khi đi dạo tay trong tay với Rose.
Mọi người nhìn chằm chằm một cách tò mò. Tôi đoán tôi đã tìm được một thứ mà có thể gây được sự tò mò hơn ở tôi cho các nhà hàng xóm ở đây.
Đó là một buổi tối gió mạnh.
Rose đã đánh bóng đôi giày ống màu đen cũ kĩ đến sáng loáng và tôi ao ước đến điên cuồng có thể mặc chiếc đầm mới.
À, lần sau vậy.
Tôi bắt buộc cô đi xuyên qua cửa của Mecca như thể phải chĩa súng vào cô ấy.
Điều tuyệt vời nhất về Mecca là có hết tất cả mọi thứ.
Tôi chưa bao giờ lục tung nơi này lên như tôi đã làm đêm qua ở chỗ Rose.
Tôi nhìn thấy việc đó qua đôi mắt của cô và tôi có thể chỉ ra thế nào là được gọi là thứ tự.
Hầu hết là những đàn ông da màu và không mấy có nhiều phụ nữ. Những người đàn ông ăn mặc bóng nhẫy ngoại trừ túi tiền họ thì đã cháy sạch sành sanh. Họ kiếm nhiều tiền hơn cả những thợ mỏ, tôi biết được chuyện ấy bởi vì tôi được nghe từ một gã thanh niên trong chiếc cavat bằng lụa tên Aldridge.
Tôi chưa bao giờ nhìn thấy những gã thanh thiếu niên điệu bộ làm dáng như cách bọn họ đã làm.
Họ dựa vào quầy bar như những con ong chuẩn bị hút mật, đợi những phụ nữ vi vu xung quanh, và như bạn biết đấy bọn họ đã làm cho mẹ mình đau lòng biết bao. Họ tạo những nụ cười bí ẩn và khúc khích khi trò chuyện với những chàng thanh niên da trắng.
Cũng có những cặp trai gái ở tuổi trung niên, những người cưỡi ngựa đua nổi tiếng.
Họ là những người duy nhất đã dẫn vợ mình đi theo, hai người phụ nữ trông có vẻ rất nghiêm túc.
Có một nhóm đàn ông từ Tây Ấn Độ trong bộ râu mép chì mỏng đang trò chuyện cùng nhau.
Một trong số họ là luật sư và người khác nữa thì quen thuộc với tôi - Nico.
Ông ta gọi tôi là “ chérie”.
Có một người đàn ông trẻ siêng năng lúc nào cũng ngồi một mình viết sách.
Tối nay tôi thấy có ba hay bốn cô gái da trắng đang ngồi cùng với bạn trai da màu của mình và tôi nói với Rose là, tối thiểu chúng ta không phải là những người tham gia buổi tối nay và cô ấy đáp lại “vâng đúng vậy.” Tôi nói, “ Họ nhìn không như da màu”. Và cô ấy nói, “Say Negro” Một người Do Thái mang theo một thùng bi...
Đêm nay cũng có những bàn cho tầng lớp cao trong xã hội đã tồn tại trong một thời gian dài - các cô nàng và các chàng không biết một điều gì về nơi họ đang hiện diện và cứ nghĩ rằng mình thật sự thông minh khi hiện diện nơi này.
Chắc chắn rằng họ cũng nghĩ như thế về tôi.
Thỉnh thoảng tôi thắc mắc, có thể nào nó còn khó hơn cả lau sàn nhà ?
hoặc có tới bảy đứa nhóc?
Việc làm ăn phải phát đạt bởi giám đốc đã lắp đặt một sân khấu nhỏ, đèn sân khấu, và tấm màn tím lấm lánh với “MECCA” được viết là À la Araby trong đồng xê quin vàng phản chiếu lại bóng hình của những cái tháp, mười phút sau khi chúng tôi ngồi xuống , một người đàn ông trong bộ tuxedo bước ra từ sau chiếc màn và tuyên ...
Những người Do Thái bán đồ kim chỉ nhảy tất cả những điệu nhạc van xơ.
Với một cậu trai trắng trẻo xinh xắn từ Long Island - Tôi hỏi cậu ấy nếu cậu ấy có quen với Dân Thành Thị và cậu ấy trả lời một cách quan trọng hóa là họ là những người bạn thân của anh ta. Tôi hỏi cậu ấy có biết Jeanne và cậu có vẻ như không biết - sau đó cậu ấy nói có nghĩ đến một đứa con gái người mà “chết một cách ...
Tôi cười và cậu không yêu cầu cho lần nhảy thứ hai- cũng vậy thôi, cậu ta chỉ như di chuyển hai cái que củi vậy.
Một lúc, Rose đi với dáng điệu lừ đừ với ly bia trong bộ trang phục thật đáng yêu. Cô chẳng để mắt tới cho tới khi tôi nhảy cùng với bạn thân yêu Nico.
Điều đó làm cho cô để ý, tôi có thể nói vậy, mặc dầu tôi không biết tại sao có sự khác nhau giữa những người đàn ông da trắng. Một sự khác nhau duy nhất mà tôi có thể thấy là, ngoại trừ những gã Ailen bặm trợn, gân cốt thì đàn ông Negro là nhất.
Khi tôi ngồi xuống bàn trong khi ban nhạc nghỉ giải lao, Rose nói, “Mình sẽ nhảy với bạn nếu bạn dạy cho mình.” Đó là điều đầu tiên cô ấy đã nói sau một tiếng đồng hồ.
Tôi đã làm cho cô ấy ghen. Tôi hỏi cô buổi diễn như thế nào. “Tầm thường không thể tưởng tượng nổi” “Điệu nhảy rất hay” “Quần áo mặc bên ngoài thật ngớ ngẩn” “Nhìn ai đang nói kìa.” “ Ít nhất là tôi vẫn mặc đủ quần áo” Tôi bắt cô ấy uống vài ngụm Whiskey của mình, sau dó tôi đã làm một việc thật điên khùng- tôi hôn lên...
Nhanh chóng, bạn biết không, cả hai chúng tôi ửng đỏ.
Cô chẳng kháng cự lại, cô chỉ đưa tay lên gọi hầu bàn và yêu cầu thêm hai ly nước uống bằng một giọng lắng sâu làm tôi bật cười, tôi nói thầm thì bên tai của mình là “ Bạn có đủ tiền trả không?” tôi chạm tai mình trên môi cô nàng.