filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
monte carlo.txt
Monte Carlo (tiếng Pháp: Monte-Carlo, Occitan: Montcarles Monégasque: Monte-Carlu) là một khu vực hành chính của Công quốc Monaco. Monte Carlo được biết đến rộng rãi với sòng bạc và sự nổi bật của nó. Dân số thường trú khoảng 15.000 trong quý. Monte Carlo quý bao gồm không chỉ thích hợp Monte Carlo Casino Le Grand nằm, nó cũng bao gồm các khu vực lân cận của Saint-Michel, Saint-Roman/Tenao, và cộng đồng các bãi biển của Larvotto. Nó cũng là một trong 10 phường của Monaco, với dân số khoảng 3.500. Giáp thị trấn của Pháp Beausoleil (đôi khi được gọi là Monte-Carlo-Supérieur). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == The portal to the Principality in 5 languages Travel guide for Monte Carlo and Monaco Official site about Monte Carlo thermae Monte Carlo - Fullscreen 360 degree Quicktime VR Panorama Monaco Portal Monaco Hotels reservation
georges boudarel.txt
Georges Boudarel (21 tháng 12 năm 1926 – 26 tháng 12 năm 2003) là một học giả người Pháp, người từng tham gia cùng với Việt Nam trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Ông từng bị cáo buộc đã tham gia tra tấn những tù binh người Pháp trong cuộc chiến này. == Tiểu sử == Georges Boudarel sinh ngày 21 tháng 12 năm 1926 tại Saint-Étienne, Loire, trong một gia đình Công giáo. Sau khi tốt nghiệp đại học ngành văn chương, ông tham gia Đảng Cộng sản Pháp. Vào cuối những năm 1940, Georges Boudarel làm giảng viên triết học tại trường trung học Marie-Curie ở Sài Gòn. Thời gian này, ông tham gia với một nhóm Marxism của những người Pháp và qua đó bắt liên lạc với phe kháng chiến Việt Nam. Năm 1949, Georges Boudarel rời bỏ cương vị giáo viên tại trung học Yersin, Đà Lạt, để tham gia vào Việt Minh với bí danh Đại Đồng. Ông được Phạm Ngọc Thạch phân công làm việc tại Địch vận Việt Minh, phát thanh cho ban Pháp Ngữ đài Nam Bộ Kháng chiến. Thời gian sau, Georges Boudarel được thuyên chuyển lên Việt Bắc, giữ nhiệm vụ phó trưởng trại cho trại tù số 113 giam tù binh Pháp tại Láng Kiều, gần biên giới Trung Quốc, phía nam Hà Giang. Những hành động của Georges Boudarel trong khoảng thời gian này là một điều gây tranh cãi. Theo Georges Boudarel, ông chỉ làm thông dịch và giảng cho các tù binh Pháp các chính sách và quy định của chính phủ Hồ Chí Minh đối với các tù binh. Tuy vậy, nhiều tù binh sống sót đã nói rằng chính Georges Boudarel tham gia vào việc thẩm vấn và tra tấn họ. Cáo trạng của các cựu tù nhân nêu rõ ông đã góp phần bỏ đói tù nhân, tra tấn vật lý, tàn phá cơ thể, tuyên truyền chính trị và chỉ điểm tố cáo giữa các tù binh. Trong năm mà ông làm nhiệm vụ ở trại, 278 trong tổng số 320 tù nhân đã thiệt mạng. Sau khi cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc, Georges Boudarel tỏ vẻ thất vọng với chiến tranh và nhờ sự can thiệp của Đảng Cộng sản Pháp để rời Việt Nam sang Praha vào năm 1964. Ông được Đảng Cộng sản Tiệp Khắc sắp xếp một công việc tại Tổng Công Đoàn thế giới (World Federation of Trade Unions). Năm 1967, sau khi chính phủ Pháp thông qua đạo luật ân xá cho những người phạm tội trong các cuộc chiến tại Đông Dương và Algérie, Georges Boudarel trở về Pháp và tiếp tục đi học. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài về Phan Bội Châu. Georges Boudarel trở thành một nhà nghiên cứu về Việt Nam quan trọng và được giới học giả công nhận, với nhiều tác phẩm giá trị như 'Phan Bội Châu', 'Cải cách ruộng đất', 'Trăm Hoa đua nở trong bóng đêm miền Bắc', 'Tự do tính dục tại các làng xã Việt cổ truyền' , v.v. Ông cũng là một dịch giả đã giới thiệu nhiều tác phẩm Việt Nam ra tiếng Pháp, như Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Đại thắng mùa xuân của Văn Tiến Dũng... Từ năm 1967 đến khi nghỉ hưu, Georges Boudarel giảng dạy tại trường Đại học Paris VII. Không giống với những người khác, Georges Boudarel không giấu đi quá khứ đã rời bỏ phía Pháp để theo Việt Minh. Ông nhìn nhận thẳng thắn vào lịch sử của phong trào cộng sản Việt Nam mà bản thân ông có liên quan. Mặc dù ông công nhận mình đã sai lầm khi tin tưởng vào chủ nghĩa cộng sản, ông không hối tiếc việc đã gia nhập Việt Minh. Tháng 4 năm 1991, Georges Boudarel bị luật sư Jean-Marc Varaut, đại diện cho Wladislav Sobanski, một cựu tù nhân của trại 113, và Hội Cựu Tù nhân Đông Dương kiện vì tội ác chống lại loài người. Tuy vậy, ông được tha bổng nhờ đạo luật ân xá năm 1966. Những năm cuối đời, Georges Boudarel sống trong trại dưỡng lão và mất vào ngày 26 tháng 12 năm 2003, thọ 77 tuổi. == Tác phẩm == Jean Chesneaux, George Bourdarel, Daniel Hémery, Tradition et révolution au Viet-Nam, Paris, Anthropos, 1971. Georges Boudarel, Giap, éditions Atlas, 1977 Georges Boudarel, La Bureaucratie au Viêt Nam, L'Harmattan, 1983 Georges Boudarel, Cent fleurs éclosent dans la nuit du Viêt Nam: communisme et dissidence, 1954-1956, Jacques Bertoin, 1991 Georges Boudarel, Autobiographie, Jacques Bertoin, 1991 Georges Boudarel, Nguyễn Văn Ký, Hanoi 1936-1996: du drapeau rouge au billet vert, Autrement, 1997 Georges Boudarel, Nguyễn Văn Ký, Hanoi: City of the Rising Dragon, Rowman & Littlefield, 2002. Georges Boudarel, Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 1998 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tiểu sử Georges Boudarel trên trang của Hội Cựu Tù nhân Đông Dương Vụ Boudarel trên trang của Hội Cựu Tù nhân Đông Dương
tiền giấy.txt
Tiền giấy, (hoặc tiền mặt) thường được gọi là giấy bạc ngân hàng, là một công cụ có thể chuyển nhượng được, một kỳ phiếu do một ngân hàng phát hành phải trả cho người cầm nó, được sử dụng làm tiền tệ, và theo nhiều phạm vi pháp lý, được sử dụng làm tiền tệ chính thức. Cùng với tiền kim loại, tiền giấy tạo thành các hình thức tiền mặt của tất cả các loại tiền tệ hiện đại. Ngoại trừ các loại tiền làm bằng kim loại quý có giá trị cao để kỷ niệm và không đưa vào lưu thông, tiền xu kim loại thường được sử dụng cho các đơn vị tiền tệ có giá trị thấp hơn còn tiền giấy được sử dụng cho những mệnh giá cao hơn. Ban đầu, giá trị của tiền giấy đã được xác định bởi giá trị nội tại (giá trị thực chất) mà đồng tiền đó được đúc, như bạc hay vàng. Tuy nhiên, mang theo trong người nhiều kim loại quý như thế thường phiền toái và rất nguy hiểm. Để thay thế, tiền giấy đã được phát hành. Trong thuật ngữ tài chính, một tờ giấy bạc là một tờ giấy hứa trả cho người nào đó tiền. Ban đầu, các đồng giấy bạc là một lời hứa trả cho người mang nó một khoản kim loại quý được chứa trong các kho ngầm ở đâu đó. Bằng cách này, giá trị của kim loại được chứa ở kho (thường là tiền kim loại bằng bạc hoặc vàng) đã ủng hộ giấy bạc có thể chuyển đổi quyền sở hữu để đổi lấy hàng hóa hoặc dịch vụ. == Xem thêm == Bản vị tiền tệ Bản vị vàng Tiền giấy Euro == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Gallery giấy bạc thế giới Ron Wise's Banknote World worldpapermoney.org Online World Paper Money Museum Numismondo - World Paper Money Picture Catalog Gallery describing who/what is featured on modern world banknotes World Banknotes issued since 1961 illustrated catalogue Các bộ sưu tập tiền nhựa polymer Polymer Bank Notes of the World Các tổ chức của người sưu tập tiền giấy Banknotebank.com Các hãng in tiền giấy US Bureau of Engraving and Printing Note Printing Australia American Bank Note Company Canadian Bank Note Company Ltd Giesecke & Devrient Thomas de la Rue François-Charles Oberthur
những tấm lòng cao cả.txt
Những tấm lòng cao cả hay Tâm hồn cao thượng (tiếng Ý: Cuore; nghĩa là Trái tim) là một cuốn tiểu thuyết trẻ em của nhà văn người Ý Edmondo De Amicis. Lấy bối cảnh trong lúc nước Ý đang thống nhất cũng như nói về đề tài yêu nước. Tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên vào ngày 18 tháng 10, năm 1886, ngày khai trường ở Ý và trở thành một hiện tượng xuất bản ngay lập tức. Xuyên suốt tiểu thuyết là những vấn đề xã hội như sự nghèo đói, Những tấm lòng cao cả cho thấy ảnh hưởng của tư tưởng chính trị cánh tả trong những tác phẩm của Amicis (ngay sau khi viết tác phẩm này ông gia nhập Đảng xã hội Ý). Vì thế, cuốn sách đã có ảnh hưởng rất lớn ở các nước thuộc Khối Xô Viết. Mặt khác, sự cổ xúy chủ nghĩa dân tộc và lòng yêu nước cũng làm cuốn sách rất được hoan nghênh trong thời Phát xít Ý. Bỏ qua những cái nhìn với nhãn quan chính trị, cuốn sách này được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ (như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Hoa, tiếng Hebrew,...) và được yêu chuộng vì văn phong giản dị và ý nghĩa giáo dục về tình nhân ái. == Cốt truyện và nhân vật == rTác phẩm được viết theo hình thức nhật ký của Enico Bottini (là An Di trong bản dịch của Hà Mai Anh), một cậu học trò 10 tuổi học tiểu học ở Ý. Gia đình cậu thuộc tầng lớp thượng lưu trong khi nhiều bạn cùng lớp lại xuất thân từ tầng lớp lao động. Cốt truyện diễn ra theo thứ tự thời gian xuyên suốt năm lớp 3 của Enrico. Ở đó Enrico đã được tiếp xúc với những cậu bé đủ mọi tính cách như Garone là một người bạn to lớn, hào hiệp, luôn giúp đỡ mọi người, bênh vực kẻ yếu; De Rossi là một chú bé rất thông minh, luôn dẫn đầu lớp nhưng không hề kiêu căng; trong khi đó Votini lại luôn đố kị với De Rossi khiến thầy giáo phải nói với cậu ta rằng "đừng để con rắn ghen tị luồn vào trái tim, đó là một con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái tim." Những người bạn như Precossi, Crossi, Coretti thì sinh ra trong gia đình nghèo nhưng luôn cố gắng vươn lên trong học tập và lao động. Ngoài ra còn có những nhân vật có tính cách đặc biệt như Stacdi lầm lì, ít nói, thậm chí bố cậu đã nói với thầy phải rất kiên nhẫn vì con ông "đầu đất", vậy mà cuối cùng Stacdi trở thành một trong những học sinh giỏi nhất lớp; lại còn có tên Franti hư đốn luôn bắt nạt các bạn khác, thậm chí hỗn cả với thầy. Tuyến nhân vật người lớn cũng được xây dựng ở nhiều tính cách như thầy chủ nhiệm thì không bao giờ cười nhưng rất thương yêu học sinh, thầy Coatti dạy lớp 2 thì rất vui tính, bố mẹ Enrico thì luôn chăm sóc con hết mực, dạy cho con nhiều bài học qua những lá thư, trong khi đó bố Precossi thì luôn say rượu và đánh đập con, phải đến khi cậu bé nhận huy chương xuất sắc của lớp ông mới tỉnh ngộ,... Xen kẽ vào cuốn nhật ký của cậu bé Enrico là các truyện đọc hàng tháng (thầy giáo yêu cầu học sinh chép để đọc cho cả lớp), đây là những câu chuyện kể về tấm gương những thiếu niên dũng cảm của nước Ý, có những người hi sinh vì Tổ quốc như cậu bé trinh sát ở Lombardia, có người chết để cứu những người thân thiết như cậu bé ở Roma hay cậu bé người Sicilia, và cả những người có nhiều nghĩa cử cao đẹp,... Qua "Những tấm lòng cao cả", Amicis muốn gửi gắm đến các em thiếu nhi những bài học đạo đức sâu sắc cũng như vai trò quan trọng của nhà trường, cha mẹ trong việc dạy dỗ trẻ em. == Bản dịch tiếng Việt == Tác phẩm này có một số bản dịch tiếng Việt. Bản dịch đầu tiên với nhan đề Tâm hồn cao thượng do Hà Mai Anh dịch từ bản tiếng Pháp Grands Coeurs của A.Piazzi, bản dịch đoạt "Giải thưởng Văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội" năm 1948, rất phổ biến trong các thập niên 1950, 1960 và có lúc được trích đoạn dùng trong sách giáo khoa lớp 7 tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, đến nay vẫn còn được tái bản nhiều lần, mới nhất là bởi Nhà xuất bản Thanh niên tái bản lần thứ 7 năm 2008 (bỏ một số tiểu truyện).. Tại miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, bản dịch này đã gây những ấn tượng sâu xa trong thế hệ niên thiếu của thời đó, được xem như một cuốn "luân lý giáo khoa thư" của thế kỷ 20. Nhà khoa học Nguyễn Xuân Vinh đã coi cuốn sách Tâm hồn cao thượng với bản dịch tiếng Việt của nhà giáo Hà Mai Anh là "cuốn sách đã ảnh hưởng nhiều nhất từ trước tới nay" đến ông. Ông Nguyễn Xuân Vinh viết về cuốn sách này: "...Những câu chuyện ở học đường, và trong gia đình, về các thầy giáo, cô giáo và bè bạn của An-Di, những mẩu chuyện vui hay buồn đã xảy ra trong thành phố cổ xưa này đã được kể lại trong sách bằng một văn phong giản dị và trong sáng, thắm đặm tình người.... đặc biệt là cuốn truyện đầu tiên bằng tiếng Việt tôi được đọc, tả cuộc đời của cậu bé An-Di trong một năm học ở lớp Ba, đã cho tôi nhiều bài học về lòng thương người, phương cách cư xử chung thủy với bè bạn, và hiếu kính với mẹ cha..." Một bản dịch khác là Những tấm lòng cao cả do Hoàng Thiếu Sơn dịch, được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành lần đầu năm 1977, được tái bản nhiều lần. == Chú thích == == Liên kết ngoài == (tiếng Ý) Nguyên tác tại Wikisource. (tiếng Ý) Nguyến tác tại liberliber.it. Nguyễn Xuân Vinh - Tâm hồn cao thượng, cuốn sách có ảnh hưởng nhiều nhất, 2003 hay là [1]
iốt.txt
Iốt (có gốc từ tiếng Hy Lạp Iodes, nghĩa là "tím"; tên gọi chính thức theo Hiệp hội Quốc tế về Hóa Lý thuyết và Ứng dụng là Iodine) là một nguyên tố hoá học. Trong bảng tuần hoàn nó có ký hiệu I và số nguyên tử 53. Đây là một trong các nguyên tố vi lượng cần cho sự sống của nhiều sinh vật. Về mặt hoá học, iốt ít hoạt động nhất và có độ âm điện thấp nhất trong các halogen. Mặc dù Astatin được cho là còn ít hoạt động hơn với độ âm điện thấp hơn, nguyên tố đó quá hiếm để khẳng định giả thuyết này. Iốt được dùng nhiều trong y khoa, nhiếp ảnh, thuốc nhuộm. Giống như các halogen khác (thuộc nhóm nguyên tố VII trong bảng tuần hoàn), iốt thường có mặt ở dạng phân tử hai nguyên tử, I2. == Tính chất == Iốt là chất rắn có màu tím thẫm/xám có thể thăng hoa tại nhiệt độ thường tạo ra chất khí màu tím hồng có mùi khó chịu. Chất halogen này có thể tạo thành hợp chất với nhiều nguyên tố hóa học khác, nhưng nó ít hoạt động hơn so với các nguyên tố khác trong nhóm nguyên tố VII và nó có thêm một số tính chất hơi giống kim loại. Iốt có thể hòa tan trong cloroform, cacbon têtraclorua (CCl4), hay carbon đisulfua(CS2) để tạo thành dung dịch màu tím. Nó tan nhẹ trong nước tạo ra dung dịch màu vàng. Màu xanh lam của một chất gây ra khi tương tác với tinh bột chỉ là đặc điểm của nguyên tố tự do. Iốt có thể oxi hoá được với H2 ở nhiệt độ cao và có mặt chất xúc tác tạo ra khí hidro iotua theo một phản ứng thuận nghịch: H2 + I2 <-> 2HI Iốt oxi hóa được nhiều kim loại nhưng phản ứng chỉ xảy ra khi đun nóng hoặc có chất xúc tác. 2Al + 3I2—H2O--> 2AlI3 == Ứng dụng == Iốt là nguyên tố vi lượng cần thiết cho dinh dưỡng của loài người. Tại những vùng đất xa biển hoặc thiếu thức ăn có nguồn gốc từ đại dương; tình trạng thiếu iốt có thể xảy ra và gây nên những tác hại cho sức khỏe, như sinh bệnh bướu cổ hay thiểu năng trí tuệ. Đây là tình trạng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việc dùng muối iốt như muối ăn hằng ngày (có chứa nhiều hợp chất iốt có thể hấp thụ được) có thể giúp chống lại tình trạng này. Các ứng dụng khác của iốt là: Là một trong các halogen, nó là vi lượng tố không thể thiếu để hình thành hormone tuyến giáp, thyroxine và triiodothyronine, trong cơ thể sinh vật. Thuốc bôi iốt (5% iốt trong nước/êtanol) dùng trong tủ thuốc gia đình, để khử trùng vết thương, khử trùng bề mặt chứa nước uống Hợp chất iốt thường hữu ích trong hóa hữu cơ và y khoa. Muối Iốđua bạc dùng trong nhiếp ảnh. Iốtua kali (KI) có thể dùng để điều trị bệnh nhân bị ảnh hưởng của thảm họa hạt nhân để rửa trôi đồng vị phóng xạ Iốt-131, kết quả của phản ứng phân hạch hạt nhân. Chu kỳ bán rã của iốt-131 chỉ là 8 ngày, do đó thời gian điều trị chỉ kéo dài vài tuần, trong thời gian để bán rã hết cần phải có sự hướng dẫn cụ thể của bác sĩ để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe. Trong trường hợp nguy cơ phóng xạ không có phản ứng phân hạch hạt nhân, như bom bẩn, không cần dùng phương pháp này. KI cũng có thể rửa xêzi-137, một sản phẩm khác của phản ứng phân hạch hạt nhân, vì xêzi có quan hệ hóa học với kali, nhưng NaI cũng có tác dụng như vậy. NaI hay có trong muối ăn ít natri. Tuy nhiên xêzi-137 có chu kỳ bán rã kéo dài tới 30 năm, đòi hỏi thời gian điều trị quá dài. Iốđua vonfram được dùng để làm ổn định dây tóc của bóng đèn dây tóc. Nitơ triiôđua là chất gây nổ không bền. Iốt-123 dùng trong y khoa để tạo ảnh và xét nghiệm hoạt động của tuyến giáp. Iốt-131 dùng trong y khoa để trị ung thư tuyến giáp và bệnh Grave và cũng dùng trong chụp ảnh tuyến giáp. Nguyên tố iốt (không nằm trong hợp chất với các nguyên tố khác) tương đối độc đối với mọi sinh vật. == Lịch sử == Iốt (gốc tiếng Hy Lạp iodes nghĩa là tím) được khám phá bởi Barnard Courtois năm 1811. Ông là con trai của một người sản xuất nitrat kali (dùng trong thuốc súng). Vào thời điểm Pháp đang có chiến tranh, thuốc súng được tiêu thụ mạnh. Nitrat kali được tách từ rong biển lấy tại bờ biển Normandy và Brittany. Để tách kali nitrat, rong biển được đem đốt và tro đem rửa vào nước. Những chất không phải là nitrat kali bị phá hủy bởi việc thêm axít sunfuríc. Vào một ngày Courtois thêm quá nhiều axít sunfuríc khiến một chất khí màu tím bay ra. Courtois nhận thấy hơi này kết tinh trên các bề mặt lạnh tạo ra các tinh thể màu sẫm. Courtois nghi ngờ rằng đây là một nguyên tố hóa học mới nhưng thiếu kinh phí để theo đuổi các quan sát chi tiết hơn. Tuy vậy ông đã đưa các mẫu tinh thể này cho các bạn, Charles Bernard Desormes (1777–1862) và Nicolas Clément (1779–1841) để họ tiếp tục nghiên cứu. Ông cũng đem mẫu vật cho Joseph Louis Gay-Lussac (1778–1850), một nhà hóa học nổi tiếng lúc đó, và André-Marie Ampère (1775–1836). Ngày 29 tháng 11 năm 1813 Dersormes và Clément thông báo cho đại chúng về phát hiện của Courtois. Họ miêu tả mẫu vật tại một cuộc họp của Viện Hoàng đế Pháp. Ngày 6 tháng 12 Gay-Lussac thông báo rằng mẫu vật đó có thể là một nguyên tố hóa học mới hoặc một hợp chất ôxy. Ampère đưa một số mẫu vật cho Humphry Davy (1778–1829). Davy đã tiến hành một số thí nghiệm trên mẫu vật và nhận thấy sự tương tự của nó với clo. Davy gửi một bức thư ngày 10 tháng 12 tới Hội Hoàng gia Luân Đôn nói rằng ông đã tìm thấy nguyên tố mới. Một cuộc cãi cọ lớn giữa Davy và Gay-Lussac về việc ai đã tìm ra iốt trước tiên đã nổ ra, nhưng cả hai đều đồng ý rằng Barnard Courtois là người đầu tiên đã tách nguyên tố hóa học mới này. == Độ phổ biến và điều chế == Hợp chất iốt thường gặp trong muối với natri và kali (KI) hay trong KIO3. Iốt có thể thu được ở dạng rất tinh khiết bằng phản ứng giữa KI với sunfat đồng (II). Cũng có vài cách khác để tách nguyên tố hóa học này. Mặc dù nguyên tố này khá hiếm, tảo bẹ và một số loài cây khác có khả năng hấp thụ và tập trung iốt trong cơ thể chúng, dẫn đến việc mang iốt vào dây chuyền thức ăn tự nhiên và giúp việc điều chế iốt có giá thành thấp. Cho tác dụng dung dịch với chất oxi hoá để oxi hoá I- thành I2. Thí dụ phương trình: 2NaI + Cl2 -> 2NaCl + I2 == Đồng vị == Có 37 đồng vị của iốt, trong đó chỉ có duy nhất 127I là bền. Đồng vị phóng xạ 131I (phát ra tia bêta), còn được biết đến với tên gọi iốt phóng xạ có chu kỳ bán rã là 8,0207 ngày, đã được dùng trong điều trị ung thư và các bệnh khác liên quan đến tuyến giáp.123I là đồng vị phóng xạ thường dùng trong chụp ảnh tuyến giáp và đánh giá điều trị cho bệnh Grave. 129I (chu kỳ bán rã 15,7 triệu năm) là kết quả của bắn phá hạt nhân 129Xe bởi tia vũ trụ khi đi vào khí quyển Trái Đất và các phản ứng phân hạch của urani và plutoni, trong đất đá trên bề mặt Trái Đất và các lò phản ứng hạt nhân. Các quá trình xử lý nhiên liệu hạt nhân hoặc thử nghiệm vũ khí hạt nhân đã tạo ra lượng đồng vị lớn lấn át các đồng vị tạo ra bởi quá trình tự nhiên.129I được dùng trong nghiên cứu nước mưa sau thảm họa Chernobyl. Nó cũng có thể đã được dùng trong nghiên cứu mạch nước ngầm để tìm dấu vết rò rỉ chất thải hạt nhân ra môi trường tự nhiên. Nếu 129I được cho tiếp xúc với người, tuyến giáp sẽ hấp thụ nó như thể nó là iốt không phóng xạ thông thường, dẫn đến nguy cơ ung thư tuyến giáp cao. Đối với những người sống gần nơi có phản ứng phân hạch, hay những nơi tương tự, có nguy cơ tiếp xúc với iốt phóng xạ khi tai nạn xảy ra, người ta thỉnh thoảng được cho uống viên iốt. Việc hấp thụ một lượng lớn iốt sẽ làm bão hòa tuyến giáp và ngăn việc thu nhận thêm iốt. 129I có nhiều điểm giống với 36Cl. Nó là halogen hòa tan được, ít hoạt động hóa học, tồn tại chủ yếu ở dạng anion không hấp thụ, và được sinh ra bởi các tia vũ trụ, nhiệt hạt nhân, và các phản ứng phân hạch khác. Trong lĩnh vực nghiên cứu về nước, mật độ 129I được đo theo tỷ lệ 129I trên tổng I (hầu hết là 127I). Tương tự 36Cl/Cl, tỷ lệ 129I/I trong tự nhiên là rất nhỏ, 10−14 đến 10−10 (cực đạt nhiệt hạt nhân của 129I/I trong thập niên 1960 và 1970 là 10−7).129I khác 36Cl ở chỗ chu kỳ bán rã dài hơn (15,7 so với 0,301 triệu năm), xuất hiện trong các sinh vật ở nhiều dạng ion với nhiều ứng xử hóa học khác nhau.129I dễ dàng du nhập vào sinh quyển, nằm trong cây cỏ, đất, sữa, mô sinh học... Lượng lớn 129Xe trong thiên thạch được cho là kết quả của phân rã bêta của hạt nhân 129I. Đây là hạt nhân phóng xạ tuyệt chủng đầu tiên được nhận dạng trong hệ Mặt Trời. Nó phân rã theo sơ đồ đo tuổi phóng xạ I-Xe cơ bản, bao trùm 50 triệu năm của sự tiến hóa của hệ Mặt Trời. == Cảnh báo == Iốt khi tiếp xúc trực tiếp với da có thể gây thương tổn, do đó cần phải cẩn thận khi thao tác với nguyên tố hóa học này. Hơi iốt có thể gây khó chịu cho mắt và các màng nhầy. Đối với các tiếp xúc kéo dài khoảng 8 tiếng đồng hồ, mật độ iốt trong không khí không được vượt quá 1 miligam/mét khối, lấy trung bình theo thời gian. == Dinh dưỡng == Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ khuyến cáo (21 CFR 101.9 (c)(8)(iv)) cả nam và nữ nên tiêu thụ khoảng 150 microgam iốt mỗi ngày. == Tham khảo == (tiếng Anh) Thông tin tại Los Alamos National Laboratory 21 CFR 101.9 (c)(8)(iv) (Văn bản thường PDF) — bảng dinh dưỡng thức ăn của FDA == Xem thêm == Muối iốt == Một số hợp chất == Iốđua amôni (NH4I) Iốđua xêzi (CsI) Iốđua đồng (I) (CuI) Axít iốthiđric (HI) Axít iốđic (HIO3) Xyanua iốt (ICN) Heptaflorua iốt (IF7) Pentaflorua iốt (IF5) Iốđua chì (II) (PbI2) Iốđua liti (LiI) Triiốđua nitơ (NI3) Iốđua kali (KI) Iốđua natri (NaI) == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) WebElements.com - Iodine ChemicalElements.com - Iodine who.int - WHO Global Database on Iodine Deficiency Network for Sustained Elimination of Iodine Deficiency Oxidizing Agents > Iodine
hạnh phúc.txt
Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng. Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí. == Ý kiến và nhận xét == Nhà triết học Heraclitus nói: "Nếu thỏa mãn vật chất là hạnh phúc thì ta có thể xem con bò là hạnh phúc..." Karl Marx: "Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất..." "Chỉ có cầm thú mới quay mặt trước nỗi đau của đồng loại, mà chăm lo cho hạnh phúc riêng của mình..." == Xem thêm == Ngày Quốc tế Hạnh phúc Đau khổ Bất hạnh == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
natsume sōseki.txt
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Natsume. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Natsume Sōseki (Tiếng Nhật: 夏目 漱石, phiên âm Hán-Việt: Hạ Mục Thấu/Sấu Thạch, tên thật là Natsume Kinnosuke (夏目金之助, Hạ Mục Kim Chi Trợ), sinh ngày 9 tháng 2 năm 1867 và mất ngày 9 tháng 12 năm 1916), là nhà văn cận-hiện đại lớn của Nhật Bản. Nổi tiếng vì thuộc thế hệ những trí thức tinh hoa theo khuynh hướng sáng tạo văn hóa từ cuộc đối đầu phương Đông và phương Tây thời kỳ Meiji (Minh Trị, 1868-1912), là một trong những chủ soái của trường phái văn chương tâm lý cao sang (yoyūha, Dư dụ phái) bút chiến với chủ nghĩa tự nhiên (shizenshugi) trên văn đàn Nhật Bản những năm đầu thế kỷ 20, Natsume Sōseki được các nhà phê bình văn học đánh giá là "một trong ba trụ cột của văn học hiện đại Nhật Bản" cùng Mori Ōgai (1862-1922) và Akutagawa Ryunosuke (1892-1927). == Tiểu sử và sự nghiệp == Natsume Sōseki sinh tại Edo Nhật Bản năm 1867, chỉ một năm trước khi sự kiện Minh Trị Duy tân được khởi xướng (1868). Sự ra đời của ông không được bố mẹ hoan nghênh vì hoàn cảnh gia đình bắt đầu sa sút và nỗi lo lắng trước sự biến đổi không lường trước của thời đại mới với những đổi thay đến chóng mặt của Nhật Bản theo mô hình phương Tây. Năm lên 2 tuổi, Sōseki đã phải rời gia đình đi làm con nuôi cho một gia đình ở Shinjuku, Tokyo. Tuy được cha mẹ nuôi yêu mến, cậu bé vẫn không thôi cảm thấy mình cô độc và mặc cảm. Khi lớn lên, Natsume Sōseki theo học chữ Hán và tiếng Anh để dự thi vào trung học, sớm say mê văn học và đọc nhiều tác phẩm văn chương cổ điển Nhật Bản cũng như những tác phẩm văn học Anh đương thời. Năm 1888, Natsume Sōseki vào học Khoa tiếng Anh của Trường số 1 của Đại học Đế quốc Tōkyo. Tại đây Sōseki chịu ảnh hưởng lớn từ Thất thảo tập của thi sĩ Masaoka Shiki (1867-1902), một người bạn thân thiết học Khoa tiếng Nhật cùng trường, người sau này được đánh giá là một trong tứ trụ haiku Nhật Bản vì đã có công hoàn thiện thể thơ từ thiền sư thi sĩ Matsuo Bashō và lần đầu tiên đặt tên haiku cho thể loại. Chịu ảnh hưởng ít nhiều từ bạn tâm giao, Natsume Sōseki bắt đầu sáng tác những bài thơ bằng chữ Hán (kanshi, Hán thi) theo thể haiku và lần đầu tiên dùng biệt hiệu Sōseki, một biệt hiệu thể hiện tâm nguyện thay đổi mạnh mẽ thực tại. Những năm đầu tiên của thế kỷ 20, trong khoảng thời gian từ 1900 đến 1903, Natsume Sōseki du học ở London. Năm 1904 Sōseki trở về nước và được nhận vào làm Giáo sư Khoa văn Trường Đại học Đế quốc Tōkyo. Theo lời khuyên của Takahama Kyoshi, Sōseki bắt đầu tham gia viết bài cho tạp chí Sankai. Tác phẩm Tôi là con mèo (Wagahai wa neko de aru, 1905-1906) của Natsume Sōseki đăng dài kỳ trên tạp chí này đã tạo dựng tên tuổi cho ông. Cũng trong những năm này, Sōseki lần lượt cho ra mắt các truyện ngắn và truyện vừa như Tháp London (Rondonto, 1905), Ký sự Cairo, Bảo tàng Carain (Karain Hakubutsukan, 1905), Chiếc mộc hư ảnh, rồi Gối cỏ (Kusamakura, 1906). Đặc biệt tác phẩm Cậu ấm (Botchan, 1908) đã mang đến cho Sōseki danh tiếng rực rỡ. Thành công trên văn đàn giúp Sōseki quy tụ xung quanh mình được nhiều đệ tử và tạo dựng Trường phái Sōseki. Năm 1907, Sōseki vào làm việc cho nhật báo Asahi Simbun, một trong những báo quan trọng nhất của Tokyo. Sau truyện Hoa mào gà, hầu hết các tác phẩm sau đó của Sōseki đều in trên tờ Asahi Simbun. Từ năm 1908, Natsume Sōseki bị tái phát bệnh thần kinh ông mắc phải từ thời kỳ còn du học ở London, thêm vào đó ông còn bị những cơn đau dạ dày triền miên hành hạ. Tuy vậy Sōseki vẫn tiếp tục viết không ngừng nghỉ trong nỗ lực chạy đua với tử thần và lần lượt những tác phẩm xuất sắc nảy sinh từ mỹ cảm truyền thống yojo (dư tình) và mono no aware (bi cảm, cảm xúc xao xuyến trước những bi ai não lòng của sự vật) ra đời như Cánh cửa (Mon, 1910), Người đi đường (Kōjin, 1913), Trái tim (Kokoro, 1914), Cỏ ven đường (Michikusha, 1915). Ngày 9 tháng 12 năm 1916, Natsume Sōseki qua đời vì bị thủng dạ dày trong khi vẫn đang viết dở dang một trong những tác phẩm lớn nhất đời ông, cuốn Sáng tối (Meian). == Thành tựu nghệ thuật == Là người vừa say mê nền văn hóa, văn học cổ điển Nhật Bản, thể thơ haiku vừa thành thạo văn chương Anh, Natsume Sōseki đại diện cho một thế hệ những nhà văn Nhật Bản tinh hoa sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh sự đối đầu văn hóa Đông Tây đang len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội Nhật Bản. Được hấp thụ cả nền giáo dục Tokugawa cổ xưa và cả văn chương Tây phương hiện đại, những nhà văn của thế hệ này, như Natsume Sōseki, Nagai Kafū (1879-1959), Tanizaki Jun’ichirō (1886-1965), Mori Ōgai (1862-1922), Arishima Ikuma (1882-1974), Kinoshita Mokutarō (1885-1945), Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) v.v. nhờ tài năng sáng chói đã vượt lên trên những hỗn loạn của hoàn cảnh giao thời để sáng tạo được những sản phẩm văn hóa mang âm hưởng của thời đại. Cùng Mori Ōgai và Masaoka Shiki, Natsume Sōseki cũng là nhà văn tiên phong trong phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa tự nhiên (shizeshugi) Nhật Bản, một khuynh hướng quy tụ những cây bút trẻ địa phương sáng tác theo phong cách thông tục thuần túy (genbun itchi) đang ở giai đoạn suy thoái, bằng nỗ lực sáng tạo những tác phẩm văn chương "chan chứa cảm tình khiến người đọc phải bồi hồi xúc động, lưu luyến khó quên, hoặc nói cách khác, đọc một lần rồi thì lời văn nằm lại mãi trong lòng mọi người" theo phái tâm lý cao sang Dư dụ phái (yoyūha). Di sản sáng tác của Sōseki rất đồ sộ, đa dạng và đặc sắc bao gồm nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn kỳ ảo, thơ haiku và các tiểu luận văn chương: kiệt tác châm biếm, đả kích sự lố lăng của thời đại Tôi là con mèo (Wagahai wa neko de aru, 1905-1906) với hình tượng một con mèo nằm lắng nghe một cách chăm chú các nhà khoa học tranh cãi trong căn phòng của giáo sư Kusami, thực chất là một thảo luận về triết học và nghệ thuật; tiểu thuyết Cậu ấm (Botchan, 1908) kể về một giáo viên trung học vụng về trước sự thay đổi của thời cuộc, là một trong những cuốn sách nhiều độc giả nhất mọi thời đại và hiện nay vẫn còn bán rất chạy. Tác phẩm Cỏ ngu mỹ nhân (Gubujinsō, 1908) gây ấn tượng sâu lắng cho độc giả với phong cách văn chương rất nhẹ nhàng, duyên dáng; và Tam Tứ Lang (Sanshirō, 1908) viết về nhân vật cùng tên, thể hiện chân dung toàn hảo nhất về lớp trẻ Nhật Bản trong giai đoạn giao thời. Ở những tiểu thuyết và truyện ngắn về sau, Sōseki nhấn mạnh đặc biệt yếu tố xúc cảm trong sáng tạo nghệ thuật. Lần lượt nhiều tiểu thuyết tâm lý ra đời với những cuộc tình tay ba là đề tài chủ đạo, như Cánh cửa (Mon, 1910), Người đi đường (Kōjin, 1912-1913), Trái tim (Kokoro, 1914), tiểu thuyết nửa tự truyện Cỏ ven đường (Michikusa, 1915) và tác phẩm còn dang dở Sáng tối (Meian) mà chỉ riêng những phần đã viết cũng được đánh giá là tác phẩm hay nhất của Sōseki và là tiểu thuyết tâm lý Nhật Bản hay nhất từng được viết ra . Những tác phẩm này, với phong cách đi từ trang nhã, hoa mỹ và lộng lẫy nhất tới giản dị và thông tục một cách trong sáng, thể hiện một cách trữ tình tình yêu của lớp trẻ đương thời. Trên lĩnh vực lý luận văn học, phong cách Natsume Sōseki điển hình cho sự hòa trộn tri thức lý luận Đông Tây bằng việc dùng kiến thức văn học Anh để tạo dựng lý thuyết văn chương cho chính mình và những đồ đệ theo trường phái mà ông khởi xướng. Những tác phẩm lý luận Văn học luận (Bungakuron, 1907), Văn học bình luận (Bungaku hyoron, 1909), tiểu luận Kỷ nguyên ánh sáng của nước Nhật Bản hiện đại (Gendai Nihon no kaida, 1911), Chủ nghĩa cá nhân của tôi (Watashi no kojinshugi, 1915) "tỏ rõ nỗ lực phi thường của ông trong việc đi tìm bản chất của văn học" . Lý luận văn chương của ông thể hiện dưới những phương diện: xem xét quan hệ cuộc sống và những loại hình nghệ thuật, sự nếm trải và đánh giá của nghệ sĩ, các phẩm chất chân-thiện-mỹ trong các hình tượng nghệ thuật, phương thức để sáng tác tiểu thuyết, và tính giáo dục của nghệ thuật. Trong Văn học luận, một cuốn sách được đánh giá là tác phẩm phê bình văn học có tính chất tổng hợp và hệ thống đầu tiên ở Nhật Bản hiện đại, Natsume Sōseki cho rằng văn học có hai yếu tố: tri giác và cảm xúc. Tri giác mà không cảm xúc thì là tri giác trong nhận thức khoa học, cảm xúc mà thiếu tri giác thì đó chỉ là tiền-văn chương. Đây là một nhận định tuyên chiến với lý thuyết của chủ nghĩa tự nhiên vốn chủ trương viết tự thuật bằng phong cách thông tục, hầu như thiếu dấu ấn tư tưởng và tình cảm của các tác giả. Tác phẩm Văn học bình luận của Natsume Sōseki lại thể hiện một nhãn quan đặc biệt với văn học nước ngoài. Thông qua việc phân tích lịch sử văn chương Anh thế kỷ 18 trong tác phẩm này, Sōseki nhấn mạnh sự khách quan và cần thiết phải có những chuẩn mực riêng đối với người Nhật để phán xét, đánh giá văn chương ngoại quốc. Những luận điểm này đã đi trước thời đại và phải rất lâu sau khi Natsume Sōseki mất, trải qua gần trọn thế kỷ 20 với khuynh hướng xã hội học dung tục trong nghiên cứu văn học tại nhiều quốc gia, rất nhiều nhà nghiên cứu mới chứng nghiệm được một điều rằng cần thiết phải hòa mình vào nền văn học mà mình muốn nghiên cứu, tìm hiểu, thay vì phán xét nó từ bên ngoài bằng nhãn quan đạo đức tiếp nhận từ nền văn học, văn hóa của dân tộc mình. == Các bản dịch tiếng Việt == == Thông tin thêm == Tôn vinh những cống hiến của Natsume Sōseki cho sự nghiệp hiện đại hóa nền văn học Nhật Bản, chân dung của ông được Chính phủ Nhật Bản in trên đồng tiền giấy một nghìn Yen phát hành suốt từ năm 1984 đến năm 2004. == Chú thích == == Tham khảo == Khương Việt Hà, Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX, phần 2: Khuynh hướng Dư dụ phái và các đại diện của nó (Masaoka Shiki, Natsume Sōseki, Mori Ōgai), Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, số 8 năm 2005. Toàn bộ phần "thành tựu nghệ thuật" của bài được lấy từ tài liệu tham khảo này. Mục từ Natxưmê Xôxêki, Từ điển văn học, Bộ mới, Nhà xuất bản thế giới, 2004. Mục từ Natsume Soseki trong cuốn 100 nhà lý luận phê bình văn học thế kỷ 20, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, H. 2002, tr. 280.
thịt bò.txt
Thịt bò là thịt của con bò (thông dụng là loại bò thịt). Đây là thực phẩm gia súc phổ biến trên thế giới, cùng với thịt lợn, được chế biến và sử dụng theo nhiều cách, trong nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau, cùng với thịt lợn và thịt gà, thịt bò là một trong những loại thịt được con người sử dụng nhiều nhất. == Khúc thịt == Bò làm thịt xong thì được xẻ ra thành từng khúc có tên gọi riêng tương ứng với một phần trên cơ thể con bò. Ví dụ như: thăn bò, đùi bò,...vv.... == Các món == Đối với người Việt có lẽ món ăn phổ biến nhất dùng thịt bò là món phở. Ở Miền Nam nổi tiếng có bò 7 món. Tuy nhiên ẩm thực Việt Nam dùng thịt heo nhiều hơn vì trước kia bò là loài gia súc nuôi với mục đích kéo cày, kéo xe,lấy sữa chứ không lấy thịt. Thịt bò con được gọi là thịt bê. Ẩm thực Việt Nam có món bê thui. == Tham khảo ==
google nexus.txt
Google Nexus là một dòng thiết bị di động chạy hệ điều hành Android do Google hợp tác sản xuất cùng một đối tác OEM. Các thiết bị trong dòng Nexus đều sử dụng Android không bị thay đổi bởi nhà sản xuất hoặc nhà mạng (như bị thay đổi giao diện người dùng đồ họa chẳng hạn), và có bootloader có thể dễ dàng mở khóa để cho phép người dùng lập trình hoặc điều chỉnh sâu hơn. Các thiết bị Nexus luôn là thiết bị Android đầu tiên nhận được bản cập nhật hệ điều hành. Galaxy Nexus là một trong số ít điện thoại thông minh mà Dự án mã nguồn mở Android khuyến cáo nên sử dụng khi muốn phát triển phần mềm cho Android. Tính đến tháng 11 năm 2012, thiết bị mới nhất trong dòng này là điện thoại Nexus 4 của Google cộng tác với LG, và máy tính bảng Nexus 7 và Nexus 10 của Google cộng tác lần lượt với Asus và Samsung. == Điện thoại thông minh == === Nexus One === Nexus One do HTC sản xuất và được ra mắt vào tháng 1 năm 2010 với vai trò là chiếc điện thoại Nexus đầu tiên. Nexus One được phát hành cùng với Android 2.1 Eclair, và được cập nhật vào tháng 5 năm 2010 để trở thành điện thoại đầu tiên chạy Android 2.2 Froyo. Sau này điện thoại còn được cập nhật lên Android 2.3 Gingerbread. Google đã thông báo ngừng hỗ trợ Nexus One, do GPU (Adreno 200) của nó quá yếu để phân giải bộ tăng tốc 2D mới trong giao diện của Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Nexus S và các mẫu mới hơn đều có phần cứng được thiết kế để xử lý bộ phân giải mới này. === Nexus S === Nexus S, do Samsung sản xuất, được phát hành vào tháng 12 năm 2010 trùng với dịp ra mắt Android 2.3 Gingerbread. Trong tháng 12 năm 2011, nó được cập nhật lên Android 4.0 Ice Cream Sandwich, và đa số các biến thể về sau lại tiếp tục được cập nhật lên Android 4.1 Jelly Bean vào tháng 7 năm 2012. === Galaxy Nexus === Galaxy Nexus, do Samsung sản xuất, ra mắt vào tháng 11 năm 2011 (phiên bản GSM, Mỹ phát hành phiên bản Verizon ngày 15 tháng 12 cùng năm) ngay dịp phát hành Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Nó được nâng cấp lên phiên bản phần mềm Android 4.1 mới nhất vào giữa tháng 7 năm 2012. Thiết bị này tại Brasil có tên gọi là Galaxy X do đã có hãng khác sử dụng thương hiệu "Nexus". === Nexus 4 === Nexus 4 là điện thoại thông minh dòng Google Nexus do LG sản xuất. Nó là thiết bị Android đầu tiên chạy phiên bản cập nhật Android 4.2 Jelly Bean. Nexus 4 có màn hình cảm ứng 4.7" Corning Gorilla Glass 2 (phân giải 1.280 x 768 pixel), bộ xử lý bốn nhân Qualcomm Snapdragon S4 Pro APQ8064 1.5 GHz, máy ảnh chính 8 MP, máy ảnh trước 1.3 MP, và là thiết bị Nexus đầu tiên có khả năng sạc không dây, và cũng là điện thoại thông minh Nexus đầu tiên được bán với giá thấp hơn giá sản xuất, một kiểu bán hàng đã từng thực hiện với máy tính bảng Nexus 7. === Nexus 5 === Nexus 5 là điện thoại thông minh, một lần nữa được sản xuất bởi LG, được lên lịch bán vào 31 tháng 10 năm 2013 giá $349 tại cửa hàng Google Play. Nó là thiết bị đầu tiên chạy Android 4.4, tên là KitKat. Nexus 5 có những đặc điểm sau đây: Màn hình: 4,95" Corning Gorilla Glass, 3 IPS LCD cảm ứng, độ phân giải 1.920 × 1.080 pixel Vi xử lý: 2,26 GHz Krait 400 lõi tứ Qualcomm Snapdragon 800 SoC Máy ảnh: máy ảnh sau 8 MP với ổn định hình ảnh, 1,3 MP máy ảnh trước Pin: 2,300 mAh lithium polymer Bộ nhớ: 16 hoặc 32 GB Kết nối: 4G LTE, sạc wireless, 802.11 a/b/g/n/ac Wi-Fi, Bluetooth 4.0 === Nexus 6 === Nexus 6 là điện thoại thông minh phát triển bởi Motorola Mobility, chạy Android Lollipop 5.0. Nó được công bố vào 15 tháng 10 năm 2014. Màn hình: 5.96" 1.440×2.560 pixel (493 ppi) màn hình Quad HD AMOLED Vi xử lý: Qualcomm Snapdragon 805 - Lõi tứ 2.7 GHz Máy ảnh chính: 13 MP với ống kính f/2.0 hỗ trợ OIS Máy ảnh trước: 2 MP Pin: 3220 mAh với Công nghệ sạc nhanh GPU: Adreno 420 Bộ nhớ: 32 hoặc 64 GB RAM: 3 GB Loa: loa kép ở mặt trước == Máy tính bảng == === Nexus 7 === ==== Thế hệ đầu tiên ==== Vào 27 tháng 6 năm 2012, tại buổi thuyết trình I/O 2012, Google giới thiệu Nexus 7, một máy tính bảng 7-inch với độ phân giải 1.280×800 pixel, phát triển và sản xuất với Asus. Phát hành vào tháng 7 /2012, nó là thiết bị đầu tiên chạy Android 4.1, và cung cấp nội dung có sẵn thông qua Google Play, bao gồm e-book, ứng dụng, nhạc, và video. ==== Thế hệ thứ hai ==== Vào 24 tháng 7 năm 2013, tại buổi họp báo "Bữa sáng cùng với Sundar Pichai" của Google, Pichai giới thiệu Nexus 7 thế hệ thứ hai, một lần nữa đồng phát triển với Asus. Vẫn duy trì với Google Nexus truyền thống, nó được phát hành cùng với phiên bản OS mới nhất, Android 4.3. Nó được bán ra vào 26 tháng 7 năm 2013 tại một số nhà bán lẻ và trên cửa hàng Google Play ở Mỹ. Vào 20 tháng 11 năm 2013, nó có sẵn trên cửa hàng Google Play ở Hồng Kông và Ấn Độ. Cùng ngày, sạc không dây Nexus có sẵn tại Mỹ và Canada. === Nexus 10 === Nexus 10, máy tính bảng 10-inch do Samsung sản xuất, được giới thiệu vào cuối tháng 10 năm 2012 qua bức ảnh chụp của giám đốc điều hành Google, Vic Gundotra, cùng với nhiều thông tin rò rỉ về cấu hình và loạt ảnh của nó. Thiết bị có thiết kế tương tự Samsung Galaxy Note 10.1, với màn hình 10.1 inch 2560×1600, lưu trữ 16 GB hoặc 32 GB, chạy Android 4.2, và bộ xử lý hai nhân 1.7 GHz Exynos 5. Nexus 10 ban đầu được dự kiến ra mắt trong hội nghị của Google vào ngày 29 tháng 10 năm 2012, nhưng sau đó bị hoãn do sự cố Bão Sandy. === Nexus 9 === Nexus 9 là máy tính bảng 9-inch chạy Android 5.0, phát triển hợp tác giữa Google và HTC. Nó được công bố vào 15 tháng 10 năm 2014. Màn hình 8.9" 64-bit NVIDIA Tegra K1 "Denver" Loa kép ở mặt trước HTC BoomSound == Các thiết bị khác == === Nexus Q === Nexus Q là thiết bị giải trí thu phát trực tiếp qua Internet chạy Android và tích hợp với Google Play, bán với giá 299 USD tại Mỹ. Sau những phàn nàn về tính năng không tương xứng với giá cả, Nexus Q đã bị Google ngưng bán vô thời hạn với lời giải thích Google muốn làm cho nó thành một sản phẩm "còn tốt hơn nữa". === Nexus Player === Nexus Player là một thiết bị TV của Google và ASUS. Nó là thiết bị đầu tiên chạy Android TV. Nó được công bố vào 15 tháng 10 năm 2014. 1.8 GHz Quad Core,Intel Atom Processor 802.11ac 2x2 (MIMO) HDMI out 2 AAA batteries Gamepad (phụ kiện chơi Game mua thêm) == Tên gọi == Tên gọi "Nexus" xuất phát từ động từ Latin "nectere", nghĩa là "gắn kết". == Xem thêm == Root (Android) Lịch sử các phiên bản Android CyanogenMod Chromebook == Tham khảo == Review nexus 5 == Liên kết ngoài == Website chính thức Definition of Google Experience Device
ngực.txt
Ngực (hay còn gọi là vòng một; tiếng Anh: Thorax, Chest) là một bộ phận giải phẫu học ở con người và các loài động vật khác nhau, nằm giữa cổ và bụng. Ngực bao gồm khoang ngực và lồng ngực, chứa cơ quan gồm tim, phổi, tuyến ức cũng như các cơ bắp và các loại cấu trúc khác bên trong. Nhiều bệnh có thể ảnh hưởng đến ngực và một trong số những triệu trứng thường gặp là đau ngực. == Cấu trúc == Ngực chứa một số bộ phận quan trọng của cơ thể người như tim, phổi và tuyến ức. Cấu tạo bên trong ngực bao gồm cơ hoành, thực quản, khí quản và một phần của xương ức gọi là lưỡi kiếm. Ngực là một phần của bụng ngực bao gồm các cơ quan như dạ dày, thận, tuyến tụy, lá lách và thực quản. Ngực được nuôi dưỡng bởi hệ thống động, tĩnh mạch lớn như động mạch chủ, tỉnh mạch chủ, động mạch phổi. Để nâng đỡ và bảo vệ ngực thì có hệ thống xương (xương cánh tay, xương bả vai, xương ức, phần ngực của cột sống, xương cổ, lồng ngực và xương sườn) và hệ thống cơ vững chắc (các cơ ngực nhỏ, cơ ngực lớn, cơ bắp và cơ cổ). Nhìn bên ngoài ngực có hai núm vú. Ở nữ trưởng thành thì bầu vú phát triển hơn nam. === Xương ngực === Các xương của ngực được gắn kết với nhau tạo thành một cái khung, khung này quanh lấy một khoang gọi là lồng ngực. Lồng ngực là một phần của hệ thống xương trục chính của cơ thể người. Khung xương của ngực gồm 12 đôi xương sườn nối xương ức với các đốt sống ngực. Xương sườn là các xương dài, dẹt và cong, nằm hai bên lồng ngực, chạy chếch xuống dưới và ra trước. Có 12 đôi, chia thành hai loại: Xương sườn thật gồm 7 đôi trên, nối với xương ức bằng các sụn sườn riêng. Xương sườn giả gồm 5 đôi dưới, trong đó: Các xương sườn 8, 9 và 10 nối với xương ức qua sụn sườn 7. Các xương sườn 11 và 12 có sụn sườn ngắn, không nối với xương ức mà lơ lửng tự do trong các cơ thành bụng, nên còn gọi là các xương sườn cụt. === Các mốc giải phẫu === Cấu trúc giải phẫu của ngực có thể được mô tả thông qua việc sử dụng các mốc giải phẫu. Hai núm vú của nam giới nằm ở phía trước của xương sườn thứ tư hoặc dưới một chút; theo chiều dọc nó nằm một chút bên ngoài đường trung đòn. Ở nữ giới, có sự khác biệt với nam giới, núm vú nằm trên bầu vú, được giới hạn dưới là cơ ngực lớn, lên trên và ra ngoài sát nách, nó kéo dài từ xương sườn thứ hai đến thứ sáu theo chiều dọc và từ cạnh của xương ức với đường giữa nách hai bên. Núm vú nữ được bao quanh cho một vầng sắc tố gọi quầng vú. Đỉnh của quả tim bình thường là ở khoang liên sườn thứ năm, ba và một nửa inch từ giữa đường trung đòn. == Vai trò thẩm mỹ == Vòng ngực hay vòng một được xem là phần gợi cảm của con người, mọi người đều muốn nó thật tốt. Ở nữ giới, có được vòng một chuẩn là sự quyến rũ, gợi cảm, mỹ miều... và tôn lên sự quý phái của phái nữ. Còn ở nam giới, vòng một hoàn chỉnh nói nên sự mạnh mẽ, bản lĩnh, cá tính của đàn ông. == Ngực của các loài động vật == === Động vật bốn chân === Ở động vật có vú, ngực là một phần của cơ thể được hình thành bởi xương ức, những lồng ngực đốt sống và các xương sườn. Nó được giới hạn từ cơ hoành lên cổ, không bao gồm hai chi trên. Trái tim và các lá phổi nằm trong khoang ngực, cũng như nhiều mạch máu. Các cơ quan bên trong được bảo vệ bởi khung xương sườn và xương ức. == Ảnh == == Xem thêm == Khoang ngực Lồng ngực Lông ngực Vai Động mạch Tỉnh mạch Xương == Chú thích == == Liên kết ngoài == Sam Gon III. “A guide to the Orders of Trilobites”. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2005.
ubuntu.txt
Ubuntu (phát âm IPA uːˈbuːntuː) là một hệ điều hành máy tính dựa trên Debian GNU/Linux, một bản phân phối Linux thông dụng. Tên của nó bắt nguồn từ "ubuntu" trong tiếng Zulu, có nghĩa là "tình người", mô tả triết lý ubuntu: "Tôi được là chính mình nhờ có những người xung quanh," một khía cạnh tích cực của cộng đồng. Mục đích của Ubuntu bao gồm việc cung cấp một hệ điều hành ổn định, cập nhật cho người dùng thường, và tập trung vào sự tiện dụng và dễ dàng cài đặt. Ubuntu đã được đánh xếp hạng là bản phân phối Linux thông dụng nhất cho máy tính để bàn, chiếm khoảng 30% số bản Linux được cài đặt trên máy tính để bàn năm 2007. Ubuntu là phần mềm mã nguồn mở tự do, có nghĩa là người dùng được tự do chạy, sao chép, phân phối, nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm theo điều khoản của giấy phép GNU GPL. Ubuntu được tài trợ bởi Canonical Ltd (chủ sở hữu là một người Nam Phi Mark Shuttleworth). Thay vì bán Ubuntu, Canonical tạo ra doanh thu bằng cách bán hỗ trợ kĩ thuật. Bằng việc để cho Ubuntu tự do và mở mã nguồn, Canonical có thể tận dụng tài năng của những nhà phát triển ở bên ngoài trong các thành phần cấu tạo của Ubuntu mà không cần phải tự mình phát triển. == Lịch sử == Bản phát hành đầu tiên của Ubuntu là vào 20 tháng 10 năm 2004, bắt đầu bằng việc tạo ra một nhánh tạm thời của dự án Debian Linux. Việc này đã được thực hiện để một phiên bản mới của Ubuntu có thể được phát hành mỗi 6 tháng, tạo ra một hệ điều hành được cập nhật thường xuyên hơn. Bản phát hành Ubuntu luôn gồm bản GNOME mới nhất, và được lên lịch phát hành khoảng 1 tháng sau GNOME. Khác với các nhánh có mục đích chung trước của Debian - như MEPIS, Xandros, Linspire, Progeny và Libranet, phần nhiều trong số chúng dựa vào các phần mềm bổ sung có mã đóng mô hình của một doanh nghiệp. Ubuntu lại giống với triết lý của Debian hơn và dùng các phần mềm miễn phí (libre) vào mọi thời điểm. Các gói của Ubuntu nói chung dựa trên các gói từ nhánh không ổn định của Debian: cả 2 bản phân phối đều dùng gói có định dạng deb của Debian và APT/Synaptic để quản lý các gói đã cài. Ubuntu đã đóng góp trực tiếp và lập tức tất cả thay đổi đến Debian, chứ không chỉ tuyên bố chúng lúc phát hành, mặc dù các gói của Debian và Ubuntu không cần thiết "tương thích nhị phân" với nhau. Nhiều nhà phát triển Ubuntu cũng là người duy trì các gói khoá (gói chủ chốt) của chính Debian. Dù sao, Ian Murdock, nhà sáng lập của Debian, đã chỉ trích Ubuntu vì sự không tương thích giữa các gói của Ubuntu và Debian, ông nói rằng Ubuntu đã làm sai lệch quá xa so với Debian Sarge, do đó không còn giữ được sự tương thích. Trong quá trình phát triển, dự án Ubuntu đã cho ra đời nhiều phiên bản khác nhau của Ubuntu, như Ubuntu Desktop cho máy tính để bàn, Ubuntu Netbook Remix cho netbook (đã ngừng phát triển), Ubuntu Server cho các máy chủ, Ubuntu Business Desktop Remix cho các doanh nghiệp, Ubuntu for Android và Ubuntu for Phones cho các thiết bị di động. == Các phiên bản Ubuntu == === Phiên bản thông thường === Các phiên bản Ubuntu được đặt tên theo dạng YY.MM (tên), trong đó Y tương ứng với năm phát hành, và MM tương ứng với tháng phát hành. Tên trong ngoặc là tên hiệu được đặt cho phiên bản trước khi phát hành chính thức. Trong tháng 10 năm 2004, Ubuntu phát hành phiên bản đầu tiên, Ubuntu 4.10. Mỗi phiên bản Ubuntu thông thường được hỗ trợ trong vòng 9 tháng, chúng cũng được phát hành định kỳ 6 tháng 1 lần và việc nâng cấp lên phiên bản mới hoàn toàn miễn phí. Người dùng được khuyến khích nâng cấp lên phiên bản mới để có thể sử dụng các tính năng mới nhất mà ứng dụng cung cấp. Phiên bản Ubuntu chính thức mới nhất hiện tại là Ubuntu 16.04 (Vivid Vervet), phát hành tháng 4 năm 2016. === Phiên bản hỗ trợ lâu dài === Ubuntu cũng có những phiên bản hỗ trợ dài hạn "Long Term Support", hỗ trợ trong vòng 3 năm đối với máy tính để bàn và 5 năm đối với máy chủ. Ubuntu 12.04 (Precise Pangolin) và Ubuntu 14.04(Trusty Tahr), phát hành ngày 29, tháng 4 năm 2012 và ngày 17, tháng 4 năm 2014 là hai phiên bản còn được hỗ trợ. Bản 12.04 và 14.04 (hỗ trợ 5 năm cho cả máy tính để bàn và máy chủ) sẽ được Canonicial phát hành cập nhật lifecyle 12.04.1, 12.04.2, 12.04.3 và 12.04.4 cho Ubuntu 12.04 và 14.04.1, 14.04.2, 14.04.3 và 14.04.4 cho Ubuntu 14.04. Các phiên bản Long Term Support sẽ được ra mất mỗi 2 năm một lần, và dự kiến sẽ ra mắt bản Long Term Support tiếp theo vào tháng 4 năm 2016. === Các dự án khác === Có những kế hoạch cho một nhánh tên mã là Grumpy Groundhog. Nó luôn là nhánh phát triển và kiểm tra các bản không ổn định, kết thúc việc kiểm duyệt mã nguồn của nhiều phần mềm và ứng dụng để sau đó chúng được phân phối như một phần của Ubuntu. Điều này cho phép những người dùng có khả năng và các nhà phát triển kiểm tra các phiên bản mới nhất của từng phần mềm riêng lẻ khi chúng vừa xuất hiện trong ngày, mà không cần phải tự tạo các gói; việc này giúp đưa ra những cảnh báo sớm về lỗi đóng gói trên một số kiến trúc nền. Bản Grumpy Groundhog chưa bao giờ được công bố. Hiện tại, Ubuntu được tài trợ bởi công ty Canonical. vào ngày 8 tháng 7 năm 2005, Mark Shuttleworth và công ty Canonical đã công bố việc thành lập Quỹ Ubuntu và cung cấp nguồn quỹ ban đầu là 10 triệu dola Mỹ. Mục đích của tổ chức là bảo đảm cho việc hỗ trợ và phát triển của tất cả phiên bản Ubuntu trong tương lai. == Các bản phân phối dựa trên Ubuntu == === Các bản phân phối chính thức === Những bản phân phối sau đây được Canonical công nhận là các bản phân phối chính thức của Ubuntu, có đóng góp quan trọng cho dự án Ubuntu: Kubuntu, bản phân phối Ubuntu sử dụng môi trường làm việc KDE. Lubuntu, phiên bản gọn nhẹ, được khuyên dùng cho các máy tính cũ, có cấu hình không cao. Lubuntu sử dụng LXDE. Xubuntu, bản phân phối với giao diện mặc định là Xfce. Mythubuntu dành cho hệ thống MythTV, thích hợp cho giải trí gia đình. Ubuntu Studio phục vụ cho việc chỉnh sửa video và âm thanh chuyên nghiệp, bao gồm nhiều phần mềm chỉnh sửa đa phương tiện. Tuy nhiên, tất cả các bản phân phối trên không được hỗ trợ tài chính từ Canonical. === Các bản phân phối không chính thức === Nhờ tính thân thiện và dễ sử dụng mà Ubuntu đã được dùng làm cơ sở cho rất nhiều bản phân phối Linux khác nhau. Trong đó, được sử dụng rộng rãi nhất là Linux Mint, một bản phân phối hướng tới người mới làm quen với hệ điều hành Linux, sử dụng hai môi trường làm việc truyền thống là Cinnamon và MATE trong phiên bản chính. Ngoài ra, còn có nhiều bản phân phối với các lựa chọn phần mềm, giao diện đồ hoạ khác nhau như elementary OS, Netrunner, Moon OS, Peppermint OS, Trisquel... == Tính năng == === Đặc điểm === Ubuntu kết hợp những đặc điểm nổi bật chung của hệ điều hành nhân Linux, như tính bảo mật trước mọi virus và malware, khả năng tùy biến cao, tốc độ, hiệu suất làm việc, và những đặc điểm riêng tiêu biểu của Ubuntu như giao diện bắt mắt, bóng bẩy, cài đặt ứng dụng đơn giản, sự dễ dàng trong việc sao lưu dữ liệu và sự hỗ trợ của một cộng đồng người dùng khổng lồ. === Cài đặt === Mỗi phiên bản phát hành có một đĩa chạy trực tiếp, cho phép người dùng xem xét phần cứng của họ có tương thích với hệ điều hành hay không trước khi cài đặt lên đĩa cứng bằng phần mềm Ubiquity. Tập tin ảnh đĩa có thể được tải về từ trang chủ Ubuntu, và các đĩa cài đặt có thể được cung cấp bởi bên thứ ba. Trong phiên bản Ubuntu 12.10, tập tin ảnh đĩa chỉ có thể được ghi lên đĩa DVD, USB, hoặc đĩa cứng, vì dung lượng của nó đã vượt quá giới hạn tối đa của đĩa CD. Đĩa cài đặt Ubuntu yêu cầu máy tính có từ 256 MB RAM trở lên. Quá trình cài đặt Ubuntu sử dụng giao diện đồ họa, tốc độ cài đặt phụ thuộc vào cấu hình máy tính, trung bình là từ 20 - 30 phút. Ngoài ra, người dùng có thể cài đặt Ubuntu lên một đĩa ảo bên trong Windows bằng bộ cài đặt Wubi. Mặc dù tốc độ xử lý có thể bị giảm sút so với cài đặt đầy đủ, nhưng bù lại, cài đặt bên trong Windows không yêu cầu người dùng phải phân vùng lại đĩa cứng và có thể được gỡ bỏ dễ dàng từ ngay trong Windows. === Giao diện === Kể từ phiên bản 11.04 (Natty Narwhal), Ubuntu sử dụng giao diện đồ hoạ Unity, là một trình cắm của Compiz, thay thế cho GNOME trong các phiên bản trước đây. Unity đã từng là giao diện đồ hoạ mặc định trong Ubuntu Netbook Edition, được thiết kế với mục đích giúp người dùng tận dụng hiệu quả hơn diện tích màn hình trong các thiết bị nhỏ như netbook hay máy tính bảng, trong khi vẫn đơn giản và thân thiện với người dùng. Cho đến tháng 4 năm 2005, Ubuntu có một gói tùy chọn được gọi là ubuntu-calendar, gói này tải về một hình nền mới vào mỗi tháng, phù hợp với chủ đề màu nâu của giao diện. Các hình nền này thể hiện những người mẫu bán khỏa thân và nó bị chỉ trích như "risqué (khêu gợi không thích hợp, thiếu tế nhị)". Điều này dẫn đến việc tạo ra những tên giễu như "Linuxxx" hay "Bản phân phối khiêu dâm". Hơn thế nữa, Ubuntu hướng đến khả năng sử dụng cho người dùng khuyết tật và hỗ trợ nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, với mục đích có càng nhiều người dùng càng tốt. Ngay từ phiên bản 5.04, Unicode là bảng mã mặc định. === Ứng dụng === Mặc định, Ubuntu bao gồm nhiều phần mềm mã nguồn mở trong đĩa cài đặt, để người dùng có thể sử dụng trực tiếp. Đó là bộ ứng dụng văn phòng LibreOffice(Từ phiên bản Ubuntu 10.04), trình duyệt Internet Firefox, trình quản lý thư điện tử Evolution, trình gửi tin nhắn tức thời (IM) Empathy, trình tải file torrent Tranmission và trình biên tập đồ họa GIMP. Về truyền thông đa phương tiện, Ubuntu tích hợp trình phát, rip CD Sound Juicer, trình quản lý thư viện nhạc Banshee, trình xem phim Totem Movie Player và trình ghi âm Sound Recorder. Một số ứng dụng nhỏ như chụp màn hình, máy tính toán, các trò chơi bài và trò chơi giải đố cũng có sẵn. Việc cài đặt ứng dụng trong Ubuntu có nhiều phương tiện, phổ biến nhất là dùng Ubuntu Sofware Center. Ngoài ra, người sử dụng có thể dùng Synaptic Package Manager công cụ nâng cao, giúp cài đặt từng gói con của ứng dụng; hoặc sử dụng các công cụ dòng lệnh như apt-get, aptitude... == Sự phân loại và hỗ trợ các gói == Ubuntu phân chia tất cả phần mềm thành 4 phần, được gọi là các thành phần, để thể hiện sự khác nhau trong bản quyền và mức độ được hỗ trợ. Các gói được quy về các thành phần như sau: Phần mềm "tự do" ở đây chỉ bao gồm những phần mềm thoả yêu cầu giấy phép của Ubuntu, nói chung, tương ứng với chính sách phần mềm tự do của Debian. (Dù sao, cũng có một ngoại lệ cho Main; nó "cũng có thể bao gồm các firmware nhị phân, các phông chữ (các phần được dùng bởi các thành phần của Main) không được phép sửa đổi nếu không có sự cho phép của tác giả" khi việc phân phối lại chúng không bị gây trở ngại.") Phần mềm không tự do thường không được hỗ trợ (Multiverse), nhưng cũng có ngoại lệ (Restricted) cho một số phần mềm không tự do quan trọng, như trình điều khiển của các thiết bị, không có chúng, người dùng không thể sử dụng Ubuntu trên hệ thống của họ, đặc biệt là các trình điều khiển card đồ hoạ nhị phân. Mức độ hỗ trợ bị giới hạn hơn main, vì các nhà phát triển không thể truy cập vào mã nguồn. Thường thì Main và Restricted chứa tất cả phần mềm cho một hệ thống Linux thông thường. Các phần mềm khác có cùng chức năng và các phần mềm chuyên dụng được liệt kê trong Universe và Multiverse. Ngoài các kho chính thức ra còn có Ubuntu Backports, một dự án được công nhận chính thức, liệt kê các phiên bản mới hơn của một vài phần mềm nào đó chỉ có trong phiên bản không ổn định của Ubuntu. Các kho không thể bao gồm tất cả nhưng nó chứa hầu hết các gói được người dùng yêu cầu, các gói này được liệt kê chỉ khi chúng đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng. === Các phần mềm độc quyền === Ubuntu có một hệ thống chứng nhận cho phần mềm của bên thứ ba. Ubuntu chứng nhận phần mềm độc quyền sẽ làm việc tốt trong Ubuntu. Dù sao, vẫn có nhiều chương trình quen thuộc với người dùng trên các hệ điều hành không tự do, như Microsoft Windows, không tương thích và chưa được Ubuntu chứng nhận. Một vài phần mềm độc quyền không giới hạn bản phân phối được đưa vào thành phần multiverse của Ubuntu. Vài ví dụ về phần mềm không được phân phối bởi Ubuntu gồm có: Phần mềm cho phép chơi các tập tin video DVD đã bị khóa mã vùng, bởi vì tình trạng có vấn đề về luật pháp của thư viện giải mã DVD mã nguồn mở DeCSS tại nhiều khu vực trên thế giới. Thư viện mã hóa và giải mã cho nhiều định dạng độc quyền (hình ảnh/âm thanh) như Windows Media. Một số phần mở rộng được ưa chuộng cho các trình duyệt web, như Adobe's (trước là Macromedia's) Shockwave (không có phiên bản cho Linux) và Flash (một cách khắc phục cho sự ngăn cấm việc phân phối lại đã được quy định trong thỏa thuận bản quyền cho người dùng cuối là gói multiverse "flashplugin-nonfree" (flashplugin-không tự do), gói này sẽ tự động tải Linux Flash plugin trực tiếp từ trang web của Adobe và sau đó cài đặt nó.) == Cấu hình tối thiểu == Phiên bản Desktop của Ubuntu hiện tại hỗ trợ các máy tính cấu trúc Intel x86, AMD, và ARM. Phiên bản server cũng hỗ trợ máy có cấu trúc SPARC Cũng có bản hỗ trợ không chính thức cho các cấu trúc PowerPC, IA-64 (Itanium) và PlayStation 3. Ngoài ra, cũng có hỗ trợ không chính thức cho nền tảng PowerPC Cấu hình tối thiểu cho quá trình cài đặt Ubuntu Desktop là máy có RAM 256 MB, ổ cứng còn 5 Gb chỗ trống, và card màn hình VGA hỗ trợ độ phân giải 640x480 trở lên. Cấu hình khuyên dùng cho quá trình cài đặt là máy có bộ vi xử lý 700 MHz x86, RAM 384 MB, ổ cứng còn 8 GB trống, và card màn hình VGA hỗ trợ độ phân giải 1024×768. Cấu hình tối thiểu cho việc cài đặt phiên bản server là máy có bộ vi xử lý 300 MHz x86, RAM 256 MB, và card màn hình VGA hỗ trợ độ phân giải 640x480 trở lên. Những máy tính không hỗ trợ đủ cấu hình tối thiểu, được khuyên dùng Lubuntu, một bản phân phối tương tự Ubuntu nhưng dựa trên môi trường làm việc LXDE. * - Để sử dụng các hiệu ứng đồ họa. == Phản hồi == Theo một khảo sát vào tháng 8 năm 2007 trên 38.500 khách ghé thăm trang DesktopLinux.com, Ubuntu là bản phân phối thông dụng nhất với 30.3% số người trả lời cho biết đã dùng nó. Ubuntu được trao Giải thưởng Độc giả với tư cách là bản phân phối Linux tốt nhất trong Hội thảo LinuxWorld 2005 tại Luân Đôn, thường được đánh giá tốt trong các ẩn phẩm in hoặc trực tuyến, và đã đoạt Giải thưởng Bossie 2007 của InfoWorld cho HĐH Máy trạm Mã nguồn mở Tốt nhất. Mark Shuttleworth cho biết đã có ít nhất tám triệu người sử dụng Ubuntu vào cuối năm 2006, với kết quả là có một số lượng lớn các trang web không-thuộc-Canonical đã được mở thêm. Số lượng người sử dụng Ubuntu, theo dự đoán, đến năm 2009 là 30 triệu người, đứng đầu trong tất cả các bản phân phối Linux. Từ phiên bản 11.04, Unity trở thành môi trường làm việc mặc định của Ubuntu Desktop. Do được thiết kế cho các màn hình nhỏ, có nhiều điểm không phù hợp cho các màn hình lớn của máy tính để bàn, Unity đã gây ra nhiều tranh cãi trong cộng đồng người sử dụng Ubuntu. Đã có một số lượng người dùng chuyển sang dùng các bản phân phối khác được xây dựng dựa trên Ubuntu, như Xubuntu, Lubuntu, Kubuntu hay Linux Mint. Trong phiên bản Ubuntu Desktop 12.10 (Quantal Quetzal), Ubuntu đã tích hợp các gợi ý tìm kiếm từ Amazon.com trong Unity. Mặc dù tính năng này có thể được vô hiệu hoá dễ dàng trong bảng điều khiển, nó đã làm Ubuntu nhận nhiều chỉ trích từ người sử dụng về việc đưa quảng cáo thương mại vào trong hệ điều hành. == Liên kết ngoài == Ubuntu Việt Nam Hướng dẫn cài đặt Ubuntu 7.04 Ubuntu guide (unofficial)—Cẩm nang, phần mềm Những câu hỏi thường gặp, và tìm mẹo có ích == Chú thích ==
tập đoàn dệt may việt nam.txt
Tập đoàn Dệt May Việt Nam (tên giao dịch tiếng Anh: The Vietnam National Textile and Garment Group; tên gọi tắt: Vinatex) là một Tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam, tổ hợp các công ty đa sở hữu gồm có công ty mẹ Tập đoàn Dệt-May Việt Nam; các đơn vị nghiên cứu đào tạo; và gần 120 công ty con, công ty liên kết là các công ty cổ phần, kinh doanh đa lĩnh vực từ sản xuất – kinh doanh hàng dệt may đến hoạt động thương mại dịch vụ; có hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ; hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư vào lĩnh vực hỗ trợ ngành sản xuất chính dệt may… Tập đoàn Dệt May chính thức được thành lập vào cuối năm 2005. Tuy nhiên, ý đồ thành lập một tập đoàn kinh doanh mạnh trong ngành công nghiệp dệt và may mặc thì đã hình thành từ đầu thập niên 1990, khi Tổng công ty Dệt May Việt Nam được thành lập như một tổng công ty 91. 27 tháng 5 năm 2010 vinh dự đoán nhận Huân chương Sao vàng. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của tập đoàn Quyết định số 314/2005/QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về việc phê duyệt để án thí điểm thành lập Tập đoàn Dệt May Việt Nam
11 tháng 9.txt
Ngày 11 tháng 9 là ngày thứ 254 (255 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 111 ngày trong năm. == Sự kiện == 1708 – Karl XII của Thụy Điển dừng cuộc hành quân đi chinh phục Moskva bên ngoài Smolensk, đánh dấu điểm bước ngoặt trong Đại chiến Bắc Âu. 1709 – Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha: Liên quân Anh-Áo-Hà Lan-Phổ giành thắng lợi trước quân Pháp trong trận Malplaquet. 1792 – Cách mạng Pháp: Viên kim cương Hope cùng những châu báu vương thất Pháp khác bị đánh cắp trong tình hình hỗn loạn. 1941 – Động thổ xây dựng Lầu Năm Góc, là trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. 1961 – Văn phòng đầu tiên của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên được mở cửa tại Thụy Sĩ. 1973 – Augusto Pinochet lãnh đạo một cuộc đảo chính tại Chile nhằm lật đổ tổng thống dân chủ Salvador Allende do nhân dân bầu ra. 2001 – Các phần tử Al-Qaeda thực hiện các vụ tiến công tự sát nhằm vào các mục tiêu tại khu vực thành phố New York và Washington, D.C. tại Hoa Kỳ. 2007 – Nga thử nghiệm Cha của các loại bom, loại vũ khí thông thường mạnh nhất tính đến thời điểm đó. == Sinh == 1940 – Nông Đức Mạnh, Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam 1973 – Tô Hữu Bằng, Diễn viên - Ca sĩ Đài Loan == Mất == 1973 – Salvador Allende, tổng thống Chile, bị giết trong cuộc đảo chính do Augusto Pinochet cầm đầu 2003 – Anna Lindh, Bộ trưởng Ngoại giao Thụy Điển, bị ám sát tại một khu phố ở Stockholm; bà Lindh nằm trong nhóm chính quyền chống chuyện đem đồng Euro vào Thụy Điển == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
karate.txt
Karate (空手, からて) hay Karate-Do (空手道, からてどう)-(Hán Việt: Không Thủ Đạo) là một môn võ thuật truyền thống của vùng Okinawa (Nhật Bản). Karate có tiếng là nghệ thuật chiến đấu với các đòn đặc trưng như đấm, đá, cú đánh cùi chỏ, đầu gối và các kỹ thuật đánh bằng bàn tay mở. Trong Karate còn có các kỹ thuật đấm móc, các kỹ thuật đấm đá liên hoàn, các đòn khóa, chặn, né, quật ngã và những miếng đánh vào chỗ hiểm. Để tăng sức cho các động tác tấn đỡ, Karate sử dụng kỹ thuật xoay hông hay kỹ thuật kime, để tập trung lực năng lượng toàn cơ thể vào thời điểm tác động của cú đánh. == Xuất xứ tên gọi "Karate - 空手" == Trước đây, khi mới chỉ giới hạn ở Okinawa, môn võ này được gọi là Totei theo ngôn ngữ ở đây, và được viết là 唐手 (tangsho, Đường thủ, tức các môn võ thuật có gốc từ Trung Hoa). Vào thời kỳ Minh Trị, môn võ này bắt đầu được truyền vào lãnh thổ chính của Nhật Bản, thì chữ 唐手 được phát âm theo tiếng Nhật là Karate và giữ nguyên cách viết này. Tuy nhiên, do 唐手 thường bị hiểu không đúng là "võ Tàu", cộng thêm việc môn võ này thường chỉ dùng tay không để chiến đấu, nên người Nhật bắt đầu từ thay thế chữ 唐 bằng một chữ khác có cùng cách phát âm và mang nghĩa "KHÔNG", đó là 空. Tên gọi Karate và cách viết 空手 bắt đầu như vậy từ thập niên 1960. Giống như nhiều môn khác ở Nhật Bản (Trà đạo, Thư đạo, Cung đạo, Kiếm đạo, Côn đạo, Hoa đạo...), karate được gắn thêm vĩ tố "Đạo", phát âm trong tiếng Nhật là "DO" (viết là 道). Vì thế, có tên Karate-Do.Phần đa người tập karate đều hướng tới chữ "Do" này đều muốn học trò của mình có đạo đức nhân cách. == Lịch sử hình thành == Những nghiên cứu gần đây cho thấy Karate được phát triển trên cơ sở tổng hợp các phương thức chiến đấu của người Ryukyu với các môn võ thuật ở phía Nam Trung Quốc nhằm chống lại ách đô hộ hà khắc mà giới cai trị Nhật Bản áp đặt lên dân bản xứ bấy giờ. Tuy nhiên, xuất xứ chính xác của môn võ này còn chưa được xác định, bởi không tìm được thư tịch cổ nào của Vương quốc Lưu Cầu xưa ghi chép về môn võ này. Người ta chỉ có thể đưa ra được những giả thiết về nguồn gốc của Karate. Xuất phát từ các điệu múa vùng nông thôn Lưu Cầu, một môn võ (người Ryukyu gọi là dei và viết bằng chữ Hán 手) hình thành và phát triển thành Todei (唐手). Đây là giả thiết do Asato Anko đưa ra. Do tập đoàn người Hoa từ Phúc Kiến di cư sang Okinawa và định cư tại thôn Kuninda ở Naha và truyền các môn võ thuật Trung Quốc tới đây. Vì thế mà có tên gọi là tote (唐手) với chữ to (唐 - Đường) chỉ Trung Quốc, còn t (手 - Thủ) nghĩa là "võ", tức các môn võ thuật có gốc từ Trung Hoa. Theo con đường thương mại tới Okinawa. Vương quốc Lưu Cầu xưa có quan hệ thương mại rộng rãi với Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Các môn võ thuật có thể từ các miền đất này theo các thuyền buôn và truyền tới Okinawa. Bắt nguồn từ môn vật của Okinawa có tên là shima. == Phương pháp luyện tập == Việc tập luyện Karate hiện đại được chia làm ba phần chính: kỹ thuật cơ bản ("Kihon" theo tiếng Nhật), Quyền ("Kata") và tập luyện giao đấu ("Kumite") Kỹ thuật cơ bản (Kihon) (基本) được tập luyện từ các kỹ thuật cơ bản (kỹ thuật đấm, động tác chân, các thế tấn), thân pháp, nhãn pháp, hơi thở trong từng kĩ thuật của môn võ. Đây là thể hiện "mặt chung" của môn võ mà phần lớn mọi người thừa nhận, ví dụ những bước thực hành đòn đấm. Kata (型) nghĩa là "bài quyền" hay "khuôn mẫu" "bài hình", tuy nhiên nó không phải là các động tác múa. Các bài kata chính là các bài mẫu vận động và chiêu thức thể hiện các nguyên lý chiến đấu trong thực tế. Kata có thể là chuỗi các hành động cố định hoặc di chuyển nhằm vào các kiểu tấn công và phòng thủ khác nhau. Mục đích của kata là hệ thống hóa lại các đòn thế cho dễ nhớ dễ thuộc và những bài kata đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp tùy theo trình độ của môn sinh, mỗi hệ phái karate-do lại có một kĩ thuật khác nhau vì thế mà trong luật thi đấu của liên đoàn karate thế giới phải tuân theo kĩ thuật của 4 hệ phái lớn. == Các lưu phái Karate == Karate có nhiều lưu phái. Giữa các lưu phái có sự khác nhau ít nhiều về bài quyền, phương pháp huấn luyện, quy cách thi đấu. Trước hết, Karate chia thành Karate truyền thống và Full Contact Karate. === Karate truyền thống === Karate truyền thống theo nghĩa hẹp gồm các lưu phái tuân theo quy tắc sundome (寸止め). Quy tắc sundome tức là chấp hành cách đánh khi thi đấu phải giữ cự ly nhất định của đòn đánh vào đối phương hoặc giữ sức mạnh đòn đánh ở mức độ nhất định. Karate truyền thống theo nghĩa rộng chỉ tất cả các lưu phái, tổ chức tham gia Liên minh Karatedo Toàn Nhật Bản (trong nước Nhật) và Liên minh Karatedo Thế giới (quốc tế). Karate truyền thống có một số đặc trưng sau: Coi trọng lễ tiết, triết học Các bài quyền (kata) theo lối cổ điển Phương pháp luyện tập sử dụng nhiều phương pháp từ xưa để lại Ít tổ chức thi đấu Sử dụng chế độ phong đẳng cấp dựa vào số lượng bài quyền và động tác cơ bản luyện tập được. Thời gian phong đẳng cấp khác nhau giữa các lưu phái, song nhìn chung đều lâu. Karate truyền thống gồm các nhóm lưu phái sau: Karate cổ truyền: Đây là các lưu phái karate không bị thể thao hóa hay hình thức hóa. Các lưu phái này coi trọng các kỹ thuật chiến đấu và luyện tập như nguồn gốc ở Okinawa. Đó là các hệ phái Kojou-ryū (hoặc Kogusuku-ryū theo phương ngôn Okinawa), Honbu-ryū, Shintō-ryū, v.v… Karate truyền thống theo nghĩa hẹp gồm các lưu phái đi theo dòng Karate thể thao hóa nhưng áp dụng quy tắc sundome, bao gồm bốn hệ pháichính là Gōjyu-ryū, Shōtōkan-ryū, Wadō-ryū, Shitō-ryū Karate Okinawa: Các lưu phái Karate có cơ sở chính ở Okinawa như Okinawa Gōjyu-ryū, Shōrin-ryū (Tiểu Lâm Lưu), Shōrin-ryū (Thiếu Lâm Lưu), Shōrinji-ryū (Thiếu Lâm Tự Lưu), Gensei-ryū, Hojo-ryū, Isshin-ryū, Makiwara, Ryu-te, Ryuei-ryū, Shuri-ryū, Shōei-ryū, v.v… === Karate hiện đại === Chủ yếu phục vụ cho thi đấu thể thao gồm 2 phần KATA và KUMITE Về KATA (biểu diễn quyền) trong hơn 100 hệ phái của karate thì có 8 bài quyền bắt buộc của 4 hệ phái chính được đưa vào sử dụng, đó là các hệ phài: GOJU-RYU, WADO-RYU, SHOTOKAN, SHITO-RYU. Cụ thể 8 bài quyền bắt buộc của 4 hệ phái chính như sau: Goju: (2 bài: Seipai và Saifa) Shotokan: (2 bài: Jion và Kankudai) Shito: (2 bài: Bassaidai và Seienchin) Wado: (2 bài: Seishan và Chinto) Ngoài 8 bài quyền bắt buộc 4 hệ phái này còn có các bài quyền tự chọn như sau: GOJU-RYU có 10 bài, WADO-RYU có 10 bài,SHOTOKAN 21 bài, SHITO-RYU 43 bài. === Full Contact Karate === Full Contact Karate (romaji: Furu Kontakuto Karate) lại áp dụng quy tắc sử dụng đòn đánh trực tiếp vào đối phương khi thi đấu không hạn chế cường độ. Khi thi đấu có thể sử dụng hoặc không sử dụng các dụng cụ bảo vệ như mũ, áo giáp, v.v… Tuy được phân biệt với Karate truyền thống ở chỗ sử dụng quy tắc trên, song chính quy tắc đánh trực tiếp vào người đối phương không hạn chế cường độ mới là quy tắc của Karate nguyên thủy ở Okinawa. Chính vì thế, lưu phái lớn nhất trong Full Contact Karate lấy tên là Kyokushin Karate (極真カラテ hay Cực chân Karate, Karate chính cống). Full Contact Karate phổ biến ở nước ngoài nhất là Mỹ hơn là ở Nhật Bản. Thi nâng đẳng nâng đai trong Full Contact Karate ngoài dựa vào biểu diễn các bài kata còn dựa vào kết quả đấu kumite giữa những người cùng đăng ký thi lên đẳng. Các HỆ phái Full Contact Karate chủ yếu là: Kyokushin Karate (bao gồm các phân phái nhỏ là Kyokushin Kaikan ở Nhật Bản, The World Oyama Karate Organization ở Mỹ, WKO Shinkyokushinkai, Seido Kaikan ở Nhật, Ashihara Kaikan với ảnh hưởng quan trọng tới huấn luyện võ thuật của quân đội và cảnh sát ở Nhật, v.v…). Ở phương Tây, Kyokushin Karate còn được gọi là Knock-down Karate. Các phái này cho đánh trực tiếp vào người đối phương khi thi đấu, nhưng không được đánh vào đầu. Các lưu phái cho phép đánh cả vào đầu đối phương khi thi đấu bao gồm Shinkarate, Daido Juku Kudo, Zendokai, v.v… Ngoài ra còn có một số môn phái Karate ở Mỹ trong đó Karate Chuyên nghiệp Toàn Mỹ mà thực chất là Karate kết hợp với các môn boxing, kickboxing nên có khi gọi là Karate tổng hợp. == Đẳng cấp, màu đai và danh hiệu == Chế độ đẳng cấp và màu đai của Karate là học từ Judo và bắt đầu thi hành từ năm 1924. Ban đầu chỉ có đai đen (huyền đai) và đai trắng. Đai đen dành cho những người đã có quá trình luyện tập, còn đai trắng dành cho người mới bắt đầu. Giữa đai trắng và đai đen có từ 1 đến 3 đai nữa tùy theo từng lưu phái. Hay dùng nhất là đai màu xanh lá cây (màu trà Nhật). Ngoài ra tùy lưu phái có thể có đai vàng, đai đỏ, đai nâu, đai tím, v.v … Trong đai đen lại có khoảng 10 đẳng, thấp nhất là nhất đẳng (nhất đẳng huyền đai). Những người đạt đến trình độ ngũ đẳng huyền đai đến lục đẳng huyền đai được gọi là renshi (錬士) ngũ đẳng và renshi lục đẳng, từ thất đẳng huyền đai đến bát đẳng huyền đai được gọi là kyoshi (教士) hoặc tatsushi (達士), từ cửu đẳng huyền đai trở lên gọi là hanshi (範士). Cũng có lưu phái không sử dụng các danh hiệu này. == Trang phục == Nguyên thủy, người luyện tập và đấu Karate cởi trần. mặc quần dài hoặc quần cộc. Ngày nay, người luyện tập Karate mặc áo màu trắng là học theo áo của môn Judo. Karate truyền thống thường mặc áo mà tay áo dài đến cổ tay, ống quần cũng dài đến cổ chân. Trong khi đó, Full Contact Karate mặc áo quần có ống tay áo và ống quần ngắn hơn. == Thay đổi trong phương pháp huấn luyện == Khác với các môn võ khác của Nhật Bản được truyền thụ bằng tài liệu, Karate vốn được truyền thụ bằng miệng (khẩu truyền) và biểu diễn mẫu. Tuy nhiên, từ thời kỳ Taisho các cao thủ Karate ở Okinawa thành lập Câu lạc bộ Đường thủ Karate để cùng nhau nghiên cứu, trao đổi về Karate, thì bắt đầu xuất hiện các tài liệu hướng dẫn tập luyện Karate. == Các điều luật lệ == Theo tiếng Nhật gọi là Dojo kun, là một bộ các điều được đưa ra để các võ sinh Karate tuân theo. Những điều lệ này được áp dụng trong dojo hay còn gọi là phòng tập và trong cả cuộc sống đời thường. === Năm điều huấn thị của võ sư Funakoshi === Võ sư Funakoshi Gichin (tiếng Nhật: 船越 義珍) (1868-1957) đưa ra năm điều huấn thị đối với người luyện Karate chi phái Shotokan để rèn luyện đạo đức. Nỗ lực hoàn thiện nhân cách, tiếng Nhật: ―、人格完成に努ろこと, phiên âm: Hitotsu, jinkaku kansei ni tsutomuru koto. Luôn luôn chân thành, tiếng Nhật: ―、誠の道を守ること, phiên âm: Hitotsu, makoto no michi wo mamoru koto. Nuôi dưỡng tinh thần nỗ lực, tiếng Nhật: ―、努力の精神を養うこと, phiên âm: Hitotsu, doryoku no seishin wo yashinau koto. Trọng lễ nghĩa, tiếng Nhật: ―、礼儀を重んずること, phiên âm: Hitotsu, reigi wo omonzuru koto. Kiềm chế các hành vi nóng nảy, tiếng Nhật: ―、血気の勇を戒むる, phiên âm: Hitotsu, kekki no yu wo imashimuru koto. === Hai mươi điều về Karate của sư tổ Funakoshi === 1. Đừng quên Karate bắt đầu bằng Lễ, kết thúc cũng bằng Lễ. 2. Karate không nên ra đòn trước. 3. Karate phải giữ nghĩa. 4. Trước tiên phải biết mình rồi mới đến biết người. 5. Kỹ thuật không bằng tâm thuật. 6. Cần để tâm thoải mái. 7. Khinh suất tất gặp rắc rối. 8. Đừng chỉ có lúc nào ở võ đường mới nghĩ về karate. 9. Rèn luyện karate cả đời không nghỉ. 10. Biến mọi thứ thành karate, như thế sẽ nắm được sự tuyệt vời của nó. 11. Karate giống như nước nóng, nếu ngừng hâm nóng thì sẽ nguội lạnh. 12. Đừng nghĩ thắng, hãy nghĩ đừng bại. 13. Chuyển hóa bản thân tùy theo đối phương. 14. Kết quả cuộc đấu phụ thuộc vào khả năng kiểm soát. 15. Hãy nghĩ chân tay người cũng là kiếm. 16. Hễ ra khỏi nhà là có cả triệu địch thủ. 17. Người mới tập có thể còn gượng gạo, nhưng về sau phải thật tự nhiên. 18. Phải tập kata thật chuẩn, nhưng nhớ là thực chiến sẽ khác đi. 19. Nhớ kiểm soát độ mạnh yếu của lực, độ linh hoạt của cơ thể, độ nhanh chậm của đòn thế. 20. Luôn chính chắn khi dụng võ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Liên đoàn Karate Thế giới (World Karate Federation), có tài liệu về Karate. Japan Karate Association, có tài liệu về Karate. Karate Results and Charts WKF (tiếng Anh) Hội Karatedo Thành phố Hồ Chí Minh
agatha christie.txt
Agatha Mary Clarissa, Lady Mallowan, DBE (15 tháng 9 năm 1890 - 12 tháng 1 năm 1976), thường được biết đến với tên Agatha Christie, là một nhà văn trinh thám người Anh. Bà còn viết tiểu thuyết lãng mạn với bút danh Mary Westmacott, nhưng vẫn được nhớ đến hơn cả với bút danh Agatha Christie và 66 tiểu thuyết trinh thám. Với hai nhân vật thám tử nổi tiếng, Hercule Poirot và Bà Marple (Miss Marple), Christie được coi là "Nữ hoàng trinh thám" (Queen of Crime) và là một trong những nhà văn quan trọng và sáng tạo nhất của thể loại này. Theo Sách kỷ lục Guinness, Agatha Christie là nhà văn có tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại của thể loại trinh thám, và đứng thứ hai nếu tính cả các thể loại khác (chỉ xếp sau William Shakespeare). Ước tính đã có khoảng 1 tỷ bản in bằng tiếng Anh và khoảng 1 tỷ bản in bằng 103 thứ tiếng khác những tác phẩm của Christie được tiêu thụ. Một ví dụ cho sự hấp dẫn của những tác phẩm của Agatha Christie ở nước ngoài là bà cũng là tác giả ăn khách nhất mọi thời đại ở Pháp với 40 triệu bản in bằng tiếng Pháp đã tiêu thụ (tính cho đến năm 2003), trong khi người xếp thứ 2 là nhà văn Pháp Emile Zola chỉ là 22 triệu bản. Vở kịch The Mousetrap (Cái bẫy chuột) của bà cũng đang giữ kỷ lục vở kịch được công diễn lâu nhất trong lịch sử sân khấu London, ra mắt lần đầu tại rạp Ambassadors Theatre ngày 25 tháng 11 năm 1952 và vẫn tiếp tục được diễn cho đến nay (năm 2007) với trên 20.000 buổi diễn. Năm 1955, Christie là người đầu tiên được nhận giải thưởng Grand Master Award của Hội nhà văn trinh thám Mỹ (Mystery Writers of America). Hầu như tất cả tác phẩm của bà đều đã được chuyển thể thành phim, một số tác phẩm đã được chuyển thể nhiều lần như Murder on the Orient Express, Death on the Nile, 4.50 From Paddington, nhiều tác phẩm cũng được chuyển thể thành phim truyền hình hoặc trò chơi điện tử. == Tiểu sử == Agatha Christie có tên khai sinh là Agatha Mary Clarissa Miller sinh ngày 15 tháng 9 năm 1890 tại Torquay, Devon, bà có cha là người Mỹ và mẹ là người Anh, tuy vậy chưa bao giờ Christie có hoặc tuyên bố là có quốc tịch Hoa Kỳ. Cha bà là ông Frederick Miller, một nhà giao dịch chứng khoán người giàu có, còn mẹ, bà Clara Bohemer có dòng dõi quý tộc Anh. Christie có một người chị, Margaret Frary Miller (1879-1950) và một người anh Louis Montant Miller (1880-1929). Bố của Agatha Christie mất khi bà còn rất nhỏ, bà Clara là người đã khuyến khích Christie viết từ khi còn bé. Lên 16 tuổi, Christie sang Paris để học hát và piano. Bà có cuộc hôn nhân đầu tiên không hạnh phúc với đại tá Archibald Christie, một phi công của Không quân hoàng gia Anh. Hai người cưới nhau năm 1914, có một con gái, Rosalind Hicks, và ly dị năm 1928. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất bà làm việc tại bệnh viện và sau đó là tiệm thuốc, công việc này đã ảnh hưởng tới những sáng tác của bà sau này khi rất nhiều vụ giết người trong các tác phẩm của Christie được thực hiện bằng thuốc độc như thạch tín, ricin và thallium. Ngày 8 tháng 12 năm 1926, khi đang sống ở Sunningdale, Berkshire, bà đột nhiên biến mất 10 ngày khiến dư luận xôn xao. Cuối cùng bà được tìm thấy khi đang ở khách sạn Swan Hydro vùng Harrogate dưới tên của người phụ nữ đã ngoại tình với chồng bà trước đó. Agatha Christie nói rằng bà bị mắc chứng đãng trí vì suy sụp sau cái chết của mẹ bà và sự phản bội của người chồng. Năm 1930, Christie kết hôn với nhà khảo cổ Max Mallowan trẻ hơn bà 14 tuổi. Agatha Christie mất ngày 12 tháng 1 năm 1976 ở tuổi 85, tại Wallingford, Oxfordshire. Đứa con duy nhất của bà, Rosalind Hicks, mất ngày 28 tháng 10 năm 2004 cũng ở tuổi 85, và hiện cháu trai bà, Mathew Prichard đang giữ bản quyền tất cả tác phẩm của bà ngoại. == Hercule Poirot và Bà Marple == Tiểu thuyết đầu tiên của Agatha Christie, The Mysterious Affair at Styles được xuất bản năm 1920 và lần đầu tiên giới thiệu cho độc giả nhân vật thám tử nổi tiếng Hercule Poirot, người sẽ xuất hiện trong 30 tiểu thuyết và 50 truyện ngắn khác của Christie. Nhân vật thám tử nổi tiếng nữa của Christie là Bà Marple (Miss Marple) xuất hiện lần đầu trong The Murder at the Vicarage xuất bản năm 1930. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Christie viết hai tiểu thuyết Curtain và Sleeping Murder, bà dự định đó sẽ là những vụ án cuối cùng của hai thám tử Hercule Poirot và Bà Marple. Hai tác phẩm này được giữ trong nhà băng hơn 30 năm và chỉ được phát hành vào cuối đời của tác giả, khi Christie nhận ra rằng mình không thể viết thêm tiểu thuyết nào nữa. Cũng giống Arthur Conan Doyle, Christie đã từng trở nên chán ngán với những nhân vật thám tử của mình. Vào cuối thập niên 1930, Christie đã viết trong nhật ký rằng bà nhận thấy Poirot là "không thể chịu đựng nổi", tuy nhiên khác với Doyle, Agatha Christie đã chống lại được cảm giác muốn kết liễu nhân vật thám tử của mình khi anh ta vẫn còn đang nổi tiếng. Bà coi mình là một người làm nghề giải trí mà công việc là sáng tạo ra những thứ công chúng ưa thích, và thứ mà công chúng ưa thích lại chính là nhân vật thám tử Poirot. Trái ngược với Poirot, Christie rất yêu thích nhân vật Bà Marple. Đáng ngạc nhiên là số tiểu thuyết có xuất hiện Bà Marple lại chưa bằng một nửa số tiểu thuyết có xuất hiện ông thám tử người Bỉ Poirot. Poirot là nhân vật hư cấu duy nhất cho đến nay được đăng cáo phó trên tờ The New York Times sau khi tiểu thuyết Curtain xuất bản năm 1975 trong đó Poirot bị bà Christie "giết chết". Tiếp nối thành công của Curtain, Christie cho xuất bản tiểu thuyết Sleeping Murder vào năm 1976, nhưng bà lại chết trước khi tác phẩm của mình được phát hành. Điều này giải thích một số mâu thuẫn của tác phẩm này với loạt truyện về Bà Marple, có lẽ Christie không còn thời gian để xem lại bản thảo trước khi bà qua đời. Miss Marple được "đối xử" tốt hơn viên thanh tra Poirot khi bà vẫn sống sau khi giải quyết xong vụ án của Sleeping Murder. == Tác phẩm == === Tiểu thuyết === === Tập truyện ngắn === 1924, Poirot Investigates (11 truyện ngắn) 1929, Partners in Crime (15 truyện ngắn; về thám tử Tommy và Tuppence) 1930, The Mysterious Mr. Quin (12 truyện ngắn; giới thiệu Sir Harley Quin) 1933, The Hound of Death (12 truyện ngắn) 1933, The Thirteen Problems (13 truyện ngắn; về Bà Marple, còn có tên The Tuesday Club Murders) 1934, Parker Pyne Investigates (12 truyện ngắn; giới thiệu Parker Pyne và Ariadne Oliver, còn có tên Mr. Parker Pyne, Detective) 1934, The Listerdale mystery (12 truyện ngắn) 1937, Murder in the Mews (4 truyện ngắn; về Hercule Poirot, còn có tên Dead Man's Mirror) 1939, Regatta Mystery and Other Stories (9 truyện ngắn) 1947, The Labours of Hercules (12 truyện ngắn; về Hercule Poirot) 1948, The Witness for the Prosecution and Other Stories (11 truyện ngắn) 1950, Three Blind Mice and Other Stories (9 truyện ngắn) 1951, The Under Dog and Other Stories (9 truyện ngắn) 1960, The Adventure of the Christmas Pudding (6 truyện ngắn) 1961, Double Sin and Other Stories (8 truyện ngắn) 1971, The Golden Ball and Other Stories (15 truyện ngắn) 1974, Poirot's Early Cases (18 truyện ngắn) 1979, Miss Marple's Final Cases and Two Other Stories (8 truyện ngắn) 1991, Problem at Pollensa Bay and Other Stories (8 truyện ngắn) 1997, The Harlequin Tea Set (9 truyện ngắn) 1997, While the Light Lasts and Other Stories (9 truyện ngắn) 1997, Death is not the Worst Thing (12 truyện ngắn) === Viết bằng bút danh Mary Westmacott === 1930, Giant's Bread 1934, Unfinished Portrait 1944, Absent in the Spring 1948, The Rose and the Yew Tree 1952, A Daughter's a Daughter 1956, The Burden === Kịch === 1928, Alibi 1930, Black Coffee 1936, Love from a Stranger 1937, A Daughter's a Daughter (chưa bao giờ diễn) 1940, Peril at End House 1943, Ten Little Indians 1945, Appointment with Death 1946, Murder on the Nile 1949, Murder at the Vicarage 1951, The Hollow 1952, The Mousetrap 1953, Witness for the Prosecution 1954, Spider's Web 1956, Towards Zero 1958, Verdict 1958, The Unexpected Guest 1960, Go Back for Murder 1962, Rule of Three 1972, Fiddler's Three 1973, Aknaton (viết năm 1937) 1977, A Murder is Announced 1981, Cards on the Table 1992, Problem at Pollensa Bay 1993, Murder is Easy 2005, And Then There Were None === Kịch truyền thanh === 1937, Yellow Iris 1947, Three Blind Mice 1948, Butter In a Lordly Dish 1960, Personal Call === Kịch truyền hình === 1937, Wasp's Nest === Tác phẩm khác === 1946, "Come Tell Me How You Live" 1977, "Agatha Christie: An Autobiography" == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web chính thức của Agatha Christie Agatha Christie trên Project Gutenberg
gecmani.txt
Gecmani là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Ge và số nguyên tử 32. Nó là một á kim màu trắng bạc, cứng, bóng, về mặt hóa học là tương tự như thiếc. Gecmani tạo ra một lượng lớn các hợp chất hữu cơ kim loại và là vật liệu bán dẫn quan trọng được sử dụng để sản xuất transistor. Nó được đặt tên theo tên gọi của Đức trong tiếng La tinh là Germania. == Các đặc trưng == Gecmani là một nguyên tố màu trắng ánh xám, cứng có nước bóng kim loại và cấu trúc tinh thể tương tự như kim cương. Ngoài ra, một điều quan trọng cần lưu ý là gecmani là chất bán dẫn, với các tính chất điện nằm giữa các kim loại và các chất cách điện. Ở trạng thái nguyên chất, á kim này là chất kết tinh, giòn và duy trì độ bóng trong không khí ở nhiệt độ phòng. Các kỹ thuật tinh chế khu vực đã dẫn tới việc sản xuất gecmani kết tinh cho ngành công nghiệp bán dẫn với hàm lượng tạp chất chỉ ở cấp độ 10−10. Cùng với gali, bitmut, antimoan và nước, nó là một trong các chất giãn nở ra khi đóng băng. Dạng ôxít, điôxít gecmani, cũng có tính chất bất thường như có chiết suất cao đối với ánh sáng nhìn thấy, nhưng lại là trong suốt với ánh sáng hồng ngoại. == Lịch sử == Năm 1871, gecmani (tiếng La tinh germania để chỉ Đức) là một trong các nguyên tố mà Dmitri Ivanovich Mendeleev dự báo là tồn tại như là nguyên tố tương tự nhưng còn thiếu của nhóm silic (Mendeleev gọi nó là "eka-silicon"). Sự tồn tại của nguyên tố này được Clemens Winkler chứng minh năm 1886. Sự phát hiện này là sự khẳng định quan trọng cho ý tưởng về tính tuần hoàn nguyên tố của Mendeleev. Sự phát triển của các transistor bằng gecmani đã mở ra vô vàn ứng dụng của điện tử học trạng thái rắn. Từ năm 1950 cho tới đầu thập niên 1970, lĩnh vực này đã tạo ra một thị trường ngày càng tăng cho gecmani, nhưng sau đó silic độ tinh khiết cao đã bắt đầu thay thế gecmani trong các loại transistor, đi ốt và chỉnh lưu. Silic có các tính chất điện học tốt hơn, nhưng đòi hỏi độ tinh khiết cao hơn—một độ tinh khiết mà con người không thể đạt được ở quy mô thương mại trong giai đoạn đầu. Trong khi đó, nhu cầu về gecmani trong các mạng liên lạc viễn thông bằng cáp quang, các hệ thống quan sát ban đêm bằng hồng ngoại và các xúc tác polyme hóa đã gia tăng một cách mạnh mẽ. Các ứng dụng này chiếm tới 85% nhu cầu tiêu thụ gecmani toàn thế giới vào năm 2000. Gecmani khác với silic ở chỗ việc cung cấp silic bị hạn chế bởi năng lực sản xuất trong khi việc cung cấp gecmani bị hạn chế bởi sự hạn chế các nguồn có thể khai thác. == Ứng dụng == Không giống như phần lớn các chất bán dẫn khác, gecmani có vùng cấm nhỏ, cho phép nó phản ứng rất hiệu quả với ánh sáng hồng ngoại. Vì thế nó được sử dụng trong các kính quang phổ hồng ngoại và các thiết bị quang học khác trong đó đòi hỏi các thiết bị phát hiện cực kỳ nhạy với tia hồng ngoại. Chiết suất của ôxít gecmani và thuộc tính tán sắc của nó làm cho gecmani là hữu ích trong các thấu kính camera góc rộng và trong kính vật của các kính hiển vi. Các transistor từ gecmani vẫn còn được sử dụng trong một số hộp dậm chân của các nhạc công muốn tái tạo các đặc trưng âm khác biệt cho âm "fuzz" từ thời kỳ ban đầu của rock and roll, đáng chú ý có Fuzz Face của Dallas Arbiter. Gecmani là vật liệu quang học hồng ngoại có tầm quan trọng cao và có thể dễ dàng cắt, đánh bóng thành các thấu kính hay cửa sổ. Cụ thể, nó được sử dụng như là thấu kính vật trong các camera nhiệt làm việc trong khoảng bước sóng 8-14 micron chụp hình nhiệt thụ động và cho hot-spot detection in military and fire fighting applications. Vật liệu này có chiết suất rất cao (4,0) và vì thế cần được bọc lót chống phản xạ. Cụ thể, lớp bọc lót chống phản xạ đặc biệt rất cứng như cacbon tựa kim cương (DLC) (chiết suất 2,0) là phù hợp tốt nhất và sản sinh ra bề mặt cứng như kim cương có thể chống chịu được các tác động môi trường khác nhau. Hợp kim gecmanua silic (hay "silic-gecmani", SiGe) rất nhanh chóng trở thành vật liệu bán dẫn quan trọng, dùng trong các mạch IC tốc độ cao. Các mạch IC dùng các tính chất của kết nối Si-SiGe có thể nhanh hơn nhiều so với các mạch chỉ dùng silic. Ứng dụng khác: Tác nhân trong sản xuất hợp kim Phosphor trong các đèn huỳnh quang Chất xúc tác Các thiết bị phát hiện dùng một tinh thể gecmani độ tinh khiết cao có thể nhận dạng chính xác nguồn bức xạ (ví dụ trong an ninh hàng không) Các đĩa bán dẫn với nền là gecmani cho các tế bào quang điện hiệu suất cao đa kết nối trong các ứng dụng cho tàu vũ trụ. Một vài hợp chất của gecmani có độc tính thấp đối với động vật có vú, nhưng lại có độc tính cao đối với một vài loại vi khuẩn nào đó. Tính chất này làm cho chúng trở thành có ích như là các tác nhân chữa trị bằng hóa chất. Các tinh thể gecmani độ tinh khiết cao được dùng trong các máy dò cho kính quang phổ gamma. Nghiên cứu của FDA đưa ra kết luận rằng gecmani, khi sử đụng như là chất bổ sung dinh dưỡng, "thể hiện một số nguy hiểm tiềm tàng cho sức khỏe con người". Trong những năm gần đây gecmani được gia tăng sử dụng trong các hợp kim của các kim loại quý. Ví dụ, trong hợp kim bạc sterling, nó được thêm vào để giảm vết bẩn màu, tăng chống xỉn màu, và làm tăng phản ứng của hợp kim đối với xơ cứng kết tủa. == Phổ biến == Nguyên tố này được tìm thấy trong argyrodit (sulfua của gecmani và bạc); than đá; germanit; quặng kẽm; và một số khoáng vật khác. Xem thêm Khoáng vật gecmani Ở quy mô thương mại, gecmani thu được từ quặng kẽm nhờ xử lý bụi quặng nóng chảy cũng như từ các phụ phẩm sau cháy của một vài dạng than đá. Vì thế nguồn dự trữ lớn của gecmani chính là các nguồn than đá. Á kim này có thể tách ra từ các kim loại khác bằng cách chưng cất phân đoạn tetraclorua dễ bay hơi của nó. Kỹ thuật này cho phép sản xuất gecmani cực kỳ tinh khiết. == Giá cả == Năm 1998 giá thành của gecmani vào khoảng 1,70$/gam. Tuy nhiên, giá thành này liên tục giảm kể từ đó: 1999.....$1.400/kilôgam ($1,40/gam) 2000.....$1.250/kilôgam ($1,25/gam) 2001.....$890/kilôgam ($0,89/gam) 2002.....$620/kilôgam ($0,62/gam) 2003.....$380/kilôgam ($0,38/gam) 2004.....$600/kilôgam ($0,60/gam) 2005.....$660/kilôgam ($0,66/gam) 2006.....$880/kilôgam ($0,88/gam) == Hợp chất == Một số hợp chất vô cơ của gecmani như gecman (tetrahiđrua gecmani (GeH4), tetraclorua gecmani (GeCl4), và điôxít gecmani (gecmania) (GeO2). Một số hợp chất hữu cơ của gecmani như tetrametylgecman hay tetrametyl gecmani, (Ge(CH3)4), và tetraetylgecman hay tetraetyl gecmani, (Ge(C2H5)4). Hợp chất hữu cơ mới của gecmani gần đây (isobutylgecman ((CH3)2CHCH2GeH3), đã được thông báo là chất lỏng ít nguy hại hơn để thay thế cho khí gecman độc hại trong các ứng dụng bán dẫn. Xem thêm Hợp chất gecmani Gecman Gecmanua == Tính chất == Gecmani nguyên chất được biết đến với việc sinh ra một cách tự phát các biến vị xoắn rất dài, còn gọi là râu gecmani. Sự phát triển của các râu này là một trong các nguyên nhân chính trong các hỏnh hóc của các điốt và transistor cũ sản xuất từ gecmani, do phụ thuộc vào việc chúng kết thúc chạm vào đâu mà điều đó có thể dẫn tới đoản mạch. == Tham khảo == Phòng thí nghiệm quốc gia Hoa Kỳ Los Alamos – Germanium == Liên kết ngoài == WebElements.com – Germanium
kinh tế chính trị.txt
Kinh tế chính trị là một môn khoa học xã hội nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Thuật ngữ "kinh tế chính trị" được dùng lần đầu tiên năm 1615 bởi Antoine de Montchrétien trong tác phẩm Traité d'économie politique. Thuật ngữ "kinh tế chính trị" xuất hiện do kết hợp các từ có nguồn gốc Hy Lạp với nghĩa là "thiết chế chính trị". == Đối tượng nghiên cứu == "Kinh tế chính trị" chỉ nghệ thuật quản lý kinh tế của một quốc gia để phân biệt với "kinh tế" là việc quản lý gia đình (từ tiếng Anh "political" có nguồn gốc từ politike trong tiếng Hy Lạp nghĩa là lo việc nước; còn "economy" có nguồn gốc từ chữ oikonomia trong tiếng Hy Lạp nghĩa là quản lý gia đình; political economy được dịch ra tiếng Việt là "kinh tế chính trị"). Có thể nói, kinh tế chính trị là kinh tế học dưới con mắt của chính khách. Học thuyết kinh tế chính trị có tính hệ thống đầu tiên là học thuyết của Adam Smith trong thế kỷ 18. Trong tác phẩm nổi tiếng An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations (Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia, 1776, thường được gọi tắt là Của cải của các quốc gia hay Quốc phú luận), Adam Smith chỉ rõ: "Political economy considered as a branch of the science of a statesman or legislator proposes two distinct objects, first, to supply a plentiful revenue or subsistence for the people, or more properly to enable them to provide such a revenue or subsistence for themselves; and secondly, to supply the state or commonwealth with a revenue sufficient for the public service. It proposes to enrich both the people and the sovereign." == Các phương pháp tiếp cận == Phương pháp lấy quyền lực là trung tâm. Đây là phương pháp tiếp cận của kinh tế chính trị cổ điển. Do coi quyền lực là vấn đề trung tâm của chính trị, nên họ cho rằng kinh tế chính trị nghiên cứu cách thức đạt được quyền lực trong nền kinh tế. Phương pháp lấy xã hội làm trung tâm. Đây là cách tiếp cận của kinh tế chính trị Marx-Lenin và của chủ nghĩa công lợi. Các trường phái này xuất phát từ lợi ích xã hội để nghĩ về nhà nước. Phương pháp lấy nhà nước làm trung tâm. Trường phái kinh tế chính trị tân cổ điển và kinh tế chính trị Keynes xuất phát từ cách xác định chính trị là khoa học về nhà nước, còn kinh tế hàm ý thị trường. Vì thế, họ cho rằng kinh tế chính trị nghiên cứu cân bằng quyền lực giữa thị trường và nhà nước. Nhà nước tìm cách kiểm soát nền kinh tế để đạt được những mục đích của mình. Phương pháp lấy "chính nghĩa" làm trung tâm. Đây là cách tiếp cận của kinh tế chính trị hiện đại. Kinh tế chính trị hiện đại xuất phát từ quan điểm rằng có một hệ thống "quyền" gắn liền với thị trường, mà quan trọng nhất là quyền sở hữu. Chính trị có thể xác định và tác động tới các quyền đó. Vì thế, nhiệm vụ của kinh tế chính trị là nghiên cứu cách thức chính trị tác động tới các hệ thống quyền lợi đó. Kinh tế chính trị hiện đại có thể phân thành ba trường phái nhỏ hơn, đó là chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa khế ước hiện đại, và chủ nghĩa Hegel. == Mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị == Học thuyết kinh tế chính trị nghiên cứu các hiện tượng kinh tế-xã hội để đưa ra các quy luật chung có thể áp dụng được vào các quá trình hoạt động kinh tế-xã hội nhằm phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Trong khi đó, trọng tâm của kinh tế chính trị là quan hệ sản xuất. == Phạm vi nghiên cứu == Phạm vi nghiên cứu truyền thống của kinh tế chính trị thường được chia làm bốn lĩnh vực là: sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu dùng. === Sản xuất === Sản xuất là hoạt động sử dụng tư liệu sản xuất đề tạo ra một vật thể hữu hình có giá trị sử dụng. Kinh tế chính trị lấy sản xuất là đối tượng nghiên cứu tiên quyết và lao động là điều kiện tồn tại của nó. === Tư liệu sản xuất === Tư liệu sản xuất là bất kì công cụ nào giúp người lao động biến nguyên liệu thành vật thể hữu dụng. Bao gồm tư liệu hữu hình (máy móc, xưởng,..) và tư liệu vô hình (sáng kiến, kiến thức,...). Hay tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Người lao động dùng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm hàng hoá. === Phân phối === Lực lượng sản xuất cần được cung cấp tư liệu sản xuất, hàng hóa cần được vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Phân phối hình thành để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa, tiền bạc và thông tin. === Trao đổi === Trao đổi là quá trình nhà sản xuất/nhà đầu tư trao đổi với người tiêu thụ. Người sản xuất và người tiêu thụ có quan hệ biện chứng với nhau tức là mỗi người sản xuất là người tiêu thụ, ngược lại mỗi người tiêu thụ cũng là người sản xuất. Trao đổi được thực hiện trên thị trường trong đó tiền tệ đóng vai trò là phương tiện thanh toán. === Tiêu dùng === Tiêu dùng là quá trình tác động vào hàng hóa biến đổi nó quay trở lại trạng thái không còn hữu dụng. Tiêu dùng phụ thuộc vào tính hữu dụng của hàng hóa và là mục đích cuối cùng của nhà sản xuất. Phạm vi nghiên cứu của kinh tế chính trị học hiện đại đã vượt xa khỏi bốn lĩnh vực truyền thống này. == Các trường phái == === Kinh tế chính trị cổ điển === Trường phái này bắt đầu từ tác phẩm Của cải của các quốc gia của Adam Smith (1776) đến Các nguyên lý kinh tế chính trị của John Stuart Mill (1848). Các đại biểu của trường phái này bao gồm Smith, David Ricardo, Thomas Malthus và Mill. Cái tên "Kinh tế chính trị cổ điển" là do Marx đặt ra. Những đóng góp lớn của trường phái này bao gồm lý luận về sự tự điều chỉnh của thị trường và lý luận về giá trị, về phân phối. Smith là người đầu tiên thảo luận về lý luận giá trị lao động và Ricardo phát triển lý luận này. === Kinh tế chính trị Marxist === Đây là trường phái kinh tế chính trị mà Karl Marx là người sáng lập và Friedrich Engels là một đại biểu khác. Trường phái này đã phát triển đáng kể những lý luận về phân công lao động và lý luận giá trị lao động của kinh tế chính trị tân cổ điển, từ đó giới thiệu lý luận về lao động thặng dư, giá trị thặng dư, quy luật giá trị và thay đổi hình thái giá trị. Marx đã phê phán lý luận về dư thừa dân số của Malthus và giới thiệu khái niệm về đội quân lao động dự bị. Marx đã tiếp thu và phát triển những lý luận của Ricardo về phân phối. Những đóng góp quan trọng khác của trường phái này là các lý luận về phương tiện sản xuất, phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất... === Kinh tế chính trị tân cổ điển === Kinh tế chính trị tân cổ điển có các đại biểu là William Stanley Jevons, Carl Menger, Léon Walras, Philip Henry Wicksteed, William Smart, Alfred Marshall, Eugen von Böhm-Bawerk, Friedrich von Wieser, Vilfredo Pareto. Trường phái này phê phán quan niệm của kinh tế chính trị cổ điển về thỏa dụng, cũng như phê phán quan niệm của kinh tế chính trị Mác-xít về giá trị sử dụng. Từ đó, họ giới thiệu khái niệm về thỏa dụng biên. Chính vì thế, trường phái này còn được gọi là chủ nghĩa cận biên. Đóng góp quan trọng khác của trường phái này bao gồm lý luận về sự lựa chọn trong ràng buộc, quyền sở hữu, hàng hóa công cộng, độc quyền, ảnh hưởng ngoại lai, v.v... === Kinh tế chính trị Keynes === Kinh tế chính trị Keynes phê phán lý luận về sự tự điều chỉnh của thị trường của trường phái cổ điển. John Maynard Keynes phát triển lý luận về tính bất ổn định của tái sản xuất và tăng trưởng của kinh tế tư bản chủ nghĩa. == Môn học liên quan đến kinh tế chính trị == Xã hội học nghiên cứu các quan hệ xã hội. Nhiều nhà xã hội học nghiên cứu các quan hệ xã hội hình thành dựa trên quan hệ sản xuất cũng như sự ảnh hưởng của quan hệ sản xuất lên hoạt động xã hội loài người. Nhân loại học áp dụng kinh tế chính trị để nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống tư bản toàn cầu và các nền văn minh địa phương. Lịch sử luôn thay đổi, phương pháp lịch sử được môn kinh tế chính trị áp dụng để nghiên cứu các quy luật chung của hoạt động kinh tế-xã hội. Luật học, luật pháp được chính quyền áp dụng để quản lý xã hội. Trong kinh tế chính trị, luật cùng với các tư tưởng xã hội và quan điểm chính trị tạo nên kiến trúc thượng tầng. Sinh thái học có quan hệ với kinh tế chính trị bởi vì hoạt động kinh tế-xã hội loài người ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái. Những thay đổi về mặt sinh thái tác động trở lại đến con người, nhiều khi tiêu cực. == Học thuyết liên quan đến kinh tế chính trị == Chủ nghĩa tự do cho rằng phát triển kinh tế do giá trị thặng dư tư bản mà sinh ra chứ không phải giá trị thặng dư xã hội. Do đó lợi lộc thuộc cá thể chứ không phải toàn xã hội. Chủ nghĩa bảo thủ quan niêm giá trị thặng dư tư bản thuộc về từng cá thể và giá trị thặng dư xã hội có rất ít hoặc không có. Đại diện của chủ nghĩa bảo thủ là Thomas Hobbes, Leo Strauss. Chủ nghĩa xã hội tin rằng tỉ lệ giữa giá trị thặng dư tư bản và giá trị thặng dư xã hội rất thấp. Có nghĩa là mỗi cá thể tạo ra giá trị thặng dư đều là thành viên của xã hội nên giá trị thăng dư đó là của xã hội. Chủ nghĩa cộng sản không biệt giữa giá trị thặng dư tư bản và giá trị thặng dư xã hội nhưng lại cho rằng tăng trưởng kinh tế-xã hội do giá trị thặng dư xã hội sinh ra. Đại diện xuất sắc của chủ nghĩa cộng sản là Karl Marx, Friedrich Engels, Lenin và Lev Davidovich Trotsky. == Chú thích == == Tham khảo == Political Economy Caporaso, James A. and Levine, David P. (1992), Theories of Political Economy, Cambridge University Press. John Neville Keynes (1999), The Scope and Method of Political Economy, Batoche Books == Liên kết ngoài == The Political Economy of British Columbia's Rainforests của Elmer G. Wiens An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations của Adam Smith On the Principles of Political Economy của David Ricardo Capital: A Critique of Political Economy của Karl Marx
j. r. r. tolkien.txt
John Ronald Reuel Tolkien (đọc là /ˈtɒlkiːn/) (3 tháng 1 năm 1892 – 2 tháng 9 năm 1973) là một nhà ngữ văn, tiểu thuyết gia, và giáo sư người Anh, được công chúng biết đến nhiều nhất qua các tác phẩm Anh chàng Hobbit (The Hobbit) và Chúa tể những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings). Ông giảng dạy về ngôn ngữ Anglo-Saxon tại đại học Oxford (giữ cương vị Giáo sư Rawlinson & Bosworth đầu ngành Anglo-Saxon của Oxford) từ năm 1925 đến 1945, và sau đó ông giữ ghế Giáo sư Merton đầu ngành ngôn ngữ và văn học Anh cũng tại Oxford từ 1945 đến 1959. Ông theo Cơ Đốc giáo và là một tín hữu sùng đạo. Tolkien là bạn thân của C. S. Lewis; cả hai cùng là thành viên của nhóm văn sĩ nổi tiếng Inklings. Ông được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước CBE (Commander of the Order of the British Empire) năm 1972. Ngoài những tác phẩm nổi tiếng Anh chàng Hobbit và Chúa tể những chiếc nhẫn được xuất bản khi ông còn sống, con trai ông, Christopher Tolkien đã xuất bản những tác phẩm khác, dựa gần như hoàn toàn trên những ghi chép của cha mình. Trong số đó có Những viên ngọc Silmaril và các tiểu thuyết khác, gộp chung lại thành một bộ truyện thống nhất về những câu chuyện kể, sử thi, ngôn ngữ và các bài viết về thế giới giả tưởng Arda và Trung Địa (tên gọi bắt nguồn từ chuyển thể tiếng Anh của từ Miðgarðr trong tiếng Bắc Âu cổ, vốn là tên gọi của vùng đất của loài người trong thần thoại của các bộ tộc nhánh Germanic). Nội dung của bộ truyện cũng đề cập đến và gắn liền với, dù chỉ là rất ít, thế giới thực tại. Tolkien gọi cả bộ tác phẩm của mình là legendarium (tuyển tập những truyền thuyết, gốc Latinh) Tuy đã có nhiều tác giả khác viết về thể loại kỳ ảo trước Tolkien, thành công vang dội của Anh chàng Hobbit và Chúa nhẫn đã trực tiếp làm nên sự hồi sinh của thể loại này. Chính điều này khiến cho Tolkien được suy tôn là cha đẻ của thể loại văn học kỳ ảo hiện đại. Năm 2008, The Times xếp ông đứng thứ 6 trong danh sách "50 nhà văn Anh lớn nhất kể từ năm 1945". Forbes xếp ông thứ 5 trong số những nhà văn đã qua đời có thu nhập cao nhất năm 2009. == Tiểu sử == === Nguồn gốc gia đình của Tolkien === Tổ tiên gia tộc Tolkien phần lớn là những thợ thủ công. Gia tộc Tolkien bắt nguồn từ vùng Hạ Saxony, nhưng bắt đầu sống tại Anh từ thế kỷ 18. Họ Tolkien được cho là có từ nguyên từ chữ tollkühn trong tiếng Đức. Các tác giả Đức cũng cho rằng họ này rất có khả năng bắt nguồn từ tên ngôi làng Tolkynen, gần Rastenburg, Đông Phổ. Tên của vùng này có nguồn gốc từ tiếng Phổ cổ, hiện đã thất truyền. Ông bà ngoại Tolkien, John và Edith Jane Suffield, là những tín đồ Baptist sống tại Birmingham và sở hữu một cửa hàng ở trung tâm thành phố. Gia đình Suffield kinh doanh rất nhiều thứ trong cùng một căn nhà đó từ đầu thế kỉ 19. Từ năm 1810 cụ cố tổ của Tolkien là William Suffield có một cửa hàng văn phòng phẩm ở đây; từ 1826 cụ cố của Tolkien, cũng tên là John Suffield, kinh doanh một cửa hàng chăn màn ở đây. === Thơ ấu === John Ronald Reuel Tolkien sinh ngày 3 tháng 1 năm 1892 tại Bloemfontein thuộc bang Orange Free (hiện nay là tỉnh Free State, Nam Phi), con của ông Arthur Tolkien (1857–1896), một quản lý ngân hàng người Anh, và bà Mabel Suffield (1870–1904). Hai người đã rời Anh khi Arthur được thăng chức đứng đầu văn phòng ở Bloemfontein của Ngân hàng Anh. Tolkien có một người em trai, Hilary Arthur Reuel, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1894. Lúc còn nhỏ, Tolkien bị một con nhện to cắn trong vườn, một sự kiện mà sau này đã để lại một ấn tượng lớn trong các tác phẩm của ông, tuy Tolkien đã thú nhận rằng mình không có nhớ gì nhiều về việc này cũng như ông không hề mắc chứng sợ nhện khi lớn lên. Khi lên ba tuổi, Tolkien về Anh với mẹ và em để thăm gia đình. Cha ông qua đời tại Nam Phi do mắc bệnh nặng. Điều này dẫn đến việc gia đình Tolkien thiếu nguồn thu nhập, vì thế mẹ Tolkien gửi ông về nhà ông bà ngoại ở Birmingham. Ngay sau đó, năm 1896, họ dời đến Sarehole, rồi lại đến một ngôi làng ở Worcestershire, rồi trở về Birmingham. Tolkien thích thú khám phá chiếc cối xay bằng nước ở Sarehole, rừng Moseley Bog và các ngọn đồi Clent, Lickey và Malvern, những nơi sau này tạo cảm hứng cho ông sáng tạo nên khung cảnh của "Anh chàng Hobbit" và "Chúa Nhẫn" cùng với thị trấn Worcestershire và các ngôi làng Bromsgrove, làng Alcester, và làng Alvechurch cũng như trang trại Đáy Túi (Bag End) của dì Jane của ông, sau này trở thành tên ông đặt cho nơi sinh sống của anh chàng Bilbo người Hobbit. Mabel Tolkien tự mình dạy học cho 2 đứa con. Bà dạy cho con mình nhiều về thảo mộc và đánh thức trong ông niềm vui được nhìn ngắm và cảm nhận cây cối. Cậu bé Tolkien thích vẽ phong cảnh và cây cối, nhưng những giờ học cậu thích thú nhất là những giờ liên quan đến ngôn ngữ, mẹ ông dạy ông các quy tắc cơ bản của tiếng Latin từ rất sớm. Ông biết đọc lưu loát từ năm bốn tuổi và có thể viết rành rọt sau đó không lâu. Mẹ ông cho ông đọc rất nhiều sách. Ông thích những truyện về thổ dân châu Mỹ ở Hoa Kỳ và những tác phẩm kỳ ảo của George MacDonald. Thêm vào đó, quyển "Truyện thần tiên" của Andrew Lang đặc biệt quan trọng đối với ông và ảnh hưởng của nó trong các tác phẩm sau này của ông là rất rõ ràng. Tolkien học tại trường King Edward ở Birmingham, và sau đó là trường St. Philip, trước khi ông đạt được học bổng và trở lại học trường King Edward. Mabel Tolkien trở thành tín đồ Công giáo Roma vào năm 1900 bất chấp sự kịch liệt phản đối của gia đình mình, là những người theo Baptist. Vì thế, họ đã cắt luôn mọi sự giúp đỡ tài chính. Năm 1904, khi Tolkien 12 tuổi, bà qua đời vì bệnh tiểu đường type 1. Mabel Tolkien lúc đó 34 tuổi nhưng do bệnh tật, bà trông già hơn nhiều, bà qua đời do insulin để chữa bệnh tiểu đường phải đến 2 thập kỷ sau mới được tìm ra. Chín năm sau khi mẹ mất, Tolien viết, Mẹ tôi thật sự là một vị thánh, không phải với bất cứ ai Đức Chúa cũng dễ dàng ban cho món quà là một người mẹ như vậy, Người trao cho chúng tôi một người mẹ sẵn sàng hy sinh để giữ lấy niềm tin cho chúng tôi. Trước khi qua đời, Mabel Tolkien đã giao quyền giám hộ hai người con trai cho Cha Francis Xavier Morgan ở tu viện Birmingham. Tolkien lớn lên ở Edgbaston, Birmingham. Ông sống dưới bóng của tòa tháp Perrott và tòa tháp Edgbaston, những nơi có lẽ đã ảnh hưởng nhiều đến hình ảnh những tòa tháp u tối trong các tác phẩm của ông. Một nguồn ảnh hưởng quan trọng nữa đến từ những bức tranh trường phái Lãng mạn của Edward Burne-Jones và của những họa sĩ Tiền Raphael ở Anh, bảo tàng nghệ thuật Birmingham có một bộ sưu tập nổi tiếng những bức họa đó trưng bày từ khoảng năm 1908. === Thanh niên === Năm 1911, khi học tại trường King Edward, Birmingham, Tolkien và ba người bạn, Rob Gilson, Geoffrey Smith và Christopher Wiseman, lập một tổ chức bán bí mật mà họ gọi là "nhóm T.C.B.S." (ban đầu là viết tắt của cụm "Tea Club and Barrovian Society") Sau khi ra trường, các thành viên của nhóm vẫn liên lạc với nhau, và năm 1914, họ thành lập một "hội đồng" ở London, tại nhà Wiseman. Đối với Tolkien, kết quả của việc thành lập "hội đồng" này nhằm mục đích tập tành viết thơ. Mùa hè 1911, Tolkien đi du lịch Thụy Sĩ, chuyến đi mà sau này ông nhớ lại một cách sống động trong một lá thư năm 1968, nói rằng cuộc hành trình của Bilbo Baggins qua Dãy núi Mù Sương trong "Anh chàng Hobbit" trực tiếp dựa trên cuộc phiêu lưu của ông cùng 11 người bạn đi từ Interlaken tới Lauterbrunnen và cắm trại trên những phiến băng tích vùng Mürren. 57 năm sau, Tolkien nhớ lại cảm giác nuối tiếc của ông khi phải rời khung cảnh băng tuyết vĩnh cửu ở Jungfrau và Silberhorn ("Đỉnh Gạc Bạc (Silvertine - một đỉnh núi phía Tây trong Dãy Mù Sương trong thế giới Trung Địa của Tolkien) trong những giấc mơ của tôi"). Họ đi qua ngọn Kleine Scheidegg tới Grindelwald và trèo qua đỉnh Grosse Scheidegg để tới Meiringen rồi tiếp tục băng qua Grimsel Pass, qua cả Valais tới Brig, cuối cùng lên đến Aletsch Glacier và Zermatt. Tháng Mười năm đó, Tolkien bắt đầu học tại trường Exeter, Oxford. Ban đầu ông học Văn chương Cổ điển phương Tây nhưng rồi đổi sang học Ngôn ngữ và Văn học Anh năm 1913, tốt nghiệp năm 1915 với bằng ưu hạng. === Hôn nhân === Ở tuổi 16, Tolkien gặp Edith Mary Bratt, lớn hơn mình ba tuổi, khi ông và em trai Hilary chuyển đến sống tại căn nhà trọ mà Edith cùng ở. Theo Humphrey Carpenter đã viết: Edith và Ronald thường hay lui tới các quán trà ở Birmingham, đặc biệt là quán có ban-công nhìn ra đường. Ở đó, họ có thể cùng ngồi và ném những viên đường nhỏ xuống mũ của những người đi ngang qua.... Với hai con người có cùng tính cách và vị trí trong xã hội như vậy, tình yêu nảy nở nhanh chóng. Cả hai đều mồ côi, thiếu thốn tình cảm, và họ nhận ra rằng họ có thể trao tình cảm của mình cho nhau. Mùa hè năm 1909, họ quyết định yêu nhau. Người bảo hộ của Tolkien, Cha Francis Morgan, thấy rằng Edith làm Tolkien sao nhãng việc học hành và sợ đứa trẻ của ông yêu một cô gái Kháng Cách, đã ngăn cản họ gặp nhau, trò chuyện, hay cả liên lạc cho tới khi Tolkien 21 tuổi. Tolkien tuân thủ đúng lệnh cấm này, trừ một lần ông vi phạm khiến Cha Morgan dọa sẽ cho ông nghỉ học đại học nếu còn lặp lại. Buổi chiều ngày sinh nhật thứ 21 của mình, Tolkien viết một lá thư cho Edith nói rằng anh yêu cô và xin cầu hôn cô. Edith hồi âm nói rằng cô đã đồng ý cưới một người khác, nhưng cô làm vậy vì cô tưởng Tolkien đã quên cô rồi. Hai người gặp lại và ngay dưới cây cầu xe lửa, họ đã nói lại lời yêu nhau; Edith trả lại nhẫn đính hôn và nói rằng cô sẽ cưới Tolkien. Sau lễ đính hôn của họ, Edith miễn cưỡng tuyên bố cô cải đạo thành một người Công giáo vì sự nằn nì của Tolkien. Edith và Ronald chính thức đính hôn ở Birmingham vào tháng 1 năm 1913, và làm lễ cưới ở Warwick, tại nhà thờ Công giáo Đức Mẹ Vô Nhiễm ngày 22 tháng 3 năm 1916. === Chiến tranh thế giới thứ nhất === Năm 1914, nước Anh bước vào Chiến tranh thế giới thứ nhất. Họ hàng của Tolkien sửng sốt khi ông tuyên bố sẽ không xung phong ngay lập tức vào quân đội Anh. Thay vào đó, Tolkien đăng ký sẽ không tham gia cho tới khi ông hoàn thành chương trình học đại học của mình vào tháng 7 năm 1915. Ông sau đó được phong hàm Thiếu úy trong binh đoàn Súng hỏa mai Lancashire. Ông tập huấn tại Cannock Chase, Staffordshire, trong 11 tháng. Trong một lá thư gửi Edith, Tolkien than phiền, Trong số những sĩ quan chỉ huy, số người đàng hoàng rất ít, thậm chí, tới cả là con người cũng ít. Tolkien sau đó được chuyển sang Lực lượng Viễn chinh Anh, đến Pháp ngày 4 tháng 1 năm 1916. Chuyến đi từ Anh trên chiếc xe chở quân lính truyền cảm hứng cho ông viết bài thơ Hòn đảo cô độc. Tolkien là sĩ quan tín hiệu phục vụ trong trận Somme, tham gia cuộc tấn công gò Thiepval và cả cuộc đột kích sau đó vào đồn Schwaben. Trong thời gian Tolkien phục vụ quân đội, Edith rất phiền muộn vì nỗi sợ một ngày nào đó sẽ có tiếng gõ cửa báo tin chồng tử trận. Để qua mặt bộ phận kiểm duyệt của quân đội Anh, hai người đã tạo nên một mật mã dùng khi viết thư. Nhờ vậy, Edith có thể nắm được tình hình hành quân của chồng ở mặt trận phía Tây. Tolkien được giải ngũ về Anh ngày 8 tháng 11 năm 1916. Nhiều người bạn thân của ông, có cả Gilson và Smith trong nhóm T.C.B.S., đã hy sinh trong chiến tranh. Những năm sau này, Tolkien đã phẫn nộ tuyên bố rằng những người tìm kiếm trong các tác phẩm của ông nét tương đồng với Chiến tranh thế giới thứ hai là hoàn toàn sai lầm: Người ta phải thực sự trải qua một cuộc chiến mới thấy được hết toàn vẹn sự bạo ngược của nó; nhưng khi những tháng năm đó đã lùi xa, dường như người ta hay quên rằng những người trẻ tuổi bị cuốn vào cuộc chiến năm 1914, một cuộc chiến cũng ghê tởm không kém cuộc chiến năm 1939 và những năm về sau. Tới năm 1918, tất cả những người bạn thân của tôi đều đã hy sinh, chỉ còn lại một người còn sống. == Tham khảo == === Tham khảo chung === === Chú thích ===
2 tháng 7.txt
Ngày 2 tháng 7 là ngày thứ 183 (184 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 182 ngày trong năm. Đây là ngày chính giữa của một năm thường, vì có đúng 182 ngày trước và 182 ngày sau ngày này trong một năm thường. == Sự kiện == 626 – Sự biến Huyền Vũ môn: Lý Thế Dân tiến hành chính biến sát hại anh trai là Thái tử Lý Kiến Thành và em trai Lý Nguyên Cát, đoạt lấy binh quyền của triều Đường. 1582 – Trận Yamazaki, chiến thắng của Toyotomi Hideyoshi trước Akechi Mitsuhide. 1644 – Nội chiến Anh: Trận Marston Moor 1698 – Thomas Savery nhận bằng sáng chế cho máy hơi nước đầu tiên. 1881 – Tổng thống Hoa Kỳ James A. Garfield bị Charles J. Guiteau bắn vào ngực. Vết thương không khỏi, ông chết ngày 19 tháng 9. 1976 – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam hợp nhất thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 1777 – Vermont trở thành lãnh thổ Hoa Kỳ đầu tiên bãi bỏ chế độ nô lệ. 1934 – Đêm của những con dao dài kết thúc bằng cái chết của Ernst Röhm. 1962 – Cửa hàng Wal-Mart đầu tiên mở cửa tại Rogers, Arkansas. 2002 – Steve Fossett trở thành người đầu tiên bay một mình không nghỉ vòng quanh thế giới bằng khinh khí cầu. 2004 – Diễn đàn Khu vực ASEAN chấp nhận Pakistan làm thành viên thứ 24. 2005 – Live 8 dừng chân tại công viên Hyde ở Luân Đôn và nhiều nơi khác trên toàn thế giới. 2008 – Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Liechtenstein. == Sinh == 1714 – Christoph Willibald Gluck, nhà soạn nhạc người Đức (m. 1787) 1819 – Charles-Louis Hanon, nghệ sĩ piano và nhà soạn nhạc người Pháp (m. 1900) 1862 – William Henry Bragg, nhà vật lý, hóa học và toán học người Anh, giải Nobel vật lý (m. 1942) 1877 – Hermann Hesse, nhà văn người Đức từng nhận giải Nobel Văn học (m. 1962) 1906 – Hans Bethe, nhà vật lý nguyên tử người Đức lấy quốc tịch Mỹ, giải Nobel vật lý (m. 2005) 1916 – Hans-Ulrich Rudel, đại tá và phi công Đức (m. 1982) 1923 – Wisława Szymborska, nhà thơ Ba Lan từng nhận giải Nobel Văn học (m. 2012) 1957 – Bret Hart, đô vật người Canada 1958 – Đặng Thái Sơn, nghệ sĩ dương cầm Việt Nam 1972 – Darren Shan, nhà văn trẻ em người Ireland 1985 – Ashley Tisdale, nữ ca sĩ và diễn viên người Mỹ 1986 – Lindsay Lohan, nữ ca sĩ và diễn viên người Mỹ == Mất == 626 – Lý Kiến Thành, hoàng tử nhà Đường (s. 589) 626 – Lý Nguyên Cát, hoàng tử nhà Đường (s. 603) 649 – Lý Tĩnh, tướng nhà Đường (s. 571) 1582 – Akechi Mitsuhide, samurai người Nhật (s. 1528) 1778 – Jean-Jacques Rousseau, nhà triết học Thụy Sĩ (s. 1712) 1946 – Thái Văn Lung, luật sư, chính khách Việt Nam (s. 1916) 1961 – Ernest Hemingway, nhà văn từng nhận giải Nobel Văn học (s. 1899) 1977 – Vladimir Nabokov, nhà văn người Nga (s. 1899) 1986 – Hoàng Văn Thái, Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam (s. 1915) 1989 – Andrei Gromyko, chính khách Xô viết (s. 1909) 1994 – Andrés Escobar, vận động viên bóng đã Colombia (s. 1967) 1997 – James Stewart, huyền thoại điện ảnh Mỹ (s. 1908) 2009 – Nguyễn Hộ, nhà hoạt động chính trị Việt Nam (s. 1916) 2016 – Rudolf E. Kálmán, nhà khoa học người Mỹ gốc Hungary (s. 1930) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
cơn sốt vàng california.txt
Cơn sốt vàng California (tiếng Anh: California Gold Rush (1848–1855) bắt đầu tháng 1 năm 1848, khi James W. Marshall phát hiện vàng ở Sutter's Mill, Coloma, California. Thông tin về việc tìm vàng đầu tiên từ những người ở Oregon, Sandwich Islands (Hawaii), và Mỹ Latin, họ là những người đầu tiên đổ xô đến bang Calofornia vào cuối năm 1848. Khi tin này lan ra, khoảng 300.000 người đã đến California từ khắp nơi trên nước Mỹ và từ nước ngoài. Trong số đó, khoảng phân nửa là đến bằng đường biển và nửa đến từ miền đông bằng California Trail và tuyến sông Gila. Những người tìm vàng đầu tiên được gọi là "forty-niners", đến California bằng thuyền buồm và bằng covered wagons xuyên qua lục địa, thường phải chịu nhiều gian khổ trong chuyến đi. Trong khi phần lớn những người mới đến là người Mỹ, cơn sốt vàng cũng thu hút hàng ngàn người từ Mỹ Latin, châu Âu, châu Úc và châu Á. Ban đầu, những người tìm kiếm đãi vàng từ các con suối và lòng sông với các kỹ thuật đơn giản, như đãi, và sau đó phát triển các phương pháp chiết vàng tinh vi hơn và sau này được cả thế giới áp dụng. Vàng có giá trị hàng tỷ dollar Mỹ theo thời giá hiện nay đã được khai thác được, dẫn đến sự giàu có cho một số người, nhiều người trở về quê với vẻn vẹn một chút vàng có giá trị chỉ cao hơn lúc họ mới bắt đầu. Hiệu ứng của cơn sốt vàng California khá quan trọng. San Francisco phát triển từ một ngôi làng lều trại thành một boomtown, và đường sá, nhà thờ, trường học và các thị trấn khác đã được xây dựng. Một hệ thống luật lệ và chính quyền đã được tạo ra, dẫn đến sự gia nhập của California là bang của Hoa kỳ năm 1850. Các phương thức vận tải đã phát triển khi tàu hơi nước đã được đưa vào hoạt động thường xuyên và đường sắt đã được xây dựng. Công việc kinh doanh nông nghiệp, lĩnh vực tăng trưởng chính của California đã được bắt đầu trên một quy mô rộng khắp bang. Tuy nhiên, Cơn sốt vàng California cũng có ảnh hưởng tiêu cực của nó: thổ dân Mỹ đã bị tấn công và bị trục xuất khỏi vùng đất truyền thống của họ và sự khai thác vàng gây ra tổn hại môi trường. Ước tính có khoảng 100.000 người da đỏ ở California chết trong khoảng 1848 - 1868, và khoảng 4.500 trong số đó bị giết. == Lịch sử == Cơn sốt vàng California bắt đầu ở Sutter's Mill, gần Coloma. Ngày 24 tháng 1 năm 1848, John Marshall, một quản đốc làm việc cho Sacramento pioneer John Sutter, đã tìm thấy ánh kim loại trong một bánh xe nước của nhà máy gỗ Marshall trên sông America. Marshall đã mang mẫu mà ông tìm thấy đến cho John Sutter, và cả 2 đã kiểm nghiệm mẫu kim loại. Kết quả kiểm tra cho thấy đó là vàng, Sutter bày tỏ sự thất vọng rằng ông muốn giữa kín tin tức ấy vì ông sợ những điều không hay có thể xảy ra đối với kế hoạch của ông về một viễn cảnh nông nghiệp nếu người ta lật tung vùng đất này để tìm vàng. Tuy nhiên, các tin này sớm phát tán rộng rãi và được nhà xuất bản báo San Francisco và Samuel Brannan xác nhận chính thức là có thật vào tháng 3 năm 1848. Câu nói nổi tiếng nhất về Cơn sốt vàng California là của Brannan; sau đó ông xây dựng nhanh chóng một cửa hàng bán các vật tư phục vụ ccho tìm kiếm vàng, Brannan rảo quanh các đường phố San Francisco, cầm trên tay một hủ vàng và hô to "Gold! Gold! Gold from the American River!" Vào lúc vàng được phát hiện, California là một phần lãnh thổ México của Alta California, được nhượng lại cho Hoa Kỳ sau khi kết thúc chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ bởi Hòa ước Guadalupe Hidalgo ngày 2 tháng 2 năm 1848. Ngày 19 tháng 8 năm 1848, New York Herald là tờ báo lớn đầu tiên ở bờ đông thông báo về việc phát hiện ra vàng. Ngày 5 tháng 12 năm 1848, Tổng thống James Polk xác nhận việc phát hiện ra vàng này đến Quốc hội Hoa Kỳ. Không lâu sau đó, các làn sóng di dân từ khắp thế giới, mà sau này gọi là "forty-niners", đến Gold Country of California hay "Mother Lode". Đúng như lo sợ của Sutter, ông ta đã phá sản; các công nhân của ông bỏ việc để đi tìm váng, và những người chiếm đất đã lấy đất của ông và ăn cắp mùa màng và gia súc của ông. San Francisco từng là một khu định cư nhỏ trước khi cơn sốt tìm vàng bắt đầu. Khi người dân đã học được cách tìm vàng, nó là nơi đầu tiên trở thành thị trấn ma do tàu và việc kinh doanh bị bỏ hoang, nhưng không lâu sau lại bùng phát khi những người mới di cư đến. Dân số của San Francisco bùng nổ từ khoảng 1.000 năm 1848 đến 25.000 người năm 1850. Thợ mỏ sống trong các lều, wood shanties, hoặc boong cabin tháo dỡ từ tàu bỏ hoang. Bất cứ nơi nào vàng được phát hiện, hàng trăm thợ mỏ có thể hợp tác để xây một trại và đặt cọc tuyên bố của họ. Với các tên gọi như Rough và Ready và Hangtown (Placerville, California), mỗi trại thường sở hữu một saloon riêng và sòng bạc. Như những gì đã từng được xem là "cơn sốt vàng bậc nhất thế giới", không có một cách dễ dàng nào để đến California; forty-niners phải đối mặt với những khó khăn và thậm thí là cái chết trên đường đi. Đầu tiên, hầu hết Argonaut họ đi bằng đường biển. Từ bờ biển đông, các tàu buồn đi vòng qua mũi Nam Mỹ phải mất từ 5 đến 8 tháng, và trải qua 33.000 km (18.000 dặm). Một cách khác là đi tàu buồn qua phía Đại Tây Dương của Isthmus of Panama, dùng canoe và bằng la mất một tuần qua rừng rậm, và sau đó đến bờ Thái Bình Dương, chờ tàu buồm để đến San Francisco. Cũng có một tuyến đường khác qua Mexico bắt đầu từ Veracruz. Nhiều người tìm vàng sử dụng các tuyến đường trên bộ trên khắp nước Mỹ, đặc biệt là dọc theo California Trail. Các tuyến đường như thế này có những hiểm họa chết người như số thương hàn và dịch tả. Để đảm bảo việc vận chuyển những người đến đây, các tàu chở hàng hóa từ khắp thế giới cũng đến San Francisco. Thuyền trưởng các tàu này đã nhận thấy rằng thủy thủ của họ cũng có tham vọng tìm vàng. Các cảng của San Francisco trở thành "rừng buồm", khi hàng trăm tàu bè bị bỏ phế. Giới kinh doang San Franciscans biến các tàu bỏ phế thành nhà kho, cửa hàng, quán rượu và khách sạn và một nhà tù. Nhiều tàu trong số đó sau này bị phá hủy và được sử dụng cho san lấp để có đất xây dựng ở boomtown. Trong vòng vài năm, cũng có một số lượng lớn người thăm dò đi về phía bắc của Bắc California, đặc biệt là các quận Siskiyou, Shasta và Trinity ngày nay. Việc phát hiện ra vàng cốm tại vị trí mà ngày nay là Yreka năm 1851 đã khiến hàng ngàn người tìm vàng đến đây bằng Siskiyou Trail và trên khắp các quận phía bắc của California. Những người định cư ở khu vực tìm vàng như Portuguese Flat trên sông Sacramento, bắt đầu xuất hiện và sau đó thì giảm dần. Thị trấn của thời kỳ Cơn sốt vàng của Weaverville ven sông Trinity River ngày nay vẫn còn chùa Taoist cổ nhất ở California, một biểu tượng của các thợ mỏ Trung Quốc đã đến đây. Trong khi không có nhiều các thị trấn ma trong thời kỳ Cơn sốt vàng vẫn còn tồn tại, phần còn lại của thị trần từng nhộn nhịp Shasta đã được bảo tồn trong Công viên lịch sử bang California ở miền bắc California. Vàng cũng được tìm thấy ở Nam California nhưng có quy mô nhỏ hơn. Vàng được phát hiện đầu tiên ở Rancho San Francisco ở phía bắc của dãi núi thuộc Los Angeles, năm 1842, trước phát hiện của Marshall 6 năm, trong khi California vẫn còn là một phần của Mexico. Tuy nhiên, các mỏ đầu tiên này, và sau các mỏ được phát hiện sau đó ở các dải núi thuộc Nam California được thông báo rằng có ít giá trị kinh tế. Đến năm 1850, hầu hết loại vàng ở những nơi dễ thu hồi đã được khai thác, và người ta chuyển hướng đến những nơi khó khăn hơn. Khi độ khó tăng cao, người Mỹ bắt đầu đuổi những người nước ngoài ra khỏi những nơi dễ khai thác còn lại. Một đạo luật bang California mới được thông qua theo đó các thợ mỏ người nước ngoài phải đóng thuế 20 đô la mỗi tháng (580 USD mỗi tháng theo giá trị năm 2017), và những người tìm kiếm thăm dò người Mỹ bắt đầu tổ chức tấn công người nước ngoài, đặc biệt là Mỹ Latin và Trung Quốc. Thêm vào đó, một lượng lớn những người mới đến đã đuổi những người Mỹ bản địa ra khỏi khu vực săn bắn, đánh bắt cá và hái lượm truyền thống của họ. Để bảo vệ nhà cửa và sinh kế, một số người Mỹ bản địa tấn công lại những người thợ mỏ. Chính điều này đã tạo nên các cuộc tấn công vào các làng của người Mỹ bản địa, ngoài một số bị bắn còn bị tàn sát. Những người thoát khỏi cuộc tàn sát nhiều lần không thể sống sót vì không có khu vực hái lượm thức ăn và họ chết vì đói. Nhà văn và cũng là nhà viết tiểu thuyết Joaquin Miller đã miêu tả một cách sinh động các cuộc tấn công như thế này trong quyển bán tự truyện của ông, Life Amongst the Modocs. == Người Forty-niner == Người đầu tiên đến các vùng vỉa vàng vào đầu xuân năm 1848 là những cư dân của California, là những người Mỹ và châu Âu làm nghề nông sống ở Bắc California, cùng với những người Mỹ bản địa và một số người Californio (người California nói tiếng Tây Ban Nha). Những người thợ mỏ đầu tiên này có khuynh hướng thân thiện với mọi người như giúp đỡ lẫn nhau. Phụ nữ và trẻ em của các sắc tộc thường thấy họ đãi vàng cùng với nam giới. Các gia đình kinh doanh xây các nhà trọ thường chỉ dành cho nam giới; trong những trường hợp như thế, phụ nữ thường kiếm được thu nhập ổn định trong khi chồng họ thì đi tìm vàng. Thông điệp "Cơn sốt vàng" ban đầu được truyền bá rất chậm. Những người đi tìm vàng đầu tiên nhất là những người sống gần California hoặc những người nghe tin được từ các tàu trên các chuyến hàng hải nhanh từ California. Một nhóm lớn người Mỹ đầu tiên đã đến California từ vùng Oregon bằng Siskiyou Trail. Sau đó là những người đến từ quần đảo Sandwich, và hàng ngàn người Mỹ Latin như từ México, Peru và tận Chile, bằng tàu và đường bộ. Đến cuối năm 1848, 6.000 người đã đến California. Chỉ một số ít (ít hơn 500 người) đã đi bằng đường bộ Hoa Kỳ vào năm đó. Một vài người "forty-eighters", là những người tìm kiếm vàng đầu tiên được gọi như thế, vì họ có thể kiếm được một lượng lớn vàng; trong một số trường hợp họ có thể kiếm được hàng ngàn đô la mỗi ngày. Thậm chí những người tìm vàng thông thường có thể có thu nhập trung bình từ vàng gấp 10 đến 15 lần so với thu nhập từ lạo động chân tay ở bờ biển Đông Hoa Kỳ. Một người làm việc sáu tháng trong mỏ vàng có thể có thu nhập tương đương 6 năm khi làm việc ở nhà. Một số người hy vọng rằng có thể giàu lên nhanh chóng và trở về nhà, và một số khác mong muốn ở lại California để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh. Vào đầu năm 1849, "Cơn sốt vàng" đã lan rộng khắp thế giới, và số lượng người tìm vàng và thương nhân áp đảo đến từ khắp các châu lục trên thế giới. Nhóm lớn nhất là "forty-niners" năm 1849 là những người Mỹ khoảng 10.000 người đã đến đây bằng đường bộ và dọc theo các tuyến đường thủy khác nhau (tên gọi "forty-niner" bắt đầu xuất hiện từ năm 1849). Một số đến từ Bờ Đông đã băng qua dãy núi Appalachian, sử dụng tàu đi sông ở Pennsylvania, đi keelboats trên sông Missouri, và sau đó đi bằng tàu chở hàng dọc theo California Trail. Những người khác đi bằng đường qua eo đất Panama và tàu hơi nước của Pacific Mail Steamship Company. Những người Úc và những người New Zealanders thì nhận được tin tức từ các tàu chở những nhà báo người Hawaii, và hàng ngàn người bị "nhiễm cơn sốt vàng" đã đón tàu đi California. Những người "forty-niners" đến từ châu Mỹ Latin, một số từ những mỏ của Mexico gần Sonora. Những người tìm vàng và thương nhân từ châu Á chủ yếu là Trung Quốc, cũng bắt đầu đến năm 1849, số lượng người đầu tiên đến Gum San (tên gọi theo cách của người Trung Quốc chỉ California - tức "Núi Vàng") rất khiêm tốn. Những người châu Âu đầu tiên là những người chịu ảnh hưởng từ cuộc cách mạng năm 1848 và họ phải vượt qua quảng đường dài hơn nên đến California vào cuối năm 1849, chủ yếu là từ Pháp, một số người Đức, Ý, và Anh. Hầu hết họ đến bằng đường biển ở các vùng ven biển. Ước tính có khoảng 90.000 người đã đến California năm 1849—nửa trong số họ đến bằng đường bộ và nửa bằng đường thủy. Trong số đó, có khoảng 50.000 đến 60.000 là người Mỹ, và số còn lại đến từ các quốc gia khác. Đến năm 1855, ít nhất là 300.000 bao gồm người tìm vàng, thương nhân và những người di cư khác đã đến California từ khắp nơi trên thế giới. Nhóm lớn nhất vẫn là người Mỹ, nhưng có khoảng hàng chục ngàn là người Mexico, Trung Quốc, Anh, Úc Pháp, và Mỹ Latin, cùng với một số nhóm nhỏ hơn gồm các thợ mỏ là người Filipin, Basque và Turk. Những người từ các ngôi làng nhỏ ở các đồi gần Genova, Ý nằm trong nhóm những người định cư lâu dài ở chân đồi Sierra; họ mang theo những kỹ năng nông nghiệp truyền thống và phát triển chúng để sống sót qua các mùa đông lạnh giá. Một số ít thợ mỏ là người gốc Phi (khoảng ít hơn 4.000) đã đến từ miền nam Hoa Kỳ, Caribe và Brazil. Số lượng đáng kể nhất là người di cư từ Trung Quốc. Hàng ngàn người Trung Quốc đã đến California vào các năm 1849-1850, và năm 1852 có hơn 20.000 đã đến San Francisco. Trang phục đặc trưng và vẻ bề ngoài của họ rất dễ nhận ra trong các mỏ vàng, và tạo ra một mức độ thù địch đối với người Trung Quốc. Cũng có mặt những người phụ nữ trong "Cơn sốt vàng", và họ có nhiều vai trò khác nhau như mại dâm, kinh doanh nhỏ lẻ, người đã kết hôn, phụ nữ nghèo và giàu. Họ thuộc nhiều nhóm sắc tộc khác nhau như Anglo-American, Hispanic, người da đỏ, châu Âu, Trung Quốc, và Jewish. Có nhiều lý do khiến họ đến đây như: đi cùng chồng, không muốn bị tụt hậu là cách bảo vệ họ, chồng họ gởi họ đến, và một số khác (độc thân và quả phụ) xem như là cơ hội kiếm tiền và phiêu lưu. Trên đường mòn nhiều người đã chết do tai nạn, dịch tả, sốt, và các nguyên nhân khác, và một số phụ nữ trở thành quả phụ trước khi đến được California. Trong lúc ở California, phụ nữ trở thành quả phụ là chuyện thường tình do các tai nạn mỏ, bệnh dịch, hoặc tranh chấp trong khai thác của chồng họ. Cuộc sống trong khu vực mỏ vàng tạo cho phụ nữ cơ hội để bứt phá hay phá bỏ những công việc bình thường của họ. == Quyền khai thác hợp pháp == Khi "Cơn sốt vàng" bắt đầu, California không có bất kỳ một luật lệ nào cả. Vào ngày mà vàng được phát hiện tại Sutter's Mill, California vẫn còn là một phần của Mexico mặc dù quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng theo sau chiến tranh Mexico–Hoa Kỳ. Theo hòa ước chấm dứt chiến tranh ký giữa hai bên ngày 2 tháng 2 năm 1848, California trở thành sở hữu của Hoa Kỳ, nhưng nó chưa trở thành lãnh thổ chính thức và không phải là một bang của Hoa Kỳ cho đến ngày 9 tháng 9 năm 1850. California trở thành một vùng dưới dự kiểm soát của quân đội, và không có cơ quan tư pháp, hành pháp hoặc lập pháp dân sự nào trong toàn khu vực này. Người dân địa phương hoạt động dưới sự hỗn tạp của sự chuyển giao và lẫn lộn giữa các luật lệ Mexico, Hoa Kỳ và mệnh lệnh cá nhân. Theo hiệp ước kết thúc chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ, Hoa Kỳ được nhượng lại phần đất của Mexico, trong khi hầu như tất cả các mỏ vàng đều nằm ngoài phần chuyển nhượng này. Thay vào đó, các mỏ vàng về cơ bản thuộc "public land", tức là phần đất được chính phủ Hoa Kỳ sở hữu chính thức. Tuy nhiên, không có bất kỳ luật lệ nào ở đây, và cũng không có các cơ chế thực thi thực tế. Lợi nhuận mà các forty-niner thu được từ vàng chỉ đơn giảm là "free for the taking". Lúc bắt đầu khai thác ở các mỏ vàng, không có bất kỳ sở hữu tư nhân nào cả, không có lệ phí cấp phép, và không có thuế. Những người đào vàng sử dụng luật khai thác mỏ một cách không chính thức của Mexico vẫn còn tồn tại ở California. Ví dụ, các quy định nhằm cân bằng các quyền của người đến khu mỏ trước và người đến sau; sự tuyên bố sở hữu có thể là một người tìm kiếm, nhưng tuyên bố đó chỉ hợp lệ trong khoảng thời gian mà có hoạt động tìm kiếm hay khai thác một cách liên tục. Những người đào vàng làm việc tại nơi họ tuyên bố sở hữu đủ lâu dài để xác định tiềm năng của nơi đó. Nếu việc tuyên bố được xác định là có giá trị thấp đối với hầu hết thợ mỏ đã từng làm việc thì nơi đó có thể bị bỏ phế để tìm kiếm nơi tốt hơn. Trong trường hợp bỏ hoang hoặc không có ai làm việc, những người thợ mỏ khác có thể nhảy vào để tuyên bố sở hữu vị trí đó. Tức là những người đến sau này bắt đầu làm việc tại vị trí mà họ mới tuyên bố sở hữu. Việc tranh chấp thỉnh thoảng cũng xảy ra với tư cách cá nhân hoặc dữ dội, và đôi khi được giải quyết bởi một nhóm những người thăm dò với vai trò là trọng tài. Điều này thường dẫn đến những căng thẳng sắc tộc cao độ. Ở một vài nơi dòng người tìm kiếm có thể yêu cầu giảm diện tích tuyên bố hiện hữu chỉ đơn giản bằng cách gây sức ép. == Phát triển kỹ thuật thu hồi vàng == Do vàng ở California nằm trong các lớp cuội nên có hàm lượng rất cao, do đó các forty-niner thế hệ trước chỉ việc đãi lấy vàng từ các sông và suối ở California. Tuy nhiên, việc đãi không thể thực hiện được ở quy mô lớn, các thợ mỏ cần cù và các nhóm thợ mỏ sử dụng thành thạo cá máng đãi có thể xử lý một lượng cuội lớn hơn. Vấn đề phức tạp nhất trong khai thác sa khoáng là phải đổi hướng dòng nước từ một con sông vào một kênh chạy dọc sông, và sau đó là đào lấy vàng khi đáy sông lộ ra. Các ước tính sau này của USGS cho thấy lượng và ở đây vào khoảng 12 triệu ounce (370 tấn) vàng đã được khai thác trong vòng 5 năm đầu của Cơn sốt vàng (trị giá hơn 16 tỉ USD theo giá tháng 12 năm 2010). Giai đoạn tiếp theo từ năm 1853, khai thác mỏ thủy lực đã được ứng dụng đối với các lớp cuội cổ chứa vàng trên các sười đồi và các vách dốc trong các vĩa vàng. Phương pháp khai thách thủy lực hiện đại được phát triển đầu tiên ở California là sử dụng vòi phun nước áp lực để phun vào lớp cuội chứa vàng. Cuội và vàng bị đánh tơi ra sau đó đi qua máng dẫn, vàng lắng đọng dưới đáy sẽ được thu hồi. Vào giữa thập niên 1880, người ta ước tính có khoảng 11 triệu ounce (340 t) vàng (trị giá khoảng 15 triệu US$ theo giá tháng 12 năm 2010) đã được thu hồi bằng phương pháp nước áp lực. Phương pháp này sau đó được phổ biến trên khắp thê giới. Một phương pháp thay thế "hydraulicking" và "coyoteing". Phương pháp này liên quan đến việc đào một hầm 6 đến 13 m vào trong đá gốc dọc theo bờ sông. Từ hầm chính này sẽ đào các hầm khác theo nhiều hướng để đến được thân mạch. Các sản phẩm phụ của các phương pháp khai thác này là thải ra một lượng lớn cuội, bột, kim loại nặng, và các chất ô nhiễm khác dọc theo các sông và suối. Cho đến năm 2012, một số khu vực vẫn còn những dấu vết của việc sử dụng phương pháp khai thác mỏ thủy lực, vì cuội và đất lắng dọng không hỗ trợ cho sự sống của thực vật. Sau khi cơn sốt vàng kết thúc, các hoạt động thu tận thu vẫn được tiếp tục. Giai đoạn cuối cùng để thu hồi vàng là những nơi mà vàng có thể đã bị rửa trôi và lắng đọng ở những đáy sông bằng phẳng và các đê cát của Thung lũng trung tâm California và những khu vực có vàng khác của California (như Scott Valley ở quận Siskiyou). Vào cuối thập niên 1890, công nghệ nạo vét (cũng được phát minh ở California) trở nên có hiệu quả kinh tế, và người ta ước tính đa thu hồi được hơn 20 triệu ounce (620 tấn) từ phương pháp này (trị giá khoảng 28 triệu USD theo giá tháng 12 năm 2010). Trong suốt thời kỳ sốt vàng và các thập kỷ sau đó, những người đi tìm vàng cũng sử dụng phương pháp khai thác mỏ trong "đá cứng", đó là tách vàng trực tiếp từ đá chứa nó (đặc biệt là thạch anh), thường bằng cách đào và dùng chất nổ để bám theo và lấy đi thân quặng thạch anh chứa vàng. Vào năm 1851, kha thác mỏ thạch anh trở thành một ngành công nghiệp chính ở Coloma. Sau khi các đá chứa vàng được đưa lên bề mặt đất, chúng được nghiền nhỏ, và vàng ra được tách ra bằng nước, hoặc lọc ra, đặc biệt sử dụng arsen hoặc thủy ngân (cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trường). Cuối cùng, khai thác mỏ đá cứng hay khai thác vàng trong đá gốc đã trở thành một nguồn cung cấp vàng lớn nhất ở Quận Vàng (Gold Country). == Lợi nhuận == Một số nghiên cứu gần đây xác nhận rằng những người bán hàng kiếm tiền nhiều hơn những người đào mỏ trong suốt thời gian Cơn sốt vàng. Người đàn ông giàu nhất California vào những năm đầu của Cơn sốt vàng là Samuel Brannan, ông làm nghề tự quảng bá, bán hàng và nhà xuất bản báo. Brannan mở các cửa hàng đầu tiên ở Sacramento, Coloma, và các cửa hàng khác trong các khu mỏ. Khi Gold Rush vừa bắt đầu, ông đã mua tất cả các vật dụng phục vụ tìm kiếm ở San Francisco và bán lại chúng với mức lời đáng kể. Tuy nhiên, một lượng tiền đáng kể cũng được tạo ra từ những người đi tìm vàng. Ví dụ, trong vòng một vài tháng, một nhóm tìm kiếm làm việc trên sông Feather năm 1848, có thể kiếm được tổng lượng vàng có giá trị hơn 3 triệu USD theo giá năm 2010. Trung bình, một nửa những người tìm vàng kiếm được lợi nhuận khiêm tốn sau khi đã trừ tất cả chi phí. Tuy nhiên, hầu hết đặc biệt là những người đến sau, kiếm được ít. Tương tự như thế, một số thương gia kém may mắn, các khu định cư của họ bị thiêu rụi trong các trận cháy quét qua các thị trấn. Ngược lại, các thương gia đã thành công như Levi Strauss, người bán denim đầu tiên trên khắp San Francisco năm 1853. Các thương gia khác, từ mai mắn và làm việc cật lực, đã gặt hái được những thành quả xứng đáng trong việc bán lẻ, vận chuyển, giải trí, cho thuê chỗ ở, hoặc vận tải. Boardinghouses, cung cấp thức ăn, may vá, và gặt ủi là những việc kinh doanh có lợi nhuận cao thường do phụ nữ vận hành (người lập gia đình, độc thân và hóa), họ nhận thấy rằng đàn ông có thể trả nhiều tiền cho các dịch vụ do phụ nữ thực hiện. Các nhà thổ cũng mang lại lợi nhuận lớn, đặc biệt kết hợp với các quán rượu và nhà đánh bạc. Đến năm 1855, tình hình kinh tế đã thay đổi đáng kể. Vàng có thể sinh lợi từ các mỏ vàng chỉ từ các nhóm thợ mỏ trung bình đến lớn, hoặc các đối tác hoặc người làm thuê. Đến giữa thập niên 1850, tiền chỉ từ các chủ của các công ty khai thác vàng. Bên cạnh đó, dân số và kinh tế của California trở nên lớn mạnh và đa dạng đủ để tiền có thể tham gia vào nhiều ngành nghề kinh doanh thông thường. === Đường đi của vàng === Sau khi được khai thác, vàng có nhiều con đường được tiêu thụ khác nhau. Thứ nhất, hầu hết vàng được dùng để chi trả tại chỗ cho thực phẩm, tiêu dùng và chỗ ở của các thợ mỏ. Nó cũng có thể chi trả cho giải trí như đến nhà hát, quán rượu, đánh bạc và mại dâm. Các giao dịch này thường sử dụng vàng vừa khai thác được với sự cân nhắc cẩn thận. Những người buôn bán và cung cấp dịch vụ sau đó lại dùng vàng này để trả cho việc mua hàng từ các thuyền trưởng hoặc những người chở hàng hóa đến California. Vàng sau đó rời khỏi California ra nước ngoài theo các con tàu hoặc la để đến tay của những người sản xuất hàng hóa trên khắp thế giới. Con đường thứ hai là Argonauts (người tìm vàng), họ kiếm được một lượng vàng vừa đủ để gởi về nhà hoặc họ mang vàng về nhà sau thời gian đào đãi cực nhọc. Ví dụ, một ước tính rằng có khoảng một lượng vàng ở Califorina trị giá 80 triệu USD đã gởi đến Pháp từ những người đi tìm vàng và kinh doanh người Pháp. Trong quá trình diễn tiến của Cơn sốt vàng, các ngân hàng địa phương và những người kinh doanh vàng phát hành "tiền giấy" hoặc "hối phiếu" được chấp nhận trong giao dịch địa phương để đổi lấy vàng, và các cơ sở đúc tiền tư nhân đúc ra các đồng vàng cho họ. Vời việc xây dựng Sở đúc tiền San Francisco năm 1854, vàng thỏi được chuyển thành các đồng vàng lưu hành chính thức của Hoa Kỳ. Vàng sau đó cũng được gởi từ các ngân hàng California đến các ngân hàng quốc gia Hoa Kỳ để đổi thành tiền giấy quốc gia phục vụ cho sự bùng nổ kinh tế của California. == Ảnh hưởng ngắn hạn == Hàng trăm ngàn người mới đến so với dân số khoảng 15.000 người châu Âu và người California bản địa (được gọi là Californios) ở đó, đã có nhiều ảnh hưởng lớn. === Phát triển về chính quyền và thương mại === Cơn sốt vàng đã đánh thức California từ một vùng đất đang ngủ yên, ít được biết đến trở thành một trong tâm di cư toàn cầu và là đích đến của hàng trăng ngàn người dân. Những người nhập cư mới thường thể hiện sự sáng tạo và thích nghi đáng chú ý. Ví dụ, trong giai đoạn giữa của Cơn sốt vàng, thị xã, và thành phố được chartered, một quy ước mang tính hiến pháp đã được đưa ra, hiến pháp bang được đưa ra, tổ chức các cuộc bầu cử, và cử đại diện đến Washington, D.C. để thương lược về việc chấp nhận California là một tiểu bang của Hoa Kỳ. Hoạt động nông nghiệp quy mô lớn (được xem là "Cơn sốt vàng" lần thứ hai của California) cũnng bắt đầu trong suốt thời gian này. Đường sá, trường học, nhà thờ, và các tổ chức dân sự nhanh chóng được thành lập. Phần lớn dân nhập cư là người châu Mỹ. Áp lực đến phát triển về thông tin liên lạc và các liên kết chính trị tốt hơn đến những nơi khác của Hoa Kỳ đã dẫn đến sự thành lập tiểu bang California ngày 9 tháng 9 năm 1850, là bang thứ 31 của Hoa Kỳ như nêu trong Compromise of 1850. Trong khoảng năm 1847-1870, dân số San Francisco đã tăng từ 500 lên 150.000. Sự giàu có của Cơn sốt vàng và sự tăng dân số đã dẫn đến sự phát triển giao thống đáng kể giữa California và bờ biển Đông Hoa Kỳ. Đường sắt Panama, bắt qua eo đất Isthmus, đã hoàn thành năm 1855. Các tàu hơi nước, bao gồm những tàu do Pacific Mail Steamship Company sở hữu, đã bắt đầu phục vụ thường xuyên từ San Francisco đến Panama, nhờ đó hành khách, hàng hóa và thư từ có thể vận chuyển bằng tàu (tàu lửa) qua Isthmus và đón các tàu hơi nước để đến bờ biển Đông Hoa Kỳ. Một cuộc hành trình bất hạnh đó tà S.S. Central America, đã kết thúc trong thảm họa khi chuyến tàu này bị chìm trong bão ở ngoài khơi bờ biển Carolinas năm 1857, làm mất khoảng 3 tấn vàng của California. === Tác động tiêu cực === Cái giá phải trả về con người và môi trường của Cơn sốt vàng là rất lớn. Các thổ dân châu Mỹ, phụ thuộc nhiều vào săn bắn, hái lượm và nông nghiệp, đã trở thành những nạn nhân bị đói khi mà cuội sỏi, bùn, và các chất độc hóa học từ hoạt động thăm dò đã giết các loài cá và phá hủy môi trường sống. Sự biến động về số người khai thác mỏ cũng gây ra sự biến mất của các loài thú săn mồi và những loài đi tìm thức ăn trong khu vực khi các láng trại và các khu định cư khác được xây dựng trong những nơi này. Sau đó là việc mở rộng canh tác nông trại để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực cho các láng trại, điều này đã chiếm nhiều đất mà những người bản địa đã sử dụng. Nạn đói thường thúc giục những bộ tộc bản địa ăn cắp thức ăn hoặc dùng bạo lực để giành thực phẩm và gia súc từ những thợ mỏ, làm dấy lên sự thù địch và trả thù của những người thợ mỏ đối với dân bản địa. Những người bản địa cũng mắc phải nhiều bệnh du nhập vào như đậu mùa, cúm và sởi. Một vài ước tính chỉ ra rằng có khoảng 80–90% dân số người Mỹ bản địa tử vong trong suốt thời kỳ diễn ra dịch đậu mùa. Đạo luật The Act for the Government and Protection of Indians, được thông qua ngày 22 tháng 4 năm 1850 bởi California Legislature, cho phép những người định cư bắt giữ người Californio và sử dụng người bản địa làm lao động. Nó cũng là cơ sở cho việc bắt giữ nô lệ và buôn bán lao động là người Mỹ bản địa, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em, được xúc tiến như một ngành kinh doanh hợp pháp. Các làng của người Mỹ bản địa thường xuyên bị bố ráp để cung ứng nhu cầu, và phụ nữ trẻ và trẻ em được mang đi bán, trong khi đó đàn ông và những người còn lại thường bị giết. Theo chính quyền California, có khoảng 4.500 người Mỹ bản địa bị chết do bạo lực trong khoảng 1849 và 1870. Cơn sốt vàng trở thành một "Triều đại khủng bố" ảo chống lại các bộ lạc trong hoặc xung quanh khu vực khai thác mỏ. Sau các xung đột khác nhau, dân số người Mỹ bản địa ở California năm 1845 khoảng 150.000 đã giảm xuống dưới 30.000 năm 1870. (Dân số người Mỹ bản địa trước khi người châu Âu đến ước tính khoảng 300.000, đã bị giảm hầu như do các bệnh của người Tây Ban Nha mang đến.) Peter Burnett, người đứng đầu chính quyền California tuyên bố rằng California từng là một chiến trường giữa các chủng tộc và chỉ có 2 lựa chọn đối với những người da đỏ bản địa hoặc là chết hoặc là phải rời khỏi. California, ngoài việc hợp thức hóa chế độ nô lệ đối với người Mỹ bản địa cũng phải trực tiếp chi trả 25.000 USD tiền cho việc buôn đi bán lại người bản địa với các giá khác nhau đối với đàn ông, phụ nữ trưởng thành và độ tuổi của trẻ em. California cùng với nhóm các bang mới phía Tây đã đứng về một phe đối lập trong việc phê chuẩn 18 điều ước được ký giữa lãnh đạo các bộ tộc và đại diện liên bang năm 1851. Sau khi cuộc bùng nổ đầu tiên kết thúc, các cuộc tấn công người nước ngoài và phân biệt chủng tộc, các luật, và trưng thu thuế đã đuổi những người nước ngoài ra khỏi các mỏ đặc biệt là người di cư Trung Quốc, Mỹ Latin hầu hết đến từ Sonora, Mexico và Chile. Tỷ lệ tử vong của những người Mỹ nhập cư có thể rất cao: một phần 12 người forty-niners chết, cũng như tỷ lệ tử vong và tội phạm trong suốt Cơn sốt vàng dặc biệt cao, đây là kết quả của việc trả thù lẫn nhau giữa những người đào vàng. === Kích thích kinh tế thế giới === Cơn sốt vàng đã kích thích các nền kinh tế trên khắp thế giới. Các nông dân ở Chile, Úc, và Hawaii đã tìm kiếm được một thị trường lớn mới để cung cấp các thực phẩm của họ; các hàng hóa sản xuất từ Anh có nhu cầu tiêu thụ cao; quần áo và thậm chí là nhà làm sẵn cũng đến từ Trung Quốc. Dòng (tiền) vàng lớn thu được từ việc bán hàng đến California của các quốc gia trên đã làm tăng các chi phí và kích thích đầu tư và tạo công ăn việc làm trên khắp thế giới. Người tìm vàng Úc Edward Hargraves ghi nhận sự tương đồng giữa địa lý California và quốc gia quê hương ông, nên ông đã trở về Úc để phát hiện ra vàng và gây nên Cơn sốt vàng Úc. Chỉ trong vòng vài năm sau khi kết thúc Cơn sốt vàng, năm 1863, lễ động thổ cho nhánh phía tây của đường sắt xuyên lục địa đầu tiên (First Transcontinental Railroad) đã được tổ chức ở Sacramento. Tuyến đường sắt này được hoàn thành khoảng 6 năm sau đó từ một phần chi phí của Cơn sốt vàng, đã kết nối California với miền trung và đông Hoa Kỳ, rút ngắn thời gian đi lại từ vài tuần hoặc thậm chí vài tháng xuống còn vài ngày so với trước đó. == Ảnh hưởng lâu dài == Tên gọi California không thể bị lãng quên với tên gọi Cơn sốt vàng, và thành chông nhanh chóng trong thế giới mới nổi tiếng với cách gọi "giấc mơ California." California được xem là nơi cho những người khởi nghiệp, nơi mà sự giàu có chỉ dành cho những người làm việc cật lực và mai mắn. Nhà sử học H. W. Brands viết rằng trong những năm sau Cơn sốt vàng, Giấc mơ California đã lan rộng trên toàn quốc: Overnight California đã đạt được danh tiếng là "bang vàng". Các thế hệ nhập cư được thu hút từ California Dream. Các nhà nông California, khoan dầu, movie makers, sản xuất máy bay, và "dot-com" entrepreneurs đã từng có thời kỳ bùng nổ hoạt động của họ trong vài thập kỷ sau Cơn sốt vàng. Lịch sử văn học về Cơn sốt vàng được phản ảnh qua các tác phẩm của Mark Twain (The Celebrated Jumping Frog of Calaveras County), Bret Harte (A Millionaire of Rough-and-Ready), Joaquin Miller (Life Amongst the Modocs), và một số tác phẩm khác. Trong số những di sản hiện đại của Cơn sốt vàng California là khẩu hiệu của bang California, "Eureka" ("tôi đã tìm ra nó"), những hình ảnh về Cơn sốt vàng trên con dấu của bang California, và tên gọi khác của bang này, "The Golden State", cũng như một số địa danh như Quận Placer (Placer có nghĩa là sa khoáng, một dạng tồn tại của vàng ở đây), Rough and Ready, Placerville (tên trước đây là "Dry Diggings" và sau đó đổi thành "Hangtown" trong suốt thời gian diễn ra cơn sốt vàng), Whiskeytown, Drytown, Angels Camp, Happy Camp, và Sawyers Bar. The San Francisco 49ers National Football League team, and the similarly named athletic teams of California State University, Long Beach, are named for the prospectors of the California Gold Rush. Ngày nay, tuyến đường State Route 49 đi qua chân đồi Sierra Nevada, nối một số thị trấn của thời kỳ Cơn sốt vàng như Placerville, Auburn, Grass Valley, Nevada City, Coloma, Jackson, và Sonora. Tuyến cao tốc này cũng đi qua rất gần Columbia State Historic Park, một khu vực được bảo vệ bao gồm khu thương mại mang tính lịch sử của thị trấn Columbia; công viên này lưu giữ một số tòa nhà thời kỳ Cơn sốt vàng, hiện được khai thác phục vụ du lịch. == Địa chất == Các hoạt động địa chất diễn ra hơn hàng trăm triệu năm tạo ra sự tập trung vàng ở California. Chỉ khi vàng được tập trung thì việc khai thác mới mang lại giá trị kinh tế. Cách đây khoảng 400 triệu năm, California nằm ở đáy của một biển lớn; các núi lửa dưới đáy biển làm lắng đọng dung nham và các khoáng vật (gồm cả vàng) ở đáy biển. Cách đây 200 triệu năm, lực kiến tạo đã đẩy đáy biển xuống bên dưới mảng Bắc Mỹ. Khi nó bị nhấn chìm hay hút chìm bên dưới vị trí California ngày nay, đáy biển bị nóng chảy thành các khối mácma rất lớn. Khối mácma nóng này bị đẩy dâng lên bên dưới khu vực mà ngày nay là California, nó nguội dần khi dâng lên, và khi bị hóa rắn, các mạch vàng hình thành cùng với thạch anh. Các đá và khoáng vật này sau đó bị lộ ra trên bề mặt ở Sierra Nevada, và bị bóc mòn. Nước mang vàng bị lộ trên bề mặt xuống các dòng suối và lắng đọng trong các lớp cuội ở những vùng nước yên tĩnh dọc theo các bờ sông và suối. 49 người đầu tiên tập trung khai thác các loại vàng này, chúng được tích tụ trong các lớ cuội hàng trăm triệu năm do hoạt động địa chất. == Tham khảo == == Tài liệu == == Liên kết ngoài == Cơn sốt vàng California tại DMOZ California Gold Rush trên PBS Gold Rush! at the Oakland Museum of California Marshall Gold Discovery State Historic Park California Gold Rush timeline The University of California, Calisphere, 1848-1865: The Gold Rush Era Oakland Museum of California, "California's Untold Stories: Gold Rush!"
phân biệt chủng tộc.txt
Phân biệt chủng tộc thường được định nghĩa là một niềm tin hoặc giáo lý rằng sự khác biệt cố hữu về sinh học giữa các chủng tộc khác nhau của loài người quyết định thành tựu phát triển cá nhân, với hệ quả rằng chủng tộc của mình siêu việt hơn và có quyền cai trị các chủng tộc khác. Phân biệt chủng tộc đôi khi được dùng để chỉ quan niệm cho rằng dân tộc của chính mình là hơn hết (chủ nghĩa vị chủng - ethnocentrism), sự bài ngoại (xenophobia), các quan niệm hoặc xu hướng chống lại hôn nhân khác chủng tộc, và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bất kể niềm tin cụ thể nào về sự siêu việt hay tính chất thấp kém hơn được gắn trong các quan điểm hoặc sự thiên vị đó. Người ta đã từng sử dụng sự phân biệt chủng tộc để biện minh cho các phân biệt đối xử và bạo lực trong xã hội, trong đó có cả tội ác diệt chủng. == Xem thêm == Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc Apartheid == Chú thích ==
tên gọi việt nam.txt
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã dùng nhiều quốc hiệu khác nhau. Bên cạnh đó, cũng có những danh xưng được dùng chính thức hay không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quốc gia Việt Nam. == Các quốc hiệu chính thức == Dưới đây là danh sách các quốc hiệu chính thức của Việt Nam theo dòng lịch sử. Các quốc hiệu này đều được ghi chép trong các sách sử Việt Nam, hoặc được chính thức sử dụng trong nghi thức ngoại giao quốc tế. === Văn Lang === Văn Lang (chữ Hán: 文郎) được coi là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam. Quốc gia này có kinh đô đặt ở Phong Châu nay thuộc tỉnh Phú Thọ. Lãnh thổ bao gồm khu vực đồng bằng sông Hồng và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ. Quốc gia này tồn tại cho đến năm 258 TCN. === Âu Lạc === Năm 257 TCN, nước Âu Lạc (甌雒, 甌駱, 甌貉) được dựng lên, từ việc liên kết các bộ lạc Lạc Việt (Văn Lang) và Âu Việt, dưới uy thế của Thục Phán - An Dương Vương. Âu Lạc có lãnh thổ bao gồm phần đất của Văn Lang trước đây cộng thêm vùng núi Đông Bắc Việt Nam và một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc). Khoảng cuối thế kỷ thứ 3 TCN, đầu thế kỷ thứ 2 TCN (năm 208 TCN hoặc 179 TCN), Triệu Đà (Quận úy Nam Hải-nhà Tần) tung quân đánh chiếm Âu Lạc. Cuộc kháng cự của An Dương Vương thất bại, nhà nước Âu Lạc bị xóa sổ. === Lĩnh Nam === Năm 40, Hai Bà Trưng đã khởi nghĩa chống lại sự cai trị của nhà Hán. Sử cũ ghi chép hai bà đã lấy được 65 thành trì của nhà Hán tại các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Hợp Phố, Nam Hải,... Hai bà xưng vương, với câu hịch nối lại nghiệp xưa vua Hùng, lập tên nước là Lĩnh Nam, đóng đô tại Mê Linh, ngày nay thuộc huyện Mê Linh, Hà Nội. Trưng Trắc được bầu làm vua (Đế) của Lĩnh Nam, Trưng nhị được bầu làm vương của Giao chỉ, sáu quận của Lĩnh Nam là: Nhật Nam, Cửu Chân, Giao chỉ, Tượng Quận, Nam Hải và Quế Lâm mỗi quận có một vương gia. Năm 43 khởi nghĩa Hai bà Trưng bị đàn áp, bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc lần II. === Vạn Xuân === Vạn Xuân (萬春) là quốc hiệu của Việt Nam trong một thời kỳ độc lập ngắn ngủi khỏi triều đình trung ương Trung Hoa của nhà Tiền Lý dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm 602 thì bị nhà Tùy tiêu diệt. === Đại Cồ Việt === Đại Cồ Việt (大瞿越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Đinh đến đầu thời nhà Lý, do Đinh Tiên Hoàng thiết đặt năm 968. Quốc hiệu này tồn tại 87 năm cho đến năm 1054, đời vua Lý Thánh Tông đổi sang quốc hiệu khác. === Đại Việt === Đại Việt (大越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý, bắt đầu từ năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Quốc hiệu này tồn tại không liên tục (gián đoạn 7 năm thời nhà Hồ và 20 năm thời thuộc Minh), đến năm 1804, trải qua các vương triều Lý, Trần, Lê, Mạc và Tây Sơn, khoảng 724 năm. === Đại Ngu === Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu của Việt Nam thời nhà Hồ. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau khi nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và nhà Hậu Lê giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt. Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ Công, sau dùng chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", chứ không có nghĩa là "ngu si" (愚癡). === Việt Nam === Quốc hiệu Việt Nam (越南) chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Vua Gia Long đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng "Nam" có ý nghĩa "An Nam" còn "Việt" có ý nghĩa "Việt Thường". Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa lúc bấy giờ. Nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn, và chính thức tuyên phong tên này năm 1804. Tuy nhiên, tên gọi Việt Nam có thể đã xuất hiện sớm hơn. Ngay từ cuối thế kỷ 14, đã có một bộ sách nhan đề Việt Nam thế chí (nay không còn) do Hàn lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc biên soạn. Cuốn Dư địa chí viết đầu thế kỷ 15 của Nguyễn Trãi (1380-1442) nhiều lần nhắc đến hai chữ "Việt Nam". Điều này còn được đề cập rő ràng trong những tác phẩm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), ngay trang mở đầu tập Trình tiên sinh quốc ngữ đã có câu: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Người ta cũng tìm thấy hai chữ "Việt Nam" trên một số tấm bia khắc từ thế kỷ 16-17 như bia chùa Bảo Lâm (1558) ở Hải Dương, bia chùa Cam Lộ (1590) ở Hà Nội, bia chùa Phúc Thánh (1664) ở Bắc Ninh... Đặc biệt bia Thủy Môn Đình (1670) ở biên giới Lạng Sơn có câu đầu: "Việt Nam hầu thiệt, trấn Bắc ải quan" (đây là cửa ngő yết hầu của nước Việt Nam và là tiền đồn trấn giữ phương Bắc). Về ý nghĩa, phần lớn các giả thuyết đều cho rằng từ "Việt Nam" kiến tạo bởi hai yếu tố: chủng tộc và địa lý (người Việt ở phương Nam). === Đại Nam === Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi xin nhà Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam (大南), ngụ ý một nước Nam rộng lớn. Tuy nhiên nhà Thanh đã không chính thức chấp thuận. Khi nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng chính thức đơn phương công bố quốc hiệu mới Đại Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 1839. Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945. === Đế quốc Việt Nam === Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập và thành lập chính phủ độc lập trên danh nghĩa vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng đầu là nhà học giả Trần Trọng Kim, với quốc hiệu Đế quốc Việt Nam. Trong thực tế Đế quốc Nhật Bản vẫn cai trị Việt Nam. Sau khi Nhật đầu hàng quân Việt Minh, Nam Kỳ mới được trao trả ngày 14 tháng 8 năm 1945, nhưng 10 ngày sau đó Hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Nhật và Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố trao lại chủ quyền Việt Nam cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. === Việt Nam Dân chủ Cộng hòa === Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tên gọi của cả nước Việt Nam 1945 đến 1954 và miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1976. Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày Quốc khánh của Việt Nam ngày nay). năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước để chính thức thành lập Quốc hội và Chính phủ khóa I. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối đầu với thực dân Pháp và Quốc gia Việt Nam được lập ra dưới cái ô của Pháp năm 1949. Trong thời kỳ 1954-1975, chính thể này phải đối đầu với Việt Nam Cộng hòa được thành lập tại miền Nam Việt Nam. === Quốc gia Việt Nam === Quốc gia Việt Nam là danh xưng của một phần vùng lãnh thổ Việt Nam mặc dù tuyên bố đại diện cho cả nước, ra đời chính thức từ Hiệp ước Elysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949, giữa Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại. Thực tế, chính quyền Quốc gia Việt Nam vẫn thuộc khối Liên hiệp Pháp, độc lập, đối kháng và tồn tại trên cùng lãnh thổ với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Danh xưng Quốc gia Việt Nam tồn tại trong 6 năm (1949-1955). Năm 1955, Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, giải tán Quốc gia Việt Nam, thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong suốt thời gian tồn tại, Quốc gia Việt Nam chưa từng tổ chức được Tổng tuyển cử trên phạm vi cả nước như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm năm 1946. === Việt Nam Cộng hòa === Việt Nam Cộng hòa là tên gọi của một chính thể được thành lập tại miền Nam Việt Nam, kế tục Quốc gia Việt Nam (1949–1955). Trong Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền này sụp đổ vào năm 1975. === Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam === Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một chính thể cũng ở miền Nam Việt Nam, tồn tại từ năm 1969 tới 1976. Chính thể này được thành lập dựa trên cơ sở là những cán bộ Việt Minh được giữ lại miền Nam để chuẩn bị cho Tổng tuyển cử thống đất nước dự kiến được tổ chức năm 1957 (theo Hiệp định Geneve 1954 thì chỉ tập kết quân sự, các thành phần chính trị ở nguyên tại chỗ để chuẩn bị tổng tuyển cử thành lập chính phủ hòa hợp dân tộc). Cộng hòa miền Nam Việt Nam có mục tiêu chống Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đế thống nhất đất nước. Sau cuộc Tổng tuyển cử năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. === Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam === Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI quyêt định thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hòa miền Nam Việt Nam với tên gọi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hiệu này được sử dụng từ đó đến nay. == Các danh xưng gây tranh cãi == Dưới đây là những danh xưng từng được dùng không chính thức để chỉ vùng lãnh thổ quốc gia Việt Nam. Những danh xưng không chính thức được ghi nhận lại từ cổ sử hoặc từ các tài liệu nước ngoài từ trước năm 1945. === Xích Quỷ === Xích Quỷ (赤鬼), còn gọi là Thích Quỷ, theo Việt Nam sử lược là có nguồn gốc từ thủy tổ của dân Việt là Kinh Dương Vương. Sách chép: Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm nhâm tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. === Nam Việt === Xem Vấn đề chính thống của nhà Triệu. Nam Việt (南越) là quốc hiệu thời nhà Triệu (207 TCN-111 TCN). Nói chính xác thì đối tượng tranh cãi ở đây không phải là bản thân tên gọi Nam Việt, mà vấn đề là quốc hiệu này có đại diện cho nước Việt Nam ngày nay hay không. Thời phong kiến xem Nam Việt chính là quốc hiệu cũ của nước Việt, nhưng quan điểm chính thống hiện nay cho rằng quốc gia Nam Việt khi đó là của người Trung Hoa. Lý do không coi Nam Việt là của Việt Nam: Triệu Đà là người Hán, quê ở huyện Chân Định, nhân lúc nhà Tần suy loạn đã nổi lên lập ra nhà Triệu, lấy quốc hiệu là Nam Việt. Các ý kiến cho rằng quốc hiệu này là của nước Việt có các nhận định của các học giả như Lê Văn Hưu hay Ngô Sĩ Liên. Lê Văn Hưu nói: "Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ (như Trung Hoa), đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được". Ngô Sĩ Liên nói: "Truyện Trung Dung có câu: "Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có danh, ắt được sống lâu". Vũ Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi. Xem câu trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán, do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư? Kinh Dịch nói: "Biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua". Vua chính hợp câu ấy". Hoặc vua Quang Trung sau khi đánh bại đội quân nhà Thanh năm 1789 đã có ý định đòi lại đất hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây với lý do đây là đất cũ của Nam Việt thời nhà Triệu. === An Nam === An Nam (安南) là danh xưng của người nước ngoài chỉ lãnh thổ Việt Nam trong một số thời kỳ. Nguồn gốc danh xưng này từ thời Bắc thuộc (Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ), nhà Đường ở Trung Quốc đã đặt tên cho khu vực lãnh thổ tương ứng với khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay là An Nam đô hộ phủ (673-757 và 768-866). Sau khi giành được độc lập, các triều vua Việt Nam thường phải nhận thụ phong của Trung Quốc, danh hiệu là "An Nam quốc vương" (kể từ năm 1164). Từ đó người Trung Quốc thường gọi nước Việt Nam là An Nam, bất kể quốc hiệu là gì. Cách gọi này đã ảnh hưởng đến cách gọi của người châu Âu trước năm 1945. Thời kỳ thuộc Pháp, Annam (gọi theo tiếng Pháp) là tên gọi chỉ vùng lãnh thổ Trung Kỳ do nhà Nguyễn cai trị dưới sự bảo hộ của Pháp. Tuy vậy, người Pháp vẫn dùng danh xưng Annam để chỉ người Việt nói chung ở cả 3 vùng Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam) và Nam Kỳ (Cochinchine). == Các danh xưng thời Bắc thuộc và Pháp thuộc == Các danh xưng này không được xem là quốc hiệu của Việt Nam vì các giai đoạn này Việt Nam bị nước ngoài đô hộ. Đây là tên gọi mà Trung Quốc và Pháp sử dụng để chỉ vùng lãnh thổ Việt Nam mà họ chiếm đóng. === Giao Chỉ === Là tên gọi của Việt Nam thời Bắc thuộc lần 1 từ 111 TCN đến 39 SCN, thời Bắc thuộc lần 2 từ 43 đến 203, và thời Bắc thuộc lần 4 từ 1407 đến 1427. Tổng cộng khoảng 262 năm === Giao Châu === Là tên gọi của Việt Nam thời Bắc thuộc lần 2 từ 203 đến 544 và thời Bắc thuộc lần 3 từ 602 đến 679. Tổng cộng khoảng 420 năm === An Nam === Là tên gọi của Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3 tứ 679 đến 757 và 766 đến 866. Tổng cộng khoảng 180 năm === Trấn Nam === Là tên gọi của Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3 từ 757 đến 766. Tổng cộng khoảng 10 năm === Tĩnh Hải quân === Là tên gọi của Việt Nam cuối thời Bắc thuộc lần 3, thời kỳ tự chủ của Họ Khúc và thời kỳ độc lập của Nhà Ngô, từ 866 đến 967. Tổng cộng khoảng 102 năm === Liên bang Đông Dương === Là tên gọi của Việt Nam, Campuchia và Lào (lúc bấy giờ bị chia thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ) thời Pháp thuộc, từ 1887 đến 1945. Tổng cộng khoảng 59 năm == Tại các nước trên thế giới == Đối với nước ngoài, tên gọi "Việt Nam" thường được viết trong các ngôn ngữ dùng ký tự Latinh là Vietnam. Một số ngoại lệ như: Tiếng Ba Lan: Wietnam Tiếng Hawaii: Wiekanama Tiếng Ireland: Vítneam Esperanto: Vjetnamio Tiếng Malta: Vjetnam Tiếng Bồ Đào Nha: Vietname, tiếng Bồ Đào Nha Brasil: Vietnã Trong các ngôn ngữ dùng hệ chữ viết khác: Tại Trung Quốc và Đài Loan: 越南 (yùenán, jyut6 naam4, O̍at-lâm) Tại bán đảo Triều Tiên: trước đây thường gọi theo âm Hán Triều là 월남 (Wollam), nay tại Bắc Triều Tiên gọi là 윁남 (Wennam) và tại Hàn Quốc gọi là 베트남 (Beteunam) Tại Nhật Bản: ベトナム (Betonamu), ヴェトナム (Vetonamu), ヴィエトナム (Vietonamu) , hoặc 越南 (hay えつなん) (Etsunan) Tại Nga: Вьетнам (V'yetnam) Tại Hy Lạp: Βιετνάμ (Byetnam) == Thống kê == === Thời kỳ phong kiến === Đại Việt (1054 - 1400, 1428 - 1804) là quốc hiệu lâu dài nhất của Việt Nam với 724 năm: Nhà Hậu Lý Nhà Trần Nhà Hậu Lê Nhà Mạc Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn Nhà Tây Sơn Nhà Nguyễn những năm đầu Đại Nam (1839 - 1945) là quốc hiệu lâu dài thứ hai với 107 năm: Nhà Nguyễn Nam Việt (207 TCN - 111 TCN) là quốc hiệu lâu dài thứ ba với 97 năm: Nhà Triệu Đại Cồ Việt (968 - 1054) là quốc hiệu lâu dài thứ tư với 87 năm: Nhà Đinh Nhà Tiền Lê Nhà Hậu Lý những năm đầu Vạn Xuân (544 - 602) là quốc hiệu lâu dài thứ năm với 59 năm: Nhà Tiền Lý Âu Lạc (257 TCN - 207 TCN?) là quốc hiệu lâu dài thứ sáu với 51 năm (đang tranh cãi về thời điểm): Nhà Thục Việt Nam (1804 - 1839) là quốc hiệu ngắn thứ ba với 36 năm: Nhà Nguyễn Đại Ngu (1400 - 1407) là quốc hiêu ngắn thứ hai với 8 năm: Nhà Hồ Lĩnh Nam (40 - 43) là quốc hiệu ngắn nhất với 4 năm: Hai Bà Trưng Xích Quỷ và Văn Lang được xem là các quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam nhưng vì thiếu thông tin chính xác về thời điểm nên khó xác nhận thời gian tồn tại của quốc hiệu này. === Thời cận đại === Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là quốc hiệu hiện tại của Việt Nam từ năm 1976 đến nay. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 - 1976) là quốc hiệu lâu dài nhất với 32 năm Việt Nam Cộng hòa (1955 - 1975) là quốc hiệu lâu dài thứ hai với 21 năm Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1969 - 1976) là quốc hiệu ngắn thứ ba với 8 năm Quốc gia Việt Nam (1949 - 1955) là quốc hiệu ngắn thứ hai với 7 năm Đế quốc Việt Nam (1945) là quốc hiệu ngắn nhất với 1 năm == Xem thêm == Danh sách các nước trên thế giới: quốc hiệu của các nước khác Quốc kỳ Việt Nam Quốc huy Việt Nam Danh sách sinh vật định danh theo Việt Nam == Chú thích == == Tham khảo == Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược.
nam tư.txt
Nam Tư (Jugoslavija trong tiếng Serbia-Croatia (ký tự Latin) và tiếng Slovenia; Југославија trong tiếng Serbia-Croatia (ký tự Cirill) và tiếng Macedonia;) miêu tả ba thực thể chính trị tồn tại nối tiếp nhau trên Bán đảo Balkan ở Châu Âu, trong hầu hết thế kỷ 20. Quốc gia đầu tiên được biết với cái tên Nam Tư là Vương quốc Nam Tư, vốn trước ngày 3 tháng 10 năm 1929 từng được gọi là "Vương quốc của người Serb, người Croatia và người Slovenia". Quốc gia này được thành lập ngày 1 tháng 12 năm 1918 bởi liên minh Nhà nước của người Slovenia, Croatia và Serbia và Vương quốc Serbia. Nước này bị phe Trục xâm chiếm năm 1941, và bởi các sự kiện diễn ra tiếp sau đó, đã chính thức bị xoá bỏ năm 1945. Quốc gia với tên này từng là "Liên bang Dân chủ Nam Tư", tuyên bố năm 1943 bởi những người cộng sản thuộc phong trào kháng chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó được đổi tên thành "Cộng hòa Liên bang Nhân dân Nam Tư" năm 1946, khi một chính phủ cộng sản được thành lập. Năm 1963, nó lại được đổi tên thành "Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư" (SFRY). Những nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa hợp thành nhà nước này, từ bắc xuống nam, gồm: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Slovenia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Croatia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Bosna và Hercegovina, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Montenegro, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Serbia (gồm cả các tỉnh tự trị Vojvodina và Kosovo, sau này được gọi đơn giản là Kosovo) và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Macedonia. Bắt đầu từ năm 1991, Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư tan rã trong những cuộc chiến tranh Nam Tư kéo theo sự ly khai của hầu hết các thực thể cộng hòa. Quốc gia cuối cùng mang tên này là "Cộng hòa Liên bang Nam Tư" (FRY) được thành lập ngày 27 tháng 3 năm 1992. Đây là một liên bang trên lãnh thổ của hai nước cộng hòa (chưa ly khai) là Serbia (gồm cả các tỉnh tự trị Vojvodina và Kosovo) và Montenegro. Ngày 4 tháng 2 năm 2003, nó được đổi tên lại thành "Liên bang Serbia và Montenegro", và chính thức xoá bỏ cái tên "Nam Tư". Ngày 3 tháng 6 và 5 tháng 6 năm 2006, Montenegro và Serbia lần lượt tuyên bố độc lập, vì thế chấm dứt những tàn tích cuối cùng của một nhà nước Nam Tư. == Tên gọi == Tên gọi của Nam Tư trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của Nam Tư trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung, Nam Tư được gọi là “南斯拉夫”. “南斯拉夫” có âm Hán Việt là “Nam Tư Lạp Phu”. Tên gọi “Nam Tư” trong tiếng Việt là gọi tắt của “Nam Tư Lạp Phu”. == Bối cảnh == Ý tưởng về một nhà nước duy nhất cho mọi thực thể Nam Slav xuất hiện hồi cuối thế kỷ 17 và bắt đầu được quan tâm ở thế kỷ 19 trong Phong trào Illyrian nhưng chưa bao giờ thành hình. Giai đoạn đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất, một số nhân vật chính trị có ảnh hưởng tại các vùng Nam Slavơ thuộc Habsburg Đế chế Áo-Hung đã bỏ chạy tới Luân Đôn, nơi họ bắt đầu thành lập Ủy ban Nam Tư để đại diện cho những thực thể Nam Slavơ thuộc Áo-Hung. Những thực thể "Nam Tư" này gồm người Serb, người Croatia và người Slovenia những người tự cho mình thuộc phong trào vì mục tiêu một nhà nước Nam Tư duy nhất hay nhà nước Nam Slavơ và mục tiêu căn bản của ủy ban là sự thống nhất các vùng đất Nam Slavơ với Vương quốc Serbia (đang có độc lập dù đã bị Áo-Hung xâm chiếm ở thời điểm ấy). Với thất bại của Phe Liên minh Trung tâm trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và sự tan rã của Đế chế Áo-Hung sau chiến tranh, nhiều lãnh thổ Nam Slavơ nhanh chóng tập hợp với nhau để hình thành Vương quốc của người Serb, người Croatia và người Slovenia, được tuyên bố ngày 1 tháng 12 năm 1918 ở Beograd. Vương quốc mới được hình thành từ các vương quốc từng có độc lập trước kia gồm Serbia và Montenegro (đã thống nhất với nhau trong tháng trước đó), cũng như một số vùng lãnh thổ trước kia thuộc Áo-Hung, Nhà nước của người Slovenia, Croatia và Serbia. Những vùng đất trước kia thuộc Áo-Hung đã hình thành nên nhà nước mới gồm Croatia, Slavonia và Vojvodina từ Hungary một phần của Đế chế, Carniola, một phần của Styria và đa phần Dalmatia từ Áo, và tỉnh hoàng gia (crown province) Bosna và Hercegovina. == Vương quốc đa sắc tộc == === 1918-1928 === Hiến pháp Vidovdan Hiệp ước Rapallo, 1920 Lệnh cấm Đảng Cộng sản Cuộc bầu cử năm 1923 Hiệp ước Roma, 1924 Vụ ám sát Stjepan Radić === Giai đoạn Vua Alexander === Vua Alexander I đã cấm các đảng chính trị quốc gia năm 1929, nắm quyền hành pháp và đổi tên nước thành Nam Tư. Ông hy vọng kìm chế các khuynh hướng ly khai và giảm bớt các phong trào quốc gia. Tuy nhiên, các chính sách của Alexander nhanh chóng gặp phải sự chống đối từ các cường quốc Châu Âu nổi lên nhờ sự phát triển tại Ý và Đức, nơi những người theo chủ nghĩa Phát xít và Đảng quốc xã nổi lên nắm quyền lực, và Liên bang Xô viết, nơi Stalin đã trở thành lãnh tụ tuyệt đối. Không một chế độ nào ở trên tán thành chính sách của Alexander I. Trên thực tế, Ý và Đức muốn khôi phục các hiệp ước quốc tế được ký kết sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, và người Xô viết quyết tâm giành lại vị trí của mình ở châu Âu và theo đuổi một chính sách quốc tế tích cực hơn. Alexander đã tìm cách tạo lập một nhà nước Nam Tư đích thực. Ông quyết định xóa bỏ các vùng lịch sử Nam Tư, và các biên giới mới bên trong được vẽ lại cho các tỉnh hay các banovina. Các banovina được đặt tên theo các con sông. Nhiều chính trị gia bị bỏ tù hay bị quản thúc chặt chẽ. Hiệu ứng của sự cầm quyền độc tài của Alexander càng khiến những người không phải người Serb căm ghét ý tưởng thống nhất. Nhà vua bị ám sát tại Marseille trong một chuyến thăm chính thức tới Pháp năm 1934 bởi một tay thiện xạ thuộc Tổ chức Cách mạng Nội địa Macedonia của Ivan Mihailov cùng sự phối hợp của Ustaše, một tổ chức ly khai Croatia. Người con trai 11 tuổi của Alexsander Peter II lên nối ngôi với một hội đồng nhiếp chính đứng đầu bởi người chú là Hoàng tử Paul. === Nam Tư những năm 1930 === Bối cảnh chính trị quốc tế hồi cuối thập niên 1930 đáng chú ý bởi tính không khoan nhượng ngày càng lớn giữa các nhân vật chính trị chủ chốt, bởi quan điểm gây hấn của các chế độ độc tài và bởi sự chắc chắn mà sự trật tự được thiết lập sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã mất đi những thành trì và những người tham gia đã mất đi sức mạnh. Được ủng hộ và gây áp lực bởi Phát xít Ý và Phát xít Đức, nhà lãnh đạo người Croatia Vlatko Maček cùng đảng của mình đã tìm cách thành lập Banovina Croatia (tỉnh hành chính) năm 1939. Thỏa thuận chỉ rõ rằng Croatia vẫn là một phần của Nam Tư, nhưng thực thể này nhanh chóng xây dựng một vị thế chính trị độc lập trong các mối quan hệ quốc tế. Hoàng tử Paul lùi bước trước sức ép của phe Phát xít và đã ký Hiệp ước Tripartite tại Viên ngày 25 tháng 3 năm 1941, hy vọng giữ được Nam Tư đứng bên ngoài cuộc chiến tranh. Nhưng hành động này đã khiến sự ủng hộ của dân chúng dành cho nhiếp chính Paul mất đi. Các quan chức quân sự cao cấp cũng phản đối hiệp ước này và tiến hành một cuộc đảo chính khi nhà vua quay trở về ngày 27 tháng 3. Vị tướng quân đội Dušan Simović lên nắm quyền và bắt giữ đoàn đại biểu Wien, trục xuất Paul, và chấm dứt chế độ nhiếp chính, trao toàn bộ quyền lực cho Vua Peter khi ấy 17 tuổi. === Sự khởi đầu của Thế chiến II tại Nam Tư === Hitler sau đó quyết định tấn công Nam Tư ngày 6 tháng 4 năm 1941, ngay lập tức sau đó là cuộc tấn công xâm lược Hy Lạp nơi Mussolini từng bị đẩy lùi. (Vì thế, Chiến dịch Barbarossa đã phải chậm lại bốn tuần, chứng minh đó là một quyết định đắt giá.) == Nam Tư trong Thế chiến II == === Cuộc xâm lược Nam Tư === Lúc 5:12 sáng ngày 6 tháng 4 năm 1941, các lực lượng Đức, Ý, Hungary và Bulgaria tấn công Nam Tư. Không quân Đức (Luftwaffe) ném bom Belgrade và các thành phố chính khác của Nam Tư. Ngày 17 tháng 4, các đại diện từ nhiều vùng của Nam Tư đã ký một thỏa thuận đình chiến với Đức tại Belgrade, chấm dứt 11 ngày kháng chiến chống quân xâm lược Đức (Wehrmacht Heer). Hơn ba trăm ngàn sĩ quan và binh lính Nam Tư bị bắt. Các nước phe Trục chiếm Nam Tư và chia nhỏ nó. Nhà nước Độc lập Croatia được thành lập như một nhà nước bù nhìn của Phát xít, do một nhóm du kích phát xít được gọi là Ustaše, bắt đầu xuất hiện từ năm 1929 nắm quyền, nhưng chỉ hoạt động hạn chế cho tới năm 1941. Quân đội Đức chiếm Bosna và Hercegovina cũng như một phần của Serbia và Slovenia, trong khi những phần khác của nước này bị Bulgaria, Hungary và Ý chiếm. Trong thời gian này Nhà nước Độc lập Croatia đã lập ra các trại tập trung cho những người chống phát xít, cộng sản, người Serb, Gypsy và người Do Thái. Một trong những trại đó là Jasenovac. Một số lớn nam giới, phụ nữ và trẻ em, chủ yếu là người Serb, đã bị hành quyết tại các trại này. ==== Các phong trào kháng chiến ==== Những người Nam Tư phản đối Phát xít đã tổ chức một phong trào kháng chiến. Họ có khuynh hướng ủng hộ Vương quốc Nam Tư cũ gia nhập Quân đội Nam Tư tại Tổ quốc, cũng được gọi là đội quân du kích trung thành Chetniks, Serbia do Dragoljub "Draža" Mihailović lãnh đạo. Những người ủng hộ Đảng Cộng sản (Komunistička partija), và chống lại nhà Vua, gia nhập Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư (Narodno Oslobodilačka Vojska hay NOV), do Josip Broz Tito, một người Croatia theo chủ nghĩa quốc gia lãnh đạo. Chetniks là đồng minh của Hoa Kỳ tại châu Âu và họ đã cứu thoát hơn 150 phi công Mỹ trong Chiến dịch: "Vazdušni Most". Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư đã tung ra một chiến dịch chiến tranh du kích được phát triển thành đội quân kháng chiến lớn nhất trên lãnh thổ Đông và Trung Âu bị chiếm đóng. Ban đầu Chetniks tung ra những cuộc tấn công đáng chú ý và được ủng hộ bởi chính phủ hoàng gia lưu vong cũng như Đồng Minh, nhưng nhanh chóng phải giảm bớt quy mô hành động bởi những cuộc trả đũa vào dân thường Serbia của Đức. Với mỗi lính thiệt mạng, quân Đức sẽ hành quyết 100 thường dân, và với mỗi lính bị thương, họ giết 50 người. Vì cái giá nhân mạng quá đắt, Chetniks đã phải chấm dứt các hoạt động chống Đức và Đồng Minh chuyển sang ủng hộ Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư. Tuy nhiên, Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư vẫn tiến hành cuộc chiến tranh du kích của mình. Thiệt hại nhân mạng được Vladimir Zerjavic và Bogoljub Kočović, ước tính là 1.027.000 người, con số này được Liên hiệp quốc chấp nhận, trong khi cơ quan chức năng Nam Tư cho rằng có 1.700.000 người chết. Chủ yếu là người Serb sống tại Bosna và Croatia, cũng như người Do Thái và các cộng đồng thiểu số Romani cao hơn nhiều so với những sắc dân bất hợp tác. Trong cuộc chiến, quân du kích do những người cộng sản lãnh đạo trên thực tế cầm quyền tại các lãnh thổ giải phóng, và các hội đồng nhân dân do Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư lập ra hoạt động như những cơ quan quản lý dân sự. Mùa thu năm 1941, quân du kích thành lập Cộng hòa Užice tại lãnh thổ giải phóng ở phía tây Serbia. Tháng 11 năm 1941, quân đội Đức chiếm lại lãnh thổ này, trong khi đa số các lực lượng du kích phải bỏ chạy về phía Bosna. Ngày 25 tháng 11 năm 1942, Hội đồng Chống Phát xít của Phong trào Giải phóng Quốc gia Nam Tư (Antifašističko Vijeće Narodnog Oslobođenja Jugoslavije) được nhóm họp tại Bihać, Bosna. Hội đồng tái họp ngày 29 tháng 11 năm 1943, tại Jajce, cũng thuộc Bosna và lập ra các căn bản cho việc tổ chức đất nước thời hậu chiến, thành lập một liên bang (ngày nay sau chiến tranh đã được gọi là Ngày Cộng hòa). === Giải phóng Nam Tư === Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư đẩy lùi được Phe trục ra khỏi Serbia năm 1944 và phần còn lại của Nam Tư năm 1945. Hồng quân giúp giải phóng Belgrade và một số lãnh thổ khác, nhưng đã rút lui sau khi chiến tranh chấm dứt. Tháng 5 năm 1945, Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư gặp các lực lượng Đồng Minh bên ngoài các biên giới cũ của Nam Tư, sau khi chiếm Trieste và nhiều vùng thuộc các tỉnh Styria và Carinthia phía nam nước Áo. Đây là vùng lãnh thổ có đa số dân là người Ý và người Slovenia. Tuy nhiên, Quân đội Giải phóng Quốc gia Nam Tư đã phải rút khỏi Trieste trong cùng năm ấy. Những nỗ lực của phương Tây nhằm thống nhất các nhóm du kích, họ từ chối quyền lãnh đạo của chính phủ cũ của Vương quốc Nam Tư, và sự hồi hương của vị vua, dẫn tới Thỏa thuận Tito-Šubašić vào tháng 6 năm 1944, tuy nhiên Tito được các công dân coi là một anh hùng quốc gia, vì thế ông giành được quyền lãnh đạo ở nhà nước cộng sản độc lập thời hậu chiến, bắt đầu với chức vụ thủ tướng. == Nam Tư thứ hai == Ngày 31 tháng 1 năm 1946, hiến pháp mới của Liên bang Cộng hòa Nhân dân Nam Tư, theo hình thức hiến pháp Liên bang Xô viết, thành lập sáu nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa, một Tỉnh Xã hội Chủ nghĩa Tự trị và một Quận Xã hội Chủ nghĩa Tự trị từng là một phần của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Serbia. Thủ đô liên bang đặt tại Belgrade. Các nước Cộng hòa và các Tỉnh gồm (theo thứ tự chữ cái): (* hiện là Podgorica) Năm 1974, hai tỉnh Vojvodina và Kosovo-Metohija (tỉnh sau khi ấy đã được nâng cấp lên vị thế một tỉnh), cũng như các nước cộng hòa Bosna và Hercegovina và Montenegro, được trao quyền tự trị lớn hơn tới mức tiếng Albania và tiếng Hungary đã được chính thức công nhận là các ngôn ngữ thiểu số và tiếng Serbo-Croat của Bosna và Montenegro đã biến đổi thành một hình thức dựa trên kiểu nói của người dân địa phương mà không phải là các ngôn ngữ tiêu chuẩn của Zagreb và Belgrade. Vojvodina và Kosovo-Metohija là một phần của nước Cộng hòa Serbia. Nước này đã giữ khoảng cách với Liên bang Xô viết năm 1948 (cf. Cominform và Informbiro) và đã bắt đầu con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của riêng mình dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Josip Broz Tito. Nhà nước này chỉ trích cả Khối phương Đông và các quốc gia NATO, và đã cùng các nước khác lập ra Phong trào không liên kết năm 1961, và liên tục là thành viên của tổ chức này cho tới khi bị giải tán. === Nhân khẩu === Nam Tư luôn có sự đa dạng về dân cư, không chỉ trên mặt sắc tộc, mà còn ở khía cạnh tôn giáo. Hồi giáo, Công giáo La Mã, Do Thái giáo và Tin Lãnh cùng nhiều đức tin Kitô giáo Đông phương hiện diện tại Nam Tư, tổn cộng có 40 tôn giáo. Nhân khẩu các tôn giáo tại Nam Tư đã thay đổi nhiều kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Các cuộc điều tra dân số được thực hiện vào năm 1921 và năm 1948 cho thấy rằng 99% dân cư tham gia sâu vào việc hành đạo. Cùng với các chương trình hiện đại hóa và đô thị hóa của chính phủ sau chiến tranh, tỉ lệ tín hữu các tôn giáo đã sụt giảm đáng kể. Kết nối giữa niềm tin tôn giáo và sắc tộc đã đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng cho các chính sách hậu chiến của chính phủ cộng sản. Sau khi trở thành một quốc gia cộng sản, một cuộc khảo sát vào năm 1964 đã cho thấy rằng chỉ có hơn 70% tổng dân số Nam Tư tự xem mình là tín đồ của một tôn giáo. Những nơi có tính tôn giáo mạnh nhất là Kosovo với 91% và Bosna và Hercegovina với 83,8%. Những nơi có tính tôn giáo thấp nhất là Slovenia 65,4%, Serbia với 63,7% và Croatia với 63,6%. Khác biệt tôn giáo giữa người Serb theo Chính Thống giáo, người Croatia theo Công giáo, và người Bosnia theo Hồi giáo và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc đã góp phần vào sự sụp đổ của Nam Tư năm 1991. === Chính phủ === Ngày 7 tháng 4 năm 1963 nước này đổi tên chính thức thành Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư và Tito được phong làm Tổng thống trọn đời. Tại Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, mỗi nước cộng hòa và tỉnh có hiến pháp, tòa án tối cao, nghị viện, tổng thống và thủ tướng riêng. Lãnh đạo tối cao của chính phủ Nam Tư là Tổng thống (Tito), Thủ tướng liên bang và Nghị viện liên bang (một chức vụ Tổng thống tập thể được lập ra sau khi Tito chết năm 1980). Các chức vụ quan trọng khác là các tổng thư ký Đảng Cộng sản tại mỗi nước cộng hòa và mỗi tỉnh, và tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản. Josip Broz Tito là nhân vật quyền lực nhất đất nước, tiếp theo là các chủ tịch và thủ tướng nước cộng hòa và tỉnh, và các chủ tịch Đảng Cộng sản. Rất nhiều người đã phải khốn khổ khi bị ông ghét. Slobodan Penezić Krcun, lãnh đạo cảnh sát mật của Tito tại Serbia, trở thành nạn nhân của một vụ tai nạn giao thông đáng ngờ khi ông ta bắt đầu phàn nàn về chính sách của Tito. Bộ trưởng nội vụ Aleksandar Ranković bị tước toàn bộ danh hiệu và quyền lợi sau khi bất đồng với Tito về đường lối chính trị đất nước. Thỉnh thoảng, các vị bộ trưởng trong chính phủ, như Edvard Kardelj hay Stane Dolanc, còn quan trọng hơn thủ tướng. Sự đàn áp bất đồng leo thang với cái gọi là Mùa xuân Croatia năm 1970-1971, khi sinh viên tại Zagreb tổ chức các cuộc tuần hành đòi quyền tự do dân sự lớn hơn và quyền tự trị cao hơn cho Croatia. Chính quyền đàn áp cuộc phản kháng và tống giam những người lãnh đạo, nhưng nhiều nhân vật đại diện quan trọng của Croatia trong Đảng bí mật ủng hộ cuộc đấu tranh này, vì thế một hiến pháp mới đã được phê chuẩn năm 1974 trao thêm nhiều quyền cho các nước cộng hòa tại Nam Tư và các tỉnh tại Serbia. === Căng thẳng sắc tộc và khủng hoảng kinh tế === Nam Tư thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai ở nhiều mặt là một hình mẫu tìm kiếm cách xây dựng một nhà nước đa quốc gia. Liên bang được xây dựng trên một nền tảng kép: một nhà nước Nam Tư thời giữa hai cuộc chiến với ưu thế của tầng lớp cầm quyền người Serb; và một sự phân chia quốc gia thời chiến, khi Ý và Đức Phát xít phân chia nước này và ủng hộ một phái quốc gia Croatia cực đoan được gọi là Ustashe nắm quyền và đã thực hiện thảm sát chống lại người Serb. Một số nhân vật quốc gia Bosna đã gia nhập các lực lượng phe Trục và tấn công người Serb. Để trả đũa, những người Serb quốc gia cực đoan tung ra những cuộc tấn công trả thù và người Bosna và người Croatia. Bạo lực sắc tộc chỉ chấm dứt khi đội quân Du kích Nam Tư đa sắc tộc kiểm soát đất nước thời hậu chiến và cấm ủng hộ chủ nghĩa quốc gia. Sự hoà bình bên ngoài được giữ trong suốt thời cầm quyền của Tito, dù những cuộc phản kháng mang tính chất quốc gia vẫn diễn ra, nhưng chúng nhanh chóng bị đàn áp và những người lãnh đạo bị bỏ tù hay bị hành quyết. Tuy nhiên, một cuộc phản kháng đã xảy ra tại Croatia trong thập niên 1970, được gọi là "Mùa xuân Croatia" với sự ủng hộ của phần đông người Croat cho rằng nam Tư là một sự bá quyền của người Serb và yêu cầu giảm bớt quyền lực của Serbia. Tito, vốn là người Croatia, lo ngại về sự ổn định của đất nước và đã hành động theo hướng xoa dịu cả người Croatia và người Serb, ông ra lệnh bắt giữ những người Croatia phản kháng, trong khi chấp nhận một số yêu cầu của họ. Năm 1974, ảnh hưởng của Serbia trong liên bang đã bị giảm bớt khá nhiều khi các tỉnh tự trị được thành lập tại vùng Kosovo với đa số người Albania và Vojvodina với các sắc tộc pha trộn. Các tỉnh tự trị này có quyền bỏ phiếu như các nước cộng hòa nhưng không như những nước cộng hòa, họ không được phép ly khai khỏi Nam Tư. Sự lùi bước này làm Croatia và Slovenia hài lòng, nhưng tại Serbia và tại tỉnh tự trị Kosovo mới thành lập, sự phản ứng khác biệt nhau. Người Serb coi hiến pháp mới là sự thua cuộc trước người Croatia và những người quốc gia Albania. Người Albania tại Kosovo coi việc thành lập tỉnh tự trị là chưa đủ, và yêu cầu Kosovo phải trở thành một nhà nước cộng hòa với quyền ly khai khỏi Nam Tư. Việc này khiến căng thẳng trong giới lãnh đạo cộng sản gia tăng, đặc biệt trong số các quan chức người Serb vốn bực tức vì cho rằng hiến pháp năm 1974 làm suy yếu ảnh hưởng của Serbia và làm tổn hại tới sự thống nhất quốc gia khi cho các nước cộng hòa quyền ly khai. Một cuộc khủng hoảng kinh tế bùng phát trong thập niên 1970 là sản phẩm của những sai lầm nghiêm trọng của các chính phủ Nam Tư, như vay mượn các khoản tín dụng khổng lồ từ phương Tây nhằm thúc đẩy phát triển qua xuất khẩu. Các nền kinh tế châu Âu lúc ấy đang ở giai đoạn giảm phát, làm xuất khẩu của Nam Tư ngưng trệ và tạo ra các khoản nợ lớn. Chính phủ Nam Tư khi ấy phải chấp nhận các điều kiện của Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhằm xoa dịu gánh nặng khủng hoảng với tầng lớp lao động. Đồng thời, các nhóm xã hội mạnh xuất hiện bên trong Đảng Cộng sản Nam Tư, liên minh với các nhóm lợi ích kinh doanh, ngân hàng và nhà nước phương tây và bắt đầu thúc đẩy chủ nghĩa tân tự do, với sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Chính chính quyền Reagan, vào năm 1984, đã thông qua một đề xuất "Liệu pháp sốc" để thúc đẩy Nam Tư theo hướng phục hồi tư bản. Năm 1989 Jeffrey Sachs tới Nam Tư để giúp chính phủ liên bang của Ante Marković chuẩn bị gói "Liệu pháp Sốc" của IMF/Ngân hàng Thế giới, sau đó được đưa ra năm 1990 ngay ở thời điểm các cuộc bầu cử nghị viện đang được tổ chức ở nhiều nước cộng hòa. Chương trình "Liệu pháp sốc" dành Nam Tư vừa là duy nhất trong vùng vừa có tầm ảnh hưởng chính trị quan trọng trong giai đoạn 1989-90. Luật phá sản để thanh lý các doanh nghiệp nhà nước có hiệu lực từ Luật các Hoạt động Tài chính năm 1989 yêu cầu rằng nếu một doanh nghiệp không trả được nợ trong 30 ngày liên tiếp, hay trong 30 ngày của một giai đoạn 45 ngày, nó phải đàm phán với các chủ nợ hoặc phải trao quyền sở hữu cho họ hay sẽ bị thanh lý, trong trường hợp đó các công nhân sẽ bị sa thải, thông thường không được nhận tiền công. Năm 1989, theo các nguồn tin chính thức, 248 công ty tuyên bố phá sản hay bị thanh lý và 89.400 công nhân bị sa thải. Trong chín tháng đầu năm 1990 sau khi chương trình của IMF được thông qua, 889 doanh nghiệp khác với 525.000 công nhân phải chịu chung số phận. Nói theo cách khác, trong vòng chưa tới hai năm "cơ cấu khởi động" (theo Đạo luật các Hoạt động Tài chính) hơn 600.000 công nhân trong tổng số 2.7 triệu công nhân trong lĩnh vực công nghiệp đã bị sa thải. Thêm khoảng 20% nguồn nhân lực, hay một nửa triệu người không được trả lương trong những tháng đầu năm 1990 khi cách doanh nghiệp phải tìm cách tránh phá sản. Nơi tập trung đông nhất các doanh nghiệp phá sản và sa thải công nhân là Serbia, Bosna và Hercegovina, Macedonia và Kosovo. Thu nhập thực tế rơi tự do, các chương trình xã hội đã sụp đổ tạo nên một không khí bất mãn xã hội và vô hi vọng. Đây là một điểm chuyển đổi quan trọng dẫn tới những sự kiện diễn ra tiếp theo. Mùa xuân năm 1990, Marković vẫn là chính trị gia có nhiều ảnh hưởng nhất, không chỉ với toàn bộ Nam Tư, mà cả ở mỗi nước cộng hòa tạo thành liên bang này. Đúng ra ông đã phải tổ chức những cuộc tuần hành dân chúng ủng hộ nhà nước Nam Tư chống lại những nhân vật quốc gia như Milošević tại Serbia hay Tuđman tại Croatia và ông đã có thể nhờ cậy vào sự trung thành của các lực lượng vũ trang. Ông được 83% dân số Croatia, 81% dân số Serbia và 59% dân số Slovenia cùng 79% dân số trong toàn bộ Nam Tư ủng hộ. Mức độ ủng hộ này cho thấy người dân Nam Tư vẫn kiên quyết duy trì quốc gia như thế nào. Nhưng Marković đã gắn liền Chủ nghĩa Nam Tư của mình với chương trình "Liệu pháp Sốc" có điều kiện của IMF và EU và việc này đã khiến những người theo chủ nghĩa ly khai ở Tây Bắc và những người theo chủ nghĩa quốc gia ở Serbia có cơ hội trỗi dậy. Những người theo chủ nghĩa ly khai tại Slovenia và Croatia kêu gọi các cử tri bác bỏ chương trình kinh tế khổ hạnh của Marković-IMF và bằng cách đó sẽ giúp những nước cộng hòa của họ chuẩn bị rời bỏ Nam Tư và "gia nhập châu Âu". Lời kêu gọi của Milošević tại Serbia dựa trên ý tưởng rằng phương Tây đang hành động chống lại những lợi ích của người Serb. Những lời kêu gọi mang tính chủ nghĩa quốc gia đó cuối cùng đã thành công: ở tất cả các nước cộng hòa, bắt đầu bằng Slovenia và Croatia vào mùa xuân, các chính phủ bỏ qua các quy định giới hạn tièn tệ của chương trình ổn định của Marković để giành lấy số phiếu bầu. Chính phủ cấp vùng mới được bầu ra sau đó tập trung nỗ lực vào việc phá vỡ đất nước. Họ được chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ bằng lập trường muốn phá bỏ kết cấu quốc gia Nam Tư nhằm đẩy nhanh hơn nữa chương trình "Liệu pháp Sốc". Một số ít quốc gia châu Âu có các lợi ích chiến lược tại Nam Tư có ý muốn thúc đẩy sự tan rã. Cũng có một số thiếu sót, đặc biệt là trong cơ cấu của Nam Tư khiến việc sụp đổ diễn ra nhanh chóng hơn. Ví dụ, nhiều người cho rằng sự phi tập trung hóa Thị trường Chủ nghĩa xã hội là một thí nghiệm sai lầm cho tình hình địa chính trị của nhà nước Nam Tư. Hiến pháp năm 1974 dù tốt hơn cho người Albani tại Kosovo, đã khiến các nước cộng hòa có nhiều quyền lực hơn, vì thế làm ảnh hưởng tới quyền lực thể chế và hữu hình của chính phủ liên bang. Chính quyền Tito đã thay đổi sự suy yếu này cho tới tận khi ông qua đời năm 1980, sau đó nhà nước và Đảng Cộng sản dần tê liệt và rơi vào khủng hoảng. === Tan vỡ === Sau cái chết của Tito ngày 4 tháng 5 năm 1980, căng thẳng sắc tộc gia tăng ở Nam Tư. Di sản của Hiến pháp năm 1974 đã được dùng để đưa hệ thống ra quyết định thành một nhà nước tê liệt, khiến toàn bộ rơi vào tình trạng vô vọng khi xung đột lợi ích đã trở nên không thể hòa giải. Khủng hoảng hiến pháp không thể tránh khỏi diễn ra sau đó đã dẫn tới sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia tại tất cả các nước cộng hòa: Slovenia và Croatia đưa ra những yêu cầu nới lỏng quan hệ bên trong liên bang, sắc tộc người Albania đa số tại Kosovo yêu cầu được trở thành một nước cộng hòa, Serbia tìm cách có được quyền kiểm soát tuyệt đối với Nam Tư. Thêm vào đó, hành trình tìm kiếm độc lập của người Croatia khiến các cộng đồng người Serb lớn bên trong Croatia nổi dậy và tìm cách ly khai khỏi nước cộng hòa Croatia. Năm 1986, Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Serbia phác thảo một bản ghi nhớ đề cập tới một số vấn đề quan trọng liên quan tới vị thế của người Serb là nhóm người đông đảo nhất tại Nam Tư. Nước cộng hòa lớn nhất về lãnh thổ và dân số trong Liên bang Nam Tư là Serbia với các ảnh hưởng trên các vùng Kosovo và Vojvodina đã bị giảm bớt trong Hiến pháp năm 1974. Vì hai tỉnh tự trị của họ trên thực tế có đặc quyền như những nước cộng hòa đầy đủ, Serbia thấy rằng họ đã bị trói tay trước các chính phủ tại các nước cộng hòa trong việc đưa ra và thực hiện các quyết định đối với những vùng này. Bởi các tỉnh có phiếu bầu bên trong Hội đồng Tổng thống Liên bang (một hội đồng có tám thành viên gồm các đại diện từ sáu nước cộng hòa và hai tỉnh tự trị), họ thỉnh thoảng còn thậm chí tham gia vào liên minh với các nước cộng hòa khác, vì vậy lấn át được Serbia. Sự bất lực chính trị của Serbia khiến các nước cộng hòa có thể gây áp lực với 2 triệu người Serb (20% tổng dân số Serbia) sống bên ngoài nước cộng hòa này. Lãnh đạo cộng sản của Serbia Slobodan Milošević tìm cách tái lập chủ quyền Serbia như hồi trước năm 1974. Các nước cộng hòa khác, đặc biệt là Slovenia và Croatia, bác bỏ động thái này coi đó là sự phục hồi của chủ nghía bá chủ Serbia. Milošević đã thành công trong việc giảm bớt quyền tự trị của Vojvodina và Kosovo và Metohija, nhưng cả hai thực thể này vẫn giữ được một phiếu bầu bên trong Hội đồng Tổng thống Nam Tư. Công cụ đã được sử dụng để giảm bớt ảnh hưởng của Serbia thì nay lại được dùng để tăng ảnh hưởng đó: trong hội đồng tám thành viên, Serbia khi ấy ít nhất đã có bốn phiếu bầu - của Serbia, sau đó của thực thể trung thành Montenegro, và Vojvodina và Kosovo. Như một hậu quả của những sự kiện đó, người thiểu số Albania tại Kosovo tổ chức những cuộc biểu tình, phát triển lên thành cuộc xung đột sắc tộc giữa người Albania và những người không phải Albania ở tỉnh này. Với tỷ lệ 87% dân số Kosovo trong thập niên 1980, sắc tộc Albania chiếm đa số dân. Số lượng người Slav tại Kosovo (chủ yếu là người Serb) nhanh chóng giảm sút vì nhiều lý do, trong số đó có lý do từ những căng thẳng sắc tộc gia tăng và cuộc di cư diễn ra sau đó khỏi vùng này. Tới năm 1999 người Slav chỉ còn chiếm 10% số dân tại Kosovo. Trong lúc ấy Slovenia, dưới sự lãnh đạo của Milan Kučan, và Croatia ủng hộ người thiểu số Albania và cuộc đấu tranh đòi được công nhận chính thức của họ. Những cuộc đình công ban đầu đã trở thành các cuộc tuần hành rộng lớn yêu cầu thành lập một nhà nước Kosovo. Điều này làm giới lãnh đạo Serbia bực tức theo đuổi biện pháp vũ lực, và dẫn tới sự kiện sau đó khi Quân đội Liên bang được gửi tới tỉnh này theo lệnh của Hội đồng Tổng thống Nam Tư với đa số của người Serb. Tháng 1 năm 1990, Đại hội bất thường lần thứ 14 của Liên đoàn Cộng sản Nam Tư được nhóm họp. Trong hầu hết thời gian, các đại biểu người Slovenia và người Serb tranh luận với nhau về tương lai Liên đoàn Cộng sản Nam Tư. Đoàn đại biểu Serbia, dưới sự lãnh đạo của Milošević, nhấn mạnh vào một chính sách "một người, một phiếu", sẽ làm tăng quyền lực cho sắc dân chiếm đa số, người Serb. Trái lại, người Slovenia, được người Croatia hậu thuẫn, tìm cách sửa đổi Nam Tư bằng cách trao thêm quyền cho các nước cộng hòa, nhưng đều bị bỏ phiếu bác bỏ. Vì thế, phái đoàn Slovenia, và cuối cùng cả phái đoàn Croatia rời bỏ Đại hội, và Đảng cộng sản toàn Nam Tư bị giải tán. Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại những phần còn lại của Đông Âu, mỗi nước cộng hòa đều tổ chức các cuộc tuyển cử đa đảng năm 1990. Slovenia và Croatia tổ chức bầu cử vào tháng 4 bởi các đảng cộng sản của họ tìm cách rút lui khỏi quyền lực một cách hòa bình. Các nước cộng hòa khác thuộc Nam Tư - đặc biệt là Serbia - ít nhiều bất bình với quá trình dân chủ hóa tại hai nước cộng hòa kia và đề xuất các biện pháp trừng phạt khác nhau (ví dụ "thuế hải quan" của Serbia với các sản phẩm của Slovenia) chống lại hai nước kia nhưng khi thời gian trôi qua các đảng cộng sản tại các nước cộng hòa khác thấy quá trình dân chủ hóa là không thể tránh khỏi và vào tháng 12 khi thành viên cuối cùng của liên bang - Serbia tổ chức cuộc bầu cử nghị viện xác nhận sự cầm quyền của những người cộng sản tại nước cộng hòa này. Tuy nhiên, các vấn đề chưa được giải quyết vẫn tồn tại. Đặc biệt, Slovenia và Croatia bầu ra các chính phủ với khuynh hướng các nước cộng hòa tự trị lớn hơn (dưới sự lãnh đạo của Milan Kučan và Franjo Tuđman), bởi mọi việc đã trở nên rõ ràng rằng các nỗ lực duy trì thống trị của Serbia và các mức độ tiêu chuẩn dân chủ khác nhau đang ngày càng không còn thích hợp. Serbia và Montenegro lựa chọn các ứng cử viên ủng hộ sự thống nhất của Nam Tư. Người Seriba tại Croatia không chấp nhận một tình trạng thiểu số trong một nhà nước Croatia có chủ quyền, bởi điều này làm họ mất vị thế và giảm bớt quyền lực tại nhà nước Croatia. == Cuộc chiến == Chiến tranh bùng nổ khi những chính quyền mới tìm cách thay thế các lực lượng quân sự và dân sự của Nam Tư bằng những lực lượng ủng hộ ly khai. Vào tháng 8 năm 1990 khi Croatia tìm cách thay thế cảnh sát tại vùng Croat Krajina có đông người Serb sinh sống bằng vũ lực, ban đầu dân chúng tại đó đi tới trốn tránh trong những doanh trại Quân đội Liên bang Nam Tư, trong khi quân đội vẫn thờ ơ. Sau đó dân chúng tổ chức các đội kháng chiến vũ trang. Những cuộc xung đột vũ trang giữa các lực lượng Croatia ("cảnh sát") và dân thường đã đánh dấu sự khởi đầu của chiến tranh Nam Tư làm ảnh hưởng cả vùng. Tương tự, nỗ lực thay thế cảnh sát biên phòng của Nam Tư bằng cảnh sát Slovenia đã gây ra những cuộc xung đột vũ trang địa phương và kết thúc với số lượng nạn nhân tối thiểu. Một nỗ lực tương tự tại Bosna và Hercegovina đã dẫn tới một cuộc chiến chỉ chấm dứt sau hơn 3 năm (xem bên dưới). Kết quả của những cuộc xung đột đó là sự di cư của hầu như toàn bộ người Serb khỏi cả ba vùng đó, những cuộc di dân lớn tại Bosna và Hercegovina và sự thành lập ba nước độc lập mới. Sự ly khai khỏi Cộng hòa Nam Tư của Macedonia diễn ra trong hòa bình. Những cuộc nổi dậy của người Serb tại Croatia bắt đầu vào tháng8 năm 1990 bằng hành động phong tỏa đường sá từ bờ biển Dalmatian vào trong lục địa hầu như đã diễn ra một năm trước khi giới lãnh đạo Croatia có bất kỳ hành động hướng tới độc lập nào. Những cuộc nổi dậy ấy được ủng hộ công khai hay bí mật của Quân đội Liên bang Nam Tư (JNA). Người Serb tuyên bố sự xuất hiện của các Vùng Tự trị Serbia (sau này được gọi là Cộng hòa Serb Krajina) tại Croatia. Quân đội Liên bang tìm cách giải giới các lực lượng phòng vệ lãnh thổ của các nước cộng hòa Slovenia (các nước cộng hòa có các lực lượng phòng vệ địa phương riêng tương tự như Home guard) vào năm 1990 nhưng không hoàn toàn thành công. Slovenia bắt đầu nhập khẩu vũ khí để tăng cường sức mạnh của mình. Croatia cũng tham gia các hoạt động nhập lậu vũ khí, (sau khi lực lượng vũ trang các nước cộng hòa bị Quân đội Liên bang giải giới), chủ yếu từ Hungary, và đã bị phát hiện khi Cơ quan Phản gián Nam Tư (KOS, Kontra-obavještajna Služba) trưng ra một băng video về một cuộc gặp gỡ bí mật giữa Bộ trường Quốc phòng Croatia Martin Špegelj và hai người đàn ông. Špegelj thông báo họ đang ở tình trạng chiến tranh với quân đội và ra các chỉ thị về việc buôn lậu vũ khí cũng như các biện pháp đối đầu với các quan chức quân đội Nam Tư đồn trú tại các thành phố Croatia. Serbia và quân đội Liên bang đã sử dụng bắng chứng tái vũ trang này của Croatia cho các mục đích tuyên truyền. Tháng 3 năm 1990, trong những cuộc tuần hành tại Split, Croatia, một lính trẻ người Nam Tư đã bỏ chạy khỏi xe tăng sau khi lao vào một đám đông. Tương tự, súng đã nổ tại các căn cứ quân sự trên khắp Croatia. Ở những nơi khác, căng thẳng cũng leo thang. Cùng trong tháng ấy, Quân đội Nhân dân Nam Tư (Jugoslovenska Narodna Armija, JNA) gặp gỡ ban lãnh đạo Nam Tư trong một nỗ lực nhằm buộc họ tuyên bố tình trạng khẩn cấp cho phép quân đội nắm quyền kiểm soát đất nước. Ở thời điểm ấy quân đội bị coi là một lực lượng của Serbia nên các nước cộng hòa khác sợ rằng họ sẽ bị thống trị của Serbia trong liên minh. Các đại diện của Serbia, Montenegro, Kosovo và Metohija và Vojvodina bỏ phiếu ủng hộ, trong khi tất cả các nước cộng hòa khác, Croatia (Stipe Mesić), Slovenia (Janez Drnovšek), Macedonia (Vasil Tupurkovski) và Bosna và Hercegovina (Bogić Bogićević), bỏ phiếu chống. Mối quan hệ vẫn giữ cho những sự xung đột chưa leo thang, nhưng không kéo dài. Sau những kết quả của cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên, vào mùa thu năm 1990, các nước cộng hòa Slovenia và Croatia đề nghị chuyển đổi Nam Tư sang hình thức một nhà nước liên bang lỏng lẻo hơn với sáu nước cộng hòa. Bằng đề nghị này các nước cộng hòa sẽ có quyền tự quyết. Tuy nhiên Milošević phản đối mọi đề nghị như vậy, cho rằng giống như người Slovenia và người Croatia, người Serb (nên nhớ là có người Serb tại Croatia) cũng phải có quyền tự quyết. Ngày 9 tháng 3 năm 1991, những cuộc tuần hành phản đối Slobodan Milošević được tổ chức ở Belgrade, nhưng cảnh sát và quân đội đã được triển khai trên các đường phố để giữ gìn trật tự, giết hại hai người. Cuối tháng 3 năm 1991, Vụ việc Plitvice Lakes là một trong những tia lửa đầu tiên nhóm lên cuộc chiến tại Croatia. Quân đội Nhân dân Nam Tư (JNA), với các tướng lĩnh cao cấp chủ yếu là người Seriba, duy trì lập trường trung lập, nhưng khi thời gian trôi đi, họ ngày càng can thiệp sâu vào chính trị trong nước. Ngày 25 tháng 6 năm 1991, Slovenia và Croatia trở thành hai nước cộng hòa đầu tiên tuyên bố độc lập khỏi Nam Tư. Các quan chức hải quan liên bang tại Slovenia trên vùng biên giới với Ý, Áo và Hungary chủ yếu chỉ thay đổi đồng phục bởi đa số họ là người Slovenia địa phương. Cảnh sát biên giới cũng đã là người Slovenia trước khi nước này tuyên bố độc lập. Ngày hôm sau (26 tháng 6), Hội đồng Hành pháp Liên bang ra lệnh đặc biệt cho quân đội nắm quyền kiểm soát "các đường biên giới đã được quốc tế công nhận". Xem Cuộc chiến mười ngày. Các lực lượng Quân đội Nhân dân Nam Tư, dựa vào các đơn vị đồn trú tại Slovenia và Croatia, muốn thực hiện nhiệm vụ này trong vòng 48 giờ sau đó. Tuy nhiên, vì Quân đội Nam Tư thông tin sai lệnh nên Liên bang nằm dưới sự tấn công của các lực lượng nước ngoài, và trên thực tế đa số họ không muốn tham gia vào một cuộc chiến trên bộ nơi họ đang làm nhiệm vụ, các lực lượng phòng vệ Slovenia nhanh chóng giành lại hầu hết các vị trí trong vòng vài ngày với tổn thất nhân sự nhỏ nhất cho cả hai phía. Có một vụ việc bị coi là một tội ác chiến tranh, khi kênh ORF TV station của Áo phát sóng đoạn phim tư liệu về ba binh lính Quân đội Nam Tư đầu hàng lực lượng phòng vệ, trước khi có tiếng súng và những người lính ngã xuống. Tuy nhiên, không ai thiệt mạng trong vụ việc này. Tuy vậy đã có những vụ việc phá hủy tài sản và sinh mạng cá nhân bởi Quân đội Nhân dân Nam Tư - các ngôi nhà, một nhà thờ, sân bay dân sự đã bị ném bom, các tài xế xe tải trên đường Ljubljana - Zagreb và các nhà báo Áo tại Sân bay Ljubljana đã bị thiệt mạng. Lúc ấy thỏa thuận ngừng bắn được đưa ra. Theo Thỏa thuận Brioni, được công nhận bởi tất cả các đại diện của các nước cộng hòa, cộng đồng quốc tế gây áp lực với Slovenia và Croatia để đặt ra một thời hạn trì hoãn ba tháng tuyên bố độc lập của họ. Trong ba tháng này, Quân đội Nam Tư đã hoàn thành việc rút khỏi Slovenia, nhưng tại Croatia, một cuộc chiến tranh bùng phát vào mùa thu năm 1991. Sắc tộc Serbia, đã tạo ra quốc gia Cộng hòa Serbian Krajina của riêng họ tại các vùng có đa số người Serb sinh sống chống lại các lực lượng của Cộng hòa Croatia đang tìm cách đưa vùng ly khai này trở lại dưới quyền cai quản của Croatia. Tại một số vùng chiến lược, Quân đội Nam Tư hành động như một vùng đệm, ở hầu hết những nơi khác quân đội bảo vệ hay giúp đỡ những người Serb bằng các nguồn lực và cả nhân lực trong cuộc chiến của họ với quân đội và cảnh sát Croatia. Tháng 9 năm 1991, Cộng hòa Macedonia cũng tuyên bố độc lập, trở thành nước cộng hòa cũ duy nhất giành được chủ quyền mà không gặp phải sự chống đối của chính quyền Nam Tư tại Belgrade. Năm trăm binh sĩ Mỹ sau đó đã được triển khai dưới danh nghĩa Liên hiệp quốc để giám sát các biên giới phía bắc của Marcedonia với Cộng hòa Serbia, Nam Tư. Tổng thống đầu tiên của Macedonia, Kiro Gligorov, vẫn duy trì được quan hệ tốt với Belgrade và các nước cộng hòa ly khai khác và tới thời điểm ấy vẫn không hề có vấn đề gì giữa Macedonian và cảnh sát biên giới Serbia thậm chí với cả các vùng nhỏ là Kosovo và Preševo là nơi lịch sử được biết là Macedonia, điều có thể gây ra tranh cãi biên giới khi những người Macedonia theo chủ nghĩa quốc gia có thể đặt lại vấn đề (xem IMORO). Vì cuộc xung đột này, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã đơn phương thông au Nghị quyết số 721 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ngày 27 tháng 11 năm 1991, tạo đường cho sự thành lập các chiến dịch gìn giữ hòa bình tại Nam Tư. Tại Bosna và Hercegovina tháng 11 năm 1991, người Serb tại Bosna đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý với đại đa số ủng hộ thành lập cộng hòa Serbia trong các biên giới của Bosna và Hercegovina và ở trong một nhà nước chung với Serbia và Montenegro. Ngày 9 tháng 1 năm 1992, quốc hội của nước Serbia Bosna tự phong tuyên bố một nước "Cộng hòa của người Serb tại Bosna và Hercegovina" riêng biệt. Cuộc trưng cầu dân ý và việc thành lập SARs được tuyên bố một cách bất hợp hiến bởi chính phủ Bosna và Hercegovina, và không hợp pháp cũng như không có giá trị. Tuy nhiên, vào tháng 2 và tháng 3 năm 1992 chính phủ đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý quốc gia về nền độc lập của Bosna khỏi Nam Tư. Cuộc trưng cầu dân ý này cũng được tuyên bố trái ngược với BiH và hiến pháp Liên bang của Tòa án hiến pháp liên bang tại Belgrade và chính phủ mới được thành lập của Serbia Bosna. Cuộc trưng cầu này bị tẩy chay mạnh mẽ bởi người Serb tại Bosna. Đáng chú ý là Tòa án Liên bang tại Belgrade không quyết định về vấn đề trưng cầu dân ý của người Serb tại Bosna. Kết quả là khoảng 64-67% trong 98% người tham gia ủng hộ độc lập. Không rõ rằng hai phần ba số phiếu cần thiết trên thực tế có ý nghĩa không và kết quả có đạt yêu cầu này không. Chính phủ nước cộng hòa tuyên bố nền độc lập của mình ngày 5 tháng 4, và người Serb ngay lập tức tuyên bố nền độc lập của Cộng hòa Srpska. Cuộc chiến tại Bosna bùng nổ ngay sau đó. ==== Sự chấm dứt của Nam Tư thứ hai ==== Nhiều ngày được coi là ngày chấm dứt của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư: 25 tháng 6 năm 1991, khi Croatia và Slovenia tuyên bố độc lập. 8 tháng 9 năm 1991, sau một cuộc trưng cầu dân ý Cộng hòa Macedonia tuyên bố độc lập. 8 tháng 10 năm 1991, khi lệnh đình hoãn sự ly khai của Slovenia và Croatia ngày 9 tháng 7 chấm dứt và Croatia tái khởi động quá trình giành độc lập tại Nghị viện Croatia (ngày này được kỳ niệm là Ngày Độc lập tại Croatia) 15 tháng 1 năm 1992, khi Slovenia và Croatia được hầu hết các quốc gia châu Âu công nhận. 6 tháng 4 năm 1992, Hoa Kỳ và hầu hết các nước châu Âu công nhận hoàn toàn nền độc lập của Bosna và Hercegovina. 28 tháng 4 năm 1992, sự thành lập của Cộng hòa Liên bang Nam Tư (xem bên dưới). Tháng 11 năm 1995, thỏa thuận hòa bình được ký kết tại Dayton giữa các lãnh đạo Nam Tư, Bosna và Hercegovina và Croatia Thỏa thuận về Kiểm soát Vũ khí Tiểu vùng 1996-1999, Những cuộc xung đột giữa quân đội Nam Tư và KLA 24 tháng 3-10 tháng 6 năm 1999, NATO ném bom Cộng hòa Liên bang Nam Tư. Tháng 6 năm 1999, lực lượng quản lý của Liên hiệp quốc và NATO tới Kosovo 5 tháng 2 năm 2003, Nhà nước liên bang Serbia và Montenegro được công bố. 5 tháng 6 năm 2006, Sau một cuộc trưng cầu dân ý tại Montenegro, Serbia và Montenegro tuyên bố nền độc lập của riêng mình. 17 tháng 2 năm 2008, khi Kosovo đơn phương tuyên bố độc lập khỏi Serbia == Cộng hòa Liên bang Nam Tư == Cộng hòa Liên bang Nam Tư (FRY) được thành lập ngày 28 tháng 4 năm 1992, gồm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Serbia và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Montenegro cũ. Hiến pháp mới của Nam Tư được các đại biểu quốc hội, được bầu trong cuộc tuyển cử một đảng năm 1986 bỏ phiếu thông qua. Cuộc chiến ở những vùng phía tây Nam Tư cũ chấm dứt năm 1995 với những cuộc đàm phán hòa bình được Hoa Kỳ bảo trợ tại Dayton, Ohio, dẫn tới cái gọi là Thỏa thuận Dayton. Tại Kosovo, trong suốt thập niên 1990, giới lãnh đạo sắc tộc Albania đã theo đuổi các chiến thuật phản kháng phi bạo lực nhằm giành độc lập cho tỉnh này. Năm 1996, người Albania thành lập Quân đội Giải phóng Kosovo. Phản ứng của Nam Tư là sự sử dụng vũ lực bừa bãi chống lại dân thường, và buộc nhiều sắc tộc Albania phải bỏ chạy khỏi nhà cửa. Sau vụ Racak và sự bất thành của Thỏa thuận Rambouillet trong những tháng đầu năm 1999, NATO ném bom Serbia và Montenegro trong thời gian hơn hai tháng, cho tới khi một thỏa thuận đạt được giữa NATO và chính phủ Milošević, với sự trung gian của Nga. Nam Tư rút các lực lượng của mình khỏi Kosovo, đổi lại NATO rút lại yêu cầu ở trước cuộc chiến đòi các lực lượng NATO vào Serbia, khiến 250.000 người Serb và các sắc tộc không Albania khác rơi vào cảnh tị nạn. Xem Chiến tranh Kosovo để biết thêm thông tin. Từ tháng 6 năm 1999, tỉnh này thuộc quyền quản lý của các lực lượng gìn giữ hòa bình NATO và Nga, dù tất cả các bên tiếp tục công nhận nó là một phần của Serbia. Việc Milošević từ chối các tuyên bố thắng cử trong vòng đầu tiên của phe đối lập trong cuộc bầu cử tổng thống liên bang vào tháng 9 năm 2000 đã dẫn tới những cuộc tuần thành lớn ở Belgrade ngày 5 tháng 10 và sự sụp đổ của chính quyền. Ứng cử viên đối lập, Vojislav Koštunica lên nắm quyền tổng thống Nam Tư ngày 6 tháng 10 năm 2000. Thứ bảy ngày 31 tháng 3 năm 2001, Milošević đầu hàng các lực lượng an ninh của chính quyền tại nhà ở Belgrade, với một lệnh bắt mới được ban hành về các trách nhiệm lạm dụng quyền lực và tham nhũng. Ngày 28 tháng 6 ông bị đưa tới biên giới Nam Tư-Bosna và ngay lập tức sau đó bị đặt dưới sự giám sát của các quan chức SFOR, và tiếp tục bị gửi ra trước Tòa án Tội phạm Quốc tế về Nam Tư cũ của Liên hiệp quốc. Phiên tòa xử ông về các trách nhiệm trong cuộc thảm sát tại Bosna và những tội ác chiến tranh tại Croatia và tại Kosovo cùng Metohija bắt đầu tại The Hague ngày 12 tháng 2 năm 2002, ông qua đời tại đó ngày 11 tháng 3 năm 2006, khi phiên tòa vẫn đang diễn ra. Ngày 11 tháng 4 năm 2002, nghị viện Nam Tư thông qua một điều luật cho phép trục xuất tất cả những người bị Tòa án Tội phạm Quốc tế buộc các tội ác chiến tranh. Tháng 3 năm 2002, chính phủ Serbia và Montenegro đồng ý cải cách Cộng hòa Liên bang Nam Tư thành một hình thức liên minh mới, lỏng lẻo hơn, được gọi là Serbia và Montenegro. Theo nghị quyết của Nghị viện Liên bang Nam Tư ngày 4 tháng 2 năm 2003, Nam Tư, ít nhất trên hình thức, đã ngừng tồn tại. Một chính phủ Liên bang vẫn tồn tại ở Belgrade nhưng chủ yếu chỉ có quyền lực nghi thức. Các chính phủ riêng của Serbia và của Montenegro tiến hành các công việc riêng của mình như thể đó là hai nước cộng hòa độc lập. Hơn nữa, các hình thức hải quan đã được thiết lập dọc theo biên giới cũ giữa hai nước cộng hòa. Ngày 21 tháng 5 năm 2006, 86% người dân Montenegro đã tham gia một cuộc trưng cầu dân ý đặc biệt về nền độc lập của Montenegro ra khỏi liên minh với Serbia. 55.5% đã bỏ phiếu giành độc lập, được công nhận là trên 55% ngưỡng giới hạn do Liên minh châu Âu đặt ra để chính thức công nhận nền độc lập của Montenegro. Ngày 3 tháng 6 năm 2006, Montenegro chính thức tuyên bố độc lập, Serbia cũng tuyên bố hai ngày sau đó, chính thức giải tán di sản cuối cùng của Nam Tư cũ. Kosovo tuyên bố độc lập vào tháng 2 năm 2008, nhưng nó vẫn chưa phải là một thành viên của Liên hiệp Quốc và chỉ được 41 chính phủ công nhận. == Di sản == === Các quốc gia mới === Các quốc gia ngày nay được thành lập từ những phần cũ của Nam Tư gồm: Bosna và Hercegovina Croatia Macedonia Montenegro Serbia Slovenia Kosovo (được công nhận một phần) Nước cộng hòa đầu tiên thuộc Nam Tư cũ gia nhập Liên minh châu Âu là Slovenia, nộp đơn năm 1996 và trở thành một thành viên năm 2004. Croatia đã nộp đơn xin gia nhập năm 2003, và trở thành thành viên tháng 7 năm 2013. Cộng hòa Macedonia nộp đơn năm 2004, và có thể gia nhập trong giai đoạn 2010–2015. Bốn nước cộng hòa còn lại còn chưa nộp đơn gia nhập nên nói chung họ khó có thể trở thành thành viên trước năm 2015. Các quốc gia này tham gia nhiều thỏa thuận đối tác với Liên minh châu Âu. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2007, các nước này cùng Albania đã bị bao quanh bởi các quốc gia thành viên EU. Xem thêm: Mở rộng Liên minh châu Âu. Cờ của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư và các nước mới được công nhận === Các mối liên hệ văn hóa và sắc tộc còn lại === Sự tương đồng của các ngôn ngữ và lịch sử liên kết dài lâu đã để lại nhiều mối quan hệ trong các dân tộc của các quốc gia mới, thậm chí khi các chính sách riêng của các quốc gia mới thành lập muốn tạo lập sự khác biệt, đặc biệt trong ngôn ngữ. Tiếng Serbo-Croatian về mặt ngôn ngữ học là một ngôn ngữ duy nhất, với nhiều biến thể nói và viết và cũng từng là phương tiện giao tiếp tại những nơi khi các ngôn ngữ khác chiếm ưu thế (Slovenia, Macedonia). Hiện tại các tiêu chuẩn ngôn ngữ khác nhau đang tồn tại cho tiếng Bosna, tiếng Croatia, tiếng Serbia và Tiếng Montenegro. Về mặt kỹ thuật Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư có ba ngôn ngữ chính thức, cùng với các ngôn ngữ nhỏ được sử dụng chính thức tại các cộng đồng đó, nhưng tại các cơ quan liên bang chỉ tiếng Serbo-Croatian được sử dụng. Ký ức về thời cùng sống chung và những khía cạnh tốt đẹp của thời gian ấy được gọi là Yugonostalgy (Jugonostalgija). Rất nhiều khía cạnh của Yugonostalgia liên quan tới hệ thống xã hội chủ nghĩa và cảm giác an toàn an sinh xã hội được cung cấp và những sự trì trệ của nó. == Thông tin khác == Tiểu hành tinh 1554 Yugoslavia do Milorad B. Protić phát hiện và đặt tên theo tên Nam Tư. == Xem thêm == Lịch sử vùng Balkans Lịch sử châu Âu Âm nhạc Nam Tư Chiến tranh Nam Tư == Chú thích == Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies. == Đọc thêm == Allcock, John B.: Explaining Yugoslavia. New York: Columbia University Press, 2000 Anne Marie du Preez Bezdrob: Sarajevo Roses: War Memoirs of a Peacekeeper. Oshun, 2002. ISBN 177007031 Chan, Adrian: Free to Choose: A Teacher's Resource and Activity Guide to Revolution and Reform in Eastern Europe. Stanford, CA: SPICE, 1991. ED 351 248 Cigar, Norman,: Genocide in Bosina: The Policy of Ethnic-Cleansing. College Station: Texas A&M University Press, 1995 Cohen, Lenard J.: Broken Bonds: The Disintegration of Yugoslavia. Boulder, CO: Westview Press, 1993 Conversi, Daniele: German -Bashing and the Breakup of Yugoslavia, The Donald W. Treadgold Papers in Russian, East European and Central Asian Studies, no. 16, March 1998 (University of Washington: HMJ School of International Studies) http://easyweb.easynet.co.uk/conversi/german.html Dragnich, Alex N.: Serbs and Croats. The Struggle in Yugoslavia. New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1992 Fisher, Sharon: Political Change in Post-Communist Slovakia and Croatia: From Nationalist to Europeanist. New York: Palgrave Macmillan, 2006 ISBN 1-4039-7286-9 Glenny, Mischa: The Balkans: Nationalism, War and the Great Powers, 1804-1999 (London: Penguin Books Ltd, 2000) Glenny, Mischa: The fall of Yugoslavia: The Third Balkan War, ISBN 0-14-026101-X Gutman, Roy.: A Witness to Genocide. The 1993 Pulitzer Prize-winning Dispatches on the "Ethnic Cleansing" of Bosnia. New York: Macmillan, 1993 Hall, Brian: The Impossible Country: A Journey Through the Last Days of Yugoslavia. Penguin Books. New York, 1994 Harris, Judy J.: Yugoslavia Today. Southern Social Studies Journal 16 (Fall 1990): 78-101. EJ 430 520 Hayden, Robert M.: Blueprints for a House Divided: The Constitutional Logic of the Yugoslav Conflicts. Ann Arbor: University of Michigan Press, 2000 Hoare, Marko A., A History of Bosnia: From the Middle Ages to the Present Day. London: Saqi, 2007 Jelavich, Barbara: History of the Balkans: Eighteenth and Nineteenth Centuries, Volume 1. New York: American Council of Learned Societies, 1983 ED 236 093 Jelavich, Barbara: History of the Balkans: Twentieth Century, Volume 2. New York: American Council of Learned Societies, 1983. ED 236 094 Kohlmann, Evan F.: Al-Qaida's Jihad in Europe: The Afghan-Bosnian Network Berg, New York 2004, ISBN 1-85973-802-8; ISBN 1-85973-807-9 Lampe, John R: Yugoslavia As History: Twice There Was a Country Great Britain, Cambridge, 1996, ISBN 0-521-46705-5 Owen, David: Balkan Odyssey Harcourt (Harvest Book), 1997 Ramet, Sabrina: The Three Yugoslavias: State-building and Legitimation, 1918-2003. Bloomington: Đại học Indiana Press, 2006 Sacco, Joe: Safe Area Gorazde: The War in Eastern Bosnia 1992-1995. Fantagraphics Books, January 2002 Silber, Laura and Allan Little:Yugoslavia: Death of a Nation. New York: Penguin Books, 1997 West, Rebecca: Black Lamb and Gray Falcon: A Journey Through Yugoslavia. Viking, 1941 White, T.: Another fool in the Balkans - in the footsteps of Rebbecca West. Cadogan Guides, London, 2006 Time homepage: New Power == Liên kết ngoài == Congressional Research Service (CRS) Reports regarding Yugoslavia European University Institute Yugoslavia Maps Slobodna Jugoslavija Teaching about Conflict and Crisis in the Former Yugoslavia The First Yugoslavia: Search for a Viable Political System, by Alex N. Dragnich The Official Website of the Royal Family of Serbia Timeline: Break-up of Yugoslavia at BBC News "Where the West went wrong": an article in the TLS by Charles King about the dissolution of Yugoslavia. "Yugoslavia: the outworn structure" (CIA) Report from November 1970
các định luật của newton về chuyển động.txt
Bài này nói về các định luật Newton trong cơ học. Xem các định luật khác mà Newton đã phát biểu cho các lĩnh vực khác tại định luật Newton (định hướng) Các định luật của Newton về chuyển động (gọi tắt là các định luật Newton) là tập hợp ba định luật cơ học phát biểu bởi nhà bác học người Anh Isaac Newton, đặt nền tảng cho cơ học cổ điển (còn gọi là cơ học Newton). Các định luật Newton được công bố lần đầu tiên năm 1687 trong cuốn Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (Các nguyên lý toán học trong triết học tự nhiên, vật lý từng được xem là môn triết học về tự nhiên). Ba định luật cơ bản này cùng với một định luật nổi tiếng khác của Newton, định luật vạn vật hấp dẫn, lần đầu tiên giải thích khá thuyết phục các quan sát của Kepler về chuyển động của các hành tinh. Ba định luật của Newton về chuyển động được phát biểu (lần đầu tiên) như sau: Định luật 1 Newton: Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng không thì nó giữ nguyên trạng thái đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều. Định luật 2 Newton: Gia tốc của một vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc tỉ lệ thuận với độ lớn của lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật. Định luật 3 Newton: Trong mọi trường hợp, khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này có cùng giá trị, cùng độ lớn, nhưng ngược chiều. Trải qua mấy thế kỷ, mặc dù ba định luật của Newton được phát biểu theo nhiều hình thức khác nhau nhưng bản chất không có gì thay đổi. == Định luật 1 == Định luật 1 Newton bắt nguồn từ một phát biểu trước đó của Galileo Galilei và còn được gọi là định luật quán tính. Định luật quán tính nêu lên một đặc tính quan trọng của một vật chuyển động, đó là khuynh hướng giữ nguyên trạng thái chuyển động (quán tính). Trạng thái chuyển động ở đây được đặc trưng bởi vận tốc (hay tổng quát là động lượng) của chuyển động. Nếu không chịu tác dụng bởi một tổng hợp lực có giá trị khác không thì một vật đang đứng yên sẽ đứng yên mãi mãi, và một vật đang chuyển động sẽ chuyển động thẳng đều mãi mãi. Định luật 1 chỉ ra rằng lực không phải là nguyên nhân cơ bản gây ra chuyển động của các vật, mà đúng hơn là nguyên nhân gây ra sự thay đổi trạng thái chuyển động (thay đổi vận tốc/động lượng của vật). Nếu không xét tới các lực quán tính, định luật 1 của Newton chỉ nghiệm đúng trong các hệ quy chiếu quán tính, tức là hệ quy chiếu có vận tốc không đổi. Nếu áp dụng định luật này đối với các hệ quy chiếu phi quán tính, chúng ta phải thêm vào lực quán tính. Khi đó, tổng lực bằng lực cơ bản cộng lực quán tính. Trong thực tế, không có hệ quy chiếu nào là hệ quy chiếu quán tính hoàn toàn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cụ thể, một hệ quy chiếu có thể coi gần đúng là hệ quy chiếu quán tính. Ví dụ, khi xét chuyển động của các vật trên bề mặt Trái đất, người ta thường xem hệ quy chiếu gắn với mặt đất như một hệ quy chiếu quán tính. == Định luật 2 == Định luật 2 Newton được viết dưới dạng toán học như sau: F → = d p → d t {\displaystyle {\vec {F}}={\frac {d{\vec {p}}}{dt}}} Với: F → {\displaystyle {\vec {F}}} là tổng ngoại lực tác dụng lên vật (trong SI, lực đo bằng đơn vị N) p → {\displaystyle {\vec {p}}} là động lượng của vật (trong SI, động lượng đo bằng đơn vị kg m/s) t là thời gian (trong SI, thời gian đo bằng đơn vị s) Phương trình toán học trên đưa ra một định nghĩa cụ thể và chính xác cho khái niệm lực. Lực, trong vật lý, được định nghĩa là sự thay đổi của động lượng trong một đơn vị thời gian. Như vậy, tổng ngoại lực tác dụng lên một vật tại một thời điểm nhất định (lực tức thời) được biểu thị bởi tốc độ thay đổi động lượng của vật tại thời điểm đó. Động lượng của vật biến đổi càng nhanh khi ngoại lực tác dụng lên vật càng lớn và ngược lại. Ngoài việc đưa ra định nghĩa cho lực, định luật 2 Newton còn là nền tảng của định luật bảo toàn động lượng và định luật bảo toàn cơ năng. Hai định luật này có ý nghĩa quan trọng trong việc đơn giản hóa nghiên cứu về chuyển động và tương tác giữa các vật. === Định luật 2 Newton trong cơ học cổ điển === Trong cơ học cổ điển, khối lượng có giá trị không đổi, bất kể chuyển động của vật. Do đó, phương trình định luật 2 Newton trở thành: F → = d p → d t = d m v → d t = m d v → d t {\displaystyle {\vec {F}}={\frac {d{\vec {p}}}{dt}}={\frac {dm{\vec {v}}}{dt}}=m{\frac {d{\vec {v}}}{dt}}} F → = m a → {\displaystyle {\vec {F}}=m{\vec {a}}} Với: m là khối lượng của vật (trong SI, khối lượng đo bằng đơn vị kg) a → {\displaystyle {\vec {a}}} là gia tốc của vật (trong SI, gia tốc đo bằng đơn vị m/s2). Như vậy trong cơ học cổ điển, tổng ngoại lực bằng tích của khối lượng và gia tốc. Cũng trong cơ học cổ điển, khi không xét tới lực quán tính, định luật 2, giống như định luật 1, chỉ đúng trong hệ quy chiếu quán tính. Khi áp dụng cho hệ quy chiếu không quán tính, cần thêm vào lực quán tính. === Định luật 2 Newton trong thuyết tương đối hẹp === Trong thuyết tương đối hẹp, định luật 2 Newton được mở rộng để áp dụng cho liên hệ giữa lực-4 và động lượng-4 hay gia tốc-4: F a = d P a d τ {\displaystyle F^{a}={\frac {dP^{a}}{d\tau }}} F a = m 0 A a {\displaystyle F^{a}=m_{0}A^{a}} == Định luật 3 == Định luật 3 Newton chỉ ra rằng lực không xuất hiện riêng lẻ mà xuất hiện theo từng cặp động lực-phản lực. Nói cách khác, lực chỉ xuất hiện khi có sự tương tác qua lại giữa hai hay nhiều vật với nhau. Cặp lực này, định luật 3 nói rõ thêm, là cặp lực trực đối. Chúng có cùng độ lớn nhưng ngược chiều nhau. Trong tương tác giữa hai vật A và B, nếu A tác dụng một lực F → A B {\displaystyle {\vec {F}}_{AB}} lên B, thì B cũng gây ra một lực F → B A {\displaystyle {\vec {F}}_{BA}} lên A và F → A B = F → B A {\displaystyle {\vec {F}}_{AB}={\vec {F}}_{BA}} . Hơn nữa, trong tương tác, A làm thay đổi động lượng của B bao nhiêu thì động lượng của A cũng bị thay đổi bấy nhiêu theo chiều ngược lại. == Xem thêm == Cơ học cổ điển Hệ quy chiếu Lực quán tính Vận tốc Gia tốc Động lượng Định luật bảo toàn động lượng Định luật bảo toàn cơ năng == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
tài khoản vãng lai (ngân hàng).txt
Trong hoạt động ngân hàng, một tài khoản vãng lai là một tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nào đó, với mục đích cung ứng một cách nhanh chóng và an toàn phương tiện tiếp cận thường xuyên tới các món tiền gửi theo nhu cầu, thông qua một loạt các kênh khác nhau. Vì thế, tài khoản này có tên khác là Tài khoản thanh toán. == Các đặc trưng và tiếp cận == Tài khoản vãng lai cho phép chủ tài khoản thực hiện hay nhận các khoản thanh toán bằng một trong các hình thức sau, tùy theo quốc gia: Tiền mặt (giấy bạc) Séc và Phiếu gửi tiền (giấy tờ cam kết thanh toán) Chuyển khoản (giro, ký quỹ trực tiếp) Ghi nợ trực tiếp/ghi có trực tiếp (tại Anh và các nước trong khối Thịnh vượng chung người ta sử dụng hệ thống BACS-Bankers Automated Clearing Services hay CHAPS-Clearing House Automated Payment System). Chỉ thị hiện hành (chỉ dẫn từ phía chủ tài khoản đối với ngân hàng để chuyển một khoản tiền nhất định sau một khoảng thời gian nhất định sang một/nhiều tài khoản khác) Thẻ ghi nợ hay thẻ ATM EFTPOS (thanh toán trực tiếp không sử dụng tiền mặt tại cửa hàng) Thông qua hệ thống SWIFT (tài khoản của ngân hàng ở ngân hàng nước ngoài để chuyển khoản). Một số các phương thức thanh toán là hoàn toàn có tính chất cục bộ theo từng quốc gia. Tại Vương quốc Anh, hệ thống BACS cung cấp các dịch vụ giro chỉ sau vài ngày trong khi CHAPS thực hiện điều đó chỉ trong ngày, nhưng với phí cao hơn, tới £25 cho một lần chuyển khoản. Canada có dịch vụ Email Money Transfer (chuyển tiền bằng thư điện tử) trên ngân hàng trực tuyến và Hoa Kỳ có e-check (Séc điện tử). Tất cả các tài khoản vãng lai đều cung cấp các danh sách liệt kê các khoản giao dịch tài chính, hoặc là dưới dạng bản kê tài khoản hoặc là trong sổ tiền gửi. Có một số phương thức để tiếp cận các khoản tiền gửi tại tài khoản vãng lai: Các chi nhánh của ngân hàng Máy rút tiền tự động (ATM) Thông qua điện thoại và ngân hàng trực tuyến Nghiệp vụ ngân hàng thư Các cửa hàng và các nhà buôn cung cấp cách tiếp cận EFTPOS. == Vay mượn thông qua tài khoản vãng lai == Cách tiếp cận đối với vấn đề số dư tài khoản âm tại các tài khoản vãng lai thay đổi theo từng quốc gia cũng như theo lịch sử văn hóa của họ trong lĩnh vực nghiệp vụ ngân hàng. Tại UK, gần như toàn bộ các tài khoản vãng lai đều cung cấp tiện ích bội chi có thỏa thuận trước với số tiền bội chi tối đa dựa trên lịch sử năng lực cũng như lịch sử tín dụng. Tiện ích bội chi này có thể sử dụng bất kỳ lúc nào kèm theo sự tham khảo ý kiến của ngân hàng và có thể được duy trì không xác định thời hạn (phải được xem xét theo các điều kiện phi thể thức (ad hoc)). Mặc dù tiện ích bội chi có thể là được phép, nhưng về mặt kỹ thuật thì tiền là được hoàn lại theo yêu cầu của ngân hàng. Trong thực tế, điều này hiếm khi xảy ra do các khoản bội chi đem lại lợi nhuận cho ngân hàng và nó là tốn kém đối với khách hàng. Tại Bắc Mỹ, bảo vệ bội chi là một nét đặc biệt tùy chọn đối với các tài khoản vãng lai. Chủ tài khoản có thể áp dụng điều đó một cách thường xuyên, hoặc là tổ chức tài chính có thể, với sự xem xét của chính mình, đưa ra bội chi tạm thời trên cơ sở phi thể thức. == Lãi suất == Không giống như các tài khoản tiền gửi tiết kiệm trong đó lý do chủ yếu để gửi tiền là để sinh lãi, chức năng chính của tài khoản vãng lai là giao dịch, vì thế phần lớn các nhà cung cấp tài khoản vãng lai hoặc là không trả tiền lãi hoặc là trả lãi ở mức lãi suất thấp hơn trên số dư có. Các tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tập trung, điện thoại, internet hay bưu chính có xu hướng trả mức lãi suất cao hơn. Tại UK, một số ngân hàng trực tuyến cũng đưa ra các mức lãi suất cao như dành cho nhiều loại tài khoản tiết kiệm cùng với việc miễn phí nghiệp vụ ngân hàng (không thu phí giao dịch). Tại Hoa Kỳ, các loại tài khoản vãng lai có trả lãi được gọi là Negotiable Order of Withdrawal account (NOW account-chỉ thị chuyển đổi cho tài khoản rút tiền) để phân biệt nó với loại tài khoản vãng lai kiểu cũ không chi trả tiền lãi, do nó đã bị luật pháp cấm cho tới tận thập niên 1990. == Phí dịch vụ == Chính sách tính phí để thực hiện các giao dịch tài chính phụ thuộc vào một loạt các yếu tố, bao gồm các mức lãi suất tổng thể đối với việc cho vay và tiết kiệm của mỗi quốc gia, cũng như phụ thuộc vào giá trị của giao dịch và số lượng các kênh tiếp cận nguồn tiền gửi mà tổ chức tài chính đó cung cấp. Điều đó giải thích tại sao các loại ngân hàng ảo, hoạt động với rất ít hoặc không có các chi nhánh lại có thể đưa ra các nghiệp vụ ngân hàng với mức phí thấp hoặc miễn phí cũng như giải thích tại sao ở một số quốc gia thì không có các khoản phí giao dịch nhưng mức lãi suất cho vay rất cao lại là một tiêu chuẩn. Các khoản phí giao dịch tài chính có thể được tính theo từng khoản mục giao dịch hoặc tính theo tỷ lệ cố định cho một số lượng giao dịch nhất định nào đó (thông thường tính trên cơ sở hàng tháng). Thông thường, đối với một loạt các loại khách hàng nào đó, tổ chức tài chính có thể không thu phí đối với các giao dịch tài chính cơ bản, chẳng hạn như đối với tầng lớp sinh viên, thanh niên, người già hay các khách hàng có số tiền gửi rất lớn chẳng hạn. Một số tổ chức tài chính còn đưa ra các giao dịch miễn phí nếu khách hàng duy trì số dư trung bình rất cao trong tài khoản của mình. Các khoản phí dịch vụ khác được áp dụng đối với sự bội chi, hay khi số dư tiền gửi không đủ để thanh toán séc, cũng như khi sử dụng mạng liên ngân hàng bên ngoài v.v. Tại các quốc gia mà ở đó không có các khoản phí dịch vụ đối với các giao dịch thì người ta lại thu phí hàng năm đối với các dịch vụ tuần hoàn, chẳng hạn như thẻ ghi nợ. == Xem thêm == Tài khoản tiết kiệm Tiền gửi giao dịch
bóng ném.txt
Bóng ném là môn thể thao đồng đội, trong đó hai đội mỗi đội có bảy cầu thủ (sáu cầu thủ trên sân và thủ môn) cố gắng ném một quả bóng vào gôn của đối thủ. Đội nào ném được nhiều lần bóng vào cầu môn đội kia trong hai hiệp mỗi hiệp 30 phút sẽ là đội giành chiến thắng. Bóng ném hiện đại thường được chơi trong nhà, nhưng các biến thể bóng đá ngoài trời vẫn tồn tại dưới hình thức ném ngoài sân (loại bóng ném đã phổ biến hơn trong quá khứ) và bóng ném bãi biển. Bóng ném Mỹ và bóng ném Gaelic là môn thể thao hoàn toàn khác nhau. Môn bóng ném chơi với tốc độ là khá nhanh và có va chạm do các hậu vệ cố gắng ngăn chặn những cầu thủ tấn công không được cận mục tiêu. Va chạm cầu thủ chỉ được phép khi các cầu thủ phòng thủ hoàn toàn ở phía trước của các cầu thủ tấn công, tức là giữa các cầu thủ tấn công và gôn. Điều này được gọi là một bánh kẹp sandwich cầu thủ. Bất kỳ sự va chạm từ phía bên hoặc đặc biệt là từ phía sau được xem là nguy hiểm và thường chịu hình phạt. Khi hậu vệ cản phá thành công một cầu thủ tấn công, cuộc chơi được dừng lại và khởi động lại bởi đội tấn công từ vị trí của infraction hoặc trên dòng 9 mét. Không giống như trong bóng rổ, nơi người chơi được phép cam kết chỉ có 5 lỗi trong một trò chơi (6 trong NBA), cầu thủ bóng ném được cho phép một số lượng không giới hạn của "lỗi lầm", được coi là phòng thủ tốt và gây gián đoạn cho nhịp điệu tấn công của đội. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
trường phổ thông năng khiếu, đại học quốc gia thành phố hồ chí minh.txt
Phổ thông Năng khiếu (tiếng Anh: VNU-HCM High School for the Gifted) là trường phổ thông chuyên trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và đi vào hoạt động từ năm 1996. Tên trường, nhằm phân biệt với các trường cấp ba chỉ trực thuộc Sở Giáo dục, không có chữ "trung học". == Lịch sử == Trường Phổ thông Năng khiếu nguyên là khối chuyên Toán – Tin thuộc Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, được thành lập ngày 14 tháng 7 năm 1993. Đến năm 1996, khối chuyên Toán - Tin được tách ra hẳn thành 1 trường độc lập, chịu sự quản lý hành chính từ Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và quản lý chuyên môn từ Sở Giáo dục - Đào tạo. Trường Phổ Thông Năng Khiếu thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh được thành lập ngày 4/7/1996 theo quyết định số 2693/GD-ĐT do Bộ trưởng Trần Hồng Quân ký. == Đào tạo == Trường có nhiệm vụ phát hiện và đào tạo học sinh có năng khiếu, chuẩn bị cho học sinh có vốn kiến thức và phương pháp tư duy sáng tạo để học tốt bậc đại học và các bậc học cao hơn, để trở thành những nhà khoa học, những chuyên gia giỏi phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đồng thời trường cũng tạo nguồn sinh viên giỏi cho các trường đại học và tạo nguồn cung cấp thành viên cho các đội tuyển Quốc gia dự thi Olympic Quốc tế. Qua các kì thi Olympic quốc tế, trường đã đạt 32 huy chương, gồm 5 huy chương vàng, 16 huy chương bạc, 11 huy chương đồng. Từ năm 1995 đến nay, Trường Phổ thông năng khiếu đã có 767 học sinh giỏi cấp quốc gia, gồm 33 giải nhất, 165 giải nhì, 336 giải ba và 233 giải khuyến khích. Bên cạnh đó còn đạt rất nhiều huy chương Olympic truyền thống 30/4, các giải học sinh giỏi cấp thành phố... Trường Phổ thông năng khiếu đã 10 năm liền từ 2004 đến 2014 đạt tỷ lệ 100% tốt nghiệp trung học phổ thông. Năm năm liền từ 2012 đến 2016 đạt điểm trung bình cao nhất nước trong kỳ thi tuyển sinh đại học hằng năm. ==== Tuyển sinh ==== Trường chủ trương tổ chức kì thi tuyển sinh lớp 10 riêng độc lập với kì thi của Sở Giáo dục, thông thường vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6. Theo đó, học sinh sẽ phải thi ba môn gồm toán, văn, anh cùng ít nhất một môn chuyên tự chọn. Đề tuyển sinh của trường nổi tiếng về mức độ đánh đố học sinh vì đối tượng thi tuyển vào trường đa phần đến từ các trường trung học cơ sở chuyên trong thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả và điểm chuẩn sẽ được công bố khoảng một tháng sau. Trong trường hợp đỗ nhiều lớp chuyên, học sinh sẽ tự chọn học một lớp chuyên theo nguyện vọng. Ngoài ra, điểm chuẩn của hai cơ sở có sự khác biệt; thí sinh không đậu vào cơ sở 1 vẫn có thể đậu cơ sở 2. ==== Dạy và Học ==== Trường Phổ Thông Năng Khiếu - ĐHQG TPHCM là một trường trung học phổ thông chuyên nằm trong trường đại học. Học sinh trường Phổ thông Năng Khiếu được học đủ các môn như học sinh các trường trung học phổ thông khác, riêng các môn chuyên và các môn cận chuyên được tăng tiết để học sâu hơn, kĩ hơn. Học sinh được tổ chức học Tin học, Tiếng Anh và được sử dụng các phòng thí nghiệm, phòng Lab hiện đại của trường Phổ thông năng khiếu và Đại học Khoa học Tự nhiên. Ngoài ra nhà trường có chiến lược giảng dạy từ khi vào trường cho tới hết lớp 12 để học sinh có kết quả tốt nhất trong các kì thi Tốt nghiệm THPT và Tuyển sinh Đại học. Các học sinh có năng khiếu được tổ chức bồi dưỡng thêm để tham dự tốt các kỳ thi Học sinh giỏi Quốc gia, các kỳ thi Olympic quốc tế. Mọi học sinh được hướng dẫn, rèn luyện để dần dần hình thành phong các tự học, độc lập suy nghĩ, có tư duy sáng tạo. Học sinh của trường được học tập trong một môi trường lành mạnh, thân thiện. Do có thành tích tốt về các mặt, năm 2005 trường Phổ thông năng khiếu được tặng Huân Chương Lao động Hạng Ba và năm 2010 được tặng Huân Chương Lao động Hạng Nhì. ==== Học bổng và Chính sách hỗ trợ tài chính ==== Học sinh trường Phổ Thông Năng Khiếu được hưởng các quyền lợi như sinh viên các trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia TP.HCM. Các học sinh học tập xuất sắc, nhà xa được xét cho ở nội trú tại ký túc xá của trường. Chế độ học bổng đối với các học sinh trường được thực hiện theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các học sinh các khối chuyên tại các trường đại học; học sinh có hạnh kiểm tốt, học lực giỏi và điểm môn chuyên đạt từ 8,5 trở lên được xét cấp học bổng. Học sinh PTNK còn có cơ hội nhận những học bổng du học tại các trường đại học danh tiếng ở Singapore, Nhật Bản, Úc, Anh, Hoa Kỳ,... Ngoài ra, các học sinh xuất sắc, học sinh giỏi có hoàn cảnh khó khăn còn được nhận học bổng từ các tổ chức giáo dục như Quỹ Hỗ trợ Cộng đồng Lawrence S.Ting, Odon Vallet,... Với những thành tích đó, thầy và trò Trường Phổ Thông Năng Khiếu đã, đang và sẽ viết tiếp những trang đáng tự hào về ngôi trường thân yêu này, xứng đáng là một địa chỉ đáng tin cậy của phụ huynh và đào tạo ra những nhân tài cho Tổ quốc. == Cơ sở == Ngoài cơ sở chính nằm ở khu vực quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, trường Phổ thông Năng khiếu đã bắt đầu đưa cơ sở 2 phân hiệu Đông Hoà ở phường Linh Trung, Thủ Đức vào hoạt động. Cơ sở 2 này bắt đầu tuyển sinh từ năm 2014. ==== Cơ sở 1 ==== Đặt ở 153 Nguyễn Chí Thanh - Quận 5, cơ sở 1 của trường Phổ Thông Năng Khiếu gồm có 2 tòa nhà: nhà B có 5 tầng, khu nhà A gồm 8 tầng.Trường hiện có 37 phòng học, 3 phòng thí nghiệm, 1 thư viện, 1 phòng nghe nhìn, 5 phòng dạy máy tính, 16 phòng làm việc, 1 hội trường 300 chỗ, 2 phòng họp. Ngoài ra, trường có một căn tin phục vụ ăn uống cho giáo viên và học sinh. Tổng diện tích sàn là 7350 m². Trường còn có một sân chơi và sinh hoạt 650 m², một sàn tập thể dục – thể thao 750 m². ==== Cơ sở 2 ==== Cơ sở II của trường Phổ Thông Năng Khiếu đặt tại khu phố 6, phường Linh Trung, Thủ Đức trong khuôn viên Đại học Quốc gia. Trường có diện tích 20.923 m², riêng diện tích xây dựng là 4.423 m². Với một tòa nhà 4 lầu cùng 1 sân cầu lông, cơ sở II của trường đã bắt đầu đi vào hoạt động từ năm học 2014-2015. == Thành tích == Trường thường xuyên nằm trong danh sách các trường có điểm trung bình thi đại học cao nhất cả nước. Các học sinh do trường được tổ chức đào tạo thường có thành tích tốt trong các kì thi học thuật quốc gia và quốc tế dành cho khối phổ thông. ==== Tốt nghiệp trung học phổ thông ==== ==== Xếp hạng Trường Phổ Thông Năng khiếu theo điểm thi tuyển sinh Đại học-Cao đẳng (Số liệu của Bộ GD&ĐT) ==== ==== Giải Olympic quốc tế 2012-2015 ==== Năm 2012: Trần Hoàng Bảo Linh: Huy chương Đồng Olympic Toán học Quốc tế lần thứ 53 tại Argentina. Năm 2013: Phạm Tuấn Huy: Huy chương Vàng Olympic Toán học Quốc tế lần thứ 54 tại Columbia. Cấn Trần Thành Trung: Huy chương Vàng Olympic Toán học Quốc tế lần thứ 54 tại Columbia. Nguyễn Hồ Nam: Bằng khen Olympic Vật lý châu Á lần thứ 14 tại Indonesia. Năm 2014: Phạm Tuấn Huy: Huy chương Vàng Olympic Toán học Quốc tế lần thứ 55 tại Nam Phi. Hồ Quốc Đăng Hưng: Huy chương Bạc Olympic Toán học Quốc tế lần thứ 55 tại Nam Phi. Phạm Nguyễn Tuấn Anh: Huy chương Bạc Olympic Vật lý Quốc tế lần thứ 45 tại Kazakhstan. Huy chương Bạc Olympic Vật lý châu Á lần thứ 15 tại Singapore. Cao Văn Nam: Huy chương Đồng Olympic Vật lý châu Á lần thứ 15 tại Singapore. Năm 2015: (tính tới thời điểm hiện tại, vì còn 3 học sinh nữa là thành viên đội tuyển Việt Nam tham dự kỳ thi Olympic Tin học châu Á (APIO) 2015) Nguyễn Huy Hoàng: Huy chương Bạc Olympic Toán Quốc tế lần thứ 56 tại Thái Lan. ==== Đường lên đỉnh Olympia ==== == Ghi nhận == 2003–2004: Huân chương Lao động hạng Ba 2001–2002 và 2006–2007: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
oslo airport, gardermoen.txt
Oslo Airport, Gardermoen là một làng nằm ở Na Uy. == Xem thêm == Danh sách các bản ở Na Uy == Tham khảo ==
1922.txt
1922 (số La Mã: MCMXXII) là một năm thường bắt đầu vào Chủ Nhật trong lịch Gregory. == Sự kiện == === Tháng 1 === 1 tháng 1: Hồ Nam tuyên bố tự trị === Tháng 2 === 3 tháng 2: Thành lập đại học địa chất tại Bắc Kinh 16 tháng 2: Đại hội đại biểu toàn quốc đảng Cộng sản Trung Quốc họp lần thứ 2 tại Thượng Hải === Tháng 3 === 1 tháng 3: Quân Anh đàn áp công nhân bãi công === Tháng 4 === 1 tháng 4: Xuất bản số báo đầu tiên của tờ báo Người cùng khổ do Nguyễn Ái Quốc là chủ nhiệm kiêm chủ bút. 29 tháng 4: Trương Tác Lâm thất bại trong đại chiến Trực Phụng lần thứ nhất === Tháng 5 === 4 tháng 5: Tôn Trung Sơn một lần nữa hạ lệnh chỉ huy bắc phạt quân phiệt. 5 tháng 5: Trương Tác Lâm tuyên bố Mãn Châu và Mông Cổ độc lập. 20 tháng 5: Khải Định sang Pháp dự hội chợ thuộc địa tại Marseille === Tháng 6 === 3 tháng 6: Tại Áo Môn, 3 vạn công nhân bãi công 11 tháng 6: Tại Bắc Kinh, Lê Nguyên Hồng nhậm chức tổng thống Trung Hoa Dân Quốc === Tháng 7 === 2 tháng 7: Quân Bắc phạt trở về đánh dẹp Trần Huỳnh Minh. 15 tháng 7: Đảng Cộng sản Nhật Bản thành lập === Tháng 8 === 2 tháng 8: Tại Giang Tây, xảy ra binh biến Cửu Giang. === Tháng 9 === 4 tháng 9: Tôn Trung Sơn quyết định cải tổ Quốc Dân đảng === Tháng 10 === 4 tháng 10: Công nhân tại Sơn Hải Quan bãi công 23 tháng 10: Mao Trạch Đông lãnh đạo công nhân bãi công tại Trường Sa === Tháng 12 === 30 tháng 12 - Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời == Sinh == 15 tháng 1 - Đoàn Trọng Truyến, Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Việt Nam 13 tháng 8 - Y Ngông Niê Kdăm, là một trí thức, Bác sĩ, nhà giáo nhân dân người dân tộc Êđê của Việt Nam (mất 2001). == Mất == == Giải Nobel == Vật lý - Niels Henrik David Bohr Hóa học - Francis William Aston Sinh lý học hoặc Y học - Archibald Vivian Hill, Otto Fritz Meyerhof Văn học - Jacinto Benavente Hòa bình - Fridtjof Nansen == Xem thêm == == Tham khảo ==
leskeodon paisa.txt
Leskeodon paisa là một loài rêu trong họ Daltoniaceae. Loài này được S.P. Churchill mô tả khoa học đầu tiên năm 1986. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Leskeodon paisa tại Wikimedia Commons Dữ liệu liên quan tới Leskeodon paisa tại Wikispecies Vườn Bách thảo Missouri (biên tập). “Leskeodon paisa”. Tropicos. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2014.
câu lạc bộ bóng đá trẻ shb đà nẵng.txt
Câu lạc bộ bóng đá trẻ SHB Đà Nẵng từng là tuyển trẻ của câu lạc bộ SHB Đà Nẵng. Đội bóng hiện đã giải thể từ cuối năm 2012. == Lịch sử == Câu lạc bộ bóng đá Trẻ SHB Đà Nẵng tiền thân là đội bóng đá Quân khu 5. Đội bóng quân khu 5 vô địch giải hạng nhì quốc gia 2005 và giành quyền thăng hạng nhất từ mùa bóng 2006. Kết thúc mùa giải 2008 cả hai đội bóng quân khu 5 và quân khu 7 cùng bị xuống hạng nhì. Đến trước mùa giải 2011, CLB bóng đá QK5 đổi tên thành Trẻ SHB Đà Nẵng sau khi Sở thể dục thể thao TP Đà Nẵng chuyển giao đội bóng cho Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB). Trước khi giải bóng đá hạng nhì quốc gia 2011 khởi tranh vài ngày, câu lạc bộ chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động sang thành Công ty Cổ phần Thể thao. Kết thùa mùa giải 2011 đội bóng vô địch và giành quyền thăng giải hạng nhất quốc gia 2012. Mùa bóng 2012 lần đầu tiên chơi bóng ở giải đấu cao thứ nhì quốc nội, đội bóng đá trụ hạng thành công với vị trí thứ 7 chung cuộc. Trước thềm giải bóng đá hạng nhất quốc gia 2013, trẻ SHB Đà Nẵng chính thức bị giải tán. == Thành tích == === Cấp quốc gia === Giải bóng đá hạng nhất quốc gia Việt Nam: Xếp Hạng (10): 2006 Xếp Hạng (12): 2007 Xếp Hạng (13): 2008 Xếp Hạng (7): 2012 Giải vô địch bóng đá hạng nhì Việt Nam: Vô địch (2): 2005, 2011 === Giải giao hữu === Cúp Hùng Vương: Vô địch (1): 2012 Đội Hình Hiện Tại Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Thành phần ban huấn luyện == == Logo của câu lạc bộ == == Xem thêm == Câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Diễn đàn người hâm mộ bóng đá Đà Nẵng
585 bilkis.txt
585 Bilkis là một tiểu hành tinh ở vành đai chính. Nó được A. Kopff phát hiện ngày 16.2.1906 ở Heidelberg và được đặt theo tên Bilqis, Balqis hoặc Balkis, tên tiếng Quranic của nữ hoàng Sheba trong Thánh Kinh == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Orbital simulation from JPL (Java) / Ephemeris Phát hiện Circumstances: Numbered Minor Planets
biển.txt
Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc là các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên như biển Caspi, biển Chết. Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên ra biển cả như biển Galilee ở Israel là một hồ nước ngọt nhỏ không có đường thông tự nhiên ra đại dương hay Biển Hồ ở Campuchia. Thuật ngữ này được sử dụng trong đời sống thông thường như một từ đồng nghĩa với đại dương, như trong các câu biển nhiệt đới hay đi ra bờ biển, hoặc cụm từ nước biển là chỉ một cách rõ nét tới các vùng nước của đại dương nói chung. Các ion phong phú nhất trong nước biển là clo và natri. Nước biển còn có magiê, sulfat, canxi, kali, và nhiều thành phần khác, một số có hàm lượng rất nhỏ. Độ mặn của nước biển thay đổi rất lớn. Biển có độ mặn thấp ở những lớp nước gần bề mặt và các cửa sông lớn, và cao hơn theo chiều sâu của đại dương, tuy nhiên, tỷ lệ tương đối của các muối hòa tan thay đổi nhỏ trên khắp các đại dương. Carbon dioxide từ không khí hiện đang được hấp thụ bởi biển với số lượng tăng dần, làm giảm độ pH nước biển trong một quá trình được gọi là axít hóa đại dương, quá trình này có khả năng gây thiệt hại cho các hệ sinh thái biển trong tương lai gần. Gió thổi trên bề mặt biển tạo ra sóng, mà chúng sẽ vỡ khi chạm đến đới nước nông. Gió cũng tạo ra các dòng chảy mặt do ma sát, vận tốc vận chuyển chậm nhưng đi khắp các đại dương. Hướng dòng chảy được điều chỉnh bởi các yếu tố bao gồm cả các hình dạng của các châu lục và sự quay của trái đất (các lực Coriolis) dòng biển sâu, được gọi là dòng muối nhiệt, mang nước lạnh từ gần các cực đến tất cả các đại dương. Thủy triều thường dâng lên và hạ xuống 2 lần mỗi ngày, được gây ra bởi sự quay của Trái Đất và các tác động trọng lực của Mặt Trăng quay xung quanh, và ở mức ảnh hưởng ít hơn từ Mặt Trời. Thủy triều có thể có độ cao lớn ở các vịnh hoặc các cửa sông. Sóng thần có thể được gây ra bởi các trận động đất dươi biển phát sinh từ sự chuyển động của các mảng kiến ​​tạo chuyển động, các vụ phun trào núi lửa, lở đất lớn, hoặc tác động lớn do thiên thạch. Biển có đa dạng về sự sống bao gồm virus, vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo, thực vật, nấm và động vật sống ở biển, trong đó cung cấp một loạt các sinh cảnh và hệ sinh thái biển thay đổi từ bề mặt nước biển ngập nắng đến các độ sâu rất lớn với áp lực lớn của đáy biển sâu tối và lạnh. Biển cũng thay đổi theo vĩ độ từ vùng nước lạnh bên dưới lớp băng Bắc cực đến đa dạng đầy màu sắc của các rạn san hô ở vùng nhiệt đới. Nhiều nhóm lớn các sinh vật đã tiến hóa từ biển và nguồn gốc sự sống có thể đã bắt đầu từ đó. Biển cung cấp cho con người những thực phẩm đáng kể, chủ yếu là cá, động vật giáp xác, động vật có vú và rong biển thông qua đánh bắt trong tự nhiên hoặc nuôi nhân tạo. Việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thực phẩm này đã trở thành một vấn đề lớn. Biển cũng phục vụ các mục đích khác, bao gồm cả thương mại, du lịch, khai thác khoáng sản dưới biển, điện, chiến tranh, và các hoạt động thư giãn ví dụ như bơi, lướt sóng, thuyền và lặn biển. Biển cũng bị ô nhiễm. Biển đã đóng một phần quan trọng về văn hóa trong suốt chiều dài lịch sử, với sự xuất hiện quan trọng trong văn học, xa nhất là từ tác phẩm Odyssey của Homer, trong nghệ thuật, trong rạp chiếu phim, ở sân khấu, và trong âm nhạc cổ điển. Về biểu tượng, ​​biển xuất hiện như là quái vật như Scylla trong thần thoại và đại diện cho vô thức trong giải mộng. == Định nghĩa == Biển là hệ thống kết nối của tất cả các vùng chứa nước của Trái Đất, bao gồm năm đại dương lớn: Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Nam Băng Dương và Bắc Băng Dương. Từ "biển" được sử dụng trong tên của một vùng nước mặn cụ thể, nhỏ hơn, chẳng hạn như Biển Bắc hoặc Biển Đỏ. Không có sự phân biệt rõ ràng giữa biển và đại dương, mặc dù vùng biển nhỏ hơn, và là một phần hoặc toàn bộ giáp với đất liền. Tuy nhiên, biển Sargasso không có bờ biển và nằm trong một dòng chảy Bắc Đại Tây Dương. Biển nói chung là lớn hơn so với hồ và chứa nước mặn, nhưng biển Galilee là một hồ nước ngọt. Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển khẳng định tất cả các đại dương là "biển". == Vật lý học == Trái đất là hành tinh duy nhất trong Hệ Mặt trời với bề mặt chất lỏng, nhưng các hành tinh giống Trái Đất trong các hệ hành tinh ngoài Hệ mặt trời có thể có đại dương. Biển bao phủ hơn 70% bề mặt trái đất với nước ở dạng lỏng. Khoảng 97,2% lượng nước của Trái đất ở trên biển, với khoảng 1,36 tỷ km³ nước mặn. 2,15% số còn lại là băng trong các sông băng, băng trên bề mặt biển, 0,65% còn lại là hơi nước và nước ngọt trong các hồ, sông, đất và không khí. Nhìn từ vũ trụ, hành tinh của chúng ta xuất hiện như một "viên đá cẩm thạch màu xanh" với các dạng khác nhau của nước: nước mặn ở các đại dương, các khối băng ở hai cực và những đám mây hơi nước. Nhà văn khoa học viễn tưởng Arthur C. Clarke đã từng đề xuất rằng "Trái đất" nên được đặt tên là "Trái nước" vì diện tích chứa nước chiếm phần nhiều của Trái đất. Vật lý Hải dương học, hoặc vật lý biển, nghiên cứu thuộc tính vật lý của đại dương bao gồm tương quan giữa nhiệt độ và độ mặn, sóng biển, các sóng ngầm dưới đáy biển, thủy triều trên bề mặt, thủy triều dưới lòng biển, và các dòng hải lưu. Sự di chuyển của nước với hình thức các hải lưu, thủy triều và sóng ảnh hưởng đến bờ biển và thay đổi khí hậu của khu vực ven biển. Địa vật lý biển liên quan đến việc nghiên cứu về hình dạng và sự mở rộng lưu vực biển và bờ biển. Việc khai quật đáy biển cung cấp các bằng chứng của các vật liệu tạo ra Trái đất, cũng như sự trôi dạt lục địa, sự phân bố của các khu vực có hoạt động địa chấn và núi lửa, và sự tích tụ trầm tích mà cuối cùng có thể kết tinh thành đá trầm tích. === Nước biển === Nước trong biển được cho là có nguồn gốc từ hoạt động phun trào núi lửa trên Trái Đất, bắt đầu cách nay 4 tỉ năm, làm giải phóng các khí từ đá nóng chảy. Công trình nghiên cứu gần đây hơn cho rằng hầu hết nước trên Trái Đất có thể từ sao chổi. Một đặc điểm quan trọng của nước biển là mặn. Độ mặn thường được đo bằng phần ngàn (ký hiệu ‰), và các đại dương chứa vào khoảng 35 gam (1,2 oz) chất rắn trên một lít, độ mặn 35 ‰ (khoảng 90% nước trong đại dương có độ mặn nằm trong khoảng 34 đến 35‰). Biển Địa Trung Hải có độ mặn cao hơn ở 37 ‰. Thành phần của muối ăn (natri và clo) chiếm khoảng 85% chất rắn hòa tan trong nước biển. Ngoài ra, còn có các ion kim loại khác như magie và canxi, và các ion âm như sulphat, carbonat, và brômua. Mặc dù có sự khác biệt độ mặn trong vùng biển khác nhau, các thành phần tương đối của các muối hòa tan là ổn định trong khắp các đại dương của thế giới. Nước biển là quá mặn để con người có thể uống vì thận không thể bài tiết qua đường tiểu những chất mặn như nước biển. Ngược lại, các hồ nước mặn nằm trong lục địa có độ mặn cao hơn trong đại dương, ví dụ như Biển Chết có 300 gam (11 oz) chất rắn hòa tan trong một lít (300 ‰). Độ mặn của các vực nước thay đổi theo sự bay hơi từ bề mặt của nó (gia tăng bởi nhiệt độ cao, gió và chuyển động của sóng), lượng mưa, đóng băng hoặc tan chảy của băng biển, sự tan chảy của sông băng, dòng nước ngọt từ sông, và sự pha trộn của các vực nước có độ mặn khác nhau. Ví dụ, biển Baltic là trong một vùng khí hậu mát mẻ với độ bay hơi thấp, có nhiều con sông chảy vào nó và bổ sung liên tục từ Biển Bắc nên tạo ra một lớp nước bên dưới lạnh, dày đặc mà hầu như không hòa lẫn với các lớp bề mặt. Lớp trên cùng có thể có độ mặn 10-15 ‰, với mức độ thậm chí thấp hơn trong các cửa sông. Biển Đỏ ấm có độ bốc hơi cao nhưng lượng mưa thấp; có ít sông đổ vào nó, và Bab-el-Mandeb, nối nó với Vịnh Aden, đây là một vịnh hẹp có độ mặn trung bình 40 ‰. Nhiệt độ của biển phụ thuộc vào lượng bức xạ mặt trời chiếu trên bề mặt của nó. Ở các vùng nhiệt đới, mặt trười chiếu thường xuyên, nhiệt độ bề mặt biển có thể lên đến hơn 30 °C (86 °F) trong khi ở gần các Cực, nhiệt độ ở trạng thái cân bằng với băng biển vào khoảng −2 °C (28 °F). Có một dòng hải lưu liên tục trong các đại dương. Các dòng hải lưu ấm trên mặt lạnh đi khi chúng chảy xa các vùng nhiệt đới, và nước trở nên đặc hơn và chìm xuống. Dòng nước lạnh di chuyển trở về xích đạo ở dạng các dòng ở dưới sâu, được điều khiển bở sự thay đổi về nhiệt độ và trọng lượng của nước, cuối cùng trồi lên mặt và tiếp tục tuần hoàn. Nước biển sâu có nhiệt độ khoảng −2 °C (28 °F) đến 5 °C (41 °F) trong tất cả các vùng trên toàn cầu. Nước biển đóng băng ở nhiệt độ khoảng −1.8 °C (28.8 °F). Khi nhiệt độ của nước xuống đủ thấp, các tinh thể băng hình thành trên bề mặt. Các khối băng bề mặt này vỡ thành các mảng nhỏ và kết hợp lại thành đĩa phẳng tạo thành một hệ thống treo dày được gọi là băng đóng ở dưới đáy. Trong điều kiện tĩnh lặng, lớp này bị đóng băng thành một tấm phẳng mỏng được gọi là nilas, nó làm dày các lớp băng mới ở mặt dưới của nó. Trong vùng biển nhiều sóng gió hơn, các tinh thể băng đóng ở dưới đáy cùng tham gia vào đĩa phẳng được gọi là pancake. Các bánh này trượt với nhau và kết hợp lại để tạo thành băng trôi. Trong quá trình làm lạnh, nước muối và không khí bị bắt giữ trong các tinh thể băng. Nilas có thể có độ mặn 12-15 ‰, nhưng theo thời gian, băng biển sau một năm thì nó giảm xuống 4-6 ‰. Lượng ôxy có trong nước biển phụ thuộc chủ yếu vào thực việt phát triển trong đó. Các loài này chủ yếu là tảo, bao gồm thực vật phù du, với một số thực vật có mạch như cỏ biển. Hoạt động quang hợp vào ban ngày của các thực vật này sản sinh ôxy, chúng hòa tan trong nước biển và được các động vật biển sử dụng. Vào ban đêm, hoạt động quan hợp dừng lại, lượng ôxy hòa tan sụt giảm. Ở đới biển sâu, ánh sáng không đủ khả năng xuyên đến cho thực vật phát triển, thì có rất ít ôxy hòa tan. Do thiếu ôxy, vật liệu hữu cơ bị phân hủy bởi các vi sinh vật yếm khí tạo ra hydro sunfua. Ấm lên toàn cầu có thể làm giảm hàm lượng ôxy trong cả nước tầng mặt do khả năng hòa tan của ôxy giảm do ở nhiệt độ cao, và cả trong nước tầng sâu do giảm khả năng hòa tan của ôxy do tăng sự phân tầng cột nước. Lượng ánh sáng xuyên thấu vào biển phụ thuộc vào góc tới của mặt trời, các điều kiện thời tiết, và độ đục của nước biển. Hầu hết ánh sáng phản xạ ở bề mặt, và ánh sáng đỏ hấp thụ xuống ở vài mét từ bề mặt. Ánh sáng vàng và lục xuyên thấu sâu hơn, và ánh sáng xanh và tím có thể xuống đến độ sâu khoảng 1.000 mét (3.300 ft). Không đủ ánh sáng cho quang hợp và thực vật phát triển ở độ sâu dứoi 200 mét (660 ft). === Axít hóa đại dương === Nước biển có tính kiềm nhẹ và độ pH thời kỳ tiền công nghiệp vào khoảng 8,2. Gần đây, các hoạt động nhân sinh đã làm gia tăng hàm lượng carbon dioxide trong khí quyển; có khoảng 30–40% CO2 gia tăng đã được hấp thụ vào các đại dương, tạo thành axít carbonic và làm giảm pH (hiện dưới 8,1) qua một quá trình được gọi là axít hóa đại dương. Giá trị pH được cho là sẽ giảm xuống còn 7,7 (tăng gấp 3 lần nồng độ ion H+) vào năm 2100, đây sẽ là sự thay đổi đáng kể trong thế kỷ này. Một nguyên tố quan trọng trong việc hình thành khung xương của các động vật biển là canxi, nhưng canxi cacbonat trở nên dễ hòa tan hơn theo áp suất, vì vậy vỏ sò bằng cacbonat và khung xương hòa tan bên dưới độ sâu bù cacbonat. Canxi carbonat cũng dễ hòa tan hơn khi pH thấp hơn, vì vậy axít hóa đại dương có thể có những ảnh hưởng sâu sắc lên các sinh vật biển có cấu trúc canxi như sò, hào, hải sâm và san hô, bởi vì khả năng tạo vỏ của chúng sẽ bị giảm, và độ sâu bù đắp cacbon sẽ tăng gần về phía mặt biển. Các sinh vật phù du bị ảnh hưởng sẽ bao gồm các loài động vật hai mảnh vỏ giống ốc như pteropoda, tảo đơn bào được gọi là coccolithophorida và foraminifera. Tất cả các loài này là những phần quan trọng trong chuỗi thức ăn và sự suy giảm số lượng của chúng sẽ có hậu quả đáng kể. Trong vùng nhiệt đới, san hô có khả năng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi nó trở nên khó khăn hơn trong việc tạo bộ xương cacbonat của chúng, lần lượt tác động xấu đến các loài sống dựa vào rạn san hô. Tốc độ thay đổi hóa học trong đại dương hiện tại dường như là không có tiền lệ trong lịch sử địa chất của Trái đất, làm thể hiện một điều không rõ rằng như thế nào hệ sinh thái biển sẽ có thể thích ứng với các điều kiện thay đổi của tương lai gần. Sự quan tâm đặc biệt là cách thức kết hợp của quá trình axit hóa với các yếu tố bổ sung làm nhiệt độ cao hơn và hàm lượng ôxy giảm xuống sẽ ảnh hưởng đến các vùng biển. === Sóng biển === Gió thổi trên bề mặt một vực nước tạo thành sóng có phương vuông góc với hướng gió. Ma sát giữa khối không khí và nước gây ra bởi làn gió nhẹ làm tạo thành những vế gợn sóng. Gió mạng thổ trên mặt biển tạo ra các sóng lớn hơn và khi khối không khi chuyển động sẽ đẩy mặt nước làm tạo thành các font sóng dâng cao. Sóng đạt đến độ cao lớn nhất khi mà tốc độ tại lúc đó nó di chuyển gần bằng với vận tốc gió. Ở vùng nước mở, khi gió thổi liên tục (như ở Nam bán cầu trong Roaring Forties), kéo dài, organised masses of water called swell roll across the ocean. Nếu gió giảm, thì sự hình thành sóng cũng giảm, nhưng các sóng đã hình thành trước đó vẫn tiếp tục chuyển động theo hướng ban đầu cho đến khi chúng vỗ vào bờ. Kích thước của sóng phụ thuộc vào quãng đường mà nó truyền qua và độ mạnh cũng như thời gian gió tiếp xúc với mặt nước. Khi sóng gặp những loại sóng khác đến với những hướng khác nhau, sự giao thoa giữ hai sóng có thể tạo các vùng biển bất thường. Phần cao của sóng được gọi là đỉnh sóng; phần thấp nhất được gọi là chân sóng; và khoảng cách giữa các đỉnh được gọi là bước sóng. Sóng bị gió đẩy qua bề mặt của đại dương, nhưng điều này đại diện cho một sự truyền năng lượng và không phải là một chuyển động ngang của nước. Khi sóng đi tới, các phân tử nước tại một điểm dâng cao lên và khi tĩnh sóng, chúng đi xuống, các phân tử nước chuyển động theo một mô hình tròn mỗi lần sóng đi qua. Những phân tử ở gần bề mặt di chuyển nhanh hơn so với những phân tử ở dưới. Khi sóng tiếp cận bờ và di chuyển vào vùng nước nông, chúng thay đổi đặc điểm. Nếu tiếp xúc ở một góc tới bất kỳ, sóng có thể uốn cong hoặc ôm xung quanh các vật thể như đá hoặc mũi đất. Khi các phân tử nước dao động ở dưới cùng của cột sóng tiếp xúc với đáy biển, ma sát giữa các phân tử nước và các bãi biển làm tốc độ truyền sóng chậm lại, khoảng cách giữa các đỉnh sẽ thu hẹp lại và biên độ sóng tăng lên. Lúc này theo mặt cắt sóng, phần đỉnh sóng di chuyển nhanh hơn so với phần chân sóng, và cuối cùng là xuất hiện hiện tượng "sóng vỡ" khi đỉnh chờm về phía trước (so với chân sóng). Chúng tràn lên bãi biển trước khi rút trở lại biển do ảnh hưởng của trọng lực. Sóng thần là một loại sóng bất thường gây ra bởi các sự kiện có năng lượng lớn không thường xuyên như động đất hoặc trượt lở đất dưới biển, sự va chạm của thiên thạch, núi lửa phun trào hoặc lở đất xuống biển. Các sự kiện này có thể làm dâng cao hoặc hạ thấp mặt nước biển tạm thời trong khu vực bị ảnh hưởng, thường khoảng vài foot. Thế năng của nước biển bị choáng chỗ này được chuyển thành động năng, tạo ra sóng nông, một dạng sóng thần, tỏa ra phía ngoài với vận tốc vài foot vuông theo độ sâu và sau đó chuyển động nhanh hơn trong vùng biển mở so với trên thềm lục địa. Trong vùng biển mở và sâu, sóng thần có bước sóng vào khoảng 80 đến 300 dặm (130 đến 480 km), chuyển động với vận tốc hơn 970 km/h (hơn 600 dặm/giờ) và thường có độ cao nhỏ hơn 1 mét (3 foot), vì vậy chúng thường không được chú ý (quan sát) trong giai đoạn này. Ngược lại, sóng biển do gió có bước sóng vài trăm foot, chuyển động với vận tốc lên đến 65 dặm Anh một giờ (105 km/h) và có chiều cao sóng đến 45 foot (14 mét). Một sự kiện xảy ra trên thềm lục địa có thể gây ra sóng thần địa phương ở phía bờ và khoảng cách sóng thần di chuyển qua đại dương. Năng lượng sóng chỉ bị phân tán từ từ, nhưng trải rộng ra toàn font sóng, vì vậy khi sóng tỏa ra nhiều hướng từ nguồn, font sóng kéo dài hơn và năng lượng trung bình giảm xuống, khi đó bờ biển sẽ bị tác động bởi sóng yếu hơn. Tuy nhiên, vì vận tốc sóng bị khống chế bởi chiều cao sóng nên nó không thể di chuyển với cùng vận tốc theo mọi hướng, và điều này ảnh hưởng đến hướng truyền của font sóng-được gọi là khúc xạ-mà có thể tập trung sức mạnh của sóng thần tiến vào một số khu vực và làm suy yếu nó bởi những yếu tố khác tùy thuộc vào địa hình dưới đáy biển. Khi sóng thần di chuyển vào vùng nước nông hơn vận tốc của nó giảm, bước sóng của nó ngắn lại và biên độ tăng lên vô cùng lớn, như cách mà sóng do gió đi vào vùng nước nông, nhưng quy mô thì lớn hơn rất rất nhiều. Bụng hoặc đỉnh của sóng thần có thể đến bờ biển trước. Trong trường hợp bụng sóng đến trước, biển rút trở lại và rời khỏi làm lộ ra vùng dưới triều gần bờ, đây là một cảnh báo quan trọng trong việc nhận biết sóng thần sắp ập đến. Khi đỉnh sóng đến, nó thường không vỡ nhưng lao vào trong bờ, làm ngập lụt tất tả những gì trên đường đi của nó. Phần lớn sự phá hủy có thể do nước lụt rút/kéo trở lại biển sau khi sóng thần tấn công, mang theo những mãnh vỡ và con người. Nhiều trận sóng thần thường sinh ra từ các sự kiện địa chất riêng lẻ và đến bờ từng đợt khoảng 8 phút đến 2 giờ. Đợt sóng đầu tiên đến bờ có thể không phải là lớn nhất hoặc phá hoại mạnh nhất. Thỉnh thoảng, sóng thần có thể chuyển thành sóng triền lớn, đặc biệt là vùng vịnh nông hay cửa sông. Hệ thống cảnh báo sóng thần hoạt động dựa trên nguyên tắc ghi nhận các sóng địa chất gây ra bởi các trận động đất chuyển động khắp thế giới với vận tốc khoảng 14.400 kilômét (8.900 mi)/giờ, cho phép các khu vực bị đe dọa được cảnh báo khả năng sóng thần tấn công. Những số liệu đo đạc từ mạng lưới các trạm đo mực nước biển có thể xác nhận hoặc dỡ bỏ cảnh báo sóng thần. === Thủy triều === Thủy triều là sự dâng cao và hạ thấp mực nước trong biển và đại dương, là kết quả tương tác của lực trọng trường từ Mặt Trăng và Mặt Trời, và những ảnh hưởng do sự quay của Trái Đất. Trong mỗi chu kỳ triều, tại một địa điểm cho trước, mực nước dâng lên cao nhất được gọi là "triều cao" trước khi triều rút đi đến vị trí thấp nhất thì được gọi là "triều kiệt" hay "triều thấp". Khi nước rút,nó để lộ ra phần trước bờ, đới này được gọi là đới gian triều. Biên độ dao động giữa triều cao và triều thấp được gọi là biên độ triều. Một chu kỳ triều diễn ra trong 24 giờ 50 phút, đó là thời gian mà Trái Đất tiến hóa hoàn toàn và trả Mặt Trăng về vị trí của nó trước đó so với người quan sát Khối lượng Mặt Trăng nhỏ hơn Mặt Trời khoảng 27 triệu lần, nhưng nó gần Trái Đất hơn Mặt Trời 400 lần. Lực thủy triều giảm nhanh theo khoảng cách, vì vậy mặt trăng có ảnh hưởng lên thủy triều gấp đôi Mặt Trời. Phần phình ra xuất hiện trong đại dương ở nơi mà Trái Đất gần Mặt Trăng nhất, bởi vì nó chịu ảnh hưởng của lực trọng trường từ Mặt Trăng mạnh hơn. Mặt đối diện của Trái Đất, lục tác động của mặt trăng khi đó là yếu nhất và điều này tạo ra một chỗ phình khác. Khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, các vị trí phình ra này cũng sẽ lần lượt di chuyển theo quanh Trái Đất. Lực hấp dẫn của Mặt Trời cũng tác động lên các biển, những ảnh hưởng của nó ít mạnh hơn so với Mặt Trăng, và khi Mặt Trời, Mặt Trăng và Trái Đất nằm trên một trục thẳng hàng (lúc trăng tròn và trăng non), ảnh hưởng kết hợp làm tạo ra các đợt "triều cường". Ngược lại, khi Mặt Trời nằm trên trục vuông góc với trục của Mặt Trăng và Trái Đất, sự ảnh hưởng trọng trường kết hợp tác động lên thủy triều sẽ gây ra "triều kiệt". Dòng chảy thủy triều của nước biển bị hạn chế bởi quán tính của nước và có thể bị ảnh hưởng bởi phần đất liền. Ở những nơi như vịnh Mexico nơi mà đất liền ở đây làm hạn chế sự phình ra, chỉ có một lần xuất hiện triều cao mỗi ngày. Trên bờ của đảo có thể có chu kỳ triều phức tạp với bốn lần triều cao. Các eo biển đảo ở Chalkis thuộc Euboea có các dòng chảy mạnh đột ngột chuyển hước, thường 4 lần mội ngày nhưng có thể lên đến 12 lần mỗi ngày khi Mặt Trăng và Mặt Trời vuông góc. Ở nơi có vịnh dạng phễu hoặc cửa sông, biên độ triều có thể rất lớn. Vịnh Fundy là một ví dụ điển hình với biên độ triều đạt 15 m (49 ft). Mặt dù thủy triều tuân theo những quy tắc và có thể dự đoán được, nhưng ở một số nơi cao độ này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác; độ cao của triều lớn có thể bị giảm xuống bởi gió xa bờ và dâng lên bởi gió gần bờ. Áp suất cao của trung tâm xoáy nghịch đẩy nước xuống và liên quan đến triều thấp bất thường trong khi các vùng áp thấp có thể làm độ cao triều cực lớn. Nước dâng do bão có thể xuất hiện khi gió có tốc độ cao tấn công vào bờ biển ở những vùng nước nông và điều này kết hợp với áp suất thấp có thể làm dâng cao mực nước biển đáng kể cùng lúc triều cường. Năm 1900, Galveston, Texas đã hứng chịu đợt nước dâng cao 15 ft (5 m) trong trận bão Galveston 1900 làm ngập thành phố và cướp đi hơn 3.500 người và phá hủy 3.636 căn nhà. === Hải lưu === Gió thổi trên mặt biển gây ra ma sát tại mặt thoáng tiếp xúc giữa khối không khí và biển. Không chỉ tạo sóng mà nó còn làm cho nước ở bề mặt chuyển động cùng chiều với chiều gió. Mặc dù gió đổi chiều, ở bất kỳ một nơi nào nó thổi theo một hướng duy nhất và điều này có thể hình thành dòng chảy trên mặt. Gió thổi về hướng tây thường nằm ở vĩ độ trung bình còn gió thổi về hướng đông chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Khi nước chuyển động theo cách này, các dạng nước khác chảy vào lấp đầy khoảng trống và sự chuyển động vòng tròn của các hải lưu mặt được gọi là vòng hoàn lưu (Ocean gyre). Có 5 vòng hoàn lưu chính trong các đại dương thế giới: 2 vòng hoàn lưu ở Thái Bình Dương, 2 ở Đại Tây Dương và 1 ở Ấn Độ Dương. Các vòng hoàn lưu nhỏ hơn được tìm thấy trong các biển nhỏ hơn và một vòng riêng biệt chảy quanh Nam Băng Dương. Các vòng hoàn lưu này chảy theo các lộ trình giống nhau qua hàng ngàn năm, được dẫn dắt bởi địa hình của đất liền, hướng gió và hiệu ứng Coriolis. Các dòng hải lưu mặt chảy theo chiều kim đồng hồ ở Bắc Bán cầu và ngược chiều kim đồng hồ ở Nam Bán cầu. Nước chuyển động ra xa xích đạo là nước nóng, và nước tuần hoàn trở lại mất hầu hết nhiệt của chúng. Các dòng hải lưu này có khuynh hướng điều hòa khí hậu của Trái Đất, làm lạnh vùng xích đạo và làm ấm các vùng ở vĩ độ cao hơn. Khí hậu toàn cầu và dự báo thời tiết chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các đại dương trên thế giới, vì vậy mô hình hóa khí hậu toàn cầu sử dụng các mô hình tuần hoàn nước đại dương cũng như các thành phần chính khác như khí quyển, bề mặt đất, sol khí và băng biển. Các mô hình đại dương sử dụng một nhánh của vật lý là động lực chất lưu địa vật lý, nó mô tả dòng chảy của lưu chất ở quy mô lớn như nước biển. Các dòng chảy trên bề mặt chỉ ảnh hưởng đến vài trăm mét trên cùng của biển, nhưng cũng có các dòng chảy lớn ở những độ sâu khác nhau gây ra bởi sự chuyển động của các khối nước dưới sâu. Dòng hải lưu sâu chảy qua tất cả các đại dương trên thế giới và được gọi là vòng tuần hoàn muối nhiệt. Sự chuyển động này chậm và được điều khiển bởi sự khác biệt về tỷ trọng của nước do sự khác biệt về độ mặn và nhiệt độ giữa các đại dương. Ở vĩ độ cao, nước được gia lạnh bởi nhiệt độ không khí thấp và trở nên mặn như biển băng kết tinh. Cả hai yếu tố này làm cho nó đặc hơn, và nước chìm xuống dưới. Từ biển sâu gần Greenland, nước kiểu này chảy về phía nam giữa các lục địa ở hai bên bờ Đại Tây Dương. Khi nó đạt đến Nam Cực, nó kết hợp với các khối lạnh khác, chìm xuống và chảy về phía đông. Sau đó nó chia tách thành hai dòng di chuyển về phía bắc vào Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Ở đây nó từ từ ấm lên, trở nên ít dày đặc hơn, trồi lên bề mặt và tiếp tục lặp lại vòng tuần hoàn đó. Một số dòng chảy trở lại vào Đại Tây Dương. Phải mất một ngàn năm để mô hình lưu thông này hoàn tất. Bên cạnh các hoàn lưu, có nhiều hải lưu trên bề mặt tạm thời xuất hiện trong một số điều kiện đặc biệt. Khi sóng chạm tới bờ ở một góc nhất định, dòng chảy ven bờ được tạo ra khi nước bị đẩy chạy dọc theo bờ biển. Nước xoáy lên các bãi biển khi góc tới thẳng góc và dòng rút ra chảy dưới đáy do tác dụng của trọng lực. Sóng vỡ càng lớn, các bãi biển càng dài và góc tới bờ càng xiên, dòng chảy ven bờ càng mạnh. Các dòng chảy này có thể mang một lượng lớn cát hoặc sạn, tạo thành các đê cát ngầm, bào mòn các bãi biển và tạo ra các kênh phù sa. Dòng xoáy có thể xuất hiện khi nước tích lũy gần bờ từ các đợt sóng lớn và chảy ra phía biển theo một kênh ngầm dưới đáy. Có thể xuất hiện một khoảng trống trong một đê cát hoặc gần các công trình nhân tạo. Các dòng chảy mạnh này có thể có vận tốc lên đến 3 ft (0,9 m)/giây, có thể hình thành ở nhiều nơi khác nhau ở các giai đoạn khác nhau của thủy triều và có thể cuốn người tắm ra xa nếu không cẩn thận. Các dòng trồi tạm thời xuất hiện khi gió đẩy nước ra xa từ đất liền và nước ở sâu hơn dâng lên để thế vào vị trí đó. Dòng nước lạnh này thường rất giàu chất dinh dưỡng và có thể khiến thực vật phù du cũng như các sinh vật khác của biển phát triển mạnh. === Các bồn đại dương === Trái Đất được cấu tạo bởi lõi có từ tính, bên ngoài là thạch quyển rắn, đến manti chủ yếu ở dạng lỏng và nhân trong ở thể rắn Trên đất liền, vỏ Trái Đất được gọi là vỏ lục địa, trong khi phần vỏ dưới biển được gọi là vỏ đại dương. Vỏ đại dương được cấu tạo bởi bazan tương đối nặng và dày từ 5 đến 10 km. Thạch quyển tương đối mỏng (so với các lớp khác) nổi trên manti mềm hơn và nóng hơn nằm bên dưới và bị vỡ ra thành các mảng kiến tạo. Ở giữa đại dương, mácma trồi lên liên tục từ đáy biển ở ranh giới giữa các mảng để tạo thành sống núi giữa đại dương và các dòng đối lưu manti có khuynh hướng đẩy hai mảng xa ra nhau, chúng chuyển đông song sonh nhau và ngày càng gần bờ hơn. Một mảng đại dương có thể trượt bên dưới một mảng đại dương khác theo quá trình được gọi là hút chìm. Các máng nước sâu được hình thành ở nơi hút chìm này và quá trình bày đi cùng với sự masat khi các mảng trượt lên nhau. Sự tích lũy năng lượng ma sát trong quá trình chuyển động này khi giải phóng sẽ sinh ra động đất, giải phóng nhiệt và mác ma được phun ra tạo thành các núi dưới đáy biển, một số núi có thể tạo thành một chuỗi các đảo núi lửa ở gần các máng nước sâu. Ở gần một số ranh giới giữa đất liền và biển, các mảng đại dương hơi nặng hơn trượt bên dưới các mảng lục địa và cũng hình thành các máng nước sây. Khi chúng va nhau, các mảng lục địa bị biến dạng và hình thành các dãy núi và phát sinh địa chấn. Rãnh đại dương sâu nhất trên Trái Đất là rãnh Mariana với bề rộng khoảng 2.500 kilômét (1.600 mi) dưới đáy biển. Nó nằm gần quần đảo Mariana,đây là một quần đảo núi lửa ở Tây Thái Bình Dương, và có bề rộng trung bình chỉ 68 kilômét (42 mi), điểm sâu nhất của nó là 10.994 km bên dưới mặt nước biển. Một rãnh đại dương dài hơn chạy dọc theo bờ biển Peru và Chile, có độ sâu 8.065 mét (26.460 ft) và rộng khoảng 5.900 kilômét (3.700 mi). Nó là kết quả của sự hút chìm của mảng đại dương Nazca bên dưới mảng lục địa Nam Mỹ và liên quan đến hoạt động núi lửa của Andes. === Bờ biển === Khu vực mà đất liền tiếp giáp biển được gọi là bờ biển và phần đất nằm giữa triều thấp nhất và nơi cao nhất mà sóng vỗ tới được gọi là đới sóng vỗ. Bãi biển là nơi tích tụ cát hoặc đá cuội trên bờ biển. Phần đất liền nhô ra biển được gọi là mũi đất. Phần lõm vào của đường bờ đặc biệt là giữa hai mũi đất được gọi là vịnh. Đường bờ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như độ mạnh của sóng tới bờ, sự thay đổi của địa hình đáy gần bờ, thành phần và độ cứng của đá cấu tạo bờ, độ nghiêng của sườn bờ và sự thay đổi về cao độ của đất liền do sự nâng lên hoặc nhấn chìm. Thông thường, sóng cuộn về phía bờ biển với tốc độ từ sáu đến tám mỗi phút và chúng được gọi là sóng tích tụ vì chúng có xu hướng bồi đắp vật liệu cho bãi biển và ít ảnh hưởng xâm thực. Sóng bão tiến vào bờ rất nhanh và được gọi là sóng phá hủy vì chúng mang vật liệu ra khỏi bãi biển. Dưới ảnh hưởng của chúng, cát và đá cuội trên bãi biển là vật liệu được mang đến và mang đi. Vào lúc thủy triều cao, năng lượng của sóng bão tác động đến chân vách đá có tác dụng làm đảo lộn khi không khí trong các vết nứt và khe hở được nén và sau đó mở rộng nhanh chóng khi giải phóng áp lực. Đồng thời, cát và sỏi có tác dụng ăn mòn khi chúng tán vào đá. Điều này có xu hướng làm cắt chân vách núi, và các quá trình phong hóa bình thường như tác động của sương giá sau đó, gây ra sự phá hủy tiếp theo. Dần dần, một địa hình bằng phẳng hình thành do sóng phát triển ở chân vách đá và điều này có tác dụng bảo vệ, giảm ảnh hưởng xâm thực do sóng. Vật liệu được mang từ rìa của đất liền cuối cùng lắng đọng trong biển. Ở đây nó là đối tượng tiêu hao khi dòng chảy song song bờ khuấy động mang ra các lạch và vận chuyển cá và cuội ra khỏi nơi ban đầu của chúng. Trầm tích được mang ra biển bởi các con sông tích tụ trên đáy biển tạo thành các đồng bằng châu thổ ở cửa sông. Tất cả vật liệu này di chuyển qua lại dưới đáy do ảnh hưởng của sóng, thủy triều và dòng chảy. Việc nạo vét loại bỏ các vật liệu này và đào sâu các kênh nhưng có thể có tác ảnh hưởng không lường được ở những nơi khác trên bờ biển. Các chính phủ có những nỗ lực chống lụt bằng các kè biển, đê biển và các công trình bảo vệ khác. Các kè sông Thames được thiết kế để bảo vệ London từ một cơn bão và các đê được xây dựng nhằm kiểm soát dòng nước và bảo vệ những vùng đất lấn biển khỏi sự xâm thực. Một trong những đê nhân tạo dài nhất là hệ thống đê sông Mississippi, với tổng chiều dài khoảng 1.000 kilômét (620 mi) ven sông từ Cape Girardeau trên châu thổ sông Mississippi, và mục đích của đê này này bảo vệ thành phố New Orleans. Sân bay quốc tế Hồng Kông được xây dựng trên một đảo nhân tạo lớn, được hình thành khi nối và lắp bằng hai đảo với diện tích 9,38 kilômét vuông (3,62 sq mi) trên đáy biển. === Mực nước biển === Trải qua hầu hết lịch sử địa chất, mực nước biển từng cao hơn ngày nay. Yếu tố chính làm thay đổi mực nước biển theo thời gian là kết quả của sự thay đổi vỏ đại dương, với xu hướng nhấn chìm tiếp diễn trong thời gian dài. Vào thời kỳ băng hà cực đại gần đây nhất, khoảng 20.000 năm trước, mực nước biển thấp hơn mực nước ngày nay khoảng 120 mét (390 ft). Trong vòng ít nhất 100 năm gần đây, mực nước biển đã và đang dân lên với tốc độ trung bình khoảng 1,8 milimét (0,071 in)/năm. Hầu hết sự tăng cao mực nước biển này có thể có sự góp mặt của sự gia tăng nhiệt độ của biển và kết quả giãn nở nhiệt nhẹ ở 500 mét (1.600 ft) nước trên mặt. Yếu tố khác chiếm khoảng 1/4 là từ các nguồn nước trên đất liền như tuyết và băng hà tan và việc khai thác nước dưới đất phục vụ cho tưới tiêu và các nhu cầu nông nghiệp và con người khác. Sự gia tăng có khuynh hước từ sự ấm lên toàn cầu được dự báo là tiếp tục cho đến ít nhất là cuối thế kỷ 21. === Chu trình nước === Biển đóng là một phần trong chu trình nước, trong đó, nước bốc hơi từ biển, chuyển động trong khí quyển ở dạng hơi nước, ngưng tụ, rơi xuống ở dạng mưa hoặc tuyết, do đó duy trì sự sống trên đất liền, và phần lớn nước sẽ trở về biển. Thậm chí ở sa mạc Atacama, nơi có ít mưa trong năm, các đám mây dày đặc sương mù được gọi là camanchaca thổi vào từ biển và hỗ trợ sự sống của thực vật ở đây. Ở Trung Á và các vùng đất liền khác, có bồn trũng endorheic mà không có lối thoát ra biển, ngăn cách với biển bởi các dãy núi hoặc các đặc điểm địa chất tự nhiên có khả năng ngăn chặn nước thoát đi. Biển Caspi là lớn nhất trong nhóm này. Dòng chính của nó là sông Volga, không có dòng chảy ra và sự bay hơi của nước làm cho nó mặn vì khoáng chất hòa tan tích tụ. Biển Aral ở Trung Á và Hồ Pyramid ở miền Tây Hoa Kỳ là ví dụ về các vực nước mặn nội địa mà không có hệ thống thoát nước ra ngoài. Một số hồ endorheic ít mặn, nhưng tất cả đều nhạy cảm với sự thay đổi trong chất lượng của các nước chảy vào. === Chu trình cacbon === Các đại dương chứng một lượng cacbon tuần hoàn chủ động lớn nhất trên thế giới và xếp thứ 2 chỉ sau thạch quyển về lượng cacbon mà nó có. Lớp mặt của đại dương giữ một lượng lớn cacon hữu cơ hòa tan, loại này được trao đổi nhanh chóng với khí quyển. Nồng độ cacbon vô cơ hòa tan trong lớp nước sâu cao hơn 15% so với của lớp nước mặt và nó duy trì trong khoảng thời gian dài hơn. Dòng muối nhiệt trao đổi cacbon giữa hai lớp nước này. Cacbon đi vào đại dương khi cacbon dioxit trong khí quyển hòa tan vào các tầng nước mặt và bị biến đổi thành axit cacbonic, bicarbonat và carbonat: CO2 (aq) + H2O ↔ {\displaystyle \leftrightarrow } H2CO3 ↔ {\displaystyle \leftrightarrow } HCO3− + H+ ↔ {\displaystyle \leftrightarrow } CO32− + 2 H+. Quá trình này giải phóng các ion hidro (H+), làm giảm pH của đại dương. Nó cũng đi vào đại dương qua các con sông ở dạng cacbon hữu cơ hòa tan và được biến đổi bởi các sinh vật quang hợp thành cacon hữu cơ. Loại cacon này có thể hoặc được trao đổi thông quan chuỗi thức ăn hoặc tích tụ dưới các tầng giàu cacbon hơn, sâu hơn ở dạng các tế bào mềm, chết hoặc vỏ sò và xương ở dạng canxi cacbonat. Nó lưu thông trong lớp này trong khoảng thời gian dài trước khi chúng lắng đọng hoặc được trả lại vào nước mặt lưu thông qua dòng muối nhiệt. == Sự sống ở biển == Đại dương là mái nhà của tập hợp đa dạng các dạng sống dùng nó làm nơi cư trú. Do ánh sáng Mặt Trời chỉ chiếu sáng ở các tầng nước trên cùng, cho nên phần lớn đại dương chìm trong bóng tối vĩnh viễn. Mỗi vùng khác nhau về nhiệt độ và độ sâu cung cấp nơi trú ngụ cho một tập hợp duy nhất các loài sinh vật, môi trường biển trên tổng thể bao trùm toàn bộ sự sống đa dạng rộng lớn. Nơi cư ngụ biển có phạm vi từ vùng nước bề mặt cho tới những rãnh đại dương sâu nhất, bao gồm rạn san hô, rừng tảo biển, đồng cỏ biển, vũng nước triều, bãi bùn và bãi cát, tầng đá đáy biển và vùng biển khơi. Sinh vật sống trong vùng biển có kích cỡ lớn như cá voi dài 30 mét cho đến thực vật nổi và động vật phù du cỡ vài micrô mét, nấm, vi khuẩn và vi rút, bao gồm các vi rút ăn vi khuẩn biển mới được khám phá gần đây (những vi rút mà sống bên trong vi khuẩn). Sự sống ở biển đóng một vai trò quan trọng trong chu trình cacbon nhờ các sinh vật quang tổng hợp biến đổi cacbon điôxit hòa tan trong nước biển thành cacbon hữu cơ và nó có tầm quan trọng kinh tế đối với con người trong vai trò cung cấp và khai thác nguồn thủy sản. Sự sống có thể đã bắt đầu từ biển và mọi nhóm chính động vật đều có mặt ở đây. Các nhà khoa học chỉ chưa đồng tình chính xác nơi mà sự sống ở biển xuất hiện: thí nghiệm Miller-Urey cho thấy một món "súp" các chất hóa học loãng tồn tại trong vùng nước rộng, nhưng có chứng cứ gần đây cho rằng bao gồm các nguồn nước nóng từ núi lửa, trầm tích sét hạt mịn, hoặc các "mạch khói phun đen" dưới đáy biển sâu, tất cả chúng đều bảo vệ cho sinh vật không bị phá hủy dưới bức xạ cực tím mà những bức xạ này không bị cản trở bởi bầu khí quyển sơ khai của Trái Đất. === Sinh cảnh đại dương === Sinh cảnh đại dương chia theo phương ngang thành bờ biển và sinh cảnh nước mặt thoáng. Sinh cảnh bờ biển mở rộng từ đường bờ tới biên giới của thềm lục địa. Hầu hết sự sống trong đại dương tìm thấy ở sinh cảnh bờ biển, mặc dù vùng thềm lục địa chỉ chiếm khoảng 7 phần trăm tổng diện tích đại dương. Sinh cảnh đại dương nước mặt thoáng nằm sâu trong lòng đại dương vượt bên ngoài thềm lục địa. Theo cách khác, sinh cảnh đại dương có thể chia theo phương đứng thành vùng biển khơi (nước mặt thoáng), vùng đáy chìm (ngay bên trên đáy đại dương) và nơi cư ngụ đáy biển (benthic). Cách phân chia thứ ba theo vĩ độ địa lý: từ vùng biển cực với thềm băng, biển băng và tảng băng trôi, cho tới vùng nước nhiệt đới. Rạn san hô, còn gọi là "rừng mưa của biển", chiếm ít hơn 0,1% bề mặt diện tích đại dương Trái Đất nhưng hệ sinh thái của nó chứa 25% mọi loài sinh vật biển. Những rạn san hô nhiệt đới là nổi tiếng nhất như rạn san hô Great Barrier ở Australia, nhưng các rạn san hô vùng nước lạnh cũng tồn tại nhiều loại sinh vật bao gồm san hô (chỉ có sáu loại san hô đóng góp vào sự hình thành rạn). === Tảo và thực vật === Thực vật sản xuất sơ cấp ở viển và các vi sinh vật ở dạng phiêu sinh phân bố rộng khắp và rất đa dạng. Vi tảo quang hợp, thực vật phù du, đóng góp một tỷ lệ lớn sản lượng sản phẩm quang hợp so với tất cả các rừng trên lục địa. Khoảng 45% sản phẩm sơ cấp của vật liệu sống trong biển là từ diatom. Phần lớn tảo, hay còn được gọi là rong biển, quan trọng đối với từng khu vực; Sargassum là dạng sống trôi nổi, trong khi loài kelp sống thành rừng ở đáy biển. Thực vật có hoa ở dạng cỏ biển phát triển thành "đồng cỏ ở các vùng nước nông đáy cát, các dải rừng ngập mặn chạy ven bờ biển ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, và thực vật Halophyte phát triển mạnh trong các đầm lầy ngập mặn thường xuyên. Tất cả các môi trường sống này có thể hấp thụ một lượng lớn cacbon và hỗ trợ đa dạng sinh học của các động vật lớn hơn và nhỏ hơn. Ánh sáng chỉ có thể xuyên đến độ sâu 200 m (660 ft) vì vậy đây chỉ là một phần của biển nơi mà thực vật có thể phát triển. Các lớp trên mặt thường thiếu các hợp chất nitơ cung cấp cho hoạt động sinh học. Chu trình nitơ biển bao gồm những sự chuyển đổi vi sinh vật phức tạo bao gồm sự cố định nitơ, đồng hóa ni tơ, nitơ hóa, anammox, và khử nitơ. Một số quá trình này diễn ra trong các lớp nước sâu do đó nơi mà dòng nước lạnh trồi lên hoặc gần các cửa sông lại có nhuồn dinh dưỡng dồi dào, thực vật phát triển mạnh hơn. Điều này có nghĩa các khu vực sản xuất mạnh nhất, giàu về phiêu sinh và cũng như cá chủ yếu là vùng ven bờ. === Động vật và các dạng sống khác === Các bậc phân loại động vật ở biển đa dạng hơn trên đất liền, nhiều loài ở biển chưa được phát hiện, và có nhiều loài được phát hiện mới hàng năm. Một số loài động vật có xương sống như chim biển, hải cẩu, rùa biển quay trở lại đất liền để sinh sản, nhưng cá, cá voi, và rắn biển hoàn toàn có vòng đời trong môi trường nước và nhiều ngành động vật không xương sống sống hoàn toàn ở biển. Thực tế, các đại dương tràn ngập sự sống và cung cấp nhiều vi môi trường sống khác nhau. Một trong số đó là môi trường bề mặt, mặc dù bị xáo trộn bởi sự vận động của sóng tạo nên môi trường giàu dinh dưỡng và là nơi sinh sống của các vi khuẩn, nấm, vi tảo, protozoa, trứng cá, và nhiều loại ấu trùng khác. == Vai trò == Biển là nguồn cung cấp hơi nước để tạo ra mưa cho khí quyển. Mưa đã duy trì sự sống cho các sinh vật trên đất liền. Biển là kho báu cho ngành hải sản, ngành sản xuất muối, du lịch biển. Hiện nay biển có 160000 loài động vật và 10000 loài thực vật. Biển còn chứa vô số mỏ dầu ở dưới đáy đại dương. Trữ lượng dầu mỏ 21 tỉ tấn, khí tự nhiên 14 nghìn tỉ m3. Rất nhiều mỏ nằm ở dưới đáy đại dương đã được con người khai thác từ lâu như sắt, lưu huỳnh, đồng, phốt pho... Ngoài ra biển chứa một lượng lớn các nguồi tài nguyên hóa học với trên 70 nguyên tố hóa học khác nhau: Natri, Clo, Kali, Nitơ... Không chỉ có biển mà thủy triều là nguồn năng lượng vô tận của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhà máy thủy triều đầu tiên ở cửa sông Răng-xơ (Pháp) năm 1967 công suất là 240000 kW. Nhiệt độ của nước biển chệnh lệch rất lớn tạo ra 1 nguồn thủy nhiệt điện vô cùng to lớn; dựa vào nguyên lý đó mà người ta xây dựng những nhà máy thủy nhiệt. NHà máy thủy nhiệt đầu tiên đang hoạt động ở A-bit-gian (Cốt Đi-voa) với công suất 14000 kW Vận tải đường biển xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng trong buôn bán quốc tế, là chiếm lược của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Vận tải biển chiếm 3/4 khối lượng hàng hóa trao đổi trên thế giới. == Danh sách một số biển theo đại dương == === Thái Bình Dương === === Đại Tây Dương === === Ấn Độ Dương === === Bắc Băng Dương === === Nam Đại Dương === === Các biển kín === == Danh sách các biển theo diện tích bề mặt == == Các biển ngoài Trái Đất == Các biển trên Mặt Trăng là những đồng bằng bazan rộng lớn mà trước đây các nhà thiên văn học cho rằng chúng có chứa nước và gọi chúng là "biển". Nước ở trạng thái lỏng được cho là đã từng tồn tại trên bề mặt Hỏa Tinh trong quá khứ xa xăm và một số vùng lòng chảo trên Sao Hỏa được coi là các đáy biển đã khô cạn. Lớn nhất trong số đó là Vastitas Borealis; các "biển" khác là Hellas Planitia và Argyre Planitia. Các "biển" trên Sao Hỏa Nước ở trạng thái lỏng cũng được cho là có tồn tại dưới bề mặt của một số vệ tinh tự nhiên, chẳng hạn như Europa. Hyđrôcacbon lỏng được coi là có mặt ở bề mặt của Titan, mặc dù nó có thể được miêu tả một cách chính xác hơn là "hồ" chứ không phải "biển". Sự phân bổ của các khu vực chứa chất lỏng này được hy vọng là sẽ được hiểu rõ hơn sau khi tàu thăm dò Cassini đến đây. == Khoa học == Thuật ngữ "biển" cũng được sử dụng trong vật lý lượng tử. Biển Dirac là sự diễn giải của các trạng thái năng lượng âm, bao gồm có chân không. == Biển và nhân loại == === Trong văn hóa === Biển xuất hiện trong nền văn hóa nhân loại dưới những hình thức trái ngược nhau, vừa dữ dội nhưng lại thanh bình, vừa tốt đẹp nhưng đầy hiểm nguy. Biển chiếm một vị trí trong văn học, nghệ thuật, thi ca, điện ảnh, sân khấu, âm nhạc cổ điển, thần thoại và giải mộng. Người cổ đại đã nhân cách hóa biển, và tin rằng nó được điều khiển bởi một thực thể và cần phải xoa dịu những cơn thịnh nộ của thực thể này, và một cách hình tượng hóa, nó đã được coi là một môi trường nguy hiểm, nơi sinh sống của các sinh vật quái dị; chẳng hạn như Leviathan trong Kinh Thánh,, Scylla trong thần thoại Hy Lạp, Isonade trong thần thoại Nhật Bản, và kranken trong thần thoại Bắc Âu cận đại. Các nền văn minh đã khai sáng thông qua thương mại bằng đường biển và sự thay đổi các quan niệm. == Xem thêm == Địa lý Đại dương Eo biển Vịnh Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) Sông Nước biển Ngày đại dương thế giới == Ghi chú == = Chú thích= = == Thư mục == Cotterell, Arthur (ed.) (2000). World Mythology. Parragon. ISBN 978-0-7525-3037-6. Illustrated Encyclopedia of the Ocean. Dorling Kindersley. 2011. ISBN 978-1-4053-3308-5. Stow, Dorrik (2004). Encyclopedia of the Oceans. Oxford University Press. ISBN 0-19-860687-7. == Liên kết ngoài == Oceans tại DMOZ NOAA
samsung engineering.txt
Samsung Engineering Co., Ltd. (tiếng Hàn: 삼성엔지니어링) được thành lập như một công ty kỹ thuật đầu tiên ở Hàn Quốc vào 1970 và có trụ sở đặt tại Seoul, Hàn Quốc. Là một công ty kỹ thuật, đấu thầu và xây dựng (EPC), nó cung cấp đầy đủ các dịch vụ kỹ thuật bao gồm các nghiên cứu khả thi, thiết kế, đấu thầu, xây dựng, và vận hành. Công ty kinh doanh trên 40 quốc gia toàn cầu, và hiện đang vững chắc ở một số nơi như Ả Rập Saudi, Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Ấn Độ, Thái Lan, Trinidad & Tobago, và Mexico. == Đơn vị kinh doanh == Samsung Engineering được chia thành hai lĩnh vực kinh doanh sau: Hydrocarbon Công nghiệp & cơ sở hạ tầng Theo tầm nhìn của công ty đến năm 2015, đa dạng hóa cho các lĩnh vực sau: Nhà máy xử lý nước thải Thiết bị khử mặn Nhà máy điện Nhà máy thép Khai thác mỏ & kim loại == Điều hành chính == Choong Heum Park là chủ tịnh và nhà điều hành. == Xem thêm == Tập đoàn Samsung == Liên kết == Samsung Engineering - Trang web chính thức của công ty (Tiếng Hàn & Tiếng Anh) == Tham khảo ==
kobe.txt
Kobe (神戸市, Kobe-shi, Thần Hộ Thị) là một thành phố quốc gia của Nhật Bản ở vùng Kinki nằm trên đảo Honshu. Kobe là trung tâm hành chính của tỉnh Hyogo và là một trong những cảng biển chính ở Nhật, cùng với Yokohama, Osaka, Nagoya, Fukuoka và Tokyo. Kobe là một thành phố cảng sầm uất với dân số khoảng 1.500.000 người. Đây là một trong những thành phố đầu tiên mở rộng thông thương với phương Tây từ năm 1868. Thành phố cảng biển quốc tế này có 45.500 cư dân nước ngoài đến từ 100 quốc gia. Kobe cũng là quê hương của món thịt bò Kobe nổi tiếng thế giới. Người dân ở đây nuôi và làm thịt gia súc theo một cách riêng để lấy được thịt ngon. Năm 1995, một cơn địa chấn ở phía nam đảo Awaji có cường độ 6,8 Mô men đã làm cho 6.434 người bị thiệt mạng (ước tính vào ngày 22 tháng 12 năm 2005); trong đó khoảng 4.600 ở Kobe. Kobe là thành phố bị phá huỷ nặng nề nhất do nó nằm gần tâm chấn nhất. Để tưởng niệm nạn nhân của trận động đất, thành phố luôn làm lễ mặc niệm vào tháng 12 hàng năm, Luminarie, lúc đó cả Tòa thị chính được trang trí với những mái vòm chiếu sáng. == Lịch sử == Các công cụ được tìm thấy ở phía Tây Kobe đã chứng minh đã có người sinh sống tại đây vào thời kỳ Jomon. Các địa lý tự nhiên của khu vực, đặc biệt là Hyōgo-ku, đã khiến cho nó trở thành trung tâm lịch sử của thành phố. Có một thời gian ngắn Kobe đã từng là thủ đô của Nhật Bản, từ tháng 6 năm 1180 đến tháng 11 năm 1180 vào thời kỳ Heian. Thành phố được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1889, và chính thức công nhận là thành phố quốc gia vào ngày 1 tháng 9 năm 1956. Trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ hai, Kobe đã bị ném bom. Những trái bom từ máy bay B-29, vào ngày 17 tháng 3 năm 1945, giết chết 9000 người dân và đốt cháy cả thành phố. Từ những áp lực liên tiếp từ phía công dân, ngày 18 tháng 3 năm 1975, Hội đồng thành phố Kobe đã phải ra nghị quyết cấm mang vũ khí hạt nhân vào cảng Kobe. Hiệu quả của nghị quyết đó là ngăn ngừa tàu chiến Hoa Kỳ chứa vũ khí hạt nhân vào cảng. Ngày 17 tháng 1 năm 1995, một trận động đất 7,2 độ Richter, xảy ra vào 5:46 giờ sáng gần thành phố đã làm chết 6.433 người, làm 300.000 người thành vô gia cư, phá hủy phần lớn kho cảng và nhiều phần của thành phố. Đó là một thảm họa thiên nhiên tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại của thành phố. Cơn địa chấn đã phá hủy xa lộ Hanshin, nên còn được gọi là Cơn địa chấn dữ dội Hanshin. Kobe đã là cảng biển bận rộn nhất Nhật Bản, nằm trong 10 cảng biển châu Á cho tới khi cơn địa chấn Hanshin xảy ra. Từ sau đó, cảng Nagoya đã trở thành cảng biển lớn nhất nước Nhật. Thứ hạng quốc tế của Kobe đã tụt xuống 29 (năm 2002). Nhưng cảng Kobe sau đó đã lại leo lên vị trí thứ 3 Nhật Bản. == Địa lý == Nằm giữa bờ biển và dãy núi Rokko, thành phố Kobe rất dài và hẹp. Ranh giới của phần đất cảng là ngọn tháp cảng thép đỏ. Về phía đông là thành phố Ashiya, trong khi thành phố Akashi nằm ở phía tây của nó. Các thành phố lân cận khác bao gồm Takarazuka và Nishinomiyavề phía đông và Sanda và Miki về phía bắc. Hai hòn đảo nhân tạo, Đảo Cảng và đảo Rokko, được xây dựng để mở rộng phần thành phố vốn hẹp này. Cách xa bờ biển, trung tâm thành phố Kobe là phường Motomachi và Kokashita, cả khu phố Tàu Nankimachi. Núi Rokko nhìn ra Kobe ở độ cao 931 mét. Đây là nơi cao nhất ở Kobe. === Các khu hành chính === Nishi-ku (西区): Nông nghiệp ở quận Nishi rất trù phú bởi có hệ thống sông Akashigawa, là nơi thiên nhiên phong phú có quang cảnh thôn quê an bình. Đây là quận có lịch sử và truyền thống với nhiều đền chùa. Kita-ku (北区): Ngọn núi Rokko trải dài ở phía bắc của quận Kita cho thấy sự trù phú của thiên nhiên mà những đại đô thị không thể có. Trong quận, ngoài suối nước nóng Arima còn có tài sản giá trị văn hóa hoặc nghệ nhân dân tộc. Tarumi-ku (垂水区): Quận Tarumi là quận có khí hậu ôn hòa và môi trường thiên nhiên phong phú. Là nơi được biết đến qua tuyệt cảnh của eo biển Akashi và đảo Awaji. Suma-ku (須磨区): Quận Suma là quận nằm ở giữa vùng núi trù phú và vùng biển lặng sóng. Phía nam có di tích cỗ và phía bắc có khu dân cư được thành lập 40 năm trước, đã khiến cho quận Suma trở thành quận có đầy sự quyến rủ của lịch sử và thiên nhiên. Nagata-ku (長田区): Quận Nagata là quận có diện tích hẹp nhất trong 9 quận của TP Kobe nhưng lại là quận có mật độ dân số cao nhất. Quận có nhiều di tích lịch sử và có nếp sống văn hóa của khu phố đầy tình người. Hyōgo-ku (兵庫区): Quận Hyogo, nơi đã từng là thủ đô của Nhật Bản vào năm 1180. Tại đây cũng còn sót lại nhiều di tích lịch sử và truyền thống và là trung tâm lịch sử của thành phố. Chūō-ku (中央区): Vị trí của quận Chuo nằm giữa trung tâm của thành phố Kobe tạo nên sự phát triển cho Kobe. Quận có nhiều di sản mang tính lịch sử và là nơi dừng chân của rất nhiều khách du lịch. Ngoài ra, phía đông có xây dựng đô thị mới là HAT Kobe và đảo nhân tạo Port. Nada-ku (灘区): Quận Nada là khu vực bao bọc bởi biển và núi, hướng bắc giáp núi Rokko và núi Maya, phía nam giáp cảng Osaka; có nhiều cơ sở đa văn hóa, thể thao, giáo dục. Higashi nada-ku (東灘区): Quận Higashi Nada là khu phố giàu thiên nhiên có dòng sông Sumiyoshi chảy ở giữa quận. Quận còn có sự quyến rũ đa diện vì là nơi có truyền thống văn hóa cũ như Danjiri.v.v… nhưng lại có cả cái mới như đã kiến tạo đô thị trên mặt biển như đảo nhân tạo Rokko == Giao thông vận tải == === Đường sắt === Ở Kobe có đường xe lửa xuyên từ Đông đến Tây. Ga tàu chính là ga Sannomiya, vốn là nhà ga Kobe, nằm phía Tây, và nhà ga Shinkansen Shin-Kobe nằm ở phía Bắc. Ga Sannomiya là trung tâm đi lại chính ở Kobe, phục vụ như là điểm chuyển giao cho ba đường sắt đường liên tỉnh lớn. Tuyến đường sắt khác ở Kobe bao gồm tuyến tàu điện Kobe chạy về phía bắc tới Sanda và Arima Onsen; tuyến Hokushin Kyuko kết nối từ ga Shin-Kobe đến ga Tanigami. === Đường bộ và đường hàng không === Kobe là trung tâm ở một số đường cao tốc, bao gồm đường cao tốc Meishin (Nagoya - Kobe) và đường cao tốc Hanshin (Osaka - Kobe).[35] đường cao tốc khác bao gồm đường cao tốc Sanyo (Kobe - Yamaguchi) và đường cao tốc Chugoku (Osaka - Yamaguchi). Sân bay quốc tế Osaka ở gần Itami và Sân bay Kobe, được xây dựng trên một hòn đảo phía Nam Port Island, cung cấp chủ yếu là các chuyến bay nội địa, trong khi Sân bay quốc tế Kansai ở Osaka là trung tâm quốc tế chính trong khu vực. == Nhân khẩu == Kobe có dân số là 1.530.295 chiếm 658.876 hộ theo cuộc khảo sát dân số vào tháng 9 năm 2007. Mật độ dân số của thành phố là 2.768 người/km2. Kobe là thành phố có tỉ lệ dân số già thấp và độ tuổi lao động chiếm 66% dân số Kobe. Khoảng 44.000 công dân nước ngoài đăng ký sống ở Kobe. Bốn quốc gia phổ biến nhất là người Hàn Quốc (22.237), Trung Quốc (12.516), Việt (1.301), và người Mỹ (1.280). == Kinh tế == Cảng Kobe là một cảng quan trọng và là trung tâm sản xuất của Nhật Bản. Hiện Kobe nằm trong 3 tam giác kinh tế du lịch văn hoá của vùng Kansai: Osaka - Kobe - Kyoto. Năm 2004, tổng số GDP của thành phố là ¥ 6300000000000 với hơn 1/3 dân số làm ngành dịch vụ. Vật giá ở Kobe rất đắt đỏ. Du khách mới lên taxi thì đồng hồ đã chỉ 660 yên cho cây số đầu tiên. Bữa ăn trung bình cũng mất khoảng 2.000 yen. Rẻ nhất là nước trà đóng chai ướp lạnh không hơn ly trà đá của Việt Nam cũng gần 20.000 đồng Việt Nam. Năm 1995, mặc dù thành phố bị ảnh hưởng bởi động đất nhưng với ý chí và tinh thần vượt khó mãnh liệt của người dân Nhật Bản, chỉ trong vòng 6 ngày sau trận động đất, mạng lưới điện được phục hồi, hệ thống khí đốt và nước cũng trở lại bình thường trong vòng 3 tháng. Hệ thống đường bộ, đường sắt được khôi phục trong vòng 1 năm. Cảng Kobe được phục hồi hoàn toàn vào tháng 3-1997. Vì thế nền kinh tế Nhật Bản nói chung và Kobe nói riêng được phục hồi nhanh chóng. == Văn hoá == Thành phố Kobe chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây, vốn nhiều công viên và kiến trúc đẹp. Sức lôi cuốn của thành phố này ở chỗ bốn mùa quanh năm phong cảnh thiên nhiên rực rỡ. Kobe nổi tiếng với: món thịt bò Kobe, suối nước nóng Arima, ngắm nhìn thành phố đêm từ bờ biển hoặc từ núi, thành phố cảng với một không khí đẹp kì lạ đã được truyền qua lịch sử. Kobe còn được gắn liền với thời trang với câu nói: "Nếu bạn không thể đi đến Paris, thì đến Kobe." Ngoài ra còn có lễ hội nhạc Jazz "Kobe Jazz Street" đã được tổ chức mỗi tháng mười tại câu lạc bộ nhạc jazz và các khách sạn từ năm 1981. Kobe là nơi có sân golf đầu tiên ở Nhật Bản, Kobe Golf Club, được thành lập bởi Arthur Hasketh Groom vào năm 1903, và nhà thờ Hồi Giáo đầu tiên của Nhật Bản, Kobe Mosque, được xây từ năm 1935. == Du lịch == === Cảnh quan tự nhiên === Vùng núi Rokko: Núi Rokko cao 931m. Núi Maya cao 698m. Suối Nunobiki. Suối nước nóng Arima. Ashiya Rock Garden. === Các địa điểm nổi tiếng === Cảng Kobe Khu phố Tàu Đảo nhân tạo Port Đảo nhân tạo Rokko Khu mua sắm Motomachi Phố cổ Tor Khu đô thị mới HAT Kobe Bảo tàng nghệ thuật tỉnh Hyogo == Động đất Kobe năm 1995 == Ngày 17 tháng 1 năm 1995, một trận động đất 7,2 độ Richter, xảy ra vào 5:46 giờ sáng gần thành phố đã làm chết 6.433 người, làm 300.000 người thành vô gia cư, phá hủy phần lớn kho cảng và nhiều phần của thành phố. Đó là một thảm họa thiên nhiên tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại của thành phố. Cơn địa chấn đã phá hủy xa lộ Hanshin, nên còn được gọi là Cơn địa chấn dữ dội Hanshin. Chấn động chính chỉ kéo dài 10 giây và mạnh nhất ở 3 giây đầu tiên nhưng sức tàn phá của nó thật khủng khiếp. Nhà cửa rung lên bần bật rồi đổ nhào, xe chạy trên những chiếc cầu bị hất xuống dưới do cầu gãy. Sau đó là những đám cháy bắt đầu bốc lên. Hầu hết hệ thống đường bộ, đường sắt cảng cũng như hệ thống điện, nước và khí đốt bị hư hại nặng. == Thành phố kết nghĩa == == Hình ảnh == == Chú thích ==
xây dựng các vùng kinh tế mới.txt
Xây dựng các vùng kinh tế mới là một chính sách của Chính phủ Việt Nam nhằm tổ chức, phân bố lại lao động và dân cư trong cả nước, chuyển một khối lượng lớn dân cư từ các vùng đồng bằng và thành phố tới các vùng trung du, miền núi, biên giới, hải đảo. Chính sách này được triển khai tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1961 và trên toàn quốc từ sau khi đất nước thống nhất cho đến tận năm 1998. Trong 27 năm, Việt Nam đã di chuyển có tổ chức được 1.368.691 hộ, trong đó di cư trong nội bộ tỉnh là 702.761 hộ với 3 342.253 người, từ tỉnh này sang tỉnh khác là 665.930 hộ với 2.809.373 người. == Chủ trương == === Lý do kinh tế === Năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết đại hội về các nhiệm vụ của kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất,[1] trong đó có đoạn: Chủ trương này của Đảng Lao động Việt Nam được thực hiện bằng việc tổ chức di dân từ các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng lên sinh sống và sản xuất tại các địa phương miền núi và trung du phía Bắc. Năm 1976 sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV về Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của Kế hoạch 5 năm 1976-1980 [2] có đoạn: Trong khi việc di dân từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng lên các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là các tỉnh biên giới vẫn được tiếp tục, các chương trình di chuyển lao động và di dân từ các tỉnh đồng bằng phía Bắc tới Tây Nguyên (đặc biệt là Đăk Lăk, Lâm Đồng), Đông Nam Bộ (đặc biệt là Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai), di dân từ thành phố Hồ Chí Minh [3] sang các địa phương nông thôn ở Đông và Tây Nam Bộ được triển khai. Việc tổ chức di dân được giao cho chính quyền các địa phương và Tổng cục Khai hoang xây dựng kinh tế mới và sau này là Ban chỉ đạo Phân bố lao động và dân cư trung ương thực hiện. Nhà nước khuyến khích mọi người lao động và gia đình chuyển đến làm ăn các vùng kinh tế mới, trước hết là lao động những vùng nông thôn có mức bình quân ruộng đất thấp và không có điều kiện phát triển ngành nghề, lao động ở thành thị thiếu việc làm hoặc không có điều kiện để được sử dụng hợp lý. Các thành phần ở vùng kinh tế mới tuyển lao động theo độ tuổi tối đa 40 đối với nam và 35 đối với nữ. Đối với người có nghề chuyên môn, dân tộc ít người, hoặc trường hợp cần tuyển cả vợ chồng thì có thể tuyển với độ tuổi cao hơn (nam 45, nữ 40). Miền đất đến chủ yếu là vùng làm kinh tế ở hải đảo, vùng sâu vùng xa, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. Người dân miền Bắc theo các chuyến tàu Bắc Nam, Người miền Nam theo xe đò được cấp tiền vé, trang bị cho mỗi lao động hai công cụ sản xuất thích hợp. Các gia đình có nhiều khó khăn được trợ cấp, được bảo vệ sức khỏe, cung cấp hàng hóa trước khi lên vùng kinh tế mới, mua mặt hàng theo tem phiếu đã cấp. Khuyến khích làm kinh tế gia đình. === Lý do chính trị === Sau năm 1975 ngoài lý do kinh tế, việc di dân ra vùng kinh tế mới còn có chủ ý chính trị để giảm số người thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa tập trung ở những đô thị, nhất là vùng Sài Gòn để dễ kiểm soát phần tử chống đối. Trong 5 năm 1975-80 Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa về nông thôn 832.000 người. Phương pháp cưỡng bức dân thành thị đi kinh tế mới gồm thu hồi hộ khẩu, rút thẻ mua gạo và các nhu yếu phẩm, và cấm trẻ em nhập học khiến đối tượng phải di chuyển ra vùng nông thôn. Theo Lê Duẩn, phát biểu tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội chung cả nước, ngày 25 tháng 6 năm 1976: Theo lệnh ngày 19 Tháng Năm 1976 thì chính phủ đề ra năm hạng dân thành thị phải chuyển ra vùng kinh tế mới: Dân thất nghiệp Dân cư ngụ bất hợp pháp Dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho công chức và quân nhân Tiểu thương gia, tiểu địa chủ, đại thương gia Người gốc Hoa, dân theo đạo Công giáo. Chỉ tiêu là di chuyển 1.200.000 dân trong đô thành Sài Gòn ra ngoài thành phố. Con số đại thương gia còn lại ở Thành phố Hồ Chí Minh không được hơn 10% tổng số nguyên thủy.: == Thực hiện == === Thi hành === Việc thực hiện xây dựng khu kinh tế mới có hai phần: phần đất tư hữu và phần đất công của hợp tác xã. Theo phương thức sau năm 1975 thì mỗi hộ được phát 500 m² "đất sản xuất" để tự túc trồng trọt lương thực. Trên mảnh đất đó nông dân được quyền canh tác theo ý muốn sau khi đã đóng góp tám giờ mỗi ngày cho hợp tác xã. Chính phủ sẽ giúp đỡ trong sáu tháng đầu. Sau đó thì phải tự lo lấy. Trợ giúp từ chính quyền gồm: Vé xe chuyên chở từ nhà đến vùng kinh tế mới. Mỗi hộ được mang theo tối đa 800 kg hành lý. Nếu chí điểm ở xa thì mỗi ngày phụ cấp thêm 1 đồng tiền ăn dọc đường cho mỗi người Hai dụng cụ canh tác, thường là cuốc, thuổng 700-900 đồng để dựng nhà ở vùng kinh tế mới 100 đồng đào giếng, 100 đồng mua ghe thuyền nếu ở vùng sông rạch 1 đồng mỗi ngày nếu đau ốm, không lao động được; 50 xu mỗi ngày tiền thuốc khi bệnh; 150 đồng để mai táng nếu chết. Đối với khu vực kinh tế quốc doanh thì hoạt động theo mô hình hợp tác xã: công trình phục vụ sản xuất, đời sống chung cho toàn vùng, (như đê, đập, cầu, âu kè, cống, đường sá, khai hoang, xây dựng đồng ruộng, cải tạo đất lần đầu...), công trình khai hoang xây dựng đồng ruộng, cải tạo đất lần đầu, xây dựng cải tạo đồng cỏ, khai hoang trồng rừng, chăm sóc và tu bổ rừng tự nhiên. Các công trình phúc lợi công cộng: nhà trẻ, lớp mẫu giáo, một số phòng học trường phổ thông cơ sở, trạm y tế, cửa hàng hợp tác xã mua bán. Trụ sở làm việc, nhà hội họp v.v. Những hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuất đã có ở vùng còn đất hoang hoá, đồng ruộng, cải tạo đất lần đầu và xây dựng thêm các công trình phúc lợi công cộng. Riêng đối với các cơ sở của đồng bào định canh định cư, trồng cây dài ngày, cây đặc sản, xây dựng chuồng trại chăn nuôi tập thể. Chi thu của hợp tác xã được ấn định phải chi như sau: 30% trả thuế; 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước; 15% trả lương cho cán bộ quản lý hợp tác xã; 30% còn lại chia cho các thành viên của hợp tác xã tính theo số điểm. Theo chế độ tem phiếu thời bao cấp, người lao động trong hợp tác xã được phép mua 18 kg gạo/tháng ở giá chính thức. Người lao động phụ: 16 kg; người không lao động: 9 kg. Tổ chức các đơn vị hành chính (xã, ấp, thôn xóm...) để chăm lo cho nhân dân mới đến các yêu cầu về bảo vệ trật tự an ninh, về quản lý dân chính và các vấn đề xã hội khác. == Vùng Tây Nguyên == == Chú thích == == Tham khảo == Nguyen Van Canh. Vietnam Under Communism, 1975-1982. Stanford, CA: Hoover Institution Press of Stanford University, 1983. Trịnh Huy Quách và Hoàng Thị Tây Ninh (2004), "Vấn đề di dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc", Tạp chí Cộng sản, số 62. Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002. Quyết định 95/CP ngày 27 tháng 03 năm 1980 của hội đồng chính phủ
sức mua tương đương.txt
Sức mua tương đương (hay được viết tắt là PPP xuất phát từ purchasing power parity) là một kiểu tính tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ của hai nước. Các nhà kinh tế học tính xem cùng một lượng hàng của cùng một thứ hàng hóa khi bán ở hai nước khác nhau bằng đơn vị tiền tệ của hai nước đó thì số tiền phải bỏ ra ra sao, rồi từ đó so sánh lượng hai đơn vị tiền tệ. Trong kinh tế học, với giả định rằng mọi nền kinh tế đều mở cửa hoàn toàn để hàng hóa có thể lưu thông từ nước này sang nước kia và lờ đi chi phí vận tải hàng hóa từ nước này sang nước kia, thì tỷ giá hối đoái tính theo phương pháp sức mua tương đương đúng bằng tỷ giá hối đoái spot. Tuy nhiên trong thực tế, khi hai giả định trên không được đảm bảo và vì thêm nhiều yếu tố khác, hai mức tỷ giá hối đoái thường khác nhau. Khi so sánh tổng sản phẩm quốc nội của các nước, các cơ quan thống kê hay quy đổi tổng sản phẩm các nước theo cùng một đơn vị tiền tệ (thường là dollar Mỹ). Và khi dùng hai loại tỷ giá hối đoái spot và tỷ giá hối đoái theo sức mua tương đương sẽ cho hai con số GDP khác nhau. Việc tính tỷ giá theo sức mua tương đương hoàn toàn không dễ dàng vì khó mà kiếm được một thứ hàng hóa mà ở các nước khác nhau nó vẫn giống hệt nhau. Trong cố gắng tìm một thứ hàng hóa như vậy, tạp chí The Economist đã chọn bánh Big Mac và cho ra Chỉ số Big Mac. Tuy nhiên trong thực tế, để phù hợp với khẩu vị của các địa phương, McDonald vẫn làm bánh Big Mac ở địa phương này không hoàn toàn giống Big Mac ở địa phương kia. Thêm vào đó, thực phẩm như Big Mac thường được sản xuất tại địa phương và giá nhân công địa phương sẽ ảnh hưởng tới giá Big Mac. Gần đây, công ty CommSec lại giới thiệu Chỉ số iPod để đo PPP. == Xem thêm == Thuyết sức mua tương đương Danh sách quốc gia theo GDP (PPP) năm 2008 == Tham khảo ==
boscia.txt
Boscia là một chi thực vật thuộc họ Capparaceae. Chi này có các loài sau: Boscia albitrunca (Burch) Gilg & Ben. Boscia angustifolia A. Rich., 1831 Boscia arabica Pestalozii Boscia caffra Sond. Boscia coriacea Pax, 1891 Boscia corymbosa Gilg Boscia fadeniorum Fici, 1995 Boscia filipes Gilg, 1904 Boscia firma Radlk., 1884 Boscia foetida Schinz Boscia longifolia Hadj-Moust., 1965 Boscia longipedicellata Gilg. Boscia madagascariensis (DC.) Hadj-Moust., 1965 Boscia microphylla Oliv. Boscia minimifolia Chiov., 1916 Boscia mossambicensis Klotzsch, 1861 Boscia octandra Hochst. ex Radlk., 1884 Boscia oleoides (Burch. ex DC.) Toelken, 1969 Boscia pestalozziana Glig, 1904 Boscia peuchellii Kuntze Boscia plantefolii Hadj-Moust., 1965 Boscia polyantha sensu Roessler Boscia rautanenii Schinz Boscia rehmanniana Pestal. Boscia reticulata Hochst. ex A. Rich. Boscia rotundifolia Pax, 1891 Boscia salicifolia Oliv., 1868 Boscia senegalensis (Pers.) Lam. ex Poir., 1819 Boscia tenuifolia A. Chev., 1938 Boscia tomentella Chiov., 1932 Boscia tomentosa Toelken, 1969 Boscia transvaalensis Pest. Boscia weltwitschii Gilg == Hình ảnh == == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Boscia tại Wikispecies Missouri Botanical Garden TROPICOS Nomenclatural Database, referenced 30 tháng 12 năm 2007 [1] Bản mẫu:WestAfricanPlants
ký hiệu hóa học.txt
Ký hiệu hóa học là ký hiệu quốc tế của một nguyên tố theo IUPAC. Những ký hiệu này được là viết tắt của tên nguyên tố theo tiếng La Tinh hay Hy Lạp. Một số nguyên tố được lấy tên theo các nhà khoa học phát hiện ra nó hay để ghi nhận sự cống hiến của họ cho khoa học và cho nhân loại. Nếu ký hiệu gồm 2 chữ cái thì chữ đầu tiên được viết hoa, chữ còn lại viết thường. Ví dụ: H: tiếng La tinh Hydrogenium (tạo nước) Ac: tiếng Hy Lạp Aktína (phóng xạ) Es: lấy tên theo Albert Einstein Cm: lấy tên theo Marie Curie Chú ý: Co và CO là ký hiệu cho những chất khác nhau, Co là ký hiệu nguyên tố coban trong khi CO là hợp chất giữa cacbon và ôxy: mônôxít cacbon == Xem thêm == Tên các nguyên tố Bảng tuần hoàn == Tham khảo ==
danh sách những cuộc nhường ngôi trong lịch sử trung quốc và mông cổ.txt
Dưới đây là danh sách ghi nhận về những cuộc nhường ngôi trong lịch sử Trung Quốc: == Tự nguyện nhường ngôi == === Nhường ngôi nhưng vẫn giữ quyền nhiếp chính === Năm 299 TCN, Triệu Vũ Linh Vương Triệu Ung nhường ngôi cho con thứ là Huệ Văn Vương Triệu Hà rồi lui về cung Sa Khâu tự xưng là Triệu Chủ Phụ, do Triệu Hà lúc đó mới 11 tuổi nên ông vẫn là người nắm quyền nhiếp chính. Vũ Linh Vương an dưỡng ở đây được 5 năm thì bị công tử Thành và Lý Đoái đem quân phong tỏa tới mấy tháng và chết đói trong đó, hưởng dương 45 tuổi. Nguyên nhân binh biến này là do con trưởng của ông là An Dương quân Triệu Chương không phục Huệ Văn vương mà định làm loạn, Vũ Linh vương thương con định đem giang san chia làm đôi cho mỗi người một nửa, nhưng chưa kịp thực hiện thì Triệu Chương đã bị những người thân tín của Huệ Văn vương là công tử Thành và Lý Đoái sát hại, bởi sợ bị trách tội nên họ nhân đà đưa quân vây hãm cung Sa Khâu mới xảy ra cơ sự như vậy Năm 471, Bắc Ngụy Hiến Văn Đế Thác Bạt Hoằng truyền ngôi cho Thái tử Thác Bạc Hoành (lúc đó mới 4 tuổi) để lui về làm Thái thượng hoàng, chuyên tâm nghiên cứu triết học, tuy nhiên do Thái tử còn quá nhỏ nên ông vẫn giữ quyền nhiếp chính. Năm 476, Thác Bạt Hoằng bị mẹ kế là Phùng Thái hậu (vốn có tư thù vì trước đây nhà vua giết hại nhân tình của bà) ngầm sai người đánh thuốc độc hạ sát tại điện Vĩnh An trong cung Bình Thành, khi đó ông vừa tròn 23 tuổi. Năm 565, Bắc Tề Vũ Thành Đế Cao Trạm sau thời gian tại vị gây ra không ít những điều dị nghị trong chốn hậu cung, ông đã nghe lời khuyên của viên quan Ty Thiên Giám quyết định nhường ngôi cho Thái tử Cao Vĩ (lúc đó mới 8 tuổi) rồi lui về làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn giữ quyền nhiếp chính.. Cao Trạm giữ ngôi vị này được 5 năm thì qua đời, hưởng dương 33 tuổi Năm 579, Bắc Chu Tuyên Đế Vũ Văn Uân nhường ngôi cho thái tử Vũ Văn Xiển (lúc đó mới 6 tuổi). Tuy ông tự xưng là Thiên Nguyên hoàng đế nhưng vẫn trực tiếp điều hành chính trị, ở ngôi vị này được 1 năm thì lâm bệnh chết khi đang định mở cuộc hành quân lớn tiến xuống phương nam để đánh nhà Trần, hưởng dương 22 tuổi. Năm 1796, Thanh Cao Tông Hoằng Lịch sau 60 năm trị vì cảm thấy mình đã già yếu, hơn nữa ông cũng không muốn vượt quá thời gian tại vị của nội tổ Khang Hi nên đã xuống chiếu nhường ngôi cho Thái tử Ngung Diễm, ông lui về làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn trực tiếp phán quyết công việc triều chính được 3 năm thì lâm bệnh qua đời, thọ 89 tuổi. === Nhường ngôi bởi ốm đau bệnh tật === Mùa hè năm 581 TCN, Tấn Cảnh công Cơ Cứ ốm nặng trong lúc đang cử binh tấn công nước Trịnh. Ông quyết định lập thế tử Thọ Mạn lên nối ngôi, tức là Tấn Lệ công. Hơn 1 tháng sau, Tấn Cảnh công qua đời. Năm 399, Hậu Lương Thái Tổ Lã Quang trong lúc ốm nặng đã xuống chiếu thiện nhượng cho con trai thứ là Lã Thiệu rồi tự xưng là Thái thượng hoàng. Tuy nhiên, việc nhường ngôi này vừa diễn ra được vài ngày thì Lã Quang băng hà, thọ 64 tuổi. Hậu Lương Ẩn vương sợ thế lực của anh trưởng là Lã Toản có ý nhường ngôi nhưng ông này không nghe, ngày hôm sau đích thân Lã Toản đưa quân bao vây cấm cung, Lã Thiệu phải bỏ chạy rồi tự sát. === Nhường ngôi để xuất gia tu hành === Năm 1026, Đại Lý Bỉnh Nghĩa Đế Đoàn Tố Long sau khi giữ ngôi vị được 4 năm thì tuyên bố thiện nhượng cho anh con bác ruột là Đoàn Tố Chân rồi lên núi ở ẩn cạo đầu làm sư, mở đầu truyền thống "thiện vị vi tăng" của hoàng gia Đại Lý. Năm 1041, Đại Lý Thánh Đức Đế Đoàn Tố Chân sau thời gian tại vị 15 năm, do đam mê Phật pháp nên thiện nhượng ngôi vị cho cho cháu nội là Đoàn Tố Hưng rồi lên chùa niệm Phật cầu kinh lánh xa trần thế. Năm 1108, Đại Lý Trung Tông Đoàn Chính Thuần sau 12 năm tại vị đã truyền ngôi cho con là Đoàn Chính Nghiêm rồi xuất gia làm hòa thượng theo Phật giáo Mật tông. Năm 1147, Đại Lý Hiến Tông Đoàn Chính Nghiêm sau 39 năm trị vì đất nước đã truyền ngôi cho con là Đoàn Chính Hưng rồi xuống tóc đi tu. Năm 1171, Đại Lý Cảnh Tông Đoàn Chính Hưng sau 24 năm ngự trị đất nước đã nhường lại ngôi báu cho con là Đoàn Trí Hưng rồi xuất gia tu hành. Năm 1199, Đại Lý Tuyên Tông Đoàn Trí Hưng sau 28 năm ngồi trên ngai vàng đã từ nhiệm và trao lại cho con là Đoàn Trí Liêm rồi lui về hậu cung trở thành 1 cư sĩ tại gia. Năm 1205, Đại Lý Anh Tông Đoàn Trí Liêm là người rất sùng bái Phật giáo do vậy ở ngôi chỉ 4 năm đã thiện nhượng cho em mình là Đoàn Trí Tường, sau đó thoái ẩn để có thì giờ nghiên cứu những tinh hoa Phật pháp mà trong thời gian tại vị ông đã cử người sang nhà Tống thỉnh về được 1465 quyển Đại Tạng kinh. Năm 1238, Đại Lý Thần Tông Đoàn Trí Tường làm vua được 33 năm rồi do sùng bái Phật giáo mà xuống tóc tu hành nhượng lại ngôi vị quân chủ cho Thái tử Đoàn Tường Hưng. === Nhường ngôi do tác động từ ngoại cảnh === Đầu thời Xuân Thu ở Trung Nguyên, quân chủ nước Thục là Đỗ Vũ nhân nhà Chu suy yếu đã tự xưng đế hiệu, đó chính là Thục Vọng Đế. Bấy giờ, nước Thục xảy lũ lụt trầm trọng, Vọng Đế truyền mệnh cho tướng quốc Biết Linh chịu trách nhiệm trị thủy. Trong thời gian đó, Vọng Đế thông dâm với phu nhân của tướng quốc. Vì việc ấy, Vọng Đế cảm thấy áy náy nên sau khi Biết Linh trị thủy thành công đã bắt chước cách làm của Nghiêu Thuấn ngày trước đem ngôi báu nhường cho vị tướng quốc này, ông dời đến vùng núi phía Tây ẩn cư rồi qua đời ở đó, không rõ thọ bao nhiêu tuổi. Có thuyết khác nói rằng, khi Biết Linh hay chuyện đã tương kế tựu kế xui vợ bảo Đỗ Vũ nhường ngôi cho mình rồi sẽ đi ra ngoài ở cùng ông, Đỗ Vũ cả tin làm theo nhưng không ngờ bị mắc lừa, do đó nhường ngôi được ít lâu thì hối hận mưu đồ phục bích, nhưng khởi sự bất thành nên uất quá mà chết. Linh hồn hóa thành giống chim suốt ngày chỉ kêu "quốc, quốc", người ta gọi đó là chim quốc và nói đấy là Vọng Đế nhớ nước nên mới phát ra tiếng kêu như thế Năm 317 TCN, Yên vương Cơ Khoái nhường ngôi cho tướng quốc Tử Chi để lãnh đạo cải cách. Nguyên nhân dẫn đến sự việc này bắt nguồn từ việc kinh tế nước Yên suy nhược, tướng quốc Tử Chi nắm quyền chỉ huy cải cách đạt được những hiệu quả nhất định. Sau một thời gian, Yên vương Khoái nhận thấy mình tuổi đã cao, lại cho rằng tài năng của mình không bằng Tử Chi, và nghe theo lời khuyên của Lộc Mao Thọ, quyết định nhường ngôi vua cho Tử Chi để người này toàn quyền lãnh đạo. Ông bắt chước cách làm của Nghiêu Thuấn ngày trước, làm lễ trao ấn, nhường ngôi vua cho Tử Chi rất long trọng. Tử Chi nhận ngôi vua của Yên Khoái, từ đó cai trị nước Yên. Người nước Yên phản đối Tử Chi nên năm 312 TCN bùng phát bạo động, Tề Tuyên Vương nhân cơ hội sai đại tướng Khuông Chương đem quân tấn công thẳng vào kinh đô giết chết Yên vương Khoái, không rõ dương thọ bao nhiêu. Tử Chi bỏ trốn cũng bị quân Tề bắt giết sau đó ít lâu, người nước Yên lập Thái tử Bình làm vua mới. Năm 576, trong bối cảnh tình hình đất nước bị quân Bắc Chu công hãm kinh thành thế mạnh như vũ bão. Sau thất bại ở Cao Lương Kiều, Bắc Tề Hậu Chủ Cao Vĩ trên đường rút lui đã trao lại ngai vàng cho Thái tử Cao Hằng, về đến Nghiệp Thành ông chính thức được Cao Hằng tôn làm Thái thượng hoàng.. Năm 626, sau Sự biến Huyền Vũ môn không lâu, do e ngại tiếp tục có sự nội loạn trong dòng tộc, Đường Cao Tổ Lý Uyên đã quyết định nhường ngôi cho con thứ là Lý Thế Dân - người đã trực tiếp sát hại anh và em trai mình. Ông lui về làm Thái thượng hoàng được 10 năm thì mất, thọ 69 tuổi. Năm 712, Đường Duệ Tông Lý Đán, do e ngại thế lực của em gái là Thái Bình công chúa, sợ sẽ làm một Võ Tắc Thiên thứ hai đồng thời kết hợp với sự thỉnh cầu của quần thần đã nhường ngôi cho Thái tử Lý Long Cơ. Ông được Đường Huyền Tông tôn làm Thái thượng hoàng, nhưng trên thực tế, còn tiếp tục ra chỉ lệnh có ảnh hưởng và tác động lớn hơn của Huyền Tông cho tới năm 713. Chính thức nhường ngôi cho con trai vào ngày 30 tháng 7 năm đó, giữ ngôi vị được 5 năm thì mất, thọ 54 tuổi. Năm 1126, Tống Huy Tông Triệu Cát trong tình hình quân Kim trên đà nam tiến rất mạnh được quần thần kiến nghị nên quyết định nhường ngôi cho Thái tử Triệu Hoàn, còn mình lui về cung Long Đức xưng là Giáo chủ Đạo quân Thái thượng hoàng đế. Tuy nhiên, chỉ được 2 năm thì quân Kim tấn công vào cung điện bắt sống cả 2 cha con, phế trừ ngôi vị. Quân Kim ép quần thần nhà Tống phải công nhận Thái tể Trương Bang Xương làm Hoàng đế với quốc hiệu Sở. Triệu Cát cùng Triệu Hoàn bị quân Kim đưa về Bắc, ông sống đời bị đày ở đó thêm 8 năm nữa thì chết, thọ 54 tuổi. Năm 1189, hai năm sau cái chết của Thượng hoàng Cao Tông, Tống Hiếu Tông Triệu Thận do mất lòng tin vào việc trị lý quốc gia nên đã nhường ngôi cho con thứ 3 là Triệu Đôn, ông lui về làm Thái thượng hoàng ở cung Trùng Hoa gọi đây là Thọ hoàng thánh địa, được 6 năm thì chết, thọ 68 tuổi. Năm 1234, Kim Ai Tông Hoàn Nhan Thủ Tự thất thế trước sức công phá của vó ngựa Mông Cổ, vì không muốn chứng kiến đất nước bị đoạn tuyệt trong tay mình nên thoái vị nhường ngôi cho hậu duệ dòng thứ của Kim Thái Tổ là Đông diện nguyên soái Hoàn Nhan Thừa Lân. Khi nghi thức chuyển giao quyền lực vừa xong thì quân Mông Cổ tràn vào thành, Ai Tông thắt cổ tự vẫn, hưởng dương 37 tuổi. Về phần Mạt Đế, với cương vị đương kim thiên tử đã chỉ huy binh lính chiến đấu tới cùng rồi cũng bị giết chết trong đám loạn quân. Tháng 2 năm 1329, Nguyên Văn Tông Tugh Temür làm lễ thoái vị trao Ngọc tỷ truyền quốc cho anh là Chu vương Kuśala khi vị thân vương này vừa ở Mạc Hoa về tới Đại Đô, ông được lập làm Hoàng trữ để kế vị sau này. Thực ra Kuśala được quần thần chọn làm người nối ngôi Thái Định Đế nhưng do ở quá xa chưa về đăng cơ thì trong triều đã xảy ra nội loạn, Bình Chương Chính Sự Đảo Thích Sa lập con của Thái Định Đế là Borjigin Arigabag lên ngôi tức Nguyên Thiên Thuận Đế. Được sự hỗ trợ của Khu mật viện sự El Temür, Tugh Temür dẹp tan cuộc nội loạn này rồi tuyên bố tạm thời đăng cơ để chờ anh về tiếp nhiệm, tuy nhiên khi biết tin mình được tôn vị Kuśala lập tức xưng đế ngay tại Hòa Lâm, sau đó mới rầm rộ kéo quân về kinh kế vị ngai vàng. Nhưng việc nhường ngôi này tồn tại trong 6 tháng, Tugh Temür lại nghe lời xúi giục của Khu mật viện sự El Temür bày mưu mời Minh Tông dự yến đầu độc chết rồi tuyên bố phục vị. Lần lên ngôi thứ 2 Văn Tông tại vị được 3 năm thì mất, hưởng dương 29 tuổi. == Không tự nguyện nhường ngôi == Năm 8, quyền thần nhà Tây Hán là Nhiếp hoàng đế Vương Mãng soán ngôi Nhũ Tử Lưu Anh lập ra nhà Tân dưới danh nghĩa Hán đế (khi đó mới 4 tuổi) tự nguyện thoái vị bằng việc hạ chiếu thư trao ngôi báu, đổi quốc hiệu là Tân. Vương Mãng sai em là An Dương hầu Vương Thuấn vào cung ép Thái hoàng thái hậu Vương Chính Quân trao Ngọc tỷ truyền quốc cho mình, nhưng bà từ chối, mắng anh em họ Vương rồi cầm ngọc tỉ ném mạnh xuống đất, khiến viên ngọc này bị sứt một góc, về sau Vương Mãng phải sai người dùng vàng để khảm lại chỗ sứt đó. Tuy nhiên, triều đại của Vương Mãng chỉ duy trì được 15 năm thì bị quật đổ bởi quân khởi nghĩa Xích Mi và Lục Lâm. Về phía Lưu Anh bị giáng làm Định An công, năm 25 được tướng Phương Vọng ở Bình Lăng phục vị. Chẳng bao lâu, Hán Cánh Thuỷ Đế Lưu Huyền sai quân trấn áp được Phương Vọng, giết chết Lưu Anh, khi đó ông mới 20 tuổi. Năm 220, Hán Hiến Đế Lưu Hiệp, dưới áp lực của quyền thần, phải ra chiếu chỉ thoái vị nhường ngôi cho Ngụy vương Tào Phi, hợp thức hóa quyền lực của họ Tào nắm giữ từ trước đó. Tào Phi sau ba lần giả vờ từ chối bằng việc bảo sứ thần đem "Ngọc tỷ truyền quốc" trả lại cho Hán Đế, đến lần thứ tư mới chính thức nhận ngôi lập ra nhà Ngụy. Sau khi nhường ngôi, Lưu Hiệp bị giáng làm Sơn Dương công, giữ tước hiệu này thêm 14 năm mới qua đời, thọ 53 tuổi. Năm 265, Tào Ngụy Nguyên Đế Tào Hoán bị bức phải xuống chiếu nhường ngôi cho quyền thần Tấn vương Tư Mã Viêm. Lịch sử lặp lại với màn kịch của 45 năm về trước được giàn dựng y hệt bản chính, sau hai lần giả vờ từ chối định nhường cho thái uý Hà Tăng và vệ tướng quân Giả Sung, Tư Mã Viêm mới chính thức hành lễ đăng cơ, đổi quốc hiệu là Tấn. Về phía Tào Hoán, bị giáng làm Trần Lưu vương, giữ tước hiệu này đến khi mất vào 302, thọ 57 tuổi. Năm 301, Triệu vương Tư Mã Luân ép cháu ruột là Tấn Huệ Đế Tư Mã Trung thoái vị nhường ngôi cho mình để làm Thái thượng hoàng. Tuy nhiên Tư Mã Luân ngồi trên ngai vàng chưa nóng chỗ thì các tông thất họ Tư Mã khác đem binh đánh phá (nối tiếp "loạn bát vương") khiến nhà Tấn suy yếu. Tư Mã Trung tuy được phục vị, nhưng đến năm 306 thì bị chú ruột là Đông Hải vương Tư Mã Việt đầu độc chết, hưởng dương 48 tuổi. Năm 404, Tấn An Đế Tư Mã Đức Tông bị quyền thần Sở vương Hoàn Huyền ép phải trao ngọc tỷ truyền quốc và cử hành nghi lễ nhường ngôi rất long trọng. Tuy nhiên Hoàn Huyền dựng nước chưa được bao lâu thì bị thái thú Hạ Bì là Lưu Dụ cất quân về kinh sát phạt, Hoàn Huyền thua to tháo chạy rồi bị giết chết. Tư Mã Đức Tông được Lưu Dụ rước về cung phục vị, nhưng đến cuối năm 418, cũng chính Lưu Dụ sai người giết chết Tư Mã Đức Tông để tôn lập Tấn Cung Đế, lúc ấy nhà vua mới 38 tuổi. Năm 420, đến lượt người kế vị của Tấn An Đế là Tấn Cung Đế Tư Mã Đức Văn cũng bị quyền thần Lưu Dụ ép phải thoái vị nhường ngôi cho ông ta, lập ra triều đại mới Lưu Tống ở Giang Nam. Sau khi từ nhiệm, Tư Mã Đức Văn bị giáng làm Linh Lăng vương, chỉ được 1 năm thì bị Lưu Tống Vũ Đế sai người giết chết, hưởng dương 36 tuổi. Năm 479, Lưu Tống Thuận Đế Lưu Chuẩn bị quyền thần Tề vương Tiêu Đạo Thành ép phải xuống chiếu nhường ngôi cho mình, lập ra nhà Nam Tề. Sau khi nhường ngôi, Lưu Chuẩn bị giáng làm Nhữ Âm vương và bị giám quản rất nghiêm ngặt, chưa đầy một tháng sau thì bị sát hại, lúc đó ông mới hơn 10 tuổi. Năm 502, Nam Tề Hòa Đế Tiêu Bảo Dung bị quyền thần Lương vương Tiêu Diễn ép phải xuống chiếu nhường ngôi. lập ra nhà Lương. Sau khi nhường ngôi, Tiêu Bảo Dung bị giáng làm Ba Lăng vương, tuy nhiên, chỉ được một ngày thì bị Lương Vũ Đế sai người giết chết, khi ấy ông mới 14 tuổi. Năm 532, Bắc Ngụy Hậu Phế Đế Nguyên Lãng bị quyền thần Cao Hoan ép phải nhường ngôi cho Bình Dương Vương Nguyên Tu , Cao Hoan lấy lý do Nguyên Lãng không phù hợp làm Hoàng đế bởi chỉ là thành viên của 1 nhánh hoàng tộc xa so với các vị Hoàng đế gần trước đó, hơn nữa lại do phản thần Nhĩ Chu Thế Long dựng lên nhằm chống đối với Tiết Mẫn Đế. Nguyên Lãng bị giáng làm An Định Vương, mùa đông năm ấy, Hiếu Vũ Đế hạ lệnh cho An Định Vương phải tự sát, hưởng dương 20 tuổi. Năm 550, Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế Nguyên Thiện Kiến bị quyền thần là Tề Quận vương Cao Dương ép phải ra chiếu chỉ nhường ngôi, lập ra nhà Bắc Tề Sau khi nhường ngôi, Nguyên Thiện Kiến bị giáng làm Trung Sơn vương, được Bắc Tề Văn Tuyên Đế gả em gái. Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau, năm 552, Văn Tuyên Đế cho người giết hại cựu hoàng Nguyên Thiện Kiến (lúc này mới 29 tuổi) để trừ hậu hoạn. Năm 551, Dự Chương vương Tiêu Đống bị quyền thần Hầu Cảnh, người vừa tôn lập Tiêu Đống lên ngôi hoàng đế nhà Lương trước đó 3 tháng, ép buộc phải xuống chiếu nhường ngôi cho ông ta, đổi quốc hiệu là Hán, giáng Tiêu Đống làm Hoài Âm vương nhưng lại giam cầm trong ngục. Tuy nhiên, Hầu Cảnh lên ngôi chưa được bao lâu thì bị bộ tướng Vương Tăng Biện của Tương Đông vương Tiêu Dịch đánh bại rồi bị giết. Tiêu Đống cũng có số phận bi thảm khi bị ông chú của mình là Tiêu Dịch sai người giết chết đầu năm 552, không thấy thư tịch nào ghi lại dương thọ của ông Đầu năm 557, Tây Ngụy Cung Đế Thác Bạt Khuếch bị quyền thần là Đại tư mã Vũ Văn Hộ ép phải hạ chỉ nhường ngôi cho cháu ruột mình là Vũ Văn Giác lập ra nhà Bắc Chu. Thác Bạt Khuếch bị giáng làm Tống công, chưa đầy một tháng thì bị chú cháu Vũ Văn Hộ đầu độc chết, hưởng dương 21 tuổi. Cuối năm 557, Lương Kính Đế Tiêu Phương Trí bị quyền thần Trần vương Trần Bá Tiên ép phải nhường ngôi, lập ra nhà Trần. Sau khi thoái vị, Tiêu Phương Trí bị giáng làm Giang Âm vương. Tuy nhiên, vào hè năm 558, Trần Vũ Đế đã cho người giết chết cựu hoàng, năm ấy ông vừa tròn 16 tuổi. Năm 577, Bắc Tề Thái thượng hoàng Cao Vĩ hạ lệnh cho Bắc Tề Ấu Chủ Cao Hằng nhường lại ngôi vị cho Nhiệm Thành Vương Cao Dai, sau đó ông cùng Cao Hằng bỏ chạy trước sự truy kích gắt gao của đối phương. Chẳng bao lâu, cả Cao Vĩ lẫn Cao Hằng đều bị quân Bắc Chu bắt được giải về Trường An. Cuối năm đó, có người tố cáo Cao Vĩ cấu kết với thứ sử Tuyên Châu là Mục Đề Bà âm mưu phản loạn. Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung hạ lệnh nhét đầy ớt cay vào miệng Cao Vĩ cho đến khi chết sặc, các thành viên khác trong hoàng tộc Bắc Tề cũng bị buộc phải tự sát, lúc đó Cao Vĩ mới 22 xuân xanh còn Cao Hằng vừa tròn 8 tuổi. Năm 581, Bắc Chu Tĩnh Đế Vũ Văn Xiển bị quyền thần là Tùy vương Dương Kiên, ép phải xuống chiếu thoái vị nhường ngôi, chính thức thay thế lập ra nhà Tùy. Vũ Văn Xiển bị giáng làm Giới quốc công, ba tháng sau thì bị Tùy Văn Đế cho người ám sát, lúc đó ông mới gần 9 tuổi. Năm 618, sau cái chết của Thái thượng hoàng Tùy Dạng Đế, Tùy Cung Đế Dương Hựu bị quyền thần Đường vương Lý Uyên, người vừa tôn lập Dương Hựu lên ngôi chỉ mới sáu tháng trước, buộc phải thoái vị để nhường ngôi cho mình lập ra triều đại nhà Đường. Dương Hựu bị giáng làm Hi quốc công, đến mùa thu năm sau thì không rõ bị ai giết chết, khi đó mới 15 tuổi, nhiều sử gia cho rằng khả năng là theo lệnh của Đường Cao Tổ. Năm 619, một hoàng đế nhà Tùy khác là Hoàng Thái Đế Dương Đồng bị quyền thần Trịnh vương Vương Thế Sung bức ép xuống chiếu nhường ngôi, đổi quốc hiệu là Trịnh. Vương Thế Sung giáng Dương Đồng làm Lộ quốc công, các tướng lĩnh trung thành với nhà Tuỳ nổi dậy rước cựu hoàng phục vị sau đó 1 tháng. Nhưng chẳng được bao lâu, Trịnh vương dẹp yên bạo loạn rồi sai người mang rược độc đến bức tử Dương Đồng, khi đó nhà vua vừa tròn 15 tuổi. Còn Vương Thế Sung sau 3 năm tự lập cũng bị nhà Đường đánh bại phải đầu hàng và đưa vào đất Thục lưu đày, ở đây ông bị Độc Cô Tu Đức sát hại để trả mối thù giết cha. Năm 705, Chu Thánh Thần Đế Võ Tắc Thiên sau 15 năm cai trị, bị Tể tướng Trương Giản Chi làm cuộc "Ngũ vương chính biến" đưa quân vào hậu cung ép phải thoái vị, nhường ngôi cho thái tử Lý Hiển, người từng bị chính bà phế truất. Đường Trung Tông sau khi tái đăng cơ vào tháng 2, đã tôn hiệu cho mẹ là Thái thượng hoàng, khôi phục quốc hiệu Đại Đường. Bấy giờ Võ Tắc Thiên đã 82 tuổi, bà qua đời ở cung Thượng Dương chỉ 9 tháng sau đó, trước lúc lâm chung bà đã hạ chỉ phế bỏ đế hiệu mà xưng là "Hoàng hậu đại thánh Tắc thiên vương". Năm 710, Đường Thương Đế Lý Trọng Mậu kế vị cha là Đường Trung Tông Lý Hiển chưa được 10 ngày thì bị cô ruột là Thái Bình công chúa và em họ là Lâm Truy vương Lý Long Cơ phát động cuộc đảo chính cung đình, giết chết Vi Thái hậu và An Lạc công chúa (mẹ và chị ruột của Lý Trọng Mậu), buộc Lý Trọng Mậu phải xuống chiếu nhường ngôi cho cha của Long Cơ là cựu hoàng Lý Đán.<ref="lethanhlan429">Lê Thành Lân, sđd, trang 249</ref> Lý Trọng Mậu bị buộc trở về tước vị cũ là Ôn vương và bị đưa ra khỏi kinh đô Trường An. Ông chết 4 năm sau đó khi đang ở Phòng Châu làm Thứ sử, khi mới 17 tuổi. Năm 805, dù mới kế vị vua cha Đường Đức Tông mới được 8 tháng, dưới sự bức ép của các hoạn quan do Câu Văn Trân cầm đầu và Tứ Xuyên tiết độ sứ Vi Cao. Vị hoàng đế câm điếc Đường Thuận Tông Lý Tụng buộc phải ra chiếu thoái vị nhường ngôi cho con trai là Lý Thuần, sử sách gọi là "Vĩnh Trinh nội thiện". Ông lui về hậu cung tự xưng là Thái thượng hoàng được hơn 1 năm thì qua đời, hưởng dương 46 tuổi. Năm 900, Đường Chiêu Tông Lý Hoa bị hoạn quan Tả trung uý Lưu Quý Thuật dẫn cấm quân đột nhập vào nội cung phối hợp với Hữu quân Trung uý Vương Trọng Tiên bắt giam, sau đó bọn họ ngụy tạo chiếu thư với nội dung là Chiêu Tông nhường ngôi cho Thái tử Lý Dụ để lui về hậu cung làm Thái thượng hoàng. Tuy nhiên, việc chuyển giao quyền lực này chỉ diễn biến trong 3 tháng thì có Tuyên Vũ Tiết độ sứ Chu Toàn Trung bày mưu tập hợp các hữu quân bộ tướng lật đổ được Lý Dụ rồi rước Chiêu Tông trở lại ngai vàng, ba năm sau chính Chu Toàn Trung lại là kẻ sai người hạ sát thiên tử mà lập ấu đế Lý Chúc để dễ bề thao túng triều đình. Năm 907, Đường Ai Đế Lý Chúc bị quyền thần Lương vương Chu Toàn Trung bức phải xuống chiếu thoái vị nhường ngôi cho mình, lập ra nhà Hậu Lương Lý Chúc bị giáng làm Tế Âm vương, được đưa từ Lạc Dương đến Tào Châu và bị quản thúc nghiêm ngặt. Năm 908, Hậu Lương Thái Tổ cho người dùng rượu độc giết chết Lý Chúc, lúc ấy ông mới gần 17 tuổi Năm 937, Nam Ngô Duệ Đế Dương Phổ bị quyền thần là Tề vương Từ Tri Cáo bức phải xuống chiếu thoái vị để nhường ngôi cho mình, đặt quốc hiệu là Tề. Sau khi thoái vị, Dương Phổ được Từ Tri Cáo cho an trí tại cung điện cũ ở Giang Đô, được phép duy trì tông miếu, cùng các nghi thức dành cho hoàng đế nước Ngô trước kia. Để tránh bị nghi ngờ, lâm họa sát thân, Dương Phổ hết sức giữ gìn rất hạn chế sử dụng các nghi thức dành cho mình mà tập trung vào việc chuyên tâm nghiên cứu Đạo giáo Năm 939, Dương Phổ qua đời, hưởng dương 40 tuổi. Cũng năm đó, Từ Tri Cáo đổi tên thành Lý Biện, đổi quốc hiệu là Đường với chính danh kế thừa nhà Hậu Đường vừa mất trước đó chưa lâu. Năm 960, xảy ra vụ Binh biến Trần Kiều, Điện tiền đô kiểm điểm Triệu Khuông Dận được binh sĩ tôn lập lên ngôi Hoàng Đế. Để chính danh, Triệu Khuông Dận dẫn binh quay lại kinh đô, ép Hậu Chu Cung Đế Sài Tông Huấn, lúc đó mới 7 tuổi, xuống chiếu thoái vị nhường ngôi, lập nên nhà Tống. Sau khi đăng cơ chính thức, Tống Thái Tổ giáng Sài Tông Huấn làm Trịnh vương, ban cho "miễn tử kim bài", bảo đảm con cháu họ Sài được hưởng phú quý vĩnh viễn, nếu có phạm tội cũng không bị gia hình. Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau, Sài Tông Huấn bị đày đi Phòng Lăng và mất tại đây năm 973, khi mới 20 tuổi. Năm 1075, sau khi làm vua được 27 năm, Đại Lý Hưng Tông Đoàn Tư Liêm bị quyền thần là Thiện Xiển hầu Cao Trí Thăng ép phải nhường ngôi cho con trai là Đoàn Liêm Nghĩa rồi xuống tóc tu hành. Năm 1081, Đại Lý Thượng Minh Đế Đoàn Thọ Huy bị quyền thần Thiện Xiển hầu Cao Thăng Thái bức phải xuất gia đi tu, ngai vàng được nhường cho cháu nội của Thượng Đức đế Đoàn Liêm Nghĩa là Đoàn Chính Minh. Năm 1094, Đại Lý Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh bị Cao Thăng Thái ép thoái vị xuất gia, nhường ngôi cho mình, đổi quốc hiệu là Đại Trung. Năm 1096, Cao Thăng Thái lâm bệnh nặng, nhân cơ hội này các bộ tộc du mục thiểu số thừa cơ nổi loạn. Trước lúc băng hà, Cao Thăng Thái dặn con là Cao Thái Minh nên tôn lập em của Đoàn Chính Minh là Đoàn Chính Thuần để dẹp yên bạo động. Cao Thái Minh y lời cha mời Đoàn Chính Thuần về kinh trả lại ngôi báu, đổi lại quốc hiệu là Đại Lý. Năm 1129, Tống Cao Tông Triệu Cấu bị quyền thần phát động binh biến ép phải nhường ngôi cho Thái tử Ngụy quốc công Triệu Phu (lúc đó mới 3 tuổi), tôn làm Duệ Thánh Nhân Hiếu Hoàng Đế và đưa Long Hựu thái hậu ra buông rèm nhiếp chính. Tuy nhiên, chỉ hơn 1 tháng sau, danh tướng Hàn Thế Trung đem quân về kinh đánh dẹp loạn đảng. Triệu Phu cũng chết không rõ nguyên nhân, nhờ đó Cao Tông phục vị. Năm 1162, Tống Cao Tông Triệu Cấu một lần nữa bị quần thần gây áp lực bức phải nhường ngôi cho con nuôi là Thái tử Triệu Thận và lui về làm Thái thượng hoàng, ông quy tiên vào năm 1187, thọ 81 tuổi. Năm 1194, lấy cớ Tống Quang Tông Triệu Đôn không chịu đứng ra chủ trì tang lễ Thái thượng hoàng Hiếu Tông, Ngô thái hậu và các đại thần ép nhà vua phải thoái vị nhường ngôi cho em là Triệu Khoách, lui về cung Thọ Khang làm Thái thượng hoàng được 7 năm thì quy tiên, thọ 54 tuổi. Năm 1211, Tây Liêu Mạt Chủ Gia Luật Trực Lỗ Cổ bị con rể là Nãi Man vương tử Thái Dương hãn Küchlüg phục kích nhân lúc ra ngoài thành săn bắn, sau đó giam hãm trong cung cấm rồi ép phải nhường ngôi cho mình. Gia Luật Trực Lỗ Cổ được tôn lên làm Thái thượng hoàng, giữ ngôi vị 2 năm thì mất, không rõ thọ bao nhiêu tuổi, có thuyết khác lại nói Khuất Xuất Luật phế truất bố vợ làm dân thường. Năm 1218, quân Mông Cổ tấn công Tây Liêu, giết chết Küchlüg, Tây Liêu diệt vong. Năm 1223, Tây Hạ Thần Tông Lý Tuân Hiệt trước cuộc tấn công dũng mãnh của đại quân Mông Cổ đã thất bại thảm hại, ông bị quần thần ép phải nhường ngôi cho con thứ là Lý Đức Vượng. Lý Tuân Hiệt lui về làm Thái thượng hoàng được 4 năm thì qua đời trước khi nước Tây Hạ bị Gengis Khan tiêu diệt không lâu, thọ 64 tuổi. == Danh sách những cuộc nhường ngôi không phải do quân chủ thực hiện == Cuối năm 950, Hậu Hán Ẩn Đế bị loạn binh giết chết, Vũ Ninh tiết độ sứ Lưu Lại nhận được tin Khu mật sứ Quách Uy tôn làm hoàng đế. Trong thời gian Lưu Lại về kinh để đăng cơ, Lý Thái hậu của nhà Hậu Hán bị buộc phải giao ngọc tỷ truyền quốc để cho Quách Uy lên ngôi Hoàng đế lập ra nhà Hậu Chu. Tháng 1 (âm lịch) năm 951, khi Lưu Lại vừa về đến nơi thì bị Quách Uy ép phải ký vào chiếu thư nhường ngôi dù chưa làm vua ngày nào. Sau khi lên ngôi chính thức, Hậu Chu Thái Tổ phế Lưu Lại làm Tương Âm công, ít lâu sau thì sai người giết hại, không rõ dương thọ bao nhiêu Năm 1127, sau khi quân Kim rút về Bắc, Ngụy Sở hoàng đế Trương Bang Xương bị các quần thần bức thoái vị, nhường lại ngai vàng cho em của Tống Khâm Tông là Khang vương Triệu Cấu, tái lập nhà Tống. Tống Cao Tông phong Trương Bang Xương làm Thái bảo, Phụng Quốc quân Tiết độ sứ, Đồng An Quận vương, sau gia thêm Thái phó. Tuy nhiên, được ít lâu thì một số đại thần tố cáo việc Trương Bang Xương tội dâm loạn hậu cung khi còn tại vị, Cao Tông liền ra lệnh biếm hết mọi chức vụ, đày ông này đi Chương Châu, đến tháng 9 thì sai người bức tử, dưởng dương 47 tuổi. Năm 1229, Nguyên Duệ Tông Tolui sau 2 năm Giám quốc đã triệu tập các quý tộc Mông Cổ họp hội nghị Kurultai bàn việc tuyển chọn người kế vị ngôi Khả hãn, hầu hết mọi người đều suy tôn ông nhưng Tolui không nghe mà quyết định thoái vị để nhường ngôi cho anh thứ 3 là Ögedei. Tuy thời gian tại vị ông chỉ xưng hiệu là Dã khả na nhan nhưng thực tế đã nắm quyền lực Đại Hãn, Tolui qua đời năm 1232 tại thảo nguyên Mông Cổ, hưởng dương 40 tuổi. Năm 1246, Hoàng hậu Töregene Khâtûn sau 6 năm xưng chế dẫn đến triều cương bại hoại, pháp độ rối loạn, điều này khiến nhiều thế lực nổi dậy tranh đấu hỗn chiến không ngừng nên bị quần thần phản đối kịch liệt mà buộc phải thoái vị. Tuy nhiên, bà dứt khoát không theo di nguyện của Nguyên Thái Tông Ögedei trả ngôi báu cho Širemün, bà triệu tập hội nghị bách quan chư vương để quyết định công bố trao ngai vàng cho con trai mình là Güyük. Vì vậy, Töregene Khâtûn vẫn là người khống chế chính sự thực tế của đế quốc Mông Cổ, bà qua đời vào cuối năm ấy, không rõ thọ bao nhiêu tuổi. == Xem thêm == Thiện nhượng Danh sách những cuộc nhường ngôi trong lịch sử Việt Nam Danh sách những cuộc nhường ngôi trong lịch sử Triều Tiên Danh sách những cuộc nhường ngôi trong lịch sử Nhật Bản == Nguồn tham khảo == == Chú thích ==
nhóm nguyên tố 4.txt
Nhóm nguyên tố 4 là nhóm gồm 4 nguyên tố titan (Ti), zirconi (Zr), hafni (Hf), rutherfordi (Rf) trong bảng tuần hoàn, nhóm này còn có tên gọi khác là nhóm titan. == Tham khảo ==
lễ tạ ơn (bắc mỹ).txt
Lễ Tạ ơn (tiếng Anh: Thanksgiving) là một ngày lễ hàng năm được tổ chức chủ yếu tại Hoa Kỳ và Canada. Có ý nghĩa lúc đầu là mừng thu hoạch được mùa và tạ ơn Thiên Chúa đã cho sống no đủ và an lành. Đây cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, cho tất cả người lao động theo luật định tại Mỹ và Canada. Ngày và nơi diễn ra lễ Tạ ơn đầu tiên là chủ đề của một cuộc tranh cãi nhỏ. Mặc dù lễ Tạ ơn sớm nhất đã được kiểm chứng diễn ra vào ngày 8 tháng 9 năm 1565 tại khu vực ngày nay là Saint Augustine, Florida, nhưng "lễ Tạ ơn đầu tiên" theo truyền thống được coi là đã diễn ra tại khu vực thuộc thuộc địa Plymouth vào năm 1621. Ngày nay, tại Hoa Kỳ, lễ Tạ ơn được tổ chức vào ngày thứ Năm lần thứ tư của tháng 11 vì thế ngày này có thể không phải là ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 như nhiều người lầm tưởng (thí dụ năm 2012 có đến 5 ngày thứ năm). Tại Canada, nơi có cuộc thu hoạch sớm hơn, ngày lễ này được tổ chức vào ngày thứ Hai lần thứ hai của tháng 10. == Lịch sử == Lễ Tạ ơn gắn liền với các lễ hội ngày mùa thường được tổ chức ở châu Âu từ xưa. Trong truyền thống Anh, ngày tạ ơn và nghi lễ tôn giáo tạ ơn đặc biệt trở nên quan trọng trong quá trình Cải cách Kháng Cách tại Anh trong thời kỳ trị vì của vua Henry VIII. Tại Bắc Mỹ, lễ hội này đầu tiên được tổ chức tại Newfoundland bởi Martin Frobisher và nhóm Thám hiểm Frobisher năm 1578, để mừng tạ ơn Chúa đã cho sống sót qua cuộc hành trình dài và nhiều bão tố từ Anh. Một lễ hội khác được tổ chức vào ngày 4 tháng 12 năm 1619 khi 38 người khai hoang từ giáo khu Berkeley xuống thuyền tại Virginia và tạ ơn Thượng đế. Tuy nhiên trước đó, cũng có thông tin về một buổi tiệc Tạ ơn tổ chức bởi Francisco Vásquez de Coronado (cùng với nhóm người da đỏ Teya) ngày 23 tháng 5 năm 1541 tại Texas, để ăn mừng việc họ tìm ra lương thực. Một số người cho rằng đây là cuộc tổ chức Tạ ơn thật sự đầu tiên tại Bắc Mỹ. Một sự kiện tương tự xảy ra một phần tư thế kỷ sau, vào ngày 8 tháng 9 năm 1565 tại St. Augustine, Florida khi Pedro Menéndez de Avilés gặp đất liền; ông và những người trên thuyền đã tổ chức một buổi tiệc với người bản xứ. == Sự tích về ngày lễ tạ ơn == Vào khoảng thế kỷ 16-17, một số người theo Công giáo và Thanh giáo tại Anh bị hoàng đế lúc đó bắt cải đạo để theo tôn giáo của ông ta, trong cuộc Cải cách Tin Lành. Những người này không chấp nhận và bị giam vào tù. Sau khi giam một thời gian vị hoàng đế truyền họ lại và hỏi lần nữa, họ vẫn quyết không cải đạo. Hoàng đế không giam họ vào tù nữa mà nói với họ rằng nếu họ không theo điều kiện của ông ta thì họ phải rời khỏi nước Anh. Những người này rời khỏi Anh đến Hà Lan sinh sống nhưng họ sớm nhận ra mình không thể hoà nhập ở nơi này và lo sợ con cháu của họ sẽ bị mất gốc, một số nhóm người rời khỏi Hà Lan để đến Tân Thế giới (Châu Mỹ) sinh sống, và sau này thường được gọi là Người hành hương (Pilgrims). Những người này đi trên một con thuyền tên là Mayflower, họ đặt chân đến Thuộc địa Plymouth thuộc vùng Tân Anh (New England) khi đang mùa đông. Đói và lạnh, một nửa trong số họ không qua nổi mùa đông khắc nghiệt. Đến mùa xuân, họ may mắn gặp được những thổ dân da đỏ tốt bụng và cho họ ít lương thực. Người da đỏ dạy họ những cách sinh tồn ở vùng đất này như cách trồng hoa màu, săn bắt,... Khi người Pilgrims đã có thể tự lo cho bản thân được, họ tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời vì đã cho họ có thể sống đến ngày hôm nay, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ. Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức lễ tạ ơn để cảm ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống. Theo tài liệu, buổi lễ tạ ơn đầu tiên tại Hoa Kỳ, do người Pilgrims tổ chức, là vào năm 1621 tại Thuộc địa Plymouth, ngày nay thuộc Massachusetts, sau một vụ thu hoạch tốt. == Tổ chức truyền thống == Lễ Tạ ơn thường được tổ chức với một buổi tiệc buổi tối cùng với gia đình và bạn bè với món thịt gà tây. Tại Canada và Hoa Kỳ, nó là một ngày quan trọng để gia đình sum họp với nhau, và người ta thường đi xa để về với gia đình. Người ta thường được nghỉ bốn ngày cuối tuần cho ngày lễ này tại Hoa Kỳ: họ được nghỉ làm hay học vào ngày thứ Năm và thứ Sáu của tuần đó. Lễ Tạ ơn thường được tổ chức tại nhà, khác với ngày Lễ Độc lập Hoa Kỳ hay Giáng Sinh, những ngày lễ mà có nhiều tổ chức công cộng (như đốt pháo hoa hay đi hát dạo). Tại Canada, nó là một cuối tuần ba ngày, người ta thường được nghỉ vào ngày thứ Hai thứ nhì của tháng 10 mỗi năm. Tại Hoa Kỳ, người ta thường tưởng nhớ đến một bữa ăn tổ chức trong năm 1621 giữa người da đỏ Wampanoag và nhóm Pilgrim đã di cư tại Massachusetts. Lễ Tạ ơn đã được thực hiện chủ yếu bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo tại New England cho đến năm 1682, và sau đó bởi cả hai nhà lãnh đạo chính quyền và tôn giáo cho đến sau Cách mạng Hoa Kỳ. Tổng thống Hoa Kỳ George Washington đã công bố lễ tạ ơn toàn quốc đầu tiên ở Mỹ vào ngày 26 tháng 11 năm 1789, "là một ngày tạ ơn công cộng và cầu nguyện bởi sự công nhận với lòng biết ơn sự gia ân và tín hiệu tốt của Thiên Chúa Toàn Năng". Nhiều chi tiết của câu chuyện là truyền thuyết được đặt ra trong những năm 1890 và đầu thế kỷ 20 để tạo một biểu hiện sự đoàn kết quốc gia sau Nội chiến Hoa Kỳ cũng như để đồng hóa các người nhập cư. Tại Canada, Lễ Tạ ơn là một cuối tuần ba ngày. Trong khi ngày Lễ Tạ ơn nằm vào ngày thứ Hai, người Canada có thể ăn buổi tiệc trong bất cứ ngày nào trong ba ngày cuối tuần đó. Việc này thường dẫn đến việc ăn một buổi tiệc với nhóm người này hôm này, rồi với nhóm khác hôm kia. Từ cuối thập niên 1930, mùa mua sắm cho Giáng Sinh tại Hoa Kỳ chính thức bắt đầu khi ngày Lễ Tạ ơn chấm dứt. Tại Thành phố New York, cuộc diễn hành Lễ Tạ ơn của Macy (Macy's Thanksgiving Day Parade) được tổ chức hằng năm vào ngày này tại Manhattan. Diễn hành thường có nhiều khán đài với nhiều chủ đề, có bong bóng lớn hình các nhân vật trên Truyền hình và các ban nhạc từ những trường trung học. Diễu hành này lúc nào cũng kết thúc với một Ông già Nôen. Có nhiều cuộc diễn hành khác tại nhiều thành phố khác. Trong khi ngày thứ Sáu (còn gọi là Thứ Sáu Đen) sau ngày Lễ Tạ ơn là ngày mua sắm đông nhất trong năm tại Hoa Kỳ, nhiều cửa hàng đã bắt đầu chào đón khách hàng với các món hàng cho mùa lễ ngay sau Halloween. Bóng bầu dục (American football) thường là một phần quan trọng trong ngày Lễ Tạ ơn tại Hoa Kỳ cũng như tại Canada. Các đội chuyên nghiệp thường đấu nhau trong ngày này để khán giả có thể xem trên truyền hình. Thêm vào đó, nhiều đội banh trung học hay đại học cũng đấu nhau vào cuối tuần đó, thường với các đối thủ lâu năm. == Các lễ tạ ơn tại Hoa Kỳ và Canada == == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Thanksgiving: A Holiday For Believers and Non-Believers, Kristen Moulton, Salt Lake Tribune, TheHuffingtonPost 11/19/2010 Tìm hiểu Lễ Tạ Ơn The First Thanksgiving - Christian Science Monitor List of all Canadian thanksgiving days and their reasons Macy's Thanksgiving Day Parade - official site Thanksgiving Around The World America's Thanksgiving Parade in Detroit, MI Pro football games on Thanksgiving Day since 1920 History of Thanksgiving Timeline Tổng thống Obama phóng sinh gà tây nhân lễ Tạ Ơn, VOA 26/11/2012 === Liên kết thức ăn Lễ Tạ ơn === All Recipes-Thanksgiving Recipes Reader's Digest Complete Classic Recipe Guide Butterball Turkey Holiday Guide EatTurkey.com: Thanksgiving and Holiday Cooking from the National Turkey Federation Epicurious Eating Thanksgiving Homepage Food Network Thanksgiving Turkey tips from Metafilter Martha Stewart Thanksgiving Planner
người dẫn chương trình truyền hình (chương trình truyền hình).txt
Người dẫn chương trình truyền hình là một cuộc thi do Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Cát Tiên Sa phối hợp tổ chức, được diễn ra khoảng tháng 8 hằng năm. Đây là cuộc thi nhằm tuyển chọn những gương mặt những người dẫn chương trình. Trang web cuộc thi: == Lịch sử và mục đích của cuộc thi == Năm 2004, với nhu cầu tuyển chọn những gương mặt những người dẫn chương trình, Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc thi này. Mục đích: Tìm kiếm và phát hiện tài năng trong nghiệp vụ dẫn chương trình truyền hình. Qua đó, ban tổ chức sẽ tuyển chọn những gương mặt phù hợp với những chương trình, góp phần trẻ hóa ðội ngũ người làm công tác truyền hình và góp phần vào sự nghiệp phát triển ngành truyền hình. Cuộc thi là một sân chơi bổ ích dành cho giới trẻ đặc biệt là những người yêu thích nghệ thuật nói chung và nghề dẫn chương trình nói riêng, giúp các MC khẳng định được thế mạnh của mình ở từng lĩnh vực. == Các buổi thi == Từ năm 2008, mỗi năm các thí sinh đều thi thành 5 đêm. Sau đêm 1 với 12 thí sinh, các đêm sau sẽ loại dần. 2 nhóm thi (nam và nữ) chia thành 2 buổi thi riêng biệt, chọn 6 thí sinh vào đêm tiếp theo, từ đó loại 2 chọn 4 vào chung kết xếp hạng. Nhưng hiện nay, với lối mòn như thế, cuộc thi bắt đầu gây nhàm chán trong khán giả. == Giải thưởng == Năm 2005 có giải thưởng thí sinh ăn mặc đẹp, nhưng về sau đã bỏ, do không phù hợp với tính chất cuộc thi. Từ năm 2007, giải thưởng đã có sự cố định, gồm: Én vàng, én bạc, én đồng (hạng ba) và giải báo chí. Càng về sau, giải thưởng càng tăng. Giải én vàng năm 2010 là 35 triệu đồng . Cũng từ năm này, có thêm giải thưởng giọng nói truyền cảm, một giải thưởng được cho là khá phù hợp với yêu cầu của 1 phát thanh viên. == Giải thưởng chung cuộc qua từng năm == Thí sinh đoạt tất cả các giải phụ, năm 2005 có giải thưởng thí sinh ăn mặc đẹp, và người nhận giải thưởng đó là thí sinh Thái Thị Phương Anh == Các thí sinh đoạt ngôi vị én vàng qua từng năm == == Các mùa thi == === 2004 === Diễn ra từ 06.03.2004 đến 26.03.2004, với sự tham gia của hơn 800 thí sinh . === 2005 === Cuộc thi diễn ra từ 20.06.2005 đến 23.07.2005, với sự tham gia của 390 thí sinh, giảm hơn một nửa so với năm ngoái.. === 2006 === Cuộc thi diễn ra từ 19.07.2006 đến 26.08.2006, với sự tham gia của 350 thí sinh. ==== Danh sách 12 thí sinh vào chung kết cuộc thi ==== Nguyễn Thị Thảo Nguyên, Nguyễn Diệu Ngọc Tiên, Phạm Thị Việt Hà, Huỳnh Thị Xuân Hiếu, Huỳnh Trấn Thành, Trần Thị Thùy Trang, Đoàn Nguyên Khang, Trương Việt Phong, Lý Thùy Dương, Nguyễn Hồng Phượng, Đào Duy Bảo Lâm, Lâm Ánh Ngọc. Vòng chung kết diễn ra trong bốn đêm 11, 15, 18, 21-8 và chung kết xếp hạng vào 24-8. === 2007 === Cuộc thi diễn ra từ 20.07.2007 đến 27.08.2007, với sự tham gia của 339 thí sinh. Vòng chung kết diễn ra trong năm đêm thi vào các ngày 16, 20, 23, 25 và 27-8 tại Nhà hát truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. === 2008 === Cuộc thi diễn ra từ 18.08.2008 đến 15.09.2008, với sự tham gia của 581 thí sinh.. ==== Danh sách 12 thí sinh vào chung kết cuộc thi ==== Mạc Từ Bá Niên, Trần Thị Ngọc Nhờ, Đặng Thị Hoài Trinh, Trần Thị Ngọc Thuỷ, Bùi Tuấn Anh, Tô Huỳnh Phương Hiếu, Liêu Hà Trinh, Đường Thị Tuyết Vinh, Nguyễn Thị Huỳnh Giao, Trịnh Nghiêm Minh, Ngô Như Quỳnh, Huỳnh Thị Ngọc Hân. Đêm khai mạc cũng là đêm thi đầu tiên của 12 thí sinh. VCK cuộc thi sẽ bao gồm 4 đêm thi nữa vào 10, 11, 13 và 15/9/2008. Sau đêm thi đầu tiên, 12 thí sinh sẽ được chia làm 2 nhóm thi lần lượt vào 2 đêm 10 và 11/9. Mỗi đêm thi sẽ loại dần thí sinh. Đêm thi 13/9 sẽ chọn ra 4 thí sinh xuất sắc nhất để tham gia đêm chung kết xếp hạng 15/9. Cả 5 đêm được truyền hình trực tiếp vào lúc 20 giờ 30 trên kênh HTV9 Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh.. === 2009 === VCK Cuộc thi diễn ra từ 05.08.2009 đến 20.08.2009, với sự tham gia của hơn 500 thí sinh. ==== Danh sách 12 thí sinh vào chung kết cuộc thi ==== Huỳnh Trung Phong, Trần Thị Ngọc Nhờ, Đặng Thị Hoài Trinh, Nguyễn Thị Thu Thảo, Bùi Phương Linh, Nguyễn Thu Hà, Trần Duy Hải, Nguyễn Thị Bảo Ngọc, Nguyễn Tuấn Nam, Phan Hoàng Minh, Nguyễn Thanh Thủy, Hoàng Anh Duy. VCK cuộc thi bao gồm 5 đêm thi vào 5, 7, 8, 12 và 20/8/2009. Sau đêm thi đầu tiên, 12 thí sinh sẽ được chia làm 2 nhóm thi lần lượt vào 2 đêm 7 và 8/8. Mỗi đêm thi sẽ loại dần thí sinh. Đêm thi 12/8 sẽ chọn ra 4 thí sinh xuất sắc nhất để tham gia đêm chung kết xếp hạng 20/8 tại Nhà hát Hòa Bình. Cả 5 đêm được truyền hình trực tiếp vào lúc 20 giờ 30 trên kênh HTV9 Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. === 2010 === Vòng chung kết cuộc thi diễn ra vào các đêm 14,20,21,25 và 29 tháng 8. ==== 12 thí sinh lọt vào vòng chung kết cuộc thi ==== . Vòng chung kết cuộc thi khai mạc vào ngày 14 tháng 8 với phần giới thiệu về mình của 12 thí sinh.Sau đó chia làm 2 nhóm bằng nhau (mỗi nhóm 6 người)để thi vào các đêm 20,21.Sau 2 đêm này ban tổ chức sẽ chọn ra 6 bạn thí sinh bước tiếp trổ tài vào ngày 25,đêm chung kết xếp hạng diễn ra vào ngày 29 và chỉ còn 4 bạn. 2011 9 thí sinh lọt vào vòng chung kết cuộc thi 2012 8 thí sinh lọt vào vòng chung kết cuộc thi 2013 8 thí sinh lọt vào vòng chung kết cuộc thi 2014 12 thí sinh lọt vào vòng chung kết cuộc thi 2015 10 thí sinh lọt vào vòng chung kết cuộc thi 2016 12 thí sinh lọt vào vòng chung kết cuộc thi Đây là mùa đầu tiên chương trình tổ chức hai bảng thi: Tiềm năng và Toàn năng. Bảng Tiềm năng dành cho những thí sinh bán chuyên, vừa mới làm quen với những chương trình, sự kiện nhỏ, chưa có nhiều cơ hội cọ xát với các chương trình truyền hình lớn. Trong khi đó, bảng Toàn năng dành cho những người dẫn chương trình chuyên nghiệp và từng lọt vào bán kết các cuộc thi người dẫn chương trình trước đó. == Thông tin bên lề == Năm 2004 là năm có số thí sinh thi đông nhất, năm 2007 là năm có số thí sinh dự thi ít nhất. Năm 2008 và 2009 là 2 năm liên tiếp có én vàng là nam mà cùng đến từ Hà Nội. Thông thường ngôi vị én bạc thường nhận được giải thưởng báo chí. == Chú thích ==
chiến lược thời gian thực.txt
Chiến lược thời gian thực (tiếng Anh là Real-time strategy; gọi tắt là RTS) là một thể loại trò chơi điện tử chiến lược mà người chơi không phải đi theo lượt như các trò chơi chiến lược theo lượt . Brett Sperry được cho là người đã tạo ra thể loại này cho thị trường với Dune II . Trong một trò chơi RTS, như trong các trò chơi chiến tranh khác, các đơn vị và công trình sẽ tham gia vào một vị trí dưới sự kiểm soát của người chơi để bảo vệ các khu vực của bản đồ và/hoặc phá hủy tài sản của đối thủ. Trong một RTS điển hình, họ có thể tạo ra các đơn vị bổ sung và các công trình trong quá trình của trò chơi. Điều này thường được giới hạn bởi yêu cầu rộng nguồn lực tích lũy. Những tài nguyên này được giành bằng cách kiểm soát các điểm đặc biệt trên bản đồ và/hoặc sở hữu một số loại đơn vị và công trình dành cho mục đích này. Cụ thể hơn, các trò chơi điển hình của thể loại RTS có tính năng thu thập tài nguyên, xây dựng căn cứ, phát triển công nghệ trong trò chơi và kiểm soát gián tiếp các đơn vị . Các nhiệm vụ người chơi phải thực hiện để thành công tại một trò chơi RTS là rất đa dạng, và giao diện người dùng phức tạp đã tiến hóa để đối phó với các thách thức. Một số tính năng đã được vay mượn từ môi trường máy tính để bàn, hầu hết là các kỹ thuật nổi bật của "nhấn và kéo" để chọn tất cả các đơn vị thuộc một khu vực nhất định. Mặc dù một số thể loại trò chơi chia sẻ ý tưởng và cách chơi tương tự như RTS, nhưng nói chung là không gộp vào các trò chơi RTS . Ví dụ, trò chơi xây dựng thành phố, mô phỏng xây dựng và quản lý, và các trò chơi chiến thuật thời gian thực khác nhau thường không được coi là chiến lược thời gian thực . == Lịch sử == === Khởi đầu và và các thế hệ đầu tiên === Các thể loại mà ngày nay được công nhận là "chiến lược thời gian thực" nổi lên như là kết quả của một thời gian dài của sự tiến hóa và tinh tế. Trò chơi mà ngày nay đôi khi được coi là tổ tiên của thể loại chiến thuật thời gian thực không bao giờ bán hoặc thiết kế như vậy tại thời điểm ban đầu. Kết quả là, việc chọn ra trò chơi "chiến lược thời gian thực đầu tiên" là một vấn đề bởi vì các trò chơi như vậy được tổ chức đạt tiêu chuẩn hiện đại. Các thể loại ban đầu được phát triển riêng tại Anh, Nhật Bản và Bắc Mỹ, sau đó dần dần kết hợp thành một định dạng thống nhất trên toàn thế giới. Ít nhất một nguồn đã xem xét Intellivision Utopia của Don Daglow (1982) là trò chơi chiến lược thời gian thực đầu tiên . Trong Utopia, 2 người chơi sẽ xây dựng nguồn lực và thực hiện chiến đấu. Nó chứa thao tác trực tiếp chiến đấu phổ biến hiện nay trong đó người chơi có thể nắm quyền kiểm soát trực tiếp một chiếc thuyền PT và phải đánh chìm tàu đánh cá của đối thủ. Tuy nhiên, trò chơi lại dựa trên giao diện chiến lược theo lược, mặc dù mỗi được tính giờ . Một ví dụ khác cũng trong năm đó là Legionnaire trên hệ máy 8-bit Atari gia đình, được viết bởi Chris Crawford cho Avalon Hill. Trò chơi này đã tỏ ra ngược lại với Utopia, trong đó nó đưa ra phong cách chiến đấu dựa trên hệ thống chiến thuật thời gian thực với địa hình thay đổi và khái niệm giúp đỡ lẫn nhau nhưng không có bất kỳ hệ thống thu thập tài nguyên và nền kinh tế/khái niệm sản xuất. Kết quả là, trò chơi này có thể được coi là tiền thân đầu tiên của thể loại chiến thuật thời gian thực, hoặc thể loại RTT (real time tactics). Ở Anh, thể loại này có thể được truy nguồn từ Stonkers bởi John Gibson, xuất bản năm 1983 bởi Imagine Software cho ZX Spectrum, và Nether Earth được công bố trên ZX Spectrum năm 1987. Tại Bắc Mỹ, trò chơi lâu đời nhất của thể loại này được công nhận là trò chơi lược thời gian thực bởi một số nguồn là The Ancient Art of War (1984), được thiết kế bởi Evryware Dave và Barry Murry, nối tiếp bởi phần tiếp theo là The Ancient Art of War at Sea vào năm 1987, mặc dù Cytron Masters của Dani Bunten Berry (thuộc M.U.L.E nổi tiếng) (1982), được phát triển bởi Ozark Softscape và phát hành bởi SSI, cũng đã được coi là trò chơi đầu tiên của thể loại này . Tại Nhật Bản, thể loại bắt đầu là có thể được truy nguồn từ Bokosuka Wars (1983), một trò chơi RPG chiến lược (hay "RPG mô phỏng") ; trò chơi xoay quanh việc người chơi dẫn đầu một đội quân trên chiến trường chống lại các lực lượng đối phương trong thời gian thực trong khi tuyển dụng/sinh sản binh sĩ trên đường đi, mà nó được coi là bởi Ray Barnholt của 1UP.com là nguyên mẫu đầu tiên của trò chơi chiến lược thời gian thực . Điều này dẫn đến một số trò chơi khác, kết hợp các yếu tố nhập vai và chiến lược thời gian thực, chẳng hạn như trò chơi nhập vai chiến thuật máy tính năm 1988 của Kure Software Koubou là First Queen và Silver Ghost, trong đó đặc trưng là ví dụ ban đầu của giao diện chỉ-và-nhấn, để điều khiển nhân vật bằng cách sử dụng con trỏ . Một tựa trò chơi khác cũng có các yếu tố chiến thuật thời gian thực là Gain Ground của Sega (1988), một trò chơi chiến lược-hành động liên quan đến sự chỉ đạo lính đi qua các màn chơi đầy rẫy quân đội của đối phương . Herzog của TechnoSoft được xem như là một tiền thân của thể loại chiến lược thời gian thực, là tiền thân của Herzog Zwei và hơi tương tự như trong tự nhiên, mặc dù khá nguyên thủy khi so sánh . Scott Sharkey của 1UP xem xét Cytron Masters và các ví dụ khác thời gian thực trước Herzog Zwei là chiến thuật chứ không phải là chiến lược, do phần lớn đều thiếu khả năng để xây dựng đơn vị, quản lý tài nguyên . Trong Herzog Zwei, phát hành cho Sega Genesis trong năm 1989, là ví dụ sớm nhất của một trò chơi với tính năng thuộc định nghĩa hiện tại của chiến lược thời gian thực hiện đại . Trong Herzog Zwei, mặc dù người chơi chỉ kiểm soát một đơn vị, cách thức kiểm soát của nó đã báo trước cho cơ chế chỉ-và-nhấn của các trò chơi sau đó. Nó cũng giới thiệu nhiều quy ước của thể loại, bao gồm xây dựng đơn vị và quản lý tài nguyên, với sự kiểm soát và phá hủy các căn cứ được coi là một khía cạnh quan trọng của trò chơi, cũng như các khía cạnh kinh tế/sản xuất của các căn cứ đó . Đáng chú ý cũng có các trò chơi đầu tiên như Mega Lo Mania bởi Sensible Software (1991) và Supremacy (còn gọi là Overlord-1990). Mặc dù cả 2 thiếu sự kiểm soát trực tiếp các đơn vị quân đội, cả 2 đều cung cấp việc kiểm soát đáng kể trong quản lý tài nguyên và các hệ thống kinh tế. Ngoài ra, Mega Lo Mania đã nâng cao cây công nghệ để xác định sức mạnh tấn công và phòng thủ. Một trò chơi đầu tiên khác (1988), Carrier Command bởi Realtime Games, liên quan đến phản ứng thời gian thực với các sự kiện trong game, yêu cầu quản lý tài nguyên và điều khiển phương tiện. Một trò chơi đầu tiên khác là Sim Ant của Maxis (1991) có thu thập tài nguyên, và điều khiển một đội quân tấn công bằng cách để họ đi theo một đơn vị dẫn đầu. Tuy nhiên, với việc phát hành của Dune II từ Westwood Studios (1992) thì chiến lược thời gian thực đã được công nhận như là một thể loại riêng biệt của trò chơi điện tử . === 1992-1998: Sự hình thành === Mặc dù trò chơi chiến lược thời gian thực có một lịch sử phong phú, một số tựa game đã phục vụ để xác định cho sự nhận thức phổ biến của thể loại và mong đợi danh hiệu chiến lược thời gian thực hơn những game khác , đặc biệt là các trò chơi phát hành giữa năm 1992 và 1998 bởi Westwood Studios và Blizzard Entertainment. Dune II: The Building of a Dynasty (1992) của Westwood đặc trưng tất cả các khái niệm cốt lõi và cơ chế của trò chơi chiến lược thời gian thực hiện đại mà vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay , chẳng hạn như sử dụng chuột để di chuyển các đơn vị, và các khai khác tài nguyên , và như vậy đã từng là nguyên mẫu cho sau này của trò chơi chiến lược thời gian thực. Sự thành công của Dune II khuyến khích một số trò chơi mà đã trở thành ảnh hưởng của riêng họ . Warcraft: Orcs & Humans (1994) đạt được sự nổi bật tuyệt vời khi phát hành, do một phần sử dụng của nó trong một khung cảnh tuyệt đẹp và cũng để mô tả một loạt các tòa nhà của nó (chẳng hạn như trang trại), xấp xỉ như một xã hội hư cấu, không chỉ là một lực lượng quân sự. Command & Conquer đã trở thành trò chơi RTS phổ biến đầu tiên sử dụng chế độ chơi mạng cạnh tranh. Command & Conquer, cũng như Command & Conquer: Red Alert, đã trở thành trò chơi RTS đầu tiên phổ biến nhất. Total Annihilation phát hành bởi Cavedog Entertainment vào năm 1997, giới thiệu các đơn vị và địa hình 3D và tập trung vào trận đánh lớn mà nhấn mạnh macro hơn mirco. Nó có một giao diện sắp xếp hợp lý mà có thể đã ảnh hưởng nhiều đến các trò chơi RTS trong những năm sau đó. Age of Empires, phát hành bởi Ensemble Studios vào năm 1997 cố gắng đưa một trò chơi ở một tốc độ chậm hơn, kết hợp các yếu tố của Nền văn minh với khái niệm chiến lược thời gian thực bằng cách giới thiệu thời đại công nghệ. Năm 1998, Blizzard Entertainment phát hành trò chơi StarCraft, mà đã trở thành một hiện tượng quốc tế và vẫn còn được chơi ở các giải đấu chuyên nghiệp lớn cho đến ngày nay. Nói chung, tất cả các trò chơi định nghĩa các thể loại này đã cung cấp những điểm chuẩn mà dựa vào đó đã phân biệt thể loại với trò chơi chiến thuật thời gian thực. === Lọc và chuyển đổi sang 3D === Thể loại chiến lược thời gian thực đã tương đối ổn định từ năm 1995. Bổ sung khái niệm của thể loại này trong các trò chơi mới hơn có xu hướng nhấn mạnh nhiều hơn các yếu tố RTS cơ bản (số lượng của các đơn vị tăng, nhiều loại đơn vị, bản đồ lớn hơn,.v.v...). Như một ví dụ mẫu mực của cách chơi được thanh lọc, Total Annihilation nổi tiếng của Cavedog Entertainment từ năm 1997 đã chưng cật cất các cốt lõi cơ bản của Command & Conquer, và lần đầu tiên giới thiệu các đơn vị và địa hình 3D trong game chiến lược thời gian thực. Ý tưởng của Age of Empires đã được tinh chế hơn nữa bởi Empire Earth của Stainless Steel Studios vào năm 2001. Loạt Cossacks: European Wars của GSC Game World's đã đưa thể loại theo một hướng khác nhau, mang giới hạn dân số lên đến hàng chục ngàn. Populous: The Beginning (1998), Jeff Wayne's The War of the Worlds (1998) và Homeworld (1999) cũng nằm trong số các game chiến lược thời gian thực 3D hoàn toàn đầu tiên xuất hiện. Homeworld là đáng chú ý ở chỗ nó đặc trưng một môi trường 3D trong không gian, do đó chuyển động theo mọi hướng , một tính năng mà phần bán-tiếp theo của nó, Homeworld Cataclysm (2000) tiếp tục xây dựng sau khi thêm các tính năng như điểm đến. Homeworld 2, phát hành năm 2003, sắp xếp hợp sự lý sự di chuyển 360° trong môi trường 3D. Hơn nữa, Machines, mà cũng được phát hành vào năm 1999 và có một môi trường gần 100% 3D, cố gắng kết hợp thể loại RTS với thể loại bắn súng góc nhìn thứ nhất (FPS) mặc dù nó không phải là một danh hiệu đặc biệt thành công. Các trò chơi này đã được theo sau trong một thời gian ngắn ở các trò chơi chiến lược thử nghiệm như Allegiance (2000). Jeff Wayne The War of the Worlds đáng chú ý ở chỗ là một trong số ít trò chơi RTS không tuyến tính. Đó là chỉ trong khoảng năm 2002 rằng chiến lược thời gian thực 3D trở thành tiêu chuẩn, với cả Warcraft III (2002) và Age of Mythology (2002) của Ensemble Studio được xây dựng trên một engine trò chơi 3D đầy đủ. Kohan: Immortal Sovereigns giới thiệu yếu tố cổ điển của trò chơi chiến tranh, chẳng hạn như đường cung cấp cho thể loại này. Battle Realms (2001) cũng là một game 3D đầy đủ, nhưng có hệ thống camera hạn chế. Việc chuyển từ 2D sang 3D đã bị chỉ trích trong một số trường hợp. Các vấn đề với việc kiểm soát camera và vị trí của các đối tượng đã được trích dẫn cũng là vấn đề . Vài thể loại tương đối đã nổi lên từ hoặc cạnh tranh với các trò chơi chiến lược thời gian thực, mặc dù chiến thuật thời gian thực, một thể loại tương tự bề ngoài, xuất hiện khoảng năm 1995. Năm 1998, Activision cố gắng kết hợp thể loại chiến lược thời gian thực và bắn súng góc nhìn thứ nhất trong Battlezone, trong khi năm 2002 Rage Games Limited cố gắng làm điều này với trò chơi Hostile Waters, và Natural Selection, một trò chơi chỉnh sửa dựa trên engine Half-Life. Savage: The Battle for Newerth kết hợp yếu tố RPG và RTS trong một trò chơi trực tuyến. . === Chuyên ngành và sự tiến hóa === Một vài trò chơi đã thử nghiệm với thiết kế bản đồ đa dạng hoá, trong đó phần lớn tiếp tục là 2 chiều, ngay cả trong engine 3D. Earth 2150 cho phép các đơn vị ở các đường hầm dưới lòng đất, có hiệu quả việc tạo ra một lớp bản đồ hai; bản đồ 3 lớp (quỹ đạo-mặt đất-ngầm) đã được giới thiệu trong Metal Fatigue. Ngoài ra, các đơn vị thậm chí có thể được vận chuyển đến các bản đồ hoàn toàn riêng biệt, với mỗi bản đồ có cửa sổ riêng của mình trong giao diện người dùng. Three Kingdoms: Fate of the Dragon (2001) đã đưa ra một mô hình đơn giản: các bản đồ chính có địa điểm mở rộng của riêng mình trên bản đồ. Trong các ví dụ này, tuy nhiên, lối chơi cơ bản là giống nhau dù là ở bất kể lớp bản đồ nào. Dragonshard (2005) nhấn mạnh bản đồ 2 lớp bằng cách đặt một trong hai tài nguyên chính của trò chơi trong mỗi bản đồ, làm cho việc thăm dò và kiểm soát của cả hai bản đồ đều cơ bản làcó giá trị. Một số trò chơi, vay từ nguyên mẫu của thể loại chiến thuật thời gian thực (RTT), đã chuyển hướng tập trung nhiều hơn về chiến thuật và nhấn mạnh về quản lý tài nguyên, với các tựa game như Warhammer 40,000: Dawn of War (2004), Star Wars: Empire at War (2006), và Company of Heroes (2006) đã thay thế mô hình tập hợp nguồn tài nguyên truyền thống mà thay vào đó chỉ định đơn vị thu thập tài nguyên thu thập các nguồn lực được sử dụng để sản xuất nhiều đơn vị hoặc các tòa nhà, với một hệ thống kiểm soát-điểm chiến lược, nơi kiểm soát các điểm chiến lược dần dần điểm xây dựng/quân tiếp viện. Ground Control là trò chơi đầu tiên thay thế các đơn vị cá nhân với "đội". Những trò chơi khác thì di chuyển ra khỏi mô hình trò chơi chiến lược thời gian thực truyền thống với việc bổ sung các yếu tố từ thể loại khác. Một ví dụ là Sins of a Solar Empire, phát hành bởi Ironclad Games, trong đó pha trộn các yếu tố quy mô xây dựng đế chế giữa các vì sao quy mô lớn như Master of Orion với các yếu tố chiến lược thời gian thực. === Danh sách các trò chơi RTS === Một vài trang web đã tạo ra danh sách của RTS hiện có sẵn cũng như các trò chơi từ quá khứ, bao gồm cả RTSGuru.com và RTSC Games List. == Cách chơi == Trong một trò chơi chiến lược thời gian thực điển hình, màn hình được chia thành một khu vực bản đồ hiển thị thế giới trò chơi và địa hình, đơn vị, và các tòa nhà, và giao diện lớp phủ có chứa lệnh và kiểm soát sản xuất và thường là một "radar" hoặc "minimap" tổng quan về toàn bộ bản đồ . Người chơi thường được cho một góc nhìn isometric của thế giới, hoặc tự do chuyển camera từ một địa điểm trên không với các game 3D hiện đại . Người chơi chủ yếu là di chuyển và ra lệnh trên màn hình với chuột, và cũng có thể sử dụng phím tắt. Trong hầu hết các trò chơi chiến lược thời gian thực, đặc biệt là trò chơi người sớm nhất, gameplay nói chung là nhịp độ nhanh và đòi hỏi phản xạ rất nhanh chóng. Vì lý do này, số lượng của bạo lực trong một số trò chơi làm cho trò chơi RTS gần với trò chơi hành động về mặt lối chơi. Gameplay nói chung bao gồm việc người chơi được định vị ở đâu đó trong bản đồ với một vài đơn vị hay công trình có khả năng xây dựng các đơn vị/công trình khác. Thông thường, nhưng không phải lúc nào, người chơi phải xây dựng công trình cụ thể để mở khóa các đơn vị nâng cao hơn trong cây công nghệ cao. Tuy nhiên, tất cả các trò chơi RTS yêu cầu người chơi xây dựng một đội quân (từ một đội nhỏ không quá 2 đơn vị hoặc lên đến hàng trăm đơn vị) và sử dụng chúng để tự vệ từ một hình thức ảo của biển người tấn công hoặc để loại trừ kẻ thù có căn cứ với năng lực sản xuất đơn vị của riêng họ. Thu thập tài nguyên thường là trọng tâm chính của các trò chơi RTS, nhưng các tựa game khác của các thể loại cao hơn có liên quan đến các đơn vị được sử dụng như thế nào trong chiến đấu mà ví dụ cực đoan trong số đó là trò chơi của thể loại chiến thuật thời gian thực. Một số tựa game thì áp đặt một mức giới hạn quân số, mà đã trở thành chìa khóa chính của lới chối, có ý nghĩa nhấtt là StarCraft, trong khi các tựa game khác thì không có. === Quản lý vi mô và quản lý vĩ mô === Quản lý vi mô đề cập đến khi một người chơi chú ý hướng nhiều hơn đối với việc quản lý và bảo trì các đơn vị dơn lẻ của riêng họ và các nguồn lực. Điều này tạo ra một bầu không khí trong đó sự tương tác liên tục của người chơi là cần thiết. Mặt khác, quản lý vĩ mô đề cập đến khi một người chơi tập trung chỉ đạo hơn nữa đối với phát triển kinh tế và động cơ chiến lược quy mô lớn, cho phép thời gian để suy nghĩ và xem xét các giải pháp có thể. Quản lý vi mô thường liên quan đến việc sử dụng các chiến thuật chiến đấu. Quản lý vĩ mô thì lại có xu hướng nhìn về tương lai của trò chơi trong khi quản lý vi mô có xu hướng hiện tại. === Sự chỉ trích về của lối chơi === Do tính chất nhịp độ chơi khá nhanh (và trong một số trường hợp, một đường cong học tập nhỏ hơn-ý nói rằng đạt đến mục tiêu trong thời gian rất ngắn), các trò chơi chiến lược thời gian thực đã vượt qua sự phổ biến của trò chơi máy tính chiến lược theo lượt . Trong quá khứ, một lời chỉ trích phổ biến đã cho rằng trò chơi chiến lược thời gian thực là "sự bắt chước rẻ tiền" của trò chơi chiến lược theo lượt, cho rằng trò chơi chiến lược thời gian thực có xu hướng phân cấp thành "click-fests" trong đó người chơi với con chuột nhanh hơn thường giành chiến thắng, bởi vì họ có thể ra lệnh cho các đơn vị của mình với một tốc độ nhanh hơn. Các yêu cầu chung để thành công đó bao gồm không chỉ việc nhanh chóng nhấn mà còn có khả năng đưa ra quyết định với tốc độ âm thanh dưới áp lực thời gian . "Clickfest" cũng thường được lên dùng cùng với lời phê bình về "nút bấm giữ trẻ", trong đó chỉ ra rằng phần lớn thời gian của trò chơi thuộc thể loại này là dành thời gian chờ đợi hoặc là xem cho tới khi nút bấm sản xuất có thể được nhấp vào, hoặc nhanh chóng luân phiên giữa các đơn vị khác nhau và các tòa nhà cách nhấp vào nút tương ứng Một lời chỉ trích phổ biến thứ 3 là trò chơi chiến lược thời gian thực thường thoái hoá thành "rushes", khi mà người chơi cố gắng giành được lợi thế và sau đó đánh bại đối thủ trong trò chơi một cách nhanh cóng, trước khi phe đối lập có khả năng phản ứng thành công . Ví dụ, Command & Conquer gốc đã sinh ra chiến thuật "tank rush" hiện nay, khi mà các kết quả trận đấu thường được quyết định rất sớm bởi một người chơi đạt được một lợi thế ban đầu về tài nguyên và sản xuất số lượng lớn các đơn vị tương đối mạnh mẽ nhưng khá rẻ ném vào phe đối lập trước khi họ đã có thời gian để thiết lập phòng thủ hoặc sản xuất. Mặc dù chiến lược này bị chỉ trích vì khuyến khích dùng lực lượng áp đảo hơn chiến lược và chiến thuật, những người ủng hộ chiến lược này lập luận rằng họ chỉ đơn giản là tận dụng lợi thế của việc sử dụng chiến lược, và một số người cho rằng đó là một đại diện thực tế của chiến tranh. Một trong những phiên bản nổi tiếng nhất của "rush" là "Zergling rush" từ trò chơi chiến lược thời gian thực StarCraft; thực tế, thuật ngữ "zerging" đã trở thành đồng nghĩa với "rush" . Một chỉ trích thứ 4 về thể loại RTS là tầm quan trọng của kỹ năng hơn chiến lược trong các trò chơi chiến lược thời gian thực. Đôi bàn tay khéo léo và khả năng đa nhiệm và chú ý phân chia của một người thường được coi là khía cạnh quan trọng nhất để thành công ở thể loại RTS. Theo Troy Dunniway, một nhân viên cũ của Westwood Studios làm việc với Command & Conquer 3: Tiberium Wars, "Người chơi điều khiển hàng trăm đơn vị, hàng chục tòa nhà và các sự kiện khác nhau mà tất cả xảy ra cùng một lúc. Chỉ có một người chơi, và họ chỉ có thể chú ý đến một điều cùng một lúc. Một người chơi chuyên nghiệp có thể chơi chuyển đổi một cách nhanh chóng giữa các tác vụ, trong khi nhiều game thủ chơi cho vui có vấn đề với điều này." === Chiến thuật so với chiến lược === Game chiến lược thời gian thực bị chỉ trích vì sự thừa cân nhắc về chiến thuật khi so sánh với số lượng lối chơi chiến lược được tìm thấy trong các trò chơi như vậy. Theo Chris Taylor, nhà thiết kế của Supreme Commander, ông nói, "Nỗ lực đầu tiên của tôi là hình dung RTS trong một cách mới và thú vị hơn tôi nhận ra rằng mặc dù chúng tôi gọi đây là thể loại 'Chiến lược thời gian thực', nó cần phải được gọi là 'Chiến thuật thời gian thực' với một dấu gạch ngang của chiến lược ném vào " (Taylor sau đó thừa nhận trò chơi của mình là có vượt qua mốc này bằng cách bao gồm các yếu tố bổ sung về phạm vi chiến lược rộng lớn hơn.) Nói chung, chiến lược quân sự đề cập đến việc sử dụng một kho vũ khí rộng của vũ khí bao gồm ngoại giao, thông tin, quân sự, và kinh tế tài nguyên, trong khi chiến thuật quân sự thì quan tâm nhiều hơn với những mục tiêu ngắn hạn như chiến thắng một trận chiến đơn lẻ . Trong bối cảnh của trò chơi điện tử chiến lược, tuy nhiên, sự khác nhau thường là làm giảm các tiêu chuẩn hạn chế của sự hiện diện của một trong hai hay không có công trình và đơn vị sản xuất. Trong một bài báo cho Gamasutra, Nathan Toronto chỉ trích các trò chơi chiến lược thời gian thực là quá thường xuyên chỉ có một định nghĩa giá trị của chiến thắng — tiêu hao — so sánh không thuận lợi khi so với trò chơi chiến thuật thời gian thực. Người chơi nhận thức rằng cách duy nhất để họ giành chiến thắng hay thua là quân sự làm cho họ khó có thể đáp ứng với những cử chỉ ngoại giao. Kết quả là người chiến thắng trong một game chiến thuật thời gian thực hiện quá thường xuyên các chiến thuật tốt nhất chứ không phải là chiến lược tốt nhất . Troy Goodfellow phản ứng lại bằng cách nói rằng vấn đề không phải là trò chơi chiến lược thời gian thực thiếu chiến lược (ông nói tiêu hao là một hình thức của chiến lược), mà là họ cũng thường có những chiến lược giống nhau: sản xuất nhanh hơn bạn tiêu thụ. Ông cũng nói rằng, xây dựng và quản lý quân đội là định nghĩa thông thường của chiến lược thời gian thực, và rằng đó là không công bằng để so sánh với các thể loại khác . Trong một bài báo cho GameSpy, Mark Walker chỉ trích trò chơi chiến lược thời gian thực thiếu chiến thuật chiến đấu, gợi ý rằng trò chơi chiến thuật thời gian thực là một thay thế thích hợp hơn . Ông cũng nói rằng các nhà phát triển cần phải bắt đầu tìm kiếm bên ngoài thể loại này về một ý tưởng mới để cho các trò chơi chiến lược tiếp tục thành công trong tương lai . === Theo lược so với thời gian thực === Một cuộc tranh cãi đã nổi lên giữa người hâm mộ của chiến lược thời gian thực và chiến thuật theo lượt (và các thể loại liên quan) dựa vào giá trị của thời gian thực và hệ thống theo lượt. Một số tựa game cố gắng kết hợp cả 2 hệ thống: ví dụ, trò chơi nhập vai Fallout sử dụng chiến đấu theo lượt, và lối chơi thời gian thực, trong khi các trò chơi chiến lược thời gian thực Homeworld, Rise of Nations, và các trò chơi của loạt Total War cho phép người chơi tạm dừng trò chơi và ra lệnh. Ngoài ra, loạt Total War có một sự kết hợp của bản đồ chiến lược theo lược, với bản đồ chiến đấu thời gian thực. === Trò chơi chiến lược thời gian thực trên console === Trò chơi chiến thuật thời gian thực trên console bị chỉ trích vì hệ thống kiểm soát của chúng. Bàn phím và chuột trên máy tính cá nhân thường được coi là tốt hơn so với giao diện điều khiển của tay cầm. Điều này cũng tương tự như những lời chỉ trích cho các trò chơi bắn súng góc nhìn người thứ nhất (FPS) có giao diện điều khiển dựa trên tay cầm vì chuột máy tính đảm bảo một mức độ chính xác cao hơn của con trỏ hơn là tay cầm. Trò chơi RTS cho console nói chung nhận được thành công hỗn hợp . Tuy nhiên, Halo Wars, được phát hành trong năm 2009 cho Xbox 360 thu được tích cực đánh giá chung, đạt được điểm số trung bình 82% trên các trang web tổng hợp, và bán được hơn 1 triệu bản [1]. Theo IGN, trò chơi thiếu các khái niệm RTS truyền thống là các nguồn tài nguyên giới hạn và thu thập tài nguyên và thiếu nhiều tòa nhà . == Đồ họa == Total Annihilation (1997) là trò chơi chiến lược thời gian thực đầu tiên để sử dụng đơn vị, địa hình, và vật lý 3D thật trong cả cách vẽ cả lẫn lối chơi. Ví dụ, tên lửa trong Total Annihilation di chuyển trong thời gian thực trong việc mô phỏng không gian 3D, và chúng có thể bỏ lỡ mục tiêu của bằng cách đi trên hoặc dưới nó. Tương tự, các đơn vị trang bị tên lửa ở Earth 2150 gặp một bất lợi nghiêm trọng khi đối thủ là trên mặt đất cao bởi vì các tên lửa thường bắn vào vách đá, ngay cả trong trường hợp khi kẻ tấn công là một máy bay trực thăng vũ trang bằng tên lửa. Homeworld và Warzone 2100 (cả hai đều phát hành năm 1999) nâng cao việc sử dụng môi trường 3D hoàn toàn trong các tựa game chiến lược thời gian thực. Trong trường hợp của Homeworld, trò chơi được đặt trong không gian, cung cấp một môi trường 3D duy nhất trong đó tất cả các đơn vị có thể di chuyển theo chiều dọc ngoài mặt phẳng nằm ngang. Tuy nhiên, toàn ngành công nghiệp chuyển đổi sang gần 3D đầy đủ là rất từ từ và hầu hết ở các tựa game chiến lược thời gian thực, bao gồm các phần tiếp theo của Command & Conquer, ban đầu sử dụng đồ họa 3D được thực hiện bởi các đoạn gạch 3D. Chỉ trong năm sau những trò chơi khác đã bắt đầu sử dụng đồ họa và lối chơi 3D thực, làm cho nó có thể xoay và xem các chiến trường trong thời gian thực. Spring là một ví dụ tốt về việc chuyển đổi từ mô phỏng bán 3D tới 3D đầy đủ. Nó là một dự án mô phỏng nguồn nhằm mục đích cung cấp kinh nghiệm lối chơi Total Annihilation ở 3 chiều. Một trò chơi hiện đại chiến lược thời gian thực sử dụng một engine vật lý là Age of Empires III của Ensemble Studios, phát hành vào ngày 18 tháng 10 năm 2005 , sử dụng Havok Game Dynamics SDK để cúng cấp năng lượng cho cơ chế vật lý thời gian thực của nó. Company of Heroes là một game chiến lược thời gian thực sử dụng mô hình vật lý thực tế như là một phần của lối chơi, bao gồm một môi trường phá hủy đầy đủ . == Xem thêm == Chiến thuật thời gian thực MMORTS == Đọc thêm == Chambers, C., Feng, W., Feng, W., and Saha, D. (2005). “Mitigating information exposure to cheaters in real-time strategy games”. Proceedings of the international Workshop on Network and Operating Systems Support for Digital Audio and Video (New York: ACM): 7–12. doi:10.1145/1065983.1065986. Claypool, Mark (ngày 15 tháng 9 năm 2005). “The effect of latency on user performance in Real-Time Strategy games”. Computer Networks (Computer Networks) 49 (1): 52–70. doi:10.1016/j.comnet.2005.04.008. Cheng, D., Thawonmas, R. (tháng 11 năm 2004). “Case-based plan recognition for real-time strategy games” (PDF). Proc. of the 5th Game-On International Conference: 36–40. Aha, D., Molineaux, M., Ponsen, M. (ngày 7 tháng 9 năm 2005). Muñoz-Ávila, HéCtor; Ricci, Francesco, biên tập. “Learning to Win: Case-Based Plan Selection in a Real-Time Strategy Game”. Case-Based Reasoning Research and Development (Springer Berlin / Heidelberg) 3620: 5–20. doi:10.1007/11536406. Chan, H.; Fern, A.; Ray, S.; Wilson, N.; and Ventura, C. (2007). “Online planning for resource production in real-time strategy games” (PDF). Proceedings of the International Conference on Automated Planning and Scheduling. == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
dùi cui.txt
Dùi cui là một loại gậy bằng gỗ hoặc cao su có độ dài khoảng 50 cm, phần chuôi có dây để lồng vào tay cho chắc. Đây là một loại vũ khí thường được trang bị cho cảnh sát. Ngày nay còn có một loại vũ khí nữa được gọi là dùi cui điện có khả năng phóng ra tia điện có điện áp khoảng 100 000 V đến 750 000 V. Người sử dụng chỉ cần bấm nút thì đầu dùi cui sẽ phóng điện ra. Tia điện này có khả năng làm một con lợn nặng 70 kg bất tỉnh trong 10 phút. Vũ khí này chạy bằng pin 9 V hoặc pin nạp, nó chỉ gây ra đau đớn tức thì chứ ít khi gây ra các tổn thương lâu dài như các loại vũ khí khác, vì vậy thường được cảnh sát sử dụng để trấn áp các vụ bạo động. Giá cả của loại vũ khí này khoảng 25 - 60 USD, loại đặc biệt có giá tới 500 USD, loại này trong tiếng Anh gọi là taser gun, có dòng điện đầu ra là khoảng 300 000 V, có hình dạng của một khẩu súng, có ống ngắm laser, khi bắn thì nó bắn ra hai viên đạn có mũi nhọn và có khía như dạng cái móc câu (để không bị trượt ra khi đã được bắn vào mục tiêu). Hai viên đạn này được nối với bộ phận đổi điện cao áp được đặt trên súng bằng hai sợi dây điện nhỏ, để truyền điện cao áp tới mục tiêu. Bộ phận để bắn đạn dùng khí gas nén (loại gas dùng cho súng hơi airsoft) hoặc dùng pít tông. == Tham khảo ==
thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân.txt
Thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân thường được gọi là PDA (tiếng Anh: Personal Digital Assistant) là các thiết bị cầm tay vốn được thiết kế như một cuốn sổ tay cá nhân và ngày càng tích hợp thêm nhiều chức năng. Một PDA cơ bản thường có đồng hồ, sổ lịch, sổ địa chỉ, danh sách việc cần làm, sổ ghi nhớ, và máy tính bỏ túi. == Lịch sử == Thuật ngữ PDA được John Sculley đưa ra lần đầu tiên vào ngày 7 tháng 1, 1992 tại hội chợ Consumer Electronics Show tổ chức ở Las Vegas, Nevada, để chỉ thiết bị cầm tay Newton PDA của hãng Apple. Tuy nhiên các thiết bị trước đó như Psion hay Sharp Wizard có thể coi như một PDA. == Phân loại == Trước đây PDA thường chia làm 2 dòng chính là Palm và Pocket PC, đây là cách phân loại dựa trên hệ điều hành của máy sử dụng. Các tính năng hiện đại ngày nay làm cho việc phân loại khá khó khăn và gây nhiều bàn cãi. Nếu phân loại theo hệ điều hành thì có thể chia làm các loại: Máy sử dụng hệ điều hành Palm OS của Palm, Inc., đại diện có thể là Tréo 650 sử dụng hệ điều hành Palm OS 5.4 có tính năng điện thoại hay Tungsten T5 không có điện thoại sử dụng hệ điều hành Palm OS 5.2. Máy sử dụng hệ điều hành Windows Mobile hay Pocket PC của Microsoft, đại diện có thể là các dòng máy iPaq của HP; iPaq 6365 sử dụng hệ điều hành Windows Mobile Pocket 2003 có tính năng điện thoại iPaq rx 3471 Windows Mobile Pocket 2003Se không có phone hay các máy của hãng O2 đều có tính năng điện thoại; hoặc O2 Xphone SmartPhone sử dụng hệ điều hành Windows 2003 Smartphone Edition. Máy sử dụng hệ điều hành BlackBerry của hãng Research In Motion. Máy sử dụng hệ điều hành Symbian với đại diện tiêu biểu là Nokia 9500 sử dụng hệ điều hành Symbian OS 7.0S, Series 80; P910i của Sony Ericsson sử dụng hệ điều hành Symbian OS, Series 70. Máy sử dụng hệ điều hành IOS với tiêu biểu là Iphone của hãng Apple Inc. Máy sử dụng hệ điều hành Android của Google với tiêu biểu là Galaxy của hãng Samsung hay Desire của HTC hay Droid của Motorola Ngoài ra còn các máy dùng một số hệ điều hành khác như Motorola E680 dùng Linux Handheld Loại 1 và 2 thiên về hỗ trợ cá nhân nên các tính năng điện thoại chưa tốt, loại 3 và 4 dung hòa giữa hỗ trợ cá nhân và điện thoại, loại 5 và 6 thì do tiến bộ về công nghệ, đã trở nên vượt trội cả khả năng hỗ trợ cá nhân và tính năng điện thoại. Ios và Android(hiện có thêm Windows phone của Microsoft) đã khiến cho các thiết bị chỉ hỗ trợ cá nhân trở nên không còn cần thiết. Thực tế là hiện nay(2014) đã không còn sản phẩm hỗ trợ cá nhân thuần túy nào tồn tại trên thị trường. Nếu phân loại theo loại chip thì có mấy loại: Intel XScale Texas Instruments TI Omap Samsung Qualcomm == Các tính năng điển hình == Nhiều PDA có thể vào mạng thông qua Wi-Fi, Bluetooth hay GPRS. Một đặc điểm quan trọng của các PDA là chúng có thể đồng bộ dữ liệu với PC. Hiện tại ngoài tính năng hỗ trợ cá nhân như trên PDA còn giúp nghe nhạc, ghi âm, xem phim, gọi điện thoại, chụp ảnh, quay phim, tìm đường, điều khiển các thiết bị điện tử từ xa và có các cổng giao tiếp truyền thống như USB, các loại thẻ nhớ và cổng hồng ngoại. Cũng có thể gọi điện thoại với giao tiếp không dây dùng chuẩn GSM/GPRS hay CDMA. Một PDA điển hình có một màn hình cảm ứng (touch screen) để nhập dữ liệu, một khe cắm cạc bộ nhớ dành cho các thiết bị lưu trữ dữ liệu và một cổng hồng ngoại (IrDA port) để nối mạng. Các PDA thế hệ sau thường được tích hợp cả Wi-fi và Bluetooth. === Màn hình cảm ứng === Nhiều PDA thời kỳ đầu, chẳng hạn Palm Pilot, có màn hình cảm ứng để tương tác với người dùng, với chỉ một vài phím dành cho các phím tắt gọi các chương trình thường dùng. Các PDA dùng màn hình cảm ứng, trong đó có các thiết bị Windows Pocket PC, thường có một bút stylus để viết trên màn hình. Hoạt động tương tác thường được thực hiện qua việc chạm vào màn hình để kích hoạt các nút bấm hoặc lựa chọn trình đơn, và kéo bút stylus để đánh dấu văn bản khi soạn. Việc nhập dữ liệu văn bản thường được thực hiện bằng một trong hai cách: Sử dụng một bàn phím ảo, trong đó bàn phím được hiện trên màn hình, người dùng chạm bút vào các chữ cái hiện trên đó. Riêng Iphone của hãng Mac Apple trình làng từ quý 3 - 2007 cũng sử dụng bàn phím ảo, nhưng đặc biệt là dòng máy này sử dụng màn hình cảm ứng điện dung, chỉ có thể dùng tay để sử dụng bàn phím ảo, và màn hình cảm sẽ cảm nhận vùng bạn chạm ngón tay vào có trung tâm là phím nào để nhận biết phím đó. Sử dụng công nghệ nhận dạng chữ cái hoặc từ, trong đó các chữ cái hoặc các từ được viết trên màn hình, sau đó được "dịch" thành các chữ cái trong trường văn bản hiện đang được kích hoạt. Mặc dù có các dự án phát triển và nghiên cứu chính xác, kiểu nhập dữ liệu này vẫn đòi hỏi sự kiên nhẫn của người dùng, do nó thường khá là không chính xác. Các PDA dành cho sử dụng trong kinh doanh, trong đó có BlackBerry và Treo, có bàn phím đầy đủ, vành trượt (scroll wheel) và vành ngón cái (thumb wheel) để phục vụ cho việc nhập và định hướng dữ liệu, bên cạnh với việc hỗ trợ nhập dữ liệu từ màn hình cảm ứng. Còn có các loại bàn phím kích thước đầy đủ gấp được và cắm được trực tiếp vào PDA để cho phép gõ phím theo kiểu thông thường. BlackBerry còn có các chức năng bổ sung chẳng hạn như các phím liên quan đến thư điện tử và ứng dụng === Cạc bộ nhớ === Đa số PDA có một dạng khe cắm cạc bộ nhớ nào đó. Khe cắm SD (Secure Digital) là loại khe cắm chuẩn cho PDA. Mặc dù ban đầu được thiết kế cho bộ nhớ, trong những năm gần đây, việc phát minh ra chuẩn SDIO đã cho phép những thứ như cạc Wi-Fi và Webcam cũng cắm được vào khe cắm này. Các khe cắm Compact Flash được dùng trong nhiều PDA để cung cấp thêm khả năng mở rộng. Ví dụ, một khe dành cho bộ nhớ, khe kia dành cho Wi-Fi. Một số PDA còn có một cổng USB, chủ yếu dành cho USB flash drive. === Nối mạng === Mỗi PDA đều có một cổng hồng ngoại để nối mạng. Điều này cho phép liên lạc giữa hai PDA, giữa một PDA và một thiết bị dùng cổng hồng ngoại, hoặc giữa một PDA và một máy tính có adapter hồng ngoại. Hầu hết PDA hiện đại còn có khả năng kết nối không dây theo công nghệ Bluetooth mà nhiều điện thoại di động, tai nghe và các thiết bị định vị toàn cầu sử dụng. === Đồng bộ hóa === Một chức năng quan trọng của PDA là đồng bộ hóa dữ liệu với một máy tính cá nhân. Điều này cho phép các thông tin địa chỉ liên lạc lưu trữ trong các phần mềm chẳng hạn như Microsoft Outlook hay ACT! cập nhật cơ sở dữ liệu tại PDA. Dữ liệu được đồng bộ hóa đảm bảo rằng PDA có một danh sách chính xác các địa chỉ liên lạc, các cuộc hẹn và thư điện tử, cho phép người dùng truy nhập cùng một thông tin trên PDA cũng như trên máy tính cá nhân. Việc đồng bộ hóa còn ngăn được mất mát thông tin lưu trên thiết bị trong trường hợp nó bị mất, bị lấy trộm, hoặc bị hủy. Một ưu điểm khác là việc nhập dữ liệu trên PC thường nhanh hơn nhiều, do nhập dữ liệu qua một màn hình cảm ứng vẫn chưa thật tối ưu. Do đó, việc truyền dữ liệu tới một PDA qua một máy tính nhanh hơn nhiều so với việc phải nhập bằng tay tất cả dữ liệu vào thiết bị cầm tay. Đa số PDA có sẵn khả năng đồng bộ hóa với một PC. Điều này được thực hiện qua các phần mềm đồng bộ hóa được cung cấp kèm theo thiết bị, chẳng hạn HotSync Manager đi cùng Palm OS, hoặc Microsoft ActiveSync đi kèm Windows Mobile. === Tùy biến người dùng === Cũng như đối với máy tính cá nhân, có thể cài đặt các phần mềm bổ sung lên hầu hết các PDA. Phần mềm có thể được mua hoặc tải xuống từ Internet. Gần như tất cả các PDA cũng đều hỗ trợ việc bổ sung một số dạng phần cứng. Loại thông dụng nhất là khe cắm cạc bộ nhớ, thiết bị này cho phép người dùng có thêm không gian lưu trữ chuyển đổi được trên các thiết bị cầm tay của mình. Ngoài ra còn có các bàn phím mini có thể nối với một số PDA để nhập dữ liệu văn bản nhanh hơn. PDA với Bluetooth còn có thể sử dụng các thiết bị Bluetooth như tai nghe, chuột và bàn phím gấp được. Riêng sản phẩm nổi đình đám của Iphone được Apple cho ra mắt năm 2007 thì không chỉ nổi bật ở màn hình cảm ứng nhiệt mà còn đặc biệt ở ứng dụng Installer, khi cài vào Iphone thì người dùng có thể tải và cài đặt thêm ứng dụng mà mình thích thông qua Wi-Fi. == Sản phẩm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tiếng Việt: Diễn đàn kỹ thuật PDA của người Việt Nam Diễn đàn cộng đồng người dùng thiết bị cầm tay tại Việt Nam Dự Án Việt Hóa Điện Thoại Linux (Motorola E680i/A780) Handhelds Club Tiếng Anh: Collection of links to PDA sites PDA cortex The Journal of Mobile Informatics A Site dedicated to the use of PDAs in Nursing and Nursing Informtics The evolution of PDAs, 1975-1995 Palm vs PocketPC Differences Wikipedia on your PDA port of Linux for the Nintendo DS PDAid, Help for all PDAs PDA Hotspots Sites suitable for small screen PDA's Linux on PDAs and Handheld PCs Repair and upgrade instructions for PDAs medPDA.net Medical application reviews, news, discussions. PalmFLYING.com Site that focuses on using PDAs in Aviation. Wapedia.mobi - Wikipedia for PDAs and mobile phones Wikipedia on your PDA and from CD, DVD
kiribati.txt
Kiribati (phiên âm:"Ki-ri-bát-xư", tiếng Gilbert: [ˈkiɾibas]), tên chính thức là Cộng hòa Kiribati (tiếng Gilbert: Ribaberiki Kiribati),, là một quốc đảo có khí hậu nhiệt đới nằm ở vùng trung tâm Thái Bình Dương. Nước này có tổng cộng 32 đảo san hô vòng và một đảo san hô cao, trải trên một diện tích khoảng 3,5 triệu kilomet vuông, rải rác quanh đường xích đạo, và giáp với Đường đổi ngày Quốc tế về phía đông. Cái tên Kiribati là phát âm địa phương của từ "Gilberts", xuất phát từ đảo chính của nước này là Quần đảo Gilbert. Kiribati giành được độc lập từ Anh Quốc vào năm 1979. Nước này là một thành viên thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới, và trở thành thành viên đầy đủ của Liên hiệp Quốc vào năm 1999. == Nguồn gốc tên gọi == Kiribati được đặt tên là Quần đảo Gilbert sau khi thuyền trưởng người Anh Thomas Gilbert, phát hiện ra quần đảo vào năm 1788. Cái tên hiện tại, Kiribati, là một phiên bản của chữ "Gilberts", xuất phát từ các tên cũ "Quần đảo Gilbert" do người châu Âu đặt. Mặc dù tên của Quần đảo Gilbert theo tiếng Gilbert bảm địa chính thức là Tungaru, chính phủ mới đã chọn cái tên "Kiribati", là sự diễn đạt theo tiếng Gilbert của quần đảo "Gilbert", bao gồm luôn cả các quần đảo khác thuộc nước này vốn chưa bao giờ được coi là một phần của quần đảo Gilbert. == Lịch sử == === Thuở ban đầu === Vùng đất hiện nay được gọi với cái tên Kiribati, trước kia là nơi sinh sống của người Micronesia nói cùng tiếng Ocean vào khoảng thời gian giữa năm 3000 trước công nguyên và 1300 sau công nguyên. Khu vực này không bị cô lập về mặt địa lý; những cư dân ngoại bang đến từ Tonga, Samoa, và Fiji sau đó đã đến và du nhập các khía cạnh văn hóa Polynesia và Melanesia. Các cuộc hôn phối giữa những chủng tộc khác nhau đã làm lu mờ những khác biệt về văn hóa và đạt được một mức độ đồng nhất quan trọng ở nơi này. === Thời kỳ thuộc địa === Quần đảo được các tàu Anh và Hoa Kỳ phát hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Chuỗi đảo chính được đặt tên Quần đảo Gilbert vào năm 1820 bởi một Đô đốc người Nga, Adam von Krusenstern, và thuyền trưởng người Pháp Louis Duperrey, theo tên một thuyền trưởng người Anh là Thomas Gilbert, người vốn trước đó đã băng qua quần đảo vào năm 1788 khi đang đi từ Úc sang Trung Quốc. Từ đầu thế kỷ 19, các tàu đánh cá voi, thương mại và kẻ buôn nộ lệ phương Tây đã ghé thăm hòn đảo mang theo cả các căn bệnh lạ và súng ống. Những người định cư người Anh đặt chân lên đảo lần đầu tiên vào năm 1837. Năm 1892 quần đảo Gilbert đồng ý trở thành xứ bảo hộ của Anh Quốc cùng với Quần đảo Ellice gần đó. Những khu vực này được quản lý bởi Cao ủy Tây Thái Bình Dương đặt trụ sở chính tại Fiji. Cùng với nhau các lãnh thổ này trở thành Thuộc địa trực thuộc Anh (crown colony) của Quần đảo Gilbert và Ellice vào năm 1916. Kiritimati (Đảo Christmas) trở thành một phần của thuộc địa 1919 và Quần đảo Phoenix được thêm vào năm 1937. Đảo san hô Tarawa và các đảo khác của nhóm đảo Gilbert bị chiếm đóng bởi quân Nhật trong suốt Thế chiến II. Tarawa là một trong những khu vực diễn ra các trận đánh đẫm máu nhất của trong lịch sử Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Tawara vào thánh 11, 1943; theo sau đó Trận Tarawa diễn ra tại thủ đô cũ của Kiribati là Betio trên đảo san hô Tarawa. Một số quần đảo của Kiribati, đặc biệt là các đảo xa như Quần đảo Line, trước đây được Hoa Kỳ và Anh Quốc dùng làm nơi thử nghiệm vũ khí hạt nhân bao gồm cả bom khinh khí vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. === Độc lập tới hiện tại === Quần đảo Gilbert và Ellice giành được quyền tự trị vào năm 1971, và tách ra vào năm 1975 rồi được trao quyền tự quản bởi Anh Quốc. Năm 1978, Quần đảo Ellice trở thành quốc gia độc lập là Tuvalu. Trong khi Quần đảo Gilbert được độc lập cùng với Kiribati vào ngày 12 tháng 7 năm 1979. Mặc dù cái tên theo tiếng Gilbert bản địa của Quần đảo Gilbert chính thức là "Tungaru", nhà nước mới vẫn chọn tên "Kiribati", là sự diễn tả theo tiếng Gilbert của từ "Gilbert", được mang nghĩa bao hàm cả các lãnh thổ cựu thuộc địa là Banaba, Quần đảo Line,và Quần đảo Phoenix, vốn chưa bao giờ được coi là một phần của chuỗi đảo Gilbert. Theo Hiệp ước Tarawa, được ký kết một thời gian ngắn sau khi độc lập và thông qua vào năm 1983, Hoa Kỳ hủy bỏ tất cả các tuyên bố chủ quyền đối với các đảo rải rác không có người ở thuộc Quần đảo Phoenix Islands và Quần đảo Line là một phần lãnh thổ của Kiribati. Quá tải dân số đã đang là một vấn đề cấp thiết ở Kiribati. Năm 1988, nước này công bố rằng 4.700 cư dân của nhóm đảo chính sẽ phải tái định cư trên các đảo ít dân hơn. Chính trị gia Teburoro Tito được bầu làm tổng thống năm 1994. Theo sau đó là đạo luật năm 1995 quyết định di chuyển đường đổi ngày quốc tế xa về phía đông để nhóm Quần đảo Line sử dụng cùng thời gian với phần còn lại của đất nước. Đạo luật này đã hiện thức lời hứa của Tổng thống Tito trong chiến dịch tranh cử, dự định sẽ cho phép mọi công việc của quốc gia sẽ đực thực hiện trong cùng thời điểm. Việc này cũng tạo điều kiện cho Kiribati trở thành quốc gia đầu tiên chứng kiến buổi bình minh đầu tiên của thiên niên kỷ thức ba, một sự kiện quan trọng cho ngành du lịch nước này. Tito tái đắc cử vào năm 1998. Kiribati có được tư cách thành viên Liên Hiệp Quốc năm 1999. Năm 2002 Kiribati thông qua một đạo luật gây tranh cãi cho phép chính phủ đóng cửa báo chí. Đạo luật này được thực hiện sau khi tờ báo không điều hành bởi chính phủ đầu tiên của Kiribati được thành lập. Tổng thống Tito tái đắc cử vào năm 2003, nhưng sau đó đã buộc phải rời khỏi chức vụ vào tháng 3 năm 2003 thông qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm và thay thế bởi Hội đồng Nhà nước. Chính khách Anote Tong thuộc đảo đối lập Boutokaan Te Koaua được bầu để thay thế Tito vào tháng 7 năm 2003. Ông này tái đắc cử vào năm 2007. Mùa hè năm 2008, nhà chức trách Kiribati đã yêu cầu Australia và New Zealand chấp nhận các cư dân Kiribati như là những người tị nạn thường trú. Kiribati được xem là quốc gia đầu tiên mà tất cả lãnh thổ đất liền sẽ biến mất do vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu. Tháng 6, 2008, tổng thống Kiribati Anote Tong đã nói rằng đất nước đã chạm đến "điểm không thể quay ngược lại"; ông còn phát biểu: "Để lên kế hoạch cho một ngày mà bạn không còn một đất nước thật sự đau đớn nhưng tôi nghĩ chúng ta nên phải làm điều đó." == Chính trị == Hiến pháp Kiribati được công bố vào ngày 12 tháng 7 năm 1979, cung cấp những nền tảng cho các cuộc bầu cử tự do và công bằng. Nhánh hành pháp bao gồm một tổng thống (te Beretitenti), một phó tổng thống và một nội các (tổng thống là trưởng nội các đồng thời là thành viên quốc hội). Theo hiến pháp, tổng thống được chỉ định từ các nhà lập pháp được bầu và tại nhiệm trong một nhiệm kỳ tối đa 4 năm. Nội các bao gồm tổng thốong, phó tổng thống và 10 bộ trưởng (được bổ nhiệm bởi tổng thống) đều là Dân biểu Hạ viện. Nhánh lập pháp theo thể chế đơn viện là Maneaba Ni Maungatabu (Viện Dân biểu). Viện có các thành viên được bầu, bao gồm cả đại diện ủy trị theo hiến pháp từ người Banaban ở Fiji, ngoài ra còn có một viên chưởng lý, người có nhiệm vụ là một thành viên ex-officio. Các nhà lập pháp tại nhiệm theo một nhiệm kỳ 4 năm. Những quy định trong hiến pháp về việc thực thi luật pháp ở Kiribati tương tự với các cựu thuộc địa của Anh, theo đó tòa án độc lập trước sự can thiệp của chính phủ. Nhánh tòa án bao gồm Tòa án Tối cao (ở Betio) và Tòa Thượng thẩm. Thẩm phán do Tổng thống chỉ định. Chính quyền địa phương là các hội đồng đảo với các thành viên được bầu. Các công việc của địa phương được giải quyết ở các cuộc họp thị trấn tương tự như ở thời kỳ thuộc địa. Các Hội đồng đảo có quyền tự quyết thu chi và độc lập khỏi sự kiểm soát của chính phủ trung ương. Kiribati có các đảng chính trị chính thức nhưng tổ chức thì không quy củ. Các nhóm chính trị đối lập có xu hướng thống nhất quan điểm về một vấn đề đặc biệt. Ngày chỉ còn có các đảng được công nhận là Đảng Boutokaan te Koaua, Đảng Maneaban te Mauri, Đảng Maurin Kiribati và Đảng Tabomoa. Quyền phổ thông đầu phiếu là vào tuổi 18. Theo định nghĩa của chính phủ, Kiribati có lực lượng cảnh sát, có chức năng thực thi pháp luật và các nhiệm vụ bán quân sự, và các đồn cảnh sát nhỏ trên tất cả các đảo nhưng không có lực lượng quân sự. Cảnh sát được trang bị tàu tuần tra. Sự trợ giúp về an ninh có thể được hỗ trợ từ Australia và New Zealand nếu cần thiết. == Các nhóm đảo == Kiribati chính thức được chia thành các địa hạt kể từ khi quốc gia này được độc lập. Nước này hiện được chia thành ba nhóm đảo không có chức năng quản lý hành chính, bao gồm một nhóm đảo hợp nhất từ Quần đảo Line và Quần đảo Phoenix (thủ phủ đặt tại London, Christmas). Mỗi đảo có người sinh sống có một hội đồng riêng (ba hội đồng ở Tarawa: Betio, Nam-Tarawa, Bắc-Tarawa; hai hội đồng ở Tabiteuea). Ba địa hạt ban đầu là: Banaba Trung tâm Gilberts Quần đảo Line Quần đảo Bắc Gilberts Quần đảo Nam Gilberts Đảo san hô Tarawa Các nhóm đảo bao gồm: Quần đảo Gilbert Quần đảo Phoenix, hiện tại là khu dự trữ biển lớn nhất trên thế giới. Quần đảo Line Bốn trong các địa hạt đầu tiên (bao gồm Tarawa) nằm trong Quần đảo Gilbert, nơi sinh sống của phần lớn dân số nước này. Năm đảo thuộc Quần đảo Line là không có người sinh sống bao gồm (Đảo Malden, Đảo Starbuck, Đảo Caroline, Đảo Vostok và Đảo Flint). Phần lớn Quần đảo Phoenix không có người sinh sống ngoại trừ Đảo Kanton. Đảo Banaba hiện có số cư dân ít ỏi sinh sống rải rác. Luôn có một đại diện không qua bầu cử của đảo này tại đảo Rabi ở Fiji. Mỗi một đảo trong số 21 hòn đảo có người sinh sống có một hội đồng địa phương có nhiệm vụ giải quyết các công việc hằng ngày. Đảo san hô Tarawa có ba hội đồng: Hội đồng Thị trấn Betio, Hội đồng Thành phố Te Inainano (cho phần còn lại của Nam Tarawa) và Hội đồng Eutan Tarawa (cho Bắc Tarawa). == Quan hệ đối ngoại == Kiribati được chấp nhận làm thành viên thứ 186 của Liên Hiệp Quốc vào tháng 9 năm 1999. === Quan hệ trong khu vực === Cộng hòa Kiribati và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 15 tháng 9 năm 2014 Kiribati duy trì các mối quan hệ gần gũi với phần lớn các quốc gia và đặc biệt là các quốc gia láng giềng ở Thái Bình Dương, Nhật Bản, Australia và New Zealand, vốn là những nhà viện trợ chính của nước này. Đài Loan và Nhật Bản cũng mua quyền đánh cá có thời hạn tại các vùng biển của Kiribati. Vào tháng 11 năm 1999 Cơ quan Phát triển Không gian Quốc gia Nhật đã thông báo kế hoạch thuê đất trên đảo Christmas của Kiritimati trong vòng 20, nhằm mục đích xây dựng một sân bay vũ trụ. Theo đó, phía Nhật sẽ trả US$840.000 mỗi năm và chịu mọi chi phí cho sự phá huỷ môi trường và đường sá. Ngoài ra một trạm tiếp sóng cũng sẽ hoạt động tại Kiritimati và một sân bay bị bỏ hoang trên đảo sẽ được dùng lam đường băng cho các chuyến trở về của tàu con thoi có tên HOPE-X. Tuy nhiên chương trình HOPE-X, cuối cùng lại bị huỷ bỏ vào năm 2003. === Mối quan hệ với Hoa Kỳ === Đoàn Hoà Binh Hoa Kỳ, một trong Các cơ quan độc lập của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, thông báo kế hoạch rút khỏi Kiribati vào tháng 11 năm 2008 sau 35 năm phục vụ tại quốc gia này. Michael Koffman, Giám đốc của Đoàn Hoà Binh Mỹ tại Kiribati, trích dẫn lý do chính khiến họ rời đi là dịch vụ hàng không nội địa nước này thất thường và thường xuyên bị huỷ. === Kiribati và vấn đề Thay đổi Khí hậu === Là một trong những quốc gia dễ bị ảnh hưởng nặng nề do vấn đề thay đổi khí hậu toàn cầu, Kiribati đã tham gia tích cực trong các nỗ lực ngoại giao quốc tế liên quan đến vấn đề thay đổi khí hậu, quan trọng nhất là các hội nghị của UNFCCC. Kiribati là một thành viên của Liên Minh các Quốc gia Tiểu Hải Đảo (AOSIS), một tổ chức liên chính phủ của các quốc đảo nhỏ có bờ biển thấp. Được thành lập vào năm 1990, mục tiêu chính của liên minh là nêu cao tiếng nói của Các quốc đảo nhỏ đang phát triển (SIDS) đến vấn đề ấm lên toàn cầu. Ngay từ khi thành lập AOSIS đã có nhiều hoạt động tích cực, như trong việc đưa ra bản sơ khảo trong đàm phán ký kết Nghị định thư Kyoto vào đầu năm 1994. Năm 2009, Tổng thống Tong tham dự Climate Vulnerable Forum (V11) tại Maldives, cùng với 10 quốc gia khác dễ bị ảnh hưởng từ biến đối khí hậu, và ký kết tuyên bố đảo Bandos vào ngày 10 tháng 11 năm 2009, cam kết đưa ra sự lãnh đạo đúng hướng và bắt đầu thực hiện nền kinh tế xanh bằng các giảm lượng khí thải. Tháng 11 năm 2010, Kiribati sẽ là nơi diễn ra Hội nghị biến đổi khí hậu Tarawa (TCCC), nhằm mục đích hỗ trợ sáng kiến của Tổng thống Kiribati tổ chức một diễn đàn tham khảo ý kiến giữa các quốc gia dễ bị ảnh hưởng của vấn đề biến đổi khí hậu với các đối tác của họ trong tầm nhìn tạo ra một môi trường thuận lợi cho đàm phán đa phương dưới sự bảo trợ của UNFCCC. Hội nghị này là sự kiện theo sau Diễn đàn Biến đổi Khí hậu. Dựa trên các kinh nghiệm từ COP, TCCC dự kiến sẽ đề cử một kế hoạch hành động có nhiều sự tham khảo đóng góp ý kiến, bởi các đối tác quan trọng giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển. Hội nghị này sẽ là cuộc vận động chính và sự kiện xây dựng chính trong mối quan hệ giữa các đối tác trong mối quan hệ toàn cầu và khu vực Thái Bình Dương về vấn đề thay đổi khí hậu. Ngoài ra, mục tiêu của hội nghị sẽ là một phần trong tiến trình thương thảo trong khu vực và toàn cầu diễn ra trong năm 2010. Mục tiêu cuối cùng của hội nghị là giảm số lượng và độ khác biết trong quan điểm giữa các bên trong tiến trình COP, tìm ra các yếu tố tương đồng giữa các bên tham gia và do đó hỗ trợ Kiribati và các bên tham gia vào COP16 diễn ra ở Cancun, México, từ 29 tháng 11 đến 10 tháng 12 năm 2010. == Địa lý == Kiribati có khoảng 32 đảo san hô vòng và một đảo biệt lập (Banaba), trải dài ở cả hai bán cầu đông và tây. Các nhóm đảo gồm: Đảo Banaba: một đảo biệt lập nằm giữa Nauru và quần đảo Gilbert Quần đảo Gilbert: 16 đảo san hô vòng nằm cách Fiji khoảng 930 dặm (1.500 km) về hướng bắc Quần đảo Phoenix: 8 đảo san hô vòng và một đảo san hô cách quần đảo Gilbert khoảng 1.100 dặm (1.800 km) về hướng đông nam Quần đảo Line: 8 đảo san hô vòng và một rặng đá ngầm, cách quần đảo Gilbert khoảng 2.050 dặm (3.300 km) về phía đông Banaba (hay Đảo Đại Dương) là một đảo tạo bởi san hô có nguồn tài nguyên phosphate phong phú, nhưng hầu như đã bị khai thác trước khi được độc lập. Phần lãnh thổ còn lại của Kiribati bao gồm chủ yếu là các đảo cát và đá ngầm nhỏ hay các đảo san hô chỉ nằm trên mặt nước biển vài met. Lớp đất trồng ở Kiribati mỏng và chứa nhiều canxi gây nhiều trở ngại cho hoạt động nông nghiệp. Đảo Kiritimati (Đảo Giáng sinh) thuộc Quần đảo Line là đảo san hô vòng lớn nhất thế giới. Do sự kiện định lại Đường đổi ngày quốc tế vào năm 1995, Kiribati hiện tại là quốc gia nằm về xa phía cực đông nhất của thế giới, và là quốc gia đầu tiên bước vào năm 2000 tại Đảo Caroline, vốn không phải ngẫu nhiên đã được đổi tên thành Đảo Thiên niên kỷ. Theo Chương trình Môi trường Khu vực Nam Thái Bình Dương, hai đảo nhỏ không người ở của Kiribati là Tebua Tarawa và Abanuea, đã biến mất dưới làn nước vào năm 1999. Hòn đảo Tepuka Savilivili (Tuvalu; không phải là tên theo tiếng Gilbert) đã không còn cây dưa nào sinh sống do sự nhiễm mặn của nước biển. Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc dự đoán mực nước biển sẽ dâng lên khoảng nửa met (20 in) vào năm 2100 do vấn đề ấm lên toàn cầu và đây là việc không thể tránh khỏi. Do đó, gần như trong vòng một thế kỷ những vùng đất trồng trọt được của nước này sẽ trở thành nạn nhân của nạn xâm nhập mặn và phần lớn sẽ bị nhận chìm dưới mực nước biển. Tuy nhiên, mực nước biển dâng lên không có nghĩa là Kiribati sẽ biến mất. Paul Kench tại Viện Đại học Auckland ở New Zealand và Arthur Webb tại Uỷ ban Ứng dụng khoa học Địa chất ở Fiji công bố một nghiên cứu vào năm 2010 về sự đáp ứng với sự dâng nước biển của các đảo san hô ở trung tâm Thái Bình Dương. Kiribati được đề cập đến trong nghiên cứu, Webb và Kench phát hiện ra rằng ba hòn đảo có dân cư sinh sống chủ yếu của Kiribati là Betio, Bairiki và Nanikai - có diện tích tăng 30 phần trăm (36 hecta), 16,3 phần trăm (5,8 hecta) và 12,5 phần trăm (0,8 hecta), respectively. Kiribati là quốc gia duy nhất trên thế giới nằm ở cả hai bên kinh tuyến 180 của quả đất. == Kinh tế == Kiribati là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Nước này chỉ có một vài nguồn tài nguyên tự nhiên. Trong khi đó, nguồn tài nguyên phosphat trên đảo Banaba lại bị khai thác cạn kiệt trước khi nước này được độc lập. Cơm dừa khô và cá hiện tại là hai mặt hàng sản xuất và xuất khẩu chính. Du lịch đóng góp hơn một phần năm Tổng sản phẩm nội địa của đất nước. Kiribati được xem là một trong các quốc gia kém phát triển nhất trên thế giới. Viện trợ nước ngoài, chủ yếu đến từ Australia, New Zealand và Nhật Bản, là một nguồn hỗ trợ quan trọng, không thay đổi trong những năm gần đây, chiếm khoảng từ 25% đến 50% GDP. Nông nghiệp chiếm 12,4% GDP và sử dụng 71% lực lượng lao động; công nghiệp 0,9% GDP và sử dụng 1,9% lực lượng lao động; thương mại 18,5% GDP và sử dụng 4,1% of lực lượng lao động; thương nghiệp 5,7% GDP và sử dụng 1,4% lực lượng lao động; và công nghiệp dịch vụ 5,7% GDP và sử dụng 1,4% lực lượng lao động. Các đối tác thương mại chính là Australia, Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Hong Kong và Đức. Năm 1956 Kiribati thành lập quỹ quản lý tài sản để làm cơ sở dự trữ tài sản quốc gia thu được từ nguồn khai thác phosphat. Năm 2008, Quỹ Dự trữ Cân bằng Thu nhập đã đạt lượng tài sản lên đến 400 triệu dollar. === Cán cân than toán === Trong khi các mặt hàng xuất khẩu của Kiribati lại bị hạn chế thêm vào nhu cầu to lớn của việc nhập khẩu khiến thâm thụt ngân sách lớn của nước này trong cán cân thanh toán thương mại hàng hoá. Tuy nhiên, nước này có vài nguồn thu nhập từ bên ngoài khác như phí cấp giấy phép đánh cá, thu nhập từ đầu tư, kiều hối và viện trợ nước ngoài. Những nguồn này thường lớn hơn lượng thâm thụt thương mại. Kết quản là cán cân thanh toán của Kiribati luôn thặng dư trong phần lớn khoảng thời gian thập kỷ vừa qua. Các dự trữ tài chính quốc tế còn khoảng 300 triệu dollar Hoa Kỳ kể từ năm 2001. == Nhân khẩu == Người bản địa ở Kiribati được gọi là I-Kiribati. Từ Kiribati là phát âm địa phương của từ Gilbert và tên gốc của thuộc địa Anh là Quần đảo Gilbert. Phát âm của cư dân bản địa của tên này được chấp thuận khi nước này giành được độc lập vào năm 1979. Về mặt dân tộc học I-Kiribati là những người Micronesia. Bằng chứng khảo cổ học gần đây chỉ ra rằng những người Austronesian ban đầu đã định cư trên các hòn đảo hàng ngàn năm trước đây. Vào khoảng thế kỷ 14, những người Fijia và Tonga chiếm lấy các hòn đảo thuộc Kiribati và do đó làm phức tạp hơn nguồn gốc sắc tộc tại đây; những người có nguồn gốc Polynesian đã phân hoá thành nhiều kiểu hành khác nhau. Kết hôn giữa những nhóm sắc tộc trong quá khứ đã dẫn đến sự đồng nhất trong trang phục và văn hoá của các cư dân. Người bản địa Kiribati nói một ngôn ngữ châu Đại Dương được gọi là "tiếng Gilbert". Mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, nhưng nó không được sử dụng phổ biến bên ngoài thủ đô Tarawa. Nhiều khả năng là tiếng Anh được sử dụng trộn lẫn với tiếng Gilbert. Các thế hệ người I-Kiribati lớn tuổi có xu hướng sử dụng các phiên bản phức tạp của ngôn ngữ pha trộn này. Kitô giáo là tôn giáo chính ở nước này, vốn đã được giới thiệu bởi các nhà truyền giáo vào thế kỷ 19. Phần lớn dân số là theo Công giáo La Mã, mặc dù một phần không nhỏ là theo Hội chúng tự trị Tin lành. Nhiều giáo phái Tin lành khác, bao gồm Thuyết Phúc Âm cũng hiện diện ở Kiribati. Tôn giáo Bahá'í Faith cũng tồn tại ở Kiribati, cùng với Nhân chứng Jehovah và Giáo hội của Chúa Giêsu Kitô của các vị thánh ngày cuối (Giáo hội Mặc Môn), có khoảng 11.511 tín đồ vào cuối năm 2005. == Phát triển con người == Phần lớn người dân Kiribati sống trong các ngôi làng với dân số dao động trong khoảng từ 50 đến 3.000 trên các đảo xa. Nhà của họ chủ yếu làm bằng các vật liệu lấy từ cây dừa và dứa dại. Nạn hạn hán thường xuyên cản trở việc thiếp lập nền nông nghiệp quy mô lớn, do phần lớn cư dân chuyển sang mưu sinh nhờ vào biển cả. Phần lớn họ đánh cá nhờ các phương tiện thô sơ là thuyền chèo. Các đồn điền sản xuất cơm dừa đóng vai trò là nguồn công việc thứ hai. Trong những năm gần đây, một số lượng lớn cư dân đã chuyển đến sống trong các khu vực đô thị của thủ đôl Tarawa. === Y tế === Dân số Kiribati có kỳ vọng tuổi thọ là 60 năm (57 cho nam, và 63 cho nữ), tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh là 54 mỗi 1.000 ca sinh. Bệnh lao đang hiện diện tại Kiribati. Chi tiêu chính phủ dành cho y tế là 268 dollar Mỹ mỗi người vào năm 2006. Trog khoảng thời gian 1990-2007, số bác sĩ là 23 mỗi 100.000 người. Kể từ khi có sự giúp đỡ của các bác sĩ Cuba, tỉ lệ tử vong sơ sinh đã giảm đáng kể. == Giáo dục == Giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí trong vòng sáu năm đầu tiên, và hiện tại được kéo dài lên chín năm. Các trường nhà thờ đang dần dần được sát nhập vào hệ thống trường tiểu học của chính phủ. Các bậc giáo dục cao hơn đang được mở rộng; các sinh viên có thể tìm kiếm sự đào tạo kỹ thuật, sư phạm hay hàng hải từ các quốc gia khác. Đa số quyết định đi đến Fiji, và thường phấn đấu để được hoàn tất đào tạo y khoa để được gửi đi học ở Cuba. == Giao thông == Bắt đầu từ tháng 1 năm 2009, Kiribati có hai hãng hàng không nội địa: Air Kiribati và Coral Sun Airways. Cả hai hãng đề đặt trụ sở tại Sân bay Quốc tế Bonriki ở Tarawa và chỉ thực hiện các chuyến bay đến các nơi dọc Quần đảo Gilbert. Cả hai Quần đảo Phoenix và Line đều không có các chuyến bay chuyên chở nội địa. Hãng chuyên chở quốc gia Air Pacific của Fiji thực hiện các chuyến bay quốc tế đến Kiribati từ sân bay chính của Fiji là sân bay quốc tế Nadi. Hãng hành không quốc gia Our Airline của Nauru, cũng thực hiện các chuyến bay chuyển tiếp hằng tuần đến Kiribati từ sân bay quốc tế Nadi, cũng như sân bay quốc tế Nauru, nối Honiara, thủ đô Quần đảo Solomon, và xa hơn đến Brisbane, Australia. == Văn hoá == === Âm nhạc === Âm nhạc dân gian Kiribati phần lớn dựa trên chanting hay các thể loại xướng âm khác, kèm theo động tác cơ thể. Các sự kiện biển diễn công cộng ở Kiribati ngày nay thường là các vũ điệu ngồi, kèm theo guitar. Tuy nhiên, trong các buổi biển diễn trang trọng đứng có tên Te Kaimatoa hay khiêu vũ hông Te Buki, một hộp gỗ được sử dụng làm nhạc cụ gõ. Cái hộp này được thiết kế để cho âm thanh vang khi trong điệu vũ những người ngồi xung quanh hộp. Các bài hát truyền thống thường là về đề tài tình yêu, nhưng cũng thể là về cạnh tranh, tôn giáo, trẻ em, lòng yêu nước, chiến tranh và cưới hỏi. Khiêu vũ gậy, kèm theo các câu truyện nửa lịch sử và huyền thoại chỉ được biểu diễn trong các lễ hội chính. === Khiêu vũ === Sự độc đáo của khiêu vũ Kiribati khi so sánh với các thể loại khác trên các đảo Thái Bình Dương là nó nhấn mạnh lên cánh tay dang rộng của vũ công và sự di chuyển bất ngờ của đầu giống như cử động của chim muông. Chim Frigate trên lá cờ của Kiribati có liên quan đến kiểu khiêu vũ giống chim của Kiribati. Phần lớn các điệu múa là trong tư thế đứng hay ngồi với cử động giới hạn và chao đảo. Cười trong khi khiêu vũ được xem là thô tục trong ngôn ngữ khiêu vũ của Kiribati. Điều này là do nguồn gốc của điệu vũ không được chỉ là một hình thức giải trí mà là một hình thức kể chuyện và hiển thị một trong những vẻ đẹp, kỹ năng và độ bền của các vũ công. === Các khía cạnh khác === Edward Carlyon Eliot, Uỷ viên Cư dân Quần đảo Gilbert & Ellice (hiện tại Kiribati & Tuvalu) trong thời kỳ thuộc địa, từ năm 1913 đến 1920 đã miêu tả thời kỳ này ở Kiribati trong cuốn sách "Broken Atoms" (tập hồi ký tự truyện) Pub. G. Bles, London, 1938. Sir Arthur Grimble viết về khoảng thời gian làm việc của ông ở thuộc địa Anh ở Kiribati (sau là Quần đảo Gilbert) từ năm 1914 đến 1932 trong hai cuốn sách A Pattern of Islands (1952) và Return to the Islands (1957). Ông cũng nghiên cứu về văn hoá người Gilbert. Tập hồi ký gần đây của J. Maarten Troost về kinh nghiệm trêne Đảo san hô Tarawa được ghi lại trong cuốn sách The Sex Lives of Cannibals (2004). == Chú thích == == Liên kết ngoài == Kiribati National Tourism Office Parliament of Kiribati Kiribati National Climate Change Portal Chief of State and Cabinet Members Thông tin chung Mục “Kiribati” trên trang của CIA World Factbook. Kiribati from UCB Libraries GovPubs Kiribati tại DMOZ Wikimedia Atlas của Kiribati, có một số bản đồ liên quan đến Kiribati. Phoenix Islands Protected Area Paradise Lost? (A recent PBS/NOW program on global warming)
hạt vùng đô thị.txt
Hạt vùng đô thị là một loại đơn vị hành chính cấp hạt của nước Anh. Có sáu hạt vùng đô thị, trong đó mỗi hạt bao gồm một khu vực đô thị lớn, tiêu biểu với dân số từ 1,2-2.800.000. Chúng được tạo ra trong năm 1972 và được chia thành nhiều huyện vùng đô thị. Hội đồng Hạt vùng đô thị được bãi bỏ vào năm 1986 với hầu hết các chức năng của họ được trao cho từng các huyện, giúp họ trên thực tế trở thành cơ quan đơn nhất (unitary authority). Các chức năng còn lại được thực hiện hội đồng chung. Các hạt vùng đô thị có mật độ dân số từ 800 (South Yorkshire) tới 2.800 (West Midlands) người / km². Vài huyện đô thị riêng biệt có mật độ từ 4.000 người / km² ở Liverpool tới chỉ có 500 người / km² ở Doncaster. Ngày nay, cư dân của hạt vùng đô thị chiếm khoảng 22% dân số của nước Anh, tương đương 18% của Vương quốc Anh. == Hạt và huyện == Sáu hạt vùng đô thị và các huyện vùng đô thị của chúng là: Cấu trúc của Greater London tương tự như các hạt vùng đô thị, nhưng nó không phải là một. Nó được tạo ra trước đó vào năm 1965, bởi Đạo luật London Government Act 1963. == Tham khảo ==
eid al-adha.txt
Eid al-Adha (tiếng Ả Rập: عيد الأضحى ‘Īd al-’Aḍḥá, IPA: [ʕiːd al ʔadˁˈħaː], "lễ tế sinh, lễ hiến sinh), cũng gọi là Id-ul-Zuha, là một dịp lễ kéo dài 3 ngày được người Hồi giáo trên toàn thế giới tổ chức nhằm tôn vinh việc ʾIbrāhīm (Abraham) đã sẵn lòng vâng lời Thượng đế mà hiến tế con trai Ismā'īl (Ishmael), trước khi Thượng đế can thiệp để cấp cho ông ta một con cừu làm vật hiến tế thay thế. Eid al-Adha là dịp lễ sau trong hai dịp lễ Eid của người Hồi giáo Sunni và Shia. Nền tảng của lễ Eid al-Adha đến từ tiết thứ 196 của sura (thiên) 2 (Al-Baqara) trong kinh Quran. Từ "Eid" xuất hiện trong Sura al-Mai'da của kinh Qur'an, nghĩa là 'lễ trọng thể'. 3 ngày và 2 đêm của lễ Eid al-Adha được tổ chức hàng năm vào các ngày thứ 10, 11 và 12 của tháng 12 theo lịch Hồi giáo, tức tháng Dhu al-Hijjah (ذو الحجة). Theo Lịch Gregory được sử dụng rộng rãi trên thế giới, các ngày này thay đổi theo từng năm, tiến lên khoảng 11 ngày so với năm trước đó. Giống như Eid ul-Fitr, Eid al-Adha bắt đầu với một lời cầu nguyện Sunnah gồm hai Raka'ah (đơn vị) tiếp theo là một bài thuyết pháp (khuṭbah). Lễ kỉ niệm Eid al-Adha bắt đầu sau Hajj, cuộc hành hương thường niên đến thánh địa Mecca ở Ả Rập Saudi của người Hồi giáo trên toàn thế giới. Dịp lễ này cách xấp xỉ 70 ngày (2 tháng & 10 ngày) sau khi kết thúc tháng Ramadan, tức lễ Eid-ul-Fitr. Các nghi lễ được thực hiện cho đến lúc mặt trời lặn vào ngày 12 của tháng Dhu al-Hijjah. Việc tế sinh Eid có thể được thực hiện cho đến khi mặt trời lặn vào ngày thứ 13. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Eid Al Adha 2012 Moon Sighting Eid Al-Adha Moonsightings for different regions or their following after some other region Eid ul Adha Hadiths on Hajj and Qurbani Eid al-Adha (Feast of the Sacrifice) The Feast of Sacrifice The Festival of Sacrifice Articles on background, performance and significance of Hajj Hadith on Eid al-Adha from Sahih Al-Bukhari Hadith About Eid ul Adha Eid in Dubai - Eid al Adha 2012 - Dubai Calendar
elton john.txt
Sir Elton Hercules John, (tên thật Reginald Kenneth Dwight; sinh ngày 25 tháng 3 năm 1947) là một nhạc công dương cầm, ca sĩ kiêm sáng tác và nhà soạn nhạc người Anh. Ông hợp tác với nhạc sĩ Bernie Taupin trong hơn 30 album phòng thu, kể từ năm 1967 đến nay. Sinh trưởng tại khu vực Pinner của Luân Đôn, ông học chơi dương cầm từ khi còn nhỏ và thành lập nên nhóm Bluesology năm 1962. Trong hai năm, John và Taupin sáng tác nhiều bài hát cho các nghệ sĩ khác, bao gồm Roger Cook và Lulu, trong khi ông trở thành một nhạc sĩ hỗ trợ cho the Hollies và the Scaffold. Năm 1969, ông phát hành album đầu tay Empty Sky. Năm 1970, đĩa đơn "Your Song" từ album thứ hai của ông, Elton John đạt top 10 tại Hoa Kỳ và Anh Quốc. Trong sự nghiệp kéo dài 5 thập kỷ, Elton John đã bán hơn 300 triệu đĩa nhạc, giúp ông trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa chạy nhất thế giới. Ông có 7 album liên tiếp dẫn đầu tại Hoa Kỳ, 58 đĩa đơn đạt Billboard Top 40, 27 bài hát Top 10 và 9 bài hát quán quân. Trong 31 năm liên tiếp (1970–2000) ông có ít nhất 1 bài hát lọt vào Billboard Hot 100. Đĩa đơn "Candle in the Wind 1997" của ông chạm mốc 33 triệu bản trên toàn cầu, nằm trong những đĩa đơn bán chạy nhất lịch sử xếp hạng tại Hoa Kỳ và Anh Quốc. Ông còn soạn nhạc, sản xuất thu âm và tham gia điện ảnh. John sở hữu Câu lạc bộ bóng đá Watford từ năm 1976 đến 1987 và từ 1997 đến 2002. Ông là chủ nhân của 5 giải Grammy, 5 giải Brit—bao gồm giải "Đóng góp âm nhạc nổi bật" và "Biểu tượng Anh Quốc" vào năm 2013 cho "những ảnh hưởng kéo dài trong văn hóa Anh", một giải Oscar, một giải Quả cầu vàng, một giải Tony, một giải Disney Legend và Kennedy Center Honors năm 2004. Tạp chí âm nhạc Rolling Stone liệt ông vào danh sách "100 nhạc sĩ gây ảnh hưởng nhất kỷ nguyên Rock and Roll". Năm 2013, Billboard gọi ông là nam nghệ sĩ đơn ca thành công nhất trong danh sách "The Billboard Hot 100 Top All-Time Artists", chỉ đứng sau the Beatles và Madonna. Đại sảnh Danh vọng Sáng tác và Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll đều lần lượt vinh danh ông. Nữ hoàng Elizabeth II trao cho ông Tước Hiệp sĩ cho "những cống hiến đến âm nhạc và từ thiện" vào năm 1998. John tham gia nhiều sự kiện hoàng gia, bao gồm lễ tang của Diana, Vương phi xứ Wales tại Westminster Abbey năm 1997, đêm nhạc Party at the Palace năm 2002 và Diamond Jubilee Concert của Nữ hoàng bên ngoài Cung điện Buckingham năm 2012. Ông là một trong những người tiên phong trong cuộc chiến chống lại AIDS kể từ cuối thập niên 1980. Năm 1992, ông thành lập Quỹ AIDS Elton John và chủ trì một bữa tiệc giải Oscar một năm sau đó, trở thành một trong những bữa tiệc Oscar nổi tiếng nhất ngành điện ảnh Hollywood. Từ khi mở cửa, quỹ đã thu về 200 triệu đô-la Mỹ. John thông báo mình là người song tính năm 1976 và trở thành người đồng tính công khai kể từ năm 1988, tham gia vào phong trào công dân với David Furnish vào tháng 12 năm 2005. Sau khi Anh hợp thức hóa hôn nhân đồng giới, ông kết hôn với Furnish vào tháng 12 năm 2014. == Cuộc đời và sự nghiệp == === 1947–61: Thời thơ ấu === === 1962–69: Nghệ sĩ dương cầm và sáng tác === === 1969–73: Empty Sky tới Goodbye Yellow Brick Road === === 1974–79: The Rocket Record Company tới 21 at 33 === === 1980–89: The Fox tới Sleeping with the Past === === 1990–99: The One tới Aida === === 2000–09: Are You Ready for Love === === 2010–nay === == Phong cách nghệ thuật == == Hoạt động khác == === Câu lạc bộ bóng đá Watford === === Quỹ AIDS === == Giải thưởng và vinh danh == == Elton John Band == == Danh sách đĩa hát == Empty Sky (1969) Elton John (1970) Tumbleweed Connection (1970) Madman Across the Water (1971) Honky Château (1972) Don't Shoot Me I'm Only the Piano Player (1973) Goodbye Yellow Brick Road (1973) Caribou (1974) Captain Fantastic and the Brown Dirt Cowboy (1975) Rock of the Westies (1975) Blue Moves (1976) A Single Man (1978) Victim of Love (1979) 21 at 33 (1980) The Fox (1981) Jump Up! (1982) Too Low for Zero (1983) Breaking Hearts (1984) Ice on Fire (1985) Leather Jackets (1986) Reg Strikes Back (1988) Sleeping with the Past (1989) The One (1992) Duets (1993) Made in England (1995) The Big Picture (1997) Songs from the West Coast (2001) Peachtree Road (2004) The Captain & The Kid (2006) The Diving Board (2013) Wonderful Crazy Night (2016) == Sự nghiệp điện ảnh == == Xem thêm == Danh sách nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất Danh sách nghệ sĩ được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll Kỷ lục của UK Singles Chart == Tham khảo == Nguồn == Liên kết ngoài == Website chính thức Elton John tại Internet Movie Database Commentary by Elton John (The Guardian)
ceuta.txt
Ceuta là một thành phố nhỏ, lãnh địa thuộc Tây Ban Nha nhưng nằm trên lãnh thổ Maroc. Cùng với Melilla, Ceuta có vai trò chiến lược đối với Tây Ban Nha. Tuy vậy, dù được cả thế giới công nhận, Maroc chưa bao giờ thừa nhận Ceuta và Melila thuộc Tây Ban Nha. Đây là một khu vực phi quân sự. == Lịch sử == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Ceuta (autonomous area, Spain) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Ceuta - Hình ảnh
procter & gamble.txt
P&G (viết tắt của Procter & Gamble) là một tập đoàn hàng tiêu dùng đa quốc gia của Mỹ nằm trong danh sách Fotune 500 do tạp chí Fortune của Mỹ bình chọn hàng năm dưa trên tổng thu nhập và mức đóng góp vào ngân sách quốc gia qua các loại thuế. P&G có trụ sở tại quận trung tâm Cincinnati, Ohio và chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng rất đa dạng. P&G được xếp thứ 5 trong danh sách Những công ty đáng ngưỡng mộ nhất của tạp chí Fortune năm 2011. P&G nổi tiếng về nhiều sáng kiến ​​kinh doanh bao gồm quản trị thương hiệu và quảng cáo sản phẩm qua truyền thanh - truyền hình. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức
bộ cánh vẩy.txt
Bộ Cánh vẩy (danh pháp khoa học: Lepidoptera) là một bộ lớn trong lớp côn trùng, bao gồm cả bướm và ngài. Tên latinh xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ λεπίδος (vảy, vẩy) và πτερόν (cánh). == Phân loại == Bộ Cánh vẩy gồm 4 phân bộ Phân bộ Aglossata có siêu họ duy nhất Agathiphagoidea với họ Agathiphagidae chứa chi duy nhất Agathiphaga gồm hai loài Agathiphaga queenslandensis và Agathiphaga vitiensis Phân bộ Glossata có 5 cận bộ Cận bộ Dacnonypha có siêu họ duy nhất Eriocranioidea chứa 2 họ Họ Eriocraniidae Chi Allochapmania Chi Catolbistis Chi Disfurcula Chi Dyseriocrania Chi Eriocrania Chi Eriocraniella Chi Heringocrania Chi Issikiocrania Chi Neocrania Chi Paracrania Cận bộ Acanthoctesia Họ Acanthopteroctetidae Chi Acanthopteroctetes Chi Catapterix Cận bộ Exoporia Siêu họ Hepialoidea Họ Anomosetidae chứa chi duy nhất Anomoses với loài duy nhất Anomoses hylecoetes Họ Hepialidae gồm 64 chi: Abantiades - Achladaeus - Aenetus - Afrotheora - Andeabatis - Antihepialus - Aoraia - Aplatissa - Bipectilus - Blanchardinella - Bordaia - Calada - Callipielus - Cibyra - Cladoxycanus - Dalaca - Dioxycanus - Druceiella - Dumbletonius - Elhamma - Endoclita - Eudalaca - Fraus - Gazoryctra - Gorgopis - Heloxycanus - Hepialiscus - Hepialus - Jeana - Korscheltellus - Leto - ?Mallomus - Metahepialus - Napialus - Neohepialiscus - Oiophassus - Oncopera - Oxycanus - Palpifer - Parahepialiscus - Parapielus - Pfitzneriana - Pfitzneriella - Pharmacis - Phassodes - Phassus - Phialuse - Phymatopus - Prohepialus - Protohepialus - Puermytrans - Roseala - Schausiana - Stachyocera - Sthenopis - Thitarodes - Toenga - Trichophassus - Trictena - Triodia - Wiseana - Xhoaphryx - Zelotypia - Zenophassus Họ Neotheoridae chi duy nhất Neotheora chứa loài duy nhất Neotheora chiloides Họ Palaeosetidae có 4 chi: Genustes - Ogygioses - Osrhoes - Palaeoses Họ Prototheoridae có 2 chi: Metatheora - Prototheora Siêu họ Mnesarchaeoidea có một họ duy nhất Mnesarchaeidae chứa một chi duy nhất Mnesarchaea với 6 loài đã đặt tên Cận bộ Heteroneura Cận bộ Lophocoronina Cận bộ Neopseustina Phân bộ Heterobathmiina chứa siêu họ duy nhất Heterobathmioidea, họ duy nhất Heterobathmiidae, chi duy nhất Heterobathmia với 3 loài Heterobathmia diffusa, Heterobathmia pseuderiocrania và Heterobathmia valvifer Phân bộ Zeugloptera có siêu họ duy nhất Micropterigoidea chứa họ duy nhất Micropterigidae với 19 chi còn tồn tại và 2 chi hóa thạch: Agrionympha - Aureopterix - Austromartyria - Epimartyria - Hypomartyria - Issikiomartyria - Kurokopteryx - Micropardalis - Micropterix - Nannopterix - Neomicropteryx - Palaeomicroides - Paramartyria - Parasabatinca - Sabatinca - Squamicornia - Tasmantrix - Vietomartyria - Zealandopterix - †Baltimartyria - †Undopterix == Xem thêm == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Lepidoptera tại Wikimedia Commons Các loài Cánh vẩy trên SVRVN Bộ Cánh vẩy tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI). Bộ Cánh vẩy 117232 tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS). Bộ Cánh vẩy tại Encyclopedia of Life
luật sở hữu trí tuệ việt nam.txt
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khoá XI trong kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006, là luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó. Quyền sở hữu trí tuệ: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền liên quan đến quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Quyền sở hữu công nghiệp: quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Quyền đối với giống cây trồng: quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu Tên thương mại: tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực == Xem thêm == Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo [1] Sở hữu trí tuệ Quyền tác giả Sáng chế Kiểu dáng công nghiệp Tổ chức sở hữu trí tuệ Luật sở hữu công nghiệp Bộ Luật Dân sự 2005 == Tham khảo ==
tiểu sử.txt
Tiểu sử là bản mô tả chi tiết về một giai đoạn hoặc cuộc đời của một cá nhân, thường được xuất bản dưới dạng một quyển sách hoặc một bài luận, hoặc một vài dạng khác, như phim. Tự truyện là tiểu sử của cá nhân do chính người đó viết. Tiểu sử không chỉ là một danh sách những hoạt động cá nhân (học hành, làm việc, quan hệ, chết) mà còn nói lên trải nghiệm của trải nghiệm của cá thể trong những sự kiện đó. == Đọc thêm == Ames, Noel. These Wonderful People: Intimate Moments in their Lives, 1947. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
7 tháng 6.txt
Ngày 7 tháng 6 là ngày thứ 158 (159 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 207 ngày trong năm. == Sự kiện == 1099 – Cuộc thập tự chinh thứ nhất: Liên quân Cơ Đốc bắt đầu bao vây Jerusalem nhằm đoạt thành từ Đế quốc Fatima Hồi giáo. 1654 – Louis XIV cử hành nghi lễ đăng quang quốc vương của Pháp. 1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hải quân Hoa Kỳ đánh bại cuộc tấn công của Hải quân Đế quốc Nhật Bản tại đảo san hô Midway. 1981 – Không quân Israel phá hủy Lò phản ứng hạt nhân Osiraq của Iraq trong Chiến dịch Opera. 1991 – Núi lửa Pinatubo tại Philippines phun trào tạo ra cột tro bụi cao 7 km. 2006 – Thủ lĩnh của Al-Qaeda tại Iraq là Abu Musab al-Zarqawi bị giết chết khi Không lực Hoa Kỳ đánh bom một cứ điểm gần Baqubah. == Sinh == 1985 - Charlie Simpson, ca sĩ nhạc pop người Anh 1988 - Michael Cera, nam diễn viên Mỹ 1993 - Park Ji-Yeon, thành viên nhóm nhạc T-ara của Hàn Quốc == Mất == 1891 - Đỗ Huy Liêu, danh sĩ và quan nhà Nguyễn Việt Nam (s. 1845) 2003 - Trevor Goddard, diễn viên Anh (s. 1962) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
rupee ấn độ.txt
Rupee là đơn vị tiền tệ chính thức của Ấn Độ và cũng được lưu thông hợp pháp ở Bhutan, được lưu thông không chính thức nhưng khá phổ biến ở các địa phương Nepal giáp Ấn Độ. Nó có mã ISO 4217 là INR và hay được ký hiệu là Rs hoặc R$. Hồi tháng 5 năm 2009, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (cơ quan quản lý rupee) đã tổ chức cuộc thi thiết kế ký hiệu cho rupee. Trong các phương ngữ khác nhau ở Ấn Độ, rupee có thể được phát âm là rupaya (tiếng Hindu), roopayi (tiếng Telugu và Kannada), rubai (tiếng Tamil), roopa (tiếng Malayalam) hay raupya. Ở một số bang phía Đông và Đông Bắc, người ta lại gọi rupee là takan, taka (tiếng Bengali), tôka (tiếng Assam), và tôngka ở Oriya, và ký hiệu là T. Đơn vị đếm bổ sung cho rupee là paisa. 1 rupee bằng 100 paisa. Tiền giấy Rupee Ấn Độ có các loại mệnh giá 5, 10, 20, 50, 100, 500, 1.000 rupee. Tất cả các mệnh giá này ở mặt trước đều có hình chân dung của Mahatma Gandhi. Tiền kim loại rupee có các loại mệnh giá 50 paise (số nhiều của paisa), 1, 2, 5, 10 rupee. Mặc dù về cơ bản tỷ giá rupee do thị trường quy định, song Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ vẫn can thiệp tích cực vào thị trường ngoại hối để sao cho tỷ giá hối đoái hiệu suất của rupee ít biến động. Trong thập niên 1990, rupee đã mất giá đáng kể so với đô la Mỹ. Hiện nay, khoảng gần 50 rupee đổi được 1 đô la Mỹ. Năm 2016, thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi ra lệnh rút toàn bộ những tờ bạc mệnh giá 500 và 1.000 rupee khỏi hệ thống lưu thông tiền tệ trong nước nhằm chống tham nhũng và trốn thuế. Người dân có thể đổi những tờ bạc cũ của họ để lấy những tờ bạc mới tại ngân hàng hoặc các bưu điện trong thời gian từ nay tới cuối năm, hoặc gửi tiền vào tài khoản của họ, nhưng các tờ bạc đó sẽ không còn giá trị lưu thông kể từ sau nửa đêm 8 tháng 11 năm 2016. == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng INR == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Tiền Ấn Độ tại Wikimedia Commons Tỷ giá VND/INR trên XE
kim loại.txt
Trong hóa học, kim loại (tiếng Hy Lạp là metallon) là nguyên tố có thể tạo ra các ion dương (cation) và có các liên kết kim loại, và đôi khi người ta cho rằng nó tương tự như là cation trong đám mây các điện tử. Các kim loại là một trong ba nhóm các nguyên tố được phân biệt bởi độ ion hóa và các thuộc tính liên kết của chúng, cùng với các á kim và các phi kim. Trong bảng tuần hoàn các nguyên tố, đường chéo vẽ từ bo (B) tới poloni (Po) chia tách các kim loại với các phi kim. Các nguyên tố trên đường này là các á kim, đôi khi còn gọi là bán kim loại; các nguyên tố ở bên trái của đường này là kim loại; các nguyên tố ở góc trên bên phải đường này là các phi kim. Các phi kim phổ biến hơn các kim loại trong tự nhiên, nhưng các kim loại chiếm phần lớn vị trí trong bảng tuần hoàn, khoảng 80 % các nguyên tố là kim loại. Một số kim loại được biết đến nhiều nhất là nhôm, đồng, vàng, sắt, chì, bạc, titan, urani và kẽm. Các thù hình của kim loại có xu hướng có ánh kim, dễ kéo, dễ dát mỏng và là chất dẫn điện và nhiệt tốt, trong khi đó các phi kim nói chung là dễ vỡ (đối với phi kim ở trạng thái rắn), không có ánh kim, và là chất dẫn nhiệt và điện kém. == Thuộc tính vật lý == Các kim loại có những đặc trưng sau: chúng thông thường có ánh kim, có khối lượng riêng tương đối lớn, dễ kéo dài và dát mỏng, thông thường có điểm nóng chảy cao, cứng, có khả năng dẫn nhiệt và điện tốt. Các thuộc tính này chủ yếu là do mỗi nguyên tử chỉ có liên kết lỏng lẻo với các điện tử ở lớp ngoài cùng của nó (các điện tử hóa trị); vì thế các điện tử hóa trị tạo ra một lớp mây xung quanh các ion kim loại. Phần lớn các kim loại về mặt hóa học là ổn định, với ngoại lệ đáng kể là các kim loại kiềm và kim loại kiềm thổ, chúng nằm ở tận cùng bên trái trong bảng tuần hoàn và có độ hoạt động hóa học rất mạnh. Nói chung kim loại là những nguyên tố mà nguyên tử của nó dễ nhường electron hóa trị để trở thành ion dương. Nguyên tử kim loại không thể nhận thêm electron, vì thế không bao giờ trở thành ion âm. Hầu hết kim loại ở thể rắn tại nhiệt độ tiêu chuẩn (0 C), trừ thuỷ ngân (Hg)và Copernixi (Cn) là ở thể lỏng ở nhiệt độ phòng. Trong tự nhiên,chỉ có một số ít kim loại như vàng,platin,...tồn tại ở dạng tự do,hầu hết các kim loại còn tồn tại ở dạng hợp chất. == Hợp kim == Đọc bài chính về Hợp kim Hợp kim là hỗn hợp hai hay nhiều nguyên tố mà trong đó có một kim loại là thành phần chính. Phần lớn các kim loại tinh khiết hoặc là quá mềm, giòn, hoặc phản ứng hóa học quá mạnh và không có ứng dụng thực tiễn. Kết hợp các kim loại với những tỉ lệ khác nhau tạo ra hợp kim nhằm thay đổi các đặc tính của kim loại tinh khiết và tạo ra các đặc tính mong muốn. Mục đích chính của việc tạo thành hợp kim là giảm độ giòn, tăng độ cứng, giảm thiểu sự ăn mòn, hoặc có khi nhằm tạo ra màu sắc hay ánh kim mong muốn. Một số ví dụ của hợp kim là thép (sắt và carbon), đồng thau (đồng và kẽm), đồng thiếc (đồng và thiếc) và hợp kim dura (nhôm và đồng). Một số hợp kim được đặc biệt thiết kế cho một số ứng dụng với yêu cầu rất khắt khe, như máy bay phản lực, có thể chứa trên 10 nguyên tố. == Tính chất hóa học == Phần lớn các kim loại hoạt động hóa học khá mạnh, phản ứng với oxi trong không khí để tạo thành oxit sau một khoảng thời gian khác nhau (ví dụ như sắt bị rỉ suốt mấy năm nhưng kali bùng cháy chỉ trong vài giây). Kim loại kiềm phải ứng mãnh liệt nhất, kế tiếp là kim loại kiềm thổ. Ví dụ: 4 N a + O 2 → 2 N a 2 O {\displaystyle 4Na+O_{2}\rightarrow 2Na_{2}O} (Natri oxit) 2 C a + O 2 → 2 C a O {\displaystyle 2Ca+O_{2}\rightarrow 2CaO} (Canxi oxit) 4 A l + 3 O 2 → 2 A l 2 O 3 {\displaystyle 4Al+3O_{2}\rightarrow 2Al_{2}O_{3}} (Nhôm oxit) Những kim loại chuyển tiếp bị oxi hóa trong thời gian dài hơn (như sắt, đồng, chì, niken). Một số khác, như paladi, bạch kim hay vàng, không hề phản ứng. Một số kim loại hình thành một lớp màng oxit vững chắc trên bề mặt của chúng khiến phân tử oxi không thể xuyên qua được làm cho chúng vẫn giữ được ánh kim và tính dẫn điện tốt qua hàng thập kỷ (như nhôm, một số loại thép và titan). Các oxit của kim loại mang thuộc tính bazơ (trái ngược với các oxit phi kim, vốn mang tính axit). Sơn hay phủ một lớp oxit lên kim loại là một cách khá hiệu quả nhằm ngăn ngừa sự ăn mòn. Tuy nhiên, phải chọn một kim loại hoạt động mạnh hơn trong dãy điện hóa kim loại để phủ lên, đặc biệt khi lớp phủ có thể bị mẻ. Nước và hai kim loại tạo nên một pin điện hóa, và nếu lớp phủ kém hoạt động hơn vật phủ thì lớp phủ thực ra sẽ đẩy nhanh sự ăn mòn. == Phân loại == === Kim loại cơ bản === Trong hóa học, cụm từ "kim loại cơ bản" được dùng để ám chỉ các kim loại bị oxi hóa hoặc ăn mòn khá dễ dàng và phản ứng khác nhau với axit clohidric loãng để tạo ra hydro. Một số ví dụ là sắt, niken, chì và kẽm. Đồng được xem là một kim loại cơ bản khi nó bị oxi hóa khá dễ dàng, mặc dù nó không phản ứng với HCl. Thông thường, cụm từ này trái nghĩa với kim loại hiếm. Ngoài ra có hai loại khác: kim loại đen và kim loại màu. Trong giả kim thuật, kim loại cơ bản là một kim loại thông dụng và rẻ tiền, đối lập với kim loại quý như vàng hay bạc. Suốt một thời gian dài, mục tiêu của các nhà giả kim thuật là tạo ra kim loại quý (thể loại gồm phần lớn kim loại màu) từ kim loại cơ bản. === Kim loại đen === Gồm sắt, titan, crôm, và nhiều kim loại đen khác. Kim loại đen là kim loại màu đen, có nguồn gốc từ hai trăm triệu năm trước. Nhà địa lý học (có bản ghi: nhà bác học) Lê Quý Đôn tìm thấy nó năm 1743, lúc ông 17 tuổi. Ông cùng cha là Lê Trọng Thứ đi tìm cổ vật. === Kim loại màu === Gồm bạc, vàng, đồng, kẽm, và nhiều kim loại màu khác. Kim loại màu là kim loại có các màu như màu vàng, màu ghi (bạc), đồng,.... Kim loại màu không có màu đen như kim loại đen === Kim loại đúc nên đồ vật === Trong ngành đúc tiền xưa, các đồng xu được định giá bằng lượng kim loại quý mà chúng chứa. Kim loại này được gọi tắt là kim loại đúc. == Dãy điện hóa chuẩn của kim loại == Dãy điện hóa chuẩn của kim loại là dãy những cặp oxi hóa-khử của kim loại được sắp xếp theo chiều thế điện cực chuẩn (E0Mn+/M (V)) của các cặp oxi hóa-khử tăng dần. Dưới đây là dãy điện hóa của một số kim loại thông dụng. == Tồn tại trong tự nhiên == Sắt là thành phần chính của lõi Trái Đất. Trong lớp vỏ Trái Đất, lượng kim loại nhỏ hơn phi kim, hầu hết các kim loại có dạng hợp chất trong các khoáng sản, quặng; một số kim loại tồn tại ở dạng nguyên chất (kim loại quý) như vàng, bạc, đồng, platin,... Dãy kim loại phụ:K->Na->Ba->Ca->Mg->Al->Zn->Fe->Ni->Sn->Pb->H->Cu->Hg->Ag->Pt->Au (có thể đọc theo Tiếng Việt là: Khi nào bạn cần mua áo giáp sắt nhớ sang phố hỏi cửa hàng Á Phi Âu) dãy hoạt động hóa học của kim loại (đầy đủ): Li - K - Ba - Ca - Na - Mg - Al - Mn - Zn - Cr - Fe2+ - Co2+ - Ni - Sn - Pb - Fe3+/Fe -(H)- Cu - Fe3+/Fe2+ - Hg+ - Ag - Hg2+ - Pt - Au (Khi nào bạn cần may áo giáp sắt nhớ sang phố hỏi cửa hàng Á Phi Âu) == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
lửa phật.txt
Lửa Phật (tựa tiếng Anh: Once Upon a Time in Vietnam) là một bộ phim điện ảnh Việt Nam do Dustin Nguyễn làm đạo diễn kiêm biên kịch, sản xuất và đóng vai chính. Phim còn có sự tham gia của Ngô Thanh Vân, Thái Hòa và diễn viên Hollywood Roger Yuan. Lửa Phật được khởi chiếu vào ngày 22 tháng 8 năm 2013, đây còn được biết là bộ phim hành động giả tưởng đầu tiên của Việt Nam. == Nội dung == Một vị võ sư sau khi giúp vua đuổi giặc ra khỏi bờ cõi đã lang thang giang hồ tìm cách gột bỏ bụi trần. Khi ông dừng chân tại một ngôi làng thì những xung đột mâu thuẫn xảy ra đã khiến ngôi làng mất đi sự bình yên vốn có. Tại đây, sư ông bị lôi cuốn vào vòng xoáy ái tình, thù hận với một người con gái xinh đẹp và một vị cao tăng khác. == Diễn viên == Dustin Nguyễn vai Đạo Ngô Thanh Vân vai Ánh Roger Yuan vai Long Thái Hòa vai Hiền Bé Ben/Nguyễn Hoàng Quân vai Bé Hùng Đinh Ngọc Diệp vai Vân Xuân Phát vai Ông Tính Hiếu Hiền vai Huy Phi Thanh Vân vai Lan Jason Ninh Cao vai Tướng quân triều đình Bùi Văn Hải vai Lính đào ngũ Mỹ Lệ vai Cô giáo Kiều Mai Lý vai Bà hàng xóm Diễm Trinh vai Bà hàng xóm Nguyễn Quang Hiếu vai Nhà sư Nguyễn Hậu vai Người đi đường Lê Khâm vai Người đi đường == Âm nhạc == Bài hát chủ đề của bộ phim là bài "Sắc màu" của nhạc sĩ Trần Tiến, được nhạc sĩ Đức Trí phối theo phong cách rock và do ca sĩ Phạm Anh Khoa cùng nhóm nhạc PAK Band thể hiện. == Phát hành quốc tế == Một đoạn phim quảng bá dài 5 phút đã được trình chiếu tại hội chợ Marché du Film, Cannes 2013 vào tháng 5. Bộ phim cũng đã thực hiện đàm phán để phát hành tại New Zealand, Úc, Đức, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Mỹ và Canada. Theo đó, hãng Grindstone Entertainment Group và Lionsgate sẽ hợp tác phát hành Lửa Phật tại thị trường Bắc Mỹ. Splendid Film GmbH sẽ phát hành bộ phim tại Đức, Áo, Alto Adige, Thụy Sĩ, Liechtenstein, Luxembourg, Hà Lan và Bỉ, vốn là những nước nói tiếng Đức. Ngoài ra, Lửa Phật cũng đạt được thỏa thuận phát hành phim với Sonamu Pictures Co., Ltd tại thị trường Hàn Quốc, Pictureworks tại Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Bangladesh, Maldives, Pakistan và Sri Landka, Creative Century Entertainment Co., Ltd tại Đài Loan, IPA tại Thái Lan, Incubate Ltd. tại Úc, New Zealand,... cũng như đang đàm phán tại Anh, Pháp, Brazil,... Tại liên hoan phim East Winds diễn ra từ ngày 31 tháng 10 đến 3 tháng 11, bộ phim sẽ được chọn làm phim trình chiếu mở màn. == Tranh cãi == Sau khi công chiếu, bộ phim đã gây ra những tranh cãi về việc quảng cáo rượu lộ liễu trong phim. Mặc dù vậy, thanh tra Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam, vào ngày 13 tháng 9, 2013 đã kết luận bộ phim không phải là sản phẩm quảng cáo nên chưa phải xử lý theo quy định pháp luật. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức. Lửa Phật tại Internet Movie Database Lửa Phật trên Facebook Lửa Phật hé lộ teaser mãn nhãn. Trailer phim.
điện phân.txt
Trong hóa học và sản xuất chế tạo, điện phân là một phương thức sử dụng một dòng điện một chiều để thúc đẩy một phản ứng hóa học mà nếu không có dòng điện nó không tự xảy ra. Điện phân có tầm quan trọng cao về mặt thương mại do nó là một khâu trong việc tách riêng các nguyên tố hóa học từ những nguồn tài nguyên trong tự nhiên như quặng bằng cách sử dụng pin điện phân. Điện áp cần thiết để hiện tượng điện phân xảy ra được gọi là thế điện phân. == Dương cực-Anode == Điện cực dương (cực dương, dương cực, anốt) là điện cực nối với cực dương của nguồn điện một chiều, là nơi hút các điện tử về. == Âm cực-Cathode == Điện cực âm (âm cực, cực âm, catốt) là điện cực nối với cực âm của nguồn điện một chiều, là nơi phát ra các điện tử. == Lịch sử == Năm 1785 – Máy tạo tĩnh điện của Martinus van Marum được sử dụng để khử thiếc, kẽm, và antimon khỏi muối của chúng bằng cách điện phân. Năm 1800 -William Nicholson và Anthony Carlisle (xem thêm Johann Ritter), phân ly nước thành Hydrô và Ôxy. Năm 1807 -Kali, Canxi, Natri, Bari và Magiê được phát hiện bởi Humpry Davy nhờ điện phân. Năm 1886 -Flo được phát hiện bởi Henri Moissan nhờ điện phân. == Xem thêm == Điện ly == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Giáo trình Điện phân của Võ Hồng Thái
ngân hàng phát triển châu á.txt
Ngân hàng Phát triển châu Á (tiếng Anh: The Asian Development Bank; viết tắt: ADB) là một thể chế tài chính đa phương cung cấp các khoảng tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp các nước châu Á xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội. ADB được thành lập vào năm 1966, có trụ sở chính tại Manila, và chủ tịch là một người Nhật Bản. == Lịch sử phát triển == Thập niên 1960 1963: Liên Hiệp Quốc quyết định thiết lập thể chế tài chính để tăng cường sự phát triển kinh tế và hợp tác 1965: Tổng thống Philippines là Diosdado Macapagal mở bước khai phá cho vùng Đông Nam Á bằng cách vận động việc đặt trụ sở chính ở Manila 1966: ADB được thành lập ở Manila vào ngày 12/12 với 31 thành viên để phục vụ trọng yếu khu vực nông thôn 1967: ADB phê duyệt dự án hỗ trợ kỹ thuật đầu tiên để giúp đỡ sản xuất lương thực ngũ cốc Thập niên 1970 1970: Với mục đích mở rộng hoạt động, ADB thúc đẩy nguồn tài nguyên thêm nữa từ các tổ chức song phương và đa phương khác 1972: ADB chuyển đến trụ sở chính mới ở nagy bờ Vịnh Manila 1974: Quỹ phát triển châu Á được thiết lập để cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các thành viên nghèo nhất của ADB 1978: ADB tập trung cải thiện đường sá và cung cấp điện Thập niên 1980 1980: Tiến đến hành động chú tâm đến các vấn đề xã hội như giới tính, môi trường, giáo dục và sức khoẻ 1981: Ý thức được cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 2, ADB tiếp tục hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án năng lượng 1985: Chính sách mới chú tâm đến nhu cầu liên quan đến phụ nữ tích cực hơn trong tiến trình hội nhập 1986: Thúc đẩy hỗ trợ bộ phận tư nhân, với khoản vay đầu tiên không có đảm bảo của chính phủ với Pakistan Thập niên 1990 1991: ADB chuyển đến trụ sở chính mới ở Ortigas Center; khu này ngay sau đó phát triển nhanh chóng thành khu thương mại và tài chính của Manila 1992: ADB bắt đầu xúc tiến sự hợp tác khu vực, tiến gần hơn đến sợi dây liên kết giữa các Quốc gia trong tiểu vùng Sông Mekong 1997: Mấy nước thuộc Liên Xô Cũ ở Trung Á gia nhập ADB, trong khi đó, một cuộc khủng hoảng tài chính đã làm rung chuyển châu Á 1999: ADB chấp nhận giảm đói nghèo là mục tiêu hàng đầu và phê duyệt một số chính sách đột phá Thập niên 2000 2001: ADB thúc đẩy cơ cấu xã hội chiến lược dài hạn đển hướng dẫn hoạt động xuyên suốt đến 2015 2002: ADB giúp đỡ các nước hậu chiến như Afghanistan, Timor Leste 2004: ADB bổ nhiệm bà Khempheng Pholseno của Lào làm phó chủ tịch nữ đầu tiên == Chức năng == Chức năng của ADB là hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng, phát triển xã hội, quản lý kinh tế tốt. Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng: tăng trưởng kinh tế không tự nhiên có tính bền vững và thường làm gia tăng mất công bằng. Để tăng trưởng bền vững và công bằng, cần có sự can thiệp trong khi vẫn đảm bảo một sự phát triển thân thiện với thị trường. Phát triển xã hội: giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng để giảm thiểu những rủi ro trong quá trình phát triển kinh tế. Quản lý kinh tế tốt: thực hiện các chính sách kinh tế một cách có trách nhiệm, có sự tham gia, có khả năng dự đoán, và minh bạch, chống tham nhũng. == Các mục tiêu hoạt động == Để thực hiện được chức năng nói trên, ADB đề ra các mục tiêu cho hoạt động của mình, bao gồm: bảo vệ môi trường, hỗ trợ giới và phát triển, phát triển khu vực tư nhân, hỗ trợ hợp tác khu vực. Bảo vệ môi trường: người nghèo ở thường bị buộc phải sống ở những khu vực có điều kiện môi trường bất lợi. Muốn xóa nghèo thì phải bảo vệ môi trường. Hỗ trợ giới: ở nhiều nước, phần lớn người nghèo là phụ nữ. Hỗ trợ phụ nữ phát triển là một biện pháp xóa nghèo. Hỗ trợ khu vực tư nhân: khuyến khích cải cách và hoàn thiện môi trường chính sách để tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân, hỗ trợ sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, cho vay và hỗ trợ kỹ thuật cho các xí nghiệp tư nhân và thể chế tài chính tư nhân Khuyến khích hợp tác và liên kết khu vực: khuyến khích sự hợp tác giữa các chính phủ để phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy thương mại và đầu tư,... == Cơ cấu tổ chức == Về cơ cấu tổ chức, cơ quan ra quyết định cao nhất của ADB là Ban Thống đốc do mỗi quốc gia thành viên đóng góp một đại diện. Đến lượt nó ban Thống đốc lại tự bầu ra trong số họ 12 thành viên của Ban Giám đốc và các cấp phó của họ. 8 trong số 12 thành viên này là đại diện của các quốc gia trong khu vực(các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương) và số còn lại là từ các quốc gia ngoài khu vực. Ban Thống đốc còn bầu ra chủ tịch Ngân hàng, là người đứng đầu Ban Giám đốc và điều hành ADB. Mỗi chủ tịch giữ cương vị của mình trong một nhiệm kì kéo dài 5 năm và có thể được tái đắc cử. Theo truyền thống và vì Nhật Bản là một trong những cổ đông lớn nhất của ADB, cho nên chủ tịch của ADB đã luôn là người Nhật. Chủ tịch đương nhiệm của ADB là Haruhiko Kuroda. Trụ sở của ngân hàng ADB đặt tại 6 ADB Avenue, thành phố Mandaluyong, Metro Manila, Philippine, và có văn phòng đại diện trên khắp thế giới. Hiện ADB có khoảng 2400 nhân viên, đến từ 53 trên tổng số 67 quốc gia thành viên (theo web ADB.org tính đến 2/2007), và gần một nửa số nhân viên của họ là người Philippine. == Chủ tịch các đời của ADB == Takeshi Watanabe 1966 - 1972 Shiro Inoue 1972 - 1976 Taroichi Yoshida 1976 - 1981 Masao Fujioka 1981 - 1989 Kimimasa Tarumizu 1989 - 1993 Mitsuo Sato 1993 - 1999 Tadao Chino 1999 - 2005 Haruhiko Kuroda 2005 - 2013 Takehiko Nakao 2013 - nay == Các quốc gia thành viên == Dưới đây là danh sách các quốc gia thành viên của ADB. Con số sau mỗi tên nước là năm tham gia. == Chú thích == == Xem thêm == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Ngân hàng Phát triển châu Á Viện ADB
wisconsin.txt
Wisconsin(phát âm như Wítx-can-sần) (tiếng Anh phát âm: /wɪsˈkɑːnsən/ ) là một tiểu bang miền Trung Tây của Hoa Kỳ. Nền kinh tế vùng đồng quê vốn dựa vào lông thú, sau đó là khai thác gỗ, trồng trọt, chăn nuôi bò. Việc công nghiệp hóa bắt đầu vào cuối thế kỉ 19 tại vùng đông nam, với Milwaukee là một trung tâm chính. Trong những thập kỉ gần đây những kỹ nghệ dịch vụ, đặc biệt là giáo dục và y khoa, đã phát triển khá mạnh. Từ lúc thành lập tiểu bang, Wisconsin đã là một cộng đồng đa chủng. Người Mỹ là nhóm người đầu tiên di cư đến đây từ New York và New England. Họ thống trị trong ngành công nghiệp nặng, tài chính, chính trị và giáo dục. Sau đó, nhiều người Âu Châu kéo đến, trong đó có người Đức, phần lớn đến giữa năm 1850 và 1900, những người Scandinavia (đa số là Na Uy) và một số ít người Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Phần Lan, Ái Nhĩ Lan và các sắc dân khác. Đến thế kỷ 20, rất nhiều người Ba Lan và con cháu của những người nô lệ kéo đến, phần lớn định cư tại Milwaukee. Thủ phủ của bang hiện nay là thành phố Madison. === Thành phố === Milwaukee Madison Green Bay Eau Claire === Lịch sử === === Tôn giáo === Các giáo phái lớn nhất tại Wisconsin là: Công giáo, Lutheran Missouri Synod, Wisconsin Evangelical Lutheran Synod và ELCA Lutherans. Dân chúng tại Wisconsin theo các tôn giáo sau: Cơ-đốc giáo: 85% Tin Lành: 55% Lutheran: 23% Giám Lý: 7% Baptist: 6% Trưởng Lão:2% United Church of Christ: 2% Những giáo phái Tin Lành khác: 15% Công giáo: 29% Các giáo phái Cơ-đốc giáo khác: 1% Những tôn giáo khác: 1% Không tôn giáo: 14% == Giáo dục == === Đại học & Cao đẳng === Wisconsin cùng với tiểu bang Michigan và Minnesota, là những tiểu bang miền Trung Tây Midwestern Hoa Kỳ dẫn đầu về việc phát triển đại học tại tiểu bang sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Đến đầu thế kỷ, việc giáo dục trong tiểu bang được xem là "lý tưởng của Wisconsin," nhấn mạnh đến mục đích phục vụ người dân, thể hiện qua những phong trào phát triển tại các trường đại học và cao đẳng vào thời đó. Hiện nay, đại học công lập tại Wisconsin gồm 26 trường thuộc hệ thống đại học Wisconsin, đặt thủ phủ tại Madison, và 16 trường thuộc hệ thống Cao đẳng Kỹ thuật Wisconsin hợp tác với viện Đại học Wisconsin - Madison. Một số trường đại học và cao đẳng tư đáng lưu ý gồm có: Marquette University, Milwaukee School of Engineering, Medical College of Wisconsin, Beloit College, và Lawrence University, cùng một số trường khác. == Chú thích ==
kinh tế armenia.txt
Armenia là nước có số dân đông thứ hai của Liên Bang Xô Viết trước đây. Nó nằm giữa Biển Đen và Biển Caspi, biên giới giáp với Gruzia, Azerbaijan, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Cho tới khi độc lập, kinh tế Armenia chủ yếu dựa vào công nghiệp với các sản phẩm về hóa chất, điện tử, máy móc, thực phẩm chế biến, cao su nhân tạo, dệt may và phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên từ bên ngoài. Nông nghiệp chiếm khoảng 20% sản phẩm thực và 10% nhân công trước khi Liên bang Xô viết tan rã năm 1991. Các sản phẩm mỏ Armenia là đồng, kẽm, vàng, và chì. Đại đa số năng lượng có từ nguồn nhiên liệu nhập khẩu từ Nga, gồm gas và nhiên liệu hạt nhân (với một nhà máy điện hạt nhân); nguồn năng lượng chủ yếu trong nước là thủy điện. Một lượng nhỏ than, khí gas, và dầu mỏ vẫn chưa được khai thác. Tương tự như các quốc gia mới độc lập từ Liên bang Xô viết cũ khác, kinh tế Armenia phải đương đầu với di sản của một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và sự tan vỡ của thị trường thương mại Xô viết truyền thống. Đầu tư và hỗ trợ của Xô viết vào ngành công nghiệp Armenia bị mất, vì thế chỉ một ít doanh nghiệp lớn chủ chốt còn hoạt động. CÙng với một loạt các bất lợi do thiên tai và xung đột đã làm GDP giảm gần 60% từ năm 1989 tới năm 1992–1993. Đồng Dram của quốc gia bị siêu lạm phát trong những năm đầu tiên sau khi được đưa vào lưu hành năm 1993. Tuy nhiên chính phủ đã đưa ra các biện pháp cải cách kinh tế ở quy mô lớn, làm giảm đáng kể nạn lạm phát và ổn định tăng trưởng. Armenia đã đạt tăng trưởng kinh tế mạnh từ năm 1995. Sự tăng trưởng kinh tế ổn định đã giúp Armenia nhận được thêm sự giúp đỡ từ các định chế quốc tế. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD), cùng nhiều định chế tài chính quốc tế khác (IFIs). Ngày 5 tháng 2 năm 2003, nước này đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Luật tự do đầu tư nước ngoài đã được thông qua tháng 6 năm 1994, và Luật về Tư nhân hóa được thông qua năm 1997, cũng như một chương trình tư nhân hóa các tài sản nhà nước. Tương lai phát triển sẽ phụ thuộc vào khả năng của chính phủ trong việc tăng cường quản lý kinh tế vi mộ, gồm cả tăng nguồn thu, cải thiện môi trường đầu tư, và chiến đấu chống tham nhũng. Năm 2005 Chỉ số Minh bạch Tham nhũng Quốc tế xếp hạng Armenia thứ 88, Tham nhũng nghiêm trọng.[4] Những năm gần đây tốc tăng trưởng GDP của Armenia tương đối cao. Năm 2006, tỉ lệ tăng trưởng GDP là 13,4%, là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. GDP bình quân đầu người năm 2006 của Armenia là 5.700 USD. == Tham khảo ==
giải bóng đá vô địch thế giới 2010.txt
Giải bóng đá vô địch thế giới 2010 hay còn gọi là Cúp bóng đá thế giới 2010 (tên chính thức là FIFA World Cup - South Africa 2010™) được tổ chức tại Nam Phi. Đây là giải bóng đá vô địch thế giới lần thứ 19 do FIFA tổ chức và là lần đầu tiên diễn ra ở châu Phi. Giải diễn ra trên các sân vận động của Nam Phi từ ngày 11 tháng 6 và kết thúc với trận chung kết trên sân vận động Soccer City tại Johannesburg vào ngày 11 tháng 7 năm 2010. Tây Ban Nha lần đầu tiên giành chức vô địch sau trận chung kết có thi đấu hiệp phụ và trở thành đội vô địch ghi ít bàn thắng nhất (8 bàn), đồng thời trở thành đội bóng châu Âu đầu tiên đăng quang ở ngoài lục địa. Còn Ý trở thành đội đương kim vô địch thứ tư bị loại ngay từ vòng bảng (sau lần đầu tiên vào năm 1950 cùng với hai đội bóng khác là Brasil 1966 và Pháp 2002). Ngoài ra, Nam Phi trở thành đội chủ nhà đầu tiên không vượt qua được vòng bảng của một kỳ World Cup. Nếu tính cả vòng loại, kỳ World Cup lần này có sự tham gia tranh tài của 204 đội tuyển quốc gia trong số 208 thành viên của FIFA. Đây là sự kiện thể thao quy tụ được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ nhất gửi đại diện tham gia cùng với Thế vận hội Mùa hè 2008. == Giành quyền đăng cai == Sau khi Nam Phi thất bại trong cuộc đua giành quyền đăng cai World Cup 2006, FIFA ra quyết định World Cup 2010 sẽ được tổ chức ở châu Phi và muốn thực hiện chính sách sáu liên đoàn châu lục thành viên sẽ lần lượt xoay vòng tổ chức vòng chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới. Tuy nhiên chính sách này đã bị từ bỏ vào năm 2007. FIFA đã nhận được bốn hồ sơ xin đăng cai từ năm quốc gia thuộc lục địa đen: Nam Phi, Maroc, Ai Cập cùng hồ sơ xin đồng đăng cai của Tunisia và Libya. Nhưng theo quyết định của Ủy ban điều hành của FIFA về việc không chấp nhận hồ sơ đồng đăng cai, Tunisia đã rút lui. Ủy ban cũng không chấp nhận hồ sơ Libya xin đăng cai riêng do thiếu những điều kiện cần thiết. Quốc gia giành quyền đăng cai World Cup 2010 được chủ tịch FIFA, Sepp Blatter, công bố vào ngày 15 tháng 5 năm 2004 tại Zurich. Nam Phi giành chiến thắng ngay trong vòng bỏ phiếu đầu tiên khi có được 14 phiếu bầu, Maroc được 10 phiếu còn Ai Cập không giành được bất kỳ lá phiếu nào. == Vòng loại == Vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 2010 chính thức khởi tranh ngày 25 tháng 8 năm 2007 và kết thúc ngày 18 tháng 11 năm 2009. Bên cạnh đội chủ nhà (Nam Phi) được vào thẳng vòng chung kết, 203 quốc gia và vùng lãnh thổ khác phải tham dự vòng loại để chọn ra 31 đội được phân bổ theo sáu liên đoàn châu lục gồm: Châu Âu (UEFA): 53 đội chọn lấy 13 đội (tỉ lệ 1/4.07) Châu Phi (CAF): 53 đội chọn lấy 5 đội (không kể chủ nhà Nam Phi) (tỉ lệ 1/10,6) Châu Á (AFC): 43 đội chọn lấy 4 hoặc 5 đội (đấu vé vớt với OFC) (tỉ lệ 1/10,75) Châu Đại dương (OFC): 9 đội chọn lấy 0 hoặc 1 đội (đấu vé vớt với AFC); kết quả được New Zealand (tỉ lệ 1/9) Bắc, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF): 35 đội chọn lấy 3 hoặc 4 đội (đấu vé vớt với CONMEBOL) (tỉ lệ 1/8,75) Nam Mỹ (CONMEBOL): 10 đội chọn lấy 4 hoặc 5 đội (đấu vé vớt với CONCACAF). Kết quả Uruguay đoạt vé vớt (tỉ lệ 1/2,5). === Các đội giành quyền vào vòng chung kết === Dưới đây là danh sách các đội giành quyền tham dự vòng chung kết. == Sân vận động == Ngay từ năm 2005, các nhà tổ chức đã đề cử lên FIFA danh sách 13 địa điểm thi đấu tại Bloemfontein, Cape Town, Durban, Johannesburg (2 sân), Kimberley, Klerksdorp, Nelspruit, Orkney, Polokwane, Port Elizabeth, Pretoria và Rustenburg. Danh sách này đã được xem xét và rút gọn xuống mười sân tại chín thành phố bởi FIFA ngày 17 tháng 3, 2006 (bỏ Kimberley, Klerksdorp và Orkney). Sân Soccer City với sức chứa 84.490 người được chọn làm sân khai mạc và chung kết giải đấu. Sân Soccer City và sân Ellis Park ở Johannesburg nằm trên độ cao 1.750 mét so với mực nước biển, bốn trong số tám sân còn lại là trên 1.200 mét; sân Mbombela có độ cao 660m, các sân Cape Town, Moses Mabhida và Nelson Mandela Bay nằm gần mực nước biển. == Đại bản doanh các đội == == Tiền thưởng và hỗ trợ cho các câu lạc bộ == Tổng số tiền thưởng của FIFA ở giải lần này là 420 triệu đôla, tăng 60% so với giải năm 2006. Trước giải đấu, mỗi đội được nhận một triệu đôla cho công tác chuẩn bị. Trong quá trình thi đấu, mỗi đội được nhận thêm 8 triệu đôla nữa. Cơ chế giải thưởng như sau: 9 triệu đôla - Vòng 2 18 triệu đôla - Tứ kết 20 triệu đôla - Bán kết 24 triệu đôla - Á quân 30 triệu đôla - Vô địch Lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ World Cup, FIFA hỗ trợ tài chính các câu lạc bộ có cầu thủ tham dự vòng chung kết. Tổng số tiền hỗ trợ là 26 triệu€, ước tính vào khoảng 1.000€ cho một cầu thủ cho mỗi ngày thi đấu tại giải. Đây là kết quả từ thỏa thuận đạt được giữa FIFA và các câu lạc bộ châu Âu để giải thể tổ chức G-14 và họ từ bỏ các vụ kiện bắt đầu tiến hành từ năm 2005, như câu lạc bộ Bỉ Charleroi S.C. vì tuyển thủ người Maroc Abdelmajid Oulmers bị chấn thương trong một trận giao hữu quốc tế năm 2004, hay như câu lạc bộ Anh Newcastle United vì Michael Owen bị chấn thương tại World Cup 2006. == Các nhà tài trợ == Ngoài các đối tác chính thức (Adidas, Coca-Cola, Emirates, Hyundai, Sony và VISA, FIFA đã ký kết thỏa thuận các đối tác tài trợ cụ thể cho World Cup 2010 gồm tám công ty: Budweiser, Castrol, Continental, McDonald's, MTN, Mahindra Satyam (công ty Ấn Độ đầu tiên tài trợ cho một kì World Cup), Seara và Yingli Solar76, tổng số tiền tài trợ là 1,6 tỷ USD. == Khai mạc == Lễ khai mạc bắt đầu vào chiều tối thứ sáu ngày 11 tháng 6 năm 2010, diễn ra trên sân Soccer City với 94.000 chỗ ngồi - sân lớn nhất châu Phi, buổi lễ kéo dài khoảng 30 phút. Chương trình khai mạc được chia làm sáu phần, gồm chủ yếu là những lời ca, điệu nhạc rộn rã từ các ca sĩ nổi tiếng của Nam Phi, Algérie hay Ghana, không có hiệu ứng ánh sáng hoành tráng vì diễn ra buổi chiều địa phương - thành phố Johannesburg. == Chia bảng == Buổi lễ bốc thăm chia bảng diễn ra trang trọng tại Cape Town, Nam Phi ngày 4 tháng 12 năm 2009. Nữ diễn viên, Charlize Theron, và thư ký FIFA Jérôme Valcke tiến hành bốc các lá thăm. 32 đội tuyển được chia thành bốn nhóm. Nhóm 1 là nhóm hạt giống và đội chủ nhà Nam Phi. Nhóm 2 gồm các đội AFC, khu vực CONCACAF và OFC. Nhóm 3 gồm các đội Nam Mỹ và châu Phi không phải là hạt giống. Nhóm 4 gồm các đội châu Âu không phải là hạt giống. Việc chọn các đội hạt giống dựa vào bảng xếp hạng của FIFA vào thời điểm tháng 10 năm 2009. Đội chủ nhà Nam Phi được xếp tự động vào bảng A. Bảy đội hạt giống khác được phân chia vào các bảng từ B đến H. Mỗi bảng sẽ có một đội của mỗi nhóm. Trừ châu Âu, thể thức bốc thăm đảm bảo để không có cùng hai đội thuộc cùng một liên đoàn rơi vào chung một bảng. Nam Phi sẽ tránh các đội châu Phi ở nhóm 3, còn Argentina và Brasil sẽ tránh các đội Nam Mỹ ở nhóm này. Hai đội châu Phi được bốc ra đầu tiên sẽ vào cùng bảng với Argentina và Brasil. == Trọng tài == Dưới đây là danh sách trọng tài được FIFA lựa chọn để điều hành giải: == Danh sách cầu thủ tham dự giải == Mỗi đội tuyển tham gia vòng chung kết giải vô địch bóng đá thế giới 2010 có quyền đăng ký 23 cầu thủ, trong đó có tối thiểu ba thủ môn. Hạn cuối cùng để nộp danh sách là ngày 1 tháng 6 năm 2010. Trong trường hợp chấn thương vào phút chót, các đội tuyển có thể thay đổi danh sách chậm nhất là vào 24 giờ trước trận đấu khai mạc giải. Trong 736 cầu thủ tham dự giải, hơn một nửa đang thi đấu tại năm giải vô địch quốc gia mạnh nhất châu Âu; dẫn đầu là FA Premier League của Anh (117 cầu thủ), Bundesliga (Đức) (84 cầu thủ), Serie A (Ý) (80 cầu thủ), La Liga (Tây Ban Nha) (59 cầu thủ) và Ligue 1 (Pháp) (46 cầu thủ). Các đội tuyển Anh, Đức và Ý mang tới Nam Phi một đội hình gồm toàn bộ các cầu thủ đang thi đấu tại giải quốc nội, trong khi ngược lại Nigeria thì toàn bộ các cầu thủ đang thi đấu tại nước ngoài. Tổng cộng, các cầu thủ đang thi đấu tại 52 giải vô địch quốc gia khác nhau. FC Barcelona là câu lạc bộ có nhiều cầu thủ tham dự giải nhất, với 13 cầu thủ, trong đó có bảy người được gọi vào đội tuyển Tây Ban Nha, ngoài ra còn có bảy câu lạc bộ khác cũng cung cấp trên 10 cầu thủ mỗi câu lạc bộ. Lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ World Cup, có ba anh em ruột cùng tham dự với tư cách cầu thủ, khi ba anh em Jerry, Johnny và Wilson Palacios đều nằm trong danh sách 23 cầu thủ của tuyển Honduras. == Vòng chung kết == === Vòng bảng === Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương (GMT+2) Xếp hạng vòng bảng Trong trường hợp có hai hay nhiều đội bằng điểm nhau sau khi vòng đấu bảng kết thúc, việc phân định ngôi thứ sẽ dựa trên các tiêu chuẩn sau: Có hiệu số bàn thắng bại cao nhất trong tất cả các trận đấu của bảng; Ghi được nhiều bàn thắng nhất trong tất cả các trận đấu của bảng; Giành được nhiều điểm hơn trong các trận đối đầu trực tiếp; Có hiệu số bàn thắng bại cao hơn trong các trận đối đầu trực tiếp; Ghi được nhiều bàn thắng hơn trong tất cả các trận đối đầu trực tiếp; Ủy ban tổ chức của FIFA tiến hành bốc thăm. ==== Bảng A ==== ==== Bảng B ==== ==== Bảng C ==== ==== Bảng D ==== ==== Bảng E ==== ==== Bảng F ==== ==== Bảng G ==== ==== Bảng H ==== === Vòng đấu loại trực tiếp === ==== Sơ đồ khái quát ==== ==== Vòng 16 đội ==== ==== Tứ kết ==== ==== Bán kết ==== ==== Tranh hạng ba ==== ==== Chung kết ==== Trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 được tổ chức thi đấu vào ngày 11 tháng 7 năm 2010 tại sân vận động Soccer City, Johannesburg, Nam Phi. Đội tuyển Tây Ban Nha đánh bại tuyển Hà Lan với tỉ số 1–0 và giành chức vô địch World Cup đầu tiên trong lịch sử của mình. Trận đấu phải thi đấu thêm hai hiệp phụ sau khi hai đội hòa nhau với tỉ số 0–0 sau hai hiệp chính, và tiền vệ của đội Tây Ban Nha Andrés Iniesta đã ghi bàn quyết định trong hiệp phụ thứ hai để xác định đội chiến thắng. Chung kết giải vô địch bóng đá thế giới 2010 đã lập một kỷ lục mới về số thẻ phạt được rút ra trong một trận chung kết World Cup với tổng cộng 14 thẻ phạt, trong đó có một thẻ đỏ dành cho John Heitinga của Hà Lan sau khi nhận hai thẻ vàng. Ngoài ra còn có thể nhắc đến cú đá bằng gầm giày nguy hiểm của Nigel de Jong vào ngực của Xabi Alonso ở giữa hiệp một mà chỉ bị phạt một thẻ vàng. Diễn biến trận đấu, tuyển Tây Ban Nha và Hà Lan đều có một số cơ hội ghi bàn, nhưng Tây Ban Nha với thế trận lấn lướt nên có nhiều cơ hội hơn, đáng chú ý nhất của Hà Lan là tình huống ở phút thứ 60 của trận đấu khi Arjen Robben thoát xuống sau đường chuyền của Wesley Sneijder và đối mặt với thủ môn Iker Casillas, tuy nhiên pha dứt điểm của tiền đạo người Hà Lan không thắng được thủ thành Tây Ban Nha.. Về phần Tây Ban Nha, Sergio Ramos đã bỏ lỡ cơ hội đánh đầu cận thành trong tư thế trống trải. Bàn thắng quyết định của trận đấu được ghi ở phút thứ 116 ở hiệp phụ thứ hai từ một cú volê nửa nảy của Andrés Iniesta sau đường chuyển của tiền vệ trẻ Cesc Fàbregas. {{football box |date=11 tháng 7 năm 2010 |time=20:30 |team1=Hà Lan |score=0–1 |aet=yes |report=Chi tiết |team2= Tây Ban Nha |goals1= |goals2=Iniesta 116' |stadium=Soccer City, Johannesburg |attendance=84.490 |referee=Howard Webb (Anh) === Vô địch === == Giải thưởng == === Quả bóng vàng === Giải Quả bóng vàng cho cầu thủ xuất sắc nhất giải, do giới truyền thông bầu chọn (được trao lần đầu vào năm 1982); Quả bóng bạc và Quả bóng đồng cho hai cầu thủ xếp thứ hai và thứ ba về số phiếu trong cuộc bầu chọn này. === Chiếc giày vàng === Giải Chiếc giày vàng cho vua phá lưới của giải. Chiếc giày bạc và Chiếc giày đồng cho hai cầu thủ về nhì và về ba. Kết thúc giải có bốn cầu thủ cùng ghi được năm bàn thắng, nhưng Thomas Müller của đội tuyển Đức được ghi nhận có số đường chuyền thành bàn nhiều hơn đã giành giải cao nhất. David Villa của Tây Ban Nha và Wesley Sneijder của Hà Lan vượt Diego Forlán của Uruguay do ghi năm bàn trong tổng số thời gian thi đấu ít hơn. === Đội hình tiêu biểu === === FIFA/FIFPro World XI === Đội hình tiêu biểu của thế giới Đội hình tiêu biểu ở giải lần này được bầu chọn trực tuyến (theo sơ đồ chiến thuật 4-4-2 cùng huấn luyện viên xuất sắc nhất). Trong cuộc bầu chọn này, tuyển Tây Ban Nha chiếm ưu thế tuyệt đối với sáu thành viên được chọn (cùng huấn luyện viên trưởng Vicente del Bosque). === Các giải thưởng khác === == Cầu thủ ghi bàn == Cầu thủ chạy cánh người Nam Phi Siphiwe Tshabalala là cầu thủ đầu tiên ghi bàn ở giải đấu, bàn thắng mở tỉ số trong trận khai mạc gặp đội tuyển Mexico. Hậu vệ Đan Mạch Daniel Agger là cầu thủ đầu tiên đốt lưới nhà trong trận thua Hà Lan 0-2. Còn tiền đạo Gonzalo Higuaín là cầu thủ đầu tiên lập hat-trick trong trận Argentina thắng Hàn Quốc 4-1, đây là hat-trick thứ 49 trong lịch sử các kỳ World Cup. Tây Ban Nha lập một kỷ lục World Cup mới khi là đội vô địch ghi được ít bàn thắng nhất với chỉ tám bàn thắng được ghi. Phá vỡ kỷ lục cũ là 11 bàn của Brasil năm 1994, đội Anh năm 1966 và đội Ý năm 1934. Ngoài ra, Tây Ban Nha còn lập hai kỷ lục khác: đội vô địch với ít cầu thủ ghi bàn nhất trong cả giải – ba cầu thủ: David Villa, Andrés Iniesta và Carles Puyol; và đội vô địch để thủng lưới ít bàn nhất - 2 bàn, bằng với thành tích của đội Ý năm 2006 và đội Pháp năm 1998. Tây Ban Nha cũng là đội vô địch World Cup đầu tiên giữ được sạch lưới tại vòng đấu loại trực tiếp. Có 4 cầu thủ ghi nhiều bàn nhất giải, mỗi cầu thủ ghi được năm bàn. bốn cầu thủ thuộc bốn đội lọt vào Top 4 của giải, mỗi đội đóng góp một cầu thủ. Giành được danh hiệu Chiếc giày vàng là Thomas Müller của đội Đức vì ngoài năm bàn thắng, anh còn có ba đường chuyền thành bàn, trong khi ba cầu thủ còn lại, mỗi cầu thủ chỉ có một đường chuyền thành bàn. Danh hiệu Chiếc giày bạc thuộc về David Villa của Tây Ban Nha, vì tổng số thời gian thi đấu trên sân của anh là 635 phút ít hơn hai đối thủ còn lại. Chiếc giày đồng thuộc về Wesley Sneijder của Hà Lan với 652 phút có mắt thi đấu trên sân. Diego Forlán của Uruguay trượt danh hiệu chiếc giày đồng khi thi đấu nhiều hơn Wesley Sneijder hai phút. Chỉ có tổng cộng 145 bàn thắng được ghi tại kỳ World Cup lần này, ít nhất kể từ khi giải chuyển sang thể thức thi đấu 64 trận. Đây nối tiếp đà đi xuống về số lượng bàn thắng được ghi từ khi giải chuyển sang thể thức thi đấu này, với 171 bàn thắng được ghi tại World Cup 1998, 161 bàn thắng được ghi tại World Cup 2002 và 147 bàn thắng được ghi tại World Cup 2006. Đây là danh sách những cầu thủ ghi bàn tại World Cup 2010 5 bàn 4 bàn 3 bàn 2 bàn 1 bàn phản lưới nhà Daniel Agger (trong trận gặp Hà Lan) Park Chu-Young (trong trận gặp Argentina) == Các sai sót của trọng tài == Sai lầm của trọng tài cũng là một trong những điểm nóng của kì World Cup này. Ở trận vòng 1/8 của hai đội Đức và Anh, trọng tài Jorge Larrionda đã sai lầm khi không công nhận bàn thắng hợp lệ hoàn toàn của Frank Lampard, khi tỉ số đang là 2-1 cho Đức. Trọng tài Howard Webb bỏ qua tình huống Nigel de Jong vào bóng nguy hiểm đạp thẳng vào ngực Xabi Alonso, một pha bóng xứng đáng nhận thẻ đỏ, nhưng ông chỉ tặng De Jong một thẻ vàng. Ngoài ra, ở trận đấu vòng 1/8 giữa Archentina và Mexico, trọng tài người Ý Roberto Rosetti cũng đã công nhận một bàn thắng trong lỗi việt vị rất rõ ràng của Carlos Tévez. == Thống kê == === Số đội của mỗi liên đoàn tại mỗi vòng đấu === Đây là lần đầu tiên, một đội của châu Âu vô địch khi giải không được tổ chức trên cựu lục địa. === Bảng xếp hạng các đội tuyển === Ngay sau trận chung kết, FIFA đã công bố bảng xếp hạng các đội tuyển của World Cup 2010. Bảng xếp hạng dựa vào độ tiến sâu vào giải của từng đội, tiếp đến là số điểm ghi được, rồi hiệu số bàn thắng và số bàn thắng ghi được. Điểm số ghi được dựa theo nguyên tắc tính điểm của vòng bảng, nghĩa là 3 điểm cho một trận thắng, 1 điểm cho một trận hòa, và 0 điểm cho một trận thua. == Biểu tượng == === Linh vật === Linh vật chính thức của World Cup 2010 là con báo hoa mai Zakumi, sinh ngày 16 tháng 6, 1994 , được giới thiệu lần đầu ngày 22 tháng 9 năm 2008. Tên của chú được ghép từ "ZA", chữ viết tắt quốc tế của Nam Phi, và "kumi", có nghĩa là số mười trong nhiều thứ tiếng châu Phi. Zakumi gồm hai màu vàng-xanh là màu áo của tuyển Nam Phi. Ngày sinh của Zakumi trùng với ngày Thanh niên ở Nam Phi. Còn năm 1994 đánh dấu cuộc bầu cử không phân biệt chủng tộc đầu tiên ở quốc gia này. Andries Odendaal thuộc thành phố Cape Town là tác giả thiết kế linh vật. Khẩu hiệu chính thức của Zakumi là: "Lối chơi của Zakumi là lối chơi Fair Play. - Zakumi's game is Fair Play." Khẩu hiện xuất hiện trên những bảng quảng cáo điện tử của FIFA Confederations Cup 2009, và World Cup 2010. === Bài hát === FIFA đã chọn bài hát "Waka Waka (This Time For Africa)" do Shakira viết và biểu diễn cùng nhóm nhạc Freshlyground. Ông Sepp Blatter, Chủ tịch FIFA, phát biểu về bài hát: === Bóng thi đấu === Jabulani là quả bóng chính thức được dùng ở các trận đấu tại giải vô địch bóng đá thế giới 2010 do hãng Adidas của Đức sản xuất. Bóng được công bố tại Cape Town, Nam Phi vào ngày 4 tháng 12 năm 2009 và đã được phát triển tại Đại học Loughborough, Anh Quốc. Từ "Jabulani" có nghĩa là "Hãy hạnh phúc" hay "Chào mừng" trong tiếng Zulu. Quả bóng này cũng được sử dụng trong Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2009 ở UAE, và một phiên bản đặc biệt khác của trái bóng, Jabulani Angola, là quả bóng được dùng trong Cúp bóng đá châu Phi 2010. Nó cũng được sử dụng tại Clausura 2010 của giải Argentina cũng như ở MLS 2010 của Mỹ trong màu xanh da trời và màu xanh lá cây, hai màu chủ đạo của các giải đấu này. Quả bóng được chế tạo bằng cách sử dụng một thiết kế mới, bao gồm 8 miếng ghép (giảm xuống từ 14 miếng ghép trong World Cup 2006) được hàn bằng nhiệt-ngoại quan thay vì khâu bằng chỉ như những quả bóng khác. Đây là những vật thể hình cầu, được đúc từ chất axetat etylen-vinyl và nhựa nhiệt dẻo polyurethan. Bề mặt của quả bóng được kết cấu với các rãnh, một công nghệ mới được phát triển bởi Adidas và được gọi là GripnGroove để nhằm cải thiện khí động học của quả bóng. Việc thiết kế đã nhận được sự quan tâm đáng kể từ các học viện, bằng chứng là quả bóng đã được phát triển trong quan hệ đối tác với các nhà nghiên cứu từ Trường đại học Loughborough, Vương quốc Anh. Bóng được trang trí bằng bốn hoa văn giống hình tam giác trên nền trắng. Mười một màu sắc khác nhau biểu tượng cho 11 cầu thủ trong một đội bóng và 11 dân tộc của Nam Phi. Jabulani Angola, quả bóng được sử dụng tại Cúp bóng đá châu Phi 2010 tại Angola, có các màu đại diện cho lá cờ của quốc gia chủ nhà gồm màu vàng, đỏ, và màu đen. Đối với trận chung kết được tổ chức tại Johannesburg vào ngày 11 tháng 7, một quả bóng đặc biệt khác sẽ được sử dụng với kết cấu là các tấm bảng vàng, một biến thể đắt giá so với những quả bóng Jabulani thường. Quả bóng đó sẽ được gọi là "Jo'bulani", một lối chơi chữ từ biệt danh của Johannesburg là "Thành phố vàng". Với những quả bóng được làm tại Trung Quốc, chúng sử dụng ruột làm từ cao su ở Ấn Độ, nhiệt dẻo Pôliurêtan-elastomer từ Đài Loan, axetat etylen-vinyl, đẳng hướng pôliexte / vải cô-tông, keo dán và mực in từ Trung Quốc. === Vuvuzela === Vuvuzela phát ra âm thanh đều đều lớn rất đặc biệt, nhiều loại vuvuzela, được làm ra bởi nhiều nhà sản xuất, có thể thay đổi cường độ và tần số âm thanh phát ra. Cường độ của các kết quả âm thanh phát ra phụ thuộc vào kỹ thuật và lực thổi. Theo truyền thống Nam Phi, lấy cảm hứng từ sừng của con kudu, vuvuzela được sử dụng để triệu tập dân làng xa xôi tới tham dự các cuộc tụ họp cộng đồng. Vuvuzela là một loại đồ vật được sử dụng rất nhiều tại các trận đấu bóng đá ở Nam Phi, và nó đã trở thành một biểu tượng của bóng đá Nam Phi, trong các sân vận động nó phát ra âm thanh to và âm thanh khàn đặc của nó phản ánh sự hứng khởi của những người hâm mộ. Nó đã được sử dụng tại Confederations Cup 2009 và giải vô địch bóng đá thế giới 2010. Vuvuzela cũng là chủ đề của những tranh cãi. Âm thanh cao độ của nó ở cự ly gần có thể dẫn tới mất thính lực vĩnh viễn cho đôi tai, với một tần suất âm thanh lên tới 120 đêxiben (mức có thể gây đau đớn) tại 1 mét khi thổi. == Xem thêm == Bạch tuộc Paul Giải vô địch bóng đá thế giới 2014 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang Web chính thức của Liên đoàn Bóng đá thế giới (FIFA) Trang Web chính thức của FIFA về World Cup 2010 2010 FIFA World Cup South Africa Infomation bản lưu 6/6/2010
công ty đa quốc gia.txt
Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (từ các chữ Multinational corporation) hoặc MNE (từ các chữ Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia. Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa; một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu. == Lịch sử == Công ty nào là MNC đầu tiên đang còn được tranh cãi. Một số cho rằng Knights Templar, thành lập vào năm 1118, trở thành công ty đa quốc gia khi nó bắt đầu chuyển sang kinh doanh ngành ngân hàng vào năm 1135. Tuy nhiên một số khác cho rằng British East India Company hay Dutch East India Company mới thực sự là các công ty đa quốc gia đầu tiên. == Cấu trúc công ty đa quốc gia == Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất: Công ty đa quốc gia "theo chiều ngang" sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds). Công ty đa quốc gia "theo chiều dọc" có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas). Công ty đa quốc gia "nhiều chiều" có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft). Một số khác cho rằng đặc điểm cơ bản của các công ty đa quốc gia là bộ phận không trực tiếp làm việc với khách hàng, tiếng Anh: back-office, (ví dụ cung cấp nguyên liệu, tài chính và nguồn nhân lực) ở mỗi quốc gia mà nó hoạt động. Các công ty đa quốc gia đã tạo ra một phiên bản nhỏ của chính nó ở mỗi công ty. Xí nghiệp liên hợp toàn cầu mà một số người cho rằng sẽ là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình phát triển của công ty đa quốc gia thì không có đặc điểm này. == Sức mạnh quốc tế == Các công ty đa quốc gia lớn mạnh có thể có ảnh hưởng lớn đến các quan hệ quốc tế khi chúng có ảnh hưởng kinh tế lớn đến các khu vực mà các nhà nhà chính trị đại diện và chúng có nguồn lực tài chính dồi dào để phục vụ cho quan hệ công chúng (public relations) và vận động hành lang (lobbying) chính trị. == Xem thêm == Danh sách các công ty đa quốc gia == Tham khảo ==
aztec.txt
Aztec ( /ˈæztɛk/) là tên gọi một số dân tộc nhất định tại miền trung Mexico, đặc biệt là những người nói tiếng Nahuatl, thống trị phần lớn vùng Trung Bộ châu Mỹ từ thế kỷ 14 đến 16. Từ aztecatl [asˈtekat͡ɬ] (số ít) và aztecah [asˈtekaʔ] (số nhiều) trong tiếng Nahuatl có nghĩa là "người từ Aztlan", một địa điểm thần loại trong văn hóa Nahuatl đương thời, và sau đó được dùng để chỉ người Mexica. Thông thường "Aztec" được dùng cho người Mexica tại Tenochtitlan (nơi ngày nay là Thành phố Mexico), một thành bang tọa lạc trên Hồ Texcoco; những người này gọi mình là Mēxihcah Tenochcah [meːˈʃiʔkaʔ teˈnot͡ʃkaʔ] hay Cōlhuah Mexihcah [ˈkoːlwaʔ meːˈʃiʔkaʔ]. Đôi khi cư dân tại hai thành bang đồng minh của Tenochtitlan, là người Acolhua của Texcoco và người Tepanec của Tlacopan cũng được gọi là "Aztec". Họ, cùng với người Mexica, đã thành lập nên Tam Đồng Minh Aztec. Có khi, Aztec được dùng để chỉ các altepetl (thành bang) và cư dân tại đó, những người đã chia sẽ nền văn hóa và lịch sử với người Mexica, Acolhua và Tepanec, và cũng để chỉ những người dùng tiếng Nahuatl như một lingua franca. Theo nghĩa này, Aztec nhắc đến nền văn minh Aztec, bao gồm những di sản và thành tựu có nhiều nét chung của người dân Trung Bộ châu Mỹ trong thời kỳ hậu cổ điển. Từ thế kỷ 13, Thung lũng México là trung tâm của nền văn minh Aztec: nơi đây thủ đô của Tam Đồng Minh Aztec, thành phố Tenochtitlan, được xây dựng trên những đảo nhỏ giữa hồ Texcoco. Tam Đồng Minh mở rộng ảnh hưởng ra ngoài thung lũng México, xâm chiếm các thành bang khác trên khắp Trung Bộ châu Mỹ. Ở đỉnh cao, văn hóa Aztec có một truyền thống thần thoại và tôn giáo giàu có và phức tạp, cũng như tạo nên những thành tựu kiến trúc và kinh tế đáng kể. Năm 1521, Hernán Cortés, cùng với những đồng minh bản địa, xâm chiếm Tenochtitlan và đánh bại đội quân Tam Đồng Minh của Hueyi Tlatoani Moctezuma II. Sau đó, người Tây Ban Nha lập nên điểm dân cư mới (Thành phố Mexico) trên thủ đô của Aztec, từ đó tiếp tục tiến trình thuộc địa hóa châu Mỹ. Văn hóa và lịch sử Aztec được nghiên cứu từ các chứng cứ khảo cổ tìm thấy ở những điểm khai quật như Templo Mayor tại Thành phố Mexico; từ những quyển bản thảo Aztec; từ sự chứng kiến tận mắt của những conquistador như Hernán Cortés và Bernal Díaz del Castillo. == Định nghĩa == === Người Aztec === Thuật ngữ "Aztec" được dùng cho nhiều dân tộc nói tiếng Nahuatl ở miền trung Mexico trong thời kỳ hậu cổ điển của Trung Bộ châu Mỹ, nhất là người Mexica, những người đã có vai trò chính trong việc thiết lập Tam Đồng Minh. Thuật ngữ này được mở rộng ra để chỉ các dân tộc liên quan như người Acolhua, Tepanec, và một số khác được sáp nhập vào đế chế Aztec sau đó. "Aztec" từng được dùng để chỉ tất cả các dân tộc nói tiếng Nahuatl hiện nay; tiếng Nahuatl trước đây được gọi là "tiếng Aztec". Ngày nay, các dân tộc này được gọi là các dân tộc Nahua. Về mặt ngôn ngữ, "Aztec" vẫn được dùng để chỉ một nhánh con trong hệ ngôn ngữ Ute-Aztec, nhánh này gồm tiếng Nahuatl và các ngôn ngữ liên quan (tiếng Pochutec và tiếng Pipil). === Văn hóa Aztec === Văn hóa Aztec là văn hóa của người Aztec, nhưng vì nhiều dân tộc tại trung Mexico thời đó đều chia sẽ các đặc điểm văn hóa cơ bản, một phần của văn hóa Aztec không thể được xem là chỉ của riêng người Aztec. Vì cùng lý do mà "văn minh Aztec" nên được hiểu là một phần của nền văn minh Trung Bộ châu Mỹ. Văn hóa tại Trung Mexico bao gồm nghề trồng ngô, sự phân biệt giữa tầng lớp pipiltin (quý tộc) và macehualli (dân thường), đền thờ bách thần (với những vị thần như Tezcatlipoca, Tlaloc và Quetzalcoatl), hai hệ thống lịch xiuhpohualli (365 ngày) và tonalpohualli (260 ngày). Với dân cư Tenochtitlan, có vị thần bảo hộ Huitzilopochtli, kim tự tháp đôi, và nghệ thuật làm gốm. === Đế quốc Aztec === Đế quốc Aztec mở rộng quyền lực của mình trong thời kỳ hậu cổ điển tại Trung Bộ châu Mỹ. Nó được thành lập năm 1427 như một liên minh giữa ba thành bang Tenochtitlan, Texcoco, và Tlacopan, liên minh với nhau để cùng đánh bại thành bang Azcapotzalco, mà trước đó thống trị Thung lũng México. Không lâu sau, Texcoco và Tlacopan chỉ còn có vai trò hỗ trợ, trong khi Tenochtitlan nắm quyền lãnh đạo thực sự. == Tham khảo == == Tài liệu ==
samsung zeq 9000.txt
Samsung ZEQ 9000 (mã hiệu: SM-Z9000 cho bản một SIM, và SM-Z9005 cho bản hai SIM, SC-03F cho nhà mạng NTT DoCoMo) là điện thoại thông minh Tizen sẽ được phát hành bởi Samsung. Nó được ra mắt tại MWC 2014. == Thông số kĩ thuật đã biết == Màn hình 4,8 inch với độ phân giải WXGA (1280x768) và vi xử lý 2,3 GHz lõi tứ Snapdragon 800. == Tham khảo ==
tân hưng, bà rịa.txt
Tân Hưng là một xã thuộc thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Việt Nam. Xã Tân Hưng có diện tích 7,44 km², dân số năm 2005 là 4923 người, mật độ dân số đạt 662 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
tuần duyên hoa kỳ.txt
Tuần duyên Hoa Kỳ hay Duyên hải vệ Hoa Kỳ (tiếng Anh:United States Coast Guard hay viết tắt là USCG) là một quân chủng của Quân đội Hoa Kỳ và là một trong 7 lực lượng đồng phục liên bang của Hoa Kỳ. Tuần duyên Hoa Kỳ là một lực lượng quân sự hoạt động vùng biển, đa nhiệm vụ và độc nhất trong số các quân chủng của Hoa Kỳ vì nó có sứ mệnh thi hành luật pháp ở vùng biển và đảm trách cả sứ mệnh của một cơ quan trông coi việc giám sát và quy định luật lệ liên bang. Nó hoạt động dưới quyền quản lý của Bộ Nội an Hoa Kỳ trong thời bình và có thể được thuyên chuyển sang cho Bộ Hải quân Hoa Kỳ theo lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ hay Quốc hội Hoa Kỳ trong thời chiến. Tuần duyên Hoa Kỳ được Alexander Hamilton thành lập trong vai trò của Cơ quan Quan thuế Biển vào ngày 4 tháng 8 năm 1790. Tính đến tháng 8 năm 2009, lực lượng có khoảng 42.000 quân nhân hiện dịch, 7.500 quân nhân trừ bị, 29.000 nhân sự hỗ trợ, và 7.700 nhân viên dân sự toàn thời gian. Vai trò thường trực của Tuần duyên Hoa Kỳ là trông coi biển, an ninh biển, và an toàn biển. Khẩu hiệu của Tuần duyên là "Semper Paratus" trong tiếng Latin có nghĩa là "luôn sẵn sàng". == Sứ mệnh == === Vai trò === Tuần duyên có vai trò về nội an vùng biển, thi hành luật pháp vùng biển, tìm kiếm và giải cứu, bảo vệ môi trường biển, bảo quản sông, giúp giao thông hàng hải dọc theo duyên hải và ngoài khơi. Trong khi đa số các lực lượng quân sự khác của Hoa Kỳ dành thời gian huấn lệnh cho chiến tranh hay tham chiến thì Tuần duyên Hoa Kỳ được triển khai làm việc mỗi ngày. Với việc tổ chức không mang tính tập quyền, nhiều trách nhiệm được giao cho thậm chí các sĩ quan cấp thấp, Tuần duyên Hoa Kỳ luôn được hoan nghênh vì sự phản ứng nhanh và tùy cơ ứng biến của mình trong 1 phạm vi rất lớn các tình trạng khẩn cấp. Trong một bài báo đăng trong tạp chí Time năm 2005 theo sau bão Katrina, tác giả bài báo có viết "sự đóng góp quý giá nhất của Tuần duyên đối với một nỗ lực quân sự khi tai ương xảy ra có thể là một kiểu mẫu của sự linh động, và hơn hết nhất đó là tinh thần." Wil Milam, một tay bơi cứu nạn từ Alaska nói với tạp chí rằng "Trong Hải quân, tất cả đều là sứ mệnh. Huấn luyện để chiến đấu. Trong Tuần duyên, nó có ý nghĩa là trông nom nhân dân của chúng ta và sứ mệnh này sẽ tự chăm nom lấy chính mình." === Những sứ mệnh === Tuần duyên Hoa Kỳ đảm trách ba vai trò căn bản mà rồi được phân xuống thành 11 sứ mệnh theo luật định. Ba vai trò đó là: An toàn biển An ninh biển Trông coi biển Mười một sứ mệnh luật định được chia thành các sứ mệnh nội an và các sứ mệnh không phải nội an: ==== Các sứ mệnh không thuộc nội an ==== An toàn biển Tìm kiếm và cứu nguy Hỗ trợ giao thông hàng hải Tài nguyên sống của biển (thi hành luật về đánh bắt cá) Bảo vệ môi trường biển Hoạt động phá băng ==== Các sứ mệnh nội an ==== An ninh duyên hải, đường sông và cảng Chặn bắt thuốc gây nghiện Chặn bắt nhập cư bất hợp pháp Sẵn sàng phòng vệ Thi hành luật pháp khác === Tìm kiểm và giải cứu === Mặt dù đây không phải là lực lượng lâu đời nhất nhưng sứ mệnh tìm kiếm và cứu nguy là một trong những sứ mệnh nổi bật nhất của Tuần duyên. Chương trình Tìm kiếm và Cứu nguy Quốc gia đã ấn định Tuần duyên Hoa Kỳ là cơ quan liên bang có trách nhiệm trông coi về những hoạt động tìm kiếm và cứu nguy trên biển và Không quân Hoa Kỳ là cơ quan liên bang chiu trách nhiệm về các hoạt động tìm kiếm và cứu nguy trong nội địa. Cả hai cơ quan này đều có duy trì các trung tâm điều hợp cứu nguy cho mục đích này. Cả hai đều có trách nhiệm tìm kiếm và cứu nguy quân sự lẫn dân sự. === Trung tâm Phản ứng Quốc gia === Được điều hành bởi Tuần duyên Hoa Kỳ, Trung tâm Phản ứng Quốc gia (NRC) là điểm liên lạc duy nhất thuộc chính phủ Hoa Kỳ để báo cáo về tất cả các sự kiện vệ ô nhiễm môi trường như tràn dầu trên biển, phóng xạ hay chất hóa học thoát ra môi trường, chất ô nhiễm gây hậu quả cho hệ sinh thái,...ở bất cứ nơi đâu trên nội địa Hoa Kỳ hay các lãnh thổ của Hoa Kỳ. === Vai trò lực lượng vũ trang === Năm lực lượng đồng phục hình thành nên các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ được định nghĩa trong Mục 101, Điều 10, Bộ luật Hoa Kỳ: Thuật từ "các lực lượng vũ trang" có nghĩa là Lục quân, Hải quân, Không quân, Thủy quân lục chiến và Tuần duyên. Tuần duyên Hoa Kỳ được định nghĩa chi tiết hơn trong Mục 1, Điều 14, Bộ luật Hoa Kỳ: Tuần duyên, như được thành lập vào ngày 28 tháng 1 năm 1915, sẽ là một lực lượng quân sự và là một quân chủng của các lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ trong mọi thời gian. Tuần duyên sẽ là một lực lượng nằm trong Bộ Nội an, trừ khi lúc hoạt động trong vai trò một lực lượng thuộc Hải quân. Cách tổ chức và hoạt động của Tuần duyên được ấn định trong Điều 22 Bộ luật Quy định Liên bang. Ngày 25 tháng 2 năm 2003, Tuần duyên được đặt dưới quyền của Bộ Nội an Hoa Kỳ. Tuần duyên báo cáo trực tiếp với Bộ trưởng Nội an Hoa Kỳ. Tuy nhiên trong thời chiến, dưới sự hướng dẫn của Quốc hội Hoa Kỳ hay Tổng thống Hoa Kỳ, Tuần duyên có thể được đặt dưới quyền của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ và sẽ trở thành một lực lượng quân sự của Bộ Hải quân Hoa Kỳ. Trong vai trò là thành viên quân sự, các nhân sự Tuần duyên hiện dịch và trừ bị phải tuân theo quân luật chung của quân đội và nhận lương bổng giống như các bậc lương tương tự của các lực lượng đồng phục khác. Lực lượng này đã tham gia vào mọi cuộc xung đột chính của Hoa Kỳ từ năm 1790 cho đến ngày nay trong đó có cuộc đổ bộ D-Day và trên các đảo Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai, tuần tra và bắn phá bờ biển trong Chiến tranh Việt Nam, và nhiều vai trò khác trong Chiến dịch Iraq Tự do. Các chiến dịch chặn bắt ngoài biển, ann ninh duyên hải, an ninh giao thông hàng hải, và thi hành luật trên biển là những vai trò chính của lực lượng trong các cuộc xung đột mới đây tại Iraq. Ngày 17 tháng 10 năm 2007, Tuần duyên cùng tham gia với Hải quân Hoa Kỳ và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ áp dụng một chiến lược biển mới có tên gọi là Chiến lược Hợp tác Hải lực Thế kỷ 21 nhằm nâng cao tầm quan trọng trong việc ngăn ngừa chiến tranh cùng cấp độ triết lý với sự tiến hành chiến tranh. Chiến lược mới này vạch ra một đường hướng chung cho Hải quân, Thủy quân lục chiến và Tuần duyên cùng làm việc với nhau và với đồng sự quốc tế để ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng vùng do con người gây ra hay do thiên tai, không cho xảy ra hoặc là phải phản ứng nhanh nếu có xảy ra để ngăn ngừa ảnh hưởng bất lợi cho Hoa Kỳ. === Vai trò cơ quan thi hành luật pháp === Mục 2, Điều 14, Bộ luật Hoa Kỳ cho phép Tuần duyên Hoa Kỳ thi hành luật liên bang. Quyền lực này được nói thêm trong Mục 89, Điều 14, Bộ luật Hoa Kỳ cho phép các sĩ quan, hạ sĩ quan của Tuần duyên quyền hạn thi hành luật pháp. Không như các quân chủng khác bị ngăn cấm về quyền hạn thi hành luật pháp theo Đạo luật Posse Comitatus và chính sách của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, theo Mục 1385, Điều 18 thì Tuần duyên Hoa Kỳ được miễn trừ và không bị giới hạn bởi Đạo luật Posse Comitatus. Quyền hạn thi hành luật pháp cũng được nói thêm trong Mục 143, Điều 14 và Mục 1401, Điều 19 cho quyền các sĩ quan và hạ sĩ quan của Tuần duyên Hoa Kỳ, cả hiện dịch và trừ bị, quyền hạn thi hành luật pháp trong vai trò các viên chức thuế quan liên bang. Điều này đặt họ dưới Mục 1589a, Điều 19, Bộ luật Hoa Kỳ, cho phép các viên chức hải quan quyền hạn thi hành luật tổng quát bao gồm quyền: (1) mang vũ khí; (2) thi hành và phục vụ bất cứ mệnh lệnh, lệnh khám xét, trát đòi hầu tòa hay những xúc tiến nào khác mà do chính phủ Hoa Kỳ phát lệnh; (3) thực hiện việc bắt giữ mà không cần lệnh khi có sự hiện diện của nhân viên công vụ đối với bất cứ vi phạm nào chống lại Hoa Kỳ hay đối với một trọng tội mà theo luật Hoa Kỳ đã xảy ra lúc không có sự hiện diện của nhân viên thi hành công vụ và nếu người thi hành công vụ có cơ sở tin rằng người đó phải bị bắt vì đã thực hiện hay đang thực hiện một trọng tội; và (4) thực thi các nhiệm vụ thi hành luật pháp khác mà Bộ trưởng Nội an Hoa Kỳ có thể giao phó. Các nhân viên của Tuần duyên có quyền pháp lý mang vũ khí được cấp cho công vụ ngay cả tại trạm và ngoài trạm. Trong thực tế việc mang vũ khí được cấp cho công vụ ngoài trạm hiếm khi xảy ra vì tại nhiều trạm Tuần duyên, các đơn vị trưởng thường muốn tất cả các vũ khí được cấp cho công vụ được cất lại tại trạm. Tuy nhiên, một phiên tòa cũng đã phán quyết rằng các sĩ quan trên tàu Tuần duyên mà là sĩ quan thi hành luật pháp thì có quyền mang vũ khí cá nhân lúc không làm nhiệm vụ để tự vệ. == Lịch sử == Nguồn gốc Tuần duyên Hoa Kỳ là từ Sở Quan thuế Biển Hoa Kỳ do Alexander Hamilton thành lập nằm dưới quyền của Bộ Ngân khố Hoa Kỳ vào ngày 4 tháng 8 năm 1790. Trạm Tuần duyên đầu tiên nằm ở Newburyport, Massachusetts. Cho đến khi tái thành lập Hải quân Hoa Kỳ năm 1798, Sở Quan thuế Biển Hoa Kỳ là lực lượng hải quân duy nhất của Hoa Kỳ thời xa xưa. Nó được thành lập để thu thuế từ nhóm người mới chính hiệu gồm những người buôn lậu yêu nước. Khi các viên chức này ra biển thì họ được lệnh là ngăn chặn cướp biển nhưng khi đang ở ngoài khơi thì họ có lẽ phải làm luôn nhiệm vụ cứu cấp bất cứ ai đang gặp nạn. "Đệ nhất Hạm đội" là một cái tên thường hay được sử dụng không chính thức để chỉ Tuần duyên Hoa Kỳ mặc dù không có dấu hiệu nào cho thấy là Hoa Kỳ đã từng chính thức sử dụng cái tên này để ám chỉ Tuần duyên hay bất cứ thành phần nào của Hải quân Hoa Kỳ. Các tên gọi không chính thức này đã và đang vinh danh sự thật rằng giữa 1790 và 1798 không có Hải quân Hoa Kỳ và rằng các tàu của sở quan thuế, tiền thân của Tuần duyên Hoa Kỳ, là các chiến hạm duy nhất bảo vệ bờ biển, thương mại và các lợi ích biển của tân cộng hòa Hoa Kỳ. Tuần duyên hiện đại có thể được nói là bắt đầu từ năm 1915 khi Sở Quan thuế được sáp nhập vào Sở Cứu nạn Hoa Kỳ (United States Life-Saving Service) và Quốc hội Hoa Kỳ chính thức hóa sự tồn tại của tổ chức mới này. Năm 1939, Sở Hải đăng Hoa Kỳ (United States Lighthouse Service) được sát nhập vào Tuần duyên. Năm 1942, Cục Hàng hải và Kiểm tra Biển (Bureau of Marine Inspection and Navigation) được thuyên chuyển sang Tuần duyên. Năm 1967, Tuần duyên Hoa Kỳ được chuyển từ Bộ Ngân khố Hoa Kỳ sang bộ mới thành lập là Bộ Giao thông Hoa Kỳ và nằm dưới bộ này cho đến khi được chuyển sang Bộ Nội an Hoa Kỳ vào năm 2002 sau vụ tấn công của bọn khủng bố vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Trong thời chiến, Tuần duyên hay các thành viên của nó có thể hoạt động như là một lực lượng của Bộ Hải quân Hoa Kỳ. Việc sắp xếp này có một căn bản lịch sử rộng lớn, thí dụ như Tuần duyên đã từng tham chiến trong các cuộc chiến như Chiến tranh 1812, Chiến tranh Mỹ-Mexico, và Nội chiến Hoa Kỳ mà vào lúc đó chiến hạm Harriet Lane đã khai hỏa từ biển đầu tiên để giải vây đồn Sumter. Lần cuối cùng Tuần duyên hoạt động với tư cách toàn phần dưới quyền của Hải quân Hoa Kỳ là trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Thường trực hơn, các đơn vị tác chiến và quân sự của Tuần duyên sẽ hoạt động dưới quyền Hải quân Hoa Kỳ hay dưới quyền của các bộ tư lệnh hành quân hỗn hợp trong khi đó các đơn vị khác vẫn sẽ nằm dưới quyền của Bộ Nội an Hoa Kỳ. == Tổng hành dinh == Tổng hành dinh của Tuần duyên Hoa Kỳ ở số 2100 Second Street, SW, Washington, D.C. gần Công viên Nationals và tiếp tục ở đó cho đến ít nhất là năm 2015. Tòa nhà phức hợp tổng hành dinh mới của Bộ Nội an Hoa Kỳ đang được xây cất trên khu đất củ của Bệnh viện St. Elizabeths nằm trong khu Anacostia, đông nam Washington, phía bên kia sông Anacostia River, cách tổng hành dinh hiện thời của Tuần duyên. Là một phần trong kế hoạch tập trung, Tuần duyên Hoa Kỳ sẽ là cơ quan đầu tiên của Bộ Nội an Hoa Kỳ được dời tổng hành dinh của mình vào bên trong tòa nhà phức hợp này. == Nhân sự == Tên chính thức tiếng Anh để chỉ một thành viên mang quân phục của Tuần duyên Hoa Kỳ là "Coast Guardsman", không phân biệt nam hay nữ. Năm 2008, thuật từ "Guardian" được giới thiệu. "Coastie" là một từ không chính thức được dùng để chỉ các nhân sự hiện thời và các cựu thành viên. "Team Coast Guard" ám chỉ bốn thành phần của Tuân duyên thành một: chính quy, trừ bị, hỗ trợ và nhân sự dân sự của Tuần duyên. === Sĩ quan === Sĩ quan của Tuần duyên có bậc lương từ O-1 đến O-10 trong đó O-10 là cao nhất và sử dụng cơ cấu quân hàm giống như Hải quân Hoa Kỳ. Sĩ quan có cấp bậc từ thiếu úy (O-1) đến thiếu tá (O-4) được xem là nhóm sĩ quan cấp thấp, cấp bậc trung tá (O-5) và đại tá (O-6) được xem là sĩ quan cao cấp, và từ chuẩn đô đốc (O-7) đến đô đốc (O-10) được xem là các sĩ quan chỉ huy. Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ là thành viên duy nhất của Tuần duyên giữ cấp bậc đô đốc. Tuần duyên không có các sĩ quan quân y hay tuyên úy. Thay vào đó các viên chức ủy nhiệm của Đoàn Ủy nhiệm Y tế Công cộng Hoa Kỳ và các sĩ quan tuyên úy của Hải quân Hoa Kỳ được phái đến Tuần duyên để đảm trách các trách nhiệm vừa kể. Những người này sẽ mặc quân phục Tuần duyên nhưng thay quân hiệu của Tuần duyên bằng quân hiệu ngành của mình. === Cấp chuẩn úy === Những hạ sĩ quan có bậc lương từ E-6 đến E-9 đạt tiêu chuẩn cao và có ít nhất 8 năm kinh nghiệm có thể cạnh tranh hàng năm để được bổ nhiệm thành một warrant officer, tương đương cấp chuẩn úy trong tiếng Việt. Những ứng viên thành công sẽ được một ban đặt trách chọn lựa và thăng cấp lên Chuẩn úy 2 (chief warrant officer 2), phục vụ một trong 16 ngành nghiệp vụ. Theo thời gian thì một chuẩn úy có thể được thăng đến cấp bậc chuẩn úy 3 và 4. Các cấp bậc chuẩn úy 1 (WO-1) và chuẩn úy 5 (MCWO-5) hiện tại không có sử dụng trong Tuần duyên. Cấp bậc chuẩn úy có thể tham dự tranh tài trong chương trình đào tạo sĩ quan. Nếu được chọn thì sẽ được thăng lên chức đại úy (O-3E). Chữ "E" là dùng để chỉ thành viên sĩ quan này đã từng phục vụ trên bốn năm ở cấp bậc chuẩn úy và sẽ cho phép người này nhận bậc lương cao hơn bậc đại úy bình thường. === Hạ sĩ quan và binh sĩ === Thành viên từ hạ sĩ quan xuống đến binh sĩ được gọi chung trong tiếng Anh là enlisted personnel có bậc lương từ E-1 đến E-9 trong đó bậc lương E-9 là cao nhất. Tất cả các thành viên có bậc lương E-4 và cao hơn được xem là cấp hạ sĩ quan và phát triển nghiệp vụ của mình cũng giống như các cấp bậc hạ sĩ quan của Hải quân Hoa Kỳ. === Phụ nữ trong Tuần duyên === SPARS (có nghĩa trụ lại một chỗ) là lực lượng nữ trừ bị của Tuần duyên Hoa Kỳ được thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1942 bằng Công luật số 773 do Tổng thống Franklin Delano Roosevelt ký. Cái tên này có vẽ như tương phản lại khẩu hiệu của Tuần duyên Hoa Kỳ Semper Paratus, có nghĩa là "luôn sẵn sàng". Giống như các lực lượng nữ trừ bị khác, thí dụ như Quân đoàn Nữ Lục quân (Women's Army Corps) và WAVES, nó được thành lập để thay thế nam phải đi ra ngoài để chiến đấu ở hải ngoại. Người điều hành đầu tiên của lực lượng này là đại tá Dorothy C. Stratton và bà là người có công chọn ra tên cho lực lượng. Chiến hạm của Tuần duyên Hoa Kỳ USCGC Spar (WLB-206) được đặt tên theo tên của lực lượng SPARS. === Huấn luyện === ==== Đào tạo nhân sự ==== Học viện Tuần duyên Hoa Kỳ là một học viện quân sự bốn năm nằm ở New London, Connecticut. Khoảng 225 học viên tốt nghiệp mỗi năm và nhận cấp bằng cử nhân khoa học cũng như được ủy nhiệm thành một sĩ quan cấp bậc thiếu úy trong Tuần duyên Hoa Kỳ. Mỗi học viên tốt nghiệp bị bắt buộc phục vụ ít nhất là 5 năm. Đa số học viên tốt nghiệp được giao làm nhiệm vụ trên các tàu Tuần duyên ngay sau khi tốt nghiệp trong vai trò sĩ quan quan sát trên sàn tàu hay sĩ quan tập sự. Có số ít hơn được giao nhiệm vụ học lái phi cơ tại Trạm Không lực Hải quân Pensacola, tiểu bang Florida hay làm việc trên bờ trong các khu vực trách nhiệm hay đơn vị tổng hành dinh của Tuần duyên Hoa Kỳ. Ngoài học viện, các sĩ quan tương lai có thể vào Tuần duyên Hoa Kỳ qua Trường Ứng viên Sĩ quan. Trường này là khóa giảng dạy dài 17 tuần chuẩn bị cho các học viên phục vụ hữu hiệu trong vai trò của sĩ quan trong Tuần duyên. Ngoài việc dạy lý thuyết cho học viên cách sống quân sự, trường còn cung cấp một tầm mức rộng lớn gồm các thông tin kỹ thuật cao cần thiết để làm nhiệm vụ trong vai trò sĩ quan Tuần duyên. Các học viên tốt nghiệp Trường Ứng viên Sĩ quan thường được ủy nhiệm với cấp bậc thiếu úy nhưng có một số học viên xuất sắc có thể nhận cấp bậc trung úy hay đại úy, thậm chí thiếu tá. Học viên tốt nghiệp chính quy bị bắt buộc phục vụ ít nhất 3 năm trong khi học viên tốt nghiệp sĩ quan dự bị phải phục vụ 4 năm. Các học viên tốt nghiệp có thể được giao nhiệm vụ trên một chiến hạm, học lái phi cơ, một công việc văn phòng hay làm việc trên các trạm trên bờ. Trường Ứng viên Sĩ quan là nơi cung cấp đa số sĩ quan cho Tuần duyên, và cũng là kênh chính cho các hạ sĩ quan vươn lên cấp bậc sĩ quan. Các luật sư, kỹ sử, sĩ quan tình báo, phi công quân sự và các học viên của các học viện hàng hải cũng như các cá nhân nghiệp vụ khác cũng có thể được ủy nhiệm thành một sĩ quan qua chương trình sĩ quan ủy nhiệm trực tiếp. Không giống các quân chủng khác, Tuần duyên Hoa Kỳ không có một chương trình nào dành cho huấn luyện sĩ quan trừ bị. ==== Huấn luyện tân binh ==== Tân binh được gởi đi huấn luyện 8 tuần tại Trung tâm Huấn luyện Tuần duyên Cape May ở Cape May, New Jersey. Tân binh đầu tiên trải qua ba ngày đầu tiên để làm thủ tục trong có hớt tóc, chích ngừa, nhận quân phục,...Trong thời gian này họ được tập đội ngũ và được chuẩn bị để nhập vào đại đội được chỉ định cho họ. Trong phần thời gian 8 tuần họ cũng trải nghiệm khóa huấn luyện gọi là "boot camp" để học kỹ năng phát triển thể lực và tinh thần đồng đội. Họ cũng được giới thiệu về cách Tuần duyên hoạt động với trọng tâm nhấn mạnh vào các giá trị trung tâm của Tuần duyên là một phần quan trọng của chương trình huấn luyện. Hiện tại có chính mục tiêu huấn luyện tân binh là: Kỷ luật Kỹ năng quân sự Kỹ năng bắn súng Kỹ năng huấn nghệ và nghiệp vụ Thiên hướng quân sự Cường tráng thân thể và khỏe mạnh Khả năng bơi lội và tồn tại trong nước Tinh thần quả cảm Các giá trị trung tâm (danh sự, tôn trọng, và tận tụy với công việc) ==== Các trường nghiệp vụ ==== Sau khi tốt nghiệp trường huấn luyện tân binh, đa số thành viên được gởi đến đơn vị đầu tiên của họ trong lúc chờ lệnh tham dự khóa đào tạo cao cấp ở các trường hạng "A". Tại các trường hạng "A", các tân binh tốt nghiệp sẽ được huấn luyện theo điểm tốt nghiệp của họ. Các thành viên có điểm cao hay những ai được cho phép chọn trường hạng "A" có thể đi ngay đến trường hạng "A" ngay sau khi tốt nghiệp từ "boot camp". === Nhân sự dân sự === Tuần duyên có trên 7.700 nhân viên dân sự đảm trách trên 200 loại công việc khác nhau trong đó có các nhân viên đặc biệt đặc trách điều tra của Tuần duyên, luật sự, kỹ sự, chuyên viên, nhân sự quản trị... Các nhân viên dân sự làm việc ở nhiều cấp bậc khác nhau để hỗ trợ nhiều sứ mệnh khác nhau của Tuần duyên Hoa Kỳ. == Trang bị == === Tàu tuần duyên (tiếng Anh: "Cutter") === Ban đầu, Tuần duyên dùng thuật từ cutter trong ý nghĩa truyền thống để chỉ một loại tàu buồm nhỏ. Ngày nay họ chính thức dùng thuật từ này cho bất cứ tàu nào có thủy thủ đoàn thường trực và các tiện nghi hỗ trợ lâu dài cho thủy thủ đoàn đó, và tàu đó phải có chiều dài ít nhất là 65 ft (20 mét). Tàu tuần duyên phá băng lớp Polar (WAGB): ba chiếc dùng để phá băng và nghiên cứu. Hai chiếc dài 399 ft (122 mét) (Polar Sea và Polar Star). Chiếc còn lại mới hơn dài 420 ft (130 mét) là Healy. Tàu tuần duyên An ninh Quốc gia (WMSL): Đây là một lớp tàu tuần duyên mới dài 418 ft (127 mét), có ý định thay thế dần các tàu tuần duyên hạng nặng lớp Hamilton lỗi thời. Tàu tuần duyên hạng nặng (WHEC): đây là tàu tuần duyên lớp Hamilton dài 378 ft. Sử dụng cho các sứ mệnh như thi hành luật pháp, tìm kiếm và cứu nạn hay phòng vệ quân sự. Tàu tuần duyên hạng trung (WMEC): Đa số là các tàu tuần duyên dài 210 ft (64 mét) và 270 ft (82 mét) nhưng chiếc Alex Haley và chiếc Acushnet cũng nằm trong nhóm này. Chủ yếu dùng cho các sứ mệnh thi thành luật pháp, tìm kiếm và cứu nạn hay phòng vệ quân sự. USCGC Mackinaw (WLBB-30): Mackinaw là tàu phá băng hạng nặng dài 240 ft (73 mét), được đóng để hoạt động trên vùng Ngũ Đại Hồ Bắc Mỹ. USCGC Eagle (WIX-327): Eagle là tàu buồm dài 295 ft, được dùng làm tàu huấn luyện cho các học viên và ứng viên sĩ quan của Học viện Tuần duyên Hoa Kỳ. Ban đầu nó được đóng ở Đức và có tên là Horst Wessel. Nó bị Hoa Kỳ chiếm được như chiến lợi phẩm vào năm 1945. Tàu bảo trì phao nổi biển (WLB): Tàu bảo trì phao nổi biển lớp Juniper dài 225 ft (69 mét) được dùng để giúp thông thương hàng hải và cũng được dùng để hỗ trợ thi hành luật pháp, tìm kiếm và cứu nạn. Tàu tuần tra duyên hải (WPC): đây là loại tàu tuần tra duyên hải dài 179 ft (55 mét), được mượn từ Hải quân Hoa Kỳ. Tàu bảo trì phao nổi duyên hải (WLM): loại tàu bảo trì phao nổi lớp Keeper dài 175 ft (53 mét), được dùng để giúp thông thương hàng hải vùng duyên hải. Tàu phá băng lớp Bay(WTGB): đây là loại tàu phá băng dài 140 ft (43 mét) được dùng chính yếu cho các sứ mệnh phá băng nội địa. Các sứ mạng khác gồm có tìm kiếm và cứu nạn, thi hành luật pháp và giúp bảo trì hàng hải. Tàu tuần tra nhỏ: có hai loại đang phục vụ là tàu tuần tra lớp Island dài 110 ft (34 mét) và lớp Marine Protector dài 87 ft (27 mét) === Phi cơ === Tuần duyên Hoa Kỳ có khoảng 210 phi cơ. Phi cơ cánh cố định hoạt động tại các Trạm Không lực cho các sứ mệnh kéo dài. Trực thăng hoạt động từ các trạm không lực và từ trên các tàu tuần duyên, có thể cứu cấp người hay chặn bắt các tàu buôn lậu. Kể từ khi có vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001, Tuần duyên đã phát triển thêm vai trò nổi bật của mình trong nhiệm vụ an ninh quốc gia và hiện nay có các trực thăng vũ trang hoạt động trong các vùng nước có cấp độ rủi ro cao vì mục đích thi hành luật pháp biển và chống khủng bố. Tuần duyên đã thông báo rằng họ đang phát triển một chương trình phi cơ không người lái để sử dụng cho các hoạt động an ninh nội địa, tìm kiếm và cứu nạn. Tuần duyên có các loại phi cơ sau: Lockheed HC-130 Hercules CASA HC-144A Ocean Sentry Dassault HU-25A Guardian Sikorsky HH-60J Jayhawk Aérospatiale HH-65 Dolphin === Tàu nhỏ === Tuần duyên Hoa Kỳ có khoảng 1.400 tàu nhỏ (boat)có độ dài ngắn hơn 65 ft (20 mét), thường được dùng gần bờ và trên các thủy lộ nội địa. === Vũ khí nhẹ === Tuần duyên Hoa Kỳ sử dụng nhiều loại vũ khi nhẹ. Súng lục, súng trường được trang bị cho các thủy thủ. Súng máy được trang bị trên các tàu lớn nhỏ và trực thăng. Các loại vũ khí nhẹ gồm có: Súng lục SIG-Sauer P229R DAK Súng Remington M870P Súng trường M16A2 Súng M4 Carbine Súng trường M14 Tactical Súng máy M240 Súng máy M2 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tuần Duyên Hoa Kỳ U.S. Tuần Duyên Hoa Kỳ (Video) Tuần Duyên Hoa Kỳ, cảng nhà Tạp chí Tuần Duyên Hoa Kỳ Tuần Duyên Hoa Kỳ, tin tức
người bồ đào nha.txt
Người Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: os Portugueses) là một nhóm dân tộc bản địa ở Bồ Đào Nha, nằm ở tây Bán đảo Iberia thuộc tây nam châu Âu. Ngôn ngữ chính là tiếng Bồ Đào Nha, tôn giáo chủ yếu là Công giáo Rôma. Do ảnh hưởng phạm vi lịch sử của Đế quốc Bồ Đào Nha và sự xâm chiếm thuộc địa ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ cũng như làn sóng di cư mà cộng đồng người Bồ Đào Nha có mặt ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới. == Ghi chú == == Liên kết == Detailed map of the Pre-Roman Peoples of Iberia (around 200 BC) Wikimedia Atlas của Portugal, có một số bản đồ liên quan đến Portugal. Portugal (Emigration) from CIA Country Studies Series
720p.txt
720p (gọi tắt là HD) là một dạng tín hiệu HDTV phát triển với 720 chiều ngang và tỉ lệ khung hình (AR) là 16:9 (1.78:1). Tất cả các chuẩn HDTV (như SMPTE 292M) bao gồm định dạng 720p có độ phân giải 1.280x720; tuy nhiên, vẫn có các định dạng khác, bao gồm HDV Playback và AVCHD cho máy quay, nó sử dụng hình ảnh 720p với độ phân giải tiêu chuẩn HDTV. Con số 720 đại diện cho 720 đường quét ngang của độ phân giải màn hình hiển thị hình ảnh (còn được gọi là 720 pixel độ phân giải theo chiều dọc), trong khi chữ p đại diện cho quét liên tục. Khi phát tại 60 khung trên giây, 720p có độ phân giải đạt được trong thời gian cao nhất (chuyển động) dưới chuẩn ATSC và DVB. Thuật ngữ này giả định một độ phân giải màn hình 16:9, do đó tương ứng với độ phân giải 1.280 px × 720 px (0.9 megapixels). 720i (720 dòng đan xen) là một thuật ngữ sai và tìm thấy trong nhiều nguồn tài liệu và ấn phẩm. Thông thường, nó là một lỗi đánh máy trong khi tác giả đề cập đến định dạng 720p HDTV. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp nó không chính xác để trình bày như một định dạng thay thế cho 720p. Trong thực tế, không có đề xuất hoặc có chuẩn phát nào cho phép 720 dòng đan xen trong một khung video tại bất kỳ tỉ lệ khung hình. == Ghi chú == == Tham khảo == == Liên kết == EBU Technical paper on HDTV formats
cơ quan tình báo trung ương (hoa kỳ).txt
Cơ quan Tình báo Trung ương (tiếng Anh: Central Intelligence Agency; viết tắt: CIA) là một trong những Cơ quan Thu thập Tình báo quan trọng của Chính quyền Liên bang Hoa Kỳ. CIA có tổng hành dinh nằm ở Langley, Virginia, một vài dặm về phía Tây Thủ đô Washington, D.C. Nhân viên của cơ quan hoạt động từ các Đại sứ quán của Hoa Kỳ và nhiều địa điểm ở khắp thế giới. CIA là cơ quan Độc lập duy nhất của Hoa Kỳ và chỉ báo cáo thông tin đến Giám đốc Tình Báo Quốc gia. CIA có ba hoạt động truyền thống chính thức, là thu thập thông tin về chính phủ của các nước ngoài, công ty và cá thể; Phân tích dữ liệu đó cùng với các Cơ quan thu thập tình báo khác của Hoa Kỳ với mục đích để cung cấp các đánh giá về Tình báo An ninh Quốc gia đến các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ; và, khi nhận được lệnh từ Tổng thống Hoa Kỳ, sẽ thực hiện và giám sát các hoạt động mật và các hoạt động chiến thuật bởi nhân viên của chính Cơ quan, bởi binh sĩ của Quân đội Hoa Kỳ hoặc là các đối tác của Cơ quan. Nó có thể, ví dụ, làm tăng sức ảnh hưởng của chính trị tại các nước qua các bộ phận chiến thuật, như là Bộ phận Hoạt động Đặc biệt. Năm 2013, tờ Washington Post thông báo rằng CIA phần chia đều trong Chương trình Tình báo Quốc gia (National Intelligence Program - NIP), một tổ chức phi quân sự và là một phần của Quỹ Cộng đồng Tình báo Hoa Kỳ đã tăng 28% trong năm 2013, vượt quá phần chia bởi NIP đến các Cơ quan Quân sự như Cơ quan Trinh sát Quốc gia (National Reconnaissance Office - NRO) và Cơ quan An ninh Quốc gia (National Security Agency - NSA). CIA đã tăng cường trong việc đóng vai trò chủ động, bao gồm các chiến dịch bán quân sự mật. Một trong số các bộ phận lớn nhất của Cơ quan, Trung tâm Thông tin Chiến dịch (Information Operations Center - IOC) đã chuyển mục tiêu từ chống khủng bố sang các Hoạt động Điện tử Chủ động. == Mục đích == Cơ quan Tình báo Trung ương, với tiền nhiệm là Cơ quan Công tác Chiến thuật (Office of Strategic Services - OSS), thành lập trong Đệ nhị Thế Chiến để phối hợp các Hoạt động Nội gián Mật chống lại phe Trục cho Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ. Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947 thiết lập ra CIA, với tư cách "Không phải là Cơ quan Cảnh sát hoặc Nhà nước, kể cả ở trong nước đến ngoài nước." Đã có các dư luận nhiều đáng kể về CIA liên quan đến an ninh và các thất bại chống lại các hoạt động nội gián, thất bại trong việc phân tích thông tin tình báo, các mối lo về quyền con người, các cuộc điều tra và công bố tài liệu, làm ảnh hưởng đến ý kiến của công chúng và các Cơ quan hành luật, buôn lậu ma túy và nói dối với Quốc hội Hoa Kỳ. Những ý kiến khác, như từ kẻ ly khai Cộng sản, Ion Mihai Pacepa, đã bảo vệ CIA khi nói "CIA cho đến nay là Tổ chức Tình báo tốt nhất thế giới," và tranh luận rằng các hoạt động của CIA nằm trong số các hoạt động được giám sát cẩn thận ở mức độ chưa từng thấy ở các Cơ quan Tình báo của thế giới. Dựa vào ngân sách của Cơ quan trong Năm tài chính 2013, CIA có năm ưu tiên: Chống khủng bố, ưu tiên hàng đầu, được xác định qua Cuộc chiến Với Khủng bố đang diễn ra. Ngăn sự phổ biến của vũ khí hủy diệt hàng loạt với mục tiêu khó nhất là Triều Tiên. Cảnh báo thủ lĩnh của Hoa Kỳ về các sự kiện quan trọng quốc tế, với Pakistan được mô tả là "Mục tiêu bất kham." Phản gián, với Trung Quốc, Nga, Iran, Cuba và Israel được mô tả là các mục tiêu ưu tiên. Tình báo mạng. == Lịch sử == CIA được thành lập năm 1947 theo Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947 do Quốc hội thông qua và Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman ký ban hành, có tiền thân là Cơ quan Tình báo chiến lược (OSS) thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổ chức OSS đã giải tán vào tháng 11 năm 1945 và các hoạt động được chuyển giao cho Bộ Ngoại giao và Bộ Chiến tranh. Do sự cần thiết của một hệ thống tình báo tập trung sau chiến tranh nên 11 tháng trước đó, vào năm 1944, William J. Donovan, người khai sinh OSS, đã đệ tình lên Tổng thống Franklin D. Roosevelt một bản kế hoạch thành lập một tổ chức tình báo chịu sự giám sát trực tiếp của Tổng thống. Mặc dù gặp phải sự phản đối từ phía Bộ ngoại giao và Cục Điều tra Liên bang nhưng Tổng thống Truman vẫn quyết định thành lập Khối Tình báo trung ương vào tháng 1 năm 1946. Sau đó theo Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947 (có hiệu lực từ ngày 18 tháng 9 năm 1947), Hội đồng An ninh quốc gia và Cơ quan Tình báo Trung ương chính thức ra đời. Thiếu tướng hải quân Roscoe H. Hillenkoetter là người đầu tiên được bổ nhiệm vào chức Giám đốc Tình báo Trung ương. Năm 1949, điều lệ 81-110 được thông qua, cho phép cơ quan này được quyền sử dụng các thủ tục về mật vụ, tài chính và hành chính và được miễn khỏi hầu hết những hạn chế trong việc sử dụng ngân quỹ liên bang. Sắc lệnh này cũng cho phép CIA không cần công bố các thông tin về tổ chức, nhiệm vụ, văn tự, tiền lương, số lượng nhân viên. sắc lệnh này cũng bao gồm cả chương trình "PL-110" để lợi dụng những kẻ đào ngũ và một số cá nhân nước ngoài, đồng thời cung cấp tài chính họ. Năm 1949, cơ quan tình báo của Tây Đức Bundesnachrichtendienst dưới quyền lãnh đạo của Reinhard Gehlen, đã nằm trong sự điều khiển của CIA. Năm 1950, CIA thành lập Tập đoàn Pacific, một trong những tổ chức kinh doanh đầu tiên của CIA. Cũng trong thời gian đó, Giám đốc Hillenkoetter lần đầu tiên phê chuẩn chương trình điều khiển nhận thức (mind control) mang tên Dự án BLUEBIRD. Năm 1951, hệ thống truyền thanh Columbia (CBS) bắt tay hợp tác cùng CIA. Sau đó, Tổng thống Truman quyết định đổi tên Dự án BLUEBIRD thành Dự án ARTICHOKE. Trong những năm đầu mới đi vào hoạt động, CIA không chịu nhiều sự điều khiển từ các cơ quan khác của chính phủ. Tuy nhiên mọi chuyện đã thay đổi vào khoảng những năm 70, thời điểm xảy ra vụ Watergate. == Tổ chức == === Biểu tượng === Biểu tượng của CIA bao gồm 3 phần mang ý nghĩa tượng trưng: đầu chim đại bàng quay sang trái, ngôi sao 16 cánh và một cái khiên. Đại bàng là linh vật quốc gia, tượng trưng cho sức mạnh và sự tỉnh táo. Ngôi sao 16 cánh mang hàm ý CIA là tổ chức tìm kiếm thông tin tình báo từ khắp mọi nơi trên thế giới ngoài biên giới Hoa Kỳ và những thông tin đó được quy tụ về trụ sở đầu não để phân tích, kiểm tra và phân bố đến các nhà làm luật. Ngôi sao được đặt trên cái khiên, tượng trưng cho sự phòng thủ vững chắc. === Kết cấu tổ chức === Tổ chức của CIA thay đổi theo từng thời kỳ. Dưới đây là một số sơ đồ tổ chức ví dụ. ==== Thành phần lãnh đạo (tính đến hết năm 2009) ==== Giám đốc (Director of the Central Intelligence Agency - D/CIA): Leon E. Panetta Phó giám đốc (Deputy Director of the Central Intelligence Agency - DD/CIA): Stephen R. Kappes Phó giám đốc Phụ tá (Associate Deputy Director of the Central Intelligence Agency - ADD/CIA): Stephanie O'Sullivan Giám đốc Ban Hỗ trợ (Director for Support - D/S): khuyết Giám đốc Sở Mật vụ Quốc gia (Director of the National Clandestine Service - D/NCS): Michael Sulick. Giám đốc Ban Tình báo (Director of Intelligence - D/I): Michael J. Morell Giám đốc Ban Khoa học & Công nghệ (Director of Science & Technology - D/S&T): khuyết Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tình báo (Director of the Center for the Study of Intelligence - D/CSI): Carmen A. Medina Giám đốc Phòng Đối ngoại (Director of Public Affairs - D/PA): khuyết Tổng cố vấn (General Counsel - GC): khuyết === Mối quan hệ với các cơ quan khác === == Nhiệm vụ, quyền hạn == == 300000ty do == == 13234854 ty doNgân sách == Hiện tại ngân sách của CIA vẫn được giữ kín. Tuy nhiên số tiền mà tổ chức này tiêu tốn hàng năm có thể lên tới nhiều tỷ đô la, một phần do quốc hội cung cấp, còn một phần là hoạt động kinh doanh và bán những thông tin tình báo của mình cho các cơ quan khác của nước Mỹ. Vào năm 1997, lần đầu tiên chính phủ Mỹ công khai các số liệu tổng hợp với mọi hoạt động liên quan đến tình báo (trong đó CIA chỉ là một phần) với ngân sách khoảng 22,6 tỉ USD trong năm tài chính 1997. Ngân sách tình báo của những năm khác vẫn được giữ bí mật. == Các đời Giám đốc CIA: == Sidney Souers: 1946 Hoyt Vandenberg: 1946 - 1947 Roscoe H. Hillenkoetter: 1947 - 1950 W. Bedell Smith: 1950 - 1953 Allen W. Dulles: 1953 - 1961 John A. McCone: 1961 - 1965 William Raborn: 1965 - 1966 Richard Helms: 1966 - 1973 James R. Schlesinger: 1973 William Colby: 1973 - 1976 George H. W. Bush: 1976 - 1977 Stansfield Turner: 1977 - 1981 William J. Casey: 1981 - 1987 William H. Webster: 1987 - 1991 Robert Gates: 1991 - 1993 R. James Woolsey Jr.: 1993 - 1995 John M. Deutch: 1995 - 1996 George Tenet: 1996 - 2004 Porter J. Goss: 2005 - 2006 Michael Hayden: 2006 - 2009 Leon Panetta: 2009 - 2011 Michael Morell: 2011 (Quyền giám đốc) David Petraeus: 2011 - 2012 Michael Morell: 2012 - 2013 (Quyền giám đốc) John O. Brennan: 2013 - 2017 Meroe Park 2017 (Quyền giám đốc) Mike Pompeo: 2017 - nay == CIA và Việt Nam == Trong thời chiến tranh và cả hậu chiến, CIA đã hoạt động mạnh ở Việt Nam. Trong chiến tranh Đông Dương, Mỹ coi Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chính trị của họ nên bắt đầu các hoạt động can thiệp. Đúng 20 ngày sau khi Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đô đốc Mỹ Sabin đến Hà Nội, họp với phái đoàn quân sự Mỹ tại đây. Năm 1955, phái đoàn quân sự này của Mỹ do Edward Lansdale chỉ huy, nhân viên cao cấp của CIA và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền chiến tranh tâm lý để kêu gọi dân chúng miền Bắc di cư vào Nam. Trong chiến tranh Việt Nam, chiến dịch Phượng hoàng với sự hậu thuẫn của CIA, đã được triển khai nhằm tróc rễ các cơ sở bí mật nằm vùng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Hiện nay CIA đang tuyển các nhân viên người Việt, bao gồm cả những người mới sang Mỹ. Một số người Việt khi được hỏi về vấn đề hoạt động gián điệp ở Việt Nam thì họ cho biết rất sẵn sàng. == Tham khảo == == Xem thêm == Cơ quan tình báo của nước Mỹ Các vi phạm nhân quyền của CIA Các chỉ trích về tình trạng buôn bán ma túy của CIA == Liên kết ngoài == Tiếng Anh: CIA official site CIA official Freedom of Information Act (foia) site George Washington University National Security Archive: Documents on CIA involvement with Pinochet On CIA involvement in Guatemala On CIA involvement with Nazi War Criminals (especially the Gehlen organization) U.S. National Archive's Nazi War Crimes and Japanese Imperial Government Records Interagency Working Group. Summary of newly acquired CIA name files (including Klaus Barbie) CIA manual on coercive questioning CIA World Factbook Tiếng Việt: "CIA được tái tạo thế nào?" phần 1, 2, 3 và 4 Chuyện CIA tìm cách tuyển người Việt - Vũ Quý Hạo Nhiên
bất bình đẳng kinh tế.txt
Bất bình đẳng kinh tế (còn được gọi là khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng thu nhập) là chênh lệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia trong việc phân phối các tài sản, sự giàu có, hay thu nhập. Các vấn đề bất bình đẳng kinh tế liên quan đến công bằng, bình đẳng về kết quả, bình đẳng về cơ hội, và tuổi thọ. Nhiều quan điểm khác nhau về tác động của nó. Một nghiên cứu năm 2010 xem nó là có lợi, trong khi các nghiên cứu khác gần đây coi đó là một vấn đề xã hội đang phát triển. Mặc dù một số bất bình đẳng thúc đẩy đầu tư nhưng quá nhiều bất bình đẳng sẽ là phá hoại. Bất bình đẳng thu nhập có thể gây trở ngại cho tăng trưởng dài hạn. Các nghiên cứu thống kê so sánh bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế hàng năm không đi đến kết luận nào. Bất bình đẳng kinh tế khác nhau giữa các xã hội, giữa giai đoạn lịch sử, cơ cấu kinh tế và các hệ thống (ví dụ, chủ nghĩa tư bản hay chủ nghĩa xã hội), và giữa các khả năng của từng cá nhân để tạo ra sự giàu có. Có các chỉ số khác nhau để đo lường bất bình đẳng kinh tế. Một trong những chỉ số nổi bật là hệ số Gini, nhưng cũng có nhiều phương pháp khác. == Xem thêm == Danh sách các quốc gia theo chỉ số bình đẳng thu nhập Nghèo Khoảng cách số == Chú thích == == Liên kết ngoài == Levy, Frank (2008). “Distribution of Income”. Trong David R. Henderson (ed.). Concise Encyclopedia of Economics (ấn bản 2). Indianapolis: Library of Economics and Liberty. ISBN 978-0865976658. OCLC 237794267. A portal dedicated to the topic of economic inequality Small Inequality Measures Calculus (and On-Line Calculator) The UC Atlas of Global Inequality explores some aspects of inequality using online, downloadable maps and graphics. Population Health Forum website – group seeking to improve health by addressing inequality. Russell Sage Foundation. “Social Inequality”. Working Papers. Bản gốc (Web page) lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2006. Leigh, A. and Jencks, C. (2005). “Inequality and Health: Long-Run Evidence from a Panel of Countries” (PDF). Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2005. Clarkwest, A and Jencks, C. (2003). “Inequality and Mortality in Rich Countries: Who Owns the Null Hypothesis?” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2005. The Inequality Predicament United Nations Report on the World Social Situation 2005 Two Americas: One Rich, One Poor? Understanding Income Inequality in the United States Has U.S. Income Inequality Really Increased? Accessed 2007-06-11. Measuring Trends in Leisure: The Allocation of Time Over Five Decades studies the trade-offs between earning income and enjoying leisure Data from the Inequality Survey Decreasing Inequality Under Latin America's "Social Democratic" and "Populist" Governments: Is the Difference Real? from the Center for Economic and Policy Research Wealth and Poverty: Center for Global Studies at the University of Illinois
1886.txt
1886 (số La Mã: MDCCCLXXXVI) là một năm thường bắt đầu vào Thứ Sáu trong lịch Gregory hay một năm thường bắt đầu vào ngày Thứ Tư theo lịch Julius, chậm hơn 12 ngày. == Sự kiện == == Sinh == Michael Curtiz Đổng Tất Vũ Vladislav Felitsianovich Khodasevich Kim Tu-bong Ludwig Mies van der Rohe == Mất == Emily Dickinson David Hunter Franz Liszt Nguyễn Văn Tường Bào Siêu == Xem thêm == == Tham khảo ==
văn hóa hà nội.txt
Hà Nội là một trong những trung tâm văn hóa lớn nhất ở Việt Nam. Trên địa bàn thành phố tập trung rất nhiều thư viện, bảo tàng, nhà hát cũng như các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở Hà Nội cũng diễn ra rất sôi nổi và đa dạng. == Cung văn hóa == Cung văn hóa là nơi vừa tổ chức các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, vừa tổ chức các sinh hoạt văn hóa cho cộng đồng như các lớp học nghệ thuật, các cuộc thi về văn hóa. Cung văn hóa lớn nhất của Hà Nội là Cung văn hóa hữu nghị Hà Nội (hay còn gọi là Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô ). Ngoài ra Hà Nội còn một số cung văn hóa khác: Cung văn hóa thiếu nhi (bao gồm cả rạp Khăn quàng đỏ) Cung văn hóa thanh niên nằm trên phố Tăng Bạt Hổ == Nhà hát == Nhà hát lớn nhất Hà Nội là Nhà hát lớn Hà Nội (thời xưa gọi là Nhà hát Tây), nơi tổ chức các buổi hòa nhạc hoặc các buổi biểu diễn lớn. Ngoài ra thành phố cũng còn rất nhiều địa điểm biểu diễn nghệ thuật ở Hà Nội: Nhà hát chèo Trung ương Nhà hát múa rối Trung ương Nhà hát Trẻ Nhà hát tuồng Hà Nội Rạp Công nhân Rạp Hồng Hà == Rạp chiếu phim == Trung tâm chiếu phim Quốc gia Rạp Dân chủ Rạp Tháng Tám Rạp Tuổi trẻ Rạp Ngọc Khánh Rạp Megastar Vincom == Thư viện == Thư viện lớn nhất Hà Nội và cũng là lớn nhất cả nước là Thư viện Quốc gia Việt Nam nằm trên đường Tràng Thi. Ngoài ra, Hà Nội còn nhiều thư viện khác: Thư viện Hà Nội Thư viện Khoa học Kỹ thuật Thư viện Khoa học Xã hội == Viện bảo tàng == Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Bảo tàng Chiến thắng B52 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Bảo tàng Hồ Chí Minh Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (trước là Viện Bảo tàng Quân đội) Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam == Ứng xử == Nhìn chung người Hà Nội thường có tính tự hào về xuất xứ của mình là người Hà Nội. Cùng với Huế, Hà Nội là một trong hai địa phương mà người dân có tính tự tôn địa danh rất cao. Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An. Tuy là thủ đô, trung tâm văn hóa của Việt Nam, nhưng một số sự kiện văn hóa tổ chức ở Hà Nội đã xảy ra nhiều sự việc đáng chú ý, điển hình là vụ tàn phá hoa của người Hà Nội tại Lễ hội hoa anh đào diễn ra giữa thủ đô năm 2008, hay những hành động thiếu ý thức, kém văn minh và đáng xấu hổ tại Lễ hội phố hoa Hà Nội vào Tết Dương lịch 2009 tổ chức tại hồ Hoàn Kiếm. Nhà văn Băng Sơn phát biểu: "Tôi cảm thấy buồn và xấu hổ. Người Hà Nội làm xấu Hà Nội đi. Bao nhiêu năm hội hoa ở Đà Lạt, ở TP HCM mà không phải làm hàng rào vẫn giữ được cho đến ngày cuối cùng". Những vụ việc trên đã dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ từ dư luận cả nước trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặt câu hỏi lớn về "văn hóa người Tràng An" trong thời đại ngày nay. Có nhiều ý kiến nhận xét lối cư xử nhã nhặn, thanh lịch của người Hà Nội đang mất dần, thay vào đó là cách cư xử xô bồ, tục tĩu, huỵch toẹt, thiếu văn hóa nhất là ở giới trẻ Hà Nội. Thậm chí còn có nhận xét "Người Hà Nội chửi bậy như hát hay, khó sửa!". Hà Nội còn nổi tiếng với "bún mắng, cháo chửi" ngày càng trở nên phổ biến đã bị nhiều báo phản ánh và phê phán tuy nhiên các quán ăn có phong cách phục vụ vô văn hóa, thô lỗ, xem thường, xúc phạm khách hàng này vẫn thu hút được nhiều người đến ăn. Năm 2015, nhân dịp Công viên nước Hồ Tây mở cửa miễn phí, hàng nghìn người đua nhau trèo rào để có cơ hội tắm miễn phí gây nên hình ảnh thiếu văn minh. Hơn nữa, nhiều phụ nữ ở bể bơi bị sờ soạng bởi nhiều thanh niên. == Hà Nội trong văn học, nghệ thuật == Có nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật được sáng tác với chủ đề về chính Hà Nội và con người Hà Nội. === Âm nhạc === Bài ca Hà Nội - Nhạc và lời: Vũ Thanh Em ơi, Hà Nội phố - Nhạc: Phú Quang, Lời: thơ Phan Vũ Gửi người em gái - Nhạc và lời: Đoàn Chuẩn Hà Nội đêm trở gió - Nhạc: Trọng Đài, Lời: Chu Lai - Trọng Đài Hà Nội mùa thu - Nhạc và lời: Vũ Thanh Hà Nội mùa vắng những con mưa - Nhạc: Trương Quý Hải, Lời: dựa thơ Bùi Thanh Tuấn Hà Nội ngày trở về - Nhạc: Phú Quang, Lời: Doãn Thanh Tùng Hà Nội niềm tin và hy vọng - Nhạc và lời: Phan Nhân Hà Nội và tôi - Nhạc và lời: Lê Vinh Hà Nội và tôi - Nhạc và lời: Trần Thiện Thanh Khúc hát người Hà Nội - Nhạc và lời: Trần Hoàn Người Hà Nội - Nhạc và lời: Nguyễn Đình Thi Nhớ mùa thu Hà Nội - Nhạc và lời: Trịnh Công Sơn Nhớ về Hà Nội - Nhạc và lời: Hoàng Hiệp Hà Nội ngày tháng cũ - Nhạc và lời: Song Ngọc Hướng về Hà Nội - Nhạc và lời: Hoàng Dương Nỗi lòng người đi - Nhạc và lời: Anh Bằng Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội - Nhạc và lời: Phạm Đình Chương Phố nghèo - Nhạc và lời: Trần Tiến Một thoáng Hồ Tây của Phó Đức Phương Hà Nội, tình yêu của tôi của Văn Dung Khúc hát người Hà Nội Trần Hoàn Hà Nội và tôi Lê Vinh === Văn học === Hà Nội phố - thơ của Phan Vũ Phố - tiểu thuyết của Chu Lai Sống mãi với thủ đô - tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng Hà Nội ba mươi sáu phố phường - Tạp bút của Thạch Lam Thương nhớ 12 - tạp ghi của Vũ Bằng Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh (một vài chương) === Điện ảnh === Em bé Hà Nội - Đạo diễn: Hải Ninh Hà Nội mùa đông năm 46 - Đạo diễn: Đặng Nhật Minh Mùa hè chiều thẳng đứng - Đạo diễn Trần Anh Hùng == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hà Nội lịch sử và văn hóa truyền thống Giao lưu trực tuyến với Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc Hà Nội - 1000 năm "Thành phố nằm giữa các con sông"
thuộc địa plymouth.txt
Thuộc địa Plymouth (đôi khi là New Plymouth) là một địa điểm thuộc địa ở Bắc Mỹ từ năm 1620 đến năm 1691. Khu định cư đầu tiên đã nằm ở New Plymouth, một địa điểm trước đó đã được khảo sát và đặt tên bởi thuyền trưởng John Smith. Khu định cư này đã là thủ phủ của thuộc địa, ngày nay là thị xã Plymouth, Massachusetts. Vào thời kỳ đỉnh điểm, thuộc địa Plymouth chiếm phần lớn vùng đông nam của tiểu bang Massachusetts ngày nay. Được thành lập bởi một nhóm gồm các nhà theo chủ nghĩa ly khai sau này đã được biết đến với tên Pilgrim Fathers, thuộc địa Plymouth, đã, cùng với Jamestown, Virginia, là một trong những thuộc địa sớm nhất được người Anh thiết lập ở Bắc Mỹ cũng như là một khu vực định cư của người Anh có kích thước đáng kể ở vùng New England. Được trợ giúp bởi Squanto, một người thổ dân Mỹ, thuộc địa này đã có thể thiết lập một hiệp ước với tù trưởng Massasoit nhờ đó đã đảm bảo được thành công của thuộc địa. Thuộc địa này đóng một vai trò trung tâm trong cuộc chiến tranh vua Philip, một trong những cuộc chiến sớm nhất và ác liệt nhất của các chiến tranh India. Sau cùng, thuộc địa này đã bị thôn tín bởi Massachusetts Bay Colony năm 1691. Dù có lịch sử ngắn, Plymouth giữ một vai trò đặc biệt trong lịch sử Hoa Kỳ. == Tham khảo ==
bộ măng tây.txt
Bộ Măng tây hay bộ Thiên môn đông (danh pháp khoa học: Asparagales) là một bộ trong lớp thực vật một lá mầm bao gồm một số họ cây không thân gỗ. Trong các hệ thống phân loại cũ, các họ mà hiện nay đưa vào trong bộ Asparagales đã từng được đưa vào trong bộ Loa kèn (Liliales), và một số chi trong đó thậm chí còn được đưa vào trong họ Loa kèn (Liliaceae). Một số hệ thống phân loại còn tách một số họ được liệt kê dưới đây thành các bộ khác, bao gồm cả các bộ Orchidales (lan) và bộ Iridales (diên vĩ), trong khi các hệ thống khác, đặc biệt là hệ thống phân loại của APG lại đưa hai bộ Orchidales và Iridales vào trong bộ Asparagales. Bộ này được đặt tên theo chi Asparagus (măng tây, thiên môn đông). == Phân loại == === APG III === Hệ thống APG III năm 2009 công nhận các họ sau: Amaryllidaceae Asparagaceae Asteliaceae Blandfordiaceae Boryaceae Doryanthaceae Hypoxidaceae Iridaceae Ixioliriaceae Lanariaceae Orchidaceae Tecophilaeaceae Xanthorrhoeaceae Xeronemataceae nghĩa là hai họ Alliaceae và Agapanthaceae nhập vào trong họ Amaryllidaceae và không còn có các họ tùy chọn tách ra từ hai họ Asparagaceae và Xanthorrhoeaceae nữa. === APG II === Hệ thống phân loại của Angiosperm Phylogeny Group được các nhà thực vật học sử dụng rộng rãi và đã được cập nhật thành APG II năm 2003 để thêm vào các nghiên cứu gần đây, đặc biệt là các nghiên cứu phân tích ADN. Sơ đồ năm 1998 xác định 29 họ trong bộ Asparagales. APG II hợp nhất một số họ và thừa nhận một hệ thống khác với ít số lượng họ nhưng họ lại lớn hơn, trong đó một số họ nhỏ có thể kết hợp lại thành các họ lớn hơn, dựa trên sự tương thích di truyền gần gũi hơn và vẫn tuân thủ 'hệ thống APG', cho rằng họ này chứa 16-24 họ với 1.122 chi và khoảng 26.070 loài. Ví dụ, theo hệ thống phân loại mới hơn này thì người ta có thể đưa chính xác cây hoa hiên hay cây kim châm (chi Hemerocallis) vào họ Hemerocallidaceae, hoặc vào họ Xanthorrhoeaceae. Phân loại của APG II về bộ Asparagales như sau: Alliaceae, có thể tách riêng hai họ: Agapanthaceae Amaryllidaceae Asparagaceae, có thể tách riêng thành bảy họ khác nữa: Agavaceae Aphyllanthaceae Hesperocallidaceae Hyacinthaceae Laxmanniaceae Ruscaceae Themidaceae Asteliaceae Blandfordiaceae Boryaceae Doryanthaceae Hypoxidaceae Iridaceae Ixioliriaceae Lanariaceae Orchidaceae Tecophilaeaceae Xanthorrhoeaceae Asphodelaceae Hemerocallidaceae Xeronemataceae === APG 1998 === Hệ thống APG năm 1998 cũng đặt bộ này trong nhánh thực vật một lá mầm nhưng sử dụng định nghĩa sau: Bộ Asparagales Họ Agapanthaceae Họ Agavaceae Họ Alliaceae Họ Amaryllidaceae Họ Anemarrhenaceae Họ Anthericaceae Họ Aphyllanthaceae Họ Asparagaceae Họ Asphodelaceae Họ Asteliaceae Họ Behniaceae Họ Blandfordiaceae Họ Boryaceae Họ Convallariaceae Họ Doryanthaceae Họ Hemerocallidaceae Họ Herreriaceae Họ Hyacinthaceae Họ Hypoxidaceae Họ Iridaceae Họ Ixioliriaceae Họ Lanariaceae Họ Laxmanniaceae Họ Orchidaceae Họ Tecophilaeaceae Họ Themidaceae Họ Xanthorrhoeaceae Họ Xeronemataceae === Các hệ thống ba bộ === Các hệ thống phân loại tách ba bộ Măng tây (Asparagales), bộ Phong lan (Orchidales) và bộ Diên vĩ (Iridales) nói chung được sắp xếp như sau: Bộ Asparagales, theo nghĩa hẹp (sensu stricto) Họ Agavaceae (họ thùa) Thùa Ngọc giá Họ Alliaceae (họ hành) Hành tăm Tỏi Hành Họ Amaryllidaceae (họ loa kèn đỏ) Họ Asparagaceae (họ măng tây) Họ Asphodelaceae (họ lan nhật quang) Lô hội Lan nhật quang Họ Hyacinthaceae (họ lan dạ hương) Hoa chuông lam Lan dạ hương Cetera Bộ Orchidales Họ Burmanniaceae Họ Corsiaceae Họ Geosiridaceae Họ Orchidaceae (lan) Bộ Iridales Họ Iridaceae (họ diên vĩ, lay ơn) == Asparagales theo Kubitzki (1998) == Agapanthaceae Agavaceae Alliaceae Amaryllidaceae Anemarrhenaceae Anthericaceae Aphyllanthaceae Asparagaceae Asphodelaceae Asteliaceae Behniaceae Blandfordiaceae Boryaceae Convallariaceae Doryanthaceae Dracaenaceae Eriospermaceae Hemerocallidaceae Herreriaceae Hostaceae Hyacinthaceae Hypoxidaceae Iridaceae Ixioliriaceae Johnsoniaceae Lanariaceae Lomandraceae Nolinaceae Orchidaceae Ruscaceae Tecophilaeaceae Themidaceae Xanthorrhoeaceae === Trong các hệ thống khác === ==== Dahgren ==== Hệ thống Dahlgren đặt bộ này trong siêu bộ Lilianae thuộc phân lớp Liliidae [= thực vật một lá mầm] của lớp Magnoliopsida [= thực vật hạt kín] và sử dụng định nghĩa sau: Bộ Asparagales Họ Agavaceae Họ Alliaceae Họ Amaryllidaceae Họ Anthericaceae Họ Aphyllanthaceae Họ Asparagaceae Họ Asphodelaceae Họ Asteliaceae Họ Blandfordiaceae Họ Calectasiaceae Họ Convallariaceae Họ Cyanastraceae Họ Dasypogonaceae Họ Doryanthaceae Họ Dracaenaceae Họ Eriospermaceae Họ Hemerocallidaceae Họ Herreriaceae Họ Hostaceae Họ Hyacinthaceae Họ Hypoxidaceae Họ Ixioliriaceae Họ Lanariaceae Họ Luzuriagaceae Họ Nolinaceae Họ Philesiaceae Họ Phormiaceae Họ Ruscaceae Họ Tecophilaeaceae Họ Xanthorrhoeaceae ==== Cronquist ==== Hệ thống Cronquist không công nhận bộ này, đặt nhiều chi trong bộ Liliales (phân lớp Liliidae của lớp Liliopsida [= thực vật một lá mầm]). Một số chi được đặt trong họ Liliaceae. ==== Wettstein ==== Hệ thống Wettstein, phiên bản cuối cùng năm 1935, cũng không công nhận bộ này và đặt nhiều chi trong bộ Liliiflorae thuộc lớp Monocotyledones. == Phát sinh chủng loài == Cây phát sinh chủng loài của bộ Măng tây so với các bộ thực vật một lá mầm khác lấy theo APG III. Cây phát sinh chủng loài trong nội bộ bộ Măng tây lấy theo APG III. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Asparagales trong Website của Angiosperm Phylogeny
sim (điện thoại).txt
SIM - viết tắt của Subscriber Identity Module, là thẻ nhớ thông minh sử dụng trên điện thoại di động, lưu trữ những thông tin như số điện thoại, mã số mạng di động, số PIN, sổ điện thoại cá nhân và các thông tin cần thiết khác khi sử dụng điện thoại. Thế hệ SIM đầu tiên - Full-size SIM (1FF)- được sản xuất và đưa vào sử dụng vào năm 1991. Cụ thể hơn, SIM là thẻ dùng để nhận dạng thuê bao di động, được sử dụng trong mạng điện thoại di động hệ GSM. Ở Việt Nam hiện tại có 5 mạng sử dụng công nghệ này Mobifone, Vinaphone, Viettel, Vietnamobile và Gtel. Mạng di động dùng công nghệ WCDMA (Wideband CDMA) cũng dùng thẻ SIM ở Việt Nam hiện nay đó là S-Fone, mạng này đều có 2 hình thức sử dụng là trực tiếp máy, và thẻ sim. Một thuê bao di động bao gồm thiết bị di động đầu cuối và một thẻ SIM. Nhờ có SIM mà người dùng có thể thay đổi ĐTDĐ dễ dàng, không cần đến sự hỗ trợ của nhà cung cấp dịch vụ di động. Thẻ SIM có bốn loại kích thước: loại lớn (1FF), loại nhỏ (2FF), loại micro (3FF), loại nano (4-FF). ID-1 SIM có kích thước bằng chiếc thẻ tín dụng, xuất hiện ở thời kỳ đầu khi mạng di động mới ra đời, dùng với các máy di động đời cũ. Còn Plug-in SIM là loại mà ngày nay ta thường dùng. Ngoài chức năng chính là nhận dạng thuê bao di động (đặc trưng bởi số IMSI – International Mobile Subscriber Identity), SIM còn chứa các dữ liệu khác của thuê bao như các mã số PIN, PIN2, PUK, PUK2, số của trung tâm dịch vụ nhắn tin SMS, danh bạ điện thoại… Các loại SIM đời cũ lưu được 125 số điện thoại, SIM thông thường cho phép lưu đến 250 số điện thoại, Super SIM có thể lưu 750 số điện thoại. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới SIM cards tại Wikimedia Commons
chủ nghĩa dân tộc.txt
Chủ nghĩa dân tộc (tiếng Anh: Nationalism, còn được dịch thành dân tộc chủ nghĩa, tư tưởng dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa quốc dân) là một khái niệm phức tạp, có tính đa chiều, liên quan đến nhận biết cộng đồng (communal identification) với dân tộc (nation) của một người. Ý thức hệ chính trị này hướng đến việc giành được, và duy trì sự tự trị (self-governance), hoặc chủ quyền hoàn toàn (full sovereignty), trên một vùng lãnh thổ có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với một nhóm người (như là tổ quốc của họ). Chủ nghĩa dân tộc do đó cho rằng một dân tộc nên tự mình cai trị, không bị ảnh hưởng từ bên ngoài, và được kết nối với khái niệm self-determination (tự xác định, tự định hướng). Xa hơn nữa, chủ nghĩa dân tộc còn hướng đến sự phát triển và duy trì bản sắc dân tộc (national identity) dựa trên các đặc trưng chung như văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo, các mục tiêu chính trị và/hoặc niềm tin về tổ tiên chung. Vì vậy, chủ nghĩa dân tộc tìm cách bảo tồn văn hóa của dân tộc. Nó cũng thường liên quan cảm giác tự hào về những thành tựu của dân tộc, và có sự liên kết chặt chẽ với khái niệm chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa dân tộc theo các nghĩa này có thể tích cực hay tiêu cực. Chủ nghĩa dân tộc đã trở thành một trong những động lực chính trị và xã hội quan trọng nhất trong lịch sử. Nó đã giữ vai trò ảnh hưởng chính hay nguyên nhân của Chiến tranh thế giới thứ nhất, và đặc biệt là Chiến tranh thế giới thứ hai do sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít), một hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cấp tiến và độc đoán. Do đa số các quốc gia là đa sắc tộc hoặc có nhiều nhóm tự nhận vị thế quốc gia, trong nhiều trường hợp, sự theo đuổi những ý tưởng chính trị mang hình thức dân tộc chủ nghĩa đã gây ra xung đột giữa nhân dân và nhà nước, trong đó có chiến tranh (cả nội chiến và ngoại chiến), ly khai; và trong những trường hợp cực đoan là diệt chủng. Chủ nghĩa dân tộc là một hiện tượng xã hội mạnh mẽ trên thế giới, khi các quốc kỳ, quốc ca, và những sự phân biệt quốc gia là các ví dụ về chủ nghĩa dân tộc sáo rỗng (banal nationalism) mà người ta thường thể hiện một cách vô thức. Hơn nữa, một số học giả cho rằng chủ nghĩa dân tộc với hình thức tình cảm hoặc văn hóa, mà đôi khi được miêu tả bằng từ 'bản sắc dân tộc' (national identity) để tránh ảnh hưởng của nghĩa "hệ tư tưởng", là nền tảng xã hội hiện đại. Công nghiệp hóa, dân chủ hóa, và sự ủng hộ đối với sự tái phân bố kinh tế đã phần nào đóng góp cho sự đoàn kết xã hội mà chủ nghĩa dân tộc mang lại. Chủ nghĩa dân tộc lý giải quyền lực nhà nước hình thành trên cơ sở dân tộc, khác với những người theo chủ nghĩa Marx cho quyền lực nhà nước trên cơ sở phân hóa giai cấp, hay chủ nghĩa tự do quyền lực Nhà nước trên cơ sở khế ước xã hội của các cá nhân. Chủ nghĩa dân tộc góp phần quan trọng hình thành nên các quốc gia từ các phong trào giải phóng dân tộc hay ly khai, hoặc có ảnh hưởng các chính sách dân tộc của nhà nước. Chính sách dân tộc chủ nghĩa có thể biểu hiện qua chính sách kinh tế, văn hóa, ví dụ cấm (hạn chế) nhập một hàng hóa từ bên ngoài vào để bảo vệ hàng nội, hay cấm (hạn chế) các tư tưởng, văn hóa, sản phẩm nghệ thuật từ bên ngoài vào để bảo vệ văn hóa, tư tưởng dân tộc, hay các sản phẩm văn hóa quốc nội, những chính sách mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa này không đồng nghĩa có lợi cho toàn thể dân tộc, mà có khi chỉ cho một nhóm người (ví dụ những người đang sản xuất mặt hàng, sản phẩm đó,...). Chủ nghĩa dân tộc thường được xem là rộng hơn, có tính chính trị hơn và không hoàn toàn trùng nhau với chủ nghĩa yêu nước, một khái niệm có tính mơ hồ hơn. Nó khởi nguồn cho rất nhiều các cuộc chiến tranh hoặc các tư tưởng bài ngoại, đóng cửa, phân biệt chủng tộc (như Đảng Dân tộc ở Nam Phi trước đây), kỳ thị sắc tộc thiểu số hay tôn giáo thiểu số (như ở Myanmar một thời), đối xử tệ với thổ dân (như ở châu Mỹ và Úc một thời), sự xích lại của một dân tộc trong một khu vực không phân biệt lãnh thổ v.v. và được xem là đối lập với chủ nghĩa Marx khi hướng đến một xã hội không có nhà nước, chủ nghĩa đại đồng, cho dù nhiều nhóm cộng sản sau Marx trên thực tế cũng chịu ảnh hưởng chủ nghĩa dân tộc hoặc theo đuổi những mục tiêu chính trị mang tính dân tộc chủ nghĩa. Sở dĩ từ chủ nghĩa dân tộc hay được những người cánh tả gọi là để phân biệt với chủ nghĩa quốc gia, vì mục tiêu dân tộc gắn với chủ nghĩa quốc tế, không tách rời nhau (như giải phóng dân tộc gắn với giải phóng nhân loại), chứ không hiểu là chủ nghĩa quốc gia hay được họ xem là gắn với phân biệt, kỳ thị chủng tộc, đế quốc hay nhân danh chủ nghĩa quốc gia để bảo vệ lợi ích những người cai trị. Quốc gia gắn liền với cương vực lãnh thổ, địa lý, còn dân tộc là một khái niệm khác. Về cơ bản hầu hết các khuynh hướng chính trị ở các quốc gia đều chịu ảnh hưởng ít nhiều của chủ nghĩa dân tộc nhưng lý giải khác nhau. Thông thường chủ nghĩa dân tộc hay gắn bó với cánh hữu hơn vì họ coi trọng đoàn kết dân tộc, bảo vệ quyền lợi quốc gia - dân tộc hơn là tính đến các vấn đề giai cấp, và ít chịu ảnh hưởng hơn của chủ nghĩa quốc tế. Đôi khi chủ nghĩa dân tộc đi kèm với chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa nhà nước, và đối trọng với chủ nghĩa tự do coi trọng bảo vệ quyền cá nhân hơn. Do bản chất dân tộc là một khái niệm tranh cãi, cho nên chủ nghĩa dân tộc cũng hay được xem là mơ hồ, trong một sự cố gắng liên kết của những nhóm người có cùng huyết thống, màu da, hay ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo,... == Thuật ngữ == Trước năm 1800, ở châu Âu, từ nation (dân tộc) được dùng để chỉ những cư dân (inhabitant) của một quốc gia (country) hoặc chỉ những bản sắc tập thể (collective identity) có thể có chung lịch sử, luật pháp, các quyền chính trị, tôn giáo và truyền thống, với nghĩa tương đối giống với quan niệm hiện nay. Chủ nghĩa dân tộc (tiếng Anh: Nationalism, còn được dịch thành: tư tưởng dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa quốc dân) là một thuật ngữ mới hơn; trong tiếng Anh thuật ngữ này có từ năm 1844, mặc dù khái niệm thì đã có từ trước. Thuật ngữ này trở nên quan trọng vào thế kỉ 19,, và dần dần mang nghĩa tiêu cực từ sau năm 1914. Glenda Sluga viết rằng "Thế kỷ 20, thời đại mà người ta bị vỡ mộng với chủ nghĩa dân tộc, cũng là thời đại tuyệt vời của chủ nghĩa quốc tế." Người theo chủ nghĩa dân tộc được gọi là người dân tộc chủ nghĩa (hoặc người quốc gia). == Lịch sử == === Thể kỉ 19 === ==== Đức ==== ==== Ý ==== ==== Hy Lạp ==== ==== Serbia ==== ==== Ba Lan ==== ==== Chủ nghĩa dân tộc khiến Tây Ban Nha mất thuộc địa ==== === Thế kỉ 20 === ==== Trung Quốc ==== Xem chi tiết ở bài Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc (chữ Hán: 中国民族主义, Hán-Việt: Trung Quốc dân tộc chủ nghĩa). Ở Trung Quốc, Tôn Trung Sơn (1866–1925) thành lập Trung Quốc Quốc dân Đảng. ==== Châu Phi ==== == Diễn dịch xã hội học == == Các loại hình chủ nghĩa dân tộc == === Chủ nghĩa dân tộc vị chủng === === Thuần túy quốc gia === === Chủ nghĩa dân tộc về lãnh thổ === === Chủ nghĩa dân tộc tôn giáo === === Chủ nghĩa dân tộc cánh tả === === Chủ nghĩa dân tộc cực đoan === === Chủ nghĩa dân tộc độc tài === === Chủ nghĩa dân tộc Risorgimento và Integral === === Chủ nghĩa dân tộc công dân và chủ nghĩa dân tộc tự do === == Chủ nghĩa quốc gia tại Việt Nam == Tại Việt Nam, một thời, từ thập niên 1930 cụm từ "chủ nghĩa quốc gia" hay được dùng. Trong thời Pháp thuộc, một số nhóm theo chủ nghĩa này ủng hộ chế độ bảo hộ của Pháp tại Đông Dương, ủng hộ chủ nghĩa quốc gia ở Pháp (chỉ các nhóm chính trị cánh hữu hay cực hữu ở Pháp). Có nhóm năm 1939 khi cánh hữu thắng cử ở Pháp, đã kêu gọi "từ giã hết chủ nghĩa xã hội, quốc tế, cộng sản xét ra không có lợi gì cho tiền đồ Tổ quốc đi, để quay đầu về phụng sự chủ nghĩa quốc gia", họ cho là các lý tưởng kia "không lấy thực nghiệm ra mà suy xét, chỉ chạy theo lý tưởng xuông" và xem một số nước "đem ra thực hành đều thất bại cả", họ kêu gọi "trông cậy vào sự chỉ đạo của nước Pháp bảo hộ,...yêu cầu nước Pháp gây dựng cho nước ta một quốc gia, có chính phủ chịu trách nhiệm các việc nội trị trước một dân Viện có quyền lập pháp". Tức đòi quyền tự trị chứ không phải độc lập. Họ bác bỏ quan điểm của "bọn thanh niên... cứ nhứt định theo đòi văn minh Âu -Mỹ mà thôi", và kêu gọi "khôi phục quốc quyền, chấn hưng quốc thể", bác bỏ "tư tưởng và óc đảng phái đã làm cho quốc dân Việt Nam tam phân ngũ liệt", và "đòi tự trị", "quân chủ lập hiến". Họ bác bỏ "thuyết xã hội, thuyết quốc tế cùng đảng viên tả phái đi cổ động tự do", cho đó là "trái với tinh thần "trung quân ái quốc" của dân chúng, trái với luân lý Phật đà, Khổng Tử, khác với chủ nghĩa quốc gia cái rễ từ đời Trưng Nữ vương đuổi Tô Định, Triệu Ấu đuổi quân Ngô", kêu gọi "chỉ có ai là thức thời, có lòng yêu nước trung vua vốn sẵn, chỉ dựa vào cái chủ nghĩa "Pháp Nam hợp tác", "Pháp Việt đề huề", học đòi người quý quốc, làm cho nước được mạnh, dân được giàu lên đã". Theo báo Tràng An những người này chủ trương "Nếu chúng ta mong có ngày kia, nước Pháp sẽ theo hòa ước 6 juin 1884, thi hành triệt để giao giả về quốc quyền cho chúng ta tự trị lấy việc nước nhà ta, thì trước hết chúng ta cũng phải bắt chước người Pháp đồng tâm hiệp lực lại, trên dưới một lòng, quân dân một dạ, cử quốc hiệp nhất, khiến cho nước Pháp kính nể, nước Pháp tin cẩn mới được". Một số chính trị gia theo chiều hướng này tiêu biểu như Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh...nhưng đường lối cụ thể không giống nhau. Họ chống lại Mặt trận Bình dân (cánh tả) ở Pháp. Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi... tiêu biểu cho khuynh hướng bảo hộ Pháp, quân chủ kèm dân quyền, sau có hướng thân Nhật, là nhóm "quốc gia" nhất, Bùi Quang Chiêu có hướng tự do, và lập hiến kiểu dân chủ tư sản, sau ngã sang xu hướng xã hội cấp tiến, pha trộn chủ nghĩa tự do và xã hội, gần đường lối Gandhi nhưng ủng hộ bảo hộ Pháp, một thời gian ngắn liên kết với nhóm ủng hộ thợ thuyền cộng sản và xã hội. Hồ Văn Ngà thì dựa vào Nhật ủng hộ độc lập. Ngoài ra còn có "quốc gia xã hội" (tắt là quốc xã) như nhóm Đại Việt của Trần Trọng Kim,...Pháp thời gian đó cũng có Đảng Quốc gia Xã hội Pháp, có chi nhánh tại Đông Dương. Trên báo Phụ nữ tân văn đã bình phẩm cho "quốc gia xã hội" chỉ là một thứ "cãi xà lách" vì "quốc gia" và "xã hội" là hai chữ nghĩa khác nhau, chủ nghĩa quốc gia là chủ nghĩa của những người chỉ lấy tiếng nước mà hiệu triệu người, bảo người phải vì nước và vì kẻ thống trị của nước, mà chống nhau với nước khác. Còn chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa của những người bảo rằng: nước chỉ là nước của những người có tài sản, rút cục có hai nước trong mỗi nước: nước của người có tài sản và nước của người vô sản. Quyền lợi tương phản cùng nhau...Và cho rằng thuyết quốc xã nó "có thể hợp với những bọn gọi là yêu nước để giữ quyền lợi quốc gia, tức là quyền lợi của hạng tư bản và binh lợi quyền của vô sản", một cái thuyết lộn xộn! Ngay thời gian này, trên báo Ngày nay, Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long cho "chủ nghĩa quốc gia, vì làm thiên lệch lòng ái quốc, vì quá tôn nước mình, hóa ra khinh rẻ nước người, và là cái mầm của sự chiến tranh giữa nước này với nước kia, cái mầm của sự lấn áp nước yếu của nước khỏe, cái mầm của chủ nghĩa đế quốc". Nhóm này ảnh hưởng của chủ nghĩa tam dân, chủ nghĩa tự do pha trộn xã hội, một thời ủng hộ Mặt trận Dân chủ chịu chi phối của giới bình dân công nông thợ thuyền, chống bảo hoàng. == Xem thêm == Chủ nghĩa dân tộc sinh tồn Chủ nghĩa Tam dân Chủ nghĩa duy dân Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Chủ nghĩa dân tộc cực đoan Chủ nghĩa dân tộc cánh tả == Tham khảo ==
amgen.txt
Amgen Inc. (trước đây là Applied Molecular Genetics Inc.) là một tập đoàn đa khoa sinh học đa quốc gia của Hoa Kỳ có trụ sở ở Thousand Oaks, California. Nằm ở thung lũng Conejo, Amgen là công ty công nghệ sinh học độc lập lớn nhất thế giới. Trong năm 2013, dòng sản phẩm bán chạy nhất của công ty là Neulasta/Neupogen, 2 loại thuốc liên quan đến nhau được dùng để ngăn ngừa nhiễm trùng cho bệnh nhân đang điều trị ung thư; và Enbrel. Các sản phẩm khác gồm Epogen, Aranesp, Sensipar/Mimpara, Nplate, Vectibix, Prolia và XGEVA. == Lịch sử == == Thời gian biểu == == Thời gian mua lại == === Lịch sử mua lại === == Sản phẩm == === Các sản phẩm được phát triển và sau đó bán đi === == Thử nghiệm lâm sàng và đường ống == == Xem thêm == Kirin-Amgen v Hoechst Marion Roussel, a UK patent case decided by the House of Lords Amgen Inc. v. Harris, a United States Supreme Court case on employment law. Evolocumab == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Amgen SEC Filings Amgen Inc. Company Profile at Google Finance AMGN on Stockrow
giang tây.txt
Giang Tây (tiếng Trung: 江西; bính âm: ; Wade–Giles: Chiang1-hsi1; Gan: Kongsi) là một tỉnh nằm ở đông nam Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Giang Tây trải dài từ bờ Trường Giang ở phía bắc đến các khu vực cao hơn ở phía nam và phía đông, tỉnh có ranh giới giáp với An Huy ở phía bắc, Chiết Giang ở phía đông bắc, Phúc Kiến ở phía đông, Quảng Đông ở phía nam, Hồ Nam ở phía tây, và Hồ Bắc ở phía tây bắc. Tên gọi "Giang Tây" bắt nguồn từ tên một đạo dưới thời nhà Đường được lập vào năm 733, Giang Nam Tây đạo (江南西道, đạo phía tây Giang Nam). Giản xưng của Giang Tây là Cám (赣), theo tên sông Cám chảy từ phía nam lên phía bắc tỉnh rồi đổ vào Trường Giang. Giang Tây cũng được gọi là "Cám Bà đại địa" (贛鄱大地) nghĩa là "vùng đất lớn của sông Cám và hồ Bà Dương". == Lịch sử == Vào thời kỳ nhà Hạ và nhà Thương ở Trung Nguyên, địa bàn Giang Tây thuộc văn minh Trường Giang cổ đại, độc lập với văn minh Hoàng Hà cổ đại, đây là một nền văn minh nông nghiệp và phát triển về đồng điếu, là vùng bắt đầu có nền văn minh lúa gạo đầu tiên trên thế giới (huyện Vạn Niên ở Giang Tây đã có lịch sử trồng lúa khoảng 12.000 năm).. Cư dân tại Giang Tây khi đó là người Bách Việt. Vào thời Xuân Thu, phần phía bắc của tỉnh Giang Tây ngày nay nằm trên biên giới phía tây của nước Ngô. Trong thời kỳ này, sử sách có ghi lại hai điểm định cư tại Giang Tây là Ngải (艾) và Phan 番, sau viết là 潘). Sau khi nước Việt chinh phạt nước Ngô vào năm 477 TCN, nước Sở đã nắm quyền kiểm soát bắc bộ Giang Tây. Nước Sở chinh phục nước Việt vào năm 333 TCN, song bản thân nó lại bị nước Tần thôn tính vào năm 223 TCN. Sau khi thống nhất Trung Quốc, triều đình nhà Tần đã lập nên Cửu Giang quận bao trùm phần lớn Giang Tây, trị sở của quận này nay thuộc Thọ huyện tại tỉnh An Huy, bảy huyện thuộc quận này được thiết lập tại vùng thuộc Giang Tây ngày nay. Tuy nhiên, Cửu Giang quận hoạt động không hiệu quả và đã chấm dứt tồn tại ngay sau khi nhà Tần sụp đổ. Khoảng năm 202 TCN, thời Hán Cao Tổ, triều đình nhà Hán đã thiết lập Dự Chương quận (sông Cám trước đây gọi là sông Dự Chương), trị sở của quận này đặt tại Nam Xương (ý là "Xương đại nam cường" và "Nam phương xương thịnh"), đây cũng là quận đầu tiên mà các triều đại Trung Quốc thiết lập riêng cho Giang Tây. Dự Chương quản lý 18 huyện, cương vực đại thể tương đương với Hồ Nam ngày nay. Các thành phố lớn tại Giang Tây hiện nay là Nam Xương, Cống Châu, Cát An đã được phát triển từ các huyện thành vào thời gian đó. Dưới thời Hán Vũ Đế, toàn quốc được chia thành 13 châu, Dự Chương quận được quy thuộc Dương châu. Thời Tam Quốc, Giang Tây thuộc quyền quản lý của Đông Ngô. Năm 291 SCN, vào thời Tây Tấn, Giang Tây được nâng thành một châu riêng là Giang châu (江州). Thời Nam-Bắc triều, Giang Tây nằm dưới quyền kiểm soát của các Nam triều. Thời nhà Tùy, triều đỉnh sửa đổi chế độ châu huyện thành chế độ châu quận huyện, trên địa phận Giang Tây lúc đó có bảy quận và 24 huyện. Dưới thời nhà Đường, các quận bị bãi bỏ và đều trở thành "châu", Giang Tây khi đó có 8 châu (Hồng châu, Nhiêu châu, Kiền châu, Cát châu, Giang châu, Viên châu, Phủ châu, Tín châu) và 37 huyện. Năm Trinh Quán thứ nhất thời Đường Thái Tông, toàn quốc được chia thành 10 đạo, Giang Tây thuộc Giang Nam đạo. Đến năm 733, Đường Huyền Tông điều chỉnh thành 15 đạo, tám châu trên địa phận Giang Tây lệ thuộc Giang Nam Tây đạo. Tên gọi "Giang Tây" cũng bắt nguồn từ đạo này Sau khi nhà Đường sụp đổ vào năm 907, Trung Quốc bị phân liệt trong thời Ngũ Đại Thập Quốc. Đầu tiên, Giang Tây thuộc nước Ngô, sau đó thuộc nước Nam Đường. Cả hai nước đều đặt quốc đô ở Nam Kinh ngày nay, ở xa về phía hạ lưu Trường Giang. Năm Giao Thái thứ nhất, Nam Đường Nguyên Tông Lý Cảnh quyết định thiết lập nam đô tại Hồng châu, vì thế đã thăng Hồng châu thành Nam Xương phủ. Đến thời nhà Tống, đơn vị trên cấp châu được chuyển thành lộ, khu vực Giang Tây có 9 châu, 4 quân, 68 huyện, đại bộ phận lệ thuộc Giang Nam Tây lộ, song có một bộ phận lệ thuộc Giang Nam Đông lộ. Vào thời nhà Nguyên, triều đình thiết lập Giang Tây đẳng xứ hành trung thư tỉnh (江西等处行中书省), địa hạt bao trùm tuyệt đại bộ phận Giang Tây ngày nay (một bộ phận phía đông bắc lệ thuộc Giang Chiết đẳng xứ hành trung thư tỉnh) và phần lớn tỉnh Quảng Đông hiện nay. Các hành tỉnh thời Nguyên được chia thành các lộ, trực lệ châu, châu và huyện. Tại Giang Tây, có 13 lộ là Long Hưng, Cát An, Nam Khang, Cống Châu, Kiến Xương, Giang Châu, Bam An, Thụy Châu, Viên Châu, Lâm Giang, Phủ Châu, Nhiêu Châu, Tín Châu cùng hai trực lệ châu là Nam Phong và Duyên Sơn, cùng với 48 huyện, 16 huyện cấp châu. Từ thời Trung Đường trở đi, Giang Tây đã có bước phát triển lớn về kinh tế và văn hóa. Vào thời ba triều Tống, Nguyên, Minh, Giang Tây là một trong các tỉnh phồn vinh nhất Trung Quốc. Điều này thể hiện trong nông nghiệp như sản xuất lương thực hay thủ công nghiệp như đồ sứ và các khía cạnh kinh tế khác. Đến thời nhà Minh, về cơ bản vẫn giữ lại chế độ hành chính thời Nguyên, song đổi hành trung thư tỉnh thành bố chính sứ ti, đổi lộ thành phủ và đổi châu thành huyện. Giang Tây bố chính sử ti về cơ bản tương đương với Giang Tây ngày nay, có thẩm quyền đối với 13 phủ là Nam Xương, Thụy Châu, Nhiêu Châu. Nam Khang, Cửu Giang, Quảng Tín, Phủ Châu, Kiến Xương, Cát An, Viên Châu, Lâm Giang, Cống Châu, Nam An; các phủ được chia tiếp thành 78 huyện. Sau khi Quảng Đông tách thành một bố chính sứ ti riêng, ranh giới của Giang Tây từ đó có rất ít thay đổi. Khi đó, các cơ quan hành chính tối cao là Thừa tuyên bố chính sứ ti, đề hình án sát sứ ti, dô chỉ huy sứ ti, tam ti phân biệt do triều đình trung ương trực tiếp kiểm soát, phân quyền cai trị. Ngoài ra, còn có ba địa vị phiên vương (Ninh vương, Hoài vương và Ích vương) phân phong tại Giang Tây, lần lượt tại Nam Xương phủ, Nhiêu Châu phủ (Bà Dương), và Kiến Xương phủ (Nam Thành). Đến thời nhà Thanh, triều đình đổi Giang Tây bố chính sứ ti thành Giang Tây tỉnh, cơ bản vẫn thi hành chế độ hành chính của nhà Minh. Tăng thêm ba huyện cấp thính là Liên Hoa tại Cát An phủ, Đồng Cổ tại Nam Xương phủ, Kiền Nam tại Cám Châu phủ đồng thời thăng Ninh Đô huyện thành châu trực thuộc tỉnh. Người đứng đầu các tỉnh thời Thanh là tuần phủ, bên dưới là các chức vụ thừa tuyên bố chính sứ ti và đề hình án sát sứ ti, phụ trách các vấn đề về dân chính, tài chính và giám sát tư pháp. Thời kỳ Minh Thanh, Giang Tây nằm trên tuyến giao lộ nam-bắc rất phồn thịnh giữa Quảng Đông và lưu vực Trường Giang, khiến các thành thị của Giang Tây dọc theo tuyến đường này cũng có được sự phồn vinh. Đồng thời, do chính sách "Giang Tây điền Hồ Quảng" và "Hồ Quảng điền Tứ Xuyên", cư dân Giang Tây đã di cư đến các tỉnh có mật độ dân số thấp như Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu. Trong thời gian này, hình thành thương bang "Giang Hữu", đứng thứ 3 trong thập đại thương bang trên toàn quốc. Đồng thời, Cảnh Đức trấn là một trong tứ đại danh trấn trên toàn quốc. Thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, các phủ, châu và thính đều được chuyển thành huyện, Giang Tây khi đó có tổng cộng 81 huyện. Đến năm 1926, quân Bắc phạt tiến đến và đồn trú tại Nam Xương, chính thức thành lập thành phố Nam Xương. Năm 1934, huyện Vụ Nguyên của An Huy được sáp nhập vào Giang Tây, đến năm 1947 lại trả cho An Huy, đến năm 1949 lại nhập vào Giang Tây. Ngay 1 tháng 8 năm 1927, tại Giang Tây nổ ra khởi nghĩa Nam Xương, khởi đầu Nội chiến Trung Quốc. Sau đó, trên địa phận Giang Tây và các tỉnh lân cận, Cộng sản đảng đã thiết lập căn cứ địa cách mạng Tĩnh Cương Sơn, căn cứ địa cách mạng Tương-Việt-Cám, căn cứ địa cách mạng Mân-Chiết-Cám, căn cứ địa cách mạng Tương-Ngạc-Cám và căn cứ địa cách mạng Trung ương. Năm 1931, Cộng sản đảng đã tuyên bố thành lập Cộng hòa Xô viết Trung Hoa tại Thụy Kim, đổi tên Thụy Kim thành Thụy Kinh, đây là thủ đô của chính phủ trung ương, được gọi là "Hồng sắc thủ đô" hoặc "Hồng đô". Trong thời gian chế độ này hoạt động, chính phủ trung ương đã ban hành hiến pháp, phát hành tiền tệ, thiết kế quốc kỳ, và gọi các khu vực do mình kiểm soát là khu Xô viết (苏区, Tô khu). Do Quốc Dân đảng giành được thắng lợi trong cuộc đàn áp cộng sản lần thứ 5, chính phủ trung ương của Cộng hòa Xô viết Trung Hoa đã buộc phải sơ tán khỏi khu Xô viết Trung ương Giang Tây từ tháng 10 năm 1934. Năm 1933, chính phủ Quốc dân tại Nam Xương của Quốc Dân đảng đã phát động Tân sinh hoạt vận động, về sau lan rộng trên toàn quốc. Năm 1936, sau khi thông tuyến đường sắt Việt-Hán đi từ Quảng Đông đến Hồ Nam, Giang Tây đã mất vị thế quan trọng là nằm trên trục giao thông bắc-nam. Năm 1937, khi tuyến đường sắt Chiết-Cám thông xe, Giang Tây đã có sự thay đổi lớn về bố trí giao thông và thành thị. Năm 2005, tuyến đường sắt Kinh-Cửu từ Bắc Kinh đến Hồng Kông đã khai thông kết nối nam-bắc Giang Tây, đẩy nhanh sự phát triển của khu vực đồi núi phía nam tỉnh. Năm 2005, việc thông xe tuyến đường sắt Cám-Long-Hạ đã chấm dứt tình trạng "hồng sắc cố đô" Thụy Kim không có đường sắt, thực hiện nguyện vọng trong phương lược kiến quốc của Tôn Trung Sơn trong việc xây dựng tuyến đường sắt nối giữa Phúc Kiến và Giang Tây. == Địa lý == Giang Tây có núi bao quanh ba mặt, ở phía tây là các dãy núi Mạc Phụ (幕阜山), Cửu Lĩnh (九岭山), và La Tiên (罗霄山); ở phía đông là các dãy núi Hoài Ngọc (怀玉山) và Vũ Di; còn ở phía nam là các dãy núi Cửu Liên (九连山) và Đại Dữu Lĩnh (大庾岭). Phần trung bộ và nam bộ của Giang Tây là các gò đồi và thung lũng nằm rải rác, núi và gò đồi chiếm tới 60% diện tích của tỉnh; trong khi bắc bộ thì bằng phẳng và có cao độ thấp, gọi là đồng bằng hồ Bà Dương. Đỉnh cao nhất Giang Tây là Hoàng Cương Sơn (黄岗山) thuộc dãy núi Vũ Di, trên vùng giáp giới với Phúc Kiến, với cao độ 2.157 mét (7.077 ft). Sông Cám là sông chính tại Giang Tây, sông dài 991 km và chảy từ nam lên bắc. Sông Cám đổ vào hồ Bà Dương, hồ nước ngọt lớn nhất tại Trung Quốc; nước trong hồ này lại đổ vào Trường Giang, con sông tạo thành ranh giới phía bắc của Giang Tây. Các sông quan trọng khác đổ vào hồ Bà Dương là sông Phủ (抚河, 312 km), sông Tín (信江, 329 km), sông Bà (鄱江) và sông Tu (修水). Các hồ chứa nhân tạo trọng yếu của Giang Tây là hồ chứa Chá Lâm (柘林水库) trên sông Tu ở phía tây bắc và hồ chứa Vạn An (万安水库) ở thượng du sông Cám. Giang Tây có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Cfa theo phân loại khí hậu Köppen), với mùa đông ngắn, mát và ẩm cùng mùa hè rất nóng và ẩm ướt. Nhiệt độ không khí trung bình là 3 đến 9 °C (37 đến 48 °F) vào tháng 1 và 27 đến 30 °C (81 đến 86 °F) vào tháng 7. Lượng giáng thủy hàng năm là 1.200 đến 1.900 milimét (47 đến 75 in), phần lớn bắt nguồn từ các cơn mưa lớn vào cuối mùa xuân và mùa hè. Tính đến năm 2007, Giang Tây đã thành lập được 137 khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm 6 khu bảo tồn cấp quốc gia, tổng diện tích là 9.852,3 km², chiếm 5,9% diện tích của tỉnh. == Các đơn vị hành chính == Xem chi tiết: Danh sách các đơn vị hành chính Giang Tây Giang Tây được chia ra làm 11 địa cấp thị (11 thành phố): == Kinh tế == Theo kết quả sơ bộ, năm 2010, tổng GDP của Giang Tây đạt 943,5 tỉ NDT, đứng thứ 19 cả nước, tính theo giá cả thì tăng 14% so với năm trước. Trong đó, khu vực một của nền kinh tế đạt giá trị 106,04 tỉ NDT, tăng trưởng 4,8%, chiếm tỷ trọng 16,4% trong GDP; khu vực hai của nền kinh tế đạt giá trị 341,49 tỉ NDT, tăng trưởng 16,6%, chiếm tỷ trọng 52,7% trong GDP; khu vực ba của nền kinh tế đạt giá trị 200,5 tỉ NDT, tăng trưởng 10,1%, chiếm tỉ trọng 30,9%. Thu nhập bình quân của cư dân đô thị là 15.481 NDT, tăng trưởng 10,4%; thu nhập thuần của nông dân là 5.789 NDT, tăng trưởng 14,1%. Trong số các tỉnh thị, tốc độ phát triển kinh tế của Giang Tây ở mức trung bình, song tổng giá trị kinh tế thì tương đối nhỏ. Nông nghiệp chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân của tỉnh Giang Tây. Trong 29 năm từ 1979-2007, tổng GDP của Giang Tây đã tăng lên 62,86 lần, còn theo giá cả so sánh, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hành năm là 9,4%, thấp hơn mức bình quân 9,8% của cả nước. So với các tỉnh ven biển lân cận là Chiết Giang, Phúc Kiến và Quảng Đông, thì Giang Tây là một tỉnh nghèo. Lúa là cây trồng chủ đạo tại Giang Tây, các loại cây thường trồng khác là bông và cải dầu, chè, mao trúc, thông sam. Giang Tây dẫn đầu về sản xuất kim quất tại Trung Quốc, đặc biệt là ở huyện Toại Xuyên. Giang Tây giàu tài nguyên khoáng sản, dẫn đầu trong số các tỉnh của Trung Quốc về trữ lượng đồng, wolfram, vàng, bạc, urani, thori, tantali, niobi. Các trung tâm khai mỏ đáng chú ý là Đức Hưng (đồng) và Đại Dư (wolfram). Gốm sứ Cảnh Đức Trấn nổi tiếng toàn quốc. == Nhân khẩu == Tuyệt đại đa số cư dân Giang Tây là người Hán, chiếm trên 99,7% dân số, các phân nhóm Hán chính tại Giang Tây là người Cám và người Khách Gia. Các nhóm thiểu số có số lượng đáng kể là người Hồi, người Xa và người Choang. Hồ Nam và Giang Tây là hai tỉnh mất cân bằng giới tính lớn nhất tại Trung Quốc, theo nghiên cứu của BMJ dựa theo số liệu năm 2005, tỷ lệ bé trai/bé gái trong nhóm tuổi từ 1-4 tại Giang Tây là trên 140/100. Cư dân Giang Tây chủ yếu nói tiếng Cám, một bộ phận nói tiếng Khách Gia, tiếng Huy, tiếng Ngô và Quan thoại. Tiếng Cám là một trong các phương ngữ lớn, số người sử dụng ước đạt 51 triệu, ngôn ngữ này được nói tại trên 60 huyện thị tại Giang Tây, phạm vi bao trùm Nam Xương, Cảnh Đức Trấn (khu thành thị), Bình Hương, Nghi Xuân, Phủ Châu và Cát An. Tiếng Khách Gia được nói ở Cám Châu. == Giao thông == === Hàng không === Sân bay quốc tế Xương Bắc Nam Xương (南昌昌北国际机场) Sân bay Hoàng Kim Cám Châu (赣州黄金机场) Sân bay Từ Đô Cảnh Đức Trấn (景德镇瓷都机场) Sân bay Lư Sơn Cửu Gian (九江庐山机场) Sân bay Tĩnh Cương Sơn Cát An (吉安井冈山机场) Sân bay Tam Thanh Sơn Thượng Nhiêu (上饶三清山机场) Sân bay Minh Nguyệt Sơn Nghi Xuân (宜春明月山机场) === Đường sắt === Đường sắt Chiết-Cám (浙赣铁路), từ Hàng Châu (Chiết Giang) đến Chu Châu (Hồ Nam) Đường sắt Kinh-Cửu (京九铁路), từ Bắc Kinh đến Hồng Kông Đường sắt Vũ-Cửu (武九铁路), từ Vũ Hán (Vũ Hán) đến Cửu Giang Đường sắt Đồng-Cửu (铜九铁路), từ Đồng Lăng (An Huy) đến Cửu Giang Đường sắt Ưng-Hạ (鹰厦铁路), từ Ưng Đàm đến Hạ Môn (Phúc Kiến) Đường sắt Cám-Long (赣龙铁路), từ Cám Châu đến Long Nham (Phúc Kiến) Đường sắt Mân-Cám (闽赣铁路), từ Phúc Châu (Phúc Kiến) đến Thượng Nhiêu Đường sắt Hoàn-Cám (皖赣铁路), từ Vu Hồ (An Huy) đến Quý Khê Đường sắt Phân-Văn (分文铁路), từ huyện Phân Nghi đến huyện Vĩnh Tân Đường sắt Hướng-Lạc (向乐铁路), từ huyện Nam Xương đến huyện Lạc An Đường sắt Hướng Phủ (向莆铁路), từ huyện Nam Xương đến Phủ Điền (Phúc Kiến) Đường sắt Cám-Thiều (赣韶铁路), từ Cám Châu đến Thiều Quan (Quảng Đông) Đường sắt Hành-Trà-Cát (衡茶吉铁路), từ Hành Dương (Hồ Nam) đến huyện Cát An Đường sắt Xương-Cửu-Thành (昌九城际铁路), tuyến đường sắt cao tốc, từ Nam Xương đến Cửu Giang Đường sắt Tây Hoàn Nam Xương (南昌西环铁路), tức đường sắt bao quanh phía Tây Nam Xương Đường sắt cao tốc Hợp-Phúc (合福客运专线), từ Hợp Phì (An Huy) đến Phúc Châu (Phúc Kiến), trên đất Giang Tây đi qua vùng đông bắc (Vụ Nguyên, Đức Hưng và Thượng Nhiêu) Đường sắt cao tốc Hỗ-Côn (沪昆客运专线), từ Thượng Hải đến Côn Minh (Vân Nam), trên đất Giang Tây đi qua vùng phía bắc (Thượng Nhiêu, Ưng Đàm, Nam Xương, Nghi Xuân, Tân Dư, Bình Hương) === Đường bộ === Cao tốc liên tỉnh G35 Đường cao tốc Tế-Quảng (济广高速公路), từ Tế Nam (Sơn Đông) đến Quảng Châu (Quảng Đông), trên đất Giang Tây đi qua Cảnh Đức Trấn, Thượng Nhiêu, Ưng Đàm, Phủ Châu, Cám Châu G45 Đường cao tốc Đại-Quảng (大广高速公路), từ Đại Khánh (Hắc Long Giang) đến Quảng Châu (Quảng Đông), trên đất Giang Tây đi qua Cửu Giang, Nghi Xuân, Tân Dư, Cát An, Cám Châu G4511 Đường cao tốc Long-Hà (龙河高速公路), từ huyện Long Nam của Cám Châu đến Hà Nguyên (Quảng Đông), trên đất Giang Tây đi qua hai huyện Long Nam và Định Nam G56 Đường cao tốc Hàng-Thụy (杭瑞高速公路), từ Hàng Châu (Chiết Giang) đến Thụy Lệ (Vân Nam), trên đất Giang Tây đi qua Cửu Giang, Cánh Đức Trấn, Vụ Nguyên G60 Đường cao tốc Hỗ-Côn (沪昆高速公路), từ Thượng Hải đến Côn Minh (Vân Nam), trên đất Giang Tây đi qua Thượng Nhiêu, Ưng Đàm, Phủ Châu, Nam Xương, Nghi Xuân, Tân Dư, Bình Hương G6001 Đường cao tốc Vành đai Nam Xương (南昌绕城高速) G70 Đường cao tốc Phúc-Ngân (福银高速公路), từ Ngân Xuyên (Ninh Hạ) đến Phúc Châu (Phúc Kiến), trên đất Giang Tây đi qua Cửu Giang, Nam Dương, Phủ Châu G72 Đường cao tốc Tuyền-Nam (泉南高速公路), từ Tuyền Châu (Phúc Kiến) đến Nam Ninh (Quảng Tây), trên đất Giang Tây đi qua Phủ Châu, Cát An, Bình Hương G76 Đường cao tốc Hạ-Dong (厦蓉高速公路), từ Hạ Môn (Phúc Kiến) đến Thành Đô (Tứ Xuyên), trên đất Giang Tây đi qua Cám Châu (Thụy Kim, Vu Đô, Cám huyện, Chương Cống, Thượng Do và Sùng Nghĩa) Quốc lộ G105 Quốc lộ 105, từ Bắc Kinh đến Chu Hải (Quảng Đông), trên đất Giang Tây đi qua Cửu Giang, Nam Xương, Nghi Xuân, Cát An, Cám Châu G206 Quốc lộ 206, từ Yên Đài (Sơn Đông) đến Sán Đầu (Quảng Đông), trên đất Giang Tây đi qua Cảnh Đức Trấn, Thượng Nhiêu, Ưng Đàm, Phủ Châu, Cám Châu G316 Quốc lộ 316, từ Phúc Châu (Phúc Kiến) đến Lan Châu (Cam Túc). Trên đất Giang Tây đi qua Cửu Giang, Nam Xương, Phủ Châu G319 Quốc lộ 319, từ Hạ Môn (Phúc Kiến) đến Thành Đô (Tứ Xuyên), trên đất Giang Tây đi qua Cám Châu, Cát An, Bình Hương G320 Quốc lộ 320, từ Thượng Hải đến Thụy Lệ (Vân Nam) trên đất Giang Tây đi qua Thượng Nhiêu, Ưng Đàm, Phủ Châu, Nam Xương, Nghi Xuân, Bình Hương G323 Quốc lộ 323, từ Thụy Kim của Cám Châu đến Lâm Thương (Vân Nam. Tại Giang Tô chỉ đi qua Cám Châu (Thụy Kim, Vu Đô, Cám huyện, Chương Cống, Nam Khang, Đại Dư) === Đường thủy === Cửu Giang là một cảng sông nội địa trọng yếu, có cả các tuyến chiều dọc nội tỉnh theo sông Cám và sông Tín, có các tuyến liên tỉnh chiều ngang theo Trường Giang và sông Xương Giang (một phân lưu của Trường Giang), toàn tỉnh có 4.937 km đường thủy có thể thông hành. Nam Xương và Thượng Nhiêu cũng có các cảng sông lớn, phục vụ cả việc chuyên chở hàng hóa lẫn hành khách. == Giáo dục == == Tham khảo ==
trần anh hùng.txt
Trần Anh Hùng (sinh ngày 23 tháng 12 năm 1962) là một đạo diễn điện ảnh người Pháp gốc Việt. Trần Anh Hùng được biết tới nhiều nhất qua các tác phẩm về chủ đề Việt Nam với phong cách thực hiện đương đại. Ông là đạo diễn của Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte), bộ phim duy nhất cho đến nay của điện ảnh Việt Nam lọt vào danh sách đề cử vòng cuối cùng của Giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất. Ngoài ra, Trần Anh Hùng cũng đoạt nhiều giải thưởng điện ảnh khác. == Tiểu sử == Trần Anh Hùng sinh năm 1962 tại Mỹ Tho (một số nguồn ghi là tại Đà Nẵng), Việt Nam. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, gia đình Anh Hùng đi sang Lào, sau đó di cư đến Pháp. == Sự nghiệp == Tại Pháp, Trần Anh Hùng theo học tại trường điện ảnh danh tiếng École Louis-Lumière và thực hiện đề tài tốt nghiệp năm 1987 bằng việc đạo diễn bộ phim ngắn, Người thiếu phụ Nam Xương (La Femme Mariée de Nam Xuong) năm 1987, tác phẩm này cũng do Anh Hùng viết kịch bản lấy cảm hứng từ Truyền kỳ mạn lục, một tác phẩm văn học Việt Nam cổ do Nguyễn Dữ sáng tác. Sau Người thiếu phụ Nam Xương, Anh Hùng còn thực hiện một bộ phim ngắn khác là Hòn vọng phu (La Pierre de l'Attente, 1991) trước khi bắt tay vào đạo diễn bộ phim điện ảnh Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte). Tác phẩm sau khi công chiếu đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi về phong cách thực hiện cũng như những cảnh quay rất đẹp về Việt Nam, riêng Trần Anh Hùng đã được trao giải Caméra d'Or (Máy quay vàng) cho quay phim xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Cannes 1993 và Giải César cho phim đầu tay xuất sắc nhất (César de la meilleure première œuvre) tại lễ trao giải César của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Kỹ thuật Điện ảnh Pháp. Mùi đu đủ xanh cũng là tác phẩm duy nhất đại diện cho điện ảnh Việt Nam cho đến nay lọt vào danh sách đề cử rút gọn của Giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất. Thành công của Mùi đu đủ xanh đã giúp Trần Anh Hùng có kinh phí để thực hiện bộ phim lớn Xích lô (Cyclo). Bộ phim nói về cuộc sống khó khăn của những người dân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh có sự tham gia của ngôi sao Hồng Kông Lương Triều Vỹ, hai diễn viên đã xuất hiện trong Mùi đu đủ xanh, đó là nghệ sĩ Như Quỳnh và Trần Nữ Yên Khê, vợ của Anh Hùng, một diễn viên không chuyên người Việt tên là Lê Văn Lộc, và một nhóm làm phim đa quốc tịch. Bộ phim được quay tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự cho phép của chính quyền sở tại. Xích lô cũng thành công không kém Mùi đu đủ xanh khi giành giải thưởng danh giá Sư tử vàng cho phim hay nhất tại Liên hoan phim Venezia 1995, ở tuổi 33, Anh Hùng trở thành một trong những đạo diễn trẻ nhất chiến thắng ở liên hoan phim này. Cả ba phim Hòn vọng phu, Mùi đu đủ xanh, và Xích lô đều được thực hiện bằng vốn tài trợ của Christophe Rossignon (hãng phim Lazenecs). Sau thành phố Hồ Chí Minh, Trần Anh Hùng chuyển sang miêu tả vẻ đẹp cổ kính của Hà Nội qua Mùa hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été, 2000). Bộ phim là câu chuyện về ba chị em gái thần tượng cuộc sống gia đình của bố mẹ họ để rồi cuối cùng phát hiện ra sự thật sau cái chết của người mẹ. Các diễn viên thủ vai ba chị em gái là Như Quỳnh, Lê Khanh và Trần Nữ Yên Khê. Năm 2008, sau 8 năm ngừng làm phim, Trần Anh Hùng quay trở lại bằng I Come with the Rain, bộ phim tiếng Anh đầu tiên của Anh Hùng. Đây là tác phẩm có sự góp mặt của nhiều diễn viên tên tuổi như Josh Hartnett, Lee Byung-hun, Kimura Takuya và Dư Văn Lạc. Giống như mọi tác phẩm khác, vai nữ chính của phim cũng được giao cho vợ Anh Hùng, Trần Nữ Yên Khê. Và cũng trong năm 2008, Anh Hùng đã được mời đạo diễn chuyển thể điện ảnh của tiểu thuyết nổi tiếng Rừng Na Uy của nhà văn Murakami Haruki. == Phong cách làm phim == Phim của Trần Anh Hùng được làm ra nhằm tạo dựng lại hình ảnh về Việt Nam mà Anh Hùng đã mất khi di cư đến Pháp cũng như cung cấp cho khán giả một cái nhìn khác về Việt Nam khi mà phim về đề tài này của điện ảnh Pháp và điện ảnh Mỹ đang chiếm ưu thế. Chúng được xây dựng trên kiến thức của Anh Hùng về ngôn ngữ, văn hóa Việt và (ở bộ phim thứ hai và thứ ba) là từ kinh nghiệm của Anh Hùng trong những lần viếng thăm Việt Nam. Anh Hùng chịu ảnh hưởng rất lớn từ các kiến thức học tập được của nền điện ảnh Pháp và từ một số nghệ sĩ điện ảnh châu Âu và Nhật Bản như Bergman, Bresson, Kurosawa, Trakovsky và Ozu. Phong cách làm phim của Anh Hùng có thể gói gọn trong câu: Nghệ thuật là sự thật được đeo mặt nạ. Ông khước từ cách làm phim kể chuyện, lối mòn kiểu truyền thống, đi theo kiểm làm phim mới với ngôn ngữ điện ảnh mới: đánh mạnh vào cảm giác của người xem khiến họ thưởng thức chúng không phải bằng cái đầu duy lý nữa mà bằng cảm giác của ngôn ngữ cơ thể. == Đời tư == Vợ của Trần Anh Hùng là nữ diễn viên Trần Nữ Yên Khê. Đây là diễn viên thủ vai chính trong tất cả các phim mà ông đã thực hiện cho đến nay. Vì điều này, có người đã so sánh vợ chồng Anh Hùng-Yên Khê với Củng Lợi và Trương Nghệ Mưu. == Phim thực hiện == 1987: Người thiếu phụ Nam Xương (La Femme Mariée de Nam Xuong), đạo diễn và biên kịch 1991: Hòn vọng phu (La Pierre de l'Attente), đạo diễn và biên kịch 1993: Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte), đạo diễn và biên kịch 1995: Xích lô (Cyclo), đạo diễn và biên kịch 2000: Mùa hè chiếu thẳng đứng (À la verticale de l'été), đạo diễn và biên kịch 2009: Và anh đến trong cơn mưa (I Come with the Rain), đạo diễn và biên kịch 2010: Rừng Na Uy 2016: Eternity == Giải thưởng == Liên hoan phim Cannes - Giải quay phim 1993 Mùi đu đủ xanh Giải César - Phim mới 1994 Mùi đu đủ xanh Liên hoan phim Venezia - Phim hay nhất 1995 Xích lô. == Chú thích == == Tham khảo == Robson, Kathryn; Jennifer Yee (2005). France and "Indochina": Cultural Representations. Lexington Books. ISBN 0739108409. Blum-Reid, Sylvie (2003). East-West encounters: Franco-Asian cinema and literature. Wallflower Press. ISBN 1903364671. Olds, Kris (1999). Globalisation and the Asia Pacific: Contested Territories. Asia: Routledge. ISBN 0415199190. == Liên kết ngoài == Tran Anh Hung tại Internet Movie Database Gary W. Tooze. “Anh Hung Tran”. Dvdbeaver.com. “Interview à Tran Anh Hung”. Septimovicio.com. 19 tháng 5 năm 2008.
thomas paine.txt
Thomas Paine (29 tháng 1 năm 1737 tại Thetford, Anh – 8 tháng 6 năm 1809 tại New York, New York) sinh ra tại Đế quốc Anh, sống ở Mỹ, nhập cư vào Mỹ trong thời gian nổ ra Cách mạng Hoa Kỳ. Ông là một nhà triết học, nhà cách mạng, người theo trường phái chủ nghĩa tự do cổ điển, một nhân vật nổi bật trong phong trào khai sáng, tác giả của Common Sense (Lẽ Thông Thường) (1776). Ông ủng hộ sự độc lập của các thuộc địa Mĩ khỏi Đế quốc Anh, hỗ trợ cho cách mạng. Sau đó, Paine đã có ảnh hưởng lớn đến Cách mạng Pháp. Ông đã viết về Rights of Man (1791) là một sự dẫn hướng về ý tưởng của khai sáng. Mặc dù không có khả năng nói tiếng Pháp, ông vẫn được bầu vào French National Assembly năm 1792. Paine bị bắt ở Paris và bị đưa vào tù từ tháng 12 năm 1793; ông được trả tự do từ năm 1794. Ông trở nên có tiếng với cuốn sách The Age of Reason (1793-94). Khi ở Pháp, ông cũng viết cuốn sách có tựa đề Agrarian Justice (1795), trong đó bàn luận về nguồn gốc của cải và đưa ra một khái niệm tương tự như guaranteed minimum income. == Câu nói == Cuốn kinh thánh dạy chúng ta những gì? Sự bực dọc, hung bạo và giết chóc.Cuốn Tân Ước dạy chúng ta những gì? Tin rằng Đấng Toàn Năng phạm tội lăng nhăng với một người đàn bà đã có chồng; và tin vào cái chuyện lăng nhăng này gọi là đức tin.(What is the New Testament teaches us? To believe that the Almighty committed debauchery with a woman engaged to be maried; and the belief of this debaucery is called faith.) Nguồn gốc của sự xấu xa nhất, của những sự độc ác khủng khiếp nhất, và những sự khổ sở to lớn nhất giáng lên đầu nhân loại là ở trong cái gọi là mạc khải, hay tôn giáo mạc khải (The most detestable wickedness, the most horrid cruelties, and the greatest miseries that have afflicted the human race have had their origin in this thing called revelation, or revealed religion) Tin vào một vị Thần độc ác làm cho con người thành độc ác (Belief in a cruel god makes a cruel man.) Nguồn gốc của sự xấu xa nhất, của những sự độc ác khủng khiếp nhất, và những sự khổ sở to lớn nhất giáng lên đầu nhân loại là ở trong cái gọi là mạc khải, hay tôn giáo mạc khải (The most detestable wickedness, the most horrid cruelties, and the greatest miseries that have afflicted the human race have had their origin in this thing called revelation, or revealed religion) Một thầy giáo giỏi có ích hơn là 100 linh mục (One good school master is of more use than a hundred priests.) == Xem thêm == Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ Cách mạng Hoa Kỳ Chủ nghĩa tự do Quyền tự do Bill of Rights == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Complete Works of Thomas Paine Các tác phẩm của Thomas Paine tại Dự án Gutenberg Deistic and Religious Works of Thomas Paine Thomas Paine Giác Quan Chung Thomas Paine Birthday Celebrations The Thomas Paine Society Thomas Paine's Memorial Books of Our Time: Thomas Paine and the Promise of America by Harvey Kaye (video) Take a video tour of Thomas Paine's birthplace Common Sense in mp3 audio at Americana Phonic Rights of Man book on Google books (full-view) Lesson Plan Common Sense: The Rhetoric of Popular Democracy [1] at edsitement.neh.gov
liên minh các quốc gia nam mỹ.txt
Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ (tiếng Hà Lan: Unie van Zuid-Amerikaanse Naties - UZAN, tiếng Bồ Đào Nha: União de Nações Sul-Americanas - UNASUL, tiếng Tây Ban Nha: Unión de Naciones Suramericanas - UNASUR) là một liên minh liên chính phủ được hợp nhất từ hai liên minh thuế quan: Mercosur và Cộng đồng các Quốc gia Andean, như là một phần của quá trình hội nhập kinh tế Nam Mỹ. Đây là một tổ chức được hình thành dựa trên khuôn mẫu của Liên minh châu Âu. Hiệp ước Thành lập UNASUR được ký kết ngày 23 tháng 5 năm 2008, tại hội nghị các nguyên thủ quốc gia lần thứ ba được tổ chức tại Brasília, Brasil. Theo như Hiệp ước Thành lập, trụ sở của liên minh sẽ nằm ở Quito, Ecuador. Nghị viện Nam Mỹ sẽ nằm ở Cochabamba, Bolivia, trong khi trụ sở ngân hàng, Ngân hàng Phía Nam nằm ở Caracas, Venezuela. == Các quốc gia thành viên == Thành viên của Cộng đồng các Quốc gia Andean: ¹ Bolivia ³ L Colombia L Ecuador ³ L Peru ³ L Thành viên của Mercosur: ² Argentina ³ L Brasil L Paraguay L Uruguay L Venezuela ³ L Các thành viên khác Chile ¹ ² ³ L Guyana ³ C Suriname C ¹ Các quốc gia này cũng được coi là thành viên liên kết của Mercosur ² Các quốc gia này cũng được coi là thành viên liên kết của Cộng đồng các Quốc gia Andrean ³ Đã thông qua Hiệp ước Thành lập.C Thành viên của Cộng đồng Caribe (CARICOM)L Thành viên của Hiệp hội Liên kết Mỹ Latinh (ALADI) == Ghi chú == == Liên kết == Unasur official website (tiếng Tây Ban Nha) Flag of the Union of South American Nations: South American Defense Council Andean Community: South American Community of Nations Brazil Ministry of Foreign Relations: South American Community of Nations Tinku: UNASUR/Mercosur Initiative for the Integration of Regional Infrastructure in South America Institute for the Integration of Latin America and the Caribbean Latin-American Integration Association Do the Mercosur Countries Form an Optimum Currency Area? Bank Information Center: Bank of the South Southern Affairs: Academic Research on South American Regional Integration Towards Unity: Union of South American Nations
tàu con thoi discovery.txt
Tàu con thoi Discovery (tiếng Anh của "khám phá"; mã số: OV-103) là một trong số những tàu con thoi thuộc về Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ (NASA). Cất cánh lần đầu tiên vào năm 1984, Discovery là tàu con thoi thứ ba được đưa vào hoạt động. Tàu Discovery vừa phục vụ nghiên cứu, vừa phục vụ cho việc lắp đặt Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS). Tàu được lấy tên từ những con tàu thám hiểm tên Discovery. Đầu tiên là HMS Discovery, một con tàu biển đã đưa thuyền trưởng James Cook trên chuyến đi lớn thứ ba và cũng là cuối cùng của ông ta. Ngoài ra, còn có con tàu Discovery của Henry Hudson, được sử dụng trong năm 1610–1611 để đi tìm Tuyến đường biển Tây Bắc (Northwest Passage), và RRS Discovery, một con tàu được sử dụng bởi Scott và Shackleton cho những cuộc thám hiểm tới châu Nam Cực năm 1901–1904 (và vẫn còn đang được gìn giữ làm bảo tàng). Tàu con thoi này cũng trùng tên với Discovery One, con tàu trong phim 2001: A Space Odyssey. Discovery là tàu con thoi đã phóng Kính viễn vọng Hubble. Phi vụ sửa chữa lần thứ hai và lần ba của Hubble cũng được thực hiện bởi Discovery. Tàu này cũng đã phóng vệ tinh thám hiểm Ulysses và 3 vệ tinh TDRS. Discovery đã được chọn hai lần trong việc trở lại các chuyến bay lên quỹ đạo, lần thứ nhất là chuyến bay trong năm 1988, sau thảm họa Challenger, và lần thứ hai là vào tháng 7 năm 2005, sau thảm họa Columbia. Discovery cũng đã đưa phi hành gia John Glenn của Chương trình Mercury, 77 tuổi vào lúc đó, trở lại không gian trong STS-95 vào ngày 29 tháng 10 năm 1998, làm ông trở thành người cao tuổi nhất du hành vào không gian. == Các phi vụ nổi bật == STS-41-D: Chuyến bay đầu tiên STS-51-D: Đưa thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đầu tiên vào không gian, Jake Garn (Cộng Hòa-Utah) STS-26: Quay trở lại không gian sau khi thảm họa Challenger (STS-51-L) STS-31: Phóng Kính viễn vọng Hubble STS-95: Chuyến bay thứ hai của John Glenn, người cao tuổi nhất vào không gian và là nghị viên thứ hai vào không gian. STS-114: Quay trở lại không gian sau thảm họa Columbia (STS-107) STS-121: Chuyến thứ hai trở lại không gian sau thảm họa Columbia và là lần phóng tàu con thoi đầu tiên nhân dịp Quốc khánh Hoa Kỳ 4 tháng 7. === Danh sách các phi vụ === ‡ Phi vụ có thời gian lâu nhất của Discovery– Phi vụ có thời gian ngắn nhất của Discovery == Gallery == === Huy hiệu các phi vụ của Discovery === == Chú thích == == Liên kết ngoài == Các phi vụ trở lại STS-114 và STS-121 (tiếng Anh) Tàu lên quỹ đạo Tàu con thoi Discovery (OV-103) Theo dõi Discovery dùng Google Maps
bảng chữ cái phoenicia.txt
Bảng chữ cái Phoenicia, gọi theo quy ước là bảng chữ cái Proto-Canaanite cho văn bản xuất hiện trước 1050 TCN, là bảng chữ cái lâu đời nhất được xác minh. Bảng chữ cái Phoenicia có 22 chữ cái, tất cả đều là phụ âm, và được mô tả như là một abjad, với matres lectionis được sử dụng cho một số nguyên âm trong một số phiên bản sau đó. Nó được sử dụng cho các văn bản của người Phoenix,một ngôn ngữ Semitic Bắc, được sử dụng bởi các nền văn minh Phoenicia. Bảng chữ cái Phoenicia có nguồn gốc từ chữ tượng hình Ai Cập và trở thành một trong những hệ chữ viết được sử dụng rộng rãi nhất, được các thương gia Phoenician phổ biến trên toàn vùng Địa Trung Hải, nơi mà nó đã tiến hóa và đã được đồng hóa bởi nhiều nền văn hóa khác nhau. Bảng chữ cái Paleo-Hebrew đã được lấy trực tiếp từ bảng chữ cái Phoenicia. Một bảng chữ cái phái sinh là bảng chữ cái Aram, đó là tổ tiên của bảng chữ cái Ả Rập hiện đại. Bảng chữ cái Modern Hebrew là một biến thể phong cách của bảng chữ cái Aram. Bảng chữ cái Hy Lạp (và các bản mở rộng của nó như bảng chữ cái tiếng Latinh, Cyrillic, và Coptic) đã được cũng xuất phát từ bảng chữ cái Phoenicia. == Tham khảo == == Sách tham khảo == Jean-Pierre Thiollet, Je m'appelle Byblos, H & D, Paris, 2005. ISBN 2-ngày 99 tháng 4 năm 4266 Maria Eugenia Aubet, The Phoenicians and the West Second Edition, Cambridge University Press, London, 2001. Daniels, Peter T., et al. eds. The World's Writing Systems Oxford. (1996). Jensen, Hans, Sign, Symbol, and Script, G.P. Putman's Sons, New York, 1969. Coulmas, Florian, Writing Systems of the World, Blackwell Publishers Ltd, Oxford, 1989. Hock, Hans H. and Joseph, Brian D., Language History, Language Change, and Language Relationship, Mouton de Gruyter, New York, 1996. Fischer, Steven R., A History of Writing, Reaktion Books, 2003. Markoe, Glenn E., Phoenicians. University of California Press. ISBN 0-520-22613-5 (2000) (hardback) Ancient Hebrew and Aramaic on Coins, reading and transliterating Proto-Hebrew, online edition. (Judaea Coin Archive) == Liên kết ngoài == Ancient Scripts.com (Phoenician) Omniglot.com (Phoenician alphabet) official Unicode standards document for Phoenician (PDF file) Free-Libre GPL2 Licensed Unicode Phoenician Font GNU FreeFont Unicode font family with Phoenician range in its serif face. Phönizisch TTF-Font.
nhạc thính phòng.txt
Nhạc thính phòng là loại hình âm nhạc cổ điển biểu diễn trong phạm vi không gian nhỏ, như phòng hòa nhạc, với số lượng nhạc cụ không nhiều. Từ "nhạc thính phòng" được đưa ra để phân biệt với các loại hình biểu diễn âm nhạc khác như nhạc giao hưởng, nhạc sân khấu thường được biểu diễn ở không gian lớn hơn. Do tính chất thân mật của nó, nhạc thính phòng đã được mô tả như là "âm nhạc của bạn bè". Trong hơn 100 năm, nhạc thính phòng được chơi chủ yếu bởi các nhạc sĩ nghiệp dư trong nhà của họ, và ngay cả ngày nay, khi hầu hết các hoạt động âm nhạc thính phòng có di chuyển từ nhà đến phòng hòa nhạc, nhiều nhạc sĩ, nghiệp dư và chuyên nghiệp, vẫn chơi nhạc thính phòng cho niềm vui riêng của họ. Chơi nhạc thính phòng đòi hỏi kỹ năng đặc biệt cả về âm nhạc và xã hội, khác với các kỹ năng cần thiết để chơi solo hoặc tác phẩm giao hưởng. == Nhạc thính phòng ở Việt Nam == Nhạc thính phòng ở Việt Nam có 3 loại: Ca trù Bắc Bộ Ca Huế Trung Bộ Đờn ca tài tử Nam Bộ == Tham khảo == == Sách đọc thêm == Baron, John Herschel (1998). Intimate Music: A History of the Idea of Chamber Music. Pendragon Press. ISBN 1-57647-018-0. Blum, David (1986). The Art of Quartet Playing: The Guarneri Quartet in conversation with David Blum. New York: Alfred A. Knopf. ISBN 0-8014-9456-7. Booth, Wayne (1999). For the Love of It. Chicago: University of Chicago Press. ISBN 0-226-06585-5. Boyden, David (1965). The History of Violin Playing. Oxford and New York: Oxford University Press. Butterworth, Neil (1980). Dvorak, His Life and Times. Midas Books. ISBN 0-85936-142-X. Cobbett, Walter Willson, editor (1929). Cobbett's Cyclopedic Survey of Chamber Music. London: Oxford University Press. ISBN 9781906857820 and ISBN 978-1906857844. Donington, Robert (1982). Baroque Music: Style and Performance. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-30052-8. Einstein, Alfred (1947). Music in the Romantic Era. New York: W. W. Norton. Eosze, Laszlo (1962). Zoltan Kodaly, his life and work. Istvans Farkas and Gyula Gulyas (translators). Collet's. Geiringer, Karl (1982). Haydn: a Creative Life in Music. University of California Press. ISBN 0-520-04317-0. Gjerdingen, Robert (2007). Music in the Galant Style. Oxford and New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-531371-0. Griffiths, Paul (1978). A Concise History of Modern Music. Thames and Hudson. ISBN 0-500-20164-1. Griffiths, Paul (1985). The String Quartet: a History. Thames and Hudson. ISBN 0-500-27383-9. Kerman, Joseph (1979). The Beethoven Quartets. New York: W. W. Norton and Company. ISBN 0-393-00909-2. Miller, Lucy (2006). Adams to Zemlinsky. Concert Artists Guild. ISBN 1-892862-09-3. Norton, M.D. Herter (1925). The Art of String Quartet Playing. New York: Simon and Schuster (1962). Raynor, Henry (1978). Social History of Music. Boston: Taplinger Publishing Company. Sadie, Stanley, editor (1984). The New Grove Violin Family. New York: W. W. Norton and Company. ISBN 0-393-02556-X. Schoenberg, Arnold (1984). Leonard Stein, biên tập. Style and Ideal: Selected Writings of Arnold Schoenberg. Berkeley and Los Angeles: University of California Press. Seth, Vikram (2000). An Equal Music. Vintage. ISBN 0-375-70924-X. Shaham, Natan (1994). The Rosendorf Quartet. Grove Press. ISBN 0-8021-3316-9. Solomon, Maynard (1978). Beethoven. Granada Publishing, Limited. ISBN 0-586-05189-9. Steinhardt, Arnold (1998). Indivisible by Four. Farrar, Straus and Giroux. ISBN 0-374-52700-8. Stowell, Robert, editor (2003). The Cambridge Companion to the String Quartet. Cambridge and New York: Cambridge University Press. ISBN 0-521-80194-X. Swafford, Jan (1997). Johannes Brahms. Vintage Books. ISBN 0-679-74582-3. Thompson, Oscar (1940). Debussy: Man and Artist. Tudor Publishing Company. Ulrich, Homer (1966). Chamber Music. Columbia University Press. ISBN 0-231-08617-2. Winter, Robert, and Martin, Robert, editors (1994). The Beethoven Quartet Companion. Berkeley and Los Angeles: University of California Press. ISBN 0-520-20420-4. The New Grove Dictionary of Music and Musicians (ed. Stanley Sadie, 1980) == Liên kết ngoài == Chamber Music America. earsense chamberbase an online database of over 20,000 chamber works with a powerful and flexible search interface. Fischoff National Chamber Music Association, sponsor of the chamber music competitions and a supporter of chamber music education. A list of online resources about chamber music, including a list of chamber music concert presenters worldwide, published by the ACMP. The site includes many other resources for chamber music players, including contact list of musicians worldwide who play chamber music for their own enjoyment. They also publish lists of repertoire. Annotated bibliography of double wind quintet music
an nam đô hộ phủ.txt
An Nam đô hộ phủ (chữ Hán: 安南都護府) là tên gọi Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3, từ năm 679 đến năm 866, với bộ máy cai trị của nhà Đường trên vùng tương ứng với một phần tây nam Quảng Tây (Trung Quốc), Miền Bắc và miền Trung Việt Nam ngày nay, có địa bàn từ Hà Tĩnh trở ra. Đô hộ phủ (chữ Hán: 都護府) là các cơ quan quản lý các khu vực biên giới của một số triều đại phong kiến Trung Quốc. == Hành chính == Tháng 8 năm Điều Lộ thứ nhất (679), nhà Đường đổi Giao Châu tổng quản phủ (lập năm 622) thành An Nam đô hộ phủ, bao gồm 13 châu với 59 huyện: Giao Châu Lục Châu Phong Châu Ái Châu Hoan Châu Trường Châu Phúc Lộc Châu Thang Châu Chi Châu Vũ Nga Châu Diễn Châu Vũ An Châu Các châu kimi == Tên gọi == Năm 757, nhà Đường đổi là Trấn Nam đô hộ phủ, chín năm sau lấy lại tên cũ. Năm 825, lị sở An Nam đô hộ phủ đặt tại Tống Bình (Hà Nội ngày nay). Chức quan đứng đầu An Nam đô hộ phủ là kinh lược sứ. An Nam đô hộ phủ không được xem ngang hàng như các "quân" - đơn vị hành chính ở Trung Quốc đương thời. Cho tới năm 866, Đường Ý Tông theo thỉnh cầu của Cao Biền, thăng An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân. == Lịch sử == Năm 687, các thủ lĩnh người Việt là Lý Tự Tiên và Đinh Kiến nổi dậy, giết chết vị quan nhà Đường là Lưu Diên Hựu. Nhà Đường phái Tào Huyền Tĩnh sang trấn áp. Năm 713, Mai Thúc Loan lãnh đạo một cuộc nổi dậy của người Việt, chiếm được lị sở Tống Bình, giữ được độc lập trong vòng 10 năm. Nhà Đường phải huy động 10 vạn quân mới tái chiếm được. Năm 761 -767, Abe no Nakamaro (阿倍仲麻呂, tức là Triều Hành) người Nhật Bản du học và làm quan cho nhà Đường được cử làm người đứng đầu An Nam đô hộ phủ. Năm 767, các thế lực quân sự từ đảo Java (các tư liệu lịch sử cũ gọi là Chà Và) tấn công vào Chu Diên. Năm 791, hào trưởng người Việt là Phùng Hưng, đánh chiếm được thành Tống Bình, giữ độc lập được một thời gian. Đầu thế kỷ 9, Hoàn vương quốc (tiền thân là Lâm Ấp) tấn công biên giới phía Nam. Năm 808, tiết độ sứ là Trương Chu tấn công Hoàn vương quốc và giành thắng lợi. Năm 819, thủ lĩnh người Việt là Dương Thanh nổi dậy giết quan nhà Đường là Lý Tượng Cổ, giữ được 2 năm thì bị dẹp. Từ năm 846, Nam Chiếu nhiều lần tấn công An Nam đô hộ phủ. Mãi đến năm 866, Cao Biền mới đánh lui được hoàn toàn quân Nam Chiếu. == Trong quan hệ ngoại giao đời sau == Khác với tên gọi Tĩnh Hải quân sau đó chỉ được các triều đình phương Bắc dùng làm một tên gọi Việt Nam trong vòng 50 năm sau khi tên gọi này chấm dứt (968), tên gọi An Nam được các triều đình phương Bắc dùng gần như suốt thời kỳ phong kiến để gọi Việt Nam. Dù không còn là "đô hộ phủ" khi Việt Nam đã chính thức độc lập, có quốc hiệu và niên hiệu riêng, tên gọi "An Nam" vẫn được dùng trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Nhiều vua Việt Nam từ thời Lý tới thời Tây Sơn đã nhận danh hiệu An Nam quốc vương do vua Trung Quốc phong. == Những người đứng đầu == Trong thời gian tồn tại từ năm 679 đến 866, An Nam đô hộ phủ gồm có những người đứng đầu (với chức danh khác nhau) sau đây (danh sách không đầy đủ, những người chết vì cuộc chiến tại An Nam đô hộ phủ có tên in nghiêng): == Xem thêm == Tĩnh Hải quân An Đông đô hộ phủ Bắc thuộc lần 3 Hành chính Việt Nam thời Bắc thuộc lần 3 == Tham khảo == Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội == Chú thích ==
hugues capet.txt
Hugues Capet (khoảng 940 – 24 tháng 10 năm 996) là Vua Pháp đầu tiên của nhà Capet từ khi được bầu làm vua kế vị cho Louis V nhà Karolinger năm 987 cho tới khi băng hà. Là con trai của một vị công tước của người Pháp, Hugues le Grand, Hugues Capet đã là người sáng lập ra triều đại Capetian, dòng họ mà đã cầm quyền cai trị nước Pháp đến năm 1848. == Tham khảo ==
tiền tệ.txt
Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, là đồng tiền được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay nền kinh tế. Vì định nghĩa như vậy, tiền tệ còn được gọi là "tiền lưu thông". Tiền tệ có thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền xu) do Nhà nước (ngân hàng trung ương, Bộ Tài chính, v.v...) phát hành. Khi phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác, người ta dùng cụm từ "đơn vị tiền tệ". Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có cùng một tên gọi (ví dụ: dollar, franc...) và để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta thường phải gọi kèm tên quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: dollar Úc). Với sự hình thành của các khu vực tiền tệ thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùng chung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR. Đơn vị tiền tệ của Việt Nam được gọi là đồng, ký hiệu dùng trong nước là "đ", ký hiệu quốc tế là VND, đơn vị nhỏ hơn của đồng là hào (10 hào = 1 đồng) và xu (10 xu = 1 hào). Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập bằng đơn vị tiền tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng tiền giấy và tiền kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy. Theo luật pháp của Việt Nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn. == Giá trị và giá cả của tiền tệ == Tiền tệ có giá trị không phải vì nó có giá trị tự thân mà vì những gì tiền tệ có thể trao đổi được. Giá trị của tiền tệ là số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một đơn vị của tiền tệ, ví dụ số lượng hàng hóa và dịch vụ mua được bằng một Dollar. Nói cách khác giá trị của tiền tệ là nghịch đảo của giá cả hàng hóa. Giá cả của tiền tệ chính là lãi suất, nói một cách khác, giá cả của tiền tệ là số tiền mà người ta phải trả cho cơ hội được vay nó trong một khoảng thời gian xác định. Giá trị của tiền tệ là 1 lượng vàng nguyên chất nhất định làm đơn vị tiền tệ. == Tính chất của tiền tệ == Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, tiền tệ (hay tiền trong lưu thông) phải có các tính chất cơ bản sau đây: Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ, người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là tiền nữa. Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi. Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Chính vì thế những tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy chất lượng cao nào khác. Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao cho người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàng đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ khác cũng cần thiết không kém. Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá trị cũng như mới có ích trong trao đổi. Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền, chính vì vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền chắc. Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang theo, tiền tệ phải dễ vận chuyển. Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và những đồng xu có kích thước, trọng lượng rất vừa phải chứ tiền giấy không được in khổ rộng ví dụ như khổ A4. Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ giá trị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa. Vì thế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ và ngày nay ngân hàng trung ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiền giấy và tiền xu. Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau không phân biệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND được làm ra cách đây 2 năm cũng có giá trị như một đồng xu như thế vừa mới được đưa vào lưu thông. Có như vậy tiền tệ mới thực hiện chức năng là đơn vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi. == Lịch sử tiền tệ == Xem chi tiết tại Tiền. == Đặc lợi phát hành tiền tệ == Xem bài chính về Đặc lợi phát hành tiền tệ Lợi ích mà ngân hàng trung ương (hoặc cơ quan chính phủ có quyền phát hành tiền) có được nhờ phát hành tiền tệ được gọi là đặc lợi phát hành tiền tệ. Đây là phần giá trị chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa (hay giá trị quy định) căn cứ vào con số của tờ bạc hoặc đồng xu và chi phí sản xuất, đưa vào lưu thông cũng như thu hồi các đồng tiền đó. == ISO 4217 == Xem bài chính về ISO 4217 ISO 4217 là một tiêu chuẩn của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) quy định về mã của tất cả các đơn vị tiền tệ bao gồm cả tiền tệ dùng trong giao dịch thanh toán và tiền tệ kế toán. ISO 4217 cũng mã hóa cho các đơn vị tiền tệ được định nghĩa là 1 troy ounce của các kim loại quý như vàng, bạc, platinum (vàng trắng),... Hệ thống mã này gồm hai loại mã, mã 3 ký tự bằng chữ (ví dụ: USD) và mã 3 ký tự bằng số (ví dụ: 704 cho đồng Việt Nam). Trừ một vài ngoại lệ, đối với tiền tệ của một quốc gia, mã 3 ký tự bằng chữ có hai ký tự đầu là mã quốc gia (cũng đã được chuẩn hóa theo một tiêu chuẩn khác của ISO) và ký tự thứ ba là chữ cái bắt đầu của tên gọi đơn vị tiền tệ, đồng Việt Nam được mã hóa theo đúng nguyên tắc này thành VND. Hệ thống mã này giúp cho các đơn vị tiền tệ được sử dụng trong thương mại, thanh toán một cách thống nhất và tránh được nhầm lẫn. == Các đơn vị tiền tệ quốc tế == Một số đơn vị tiền tệ quốc gia của những nền kinh tế phát triển của thế giới hoặc của khu vực được sử dụng nhiều và do đó chiếm tỷ trọng lớn trong quan hệ thương mại và tài chính quốc tế như Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, Bảng Anh. == Các đơn vị tiền tệ kế toán == Một số đơn vị tiền tệ không thực tế xuất hiện trong lưu thông mà chỉ được dùng cho mục đích tính toán để thuận tiện trong quan hệ tài chính, thương mại quốc tế còn khi thanh toán phải được quy đổi ra các đơn vị tiền tệ lưu thông, trong đó phổ biến là: Quyền rút vốn đặc biệt - SDR: có mã ISO là XDR, đây là đơn vị tiền tệ được Quỹ tiền tệ quốc tế, một số tổ chức quốc tế sử dụng, nó cũng được dùng để tính toán cước phí bưu chính, viễn thông quốc tế. XDR gồm một giỏ các loại tiền phổ biến trong thương mại và tài chính quốc tế và hiện nay gồm EUR, USD, JPY, GBP với quyền số và giá trị được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tính toán 5 năm một lần. IMF cũng công bố tỷ giá của XDR so với USD hàng ngày để phục vụ cho thanh toán. Franc Poincaré: được sử dụng chủ yếu trong các quy định quốc tế liên quan đến trách nhiệm vật chất (ví dụ: Công ước Warszawa về trách nhiệm của các hãng hàng không quốc tế trong vận chuyển người, hành lý, hàng hóa bằng máy bay). Nó được định nghĩa là 65,5 mg vàng 900 phần nghìn. Tuy nhiên loại đơn vị tiền tệ kế toán này ngày nay hầu như đã được thay thế bởi XDR. ECU (viết tắt của cụm từ tiếng Anh "European Currency Unit"): là đơn vị tiền tệ kế toán được xây dựng trên cơ sở giỏ tiền tệ của các nước thuộc Cộng đồng châu Âu có mã ISO là XEU trước khi nó được thay thế bằng đồng Euro (mã ISO là EUR) với tỷ lệ 1:1. Tuy nhiên việc thay thế này đã nảy sinh một số rắc rối khi có tranh tụng pháp lý ở ngoài Cộng đồng châu Âu về việc đồng EUR có phải là đồng tiền thay thế XEU hay không. Ngoài các đơn vị tiền tệ kế toán khá phổ biến trong thương mại và tài chính quốc tế nêu trên, trong ngành hàng không dân dụng thế giới, một đơn vị tiền tệ kế toán là NUC (viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Neutral Unit of Currency") được sử dụng để tính cước phí vận chuyển hàng không. Tỷ giá của nó so với USD luôn là 1. == Một số đơn vị tiền tệ đang được xem xét để chính thức hoá == Đơn vị tiền tệ châu Á (ACU): một loại tiền tệ kế toán khởi đầu do diễn đàn ASEAN+3 (gồm các nước thành viên ASEAN cộng với Trung quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) đề xướng với bản chất là một giỏ tiền tệ tương tự như ECU của Cộng đồng châu Âu. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đang tiếp tục nghiên cứu để biến dự án này thành hiện thực trong một tương lai gần. Eco: là đồng tiền chung của các nước thuộc Khu vực tiền tệ Tây Phi nằm trong Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi dự kiến áp dụng từ 2009. Shilling Đông Phi: là loại tiền tệ mà các nước thuộc Cộng đồng Đông Phi dự kiến áp dụng làm đồng tiền chung vào cuối năm 2009 Khaleeji: là đồng tiền chung mà những quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác các nước Ả-rập vùng Vịnh dự kiến áp dụng vào năm 2010 Các nước thuộc Cộng đồng Ca-ri-bê cũng đang có dự án xây dựng đồng tiền chung và theo kế hoạch sẽ ra đời trong khoảng từ năm 2010 đến 2015 nhưng chưa đưa ra tên gọi. == Thị trường ngoại hối == Xem bài chính: Thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối là thị trường mà ở đó tiền tệ của các nước khác nhau được đem ra trao đổi với nhau, chính tại thị trường này tỷ giá hối đoái được xác định. Các thị trường bán buôn được tổ chức tại các trung tâm tài chính, tiền tệ quốc tế như: New York, Tokyo, London, Zurich, Hongkong, Singapore... Ở mức độ bán lẻ nó được rất nhiều ngân hàng thương mại, công ty chuyên doanh ngoại hối thực hiện. Tại thị trường này, cung và cầu cũng quyết định giá cả của ngoại hối hay chính là tỷ giá hối đoái. == Khủng hoảng tiền tệ == Xem bài chính về Khủng hoảng tiền tệ Hiện chưa có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhưng nhìn chung khủng hoảng tiền tệ được dùng để chỉ hiện tượng giá trị đối ngoại của đơn vị tiền tệ quốc gia bị suy giảm (nói cách khác là mất giá so với ngoại tệ) một cách nghiệm trọng và nhanh chóng. Chính phủ trở nên vô cùng khó khăn khi kiểm soát tỷ giá hối đoái và khi ngân hàng trung ương cố gắng can thiệp tỷ giá để bảo vệ giá trị của tiền tệ thì dự trữ ngoại hối của quốc gia bị mất đi ở quy mô lớn. Đã có một số mô hình khủng hoảng tiền tệ được nghiên cứu, một trong số đó là những nhà đầu cơ tấn công vào tiền tệ của một quốc gia và khi họ có nhiều tiền hơn ngân hàng trung ương của quốc gia đó thì khủng hoảng tiền tệ sẽ xảy ra. == Xem thêm == Danh sách các loại tiền tệ đang lưu hành Tiền VND == Tham khảo == Begg D., Fischer S. và Dornbusch R. (2007), Kinh tế học, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. David Cox (1997), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. == Liên kết ngoài == Các đơn vị tiền tệ theo tiêu chuẩn ISO 4217
percy bysshe shelley.txt
Percy Bysshe Shelley ( /ˈpɜrsi ˈbɪʃ ˈʃɛli/;, 4 tháng 8 năm 1792 – 8 tháng 7 năm 1822) – nhà thơ, nhà triết học Anh, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ XIX. == Tiểu sử == Percy Bysshe Shelley xuất thân trong một gia đình quý tộc lâu đời. Năm 12 tuổi vào học trường College đã được bạn bè gọi là "Shelley điên rồ" vì say mê đọc Lucretius và tuyên bố rằng không hề có Chúa Trời. Thời gian này Shelley còn say mê đọc các tác phẩm triết học của Voltaire, Francis Bacon. Năm 1810 vào học Đại học Oxford, in những bài thơ về chính trị và tiểu luận triết học The Necessity of Atheism (Cần chủ nghĩa vô thần), chứng minh rằng không thể có sự hòa nhập giữa tôn giáo và trí tuệ nên bị đuổi học. Từ đây bắt đầu một thời kỳ xa lánh gia đình và đi phiêu lãng. Một thời gian Shelley nghiên cứu kinh tế chính trị và các tác phẩm của William Godwin. Vì lòng thương hại, Shelley cưới Harriet Westbrook, con gái của một chủ quán làm vợ và hai người đi sang Edinburgh làm lễ cưới. Cuộc hôn nhân này không mang lại cho Shelley hạnh phúc mà chỉ làm cho gia đình càng xa lánh Shelley nhiều hơn. Năm 1812 Shelley đi sang Ireland để tham gia phong trào giải phóng dân tộc, đòi độc lập cho Ireland, Nhà thơ đứng về phía những người giải phóng, viết tác phẩm Queen Mab (Hoàng hậu Mab, 1813) mà Lord Byron gọi là tác phẩm hay nhất của Shelley. Sử dụng những hình tượng của Shakespeare, Shelley vẽ một bức tranh tưởng tượng trong mơ của một cô gái lạc vào lâu đài của hoàng hậu Mab, được hoàng hậu kể cho nghe những bất công ở trần gian và phần cuối là một tương lai tươi sáng, nơi con người sống tự do, không còn bị áp bức. Năm 1814 Shelley cưới vợ lần thứ hai. Người này là Mary Wollstonecraft Godwin, thường gọi là Mary Shelley, con gái của William Godwin, cũng là một nữ nhà văn nổi tiếng. Năm 1818 gia đình chuyển sang sống ở Ý, xứ sở mà các nhà thơ lãng mạn vẫn coi là ngọn nguồn của cảm hứng thi ca. Chính thời kỳ này Shelley viết được nhiều tác phẩm có giá trị nhất như: The Cenci; Ode to the West Wind; The Masque of Anarchy; Julian and Maddalo; Prometheus Unbound; Hellas… Cuối năm 1822, gia đình Shelley cùng gia đình một người bạn sống ở biệt thự Casa Nova bên bờ biển. Mặc dù không biết bơi và không hiểu gì về môn thể thao đua thuyền nhưng Shelley vẫn sắm cho mình chiếc thuyền buồm có tên "Ariel". Trong một lần đến gặp Lord Byron ở Pisa, trên đường trở về "Ariel" bị chìm do gặp bão. Mấy ngày sau người ta tìm thấy xác của Shelley, đem hỏa táng ngay trên bờ biển rồi gửi về nghĩa trang Tin lành ở Roma. Con tim của Shelley được Mary Shelley mang theo mình cho đến hết đời. Sáng tạo của Shelley, không được người đương thời đánh giá đúng mức, có ảnh hưởng lớn đến thơ ca Anh và Thế giới. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng lãng mạn của Shelley là đề tài của nhiều huyền thoại và truyền thuyết nổi tiếng. == Tác phẩm == (1810) Zastrozzi and St Irvyne (1811) The Necessity of Atheism (1813) Queen Mab (1815) Alastor, or The Spirit of Solitude (1816) Mont Blanc (1817) Hymn to Intellectual Beauty (1817) The Revolt of Islam (1818) Ozymandias (1818) Plato, The Banquet (or Symposium) dịch "Bữa tiệc" của Plato sang tiếng Anh (1819) The Cenci (1819) Ode to the West Wind (1819) The Masque of Anarchy (1819) Men of England (1819) England in 1819 (1819) The Witch of Atlas (1819) A Philosophical View of Reform (1819) Julian and Maddalo (1820) Prometheus Unbound (1820) To a Skylark (1821) Adonais (1821) Hellas (1821) A Defence of Poetry (in lần đầu năm 1840) (1822) The Triumph of Life (viết dở, in sau khi chết) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Works by Percy Bysshe Shelley at Project Gutenberg Selected Poems of Shelley Shelley and the Romantic Movement A talk on Shelley's politics (MP3) by Paul Foot: part 1, *part 2 A pedigree of the Shelley family Masque of Anarchy, A Poem by Shelley Shelley’s death and funeral @ Ward’s Book of Days Romantic Circles — Excellent Editions & Articles on Shelley and other Authors of the Romantic period
sumitomo.txt
Sumitomo Group (住友グループ, Sumitomo Group) là một trong những keiretsu lớn nhất được thành lập bởi Masatomo Sumitomo. Masatomo Sumitomo bắt đầu khởi nghiệp là một cửa hàng bán dược phẩm và sách vào năm 1630 tại Kyoto, Nhật Bản. == Các công ty thành viên Sumitomo == Sumitomo Chemical Co., Ltd., Công nghiệp hóa chất Sumitomo Heavy Industries, Ltd., máy móc, vũ khí, đóng tàu Sumitomo Mitsui Banking Corporation, tài chính Sumitomo Metal Industries, Ltd., thép Sumitomo Metal Mining Co., Ltd., Non-ferrous metals Sumitomo Corporation, Integrated trading company Sumitomo Corporation of America The Sumitomo Trust & Banking Co., Ltd., tài chính Sumitomo Life Insurance Co., bảo hiểm Sumitomo Coal Mining Co., Ltd., khai khoáng The Sumitomo Warehouse Co., Ltd., kho bãi Sumitomo Electric Industries, Ltd., điện tử và sản phẩm điện tử Mitsui Sumitomo Insurance Co., Ltd., bảo hiểm Nippon Sheet Glass Co., Ltd., thủy tinh NEC, các sản phẩm điện - điện tử Sumitomo Realty & Development Co., Ltd., bất động sản Sumitomo Osaka Cement Co., Ltd., điện cực dương pin lithium Sumitomo Light Metal Industries, Ltd., kim loại không chứa sắt Sumitomo Mitsui Construction Co., Ltd., xây dựng Sumitomo Bakelite Co., Ltd., hóa chất Sumitomo Forestry Co., Ltd., Lumber và housing Sumitomo Rubber Industries, Ltd., lốp và cao su == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) Sumitomo Group Public Affairs Committee Bản mẫu:Keiretsu
shenyang j-15.txt
Shenyang J-15 (giản thể: 歼-15), còn gọi là cá mập bay (giản thể: 飞鲨, Phi sa), là một loại máy bay tiêm kích hoạt động trên tàu sân bay, được phát triển bởi Shenyang Aircraft Corporation và Viện 601 trang bị cho tàu sân bay của Không quân Hải quân Quân giải phóng Nhân dân. == Tính năng kỹ chiến thuật == Đặc điểm tổng quát Kíp lái: 1-2 Chiều dài: 21,9 m (72 ft) Sải cánh: 14,7 m (48,25 ft) Chiều cao: 5,9 m (19,5 ft) Diện tích cánh: 62,04 m2 (667,80 ft2) Trọng lượng rỗng: 17500 kg (38600 lb) Trọng lượng có tải: 27000 kg (60000 kg) Trọng lượng cất cánh tối đa: 32000 kg (71000 lb) Động cơ: 2 × WS-10A kiểu động cơ tuabin quạt trong có chế độ đốt tăng lựcLực đẩy thô: 89,17 kN (20.050 lbf) mỗi chiếc Lực đẩy khi đốt tăng lực: 135 kN (33.000 lbf) mỗi chiếc Sải cánh khi gấp lại: 7,4 m (24,25 ft) Hiệu suất bay Vận tốc cực đại: Mach 2,4 Tầm bay: 3500 km (2050 mi) Trần bay: 20000 m (65700 ft) Vận tốc lên cao: 325 m/s (64000 ft/phút) Trang bị vũ khí 1 × pháo GSh-30-1 30 mm 12 giá treo vũ khí, gồm: 8 × tên lửa không đối không PL-12 hoặc R-77 và 4 × PL-9 hoặc R-73 Bom và rocket hàng không Tên lửa chống hạm và chống radar Thiết bị đối kháng điện tử (ECM) == Xem thêm == Máy bay tiêm kích phản lực thế hệ 4,5 Máy bay có sự phát triển liên quan Sukhoi Su-33 Shenyang J-11B Máy bay có tính năng tương đương Dassault Rafale Boeing F/A-18E/F Super Hornet == Tham khảo == Chú thích == Liên kết ngoài == J15 Naval Carrier Based Fighter, PLA Navy, J-15 fighter photos and introductions, AirForceWorld.com Chinese Military Aviation
litva.txt
Litva (phiên âm tiếng Việt: Lít-va; tiếng Litva: Lietuva, tiếng Anh: Lithuania), tên chính thức là Cộng hòa Litva (tiếng Litva: Lietuvos Respublika) là một quốc gia thuộc khu vực châu Âu theo thể chế cộng hòa. Theo sự phân chia của Liên Hiệp Quốc, Litva được xếp vào nhóm Bắc Âu. Litva giáp với Latvia về phía bắc, giáp với Belarus về phía đông nam, giáp với Ba Lan và tỉnh Kaliningrad thuộc Liên bang Nga về phía tây nam và giáp với biển Baltic về phía tây. Địa hình của Litva khá bằng phẳng và thấp, không có điểm nào có độ cao vượt quá 300 mét. Khí hậu của nước này tương đối ôn hòa. Đất nước Litva có rất nhiều rừng cây, sông suối và một nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ. Theo số liệu vào tháng 7 năm 2007, dân số Litva là 3.575.439 người, mật độ dân số là khoảng 55 người/km². Litva là một quốc gia có lịch sử lâu đời tại châu Âu. Quốc gia này chính thức xuất hiện trong lịch sử từ năm 1009 và sau đó đã phát triển thành Đại Lãnh địa Litva hùng mạnh. Trong khoảng thời gian 1569–1795, Litva cùng với Ba Lan thành lập một quốc gia với tên gọi Liên bang Ba Lan – Litva. Khi liên bang tan rã, Litva trở thành một phần của Đế chế Nga cho đến năm 1918, khi nước này tuyên bố thành lập nền cộng hòa. Sau hiệp ước Xô-Đức, 1939 Liên Xô đã thu hồi Tây Belarus và trả lại vùng đất Vilnius cho Litva, nhưng 1940 đến lượt Litva, cũng như Estonia sáp nhập vào Liên Xô, rồi Đức Quốc xã chiếm đóng năm 1941. Sau thế chiến thứ hai, Litva đã trở thành một phần của Liên Bang Xô Viết với tên gọi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Litva. Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ vào năm 1991, Litva trở thành một quốc gia độc lập Ngày nay Litva là một nước cộng hòa theo thể chế cộng hòa nghị viện, đứng đầu là tổng thống. Nước này là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, NATO, Tổ chức Thương mại Thế giới. Vào ngày 1 tháng 5 năm 2004, Litva đã chính thức trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu. Kinh tế Litva khá phát triển so với các nước Đông Âu lân cân. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất ở Litva là Vilnius. == Lịch sử == === Thời kỳ tiền sử === Sau khi băng tan, con người đã xuất hiện tại vùng đất mà ngày nay là Litva vào khoảng thiên niên kỷ thứ 10 trước Công nguyên. Họ đến từ hai hướng khác nhau, một từ bán đảo Jutland và một từ đất nước Ba Lan ngày nay, mang theo hai nền văn hóa khác nhau thể hiện trên những công cụ mà họ sử dụng. Những người này chủ yếu sống bằng nghề săn bắn và không thành lập những khu dân cư cố định. Sang thiên niên kỷ thứ 8 trước Công nguyên, khí hậu trở nên ấm áp hơn khiến rừng cây phát triển, các nguồn thức ăn ngày càng trở nên dồi dào. Vào thiên niên kỉ thứ 6 và thứ 5 trước công nguyên, con người tại đây bắt đầu thuần hóa các loài vật nuôi. Nền nông nghiệp xuất hiện tương đối muộn tại Litva, vào khoảng thiên niên kỉ thứ 3 trước công nguyên do thiếu các công cụ canh tác hiệu quả. Các nghề thủ công và thương mại bắt đầu xuất hiện. Các dân tộc thuộc nhóm Ấn – Âu đã đến đây vào khoảng năm 2500 trước Công nguyên và đồng nhất thành các dân tộc Baltic khoảng 500 năm sau đó. Người Litva là một nhánh của các dân tộc Baltic, bao gồm cả người Latvia và nhiều dân tộc khác nữa. Theo cuốn biên niên sử của tu viện thành phố Quedlinburg, đất nước Litva đã chính thức xuất hiện trong lịch sử vào ngày 14 tháng 2 năm 1009. Trong thế kỉ 11, Litva gồm nhiều vùng đất nhỏ phải triều cống cho Kievan Rus. Nhưng sang thế kỉ 12, người Litva đã gây ra nhiều cuộc chiến tranh chinh phục và cướp bóc sang những vùng đất xung quanh, tiền đề để hình thành Đại Lãnh địa Litva sau này. === Đại Lãnh địa Litva === Trước sự đe dọa của ngoại bang, Mindaugas đã thống nhất các dân tộc Baltic lại và đánh thắng người Livonia trong trận Saule vào năm 1236. Ngày 6 tháng 6 năm 1253, ông đã lên ngôi vua của Litva và đất nước được tuyên bố với tên gọi Vương quốc Litva. Tuy nhiên, Mindaugas đã bị người cháu trai của ông là Treniota sát hại. Vương quốc Litva rơi vào khủng hoảng và đất nước này đã bị tàn phá nặng nề trong các cuộc xâm lăng của người Mông Cổ vào các năm 1241, 1259 và 1275. Năm 1316, vua Gediminas đã tiến hành khai phá và xây dựng lại đất nước Litva. Dưới sự trị vì của Gediminas, đất nước Litva đã trở nên hùng mạnh và dám thách thức với cả người Mông Cổ, lúc đó đang kiểm soát nước Nga. Bằng những cuộc chiến tranh chinh phục, lãnh thổ Litva đã mở rộng hơn bao giờ hết, trải dài từ biển Baltic đến biển Đen và bao gồm nhiều phần của nước Belarus và Ukraina ngày nay. Vào cuối thế kỉ 14, Litva trở thành quốc gia rộng lớn nhất châu Âu. Cuộc hôn nhân giữa nữ hoàng Jadwiga của Ba Lan và đại công tước Jogaila của Litva vào năm 1377 đã thành lập một liên minh quyền lực giữa Ba Lan và Litva nhằm chống lại mối đe dọa đến từ nước Phổ và Đại Lãnh địa Moskva. Trước đó, đại công tước Jogaila đã cải đạo và biến Litva trở thành một quốc gia theo Cơ đốc giáo. Ngày 2 tháng 2 năm 1386, Jogaila chính thức trở thành vua của Ba Lan. Điều đó có nghĩa là Ba Lan và Litva đã trở thành một quốc gia duy nhất, thế nhưng Đại Lãnh địa Litva vẫn giữ nguyên vị thế riêng của mình. Thời kỳ này, nhiều thành phố của Litva chịu ảnh hưởng của hệ thống luật pháp của người Đức, trong đó có Vilnius, thủ đô của Đại Lãnh địa Litva. Vào thế kỉ 16, những du học sinh Litva khi trở về đất nước đã mang theo một cuộc cách mạng văn hóa, được biết đến như Thời kỳ Phục hưng của Litva. Kiến trúc Ý được giới thiệu tại nhiều thành phố của nước này, đồng thời với việc nền văn học Litva viết bằng tiếng Latin nở rộ. Ngôn ngữ viết của tiếng Litva cũng được sáng tạo trong thời gian đó. === Liên bang Ba Lan – Litva (1569–1795) === Với sự đồng thuận của Hiệp ước Lublin năm 1569, một quốc gia thống nhất giữa Ba Lan và Litva được thành lập với tên gọi Liên bang Ba Lan – Litva, hay còn được biết đến như nền Cộng hòa thứ nhất của Ba Lan hoặc Cộng hòa Liên bang của Hai Quốc gia. Sự hợp nhất giữa Vương quốc Ba Lan với Đại Lãnh địa Litva đã hình thành nên một quốc gia có diện tích rộng lớn ở châu Âu và có vị thế chính trị đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ chính thức thời kỳ này là tiếng Ba Lan và tiếng Latin ở Vương quốc Ba Lan cùng với tiếng Ruthenia và tiếng Litva ở Đại Lãnh địa Litva. Tuy nhiên, Litva đã phải trải qua một quá trình Ba Lan hóa trên mọi mặt đời sống. Tầng lớp quý tộc và thượng lưu ở những thành phố lớn như Vilnius và Grodna lại thường hay sử dụng tiếng Ba Lan. Và đến năm 1696, tiếng Ba Lan đã trở thành ngôn ngữ chính thức tại Litva. Sang thế kỉ 18, liên bang bắt đầu suy sụp bởi những cuộc khủng hoảng chính trị và xung đột. Bản Hiến pháp Ngày 3 tháng 5 năm 1791 đã đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của Liên bang Ba Lan – Litva. Những sự phân chia Ba Lan vào các năm 1772, 1793 và 1795 đã chứng kiến việc Litva bị xâu xé giữa Nga và Phổ. === Thời kỳ thuộc Đế quốc Nga (1795–1914) === Sau sự phân chia lần thứ ba Ba Lan năm 1795, Đế quốc Nga đã kiểm soát phần lớn lãnh thổ của Litva, trong đó có thành phố Vilnius. Khoảng đầu thế kỉ 19, nước Nga đã tỏ ra có thể chấp nhận sự tự trị của Litva nhưng điều này đã không thành hiện thực. Vào năm 1812, khi quân đội Pháp của Napoléon I tiến vào Litva, người Litva đã coi đó như những người mang hy vọng độc lập về cho Litva. Thế nhưng khi quân Pháp bị đánh bại bởi Nga, Sa hoàng Nikolai I đã ban hành hàng loạt đạo luật đồng hóa đối với Litva. Năm 1864, theo lệnh của Sa hoàng Aleksandr II, tiếng Litva và bảng chữ cái La Tinh chính thức bị cấm tại tất cả mọi trường học. Tuy nhiên đến cuối thời kỳ này, tiếng Litva đã dần dần khôi phục sau một thời gian dài bị lãng quên. Thời điểm đó, tiếng Ba Lan và tiếng Nga là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong tầng lớp thượng lưu. Phong trào phục hưng ngôn ngữ dân tộc xuất hiện trước trong tầng lớp nghèo khổ, rồi sau đó là những người giàu có. Những tờ báo bằng tiếng Litva đã ra đời tại Aušra và Varpas. Tiếng Litva được khôi phục và phát triển là một điều kiện để dẫn tới phong trào độc lập dân tộc sau này. === Chiến tranh thế giới thứ nhất === Phong trào vận động dân tộc của Litva ngày càng phát triển mạnh mẽ trong Đế chế Nga đang suy tàn. Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Vào năm 1915, Litva bị quân đội Đức chiếm đóng. Sự sụp đổ của Đế chế Nga trong cuộc Cách mạng tháng Mười Nga đã dẫn tới việc Litva tuyên bố thành lập một nền cộng hòa độc lập ngày 16 tháng 2 năm 1918 khi vẫn còn bị Đức chiếm đóng. Tháng 11 năm 1918, quân Đức thất bại và Litva trở thành một quốc gia độc lập. Ban đầu, vua Mindaugas II được tuyên bố là vua của Vương quốc Litva nhưng sau đó chính quyền Litva đã tuyên bố thành lập một nước cộng hòa. === Litva giữa hai cuộc thế chiến (1918–1939) === Sau khi trở thành một nước cộng hòa độc lập vào năm 1918, Litva đã phải chiến đấu chống lại nhiều quốc gia lân cận để bảo vệ cho nền độc lập. Những người Bolshevik đã tấn công Litva từ phía đông tuy nhiên ngay sau đó chính phủ Litva ở thủ đô lâm thời Kaunas đã đẩy lùi quân đội Xô viết ra khỏi lãnh thổ. Tiếp đó, Litva lại có những xung đột về lãnh thổ với Ba Lan và Đức. Năm 1920, quân Ba Lan chính thức chiếm thành phố Vilnius của Litva. Theo hiến pháp Litva, thành phố Vilnius là thủ đô của nước này mặc dù nó nằm trong lãnh thổ Ba Lan và cộng đồng người Litva tại thành phố này quá nhỏ bé, chỉ chiếm khoảng 3% dân số so với cộng đồng người Ba Lan và Do Thái đông đảo tại đây. Những xung đột về lãnh thổ giữa Litva với Ba Lan và Đức khiến tình hình nước này luôn bất ổn. === Chiến tranh thế giới thứ hai === Theo Hiệp ước Xô-Đức được ký kết tháng 8 năm 1939, Litva nằm trong khu vực ảnh hưởng của Liên Xô. Năm 1940, Liên Xô gửi tối hậu thư cho Litva yêu cầu trục xuất và bắt giam một số chính trị gia quan trọng của Litva, đồng thời đòi triển khai các đơn vị quân đội Xô viết ngay trên lãnh thổ nước này. Chính quyền Litva đã quyết định chấp nhận tối hậu thư, mặc dù tổng thống Antanas Smetona phản đối và rời khỏi Litva sau đó. Ngày 15 tháng 6 năm 1940, 150.000 Hồng quân Liên Xô đã tiến vào lãnh thổ Litva khi quân đội Litva được yêu cầu không phản ứng lại. Ngay sau đó, một cuộc bầu cử đã diễn ra để thành lập chính quyền dân chủ nhân dân ở Litva và kết nạp nước này vào Liên bang Xô viết. Chính phủ hiện nay ở Litva, Mỹ Nghị viện châu Âu tuyên bố rằng ba nước này bị Liên Xô chiếm đóng trái phép. Ngược lại theo quan điểm của Nga, thì vào thời điểm đó, người dân và chính phủ hợp pháp của các nước Baltic đã tình nguyện gia nhập Liên Xô. Họ và người Nga đã có quan hệ lâu bền, cùng thuộc một đất nước là Đế quốc Nga kể từ thập niên 1720 trở đi (tức là cùng lúc với việc Scotland và Anh thống nhất để hình thành Vương quốc Anh). Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Ivanov đã tuyên bố: "Nói rằng Liên Xô đã chiếm đóng các quốc gia vùng Baltic là vô lý và vô nghĩa. Người ta không thể chiếm một cái gì đó vốn thuộc về anh ta." Franklin Roosevelt trong trao đổi với Joseph Stalin ngày 01/12/1943, cũng công nhận chủ quyền của Liên Xô ở vùng Baltic: "Tại Hoa Kỳ đang dấy lên nghi vấn về các nước cộng hòa Baltic thuộc Liên Xô, và tôi tin rằng công luận thế giới cho là các dân tộc của các nước cộng hòa này có một tương lai bấp bênh. Vì vậy, tôi hy vọng rằng Nguyên soái Stalin sẽ đi vào xem xét yêu cầu này. Cá nhân tôi không có nghi ngờ rằng người dân ở các nước này sẽ bỏ phiếu để gia nhập Liên Xô cũng như cùng nhau như họ đã làm vậy trong những năm 1940... Thực tế là dư luận không biết rõ lịch sử." Cuối năm 1989, hai năm trước sự sụp đổ của Liên Xô, Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô đã chính thức lên án nội dung trong Hiệp ước Molotov-Ribbentrop về việc sáp nhập các nước vùng Baltic (Estonia, Latvia, Litva) là bất hợp pháp,. còn chính phủ Nga hiện nay thì phủ nhận hành động của Liên Xô là chiếm đóng Mặc dù Hoa Kỳ và Vương quốc Anh là các nước đồng minh của Liên Xô chống phát xít Đức trong Thế chiến II công nhận chủ quyền tại ba nước Baltic của Liên Xô tại Hội nghị Yalta năm 1945 nhưng đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, chính quyền của các nước phương Tây lại không công nhận việc này Ngày 22 tháng 6 năm 1941, phát xít Đức xâm lược Liên Xô, tạo cơ hội cho Litva có một thời gian độc lập ngắn ngủi. Mặt trận Chính trị Litva (Lietuvos aktyvistų frontas) đã cố gắng thương lượng với phát xít Đức cho phép Litva được độc lập nhưng yêu cầu đó không được chấp nhận. Khi Đức tấn công Litva, chính phủ nước này đã nhanh chóng bị hạ bệ. Đến thời điểm ấy, người Litva mới nhận ra rằng, người Đức không hề muốn Litva được độc lập. Những khu trại tập trung để tàn sát người Do Thái được dựng lên ở rất nhiều nơi, lại có thêm sự tiếp tay của một số người Litva. Trước đó, Litva là một trong những cộng đồng người Do Thái hưng thịnh nhất tại châu Âu. Sau khi chiến tranh kết thúc, chỉ 9% người Do Thái tại Litva còn sống sót. Năm 1945, Hồng quân Liên Xô chiếm lại Litva khỏi phát xít Đức. Litva lại trở thành một nước cộng hòa xô viết với sự đồng thuận của Mỹ và Anh. === Thời kỳ thuộc Liên bang Xô viết (1945–1990) === Trong thời kỳ này, nhiều người Litva đã cộng tác với Đức Quốc xã bị đi đầy sang Siberia và các vùng hẻo lánh khác của Liên Xô. Để đáp lại, hàng chục nghìn người Litva đã tham gia một tổ chức vũ trang du kích với tên gọi miško broliai để chống lại. Nhưng cuối cùng họ đã thất bại vào năm 1965. Cho đến giữa năm 1988, mọi mặt chính trị, kinh tế và văn hóa của Litva đều nằm trong sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Litva. Dưới sự lãnh đạo của những người trí thức, Phong trào Vận động Cải cách đã thành lập nhằm đòi các quyền tự do dân chủ cho Litva, tiến hành hợp pháp hóa chế độ đa đảng và tái sử dụng quốc kỳ và quốc ca riêng của dân tộc. Một bộ phận lớn thành viên của Đảng Cộng sản Litva cùng đồng tình với những cải cách này. Ngày 23 tháng 8 năm 1989, nhân kỉ niệm 50 năm Hiệp ước Xô-Đức, hai triệu người Estonia, Latvia và Litva đã nối thành một dải người từ Tallinn đến Vilnius, thể hiện tình đoàn kết của ba nước Baltic cùng chung nguyện vọng tách khỏi Liên Xô. === Litva độc lập (từ năm 1991 đến nay) === Ngày 11 tháng 3 năm 1990, nước Cộng hòa Litva tuyên bố độc lập, tách khỏi Liên bang Xô viết. Ngày 15 tháng 3 năm 1990, Liên Xô bắt đầu ban hành cấm vận và tiến hành những hoạt động quân sự chống lại Litva. Quân đội Xô viết đánh chiếm các tòa nhà công cộng và đưa xe tăng vào thủ đô Vilnius, sau đó lập nên Ủy ban Bảo vệ Quốc gia nhằm trấn áp ý định ly khai tại nước này. Vào ngày 13 tháng 1 năm 1991, quân đội Xô viết tấn công tháp truyền hình Vilnius, làm chết 14 dân thường và làm bị thương 700 người. Những hoạt động quân sự của Liên Xô đã bị dư luận quốc tế chỉ trích mạnh mẽ. Trong khi đó, chính phủ của Litva vẫn hoạt động. Trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 9 tháng 2 năm 1991, đại đa số người dân Litva đã bỏ phiếu tách khỏi Liên Xô, thành lập một nước Litva độc lập và dân chủ. Litva đã nhanh chóng được các nước phương Tây công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao, đầu tiên là Iceland. Cuối cùng, Litva chính thức được công nhận là một quốc gia độc lập vào ngày 6 tháng 9 năm 1991. Ngày này trở thành ngày quốc khánh của Litva. Đến năm 1993, quân đội Nga đã chính thức rút hết khỏi Litva. Ngày 17 tháng 9 năm 1991, Litva trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc. Tiếp đến ngày 31 tháng 5 năm 2001, Litva chính thức trở thành thành viên thứ 151 của Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO. Và đến ngày 1 tháng 5 năm 2004, cùng với 9 quốc gia Đông và Nam Âu khác, Litva trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu (EU). Litva còn là một thành viên của NATO và có quan hệ chính trị gần gũi với các nước phương Tây. Năm 2015, Văn phòng Tổng Công tố của Nga đang thẩm xét lại tính hợp pháp của việc Hội đồng Nhà nước Liên bang Xô viết trao nền độc lập cho ba nước Litva, Latvia và Estonia vào năm 1991. Đơn kiến nghị của hai nhà lập pháp thuộc đảng Nước Nga Thống nhất của Putin gửi tới các công tố viên cho rằng việc trao nền độc lập cho Litva, Latvia và Estonia là bất hợp pháp. Tổng thống Litva Dalia Grybauskaitė nói "nền độc lập của chúng tôi giành được bằng máu và sự hy sinh của người dân Litva. Không ai có quyền đe dọa. Chỉ có chúng tôi mới quyết định số phận của mình." "Đề xuất kiểu này của những đại biểu Duma Quốc gia là hoàn toàn không thể chấp nhận được và phi lý," hãng thông tấn LETA của Latvia dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nước này nói. Latvia, Litva và Estonia có sắc dân thiểu số nói tiếng Nga và đã hoang mang vì tuyên bố của Putin cho rằng Moscow có quyền can thiệp quân sự nếu cần thiết để bảo vệ người nói tiếng Nga ở nước ngoài. == Chính trị == === Thể chế chính trị === Dân chủ nghị viện. Tổng thống do dân bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội có 141 ghế, nhiệm kỳ 4 năm. Thủ tướng do Tổng thống đề cử, Quốc hội thông qua. === Tổng thống === Được bầu theo phổ thông đầu phiếu nhiệm kỳ 5 năm (không tại chức quá hai nhiệm kỳ liên tục). Tổng thống quyết định những vấn đề cơ bản của chính sách đối ngoại và cùng với Chính phủ, thực hiện chính sách đối ngoại. Về đối nội, Tổng thống thực hiện chức năng Tổng tư lệnh trưởng lực lượng vũ trang, đứng đầu Hội đồng Quốc phòng Nhà nước; có quyền đưa ra sáng kiến lập pháp tại Quốc hội và cũng có quyền phủ quyết các luật được thông qua bởi Quốc hội. Tổng thống đề cử Thủ tướng thành lập Chính phủ với sự đồng ý của Quốc hội và phê chuẩn thành phần Chính phủ. Tổng thống có thể giải tán Quốc hội quy định của Hiến pháp. === Quốc hội (Seimas) === Cơ quan lập pháp của Litva là Quốc hội đơn viện với 141 đại biểu, trong đó trong đó 70 đại biểu được bầu theo danh sách tranh cử của các đảng, 71 đại biểu được bầu theo cơ chế mỗi khu vực bầu một đại biểu với nhiệm kỳ bốn năm. Quốc hội nhiệm kỳ 2008-2012 được bầu ngày 12 tháng 10 năm 2008. Kết quả bầu cử: có 7 đảng và Liên minh vượt qua được ngưỡng 5% để có ghế trong Quốc hội và không đảng nào giành được số ghế đa số tuyệt đối. Chủ tịch Quốc hội do Quốc hội bầu với nhiệm kỳ 4 năm. === Chính phủ === Là cơ quan quyền lực hành pháp cao nhất. Chính phủ bao gồm Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng và do Tổng thống đề cử, bổ nhiệm, miễn nhiệm với sự chấp thuận của Quốc hội. Chính phủ điều hành các công việc của đất nước, bảo vệ sự bất khả xâm phạm lãnh thổ và đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự công cộng; thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, cũng như các nghị định của Tổng thống; điều hành hoạt động của các Bộ, cơ quan chính phủ khác; chuẩn bị dự thảo ngân sách của Nhà nước và trình Quốc hội; thực hiện ngân sách nhà nước và báo cáo về việc thực hiện ngân sách cho Quốc hội; dự thảo dự án luật và trình Quốc hội xem xét; thiết lập ngoại giao quan hệ và duy trì quan hệ với nước ngoài và các tổ chức quốc tế; và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Chính phủ bao gồm 13 Bộ do Thủ tướng đứng đầu. === Thủ tướng === Do Tổng thống đề cử, thành lập Chính phủ (với sự đồng ý của Quốc hội) và phê chuẩn thành phần Chính phủ. Do không đảng nào đạt được đa số phiếu tuyệt đối trong bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ 2008-2012, ông Andrius Kubilius, Chủ tịch đảng Bảo thủ được cử làm Thủ tướng (ngày 27 tháng 11 năm 2008) và thành lập Chính phủ liên minh. == Địa lý == === Lãnh thổ === Litva được xếp vào nhóm Bắc Âu theo sự phân chia của Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên đôi khi Litva cũng được coi là một quốc gia ở Đông Âu. Litva là một quốc gia có diện tích tương đối nhỏ, khoảng 65.200 km². Litva chia sẻ chung đường biên giới các quốc gia là Belarus (502 km), Latvia (453 km), Ba Lan (91 km), tỉnh Kaliningrad thuộc Nga (227 km). Đường bờ biển giáp với biển Baltic của Litva dài 99 km. Điểm thấp nhất ở Litva là mép nước tiếp giáp với biển Baltic (0 m), còn điểm cao nhất là đồi Aukštojas, cao 294 m. Phân chia sử dụng đất ở Litva như sau: Đất trồng trọt: 35% Đồng ruộng: 12% Đồng cỏ: 9% Rừng: 31% Khác: 15 % === Địa hình === Litva nằm trong khu vực đồng bằng Đông Âu rộng lớn. Địa hình của nước này được hình thành khi kỉ Băng Hà kết thúc vào khoảng 22.000 đến 25.000 năm trước. Đất nước này có dạng địa hình hỗn hợp giữa những vùng đất thấp và cao nguyên. Phía tây nước này là khu vực cao nguyên Samogitia còn phía đông nam là cao nguyên Baltic. Giữa hai vùng cao nguyên này lại có một vùng đất thấp nằm ở trung tâm đất nước. Litva có một mạng lưới sông hồ rất dày đặc với 2883 hồ rộng trên 10.000 m² và 758 con sông dài trên 10 km. Những con sông dài nhất ở Litva là sông Nemunas bắt nguồn từ Belarus (dài 917 km), sông Neris (510 km), sông Venta (346 km), sông Šešupė (298 km). Tuy nhiên chỉ có khoảng 600 km đường sông phù hợp cho thuyền bè đi lại. Mũi đất Kursh được hình thành ngoài khơi biển Baltic là một dải cát dài nối giữa Litva với tỉnh Kalinigrad thuộc Nga, chia cắt phá Kursh ra khỏi biển Baltic. Đây là nơi có thiên nhiên vô cùng đặc sắc và có nhiều cảnh quan hấp dẫn, thuộc về đồng thời cả hai nước Litva và Nga. === Khí hậu === Khí hậu của Litva là sự trung gian chuyển tiếp giữa khí hậu ôn đới hải dương và ôn đới lục địa. Thời tiết ở Litva tương đối dễ chịu và ôn hòa. Nhiệt độ trung bình tại bờ biển của Litva là khoảng 1,6 °C vào tháng 1 và 17,8 °C vào tháng 7. Còn tại thủ đô Vilnius tại phía đông Litva, nhiệt độ tháng 1 là 2,1 °C và tháng 7 là 18,1 °C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 717 mm tại bờ biển và 490 mm tại vùng phía đông trong nội địa. Đất đai của Litva rất màu mỡ. Rừng cây chiếm khoảng 1/3 diện tích tại Litva với các loại cây chủ yếu là thông, vân sam, bu lô. Tuy nhiên cây sồi và tần bì thì ít gặp hơn. Rừng của Litva rất giàu nấm và các loại cây trái. == Kinh tế == Trong Liên bang Xô Viết trước đây Litva có trình độ phát triển khá cao về nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng và điện tử. Năm 1991, Litva đứng hàng thứ tư trong Liên Xô cũ về sản xuất máy công cụ (sau Nga, Ukraina, Belarus). Sau khi tách ra khỏi Liên bang Xô Viết, kinh tế Litva lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Chính phủ của Đảng Dân chủ Lao động lên cầm quyền (tháng 11 năm 1992), thực hiện một loạt biện pháp kinh tế tài chính cứng rắn nên đã từng bước đi vào ổn định. Từ 1998 do bất đồng giữa Thủ tướng và Tổng thống về đường lối phát triển kinh tế nên kinh tế tiếp tục suy thoái, nhiều vấn đề như nghèo khổ, thất nghiệp gia tăng; tình hình xã hội ngày càng gay gắt. Năm 2000, Chính phủ đưa ra chương trình kinh tế khắc khổ theo đó giảm 5-10% quỹ lương của cơ quan ăn lương ngân sách, tăng 10-18% giá dịch vụ công cộng; giảm 40% ngân sách trợ cấp cho những người có thu nhập thấp; cắt giảm các chương trình phúc lợi - xã hội, nhờ đó nền kinh tế dần được phục hồi. Từ 2003 nền kinh tế tăng trưởng trên 8% mỗi năm. Năm 2008: GDP tăng 5,1% đạt 48,75 tỷ USD, lạm phát - 11%, tỷ lệ thất nghiệp - 4,8%, đầu tư chiếm 27,8% GDP. Từ 2009, kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng, GDP sụt giảm 15%. Năm 2010: GDP đạt 35.73 tỷ USD, trong đó: nông nghiệp: 4,3%, công nghiệp: 27,6%, dịch vụ: 68,2%. Thất nghiệp tăng 17,9%. Tỷ lệ lạm phát 0,9%. Nợ công - 36,7%. Litva bắt đầu quá trình tư nhân hoá sớm hơn các nước Baltic khác và đã hoàn thành việc tư nhân hoá nông nghiệp, xí nghiệp nhỏ, ngân hàng và hiện đang ở giai đoạn cuối của quá trình tư nhân hoá với việc tư hữu hoá các tổ hợp quốc doanh lớn trong lĩnh vực giao thông vận tải và năng lượng. Litva có trình độ phát triển cao về các ngành nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng, điện tử, cơ khí và chế tạo công cụ lao động Ngày 1 tháng 1 năm 2015, Litva chính thức trở thành thành viên thứ 19 trong khu vực đồng Euro. Mặc dù gia nhập EU từ 11 năm trước (2004) song Litva là quốc gia cuối cùng ở khu vực Baltic gia nhập Khu vực đồng tiền chung châu Âu do đơn xin gia nhập của Litva đã bị các nhà lãnh đạo EU từ chối do tỷ lệ lạm phát tại nước này ở mức quá cao so với tiêu chuẩn châu Âu. Đây là nước cuối cùng chuyển sang sử dụng đồng euro trong số ba nước Baltic thuộc Liên Xô cũ – Estonia đã gia nhập năm 2011 và Latvia năm 2014. Tính đến năm 2016, GDP của Litva đạt 42.776 USD, đứng thứ 87 thế giới và đứng thứ 30 châu Âu. === Thương mại === Năm 2009, nhằm khắc phục khủng hoảng, Chính phủ của Thủ tướng Andrius Kubilius đã phát động một chiến dịch nhằm thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường xuất khẩu. Năm 2010: Xuất khẩu đạt 19,29 tỷ USD (16,48 - 2009). Mặt hàng chính: các sản phẩm khoáng sản - 22%, máy móc, thiết bị - 10%, hoá chất - 9%, hàng dệt may - 7%, thực phẩm - 7%, chất dẻo - 7% Đối tác: Nga - 13,2%, Latvia - 10%, Đức - 9,6%, Ba Lan - 7,1%, Estonia - 7,1%, Belarus - 4,7%, Anh - 4,3%. Nhập khẩu đạt 20,34 tỷ USD (17,56 tỷ - 2009). Mặt hàng chính: các sản phẩm khoáng sản, máy móc thiết bị và thiết bị vận tải, hóa chất, dệt may và quần áo, kim loại. Đối tác: Nga - 30,1%, Đức - 11,1%, Ba Lan - 9,9%, Latvia - 6,3%. === Đầu tư === Đầu tư năm 2010 đạt 15,2% GDP. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: 14,11 tỷ USD. Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài: 2,507 tỷ USD. === Các công ty lớn === Công ty Cổ phần đóng tàu Klaipėda "Baltija": Được Bộ Công nghiệp tàu thủy của Liên Xô thành lập vào năm 1952, để xây dựng các tàu thuyền đánh cá. Từ 1992 được cổ phần hóa 96%. "Baltija" đóng tàu không chỉ cho các nước vùng Baltíc (Latvia, mà còn là nguồn cung cấp đội tàu và các công ty hàng hải trên toàn thế giới. "Baltija" xây dựng phao, sà lan, tàu thuyền đánh cá, bến tàu nổi, bến phà sông, tàu hàng khô và vận chuyển container. "Baltija" cũng cung cấp dịch vụ sửa chữa tàu. Công ty Đường sắt quốc gia. Là công ty nhà nước được thành lập năm từ 1860. Litva có mạng lưới đường sắt chính Litva bao gồm 1.749 km khổ rộng 1.520 mm, trong đó có 122 km được điện khí; 68 km khổ hẹp. Trong năm 2006, đường sắt Litva vận chuyển 6.200.000 hành khách và 50 triệu tấn hàng hóa. Dầu mỏ là mặt hàng vận chuyển hàng hóa chính. == Giáo dục == Tại Litva, giáo dục được chú trọng đầu tư và phát triển hiệu quả. Hàng năm, khoảng 26% ngân sách của Chính phủ được đầu tư cho giáo dục nhằm đảm bảo nguồn hỗ trợ cho hệ thống giáo dục tiểu học và trung học kịp thời. Do đó, trình độ và chất lượng giáo dục tại Litva ở mức khá cao: Số lượng học sinh trung học có học lực tốt được miễn học phí khoảng 68% Đạt tỷ lệ gần 100% người từ 15 tuổi trở lên biết chữ 30,4% dân số trong độ tuổi lao động 25 – 64 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục đại học 90% dân số Litva nói ít nhất 1 ngôn ngữ và 60% nói hai ngôn ngữ (Nga, Anh) Tuy nhiên, việc tham gia vào Liên minh châu Âu năm 2004, mở rộng mội trường làm việc và lao động đã làm Litva bị nạn “chảy máu chất xám” ngày càng nhiều. Dân số đã giảm khoảng 180.000 ngàn người do di cư sang nước khác. == Tôn giáo == Theo điều tra dân số năm 2001, 79% dân số nước này thuộc về Giáo hội Công giáo La Mã. Trong nửa đầu của thế kỷ 20, Giáo hội Luther có khoảng 200.000 thành viên chiếm 9% tổng dân số, nhưng nó đã giảm kể từ năm 1945. Cộng đồng Tin Lành nhỏ được phân tán khắp vùng phía bắc và phía tây của đất nước. Tín hữu và giáo sĩ bị giết, hoặc bị tra tấn hoặc bị trục xuất tới Siberia dười thời Liên Xô. Có 4,9% dân số là Chính Thống giáo (chủ yếu là sắc tộc thiểu số Nga), 1,9% là Tin Lành và 9,5% dân số không theo bất kỳ tôn giáo nào. Trong lịch sử, Litva còn là quê hương của một cộng đồng Do Thái giáo có từ thế kỷ 18, với số lượng khoảng 160.000 người trước chiến tranh thế giới hai, hầu như hoàn toàn bị tiêu diệt trong vụ thảm sát Holocaust. Giờ cộng đồng Do Thái giáo chỉ còn khoảng 3.400 vào cuối năm 2010. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ Litva Thông tin về Litva Thông tin về Litva trên BBC Thông tin du lịch Litva trên Lonely Planet
chicago.txt
Chicago (phiên âm tiếng Việt: Si-ca-gô)là thành phố đông dân thứ ba tại Hoa Kỳ, và là thành phố đông dân nhất tiểu bang Illinois và Trung Tây Hoa Kỳ. Vùng đô thị Chicago là nơi cư trú của 9,5 triệu người và là vùng đô thị lớn thứ ba tại Hoa Kỳ. Chicago là thủ phủ của quận Cook. Chicago được hợp nhất thành một thành phố vào năm 1837, với vị trí nằm gần một dòng nước chuyển tải giữa Ngũ Đại Hồ và lưu vực sông Mississippi, và trải qua phát triển nhanh chóng vào giữa thế kỷ 19. Ngày nay, thành phố là một trung tâm quốc tế về tài chính, thương nghiệp, công nghiệp, kỹ nghệ, truyền thông, và giao thông. Chicago là một thành phố toàn cầu có thứ hạng cao. Văn hóa Chicago có những đóng góp cho các nghệ thuật thị giác, tiểu thuyết, điện ảnh, sân khấu, âm nhạc, đặc biệt là jazz, blues, soul, và là nơi khởi nguồn của nhạc house. Thành phố có nhiều biệt danh, chúng phản ánh các ấn tượng và đánh giá về Chicago trong lịch sử và đương đại, được biết đến nhiều nhất là "Thành phố lộng gió" và "Thành phố thứ nhì". == Lịch sử == Tên gọi "Chicago" bắt nguồn từ một bản dịch tiếng Pháp của từ shikaakwa trong ngôn ngữ Miami-Illinois của người da đỏ, có nghĩa là "hành dại" hay "tỏi dại". Một hồi ký của Robert de LaSalle vào khoảng năm 1679 có nói về "Checagou", và đây cũng là đề cập đầu tiên được biết đến về địa điểm mà nay là Chicago. Trong hành trình vào năm 1688 của mình, Henri Joutel có ghi lại rằng tỏi dại, được gọi là "chicagoua," mọc nhiều trong khu vực. Vào giữa thế kỷ 18, người da đỏ Potawatomi định cư tại khu vực, họ chiếm đất của người Miami và Sauk và Fox. Thập niên 1780 xuất hiện việc có người định cư phi thổ dân đầu tiên được biết đến tại Chicago, đó là Jean Baptiste Point du Sable, ông có nguồn gốc châu Phi và châu Âu. Năm 1795, sau Chiến tranh Da đỏ Tây Bắc, một khu vực mà sau trở thành một phần của Chicago được các bộ lạc thổ dân chuyển giao cho Hoa Kỳ để làm một đồn quân sự theo như Hiệp định Greenville. Năm 1803, Lục quân Hoa Kỳ xây dựng pháo đài Dearborn, song công trình bị phá hủy trong Chiến tranh năm 1812, cụ thể là trận Dearborn và sau đó được xây dựng lại. Các bộ lạc Ottawa, Ojibwe, và Potawatomi nhượng thêm đất cho Hoa Kỳ theo Hiệp định St. Luois năm 1816. Người Potawatomi cuối cùng bị buộc phải dời khỏi vùng đất của họ sau Hiệp định Chicago vào năm 1833. Ngày 12 tháng 8 năm, 1833, thị trấn Chicago được tổ chức và có dân số khoảng 200. Trong vòng bảy năm, dân số thị trấn tăng lên trên 4.000. Thành phố Chicago được hợp nhất vào Thứ Bảy, 4 tháng 3 năm 1837 và trở thành thành phố phát triển nhanh nhất trên thế giới trong một số thập niên. Thành phố có Chuyển tải Chicago, nổi lên thành một trung tâm giao thông quan trọng giữa miền đông và miền tây Hoa Kỳ. Tuyến đường sắt đầu tiên của Chicago là Đường sắt Liên hiệp Galena và Chicago được khánh thành vào năm 1848. Kênh Illinois và Michigan cũng được khánh thành trong cùng năm, cho phép thuyền hơi nước và thuyền buồm trên Ngũ Đại Hồ kết nối được với sông Mississippi. Do có kinh tế phồn thịnh, cư dân từ các cộng đồng nông thôn và người nhập cư ngoại quốc di cư tới Chicago. Các lĩnh vực chế tạo, bán lẻ và tài chính chiếm ưu thế trong kinh tế thành phố, có ảnh hưởng đối với kinh tế Hoa Kỳ. Sở giao dịch thương phẩm Chicago (thành lập năm 1848) liệt kê những hợp đồng kỳ hạn đầu tiên đã được chuẩn hóa để 'giao dịch', gọi là các hợp đồng tương lai. Năm 1871, Đại hỏa hoạn Chicago xảy ra, phá hủy một khu vực lớn của thành phố vào thời điểm đó. Trong giai đoạn tái thiết, tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Chicago, sử dụng khung thép. Nền kinh tế hưng thịnh của Chicago thu hút một lượng lớn di dân mới từ châu Âu và di dân từ miền Đông Hoa Kỳ. Năm 1900, không dưới 77% tổng dân số của thành phố sinh tại nước ngoài, hoặc sinh tại Hoa Kỳ với cha mẹ ngoại quốc. Người Đức, Ireland, Ba Lan, Thụy Điển, và Séc chiếm gần hai phần ba trong số cư dân sinh tại ngoại quốc (năm 1900, người da trắng chiếm 98,1% dân số thành phố). Trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ nhất và thập niên 1920, ngành công nghiệp của Chicago được mở rộng mạnh, thu hút nhiều người da đen từ miền Nam đến để tìm việc làm. Từ năm 1910 đến 1930, số người da đen tại Chicago tăng từ 44.103 lên 233.903. Hàng trăm người da đen di chuyển đến thành phố trong Đại di cư, những người mới đến có ảnh hưởng lớn về văn hóa, được gọi làPhục hưng da đen Chicago, một phần của Phong trào Da đen Mới, trong nghệ thuật, văn học, và âm nhạc. Ngày 2 tháng 12 năm 1942, nhà vật lý học Enrico Fermi thực hiện phản ứng hạt nhân có kiểm soát đầu tiên trên thế giới tại Đại học Chicago, đây là một phần trong Dự án Manhattan tối mật. Điều này dẫn đến việc Hoa Kỳ chế tạo ra bom nguyên tử, và sử dụng nó trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bắt đầu từ thập niên 1960, giống như hầu hết thành phố tại Hoa Kỳ, nhiều cư dân da trắng của thành phố chuyển đến vùng ngoại ô, các khu phố biến đổi hoàn toàn về phương diện chủng tộc. Thay đổi kết cấu trong công nghiệp khiến những công nhân tay nghề thấp chịu ảnh hưởng nặng nề. Năm 1966, Martin Luther King, Jr. và Albert Raby lãnh đạo Phong trào Tự do Chicago, phong trào lên đến đỉnh với các hiệp định giữa Thị trưởng và các lãnh đạo phong trào. Các dự án xây dựng lớn được tiến hành trong thời gian nhiệm kỳ của Richard J. Daley, gồm có tháp Sears (nay gọi là Willis Tower), Đại học Illinois tại Chicago, nhà McCormick, và Sân bay quốc tế O'Hare. Năm 1979, Jane Byrne đắc cử, trở thành nữ thị trưởng đầu tiên của thành phố. Năm 1983, Harold Washington trở thành thị trưởng người da đen đầu tiên của Chicago. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông, chính quyền chú ý đến các khu phố thiểu số nghèo và bị lãng quên trước đó. == Địa lý == Chicago nằm ở đông bắc bộ tiểu bang Illinois, trên bờ tây nam của hồ Michigan. Đây là thành phố chính của vùng đô thị Chicago tại Trung Tây Hoa Kỳ và vùng Ngũ Đại Hồ. Chicago nằm trên một đường phân thủy lục địa tại điểm Chuyển tải Chicago, nối lưu vực sông Mississippi và lưu vực Ngũ Đại Hồ. Thành phố nằm bên hồ nước ngọt Michigan rộng lớn, và hai sông là sông Chicago qua trung tâm và sông Calumet chảy qua vùng công nghiệp South Side. Lịch sử và kinh tế của Chicago gắn chặt với hồ Michigan. Phần lớn vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy của khu vực trước đây sử dụng sông Chicago, song hiện nay các tàu to chở hàng trên hồ sử dụng cảng Lake Calumet tại South Side. Hồ Michigan giúp điều hòa khí hậu cho Chicago; khiến cho các khu phố ven hồ có chút ấm hơn vào mùa đông và mát hơn vào mùa hạ. Độ dốc tổng thể của trung tâm thành phố, các khu vực được xây dựng, là tương đối phù hợp do bằng phẳng tự nhiên, ít có khác biệt giữa các nơi. Cao độ mặt đất bình quân là 579 ft (176 m) trên mực nước biển. Các điểm thấp nhất nằm dọc theo bờ hồ với cao độ 578 ft (176 m), còn điểm cao nhất là đỉnh băng tích Blue Island có cao độ 672 ft (205 m) ở xa về phía nam. Một tên gọi không chính thức của toàn bộ vùng đô thị Chicago là "Chicagoland". Không có định nghĩa chính xác cho "Chicagoland", song nó thường có nghĩa là gọi chung thành phố cùng các khu ngoại ô. Báo Chicago Tribune xác định thuật ngữ này gồm có thành phố Chicago, phần còn lại của quận Cook, và tám quận lân cận thuộc tiểu bang Illinois: Lake, McHenry, DuPage, Kane, Kendall, Grundy, Will và Kankakee, và ba quận thuộc tiểu bang Indiana: Lake, Porter và LaPorte. == Nhân khẩu == Trong 100 năm đầu, Chicago là một trong các thành phố phát triển nhanh nhất trên thế giới. Khi thành lập thành phố vào năm 1833, có ít hơn 200 người định cư tại đây, nơi đương thời là vùng biên giới của Ha Kỳ. Trong cuộc điều tra nhân khẩu đầu tiên của thành phố, được tiến hành bảy năm sau đó, dân số đạt trên 4.000. Trong khoảng thời gian bốn mươi năm, dân số thành phố tăng từ mức gần 30.000 vào năm 1850 lên trên 1 triệu vào năm 1890. Lúc kết thúc thế kỷ 19, Chicago là thành phố lớn thứ năm trên thế giới, và lớn nhất trong số các thành phố xuất hiện sau thời điểm bắt đầu thế kỷ 19. Trong vòng 60 năm sau Đại hỏa hoạn Chicago năm 1871, dân số tăng từ khoảng 300.000 lên trên 3 triệu, và đạt 3,6 triệu người trong điều tra nhân khẩu năm 1950, đây là con số cao nhất từng ghi nhận được. Từ hai thập niên cuối của thế kỷ 19, Chicago là điểm đến của các làn sóng nhập cư từ Nam, Trung và Đông Âu, như người Ý, người Do Thái, người Ba Lan, người Bosnia, và người Séc. Giai cấp công nhân công nghiệp của thành phố có nền tảng là các dân tộc gốc Âu này, giai cấp này được bổ sung bằng một dòng người Mỹ gốc Phi từ miền Nam Hoa Kỳ, và dân số của người Da đen tại Chicago tăng gấp đôi từ năm 1910 đến 1920 và lại tăng gấp đôi từ năm 1920 đến 1930. Đại đa số người Da đen Hoa Kỳ chuyển đến Chicago trong những năm này tụ tập tại một khu vực được gọi là "Vành đai Đen" tại South Side. Năm 1930, hai phần ba số người Mỹ gốc Phi tại Chicago sống tại các khu vực mà người Da đen chiếm khoảng 90% dân số. South Side của Chicago là nơi tập trung đông người Da đen đô thị thứ nhì tại Hoa Kỳ, sau Harlem tại New York. Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, có 2.695.598 người với 1.045.560 hộ gia đình tại Chicago. Trên một nửa dân số của tiểu bang Illinois sống tại vùng đô thị Chicago. Chicago là thành phố lớn nhất tại siêu đô thị Ngũ Đại Hồ. Dân cư gốc Mỹ Latinh hoặc Iberia (Hispanic) chiếm 28,9% tổng dân số thành phố: 21,4% là người Mexico, 3,8% là người Puerto Rico, 0,7% là người Guatemala, 0,6% là người Ecuador, 0,3% là người Cuba, 0,3% là người Colombia, 0,2% là người Honduras, 0,2% là người El Salvador, 0,2% là người Peru. Người da trắng phi Hispanic giảm từ 59% vào năm 1970 xuống 31,7% vào năm 2010. Theo số liệu của Cơ quan Nghiên cứu cộng đồng Hoa Kỳ vào năm 2011, các tổ tiên người Âu lớn nhất là: người Ireland: (208.562), người Đức: (201.863), người Ba Lan: (165.177), người Ý (102.188), người Anh (66.107). Nhiều lãnh đạo tôn giáo thế giới từng đến Chicago, bao gồm mẹ Teresa và Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Giáo hoàng Gioan Phaolô II đến Chicago vào năm 1979 trong chuyến công du đầu tiên của ông tới Hoa Kỳ sau khi được bầu làm giáo hoàng. == Kinh tế == Theo ước tính năm 2010, Chicago có tổng sản phẩm đại đô thị cao thứ ba tại Hoa Kỳ, với xấp xỉ 532 tỷ USD, chỉ đứng sau các quần thể đô thị New York và Los Angeles. Thành phố cũng được đánh giá là có kinh tế cân bằng nhất tại Hoa Kỳ, do đa dạng hóa ở mức cao. Năm 2007, Chicago được xác định là trung tâm kinh doanh quan trọng thứ tư trên thế giới theo chỉ số các trung tâm thương nghiệp toàn cầu MasterCard. Ngoài ra, vùng đô thị Chicago ghi nhận số lượng lớn nhất các cơ sở công ty mới hoặc mở rộng tại Hoa Kỳ trong sáu năm trong giai đoạn từ 2001 đến 2008. Vùng đô thị Chicago có lực lượng lao động khoa học và kỹ thuật lớn thứ ba toàn quốc. Năm 2009, Chicago xếp thứ 29 trong danh sách của UBS về các thành thị giàu nhất thế giới. Chicago là một trung tâm tài chính lớn trên thế giới, có khu thương nghiệp trung tâm lớn thứ hai tại Hoa Kỳ. Thành phố là nơi đặt trụ sở của Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại Chicago (một trong 12 ngân hàng dự trữ cấp vùng tại Hoa Kỳ). Thành phố có các sở giao dịch tài chính và tương lai, bao gồm Sở giao dịch chứng khoán Chicago, CBOE, the "Merc", CBOT. Tập đoàn CME Group có trụ sở tại Chicago, và sở hữu the "Merc", CBOT, NYMEX, COMEX và Dow Jones Indexes. Có thể do ảnh hưởng từ học phái kinh tế Chicago, thành phố cũng có một số thị trường giao dịch các hợp đồng bất thường như khí thải (sở giao dịch khí hậu Chicago) và chỉ số phong cách công bằng (trên sở giao dịch tương lai Hoa Kỳ]). Ngân hàng Chase có trụ sở thương mại và bán lẻ của họ tại tháp Chase tại Chicago. Vùng đô thị Chicago là nơi có nguồn lao động lớn thứ hai tại Hoa Kỳ với khoảng 4,25 triệu người lao động. In addition, the state of Illinois is home to 66 Fortune 1000 companies, including those in Chicago. Chế tạo, in ấn, xuất bản và chế biến thực phẩm cũng đóng các vai trò quan trọng trong kinh tế của thành phố. Chicago là một địa điểm lớn về tổ chức hội nghị trên thế giới, trung tâm hội nghị chính của thành phố là nhà McCormick. Với bốn tòa nhà liền nhau, đây là trung tâm hội nghị lớn nhất tại Hoa Kỳ và lớn thứ ba trên thế giới. Chicago cũng xếp hạng ba tại Hoa Kỳ (sau Las Vegas và Orlando) về số lượng hội nghị tổ chức hàng năm. Năm 2012, Chicago đón 34,07 triệu du khách thư nhàn nội địa, 10,92 triệu du khách thương vụ nội địa và 1,369 triệu du khách hải ngoại, các du khách đóng góp trên 12,8 tỷ USD cho kinh tế Chicago. == Chú thích == == Thư mục == == Liên kết ngoài == Trang chủ của chính phủ thành phố (tiếng Anh) Cục Hội chợ và Du lịch (tiếng Anh) Phòng Thương mại Chicagoland (tiếng Anh) Cơ sở dữ liệu Phạm tội Chicago (tiếng Anh)
xe đạp thể thao.txt
Xe đạp thể thao bao gồm các hoạt động thể chất có tính cạnh tranh với phương tiện là xe đạp. Có nhiều hình thức đua xe đạp như xe đạp đường trường, tính giờ, cyclo-cross, xe đạp địa hình, xe đạp lòng chảo, BMX. Các môn xe đạp thể thao không có hình thức đua bao gồm xe đạp nghệ thuật, polo xe đạp, freestyle BMX và trial. Union Cycliste Internationale (UCI) là cơ quan quản lý các môn xe đạp và các sự kiện quốc tế. Đua xe đạp được công nhận là một môn thể thao Olympic. Các cuộc đua xe đạp được nhiều người trên thế giới theo dõi, đặc biệt ở châu Âu. Các quốc gia có nền xe đạp mạnh gồm có Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ. Các quốc gia khác cũng có chỗ đứng trên đấu trường quốc tế là Luxembourg, Anh Quốc, Hoa Kỳ và Úc. == Lịch sử == Cuộc đua xe đạp đầu tiên được tổ chức với nhiều người theo dõi và tham gia là cuộc đua 1.200 mét vào ngày 31 tháng 5 năm 1868 tại Parc de Saint-Cloud, Paris. Người vô địch là James Moore của Anh với chiếc xe đạp gỗ có lốp bằng sắt. Chiếc xe này sau đó được trưng bày tại một bảo tàng ở Ely, Cambridgeshire, Anh. Union Cycliste Internationale được thành lập ngày 14 tháng 4 năm 1900 bởi các nước Bỉ, Hoa Kỳ, Pháp, Ý, và Thụy Sĩ để thay thế cho Hiệp hội xe đạp quốc tế thành lập năm 1892, sau cuộc tranh cãi với Anh Quốc và vì nhiều vấn đề khác. == Các môn đua == === Đua đường trường === Xe đạp đường trường, cả cá nhân và đồng đội, gồm nhiều hình thức đua khác nhau như đua một ngày, criterium (đua nhiều vòng quanh một lộ trình), tính giờ cá nhân cho tới các giải đấu nhiều chặng như Tour de France và các giải thuộc Grand Tour. Các cuộc đua thường diễn ra từ mùa xuân tới mùa thu. Nhiều tay đua thuộc Bắc bán cầu vào mùa đông thường chuyển tới các nước như Úc để tập luyện. Các cuộc đua chuyên nghiệp có thể kéo dài ba tuần như các cuộc đua của "Grand Tour" (Tour de France, Giro d'Italia và Vuelta a España), nhiều ngày như Tour de Suisse và Tour of California, một ngày như De Ronde van Vlaanderen và Milan–San Remo. Criterium diễn ra tại các trường đua có quãng đường khoảng dưới một dặm và đôi khi diễn ra trong một khoảng thời gian cố định (60 phút, 90 phút, v.v.). Criterium là hình thức đua phổ biến ở Bắc Mỹ. Ngoài các cuộc đua mà tất cả các tay đua xuất phát cùng lúc, các nội dung tính giờ cá nhân và tính giờ đồng đội cũng được tổ chức làm một phần thi của giải đấu. === Đua xe đạp lòng chảo === Xe đạp lòng chảo bao gồm các cuộc đua diễn ra trên các làn chạy được đắp cao hoặc nhà thi đấu xe đạp lòng chảo. Các cuộc đua thường khá đa dạng với các nội dung như đuổi bắt cá nhân và đồng đội, nước rút hai người, hay các cuộc đua xuất phát tập thể và theo nhóm. Các vận động viên sử dụng xe đạp đua lòng chảo không có phanh hoặc líp. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Môn xe đạp tại Ủy ban Paralympic quốc tế
phần mềm.txt
xxxxnhỏ|300x300px|Hệ điều hành Windows 10 là một phần mềm máy vi tính.]] Phần mềm máy tính (tiếng Anh: Computer Software) hay gọi tắt là Phần mềm (Software) là một tập hợp những câu lệnh hoặc chỉ thị (Instruction) được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo một trật tự xác định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm tự động thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó Phần mềm thực hiện các chức năng của nó bằng cách gửi các chỉ thị trực tiếp đến phần cứng (hay phần cứng máy tính, Computer Hardware) hoặc bằng cách cung cấp dữ liệu để phục vụ các chương trình hay phần mềm khác. Phần mềm là một khái niệm trừu tượng, nó khác với phần cứng ở chỗ là "phần mềm không thể sờ hay đụng vào", và nó cần phải có phần cứng mới có thể thực thi được. == Đặc điểm == Trước đây, để tạo ra chương trình máy tính người ta phải làm việc trực tiếp với các con số 0 hoặc 1 (sử dụng hệ số nhị phân), hay còn gọi là ngôn ngữ máy. Công việc này vô cùng khó khăn, chiếm nhiều thời gian, công sức và đặc biệt dễ gây ra lỗi. Để khắc phục nhược điểm này, người ta đề xuất ra hợp ngữ, một ngôn ngữ cho phép thay thế dãy 0 hoặc 1 này bởi các từ gợi nhớ tiếng Anh. Tuy nhiên, cải tiến này vẫn còn chưa thật thích hợp với đa số người dùng máy tính, những người luôn mong muốn các lệnh chính là ý nghĩa của các thao tác mà nó mô tả. Vì vậy, ngay từ những năm 1950, người ta đã xây dựng những ngôn ngữ lập trình mà câu lệnh của nó gần với ngôn ngữ tự nhiên. Các ngôn ngữ này được gọi là ngôn ngữ lập trình bậc cao. Chương trình máy tính thường được tạo ra bởi con người, những người này được gọi là lập trình viên, tuy nhiên cũng tồn tại những chương trình được sinh ra bởi các chương trình khác. == Phân loại == === Theo phương thức hoạt động === Phần mềm hệ thống dùng để vận hành máy tính và các phần cứng máy tính, ví dụ như các hệ điều hành máy tính Windows, Linux, Unix, các thư viện động (còn gọi là thư viện liên kết động; tiếng Anh: dynamic linked library - DLL) của hệ điều hành, các trình điều khiển (driver), phần sụn (firmware) và BIOS. Đây là các loại phần mềm mà hệ điều hành liên lạc với chúng để điều khiển và quản lý các thiết bị phần cứng. Phần mềm ứng dụng để người sử dụng có thể hoàn thành một hay nhiều công việc nào đó, ví dụ như các phần mềm văn phòng (Microsoft Office, OpenOffice), phần mềm doanh nghiệp, phần mềm quản lý nguồn nhân lực, phần mềm giáo dục, cơ sở dữ liệu, phần mềm trò chơi, chương trình tiện ích, hay các loại phần mềm độc hại. Các phần mềm chuyển dịch mã bao gồm trình biên dịch và trình thông dịch: các loại chương trình này sẽ đọc các câu lệnh từ mã nguồn được viết bởi các lập trình viên theo một ngôn ngữ lập trình và dịch nó sang dạng ngôn ngữ máy mà máy tính có thể hiểu đưọc, hay dịch nó sang một dạng khác như là tập tin đối tượng (object file) và các tập tin thư viện (library file) mà các phần mềm khác (như hệ điều hành chẳng hạn) có thể hiểu để vận hành máy tính thực thi các lệnh. Các nền tảng công nghệ như .NET,... === Theo khả năng ứng dụng === Những phần mềm không phụ thuộc, nó có thể được bán cho bất kỳ khách hàng nào trên thị trường tự do. Ví dụ: phần mềm về cơ sở dữ liệu như Oracle, đồ họa như Photoshop, Corel Draw, soạn thảo và xử lý văn bản, bảng tính,... Ưu điểm: Thông thường đây là những phần mềm có khả năng ứng dụng rộng rãi cho nhiều nhóm người sử dụng. Khuyết điểm: Thiếu tính uyển chuyển, tùy biến. Những phần mềm được viết theo đơn đặt hàng hay hợp đồng của một khách hàng cụ thể nào đó (một công ty, bệnh viện, trường học,...). Ví dụ: phần mềm điều khiển, phần mềm hỗ trợ bán hàng,... Ưu điểm: Có tính uyển chuyển, tùy biến cao để đáp ứng được nhu cầu của một nhóm người sử dụng nào đó. Khuyết điểm: Thông thường đây là những phần mềm ứng dụng chuyên ngành hẹp. == Quá trình tạo phần mềm == === Về mặt thiết kế === Tùy theo mức độ phức tạp của phần mềm làm ra, người thiết kế phần mềm sẽ ít nhiều dùng đến các phương tiện để tạo ra mẫu thiết kế theo ý muốn (chẳng hạn như là các sơ đồ khối, các lưu đồ, các thuật toán và các mã giả), sau đó mẫu này được mã hoá bằng các ngôn ngữ lập trình và được các trình dịch chuyển thành các khối lệnh (module) hay/và các tệp khả thi. Tập họp các tệp khả thi và các khối lệnh đó làm thành một phần mềm. Thường khi một phần mềm được tạo thành, để cho hoàn hảo thì phần mềm đó phải được điều chỉnh hay sửa chữa từ khâu thiết kế cho đến khâu tạo thành phiên bản phần mềm một số lần. Một phần mềm thông thường sẽ tương thích với một hay vài hệ điều hành, tùy theo cách thiết kế, cách viết mã nguồn và ngôn ngữ lập trình được dùng. === Sản xuất và phát triển === Việc phát triển và đưa ra thị trường của một phần mềm là đối tượng nghiên cứu của bộ môn kỹ nghệ phần mềm hay còn gọi là công nghệ phần mềm (software engineering). Bộ môn này nghiên cứu các phương pháp tổ chức, cách thức sử dụng nguồn tài nguyên, vòng quy trình sản xuất, cùng với các mối liên hệ với thị trường, cũng như liên hệ giữa các yếu tố này với nhau. Tối ưu hoá quy trình sản xuất phần mềm cũng là đối tượng được cứu xét của bộ môn. == Một số loại phần mềm == === Phần mềm hệ thống === Phần mềm hệ thống còn gọi là hệ điều hành giúp vận hành phần cứng máy tính và hệ thống máy tính. Nó bao gồm các hệ điều hành, phần mềm điều vận thiết bị (device driver), các công cụ phân tích (diagnostic tool), trình phục vụ, hệ thống cửa sổ, các tiện ích,... Mục đích của phần mềm hệ thống là để giúp các lập trình viên ứng dụng không phải quan tâm đến các chi tiết của hệ thống máy tính phức tạp được sử dụng, đặc biệt là các tính năng bộ nhớ và các phần cứng khác chẳng hạn như máy in, bàn phím, thiết bị hiển thị. === Phần mềm ứng dụng === Phần mềm ứng dụng là những phần mềm được phát triển giải quyết tự động những công việc hay vấn đề cụ thể nào đó thường gặp trong cuộc sống. Có những phần mềm ứng dụng được phát triển theo đơn đặt hàng riêng có tính đặc thù của một cá nhân hay tổ chức. có những phần mềm được thiết kế dựa trên yêu cầu chung của nhiều người ví dụ như các phần mềm soạn thảo văn bản. bảng tính, phần mềm thiết kế bản vẽ (AutoCad...) phần mềm nghe nhạc hay xem phim trên đĩa CD (như Jet Audio hay Mpeg Player...) Để hỗ trợ cho việc làm ra các sản phẩm phần mềm, người ta lại dùng chính các phần mềm khác, chúng được gọi là các phần mềm công cụ, những phần mềm này thường cung cấp các công cụ hỗ trợ lập trình viên trong khi viết chương trình và phần mềm bằng các ngôn ngữ lập trình khác nhau. Các công cụ này bao gồm các trình soạn thảo, trình biên dịch, trình thông dịch, trình liên kết, trình tìm lỗi, v.v... Một môi trường phát triển tích hợp (IDE) kết hợp các công cụ này thành một gói phần mềm, và một lập trình viên có thể không cần gõ nhiều dòng lệnh để dịch, tìm lỗi, lần bước,... vì IDE thường có một giao diện người dùng đồ họa cao cấp (GUI). === Các loại khác === Cũng là một loại phần mềm, nhưng virus máy tính là các phần mềm có hại được viết để chạy với những mục đích riêng của một người hay một nhóm người lập trình viên nhằm có ý định xấu lừa đảo, quảng bá, ăn cắp, phá hoại tài sản hay chỉ để trêu cho vui với người dùng máy tính bên kia. == Xem thêm == Kỹ nghệ phần mềm Phát triển phần mềm Bảo trì phần mềm Quản lý dự án phần mềm Chất lượng của hệ thống phần mềm == Tham khảo ==
kathmandu.txt
Kathmandu là thành phố, thủ đô của Nepal, nằm ở miền trung của nước này. Thành phố cũng được gọi là Katmandu. Thành phố toạ lạc trên một vùng đất thấp màu mỡ (Thung lũng Nepal) ở phía Nam Himalayas, tại độ cao khoảng 1220, gần đoạn hợp lưu của sông Bāghmati và sông Vishnumati. Đây là thành phố lớn nhất và cũng là trung tâm văn hóa, hành chính, kinh tế chính của vương quốc núi non này. Một đường quốc lộ kéo dài về phía Bắc đến Lhasa ở Tây Tạng và một tuyến đường khác nữa nối Kathmandu với Raxaul, một trung tâm đường sắt ở Ấn Độ. Thành phố có một số ngôi chùa với kiến trúc đặc sắc. Ở đây cũng có Đại học Tribhuvan (1959) và Bảo tàng quốc gia Nepal. Kathmandu được thành lập năm 723 và được dân tộc Newar cai trị trong nhiều thế kỷ. Năm 1768, thành phố này bị Triều Shah chiếm đóng và trở thành kinh đô của họ. Từ 1846 đến 1951, dòng họ hùng mạnh Rana đã cai trị Nepal từ thành phố này. == Lịch sử Kathmandu: == Những cuộc khai quật Khảo cổ học ở những bộ phận ơt Kathmandu đã tìm thấy bằng chứng của những nền văn minh cổ đại. Phát hiện cổ xưa nhất là một bức tượng, được tìm thấy tại Maligaon năm 185 trước Công nguyên. Cuộc khai quật của Dhando Chaitya phát hiện một viên gạch với một dòng chữ Brahmi nguyên bản. Những nhà khảo cổ tin rằng nó đã hai nghìn năm tuổi. Những điêu khắc trên đá là một yếu tố phổ biến tại các địa điểm di sản và là nguồn quan trọng đối với lịch sử của Nepal. Các tài liệu tham khảo sớm nhất của phương Tây về Kathmandu xuất hiện trong báo cáo của Dòng Tên Fathers Johann Grueber và Albert d'Orville. Năm 1661, họ đi qua Nepal trên đường từ Tây Tạng đến Ấn Độ, và thông báo rằng họ đã đến "Cadmendu, thủ đô của Vương quốc Necbal". == Xem thêm == Danh sách vùng đô thị châu Á === Tham khảo === Phương tiện liên quan tới Kathmandu tại Wikimedia Commons
21 tháng 11.txt
Ngày 21 tháng 11 là ngày thứ 325 trong mỗi năm thường (thứ 326 trong mỗi năm nhuận). Còn 40 ngày nữa trong năm. == Sự kiện == 235 – Anterus được bầu cử làm Giáo hoàng. 1009 - Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế Đại Cồ Việt, lập ra triều Lý, Việt Nam. 1272 – Hoàng tử Edward được trở thành Quốc vương Anh. 1631 – Tổ Đại Thọ mở cổng thành Đại Lăng Hà, suất chúng đến doanh trại quân Kim đầu hàng Hoàng Thái Cực, trận Đại Lăng Hà kết thúc (ngày Mậu Thìn, tức 28 tháng 10 âm lịch). 1783 – Ở Paris, Jean-François Pilâtre de Rozier và François Laurent, hầu tước Arlandes thực hiện chuyến bay khinh khí cầu không có dây lần đầu tiên. 1789 – Bắc Carolina thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ và trở thành tiểu bang thứ 12 của Hoa Kỳ. 1791 – Đại tá Napoléon Bonaparte được thăng cấp tướng hẳn và được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh của các Quận đội Cộng hòa Pháp. 1894 – Quân đội Nhật Bản giành chiến thắng trước quân đội Đại Thanh trong trận Lữ Thuận Khẩu. 1916 – Trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất, tàu HMHS Britannic của Anh Quốc đâm phải thủy lôi và chìm trên biển Aegea. 1954 – Đảng Nhân dân Hành động được thành lập tại Singapore với tổng bí thư là Lý Quang Diệu, là đảng cầm quyền tại Singapore từ năm 1959. 1962 – Quân đội Trung Quốc tuyên bố ngừng bắn đơn phương, kết thúc Chiến tranh Trung-Ấn. 1970 – Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ tiến hành tập kích một trại giam ở Sơn Tây nhằm giải thoát các tù binh Mỹ đang bị giam giữ. 1995 – Hòa ước Dayton được ký tắt tại căn cứ không quân Wright–Patterson tại Ohio, kết thúc ba năm rưỡi chiến tranh tại Bosna và Hercegovina. 2013 – Vụ sập trần siêu thị Riga tại Latvia khiến 54 người thiệt mạng. 2013 – Bắt đầu những cuộc biểu tình tại Kiev, Ukraina dẫn đến việc chế độ Yanukovych sụp đổ. == Sinh == 1643 – René-Robert Cavelier, Sieur de La Salle, nhà thám hiểm người Pháp (m. 1687) 1694 – Voltaire, triết gia người Pháp (m. 1778) 1811 – Tăng Quốc Phiên, nhân vật quân sự nhà Thanh (m. 1872) 1818 – Lewis Henry Morgan, nhà nhân loại học người Mỹ (m. 1881) 1852 – Francisco Tárrega, người chơi đàn guitar và nhà soạn nhạc người Tây Ban Nha (m. 1909) 1854 – Giáo hoàng Biển Đức XV (m. 1922) 1898 – René Magritte, họa sĩ người Bỉ (m. 1967) 1902 – Isaac Bashevis Singer, tác gia người Mỹ gốc Ba Lan, đoạt giải Nobel Văn học (m. 1991) 1914 – Henri Laborit, thầy thuốc và triết gia người Pháp (m. 1995) 1950 – Thạch Tu, diễn viên Hồng Kông 1965 – Björk, ca sĩ-người viết bài hát, nhà sản xuất, và diễn viên Iceland. 1979 – Vincenzo Iaquinta, cầu thủ bóng đá người Ý 1984 – Jena Malone, diễn viên và ca sĩ người Mỹ 1985 – Carly Rae Jepsen, ca sĩ-người viết bài hát người Canada 1985 – Jesús Navas, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha 1992 – Conor Maynard, ca sĩ-người viết bài hát người Anh == Mất == 496 – Giáo hoàng Gêlasiô I 615 – Côlumbanô, nhà truyền giáo người Ireland (b. 543) 1695 – Henry Purcell, nhà soạn nhạc người Anh (b. 1659) 1811 – Heinrich von Kleist, tác gia người Đức (b. 1777) 1844 – Ivan Andreyevich Krylov, tác gia người Nga (b. 1769) 1916 – Franz Joseph I của Áo (b. 1830) 1970 – Chandrasekhara Venkata Raman, nhà vật lý học người Ấn Độ, đoạt giải Nobel Vật lý (b. 1888) 1992 – Kaysone Phomvihane, chính trị gia Lào, Chủ tịch nước thứ hai của Lào (b. 1920) 1997 – Diệp Minh Tuyền, nhà thơ, nhạc sĩ Việt Nam (m. 1941). 2009 – Konstantin Petrovich Feoktistov, phi hành gia Liên Xô (b. 1926) 2012 – Ajmal Kasab, kẻ khủng bố người Pakistan (b. 1987) == Những ngày lễ và ngày kỉ niệm == == Tham khảo ==
nghị quyết 2758 của đại hội đồng liên hiệp quốc.txt
Nghị quyết 2758 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc được thông qua vào ngày 25 tháng 10 năm 1971, về "vấn đề khôi phục quyền lợi hợp pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong tổ chức Liên Hiệp Quốc". Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do vậy thay thế quyền đại biểu tại Liên Hiệp Quốc nguyên thuộc chính phủ Trung Hoa Dân Quốc. Nghị quyết này ảnh hưởng đến địa vị của chính phủ hai bờ eo biển Đài Loan tại Liên Hiệp Quốc, là cơ sở cho chủ trương "một Trung Quốc" của chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. == Toàn văn nghị quyết == Đại hội đồng, Căn cứ trên các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Xét thấy việc khôi phục quyền lợi hợp pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là cần thiết cho sự bảo vệ Hiến chương Liên Hiệp Quốc cũng như vì lý tưởng mà Liên Hiệp Quốc phải phụng sự theo Hiến chương, Công nhận đoàn đại biểu của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là đoàn đại biểu hợp pháp duy nhất của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, Quyết nghị khôi phục toàn bộ quyền lợi của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và thừa nhận đoàn đại biểu của Chính phủ này là đoàn đại biểu hợp pháp duy nhất của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, đồng thời lập tức trục xuất các đại biểu của Tưởng Giới Thạch khỏi địa vị chiếm giữ phi pháp tại tổ chức Liên Hiệp Quốc và tất cả các tổ chức liên hệ tới Liên Hiệp Quốc. == Bối cảnh == Tháng 8 năm 1950, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc một lần nữa phủ quyết đề nghị của Liên Xô nhằm loại bỏ đại biểu của Trung Hoa Dân Quốc. Từ giữa thập niên 1950 trở đi, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc mỗi năm đều có biện luận về vấn đề liên quan đến tư cách thành viên của Trung Hoa Dân Quốc. Do ảnh hưởng của Hoa Kỳ, lực lượng ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc vẫn chiếm ưu thế. Trong Chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ chịu tổn thất về quân phí, phong trào phản chiến trong nước nổi lên, rơi vào vũng lầy. Hoa Kỳ tích cực tìm kiếm lực lượng cùng chống Liên Xô.  Năm 1970, nhằm đối kháng với Liên Xô, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon quyết định tiếp xúc với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang có quan hệ xấu đi với Liên Xô. Năm 1971, Mao Trạch Đông sau khi biết được ý định của Hoa Kỳ, bắt đầu tiến hành ngoại giao bóng bàn, quan hệ hai bên nhanh chóng phát triển. Hoa Kỳ nhượng bộ trước nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chấp nhận quyền đại biểu tại Liên Hiệp Quốc của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đến lúc này trận tuyến ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc lập tức tan vỡ. == Trước biểu quyết == Ngày 15 tháng 7 năm 1971, 17 quốc gia thành viên đề xuất đưa vấn đề "Khôi phục quyền lợi hợp pháp của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại tổ chức Liên Hiệp Quốc" vào nhật trình nghị sự của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kỳ thứ 26, đồng thời cùng tuyên bố Trung Quốc là quốc gia sáng lập Liên Hiệp Quốc và quốc gia thường trực của Hội đồng Bảo an, ghế chiếm hữu theo pháp lý của Trung Quốc từ năm 1949 đến nay bị bài trừ bên ngoài Liên Hiệp Quốc do thao túng có hệ thống. Ngày 25 tháng 9 năm 1971, 23 quốc gia thành viên đề xuất với Liên Hiệp Quốc dự tháo nghị quyết A/L.630 cùng các văn kiện phụ số l và 2. 23 quốc gia này gồm 17 quốc gia từng đề xuất đề nghị vào ngày 15 tháng 7. Ngày 29 tháng 9 năm 1971, 22 quốc gia thành viên đề xuất với Liên Hiệp Quốc dự thảo nghị quyết A/L.632 cùng văn kiện phụ số 1 và 2. Dự thảo nghị quyết này đề nghị: Bất kỳ đề án nào nhằm tước đoạt quyền đại biểu của Trung Hoa Dân Quốc đều là vấn đề trọng đại theo điều 18 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, do vậy cần phải có 2/3 số quốc gia thành viên tán thành mới có thể thông qua. Dự thảo A/L.632 và văn kiện phụ số 1 và 2 vào ngày 25 tháng 10 trong quá trình biểu quyết có 59 phiếu phản đối, 55 phiếu tán thành, 15 phiếu trắng nên không được thông qua. Ngày 25 tháng 10 năm 1971, Hoa Kỳ đề nghị đưa "trục xuất các đại biểu của Tưởng Giới Thạch khỏi ghế mà họ chiếm cứ phi pháp tại tổ chức Liên Hiệp Quốc và trong toàn bộ các cơ cấu trực thuộc của nó" trong dự thảo nghị quyết thành một đề xuất riêng với biểu quyết riêng. Đề nghị này nếu thu được đủ phiếu tán thành, sẽ để Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đại diện cho Trung Quốc tham gia Liên Hiệp Quốc, đồng thời Trung Hoa Dân Quốc vẫn bảo vệ ghế thành viên phổ thông Liên Hiệp Quốc của mình. Tưởng Giới Thạch kiên trì một Trung Quốc, cự tuyệt tiếp nhận kiến nghị của Hoa Kỳ về việc hai bờ cùng có ghế trong Liên Hiệp Quốc. Đề nghị của Hoa Kỳ trong biểu quyết có 61 phiếu phản đối, 51 phiếu tán thành, 16 phiếu trắng nên không được thông qua. Đứng trước việc số phiếu của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cao hơn, đại biểu của Trung Hoa Dân Quốc phát ngôn tự rút khỏi Liên Hiệp Quốc. Trong thời gian phát biểu trước Đại hội đồng từ ngày 19 tháng 10 đến ngày 24 tháng 10 năm 1971, có hơn 70 quốc gia tham dự có phát ngôn liên quan đến quyền đại diện cho Trung Quốc. == Kết quả == Với kết quả 76 phiếu tán thành, 35 phiếu phản đối, 17 phiếu trắng, Đại hội đồng thông qua đề xuất A/L.630 cùng văn kiện phụ số 1 và 2 liên hiệp của 23 quốc gia như Albania, Algeria, Romania. Căn cứ theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc và quy tắc của Hội nghị Đại hội đồng, đề xuất sau khi thông qua lập tức trở thành nghị quyết chính thức của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc Tán thành: Afghanistan, Albania, Algérie, Áo, Bỉ, Bhutan, Botswana, Bulgaria, Myanmar, Burundi, Byelorussia, Cameroon, Canada, Ceylon, Chile, Congo (Brazzaville)), Cuba, Tiệp Khắc, Yemen Dân chủ, Đan Mạch, Ecuador, Ai Cập, Guinea Xích Đạo, Ethiopia, Phần Lan, Pháp, Ghana, Guinée, Guyana, Hungary, Iceland, Ấn Độ, Iran, Iraq, Cộng hòa Ireland, Israel, Ý, Kenya, Kuwait, Lào, Libya, Malaysia, Mali, Mauritanie, Mexico, Mông Cổ, Maroc, Nepal, Hà Lan, Nigeria, Na Uy, Pakistan, Peru, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Rwanda, Sénégal, Sierra Leone, Singapore, Somalia, Sudan, Thụy Điển, Syria, Togo, Trinidad và Tobago, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ, Uganda, Ukraina, Liên Xô, Anh Quốc, Tanzania, Yemen, Nam Tư, Zambia. Phản đối: Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Bolivia, Brasil, New Zealand, Trung Phi, Nam Phi, Tchad, Congo (Leopoldville), Costa Rica, Dahomay, Cộng hòa Dominica, El Salvador, Gabon, Gambia, Guatemala, Haiti, Honduras, Bờ Biển Ngà, Cộng hòa Khmer, Lesotho, Liberia, Madagascar, Malawi, Malta, Nicaragua, Niger, Paraguay, Ả Rập Saudi, Swaziland, Thượng Volta, Uruguay, Venezuela, Philippines. Phiếu trắng: Argentina, Bahrain, Barbados, Colombia, Síp, Fiji, Hy Lạp, Indonesia, Jamaica, Jordan, Liban, Luxembourg, Mauritius, Panama, Qatar, Tây Ban Nha, Thái Lan. Không bỏ phiếu: Trung Hoa Dân Quốc, Maldives, Oman. Do văn bản nghị quyết chỉ viết về "đại biểu của Tưởng Giới Thạch", không đề cập đến chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cũng như địa vị chính trị khu vực Đài Loan, nên sau này tồn tại tranh nghị về việc Đài Loan "trở lại Liên Hiệp Quốc" hoặc "gia nhập Liên Hiệp Quốc". == Tham khảo ==